text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Anh (chị) hãy làm rõ những đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam từ đầu thế kì XX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 Gợi ý Văn học Việt Nam thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 tuy chỉ diễn ra không đầy nửa thế kỉ nhưng có vị trí rất quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học nước nhà. Thời kì này, văn học mang những đặc điểm rất nổi bật. Trước hết, thời kì này, văn học được hiện đại hóa. Hiện đại hoá được hiểu là quá trình làm cho văn học thoát khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theo hình thức của văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới. Nội dung hiện đại hoá văn học diễn ra trên mọi mặt, ở nhiều phương diện: quan niệm về văn học, tự tưởng, tình cảm, cái nhìn,… của nhà văn trước hiện thực cuộc sống. Tuy nhiên hiện đại hoá dễ nhận thấy nhất ở hình thức của văn học. Trong sự thay đổi chung của xã hội, văn hoá Việt Nam thời kì này cũng có sự thay đổi. Từ đầu thế kỉ XX, văn hoá Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa phong kiến, bắt đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây, mà chủ yếu là văn hoá Pháp. Đây là thời kì "Mưa Âu, gió Mĩ", "Á – Âu xáo trộn", cũ – mới giao tranh. Chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây ở cả hai chiều tiến bộ và lạc hậu, nền văn hoá Việt Nam thời kì này chuyển biến theo hướng hiện đại, từng bước lấn át nền văn hoá cổ truyền phong kiến có bề dày hàng ngàn năm. Một cuộc vận động văn hoá đã được dấy lên từ đó nhằm chống lại lễ giáo phong kiến hủ lậu và giải phóng cá nhân.Xem thêm: "Cảnh... giờ."... Giải thích ngắn gọn cách hiểu của em về hai câu thơ trên, từ đó phân tích tám câu thơ cuối cùng của đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích... để làm nổi bật bút pháp tả cảnh ngụ tình đã đạt đến thành công tuyệt vời của thiên tài Nguyễn Du Trong giai đoạn này, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng góp phần quan trọng vào việc đưa nền văn hoá nước ta phát triển theo chiều hướng tiến bộ và cách mạng, bất chấp âm mưu của kẻ địch trong việc nuôi dưỡng một thứ văn hoá có tính chất cải lương và nô dịch. Cùng với các tác động mạnh mẽ nêu trên thì sự phát triển mạnh mẽ của báo chí và nghề xuất bản; rồi chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Hán, chữ Nôm; phong trào dịch thuật phát triển; lớp trí thức "Tây học" thay thế lớp trí thức Nho học là những nguyên nhân quan trọng tạo nên những điều kiện hình thành nền văn học Việt Nam hiện đại và làm cho nền văn học phát triển mạnh theo hướng hiện đại hoá. Quá trình hiện đại hoá của văn học thời kì này diễn ra qua ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920), là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện vật chất cho văn học phát triển. Thơ văn của chí sĩ cách mạng, của nho sĩ đã có sự tiến bộ về tư tưởng những về hình thức cơ bản vẫn là của văn học trung đại. Giai đoạn thứ hai khoảng từ năm 1920 đến năm 1930. Quá trình hiện đại hoá đã đạt được nhiều thành tích với sự xuất hiện của các thể loại văn học hiện đại và sự hiện đại hoá của thể loại truyền thông. Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kí đều phát triển. Giai đoạn ba, khoảng từ năm 1930 đến năm 1945, có sự cách tân sâu sắc ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, phóng sự, phê bình ra đời và đạt nhiều thành tựu.Xem thêm: Cảm nghĩ của anh (chị) về vẻ đẹp của nhân vật Đăm Săn qua đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây Hiện đại hoá văn học là một quá trình, ở hai giai đoạn đầu, đặc biệt ở giai đoạn thứ nhất, văn học còn bị nhiều ràng buộc, níu kéo của cái cũ, tạo nên tính chất giao thời của văn học. Đến giai đoạn thứ ba, công cuộc hiện đại hoá mới thực sự toàn diện và sâu sắc, hoàn tất quá trình hiện đại hoá văn học. Một đặc điểm tiêu biểu nữa của văn học Việt Nam từ đều thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là hình thành theo hai bộ phận và phân hoá thành nhiều dòng, vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển. Do đặc điểm của một nước thuộc địa, chịu sự chi phối mạnh mẽ và sâu sắc của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 hình thành hai bộ phận: văn học công khai và văn học không công khai. Vãn học công khai là văn học hợp pháp, tồn tại trong vòng pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến. Văn học không công khai bị đặt ra ngoài vòng pháp luận, phải lưu hành bí mật. Do khác nhau về đặc điểm nghệ thuật, về khuynh hướng thẩm mĩ, nên văn học công khai lại phân hoá thành nhiều dòng, trong đó nổi lên hai dòng chính: văn học lãng mạn và văn học hiện thực.Xem thêm: Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính Bộ phận văn học không công khai có thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt là thơ của các chí sĩ và các chiến sĩ cách mạng sáng tác trong tù Cuối cùng, có thể khẳng định vãn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945. phát triển với nhịp độ hết sức nhanh chóng. Sự phát triển này thể hiện rất rõ ở sự phát triển của thơ trong phong trào Thơ mới, ở các thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, lí luận và phê bình văn học,… Những nguyên nhân làm cho văn học thời kì này phát triển nhanh chóng là: do sự thúc bách của yêu cầu thời đại; do chủ quan của nền văn học (đây là nguyên nhân chính); sự thức tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ của cái tôi cá nhân. Ngoài ra, cũng cần phải nhận thấy rằng, thời kì này, văn chương đã trở thành một thứ hàng hoá, viết văn trở thành một nghề để kiếm sống. Đây là lí do thiết thực, một nhân tố kích thích người cầm bút. Chính bởi những đặc điểm tiêu biểu trên đây, văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đên trước Cách mạng tháng Tám 1945 đã chuẩn bị đầy đủ cho thời kì phát triển mới của nền văn học nước nhà. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy làm rõ những đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam từ đầu thế kì XX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945
1,210
Anh (chị) hãy nêu những hiểu biết của mình về hoàn cảnh ra đời “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh Gợi ý Ngày 19-8-1945, chính quyền ở thủ đô về tay nhân dân. Ngày 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng ở Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản “Tuyên ngôn độc lập”. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước hàng vạn đồng bào. “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do cúa dân tộc. “Tuyên ngôn độc lập” là một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, đầy sức thuyết phục. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Phân tích bài thơ ‘Đi thuyền trên sông Đáy” của Hồ Chí Minh
Anh (chị) hãy nêu những hiểu biết của mình về hoàn cảnh ra đời “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh
174
Anh (chị) hãy nêu những hiểu biết của mình về nhà văn Lỗ Tấn và truyện ngắn “Thuốc” Gợi ý Lỗ Tấn (1881 – 1936), tên thật là Chu Chương Thọ, sau đổi thành Chu Thụ Nhân, là nhà văn cách mạng nổi tiếng Trung Quốc. Bóng dáng của ông bao trùm cả văn đàn Trung Quốc thế kỉ XX. ông quê tại phủ Thiệu Hưng, tỉnh Triết Giang, ông nội là Chu Giới Phu, từng làm quan đời Thanh, về sau bị cách chức, hạ ngục. Thân sinh là Chu Bá Nghi, vì bị lâm bệnh, không có thuốc chữa mà mất năm Lỗ Tấn 13 tuổi. Từ đó ông ôm ấp nguyện vọng học nghề thuốc. Mẹ là người phụ nữ nông thôn trung hậu, kiên nghị. Bút danh Lỗ Tấn là lấy từ họ mẹ. Từ 6 tuổi đến năm 17 tuổi, ông học ở trường tư thục ở quê nhà. Ngay từ nhỏ đã đọc hầu hết các thư tịch cổ điển Trung Quốc, đặc biệt ham thích đọc truyện dã sử, thích nghe kể truyện truyền thuyết, xem kịch và tranh dân gian. Thị hiếu và sở trường văn học được hình thành một phần từ đó. Năm 18 tuổi, ông đến Nam Kinh, thi vào Thuỷ sư học đường (Trường đào tạổ nhân viên hàng hải). Hai năm sau thi vào Khoáng lộ học đường (Trường đào tạo kĩ sư mỏ). Những kiến thức khoa học mới đã thay đổi nếp nghĩ của Lỗ Tấn: ông bắt đầu hoài nghi truyền thông cũ, hướng tới việc cải cách. Năm 1902, được cử sang Nhật học, ông vào học ngành Y, mong muốn dùng Y học để cứu nước, trước hết là cứu những người dốt nát, mê tín mà chết oan như bố ông. Ông đột ngột thay đổi chí hướng sau một lần xem phim thấy những người Trung Quốc khoẻ mạnh, hăm hở đi xem quân Nhật chém người Trung Quốc làm gián điệp. Lỗ Tấn bỏ ngành Y, chuyển sang làm văn nghệ vì ông nhận ra rằng: chữa bệnh bằng thể xác còn chưa quan trọng bằng chữa bệnh về tinh thần.Xem thêm: Nét độc đáo trong nghệ thuật viết phóng sự hiện đại của Ngô Tất Tố thể hiện qua "Nghệ thuật băm thịt gà" (Trích Việc làng) Làm văn nghệ, Lỗ Tấn dùng ngòi bút để phanh phui các “căn bệnh tinh thần” cúa quốc dân, lưu ý mọi người tìm phương thuốc chạy chữa, ông đã hát cho đồng bào mình nghe bài hát lạc điệu của chính họ, chỉ cho’ họ thấy những bước đi sai nhịp trên con đường tiến đến tương lai. Toàn bộ sáng tác của ông, chú yếu là ba tập truyện ngắn, nhiều tập tạp văn (bình luận chính trị, xã hội, văn nghệ) đều tập trung phê phán căn bệnh tinh thần khiến cho quốc dân mê muội, tự thoả mân, “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”. Chủ đề phê phán “quốc dân tính” càng có ý nghĩa sâu sắc vì nhà văn có thái độ tự phê phán nghiêm khắc. Các sáng tác tiêu biểu có thể kể đến như: Tập truyện ngắn “Gào thét, Bàng hoàng, tập truyện mang đề tài lịch sử: Chuyện cũ viết lại; Hàng loạt các bài tập văn chủ yếu được tập hợp trong tập “Dã thảo”. Trong đó AQ chính truyện là thiên truyện bất hủ trở thành kiệt tác hàng đầu trong di sản văn học của Lỗ Tấn Truyện ngắn “Thuốc” viết năm 1936,-đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ Tứ bùng nổ. Tác phẩm được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Tân Thanh niên. Nhân vật Hạ Du trong truyện ám chỉ nữ thi sĩ Thu Cận, người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi cũng chịu số phận tương tự. Giữa cơn lốc xoáy lịch sử, tác phẩm mang một ý nghĩa sâu sắc. Nói về căn bệnh đớn hèn của dân tộc Trung Hoa do sự chìm đắm trong mê muội của nhân dân mà những người Cách mạng thì hoàn toàn xa lạ với nhân dân, nhà văn muôn cảnh báo: Người Trung Quốc cần suy nghĩ nghiêm túc về một phương thuốc để cứu dân tộc.Xem thêm: Dàn ý chi tiết Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong Vợ chồng A Phủ Tác phẩm trở thành một trong những đại diện tiêu biểu trong sáng tác của Lỗ Tấn, là một trong những tác phẩm hiện thực hoá khát vọng dẫn đến việc chuyển sang nghề văn của ông. Lỗ Tấn xứng đáng được coi là “dân tộc hồn” của nhân dân Trung Quốc, một nhà văn lớn của nhân loại. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy nêu những hiểu biết của mình về nhà văn Lỗ Tấn và truyện ngắn “Thuốc”
789
Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ của mình về giá trị giáo dục của tác phẩm văn học Gợi ý “Thơ ca, nếu không có người, tôi đã mồ côi”. Câu nói ấy của Ra-un Ga-ma-tốp không chỉ đúng với thơ ca mà còn có thể dành cho tất cả những sáng tác văn học nghệ thuật, món ăn tinh thần không thể thiếu của con người trong đời sống xã hội. Để có được điều này tất nhiên phải kể đến rất nhiều những giá trị mà văn học mang lại, trong đó có một thứ giá trị đặc biệt có ý nghĩa: giá trị giáo dục. Văn học là một loại hình nghệ thuật ngôn từ mang tính đặc thù phản ánh cuộc sống thông qua hình tượng nghệ thuật. Nó tác động sâu sắc đến đời sống tư tưởng và tình cảm của con người, làm cho con người sống ngày càng nhân văn hơn. Nhắc đến vẵn học, người ta nhắc đến những chức nãng và giá trị mà nó mang lại. Văn học cung cấp cho con người hiểu biết về tự nhiên và xã hội nói chung, khai thác cuộc sống từ cái bên ngoài đến bản chất bên trong đặc biệt là đời sống nội tâm phong phú của con người. Đó là giá trị nhận thức. Văn học cũng mang giá trị thẩm mĩ giúp kích thích khả năng sáng tạo, làm phong phú và đẹp thêm cho đời sống tâm hồn; có giá trị giải trí và giao tiếp. Một tiêu chuẩn quan trọng cũng là tiêu chí không thể thiếu khi đánh giá tác phẩm văn học đó là giá trị giáo dục của nó. Giá trị này bắt nguồn từ chức năng giáo đục mà văn học mang lại. Giáo dục là việc dùng hình thức nào đó tác động đến tư tưởng, tình cảm của con người, làm biến đổi nó theo chiều hướng tốt đẹp hơn, khiến cho người gần người hơn. Giá trị này biểu hiện trước hết ở việc giáo dục nhận thức về xã hội, con người; nâng cao tư tưởng, đạo đức, tình cảm, lối sống. Mọi khía cạnh của cuộc sống đều có thế trứ thành chất liệu cho văn học, phản ánh nhận thức của chính nhà văn về thế giới. “Mỗi nhà văn phải gắn với một dân tộc, một thời đại nhất định” (Bi-ê-lin-xki). Qua tác phẩm, người đọc không chỉ hiểu về thời đại nhà văn sống mà còn là đời sống tinh thần của họ cũng như những người cùng thời với họ. Tham gia vào hoạt động văn chương cho dù là sáng tác hay thưởng thức, người ta đều được “thanh lọc”, ít nhiều sẽ trở nên tốt hơn, nhân ái hơn”. (Nguyễn Văn Hạnh – Ý nghĩa của văn chương). “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cho ta thấy hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ XVIII với đầy rẫy bất công ngang trái. Ở đó, đồng tiền và quyền lực có thể thay đổi tất cả, biến trắng thành đen. Vì sự vu oan của thằng bán tơ, gia đình Kiều rơi vào cảnh chia lìa, tan tác. Thúy Kiều, để giữ tròn chữ hiếu đã phải bán mình chuộc cha, hi sinh cuộc đời và mối tình đẹp đẽ với Kim Trọng. Tiếp sau đó là mười lăm năm lưu lạc cay đắng, tủi hờn, “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”. Kiều tiêu biểu cho số phận bất hạnh của những kiếp người “tài hoa bạc mệnh” trong xã hội xưa, đặc biệt là người phụ nữ như những gì Nguyễn Du đã chiêm nghiệm:Xem thêm: Phân tích diễn biến tâm trạng và hành động nhân vật Mị trong đâm tình mùa xuân ở Hồng Ngài“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạcmệnh cũng là lời chung”. Đọc “Truyện Kiều” với tư cách của người đi sau gần ba thế kỉ, ta vẫn thấy ở đó giá trị giáo dục sâu sắc. Người đọc đồng cảm với những bất hạnh con người phải trải qua, đặc biệt là người phụ nữ mà Thúy Kiều là một điển hình; phê phán, tô’ cáo sự bất công trong xã hội để giáo dục nhận thức của con người, cũng như bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp. Đoạn miêu tả cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán là một đoạn thơ có tính giáo dục to lớn đốì với mỗi con người trong mọi thời đại về tư tưởng “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”. Mỗi tác phẩm cung cấp cho người đọc những khía cạnh khác nhau của đời sống. Đến với hàng ngũ những nhà văn hiện đại, truyện ngắn của Tô Hoài cho ta bất gặp một thế giới phong phú đa dạng những phong tục tập quán của con người, đặc biệt là người dân miền núi. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” miêu tả hiện thực đời sống, phong tục và hủ tục của người dân Tây Bắc trước cách mạng tháng Tám như tục cúng trình ma, tục cướp vợ, tìm bạn tình ngày xuân… Người đọc hiểu hơn về đời sống và sô phận của người dân tộc dưới ảnh hưởng nặng nề của thần quyền và cường quyền. Mị xinh đẹp, dịu hiền xứng đáng được hưởng một cuộc sống tốt đẹp thì sau khi bị cướp về cúng trình ma nhà thống lí trở thành “con rùa lùi lũi nuôi trong xó cửa”, sống không niềm vui, không mơ ước, không niềm tin, không hi vọng. A Phủ chỉ vì dám đánh con trai thống lí mà cùng trở thành tôi đòi, làm trâu ngựa cho nhà thống lí. Cuộc chạy trôn của hai người lên mảnh đất Hồng Ngài mang tính tự phát và cũng là một tất yếu. Sức sống tiềm tàng dưới sự soi đường của Đảng và cách mạng đã khiến cuộc đời Mị và A Phủ bước sang một trang mới. Truyện không chỉ cung cấp cho ta những kiến thức văn hóa, đời sống bổ ích mà còn bồi dưỡng ý chí vươn lên chiến thắng số phận của mỗi eon người. Hạnh phúc sẽ đến với những ai biết đấu tranh để giành lấy nó. Cũng mang ý nghĩa giáo dục nhận thức nhưng “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là một bài học đầy tính triết lí. Cuộc hành trình đỉ tìm kiếm cái đẹp của người nghệ sĩ đến cuối cùng lại vấp phải sự thật phũ phàng về cuộc sống của những người dân chài miền biển: một người vợ cả đời hi sinh cho sự mưu sinh của gia đình mà sẵn sàng chấp nhận “ba trận nặng, năm trận nhẹ” đòn roi của chồng mỗi ngày, chấp nhận một cách tự nguyện và cam chịu bởi một lí do thật đơn giản nhưng cũng thật đáng suy nghĩ: trên thuyền không thể thiếu người đàn ông, trước sóng gió biển cả, dù thế nào đi nữa thì họ cũng là một chỗ dựa cho người đàn bà chân yếu tay mềm và những đứa trẻ con non nớt. Vậy cuổì cùng thì cái đẹp mà người nghệ sĩ kiếm tìm là gì? Nó có phải cái đẹp được nhìn thấy từ góc độ thuần túy nghệ thuật hay cái đẹp là cuộc sống, là ở hình ậnh người vợ chài với đức hi sinh và vị tha cao cả? Câu chuyện không chỉ mang ý nghĩa giáo dục trong cách nhìn nhận cuộc sống mà còn là bài học quí giá cho người nghệ sĩ trên con đường đi tìm nghệ thuật đích thực.Xem thêm: Giới thiệu ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu Giá trị giáo dục của một tác phẩm văn học còn thể hiện ở việc bồi dưỡng tình cảm thẩm mĩ, nhân vãn, giúp hoàn thiện con người, hướng họ tới cái đẹp, nhân ái trong cuộc sống. Văn chương có tác dụng “giúp ta là người một cách hoàn toàn hơn” vì nhờ thưởng thức văn chương, tâm hồn ta được “rèn luyện thành một dây đàn, sẵn sàng rung động trước mọi vẻ đẹp của vũ trụ, trước mọi cái cao quí của cuộc đời” (Thạch Lam – Theo dòng). Nghệ thuật không bao giờ thiếu đi cái đẹp, thiếu chất lí tưởng, anh hùng, những nhân vật tích cực cũng như những sự hấp dẫn, vui tươi của cuộc sô’ng. Những phẩm chất thẩm mĩ đó tác động đến tình cảm của con người thông qua hình tượng văn học, và được con người tiếp nhận một cách tự giác. Trước cái đẹp, cái hùng vĩ người ta không chỉ yêu mến, trân trọng mà còn phấn đấu để vươn tới. Với cái hài, văn học dùng tiếng cười để châm biếm, “tông tiễn” những thói hư tật xấu trong xã hội. Cái xấu làm người ta biết xa lánh, phủ định. Cái bi đem đến cho con người sự đồng cảm, xót thương. Con người luôn luôn có xụ hướng vươn tới cái đẹp, bởi vươn tới cái đẹp chính là sự vươn tới cái hoàn thiện, hoàn mỉ. Những phẩm chất thẩm mĩ vì thế mà có ý nghĩa lớn lao trong việc giáo dục nhân cách.đạo đức. Đọc bút kí “Người lái đò sống Đà” (Nguyễn Tuân) ta bắt gặp một dòng sống hiền hòa, dịu êm, mơ màng như một dòng cổ tích. “sống Đà tuôn dài, tuôn dài như một’ áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong núi rừng Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Một sống Đà trong vẻ đẹp hùng vĩ với những hút nước xoáy, những cột sóng cao tung bọt trắng xóa. Con người xuất hiện giữa thiên nhiên hùng vĩ nhưng không hề bị khuất lấp mà càng tự khẳng định được tài trí và lòng quả cảm của bản thân, ông lái đò ngày ngày đưa khách đi về trên những đoạn hung dữ nhất của con sống Đà. Mỗi chuyến đi là một trận chiến đấu với một đốì thủ tuy quen thuộc nhưng thật lì lợm và đáng gườm, ông thuộc lòng từng khúc sống và tính nết của chúng và lần nào cũng vậy, ông luôn là người giành chiến thắng. Ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và người lao động, Nguyễn Tuân đã thổi lên trong lòng mỗi chúng ta niềm tự hào và tự tôn dân tộc. “Một người Hà Nội” là câu chuyện sáng tác trong giai đoạn sau này của Nguyễn Khải. Bằng việc ca ngợi vẻ đẹp của đất Hà thành qua nhân vật bà Hiền – “hạt bụi vàng” hiếm hoi còn sót lại trên mảnh đất đang thay da đổi thịt từng ngày. Trong thời đại ngày nay, vẻ đẹp ấy càng đáng được trân trọng. Có những chi tiết (như chi tiết người thanh niên đi xe vượt ẩu còn lớn tiếng trách mắng người khác, cô con dâu thản nhiên cho con bú trước mặt bố chồng và khách hay hình ảnh cây cổ thụ ở đền Ngọc Sơn…) tuy xuất hiện thoáng qua nhưng lại có ý nghĩa giáo dục to lớn. Nó gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho mỗi con người trước những giá trị đang bị thay đổi.Xem thêm: Ý nghĩa của việc sử dụng chất liệu văn học và văn hóa dân gian trong đoạn trích “Đất nước" của trường ca “Mặt đường khát vọng” (Nguyễn Khoa Điềm)“Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) là sự đấu tranh giữa cái xấu và cái đẹp. Có đôi khi, tưởng như cái xấu, cái bạo lực tàn nhẫn đã khiến con người gục ngã nhưng thực tế cái đẹp của lòng hi sinh, bao dung và vị tha cao cả đã chiến thắng. Người mẹ, người vợ miền biển ấy chấp nhận cuộc sống như địa ngục ở trần gian để có thể bao bọc, chở che cho những đứa con thương yêu của mình. “Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có đàn ông để chèo chông khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi dưỡng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến lúc khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”… Câu chuyện hướng con người tởi những tình cảm nhân ái, yêu thương để có thể đồng cảm và khám phá ra vẻ đẹp của cuộc sống. Bản chất của nghệ thuật là tình cảm. Nó là “tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm chứ không phải là cái tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giây” (Nguyễn Khải). Bởi vậy giá trị giáo dục của một tác phẩm không chỉ thể hiện trong quá trình tự nhận thức, tự giáo dục của mỗi người mà nó còn có khả năng ảnh hưởng lâu dài theo kiểu lây lan, tạo ra sức mạnh lay động tình cảm, làm cho tâm hồn con người được thanh lọc. Một tác phẩm vãn học đích thực sẽ đem lại cho con người sự tự nhận thức về giá trị của bản thân, từ đó phấn đấu hơn nữa để hoàn thiện mình. Vì thế Ê-xê-nhin, nhà thơ của đồng quê Nga từng than thở: “Sống trong đời chẳng có gì mới Thì chết di cũng chẳng có ỷ nghĩa gì” Đây là một quá trình tác động và giáo dục mang tính tự giác nhưng lại đầy hiệu quả. Trong một tác phẩm nghệ thuật đích thực, bên cạnh những giá trị khác, giá trị nghệ thuật tồn tại như một tất yếu. Bởi vậy, đổì với người sáng tác cần phải có một thế giới quan, hệ thông quan điểm đúng đắn. Chỉ có như vậy mới giúp cho văn học thực sự mang tính nhân văn, phát huy hết những giá trị vốn có của nó. Người tiếp nhận không chỉ phải tìm ra giá trị (trong đó có giá trị giáo dục) thể hiện trong tác phẩm mà còn phải vận dụng nó vào trong quá trình tự giáo dục bản thân cũng như có ảnh hưởng tô’t đến những người xung quanh. “Mỗi cuôn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người” (M.Gorki). Với vai trò đặc biệt của mình, chức năng, giá trị giáo dục đã góp phần quy định vị trí và nhiệm vụ cao cả của vãn học. Điều này khiến cho văn học ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn đối với đời sống con người. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ của mình về giá trị giáo dục của tác phẩm văn học
2,497
Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ của mình về ý kiến sau: “Một trong những tổn thất không có gì bù đắp được là tổn thất về thời gian” Gợi ý Gợi ý làm bài I. ĐẶT VẤN ĐỂ Theo quy luật tự nhiên, thời gian đã qua đi thì không bao giờ trở lại. Vấn đề là trong cuộc sống ta làm gì với thời gian của cuộc đời mình. Cũng trong thời gian như nhau, có người đã làm nên bao điều kì diệu, đem lại hoa thơm, mật ngọt cho đời. Nhưng cũng thời gian ấy, có người lại để nó trôi qua một cách vô vị để rồi hối tiếc vì mình đã sống hoài, sống phí. Thời gian luôn tuần hoàn theo quy luật. Nó không bao giờ dừng lại. Vì vậy, ta hãy tận dụng thời gian của cuộc đời mình để sau này không hối tiếc. Bởi vì “Một trong những tổn thất không có gì bù đắp được là tổn thất về thời gian”. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Giải thích khái niệm – Tổn thất: Chỉ sự mất mát, thiệt hại lớn. – Thời gian: Là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian), trong đó vật chất vận động và phát triển không ngừng. Thời gian trong bài còn mang nghĩa chỉ thời gian của một đời người. – Thế nào là tổn thất về thời gian? Là ta để thời gian của cuộc đời trôi qua một cách vô vị, ta sống hoài sống phí trong thời gian đó. 2. Tại sao tổn thất về thời gian lại là tổn thất không gì bù đắp đượcXem thêm: “Hiền... thấp” (Thân Nhân Trung). Từ ý kiến trên, hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về việc rèn luyện tài đức và trách nhiệm với quốc gia của mỗi con người. (Yêu cẩu lập dàn bài)a) Vì khi thời gian đã qua đi thì không bao giờ ta lấy lại được thời gian đã mất Thời gian cứ trôi đi không chờ đợi bất kì ai. Không ai có thể lấy lại được thời gian khi nó đã trở thành quá khứ. Tổn thất về thời gian chính là sự mất mát về thời gian của mỗi cuộc đời, làm sao ta có thể trở về với quá khứ để mà sống và làm việc có ích cho đời. Nếu không biết trân trọng từng giây, từng phút quý báu trong cuộc đời là ta đã làm tổn thất thời gian. Khi đó chẳng bao giờ ta lấy lại được thời gian cả. Đó chính là sự tổn thất. b) Vì thời gian có thể giúp mỗi người làm nên bao điều kì diệu Mất đi thời gian quả thực là một tổn thất to lớn bởi vì thời gian vô cùng quan trọng. Mỗi giây phút của cuộc đời có thể giúp ta làm nên bao điều kì diệu. Một phát minh khoa học, một quyết định lịch sử quan trọng nhiều khi được quyết định trong khoảnh khắc của thời gian. Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 là một ví dụ. Khi thời cơ chín mùi, Đảng, Chính phủ đã có quyết định thật sáng suốt, đúng đắn để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nếu để thời cơ qua đi, không biết rồi cục diện sẽ ra sao. Với mỗi cá nhân, thời gian của cuộc đời cứ tuần tự trôi qua. Bao anh hùng trong lịch sử dân tộc đã biết tận dụng thời gian quý báu để đưa ra những quyết định tuyệt vời. Bên sông Như Nguyệt (sông cầu ngày nay), Lí Thường Kiệt đã cho cruyền đi bài thơ Thần đúng lúc, kịp thời khích lệ quân sĩ. Khi anh Nguyễn Văn Trỗi bị đưa ra pháp trường, nhà thơ Tố Hữu đã viết:Xem thêm: Cảm nghĩ của em sau khi đọc Hồi trống cổ thành Có những phút làm nên lịch sử Có cái chết hóa thành bất tử Có những lời hơn mọi bài ca Có con người như chân lí sinh ra. “Có những phút làm nên lịch sử” đã giúp ta hiểu thêm tầm quan trọng của thời gian đôì với cuộc đời của mỗi con người. Đánh mất đi thời gian là đánh mất đi những điều giá trị mà ta không thể quay ngược bánh xe thời gian để ta tìm kiếm lại những gì đã mất. 3. Mở rộng vấn đề – Tổn thất về thời gian là tổn thất không gì có thể bù đắp được. Nhưng điều đó không cho phép ta cứ ngồi và nuối tiếc với điều ta đã đánh mất trong thời gian đã qua. Điều quan trọng không phải ở chỗ ta có thể thay đổi quá khứ (vì không bao giờ xảy ra) mà là ta hãy nhìn thẳng vào quá khứ để rút ra bài học cho bản thân. Chúng ta phải nhìn vào hiện tại và hướng về tương lai để rồi của cuộc đời, ta không phải ân hận, nuối tiếc như bây giờ ta đang ân hận và nuôi tiếc về thời gian của quá khứ trôi qua một cách vô vị. Biết hướng về điều tốt đẹp trong tương lai nghĩa là ta đã nhận ra sự lãng phí thời gian của mình và biết trân trọng thời gian trong quãng đời còn lại. – Ngày nay cũng còn những người không biết quý trọng thời gian của cuộc đời mình. Họ đã lãng phí quỹ thời gian ngắn ngủi của cuộc đời mình. Họ sổng không lí tưởng, không ước mơ, không hoài bão. Họ nướng thời gian của mình trong những ngày dài triền miên của các tệ nạn xã hội, ma tuý, cờ bạc, rượu chè… Kết cục của sự lãng phí thời gian đó thật thảm hại. Gia đình tan nát, cái chết lúc nào cũng rình rập…Xem thêm: Hưởng ứng đợt thi đua “Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp”... Anh (chị) hãy viết bài tham gia hội thảo đó (Yêu cầu viết một bài văn)III. KẾT THÚC VẤN ĐỂ Phê phán lối sống không lí tưởng, không hoài bão, sống vô vị, sống hoài sống phí làm tổn thất thời gian quý giá của cuộc đời. – Biết trân trọng thời gian để học tập, lao động, góp phần làm cho cuộc đời thêm tươi đẹp, xã hội ngày càng phát triển. – Phấn đấu sống như nhân vật Pa-ven trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy: “Đời người chỉ sống có một lần. Phải sông sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì cái dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sự ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao cả nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người.” Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ của mình về ý kiến sau_ “Một trong những tổn thất không có gì bù đắp được là tổn thất về thời gian”
1,154
Anh (chị) hãy nêu vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Lỗ Tấn Gợi ý Lỗ Tấn (1881 – 1936) tên thật là Chu Thụ Nhân, tên chữ là Dự Tài, sinh tại huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, trong một gia đình quan lại sa sút. Ông nội là Chu Giới Phu từng làm quan trong triều nhà Thanh, năm Lỗ Tấn 13 tuổi thì bị cách chức, hạ ngục. Ông thân sinh của Lỗ Tấn là Chu Bá Nghi, đỗ tú tài, cũng năm Lỗ Tấn 13 tuổi thì lâm bệnh và 3 năm sau thì qua đời. Mẹ của Lỗ Tấn là Lỗ Thuỵ, một người phụ nữ nông dân trung hậu, kiên nghị. Phẩm chất của bà có ảnh hưởng lớn tới Lỗ Tấn. Cha của Lỗ Tấn mất do không có thuốc chạy chữa, khi Lỗ Tấn 13 tuổi. Từ đó, Lỗ Tấn ấp ủ nguyên vọng học thuốc chữa bệnh. Lỗ Tấn đã từng học các nghề hàng hải, khai mỏ với nguyện vọng làm giàu cho Tổ quốc nhưng đều thất bại. Nhờ học giỏi, ông được học bổng sang Nhật, học đại học Y khoa. Một lần, LỖ Tấn chứng kiến cảnh người dân Trung quốc thích thú khi xem bộ phim có quay cảnh quân Nhật chém một người Trung Quốc vì bị nghi là gián điệp, ông giật mình nhận ra rằng chữa bênh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân và ông quyết định chuyển hướng bỏ đại học Y để làm văn nghệ. Xem thêm: Viết một đoạn văn nói về cây phong lan Làm văn nghệ, Lỗ Tấn chủ trương dùng ngòi bút để phanh phui các căn bệnh tinh thần của quốc dân, lưu ý mọi người tìm phương chạy chữa. Lỗ Tấn đã sáng tác nhiều tác phẩm: 20 tập truyện ngắn, mỗi tập 600 trang. Có nhà nghiên cứu gọi là trước tác đẳng thản (sách cao bằng người). Trong đó, các sáng tác tiêu biểu có Gào thét, Bàng hoàng, Chuyện cũ viết theo lối mới, Nấm mồ, cỏ dại, Gió nóng, Hai lòng… Năm 1981, toàn thế giới đã kỉ niệm 100 năm sinh Lỗ Tấn như một danh nhân văn hóa của nhân loại. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy nêu vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Lỗ Tấn
376
Anh (chị) hãy nêu vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Sô – lô – khốp Gợi ý M. Sô-lô-khốp (1905 – 1984), sinh trưởng trong một gia đình nông dân thuộc vùng thảo nguyên sông Đông, thuộc tỉnh Rôxtốp của Liên Xô. Trước khi đến với việc sáng tác văn chương, Sô-lô-khốp đã từng làm một số công tác cách mạng như: thanh toán nạn mù chữ, thư kí uỷ ban xã, đấu tranh vũ trang… Sô-lô-khốp đã từng sống ở Matxcơva, làm đủ mọi ngành nghề: lao công, khuân vác, kế toán, thợ xây… để sinh sống và để thực hiên giấc mơ viết văn. Ngoài giờ làm việc ông đến toà soạn báo Thanh niên, tham gia sinh hoạt nhóm văn học Đội cận vệ trẻ và say mê sáng tác. Ở Mát-xcơ-va ông được đăng một vài tác phẩm nhưng không thể định cư lâu dài vì ông cảm thấy thiếu quê hương. Năm 1925, Sô-lô-khốp lại trở về vùng sông Đông, bắt tay viết Sông Đông êm đềm. Đây là bộ tiểu thuyết sử thi đồ sộ có thể sánh với Chiến tranh và hoà bình của M. Gorki. Ông được đánh giá là một nhà văn hiện thực vĩ đại. Theo quan niệm của ông, chủ nghĩa hiện thực ở thời đại cách mạng tư tưởng đổi mới, cải tạo cuộc Sống vì hạnh phúc của con người. Các tác phẩm nổi tiếng của Sô-lô-khốp là Đất vỡ hoang, Sông Đông êm đềm, Số phận con người,.. Xem thêm: Bộ sách Ngữ văn 7 là những cuốn sách hấp dẫn và bổ ích. Em có đồng ý như vậy không?Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy nêu vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Sô – lô – khốp
274
Anh (chị) hãy phân tích bài thơ Mới ra tù, tập leo núi của Hồ Chí Minh. Gợi ý 1 Trước hết phải thấy vẻ đẹp cổ điển của bài thơ Thơ cổ điển thường về thiên nhiên. Chính tác giả Nhật ký trong tù cũng thấy nhu vậy: Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây gió trăng hoa tuyết núi sông. (Cảm tưởng đọc Thiên gia thi) Những thi sĩ cổ điển thường nhìn thiên nhiên từ cao, từ xa để bao quát trong tầm mắt của mình một không gian rộng lớn dường như nuốn thu lấy cả vũ trụ càn khôn, cả cao sơn lưu thủy. Và nhà thơ không chú ý mô tả chính xác của thiên nhiên mà chỉ muốn ghi lại bằng vài nét chấm phá đơn sơ linh hồn của tạo vật. Bài thơ "Mới ra tù tập leo núi" cũng nhìn về thiên nhiên như thế Muốn hiểu điều đó cần chú ý đến một chi tiết nằm ở đầu mà bản dịch bỏ qua Nguyên văn chữ hán là: Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân Dịch đúng là: mây đỡ núi, núi đỡ mây Trật tự là: Mây – núi, núi – mây Bản dịch thơ đã đảo lộn trật tự ấy: Núi ấp ôm mây, mây ấp núi (núi – mây, mây – núi) Sự đảo lộn trật tự ấy khiến người đọc hiểu không đúng vị trí "đăng sơn ức hữu" của nhà thơ Thấy núi trước rồi mới thấy mây có nghĩa là nhà thơ có thể đứng dưới chân núi. Còn thấy mây trước thì có nghĩa là nhà thơ đứng ở trên núi, đứng trên mây, nhìn lên thất núi còn cao nữa và nhìn xuống thì thấy dòng sông chảy nơi chân núi phẳng như tấm gương không chút bụiXem thêm: Cảm nhận của Anh/Chị về chi tiết “bát cháo hành" mà nhân vật Thị Nở mang cho Chí Phèo (“Chí Phèo" - Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm" mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ (“Đời thừa" - Nam Cao) Từ vị trí đó nhà thơ bao quát trong tầm mắt của mình một cảnh thiên nhiên vô cùng rộng lớn: một bức tranh sơn thuỷ hũu tình Và tác già chỉ dùng vài nét mà thu được tất cà. Hai nét, cân xứng với nhau, một nét vút lên vẽ mây và núi, một nét vạch ngang chân núi vẽ dòng sông sáng như gương phản chiếu ánh trời. Một bức tranh sơn thuỷ thật hùng vĩ và cũng thật là trong sáng. Nót vẽ thì phóng khoáng và đầy tài hoa. Nhưng vẻ đẹp cổ điển của bài thơ còn thể hiện rõ hơn nữa ở phong thái cùa nhân vật trữ tình: ung dung dạo bước giữa thiên nhiên. Người đọc không thể không liên tưởng đến phong thái của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Bạch Vân Am thuở trước: Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa. 2. Lương tâm trong sáng, tinh thần chiến sĩ của nhà cách mạng. Bài thơ đâu chỉ nói chuyện leo núi, nhớ bạn một cách chung chung. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tập hồi ký “Những chặng đường lịch sửn cho biết về hoàn cảnh ra đời của bài thơ này: "Bữa ấy, tôi về cơ quan hội báo tình hình thì thấy anh Đồng, anh Vũ Anh và anh Lã đang xúm xít quanh một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo và hỏi tíu tít:Xem thêm: Trình bày những suy nghĩ của anh (chị) về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác con người qua đoạn trích hồi VII của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) – Anh xem có đúng là chữ cùa Bác không? Đó là một tờ báo ở Trung Quốc mới gửi về, bên mép trắng có mấy hàng chữ Hán viết tay. Tôi nhận ngay ra đúng là chữ Bác, Bác viết: "Chúc chư huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác, ở bên này bình yên". Phía dưới lại có một bài thơ. Bài thơ không có tên. Nó là thơ tức cảnh nhưng đồng thời còn là một lời nhắn về nước của Bác sau khi thoát khỏi tù. Lời nhắn bằng văn xuôi chỉ năm chữ viết tắt: "ở bên này bình yên". Nhưng còn lời nhắn bằng thơ? Lòng sông gương sáng bụi không mờ (Giang tâm như kính tịnh vô trần) Đó là cảnh thiên nhiên trong sáng, nhưng cũng là lương tâm người cách mạng, trải qua bao tháng ngày tù đày gian khổ. phải đối phó với những tình huống phức tạp trong vòng vây của kẻ thu, vẫn trong sáng như gương không chút hụi Và từ nơi đất khách, trên đỉnh núi Tây Phong, Người không lúc nào không hướng về Tổ quốc, hướng về đồng chí, đồng bào đang chiến đấu vì độc lập tự do: Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa. Nhiều tập Hồi ký khác còn cho biết, những ngày mới ra tù, Bác Hồ rất yếu. Nhưng Người quyết tâm tập leo núi để có sức khoẻ nhanh chóng trở về Tổ quốc. Cuộc tập luyện như thế vô cùng gian khổ, nhiều khi phải bò phải lết.Xem thêm: Phân tích tác phẩm Đời thừa của Nam Cao Vậy mà trong thơ, hình ảnh của Người thật ung dung đàng hoàng như là dạo chơi ngoạn cảnh vậy. Mới biết sức mạnh tinh thần của nhà cách mạng vĩ đại có thể vượt lên rất cao trên mọi đau đớn thể xác, thanh thoát như không. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy phân tích bài thơ Mới ra tù, tập leo núi của Hồ Chí Minh.
935
Anh (chị) Hãy phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh Gợi ý Xuân Quỳnh là một gương mặt tiêu biểu cùa phong trào thơ trẻ chống Mĩ. Trong dàn đồng ca của thơ trẻ chống Mỹ, Xuân Quỳnh nổi lên như một tiếng thơ trẻ trung, tươi mát, đầy nữ tính. Cùng bám sát cuộc sống lao động và chiến đấu anh hùng của con người Việt Nam, nhưng Xuân Quỳnh còn thể hiện được cả một khát vọng mãnh liệt về tình yêu. Điểm đặc sắc trong thơ tình yêu của Xuân Quỳnh là: vừa khát khao một tình yêu lí tưởng vừa hướng tới một hạnh phúc thiết thực của đời thường. Tất cả những điều ấy được thể hiện trong một tiếng thơ giản dị, tự nhiên và hồn nhiên gần như bản năng vậy. Nhắc đến Xuân Quỳnh người ta thường nhắc đến những bài nổi tiếng: "Thuyền và biển", "Thơ tình cuối mùa thu", "Tự hát"… và nhất là "Sóng" – bài này được rút ra từ tập "Hoa dọc chiến hào". Có thể nói, "Sóng" đã kết tinh được tất cả những gì là sở trường nhất của hồn thơ này. Hình tượng bao trùm cả bài thơ này không có gì khác hơn là sóng. Sóng vừa được gợi ra trong một âm điệu rất phù hợp, vừa đuợc tái tạo với hàng loạt ý nghĩa phong phú của nó. Một bài thơ chân chính bao giờ cũng tác động vào tâm hồn người đọc trước tiên bằng âm điệu của nó. Người đọc còn chưa kịp hiểu chi tiết hình ảnh thì đã bị cuốn theo âm điệu, nói một cách khác, âm điệu đã xâm chiếm tâm hồn người đọc. Âm điệu của một bài thơ bao giờ cũng là sự hoà điệu nhuần nhuyễn giữa cảm xúc thơ và tiết điệu ngôn ngừ. Vì thế âm điệu chứa đựng tính chất của tình cảm thơ. Ẩn náu trong âm điệu là cái hồn, cái than của xúc động thơ. Vì nhưng lý do ấy mà đọc thơ điều trước tiên và cũng là khó nhất, ấy là phải cảm nhận và nắm bắt cho được âm điệu của nó. Đọc bài thơ "Sóng", chúng ta còn chưa hiểu các ý nghĩa của sóng, nhưng ai cũng dễ bị âm điệu cuốn hút. Bởi âm diệu thơ ở đây cũng là âm điệu của sóng biển. Thi sĩ đã khéo đưa nhịp triền miên của sóng vào thơ hay sóng biển đã khuấy động hồn người tạo nên sóng lòng và sóng lòng đã tràn ra câu chữ mà thành sóng thơ? Âm điệu thơ phụ thuộc khá nhiều vào thể loại. Xem ra, thể thơ ngũ ngôn ở đây đã phát huy được sở trường riêng của nó. Khéo khai thác sự biến hoá phong phú về cả vần và nhịp của ngũ ngôn, Xuân Quỳnh đã sử dụng nhuần nhuyễn nhịp thơ để tạo ra nhịp sóng. Nói riêng khổ thơ đầu, hai câu đầu đi nhịp 2/3:Xem thêm: Phân tích 13 câu đầu trong bài Vội vàng của Xuân Diệu Dữ dội / và dịu êm Ồn ào / và lặng lẽ Thì hai câu tiếp theo đã chuyển nhịp 3 /2 (cầu kỳ hơn là 1/2/2): Sóng/ không hiểu / nổi mình Sóng/ tìm ra / tận bể nhịp thơ thay đổi như vậy đã giúp Xuân Quỳnh mô phỏng được nhịp sóng vốn biến đổi rất mau lẹ, biến hoá không ngừng. Cách tổ chức ngôn từ cũng góp phần tạo ra âm điệu của bài thơ. Thi sĩ đã triệt để tận dụng lối tổ chức theo nguyên tác tương xứng, hô ứng. trùng điệp. Nhất là việc tạo ra các cặp từ. các vế câu, các cặp câu, thậm chí ngay cả các khổ thơ cũng hình thành những cặp đi liền kề, kế tiếp luân phiên đáp đổi nhau vế bằng trắc nữa. Vế tiếp vế, câu tiếp câu. Ở đây vừa "dữ dội và dịu êm" – "ôn ào và lặng lẽ", ngay đó đã là: "Ôi con sóng ngày xưa – và ngày sau vẫn thể”… cứ thế: Em nghĩ về anh em Em nghĩ về biển lớn Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam. V.V… Cặp này vừa lướt qua, cặp khác đã xuất hiện, tựa như con sóng này vừa lịm xuống, con sóng khác đã trào lên. Nhờ đó âm điệu thơ gợi được hình ảnh những con sóng trên mặt biển, cứ miên man, khi thăng khi giáng, khi bổng khi trầm, vô hồi vô hạn. Ta cứ thấy trong âm điệu nhấp nhô những con sóng nối tiếp nhau, gối đầu lên nhau, xô đuổi nhau bất tận. Vậy là, trước khi sóng hiện hình qua những hình ảnh cụ thể thì chúng ta đã nghe thấy tiếng sóng trong âm hưởng, âm điệu. Sóng là hình tượng trung tâm của bài thơ. Nhưng cũng cần phài thấy thi phẩm này có một lối cấu trúc hình tượng khá độc đáo. Mỗi bài thơ thường vẽ ra hình tượng tác giả của nó. Hình tượng tác giả trong bài thơ không hề đồng nhất với con người thi sĩ ở ngoài đời. Nhà thơ thường chọn một tư thế một dáng điệu trong thơ để phô diễn tâm tình của mình sao cho phù hợp nhất. Có thể Xuân Quỳnh viết bài thơ này tại nhà của mình. Nhưng hình tượng tác giả trong bài thơ lại là người phụ nữ đang đứng trước biển, đối diện với đại dương, với sóng để suy tư ngẫm nghĩ và khát khao. Mỗi một phát hiện về sóng người phụ nữ ấy lại liên tưởng đến mình và tình yêu. Bởi thế, mỗi một khám phá về sóng cũng là một khâm phá về chính mình Xuân Quỳnh nhìn thấy mình ở trong sóng và thấy sóng ở trong mình. Vì thế mà sóng là hoá thân, là phần thân của cùng một cái tôi Xuân Quỳnh Sóng và Em trở thành hai hình tương xuyên suốt, khi tách rời, khi hoà nhập, chuyển hoá sang nhau, tuy hai mà một, tuy một mà hai. Đến nỗi, ta có thế khẳng định Sóng là cái tôi thứ hai của Xuân Quỳnh.Xem thêm: Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi hay nhất Mỗi một khổ thơ là một khám phá về sóng, mỗi một khổ thơ, sóng lai hiện lên một ý nghĩa khác. Cho nên không thể lược qui riêng vào một ý nghĩa nào, mà phải nắm bắt hình tượng sóng với tất cả các ý nghĩa cùa nó. Và chỉ có thể nói rằng sóng là tâm hồn, là khát vọng, là tình yêu của người phụ nữ mà thôi. Mở đầu bài thơ, sóng hiện ra với một ý nghĩa rất đặc biệt: sóng mang nữ tính Nghĩ thật thú vị, nam thi sĩ Xuân Diệu thấy sóng biển là một chàng trai đang yêu bờ đắm đuối cuồng nhiệt. Còn nữ sĩ Xuân Quỳnh lại thấy sóng mang trong nó khí chất của người phụ nữ. Có phải nhà thơ trữ tình thường có thiên hướng áp đặt cái tôi của. minh vào đối tượng chăng? Phải nói rằng đây là một tiếng nói đầy kiêu hãnh về giới mình: Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sóng không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Trong khi chất của sóng, thấy có sự hài hoà của các đối cực. Vừa dữ dội nhất vừa dịu êm nhất, vừa ồn ào nhất vừa lặng lẽ nhất. Và mỗi con sóng nhỏ lại mang trong mình một khát vọng lớn. Và đó là khát vọng về sự lớn lao. Vì mang khát vọng lớn mà sóng trở nên quyết liệt. Vâng, nếu một khi xảy ra chuyện "Sóng không hiểu nổi mình" thì dứt khoát "Sóng tìm ra tận bể’. Sóng sẽ từ bỏ sự chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến sự lớn lao, bao dung, khoáng đạt. Đứng trước biển, con người ta dễ có cảm giác rằng: nghìn năm trước khi chưa có mình biển vẫn thế này, nghìn năm sau khi mình đã tan biến khỏi mặt đất rồi, biển vẫn thế kia Vẫn những con sóng từ ngoài xa mải miết chạy vào bờ, tan mình trên bờ bãi. Biển vẫn xôn xao, cồn cào, xáo động thế! Biển là hĩnh ảnh của sự bất diệt. Đối diện với sự bất diệt có thực của biển, người ta liên tưởng đến sự bất diệt khác: sự bất diệt cùa khát vọng! Chừng nào còn tuổi trẻ, chừng ấy khát vọng tình yêu vẫn bồi hồi vỗ sóng trong lồng ngực họ: Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ. Đón khổ thơ thứ ba, sóng lại hiện lên với một ý nghĩa khác: Nguồn gốc của sóng cũng là nguồn gốc bí ẩn của tình yêu! Đứng trước biển, người phụ nữ ấy muốn cắt nghĩa về nguổn gốc của sóng. Nhưng nỗ lực ấy trở nên bất lực. Nguồn gốc của sóng cũng huyền bí như nguồn gốc của tình yêu:Xem thêm: Tả nàng tiên cá trong câu chuyện cổ tích mà em đã đọc Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đâu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau “Khi nào ta yêu nhau” câu hỏi ấy dường như làm băn khoăn mọi đôi lứa. Và không ai trà lời được tới cùng? Càng yêu nhau say đắm bao nhiêu người ta càng thấy rằng tình duyên của mình là không thể giải thích được. Người ta thường thiêng liêng hoá tình yêu. Nó là sự gặp gỡ trong kiếp này, nhưng biết đâu lại là sự hò hẹn từ kiếp trước. Người ta chỉ muốn tin thế! Và phải tin thế tình yêu của con người mới trở nên linh thiêng! Rồi cứ thế, sóng là nỗi nhớ của tình yêu: "Con sóng dưới lòng sâu – Con sóng trên mặt nước – Ôi con sóng nhớ bờ – Ngày dêm không ngủ dược – Lòng em nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức". Là lòng thuỷ chung: "Dẫu xuôi về phương Bắc – Dẫu ngược về phương Nam – Nơi nào em cũng nghĩ – hướng về anh một phương". Là hành trình đến với hạnh phúc của những lứa đôi: "ở ngoài kia dại dương – Trăm nghìn con sóng đó – Con nào chẳng tới bờ – Dù muôn vàn cách trở". Là sự không cùng của khát vọng: " Cuộc dời tuy dài thế – năm tháng vẫn đi qua – Như biển kia dẫu rộng – Mây vẫn bay về xa".. Cứ thế, lời thơ triền miên cùng với sóng. Để đến cuối cùng, nó hiện ra trong khao khát mãnh liệt nhất và cùng là khao khát vô biên tuyệt đích nhất: khao khát bất tử. Điều này là một lôgic hiển nhiên. Đứng trước biển, người ta đối diện với sự vô cùng vô tận của không gian, cũng là đối diện với sự vô thuỷ vô chung của thời gian và nhởn tiền là sự vô hạn vô hồi của biển cả. Người ta khó tránh khỏi cảm giác rợn ngợp. Thấy đời người thật là ngắn ngủi, kiếp người thật lá nhỏ nhoi phù du, vô nghĩa. Chỉ có biển kia là vẫn thế. Chỉ có biển kia là bất diệt. Thân phận phù du nào cũng muốn hoá vĩnh hằng! Người ta thèm muốn được bất tử. Người phụ nữ này cũng thế. Chị muốn được có mặt mãi trên cõi đời này. Để được sống! Dể được yêu1 Sống trong tình yêu ấy là hạnh phúc. Thế là khát khao ấy đã dâng lên mãnh liệt khôn cùng: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ Bài thơ dẫu đã dừng, nhưng những con sóng đó vẫn cồn cào trong ngực biển, trong lồng ngực những lứa đôi không bao giờ ngừng nghỉ! Vanmau.edu.vn
Anh (chị) Hãy phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh
2,021
Anh (chị) hãy phân tích nét phong cách triết luận trữ tình của Nguyễn Khoa Điềm trong chương Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) Gợi ý Nếu như bắt rễ được vào trí nhớ trong hình thái toàn vẹn là lẽ sống còn của thơ, thì các bản trường ca quả đã gặp nhiều khó khăn. Dân mình trong một qui mô lớn mà đi tới toàn bích, thật thiên nan vạn nan. Đọc một trường ca nào đó, thường người ta hay nắm cái Tứ lớn, cái Cốt chung, rồi nhớ vài mảng, vài đoạn lẻ hay nhất đây đó, chứ khó nạp vào bộ nhớ tất tật. Nói khác đi, trường ca thường sống bằng cách xé lẻ bàn thân mình. Việc người đọc dường như quên đi phần lớn các chương khác của "Mặt đường khát vọng"để chỉ nhớ mỗi chương "Đất nước", phải chăng là thuộc vào cái qui luật nghiệt ngã đó? Nhưng một bản trường ca dài rộng mà ghim vào trí nhớ người đọc được cả một chương lớn chẳng phải đã là thành công sao! Nghĩ thật vui: cùng viết về một đề tài, cũng là thành công tiêu biểu cho thi ca của hai cuộc kháng chiến, nhưng, nếu "Đất nước’ của Nguyễn Đinh Thi được hình thành từ hai "tiền thân" nhỏ hơn, thì "Đất nước" của Nguyễn Khoa Điềm lại vỡ ra từ một chỉnh thế lớn hơn. Vì điều đó, chúng đã cùng sống bước vào kí ức của ngườ yêu thơ? không hẳn. Còn bời một tương phản khác đáng kể hơn: Nguyễn Đinh Thi chừng như đã hoà tan suy tư của mình vào cám xúc Trong khi ở Nguyễn Khoa Điềm cảm xúc muốn kết tinh lại trong suy tư Người ta có thể nói đến hiện tượng đốt cháy trái tim lên thành trí tuệ và đốt cháy tri tuệ lên thành tình cảm. Phải chăng hai tác giả kia với hai thi phẩm của mình đã phần nào ứng với hai suy cảm đó? Sự chuyển hóa trong tư duy thơ ở thi phẩm Nguyễn Khoa Điềm có thể gọi là trữ tình triết luận. Ai đã đọc “Đất nước" của Nguyễn Khoa Điềm đểu thấy nể độc đáo trước nhất thuộc về chất liệu của nó: chất liệu văn hoá dân gian Nhưng tìm đến chất liêu này cũng là hướng đi của không ít cây bút. Trước đó ở nhưng mức đậm nhạt khác nhau, có thể thây chất liêu này có mặt trong "Bài thơ quê hương" cua Nguyễn Binh, hay "Tiếng Việt" của Lưu Quang Vũ những thi phẩm gần gũi về đề tài Cho nên, tính độc đáo thực sự phải nằm ở việc xử lí chất liệu ấy Nguyễn Khoa Điềm đã xứ lí bằng lối suy cảm triết luận trữ tình vậy Trước tiên, cả chương thơ được tổ chức thành một cuộc tâm tình của một đôi trai gái. Họ hẹn hò với nhau, tâm sự, tự tình. Những khi riêng tư nhất, cần phải nói những chuyện sâu kin nhất, ho lại nói về Đất nước. Đất nước trở thành mội quan tâm hàng đầu của cả dân tộc. của từng con người, của mỗi lứa đôi. Qua đó Nguyễn Khoa Điềm đã làm được điều này: biến một vấn đề chính trị thành một câu chuyện tâm tình, chuyển hoá ý thức công dân thành tình cảm cá nhân, đời tư hoá một chủ đề sử thi. Là cuộc tâm tình, nên lối biểu hiện nghiêng về suy ngẫm, mỗi lời thơ kết tinh bao suy tư chiêm nghiệm của thi sĩ. Lời tâm sự lứa đôi đấy luyến ái (ở đây chủ yếu là lời người con trai bỗng trở lên thiêng liêng trang trọng, như là một tâm nguyện của một thế hệ. Đọc theo chương thơ, giọng tâm tình sâu đậm luôn cất lên mặn mà đằm thắm: "Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi", "Em ơi em hãy nhìn rất xơi Vào bốn nghìn năm đất nước", "Nhưng em có biết có những người con gáỉ con trai/ Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi", "Em ơi em đất nước là máu xương của mình". Có thể nói đây là môi trường trữ tình dành cho cả chương thơ, môi trường ấy quyết định giọng điệu cảm xúc của toàn thi phẩm: giọng trầm lắng trang trọng. Tuy nhiên đây chưa phải là điều thật quan hệ đến chất liệu văn hoá dân gianXem thêm: Phân tích và nêu cảm nhận về phác thảo chân dung Đô-xtôi-ép-ki của nhà văn Áo Xvai-gơ Điểm mấu chốt khiến tác già mài sắc lối suy cảm triết luận và huy động vốn văn hoá dân gian hết sức bề bộn của mình chính là một cảm hứng riêng về cái đề tài chung ấy. "Đất nước là gì? Đất nước của ai dường như đó là những câu hỏi xoáy sâu vào trong niềm trăn trở của Nguyễn Khoa Điềm. Nó đòi được trả lời. Để tìm kiếm câu trả lời, thi sĩ đã dùng trí tuệ đốt cháy những cảm xúc của mình thành những ngẫm ngợi, những đúc kết, có tầm khái quát cao sâu, đã dùng một suy cảm vừa giàu triết lí vừa thơ mộng để nhào nặn tái tạo lại toàn bộ vốn văn hoá nhân gian của mình đặng lắng nghe từ cao biểu tượng dân gian quá ư quen thuộc những tiếng nói hết sức bất ngờ, những nghĩa lí như chưa từng nghe thấy. Và tiếng nói tập trung nhất của mọi biểu tượng văn hoá dân gian mà thi sĩ nghe thấu chính là: Đất nước ở trong ta. Đất nước ở quanh ta và Đất nước của nhân dân – "trong anh và em hôm nay đều có một phần Đất nước/ Khi hai đứa cầm tay Đất nước hài hoà nồng thắm/ Khi chúng ta cầm tay mọi người/Đất nước vẹn tròn to lớn", "Đất nước của nhân dản/Đất nước của ca dao thần thoại"… Vì thế, dù muốn dù không, sự sắc sảo của một tư duy đã giúp thi sĩ dột phá vào chiều sâu của vấn để triển khai sự trả lời của mình trên những bình diện cơ bản nhất câu thành một Đất nước. Toàn bài là một dòng tâm sự tuôn chày khá tự nhiên phóng túng. Nhưng đúng là nhìn sâu vào cái dòng chảy luôn có xu hướng tràn lan ấy vẫn thấy suy tư của người làm thơ xoáy vào ba bình diện chính là: bề rộng không gian lãnh thổ, chiều dài thòi gian lịch sử và bề dày văn hoá. Ba bình diện ấy đan xen chuyển hoa sang nhau trong cùng một dòng chảy tràn trề trào ra từ một bầu tâm huyết bỏng cháy đói với đất nước mình. Chính điều này cho thấy rõ lối suy cảm triết luận trữ tình ở Nguyễn Khoa Điềm ở đây đã đạt đến độ nhuần nhuyễn thế nào. Nét chủ đạo trong tư duy triết luận trữ tình là đào sâu cái bản chất của các sự vật dưới dạng những biểu tượng thi ca sống động. Tư duy ấy chuyển động dựa trên mạch logic biện chứng với những mối liên hệ thật bất ngờ kỳ thú. Câu thơ định nghĩa ở đây thật lợi hại, nó vừa là những mệnh đề triết học vừa là những hình tượng thơ truyền cảm. Hình dung về sự sinh thành của Đất nước, Nguyễn Khoa Điềm thấy nó là sự sinh trưởng của Đất và Nước, cùng sự sinh sôi của các địa danh. Tìm kiếm văn hoá, thi sĩ tìm thấy những giá trị văn hoá lớn lao ẩn ngay trong những vật phẩm nhỏ nhoi tầm thường… Ở đâu cũng loé sáng những phát hiện, những khám phá bất ngờ. Có lẽ đối với bất cứ Tổ quốc nào, thì hai thành phần khởi đầu, hai "nguyên tố", hai tế bào khởi đầu cho mọi sự sinh thành đểu phải là Đất và Nước. Hai nguyên tố này kết hợp với nhau đế rồi từ có mà sinh thành cái cơ thể đất đai, nước non, xứ sơ. Nguyễn Khoa Điềm đã suy cảm về lãnh thổ bắt đầu từ hai " nguyên tố" ấy. Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất nước là nơi ta hò hẹn Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Chỉ bằng trực cảm cũng có thể thấy đoạn thơ trên là một loạt những định nghĩa bằng thơ, chúng là sản phẩm của một tư duy vừa giàu chất trữ tình thơ ca. vừa mang tính huyền thoại, vừa thấm đượm phong vị triết học. Không phải ngẫu nhiên mà Đất tương ứng với Anh, Nước tương ứng với Em. Một yếu tố thuộc Âm. Một yếu tố thuộc Dương. Khi nói riêng về từng người thì Đất và Nước cũng đứng tách riêng thành hai chữ, nhưng đến khi Anh với Em hò hẹn, để hợp lại thành Ta thì Đất và Nước cũng liền lại với nhau thành Đất Nước. Như vậy chẳng phải Đất và Nước hoà hợp cùng với tình yêu và trong tình yêu của con người hay sao? Từ đó bắt đẩu sự sinh sôi. Và khi Em nhớ Anh thì cà Đất Nước dường như cũng sống trong nỗi nhớ thầm. Cho nên câu thơ "Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” là một câu thơ đẹp, trong đó tình yêu đôi lứa đã hoà hơp làm một với tinh yêu non sồông đất nước. (Xin mở một ngoặc đơn để ghé nhìn sang Nguyễn Đình Thi. Khác với ở Nguyễn Khoa Điềm, hai biểu tượng làm công cụ chính để cho tác giả suy cảm về "Đất nước" lại là Mặt đất và Bầu trời). Cứ thế Đất nước lớn lên trong tình yêu. Cả tình yêu của phạm vi đôi lứa. cả tình yêu trong phạm vi cộng đồng. Tư duy triết luận cứ mở rộng mãi để bao quát sự sinh thành, trưởng thành, mở mang của toàn thể Đất Nước:Xem thêm: Nghị luận xã hội về thói vô trách nhiệm- Văn 12 Đất là nơi con chim Phượng hoàng bay về hòn núi bạc Nước là nơi con cá Ngư Ông móng nước biển khơi Thời gian đằng đẳng Không gian mênh mông Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nới chim về Nước là nơi rồng ở Lọc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Song song với quá trình hình thành Đất và Nước để tạo ra địa bàn cư trú của người Việt suốt mấy nghìn năm qua là sự sinh sôi của các địa danh. Mỗi một địa danh không phải là một dòng tên vô nghĩa. Đằng sau mỗi tên đặt, tên làng, tên núi, tên sông là những cuộc đời; mỗi cuộc đời là một kì tích, một huyền thoại Một mảnh đất chưa có tên là một miền đất hoang chưa có lịch sử, chưa có sự sông đích thực của con người. Vì thế, khi địa danh lan đi đến đâu thì đẩt đai được mở rộng đến đó. Nó là dấu ấn về sự sinh tồn của dân tộc này. Lan theo những địa danh, Nguyễn Khoa Điềm đa dưng lai được cả diện mạo của non sông đất nước. Mỗi địa danh đều làm rung động sâu tâm linh của con người: Núi Bút non Nghiên. Hòn Vọng Phu Hòn Trống Mái, Vịnh Hạ Long, Sông Cửu Long, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen. Bà Điểm… Mỗi địa danh là một cuộc đời, mỗi cuộc đời hóa thân thành sông núi: Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta Điều đó cũng có nghĩa: chính Nhân Dân đã gây dựng, mở mang, truyền giữ đất nước này. Lối suy cảm triết luận trữ tình trước khi tác động vào trái tim người đọc, thường khi phải vòng qua trí tuệ của họ. Hay như Chế Lan Viên nói: Tư duy phải đi trước một bước. Cách tác động phổ biến nhất (hữu hiệu nhất?) của nó phải chăng là tạo ra các nghịch lí? Các chân lí thi ca thường đi vào sự tiếp nhận của người yếu thơ triết luận trong y phục nghịch lí. Người ta không khỏi ngỡ rằng. Nghĩa là câu thơ kia có một phút ngập ngừng. Nhưng sau phút ngập ngừng bên ngưỡng cửa của sự tiếp nhận, nó bước thẳng vào kí ức người ta rồi ờ lì, bám rễ vào tâm khảm. Cho nên, nghịch lí (hay hình thức có tính phi lí) là sự hiện hỉnh phổ biến cho những suy cảm ở thi phẩm này. Tôi muốn nói đến những câu thơ khi Nguyễn Khoa Điềm trầm tư triết luận về Văn hoá.Xem thêm: Viết một đoạn văn khoảng 4, 5 câu nói về hoa hồng Thống nhất với lối viết về các bình diện bề rộng không gian, chiều dài thời gian – ghi công cho những người vô danh, nghiền ngẫm về bề dày văn hoá, thi sĩ này cũng không nhắc đến các công trình nối danh thuộc nền văn hoá bác học. Không kế những công trình kiến trúc như Chùa Một Cột, Chùa Bút Tháp…, không kể những công trình điêu khắc như Phật Bà nghìn mắt nghìn tay, Mười tám vị La Hán Chùa Tây Phương… cũng không điểm đến những tác phấm văn chương bất hủ như Truyện Kiểu, Chinh phụ ngâm, Lục Văn Tiên v.v.„ Đó cũng là những công trình hết sức tiêu biểu cho nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, đó là thứ Văn hoá dễ thấy, nó cũng giống những người anh hùng hữu danh lưu trong sử sách, ở đây, Nguyễn Khoa Điềm quan tâm nhiều hơn đến thứ văn hoá khác: những sản phẩm văn hóa nhỏ nhoi bình thường đến tầm thường, quen thuộc đến quen nhàm trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường dửng dưng quên lãng Đất nước đã dược phát hiện từ một câu chuyện cổ tịch, một câu ca dao vât vưởng trôi nổi ở chốn thôn qurr được phát hiện từ cái kèo. cái cột nôm na. từ vị gừng cay muối mặn mộc mạc, từ cách làm ra hạt gao dãi dầu một nắng hai sương, từ cách bới tóc sau đầu của những người mẹ Việt. Tất cà khiến cho người đọc sững sờ: hoá ra chẳng phải nhọc công tìm kiếm Đất nước ở đâu xa. Trái lại, đất nước ở quanh ta. Đất nước ở trong ta, và ở ngay những gì đơn sơ thân thuộc nhất. Song, có lẽ bất ngờ hơn cả vẫn là phát hiện này: Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bây giờ bà ăn Câu thơ là một nghịch lí, phi lí. Đất nước là một khái niệm lớn lao, thiêng liêng, hệ trọng, tại sao lại có thể nằm trong một miếng nhỏ nhoi, tầm thường, không có gì quan trong? Đi tìm sự khởi thuỷ của một đất nước, nghĩa là phái ngược thời gian trở về với ngọn nguồn xa xưa, sao lại bắt đầu với miếng trẩu của "bây giờ”? Câu thơ xem ra thật phi lôgic nhưng ngẫm nghĩ ta sẽ thấy rằng cái phi logic kia chi là hình thúc của câu thơ. Tác giả đã mượn một hình thức phi lí để chứa đựng một chân lí. Đóp là: một đất nước dù lớn đến đâu cũng bắt đầu từ những cái nhỏ nhoi, vô số những cái nhỏ nhoi mới làm nên sự lớn lao. Nói cách khác không có những cái nhỏ nhoi như miếng trầu thì cũng không có sự lớn lao như đất nước. Thì ra mỗi miếng trầu ngỡ như vô nghĩa kia đều gánh trong nó một phần Đất nước. Mỗi miếng trẩu bà ăn hôm nay đều đã có bốn nghìn năm tuổi! Mỗi cái hiện diện trong hôm nay, của bây giờ, phía đằng sau có cả một lịch sử lâu dài. Vì thế quá khứ luôn có mặt trong hiện tại, lịch sử vẫn dđang hiện diện đến hôm nay. Những câu thơ như thế thật là một sự phát kiến bất ngờ, khiến người đọc phải giật mình. Nó không chi là một sản phẩm của một tư duy sắc sảo. Mà trước hết nó là sản phẩm của một tình yêu, một tấm lòng Nếu không có sự trân trọng với tất cà những gì mà tổ tiên chắt chiu, chi chút, gìn giừ trong mấy nghìn năm qua, thì mọi thứ triết luận dù sắc sảo đến đâu cũng không thể có được những câu thơ có thể đánh động vào tầng sâu của tâm linh người đọc đến thế được. Mối giao kết giữa yếu tố trữ tình và yếu tố triết luận trong mọi suy cảm thi ca chân chính chẳng phải là tuân theo cái cơ chế đó sao? Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy phân tích nét phong cách triết luận trữ tình của Nguyễn Khoa Điềm trong chương Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng)
2,867
Anh (chị) hãy phân tích phẩm chất anh hùng của các nhân vật trong tác phẩm “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyên Ngọc Gợi ý "Tây Nguvên ơi! Hoa rừng bao nhiêu thứ Cánh hoa đẹp nhất rừng Tây Nguyên ơi! Anh có nhớ buôn làng Nhớ người con gái… … Nhớ cánh hoa Pơ-lang đẹp nhất rừng Tây Nguyên…” (Ca khúc "Em là hoa Pơ-lang" – Đức Minh) Ai đã từng lắng nghe tiếng hát ấy trong những tháng ngày sôi sục thời đánh Mĩ? Ai đã từng biết hoa Pơ-lang báu vật của Trời có hàng ngàn cánh, nở tươi thơm ngát hàng vạn năm được nói đến trong "Bài ca chàng Đam San”. Tiếng hát ấy còn đem đến cho ta bao xúc động bồi hồi khi nghĩ tới những phẩm chất anh hùng của các nhân vật trong truyện "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành, một kiệt tác viết về đề tài Tây Nguyên thời đánh Mĩ. Nguyễn Trung Thành là bút danh của nhà văn Nguyên Ngọc thời đánh Mĩ. Truyện “Rừng xà nu” của ông lần đầu tiên được đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền Trung Trung bộ, số 2 năm 1965. Truyện mang đậm tính sử thi, gợi lên một không khí níu rừng thiêng liêng huyền thoại. Cuộc đấu tranh vũ trang của dân làng Xô Man chống Mĩ – Diệm diễn ra vô cùng ác liệt đầy máu và nước mắt, sáng bừng ngọn lửa và chiến công. Những con đường, dốc núi, bờ suối chằng chịt hầm chông, hố chống, giàn thò lưỡi "sắc lạnh". Nhà ưng nơi tụ hội của người Strá đã có lúc biến thành pháp trường, chiến trường dữ dội, bi tráng. 1. Cả dân làng Xô Man, từ già tới trẻ, từ đàn ông tới đàn bà, ai cũng có trong tay một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, cậy rựa sáng loáng mài bằng đá mài núi Ngọc Linh do anh Tnú gùi về, ai không có giáo mác thì có 500 cây chông. Mỗi người dân là một chiến sĩ, một dũng sĩ nhen nhóm bằng ngọn lửa cách mạng và niềm tin mà anh Quyết cán bộ Đảng hoạt động bí mật đem lại cho dân làng Xô Man: "Đánh Mĩ phải đánh lâu dài”, "cán bộ là Đáng; Đảng còn, núi nước này còn”,… Trong những năm dài đen tối khi quân Mĩ – Diệm kéo tới, suốt đêm ngày, chó của nó và súng của nó "sủa vang cả rừng”, thì dân làng Xô Man vẫn thay nhau vào rừng tiếp tế, bảo vệ cán bộ Đảng. Anh Xút bị giặc bắt treo cổ lên cây vả đầu làng, bà Nhan bị giặc chặt đầu, cột tóc treo đầu súng. Nhưng chẳng ai sợ! Người già, trẻ con, Mai và Tnú,… lại thay nhau vào rừng nuôi giấu, bảo vệ cán bộ. Suốt 5 nãm trời, chưa hề có một cán bộ nào bị giặc bắt hay bị giặc giết trong rừng của làng Xô Man. Đó là niềm tự hào, và đó là phẩm chất anh hùng, trung dùng của những người Strá. a. Mỗi người dân làng Xô Man là một chiến sĩ. Cụ Mết già làng, oai phong lẫm liệt. Mắt sáng và xếch. Râu dài tới ngực mà vẫn đen bóng. Ông cụ ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn. Đà 60 tuổi mà tiếng nói vẫn ồ ồ vang dội trong lồng ngực! Một lời khen "được”của ông cụ làm cho cả làng ai cũng hả dạ. Bàn tay nạng trịch “như một kìm sắt". Lúc cụ nói, mọi người đểu im bặt, trẻ con im lặng thin thít. Cụ Mết đầy uy tín, là một thủ lĩnh quân sự tài ba, quyết đoán. Để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, cụ Mết lãnh đạo dân làng Xô Man đêm đêm thức mài vũ khí, ban ngày đi phát hết các rẫy cũ, trồng pom-chu và sắn xanh mượt cả núi rừng. Trong những giờ phút nghiêm trọng nhất giữa cái sống và cái chết, cụ Mết đã chỉ huy đội du kích từ trong rừng bất ngờ xông lên nhà ưng tiêu diệt lu ác ôn. Tiếng hô của cụ Mết vang lên: “Chém! Chem hết!”. Những cây rựa sáng loáng vung lên. Dưới lưỡi mác của cụ Mết, thằng Dục chỉ huy nằm gục trên vũng máu. Mười tên giặc bị giết chết, xác ngổn ngang quanh đống lửa xà nu giữa nhà ưng. Chính "đêm ấy”, tiếng chiêng nổi lên, lửa cháy khắp rừng. Và "cả rừng Xô Man ào rung động”. Chính đêm ấy, cụ Mết già làng, người anh hùng bộ tộc trong tư thế lẫm liệt của người chiến thắng đã truyền hịch đánh Mĩ – Diệm vang vọng núi rừng: “Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ,người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!”.Xem thêm: Phân tích bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh Cụ Mết trong truyện "Rùng xà nu” được miêu tả và ngưỡng mộ như một vị anh hùng dân tộc. Cụ đã thắp sáng ngọn lửa chiến đâu và chiến thắng vì chân lí lịch sử: "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!". Cụ đà nhắc nhở mọi người Strá phải giữ lấy truyền thống "thương núi, thương nước” kể lại cho con cháu nghe sau này. Nhân vật cụ Mết, một già làng, một lão du kích phi thường là một thành công đặc sắc của Nguyễn Trung Thành trong nghệ thuật khắc hoạ tính cách anh hùng sử thi huyền thoại. b. Tnú là một trai làng dũng mãnh, là niềm tự hào của bà con dân làng Xô Man. Cụ Mết đã nói về anh với tất cả tình yêu thương, tự hào: "Nó là người Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta". Cuộc đời Tnú đầy máu và nước mắt như bao cuộc đời của người dân làng Xô Man dưới súng đạn của Mĩ – Diệm. Con đường chiến đấu của Tnú là con đường quật khởi của quê hương anh. Hai lần Tnú đi bộ 3 ngày lên núi Ngọc Linh để lấy một xà lét đá trắng về làm phấn, lấy một gùi đá mài đêm về mài vũ khí, hành động ấy nói lên lòng khao khát ánh sáng cách mạng và tự do của anh. Phẩm chất anh hùng của Tnú được tôi rèn trong máu lứa chiến tranh. Thuở nhỏ, Tnú vào rừng tiếp tế và bảo vệ anh Quyết, cán bộ "nằm vùng" để học chữ, với niềm tin sắt đá: “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này cồn". Đi giao liên, lúc thì Tnú "xé rừng mà di" lọt qua các vòng vây của giặc, lúc thì anh cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình, tạo nên sự bất ngờ. Bị giặc bắt, Tnú nuốt ngay thư bí mật. Bị giặc tra tấn dã man, bắt khai ai là cộng săn, Tnú đạt tay lên bụng mình và nói: "Ở đây này!". Lưng anh đầy vết chém, anh vẫn bất khuất, hiên ngang giữ vừng lòng trung thành với cách mạng. Khi làng Xô Man quật khởi đứng lên mài vù khí chống Mĩ – Diệm thì Tnú trở thanh chỉ huy đội du kích. Với bọn giặc ở đồn Đắc Hà, anh là “con cọp… loạn rừng núi"… Tnú căm thù sôi sục quân giặc khát máu. Mắt anh trở thành "hai cục lửa lớn” khi lũ ác ôn giáng "trận mưa cây sắt" xuống vợ con anh. Anh coi bọn thằng Dục là "đồ ăn thịt người!". Tnú đã nhảy xổ vào lũ giặc để cứu vợ con, “hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai”. Hình ảnh Tnú bị giặc tra tấn, đốt cháy mười ngón tay thành mười ngọn đuốc, mắt anh trừng trừng, anh cắn nát môi, nghe lửa cháy trong lồng ngực… "anh không thèm kêu van", đã làm cho chúng ta vô cùng cảm phục. Anh đã nêu cao một tư thế lẫm liệt hiên ngang. Con người anh tưởng như được đúc bằng thép! Khí phách của Tnú là khí phách của người anh hùng sứ thi. Tình tiết Tnú xông xuống hầm ngầm giặc, không dùng súng, không dùng dao mà chi giết thằng chi huy ác ôn bằng mười ngón tay, ngón nào cũng bị cháy mất một đốt – đã nói lên ý chí căm thù giặc không bao giờ nguôi trong lòng anh. Lòng căm thù đã cho Tnú sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.Xem thêm: Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tùy bút cùng tên của Nguyễn Tuân Nguyễn Trung Thành đã khắc hoạ đôi bàn tay Tnú để tô đậm phẩm chất anh hùng của đứa con yêu làng Xô Man. Nếu ngọn lửa thần A-nhi đã soi sáng lòng kiên trinh của nàng Si-ta trong sử thi Ra-ma-ya-na, thì ngọn lửa xà nu trên mười ngón tay đã làm sáng bừng lên dũng khí và tinh thần bất khuất của nhân vật Tnú anh hùng. Dưới ngòi bút Nguyễn Trung Thành, nhân vật Tnú mang vẻ đẹp huyền thoại. c. Mai và Dít là hình ảnh người phụ nữ mới của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thời đánh Mĩ. Thuở bé, Mai đã vào rừng tiếp tế và bảo vệ cán bộ. Mai học chữ rất giỏi, ba tháng đọc được chữ, sáu tháng làm được toán hai con số. Khi đã trở thành người vợ, người mẹ, Mai đã dũng cảm lấy thân mình để bảo vệ đứa con thơ, và chị đã bất khuất hi sinh trước trận mưa cây sắt của thằng giặc khát máu. Dít là em gái của Mai, Cái mũi hơi tròn, đôi mắt mở to, bình thản, trong suốt. Lớn lên, Dít càng giống Mai. Dít cũng bị giặc bắt khi Dít đi vào rừng tiếp tế cho đội du kích. Lũ giặc đã biến Dít thành “tấm bia sống”, bắn sượt qua tai, sém tóc, váy rách tượt từng mảng. Từ viên đạn thứ thứ mười trở đi, Dít chùi nước mắt, im bặt, "nhìn bọn giặc bình thản đến lạ lùng!". Thật là gan dạ, lẫm liệt. Chỉ 3 năm sau, Dít đã trở thành Bí thư chi bộ kiêm Chính trị viên xã đội, linh hồn cuộc chiến đấu của dân làng Xô Man. Có thể nói Mai và Dít tiêu biểu cho những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam: “Anh hung, bất khuất, trung hậu, đảm đang", đã gắn bó cuộc đời mình với sự sóng còn, với đau thương và uất hận, với nhục và vinh của dân tộc trong thời đánh Mĩ. d. Đọc truyện "Rừng xà nu”, ta không thể nào quên được bé Heng, mặc dù tác giả chi phác hoạ một vài nét. Đó là một chú bé nhanh nhẹn, thông minh, thuộc mọi con đường, những hầm chông, những giàn thò, những ác chiến điểm của làng mình như thuộc lòng bàn tay mình. Người nhỏ bé, đóng khố, áo bà ba dài phết đít, đầu đội một cái mũ sụp xin được của anh Giải phóng quân nào đó. Một khẩu súng trường mát đeo chéo ngang lưng "ra vẻ một người lính thực sự”. Khi thì Heng nhắc Tnú không được uống nước lã. Khi thì Heng giới thiêu về chị Dít. Heng giục Tnú đi nhanh, “sắp tối rồi!". Nó hất hàm ra hiệu, thân mạt nói với Tnú: “Lâu ngày về chân không leo nổi cái dốc nữa à!". Em báo cho Tnú biết: "Chông đấy! Có chông đấy!…”. Heng tháo cây súng chống xuống đất và gọi to: "Người già ơi, có khách đấy!”. Heng chỉ là người dẫn đường, chỉ là người dẫn chuyện, xuất hiện trong khoảnh khắc. Thế mà đầy ấn tượng, đó là cái tài của Nguyễn Trung Thành trong miêu tả nhân vật. Bé Heng đã trưởng thành cùng cuộc chiến đấu vũ trang của dân làng Xô Man. Con người em đã hình thành bao phẩm chất anh hùng. Em là một cây xà nu, một cây con mới mọc “vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã…" trong bom đạn giặc! 2. Thời kháng chiến, cây tre, cây dừa, cây đước đã được một số nhà văn, nhà thơ dành cho một địa vị sang trọng: "Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái đình nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người" (“Cây tre Việt Nam” – Thép Mới). Với Nguyễn Trung Thành, cây xà nu, một loại cây “man dại mà cao quý đáng yêu” đă trở thành một biếu tượng, một nhân vật mang bao phẩm chất tốt đẹp, anh hùng. Trong truyện, cây xà nu, đồi xà nu, rừng xà nu, cành lá xà nu, ngọn xà nu, nhựa xà nu, lửa xà nu,… được nhắc đến rất nhiều lần, đầy ấn tượng. Cây xà nu là cảnh quan, là vẻ đẹp hùng vĩ của làng Xò Man: "… trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời". Đồi xà nu trùng điệp ấy gợi cho ta liên tưởng về người người lớp lớp trong thế trận chiến tranh nhân dân, trong cuộc diễu binh hùng vĩ. Mưa đại bác của giặc giội xuống suốt đêm ngày đã hơn ba năm nay, cây xà nu cùng chung số phận đau thương tang tóc với người Strá. Hàng vạn cây xà nu không có cây nào không bị thương. Đại bác giặc chặt đứt ngang nửa thân mình, cây xà nu “đổ ào ào như một trận bão". Một cảnh tượng dữ dội, một tư thế lẫm liệt hiên ngang. Cây xà nu bị thương, nhựa ứa ra tràn trề "đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Cũng như những em bé – những nạn nhân trong chiến tranh, những cây xà nu vừa lớn ngang tẩm ngực, nhựa còn trong, dầu còn loãng, bị trúng đạn, vết thương cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Cây xà nu được nhân hóa; nỗi đau của rừng xà nu mãi mãi là vết thương lòng của con người trong nhiều năm tháng. Cây xà nu có một sức sống phi thường, vô cùng mãnh liệt. Nó là loại cây ham ánh sáng mặt trời nhất trong rừng. Ở một gốc cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, "ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời". Một so sánh rất đẹp thể hiện một tư thế hiên ngang dung mãnh trong lửa đạn. Nhựa xà nu “thơm mỡ màng”, "thơm ngào ngạt", đó là phẩm chất cao quý để lại cho đời. Rừng xà nu, đồi xà nu mang tầm vóc dũng sĩ. Nếu cây tùng trong thơ Ức Trai có tài đống lương “nhà cả đòi phen chống khỏe thay", để lại hổ phách, phục linh "dành còn dể trợ dân này”, thì rừng xà nu đã hai ba năm nay, “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng". Qua đó, ta thấy thời chiến tranh, cây cỏ đã cùng con người chung sức, chung lòng đánh giặc để giữ làng giữ nước. Đọc truyện "Rừng xà nu”, một ấn tượng sâu sắc đối với mỗi chúng ta là đống lửa xà nu rực cháy trên nhà ưng đă làm cho lưỡi mác của cụ Mết, mũi giáo của đội du kích thêm sáng loáng, đã soi tỏ xác lũ ác ôn ngổn ngang trên những vũng máu. Gây xà nu, lửa xà nu đã cùng dân làng Xô Man chan hòa trong niềm vui thắng trận.Xem thêm: Phân tích giá trị nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài Cụ Mết đà nói với Tnú: "Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này!”. Đó là lời thách thức! Đó là niềm tự hào của già làng, của người dân làng Xô Man về rừng xà nu yêu quý. Nguyễn Trung Thành đã viết nên những trang văn xuôi tráng lệ nhất, mang âm hưởng anh hùng ca về cây xà nu. Cây xà nu là một hình tượng kì vĩ, cũng là một nhân vật sử thi thần kì. Truyện "Rừng xà nu" là một kiệt tác văn chương. Cảm xúc dồn nén, sự kiện dồn nén, dũng là "truyện của một đời người được kể trong một đêm, đó là cái đêm dài như cả một đời người". Từ cây xà nu đến con người, tất cả đều phi thường, đều mang theo bao phẩm chất anh hùng. Tất cả đều tượng trưng cho khí phách và sự sống phi thưòng của con người, của thiên nhiên núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ. Có người đã ca ngợi thiên truyện "Rừng xà nu" là "khúc trúng ca về tự do” thời đánh Mĩ. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy phân tích phẩm chất anh hùng của các nhân vật trong tác phẩm “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyên Ngọc
2,936
Anh (chị) hãy phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Gợi ý Chữ người tử tù là một tác phẩm xuất sắc nhất trong tập truyện ngắn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân Để hiểu truyện này, thiết tưởng phải nắm được đôi nét về nghệ thuật chơi chữ truyền thống. Từ xa xưa, ở Trung Quổc, cũng như một số nước lân cận ít nhiều đã từng dùng chữ Nho như Nhật Bàn, Việt Nam…, trong giới trí thức, đều có tập quán chơi chữ Người có tài viết chữ đẹp rất được kính trọng. Chữ Nho là một thứ văn tự tượng hình, viết bằng bút lông mềm mại, viết chữ mà tựa hồ như vẽ một bức tranh. Và cá tính người viết cũng thể hiện trong nét bút. Người ta thường mua chữ, hoặc xin chữ. Người cho chữ, hoặc bán chữ viết lên bức tranh… để chủ nhân làm vật trang trí trong nhà Chữ phải "vẽ" đẹp đã đành, mà ý nghĩa của chữ cũng phải sâu sắc, hợp tình, hợp cảnh… Đây thực chất là một tác phẩm mĩ thuật của người nghệ sĩ, vừa có tài "vẽ" chữ, vừa có khả năng thấu hiểu ý nghĩa của chữ. Bộ môn nghệ thuật này gọi là Thư pháp. Ở Việt Nam, thời phong kiến, Cao Bá Quát được coi là một trong những nghệ sĩ thư pháp đầy tài hoa. Thông qua vẻ đẹp hiên ngang của người tử tù, và quá trình săn tìm cái đẹp của viên quản ngục, Nguyễn Tuân khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng đối với cái xấu xa thấp hèn. Phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù thực chất là phân tích hai nhân vật Huấn Cao và viên quàn ngục. Hai nhân vật này có quan hệ chặt chẽ với nhau, soi sáng và tôn nhau lên. Mặc dù, qua nhân vật quản ngục, tác già cũng đã gửi gắm một số ý tưởng độc lập; nhưng nhìn chung, phân tích nhân vật quản ngục chủ yếu phải phục vụ cho việc phân tích nhân vật Huấn Cao. Nguyễn Tuân đã dưa vào nguyên mẫu Cao Bá Quát, một con người có bản lĩnh kiên cường (lãnh tụ một cuộc khởi nghĩa của nông dân), lại là một bậc tài hoa lỗi lạc chữ viết đep, giỏi thơ phú, để xây dựng hình tượng Huấn Cao – một nhân vật khí phách kiên cường, nhân cách cao thượng, và rất đỗi tài hoa. Huân Cao trước hết là người hết sức tự trọng, "không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ", "tính ông vốn khoánh, trừ chỗ tri kỉ. ông ít chịu cho chữ". Ấy là một con người sống hiên ngang bất khuất "chọc trời khuấy nước", có "hoài bão tung hoành", "đến cái cảnh chết chém" ông cũng chẳng sợ. Ông khỉnh bỉ sâu sắc những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị. Dưới mắt ông, chúng chỉ là một lũ "tiểu nhân thị oai". Do đó, tuy dưới quyền cai quản của chúng, ông vẫn cố tình tỏ ra khinh bạc. Ông xuất hiện lần đầu tiên trước viên quản ngục bằng hành động dỗ cái gông nặng 7 – 8 tạ xuống thềm đá tảng, "đánh thuỳnh một cái" và "lãnh đạm", "không thèm chấp" khi nghe lời dọa dẫm của tên lính áp giải. Thế rồi, sau khi quản ngục khép nép hỏi Huấn Cao: "Ngài cò cần gì thêm nữa xin cho biết. Tôi sẽ cô gắng chu tất", ông đã trả lời với thái độ đầy khinh bỉ: "Người hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn một điều là người đừng đặt chân vào đây" Theo ông, chỉ có "thiên lương" (bàn chất tốt đẹp cùa con người) và tình yêu cái đẹp, cái cao thượng, với tấm lòng "biệt nhởn liên tài" mới là đáng quý. Kiêu sa là thế, nhưng đến khi hiểu đươc tấm lòng của quản ngục, Huấn Cao chẳng những vui vẻ nhận lời cho chữ, mà còn chân thành thét lên: "Ta cầm cái tấm lòng biệt nhân liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quan đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ". Và sau khi cho chữ xong, Huấn Cao còn vỗ về khuyên bảo quản ngục như người cha khuyên bảo con: "Tôi bảo thực đấy, thầy quản nên tìm về quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi về quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rỗi hãy nghĩ đển chuyện chơi chữ. Ờ đây, khó giữ thiên lương cho lành vừng và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi". Như vậy, theo ông Huấn, cái đẹp không thể chung sống với cái xấu xa thấp hèn và con người chi có thể thưởng thức đuợc cái đẹp, nếu như giữ được bản chất trong sáng.Xem thêm: Trong bài Đây mùa thu tới, Xuân Diệu dùng hình ảnh liễu để chỉ mùa thu có gì khác với thơ ca truyền thống?: "Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng". Sự sáng tạo đó đã đem lại hiệu quả nghệ thuật như thế nào cho bài thơ? Huấn Cao còn là con người hết sức tài hoa. ông có "tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp", chữ ông "đẹp lắm, vuông lắm", đến nỗi viên quàn ngục coi việc xin được chữ của ông là "có một vật báu trên đời". Hình tượng Huấn Cao càng trở nên lộng lẫy bởi tư thế hiên ngang, đường hoàng, đúng là tư thế của người anh hùng. Với bản chất kiên cường, cho dù đã sa cơ thất thế (bị giam giữ chờ ngày ra pháp trường), Huấn Cao vẫn có tư thế ung dung tự tại của một người "chọc trời khuấy nước" coi khinh cái chết. Trong tù, ông vẫn thản nhiên ăn thịt uống rượu "coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình" Như vậy, tuy bị giam cầm về thể xác, ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do về mặt tinh thần. Đoạn cho chữ ở cuối truyện có thể xem là đoạn hay nhất, kết tính nghệ thuật của toàn tác phẩm. Qua đoạn này, hình cảnh ông Huấn Cao càng trở nên uy nghi lẫm liệt, giữa một cảnh tượng "xưa nay chưa từng có". Ở đây thủ pháp đối lập được sử dụng đầy hiệu quà thẩm mỹ: việc cho chữ vốn là một việc thanh cao, một sáng tạo nghệ thuật với lụa trắng, mực thơm, nét chữ tươi tắn…, lại được tiến hành trong một buồng tối tăm chật hẹp ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Kỳ lạ hơn nữa là sự đối lập giữa hình ảnh kì vĩ của người tù "Cồ đeo gông chân vướng xiềng” chỉ sáng mai sẽ bị giải vào kinh chịu án tử hình đang ung dung phóng bút tô những nét chữ tài hoa trên tấm lụa bạch như một nghệ sĩ hoàn toàn tự do, tự chủ với hình ảnh so ro của thấy thơ lại "run run bưng chậu mực" và hình ảnh viên quàn ngục khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ, rồi chắp tay vái người tù, "nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ răng làm cho nghẹn ngào: "Kẻ ngu muội này xin bái lĩnh!". Chính sự đối lập dường như phi lý này đã tạo ra cảnh tượng mà tác giả gọi là "xưa chưa từng có" trong nhà tù. Nhưng cái lạ hơn lại là ở chỗ: té ra, giữa chốn tù ngục bạo tàn này không phải nhũng kẻ đại diện cho quyền lực thống trị làm chủ. Đây là sự chiến thắng của cái đẹp của tài hoa và nhân cách đối với cái xấu xa thấp hèn nhơ bẩn. Ý nghĩa tư tưởng của thiên truyện là ở đấy.Xem thêm: Viết bài nghị luận bày tỏ ý kiến của minh về phương pháp “Học đi đôi với hành" Huấn Cao là một nhân vật siêu phàm thường thấy trong văn học lãng mạn. ở nhân vật này, chữ "tài" và chữ "tâm" kết hợp hài hoà với nhau. Ông cũng như nhiều nhân vật chính diện của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời, nhất thiết phải là một con người tài hoa. Song, Huấn Cao còn có vẻ đẹp của một con người đầy khí phách và có trách nhiệm đối với thời cuộc (không phải như nhiêu nhân vật khác trong Vang bóng một thời đành chỉ biết tiêu dao ngày tháng bên chén trà, ly rượu… để giải sầu). Viên quản ngục cũng là một nhân vật độc đáo. Đúng là viên quản ngục của Nguyễn Tuân. Ông ta say mê cái đẹp và nhân cách cao thượng của con người, nên chân thành biệt đãi Huấn Cao, hàng ngày sai người "dâng rươu với thức nhắm", nói năng hết sức cung kính với người tù này. Trước nhân cách cao cả của Huấn Cao, ông tự thấy chỉ là thân phận thấp hèn của một "kẻ tiểu lại giữ tù". Say mê cái đẹp, cảm phục tài năng và nhân cách, chính viên quản ngục chứ không phải ai khác, đã bất chấp luật pháp, làm đảo lộn trật tự trong nhà tù biến kẻ phạm nhân trọng án thành một thần tượng để tôn thờ. Con người như thế quả là một "thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ", là "cái thuần khiết giữa một đống cặn bã". Lúc đầu, hai người nghi kị lẫn nhau, nhưng cái đẹp và tình yêu cái đẹp đã làm cho họ hiểu nhau. Bên trong con người công cụ ấy của chính quyền tàn bạo là một tâm hồn nghệ sĩ. Con người khúm núm trước cái đẹp này, thực ra cũng không thiếu sự dũng cảm ngang tàng. Bằng việc xin chữ người tử tù, ông ta chứng tò có thể sẵn sàng chết vì nghệ thuật (nếu việc bị bại lộ).Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Nhiều người có định kiến Nguyễn Tuân trước cách mạng là một cây bút duy mỹ, nghệ thuật vị nghệ thuật. Chữ người từ từ có thể coi là một bằng chứng để bác bỏ định kiến ấy. Qua các nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục, ta thấy tác giả không hề đối lập tài với tâm, cái đẹp với thiên lương trong sạch của con người. Huấn Cao tin rằng, "Một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình". Và một khi cái đẹp, cái tài, và cái tâm không thể tách rời, thì nghệ thuật có khả năng cảm hoá con người, dù phải sống trong bùn như viên quàn ngục nhưng nếu thực sự yêu cái đẹp thỉ vẫn không mất khả năng hướng thiện. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
1,902
Anh (chị) hãy phân tích và chứng minh Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chương mẫu mực của thời đại Gợi ý Phân tích đề – Để đáp ứng được yêu cầu của đề, trước hết phải hiểu áng văn chương của thời đại là gì. Nói ngắn gọn, đó là một tác phẩm có giá trị lớn, đề cập những vấn đề không phải của một cá nhân, số phận riêng, trái lại, đây là câu chuyện của lịch sử, của cả một dân tộc, quốc gia, có ý nghĩa lâu dài. Song, đấy còn là “áng văn chương”, tức là một tác phẩm văn học thực thụ. – Từ nhận thức ấy, người viết phải tiến hành phân tích và chứng minh nhận định trên hai bình diện: giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. Giá trị nội dung thể hiện tập trung ở chỗ: đây không chỉ là bản án kết tội thực dân Pháp mà còn là sự khẳng định hùng hồn tư thế và chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Giá trị nghệ thuật thể hiện ở sự thành công xuất sắc của tác giả đối với thể văn chính luận (hệ thống lập luận chặt chẽ, tình cảm nồng nhiệt, ngôn từ điêu luyện). – Khi phân tích từng khía cạnh của vấn đề nên kết hợp với việc chứng minh để bài viết mạch lạc, sáng tỏ. Dàn bài chi tiết Bài làm cần đảm bảo các ý chính sau: 1. Tuyên ngôn Độc lập trước hết là một văn kiện chính trị, lịch sử: 1.1. Tuyên ngôn Độc lập đối với dân tộc Việt Nam là một văn kiện có ý nghĩa chính trị, lịch sử to lớn. Nó khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc, tư thế và chủ quyền của nhân dân đối với đất nước và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền ấy: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. 1.2. Tuyên ngôn Độc lập được một người soạn thảo, một người đọc tác phẩm ấy, nhưng đó là tiếng nói của cả dân tộc, quốc gia, của một chính phủ:… chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại hiểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố…; Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng… Do đó, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện của cả quốc gia. 2. Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chương mẫu mực của thời đại: 2.1. Tuyên ngôn Độc lập tuy là văn kiện chính trị, chứa đựng những nội dung chính trị, nhưng đây không phải là tác phẩm khô khan, trừu tượng, về hình thức, đây là tác phẩm thuộc thể văn chính luận. Đặc trưng văn chính luận là hệ thống lập luận chặt chẽ, với những lý lẽ sắc bén và những bằng chứng thuyết phục. 2.2. Tuyên ngôn Độc lập có hệ thông lập luận chặt chẽ, với những lý lẽ sắc bén, những bằng chứng thuyết phục. – Tuyên ngôn Độc lập nhằm khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Nhưng trong hoàn cảnh Tuyên ngôn Độc lập ra đời, lời khẳng định đó không đơn thuần lá một sự tuyên bố”. Trái lại, để có ngày Quốc khánh 2.9.1945, nhân dân ta đã phải làm cuộc tổng khởi nghĩa, cướp chính quyền từ tay thực dân, đế quốc. Và, con đường của dân tộc đang đứng trước biết bao thử thách khắc nghiệt. Bởi vậy, Hồ Chí Minh phải tranh luận, phản bác với những luận điệu của kẻ thù hòng phủ nhận quyền độc lập tự chủ đó. – Trước hết, Hồ Chí Minh xây dựng cơ sở pháp lý của chủ quyền dân tộc Việt Nam. Cơ sở ấy là hai bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp được tác giả trích dẫn nội dung cốt lõi: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc (Tuyên ngôn của nước Mĩ) và Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi (Tuyên ngôn của nước Pháp). Từ những nguyên tắc ấy, Hồ Chí Minh suy rộng ra Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do và khẳng định Đó là những lí lẽ không ai chối cãi được. Như vậy, trích dẫn tuyên ngôn của các nước, Hồ Chí Minh nêu lên quyền độc lập tự do của các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam, là lẽ phải trong quan hệ quốc tế. Lẽ phải ấy không phải do người Việt Nam nghĩ ra, mà chính là do các nước lớn đó xác lập.Xem thêm: Bình luận truyện ngụ ngôn sau đây: Người khiếm thị sờ voi...– Tiếp đến, Hồ Chí Minh đưa ra cơ sở thực tế của chủ quyền dân tộc Việt Nam. + Thực dân Pháp đã chiếm lấy đất nước ta trên 80 năm và hiện giờ, đang lăm le tái chiếm. Để dọn đường cho cuộc xâm lược mới, chúng chuẩn bị dư luận, rêu rao về quyền của chúng ở Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung. Bởi vậy, để khẳng định chủ quyền của dân tộc, phải phủ nhận quyền của thực dân Pháp đối với Việt Nam. Hồ Chí Minh phủ nhận bằng cách chứng minh ngược lại những lời rêu rao của chúng. Về chính sách khai hóa: Thực dân Pháp luôn “kể công” của mình đối với Việt Nam cũng như các nước thuộc địa, xem đây là công cuộc khai hóa, đem lại ánh sáng văn minh. Trước đây, trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất xấu xa, vô nhân đạo của chính sách khai hóa ấy. Ở đây, trong phạm vi của một bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh khái quát thành 5 tội ác về chính trị của thực dân Pháp: Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Tội ác về kinh tế của thực dân Pháp đối với Việt Nam cũng được Hồ Chí Minh vạch trần, rất khái quát, đầy đủ: Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn. Về chính sách bảo hộ: Thực dân Pháp luôn “kể công” với người Việt Nam và hết sức tuyên truyền với thế giới về sự “bảo hộ” của chúng ở Đông Dương. Tuyên ngôn Độc lập vạch trần đấy không phải là “công”, mà là tội:Xem thêm: Hãy phát hiểu cảm nghĩ về nhân vật mà em thích nhất trong các tác phẩm văn học dân gian đã học Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta cho Nhật. (…) Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là đã rõ, chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật. Không những thế, vì sự bỏ mặc Đông Dương, đầu hàng phát xít Nhật, thực dân Pháp đã khiến Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Khi vạch trần thực chất việc “bảo hộ” Việt Nam của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh còn gián tiếp chỉ ra một tội lỗi rất lớn của chúng. Đó là đầu hàng phát xít Nhật, phản bội Đồng minh. Với những luận chứng rõ ràng, rành mạch đã đưa ra, thực dân Pháp đã không còn quyền gì đối với Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng. + Khẳng định dân tộc Việt Nam có quyền trên đất nước của mình. Để khẳng định quyền ấy, Hồ Chí Minh đưa ra ba luận chứng: Trái với thủ đoạn vô nhân đạo của thực dân Pháp, dân tộc Việt Nam mới là người bảo hộ đối với người Pháp:… đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Nếu so sánh với cách đó không lâu, Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng thì sự thật càng rõ hơn ai bảo hộ cho ai, ai là kẻ phi nhân, ai giàu lòng nhân đạo. Trước khi Nhật đến, Việt Nam là thuộc địa của Pháp. Nhưng từ mùa thu 1940, Việt Nam đã là thuộc địa của phát xít Nhật. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân ta cả nước đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Như vậy, dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp… Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Thực dân Pháp đâu còn quyền gì ở Việt Nam? Pháp là quốc gia nằm trong khối Đồng minh, nhưng lại phản bội Đồng minh. Còn nhân dân Việt Nam, dưới lá cờ Việt Minh, đã tự nguyện đứng về phe Đồng minh, đánh đuổi kẻ thù của Đồng minh là phát xít Nhật. – Từ những cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế hết sức đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, Hồ Chí Minh đã đi đến tuyên bố độc lập. Lời tuyên bố ấy bao gồm: + Thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháptrên đất nước Việt Nam. + Các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng… quyết không thể không công nhận chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. + Dân tộc Việt Nam có quyền độc lập, tự do: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! – Hệ thống lập luận ở Tuyên ngôn Độc lập kết thúc ở đó, nhưng tác phẩm không dừng lại. Tinh thần độc lập, tự do của Tuyên ngôn Độc lập còn vang lên một lần nữa, mạnh mẽ hơn, khi hướng về tương lai, với ý chí mạnh mẽ của toàn dân tộc:Xem thêm: Bình luận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn DuyNước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. 2.3. Tuyên ngôn Độc lập chứa đựng tình cảm nồng nhiệt, tâm huyết của người viết. Khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, không ít người dân Việt đã khóc. Ngày nay, mỗi khi được nghe lại, đọc lại, nhiều người vẫn còn những cảm xúc ấy. Điều ấy có được vì Tuyên ngôn Độc lập đã chứa đựng tình cảm nồng nhiệt, với bao tâm huyết của tác giả. – Lời văn Tuyên ngôn Độc lập có lúc vang lên chắc chắn, vững chãi khi tác giả trích dẫn những bản tuyên ngôn của nước Mỹ, Pháp. – Đau đớn, căm giận khi kể tội giặc Pháp. – Sung sướng, tự hào với sức mạnh quật khởi của nhân dân khi đứng lên đánh đuổi phát xít Nhật, giành lấy chính quyền. – Quyết tâm sắt đá khi nói về sự bảo vệ quyền tự do và độc lập của dân tộc. Chính vì chứa đựng rất rõ tình cảm, tâm trạng của người viết, một điều ít thấy ở văn chính luận nên Tuyên ngôn Độc lập không đơn thuần là một văn bản chính trị khô khan, thuần lí. Trong văn bản, đã có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn giữa lí và tình. Nhờ đó, Tuyên ngôn Độc lập có một giọng điệu riêng, mà âm hưởng chính vẫn là hùng tráng, tự hào. 2.4. Tuyên ngôn Độc lập được viết bởi bàn tay điêu luyện của một bậc thầy về ngôn ngữ. Sự điêu luyện về ngôn ngữ thể hiện ở nhiều mặt, chủ yếu là: – Câu văn uyển chuyển, sinh động, theo nhịp của giọng điệu bản Tuyên ngôn Độc lập; có những câu đơn, nhưng phần lớn là câu phức, nhiều mệnh đề. Ví dụ: câu Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị là một câu phức nhưng hết sức ngắn gọn, mỗi mệnh đề đánh dấu một sự kiện, thể hiện được sự thay đổi mau lẹ của thời cuộc. – Sử dụng hàng loạt cấu trúc trùng điệp. + Trùng điệp về từ, ngữ: Dân ta… Dân ta… Chúng tôi… Chúng tôi… Một dân tộc… Một dân tộc… + Trùng điệp về câu: Chúng thi hành… dã man; Chúng lập ba chế độ… đoàn kết; Chúng lập ra nhà tù…; Chúng ràng buộc… + Trùng điệp về nội dung theo chiều hướng tăng tiến ở nhiều cấp độ: Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Hoặc: Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta cho Nhật. (…) Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. – Văn chính luận nhưng có nhiều hình ảnh: thẳng tay chém giết; tắm các cuộc khởi nghĩa… bể máu; bóc lột đến xương tuy; nước ta xơ xác, tiêu điều; ngóc đầu lên; qùy gối đầu hàng… Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy phân tích và chứng minh Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chương mẫu mực của thời đại
2,740
Anh (chị) hãy phân tích và đánh giá những tìm tòi sâu sắc về tư tưởng và những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật của Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo Gợi ý Tuy có những sáng tác đăng báo ngay từ những năm 1936, nhưng Nam Cao thưc sự nổi tiếng khi tác phẩm Chí phèo ra đời. Từ những nguyên mẫu ở làng Đại Hoàng và bằng năng lực hư cấu của một nghệ sĩ tài năng, Nam Cao đã đóng góp vào kho tàng văn học dân tộc một kiệt tác: Chí Phèo. Trước Nam Cao đã có nhiểu tác giả thành công khi viết về đề tài nông dân như Nguyễn Công Hoan với Bước đường cùng. Ngô Tất Tố với Tắt đèn. Trước Nam Cao cũng có những tác phẩm hấp dẫn về đề tài lưu manh chẳng hạn như Bi vô của Nguyên Hồng. Đây là một thử thách to lớn đối với những cây bút đến sau. Bằng nỗ lực to lớn "khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có", Nam Cao đã vượt qua thử thách bằng kiệt tác Chí Phèo. Tên đầu tiên của chuyện ngắn này là Cái lò gạch cũ, nhưng khi in thành sách, NXB tự ý đổi thành Đôi lứa xứng đôi; mãi đến năm 1946, tác giá đặt lại là Chí Phèo Đặt tên truyện là Cái lò gạch cũ phải chăng tác giả muốn nói đến sự luẩn quẩn bế tắc của những kiếp Chí Phèo thể hiện bằng thủ pháp trân thuật "đẩu cuối tương đương". Đầu truyện, Chí Phèo là một đứa con hoang, mẹ nó bọc nó trong một cái váy đụp vứt ở cái lò gạch, cuối truyện: Thị Nở sau khi nghe tin Chi Phèo đâm chết Bá Kiến và tự sát đã nhớ lại những lúc gần gũi hắn rổi chợt nhìn nhanh xuống bụng và thoáng thấy hiện ra cái lò gạch cũ bỏ không. Biết đâu, sẽ có một Chí Phèo con ra đời cũng ở cái lò gạch ấy để nối nghiệp bố? Như vậy Cái lò gạch cũ như là biểu tượng về số kiếp tất yếu của Chí Phèo, cũng là số kiếp chung của người nông dân bị bần cùng hoá không lối thoát, có thể xem là chủ đề chính của tác phẩm. Còn Đôi lứa xứng đôi thì nhấn mạnh vào tính bản năng trong mối tình có tính chất người ngợm, ngợm người, "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", giữa Chí Phèo và Thị Nở – một "con quỷ dữ của làng Vũ Đại" mặt mũi bị vàm ngang dọc và một mụ đàn bà xấu "ma chê quỷ hờn". Như vậy, cách đặt tên Đôi lứa xứng đôi là rất giật gân để gây sự tò mò, nhưng không phản ánh đúng tư tưởng của tác phẩm Khác với một số truyện ngắn cùng viết về đề tài nông dân Dì Hào, Lão Hạc, Một bữa no…. ở tác phẩm này, Nam Cao trực tiếp phản ánh đời sống nông thôn trên bình diện đấu tranh giai cấp, giữa bọn cường hào thống trị và người nông dân bị áp bức bóc lột. Câu ehuyện diễn ra ở làng Vũ Đại, dân không quá hai nghìn. xa phủ, xa tỉnh với tôn ti trật tự nghiêm ngặt: cao nhất là cụ Tiên chỉ Bá Kiến "bốn đời làm tổng lí", uy thế nghiêng trời. Rồi đến đám cường hào. Chúng kết thành những bè cánh: cánh cụ Bá Kiến, cánh ông Đội Tào, cánh ông Tư Đạm, cánh ông Bát Tùng… "Chúng như một đàn cá tranh mồi. Nạn nhân của chúng là những người nông dân thấp cổ bé họng, suốt đời bị đè nén. Còn một hạng nữa tác giả gọi là cũng hơn cả dân cùng, "sống tăm tối như thú vật" đấy là Năm Thọ, Bình Chức, Chí phèo. Đám cường hào một mặt ngấm ngẩm chia rẽ, nhè từng chỗ hở để trị nhau, cho nhau "ăn bùn". Mặt khác chúng "đú lại với nhau" để bóc lột, ức hiếp nông dân. Ở làng Vũ Đại này nông dân hiền lành chỉ è cổ làm nuôi bọn lí hào. Nếu không, họ đành phải bỏ làng mà đi. Như vậy, chỉ qua một truyện ngắn, Nam Cao đã có thể dựng lên một làng Vũ Đại sống động, như một hình ành thu nhỏ của nông thôn Việt Nam tù túng, ngột ngạt trước cách mạng. Quyền thế nghiêng trời ở làng Vũ Đại chính là Bá Kiến. Đây là một trong số những nhân vật điển hình hoàn chỉnh, được xây dựng đặc biệt thành công của văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 Trong tiểu thuyết Tắt đèn, khi xây dựng nhân vật địa chủ Nghị Quế keo kiệt, thô lỗ, Ngô Tất Tố đã mô tà khá rõ gia cành, rồi đến những hành động và cử chỉ của hắn. Nhưng đối với Bá Kiến, Nam Cao không hề tả diện mạo, chỉ nói đến tổng quát "rất sang" và "cái cười Tào Tháo", mà khiến người đọc khó quên. Tuy vậy, nhân vật này trở thành sống động cơ bản do nghệ thuật miêu tả nội tâm sắc sào của tác giả. Nhà văn để cho Bá Kiến xuất hiện lần đầu trước độc giả đúng lúc Chi Phèo say rượu, đến cổng nhà hắn rạch mặt ăn vạ. Cành tượng thật hỗn loạn, huyên náo. Thoáng nhìn qua, Bá Kiến đã "hiểu cơ sự", hắn nhanh chóng tìm ra được kế sách thích hợp nhất để đối phó. Với sự từng trài, Bá Kiến biết rất rõ tác hại của đám đông đang tụ tập kia. Bố con Bá Kiến thêm mất mặt, nếu để đám đông chứng kiến hành động càn rở của Chí. Cụ Bá cũng thừa biết tâm lí của những thằng đầu bò như Chí Phèo: đám đông kia chính là hậu thuẫn, kích thích để nó hung hãng hơn. Và lại, cũng phải có thời gian để Chí Phèo giã rượu, đỡ táo tợn, nếu còn đám đông, Bá Kiến khó có thế diễn thành công mánh khoé mua chuộc, dụ dỗ. Muốn dụ dỗ át phải nhún nhường. Đường đường là một cụ Bá hét ra lửa mà phải đế đám dân đen chứng kiến cảnh ngọt nhạt với thằng cùng đinh thì còn ra thể thống gì! Bởi vậy, việc đầu tiên là Bá Kiến giải tán đám đông, trước hết hắn quát mấy bà vợ và đuổi họ vào nhà. Những người đến xem không thể không hiểu đây là cụ đuổi khéo mình. Tiếp theo, quay sang bọn người làng, dịu giọng hơn một chút, cụ bảo "Cả các ông các bà, về đi thôi chứ có gì mà xúm lại thế này?" Đến đây tất nhiên không ai nói gỉ, họ lảng dần đi. Cho dù có tò mò, muốn biết sự tình, nhưng họ vẫn nể, vẫn sợ cụ Bá. Đến khi "chi còn trơ lại Chi Phèo", cụ bắt đầu giở giọng đường mật, gọi đẩy tớ cũ của mình – nay đã thành con vật gớm ghiếc bằng "anh", vồn vã mời Chí vào nhà uống nước. Chưa đủ, cụ tiền chỉ làng Vũ Đại còn nhận có họ hàng với anh đinh khốn khổ này, rối giết gà, mua rượu cho hắn uống, rỗi còn đãi thêm đồng bạc để hắn uống thuốc.Xem thêm: Hoàn cảnh ra đời, nội dung và nghệ thuật chính của bài thơ Tây tiến Với cách cư xử ấy, chứng tỏ cụ Bá lõi đời đã đi guốc vào bụng dạ Chi Phèo: ưa phỉnh nịnh, hám cái lợi trước mắt. Rốt cuộc, Bá Kiến "khôn róc đời" biến bại thành thắng, đạt được cả hai mục đích: vừa tạm dập tắt ngọn lửa căm hờn trong người Chí, vừa chuẩn bị biến Chí thành tay sai. Như vậy, chỉ qua một tình huống, chung quanh vụ rạch mặt ãn vạ của Chí Phèo, cái xào quyệt, lọc lõi của tên cường hào dã được thể hiện một cách sinh động và đầy ấn tượng. Già đời đục khoét, đè đầu cưỡi cổ nông dân, Bá Kiến đã rút được nhiều kinh nghiệm phong phú, trong "cái nghề làm việc quan". Phải biết "thế nào là mểm nắn, rắn vuông". "Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn". Hãy đập bàn, đập ghế đòi cho được năm đồng, rồi lại vứt lại năm hào vì "thương anh túng quá". Nhiều khi, trị không được thì lão lại dùng, vì "cũng phải có những thằng đầu bò chứ không có những thằng đầu bò lấy ai trị những thằng đầu bò?" Cái nham hiểm ghê tởm của nhân vật này còn ở chỗ tỉm cách gây xung đột làng để "có dịp mà ăn"! Bên cạnh việc khắc hoạ sinh động bản chất xảo quyệt, gian hùng của Bá Kiến, Nam Cao không quên vạch trần nhân cách bỉ ổi của tiên chỉ làng Vũ Đại trong những mối quan hệ kín đáo Và tài năng của ômg ở chỗ, khi cần đặc tà sự đê tiện và thói dâm ô vô độ của tên cường hào này, nhà văn đã bỏ qua nhiều chi tiết rất cụ thể và phong phú của nguyên mẫu Lí Bính ở làng Đại Hoàng quê ông. Ngay cả việc gỡ gạc của cụ lí đối với người đàn bà vâng chồng, lại có tiền. lẫn máu ghen tuông của hắn cũng chỉ được lướt qua. Tác giả chỉ để mấy dòng tả ý nghĩ của cụ Bá về người vợ thứ tư trẻ đẹp và ngồn ngộn sức sống (“nhìn thì thích nhưng mà tưng tức lạ. Khác gì nhai miếng thịt bò lựt sựt khi rụng gần hết răng"), chỉ một vài chi tiết, nhưng nhờ sự chọn lọc nên vẫn đủ sức khắc sâu ấn tượng vẽ một nhân cách thảm hại. Như vậy, Bá Kiến vừa mang bản chất chung của giai cấp địa chủ cường hào, vừa có những nét riêng biệt sinh động, không giống một nhân vật địa chủ nào trong văn học. Điều đó giải thích vì sao hắn luôn được chúng ta nhắc đến, chỉ cần ám chỉ một kẻ có quyền, có chức, nham hiểm và gian hùng. Nhân vật này ghi nhận trình độ xây dựng nhân vật điển hình bậc thầy của Nam Cao, với tư cách là nhà văn hiện thực xuất sắc. Nạn nhân đau khổ nhất của Bá Kiến, nói rộng ra là của xã hội thối nát đương thời là Chí Phèo Đây là nhân vật trung tâm, hội tụ những giá trị đặc sắc của tác phẩm. Trước hết, cần phải thấy, Chí Phèo không chỉ điển hình cho một bộ phận cố nông lưu manh hoá như một số người đã nhận xét, mà còn có ý nghĩa khái quát rộng hơn nhiều. Nhân vật này thể hiện quy luật có tính phổ biến trong xã hội củ là quy luật bần cùng hoá, đi đến lưu manh hoá không chỉ ở một tầng lớp xã hội nào. Chí Phèo cũng không phải nhân vật lưu manh đầu tiên trong văn học. Trước đó đã có Tám Bính trong Bi vô của Nguyên Hồng. Sống có điều ở đây, Nguyên Hồng không đặt ra vấn để tha hoá của nhân vật của mình. Điều đó chỉ có dưới ngòi bút Nam Cao, mà Chí Phèo là một thành tựu đột xuất cần phải thấy, tuy viết về vấn đề này, nhưng ở tác phẩm khác Nam Cao chưa nêu được vấn đề một cách sâu sắc. Giai đoạn đầu của cuộc đời Chí Phèo chỉ được nhà văn nói lướt qua bằng mấy câu ở đầu tác phẩm. Mãi đến đoạn giữa và cuối truyện tác giả mới đưa thêm mấy chi tiết như là ngẫu nhiên về đoạn đời ngày xưa của Chí. Tuy vậy vẫn giúp người đọc nắm được lai lịch của Chí. Dẫu có hoàn cảnh riêng khá độc đáo, nhưng xét đến cùng, Chí vẫn là một nông dân như mọi nông dân khác. Chí Phèo nguyên là một đứa trẻ khốn khổ, bị bỏ rơi, trong một cái lò gạch bỏ không. Một anh đi thà ống lươn "rước lấy đem về cho người đàn bà goá mù". Người đàn bà goá mù này, bán hắn cho một bác phó cối không con, và khi bác phó cối này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này, lại đi ở cho nhà nọ. Năm mười tuổi, hắn làm canh điền cho ông lí Kiến. Đây là một canh điển khoè mạnh, "hiền lành như đất", hiền đến mức có thể gọi là nhút nhát: chính lí Kiến đã bắt gặp Chí Phèo "vừa bóp đùi cho bà ba vừa run run”. Anh ta cũng có những ước mơ giản dị và lương thiện như bao người nông dân khác, "ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải, chúng bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua năm ba sào ruộng làm". Anh ta còn là người biết tự trọng. Vì biết tự trọng nên anh nông dân 20 tuổi này mới thấy nhục khi bị vợ ba Bá Kiến sai làm những viêc không chính đáng. ở một xả hội binh thường, những con người như thế này có thể sống một cách lương thiện.Xem thêm: Phân tích bài ca dao sau “Cưới nàng anh toan dẫn voi ..” Nhưng chi vì ghen tuông vu vơ, Bá Kiến đã nhẫn tâm đẩy người thanh niên này vào tù. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho tên cường hào, sau 7, 8 năm, đã biến một nông dân khoẻ mạnh, lương thiện và tự trọng thành "con quỷ của làng Vù Đại". Từ đây, dễ nhận thấy nhất là Chi đã bị cướp mất đi hình hài của con người: "Cái đầu thì trọc lốc, cái răng thì trắng hớn, cái mặt thì đen câng câng, hai mắt gườm gườm, cái ngực phanh đầy những nét trạm trổ. Trông gớm chết", Nhưng điều đau khổ hơn là Chí bị cướp mất linh hồn, bị loại ra khỏi xã hội loài người, phải sống kiếp tối tăm của thú vật. Mở đầu truyện, là một hình ảnh đầy ấn tượng: Chi Phèo vừa đi vừa chửi. Hắn chửi, nhưng không có người nghe. Hắn chửi đời, chửi trời, chửi cả làng Vũ Đại. Thế mà vẫn không ai lên tiếng; Hắn đành chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn! Sau mở rộng đối tượng ra vô tận, mà chẳng có phàn ứng gì của ai cả, hắn xoay ra chửi chính đứa nào đẻ ra mình. Có người cho rằng, hắn chửi vì say rượu. Thực ra, trong con người Chí, cái say, cái tỉnh luôn song song tổn tại. Việc chửi bới của Chí chính là phàn ứng của y với toàn bộ cuộc đời. Nó phản ánh tâm trang bất mãn của một con người ít nhiều ý thức được mình bị xã hội tàn bạo khai trừ khỏi thế giới loài người. Nhưng tiếng chửi của Chí thật thảm hại vì cũng là những âm thanh vô nghĩa lí ném ra từ giữa khoảng không. Khi mất quyền làm người thì Chí chửi hay khóc, cười hay nói, uống rượu hay kêu làng thì có khác gí nhau? Chi Phèo thích kêu làng. Thông thường kêu làng là một hiệu lực khẩn cấp để có được sự chú ý và trợ giúp của mọi người. Nhưng trường hợp Chí thì khác, cho dù hắn kêu làng "như một người bị đâm" thì giỏi lắm cũng làm cho Thị Nở kinh ngạc còn cả làng vẫn "không ai động dạng". "Đáp lại lời hắn chi có lù chó cắn xôn xao trong xóm" Những chi tiết này thật là đơn giản, nhưng Nam Cao nói với người đọc rất nhiều về kiếp sống của người nông dân bị tha hoá, không còn được làm người. Điều đáng nói nữa, tuy vốn là một nông dân lương thiện, nhung khi bị biến thành quỷ dữ thì những kẻ như Chí Phèo rất để bọn thống trị lợi dụng. Từ chỗ hung hãng xách vỏ chai đến nhà Bá Kiến gọi tên tục láo ra mà chửi, Chí Phèo đã nhanh chóng trở thành "anh đầy tớ chân tay mới của lão". Đồng thời, Chí cũng nhanh chóng trở thành kè mù quáng gây tai hoạ cho những nông dân lương thiện khác. Hắn say liên miên, "bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại người ta giao cho hắn làm", "hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhèu hạnh phúc, làm chày máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện". Và cuối cùng khi đã hoàn toàn bế tác, Chi Phèo phải tự kết liễu cuộc đời mình. Điều đó đã khẳng định một cách thấm thía nỗi đau của một con người bị tàn phá về thể xác, bị huỷ diệt về tâm hồn, bị xã hội cự tuyệt không cho làm người. Đây là hiện tượng có tính quy luật trong xã hội đương thời. Nam Cao là người đã chăm chú theo dõi và bị ám ảnh bởi hiện tượng này. Trong một số tác phẩm khác, ông đã xây dựng không ít nhân vật vốn hiền lành trở thành ngang ngươc, chẳng hạn như Trạch Văn Đoành trong Đôi móng gió, cụ Lộ trong Tư cách mõ hoặc Đức trong Nửa dêm… Và trong Chí Phèo, nhân vật này củng không khác gì những bậc "tiền bối" của hắn là Năm Thọ hay Bình Chức. Do đó, sức mạnh phê phán, ý nghĩa điển hình của nhân vật Chí Phèo, trước hết là đã vạch ra cái quy luật tàn bạo, bi thảm: người lao động lương thiện bị áp bức bóc lột đến cùng cực và chỉ họ còn cách chống trà bằng con đường lưu manh hoá. Nhưng giá trị độc đáo của tác phẩm không chi ở đó Viết về trường hợp nông dân bị lưu manh hoá, với tư cách là một cây bút hiện thực nghiêm ngặt, Nam Cao đã thể hiện một cái nhìn nhân đạo, bằng cách đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của những con người khốn khổ, ngay khi tưởng như họ đã bị xã hội tàn ác cướp đi cả nhân tính lẫn nhân hình. Đặc biệt Nam Cao đã thể hiện một cách sâu sắc bi kịch tâm hồn của một nông dân khao khát làm người lương thiện nhưng bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt. Giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện tập trung qua mối tình giữa Chí Phèo và Thị Nở. Bề ngoài nhà văn mô tả mối tình này vẻ cười cợt tàn nhẫn, kì thực ông lại dành cho đôi trai gái khốn khổ sự cảm thông sâu sắc. Mối tình của họ đích thực là một tình yêu chân chính. Ban đầu Chi Phèo đến với Thị Nở đơn thuần là tư cách của một anh đàn ông say rượu đang ngứa ngáy xác thịt. Thị Nờ lúc đầu cũng chỉ khơi dậy bản năng sinh vật ở Chi Phèo, nhưng về sau điều kì diệu là người đàn bà này đã đánh thức bản chất lương thiện của Chi Phèo. Đoạn văn nói thức tỉnh của Chi Phèo sau đêm gặp Thị Nở là một đoạn tuyệt bút thể hiện tư tưởng nhân đạo của một cây bút tầm cỡ. Ấy là cải buổi sáng mà lần đầu tiên, Chi Phèo tỉnh táo để nghe thấy bản nhạc rộn ràng của thiên nhiên và cuộc sống lao động: tiếng chim hót, tiếng cười nói, tiếng anh thuyền chài đuổi cá và câu chuyện của những người đi buôn vải… Trước kia vì triền miên trong cơn say, mải gây gổ, đập phá, Chi làm sao nghe thấy những âm thanh quen thuộc kia? Và Chí nhớ lại niềm ao ước của minh ở những ngày rất xa xưa. Chí hiểu hoàn cành cay đắng của mình và lo lắng làm sao xoá được những vết rạch dọc ngang trên mặt, Chí nghĩ đến ngày mai đói rét, ốm đau và cô độc. Cô độc còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau. Đến khi Thị Nở đem đến cho bát cháo, Chí vô cùng cảm động, thấy mắt mình ươn ướt và nhận ra rằng cháo ngon. Hương vị của cháo hành tức là hương vị của tình người, của tình mộc mạc chân thành, của hạnh phúc giàn dị lần thứ nhất Chí Phèo được hưởng. Nhờ tình yêu của Thị Nở, bản chất lương thiện, trong trắng của anh canh điển bị vùi dập nhiều năm, nay đã sống dậy. Chí Phèo "thèm lương thiện", mong được nhận trở lại "xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện". Thị Nở sẽ là người giúp hắn trở lại thế giới lương thiện này.Xem thêm: Viết một bức thư ngắn cho bạn kể những điều em biết về thành thị Nhưng mối tình với Thị Nở không thành. Bà cô Thị dứt khoát không cho cháu đâm đầu đi lấy Chi Phèo, một kẻ chuyên rạch mặt ãn vạ. Bà cô Thị Nở cũng như mọi người dân làng Vũ Đại chỉ quen coi Chí là quỷ dử từ lâu rồi. Bây giờ Chí có lương thiện, mọi người cũng không nhận ra, và do đó quyết không nhận Chi vào cái xã hội bằng phẳng lương thiện. Như vậy, Chi sinh ra làm người, nhưng đã không được quyền làm người. Đây là bi kịch tình thân hết sức đau đớn của Chí. Trong tình trạng khủng hoảng và tuyệt vọng, đã đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình, mặc dù trước đó định đến nhà Bá Kiến. Nhưng đây không phải là việc làm hoàn toàn do thiếu suy nghĩ hay hoàn toàn do Chí say rượu. Đâu phải vô cớ mà vừa đi tù về, Chi đã xách vỏ chai đến cổng nhà Bá Kiến rạch mặt ăn vạ! Về sau, tuy làm tay sai cho Bá Kiến, nhưng ngọn lửa hờn căm vẫn âm ỉ cháy trong con người Chí; nhất là khi y đã thức tỉnh để hiếu được nguyên nhân sự khốn khổ của mình. Chí đâm chết Bá Kiến không chỉ vì say, mà còn vì mối thù giai cấp đã bùng cháy trong con người Chí. Cái chết của Chí cũng là tất yếu. Việc tự sát không phải là hành động mù quáng do hơi men mang đến. Đây là một bi kịch Chí đã thức tỉnh, tức là anh ta không thể đập phá như xưa, không muốn trở về cuộc sống của con quỷ dữ. Chí muốn lương thiện, nhưng xã hội lương thiện không thừa nhận Chí. Cà hai ngả đường đều bế tác, chết. Như vậy đối với Chí, niềm khao khát lương thiện còn cao hơn mạng sống. Trong sáng tác của Nam Cao, không thiếu những nhân vật nông dân quý nhân phẩm hơn sự sống. Để giữ lòng tự trọng, lão Hạc đã tìm đến cái chết. Để không phải chứng kiến cảnh nhục nhã, lang Rận đã tự treo cổ mình. Ở đây, cái chết đau đớn dữ dội của Chí có giá trị tố cáo sâu sắc không dễ gì dập tắt. Điều này phản ánh cảm quan hiện thực của Nam Cao. Bên cạnh những thành công nêu trên, Chí Phèo cũng có một vài hạn chế. Chẳng hạn, cũng như không ít tác phẩm hiện thực văn học khác, Nam Cao đã không thấy được khả năng đổi đời của người nông dân, ông có cái nhìn bi quan về tiền đồ của họ. Đôi khi nhà văn ít nhiều còn thể hiện cái nhìn khinh bạc đối với người nông dân khốn khổ. Điểu này thật sự đáng tiếc, nhất là đối với một cây bút gắn bó sâu nặng với những kiếp người nghèo khổ như Nam Cao. Nội dung sâu sắc, mới mẻ nêu trên đã được chuyền tải đến người đọc bằng một nghệ thuật viết văn bậc thầy. Đấy là những thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật tiêu biểu là Chí Phèo và Bá kiến. Đây có thể coi là điển hình xuất sắc, vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa hết sức sinh động, có cá tính độc đáo, gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Khi xây dựng những nhân vật Nam Cao đã phát huy cao độ sở trường khám phá và miêu tà những trạng thái tâm lý phức tạp của nhân vật. Kết cấu của tác phẩm cũng mới mẻ, thoạt xem như vô cùng phóng túng, gặp đâu nói đấy, chẳng theo một trật tự thời gian nào, mở đầu đi thẳng vào giữa truyện, sau mới ngược thời gian kể về lai lịch nhân vật Thực chất đây là lối kết cấu rất chặt chẽ theo lôgic tâm lý nhân vật. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ cũng rất sắc sào trân thuật thì linh hoạt biến hoá với nhiều giọng điệu phong phú chứng tò nhà văn có khả năng nhập vào các với truyện khác nhau và chuyển từ vai này sang vai khác một cách tự nhiên trong mạch trần thuật… Với những phẩm chất ấy. truyện ngắn Chi Phèo đúng là "một phát hiện về nội dung, một khám phá về nghệ thuật" (Lé-ô-nổp Lé-ô-níth xứng đáng được coi là một kiệt tác. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy phân tích và đánh giá những tìm tòi sâu sắc về tư tưởng và những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật của Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo
4,347
Anh (chị) hãy thuyết minh về đại thi hào dân tộc Nguyễn Du Gợi ý Nỗi niềm xưa nghĩ mà thương Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng Nhân tình nhắm mắt chưa xong Biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như’? (Tố Hữu – Kinh gửi cụ Nguyễn Du) Đã gần ba thế kỉ trôi qua nhưng những vần thơ thấm đẫm nước mắt và tràn trề tình thương mà Nguyễn Du để lại vẫn còn nguyên giá trị. Tác phẩm của Nguyễn Du thể hiện những nỗi lòng u uất, những tâm trạng thổn thức đến bất an. Nguyễn Du được coi là một thiên tài, một danh nhân văn hóa không chỉ của Việt Nam mà của cả nhân loại. Nhắc đến Nguyễn Du, chúng ta không thể không nói đến một trái tim luôn đau nỗi đau của con người. Mọi nỗi buồn đau, thông khổ của kiếp người vang động đến đều có thể khiến cho trái tim ấy rỉ máu. Từ đó Nguyễn Du viết nên những dòng thơ xót xa mà thấm đẫm tình người. Trong cuộc đời mình, ông cũng trải qua không ít dâu bể, biến cố nên mở đầu kiệt tác Truyện Kiều ông viết: Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Nguyễn Du sinh năm 1765, mất năm 1820, tên chữ là Tố Như, quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình phong kiến đại quý tộc có truyền thống khoa bảng và văn chương ở Thăng Long. Năm 1802, ông được cử đi sứ Trung Quốc lần thứ hai, chưa kịp đi thì mắc bệnh mà mất. Ông để lại cho nền văn học nước nhà một sự nghiệp văn chương đồ sộ trong đó Truyện Kiều xứng đáng là niềm tự hào của dân tộc ta. Cuộc đời Nguyễn Du gắn liền với nhiều biến động lịch sử: chế độ phong kiến rơi vào khủng hoảng trầm trọng, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổi lên ỏ khắp nơi mà tiêu biểu là khởi nghĩa Tây Sơn. Ông trải qua một cuộc đời nhiều thăng trầm, lúc sống xa hoa, quyền quý, khi lưu lạc gió bụi nơi đất khách quê người. Bởi thế ông tích lũy được vốn sống phong phú và học tập được ngôn ngữ của nhân dân. Đó phải chăng là cơ sở cho tư tưởng nhân đạo trong thơ văn Nguyễn Du? Đọc và tìm hiểu những sáng tác của Nguyễn Du, ta sẽ thấy ông xót xa nhất cho con người trong cảnh bể dâu trước những đổi thay trớ trêu của cuộc đời. Đó là những khi thân phận con người trở nên mỏng manh, bị vùi dập, bị giày xéo. Cả xã hội phong kiến lẫn định mệnh mù quáng đã vào hùa với nhau để hành hạ con người. Mà trong cảnh bể dâu kia, thân phận bi kịch điển hình nhất là những người tài sắc. Họ như những bông hoa nở trong dông tố, danh nhân cũng hóa nạn nhân, vàng ngọc cũng bị coi như đất bùn. Tư tưởng nhân đạo trong thơ Nguyễn Du được thể hiện qua sự căm phẫn của ông đối với những thê’ lực chà đạp con người, hủy hoại tài năng:Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về người chaCổ kim hận sự thiên nan vấn Phong vận kì oan ngã tự cư. (Độc Tiểu Thanh Kí) Ông luôn bày tỏ nỗi đau một cách bi phẫn trước những kiếp người thấp cổ bé họng, trước sự thất bại của cái thiện, cái mĩ. Trong trái tim bao la của ông, ta thấy cái phần thông thiết nhất luôn được dành cho thân phận bi kịch của những con người tài hoa bạc mệnh, đặc biệt là những người phụ nữ. Họ là những nạn nhân đáng thương nhất trong cuộc đời đầy lang sói, lắm biến thiên dâu bể này. Đó là Đạm Tiên “nổi danh tài sắc một thì” mà phải chịu cảnh “sông làm vợ khắp người ta” để rồi “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” và cuối cùng chỉ còn lại “sè sè nấm đất bên đường”. Đó là Tiểu Thanh “son phấn có phần chôn vẫn hận – văn chương không mệnh đốt còn vương”. Tiêu biểu hơn tất cả là Thúy Kiều “sắc đành đòi một tài đành họa hai” mà phải chịu một đời truân chuyên chìm nổi “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, muốn thoát khỏi kiếp sống ô nhục lại bị đạp xuống sâu hơn, bế tắc hơn… Tất cả những thân phận phụ nữ tài sắc mà bất hạnh ấy được Nguyễn Du tổng kết trong hai câu thơ ứa máu khái quát quy luật nghiệt ngã của cuộc đời: Đau đớn thay phận đàn bà Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? (Vẫn chiêu hồn) Viết về những con người ấy, Nguyễn Du bày tỏ lòng nhân ái của con người đối với con người nhưng cũng chính là nỗi niềm của người tri kỉ, của kẻ cùng hội cùng thuyền, đồng bệnh tương lân. Nguyễn Du tìm thấy minh ở trong họ, tìm thấy họ ở trong mình. Cho nên lời thơ của ông chân thành đến tận đáy lòng. Ông truyền tất cả những đau đớn của trái tim vào những trang viết để tạo nên những “Tiếng thơ ai động đất trời”. Nguyễn Du đã sống và đã nếm trải đến cùng vị mặn của dòng nước mắt. Không chỉ xót xa cho những người phụ nữ, Văn tế thập loại chúng sinh là một tiếng khóc lớn khóc cho tất cả những số phận bi thảm của con người. Tất cả họ khi sống dù mũ cao áo dài như những thư sinh nho sĩ hay những người cùng đinh chân lâm tay bùn… khi chết đi đều là những cô hồn thất thểu, vất vưởng, khổ đau, không nơi nương tựa. Nguyễn Du khóc cho họ, khóc cho tất cả. Khi họ sống ông vẫn phân biệt rõ ràng kẻ ngay người gian, kẻ ông yêu người ông ghét nhưng khi họ chết đi, Nguyễn Du thương tất cả. Ổng đang sống trong cõi dương trần thế mà dường như lại chìm hẳn vào cõi chết để tìm đến, chia sẻ với trăm ngàn oan hồn bạc mệnh:Xem thêm: Động Phong nha ngữ văn 6 Sống đã chịu một đời phiền não Chết lại nhờ hớp cháo lá đa. Người đọc như chết lặng trước những lời thơ nghẹn ngào như một tiếng thở dài, một tiếng nấc đau đớn. Nguyễn Du với “con mắt trông thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” (Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân) đã nhìn thấy những cô hồn bước đi lặng lẽ về một nơi vô định trong bóng tối thăm thẳm mịt mùng. Người cũng đã lặng lẽ rơi nước mắt trong từng con chữ làm nhức nhôi hàng triệu người đọc nhiều thế hệ. Nhắc đến Nguyễn Du ta không thể không nhắc đến Truyện Kiều bởi đây là đỉnh cao trong sự nghiệp của ông nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Tuy Truyện Kiều vay mượn cốt truyện từ tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng Nguyễn Du đã có sự sáng tạo tài tình làm nên một kiệt tác tiêu biểu cho cảm hứng nhân đạo và nỗi đau thân phận con người. Truyện Kiều cũng là một bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lí với những triết lí mà Nguyễn Du gửi gắm qua từng nhân vật, từng biến cố. Thúy Kiều đã bước qua lôi vườn khuya hay bước qua hàng rào phong kiến để đi theo tiếng gọi của con tim? Ước mơ công lí giữa màn đêm của xã hội phong kiến tôi tăm được Nguyễn Du gửi gắm qua hình tượng người anh hùng Từ Hải – người bẻ gãy xiềng xích trói buộc con người để tìm lại công bằng, lẽ phải: Chọc trời, khuấy nước mặc dầu, Dọc ngang nào biết trên đầu có ai? Nguyễn Du xây dựng nên một Từ Hải với ước mơ thực hiện những khát vọng mang đậm tư tưởng nhân nghĩa nhưng cuôl cùng lại dành cho chàng một kết cục đau buồn là cái chết. Nhưng Từ Hải đã chết vững vàng và hiên ngang như muốn để lại cho người đời bài học đau đớn: không thể khuất phục quân thù vì những người kiên quyết đòi hỏi tự do và công lí như Từ Hải không thể có chỗ đứng trong cái chế độ phong kiến lỗi thời mà Hồ Tôn Hiến là hiện thân. Truyện Kiều là tiếng kêu đứt ruột cho những nỗi đau của con người, tiếng khóc thương cho tình cảm cao đẹp bị chia lìa, xót xa cho nhân phẩm bị chà đạp. Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết lên bản cáo trạng đanh thép tố cáo các thế lực chà đạp quyền sống của con người. Đó là những kẻ như quan xử kiện, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư, Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến… Nguyễn Du luôn đau đáu nỗi đau chung của con người nên trước cảnh tối tăm phơi bày trước mắt, ông đã cất lên tiếng thét bi phẫn trước những thế lực tàn bạo đó – không chỉ có con người mà còn một thế lực vô hình khác nhưng cũng bạo tàn không kém: thế lực của đồng tiền. Đồng tiền dơ bẩn là nguyên nhân của tất cả. Xã hội mục nát bấy giờ đang chịu sự điều khiển của một kẻ giấu mặt là đồng tiền. Những lời thơ của Nguyễn Du còn đọng lại nỗi đau về nhân tình thế thái, về cuộc đời của con người trong xã hội đầy rẫy xấu xa. Vì vậy ngay khi mở đầu Truyện Kiều, ông đã viết:Xem thêm: Giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Hình ảnh bể dâu trong câu thơ được nhà thơ lây ý từ câu “Thương hải biến vi tang điền” (Biển xanh hóa thành ruộng dâu). Đó chính là hình ảnh của sự thay đổi, sự biến chuyển nhanh chóng ngay trước mắt khiến con người tưởng như là ảo giác nhưng lại là sự thực rành rành. Đó là xã hội với sự thay đổi nhanh chóng không thể ngờ mà Nguyễn Du đã sông và chứng kiến. Chính vì thế, “những điều trông thấy” làm tâm can tác giả quặn thắt, đau xót vô cùng. Qua cuộc đời lênh đênh, chìm nỗi của Thúy Kiều, bức tranh chân thực về xã hội loạn lạc thời bấy giờ hiện ra rõ ràng hơn bao giờ hết. Nguyễn Du dành không biết bao nhiêu lời thương xót cho Thúy Kiều mỗi khi nàng phải chịu sự xô đẩy của số’ phận. Thương những con người tài hoa bao nhiêu, ông lại căm ghét xã hội bạc ác hại người bấy nhiêu. Nguyễn Du vừa thương xót Thúy Kiều, lại vừa oán giận: Hồng quân với khách hồng quần Đã xoay đến thế còn vẫn chưa tha. Truyện Kiều vừa là nỗi đau của cuộc đời, vừa là nỗi thương xót của Nguễn Du với con người, với thân phận má đào. Trái tim Nguyễn Du có một sự cảm thông đặc biệt khiến cho ông có khả năng hóa thân thành người trong cuộc, nhập thân vào nhân vật để nói lên những tâm sự sâu xa thầm kín nhất của cõi lòng. Chính điều này làm nên giá trị nhân đạo sâu sắc, lớn lao của Đoạn trường tân thanh, khiến cho tiếng thơ của ông vượt thời gian đến với người đọc chúng ta ngày nay và muôn đời sau. Với những giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc, độc đáo, những sáng tác văn chương của Nguyễn Du đã trở thành những tác phẩm lưu giữ linh hồn dân tộc với tư tưởng nhân đạo bao trùm. Mộng Liên Đường đã từng nhận xét về Nguyễn Du như sau: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thìa ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột”. Với những đóng góp to lớn của mình, Nguyễn Du xứng đáng là đại thi hào dân tộc, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam chúng ta và là Danh nhân văn hóa thế giới được cả nhân loại tôn vinh. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy thuyết minh về đại thi hào dân tộc Nguyễn Du
2,111
Anh (chị) hãy trình bày ngắn gọn nội dung các tập thơ của Tố Hữu gắn liền với những chặng đường làm của cách mạng Việt Nam Gợi ý Cuộc đời Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đời đấu tranh cách mạng nên các chặng đường thơ của ông cũng song hành với những giai đoạn đấu tranh ấy, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và phát triển trong nghệ thuật của nhà thơ. Tố Hữu đã có rất nhiều những tập thơ đi cùng năm tháng, dõi theo từng bước đấu tranh giành độc lập và phát triển của đất nước. Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chặt chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng, “là hình thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng”. Tập thơ “Từ ấy” là tập thơ đầu tiên của Tố Hữu, gồm có ba phần "Máu lửa", "Xiềng xích" và "Giải phóng", tương ứng với ba chặng đường trong mười năm hoạt động cách mạng của nhà thơ “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim" “Máu lửa” là tiếng ca hớn hở của một tâm hồn được giác ngộ lý tưởng. Nhà thơ đã nhận ra sự áp bức, bất công của xã hội và thân phận của con người lao khổ. Ông hướng tâm hồn mình đến cảm thông với những Em bé mồ côi, Lão đầy tớ, Cô gái giang hồ, Em bé đi ở, và khơi dậy ở họ lòng căm thù, ý chí chiến đầu và niềm tin mãnh liệt ở tương lai. “Phần Xiềng” xích gồm 30 bài sáng tác trong thời gian tác giả bị giam tại nhà tù đế quốc từ tháng 4 năm 1939 đến tháng ba năm 1942. Phần này như một bản quyết tâm thư của người chiến sĩ trẻ tuổi tự nhủ với lòng mình không khuất phục trước súng đạn và sự tra tấn tàn bạo của kẻ thù, không nản chí trước mọi khó khăn trở ngại. Đó là những cuộc tuyệt thực trong nhà lao, những cuộc chiến đấu gay go với bản thân để vượt qua những cám dỗ thấp hèn (“Con cá chột nưa”, “Tranh đấu”); là những lời trăng trối của bạn tù gửi lại khi ra pháp trường (Trăng trối); là xúc cảm xao động trước tiếng vọng của cuộc đời bên ngoài qua song cửa nhà tù (“Một tiếng rao đêm”, “Nhớ người”, “Nhớ đồng”); là ý chí hướng về những tâm gương hi sinh của đồng bào vầ chiến sĩ trong Khởi nghĩa Nam Kỳ (Bà má Hậu Giang); là tiếng nơi đấu tranh góp phần với phong trào đấu tranh bên ngoài và những tiếng thơ kêu gọi tâm huyết (Dậy mà đi, Dậy lên thanh niên).Xem thêm: Hãy nêu nội dung bài thơ “Tiếng hát con tàu” và giải thích ý nghĩa nhan đề đó của bài thơ. Bình giảng khổ thơ được lấy làm đề từ của bài thơ Nếu như “Xiềng xích” là bản quyết tâm thư của người chiến sĩ cách mạng xác định lập trường kiên định quyết không chịu đầu hàng, khuất phục trước uy lực của kẻ thù, luôn thiết tha yêu đời, khao khất tự do và hành động thì “Giải phóng” lại là sự ngợi ca nồng nhiệt thắng lợi của nhân dân, ngợi ca nền độc lập, ngây ngất trong niềm vui “bất tuyệt” với cảm hứng dâng trào trước cuộc đời vĩ đại của nhân dân, dân tộc. Sau tập thơ “Từ ấy”, Tố Hữu đã viết tập “Việt Bắc” như một bản hùng ca ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng và những con người bình dị mà anh dũng, quả cảm đã góp phần làm nên chiến thắng, đó là các em thiếu nhi, các anh bộ đội, những người phụ nữ… Tập thơ còn ca ngợi những tình cảm điển hình của những con người kháng chiến điển hình như tình yêu nước, tình đồng bào, tình quân dân, tình cảm miền ngược với miền xuôi, lòng yêu thiên nhiên, kính yêu Đảng và Bác Hồ và niềm tin ở ngày mai tươi sáng. Vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, hoà bình lập lại, một nửa đất nước được giải phóng đã chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu bay bổng với cảm hứng sử thi mang hào khí thời đại “Chín năm làm một Điện Biên Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” Và tập thơ “Việt Bắc” đã trở thành một trong những thành tựu xuất sắc nhất của văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp.Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật ông lái đò trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà" của Nguyễn Tuân Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đem lại hoà bình cho toàn miền Bắc, đất nước ta từ đây lại có thêm nhiệm vụ mới – vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa giải phóng miền Nam tiến tới thống nhất nước nhà “Rộn ràng thay cảnh quê hưang Nửa công trường, nửa chiến trường xôn xao” Tố Hữu đã bám sát nhiệm vụ chính trị đó, tập thơ “Gió lộng” (1955 – 1961) vừa thể hiện niềm vui, tự hào và tin tưởng ở công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, vừa bày tỏ tình cảm thiết tha với: miền Nam và ý chí thông nhất nước nhà, tình cảm quốc tế rộng lớn. Thế nhưng, không phải trong niềm vui với cuộc sống hiện tại, Tố Hữu không quên nghĩ về quá khứ để bày tỏ tình cảm biết ơn ông cha và những người đi trước mở đường. Và từ đó, ta càng thấm thìa hơn ân tình Cách Mạng. Nếu như tập thơ “Gió lộng” tiếp tục phát triển cảm hứng sử thi và khuynh hướng khái quát với một cái tôi trữ tình đa dạng hơn và một nghệ thuật biểu hiện già dặn và nhuần nhị hơn thì hai tập thơ “Ra trận” (1962-1971) và “Máu và Hoa” (1972-1977) là những chặng đường thơ của Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống Mỹ quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho đến tận ngày toàn thắng. Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công và lời kêu gọi, cổ vũ hào hùng cả dân tộc “khấp thành thị đến nông thôn” vùng lên quyết “đập tan đầu Mỹ, Ngụy”. Tập thơ “Ra Trận” cũng là tập thơ mả nhà thơ Tố Hữu dùng để bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn của mình đối với Bác trên chặng đường lịch sử của hơn nứa thế kýXem thêm: Ở Việt Nam gần đây có hiện tượng ‘hôi của’ từ các vụ tai nạn giao thông. Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng này.“Xin nhớ từ đây, nhớ lại ngày Bác Hồ từ giã cõi hôm nay Bảy mưoi chín tuổi xuân trong sáng Vào cuộc trường sinh, nhẹ cánh bay.”.. Thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chông Mỹ cứu nước luôn mang đậm tính chính luận và chất sử thi, nhiều chỗ vươn tới âm hưởng anh hùng ca như tập “Máu và hoa” – tập thơ là những suy ngẫm của nhà thơ về những hi sinh to lớn của dân tộc để tạo nên những chiến công chói lọi của lịch sử thông qua hình tượng “Máu và Hoa”. “Phải bao máu thấm trong lòng đất Mới ánh hồng lên sắc tự hào” Từ năm 1978, thơ Tố Hữu được tập hợp trong hai tập “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999). Trải qua những thay đổi, những trải nghiệm trong cuộc đời, nhà thơ đã bày tỏ những suy tư về cuộc sống, về lẽ đời. Thơ Tố Hữu là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và nghệ thuật, con đường thơ của ông là con đường tìm tòi sự kết hợp hài hoà, dân tộc và cách mạng trở nên thật hài hoà trong thơ ông. Tố Hữu xứng đáng là “lá cờ đầu của nền thơ ca Cách mạng Việt Nam”. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày ngắn gọn nội dung các tập thơ của Tố Hữu gắn liền với những chặng đường làm của cách mạng Việt Nam
1,387
Anh (chị) hãy trình bày ngắn gọn quan niệm sáng tác văn chương của Hồ Chí Minh Gợi ý Cuộc đời chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đời của một chiến sĩ cộng sản không ngừng đấu tranh chống lại mọi áp bức bất công dù ở bất cứ cương vị nào. Từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã sớm có năng khiếu văn học, yêu thích văn học dân gian, văn thơ cổ điển và văn thơ yêu nước Việt Nam, am hiểu sâu sắc Hán học, thơ Đường, thơ Tống. Trong thời hoạt động ở Pháp, Anh, Người say mê tìm hiểu văn học nghệ thuật phương Tây. Nhưng bình sinh, Hồ Chí Minh chưa bao giờ có ý định xây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương. Trong cảnh mất nước, Người đã từng dứt khoát từ bỏ con đường “văn chương khoa cử” để công hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cứu nước. Nhưng trên con đường cách mạng, văn chương lại đến với Hồ Chí Minh như một phương tiện, một vũ khí chiến đấu sắc bén, được sử dụng thường xuyên và rất có hiệu quả. Mặt khác, với một tâm hồn thơ phong phú và năng khiếu thơ bẩm sinh như Hồ Chí Minh, sáng tác văn chương đến như một điều hiển nhiên. Do đó, bên cạnh sự nghiệp cách mạng, Người còn để lại một sự nghiệp văn học quý giá. Mặc dù vậy, dưới cái nhìn của Hồ Chí Minh, văn chương là một thứ vũ khí sắc bén có sức cảm hóa sâu rộng hướng tới đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng. Trong Hiệp ước sơ bộ (1946), Người từng viết: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng theo đuổi một mục đích duy nhất là làm cho ích quốc lợi dân”. Quan điểm này đã chi phối tới toàn bộ sáng tác của Hồ Chí Minh, tới mục đích sáng tác, đối tượng, cách viết… hình thành nguyên tắc sáng tác được cụ thể hóa bằng các câu hỏi: Viết để làm gì? (mục đích) Viết cho ai? (đối tượng) Viết gì? (nội dung) Viết như thế nào? (hình thức). Đặt lên hàng đâu phải là mục đích: Viết để làm gì? Viết để ca ngợi cuộc kháng chiến, viết để kêu gọi và huy động sức mạnh quần chúng, viết để tố cáo tội ác của thực dân, đế quốc… Với mục đích ấy, nhưng tùy vào từng đối tượng khác nhau, sẽ có việc lựa chọn nội dung và những hình thức thể hiện khác nhau, Người lại có những cách trình bày khác nhau, phù hợp với trình độ, khả năng tiếp nhận và đời sống tình cảm của họ.Xem thêm: Nhạc sĩ S. Gunô có nói: "Hồi tôi 20 tuổi, tôi chỉ thừa nhận riêng tôi có tài. 30 tuổi, tôi đã nói: Tôi và Môda. 40 tuổi, tôi nói: Môda và tôi. Còn bây giờ tôi chỉ nói Môda" Truyện và kí Hồ Chí Minh (Những trò lố hay Va – ren và Phan Bội Châu, Con người biết mùi thịt hun khói, Con rùa…) để lại ấn tượng đầu tiên ở sự mới mẻ và hiện đại, không chỉ ở nội dung mà còn ở hình thức phản ánh. Đó là những sáng tác viết bằng tiếng Pháp với thủ pháp đan xen giữa kể và tả, nghệ thuật trào phúng, nghệ thuật xây dựng tình huống thông minh, sắc sảo, phù hợp với việc phục vụ đối tượng độc giả phần lớn là người Pháp lúc bấy giờ. Nhật kí trong tù là viết nhật ký, viết cho mình, Hồ Chí Minh trở thành một nhà hiền triết phương Đông, đạo mạo, thâm trầm thì cách sử dụng ngôn ngữ bằng tiếng Hán mang phong cách vừa cổ điển, vừa hiện đại là hoàn toàn hợp lý. Còn đối với những đối tượng là người nông dân, trình độ nhận thức còn hạn chế, các tác phẩm của người lại hết sức dễ hiểu, chân thực và gần gũi. Có thể kể đến như các bài Ca sợi chỉ; Ca nông dân,…, có tác dụng lôi kéo và cổ động rất lớn. Như vậy, quan điểm sáng tác phục vụ cho cuộc kháng chiến, cho cách mạng luôn luôn được Hồ Chí Minh tuân thủ một cách tuyệt đối, và thống nhất trong toàn bộ sự nghiệp của Người. Chính quan niệm sáng tác tích cực đó đã góp phần làm nên những giá trị trong sáng tác của Hồ Chí Minh. Và dù khi sinh thời, người không bao giờ nghĩ rằng mình sáng tác để trở thành một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng, nhưng một cách hiển nhiên, với sự nghiệp văn học mà Người để lại, Hồ Chí Minh xứng đáng trở thành một tác gia văn học lớn của nền văn học Việt Nam, một nhà văn hóa lớn của thời đại.Xem thêm: Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang giaVanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày ngắn gọn quan niệm sáng tác văn chương của Hồ Chí Minh
842
Anh (chị) hãy trình bày ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nam Cao Gợi ý Nam Cao (1917 – 1951) là nhà văn Việt Nam đai diện tiêu biểu của trào lưu hiện thực phê phán, một trong những cây bút xuất sắc của văn xuôi Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954). ông tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh ra trong một gia đình nông dân ở làng Đai Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân), tỉnh Hà Nam. Hoc hết bậc Thành chung, Nam Cao vào Sài Gòn gần ba năm, kiếm sống và bắt đầu sáng tác. Chuyến đi ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng Nam Cao vì đây là quãng thời gian ông đươc tiếp xúc với nhiều tầng lớp trong xã hội, đươc hít thở bầu không khí đấu tranh sôi nổi của cao trào công nhân. Bắt đầu làm thơ, viết văn và mơ ước đi xa nhưng vì ốm yếu nên phải trở lai.quê và thất nghiêp. Sau đó, ông day hoc tai một trường tư ỏ ngoai ô Hà Nội. Khi Nhật xâm lươc Đông Dương, trường bi đóng cửa, Nam Cao sống chật vật bằng nghề viết văn, làm gia sư, thường khi về quê ăn nhờ vơ. Đầu năm 1943, Nam Cao tham gia nhóm văn hóa cứu quốc ở Hà Nội. Bi địch khủng bố gắt gao, ông lánh về quê tham gia phong trào Việt Minh ở đia phương. Năm 1946, với tư cách là phóng viên mãt trận, ông có măt trong đoàn quân Nam tiến vào Nam Trung Bô. Mùa thu 1947, ông lên Việt Bắc làm công tác báo chí tuyên truyền phục vụ kháng chiến; năm 1950 ông tham gia chiến dịch biên giới. Tháng 11 năm 1951, trên đường đi công tác qua vùng đich hậu quân khu III, ông bị giăc Pháp phuc kích và sát hai. Năm 1996, Nam Cao được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật đợt 1.Xem thêm: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong truyện Vợ chồng A Phủ Nam Cao sáng tác từ rất sớm, có thơ, truyện, kịch,., đăng báo từ năm 1936, lấy các bút danh: Nguyệt, Thúy Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê… Những sáng tác thời kì đầu của ông chiu ảnh hưởng của văn hoc lãng man đương thời, có một số tác phẩm có giá tri phê phán nhưng chưa sâu sắc. Sự nghiệp văn học của Nam Cao thưc sư bắt đầu với Chí Phèo (1941), một truyện ngắn xuất sắc, khi nhà văn hoàn toàn từ bỏ ảnh hưởng của văn thơ lãng man và vươt qua những non nớt buổi đầu. Sáng tác của Nam Cao trước cách mang tập trung vào hai mảng đề tài lớn: người nông dân và người trí thức nghèo tiểu tư sản. Nhân vât chính trong những truyện ngắn, tiểu thuyết viết về người tiểu tư sản thường là viên chức nghèo, hoc sinh thất nghiệp, giáo khổ trường tư, nhà văn nghèo… (Đời thừa, Giăng sáng, sống mòn, Mua nhà, Nước mắt, Quên điều đô…). Miêu tả chân thưc cuôc sống nghèo khổ, tủi nhục của người trí thức, Nam Cao đăc biệt đi sâu vào những quằn quại đau đớn trong tâm hồn họ và đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc, vượt ra khỏi pham vi của đề tài. Đó là bi kích của những kẻ có ý thức sâu sắc về giá tri sự sống, khát khao cuộc sống có ý nghĩa chân chính mà cứ bi những gánh năng áo cơm làm giày vò, nhiều khi biến chất. Với hơn hai chục truyện ngắn viết về người nông dân (Chí Phèo Lão Hac, Một đám cưới, Một bữa no, Lang Rận…), Nam Cao đã dưng nên bức tranh chân thưc về nông thôn Việt Nam bần cùng thê thảm những năm 1940 – 1945 và xứng đáng được coi là nhà văn của nông dân. Nhà văn thường đi vào cuộc sốríg của những người cùng khổ, đăc biệt là nỗi khổ của người nông dân tâm hồn bi đày đoa, nhân phẩm bi xúc pham nhưng vươt lên tất cả, ông khẳng đinh manh mẽ bản chất đẹp đẽ của họ dù trong những hoàn cảnh bị vùi dập ác nghiệt đó.Xem thêm: Phân tích nhân vật Ông lão đánh cá trong tác phẩm Ông Lão Đánh Cá và Con Cá Vàng. Sau Cách mang, Nam Cao lao mình vàc moi công tác đươc giao, trở thành một chiến sĩ cách mạng hoạt động tích cực. Những tác phẩm như Đôi mắt, Nhật ký ở rừng, Chuyến biên giới, Vài nét ghi qua vùng giải phóng… có giá tri đặc sắc và tiêu biểu cho văn xuôi kháng chiến thời kỳ đầu. Con người Nam Cao nhìn bề ngoài có vẻ lạnh lùng, vung về nhưng lai có một đời sống nôi tâm rất phong phú, là người có tấm lòng nhân hâu và chan chứa yêu thương. Trong cuộc đời cầm bút của mình, ông luôn băn khoăn, trăn trở về vấn đề “sống và viết”, rất có ý thức về quan điểm nghệ thuật của mình. Nam Cao ý thức rết sâu sắc về một tác phẩm văn học đích thực, có thể vươt qua moi bờ cõi, giới han cũng như ý thức sâu sắc và đòi hỏi cao sự sáng tao trong nghề văn. Không chỉ như thế, Nam Cao cũng rất đề cao đạo đức của người cầm bút, có một cái đầu lạnh như có một trái tim ấm nóng. Nghệ thuật viết truyện của Nam Cao độc đáo, đăc sắc mà đa dang. Do ảnh hưởng của những quan niêm nghê thuật tiến bộ, tác phẩm của ông vừa chân thực, vừa có ý vị triết lý và ý nghĩa khái quát sâu xa. Ngòi bút hiện thưc tỉnh táo nghiêm nhăt, vừa sắc lanh, gân guốc lai vừa thắm thiết, trữ tình. Nhà văn có sở trường miêu tả tâm lý con người, nhất là khi đi vào những diễn biến tâm lý phức tap, tinh tế. Ngôn ngữ văn xuôi gần gũi với ngôn ngữ của người dân nhưng vẫn mới mẻ, giản dị mà sống động, nhất là trong ngôn ngữ đốì thoại.Xem thêm: Hãy bình luận ý kiến sau đây của Tuân Tử (313 - 235 trước Công nguyên): “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta; người khen ta mà khen phải là bạn ta; những kẻ vuốt ve y nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy" Như vậy có thể nói, về nhiều măt, tác phẩm Nam Cao đánh dấu một bước phát triển mới của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đang hiện đại hóa với một tốc độ nhanh chóng. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nam Cao
1,170
Anh (chị) hãy trình bày những hiểu biết của mình về tác gia Nguyễn Đình Chiểu Gợi ý Mỗi tác giả trong nền văn học trung đại Việt Nam lại có những điểm riêng, để lại những ấn tượng khác nhau trong lòng người đọc. Trên bầu trời đầy sao ấy, cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu hiện lên như một vì sao “có ánh sáng khác thường, phải chăm chú mới thấy” và “càng nhìn lại càng thấy sáng”. Đứng trước sự sừng sững kiên trung của một con người như thế, không ai không cảm thấy xúc động, ngưỡng mộ, kính phục tấm gương sáng về nghị lực sống, về tư tưởng nhân văn, tiến bộ. Sinh ra trong thời loạn lạc, lớn lên gặp cảnh gian nan, ngó thấy quân thù đi lại nghêng ngang trên xứ sở, nhà thơ hẳn như Hưng Đạo Vương khi trước muốn moi gan, phanh xác quân thù. Trên phông nền xã hội thuộc buổi đầu công cuộc xâm lược bành trướng của thực dân Pháp, cuộc đời đầy đau khổ, éo le của Nguyễn Đình Chiểu khiến nhiều người phải cảm thông, xúc động và không khỏi cảm phục trước tinh thần biết vượt qua khó khăn, vươn lên làm chủ sô" phận của mình để trở thành người “tàn mà không phế”. Sinh năm 1822 trong một gia đình phong kiến lớp dưới, là con đầu lòng trong một nhà đông con (7 người con) lại là con của vợ lẽ nên ngay từ nhỏ Nguyễn Đình Chiểu đã sớm chịu cảnh lận đận ngược xuôi. Nơi ông chào đời là ở đất Gia Định – mảnh đất người cha ông lập nghiệp – để rồi 11 năm sau đó, sau khi Nam Kì bị chiếm, cha ông đã bỏ chạy về kinh và bị cách chức rồi lại quay vào Nam đưa ông ra Huế gửi ở nhà một người bạn cũng vừa bị giáng chức: ông phải chịu cảnh ở nhờ. Sau 8 năm theo học ở Huế ông lại trở về Nam chăm lo đèn sách để chờ thi Hương. Năm 1843, ông đỗ tú tài ở trường Gia Định. Năm 1846, Nguyễn Đình Chiểu lại ra Huế học chờ thi Hội. Đây quả là thời kì lận đận, gian truân, đầy nhọc nhằn đối với nhà thơ. Không chỉ lận đận ngược xuôi mà cuộc đời ông còn là một chuỗi những đau khổ, éo le mà hiếm có tác giả nào trong nền văn học phải chịu đựng. Đầu năm 1849, sắp thi thì được tin mẹ mất từ cuối năm trước, ông vội vàng về Nam chịu tang mẹ, bỏ dở việc thi cử. Trên đường về quê ông bị ốm. Đường sá xa xôi, tiết trời nóng bức bệnh ông ngày càng nặng thêm, lại thương khóc mẹ quá nhiều nên chẳng may ông bị mù cả hai mắt. Chuyện tình duyên của ông cũng đầy éo le: Trước đây, khi ông đỗ tú tài, có nhà phú hộ ở vùng quê đã hứa gả con gái cho ông nhưng nay thấy ông bị mù liền bội ước. Vậy là giấc mộng công danh không thành lại thành người “tàn phế”, tình duyên thì trắc trở. Tương lai tưởng như chấm hết, cánh cửa cuộc đời tưởng như đóng sập trước ông. Thế nhưng, bằng ý chí và nghị lực phi thường, ông đã vượt qua mọi khó khăn, biến đau thương thành sức mạnh, vươn lên làm chủ số phận của mình. Sau khi mãn tang mẹ, ông mở trường dạy học, học trò theo học ông râ’t đông và từ đó người ta gọi ông là Đồ Chiểu. Ngoài việc dạy học ông còn nghiên cứu thêm về y học và bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Đâỵ quả đúng là tấm gương sáng về ý chí và nghị lực sống làm nhiều người không khỏi cảm phục.Xem thêm: Khan hiếm nước ngọt và những nguy cơ tiềm ẩn Không chỉ vậy cuộc đời ông còn là một tấm gương người sáng về lòng yêu nước, thương dân, về tinh thần bất khuất trước kẻ thù. Tuy bị mù, không thể trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến được nhưng ông vẫn thường bàn bạc việc quân với Đốc binh Là và trao đổi thư từ với Trương Định – những lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp lúc bấy giờ. Khi tản cư về quê vợ ở Ba Tri, ông vẫn giao thiệp với các nhà chí sĩ yêu nước và làm thơ vãn phục vụ công cuộc kháng chiến của dân tộc. ông hi vọng biết bao nhiêu vào những cuộc đấu tranh của nhân dân để rồi khi nó bị thất bại, ông đau xót vô cùng, ông càng cãm thù bọn thực dân cướp nước và bọn tay sai bán nước hơn. Khi Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây, các cuộc khởi nghĩa ở miền Nam đã bị dập tắt, khi mà một số lớn các nhà chí sĩ lại ra Bình Thuận thì Nguyễn Đình Chiểu vẫn ở lại Ba Tri nêu cao tấm gương bất hợp tác với địch. Và mặc dù thực dân Pháp tìm mọi cách để mua chuộc, dụ dỗ ông nhưng ông vẫn một mực cự tuyệt. Giai thoại còn để lại nhiều câu chuyện cảm động về lối sống thuần nhất hương hồn Việt, chối từ khinh bỏ mọi cách thức sống của phương Tây: quanh năm ông chỉ bận một màu đen hoặc trắng của thứ vải xấu, không màng đến lựa là gấm vóc; ông không dùng xà phòng mà chỉ dùng thứ quả bồ hòn để giặt giũ,… Đó là thái độ bất hợp tác đến tận cùng với cả gốc lẫn ngọn Tây phương, bởi như ca dao từng ghi nhận: “Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng”!. Khi chiếu cần Vương được ban bố, phong trào kháng Pháp lại sục sôi khắp Bắc và Trung Kì, ông lại tin tưởng vào sự khôi phục của nước nhà nhưng như ta đã biết tia hi vọng cuối cùng ấy của ông lại bị xoá nhoà. Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng ngời về ý chí và nghị lực sông, lòng yêu nước, thương dần và tinh thần bất khuất trước kẻ thù. Dù tàn tật, Nguyễn Đình Chiểu vẫn ghé vai gánh vác cả ba trọng trách mà một người lành lặn bình thường cũng khó bề đảm đương nổi: làm một thầy thuốc, một thày giáo và một nhà thơ. ớ cương vị nào ông cũng làm việc và cống hiến hết mình, thật đáng để cho người khác phải ngưỡng mộ. Cuộc đời ông làm ta cảm phục và văn thơ ông cũng được ta yêu mến.Xem thêm: Phân tích đoạn cuối bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu: "Ta muốn ôm, Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu; Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều... - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm quý: Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp, Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, Văn tế Trương Định,… Giá trị của những áng văn thơ ấy vẫn còn sống mãi trong lòng người đọc bởi lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa và tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết của ông. Trong thơ vãn của ông, không có loại thơ văn thuần tuý giải sầu, chúng nhằm mục đích chiến đấu, bảo vệ đạo đức của nhân dân và quyên lợi của Tổ quốc, ở đó lý tưởng nhân nghĩa luôn được đề cao. Lý tưởng ây phù hợp với truyền thông văn hoá của nhân dân ta. Nhà thơ từng viết: “Học theo ngòi bút chí công Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu”. Và ông khẳng định tính chiến đâ’u trong ngòi bút của mình: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Ông đã gửi gắm những lý tưởng, tâm sự “phò đời giúp nước” của mình vào những tác phẩm và những nhân vật. Ngay câu mở đầu tác phẩm Lục Vân Tiên ông đã viết: “Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu răn mình” Trong mỗi tác phẩm ông luôn xây dựng những nhân vật để thể hiện lí tưởng ấy. Đó là một chàng Lục Vân Tiên hiếu thảo với cha mẹ, hãm hở muôn đóng góp phần mình cho xã hội: “Làm trai trong cõi thế gian Phù đời giúp nước phơi gan anh hào” Để làm được điều ấy thì phải lấy “trung hiếu” làm đầu và “nhân nghĩa” làm gốc Vân Tiên sẵn sàng xả thân vì việc nghĩa, đánh tan bọn cướp cứu những người dân vô tội: “Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”. Vân Tiên là người thanh niên lý tưởng trong tưởng tượng của nhà thi sĩ mù. Nhưng hơn thế chàng còn là người bạn, người rể, người tình vô vàn trung thực khiến cho Vân Tiên trở thành một nhân vật lý tưởng trọn vẹn được cảm tình sâu sắc của nhăn dân. Đó còn là một Hớn Minh để lại trong lòng người đọc một cảm tình tốt đẹp. Chàng hiện lên như một nhân vật của “Lương sơn bạc” vừa hào hùng vừa khí khái của con người anh hùng có dáng dấp nông dân. Nhân nghĩa trong Nguyễn Đình Chiểu có tính chát là nhân nghĩa của nhân dân. Nếu Vân Tiên, Hớn Minh là những con người thanh niên lý tưởng thì Kiều Nguyệt Nga là hình ảnh mẫu mực cho người phụ nữ. Nhìn chung lại tất cả những nhân vật của ông đều chứa đựng tư tưởng nhân nghĩa, đạo đức phù hợp với truyền thống Việt Nam do đó những tác phẩm và nhân vật của ông đều được nhân dân yêu mến. Không chỉ chứa đựng tư tưởng nhân nghĩa mà thơ văn Nguyễn Đình Chiểu còn thể hiện lòng yêu nước thương nòi nồng nàn. Nguyễn Đình Chiểu là một trong số những nhà văn đầu tiên nói về người nông dân một cách chân thực. Ông nhận thức được bản chất tốt đẹp của người nông dân. Họ vốn là những người dân bình thường chân lấm tay bùn vết vả nghèo khó suốt đời làm ăn chăm chỉ bên cạnh con trâu đám ruộng “cui cút làm ăn toan lo nghèo khó” nhưng khi có giặc ngoại xâm họ lại là những người sẵn sàng xả thân để bảo vệ đất nước và cuộc sống của mình “nào đợi ai đòi ai bắt phen này xin ra sức đoạn kình”. Họ chiến đấu anh dũng kiên cường cho tự do của đất nước: “Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ”. Đã ra đi rồi, họ vẫn trung trinh.với Tổ quốc, đánh giặc đến cùng: “Sông đánh giặc thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia..”.Xem thêm: Anh (chị) có ấn tượng gì về hình tượng ông Huấn Cao trong tác phẩm "Chữ người tử tù" của Nguyễn TuânTâm chân tình của ông, Tùng Thiện vương Miên Thẩm đã thay lời nước non đáp lại: “Tiên sinh đánh giặc bằng ngòi bút: “Báo nước nhường này củng đáng thương” Thương cho những người nông dân nghèo, đau xót vì đất nước bị chia cắt, căm giận bọn làm tay sai cho địch, mong ước vùng lên đánh đuổi giặc lấy lại giang sơn thông nhất đất nước; nhà thơ còn ước mong đợi chơ một bậc minh quân thánh chúa: “Chừng nào thánh đế soi ân thấu Một trận mưa nhuần rủa núi sông” Đó là những thực tế sâu xa trong lòng Nguyễn Đình Chiểu. Đó thực sự là một nhà nho yêu nước, một chiến sĩ của lý tưởng nhân nghĩa. Ông có một lòng thương yêu sâu sắc đối với nước, với dân, ông có một thái độ dứt khoát đốì với kẻ thù, luôn luôn nêu cao khí phách của một nhà nho chân chính trước uy vũ của quân địch. Suốt đời, ông đã mượn giấy bút chiến đấu không biết mệt mỏi để bảo vệ cho chính nghĩa được toàn thắng, cho đạo lý được bảo toàn, cho nhân dân được yên ổn. Thơ văn của ông giúp ta thấy được rõ thêm quá trình đấu tranh anh dũng của dân tộc ta trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó nung nâu chí căm thù giặc và tay sai lên cao độ, nó kích thích và động viên tinh thần chiến đấu tiêu diệt quân thù. Trong lịch sử văn học dân tộc ở thời kỳ cận đại, Nguyễn Đình Chiểu là người có công đầu xây đắp nền văn thơ chống Pháp. Riêng đôi với văn học Nam bộ văn thơ Nguyễn Đình Chiểu là một bước thành công nhảy vọt đưa trình độ văn học của một địa phương tiến lên cùng trình độ chung của văn học dân tộc, góp vào đó những bông hoa tươi thắm nhất. Nhắc về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, ta không còn biết nói gì hơn. Vì sao Khuê rực rỡ ấy gần gũi vô cùng nhưng khi nào ta cũng ngước nhìn với một tấm lòng ngưỡng vọng chân thành. Nguyễn Đình Chiểu, đó là một con người, một tài năng Việt Nam hơn hết thảy. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày những hiểu biết của mình về tác gia Nguyễn Đình Chiểu
2,299
Anh (chị) hãy trình bày những suy nghĩ của mình về lòng dũng cảm Gợi ý Cuộc sống là một cuộc hành trình mà trên đó con người sẽ gặp nhiều khó khăn, gian khổ. Khó khăn trong việc chiếm lĩnh tri thức, khó khăn trong việc xử lí các mối quan hệ, thậm chí là khó khăn trong việc giữ gìn và bảo vệ sự sống… Vậy điều gì tạo nên sức mạnh cho con người tồn tại và sống tốt trong cuộc đời? Đó là lòng dũng cảm. Dũng cảm nghĩa là có dũng khí vươn lên, đốì đầu với nguy hiểm, khó khăn để làm những việc có ích cho cuộc sống của chính mình cũng như cho xã hội. Ta thấy những người dũng cảm có ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn, có lòng nhân ái thiết tha nên sẽ là cơ sở để sinh ra lòng dũng cảm. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, chúng ta đã biết đến nhiều gương các anh hùng đã dũng cảm hi sinh thân mình để bảo vệ đất nước. Đó là những La Văn cầu, Phan Đình Giót, Lê Văn Tám… Các anh đã cho ta một bài học về sự dũng cảm. Biết đương đầu với hoàn cảnh, ý chí, nghị lực và lòng dũng cảm sẽ làm nên những điều giá trị. Đứng trước quân thù tàn ác mà họ không bao giờ khuất phục, các chiến sĩ vẫn hô vang những khẩu hiệu cổ vũ đấu tranh giành độc lập. Hay những thiếu niên nhi đồng tuổi tuy chưa đến chín mười, ra tay giết giặc diệt loài xâm lăng. Anh đội viên Kim Đồng rất dũng cảm, giặc đến mà vẫn cố sức giấu cán bộ, anh ngã xuống mà không một tiếng kêu. Còn chú bé Lượm thì tuổi nhỏ mà Vượt qua mặt trận, Đạn bay vèo vèo, không sợ nguy hiểm, đi vào chốn bom rơi lửa đạn mà vẫn vui tươi, yêu đời, đến khi ngã xuống mà chú vẫn cầm trong tay ngọn lúa, vẫn giữ lòng dũng cảm. Phải có một tinh thần, một nghị lực, một lòng yêu nước lớn lao thì mới có những sự hi sinh, công hiến như vậy. Dũng cảm còn biểu hiện trong sự lựa chọn con đường đi cho mình, dù biết rằng con đường đó gian nan, là dao kể cổ súng kề thân. Là thân sống chỉ như còn một nửa, nhưng họ vẫn quyết tâm theo Đảng, theo cách mạng. Vì họ có lòng tin vào lí tưởng của Bác, của Đảng Cộng sản, vào lòng tin của chính mình. Còn nhớ ngày nào chàng trãi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước mà chỉ đưa hai bàn tay ra mà nói: Đây! Tiền đây… Phải dũng cảm, sáng suốt lựa chọn lắm thì Người mới ra đi tìm đường cứu nước trong hoàn cảnh như vậy. Trên mặt trận ta có những anh hùng, trong lao động sản xuât ta cũng có những anh hùng lao động. Họ là những chiến sĩ trên mặt trận hậu phương, dù không tay gươm tay súng nhưng họ có tay cuốc tay cầy dũng cảm vẫn làm việc trong khi bom đạn ào ào rội xuống. Bà má Hậu Giang, những chị Hai năm tấn… là những tấm gương về một hậu phương giỏi, một hậu phương dũng cảm kiên cường." Họ vừa phải chiến đấu, vừa phải hoàn thành nhiệm vụ mà hậu phương giao phó, trong chiến tranh họ vẫn chắc tay súng, vững tay cày.Xem thêm: Có thể nói ở văn học trung đại không có một nhà thơ thứ hai nào thành công trong việc miêu tả nội tâm nhân vật như Nguyễn Du, nhất là nội tâm nhân vật Thúy Kiều Chiến tranh thường tạo nên những anh hùng, nhưng không phải chỉ chiến tranh mới có anh hùng. Ngay trong thời bình thì những tấm gương về người dũng cảm, về anh hùng thời đại mới cũng rất nhiều. Hiện nay, Việt Nam còn là nước nghèo, mặc dù đã phát triển nhưng đời sống ở một sô nơi vẫn còn khó khăn. Điều đặc biệt là những nơi khó khăn như vậy lại thường ươm mầm chọ những sự vượt khó, sáng tạo. Và vì thế sự dũng cảm còn là sự vươn lên, vượt qua hoàn cảnh để sống tốt hơn, con người biết vượt qua những thử thách trong cuộc sống. Chúng ta đã chứng kiến nhiều những bạn tật nguyền nhưng không mặc cảm mà đã tự mình học tập, phấn đấu để trở thành những “hiệp sĩ” trong các ngành khoa học. Họ đã dũng cảm vượt lên số phận của mình để hoà nhập vào cuộc sống xã hội. Nhiều thanh niên sau khi học ở thành phố đã quyết định lên những vùng khó khăn để làm kinh tế. Hay những cô giáo chịu bỏ lại cuộc sống đầy đủ của mình nơi đô thị phồn hoa để gánh cái chữ lên non dạy cho các em vùng cao. Tất cả đã hi sinh cuộc sống riêng tư của mình để công hiến cho Tổ quốc. Hay một một cậu bé đã nhảy vao dòng lũ để cứu bạn mình, đã làm chúng ta phải cảm động vô cùng. Xã hội ta đang đứng trước nhiều tệ nạn, sự phát triển của các tệ nạn này ngày càng lan rộng. Có những cá nhân lại thờ ơ lãnh đạm trước những tiêu cực đang diễn ra trước mất mình. Nhưng cũng có những người mạnh dạn tố cáo những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của bọn xấu. Chúng ta được biết đến một thầy giáo của tỉnh Hà Tây đã đưa ra những tiêu cực trong thi cử tại tỉnh nhà mà không sợ một thế lực nào cả. Ai cũng nhìn thấy nhưng không phải ai cũng làm được như vậy. Đó là sự dũng cảm biết đứng lên tố cáo, đưa cái xấu ra trước pháp luật. Những việc như vậy rất đáng được xã hội tuyên dương. Còn nhiều tâm gương sẵn sàng đứng về phía lẽ phải, họ đã lên tiếng nói những lời nói mà trước kia nhiều người muốn nói nhưng không nói được.Xem thêm: Kể lại câu chuyện Chàng trai làng Phù ủng và trả lời câu hỏi: a. Chàng trai ngồi bên vệ đường làm gì? b. Vì sao quân lính đâm giáo vào đùi chàng? c. Vì sao Trần Hưng Đạo đua chàng trai về kinh đôĐối với những học sinh thì sao? Lòng dũng cảm được thể hiện trong sự vươn lên học tập tốt trong hoàn cảnh khó khăn, rồi biết đấu tranh cho những tiêu cực ở học đường. Trong các ngôi trường không thiếu gì những bạn học sinh đã mạnh bạo tố cáo những hành vi sai trái của bạn bè cũng như của giáo viên. Gần đây ở một số trường cao đẳng, đại học xảy ra tình trạng sinh viên dùng tiền mua điểm, hay giáo viên có những hành vi trái với đạo đức nghề nghiệp… làm xã hội rất bức xúc. Những người trong cuộc thường làm ngơ, vì sợ nếu tó giác thì sẽ chịu hậu quả xấu. Nhưng đã có nhiều người dũng cảm đứng lên tố giác những việc làm trái với nguyên tắc đó. Họ không một chút nghi ngại mà thẳng thăn trình bày trước cơ quan pháp luật, với mong muón làm trong sạch ngành Giáo dục. Là một học sinh thì không chỉ biết tránh xa những tiêu cực, mà còn phải dũng cảm đưa chúng ra ánh sáng. Lòng dũng cảm cũng sẽ trở nên gần gũi hơn khi bạn biết nói ra những gì sai trái xung quanh mình. Dũng cảm không là những gì xa xôi, nó ở ngay trong chính mỗi người, điều quan trọng là phải thể hiện và rèn luyện nó ra sao mà thôi. Sự dũng cảm sẽ giúp ích gì cho ta? Tất cả những tấm gương về lòng dũng cảm ở trên đều cho ta thấy rằng lòng dũng cảm đã nâng giá trị của bản thân lên rất nhiều. Nó khẳng định sức mạnh của con người trước những thế’ lực của tự nhiên và xã hội. Như chúng ta biết, sự đấ’u tranh giữa kẻ xấu và người tót là cuộc đấu cần đến sự chấp nhận đương đầu với gian nguy, có khi là một mâ’t một còn. Nhưng nếu ta dũng cảm chiến đấu đến cùng thì cái xấu bao giờ cũng bị tiêụ diệt. Và khi đó con người thật là vĩ đại, vì ta làm được những gì mà người khác sợ không thể làm. Chính đó sẽ giúp cho xã hội của ta thêm phát triển, ngày càng tốt đẹp hơn. Vì xã hội sẽ ngày càng loại dần những tiêu cực, bất công nhờ sự dũng cảm của mỗi người. Nếu được như vậy, con người sẽ có lòng tin vào cuộc sống hiện tại, họ sẽ vui sống để đón chờ một tương lai tươi sáng phía trước. Sự dũng cảm còn giúp con người tạo dựng những giá trị vật chất và tinh thần. Một người cỏ hoàn cảnh khó khăn mà dũng cảm vượt qua mọi thử thách họ sẽ lớn lên nhiều, họ có thể tự tạo lập cho mình cuộc sống riêng. Như vậy lòng dũng cảm còn thúc đẩy sự tự lập trong mỗi người. Khi họ thành công ho sẽ tin vào bản thân, tin vào khả năng có thực của mình và họ sẽ tiếp tục dũng cảm vươn lên trong cuộc sống.Xem thêm: Phân tích bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương Nói về lòng dũng cảm nghe ra rất dễ, nhưng để rèn luyện và thực hiện nó thì không phải đơn giản. Trong thời chiến thì đó được làm nên từ lòng yêu nước, yêu cách mạng, nhưng trong thời bình lòng dũng cảm cần được bồi đắp bằng lòng yêu thương con người, yêu cái thiện yêu cái đẹp, ghét cái xấu. Đặc biệt, cần biết được đâu là cái ác, cái xấu để đứng lên đấu tranh, thì cần có một kiến thức, vón hiểu biết về tự nhiên, xã hội. Những thứ đó từ đâu mà có? Không ở đâu khác đó là từ sách vở, từ những bài học giáo dục công dân, bài văn, bài sử… cho ta thấy đâu là cái chân, mĩ, thiện. Những kiến thức đã có thì cần phải rèn kĩ năng, thái độ cho mình để có niềm tin rằng mình sẽ vượt qua những khó khăn, thử thách. Lòng dũng cảm mang giá trị thật lớn lao. Nơi nào có mặt sự dũng cảm thì nơi đó cái xấu sẽ không có cơ hội xuất hiện. Nhưng để có lòng dũng cảm thì không phải dễ dàng. Thế hệ trẻ ngày nay vẫn phải biết hoàn thiện lòng dũng cảm của mình. Lòng dũng cảm sẽ giúp hình thành một nhân cách tốt cho thế hệ trẻ. Nếu thế hệ trẻ ngày nay không dũng cảm đương đầu với thử thách thì họ sẽ không đưa được đất nước của minh phát triển, họ sẽ trở thành những con người sống thu mình, khép kín, luôn trong sự lo lắng, sống thiếu bản lĩnh. Mỗi người cần quyết tâm rèn luyện lòng dũng cảm, để chúng ta sống tốt hơn, để xã hội của ta hoàn toàn trong sạch, thực sự có đủ điều kiện để chúng ta phát triển toàn diện. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày những suy nghĩ của mình về lòng dũng cảm
1,969
Anh (chị) hãy trình bày quan niệm của Hoài Thanh về “tinh thần thơ mới” trong ý nghĩa văn chương và xã hội thể hiện trong “Một thời đại trong thi ca”. Lấy dẫn chứng minh họa Gợi ý “Hoài Thanh là người say mê thơ Mới vào bậc nhất trong những người say thơ. Với “Thi nhân Việt Nam”, một cuốn sách hết sức hấp dẫn đối với nhiều thế hệ bạn đọc, một bản tổng kết nghiêm túc và biểu dương đầy thuyết phục, một sự dìu dắt, chỉ đường sáng suốt và ân cần, tác giả đã tạo cho bạn đọc từ thuở ấy một niềm tin vào ngành phê bình non trẻ của nước nhà. Tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” đặt ở đầu sách là một công trình nghiên cứu phê bình thơ kiệt xuất, vừa là một áng văn nghị luận dào dạt chất thơ, vang vọng tới muôn đời” (Nguyễn Bao – Hoài Thanh và thơ, đọc tại lê kỉ niệm mười năm ngày Hoài Thanh qua đời). Đọc “Một thời đại trong thi ca” ta bắt gặp quan niệm của Hoài Thanh về “tinh thần thơ mới” trong ý nghĩa văn chương và xã hội có giá trị sâu sắc. Bài tiểu luận hết sức công phu, phong phú và phức tạp dài gần 45 trang ỉn, tổng kết một cách toàn diện và sâu sắc, khoa học, đầy sức thuyết phục về phong trào thơ Mới một cách uyên bác, từ hoàn cảnh ra đời, quá trình phát triển, các dòng mạch, nội dung và nghệ thuật, tác giả và tác phẩm tiêu biểu, đặt trong mối quan hệ với thơ cũ, với thời đại, xã hội và tâm lí tầng lớp thanh niên đương thời. Hoài Thanh đã lấy hồn tôi để hiểu hồn người và diễn đạt lại chúng bằng một áng văn giàu chất thơ cuôn hút người đọc. Trong đoạn trích bàn về tinh thần thơ Mới, đoạn trích mà tác giả cho là quan trọng hơn cả, cái mà ông cho là quan trọng nhất đó là sự thể hiện của tinh thần thơ Mới trên hai phương diện: “Lần đầu tiên chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó” xuất hiện trong thi ca đồng thời cũng nói lên “cái bi kịch ngấm ngầm trong tâm hồn người thanh niên” hồi bấy giờ. Tinh thần thơ Mới, theo tác giả, trước hết là ở chữ “Tôi”. Cái khác nhau của thơ mới và thơ cũ là ở chữ “Tôi” và chữ “Ta”. Chữ Tôi là cái gắn với cá nhân, cá thể, gắn với cái riêng; chữ Ta gắn với cái chung, tập thể, cộng đồng, xã hội. Thời trung đại, chờ Ta được đề cao, coi trọng. Người ta đặt cái Tôi sau cái Ta, nếu có cái Tôi cũng chỉ là một cái Tôi phi ngã, một cái Tôi luôn hướng tới lợi ích chung của cộng đồng, nói thay cho tiếng nói và lợi ích của cả cộng đồng: “Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân. Chỉ có đoàn thế’: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình. Còn cái cá nhân, bản sắc của cá nhân chìm đắm trong gia đình, trong quô’c gia như giọt nước trong biển cả. Cũng có những bậc kì tài xuất đầu lộ diện. Thảng hoặc, họ cũng ghi hình ảnh họ trong văn thơ. Và thảng hoặc, trong vãn thơ họ cũng dùng đến chữ Tôi để nói chuyện với người khác. Song dầu táo bạo đến đâu họ cũng không một lần nào dám dùng chữ Tôi để nói chuyện mình, hay – thì cũng thế – với tất cả mọi người. Mỗi khi nhìn vào tâm hồn họ hay đứng trước loài người mênh mông, hoặc không tự xưng, hoặc họ ẩn mình sau chữ Ta, một chữ có thể chỉ chung nhiều người. Họ phải cầu cứu đoàn thể để trôn cô đơn..”.. Nhưng rồi, mọi thứ đã thay đổi. Đã đến lúc cái tôi cá nhân của con người lên tiếng đòi khẳng định mình. Và cái Tôi mang ý nghĩa tuyệt đô’i xuất hiện. Đó là cái Tôi độc lập, tự khẳng định mình, tự mình tách khỏi cái Ta chung thành riêng một cõi, một thế giới. Hiện thực xã hội đen tốì bây giờ cùng với những ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa phương Tây đã làm sông lại cái Tôi trong mỗi người nghệ sĩ lãng mạn, và họ mang cái Tôi đó để đô’i lập lại với cả xã hội chặt hẹp, tù túng đương thời, chống lại cả những gò bó trước đó. Xuân Diệu, chàng hoàng tử của thi ca Việt Nam thế nên mới đứng giữa cuộc đời mà lớn tiếng khẳng định:Xem thêm: Em đã từng gặp Ông Tiên trong những truyện cổ dân gian, hãy miêu tả lại hình ảnh đó theo trí tưởng tưởng của em“Ta là một, là riêng, là thứ nhất Không có ai bè bạn nổi cùng ta” Thi nhân đã đứng giữ cuộc đời mà khẳng định mình một cách tuyệt đổi. Nhưng đó cũng chính là cái Tôi cô đơn một cách tuyệt đối. Cô đơn đến múc không thể tìm cho mình một tri kỉ để rồi cứ phải một mình đứng mãi trên ốc đảo cô đơn ấy. Ý thức cá nhân được đẩy lên đến đỉnh điểm là một trong những nguyên nhân đấy người nghệ sĩ đến trạng thái tự cô lập mình như thế. Và đó cũng là những gì ta đã từng gặp trong những vần thơ của Chế Lan Viên: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vầng trăng trơ trọi giữa trời xa" Cầu mong có một tinh cầu chỉ có riêng mình, để ở đó mình thực sự là mình và tránh xa những ưu phiền của cuộc đời. Đó không chỉ là ước mơ của riêng Chế Lan Viên. Khẳng định cái Tôi cá nhân của mình, không chấp nhận cuộc đời, không chấp nhận cái Tôi của mình bị hòa tan, thế nên Thế Lữ mới tìm lên một thế giới riêng mà không ai ở trần thế này có thể làm được: bạn với chú Cuội, chị Hằng: “Đêm thu buồn, lắm chị Hằng ơi Trần thê em nay chán nửa rồi Cung quế đã ai ngồi đó chửa Cành đa xin chị nhắc lên chơi” Tuy nhiên, quá trình cái Tôi xuất hiện và được chấp nhận không phải là đơn giản. Ban đầu, vì nó mới qua, nó nói lên tiếng nói mà trước kia người ta đã không thể nói lên được hoặc vì điều này, điều kia mà giấu kín nên nó nhận được “bao nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu”. Rồi, nó cũng mất dần đi vẻ bỡ ngỡ, được người ta quen, người ta chấp nhận nhưng người ta còn thấy nó “đáng thương”, “tội nghiệp”. Tại sao vậy? Hoài Thanh đã chỉ ra rằng: có điều đó bởi vì người ta nhận thấy ở cái Tôi bây giờ không còn cái cốt cách hiên ngang như ngày trước, như cái khí phách ngang tàng của Lí Bạch, cái tự trọng trước cơ hàn như Nguyễn Công Trứ mà rên rỉ, khổ sở, thảm hại, phiêu lưu trong trường tình, thoát lên tiên, điên cuồng, đắm say, bơ vơ, ngẩn ngơ buồn, bàng hoàng mất lòng tin. Đó là tiếng nói của một cái Tôi không chịu chấp nhận, thừa nhận thực tại nhưng lại đang bế tắc, tuyệt vọng, không tìm ra lối thoát cho bản thân. Từ đây, tác giả dẫn dắt người đọc đến với nét tiêu biểu thứ hai theo ông, của tinh thần thơ Mới: “Cái bi kịch ngấm ngầm trong hồn người thanh niên” hồi bấy giờ. Người nghệ sĩ không còn nhận thấy tiếng nói chung với xã hôi mà họ đang sống nữa. “Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi càng lạnh”. Con người ta tìm đến với cá nhân mình, tìm đến với tiếng nói cá nhân. Cái Tôi có, nhưng đó lại là một cái Tôi đang bế tắc trước thực tại nên càng đi sâu thì càng thấy lạnh. Đặt trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bây giờ mới hiểu rõ hơn nỗi buồn và bi kịch bế tắc “trong hồn người thanh niên” mà Hoài Thanh nhắc tới. ông viết: “Nhưng ta trách gì Xuân Diệu! Xuân Diệu là nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại, chỉ nói cái khổ sở, thảm hại của hết thảy chúng ta”.Xem thêm: Vì sao khi đã giết được kẻ thù là Bá Kiến, Chí Phèo lại tự kết liễu đời mình? Từ bi kịch đó, hãy nêu lên giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả của truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao Thơ Mới ra đời vào thời điểm những năm trước Cách mạng tháng Tám, đất nước nằm dưới ách đô hộ của thực dân đế quốc, đời sống nhân dân hết sức khổ cực. Điều này đã được phản ánh một cách chân thực trong sáng tác hiện thực phê phán đương thời. Đứng trước bi kịch của một người dân mất nước, mất độc lập tự do, không chỉ bế tắc trước cảnh tối tăm của dân tộc, người nghệ sĩ còn phải đối mặt với một bi kịch khác: bi kịch của người không thể tìm ra được lốì đi đúng đắn cho ngòi bút sáng tạo nghệ thuật của mình. Nỗi đau mất nước cùng với nỗi đau về một cái Tôi riêng bế tắc của người nghệ sĩ khiến cho những vần thơ của họ sáng tác ra cũng thấm đẫm những nỗi buồn, nhưng sự bi quan và cô độc. Và mồi nhà thơ Mới tìm cho mình một con đường vượt thoát khác nhau. “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, sau đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”. Xuân Diệu tìm thấy thế giới riêng của mình trong tình yêu, đắm say nhưng vẫn bơ vơ. Ông khát khao tình yêu, luôn lo lắng về tình người, tình đời, về sự chảy trôi của thời gian, sự hạn hẹp của kiếp người. Cái Tôi.đã có lúc cảm thây cô độc một cách tuyệt đô’i đến mức phải kêu lên: “Không có ai bè bạn nổi cùng ta” nhưng gần như cả cuộc đời mình thì luôn trên cuộc hành trình tìm về với “niềm khát khao giao cảm với đời”. Thơ ông đầy những dự cảm: “Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất" Khát khao sống trọn vẹn, đã đầy, ông cũng luôn đòi hỏi điều ấy ở người khác. Ngay cả khi đang ở cạnh nhau cũng vẫn cảm thấy “xa cách”: “Gần thêm nữa thế hãy còn xa lắm”. Ay là bi kịch của nỗi cô đơn và lo lắng trước tình người, tình đời. Huy Cận thì giấu mình trong nỗi buồn sầu đến ngẩn ngơ, chỗ nào cũng là nỗi buồn giăng mắc, là nỗi “buồn đêm mưa”: “Nghe trời nặng nặng nghe ta buồn buồn”; là nỗi buồn trước cảnh trời rộng sông dài:Xem thêm: Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn rụi của tâm hồn.“Sóng gợn tràng giang buồn điệp diệp Con thuyền xuôi mái nước song song” Đằng sau đó, người ta cảm nhận được những nỗi niềm sâu kín về quê hương, đất nước. Thế Lữ tìm lên tiên với “Tiên nga xòa tóc bên nguồn/ Hàng tùng rủ rỉ bên cồn. đìu hiu” nhưng Thiên Thai vẫn chỉ mãi là một chốn không có thực và “Tiếng sáo Thiên Thai” chỉ là tiếng vang lên trong tưởng tượng của nhà thơ mà thôi. Động tiên đã khép, con người rơi vào bi kịch lạc lõng trong chính thực tại mà mình đang sống… Tuy buồn, tuy ảo não, cô đơn, tuy đầy dự cảm nhung không thể phủ nhận một điều là đằng sau sáng tác của các thi sĩ thơ Mới, người ta vẫn cảm nhận được những tình cảm tích cực. Sự chạy trốn, thoát li bắt nguồn từ những bất mãn đối với thực tại nhưng bế tắc không thể tìm ra cách giải quyết. Bởi người ta hi vọng, mong muốn ở những điều tốt đẹp hơn, một tương lai tốt đẹp hơn đối với cuộc sống, đối với quê hương đất nước nên mới có những trạng thái cảm xúc và phản ứng như vậy. Hơn nữa, đề cao cái Tôi những thơ Mới vẫn là tiếng nói thể hiện tình yêu thiên nhiên con người và gửi gắm sau đó tình cảm thầm kín đổì với đất nước. Đó là cách biểu hiện riêng của những người có chữ tâm, chữ tài nhưng chưa thể tự mình tìm ra hướng giải quyết ổn thỏa cho chữ tâm đó nên đành cô đơn với cái tài của chính mình. Chính cái Tôi cá nhân tuyệt đối, tách hoàn toàn khỏi cái Ta đã làm nên một bi kịch buồn và bế tắc chung của các nhà thơ Mới. Con đường để giải thoát bi kịch, tìm lại lòng tin đã mất là gửi tình yêu vào tiếng Việt; dồn tình yêu quê hương đất nước tha thiết và ngấm ngầm trong tình yêu tiếng mẹ đẻ thân thương và thiêng liêng. Với họ, tiếng Việt là tấm lụa hứng vong hồn bao thế hệ người Việt trong quá khứ và hiện tại. Thanh niên, thi sĩ thơ Mới dùng tâm hồn dân tộc ấy để bày tỏ tình yêu nhân dân và đất nước của mình. Tiếng Việt có sức sống mãnh liệt không thể tiêu diệt được cũng như tâm hồn dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam mãi trường tồn. Đó là mong ước và niềm tin của một bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ Việt Nam những năm 1930 – 1945. Con đường riêng đó của thơ Mới, tuy vẫn còn những hạn chế, nhược điểm trong hoàn cảnh hiện tại: phản ánh nhận thức chủ quan của nhà thơ Mới nhưng cũng có những tác dụng, giá trị nhất định, đáng được lịch sử ghi nhận và trân trọng. Bằng nghệ thuật lập luận khoa học, chặt chẽ, thấu đáo và một văn phong tài hoa, tinh tế, giàu cảm xúc đoạn trích đã mang lại cho người đọc những nét chính trong quan niệm của Hoài Thanh về tinh thần thơ Mới. Cùng với đoạn trích, tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” đã góp phần to lớn làm nên giá trị của “Thi nhân Việt Nam”, tác phẩm có giá trị nhát của Hoài Thanh – Hoài Chân, bản tổng kết có giá trị đầu tiên, sâu sắc, mới mẻ và lâu bền về phong trào thơ Mới, một áng văn chương nghị luận tuyệt vời… Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày quan niệm của Hoài Thanh về “tinh thần thơ mới” trong ý nghĩa văn chương và xã hội thể hiện trong “Một thời đại trong thi ca”. Lấy dẫn chứng minh họa
2,537
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về nhận định: Biết và hiểu là cần để làm theo, đi theo, nhưng phải biết tưởng tượng mới sáng tạo được cái mới Gợi ý Quá trình phát triển trí tuệ của con người thường liên quan đến bốn yếu tố: bẩm sinh di truyền, môi trường sống, giáo dục đào tạo và tự thân rèn luyện. Tưởng tượng chỉ là một trong nhiều nội dung của tự thân rèn luyện. Con người không biết tưởng tượng vẫn có thể thu thập được những sự kiện.Nhưng nếu không có tưởng tượng sẽ không thể có phát minh vĩ đại, loài người sẽ không phát triển cả văn minh vật chất và văn minh tinh thần (Ti-mi-ria-zép). Dù là học sinh, sinh viên đến nhà khoa học, các vị lãnh đạo quản lí, sản xuất kinh doanh đến các văn nghệ sĩ… muốn phát triển tài năng nhất thiết phải biết tưởng tượng. Trong quá trình nhận thức lí tính phải trải qua quá trình tư duy… Nhưng tư duy không thể đáp ứng được mọi đòi hỏi phức tạp do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Có những tình huống có vấn đề, con người khó có thể dùng tư duy mà giải quyết được. Khi đó, con người phải dùng đến một quá trình nhận thức khác, đó là tưởng tượng. Tưởng tượng là khi con người dựng lên trong óc mình những hình ảnh con người, sự vật, sự kiện mới chưa từng được trực tiếp tri giằc hoặc chưa có trong hiện thực. Hoặc có thể nói, tưởng tượng còn là quá trình nhận thức, phản ánh những cái chưa có trong kinh nghiệm bằng cách xây dựng những hình ảnh mới, trên cơ sở những hình ảnh (biểu tượng) đã có. Nhạc sĩ An Thuyên sáng tác bài Hành quân lên Tây Bắc năm 1983 nhưng mười một năm sau (1994), ông mới có dịp được lên Tây Bắc và mới trực tiếp thấy Tây Bắc… vút xa mờ với Tây Bắc mây trắng bồng bềnh như mơ. Ngày nay, bằng khoa học – kĩ thuật hiện đại, con người đã lên thăm được chị Hằng và một số ngôi nhà (hành tinh) khác ngoài Trái Đất. Con người đã lang thang dưới đáy dại dương tìm cua, tìm vàng và thăm “vua Thuỷ tề”. Biết bao nhiêu sự kiện mà trước đây chúng ta cho là hoang đường, thần bí nay thành sự thật. Tất cả đều bắt đầu từ tưởng tượng. Lê-nin từng nói: Thật là sai lẩm nếu nghĩ rằng chỉ có nhà thơ mới cần tưởng tượng. Đó là một định kiến sai lầm ngu xuẩn. Ngay cả trong toán học cũng cần có tưởng tượng. Tưởng tượng sáng tạo là mức tưởng tượng cao hơn phức tạp hơn, xây dựng những biểu tượng mới chưa có trong hiện thực. Không có tưởng tượng sáng tạo thì không có bất cứ thành tựu nào trong khoa học xã hội – nhân văn cũng như khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật…Xem thêm: Phân tích nghệ thuật mô tả các pho tượng của Huy Cận trong bài thơ "Các vị La Hán chùa Tây Phương" Kết quả tưởng tượng sáng tạo phụ thuộc vào tưởng tượng, tri thức, năng lực, kinh nghiệm và nhất là tình cảm và nguồn cảm hứng trong quá trình lao động sáng tạo. Đó là trạng thái đặc biệt của nỗ lực sáng tạo. Nó làm tăng hưng phấn của cảm xúc, tập trung chú ý, tư duy rành mạch, tăng nghị lực, tăng nhiệt tình. Có hai dạng đặc biệt của tưởng tượng sáng tạo là ước mơ và lí tưởng. Ước mơ là những biểu tượng, hình ảnh mong muốn tương lai. Ước mơ đúng, hữu ích là nguồn cổ vũ con người. Ước mơ viển vông dẫn đến hoang tưởng có hại. Lí tưởng có tính tích cực và hiện thực cao hơn mơ ước. Lí tưởng là hình ảnh chói sáng làm con người muốn vươn tới. Nó là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy con người vươn tới tương lai. Ước mơ lí tưởng những hoài bão tạo khả năng tiềm tàng và sức mạnh to lớn. Ước mơ sáng tạo là một trong những đức tính quí giá. Vì vậy mỗi con người phải biết sử dụng bộ não của mình để phát triển trí tưởng tượng. Và chúng ta thường tưởng tượng để vươn tới ước mơ. Một vấn đề chỉ cần biết và hiểu là có thể hoàn thành thế nhưng để đạt tới một điều mới mẻ hợn, cần phải có sức tưởng tượng. Sức tưởng tượng đem tới những sự sáng tạo mà ta không thể ngờ, và sự sáng tạo đó chắc chắn sẽ “gây ấn tượng” nếu bạn có đủ giấc mơ để có thể hoàn thiện nó.Xem thêm: Em hãy kể về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch...) Trí tưởng tượng là sức mạnh khiến bạn tiến xa hơn những điều đã biết và chưa biết để sáng tạo ra điều không tưởng của riêng mình. Hoạ sĩ Pau Gau-gu-in đã. từng tuyên bố: Để quan sát tôi nhắm mắt lại. Thật đáng tiếc khi chúng ta thường hay quan tâm đến những gì hiện có hơn là những gì có thể tồn tại. Theo đó, hãy là một người biết tưởng tượng. Hãy luôn tỉnh táo và thận trọng với những nết nhạc nhỏ vì chúng có thể tạo nên một hợp âm khiến bạn sửng sốt. Hãy lắng nghe, giữ chặt lấy chúng và hãy xem cái gì rơi ra ngoài khi bạn lắc chúng. Sau đó, điều quan trọng nhất bạn hãy nhanh chóng ghi lại nó trước khi nó di chuyển, thay đổi và biến mất không bao giờ trở lại. Ông Phran-cis Ba-cơn phát biểu: Mỗi người nên có một chiếc bút chì trong túi mình để có thể ghi lại những ý tưởng chỉ xuất hiện trong chốc lát. Thật là một lời khuyên tuyệt vời vì tùy tưởng này có thể làm nảy sinh ra ý tưởng khác, lần lượt chúng có thể hỗ trợ, đề cao lẫn nhau và tạo khả năng cho những hành động có thể cụ thể hoá những ý tưởng thành sự thật. Đó là sự kì diệu của nhận thức. Các ý tưởng luôn có một sự cân xứng tuyệt vời. Bạn nắm lấy một ý tưởng bởi vì bạn cần nó và nó cũng cần bạn. Hãy nhớ kĩ điều này và lúc nào cũng nên có một quyển sổ cầm tay, một tập giấy, một người lập kế hoạch hàng ngày… một băng cát-xét siêu nhỏ, máy quay kĩ thuật số hoặc một máy truyền văn bản.Xem thêm: Kể lại cuộc gặp gỡ của Mị Châu và Trọng Thuỷ ở dưới thủy cung. (Yêu cầu viết bài văn) Rô-ling Stô-ne và tay hát nhạc rock thần thánh Leith Ri-chac đã viết những đoạn gitar nổi tiếng bất hủ cho bài Sastissfaction khi thức dậy vào lúc nửa đêm ở một khách sạn. Chiều hôm sau khi ra khỏi giường, rocker này đã hoàn toàn quên mất rằng mình đã sáng tác một bài hát cho đến khi dùng máy ghi âm vào cuối ngày nghe thấy bản thân mình nhẩm theo giai điệu rock kinh điển lúc đó. Do đó khi bạn may mắn xuất hiện ý tưởng, hãy ghi nó lại. Luôn có một quyển sổ ghi lại những ý tưởng là điều rất quan trọng để kết hợp giữa hành động và phản ứng. Khi một Bill Gates đầy đam mê bắt đầu có những ý tưởng về các phần mềm mà đã xoay chuyển cả thế giới, ông đã nhanh chóng ghi lại chúng ra giấy bằng một chiếc bút chì, ghi lại những nỗ lực tuyệt vời của mình và tạo ra số phận. William Wordsworth phát biểu: Hãy ghi lại những ý tưởng bằng tất cả những nhiệt huyết của bạn. Hãy hình thành cho ý tưởng của bạn một sự hiện diện rõ ràng là bước đầu tiên trong việc xem xét những gì cần xem xét, hãy biến nó từ một sự loé sáng của sức mạnh tinh thần thành sức mạnh thể chất. Bạn sẽ thấy chúng thật đáng ngạc nhiên, thu hút, làm bạn hài lòng và hoàn toàn xây dựng niềm tin cho mình khi bạn bắt đầu nghiên cứu tài liệu và theo dõi những ý tưởng tốt mà bạn có. Tưởng tượng những gì có thật, những ý tưởng xuất phát từ một cách nghĩ mới. Và hãy biết tin tưởng! Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về nhận định_ Biết và hiểu là cần để làm theo, đi theo, nhưng phải biết tưởng tượng mới sáng tạo được cái mới
1,456
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về tính ích kỉ và lòng vị tha trong xã hội ngày nay Gợi ý “Em ơi, sống trên đời cần một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn bay đi”. Tấm lòng mà cuộc đời cần lắm chính là sự vị tha, mỏ rộng tấm lòng trước cuộc đời. Có phải vì vậy mà bao đời nay lòng vị tha và tính ích kỉ – hai mặt đối lập luôn tồn tại song song trong tính cách con người, là chủ đề của nhiều cuộc bàn luận sôi nổi, kịch tính? Vị tha là có tinh thần chăm lo một cách vô tư đến lợi ích của người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình. Như vậy lòng vị tha ở con người chứng tỏ một tinh thần vô cùng cao cả: tinh thần “một người vì mọi người”. Ngược lại, ích kỉ là chỉ biết, chỉ vì lợi ích cho riêng mình mà không biết đến người khác. Tính ích kỉ bộc lộ bản chất hẹp hòi, nhỏ mọn của kẻ tiểu nhân. Trong cuộc sống, để nhận diện người có lòng vị tha và kẻ tiểu nhân ích kỉ không khó. Lòng vị tha thể hiện ở thái độ vô tư, không mưu toan tính toán khi giúp đỡ người khác làm một việc gì đó. Trong lớp có học sinh học kém hơn, bạn không dè bỉu, xa lánh mà lại gần sẻ chia, giúp đỡ bạn ấy học tốt. Trong tập thể có thành viên mắc lỗi, làm phải điều sai trái, bạn không vì thế mà lên án gay gắt, không cho họ con đường quay lại. Ngược lại bạn giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để giúp họ sửa sai,… Trong những hoàn cảnh ấy, nếu bạn làm được như vậy, có thể khẳng định: bạn có lòng vị tha. Sâu rộng hơn, ta có thể nhìn vào hoạt động tình nguyện của thế hệ thanh niên đất nước mỗi khi mùa hè đến. Họ không quản ngại gian khó đi về với vùng cao, vùng gặp khó khăn,… để hoà mình với đồng bào, cùng đồng cam cộng khổ giúp đỡ họ vươn lên…Xem thêm: Trong truyện ngắn Đời thừa, nhà văn Nam Cao viết: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho…". Hãy bình luận ý kiến trên và phân tích một số tác phẩm của Nam Cao để làm sáng tỏ quan điểm nghệ thuật đó Song cũng cần tỉnh táo để phân biệt lòng vị tha với sự ban ơn hay sự tính toán mưu cầu lợi ích riêng. Giúp đỡ người khác nếu không xuất phát từ sự vô tư mà khởi đầu từ lòng thương hại thì đó chỉ là sự ban ơn mà thôi. Mối quan hệ giữa người cho đi và người nhận về không hề bình đẳng. Đến với quỹ ủng hộ “Vì người nghèo”, có kẻ mặt tươi cười đặt vào quỹ những đồng bạc lớn nhưng họ lại thầm cười khẩy trước mái lán lụp xụp của một gia đình nghèo. Thâm tâm họ, những đồng bạc kia chỉ là sự gia ơn bố thí. Mặt khác, lại có kẻ giúp đỡ người khác vì một mục đích tư lợi nào đó. Thực tế, đã có những ông to, bà lớn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cấp dưới làm việc, thăng chức chỉ để lấy lòng đồng nghiệp, chờ mong lá phiếu của họ dành cho mình trong kì bầu cử. Lòng vị tha trá hình còn đáng khinh bỉ gấp bội lần sự ích kỉ. Cùng bản chất với sự giúp đỡ kèm theo toan tính cá nhân song tính ích kỉ có hình thức ngược lại. Người ích kỉ có những hành động, việc làm chỉ chăm chăm nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân mình, thậm chí bất chấp thủ đoạn giày xéo lên công bằng, đạo lí và lợi ích của người khác để có được mối lợi ấy. Đó là những kẻ trong nguy nan một mình trốn chạy bỏ mặc bạn bè, là những kẻ làm ngơ trước nỗi đau của đồng loại mà ăn chặn từng gói mì cứu trợ đồng bào lũ lụt, mà buôn bán phụ nữ, buôn bán ma tuý, hêrôin,… Gần gũi hơn trong đời sống học sinh, sự ích kỉ bộc lộ ngay trong hành vi cóp bài, gian lận khi kiểm tra thi cử. Những hành động sai trái ấy làm lợi cho một người nhưng tạo ra sự bất công đối với những nỗ lực của bao nhiêu người khác.Xem thêm: Bức chân dung tự họa qua hai bài thơ "Chiều tối" và "Cảnh chiều hôm" trong "Ngục trung nhật kí" của Hồ Chí Minh Có được lòng vị tha, con người sống ung dung thanh thản trước cuộc đời. Họ được mọi người mến yêu, quý trọng. Mặt khác những việc họ làm đã góp phần cho cuộc sống đẹp, giàu hơn, thêm giàu cho xã hội. Không ai có thể kể hết giá trị của sự bình yên mà những chiến sĩ công an biên phòng đang từng ngày từng giờ thầm lặng hi sinh cho đất nước. Không ai có thế nói hết được niềm hạnh phúc, lòng quyết tâm vươn lên và sự khởi sắc trong tương lai của những người chưa có thành công, những người lầm lỡ được lòng vị tha cứu giúp. Cuộc đời này cần đến những tấm lòng dù chỉ để gió cuốn bay đi nhưng là bay đi để gieo mầm, nở hoa trên đất lạ. Đời sống kẻ ách kỉ thì ngược lại. Họ bị những toan tính chi li, nhỏ mọn đời thường giày vò, dàn vặt. Lúc nào cũng tính toán căng thẳng để làm lợi cho mình. Họ cô độc giữa thế giới tươi đẹp xunh quanh, chẳng ai muốn làm bạn với con người nhỏ mọn. Thậm chí khi lòng ích kỉ biến thành tội ác, họ sẽ bị xã hội lên án, truy đuổi, là đối tượng nguyền rủa của con người. Tính ích kỉ ở mức độ nào cũng có hại cho tập thể. Đặc biệt khi nó phát triển thành chủ nghĩa cá nhân thì hậu quả sẽ khó có thể lường hết. Nguy hiểm hơn nữa khi tính ích kỉ, chủ nghĩa cá nhân len lỏi bắt rễ vào tư tưởng những nhà lãnh đạo, họ sẽ tạo nên những đảo điên cho xã hội. Đó là trường hợp của tên độc tài Hitle, Mutxôlini,…Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Quang cảnh làng mạc ngày mùa Lòng vị tha mang đến cho xã hội những công hiến quý giá, tính ích kỉ lại quen hưởng thụ quá đà, gây nguy hại cho đời sống. Như vậy, xã hội muốn phát triển đi lên, ta cần nhân rộng lòng vị tha, xoá bỏ tính ích kỉ trong con người, vẫn biết trong mỗi chúng ta luôn có hai con người đối lập tồn tại: tốt và xấu, thiên thần và ác quỷ, vị tha và ích kỉ,… Nhưng “nhân chi sơ tính bẩn thiện”, mỗi chúng ta cần có ý thức đấu tranh để giành lại bản ngã lương thiện của mình. Ta nên mở lòng trước tập thể, tham gia tích cực các hoạt động xã hội. Nếu ta dám “Mình vì mọi người’ thì chắc chắn mọi người cũng sẽ “Mọi người vì một người”. Đặc biệt ta cần chú ý xây dựng lòng vị tha và gạt bỏ tính ích kĩ nơi trẻ nhỏ. Nếu xây dựng được những tình cảm tốt đẹp nơi các em từ sớm thì sẽ rất lí tưởng cho sự phát triển nhân cách của các em sau này. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về tính ích kỉ và lòng vị tha trong xã hội ngày nay
1,307
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về “bệnh thành tích” – một “căn bệnh” gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay Gợi ý Trong thực tế, ai cũng thích, cũng mong muốn được khen ngợi, được ghi nhận, được thành danh. Có người vì thế mà nỗ lực phấn đấu để biến đổi về chất. Song đáng buồn lại có những người muốn rút ngắn con đường bước đến vinh quang mà ăn xổi ở thì, không chăm lo cho thực tế chỉ cố tô vẽ bề ngoài để được khen được thưởng. Đáng buồn hơn, chúng ngày càng phổ biến và trở thành một căn bệnh xã hội. Bệnh thành tích. Thực chất, thành tích là kết quả được đánh giá tốt do nỗ lực mà đạt được. Như vậy, thành tích là nhằm để biểu dương, nêu gương những kết quả thực tế tốt đẹp. Điều đó động viên cố gắng của người được nêu gương, thúc đẩy họ tiếp tục cố gắng. Mặt khác thành tích của người này còn là “cú hích” cho người khác cùng “chạy đua” để tiếp tục đi lên. Rõ ràng, thành tích là điều tốt đẹp và nó cũng mang lại những điều tương tự cho cuộc sống. Tuy nhiên, khi đặt trước từ “thành tích” một chữ “bệnh” – bệnh thành tích thì vấn đề đã khác. Bởi từ “bệnh” không gợi đến điều gì tốt đẹp. “Bệnh thành tích” là thói a dua, là chỉ chăm lo đến vẻ bề ngoài nhằm được tuyên dương khen thưởng nhưng thực chất bên trong vấn đề không đạt mong muốn. Nói khác đi, bệnh thành tích là tên gọi của sự không phù hợp giữa hình thức và bản chất: hình thức rất hào nhoáng, sáng bóng, lẫy lừng nhưng bản chất thì xuống cấp, gỉ sét, cong vênh.Xem thêm: Con người trong cộng đồng nhân loại Bệnh thành tích đã tồn tại từ lâu trong đời sống xã hội, đục sâu lan rộng vào nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Trong giáo dục, bệnh thành tích còn được gọi là bệnh hình thức. Có những trường vì thành tích mà luôn cố gắng tập trung luyện “gà” – luyện học sinh giỏi, tạo mọi điều kiện để các em có thời gian tập trung học môn mình thi nhằm đạt kết quả cao mang vinh dự cho trường. Hay trong mỗi kỳ thi tốt nghiệp, có những trường huy động giáo viên cùng làm với học sinh rồi ném bài cho các em. Trong các cơ quan, công ty, nhà máy,… bệnh thành tích nằm ở những bản báo cáo được mài cho nhẵn viết cho đẹp. Trong thực tế người ta không màng đến chất lượng, chỉ chạy theo số lượng để đạt chỉ tiêu. Họ chỉ sung sướng khi nghe đến những con số 100%, 99%,… Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT những năm trước, trường nào chỉ đạt 95%, 96% là đã lo lắng căng thẳng rồi. Nhưng một hai năm trở lại đây, khi công tác kiểm tra, giám sát được thắt chặt hơn, trung bình cả nước chỉ đỗ khoảng 60% – 70%. Rõ ràng kết quả xa nhau, nó phản ánh thực tế chất lượng giáo dục trong một thời gian dài bị o bế, làm nhiễu. Rõ ràng, bệnh thành tích sẽ để lại hậu quả vô cùng tai hại. Trước hết, nó khiến mỗi cá nhân tổ chức không hiểu rõ về thực lực của mình, tự mãn về thành tích, không có xu hướng vận động phát triển. Bệnh thành tích do đó tiếp tục “được” duy trì, phát triển. Dần dần nó sẽ ăn sâu, đeo bám vào tư tưởng, lối sống cách thức làm việc của xã hội, làm cho chất lượng thực bị bỏ bê, xuống dốc, chỉ có cái vẻ bề ngoài là hào nhoáng, đẹp đẽ. Nó thực chẳng khác nào một trái bí đỏ bị thối rữa bên trong. Dân gian ta nhắc nhở nhau: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn vì sơn có thể tróc nhưng gỗ không được phép mục, gỗ mục sẽ làm sụp đổ cả một hệ thống quan trọng. Nhưng bệnh thành tích đã làm đảo lộn truyền thống đạo lý ấy và mỗi hệ thống xã hội đang có nguy cơ lung lay, suy sụp vì chất gỗ bên trong đang mối mọt dần.Xem thêm: Cảm nhận về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa Bệnh thành tích gây hại cho mọi ngành nghề, lĩnh vực. Và hậu quả dễ thấy nhất, tai hại nhất thể hiện ở ngành giáo dục. Có những trường lớp, vì thành tích mà cho học sinh lên lớp hàng loạt, bất chấp kết quả thực tế. Hậu quả là hàng trăm học sinh ngồi nhầm lớp, nhầm trường. Có em đã học lớp 7 mà chưa đọc thông viết thạo! Cũng vì thành tích mà các thầy cô “cấy điểm” cho học sinh giỏi ở những môn các em không thi học sinh giỏi, giúp các em tập trung ôn luyện cho thi cử. Và hàng trăm học sinh sa vào tình cảnh đạt giải học sinh giỏi quốc gia nhưng trượt tốt nghiệp, trượt đại học… Hậu quả trực tiếp học sinh là người gánh chịu. Nhưng hậu quả lâu dài là tương lai đất nước phải chấp nhận sự thui chột về đạo đức, tài năng của nhiều thế hệ. Bệnh thành tích có căn nguyên sâu xa từ một thói xấu của con người: thói ghen ăn tức ở, “con gà tức nhau tiếng gáy”. Thấy cá nhân, đơn vị khác được nêu gương, cá nhân đơn vị mình cũng muốn được như vậy. Song, thay vì tập trung nâng cao chất lượng họ lại đốt cháy giai đoạn, đánh bóng hình thức để được tuyên dương. Nhưng công bằng mà đánh giá, bệnh cũng có nguyên nhân từ những sai lầm trong công tác quản lý tổ chức của nhiều cấp, ngành: trọng giấy tờ, hình thức, không gần gũi sâu sát thực tế và chỉ tiêu hóa, kế hoạch hóa cao độ mọi vấn đề thi đua. Bởi vậy, các tổ chức, cá nhân chỉ cốt lo sao cho bản báo cáo, cuốn sổ của mình được sạch sẽ đẹp đẽ. Rồi lo sao để chỉ tiêu kế hoạch trên giao ta “trăm phần trăm” hoàn thành. Rõ ràng, để xảy ra căn bệnh ấy lỗi thuộc về tất cả chúng ta.Xem thêm: Anh (chị) hãy viết đoạn văn bình luận quan niệm của một số bạn mới ít tuổi đã bắt chước hút thuốc: “Thuốc lá có thể có hại, nhưng cũng có thể có mặt lợi nào đó....” Nhận rõ hậu quả của bệnh thành tích, xã hội cần đẩy mạnh công cuộc loại trừ nó. Các nhà lãnh đạo cần kiểm tra, giám sát sát sao hơn hoạt động của các tổ chức cá nhân trực thuộc, đồng thời điều chỉnh hệ thống, cơ chế quản lý tổ chức. Các cơ quan đoàn thể vì tương lai bản thân xóa bỏ bệnh hình thức để đi vào chất lượng thực tế. Chỉ khi nào làm được điều đó, xã hội ta mới thực sự trong sạch và đi lên. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về “bệnh thành tích” – một “căn bệnh” gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay
1,221
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về “Bệnh vô cảm” trong xã hội hiện nay Gợi ý Đã bao lần tôi nghe chuyện kể rằng: có một con chim nhỏ bị thương rơi xuống gốc cây bên đường, và một người thi sĩ đi qua ôm lấy con chim khóc nấc lên. Tiếng khóc và sự rung động với chú chim đáng thương đã hóa thành biểu tượng của tình người, đi vào thơ ca với lời văn thiết tha cao đẹp nhất. Nhưng rồi tôi tự hỏi: Nếu một ngày mai thế gian không còn những con người như chàng thi sĩ nọ, không còn những giọt nước mắt rơi vì một chú chim ven đường, thì thế gian này sẽ khô cằn và lạnh lẽo tình người đến chừng nào? Và thật không hay rằng, chúng ta đang tiến dần đến một kỉ – băng – hà như thế nếu không khắc phục được một chứng bệnh đang ngày càng phổ biến trong xã hội ngày nay – bệnh vô cảm. Đó là thứ quái tật đang đẩy những con người trong xã hội rời xa nhau hơn. Con người trong xã hội như nghìn cây trong rừng, tựa nhau, bám nhau, quấn tua chằng chịt. Cây nhỏ sống dưới tán cây lớn, cây lớn kề nhau vững chãi. Mỗi chúng ta chỉ là cái cây trong rừng nhân loại, chẳng thể nào tự mình tạo thành rừng rậm bao la. Trái lại, có hàng nghìn mối dây buộc ta với mọi người xung quanh. Mốì liên hệ của ta với mọi người đàn hồi như sợi cao xu mỏng, có thể nới rộng cho ta sống và làm việc tự lập khi cần; nhưng cũng có thể thu lại đủ để ta gần với mọi người, để giúp đỡ và nhận sự giúp đs từ họ. Vô cảm là chứng bệnh mà khi mắc phải, con người ta có xu hướng rời xa mọi người hơn; và sợi dây liên kết căng mãi rồi cũng đứt, nghĩa là ta không còn liên hệ gì với mọi người xung quanh nữa. Ngày qua ngày, những con người vô cảm dần trở nên nhiều hơn và làm cho thế giới vón nhộn nhịp sự sống và rạo rực tình thương này bắt đầu chững lại trong ánh mắt xa lạ và hành động vô tâm. Thứ biểu hiện đầu tiên của vô cảm là hứng thú về những chuyện xa xôi mà không quan tâm đến những điều bình dị nhất của cuộc đời con người. Anh là một doanh nhân thành công, từ ngày lập nghiệp anh đã đặt thời giờ, sức lực, tâm huyết vào những thương vụ hấp dẫn, anh đã đến những tòa nhà cao nhất của thành phố và đã bay sang thủ đô của những quốc gia danh tiếng, và thấu rõ doanh nghiệp của họ khác ta như thế nào. Nhưng anh có bao giờ nhìn lại quê hương, mảnh đất nơi mình cất tiếng khóc chào đời, để nhìn lại một hàng cau xanh thẳm, một đồng lúa chín vàng, nghe tiếng hát của dòng sống như tiếng gọi về của tuổi thơ? Nếu chưa một lần như thế, anh chỉ là một doanh nhân thành công chứ chưa phải là người may mắn. Vậy đấy, dòng đời đua chen khiến bao người trở nên xa lạ với những điều bình dị nhất của đời người.Xem thêm: Cảm nhận về niềm vui chiến thắng và lòng tự hào sau cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên trong Tụng giá hoàn kinh của Trần Quang Khải Một biểu hiện nữa của vô cảm, là hình như thế giới bị thu hẹp dần, ta chỉ biết quan tâm đến mình và vài người thân mà quên đi bao nhiêu người khác. Tôi nhớ một câu chuyện rằng: một thanh niên háo hức tìm đến tiệm hoa để mua đóa hồng rực rỡ nhất tặng người yêu và đi chơi đến tận khuya. Và khi anh về nhà, mẹ vẫn đợi con trai dùng cơm tối – thì ra hôm đó cũng là sinh nhật của người mẹ. Và câu chuyện khác – một đứa trẻ bán vé số đã dùng đá ném vỡ cửa kính ô tô, người chủ xe giận dữ hỏi vì sao, đứa bé mếu máo trả lời rằng cháu muốn dừng xe để đưa một cậu bạn gãy chân nằm trên vỉa hè đi bệnh viện; nhưng không dừng được dù đã đưa tay vẫy gọi hơn chục chiếc ô tô rồi. Thế đấy, nếu ta có một chút quan tâm nào đó với mẹ hẳn ta đã nhớ ngày sinh nhật của mẹ, và đêm đó sẽ cùng làm cho người thân của ta hạnh phúc. Nếu ta để ý về những người hai bên đường, ta đã biết có ai cần cấp cứu và có ai đang gọi ta. Nhưng tiếc rằng cuộc sống hôm nay đã làm bao người chỉ biết mỗi ta hoặc thêm một vài người thân nữa mà thôi, bao giờ họ mới mở rộng cửa sổ để nhìn ra thê’ giới của những người khác. Từ thói vị kỉ, chỉ biết mình, con người trở nên lãng quên quá khứ. Không ít bạn trẻ hiện nay biểu hiện một lối sống lãng phí, ích kỉ, hoàn toàn không kính trọng và biết ơn những đóng góp của các thế hệ cha anh. Trong khi phong trào của thanh thiếu niên là phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, xây dựng nhà tình nghĩa, xóa nhà tạm đang nở rộ; thì một phần giới trẻ đã quên đi công lao của những người đã trải qua một thời kì chiến tranh ác liệt. Và vô cảm với quá khứ tức là vô cảm với tương lai. Những con người như thế nhất định không thể công hiến hết mình cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Ta vừa nói về bao nhiêu biểu hiện của vô cảm. Vậy đâu là sự khác nhau giữa vô cảm và “không vô cảm”? Phải chăng một người lặng lẽ ít nói là một người vô cảm, còn những ai xởi lởi nói cười là người biết quan tâm? Không hẳn như vậy, có những người lặng lẽ thường sống một mình nhưng luôn quan tâm đến mọi người, biết chia sẻ và giúp đỡ chẳng ngại ngần khi người khác gặp khó khăn; và ngược lại có những người tuy có vẻ thân thiện nhưng lại như xã giao với khách qua đường. Mặc dù vậy, ta không nên đồng nhất cách sống nội tâm với sự xa cách mọi người, việc đưa mình ra khỏi tập thể, cộng đồng như sự kéo căng sợi dây liên kết, làm cho chóng đứt… Và hãy thân thiện với mọi người hơn bằng chính tấm lòng và tình thương của chúng ta chứ không bằng lời nói thông thường, điều đó sẽ làm ta gắn chặt hơn với xung quanh. Vì thê’ có thể nói, sự khác nhau giữa lối sống vô cảm và lối “hữu cảm” chính xuất phát từ tấm lòng chân thành của mỗi con người, cùng với những hành động thiết thực hướng đến mọi người.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ ''Bên kia sông Đuống" (Hoàng Cầm): Em ơi buồn làm chi... Sao xót xa như rụng bàn tay Vâng, tình cảm và hành động là khởi nguồn của những môi liên hệ, và cũng là những điều dễ bị tổn thương nhất khi con người dần khô cạn tình thương và sự quan tâm. Tác hại lớn nhất của nó là tạo cho mỗi con người những khoảng cách riêng biệt, khiến cho họ như những người hàng xóm trong hai căn nhà kín cổng cao tường. Mặc dù qua cửa sổ có thể nhìn thấy nhau nhưng khi cần đến nhau thì phải qua bôn năm hàng rào cửa. Ta tự hỏi nguyên nhân của chứng bệnh kì quái và nan y này là do đâu? Cuộc sống hiện đại chăng? Có lẽ một phần là vậy, cuộc sống như cơn gió lạ ùa đến., thế là tất cả mọi thứ cùng bay theo cơn gió ấy. Tất nhiên có những con người đã dừng lại để xem những con người xung quanh cần gì, để yêu và giúp đỡ họ. Nhưng có quá nhiều người đã chạy theo ngọn gió ấy, mỗi lúc một nhanh thậm chí không dừng lại được nữa, chỉ dừng lại khi đã mỏi mệt, kiệt sức, bừng tỉnh trong muộn màng. Tuy nhiên, cuộc sống không thể là nguyên nhân chính, mà cái cốt yếu thay đổi con người chính là môi trường xã hội. Một người cha đã quản lí việc học của con cái bằng tiền bạc – một điểm tốt là vài chục ngàn đồng, vào đại học là mua xe máy… vô tình tạo cho con cái thờ ơ với ý nghĩa đích thực của việc học, thành ra ngày qua ngày chỉ còn thấy giá trị của tiền bạc; thế là người con đã bị “lây” chứng vô cảm từ cha mẹ. Hay bên quán cà phê đông người, một ông lão bán hàng rong bị hắt hủi, các thanh niên ngồi đấy phá lên cười làm cho một số bạn trẻ khác dần hình’ thành ý nghĩ rằng: cái hắt hủi ấy là bình thường thôi. Thế là chứng vô cảm đã bị lây lan từ những người bạn đồng trang lứa. Rồi lại có những người thầy, những người đơm mầm tâm hồn cho tuổi trẻ, vì những yêu cầu về thành tích mà làm trong lòng các em mất đi ý nghĩa đẹp đẽ của giáo dục. Các em chỉ biết học vì điểm số chứ không vì kiến thức; chứng vô cảm đã bị lây lan từ những người trực tiếp nhận sứ mệnh dạy dỗ các em vậy.Xem thêm: Phân tích ý nghĩa của đoạn kết trong Chuyện chức phán sử đền Tản Viên (từ vương nghĩ Tử Văn đến nhà quan Phán sử) và lời bình cuối truyện (Từ Than ôi!... đến hết) Xã hội càng phát triển, càng phức tạp, bệnh vô cảm ngày càng lan rộng, làm thế nào để tạo nên một thế hệ tương lai có tình người, biết quan tâm và yêu thương? vẫn là hai yếu tố: tình cảm và hành động – liều thuôc hữu hiệu nhất cho căn bệnh. Các bậc cha mẹ, ngay từ khi con mình nhỏ tuổi, hãy kể cho con mình nghe những câu chuyện cảm động tình người; hãy chú ý từng ánh mắt, lời nói của con để gần gũi và yêu thương con hơn, đùng để tình cảm con mình bị một yếu tố xấu nào của cuộc sống tác động. Những bạn trẻ của thời đại mới, xin chớ quá lao đầu vào những điều vô bổ hay những thành tích học tập, hãy dành ít thời gian ngắm nhìn xung quanh chú ý hơn đến những cụ già, em nhỏ bên đường; hãy hỏi tên cô tạp vụ, bác bảo vệ vì đôi khi ta có thể giúp đỡ họ hay cần sự giúp đỡ từ họ; hãy đừng bỏ đi khi có một người phụ nữ đang vác nặng hay một người khiếm thị cần qua đường. Tình cảm đã vun đắp, nhưng hành động thiết thực mới có thể làm chúng ta và mọi người thực sự gần nhau hơn. Xin đừng ngại đóng góp vài đồng tiền vào thùng nhân đạo của trường mỗi tuần; hãy vui vẻ và nhiệt tình giúp những em nhỏ khó khăn, dù chỉ là một lời động viên khuyên khích ước mơ của các em, để những khát vọng nhỏ không bị dập tắt. Con người đã chinh phục tự nhiên hàng vạn năm nay bằng trí tuệ và tình cảm. Ta tự hào rằng sức mạnh của trí tuệ loài người ngày càng rực rỡ, nhưng sẽ càng hạnh phúc hơn nếu tình cảm cũng trở nên gắn bó và ngày thêm chói lòa giữa nhân gian. Đừng để dòng máu đỏ của con người thành nhạt nhòa, đừng để con tim ngừng nhịp yêu thương; hãy thắp sáng tình người trên thế gian bằng những ánh mắt trìu mến, tấm lòng bao dung và sự giúp đỡ chân thành với mọi người. Ta cũng vững tin rằng chứng bệnh vô cảm sẽ biến mất, và con người sẽ cùng nhau nắm chặt những bàn tay, cùng kết nôi một thế giới lấp lánh tình người. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về “Bệnh vô cảm” trong xã hội hiện nay
2,108
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ và trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu: “Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn” (Một khúc ca) Gợi ý Bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, tuổi trẻ thường có nhiều băn khoăn về lẽ sống. Nhà thơ Tố Hữu trong những năm tháng tuổi trẻ đã từng cất lên tiếng thơ đầy trăn trở: “Ôi sống đẹp là thê nào hỡi bạn?" (Một khúc ca) Tuổi trẻ hôm nay nghĩ gì về câu hỏi ấy và sẽ trả lời nó như thế nào? “Sống đẹp” là khao khát đầy lí tưởng của nhiều bạn trẻ. Chúng ta mơ ước đến sự sống được xã hội thừa nhận và tôn vinh. Vậy thế nào là “sống đẹp”? Nhà thơ Tố Hữu từng tâm niệm: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”, “Con người muốn sống con ơi – Phải yêu đồng chí yêu người anh em”,… Các Mác từng khẳng định rằng, đốì với con người “Hạnh phúc là đâu tranh”,… Vậy đâu là bản chất của lối sống đẹp? Năm tháng dẫu qua đi, cuộc đời hôm nay dẫu đổi khác nhưng những quan niệm mang tính khái quát về sự sống, về cách “sống đẹp” vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta hưởng đến cuộc sống dám ước mơ, biết vươn lên, sống công hiến, sống hoà nhập để trở thành người có ích đối với cộng đồng xã hội. Cuộc sống riêng của mỗi người đều có những khó khăn và gian khổ. Một cô bé mồ côi sống với người bà già cả, phải tự lao động kiếm sống nuôi thân. Một thanh niên bị liệt đôi tay phải sống nhờ vào sự giúp đỡ của gia đình, người thân. Một cậu bé sống trong sự giàu sang, sung sướng của gia đình nhưng thiếu vắng đi tình yêu thương, sự quan tâm săn sóc của cha mẹ. Hay thậm chí có những bạn trẻ đang sống trong những gia đình bình thường, có một cuộc sống bình thường, việc học tập cũng bình thường,… Cuộc đời những con người ấy có thể đã bị những gian khổ, bế tắc, cám dỗ hay sự tầm thường dìm xuống, cuôn đi. Cô bé tội nghiệp kia có thể suốt đời lam lũ với miếng cơm manh áo nuôi thân. Người thanh niên có thể suốt, đời sống bám vào người khác. Cậu bé đáng thương có thể đã bị sự vô trách nhiệm của cha mẹ và sự dư thừa của tiền bạc cuốn vào những tệ nạn. Và hầu hết những bạn trẻ chúng ta có thể bị sự bình thường của cuộc sống cuốn đi những năm tháng tuổi trẻ. Nhưng điều gì đã làm cho cuộc sống tưởng như toàn sự đơn điệu của họ trở lên tươi tắn đẹp đẽ? Không cam chịu với hiện thực phũ phàng, họ đã biết ước mơ và dám mơ ước. Đó là điều vô cùng kì diệu của sự sống. Đó giống như cuộc đời của cô Mị khi xưa, tưởng rằng suốt đời bị chôn vùi sau ô cửa sổ bé bằng bàn tay mà từ đó trông ra chỉ thấy nhờ nhờ trắng không biết là sương hay là nắng. Nhưng khão khát sống, ước mơ sống đã khiến cô trỗi dậy trong đềm tình xuân với những giác mơ đẹp đẽ về những tháng năm tuổi trẻ đã qua đi. Cũng giông như bà cụ Tứ trong sự bế tắc của cuộc đời người nông dân ngụ cư trước Cách mạng tháng Tám 1945 vẫn vui vẻ nghĩ đến đàn gà sẽ sinh sôi nảy nở, đến cuộc đời mình và con cháu rồi sẽ sung sướng hơn,…sống đẹp là gì nếu không phải là cuộc sống dám ước mơ, dám ngẩng cao đầu hướng đến những điều kì diệu sẽ xảy ra?Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hay nhất Sống đẹp, dó còn là lốì sống biết công hiến, biết hoà nhập với cộng đồng. Sẽ thật ích kỉ nếu “chỉ nhận riêng mình” mọi điều tốt đẹp. trong cuộc sống. Chia sẻ để nhận về nhiều hơn những điều mình có là bản chất của cuộc đời này và đó là chất kết dính con người thành một cộng đồng vững mạnh. Những giọt máu nóng hổi cho đi có thể cứu lấy sự sống cho ít nhất một người. Một bàn tay tình nguyện vươn đến vùng cao có thể mang đến hạnh phúc cho rất nhiều người. Gần gũi hơn, trong cuộc sống hàng ngày, một lời động viên,, an ủi bạn bè, hàng xóm có thể mang đến những động lực để họ vượt qua gian khó; một ánh mắt sẻ chia, một bàn tay nắm lấy có thể giúp người bạn trong phút sa ngã vượt qua cám dỗ, mặc cảm,… Cuộc sống muôn màu, muôn vẻ luôn đợi chờ sự góp sức, chung tay của mỗi chúng ta. Các Mác từng nói: “Hạnh phúc là đấu tranh". Điều đó mang rât nhiều ý nghĩa. sống không đơn giản là âm thầm bước đi theo con đường mình đã chọn. sống cũng không chỉ là trồng cây, ươm trái trên con đường ấy. Sống đẹp còn là biết dẹp đi những chướng ngại, những chông gai trên con đường nhiều thác ghềnh, cám dỗ. Đó là biết đấu tranh với cái xấu, cái ác ở đời để góp phần làm trong lành sự sống. “Hạnh phúc là đâu tranh” – hạnh phúc là được chiến đấu cho lí tưởng, cho ước mơ của bản thân; cho sự an lành của những người ta yêu quý; cho cuộc sống tươi đẹp của toàn xã hội. Phải là những người bản lĩnh, biết yêu thương và cũng biết căm thù dám tránh được thói a dua ở đời và hơn thế là đâu tranh để loại bỏ những điều sai trái quanh mình. Hãy nhìn thế giới quanh bạn. Đã bao giờ bạn lên tiếng để một người hạ điếu thuốc lá xuống? Đã bao giờ bạn lên tiếng trước vấn đề bạo lực học đường? Đã bao giờ bạn lên tiếng trước hành vi cóp bài cuả một người bạn cùng lớp?,… Chỉ cần tỏ thái độ không đồng tình, chỉ cần lên tiếng để ngăn cản những việc làm đi ngược lại lợi ích của cộng đồng bạn đã thể hiện bản lĩnh sống, khẳng định lối sống đẹp của bản thân mình.Xem thêm: Lòng nhân hậu của nhân vật An - đrây Xô - cô - lốp được thể hiện như thế nào trong đoạn trích Số phận con người của Sô - lô - khốp Bồi hồi trước ngưỡng cửa cuộc đời, tuổi trẻ có bao dự định và ước vọng trong tương lai. Với sức trẻ, với tiềm năng tri thức chúng ta khát khao được góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. Vậy thì nếu bạn, nếu tôi cùng chung mơ ước ấy, tại sao chúng ta không cùng nhau chung tay để “sống đẹp”?! Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ và trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu_ “Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn” (Một khúc ca)
1,180
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ về thói ích kỉ và lòng vị tha trong xã hội ngày nay Gợi ý I. DÀN BÀI 1. Mở bài Giới thiệu về tính ích kỉ và lòng vị tha trong đời sống xã hội. 2. Thân bài – Khái niệm tính ích kỉ và lòng vị tha: + Thế nào là tính ích kỉ? (chỉ sống vì mình, chỉ biết đến mình, thờ ơ với cuộc sống và mọi người xung quanh,…). + Vị tha là vì người khác, sẵn sàng quan tâm, lo lắng, giúp đỡ mọi người với thái độ vô tư, không mưu lợi. – Biểu hiện của lối sống ích kỉ và lòng vị tha trong thực tế (trong gia đình, nhà trường, xã hội,…) – Tác hại của lối sống ích kỉ: + Con người trở nên vô cảm, cô độc. + Gây ảnh hưởng xấu đến tình đoàn kết, lợi ích của tập thể. – Tác dụng của lòng vị tha: + Con người sống vui vẻ, được mọi người yêu mến. + Tác động tốt đến sự phát triển của người thân, bạn bè, xã hội,… 3. Kết bài Cần lên án lối sống ích kỉ, đề cao vị tha. II. BÀI LÀM “Sống trên đời cần một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn bay đi”. Tấm lòng mà cuộc đời cần lắm chính là sự vị tha, mở rộng tâm lòng trước cuộc đời. Có phải vì vậy mà bao đời nay lòng vị tha và tính ích kỉ – hai mặt đốì lập luôn tồn tại song song trong tính cách con người, là chủ đề của nhiều cuộc bàn luận sôi nổi, kịch tính? Vị tha là có tinh thần chăm lo một cách vô tư đến lợi ích của người khác mà hy sinh lợi ích của cá nhân mình. Như vậy lòng vị tha ở con người chứng tỏ một tinh thần vô cùng cao cả: tinh thần “một người vì mọi người”. Ngược lại, ích kỉ là chỉ biết, chỉ vì lợi ích cho riêng mình mà không biết đến người khác. Tính ích kỉ bộc lộ bản chất hẹp hòi, nhỏ mọn của tiểu nhân.Xem thêm: Phân tích bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng Trong cuộc sống, để nhận diện người có lòng vị tha và kẻ tiểu nhân, ích kỉ không khó. Lòng vị tha thể hiện ở thái độ vô tư, không mưu toan tính toán khi giúp đỡ người khác làm một việc gì đó. Trong lớp có học sinh kém hơn, bạn không dè bỉu, xa lánh mà lại gần chia sẻ, giúp đỡ bạn ấy học tốt. Trong tập thể có thành viên mắc lỗi, làm phải điều sai trái, bạn không vì thế mà lên án gay gát, không cho họ con đường quay lại. Ngược lại bạn giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để giúp họ sửa sai,… Trong những hoàn cảnh ấy, nếu bạn làm được như vậy, có thể khẳng định: bạn có lòng vị tha. Sâu rộng hơn, ta có thể nhìn vào hoạt động tình nguyện của thế hệ thanh niên đất nước mỗi khi mùa hè đến. Họ không quản ngại gian khó đi về với vùng cao, vùng gặp khó khăn,… để hòa mình với đồng bào, đồng cam cộng khổ giúp đỡ họ vươn lên… Song cũng cần tỉnh táo để phân biệt lòng vị tha với sự ban ơn hay sự tính toán mưu cầu lợi ích riêng. Giúp đỡ người khác nếu không xuất phát từ sự vô tư mà khởi đầu từ lòng thương hại thì đó chỉ là sự ban ơn mà thôi. Mối quan hệ giữa người cho đi và người nhận về không hề bình đẳng. Đến với quỹ ủng hộ “Vì người nghèo”, có người mặt tươi cười đặt vào quỹ những đồng bạc lớn nhưng họ lại thầm cười khẩy trước mái nhà lụp xụp của một gia đình nghèo. Thâm tâm họ, những đồng bào kia chỉ là sự gia ơn bố thí. Mặt khác, lại có người giúp đỡ người khác vì một mục đích không tư lợi nào đó. Thực tế, đã có những ông to, bà lớn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cấp dưới làm việc, thăng chức chỉ để lấy lòng đồng nghiệp, chờ mong lá phiếu của họ dành cho mình trong kì bầu cử. Lòng vị tha trá hình còn đáng khinh bỉ gấp bội lần sự ích kỉ.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau: "Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày dêm không ngủ được/ Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức" (“Sóng” - Xuân Quỳnh) Cùng bản chất với sự giúp đỡ kèm theo toan tính cá nhân song tính ích kỉ có hình thức ngược lại. Người ích kỉ có những hành động, việc làm chỉ chăm chăm nhăm mang lại lợi ích cho cá nhân mình, thậm chí bất chấp thủ đoạn giày xéo lên công bằng, đạo lí và lợi ích của người khác để có được mối lợi ấy. Đó là những kẻ trong nguy nan một mình trốn chạy bỏ mặc bạn bè, là những kẻ làm ngơ trước nỗi đau của đồng loại mà ăn chặn từng gói mì cứu trợ đồng bào lũ lụt, mà buôn bán phụ nữ, buôn bán ma túy, hêrôin,… Gần gũi hơn trong đời sống học sinh, sự ích kỉ bộc lộ ngay trong hành vi cóp bài, gian lận khi kiểm tra thi cử. Những hành động sai trái ấy làm lợi cho một người nhưng tạo ra sự bất công đối với những nỗ lực của bao nhiêu người khác. Có được lòng vị tha, con người sống ung dung thanh thản trước cuộc đời. Họ được mọi người yêu mến, quý trọng. Mặt khác những việc họ làm đã giúp cho xã hội thêm giàu đẹp. Không ai có thể kể hết giá trị của sự bình yên mà những chiến sĩ công an biên phòng đang từng ngày từng giờ thầm lặng hy sinh cho đất nước. Không ai có thể nói hết được niềm hạnh phúc, lòng quyết tâm vươn lên và sự khởi sắc trong tương lai của những người chưa có thành công, những người lầm lỡ được lòng vị tha cứu giúp. Cuộc đời này cần đến những tấm lòng dù chỉ để gió cuốn bay đi nhưng là bay đi để gieo mầm, nở hoa trên đất lạ.Xem thêm: Hãy kể về việc làm mà nhờ đó, mình đem lại niềm vui cho người khác Đời sống kẻ ích kỉ thì ngược lại. Họ bị những toan tính chi ly, nhỏ mọn thường ngày giày vò, dằn vặt. Lúc nào cũng tính toán căng thẳng để làm lợi cho mình. Họ cô độc giữa thế giới tươi đẹp xung quanh, chẳng ai muốn làm bạn với con người nhỏ mọn. Thậm chí khi lòng ích kỉ biến thành tội ác, họ sẽ bị xã hội lên án, truy đuổi, là đối tượng nguyền rủa của con người. Tính ích kỉ ở mức độ nào cũng có hại cho tập thể. Đặc biệt khi nó phát triển thành chủ nghĩa cá nhân thì hậu quả sẽ khó có thể lường hết. Nguy hiểm hơn nữa khi tính ích kỉ, chủ nghĩa cá nhân len lỏi bắt rễ vào tư tưởng của những nhà lãnh đạo, họ sẽ tạo nên những tội ác cho xã hội. Đó là trường hợp của tên độc tài Hit-le, Mut-xo-li-ni,… Lòng vị tha mang đến cho xã hội những cống hiến quý giá, tính ích kỉ lại quen hưởng thụ quá đà, gây nguy hại cho đời sống. Như vậy, xã hội muốn phát triển đi lên, ta cần nhân rộng lòng vị tha, xóa bỏ tính ích kỉ trong con người, vẫn biết trong mỗi chúng ta luôn có hai con người đối lập tồn tại: tốt và xấu, thiên thần và ác quỷ, vị tha và ích kỉ,… Nhưng “nhân chi sơ tính bản thiện”, mỗi chúng ta cần có ý thức đấu tranh để giành lại bản ngã lương thiện cho mình. Ta nên mở lòng trước tập thể, tham gia tích cực các hoạt động xã hội. Nếu ta dám “Mình vì mọi ngưdi” thì chắc chắn mọi người cũng sẽ “Mọi người vì một người”. Đặc biệt ta cần chú ý xây dựng lòng vị tha và gạt bỏ tính ích kỉ thì sẽ rất lí tưởng cho sự phát triển nhân cách của các em sau này. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ về thói ích kỉ và lòng vị tha trong xã hội ngày nay
1,430
Anh (chị) hãy trình bày ý nghĩa phê phán và đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn Thuốc của nhà văn Lỗ Tấn Gợi ý Lỗ Tấn là nhà văn cách mạng nổi tiếng của Trung Quốc, ông có quan điểm dùng ngòi bút của mình để phanh phui những căn bệnh tinh thần của quốc dân: sự mê muội tự thỏa mãn, ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ. Truyện ngắn Thuốc viết năm 1919, vào lúc cuộc vận động Ngũ tứ bùng nổ. Tác phẩm tập trung vạch rõ nguyên nhân căn bệnh đớn hèn của dân tộc Trung Hoa. Tác phẩm trước hết bộc lộ tư tưởng chống tập tục mê tín dị đoan, phơi bày sự u mê, lạc hậu của những người dân Trung Quốc tin rằng bánh bao tẩm máu người sẽ chữa khỏi bệnh lao. Mọi người phải giác ngộ ra rằng cái gọi là thuốc chữa bệnh được sùng bái kia vốn là thuốc độc đẩy người bệnh đến cái chết nhanh hơn. Người Trung Quốc phải tỉnh giấc, không thể ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ! Liều thuốc độc ấy trớ trêu thay lại được pha chế bằng máu của người cách mạng – một người cách mạng dũng cảm, hiên ngang, xả thân vì nghĩa lớn, đổ máu cho sự nghiệp giải phóng dân nhân. Thế mà nhân dân lại dửng dưng, mua máu của người cách mạng để chữa bệnh. Chính vì thế, Lỗ Tấn muốn thể hiện tư tưởng yêu nước, cảnh tỉnh về căn bệnh tinh thần đớn hèn được coi là quốc dân tính của người Trung Hoa lúc bấy giờ nhưng không dẫn người đọc vào chỗ bi quan, bế tắc mà củng cố niềm tin của họ vào cuộc sống, vào tiền đồ của cách mạng, ông kêu gọi mọi người phải tỉnh giấc, mở đường giải phóng tư tưởng cho thế hệ sau. Nhà văn đề nghị phải tìm một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng và làm cho cách mạng gắn bó với quần chúng.Xem thêm: Viết đoạn văn ngắn (khoảng 3, 4 câu) về chim hoàng yến Tác phẩm được kể ở ngôi thứ ba, kể bằng tả, lấy tả là chính, do đó mà phơi bày câu truyện một cách khách quan, lạnh lùng trạng thái ngu muội và vô cảm của người dân cùng nỗi cô quạnh của người cách mạng. Đây là một truyện ngắn cô đọng, súc tích nhưng ý nghĩa sâu xa: truyện phơi bày tình trạng ngu muội, vô cảm của người dân Trung Quốc trước Cách mạng Tân hội (1911) và thể hiện tấm lòng khâm phục, thương xót đối với nhà cách mạng đã hi sinh. Tác giả thương xót người dân ngu muội nhưng hiền lành, đồng thời căm ghét người ngu muội nhưng xu phụ bọn thống trị,… Cốt truyện đơn giản, không gian nghệ thuật rất dung dị: câu chuyện xảy ra trong hai buổi sớm vào hai mùa thu và mùa xuân.. Như vậy, thời gian nghệ thuật đã có sự tiến triển. Kết cấu Thuốc đạt đến sự vững chãi trong một hình thức biểu hiện đơn thuần, bình dị, chứa đựng được một nội dung phong phú. Tác giả đã triển khai nhiều điểm nhìn về phía nhân vật Hạ Du. Nhân vật Hạ Du được miêu tả gián tiếp qua suy tư, lời đối thoại của nhiều nhân vật khác. Để thể hiện căn bệnh tinh thần của người Trung Quốc, Lỗ Tân đã dựng lên bối cảnh một quán trà nghèo nàn, gần gũi với cuộc sống thường nhật của người dân Trung Hoa thời bấy giờ. Không chỉ trong tác phẩm mới có nhiều hình ảnh tượng trưng như hình ảnh con đường mòn, hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người hay hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du,… mà ngay tên tác phẩm cũng có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc.Xem thêm: Bàn về đức tính hoà nhã, cách sống hoà nhãVanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy trình bày ý nghĩa phê phán và đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn Thuốc của nhà văn Lỗ Tấn
681
Anh (chị) hãy tóm tắt tiểu thuyết “Lão Gô-ri-ô” của Ban – dắc Gợi ý Lão Gô-ri-ô là một tư sản giàu có nhờ buôn bán lúa mì, luôn ôm mộng được bước chân vào xã hội thượng lưu. Ông đã lấy một bà vợ thuộc gia đình quý tộc sa sút và sinh được hai cô con gái. ông tìm mọi cách để hai cô con gái bước chân vào xã hội thượng lưu và ông đã thành công. Hai cô con gái đều lấy chồng quý tộc. Nhưng rồi lão Gô-ri-ô bị hai cô con gái bòn rút hết tiền để ăn chơi. Lão phải vào ở quán trọ của bà Vô-ke, quán trọ dành cho người nghèo, ở đó ông có những người hàng xóm là một tên tù khổ sai, một cô gái bị cha ruồng bỏ, một sinh viên nghèo… Hai cô gái vẫn tiếp tục bòn rút của cha đến khi ông lão hết sạch tiền. Ông lão ốm và sắp chết những hai cô gái cũng không đến thăm vì chúng còn bận đi dự tiệc. Ông lão chết, hai cô gái chỉ gửi đến hai chiếc xe tang có đeo huy hiệu của dòng họ nhà chồng. Chàng sinh viên nghèo Ra-xti-nhắc bỏ tiền ra làm đám tang cho lão Gô-ri-ô. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Phân tích Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát
Anh (chị) hãy tóm tắt tiểu thuyết “Lão Gô-ri-ô” của Ban – dắc
231
Anh (chị) hãy tóm tắt tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của V.Huy-gô Gợi ý Giăng Van-giăng là người lao động nghèo khổ. Vì thương những đứa cháu bị đói, anh đã ăn cắp một cái bánh mì. Nhưng cũng vì hành động đó mà Giăng bị khép tội và phải chịu án tù khổ sai. Ra tù, Giăng trót phạm tội một lần nữa khi cướp đồng hào của bé Giéc-ve. Nhưng nhờ sự cảm hoá của Giám mục Mi-ri-en ông đã trở thành người tốt. Giăng đổi tên là Ma-đơ-len, mở nhà máy và trở nên giàu có. Ông đã giúp đờ nhiều người, sống nhân hậu và được mọi người tín nhiệm bầu làm thị trưởng. Sau một lần hành hiệp, ông đã bị gã thanh tra Gia-ve, kẻ trước đây đã bắt tội ông, nghi ngờ. Từ đó, Gia-ve luôn theo dõi Ma-đơ-len. Phăng-tin là người con gái xinh đẹp, ngoan ngoãn nhưng bị lừa dối nên mang thai Cô-dét. Chị đã phải chịu bao thiệt thòi, mất mát để nuôi con. Ma-đơ-len đã giúp đỡ Phăng-tin, tìm và nuôi Cô-dét. Ông còn cùng mọi người chiến đâu chống chính quyền tư sản. Ông cứu sống Ma-ri-uyt, người yêu của Cô-dét và tha chết cho Gia-ve. Sau khi cuộc khởi nghĩa bị dập tắt, ông vun đắp cho tình yêu của Ma-ri-uyt với Cô-dét và cuối cùng chết trong cảnh cô đơn. Vanmau.edu.vn Xem thêm: "Vật chất” có làm nên con ngưòi bạn
Anh (chị) hãy tóm tắt tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của V.Huy-gô
243
Anh (chị) hãy tóm tắt tác phẩm “Người trong bao” của Sê-khốp và cho biết giá trị tác phẩm Gợi ý Bê-li-cốp là một giáo viên dạy tiếng Hi Lạp. Anh ta có tính cách và lối sống rất kì quái, luôn sống khép mình, bó mình trong một cái bao: “lúc nào cũng có khát vọng mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo cho mình một cái bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài”. Bê-li-cốp khác người từ những thói quen, lối sống thu mình, trang phục, nét mặt, cách nói chuyện, sinh hoạt, buồng ngủ… Kiểu sống của Bê-li-cốp cũng làm ảnh hưởng đến những người xung quanh, khiến họ cũng có thói quen sợ sệt và sống thu mình như hắn. Khi Bê-li-côp có ý định lấy vợ, hắn đã nghĩ đến việc lấy cô gái có tên là Va- ren-ca. Nhưng ý định đó của hắn bị mọi người trêu ghẹo. Đặc biệt, hắn thực sự bị khủng hoảng tinh thần khi nhìn thấy Va-ren-ca đi xe đạp và bị em của Va-ren-ca mắng. Bê-li-côp trở về nằm im trong chăn một tháng rồi chết với vẻ mặt rất thanh thản như thể mừng vui vì đã được chui vào trong bao vĩnh viễn. Khi Bê-li- cốp chết đi rồi, cuộc sống lại trở về như cũ. Ra đời vào cuối thế kỉ XIX ở nước Nga, giá trị nổi bật của tác phẩm "Người trong bao” là đã xây dựng được một điển hình nghệ thuật bất hủ về con người dưới chế độ Nga hoàng chuyên chế ngột ngạt. Bê-li-côp là điển hình cho tâm lí bạc nhược, an phận, cầu toàn, luôn mang trong mình tâm trạng lo sợ, hoài nghi, thất vọng, không dám đấu tranh; hắn là sản phẩm của xã hội chuyên chế bảo thủ – chế độ xã hội hà khắc nặng nề ấy đã tạo ra một lớp người nhu nhược, hèn nhát.Xem thêm: Nhiều ý kiến cho rằng chữ “hồng” là nhãn tự bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh. Anh (chị) có đồng ý như vậy không? Hãy nêu ý kiến của mình, phân tích để làm sáng tỏVanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy tóm tắt tác phẩm “Người trong bao” của Sê-khốp và cho biết giá trị tác phẩm
372
Anh (chị) hãy viết một bài giới thiệu ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao Gợi ý Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri sinh năm 1917 tại làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tình Hà Nam (nay là xã Hoà Hậu, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam), trong một gia đình nông dân. Quê Nam Cao thuộc vùng chiêm trũng, xưa kia quanh năm nghèo đói. Sau khi học xong trung học, Nam Cao ôm ấp nhiều mộng ước cao đẹp, ông vào Sài Gòn kiếm sống và cho ra đời những bài thờ tình lãng mạn đầu tiên, song không mấy giá trị. Ít lâu sau, vì ốm yêu, Nam Cao đành phải trở về quê hương, chứng kiến cảnh làng xóm và gia đình mình đang trên đà sa sút. Sau một thời gian, nhờ người thân, Nam Cao dạy học ở một trường tư thuộc ngoại ở Hà Nội, với đồng lương rẻ mạt. Khi Nhật chiếm Đông Dương, trường bị đóng cửa, Nam Cao sống vất vưởng bằng nghề viết văn, làm gia sư đến năm 1943, ông tham gia Hội văn hoá cứu quốc do Đảng Cộng sản tổ chúc và lãnh đạo tại Hà Nội. Bị giặc khủng bố gay gắt, Nam Cao lại phải về làng, rồi tham gia cướp chính quyển ở địa phương và được bầu làm chủ tịch đầu tiên ở xã. Đến nãm 1946, ông đi theo đoàn quân Nam tiến do tướng Nguyễn Sơn chỉ huy vào Nam Trung Bộ một thời gian Từ năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên truyền. Năm 1950, cùng với một số văn nghệ sĩ, Nam Cao theo bộ đội đi chiến dịch Biên Giới. Cuối năm 1951, trên đường vào công tác ở vùng địch hậu liên khu III, Nam Cao bị địch phục kích và sát hại, khi tài năng đang chín, hứa hẹn những sáng tác có tầm cỡ về những con người mới và thời đại mới. Sau gần nửa thế kỉ, mới đây, hài cốt Nam Cao đã được chuyển về an táng tại quê nhà. Bình sinh, Nam Cao là người khiêm nhường, ít nói, bề ngoài như lạnh lùng. Nhưng, con người này vốn có đời sống nội tâm phong phú. Ông thường day dứt, Hối hận vì những sai lầm và luôn nghiêm khác đấu tranh để cố thoát khỏi lối sông tầm thường nhỏ nhoi, khao khát vươn tới một cuộc sống tốt đẹp. Nam Cao gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nghèo khổ. Điều này góp phần quan trọng khiến ông giữ được nhân phẩm, nhân cách trước sự cám dỗ của đời sống vật chất tầm thường và tạo nên những tác phẩm giàu giá trị nhân đạo.Xem thêm: Những câu hát than thân em đã được học và đọc thêm trong chương trình Ngữ văn 7 và bài thơ Bảnh trôi nước của Hồ Xuân Hương có nhiều nét tương đồng về cảm xúc. Em hãy làm rõ những nét tương đồng đó Nam Cao sáng tác khá sớm, có thơ, truyện, kịch đăng báo từ năm 1936 với nhiều bút danh như Thuý Rư, Nhiêu Khê… Ông là cây bút kết tinh những thành tựu tiêu biểu nhất của văn học hiện thực trước Cách mạng tháng Tám, Đồng thời cũng là nhà văn sớm có những sáng tác thành công ngay trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp Nam Cao là nhà văn có ý thức tự giác về quan điểm nghệ thuật. Quan điểm ẩy được thể hiện khá hệ thống và đặc biệt tiến bộ. Ông còn là một trong những cây bút có sự nhất quán giữa quan điếm nghệ thuật và sự nghiệp sáng tác. Sáng tác trước cách mạng của Nam Cao tập trung vào hai mảng đề tài chính: Cuộc sống của những người tri thức nghèo và của nông dân nghèo. Ở đề tài tri thức nghèo, Nam Cao thường lấy chính mình làm nguyên mẫu để viết những truyện ngắn như Cười, Đời thừa, Quên điêu độ, Trăng sáng, Mua nhà… và nhất là tiểu thuyết Sống mòn. Ở những tác phẩm này, Nam Cao đã khắc họa nổi bật tấn bi kịch tình thần của những "giáo khổ trường tư", những viên chức nghèo, những nhà văn nghèo. Họ có hoài bão cao đẹp, khao khát được phát triển nhân cách, được khẳng định cá nhân mình trước cuộc đời. Thế nhưng, họ đã bị xã hội bất công và đời sống đói nghèo "ghì sát đất"; những ước mơ đẹp đẽ bị dập tắt phũ phàng, đúng là "Tài cao phận thấp, chí khí uất" (Tàn Đà). Qua đó, nhà văn lên án xã hội vô nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, Đồng thời thể hiện niềm khao khát vươn tới một cuôc sống cao đẹp, ở đó con người cò cơ hội phát triển tận độ tâm trí, tài đức của mình, để xứng đáng với danh hiệu cao quý của Con Người. Ở đề tài này không thể không nói đến tiểu thuyết Sống mòn. Đây là tác phẩm đặc sắc tổng hợp nhiều phương diện ở những truyện ngắn trước đó của Nam Cao viết vế đề tài trí thức nghèo. Có thể nói, trong lịch sử văn học Việt Nam chưa có cây bút nào viết về người trí thức vừa chân thực, dũng cảm vừa sâu sắc như Nam Cao.Xem thêm: Bình giảng bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm Trong đề tài nông dân, đáng chú ý nhất là các tác phẩm Chi phèo, Một đám cưới, Lão Hạc, Mua danh, Tư cách mõ, Di Hảo, Nứa đêm… Nhà văn quan tâm trước hết đến cuộc sông tối tăm thê thảm của những số phận hẩm hiu, bị đè nén áp bức. Nam Cao thường đi sâu vho những trường hợp vì nghèo đói khốn cùng nên người nông dân đã bị lăng nhục một cách tàn nhẫn, bất công. Và ông đã kiên quyết đứng về phía nhũng con người thấp Cổ bé họng này để đòi quyền sống và nhân phẩm cho họ. Viết về quá trình nông dân bị lưu manh hoá trong những năm dưới ách của thực dân Pháp và phát xít Nhật, Nam Cao đã tố cáo xã hội tàn bạo huỷ diệt cả thể xác lản linh hồn cùa người nông dân, Đồng thời, nhà văn cũng trân trọng phát hiện những nhẩm chất cao đẹp của họ cho dù họ bị xã hội tàn phá cả hình người và tính người. Điều này chứng tỏ chiều sâu hiện thực và nhân dạo của ngòi bút Nam Cao. Trong những tác phấm viết về đề tài nông dân, truyện ngắn Chi phèo được khẳng định là một kiệt tác. Ở đây nhà văn đã sáng tạo được một điển hình sống động, mang ý nghĩa xã hội sâu sắc: từ một nông dân hiền lành, lương thiện, Chí Phèo bị xã hội tàn bạo biến thành "con quỷ dữ", nhưng cuối cùng, nhân vật này vẫn đủ tình táo xách dao đi đòi cuộc Sống lương thiện. Chí phèo chứng tỏ cảm quan hiện thực nhạy bén, tư tưởng nhân đạo sâu sắc và tài nảng nghệ thuật bậc thầy của nhà văn lớn Nam CaoXem thêm: Phân tích những nét chung và đặc điểm riêng của cảm hứng về quê hương đất nước trong các bài thơ Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Việt Bắc (Tố Hữu) và Đất nước (Nguyễn Đình Thi) Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao hăng hái lao mình vào mọi công việc cả cách mạng và kháng chiến. Về sáng tác văn học, hai tác phẩm Đôi mất, và nhật kí Ở rừng (1948) của Nam Cao nổi lên như những thành tựu xuất sắc nhất của nền văn học mới trong bước đấu xây dựng. Đôi mắt ra đời giữa lúc giới văn nghệ sĩ đang lúng túng "nhận đường”, nghĩa là xác định đúng đắn phương hướng sáng tác. Đôi mắt cững như các truyện Trăng sáng, Đời thừa sáng tác trước cách mạng là những tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao. Nếu như Trăng sáng là cuộc đấu tranh để khẳng định chủ nghĩa hiện thực, thì Đôi mắt đặt vấn dề xác định quan điểm, lập trường của người nghệ sĩ cách mạng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân. Những sáng tác của Nam Cao thể hiện một phong cách nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn. Nhà văn luôn cành tỉnh người đọc trước nguy cơ bị xối mòn về nhân cách, bị "chết mòn" về tình thần. Ở những tác phẩm tiêu biểu nhất, ông thường diễn tả cuộc vật lộn gian khổ của con người để bảo tồn nhân cách trong sáng, cao đẹp… Truyện Nam Cao vì thế vừa sâu sắc về chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ trử tình. Nam Cao tỏ ra đặc biệt sắc sào trong việc khám phá và diễn tả nhưng quá trình tâm lý phức tạp. Sở trường này đã giúp cho truyện Nam Cao có những cách trần thuật rất linh hoạt. Men theo dòng tâm tư của nhân vật, nhà văn dắt. dẫn mạch truyện một cách rất phóng túng, đồng thời vẫn đảm bảo được kết cấu chặt chẽ của tác phẩm, Nam Cao cũng có nhiều đóng góp cho sự phát. triển ngôn ngừ văn xuôi ở nước ta. Ngôn ngữ của ông vừa góc cạnh vừa tình tế, vừa gần gùi với tiếng nói đầy sức sống của nhân dân lao động vừa hết sức điêu luyện Với tài năng ấy, tư tường ấy, nhân cách ấy, Nam Cao xứng đáng được coi là một trong những cây bút lớn nhất của nền văn hoc Việt Nan hiện đại Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy viết một bài giới thiệu ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao
1,667
Anh (chị) hãy viết một bài giới thiệu vắn tắt về nhà văn Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết Số đỏ (trong đó cần đặc biệt lưu ý chương Hạnh phúc của một tang gia) Gợi ý Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912, tại Hà Nội trong một gia đình "nghèo gia truyền", theo cách nói của Ngô Tất Tố. Khác xa với sự hình dung của nhiều độc giả, "ông là một người bình dị (…) người của khuôn phép, của nề nếp" (Lưu Trọng Lư). Vũ Trọng Phụng suốt dời nung nấu nỗi căm hờn sôi sục xã hội thối nát đương thời. Điều này góp phần quan trọng tạo nên sức hấp dẫn độc đáo trong toàn bộ sự nghiệp sáng tạo cùa nhà văn. Ông là người chăm học và có sức sáng tạo phi thường, không đầy 10 năm cầm bút (1930 – 1939), nhà văn đã cho ra đời một khối lượng tác phẩm phong phú gồm nhiều thể loại: kịch, truyện ngắn, phóng sự và tiểu thuyết. Ông mất khi mới 27 tuổi. Sự nghiệp sáng tác và thế giới quan của tác giả khá phức tạp và nhiều khi mâu thuẫn. Điều đó, cùng với một số yếu tố khác khiến cho việc đánh giá nhà văn có lúc không đơn giản, đã từng làm gây ra những cuộc tranh luận khá gay gắt. Song đến nay, trong dư luận rộng rãi, vị trí quan trọng của Vũ Trọng Phụng đối với tiến trình lịch sử văn hoc Việt Nam hiện đại đã được giới nghiên cứu nhất trí khẳng định. Số đỏ được đăng trên Hà Nội báo từ số 40 (ngày 7/10/1936). Đây là năm đầu của thời kì Mật trận dân chủ Đông Dương, không khí đấu tranh dân chủ sôi nổi. Chế độ kiểm duyệt sách báo của thực dân phài tạm thời bãi bỏ. Bối cảnh ấy đã tạo điểu kiện cho nhà văn phát huy cao độ những mặt tích cực, đạt được những thành tựu rực rỡ. Số đỏ là tác phẩm tiêu biểu nhất của Vũ Trọng Phụng, và được đánh giá vào loại xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam, kể từ khi có chữ quốc ngữ. Thông qua tác phẩm này, ”nhà văn đả kích sâu cay cải xã hội tư sản thành thị đang chạy theo lối sống nhố nhăng đồi bại đương thời"). Dùng tiếng cười làm vũ khí, Số đỏ vạch ra thực chất thối nát của các phong trào "Âu hoá", "thể thao", "vui vể trẻ trung", được bọn thống trị khuyến khích và lợi dụng, từng lên cơn sốt vào những năm 30. Vũ Trọng Phụng đã ném ra hàng loạt nhân vật đi "tiên phong” trong các phong trào nói trên, như Xuân Tóc Đỏ, vợ chồng Vân Minh, bà Phó Đoan, TYPN… Chúng tự phong là những nhà "cải cách xã hội”, nhưng thực chất, chỉ là một lũ dâm ô, đểu già và nhất là bịp bợm. Những danh từ văn minh, tiến bộ chúng ném ra chỉ là những lời lẽ ba hoa rỗng tuếchXem thêm: Bình giảng bài thơ “Chạy giặc" của Nguyễn Đình Chiểu. Thành công trội nhất của Số đỏ là đã xây dựng được một loạt chân dung biếm họa xuất sắc. Ấy là thằng Xuân ma – cà – bông đã từng thổi kèn loa thuốc lậu, cẩm cờ chạy hiệu ở rạp hát… bỗng chốc nhờ cái dâm vào bà Phó Đoan, mà được gia nhập vào thế giới thượng lưu. Là một đứa láu lỉnh, quen biến báo, Xuân biết phần nào lợi dụng thời cơ đó để tiến thân. Nó đã đi từ "vinh quang" này đến "chiến thắng" khác, một cách dễ dàng. Một thằng ma – cà – bông mà được phong tặng bao danh hiệu: "sinh viên trường thuốc", "nhà thơ", "triết gia", "danh thủ quần vợt", "cố vấn cho báo "Gõ mõ" của sư Tâng Phú", "nhà cải cách xã hội", "anh hùng cứu quốc". Bản chất xấu xa, và quá khứ đê tiện của Xuân không bị lộ tẩy, bởi nó ngoi lên từ một xã hội rất cần đến những tính cách như nó. Nhân vật Xuân Tóc Đỏ thoạt xem, tường như được viết ra một cách hết sức tuỳ tiện – tuỳ tiện đến vô lý. Vậy mà ngẫm ra, tác giả không hề vu oan cho ai cả. Nghĩa là trong xã hội cũ, té ra không thiếu gì những thằng Xuân. Đó là một nhân vật điển hình hiện thực chủ nghĩa xuất sắc. Có thể nói, chừng nào xã hội còn dựa trên "nguyên tắc" của sự bịp bợm, còn cổ vũ cái dâm, cái đểu, còn khuyến khích chủ nghĩa cơ hội và các thứ đổ rởm thi ắt sẽ còn nhiều Xuân Tóc Đỏ… Châu tuần xung quanh thằng Xuân là một loạt nhân vật biếm hoạ khác mỗi người một vẻ: bà Phó Đoan to béo "thủ tiết với hai đời chồng", được tặng bằng "Tiết hạnh khả phong"; ông chủ tiệm may Âu hoá Văn Minh gầy còm, luôn hồ hào thể thao thể dục mà không hề tập thể dục bao giờ; nhà thiết kế mỹ thuật thời trang TYPN từng chế ra những y phục phu nữ rất táo bạo: "Dậy thì", ’’Ngừng tay", "úm ờ"..v.v.. nhưng lại mắng vợ là đồ đĩ vì thích ăn mặc tân thời; cụ cố Hồng không biết gì cả, nhưng động mở miệng là: "Biết rồi, khổ lắm nói mãi!"; những thấy cảnh sát Minđờ, Mintoa lấy làm đau khổ vì không ai chịu đái bậy để biên phạt; là sư ông Tăng Phú từng khoe thắng một vụ kiện khiến đối thủ phải hộc máu mồm, là ông Phán mọc sừng thuê tiền người khác để gọi mình là ông chồng mọc sừng.v.v… Có thể nói tác già Số đỏ đã bao quát hầu như toàn bộ xã hội thành thị ngày trước vào trong ống kính quan sát của minh – một xã hội nhốn nháo, nhố nhãng, trong đó mỗi nhân vật là một vai hề.Xem thêm: Hãy bàn luận về câu nói: Học như bơi thuyền ngược nước. Không tiến sẽ phải lùi (Ngạn ngữ Trung Quốc) Bộ mặt và tính cách hài hước của các nhân vật trên đây được nhà văn làm cho bật nổi bằng cách đặt chúng vào những tình huổng trào phúng. Đây cũng là một phương tiện của tài năng sáng tạo của tác giả Số đỏ. Có thể nói mỗi chương sách là một tình huống trào phúng xây dựng trẽn một mâu thuẫn nực cười. Trong số những chương sách đặc sắc nhất, phải kể đến chương Hạnh phúc cùa một tang gia (Chương XV). Ở chương này, mâu thuẫn trào phúng thể hiện ngay ở đầu để của nó: tang gia mà lại hạnh phúc, có người chết, mà vui như hội. Đúng là hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui của một lũ con cháu đại bất hiếu. Người ta thường nói "tang gia bối rối", tác giả đã dựng lên đúng cái cảnh bối rối của gia đình cụ cố Hồng khi cụ tổ nằm xuống. Chẳng những bối rối mà còn lo lắng nữa và tất nhiên là hết sức bận rộn. Những lo lắng bận rộn để tổ chức cho chu đáo, cho thật linh đình một ngày vui, một đám hội chứ không phải một đám ma. Niềm vui lớn nhất, chung cho cả cái đại gia đình bất hiếu này là tờ di chúc của cụ tổ thế là đã tới lúc được thực hiện. Nghĩa là khi cụ quy tiên thì cái gia tài kếch xù của cụ mới được chia cho con và cháu, dâu và rể… Tình huống này đã làm bộc lộ không biết bao nhiêu mâu thuẫn trào phúng khác đủ loại và làm đậm nét hàng loạt chân dung hài hước. Nghệ thuật gây cười của Vũ Trọng Phụng thật là phong phú. Trong niềm vui chung kia, mỗi người lại có một niềm vui riêng không ai giống ai. Cụ cố Hồng tuy mới 50 tuổi nhưng lâu nay chỉ mơ ước được gọi là cụ cố. Nay được "mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu" diễn trò già nua ôm yếu giữa phố đông người để cho thiên hạ phải trầm trồ: "úi chà, con giai nhớn đã già đến thế kia kia!" Văn Minh chồng và vợ và – ông TYPN nhà cải cách y phục Âu hoá thì được dịp lăng xẻ những mốt trang phục táo bạo nhất "Có thể ban cho những ai có tang đương đau đớn vì kẻ chết cũng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời"Xem thêm: Bác Hồ dạy thanh niên: “Thanh niên phải luôn luôn rèn luyện đạo đức cách mạng". Em hãy bình luận lời dạy trên Cô Tuyết thì được dịp "mặc bộ y phục Ngây thơ – cái áo dài voan mỏng, trong có Cooc xê, trông như hở cả nách và nửa vú – nhưng mà viền đen và đội một cái mũ mần xinh xinh", đồng thời lại có cơ hội để gỡ lấy "một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt". Cậu Tú Tân thì sướng điên người vì được dùng đến cái máy ảnh mới mua. Ông Phán mọc sừng thỉ sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại cò giá trị đến thế và tất sẽ được trà công xứng đáng. (Ông cụ tổ sở dĩ lăn đùng ra và cấm khẩu vì biết tin con rể mọc sừng). Xuân Tóc Đỏ thì danh giá uy tín càng to thêm vì chính nhờ hắn mà cụ tổ chết (tố cáo ông Phán mọc sừng trước mặt cụ tổ). Hạnh phúc còn lây lan ra cả những người ở ngoài tang quyến nữa: cảnh sát Minđơ, Mintoa đang lúc thất nghiệp, được thuê giữ trật tự cho đám tang. Xã hội trưởng giả bè bạn cô Hồng, cô Tuyết, ông bà Văn Minh được dịp khoe cái thứ huy chương, phẩm hàm, và các thứ râu ria trên mép, dưới cằm… và hàng phố thì được xem một đám ma to tát chưa từng có "đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy"… Đoạn tà đám tang diễn từ nhà cụ cố Hồng ra đến huyệt cũng nít hài hước Đám ma mà như đám rước vậy. Đủ cả kèn Ta, kèn Tây, kèn Tàu. Hàng trăm câu đối, vòng hoa, bức trướng Người đi đua đông đúc, sang trọng, nam nữ "chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma"… Tóm lại, đám tang diễn ra như một tấn đại hài kịch, nói lên sự lố lắng, vô đạo đức của cái xã hội thượng lưu ngày trước. Vũ Trọng Phụng mất khi chưa đấy 30 tuổi. Nhà văn Ngô Tất Tố trước cái chết của Vũ Trọng Phụng, đã luận bàn về sự thọ yểu ở đời. Ông cho rằng đối với con người ta thọ yểu không tính bằng tuổi tác, mà tính bằng những gi đó để lại mãi mãi cho đời. Nếu quan niệm như vây thỉ Vũ Trọng Phụng là người rất thọ vì những tác phẩm của ông, đặc biệt là Số đỏ sẽ còn sống mãi với đời. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy viết một bài giới thiệu vắn tắt về nhà văn Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết Số đỏ (trong đó cần đặc biệt lưu ý chương Hạnh phúc của một tang gia)
1,914
Anh (chị) hãy viết một đoạn văn bày tỏ suy nghĩ của mình sức sáng tạo của người nông dân Việt Nam Gợi ý Nhắc đến người nông dân, ta cứ ngỡ họ chỉ biết lam lũ với ruộng đồng, khoai sắn. Nhưng trên thực tế, chúng ta được biết có người nông dân làm ra chiếc máy gặt lúa cầm tay, tăng năng suất hàng chục lần so với gặt bằng thủ công bằng liềm, bằng hái. Lại có người nông dân sáng chế máy hút bùn, được cấp bằng sáng chế. Hay có người sáng chế ra chiếc máy gieo hạt tiện lợi,… Những phát minh đầy bất ngờ ấy làm kinh ngạc cả những nhà khoa học lỗi lạc nhất. Có thể nói, người nông dân Việt Nam không chỉ biết có lam lũ, chân lấm tay bùn mà còn luôn tìm tòi sáng tạo trong lao động. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Giá trị văn chương của Bình ngô đại cáo
Anh (chị) hãy viết một đoạn văn bày tỏ suy nghĩ của mình sức sáng tạo của người nông dân Việt Nam
159
Anh (chị) hãy viết đoạn văn phân tích nhan đề bài thơ “Tôi yêu em” của Pus-kin Gợi ý Bài thơ "Tôi yêu em” của Pus-kin được dịch giả Thuý Toàn dịch sang tiếng Việt, dịch giả đã dịch khá sát nội dung cũng như nhan đề bài thơ. Nhan đề bài thơ là ba tiếng "Tôi yêu em" đã lột tả được cái tinh tế trong cách dùng từ xưng hô của nhà thơ. Ông có thể dùng từ "cô" thay cho từ "em" nhưng "Tôi yêu cô" – xa vời, trang trọng và… khách sáo quá! Ai nỡ gọi người mình yêu là "cô" kia chứ! ông cũng có thể dùng từ "anh" thay cho từ "tôi" nhưng "Anh yêu em", tiếng gọi ấy thân thiết gần gũi quá! Tình yêu của Pus-kin trong bài thơ là tình yêu đơn phương không hi vọng được hồi đáp vậy nên cách xưng hô ấy hẳn không phù hợp. Tình yêu là thứ tình cảm có muôn nghìn lối và vô vàn cung bậc, chỉ khẽ dịch chuyển một chút thôi đã là thể hiện tinh tế những suy nghĩ, cảm xúc rồi. Trong một bài thơ khác của mình, Pus-kin đã thể hiện rất cảm động những trạng thái cảm xúc trước mỗi cách xưng hô: "Nàng buột miệng đổi tiếng "ngài" trống rỗng Thành tiếng "anh" thân thiết đậm đà Và gợi lên trong lòng đang say đắm Bao ước mơ tràn hạnh phúc reo ca. Trước mặt nàng tôi trầm ngâm đứng lặng Không thể rời ánh mắt khỏi nàng Và tôi nói: "Thưa cô, cô đẹp lắm!" Mà thâm tâm: "Anh quá đỗi yêu em!" Quả thực, từ "Tôi" đến "Anh", từ "Cô" đến "Em" – là cả một bước đột biến trong tình cảm!Xem thêm: Anh (chị) hãy phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn TuânVanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy viết đoạn văn phân tích nhan đề bài thơ “Tôi yêu em” của Pus-kin
303
Anh (chị) hãy đọc văn bản sau Nơi Dựa… Những hình tượng người dàn bà – em bé, người chiến sĩ – bà cụ già gợi trong anh (chị) suy nghĩ gì về nơi dựa trong cuộc sống Gợi ý Đề bài: Anh (chị) hãy đọc văn bản sau: Nơi Dựa Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia? Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào… Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa điệu múa kì lạ. Và cái miệng nhỏ líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có. Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống. *** Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia? Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết. Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh, bước từng bước run rẩy. Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời. Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách. (Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983) Những hình tượng: người dàn bà – em bé, người chiến sĩ – bà cụ già gợi trong anh (chị) suy nghĩ gì về nơi dựa trong cuộc sống?Xem thêm: Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của tác giả Nguyễn TuânHƯỚNG DẪN LÀM BÀI 1. Mở bài Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Nơi dựa đốì với mỗi người trong cuộc sống. 2. Thân bài – Trong cuộc sống, thông thường người yếu đuôi tìm nơi dựa ở những người mạnh mẽ. Ớ câu chuyện trên thì ngược lại. Người mẹ trẻ dựa vào đứa con mới biết đi chập chững. Anh bộ đội dựa vào cụ già bước từng bước run rẩy trên đường. Từ hai hình tượng ấy gợi trong ta suy nghĩ về nơi dựa của con người trong cuộc đời. – Nơi dựa được nói đến trong câu chuyện trên là nơi dựa về tinh thần: nơi con người tìm thấy niềm vui và ý nghĩa trong cuộc sống. – Mỗi người trong cuộc đời cần phải có tình yêu: tình yêu đối với con cái, tình yêu với bố mẹ và những bậc tiền bổi đáng kính… Rộng hơn, con người sống cần phải có hi vọng vào tương lai (hình tượng em bé), lòng biết ơn quá khứ (hình tượng bà cụ già)… Chính những tình cảm này làm nên phẩm giá con người. Chỗ dựa tinh thần của con người là vô cùng cần thiết: Có thể xoa dịu đau thương, tiếp thêm nghị lực sống cho con người, nâng đỡ tinh thần để không rơi vào tuyệt vọng, giúp con người vượt qua những trở ngại (dùng lí lẽ và dẫn chứng trong cuộc sống để làm rõ). – Phê phán những kẻ ỷ lại, không tự vươn lên mà dựa vào người khác…Xem thêm: “Cuộc đời mất đi tình bạn, thế giới mất đi mặt trời” (Cicero)– Liên hệ bản thân… 3. Kết bài Khẳng định vai trò của nơi dựa đối với mỗi người trong đời sống hiện nay. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy đọc văn bản sau Nơi Dựa… Những hình tượng người dàn bà – em bé, người chiến sĩ – bà cụ già gợi trong anh (chị) suy nghĩ gì về nơi dựa trong cuộc sống
561
Anh (chị) nghĩ gì khi nhìn những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá? Gợi ý Chưa bao giờ vấn đề bảo vệ thiên nhiên trở nên bức xúc như hiện nay. Trên báo chí, truyền hình,… thậm chí trong chương trình học phổ thông, việc bảo vệ thiên nhiên trong đó có bảo vệ rừng được nhắc đến như bảo vệ sự sống còn của trái đất. Quả thực, khi nhìn những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá, không một con người chân chính nào có thể làm ngơ. Là một hệ sinh thái cân bằng, nhắc đến rừng ta nhắc đến những loại cây cối lâu năm rạm rạp tầng tầng, lớp lớp chen chúc nhau, nhắc đến những loài động vật phong phú quý hiếm,… Thế giới có những cánh rừng lớn nổi tiếng: Rừng Amarôn (Châu Mĩ), rừng lá kim (Nga), rừng Nauy (Bắc Mĩ),… Việt Nam trong một thời gian dài cũng có những cánh rừng đáng tự hào, tổng diện tích chiếm đến 3/4 diện tích lãnh thổ: rừng Việt Bắc, rừng Tây Nguyên,… Chiếm một phần đáng kể trong số diện tích đất liền ít ỏi của trái đất, rừng có vai trò lớn trong việc điều hoà sinh thái, phát triển kinh tế văn hoá xã hội của con người. Ta thử tưởng tưởng nếu màu xanh của rừng biển mất thì ai sẽ thanh lọc không khí, cung cấp ôxi cho sự sống? Con người vẫn ca ngợi không khí ở vùng rừng núi trong lành, mát mẻ mà mệt mỏi sợ hãi sự ngột ngạt, yếm khí ở các vùng thành thị,… Rừng, lá phổi của trái đất, một yếu tố không thể thiếu trong đời sống con nguời. Đời sống càng phát triển, càng nhiều nhà máy, càng nhiều các loại động cơ,… càng cần có nhiều rừng để cân bằng không khí.Xem thêm: Hãy phân tích tâm trạng người ra đi trong bài thơ Tống biệt hành cùa Thâm Tâm Trong việc bảo vệ đất, chống xói mòn, ngăn lũ lụt rừng cũng có vai trò quan trọng. Rễ cây rừng lâu năm rậm rạp bền bỉ bám đất, giữ đất chống lại những trận càn quét của lũ lụt. Lá rừng rậm rạp cản lại vận tốc của những cơn mưa rừng dữ dội tránh xói mòn. Còn gì nữa? Thân cây gỗ lớn, những loại cây bụi tầng thấp cản lại vận tốc dòng chảy của lũ, tạo thời gian để đất ngấm nước, ngăn lại những cơn lũ ào ạt. Bên cạnh vai trò cân bằng tự nhiên, rừng còn là một tài nguyên quý giá tạo điều kiện cho kinh tế phát triển. Không ai có thể phủ nhận nguồn lợi có được từ những thân gỗ lâu năm, từ những loại thảo dược, từ những động vật rừng, từ các khu du lịch sinh thái,… Có thể nói, rừng là nguồn tài nguyên vô giá, nếu mất đi thì khó có thể khôi phục lại được. Vậy mà trong những năm gần đây con người với những suy nghĩ ấu trĩ thiển cận đã tàn sát không thương tiếc những cánh rừng trên khắp thế giới. Nạn lâm tặc hoành hành, hàng triệu cây cổ thụ ứa nhựa tràn trề như ứa máu nối nhau sụp đổ. Những vùng núi đồi trơ trọi, nham nhở; gốc cây bị cưa, bị chặt như vết cứa vào lá phổi trái đất. Báo chí hàng ngày vẫn đưa tin, đưa hình hàng triệu lượt thú rừng bị săn bắt, buôn bán trái phép…Chưa hết, còn có những vạt rừng bị chặt, bị đốt vì thói qụen du canh du cư của một số đồng bào dân tộc thiểu số. Thậm chí ở nhiều nơi, do tốc độ đô thị hoá quá nhanh mà diện tích rừng cũng bị thu hẹp,… Linh hồn rừng xanh đang bị con người cắt xén, làm cho què quặt, yếu ớt. Thiên nhiên với con người vốn có mối giao hoà từ mấy vạn năm. Thiên nhiên làm nảy mầm sự sống, là cái nôi nuôi dưỡng con người. Nay con người tàn phá thiên nhiên dữ dội, điều đó không khỏi khiến ta lo lắng.Xem thêm: Ông Bá Dương (người Trung Quốc) viết hẳn một cuốn sách "Người Trung Quốc xấu xí" để nêu lên những thói hư, tật xấu của người Trung Quốc. Tương tự người Mĩ có cuốn sách "Người Mĩxấu xí"; người Nhật cũng có cuốn "Người Nhật xấu xí"... Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng nêu trên? Hãy viết bài văn phân tích một vài thói hư tật xấu của người Việt Nam mà anh (chị) cho là đáng phê phán, nhất là khi đất nước bước vào thời kì hội nhập quốc tế; tự đặt tên cho bài viết. Quả thực, rừng xanh đã đáp trả bằng một tiếng vọng trách móc, ai oán. Song song với việc hàng vạn ha rừng đổ xuống, mất đi là việc tầng ôzôn bị thủng. Điều đó đồng nghĩa với việc con người sẽ được “hưởng” nhiều hơn loại tia có hại của mặt trời: tia cực tím. Chưa kể đến những thiệt hại về kinh tế, chỉ cần nhắc đến những cơn lũ quét ào ạt, bất ngờ, những vụ sạt lở đất, sự xói mòn nghèo nàn của đất,… điều đó cũng đủ nói đến những mất mốt to lớn do việc rừng bị tán phá gây ra. Thú rừng bị săn bắt bừa bãi, động rừng sẽ diễn ra, mối họa này không ai lường hết được. Thực tế ở Việt Nam, sự kiện những con voi rừng Thánh Linh là một lời cảnh báo sinh động cho những ai dám xúc phạm sự uy nghiêm của rừng thẳm. Nhìn những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá, ta thấy lo lắng vô cùng cho sự sống của con người. Xuất phát từ môi lo ngại trên, mỗi người cần có ý thức trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ sự sống của chính mình. Chúng ta có thể bắt đầu làm từ những việc nhỏ nhất: trồng cây xanh ở chính khu vực mình sống. Các cấp các ngành tăng cường tuyên truyền về vấn đề bảo vệ rừng; xử lí nghiêm khắc các vi phạm bảo vệ rừng đồng thời cần phải định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số,… Màu xanh đất nước có sạch đẹp mãi được không “điều đó tuỳ thuộc hành động của bạn, chỉ tuỳ vào bạn mà thôi”. Mỗi người hãy thể hiện tình yêu đất nước, tình yêu cuộc sống bằng việc bảo vệ rừng, bảo vệ màu xanh thiên nhiên.Xem thêm: Tả một cuốn từ điểnVanmau.edu.vn
Anh (chị) nghĩ gì khi nhìn những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá_
1,114
Anh (chị) nghĩ gì về bạn và chọn bạn Gợi ý Sống trong xã hội, hầu như người nào cũng có bạn hữu. Có bạn tốt và có bạn xấu. Bạn tri âm, bạn tri kỉ, bạn chí thân… là nói về bạn tốt. Trái lại có loại bạn sớm nắng chiều mưa, có kẻ lừa thầy phản bạn, khi vui thì có bạn, lúc hoạn nạn thì hết bạn! Khổng Tử chia bạn tốt ra làm ba loại: bạn chính trực, bạn biết giữ chữ tín, bạn có kiến thức uyên bác. Đó là những con người thẳng thắn khuyên ngăn những sai lầm, khiếm khuyết của bạn, không bao giờ sai hẹn, sai lời, lúc hoạn nạn, khó khăn, lúc vui, buồn, lúc sống, chết đều có nhau; bạn có vặn hóa, có học vấn, từng trải… cé thể giúp ta mở mang kiến thức, vươn lên một tầm văn hóa mới: thành người có học và có hạnh, một nhân cách văn hóa. Câu chuyện cổ, vở chèo cổ rất được nhân dân ta yêu thích mang tên Lưu Bình – Dương Lễ ca ngợi tình bạn đẹp thủy chung như thế. Nhà thơ Chính Hữu có bài thơ Đồng Chí nói về thời kháng chiến chống Pháp (1946-1954) từng gian khổ có nhau, vào sinh ra tử có nhau cùng chung lí tưởng chiến đấu cao cả. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ… … Đêm nay rùng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Trong cuộc sống, có nhiều tình bạn rất đẹp: giúp nhau công việc, vốn liếng làm ăn, vượt qua số phận, vượt qua đói nghèo, vươn lên làm giàu. Có nhiều thứ tình bạn: bạn đồng học, bạn tuổi thơ, bạn đồng hương, bạn đồng khoa, bạn đồng tuế… Bạn tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên của thời áo trắng là thật đẹp, đáng tự hào. Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyên và Tiến sĩ Dương Khuê là hai bạn đồng khoa cuối thế kỉ XIX. Đọc bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyên, ai cũng cảm động về một tình bạn thủy chung:Xem thêm: Giới thiệu vắn tắt sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân (khoảng 30 dòng)Bác Dương thôi đã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước, vẫn sớm hôm, tôi bác cùng nhau, Kính yêu từ trước đến sau, Trong lúc gặp gã khác đâu duyên trời. Khổng Tử cũng chia bạn xấu làm 3 loại: bạn chỉ biết khua môi múa mép, bạn miệng nam mô bụng bồ dao găm, bạn chỉ ba hoa nói mà không làm. Đó là những kẻ đạo đức kém, hai mặt tráo trở, sẵn sàng bán rẻ lương tâm, bán rẻ bạn bè cho quỷ dữ. Tục ngữ có câu: “Tin bạn mất vợ, tin bợm mất bò”. Bạn xấu nhan nhản khắp nơi; loại bạn này đáng sợ lắm! “Buôn có bạn, bán có phường”, “Ba đi vừa gặp bạn hiền/ Sướng bằng ăn quả đào tiên trên trời”. Bạn hiền là bạn tốt. Trong cuộc đời, ta không nên tin và kết bạn với những người chỉ biết nói mà không hề làm, chỉ biết đàn dúm vui chơi hưởng lạc, thấy lợi quên bạn, “tham vàng bỏ ngãi”, khi bạn gặp bất hạnh thì ngoảnh mặt làm ngơ, thậm chí còn ngấm ngầm hại bạn. Kết giao bạn bè có quan hệ rất lớn đến sự trưởng thành, đến sự thành bại trong sự nghiệp. Tuổi thơ được sống trong tình bạn đẹp, được kết giao với bạn tốt mà trở nên chầm ngoan, học giỏi. Nếu giao du với bạn xấu thì sớm muộn cũng trở thành ăn chơi đua đòi, nhác học, trôn học, bỏ học, thành học sinh hư, cá biệt. “Gần mực thì đen” là điều ta cần biết, cần nhớ.Xem thêm: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều. Hậu quả của việc chơi với bạn xấu, kết giao với bạn xâu thật đáng sợ. Có người bị bạn xấu lừa mà bị tổn thất tài sản, trắng tay. Có người chơi với bạn xấu mà dấn sâu vào vòng tù đày, tội lỗi. Có người không thận trọng khi kết bạn mà bị bạn lừa, tan nát cả gia đình, thậm chí mất cả mạng sống của mình. A dua theo bạn xấu là không nên. Phải tránh xa những kẻ “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Có trải qua hoạn nạn, khó khăn, ta mới phân biệt được bạn xấu, bạn tốt, bạn hiền, bạn thủy chung… Bước vào đời, không ai có thể sống cô đơn, cô độc. cần được sum vầy, trong bạn bè. Người xưa có nhắc: “Phải quảng giao để tìm tri âm, tri ki”, để được sống hạnh phúc. Cổ ngữ có câu: “Nhân sinh, đắc nhất tri kỉ, túc hĩ”, nghĩa là trên đời mà có được một người bạn tri kỉ, thế là đủ”. Có phải vì thế mà Nguyễn Sưởng, một danh sĩ thời Trần đã viết: “Trải qua biển hồ mười năm mà ít tri kỉ” (Hồ hải thập niện tri kỉ thiểu). Đó là sự thật, vì ở khắp mọi nơi, sỏi, đá thì nhiều mà vàng, ngọc thì ít! Chọn bạn mà học hành, làm ăn. Chọn bạn để được sống hạnh phúc trong tình người. Một vân đề, một việc rất hệ trọng, không hề đơn giản.Xem thêm: Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ: Có công mài sắt, có ngày nên kimVanmau.edu.vn
Anh (chị) nghĩ gì về bạn và chọn bạn
927
Anh (chị) nghĩ gì về câu ngạn ngữ của châu Phi: ‘Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả về phía sau bạn”? Hướng dẫn Tham khảo mội số ý sau để triển khai bài viết: – Giải thích: + Mặt trời: là biểu tượng cho nguồn sáng cao đẹp, cho những gì tốt đẹp trong cuộc sống. Bóng tối: là hình ảnh thể hiện cho những cái xấu, cái ác, cái thấp hèn trong cuộc sống. + Câu ngạn ngữ lấy ý nghĩa từ quy luật của tự nhiên: nếu anh hướng về mặt trời thì cái bóng đen của anh sẽ luôn ở phía đằng sau, trước mạt anh luôn là ánh sáng và con người anh luôn được chiếu sáng. Điều đó có nghĩa anh luôn được soi chiếu bởi những điểu tốt đẹp và những điều xấu xa sẽ bị đẩy lùi nếu anh luôn hướng về ánh sáng. – Phân tích, bàn luận: + Nếu trong cuộc sống mỗi con người luôn biết hướng tới những điều tốt đẹp trong suy nghĩ và hànhđộng, luôn là đoá hướng dương say mê với ánh sáng mặt trời thì ánh sáng mặt trời sẽ soi sáng tàm hồn và trí tuệ của anh, giúp anh sống có lí tưởng và hành động vì những mục đích cao đẹp. Lúc đó thì bóng tối sẽ không có điều kiện để chế ngự, xâm chiếm cuộc sống của chúng ta. + Hướng về mặt trời, chúng ta sẽ có đủ trí tuệ để nhận ra những điều tốt đẹp và những gì xấu xa, để xác định những việc cẩn làm và những gì cần tránh. + Bóng tối, dù có mạnh mẽ đến đâu, cũng phải cúi đầu và bị ánh sáng mặt trời đẩy lùi, bởi sức nóng của mặt trời luôn là mạnh mẽ nhất. Hướng về phía mặt trời sẽ luôn cho ta sức mạnh để làm những việc có ý nghĩa, đẩy lùi những gì xấu xa. – Liên hệ thực tiễn: Rút ra bài học cho bản thân, lấy ví dụ minh hoạ. Nguồn: thêm: Viết đoạn văn (khoảng 8 - 10 câu) nêu cảm nhận của em về nhan đề truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê trong đó có sử dụng hai phép liên kết câu (chỉ ra hai phép liên kết câu đó)
Anh (chị) nghĩ gì về câu ngạn ngữ của châu Phi_ ‘Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả về phía sau bạn”_
388
Anh (chị) nghĩ gì về Ngày vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam 10 – 8 hằng năm Gợi ý HƯỚNG DẪN – Đề bài ghi “nghĩ gì về…” có nghĩa là người viết có thể nêu lên những ý nghĩ riêng của mình về Ngày nạn nhân chất độc da cam Việt Nam 10 – 8 hằng năm. Cách làm bài là bàn luận về ngày đặc biệt đó, thao tác sử dụng là lập luận bình luận. – Với tư cách là người Việt Nam đối với những đồng bào của mình còn bị những di chứng nặng nề của chất độc da cam, với truyền thống “Người trong một nước phải thương nhau cùng”, anh (chị) hãy bày tỏ những ý nghĩ cũa mình về vấn đề này một cách chân thành để chia sẻ với những nạn nhân đó và lên tiếng đòi công lí phải được thực hiện. Bài viết có thể đi sâu vào một khía cạnh hoặc bàn về nhiều vấn đề của “ngày đặc biệt” đó: – Lên án tội ác của đế quốc Mĩ đã rải chất độc điôxin trên lãnh thổ Việt Nam. – Thông cảm sâu sắc với các nạn nhân chất độc da cam ở nước ta hiện nay: về di chứng nặng nề, về hoàn cảnh sông, về nỗi bất hạnh của họ,… – Lên tiếng đòi công lí phải được thực hiện cho các nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam… BÀI THAM KHẢO Dưới đây giới thiệu một tiếng nói bạn bè trên thế giới về Ngày nạn nhân da cam Việt Nam 10 – 8. Tiếng nói bạn bè ấy có thể gợi cho anh (chị) nhiều điều để bày tỏ ý kiến riêng của mình. BÀ SẼ KHÔNG KÌM ĐƯỢC NƯỚC MAT… LTS: Người bạn của các nạn hhân da cam Việt Nam, ông Len Aldis – tổng thư ký Hội Hữu nghị Anh – Việt – vừa gửi lá thư cho phu nhân tổng thống Mỹ, bà Michelle Obama, để kêu gọi giúp đỡ các nạn nhân da cam Việt Nam nhân Ngày nạn nhân da cam Việt Nam 10 – 8. Michelle Obama thân mến,Xem thêm: Trình bày ngắn gọn những hiểu biết về hoàn cảnh ra đời và tác giả, dịch giả của Chinh phụ ngâm… 3. Trình bày đặc điểm nghệ thuật của văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Hồi tháng giêng khi chồng bà bước vào Nhà Trắng với cương vị là tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kì, hàng triệu người trên thế giới đã hi vọng về một bắt đầu mới cùng mong muốn có những thay đổi đối với các chính sách tai tiếng của người tiền nhiệm trong tám năm cầm quyền. Bản thân bà là một con người và là mẹ của hai cô gái nhỏ. Trong cương vị người mẹ, bà có quyền yêu thương và chăm sóc con cái mình, bảo vệ chúng khỏi mọi sự xâm phạm, tổn thương. Đó là điều cao quý mà mọi bà mẹ luôn cố gắng đấu tranh bất chấp mọi khó khăn có thể phải đốì mặt. Hôm nay tôi viết lá thư này để cầu khẩn sự giúp đỡ của bà. Ớ Việt Nam, nhiều bà mẹ có các đứa trẻ tật nguyền nghiêm trọng. Họ không có lỗi gì cả ngoại trừ việc đã sinh ra ở một đất nước mà 48 năm trước đây, vào ngày 10-8 quân đội Mỹ bắt đầu rải các chất hóa học, trong đó có chất da cam bị nhiễm đioxin – thứ độc chất mạnh nhất trên đời này. Việc rải chất độc tiếp tục trong hơn 10 năm ở nhiều khu vực thuộc miền Nam Việt Nam, dẫn tới sự hủy hoại trên quy mô lớn nhiều cánh rừng, động vật và quần thể thực vật ở đây. Mùa màng, làng mạc cũng bị ảnh hưởng và điều này đã gây ra những hậu quả kinh hoàng cho con người. Chất độc da cam nhiễm vào thức ăn và sau đó thâm nhập cơ thể họ.Xem thêm: Hãy tả bố em khi đang đọc báo Michelle, tôi mong bà có thể thấy, như tôi từng chứng kiến trong các chuyên thăm Việt Nam, hậu quả của chất độc da cam đổì với con người, đặc biệt với những đứa trẻ sinh ra nhiều năm sau khi cuộc chiến đã kết thúc từ năm 1975. Tôi biết với cương vị người mẹ, bà sẽ không kìm được nước mắt – như tôi chứng kiến nhiều người mẹ ở đây – khi thấy con cái sinh ra không có tay, mất chân hay một chân ngắn hơn chân kia, những đứa trẻ có cơ thể quặt quẹo vì chứng nứt cột sống, những em bé không mắt. Tôi còn có thể kể nhiều hơn nữa những thảm kịch kinh khủng với những đứa trẻ vô tội này mà tôi và nhiều người khác đã chứng kiến. Những đứa trẻ vô tội đang phải gánh chịu hậu quả của cuộc chiến, nơi các loại hóa chất như chất da cam được sử dụng, khiến gần 4 triệu người Việt Nam mà phần lớn nay cần được chăm sóc 24/24 giờ trong khi gia đình kêu gào mong muốn được công lí. Khi bà nhìn ngắm, chơi, đọc sách cho con hay dẫn chúng đi dạo, bà hãy thử hình dung cảnh bà mẹ Việt Nam muôn làm điều tương tự nhưng vì con cái tàn tật, họ đã không thể làm được. Tôi muôn bà thử hình dung hậu quả khi những đứa trẻ này lớn lên nữa, trở thành những thanh niên mà vẫn cần đến sự chăm sóc từ người mẹ. Những bà mẹ ở đây từng hỏi tôi: “Điều gì sẽ xảy ra với con tôi khi tôi không còn sông nữa?”. Nhìn những nạn nhân của bi kịch này ở bệnh viện, phòng khám, các trại trẻ mồ côi và nhà của chúng, thật không dễ trả lời câu hỏi này – nếu thật sự có câu trả lời. Chất độc da cam đã lan tới thế hệ thứ ba và câu hỏi nữa họ hỏi là: “Còn bao nhiêu thế hệ nữa?”Xem thêm: Bài văn bình luận về biển Đông Với hàng ngàn câu hỏi bỏ lửng đó, nhiều đứa trẻ đã chết ngay trong bụng mẹ, chết khi mới vài năm tuổi của thời thơ bé. Những đứa trẻ sông sót sẽ nhận được sự quan tâm và tình thương của người mẹ. Nhưng Michelle, quan tâm là không đủ. Gần 4 triệu người này cần công lí từ những kẻ đã gây ra bao thứ bệnh và tàn tật. Và đó là lí do tôi viết cho bà hôm nay. Chồng bà, trong cương vị tổng thống, có thể tập hợp lại hồ sơ vụ kiện của các nạn nhân Việt Nam tại các tòa án trên đất nước bà. Ông có thể nói với các luật sư từng đại điện cho những người tìm kiếm công lí. Ông sẽ biết rằng Tòa tôi cao Mỹ từng bác đơn kháng án mà không đưa ra bất cứ lí do nào. ông sẽ biết rằng hai trong sô’ các thẩm phán từng chối bỏ một cách nhục nhã không tham dự vào phán quyết, và một thẩm phán nữa ở Tòa tô’i cao thực tế từng làm luật sư cho Monsanto — một trong những công ty đã chế tạo chất độc da cam. Ngài tổng thông chắc chắn sẽ thấy các nạn nhân Việt Nam đã bị chối bỏ công lí như thế nào. Michelle, xin hãy nhìn hai cô con gái của bà khi tôi khẩn cầu bà giúp làm đúng lại những sai trái mà (phía Mỹ) từng làm với trẻ em Việt Nam. Trân trọng, LEN ALDIS (tổng thư ký Hội Hữu nghị Anh – Việt) Thanh Tuấn dịch, (Tuổi trẻ 1-8-2009) Vanmau.edu.vn
Anh (chị) nghĩ gì về Ngày vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam 10 – 8 hằng năm
1,310
Anh (chị) nghĩ gì về thời gian và niềm tin Gợi ý Nhiều năm trước, khi khai quật một ngôi mộ cổ Ai Cập, một nhà khảo cổ đã tìm thấy những hạt giông vùi trong một miến gỗ. Khi đem gieo, những hạt giống ấy đã nẩy mầm, bộc lộ sức sống tiềm tàng sau hơn 3000 năm bị chôn vùi. Phải chăng điều kiện sổng mà chúng ta, vì không nhận ra được những tiềm năng vốn có của mình đã cam chịu sống trong thất bại và tuyệt vọng? Hay trong chúng ta cũng có những hạt mầm của những khả năng, như một sự thôi thúc vươn lên mạnh mẽ đến nỗi mọi vỏ cứng của nghịch cảnh cũng sẽ bị chọc thủng? Hãy suy ngẫm câu chuyên từng được phát rộng rãi trên Assciated Press vào ngày 23-5-1984 Khi còn là một cô bé, Mary Groda không thể học đọc và học viết được. Các chuyên gia cho rằng, cô mắc chứng chậm phát triển. Khi đến tuổi dậy thì, cô lại bị gán cho là “kẻ bất trị" và bị giam 2 năm trong trại học và cô học 16 giờ mỗi ngày. Sự nỗ lực của cô đã được đền đáp bằng tấm bằng tốt nghiệp trung học. Thế nhưng, những bất hạnh vẫn tiếp tục đến với Mary. Sau khi rời trại cải tạo, cô mang thai mà không nhận được sự trợ giúp nào. Rồi 2 năm sau, lần mang thai thứ hai đã khiến cô bị một cơn đột quỵ, mất khả năng đọc và viết mà khó khăn lắm cô mới được. Với sự trợ giúp và ủng hộ của người cha, Mary đã chiến đâu chống trả bệnh tật, giành lại được những gì đã mất.Xem thêm: Bình luận về vai trò của sách đối với đời sống con người Trong điều kiện tài chính eo hẹp, Mary cố gắng vượt qua tất cả. Để thoát khỏi bước đường cùng cô nhận nuôi 7 đứa trẻ cùng lúc. Cùng thời gian đó, cô bắt đầu học tại một trường cao đẳng cộng đồng. Khi hoàn thành khóa học, cô nộp đơn và được chấp thuận vào học tại Trường Y khoa Albany. Vào mùa xuân năm 1984, tại Oregon, Mary Groda Lewis, giờ đây đã lập gia đình, bước lên sân khâu nhận tấm bằng tốt nghiệp. Không ai biết được Mary đang nghĩ gì khi cô đưa tay nhận tấm bằng minh chứng cho sự tự tin vào bản thân và lòng kiên trì của mình. Tấm bằng đã cho cả thế giới biết rằng, nơi đây, ngay tại một điểm rất nhỏ trên trái đất này, có một con người dám ước mơ một giấc mơ tưởng chừng không thể, một con người đã khẳng định với chúng ta về khả năng tuyệt diệu mà con người có thể làm được. Nơi đây, người đang hiên ngang ngẩng cao đầu chính là Mary Groda Lewis, Tiến sĩ Y Khoa. Hãy khao khát và nuôi dưỡng niềm tin, hãy dành thời gian cho những ước mơ, vì đó là động lực vàng giúp bạn đạt được những thành tựu lớn nhất của cuộc đời. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) nghĩ gì về thời gian và niềm tin
529
Anh (chị) nghĩ gì về tình yêu trong độ tuổi học sinh Gợi ý Đã tự bao giờ, mối tình học trò hay mối tình đầu luôn là một điều thật đáng nhớ trong cuộc đời của mỗi người. Tình yêu học trò với những rung động đầu đời, lần đầu tiên biết có cảm giác nhớ nhung, mong ngóng, lần đầu tiên với những tình cảm ngây thơ, trong sáng để rồi đọng lại trong tim ta bao cảm xúc, bao nỗi niềm. Năm tháng qua, cuộc sống cứ thế cuốn đi biết bao nhiêu những lo toan, phiền muộn, thế nhưng mỗi khi nhớ đến mối tình học trò, có lẽ mỗi chúng ta đều sẽ mỉm cười. Có lẽ trong đời ai cũng có những tình cảm mà nhiều khi nhìn lại thấy mình thật ngốc biết bao. Tôi cũng vậy, tuổi học trò của tôi đi qua mang theo biết bao nối tiếc và cảm xúc. Cũng như bao bạn bè trang lứa, tôi cũng có những rung động đầu đời thật thú vị. Tôi còn nhớ như in những ngày ấy, đó là thời điểm tôi còn lớp chín, tôi đã "mến" bạn ngồi bàn trên. Tôi không hiểu sao lúc ấy mình lại ngốc như vậy. Thích người ấy mà không dám nói ra, chỉ lặng lẽ là cái bóng vô hồn sau nụ cuời quyến rũ của cậu ấy. Tôi chỉ biết mỗi ngày đến lớp đối với tôi thật thú vị biết bao bởi tôi được tranh luận cùng người ấy những bài tập khó rồi lại bày ra những trò chọc ghẹo bạn bè. Nhưng rồi thời gian như vô tình cuốn đi mà tôi chưa kịp nhìn lại. Chúng tôi lên cấp ba mỗi đứa một lớp cũng là sự xếp đặt của tạo hóa dành cho chúng tôi. Tôi không còn được gặp và nói chuyện với cậu ấy nhiều, nhưng đến bây giờ tôi phải thừa nhận rằng chính cậu ấy là nguồn động lực lớn để tôi phấn đấu được như ngày hôm nay. Giờ đây tôi đã là một sinh viên và tương lai không xa, tôi sẽ là một giáo viên nhưng trong những ngày tháng khó khăn nhất của mình, tôi luôn nhớ tới cậu ấy và tự hứa mình phải làm sao cho xứng đáng với những tình cảm đó. Mỗi người đều có một kí ức khác nhau về mối tình học trò của mình. Xét cho cùng, tình cảm học trò thiêng liêng lắm chứ, đáng để trân trọng và ghi nhớ lắm chứ. Tình yêu tuổi học trò rất nhẹ nhàng, lãng mạn, dễ thương… Đó là tình cảm được đan xen giữa tình bạn và tình yêu nam nữ. Thường được biểu hiện bằng một cái nhìn len lén, một cái nắm tay vội vàng lúc sinh hoạt tập thể, hoặc một bịch ô mai ai để vào ngăn bàn hay một bức thư vẻn vẹn vài câu bâng quơ… Và cho dù có chia tay nhau, thì tình yêu tuổi học trò vẫn đọng lại những kỷ niệm thật đẹp, thật tha thiết…trong lòng mỗi người cho đến tận ngày cuối cuộc đời đó bạn. Vậy thì tại sao, đôi lúc tình yêu học trò lại bị cấm đoán, và hiện nay, trong khi, xã hội ngày càng phát triển thì những mối tình học trò dường như đang dần mất đi những gì “trong sáng”, “lung linh” như người ta vẫn thường nghĩ. Đôi khi thứ tình cảm đến sớm ấy liệu có phải là tình yêu?Xem thêm: Mối quan hệ giữa hiện thực cuộc sống và tác phẩm nghệ thuật, cảm quan của người nghệ sĩ trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Tuổi học trò – tuổi của sự mộng mơ và bay bổng, với những cảm xúc luôn dâng trào. Nói về tình yêu thời học trò, có người nghĩ rằng, là lệch lạc và mang nhiều cái hại. Nhưng cũng có người cho rằng, là tình yêu trong sáng, tươi đẹp nhất, mang lại nhiều cái lợi cho học hành, và cuộc sống. Tôi đã đọc được rất nhiều bài báo viết về những câu chuyện tình yêu của tuổi học. trò, và thật bất ngờ khi đôi khi, có những suy nghĩ "người lớn” đến độ không thể tưởng tượng được. Tôi đã từng đọc được một bài phóng sự viết về một em học sinh 9x, mới học lớp 9 nhưng với vóc dáng dong dỏng cao, thư sinh cộng thêm gương mặt dễ yêu nên cậu ay đã khiến cho không ít cô gái “mê mẩn”. Em học sinh ấy tên là Tú. Tú kể, cô đầu tiên học sau cậu một lớp, cùng dãy tầng và cùng buổi học chiều. Tình cờ đang vội vào lớp, hai người đã đụng vào nhau, khiến cô gái suýt ngã. Không những không bị mắng như vẫn thường gặp ở những cô gái đanh đá chua ngoa khác, cô bé lại còn nở một nụ cười, kèm theo một lời nhỏ nhẹ: "Ý, em xin lỗi, anh có sao không?". Chỉ vậy thôi, mà đã làm cho Tú thích. Thi thoảng họ lại gặp nhau ở cầu thang. Mỗi lần gặp Tú, cô gái lại bẽn lẽn cười. Không hiểu có phải do cố tình gây sự chú ý cho Tú hay không, vài lần cô gái đã mang rác sang vứt vào thùng rác của lớp cậu. Lần nào, cậu cũng bắt gặp. Có lần, khó chịu, Tú liền phản ứng: "Ê, sao cứ qua dây vứt rác?". Lại bẽn lẽn cười, cô bé bỏ đi không nói gì. Khó chịu thật đấy, nhưng vài hôm không thấy cô bé qua vứt rác, Tú lại cảm thấy bồn chồn, lơ đãng cả chuyện cô giáo đang giảng bài trước cửa lớp. Tú quyết định tìm bằng được cô gái, bộc bạch tình cảm. Quá may mắn, chỉ vào ngày sau, họ đã cùng nhau đến lớp và chờ đợi nhau cùng ra về. Vào giờ giải lao, họ thường cùng nhau đi ăn chè thập cẩm, uống trà sữa Trân Châu. Đã vài lần, Tú dẫn cô gái vào vườn thú Thủ Lệ. "Nhưng chỉ là đề bạn ấy bớt căng thẳng, do phải làm quá nhiều bài tập thôi". Mối tình đầu này đã nhanh chóng chia xa, khi mẹ cô gái phát hiện. Bà tìm đến tận lóp Tú dọa dẫm: "Cậu mà đưa nó đi chơi một lần nữa, tôi chặt gẫy cẳng". Cô gái thứ hai mà Tú thích, lại quen từ lớp học võ. Tú thường gặp Chi, bởi tủ đựng đồ của cô sát cạnh tủ đựng đồ của cậu. Chi bằng tuổi Tú. Tú tả, cô gái này mập mạp, và trông rất khỏe. Một hôm, cô gái đề nghị bỏ chung đồ áo vào một tủ cho gọn, Tú liền "ok". Không biết có tình ý gì không mà cô gái thường mang đồ áo Tú về nhà giặt giũ. Một ngày, Chi đến muộn, Tú chờ đến sốt ruột, Cô gái đến, Tú cầm vội bộ đồ võ vào phòng thay rồi ra sân tập. Cuối buổi, Tú phát hiện mình đang mặc bộ đồ võ của Chi. Ngượng ngùng, lẫn bực tức, Tú bỏ đi mặc cho Chi giải thích: "Đồ áo anh chưa khô nên em..”.. Xem thêm: Ở Việt Nam gần đây có hiện tượng ‘hôi của’ từ các vụ tai nạn giao thông. Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng này. Vậy mà sau sự cố đó, họ lại suốt ngày bên nhau mới lạ. Những ngày tươi đẹp, cùng uống nước sấu, ăn sữa chua, đạp xe ra Bờ Hồ, ngồi lai rai cóc dầm, ngắm người Tây qua lại cũng qua đi, sau "sự cố khó tha thứ": Chi đã giáng cho Tú một quả đấm sưng quai hàm, khi thử xem tài nghệ võ ai hơn ai. Cô thứ ba cùng khối 9, cũng mang lại cho Tú hai từ "tình buồn". Sau những ngày thường xuyên nhờ vả, mà cũng chỉ là những việc lặt vặt như: Làm hộ bài tập, tan trường chở về nhà giúp, đi thuê giùm mấy đĩa phim kiếm hiệp Hồng Kông về nhà xem… cô gái mới tự khai: "Em… có người yêu rồi… Anh ấy hơn em bảy tuổi, đang du học ở Trung Quốc". Cay cú, Tú chỉ còn biết tức giận tuyên bố: "’Nói thật, anh mà gặp người, yêu em, anh sẽ cho biết tay!". Tú thật lòng: "Em chưa hề biết chuyện ấy… Dù là vào công viên nhiều lần với bạn gái, nhưng bọn em thường chỉ nắm tay, và đi sát người vào nhau thôi". Tú thú nhận: "Em mới chỉ biết hôn má thôi. Với cô bé học lớp 8 ấy. Tưởng là bị ăn tát, không ngờ em ẩy lại thích, hôm sau gặp cứ lấy tay trỏ chỉ vào má..”.. Rồi Tú ra vẻ thắc mắc: "Nhiều khi, em vẫn tự hỏi, không biết đó có phải là tình yêu không? Thằng bạn thân của em thì bảo, với con gái mày mới chỉ là để ý, ngưỡng mộ, và thích thôi!". Một em học sinh lớp 9, chỉ trong một thời gian ngắn đã trải qua kha khá môi tình. Và trong một khảo sát gần đây tại ba trường cấp III tại Thành phố Hồ Chí Minh, với nội dung “Tình yêu học trò liệu có còn trong sáng?” thì đã có 50% học trò có tiêu chí chọn người yêu giàu có, 28% thừa nhận sẽ bỏ bê học hành nếu tình yêu không được châ’p nhận, 24% đồng ý sống thử trước hôn nhân". Cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, một giáo viên trường cấp III tại TP Hồ Chí Minh đã cho rằng: "Học trò ngày nay không còn yêu cảm tính, trong sáng theo kiểu "rung động đầu đời" nữa. Yếu tố vật chất, tình dục xuất hiện đáng báo động. Cứ theo đà này, tình yêu học đường sẽ bị Âu hóa hoàn toàn”, bà Hiền nói. Bà Hiền cũng cho biết, 61% học sinh tham gia khảo sát thừa nhận đã và đang yêu. Chỉ có 37% em chưa yêu, vì chưa tìm được đối tượng thích hợp, chứ không phải vì muốn tập trung học tập. Bà Hiền lo ngại, nếu không được uốn nắn kịp thời, học trò sẽ biến tình yêu thành đùa giỡn, dẫn đến tình trạng các em vô trách nhiệm với chính bản thân mình. Thời gian qua dư luận đã hết sức bàng hoàng về lá thư tình mô tả việc quan hệ tình dục của những cô cậu học sinh lớp 6 được một giáo viên phát hiện… nay lại xuất hiện thư tình của một học sinh lớp 4. Dĩ nhiên ở độ tuổi lớp 4, lá thư chưa có những lời lẽ “người lớn” như: “chúng mình sẽ làm “kiểu đứng” như trong phim”, tuy nhiên vẫn khiến người đọc sốc vì những lời lẽ yêu đương… dữ dội và nồng nhiệt. Bạn nghĩ sao khi đọc được một lá thư của một em học sinh lớp 4 viết cho bạn của mình: “Mặc dù 2 chúng ta chưa quen nhau nhưng từ cái nhìn đầu tiên anh dã biết trái tim mình dã dành chọn trong trái tim. Nụ cười rạng rỡ của em chưa nói cho anh biết tên em là gì? Mái tóc óng mượt với khuôn mặt tươi tắn của em đã nói cho anh biết em là của anh. Hằng đém anh thức trắng nhớ em. Một câu tha trao về em sẽ không tuyết tàn (???). Anh biết khi em nhận được bức thư này em sẽ bỡ ngỡ làm sao. Em ơi em biết hay chăng tình anh trao em sẽ không phai mờ. Người yêu”. Thật đáng lo ngại bởi vì những em học sinh lớp 4, lớp 6 lại có những suy nghĩ như trên Có lẽ do được hưởng thụ cuộc sống vật chất tương dối đầy đú, tâm sinh lý phát triển, tất yếu học trò có xu hướng biết yêu sớm. Tình trạng phim ảnh thiếu lành mạnh, bố mẹ, thầy cô giáo không quan tâm đúng mức, giáo dục giới tính hạn chế, cũng làm gia tăng tình trạng “lạm phát yêu” trong học trò.Xem thêm: "Ý tại ngôn ngoại” là một trong những đặc trưng tiêu biểu của thơ Đường. Anh (chị) hãy chứng minh đặc trưng đó qua các bài thơ Đường đã học trong chương trình Chồng – vợ là những câu xưng dường như lại đang trở thành mốt của. không ít cô cậu tuổi teen ngày nay. Bạn có thể nghe thấy hoặc bắt gặp một cô nàng tóc vàng hoe, mặt búng ra sữa đi đường gọi một anh chàng đang vừa đi vừa đọc truyện tranh một câu rất ngọt tai như thế này: “Chồng ơi! Chờ em với!”. Thoạt nghe thì có vẻ đây là những câu bông đùa của các bạn trẻ, nhưng đã bao giờ chúng ta thử một lần tìm hiểu đằng sau những cách xưng hô đặc biệt ấy là cả những chuỗi dài chuyện tình yêu của tuổi teen!!! Nhưng tại sao? Chúng ta không nên chỉ lên án những hành vi thiếu lành mạnh đó của các em mà đồng thời ta phải tìm hiểu được nguyên nhân sâu xa, gốc gác của những hành vi ấy. Vậy ai, cái gì là nguyên nhân gây ra và tiếp tay cho những suy nghĩ và hành động như vậy ở lứa tuổi các em? Câu trả lời xin dành lại cho tất cả những ai là người lớn trong xã hội chúng ta. Đã đến lúc người lớn cần quan tâm nghiêm túc đến chuyện tình yêu của con em. Gia đình và nhà trường nên có quan niệm cởi mở hơn với vấn đề tình yêu học trò, coi đó là một mặt trong việc giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh. Thông thường, cha mẹ thường tức giận mắng nhiếc, đe nẹt, dọa dẫm khi biết con có người yêu. Những phản ứng tưởng như hợp lý đó, đôi khi đẩy các em vào thế chông đốì, có những phản ứng thách thức, tiêu cực. "Các thầy cô giáo cần có thái độ tế nhị, chia sẻ kiến thức để các em hiểu biết về tình yêu. Còn cha mẹ cần phải biết lắng nghe lòng con trẻ, từ đó có những định hướng, giúp các em biết yêu trong sáng, có trách nhiệm với bản thân". Vanmau.edu.vn
Anh (chị) nghĩ gì về tình yêu trong độ tuổi học sinh
2,446
Anh (chị) nghĩ như thế nào khi nhà triết học Hi Lạp Dê-nông (346 – 264 trước Công nguyên) nói với một người bẻm mép: “Chúng ta có hai tai và một mồm để nghe nhiều hơn và nói ít hơn” Gợi ý Ai cũng có mồm để ăn nói, có tai để nghe. Nói như thế nào, nghe như thế nào, là cả một nghệ thuật sống trong giao tiếp hằng ngày, trong ứng xử giữa người với người trong cộng đồng. Câu nói của nhà triết học Hi Lạp Dê-nông (346-264 trước Công nguyên) với một người bẻm mép là một lời khuyên sâu sắc để chúng ta ghi lòng và suy nghĩ: “Chúng ta có hai tai và một mồm để nghe nhiều hơn và nói ít hơn”. Câu nói trên đây của Dê-nông hướng tới kẻ bẻm mép. Kẻ bẻm mép còn gọi là kẻ trém mép, những kẻ nói hay mà ít làm, không chịu làm. Hai chữ ‘‘chúng ta” trong câu nói của Dê-nông như một lời tâm sự, một điều chiêm nghiệm nên không làm mất lòng đôì với người đang đối thoại, dù đó là kẻ bẻm mép. Dê-nông đã từ một hiện thực cụ thể hiển nhiên là “chúng ta có hai tai và một mồm” để rút ra một bài học, một chân lí, một lời khuyên giản dị mà sâu sắc: Ai cũng nên nghe nhiều hơn và nói ít hơn. Tại sao trong giao tiếp cần nghe nhiều hơn và nói ít hơn? Kẻ bẻm mép thường ăn nói ba hoa, khoe mẽ; nói đủ chuyện trên trời dưới đất. Ăn nói khoe khoang là bản tính của kẻ bẻm mép. Lúc giao tiếp, lúc đối thoại với bất cứ ai, kẻ bẻm mép bao giờ cũng vậy, ăn nói huyên thuyên, hết đưa xa cái lí lẽ này, lời bình phẩm nọ, tung ra mọi tin tức thông báo, rồi nhận xét, đánh giá. Anh ta cũng có hai tai đấy, nhưng không biết lắng nghe mà chỉ huyên thuyên khoe biết, khoe tài, khoe giỏi. Anh ta có biết đâu, nhưng người đang nghe anh ta nói khó chịu và coi thường anh ta.Xem thêm: Miêu tả loài cây em yêu - Cây bàng Trong giao tiếp cần nghe nhiều hơn, nói ít hơn. Nói là để biểu đạt tình cảm, tư tưởng, nhận thức, sự hiểu biết của mình. Phải biết làm chủ bản thân mình nên phải nói ít. Biết mười nói một, làm nhiều nói ít là người khôn. Tục ngữ có câu: – Người khôn nói ít làm nhiều, Không như người dại lắm điều rởm tai. – Khôn ngoan chẳng lọ nói nhiều, Người khôn mới nói nửa điều cũng khôn. Nói ít nghe nhiều lúc giao tiếp là thể hiện sự khiêm nhường, lịch sự, đức tính chín chắn. Ngay cả lúc tranh luận, bàn cãi bất cứ về chuyện gì, ta cũng phải làm chủ thái độ, làm chủ ngôn ngữ, đừng cướp lời, đừng đỏ mặt tía tai, đừng vừa nói, vừa vung tay! Nói ít nghe nhiều thì mới học được điều hay, điều tốt đẹp. ông bà, cha mẹ thường dạy bảo con cháu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Học ăn, nói, gói, mở… để ứng xử, để giao tiếp, để tu dưỡng nhân cách, đạo đức, trình độ học vấn của mỗi người. Trong giao tiếp, bất cứ ai cũng vậy, nên nói ít nghe nhiều, phải suy nghĩ chín chan rồi mới nói. Nghe nhiều, nói ít mới đúng là người có nhân cách văn hóa. Đó đây trong nhà trường, ở đường phố, trên báo chí… ta thường bắt gặp những kẻ đa sự, nói nhiều. Có kẻ nói nhiều đã trở thành bệnh lí, cố tật. Kẻ bẻm mép có biết đâu bị thiên hạ cười chê. Nói dài, nói dai, nói dại: Đất xấu trồng cây khẳng khiu/ Những người thô tục nói điều phàm phu — những lời châm biếm ấy của dân gian hình như những kẻ bẻm mép chưa bao giờ được nghe, chưa bao giờ được nghĩ tới.Xem thêm: Dựa vào nội dung đoạn thơ viết về bà trong bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của Xuân Quỳnh, em hãy viết một câu chuyện về bà Trong xã hội mới, trong nền kinh tế tri thức, bài học nghe nhiều, nói ít vẫn rất thiết thực và bổ ích đôi với thế hệ trẻ chúng ta. Học cho rộng, suy cho kĩ, nghĩ cho sâu mới là con người mới. Nói và làm phải đi đôi với nhau, cổ nhân đã từng lưu ý: “Ngôn quá kì hành, bất khả trọng dụng”, nghĩa là nói nhiều hơn làm, không dùng việc lớn được. Ngày nay, việc lớn là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì không thể dùng được những kẻ bẻm mép nói nhiều hơn làm. Sau hơn hai nghìn năm, câu nói trên đây của nhà triết học Hi Lạp Dê-nông vẫn còn nguyên giá trị. Nghe nhiều hơn và nói ít hơn là một lời khuyên đẹp, một bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc, thâm thía. Nói ít, nghe nhiều, làm giỏi là thước đo giá trị và nhân phẩm. Nhắc lại câu nói của Dê-nông, làm theo câu nói của Dê-nông là để sống đẹp. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) nghĩ như thế nào khi nhà triết học Hi Lạp Dê-nông (346 – 264 trước Công nguyên) nói với một người bẻm mép_ “Chúng ta có hai tai và một mồm để nghe nhiều hơn và nói ít hơn”
888
Anh (chị) suy nghĩ gì khi nhìn những cánh đồng lúa xanh đang ngày càng nhường chỗ cho những toà nhà chọc trời? Hướng dẫn Tham khảo một số ý sau: – Cánh đồng lúa xanh là hình ảnh một làng quê Việt Nam bình yên và đã trở thành nét đẹp truyền thống trong tâm thức của bao người. Những toà nhà chọc trời là biểu hiện của một xã hội công nghiệp hiện đại với hước phát triển mới của đất nước. – Những toà nhà chọc trời xuất hiện ở làng quê Việt Nam đã đem đến cho nông thôn một vẻ đẹp mới sang trọng hơn, một không khí mới nhộn nhịp và hiện đại hơn. Đó là bước phát triển tất yếu của xã hội Việt Nam trong thời kì đổi mới và hội nhập. – Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, những thành tựu mới cho nông thôn Việt Nam, sự xuất hiện những toà nhà chọc trời cũng báo hiệu một số nguy cơ: không gian bình yên của làng quê, những nét đẹp truyền thống bao đời sau luỹ tre xanh, những cánh đồng lúa xanh cò bay thẳng cánh đang mất dần đi, nhiều tập tục tốt đẹp của làng quê có thể bị mai một, một số tệ nạn không mong muốn của cuộc sống thị thành đang len lỏi về chốn làng quê,… – Cần làm gì để làng quê Việt Nam vừa phát triển theo xu thế hội nhập, vừa giữ được bản sắc riêng? Đó không chỉ là trách nhiệm, là hành động mà hơn hết là tấm lòng của mỗi con người với quê hương, đất nước. Nguồn: thêm: Thuyết minh giới thiệu về cây cà phê
Anh (chị) suy nghĩ gì khi nhìn những cánh đồng lúa xanh đang ngày càng nhường chỗ cho những toà nhà chọc trời_
285
Anh (chị) suy nghĩ gì về câu tục ngữ ‘Một nghề cho chín còn hơn chín nghề’! Hướng dẫn Có thể triển khai một số ý sau đây: – Giải thích: + Một nghề cho chín: "chín" là sự thành thạo, tinh thôngtrong nghề nghiệp của mỗi người. + Chín nghề, làm nhiều việc, nhiều nghề khác nhau. – Phân tích, chứng minh: + Câu tục ngữ khuyên chúng ta khi đã chọn nghề nghiệp thì tập trung vào một công việc và làm công việc đó một cách chãm chỉ, tận tâm, đạt đến độ tinh thông trong công việc và yên tâm, bằng lòng với nghề nghiệp của mình, không nên "đứng núi này trông núi nọ", không yên tâm, hay thay đổi công việc, nghề nghiệp mà thiếu sự chuyên tâm vào một nghề cụ thể. + Thực tế cho thấy nghề nghiệp nào trong cuộc sống cũng đều đáng quý, nếu như chúng ta làm nghề nghiệp đó bằng tất cả tình yêu, sự hiểu biết và kĩ năng nghề nghiệp. Nếu chọn nhiều nghề, chúng ta sẽ không có đủ sự kiên tâm, sức lực và kĩ năng để thực hiên tốt. "Một nghề" có chất lượng còn hơn số lượng "chín nghề". – Bàn luận, liên hệ: + Câu tục ngữ nêu ra bài học về sự lựa chọn và thực hiện công việc/nghề nghiệp của mỗi người, giúp chúng ta biết định hướng cho bản thân trong việc chọn nghề nghiệp phù hợp nhất để làm nghề "cho chín". + Liên hệ thực tế để rút ra bài học cho bản thân. Nguồn: thêm: Anh (chị) hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói của Các Mác: “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”
Anh (chị) suy nghĩ gì về câu tục ngữ ‘Một nghề cho chín còn hơn chín nghề’!
284
Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng nhiều học sinh coi thường các môn học khoa học xã hội và nhân văn Gợi ý Những năm gần đây, có một thực trạng đáng báo động đó là tình trạng học sinh coi thường các môn học Khoa học xã hội và nhân văn. Ớ xu thế xã hội nào, các môn học này vẫn có vai trò vô cùng quan trọng đến nhân cách và văn hóa ứng xử. Do đó, học sinh coi thường các môn xã hội đã gây ra những tác hại nghiêm trọng và ảnh hưởng không nhỏ của mỗi học sinh. Vậy nguyên nhân dẫn đến những thái độ đó của học sinh là gì? Trước tiên có thể thấy, các môn khoa học xã hội và nhân văn đã không tạo được niềm hứng thú đối với các môn khoa học tự nhiên. Thường ngày trong chương trình học không chỉ có các môn tự nhiên, các môn xã hội mà còn có rất nhiều môn học khác như sinh học, thể dục. Vì vậy các em không những học bài mà còn phải chuẩn bị rất nhiều bài tập trước khi đến lớp. Thêm vào đó, các môn khoa học xã hội như văn học, lịch sử, địa lí… kiến thức vô cùng rộng với những sự kiến thức dài dễ tạo ra học sinh cảm giác chán ngán, mệt mỏi. Không như các môn khoa học xã hội và nhân văn, các môn tự nhiên tạo được cho học sinh nhiều hứng thú hơn với những con số, công thức ngắn gọn, dễ nhớ, dễ học thuộc, từ đó các môn này tạo cho học sinh được cảm giác kích thích, đào sâu suy nghĩ và tìm tòi hướng giải quyết.Xem thêm: Phân tích một đoạn Thơ mà anh (chi) cho là “đậm đà màu sắc dân tộc” trong bài Việt Bắc của Tố Hữu Thứ đến phải kể là cách giảng dạy của giáo viên. Cách học “cô đọc trò chép” đã làm cho học sinh trở nên thụ động, lười suy nghĩ. Chính vì vậy, những giờ học môn khoa học xã hội và nhân văn đã không được học sinh yêu thích và coi trọng. Khi nhìn nhận một vấn đề ta không chỉ nhìn từ một phía, có thể thấy do bản chất của các môn học xã hội, do cách truyền đạt của giáo viên mà học sinh coi thường các môn học xã hội nhưng đã bao giờ ta thử lật ngược lại vấn đề? Nếu như các bạn học sinh yêu thích các môn học xã hội thì liệu có dẫn đến tình trạng chán nản đó hay không? Gorki đã từng nói: “Văn học là nhân học” tức là Văn học không chi cung cấp những kiến thức về môn học đó nói chung mà các môn học xã hội còn hướng con người sống “chân, thiện, mĩ, giúp con người yêu thương con người hơn. Hậu quả của việc coi thường các môn khoa học xã hội và nhân văn để lại là vô cùng nghiêm trọng, tác hại của sự thiên lệch trong tư duy đã làm cho một sô học sinh rơi vào những cảnh tiếc nuối. Và chỉ khi ở trong những cảnh tiếc nuối đó, học sinh học lệch mới thây học đều các môn tốt biết bao. Nhìn chung, vấn đề học sinh coi thường các môn học khoa học xã hội và nhân văn đang được rất nhiều nhà trường quan tám. Vì vậy, ta nên có thái độ tích cực và bình đẳng đối với tất cả môn khoa học xã hội và nhân văn và các môn học tự nhiên. Như vậy, ta vừa có thêm kiến thức, vừa không gặp những rủi ro mà việc học đem lại.Xem thêm: Viết bài văn nêu cảm nghĩ của em nhân sự kiện Thăng Long - Hà Nội sắp tròn 1000 năm tuổiVanmau.edu.vn
Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng nhiều học sinh coi thường các môn học khoa học xã hội và nhân văn
659
Anh (chị) suy nghĩ gì về tầm quan trọng của sức khỏe đối với mỗi người Gợi ý Sức khỏe là một trạng thái về thể chất của một con người khỏe mạnh, không bị đau yếu. Khi có nó, ta không cảm thấy nó là quý giá nhưng khi ta mất nó, tức là khi ta bị bệnh tật dày vò, ta không còn lành mạnh như trước, ta mới nhận thấy một cách thấm thía và đủ đầy rằng sức khỏe còn hơn tiền bạc, danh vọng mà không có thể lực vật chất, tinh thần nào bằng nó được và chỉ khi đó, ta mới hối tiếc rằng tại sao mình lại có thể đánh mất hoặc bằng lí do này, lí do khác một của cải to lớn nhất trên đời. Hãy trông chàng trai trẻ kia bên hàng xóm, thân hình vạm vỡ, thể xác căng tràn nhựa sông, chân tay tưởng chừng như của một lực sĩ sắp ra đấu trường; quả thực là một pho tượng sống. Nhưng sau một thời gian ngắn, mải vui chơi với bạn bè, thức trắng những đêm dài để đắm say theo chén rượu, cuộc bài, chàng trai trở thành một cái xác không hồn, thân hình tiều tụy, mắt hôc hác, chân tay biến đi các bắp thịt tròn mà chỉ còn một lớp da bọc một mớ thịt tong teo. Chàng ta nằm lừ đừ suốt ngày để mà nghiền ngẫm về của cải quý giá của mình vừa đánh mất: sức khỏe. Chàng ta hối tiếc thời kì đẹp đẽ nào mà mình còn là một bức tượng đồng với niềm vui sống lành mạnh vô biên! Và khi ngồi ủ rũ với tâm thần mệt mỏi, với thể xác yếu đuối của mình, chính lúc đó chàng ta mới cảm thấy mình đã quá dại khờ.Xem thêm: Viết đoạn văn bình luận theo chủ đề: Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh có ảnh hưởng rất lớn dến sự phát triển của đời sống xã hội Những điều nói trên tỏ rõ sự quan trọng lớn lao của sức khỏe trong cuộc đời của chúng ta. Khi chúng ta mạnh khỏe, cuộc đời thực vô cùng tươi vui và mọi công cuộc dù to lớn đến đâu ta cũng sẽ dễ dàng thực hiện. Khi đau yếu, cuộc sống sẽ đen tối và buồn nản, một công việc dù nhẹ nhàng đến đâu đôĩ với ta cũng trở nên khó khăn, đầy mệt nhọc. Có điều mỉa mai hơn nữa, là khi mình còn có sức khỏe, mình không cảm thấy nó quý giá và khi đánh mất nó, mới tiếc nhớ nhưng đã muộn màng rồi! Lời nói trên không chút nào văn hoa, bóng bẩy mà chứa đầy một sự thật hiển nhiên. Đối với mọi người sống trong xã hội hiện tại, thì giờ là vàng bạc, tốc độ là quyết định, sức mạnh vật chất giúp chúng ta có một cuộc sống sung túc hơn và giúp ta vượt qua những sương gió, nắng mưa, đầy bất trắc của cuộc đời, những tai ương có thể xảy đến bất thình lình cho bất cứ một ai. Sự nghèo khổ do thiên tai, hạn hán, lụt lội là những bất ngờ trong đời sống. Có sức khỏe ta sẽ đối phó đầy hiệu quả với những khó khăn đó. Ta hãy xem một người luôn luôn vui vẻ, lịch thiệp, ưa kết giao với mọi người dễ gây cảm tình với tất cả chỉ vì họ tràn đầy sức khỏe và tự tin.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người lính được Quang Dũng khắc họa trong bài thơ Tây Tiến. Về phương diện tinh thần và đạo đức, người có sức khỏe có thể có nhiều thuận lợi quyết định sự thành công của mọi việc. Trí thông minh của họ dễ dàng phát triển, trí óc sáng suốt thêm, sự suy luận mau lẹ và đúng đắn. Ngạn ngữ phương Tây có câu: “Khi thân hình ta yếu đuối, thì nó điều khiển ta nhưng khi ta khỏe mạnh, nó sẵn sàng vâng lời ta”. Tâm hồn của một con người tráng kiện trở nên cao thượng vì ta sẵn sàng tiêu diệt những tư tưởng đen tôi, những ác ý. Lòng yêu thương đồng loại, khả năng lương thiện sẽ phát triển đủ đầy. Bao nhiêu đức tính, tưởng chừng không có gì tương quan với sức lực thể chất của ta nhưng phân tích kĩ, chúng ta thấy kết quả tất nhiên của một sức mạnh tốt đẹp. Chẳng thế mà người ta đã nói: “Một tâm hồn lành mạnh trong một thể chất tráng kiện” đó sao. Sức khỏe làm phát sinh ở ta chí khí hào hùng, sự tự tin, sự can trường, lòng dũng khí, hăng say làm việc và chiến đấu. Đúng vậy, lúc ta còn có sức khỏe tràn đầy, ta không thấy rõ tác dụng của nó và ta dễ dàng phung phí, như tiền bạc cầm trên tay. Thức trọn đêm, vui chơi với bạn bè, mải mê ăn nhậu chơi bời từ ngày này sang ngày khác có biết đâu rằng sau cuộc vui chơi vô bổ ấy, là một sự trông rỗng của tâm hồn. Thể xác giày vò, thân hình tiều tụy, đầu óc lừ đừ, tối tăm. Ta vẫn nghe nhiều người than thở: “Nay tôi đau yếu tôi mới biết rằng trước kia, khi mình có đủ sức khỏe là một niềm hạnh phúc vô biên!”. Và rồi họ thèm: “Thực không làm sao tìm lại được sự mạnh mẽ vui sống thuở trước!”.Xem thêm: Tả một người lao động đang làm việc. Rõ ràng sức khỏe là của cải quý nhất trên đời đôi với mỗi người. Do vậy, chúng ta cần coi trọng và giữ gìn nó. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) suy nghĩ gì về tầm quan trọng của sức khỏe đối với mỗi người
981
Anh (chị) suy nghĩ gì về việc “chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”? Gợi ý Đề bài: Từ ý kiến dưới đây, anh (chị) suy nghĩ gì về việc “chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”? “Cái mạnh của con người Việt Nam là sự thông minh và nhạy bén với cái mới. Nhưng bên cạnh cái mạnh đó vẫn tồn tại không ít cái yếu. Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học “thời thượng”, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề”. (Theo Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới) Bài làm Bước sang thế kỷ mới, đất nước đứng trước biết bao khó khăn, thử thách. Để có thể vượt qua tất cả, vươn lên sánh ngang cùng thế giới mỗi chúng ta cần phải chuẩn bị cho mình hành trang thật chu đáo mà một trong những điều quan trọng cần thiết trong đó là tự nhận thức một cách đúng đắn về chính bản thân mình, nói như Vũ Khoan trong “Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới”: “Cái mạnh của con người Việt Nam là sự thông minh và nhạy bén với cái mới. Nhưng bên cạnh cái mạnh đó vẫn tồn tại không ít cái yếu. Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học “thời thượng”, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề”. Nếu như mỗi bước ngoặt trong cuộc đời là một chuyến đi xa thì cuộc đời con người sẽ là hành trình dài của những chuyến đi. Lên đường là để đến nơi, để chinh phục và để lại tiếp tục những cuộc hành trình mới, từ đó con người trưởng thành hơn lên. Nhưng để mỗi cuộc hành trình đó đều đến đích, cũng giống như một cuộc lên đường, mỗi người phải chuẩn bị hành trang cho mình. Hành trang để ta có thêm niềm tin, vững vàng tiến bước, hành trang để ta có thêm sức mạnh băng qua mọi khó khăn, thử thách. Nếu không tự trang bị cho mình, thì sẽ phải đứng trước nguy cơ tụt hậu. Xã hội đang ngày càng phát triển. Cùng với đó là nhu cầu toàn cầu hóa, nhu cầu hội nhập. Nước ta đứng trước rất nhiều những cơ hội nhưng thử thách cũng vô cùng gian nan. Vốn có một xuất phát điểm thấp, để bắt kịp với trình độ phát triển của thời giới đòi hỏi phải có sự cố gắng rất nhiều của mỗi cá nhân cũng như của toàn xã hội. Mỗi chúng ta, đặc biệt là những người trẻ tuổi, chúng ta cần phải biết được những điểm yếu và thế mạnh của mình để từ đó có hướng khắc phục và phát huy. Vũ Khoan đã hoàn toàn có lý khi chỉ ra rằng điểm mạnh của người Việt Nam là sự thông minh và nhạy bén với cái mới. Thực tế sự phát triển của lịch sử dân tộc ta đặc biệt trong những năm gần đây đã là minh chứng cho nhận định đó. Càng ngày càng có nhiều những học sinh, sinh viên Việt Nam đứng lên khẳng định được mình trong những môi trường đòi hỏi khắc nghiệt của quốc tế. Các cuộc thi ôlimpic quốc tế đạt giải cao, những công trình nghiên cứu, những tài năng được thế giới đề cao và thừa nhận… Đó chính là những biểu hiện cho một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng giàu truyền thống hiếu học, thông minh, chăm chỉ. Không chỉ có thế, người Việt Nam còn là những con người có khả năng nắm bắt kỹ thuật công nghệ mới cao, có khả năng nhạy bén với cái mới. Các thiết bị kỹ thuật nước ngoài được chuyển giao cho Việt Nam được nhanh chóng đưa vào vận hành thành thạo, sử dụng có hiệu quả. Thậm chí chúng ta còn luôn có những sáng kiến cải tiến cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước: điều kiện địa hình, thời tiết, nhân lực…, phát huy một cách tối đa hiệu quả và năng suất. Trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với những chủ trương phù hợp của Đảng, nước ta luôn định hướng “đi tắt, đón đầu”, tiếp cận thông tin và công nghệ một cách nhanh nhất, rút ngắn thời gian, rút ngắn chặng đường đi đến bắt kịp với trình độ phát triển của thế giới. Với những thế mạnh ấy, đất nước ta đang tiến dần hơn đến với trình độ phát triển của thế giới.Xem thêm: Về tác phẩm Những trò lố, hay là Va-ren và Phan Bội Châu Nhận thức được những điểm mạnh này của bản thân, khi chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới, mỗi chúng ta cần phải không ngừng củng cố, phát triển nó hơn lên, trở thành động lực chính. Việc chuẩn bị hành trang cho tương lai tất nhiên không thể chỉ dừng lại ở đó. Triết học Mác – Lênin đã chỉ ra: Một sự vật, hiện tượng tồn tại luôn là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Bên cạnh những mặt tích cực, vẫn luôn tồn tại những mặt tiêu cực, vừa như rào cản lại vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Để chuẩn bị hành trang cho tương lai, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ được điều đó, bên cạnh những mặt mạnh, cần thấy được những điểm còn yếu kém để có định hướng phát triển. Những điểm yếu được Vũ Khoan chỉ ra ở đây chính là: “những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học “thời thượng”, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề”. Trong thời cơ cũng vẫn luôn tiềm ẩn những thách thức. Việc nhanh chóng tiếp cận với tiến bộ thế giới, việc “đi tắt, đón đầu” cũng kéo theo nhiều vấn đề, nếu như không có hướng khắc phục sẽ cản trở quá trình phát triển. Việc chạy theo các môn “thời thượng” khiến bị hổng một lượng lớn các kiến thức cơ bản, nếu không kịp thời bổ sung sẽ dẫn tới tình trạng có ngọn mà không có gốc, không đảm bảo cho quá trình phát triển bền vững. Đó là quan điểm lệch lạc về việc chỉ cần học tốt và chuyên sâu một số môn cần thiết dẫn đến tình trạng học lệch ở một bộ phận lớn học sinh hiện nay. Một con người chỉ có thể thực sự tự tin khi được trang bị một cách đầy đủ kiến thức cơ bẳn về mọi mặt. Bên cạnh đó còn là những hạn chế về khả năng thực hành và sáng tạo. Khi đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khi chạy theo những môn học đang thịnh hành trên thế giới chúng ta vướng phải không ít những trở ngại: trình độ phát triển chưa cao nên chưa thể đáp ứng được đầy đủ yêu cầu mới, thời đại mới dẫn đến tình trạng học chay, học vẹt. Đấy là chưa kể đến ảnh hưởng của hình thức giáo dục mang tính truyền thống: thuyết giảng là chính, năng lực hướng dẫn thực hành và sáng tạo của giáo viên còn yếu, thói quen học vẹt, ỷ lại, chưa chủ động của học sinh… Điều này khiến cho việc giáo dục, đào tạo trở nên kém hiệu quả.Xem thêm: Phân tích bài thơ Nói Với Con của Y Phương hay nhất Trên đây, để bàn về việc chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ mới, Vũ Khoan chỉ tập trung bàn về việc chuẩn bị về mặt tri thức, kĩ năng kĩ xảo trong công việc. Tất nhiên, để có thể tự tin bước vào tương lai, chỉ thế thôi chưa đủ nhưng cũng phải khẳng định rằng đó là điều quan trọng, tiên quyết trong quá trình đó. Thế giới đang, ngày càng phát, triển hướng tới trình độ cao, hướng tới nền kinh tế tri thức, không ngừng củng cố và nâng cao trình độ chuyên môn, hiếu biết của mình sẽ là điều vô cùng cần thiết cho quá trình hội nhập. Hội nhập là con đường tất yếu nên vấn đề chuẩn bị hành trang là yếu tố sống còn, quyết định vận mệnh một quốc gia, dân tộc theo hướng phát triển hay tụt hậu. Mỗi con người trong đất nước đó cần luôn là một cá nhân chủ động, tích cực, sáng tạo, trong một tập thể tích cực và sáng tạo. Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với những người trẻ tuổi. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Tuổi trẻ từ trước đến nay vẫn là thế hệ được cả xã hội đặt niềm tin: thế hệ tương lai của đất nước. Mang trong mình trọng trách vinh quang nhưng cũng hết sức nặng nề mỗi chúng ta cần phải không ngừng nỗ lực cố gắng học hỏi để nâng cao tri thức, hướng tới việc hội nhập với nền kinh tế và tri thức thế giới, cần tiếp tục bồi đắp và phát huy những đức tính truyền thông quí báu của dân tộc đồng thời khắc phục những mặt thiếu sót, hạn chế cần tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, chống tiêu cực trong giáo dục, xã hội hóa vấn đề giáo dục, đưa nước ta trở thành một nước mạnh về mọi mặt, sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới.Xem thêm: Lí tưởng là nguồn sáng và sức mạnh trong đời Ngày nay, chúng ta đang đứng ở những năm đầu tiên của thế kỷ mới nhưng những nhận định của Vũ Khoan vẫn giữ nguyên giá trị. Chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ mới, nói rộng hơn cũng chính là chuẩn bị hành trang cho tương lai. Đó sẽ luôn là một điều cần thiết và có ý nghĩa. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) suy nghĩ gì về việc “chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”_
1,742
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu cách ngôn: “Thất bại là mẹ thành công” Gợi ý Không phải ngẫu nhiên mà một nhà tư tưởng đã nói: “Nếu bạn dám chấp nhận thất bại như một cơ hội trưởng thành cho mình thì bạn hãy tin là mình đang bước đi trên con đường đến với thành công”. Thất bại là một phần tất yếu trong cuộc sống mà không ai tránh khỏi, vấn đề quan trọng ở đây không phải là chúng ta có thất bại hay không mà là chúng ta đã thất bại như thế nào. Sự khác biệt giữa người thành công và người không thành công được xác định không phải bởi số lần họ thất bại mà là họ đã làm gì sau những lần thất bại đó. Và với điều này, khi đó, thất bại đã thực sự trở thành “mẹ thành công”. Thất bại và thành công là hai trạng thái đối lập nhau. Cùng thực hiện điều gì đó, nếu như đạt được tới và vượt đích đặt ra, bạn đã thành công, còn ngược lại, bạn là một người thất bại. Không ai có thể khẳng định được rằng trong cuộc đời sẽ không bao giờ thất bại. Từ trong thất bại, mỗi người sẽ có những cách ứng xử khác nhau. Lấy đó làm bài học để rút ra cho mình những kinh nghiệm để rồi từ đó không bao giờ đi vào vết xe đổ thêm một lần nữa, khi đó, thất bại lại trở nên có ích, thất bại khiến cho con người ta trưởng thành hơn lên, “thất bại là mẹ thành công”. Nhà triết học Friedrich Nietzsche đã nói: “Nếu cái gì đó đã không giết chết được ta, thì nó sẽ làm cho ta mạnh mẽ hơn lên”. Thất bại là không thể tránh khỏi, nhưng cũng chính vì thế mà khi biết điều chỉnh, thành công sẽ đến như một tất yếu:Xem thêm: Bài văn tả buổi chào cờ ở trường em lớp 5“Nếu không thất bại Sao có thành công Xưa nay anh hùng Tinh thua mới được”. (Phan Bội Châu) Sự khác biệt giữa một người thành công và một người thất bại trong cuộc đời không chỉ nằm ở khả năng hay sự sáng tạo của người đó trong cuộc sống mà còn tùy thuộc phần lớn vào sự can đảm, dũng cảm thực hiện ước mơ của mình, tính toán những rủi ro, đối mặt với nó và kiên trì hành động. Khi ta biết tìm ra nguyên nhân của thất bại, ta sẽ biết tìm ra cách khắc phục nó để đi lên thì không có lí do gì để không vươn tới được thành công. Kinh nghiệm đứng lên từ thất bại sẽ là những tiền đề đắt giá để vượt qua những khó khăn khác và vươn tới thành công. Ngược lại, những người không bao giờ biết tự đứng lên sau thất bại thì thành công sẽ chẳng bao giờ có được. Vậy có cách gì để giúp chúng ta có đủ sức mạnh vươn lên sau thất bại? Khi gặp thất bại, bạn nên hỏi: Ta thất bại thế nào? để từ đó tìm ra vì đâu mà ta thất bại và từ đó tìm ra cách khắc phục. Thất bại là người thầy vĩ đại của cuộc sống vì vậy nếu muốn đi tới thành công, bạn hãy nhanh chóng rút ra những bài học từ sự thất bại. Từ trong thất bại, ta biết cách nhìn nhận lại bản thân nghiêm khắc hơn; từ trong thất bại, ta biết cách nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc hơn, biết cách tìm ra căn nguyên của vấn đề để giải quyết nó một cách thấu đáo. Cũng từ trong thất bại, ta học được cách khiêm tốn, để tự lượng được sức lực và khả năng của mình. Thất bại dạy ta biết phát huy sức mạnh của bản thân, sức mạnh của cá tính để đi đến những kết quả như mong muốn. Thất bại dạy chúng ta về lòng kiên trì. Kiên trì để vững vàng trước những khó khăn trước mắt, để quyết tâm và nỗ lực không ngừng trong suốt cuộc hành trình chinh phục những đỉnh cao. Thất bại dạy chúng ta có thể vượt qua thất bại, không gục ngã, không bỏ cuộc. Không hề xấu hổ khi thất bại, chỉ xấu hổ khi sợ phải gượng dậy và tiếp tục cố gắng. Nhưng có lẽ bài học quý giá nhất đó là thất bại dạy chúng ta mạnh mẽ hơn. Sức mạnh thật sự xuất phát từ nhận thức rằng: Chúng ta sẽ vững vàng càng trưởng thành hơn lên sau mỗi lần thất bại. Bạn mạnh mẽ hơn để đối diện với những khó khăn, dũng cảm hơn để dám thừa nhận thất bại, và quan trọng hơn nữa, với sức mạnh đó, từ trong thất bại (có thể kéo theo đó là thất vọng và đau khổ) bạn sẽ vẫn là chính mình, vẫn sẽ biết nhìn ra những hướng đi mới để thay đổi tất cả, và tất nhiên, sẽ không bao giờ đi vào vết xe đổ trước đó. Những người không chịu học hỏi sẽ rất hay mắc phải sai lầm, chỉ những người có tinh thần cầu tiến, có nghị lực mới có thể đi đến thành công từ sau những thất bại. Khổng Tử đã nói: “Vinh quang vĩ đại nhất của chúng ta không phải là chẳng bao giờ thất bại mà ở chúng ta dám đứng dậy sau mỗi thất bại”. Còn H.Stanley Judd thì khẳng định: “Đừng sợ thất bại. Hãy rút ra kinh nghiệm từ thất bại và tiếp tục đương đầu với thách thức mới. Nếu không thất bại, bạn sẽ không thể trưởng thành. Vậy những bí quyết để thành công từ sự thất bại là gì?Xem thêm: Em hãy tưởng tưởng và tả lại chân dung của Lượm (Lượm - Tố Hữu) Bạn hãy biết thừa nhận thất bại như một phần của cuộc sống. Như thế cũng có nghĩa là người ta có quyền tự do đi đến thành công và cũng có quyền được thất bại khi đó là điều không thể tránh khỏi, cần phải phân biệt hai loại thất bại: Thất bại một cách xứng đáng khi bạn đã cố gắng hết sức mình để đạt được một điều gì đó mới mẻ hoặc khác thường nhưng nó đã không mang lại kết quả như bạn mong muốn và sự thất bại do thiếu khả năng khi mà bạn không cố gắng hoặc năng lực để thực hiện công việc đó. Khi mà bạn đã cố gắng hết mình để đạt được một điều gì đó mới mẻ hoặc khác thường nhưng nó đã mang lại kết quả như bạn mong muốn và khi bạn không cố gắng hoặc để năng lực thực hiện công việc đó. Đừng ở đó và viện cớ để biện minh cho những thất bại của bản thân mình. Cũng đừng ở đó để thở than khổ sở, tự trách móc bản thân mình vì những thất bại đã qua. Hãy thay đổi bản thân mình, chủ động tìm ra câu trả lời và tự tin để bước vào một hành trình mới, một thử thách mới, để thành công. Mỗi ngày trôi qua cuộc sống mang đến cho bạn rất nhiều cơ hội, và chính bạn sẽ là người quyết định bạn là người thành công hay thất bại. Sự lựa chọn phụ thuộc vào bạn, theo cách của chính bạn mà thôi.Xem thêm: Bình luận ý thơ sau đây: “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông"... (Đi thi tự vịnh Nguyễn Công Trứ)Vanmau.edu.vn
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu cách ngôn_ “Thất bại là mẹ thành công”
1,301
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu nói của nhà văn Pháp Mi-sen Ê-ken đơ Mông-te-nhơ (1533 – 1592): “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa” Gợi ý Nếu có một ít tiền, bạn sẽ mua thứ gì, ổ bánh mì thơm phức, bó hoa hồng cũng rất đẹp hay chia số tiền ít ỏi đó làm đôi để mua mỗi thứ một chút? Câu trả lời sẽ cho tôi biết bạn là người có tâm hồn như thế nào? Nhưng dù đói thật bạn hãy cứ chia số tiền đó để mua được, cả hai, bởi lẽ – như nhà văn Pháp Mi-sen Ê-ken đơ Mông-te-nhơ nói: “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa”. Vật chất và tinh thần là hai mặt trọng yếu trong đời sống con người. Cả hai thứ đó đều góp phần mang lại cảm giác hạnh phúc cho con người. Nếu vật chất và tâm hồn viên mãn, con người sẽ thấy cuộc đời ý nghĩa. Nhưng không phải ai cũng may mắn giàu có về vật chất và dạt dào về tình cảm. Mặc dù vậy, không phải không khắc phục được những nghèo nàn đó. Nghèo nàn về vật chất tức là sự khó khăn, thiếu thốn về tiền bạc, tài chính, kinh tế. Nhìn từ điều kiện sống, người nghèo là người không có hoặc không đủ cái ở, cái ăn, cái mặc. Người nghèo ở trong những căn nhà tồi tàn, tạm bợ, ăn uống bữa đói, bữa no, quần áo cũ nát, không lành lặn. Hiện nay, do đời sống xã hội ngày càng được cải thiện, tiêu chí xếp hộ đói nghèo ở Việt Nam cũng thay đổi, nhưng nhìn chung, sự thiếu thốn về mặt kinh tê’ vẫn là điểm cốt yếu ở mỗi hộ nghèo. Nghèo nàn về tâm hồn là sự đơn điệu, tẻ nhạt, khô cằn trong tình cảm, cảm xúc. Mọi sắc thái tình cảm của trạng thái tâm lí này đều nghiêng về phía tiêu cực (ích ki, đố kị, ghen ghét…). Trái ngược với người có tâm hồn giàu có, phong phú, những người này ít biết đến yêu thương, xúc động. Người có tâm hồn nghèo nàn không biết thích thú, say đắm trước cái đẹp nên không tiếc nuôi khi cái đẹp bị chà đạp, tàn phai. Họ dửng dưng, không biết chia sẻ với nỗi đau khổ ở đời. Trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) nếu Thuý Kiều nhạy cảm bao nhiêu trước những biến động của cuộc sống thì em gái nàng – Thuý Vân lại thờ ơ bấy nhiêu với nỗi đau khổ ở đời. Chắng thế mà lúc nghe Vương Quan kể lại câu chuyện cuộc đời Đạm Tiên, trong khi Thuý Kiều không cầm được nước mắt thì nàng Vân lại trách chị “Vân rằng “Chị nói hay sao, Một lời là một vận vào khó nghe”. Rồi lúc gia biên, trong khi Kiều thổn thức, đớn đau thì Vân vẫn say sưa giấc xuân, không mảy may phiền muộn. Người như Thuý Vân nếu không nói là vô tâm thì cũng là người quá nghèo nàn về tâm hồn. Người có tâm hồn nghèo nàn không những không quan tâm đến thế giới xung quanh mà với chính bản thân, học còn thờ ơ, lãnh đạm. Họ không biết sáng tạo những niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống, không biết làm cho cuộc đời tươi vui hơn, phấn khởi hơn. Hình ảnh hai Kiều trong “Toả nhị kiều” (Xuân Diệu) là những con người như thế. Cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt của họ ngày này tiếp diễn ngày khác như một vòng quay bất tận. Họ ở mãi trong cái “ao đời phẳng lặng” mà không hay mình đang “sống mòn”, đang tự huỷ diệt chính bản thân mình.Xem thêm: Tài năng xây dựng nhân vật của Nguyễn Du thể hiện trong đoạn trích Trao duyên (Truyện Kiều - Nguyễn Du) Là con người, ai cũng mong muôn cuộc sống của mình no đủ, giàu có, ai cũng mong có được tinh thần vui vẻ, sảng khoái, trẻ trung. Không ai không muôn vượt thoát hoàn cảnh túng quẫn. Sự nghèo nàn nào cũng đều khiến con người có những nỗi khó, nỗi khổ riêng. Nhưng tại sao Mi-sen Ê-ken đơ Mông-te-nhơ lại cho rằng “nghèo nàn về vật chất dễ chữa” còn “nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa’”? Vật chất là những thứ do chính năng lực lao động của mình làm ra. Có rất nhiều nguyên nhân khiến hoàn cảnh vật chất của con người thiếu thốn. Có thể do khả nàng lao động của chúng ta quá thấp, không tạo ra được nhiều sản phẩm, dẫn đến mức thu nhập không cao, không đủ chi dùng cho sinh hoạt hàng ngày. Cũng có thể do ngành nghề chúng ta lựa chọn cho giá trị kinh tế cao. Thu nhập của người làm nông nghiệp bình thường không thể cao hơn thu nhập của một người làm trong các ngành công nghiệp, dịch vụ. Hoặc như các cụ ta đã nói: “Không ốm không đau làm giàu mấy chốc”, khi ốm đau, bệnh tật lâu ngày, chúng ta khó có thể làm giàu được… Nhưng, thực tế cho thấy, có thể giải quyết những khó khăn trong vấn đề kinh tế. Chìa khoá để tháo gỡ vướng mắc nó rất đa dạng. Chỉ cần con người có sức khoẻ, chăm chỉ làm việc, nhạy bén nắm bắt thời cơ, mạnh dạn tìm cho mình những hướng đi mới, có hiệu quả… thì tình trạng nghèo đói có thể được cải thiện. Có nhiều cách để chúng ta thoát khỏi cảnh nghèo đói. Nhiều người Việt Nam chọn con đường xuất khẩu lao động, sang nước ngoài làm thuê để được trả công cao hơn. Nhiều người lại tự làm giàu trên chính đồng đất, quê hương mình. Không ít nông dân đã mạnh bạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Thay vì trồng lúa, họ chuyên canh những loại hoa màu khác, như hoa hồng, loa kèn, đu đủ, chuối tây, các loại rau có giá trị kinh tế cao như cần tây, tỏi tây… Họ đào ao thả cá, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gà, vịt, ngan, ngỗng, bò sữa, dê, cừu… Hầu hết sự đầu tư của họ đều đem lại kết quả khả quan. Cái nghèo đói không còn là nỗi ám ảnh thường trực trong cuộc sống người nông dân nữa. Cuộc sống của họ được cải thiện rất nhiều mặt. Bằng chứng là họ xây được những ngôi nhà khang trang, con cái họ được học hành tử tế và trên nét mặt họ không còn in nỗi niềm suy tư, trăn trở. Khi thiếu thôn về vật chất, chúng ta có thể vay mượn, đền trả bởi tiền bạc là thứ hiện hữu, cụ thể, có thể đo đếm. Người dư dật có khả năng giúp đỡ người kém may mắn hơn mình. Các tổ chức, cơ quan Nhà nước cũng có nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo. Mô hình kinh tế của những người nông dân chắc chắn cần rất nhiều vốn đầu tư. Họ phải vay mượn anh em, bạn bè, thậm chí thế chấp nhà cửa, đất đai để vay vôn. Trở lực đó cũng chính là động lực để họ tích cực, hăng say làm giàu. Và khi thoát khỏi sự nghèo nàn, họ có thể hoàn trả phần cả vốn và lãi suất trước đó.Xem thêm: Nghị luận xã hội về cách sống Muốn thoát khỏi sự đói nghèo không dễ nhưng cũng không khó nếu chúng ta có sức khoẻ, có ý chí, quyết tâm và biết tính toán. Nghèo nàn về tâm hồn kho chữa hơn. Người Việt có câu: “Cha mẹ sinh con trời sinh tính”. Tính nết, tình cảm con người hình thành tự nhiên trong quá trình giao lưu, tiếp xúc -với môi trường bên ngoài. Khoa học tâm lí đã chứng minh, khi con người trưởng thành (khoảng 21 tuổi trở ra), nhân cách đã được định hình bởi vậy rất khó có thể thay đổi. Những va chạm trong cuộc sống giúp con người có thêm kinh nghiệm ứng xử chứ không làm tâm hồn con người biến đổi được. Người có tâm hồn phong phú dẫu trong hoàn cảnh ngặt nghèo cũng vẫn lạc quan, yêu đời. Hồ Chí Minh trong những tháng ngày bị giam hãm trong nhà tù Tưởng Giới Thạch là một ví dụ điển hình. Đọc Nhật kí trong tù, ta bắt gặp nhiều vần thơ mang âm hưởng vui đùa, hóm hỉnh như “Hôm nay xiềng xích thay dây trói, Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung” hay “Đầy mình đỏ tím như hoa gấm, Sột soạt đưa tay tựa gẩy đàn”… Hoàn cảnh tù đày gian khổ không làm người tù cách mạng chán nản mà trái lại, tâm hồn Người vẫn đồng cảm, bầu bạn với thiên nhiên (Vãn cảnh, Vọng nguyệt). Trái lại, người mang sẵn tâm hồn nghèo nàn thì dẫu có sống giữa cuộc đời tươi đẹp cũng không cảm nhận được. Họ không nhìn thây sự đáng yêu trong nụ cười của em bé, không thích thú cánh diều đang vi vút trên bầu trời, không thấy cầu vồng sau cơn mưa thật lung linh… Với họ cuộc sống chỉ là chuỗi ngày bàng bạc như nhau, không màu sắc, không hương vị. Họ thấy chán nản mà không thể tìm ra được cách thức giải toả. Thậm chí họ thu mình trong những vỏ bọc, trong những chiếc bao như nhân vật Bê-li-côp.trong câu chuyện Người trong bao (Sê-khốp). Cái khó khi chạy chữa căn bệnh nghèo nàn về tâm hồn là ở chỗ tâm hồn không hiện hữu mà vô hình. Khi tâm hồn nghèo nàn, không thể vay mượn, vá víu được. Người giàu tình cảm dẫu có muốn cũng không san sẻ cho người thiếu thôn. Không thể làm cuộc cách mạng lấy tâm hồn ở người giàu có để chia cho người nghèo hơn. Tình cảm, cảm xúc là thứ không thể bắt ép. Người nghèo nàn về tâm hồn không thể thụ động yêu thương, xúc động theo người khác. Mọi sự gò ép chỉ làm họ thêm hằn học với cuộc đời. Đấng thương hơn là bản thân người mắc “căn bệnh” này không tự nhận thấy tác hại do nó mang đến. Cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt là hệ quả tất yếu dẫn đến hệ quả tiếp theo là sự nhàm chán, đơn điệu trong cuộc sống. Không tìm thấy nghĩa lí cuộc đời, con người sẽ không tìm được sự thanh thản, điều đó ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ, tụổi thọ, công việc…Xem thêm: Bạn Anh Thư kể về gia đình Câu nói của Mi-sen Ê-ken đơ Mông-te-nhơ hoàn toàn chính xác. Sự nghèo nàn nào cũng làm cuộc sống con người khó khăn nhưng rõ ràng, nghèo nàn về tâm hồn khó chữa hơn rất nhiều. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là không thể khôi phục, xây dựng một tâm hồn phong phú. Các nhà tâm lí đã nghiên cứu và đưa ra một số “đơn thuốc chữa bệnh” cho người nghèo nàn về tâm hồn. Muốn cải thiện sự nghèo nàn trong tâm hồn, trước tiên, chúng ta phải tự gây dựng cho mình cuộc sống tươi đẹp. Không khó để chúng ta làm những công việc nho nhỏ như cắm một lọ hoa trong phòng, treo một bức tranh lên trên tường, bật đĩa nhạc mà chúng ta yêu thích, nấu những món ăn hợp khẩu vị… Không khó khi chúng ta nở nụ cười với bạn bè, đồng nghiệp. Không khó khi chúng ta gọi điện về nhà hỏi thăm sức khoẻ những người thân yêu của mình. Không khó khi chúng ta nhắn một tin nhắn gây dựng quĩ hỗ trợ trẻ em nghèo… Chỉ cần bớt chút thời gian “trang trí” cho cuộc sống của mình, chỉ cần dành thời gian quan tâm đến mọi người xung quanh một chút, ta sẽ thấy cuộc sống này có ý nghĩa hơn nhiều. Cái khó không nằm ở trong mỗi hành động mà ở ý chí thực hiện của con người. Để bồi đắp cho tâm hồn, chúng ta còn có thể theo dõi, lắng nghe những câu chuyện trong các cuốn sách nhỏ như Quờ tăng cuộc sống, Vượt lên chính mình, Phút dành cho cha, Phút dành cho mẹ… đang có trên kệ sách của nhiều nhà sách. Gần gũi hơn là những trang sử, những tác phẩm vãn học giàu giá trị nhân văn được lựa chọn giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Đọc và hiểu sâu sắc các bài học đó, chúng ta sẽ trưởng thành hơn trong ý thức, sẽ tự bồi đắp cho mình những giá trị tâm hồn cao quí. sống động hơn là bao tấm gương, bao câu chuyện về lòng vị tha cao cả của những người sống quanh ta. Đó là những câu chuyện về em bé đánh giày nuôi bà nội già ở quê, về chàng thanh niên Nguyễn Hữu An, về những sinh viên tình nguyện mùa hè nào cũng xung phong đi khắp mọi miền đất nước… Lắng hồn mình để suy ngẫm, chiêm nghiệm mỗi càu chuyện đó, đặt mình vào hoàn cảnh mọi người để thâu hiểu họ, từ xúc động chúng ta sẽ muốn hành động. Hành động chính là biểu hiện của sự trưởng thành trong tâm hồn con người. Một nhà văn nổi tiếng trên thế giới đã nói: “Cái đẹp cứu vớt nhân loại". Thực tế đã chứng minh tâm hồn cao đẹp của mỗi người làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Tự bồi đắp cho tâm hồn mình thêm giàu có, phong phú là việc làm cần thiết của bất cứ cá nhân nào trong cộng đồng này. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu nói của nhà văn Pháp Mi-sen Ê-ken đơ Mông-te-nhơ (1533 – 1592)_ “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa”
2,347
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về quan niệm sống của Xuân Diệu thể hiện trong hai câu thơ sau: Thà một phút huy hoàng rồi chợt tốiCòn hơn buồn le lói suốt trăm năm. Hướng dẫn Tham khảo gợi ý về cách làm bài như sau: – Giải thích ý thơ của Xuân Diệu: "huy hoàng" – có vẻ đẹp rực rỡ, chói lọi; "le lói" – chiếu ra ánh sáng một cách yếu ớt. Bằng việc sử dụng những từ ngữ đối lập như "một phút – trăm năm", "huy hoàn? – le lói" và thủ pháp so sánh "thà… rồi – còn hơn", Xuân Diệu đã bộc lộ một quan niệm sống: Thà được toả ánh sáng rực rỡ, chói lọi, được cháy hết mình dù chỉ là trong giây lát còn hơn là sống trong buồn tủi, tối tăm hàng trăm năm trời. – Bàn luận: Quan niệm sống của Xuân Diệu trong hai câu thơ trên cũng làquan niệm sống được thể hiện trong nhiều bài thơ của ông trước Cách mạne (như Mời yêu, Vội vàng, Tặng thơ,..). Quan niệm sống này có những mặt tích cực, nhất là đặt trong bối cảnh cuộc sống xã hội lúc bấy giờ; đó cũng là sự khẳng định cái tôi rất riêng và khát khao được toả sáng, được sống hết mình của Xuân Diệu trước Cách mạng. – Rút ra bài học: Quan niệm đó của Xuân Diệu vẫn có thể coi là bài học cho thế hệ thanh niên hôm nay: Cần sống một cuộc sống đầy ý nghĩa, cần có một cái tôi đầy khát vọng cống hiến. Tuy nhiên, cũng cẩn tránh cách hiểu cực đoan về quan niệm sống trên (quan niệm sống gấp). Nguồn: thêm: Thư gửi con mùa thi 2013
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về quan niệm sống của Xuân Diệu thể hiện trong hai câu thơ sau_ Thà một phút huy hoàng rồi chợt tốiCòn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
296
Anh (chị) viết bài nghị luận bày tỏ ý kiến của mình về phương châm “Học đi đôi với hành” Gợi ý Về việc học, có nhiều điều cần trao đổi. Ở đây, tôi chỉ bàn về phương châm "Học đi đôi với hành ”. Hành nghĩa là gì? – Hành nghĩa là hành động, thực hành, nghĩa là làm và ứng dụng, vận dụng,… “Học đi đôi với hành ” nghĩa là học phải gắn liền với hành động, thực hành, phải đem lí thuyết, kiến thức học được ứng dụng, vận dụng vào thực tế. Việc học trước hết phải nắm vững phần lí thuyết là những tri thức, kiến thức, là những nguyên lí, định lí, quy luật đã được đúc kết, tổng kết… có giá trị định hướng, soi sáng cho khâu thực hành tiếp theo. Học sinh tiểu học có học kĩ, học tốt các quy tắc toán, có học thuộc bản cửu chương thì mới có thể làm được bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia,… Có nắm được các định lí, các công thức hóa học, các nguyên tắc, quy tắc vật lí, thì mới có thể học tốt các môn toán, lí, hóa. Địa lí tự nhiên, địa lí kinh tế, các sự kiện lịch sử, các quy tắc ứng xử, giao tiếp,… là những kiến thức cơ bán cần phải học kĩ, học sâu. Phải học cho rộng, suy cho kĩ, vừa học vừa hỏi là cách học tập hiệu quả nhất. Các thư sinh ngày xưa chỉ học Tứ thư, Ngũ kinh,… nên miệt mài, chuyên cần, đọc sách thâu canh, mong trở thành ông tú, ông cử, ông nghè. Nhà thơ Tú Xương đã nói lên thật đúng cách học tập ấy: Xem thêm: Bình luận lời khuyên của Huấn Cao khi cho chữ viên quản ngục: "Ở đây lẫn lộn... cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”(Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Văn 11). Từ đó hãy nêu lên ý nghĩa sâu sắc của việc Huấn Cao cho chữ viên quản ngục“Học những sôi cơm nhưng chửa chín, Thi không ăn ớt thế mà cay!" Khâu thứ hai của học tập là “hành”. Làm bài tập (văn, toán, lí, hóa,…) là hành. Tập dịch, tập nói, tập viết tiếng Anh, tiếng Pháp,… là hành. Vẽ bản đồ, làm thí nghiệm, tập gieo trồng, chăm bón hoa, lá… ở vườn trường, tham quan, cắm trại – là hành. Học và hành là hai khâu gắn bó chặt chẽ với nhau. Có học lí thuyết thì mới biết thực hành. Có hành thì mới biết vận dụng lí thuyết vào công việc cụ thể. Hành mà không học, hoặc ít học thì sao có thể tinh thông. Học mà không hành thì rơi vào tình trạng lí thuyết suông. Trần Quốc Tuấn không những chỉ cho các vương hầu đóng chiến thuyền, mở thao trường, võ đường, chiêu tập binh mã mà còn viết “Binh thư yếu lược n cho tướng sĩ chuyên tập. Nhờ thế mới tạo nên trăm vạn hùng binh “sát Thát”, mới chém đầu Toa Đô, bắt sống Ô Mã Nhi, viết nên chiến công Bạch Đằng Giang bất tử "Đến nay sông nước tuy chảy hoài Mà nhục quân thù khôn rửa nổi! " (Bạch Đằng Giang phú – Trương Hán Siêu) Lãn Ông Lê Hữu Trác, đại danh y của Đại Việt trong thế kỉ XVIII đã rời bỏ quan trường và từ giã Thăng Long hoa lệ sầm uất vào Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, lúc vào rừng sâu hái thuốc, lúc đội nón mang tơi tầm tã mưa gió đêm khuya mấy dặm đường để chữa bệnh cho dân. Ông miệt mài làm thuốc suốt 30 năm trời nên mới để lại bộ sách "Hải Thượng y tông tâm lĩnh ” gồm 66 quyển. Xem thêm: Trong Hạnh phúc của một tang gia (Số đỏ), Vũ Trọng Phụng viết: "Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Hãy chứng tỏ điều đó qua các nhân vật và làm sáng tỏ một thứ "thế thái nhân tình” được xây dựng trên: sự tàn nhẫn và sự dối trá Kĩ sư Trần Đại Nghĩa chế tạo súng đạn bom mìn trang bị cho bộ đội ta kháng chiến. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ chế tạo ra pê-nê-xi-lin để cứu chữa thương binh. Nhà nông học Lương Định Của đã hai sương một nắng cùng với bà con nông dân mà lai tạo được nhiều giống lúa có năng suất cao, v.v… Có biết bao trí thức lỗi lạc khác đã đem tài năng hiến dâng cho Tổ quốc và nhân dân. Những chiến công, thành tựu vĩ đại của những nhà quân sự, nhà khoa học lừng danh đã nêu lên bài học “Học đi đôi với hành ”, “Học để phụng sự Tổ quốc " – cho thế hệ trẻ chúng ta ngày nay noi theo. Tóm lại, không thể học suông, học chay. Cũng không thể chỉ biết làm mà không học. Học là để làm người – con người hữu dụng. Cho nên phải biết “Học đi đôi với hành ". Các câu tục ngữ như: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn ”; “Đi một buổi chợ học một rớ khôn ” (rớ là cái rú y cái rổ); “Học thầy không tày học bạn $… đều có nội dung nêu lên bài học về phương châm “Học đi đôi với hành ”. Suốt đời phải học và tự học. Muốn biến “sự học là cái chìa khóa mà mọi kho tàng ” thì các anh, các chị, các em, chúng ta phải kiên trì thực hiện “Học đi đôi với hành Xem thêm: Dựa vào câu thơ: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Hãy bình luận vài nét về nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du.Vanmau.edu.vn
Anh (chị) viết bài nghị luận bày tỏ ý kiến của mình về phương châm “Học đi đôi với hành”
974
Anh chị có suy nghĩ gì về câu nói của J. z. Borysenko: “Điều quan trọng không phải là chúng ta có chết hay không mà là chúng ta sẽ sống như thế nào?” Hướng dẫn Câu chuyện được kể rằng vào năm 1982, có một cậu bé được sinh ra tại nước Úc, nhưng nghiệt ngã thay, cậu bé ấy mắc hội chứng hiếm gặp gây ra tình trạng không có tứ chi. Vậy mà đến nay, cậu bé ấy đã trở thành người đàn ông triệu đô, được mời đi thuyết trình trên khắp thế giới, có gia đình và 2 người con xinh đẹp, là mẫu hình lí tưởng cho hoài bão của biết bao nhiêu bạn trẻ trên toàn cầu. Đó chính là Nick Vujic. Chúng ta không bàn luận về cuộc đời riêng của người đàn ông thành công này, mà hãy từ hình ảnh người đàn ông này mà nghỉ đến câu nói của J. z. Borysenko: “Điều quan trọng không phải là chúng ta có chết hay không mà là chúng ta sẽ sống như thế nào?”. Chúng ta sẽ sống như thế nào? Là con người, ai ai cũng sẽ có nguồn cội, có nơi xuất phát và sau này hẳn sẽ có được nơi kết thúc. Vấn đề là, không phải ai cũng có được những điểm xuất phát giống hết nhau. Có bạn may mắn, được sinh ra trong một gia đình đầy đủ, giàu có một ngoại hình đẹp…nhưng cũng có rất nhiều người không được như vậy, họ sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, đau đớn hơn là thiếu thốn cả tứ chi, hình thể không vẹn toàn. Há chăng đó đã là một bất hạnh.Xem thêm: Kể một sự việc xảy ra mà em nhớ mãi Có những con người được sinh ra trên đời, có nơi được gọi là nhà, là gia đình, cũng có những đứa trẻ được sinh ra nhưng lại bị chối bỏ quyền làm người, phải lay lắt mà vật lộn với cuộc sống thường nhật. Cuộc đời, vốn dĩ đã không cho ai được như ý nguyện. Bởi lẽ, nếu ai cũng ước nguyện thì nào có đủ chúa trời cho tất cả chúng ta. Vậy thì cuộc đời này, còn gì là những khát khao, ước vọng. Vậy cuối cùng, phép màu nằm ở đâu? Phép màu nằm ở chính trong cuộc sống của chúng ta, bởi lẽ, khi chúng ta sống, chúng ta đã là một phép màu. “Chúng ta không chọn được nơi mình sinh ra, nhưng chúng ta quyết định được cuộc sống của mình”, đó chính là mấu chốt. Nếu như Nick cứ mãi đau buồn vì hoàn cảnh của chính mình, thì có lẽ, năm 8 tuổi anh ta đã chấp nhận tự dìm chết mình, hủy hoại mình trong căn bệnh trầm cảm vì bị phân biệt đối xử. Các bạn hãy để ý rằng, những người thành công hiện nay, không ai đã không trải qua những khắc nghiệt của cuộc sống ngày thơ bé. Cũng có rất nhiều người may mắn được sinh ra trong một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của bản thân, nhưng nếu họ không phấn đấu, không được chuôi rèn qua lửa đỏ thì làm sao có thể trở thành một thanh kiếm sắc, bách chiến bách thắng trên những trận mạc. Giáo Sư Ngô bảo Châu sẽ không thể nào có được giải File danh giá chỉ vì giáo sư xuất thân từ gia đình có truyền thống giáo dục. Những người như Nick, Jack Ma, Bill Gate…lại càng nỗ lực vượt qua mọi giới hạng của bản thân mình, họ mới có được những quả ngọt trong cuộc đời. và hãy nhìn xem, họ đã bao giờ than oán cho xuất thân, cho những chuyện đã rồi áp lên cuộc đời họ.Xem thêm: Tóm tắt kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ Ấy vậy mà có rất nhiều người chỉ vì những khó khăn ngắn ngủi mà đã than “dãi dầu không bước nữa”, bỏ quên cuộc đời, than oán cho số phận, thậm chí còn phủ nhận, rủ bỏ nguồn cội của chính mình. Họ như con trạch lười, suốt đời chỉ đổ lỗi cho hoàn cảnh, không chịu vươn lên, hoặc đố kị, hoặc ích kỉ. Họ biến mình thành những kẻ tiểu nhân, đó không phải là cái mạnh. “Kẻ mạnh không phải là kẻ đứng trên vai người khác, kẻ mạnh là kẻ để người khác đứng trên đôi vai của mình” (Đời Thừa – Nam Cao), người thông thái là những người khi đã hóa bướm, sẽ quay lại giúp những cái kén kia trở thành bướm đẹp. “Điều quan trọng không phải là chúng ta có chết hay không mà là chúng ta sẽ sống như thế nào?” là câu nói rèn luyện tính đúng đắn trong cuộc sống của chúng ta, được sinh ra đã là một điều quý giá, vậy cớ gì không sống cho đẹp. “Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người….”, câu nói của Pavel trong “Thép đã tôi thế đấy” đã trở thành kim chỉ nam cho biết bao thanh niên thế hệ trẻ ngày nay. Khi bạn có thể rèn qua lửa đỏ, tự khắc cuộc đời bạn sẽ là ước ao của biết bao người.Xem thêm: Bình luận về nhân vật A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài Bill Gates từng nói: “ Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn. Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó thì đó là lỗi của bạn”. Nghèo khó ở đây chúng ta hãy bao hàm cả nghèo về vật chất lẫn tinh thần. Như vậy là con người phải luôn đối đầu với giông tố nhưng không được gục ngã trước giông tố. khi bạn sinh ra, bạn khóc, mọi người cười. Hãy sống sao cho khi bạn nhắm mắt xuôi tay, bạn cười còn nhân gian phải khóc. [Văn 12] Nghị luận về cách sống đẹpĐánh giá bài viết bình luận
Anh chị có suy nghĩ gì về câu nói của J. z. Borysenko_ Điều quan trọng không phải là chúng ta có chết hay không mà là chúng ta sẽ sống như thế nào_
1,096
Anh chị nghĩ thế nào về câu nói của một nhà văn Nga: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương” Gợi ý Nếu tôi hỏi một người: “Trên trái đất này, nơi đâu là lạnh nhất?” thì có lẽ người đó sẽ trả lời: “Bắc Cực!”. Xét trên địa lý và thực tế mà nói thì câu trả lời đó hoàn toàn không sai. Nhưng nếu xét về tình cảm thì không nơi nào có thể lạnh giá và cô đơn hơn trái tim – một trái tim không có tình yêu thương. So với mọi vị trí địa lí khác trên trái đất Bắc Cực là nơi lạnh giá nhất. Ở đây không có lấy một tia nắng ấm áp, người ta từng công bố nhiệt độ thấp nhất nơi đây có thể xuống đến – 88°C. Quanh năm suốt tháng, nơi đây chỉ là bầu không khí thật lạnh lẽo, tối tăm. Dưới đất là màu trắng của băng tuyết lạnh buốt trên đầu là mây đen tối tăm. Tất cả như chiếc chảo đen úp chụp xuống mặt băng dày. Nhưng thời tiết khắc nghiệt, lạnh lẽo ấy vẫn chưa là gì với một trái tim chìm trong băng giá. Hãy thử tưởng tượng xem. Một con chim cánh cụt đứng bơ vơ và cả đàn chim thì con nào sẽ sống sót trong tiết trời lạnh giá. Nếu một con chim đứng bơ vơ, không sớm thì muộn nó cũng chết bởi lạnh cóng và nguyên do chính là sự cô đơn. Nhưng nếu là đàn chim cánh cụt thì nó sẽ không chết bởi lạnh giá cho dù thời tiết có lạnh, có khắc nghiệt đến đâu. Mỗi lần bão tuyết, tất cả đứng thành vòng tròn, con chim khỏe, lớn che chở cho những con bé nhỏ, yếu ớt hơn. Nhờ tình yêu thương đồng loại, sự chia sẻ, đùm bọc cho nhau mà những con chim cánh cụt không bị chết. Tất cả ý thức, sự đoàn kết của chúng đều xuất phát từ lòng yêu thương.Xem thêm: Phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm- Văn 12 Câu chuyện trên đã chứng minh được sức mạnh của tình yêu thương. Tình yêu thương là một từ được kết tinh và hiểu theo nhiều nghĩa. Yêu thương là đoàn kết, là chia sẻ, đùm bọc nhau. Yêu thương là dành trọn cho nhau những gì tốt đẹp nhất. Gia đình, người thân, bạn bè… là những người nhận lấy “yêu thương”. Còn bạn, bạn trao cho họ tình yêu thương, để thắp lên niềm vui, sưởi ấm con tim họ, san sẻ những khó khăn, đau buồn. Yêu thương là thứ tình cảm mà con người với con người cần phải nhận và cho. Một ngày sáng sớm, bạn mở cửa đón những tia nắng ấm áp bắt đầu ngày mới. Người thân chuẩn bị đồ ăn và hỏi thăm bạn trước khi học tập, làm việc, luôn cười nói và biết ơn họ. Như vậy là bạn đã được nhận và trao tình yêu thương. Mỗi lần như thế, bạn thấy yêu đời và như được tiếp thêm năng lực làm việc. Dường như “tình yêu thương” ấy là tia nắng ấm áp len vào tâm hồn bạn, mở cửa những nơi tối tăm để sưởi ấm trái tim con người. Mỗi lần bạn buồn, bạn được một bàn tay vỗ về, che chở, nhận được ánh mắt dịu dàng đầy trìu mến, đôi vai sẵn sàng cho bạn gục xuống. Đó là lúc bạn nhận tình yêu thương mang tên “cảm thông”, nó là cơn gió xóa tan buồn bã, là liều thuốc xoa đi nỗi đau.Xem thêm: Trong bài Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi có viết: "Một bài thơ... đọc... ". Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên. Từ đó hãy trình bày cảm nhận về một bài thơ mà em yêu thích. Mỗi con người luôn cần một tình yêu thương bên mình. Nó chắp cánh cho những ước mơ, hoài bão, vực bạn dậy khi buồn đau thất bại. Nếu như một ngày, trái đất không còn tình yêu thương thì tất cả sẽ ra sao? Ngoài kia, ánh nắng không còn đùa giỡn, trái tim mỗi người sẽ đóng băng, lạnh giá. Trái tim không còn mỏ cửa cho tình yêu thương. Nó sẽ dần đóng băng, lạnh lẽo hơn cả thời tiết Bắc Cực. Nhân loại sẽ chìm trong lạnh giá. Mỗi người chỉ còn là cái xác vô hồn, không còn biết yêu, biết quan tâm tới nhau. Trái tim họ chứa đầy nỗi tức giận, căm phẫn, ghét bỏ. Ngày trái đất không còn yêu thương là ngày toàn nhân loại chìm trong băng giá. Cũng giống một con chim cánh cụt kia, họ sẽ dần chết bởi sự vỡ vụn của trái tim. Rồi một ngày, tình yêu thương lại tới, con người biết chia sẻ và dần lìa xa thù hận. Phải chăng tình yêu thương là vật hữu hình biểu hiện con người quan tâm tới nhau và cũng là vật vô hình. Tình yêu thương là chất keo gắn kết mảnh vỡ tâm hồn, vực dậy những con người lầm lỗi. Có lẽ tình yêu thương là điều không thể thiếu trong mỗi trái tim con người, để trái tim xích lại gần nhau hơn. Bởi lẽ, nếu không có yêu thương là mất đi sự sống và tất cả sẽ chết. Nhận và cho tình yêu thương là không khó. Chỉ cần bạn có chút quan tâm, chia sẻ nghĩa là bạn đã có được tình yêu thương. Bạn cho họ như một món quà nhỏ và được nhận lại. Không cần tiền bạc, vật chất, bạn đã cho họ một món quà giá trị bằng tình yêu thương. Tình yêu thương giúp con người cải tà quy chính, giúp họ trở về với cuộc sống lương thiện. Với một người nghiện ma túy, nếu bạn không xa lánh, ruồng bỏ họ mà thay vào đó, bạn chịu quan tâm tìm hiểu, dùng tình thượng của mình để giúp họ hòa nhập cộng đồng, làm những việc có ích trong những ngày còn lại. Đã có nhiều tên tội phạm, trộm cướp nhờ tình yêu thương, họ đã trở thành người tốt cho xã hội và tiếp tục tặng cho mọi người tình yêu thương. Việc làm ấy không những xóa tan tội lỗi, làm ấm lại con tim đóng băng mà còn giúp thế giới trở nên tốt đẹp hơn.Xem thêm: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) Tình yêu thương là một thứ cao cả và quan trọng. Nó có thể sưởi ấm tâm hồn con người. Nhưng nếu một con người không có tình yêu thương thì chẳng khác nào một trái tim lạnh cóng. Trái tim ây còn lạnh hơn Bắc Cực. Con người và cả những loài vật đều cần tình yêu thương. Tình yêu thương là sự sống, là một món quà vĩ đại mà người trao cho người. Có tình yêu thương, con người sẽ chẳng sợ mưa gió bão bùng, bởi lẽ tình yêu thương là tấm lá chắn giúp họ tồn tại và ngày càng yêu thương nhau hơn. Trái đất sẽ tràn ngập màu “nắng yêu thương”. Vanmau.edu.vn
Anh chị nghĩ thế nào về câu nói của một nhà văn Nga_ “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương”
1,231
Ban chỉ huy liên đội thông báo kế hoạch cắm trại nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 Gợi ý Trường THCS Võng La Liên đội trường THCS Võng La Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Thơ, ngày 05 tháng 11 năm 2009 THÔNG BÁO Về kế hoạch cắm trại nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11 Nhân kỉ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chỉ huy Liên đội Trường THCS Võng La tổ chức cắm trại chào mừng. Kế hoạch cụ thể như sau: – Thời lượng: 01 ngày – Thời gian: ngày 19 tháng 11 năm 2009 – Địa điểm: Sân trường THCS Võng La – Hình thức: Mỗi chi đội làm 01 trại theo phạm vi không gian đã được phân Thi cắm trại giữa các chi đội, có trao thưởng theo phạm vi khối lớp Trại được chấm hai lần vào 09h và 15h ngày 19/11/2008; Trong thời gian diễn ra buổi cắm trại, Liên đội sẽ tổ chức các trò chơi như nhảy dây, kéo co,… Chi đội nào có số lượng đội viên tham gia đông đảo, nhiệt tình và nghiêm túc sẽ được cộng điểm vào điểm trại (tối đa cộng 02/20 điểm). BCH Liên đội yêu cầu: – Các chi đội chuẩn bị những vật dụng cần thiết để đảm bảo cho hoạtXem thêm: Dựa vào văn bản "Mùa xuân của tôi" của Vũ Bằng, hãy nêu cảm nhận của em về mùa xuân quê hươngđộng diễn ra đúng kế hoạch; – Các đồng chí đội viên nhiệt tình, hăng hái chuẩn bị cho hội trại của Liên đội để hoạt động diễn ra sôi nổi, bổ ích. Nơi gửi: – Các chi đợi trường THCS Võng La; – BGH nhà trường ; – Lưu. T/M BCH Liên đội Liên đội trưởng Nguyễn Văn Quyền (Đã kí) Vanmau.edu.vn
Ban chỉ huy liên đội thông báo kế hoạch cắm trại nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11
305
Ban – dắc (1799 – 1850) nói: “Lịch sự va khiêm tốn chứng tỏ con người có văn hóa”. Hãy bàn luận ý kiến trên Gợi ý Lịch sự và khiêm tốn là hai phẩm chất tốt đẹp hàng đầu được đặc biệt coi trọng trong giao tiếp, ứng xử. Ban-dắc (1799 1850) nhà văn hiện thực lớn nhất của nước Pháp trong thế kỉ XIX, bất tử với bộ "Tấn trò đời" đã nói: "Lịch sự và khiêm tốn chứng tỏ con người có văn hóa". Lịch sự là biết cách giao thiệp, xứ thế; có thái độ nhã nhặn, lễ độ trong xã giao. Ta thường nói: con người lịch sự, nói năng lịch sự, phong cách lịch sự,… Khiêm tốn là có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự đề cao, không kiêu căng tự phụ. Người khiêm tốn là người biết đánh giá cái hay, cái tốt của bản thân một cách vừa phải và đúng mực. Con người có văn hóa là con người có đạo đức. nhân cách tốt đẹp, có học văn và có hiểu biết, sống văn minh lịch sự được mọi người tôn trọng và quý trọng.Thật vậy, lịch sự và khiêm tốn chứng tỏ con người có văn hóa. Lịch sự và khiêm tốn được biểu hiện ở cách ăn mặc, nói năng, ở cử chỉ, ở nét mặt, nụ cười,… khi giao tiếp với mọi người. Không nói to,không do mặt túm tai, không khua chân múa tay… là lịch sự. Không tin mặc diêm dúa, không hấp tấp vội vã. không cướp lời lúc giao tiếp là lịch sự. Khoe khoang, tự vỗ ngực cho là mình tài giỏi “nhất thiên hạ tự khẳng định là cái gì mình cũng biết hết coi thường mọi người. Giàu mà không khoe giàu, giỏi mà không khoe giỏi, biết mà không khoe biết,… thế là khiêm tốn. Cổ nhân từng nhắc nhở đạo làm người: ‘Khoe răng hay thế là mất hay; khoe có công thế là mất công" (Thư Kinh).Xem thêm: Phân tích sức hấp dẫn trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu Bước vào cuộc đời rộng lớn, dù đi học, đi làm ăn, làm quan, làm cán bộ, làm nhà ngoại giao, làm nhà văn, làm nhà giáo,… vô luận làm công việc gì, ở vị thế nào, ai cũng phải lịch sự và khiêm tốn. Có tự trọng và biết tôn trọng người trong giao tiếp, ứng xử mới biết sống lịch sự, sống khiêm tốn. Trái với lịch sự là khiếm nhã, thô lỗ, cục cằn. Những câu tục ngữ sau đây, chắc nhiều người còn nhớ: “Đất xấu trồng cây khẳng khiu, Những người thô tục nói điều phàm phu. Đất tốt trồng cây rườm rà, Những người thanh lịch nói ra dịu dàng". Nói bậy, chửi tục là bất lịch sự, là khiếm nhã. Trái với khiêm tốn là kiêu căng, tự phụ. Kẻ kiêu căng, tự phụ thường làm một mà nói mười, thích tăng công theo kiểu “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại Làm tướng mà kiêu căng tất sẽ thảm bại, sẽ chết! Học sinh mà tự phụ thì học hành sẽ kém, thí cử sẽ hỏng! Làm bất cứ việc gì, nếu kiêu căng tự phụ sẽ thất bại nhục nhã. Câu tục ngữ sau đây nêu lên bài học khiêm tốn cho bất cứ ai: “Ở nhà nhất mẹ nhì con, Ra đường còn lắm kẻ giòn hơn ta." Học sinh cần nhớ lời dạy của Bác Hồ để trở thành con ngoan, trò giỏi: “Khiêm tôn, thật thà, dũng cảm".Xem thêm: Hình ảnh người dân làng chài qua bài thơ Quê hương của Tế Hanh Bài học khiêm tốn là bài học làm người. Bài học lịch sự là bài học làm người có văn hóa. Câu nói của Ban-dắc đẹp và hay, đã nêu lên cho mỗi chúng ta bài học về đạo lý, bài học làm người, bài học về nhân cách văn hóa. Trên đường đi tới tương lai, mỗi chúng ta phải biết rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, trước hết là biết sống lịch sự và khiêm tốn. Vanmau.edu.vn
Ban – dắc (1799 – 1850) nói_ “Lịch sự va khiêm tốn chứng tỏ con người có văn hóa”. Hãy bàn luận ý kiến trên
687
Bi kịch của người phụ nữ qua đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du. (Yêu cầu viết bài văn) Gợi ý “Có một cái gì mênh mông hơn biển đó là trời, có cái gì mênh mông hơn trời đó là tấm lòng yêu thương con người” (V.Huy-gô). Với “một cái nhìn xuyên sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” (Mộng Liên Đường), Nguyễn Du đã thấu hiểu hết nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội xưa. Để rồi Truyện Kiều là những tiếng kêu đứt ruột về thân phận con người, đặc biệt là thân phận của người phụ nữ. Trong đoạn trích “Trao duyên”, bi kịch ấy được thể hiện cụ thể, rõ ràng hơn cả. Người phụ nữ là nạn nhân của xã hội xưa, của chế độ nam quyền. Họ phải gánh chịu nhiều nỗi khổ về cả vật chất lẫn tinh thần. Lấy con người làm đốì tượng trung tâm để phản ánh, nhiều tác phẩm văn học trung đại đã nói lên bi kịch đó Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, thơ Hồ Xuân Hương. Người phụ nữ phải gánh chịu bi kịch của tài sắc (hồng nhan bạc mệnh), bi kịch của chế độ đa thê, của chế độ cung nữ, của chiến tranh phong kiến. Trong đoạn trích “Trao duyên”, bi kịch của người phụ nữ mang màu sắc riêng biệt. Đó là bi kịch của chữ tình và chữ duyên, của khát khao tình yêu và hạnh phúc. Ở đoạn thơ trước đó, Kiều gặp phải bi kịch giữa chữ tình và chữ hiếu. Là con người đạo đức truyền thống, Kiều dễ dàng hi sinh chữ tình vì chữ hiếu. Nhưng ở đoạn “Trao duyên”, bi kịch giằng xé hơn, đau đớn hơn giữa tình và duyên. Trao duyên đấy mà tình vẫn không muốn trao, trao kĩ vật đấy mà lòng vẫn nói là của chung.Xem thêm: Nghị luận văn học - Một quan niệm về giáo dục Mười hai câu đầu đoạn trích là lời trao duyên của Thúy Kiều cho em. Bi kịch là ở chỗ để báo đáp án tình chàng Kim, Kiều phải nhúng mình, hạ mình thành kẻ chịu ơn, phải cậy nhục, lụy phiền em trả ơn: Cậy em, em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Những tiếng “cậy, chịu, lạy, thưa” nghe da diết và đứt ruột quá. Mười bốn câu tiếp, Thuý Kiều trao kỉ vật và dặn dò em. Bi kịch càng lúc càng đau đớn, đứt ruột. Duyên thì trao mà tình thì không cắt được, cho nên “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Duyên thì trao mà khát khao hạnh phúc vẫn cháy bỏng, nên mất duyên rồi nàng tưởng như mình là người đã chết (người mệnh bạc, thịt nát xương mòn, ngậm cười nơi chín suối). Duyên trần đã cắt nhưng duyên âm vẫn vương vấn như oan khiên không giải nổi, cho nên nàng vẫn trở về và “rảy xin chén nước cho người thác oan”. Bi kịch vĩnh viễn oan khuất như vết thương rỉ máu không bao giờ cầm. Cho nên dù trao duyên nhưng kiều vẫn không hề thanh thản bởi chữ tình cứ nhức nhối mãi. Cái gốc của chữ tình ở đây là khát khao một tình yêu tự do, khát khao hạnh phúc lứa đôi, khát khao quyền sống của con người. Bên cạnh đó, người phụ nữ trong Trao duyên còn gặp phải bi kịch của đức hi sinh. Có thể nói, Kiều đã hai lần hi sinh. Lần thứ nhất vì gia đình, Kiều cũng đã hi sinh chữ tình vì chữ hiếu. Lần thứ hai, để trả nghĩa cho Kim Trọng, Kiều cũng đã hi sinh chữ tình vì chữ nghĩa. Để rồi nàng rơi vào mặc cảm tội lỗi. Nàng cứ thấy mình là kẻ bội tình Kim Trọng phải cầu xin được tha thứ. Lạy em gái rồi nàng lạy cả người yêu:Xem thêm: Kể về một người bạn cùng lớp của em (bạn trai)Trăm nghìn gửi lại tỉnh quân Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi! Sau đó, đỉnh cao của bi kịch, Kiều lâm vào tâm trạng đau đớn đến tê dại: Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây. “Lời trao duyên đã trở thành lời trăng trôi” (Chu Văn Sơn). Những đau đớn xót xa của nàng cho ta thấy cái giá của sự hi sinh. Một người con gái trọn nghĩa, vẹn tình, trọn hiếu, trọn trung lại là người con gái phải gánh chịu nhiều mất mát và bất công như vậy. Từ bi kịch đó, tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến xưa đã bóp nghẹt quyền sống và quyền hạnh phúc của con người được cất lên một cách gay gắt và mạnh mẽ. Qua nỗi bi kịch đau đớn của nàng Kiều, ta thấy được tấm lòng nhân đạo và nghệ thuật miêu tả tâm lí tài tình của Nguyễn Du. Trong đoạn trích, Nguyễn Du như đã hóa thân vào nàng Kiều để thâu hiểu hết những bi kịch và bất hạnh của nàng. Cũng thông qua hình tượng Thúy Kiều, ông đã thức tỉnh ý thức về tình yêu và hạnh phúc cá nhân của con người dưới chế độ phong kiến. Đồng thời, ông muổn ca ngợi những phẩm chất cao đẹp trong tâm hồn nàng: giàu đức hi sinh, coi trọng tình nghĩa, giàu lòng yêu thương… Bên cạnh đó, Nguyễn Du còn sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm lí rất tài tình. Ngôn ngữ đô’i thoại dần dần nhường chỗ cho độc thoại nội tâm. Cách sử dụng những thành ngữ dân gian, lỗi nói dân gian… để diễn tả thân phận Kiều khiến người đọc liên tưởng đến âm hưởng của ca dao than thân.Xem thêm: Trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, hình tượng con tàu mang ý nghĩa biểu tượng. Anh (chị) hãy viết đoạn văn làm rõ ý nghĩa biểu tượng đó Người phụ nữ hôm nay đã được giải phóng khỏi bi kịch đó và được hưởng quyền sổng, quyền hạnh phúc. Đề cao khát khao hạnh phúc của con người và nói lên bi kịch thân phận của họ là giá trị nhân đạo to lớn làm nên sức sống của đoạn trích “Trao duyên” nói riêng và truyện Kiều nói chung trước sự băng hoại của thời gian. Vanmau.edu.vn
Bi kịch của người phụ nữ qua đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du. (Yêu cầu viết bài văn)
1,069
Bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ qua một số tác phẩm văn học trung đại đã học Đọc Tiểu Thanh kí, các đoạn trích Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc. (Yêu cầu viết bài văn) Gợi ý Thơ hay phải là thơ cất lên được tiếng nói về thân phận con người một cách ám ảnh, da diết. Thơ hay là nhụy của cuộc sống. Khi hiện thực sống của xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công ngang trái, thì thơ phải là tiếng kêu thương phản ánh những bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ. Đọc Tiểu Thanh kí, các đoạn trích Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khác đều là những tác phẩm lớn vì đã cất lên tiếng nói bi kịch ấy. Trong xã hội cũ, phụ nữ là những người có thân phận bé mọn nhất. Từ những người phụ nữ trong ca dao vòn chỉ tự nhận mình là cá giữa rào, hạt cơm nguội, cái chổi đầu hè, hạt thóc… đến những người phụ nữ trong văn học trung đại với bi kịch của tài sắc và của hạnh phúc. Họ không chỉ khổ về chế độ nam quyền trọng nam kinh nữ, tước đoạt của người phụ nữ hạnh phúc, tình yêu mà họ còn khổ về chiến tranh phi nghĩa, vì chế độ đa thê, vì chế độ cung nữ… Nhìn một cách khái quát, đó là bi kịch của hạnh phúc lứa đôi dang dở. Tuy thế, số phận bất hạnh của họ có những biểu hiện riêng khác nhau xuất phát từ thân phận khác nhau. Điểm chung của người phụ nữ trong các tác phẩm trên là ở chỗ họ điều là những con người tài sắc. Nàng Tiểu Thanh là một người thông tuệ khác thường lại có tài thơ phú. Nàng cung nữ vốn là một người con gái đẹp, giỏi cầm, kì, thi họa. Còn người chinh phụ là một người mẹ, người vợ, người con dâu hiền thảo, nết na, thủy chung…Xem thêm: Tường thuật lại một chuyến đi chơi ở cồn Rồng, Bến Tre Sống trong xã hội công bằng, tài sắc của người phụ nữ sẽ đem đến cho họ một địa vị cao quý. Nhưng dưới chế độ phong kiến đầy bất công, tài sắc ấy là những mầm móng cho những hậu quả mà họ gánh chịu. Nàng Tiểu Thanh tài sắc nên bị vợ cả ghen tuông hành hạ cho đến chết. Thân phận là lẽ đã không được hưởng một chút hơi ấm nào, lại phải chịu biết bao đày đọa, ngay cả đến tính mạng của mình cũng không thể giữ nỗi. Mới mười tám tuổi mà nàng đã thiệt phận. Di vật nàng lưu lại là một vài bài văn thơ cũng bị đốt cho đến thành tro. Không chỉ Nguyễn Du mà người đọc cũng phải rơi lệ trước số phận của nàng: “Son phấn có thần chôn vẫn hận/ Văn chương vô mệnh đốt còn dư”. Nhờ tài sắc vẹn toàn, người cung nữ mới được chuyển vào cung, nhưng đó cũng nguyên nhân gây nên bi kịch của cuộc đời nàng. Nàng phải sống buồn thảm, âm thầm như chiếc bóng trong cung cấm lạnh lẽo đếm từng ngày dần trôi qua: “Lạnh lùng thay giác cô miên/ Mùi hương tịch mịch bóng đèn thâm u”. Nàng bị đày đọa trong ước vọng lứa đôi đời thường, trong khát khao hạnh phúc giản dị. Bên cạnh đó, họ còn gặp phải bi kịch của khát khao hạnh phúc lứa đôi không thành. Sống trong xã hội phong kiến, người phụ nữ không dược quyền quyết định hạnh phúc của mình. Hạnh phúc đối với họ thật nhỏ nhoi và mỏng manh vì chế độ đa thê, chế độ cung nữ, vì chiến tranh rình rập… Suốt cuộc đời làm lẽ mọn của mình cho đến lúc chết, nàng Tiểu Thanh phải sống trong cô đơn và gánh chịu những âm mưu hành hạ, vùi dập của người vợ cả. Người phụ nữ là nạn nhân đau đớn ê chề của chế độ đa thê. Hạnh phúc nhỏ bé bị chia năm xẻ bảy khiến Hồ Xuân Hương đã phải uất ức kêu lên: “Chém cha cái kiếp chồng chung/ Kẻ đắp chăng bông, kẻ lạnh lùng”.Xem thêm: Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè Người chinh phụ chỉ có một mong ước giản dị là được sống bên người chồng của mình. Nhưng chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã cướp đi hạnh phúc đó. Chồng nàng phải ra đi chiến trận, phải xả thân mình cho phong ấn hầu để minh nàng lẻ loi ở nhà với cảnh một thân nuôi già trẻ. Cả đoạn trích mở ra một thế giới tâm trạng của người chinh phụ với 35 câu nhưng tất cả như ngưng đọng trên một mối sầu. Cùng với nỗi sầu là những buồi tủi, cô đơn của một cuộc sống đơn điệu, hết dạo hiên vắng lại đốt hương, gảy đàn, trang điểm nhưng chỉ khiến hồn mê mái, lệ châu chan. Ám ảnh trong tâm hồn nàng là nỗi nhớ chồng, là khát khao hạnh phúc nguyệt hoa – hoa nguyệt. Cuộc chiến tranh ấy có mục đích chân chính ở chỗ nào nếu nó đày đọa, cướp đi hạnh phúc và tuổi trẻ của con người? Qua khát khao hạnh phúc cháy bỏng của chinh phụ, lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa cất lên sâu sắc biết bao! Người cung nữ là nạn nhân của chế độ cung nữ bất công. Hàng nghìn cung tần mĩ nữ mới có một ông vua để trông ngóng. Có những người cung nữ cả đời chôn vùi tuổi xuân trong cung cấm không một lần được vua đoái hoài, có những cung nữ được vài lần vua ngó ngàng tới cũng chẳng hơn gì. Cuộc sống của họ là một chuỗi chờ đợi, hi vọng. Mệt mỏi với hi vọng, chờ đợi, họ cất lên những tiếng nói tố cáo phẫn uất, chì chiết róng riết:Xem thêm: Tả buổi sáng trên quê hương em lớp 5Khoảnh làm chi hỡi chúa xuân Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi Giết nhau chẳng cái lưu cầu Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa! Từ đó, bay lên khát khao được phá cũi sổ lồng, khát khao được giải phóng: Đang tay muốn dứt tơ hồng Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra! Chế độ cung nữ là sự vô nhân đạo nhất của xã hội phong kiến, là nấm mồ để chôn tuổi xuân của những người con gái. Không cam chịu những bất công này, người phụ nữ đã cất lên những tiếng nói phản kháng với xã hội xưa. Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói đầy bản lĩnh phản kháng những luật lệ hà khắc của chế độ phong kiến đã triệt tiêu quyền sống và hạnh phúc của con người, nhất là người phụ nữ. Hồ Xuân Hương đã đòi quyền bình đẳng của người phụ nữ với nam giới: “Ví đây đổi phận làm trai được / Thì sự anh hung há bấy nhiêu”. Phản ánh những bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ, các nhà thơ đã tiếp nôi mạch nguồn của ca dao than thân. Phản ánh được những bi kịch đó đã mang đến giá trị nhân đạo sâu sắc cho các tác phẩm văn học trung đại, đặc biệt là văn học cuối thế kỉ XVIII — đầu thế kỉ XIX. Người phụ nữ ngày hôm nay đã được giải phóng khỏi ràng buộc của chế độ phong kiến và có được cuộc sống công bằng hạnh phúc. Thông qua những bi kịch của người phụ nữ, các nhà thơ đã thể hiện tấm lòng đồng cảm, trân trọng, bảo vệ quyền sống, quyền hạnh phúc của con người. Đó là gốc rễ nhân đạo sâu sắc nhất của văn thơ và nó làm nên sức sống của các tác phẩm trên với thời gian. Vanmau.edu.vn
Bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ qua một số tác phẩm văn học trung đại đã học Đọc Tiểu Thanh kí, các đoạn trích Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc. (Yêu cầu viết bài văn)
1,343
Biên bản cuộc họp lớp Gợi ý Trường TH Kim Đồng Lớp 5B Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP LỚP I. Thời gian, địa điểm Thời gian: 16 giờ, ngày 28 tháng 2 năm 2009 Địa điểm: Lớp 5B, Trường TH Kim Đồng II. Thành phần tham dự Cô Lê Kim Xuyến, chủ nhiệm lớp Toàn thể học sinh lớp 5B, gồm 42 bạn III. Người điều khiển, thư kí cuộc họp Người điều khiển: bạn Phạm Hải Anh, lớp trưởng Thư kí: bạn Trần Anh Thư IV. Nội dung 1. Lớp trưởng Phạm Hải Anh thay mặt ban cán sự lớp đánh giá về kết quả hoạt động của lớp trong tháng: – Về học tập: + Nhìn chung, cả lớp học hành chăm chỉ, số điểm 8, 9, 10 chiếm đa số, nhưng cá biệt vẫn còn Thanh Mai bị điểm 3 môn chính tả, một số bạn khác có điểm Toán và Tập làm văn chưa cao. + Vẫn còn hiện tượng ồn ào, làm việc riêng trong thời gian tiến hành các hoạt động nhóm trong giờ học. – Về nề nếp, vệ sinh: + Nhìn chung, việc thực hiện nề nếp, vệ sinh khá nghiêm túc theo quy định của nhà trường. + Vẫn còn một số bạn không mặc đồng phục, quên khăn quàng như Nhật Anh, Hiếu, Lê Long. 2. Ý kiến của các bạn tham dự họp: – Bùi Thu Lan: Phê bình các bạn tổ 1 trực nhật chưa sạch trong tuần đầu tháng, có bạn không đi sớm khi đến phiên trực nhật nên quét lớp vội vàng. Xem thêm: Hãy tả bố của em– Phạm Trà My: Phê bình một số bạn trai như Nhật Anh, Đức Dũng… hay giấu vở của các bạn gái. 3. Ý kiến của cô giáo chủ nhiệm: – Biểu dương các bạn chăm chỉ, tích cực xây dựng bài như Mỹ, Trường Sơn. – Các bạn có kết quả học tập chưa tốt cần cố gắng. – Trong thời gian tới, cả lớp cần cố gắng về tất cả các mặt, nhất là học tập để chuẩn bị cho kì thi giữa kì vào tháng 3. Cuộc họp kết thúc lúc 16h 35 ngày 28 tháng 2 năm 2009 Người điều khiển Anh Phạm Hải Anh Thư kí Thư Trần Anh Thư Vanmau.edu.vn
Biên bản cuộc họp lớp
366
Biên bản về việc cụ Ún (bài Thầy cúng đi bệnh viện) trốn viện Gợi ý BVĐK Lai Châu Khoa Ngoại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN VỀ VIỆC BỆNH NHÂN TRỐN VIỆN Hồi 6 giờ 10 phút sáng, ngày 19 tháng 11 năm 2008, chúng tôi gồm những người có tên sau đây, lập biên bản về việc bệnh nhân Lò Văn Ún, giường 7 phòng 207 khoa Ngoại, trốn viện: – Ca trực đêm 18 tháng 11: + BS Bùi Xuân Sơn, trưởng ca + BS Chu Văn Phòng + Y tá Tòng Thị Tính + Y tá Trần Quân Bảo – Đại diện bệnh nhân phòng 207 khoa Ngoại: + Bà Đinh Thị Hoa + Ông Quàng Văn Tĩnh Sự việc được tóm tắt như sau: Bệnh nhân Lò Văn Ún, giường 7 phòng 207 khoa Ngoại, được chỉ định mổ sỏi thận vào sáng ngày 19 tháng 11. 19 giờ ngày 18 tháng 11, khi đi thăm các phòng bệnh, BS Bùi Xuân Sơn không thấy bệnh nhân Ún, những người bệnh trong phòng không biết ông đi đâu. 23 giờ, BS Chu Văn Phòng kiểm tra nhưng vẫn chưa thấy ông Ún trở về. Đồ dùng cá nhân trong tủ của ông cũng không còn. Bà Đinh Thị Hoa, ông Quàng Văn Tĩnh và một số bệnh nhân phòng 207 cho biết ông Ún nói rất sợ mổ, rất lo lắng vì phải mổ. 6 giờ sáng, khi đến kiểm tra, vẫn chưa thấy ông Ún, chúng tôi cho rằng bệnh nhân sợ mổ nên đã trốn viện. Xem thêm: Bình luận lời khuyên của Huấn Cao khi cho chữ viên quản ngục: "Ở đây lẫn lộn... cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”(Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Văn 11). Từ đó hãy nêu lên ý nghĩa sâu sắc của việc Huấn Cao cho chữ viên quản ngục Đề nghị Ban Giám đốc bệnh viện cho tìm và thuyết phục bệnh nhân về để ca mổ được tiến hành kịp thời, tránh xảy ra hậu quả đáng tiếc cho bệnh nhân. Những người có mặt kí tên: Bác sĩ và y tá ca trực BS Bùi Xuân Sơn BS Chu Văn Phòng Y tá Tòng Thị Tính Y tá Trần Quân Bảo Đại diện bệnh nhân phòng 207 Đinh Thị Hoa Quành Văn Tĩnh Vanmau.edu.vn
Biên bản về việc cụ Ún (bài Thầy cúng đi bệnh viện) trốn viện
377
Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Hướng dẫn 1. Giải thích nội dung của ýthơ – Biển rất giàu đẹp: cho con người cá, cung cấp nguồn hải sản vô cùng phong phú. – Biển cả đối với ngư dân cũng rất ý nghĩa thủy chung, bao la như lòng mẹ chờ che nuôi nấng họ lớn lên, bao bọc họ với một tình cảm trìu mến, thân thương. 2. Bàn luận – Khẳng định được vai trò quan trọng của biển đảo đối với đời sống con người (về phát triển kinh tế, về giao thông đường biển và quốc phòng an ninh…) – Bàn về tình yêu đối với biển đảo quê hương, cần có thái độ nghiêm túc, thể hiện được ừách nhiệm công dân với những biểu hiện cụ thể (có dẫn chứng minh họa). 3. Bài học nhận thức và hành động – Thể hiện tình yêu biển đảo, yêu đất nước bằng những hành động cụ thể, thiết thực phù họp với lứa tuổi của mình (ra sức học tập, lao động, tích cực tham gia các hoạt động hướng về Hoàng Sa – Trường Sa…) – Thể hiện thái độ của bản thân trước sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nguồn: Xem thêm: Nguyễn Bá Học có nói: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Em hiểu gì về ý nghĩa câu nói trên. Hãy giải thích
Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
261
Biển đẹp nhất vào buổi sáng và buổi chiều. Hãy tả lại cảnh biển để lại cho em nhiều ấn tượng sâu sắc nhất Gợi ý Hè vừa qua, do kết quả học tập tốt, em được bố mẹ cho đi Sầm Sơn. Sầm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa, là một trong những bãi biển đẹp nhất nước ta. Kì nghỉ đã để lại cho em nhiều điều thú vị. Nhưng có lẽ, ấn tượng sâu sắc nhất đối với em lại là cảnh buổi chiều trên bãi biển này. Trước hết phải nói ngay rằng, đó là một buổi chiều muộn, khi dân tắm biển đã về gần hết. Cái vui tươi, sặc sỡ, ồn ào của những tấm ô, dù đủ màu với những cuộc nhảy sóng, lênh đênh hàng phao, thuyền cao su không còn nữa. Biển được trả về dáng vẻ nguyên sơ của nó. Biển chỉ còn lại một màu xanh bất tận. Cái màu xanh không có từ ngữ để diễn tả nên đành gọi là “màu xanh nước biển”. Từ ngoài xa ấy biển trông phẳng như một bức tường màu được viền bằng một dải “đăng ten” hồng của chân trời lặn, chỉ còn những tia sáng hắt lên. Gần hơn, biển bắt đầu cuộn sóng. Không biết trong lòng biển thế nào, chỉ thấy chập chờn, tha thướt, nhấp nhô, thành từng lớp những con sóng đuổi theo nhau. Càng vào gần bờ lớp sóng sau càng cao hơn lớp sóng trước. Cách bờ chừng 100 mét chúng đổi chỗ cho nhau, lớp sóng trước cao, lớp sóng sau thấp. Thế rồi ngay trước mặt em là một bức thành bằng sóng màu trắng bạc. Bức thành ấy đổ sập xuống trút nước ào ào vào bờ. Từng đợt sóng cứ như thế, liên tục “liếm” bãi cát, để lại những ngấn cát màu sâu sẫm. Sóng như trẻ con, từng đoàn, từng đoàn “đùa” nhau mãi không chán. Mỗi lần sóng đổ vào bờ là một lần bờ cát đầy những vỏ ốc biển nhỏ. Chúng dài khoảng 5 xăng ti mét màu trắng hoặc màu nâu, tất cả đều óng ánh. Cũng mỗi lần như thế, những chú còng gió bị sóng lôi từ dưới đất lên, hốt hoảng chạy trên bãi cát phẳng mịn rồi nhanh nhẹn lại rúc xuống cát. Em chăm chăm nhìn những đợt sóng đổ lên bờ để chọn nhặt vỏ ốc. Đến khi ngẩng lên nhìn ra biển, đã thấy ở phía Nam, từng đoàn thuyền đánh cá, buồm trắng buồm bâu, rồi bè mảng xăm xăm cặp bờ. Phía ngoài khơi xa ấy, ráng hồng đã lại bừng lên. Biển đã bất đầu tuần trăng rồi đấy! Em rất muốn đứng trước biển để xem trăng lên. Nhưng bố em bảo “Về thôi con! Ngày mai ta sẽ đi xem trăng. Đừng lo, biển mùa này lúc nào chẳng đẹp”.Xem thêm: Một hôm nào đó, em thôi mặc chiếc áo cũ của mình để tới trường. Em hãy kể lại một vài kỷ niệm của em về tấm áo ấyVanmau.edu.vn
Biển đẹp nhất vào buổi sáng và buổi chiều. Hãy tả lại cảnh biển để lại cho em nhiều ấn tượng sâu sắc nhất
515
Biểu cảm cảm xúc vườn nhà em lớp 7 Hướng dẫn Mùa xuân về lúc nào không rõ. Tôi nghe tiếng vườn gọi. Tôi chầm chậm gỡ chiếc cổng rong bước vào. Cây mùỗm khoe vồng hoa mới. Hoa muỗm tua tủa trổ thẳng lên trời. Hoa nhài đã trắng xoá ở bên vại nước. Hoa gọi người bằng hương, bằng sắc. Những bông hoa nhài xinh, một màu trắng tinh khôi, hương ngạt ngào sực nức. Hoa vườn có những màu cơ bản mà cây cọ của các hoạ sĩ chưa chắc đã hoà sắc nổi. Khi hoa nhài nở thì hoa bưởi cũng đua nhau nở. Từng chùm hoa bưởi, cánh trắng cũng chẳng kém gì hoa nhài, nhưng hoa bưởi lại có những tua nhị vàng ngấn lên giữa lòng hoa, chẳng khác gì những bông thủy tiên thu nhỏ. Hoa thơm nức ngào ngạt mang vẻ đẹp nồng hậu của các cô gái quê. Hoa bưởi là hoa cây còn hoa nhài là hoa bụi. Hoa cây có sức sống mạnh mẽ. Hoa bụi có chút gì giản dị hơn. Bông nhài trăm cánh như nhau, hương toả từ những cánh hoa. Nhưng hương bưởi và hương nhài chẳng bao giờ lẫn. Mỗi thứ hoa có tiếng nói riêng của mình. Vườn chè sau nhà tôi cũng bắt đầu ra búp. Những búp chè xuân một tôm hai lá. Tôm màu lá mạ, lá ngấn một màu xanh non… Và dọc bụi tre, những lá già theo gió đông nam thổi về, trút một lượt dưới gốc. Tiếng tre kẽo kẹt là một thứ tiếng vườn. Không bao giờ quên nổi. Lá tre già bay bay trước gió, xao xác như thể từ đó trải một nỗi buồn nhẹ nhàng thầm kín. Nhưng cái buồn ấy dễ quên ngay, khi thấy trên các nhành tre mới là những tán xoan. Cả mùa đông, xoan phai thân phơi cành khô trước gió lạnh. Mà chỉ hơi xuân chớm đến, trên những càhh cây tưởng chừng như chết ấy, bỗng vỡ òa ra những chùm lộc biếc. Lộc xoan có màu ngọc lục sang trọng, nhìn ngắm mãi vẫn chưa hết vẻ đẹp của búp trên cành! Xem thêm: Từ ý thơ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Anh (chị) hãy bàn về quan hệ giữa tâm và tàiVà trong những tầng lá, những tán cây vườn ấy, mọi sinh vật đều tụ hội… CẢM NGHĨ VỀ CẢNH VẬT: KHU VƯỜN NHÀ BÁC Sau khi dạo quanh đất nước, nếm các vị ngọt bùi, ta bâng khuâng trở về với cội nguồn của nó: mảnh vườn quanh nhà sàn Bác. Đây là cái gôc của mùa xuân, cái gốc của mọi niềm vui, của màu xanh và vị ngọt bùi nở ra vô tận. Vườn cây ôm tròn gần nửa vòng xung quanh ao cá cứ nở đầy nỗi thương nhớ không nguôi. Vị khế ngọt Ba Đình. Hồng xiêm Xuân Đỉnh cát mịn. Bưởi đỏ Mê Linh, ồ cái màu bưởi chín kì lạ sao, màu đỏ sẫm từng buông xuống mảnh đất tế cờ của Hai Bà Trưng. Hồng Liên Thôn! Cả một rặng cây hồng! Mùa đông, cây trụi hết lá, chỉ còn hàng trăm quả trĩu trịt trển cành màu hồng chói như hàng trăm chiếc đèn lồng cứ phập phập thở lửa giữa sương giá, ơi cái màu hồng thắm thiêt và vồn vã… Sum vầy muôn loài quả khác mang bóng dáng miền quê yêu thương. Bãi bờ Nam Bộ đậm vị phù sa trong mùi bưởi Biển Hoà. Lăng lờ Hương Giang phảng phất hương khói trên cành quít Hương Cần nhỏ nhắn và quả thanh trà tròn xinh xứ Huế. Thơ Kiều man mác dặm cát Tiền Điền quấn quyện cành hồng Nguyễn Du. Oi Bo treo lủng lẳng trĩu nặng thơm hương sa bồi quê hương năm tấn. Bưởi Đoan Hùng hiền lành khơi gợi hình ảnh bà bủ Việt Bắc đem quà tặng đoàn con Vệ quốc hành quân ngược bến Bình Ca lên chiến khu… Mảnh vườn Bác nào có rộng hơn những mảnh vườn thôn dã. Ước chừng cũng xấp xỉ rộng bằng mảnh vườn làng Sen thuở ấu thơ. Nhưng do bàn tay sắp xếp của con người, ta có cảm giác rộng ‘rãi, thoáng đãng, tứ thời bát tiết hương sắc… Nguồn: thêm: Ca dao xưa có bài: "Công cha như núi Thái Sơn ,Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con". Giải thích câu ca dao và lấy những nhân vật thiếu nhi trong văn học để chứng minh rằng: Các em vẫn luôn làm
Biểu cảm cảm xúc vườn nhà em lớp 7
789
Biểu cảm về con vật nuôi mà em yêu quý lớp 7 Hướng dẫn “Hay quả!… hay quá!… hay quá!…” Hàng loạt âm thanh cổ vũ, khen ngợi chú gà trống của nhà em đang vỗ cánh, cất lên tiếng gáy lanh lảnh vang khắp xóm. Đây là chú gà mà em thích nhất trong số các con vật nuôi trong nhà. Chú gà trống thật đẹp! Nhìn xa, chú bước đi chậm rãi, thong dong với dáng vẻ hiên ngang, hơi chút kênh kiệu làm cho cả đặn phải kiêng nể. Càng đến gần càng cảm nhận được nét oai phong lẫm liệt của một chú gà hảo hán luôn sẵn sàng ra tay nghĩa hiệp. Chú có thân hình to lớn, dáng dấp vạm vỡ, cao khoảng ba gang tay. Ngoài thân mình, chú khoác một bộ áo óng ánh màu đen bóng pha lẫn màu đỏ lửa trông giống như bộ áo giáp của một hiệp sĩ. Các bạn ơi, các bạn có biết không tuy có vẻ nóns tính và hiếu chiên nhưng chú gà trống của mình rất dễ thươns. Chú sẵn sàng nhường cho các chú gà con, cho các chị gà mái khi bới tìm được thức ăn. Và cũng rất dễ thương khi chú làm dáng với các cô gà mái bằng cách khoe ra những chiếc lông đuôi sặc sỡ, vổng cao lên thành một đường cong mềm mại trông giống như chiếc quạt nan. Em thích nhất là cứ mỗi buổi sáng, bất kể trời mưa hay nắng, nóng hay lạnh, giống như một người công nhân cần cù siêng năng, chịu thương chịu khó, chú thực hiện công việc mà thiên nliiển giao phó: Nhảy lèn một cành cây cao thuận tiện, vỗ cánh phành phạch như để khởi động, chú cất lèn bài ca muôn thuở “ò.. ó… o… o…”. Tiêng gáy vang xa khắp không gian thúc cho ông mặt trời xuất hiện. Tiếng gáy vang xa giục người lớn mau thức dậy chuẩn bị đi làm. Tiếng gáy vang xa hối các em nhỏ tỉnh ngủ nhanh tay cắp sách đến trường. Chú gà trông quả thật là một đồng hồ báo thức tuyệt vời!… Để đáp lại công lao mang lại lại ích cho nhiều người, em luôn chăm sóc chú gà rất cẩn thận. Hằng ngày, ngoài thức ăn chú tự tìm được do bới tìm dưới đất, em còn cung cấp thêm thóc lúa cho chú. Cứ mỗi lần em cầm nắm thóc bước ra sân với tiếng “bấp…bấp…” phát ra trên miệng thì chú gà đứng im, mắt hướng về phía em như chờ đợi, như yêu thích, như thốt lên lời: “Cám ơn cô chủ! Cô đối xử rất tốt với tôi, tôi sẽ không phụ lòng cô đâu!” Và khi nắm thóc được tung ra thì những tiếng “cốc… cốc…cốc…” không ngừng vang lên trên nền gạch. Tiếng gà gáy bay lên không trung, vang xa khắp bầu trời chẳng những là một tiếng kèn làm mọi người thức giấc, tính dậy mà còn là một tiếng loa nhắc nhở tất cả chúng ta phải luôn quý trọng và yêu mến loài vật, yêu mến thiên nhiên giống như Bác Hồ đã từng làm gương cho con cháu: Xem thêm: Ôn Tập 3 Tiếng Việt Lớp 5 Giữa Kì 2“Con cá rô ơi chớ có buồn Chiều chiều Bác vẫn gọi rô luôn.” BIÊU CẢM VỀ CON CHIM CÔNG Mùa xuân trăm hoa đua nở, ngàn lá khoe sức sống mơn mởn. Mùa xuân cũng là mùa công múa. Con công cái to bằng con gà mái, thân hình hơi giống con gà mái tây. Cổ công cái dài và cong như cổ ngỗng. Mỏ hơi giống mỏ chim cuốc. Công cái là một loài chim không đẹp, cũng không xấu. Nhưng khi công cái đứng cạnh công đực thì lại trở nên xấu xí, chỉ vì công đực quá đẹp. Mùa xuân, mùa chim công cái gọi đực. Công thường đi từng đôi nhởn nha kiếm ăn giữa rừng. Chim công củng bới như gà, ăn mối, ăn kiến, ăn sâu bọ như gà nhà. Sau khi kiếm ăn được lưng lửng diều, con đực múa vờn con cái. Khi kiếm ăn hay nhởn nha dạo xung qunh những gốc cây cổ thụ hoặc đậu trên cành cao, đuôi con công đực thu lại như chiếc quạt giấy khép hờ, dài gần sải tay, bao nliièu màu sắc của đuôi công được giấu kín. Nhưng khi con công mái kêu ‘cút cút” như con gà mái gọi trống thỉ lập tức con đực củng lên tiếng “ực ực” sâu trong cổ họng đáp lại. Đồng thời con đực xoè bộ đuôi thành một chiếc ô rực rỡ, che rợp cả con mái. Mùa xuân, từng đôi công suốt ngày kiếm ăn, suốt ngày múa vờn bên nhau. Chiếc ô màu sắc đẹp đến kì ảo xập xoè uốn lượn dưới ánh nắng xuân ấm áp. Quả không ngoa, khi người ta ví chim công là những nghệ sĩ múa tuyệt vời của rừng xanh. BIỂU CẢM VỀ CHIM THIÊN NGA Cánh đồng cỏ của cao nguyên Gia Lai, Đắc Lắc vào mùa mưa, có rất nhiều hồ nước nổi lên như những chiếc gương lớn. Một loại chim từ phương bắc, bay theo các triền núi cao Trường Sơn về đây tụ tập lại quanh các hồ nước kiếm ăn, tắm mát và ca hát: chim thiên nga. Thiên nga thân trắng phau, mỏ đỏ, chân cao, cặp mắt đen huyền, viền vàng và mang trên đầu một lớp lông tơ mịn xanh nhạt như màu xanh da trời. Thiền nga đậu trắng mặt hồ, và màu trắng của nó nổi bật trên nền xanh của cỏ non, hoà với màu sáng của nước bạc long lanh dưới ánh nắng vừa chợt đến, chợt đi. Thiên nga thật là một loài chim biết tự khoe mình vì vẻ đẹp và các động tác múa của tninh. Nếu như bầy chim công múa rất dẻo, uyển chuyển, nhịp nhàng, xứng đáng là nghệ sĩ của rừng xanh, thì tiếng thiên nga còh được coi là những giọng nữ cao tuyệt diệu, ngoài các động tác múa khoẻ khoắn của nó. Ớ khu rừng nào có hồ nước, buổi sáng sớm, tiếng chim thiển nga hót trên mặt hồ, nghe vang xa hàng hai, ba cây số. Các loài thú rừng củng mon men đến gần tận nơi, để được nhìn những bộ lông trắng muốt một cách thèm thuồng. Rừng Trường Sơn với các loài chim quý như đại bàng, công, và có thêm thiên nga, như càng tăng thêm vẻ đẹp. Nguồn: thêm: Trình bày hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nhan đề bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo
Biểu cảm về con vật nuôi mà em yêu quý lớp 7
1,127
Biểu cảm về cây Mai ngày tết Hướng dẫn Mùa xuân đến! Hàng ngàn bông hoa đua nhau khoe sắc, đua nhau khoe những bộ cảnh đủ màu rực rỡ: này là hoa hồng với mùu đỏ rực, này là hoa cà với màu tím nổi bật, này là hoa sữa với bộ cánh trắng tươi,…nhưng trong số đó, em vẫn thích nhất hoa mai vàng. Tết đến! Mùa xuân đến! Hoa mai vàng là nhất. Cứ ra phố mà xem. Nhà nào nhà nấy đều trưng một chậu mai vàng tươi thắm. Tuy hoa hồng được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa, nhưng Tết đến thì củng phải nhường hoa mai vàng một bước. Vì thế đây là loài hoa em yêu thích nhất. Thần cây, cành cây nho nhỏ, sâm sẫm toả ra vô vàn bông hoa vàng rực rỡ. Cây mai trưng bày trước nhà em là do mẹ mua về. Em trang trí cho cây hoa bằng đủ mọi thứ: câu chúc tết, bao lì xì, hình Phúc-Lộc-Thọ,… Cây mai đứng đón khách ngày Tết… Gió thổi làm những cảnh hoa lung lay như những cánh tay vẫy chào khách quí. Em thích Tết củng như rất thích loài hoa biểu tưởng cho mùa xuân! Để có được một cành hoa mai đẹp trưng bày trong ngày Tết, hằng ngày em vừa chăm sóc, tưới nước cho cây vừa lặng lẽ ngắm nhìn cây lớn lên tươi tốt như một người bạn thân. Thật vui biết bao khi thấy một búp non nở ra một bông mai vàng xen giữa những lá xanh nho nhỏ, cành cây yểu điệu, mùi thơm thoang thoảng. Hình ảnh này khắc sâu trong kí ức em! Em luôn dành một tình cảm đặc biệt với cây mai! Không chỉ đơn thuần là loài hoa được trưng bày trong ngày Tết mà còn hơn thế nữa đây là một người bạn thăn của em. Em rất yêu hoa mai! Trước kia, bây giờ và cả sau này. Em luôn mong mùa xuân đến để được thưởng thức vẻ đẹp của cảnh mai vàng với mùi hương ngất ngây lòng người. Nguồn: thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Bốn mùa trên đất nước thân yêu
Biểu cảm về cây Mai ngày tết
372
Biểu cảm về cây tre Hướng dẫn “Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ reo”. Nơi tôi sống chẳng gọi là làng cũng không có tiếng chuông nhà thờ vào mỗi chiều, chỉ có bóng tre xanh mát rượi những trưa hè. Đó là một vùng quê rợp một màu xanh bát ngát của tre và du dương trong tiếng sáo diều vi vút. Nhớ ngày ấy, tôi là một đứa trẻ chạy theo những cánh bướm chập chờn trên đồng. Tôi thích thú được sống ở quê ngoại hơn là ở nhà mình nơi thành phố. Nhà ngoại tôi trồng rất nhiều tre, trúc. Những khóm tre cao vút thẳng đứng như những mũi tên nhọn đâm thẳng lên trời. Yêu làm sao cái dáng thẳng của tre dù chịu bao gió bão, cái dáng ấy làm tôi nhớ đến hình dáng cậu tôi, mợ tôi những người suốt đời lam lũ. Tôi thấy thương cho những chòi non vừa mới nhú, chúng cũng phải chịu gió mưa như cha mẹ mình. Nếu nói cây cũng có tình mẫu tử thì cây tre cũng không ngoại lệ. Chỉ duy chiếc áo cộc, tre cũng nhường hết cho con. Tôi hiểu tại sao những búp măng lại mọc thẳng, có lẽ vì nó được cha mẹ, ông bà truyền lại đức tính ngay thẳng của mình. Giữa trưa hè, tre xòe những chiếc lá thon dài như ngón tay xinh xinh của cô thiếu nữ để che mát cho người. Chẳng bao giờ chịu sống riêng lẽ, tre luôn mọc thành khóm, thành lũy, hết lớp này đến lớp khác như một bức tường rào vững chắc.Xem thêm: Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong tác phẩm Vơ nhặt của Kim Lân Người ta bảo tre là loài cây ra hoa chậm nhất trên thế giới. Nhưng với chúng tôi, những người dân làng quê chẳng cần quan tâm chuyện tre ra hoa bởi vì lợi ích mà loài cây này mang lại vốn đã rất nhiều. Chúng tôi lấy thân tre làm thành những bộ bàn ghế, tre làm phên vách, tre làm cột, kèo xây nhà. Các chị khéo tay chuốt từng thanh gỗ tre thành đũa. Các bà thì lấy tre đan thành rỗ, thúng…Nhờ tre mà nhiều gia đình quê ngoại tôi có thêm tiền trang trải sinh hoạt. Tre gắn bó với dân quê như thế, tre như người mẹ, người bạn, người thân của chúng tôi. Với lũ trẻ quê, tre là đồ chơi là cả một kho báu. Chúng tôi lấy tre làm lồng đèn trung thu, làm diều, làm nón…Tôi thích nhất là câu cá bằng cần câu tre, vừa dài vừa nhẹ lại không sợ chìm. Ôi những lũy tre chạy dài khắp xóm, cây tre nào đã mang ước mơ tôi giấu trong cánh diều trắng. Cây tre nào dạy tôi bài học làm người với từng ngọn roi ba đánh. Cây tre nào chở tôi qua con sông để đến trường?Tôi nhớ có một lần trốn học, bà giận lắm mang roi ra đánh, tôi trốn trong bụi tre gai sau nhà. Bà tìm cả ngày trời không gặp đã gọi ba mẹ tôi từ thành phố về và nhờ hàng xóm tìm giúp. Trong bụi tre kín đáo ấy, tôi mải mê ngủ như một chú chim trong tổ. Đến chập tối tìm đường ra nhưng vướng phải gai tre không thể nào ra được. Tôi khóc và thét lên làm mọi người phải chặt bỏ tre để mang tôi ra. Sau lần ấy tôi chẳng bao giờ dám trốn học nữa vì thương bà lo lắng và thương cả những bụi tre chịu đau đớn vì tôi.Xem thêm: Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao Hôm nay tôi đã lên thành phố, thế nhưng tôi vẫn không muốn rời xa loài cây yêu quý của mình. Tôi xin ngoại một măng tre non và trồng nó trước nhà. Măng tre của tôi giờ đã lớn và mọc những chòi non bên cạnh. Rồi chúng sẽ làm thành khóm tre xanh mướt. Tre ơi! Tre phải sống thật khỏe mạnh và xanh tươi nhé. Tôi sẽ cùng tre đi qua những tháng ngày tuổi trẻ tươi đẹp và cùng vươn lên ánh mặt trời.
Biểu cảm về cây tre
729
Biểu cảm về loài hoa em yêu lớp 7 hay nhất Hướng dẫn Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Đúng như lời ca dao xưa đã nói, cây hoa sen có một vẻ đẹp bình dị và thanh cao không dễ dàng tìm thấy ở các loài cây, loài hoa khác. Có lẽ vì thế, chẳng biết tự bao giờ, cây hoa sen đã là loài cây em thích nhất. Hoa sen thường mọc ở các đầm hồ của những vùng quê, những ngôi làng dân dã. Cây hoa sen có thân và rễ ngập trong nước. Những chiếc lá to, màu xanh đậm cùng hoa màu hồng nhạt vươn lên mặt hồ. Từ lâu nay, cây hoa sen gắn bó với người dân quê trong suốt cuộc đời của họ. Hoa sen chính là hình ảnh tượng trưng cho con người sống nơi thôn làng. Hoa sen mọc ở ao hồ củng giống như người dân ở nơi thôn dã vất vả, nhọc nhằn. Thế nhưng có bao giờ hoa sen lại mang một thứ hôi tanh của bùn đất, hoa sen luôn giữ cho mình một hương thơm thanh khiết như sự cần cù, chịu khó, không gục ngã trước những gian nan trong cuộc sống của người dân quế. Họ luôn vượt lèn số phận, vượt lên cuộc sống nghèo khó như những bông hoa sen vượt lên trên sự vấy bẩn của bùn đất, luôn giữ cho mình một vẻ đẹp riêng, một giá trị riêng. Có bao giờ bạn được ngồi bên một ao sen vào một buổi trưa hè để cảm nhận vẻ đẹp của bông hoa sen, đề thưởng thức vị dìu dịu, ngọt ngào của làn hương sen gửi vào trong gió dưới cái nắng gay gắt, chói chang. Thật tuyệt vời nếu bạn đã nếm thử vị trà được ướp trong lá sen! Lúc đó ban sẽ thấy như vị thơm của sen hoà lẫn vào hương trà làm xao xuyến lòng người. Còn nữa những chiếc gương sen làm quà tặng dành cho trẻ thơ. Thật thích thú khi có được món quà đó trong tay, tách từng hạt sen ra ăn với vị ngọt và bùi. Sau buổi đi học về, các em học sinh vùng quê lại chèo thuyền ra đầm sen, len lỏi qua từng kẽ lá để hái về những bông hoa thật đẹp, những chiếc lá thật to mang về nhà trưng trên bàn hoặc chơi trò bán hoa rất vui. Em yêu hoa sen, yêu vẻ đẹp dân dã, bình dị, yêu cả những hương vị quê hương với các món ăn làm từ cây sen. Mời bạn hãy đên một làng quê miền sông nước để thưởng thức vị chua chua, ngọt ngọt của những ngó sen dùng làm gỏi. Món gỏi ngó sen này giờ đây không thể thiếu trong các bữa cỗ, bữa tiệc ở nông thôn cũng như thành thị. Em yêu hoa sen! Sen bao giờ cũng gắn bó với người dân quẽ, luôn gắn bó với đời sống hằng ngày của dân tộc ta. Em yêu hoa sen, một loài hoa giản dị, thanh cao. Sen không có vẻ đẹp kiêu sa của hoa hồng, hoa lan, hoa cúc,… nhưng sen vẫn được các nhà văn, nhà thơ ca ngợi nhờ nét đẹp hiếm có mà các loài hoa khác không dễ gì có được, đó là “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. BIỂU CẢM VỀ CÂY HOA MAI a) Đặt vấn đề – Những đàn én bay lượn trên bầu trời sau một mùa trú đông, đó cũng chính là lúc những bông hoa khoe sắc với trời non. Trong cái nắng ấm áp của khí trời đầu năm đó, những cánh hoa mai bắt đầu nổ rộ b) Triển khai – Hoa mai là một biểu tượng của mùa xuân + Xuân tới những cánh hoa mai bắt đầu đâm chồi và nở ra những bông hoa thật tuyệt đẹp + Hoa mai gắn với hương vị của ngày tết truyền thống của nước ta + Sắc hương vàng của hoa mai cộng hưởng với ánh nắng khe khẽ vàng và bánh chưng ngày tết ắt hẳn tạo nên bức tranh đẹp trong tâm trí những người con xa quê hương + Hoa mai nở rộ như sức sống được dâng trào + Ngắm nhìn những cánh hoa mai ta cảm thấy lòng mình xao xuyến, bồi hối làm sao. Một cảm giác thật tuyệt vời vào những ngày đầu năm Xem thêm: Trình bày vắn tắt quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh trên những điểm chủ yếu và chứng minh rằng sự nghiệp văn học của Người là minh chứng hùng hồn và đẹp đẽ cho quan điểm ấy (chỉ cần chứng minh trên những nét lớn)– Mỗi cây hoa mai lại nở ra thật nhiều những bông hoa mai thật xinh đẹp, nhìn hoa mai ta như được ngắm nhìn vẻ đẹp của một thiếu nữ khoác lên mình bộ váy màu vàng xinh đẹp – Cảm ơn mẹ thiên nhiên đã tạo ra loài cây đẹp này để con người được chiêm ngưỡng “Phương Nam chuộng nhất giống hoa này Mỗi độ Xuân về nở đẹp thay Năm cánh vàng mơ hong gió sớm Một cành lộc biếc đón ban mai Tinh thần hơn cả Lan và Cúc Nhan sắc bỏ xa Huệ với Nhài So sánh hoa Đào trên đất Bắc Nhất nhì ai dễ chịu nhường ai!” – Cánh mai xòe ra "mịn màng như lụa", cùng với màu vàng dịu dàng tạo nên một cây mai mang vẻ đẹp thanh khiết, rực rỡ; hương thơm hoa mai nhẹ nhàng, thoang thoảng + Hoa mai cũng có năm cánh như hoa đào nhưng cánh hoa mai to hơn cánh hoa đào một chút + Thỉnh thoảng một làn gió nhẹ thổi qua, những cánh mai lại nhẹ nhàng rơi phủ một vùng quanh gốc. – Nói về vẻ đẹp của hoa mai chắc hẳn chúng ta nói cũng không hết với vẻ đẹp phong trần mà huyền bí của nó, mỗi người có một cảm nhận riêng + Hoa mai trở thành đề tài của nhiều thi sĩ và họa sĩ c) đánh giá – Em rất thích ngắm nhìn hoa mai – Hoa mai mang tới cho em cảm nhận về sự dịu dàng nhưng cũng đầy quyến rũ Cảm nghĩ về hoa hướng dương a )đặt vấn đề Loài hoa đẹp luôn hướng về những tia nắng ấm áp của mặt trời là hoa hướng dương. Hoa hướng dương mang vẻ đẹp của sự kiêu sa, sự lộng lẫy b) triển khai – Vẻ đẹp của hoa hướng dương không ai có thể chối từ. Giữa một cánh đồng hoa hướng dương ta như được thả mình vào sức sống, vào những điều tuyệt với nhất trên thế gian này. Mỗi bông hoa là một thực thể sống, nó mọc lên như một cá thể tồn tại trong thế giới này. Nó mọc lên một cáchvĩ đại như những con người mang khí thế anh hùng, mỗi cây là một bông hoa và mỗi bông hoa là một sức sống tiềm tàng riêng biệt. Mỗi bông hoa luôn cố gắng vươn lên mặc dù nó tồn tại một mình giữa rừng hoa hướng dương; nó không chịu sự chi phối nào cả. Những bông hoa vươn cao và bắt đầu nở bung ra; khoảnh khắc ấy thật tuyệt đẹp làm sao; mỗi bông luôn cố gắng bắt nhịp với sự sống của cả cánh rừng hoa hướng dương. Một bài học ta nên học từ loại hoa này đó là sự nổ lực, sự cố gắng; không bị dựa dẫm vào ai mà một mình cũng có thể khoe sắc với đất trời. Hướng dương khoác lên mình một màu vàng tươi sáng, màu vàng của những hi vọng. Hoa hướng dương có kích thước lớn hơn so với các loài hoa đẹp. Bên ngoài là màu vàng còn nhụy ở giữa là một màu nhung của sự huyền bí. Hoa hướng dương phơi bày tất cả sắc đẹp của mình cho mọi người xem; không giấu giếm một cách e thẹn như những bông hoa khác. Nhắc đến hoa hướng dương là nhắc đến niềm tin, niểm hi vọng vào cuộc sống. Vì thế, con người ta thường khuyên bảo nhau rằng ’hãy sống như những đóa hoa hướng dương’. Đó là những lần vấp ngã ở cuộc sống và biết đứng lên, Đó là sự tin tưởng vào chính bản thân mình, Đó là bản lĩnh, nghị lực vượt lên mọi số phận… Và vô số bài học ý nghĩa khác từ loài hoa đẹp này c)đánh giá – Hoa hướng dương là loài hoa mang nhiều ý nghĩa nhân sinh. Hoa hướng dương mang vẻ đẹp phong trần đến quyến rũ. Đó là những lí do em yêu quý loài hoa đẹp này. Và em đang hằng ngày, hằng ngày cố gắng sống trọn cuộc đời mình như những bông hoa hướng dương mạnh mẽ kia; sẽ luôn hướng về những gì tươi sáng, đẹp đẽ nhất của cuộc đời mình. Nguồn: thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Chấn Vũ canh gà Thọ Xương”
Biểu cảm về loài hoa em yêu lớp 7 hay nhất
1,535
Buy-phông, nhà văn Pháp nổi tiếng, có viết: “Phong cách chính là người”. Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào Gợi ý "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay chỉ làm theo một vài kiểu mẫu… Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu suy nghĩ, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có", với nhà văn Nam Cao, ông đòí hỏi ở mỗi người cầm but một sự sáng tạo riêng cho mình, để lại cho văn học những gì là của riêng mình. Nhà văn Pháp Buy-phông thì quan niệm "Phong cách chính là người”. Quan niệm này phải chăng xuất phát từ mối quan hệ giữa nhà văn với những điều thuộc về riêng nhà văn đó? Trong câu nói của Buy-phông, “Phong cách” là những nét độc đáo của riêng mỗi nhà văn thể hiện trong văn học. Đó là "những nguồn chưa ai khơi" nhưng nhà văn đó đã khơi tìm và hưởng được sự ngọt mát của nó cần hiểu rằng, phong cách của nhà văn được thể hiện, trên cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật. Trong nội dung, phong cách nhà văn in đậm trong quan niệm về cuộc sống con người, việc lựa chọn đề tài, xây dựng chủ đề, cách lí giải vấn đề về cuộc sống con người,… Có thể thấy rõ điều này ở nhiều nhà văn như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Hồ Chí Minh,… Nguyễn Tuân thường nhìn mọi sự vật, sự việc dưới góc độ của sự tài hoa. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà văn tìm thấy sự tài hoa của những nhà Nho hết thời trong những thú chơi tao nhã của họ: thả thơ, uống trà, ngâm vịnh,… Sau Cách mạng, nhà văn lại say mê với sự tài hoa của những con người Việt Nam trong lao động, sản xuất,… Nam Cao lại khác. Trước Cách mạng, ông đau đáu với đề tài về những người nông dân Việt Nam nô lệ bị tha hoá về tinh thần, nhân phẩm hay những nhà trí thức Việt Nam quằn quại trong nỗi đau vì bị "áo cơm ghì sát đất",…Xem thêm: Nghị luận xã hội về hạnh phúc- Văn 12 Về nghệ thuật, phong cách nhà văn cũng được thể hiện đa dạng ở nhiều phương diện: phương thức biểu hiện, lựa chọn thủ pháp nghệ thuật, cách tổ chức kết cấu, tổ chức ngôn ngữ,… Điều này cũng rất dễ nhận biết đặc biệt ở những tác giả lớn. Nhà thơ Tố Hữu thường chọn thể thơ lục bát, giọng điệu tâm tình ngọt ngào để thể hiện tình cảm tha thiết, chân thành của nhân vật trữ tình. Nhà văn Nam Cao lại rất dễ "bị" nhận ra bởi lôi kể chuyện đảo trình tự tuyến tính hiện đại hay cách liên kết đoạn văn rất tài tình,… Mỗi nhà văn lại có những ý tưởng độc đáo khác nhau trong cách thể hiện tác phẩm của mình. Và với độc giả, khi đọc một truyện ngấn, thưởng thức một bài thơ… không gì thích thú là việc phát hiện ra những nét đặc sắc về phong cách của các tác giả. Những nhà văn, nhà thơ có tài năng thực sự mới có thể định hình phong cách riêng của mình.. Và giữa phong cách của mỗi tác giả lại có mối quan hệ chặt chẽ tới bản thân cá tính mỗi nhà văn. Trong văn học, phong cách được thể hiện sinh động như một thực thể bộc lộ những quan niệm cá nhân về văn học. Trong truyện ngắn của mình, Nam Cạo luôn có vẻ khách quan, hờ hững với nhân vật. ông gọi họ là "y", là "thị", miêu tả họ với những hình hài xấu xí, thậm chí là ghê rợn (đặc biệt là những người nông dân). Nhưng đằng sau những trang văn tưởng như lạnh lùng, khinh thị ấy là tấm lòng đồng cảm thấu suốt là tình thương đến nhói buốt của một tấm lòng đồng ái, đồng chủng. Ngoài đời, con người Nam Cao cũng có dáng vẻ giống như giọng điệu văn chương của ông trong truyện ngắn. Nhắc đến Nam Cao, những người bạn văn nhớ đến một dáng vẻ trầm lắng, ít nói. Nhưng thực chất, ẩn đằng sau dáng vẻ phẳng lặng, im ăng ấy là một tinh thần sôi nổi, quyết liệt. Chỉ có những tính cách mạnh mẽ mới có thể phát biểu thế này: "Sống đã rồi hãy viết"!Xem thêm: Mỗi người là một cõi nhân gian bé tí… Hãy viết tiếp câu trên để hoàn thành một bài nghị luận Phong cách của nhà văn in đậm lên từng trang viết. Đến lượt mình, phong cách văn học của mỗi tác giả lại in sâu yào lòng người đọc tạo nên mối đồng cảm sâu sắc giữa những nhà văn, nhà thơ và những độc giả chân thành. Đưa ra một nhận định đúng đắn, Buy-phông định hướng cho những nhà văn hay những người ôm mộng vằn chương phải biết định hình cho mình một phong cách riêng nỏi bật. Đó phải là phong cách của riêng anh để người đọc nhận ra đó là anh chứ không phải là người khác. Đến lượt mình, mỗi độc giả cần là một người đọc thông minh biết tìm tòi, suy nghĩ phát hiện nét phong cách riêng của mỗi nhà văn. Vanmau.edu.vn
Buy-phông, nhà văn Pháp nổi tiếng, có viết_ “Phong cách chính là người”. Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào
918
Buổi học cuối cùng ngữ văn 6 Hướng dẫn I. ĐỀ LUYỆN TẬP Đề 1. Giới thiệu một Vài nét về An-phông-xơ Đô-đê và truyện “Buổi học cuối cùng”. Đề 2. Truyện ngắn "Buổi học cuối cùng" có nhiều câu cảm thán. Em hãy nêu lên một số câu có giá trị biểu cảm nhất. Đề 3. Cảm nhận của em về thầy Ha-men qua những điều suy nghĩ của cậu học trò nhỏ Phrăng trong truyện "Buổi học cuối cùng". Đề 4. Nêu cảm nghĩ của em về truyện ngắn "Buổi học cuối cùng" của An-phông-xơ Đô-đê. II. BÀI VĂN TỰ LUẬN Đề 1. Giới thiệu một Vài nét về An-phông-xơ Đô-đê và truyện “Buổi học cuối cùng”. An-phông-xơ Đô-đê (1840-1897) là nhà văn lỗi lạc của nước Pháp trong nửa sau thế kỉ XIX. Ông lao động cực nhọc và tự học mà thành tài. Ông viết kịch, viết tiểu thuyết, những thành tựu nổi bật nhất, xuất sắc nhất là truyện ngắn. "Những bức thư từ cối xay gió của tôi" (1869) và "Chuyện kểngày thứ hai"(1873) là hai kiệt tác văn chương của ông để lại cho đời. Truyện của ông thấm đượm chất đồng dao, dân ca, nhẹ nhàng và trong sáng, diễn tả cảm động những nỗi đau và tình thương, đặc biệt là tình yêu đồng quê, tình yêu đất nước quê hương. Truyện “Buổi học cuối cùng”trích trong tập truyện “Chuyện kế ngày thứ hai”. Cậu học trò nhỏ Phrăng kể lại tâm trạng của mình về hình ảnh thầy Ha-men, nói lên không khí lớp học trong buổi học tiếng Pháp cuối cùng trên quê hương em. Câu chuyện thấm thía bao nỗi buồn đau mất nước của người thầy, của tuổi thơ vì dưới ách thống trị của ngoại bang không được dạy và học tiếng mẹ đẻ thân thiết yêu thương của dân tộc mình. Đề 2. Truyện ngắn "Buổi học cuối cùng" có nhiều câu cảm thán. Em hãy nêu lên một số câu có giá trị biểu cảm nhất. Truyện “Buổi học cuối cùng” là một tác phẩm đặc sắc của nhà văn Pháp An-phông-xơ Đô-đê (1840 – 1897). Đây là truyện của Phrăng, “chuyện của một em bé người An-dát”. Những suy nghĩ và tâm trạng của cậu học trò nhỏ Phrăng về thầy Ha-men được tái hiện một cách cảm động vô cùng. Một số câu cảm thán có giá trị biểu cảm đã làm nổi bật tâm trạng của nhân vật Phrăng trong buổi học cuối cùng. Dưới đây là một số câu cảm thán tiêu biểu: – Trời sao mờ ấm đến thế, trong trẻo đến thế! – Yên một chút nào! – Bài học Pháp văn cuốicùng của tôi!… Mà tôi thì mới biết viết tập toạng! Vậy là sẽ chẳngbao giờ được học nữa ư, phải dừng ở đó ư!… – Tội nghiệp thầy! – Thế nào! Các người tự nhận là dân Pháp, vậy mà các người chẳng biết đọc, biết viết tiếngcủa các người!… – Ôi! Tôi sẽ nhớ mãi buổi học cuối cùng này. – Nước Pháp muôn năm! – Kết thúc rồi… đi đi thôi! Đề 3. Cảm nhận của em về thầy Ha-men qua những điều suy nghĩ của cậu học trò nhỏ Phrăng trong truyện "Buổi học cuối cùng". Hình ảnh người thầy Ha-men là hình ảnh tiêu biểu nhất cho nỗi đau của một người dân mất nước. Vẫn như mỗi lần, thầy Ha-men "đi đi lại lại với cây thước sắt khủng khiếp kẹp dưới nách". Không phải ngày lễ phát phần thưởng hoặc có thanh tra đến trường, nhưng thầy Ha-men ăn mặc rất trang trọng: mặc áorơ-đanh-gốt màu xanh lục,… đội cái mũ tròn bằng lụa đen thêu… Lớp học của trường làng, trước đây ồn ào, vui vẻ thế, nhưng hôm nay trở nên “khác thường và trang trọng”.Ngoài đông đủ học trò, buổi học hôm nay lại có nhiều bà con dân làng đến dự, có cụ Hô-đe, bác phát thư,… “ai nấy đều có vẻ buồn rầu”. Thầy Ha-men "với giọng dịu dàng và trang trọng" thông báo cho mọi người biết: "Lệnh từ Béc-Lin là từ nay, chỉ dạy tiếng Đức và các trường vùng An-dát và Lo-ren… Thầy giáo mới ngày mai sẽ đến. Hôm nay là bài học Pháp văn cuối cùng của các con". Phrăng vô cùng "choáng váng" khi nghe thầy nói. Cuộc chiến tranh Pháp – Phổ năm 1870 – 1871, Pháp thất trận; vùng An-dát và Lo-ren của Pháp bị nhập vào nước Phổ. Tiếng thầy Ha-men chứa đựng bao nỗi đau của một trí thức yêu nước bị mất nước: "Các con ơi, đây là lần cuối cùng thầy dạy các con". Thầy Ha-men đã gắn bó với ngôi trường làng vùng An-dát đã gần 40 năm, thầy đã "phụng sự hết lòng", thầy đã "trọn đạo với Tổ quốc". Các cụ già và nhiều người đến dự "buổi học cuối cùng" là để "tạ ơn" thầy Ha-men, trước khi thầy giã từ, ra đi… Thầy nói lên một cách chân thành, xúc động về sự coi nhẹ học hành… là một trong những nguyên nhân thất trận: “Ôi! Tai họa lớn của An-dát chúng ta là bao giờ cũng hoãn việc học đến ngày mai”, ai cũng nghĩ: "Còn khối thì giờ. Ngày mai ta sẽ học". Phrăng là một cậu bé hay trốn học đi rong chơi ngoài đồng nội, được gọi lên, nhưng không "đọc được trót lọt" cái quy tắc phân từ rất hay của tiếng Pháp, thầy nhẹ nhàng nói: "Phrăng ạ, thầy sẽ không mắng con đâu…", "con vẫn chưa phải là người đáng tội nhất! Mà tất cả chúng ta cũng có phần đáng tự chê trách". "Học tập là nghĩa vụ của tuổi trẻ", "học tập là yêu nước" bài học lớn lao ấy đã được thầy Ha-men nói lên một cách giản dị và thấm thía biết bao! Xem thêm: Nhà văn Nga Lêônít Lêônốp có nói: "Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung". Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trênGiờ Ngữ pháp, thầy phân tích, thầy giảng giải, thầy tự hào ca ngợi tiếng Pháp "là ngôn ngữ hay nhất thếgiới, trong sáng nhất, vững vàng nhất". Bảo vệ, giữ gìn tiếng Pháp là nghĩa vụ của mỗi công dân: "phải giữ lấy nó trong chúng ta và đừng bao giờ quên nó". Yêu tiếng mẹ đẻ là yêu nước, là để giữ lấy hồn thiêng của núi sông, bảo vệ lấy nền văn hóa lâu đời của dân tộc, giữ vững và nuôi dưỡng ý chí tự lập, tự cường, để vươn lên giành lấy tự do thoát khỏi vòng nô lệ, như thầy Ha-men đã nói: “… một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù…”. Có thể nói buổi học cuối cùng là buổi học về lòng yêu nước mà trước hết là yêu tiếng Pháp, bảo vệ và giữ gìn tiếng Pháp. Bài học ấy thiêng liêng biết bao, nhất là đối với thầy Ha-men, đối với Phrăng và các cô cậu khác, đối với cụ già Hô-de và bao người dân vùng An-dát trong những năm tháng đen tối, đau thương! Đối với người Việt Nam chúng ta, yêu quý, giữ gìn tiếng mẹ đẻ là bài học xương máu. Một nghìn năm Bắc thuộc, 20 năm bị giặc Minh đô hộ, 80 năm bị thực dân Pháp thống trị, nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đã bảo vệ, giữ gìn tiếng Việt, chúng ta đã "nắm được chìa khóa chốn lao tù", làm cho tiếng Việt trở nên giàu đẹp như ngày nay. Với thầy Ha-men thì mỗi môn học, mỗi giờ học trong buổi học tiếng Pháp cuối cùng là những bài học về lòng yêu nước. Yêu nước Pháp là yêu tiếngPháp, là yêu chữ (văn tự) Pháp. Phải biết viết kiểu chữ rông thật đẹp, phải trang trọng khi viết tên Tổ quốc mình, quê hương mình: "Pháp, An-dát, Pháp, An- dát". Những tờ mẫu mới tinh thầy đã chuẩn bị trước, treo trước bàn học “trông như những lá cờ nhỏ bay phấp phới khắp xung quanh lớp”.Qua đó, ta thấy thầy Ha-men là một nhà giáo vĩ đại, một trí thức giàu lòng yêu nước. Giờ tập viết dễ khô khan, nhưng thầy đã truyền cho học trò tình yêu nước, ý thức học tập và giữ gìn văn tự Pháp. Cảnh tượng và không khí lớp học trong giờ viết tập thật trang nghiêm: "Ai nấy đều chăm chú hết sức và cứ im phăng phắc! Chí nghe thấy tiếng ngòi bút sột soạt trên giấy".Các em nhỏ thì "cặm cụi" tập viết "những nét sổ với một tấm lòng, một ý thức, như thể cái đó cũng là tiếnq Pháp". Phrăng vốn là một học sinh mải chơi thế mà buổi học cuối cùng hôm nay, em cảm thấy rất hạnh phúc “kinh ngạc thấy sao mình hiểu đến thế”,chẳng để ý đến con bọ dừa bay vào lớp, chú xúc động khi nghe tiếng gù của chim bồ câu trên mái nhà trường, rồi tự hỏi, tự nhủ: "Liệu nười ta có bắt cả chúng nó cũng phải hót bằng tiếng Đức không nhỉ?". Bao tình cảm cao quý đã được khơi dậy trong lòng chú. Buổi học cuối cùng đối với thầy Ha-men là buổi học giã từ những cái gì gắn bó thân thiết yêu thương suốt 40 năm trời, với bao kỉ niệm sâu sắc. Chỉ ngày mai thôi, thầy "phải rơ đi, rời khỏi xứ sở này mãi mãi". Thầy quên sao được "ngôi trường nhỏ bé của thầy", thầy quên sao được chỗ ngồi của thầy, khoảng sân, lớp học, những chiếc ghế dài, những bàn học trải qua màu thời gian đã "nhẵn bóng". Thầy là một con người "tội nghiệp" chắc sẽ "nát lòng" khi phải giã biệt những cây hồ đào ngoài sân, cây hu-blông tự tay thầy trồng giờ đây "quấn quýt quanh các khung cửa sổ lên tận mái nhà". Thầy Ha-men gần như một con người quá đau khổ đến mất hồn. Thầy "đứng lặng im" trên bục giảng, thầy "đăm đâm nhìn" những đồ vật quanh mình "nhưmuốn mang theo trong ánh mắt toàn bộ ngôi trườngnhỏ bé của thầy". Sau giờ viết tập là giờ lich sử. Thầy Ha-men "vẫn đủ can đảm" dạy đến hết buổi. Tiếng đọc đồng thanh như hát "Ba Be Bi Bo Bu" cất lên. Hình ảnh cụ già Hô-de đeo kính lên, nâng cuốn sách vỡ lòng bằng hai tay, giọng đọc "run run vì xúc động", làm cho ai cũng "muốn khóc". Phrăng xúc động khẽ thốt lên trong lòng: “Ôi! Tôi sẽ nhớ mãi buổi học cuối cùng này!”. Những khoảnh khắc chót buổi học tiếng Pháp cuối cùng ỏ vùng An-dát 130 năm về trước sao mà buồn thế! Khi đồng hồ nhà thờ điểm 12 giờ, khi chuông cầu nguyện buổi trưa rung lên, khi bọn lính Phổ đi tập về vang lên ngoài cửa sổ, thì thầy Ha-men "nghẹn ngào" nói lời giã biệt: "Các bạn, thầy nói, hỡi các hạn, tôi… tôi…". Và thầy viết lên bảng dòng chữ thật to, thầy "dằn mạnh hết sức". "Nước Pháp muôn năm!" Người thầy "tái nhợt", “đầu dựa vào tường”, và chẳng nói, giơ tay ra hiệu cho chúng tôi: "Kết thúc rồi… đi đi thôi!". Ngày mai thầy Ha-men sẽ ra đi. Nhưng hình ảnh thầy vẫn in sâu trong tâm hồn người dân vùng An-dát và lũ học trò nhỏ thân yêu. Ha-men là một ông thầy vĩ đại, đúng như Phrăng đã nghĩ: "Chưa bao giờ tôi cảm thấy thầy lớn lao đến thế!". Nguồn: NhungbaivanhayXem thêm: Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện có giá trị lịch sử to lớn, có tầm vóc tư tưởng cao đẹp và là một áng văn chính luận mẫu mực.
Buổi học cuối cùng ngữ văn 6
2,000
Buổi xem phòng tranh Nam Phương Gợi ý Phòng tranh Nam Phương không rộng lắm, nhưng chứa ngập cả tranh. Bức thì long lanh sương sớm trên cành hoa, bức thì mang vẻ u tịch trong đêm vắng. Có cảnh chiều mưa trên phố nhỏ, bác xích lô đang vất vả đạp gò lưng. Lại có cảnh Hà Nội xưa có cô gái mặc áo tứ thân đỏ thắm sắc màu, tay cầm quạt gấm trước chùa Một Cột… Tôi mê mải ngắm bức tranh giữa phòng. Cả một cánh đồng vàng óng của quê hương trải dài tới chân trời. Xa xa, thấp thoáng bóng người đang gánh những gánh lúa trĩu vai. Một cánh cò bay về phía nào xa thẳm. Trên đồi vắng, những lũy tre xanh chắc đang rì rào. Chú bé ngồi lưng trâu, đang thổi vút lên một điệu sáo yêu đời, thanh bình. Dòng sông đang reo gợn lên những làn sóng nhẹ. Chiếc cầu vồng ngũ sắc nhạt dần phía cuối trời. Một cơn mưa vừa dạo lướt quanh đây để lại những giọt nước long lanh trên cành hoa. Những cây dừa xanh phe phẩy chiếc lược, chải lại mái tóc thiên nhiên trên quê hương. Họa sĩ Trương Văn Ý đã dùng các màu sắc hài hòa để vẽ một cảnh đồng quê đang mùa gặt hái rất sinh động. Nhìn tranh, tôi hình dung ra quê hương mình hiện giờ cũng đang mùa gặt hái, lúa vàng màu nắng chất những đống cao ngất. Xem thêm: Từ xưa đến nay, cha ông ta luôn coi văn học là một thứ vũ khí chiến đấu mạnh mẽ và sắc bén. Em hãy làm sáng tỏ quan niệm đó Cám ơn người họa sĩ tài ba đã giúp tôi như được về lại quê hương mình từ thuở ấu thơ, với đồng ruộng ngọt ngào hương lúa, với lũy tre và chú bé ngồi thổi sáo. Từ giã phòng tranh, tôi vẫn không thể nào quên được khung cảnh làng quê, tôi vừa đi vừa thầm hát: Quê hương là cầu tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày… Qua tranh “Tiếng sáo trên đồi”, họa sĩ đã gửi về quê hương cả một niềm thương nhớ. Ôi! Đẹp quá quê hương! Xin cài lên đó những đóa hoa trà mi trắng muốt nói hộ cảm xúc cho tôi! Vanmau.edu.vn
Buổi xem phòng tranh Nam Phương
401
Bà Mai hàng xóm của em bị ốm phải nằm viện mà không có bảo hiểm y tế, Bà lại già yếu không nơi nương tựa. Em hãy viết giúp bà lá đơn xin miễn giảm viện phí Gợi ý Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày…tháng…năm ĐƠN XIN MIỄN GIẢM VIỆN PHÍ Kính gửi: Bạn Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội. Tôi tên là: Nguyễn Thị Mai Sinh ngày 27 tháng 8 năm 1930. Hiện cư trú tại thôn Bảo Lâm, xã Bảo Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Yên Bái. Tôi viết đơn này xin trình bày một việc như sau: Tôi mắc bệnh hẹp van tim, được Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái giới thiệu về điều trị tại Khoa Tim mạch Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 03 tháng 6 năm 2009. Hiện nay tôi gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế vì tôi không có con cái, lại không có lương hưu. Nhà nước tạo điều kiện cho tôi mua bảo hiểm y tế dành cho người nghèo song hiện tôi chưa có thẻ vì chưa làm xong thủ tục, mà việc điều trị bệnh hiện nay lại cần chi phí quá lớn đối với tôi. Vì vậy, tôi viết đơn xin Ban Giám đốc Bệnh viện cho tôi được giảm một phần viện phí trong đợt điều trị này. Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.Xem thêm: Phân tích tình huống độc đáo của truyện Vợ nhặt của Kim Lân để từ đó làm nổi bật tâm lý và số phận các nhân vật, làm nổi bật giá trị nội dung của tác phẩm: hiện thực và nhân đạoTôi xin chân thành cảm ơn. Người làm đơn Mai Nguyễn Thị Mai Vanmau.edu.vn
Bà Mai hàng xóm của em bị ốm phải nằm viện mà không có bảo hiểm y tế, Bà lại già yếu không nơi nương tựa. Em hãy viết giúp bà lá đơn xin miễn giảm viện phí
302
Bà ngoại bạn Bùi Ngọc Linh mất, em hãy giúp bạn viết đơn xỉn nghỉ học theo mẫu đã cho Gợi ý Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nam, ngày 09 tháng 09 năm 2009 ĐƠN XIN NGHỈ HỌC Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 3C Trường Tiểu học Tùng Thiện Em tên là: Bùi Ngọc Linh Học sinh lớp: 3C Em làm đơn này xin phép cô cho em nghỉ học ngày 10/09/2009. Lý do nghỉ học: bà ngoại em mất, ngày mai sẽ cử hành lễ tang. Em xin hứa sẽ chép bài, học bài và làm bài đầy đủ. Ý kiến của gia đình học sinh Học sinh Bà cháu mất. Kính xin cô cho cháu Linh được nghỉ học một ngày. Bùi Ngọc Linh Toàn Bùi Văn Toàn Vanmau.edu.vn Xem thêm: Nói về cảnh đẹp của Hà Nội
Bà ngoại bạn Bùi Ngọc Linh mất, em hãy giúp bạn viết đơn xỉn nghỉ học theo mẫu đã cho
137
Đề bài: Cảm nghĩ về một người thân yêu, gẫn gũi với mình BÀ TIÊN CỦA TUỔI THƠ TÔI Những người giúp việc, đối với người khác, đơn thuần chỉ là một người làm việc giúp họ, không hơn, không kém. Nhưng đối với tôi, bà Đào, người giúp việc lại là người rất quan trọng trong kí ức tuổi thơ của tôi. Bà ở nhà tôi từ khi tôi sinh ra đến giờ. Bà là một người nhỏ bé, nhanh nhẹn. Bà ấm áp và nhân hậu. Trong những kỉ niệm ngày thơ bé, bà luôn ở bên cạnh tôi. Bà cho tôi ăn, bà đưa tôi đi chơi khắp nơi, dỗ dành tôi khi tôi khóc, vui cùng tôi khi tôi cười. Bà chưa bao giờ mắng mỏ tôi cả. Bà lúc nào cũng dịu dàng với tôi… Đêm, bà ngủ cùng tôi, kể cho tôi nghe những câu chuyện thần tiên, đưa tôi vào giấc mơ đẹp. Những ngày tháng đó, tôi cảm thấy hạnh phúc và vui vẻ. Những lần tôi mắc lỗi với mẹ, bà lại cố bao che cho tôi. Những lần tôi bị mẹ mắng, bà lại đứng ra can ngăn mẹ. Tôi yêu và thương bà nhiều lắm. Bà bỏ quê hương, gia đình của bà để lên đây chăm sóc tôi. Bà như một người mẹ thứ hai đối với tôi. Bà luôn cố gắng đạt được những mong ước trẻ con của tôi dù cho nó vô lí đến chừng nào. Bà mang đến cho tôi một tuổi thơ êm đềm đầy sự thanh bình. Nhưng không có gì là mãi mãi cả… Bà như một làn gió ấm áp mang đến những điều tốt đẹp nhất. Nhưng làn gió ấy đến rồi đi… Chiều hôm đó, khi tôi trở về nhà, tôi chợt nhận ra rằng, bà không hề có ở trước cửa nhà như mọi khi để đón tôi, một cảm giác lo lắng trào lên trong người tôi. Tôi chạy lên tầng, bà đang nằm trên chiếc giường đơn so của bà, mặt bà nhăn lại như đang chịu đựng một nỗi đau kinh khủng. Bà bị lệch đĩa đệm. Lúc đó đang là mùa hè, khắp nơi rộn nở những sắc hoa bằng lăng tím tuyệt đẹp. Tôi yêu những màu hoa đó lắm nhưng trước mắt tôi vào thời gian đó, mọi vật như mất hêt màu sắc tươi tắn vốn có của nó vậy. Tôi không hề biết căn bệnh đó như thế nào nhưng từ bà, tôi có thể cảm thấy sự đau đớn vô vàn. Tôi thương bà lắm. Bà ngày càng yếu đi, đi lại chậm hơn và các nếp nhăn trên mặt bà cáng rõ nét hơn. Tôi đau lòng khi nhìn thấy bà như vậy, nhưng tôi mới chỉ là một đứa trẻ 9 tuổi, vẫn còn chưa lo được cho chính mình, nhưng không vì thế mà tôi đứng yên nhìn bà như vậy. Tôi cố gắng giúp bà trong khả năng của tôi. Những lúc bà làm việc nhà, tôi cũng đến phụ giúp, những bà mệt nằm trên giường, tôi mang nước, thức ăn đến cho bà. Lần đầu tiên trong cuộc đời nhỏ bé của mình, tôi cảm giác như mình là một con người có ích thật sự, cảm giác như mình đã đạt được một điều hết sức to lớn cho người mà mình yêu thương. Tôi thật sự hạnh phúc và tự hào về chình mình. Nhưng những lúc thấy bà phải chịu đựng nỗi đau, tôi không hề có thời gian để tự hào về mình. Tôi bắt đầu làm việc nhà cùng bà thường xuyên hơn và những lúc như thế là lúc tôi có thể kể mọi chuyện của mình cho bà nghe. Chuyện về trường lớp, chuyện tôi được điểm kém, chuyện mẹ mắng tôi khi tôi hư như thế nào,… Dường như vào quãng thời gian đó, tôi đã miêu tả tất cả về thế giới nhỏ bé của mình cho bà nghe. Còn bà thì chỉ ngồi lặng im và lắng nghe tôi với nụ cười hiền từ luôn nở trên môi. Tôi thấy nhớ quá, nhớ nụ cười như ánh nắng nhẹ dịu, nhớ đôi bàn tay gầy nhăn nheo nhưng thật ấm áp. Đó thật sự là những phút giây tôi trân trọng nhất trong cuộc đời mình. Mùa hè chầm chậm trôi qua, mang đến một mùa thu dưới cái không khí của thành phố thủ đô này. Dưới những tán lá vàng và cơn gió mùa thu sượt nhẹ qua, tôi cảm giác như thời gian đang ngừng lại, tất cả dường như mang một vẻ man mác buồn của mùa lá rụng này. Lúc đó, một cảm giác sợ hãi bắt đầu len lỏi trong trái tim nhỏ bé của tôi, cảm giác rằng tôi sẽ mất đi một người thật sự quan trọng với mình… Bà đã bước ra khỏi cuộc đời tôi một cách nhẹ nhàng. Bà để tôi tự bước đi. Bà không còn ở bên tôi như ngày nào. Tôi tê liệt cảm xúc trong một thời gian ngắn. Sự vắng mặt của bà làm cho căn nhà trở nên im lặng hơn. Sự vắng mặt của bà làm cho trái tim tôi thắt lại. Sự vắng mặt của bà làm cho một đứa trẻ như tôi mất đi điều quan trọng nhất làm nên tuổi thơ. Nhưng rồi thời gian như một liều thuốc có ma lực, làm tôi quên đi rất nhiều điều. Giờ, khi trái tim tôi dã thanh bình, khi tôi trở nên tĩnh lặng hơn, hình ảnh về một người bà hiền hậu lại trở về, mang theo những kí ức tuổi thơ được cất giấu cẩn thận ở một góc kín trong trong trái tim tôi. Tôi nhớ những lần tôi vui với bà, tôi nhớ những lần tôi giận bà, những lần trái tim tôi trái tim tôi được ấp ủ bởi sự yêu thương của bà… Có thể những điều này làm nước mắt tôi trào ra khi nghĩ tới, có thể những điều này làm gợi lên sự đau buồn, tiếc nuối trong tôi nhưng nó cũng mang lại cho tôi niềm an ủi khi đang khổ đau. Bà giờ đang ở một nơi xa xôi nào đó mà tôi không với tới được. Bà ơi, bà có biết bà đã mang đến cho cháu những gì không bà? Bà có biết rằng, cháu vẫn nhớ bà, vẫn luôn tưởng tượng rằng bà còn đang ở bên cháu? Nếu có thể được, cháu đã gửi cho bà một bức thư để giúp bà nhớ lại những thàng năm bà còn ở cùng cháu. Cháu mong bà còn nhớ. Bà ơi, cháu đã lớn khôn như bà mong ước rồi bà ơi. Bà đã hữa sẽ ở bên cháu đến khi nào cháu lớn, sẽ dõi theo cháu mãi mãi cơ mà, tại sao bà lại thất hứa? Bà ơi, có lẽ cháu nên nói điều này từ lâu lắm rồi, nhưng cháu mong rằng, nó không quá muộn: “Bà ơi, cháu yêu bà”… Bà bước vào đời tôi, để rồi ra đi, để lại những kí ức không thể nào phai mờ trong lòng tôi. Bà đã đến như một người giúp việc để rồi ra đi như một bà tiên mang đến niềm hạnh phúc cho tôi. Bà cho tôi ước mơ, bà cho tôi hy vọng rồi bây đi, như một sứ giả hoàn thành nhiêm vụ. Bà để lại trong tôi một kỉ niệm tuyệt đẹp. Bà sẽ không bao giờ trở lại nhưng hình ảnh của bà, trái tim tôi đã giữ kĩ. Tạm biệt bà, bà tiên yêu quý của tôi! Nguyễn Uyển Nhi Học sinh lớp 8 Trường THCS Việt-Úc Hà Nội Xem thêm: Vẻ đẹp của tình mẫu tử trong bài thơ “Thư gửi mẹ" của Êxênin
Bà tiên của tuổi thơ tôi
1,317
Bài ca dao mà em yêu thích nhất Gợi ý Ca dao là sản phẩm tinh thần độc đáo của nhân dân lao động Việt Nam. Dân gian đã gửi gắm vào ca dao bao niềm vui, nỗi buồn, bao nhớ nhung, yêu thương, chờ đợi,… Nhiều bài ca dao đã trở thành kiệt tác và sống mãi trong dòng văn học dân tộc. Bài ca dao sau là một trong số đó: Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. Bao trùm toàn bộ bài ca dao là nỗi nhớ da diết, cảm động thể hiện tình yêu quê hương đất nước mặn nồng. Điều đặc biệt là tình cảm chân thành ấy được thể hiện qua lời nói giản dị mộc mạc nhưng rất ý nhị, tinh tế của tác giả dân gian. Đôi với mỗi nam nhi, khi rời cố hướng ra đi lập thân nơi đất khách quê người, làm sao có thể xóa mờ đi hình ảnh của xóm làng thân yêu, của người thân ở nhà đang đợi chờ, trông ngóng. Cứ mỗi lần nghĩ về mảnh đất chôn rau cắt rốn là bao ý nghĩ lại dạt dào tuôn về không giới hạn. Quê nhà hiện về trong anh qua những hình ảnh rất giản dị, mộc mạc: “canh rau muống”, “cà dầm tương”. Những sự vật quá đỗi tầm thường là thế song với anh chúng không tầm thường không chút nhỏ bé mà đó là những nét đẹp quê hương, đó là truyền thống của quê cha đất tổ’. Chúng nhắc đến bữa cơm gia đình quây quần, ấm cúng, nhắc đến những tháng ngày lam lũ mà thấm đượm nghĩa tình. Và nhớ đến quê hương, điều anh nhớ nhất vẫn là những bóng dáng thân yêu, quen thuộc:Xem thêm: Cảm nghĩ về người mẹ thân yêu hay nhất “Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”. Hình ảnh người “dãi nắng dầm sương” gợi nhớ đến dáng mẹ tảo tần, vất vả chịu thương chịu khó. Và người “tát nước bên đường hôm nao” rất có thể là người con gái anh thầm thương trộm nhớ. Một ngày nào đó, anh đã vô tình gặp một bóng dáng đứng tát nước bên đường và rồi hình bóng ấy đã để thương để nhớ trong anh khiến anh bâng khuâng, lừu luyến. Ca dao Việt Nam có đại từ phiếm chỉ “ai” rất tinh tế. Không nhắc cụ thể một ai mà chỉ dùng từ “ai” vừa xa xôi, vừa gần gũi, nó giúp biểu đạt tình cảm một cách kín đáo, ý nhị. Bằng điệp từ "nhớ" và phương pháp liệt kê tác giả dân gian đã bộc lộ một cách sâu sắc, diên tả chân thật lòng yêu quê hương đất nước, sự nhớ nhung vô hạn của chàng trai trẻ tha phương trong nhịp ca dao nhẹ nhàng, da diết. Nỗi nhớ ấy dược khéo léo gói gọn trọn vẹn trong nỗi nhớ gia đình, ông bà, cha mẹ người thân và cả người con gái anh yêu. Bài ca dao rất ngắn gọn, nhẹ nhàng nhưng đã thể hiện được tình yêu quê hương tha thiết, chân thành. Bài ca dao khiến người đọc nhớ đến những câu văn nổi tiếng của Ê-ren-bua: "Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yều cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh", "Lòng yêu nhà, yêu làng làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc".Xem thêm: Em hãy tả lại một tiết học VănVanmau.edu.vn
Bài ca dao mà em yêu thích nhất
631
a. Bài ca dao “Khăn thương nhớ ai…” có nét gì độc đáo khi diễn tả nỗi nhớ nhung? b. Phân tích cái hay của bài ca dao số 5 Gợi ý HƯỚNG DẪN a. Nét độc đáo của bài ca dao sô 4: – Nỗi nhớ thương được bộc lộ bằng thủ pháp ngoại hiện (thế giới nội tâm nhân vật trữ tình biểu hiện qua những sự vật khách quan). – Khăn được nhân hóa: + Chiếc khăn là vật thường gắn bó với cô gái, mang vẻ đẹp nữ tính và thường là vật trao duyên, rất đắc dụng để bày tỏ tình cảm thay người. + Khăn được miêu tả trong ba trạng thái vận động: rơi xuống đất, vắt lên vai, chùi nước mắt cho thấy nỗi nhớ của cô gái ngập tràn trong không gian. Qua đó giúp ta hình dung dáng vẻ thẫn thờ, đứng ngồi không yên của người con gái đang trong tâm trạng nhớ nhung rối bời. – Ngọn đèn được nhân hóa: Đèn thao thức không ngủ là cách gián tiếp bộc lộ sự nhớ nhung thao thức của người trong cuộc. Ánh đèn bền bỉ tỏa sáng trong không gian như chính tâm hồn cô gái với nỗi nhớ thương luôn cháy sáng. – Mắt được hoán dụ (mượn bộ phận cơ thể để nói con người): Mắt không ngủ là cách bộc lộ gián tiếp sự nhớ nhung thao thức của người trong cuộc. – Các hình ảnh được nhắc đến trong những câu hỏi dồn dập, liên tiếp “thương nhớ ai” mà không có câu trả lời để cuối cùng gặp gỡ lời bộc bạch trực tiếp ở cặp câu lục bát cuối bài: “Đêm qua em những lo phiền — Lo vì một nỗi không yên một bề…”. Nhân vật trung tâm hiển hiện là một người con gái đang yêu với chiều sâu đời sông nội tâm: yêu, nhớ và sâu sắc hơn là băn khoăn, lo lắng, muộn phiền vì tương lai, cho thấy vẻ đẹp trong đời sống tình cảm của các cô gái Việt Nam.Xem thêm: Trong thế giới AIDS, im lặng là chếtb. Bài ca dao sử dụng môtíp “Ước gì..” thường thấy trong ca dao để thể hiện niềm khao khát mãnh liệt của đôi trai gái trong tình yêu. – Ngoài ra, mô tip nghệ thuật “chiếc cầu – dải yếm” được tác giả dân gian khai thác để diễn tả tình cảm nồng nàn của cô gái. Đối với người phụ nữ thời xưa, dải yếm là vật gắn bó với người con gái, mang nét đẹp thanh xuân giàu sức sông, giàu nữ tính. Cô gái rất táo bạo trong cách thể hiện tình cảm của mình, ước muốn mãnh liệt nhưng cũng vẫn giữ được vẻ đằm thắm đầy nữ tính, tình tứ. Vanmau.edu.vn
Bài ca dao “Khăn thương nhớ ai…” có nét gì độc đáo khi diễn tả nỗi nhớ nhung_ b. Phân tích cái hay của bài ca dao số 5
467
Bài dự thi cuộc thi viết về những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường mến yêu Bài làm Thầy cô, chỉ với hai tiếng thân thương thôi mà sao chúng em cảm thấy cao quý và thiêng liêng đến vậy. Có lẽ rằng, tình yêu nghề, yêu trẻ thơ đã ngấm sâu vào trong mỗi con người ấy. Để đến khi trở thành những người thầy giáo, cô giáo, sự nhiệt huyết, tận tình trong mỗi con người lại trào dâng. Thầy cô chính là những người dẫn đường chỉ lối cho chúng em trên con đường đời riêng của mình, người vun đắpn những ước mơ cho chúng em về một tương lai tươi sáng hơn. Mỗi thầy, cô giáo là một người gieo hạt ươm mầm xanh. Khi năm học kết thức cũng chính là lúc những hạt ấy nảy mầm xanh vươn chồi là biết bao công sức và tâm huyết, tình cảm mà thầy cô muốn gửi vào mỗi chúng em. Chúng em biết rằng những khó khăn đó mà tất cả những giọt mồ hôi, nước mắt của thầy cô. Tình yêu thương vô bờ bến ấy chúng em sẽ luôn trân trọng và cất giữ mãi trong tim. Thầy cô không những cho chúng em tri thức để từng ngày trôi qua là lúc chúng em bước lên cao hơn với nấc thang kiến thức. Thầy cô còn là những người dạy cho chúng em về những đạo lý làm người. Đó cũng là những bài học đường đời đầu tiên mà chúng em được học từ thầy cô. Thầy cô là người dạy cho chúng em biết học, biết viết, biết làm những gì nên làm, biết nói những gì nên nói, biết khi nào nên im lặng để lắng nghe người khác. Người đã dạy chúng em biết khóc, biết cười đúng lúc, biết quan tâm đến mọi người xung quanh, biết không làm ngơ trước những mảnh đời bất hạnh. Người dạy em biết thế nào là tình thương, thế nào là đoàn kết cũng như cách vượt qua đau khổ, thất bại. Những bài học tưởng chừng như đơn giản ấy sẽ là những hành trang vô cùng quý giá để chúng em bước vào đời. Xem thêm: Bàn về một kĩ năng sống -văn 12Tình yêu thương mà mỗi thầy cô dành cho những họ trò yêu quí của mình cũng giống như tình cảm cha mẹ dành cho chúng em vậy. Chẳng vậy mà người ta thường nói thầy cô là cha mẹ thứ hai. Thầy cô an ủi, là nguồn động lực vô cùng to lớn giúp chúng em vượt qu khó khăn mỗi khi thất bại, thầy cô cũng chẳng giấu nỏi nước mắt buồn bã mỗi khi chúng em vấp ngã hay là niềm hạnh phúc được nhân đôi mỗi khi chúng em thành công. Những lần như thế thầy cô đầu ôm chúng em vào lòng và mong sao sự ấm áp ấy sẽ xoa dịu nỗi đau trong lòng mỗi học trò mà thầy cô yêu như con. Thầy cô kính mến! Ngày 20-11 đang đến gần. Dù không biết làm gì để đền đáp công ơn to lớn ấy nhưng chúng em cũng xin kính dâng lên thầy cô những lời thành kính và tri ân nhất xuất phát từ sâu trong trái tim chúng em. Chúng em xin hứa sẽ học tập thật tốt. Chúng em sẽ luôn vững tin bước qua khó khăn vì chúng em biết thầy cố sẽ mãi dõi theo chúng em. “ Thời gian ơi xin dừng lại đừng trôi Cho chúng con khoanh tay cúi đầu lần nữa Gọi tiếng thầy với tất cả tin yêu…”
Bài dự thi cuộc thi viết về những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường mến yêu
616
Bài học mà anh (chị) rút ra được từ Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy Gợi ý HƯỚNG DẪN – Lưu ý một số bài học sau: – Bài học về tinh thần cảnh giác, không nên chủ quan với những gì mình đang có. – Bài học về mối quan hệ giữa lí trí và tình cảm. – Bài học về cách xử lí môì quan hệ giữa riêng và chung, giữa cá nhân với cộng đồng Vanmau.edu.vn Xem thêm: Phân tích bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung
Bài học mà anh (chị) rút ra được từ Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy
86
Bài học thấm thía nhất về cuộc đời và văn thư Nguyễn Đình Chiểu Gợi ý Nhận xét về cuộc đời và thơ văn Đồ Chiểu, ông Phạm Văn Đồng viết: "Trên trời có vì sao có ánh sáng khác thường… Con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì mới càng sáng" (Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc). Càng suy nghĩ về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, ta càng thấy thấm thía bởi "ánh sáng khác thường” từ ngôi sao sáng đó". Điều khiến ta thấm thía nhất qua cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu phải chăng là: cuộc đời ấy đã nêu cao "một tấm gương sáng ngời về nghị lực và đạo đức, đặc biệt là về thái độ suốt đời gắn bó và chiến đấu không mệt mỏi cho lẽ phải, cho quyền lợi của nhân dân, đất nước” (Nhận định của SGK Văn 11). Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu cũng để lại nhiều bài học, nhưng phải chẳng điều thấm thía nhất qua sự nghiệp thơ văn của ông là: có một sự thống nhất cao độ, tuyệt đẹp giữa lý tưởng sống trong cuộc đời thực tại và trong thơ văn. Thơ văn ông cho ta thấy người chiến sĩ Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ đẩy khi tiết đất Gia Định, thày giáo mù Đồ Chiểu và nhà thơ ờ Ba Tri là một. Một con người chiến đấu suốt đời không biết mệt mỏi cho lẽ phải, cho nhân dân đất nước với một khí phách, một nghị lực phi thường. Bình thường một con người sống cương trực, thẳng thắn, biết yêu quí lẽ phải, đứng về phía chân lý, đấu tranh chống lại bọn bất nghĩa, bất nhân… đã là đáng để cho ta tôn trọng, mến yêu. Với Đồ Chiểu, sống trong mù lòa, tàn tật mà vẫn giữ trọn được đạo lý, cốt cách cao đẹp thì lại càng đáng kính phục biết bao nhiêu. Giặc Pháp nhảy vào Nam Bộ, không đánh giặc được bằng gươm, ông đánh giặc bằng mưu trí, cùng bàn kế đánh giặc với các lãnh tụ nghĩa quân như Trương Định, Đốc Binh Là. Giặc chiếm hết Nam Bộ, sống trong đất giặc chiếm, ông từ chối mọi sự mua chuộc của kẻ thù, kiên quyết giữ vững khi tiết đến phút chót, cuộc đời, trong khi biết bao kẻ làm ngơ trước nỗi nhục của giang sơn, đất nước, cam tâm làm tay sai cho giặc. Phải đặt trong hoàn cảnh đó chúng ta mới càng thấy nhân cách cao cà và tấm lòng tận trung ngay thẳng của nhà thơ mù Đồ Chiểu. Trước khi Pháp sang, ông đã dùng ngòi bút để "đâm mấy thăng gian” vô dạo, bất nhân. Đến khi Pháp sang ông tiếp tục nêu cao tình thần chiến đấu vì chính nghĩa bằng ngòi bút sắc bén của mình, ở Nguyễn Đình Chiểu, văn với người là một. Ông viết thế nào thi sống và hành động thế ấy. Văn thơ của ông, thể hiện rất rõ chân dung tình thần cùa ông: một con người luôn vỉ nghĩa đứng về lẽ phải, chống lại cái ác và bọn bất nhân một cách quyết liệt, đến cùng. Trước khi Pháp sang, với tác phẩm Lục Vân Tiên, ông đã thể hiện rõ lý tưởng sống này. Ông ca ngợi hết lời những con người cao đẹp vì nghĩa xả thân đánh cướp, trừ gian như Vân Tiên, Hớn Minh, Tử Trực… ông cũng ca ngợi và tôn vinh những con người thủy chung, trong sáng, có nghĩa có tình như Kiều Nguyệt Nga. Mặt khác, ông không tiếc lời lên án bọn người bất nhân, bất nghĩa như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Võ Thế Loan.. Yêu và ghét ở Đồ Chiểu rạch ròi, phân minh, không một chút lẫn lộn thiện ác, hận thù. Giặc Pháp xâm chiếm nước ta, quân bán nước và lũ cướp nước giờ đây trở thành bọn bất nhân, bất nghĩa. Ngòi bút "chí công" của ông liền chĩa vào nhưng kẻ "Quăng vùa hương, xô bàn độc”. "Phạt cho đến người hèn, kẻ khó, thâu của quay treo Tội chẳng tha con nít, đàn bà, đốt nhà, bắt vật”. Lòng càm thù giặc của Đồ Chiểu thể hiện trong những dòng chữ như bốc lửa: Xem thêm: Nghệ thuật trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng được thể hiện qua chương “Hạnh phúc của một tang gia" "Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ãn gan; Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ" (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Nhưng đối với những tấm gương xả thân vì nghĩa lớn, ngã xuống vì dân tộc, lời thơ của ông lại đầy trân trọng và xót thương: "Làm người trung nghĩa đáng bia son Đứng giữa càn khốn tiếng chẳng mòn Cơm áo đền bù ơn đất nước Râu mày giữ vẹn phận tôi con Tinh thần hai chữ phao sương tuyết Khí phách ngàn thu rõ núi non" (Thơ điếu Phan Tòng) Đặc biệt, trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lẩn đầu tiên trong lịch sử văn học nước ta, ông đã dựng lên được hỉnh tượng người nghĩa quân nông dân hết sức chân thực. Những con người quanh năm "Côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, khi giặc đến, bỗng trở thành người nghĩa sĩ anh hùng: "Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chằng có" (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Sống trong vòng vây của giặc, trước bao nhiêu âm mưu dụ dỗ của kẻ thù, Đồ Chiểu vẫn nêu cao tinh thần trung nghĩa, ngòi bút của ông vẫn sáng ngời chủ nghĩa yêu nước: "Thà cho trước mắt mù mù Chẳng thà ngồi thấy kẻ thù quân thân"Xem thêm: Phân tích khổ thơ đầu tiên trong bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh (Ngư tiều y thuật vấn đáp) Cho đến những ngày cuối đời, quê hương, đất nước rơi hẳn vào tay giặc. từ trong đau thương mất mát, thơ văn Đồ Chiểu vẫn vút lên những âm thanh trong trẻo thể hiện niềm tin ờ tương lai đất nước: "Chững nào thánh đế ân soi thấu Một trận mưa nhuần rửa núi sông" (Xúc cánh) Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một cuộc đời hết lòng vì nghĩa. Dù mù lòa, tàn tật, dù gieo neo, vất vả, con người tưởng như đã là phế nhân ấy vẫn một lòng tôn thờ chính nghĩa, quyết, liệt chồng lại các thế lực bạo tàn, phi nhân bằng ngòi bút sắc bén của minh. Ông sống thế nào thi viết thế ấy. Trung thực và thẳng thắn, thơ văn ông là tâm hồn và chí khí của ông. Làm sao không xúc động và thấm thía trước một cuộc đời, một sự nghiệp văn chương và một nhân cách cao cà như thế! Vanmau.edu.vn
Bài học thấm thía nhất về cuộc đời và văn thư Nguyễn Đình Chiểu
1,176
Bài học về nhân cách mà anh (chị) rút ra từ các câu chuyện về Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ Gợi ý Những nhân cách lớn làm nên những tài năng lớn. Chân lí ấy đã phản ánh đúng con người, đức độ và tài năng của những con người nhân vật kiệt xuât vào bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam như Thái sư Trần Thủ Độ và Thái phó Tô Hiến Thành. Nhân cách của hai vị ấy đã để lại cho người đời sau những bài học thấm thía sâu sắc về nhân cách làm người. Trong các vương triều phong kiến xưa những người ngay, kẻ gian nhiền khi thật giả lẫn lộn. Người ta uốn gối, khom lưng để bợ đỡ người trên hòng được bổng lộc, cất nhắc. Sự ngay thẳng, trung hậu có lúc là nguyên nhân dẫn đến những cái chết thảm khốc. Lịch sử còn chưa quên vụ án oan khóc vào bậc nhát trong lịch sử phong kiến liên quan đến ba đời gia tộc con người vĩ đại Nguyễn Trãi. Cũng chưa ai quên và không thể quên việc nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An phải cáo quan về ở ẩn,… Có thể nói, bài học lớn cho những người đã đang và sẽ làm quan khi ấy là phải biết nghe lời người trên và chớ có thẳng thắn quá! Nhưng trong một góc chưa bị khuất của hoàng cung, Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ đã biết sống thẳng nói ngay, làm tròn tráchnhiệm của bản thân với dân với nước, làm sáng ngời lên nhân cách người làm tướng, làm quan. Với Tô Hiến Thành, trước mưu đồ phế lập sai trái của Thái hậu ông không những không tán thành mà còn từng bước đánh bại âm mưu đáng trách ấy. Khi Thái hậu mua chuộc vợ ông Hiến Thành đã dùng đậo lí làm người, nhấn mạnh đến vai trò Tể tướng của mình và viện cả đến tín ngưỡng để thuyết phục vợ (ta biết lẩy lời nào để trả lời Tiên Vương ở suối vàng?). Khi Thái hậu trực tiếp dùng mồi danh vọng, phú quý để dụ Hiến Thành, ông đã dùng lời lẽ của Khổng Tử về cách làm người (Bất nghĩa mà đươc phú và quý, đó không phải là diều người trung thần nghĩa sĩ vui làm) và cách đối xử với người quá cố trong văn hoá ứng xử truyền thống (lời di chúc của Tiên Vướng còn ở bên tai) để từ chối Thái hậu. Trước sự liều lĩnh, bất chấp của Thái hậu, Hiến Thành kiên quyết dùng luật Tháp để giữ vững kỉ cương, không cho Thái hậu thực hiện mưu đồ tự phế lập.Xem thêm: Em hãy đọc phần văn bản sau: "Những ngón chân... thành bệnh”. Dựa vào phần văn bản trên đây, em hãy viết bài văn nêu cảm nghĩ của em về đôi bàn tay, ... của một người mà em yêu quý (cha, mẹ hoặc ông, bà, thấy, cô giáo, ...) Thêm nữa, chức Tể tướng và chức Thái uý là những trọng trách lớn nhất trong triều đình. Việc chọn người thay thế các vị trí ấy là rất hệ trọng. Nếu như ở sự kiện trước, Tô Hiến Thành đã chứng tỏ đức chính trực, cương trung, “Phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất” thì ở sự kiện chọn người thay thế mình ta càng thấy được sự sáng suốt, tinh thần trách nhiệm vì đất nước của ông. Lựa chọn của Tô Hiến Thành không hề theo suy đoán thông thường, về lí, chức Tham tri chính sự của Vũ Tán Đường to hơn chức Gián nghị đại phu của Trần Trung Tá. Về tình, Vũ Tán Đường luôn gần gũi, phụng dưỡng Hiến Thành; trong khi, vì bận bịu, khi Hiến Thành ốm, Trần Trung Tá không lúc nào đến thăm được. Những điều này cho thấý, hành xử của Hiến Thành một mực chỉ vì xã tắc, tuyệt đối vô tư, xuất phát từ tâm huyết của người có trách nhiệm đôi với đất nước; đồng thời cũng chứng tỏ ông, có cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt ngay cả khi bệnh tình đã rất nguy kịch. Tô Hiến Thành vừa phải chịu áp lực lớn từ phía Thái hậu, vừa phải chịu áp lực từ chính chức trách Thái phó của mình. Trong triều, vua là trên hết; nhưng trong gia đình, Thái hậu lại là mẹ vua, mà con phải vâng lời cha mẹ là đạo lí. Ớ thời điểm câu chuyện diễn ra, vua còn quá nhỏ, Thái hậu nắm mọi quyền hành, như vậy, vai trò và trách nhiệm của Tô Hiến Thành càng trở nên nặng nề. Vậy mà, như ta đã thấy, ông đã không chịu khuất phục trước quyền uy, cám dỗ, nhất mực trung thành với sự nghiệp chung, trung trinh, liêm khiết, một lòng vì đất nước mà hành xử mà không chịu lệ thuộc vào bất cứ điều gì. Tô Hiến Thành quả là tấm gương sáng trong lịch sử, để người sau soi mình.Xem thêm: Phân tích nhân vật Ra-ma đoạn trích Ra-ma buộc tội (trích sử thi Ra-ma-ya-na của Ấn Độ). Với Trần Thủ Độ, bị người ta mách vua về sự chuyên quyền, ông không những không biện bạch cho bản thân và tỏ lòng thù oán mà còn công nhận lời nói phải và thưởng cho người dám dũng cảm vạch lỗi của mình. Qua đó có thể thấy ông là người công minh, độ lượng và có bản lĩnh. Với ông, việc làm hữu ích cho nước, cho dân mới là câu trả lời cho tất cả. Khi nghe Linh Từ Quốc Mẫu (vợ ông) khóc và mách về việc tên quân hiệu ngăn không cho đi qua thềm cà’m, Trần Thủ Độ không vội bênh vợ và bắt tội tên quần hiệu kia mà tìm hiểu rõ sự việc rồi còn khen thưởng kẻ giữ đúng luật pháp. Rõ ràng, ông là người chí công vô tư, tôn trọng pháp luật, không thiên vị người thân. Rồi lại có người chạy chọt nhờ Linh Từ Quổc Mẫu xin cho làm chức câu đương, Trần Thủ Độ đã dạy cho tên này một bài học: muốn làm chức quan ấy hắn phải chịu bị chặt một ngón chân để phân biệt với những người khác do “Ngươi vì có công chúa xin cho”. Ông đã chủ động gìn giữ sự công bằng của pháp nước, bài trừ tệ nạn chạy chọt, đút lót, dựa dẫm thân. Không đồng ý với việc nhà vua phong chức tướng cho anh trai mình ông đã thẳng thắn trình bày quan điểm: chỉ nên chọn lựa người giỏi nhâ’t, có thể là anh mình, có thể là mình, không nên hậu đãi cả hai anh em sẽ" làm rốì việc triều chính. Qua đó có thể thây Trần Thủ Độ luôn đặt việc công lên trên, không tư lợi, không gây bè kéo cánh. Những sự việc trên đã góp phần làm nổi bật bản Ịĩnh và nhân cách Trần Thủ Độ, đó là sự thẳng’thắn, cầu thị, độ lượng, nghiêm chỉnh, và đặc biệt là hết sức chí công vô tư, luôn đặt việc nước lên trên, không mảy may tư lợi cho bản thân và gia đình. Điều này càng có ý nghĩa hơn bởi Trần Thủ Độ đang giữ chức quan cao nhất trong triều và hầụ như nắm toàn quyền trong tay, vì vua đang tuổi còn nhỏ. Đó chính là hoàn cảnh có thử thách để càng làm nổi bật lên nhân cách đáng quý của ông. Có thể nói Trần Thủ Độ là một vị quan đầu triều gương mẫu, xứng dáng là chỗ dựa của quốc gia và đáp ứng được lòng tin cậy của nhân dán.Xem thêm: Phân tích truyện cổ tích Tấm Cám Những câu chuyện về Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ trở thành những bài học về đức tính chính trực, thẳng thắn, chí công vô tư; về lòng quả cảm, trung thực; và đặc biệt là bài học về tinh thần yêu nước hết lòng tận tuy không để danh lợi và những mối tư lợi ràng buộc. Đến đây, ta chợt hiểu vì sao những vương triều do những con người ấy phò tá lại phát triển và vjjng mạnh, lập được nhiều chiến công đến vậy… Ngày nay, xã hội tiến bộ hơn về phương diện tổ chức nhà nước song vẫn còn đó những mối hiểm hoạ âm ỉ, tiềm tàng trong những vị quan chức quen thói tham nhũng, ưa phỉnh nịnh, thích cửa quyền. Ta phải làm sao để quét sạch những hạng người ấy ra khỏi bộ máy chính quyền của đất nước. Và song song với đó cần có chính sách đào tạo nhân lực phát triển nhân tài sao cho người người đều có được những nhân cách cao khiết, chính trực một lòng vì dân vì nước như Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ. Câu chuyện về người xưa mấy trăm năm sau vẫn còn là bài học lớn cho hậu thế về nhân cách làm người, nhân cách làm quan. Chắc hẳn mỗi chúng người sau khi đọc xong những câu chuyện như thế sẽ rút ra cho mình những bài học sâu sắc riêng. Vanmau.edu.vn
Bài học về nhân cách mà anh (chị) rút ra từ các câu chuyện về Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ
1,589
Bài học đường đời đầu tiên ngữ văn 6 Hướng dẫn I. ĐỀ LUYỆN TẬP Đề 1. Giới thiệu một vài nét về nhà văn Tô Hoài. Nêu khái quái giá trị của truyện "Dế Mèn phiêu lưu kí". Đề 2. Tóm tắt truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí”của Tô Hoài. Đề 3. Phân tích "ý chí tự lập, tinh thần tự chủ của chú Dế Mèn sau ngày mẹ cho ra ở riêng"trong truyện "Dế Mèn phiêu lưu kí"của Tô Hoài. Đề 4. Phân tích ngoại hình và tính tình của Dế Mèn qua đoạn tự thuật của chú về "Bài học đường đời đầu tiên" trong truyện "Dế Mèn phiêu lưu kí"của Tô Hoài. Đề 5. Phân tích nỗi ân hận của chú Dế Mèn qua đoạn tự thuật của chú về "Bài học đường đời đầu tiên" trong truyện "Dế Mèn phiêu lưu kí"của Tô Hoài. II. BÀI VĂN TỰ LUẬN Đề 1. Giới thiệu một vài nét về nhà văn Tô Hoài. Nêu khái quái giá trị của truyện "Dế Mèn phiêu lưu kí". a. Tác giả Tô Hoài là bút danh của Nguyễn Sen sinh năm 1920, người Hà Nội. Tự học mà thành tài. Ông có trên 100 tác phẩm. Viết hay nhất về truyện thiếu nhi và truyện miền núi. Tác phẩm tiêu biểu: "Dế Mèn phiêu lưu kí", “Truyện Tây Bắc”, “Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ", "Miền Tây", Tự truyện",v.v… Truyện "Dế Mèn phiêu lưu kí" của Tô Hoài được in lần đầu vào năm 1941, là truyện độc đáo nhất, hay nhất viết về loài vật, dành cho lứa tuổi thơ gần xa. Truyện đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. b. Giá trị Truyện "Dế Mèn phiêu lưu kí"đã xây dựng Dế Mèn thành một nhân vật rất đẹp, rất đáng yêu: trẻ trung, trung thực, dũng cảm, say mê lí tưởng, chan hoà trong một tình bạn thủy chung… – "Dế Mèn phiêu lưu kí"có giá trị nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn. Với trí tưởng tượng tài ba, óc quan sát tinh tế, lối kể chuyện và miêu tả thế giới loài vật sống động, độc đáo, tác giả đã đem đến cho người đọc bao cảm xúc đẹp và nhiều thú vị. Đề 2. Tóm tắt truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí”của Tô Hoài. Xuất thân trong một gia đình nhà dế, Mèn là con út trong số ba anh em cùng lứa. Chỉ được ở với mẹ hai hôm, sang hôm thứ ba, mẹ đã đưa ba anh em ra ở riêng, mỗi đứa được ở trong một cái hang đất ở bờ ruộng trông ra đầm nước. Bước vào cuộc đời tự lập, Mèn hung hăng khờ dại đã sảy ra cái chết đau đớn cho Dế Choắt. Mèn ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên chóng lớn và sớm trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Chán cảnh sống quẩn quanh tầm thường, Mèn cất bước ra đi để mở rộng tầm mắt và học khôn, học giỏi ở người. Hành trình phiêu lưu của Mèn đầy ắp kỉ niệm, thấy nhiều cảnh lạ, gặp bao chuyện rủi, chuyện may. Mèn kết bạn với Dế Trũi, cùng đi đó đây. Đến cánh rừng cỏ may dự hội, Mèn tranh hùng với võ sĩ Họ Ngựa. Hai anh em Mèn và Trũi được tôn làm chánh, phó thủ lĩnh đứng đầu các làng trong vùng cỏ may. Có lần Mèn bị bắt giam trong hầm kín của lão Chim Trả. Mèn, Trũi và các bạn cùng chí hướng chống lại những điều ngang trái, bất công trong thiên hạ. Chẳng ngơi nghỉ và nản lòng, Mèn và Trũi đi đến nhiều nơi, được đón tiếp long trọng, bạn bè ngày một đông. Mèn và các bạn hiểu ra rằng “aicũng có lòng tốt, cũng muốn làm ăn yên ổn”.Tại vương quốc loài kiến, sau khi hội kiến với Kiến Chúa, Mèn đọc lời hịch cổ động "muôn loài cùng nhau kết anh em". Tất cả mọi loài từ rừng xuống biển đều gửi thư, nhắn tin về hoan nghênh hưởng ứng. Đề 3. Phân tích "ý chí tự lập, tinh thần tự chủ của chú Dế Mèn sau ngàymẹ cho ra ở riêng"trong truyện "DếMèn phiêu lưu kí"của Tô Hoài. Đoạn "Tôi sống độc lập.. " trích trong chương I truyện "DếMèn phiêu lưu kí".Sau hai ngày ở với mẹ, ba anh em Mèn được mẹ đưa ra bờ ruộng cho đi ở riêng. Mèn là đứa con út, sau khi được mẹ đưa vào hang, mẹ còn bỏ cho một ít ngọn cỏ non trước cửa. Một cuộc đời tự lập bắt đầu. Khoan khoái vì được ở một mình nơi thoáng đãng, mát mẻ. Sục sạo trong hang, Mèn ra đứng trước cửa hang ngắm trời xanh, vỗ đôi cánh còn ngắn, gáy lên mấy tiếng rõ to. Mèn muốn cho thiên hạ biết là mình đã lớn, đã sống độc lập rồi! Xem thêm: Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gianMèn bắt tay vào xây dựng hang, hì hục khoét một cái ổ làm giường, đào đường tắt hai ngả, cửa sau, ngách thượng để phòng thân. Chập tối, Mèn ra đứng trước cửa hang, họp mặt hàng xóm, cao hứng gảy đàn hát một bài hát hoàng hôn chào tạm biệt ông mặt trời. Dẽ yêu đời và lạc quan. Mèn có một cách nhìn sâu rộng và biết lo xa. Đêm nào Mèn cũng tụ hội với cả xóm "uống sương đọng, ăn cỏ ướt, cùng nhau gảy đàn, thổi sáo, nhảy múa, ca hát thâu đêm tận sáng mới về nhà". Cuộc sống ấy tuy êm đềm, yên vui, nhưng Mèn chán dần, không hợp với tính cách của Mèn. Đó là một bước phát triển về ý chí tự chủ của Dế Mèn. Đề 4. Phân tích ngoại hình và tính tình của Dế Mèn qua đoạn tự thuật của chú về "Bài học đường đời đầu tiên" trong truyện "Dế Mèn phiêu lưu kí"của Tô Hoài. Tô Hoài là một nhà văn có biệt tài trong miêu tả cảnh vật thiên nhiên, miêu tả thế giới loài thú, lũ côn trùng. Đoạn văn tả Dế Mèn tiếp theo là một đoạn văn độc đáo, đặc sắc, mẫu mực. Mèn tự nói về mình một cách hồn nhiên: “Tôi ăn uống điều độ… làm việc có chừng mực… tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng”. Đôi càng thì "mẫm bóng". Những cái vuốt “cứ cứng dần và nhọn hoắt” có kém gì nhát dao mỗi khi Mèn thử sự lợi hại của nhữge chiếc vuốt đã co cẳng lên "đạp phành phạch" vào các ngọn cỏ làm cho ngọn cỏ “gãy rạp”.Chất kiêu hùng, thượng võ của Mèn đã lộ rõ. Đôi cánh nay đã "thành cái áo dài kínxuốngtận chấm đuôi";Mèn vỗ lên "nghe tiếng phành phạch giòn giã". Mèn rất oai vệ kiểu cách và đẹp mã khi chú ta đi bách bộ thì "rung rinh một màu bóng mỡ soi gương được và ưa nhìn". Đầu to "nổi từng tảng rất bướng". Hai cái răng thì "đen nhánh", nhai “ngoàm ngoạp” như hai cái lưỡi liềm máy làm việc. Sợi râu dài một vẻ "rất đỗi hùng dũng". Điệu bộ vừa “trịnh trọng” vừa "khoan thai" khi Mèn "vuốt râu". Những tính từ chỉ tính chất, chỉ màu sắc, những động từ gợi tả, những từ láy, những so sánh… được nhà văn sử dụng rất hay, vừa tả được ngoại hình, vừa tả được tâm tính của Mèn… rất đáng yêu. Một chú dế cường tráng, bướng bỉnh, điệu bộ, rất trịnh trọng và kiểu cách, tự ý thức về mình một cách kiêu hùng. Bước vào đời, Mèn tự hào về đôi càng, những chiếc vuốt, về cái đầu to, về cái răng, về cái râu… của mình, nên chú ta đi đứng oai vệ lắm, làm điệu nhún nhảy, rung lên rung xuống hai chiếc râu… Mèn tự xem mình, kiểu cách mình là "con nhà võ", "tợn lắm", coi thường bất cứ ai. Lúc thì chú ta "cà khịa", lúc thì chú ta "to tiếng". Tự cho mình là “giỏi”,là "tài ba". Người ta "nhịn", người ta "nể" nhưng Mèn lại lầm tưởng mình là "tay ghê gớm, có thể sắp đứng đầu thiên hạ". Mèn đá anh Gọng Vó một cái, quát mấy chị Cào Cào có khuôn mặt "trái xoan", tuy sợ nhưng đã "đưa mắt lên nhìn trộm". Cái hay của đoạn văn là Mèn tự nói về tính xấu của mình, cái ngông nghênh của một thanh niên mới lớn. Mèn rất trung thực. Sau này, khi đã trưởng thành, đã đi chu du thiên hạ, học được nhiều điều khôn, điều hay, Mèn rất ân hận về những hành động ngu dại và nông nổi của mình. Đề 5. Phân tích nỗi ân hận của chú Dế Mèn qua đoạn tự thuật của chú về "Bài học đường đời đầu tiên" trong truyện "Dế Mèn phiêu lưu kí"của Tô Hoài. Bước vào đời, Mèn vốn hay cà khịa, hung hăng đã dám “vuốt râu cọp”,dám trêu chọc chị Cốc. Mèn cất tiếng hát véo von (Mèn học ca dao, dân ca bao giờ vậy, mà thuộc và hát hay thế?), làm cho chị Cốc "trợn tròn mắt giương cánh lên".Trước phản ứng của chị Cốc, Mèn biết sợ "chui tọt luôn vào hang, lên giường nằm khểnh bắt chân chữ ngũ". Sợ nhưng vẫn "tỏ vẻ" thách thức thầm: "… Mày ghè vỡ đầu mày ra không chui nổi vào tổ tao đâu!". Mèn đâu biết cái trò ngu dại của mình mà gây nên tai họa cho người láng giềng gầy tội nghiệp. Dế Choắt đã bị chị Cốc mổ cho một cái "quẹo xương sống, lăn ra, kêu váng". Mèn ân hận về cái chết thê thảm của Choắt là do "cái tội ngông cuồng dại dột" của mình gây ra. Mèn đưa xác Choắt chôn vào một vùng cỏ um tùm, đáp thành nấm mộ to. Lời trăng trối của Choắt mãi mãi là bài học đường đời cho Mèn và cho những ai đó: "… ở đời mà có thói hung hăng bậy hạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy!". Đoạn văn "Bài học đường đời đầu tiên" truyện này cho thấy Tô Hoài có tài quan sát, nghệ thuật miêu tả dáng hình, tính tình của Dế Mèn rất độc đáo. Ông viết truyện này lúc mới 16 tuổi, thật tài ba và chững chạc. Bài học về sự khao khát sống tự do, độc lập, tinh thần lao động để sống, không nên ngông cuồng mà làm điều ngu dại, biết ăn năn hối hận về những khuyết điểm của mình… đó là những bài học sâu sắc, thấm thía được Tô Hoài tế nhị đưa vào dưới hình thức "tự bạch, hồi kí"của chú Dế Mèn đáng yêu. Nguồn: thêm: Kể và tả con đường đi học tuổi thơ
Bài học đường đời đầu tiên ngữ văn 6
1,841
Bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) giúp em cảm nhận gì về tình yêu nước và lòng tự hào dân tộc của cha ông ta? Gợi ý Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) là một trong những áng văn chương kiệt tác của văn học thời Lí – Trần. Nó là tác phẩm kết tinh được hào khí thời đại, cảm xúc của muôn trái tim, vì thế, nó tiêu biểu cho tinh thần độc lập, khí phách anh hùng và khát vọng lớn lao của dân tộc trong buổi đầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập. Sông núi nước Nam là một bài thơ chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Nguyên tác như sau: Nam quốc sơn hà Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Dịch thành: Sông núi nước Nam Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ. (Theo Lê Thước – Nam Trân dịch ) Tương truyền rằng, trong cuộc kháng chiến chống Tống thời nhà Lí, một đêm tối trên phòng tuyến Như Nguyệt, từ trong đền thờ hai thần Trương Hồng và Trương hát (hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt), bài thơ đã ngân vang lên. (Vì thế người ta gọi bài thơ này là thơ thần). Nhưng dù là do thần linh hay con người đọc lên thì bài thơ vẫn là khát vọng và khí phách Đại Việt. Xem thêm: Biểu cảm cảm xúc vườn nhà em lớp 7 Ý tưởng bảo vệ độc lập, kiên quyết chống giặc ngoại xâm được diễn đạt trực tiếp qua một mạch lập luận khá chặt chẽ và biện chứng. Mở đầu bài thơ là lời tuyên bố đanh thép về chủ quyền đất nước: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Câu thơ 7 tiếng tạo thành hai vế đối xứng nhau nhịp nhàng: Nam quốc sơn hà – Nam đế cư. Đặc biệt, cách dùng chữ của tác giả bài thơ thể hiện rất "đắt" ý tưởng và cảm xúc thơ. Hai từ Nam quốc và Nam đế có thể coi là nhãn tự (mắt thần) của câu thơ và của cả bài thơ. Trong tư tưởng của bọn cầm quyền phong kiến Trung Quốc xưa nay chỉ có Bắc đế, chứ không thể có Nam đế, hoàng đế Trung Hoa là vị hoàng đế duy nhất của thiên hạ, thay trời trị vì thiên hạ. Vì thế, khi xâm lược nước Nam, áp đặt được ách thống trị, chúng đã ngang nhiên trắng trợn biến nước ta thành quận, huyện của Trung Quốc. Nền độc lập mà chúng ta giành lại được hôm nay thấm không ít máu của cha ông ta đã đổ suốt hơn một ngàn năm. Và nay nền độc lập ấy vẫn đang bị đe doạ bởi tư tưởng ngông cuồng kia. Trở lại với nội dung tư tưởng bao hàm qua ngôn từ của câu thơ. Nam quốc không chỉ có nghĩa là nước Nam, mà Nam quốc còn là vị thế của nước Nam ta, đất nước ấy dù nhỏ bé nhưng tồn tại độc lập, sánh vai ngang hàng với một cường quốc lớn ở phương Bắc như Trung Quốc. Hơn nữa, đất nước ấy lại có chủ quyền, có một vị hoàng đế (Nam đế). Vị hoàng đế nước Nam cũng có uy quyền không kém gì các hoàng đế Trung Hoa, cũng là một bậc đế vương, do đấng tối cao phong tước, chia cho quyền cai quản một vùng đất riêng mà lập nên giang sơn xã tắc của mình: Xem thêm: Cảm nghĩ về cây Tre Việt Nam lớp 7 Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là sự thật hiển nhiên. Không ai có quyền phủ định? Bởi sự phân định núi sông, bờ cõi đâu phải là ý muốn chủ quan của một người hay một số người, mà do "Trời" định đoạt. Bản đồ ranh giới lãnh thổ của các quốc gia đã in dấu ấn trong sách trời. Ai có thể thay đổi được? Tác giả bài thơ đã đưa ra những lí lẽ thật xác đáng. Qua cách lập luận, nổi lên một quan niệm, một chân lí thiêng liêng và cao cả: chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt. Vẫn những lí lẽ đanh thép ấy, tác giả khẳng định tiếp: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Thật là một khí phách kiên cường! Thay mặt cả dân tộc, nhà thơ đã lớn tiếng cảnh cáo bọn giặc xâm lược: Chúng bay phạm vào bờ cõi này, tức là chúng bay đã phạm vào sách trời; mà phạm vào sách trời, tức là làm trái với đạo lí trở thành kẻ đại nghịch vô đạo (nghịch lỗ), lẽ nào Trời đất dung thai Mặt khác chúng bay phạm vào bờ cõi này tức là phạm vào chủ quyền thiêng liêng của một dân tộc, nhất là dân tộc đó lại là một dân tộc có bản lĩnh kiên cường, có ý chí độc lập mạnh mẽ, vậy thì, sự thất bại sẽ là điều không thể tránh nổi, thậm chí còn bị đánh cho tơi bời (thủ bại hư).Xem thêm: Kỉ niệm ngày đầu tiên đi học Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại có một khí phách hào hùng như thế! Cảm xúc thơ thật mãnh liệt, tạo nên chất trữ tình chính luận – một đặc điểm của thơ ca thời Lí – Trần, khiến người đọc rưng rưng! Và ngàn đời sau, bài thơ vẫn là hồn thiêng sông núi vọng về. Vanmau.edu.vn
Bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) giúp em cảm nhận gì về tình yêu nước và lòng tự hào dân tộc của cha ông ta_
983
Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nỗi buồn, những nét đau, nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, chứ không phải là cái buồn đau bi lụy. Hướng dẫn 1. Mở bài – Tây Tiến là tên một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào – Việt và tiêu hao lực lượng Pháp ở miền Tây Bắc bộ. – Năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, viết bài thơ Tây Tiến, một trong những tác phẩm nổi tiếng mà Trần Lê Văn đã nhận xét: "Bài thơ Tây Tiến…" 2. Thân bài a) Bài thơ Tây Tiến có phảng phất nhũng nét buồn, những nét đau: a1. Nét buồn: – Tây Tiến phác hoạ một cuộc hành quân dài ngày giữa núi rừng hiểm trở. Mở đầu bài thơ, ẩn hiện sau lớp sương mù dày đặc của núi rừng là hình ảnh một đoàn quân mệt mỏi: Sài Khao sưong lấp đoàn quân mỏi, … Anh bạn dãi dầu không bước nữa. – Biết bao gian nan thử thách đón chờ đoàn quân Tây Tiến, bất cứ nơi nào, lúc nào cũng có thể làm cho người ta chùn bước. * Đó là cái hiểm trở của con đường hành quân: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm tham, * Đó là oai linh của rừng thiêng: Chiều chiều oai linh thác gầm thét, * Đó là cảnh thú dữ rình rập: Đêm đêm Mưòng Hịch cọp trêu người, a2. Nét đau: – Bệnh tật do lam sơn chướng khí: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, "Hồi ấy ở rừng, sốt rét hoành hành dữ. Đánh trận, tử vong ít, sốt rét, tửvong nhiều" (Trần Lê Văn). Cho nên đoàn binh không mọc tóc và quân xanh màu lá vì màu da của chiến sĩ xanh lướt và tóc bị rụng do sốt rét rùng hành hạ. – Đó là sự đánh đổi quãng đời tuổi trẻ tươi đẹp cho Tổ quốc trường tồn: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. – Đó là sự hi sinh: Áo bào thay chiếu anh về đất, Nếu không có được một lòng yêu nước thiết tha, một ý chí kiên cường, người chiến sĩ Tây Tiến có thể ngả lòng, bỏ cuộc. Nhưng trái lại, họ đối mặt, đương đầu với mọi gian khổ, thử thách, bệnh tật, chết chóc và vượt lên tất cả với một hào khí ngất trời: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. b) Nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, không phải bi luỵ: b1. Nét đẹp: – Sau một cuộc hành quân thật mệt mỏi là hình ảnh: Mường Lát hoa về trong đêm hơi. – Núi đèo cao ngất hiểm trở, nhưng đến đỉnh cao, người chiến sĩ say sưa phóng tầm mắt ra xa, ngắm nhìn cảnh vật mờ ảo dưới làn mưa rùng đầy quyến rũ: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. – Núi rừng thật dữ dằn, chiều chiều oai linh thác gầm thét, đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người, nhưng những sản vật của vùng cao đã mang lại bao hương vị ngọt ngào, nồng ấm. Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Và những đêm liên hoan vui vầy: Xem thêm: Đặt câu theo mẫu (phần 2)Doanh trại bùng lên hội đuốc hoa, Kìa em xiêm áo tự bao giờ. – Giữa những ngày hành quân gian khổ ấy, tâm trí của những chàng trai trong đoàn binh Tây Tiến luôn dành cho hoa, hoa về, hội đuốc hoa, hoa đong đưa. Và xúc cảm trước những hình ảnh lãng mạn, tuyệt đẹp: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy, Có thấy hồn lau nẻo bến bờ. Có nhớ dáng người trên độc mộc, Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa. Cũng có lúc, người chiến sĩ Tây Tiến thả hồn thơ mộng: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. b2. Nét hùng: – Nét hùng tráng là khí vị chung của bài thơ, một khí vị hào hùng, quả cảm. Người đọc thấy cái đẹp chân thật, xúc động trước hình ảnh một đoàn quân mệt mỏi vì núi rừng gieo neo, vì bụi bám đường xa, vì mệt nhọc, đói khát, cho nên: Anh bạn dãi dầu không bước nữa, Gục lên súng mũ bỏ quên đời. – Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ, hoang sơ và dữ dội với nhiều đường nét, hình khối, màu sắc chuyển đổi bất ngờ, đoàn quân Tây Tiến có vẻ nhỏ bé, đối lập với thiên nhiên. Nhưng chính sự đối lập đó đã làm tăng thêm khí phách hào hùng, dáng nét hiên ngang bất khuất không gì ngăn cản nổi của đoàn quân: Heo hút cồn mây sủng ngửi trời, Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống. – Nét hào hùng còn thể hiện rõ ở khí thế chiến đấu của họ. Ngay trong lúc bệnh tật, người chiến sĩ Tây Tiến vẫn anh dũng chiến đấu: "Như trận Dốc Đẹ (trên đường từ phố Vàng sang Mường Bi), có những chiến sĩ sốt rét run cầm cập vẫn nằm nguyên ở vị trí chiến đấu, bắn súng, ném lựu đạn, vần đá từ trên cao xuống, tiêu diệt nhiều tên địch. Bọn giặc sống sót phải rút lui xuống Suối Rút". (Trần Lê Văn) – Biết bao thanh niên đã dấn thân, đúng như hai chữ Tây Tiến, người chiến sĩ đã hăng hái mà tiến, vui vẻ mà tiến về miền Tây, dù có trông thấy nhũng nấm mo viễn xứ nằm rải rác biên cương và biết rằng rất có thể phút này bản thân họ còn tồn tại, phút sau sẽ thành hư vô. Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Cái tiếng gầm rung chuyển của dòng sông Mã ngự trị cả một vùng thiên nhiên đang ngưỡng vọng sự hào tráng, khí phách anh hùng của những chàng trai Tây Tiến gây ấn tượng thật sâu sắc cho người đọc. Tóm lại, hai nét bi và tráng hoà lẫn nhau, tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ, nhưng nổi bật vẫn là nét hùng tráng. 3. Kết bài – Ba mươi bốn câu thơ Tây Tiến đầy hình ảnh sáng tạo thể hiện nỗi nhớ thiết tha của hồn thơ tinh tế, tài thơ tuyệt diệu của Quang Dũng. Đặc biệt, nghệ thuật thơ vừa phản ánh những nét bi hùng của cuộc chiến đấu chống Pháp, vừa thể hiện tâm tình riêng tư của những người thanh niên yêu nước trong thời kì kháng chiến chống Pháp. – Điều này cũng giải thích tại sao bài thơ Tây Tiến ra đời từ nửa thế kỉ trước, mà hôm nay ta vẫn rung động khi đọc những dòng thơ: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rùng núi nhớ chơi vơi. Nguồn: thêm: Em có suy nghĩ gì về vẻ đẹp tâm hồn của một con người
Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nỗi buồn, những nét đau, nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, chứ không phải là cái buồn đau bi lụy.
1,106
Bài thơ “Nam quốc Sơn Hà” của Lí Thường Kiệt là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Em có đồng ý với ý kiến đó không Gợi ý Tuyên ngôn độc lập là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy. Trong bài thơ Sông núi nước Nam, tác giả đã tuyên bố chủ quyền về lãnh thổ và thể hiện niềm tự hào, quyết tâm bảo vệ đất nước. “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Như vậy, nước Nam là của người Nam, đó là điều đã được ghi tại “thiên thư’ (sách trời). Tác giả viện đến thiên thư vì trong xã hội xưa người ta vẫn coi trời là dâng tối cao. Người Trung Quốc cổ đại tự coi mình là trung tâm của vũ trụ nên vua của họ được gọi là “đế”, các nước chư hầu nhỏ hơn bị họ coi là “vương” (vua của những vùng đất nhỏ). Trong bài thơ này, tác giả đã cố ý dùng từ “Nam dế” (vua nước Nam) để hàm ý sánh ngang với “đế” của nước Trung Hoa rộng lớn. Chẳng những vậy, bài thơ còn thế hiện ý chí bảo vệ non sông ở lời khẳng định chắc chắn rằng nếu kẻ thù vi phạm vàọ quyền tự chủ ấy của nước ta thì chúng sẽ phải chuốc lấy bại vong: “Nhất đẳng hành khan thủ bại hư" – “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”. Với những ý nghĩa ấy, “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong ‘Chinh phụ ngâm khúc’Vanmau.edu.vn
Bài thơ “Nam quốc Sơn Hà” của Lí Thường Kiệt là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Em có đồng ý với ý kiến đó không
298
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt vừa là một áng thơ yêu nước vừa là một bài thơ đánh giặc. Em hãy chứng minh ý kiến đó Gợi ý Trong nền văn học Việt Nam, xuyên suốt từ cổ chí kim, yêu nước là một trong những dòng cảm hứng chủ đạo vừa phản ánh lịch sử dân tộc vừa thể hiện đời sống tỉnh thần của nhân dân trong mốì quan hệ với cộng đồng. “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt chính là một trong những áng thơ đầu tiên thể hiện tấm lòng yêu nước mạnh mẽ, sục sôi trong hoàn cảnh đất nước có giặc ngoại xâm. Và bởi thế, bài thơ không chỉ là một áng thơ yêu nước vừa là một bài thơ đánh giặc. Nam quốc sơn hà Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xăm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ hại hư Bài thơ được tạm dịch là: Sông núi nước Nam Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt: Năm 1049, khi giặc Tống sang xâm lược nước ta. Khi ấy, quân giặc đang tiến về phía Thăng Long, Lí Thường Kiệt đã cho đắp phòng tuyến tại sông Như Nguyệt. Nửa đêm, ông cho tướng sĩ đọc vang- bài thơ “Nam quốc sơn hà”, quân giặc nghe được mà bủn rủn chân tay mất hết nhuệ khí chiến đấu. Trận đó, quân ta đại thắng. Bởi thế, “Nam quốc sơn hà” được coi là “bài thơ thần”, một bài thơ đánh giặc. Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, bài thơ vừa thể hiện lòng yêu nước vừa bộc lộ ỷ chí đánh giặc đến cùng để bảo vệ mảnh đất thân yêụ của tổ tiên.Xem thêm: Hãy so sánh cách ví tiếng suối của Nguyễn Trãi trong văn bản “Côn Sơn ca” (câu thơ “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”) và của Hồ Chí Minh trong câu thơ: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” (Cảnh khuya) Lòng yêu nước của bài thơ được thể hiện sâu sắc qua nội dung khẳng định chủ quyền của đất nước, bộc lộ niềm tự hào dân tộc đồng thời khẳng định ý chí đánh giặc giữ nước. Mở đầu bài thơ là một câu thơ giống như lời tuyên ngôn đanh thép: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Câu thơ 136 giống như một lời nhận định khẳng định một sự thật hiển nhiên: đất đai của quốc gia nào thì vua nước đó ở. Nhưng đằng sau sự thật giản dị ấy là một ý nghĩa lớn lao. Từ xưa đến nay trong lích sử, các bậc vua chúa Trung Hoa luôn mang dã tâm xâm lược nước ta (cuộc xâm lược năm 1049 đó là một ví dụ), chúng coi nước ta là một nước “tiểu nhược” một quận huyện nằm trong lãnh thổ rộng lớn của chúng, Không chỉ thế, vua Trung Hoa còn tự Xưng là “Thiên tử” – “con trời” hàm ý là trong trời đất, vua Trung Hoa chỉ dưới có Trời mà trên tất cả, là vua của các vị vua. Nhưng với lời tuyên bố: “Sông núi nước Nam vua Nam ở” tác giả đã khẳng định chủ quyền lãnh thố dân tộc Việt Nam. Không chỉ thế, tác giả còn sử dụng từ “đế” một cách táo bạo: “Nam đế”. Như vậy, nhà vua của nước Nam cũng là một vị đế vương sánh ngang cùng hoàng đế Trung Hoa, hai bên ngang hàng bình đẳng không có sự phân câp bất công. Đặc biệt, trong câu thơ tiếp, tác giả còn dẫn chứng nguồn thông tin vô cùng đích đáng: “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” – “Rành rành định phận tại sách trời”. Những sự thật hiển nhiên về chủ quyền lãnh thổ của mỗi dân tộc đã được ghi lại “thiên thư”, “sách trời”. Trong quan niệm của người xưa, nếu như Trời là đấng tối cao thì sách trời hiển nhiên được coi là một thứ luật bất khả xâm phạm: luật trời.Vì thế, câu thơ mang một hàm ý thâm thúy: chủ quyền của nước Nam ta, vĩ trí của vua Nam ta đã được sách trời thừa nhận, hoàng đế các ngươi tự xưng là Thiên tử; nếu các ngươi xâm lược nước ta thì chính các ngươi đang dẫm đạp lên lời răn dạy của cha mẹ, tổ tiên mình đó!Xem thêm: Viết về hình ảnh người cha thân yêu- văn lớp 7 Trong cách dùng từ ngữ, viện lí lẽ của tác giả sáng bừng lên niềm kiêu hãnh và tự hào dân tộc. Không chỉ thế, bài thơ còn bộc lộ một ý chí đánh giặc sục sôi, mạnh mẽ: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. nghĩa là: “Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”. Quân giặc sang xâm lược nước ta không chỉ bị người mà còn bị Trời trừng trị. Bởi thế, sức mạnh của sự phản công mới mạnh mẽ làm sao! Nó khiến quân giặc “bị đánh tơi bời”. Trong nguyên văn chữ Hán, câu thơ mang ý nghĩa là: nhất định chúng bay sẽ bị quét sạch, bị đánh tơi bời. Sức mạnh ấy chỉ có được từ những tâm lòng yêu nước chân chính, quyết tâm giữ vững chủ quyền dân tộc, quyết tâm đánh đuổi kẻ xâm lăng. Đó là tấm lòng đầy cảm động vì quê hương xứ sở. Đánh giặc đâu chỉ cần giáo mác, đánh giặc đâu chỉ cần sức mạnh. Từ xưa cha ông ta đã biết cách đánh giặc bằng tinh thần, sau này Nguyễn Trãi gọi đó là “mưu phạt tâm công”. Qua bốn dòng thơ ngắn ngủi, tác giả đã chỉ ra những cơ sở chính nghĩa của cuộc chiến tranh vệ quốc. Điều đó khiến quân giặc run sợ vì thấy được sự sai trái nằm trong hành động tham lam của mình. Không chỉ thế, bài thơ còn mang những hàm ý thiêng liêng liên quan đến mối quan hệ giữa Trời và người. Có kẻ nào không run sợ khi nghĩ đến những quả báo dành cho kẻ phạm vào luật trời? Đặc biệt, lời thơ cuối cùng đã khẳng định sự thất bại tơi bời trông thấy được của quân địch. Bởi thế, nghe lời thơ mà như hứng chịu ngàn mũi tên xuyên thấu tim gan. Và cũng bởi thế, trong thực tế, bài thơ đã góp phần làm nên trận đại thắng của trận đánh Như Nguyệt 1049. “Nam quốc sờn hà” xứng đáng là một bài thơ đánh giặc.Xem thêm: Giới thiệu về cuộc đời của nhân vật Hồ Xuân Hương Bài thơ có một bố cục chặt chẽ, tuy chủ yếu thiên về biểu ý song không phải vì thế mà trở thành một bài luận lí khô khan. Có thể nhận thấy rằng, sau tư tưởng độc lập chủ quyền đầy kiên quyết là một cảm xúc mãnh liệt ẩn kín bên trong. Nếu không có tình cảm mãnh liệt thì chắc chắn không thế viết được những câu thơ đầy chí khí như vậy. Với những nội dung độc đáo như vậy, “Nam quốc sơn hà” quả thực là bản tuyên ngôn độc lập đầy hào khí của dân tộc Việt Nam ta! Vanmau.edu.vn
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt vừa là một áng thơ yêu nước vừa là một bài thơ đánh giặc. Em hãy chứng minh ý kiến đó
1,271
Bài viết số 2 lớp 7: Cảm nghĩ về loài cây em yêu Hướng dẫn Cảm nghĩ về cây lúa Trong cuộc đời mỗi con người Việt Nam, chắc hẳn ai cũng ăn qua một loại thực phẩm được gọi là “ngọc mễ”, tức viên ngọc của trời. Vậy những hạt ngọc ấy từ đâu mà ra? Đó là từ những cây lúa mỏng manh cùng với những giọt mồ hôi công sức của các bác nông dân tạo nền. Nhờ đó mà có được những bát cơm trắng tinh tươm em rất yêu quí. Làm sao có thể quên được những cây lúa tuy nhỏ bé nhưng những gì mà loài cây này đóng góp cho nhân loại lại không hề bé nhỏ chút nào. Em yêu những chẽn lúa xanh mướt phất phơ giữa nắng vàng rực rỡ. Em yêu những khoảnh khắc đứng giữa ruộng lúa xanh tươi mềm mại uốn lượn theo chiều gió. Em yêu cái khoảnh khắc hương lúa mới hoà quyện vào hơi đất xông lên gây cảm giác đê mễ khó tả. Ôi! Thật sảng khoái và dễ chịu làm sao! Thật khó có thể diễn tả được những cảm nhận khi em đi qua đồng lúa chín. Hương lúa chín như muốn ôm lấy em, mùi hương ngầy ngậy ôm lấy tôi. Mùi hương đó còn theo em đến tận bữa cơm chiều khi bát cơm trắng tinh được dọn ra mâm. Em tin rằng bát cơm đó là ngon nhất, thơm nhất. Đến bây giờ em cũng có thể cảm nhận được hương vị ngọt ngào như dòng sữa mẹ từ bát cơm ấy đọng lại. Hình ảnh những bông lúa lắc lư theo nhịp gió, đôi lúc làm rơi những hạt lúa xuống đồng, khó có thể phai nhạt trong tâm trí em. Niềm vui thuở bé của em là được bà ngoại dẫn đi gặt lúa. Cái cảm giác lâng lâng vui sướng khi được cầm trên tay bông lúa vàng rực bên ngoài, hạt gạo trắng tinh bèn trong theo những bước chân nhảy nhót như sáo về khoe với ba mẹ mình. Ôi mà sao thân thương đến lạ! Hạt gạo làng ta Có vị phù sa Có sông Kinh Thầy… Đó là những câu hát em được ngoại dạy từ khi còn bé. Lúc đó em còn được ngoại chỉ cách sàng, sẩy gạo. Lúc sàng gạo, em mới cảm thấy hết cái tâm, cái công mà người nông dân phải tần tảo nắng mưa để cho ra đời những hạt gạo ngon, tròn hạt. Đôi lúc người nông dân đạt được những vụ mùa bội thu, nhưng có lúc bị thất thu… Nhưng vì cái tình, cái nghĩa với cây lúa nên họ không thể dứt ra được. Tuy trong bữa cơm, chẳng ai chú ý đến việc phải làm sao để có được những hạt gạo nấu thành cơm nhưng trong thâm tâm của mỗi người Việt Nam, cây lúa vẫn chiếm một vị trí quan trọng. Với em, cây lúa còn han thế! Đó là một mảng kí ức không bao giờ quên, một tình yêu sâu sắc đối với quê ngoại, một kỉ niệm tuổi thơ hồn nhiên, vô tư trên cánh đồng. Tuy không nói ra nhưng em thầm cám ơn cây lúa rất nhiều! Cảm nghĩ về cây vú sữa a)đặt vấn đề Trước sân vườn nhà em có trồng một cây Vú Sữa, đây là loài cây mà em thích nhất trong vườn. Là loài cây được ví như bầu sữa mẹ thanh mát, ngọt lịm. b)triển khai – ban đầu cái tên gọi của nó làm cho em ấn tượng, ấn tượng sâu sắc hơn là vú sữa vừa ngon ngọt và có nhiều ý nghĩa trong loại quả này + lúc đó em đặt ra câu hỏi vì sao loại quả này lại có tên gọi thân thương thế + cũng đúng thôi loại quả này khi bổ đôi thì ứa randòng sữa trắng sóng sánh tiết ra có vị thơm ngọt như sữa mẹ. + em ấn tượng hơn nữa về loài cây này khi được mẹ kể về”sự tích cây vú sữa” Em học được những bài học qua loài cây này. Thứ nhất những thứ ngon ngọt nhất mẹ luôn dành cho ta Thứ hai tình cảm cha mẹ đối với ta bao la vô cùng bao la, vì vậy, chúng ta càng cần cố gắng để làm cha mẹ tự hào, đừng để đến khi cha mẹ không còn thì có hối hận như cậu bé trong sự tích Cây vũ sữa cũng đã quá muộn Thứ ba, nếu không biết yêu thương những người xung quanh thì bạn sẽ không ăn dduwwocj quả ngọt mà sẽ ăn những gì chua chát nhất và ngược lại “thương con khi thác mẹ đành, hóa lành quả mọng, ngọt lành sữa tươi” – gốc cây to, lá sum suê và thường cây trĩu quả lắm + lá vú sữa có đặc biệt là một mặt thì xanh bóng, mặt còn lại lại là màu tía như trong sự tích màu tía đó như là màu mắt đỏ hoe của người mẹ đang khóc vì đứa con mình + cành nó tản ra như một cái ô nên chúng em hay chơi và ngồi học dưới gốc cây – loài cây này vừa quý lại mang ý nghĩa sâu sắc về mẹ c)đánh giá – đây là loại quả em thích ăn nhất, thích ăn vì hương vị của nó và thích ăn ví nó mang ý nghĩa về người mẹ – người thân thương nhất và quan trọng nhất đối với em – qua loại quả này em sẽ cố gắng ngoãn ngoãn, học giỏi, vâng lời ba mẹ để không phải hối hận như cậu bé trong sự tích kia Cảm nghĩ về cây đa Xem thêm: Cảm nghĩ về người bà kính yêu hay nhấta)đặt vấn đề – Làng quê VIệt Nam ngàn năm vẫn vậy, vẫn là hình ảnh cây đa-bến nước-con đò. HÌnh ảnh cây đa tượng trưng cho đời sống lãng, xã của con dân Việt – Còn đối với trẻ thơ hình ảnh cây đa quen thuộc, hiện hữu nhiều nhất trong rằm trung thu có chú cuội và chị hằng b) triển khai – Hình ảnh cây đa hiện lên một cách thân thương trong tâm trí mỗi con người VIệt Nam + Đó là loài cây gắn với những cuộc sống bình dị, chân chất + Cây đa gắn với những hình ảnh sinh hoạt thường nhật của con người + Mỗi làng quê Việt thường trồng cây đa cạnh những con sông-hai hình ảnh này thường đi song song với nhau hay đầu làng Đó như là một tục lệ, một thói quen của mỗi làng, xã.Cây đa được trồng đầu làng có ý nghĩa như những già làng, trưởng làng chứng kiến bao thế hệ con, cháu của dân làng lớn lên, sinh sống – Cây đa với những tán lá sum xuê, trĩu quả. Gốc cây đa to, rễ nó bám sâu vào lòng đất + Thân cây đa to, vừa bằng hai người ôm + Dưới gốc đa này,, người làng đưa tiễn nhau đi xa bịn rịn, lưu luyến. Và cũng dưới gốc đa này người làng thường dừng chân nghỉ lại sau những buổi làm đồng mệt nhọc. + Cây đa như một biểu tượng của què hương, là bến đậu của bao nỗi nhớ, niềm thương của những người con xa quê mỗi lần nghĩ đến quê cha, đất tổ.” + Chiều hè, chúng em thường túm năm tụm bảy dưới gốc đa để thi thả diều. Bờ con mương chạy ngang cánh đồng làng là nơi thả diều lí tưởng. Những cánh diều chấp chới bay cao; tiếng sáo diều vi vu ngân nga giữa không trung bát ngát. – Ông em kể rằng cây đa đã chứng kiến bao sự kiện buồn vui của làng. Lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên phấp phới bay trên ngọn đa. Cuộc mít tinh đầu tiên của dân làng thành lập chính quyền cách mạng cũng diễn ra dưới gốc đa. + Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ, những cuộc tiễn đưa thanh niên lên đường nhập ngũ cũng được tổ chức ở đây… + Rồi chuyện làm ăn hàng ngày, chuyện đổi mới không ngừng của làng của nước, bà con trao đổi với nhau dưới bóng mát cây đa. Cây đa cổ thụ quả đúng là nhân chứng lịch sử của làng. c) đánh giá Giờ đây, cây đa vẫn hiện diện ở đó; vẫn chứng kiến từng thế hệ lớn lên, trưởng thành, xây dựng cuộc sống. Mỗi khi nhớ quê hương, cây đa hiển diện trong tâm trí em; nó như mọt người ban thân; như một lão trưởng của xóm làng em Cảm nghĩ về cây xoài a) đặt vấn đề – Cứ mỗi dạo tháng tư về, những hạt mưa đầu mùa đã bắt đầu lất phất, rồi đến những cơn mưa rào. Khoảng thời gian đó cũng chính là lúc những cây xoài trước hiên nhà em lại đơm hoa kết trái b) Triển khai – Đứng trước hiên nhà, ngước nhìn lên cao em chỉ thấy toàn một màu xnah + Đó là những chiếc lá có màu xanh đậm, nhìn càng lâu lắm mới nhận ra những chiếc mầm non có màu xanh mơn mởn, tươi tắn + Chúng mộc lên nhua như đang quấn quýt không muốn rời xa + Đó là những cành xoài vươn ra rông lớn, vững chắc, đón lấy và che chở những trái xoài bắt đầu to dần nặng dần theo thời gian – Năm nay những cây xoài ấy lại trĩu quả và em nhớ không nhầm là lần thứ tư nó sai quả + Cũng như lần đầu, lần này những cây xoài đó lại mọc ra nhiều quả và ngọt lịm + Những cây xoài đó là một tay ba em trồng nên chúng không chỉ cho em những trái quả ngọt mà còn mang ý nghĩa về ba đối với em + Ba dành cả sự nhiệt tình để vun trồng ra những thứ quả đó cho chúng em được thưởng thức. Nhìn những cây xoài đó em thầm biết ơn ba rất nhiều, chắc ba đã dành hết tình cảm cho chúng em nên những quả xoài đó lần nào cũng có vị ngọt như tình thương ba dành cho em và anh trai. – Xoài có nhiều thịt, tùy mỗi loại mà nó mang những hương vị và màu sắc khác nhau. Nếu như xoài tượng thì khi chín quả nó vẫn mang màu xanh và có vị thanh thanh, nhai giòn rau ráu ; mùi thơm và vị chỉ thơm thoang thoảng. Còn xoài xiêm thì thịt nó có màu vàng hấp dẫn người nhìn, có vị ngọt lịm…Và còn vô số các loại xoài có hương vị và đặc trưng riêng – Em rất thích cây xoài bởi vì nó không chỉ mang lại cho em thứ quả ngon mà nó còn bổ dưỡng. Quả xoài mang lại tác dụng như bổ não, chống viêm, phòng ngừa ung thu.. lá xoài đem lại tác dụng: dùng chưa bệnh hô hấp, lợi tiểu,.. Vỏ thân cây xoài: sát trùng, chưa ho, đua sưng cổ họng… c)đánh giá Với em, cây xoài nó mang hương vị thiên nhiên vừa mang lại lợi ích quý giá cho con người nên em yêu thích cây xoài vô cùng. Vì yêu nó nên em sẽ chăm chỉ chăm bón hàng xoài trước hiên nhà em Nguồn: thêm: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói sau: ‘Tình thương là hạnh phúc của con người’.
Bài viết số 2 lớp 7_ Cảm nghĩ về loài cây em yêu
1,910
Bài viết số 5 lớp 10. Thuyết minh về tấm gương học tốt của lớp em Hướng dẫn Có những con người được may mắn sống trong một gia đình giàu có, với điều kiện tốt, họ học tốt là điều đương nhiên. Những con người sống trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng có ý chí vươn lên học tập tốt với là những con người đáng ca ngợi và tự hào. Tấm gương đó không ai xa lạ, chính là bạn Lan, học cùng lớp với tôi. Lan là một cô con gái lớn trong một gia đình nghèo có tới 5 chị em. Mẹ Lan là người ốm yếu bệnh tật, người trụ cột trong gia đình là cha cũng chỉ kiếm được vài chục nghìn một ngày để nuôi sống cả gia đình. Là chị lớn trong gia đình nên lan cũng phải lo toan mọi việc trong gia đình. Tan trường về nhà, Lan dọn dẹp mọi việc cho cha mẹ rồi đi bán vé số để tăng thu nhập cho gia đình. Cuộc sống của gia đình Lan vốn dĩ đã khó khăn, nay càng khó khăn hơn. Vào một ngày giá rét, ba của Lan đã đột ngột ra đi, gánh nặng gia đình đổ hết lên đôi vai nhỏ bé của mẹ quanh năm đau yếu. Khó khăn là thế nhưng Lan không hề quỵ ngã trước sự nghiệt ngã của số phận. Tan học, Lan đào khoai về luộc và đi bán khắp các con hẻm. Khách mua khoai rất đông và phần lớn toàn lao động nghèo quanh khu ga xe lửa. Vừa học, vừa lao động kiếm sống nhưng Lan học rất giỏi, có thể xếp vào hàng nhất nhì của lớp. Cuộc sống của Lan luôn gắn liền với nỗi lo cơm áo gạo tiền, vậy mà không hề ảnh hưởng tới kết quả học tập của bạn. Từ lớp 6 cho tới tận bây giờ bạn luôn là học sinh xuất sắc nhất của lớp tôi.Xem thêm: Làm thế nào để viết một bài văn hay Tôi đã tự hỏi lòng mình, tai sao trong hoàn cảnh thiếu thốn như vậy, mà Lan vẫn làm được điều phi thường. Phải chăng ông trời đã cho bạn một trí tuệ hơn người, hay nhờ ý chí nghị lực phi thường mà bạn được kết quả học tập như vậy. Đó là môt tấm gương sáng vượt khó trong muôn vàn tấm gương về học tập, chúng ta phải biết trân trọng và noi theo những tấm gương đó, phải kiên trì vươt lên hoàn cảnh, bất chấp số phận nghiệt ngã, không ngừng cố gắng học tập để đưa gia đình qua khỏi cảnh nghèo khổ, cực nhọc. Nguồn:
Bài viết số 5 lớp 10. Thuyết minh về tấm gương học tốt của lớp em
452
Bài viết số 7 lớp 10 Hướng dẫn Trong xã hội Việt Nam, nghề giáo rất được coi trọng, là một nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý. Những người thầy đó đã tạo lên nhân cách cho mỗi con người, đã đưa tri thức của nhân loại để chúng ta tiếp thu, góp phần tạo nên sự phát triển cho xã hội. Hiểu rõ vai trò của người thầy, dân tộc ta từ xưa tới nay luôn đề cao đạo lý “tôn sư trọng đạo”. Đạo lý đó dã thấm nhuần và ăn sâu vào tư tưởng của mỗi người dân Việt. Trước hết chúng ta nên tìm hiểu câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào? Tôn sư tức là người học trò thì phải biết tôn trọng, kính trọng và đề cao vai trò của người thầy trong quá trình học tập và trong cuộc sống. Còn trọng đạo có nghĩa là coi trọng đạo lý, đạo đức tốt đẹp của con người. Mỗi người chúng ta cần phải biết tôn trọng, lễ phép, kính trọng người thầy, vì người thầy đã giảng dạy, truyền dạy cho chúng ta biết thế nào là đạo nghĩa, đạo đức, đạo học làm người và những tri thức khác về mọi mặt của đời sống tự nhiên, đời sống xã hội,… Chúng ta muốn nắm được kiến thức, chúng ta phải có người thầy vạch đường chỉ lối. Xã hội càng phát triển vai trò người thầy càng được coi trọng. "Tôn sư trọng đạo" không chỉ còn là vấn đề đạo đức mà còn là một ttuyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của nhân dân ta. Khi nào cuộc sống còn cần kiến thức, con người còn văn minh thì người thầy còn được tôn trọng. "Tôn sư trọng đạo" là truyền thống vô cùng tốt đẹp, và vô cùng cần thiết của dân tộc Việt. Chúng ta cần tiếp tục phát huy và gìn giữ truyền thống quý báu đó.Xem thêm: Tôi tên là Oanh Liệt.... Dựa theo những lời tâm sự trên, Anh (Chị) hãy viết bài văn theo ngôi thứ nhất, kể về số phận và nỗi niềm của của chú gà chọi bị bỏ rơi. (Yêu cầu viết phần thân bài) Trong xã hội phong kiến, người thầy được đặt sau vua, trước cha mẹ. Điều đó đủ hiểu, người thầy được coi trọng như thế nào. Ông cha ta vẫn nói "nhất tự vi sư, bán tự vi sư". Bởi vậy, "tôn sư trọng đạo" không còn là một vấn đề quan niệm sống hay quan niệm về cách cư xử mà đã trở thành một phạm trù đạo đức. Lịch sử đã ghi nhận rằng Platôn, Aritxtôt, Khổng Tử… từ người thầy đã trở thành những bậc thánh trong lòng học trò. Trong xã hội hiện nay, người thầy tuy không có vị trí tuyệt đối như thế song thầy vẫn là người được xã hội tôn trọng và "nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý". Dù xã hội có phát triển đến đâu, dù mối quan hệ thầy trò có bình đẳng đến đâu, gần gũi đến đâu thì danh giới thầy trò, vị trí đáng kính của người thầy vẫn không hề bị mai một. Trẻ em giống như một trang giấy trắng, muốn tờ giấy đó hiện lên như thế nào, thì người thầy có vai trò vô cùng quan trọng. Vì vậy chúng ta phải tôn trọng những người giữ vai trò truyền đạt tri thức nhân loại. Trọng đạo cũng không chỉ dừng lại ở đạo làm trò, mà còn là coi trọng sự hiểu biết, coi trọng tinh thần ham học hỏi, đề cao truyền thống ham học.Xem thêm: Thuyết minh giới thiệu về cây cà phê Với sự phát triển của xã hội hiện nay, vai trò của người thầy đã có sự thay đổi, từ người truyền đạt tri thức đã chuyển thành người dẫn dắt học sinh tìm ra con đường đến với tri thức. Tầm quan trọng của người thầy vẫn không hề suy giảm. Nhưng trong xã hội hiện nay đã có sự xuống cấp về đạo đức của học trò đối với thầy và ngược lại. Có rất nhiều thầy cô tận tụy với nghề, không ngừng học hỏi và cải tiến phương pháp để truyền thụ tri thức đến với học sinh. Nhưng cũng không ít người thầy đã lạm dụng cả học sinh của mình. Bên cạnh những em học sinh chăm ngoan, làm đúng đạo làm trò, nhưng cũng không ít bạn quên đi tình nghĩa thầy trò mà làm những việc trái luân thường đạo lí. Đó là những hành động xuống cấp của đạo đức xã hội, là những hành động đáng phê phán. Trong lịch sử dân tộc ta có biết bao bậc thầy vĩ đại, cả đời tận trung vì dân vì nước. Cuộc sống của họ thanh bần mà được người đời ca tụng, lưu danh muôn thuở. Thầy Chu Văn An (1370), sẵn sàng từ bỏ áo mũ, quan tước, dâng sớ lên triều đình xin chém đầu 7 kẻ quyền thần. Một thầy Đồ Chiểu mù hai mắt nhưng cả đời kiên trung, không chịu khuất phục trước sức mạnh xâm lược của ngoại bang, thầy Cao Bá Quát lấy việc dạy người cao hơn dạy chữ….Những người thầy đó sẽ mãi là tấm gương sáng trong lòng người dân Việt.Xem thêm: Giải thích bài ca dao “Rủ nhau đi hái mẫu đơn, Mẫu đơn không hái hái cơn dành dành ..” Tôn sư trọng đạo là truyền thống văn hóa của dân tộc, nó được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sự phát triển của xã hội đã làm cho quan hệ thầy trò đang mất dần đi sự thiêng liêng cao quý. Trước tình hình đó, chúng ta cần phải có những hoạt động cần thiết để nhắc nhở mỗi người nhìn lại thái độ và cách ứng xử của mình đối với những người làm thầy trong xã hội này, để truyền thống này ngày càng tốt đẹp hơn. Nguồn:
Bài viết số 7 lớp 10
1,027
Bài viết số 7 lớp 6 đề 1: Em hãy tả quang cảnh một phiên chợ theo tưởng tượng của em. Hướng dẫn Phiên chợ quê khác hẳn với sự ồn áo náo nhiệt của phiên chợ ở thành phố, và hôm nay tôi được về quê để được tận hưởng cái không khí thanh bình ấy. Vừa vùng ra khỏi chăn, tôi thấy mọi người trong làng đang rủ nhau đi chợ, người đi bộ, người chở hàng hóa, cảnh phiện chợ hiện lên trong mắt tôi sao mà thân thương gần gũi. Chợ quê tôi nằm ngay đầu làng, bên cạnh dòng sông Hồng với những dòng nước trong xanh. Ngày nào chợ cũng họp từ sớm tinh mơ khi gà chưa gáy đến khi bóng mặt trời đã xế tà, nhưng phiên chợ chính thì chỉ có vào những ngày mồng 6,10,16 20, 26, 30 hàng tháng. Vào phiên chợ chính, hàng hóa được bày bán ở đây rất đa dạng và phong phú. Từ tinh mơ, những người bán hàng đã mang hàng ra chợ bày biện hàng hóa, ai cũng mong tìm được chỗ ngồi tốt và bán được nhiều hàng. Trời sáng rõ hơn, những người đến mua đã bắt đầu đến chợ, khoảng 6h sáng chợ đã đông vui tấp nập. Từ xa nhìn lại, chúng ta đã cảm nhận được sự vui tươi đang diễn ra ở bên trong. Ngoài hàng hóa ra, trong chợ còn có những quán bún phở, mùi vị phở thơm phức, bốc khói nghi ngút, mời gọi thực khách rẽ vào quán ăn. Phở quê tôi vừa rẻ vừa ngon khiến ai cũng muốn dừng chân để vào quán thưởng thức món ăn của quê hương. Phiên chợ quê không chỉ xuất hiện những người bán và người mua mà còn xuất hiện những em bé với những bộ quần áo xanh đó theo cha mẹ ra chợ. Em nào cũng nở nụ cười tươi trên khuôn mặt. Thấy phiên chợ đông đúc và có nhiều đồ đẹp, các em cứ chạy lung tung, hò hét thích thú.Xem thêm: Em hãy hóa thân vào 1 trong 4 nhân vật Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng kể lại câu chuyện Chân, tay, tai, mắt, miệng. Em rút ra bài học gì từ câu chuyện đó Các bà, các mẹ, các chị đang lựa chọn để mua những mặt hàng cần thiết cho gia đình như rổ rá, chiếu gối, đồ điện. Hàng thịt cá đông nghịt người mua, những phản thịt tươi ngon, những chậu cá với những con cá to, đang bơi lội. Dạo qua một vòng khu bán hoa quả, tôi lại muốn được ăn những quả lê quả ổi chín mọng… Tôi thấy hiện lên trong tâm trí mình hình ảnh người nông dân phải một nắng hai sương để tạo ra chúng, chúng ta phải tỏ lòng biết ơn đối với những người nông dân. Không chỉ có vậy, chợ quê tôi còn có nhiều loại bánh rất ngon, bánh chưng, bánh rán, bánh nếp,…Khi nào đi chợ tôi cũng phải thưởng thức một trong những loại bánh đó, và chúng đã làm tôi nhớ mãi cái đặc trưng của phiên chợ quê tôi. Tất cả những hàng hóa được bày bán ở đây đều mang đậm sắc hương, mùi vị của hương đồng cỏ nội được kết tinh từ hồn quê, hồn đất. Cũng có những người đi chợ không mua sắm mà họ đi ngắn, đi bình phẩm hoặc đi chơi chợ. Buổi chiều, người đến chợ thưa dần, đến cuối chiều, khi mặt trời khuất sau núi chợ mới tan. Buổi chợ quê diễn ra thật đông vui tấp nập, nó đã cho thấy sự no ấm đủ đầy của người dân quê tôi. Tôi thấy mình thật may mắn khi được sinh ra tại vùng quê này và có cơ hội được tận hưởng cái hay cái đẹp của phiên chợ quê, tôi sẽ thường xuyên về quê hơn để được tận hưởng cảm giác này.Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao Nguồn:
Bài viết số 7 lớp 6 đề 1_ Em hãy tả quang cảnh một phiên chợ theo tưởng tượng của em.
685
Bài văn biểu cảm Tả cây dừa quê em Hướng dẫn Từ đằng xa, em đã thấy sừng sững cây dừa ở bờ ao. Thân dừa to bằng hai vòng tay em. Thân dừa khoác chiếc áo cứng sần sùi màu nâu đất. Rễ dừa thuộc loại rễ chùm, bám sâu vào lòng đất. Bởi thế thân dừa cao nhưng đứng vững vàng. Cây dừa có dáng nghiêng rất đẹp, vẻ đẹp của nó một phần nhờ vào lá. Lá tập trung ở phần ngọn, ngoại em gọi là tàu dừa. Lá dừa màu xanh đậm, gân và phiến lá song song, mọc đối xứng nhau như răng lược trên tàu dừa. Bởi thế nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết: Tàu dừa như chiếc lược chải vào mây xanh. Tàu dừa bám chắc vào thân dừa trên ngọn. Khi lá già, tàu rụng đi để nhường chỗ cho lá non phát triển. Gặp làn gió thoảng qua, lá dừa xôn xao đung đưa thật duyên dáng. Khi có gió mạnh, lá dừa xào xạc như tiếng gươm khua, trông dừa hiên ngang, cứng cáp dẻo dai. Vào mùa, dừa ra hoa. Từ nách của các tàu dừa, những bẹ non lộ ra. Hoa mọc thành chùm trên một cái cuống dài và có nhiều nhánh phụ. Hoa dừa màu vàng nhạt, hoa li ti rụng trắng cả góc vườn, hương thơm dịu nhẹ. Nhìn hoa rụng em thật sốt ruột bởi em đâu nghĩ đó là sự hi sinh cao cả. Hoa đang nhường chỗ cho quả non chào đời. Chùm quả như đàn lợn con bám chặt vào thân mẹ, rồi cứ thế chúng mỗi ngày một lớn. Quả non có màu xanh non của lá. Quả già, vỏ khô ráp lại, có màu nâu của thân. Nước dừa non uống thật ngon, thật mát lành. Nước dừa thức uống giải khát mà ai cũng thích. Dừa là loại cây có ích. Dừa không những cho quả để chế biến thức ăn, nước dừa giải khát cho mọi người, dừa còn đế chế biến ra dầu, dừa phục vụ cho công nghiệp. Thân dừa vừa làm cột, làm kèo, vỏ dừa làm củi đun nấu, làm dây thừng để cột… Dừa thật có ích cho đời sống con người. Dừa là đặc sản của quê em. Dừa tăng thêm vẻ đẹp duyên dáng của làng quê Việt Nam. Em mong dừa vẫn mãi mãi xanh tươi. Nhìn màu xanh của dừa em nhớ về quê nội yêu dấu của mình. Nguồn: thêm: Chứng minh chân lí trong những lời Bác Hồ dạy thanh niên:"Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên"
Bài văn biểu cảm Tả cây dừa quê em
448
Bài văn biểu cảm về cây chuối lớp 7 hay nhất Hướng dẫn Mỗi loài cây có một vẻ đẹp riêng của nó mà không thể lẫn vào đâu được. Cây chuối cũng vậy, nó giản dị, đơn sơ như cô gái miền quê. Nhưng nó cũng mang vẻ quý phái như cô gái thành thị. Cái màu đặc trưng mà cây chuối tạo ra cho chúng ta là màu xanh, xanh từ thân cây đến ngọn lá cuối cùng. Cây chuối bám rễ sâu vào lòng đất, thân cây láng bóng như làn da của những đứa trẻ thơ nhưng khi chuối già thì thân cây có một lớp vỏ bọc màu nâu xám, thân thẳng như cột nhà. Lũ trẻ con chúng tôi lúc đó thích ôm lấy thân cây lắm vì nó không có gai hay gì cả nên chúng tôi ôm nó như một người bạn. Lá chuối tản ra như những cái quạt nan to lớn. So với các loài cây khác thì chuối là loài cây không có cành. Bắp chuối có màu đỏ tím và vỏ bọc bên ngoài của nó như những cánh hoa sen to lớn nên nhìn rất đẹp. Ở mỗi vùng miền sẽ có những cây riêng biệt mà các vùng khác không thể trồng được nhưng riêng cây chuối đi khắp dải đất việt nam này đâu đâu ta cũng thấy hình ảnh của nó. Chuối dường như chẳng bỏ được thứ gì. Nó tạo ra nhiều hữu ích cho con người. Không chỉ bởi nó đem đến cho con người những quả chuối ăn rất ngon với hương vị ngọt lịm, màu vàng hấp dẫn. Món bánh truyền thống trong mỗi gia đình việt nam ngày tết là bánh chưng, bánh giày thì lá chuối là lớp vỏ ngoài để tạo nên hương vị đặc sắc của món bánh truyền thống đó. Thân chuối có thể cho lợn ăn. Thỉnh thoảng có người còn xin cả rễ chuối về làm thuốc. Tuổi thơ em cùng các bạn đùa nghịch bên những cây chuối nào là móc võng để nằm, nào là lấy lá chuối làm đồ chơi…Mùa hè, màu xanh tươi mát của lá chuối cùng những cơn gió hiu hiu làm tan đi cái nắng oi ả khó chịu. Tiếng những tàu lá chuối xào xạc, ve kêu râm ran, chim hót líu lo tạo thành bản giao hưởng mùa hè của tuổi thơ em. Em yêu quý cây chuối lắm và thầm cảm ơn thiên nhiên đã đem đến cho con người loài cây có ích này. Nguồn: thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Hoa xuân
Bài văn biểu cảm về cây chuối lớp 7 hay nhất
436
Bài văn biểu cảm về cây hoa sữa Hướng dẫn Những ngày cuối thu đang đến cũng chính là lúc hương thơm hoa sữa làm nứt lòng những con người Thủ đô. Nơi đây, hoa sữa như bao trùm khoảng không gian của những phố, phường tấp nập xe cộ. Cái cảm nhận đầu tiên khi ta nhắc đến loài hoa này đó là hương thơm của nó, không lẫn vào đâu được. Mỗi người có những cảm nhận riêng về vị hương của loại hoa này. Có người thấy hương hoa này cực kì thơm nhưng cũng có người không quen khi ngửi hương thơm hoa sữa. Con riêng em, hoa sữa mang hương thơm của sự quyến rũ. Ban đầu là mùi hương lướt qua mũi thấy thật nhẹ nhàng nhưng nếu đứng lâu dưới gốc cây hoa sữa thì mùi của nó càng ngày càng đậm dần lên. Em có thể ví hoa sữa như những chai nươc hoa của chúng ta vậy, khi chỉ thoáng qua thì nghe mùi nhẹ nhàng, tinh tế làm sao; còn khi ngửi lâu hơn thì nó mang lại sự nồng nàn của hương thơm đó. Ắt hẳn vì hương thơm của loại hoa này nên con người cảm nhận nó mang hơi thở tình yêu. Đó là tình yêu từ nhẹ nhàng đến mãnh liệt. Tình yêu đôi lứa dưới những cây hoa sữa thật lãng mạn và xao xuyến lòng làm sao. Hương hoa cuốn theo ngọn gió mang sắc hương lan cả một vùng trời Hà Nội. Sang thu là đông cũng chính là lúc con người cảm thấy lạnh se trong lòng cộng hưởng với vị hoa sữa ngào ngạt làm con người muốn mùa đông nhanh tới hơn. Cái lạnh giá của Hà Nội được mọi người yêu thích cũng chính là bởi cái lạnh Thủ đô mang hương vị loài hoa này. Những bông hoa sữa nhỏ nhắn, xinh xinh nhìn thoàng qua như những bông cẩm tú cầu thu bé lại. Những làn mưa lất phất, đứng dưới những cây hoa sữa mà ngắm hoa rơi, ngửi mùi hương nồng nhiệt dâng trào thì còn gì tuyệt vời hơn. Hoa sữa dường như khiến cho con người ta trở về những hoài niệm xa xôi Hoa sữa là loài hoa tinh túy biết bao; em rất thích những ngày đông về để có thể ngắm những bông hoa xinh xinh đó và ngửi mùi hương nồng nàn mà em rất thích. Những màn đêm Hà NỘi kéo tới cũng chính là lúc loài hoa này đi vào lòng người, càng ngửi càng thấy dịu êm, nhẹ nhàng trong lòng biết bao Nguồn: thêm: Về một câu chuyện trong cuộc sống để lại trong anh (chị) nhiều suy nghĩ.
Bài văn biểu cảm về cây hoa sữa
455
Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các nẻo đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,…Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài "Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau,nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…" “Tre xanh, xanh tự bao giờ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…” Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”. Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống. Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phài ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng_ hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Àn xâm lược đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ, đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh. Mặt khác, hình tượng của cậu bé Thánh Gióng vươn vai hóa thân thành người khổng lồ rất có thể liên quan đến khả năng sinh trưởng rất nhanh của cây tre ( theo các nhà Thực vật học, thì cây tre phát triển điều kiện lý tưởng, có thể cao thêm từ 15 -20cm mỗi ngày). Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, các lũy tre xanh đã trở thành “pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai, đồng hóa. Tre thật sự trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn côngtrong các cuộc chiến. Chính những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán. Chính ngọn tầm vông góp phần rất lớn trong việc đánh đuổi quân xâm lược để giàng Độc lập Tự do cho Tổ Quốc. “ Tre giữ làng, giữ nước, giừ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín,…” Xem thêm: Cho câu chủ đề: "Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta", em hãy viết một đoạn văn theo kiểu diễn dịchVốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn tơ tưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí. Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre. Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng: “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam. Hà nội tre không còn nhiều (Lăng Bác thì có tre ngà )Giờ mở rộng Hà nội tre lại bát ngát các vùng quê ôm làng ôm xóm.Chiều về khói rơm không còn quấn quýt bên tre,(vì đun than, đun ga ),nhưng tôi vẫn thấy cây tre vươn thẳng gắn bó với thôn quê dẫu bao năm đổi thay từng ngày lên phố. Nguồn Edufly Xem thêm: Qua những bài ca dao, những câu tục ngữ đã học và đọc thêm, em hãy chứng minh rằng tiếng Việt giàu đẹp
Bài văn biểu cảm về Cây tre
1,035
Bài văn biểu cảm về Hoa sen lớp 7 Hướng dẫn Nếu Quốc hoa của đất nước Nhật Bản là hoa anh đào, Quốc hoa của Hàn Quốc là hoa mugung thì Quốc hoa của đất nước Việt nam là hoa sen. Hoa sen được xem là quốc hoa việt nam bởi lẽ nó mọc khắp đất nuwocs việt nam, từ nam ra bắc. Nó để lại một ấn tượng khá sâu đậm đối với những con người việt nam nói riêng và khách du lịch các nước nói chung. Hình ảnh hoa sen bên cạnh tà áo dài của các cô gái việt nam sẽ làm cho các nước bạn cảm thấy thật tuyệt đẹp. Ta sẽ không còn thắc mắc nữa là vì sao trên tà áo dài của người con gái VIệt luôn thêu lên những bông hoa sen? Những gánh hàng rong Hà Nội ta bắt gặp ở đó những cành sen bên cạnh những món hàng mà các thương gia đang gánh giữa phố phường Thủ đô. Hoa sen không chỉ là loài hoa để ngắm mà nó còn mang lại kinh tế đối với người dân việt nam. Cánh sen được người dân làm thành những đồ thủ công mỹ nghệ. Nhụy sen thu hoach để nấu ra các món ăn. Đài sen thì dùng để nàu nước uống. Hoa sen là biểu trưng cho người dân VIệt Nam, dân Việt cũng giống như hoa sen vậy đó? Hoa sen sống trong bùn lầy nhưng nó luôn luôn muốn lớn lên để thoát khỏi cái bùn lầy đó, nó vươn cao thể hiện những gì tinh túy nhất của một bông hoa. Nó không chịu số phận phải sống trong những gì đen tối mà luôn muốn vươn lên bầu trời xanh: ‘gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’ Xem thêm: Dựa vào nội dung bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của nhà thơ Xuân Quỳnh, em hãy kể sáng tạo bằng văn xuôi câu chuyện đó Con người Việt Nam cũng thế tuy bắt đầu xuất phát là một đất nước nhỏ bé, với những con người thân hình nhỏ bé, với những sự ràng buộc thống trị của ách đô hộ, với những gì chiến tranh đem lại bi thuwong cho họ. Nhưng họ không gục ngã mặc kệ số phận mà họ với ý chí tự cường, tự hào dân tộc họ luôn ngẩng cao đầu, vươn lên khỏi những thứ dơ duốc đó để xây dựng một đất nước có tiếng nói với bạn bè năm châu. Hoa sen vẫn cứ nở, vẫn cứ tỏa sắc mặc kệ dưới chân nó là bùn lầy_nó không bị vấy bẩn. Nó như là những người con gái Việt Nam duyên dáng, thanh cao. Hoa sen làm cho người dân Việt nam rút ra một bài học sâu sắc rằng: hoàn cảnh nó không chi phối được những ước muốn con người, hoàn cảnh có thể sẽ có chút rào cản ngay từ bước đầu nhưng những gì ta luôn cố gắng thì rào cản đó sẽ nhanh chóng biến mất. Hoa sen chính là biểu hiện cho cốt cách nhân văn của con người Việt, dân tộc Việt Nam tự hào và luôn muốn giới thiệu loài hoa đẹp này đến các bạn bè năm châu. Hoa sen mãi mãi là loài hoa thanh khiết đáng quý mà thiên nhiên đã dành tặng cho con người. Nguồn:
Bài văn biểu cảm về Hoa sen lớp 7
565
Bài văn cảm nghĩ về cây hoa Giấy Hướng dẫn Ngôi nhà em được tô điểm thêm phần xinh xắn hơn là nhờ cây hoa giấy trước cổng mà ba em trồng. Mùa hè đang đến, nhưng bông hoa xinh xắn đó sắp nở rộ và nhà em lại được ngắm loài hoa đẹp này. Hoa giấy nhẹ nhàng làm sao; hương của nó cũng như sắc hoa giấy làm con người muốn chìm đắm một cách dễ chịu. Hương hoa giấy chỉ thoảng thoảng trong gió, sắc hoa thì như những cô thiếu nữ nhỏ nhỏ xinh xinh mặc trên mình những bộ bày đẹp tuyệt trần. Hoa giấy mang đến cho ta cảm giác êm đềm, nó giản đơn không quá bí hiểm, càng ngắm nhìn ta càng thấy hoa giấy thanh lịch lắm. Cái tên của loài hoa này làm cho chúng ta cảm giác mỏng manh, nhẹ nhàng. Hoa giấy là loài hoa giản dị nhất nhưng cũng là loài hoa mang sức sống mãnh liệt nhất. Quanh năm hoa giấy luôn nở nhưng vào mùa hè thì nó nở nhiều hơn, bung ra cả cây khiến chợt nhìn vào chúng ta không thấy lá đâu nữa mà chỉ thấy những chùm hoa khoe màu áo mới. Thân cây hoa giấy không to, nó cũng không cao lớn là bao nhưng sự chống chọi với thiên nhiên, với bão lũ không làm khuất phục nó. Với em cây hoa giấy không chỉ đẹp mà nó còn có ý nghĩa về ba. Ba đã trồng nên cây hoa giấy trước cổng nhà em; một mình tay ba đã tỉa lá, vun lên loài cây đẹp này. Đặc trưng của hoa giấy là loài cây dễ trồng, trồng ở bất cứ chỗ nào nó cũng thành cây, thành hoa. Hoa giấy không nở riêng lẻ từng bông hoa mà nó chụm vào nhau, dính lấy nhau như sự khăng khít của mỗi thành viên trong gia đình. Năm nay là năm thứ tư cây hoa giấy trước cổng nhà em lại khoe sắc, những chú chim ca líu lo trên cành cây rồi được ngắm nhìn những bông hoa giấy nở rộ làm trong lòng em cảm thấy bình yên, dịu êm biết bao. Em rất thích ngắm nhìn hoa giấy bởi nó là loài hoa đẹp nhưng giản đơn Nguồn: thêm: Em hãy tường thuật lại một sự việc để lại trong em kỷ niệm khó quên trong năm học vừa qua
Bài văn cảm nghĩ về cây hoa Giấy
406
Bài văn cảm nghĩ về loài hoa cúc Hướng dẫn Nếu hoa hồng là biểu tượng của tình yêu thì hoa cúc lại là biểu tượng của lòng biết ơn, sự tôn kính thì hoa cúc mang vẻ đẹp thanh nhã đến lịch thiệp. Hoa cúc là loại hoa có nhiều cánh xếp chồng lên nhau, cánh hoa cúc mềm mịn như những tấm vải nhung. Vì nhiều cánh nên khi bung ra hoa cúc mang vẻ đẹp của sự dâng trào. Đầu cánh hoa có dạng hình chữ ‘V’ vì thế khi hoa nở những cánh hoa tạo thành một vòng tròn đẹp mắt không có kẽ hở. Hoa cúc thân mềm và phỗng. Mỗi lần tết về, mẹ em thường chọn những bông cúc đẹp nhất trong vườn và cắm vào bình, ngày qua ngày hết tháng giêng đến giao thừa rồi hết mồng hoa cúc vẫn hiện diện đó, nó thực sự lâu tàn hơn em nghĩ; em yêu sức sống của nó đối với cuộc sống này. Mỗi màu của hoa cúc mang lại nhiều ý nghĩa khác nhau đối với cuộc sống này. hình ảnh hoa cúc gắn liền với sự hiếu thảo, yêu thương cha mẹ. Nếu cúc vàng thể hiện lòng kính mến, niềm vui, sự hân hoan, hoa cúc trắng: Tượng trưng cho lòng cao thượng, sự chân thực, còn ý nghĩa của hoa cúc tím: Bày tỏ sự lưu luyến khi phải chia tay, chia ly… Và còn vô số các màu cúc khác mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Năm nào cũng vậy,vào mỗi dịp quốc tế phụ nữ em thường chọn loại hoa duy nhất này để tặng những người phụ nữ thương yêu em. Em tặng mẹ hoa cúc vàng, còn bà em đã mất nên em dâng hoa cúc trắng tặng bà. Với vẻ đẹp dịu dàng, hương thơm thoang thoảng hoa cúc được nhiều người yêu thích là vì vậy Em rất thích ngắm nhìn những bông hoa cúc xinh xinh, hoa cúc không chỉ đẹp bởi vẻ ngoài của nó mà nó còn có một tâm hồn với nhiều tầng ý nghĩa khác nhau. Thiên nhiên đã tạo ra loài hoa đẹp này để con người được chiêm ngưỡng. cảm ơn thiên nhiên, cảm ơn khí trời đã tạo nên vẻ đẹp khó quên của loài hoa này trong lòng mọi người. Nguồn: thêm: Phân tích cơn gió lạnh nhưng ấm áp tình người trong truyện Gió lạnh đầu mùa
Bài văn cảm nghĩ về loài hoa cúc
406
Một em học sinh lớp 8, tên Nguyễn Thị Kiều Vân, sinh ngày 17/1/1997, dự thi môn Ngữ văn ngày 17/9/2010. Bài văn được chấm điểm tối đa 10, kèm theo đó là dòng nhận xét “Bài viết quá xúc động, cảm ơn con”. Bài văn đầy xúc động của Nguyễn Thị Kiều Vân. Với đề bài “Hãy tả về một người thân trong gia đình”, tác giả bài văn viết chính về người mẹ ruột của mình. Hoàn cảnh của em khá đặc biệt khi em đã mất bố từ nhỏ và lúc 9 tuổi lại bị mẹ bỏ rơi. Thế nhưng, dù mẹ có bỏ Vân, Vân chưa bao giờ trách mẹ một câu, em biết mẹ có “nỗi khổ riêng” vì căn bệnh “hiểm nghèo” mẹ chẳng muốn làm phiền phức cho em nên mẹ đã bỏ nhà ra đi Dù có cách xa mẹ, nhưng Vân vẫn nhớ y nguyên hình bóng của mẹ từ mái tóc cho khuôn mặt, làn da mẹ… Sống mỗi ngày Vân vẫn luôn mong ngóng mẹ quay về để em được tự tay chăm sóc bệnh cho mẹ, làm mẹ được vui lòng và không phải rơi những giọt nước mắt xuống vì em nữa. Thế nhưng, điều ước đó sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực bởi mẹ của em đã mãi mãi rời xa em, đi đến một nơi nào đó không còn quay về căn nhà xưa nữa… Nội dung bài ăn của Nguyễn Thị Kiều Vân: "Tuổi thơ tôi không được may mắn như bao đứa trẻ khác. Từ khi sinh ra tôi đã mồ côi cha. Một mình mẹ nuôi tôi khôn lớn, mẹ là người cha, người mẹ tuyệt vời nhất trên đời này. Nhưng khi tôi lên chín tuổi, thời gian quá ngắn giữa mẹ và tôi thế nhưng mẹ đã bỏ tôi một mình bơ vơ trên cõi đời này mà ra đi. Chỉ chín tuổi tôi còn quá nhỏ để hiểu được sâu sắc việc mãi mãi không có mẹ bên cạnh. Như hình ảnh ngày nào của mẹ thì không bao giờ phai trong tôi, mỗi bước chân tôi đi như có bóng mẹ soi đường, chỉ tôi. Mẹ là người sống mãi mãi trong lòng tôi. Xem thêm: Chút hương tình đầuMẹ tôi là người phụ nữ mạnh mẽ, mẹ luôn sống vì tôi. Tuy cuộc sống vất vả và phải sống chung với căn bệnh hiểm nghèo nhưng mẹ sống rất lạc quan, yêu đời. Mẹ tôi cao, làn da xám đen vì nắng gió. Khuôn mặt phúc hậu, hiền từ. Mẹ luôn dạy bảo tôi những điều tốt nhất. Mẹ động viên tôi những khi tôi buồn, tôi thất bại. Mẹ luôn lo lắng, mang những điều tốt đẹp đến cho tôi còn tôi thì chỉ biết làm mẹ buồn, mẹ khóc. Mẹ dạy tôi rất nhiều điều “Phải sống trung thực, ngay thẳng. Phải biết ơn nhưng không được nhớ oán. Phải biết tha thứ yêu thương người khác. Nhất định chị em phải đoàn kết với nhau mà sống, đừng để mọi người chê cười con không có dạy”. Đó là tất cả những gì mẹ để lại cho tôi trước lúc ra đi. Lúc đó, tôi chẳng hiểu gì cả, tôi sống vô tư có mẹ cũng như không có mẹ. Nhưng Mẹ ơi? Giờ con mới hiểu mồ côi mẹ là gì? Giờ con mới biết những lời nói đó là tài sản quý giá nhất mà mẹ đã dành cho con. Con nhớ mẹ nhiều lắm, nhất định con sẽ làm theo những gì mẹ dạy. Mẹ tôi đã vượt qua khó khăn để sống và tôi cũng sẽ thế. Mẹ luôn là một vầng ánh sáng soi dẫn đường tôi. Những nụ cười của mẹ sao nó cứ hiện mãi trong đầu tôi cả lúc mẹ ra đi nữa. Giờ tôi muốn được nắm tay mẹ, muốn được ngồi vào mẹ nhưng tôi không thể! Mẹ tôi rất thương yêu tôi, mẹ đã hi sinh cuộc đời mình để tôi được sống tốt hơn. Ngày ấy, lúc mẹ đau đớn giữa đêm khuya, thấy mẹ đau tôi chẳng biết làm gì mà chỉ biết khóc. Mẹ nắm tay tôi và cười trong những giọt nước mắt “Mẹ không sao đâu con. Thế là tôi đã ngủ thiếp đi, sao tôi lại khờ dại đến ngu ngốc thế chứ? Tôi hiểu mẹ yêu tôi nhường nào và tôi cũng vậy. Tuy giờ không có mẹ bên cạnh nhưng mẹ vẫn sống trong tâm trí tôi. Tôi sẽ sống thật tốt để mẹ được vui lòng, giờ tôi chỉ có thể làm được thế thôi. Mẹ tôi là người thế đó, tôi chỉ có thể nói là mẹ tôi rất tuyệt. Mẹ là người tôi yêu quý nhất trên đời và dù me đi xa nhưng mẹ vẫn như còn đó đứng bên cạnh tôi. Giá như, tôi được sống với mẹ dù chỉ là một ngày. tôi sẽ chăm sóc cho mẹ, việc mà tôi chưa từng làm, tôi sẽ làm mẹ vui, không làm mẹ phải khóc. Và điều tôi muốn nói với mẹ là “Mẹ ơi! Con yêu mẹ rất nhiều, con rất muốn được sống và lo cho mẹ. Mẹ ơi! Con rất muốn”. Hỡi những ai còn mẹ thì đừng làm mẹ mình phải khóc, dù chỉ là một lần!” Nguyễn Thị Kiều Vân Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn
Bài văn của con gái bị mẹ bỏ rơi
906
Bài văn hay bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’ Hướng dẫn …Vừa đặt chân tới làng thì gặp một sự việc bất ngờ khiến ông xúc động. Thế là ông ngẫu hứng viết bài thơ này. Bài thơ có hai chữ ‘ngẫu thư’ không có nghĩa đây là sự tình cờ bộc lộ một cách tự nhiên mà bắt nguồn từ một nỗi niềm day dứt, một tình yêu quê hương sâu nặng, thường trực bất cứ lúc nào cũng có thể bật ra thành tiếng nói, thiết tha, chân thành nhất. Do đó, bài thơ có kết cấu cũng như hình ảnh, ngôn ngữ không có gì cầu kì trau chuốt. Lời thơ cứ tự nhiên kể theo sự việc đã xảy ra, nhưng nội dung cảm xúc thật là sâu lắng, xúc động. Bài thơ thuộc thể Đường thi, thất ngôn tứ tuyệt – bản dịch chuyển thành lục bát – gồm hai phần. Hai câu đầu vừa kể, vừa tả về bản thân mình: ‘Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,. Hương âm vô cải, mấn mao tồi’ (Khi đi trẻ, lúc về già, Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao) Nhà thơ sử dụng từ trái nghĩa và hình ảnh đối chọi rất chỉnh. Ở câu một, từ tiểu li (nhỏ đi) trái nghĩa với đại hồi (lớn về). Hình ảnh tuổi trẻ xa gia đình đối chọi với hình ảnh lúc già về lại quê hương. Ở câu hai cũng xuất hiện hình ảnh đối: tiếng nói không thay đổi – tóc đã rụng nhiều (chữ Hán Vớcải:không đổi, tồi:thay đổi). Hai câu thơ ngắn gọn, với những từ trái nghĩa, những hình ảnh đối chọi như thế khái quát được quãng đời xa quê, làm nổi bật sự thay đổi về vóc dáng và tuổi tác, đồng thời bước đầu hé lộ tình cảm quê hương của nhà thơ. Câu một tự sự để biểu cảm, câu hai miêu tả để biểu cảm. Đây là phương thức bộc lộ tình cảm một cách gián tiếp. Ngôn từ và hình ảnh cứ nhẹ nhàng cất lên, thấm thía biết bao cảm xúc, nghe như đằng sau có một tiếng thở dài. Nhà thơ nhìn thấy quê hương, cất tiếng nói theo giọng của quê hương (hương âm), rồi tự ngắm mình, tự nghĩ về mình, thấy mình thay đổi nhiều quá trước quê hương, làng xóm. Sang hai câu sau thì sự lạ ấy đã xảy ra: Xem thêm: Tình yêu nước và lòng tự hào dân tộc của cha ông ta trong bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam)‘Nhi đồng tương kiến, bất tương thức, Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?’ (Trẻ con nhìn lạ không chào, Hỏi rằng: Khách ỏ nơi nào lại chơi?) Bản thân nhà thơ thay đổi đã đành. Song dường như đằng sau sự việc trẻ con gặp mặt không nhận ra người quen cũng phần nào nói lên sự thay đổi của quê hương. Điều độc đáo ở đây là nhà thơ tả hình ảnh và tiếng cưới nói ríu rít hồn nhiên của trẻ con khi gặp nhà thơ. Các cháu không những không chào đón thân mật trong quan hệ họ hàng, làng xóm mà lại hỏi một câu nghe đến não nuột: ‘Ông là khách ở nơi nào, ở làng nào, thành phô'nào đến chơi…?’. Rõ ràng, trong khi mình thay đổi, thì quê hương cũng đổi thay. Mình thì đi từ trẻ đến già mới quay về, còn ở quê hương thì tuổi già, bạn bè cùng trang lứa đã vắng bóng, chỉ còn lại lũ trẻ ngây thơ. Ngẫm ra, trong hoàn cảnh cụ thể bấy giờ của nhà thơ, một ông lão 86 tuổi thì điều đó đúng và thật xót xa. Làng quê chỉ còn nhi đồng ra đón, chứng tỏ những người cùng tuổi với nhà thơ nay đã thưa vắng nhiều. Ở thế kỉ thứ VIII (năm 744, Hạ Tri Chương về quê) xa xưa ấy ‘nhân sinh thất thập cổ lai hi’ – người thọ bảy mươi xưa nay hiếma>. Do đó, trở về nơi chôn nhau cắt rốn, mà bị xem như khách thì quả là chua xót. Các em nhỏ càng ngây thơ cười nói, hỏi han bao nhiêu, nỗi lòng nhà thơ càng tan nát bấy nhiêu. Tình huống và giọng điệu của hai câu cuối bài thơ vừa hài, vừa bi như muốn cười ra nước mắt. Có thể nói, bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’ đã biểu hiện một cách chân thực, sâu sắc mà hóm hỉnh tình yêu quê hương thắm thiết, tinh tế, đáng trân trọng của một viên quan lớn ỏ đời Đường trong khoảnh khắc vừa đặt chân về quê cũ. Cũng là tiếng nói của tình quê, nhưng nếu Lí Bạch từ nơi xa vọng về, nhớ quê, thì Hạ Tri Chương đứng ngay trên mảnh đất quê nhà mà giãi bày tấm lòng tha thiết đối với quê hương. Yêu quê hương, cũng chính là yêu Tổ quốc. Tâm hồn của hai thi sĩ ấy thật cao đẹp. Nguồn: thêm: Viết đoạn văn bàn về được và mất trong cuộc sống
Bài văn hay bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’
855
Bài văn miêu tả chiếc áo dài Việt Nam Hướng dẫn Vẫn giữ mãi nét duyên dáng của con người Việt Nam, chiếc áo dài đã khắc sâu hơn vào tiềm ẩn của duy sản văn hóa phi vật thế của Việt Nam. Với bài văn miêu tả chiếc cáo dài Việt Nam sẽ làm ch bạn hiểu sâu hơn về nó. Cho đến nay, vẫn chưa biết được nguồn gốc chính xác của chiếc áo dài. Nhưng nối ngược dòng thởi gian, tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài với hai tà áo thướt tha đã được tìm thấy ở các hình khắc mặt trống đồng Ngọc Lũ cách đây vài nghìn năm. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những văn hóa, nét đặc trưng của từng vùng miền và trang phục truyền thống riêng. Phụ nữ Nhật tự hào với Kimono, phụ nữ Hàn Quốc nổi tiếng với Hanbok, phụ nữ Ấn Độ để lại cho ta ấn tượng rất đặc biệt với bộ Sari. Còn phụ nữ Việt Nam, từ xưa đến nay vẫn mãi song hành với chiếc áo dài duyên dáng và thướt tha. Áo dài có rất nhiều loại. Nhưng sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giai lãnh: cũng giống như áo tứ thân nhưng khi,mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Vì sau này, phụ nữ phải làm việc đồng áng hay buôn bán nên áo giai lãnh được thu gọn lại thành áo tứ thân: gồm bốn vạt nửa trước phải, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái. Nhưng với những người phụ nữ tỉnh thành nhàn nhạ, muốn có một kiểu áo dài dược cách tân thế nào đó dể giảm chế nét dân dã lao động và tăng dáng dấp sang trọng, khuê các. Thế là áo tứ thân được biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay lại được thu bé trở lai thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước trở thành áo ngũ thân. Ngoài ra còn áo dài Le Mor của một họa sĩ vào đầu thập niên 1930, áo dài Lê Phổ của họa sĩ Lê Phổ được thiết kế vào năm 1934, áo dài với tay giác lăng vào thập niên 1960, áo dài miniraglan danh cho các nữ sinh… Khác với Kimono của Nhật Bản hay Hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại vừa hiện đại, có thể mặc ở mọi lúc mọi nơi: dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc để tiếp khách trang trọng trong nhà… Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kì, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài guốc, hay giày đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm ái dài và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hay một chiếc miện Tây tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này. Xem thêm: Hãy bình luận ý kiến sau đây của Tuân Tử (313 - 235 trước Công nguyên): “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta; người khen ta mà khen phải là bạn ta; những kẻ vuốt ve y nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy" Áo dài có thể nhiều màu nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn là chiếc áo dài trắng thể hiện sự thuần khiết của người phụ nữ Việt Nam. Trong trường học, không gì đẹp mắt và thanh bình cho bằng mỗi sáng, từng nhóm nữ sinh trong bộ áo dài, thướt tha, xõa tóc dài chạy xe đạp đến trường. Cũng nơi đó, những cô giáo, những người mẹ thứ hai của các học sinh nhẹ nhàng đón rón những đứa con của mình trước giờ vào học trong chiếc áo dài mới thực sự toát lên vẻ đằm thắm, và thương yêu. Trong những dịp lễ Tết, chiếc áo dài lại thêm một lần nữa thấp thoáng trên các ngã tư đường phố, cùng hoa va cảnh sắc của trời mới đất mới, khoe sắc ngày Tết. Áo dài giũa phố đông chật chội người và xe, ấm ào náo động, làm dịu lại cảnh sắc và làm mát lại những hồn người, làm cho ai đó phải quay lại ngắm nhìn dù chỉ một lần, dịu đi cái khó chịu và u uất vốn có trong bản tính mỗi con người bân rộn. Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn lên nét đẹp của mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật rộng trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ đến trên vòng eo khiến cho người mặc có cảm giác thoải mái, lại tạo dáng thướt tha tôn lên vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bằng vài lụa mềm lại cũng vừa khiêu gợi vì nó làm lộ ra sống eo. Chính vì thế, chiếc áo dài mang tính cá nhân hóa rất cao, mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người và chỉ dành cho ngươi ấy, không thể là một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo rất kĩ, khi may xong phải thử và chỉnh sửa lại thêm vài lần nữa thì mới hoàn thiện được. Thực vậy, trong các hội nghị quốc tế, ở hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nữ học giả Mỹ đã vận một chiếc áo dài, và mở đầu bài phát biểu của mình bằng một câu tiếng Việt: “Xin chào các bạn”, cả hội trường Ba Đỉnh trang trọng khi đó bỗng tràn ngập một không khí thân thương trìu mến. Trong hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 ở Việt Nam, áo dài đã được vinh dự là trang phục chính cho các vị lãnh đạo nguyên thủ quốc gia của các nước mặc trong buổi lễ bế mạc kết thúc hội nghị. Áo dài, như vậy có thể là đại sứ tinh thần của văn hóa Việt, mang nước Việt Nam cùng hòa chung vào dòng kinh tế năng động và nhiệt huyết trên thương trường thế giới, là một nét riêng của người phụ nữ Việt nói riêng và cả dân tộc Việt nói chung. Áo dài là hiện thân của dân tộc Việt, một vẻ đẹp mĩ miều nhưng đằm thắm, là một phần tất yếu trong mỗi phụ nữ Việt, là đặc trưng cho một quốc gia có người phụ nữ chịu thương chịu khó, luôn hy sinh, đứng phía sau để cổ động tinh thần cho nước nhà, cùng nhau hòa nhịp và phát triển. Trải qua từng thời kì, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quà trình lịch sử Việt Nam, tà áo dài Việt Nam luôn tồn tại theo dòng thời gian, vẫn mãi sẽ là tâm hồn Việt, văn hóa Việt, là tinh thần Việt và là trang phục truyền thống mang đậm tính lịch sử lâu đời của nước Việt ngàn năm văn hiến. Kín đáo, duyên dáng và gợi cảm là một trong những yếu tố đưa áo dài trở thành niềm kiêu hãnh của người Việt. Không chỉ là cái áo nữa – chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của trang phục phụ nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hoá vật thể truyền thống không thể thiếu cho vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt. Nguồn: thêm: Kể về kỉ niệm thời thơ ấu của em
Bài văn miêu tả chiếc áo dài Việt Nam
1,287
Bài văn miêu tả căn phòng của tôi Hướng dẫn căn phòng bé nhỏ nhưng rất nhiều kỉ niệm đối với tôi, tôi thích nó lắm. Tất cả đều gói gọn trong căn phòng này đây. Bây giờ là bài văn miêu tả căn phòng của tôi. Căn phòng tôi đang sống nằm ở trung tâm thành phố, gần siêu thị, bến xe, ga tàu, quán bar sàn nhảy. nói chung mọi nhu cầu tối thiểu đều có thể được đáp ứng dễ dàng. Phòng của tôi nằm ở tầng 2 của 1 tòa nhà 6 tầng, có thang máy, cửa ra vào đều được sơn màu đỏ nom rất bắt mắt. Nhà tôi ở có 3 phòng, bếp và khu phụ chung, có ban công. Cảm giác khi vừa bước vào là có 1 mùi hương lạ lạ và 1 bầu ko khí Tàu khựa bao phủ, thể hiện bằng việc có 2 cái quạt to đùng treo trên tường. Nhà mới rất đầy đủ tiện nghi, nhưng vẫn gọn gàng ngăn nắp, đồ dùng thứ gì cũng có 2 cái, hoặc nhiều hơn, 2 tủ lạnh, 2 máy giặt, 2 máy hút bụi, tôi thấy cứ ko được tiết kiệm cho lắm. Bạn cùng nhà của tôi là 1 cô gái Nga, rất ít nói, tiếng Anh tệ, còn 1 cô người Ca-mơ-run, to béo, rất thik đi giày cao gót. Tôi chưa nói chuyện với mỗi cô quá 3 câu, 1 lần là chào hỏi giới thiệu tên, 1 lần hỏi dùng nhờ mạng cô người Nga và 1 lần mượn máy hút bụi cô Ca-mơ-run. Những người ở nhà này có vẻ ko thik liên quan đến nhau cho lắm. Hẳn là thế, 2 cô ấy chẳng muốn dùng chung bất cứ thứ gì của nhau. Xem thêm: Kể lại một truyện cổ tích em đã nghe kể hoặc đọc sách mà biết, mà nhớ. Phòng của tôi, chắc chắn là giản dị nhất nhà. Ko có gì ngoài 1 chiếc giường và 1 tủ quần áo. Tôi k tính ở đây lâu dài nên ko gian tạm bợ này chắc sẽ gắn liền với tôi cho đến tháng 8. Căn phòng rộng khoảng 14m2, 1 cái giường đơn kê trong góc phòng, hướng ra phía cửa sổ, cách đấy khoảng 1m là tủ quần áo khá to. Rèm cửa của tôi là 1 tấm vải to màu đen, khi được kéo hết cỡ sẽ kín cả 1 bức tường. Tôi khá tâm đắc vì mùa hè có thể tha hồ ngủ nướng. Chiếc rèm đen cũng mang đến cho phòng tôi 1 bầu k khí hắc ám khó tả, hoặc là 1 k gian kiến trúc hiện đại hợp thời. Tôi luôn tưởng tượng mình sẽ đi mua màu và vẽ gì lên đó, hoặc thỉnh thoảng có thể tận dụng để chiếu phim, hoặc bạn đến chơi nhà có thể làm ga trải giường, hoặc chỉ đơn giản là để che đi thế giới tươi đẹp bên ngoài, để tôi tự do trong 4 bức tường của mình. Tôi thik ngồi thu lu trong góc giường, tức là trong góc tận cùng nhất của căn phòng, tắt đèn và dán mắt vào khoảng ko đen ngòm do chiếc rèm tạo ra. Tôi cứ liên tưởng đến bài Norwegian Wood. Rồi tôi nhắm mắt hít căng lồng ngực mùi hương của căn phòng. Tôi rất thik mùi thơm nên hay mua nến thơm về đặt ở 4 góc phòng. Phòng tôi h đang có mùi cherry và dâu, bước vào sẽ nhận ra ngay.Xem thêm: Em hãy kể lại một câu chuyện về một kỉ niệm khó quên Trên đầu giường là bức tranh “con sói” vợ Minh vẽ tặng tôi, thực ra giống con chồn được vẽ ở góc chính diện hơn con sói. Đôi khi rảnh rỗi tôi chơi trò đọ mắt với nó. Thường là tôi thua. Đồ vật cuối cùng cần thiết mang lại vẻ ma mị thanh lịch cho căn phòng là chiếc đèn tròn tôi mua lại ở cửa hàng đồ cũ với giá 4e. Thứ ánh sáng nhờ nhờ phát ra từ bóng đèn tròn dẹt như cái bánh rán làm tôi nhớ lại những ngày tháng ở Xuân Hòa, tập đan len trong ánh đèn tù mù và chờ đợi tin nhắn điện thoại. ……. Sau khi làm xong bài văn miêu tả căn phòng của em thì tôi định đi tắm. Nhưng chắc sẽ ko tả luôn vào đây. Trong lúc chờ đợi những hưng cảm ly kì tiếp theo của Birdy, xin mời nghe bài Fucker của Eels. Nguồn:
Bài văn miêu tả căn phòng của tôi
764
Bài văn phân tích bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi hay Hướng dẫn Côn Sơn ca Nguyễn Trãi Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Trong rừng thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. Về đi sao chẳng sớm toan, Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi. Muôn chung chín vạc làm gì, Cơm rau nước lã nên tùy phận thôi. Đổng, Nguyên để tiếng trên đời, Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan. Lại kia trên núi Thú San, Di, Tê nhịn đói chẳng màng thóc Chu. Hai đàng khó sánh hiền ngu, Đều làm cho thỏa được như ý mình. Trăm năm trong cuộc nhân sinh, Người như cây cỏ thân hình nát tan. Hết ưu lạc đến bi hoan, Tốt tươi khô khéo tuần hoàn đổi thay. Núi gò đài các đó đây, Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh. Sào, Do bằng có tái sinh, Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. (Bản dịch trong sách ‘Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi’). Phân tích … Dịch giả đã chuyển thành thơ lục bát, 26 câu; theo chỗ chúng tôi biết, trong các bản dịch ‘Côn Sơn ca’ thì bản dịch này là thanh thoát hơn, thể hiện được hồn thơ Nguyễn Trãi giai đoạn đã về Côn Sơn ở ẩn. Côn Sơn là dãy núi ở xã Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi đã nhiều năm ở ẩn tại động Thanh Hư thuộc Côn Sơn. Thời thơ ấu, Nguyễn Trãi từng sống với mẹ và ông ngoại tại đấy. Nguyễn Trãi đã xem Côn Sơn là ‘quê cũ’ của mình. Trong ‘ức Trai thi tập’ và* ‘Quốc âm thi tập’, ông có nhiều bài thơ nói về Côn Sơn với bao tình thương mến, thắm thiết. Bao nhiêu lần nhờ hồn mộng mà tìm làng cũ: ‘Kỷ thác mộng hồn tầm cô'lí’ (Về Côn Sơn làm trong thuyền), Làng quẽ mới qua, như thấy chiêm bao đến: ‘Hương lí tài qua như mộng đáo’ (Sau loạn đến Côn Sơn cảm tác). ‘Quê cũ nhà ta thiếu của nào? Rau trong nội, cá trong ao. (…) Cảnh thanh dường ấy về chăng nghỉ, Lẩn thẩn làm chi áng mận đào?’ (‘Mạn thuật’ -13) ‘Côn Sơn ca’là bài ca giao cảm với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thời thế, triết lí về cuộc đời. 1.Phần đầu nói về vẻ đẹp lâm tuyền của Côn Sơnbằng bốn cảnh: Suối, đá, thông và trúc. Trong nguyên tác chữ Hán, tác giả viết bằng thơ bốn chữ và thơ năm chữ, nhằm miêu tả vẻ đẹp Côn Sơn tầng tầng lớp lớp xuất hiện: ‘Côn Sơn hữu tuyền, Kì thanh linh linh nhiên Ngô dĩ vi cẩm huyền Côn Sơn hữu thạch Vũ tẩy đài phô bích Ngô dĩ vi đạm tịch.’ Cảnh đẹp thứ nhất là suối Côn Sơn, tiếng nước chảy róc rách như tiếng đàn cầm. Cảnh đẹp thứ hai là đá, mưa sạch rêu biếc như chiếu êm. Cảnh đẹp thứ ba là rừng thông, tán lá như những chiếc lọng rủ bóng. Cảnh đẹp thứ tư là trúc bao la hàng nghìn mẫu, bát ngát một màu xanh mát rượi. Cảnh không chỉ đẹp mà còn đáng yêu, gắn bó với tâm hồn nhà thơ. Suối, đá, trúc, thông là nơi nương tựa, nâng đỡ tâm hồn, là đối tượng để thi nhân cùng với thiên nhiên giao hòa giao cảm, để ‘Ta cho là đàn cẩm’, để ‘Ta cho là đệm chiếu’, để ‘Ta nghỉ ngơi’ trong rừng thông, để ‘Ta ngâm nga’ bên rừng trúc. Hình ảnh thơ là âm thanh, là màu sắc gắn liền với cảm giác, với tâm hồn nhà thơ bằng những liên tưởng vô cùng thiết tha, đằm thắm: ‘Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cẩm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm’ Thông và trúc nơi suối rừng Côn Sơn đối với Nguyễn Trãi như bạn bầu tri kỉ, cảm thông chở che tâm hồn nhà thơ đang lánh bụi trần, để được sống thảnh thơi với rừng xưa, suối cũ yêu thương đã hẹn ước: ‘Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng truc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’ Gắn bó, chan hòa với suối, đá, thông, trúc Côn Sơn, chính là biểu lộ tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với quê cũ yêu thương. Mấy chục năm trời loạn lạc, li hương, không đêm nào ông không nằm mộng nhớ quê, nhớ luống cúc vườn cũ: ‘Tưởng nhớ vườn nhà ba rặng cúc, Hồn về đêm vẫn gửi chiêm bao’ (‘Ngày thu ngẫu nhiên làm’ – Thơ dịch) Quê cũ với tùng, với đá, với mai… biết bao thương nhớ bồi hồi: ‘Thạch bạn tùng phong cô thắng tưởng Giản biên mai ảnh phụ thanh ngâm’ (Tùng reo bậc đá ai nghe đấy? Mai chiếu bên khe thú vịnh đâu?) 2.Giọng thơ trầm hẳn xuống.Nguyễn Trãi đang vui thú say sưa lắng nghe tiếng suối róc rách, đang say mê ngắm nhìn rêu đá, thông rủ bóng, trúc xanh mát, rồi trầm ngâm tự nói với mình, tự nhắc nhở mình: ‘Về di sao chẳng sớm toan, Nửa đời sớm bụi trần hoàn làm chi?’ Xem thêm: Phân tích đoạn thơ 2, 3, 4 trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình ThiCâu thơ chữ Hán nghĩa là: Hỡi người sao không về đi, nửa đời người giam buộc mình mãi trong cát bụi làm chi? Bốn chữ ‘Bất quy khứ lai’ lấy cảm hứng từ bài ‘Quy khứ lai từ’ của Đào Tiềm, một danh sĩ cao khiết đời Tấn bên Trung Quốc đã coi thường danh lợi, không chịu khom lưng uốn gối vì mấy đấu gạo lương bổng, đã treo ấn từ quan, trở về vườn cũ, cày ruộng, ươm cúc, thảnh thơi với tháng ngày. Nguyễn Trãi làm quan, tài năng không được thi thố, bị bọn quyền thần, nịnh thần chèn ép. Có lúc ông tự than: ‘Dưới công danh đeo khổ nhục’ (‘Ngôn chí’ – 2), hoặc: ‘Được thua phú quý dầu thiên mệnh – Chen chúc làm chi cho nhọc nhằn’ (‘Mạn thuật’ – 5). Người anh hùng thuở ‘bình Ngô’ đã từng ‘viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời’ thế mà giờ đây tự trách mình ‘Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?’, điếu đó cho thấy Nguyễn Trãi đang sống những ngày tháng đầy bi kịch? Đó là tâm trạng thời thế. Năm 1429, Lê Thái Tổ đã sát hại Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, hai đại công thần; còn Nguyễn Trãi cũng đã bị hạ ngục. Sau đó tuy được tha nhưng chỉ là một cô thần ‘thanh chức’. Nguyễn Trãi đã nhiều năm sống trong tâm trạng muốn trở về Côn Sơn làm bạn với cỏ hoa chốn lâm tuyền: ‘Ngoài năm mươi tuổi ngoài chưng thế, At đã tròn băng nước ớ bâu Nguyễn Trãi có lúc tự dặn mình: ‘Vườn quỳnh dù có chim hót – Cõi trần có trúc đứng ngăn’, nhưng trước ấp lực của bọn nịnh thần, ông phải lui về Côn Sơn. Mấy năn sau Lê Thái Tôn lại xuống chiếu vời Nguyễn Trãi ra làm quan. Trong biểu tạ ân, ông hả hê nói: ‘Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lòng’, ông tự cho mình là con ngựa già ‘còn kham rong ruổi’, là cây thông qua năn rét mà ‘còn dạn tuyết sương’. Chẳng bao lâu sau đó, Nguyễn Trãi đã về hẳn Côn Sơn… Cuộc đời Nguyễn Trãi đã phản ánh tâm trạng đầy bi kịch giằng xé, đúng như ông đã viết trong ‘Côn Sơn ca’: ‘Về đi sao chẳng sớm toan, Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?’ ‘Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá…’(Phạm Văn Đồng), và đó là nguồn gốc sâu xa bi kịch vô cùng đau thương của người anh hùng thuở ‘bình Ngô’. ‘Côn Sơn ca’ còn hàm chứa triết lí về cuộc đời của ức Trai.Trước hết ông nói về giàu sang phú quý, bần tiền, vinh và nhục ở đời. Đổng Trác đời Đông Hán, Nguyễn Tải đời Đường chức quyền cao, phú quý đến cực độ, cuối cùng chết trong ô nhục, để lại tiếng dơ muôn đời: ‘Muôn chung chín vạc làm gì, Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi. Đổng, Nguyên để tiếng trên đời, Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan’ Tác giả nhắc lại cách ứng xử và cái chết của Bá Di, Thúc Tề đời An, Chu, từ dó suy ngẫm về ‘hiền, ngu’ 0đời, chung qui chỉ là ‘đều làm cho thỏa được như ý mình’. Kiếp người khác nào ‘cây cỏ’, đời người một trăm năm, mừng, buồn, lo, vui, cái nọ đi, cái kia đến, tốt tươi rồi khô héo, tuần hoàn nối tiếp nhau trong vòng một trăm năm hữu hạn. Sự chiêm nghiệm của nhà thơ thấm một nỗi buồn mênh mông, khi tóc đã bạc, chỉ còn biết làm bạn với mây núi, trăng ngàn: ‘Láng giềng một áng mây bạc, Khách khứa hai ngàn núi xanh’ Ý nghĩa cuộc đời là gì? Nguyễn Trãi đã từng tâm niệm: ‘Bui có một lòng trung lần hiếu – Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen’ (‘Thuật hứng’ – 24); đã từng đinh ninh: ‘Nợ cũ chước nào báo bổ? – ơn thầy ơn chúa liễn ơn cha’ (‘Tự thán’ – 24), thế mà lúc này ông chán nản phủ định: ‘Trăm năm trong cuộc nhản sinh, Người như cây cỏ thân hình nát tan. Hết ưu lạc đến bi hoan, Tốt tươi khô khéo tuần hoàn đổi thay’ Nói rằng triết lí về nhân sinh của Nguyễn Trãi mang màu sắc bi quan chưa hẳn đã sai? Đời người ‘Trăm năm còn có gì đâu? – Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì’ (‘Cung oán ngâm khúc’). Với Nguyễn Trãi lúc này thì chết là hết. Sự phủ định đầy ngao ngán: ‘Núi gò đài các đó đây, Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh’ Nguyễn Trãi viết ‘Côn Sơn ca’ trước bao lâu vụ án Lệ Chi Viên xảy ra? Tâm trạng thời thế, triết lí vế cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca là cả một nỗi buồn thấm sâu, tỏa rộng trong tàm hồn nhà thơ. Từ những chiêm nghiệm lịch sử phong kiến Việt Nam, nhất là ba triều đại Trần, Hồ, Lê, về cuộc đời ông ngoại (tướng công Trần Nguyên Đán), về cha mình (Nguyễn Phi Khanh), về những thăng trầm, vinh nhục, ngọt bùi cay đắng của đời mình, nên ức Trai mới có suy nghĩ ấy. về một phương diện khác, triết lí về cuộc đời của Nguyễn Trãi thể hiện sự cảm thông cho số kiếp của con người. Cái nhìn ấy, sự suy ngẫm ấy mang tính nhân bản sâu sắc. Bi kịch của Nguyễn Trãi là bi kịch của kẻ sĩ trong xã hội phong kiến, cũng là bi kịch lịch sử ‘Anh hùng di hận kỉ thiên niên’ (‘Quan hải’). 3.Hai câu kết như một lời thiết tha nhắn gọi: ‘Sào, Do bằng có tái sinh, Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn’ Sào Phủ và Hứa Do hai cao sĩ đời vua Nghiêu trong lịch sử truyền kì Trung Quốc không màng công danh, chỉ thích sống cuộc đời ẩn sĩ, coi trọng thanh cao, chan hòa với núi cao rừng thẳm. Nguyễn Trãi một mặt cảm thông, kính trọng tấm gương sáng của hai Người Hiền xa xưa, mặt khác tự hào biểu lộ niềm tự hào về tâm thế của mình: trở vẻ Côn Sơn là để thoát vòng danh lợi, được chan hòa với suối rừng thiên nhiên, sống cuộc đời nhàn hạ, thanh cao. Đó là âm điệu trữ tình, là nội dung tư tưởng tình cảm của ‘Khúc hát bên ghềnh Côn Sơn’ vậy. Nếu văn (Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo…) là khúc ca thắng trận của người anh hùng thì thơ (Quốc âm thi tập, ức Trai thi tập) là tấm lòng, là tâm thế của ức Trai. ‘Côn Sơn cạ’là bài hát về suối, đá, thông, trúc, là tình yêu quê hương, là những suy ngẫm buồn lo về cuộc đời, về kiếp người hữu hạn trong dòng chảy vô hạn của thời gian. Cảnh sắc thiên nhiên Côn Sơn đã trở thành tâm hồn ức Trai. Triết lí về cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca thật ra không có gì mới. ‘Thân cát bụi lại trở về cát bụi’ (Kinh Thánh), ‘Sinh tồn hoa ốc xứ – Linh lạc quy sơn khưu’ (Sống ở nhà lộng lẫy, chết lại về núi gò – Tào Thực, đời Hán), ‘xử thế nhược đại mộng – Hồ vi lao kì sinh?’ (Sống ở đời như giấc mộng lớn – Tội chi vất vả đời mình – Lý Bạch), v.v… Có điều, qua ‘Côn Sơn ca’, ta thấy hồn thơ của Ức Trai rất đẹp, Nguyễn Trãi tự hào cuộc đời mình thanh cao, thương cuộc đời mình đầy bi kịch, thương đời người cát bụi. Chất triết lí ‘Côn Sơn ca’ giàu tính nhân văn để lại dấu ấn đậm đà trong lòng ta. Nguồn: thêm: Em hãy viết thư thăm một người bạn mà em quý mến
Bài văn phân tích bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi hay
2,225