text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Bài kiểm tra văn của nữ sinh lớp 11 này được thầy giáo đánh giá cao. Thậm chí, thầy đã xóa điểm 9,5 và cho điểm tuyệt đối. Được biết đây là bài kiểm tra văn của một nữ sinh lớp 11 có tên là Nguyễn Danh Phương Thảo. Bài kiểm tra được điểm 10 tuyệt đối khiến nhiều người thấy bất ngờ và không khỏi ngưỡng mộ tài năng của cô gái. Đọc nội dung bài văn, có thể thấy nữ sinh này đã có những lập luận rất tinh tế và bám sát theo yêu cầu đề ra. Cùng với đó là sự sáng tạo và những suy luận khá logic. Bài văn của nữ sinh Thảo đạt điểm tuyệt đối. Bài kiểm tra văn nhận được sự đánh giá cao của thầy giáo. Ở phần lời phê, thầy giáo dành lời khen cho học trò của mình: "Bài viết có cảm xúc và suy tư,nhất là bám sát yêu cầu đề ra. Đáng khen”. Chính vì vậy, thầy đã quyết định cho bài kiểm tra của nữ sinh Thảo điểm tuyệt đối. Dưới đây, xin trích đăng phần bài viết ở câu thứ 2 nằm trong bài kiểm tra văn đạt điểm tuyệt đối này Đề bài: Phân tích để làm rõ ấn tượng về không gian trong hai khổ thơ đầu của “Tràng Giang” ( Huy Cận). Em có suy nghĩ gì về tình triết lý của hai khổ thơ này? Có lẽ thiên nhiên đẹp và bao la đại ngàn luôn làm khuấy động nỗi lòng và tâm thức con người, nó khuấy sâu thẳm vào lòng người khiến nỗi sầu càng sầu hơn, vì vây việc dùng vẻ đẹp bao la của thiên nhiên để bày tỏ tâm trạng đã được rất nhiều thi sỹ sử dụng trong thơ trung đại. Nhưng Huy Cận đã tiếp thu phong vị đó vào tác phẩm “Tràng Giang” của mình, phổ thêm những nét mới lạ của thơ hiện đại; qua đó, Huy Cận đã tạo nên cho người đọc những ấn tượng về không gian của tác phẩm, đặc biệt là trong hai khổ thơ đầu. Ngay từ tên bài thơ “Tràng Giang” và lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng sông dài”, một không gian sông nước bao la đã hiện hữu. “Tràng” tức là dài, “Giang” là sông. Sông dài, trời rộng mở ra một không gian bao la, tươi đẹp, nhưng buồn, nhưng dấy lên trong tâm hồn tác giả một nỗi “bâng khuâng” lạ kỳ. Khổ thơ đầu tiên, Huy Cận viết: “Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Không gian bao la, rộng lớn hiện hữu trước mắt, nhưng cũng bởi vậy mà con người càng cảm thấy lạc lõng, cô đơn. Giữa bạt ngàn của sông nước, con người nhỏ bé, lặng lẽ, cô đơn. Đứng trước không gian ấy, nỗi lòng Huy Cận cũng dâng trào. Từng đợt sóng xô trên “Tràng Giang” là “điệp điệp” nỗi buồn trong tâm hồn thi sỹ. Sóng của thiên nhiên vỗ nhẹ thì cơn sóng lòng dào dạt ùa về. Và từ đây, một không gian thứ hai xuất hiện đó là không gian của tình cảm, cảm xúc trong nỗi lòng tác giả. Nhìn về phía sông nước bao la, tác giả thấy một con thuyền cứ trôi theo mái nước song song. Có lẽ con thuyền ấy trôi rất nhẹ, không có chút mệt mỏi, nhưng vô thức và cô đơn. Con thuyền cứ trôi mãi theo dòng nước song song, hai chữ “song song” như hai đường thằng dài tít tắp, cứ chạy mãi mà không bao giờ gặp, cũng giống như thân phận của con thuyền kia, vô dịnh và bơ vơ, lạc lõng. Nhìn con thuyền mà nỗi sầu của tác giả như dâng cao, không gian rộng lớn của thiên nhiên đã thôi thúc không gian lòng, khiến tác giả cảm thấy nỗi dầu của mình cũng vô định như con thuyền ấy, “sầu trăm ngả”. Xem thêm: Em hãy tường thuật lại một buổi đi chơi đầy lý thú ở miệt vườn cây tráiMột hình ảnh buồn hiện lên trước mắt tác giả: "Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Không biết cành củi đáng thương ấy là một vật hữu hình có thực, hay nó là một hình ảnh chợt xuất hiện trong nỗi cô đơn của Huy Cận, bởi nó cũng nhỏ bé và lạc lõng như con người. Giữa dòng đời bao la, giữa sự xô đẩy của từng dòng sóng, nó cứ trôi lạc lõng, lênh đênh. Nỗi sầu trong tác giả càng sầu hơn. Việc sử dụng những hình ảnh thiên nhiên bao la là một nét quen thuộc trong đường thi, nhưng Huy Cận đã nhờ nó mà thầm nói lên nỗi lòng của mình, nhờ không gian thiên nhiên làm nổi lên không gian tình cảm. Ở khổ thơ thứ hai, vẫn bắt gặp những hình ảnh trải dài theo không gian, nhưng cái nỗi cô đơn trong tâm trạng tác giả càng trải dài hơn nữa: “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Nắng xuống trời lên sâu chót vót; Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”. Không gian hiện ra không chỉ được tác giả quan sát bằng thị giác, mà tác giả còn lắng tai nghe và càng sầu hơn – một nỗi sầu về nhân thế, về kiếp người, về cuộc sống thời đó. Đôi mắt tác giả buồn theo và nhìn xung quanh cảnh vật, đôi tai nhạy cảm lẳng nghe những âm thanh thưa thớt, vãn dần ở xa xa. Cồn nhỏ lơ thơ, nhỏ bé, cơn gió thì thổi nhẹ nhưng đìu hiu, như cũng buồn giống tác giả. Huy Cận tinh tế cảm nhận cơn gió ấy, sao mà buồn, sao mà lặng lẽ, cô liêu. Tiếng làng xa ở nơi đâu thưa thớt vãn buổi chợ chiều, cứ nhỏ dần, nhỏ bé trong cái lớn mạnh của thiên nhiên. Huy Cận đưa mắt nhìn lên bầu trời kia, tâm trạng buồn của Huy Cận cũng phổ vào bầu trời bao la ấy một nỗi buồn sâu thẳm. Bởi vậy khi nắng xuống, trong con mắt Huy Cận, trời không cao mà lại “sâu chót vót”, cũng như không gian sâu thẳm của nỗi buồn. Sự suy tư của Huy Cận như đi vào bầu trời ấy, khoét sâu đến tận vũ trụ xa thẳm ngoài kia, buồn đến lạ lùng. Nhìn lại khung cảnh thiên nhiên bao la ấy, vẫn trời rộng, sông dài, vẫn bến cô liêu và trong lòng tác giả vẫn ồn ào của một nỗi sầu, một nỗi bâng khuâng cô đơn và vắng vẻ. Cảnh quan, không gian bao la của thiên nhiên mở rộng ra trước mắt Huy Cận nhưng mọi thứ đều mờ ảo, mang một cái nét rất trơ trọi, bâng khuâng. Tuy mờ ảo nhưng lại mang một triết lý sâu xa. Mọi vật hữu hình hiện ra trong mắt Huy Cận đều buồn, đều cô đơn, cũng như thời thế đất nước bấy giờ, cũng băn khoăn và lạc lõng, trôi nổi vô đình như con thuyền, nguy hiểm và nhỏ bé như cây củi khô lạc giữa dòng sông. Con người như trôi lạc giữa dòng đời, dòng cuộc sống. Bởi vậy, tuy mọi thứ đều mờ ảo như được phủ một làn khói buồn nhưng đều tô đậm tính triết lý về cuộc sống và con người, cũng như một nỗi buồn của người con thương đất nước – Huy Cận. Tác phẩm “ Tràng Giang” cho đến tận bây giờ vẫn là một đỉnh cao nghệ thuật mà khó ai có thể vươn tới, bởi sự khéo léo và tinh tế của tác giả trong việc kéo hợp giữa không gian thiên nhiên với không gian tâm tình, quan trọng hơn là vì “Tràng Giang” mang một triết lý sâu xa về cuộc đời, về đất nước. Tuy không thể hiện trực tiếp nhưng Huy Cận đã in bóng vào “Tràng Giang” một tình yêu tổ quốc, cũng sự lặng lẽ buồn trước cuộc sống thời bấy giờ. Vì vậy, “Tràng Giang” luôn đứng vững và đứng cao trong nền văn học nước nhà, cũng như trong trái tim của người đọc mãi về sau. Một nỗi buồn đã qua đi từ lâu, nhưng dư vị ấy, cảm giác ấy, nỗi buồn ấy cứ đọng mãi với con người sau này mỗi khi đọc “Tràng Giang”, khiến người ta phải suy ngẫm về nhân tình và cuộc đời.” Nguyễn Danh Phương Thảo Xem thêm: Bàn về sự im lặng đáng sợ của người tốt
Bài văn sáng tạo đạt điểm tuyệt đối của nữ sinh lớp 11
1,444
Đề bài: Cứ đến thứ 2 đầu tuần là trường em lại tổ chức buổi chào cờ đầu tuần. Em hãy viết bài văn tả buổi chào cờ ở trường em cho gia đình em cùng nghe. Một năm có bốn mùa xuân hạ thu đông, một tháng có ba mươi ngày và một tuần có bảy ngày trong đó có năm ngày là chúng em đến trường học. Mỗi ngày đến trường là một ngày vui nhưng em vẫn thích nhất là ngày thứ hai. Bởi vì ngày thứ hai có một tiết chào cờ buổi sáng đầu tuần, khi ấy được ngồi chung trong tất cả mọi người em thấy tinh thần phấn chấn hơn và bắt đầu một tuần học tập vui vẻ hơn. Mỗi buổi chào cờ là mỗi buồn tâm trạng và cảm xúc em về thầy cô bạn bè và những tấm gương mà em nên học tập. Buổi chào cờ được diễn ra như một buổi học ngoại khóa có thời lượng như một tiết học bình thường. Đó là bốn mươi lăm phút, sau khi tất cả những học sinh đã đến trường đông đủ như mọi hôm. Chào cờ được bắt đầu giống như những tiết học bình thường vào buổi sáng về giờ giấc bắt đầu và kết thúc. Có những bạn đến muộn thì sẽ bị phạt hay trừ điểm trong lớp vì không có ý thức đi học đúng giờ. Tùng! Tùng!tùng…những hồi trống dài đang vang lên rộn rã. Và mọi người trong lớp đỗ ào ra ngoài chạy thật nhanh như một bày kiến vỡ tổ. Mỗi người cầm theo một chiếc ghế nhỏ màu đỏ thắm, có cả màu xanh nữa. Trông thật đáng yêu qua đi mất. Có những bạn được phân làm người cầm cờ của lớp. Cầm lấy chiếc cờ trong tay mà chạy như một chú lính cộng sản trong giải phóng miền Nam. Các lớp được xếp theo thứ tự từ cao tới thấp, và xếp theo lớp A,B,C,D. Thế rồi mỗi lớp xếp thành ha hàng thẳng, một hàng nam và một hãng nữ. Có một bạn cờ đỏ đứng bên dưới để chấm điểm nếu lớp nào ra muộn thì sẽ bị trừ điểm, lớp nào ra đúng giờ thì sẽ được điểm mười. Tiếp đến là hàng xếp thì phải thẳng không được cong, nghẹo. Những chiếc măng non trên những chiếc mũ ca nô thật đẹp. Những cái đầu đội mũ ca nô nhìn từ trên xuống trong như những đốm màu xanh trên nên một loạt áo màu trắng trong thật đẹp. Không kể đến những chiếc khăn quàng đỏ đeo trên cổ thỉnh thoảng lại bay theo gió trong như những dải lụa đào vậy, mềm mại và thắm đẫm biết bao kỉ niệm về Bác qua hình ảnh Bác đeo chiếc khăn đỏ thắm cho một bạn gái.Xem thêm: Tả cái mũ em dùng hằng ngày Cả một sân trường màu trắng rồi lại chấm màu đỏ của khăn quàng, của lá cờ Tổ quốc, của ghế đỏ và màu xanh của những chiếc mũ ca nô trên những cái đầu nhỏ xíu dễ thương ấy. Nhìn buổi chào cờ đầu tuần như một bức tranh đầy màu sắc với màu của cảnh vật sân trường và con người. Cô tổng phụ trách hô nghiêm tất cả đứng lên nghiêm trang mắt nhìn thẳng. Cô tiếp tục hô Quốc ca thì đồng thanh tất cả học trò thầy cô cùng cất tiếng hát như hùng hồn thể hiện tinh thần dân tộc ta “ đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc, bước trên dồn vang trên đường gập ghềnh xa…”. Sau đó cô hô tiếp đội ca. và cuối cùng tất cả được ngồi xuống để nghe cô tổng kết về những việc trong tuần qua, tình hình thi đua của các lớp như thế nào, phổ biến kế hoạch trong tuần sau. Sự nghiêm trang khiến cho em cảm thấy rất tự hào về trường của mình. Kết thúc buổi chào cờ cả trường cười nói như một ngày hội lớn. Đối với học sinh chúng em thì miễn sao không phải nêu tên xấu trên trước cờ là tốt rồi còn mọi thứ không mấy để ý cả. Nói thì thật vô tâm và đáng khiển trách nhưng có những hoạt động gì thì thầy cô chủ nhiệm lớp sẽ phổ biến và quán triệt sau. Em thật sự yêu thích buổi chào cờ đầu tuần này.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của khổ thơ sau trong bài thơ "Đò lèn" (Nguyễn Duy). "Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi khi tôi biết thương bà thì đã muộn bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi."
Bài văn tả buổi chào cờ ở trường em lớp 5
802
Đề bài: Ngày tết cổ truyển là thời gian người người đoàn tụ sum họp gia đình. Em hãy viết bài văn tả buổi sum họp gia đình của em vào dịp tết đó. Gia đình luôn là nơi cho ta những hạnh phúc ngọt ngào và tuyệt vời nhất. Ở đó không có sự lừa lọc, không có sự tranh giành mà ở đó là cả sự hi sinh nhường nhịn, là cả một không gian yêu thương ta. Cuộc sống cũng như công việc khiến cho gia đình không thể gần gũi nhau. Gia đình tôi cũng vậy, người ngoài bắc người trong nam vì thế cho nên rất cần một buổi sum họp gia đình. Buổi sum họp đó chính là ngày tết cổ truyền. Đó là ngày tết nguyên đán khi những công việc được kết thúc và gác sang một bên, mọi người trở về đoàn tụ bên gia đình. Ngày tết chính là khoảng thời gian để cho chúng ta trở về cội nguồn về nơi chôn rau cắt rốn thắp hương cho ông bà và đón một cái tết ấm cúng trong tình yêu thương của gia đình. Và gia đình tôi cũng thế, khi tết đến gia đình tôi thường sum họp vào ngày mùng ba tết vì khi đó là khoảng thời gian rất đẹp cho và thuận tiện. Khi mùng một mùng hai mọi người đi chơi tết thì mùng ba sẽ là ngày sum họp gia đình. Cô chú tôi ở miền nam bay ra bắc để đoàn tụ, những bác rể bác dâu gần xa cũng trở về trong ngày này. Nhà tôi tuy ở xa nhau thế nhưng đến ngày sum họp đoàn tụ thì chưa thấy thiếu ai bao giờ. Những người ở xa nếu không có tiền để bay về thì những người có kinh tế khá hơn thì sẽ giúp để tất cả có thể về dự bữa cơm gia đình. Nào là mai là đào quất mỗi người mang về một cành đào cành quất có thể là không có quà nhưng về được là rất vui rồi.Xem thêm: Em hãy miêu tả cái bàn học ở nhà em Những đứa nhỏ anh chị em tôi trông mới thật kháu khỉnh đáng yêu. Nhìn chúng trong bộ quần áo màu mè đón tết thật là có không khí. Mỗi nhà ba bốn người nào là xe hơi, nào là xe máy mọi người háo hức tấp nập, rộn ràng đi về. gia đình tôi vui vẻ khi thấy mọi người trở về. Thấy con cháu đầy đàn người vui nhất có lẽ là bà của tôi. Cả đời bà chăm chút từng người con đứa cháu. Bữa cơm sum họp diễn ra thật đầm ấm, những món ăn truyền thống được mẹ tôi và các cô chú bày biện thật đẹp mắt. Phụ nữ thì xào nấu những món rau quả còn những trụ cột gia đình đảm nhiệm chặt thịt gà. Chẳng ai bảo ai cứ thế mỗi người một tay làm xong mâm cơm cúng gia tiên và cuối cùng là cùng nhau ăn uống nói chuyện rôm rả đến tận trưa chiều. Bánh Chưng mẹ tôi gói xanh mướt ai ăn cũng khen ngon, những đứa nhóc thì thi nhau ăn, bố mẹ chúng mừng lắm vì bình thường chúng chẳng chịu ăn mấy. có lẽ là do có người ăn thi hay là tình cảm nồng ấm của gia đình giúp chúng nó vui vẻ ăn một cách ngon lành. Cả nhà ai nấy cười tít mắt, mỗi người một câu chuyện vừa ăn vừa nói. Lâu nhất là những người đàn ông. Họ chưa ăn mà còn phải uống trước, không biết bao nhiêu chén rượu chai bia rót ra đặt lên rồi hạ xuống, cứ như thế mọi người chúc tết nhau qua từng ly rượu. Nào là lời chúc tốt lành, nào là an khang thịnh vượng, chúc gia đình ta hạnh phúc lâu dài. Khi những lời chúc và những câu chuyện ngớt đi họ bắt đầu ăn cơm và đứng dậy uống nước.Xem thêm: Tả cảnh đêm trăng mà em cho là thú vị nhất Sau khi dọn dẹp xong bữa cơm gia đình lũ trẻ con chơi ở ngoài sân với nhau. Chúng nô đùa đuổi bắt và chờ người lớn lì xì. Còn những ông bố bà mẹ ngồi quây quần bên nhau uống nước ăn kẹo kể về những việc làm của mình một năm đã qua. Thế đấy buổi sum họp của gia đình tôi đơn giản mà hạnh phúc như thế đấy.
Bài văn tả buổi sum họp gia đình em lớp 5
767
Đề bài: Trong gia đình của em bà nội là người gắn bó với tuổi thơ nhất. Em hãy viết bài văn tả bà nội của em cho mọi người cùng nghe. Bà nội, đó là hai tiếng gọi thân thương mà tôi được gọi, có biết bao nhiêu người không còn bà để mà gọi và tôi thấy tôi thật hạnh phúc khi được có bà nội trên đời này. Bà không chỉ đơn giản là mộ người bà nội mà bà còn là tri âm tri kỉ của tôi. mọi chuyện tôi đều nói với bà, tâm sự với bà và cho tôi những lời khuyên bổ ích. Bà như cơn mưa mùa hạ tưới mát tuổi thơ tôi. Bà nội tôi trải qua một cuộc đời lam lũ vất vả người phụ nữ sinh ra trong bom đạn vì thế bà càng thêm sức dẻo dai chịu đựng. bà toi có khuôn mặt mà tôi thấy người ta khen là phúc hậu. Cuộc đời trải qua biết bao khó nhọc những lúc chạy giặc bà phải ngụp trong nước dấu mình trong bèo kể cả những đoạn mương sông bẩn thỉu nhất. Sau đó khi về nhà chồng nội tôi một tay nuôi dưỡng bố và các bác của tôi trong khi dó ông nội tôi còn đang bận công tác ngoài thủ đô. Mọt mình chăm sóc bảy người con tôi thấy nội tôi thật khỏe khoắn. Thế nhưng giờ đây, nội tôi bị tai biến mạch máu não thật bất công cho những gì bà phải trải qua, sụ hi sinh hay tấm lòng cao cả kia.Xem thêm: Soạn bài Cùng đặt câu ghép Mặc dù đã tám mốt tuổi thế nhưng trông bà tôi vẫn trẻ như hồi còn sáu mươi. Ai vào cũng phải khen nước da hồng hào trắng khỏe, khuôn mặt nội giờ không còn được trẻ trung đẹp đẽ như thuở xưa nữa mà thay vào đó là những những nếp nhăn chằng chịt. Nghe bố tôi nói rằng nội tôi ngày xưa xinh lắm, đẹp lắm và cho đến bây giờ cái tuổi xế bóng chiều tôi vẫn thấy nội tôi rất đẹp. Đó là vì nước da trắng vốn có của nội, là mái tóc tuy đã ở cái tuổi tám mốt nhưng lại chỉ điểm vài sợi trắng trên đầu. khi gội đầu thì không còn nhìn thấy những sợi trắng đó nữa. Mái tóc dài ngày xưa của bà được cắt ngắn đi cho gọn gàng và dễ gội. Khuôn mặt ấy vẫn phúc hậu như ngày nào nhưng lại thật là đáng thương khi khuôn mặt ngày càng béo ra, không phải vì béo tốt mà là do bệnh. Nói đúng hơn là bị phù mặt nhưng vết nám chấm to như những mụn ruồi xuất hiện trên mặt của bà. Mắt của bà híp lại, đôi lông mày rụng hết phần dưới đi,mi mắt cũng rụng còn lại những sợ mi ngắn cũn. Điều đó không làm bà xấu đi mà làm bà đẹp hơn vì sau căn bệnh ấy bà vẫn đẹp vãn trẻ như vẫn con sáu mươi. Dáng hình của nội tôi giờ đây vì bệnh mà béo lên, nhưng khổ nỗi bà chỉ béo mỗi phần bụng còn chân tay thì lại gày gò. Không kể đến cánh tay bên phải bị liệt, bà không thể tự xúc cơm được nữa mà phải có người súc cho. Còn gì khổ hơn khi mất đi một cánh tay, tôi thương bà tôi nhiều lắm cả cuộc đời tu nhân tích đức mà đến cuối đời lại không thể sống một cuộc sống an lành. Nhiều khi uất ức nội tôi khóc như trẻ con, những nếp nhăn xô lại và những giọt nước mắt ào ra trên hai gò má. Cái miệng mếu xệch đi trông mà không kìm được nước mắt, gặp người thân đi xa về bà càng khóc nhiều hơn. Mỗi đêm bà dậy đi vệ sinh tôi tỉnh giấc nghe thấy những hơi thở khó khăn của bà mà chạnh lòng nghĩ bản thân chưa làm được gì cho bà. Cứ mỗi lần đứng lên ngồi xuống là cả một sự khó nhọc của bà ngay cả khi lật mình khi ngủ nữa.Xem thêm: Hãy tả anh trai (anh họ) của em Bà tôi cơ cực vậy đấy và giờ đây tôi yêu thương bà hơn bất cứ điều gì, cả cuộc đời ấy tôi sẽ cố gắng giúp cho bà vui mỗi ngày. Mai này lớn lên tôi sẽ trở thành một bác sĩ giỏi để chữa bệnh cho những người bà thoát khỏi căn bệnh quái ác kia.
Bài văn tả bà nội của em lớp 5 hay nhất
778
Đề bài: Một trong những vật dụng không thể thiếu trong ngôi nhà là bộ bàn ghế. Em hãy viết bài văn tả bộ bàn ghế nhà em cho các bạn trong lớp cùng nghe. Mỗi đỗ vật đều mang một hình dáng khác nhau và đặc trưng khác nhau. Ngày hôm nay bố em mới mua cho nhà em một bộ bàn ghế để làm chỗ tiếp khách, em nhảy nhót vui sướng khi thây được bộ bàn ghế đó. Thế là từ nay nhà em đã có bộ bàn ghế mới em thấy vui sướng làm sao. Bộ bàn ghế ấy có màu vàng thẫm, cái màu vàng ong ong chứ không vàng chói trông mới thật sang trọng làm sao. Bộ bàn ghế ấy có bốn cái ghê và một cái bàn. Cái ghế dài nhất được đặt ngang ra dựa vào tường nhà em.Nhìn nó như một ông hoàng trong nhà với dáng hình to lớn và bộ áo vàng hoành tráng sang trọng ấy. Hai chiếc ghế đơn thì vuông vắn hơn nó không dài không hình chữ nhật nhưng cũng có thể dành cho hai người ngồi vào đó. Thật sự rất đẹp, thêm đó là một chiếc ghế nhỏ nữa, không tựa mà chỉ đơn giản là ghế ngồi bình thường thôi nhưng phần dưới vẫn được khắc những nét chạm trổ như những chiếc ghế to khác. Một chiếc bàn ở giữa, hình chữ nhật cao hơn so với ghế ngồi một chút trong nó thật đẹp làm sao. Chao ôi chỉ nhìn thôi là em đã thấy sung sướng hết cả lên rồi.Xem thêm: Kể về một người thân của em (Ông bà, bố mẹ, anh chị...) Những nét chạm trổ trên ghế thật đẹp đó là hình ảnh của những bông hoa trên phần tựa của ghế, những phần hoa ấy được khắc nổi lên trên bề mặt tựa nhưng rất mỏng không khiến cho chúng ta đau mỗi khi ngồi tựa vào đó. Những chiếc ghế tựa khi ngồi còn có hai tay vịn nữa, hai cái chỗ ấy phình ra trông thật đẹp làm sao. Như kiểu ghế dành cho quan lại vua chúa ngày xưa ngồi vậy. Bên dưới những hình còn long con phượng được khắc trên những chỗ tựa cao nhất nhìn những đường nét mềm mại mới thấy được sự điêu luyện của những bàn tay nghệ nhân. Những khúc gỗ to đùng sần sùi như thế mà họ vẫn có thể khắc nên những con rồng con phượng tuyệt đẹp đến như vậy. Nó không cứng nhắc như khúc gỗ mà mềm mại như một con rồng thật vậy. Phần để dựa đầu vào được làm cho mềm mại nhẫn nhụi làm cho ai tựa lên đó cũng có cảm giác dễ chịu và không bị đau đầu. Bộ bàn ghế mới ấy thật sự rất đẹp, nó không chỉ lấp được khoảng trống trong chính căn nhà em mà nó còn mang đến sự sung túc và đầy đủ nữa. Nhìn vào căn phòng khác với bộ bàn ghế mới trong thật sự là đẹp mắt và sang trọng. tối hôm ấy khi ăn cơm xong cả gia đình em ngồi quây quân bên nhau trên chiếc ghế ấy để xem những bộ phim hay. Hình như ngồi trên chiếc ghế ấy em thấy bộ phim hôm ấy hay hơn thấy gia đình có một sự hạnh phúc không hề nhỏ. Thằng em của em không biết chắc là ghế em quá cho nên nó đã ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Nó kê đầu trên đùi mẹ mà ngủ một cách ngon lành. Bố mẹ cùng em ngồi xem hết bộ phim bố không thôi thỉnh thoảng ngắm nghía lại những đường nét trên ghế. Mẹ thì chêu bố và cười thật vui vẻ. Em cảm thấy bộ bàn ghế mới đã gắn kết gia đình em, giúp gia đình em có một không gian thật tuyệt vời và hạnh phúc bên nhau.Xem thêm: Hãy viết đoạn văn ngắn tả trường em trong giờ học
Bài văn tả bộ bàn ghế nhà em lớp 5
681
Đề bài: Em đã từng được tham gia rất nhiều bữa tiệc sinh nhật của bạn bè. Hãy viết bài văn Tả bữa tiệc sinh nhật mà em chứng kiến của một bạn trong số đó. Bạn Lan người bạn thân nhất của em vừa mới tổ chức sinh nhật, bạn ấy mời em tới dự sinh nhật của bạn ấy, em rất vui và đã tới dự. Buổi sinh nhật thật nhiều ý nghĩa khi có sự tham gia của rất nhiều bạn bè trong lớp cũng như thầy cô. Buổi sinh nhật đó diễn ra từ 7h30 sáng tới 10h30 ngày 3 tháng 9, buổi sinh nhật diễn ra trong mấy tiếng đồng hồ, vì vậy có rất nhiều hoạt động diễn ra. Hôm đó bạn Lan mặc một chiếc váy màu hồng trông rất đẹp, bạn còn tết tóc hai bên nữa nhìn bạn hôm đó giống như một cô công chúa vậy. Khi mới tới bạn Lan ra đón em vào nhà khi vào trong em thấy có rất nhiều hoa được trang trí lộng lẫy trong ngôi nhà thân yêu của bạn. Còn có một chiếc bánh Ga Tô thật to và đẹp được đặt ở trên bàn, cùng với rất nhiều hoa quả,… Nhưng đặc biệt hơn cả đó là sự góp mặt của tất cả các thành viên trong lớp đã đên rất đông đủ. Em cũng giúp bạn cắt hoa quả và trang trí thêm cho ngôi nhà và khoảng không gian sinh nhật cho âm áp hơn.Xem thêm: Nghị luận xã hội - Thời trang nói gì Trên những cột nhà chúng em trang trí rất nhiều bóng bay, nó có đầy đủ tất cả các màu, màu hồng, màu trắng, và được trang trí rất công phu, cùng với rất nhiều hoa. Hoa hồng được cắm vào hai lọ được đặt trên bàn uống nước và trên bàn có chiếc bánh gato. Bố mẹ của bạn cũng đang chuẩn bị mọi việc để cho buổi sinh nhật được diễn ra hoành tráng hơn. Khi đến giờ tất cả ngồi xuống và Bạn Lan công bố lý do, tất cả các bạn chúc mừng sinh nhật cho bạn lan và sau đó cắt chiếc bánh gato. Buổi sinh nhật diễn ra thật nhiều ý nghĩa. Em rất nhớ buổi sinh nhật đó, đó là một buổi sinh nhật đầy ý nghĩa, em rất yêu quý bạn Lan.
Bài văn tả bữa tiệc sinh nhật mà em được tham gia
401
Đề bài: Chiếc xe đạp là người bạn trở em trên quãng đường đi học đi chơi. Em hãy viết bài văn Tả chiếc xe đạp của em cho các bạn em cùng nghe. Tuần trước là sinh nhật tôi, tôi vui lắm vì được nhận rất nhiều quà của ba mẹ và cả bạn bè nữa. Qùa nào tôi cũng thích nhưng có lé thích nhất là chiếc xe đạp mà bố mua cho tôi. Đó là một chiếc xe mini màu hồng là dòng xe Việt Nhật. Chiếc xe cao chừng một mét hai bánh xe to. Bố tôi bảo hai bánh xe to như thế thì đạp mới nhanh ma không tốn sức. Tôi thích lắm ngồi luôn len xe đạp thử một vòng quanh xóm. Chiếc xe còn mới tinh và màu hồng trông rất điệu thế nên khi tôi đi ra khỏi nhà là mọi người đều nhìn theo chiếc xe thoáng tại nghe tiếng mấy đứa bé xóm bên khen chiếc xe đẹp quá. Chiếc xe có cái giỏ trắng nhìn rất xinh, trên đó tôi gắn thêm một con gấu bông nhỏ vô cùng dễ dương. Hai cái phanh xe cũng có mùa trắng, tôi buộc thêm vào đò một cái nơ màu hồng nhìn rất là điệ đà không lẫn vào đâu được. Bố trêu tôi xe thì sản xuất nhiều cái nào cũng giống nhau nhưng xe của con gái bố thì không hề giống cái xe nào vì nó được tôi trang trí lên đó đủ thứ màu sắc. Tiếp theo đó là cái chuông, bộ phận này của cái xe làm tôi thích nhất, để mỗi khi sang đường đông thì tôi nhấn chuông cho mọi người biết để tránh. Những lúc như thế tiếng chuông kêu lên kính koong nghe thật vui tai. Mỗi lúc tôi không có ở nhà là thằng em nghịch ngợm lại kéo chuông kêu inh ỏi nó vừa nhấn vừa cười thích lắm.Xem thêm: Em hãy tả một chú lợn hay ăn chóng lớn. Có lần tôi bắt được nó nghịch xe tôi tôi la lên nó vẫn không sợ nó bảo được bố mua cho xe đạp thích thế còn gì cho em chơi chút. Tôi thấy thế nên cũng không mắng nó nữa. Cái yên xe màu ngả bạc khi ngồi lên thì rất êm nhưng tôi lại quá thấp so với cái yên đó nên bố đã phải đi sửa lại cho nó thấp xuống. Tôi cứ lo là khi hạ nó xuống sẽ không còn đẹp nưa nhưng khi bố mang về thì tôi lại hoàn toàn ưng ý, chiếc se không cân đối hơn nhiều nhìn nó thật tương xứng vói chiều cao hạn chế của tôi. Cái ghế ngồi sau xe được làm bằng i nôx trông sáng lắm nhìn rất gọn gàng và cân đối. Cái xích xe không to như xe của mẹ và được chắn bằng một tấm nhựa mỏng nhưng rất cứng. Mẹ tôi trêu chắn như này thì đạp xe không bị rách quần rồi né. Chả là tôi rất sợ đi xe của mẹ vì lần nào đi tôi cũng bị vướng cái quần vài xích xe nên bị rách gấu quần. Chiếc bàn đạp nhỏ nhắn màu tối, nâng bước chân tôi trên mỗi con đường xa. Tôi thích chiếc xe này lắm chẳng thế mà mỗi khi mấy thằng con trai trêu tôi bỏ giấy vụn vào xe tôi tức lắm bắt cho bằng được bọn nó nhặt sạch từng cái một. Mới đi được một tuần thôi mà chẳng biết đi đứng thế nào mà trên xe đã có vài vết xước to nhỏ, tôi xót lắm nhưng bố bảo không sao đâu người không bị sao là được nhưng lần sau đi phải cẩn thận hơn. Chiếc xe có thể nói là một tài sản lớn nhất từ trước đến đến nay của tôi, tôi coi nó như một người bạn đồng hành trên những chặng đường trên mỗi con đường hàng ngày tới trường đến lớp.Xem thêm: Viết đoạn văn tả đom đóm Chiếc xe như một món quà vô giá mà bố đã mua cho tôi, tôi cảm ơn bố rất nhiều vì đã mua cho tôi chiếc xe đạp đẹp đến thế tôi nguyện phải cố gắng học giỏi để không phụ lòng bố mẹ
Bài văn tả chiếc xe đạp của em lớp 5
726
Đề bài: Chim sâu là loài có ích cho khu vườn nhà em. Em hãy Tả con chim sâu đó cho mọi người cùng nghe. “Chíp chíp” tiếng chim non kêu rúi ra rúi rút ngay bên sân vườn cạnh chỗ tôi ngủ. Nghe lã chim gọi mẹ tôi chợt tỉnh giấc gương đôi mắt nhỏ bé ra ngoài cửa sổ. À thì ra lại là mấy chú chim sâu. Trông chúng hôm nay mới đẹp làm sao, nhìn thấy chúng ý ới gọi nhau làm trong lòng tôi cảm thấy muốn bắt đầu ngày mới ngay lập tức. Hôm nay là chủ nhật nên có lẽ vì thế mà mẹ không muốn đánh thức tôi sớm như mọi nhày. Tôi vội bước ra vườn rau để ngắm nhìn chúng được rõ hơn. Tôi đếm hình như có hia con rồi ba con à mà không hình như là cả một đàn chim sâu non. Mắt tôi chợt bừng sáng lên khi ma trông thấy vhungs chen chúc nhau núp ra núp vào trong cái tổ trên cây tre vườn nhà tôi. Để xem nào lũ chim sâu non này trông thật là tuyệt. Chúng khoác trên mình một bộ cánh màu tro hơi nâu tuyệt đẹp. Thân hình chúng mới nhỏ nhắn dễ thương làm sao. Đôi mắt tròn xoe mở to tròn như hai hòn bi và khi nhìn vào mắt chúng tôi có cảm giác như được nhìn thấy cả một thế giới một bầu trời nhỏ bé trong đôi mắt ấy. Chúng có bộ lông trắng muốt, mềm mịn như nhung, mỏ nhọn, màu da người và rất cứng. Cổ chim sâu thon thon, không dài lắm. Người chú mập mạp, căng tròn, nhỏ nhắn như quả xoài. Đôi cánh trắng tuy mềm mại, mỏng manh nhưng cũng đủ làm cho chú có thể bay đi tìm thức ăn và trở về với tổ ấm của mình. Chân chúng, hơi nâu nhỏ hơn chân gà một tí tuy nhỏ nhưng đoi chân ấy lại giúp chú bám rất vững chắc trên những ngọn cây cao mà không lung lay gì. Chúng có cái đuôi dài cong vút xòe ra trông như cái quạt nhìn thật là thích mắt. Đôi khi có một chú đang định bay ra khỏi tổ nhưng lại chỉ xèo đôi cánh ra nhưng lại sợ hãi cụp lại. Chắc là mẹ chúng chưa dạy cho cách bay nên chúng còn thật là chập chững.Xem thêm: Phân tích bài thơ “Bác ơi” của Tố Hữu và nói lên cảm nghĩ của em Có lúc chúng ríu ra rít rít rúc mỏ vào nhau như đang nói chuyện có lúc lại hót vọng lên như đang gọi mẹ sao vãn chưa về. Tôi để ý xuống vườn rau thì thấy có một con chim mẹ đang rạch từng kẽ lá để bắt những con chim sâu. Chắc hẳn đó là mẹ của những con chim sâu kia. Nhìn nó miệt mài bắt sâu làm mồi mớm cho can mà tôi thấy thật cảm động. Rồi nó bỗng bay vút lên cao rồi sà xuống tổ nơi mà những con chim non đang đợi mẹ về. Thế là thấy mẹ lề chúng sà vào mẹ con nào con đấy há mồm thật ta rồi kêu ý ới. Mẹ nó thấy thề liền đưa cái mỏ của mình ra mớm cho mỗi con một con sâu béo ú ụ. Tô chả hiểu tại sao mà cái mồm của nó nhỏ bé như thế mà chưa được rất nhiều con sâu bự, thế là chỉ một loáng sau con nào cũng được chim mẹ mớm sâu cho. Ăn no chúng lại sà ngay vào lòng mè. Chim mẹ cũng sải đôi cánh to của mình ra ôm lấy các con bé nhỏ của mình. Chắc là bọn chim con nhớ mẹ mình lắm chả thế mà con nào cũng tranh nhau rúc vào mẹ, thỉnh thoảng con chim mẹ lấy cái mỏ của mình rỉa lông cho từng con một. Bọn chúng thích lắm con nào con đấy tranh nhau đòi mẹ rỉa lông cho.Xem thêm: Tả quang cảnh xung quanh lúc cơn mưa vừa tạnh lớp 5 Tôi mải mê ngắm lũ chim sâu như đang bị thôi iên bởi vẻ đẹp và sự đáng yêu của chúng vậy. Bỗng tôi giật mình khi nghe tiếng gọi của mẹ. Tôi giật mình quay lại thì ra mẹ mới đi chợ về. Tôi vội sà vào lòng mẹ như lũ chim sâu kia và thấy thật hạnh phúc và ấm áp khi vẫn luôn có mẹ. Tôi đi vào trong nhà để lại sau lưng là tiếng hót trong trẻo vui tai của lũ chim sâu. Tôi yêu chúng lắm không phải là do tiếng hót trong trẻo vui tai của chúng mà còn bởi vì chúng chính là một thiên địch của nhà nông giúp nông dân hạn chế được sự phá hoại của sâu bọ
Bài văn tả con chim sâu lớp 5
824
Đề bài: Em hãy viết bài văn tả cái bàn học ở nhà của em cho các bạn trong lớp cùng nghe. Nhân dịp sinh nhật bố em đã tặng em một món quà hết sức đặc biệt đó là một chiếc bàn học rất xinh xắn. Chiếc bàn học đó được thiết kế rất công phu, nó chông rất gọn và kích thước của nó nhỏ. Nó có 4 chân và cái bàn học có 4 chân thật vững chắc. Nó được sơn màu trắng bạc và gồm có 4 ngăn. Chiếc bàn đó được thiết kế cho 1 người ngồi học, trên bề mặt của nó rất nhân, và được các bác thợ mộc thiết kế rất đẹp nhẫn nhụi. Bề mặt của nó rộng khoảng 20 cm. Mỗi khi em ngồi học em lại ngồi ngắm chiếc bàn học đó, nó là cái bàn rất đẹp, tuy đơn sơ nhưng nó rất đẹp. Em rất trân trọng chiếc bàn học đó, em bảo vệ và giữ gìn nó rất nhiều không bao giờ em viết lên nó, em coi nó là người bạn cùng học tập với em. Nó giúp em ngồi học ngay ngắn và viết ra những nét chữ ngay ngắn. Em rất thích chiếc bàn học mà bố em đã tặng em nhân ngày sinh nhật của em, nó là người bạn đồng hành cùng em trong thời học sinh thơ ấu của mình. Xem thêm: Tả con vịt lớp 4
Bài văn tả cái bàn học ở nhà của em lớp 4
242
Đề bài: Hàng ngày đi học em được ngồi trên chiếc bàn thân yêu. Hãy viết bài văn Tả cái bàn học ở trường đó cho mọi người nghe lại. Trường là nơi em cắp sách tới trường để học tập tri thức sau này để trở thành người có ích cho xã hội, chiếc bàn học ở trường là người bạn giúp cho em học tập tốt hơn. Cái bàn học có 4 chân thật vững chắc. Nó được sơn màu vàng, và gồm có 4 ngăn. Chiếc bàn đó được thiết kế cho 4 người ngồi học. Trên bề mặt của nó rất nhẵn và được các bác thợ mộc thiết kế rất đẹp. Bề mặt của nó rộng khoảng 30 cm. Mỗi khi chúng em cắp sách tới trường là chúng em ngồi khoanh tay trên chiếc bàn học đó. Nó giúp chúng em ngồi viết bài và chiếc ngăn bàn còn giúp em đặt cặp sách của mình. Chúng em rất trân trọng chiếc bàn học đó, các bạn trong lớp cũng rất có ý thức bảo vệ chiếc bàn đó. Không bao giờ các bạn viết hay bôi bẩn lên bàn,vì vậy cả lớp bàn học nào cũng rất mới cho dù nó đa được đóng từ rất lâu rồi. Em rất yêu quý chiếc bàn học ở trường nó là người bạn gắn bó với em trong quãng đường cắp sách tới trường, em rất trân trọng nó. Xem thêm: Soạn bài Tấm lòng người thầy thuốc
Bài văn tả cái bàn học ở trường em lớp 4
248
Đề bài: Chiếc thước kẻ đã giúp em rất nhiều trong học tập. Em hãy viết bài văn tả cái thước kẻ của em đang dùng cho các bạn cùng nghe. Vào đầu năm học mới mẹ mua cho em rất nhiều đồ dùng học tập mới. Sách, vở, cặp, bút…và nhiều đồ dùng quý giá, em rất thích chúng, trong đó có em thích nhất là chiếc thước kẻ mẹ tặng. Chiếc thước kẻ dài 30cm, được làm nguyên liệu từ nhựa mi-ca. Nó có màu trong suốt còn rất mới và long lanh. Chiếc thước kẻ này giúp đỡ em rất nhiều trong môn toán. Được nhà sản xuất in phun khoảng cách đo rất rõ nét màu đen đậm và hằn không bị mờ theo năm tháng. Đó là điều mà em rất thích và yêu quý chiếc thước kẻ này. Mặc dù trông nó rất giản dị không lòe loẹt như những chiếc thước của các bạn nhưng ai cầm vào cũng đều khen đẹp và cũng thích mượn nó khi học toán. Đó là điều em cảm thấy vui và phấn khởi khi moi người mượn nó. Lúc đó em luôn thầm cảm ơn mẹ thật tuyệt vời khi đã tìm được cho em một người bạn đồng hành hữu ích trong học tập. Em rất yêu quý nó. Và sẽ giữ gìn cẩn thận chiếc thước kẻ xinh xăn mà mẹ tặng cho. Xem thêm: Tả về chiếc bảng con của em
Bài văn tả cái thước kẻ của em
243
Đề bài: Bác trống là người làm việc cần mẫn và đúng giờ nhất trường em. Em hãy viết bài văn tả cái trống trường em cho gia đình em cùng nghe. Trường học giống như một ngôi nhà thứ hai của em vậy. Nơi ấy không chỉ có những người thân là bạn bè, thầy cô, từng chiếc bàn từng góc lớp, rồi cặp sách, bút mực,phấn trắng bảng đen. Tất cả những thứ ấy đã làm cho cuộc sống trong ngôi trường hay chính là ngôi nhà thứ hai này thật sự đẹp. Tuy nhiên còn một vật không thể nào không nhắc đến đó là cái trống trường. Trống trường em giống như chiếc đồng hồ báo thức vậy, nó vang lên mỗi khi vào lớp, sau đó lại vang lên để báo hiệu giờ ra chơi kết thúc. Nó có ý nghĩa rất lớn đối với ngôi trường này. Trống trường to lắm, nó có hình dạng rất kì lạ, ở giữa trống phình to ra như bụng một bà chửa sắp đến ngày đi đẻ. Ở hai đầu thon gọn lại và được bao bọc bởi một lớp da trâu hay da bò gì đó. Điều đặc biệt là nó rất nhẵn và rất màu thâm tím gì đó.Thân to, hai học sinh nối tay nhau mới ôm đủ một vòng quanh trống. Nó được nằm trên chiếc giá đánh trống của nhà trường. Hình bầu trống to to ở giữa có màu vàng hay thêm một ít màu đỏ trông rất đẹp.Thân trống được ghép từ các mảnh gỗ chắc chắn sơn màu đỏ thắm, phình to ở giữa. Chỗ ấy được gọi là bụng trống. Bao quanh bụng là một đai mây bện xoắn vào nhau, lớn bằng ngón tay cái. Nhìn từ xa trống như được mang chiếc thắt lưng giản dị.Xem thêm: Tả con đường từ nhà đến trường Trống vốn dĩ được thầy hiệu trưởng đánh một hồi dài để báo hiệu một mùa khai trường nữa lại đến. Đâu đấy âm vang “ tiếng trống trường rộn rã làm tan cái nắng hè dịu đi những tiêng ve còn vương trên vòm cây xanh lá”. Làm sao có ai quên được tiếng trống trường khi bắt đầu năm học mới, trống sau bao lâu nghỉ ngơi nó vui sướng như được người ta gõ vào mình. Có lẽ bởi thế nên âm thanh nó vang động rộn rã đến thế. Nhưng bây giờ khi vao năm học thì những tiết học kết thúc được chính bác bảo vệ thay hiệu trưởng gõ vào chiếc trống ấy. Em thấy yêu nó bởi nó giống như chiếc chuông báo thức giống một chú gà trống ở trường em. Vui làm sao khi một giờ học mệt mỏi vang lên những tiếng trông ấy làm cho mỗi người học sinh thấy tươi tỉnh hơn khi được ra chơi hay về nhà.
Bài văn tả cái trống trường em lớp 5
485
Đề bài: Thả diều là trò chơi gắn liền với các bạn nhỏ ở quê. Em hãy viết bài văn Tả cánh diều tuổi thơ em hay chơi cho các bạn cùng nghe. Tuổi thơ của em gắn với những cánh diều quê hương, nó là người bạn của em trong những buổi chiều khi đi thả trâu. Chiếc diều của em do bố em làm cho, nó được bố em sơn màu trắng và đuôi của cánh diều được sơn màu đỏ để nhận biết. Chiếc diều được bố em làm từ tre của nhà, vì vậy nó rất chắc. Bề ngoài chiếc diều được bọc bằng những giấy ni lông, chiếc đuôi của diều thì được làm rất dài khi lên cao nó vẫy chông rất đẹp. Chiếc diều đó được làm rất lớn vì vậy phải cỡ tầm 2 người khiêng mới được. Mỗi buổi chiều khi đi thả trâu em với bạn gần nhà lại rủ nhau thả diều, em là người cầm dây, bạn là người cầm diều và chạy để cho chiếc diều bay lên. Những lúc không có gió chúng em rất muốn thả diều nhưng lại không lên được, có những ngày chiều mùa hạ có nhiều cơn gió lớn chúng em lại thả diều và tiếng sáo được thiết kế trên chiếc diều kêu vi vu, nó vang vong trên không trung. Khi lúc đậu gió có khi em còn cho nó đỗ đêm, và đến sáng hôm sau em mơi cho nó xuống, những thời gian thả diều thật tuyệt vời nó gắn liền với thời niên thiếu của em.Xem thêm: Thiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận Em rất yêu quý cánh diều tuổi thơ, nó là những trò chơi bổ ích của em trong thời tuổi thơ.
Bài văn tả cánh diều tuổi thơ của em lớp 4
298
Bài văn tả cây bàng trường em Hướng dẫn Bài văn viết của em tả cây bàng trường em hôm nay đã đạt điểm rất cao trong bài tập làm văn mà công giáo phân công bài tập cho lớn, em xin đưa ra đây để các bạn tham khảo nhé. Trước ngõ nhà em có một cây Bàng. Cây Bàng này do Bố em trồng, có lẽ nó cũng xấp xỉ tuổi em. Từ lâu cây Bàng đã gắn bó với em như một người bạn thân thiết. Trải qua bao nắng, mưa, gió, bão… nhưng cây Bàng vẫn hiên ngang đứng đó: Xanh tươi và lớn lên theo thời gian. Dáng cây hơi nghiêng. Thân cây to và thẳng, vỏ cây xù xì và có màu nâu sẫm, cành Bàng to, vươn dài, lá Bàng trông như những bàn tay đang vẫy, lấp ló ẩn hiện những chùm quả. Mùa thu đến, những chiếc lá xanh mướt chuyển dần sang màu đỏ tía. Mỗi cơn gió heo may thoảng qua làm những chiếc lá khẽ đung đưa, đung đưa. Gió bấc tràn về, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt của Mùa đông. Luồng gió dường như mạnh hơn, cuốn theo cả những chiếc lá còn sót lại cuối thu. Cây Bàng chỉ còn lại những cành khẳng khiu trong giá rét. Tuy vậy khi nhìn nó, ta vẫn cảm nhận được sự tiềm ẩn của một sức sống mãnh liệt. Khi những hạt mưa bay lất phất báo hiệu mùa xuân về, cây Bàng như được hồi sinh, từ đầu cành những búp non thi nhau đâm chồi nảy lộc. Những chú chim nhỏ nhảy nhót đùa vui theo vũ điệu bất tận của Mùa xuân. Xem thêm: Tả một nữ ca sĩ đang biểu diễn Những trưa hè, em và các bạn thường ngồi chơi dưới tán lá Bàng. Chúng em nhặt những chiếc lá Bàng rơi làm những chiếc “mũ đội đầu”, những chú “nghé con” ngộ ngĩnh và cả những chiếc “vương miện” xinh xắn nữa. Trong ký ức của em, kỷ niệm về cây Bàng cùng những người bạn nhỏ trong ngõ xóm là những gì thân thương nhất! Em chưa bao giờ nghĩ rằng, cây Bàng sẽ rời xa tuổi thơ của em. Thế rồi một hôm đi học về, em thấy các chú công nhân của Công ty Môi trường Đô thị đến để chặt cây. Em ngạc nhiên không hiểu vì sao nên đến gần để hỏi. Một chú trả lời: ” sắp đến mùa bão rồi, các chú chặt đi đề phòng bão làm đổ cây”. Em đứng như chôn chân xuống đất, lặng người đi nhìn cây bàng đang bị chặt dần những cành đẹp nhất, cho đến lúc cây Bàng chỉ còn trơ lại gốc… Mất cây Bàng, em như mất đi một người bạn đã lớn lên cùng em, vui chơi cùng em, chứng kiến bao chuyện vui buồn của em và các bạn… Nhưng rồi thời gian trôi đi, nỗi nhớ cây Bàng trong lòng em cũng nguôi ngoai dần, học tập bận rộn khiến em cũng không còn nhiều thời gian để nghĩ đến cây bàng nữa. … Cho đến một buổi chiều, mưa xuân lất phất bay, em đang ngồi học bài bên cửa sổ, bất chợt em nhìn ra cổng, nơi có cây Bàng thân thương. Những chồi non đang nhú lên từ gốc cây xù xì cằn cỗi. Một sự sống mới lại bắt đầu hồi sinh! Kỷ niệm về cây Bàng sẽ còn đọng mãi trong tâm trí em. Giờ đây em còn có thêm một niềm vui nho nhỏ là được chăm sóc những mầm non mới được hồi sinh kia. Em hy vọng trong một thời gian ngắn nữa, các em nhỏ sẽ lại được đùa vui dưới tán lá Bàng Nguồn: thêm: Soạn bài: Tập đọc Thầy thuốc như mẹ hiền
Bài văn tả cây bàng trường em
640
Đề bài: Trong vườn có rất nhiều loại cây trái đang ra quả trong đó có cây chuối. Em hãy viết bài văn tả cây chuối đang có buồng ở vườn nhà em cho các bạn trong lớp cùng nghe. Trong khu vườn nhỏ nhắn nhà em hiện hữu duy nhất một cây chuối, cây chuối ấy đã sống ở đó mấy năm rồi nhưng bây giờ nó mới đủ lớn. Có thể thấy rằng chính những sương gió nắng mưa kia làm cho nó lớn lên như thế. Và bây giờ khi thật sự là một cây chuối trưởng thành thì nó mới cho ra những buồng chuối. Buồng chuối thật sự dày thì đó mới buồng đẹp. Cây chuối nhà em cũng giống như bao cây chuối khác, thân của nó mềm màu nâu tím, khi bóc những vỏ bên ngoài ra thì bên trong có màu trắng. thân nó mềm cho nên em chỉ cần chọc một cái que vào nó cũng ứ nước ra. Đó chính là nhựa chuối, nhựa chuối khi mà chúng ta vô tình chạm vào quần áo ta thì thật sự rất khó giặt sạch được. cây chuối cao tầm hai mươi đến ba mươi mét. Những tán lá rộng và rất to màu xanh non của nó trông rất đẹp. đó là sự tượng trưng cho màu xanh tươi trẻ của tự nhiên và cuộc sống này. Những chiếc lá xõa ra bốn bên cân xứng đều nhau trông thật thích mắt, nó làm nên một sự hai hòa về đường nét. Không những thế những lá chưa xòe ra được nó mở, như thì thầm hé lộ điều gì, cái màu xanh của nó xanh hơn cả những lá kia. Tàu lá chuối xanh mơn mởn thật tuyệt vời.Xem thêm: Phân tích nhân vật Ông lão đánh cá trong tác phẩm Ông Lão Đánh Cá và Con Cá Vàng. Điều đặc biệt ở đây là cây chuối đang có buồng, những buồng chuối to như những quả dài bám lấy nhau như thân thiết quấn quýt nhau lắm. Buồng chuối có khoảng tầm mười nải những nải chuối ấy chắc nịnh, màu xanh mượt mà nó đang ngày một lớn lên và to ra. Chính vì thế mà cây chuối bị nghiêng sang một bên như sắp đổ. Thế mới thấy được sức nặng của buồng chuối kia. Hình quả chuối giống như hình em bé Cu tai trên lưng mẹ vậy, nằm lệch đầu và ngủ một cách ngon lành. Những quả chuối được gắn chung một nải sát sin sít vào nhau như anh em đoàn kết lắm. nếu mà có vặt một quả xuống thì nó cũng chảy ra một ít nhựa. Em cảm tưởng rằng đó như là giọt nước mắt của chính những quả chuối anh em nó đang khóc nó. Nhà em đã phải lấy gậy để chống vực cây chuối ấy lên để cho nó không đổ. Như vậy có thể thấy sức sống của nó thật tuyệt vời, cây chuối cũng đi vào thơ ca vô cùng đẹp, đó là bài thơ cây chuối của nhà thơ Nguyễn Trãi. Và khi những nải chuối kia sẽ chín và mang đến cho nhà em một thức quả ngon lành.
Bài văn tả cây chuối đang có buồng trong vườn nhà em lớp 5
542
Đề bài: Nhà em có rất nhiều cây ăn quả, em hãy viết bài văn tả một loại cây mà em thích. Bài văn Tả cây xoài nhà em của một bạn học sinh tại Hà Nội. Mỗi nhà có những cây cối khác nhau và nha em thì cũng thế. Trong khu vườn xinh đẹp nhà em có rất nhiều loại cây cối, nào cây rau mẹ trồng, cây cải đang ra hoa, cây chanh nho nhỏ, năm vừa rồi nó cung cấp chanh cho cả mùa rau muống nhà em. Nhưng em thích nhất cây xoài, vì nó to nhất tỏa bóng mát lớn là chỗ để cho em có thể vui chơi mỗi khi nắng hè đến. Đồng thời nó còn mang đến những quả xoài cát vàng ngọt lịm. Cây xoài nhà em cao khoảng tầm mười mét, vì nó là cây xoài lùn nên nó thấp hơn so với những cây xoài bình thường và nó còn tỏa bóng lá rộng hơn nữa. thân nó chia ra làm nhiều cành nhánh nhỏ chứ không dựng đứng một cành như cây xoài nhà hàng xóm. Cây nhà em rất dễ chèo vì thế nên em hay chèo lên đấy mỗi buổi chiều ngồi ăn một thứ gì đó và hát vu vơ, nhiều lúc gió buổi hoàng hôn đến mát mẻ khẽ đùa giỡn trên mái tóc em. Em thấy thích lắm và em hát to hơn và hay hơn. Lúc ấy những cành xoài cũng đung đưa như lắc lư theo điệu nhạc em hát. Cây xoài gắn với tuổi thơ của em vì khi còn rất nhỏ em đã chơi ở đó rồi. Chẳng biết từ bao giừ nhưng khi em có mặt trên cuộc đời này thì cây xoài đã đứng ở đó, tỏa bóng xum xuê mát rượi.Xem thêm: Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, em viết đơn gửi Ban Giám hiệu nhà trường xin được miễn giảm học phí Cây xoài ấy có rất nhiều cành con nên cũng rất nhiều lá. Những chiếc lá màu xanh đậm ở dưới còn những chiếc lá non màu xanh nhạt ở trên. Lá non mỏng và dễ rách hơn lá già. Em thích ngắm nó lắm, làm gì dù chơi hay làm em cũng mang ra ngồi ở gốc cây với cái bóng mát đó. Đến mùa hoa xoài nở, những bông hoa nhỏ li ti thành chùm trông đẹp lắm. Đến khi những quả con mọc ra nhìn chúng nhỏ nhắn dáng yêu lắm. có lúc em còn ngặt chúng ăn thử, mẹ em toàn mắng xoài mới nhú mà vặt ăn rồi. nhưng mà mùi vị của nó thật lạ, chan chát, chua chua. Đến khi những quả sai to ra sai lắc sai lư ra trông như những cái tú dẹt lúc lắc trên cây vậy. thường thì những quả ở dưới sẽ bị em vặt ăn xanh, vì xoài ngọt nên ăn xanh nó cũng rất ngọt. Và thế nên những quả để được chín thường là ở bên trên. Khi chín màu nó vàng mọng vỏ ngoài căng ra mềm mềm chỉ cần lấy móc tay lột vỏ là cũng có thể ăn được mà không cần đến dao. Những ngày mưa đến, cây xoài như được tắm gội sạch sẽ, những hạt bụi mờ lá đã được những giọt nước mưa cuốn đi. Thân cây chuyển sang màu nâu ướt trong nổi hơn thường ngày. Những chiếc lá sạch bụi xanh tươi đẹp đẽ làm sao. Không kể những hạt mưa còn sót lại trên lá bắt đầu nhỏ từng giọt xuống thật thích thú. Những hạt nước trên lá chảy từ từ ra đầu lá ngưng đọng một lúc ở phần đầu lá nhọn nhọn đó rồi như muốn níu kéo, như chưa muốn rơi mình xuống đất mà như lôi lôi kéo kéo được vài giây thì thấm xuống đất.Xem thêm: Tuần 8: Chính tả Kì diệu rừng xanh Em thích cây xoài nhất vì nó không những mang đến bóng mát cho tuổi thơ em vui đùa mà nó còn mang đến những quả xoài căng mọng ngọt ngào nữa.
Bài văn tả cây xoài nhà em lớp 5
692
Đề bài: Trong vườn nhà có nhiều loại cây. Em hãy viết bài văn Tả cây đu đủ nhà em cho các bạn cùng lớp cùng nghe. Khu vườn nhà em có rất nhiều loại cây, nào cây na, cây ổi, cây mít nhưng cây em thích nhất vẫn là cây đu đủ vì nó là kỉ niệm duy nhất để em nhớ về ông. Ông em đã mất rồi nên em không còn được nhìn thấy ông nữa, em chỉ biết rằng cây đu đủ này chính là do ông em trồng nên. Ông phải đi mua hạt giống tận một nơi xa khác để về ươm lên thành một cây đu đủ to lớn như bây giờ. Cây đu đủ nhà em không cao lắm chừng khoảng hai mét thôi, cành lá của nó trông rất đặc biệt. Em yêu nó rất nhiều và cũng nhớ đến ông rất nhiều. Thân cây đu đủ không to đùng như cây ổi, cây mít, không có nhiều cành nhiều trẽ như cây na mà nó chỉ có một thân cây duy nhất, nó nhỏ hơn những thân cây kia rất nhiều, thân của nó chỉ nhỏ khoảng hai nắm tay người lớn phần gốc của nó phình to hơn. Đến phần ngọn thì chúng nhỏ dần lại, càng lên ngọn lại càng nhỏ. Thân của nó có những vằn vằn mờ mờ ngang thân cây. Cành lá của nó cũng rất lạ so với những cành lá khác. Nó rất ít cành và cành của nó cũng rất nhỏ, những cái cành như những cánh tay dài thẳng tắp mà nhỏ búp măng đẹp như tay của một cô gái xinh đẹp. chiếc lá của nó rất lạ,hình lá không giống với bất kì một cây nào. Những chiếc lá mang to nhưng lại chia thành những phiến lá nhỏ hơn trông thật là, nó giống như bàn tay của một người nông dân lực điền tuy nhiên lại rất mỏng. Đôi lúc nhìn nó giống như những cánh quạt của những bậc vua quan của những triều đại thời xưa. Lá đẹp nhất khi sương sớm đến, những hạt sương vương đầy trên những chiếc lá như làm nó tươi xanh đẹp hẳn lên. Những hạt nước nhỏ không làm cho lá thấm nước, cứ dính đầy trên đấy đợi nắng đến mới chịu rời khỏi lá cây theo nắng bay đi. Những ngày mưa chiếc lá nghiêng xuống cho dòng nước chảy xuống đất, đên khi mưa tạnh rồi còn vài hát vẫn cố níu kéo mà bám vào chiếc lá nhỏ từng giọt ti tách chậm rãi.Xem thêm: Miêu tả một cảnh đẹp mà em đã gặp trong mấy tháng nghỉ hè (có thể là phong cảnh nơi em nghỉ mát, hoặc cánh đồng hay rừng núi quê em) Những mùa quả đến những quả xanh ngon mọc bám thành chùm trên thân cây của đu đủ. Khi chín nó có màu vàng, bổ ra có những hạt đen mềm nhìn như những hạt vòng vậy. đặc biệt khi ấy đu đủ mềm và mát ngon lắm. Em thấy yêu thêm cây đu đủ nhà em, nó không những mang đến những quả trái cây ngọt lành mát dịu, không những làm đẹp cho khu vườn xinh tươi nhà em mà còn giúp em nhớ về ông.
Bài văn tả cây đu đủ lớp 5
555
Đề bài: Trời đổ cơn mưa rào bất chợt làm cảnh vật thay đổi rất đẹp. Em hãy viết bài văn tả cơn mưa rào mùa hạ đó cho các bạn cùng lớp em nghe. Tôi đang ngồi rổ tóc trắng cho bà ở ngoài sân thì bỗng nhiên những áng mây đen kéo đến. Bà tôi nói cơn mưa sắp kéo đến rồi, tôi hỏi bà tại sao bà biết, bà khẽ mỉm cười nói rồi con sẽ thấy thôi. Liền đó bà đọc những câu ca dao mà bà vẫn thường ru tôi khi con bé tí: “ cơn đằng đông vừa trông vừa chạy, cơn đằng nam vừa làm vừa chơi”. Tôi còn nhỏ lắm vẫn chưa biết xác định đâu là đằng động và đâu là đằng nam, chỉ biết rằng hướng mặt trời mọc là hướng đông nhưng nhìn nó cứ chênh chếch. Bà khẽ cười dốt lắm con ạ, rồi hai bà cháu đi vào trong nhà. Chẳng bao lâu cơn mưa ngập đến nhanh chóng, những hạt mưa rơi lả tả rồi rào rào như trút nước. trời sầm xì đen tối như tức giận ai hay nó giống như một thần chết đang đến bắt đi một người. Trông trời đen ngòm đến đáng sợ, thế như mưa càng rơi nhiều thì trời lại càng sáng hơn. Những hạt mưa đua nhau rơi xuống lộp độp rồi lại ào ào. Âm thanh ấy át hết đi cả tiếng tôi đang hát, tôi hát vì tâm trạng thoải mái đến nhường nào khi cơn mưa đến xóa tan đi những oi bức nóng bực của ban ngày. Gió thổi vào mát rượi cảm giác thật khoan khoái biết bao. Tôi khẽ nhìn lên trời cao đoán xem hạt mưa rơi từ độ cao nào. Nhưng mà chẳng thấy gì ngoài một màu trắng của mây, chẳng nhìn thấy mưa đâu chỉ biết rằng chúng cứ rơi tí tách rồi lại lộp đột chốc chốc lại ào ào như đổ vỡ như trút giận lên ai đó. Mưa rơi nhiều thì thấy những dòng nước trên sân chảy lênh ra cổng cứ như thế những làn nước nhỏ chảy nhanh đến khi nào hết mưa thì thôi. Trên sân những chỗ mưa rơi xuống bắn ra những bọt nước tung tóe thật đẹp mắt, nhìn chúng giống như những bong bóng nước mà tôi vãn thường nghịch hằng ngày. Một bóng nước, hai bóng nước rất nhiều bóng nước đang bắn ra và tôi cảm thấy thích thú về điều đó. Mưa làm ướt sân đỏ lên màu của gạch, trông sân rực rỡ và bóng hơn bao giờ hết.Xem thêm: Hãy kể lại một trận đá bóng giao hữu giữa đội bóng lớp em và một đội bạn Không chỉ thế mà cơn mưa rào còn đẹp khi thấy những giọt nước chảy trên mái nhà đang đua nhau chảy xuống sân giống như những thác nước nhỏ. Khắp các mái nhà, khắp các mái che nhà lớn nhà dưới từng dòng nước chảy xuống tôi thích thú hứng tay ra đón lấy những tia nước đó. Nó bắn tung tóe bắn cả vào mặt mát rượi. có vẻ như mưa cũng đang thích chơi với tôi thì phải, những hạt mưa trên tay thật long lanh trong sáng làm sao. Riêng tôi khi nhìn thấy những dòng nước chảy đều nhau như thế tôi thấy giống như đang xem nhạc nước ở một khu trung tâm thương mại lớn. nếu như ở trung tâm thương mại có nhiều kiểu nước lả lướt thì nhạc nước ở nhà tôi là cơn mưa rào mùa hè. Những dòng nước ấy chỉ chảy theo một kiểu nhưng lại rất hấp dẫn bọn trẻ con chúng tôi. Và khi ánh áng của buổi nhạc nước đó là ánh sáng của trời cao và ánh sáng cảu những tia sét tia chớp hồng hồng thỉnh thoảng lại chớp lên sáng lóa hồng hào cả một khoảng trời. Cơn mưa rào ấy kéo dài được tầm mười lăm hai mươi phút thì hình ảnh của chiếc cầu vồng rực rỡ hiện lên nền trời. bà nói bởi vì ngày nắng quá nên giờ nó mới mưa to. Tôi ngỡ ngàng không hiểu tại sao thì bà nói hãy học tiếp lên thì sẽ hiểu được cháu yêu à. Tôi nhìn những giọt nước còn xót lại trên các mái đang nhỏ từng giọt chậm rãi mà lòng thắc mắc không hiểu. cơn mưa để lại cho tôi nhiều cảm xúc khó tả và mưa không chỉ rơi ngoài trời mà nó còn rơi trong chính lòng tôi. Những giọt mưa của hồn nhiên ngây thơ và vụng dại, những giọt mưa vui vẻ như chính tôi đây.Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Ca dao về lao động sản xuất
Bài văn tả cơn mưa rào lớp 5 hay nhất
807
Bài văn tả cảnh bình minh buổi sáng trên biển Hướng dẫn Sáng sớm, khi mặt trời chưa ló dạng, mặt biển như chìm trong một khối sương mù đặc quánh. Đâu đó vài chú chim hải âu chao liệng trên mặt biển để tìm mồi. Dần dần mặt biển sáng hẳn lên, một vệt hổng rạng lên ở chân trời. Mặt biển lấp lánh như có những viên kim cương tỏa sáng. Rồi một khối tròn to và đỏ từ từ nhô dần lên khỏi mặt biển. Vạn vật như bừng tỉnh, mặt biển mỗi lúc một xanh hơn. Ngoài khơi những chiếc tàu đánh cá đang di động trên mặt biển mênh mông trông nó chỉ nhỏ như một thứ đổ chơi của trẻ em. Thỉnh thoảng những con sống bạc đầu cao chừng hai mét cuồn cuộn đẩy nước xô bờ tung bọt trắng xóa. Bãi biển là một dải cát vàng chạy dài tít tắp. Vào các ngày thứ bảy, chủ nhật, khách ở thành phố đến tắm biển rất đông. Trên bãi cát phẳng lì, những chiếc dù xanh, đỏ được cắm la liệt, nhìn từ xa trông chúng giống như những chiếc nấm khổng lổ. Khách du lịch phất phơ áo vàng, xanh, đỏ như đàn bướm lượn, tiếng nói chuyện, tiếng reo hò cùng với tiếng sóng biển tạo cho không khí ở bãi biển nhộn nhịp và sống động hẳn lên. Biển quả thực rộng lớn. Đứng trước biển, con người dường như bé nhỏ hẳn đi. Biển không những đẹp, biển còn chứa đựng cả một kho của cải quý báu và rất nhiều điều bí ẩn. Tôi tự hào về miền biển quê tôi. Hỡi các bạn hãy đến thăm cảnh biển đẹp của quê tôi nhé! Nguồn: thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Hoa xuân
Bài văn tả cảnh bình minh buổi sáng trên biển
303
Đề bài: Hoàng hôn trên quê hương là khoảnh khắc đẹp và đáng nhớ. Em hãy viết bài văn Tả cảnh hoàng hôn quê em cho mọi người cùng nghe. Quê tôi được biết đến là một vùng quê có bãi cát rộng nhất nhì đồng bằng sông hồng. Những buổi chiều chúng tôi thường ra đây để nghịch cát và ngắm nhìn cảnh vật bên sông. Nhưng thích nhất vẫn là những ngày trở về muộn hơn một chút đó cũng là lúc lũ trẻ chúng tôi rủ nhau đi ngắm hoàng hôn trên con sông quê. Khi mà nhưng con gió mùa hạ đã bắt đầu thổi mạnh hơn, bầu tròi cũng không còn sáng như buổi chiều nữa, đó cũng là lúc mà những tia nắng đã bắt đầu tắt dần, tới điểm đó trên một vùng quê nghèo khó không còn ồn ào náo nhiệt như ban chiều nữa mà một không gian đã dần vắng lặng hơn. Đó cũng là lúc hoàng hôn dần buông xuống. Khi đó chúng tôi mỗi đứa chọn một chỗ cho mình để cùng nhau gắm nhìn hoàng hôn. Khi ấy bầu trời dần chuyển sang một màu đỏ cam rất trong và đệp một cách huyền áo. Ấy cũng là lúc những đám mây trong xanh đang dần dịch chuyển nhường chỗ cho hoàng hôn xuất hiện. Những đứa trẻ tinh nghịch chúng tôi còn chế ra cả một cuộc đối thoại giữa những đám mây khi hoàng ôn sắp xuất hiện. Và chỉ một thời gian nhắn ngủi sau đó cả bầu trời chuyển sang một màu đỏ nhạt trông vừa thực vừa hư nhìn rõ màu ở chính giữa đậm như màu máu và nhạt dần sang hai bên. Một cảnh tượng huyền ảo đẹp đến lạ thường hiện ra trước mắt chúng tôi.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Bên kia sông Đuống: Bên kia sông Đuống... Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ Đó là cảnh là chúng tôi hằng ao ước ngày nào cũng được ngắm nhìn như thế này. Bầu tròi mỗi lúc càng đỏ thêm, màu đỏ ấy càng được ran ra rộng hơn và cũng là lúc mà màn đêm đang dần buông xuống. Ánh sáng nhỏ đó khiến chúng tôi trông rõ hơn những chiếc cano với những âm thanh ầm ĩ đang chở những chuyến cát cuối cùng về đất liền. Chúng tôi nhìn thấy thấp thoáng có khoảng ba bốn chiếc cano như thế nối đuôi nhau về bến Tiếng cano mỗi lúc một gần chúng tôi còn trông thấy màu đỏ của hoàng hôn in dần xuống nước lăn tăn theo tiếng nổ của những chiếc cano. Bọn trẻ chúng tôi trêu nhau gọi đó là một biển máu. Lúc này những chiếc cano đã lặng yên trên bến, dòng sông lại trở về với những thứ vốn thuộc về nó, đó là cảnh tượng lặng lẽ của dòng sông, dòng sông như đang trở về với giấc ngủ sớm của nó. Thỉnh thoảng những cơn gió mát lạnh làm cho mặt nước lại gợn những cơn sóng lăn lăn nhìn thật đẹp. Nhìn cảnh hoàng hôn tâm hồn ta có cảm giác hoàn toàn thư thái bình yên đến lạ thường. Phía bên kia sông là những người đi bắt cáy ở những hang đá ven sông, họ đang bắt đầu gọi nhau í ới ra về. Người này gọi người kia hỏi hôm nay có thu hoạnh được nhiều không làm cho không gian vốn đang tĩnh mịch trở nên ồn ào hẳn lên. Nhưng chỉ một lúc sau không gian tĩnh mịch lại trở về với dòng sông. Lúc này dưới sông đã in hình của bóng tối, khi ấy cũng là lúc chúng tôi phải về, hoàng hôn cũng tắt.Xem thêm: Tả một cụ già mà em biết Mọi cảnh vật quanh dòng sông đã đi vào giấc ngủ của nó, không gian đã nhuốm màu đen của buổi tối. Chúng tôi ra về mà đứa nào cũng muốn nán lại thêm chút nữa nhưng chúng tôi phải về để ba mẹ khỏi mong. Tạm biệt dòng sông tạm biệt cảnh hoàng hôn và hẹn một ngày không xa tôi sẽ lại được ngắm nhìn nó.
Bài văn Tả cảnh hoàng hôn quê em lớp 5
710
Đề bài: Trong gia đình em có một em bé đang tuổi tập đi tập nói. Em hãy viết bài văn tả em bé đang tập đi tập nói đó cho mọi người cùng nghe. Đầu năm nay chị tôi mới sinh được một cháu trai thật dễ thương. Một buổi lên thăm nó, vào đúng thời gian nó đang tập đi tập nói trông nó thật ngộ nghĩnh và đáng yêu nhường nào. Nó tên là Lan mới được năm tháng tuổi. Nó có đôi mắt to tròn và đen nhánh như hai hột nhãn nhìn vào đôi mắt đó tôi cảm thấy như đang nhin vào một thế giới hoàn toàn khác một thế giới hồn nhiên không muộn phiền. Đôi mắt đó luôn sáng bừng lên khi nhìn thấy người thân. Đôi môi của nó chúm chím xinh xinh nhìn chỉ muốn thơm muốn hôn. Chả thế mà ai nhìn thấy nó cũng chỉ muốn thơm. Nó có đôi lông mày dày, đôi lông mi cong vút khiến mắt nó càng thêm long lanh hơn. Tóc nó chưa dài mà chỉ lơ thơ vài cái, lấm tấm trên đầu nó vẫn còn những chỗ đen đen. Mẹ tôi nói đó gọi là cứt trâu, vì da đầu cháu còn bé nên phải nhờ những lấm tấm đen đó để da đầu em được bảo vệ. Chị tôi nói bây giờ chúa đang đến tuổi tập đi tập nói rồi. Thế là tôi túm nó vào bắt nó gọi dì cho bằng được. Cả nhà nhìn tôi phì cười chị nói bây giờ cháu chưa nói sõi được chỉ nói được vài tiếng ậm ọe thôi. Cái mũi của nó hơi tẹt trông yêu ơi là yêu! Em có má bầu lúm đồng tiền hồng hồng phính ra hai bên như hai quả cà chua khiến ai đi qua cũng chỉ muốn bẹo mấy cái. Trên đôi môi đỏ thắm, chúm chím của nó hay rạng ngời nụ cười tươi tắn y như nụ hoa xinh vừa hé mở. Và mỗi khi nụ hoa ấy bung nở thì để lộ năm cái răng trắng nõn của bé. Nó có đôi bàn tay mũm mĩm hình búp măng cứ nắm chặt vào nhau, ngọ nguậy như những con sâu đo. Trên đôi bàn tay trắng trẻo ấy được mẹ đeo cho chiếc lắc vòng bạc óng ánh rất đẹp. Ở nhà, miệng nó bi bô suốt ngày không lúc nào nghỉ.Xem thêm: Vì sao khi đã giết được kẻ thù là Bá Kiến, Chí Phèo lại tự kết liễu đời mình? Từ bi kịch đó, hãy nêu lên giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả của truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao Những khi nó đưa ngón tay lũn chũn lên miệng mút, cả nhà liền lêu lêu chọc: “Lan bú ti”. Nó hiểu ý, bỏ tay ra cười toe toét, để lộ mấy cái răng sữa trắng bóc. Nghe ai nói gì nó bắt chước vậy, có khi nói chệch làm cả nhà ôm bụng cười. Lúc ấy mắt nó tròn xoe nhìn, chả hiểu gì cũng tít mắt cười theo. Nó bắt chước nhanh lắm nên khi dạy bé tập nói, bố mẹ em tuyệt đối không giả bộ nói ngọng, phát âm sai. Nhìn nó tôi nghĩ ngày bé mình cũng như thế thì buồn cười lăm đây. Nét ngây thơ ngộ nghĩnh của nó khiến tôi càng yêu thương nó hơn. Mỗi khi về nhà mà không thấy nó đâu tôi lại rối rít đi tìm, hôm nó nó đi đâu xa tôi cảm thấy nhớ nó lắm. Mỗi khi nó không có ở nhà, nhà tôi thấy thiếu thiếu một cái gì đó và rất nhớ nó. Tôi mong nó ăn mau chóng lớn thật nhanh để đi chơi mọi nơi với tôi
Bài văn tả em bé đang tập đi tập nói lớp 5
640
Đề bài: Trong 4 mùa thì mùa xuân là mùa đẹp nhất. Em hãy viết bài văn tả mùa xuân quê em cho các bạn khác trong lớp cùng nghe. Đất trời có bốn mùa xuân hạ thu đông và em thây yêu nhất trong đó là mùa xuân. Cũng không biết vì sao em lại thích nó đến thế có lẽ nào là em thích cái Tết cổ truyền dân tộc nên em thích nó chăng?. Có lẽ vậy, mùa xuân đên em thêm một tuổi mới nhìn những phố hoa rực rỡ làm lòng em thấy hào hứng và yêu đời biết bao. Mùa xuân nó có một cái gì đó rất riêng mà em thấy rất yêu thích. Xuân đến trên đất trời muôn vàn hoa nở rộ, người ta nói mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở. Mùa đông cây cối trút hết lá thì đến mùa xuân thì thiên nhiên sinh sôi những cành cây kia được mang lá lại, những mầm xuân nho nhỏ như đang hé mở đón một cuộc sống mới trên đời. Và thế là nó lại bắt đầu một vòng đời mới. Không chỉ những tán lá cành cây hồi sinh sau một mùa đông giá lạnh, nó dài như một kì ngủ đông vậy mà những bông hoa xuân cũng trở nên tươi sắc biết bao. Ngày xuân ấy đi đâu cũng thấy cảnh vật tươi tốt trán trề nhựa sống cho đời. thật sự tất cả như mang một nét đẹp chung đó là sinh sôi. Đặc biệt mùa xuân thường có mưa xuân, mưa xuân nhỏ hạt và không làm ướt mấy, nó chỉ có thể làm ướt bạn khi bạ đứng dưới nó quá lâu mà thôi. Cả ngày mưa sầm sùi như thế nhưng người dân ta quan niệm rằng những hạn mưa kia chính là những giọt làm nên sự tươi tốt của mùa xuân chính vì thế nó giống như hạt lộc của thần thánh ban cho vậy. Không chỉ có thế tiết trời giá lạnh làm cho con người gần gũi nhau hơn. Mùa xuân như một nàng tiên ban phép màu xuống dưới trần gian này.Xem thêm: Phân tích bài thơ bếp lửa của Bằng Việt Xuân không chỉ về với đất trời mà xuân còn về trong lòng người nữa. Khoảnh khắc khi xuân đến, đêm giao thừa một cái Tết an lành bên gia đình của mình. Mùa xuân bắt đầu một năm mới với mỗi người. Biết bao em thơ khoe áo mới tươi cười với chiếc phong bì trên tay hạnh phúc. Đó là mùa đoàn viên đi đến đâu cũng đông đúc náo nhiệt, mọi người mặc quần áo đẹp đi đón tết, nào những chị con gái áo hồng áo đỏ, những anh con trai lịch sử trong bộ vest thật bảnh bao. Mọi người ai cũng nở một nụ cười trên một thật rạng rỡ. Xuân đẹp khi đem giao thừa đến những chùm pháo hoa như những chùm màu sắc ai ném tung lên trời. Xuân về cả đất trời rung động với tiếng pháo ấy. Em yêu mùa xuân nhất vì nó không chỉ đẹp cảnh đất trời mà nó còn đẹp chính ở lòng người nữa. Mùa xuân không chỉ là mùa xuân sinh sôi mà nó còn là mùa xuân của tình thân lòng nhân ái của con người, sự sum họp gia đình.
Bài văn tả mùa xuân quê em lớp 5
571
Đề bài: Em hãy viết bài văn Tả một bạn học cùng lớp của em cho ông bà em nghe lại. Có lẽ trong cuộc đời mỗi người luôn luôn có những người bạn thân những người bạn tri kỉ mà chúng ta không thể nào quên được họ. Tôi cũng có những người bạn như thế, đó là Lan người bạn thân nhất của tôi. Tôi vẫn còn nhớ như in đó là một ngày thứ hai đầu tuần đó là lần đầu tiên tôi gặp Lan. Cô giáo giới thiệu lan mới chuyển từ miền Nam ra đay sinh sống, bạn sẽ học cùng với chúng tôi và cô đã sắp cho bạn ý ngồi cạnh tôi. Lan là một đứa con gái khá xinh, tôi nghĩ thế. Bạn ấy có một đôi mắt to tròn long lanh như hai hòn bi, đôi mắt ấy nhiều lúc khiến cho tôi cảm thấy giật mình vì nó rất đẹp. Mỗi khi được nói về những tạp chí những ngôi sao thù đôi mắt ấy lại sáng bừng lên hạnh phúc. Lan có mái tóc đen nhánh dài đến ngang lưng. Cậu ấy không thích để tóc dài như thế nhưng mẹ bạn ấy lại không cho cắt. Đây là một nỗi bận tâm của nó mà lúc nào nó cũng than phiền về điều đó khiến tôi nhiều lúc muốn cắt ngay mái tóc ấy hộ nó. Nhưng phải công nhận là mái tóc nó đẹp, chẳng hiểu sao nó lại muốn ắt nữa. Cái mũi hơi to là một điều đặc biệt trên gương mặt nó, bởi thế mà nó bị bọn con trai lớp tôi trêu là con gái thất lạc của nghệ sĩ hài Quang Thắng. Đôi môi chúm chím hình trái tim và đỏ mọng khiến tôi phải ghen tỵ. Nó là một đứa con gái khá giản dị không cầu kì không sang chảnh và đó là lí do tôi cũng thấy ấn tượng khi lần đầu nói chuyện với nó. Nhưng có lẽ chúng tôi không thân như bây giờ nếu chuyện ngày hôm ấy không xảy ra. Đó là một lần kiểm tra mười lăm phút đầu giờ nhưng thật xui xẻo cho tôi là tôi chưa học bài về nhà và chỉ có thể chông cậy vào nó. Nhưng trái với suy nghĩ của tôi là nó không muốn viết bài cho tôi.Xem thêm: Bài văn tả con chim sâu lớp 5 Tôi tức lắm tự nhủ với mình không thèm nói chuyện với nó nữa. Thế nà tôi không thèm nói chuyện với nó cho đến một ngày tôi bị ngã gãy chân không thể đi học được. Biết chuyện nó đến nhà tôi nới nguyện làm xe ôm cho tôi. Tôi vẫn chưa nguôi giận bảo nó lúc cần giúp thì không giúp giờ thì đến làm gì. Nó bảo việc gì tốt cho cậu tớ sẽ làm. Nghe đến đây tôi cảm thấy ngại ngùng không dám nói gì. Thế rồi nó bắt chuyện với tôi như hồi chúng tôi mới quen nhau vậy. Dặn mình không được nói chuyện với nó nhưng rồi không biết tại sao tôi tiếp lời nó một cách vô thứ. Một tuần tôi bị gãy tay cũng là một tuồn nó chở tôi di học và đối với tôi đó la những ngày tháng tôi không bao giờ quên được. Và giờ đây nó là một đứa bạn thân thiết nhất của tôi. Khi vui có nó khi buồn có nó, cuộc sống của tôi màu sắc vui vẻ hơn rất nhiều từ khi có nó. Tôi sẽ trân trọng tình bạn này, trân trọng những giây phút chúng tôi được ở bên nhau và tôi nghĩ cả đời này tôi sẽ không thể nào quên được nó quên được tình cảm trong sáng giữa chúng tôi.
Bài văn tả một bạn học cùng lớp của em
640
Đề bài: Em hãy viết bài văn tả một người thân của em mà em yêu quý nhất cho các bạn cùng lớp em nghe. Mẹ không chỉ là người sinh ra tôi mà mẹ còn là cả một lá chắn bảo vệ cuộc đời tôi trước những khó khăn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn vậy, có bao giờ con hiểu cho mẹ bằng mẹ hiểu con đâu. Người ta nói nước mắt chảy xuôi chứ không bao giờ nước mắt chảy ngược. chúng ta chỉ nghĩ đến hạnh phúc của cá nhân còn không nghĩ đến những lo lắng của mẹ. Cả đời mẹ hy sinh vất vả chỉ vì con mà thôi. Bởi thế nên tôi yêu thương mẹ tôi nhiều lắm! Mẹ tôi không có gương mặt đẹp như bao người mẹ khác tuy nhiên cũng không thuộc diện xấu gì. Mẹ nó ngày xưa mẹ béo da trắng đẹp lắm, đi ra ngoài đường người ta cứ bảo mình đánh phấn thế mà đâu có phải đâu. Nhưng bây giờ khi tôi nhận thức được thì mẹ tôi không còn béo như ngày xưa nữa. mẹ tôi có dáng nhỏ nhắn thanh mảnh, mẹ chỉ cao khoảng hơn mét rưỡi thôi thế nhưng thân hình nhỏ nhắn ấy lại hay lam hay làm và làm được rất nhiều việc ma không thể tưởng được một thân hình nhỏ bé như thế lại có thể làm được. điều đó giúp tôi thấy được tôi có một người mẹ đảm đang giỏi giang đến nhường nào, và càng thấu hiểu những nỗi vất vả mà mẹ phải gánh chịu để lo cho tôi ăn học nên người.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Bên kia sông Đuống: Bên kia sông Đuống... Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ Khuôn mặt của mẹ tôi gầy guộc lắm, những vết nám sạm đen trên mặt như chứng minh cho nỗi vất vả của mẹ tôi. Đó là những ngày rát nắng trên đồng cùng cây lúa, con trâu. Đó là những hạt mưa hạt bụi đã vô tình khắc mình lên đôi má hồng của mẹ tôi ngày nào. Vết nhăn bắt đầu xuất hiện trên khuôn mặt mẹ, đặc biệt là ở đuôi mắt. Môi khi mẹ cười những vết nhăn đó lại càng rõ hơn trông thấy. Trên khuôn mặt ấy nổi bật lên đôi mắt đen của mẹ, mắt mẹ tôi không to nhưng long lanh hơn ai hết. tôi ngỡ tưởng những vì sao trên trời được hái xuống để gắn vào mắt mẹ, đôi mắt ấy không những long lanh mà còn hiền từ khó tả. Cánh mũi không phải mũi dọc dừa thon đẹp mà là một cánh mũi ngắn. Tuy nhiên tôi thấy nó vô cùng đáng yêu mỗi khi mẹ cười phổng mũi lên. Không thể không kể đến miệng cười hiền hậu của mẹ. nếu mẹ không cười thì nhìn mẹ tôi rất buồn chỉ khi mẹ cười lên thì mới thấy mặt mẹ vui vẻ. Phải chăng đó là nét khắc khổ trên gương mặt mẹ tôi? Mái tóc mẹ giờ đây cũng có những sợi tóc trắng ngắn mọc lên chính vì thế những lúc rảnh rỗi tôi thường nhổ tóc trắng cho mẹ. Mái tóc của mẹ tôi không được mượt mà, mẹ cũng không có thời gian để chăm sóc tóc như người ta. công việc nhà nông khiến cho tóc mẹ tôi lúc nào cũng rất nhanh bẩn và ít thời gian để gội đầu. Nói thế cũng không phải mẹ tôi ít gọi đầu mà nói để biết công việc vất cả của mẹ khiến mẹ có ít thời gian thâm chí là không có thời gian để chăm sóc bản thân. Mái tóc đen tuyền, khô ráp lúc nào cũng được búi gọn đằng sau đầu.Xem thêm: Tả ngôi trường em đang theo học Đôi bàn tay mẹ là thứ tôi yêu nhất, thích nhất mỗi khi chạm vào. Nó không mềm mại như những bà mẹ thành phố, không dài búp măng gọn gàng nhỏ nhắn như ai mà đó là một bàn tay với những ngón tay ngắn và to. Lòng bàn tay mẹ không mềm mà rất rất ráp. Nó ráp vì những cái cày cái cuốc cái liềm khi ra đồng. nó ráp vì những gì vất vả mẹ phải làm. Vì thế tôi thêm yêu đôi bàn tay ấy. Nhất là khi tôi nhận được những điểm mười mẹ luôn dùng bàn tay ấy để vuốt má tôi, ôm tôi vào lòng. Cũng chính qua bàn tay ấy tôi thấy được sự hi sinh của mẹ, bàn tay kéo lúa rách cả da, chảy cả máu nhưng mẹ vẫn kéo lên vẫn làm tiếp, khuôn mặt chỉ hơi nhăn nhó chứ không kêu một câu nào. Tôi thấy thương mẹ quá, máu của mẹ hòa vào dòng nước mương kia, máu lan ra lúa ra bạt kéo! Nhìn thấy mẹ là tôi muốn khóc và ôm chầm lấy vì những gì mẹ đã hi sinh và sự hi sinh đó in hằn trên khuôn mặt dáng đi của mẹ. tôi tự hứa với bản thân học hành thành tài để sức đáng với những gì mẹ đã vì tôi. Dẫu mẹ tôi không đẹp trong mắt mọi người nhưng mẹ luôn đẹp nhất trong lòng của tôi.
Bài văn tả một người thân của em lớp 5
896
Đề bài: Ngắm nhìn ánh trăng vào ngày rằm quả là một điều rất thú vị. Em hãy viết bài văn tả một đêm trăng đẹp quê em cho mọi người cùng nghe. Cuộc sống có bao nhiêu điều tốt đẹp quanh tôi mà khiến tôi yêu đời hơn, nếu ánh sáng của mặt trời làm tôi thêm yêu những bình minh trên quê hương, bông hồng nọ thấy cuốc sống đẹp một màu hồng, cầu vòng nào thấy được màu sắc tinh khôi thì ánh trăng lại mang đến cho tôi một ánh sáng huyền ảo. Và cứ thế ánh trăng đi vào tâm hồn tôi trở thành một người bạn không thể thiếu cho những đứa trẻ quê như tôi. Tôi thích nhất ánh trăng vào những đêm hè đặc biệt là trăng rằm, không hẳn chỉ có rằm tháng tám trăng mới sáng và ở quê tôi trăng rằm nào cũng sáng. Trăng đẹp lắm, ánh sáng của nó mang vạn vật ra khỏi bóng tối. Nó không làm sáng như anh sáng của ban ngày mà nó sáng một cách mờ ảo, đủ nhìn rõ vạn vật trong ánh vàng huyền ảo. Có thể nói trong ánh trăng ấy mọi vật trở nên lung linh và đẹp một cách dịu dàng mà không kém phần quyến rũ lòng người. Dường như bức trang khi có ánh sáng của trăng giống như một cô gái đẹp dịu dàng đằm thắm giản dị nhưng vẫn quyến rũ được lòng người.Xem thêm: Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm lớp 12 Trăng đêm nay trên quê tôi cũng đẹp như vẻ đẹp mà nó thường có. Trăng hình tròn cũng không hẳn tròn lắm. trăng đêm này chỉ là một đêm trăng bình thường vì thế nó không tròn như trăng rằm. Nhưng nó vẫn đẹp lắm, ánh trăng vằng vặc soi tỏa khắp mọi nơi. Ngắm nhìn nó từ trên cao tôi thấy có những vệt thâm thâm mà bà tôi kể rằng đó là cây đa mà chú cuộc ngồi đó cùng con trâu của mình. Ánh trăng kia có chị Hằng Nga ngự trị, nó như biểu tượng cho vẻ đẹp của chị vậy, một vẻ đẹp dịu dàng đằm thắm. Trăng không chỉ đẹp về ánh sáng và hình dáng mà nó còn đẹp về cả sự tích nữa. Chẳng thế mà có sự tích chú cuộc lên trăng, hôm nay cũng như bao đêm mùa hề khác ngồi bên bà nhìn ánh trăng sáng như ban ngày có thể nhìn thấy tất cả mọi thứ trong mờ ảo. Giua muôn vàn ánh sao đêm đủ màu sắc trăng vầng vặc hiện ra với hình dáng to hơn và chiếu sáng nhiều hơn. Tôi cứ thích ngắm nhìn trăng như thế mãi không biết chán. Ngoài đường kia những cô cậu bằng tuổi tôi chúng nó đang í éo gọi nhau đi chơi. Và tôi cũng chạy ra nhập cuộc, chúng tôi chơi trò bịt mắt bắt dê, chơi đuổi bắt nhau khắp xóm. Đặc biệt chúng tôi chơi trò ú tìm không sợ tối, sợ ma. Ánh trăng cứ hiền òa như chiếu sáng chúng tôi thoát khỏi những bóng đen của đêm tối. Chơi mệt nghỉ chúng tôi tìm chỗ ngồi nhìn trăng mà thầm gửi đến những tâm tư tình cảm của mình. Không cần nói nhưng tôi biết rằng chúng nó cũng như tôi yêu trăng quê hương và luôn coi nó như một ánh sáng ấm áp của một người thân yêu dịu dàng như mẹ hiền vậy. nhìn kĩ chúng tôi thấy được ánh sáng lan tỏa của trăng đẹp như thế nào, trăng chiếu xuống dòng nước ven đê trong thật là hữu tình biết bao. Và tôi thấy tự hào khi được kể về ánh trăng quê mình.Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Lòng dân (tiếp theo)
Bài văn tả một đêm trăng đẹp lớp 5 hay nhất
650
Đề bài: Ngôi trường em đang học là ngôi nhà thứ hai của em. Em hãy viết bài văn tả ngôi trường cua em đang học cho ông bà bố mẹ em cùng nghe. Có lẽ khi nói đến ngôi trường là một khái niệm không hề xa xôi đối với tất cả chúng ta.Ai cũng có một ngôi trường in sâu trong tam trí mình mà khi đi đâu ta cũng không thể nào quên được mái trường thân thương ấy. Đối với tôi ngôi trường tiểu học Lê Lợi là ngôi trường mà tôi rất yêu quý. Toàn bộ ngôi trường được nhuộm một màu vàng trông rất đẹp và khi ánh nắng chiếu xuống làm cho nó trở nên rực rỡ hơn. Khi đến gần bạn sẽ nhìn thấy một chiếc cổng trường được tô đậm dòng chữ màu xanh “trường tiểu học Lê Lợi”. Dù đã nhiều năm rồi nhưng cánh cổng ấy vẫn đẹp lắm vẫn hiên ngang như chào đón tất cả mọi người đến với trường. Cánh cổng màu xanh của trường đã cũ mỗi khi bác bảo vệ mở ra kéo vào là nó lại kẽo kẹt nghe thật vui tai. Chiếc cổng lúc nào cũng mở rộng như một người mẹ luôn chào đón chúng tôi bước vào the giới của kiến thức của những lời hay lẽ phải. Đi qua cánh cổng chính là một cái chòm nhỏ, đó là nơi mà bác bảo vệ làm việc và kiếm soát học sinh. Bước vào trong ngôi trường nguy nga tráng lệ nhưng vẫn không thiếu những nét cổ kính trang nghiêm.Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về cách nói năng của học sinh hiện nay Trường đã được xây dựng cách đây hơn ba mươi năm nên đã khá cũ nhưng chính cái cổ kính đó khiến cho ngôi trường trở nên đẹp hơn lạ lẫm hơn với tất cả mọi người khi đến đây. Sân trường mới được lát lại bằng xi măng nên nhìn trắng xóa. Vào trường bạn sẽ được đi qua một hàng cây phượng dài xõa bóng trông như bước vào một thiên đường của thiên nhiên. Lũ trẻ chúng tôi trêu nhau hàng cây đó là hàng cây tình yêu. Chúng tôi cũng chẳng biết nó có từ bao giờ tôi chỉ biết bố tôi nói là từ khi bố đi học đã có nó rồi. Những chú chim thi nhau chơi trốn tìm trên những cành phượng hót râm ran làm cho khung cảnh trở nên lãng mạn và lung linh một cách thần kì. Ngôi trường được xây dựng hai tầng nhưng chia làm hai khu nhà đó là một khu dành cho lớp một hai ba một khu dành cho lớp bốn và lớp năm. Các lớp được trang trí những hình ảnh rất là ngộ nghĩnh mỗi phòng học có bàn ghế kê đàng hoàng với bảnh đen xinh xắn. Ở các lớp đều được treo ảnh bác hồ và năm điều bác hồ dạy rất ngay ngắn,dưới đó là bàn giáo viên. Thật tuyệt khi bước vào lớp 3a của chúng tôi. Không gian thật đẹp và thân thiện, đó chính là ngôi trường ấm áp của chúng tôi.Sân trương chính là nơi mà chúng tôi chào cờ và mọi tổ chức sinh hoạt của chúng tôi với trường đều được diễn ra ở đây. Trường có rất nhiều cây cổ thụ to lớn tỏa bóng mát xuống dưới những hàng ghế đá có những cô cậu học trò chăm chỉ đang ôn bài.Sân trường cũng là nơi mà mỗi khi ra chơi nó lại được tô những sắc màu của các trò chơi mà chúng tôi vẫn thường hay chơi. Phía bên vách của khu nhà cho học sinh lớp bốn và lớp năm là hai phòng máy để chúng tôi học tin học.Xem thêm: Soạn bài Tự do và công lí Vào những ngày khai giảng hay những ngày nhà giáo Việt Nam là chúng tôi lại được đón những cựu học sinh của trường khiến chúng tôi rất vinh dự.Tôi rất tự hào vì mình là một học sinh của một ngôi trường mang tên một người anh hùng dân tộc Lê Lợi. Ngôi trường tiểu học Lê Lợi đã in dấu quãng đời tuổi thơ tươi đẹp của tôi. Dù đi xa đâu tôi cũng không thể quên được mái trường này.
Bài văn tả ngôi trường em đang học lớp 5
732
Đề bài: Trong gia đình người cha là người nghiêm khắc nhưng cũng yêu thương con cái nhất. Em hãy viết bài văn tả về người cha của em cho mọi người cùng nghe. “Công cha như núi Thái Sơn” câu ca dao ấy vẫn luôn đúng cho tới tận ngày nay. Cha luôn là người dạy em những điều hay lẽ phải, nếu như mẹ cho em một bàn tay dịu dàng, một tình yêu thương ngọt ngào thì cha lại như một sự nâng đỡ em trong cuộc đời và cho em một tình yêu đong đầy nhưng cũng đầy nghiêm khắc. đối với em cha không chỉ là một người trụ cột của gia đình, không chỉ là một người cha mà còn là một anh hùng, một tấm gương đạo đức để em học tập và noi theo. Cha em như một vị anh hùng trong mắt em vậy. cha em không cao lắm chỉ có một mét sáu bảy thôi thế nhưng thân hình ấy lại hơi mập đủ có thể che chở cho em trước những nguy hiểm. Nhớ có lần cả một cành cây khô rơi xuống cha đã lấy thân hình của mình để đỡ lấy cái đau ấy. Cha em mập là vậy nhưng cha lại rất nhanh nhẹn trong công việc. Không những thế cha còn có cả một khuôn mặt chữ điền vuông vắn có phúc, em biết điều đó vì được nghe rất nhiều người khen cha và thật tự hào về cha của mình. Cha có nước da trắng mà khiến nhiều người phụ nữ cũng phải ghen tị vì nước ấy. Những buổi đi làm đồng về cùng nhau rửa chân tay lấm bùn trên con mương nhỏ ai cũng phải trầm trồ vì làn da ây. Rồi có người lớn khéo chửi đùa “ Sư mày đàn ông con trai gì mà trắng hơn cả đàn bà thế”. Nước da trắng ấy không phải là da trắng bạch mà đủ độ trắng với một người đàn ông phong độ như cha em.Xem thêm: Tuần 14: Luyện từ và câu (Thiên nhiên) Mắt cha em to tròn và ướt nước, nhìn ban đêm thì thật lấp lánh hiền từ như những ngôi sao ngoài trời đêm. Đôi môi đẹp lắm và cả những hàm răng đều tăm tắp như hạt ngô càng làm cho vẻ hiền từ của cha trở nên đẹp lạ thường. Mà đặc biệt mỗi khi cha cười em thấy hạnh phúc biết bao, đó là một nụ cười rạng rỡ, một nụ cười hiền lành chất phác của một người nông dân. Đặc biệt hơn nữa là đôi bàn tay cha, đôi bàn tay ngày ngày chăm lo em, đôi tay vuốt má, đôi tay ẵm em và cả đôi tay đòn roi đau đớn nữa. Bàn tay cha không mềm mại như bàn tay của nhiều người khác bởi quê hương nghề chính là đồng ruộng vì vậy mà đôi bàn tay của cha chai đi vì cày bừa, chai đi vì mưa nắng ngoài ruộng. Thế nhưng đôi bàn tay vẫn tràn đầy yêu thương khi vỗ về những đứa con nhỏ, vẫn xoa đầu hay vuốt mà chúng đầy ngọt ngào. Và cũng chính vì thế em hiểu được phần nào những nỗi vất vả mà cha đã phải chịu vì em. Không những thế bàn tay chai, khô cằn, ngắn ngủn đó lại em có thể viết rất đẹp và làm ra những đồ vật thật đẹp mắt trong nhà. Bàn tay ấy còn làm nên những ngôi nhà đẹp đẽ, nhìn những viên gạch đỏ lừ được xếp thành hàng bên cạnh những hàng vữa thật sự thích mắt.Xem thêm: Viết một đoạn văn tả thầy giáo đang chấm bài Và giờ đây khi em đã khi thời gian và những nhọc nhằn mà cha đã trải qua đã khắc tạc trên khuôn mặt mái tóc cha em. Mới ngày nào mà mái tóc đã ngả sang màu khói. Đó không hẳn là trắng cũng không hẳn đã là đen, đó là một màu tóc của sương sớm, là màu tóc của những ánh nắng gắt gỏng trên cánh đồng ban trưa và là màu của cơn mưa rào nọ. tất cả những nhọc nhằn sóng gió của cuộc đời cũng như những vất vả khi chăm sóc những đứa con trưởng thành như hằn in trên những vết nhăn trên mắt cha. Mỗi lần cha cười những vết nhăn ấy lại lộ ra rõ hơn hay cũng có khi em nhận bắt gặp những nếp nhăn ấy nhưng không phải cười mà là cha đang suy nghĩ về điều gì đó. Dẫu thời gian có mang tuổi thanh xuân cảu cha đi nhưng cho đến bây giờ cha vẫn luôn là người bảo vệ em khỏi những nguy hiểm của cuộc sống, cha vẫn là điểm tựa vững chắc và bàn tay nâng đỡ khi em vấp ngã. Em rất yêu mến cha của em nếu có một điều ước em luôn mong sức khỏe đến cho cha để cha sống với em mãi mãi. Nếu như mẹ giống như một thiên thần một bà tiên trong mắt em thì cha lại giống như một vị anh hùng, một ông tiên hiền lành không chỉ mang đến những phép màu cho cuộc đời em mà mang đến cả một tình phụ tử thiêng liêng đầy che chở.Xem thêm: Tả một bạn học của em
Bài văn tả người cha của em lớp 5 hay nhất
913
Đề bài: Là trẻ con ai cũng muốn được mẹ dẫn đi chợ cùng. Em hãy viết bài văn Tả phiên chợ quê em cho các bạn cùng lớp nghe. Vào những ngày cuối tuần được nghỉ tôi thường theo mẹ đi ra chợ chơi. Thích nhất là những ngày được đi vào đúng những hôm phiên chợ. Những hôm đó tôi sẽ được thỏa thích ngắm mọi thứ mà các vùng xung quanh đem đến. Hôm nay là cuối tuần nên như mọi khi tôi được mẹ dẫn theo đi chợ. Thật may cho tôi là hôm nay là một ngày phiên chợ nên tôi thích lắm. Từ lối đi vào cổng chợ hôm nay đã đông đúc hơn hẳn mọi hôm. Từng đoàn người liên tiếp đi vào cổng, ai ai cũng niềm nở vui vẻ. Tôi để ý xung quanh thấy có vài đứa trẻ như tôi được mẹ cho đi theo. Chắc chúng cũng thích lắm như tôi vậy chẳng thế mà đứa nào đứa đấy cười tít cả mắt. Tôi theo mẹ vào chỗ gửi xe rồi mới ra đi chợ. Đầu tiên mẹ dẫn tôi đi vào quầy bán thức ăn tươi sống. Mẹ bảo tôi đi chợ thì phải mua ở hàng này trước để mua được những thức ăn tươi nhất. Tôi chỉ biết gật gù rồi xách nàn theo mẹ. Hôm nay ở gian hàng này cũng đông đúc hơn cả người bán người mua tấp nập. Những bà chủ gọi chào khách ý ới khiến cho chợ càng thêm náo nhiệt hơn. Sau đó là hàng rau quả, hôm nay có rất nhiều gian hàng mới lạ so với mọi khi. mẹ nói đây là những hàng của các làng xung quanh đem đến giới thiệu. Tôi thấy co rất nhiều đồ lạ mắt trông thật là thích. Nào là những đồ nặn mà con nít chúng tôi rất thích nào là con khỉ con lợn và cả con voi nữa. Mẹ thất tôi nhìn chăm chú những con vật ngộ nghĩnh kia nên đã mua cho tôi một con lợn vì tôi tuổi lợn mà. Tôi thích lắm, rối rít cảm ơn mẹ vậy là tôi lại có thêm một món đồ chơi nữa, cái này thì tha hồ mà khoe với bọn bạn.Xem thêm: Soạn bài Cảnh vật quanh em Khi tôi và mẹ đi qua gian hàng tôi thấy có một em nhỏ hơn tôi thấy tôi được mua nên cứ vài mẹ nó. Tôi chỉ biết nhìn nó cười và theo mẹ đi mua cho bà nội một cái áo ấm. Đi vào gian hàng này tôi cũng sững người khi hôm nay nó được trang hoàng bằng rất nhiều quần áo với đầy đủ các sắc màu. Những chiếc áo với đường chỉ thêu tay thật là thích mắt. Tôi đã giúp mẹ chọn được một chiếc áo rất đẹp màu nâu nhưng được trang trí bằng những viền kim tuyến thật là đẹp và lộng lẫy. Cuối cùng tôi và mẹ đi ra khỏi phía trong chợ đi vào một con đường lớn ngay bên đó. Đây là khu để bán cây cảnh và các giống cây trái. Hôm nay ở đây cũng đông hơn hẳn có rất nhiều loại cây cảnh được bầy bán ở đây nào là cây si cây xanh được những người trồng vườn khóe léo uốn thành những hình thù thật là đẹp và lạ mắt nào là những chậu hoa nhỏ nhỏ xinh xanh thật là đẹp. Phía bên kia là nơi bày bán những đồ rèn như cái cuốc, xẻng, dao liềm vô số các chủng loại. Phía bên đối diện là nơi bán các giống cây ăn quả như bưởi hồng xiêm và còn có cả chanh nữa. Tôi và mẹ chọn những bông hoa hồng và hao cúc thật đẹp để cúng bàn thờ gia tiên. Những bông bồng còn đang chúm chím vẫn còn vương những giọt sương trên bông nhìn nó mới đẹp làm sao. Người bán hàng niềm nở giúp mẹ tôi chọn những bông hoa tươi nhất đẹp nhất rồi gói lại thành một bó. Thế là sau một hồi đi chợ mẹ đã mua xong những đồ cần dùng của gia đình thật là nhiều thứ. Chiếc nàn đã chặt cứng đồ, thấy tôi xách nàn có vẻ nặng nhọc mẹ bảo để mẹ xách cho nhưng tôi vẫn như mọi khi nhất quyết không cho me giúp bởi tôi luôn suy nghĩ một cách trẻ con đó là đi chợ với mẹ mà không giúp mẹ được gì thì nhất định lần sau mẹ sẽ không cho đi. Còn một điều nữa mà tôi còn chưa nói lí do tôi thích đi chợ còn là do được mẹ mua cho những chiếc bánh rán ngon tuyệt. Thế là tôi hăm hở kéo mẹ đi đến hàng bánh, những chiếc bánh vàng ươm thơm ngào ngạt trông thật là thích. Ăn bánh xong tôi và mẹ ra về mặc dù tôi vẫn còn muốn chơi thêm lát nữa nhưng đã gần trưa nên tôi và mẹ phải về để mẹ chuẩn bị bữa trưa cho cả nhà.Xem thêm: Suy nghĩ, cảm xúc của anh (chị) về một bài thơ hoặc một truyện ngắn Ngồi trên xe mẹ tôi ngoái lại nhìn cảnh chợ dường như đã thưa một số những gian hàng ở làng bên đã dọn nhưng khung cảnh chợ vẫn vô cùng đông đúc. Buổi đi chọ cùng mẹ hôm nay khiến tôi rất vui, ngồi sau mẹ tôi liền thủ thỉ với mẹ rằng lần sau phiên chợ mẹ lại cho con đi nữa nhé
Bài văn tả phiên chợ quê em lớp 5
942
Đề bài: Trong khu vườn nhà em có 1 vườn rau nhỏ. Em hãy viết bài văn tả vườn rau nhà em cho các bạn trong lớp cùng nghe. Nếu ai đã từng đặt chân đến nhà em thì không thể nào rời mắt khỏi khu vườn thân yêu xinh đẹp được vun đắp bởi bàn tay hay lam hay làm của mẹ em. Đó là một khu vườn mà em cũng góp phần nhổ cỏ ở đó, đứa em thì tưới nước mỗi buổi chiều cho nó. Bố thì cùng mẹ cuốc đất trong khu vườn ấy. Có thể nói khu vườn là thành quả của gia đình em chính vì thế em rất yêu quý nó luôn muốn mọi người chú ý đến nó. Khu vườn nhà em không quá rộng nó chỉ độ tầm mười lăm đến hai mươi mét vuông thôi, nhưng tuy nhỏ mà lại rất xinh bởi vì nó được chăm sóc bởi bàn tay của những người trong gia đình em. Khu vườn được chia làm bốn luống rau nhỏ, mỗi luống mẹ em gieo một loại rau khác nhau. Luống thứ nhất mẹ em gieo rau cải bắp, những chiếc cải bắp xanh non mơn mởn, những chiếc lá xanh đậm bao bọc lấy tất cả bắp. những chiếc lá nhỏ nhắn bên trong nhìn thật mỡ màng như con gái tuổi đôi mươi, em thấy yêu cái màu xanh nhẹ nhàng của những lá cải non. Dưới ánh nắng vàng nhạt buổi sáng sớm nó nhẹ nhàng mượt như thân hình của người phụ nữ. ánh sáng ban trưa chiếu vào nó lại càng làm ngời sáng lên vẻ đẹp ấy. Nó giống như một người ca sĩ xinh đẹp đứng trước ánh đèn sân khấu thì lại càng đẹp hơn. Luống thứ hai mẹ em trồng những cây cải cúc, những luống cải cúc đã được ăn hết và giờ nó đang già đi, những bông hoa vàng đang nở ra, đứng cạnh nhau mang đến vẻ đẹp tươi tắn cho khu vườn. Mẹ em không muốn phá nó đi vì nó đang rất đẹp em cũng bảo mẹ cứ để cho nó hết hoa đã với cả dù gì thì rau trong vườn đã đủ ăn rồi. Luống thứ ba mẹ em vun trồng đỗ, những cây đỗ đang ra hoa cũng có mà có quả rồi cũng có. Những cây đã có quả thì nó sẽ già hơn, cao hơn. Những cây chưa có quả thì lại có những bông hoa màu trắng xen lẫn tím trong rất đẹp. luống cuối cùng là những cây su hào củ đã to mà lá vẫn xanh tươi tốt. Đó có thể thấy được bàn tay đảm đang của mẹ em, em thấy yêu ngôi vườn của mình quá.Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên Sông Đà Khu vườn đẹp đẽ ấy không những mang đến cho em những tình yêu thiên nhiên cây cỏ mà còn mang đến sự chăm chỉ hương ngọt ngào của đôi bàn tay mẹ. Mẹ không chỉ chăm sóc mà mẹ còn mang đến cho em một tấm gương về sự đảm đang. Có lẽ đến sau này em cũng mong được sự đảm đang như mẹ để những đứa con của em cảm nhận được tình yêu thương của em dành cho chúng.
Bài văn tả vườn rau nhà em lớp 5
559
Đề bài: Hàng ngày bác trống ở trường em vẫn cần mẫn báo hiệu giờ chơi giờ nghỉ cho các em. Em hãy viết bài văn Tả về cái Trống Trường em cho mọi người cùng nghe. Trường là nơi cho học sinh học tập kiến thức và học cách làm người có ích cho xã hội, mỗi ngày đến trường là một niềm vui, sau những giờ học tập vất vả chúng em lại được giải lao, cứ đến giờ là tiếng trống trường em cất lên báo hiệu giờ giải lao đã đến. Vì vậy em rất quý cái Trống trường em. Cái trống trường được đặt ở trường cửa lớp em vì lớp em là lớp đầu tiên. Mỗi khi đi vào lớp là em phải đi qua cái trống nên em có rất nhiều ấn tượng, nó đã tạo ra cho em biết bao nhiêu kỉ niệm vui buồn cũng như gắn liền với thời tuổi học trò của em. Mặt của trống là hình tròn. Trống với vỏ hình trụ được mở ở một đầu. Trống được dùng da phủ trên một mặt kín. Trống có hai đầu bao gồm cả hai đầu của một vỏ hình trụ, với một lỗ nhỏ nằm giữa hai đầu. Chiều cao của Trống bằng cậu học sinh lớp em, thân hình của nó thon thon, tròn tròn. Chân của trống được thiết kế chắc chắn để đặt trống lên. Mỗi khi vào lớp là bác bảo vệ lại gõ Tùng tùng tùng, rồi đến những giờ giải lao chúng em lại nghe thấy tiếng trống. Khi gõ vào mặt trống nó dung dung lên và độ đàn hồi của trống rất tốt nó có thể vang vọng đến toàn trường. Bề mặt của trống được làm bằng da trâu chắc chắn quanh miệng trống được quấn một bang dính màu đỏ. Cái gõ trống thì được thiết kế một đầu nhọn hơn để gõ vào mặt trống, hình dạng của trống như một hình khối cầu,tròn tròn và màu sắc thì rất lung linh.Xem thêm: Kể về một người bạn thân Trống được sơn màu đỏ thắm. Hai mặt trống được làm bằng da trâu, dày và nhẵn bóng, căng rất phẳng phiu. Viền xung quanh mặt trống là một hàng chốt đinh rất chắc chắn. Tang trống là những thanh gỗ mỏng cong, ghép khít và dính chặt với nhau bằng một lớp keo rán chắc. Ngang lưng trống có thắt hai cái đai bằng mây bện, có quang dầu cẩn thận, trông rất oai vệ. Cây dùi dài cỡ bốn tấc, hình tròn, bằng gỗ được đặt ở bên cạnh trống, chỉ khi nào sắp tới giờ là bác bảo vệ lại đi lên và cầm chiếc dùi đó gõ trống để bá hiệu cho học sinh và giáo viên. Em rất yêu quý chiếc Trống trường em nó là người bạn gắn liền với em trong quảng đường tuổi thơ và cắp sách tới trường.
Bài văn tả về cái trống trường em lớp 4
495
Đề bài: Ông nội là người mà em rất kính trọng và yêu thương. Em hãy viết bài văn tả ông nội của em cho các bạn cùng lớp nghe. Được sinh ra trên cuộc đời này tôi đã thấy rất hạnh phúc rồi, nhưng được những người sinh ra mình quan tâm chăm sóc mình thì thôi càng cảm thấy yêu cuộc sống này biết bào. Và tôi muốn cho cả thế giới này biết rằng tôi rất hạnh phúc. Đặc biệt ngoài sự yêu thương của cha mẹ, anh chị em trong gia đình thì tôi còn được sụ yêu mến của ông nội tôi. Ông như một tấm gương sáng để tôi noi theo về phẩm chất và tích cách tuyệt vời ấy. Ông có một khuôn mặt rất đẹp theo như nhiều người nhận xét là như thế. Khuôn mặt của ông mang một vẻ đẹp rất riêng rất đàn ông và lịch lãm. Cũng chính vi vẻ đẹp ấy mà bà nội tôi đã phải lòng ông. Gò má hơi cao cộng thêm đôi môi đẹp và chiếc mồm rộng khiến cho ông tôi thật đẹp cả đến khi ông già đi như bây giờ mà tôi vẫn thấy được vẻ đẹp đó. Người ta nói đàn ông mồm rộng thì sang phải chăng ông tôi sang trọng lịch lãm nhờ cái mồm. Ông tôi giờ đã chín mươi tuổi, ông vẫn hồng hào trông ông như một ông bụt, ông tiên trong truyện cổ tích chui ra. Mái tóc ông bạc phơ như sợi cước, tùng mảnh trắng bạc phơ như màu của đám mây. Thỉnh thoảng có những sợi tóc lạc đàn phất phơ trước gió mềm như mây vậy. Dù già đi nhưng ông tôi vẫn rất khỏe ông vẫn đi lại bình thường, vẫn mang về cho tôi những món quà kẹo ngon ngọt của trẻ con. Mắt ông tinh lắm, tôi mới ít tuổi đầu mà đã cận trong khi ông tôi mắt sáng mở to tròn khi nào mà bị ông dọa cho thì sợ phải biết. ông rất hiền chả bao giờ chùng mắt với tôi, nhưng khi ông dọa ma thì nhìn đôi mắt to của ông hơi sợ. Ông tôi gầy lắm chỉ có bốn lăm cân thôi, nhìn thân hình ông chỉ còn có da bọc sương thế nhưng ông vẫn ngày ngày tập thể dục thường xuyên để giữ gìn sức khỏe.Xem thêm: Nêu cảm nghĩ của em về thầy (cô) giáo đã dạy em Trên khuôn mặt ông còn có điểm nhấn là bộ râu. Ông tôi để râu trông thật hiền lành, bộ râu ấy cũng bạc phơ như mái tóc trông thật như phật sống. Đôi lông mày cũng chuyển sang màu trắng nhìn ông với mái tóc bộ râu đôi lông mày cùng nước da hồng hào ấy nhìn thật đẹp lão biết bao. Ong là một người liêm khiết nhất mà tôi từng thấy. Khi nhà nước tặng ông một mảnh đất trên thủ đô thì ông lại từ chối. Ai cũng bảo rằng ông quá liêm khiết nêu như ông nhận miếng đất ấy thì bay giờ con cháu có thể sung sướng trên hà nội rồi. Bởi dẫu gì có một mảnh đất trên thủ đô cũng rất có giá. Thế nhưng ông nhất định không nhận, ông quả thật là liêm khiết hết mức. Và điều đó rất đáng để tôi học tập và noi theo. Mỗi khi buồn tôi thường đến bên ông để vuốt ve mái tóc bạc trắng ây, vuốt râu của ông và nghe giọng cười khanh khách giòn giã của nội. Những nét đẹp trên khuôn mặt nội hay vẻ đẹp tâm hồn đều làm cho tôi thấy yêu quý và khâm phục trân trọng nội tôi nhiều hơn.
Bài văn tả ông nội của em lớp 5
634
Bài văn tự luận sao con sống vô tình thế Hướng dẫn Cả nhà đang ăn cơm chiều thì cái Yến sang chơi. Nó là con chú Hải, thím Chi đanghọc lớp 5 trường Tiểu học Phương Liên. – Cháu chào bà. Cháu chào hai bác. Em chào chị Hoa. Bà và bố mẹ vồn vã bảo cái Yến cùng ngồi ăn cơm, nhưng nó từ chối: “Mẹ cháu đang làm cơm ở nhà. Bố cháu cũng sắp về. Cháu xin phép bà và hai bác”. Nó kéo em vào bàn học của em, chỉ vào cuốn “Những bài Tập làm văn chọn lọc lớp 5”, nói: – Chị Hoa cho em mượn quyển sách này. Em cần lắm! Em chỉ mượn hai ngày thôi. Em xin giữ gìn cẩn thận… – Không được đâu! Tối nay, chị cũng phải chuẩn bị bài. Nó nhìn em. Chào bà và hai bác rồi nó ra về. Em biết là nó tủi, nó giận. Em vừa ngồi vào bàn ăn tiếp bữa cơm,thì mẹhỏi: – Cháu Yến sang gặp con có chuyện gì mà ra về vội vã thế? – Nó sang mượn cuốn sách “Những bài Tập làm văn chọn lọc lớp 5”,nhưng con không cho mượn. Con nói dối với nó là “chị đang dùng để chuẩn bị bài tối nay…”. – Con học lớp 6. Em con học lớp 5. Em mượn cuốn sách lớp 5, sao con lại không cho em mượn? – Bố nói chậm rãi từng lời.. – Bố ạ, em Yến đoản lắm, cẩu thả lắm. Lần trước, em mượn bộ váy của con để đi hội diễn, lúc đem trả, nó chỉ giặt mà không là,cứ nhăn nhúm cả lại. – Cô chú đi vắng ca tuần, ai là váy áo cho nó – mẹ nói – Con phải thông cảm với em chứ! Bố mẹ và bà đều không vui. Bố ái ngại nhìn con gái rồi ôn tồn nói: – Con xử sự như thế là không tốt. Cái Yến là em con. Ngày bố đi bộ đội, chú Hải xin nghỉ học, tiễn anh lên tận phố Mía mới trở về. Ngày mẹ con sinh con ở khoa sản, chú Hải và thím Chi lên đón hai mẹ con con về đó. Con nằm bệnh viện mổ ruột thừa, thím Chi và em Yến vào bệnh viện săn sóc con hai đêm liền… Mẹ nói, giọngbuồn buồn: – Sao con sống vô tình thế! “Anh em nào phải người xa…”. Ăn cơm xong con phải mang sách sang cho em mượn, để nó còn chuẩn bị bài. Chập tối, em sang nhà chú Hải, thím Chi. Cái Yến cầm lấy cuốn sách “Những bài Tập làm văn chọn lọc lớp 5” rồi reo lên. Nó bảo: "Em biết thế nào chị cũng cho em mượn cơ mà…". Nguồn: Những Bài Văn HayXem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Cảm nghĩ về thầy cô
Bài văn tự luận Sao con sống vô tình thế
476
Bài văn tự luận Tò mò là một tính xấu Hướng dẫn Bữa cơm chiều hôm ấy, bà nội đi sang nhà cô Nga. Chỉ còn lại ba người. Bố,mẹ và em ngồi vào bàn, ai cũng cảm thấy trống trải trong lòng, cô Nga mới sinh em bé, nên cuối tuần bà mới về được. Bố hỏi mẹ: – Bà đi có mặc thêm áo ấm không? – Bà chu đáo lắm – mẹ nói – Bà mặc áo len và choàng cả áo khoác nữa. Bố nói như nhắc mọi người: – Đêm nay lại có thêm một dạt gió mùa đông bắc nữa thổi về. Trời sẽ lạnh lắm. Mẹ con đi làm, đi học nhớ ăn mặc cho thật ấm kẻo cảm lạnh. Không biết cậu con trai hôm lên trường có mang theo đầy đủ áo quần ấm không? – Không bố ạ – em nhanh nhảu nói – Cô Lan gửi thư cho anh Tuấn cũng nói về chuyện đó. – Sao con biết? – Con xem thư cô Lan gửi anh Tuấn hôm chủ nhật vừa rồi, nên con biết. Bố nhíu lông mày rồi đặt bát đũa xuống bàn. Bố nhìn mẹ, nhìn em rồi chậm rãi nói: – Hương, con có biết cô Lan là người yêu của anh Tuấn không? Sao con lại bóc thư của cô Lan gửi cho anh Tuấn mà xem. Việc làm của con là tò mò, không tốt. Bố không ngờ con gái của bố mẹ lại có tính xấu như thế! Từ nay, con phải chừa cái tật ấy đi! Lớn lên vào đời mà mang theo tính xấu ấy thì nguy hiểm lắm!… Bố thở dài như bị nghẹn cơm. Mẹ nhẹ nhàng khuyên congái, rồi khẽ nhắc; "Con xin lỗi bố đi. Con phải hứa với bố đi! Tò mò là tính xấu con ạ!…" Em khóc rồi xin lỗi bố mẹ. Em hứa không bao giờ bóc trộm, xem trộm thư từ của bất cứ ai nữa. Bữa cơm chiều hôm ấy, bố mẹ và em,ai cũng cảm thấy mất ngon. Đêm ấy, em cứ trằn trọc mãi. Mấy ngày sau, em vẫn cảm thấy buồn. Câu chuyện ấy xảy ra cách đây đã hơn hai năm, khi em đang học lớp 4 trường Tiểu học Võ Thị Sáu. Bây giờ, mỗi khi chợt nhớ lại chuyện cũ, em vẫn thấy day đứt trong lòng. “Tò mò là một tính xấu” – Lời mẹ khuyên, em không bao giờ có thể quên được. Nguồn: Những Bài Văn HayXem thêm: Em đã được học rất nhiều cô giáo và có những kỷ niệm đẹp, em hãy kể lại câu chuyện đó
Bài văn tự luận Tò mò là một tính xấu
432
Đề bài: Em hãy viết bài văn viết cảm xúc khi em phải xa mái trường mến yêu của em để lên học lớp 6. Còn nốt mấy tháng nữa là tôi phải xa mái trường cấp một thân yêu rồi, chẳng ai nhắc đến nhưng tại sao bỗng dưng cảnh tượng chia tay làm cho tôi buồn bã đến thế. Tôi không thể kìm nén được cảm xúc của mình khi nghĩ đến cảnh phải xa mái trường năm năm trời gắn bó, xa thầy cô thân yêu, xa bạn bè lên cấp hai mỗi đứa một lựa chọn, một trường khác nhau. Thế là không thể học cùng nhau nữa rồi. Xa trường là xa thầy cô yêu dấu, những ngày tháng học hành mới thấy được những tình cảm mà thầy cô đã dành cho tôi. Cấp một là chặng đương học đầu tiên của mỗi con người, khi ấy là lúc chúng ta đang chập chững bước vào cuộc đời và điều cốt yếu là một người chỉ dẫn cho ta xác định hướng đi đúng hướng. Cấp một không chỉ là học đầu tiên mà còn là học làm người. chính vì thế những người lái đò là một hương dẫn viên đưa ta đi đúng hướng để phát triển hoàn thành con người. Thầy cô dạy tôi luôn đem đến cho tôi những cảm xúc khác nhau, môi một thầy một cô đều có một tác phong để ta học tập. thầy cô không chỉ đem lại tri thức mà còn đem lại những bài học quý giá của cuộc sống này. Nghĩ đến khi phải chia tay những người cha người mẹ thứ hai của mình tôi thấy buồn vô hạn. Rồi mai này khi tôi đi học cấp hai tôi còn có thời gian để về trường thăm thầy cô nữa không, rồi khi lớn lên rồi thầy cô chuyển trường thì tôi biết làm sao đây. Nhớ nhất là những thầy cô chủ nhiệm, họ luôn là những người đưa cá nhân tôi và lớp đi lên phát triển. nếu phải xa thầy cô tôi như mất đi một phần nào đó trong cuộc sống dẫu biết rằng còn có nhiều thầy cô khác nhưng thầy cô nơi đây là những thầy cô đầu đời của cuộc đời mỗi con người vì thế tôi thấy luyến tiếc lắm khi chia tay.Xem thêm: Tường thuật lại một tiết mục văn nghệ đã để lại cho em nhiều cảm xúc Xa trường tôi nhớ bạn bè tôi nhiều lắm, những giờ học trên lớp với những cánh tay nhỏ nhắn phát biểu xây dựng bài, những lúc không hiểu bài nhờ người bạn của mình để giảng hộ. có câu nói “ học thầy không tày học bạn” thật không sai. Bạn không chỉ là chỗ để ta học tập mà còn để ta chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống. Khi buồn khi vui đều có thể chia sẻ với bạn của mình, những giờ ra chơi thật vui vẻ. chúng tôi hoặc ngồi bàn tán với nhau về những chuyện xảy ra xung quanh cuộc sống những suy nghĩ ngay ngô những nụ cười hồn nhiên của chúng tôi như xóa tan đi tiết học mệt mỏi và bắt đầu với môn tiết học mới. Thế mà giờ đã phải chia tay nhìn mặt đứa nào cũng đáng yêu thế ngày thường có những lúc nói xấu nhau cãi cọ nhau thế nhưng sao giờ đây nhìn thấy ai trong lớp cũng yêu đến thế, không muốn rời đến thế. Cả cái cậu bạn ngày nào suốt ngày chêu tôi,dọa sâu tôi, đùa tôi để cho cả lớp chêu đáng ghét như thế mà giờ đây khi sắp phải xa cậu ta tôi lại thấy không muốn đuổi đánh cậu ta nữa. Xa trường tôi đâu chỉ nhớ con người mà tôi còn nhớ những đồ vật, cảnh vật cảu trường, nhớ từng tiết học, từng buổi sinh hoạt ngoại khóa, giò chào cờ đầu tuần thứ hai, rồi buổi lao động của những đứa như tôi lấm lem, bê bết đất. tôi thẫn thờ một mình đi qua những hành lang đầy nắng đưa mắt nhìn lại từng vách tương góc lớp thân quen. Dãy nhà ba tầng cao vời vợi so với cái tầm nhìn của tôi, tôi biết mai này lớn lên còn rất nhiều thứ để còn lớn hơn dãy nhà này nữa và cuộc sống đến thời gian trôi đi sẽ để lại những kỉ niệm khó phai trong lòng người, và đây chính là cuộc chia tay đầu tiên diễn ra trong cuộc đời học sinh của tôi. Mấy dãy ghế đá ngoài sân kia là chỗ chúng tôi hay ngôi tán phét nói những chuyện trên trời dưới bể và nhận xét một cách vội vàng những hiện tượng ấy. cũng có khi là ngồi đợi bạn thân tan học ra về. đồng thời nó cũng là chỗ để cho chúng tôi ăn quà vặt trong giờ ra chơi. Nào là bim bim nào là kem, kẹo mút ôi những món quà vặt ấy chúng tôi phải xin mãi hay tích góp tiền mới có mà ăn. Những rặng cây cao rì rào trước gió. Tôi muốn ở lại đây với chúng chơi trên những bóng mát của chúng mãi thôi.Xem thêm: Ý nghĩa câu hỏi của bà mẹ người tử tù Thế này là thế nào? trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Tạm biệt nhé những kỉ niệm dấu yếu thời gian dần trôi đi và tôi sợ một ngày nào đó khi về lại mái trường này thầy cô dậy tôi sẽ không còn ở nơi đây nữa, những hàng cây kia liệu có còn đứng ở đó không. Về đến trường liệu rằng còn ai nhận ra tôi nữa. Ôi mái trường mến yêu này tôi yêu bạn đến mức không thể nào bước chân đi. Nhưng cuộc sống phát triển và tôi không thể nào tránh khỏi quy luật ấy.
Bài văn viết cảm xúc của em khi phải xa trường lớp 5
1,007
Bài văn viết thư cho bạn vùng lũ lụt để hỏi thăm tình hình bão lụt Hướng dẫn Nha Trang, ngày… tháng… năm… Hải Anh thân mến! Xem trên ti vi chương trình thời sự những ngày qua, biết miền Trung quê hương bạn bị lũ quét nặng nề nên mình viết thư hỏi thăm tình hình của bạn, của gia đình và quê hương bạn. Mình mong bạn và cả nhà đều bình an. Bạn và mọi người trong nhà có khỏe không? Gia đình bạn có bị thiệt hại gì trong đợt lũ vừa qua nhiều không? Mình xem trên ti vi thấy nhiều nhà bị tốc mái, ngập trong nước, trâu bò và gia súc cũng bị nước cuốn trôi, mình thực sự rất lo lắng, Còn ở trường học của bạn có bị thiệt hại, hư hỏng gì không? Công việc học tập của các bạn trong đợt lũ vừa qua chắc là rất khó khăn, gian khổ nhỉ? Trong những ngày bão đến, bạn vẫn đi học bình thường hay nhà trường cho nghỉ để tránh bão lũ vậy? Mình thì vẫn khỏe, mình vẫn giữ vững những thành tích học tập như đợt trước mình kể cho bạn. Trường mình cũng đã có những hoạt động thiết thực để đóng góp và ủng hộ nhằm làm vơi bớt đi những khó khăn, gian khổ của các bạn. Riêng mình, mình đã gửi toàn bộ số tiền tiết kiệm được từ đâu năm tới giờ cho quỹ "ủng hộ miền Trung" bạn ạ. Cuối thư mình chúc bạn và gia đình mạnh khỏe. Chúc bạn và mọi người sớm khắc phục và vượt qua những khó khăn do bão lũ gây ra. Khi nào có thời gian bạn hãy viết thư báo tin cho mình nhé. Mình mong thu của bọn. Bạn phương xa Linh Lê Mai Linh Nguồn: thêm: Đóng vai một chú Chuột Chù, em hãy kể lại truyện "Đeo nhạc cho mèo"
Bài văn viết thư cho bạn vùng lũ lụt để hỏi thăm tình hình bão lụt
319
Bài văn văn biểu cảm tả về cây khế lớp 7 Hướng dẫn Vườn nhà em có nhiều cây cảnh đẹp, được trồng trong những chiếc chậu bồng sứ xinh xắn, nào là cây lộc vừng, hoa chiếu thủy, cây xương rồng, địa lan… nhưng em thích nhất là cây khế ngọt. Cây có cành lá xum xuê, che kín một góc vườn. Quan sát kĩ hơn, cây lại giống như một anh chàng võ sĩ khỏe mạnh, lực lưỡng. Cây cao gần một mét, tán lá rộng chừng nửa mét vuông. Thân cây chỉ to hơn cổ chân em bé, vỏ màu nâu đậm, sần sùi, từ đó vươn ra những cành cây mập mạp, chắc chắn, gánh đỡ những chùm quả nặng trĩu. Lá khế màu xanh nhạt, mọc đểu tăm tắp. Xen kẽ giữa màu xanh của lá và quả là những chùm hoa màu tím nhỏ li ti, hứa hẹn cho những quả ngọt trái mùa. Quả khế có năm múi, ban đầu là màu xanh, khi chín chuyển màu vàng tươi trông thật hấp dẫn. Khi ăn, nó có vị ngọt thuần khiết, mát giòn. Hằng ngày, sau khi đi học về, em lại chăm sóc, tưới nước cho cây. Cây khế rung rinh theo làn gió, mừng vui đón nhận những làn nước mát tắm đều cho cơ thể, ngày càng phô ra những chùm quở nặng trĩu trông thật thích mắt. Em coi cây khế như người bạn thân của mình và luôn tự nhắc nhở rằng: "Chăm lo cho cây Chính là tự chăm lo, làm đẹp cho cuộc sống của minh ". Nguồn: thêm: Bạn Quốc Thái kể những điều biết về nông thôn
Bài văn văn biểu cảm tả về cây khế lớp 7
276
Bài đọc tham khảo Chọn bạn Gợi ý Trong lớp, bạn thấy dễ có cảm tình với bạn này hơn bạn khác. Trong tập thể nào cũng vậy, tình cảm vẫn giữ một vai trò quan trọng, hễ đồng thanh thì tương ứng, đồng khí thì tương cầu, do đó mới xuất hiện từng nhóm. Bạn gặp những bạn cũng thích những môn học, những trò tiêu khiển như bạn, cũng có những tư tưởng, ý kiến như bạn, nếu trong số bạn đó lại có một người hiểu bạn hơn, dễ thương hơn, sẵn lòng giúp đỡ bạn hơn những bạn khác, một người mà bạn có thể tin cậy để tỏ bày tâm sự, và người đó cũng tin cậy bạn, tỏ bày tâm sự với bạn, thì thật là bạn được hưởng một đặc ân đấy. Bạn được trời ban cho một tình tri kỉ, vui buồn có thể san sẻ cả cho bạn. Dù có thiện ý tới mấy, song thân bạn cũng không thể hiểu rõ những lo lắng, ham thích của bạn bằng bạn bạn được. Vì bạn cùng lứa tuổi với bạn. Không có sự cách biệt giữa hai thế hệ, nó làm cho bạn thấy mình nhỏ bé, thấp kém khi đứng trước cha mẹ, thầy học hoặc những người lớn khác. Nhiều bạn của bạn có tấm lòng cởi mở lắm. Họ được lòng mọi người, nhóm nào cũng vui vẻ tiếp đón họ. Nhưng khả năng thích nghi lạ lùng đó chưa đủ tạo nên tình thân, vì tình thân có tính cách tương ái và biệt ái, nghĩa là thân thì yêu lẫn nhau mà quý người mình yêu hơn những người khác. Bạn bè thì nhiều, nhưng bạn thân thì hiếm, có thể đếm trên đầu ngón tay. Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về cô bé bán diêm trong tác phẩm cùng tên của nhà văn An-đéc-xen Tôi đã nói thân thiện với nhau là một tình cảm. Tình cảm thì không lí luận, nhưng nó đằm thắm nên cần phải lựa chọn… Một thi sĩ đã nói: “Ta không lựa được cha mẹ, nhưng ta lựa được bạn thân ”. Không có cái gì là ái tình sét đánh. Quen nhau lâu rồi lần lần quý mến nhau hơn. Cần nhất là đồng chí hướng, đồng quan niệm. Có tuyển lựa như vậy thì mới vững tâm tin cậy nhau, tình mới bền và tiến gần tới một lí tưởng hoàn thiện. Tình cảm đó thật đẹp đẽ và hiếm, nó cần có lí trí trong sự lựa chọn; còn ái tình thì có tính cách say đắm, nó chế ngự ý chí và lí trí của con người. Người ta chẳng bảo rằng ái tình mù quáng đấy ư? Tôi có thể khuyên bạn điều gì đây về việc lựa bạn? Bạn nên ráng kiếm một bạn Đứng đắn, siêng học, làm xong bài rồi mới chơi. Trong khi bạn đương học, đừng để cho bạn tới rủ rê, lôi kéo. Nếu bạn bạn có cao vọng thì càng tốt, trong sự giao du khả năng của bạn sẽ được kích thích. Các bạn sẽ học bài chung với nhau trong sự vui vẻ. ít khi các bạn chơi thân được với bạn bè lớp trên. Ở cái tuổi đó, chỉ hơn kém nhau vài năm cũng là cách biệt nhiều rồi, và những mối tình như vậy thường có tính cách đơn độc, không hổ tương, khó mà yêu lần nhau, hiểu lẫn nhau được, trừ phi người ít tuổi có một tinh thần già dặn dị thường. Xem thêm: Cảm nhận về nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ Phải lánh xa bọn pha trò, tán dóc, cái gì cũng đem ra cười cợt được, từ bài vở tới những điểm xấu của họ, và chỉ thích vui chơi: Thể thao quá độ, mỗi tuần coi hát bóng hai lần, đọc toàn tạp chí “xi nê ”, thích những hình ảnh loè loẹt về màn ảnh, về đời sống các đào hát bóng. Vô phòng của họ, bạn đừng loá mắt về những vỏ bao thuốc lá, những hình đào kép dán, treo đầy tường như trong buồng một gánh hát. Thứ tiêu khiển đó nguy hiểm lắm, quyến rũ bạn như hồ li tinh, và làm bạn quên cái mục đích là bằng cấp tú tài đi. Cứ xét hình những thiếu nữ “hấp dẫn ” treo trên tường đó, bạn cũng đoán được tính tình của “chủ nhân ” rồi. Tôi nghĩ bạn không có lợi gì mà giao du thân mật với bạn Khoe khoang “làm tàn ”, túi đầy những hình gợi cảm hoặc những tạp chí động tình, kể cho bạn nghe những cuộc chinh phục trái tim, hầu hết là tưởng tượng. Nghe họ, bạn chỉ sinh xao xuyến trong lòng. Bạn chưa tới cái tuổi đó, đừng để đầu óc vơ vẩn về những truyện bịa của họ. Họ kể cho bạn nghe để làm ra vẻ “bảnh ”, “trải đời” đây. Nhưng những “chàng Sở” đó có cưới được vợ đứng đắn, đàng hoàng đâu, cái tài “tán ” của họ có giúp họ được gì đâu. Dung nhan mĩ miều đâu đủ là một cái đức… bền bỉ, còn cần cái hạnh nữa chứ. Xem thêm: Trong hài "Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu có một "tượng đài nghệ thuật" mang tính bi tráng về người nông dân yêu nước chống ngoại xàm. Anh (chị) hãy phân tích bài văn tế để làm rõ vẻ đẹp hiếm có của hình tượng nghệ thuật đó Khi thực yêu ai thì người ta kín đáo. Bạn bây giờ còn nhỏ quá để nghĩ đến tới việc lựa bạn trăm năm. Lên đại học, bạn sẽ nhận thấy rằng những sinh viên lập gia đinh sớm quá bận bịu, lo lắng về đủ thứ: việc nhà cửa, chuyện tình cảm, óc không còn thảnh thơi để học hành nữa. Sau cùng, bạn cũng nên giữ gìn, đừng vội thân với những bạn học kém mà lại mê gái, khoe khoang tiền bạc: Tiền túi để tiêu vặt, những cuộc du lịch tốn tiền, những tiêu khiển xa xỉ. Chơi bời như vậy thì còn học hành gì được nữa. Vả lại mình nghèo mà chơi với bọn con nhà phú gia đó thì thế nào lòng tự ái của mình cũng bị thương tổn. Phải tế nhị lắm mới giữ được sự bình đẳng, sự quý mến lẫn nhau trong tình thân. Đó là một vấn đề tình cảm và giáo dục. Vanmau.edu.vn
Bài đọc tham khảo Chọn bạn
1,107
Bài đọc tham khảo Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh Gợi ý Chủ nghĩa nhân vãn Hồ Chí Minh trước hết biểu hiện ở tấm lòng thương yêu con người, thương yêu dân hết sức bao la, sâu sắc. Người đã khái quát về triết lí cuộc sống: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là làm người là phải thương nước thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”. Trong lịch sử dân tộc và thế giới, đã từng xuất hiện bao tấm gương thương nước, thương dân, thương số phận đau khổ của con người… Tuy nhiên, ở Hồ Chí Minh, lòng thương nước, thương dân, thương nhân loại mang một nội dung mới, sâu sắc, toàn diện. Trước hết, đó không phải là lòng thương hại của “bề trên ” nhìn xuống, cũng không phải là sự động lòng trắc ẩn của người “đứng ngoài ” trông vào, mà là sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ đã từng trải qua và chứng kiến biết bao cảnh đau thương ngang trái, bất công… Đó là nổi khổ đau của Người khi phải bế em đi xin sữa, mẹ chết không được khóc, bố bị nỗi oan và bị đẩy đi xa. Đó là cảnh nghèo đói của dân quê Nghệ Tĩnh, cảnh khổ sở của những dân phu làm đường Cửa Rào, Trấn Ninh. Đó là cảnh những phu xe gầy ốm, những người bán hàng rong lam lũ bên cạnh cảnh sống phè phởn xa hoa của bọn thống trị thực dân và vua quan cai trị ỏ kinh thành Huế; cảnh đấu tranh và bị đàn áp của nông dân chống thuế mà Người trực tiếp chứng kiến và giúp đỡ… Rồi đến những cảnh dân các thuộc địa khác bị đàn áp. Hình ảnh người dân da đen ở Đa Ka bị đẩy xuống biển chết trong gió to sóng lớn; những phụ nữ bị hãm hiếp; trẻ em bị phơi đói ở Đôhômây, và những người dân thuộc địa bị bắt đi lính chết thay cho Ẻ,mẫu quốc”. Đó là cảnh phân biệt chủng tộc và đời sống khổ sở, bần cùng của người dân lao dộng ở một số nước tư bản như đời sống của dân da màu ở Mỹ; đời sống lam lũ của “xóm thợ, xóm nghèo, xóm người khổ" Êpinet ngay giữa thủ đô Pari mà Người tận mắt trông thấy. Những hình ảnh, những sự kiện đó đã tác động sâu sắc đến tình cảm, tư tưởng của Người. Xem thêm: Bài văn biểu cảm về Hoa sen lớp 7 Từ thực tiễn cuộc sống, chứng kiến những nổi đau khổ của các dân tộc bị áp bức và nhân loại cần lao, Hồ Chí Minh đã thể hiện sự kết hợp lòng nhân ái vốn có trong truyền thống văn hoá Việt Nam với tư tưởng nhân nghĩa, nhân văn phương Đông; với tư tướng "bác ái" giải phóng con người khỏi thần quyền và quân quyền của chủ nghĩa nhân văn phương Tây; với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản để hình thành ở Người một tư tưởng nhân văn cao cả, sâu sắc và hiện thực. Điểm nổi bật ở tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, là lòng thương yêu những "người cùng khổ". "Người cùng khổ" ở đây bao gồm những người dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa, bị mất nước, sống cuộc đời nô lộ, "không có tự do, công lí", bị "áp bức, bóc lột", "đầu độc", bị "đẩy lùi vào vòng ngu dốt, tối tăm ", "bị bắt làm lao dịch, khổ sai và di làm lính đánh thuê cho mẫu quốc", "sổng nghèo đỏi, cực khổ"… Những người dân lao dộng ở các nước tư bản, những người trực tiếp sản xuất ra của cải nhưng sống đói nghèo, cùng khổ, thiếu thốn, "những người làm lụng, sản xuất và đói meo", "những người thợ, người nghèo". Lời ra mắt của báo Người cùng khổ (Le Paria) năm 1921 đã xác định rõ mục đích đấu tranh của hội "Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức" là ‘ắđi từ giải phóng những người nô lệ mất nước, những người lao động cùng khổ đến giai phóng con người". Con người ở đây bao hàm cả "đồng bào" trong nước và "đồng bào" trên thế giới theo nghĩa "bốn bể là nhà, bốn phương vô sản đều là anh em". Người viết: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn… Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người". Người vạch rõ là: "Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ tà ma phải kiên quyết đánh bỏ. Đối với tất cả những người khác ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ… phải thực hành chữ Bác ái". Xem thêm: Mở đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử viết: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Đây là lời của ai? Có người cho rằng câu hỏi đó đã được nhà thơ trả lời bằng 11 câu thơ tiếp theo của tác phẩm. Ý kiến anh (chị) như thế nào? Hãy phân tích bài thơ để làm sá Người khẳng định: "lòng thương yêu của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi". Tình cảm, tư tưởng đó thể hiện sâu sắc, phong phú trong suốt cuộc đời của mình. Trước lúc vĩnh viễn đi xa, trong Di chúc, Người viết "đầu tiên là vấn đề con người" và "cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, các cháu nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế". Xưa nay, giai cấp thống trị thường coi khinh quần chúng, cho là đám người ngu dốt tiêu cực, thụ động. Trong lịch sử dân tộc, cũng có những nhà văn hoá chính trị kiệt xuất đã thấy sức mạnh của dân: "đẩy thuyền cũng là dân, mà lật thuyền cũng là dân ", "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc", nhưng với ý thức hệ phong kiến, họ không nhận thức và khai thác được sức mạnh toàn diện, tiềm tàng của quần chúng lao động. Ngay với giai cấp vô sản chính quốc, tuy cũng là những người lao động bị áp bức bóc lột, có mối quan hệ với các dân tộc thuộc địa nhưng đến đầu thế kỉ XX họ vẫn quan niệm “Người bản xứ là một hạng người thấp kém, không đáng kể, không có khả năng để hiểu biết được và càng không có khả năng hoạt động ". Hồ Chí Minh sống trong lòng quần chúng nhân dân, hiểu được tâm tư nguyện vọng và sức mạnh của quần chúng nhân dân, nhất là sau khi được trang bị phương pháp luận Mác-Lênin, Người có những nhận định sâu sắc, đi vào bản chất, sức mạnh tiềm tàng của quần chúng. Do đó, ở Người, lòng thương yêu nhân dân gắn liền với lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh, tính chủ động sáng tạo của nhân dân và lòng tôn trọng, kính trọng nhân dân. Người khái quát: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không có gì mạn lì bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân“. “Dân chúng biết nhiều cách giải quyết vấn đề một cách mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra“. Vì vậy, những người cách mạng không khỏi chỉ lãnh đạo mà còn phải học tập quần chúng nhân dbrân. Một nội dung rất quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là phải chăm lo bồi dưỡng, sử dụng, phát huy sức mạnh của con người, của nhân dân. Xem thêm: Bài văn điểm 10 về bạn thân khiến nhiều người rơi nước mắt Nhận thức rõ vai trò quần chúng đối với sự nghiệp cách mạng: “Công nông là gốc của cách mạng“, “Dân là gốc của nước“. Người quan tâm đến việc giáo dục, giác ngộ quần chúng, tổ chức quần chúng, đem sức mạnh của quần chúng mà chiến thắng sức mạnh vặt chất của giai cấp thống trị, của kẻ thù. Chính vì vậy, với 5000 đảng viên, dựa vào lực lượng đông đảo quần chúng được tổ chức, giác ngộ và nắm đúng thời cơ, Đảng đã lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám thành công. Sau Cách mạng tháng Tám, khi bàn đến những nhiệm vụ cấp bách của cả nước, Người đã nêu nhiệm vụ “chống giác dốt", cùng với việc chống giặc đói và giặc ngoại xâm… Người chi rõ là dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, 90% đồng bào ta mù chữ “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu ”, nên cần phái phát động chiến dịch “chống giặc dốt", “xoá nạn mù chữ“. Người nhấn mạnh “chê độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn để hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu lười biếng, gian xảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta phải làm sao cho dân tộc ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập Để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, Người đã chỉ rõ phải “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân “ phát động mạnh mẽ tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, hết sức coi trọng khoa học kĩ thuật; coi trọng nhân tài, trọng dụng nhân tài. Người yêu cầu; “Công nông phải trí thức hóa” và “trí thức phải gắn bó với công nông, ra sức phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ", Vanmau.edu.vn
Bài đọc tham khảo Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh
1,690
Bài đọc tham khảo Cần kiệm xây dựng nước nhà Gợi ý Nước ta còn nghèo. Muốn sung sướng thì phải có tinh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động, phải cố gắng lao động, sản xuất. Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta. Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ. Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kĩ sư nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau. Ai sợ khó, sợ khổ, muốn tẼngồi mát ăn bát vàng ", người đó mới là kém vì không phải là người xã hội chủ nghĩa. Mọi người phải tự giác giữ vững kỉ luật lao dộng. Thanh niên cũng phải xung phong hăng hái thực hiện khẩu hiệu: “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên . Mọi thứ của cải chúng ta làm ra phải tốn bao nhiêu mồ hôi và sức lao động. Chúng ta chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cách tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống. Cho nên phải biết giữ gìn của công. Tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp, mà ai cũng phải thù ghét, phải từ bỏ, phải biết quý trọng sức người như là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng thật hợp lí sức lao động của nhân dân ta.Xem thêm: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ Cán bộ và đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách, nêu gương “cần kiệm liêm chính", không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân; phải chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh là nguồn gốc sinh ra tham ô, lãng phí. Trong mọi công việc, phải tính toán, cân nhắc cẩn thận. “Thời gian là vàng bạc", phải kiên quyết chống thói hội họp lu bù, mất thời giờ, hại sức khỏe mà không kết quả thiết thực. Vanmau.edu.vn
Bài đọc tham khảo Cần kiệm xây dựng nước nhà
383
Bài đọc tham khảo Cần tự giáo dục lấy mình Gợi ý Sự tu thân đó cần thiết để bây giờ học hành tấn tới hơn và sau này, thành công hơn trên đường đời. Bạn có nhiều năng lực tinh thần mà cần biết cách chế ngự, hướng dẫn nó thì mới có kết quả tốt trong sự học, trong các trò thể thao và cả trong sự tiêu khiển nữa. Thể thao cần thiết cho sự phát triển của bạn. Thân thể có khoẻ mạnh thì tinh thần mới được quân bình. Tâm linh gồm nhiều năng lực (trí tuệ, tình cảm, ý chí) có liên quan với nhau ít nhiều, và do đó, có thể bị một biến cố ở ngoài làm cho kích động lên hoặc nhụt bớt đi, mà như vậy hoàn toàn có hại cho sự sâu sắc vì cơ hồ như mọi thớ thịt, thớ gân, mọi dây thần kinh cũng bị kích thích một lúc. Nếu bị kích thích quá mà tới nổi giận, thì ta sẽ mất khôn, không làm chủ được ngôn ngữ, cử động và hành vi của ta nữa. Một lời vô ý lỡ phát ra, một lời phản đối vụng về có thể làm cho người khác có một phán đoán không tốt về mình; đọc quá vội vàng đề một bài toán thì cách giải có thể sai; không suy nghĩ kĩ mà đã vội viết thì có thể bàn ra ngoài đề bài luận văn. Những thí dụ đó cho bạn thấy rằng cần phải thận trọng, giữ mình, hãm bớt những phản ứng của mình nếu bạn thuộc vào hạng đa huyết chất (nóng nảy). Xem thêm: Cảm nhận về hình ảnh người nông dân xưa qua bài ca dao: "Con cò mà đi ăn đêm. Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi! Ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong,Đừng xáo nước đục đau lòng cò con" Vậy bạn có bổn phận tận lực tự đào tạo lấy mình để có thể tự chủ được mà chế ngự những xu hướng bẩm sinh của bạn. Một em bé thu thập ghi nhận mọi ấn tượng mà không có thành kiến, không phán đoán, lựa chọn gì cả. Điều ấy tự nhiên. Những ấn tượng đó tiếp nối nhau theo cái nhịp điệu gia tốc của đời sống tuổi thơ, cho nên em bé tiến bộ rất mau. Khả năng ghi nhận của em bé thực lớn lao, óc non nớt, tươi tắn của em ấy. Thật dễ thương, thật linh hoạt, nhưng cũng thực là lộn xộn! Những bộ lạc bán khai cũng giống các em bé. Họ sống bình dị. Đời sống của họ tương đối ít thay đổi mà những quyền lợi của họ cơ hồ như nhau cả. Họ không biết sự hăng hái làm việc, sự suốt đời ganh đua để dự bị đời sống và để mưu sinh. Đừng tìm cách sửa tính họ làm gì, vô ích. Cứ để cho họ tự nhiên thu nhận mọi ấn tượng, ưa cái hào nhoáng bề ngoài, nhảy những điệu vũ giật gân, tim những cái vui xuất thần tập thể và giữ những thần bí giáo của họ. Nhưng còn chính bạn, bạn phải tiến trên con đường ganh đua mà. Ngay từ bây giờ bạn đã phái chiến đấu để tiến, để giữ hạng của bạn trong lớp, để khỏi bị bạn vượt. Đời sống thực giống một môn thể thao. Xem thêm: Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do Unesco đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình" Hạng khí chất nào cũng có nhiều danh nhân, nhưng tuyệt nhiên không có danh nhân nào mà lại thiếu nghị lực. Phải luôn luôn tập sửa tật xấu. cải thiện đức tốt của mình, tóm lại là hoàn thiện cá tính của mình. Dù khả năng của bạn có kém tới mức nào đi nữa, bạn cũng vẫn có thể tiến lên được một địa vị vẻ vang trong xã hội, vào hạng trên trung bình. Một kẻ thất bại thì mười lần có tới chín lần là tại không biết tự chủ, đào luyện mình. Tôi muốn giúp bạn trong sự dự bị vào đời, để cho bạn sau này thành một người đáng gọi là người, một người che chở, bảo vệ được gia đình, một người mà từ vợ con tới chủ sở hay khách hàng, một cơ quan hay một đoàn thể, có thể tin cậy được. Dân tộc Anh có tinh thần thể thao, siêng năng kỉ luật, dùng danh từ đẹp đẽ này: seif made man (người tự gây dựng cho mình) để trỏ những người tay trắng làm nên. Danh từ đó mà khắc lên đền Delphes, chắc cũng xứng Vanmau.edu.vn
Bài đọc tham khảo Cần tự giáo dục lấy mình
820
Bàn luận về câu nói của M. Go-rơ-ki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Gợi ý HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Đề bài yêu cầu bàn luận câu nói của M. Go-rơ-ki về sách. Trước hết, cần giải thích nội dung câu nói. Câu nói khuyên mọi người hãy yêu sách. Vì sao vậy? Vì "sách là nguồn kiến thức" và "chỉ có kiến thức mới là con đường sống", (chứng minh rõ hai ý này bằng thực tiễn sách trong cuộc sống của con người). Trên cơ sở đó, tiến hành bàn luận về câu nói của M. Go-rơ-ki: – Ý nghĩa của câu nói như thế nào? – Câu nói gợi cho ta phải có thái dộ, nhiệm vụ ra sao đối với sách và việc đọc sách. BÀI VĂN THAM KHẢO Lê-nin nói: "Không có sách không có tri thức, không có tri thức không có chủ nghĩa cộng sản". Bác Hồ cũng chỉ rõ về việc học tập: "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân…". Như vậy, sách quan trọng đến thế nào đôi với cuộc sống con người. Có phải vì thế mà M. Go-rơ-ki đã khuyên chúng ta: "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống". Lời khuyên ấy thật thiết tha, chân thành bởi đó là một lời khuyền đúng đắn của một con người hiểu sâu sắc giá trị của sách. Nhân dân ta thường nói: "Đi một ngày đàng học một sàng khôn". Hẳn là M. Go-rơ-ki đã đọc nhiều sách và suy ngẫm nhiều trên những cuốn sách thì mới đúc kết thành một chân lí: sách là một nguồn kiến thức. Đúng như vậy. Sách đã tổng kết trong đó biết bao kiến thức của con người từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội và nhân văn, từ lịch sử, địa lí, khoa học, cho đến văn học nghệ thuật,… Sách tái hiện cuộc sống đa dạng và phong phú của loài người trôn mọi miền của trái đất qua những thăng trầm, biến động của lịch sử, nói lên ước mơ khát vọng của nhân loại qua các thời đại. "Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp". (M. Go-rơ-ki). Một em bé bán diêm đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa cùng với những mộng tưởng đẹp đè diệu kì khi em bay lên cùng người bà thân yêu đến cái thế giới hạnh phúc nhất của tuổi thơ trong trắng. Một cụ già Bơ-men đã đổi mạng sống của mình để cứu sống một cô gái và để lại cho đời một kiệt tác của lòng nhân ái: Chiếc lả cuối cùng! Một lão Hạc thà ăn bả chó để chết vật vã, đau đớn chứ không bán đi một sào đất của đứa con trai… Một giây phút sung sướng cực điểm khi được ngồi trong lòng mẹ sau bao tháng ngày chờ đợi; một cảm xúc mới lạ dâng lên trong ngày tựu trường đầu tiên của đời học trò; và cả cái tư thế hiên ngang đường hoàng trong tù ngục của các nhà chí sĩ yêu nước,… Tất cả, có phải đó chính là cuộc sống, là nguồn kiến thức mà sách đã mang đến cho ta, làm cho ta càng thêm gắn bó với thế giới, làm cho "người gần người hơn" như Nam Cao từng nói. Và M. Go-rơ-ki cũng nói như vậy: "Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách: sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao". Xem thêm: Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới - bài 43) Sách cung cấp cho ta kiến thức và chỉ có kiến thức mới là con đường sống. Thử hỏi nếu không có kiến thức thì con người sè sống ra sao đây? Nếu không có kiến thức thì làm sao con người có thể tồn tại và phát triển như ngày nay? Tất cả đều nhờ những tìm kiếm, sáng chế, phát minh… của con người qua hàng nghìn năm lịch sử, và những điều đó đều được ghi lại trong sách. Nếu không có sách thì kiến thức của con người sẽ mai một đi, không còn nữa. Sách quý giá biết bao khi nó đã tích lũy trong đó nguồn kiến thức của nhân loại. Nguồn kiến thức đó sẽ giúp cho ta sống tốt hơn, chỉ cho ta cách sống đẹp hơn, văn minh hơn, nhân ái hơn. Đó mới là con đường sống của ta nhờ sách mà có được. Sách trở thành cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống, cung cấp cho ta những kiến thức khoa học và bổ ích để nâng cao chất lượng cuộc sống, hoàn thiện nhân cách con người, tạo ra vãn minh và công băng xã hội. Đó chính là con dường sống mà sách đã mang lại cho ta, như M. Go-rơ-ki đã nói rất sâu sắc và thấm thìa: "Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy". Xem thêm: Phân tích bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (Có dàn ý chi tiết) Sách quý giá biết bao và cần thiết cho con người biết mấy! Hãy yêu sách như lời khuyên tha thiết, chân thành của nhà đại văn hào Nga đã một đời gắn bó với sách. Và phải biết yêu quý sách như nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn từng tâm niệm: Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng Chẳng bằng kinh sử một vài pho. ĐỌC THÊM TÁC DỤNG CỦA SÁCH Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi. Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra những vũ trụ vô tận với những quy luật của nó, hiểu được Trái Đất tròn mang trên mình nó bao nhiêu đất nước khác nhau. Những quyển sách xã hội học lại giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hóa, những truyền thống, những khát vọng. Sách, đặc biệt là những cuốn sách văn học, giúp ta hiểu biết về đời sống bên trong của con người, qua các thời kì khác nhau, ở các dân tộc khác nhau, những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, nhừng khát vọng và đấu tranh của họ. Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao la này, hiểu mỗi người có môi quan hệ như thế nào với người khác, với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách giúp cho người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nồi khổ của mỗi người và phải làm gì để sông cho đúng và để đi tới một cuộc đời thật sự. Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng. Xem thêm: Tả con cá vàngVanmau.edu.vn
Bàn luận về câu nói của M. Go-rơ-ki_ “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”.
1,281
NIỀM TỰ HÀO CỦA SỐ 0 Nhờ rất nhiều số 0 đi theo mà số1 trở thành khổng lồ. Thành khổng lồ, những số 0 vinh dự và tự hào lắm, đi đâu cũng kể lể, vô ngực rằng: "Ta là khổng lồ". (Theo Ngụ ngôn chọn lọc, NXB Thanh niên, H., 2003) a) Bàn luận về vai trò của số 0 và số 1. b) Viết bài văn ngắn khoảng 500 từ nêu suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện trên. Trả lời Về cấu trúc ý, bài viết có thể nêu và xây dựng theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên hệ thống ý cần hợp lí, lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục cao. Tham khảo cách triển khai ý sau đây: a) Phân tích, bàn luận về vai trò của số 0 và số 1 – Số 0 nếu đứng riêng một mình thì chẳng có ý nghĩa gì, cũng có thể nói là vô nghĩa. Nghĩa bóng chỉ con người và sự vật không có giá trị. – Số 0 chỉ có ý nghĩa khi đứng sau số 1, như những cá nhân đứng trong một tập thể có người đứng đầu (lãnh đạo) tài năng (số 1)(1). – Con số 0 trong câu chuyện không hiểu điều này nên lại tự coi mình là con số khổnglồ và đi đâu cũng "vinh dự", "tự hào", "vỗ ngực" khoe mình là "khổng lồ". Từ sự diễn giải trên, HS cần rút ra ý nghĩa của câu chuyện: con người cần nhận thức được giá trị của bản thân mình. Ý nghĩa này cọ thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau. Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của đoạn trích Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành b) Suy nghĩ về ý nghĩa của câu chuyện Câu chuyện gợi ra cho ta nhiều suy nghĩ về lẽ sống và cách ứng xử ở đời. – Lỗi của con số 0 không phải vì nó là số 0 mà vì ý thức và thái độ của nó. Số 0 đã phạm sai lầm vì nó không tự nhận thức được giá trị của bản thân mình. Cũng như vậy, trong cuộc sống mỗi con người có một hoàn cảnh khác nhau, có những giá trị khác nhau, dù ở vị trí nào, dù năng lực, tài năng đến đâu cũng không có lỗi nếu ý thức được những gì mình có. Con người chỉ mắc sai lầm khi không hiểu đúng, không nhận thức đúng được giá trị của bản thân mình và càng sai lầm hơn khi huênh hoang, kiêu ngạo, tự hào về những gì mình không có… – Ngược lại, nếu ý thức được đúng về mình thì ngay cả số 0 cũng trở nên rất có ý nghĩa. Cũng như vậy, những con người bình thường nếu ý thức được về mình sẽ có cách sống, cách ứng xử giản dị, khiêm nhường và cũng sẽ góp phần tạo nên sự vĩ đại khi đứng trong một tập thể, như những giọt nước tạo nên biển cả mênh mông. – HS dẫn ra một số ví dụ minh hoạ: + "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng"; nhiều con người bình thường trong một tập thể sẽ làm nên sự nghiệp lớn. + Dẫn ra một số câu chuyện dân gian hoặc tác phẩm văn học gần gũi với chuyện của số 0. – Liên hệ và rút ra bài học cho bản thân mình về sự tự nhận thức về bản thân và cách ứng xử trong cuộc sống. Nguồn: thêm: Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”
Bàn luận về vai trò của số 0 và số 1
604
Bàn luận về vấn đề sử dụng nước trong sinh hoạt và cuộc sống Gợi ý Trong đời sống chúng ta, thứ tài sản thường bị hủy hoại, lãng phí nhiều nhất là nước. Trong ý thức nhiều người, nước là thứ trời sinh, có thể sử dụng "vô tứ "xả láng", không cần giữ gìn gì hết! Nhưng đó là nhầm lẫn lớn của một tầm mắt hạn hẹp. Các nhà khoa học đã cho biết nước ngọt trên trái đất này là có hạn. Tổng số nước ngọt trên trái đất ước tính chỉ có chưa đến một ti ki-lô-mét khối. Số nước đó được coi là đủ cho năm 1990 khi nhân loại có ba tỉ người. Dự kiến đến năm 2025 nhân loại sẽ thêm ba tỉ người nữa, thành sáu tỉ người thì nguồn nước lấy đâu cho đủ? Trên thế giới không phải nước nào cùng may mắn được trời cho đủ nước ngọt để dùng. Nước Xinh-ga-po hoàn toàn không có nước ngọt, phải mua nước của Ma-lai-xi-a về chế biến. Một số nước ở Cận Đông cũng xảy ra tranh chấp về nguồn nước. Trong khi đó, công nghiệp càng phát triển thì lượng nước dùng trong công nghiệp càng nhiều, nước thải công nghiệp càng làm cho sông ngòi, ao hồ bị ô nhiễm, làm giảm chất lượng nước ăn, chăn nuôi và trồng trọt. Liên hợp quốc đã ra lời kêu gọi bảo vệ nguồn nước ngọt, chống ô nhiễm… Chúng ta hãy tiết kiệm nước, giữ gìn nước cho chúng ta và cho mai sau. Xem thêm: Nghị luận xã hội về tác dụng của việc đọc sáchVanmau.edu.vn
Bàn luận về vấn đề sử dụng nước trong sinh hoạt và cuộc sống
274
Bàn luận về vấn đề đi ẩu, vượt ẩu Gợi ý Trong bài thơ “Chúc tết" của Tú Xương viết vào đầu thế kí XX có câu: "Phố phường chật hẹp người đông đúc, Bồng bế nhau lên nó ở non ”… Mỗi lần nhìn thấy cảnh kẹt xe, ùn tắc giao thông ở thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, tôi lại chợt nhớ đến hai câu thơ trên. Phải chăng đó là một dự báo linh nghiệm rất đáng sợ! Thành phố nào cũng có mấy triệu cư dân, đường sá chật hẹp, nhiều điểm "thắt cổ chai ”, những giờ cao điểm, xe máy, ô tô, người đi bộ, học sinh đến trường, người bán hàng rong,.. cuồn cuộn chuyển động như sóng. Cảnh sát giao thông đứng lố nhố ở ngà ba, ngã tư. Hiện tượng đi ngược chiều, chen lấn, xô đẩy, phóng nhanh vượt ẩu, rồ ga, đâm vào nhau, chuyện va quệt, các vụ tai nạn giao thông xảy ra thường xuyên. Máu me nạn nhân thấm đỏ đường… nhìn thật đáng sợ. Nhiều cụ già, em bé… cứ phải nhắm mắt, rùng mình trước những cảnh tai nạn giao thông hãi hùng đó. Luật giao thông đường bộ đã có. Cánh sát giao thông xử phạt: phạt tiền, giữ xe, thu bằng lái,… Thế nhưng vấn đề đi ẩu, vượt ẩu, tai nạn giao thông vẫn diễn ra ngày một nhiều. Số người chết, bị thương vì tai nạn giao thông ngày một gia tăng. Tại sao như vậy? Phải chăng vì ý thức chấp hành luật lệ giao thông, nếp sống văn hóa đô thị. trình độ văn minh của nhiều người còn hạn chế? Vì sống bạt mạng, tự coi thường mạng sống mình, coi thường mạng sống đồng loại. Xem thêm: Hãy viết bài văn miêu tả cây Phượng vĩ vào một ngày hè Người đi xe máy không đội mũ bảo hiểm. Phóng xe, vượt ẩu, đánh võng, rú ga, bóp còi inh ỏi. Lái xe không có bằng lái xe, say bia, say rượu, gây tai nạn rồi bỏ chạy. Hãy đi qua cổng một số trường THPT ở Thành phố Hồ Chí Minh, ở Hà Nội sẽ thấy không ít cậu học sinh "choai choai”, tóc nhuộm vàng hoe, tai đeo khuyên, không đội mù bảo hiểm, kèm đôi, kèm ba, hoặc phóng xe trên đường, hoặc phóng xe trên vỉa hè, trên bãi cỏ công viên, coi thường tất cả. Nhiều học sinh hư, không ít "công tử" con ông cháu cha. hoặc cầm đầu, hoặc tham gia các vụ đua xe trái phép làm náo động phố xá! Cảnh sát giao thông đã gặp không ít khó khán, vất vả, nhưng khó mà dẹp bỏ được những đối tượng "tế nhị ” này! Thành phố chúng ta đang ngày một rộng ra, và người cũng đông lên. Đường phố cần thông thoáng hơn, không còn chuyện đào đường vô tội vạ, đừơng dựng ngổn ngang "lô cốt" tùy tiện. Phải có vỉa hè cho người đi bộ. Phải có đủ biển hiệu, đèn tín hiệu ở các ngã ba, ngã tư,… Các bậc ông bà, cha mẹ trước khi mua xe máy cho con cháu cũng cần luôn luôn nhắc nhở các con, các cháu về ý thức chấp hành luật lệ giao thông. Nhà trường, thầy cô giáo cần tăng cường giáo dục việc chấp hành luật lệ giao thông cho học sinh. Hễ đi ra khỏi nhà, dù đi bộ, đi xe máy, lái xe ô tô, lái xe buýt, bất cứ ai cũng phái thận trọng, phải tự giác chấp hành luật lệ giao thông. Xem thêm: Trình bày quan điểm của anh (chị) về tình yêu tuổi học trò.Chế tài xử phạt của luật lệ giao thông phaải nghiêm minh và cương quyết. Các hiện tượng đi ẩu, vượt ẩu… phái bị xử phạt thật nặng. Nhiều việc to lớn, nặng nề khác, Nhà nước và nhân dân ta đã làm được. Cớ sao, chuyện đi lại, chuyện giao thông lại trở thành nỗi lo của hàng triệu người? Tại sao nạn kẹt xe, nạn ách tắc giao thông, tai nạn giao thông đã và đang trở thành vấn nạn? Đây là một vấn đề mà mỗi người chúng ta cần phải suy ngẫm và bắt tay vào hành động Vanmau.edu.vn
Bàn luận về vấn đề đi ẩu, vượt ẩu
721
Bàn về Bình Ngô đại cáo có nhận định: Bình Ngô đại cáo là một áng “thiên cổ hùng văn”. Anh (chị) hãy chứng minh nhận dịnh trên Gợi ý Trong văn trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận lỗi lạc hơn cả. Ông để lại khối lượng văn chính luận khá đồ sộ, trong đó Bình Ngô đại cáo được coi là áng “thiên cổ hùng văn” bậc nhất trong văn học chữ Hán cổ điển nước ta. .Có thể hiểu “thiên cổ hùng văn” là áng văn hào hùng muôn đời. Trước Nguyễn Trãi, thời Lí Trần đã có những áng văn chính luận nổi tiếng như Chiểu dời đô (Lí Công Uẩn), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn). Nhưng chỉ đến Bình Ngô đại cáo, tính chất hùng ca mới được thể hiện một cách toàn diện từ nội dung tư tưởng đến các hình thức nghệ thuật. Âm hưởng hùng tráng của sáng tác được khởi đầu từ chính nhan đề Bình Ngô dại cáo. Đại cáo không phải là bài cáo thông thường mà là bài cáo mang tính chất quốc gia trọng đại. Bỉnh Ngô đại cáo là áng văn yêu nước lớn của thời đại, là bản tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc, bản cáo trạng tội ác kẻ thù, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Tính chất hùng tráng còn được thể hiện trong qui mô, bố cục của bài cáo. Dễ dàng nhận thấy Bỉnh Ngô đại cáo là áng văn dài, nội dung lớn, được chia làm bốn đoạn được đánh số như trong văn bản, mỗi đoạn đều có trọng tâm. Đoạn thứ nhất khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lập của dân tộc; đoạn thứ hai tố cáo, lên án tội ác của giặc Minh; đoạn thứ ba kể lại diễn biến cuộc chiến từ mở đầu đến thắng lợi hoàn toàn, nêu cao sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước; đoạn thứ tư tuyên bố kháng chiến thắng lợi, rút ra bài học lịch sử.Xem thêm: Trong kho tàng ca dao Việt Nam, có rất nhiều bài ca dao mở đầu bằng: "Thân em như... " Anh (chị) hãy cho biết tác dụng của cách mở đầu ấyBình Ngô đại cáo xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn” còn bởi nó chứa đựng một tư tưởng lớn lao của Nguyễn Trãi. Xuyên suốt chiều dài tác phẩm là tư tưởng nhân nghĩa. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa trước hết là yên dân, giúp dân trừ bạo, nhân nghĩa là chông xâm lược. Đạo quân vì dân chiến đấu chống giặc ngoại xâm cũng chính là đạo quân nhân nghĩa: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo… Trên lập trường nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã phơi bày tội ác của các thế lực phản động và bè lũ xâm lược: Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ, Bọn gian tà bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chắc hẳn khi viết những dòng văn này, Nguyễn Trãi phải đau đớn và căm phẫn lắm! Tấm lòng nhân nghĩa của ông không thể dung thứ cho tội ác tày trời của quân giặc cũng như không thể thờ ơ trước tình cảnh muôn dân bị đày đoạ khủng khiếp như thế. Và càng xót thương muôn dân bao nhiêu, con người ấy lại càng mài sắc ý chí đấu tranh tiêu diệt quân xâm lược bấy nhiêu. Lúc này, nhân nghĩa trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của đội quân điếu phạt: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo. Chiến đấu vì đại nghĩa nên đạo quân Lam Sơn luôn là đạo quân bách chiến bách thắng. Sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn là sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa hợp nhất với sức mạnh của lòng yêu nước. Thế cho nên, hai lần cất quân xâm lược nước ta cũng là hai lần giặc Minh nhận những đòn thua thảm bại:Xem thêm: Giới thiệu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Cứu binh hai đạo tan tành quay gót chẳng kịp; Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng. Tướng giặc bị cầm tù như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng; Trước sự cầu xin tha tội của quân giặc, quân ta cũng không truy sát đến cùng mà thể lòng trời (…) mở đường hiếu sinh. Thực chất, hành động nhân nghĩa đó còn có cội nguồn từ suy nghĩ để. dân được nghỉ ngơi dưỡng sức: Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Như vậy, nhân dân là động lực, là sức mạnh, là đích đến của cuộc chiến và nhân nghĩa chính là tư tưởng bao trùm lên toàn bộ động lực, sức mạnh, mục đích đó. Có thể nói cả bài cáo là khúc ca hùng tráng về tư tưởng nhân nghĩa. Tính chất hoành tráng không chỉ được biểu hiện trong tư tưởng lớn lao đó mà còn được thể hiện đậm nét trong nghệ thuật đậm chất anh hùng ca của bài cáo. Trong bài cáo, Nguyễn Trãi đã dựng lên bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh, nhịp điệu, tất cả đều mang đặc điểm bút pháp anh hùng ca. Chiến thắng của ta, sức mạnh của ta, sự thất bại thảm hại cửa quân giặc và khung cảnh chiến trường, tất cả đều được biểu hiện bằng những hình tượng phong phú, đa dạng, đo bằng sự lớn rộng, kì vĩ của thiên nhiên: Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay. Gươm mài đá, đá núi củng mòn, Voi uống nước, nước sông phải cạn. Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm; Tót Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm. Ghê gớm thay sắc phong vân phải đổi, Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ. Về mặt ngôn ngữ, trong nguyên văn cũng như bản dịch, các động từ mạnh liên kết với nhau thành những rung chuyển dồn dập, dữ dội. Các tính từ chỉ mức độ ở điểm tối đa tạo thành hai mảng trắng, đen đối lập, thể hiện khí thế chiến thắng của ta và sự thất bại của địch. Câu văn khi dài, khi ngắn, biến hoá linh hoạt trên nền nhạc điệu dồn dập, sảng khoái. Âm thanh giòn giã, hào hùng như sóng trào, bão cuốn. Đó là nhịp điệu của triều dâng, sóng dậy, hết lớp này đến lớp khác:Xem thêm: “Sự làm việc tránh cho ta ha cái hại lớn: tật xấu, nỗi buồn và cảnh nghèo túng”. Em hãy giải thích nhận định trênNgày mười tám… Ngày hai mươi… Ngày hăm lăm… Ngày hăm tám… Đó là nhịp của gió lay, bão giật, trận này nối tiếp trận khác:. Gươm mài đá, / đá núi cũng mòn, Voi uống nước, / nước sông phải cạn. Đánh một trận, / sạch không kỉnh ngạc, Đánh hai trận, / tan tác chim muông… Chính bút pháp nghệ thuật đậm chất anh hùng ca này kết hợp với tư tưởng lớn lao, vĩ đại đã mang đến tính hùng tráng cho Bình Ngô đại cáo, đưa bài cáo lên vị trí “thiên cổ hùng văn”. Sau Bình Ngô đại cáo, văn học trung đại còn xuất hiện nhiều áng văn nghị luận khác nhưng có lẽ không sáng tác nào vượt lên được nó ỗ tính chất hùng tráng đó. Đọc áng “thiên cổ hùng vãn” này, chúng ta mới phần nào cảm nhận được sức mạnh hơn mười vạn quân từ mỗi trang nghị luận của nhà tư tưởng, nhà văn kiệt xuất Nguyễn Trãi. Vanmau.edu.vn
Bàn về Bình Ngô đại cáo có nhận định_ Bình Ngô đại cáo là một áng “thiên cổ hùng văn”. Anh (chị) hãy chứng minh nhận dịnh trên
1,302
Bàn về bệnh thành tích – Một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay Gợi ý Không biết từ bao giờ bệnh thành tích đà trở thành một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay. Học tập, lao động, chiến đấu, cá nhân nào cũng có ước muốn chính đáng là lập được nhiều thành tích tốt đẹp. Nhưng vì hám thành tích mà có hiện tượng làm láo báo cáo hay. Thành tích được vẽ ra, được thổi phồng lèn theo cấp số nhân, cấp số cộng để nhận huy chương, để lấy bằng khen, rước xách rầm rộ, liên hoan lu bù, báo công ầm ĩ. Hầu như ngành nào cũng lắm bệnh thành tích. Nhà máy thiếu nguyên liệu, công nhân thất nghiệp, nhưng năm nào cũng hoàn thành kế hoạch. Lâm trường nọ trồng cây gây rừng, thành tích được thổi phồng lên, nào là phủ xanh đồi trọc, nào là trồng được hàng triệu cây có bóng mát, cây ăn quả, cây gỗ quý, thông và bạch đàn bao la. Nhưng câu chuyện xảy ra như một vở bi hài kịch khi đoàn kiếm tra “sờ” đến. Những con số ấy, những cây cối ấy chỉ là số không. Rừng phòng vệ bị phá tan hoang. Diện tích hoang hóa, đồi trọc mênh mông. Rừng đầu nguồn bị chặt phá trơ trụi. Xem thêm: Phải chăng “Một điều nhịn, chín điều lành”? Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của anh (chị) Ngành giao thông vận tải thì đường sá mới làm xong đã xuống cấp, tai nạn giao thông xảy ra đến chóng mặt, mỗi năm có hàng trăm người chết vì tai nạn ô tô, chẹt tàu. Hiện tượng lún móng cầu, sập cầu đâu còn là sự cố hiếm thấy nữa! Ngành giáo dục, bệnh thành tích trở nên trầm kha. Thi cử gian dối, trường nào, địa phương nào cũng lo chạy theo thành tích nên đã buông lỏng kỉ cương. Bằng giả, học giả, tiến sĩ rởm không còn là hiện tượng hi hữu nữa. Khẩu hiệu: “Nối không với tiêu cực ” tuy đã giảm bớt được một phần nào, nhưng bệnh tiêu cực không thể nào một sớm một chiều mà giảm bớt được, hạn chế được. Bệnh thành tích đã làm suy thoái đạo đức cán bộ, người lao động vì cái tệ làm láo báo cáo hay. Con số thống kê là con số ảo, không đúng với thực tế sản xuất của nước ta. Dịch cúm gà, cúm gia cầm, bệnh lợn tai xanh, có nơi, có lúc đã báo cáo sai. Do bệnh thành tích mà từng gây ra nhiều thảm họa! Phải thanh tra, kiểm tra thật chặt chẽ, xử phạt thật nghiêm minh mới có thể chữa được căn bệnh “ung thư” này. Có chữa được bệnh thành tích thì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước mới phát triển và giành được nhiều thành tựu rực rỡ. Có chữa được tận gốc bệnh thành tích mới chống các hiện tượng thi cử gian lận, mới xây dựng được con người mới, đạo đức mới, xã hội văn minh. Xem thêm: Kể một sự việc xảy ra mà em nhớ mãiVanmau.edu.vn
Bàn về bệnh thành tích – Một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay
559
Bàn về chuyện chơi và nghiện game Online Gợi ý Điều đáng sợ Không ai cho rằng tất cả game Online đều xấu. Nhưng cũng không ai có thể phủ nhận game Online đã gây ra những hệ luỵ xấu cho xã hội. Cách đây không lâu, một thiếu niên mê game Online ở Tiền Giang đã ra tay sát hại ông ngoại của mình. Hàng loạt vụ việc như thế diễn ra nhiều năm gần đây: để có tiền chơi game Online, nhiều bạn trẻ có những hành vi điên dại, nặng thì giết người, hành hung ông bà, cha mẹ; nhẹ thì trộm cắp tài sản trong nhà đem bán hoặc lừa dối người lớn để lấy tiền. Nhưng điều đó vẫn chưa đáng sợ. Đáng sợ là trong số hàng ngàn, chục ngàn sinh viên bỏ học hằng năm, rất nhiều trong số đó bỏ học vì nghiện game Online. Sau bỏ học là những tháng ngày mất phương hướng. Nhiều bạn viết thư về Tuổi trẻ cho biết, vì mê game Online đã tự hủy hoại cuộc đời mình, tương lai tốt đẹp của mình. Một vài vụ án mạng là điều có thể thấy được, nhưng hàng ngàn bạn trẻ mất phương hướng thì chưa biết họ sẽ gây ra điều gì trong tương lai. Trong khi các nhà quản lí ngồi bàn về quản lí game Online sau năm năm ngành dịch vụ này tràn ngập ở Việt Nam, trong khi các nhà phát hành và kinh doanh game Online kêu gọi xã hội có cái nhìn công bằng, đừng kì thị với ngành này thì hàng triệu game thủ – đều trong tuổi thanh thiếu niên – vẫn chìm đắm trong game, đốt cháy những tháng ngày tuổi trẻ của mình. Đúng, những người trẻ ấy – hơn ai hết – chính là người chịu trách nhiệm về cuộc đời mình. Nhưng một xã hội có kỉ cương, có đạo đức thì không ai để mặc người khác, nếu không muốn nói là phải có trách nhiệm.Xem thêm: Danh ngôn phương Tây có câu: “Hỏi một câu, chỉ dốt nát trong chốc lát, không hỏi sẽ dốt nát cả đời”. Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên? Những biện pháp quản lí người chơi, hành lang pháp lí cho dịch vụ này hoạt động đều đã có. Thế nhưng sao? Tiệm internet không phải hoạt động đến 12 giờ đêm mà là thâu đêm suốt sáng. Ngsười chơi game Online không chỉ chơi 5giờ/game/ngày mà chơi thả cửa. Ai được lợi thì đã thấy rõ. Ai bị hại cũng đã thấy rõ. Gần như tất cả các bạn từng là game thủ gửi thư về Tuổi trẻ đều rùng mình nhớ lại những tháng ngày chìm đắm trong game Online và đề xuất hãy có biện pháp giám sát người chơi, giám sát doanh nghiệp phát hành dịch vụ. Đó là siết lại việc hạn chế giờ chơi; cắt việc cung cấp game Online sau 12 giờ đêm ở các điểm dịch vụ; đánh thuế nặng hơn với nhà cung cấp; phân loại game cho từng lứa tuổi… Và để làm được điều này, phải chế tài thật nặng các vi phạm. Không phải tất cả game online đều xấu. Nhưng, nếu chỉ muốn biến ngành giải trí này thành một cỗ máv kiếm tiền đơn thuần mà không có giải pháp bảo vệ hoặc cảnh báo người chơi, để một bộ phận giới trẻ huỷ hoại cuộc đời của mình thì điều đó thật tệ hại. Và điều đó mới đáng sợ! Vanmau.edu.vn
Bàn về chuyện chơi và nghiện game Online
593
Bàn về chuyện được – mất của tuổi trẻ từ một trò chơi ảo ảnh Gợi ý Thư của một người mẹ Tôi chưa bao giờ nghĩ con trai mình có một ngày phải như thế này. Trước đây, cháu từng là một đứa trẻ rất hồn nhiên, hiền lành, thông minh, học tập rất tốt và được lĩnh thưởng nhiều năm liền vào thời kì còn học cấp hai. Cháu là niêm tự hào của tôi. Và chính trong giai đoạn này, cháu bắt đầu tiếp xúc với game online… Sang cấp ba cháu tiếp tục trượt dài, ngày càng mê đắm vào những trò chơi ảo ảnh. Mặc cho nước mắt tôi rơi, con trai gạt bỏ ngoài tai mọi lời khuyên bảo, bỏ bê học hành. Cháu không còn vẻ hồn nhiên, thông minh, dí dỏm như ngày nào, mà giờ đây là một thiếu niên với hình hài gầy guộc, đờ đẫn, chai lì, biếng ăn, biếng nói. Tôi đã từng khóc trong đêm… "Con ơi! Những trò chơi đó có phái là lẽ sống của con? Mẹ đã dành cho con tất cả từ vật chất đến tinh thần. Sinh con ra, nuôi dạy con khôn lớn, mong cho con nên người để con có được một cuộc sống ổn định, tốt đẹp sau này. Chưa bao giờ mẹ nghĩ nhiều đến bản thân mình, mẹ không cần con phải báo hiếu cho mẹ trong những ngày tuổi già. Mẹ không biết mình sẽ sống được bao lâu nữa nhưng mẹ cũng không hề sợ cái chết. Vì thật ra trong mẹ giờ có quá nhiều nỗi đau, tổn thương và đã trở thành tâm bệnh. Mẹ không còn sợ gì nữa. Chỉ canh cánh trong lòng một dđiêu là làm sao phải cứu lấy con trước khỉ mẹ nhắm mắt. Con ơi! Con hãy suy nghĩ lại, phải có quyết tâm, làm người phải biết suy nghĩ đúng sai, biết phân biệt giữa cái tốt và cái xấu, biết dùng lí trí để suy xét, dùng ý chí để chế ngự, khắc phục mình. Con phải thấy rằng mình rất may mắn và vinh dự khi được làm người. Con không thấy sao, xung quanh mình còn biết bao nhiêu mảnh đời bất hạnh, đáng thương. Vậy mà họ đã luôn cố gắng đấu tranh, vượt qua để vươn lên, chọn con đường đúng, tốt đẹp để đi, để sống như một con người. Còn con, chẳng lẽ đợi đến khi mẹ nằm xuống rồi con mới nhận ra sao? Con không thấy những giờ phút mê muội, đắm chìm vào ảo ảnh của con là những giờ phút giày vò, giết chết dần mẹ hay sao?…" Xem thêm: Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” – Văn 12 Tôi tự hỏi dịch vụ game Online đdã góp phần làm lợi ích cho địa phương, đất nước chúng ta bao nhiêu? Nhưng dù bao nhiêu đi nữa thì điều ấy cũng vô nghĩa nếu nó góp phần làm hư hỏng, làm hại dù chỉ một con người. Bao nhiêu đứa trẻ đã bị game Online tước đoạt phần đời đẹp nhất, trong đó có con tôi? Bài đọc thêm Hàng trăm sinh viên bỏ học vì game Online Theo thầy Nguyễn Tiến Dũng (trưởng phòng đào tạo Trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật TP. Hồ Chí Minh), vào năm 2009 nhà trường đã buộc thôi học đối với 281 sinh viên có học lực kém. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là các bạn trẻ mê chơi game, đàn đúm bạn bè. Tuy nhiên, hiện nay nhà trường đang xem xét khoảng 90 đơn xin chuyển xuống trình độ hoặc bậc học thấp hơn theo quy chế 43 của Bộ Giáo dục – Đào tạo của các sinh viên này. Trong năm 2009, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh có khoảng 180 trường hợp bị đình chỉ học tập do học lực kém. Với Trường Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh, con số này lên đến 414 sinh viên (năm 2009). Thầy Huỳnh Thanh Hùng, phó hiệu trưởng nhà trường, đồng tình rằng nguyên nhân sâu xa do sinh viên chìm đắm vào các trò chơi trực tuyến, không thể đảm bảo việc học tại trường. Thầy Thanh Hùng đưa ra vài trường hợp đáng tiếc về các sinh viên vốn là học sinh giỏi cấp tỉnh nhưng vì mải chơi game mà con đường học vấn bỏ dở giữa chừng. Xem thêm: Mùa hè với những cơn mưa chợt đến rồi chợt đi. Em hãy tả một cơn mưa mà mình có dịp quan sátVanmau.edu.vn
Bàn về chuyện được – mất của tuổi trẻ từ một trò chơi ảo ảnh
773
Bàn về các từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” trong giao tiếp, ứng xử Gợi ý HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Đây là đề nghị luận xã hội về một khía cạnh của lễ tiết trong giao tiếp; đó là việc sử dụng những lời nói lịch sự trong giao tiếp hàng ngày như “vui lòng”, “làm ơn”, “cảm ơn” tỏ ra, mình là người có văn hóa, biết tôn trọng người khác và tự trọng. Sử dụng những từ xã giao lịch sự đó làm cho người mình tiếp xúc được vui vẻ hơn, quan hệ giữa người và người vì thế sẽ trở nên tốt đẹp hơn, thuận lợi hơn. Phải tập sử dụng những từ đó với sự chân thành trong mọi trường hợp thích hợp cho thành thói quen để người ta không cảm thấy khách sáo hay điệu đà và đó cũng là biểu hiện của nếp sống có văn hóa, văn minh của nhân cách. BÀI VĂN THAM KHẢO “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” (Tục ngữ). Trong giao tiếp hàng ngày với những người xung quanh, người lịch sự, có văn hóa là người biết dùng những từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” khi gặp gỡ chuyện trò hoặc có công chuyện với người ta. Khi ta cần đề nghị người khác một việc gì đấy, dù việc đó nhỏ và không làm phiền hà gì mấy, cũng nên dùng từ “vui lòng” trước lời đề nghị. Ví dụ anh vui lòng cho tôi đi qua chỗ này, chị vui lòng cho tôi đi trước một chút. Xem thêm: Em hãy trình bày những hiểu biết và suy nghĩ của mình về nhân vật Đôn-ki-hô-tê mà em được tiếp xúc trong các chương trích ở tác phẩm của Xec-van-tex Nếu việc mình đề nghị có làm phiền hà người khác nhiều hơn một chút thì nên dùng từ “làm ơn” để tỏ lòng biết ơn và sự khiêm tốn của mình. Ví dụ “ông làm ơn ngồi lùi vào một chút cho tôi ngồi nhờ được không ạ?”. “Anh làm ơn cho tôi đọc nhờ tờ báo một lúc”. Từ “xin lỗi”, có thể được dùng trước những lời đề nghị trên để tăng thêm phần lịch sự và khiêm tốn. Còn thường thì từ xin lỗi được dùng khi mình trót gây ra một điều gì phiền hà cho người ta dù chỉ nhỏ. Ví dụ: khi mình gọi điện thoại nhầm số làm người ta phải nhấc máy, mình phải xin lỗi ngay, hoặc tưởng nhầm là người quen mình gọi, khiến người ta quay lại, mình phải nói “Xin lỗi, tôi nhầm”. Ngay cả khi do hoàn cảnh khách quan mà không giúp được người khác một việc gì cũng phải xin lỗi… Từ “cảm ơn” là từ hay dùng nhất. Đối với bất kể ai dù là một đứa trẻ nếu giúp mình một việc gì dù nhỏ nhất mình cũng phải “cảm ơn”. Ví dụ: cháu đưa ông tờ báo, ông cảm ơn cháu; mình hỏi đường, người ta chỉ, mình phải cảm ơn; người bán hàng giao hàng cho khách, khách cảm ơn, người bán hàng cũng cảm ơn, hai người đều vui vẻ… Người không biết nói những từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” trong những trường hợp như trên là người thiếu lịch sự, thiếu văn hóa. Những người không biết dùng những từ ấy mà còn dùng những từ tục tằn, thô lỗ là những người thiếu đạo đức, thiếu giáo dục. Xem thêm: Trong Người lái đò sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân tự coi mình lả người "đi tìm... tươi vui và bền vừng". Theo anh (chị), chất vàng quý báu của thiên nhiên và của người lao động Tây Bắc đã được nhà văn phát hiện và mô tả như thế nào qua bài tùy bút của mình Trong truyện: Một người Hà Nội, nhân vật “tôi” kể lại khi “tôi’ đang đi trên đường phố Hà Nội, bị một thanh niên xô vào phía sau xe, anh ta không xin lỗi còn ngoái lại chửi “tôi”: “Tiên sư thằng già”. Nhân vật cô Hiền trong tác phẩm ấy rất coi trọng việc giáo dục con nếp sống thanh lịch của người Hà Nội, trong ứng xử, trong sinh hoạt mà cô coi đó là biểu hiện của lòng tự trọng. Trong quan hệ giao tiếp giữa người và người, có hàng nghìn lễ tiết, trong hàng trăm mối quan hệ, hàng trăm công việc, mấy từ “vui lòng, làm ơn, xin lỗi, cảm ơn” chỉ là một phần nhỏ thuộc về lời nói trong sinh hoạt hàng ngày, “Muốn xứng đáng là con người thì phải hiểu biết lễ tiết là diện mạo, ăn mặc và đối đáp ứng xử”, một nhà tư tưởng nổi tiếng đời Thanh đã nói thế (theo 100 lễ tiết cần học hỏi trong cuộc đời – Bích Lãnh – Phan Quốc Bảo (biên dịch) – NXB Văn hóa – Thông tin, tr. 5). Lễ tiết vừa thể hiện nhân cách của chủ thể, vừa thích ứng với những yêu cầu cơ bản trong mối quan hệ ứng xử giữa người với người và tạo ra nhiều cơ may quý báu cho cuộc đời và sự nghiệp của mình (theo sách trên). Học sinh là những người có học phải gương mẫu thực hiện lễ tiết trong quan hệ giao tiếp, trước tiên là trong đối đáp, ứng xử, phải tỏ ra là người có văn hóa, có giáo dục. Xem thêm: Hãy cho biết cảm nghĩ của em về những gì khiến em xúc động hơn cả trong mấy bài ca dao về thân phận người lao động nghèo khổ đã học Lễ tiết trong giao tiếp, nếu chưa biết thì phải học, học ở nhà, ở trường, ở sách báo, trong cuộc sống. Học thì phải vận dụng ngay, vận dụng thường xuyên cho thành thói quen, thành nếp sống, thể hiện một cách chân thành khiến cho mình và người khác không cảm thấy là khách sáo, điệu đà. Thực hiện lễ tiết trong đó có lễ tiết đối đáp, ứng xử, trong các quan hệ giao tiếp không phải là xã giao mà chính là đạo đức, là văn minh. Lễ tiết trong các quan hệ giao tiếp phải trở thành phép tắc, thành nếp sống bình thường của xã hội. Muôn thế phải có sự giáo dục lễ tiết, giáo dục trong gia đình, giáo dục trong nhà trường, giáo dục trong xã hội (bao gồm giáo dục của sách báo, của các cơ quan truyền thông, sự gương mẫu của những người có trách nhiệm) nhưng quan trọng nhất vẫn là sự tự giáo dục của mỗi người. Không biết lễ tiết thì luật pháp có thể chưa bắt tội nhưng lương tâm, danh dự của con người không cho phép. Lễ tiết trong cuộc sống trong đó có đối đáp, ứng xử trong giao tiếp là một phần của nhân cách, mà người ta có thể nhận biết rõ ngay trong cuộc sống hàng ngày. Vanmau.edu.vn
Bàn về các từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” trong giao tiếp, ứng xử
1,188
Bàn về Hai Bà Trưng Hướng dẫn Bàn về Hai Bà Trưng Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay(l). Như thế đủ biết hình thế nước Việt ta có thể dựng được cơ nghiệp bá vương (2). Tiếc rằng nối sau họ Triệu đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn 1.000 năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, chịu làm tôi tớ cho người phươngBắc, chưa từng biết xấu hổ với hai người họ Trưng là con gái…(3). Ôi, có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy (4). (Lê Văn Hưu – Trích "Đại Việt sử kí) Cảm nghĩ của em khi đọc bài “Bàn về Hai Bà Trưng ” của nhà sử học Lê Văn Hưu. Bài làm Lê Văn Hưu đỗ bảng nhãn làm quan dưới triều vua Trần Thái Tông. Năm 1272, ông soạn xong bộ "Đại Việt sử kí" gồm có 30 quyển. Tác phẩm này đã bị giặc Minh cướp đem về Tàu. Trong thế kỉ XV, sử gia Ngô Sĩ Liên khi viết bộ "Đại Việt sử kí toàn thư” có nhắc lại một vài đoạn bình sử của Lê Văn Hưu trong bộ “Đại Việt sử kí ”, trong đó có bài "Bàn về Hai Bà Trưng” Bài văn gồm có 4 câu. Câu thứ nhất ca ngợi sự nghiệp anh hùng của Trưng Trắc, Trưng Nhị khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định (40 – 43) giành lại nền độc lập cho nước nhà và lên làm vua: “là đàn bà, hô một tiếng mà Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành trì ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựngnước xưng vươngdễ như trở bàn tay Câu thứ hai, Lê Văn Hưu khẳng định nước ta có nhiều nhân tài, “có thể dựng được cơ nghiệp bá vương”, nghĩa là dân tộc ta có thể giành được độc lập, xây dựngđất nước cường thịnh. Câu thứ ba, thứ tư, tác giả chê trách cái hèn của “bọn đàn ông ” nước ta trong khoảng hơn 1.000 năm “chỉ cúi đầu bó tay, chịu làm tôi tớ cho người phương Bắc… Lê Văn Hưu đã dám nhìn thẳng vào lịch sử mà chê trách cái hèn của “bọn đàn ôngnước ta: "Ôi, có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy". Qua đó, ta thấy lời bình sử của Lê Văn Hưu rất sắc gọn, đanh thép có giá trị kích thích tinh thần dân tộc. Ông không chỉ ca ngợi sự tích anh hùng của Hai Bà Trưng mà còn chỉ rõ cái hèn của bọn đàn ông là nguyên nhân chính đề đất nước bị ngoại bang thống trị. Nguồn: thêm: Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện ngắn “Người trong bao” của Sê - khốp
Bàn về Hai Bà Trưng
478
Bàn về hành trang của thanh niên trong thời đại mới Hướng dẫn Trọng tâm cần bàn luận là những hành trang mà mỗi người trẻ tuổi cần chuẩn bị cho mình để có thể vững bước trên hành trình sống. Để bàn luận đúng hướng, có thể dựa vào các ý cơ bản sau: – Nêu ngắn gọn những yêu cầu của thời đại mới đối với thanh niên – những người chủ tương lai sủa đất nước. Để đáp ứng được yêu cầu đó, mỗi người cần chuẩn bị cho mình những hành trang gì? – Bàn luận về tầm quan trọng của những hành trang đó: vốn tri thức sách vở và đời sống, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách, sức khoẻ thể chất và sức mạnh tinh thần… – Bản thân anh (chị) đã có sự chuẩn bị như thế nào để có thể chủ động, vững vàng trên con đường đi tới tương lai? Nguồn: Xem thêm: Câu tục ngữ Lá lành đùm lá rách gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về truyền thống đạo lí của dân tộc ta?
Bàn về hành trang của thanh niên trong thời đại mới
180
Bàn về lợi ích và hứng thú của việc tự học Gợi ý Theo tôi nghĩ và hiểu là có hai hình thức học tập: học theo trường lớp và tự học. Học theo trường lớp là cách học tập có hệ thống, học dưới sự giảng dạy của thầy theo một chương trình nhất định, của một nền giáo dục nhất định. Bởi vậy nhân dân ta mới có những câu tục ngữ, câu ca: “Không thầy đố mày làm nên ”, “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy”. Những câu ca dân gian ấy đã nói lên tầm quan trọng của việc học tập theo trường lớp và tình cảm "tôn sư trọng đạo ” của nhân dân ta. Từ tuổi ấu thơ nếu được cắp sách đến trường, học tập thì đó là một điều hạnh phúc nhất. Truyện ngắn ‘Tôi đi học ” của Thanh Tịnh, bài kí “Cổng trường mở ra ” của Lý Lan đã cho ta thấy rõ niềm sung sướng hạnh phúc của tuổi thơ là được đi học. Ngoài việc cắp sách đến trường học tập còn có hình thức tự học. Có người thất học từ thuở bé nhưng nhờ tự học mà làm được bao việc tốt đẹp. Có người vì lí do nào đó mà việc học hành dở dang nên phải tự học. L-di-xơn chưa được học cấp II mà trở thành nhà sáng chế phát minh lừng danh nước Mĩ trong thế kỉ XIX, đâu phải do thần linh phù trợ mà chính là do ông miệt mài tự học và lao động sáng tạo. Bin-ghết chưa học hết chương trình dại học, không phải là Tiến sĩ, Giáo sư thế mà ông trở thành tỉ phú, trớ thành”vua máy tính ”. Báo chí gần đây cho biết bao chuyện “lạ” về nhân vật thần kì này. ông Lũy, một nông dân Nam Bộ chỉ học cấp I mà biết "dời nhà ”, có thể di chuyển những đình chùa, cồng trình, biệt thự… từ vị trí này qua vị trí khác mà các kĩ sư không làm được, tài năng đó là do tự học mà có. Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu Tự học rất có ích vì nhờ tự học mà phát triển tài năng, nhờ tự học mà mở rộng kiến thức, đúc rút kinh nghiệm, biến lí thuyết, kiến thức sách vở thành trí năng, kĩ năng, kĩ xảo. Cuộc sống thực tế, cuộc đời rộng lớn là quyển sách quý nhất cho bất cứ ai. "Đi một ngày đàng học một sàng khôn " là lời nhắc nhở của dân gian, nói về lợi ích của việc tự học. Phương châm: học với hành đi đôi, học tập gắn liền với lao động sản xuất, xét cho cùng là đề cao việc tự học. Tự học là niềm thích thú, say mê. Đọc sách là hình thức tự học. Nhờ đọc sách mà ta có kiến thức sâu rộng, “học một, biết mười", tầm mắt được mở mang. Đọc các truyện lịch sử mà ta biết được những trang sử vàng của dân tộc. Đọc sách du kí, mà ta cảm thấy tự tin hơn mỗi khi bình minh cắp sách tới trường. Học ban ngày ở trường, nhưng đêm về học sinh phải tự học. Câu thơ của Nguyễn Trãi được nhiều người hay nhắc đến: "Ăn sách cày đèn, hai bạn cũ” Đêm đêm chong đèn đọc sách mới biết tự học. Sau khi làm được một bài toán khó, làm được bài văn vừa ý, dịch được một bài tiếng Anh, em thấy vô cùng thú vị và sung sướng. Biển học rộng bao la. "Nhà bác học cũng phải học ", lời nhắc nhở ấy đã làm cho ta hiểu sâu sắc hơn lợi ích và hứng thú của công việc tự học! Xem thêm: Bàn về chuyện được - mất của tuổi trẻ từ một trò chơi ảo ảnh Học thầy, học bạn, học trong cuộc sống, tự học… mới thành người có ích. Thế kỉ XXI là thế kỉ phát triển nền kinh tế thị trường, nền kinh tế tri thức, nên mỗi chúng ta càng cần phải biết không ngừng học tập, chuyên cần tự học. Vanmau.edu.vn
Bàn về lợi ích và hứng thú của việc tự học
723
Đề bài: Em hãy bàn về một kĩ năng sống. Có thể nói trong những năm gần đây vấn đề kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống đang là vấn đề “nóng” được giới nghiên cứu và xã hội quan tâm, nhất là trước tình trạng báo động về nhân cách, đạo đức, lối sống của một bộ phận giới trẻ đương đại. Thế nhưng tình hình chung ở các trường phổ thông hiện nay là phần lớn thời gian dạy học đều dành hết cho các môn học chính khóa còn kĩ năng sống ít được quan tâm, hoặc là lồng ghép với các hoạt động khác như ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp. Giáo dục cần phải hướng đến một chương trình toàn diện, dạy học là dạy cả tri thức, kỹ năng và thái độ sống để học sinh có thể hội nhập, thích nghi với cuộc sống tương lai. Chính vì vậy chúng ta phải suy nghĩ đến ý kiến sau: “Việc rèn luyện kỹ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức”. Kĩ năng sống là khả năng thích nghi, ứng phó và giải quyết các tình huống thực tiễn. Kiến thức là những hiểu biết có được từ sách vở và đời sống thông qua quá trình học tập và trải nghiệm. Ý kiến trên đã khẳng định việc rèn luyện kĩ năng sống và tích lũy kiến thức đều cần thiết. Điều đầu tiên chúng ta cần khẳng định việc tích lũy kiến thức giúp con người tăng vốn hiểu biết để khám phá thế giới, khẳng định bản thân.. Xã hội hiện đại có những thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sống, một mặt sự phát triển của xã hội hiện đại làm cho chất lượng cuộc sống của con người ngày càng tốt hơn, những mặt khác làm nảy sinh những vấn đề mới mà trước đây con người chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa biết cách đương đầu, đồng thời mức độ phức tạp, khó khăn của những vấn đề cũ đã gặp trước đây cũng có xu hướng tăng lên. Như vậy trong xã hội hiện đại con người càng cần có kĩ năng sống để thích nghi tốt hơn và nâng cao chất lượng cuộc sống, thích ứng và hòa nhập với môi trường một cách tốt nhất. Tại Mĩ, từ những năm 1916, người ta đã nhận ra rằng tri thức nhân loại là rất lớn nhưng để thực hành thành thạo và áp dụng, ứng dụng vào cuộc sống thì thường không như mong muốn. Cho nên mỗi người dân lao động tại Mĩ phải đảm bảo thực hành và phải được các tổ chức công nhận là đã qua 13 kĩ năng bắt buộc. Kĩ năng sống góp phần thúc đẩy cá nhân và xã hội, ngăn ngừa được các vấn đề tiêu cực nảy sinh trong xã hội, bảo vệ sức khỏe và quyền con người. Các cá nhân thiếu kĩ năng sống là một nguyên nhân nảy sinh nhiều vấn đề lệch chuẩn. Người có kĩ năng sống biết cách bảo vệ mình trước những yếu tố bất lợi của cuộc sống, biết xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp, nhân văn và từ đó góp phần làm giảm tệ nạn xã hội, làm cho xã hội phát triển, văn minh.Xem thêm: Anh (chị) hiểu thế nào về tình yêu và khát vọng đối với tự do trong bài thơ tự do của p. Ê-luy-a Rèn luyện kĩ năng sống và tích lũy kiến thức có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại: tích lũy kiến thức làm nền tảng cho việc hình thành, rèn luyện kĩ năng sống; rèn luyện kĩ năng sống là điều kiện để vận dụng hiệu quả kiến thức vào thực tế. Kĩ năng sống như một phản xạ, xuất phát từ chính vốn sống, tính cách của mỗi người. Ta có thể thấy những kĩ năng sống không tự nhiên mà có. Đó là một quá trình học tập, tích lũy và rèn luyện của chính bản thân mỗi người. Mỗi người cũng có thể tự trang bị kĩ năng sống bằng cách quan sát, học hỏi những điều hay, điều tốt từ những người xung quanh mình, tự trải nghiệm cuộc sống với những hoạt động như đi du lịch, tham gia các chương trình, hoạt động đoàn thể, cộng đồng. Do vậy chúng ta cần phê phán những lối suy nghĩ một chiều, chỉ chú trọng vào những kiến thức sách vở mà quên đi việc rèn luyện những kĩ năng sống, từ đó khi đối mặt với khó khăn sẽ không có kinh nghiệm giải quyết những vấn đề thực tiễn. Hơn thế, giáo dục kĩ năng sống cần cả một quá trình giáo dục từ gia đình đến nhà trường và cả xã hội. Trong đó có thể nói giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo là một trong nhiều con đường hình thành kĩ năng sống ở mỗi người, nhưng giáo dục kĩ năng sống theo con đường giáo dục nhà trường sẽ đảm bảo vai trò chủ đạo của giáo dục và có thể đem lại hiệu quả cao hơn nhờ tính khoa học và tính chuyên nghiệp của nó.Xem thêm: Tả một người thân trong gia đình em. Cuộc sống hiện đại, con người rất dễ đánh mất chính mình, và những kỹ năng sống thì rất cần thiết đỗi với mỗi chúng ta. Chính vì vậy mà việc nhận thức được tầm quan trọng và biết kết hợp hài hòa, cũng như linh hoạt giữa rèn kĩ năng sống với tích lũy kiến thức sẽ giúp mỗi người hoàn thiện bản thân và giúp cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Nguồn: Văn mẫu hay
Bàn về một kĩ năng sống -văn 12
986
Đề bài: Bàn về một kĩ năng sống. Đi đến nơi nào lời chào đi trước Lời chào dẫn bước con đường bớt xa Mỗi người chúng ta, trong hành trình đầy chông gai của đường đời, rất cần có cho mình những kĩ năng sống, làm hành trang để chiếm lĩnh thành công, hạnh phúc và những giá trị đích thực của cuộc sống. Bàn về kĩ năng sống, có thể có rất nhiều, song có một nét đẹp trong giao lưu ứng xử hằng ngày lại rất đáng để chúng ta lưu tâm và bàn luận. Đó là lời chào. Từ thuở còn thơ, khi cắp sách đến trường tiểu học, ta đã được học câu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Đó là bài học đầu đời, được đề bảng gắn trong từng lớp học. Người Á Đông chúng ta coi trọng lễ nghĩa, trong đó lời chào hỏi là một vấn đề hết sức quan trọng. Người Trung Quốc còn phân biệt nhiều cách chào với sắc thái trang trọng hay thân mật khác nhau. Ví dụ với người lớn hơn hay người lần đầu mới gặp thì câu chào thông thường là “chào ông”, “chào chị”. Còn khi đã quen thân hay ngang hàng thì lời chào chuyển sang sắc thái quan tâm, gần gũi: “Đang ăn cơm à?”; “Cả nhà đang làm gì đấy?” hay “Cậu đọc sách à?”… Ông bà ta thì từ xưa đã có câu dặn “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Đối với người gặp lần đầu thì lời chào là khởi đầu câu chuyện, khiến hai người lạ bỗng trở nên thoải mái, dễ gần hơn. Đối vơi người trong nhà hay người đã quen thân thì gặp nhau cất lời thăm hỏi, hay chỉ là mỉm cười chào nhau, sẽ làm tình cảm thêm thắt chặt, gắn bó. Một lời chào lễ phép, lịch sự qua điện thoại: “Cháu chào bác, bác cho cháu gặp bạn… có được không ạ?” sẽ làm ấm lòng người nghe. Trẻ nhỏ biết vòng tay, cúi đầu chào ông bà, cha mẹ, chào khách đến nhà. Đứa bé từ khi vừa bi bô tập nói đã được học tiếng “ạ!”, học cách vẫy tay chào. Còn gì đẹp hơn những truyên thống từ ngàn đời ấy? Đó là biểu hiện cho lễ nghi, văn hoá của một con người, và sự tôn trọng, tình cảm của mình với mọi ngưừi xung quanh. Công dụng của nó thì tự bản thân ta đã thấy rõ. Ấy vậy mà, không ít bạn trẻ ngày nay lại thờ ơ, bỏ quên truyền thống quý báu ấy. Có quan niệm cho rằng gặp nhau phải nề hà, chào hỏi, thì thật là khách sáo quá. Hàng xóm, bạn bè, người trong nhà gặp nhau chan chát mỗi ngày. Chào làm chi nữa cho mệt, phiền phức. Lại có người có cảm giác phải chào hỏi người khác trước thì như phải hạ thấp mình. Thậm chí còn có ý kiến: Người miền Nam sống cởi mở, phóng khoáng quen rồi, đâu cần phải lề lối, khuôn phép như người miền Bắc. Quan niệm, suy nghĩ như vậy có đúng không? Xin kể cho các bạn nghe câu chuyện cười ra nước mắt thế này: Một cụ già 85 tuổi kể lại. Có lần, cụ ra ngõ, gặp một cháu bé mặt mũi sáng sủa, ông cụ cất lời chào trước: “Ông chào cháu!" Thằng bé chợt ngạc nhiên, đứng trân người. Rồi nó chạy ù đi, nói với lũ bạn gần đó: “Lão già ngoan quá mày ạ! Lão vừa chào tao đấy!” Ông cụ đứng lặng người, không biết phải nghĩ sao. Hay như một người đến nhà bạn mình chơi, lễ phép cất lời chào hỏi cả nhà. Thì ngạc nhiên thay, cả gia đình họ ngơ ngác, giương mắt lên nhìn như thể người này vừa từ trên trời rơi xuống, khiến anh ta vừa ngượng vừa giận vì chào hỏi mà không được đáp lại một tiếng. Anh bạn anh ta ra bảo nhỏ: “Tại vì ở đây người ta ít chào hỏi như cậu vậy lắm. Lần sau cậu đến cứ tự nhiên là được”. Xem thêm: Cách làm văn nghị luận lớp 12Không hiểu là phải tự nhiên thế nào khi vào nhà người khác mà không chào hỏi? Lời chào và người thực hiện hành vi đẹp đẽ đó bị xem như vật thể lạ còn điều bất lịch sự lại coi như bình thường. Như vậy là, có những người không chỉ đánh rơi lời chào mà thậm chí còn quên bẵng nó trong cách ứng xử hằng ngày. Lời chào nếu được cất lên bởi tấm lòng chân thành, thái độ niềm nớ thì tác dụng mà nó đem lại là vô cùng to lớn chứ đâu phải là khuôn sáo, câu nệ. Nếu bảo chào hỏi người khác trước là hạ thấp mình thì lại càng không phải. Đó là những suy nghĩ hết sức thiển cận. Trừ trường hợp người nhỏ phải chào người lớn trước để thể hiện thái độ tôn kính, còn lại lời chào được phát ra tự nhiên, do bản năng được giáo dục của con người, chớ làm gì có chuyện đùn đẩy ai là người chào trước. Do có suy nghĩ sai lệch như vậy nên bạn bè gặp nhau lâu ngày mà mặt trơ như đá, không một nụ cười, không lời hỏi thăm. Lỡ mình chào nó mà nó không chào lại thì sao? Chừng nào nó hỏi mình trước thì mình hỏi lại, không thì thôi. Ai cũng nghĩ thế, vậy là nhạt nhẽo, xa cách luôn… Còn nói người Nam sống phóng túng, cởi mở, ít cần chào hỏi thì chỉ là lối nói biện hộ cho sự lãng quên, phớt lờ truyền thống dân tộc, không muốn thay đổi. Sống phóng túng, cởi mở thì không phải là không thể cất lời chào. Thậm chí lời chào ở đây còn là biểu trưng cho sự gần gũi, giao lưu, dễ hoà nhập giữa người với người. Đâu phải người miền Bắc nào cũng biết chào hỏi còn người miền Nam vì sống phóng khoáng nên “không cần” có lời chào? Nếu lời chào không có những tác dụng tuyệt vời của nó thì tại sao người đi phỏng vấn cần phải có lời chào lịch sự, ánh nhìn thân thiện đè gây cảm tình với người phỏng vấn mình? Tại sao các cô gái dự thi Hoa hậu Thế giới thường nói lời chào bằng tiếng của nhân dân nước đăng cai tổ chức? Người ngoại quốc sang nước ta, không biết nói tiếng ta, chỉ cần nói được câu chào thì người nghe là ta đã thấy vui trong lòng rồi. vả lại, chào hỏi lân nhau là một vẻ đẹp lịch sự, duyên dáng, văn minh của con người trong cách ứng xử, là nét đẹp tinh hoa của thuần phong mĩ tục Việt Nam và toàn thế giới, đâu có riêng cho vùng miền, đất nước nào? Lời chào, như một đoá hồng đẹp rực rờ, một ánh lửa ấm truyền từ trái tim đến trái tim. Cuộc sống có nhiều điều giản dị nhưng lại muôn phần quý báu, sức mạnh thuộc về kẻ biết nhận ra, hiểu rõ và nắm lấy nó. Chúng ta những ai sắp bước vào đời hay đã và đang bôn ba trên đường đời hãy kịp nhận ra một hành trang tinh thần vô giá, cất lưu vào tiềm thức để biết cách sống đẹp… Văn Ngọc Trúc Chi Lớp 12A1 – THPT Bắc Bình – Bình Thuận Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
Bàn về một kĩ năng sống
1,285
Bàn về Nghệ thuật gây thiện cảm Hướng dẫn Trọng tâm cần bàn luận là nghẹ thuật ứng xử của con người trong cuộc sống hằng ngày, cụ thể ở đây là "nghệ thuật gây thiện cảm". Để triển khai nội dung bài luận, có thể dựa vào gợi ý sau: – Giải thích khái niệm và nêu ý nghĩa của việc gây thiện cảm: + Cuộc sống của mỗi cá nhân không thể tách khỏi mối quan hệ với mọi người xung quanh. Thiện cảm là thái độ tin tưởng, yêu mến của mọi người dành cho chúng ta. + Nếu gây được thiện cảm, chúng ta sẽ có được những thuận lợi nào? Nếu đánh mất thiện cảm, chúng ta sẽ phải đương đầu với những khó khăn nào? – Bàn luận về nghệ thuật gây thiện cảm: + Có thể bàn về nghệ thuật gây thiện cảm ở các phương diện cơ bản như: cách ăn mặc, lối giao tiếp, hành động, sự thể hiện tri thức và nhân cách… Trong đó, yếu tố quan trọng nhất là gì (sự chân thành, tự nhiên, thái độ cởi mở, thân thiện…)? + Cần nêu và phân tích ngắn gọn các dẫn chứng cụ thể để minh hoạ và tăng sức thuyết phục. – Liên hệ với sự trải nghiệm của bản thân: + Anh (chị) đã thành công hay thất bại như thế nào trong nghệ thuật gây thiện cảm? + Thực tế đó giúp anh (chị) rút ra những bài học bổ ích nào? – Khẳng định về sự cần thiết của việc học cách gây thiện cảm để mang lại cho mình niềm vui và thành công trên con đường đời; đồng thời góp phần xây dựng cuộc sống chan hoà, lành mạnh cho cộng đồng. Nguồn: thêm: Trao đổi vổi bạn em về ý nghĩa của câu chuyện Những hạt thóc giống
Bàn về Nghệ thuật gây thiện cảm
304
Bàn về những lợi ích và hứng thú của việc tự học Gợi ý “Học, học nữa, học mãi” câu nói nổi tiếng của nhà lãnh tụ mac-xít vĩ đại V.I.Lênin đã chỉ ra tính chất lâu dài, theo suốt cuộc đời của việc học tập đối với mỗi con người. Song người ta không thể suốt đời mời thầy về dạy học hay rủ nhau học nhóm năm này qua năm khác. Vậy, tự học phải là cách thức học lâu dài, chủ đạo trong việc học tập. Tự học mang lại nhiều lợi ích và tạo ra những hứng thú rất đặc biệt. Ai cũng biết học tập là một yêu cầu bắt buộc của xã hội đặt ra cho mỗi người. Đứa trẻ sinh ra, một vài tháng sau phải học lẫy, học bò, học đi. Rồi cùng với đó là học ăn, học nói, học gói, học mở, học chữ… Không học không thể hoà nhập xã hội. Không học không thể kiếm sống, không thể tồn tại. Ngày nay tại nhiều thành phố, người ta khó có thể có được một nghề nghiệp ổn định nếu không có tấm bằng THPT. Vậy học là gì? Đó là quá trình con người lĩnh hội các trị thức, kĩ năng, kĩ xảo để biến chúng thành vốn sống của mình. Hiển nhiên, càng học nhiều vốn sống càng lớn, càng có khả năng đáp ứng các yêu cầu xã hội. Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn khẳng định: “Học để biết, học để học cách học, học để sáng tạo, học để tồn tại và để cùng chung sống”. Con người có nhiều cách học. Cách phổ biến nhất là học theo hình thức lên lớp. Theo đó lớp học sẽ gồm một số học sinh nhất định (thường là từ 20 đến 40 em) do giáo viên có tri thức, kinh nghiệm giảng dạy hướng dẫn. Cách học này cho phép cùng một lúc truyền đạt tri thức cho nhiều học sinh. Song lại có hạn chế là không đáp ứng nhu cầu và khả năng học tập cho từng cá nhân. Có em muốn học sâu hơn, nâng cao hơn. Cũng có em chưa tiếp thu được hết bài học. Mặt khác, hình thức này cũng khó phát huy hết sự chủ động, sáng tạo của mỗi học sinh do bị gò ép về mặt thời gian.Xem thêm: Phân tích những nét chung và đặc điểm riêng của cảm hứng về quê hương đất nước trong các bài thơ Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Việt Bắc (Tố Hữu) và Đất nước (Nguyễn Đình Thi) Bên cạnh đó còn có cách học nhóm. Một số học sinh tự tập trung lại cùng tìm tòi, trao đổi để phát hiện tri thức mới hay củng cố tri thức cũ. Cách học này bên cạnh những ưu điểm cũng nảy sinh hạn chế là người học không chủ động về thời gian. Mặt khác nhiều khi gây tính ỷ lại ở một số người học. Trong mối tương quan so sánh ấy, phương pháp tự học bộc lộ nhiều lợi ích và hứng thú. Tự học – đúng như tên gọi là tự thân học tập, tự thân tổ chức cách hoạt động để lĩnh hội tri thức. Dĩ nhiên quá trình đó có sự hỗ trợ của thầy cô, bạn bè, người thân song sự giúp đỡ đó chỉ xuất hiện khi người học có nhu cầu. Thực tế đã có những tấm gương tự học vô cùng rực rỡ. Bác Hồ vĩ đại dù cả cuộc đời bôn ba lặn lội, không khi nào ngơi việc non sông, Người vẫn dành thời gian để tự học hàng chục ngoại ngữ, học những phong tục tập quán của hàng trăm dân tộc trên thế giới này. Hay những anh hùng lao động như Ngô Gia Khảm, Cù Thị Hậu,.. Các anh, các chị dù ngày đêm lo bom đạn quân thù vẫn không quên tìm tòi học hỏi để chế tạo ra những loại vũ khí, máy móc, cách thức sản xuất tối ưu cho Tổ quốc. Trong công việc học tập của mỗi học sinh, dù học trên lớp hay học nhóm vẫn đòi hỏi mỗi người phải tìm cách thức để cá nhân lĩnh hội được trọn vẹn vấn đề mình cần tìm hiểu – đó là tự học. Rõ ràng, tự học là quá trình đòi hỏi tính tự giác rất cao. Các thầy cô không quản lí, kiểm tra, đánh giá. Bạn bè không so sánh, thúc giục,… Mỗi cá nhân phải tự vượt qua những cám dỗ thông thường: tivi, điện tử, giải trí,… để dành thời gian cho tự học. Thông qua tự học, người học rèn cho mình khả năng làm việc tự lực. Nếu học trên lớp bạn có thể mượn vở bạn chép bài, thậm chí quay bài bạn khi kiểm tra. Nếu học nhóm bạn có thể ỷ lại vào khả năng học tập của người khác. Nhưng tự học thì không. Để có được tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, bạn phải tự đọc sách, tự thí nghiệm, tự làm bài, tự kiểm tra lí thuyết,… thậm chí tự liên hệ để tham quan học tập. Tức là “tự thân vận động” trong suốt quá trình học tập. Điều đó khá vất vả nhưng bạn sẽ được rất nhiều. Trước hết là ý thức và khả năng “tự lực cánh sinh”, độc lập trong lao động không phải dựa dẫm ỷ lại vào ai. Qua đó bạn sẽ tự tin, mạnh dạn, trưởng thành hơn rất nhiều.Xem thêm: Con người trong cộng đồng nhân loại Bên cạnh đó, trong quá trình tự học, bạn cũng sẽ có điều kiện xem xét đúng sức học, kiểm tra đúng trình độ của bản thân. Học trên lớp, học nhóm, quá trình kiểm tra đánh giá mang tính đại trà, chịu tác động của nhiều yếu tố: Sự trung thực của học sinh, độ bao quát kiến thức của đề bài, chút cảm tính trong cách đánh giá của giáo viên (ở các môn xã hội)… Vì vậy, sức học của người học được đánh giá qua đó chỉ mang tính tương đối. Nhưng nếu tự học, muốn tiến bộ thực sự, người học phải tỉnh táo, trung thực, đem so sánh những gì mình đã có được với yêu cầu của chương trình. Do đó việc đánh giá sẽ sát với tình hình thực tế hơn. Qua đây, ta dề dàng nhìn ra được thế mạnh, điểm yếu của mình và tìm cách khắc phục. Tự học còn giúp chúng ta chủ động, linh hoạt về mặt thời gian. Bạn hiểu vấn đề này đã khá sâu, bạn có thể đi lướt, vấn đề kia bạn chưa rõ, bạn có thể nán lại đầu tư hơn về thời gian. Bạn bị hổng kiến thức phần này hôm nay bạn sẽ học nó… Trong khi ấy, học trên lớp ta phải theo một chương trình cố định, khó thay đổi. Thời lượng cho mỗi vấn đề eo hẹp, đôi khi cứng nhắc, Học nhóm cũng phải đáp ứng yêu cầu thời gian cho số đông, không thể vì cá nhân mà thay đổi. Đó là chưa kể đến việc học nhóm các bạn dễ sa vào “buôn chuyện”, đi sớm, đi muộn, lãng phí thời gian, vỡ kế hoạch. Rõ ràng, tự học bạn sẽ có khả năng tập trung cao hơn, không bị phân tán vì ngoại cảnh lớp học, những câu chuyện của bạn bè,… Qua đó, bạn có điều kiện theo đuổi những mục đích học tập của mình và hoàn thành đúng kế hoạch.Xem thêm: Tả một cuốn từ điển Tự học tạo ra những thói quen có ích. Thói quen dần ăn sâu vào tính cách, rèn cho ta một nhân cách tốt; luyện cho ta một tâm hồn trong sáng, rắn rỏi. Với bao nhiêu lợi ích và hứng thú, tại sao bạn lại không tự học? Vậy muốn tự học bạn phải tự học như thế nào? Yêu cầu hàng đầu của tính tự học là tính tự giác. Bạn cần hiểu rõ tầm quan trọng của việc học tập, lợi ích và hứng thú của việc tự học. Lấy đó làm động lực bạn sẽ có ý thức tự học. Và đù tự học cho phép linh hoạt về thời gian song ta cần lưu ý: làm gì cũng phải có kế hoạch. Bạn đưa ra mục đích, mục tiêu, yêu cầu cần có cho mỗi vấn đề. Dựa vào quỹ thời gian cá nhân và vốn kiến thức đã có bạn sắp xếp, lên lịch cho các hoạt động học tập của mình. Song song với quá trình tự học là quá trình tự kiểm tra, đánh giá. Bạn phải luôn xem xét xem mình đã đảm bảo kế hoạch học tập chưa, đạt được bao nhiêu phần trăm yêu cầu đồng thời luôn chú ý phát hiện ưu điểm để phát huy và nhìn ra hạn chế để khắc phục. Tự học có nhiều lợi ích và hứng thú nhưng không nên tuyệt đối hoá vai trò của nó đối với quá trình học tập của bản thân. Ta nên chú ý kết hợp hài hoà với các hình thức học khác: học trên lớp, học nhóm. Đặc biệt luôn khiêm nhường nhưng không giàu dôt, xin sự giúp đỡ của thầy cô bạn bè người thân. Có như vậy, phương pháp tự học mới phát huy tối đa hiệu quả. Tự học là một phương pháp học tiến bộ, có khả năng phát huy tối đa tiềm năng của người học. Tự học đã và đang là phương pháp học của những người thành đạt. Trong tương lai, đây sẽ là cách học chủ yếu trong toàn xã hội. Vanmau.edu.vn
Bàn về những lợi ích và hứng thú của việc tự học
1,633
Bàn về những thứ “rỗng” Gợi ý Trong cuộc sống, con người luôn có xu hướng hướng đến những điều hoàn thiện, trọn vẹn. Nhưng một thực tế không thể tránh khỏi là dù vô tình hay hữu tình, vẫn có lúc người ta để mình rơi vào những khoảng rỗng. Đó là khoảng rỗng luôn khiến cho con người phải suy nghĩ một cách thật nghiêm túc. Rỗng là một trạng thái tồn tại dùng để chỉ về một sự vật nào đó không có gì ở bên trong: cái bao rỗng, cái hộp rỗng, cái túi rỗng… Nếu như giá trị của một thứ đồ vật nào đó được thể hiện bằng những gì chứ đựng trong nó thì khi ở trạng thái rỗng, nó trở thành vô nghĩa. Đó là một trạng thái tồn tại tiêu cực. Từ nghĩa gốc ban đầu của từ này, người ta liên tưởng đến nhiều thứ khác nữa, khi “rỗng” cũng trở nên vô nghĩa. Đó có thể là sự rỗng tếch của một cái đầu, sự rỗng của một tâm hồn, một trái tim… những sự rỗng ấy mới thực sự là điều cần phải bàn đến, điều phải quan tâm nhiều nhất. Trong một xã hội đang ngày càng phát triển như hiện nay, tình trạng rỗng về mặt tri thức là không hề hiếm. Việc học tập một cách chưa bài bản cùng những hạn chế về nhận thức khiến cho hiện tượng thiếu hụt nghiêm trọng về kiến thức mà trước hết là những kiến thức cơ bản vẫn còn đang phổ biến. Một học sinh đã học lên tới bậc học THCS trong khi thành thạo sử dụng máy tính, vi tính lại không thể thực hiện bằng tay một phép tính đơn giản, một học sinh thi trình độ Đại học lại có những nhận thức sai lầm, xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc tác phẩm văn học… Đó chính là những biểu hiện tiêu biểu cho tình trạng thiếu hụt về mặt tri thức, một trạng thái rỗng trong nhận thức và hiểu biết của con người, nó tồn tại trong một vài cá nhân riêng biệt nhưng cũng đủ cho ta thấy những đe dọa trong thiếu sót về mặt nhận thức của con người. Bởi bản thân mỗi người, nếu không có ý thức tự rèn luyện và bồi dưỡng tri thức cho mình sẽ không thể tránh khỏi nguy cơ tụt hậu, tức vô hình chung trở thành một cái đầu rỗng trong một xã hội đang đầy ắp và luôn cập nhật những tri thức mới mẻ. Không chỉ dừng lại ở đó, trạng thái “rỗng” của một cái đầu, một bộ óc còn thể hiện ở việc tự huyễn hoặc rằng mình không có gì thiếu hụt. Có một thứ rỗng mà không thể chứa một cái gì cả: đó chính là một cái đầu rỗng mà lại tưởng là không rỗng, bởi thế nên nó không chấp nhận tiếp thu thêm bất cứ thứ gì ngoài những cái đã có trong đầu. Tự huyễn hoặc và hài lòng với những gì mình có, người ta tự ru ngủ mình trong một thế giới không có thực, tụt hậu, không thể bắt kịp sự phát triển với tốc độ chóng mặt trên thế giới. Trường hợp này cũng phần nào giống như nhân vật AQ trong “AQ chính truyện” của Lỗ Tấn với “phép thắng lợi tinh thần”, AQ không bao giờ thấy rằng mình thất bại, rằng mình lạc hậu, rằng mình đáng thương… Một AQ của thời hiện đại cũng luôn tự hài lòng với những gì mình có – mặc dù những cái đang có ấy là không nhiều và không có gì đáng kể – mà không bao giờ nhận thấy những thiếu hụt trong nhận thức, trong hiểu biết của bản thân mình. Bên cạnh đó, rất thú vị, cũng có một cái “rỗng” mà chứa được tất cả. Đó là cái đầu rỗng tuếch cái gì cũng nhét hết vào đó, một cách không có chọn lọc. Trường hợp này đúng vởi những kẻ học đòi, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế nhưng lại bày đặt học đòi những cái cao siêu, khiến cho các kiến thức có được một cách máy móc, miệng nói những lời hoa mĩ, cao siêu nhưng đầu óc trống rỗng. Cả hai trường hợp này đều mang đến người khác sự phản cảm nếu không muốn nói là coi thường, giống như thứ “thùng rỗng kêu to” mà xưa kia ông cha ta đã từng mỉa mai.Xem thêm: Viết thư kể về ước mơ của em Rỗng về tri thức đã là điều đáng báo động nhưng còn một thứ “rỗng” nữa khiến người ta phải băn khoăn, trăn trở nhiều hơn: sự rỗng của một trái tim, một tâm hồn. Một trái tim rỗng là một trái tim không đủ chỗ cho tình yêu thương, không đủ chỗ thêm cho bất cứ một người nào khác. Trái tim đó nhỏ bé và vô cảm trước những số phận, kiếp người. Tình yêu giữa con người với con người đang trống rỗng, chờ nhận vào nhưng không có và lương tri của con người đã có khi cảm thấy trống rỗng đến độ không còn thấy thiếu để mà cho vào. Đó chính là độ rỗng của nhân phẩm và đạo đức. Nhìn thấy một người ăn mày nghèo khổ rách rưới nhưng ta không có một chút xót thương, chứng kiến cảnh chia ly tang tóc mà không hề thấy mủi lòng, làm người khác đau lòng mà không hề cảm thấy có lỗi… Những sự vô cảm ấy đang khiến cho mỗi người trong chúng ta phải giật mình lo lắng. Xã hội phát triển với tốc độ nhanh kéo theo đó là khối lượng công việc và những đòi hỏi trong cồng việc rất nhiều. Nó khiến cho con người phải đôi mặt với nhiều áp lực. Hệ quả là những căn bệnh của thời hiện đại xuất hiện: Con người dễ bị rơi vào trạng thái căng thẳng, có nguy cơ dẫn đến trầm cảm. Hàng loạt các hành vi phạm tội, hàng loạt các vụ tự tử trong giới trẻ đang diễn ra và trở thành vấn đề nhức nhối. Căn nguyên sâu xa của rất nhiều trong số đó chính là ở cảm giác trống rỗng của mỗi con người đã biến cuộc đời trở thành vô nghĩa, không tìm được lối thoát, họ đi đến những phản ứng tiêu cực. Đó là khoảng rỗng mà như lời của Hoàng Vũ Thuật trong “Khoảng rỗng” tâm sự:Xem thêm: Cảm nhận về đoạn trích trong bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi“dồn nén vào đây hết thảy chật dễ gì len qua được người ta có những khoảng rỗng không tên gọi chẳng nguyên cớ những khoảng rỗng vô bờ ngày ngày di dời trên đất khoảng rỗng siêu hình những khoảng rỗng giấu mình những khoảng trống xây tổ những khoảng trống liêu trai”. Là khoảng rỗng, là khoảng chông chênh mà bất cứ ai trong cuộc đời cũng đôi lần vướng phải nhưng không phải ai cũng là người vượt lên nó, lấp đầy được nó. Nếu cuộc sống của bạn có những khoảng rỗng về tri thức: Hãy học hỏi và phấn đấu thật nhiều. Nếu cuộc sống của bạn còn những khoảng trống trong trái tim: Hãy lấp đầy nó bằng tình yêu thương. Nếu bạn còn những khoảng rỗng về tâm hồn, hãy lấp đầy nó bằng những niềm tin và niềm vui tìm ra từ trong cuộc sống muôn màu. Vì bạn là riêng bạn nhưng bạn cũng là một phần của thế giới xung quanh bạn nữa. Vanmau.edu.vn
Bàn về những thứ “rỗng”
1,279
Bàn về phẩm chất mà một người thanh niên ngày nay cần có Gợi ý Sự phát triển của thế giới đang diễn ra từng ngày từng giờ, cùng với đó là những thay đổi trên mọi lĩnh vực, nó đòi hỏi con người cũng cần có những thay đổi để thích ứng. Là một người thanh niên thế hệ mới, đứng trước những đòi hỏi đó, bạn nghĩ gì về những phẩm chất cần có của mình để có thể vững bước đi lên? Nhắc đến phẩm chất, người ta nhắc đến khái niệm về những đức tính tốt đẹp. Đó là cái làm nên giá trị của một con người hay một vật. Người có phẩm chất tốt đẹp, người biết rèn luyện cho mình những phẩm chất tốt đẹp sẽ là người có được thái độ sống và cách cư xử đúng đắn. Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo nên thành công trong cuộc sống, chiếm được cảm tình của những người xung quanh. Thông thường, khi nhắc đến phẩm chất của con người nói chung, người ta thường nhắc đến những đức tính như thật thà, tốt bụng, dũng cảm, chăm chỉ… Chúng trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá con người. Đối với người Việt Nam, những phẩm chất tốt đẹp thường được nhắc đến đó là lòng yêu thương con người của một dân tộc “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo”. Một dân tộc “có lòng nồng nàn yêu nước”, bản tính cần cù, chịu thương, chịu khó một nắng hai sương… Đó là những phẩm chất mang tính truyền thống, trở thành niềm tự hào và được những thế hệ sau kế thừa, phát huy. Xã hội đang ngày càng phát triển. Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra hiện nay là hệ quả của sự phát triển vô cùng mạnh mẽ, mang tính đột biến của khoa học công nghệ cao và nhát là công nghệ thông tin. Không nằm ngoài xu thế phát triển chung của thời đại, nước ta đang đứng trước rất nhiều nguy cơ và thách thức mới. Những đòi hỏi mới của thế giới và toàn xã hội cũng đòi hỏi con người phải thay đổi để thích nghi. Bên cạnh việc kế thừa và phát huy phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền thống của dân tộc, cần thiết phải tự rèn luyện cho mình những phẩm chất khác để có thể theo kịp đòi hỏi của xã hội. Yêu cầu này đặc biệt cần thiết và cấp bách đối với thế hệ thanh niên, những người có khả năng nắm bắt nhanh nhạy, những người sẽ trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.Xem thêm: Nghị luận xã hội về vấn đề tôn sư trọng đạo Con người nói chung cũng như những người trẻ tuổi nói riêng không thể sống mà không có tình yêu thương và đó cũng là phẩm chất quan trọng đầu tiên mà họ cần có. Tình yêu thương là tình cảm tốt đẹp mà con người dành cho nhau, cho vạn vật trong thế giới xung quanh mình. Đó là sự quan tâm, là thái độ chăm sóc, âu yếm, là lòng xót thương… nó giúp cho con người sống nhân văn, nhân ái hơn. Ngày hôm nay, khi nền kinh tế thị trường đang kéo theo nguy cơ dẫn đến sự băng hoại về đạo đức con người thì việc xây dựng lòng yêu thương con người và phát triển nó càng trở nên quan trọng. Thế hệ trẻ tuổi là những người đang dần đi đến sự định hình về nhân cách. Trong họ đã có sẵn tình cảm ngây thơ, trong sáng từ thời con trẻ nhưng cũng đồng thời đang phải đối mặt để chọn lựa bởi rất nhiều cạm bẫy, thử thách có nhiều khi rất tiêu cực trong xã hội. Định hướng, bồi dưỡng và phát triển lòng yêu thương sẽ giúp cho họ đi đúng con đường, trở thành những Con Người thực sự với hai tiếng viết hoa. Có thể nói, tình yêu thương con người chính là phẩm chất quan trọng đầu tiên, mang tính quyết định. Sau nữa, cần phải kể đến những phẩm chất có thể nói mang “thương hiệu” của những người trẻ tuổi – những phẩm chất cần có trong tất cả mọi người nhưng thể hiện tiêu biểu hơn ở họ. Người thanh niên cần phải là người dám nghĩ, dám nói, dám làm theo quan niệm mà mình tin là đúng, không bị bất cứ áp lực nào làm cho nhụt chí, và dám chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Không một lứa tuổi nào có nhiều sự liều lĩnh, mạo hiểm bằng tuổi trẻ. Cái đầu đầy ý tưởng bùng nổ và trái tim tràn đầy nhiệt huyết khiến cho họ có thể sẵn sàng bắt tay vào thực hiện mọi kế hoạch. Hãy đừng để cho khoảng thời gian đặc biệt ấy trôi qua một cách vô nghĩa mà không có một lần được thử sức mình. Suy nghĩ nghiêm túc về mọi việc và làm những gì mình cho là cần thiết, là đúng; quyết tâm thực hiện nó đến cùng Thành công sẽ đến với bạn. Tất nhiên, nói như thế không phải là liều lĩnh mà bất chấp tất cả. Mạo hiểm nhưng cũng cần phải xuất phát từ thực tế của chính bản thân mình. Tất cả mọi việc làm đều phải có cơ sở và đó phải là những cơ sở có khoa học. Chỉ có như vậy thì hành động dám nghĩ, dám nói, dám làm đó mới không trở thành một hành độ liều lĩnh mù quáng, không biết suy xét trước sau. Thế mạnh sẽ lại trở thành điểm yếu nếu như chính bạn không biết tự điều chỉnh chúng. Mỗi người cũng cần là một cá nhân có tính độc lập, sáng tạo cao, không ỷ lại, không dựa dẫm vào người khác. Độc lập trong suy nghĩ và trong hành động, điều này giúp phát huy một cách tối đa cá tính cũng như khả năng sáng tạo của bản thân mỗi người, điều nếu như trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của những người xung quanh chúng ta sẽ không thể có được. Một phẩm chất quan trọng, cần thiết đối với thanh niên ngày nay đó là sự chăm chỉ, cầu tiến, không cầu an, ngại khó ngại khổ. Mỗi người sẽ được trả công xứng đáng so với công sức mà mình bỏ ra. Sợ hãi trước khó khăn mình vướng phải trong cuộc đời chính là dấu hiệu của việc bạn đang mở đường cho thất bại và đang thừa nhận thất bại. Một phẩm chất quan trọng nữa không thể thiếu đối với người thanh niên trong thời đại ngày nay đó là sự cởi mở, tinh thần học hỏi, tiếp thu đối với những cái mới, cái tiến bộ, không bảo thủ, cố chấp cũng không tủn mủn, hẹp hòi. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, thông tin liên lạc, ngày nay, khối lượng tri thức ngày càng lớn và tăng nhanh từng ngày với tốc độ chóng mặt. Nếu như còn náu mình mãi trong chiếc vỏ ốc vì sự tự ti, hay lòng kiêu hãnh cá nhân thì không thể tránh khỏi nguy cơ rơi vào tụt hậu. Đối với một con người của thời đại mới, đó là một thất bại, là một điều bất hạnh.Xem thêm: Anh (chị) hãy trình bày quan niệm của Hoài Thanh về “tinh thần thơ mới" trong ý nghĩa văn chương và xã hội thể hiện trong “Một thời đại trong thi ca". Lấy dẫn chứng minh họa Chưa phải là tất cả nhưng có thể nói đó là những phẩm chất quan trọng đối với người thanh niên thế hệ mới, là những phẩm chất làm nên bản lĩnh của người thanh niên, giúp cho họ có cơ hội để thích ứng, để khẳng định mình, để không sống hoài sống phí quãng thời gian tuổi xuân tươi đẹp và đầy sức sống của mình trong một kiểu sống mờ nhạt, dễ dãi, bằng lòng với những gì mình có. Cuộc sống là cả một quá trình trau dồi và học tập không ngừng nghỉ. Con người, ai cũng muốn mình trở thành một người hoàn thiện nhưng điều đó không phải là dễ dàng. Rèn luyện cho mình những phẩm chất tốt đẹp là điều quan trọng và cần thiết để hoàn thiện bản thân, biến mình trở thành một con người thực sự có ích cho xã hội. Điều này càng trở nên có ý nghĩa đối với thế hệ thanh niên, những người trẻ tuổi sẽ đóng góp rất lớn công sức, nhiệt huyết của mình vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Hãy để cho mình thực sự xứng đáng trở thành một trong những người đại diện cho tương lai hạnh phúc và phát triển của đất nước Việt Nam thân yêu. Vanmau.edu.vn
Bàn về phẩm chất mà một người thanh niên ngày nay cần có
1,531
Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thái… anh” (Tuyển tập Hoài Thanh, NXB Văn học, 1982). Bình luận ý kiến trên và chứng minh bằng các tác phẩm của Tố Hữu anh (chị) đã được học Gợi ý Đề bài: Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thái độ toàn tâm, toàn ý vì cách mạng là nguyên nhân chính đưa đến sự thành công của thơ anh” (Tuyển tập Hoài Thanh, NXB Văn học, 1982). Bình luận ý kiến trên và chứng minh bằng các tác phẩm của Tố Hữu anh (chị) đã được học Bài làm: Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cánh mạng nên các chặng đường thơ cũng song hành với các giai đoạn đấu tranh ấy, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ. Tập “Từ ấy” (1937 – 1946) gồm ba phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng, tương ứng với ba chặng đường trong mười năm hoạt động cách mạng của nhà thơ. “Máu lửa” là tiếng reo náo nức của một tâm hồn được giác ngộ lý tưởng: Từ ấy… và rộn vang tiếng chim. Nhờ đó, nhà thơ đã nhận ra được ách áp bức giai cấp, những bất công của xã hội và thân phận của con người lao khổ. ông hướng tâm hồn mình đến cảm thông với những Em bé mồ côi, Lão đầy tớ, Cô gái giang hồ, Em bé đi ở và khơi dậy ở họ lòng căm thù, ý chí chiến đấu và niềm tin ở tương lai. “Xiềng xích” là bản quyết tâm thư của người chiến sĩ cách mạng tự dặn lòng mình quyết không khuất phục trước uy lực và sự tàn bạo của kẻ thù (Trăng trối, Con cá chột nưa…) và luôn luôn tha thiết yêu đời, khát khao tự do và hành động. Đây là phần đặc sắc của tập thơ.Xem thêm: Qua tác phẩm “Người lái đò sông Đà”, hãy chứng minh cho quan điểm của Nguyễn Tuân: “Tôi quan niệm đã viết văn phải... của mình. Văn chương cần có sự độc đáo hơn trong bất kì lĩnh vực nào khác"“Giải phóng” – Cách mạng tháng Tám thành công, nhà thơ say sưa nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi, ngợi ca nền độc lập, ngây ngất trong niềm “vui bất tuyệt” với cảm hứng dâng trào trước cuộc đổi đời vĩ đại của nhân dân, dân tộc. Tập ‘‘Việt Bắc” (1947- 1945) Quân thù trở lại, cả dân tộc bước và cuộc kháng chiến anh dũng. Việt Bắc là “thủ đô kháng chiến”, nơi có Đảng, Bác Hồ lãnh đạo toàn dân đánh giặc. Việt Bắc là bản anh hùng ca ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng và những con người bình dị mà anh hùng của cuộc kháng chiến (như các em thiếu nhi, các anh bộ đội, các chị phụ nữ, các bà mẹ… và trên tất cả, hình ảnh tập trung, biêu biểu cho phẩm chất dân tộc là hình ảnh Bấc Hồ). Tập thơ còn ca ngợi những tình cảm điển hình của con người kháng chiến như tình yêu nước, tình yêu đồng bào, tình quân dân, tình cảm miên ngược với miền xuôi, lòng yêu thiên nhiên, kính yêu Đảng, Bác Hồ… và niềm tin tưởng ở ngày mai tươi sáng. Vào giai đoạn cuốì với chiến công Điện Biên, hoà bình lập lại, miền Bắc được giải phóng đã chấp cánh cho hồn thơ Tố Hữu bay bổng vổi những cảm hứng sử thi mang hào khí thời đại. “Việt Bắc” là thành tựu xuất sắc nhất của văn học kháng chiến chống Pháp. Tập “Gió lộng” (1955 – 1961), bước vào giai đoạn này cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng niềm Nam tiến tới thông nhất nước nhà:Xem thêm: Phân tích tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu trong đoạn trích tác phẩm Chiếc lược ngà (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2005) Từ câu chuyên, em rút ra được cho mình bài học gì“Rộn ràng thay cảnh quê hương Nửa công trường, nửa chiến trường xôn xao” Thơ Tố Hữu bám sất nhiệm vụ chính trị đó: Tập “Gió lộng” vừa thể hiện niềm vui, niềm tự hào và tin tưởng ở công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, vừa bày tỏ tình cảm thiết tha với niềm Nam và ý chí thông nhất nước nhà, tình cảm quốc tế rộng lớn. Trong niềm vui lớn với cuộc sông hiện tại, Tố Hữu không quên nghĩ về quá khứ để bày tỏ tình cảm biết ơn ông cha và những người đi trước mở đường. Và từ đó thấm thía ân tin? cách mạng (Ba mươi năm đời ta có Đảng, Mẹ Tơm…). Tập “Gió lộng” tiếp tục phát triển cảm hứng sử thi và khuynh hướng khái quát với một cái tôi trữ tình đa dạng hơn và một nghệ thuật biểu hiện già dặn và nhuần nhị hơn. Hai tập “Ra trận” (1962 – 1971), “Máu và hoa” (1972- 1977) là những chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm chống Mĩ quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho tới ngày toàn thắng. Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công, là lời kêu gọi, cổ vũ hào hùng cả dân tộc “khắp thành thị thông thôn” vùng lên quyết đập “tan đầu Mĩ Ngụy”. “Ra trận” cũng dành hẳn một trường ca “theo chân Bác” để tái hiện hình ảnh Bác trên những chặng đường lịch sử trong hơn nửa thế kỉ. “Máu và Hoa” là những suy ngẫm của nhà thơ về những hi sinh to lớn của dân tộc (máu) để tạo nên những chiến công (hoa) chói lọi của lịch sử “phải bao máu thấm trong lòng đất / Mới ánh hồng lên sắc tự hào”. Thơ Tố Hữu những năm chống Mỹ cứu nước mang đậm tính chính luận và chất sử thi, nhiều chỗ vươn tới âm hưởng anh hùng ca.Xem thêm: Suy nghĩ về ý kiến của Nguyễn Đình Thi “Văn nghệ phụng sự kháng chiến…” – văn 12 Từ năm 1978 lại đây, thơ Tố Hữu được tập hợp trong hai tập “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999). Trải qua những thăng trầm, những trải nghiêm trước cuộc đời, nhà thơ muốn bày tỏ những suy tư về cuộc sống, về lẽ đời, hướng tới những quy luật phổ quát và tìm kiếm những giá trị bền vững. Giọng thơ vì thế cũng trầm lắng, thấm đượm chất suy tưởng. Ý kiến của Hoài Thanh phù hợp với thực tế sáng tác thơ Tố Hữu và gợi ý cho chúng ta khi tìm hiểu những bài thơ thành công của Tố Hữu trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ý kiến đó cũng đúng về lí luận, “Nhà văn phải cố gắng sao cho những cái làm cho anh phấn khởi hay xúc động cũng là những cái làm cho dân tộc anh vui sướng hay đau khổ” (Bê-se). Thơ Tố Hữu là một bằng chứng sống động cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và nghệ thuật. Con đường thơ của ông là con đường tìm tòi sự kết hợp hài hoà hai yếu tố, hai cội nguồn là dân tộc và cách mạng trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca. Với ngôn ngữ, thể thơ giàu tính đại chúng, dân tộc, cách mạng, thơ Tố Hữu đã truyền được cho hàng triệu độc giả niềm say mê lý tưởng cách mạng. Vanmau.edu.vn
Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết_ “Thái… anh” (Tuyển tập Hoài Thanh, NXB Văn học, 1982). Bình luận ý kiến trên và chứng minh bằng các tác phẩm của Tố Hữu anh (chị) đã được học
1,288
Bàn về Tiền Ngô Vương Hướng dẫn Tiền Ngô Vương có thể đem quân mới tập hợp của đất Việt ta mà phá được hàng trăm vạn quân của Lưu Hoằng Thao, mở nước xưng vương, khiến cho người phương Bắc không dám trở lại nữa (1). Như thế có thể bảo là một cơn giận mà làm yên được dân nước mình, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi (2). Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi hoàng đế và cải niên hiệu, nhưng nền chính thống của nước nhà cơ hồ đã được nối lại (3). ("Đại Việt sử kí"- Lê Văn Hưu) Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài “Bàn về Tiền Ngô Vương” rút trong bộ “Đại Việt sử kí” của Lê Văn Hưu. Bài làm Lê Văn Hưu là sử gia lỗi lạc của nước ta dưới thời nhà Trần. Bộ "Đại Việt sử kí" của ông gồm có 30 quyển, nay không còn nữa! Nhưng trong “ĐạiViệt sử kí toàn thư”được khắc ván và in vào cuối thế kỉ XV, Ngô Sĩ Liên có nhắc lại một số bài bình sử của Lê Văn Hưu trong "Đại Việt sử kí". Bài "Bàn về Tiền Ngô Vương" là một trong những đoạn bình sử xuất sắc của nhà sử gia đại tài thời nhà Trần. Bài "Bàn về Tiền Ngô Vương" có 3 câu văn: câu thứ nhất nhắc lại chiến công của Ngô Quyền dẹp thù trong, diệt giặc ngoài; câu thứ 2, thứ 3 là lời bình về sự nghiệp và ý nghĩa lịch sử của việc Ngô Quyền xưng vương. Năm Tân Mão (931) Kiểu Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ rồi sai người sang cầu cứu vua Nam Hán. Ngô Quyền là con rể của Dương Đình Nghệ liền đem quân ra Đại La giết chết tên phản nghịch để báo thù. Rồi ông thúc quân xuống sông Bạch Đằng đón đánh quân Nam Hán. Ngô Quyền đã dùng kì mưu sai quân cắm cọc gỗ đầu vót nhọn bịt sắt cắm xuống sông Bạch Đằng đã đánh tan hàng ngàn thuyền chiến, giết chết Lưu Hoằng Thao – thái tử con vua Nam Hán và hàng vạn quân giặc. Chiến công hiểmhách ấy đã được Lê Văn Hưu nhắc lại bằng một câu ngắn gọn mà đầy đủ: Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sọ dừa.“Tiền Ngô Vương có thể đem quản mới tập hợp của đất Việt ta mà phá được hàng trăm vạn quân của Lưu Hoằng Thao, mở nước xưng vương, khiến cho người phương Bắc không dám trở lại nữa”. “Một cơn giận” của Ngô Quyền là cơn giận của người anh hùng, giận thù trong (tên phản bội Kiểu Công Tiễn), giận giặc nước (quân Nam Hán xâm lược). Lê Văn Hưu ca ngợi Ngô Quyền "mưu giỏi mù đánh cũng giỏi”.Đánh Kiểu Công Tiễn trước đề trừ hậu họa rồi mới đánh Lưu Hoằng Thao sau, đó là mưu giỏi. Sai quân lấy gỗ vót nhọn, đầu bịt sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng để đánh tan thuỷ quân Nam Hán, giết chết Lưu Hoằng Thao, đó là "mưu giỏi mà đánh cũng giỏi”.Chiến công của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938 là một trang sử vàng chói lọi. Ngô Quyền mới chỉ xưng “vương ”, đóng đô ở cổ Loa, chỉ được 6 năm thì mất, nhưng ông đã chấm dứt 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra kỉ nguyên độc lập của dân tộc, đúng như Lê Văn Hưu đánh giá: 'Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi hoàng đế và cải niên hiệu, nhưng nền chính thống của nước nhà cơ hồ đã nối lại được”. Ngô Quyền là vị anh hùng dân tộc mà tên tuổi gắn liền với chiến công Bạch Đằng Giang bất tử năm 938. Đọc lời bàn của Lê Văn Hưu, ta càng thấm thía lời bình sử súc tích, đanh thép của ông. "Một cơn giận”, "mưu giỏi mà đánh cũng giỏi ”, thiết nghĩ không có cách nói nào sắc gọn, hùng hồn hơn. Trong cuốn "Việt Nam sử lược ”, Trần Trọng Kim có viết: “Ngô Quyền trong thì giết được nghịch thần, báo thù cho chủ, ngoài thì phá được cường địch, hảo toàn được nước, thật là một người trung nghĩa lưu danh thiên cổ, mà cũng nhờ có tay Ngô Quyền, nước Nam ta mới cởi được cái ách Bắc thuộc hơn một nghìn năm, và mở đường cho Đinh, Lê, Lí, Trần, về sau này được tự chủ ở cõi Nam vậy". Có thể nói đây cũng là một lời bình sử khá hay về Ngô Quyền. Nguồn: thêm: Thuyết minh về một món ngon đất Hà Thành – Chả cá Lã Vọng.
Bàn về Tiền Ngô Vương
785
Bàn về tâm lí thích “hoành tráng” Gợi ý Việt Nam mới vừa thoát ra khỏi nhóm các quốc gia có thu nhập thấp, trên bàn họp của các đại biểu Quốc hội lần này lập tức có ngay các dự án rất “hoành tráng”. Điển hình là dự án xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc – Nam dài 1.570 ki-lô-mét với kinh phí ước tính khoảng 56 tỉ đô la Mỹ. Trên thế giới hiện nay chỉ mới có khoảng trên 10 nước có đường sắt cao tốc. Lí do không phải tại các nước khác không có tiền mà vì hiệu quá kinh tế và sự thuận tiện trong đi lại đối với người dân các nước này chưa cần thiết đến mức khiến họ phải mở hầu bao! Trong khi dó, nước ta vẫn còn khá nhiều cầu khỉ, cầu ván, có nơi người dân và trẻ em đi học khi qua sông đều phải “đu dây”. Thực trạng đất nước như thế, chúng ta không lo làm cầu, làm đường cho dân mà lại tính chuyện đi vay nợ để làm đường sắt cao tốc thì quá xa rời thực tế! Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, để khoảng 10-15 năm nữa, khi mức sống của hầu hết người dân tốt hơn, hãy bàn đến chuyện xây đường sắt cao tốc cũng chưa muộn! Còn hiện nay, cần tập trung hiện đại hoá hệ thống đường sắt hiện hữu thì tốt hơn. Xem thêm: Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng được thể hiện như thế nào qua việc triển khai mâu thuẫn kịch trong đoạn Vĩnh biệt cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô) Cần nói thêm là tổng chiều dài đường sắt cao tốc trên toàn thế giới hiện nay chỉ có khoảng 10.000 ki-lô-mét, trong đó Nhật Bản đứng đầu với 2.590 ki-lô-mét, Mỹ đứng hàng thứ 7 với 440 ki-lô-mét (trên cơ sở cải tạo lại những đường sắt cũ). Nếu ý định xây dựng 1.570 ki-lô-mét đường sắt cao tốc của Việt Nam được thực hiện thành công (?), Việt Nam sẽ trở thành “cường quốc" thứ ba thế giới trong linh vực này, chỉ đứng sau Nhật và Pháp (sở hữu hơn 1.800 ki-lô-mét đường sắt cao tốc). Thật là “hoành tráng" Việc mở rộng Thủ đô Hà Nội cũng là một biểu hiện của tâm lí thích ẫ,cái gì cũng nhất". Với diện tích khoảng 3.330 ki-lô-mét vuông, dân số khoảng 6,45 triệu người, Hà Nội là thành phố có diện tích lớn nhất nước và số dân đứng thứ hàng thứ hai (sau TP Hổồ Chí Minh), nhưng cơ sở hạ tầng kĩ thuật – xã hội, năng suất lao động và mức sống của người dân vẫn còn nhiều vấn đề đáng nói. Trong khi đó, Mỹ là một quốc gia rất giàu có (GDP khoảng 15.000 tỉ đô la/năm, gấp 150 lần Việt Nam), diện tích hơn 9,82 triệu ki-lồ-mét vuông, (bằng 30 lần Việt Nam), dân số khoảng 300 triệu (gấp 3,5 lần Việt Nam), nhưng thủ đô Washington DC chỉ rộng có 177 ki-lố-mét vuông (bằng 1/20 so với Hà Nội), dân số chưa tới 600.000 người (ít hơn 1/10 của Hà Nội). Nước rộng lớn nhất thế giới là Nga cũng vậy: diện tích hơn 17 triệu ki-lô-mét vuông, dân số khoảng 145 triệu người, nhưng thủ đô Moscow chỉ rộng 1.080 ki-lô-mét vuông (bằng một phần ba so với Hà Nội). Nước láng giềng Thái Lan, mặc dù diện tích lớn gấp rưỡi Việt Nam nhưng thủ đô Bangkok cũng nhỏ chỉ hơn phần nửa Hà Nội. Xem thêm: Sống như thế nào trong thế kỉ XXI? (đề mở) Điều đó chứng tỏ tầm vóc của thủ đô các nước không phụ thuộc vào diện tích, số dân (những hình thức bề nổi) mà do những yếu tố khác như mức sống người dân, các phúc lợi xã hội, môi trường. Vanmau.edu.vn
Bàn về tâm lí thích “hoành tráng”
658
Bàn về vai trò của một số bộ môn nghệ thuật như kịch, âm nhạc, hội hoạ, vũ đạo… trong nhà trường phổ thông Hướng dẫn Kịch, âm nhạc, hội hoạ, vũ đạo… là những loại hình nghệ thuật, cũng là những bộ môn đã được đưa vào dạy học trong nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, có hai luồng ý kiến khác nhau về việc giảng dạy các bộ môn này: nhiều người cho rằng các môn học này không cần thiết đối với HS; song nhiều người khác lại cho rằng chúng không chỉ cẩn thiết mà còn là sự sống còn của một nền giáo dục toàn diện và hiện đại. Để giải quyết vấn đề này, trước hết HS nên chỉ ra một cách khách quan vai trò của các loại hình nghệ thuật này trong đời sống và mục tiêu dạy học các bộ môn này trong nhà trường phổ thông. Trong đời sống, các loại hình nghệ thuật này chủ yếu được coi là những hình thức giải trí mang tính thẩm mĩ của con người; trong nhà trường, chúng góp phần giáo dục toàn diện cho HS. HS không chỉ cần học những môn khoa học, văn hoá mà còn phải học các môn nghệ thuật để phát triển năng lực sáng tạo của cá nhân, bồi đắp thị hiếu, năng lực cảm thụ thẩm mĩ… Hiện nay, nước ta và các quốc gia khác trên thế giới đang hướng đến một nền giáo dục toàn diện ở nhà trường phố thông. Vì thế, sự xuất hiện của các bộ môn hoặc hoạt động liên quan đến nghệ thuật như kịch, âm nhạc, hội hoạ, vũ đạo… là điều dễ hiểu. Sau đó, HS cần bày tỏ quan điểm của mình đối với hai luồng ý kiến vềvai trò của một số bộ môn nghệ thuật kể trên. HS có thể đồng tình hoặc phản đối với một trong hai luồng ý kiếu đó. Sau đây là gợi ý về một số cách thức bày tỏ quan điểm: Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao “Anh em như thể tay chân…”(1) Nếu HS bày tỏ sự phản đối với ý kiến cho rằng các môn học này không cần thiết đối với HS phổ thông thì các lập luận phản đối phải bám vào tác dụng của các môn nghệ thuật trên đối với đời sống và sự phát triển của mỗi cá nhân HS, nhất là những HS có năng khiếu về các môn học đó; chỉ ra hạn chế của việc chỉ học tập các môn khoa học với việc thiên vềtruyền thụ những kiến thức mang tính hàn lâm, kinh viện; nêu lên hạn chế của việc không hiểu bản chất, đặc trưng của các bộ môn nghệ thuật này khiến cho HS không biết hoặc không thưởng thức hết được giá trị của các tác phẩm nghệ thuật thuộc các loại hình đó… (2) Nếu HS bày tỏ sự đồng tình với ý kiến cho rằng các môn nghệ thuật kể trên không chỉ cần thiết mà còn là sự sống còn của một nền giáo dục toàn diện và hiện đại, ngoài những lí lẽ đã nêu ở (1), HS cần chỉ ra rằng ở nhiều nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới, các bộ môn nghệ thuật này đã được đưa vào trường học từ rất lâu, vừa là môn học bắt buộc, vừa là môn học tự chọn, để HS vừa được cung cấp những kiến thức, kĩ năng nền tảng trong việc thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật, vừa được bồi dưỡng và phát triển những năng lực chuyên biệt hay nghề nghiệp mà mình định theo đuổi… Nếu coi nền giáo dục toàn diện và hiện đại là nền giáo dục không bỏ rơi bất kì một HS nào thì việc quan tâm phát triển năng khiếu, năng lực chuyên biệt (trong đó có nãng lực thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật) là điều tất yếu. Nguồn: thêm: Phân tích bài thơ Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh văn 12
Bàn về vai trò của một số bộ môn nghệ thuật như kịch, âm nhạc, hội hoạ, vũ đạo… trong nhà trường phổ thông
687
Bàn về vai trò, tác dụng của thơ ca đối với cuộc sống con người Gợi ý Trong cuốn Đa-ghe-xtan của tôi, Ra-xun Gam-ra-tốp viết: Thơ ca, nếu không có người, tôi đã mồ côi. Gamratôp muốn nói đến sự mồ côi trên phương diện tinh thần và chính điều này khiến chúng ta phải có nhận thức đúng đắn về vai trò, tác dụng của thơ ca đối với cuộc sống con người. Đã có rất nhiều định nghĩa về thơ nhưng chung qui lại, có thể hiểu thơ là tiếng lòng của mọi con người, thơ khởi phát từ lòng người. Thế giới vẫn đang vận động theo hướng hiện đại hoá nhưng dù loài người có đạt đến trình độ siêu hiện đại hoặc hơn nữa, con người cũng không thể cạn kiệt nguồn xúc cảm trong mình. Đó là lí do tại sao trong các sáng tác của văn học hậu hiện đại, thơ vẫn chiếm vị trí quan trọng. Chính vì thơ là tiếng lòng, là sự chín đỏ của cảm xúc (Xuân Diệu) nên thơ có ý nghĩa cực kì quan trọng trong cuộc sống này. Nhà thơ làm thơ để giãi bày tình cảm, để thổ lộ nỗi lòng của chính mình. Khi những xúc động mạnh mẽ, những suy nghĩ thầm kín, những tư tưởng sâu sắc và những tình cảm dâng trào, thơ và tâm hồn nghệ sĩ sẽ gặp nhau. Đó là lí do khiến nhiều người chỉ làm thơ cho chính mình, hoặc cho người hiểu mình đọc. Khi Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến dường như không muốn viết thơ nữa bởi Viết đưa ai, ai biết mà đưa? Không gửi được những nỗi niềm, tâm sự trong lòng vào thơ, chắc chắn con người sẽ mất đi những rung cảm tinh tế- như Xuân Quỳnh đã viết trong Nếu ngày mai em không làm thơ nữa: Trận mưa xuân dẫu làm ướt áo Nhưng lòng em còn cảm xúc chi đâu Mùa xuân về quên nỗi nhớ nhau Không niềm vui khi nắng hè đến sớm Thơ trước hết giúp con người giãi bày xúc cảm của mình nhưng nếu xúc cảm đó bị phong kín trên trang giấy thì một điều chắc chắn là sức sống của những vần thơ ấy sẽ không lâu bền. Trong đời sống, con người không chỉ sống và tự chiêm nghiệm về những điều diễn ra trong lòng. Làm thơ không chỉ để tự thoả mãn nhu cầu giãi bày tình cảm của mình mà còn để chia sẻ, là để tìm sự đồng vọng của những tấm lòng đồng cảm. Thơ là điệu hồn của những tâm hồn đồng điệu (Tố Hữu) là bỏi vậy. thế nên kết thúc Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du mới viết:Xem thêm: Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về quan niệm sống của Xuân Diệu thể hiện trong hai câu thơ sau: Thà một phút huy hoàng rồi chợt tốiCòn hơn buồn le lói suốt trăm năm.Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Khi viết Bên kia sông Đuống, chắc chắn Hoàng cầm không chỉ thổ lộ nỗi niềm xúc động tột cùng khi nghe tin quân giặc giày xéo quê hương mình. Nhà thơ còn muốn tìm sự thấu hiểu, chia sẻ từ tất cả những con người đang chung nỗi đau mất nước. Với Từ ấy, niềm vui sướng khi bắt gặp lí tưởng cộng sản của Tố Hữu như được lây lan tới hết thảy mọi người. Trong thơ ca và bằng thơ ca, nỗi buồn sẽ được san vơi và niềm vui, niềm hạnh phúc chắc chắn sẽ được nhân lên gấp bội. Với người nghệ sĩ đích thực, làm thơ còn là để người khác cùng thưởng thức cách nói, cách thể hiện, phô diễn tình cảm, tư tưởng của mình bằng những hình thức nghệ thuật độc đáo. Xuân Diệu dường như rất hào hứng khi mang đến độc giả những câu thơ mới mẻ, tân kì như Tháng giêng ngon như một cặp môi gần hay Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi. Nếu thơ chỉ là thơ mà không chạm khắc theo một cách riêng (Sóng Hồng) thì tình cảm, xúc động của nghệ sĩ này rất dễ bị lẫn với nghệ sĩ khác và dấu ấn cảm xúc đó sẽ không thể đính ghim vào lòng độc giả. Nếu thơ ca là nơi người nghệ sĩ’ có thể thâu tóm thế giới (hiểu theo nghĩa cả thế giới vật chất và thế giới tinh thần) vào trong đó thì nó cũng là nơi độc giả có thể tìm thấy cả thế giới trong đó. Độc giả có thể thả hồn vào thiên đường trên mặt đất khi đọc Vội vàng của Xuân Diệu, có thể giao chia sẻ với tâm sự về tình yêu của Pu-skin trong Tôi yêu em. Tâm hồn, trí tuệ con người sẽ giàu có, phong phú hơn khi đến với thơ ca.Xem thêm: Cảm nhận đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) Thơ không chỉ khiến tâm hồn, trí tuệ con người giàu có, phong phú mà còn vỗ về, động viên, khích lệ người ta đứng dậy, đi tới… Người đọc có thể cảm nhận muôn vàn cung bậc tình cảm, cảm xúc, muôn vàn tiếng lòng “rất thơ” mà người nghệ sĩ đã phổ trong mỗi con chữ. Tiếp nhận những tình điệu ấy, người đọc như được thanh lọc chính tâm hồn mình. Ta sẽ thấy mình cao thượng hơn, khao khát được sống đẹp, sống có ích hơn… Đó cũng chính là những điều mà Hoàng Trung Thông và tất cả chúng ta cảm nhận được khi đọc thơ của Bác: Tôi đọc trăm bài, trăm ý đẹp Ngọn đèn toả rạng mái đầu xanh. Vần thơ của Bác, vần thơ thép Mà vẫn mênh mông, bát ngát tình Thơ ca đến với cuộc sống từ khi nào, khó có thể trả lời đích xác. Nhưng một điều chắc chắn không ai có thể phủ nhận được là không có thơ, cuộc sống sẽ nghèo nàn, tâm hồn, tình cảm con người sẽ trở nên cằn cỗi vô cùng. Thấm thìa vai trò, ý nghĩa của thơ ca, nhà thơ cần có ý thức trách nhiệm hơn trong việc sáng tạo thơ ca. Sứ mệnh, của nhà thơ không chỉ là nói lên tiếng nói của bản thân mà còn phải nói lên tiếng nói của muôn triệu trái tim, muôn triệu con người. Nhà thơ phải đau nỗi đau của nhân loại, buồn nỗi buồn của nhân loại. Có như thế, sáng tác của họ mới có sức sống và sức tác động mạnh mẽ. Không ngẫu nhiên khi Đỗ Phủ, Lí Bạch cách chúng ta hàng ngàn năm mà thơ của họ vẫn trường tồn đến tận bây giờ. Không ngẫu nhiên khi Puskin – mặt trời của thì ca Nga lại có sức lay động khắp địa cầu. Với bạn đọc, trân trọng một thi phẩm nghệ thuật, thấy rõ sức mạnh của thơ ca là điều nên làm nhất. Hơn nữa, mỗi người cũng nên làm giàu tâm hồn mình bằng thơ ca và tự nâng cao khả năng cảm nhận của mình hơn khi đánh giá mỗi bài thơ: thơ hay phải thể hiện được cái riêng của mỗi tâm hồn, phải là tiếng đồng vọng của muôn vạn tấm lòng.Xem thêm: Thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Cảm nhận được vai trò, tầm quan trọng của thơ ca đối với cuộc sống con người, chúng ta sẽ hiểu tại sao Raxun Gamrạtốp nói: Cuộc sống sẽ tối sầm nếu không có thơ ca. Vanmau.edu.vn
Bàn về vai trò, tác dụng của thơ ca đối với cuộc sống con người
1,285
Bàn về việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan của đất nước Gợi ý Tôi là người Pháp nhưng lại rất mê những bãi biển Việt Nam, vì vậy trong những lần tới đây du lịch, công tác… tôi thường tranh thủ thời gian để đi tham quan tất cả bãi biển từ Nam ra Bắc. Nhưng trái với cảm xúc những lần đầu hăm hở, hạnh phúc, càng về sau tôi càng thất vọng, chán nản… Việt Nam trong mắt chúng tôi là vùng đất nhận được nhiều ưu đãi từ thiên nhiên, vì có cả biến xanh lẫn non cao. Dễ gì kiếm được một nơi có bờ biển trải dài khắp cả nước như tại đây và khá nhiều trong số đó được công nhận là đẹp nhất thế giới! Nhiều bạn bè tôi thậm chí không giấu nổi vẻ ganh tị khi nói về điều này. Sự sai lầm trong nhận thức đó rất nghiêm trọng, nhất là khi chứng khiến bất kì ai cũng xem nhẹ hành động vứt rác xuống biển của mình. Dễ dàng bắt gập hình ảnh những đứa trẻ ở bờ biển Nha Trang thay vì chạy 20m để tới thùng rác, thì chúng vô tư vứt ngay xuống chân mình vỏ bao kem vì tin rằng "rồi sóng cũng sẽ cuốn mất và bờ cát lại sạch mà thôi! ". Chính vì vậy, bên cạnh việc phạt nặng các cá nhân bị phát hiện đang làm ô nhiễm môi trường, việc giáo dục ý thức trong học đường cũng không kém phần quan trọng. Xem thêm: Giải thích câu ca dao “Cầm vàng mà lội qua sông, Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng” ở Pháp, chúng tôi thường nâng niu những vật thể thiên nhiên mà tạo hoá ban tặng và vì thế rất nghiêm khắc trong việc bảo tồn chúng. Bạn có thể là khách quý từ nơi xa đến ở tại nhà tôi, nhưng chúng tôi không chắc sẽ để bạn lấy những viên sỏi, những vỏ sò vô giá trị trên bãi biển đem về nhà… Nhiều người cho rằng đó là hành động cần thiết để bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn đã và đang bị tàn phá quá nhiều. Ở trường học, chúng tôi thường chiếu những bộ phim về các bãi biển đẹp và cả những bãi biển đang chết dần bởi sự nhúng tay thô bạo của con người kèm theo hậu quả của chúng. Có như vậy các em nhỏ – những người chủ tương lai của đất nước – mới biết được rằng biển tuy chiếm 3/ 4 thế giới nhưng không phải là thứ tồn tại khoẻ mạnh vĩnh viễn. Chúng sẽ mất đi hoặc chuyển sang một dạng khác có khả năng gây nguy hại cho con người nếu mọi người cứ tiếp tục đà khai thác thế này. Bản thân tôi là một người từng tham gia nhiều chuyến khám phá các vùng biển ở các cực, tôi đã quay được nhiều đoạn phim từ những nơi đẹp và yên ả dđến những khu vực ảm đạm, đầy chết chóc… Tôi tin rằng những thước phim này có giá trị hơn rất nhiều lần so với lời kêu gọi suông bởi có câu ‘Trăm nghe không bằng mắt thấy". Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau: "Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày dêm không ngủ được/ Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức" (“Sóng” - Xuân Quỳnh) Nhiều em học sinh tại Pháp thú nhận với chúng tôi là vô cùng hối hận cũng như sửng sốt khi thấy những việc tưởng nhỏ của mình không ngờ lại ảnh hưởng đến đại dương bao la kia đến vậy. Không ít người thừa nhận từng nghe thuật ngữ "sự ấm lên của Trái đất" nhưng lại lầm tưởng việc ô nhiễm nước biển không dính dáng gì tới hiện tượng này… cho đến khi xem được những cánh tượng hãi hùng trong phim. Tôi luôn tìm cách phổ biến những thước phim này đến càng nhiều người càng tốt, và sẵn sàng chia sẻ với các bạn nếu nhận được yêu cầu. Hãy nghiêm khắc và thận trọng hơn nữa trong việc gìn giữ nguồn nước, vùng biển của Việt Nam trước khi quá trễ! Tôi tin rằng đó không phái là nguyện vọng của một mình tôi mà còn của nhiều du khách khác Vanmau.edu.vn
Bàn về việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan của đất nước
752
Bàn về vấn đề: Chỗ chơi cho trẻ em – Một vấn đề bức xúc Gợi ý Vui chơi giải trí của trẻ em là một yêu cầu chính đáng, không thể thiếu và đó cũng là một trong các quyền mà "Công ước quốc tế về quyền trẻ em ” đã ghi nhận. Nhưng các em muốn vui chơi, giải trí thì phải có chỗ chơi, có điểm quy định dành riêng cho các em. Đáng lí ra, theo quy luật phát triển và yêu cầu của xã hội thì chồ chơi của các em ngày phải được mở rộng, phải có thêm ngày càng nhiều. Vậy mà ở một số thành phố thì tình hình ngược lại, chỗ chơi của các em ngày một mất dần, càng bị thu hẹp. Chợ búa tung ra, nhà hàng, khách sạn mọc lên nhan nhản, những cồng trình xây cất mở ra san sát,… Tất cả các hiện tượng đó đã lấn dần hết chỗ chơi cho trẻ em (… ). Vậy bây giờ các em muốn vui chơi thì vui chơi ở đâu? Có lè người ta sẽ phải đến cung văn hóa thiếu nhi. Đúng rồi! Hà Nội có Cung văn hóa thiếu nhi. Có lẽ đây là một điểm vui chơi duy nhất ớ Hà Nội chưa bị xóa. (Tất nhiên cũng còn có vài diểm vui chơi không chính thức nữa của trẻ em). Nhưng thử hỏi các em ở cách xa trung tâm thành phố muốn vui chơi phải nhảy lên xe buýt hoặc xe lam để đến cung văn hóa thiếu nhi chăng? Hay là phải cuốc bộ để được la cà, đùa nghịch suốt dọc các phố? Xem thêm: Nghệ thuật châm biếm, đả kích trong truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc Đã không có chò chơi, tất các ‘em phái "tự túc” chơi tự do. Xuống lòng đường đá bóng, đánh cầu lông trên vỉa hè, quật con quay bất cứ chỗ nào… Tất cả đều là mất trật tự, không an toàn cho đường phố. Tất cả đều gây cản trờ giao thông và có thể gây ra những trường hợp nguy hiểm khó tránh khỏi. Vì phái tự túc chò chơi, không ít em đã đi trèo cây kều ve, bắt tổ chim; một số em ra sông, hồ, bơi lội… Nhiều trường hợp đáng tiếc đà xảy ra. Cũng vì không có chò vui chơi, giải trí, một số em đã lao vào cờ bạc, đề đóm, đi hát karaoké, xem Video đen… rồi túng tiền phải xoay sở trộm cắp dẫn đến vi phạm pháp luật. Tai hại hơn. có em theo bọn xấu rủ rê chui vào các lò hút xách, chích choác, để trớ nên ‘thân tàn ma dại ". Thiếu chỗ chơi cho trẻ em, rõ ràng tác hại không thể lường hết được… Có thể tạo nên chỗ chơi cho trẻ em ở các thành phố được không? Có thể được lắm chứ! Nhưng các cơ quan hữu trách đều cho là khó lắm! Thiếu đủ thứ: sân bãi. phương tiện, dụng cụ. nhất là các khoản tài chính… Nhưng có le mặt bằng sân bãi cho các em chơi không phải là chuyện nan giải (…). Còn về phương tiện, dụng cụ và cả tài chính nữa thì liệu có cách giải quyết không? Nếu biết dựa vào phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", dựa vào những nhà doanh nghiệp, những nhà hảo tâm… thì ta cũng có khả năng giải quyết được. Đành rằng trong thực tế, các cơ quan hữu trách còn thiếu thốn nhiều bề, nhưng chưa phải là cái đáng lo, mà cái đáng lo nhất đang là sự thiếu thốn của những tấm lòng, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với thế hệ tương lai của đất nước.Xem thêm: Mượn lời đồ vật hay con vật gần gũi với em để kể chuyện tình cảm giữa em và đồ vật, con vật đó Hàng năm, khi tiếng trống trường kết thúc năm học vang lên, các em rời lớp học, tạm biệt sân trường, tung ra khắp phố phường với câu hỏi: "Hè này, chúng em sẽ vui chơi ở đâu?". Trả lời câu hỏi này phải là Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, các cán bộ chức năng… Xin hãy làm như câu khẩu hiệu đặt ra ở nhiều nơi công cộng: "Tát cả vì tương lai con em chúng ta! ”. Vanmau.edu.vn
Bàn về vấn đề_ Chỗ chơi cho trẻ em – Một vấn đề bức xúc
742
Bàn về ô nhiềm môi trường ở nông thôn Gợi ý Ngày qua ngày, người dân ở Việt Nam hiện nay đang phải chịu đựng sự ô nhiễm rất nặng nề từ không khí, nguồn nước, rác thải. Chỉ tính riêng TPHCM, có tới 800 nhà máy, xí nghiệp lớn và hơn 30.000 cơ sở sản xuất có quy mô vừa và nhỏ nằm xen lẫn trong các khu dân cư, trong đó có 260 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và chỉ có 2/12 KCN trên địa bàn thành phố có hệ thống xử lý nước thải.. Đặc biệt là tình trạng nguồn nước ngầm dùng cho sinh hoạt và tưới tiêu ngày càng bị ô nhiêm do lượng asen (thạch tín) vượt quá nồng độ cho phép. Như kết quả một khảo sát tại Hà Nội cho thấy, gần 70% mẫu nước ở tầng trên và 48% mẫu nước ở tầng dưới có nồng độ Asen cao trên mức cho phép của Việt Nam và quốc tế. Không chỉ người dân thành thị mắ ở nông thôn, người dân cũng phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nước, hoá chất bảo vệ thực vật… Thuôc trừ sâu bị sứ dụng bừa bãi, các loại bao, túi đựng thuốc trừ sâu vựơng vãi bên bờ ruộng, cạnh đường làng ở nhiều nơi. Theo kết quả điều tra vệ sinh môi trường nông thôn Việt Nam của Cục Y tế dự phòng, thì chỉ có 25% tỷ lệ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh. Tỷ lệ trường học, nhà trẻ, mẫu giáo có công trình vệ sinh và cấp nước dẹt tiêu chuẩn là 70%. vẫn tồn tại tập quán sử dụng phân người, gia súc để bón ruộng (30%) số hộ nông thôn Việt Nam., đây là những yếu tố nguy cơ cao gia tăng tình trạng ô nhiễm ở nông thôn. Tình trạng này đã kéo theo rất nhiều dịch bệnh và khiến cho cuộc sống của người dàn ớ nông thôn trở nên rất khó khăn. PGS.TS Trịnh Quân Huân, Thứ trưởng Bộ Y tê cho biết, có tới 80% các bệnh tật của con người có liên quan đến nước và vệ sinh môi trường, 50% số bệnh nhân trên thế giới phải nhập viện và 25.000 người chết hàng ngày do các bệnh này. Theo ông Trần Đắc Phu, Cục Y tế dự phòng, năm 2005, các bệnh truyền nhiễm gáy dịch hàng đầu tại Việt Nam có liên quan nhiều đến tình trạng nước sạch và vệ sinh môi trường như cúm, tiêu chảy, hội chứng lị sốt xuất huyết, quai bị, viêm gan virus, HIV. Tình trạng nhiễm giun rất phổ biến, chiếm khoảng 80% dân số. Còn Cục trưởng Cục Y tế dự phòng Nguyễn Huy Nga thì cho rằng, trong 30 nãm qua tại Việt Nam đã có hơn 40 bệnh mới xuất hiện, mà nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do môi trường bị ô nhiễm. Trên thực tế, các bệnh đường hô hấp có liên quan đến ô nhiễm không khí có tỷ. lệ cao so với các nước trong khu vực. Theo điều tra của Cục Y tế dự phòng năm 2005, tỉ lệ người dân mắc bệnh viêm phổi là khoảng 415 người/100.000 dân, 309 người viêm họng và viêm amidal cấp, 305 người viêm phế quản và tiểu phế quản cấp.Xem thêm: Thơ phải có tư tưởng, có ý thức, ... Tư tưởng của thơ nằm ngay trong cảm xúc, tình tự (Nguyễn Đình Thi - Mấy ý nghĩ về thơ) Khảo sát của Viện YHLĐ và VSMT cho thấy, trẻ ở lứa tuổi học đường sống quanh các nút giao thông có biểu hiện triệu chứng rõ rệt tới sức khoẻ như kích thích các hệ cơ quan mắt, mũi, họng, da và thần kinh thực vật. Theo các nhà khoa học, tiếp xúc với Asen với hàm lượng vượt chuẩn cho phép có thể gây tình trạng nhiễm độc Asen, có thể-gây ra các bệnh như ung thư da, ung thư nội tạng và một số bệnh tim mạch, có thể gây tử vong nếu nhiễm hàm lượng cao trong thời gian ngắn. Sức khoẻ của người dân bị ảnh hưởng rất nhiều từ môi trường, từ rác thải do chính công việc lao động của họ, từ khói của các nhà máy và nhiều hơn cả là rác thái từ các khu công nghiệp lớn. Một số nhà máy khi được di dời ra ngoại thành đã liên tục gây ó nhiễm cho người dân ở đây. Có thể kể đến công ty TNHH Sản xuất dây đồng Tiến Thịnh ở xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, thành phố HCM, không ai không khó chịu trước mùi hôi nồng nặc của các loại hóa chất nấu đồng phả ra từ nhà máy này. Gia đình anh N.V.T. đối diện với nhà máy cho hay, từ nhiều năm nay, nhiều người dân trong khu vực đã bán nhà, bán đất lại cho… chủ cơ sở để đi nơi khác lập nghiệp vì không chịu nổi mùi hôi này.Xem thêm: Bình giảng một đoạn văn tả cảnh và cảm xúc của nhân vật Mị giữa ngày Tết trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (đoạn từ “Hồng Ngài năm ây...” đến “... quả pao rơi rồi”) Tương tự, cơ sở ép dầu tại ấp 3, xã Tân Thạnh Tây, Củ Chi trong quá trình sản xuất, tỏa mùi khó chịu ra môi trường xung quanh nhưng vẫn không thấy chính quyền địa phương hay cơ quan chức năng nào nhắc nhở. Tại ấp Cây Đa, xã Tân Phú Trung, Củ Chi, có một cơ sở sản xuất muối iốt nằm ngay trên cánh đồng đang sản xuất nông nghiệp của xã. Khi nước ngầm trong khu vực sản xuất muối ngấm rộng ra vùng sản xuất lúa thì lúa chết hàng loạt. Mỗi lần như thế, đơn vị sản xuất muối chấp nhận đền bù cho dân nhưng vì hiện tượng này cứ lặp lại liên tục nên không ít gia đình đã hoang mang, bán vội nhà cửa cho cơ sở sản xuất muôi iốt này để đi nơi khác làm ăn, tránh nạn ô nhiễm. Xã Trung An, huyện Củ Chi cũng cùng cảnh ngộ. Trong những năm qua, hàng chục hộ nông dân quanh Công ty KuJin đã lao đao vì mạch nước ngầm tại đây bị ô nhiễm nghiêm trọng. Thế nhưng, điều đáng nói hơn cả là khi sự ô nhiễm này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của trẻ em dưới 5 tuổi. Các em mắc phải những căn bệnh như viêm phổi và tiêu chảy, gây tử vong rất cao, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước. Những trẻ em sông trong vùng đất có khu công nghiệp thường có chỉ số IQ thấp hơn các vùng khác do nước sinh hoạt, nước thải, không khí, bụi có hàm lượng kim loại nặng hơn nhiều lần cho phép. Tại các lưu vực sông ô nhiễm, trẻ em dễ có thể mắc các bệnh về đường ruột, điển hình là ở khu vực xã Hoàng Tây (Hà Nám)có 21% trẻ mắc bệnh tiêu chảy, 86% trẻ mắc bệnh giun đũa, 76% trẻ mắc bệnh giun tóc.Xem thêm: Viết một bài văn ngắn về người thân yêu nhất của mình Cho dù đã có rất nhiều cuộc tuyên truyền giữ gìn môi trường xanh-sạch-đẹp nhưng cũng phải nhìn nhận một phần rằng thói quen sinh hoạt thiếu vệ sinh của người dân nông thôn cũng góp phẩn làm gia tăng tỉ lệ bệnh tật. Theo kết quả điều tra mà Bộ Y tế vừa phối hợp với UNICEF thực hiện trên tám vùng sinh thái đại diện cho toàn quốc thì thói quen vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân ở các vùng nông thôn còn rất kém. Có tới 82% số hộ hộ gia đình, 88% số trường mẫu giáo, tiểu học, THCS, gần 63% số trạm y tế xã chưa có hoặc đang sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh. 88% số người dân ở vùng nông thôn chưa rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh và trước khi ăn. Ngoài ra, người dân còn dùng phân tươi để bón cho cây trồng. Đây là một nguồn lây lan bệnh tật rất nhanh, nhất là các bệnh đường tiêu hoá (tả, lỵ, thương hàn,, chân – tay – miệng, bệnh giun sán…) Ô nhiễm môi trường đang trở thành một trong những vấn đề nhức nhôi nhất của Việt Nam nói chung và nông thôn Việt Nam nói riêng. Để giảm thiểu nguy cơ bùng phát dịch bệnh, các loại bệnh mới, theo các chuyên gia, vấn đề báo vệ sự trong sạch của môi trường cần được thực hiện nghiêm túc. Có như thế, sức khoệ của người dân mới được bảo vệ tốt nhất, đảm báo sự phát triển thể chất, trí tuệ tốt nhất cho thế hệ trẻ Việt Nam. Thế nhưng trước khi nhà nước dựa ra những biện pháp để giải quyết và ngăn chăn thì những người dân sống trong vùng ô nhiễm nên tự có ý thức vệ sinh và bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của chính mình. Vanmau.edu.vn
Bàn về ô nhiềm môi trường ở nông thôn
1,567
Bàn về đọc sách, nhất là đọc các tác phẩm văn học lớn, người xưa nói: “Tuổi trẻ… thưởng trăng trên đài”. Em hãy viết đoạn văn nêu cách hiểu của bản thân về câu nói trên Gợi ý Đề bài: Bàn về đọc sách, nhất là đọc các tác phẩm văn học lớn, người xưa nói: “Tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua kẽ lá, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài” (Dẫn theo Lâm Ngữ Đường, sống đẹp, Nguyễn Hiến Lê dịch, NXB Tao Đàn, Sài Gòn, 1965). Em hãy viết đoạn văn nêu cách hiểu của bản thân về câu nói trên Bài làm Câu nói của Lâm Ngữ Đường là một cách nói hình ảnh đậm chất phương Đông về việc đọc sách của con người. Nếu như nội dung tư tưởng và nghệ thuật cùa một cuốn sách là vẻ đẹp êm ái, chan hoà của vầng trăng thì “Tuổi trế đọc sách như nhìn trăng qua kẽ lá, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài”. “Trăng qua kẽ lá” láp ló, tinh nghịch chưa để ta thấy được trọn vẹn dáng hình, chỉ biết đó là thứ ánh sáng dịu dàng, tinh tế đầy mê hoặc. Tuồi trẻ đọc sách cũng giống như việc “nhìn trăng qua kẽ lá” vậy. Ta thấy cuốn sách thật hay, thật hấp dẫn, nó khơi gợi cho ta biết bao điều về cuộc sống. Nhưng để cảm, để hiếu hoàn toàn những điều sách viết thì ta thấy mình còn bé nhỏ biết bao nhiêu. “Ngắm trăng ngoài sân” là khi ấy, ta đã thấy được trọn vẹn hình hài của vầng trăng và cũng là những giá trị sâu sắc của tác phẩm. “Lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân” bởi người lớn tuổi đã có được vốn sống của một người từng trải, đã hiểu được ‘nhiều việc trong cuộc đời, việc đọc sách giống như việc giải một mật mã mà mọi kí hiệu của nó ta đều đã biết. Và đến tuổi già, việc đọc sách mới đạt đến độ chín mùi. Việc “thưởng trăng trên đài” khác hoàn toàn với việc ngắm trăng qua kẽ lá hay ngắm trăng ngoài sân. Thưởng trăng trên đài là tư thê của những người ung dung, thanh thán chiêm ngưỡng trọn vẹn cái đẹp của vầng trăng. Họ đón nhận vẻ đẹp ấy như một thú vui trong cuộc sống. Họ hiểu những biến cố của số phận nhân vật, của cảm xúc con người như một điều tất yếu trong cuộc đời. Không tò mò thích thú như chú bé “ngắm trăng qua kẽ lá”; không ngỡ ngàng, vui sướng như những người thấy được sự tròn vẹn của mặt trăng khi “ngắm trăng ngoài sân”, người già đọc sách có cái bình thản, ung dung của một người thâm trải lẽ đời trước những trang sách về những cuộc sống mà họ đã đi qua.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của về truyện ngụ ngôn Đeo nhạc cho mèoVanmau.edu.vn
Bàn về đọc sách, nhất là đọc các tác phẩm văn học lớn, người xưa nói_ “Tuổi trẻ… thưởng trăng trên đài”. Em hãy viết đoạn văn nêu cách hiểu của bản thân về câu nói trên
525
Bàn về đức tính hoà nhã, cách sống hoà nhã Gợi ý Sống nhã là rất khó; cực khó thì đúng hơn là rất khó. Từ xa xưa, các bậc hiền triết đều mong tới một xã hội sống nhã. Ai ai cũng sống nhã thì xã hội thanh bình, nhẹ nhàng, cuộc sống trở nên dễ chịu và sảng khoái. Sống trái với nhã là ồn ào, bát nháo, là xô bồ như một cuộc họp chợ. Người sống thiếu nhã thì ồn ào, gầm gừ, nhìn đâu cũng thấy đối thủ, không đối thủ thì là đối tác. Thiếu nhã thì mọi gam màu đối chọi nhau gay gắt, ăn sấm nói bào. Thiếu nhã, xã hội sẽ là xã hội của Thủy Hử, bặm trợn, cương cường, chỉ chực đấu đầu, khoa tay. Anh hùng xuất hiện ở chỗ thiếu nhã, nhưng mĩ nhân thì chỉ có mặt ở nơi có nhã. Hồng Lâu Mộng là nhã, ăn nói văn hoa, nhẹ nhàng, cử chỉ ồn hoà, sảng khoái, thiên về tinh thần hoà giải hơn là tranh đấu, thiên về đối thoại hơn là đối đầu. Trong cơ quan, anh nào sống nhã thì trở thành cái vịnh trú bão cho mọi người. Họ sẽ tìm tới anh để ẩn nấp khi ngửi thấy mùi giông bão của những kẻ thiếu nhã, họ tìm tới anh để dưỡng thương sau khi va chạm với những anh sông bão giông. Cái anh có nhã nhìn cuộc đời nhẹ nhõm, xem mọi sự là vui vẻ, thấy có rất nhiều con đường chứ không thể chi là một con đường duy nhất. Anh thiếu nhà thì chỉ thấy có mỗi một con đường và không có thắng hoặc bại, đến đích hoặc bỏ cuộc. Mà cuộc đời thì đâu cứ nhất thiết phải tự mình đẩy mình vào thế chân tường. Có những thứ ở thế chân tường thì hay, nhưng phần lớn thì không hay bởi nó khiến cho mọi sự căng thẳng. Đến đích có thể bằng nhảy, bằng bay cùng với nụ cười. Nhã thì bền, dẻo dai mà chặt chẽ, thiếu nhã thì mệt mỏi, hay vỡ. Trong công việc mà nhã thì được việc hơn là không nhã. Trong sinh hoạt cá nhân, như ăn uống chẳng hạn, mà nhã thì nếu không được yêu cũng không bị chú ý. Sinh hoạt cá nhân mà thiếu nhã thì chỉ tổ gây chú ý. Gây sự chú ý thì đôi lúc cũng tốt, nhưng nhiều khi cũng chả hay. Con người muốn làm được nhiều việc thi cần phải tránh bị chú ý. Một người nhã thì bán hàng cũng suôn sẻ hơn người thiếu nhã. Anh thiếu nhà, có bán được hàng cũng dứt khoát phải sứt mẻ cái gì đó, không mình sứt mẻ thì người mua sứt mẻ. về mặt thái độ, tính trên sân cỏ, nơi mà mọi tính cách bộc lộ ghê gớm nhất, nam tính nhạt, thì những cầu thủ giỏi, những siêu sao bao giờ cũng là người nhã. Họ sẽ không mấy khi gây gổ, cãi cọ với trọng tài, với đối phương, mà mỗi khi phạm lỗi hoặc bị phạm lỗi họ rất nhã. Họ chỉ tập trung vào quả bóng hoặc ghi bàn chứ không căng cứng với những cái ngoài bóng. Nhã thì thuộc hệ bên trong, sâu đắm, hài hoà, là kẻ đi chinh phục chứ không bị chinh phục. Nhã bao giờ cũng là nơi hội tụ, không phải nơi phát tán, càng không phải nơi gây ra những xáo trộn tệ hại, lấy nước bằng một nụ cười khó hơn lấy nước bằng thanh gươm vì thế mà cũng sang trọng hơn, cao cả hơn. Xem thêm: Phong cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn công Trứ Sống nhã để tới thì khó, nhưng không đạt tới thì xem ra sống càng ngày càng khó hơn. Vanmau.edu.vn
Bàn về đức tính hoà nhã, cách sống hoà nhã
658
Bàn về ước mơ và lòng tham thông qua câu chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng Hướng dẫn Thuở nhỏ, tôi vẫn có một niềm tin ngây thơ về những chú chim ăn khế trả vàng và những chú cá được thả về sông sẽ quay lại trả ơn người đã cứu. Rồi tưởng tượng một lúc nào đó tôi may mắn được rơi vào tình huống ấy, tôi sẽ ước điều gì? Một bữa cơm thịnh soạn, một bộ truyện tranh mới nhất, một chuyến du lịch trên thảm bay đến xứ sở thần tiên. Cho đến khi học chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng, tôi lại phân vân trong mỗi lần ước mơ “liệu điều ước của mình có quá đáng không, có tham lam không?”Khi một lần nữa được tiếp cận tác phẩm trên cương vị giáo viên văn, tôi lại có một cách nhìn khác về ý nghĩa câu chuyện mà người gợi điều ấy cho tôi không ai khác ngoài chính học sinh của mình. Mặc dù hiện nay nhà trường, xã hội vẫn luôn phàn nàn về khả năng cảm thụ văn học và điểm số môn văn của các em nhưng ở một góc độ khác, tôi thấy rằng thế hệ các em đã dám nghĩ và có cái nghĩ khác so với thời đại chúng tôi ngày xưa hoặc ít nhất các em dám nói những điều mình từng nghĩ. Có học sinh từng nói với tôi rằng nếu coi cá vàng là người cho mơ ước thì bà lão có quyền được ước mơ những điều mình cần. Một cái máng lợn mới, một ngôi nhà, nhất phẩm phu nhân và cuối cùng là nữ hoàng, điều gì chính đáng, điều gì là tham lam?Xem thêm: Suy nghĩ về câu nói “Nghệ thuật sống là phải thay đổi để thích nghi với môi trường”- Văn 12 Nhìn ở góc độ nhu cầu của con người thì mọi ước mơ đều là chính đáng không thể khẳng định rằng ai đó mơ ước một điều bình dị như cái máng lợn mới hay một ngôi nhà nhỏ là chính đáng, còn mơ ước có được quyền lực, danh vọng là không chính đáng. Mọi thứ đều có cơ sở cũng như chẳng điều gì là sai tuyệt đối. Một kẻ đói cơm, khát nước thì với họ có được một bữa no, một ngôi nhà che mưa nắng đã là hạnh phúc. Khi có được ngôi nhà và không lo về cái ăn nữa thì ai lại không thể mơ về chức quyền để có chút địa vị trong xã hội. Liệu bao nhiêu người sẽ dừng mơ ước mình ngày được chức cao, được nhiều tiền, được thăng tiến, thậm chí là giữ vị trí tối cao. Không thể phủ nhận rằng ước mơ là phương thức để chí cầu tiến được thể hiện, đồng thời là động lực để xã hội phát triển. Tuy nhiên, điều cần quan tâm là bạn đã, đang và sẽ làm gì với mơ ước của mình? Chắc chắn rằng chẳng có một chú cá vàng thần tiên nào cho bạn điều ước nếu một ngày bạn cứu sống chúng. Thế nhưng trong đời nếu bạn ban ơn cho một ai đó, đến khi họ muốn trả ơn hoặc người nào đó muốn giúp bạn cũng nên nhìn hình ảnh cái máng lợn xưa cũ mà rút cho mình bài học. Mọi chuyện trên đời đều có giới hạn, cánh chim quạ có rộng đến đâu thì cũng chẳng thể chở nỗi chiếc túi 12 gang của kẻ tham lam. Một người có lòng tốt làm ơn với kẻ khác chẳng bao giờ họ cần kẻ đó báo đáp hoặc ít ra cũng chỉ nhận vừa đủ công sức của mình. Ước mơ cũng vậy, khi nó vượt xa thực tế thì nó trở thành lòng tham mà lòng tham thì không đáy. Nghĩ một chút về chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng, rõ ràng người tạo ơn cho con cá là ông lão, trong khi người ngồi đợi để hưởng thành quả lại là bà lão. Cứ cho rằng những yêu cầu của bà là mơ ước nhưng chẳng có mơ ước chính đáng nào lại dựa trên sự hi sinh của kẻ khác. Chúng ta không tính việc người làm ơn là ai, chỉ nghĩ đến cảnh mỗi lần bà ta đạt được ước muốn lại một lần đối xử tàn nhẫn với chồng mình. Một kẻ khi có chút tiền tài, địa vị lại thay lòng đổi dạ ngay với người đầu ắp tay gối, nghèo khổ có nhau thì sẽ đối xử như thế vào chú cá vàng khi đã trở thành nữ thần biển cả. Thế đấy mới hiểu ra một điều lòng tham luôn tỉ lệ thuận với sự phản bội.Xem thêm: Phân tích nét đặc sẳc của ngôn từ nghệ thuật thể hiện trong bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca của nhà thơ Thanh Thảo. Mọi ước mơ và khát vọng của con người được cho là đúng đắn khi xây dựng trên thái độ cư xử với mọi người, nhất là với người tạo điều kiện, giúp đỡ cho mình. Ước mơ chân chính chỉ có thể là ước mơ vì mọi người, đạt được bằng chính sức lực bản thân, gắn liền với đạo đức và chính nghĩa.
Bàn về ước mơ và lòng tham thông qua câu chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng
905
Từ lời nhắn nhủ của cha ông ta: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng." Để bày tỏ thái độ của mình trước những mảnh đời bất hạnh và đói nghèo còn tồn tại trong xã hội ta. Bài làm Nhân dân ta vốn giàu truyền thống nhân đạo: "Thương người như thể thương thân"; "Lá lành đùm lá rách" và còn dùng một hình tượng thật đẹp về sự sẻ chia với nhau vì nghĩa đồng bào "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng". Đó chính là tấm lòng sâu thẳm của những người con Lạc cháu Hồng được truyền từ đời này qua đời khác về dòng máu vị tha ấy. Truyền thống tốt đẹp ấy khi gặp ánh sáng thời đại rực rỡ của khoa học càng góp phần xoa dịu những mảnh đời bất hạnh và đẩy lùi cái đói nghèo đang tồn tại ở một bộ phận trong đời sống đất nước chúng ta. Từ khi cách mạng tháng Tám thành công, đã mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc: kỉ nguyên độc lập tự do, kỉ nguyên làm chủ đất nước. Ngày ấy Bác Hồ đã luôn lưu ý chúng ta về công cuộc xóa đói giảm nghèo. Ngày nay, đất nước từng ngày thay da đổi thịt và phát triển vượt bậc so với nửa thế kỉ trước, nhưng xót xa thay cho cái đói nghèo và những mảnh đời bất hạnh vẫn tồn tại làm nhức nhối chúng ta. Vì sao như vậy, và phải nhìn nhận vấn đề này từ góc độ nào? vẫn biết đi lên từ một đất nuớc ngập lửa chiến tranh và nông nghiệp lạc hậu, không phải một sớm một chiều có thể xóa bỏ ngay sự đói nghèo ấy. Hậu quả chiến tranh thật nặng nề. Cái bãi xe tăng cũ vẫn thấp thoáng đâu đó mà Nguyễn Minh Châu đã ngụ ý đưa vào thiên truyện Chiếc thuyền ngoài xa đầy cảm hứng thế sự. Không chỉ có cái nghèo dày vò chúng ta, mà di chứng chiến tranh Điôxin như con ma đáng sợ hiện hình qua những thân thể tật nguyền đáng thương. Mà ít đâu, hàng vạn, hàng triệu số phận bất hạnh như thế đang quằn quại trên dải đất này. Nhìn nhận như vậy mới thấy tội ác tày trời của kẻ thù xâm lược, càng nhận rõ sự đau khổ của biết bao "nạn nhân chiến tranh". Xem thêm: Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Để rồi từ đó càng yêu thương, chia sẻ với đồng bào mình, chia sẻ với những số phận đáng thương bằng những trách nhiệm cụ thể của toàn xã hội, trong đó có chúng ta. Bên cạnh mọi người cùng nhau chia sẻ, gánh vác trách nhiệm, ta càng phải lên án quyết liệt những kẻ chỉ biết hô hào nhưng lòng thì lạnh lùng, dửng dưng, vô cảm trước nỗi đau của đồng bào mình. Ai đó đã nói một câu thật hay "Những ai sống mà không biết sẻ chia là tâm hồn người đó tật nguyền về cảm xúc". Vâng, truyền thống nhân đạo của dân tộc ta ngời sáng đến mức khi ngoại bang thua trận rút lui, ta còn sắm cho thuyền bè, phương tiện đi về xứ sở. Vì vậy, chúng ta tin rằng, bằng một niềm tin sâu sắc về truyền thống của dân tộc ta; bằng sự trải nghiệm đau buồn triền miên suốt chiều dài lịch sử đắm chìm trong chiến tranh, dân tộc ta càng hiểu hơn bao giờ hết giá trị của vẻ đẹp tình người. Những ai sống lạnh lùng, vô cảm sẽ bị xa lánh và chắc chắn họ sẽ cô độc ngay trên chính quê hương, Tổ quốc mình. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của nhà nước và truyền thống nhân ái vốn có cùa dân tộc, chúng ta chứng kiến hàng triệu ngôi nhà tình nghĩa, tình thương đến với người nghèo. Ta thấy nhiều cơ sở từ thiện mọc lên từ quy mô lớn như những làng Hòa bình cho đến những cơ sở từ thiện xuất hiện các tổ chức tôn giáo và nhiều cá nhân khác cùng chung tay hàn gắn vết thương chiến tranh, xoa dịu nỗi đau đói nghèo và bất hạnh của những mảnh đời,… Những mạnh thường quân xuất hiện đẹp như cô tiên, ông bụt, đẹp như những trang cổ tích làm náo nức tâm hồn chúng ta. Ta còn biết chàng trai Nguyễn Hữu Ân, nén nỗi đau riêng vì mất người mẹ yêu quý, anh tìm đến với những bệnh nhân ung thư nhằm xoa dịu nỗi đau nơi họ, thắp vào lòng họ ngọn lửa ấm tình người… Và đẹp biết bao những chiếc áo xanh của sinh viên vào những ngày hè xuất hiện trên khắp các làng quê Việt Nam,… Những nghĩa cử ấy, những tấm lòng ấy chắc chắn sẽ sưởi ấm, động viên nhiều cho những người bất hạnh vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống. Sự giúp đỡ về vật chất là rất cần để tạo dựng bước khởi đầu trong cuộc sống của họ. Những ngọn lửa nồng ấm yêu thương đã, đang và sẽ lan tỏa khắp nơi và chắc chắn sự đói nghèo của thời hậu chiến và di chứng chiến tranh thật đau buồn trên những thân thể đáng thương kia sẽ tan dần theo năm tháng. Nguồn: thêm: Bình luận về văn minh, lịch sự trong xây dựng nếp sống mới, con người mới hiện nay ở đất nước ta
Bày tỏ thái độ của mình trước những mảnh đời bất hạnh và đói nghèo còn tồn tại trong xã hội ta.
950
Bác Hồ dạy chúng ta: “Điều gì phải thì cố làm cho kì được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ”. Em hiểu lời dạy trên đây của Bác như thế nào? Gợi ý Bác Hồ là vị cha già của dân tộc. Người luôn quan tâm chăm sóc đến mọi tầng lớp nhân dân. Đối với thanh thiếu niên chúng ta, Bác ân cần chỉ bảo, dìu dắt với thái độ bao dung trìu mến, nâng đỡ – Bác dạy từ điều lớn như hướng dẫn con đường phấn đấu cho lí tưởng cao đẹp, Bác lại dạy từ điều nhỏ như cách cư xử hàng ngày. Do đó, tại buổi lễ khai mạc trường Đại học Nhân dân ngày 19.5.1955, Bác đã dạy:“Điều gì phải cố làm cho kì được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ” Chúng ta hiểu lời dạy trên như thế nào và thực hiện lời dạy quý báu đó ra sao? Điều phải là gì? Điều phải là những điều đúng, điều tốt, đúng với lẽ phải, đúng với quy luật, tốt đối với xã hội, đối với mọi người, đối với Tổ quốc, dân tộc. Có những điều phải lớn lao, to tát như hi sinh, xả thân vì nghĩa lớn, vì lí tưởng. Lại có những điều phải nhỏ nhặt, nhiều khi rất tầm thường mà ít khi ta chú ý đến những việc xảy ra trong sinh hoạt hàng ngày của con người, đó là những việc hợp với lẽ phải, làm vừa lòng những người quanh ta. Ví dụ như việc không xả rác, không khạc nhổ bừa bãi, ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng. Xem thêm: Dàn ý biểu cảm về cây phượng sân trường em Điều trái là gì? Điều trái là những điều sai, điều xấu, sai với chân lí, xấu cho mọi người, làm hại người khác. Có những điều sai trái rất lớn, rất trầm trọng như phản lại quyền lợi dân tộc, làm hại đến cuộc sống của quần chúng nhân dân. Nhưng cũng có những điều trái nhỏ thôi, thường ta ít chú ý, thậm chí còn coi thường. Trong đời sống, có những việc không đúng, làm tổn thương dù rất nhỏ đến người khác. Ví dụ như việc ta nói chuyện trong giờ học, rõ ràng là không lớn lắm, nhưng trái với nội quy nhà trường, không đúng tác phong của người học sinh, làm ảnh hưởng đến trật tự chung, ảnh hưởng đến việc học tập của các bạn. Bác Hồ đã dạy rất rõ: Đối với điều phải, dù nhỏ, chúng ta phải cố làm cho kì được”, tức là chúng ta phải đem hết sức lực mà hoàn thành và hoàn thành bằng được, tuyệt đối không được có thái độ coi thường những việc phải nhỏ nhặt. Bác Hồ cũng bảo chúng ta: đối với điều trái, dù nhỏ, chúng ta phải hết sức tránh”, tức là đừng làm và tuyệt đối không được làm. Vậy thì tại sao đối với điều phải, ta phải cố làm cho kì được, dù là việc nhỏ? Vì rõ ràng, đã là việc phải thì đều đáng làm, nên làm, cần phải làm. Thường thi người ta đánh giá việc làm phải của mỗi người là ở tinh thần và mục đích của việc làm chứ không chỉ ở kết quả của việc đó. Hơn nữa, nhiều việc nhỏ nhặt, tầm thường góp lại sẽ thành việc lớn, việc lớn không phải lúc nào cũng có dịp để ta làm, và không phải ai cũng có khả năng làm được, còn việc nhỏ thì lại thường xuyên có mặt trong đời sống và ai ai cũng làm được. Khi Bác Hồ dạy: Xem thêm: Em có cảm nghĩ gì về hai nhân vật: Ông lão đánh cá và mụ vợ ông ta trong truyện “Ông lão đảnh cá và con cá vàng” của Puskin (Văn 7, tập I)Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, Tuỳ theo sức của minh. Thì chính là Bác thấy được khả năng đóng góp của lứa tuổi nhỏ và nghĩ rằng nhiều người làm việc nhỏ sẽ tạo nên một kết quả lớn lao không lường được. Trên tinh thần giúp đỡ đồng bào bị lũ lụt, thiên tai ở Miền Trung, mỗi em nhịn một phần ăn sáng cũng góp phần tạo nên một món quà có giá trị để gửi đến các nạn nhân nhằm chia sẻ phần nào thiếu may mắn đó. Đạo đức chân chính của chúng ta là mỗi người vì mọi người; vì vậy mỗi người cố gắng làm điều tốt cho người khác mà không đòi đền đáp lại. Thế tại sao đối với điều trái ta phải hết sức tránh, dù là điều trái nhỏ? Đã là điều trái thì là đều có hại, hại cho người khác và hại chính bản thân mình. Đạo đức cách mạng cũng như những phép tắc luân lý thông thường không dung thứ cho ta khi ta cố ý nhúng tay vào điều trái, dù nhỏ. Những điều trái nhỏ tích lũy lại sẽ trở thành điều trái lớn. Làm điều trái hàng ngày lâu dần ta sẽ đi tới thói quen làm điều xấu. Thói quen xấu là nguy hiểm và rất khó sửa. Đến lúc làm việc trái trở thành một thói quen thì lúc đó ta đã bắt đầu xa rời con người, mất dần nhân tính. Một học sinh không kiềm chế được một lần quay cóp bài thì sau đó sẽ tiếp tục vi phạm rồi dần dần trở thành một học sinh gian dối trong học tập. Lớn lên người học sinh đó sẽ dễ dàng trở thành một người xấu. Nếu không tránh được điều trái, dù nhỏ tức là vi phạm đạo đức dần dần sẽ tự mình tách ra khỏi đời sống xã hội. Xem thêm: Viết một đoạn văn miêu tả bầu trời quê hương em vào một buổi sáng Thấm nhuần lời dạy của Bác, chúng ta phải suy nghĩ và hành động như thế nào để làm theo lời dạy đó? Trước hết chúng ta phải từ bỏ thói xem thường việc nhỏ nhặt, dù là việc phải lẫn việc trái đó là cái tật thường có ở lứa tuổi ở chúng ta. Chúng ta phải thận trọng trong cách ứng xử, trong việc làm hàng ngày. Phải kiểm soát cách nghĩ, cách làm và hàng ngày tập làm những việc tốt và từ bỏ thói quen xấu dù là điều xấu nhỏ. Lời dạy của Bác thật vô cùng quý báu và sâu sắc. Qua lời dạy đó, chúng ta thấy Bác đã quan tâm đến thanh thiếu niên biết dường nào! Để làm được nhiều điều tốt, tránh những điều xấu, chúng ta phải cố gắng phấn đấu khắc phục bản thân để luôn luôn xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Vanmau.edu.vn
Bác Hồ dạy chúng ta_ “Điều gì phải thì cố làm cho kì được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ”. Em hiểu lời dạy trên đây của Bác như thế nào_
1,168
Bác Hồ dạy thanh niên: “Thanh niên phải luôn luôn rèn luyện đạo đức cách mạng”. Em hãy bình luận lời dạy trên Gợi ý Rèn luyện đạo đức cách mạng là việc làm thường xuyên của mỗi cán bộ, Đảng viên, suy rộng ra là của toàn dân. Nhưng, người có thói quen rèn luyện đạo đức cách mạng trước hết phải là thanh niên – người chủ tương lai của đất nước. Chính vì lẽ đó, Bác Hồ, vị Cha già kính yêu của dân tộc, đã dạy thanh niên: “Thanh niên phải luôn luôn rèn luyện đạo đức cách mạng.”. Vậy, thanh niên quan niệm như thế nào về đạo đức cách mạng? Đạo đức cách mạng có khó rèn luyện không? Nó từ đâu tới? Ai sẽ cho mình đạo đức cách mạng? Thực ra, đạo đức cách mạng rất gần gũi với thanh niên, nó diễn ra trong cuộc sông thường ngày của chúng ta. Không ai cho mình đạo đức cách mạng mà tự mình vươn tới, tìm đến với đạo đức cách mạng. Đó là đạo đức làm người. Ngay từ tuổi mười tám, đôi mươi, người thanh niên phải biết coi lợi ích của dân tộc là trên hết, là thiêng liêng để từ đó trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với giai cấp, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn của dân tộc. Lí Tự Trọng, Võ Thị Sáu là tấm gương tiêu biểu trong hàng vạn thanh niên đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc, mãi mãi xanh tươi, mãi mãi bền vững.Xem thêm: Viết bài luận với tiêu đề "Tôi muốn nắm chặt tay bạn" Cùng với sự trung thành, người thanh niên còn phải có đức tính dũng cảm, không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”; gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người. Trong cuộc sống, thanh niên phải luôn luôn khiêm tốn: không tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không tự phụ. Đó là những đặc điểm cơ bản của đạo đức cách mạng mà thanh niên phải luôn luôn rèn luyện. Rèn luyện đạo đức cách mạng là việc làm thường xuyên, hằng ngày, hàng giờ, không thể một sớm, một chiều mà trở thành người có đạo đức cách mạng được. Vì vậy, thanh niên phải lấy lời dạy của Bác làm lẽ sống để không ngừng rèn luyện mình trở thành người có ích cho xã hội, xứng đáng với niềm tin của mọi người, xứng đáng là người chủ tương lai của đất nước. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, thanh niên ta đã tỏ rõ khí phách của mình trước quân thù. Lớp lởp thanh niên hăng hái lên đường nhập ngũ, hòa vào đội quân thanh niên xung phong, anh lính cụ Hồ, lập nên chiến thắng vẻ vang cho dân tộc, Nam – Bắc sum họp một nhà, cả nước và đang thực hiện công cuộc xây dựng nước Việt Nam hiện đại hóa, công nghiệp hóa, dân giàu, nước mạnh. Bên cạnh những thành tựu thanh niên đã lập nên, vẫn còn một bộ phận thanh niên có những việc làm, những biểu hiện tiêu cực, không tu rèn đạo đức cách mạng, lấy việc ăn chơi xa hoa làm lẽ sống. Họ không hòa nhập vào tính tiên phong, tính hàng hái của thanh niên. Xã hội lên án họ, đào thải họ, bởi chính họ đã tự đào thải họ.Xem thêm: Thuyết minh về tác hại của thuốc lá Với dân tộc ta, với tuổi trẻ chúng ta ngày nay, lời dạy của Bác Hồ luôn luôn nhắc nhở chúng ta thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng và trong mọi hoàn cảnh phải gìn giữ phẩm chất của người thanh niên, người cán bộ, người Đảng viên. Từ đó tuổi trẻ góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh. Vanmau.edu.vn
Bác Hồ dạy thanh niên_ “Thanh niên phải luôn luôn rèn luyện đạo đức cách mạng”. Em hãy bình luận lời dạy trên
681
Bác Hồ từng dạy thiếu niên nhi đồng: “Học tập tốt – lao động tốt”. Em hiểu lời dạy đó của Bác như thế nào Gợi ý Bác Hồ từng dạy: “Trẻ em như búp trên cành Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”. Bác cũng từng dạy: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ / Tuỳ theo sức của mình”. Những lời căn dặn ấy của Bác được cô đọng trong một lời nhắc nhở "Học tập tốt – lao động tốt". Qua những ngày tháng đến trường, đến lớp, chúng ta thấy rằng lời dạy của Bác thật thấm thìa, sâu xa. Học tập tôt trước hết là người học trò phải đi học đều, học chăm chú và say sưa. Những giờ trên lớp cần chú ý nghe thầy cô giảng bài, học thuộc bài trên cơ sở nắm vững các kiến thức, lý thuyết để làm bài tập. Quan trọng là người học sinh phải học đều, học đến đâu chắc đến đó. Tuy nhiên, không ít người cho rằng học được môn này, được nhiều điểm và kết quả cao là học tốt. Nhưng thực tế lẳ chỉ giỏi một vài môn vẫn chưa gọi là học tốt mà phải là học giỏi đều các môn. Vậy ý nghĩa của việc học tập tốt là gì? Học tập tốt trước tiên là điều có lợi cho bản thân. Thầy cô, cha mẹ sẽ vui lòng và yêu quý ta, bạn bè mến mộ, chan hoà, vui vẻ với chúng ta. Học tập có hiệu quả tốt là cơ sở để tạ phát huy năng lực sáng tạo, cống hiến cho tương lai và xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó, học tập luôn phải đi đôi với thực hành và lao động. Lý thuyết và thực hành luôn có mô’i quan hệ khăng khít với nhau. Chỉ có học tốt thì lào động thực hành mới tốt.Xem thêm: Cách làm văn nghị luận lớp 12 Cùng với học tốt, người học sinh còn phải biết lao động tốt. Trước tiên, đó là một công việc, một hoạt động vô cùng tốt đẹp. Người phương Tây có câu: “Lao động là vinh quang”. Một người lao động tốt là người đó biết hoàn thành công việc một cách hiệu quả. Không được làm nhanh mà ra ẩu. Chúng ta chỉ cần chậm mà chắc. Nhưng làm việc cũng phải có tốc độ phù hợp. Học môn gì thì sử dụng thiết bị kỹ thuật để lao động trực tiếp môn học ấy. Chăm chỉ, cần cù và có kết quả tốt nhất là một yếu tố góp phần tạo nên một người lao động tốt. Nhưng tại sao lại phải học tập và lao động tốt? Bởi vì học tốt, lao động tốt sẽ giúp ta mau chóng phấn đấu trở thành học trò ngoan, chăm chỉ và gương mẫu. Qua đó, ta sẽ rèn luyện thêm được về đạo đức và trí tuệ cũng như thể lục để phát triển toàn diện con người. Thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ "Học tập tốt – Lao động tốt" và những lời căn dặn khác của Người sẽ giúp ta có được.tri thức đầy đủ, bản lĩnh vững vàng, thế lực rắn rỏi để tự tin bước vào cuộc sống, tiếp tục chinh phục những mong ước tốt đẹp của bản thân. Vanmau.edu.vn
Bác Hồ từng dạy thiếu niên nhi đồng_ “Học tập tốt – lao động tốt”. Em hiểu lời dạy đó của Bác như thế nào
555
Bác Hồ từng dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Em hãy viết đoạn văn chứng minh những thành công mà nhân dân ta có được nhờ tinh thần đoàn kết Gợi ý Bác Hồ từng dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành còng, thành công, đại thành công”. Quả thực, tinh thần đoàn kết, thống nhất một lòng đã mang đến cho dân tộc ta những thành công to lớn. Đoàn kết giúp ta có sức mạnh, giúp ta làm nên những việc lớn lao. Đất nước ta đã từng bị bọn phong kiến áp bức, bọn thực dân đế quốc xâm lược. Chúng muốn cướp ruộng đất của chúng ta, bắt ta làm nô lệ cho chúng. Nhân dân ta người không đông, kinh tế không giàu, chỉ có được những điều kiện tối thiểu, thô sơ nhất cho cuộc chiến chống áp bức nhưng bằng sức mạnh từ khối đại đoàn kết của dân tộc “tất cả đàn ông, đàn bà, người già trẻ nhỏ, không phân biệt tôn giáo, đang phái… ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm ai không có súng có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã lần ĩượt đánh đô hai xiềng xích áp bức bóc lột là phong kiến và thực dân Pháp trong Cách mạng tháng Tám 1945. Tiếp đến, qua ba mươi năm đấu tranh gian khổ, bằng sức mạnh của tinh thần đoàn kết miền Nam trực tiếp chiến đấu, miền Bắc lao động sản xuất để chi viện, ta lại tiếp tục “đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào” và giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Không chỉ trong chiến đâu với kẻ thù ngoại xâm mà trong công cuộc lao động sản xuất ta cũng có được nhiều thắng loại nhờ tinh thần đoàn kết. Trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước, để có cơm àn, áo mặc, vũ khí đạn dược chống chọi với chiến tranh, nhân dân miền Bắc đã phát huy tinh thần đoàn kết trong những tố chức hội, tập thể như “Hội phụ lão cứu quốc”, “Hội nông dân cứu quốc”, “Hội nhi đồng cứu quốc”,… Chúng ta hưởng ứng những phong trào như “Ba sẵn sàng”, “Mỗi người làm việc bằng hai”,… Kết quả là ta đã đủ lương thực để ãn, đủ vũ khí để chống lại quân thù. Trong thời bình, chúng ta lại phát huy tinh thần đoàn kết toàn dân để xây dựng xã hội chủ nghĩa. Bằng chứng hùng hồn cho những thành công của ta là những cánh đồng xanh mát, những nhà máy hiện đại, những tòa nhà chọc trời. Trong đó phải kể đến công trình thủy điện Hòa Bình, nhà máy lọc dầu Dung Quất,…Xem thêm: Phân tích nhân vật Quan phụ mẫu tong chuyện Sống chết mặc bayVanmau.edu.vn
Bác Hồ từng dạy_ “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Em hãy viết đoạn văn chứng minh những thành công mà nhân dân ta có được nhờ tinh thần đoàn kết
499
Báo tuổi trẻ ngày 12 – 7 – 2004 đưa tin: “Theo Ban chỉ đạo tuyển sinh đại học năm 2004,… trong đế giày”. Hãy bình luận thực trạng đó Gợi ý Đề bài: Báo tuổi trẻ ngày 12 – 7 – 2004 đưa tin: “Theo Ban chỉ đạo tuyển sinh đại học năm 2004, sau hai đợt thi đã có 3186 thí sinh bị xử lí kỉ luật do vi phạm quy chế thi, trong đó có 2637 thí sinh bị đình chỉ thi, chủ yếu do mang và sử dụng tài liệu trong phòng thi. Hình thức mang tài liệu và phao thi ngày càng tinh vi, chúng được giấu trong thước kẻ, điện thoại di động, trong đế giày”. Hãy bình luận thực trạng đó. Bài làm: Một mùa tuyển sinh nữa lại trôi qua và những người chịu trách nhiệm tổ chức công việc muôn phần phức tạp đó đã có thể thở phào nhẹ nhõm. Nhưng không ít người, trong đó có tôi vẫn thấy có cái gì đó đè nặng trong tâm tưởng khi mà một lần nữa kì thi vẫn nổi cộm lên sự gian lận ngày một trắng trợn hơn, tinh vi hơn và thậm chí được hiện đại hóa: “Theo Ban chỉ đạo tuyển sinh đại liọc năm 2004, sau hai đợt thi đã có 3186 thí sinh bị xử li kỉ luật do vi phạm quy chế thi; trong đó có 2637 thí sinh bị đình chỉ thi, chủ yếu do mang và sử dụng tài liệu trong phòng thi. Hình thức mang tài liệu vù phao thi ngày càng tinh vi, chúng được giấu trong thước kẻ, diện thoại di động, trong đế giày”. (Báo Tuổi trẻ ngày 12 – 7 – 2004). Người ta có thể giải thích điều đó là do có chỉ thị của bộ trưởng Bộ GD – ĐT, các giám thị đã làm việc nghiêm túc hơn nhưng đó chỉ là bề nổi của vấn đề, chúng ta cần phái có cái nhìn sâu hơn vào tệ nạn gian lận trong thi cử để hiểu rõ hơn thực trạng thi cử cũng như giáo dục ở nước ta hiện nay. “Quyết tâm gian lận” cúa thí sinh ngày càng cao, cuộc vật lộn “một mất một còn” để dành cho được một ghế tại giảng đường đại học ngày càng lì lợm và quyết liệt hơn. Mà phải quyết liệt vì có qua được chặng này đã rồi mới có thể tính tiếp. Rồi sẽ bằng mọi phương tiện, mọi thủ đoạn, phớt lờ dư luận, bất chấp liêm sỉ quyết dành cho được mảnh bằng cử nhân, mà may ra vận hội hanh thông, cơ may được khai thác thuận lợi, kinh nghiệm của những năm “vất vả” chuyện “phao”, chuyện tìm đường dây thi hộ sẽ được phát huy trên con đường “mua thầy bán bạn” để vơ nốt tấm băng “thạc sĩ”, “tiến sĩ” trên con đường tiến thân!Xem thêm: Con vẫn chờ ba thực hiện lời hứa... Đằng sau chuyện gian lận thi cử với ngần ấy thí sinh bị kỉ luật, đình chi thi, chúng ta đã nhìn thấy những chỉ báo về đạo đức xã hội trong đó có đạo đức của học sinh, sinh viên. Và nói đến học sinh, sinh viên không thể không nói đến các bậc phụ huynh. Rồi trước chuyện gian lận trong học hành, thi cử đã ngày càng công khai và thách thức, không thể không tìm hiểu xem dư luận xã hội phản ứng ra sao? Phái chăng xã hội đã phẫn nộ? Nhưng rồi xã hội cũng thờ ơ. Mà thờ ơ có phải là do chuyện đó đã quá kéo dài và thời gian đã đủ độ “bão hòa” cho những cơn thịnh nộ, những sự giận dữ, những cảm giác xấu hổ? Một khi xã hội, hay nói đúng hơn là một bộ phận không nhỏ trong xã. hội đã thờ ơ với chuyện gian lận trong học hành, thi cử thì đó là một điều đáng báo động. Nền giáo dục hiện nay, mục đích thi cử rõ ràng là để lựa chọn những người đủ tâm, đủ tài cho đất nước. Nhưng, chúng ta không khỏi băn khoăn, trăn trở qua những kì thi nhiều khi bị biến tướng, không phản ánh thực chất của việc học hành và trình độ các thí sinh hiện tại, không phản ánh đúng thực chất của tình trạng giáo dục hiện nay. Một kết quá ảo của nền giáo dục, đó là một thực tế mà rất nhiều phương tiện truyền thông đã gióng lên hồi chuông báo động từ lâu nhưng tình hình không mây biến chuyền. Chính căn bệnh thành tích đã tạo nên sự dối trá. Và, khi cặp phạm trù này tồn tại một cách thực tế trong đới sống, nó làm cho mọi hoạt động Rinh tế – văn hóa, xã hội bị biến tướng, mất đi tính công khai, minh bạch cần có. Chúng ta cần gì ỏ những tấm bằng không thực chất khi mà sự chứng nhận đó không tương xứng với thực lực có được ở con người ấy.Xem thêm: Tây Tiến người đi không hẹn ước và Hồn về sầm Nứa chẳng về xuôi? Những bậc phụ huynh nghĩ gì khi trực tiếp ném bài thi cho con em mình, làm mất đi môi trường nghiêm túc trong thi cử? Họ đã giúp sức để con cái họ có được tấm bằng không phải của chính mình. Nguy hiểm hơn, bậc làm cha làm mẹ đã nêu một tấm gương cực kì xấu về sự coi thường kiến thức kỉ cương. Nạn bằng giả đã quá lộng hành nhưng còn có thể hạn chế bằng cách phát hiện. Nạn thi cử gian lận để rồi có được tấm bằng thật thì quả là một căn bệnh trầm kha, khó tìm thuốc chữa. Hậu quả của nó không chỉ là một năm, một thế hệ mà còn ánh hưởng lâu dài đến tương lai đất nước, tương lai dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Điều nguy hại của bệnh thành tích trong giáo dục là thế hệ trẻ dần dần coi chuyện dôi trá là bình thường trong khi tuổi thiếu niên là tuổi bước đầu được giáo dục để hình thành về nhân cách. Hành trang vào đời cùa một bộ phận không nhỏ giới trẻ hôm nay đã có cả sự dối trá con người như vậy sẽ là chủ nhân của đất nước trong tương lai? Vậy họ sẽ điều hành và làm chủ giang sơn ra sao khi mà trong đầu họ, cái cần nhất là kiến thức, nhân cách thì thiếu hụt nhưng lại thừa những điều không đáng có: sự dối trá. Từ chuyện gian lận trong thi cử phải dám lật lại nhiều vấn đề, trong đó có nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục con người mới, những người đã và sẽ đảm đương một sự nghiệp lớn. Cũng với điều đó, cần gây được một dư luận xã hội cảm nhận được đây là nỗi đau, nỗi nhục không của riêng ai! Để thức dậy lòng tự trọng trong những người trẻ tuổi phải có cả quá trình lâu dài, bắt đầu từ mầu giáo, từ trong gia đình và ra xã hội, biết cách giáo dục và biết nêu gương. Khi mà cơ hội thăn tiến xã hội được mở rộng một cách công khai và minh bạch thì việc tấn công thói gian lận trong thi cử mới có khả năng giành thắng lợi.Xem thêm: Chuyển nội dung bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu sang văn xuôi theo lời kể của tác giả Cần phải thay đổi kiểu tư duy giành lấy bằng cấp để “ngồi mát ăn bút vàng’’ vốn đã tồn tại rất lâu trong xã hội. Thế hệ trẻ phải hiểu được bản chất đích thực của sự học. Học là để nâng cao tri thức, văn hóa, để tiếp thu cái mới, hội nhập với những tiến bộ tích cực của thời đại. Ai cũng biết sự học là một động lực quan trọng hàng đầu để xã hội phát triển, con người hoàn thiện. Giá trị của sự học thể hiện ở bằng cấp nhưng quan trọng hơn cả là ở hàm lượng tri thức, ở hiệu quả công việc, ở nếp sống con người. Cho dù học để làm quan, làm nghề cho tinh thông thì cái tiêu chí đầu tiên, và cũng là cái đích cuối cùng của sự học là: học để làm người có ích cho xã hội, gia đình và bản thân. Người Trung Hoa có câu: Biển học vô bờ; Lênin nói: “Học, học nữa, học mãi” ấy là phần nối dài rất cần thiết để làm sáng tỏ câu trả lời: Học để làm người có ích. Và, nếu như toàn xã hội đều nêu cao các chuẩn giá trị “người có ích” trong gia đình, trong xã hội thì lớp trẻ sẽ không bị sức ép nặng nề của các cuộc thi nói chung và cuộc thi đại học nói riêng. Sự học trở thành một hoạt động tích cực, giá trị đích thực của giáo dục được tôn vinh và tình trạng gian lận trong thi cử sẽ được đẩy lùi. Để thức dậy lòng tự trọng trong những người trẻ tuổi phải có cả quá trình lâu dài, bắt đầu từ mẫu giáo, từ trong gia đình và ra xã hội, biết cách giáo dục và biết nêu gương. Khi mà cơ hội thăng tiến xã hội được mở rộng một cách công khai và minh bạch thì việc tấn công thói gian lận trong thi cử mới có khả năng giành thắng lợi. Tất nhiên, muốn sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo của nước ta tiến lên không phải chỉ chữa khỏi căn bệnh gian lận trong thi cử là đủ mà còn đòi hỏi nhiều biện phấp đồng bộ, toàn diện hơn. Đặc biệt là ý thức tích cực của tất cả mọi người trong vấn đề cải cách giáo dục đã và đang được thực hiện. Vanmau.edu.vn
Báo tuổi trẻ ngày 12 – 7 – 2004 đưa tin_ “Theo Ban chỉ đạo tuyển sinh đại học năm 2004, … trong đế giày”. Hãy bình luận thực trạng đó
1,711
Bên cạnh chất hiện thực, truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam còn đậm đà chất lãng mạn. Anh (chị) hãy dựa vào tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam để làm sáng tỏ vấn đề này Gợi ý "Văn học là nhân học" (M.Gorki). Trong văn học, do vậy, vẻ đẹp nhân bản của con người luôn luôn là một phương tiện thẩm mĩ mà ở đó chất thơ và chất hiện thực hòa quyện với nhau. Để làm rõ điều vừa nói, Hai đứa trẻ của Thạch Lam sẽ là một dẫn chứng. Hai dứa trẻ vừa là bức tranh hiện thực phố huyện nghèo, vừa như một bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn bâng khuâng day dứt về đời sống con người. Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo xơ nghèo xác và lại càng xơ xác, tiêu điều hơn từ cái nhìn của nhà văn. Đó là lúc hoàng hôn của một ngày tàn nơi miền quê "mặt trời đã lấp sau rặng tre, nhìn lên chỉ thây khóm tre màu đen kịt trên nền trời phớt hồng” dàn nhạc của ếch nhái bắt đầu văng vẳng kêu ran ngoài đồng, thế cũng đủ làm thành buổi chiều êm như ru như bao chiều khác. Như một mô típ nghệ thuật, cái phố huyện hẻo lánh lại hiện ra trong khung cảnh chợ vãn của buổi chiều chỉ còn lèo tèo vài ba người bán hàng đang thu dọn gánh, vài đứa trẻ đi thu lượm các thứ lặt vặt… Cái bức tranh ấy đã một lần hiện lên trong Gió lạnh đầu mùa nhưng sao nó vẫn nhuôm một nỗi buồn khó tả vào cái giờ khắc của ngày tàn trong Hai đứa trẻ. Song bức tranh phố huyện ấy không chỉ là cảnh vật mà là bức tranh cuộc sống của con người. Một hiện thực nơi miền quê hẻo lánh, một chút của chôn kinh thành được mang tới từ con tàu đêm đêm. Cuộc sống phố huyện có gì? Đó là hoạt động kiếm sông của những người mà trong mắt Liên dường như quá quen thuộc, mỗi người đã có một thói quen. Như bác phở Siêu, chị Tí, bố con người hát xẩm, cụ Thi điên và ngay cả Liên. Việc chủ yếu cũng chỉ là nghe tiếng trông thu không thì đóng của quán mà đợi chờ. Hiện thực không làm ta ngỡ ngàng đó là một phố huyện nghèo với những người cần cù lao động một cách lầm lũi đáng thương. Nhưng tất cả những hiện thực như thế đều đặt trong con mắt quan sát chất chứa trong chất văn lãng mạn. Thời gian đi vào cuộc sống của phố huyện "rõ ràng" không vụt nhanh hoặc tan vào đêm tối. Thời gian cứ chậm rãi đi từng bước phát triển của nội tâm. Từ "tiếng trông thu không" đến một câu văn nhẹ nhàng: "Chiều, chiều rồi" cất lên trong lòng, rồi trời nhá nhem tối đến không gian đã khuya không còn những "tạp âm", của ban ngày chỉ còn "vòm trời với ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh". Mỗi thời điểm lại có một cái nhìn cảnh vật khác nhau nhưng đều có phần thi vị hóa nhờ những câu văn tươi mát, uyển chuyển. Xem thêm: Bình giảng bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử văn 11Có buổi chiều nào êm như ru trong cách nhìn của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng? Chỉ có tâm hồn lãng mạn Thạch Lam mới có cái mượt mà đượm chất thơ như thế. Sự tài tình chính là ở chỗ nhà văn vừa hòa nhập hai tâm hồn quan sát là một. Hiểu là nhà văn quan sát cũng đúng mà hiểu là cảnh vật diễn ra trong mắt của nhân vật Liên cũng chẳng sai. Ta thấy rõ điều đó qua cái giật mình của nhân vật. "Liên mải ngồi quên mất! Bây giờ Liên vội vàng vào thắp đèn xếp những quả sơn đen lại". "Trời bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát". Những câu văn như vậy có rất nhiều và được dùng một cách chính xác đạt đến mẫu mực. Phải chăng cảm nhận ây xuất phát từ tâm hồn nhà văn hay chính là từ tâm hồn của Liên khi phố huyện đã chìm trong im lìm của vắng lặng. Trong con mắt "Dõi theo những bóng người về muộn từ từ trong đêm". Nếu như đầu tối phố huyện còn được "trang hoàng" bằng những ánh đèn hắt ra từ những quán bên đường thì bây giờ chỉ còn là bóng đêm. Một vài tia sáng le lói từ kẽ cửa thành từng vệt. Con mắt thơ mộng đâu chỉ dừng ở những ánh sáng rất thực mà tìm đến cái mong manh của đốm sáng. Đó là ánh sáng tuy "Ngàn sao đua nhau nhâ’p nháy" nhưng vẫn còn là hữu hạn trong nền trời vô hạn. Ánh sao vẫn cô đơn, ánh sáng của thứ đom đóm lập loè trong kẽ lá bàng lại càng gợi buồn khó tả. Ánh sáng hiếm hoi của thiên nhiên được nhà văn "chớp" nhanh trong cái nhìn lãng mạn. Chất thơ chính là ở đó. Vừa có cái hiện thực vừa có sự bay bổng của ngòi bút phác lên và đằm lại trên trang văn. Nhưng tất cả vẫn là cái thường nhật diễn ra trong cảnh sống vốn quẩn quanh lầm lũi. Ánh đèn của chị Tí đủ soi một khoảnh nhỏ. Nếu quan sát từ xa, ta sẽ thấy một bức tranh khá hoàn chỉnh về mặt nghệ thuật với hai "gam màu" sáng tối. Khuôn mặt người phụ nữ chân quê chât phác đã trải qua một ngày bươn bải với cuộc sống để kiếm cái ăn, manh áo. Cuộc sông gia đình bận rộn tối tăm. Nhưng tối nào chị cung góp một ánh đèn như thế. Tuy để thêm thu nhập, nhưng hình như họ chỉ bán cho lấy lệ. Vậy thì cái gì đã làm cho họ ra đây? Phải chăng đó là nếp sống. Và phố huyện ban đêm là một nơi để họ sống… Âm thanh của cuộc sống phát ra từ chính những lời đôi thoại, những hoạt động của con người nơi đây. Mỗi người đều góp một thứ ánh sáng, một chút hương vị, âm thanh. Tất cả tạo nên một bức tranh phố nghèo. Chẳng có một nét chấm phá nào trong bức tranh nhưng tất cả những con người có mặt đã làm nên tổng thể của cảnh vật cuộc sống. Xem thêm: Nhà nghiên cứu văn học Đặng Thai Mai có viết: "Điều quan trọng ... những tác phẩm vĩ đại" (Quá trình bồi dưỡng nghề viết văn của tôi, in trong Công việc viết văn. Trường viết văn Nguyễn Du, xuất bản 1965, trang 81). Bình luận ý kiến trên Nếu như ở Nam Cao là những cảnh sống hiện thực khốn khổ với nước mắt của đói, miếng ăn và áp bức thì cuộc sống hiện thực trong văn Thạch Lam được "đo" bằng một đơn vị "lãng mạn" nhất định. Nét bút của ông đã phác họa một cách rất nhẹ nhàng uyển chuyển. Phố huyện nghèo và cũng có rất nhiều lí do để người dân phải lao vào cuộc bon chen giành giật sự sinh tồn. Nhưng ở đây là một không khí chan hòa thực sự, ấm áp tình người và mỗi người khi ra về chắc chắn vẫn giữ được sự ấm áp quen thân dù rất buồn. Sự hài hòa giữa hiện thực và lãng mạn đã giúp Thạch Lam có được chất văn nhẹ nhàng thanh thoát, ẩn hiện nhân cách tuyệt vời của ông. Trở lại với cảnh sinh hoạt ban đêm nơi phố huyện, chất lãng mạn không dừng lại ở cảnh bao quát mà đắm lại ở những trang viết về chị em Liên. Đây chính là điểm nhà văn đã tập trung khắc họa. Liên gây ấn tượng bởi nội tâm sâu sắc, xuất phát từ một con người đa cảm. Khi màn đêm đã bắt đầu buông xuồng cũng chính là lúc Liên thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. Cảm giác buồn ấy gợi lên từ cảnh phố huyện xơ xác buồn trong tiếng trống thu không vang vọng như hút hồn người. Bất giác, một cảnh tượng làm chị không khỏi chạnh niềm thương. Đó là những chú bé nheo nhóc, nhớn nhác giữa chợ đã vãng từ lâu để nhặt những mẩu que kem và những gì còn có ích cho chúng. Ân tượng đầu tiên là Liên có một tấm lòng chẳng trẻ con chút nào. Tư thế của một người chị còn bé hơn thế nữa, nỗi lòng buồn báo hiệu một sự "trưởng thành" về tâm sinh lí. Bức tranh phố huyện nghèo hẻo lánh, ẩn khuất trong bóng tối hư vô của phố huyện. Cuộc sống phố huyện đã ăn sâu trong tâm trí Liên. Tưởng như nếu có thiếu một thứ gì của cảnh ngoài kia, Liên đã thốt lên rồi. Nhưng tất cả vẫn thế, ngay cả tiếng cụ Thi đôi lúc làm cho Liên sợ. Nhưng cảm giác thân thuộc vẫn thấy cụ đáng yêu và đáng thương. Từng cảnh đời, cảnh sống của mỗi con người lần lượt đi qua tâm hồn tưởng như non nớt của Liên. Cuộc sống của từng người đã góp nên thành cuộc sống của cả một quần thể người dân quê nghèo khó. Từ những mảnh đời cũng giống như Liên cùng chung môi trường sống, ta thấy một điểm chung rất rõ, đó là sự quanh quẩn chật hẹp của môi trường xã hội. Ngày lại ngày vẫn chỉ là cái chợ tiêu điều, vài dãy hàng quán với những khoảnh đất trống "Lá đa lác đác trước lều" và những "con người ấy" mà thôi. Nhưng ở Liên lại có một sự khác lạ mà trong số người trên chẳng có ai. Một hành động tưởng như quái gở và vô nghĩa, đó là "đợi tàu". Nếu mẹ Liên ở đó chắc cũng không cho cô thức. Nhưng đó mới chính là chiều sâu của tác phẩm khi tác giả khắc họa hình ảnh Liên cùng em đợi tàu với một niềm háo hức rất trẻ con. Xem thêm: Tài nguyên quý báu của người nghèo là bộ óc Tuy buồn ngủ nhưng An vẫn dặn Liên khi tàu đến thì gọi dậy. Chẳng biết vì cái gì mà em của Liên lại dặn thế. Có lẽ chỉ chị là hiểu hành động của mình khi chị vẫn chủ động kiên trì thức, mặt đăm chiêu đón nhận, săn tìm một tín hiệu. Và con tàu đã đến đúng như sự mong mỏi, đợi chờ, như một thoáng niềm vui cũng chợt tắt. Tàu hôm nay không đông khách, ánh sáng của toa tàu cũng kém đi. Điều đó càng làm lòng Liên có một nỗi buồn vô hình xâm lấn. Con tàu vô cảm lầm lũi mang đến niềm vui duy nhất nhưng lại chợt gợi thêm nỗi buồn khó tả. Tiếng rầm rầm của tàu đã lẩn khuất sau màn đêm dày đặc, không gian của phố huyện thoáng giao động rồi lại trở về như xưa. Tâm trạng của Liên bây giờ chẳng biết nên vui hay buồn. Vui có lẽ đúng hơn vì hàng ngày chuyên tàu vẫn là niềm mong mỏi của chị. Có người nói "chờ đợi là một điều khủng khiếp"; song, không có gì để chờ đợi lại càng khủng khiếp hơn. Với Liên, điều khủng khiếp chính là niềm vui mà chị có thể tự tạo cho mình. Chất lãng mạn ngay trong cảnh đợi tàu và ý nghĩa đợi tàu. Cảnh đợi tàu ở đây tuy có khác với cảnh đợi tàu trên sân ga nhưng lại vẫn chung một nỗi niềm mong mỏi. Điều đáng nói hơn là duy chỉ một cô bé Liên đợi. Cuộc sống bon chen đã không làm chị chìm trong cảnh đời lầm lũi, thầm lặng. Vượt xa hơn là một tâm hồn khát khao niềm vui của cuộc sống. Tuy cuộc sống buồn nhưng vẫn tạo được niềm vui để mình sống có ý nghĩa hơn trong cõi đời. Quả thực, tâm hồn Liên là một bài thơ có cấu tứ khá hoàn chỉnh; nhưng đó là một sự thật hiển nhiên mà Thạch Lam đem lại. Cho đến nay, chị vẫn sống với một niềm vui của chuyến tàu đem lại. Liên là mảng màu chủ đạo tạo nên chất hiện thực và chất lãng mạn trong thien truyện. Tạo nên bằng một cuộc đời. Tạo nên như là người dẫn chuyện. Thành công của Thạch Lam chính là sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn với xu hướng hiện thực, nhân đạo. Tạo cho mỗi tác phẩm của ông một sức sống trường tồn cùng lòng người. Tinh người của nhà văn với nhân vật đã đưa ý nghĩa truyện lên một tầng cao mới. Ai đó đã định nghĩa về thơ: "Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời còn là thơ nữa" thì truyện ngắn Hai đứa trẻ và nhiều thiên truyện khác nữa của Thạch Lam có đầy đủ những yếu tố mang phong vị của một bài thơ trữ tình đặc sắc mà lại "cuộc đời" thật sâu sắc. Vanmau.edu.vn
Bên cạnh chất hiện thực, truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam còn đậm đà chất lãng mạn. Anh (chị) hãy dựa vào tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam để làm sáng tỏ vấn đề này
2,259
Bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ, hung bạo, sông Đà còn mang nét đẹp trữ tình. Hãy phân tích vẻ đẹp trữ tình ấy. Hướng dẫn Sông Đà trữ tình, “con sông Đà dài như một áng tóc trữ tình”, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện dưới mây trời Tây Bắc đang nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Sau này, Nguyễn Tuân tiếp tục so sánh “sông Đà như một áng tóc tuôn dài ngàn ngàn, vạn vạn sải”. Chỉ một so sánh độc đáo để Nguyễn Tuân là hiện lên trước mắt người đọc hình ảnh một con sông có vẻ đẹp kiều diễm, duyên dáng, dịu dàng mềm mại, tha thướt như một nàng thiếu nữ mà mây trời khói núi Tây Bắc trang điểm làm diễm lệ thêm vẻ đẹp của dòng sông. – Vẻ đẹp màu nước sông Đà cũng mang một nét riêng hết sức cá tính: “màu xuân màu xanh ngọc bích”, mùa thu “lừ lừ chín đỏ” cách gọi tên màu sắc con sông của Nguyễn Tuân quả là thật chính xác, ấn tượng có lẽ Nguyễn Tuân yêu sông Đà bởi màu nước của nó: trong ra trong, đục ra đục chứ không lờ lờ canh hến như ở những con sông khác. – Sông Đà gợi cảm: + Con sông như một cố nhân gần gũi, thân thiết tri âm tự bao giờ + Con sông gợi những niềm thơ: màu trắng tháng ba Đường thi trong thơ Lý Bạch. + Niềm vui khi gặp lại dòng sông. – Sông Đà hiền hoà, êm đềm, thơ mộng, cảnh thuyền trôi từ từ trên dòng sông, cảnh ven sông lặng tờ như cái êm đềm có tự ngàn xưa nguyên sơ, thanh bình, tươi sáng, yên tĩnh, thanh vắng. Tác giả như dần người đọc vào một thế giới cổ tích tuổi xưa, như trở về với khoảnh khắc của thời tiền sử hoang dại, hồn nhiên. Nguồn: thêm: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi... Đất Nước có từ ngày đó
Bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ, hung bạo, sông Đà còn mang nét đẹp trữ tình. Hãy phân tích vẻ đẹp trữ tình ấy.
363
Bình bài thơ “Chiều xuân“ của nữ sĩ Anh Thơ Gợi ý Đọc hồi kí “Từ bến sông Thương ” độc giả mới biết chị Anh Thơ viết tập thơ đầu tay “Bức tranh quê " phải giấu bố, viết vụng trộm, ông cụ biết được là phải đòn, vì cụ cho rằng con gái làm thơ chi tổ ế chồng, chỉ để viết thư cho giai. Rồi chị cũng viết được ba mươi bài gửi thi ở Tự lực văn đoàn và được giải năm 1939, chính thức bước vào làng thơ. “Bức tranh quê ”, đúng như tên gọi, là những bức tranh bằng thơ vẽ lại cảnh thôn quê thời đó, mỗi bài thường là mười hai câu, có kết cấu khá giống nhau, nhưng các chi tiết đều sắc sảo, không trùng lặp. Tập thơ mở đầu bằng các bài về cảnh mùa xuân rồi lần lượt mùa hạ, mùa thu, cuối cùng là mùa đông với các bài thơ Tết. Bài ”Chiều xuân " này được in ở đầu tập thơ. Chọn chiều mưa bụi, Anh Thơ có dịp nói được cái đặc sắc của thời tiết xứ Bắc. Nông thôn ta hồi đó thưa vắng (cả nước hai mươi triệu dân), nền kinh tế tiểu nông càng khép kín xóm làng, cuộc sống yên tĩnh, có phần ngưng đọng. Trong chiều mưa lạnh này, nơi bến sông rìa làng càng tiêu điều vắng vẻ. Một khung cảnh không âm thanh, không sắc màu tươi sáng: mưa rơi rất êm, bến rất vắng, có được con đò thì cũng lười biếng bất động, một quán nước không người. Động đậy một chút chỉ là những cánh hoa xoan tím rụng tơi bời. Nhưng những cánh hoa ấy lại quá nhỏ và nhẹ, nó lăn với màn mưa rồi cùng chìm vào cái vắng và lặng của trời chiều. Xem thêm: Cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu trời Ba đoạn thơ là ba khung cảnh. Cảnh đầu tiên là bến vắng. Cảnh hai là đường đê. Vẫn làn mưa bụi ấy bay dăng nhưng đã có sự hoạt động: có đàn sáo khi bay khi đậu, có trâu bò gặm cỏ, và những "Cánh bướm rập rờn bay trước gió ”. Đoạn thơ có nhiều nét tươi mát và thơ mộng, chứng tỏ người viết biết quan sát và lại có hồn thơ nên cảnh vừa thực lại vừa có cái kì ảo, như câu thơ: “Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa ” hay cái sắc "có non tràn biếc cỏ" và “đàn sáo mổ vu vơ". Những ý thơ ấy điểm xuyết cho những câu thơ tả thực, tạo nên cái lung linh sinh động của cảm giác, ảo giác. Có những cảnh bình thường, quen thuộc, hàng ngày ai cũng thấy, qua mắt nhìn Anh Thơ bỗng nhiên mới mẻ đầy kì thú. Nhìn, đã thành một phát hiện. Năng khiếu thơ chính ở chỗ này, nó phải thấy được những gì mà người thường không thấy. Chị tả ông thầy bói: "Bước gậy lần như những bước chiêm bao ". Và một vệt khói buổi đầu ngày mùa hạ: "Vươn mình lên như tỉnh giấc mơ say”. Điều đáng quý ở Anh Thơ là chị tìm cảm hứng ngay từ những khung cảnh bình thường quanh chị. Chị không mĩ lệ hóa nhưng vẫn tìm được cái đẹp trong sự bình dị. Đoạn cuối bài thơ “Chiều xuân " vẫn là cảnh thường thấy ở chốn quê: cảnh ngoài cánh đồng đang mùa cào cỏ. Bài thơ rất dễ bằng phẳng nếu ở đoạn cuối này không có nét gì đột biến. Nét đột biến ở đây là… một cô nàng yếm thắm, một cái giật mình: "Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lạng, Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra, Làm giật mình một cô nàng yếm thắm Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa ". So với cảnh đầu bài thơ, ở đây không gian đã hoạt động hơn, đã có con người làm lụng và cảm xúc, ruộng lúa sắp ra hoa thay vì hoa xoan rụng, cảnh sắc bớt vắng vẻ, bài thơ có được cái ấm áp của đời thường. Các bài thơ trong iẩBức tranh quê" có chất lượng khá gần nhau, ít cái hay đột xuất, nhưng bài nào cũng ý vị, cho ta thấy hình ảnh của quê hương ta cách đây nửa thế kỉ, thấy cả vẻ đẹp lẫn nỗi nghèo khó, thô thiển của đời sống dân quê. Sau "Bức tranh quê ”, Anh Thơ định viết "Bức tranh thành thị ”, nhưng không thành công. Sống ở quê từ tấm bé, những cảnh sắc quê hương thấm vào chị từ tuổi thơ, nên chị mới diễn dạt cảnh quê bằng nhiều sắc thái chân thật và độc đáo đến thế. Không chỉ quan sát bằng nhìn ngắm mà phải sống với hồn của cảnh vật thì thơ mới tả được cái thần của cảnh. Đọc "Bức tranh quê" không nên đòi hỏi chiều sâu của tư tưởng. Anh Thơ không quen đặt những vấn đề lớn trong thơ, chị thích viết những điều trông thấy quanh mình. Thơ chị hay ở tài quan sát và cố nhiên cũng ở tình cảm của chị đối với làng quê. Xem thêm: Bạn đã là người của thế kỉ XXI chưa? (đề mở)Vanmau.edu.vn
Bình bài thơ “Chiều xuân“ của nữ sĩ Anh Thơ
910
Bình bài thơ “Tự do” của Ê-luy-a Gợi ý Ê-luy-a (1895-1952) là một trong những nhà thơ lớn của nước Pháp trong thế kỉ XX. Ông đã hai lần khoác áo lính ra trận (năm 1914 và năm 1939). Trong những năm đen tối dưới ách thống trị của phát xít Đức xâm lược, ông hoạt động trong chiến hào các chiến sĩ du kích và những trí thức yêu nước Pháp. Bài thơ “tự do” của Ê-luy-a từng được in trên truyền đơn, được trích ghi trên lá cờ Tổ quốc của các chiến sĩ du kích, được khắc lên báng súng và tâm hồn của hàng triệu ngươi người dân Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai. “Tự do” được viết theo thể thơ 7 âm tiết, gồm có 20 khổ thơ bốn dòng và một khổ thơ năm đòng. Chữ “trên” xuất hiện 60 lần và đứng ở vị trí đầu của ba dòng thơ, trong mỗi khổ thơ; câu thơ “Tôi viết tên em” như một điệp cú, điệp khúc vang lên ở dòng cuối mỗi khổ thơ trong 20 khổ thơ đầu. Khổ thơ thứ 20, nói rõ tên em mà nhà thơ hằng yêu mến và quý trọng. Tôi viết tên em trên mọi không gian bao la và mênh mông: “Trên rừng hoang sa mạc,,.. Trên các mảnh trời xanh,… Trên đồng ruộng chân trời,… Trên mặt biển thân tàu,… Trên ngọn núi điên cuồng,…”. “Tôi viết tên em ” trên mọi thời gian: “Trên những mùa cưới hỏi,… Trên những thoáng Bình minh,…Trên ngọn đèn mới khêu – Trên ngọn đèn đang tắt,…”Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Câu chuyện về tình yêu thương“Tôi viết tên em”, trên mọi sự vật gần gũi, bình dị và mến thương: trên quyển vở nhà trường, trên những trang trắng tinh, trên tổ chim, trên bánh trắng, trên cánh chim đang bay, trên gương soi và phòng ngủ, trên cửa nhà ta, trên trán yêu bè bạn, trên cửa kính, trên làn môi… “Tôi viết tên em” trên mọi biểu trưng của sức mạnh và uy quyền: “Trên chiến vũ khí chiến binh – Trên mũ miện vua chúa”. Và cả những nơi chết chóc, những lúc nguy nan, “trên bậc thềm cái chết” trên mọi hi vọng,… “Tôi viết tên em”. Bằng biện pháp liệt kê, sử dụng điệp ngữ và điệp khúc theo kiểu “xoáy tròn” trùng điệp, tầng tầng lớp lóp, tác giả đã tạo nên một giọng thơ tha thiết, khắc khoải, bồi hồi. Khổ thơ 21, khổ cuối bài thơ có 5 dòng. Cánh cửa tâm hồn bị đóng kín được mở toang: “Và do sức mạnh một từ Tôi làm lại cuộc đời Tôi sinh ra để biết em Để gọi tên em Tự do” Tên em không phải tên một loài hoa đẹp, tên một báu vật, cũng không phải tên của một giai nhân. Tên em chỉ một từ, do “sức mạnh” làm nên. Tên em là khát vọng sống cho mọi cuộc đời, làm nên ý nghĩa cuộc sống cho mọi con người. Thật giản dị và đáng yêu: “Tự do” là tên em, để tha thiết gọi, tha thiết nhớ, và để “Tôi viết tên em”. Xem thêm: Đọc truyện “Qua suối” và trả lời câu hỏi Không thể sống trong nô lệ. Phải sống trong tự do. Cái giá của tự do phải trả bằng nhiều máu và nước mắt. Trong hoàn cảnh lịch sử nặng nề và đen tối những nãm 1942…, bài thơ đã trở thành “Thánh kinh”, lời thề chiến đấu của các chiến sĩ yêu nước Pháp. Những người Việt Nam quen cảm thụ ca dao, thơ lục bát, thơ thất ngôn… giàu vần điêu, hình tượng và biểu cảm, nên khi tiếp cận bài thơ “Tự do” của Ê-luy-a, chúng ta gặp phải một khoảng cách lớn. “Tự do” là bài thơ mang tính trí tuệ, của thơ hiện đại Pháp, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Ê-luy-a. Đọc bài thơ, ta tưởng như đi tìm một thứ ánh sáng mới lạ trên trang sách thời áo trắng. P.H Mô-ri-ắc đã viết: “Đối với thế hệ của ông, Ê-luy-a chính là hiện thân của thi ca. Ngay trong những năm đất nước bị chiếm đóng, qua bài thơ “Tự do”, ông vẫn biểu thị được niềm tin chung của chúng ta. Đây là bài thơ mà mọi học sinh của nước Pháp cần học thuộc lòng”. Vanmau.edu.vn
Bình bài thơ “Tự do” của Ê-luy-a
736
Bình giảng 7 câu thơ đầu bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi Gợi ý Thu Hà Nội, hồn thu Thăng Long từng để thương để nhớ vơi đầy trong lòng người đã bao lâu nay. Một dáng liễu Cổ Ngư, một tiếng chuông chùa Trấn Vũ, một "mặt gương Tây hồ", một màu vàng "hồn thu thảo", một ánh trăng thu Cổ thành… tất cả "hóa tâm hồn" mỗi chúng ta: " Trăng ơi đừng bỏ Kinh Thành Hồn cố đô vẫn thanh bình như xưa" (Trăng Kinh thành) Thu Hà Nội đẹp, một vẻ đẹp mơ màng, thơ mộng man mác bâng khuâng. Thu li biệt Hà Nội trong thơ Nguyễn Đình Thi hơn nửa thế kỉ trước cứ vương vấn mãi hồn ta: "Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Nhũng phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy" 1. Đoạn thơ gọi lên một nét thu Hà Nội trong tầm hồn "người ra đi" – một khách chinh phu của thời đại mới. Cấu trúc đoạn thơ là cảm xúc thu hiện tại mà "nhớ" những ngày thu đã xa, một mùa thu li biệt Kinh thành ngàn năm. Hai câu thơ mở đầu bài thơ "Đất nước", Nguyễn Đình Thi xúc động nói lên cái hồn thơ đất nước muôn đời: "Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới” Những buổi sáng mùa thu, thu năm xưa cũng như thu hiện tại, không khí trong lành, bầu trời trong xanh không một gợn mây, thoáng đãng, mênh mông, bao la “xanh ngắt mất tầng cao" (Nguyễn Khuyến). Gió thu nhè nhẹ thổi mát hồn người và lòng người, ai cũng cảm thấy thảnh thơi, nhẹ nhàng, lâng lâng. Chỉ hai chữ "mát trong” mà nhà thơ đã nhận diện vẻ đẹp của sắc thu, khí thu và hồn thu muôn đời của đất nước. Câu thơ thứ nhất là một so sánh rất gợi: " Sáng mát trong như sáng năm xưa” Đất nước trải qua những năm dài chiến tranh, bao mùa thu đã trôi qua, nhưng đất nước vào thu vẫn "mát trong", vẫn đẹp như thế! Đất nước bền vững muôn đời nên thu vẫn đẹp muôn đời. Câu thơ thứ hai nói lên hương thu của đất nước: “hương cốm mới”. Gió thu thổi qua những cánh đồng, mang theo hương "lúa nếp thơm nồng”, “hương cốm mới” phả vào lòng người, ủ ấp hồn người cái hương vị quyến rũ, đậm đà của quê hương xứ sở. Câu thơ cho thấy chất tài hoa, chất Hà Nội trong hồn thơ Nguyễn Đình Thi. Có lẽ lần đầu tiên "hương cốm mới" hiện diện trong thơ? Trong văn xuôi, Thạch Lam và Vũ Bằng đã viết rất thơ về cốm Vòng Hà Nội. Cốm là "thức quà riêng của đất nước”, là “thức quà thanh nhã và tinh khiết". Trong cốm có "cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ; trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non và trong ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc”…Xem thêm: Phân tích bài thơ Khuê oán cuả Vương Xương Linh. ("Hà Nội 36 phố phường”, 1943, Thạch Lam) Với Vũ Bằng, trong những năm dài đất nước bị chia cát, cùng với nổi buồn của kẻ xa xứ là nỗi buồn nhớ Bắc Việt, nhớ Hà Nội – quê mẹ mến yêu. Suốt đêm ngày năm tháng, nỗi thương nhớ như trải dài, như dồn tụ lại thành “Thương nhớ mười hai”. Mùa thu chớm đến, ông ao ước "Không biết đến bao giờ mới lại được nghe thấy hơi may về với hoa vàng"?Ông khắc khoải tự hỏi: "Mà ở đâu đâycó cái hương thơm gì mà dìu dịu thế?".Ông nhớ khôn nguôi "hương lúa ba giăng”. Ông nhớ day dứt cái vị “thơm ngọt ngào mùi chuối trứng cuốc ngon lừ!”.Quân thù nào có thể chia cắt được đất nước, có thể làm vơi cạn, khô kiệt được nổi nhớ ấy? Qua đó, ta cảm nhận được “hương cốm mới” trên trang văn của Thạch Lam, của Vũ Bằng, trong thơ Nguyễn Đình Thi là nét đẹp của mùa thu đất nước, là hồn thu Thăng Long – Hà Nội mến yêu. 2. Ba câu thơ tiếp theo nhắc lại nỗi nhớ "những ngày thu đã xa” buổi đầu thu "trong lòng Hà Nội”. Cảm xúc dồn nén, hoài niệm rung lên như dây tơ của cây nguyệt cầm với bao man mác: "Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may". "Những ngày thu đã xa” là những ngày thu giã biệt Hà Nội, ra đi vì nghĩa lớn, vì đất nước và dân tộc thân yêu. Cuộc giã biệt ấy đã để lại trong lòng nhà thơ bao nỗi nhớ. "Nhớ” cái "chớm lạnh” buổi đầu thu, cái lạnh se sắt của gió thu hiu hiu. Hai chữ "chớm lạnh" rất tinh tế trong gợi tả và biểu cảm, vừa diễn tả cái lành lạnh những buổi sáng sớm đầu thu, vừa thể hiện chất xúc giác trong cảm nhận. Trong hơi may lành lạnh còn có âm thanh "xao xác" của lá thu bay trong gió, nhẹ cuốn trốn hè phố, trong lòng đường cửa "những phố dài" Hà Nội. Từ láy "xao xác” là tiếng thu, của lá vàng rơi, của những nhánh cây khẽ rùng mình trong hơi may "chớm lạnh” mà thi sĩ Xuân Diệu đã từng xúc động:Xem thêm: Nhà thơ Xuân Diệu viết: "Nguyễn Khuyến mặc dầu không cầm gươm chiến đấu dưới lá cờ phản nghĩa Cần Vương, vẫn đáng được xếp vào hàng những nhà thơ yêu nước" (Thơ văn Nguyễn Khuyến - NXB Văn học, 1974). Hãy giải thích và chứng minh ”Những luồng run rẩy rung rinh lá Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh" (Đây mùa thu tới) Thu xưa trong thơ, mùa thu Hà Nội thấm bao nổi buồn man mác, bâng khuâng. Thoáng buồn trong "xao xác hơi may" của lá thu bay, của “mái buồn nghe sấu rụng” (Chính Hữu). Chỉ bằng một vài nét vẽ, một vài chi tiết nghệ thuật về những ngày thu Hà Nội "những ngày thu đã xa", trong đó có cái "chớm lạnh” của hơi may cảm được, có cái "xao xác" của lá thu bay nghe được, Nguyễn Đình Thi đã để lại trong lòng mỗi chúng ta cái hồn thu Kinh thành văn hiến ngàn năm. Phải là người tài hoa, mang tình yêu sâu nặng đối với Hà Nội mới viết được những vần thơ hàm súc, đẹp mà buồn như thế. Đoạn thơ ấy đã được khơi nguồn cảm hứng từ bài thơ "Sáng mát trong như sáng năm xưa" (1948), hoài niệm trào dâng, đồng hiện trong một không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật đầy ấn tượng: "Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em Gió thổi mùa thu vào Hà Nội Phố dài xao xác hơi may Nắng soi ngõ vắng Thềm cũ lối ra đi lá rụng đầy” 3. Hai câu cuối đoạn thơ thể hiện tâm trạng người ra đi từ ngày thu ấy. Giọng thơ lẳng lặng buồn: "Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy". "Người ra đi” theo tiếng gọi của Non Sông, “lên chiến khu?”. " Người ra đi mang theo bao kỉ niệm sâu sắc về mùa thu Hà Nội". “Hương cốm mới”, cái "chớm lạnh" trong "hơi may" buổi đầu thu, cái "xao xác"của lá me, lá sấu bay trong “những phố dài" Hà Nội đã trở thành hành trang, đã trở thành kỉ niệm sâu sắc, thân thiết. “Người ra đi" ôm "chí nhớn" của một "li khách" với quyết tâm “đầu không ngoảnh lại!”. Câu thơ "Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy" là một câu thơ thật hay. Có màu vàng nhạt của nắng thu, có sắc vàng tươi của lá thu đã "rơi đầy”, đã trải dài trải rộng trên thềm phố. Câu thơ chứa đầy tâm trạng. Tác giả đã lấy ngoại cảnh, lấy nắng thu, lá thu để gợi tả tình lưu luyến. Ra đi với quyết tâm "đầu không ngoảnh lai” nhưng vẫn cảm nhận được "Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” với bao tình lưu luyến, nhớ thương. Vì thế, trải qua bao năm tháng, bao mùa thu trôi qua, đến "mùa thu nay…", “tôi đứng vui nghe giữa núi đồi" mà vẫn bâng khuâng "nhớ những ngày thu đã xa”. Nhớ thu xa cũng là nhớ Hà Nội, nhớ ngày giã biệt ra đi… Mọi cuộc lên đường đều đáng nhớ. Quên sao được Đông Đô – Thăng Long – Hà Nội mến yêu! Quên sao được Hồ Tây, Hồ Gươm, chợ Đồng Xuân, Ô Chợ Dừa… "đi học về qua luôn hát vui ca”. Người chiến sĩ từ mọi chiến trường mà nhớ về Hà Nội với tất cả niềm yêu thương tự hào:Xem thêm: Top 10 website những bài văn mẫu hay lớp 7 mới nhất– "Từ thuở mang gươm đi giữ nước Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ) – "Đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm” (Quang Dũng) – "Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa” Cả Đô thành nghi ngút cháy sau lưng…” (Chính Hữu) Đoạn thơ trên đây là phần đầu bài "Đất nước” một bài thơ đặc sắc nhất của Nguyễn Đình Thi. Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả. Cảm xúc dồn nén, hình ảnh và ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Các chi tiết nghệ thuật rất gợi khi nói về thu Hà Nội. Mùa thu "ra di",mùa thu giã biệt… Nét thu Hà Nội đẹp mà buồn, man mác trong hoài niệm cũng là hồn thu muôn đời của đất nước. Một cái "chớm lạnh" đầu thu. Một cái "xao xác"của lá thu rơi, một mùi “hương cốm mới” được làn gió thu mang theo và tỏa rộng trong không gian, thấm sâu vào hồn người. Một màu vàng tươi, vàng nhạt của nắng, của lá thu rơi đầy thềm… làm ta vương vấn mãi. Thơ đích thực làm phong phú, thanh cao tâm hồn. Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi đem đến cho ta một tình yêu đẹp: yêu Hà Nội mến yêu! Vanmau.edu.vn
Bình giảng 7 câu thơ đầu bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi
1,739
Bình giảng bài ca dao sau Núi Truổi ai đắp mà cao Hướng dẫn Trong bài thơ “Bài ca quê hương”, thi sĩ Tố Hữu thiết tha ân cần: “Ai đi qua đó miền Trung, Xin mời ghé lại, vui cùng Huế tôi” (Tháng 5-1975) Huế là cố đô vương triều Nguyễn. Huế đẹp và thơ. Núi sông diễm lệ. Câu hò Giã Gạo, giọng hò Mái Đẩy, Mái Nhì, khúc Nam Ai, Nam Bình dịu ngọt từng làm say lòng người gần xa gần 400 năm nay. Ai đã một lần ghé thăm Huế? Ai đã một lần được nghe cô gái Huế hát bài ca: “Núi Truồi ai đắp mà cao, Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu? Nong tằm, ao cá, nương dâu, Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò”. Núi Truồi và sông Hương là vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên xứ Huế. Núi Truồi hùng vĩ và thiêng liêng đã để lại trong lòng người bao huyền tích, huyền thoại. Núi ở về phía tây Kinh thành. Từ cửa biển Thuận An nhìn lên, núi Truồi xanh thẫm trong ánh tà dương. Núi trầm mặc uy nghiêm tưởng như đang lắng nghe tiếng chuông diệu huyền của chùa Thiên Mụ. Sông Hương (có văn bản khác ghi là sông Dinh, tên cũ của Hương Giang) là bài thơ tình của cố đô mộng mơ. Dòng sông nhẹ trôi uốn lượn như dải thắt lưng xanh của nàng tiên bỏ quên từ ngàn năm vắt ngang Kinh thành xưa. Có một nhà thơ đã viết: “Nếu không có điệu Nam Ai Sông Hương thức suốt đêm dài làm chi…” (Hà Thúc Quả) Hai câu hỏi tu từ nối tiếp xuất hiện. Hỏi núi “ai đắp mà cao?”. Hỏi sông “ai bới, ai đào mà sâu?”. Câu hỏi của du khách hay của cô gái Huế? Hỏi để bày tỏ sự ngạc nhiên, trầm trồ, niềm tự hào xúc động khi ngắm nhìn cảnh sắc thiên nhiên tráng lệ: “Núi Truồi ai đắp mà cao, Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?” Ba chữ “ai” gợi lên bao nỗi niềm man mác bâng khuâng như dẫn hồn người ngược thời gian năm tháng khi ngắm nhìn sông núi thân thương. Coi. sông Hương với Hàn Mặc Tử đã trở thành con sông trăng có bến mơ bến đợi: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay?” (“Đây thôn Vĩ Dạ”) Với Tố Hữu, quên sao được màu xanh của dòng sông quê mẹ? Nó đã gợi thương gợi nhớ trong lòng đứa con li hương suốt đêm ngày trong những năm dài máu lửa, đất nước bị cắt chia: “Hương Giang ơi, dòng sông êm, Qua tim ta, vẫn ngày đêm tự tình” (“Bài ca quê hương”) Hai câu đầu bài ca đã gieo vào lòng ta bao bồi hồi xao xuyến, bao liên tưởng đẹp về sông núi xứ Huế yêu thương. Ai đó đã có lần hát: “Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ – Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt…”. Phải chăng “tình yêu dịu ngọt” ấy trước hết hướng về núi Truồi, sông Hương và nhiều thắng cảnh khác: “Đông Ba, Gia Hội hai cầu, Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông” Và tiếng hò Mái Nhì, Mái Đẩy trên sông Hương những đêm trăng như đưa hồn du khách vào giấc mộng Thiên Thai: Xem thêm: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi…… Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.“Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá, Đò từ Vĩ Dạ thẳng ngã ba Sình. Lờ đờ bóng ngả trăng thanh, Tiếng hò xa vọng, nặng tình nước non” Trở lại hai câu cuối bài ca dao, ta thoáng gặp hình bóng cô gái Huế: “Nong tằm, ao cá, nương dâu, Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò” “Nong tằm, ao cá, nương dâu”là những nét đẹp của một miền quê có đất đai màu mỡ, có ngành nghề thủ công lâu đời trồng dâu, nuôi tằm dệt lụa. “Ngàn dâu xanh ngắt một màu” trải dài, trải rộng vườn tược, bờ bãi, xóm thôn. “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”(“Đây thôn Vĩ Dạ”). Sau màu xanh của lúa dâu là sân nhà, ngõ xóm vàng óng tằm tơ trong nắng mới. Thấp thoáng bên những “nong tằm, ao cá, nương dâu” là hình bóng cô gái Huế dịu hiền, khéo tay, hay lam hay làm và rất đa tình từng làm si mê nhiều sĩ tử một thời: “Học trò trong Quáng ra thi, Thấy cô gái Huế mà đi không đành” “Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò”là câu hay nhất, đậm đà nhất, trong bài ca dao này. “Đò xưa bến cũ” là sắc màu thời gian, là hình bóng què hương yêu dấu. Là hoài niệm chất chứa trong lòng mang nặng tình người đi xa, kẻ ở lại. “Nhớ câu hẹn hò”là nhớ lời thể nguyền giữ trọn một tình yêu son sắt thủy chung. Một chữ “nhớ” thiết tha đinh ninh lời thề. Dù xa cách, em vẫn nhớ mong đợi chờ: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Câu tâm giao, câu hẹn hò thuở ấy của đôi lứa, của kẻ ở lại, người đi xa có bao giờ phai nhạt trong lòng: “Trăm năm dù lỗi hẹn hò, Cây đa, bến cũ, con dò vẫn dưa”… Bi kịch tình yêu không phải là chuyện hiếm thấy xưa nay? Với cô gái Huế vẫn đinh ninh “Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò”. Cây đa, giếng nước, sân đình, cũng như “đò xưa bến cũ” không chi là “hồn xưa đất nước” mà còn là những chứng nhân cho bao mối tình đẹp thủy chung xưa nay. Bài ca dao từ âm điệu đến ngôn từ, hình tượng đều đẹp mượt mà như một bức tranh lụa tuyệt tác. Gam màu sáng thanh tao. Có màu xanh xanh của núi. Màu xanh trong của* sông. Màu vàng óng của tơ tằm. Màu xanh non của nương dâu. Màu thời gian của “đò xưa bến cũ”. Và màu tím thủy chung của lời thề “nhớ câu hẹn hồ”. “Núi Truồi ai đắp mà cao”là bài ca dao trữ tình đặc sắc nói lên tình yêu quê hương và vẻ 'đẹp tâm hồn của cô gái Huế. Bài ca dao đã để lại trong tâm hồn mỗi chúng ta một ấn tượng sâu sắc về thiên nhiên và con người xứ Huế. Thi sĩ Thu Bồn từ đất Quảng ra thăm Huế, trong bài thơ “Tạm biệt”có viết: “Xin chào Huế một lần anh đến Đế’ ngàn lần anh nhớ trong mơ Em rất thực mà nắng thì mờ ảo Xin dừng lầm em với cố đô“ Cùng với bài ca dao, mấy vần thơ trên đây, gọi là một chút quà lưu niệm gửi tới những ai gần xa chưa một lần đến thăm Huế quê em. Nguồn: thêm: Bình giảng bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng’ của Trần Nhân Tông
Bình giảng bài ca dao sau Núi Truổi ai đắp mà cao
1,141
Bình giảng bài ca dao sau: Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao sau: Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em đã có chồng anh tiếc lắm thay! Ba đồng một mớ trầu cay, Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không? Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu. Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra? Bài làm “Trèo lên cây bưởi hái hoa… ” là bài ca dao độc đáo gồm 10 câu song thất lục bát. Giai thoại văn học của giáo sư Vũ Ngọc Khánh cho biết đây là lời đối đáp giữa chúa Trịnh Tráng và Đào Duy Từ trong thế kỉXVII, khi Đào Duy Từ đã trở thành bề tôi đắc lực của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Trịnh Tráng gửi thư muốn lôi kéo Đào Duy Từ ra Đàng Ngoài, nhưng việc bất thành. Đó là giai thoại. Trên một ý nghĩa khác, bài "Trèo lên cây bưởi hái hoa… " được lưu truyền và cảm nhận là một bài ca dao tình yêu mang tính bi kịch "dầu lìa ngóý còn vương tơ lòng". Duyên xưa dù lỡ hẹn, nhưng vẫn “để thương, để nhớ, để sầu cho ai… " Năm tháng đã trôi qua, tuổi xuân trinh trắng đâu còn. Chuyện trăm năm không thể có được nữa rồi, nhưng chàng trai vẫn không nén nổi tình cảm, đành phải thốt lên than thở. Nuối tiếc bao nhiêu thì lại đau buồn bấy nhiêu. Hái hoa bưởi… rồi lại hái nụ tầm xuân, anh đã “trèo lên" rồi lại "bước xuống", khác nào anh đã “cầm vàng mà lội qua sông… ” “Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước xuốngvườn cà hái nụ tầm xuân” Mùa xuân đã qua rồi, hoa bưởi đã kết trái, thời con gái son trẻ đâu còn nữa, giờ đây “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc”. Một cách nói, một ẩn dụ biểu lộ một ý tứ tế nhị, dịu dàng. Trước thực tế phũ phàng, chàng trai chí còn biết thở dài ngao ngán: “Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay! ”. "Anh tiếc lắm thay” bởi lẽ “Vàngrơi chẳng tiếc, tiếc công cầm vàng”. Sao anh chẳng buồn chẳng tiếc? “Từphen ra tới giangtân, Sơm theo dặm tuyết, đêm lần ngàn mưa. Tiếc cônganh chứa nước đan lờ, Để cho con cá vượt bờ nó đi… ” Em xinh em giòn như nụ tầm xuân, em trinh trắng như hoa bưởi bởi thế nên trước nông nỗi này "Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay! ” Đó là lời than, là nỗi đau muôn đời, nỗi hận khôn nguôi. Tâm trạng ấy của anh trai cày cũng là tâm trạng của chàng Trương Chi ngày xửa ngày xưa: Xem thêm: Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên (Có dàn ý chi tiết)“Kiếp này đã dở dang nhau, Thìxinkiếp khác duyên sau lại thành…” Sáu câu ca tiếp theo là lời phân trần của cô gái. Cô trách “cố nhân” ngập ngừng, chậm trễ. Em đã trải qua chín đợi mười chờ: “Chờ chàng xuân mãn hè qua – Bông lan đã nở, sao mà vắng tin! "Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳnghỏi những ngày còn không ” Còn có dị bản: "Vẻ chi một mớ trầu cay ”, đọc lên nghe ý vị hơn. Chuyện trăm năm đành dang dở. Hai tiếng hỏi "Sao anh ” vừa trách móc vừa an ủi. Tình yêu phải đi đến một hôn nhân. Phải dạm trầu bỏ ngõ. "Sao anh chẳng hỏi nhữngngày còn không? “Ngày còn không” là ngày em còn con gái, còn ở với mẹ cha. Tục ngữ có câu: “Gái có chồng như gông đeo cổ – Trai có vợ như lỗtiền chôn''. Gái về nhà chồng đâu còn tự do nữa. Lễ giáo và đạo đức (tam tòng, tứ đức), anh có hiểu chăng? "Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng, như cá cắn cấu. Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, Chim vào lồng biết thủơnào ra?” Hai so sánh liên tiếp: "Như chim vào lồng, như cá cắn câu ” diễn tả thật đắt cảnh ngộbó buộc, chật hẹp của gái "đãcó chồng”. Hai câu hỏi tu từ xuất hiện thể hiện một bi kịch trong tình yêu: vẫn còn quyến luyến “người xưa ” nhưng không thể nào vượt ra ngoài khuôn khổ của đạo lí, của lễ giáo. Những vần trắc (gỡ – thuở) của hai câu thất ngôn cuối đoạn làm cho âm điệu câu thơ bị thắt lại, bị nén lại như nỗi đau chứa chất trong lòng, như một tiếng thở dài ngao ngán. Bài ca dao buông lửng. Lứa đôi chỉ còn biết an bài theo số phận, bởi lẽ "cá biết đâu mà gỡ” khi đã cắn câu? "Chim biết thủơ nào ra” khi đã vào lồng? Lứa đôi tuy chẳng đưa được con thuyền tình cập bến hạnh phúc, nhưng "chút nghĩa cũ càng” đâu dễ nguôi, dễ quên? Cả bài ca dao là nỗi buồn, sự nuối tiếc cho mối tình xưa. Đó là bi kịch, là tậm trạng: “Dẫu lìa ngó ýcòn vươngtơ lòng” (Nguyễn Du). Tuy còn nhiều lưu luyến nhưng đã có điểm dừng và khoảng cách hợp lí của anh và em khi đối diện với bi kịch tình yêu. Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam ” đã xếp bài ca dao này vào mục "Hôn nhân và Gia đình”.Bài ca dao diễn tả thật cảm động tâm trạng của trai gái làng quê xưa trong bi kịch tình yêu: "Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!… Và bây giờ “em đã có chồng – như chim vào lồng, như cá cắn câu”. Nội dung đích thực của bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa ” là giá trị nhân bản sâu sắc. Nó là nỗi buồn trong những mối tình lỡ hẹn trong cuộc đời. Cô gái được nói đến trong bài ca dao thật đáng thương và đáng trọng. Nguồn: thêm: Viết bài văn (dài khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến sau: “Trong... cái chết” (Cô-phi An-nan, Thông điệp nhân ngày thế giời phòng chống AIDS)
Bình giảng bài ca dao sau_ Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
1,054
Bình giảng bài ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng Hướng dẫn Trong“Trường ca mặt đường khát vọng” nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có viết: “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu, Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hồn Trống Mái..,” Tinh cảm cao đẹp ấy của người đàn bà nước Nam đã được nói lên thật hay, thật cảm động trong ca dao dân ca của dân tộc. Bài ca dao: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng, Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” đã neo giữ trong tâm hổn hàng triệu con người Việt Nam xưa nay. Có thể nói đây là một bài thơ tình dân gian kiệt tác. Thuyền và bến là 2 hình ảnh ấn dụ – nhân hóa giao kết, giao hòa bằng những tình cảm sáu nặng. Thuyền nhớ bến, bến đợi thuyền, khăng khăng mãi trong lòng, không bao giờ có thể đổi thay, phai nhạt. Thuyền và bến tượng trưng cho tình nghĩa sắt son, chung thủy của lứa đôi trong cuộc đời. 1. Câu cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ đã làm cho giọng thơ ngàn vang bồi hồi tha thiết: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng” Chữ “ơi” và chữ “chăng” đã hoa thanh tạo nên nhạc điệu du dương, réo rắt ấy. Tiếng gọi “thuyền ơi” xao xuyến vang lên, lan xa trong không gian, thấm sâu tỏa rộng trong hồn người. Câu hỏi tiếp theo “có nhớ bến chăng” đầy ắp nỗi thương nhớ của đôi lứa ở hai phía chân trời. Sóng cứ vỗ, nước mải miết trôi, bến mồ côi phủ mờ sương khói thời gian. Thuyền đi xa từ dạo ấy, nay đang lênh đênh trên dòng sông nào, ngọn thác nào, góc bể chân trời nào xa lắc? Thuyền đi mãi đi mãi chưa về. “Thuyền ơi có nhớ bến chăng”, câu ca cất lên như một lời than tự thương mình và thương người thấm đầy lệ. Ân dụ thuyền nhớ bến, bến nhớ thuyền mang tình người, tình vợ chồng trong cảnh ngộ biệt li đầy bi kịch. Thuyền “có nhớ bến chăng”, còn bến thì vẫn nhớ, vẫn thương thuyền đang lênh đênh nơi chốn nào, và biết bao giờ mới trờ lại? Cũng nhu thuyền và bến, vợ – chồng có gắn bó với nhau, có yêu thương nhau thiết tha sâu nặng thì mới có nỗi thương nhớ da diết ấy. Dòng nước chảy xuôi là vô tận. Dòng chảy thời gian là vô cùng. Con thuyền lênh đênh không bến. Bến mồ côi, bến đợi, bến hẹn phủ mờ sương khói tháng năm. Thuyền xa bến, thuyền nhớ bến cũng như chồng xa vợ, vợ chồng thương nhớ nhau, đó là bi kịch biệt li trong cõi nhân gian xưa nay. 2. Hai thanh trắc “một dạ” làm cho giọng thơ trĩu xuống như một nỗi niềm cứ thấm sâu vào hồn người: “Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Bến và thuyền nằm ở hai vị trí đầu, cuối câu ca, cấu trúc ấy mang ý nghĩa thấm mĩ đặc sắc gợi tả một không gian cách biệt xa xăm, một thời gian li biệt dằng dặc. “Khăng khăng” nghĩa là đinh ninh không đổi thay. “Một dạ khăng khăng dơi thuyền” là một lời thề nguyền đã khắc sâu vào lòng, đã “khắc cốt ghi tâm”, đinh ninh son sắt, không bao giờ phai nhạt, đổi thay! Thuyền vẫn đi xa, đi xa mãi chưa trở về, bến vẫn mong, bến vẫn đợi, bến vẫn “một dạ khăng khăng đợi thuyền”. Xem thêm: Về đoạn trích Trao duyên (trong Truyện Kiều của Nguyễn Du).Càu ca “Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” đã thể hiện một cách sâu sắc nỗi nhớ thương đợi chờ, tấm lòng son sắt thủy chung của người vợ hiền đối với người chồng thân yêu đi mãi chưa về. Câu ca còn biểu lộ niềm tin và hi vọng vào một ngày mai, thuyền sẽ trở lại bến, bến sẽ gặp lại thuyền, vợ chồng sẽ được đoàn tụ yên vui hạnh phúc. 3. Trong các thế kỉ 17, 18, 19, đất nước ta chìm đắm trong loạn lạc và nội chiến kéo dài. Hàng triệu trai tráng phải ra trận, dãi thây trên các chiến địa. Khắp nơi diễn ra cảnh li biệt buồn thương: “Cái cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non” Biết bao người phụ nữ, nhan sắc, tuổi trẻ mỏi mòn trong những năm tháng chờ đợi. Họ sống trong cô đơn lạnh lẽo, nỗi thương nhớ chồng chất, lòng dạ héo hon: “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời, Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nổi nhớ chàng đau đáu nào xong…” (“Chinh phụ ngâm”) Bài ca dao này chỉ có thể ra đời trong bối cảnh lịch sử và xã hội ấy. Nó đã phản ánh bi kịch gia đình và thời đại, nỗi đau buồn thương nhớ, đợi chờ của lứa đôi. Nó đã ca ngợi tình nghĩa thủy chung son sắt của người phụ nữ Việt Nam. Ca dao dân ca Việt Nam có nhiều bài lấy hình tượng “thuyền – bến” để nội về tình thương nỗi nhớ trong biệt li xa cách: “Thuyền đi để bến đợi chờ, Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau. Chẳng nên tình trước nghĩa sau, Bến này dãi bóng trăng thâu đợi thuyền” Bài ca dao “Thuyền ơi có nhớ bến chăng” là tiếng đồng vọng của lòng người vào thời gian năm tháng. Nó giàu giá trị nhân bản phản ánh một thời li loạn và bi kịch cuộc đời. Với giai điệu ngọt ngào thiết tha, nó ca ngợi tấm lòng đôn hậu, tình nghĩa thủy chung của những người vợ, người mẹ trong xã hội. Thuyền và bến là hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp nhân văn, thể hiện một cách độc đáo cảm hứng nhân đạo về tình thương nỗi nhớ, khát vọng được sống trong sum họp yên vui hạnh phúc của lứa đôi. Nó mãi mãi là bài học vô giá về tình nghĩa thủy chung và lòng biết ơn những người mẹ, người chị, người vợ quê ta. Cái hay cái đẹp của bài ca là tính hàm súc, tính truyền cảm, và tính hình tượng. Cuốn “Ngữ văn 7 – tập 2”, văn bản bài ca dao này được ghi như sau: “Thuyền về có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Hai chữ “thuyền về” đã làm cho bài ca trở nên nhạt nhẽo và vô nghĩa. Nguồn: thêm: Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gian
Bình giảng bài ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng
1,100
Bình giảng bài ca dao Đồng Đăng có phố Kì Lừa Hướng dẫn ‘Đồng Đăng hữu phố, Kì Lừa quyết danh. Thạch hữu Tô Thị, Tự hữu Tam Thanh. Dư giã giai hĩ, Vô thiếm sơ sinh…’ Đối chiếu thơ chữ Hán của Tam Nguyên Yên Đổ, ta có thể xác định được diện mạo bài ca dao gồm có 14 câu lục bát. Bài ca dao là lời nhắn gửi bạn tình phương xa, cùng anh lén xứ Lạng, nói như thi sĩ Tản Đà, đó là ‘Thư đưa người tình không quen biết’ nghe mênh mang. Hai cáu cuối mang máng như một lời sấm kí truyền kì: ‘Bao giờ chùa lở xuống sông, Đá tảng trôi mất, ngô đồng chơ vơ" Bốn câu trong đoạn đầu là hay nhất, dễ hiểu nhất: ‘Đồng Đăng có phố Kì Lừa, Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh, Ai lên xứ Lạng cùng anh, Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…’ Hai câu đầu với cách ngắt nhịp 2/4/4/4/ bằng ba nét vẽ, nhà thơ dân gian đã giới thiệu một cách khái quát cảnh sắc Đồng Đăng thuộc tỉnh Lạng Sơn của đất nước ta: ‘Đồng Đăng/ có phô'Kì Lừa, Có nàng Tô Thị/ có chùa Tam Thanh’ Phố Kì Lừa có chợ Kì Lừa nổi tiếng phồn hoa đô hội. Đó là một chợ biên giới Việt – Trung, không chỉ phong phú về hàng hóa, về lâm thổ sản, mà còn nổi tiếng về chợ tình vùng cao. Giai điệu dân ca miền núi lơ lửng, chơi vơi, với sắc phục màu chàm, với những ngựa thồ sa nhân, hồi, măng khô, mộc nhĩ, những cô gái, chàng trai Nùng, Thổ, Tày… quấn quít bên nhau, đã trở thành nếp sống vật chất, tinh thần, một nét đẹp văn hóa giàu bản sắc đã bao đời nay. Mấy trăm năm về trước đã thế, ngày nay vẫn thế, tuy màu sắc có hiện đại hơn. Ai đã một lần trong đời mình đến thăm phố Kì Lừa, đi xem chợ Kì Lừa? Kì Lừa tiếng Thổ là Khâu Lừ. Đồng bào Thổ Lạng Sơn gọi chợ Kì Lừa là háng Khau Lừ (háng: chợ; khau: núi đất; lừ: lửa). Chợ Kì Lừa nằm gần bờ sông Kì Cùng ngày nay. Đổng Đăng ‘có nàng Tô Thị’ còn gọi là núi Vọng Phu, một huyền tích đầy lệ về bi kịch vợ chồng, về tình nghĩa thủy chung của người phụ nữ Việt Nam. Ở Lạng Sơn, núi Vọng Phu còn gọi là núi Tam Thanh. Núi có động lớn gọi là động Tam Thanh; trong động có chùa thờ Phật, nhiều tượng Phật được đục vào hang đá – Tương truyền nàng Tô Thị đã ôm con thơ, đứng trên núi này ngóng trông chồng và hóa thành đá. Hai câu ca dao đã giới thiệu và ca ngợi cảnh sắc kì thú hữu tình của Đồng Đăng, là ‘nơi phên giậu thứ ba về phía Bắc’ (‘Dư địa chí’ – Nguyễn Trãi) của Đại Việt. Nó như dẫn hồn người gần xa, những du khách chìm sâu vào huyền tích, huyền thoại, tìm thấy bao niềm vui, bao nỗi niềm man mác bàng khuâng về một địa danh trên ải Bắc, giàu truyền thống lịch sử và có nền văn hóa lâu đời. Chữ ‘có’ được điệp lại ba lần diễn tả niềm say mê, hứng thú và tự hào của người dân xứ Lạng, của du khách khi đứng trước bao cảnh đẹp, bao di tích văn hóa. Cũng là lối tả ít mà gợi nhiều, hai câu ca đã mở ra một không gian nghệ thuật, như một cuộn phim mẩu. Cảnh vật từ từ xuất hiện: phố Kì Lừa…, nàng Tô Thị,… chùa Tam Thanh,… có biết bao liên tưởng đồng hiện về cảnh vật con người xứ Lạng. Xem thêm: Cảm nghĩ về người mẹ của emVề mặt cấu trúc, hai câu ca dao này mang tính định hình cho những bài nói về quê hương đất nước: – ‘Bắc Cạn/ có suối đãi vàng, Có hồ Ba Bể I có nàng áo xanh’ – ‘Bình Định/ có núi Vọng Phu, Có đầm Thị Nại/ có cù lao Xanh’ Hai câu tiếp theo là lời nhắn gọi, vẫy gọi: ‘Ai lên xứ Lạng cùng anh, Bõ công bác mẹ sinh thành ra em’ ‘Ai’là đại từ phiếm chỉ, nói về tất cả mọi người. Đọc ca dao, nghe hát dân ca nhiều lúc ta cảm nhận có mình trong đó. Trong ca dao dân ca, trong văn cảnh này, chữ ‘ai’ thường hướng về những cô gái xinh đẹp trên mọi miền đất nước. ‘Ai lên xứ Lạng cùng anh’ để có đôi, có bạn tình cùng san sẻ niềm vui nơi phồn hoa đô hội. Được ‘cùng anh’ hành hương đến văn cảnh chùa Tam Thanh, đến chiêm ngưỡng nàng Tô Thị, em sẽ ‘cùng anh’ đi chơi phố, chơi chợ Kì Lừa. Hai chữ ‘cùng anh’ – cùng sánh vai anh, thể hiện chít phong tình, hào hoa của chàng trai đang nhắn gọi, vẫy gọi trong du xuân, trẩy hội: ‘Dập dìu đôi lứa thanh tân, Cùng đi trẩy hội chùa gần chùa xa’ Có đi lên xứ Lạng ‘cùng anh’ mới thỏa nỗi ước mong, mới ‘bõ công bác mẹ sinh thành ra em’, kẻo phí đi, kẻo hoài đi một thời xuân trẻ. ‘Bõ công’ nghĩa là đáng công, xứng công. Công ở đây là công sinh thành của cha mẹ đã sinh đẻ, bú mớm, nâng niu, nuôi dưỡng, dạy bảo em nên người. ‘Công cha nghĩa mẹ đức cù lao’. Chữ ‘bác mẹ’ nghĩa là cha mẹ, một cách gọi tôn kính người cha. Với phong cách phong tình hào hoà, với lối nói thậm xưng, tác giả đã ca ngợi cảnh đẹp Đổng Đăng là một cảnh đẹp hiếm có trên đời. Một cách tỏ tình bâng quơ thế mà đã làm xao xuyến tâm hồn bao thiếu nữ gần xa xưa nay. Những tiếng ‘ai về’, ‘ai lên’, ‘ai qua’,… trong ca dao, dân ca rất tình tứ, ý vị. Tinh non nước, tình yêu lứa đôi được diễn tả một cách nồng nàn say mê: – ‘Ai lên Đồng Tỉnh, Huê Cầu, Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cẩu nhuộm thâm. Nào ai đi chợ Thanh Lăm, Mua anh một áo vải thâm hạt dền’ – ‘Ai về Tuỳ Phước ăn nem, Ghé qua Hưng Thịnh mà xem Tháp Chàm’ Đoạn ca dao trên đây đã phản ánh một nét đẹp trong tâm hồn con người Việt Nam: Đó là tình yêu quê hương đất nước, là niềm khao khát được sống trong tình duyên hạnh phúc khi lễ hộì mùa xuân đã về. Chất dân dã với chất phong tình hào hoà, vẻ đẹp văn hóa với sinh hoạt đời thường kết hợp một cách hài hòa nên thơ. Phép liệt kê, cách nói thậm xưng đã tạo nên sức hấp dẫn hồn nhiên, tình tứ, gợi cảm. Đọc đoạn ca dao trên, ta như được sống lại trong không khí lễ hội mua xuân, tưởng như đang được cùng ‘ai’ hành hương về Đồng Đăng xứ Lạng, cùng đến chơi phố, chơi chợ Kì Lừa, cùng say mê ngắm nàng Vọng Phu, cùng thăm hang động, chùa Tam Thanh. Để rồi cùng ‘ai’ trầm ngâm: ‘Ai ơi đứng lại mà trông, Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ’ Nguồn: thêm: Đoàn kết dân tộc Việt Nam đã thành lẽ sống. Bởi thế cha ông ta thường nhắc nhở: "Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao ". Hãy làm sáng tỏ nội dung câu ca dao và từ đó rút ra cho mình bài học về đoàn kết trong cuộc sống
Bình giảng bài ca dao Đồng Đăng có phố Kì Lừa
1,261
Bình giảng bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch Hướng dẫn … Suốt cuộc đời mấy mươi năm ‘chống kiếm bỏ quê hương, từ biệt cha mẹ viễn du’ và khi qua đời ở tỉnh An Huy, hình ảnh của quê hương, nhất là những đêm trăng sáng thanh tĩnh đối với ông rất tha thiết, đầy nỗi nhớ thương. Tinh cảm sâu lắng đó Lí Bạch đã diễn tả trong bài thơ ‘cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ (Tĩnh dạ tứ). Nếu bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là một bài thơ tả cảnh thiên nhiên hùng tráng, thì ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là một bức tranh thiên nhiên thanh tĩnh. Thời gian trong bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là ban ngày, ánh nắng mặt trời chiếu rọi. Thời gian trong bài ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là ban đêm, ánh trăng sáng bàng bạc. Bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ ca ngợi cảnh đẹp thác nước. Bài ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là tình cảm suy tư trong đêm trăng sáng. Như tựa đề, bài thơ mang hai nội dung – Nội dung miêu tả ‘đêm thanh tĩnh’ (tĩnh dạ) và suy nghĩ (tư) của tác giả trong đêm thanh tĩnh đó. Để làm nổi bật nội dung thứ nhất, Lí Bạch đã dùng ba câu thơ ‘Ngũ ngôn tứ tuyệt’. Ba câu thơ ngắn gọn, hàm súc, miêu tả cảnh ban đêm thanh tĩnh. Đêm thanh tĩnh là đêm bầu trời trong xanh, mát mẻ, không có tiếng động, cảnh vật vắng lặng, êm ả, thơ mộng, trữ tình. Ngay từ câu thơ đầu, chủ đích của Lí Bạch là tả ánh trăng sáng để tượng trưng cho đêm thanh tĩnh. Ánh trăng ở đây chẳng những sáng mà còn tràn ngập, chan hòa và dịu hiền. Qua âm điệu khoan thai của câu thơ 5 chữ, sự thanh tĩnh, yên tĩnh hiện lên một cách tự nhiên, đáng yêu. Ánh trăng chiếu sáng trên bầu trời, ở mặt đất và ở đầu giường. Cuộc sống thanh bình, yên tĩnh, đêm ngủ không cần cửa đóng, then cài, nên gió trăng thả sức đến chơi. Trước ánh trăng lung linh, vằng vặc, Lí Bạch ngỡ ngàng tưởng tượng rằng ‘mặt đất phủ sương’. Phải là một tâm hồn giàu sức liên tưởng, thường thi vị hóa sự vật nên mới có được cái nhìn tuyệt vời, thơ mông như thế. Anh trăng bàng bạc, lung linh hay là sương rơi la đà mặt đất? Sự liên tưởng phong phú tạo nên một hình ảnh thơ tuyệt đẹp. Làm sao một tâm hồn đa cảm dạt dào cảm xúc, lai láng yêu thương như Lí Bạch lại có thể không rung động trước ánh trăng tuyệt diệu đầy hấp dẫn của chị Hằng? Hơn nữa, vầng trăng tuyệt vời kia vẫn là nguồn thi hứng vô tận của Lí Bạch. Trăng ở đây còn là biểu tượng của một mảnh hồn cô đơn, luôn luôn mơ tìm một tâm hồn tri âm tri kỷ. Xem thêm: Tưởng tượng cảnh giao tranh giữa Sơn Tinh và Thủy TinhBa câu thơ đầu đơn thuần là miêu tả cảnh vật. Mà cảnh vật tưởng tượng ở đây là ánh trăng sáng. Từ miêu tả ngoại cảnh, Lí Bạch đi sâu vào miêu tả nội tâm. Nội tâm mà tác giả diễn tả trong câu thơ cuối là tâm trạng. Hai câu thơ cuối tuy hai mà một. Tuỳ câu 3 và câu 4 có khác nhau, ngôn từ, ý tứ không tương đồng, nhưng nó đều bộc lộ hai trạng thái tâm trạng (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng – Cúi đầu nhớ cô'hương). Hai câu thơ cuối là hai câu thơ tuyệt hay. Hay về lời và ý. về lời là ngôn ngữ trong sáng, giản đơn, dễ hiểu, từ ngữ đối nghịch (từ cử – đê; vọng – tư, minh nguyệt – cố hương), về ý diễn tả được tư thế và tâm trạng của tác giả. Tư thế của Lí Bạch ở đây hoàn toàn trái ngược (khi ngẩng đầu nhìn trăng thì phấn khởi vui vẻ, thoải mái – khi cúi đầu là buồn rầu, tưởng nhớ đến quê hương). Từ ‘vọng’ bao hàm sự ngưỡng mộ, ưu ái. Từ ‘minh nguyệt’ được lặp lại nhưng không hề tạo cảm giác thừa mà trái lại làm người đọc thấy được tâm tình thiết tha, quyến luyến của Lí Bạch đối với trăng sáng mông lung. Tình yêu quê hương đậm đà, như máu trong tim, như hơi thở của tác giả. Tính cách thâm trầm, kín đáo được tác giả thể hiện rất cảm xúc, đầy suy tư ở hai câu thơ sau. Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh từng từ, từng ý. Mối liên hệ chặt chẽ giữa vẻ đẹp thiên nhiên với tình yêu, cảm xúc của con người trước sự vật. Ba câu thơ đầu gợi lên hình ảnh rất đẹp của thiên nHiên, nhưng chính câu thơ cuối mới là ‘câu thơ thần’, ‘điểm gút’ của bài thơ. Đây là câu thơ ‘khép’, là đỉnh cao của cảm xúc tác giả dồn nén lại. Cả bài thơ là vần bằng êm ả, nhẹ nhàng làm cho tứ thơ vằng vặc, dàn trải, như vầng trăng sáng dàn trải, như nỗi nhớ và tình thương bao la của Lí Bạch. Ý, lời và âm điệu của bài thơ kết hợp rất hài hòa. ‘Ý tại ngôn ngoại’.Với hai mươi chữ giản đơn mà chan chứa cả tâm tình ngưỡng mộ vẻ đẹp thiên nhiên. Tình yêu thiên nhiên mơ mộng tuyệt vời, tình cảm nhớ thương quê hương tha thiết của Lí Bạch được thể hiện lên qua từng câu, từng chữ của bài thơ ‘ngũ ngôn tứ tuyệt’ tuyệt vời này. Nếu cái hay của bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là sự rộng lớn, hùng tráng của thiên nhiên được diễn tả bằng sức tưởng tượng phi thường, phong phú, thì cái hay của bài ‘Suy nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là độ sâu của cảm xúc, ở sự thầm kín, bình dị và đầy chất thơ của cảnh vật. Cảnh thác núi Lư ‘ngỡ dải Ngân Hà tuột khỏi mây’ làm cho người đọc bàng hoàng sửng sốt, thì hình ảnh ‘đầu giường ánh trăng rọi, ngỡ mặt đất phủ sương’ cũng làm cho người đọc bàng hoàng, sửng sốt vì sự quan sát và miêu tả tinh vi của Lí Bạch. Nguồn: thêm: Kể lại trận chiến ác liệt mà em đã học, đã nghe kể hoặc đã xem phim.
Bình giảng bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch
1,095
Bình giảng bài thơ Chiều tối (trích Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh) Gợi ý Nói về đặc điểm những bài thơ trong tập Nhật ký trong tù của Bác, nhà văn Cu ba, Phêlic Pita Rôdrighết nhận xét: "Đôi lúc, bài thơ chi là một phác hoạ phong cảnh đã rung cảm nhà thơ, và đọc nó chúng ta hình dung đương ngắm những cảnh trong bức tranh lụa Việt Nam – đúng như một trong những người dịch thơ Hồ Chi Minh ra tiếng Pháp, Buraden, đã có ý kiến nhận xét – trong đó chỉ bằng vài nét bút lông đã phác hoạ nên nhiều điều vô giá" (Nghiên cứu học tập thơ văn Hồ Chí Minh – NXB Khoa học xã hội, HN. – 1979). Đọc bài thơ Chiều tối (Mộ) trong tập Nhật ký trong tù của Bác, chúng ta sẽ thấy những nhận xét trên là hết sức chính xác: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mảy trôi nhẹ giữa từng không Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng Chúng ta đều biết những bài thơ ở tập Nhật ký trong tù của Bác ra đời từ một hoàn cảnh thật oái oăm, khồc liệt; viết trong gông cùm, xiềng xích. Tập thơ như một cuốn phim ghi lại thật sinh động cả cuộc hành trình đầy gian lao, vất và: đi trong mưa dầm, nắng đốt, trong gió rét, khi được dừng chân thì lại bị đẩy vào những nhà giam tối tăm và đầy muỗi rệp… Nhưng một điều lạ là suốt cả tập thơ, người đọc không thấy dấu hiệu nào là sự bi quan, chán nản; càng không thấy dấu hiệu của nỗi tuyệt vọng, buông xuôi. Có nhiều lúc Người băn khoăn, trăn trở và nhớ da diết Tổ quốc, đồng chí, đồng bào, nhưng lúc nào cũng cháy sáng niềm tin cách mạng, tâm hồn lúc nào cũng dào dạt Cảm hứng thơ ca và ấm nóng tình đời Ta có thể thấy rõ điếu ấy trong bài thơ Chiều tối có thể nói hình ánh Lò than rực hồng trong bài thơ Chiều tối chính là "điểm ngời sáng trong thơ" (Bese – Dura Không có điểm tựa này, ý tứ của bài thơ sụp đổ, hay nói đúng hơn nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ mang một nghĩa khác, có một giá trị khác. Một trong những đặc điểm của nhiều bài thơ tuyệt cú luật Đường là câu cuối cùng có một vai trò rất lớn trong câu tứ và làm nổi bật chủ đề thơ. ở bài Chiều tối, nếu chỉ đọc ba câu đầu:Xem thêm: Hình ảnh con cá kiếm được thể hiện như thế nào trong đoạn trích Ông già và biển cả của O - nít Hê - minh - uê”Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không Cô em xóm núi xay ngô tối…” thì đúng là trước mắt chúng ta hiện lên một bức tranh với những nét phác hoạ phong cảnh của rừng núi lúc chiều tà. Một cánh chim mệt mỏi di tìm chốn ngủ, một đám mây cô đơn (cô vân) lững lờ trôi qua, một thiếu nữ vùng sơn cước đang xay ngô… Những hình ành rất thực trong con mắt người tù tuy không phải không có những đường nét ước lệ thường thây ở thơ cổ. Qua cảnh, ta thấy được tâm trạng nhà thơ. Nguyễn Du viết: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cảnh trong ba câu đầu rất phù hợp với tâm trạng và tình cảm của người làm thơ: buồn bã và có phần mệt mỏi, đơn côi. Vui làm sao được khi một mình đang lẻ bước trong gông cùm, không mệt mỏi sao được sau một ngày "dãi nắng, dầm mưa”. Bác Hồ không phải là thánh thần, Bác cũng là một con người, cũng buồn trước cảnh chiều tàn, cũng cảm thấy lẻ loi, hiu quạnh khi không có người chia sẻ nơi đất khách, quê người. Hình ánh cánh chim mệt mòi (quyện điểu), đám mây cô đơn (cô vân) và cô gái xay ngô, với những vòng quay đều đều, chậm chạp như nói hộ tâm trạng và tình cảm ấy của Người. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở ba câu đẩu ấy thi Chiều tối không còn là bài thơ của Bác nữa. Nó cũng sẽ chìm lẫn vào nhiều bài thơ tả cảnh buổi chiều và tấm lòng người lữ thứ. Như một đặc điểm rất độc đáo, in đậm trong nhiều bài thơ của Bác Hồ là mạch thơ, hình ảnh thơ, cũng như tư tưởng thơ ít khi tỉnh tại, thường luôn vận động một cách khoẻ khoắn và bất ngờ, luôn hướng tới sự sống và ánh sáng. Ớ bài thơ Chiều tối, chính kết cấu ấy đã làm nổi rõ đặc điểm trên:Xem thêm: Phân tích hình tượng người lính trong khổ thơ thứ ba của bài Tây Tiến ”Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng” Nếu như ba câu đầu, hình ảnh thơ mang lại cho bạn đọc một ấn tượng buồn bã, đơn côi, và có phần mệt mỏi thỉ câu kết bỗng nhiên đột ngột chuyển mạch, chuyển cảnh, chuyển ý, chuyển tình. Tất cả đều bừng sáng khi "Lò than đã rực hồng". Sự chuyển đổi ở đây đột ngột nhưng cũng rất tự nhiên, khéo léo, tinh vi. Như nhiều người đã nói, câu thơ của Bác trong nguyên bàn không có chữ tối. ở đây không nói tối mà ta vẫn thấy bóng tối đang ập xuống, nói như giáo sư Lẻ Trí Viễn: "Thời gian trôi dân theo cánh chim và làn mây, theo những vòng xoay của cối ngô, quay quay mãi, ma bao túc – bao túc ma hoàn, và đến khi cối xay dừng lại thì "lồ dĩ hồng", lò đã rực hồng, lúc trời tối thì lò đã rực lên" (Đọc lại bản dịch Nhật kỷ trong từ, Tác phẩm mới sổ 8 – 1970). Theo sự chuyển cảnh, tình người củng đã chuyển theo. Câu thơ cuối cùng, với ánh lửa hồng rực rỡ thể hiện niềm vui của con người làm toả sáng, truyền sự ấm nóng lên toàn bộ bức tranh phong cành, như làm tan đi cái cô quạnh, sự mệt mỏi và cái lụi tắt của cảnh chiều nơi rừng núi. Nhà thơ Hoàng Trung Thông khi bình bài thơ này đã cho rằng: "nếu chi dừng lại ở ba câu thơ đầu thì nhà thơ Hồ Chí Minh của chúng ta không khác gì nhà thơ Liễu Tông Nguyên đời Đường với bài thơ Giang tuyết (Sông tuyết)”: "Thiên sơn điểu phi tuyệt Vạn kính nhân tông diệt Cô thuyền xuy lạp ống Độc điếu hàn giang tuyết" Nghĩa là: "Nghìn non bóng chim bay đi đã tắt Muôn nẻo dấu người mất Trên chiếc thuyền cô đơn ông già mang tới đội nón Một mình cầu sông tuyết lạnh". "Bài thơ lẻ loi quá chừng, lạnh lẽo quá chừng. Nhưng nhà thơ Hồ Chí Minh rất Đường mà lại không Đường một tí nào. Với một chữ hồng Bác đã làm rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất di sự mệt moi, sự uể oải, sự vội vã đã diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô thiếu nữ xóm núi sau khi xay xong ngô tối" (Hoàng Trung Thông – Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác – Nghiên cứu học tập thơ văn Hồ Chí Minh, NXB Khoa học xã hội, HN 1979). Như thế, bài thơ Đường như có một sự đối lập giữa cành đầu và cảnh cuối, giữa tinh càm. nỗi lòng của người viết ở ba câu đầu và câu cuối. Trước buồn. sau vui. trước mệt mỏi. vội vã, cô đơn, sau nồng ấm, rực rỡ, tươi sáng. Thực ra ở đây đối lập mà vẫn thống nhất, thống nhất cả ở hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng. Về nghệ thuật, bức tranh đầu chi là cái nền để làm nổi bật cảnh sau, để tạo sự đột ngột, bất ngờ cho câu kết. Về nội dung, cái tình ở đoạn đầu là nỗi niềm riêng của Bác trong cảnh ngộ lúc tù đày giữa núi rừng vắng vẻ lúc chiều muộn Còn ánh lửa hồng cuối bài là niềm vui, dẫu là niềm vui nho nhỏ của "Cô em xóm núi", của cuộc sống thường nhật mà Bác sẵn sàng chia sẻ với người dân lao động. Phải chăng ở đây, Người đã quên hẳn nỗi bất hạnh của riêng mình, quên đi nỗi mệt nhọc, cô đơn để vui với niềm vui hồn nhiên, bình dị của cuộc sống nhân dân lao dộng Xem thêm: Tả con voi trong sở thú Chỉ với một bài thơ bốn câu, đúng là Người chỉ dùng "vài nét bút lông" mà "đã phác hoạ lên nhiều điều vô giá" như Buđaren đã nhận xét. Điều vô giá ấy trước hết là người đọc thấy được tấm lòng và tư tưởng của Bác vừa rất cụ thể, đời thường lại vừa rất lớn lao, vĩ đại; sẵn sàng quên nỗi bất hạnh riêng, hoà với niềm vui chung của cuộc sống con người. Bài thơ cũng cho ta thấy tài nghệ sắc sào và độc đáo của Bác trong một bút pháp riêng: hoà hợp màu sắc cổ điển và hiện đại. Vanmau.edu.vn
Bình giảng bài thơ Chiều tối (trích Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh)
1,596
Bình giảng bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh Hướng dẫn … Mùa thu năm 1947, khi chiến dịch Việt Bắc đang diễn ra vô cùng ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài thơ ‘cảnh khuya’ thể hiện cảm hứng yêu nước mãnh liệt bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Cả bài thơ dào dạt ánh sáng và âm thanh để lại trong lòng chúng ta ấn tượng vô cùng sâu sắc: Cảnh khuya Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bống lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà. 1947 Hồ Chí Minh Cùng với bài thơ: ‘Cảnh rừng Việt Bắc’ (1946), ‘Đi thuyền trên sông Đáy’ (1949), bài ‘Cảnh khuya’ đã thể hiện tình yêu. nước thiết tha của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bài thơ ‘Cảnh khuya’tả cảnh suối rừng chiến khu Việt Bác một đèm thu đẹp và nói lên nỗi thao thức của Bác Hồ kính yêu. 1. Hai câu thơ tả cảnh khuya núi rừng chiến khu Việt Bắc. Tiếng suối chảy êm đềm, nghe rất ‘trong’ rì rầm từ xa vọng đến ‘như tiếng hát xa’. Đêm khuya thanh vắng mới có thể nghe rõ tiếng suối chảy như vậy. Đó là nghệ thuật lấy động để tả tĩnh, lấy tiếng suối đặc tả đêm chiến khu thiêng liêng, thanh vắng. Ví tiếng suối với tiếng hát là một nét vẽ tinh tế gợi tả núi rừng chiến khu thời máu lửa mang sức sống và hơi ấm con người: — ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa’ Sáu trăm năn về trước, Nguyễn Trãi đã tả suối Côn Sơn: ‘Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai’ Xem thêm: Viết đơn xin vào đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh Đầu thế kỷ 20, Nguyễn Khuyến có viết: ‘Cũng có lúc chơi nơi dặm khách, Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo…’ Đó là những vần thơ tuyệt bút tả suối trong nền thơ ca dân tộc. Câu thứ 2, Bác Hồ tả trăng chiến khu. Câu thơ có ba nét vẽ: tầng cao là trăng, tầng giữa là cổ thụ, tầng thấp là hoa – hoa rừng. Câu thơ đầy ánh sáng trăng rất đẹp. Phải là đêm thanh, trăng tròn mới có ánh sáng chan hòa như vậy: ‘T răng lồng cổ thụ II bóng lồng hoa’ Chữ ‘lồng’ điệp lại hai lần, đã nhân hóa trăng, cổ thụ và hoà, làm cho vần thơ dào dạt trữ tình, thi vị. Chữ ‘lồng’ trong câu thơ này gợi nhớ đến vần thơ cổ cũng tả trăng, hoà: ‘Hoá giãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoà, hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa hoà nguyệt trùng trùng…’ (Chinh phụ ngâm) Hai vế tiểu đối: ‘Trăng lồng cổ thụ II bóng lồng hoà’ tạo nên bức tranh tạo vật cân xứng, hài hòa, ngôn ngữ thơ trang trọng, điêu luyện. Có thể nói 2 câu đầu tả cảnh thiên nhiên rất đẹp đầy chất thơ: cảnh khuya trong sáng, lunh linh huyền ảo, thơ nên họa nên nhạc. Thi sĩ với tâm hồn thanh cao đang sống những giây phút thần tiên giữa cảnh khuya chiến khu Việt Bắc. 2. Hai câu cuối diễn tả tàm tình thi sĩ. Câu 3 gọi là câu chuyển trong bài tứ tuyệt, như cái bản lề, nửa trên là khái quát ‘cảnh khuya như vẽ’ có suối, có trăng, có cổ thụ và hoa ngàn, nửa dưới là tâm trạng ‘chưa ngủ’ của ‘người’, của thi sĩ, của lãnh tụ. Câu 4 nói rõ tâm trạng đó, không chỉ xúc động trước cảnh thiên nhiên đẹp mà còn bởi lẽ ‘Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà’. Hai tiếng ‘chưa ngủ’ ở cuối câu 3 được điệp lại đầu câu 4, biện pháp nghệ thuật liên hoàn ấy đã làm cho âm điệu vần thơ nhịp nhàng, triền miên như dòng suối chảy của cảm xúc, của tàm tình. Tinh yêu nước của Bác rất sâu sắc, mãnh liệt: ‘Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà’ 3. ‘Cảnh khuya’là bài thất ngôn tứ tuyệt kiệt tác. Là một trong những bài thơ trăng đẹp nhất của Bác Hồ. Người xưa đến với chốn lãm tuyền để lánh đục tìm trong, để được nhàn. Còn Bác Hồ đến với suối rừng Việt Bắc là để lập chiến khu đánh Pháp. Giữa cảnh khuya, có suối trăng… đẹp như vẽ, nhưng Người vẫn thao thức, vẫn ‘Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’. Tâm hồn thi sĩ lồng vào cốt cách chiến sĩ. Màu sắc cổ điển hòa hợp với màu sắc thời đại – cảnh khuya trong kháng chiến. Đó là nét đẹp riêng bài thơ này của Bác. Cảm hứng thiên nhiên chan hòa với cảm hứng yêu nước được diễn tả một cách hàm súc nhuần nhị, trong sáng và đầy chất thơ. Bác Hồ yêu nước, thương dân. Bác yêu thiên nhiên, Bác yêu trăng. ‘Cảnh khuya’ như dẫn hồn ta vào những giấc mộng đẹp. Sức mạnh của thơ ca đích thực là vậy… Đọc thơ Bác, ta càng thêm yêu kính và biết ơn Bác Hồ Chí Minh. Nguồn: thêm: Có một đêm vắng đi trên con đường, em chợt nghe tiếng thì thầm: Bạn ơi!... Tiếng con đường trò chuyện cùng em. Hãy ghi lại câu chuyện ấy
Bình giảng bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
889
Đề bài: Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn thiếu nữ đang trong độ tuổi hai mươi, tiếng nói của một trái tim chân thành và đam mẻ, luôn rực cháy chất trẻ trung mănh liệt, khao khát được sống hết mình và yêu hết mình: Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể. Ba hình ảnh sông, sóng, bể như là những chi tiết bổ sung cho nhau: sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mang thăm thẳm. Tất cả các khía cạnh tương phản dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ tạo nên một cái nhìn bao quát về sóng. Mạch sóng mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao. Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đỉnh của chính mình. Trên hành trình ấy, điểm xuất phát của sóng tưởng chừng đã được lí giải rõ ràng: sóng bắt đầu từ gió. Nhưng rồi những băn khoăn cứ nối tiếp cho đến lúc không thể giải đáp (và cũng không cần giải đáp) bằng lí trí, đó cũng là lúc tầng tầng lớp lớp nghĩa của sóng hiện ra: con sóng của biển khơi tạo ra sóng thơ, con sóng thơ dào dạt của tâm hồn làm xuất hiện con sóng của tình yêu bất tận. Và khi đã thành sóng tình thì không bao giờ có thể lí giải dược khi nào ta yêu nhau? Những liên tưởng điệp trùng dào đạt đã nối kết dược con người với không gian biển khơi. Gắn với thế giới riêng tư của Anh và Em là cặp hình ảnhsóng – bờ: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Xem thêm: Nỗi niềm của những con người bị áp bức qua bài ca dao: "Nước non lận đận một mình. Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Ai làm cho bể kia đầy. Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?"Cả trong mơ còn thức. Con sóng Xuân Quỳnh sâu kín, tinh tế trong một nỗi nhớ cháy lòng của tình yêu. Nỗi nhớ gói gọn trong thời gian của một ngày đêm nhưng đủ sức dồn nén dung lượng tình yêu của cả một đời người. Nỗi nhớ không chỉ có mặt trong thời gian được ý thức mà còn gắn với tiềm thức – thời gian trong mơ vị ngọt ngào mê đắm của tình yêu lan tỏa trong cách nói nghịch lí trong mơ còn thức. Thế giới của Anh và Em không giới hạn chiều dài Bắc – Nam, không khoanh vùng địa bàn mà nơi nào cũng có nỗi nhớ thường trực của tình yêu vĩnh viễn. Xuân Quỳnh đã tiếp nhận nỗi nhớ ấy bằng tất cả sự nhạy cảm của lứa tuổi đôi mươi và khẳng định cho một cái tôi của con người luôn vững tin ở tình yêu. Hành trình Tình Yêu cũng là hành trình tự thử thách của lòng kiên trì bền bỉ để đạt mục đích của mỗi một cá nhân. Cái nhìn về cuộc đời của Xuân Quỳnh thật nhân hậu và nồng nàn: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Cuộc đời là biển lớn tình yêu, kết tinh vị mặn ân tình, được tạo nên và hòa lẫn cùng trăm con sóng nhỏ. Trong quan niệm của nhà thơ, số phận cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng. Sóng không phải là biểu tượng của một cái tôi ngạo nghễ và cô đơn như thơ lãng mạn. Khát vọng lớn nhưng trong cách nói Xuân Quỳnh lại rất khiêm nhường: trăm con sóng nhỏ như là sự tổng hòa những vẻ đẹp khác nhau để tạo thành biên lớn. Mỗi một quan hệ riêng tư sẽ làm đẹp thêm cho lẽ sống thời đại "Người yêu người, sống để yêu nhau" (Tố Hữu). Đó không chỉ là tinh thần của con người thời đại chống Mỹ mà còn là âm vang của một tâm lòng luôn tha thiết với sự sống, với tình yêu. Trong biển lớn tình yêu cuộc đời hôm nay, đã có biết bao con sóng đã tới bờ, đang tới bờ và tìm về bờ. Tình yêu vẫn luôn luôn là đề tài hấp dẫn với mọi lứa tuổi, để mọi người đi tìm những lới giải đáp cho ẩn số tình yêu trong một hành trình tìm kiếm không mệt mỏi. Sóng của Xuân Quỳnh vẫn vỗ những nhịp yêu thương, giúp những người đang yêu thêm tự tin vào chính mình, bởi thế giới của Anh và Em cũng là thế giới của những con người biết tìm ra ý nghĩa của sự sống thiêng liêng. Sống là được yêu, Yêu là Sống hết mình với cuộc đời. Xem thêm: Phân tích bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử hay nhất
Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
869
Bình giảng bài thơ Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan Hướng dẫn ‘Tạo hóa gây chi cuộc hí trường, Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lậu đài bóng tịch dương. Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương. Ngàn năm gương cũ soi kim cổ, Cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Bà Huyện Thanh Quan sống vào nửa đầu thế kỉ XIX ở nước ta. Bà chỉ để lại khoảng sáu bài thơ Nôm, thể thất ngôn bát cú Đường luật. ‘Qua Đèo Ngang’, ‘Chiều hôm nhớ nhà’, ‘Thăng Long thành hoài cổ’, ‘Chùa Trấn Bắc’… là những bài thơ kiệt tác trong nền thi ca trung đại của dân tộc. Ngôn ngữ trang nhã, giọng thơ du dương, điệu thơ chậm và buồn, màu sắc cổ kính, tài hoa… là phong cách thơ của nữ sĩ. Làng Nghi Tàm ven Hồ Tây là quê cha đất tổ của Bà Huyện Thanh Quan. Xuất thân trong một gia đình quý tộc đời Lê, nên Thăng Long mãi mãi để lại trong tâm hồn nữ sĩ những tình cảm vô cùng sâu sắc. Đầu thế kỉ XIX, Phú Xuân trở thành Kinh đô của triều Nguyễn, Thăng Long được đổi thành Hà Nội. Nỗi niềm tâm sự nhớ xưa kinh thành Thăng Long là nỗi niềm của người đi xa. Có thể Bà Huyện Thanh Quan viết bài thơ này trong thời gian làm nữ quan ‘Cung trung giáo tập’ tại Phú Xuân, những tháng ngày xa cố hương, xa nơi nghìn năm văn vật. Hai câu trong phần ‘đề’ như một tiếng than cất lên, suy ngẫm về lẽ phế, hưng, đổi thay trong cuộc đời: ‘tạo hoá gây chi cuộc hí trường, Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương’ ‘Hí trường’là sân khấu, là nơi diễn trò mua vui. Ông trời gây ra làm chi cái cảnh đời như sân khấu, diễn hết trò này đến trò khác. Hai tiếng ‘gây chi’ vừa là lời trách, vừa là lời than. ‘Cuộc hí trường’ ấy cứ diễn ra bao nhiêu trò: khóc, cười, buồn, vui, đã nhanh chóng trải qua nhiều năm tháng. Thăng Long… Đông Đô… Thăng Long… Hà Nội… Sau vần thơ là đôi mắt buồn, nhìn sâu thẳm vào dòng đời, thời gian lịch sử, một cái nhìn xa vắng mênh mông. Có cả tiếng thở dài ngao ngán. Gần một thiên niên kỷ đã trôi qua. Còn đâu những ‘vàng son’ một thời chói lọi nữa? Hai câu 3, 4 đối nhau, diễn tả cảnh hoang tàn, phế tích của kinh thành xưa: ‘Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương’ Đường bàn cờ dọc ngang nơi Long Thành xưa kia từng suốt đêm ngày rộn rịp ngựa xe của các ông hoàng, bà chúa, những xe tứ mã của các vương cộng, quốc thích. Nhưng nay chỉ còn lại ‘thu thảo’, cỏ mùa thu vàng úa. ‘Thu thảo’ như một chứng nhân buồn và tàn tạ. Cái hồn mùa thu cũng là cái hồn thiêng sông núi, cái hồn thiêng Thăng Long được cảm nhận từ sắc màu cỏ thu úa vàng, cỏ cây cũng mang nỗi buồn. Con đường càng trở nên vắng vẻ. Những cung điện nguy nga, những lầu son gác tía, những bệ ngọc hành cung huy hoàng, tráng lệ thời Lê – Trịnh vì chiến tranh loạn lạc, vì sự thay chủ đổi ngôi, nay đo nát hoang tàn, chỉ còn lại ‘nền cũ’-. ‘Nghìn năm dinh thự thành quan lộ, Một dải tàn thành lấp cố cung’ (‘Thành Thăng Long’ – Nguyễn Du) Cảnh vật càng trở nên ảm đạm dưới ‘bóng tịch dương’, bóng mặt trời lúc sắp lặn. Bao trùm lên vần thơ là một màu vàng tàn tạ: màu vàng úa của ‘thu thảo’, màu vàng của ‘bóng tịch dương’. Nỗi hoài cổ, nỗi nhớ xưa như dồn nén bao nỗi buồn chất chứa trong lòng nữ sĩ. Phép đối được sử dụng thần tình: ‘lối xưa’ với ‘nền cũ’, ‘xe ngựa’ với ‘lâu đài’, ‘hồn thu thảo’ với ‘bóng tịch dương’ được cấu trúc cân xứng, hài hòa. Thanh điệu bằng, trắc hô ứng nhau tạo nên âm điệu du dương, trầm bổng như đưa hồn ta về xa xưa, năn tháng, những thuở vàng son của Kinh thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê, cái buổi hưng thịnh thanh bình… Xem thêm: Hãy thể hiện quan điểm của mình trước cuộc vận động nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục Nỗi buồn hoài cổ ấy, một lần nữa lại được nữ sĩ diễn tả rất hay trong bài thơ ‘Chùa Trấn Bắc’. Cảnh vật cỏ hoa như còn vương hương một thời quá vãng: ‘Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu, Khách qua đường dễ chạnh niềm đau. Mấy đò sen rớt hơi hương ngự, Năm thức mây phong nếp áo chầu…’ Nhà thơ như đứng lặng trầm ngâm nhìn sắc màu thời gian, nỗi buồn tỏa rộng, càng trở nên thấm thía. Vật có đổi, sao có dời, nhưng ‘nước’ và ‘đá’ vẫn còn đó, vẫn thách thức cùng tuế nguyệt, cùng tang thương. Hai câu trong phần ‘luận’ nói về ‘nước’ và ‘đá’ như những chứng nhàn của lịch sử, của phế tích hoang tàn: ‘Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương’ ‘Đá’và ‘nước’ được nhân hóa, mang tình người và hồn người. Trên cái ‘nền cũ lâu đài’, đá thách thức cùng năm tháng ‘vần trơ gan’ đau đớn, buồn thương. Nơi bến cũ, hồ xưa, ‘nước còn cau mặt’ với mọi đổi thay, ‘với tạng thương’ cuộc đời. Lấy cái bất biến: ‘vẫn trơ gan’, ‘còn cau mặt’ của đá và nước để làm nổi bật cái tang thương cuộc đời là một nét vẽ ‘hoài cổ’ làm rung động lòng người gần 200 năm qua. Có trải qua loạn lạc, chiến tranh và phế hưng ở đời mới thấy hay, mới thấy thấm thía. Phép đối chặt chẽ, cách sử dụng từ Hán Việt (tuế nguyệt, tang thương) tinh tế, đã làm tăng chất suy cảm của vần thơ. Qua hình ảnh ẩn dụ ‘đá’ và ‘nước’, nữ sĩ gửi gắm nỗi buồn thương nhớ và tiếc nuối kinh thành Thăng Long một thời vàng son, huy hoàng và chói lọi. Chất hoài cổ như thấm vào đáy tầng sâu của lòng người, cảnh vật, cỏ hoa… Hai chữ ‘tang thương’ (tang điền thương hải), ‘bể dâu’ xuất hiện đậm nét trong thơ văn Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ 19, nhất là trong ‘Truyện Kiều’, trong không ít bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Đó là dấu ấn một thời: ‘Cuộc thương hải tang điền mấy lớp, Cõi nhân gian thành quách đổi dời. Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi, Mà làng ca vũ một người còn trơ!’ (‘Long Thành cầm giả ca’ – thơ dịch) Cảm xúc hoài cổ dồn nén dâng lên ở hai câu trong phần ‘kết’: ‘Ngàn năm gương cũ soi kim cổ, Cảnh đấy người đây luống đoạn trường’ ‘Gương cũ’là chuyện đời, là quá khứ và hiện tại, là Thăng Long xưa, là Hà Nội nay (thời nhà Nguyễn). Cảnh đấy là ‘lối xưa’, là ‘nền cũ’, ‘hồn thu thảo’ và ‘bóng tịch dương’, là ‘đá’ và ‘nước’, là hồn nước thiêng liêng, là Kinh thành xa xưa… ‘Người đây’ là nữ sĩ, là nhân vật trữ tình trong bài thơ. ‘Đoạn trường’ nghĩa là đứt ruột, nỗi đau ghê gớm. Nữ sĩ vô cùng đau đớn trước cảnh hoang phế, hoang tàn của Kinh thành Thăng Long. Nhớ xưa thành Thăng Long là nhớ với tất cả niềm tự hào những trang sử vàng chói lọi của tiền nhân… Hai chữ ‘ngàn năm’ gợi nhớ thiên niên kí Thăng Long huy hoàng. Hai vế tiểu đối: ‘cảnh đâỳ’ II ‘người đây’ làm nổi bật sắc điệu thẩm mĩ tả cảnh ngụ tình. Càu 1 nói về ‘cuộc hí trường’, câu 8 cực tả ‘đoạn trường’ – đó là cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Có chứng kiến, có nhìn thấy sự đổi thay đến thấm thoắt nhanh chóng nơi Kinh thành xưa thì mới có nỗi đau ‘đoạn trường’ đến như vậy. ‘Thăng Long thành hoài cổ’xứng đáng là viênngọc quý trong nền thi ca cổ điển Việt Nam. Từ nhan đề đến thi liệu, từ phép đối đến cách lựa chọn từ Hán Việt, từ ngôn ngữ trang nhã đến nhạc điệu du dương – tất cả tạo nên màu sắc cổ điển, thi vị. Màu sắc hoàng hôn, bóng tịch dương đã tô đậm chất hoài cổ buồn man mác. Nỗi buồn hoài cổ mang tính nhân văn: nhớ tiếc một thời vàng son của Thăng Long cũng là trở về cội nguồn của dân tộc, tự hào về sức sống và nền. văn hiến Đại Việt. Bài thơ giúp mỗi chúng ta yêu thêm, gắn bó tâm hồn mình với Thăng Long, Đông Đô, Hà nội, ‘lắng hồn núi sông ngàn năm’… Nguồn: thêm: Thiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận
Bình giảng bài thơ Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan
1,505
Đề bài: Bình giảng bài thơ Thương vợ của Trấn Tế Xương. Thơ xưa viết về người vợ đã ít, mà viết về người vợ khi còn sống càng hiếm hoi hơn. Các thi nhân thường chỉ làm thơ khi người bạn trăm năm đã qua đời. Kể cũng là điều nghiệt ngã khi người vợ đi vào cõi thiên thu mới được bước vào địa hạt thi ca. Bà Tú Xương có thể đã phải chịu nhiều nghiệt ngã của cuộc đời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không có được: Ngay lúc còn sống bà đã đi vào thơ ông Tú Xương với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng. Trong thơ Tú Xương, có một mảng lớn viết về người vợ mà bài Thương vợ là một trong những bài xuất sắc nhất. Tình thương vợ sâu nặng của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian lao và phẩm chất cao đẹp của người vợ. Câu thơ mở đầu nói hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú. Hoàn cảnh vất vả, lam lũ được gợi lên qua cách nói thời gian, cách nêu địa điểm. Quanh năm là suốt cả năm, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng. Quanh năm còn là năm này tiếp năm khác đến chóng mặt, đến rã rời chứ đâu phải chỉ một năm. Địa điểm bà Tú buôn bán là mom sông, cái doi đất nhô như lời giới thiệu, lại như một bối cảnh làm hiện lên hình bà Tú tần tảo, tất bật ngược xuôi: Quanh năm buôn bán ở mom sông. Thấm thìa nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cò trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương còn tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian (như con cò trong ca dao) mà cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ khi quãng vắng, tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu cái rợn ngợp của thời gian, đã làm hao hụt cả ý thơ. So với câu ca dao: Con cò lặn lội bờ sông, câu thơ của Tú Xương: Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Là cả một sự sáng tạo. Cách đảo ngữ – đưa ra từ lặn lội lên đầu câu, cách thay từ – thay từ con cò bằng thân cò, càng làm tăng nỗi vất vả gian truân của bà Tú. Từ thân cò gợi cả nỗi đau thân phận, so với từ con của Tú Xương cũng sâu sắc, thấm thía hơn. Nếu câu thơ thứ ba gợi nỗi vất vả đơn chiếc thì câu thứ tư lại làm rõ sự vật lộn với cuộc sống của bà Tú: Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buôi dò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng. Trong ca dao, người mẹ từng dặn con rằng: Con ơi nhớ lấy câu này Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qụa. Buổi đò đông không chỉ có những lời phàn nàn, mè nheo, cáu gắt, những sự chen lấn, xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc hiểm nguy. Hai cáu thực đối nhau về ngữ (khi quãng vắng đối với buổi đò đông) nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật sự vất vả gian truân của bà Tú: đã vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn chải trong hoàn cảnh chen chúc làm ăn. Hai câu thực nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương, đó là tấm lòng xót thương da diết. Xem thêm: Phân tích điểm chung và nét riêng của những câu hát than thân sau đây: Thân em như tấm lụa đào, ... Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chânCuộc sống vất vả gian truân càng ngời lên phẩm chất cao đẹp của bà Tú. Bà là người đảm đang tháo vát: Nuôi đủ năm con với một chồng. Mỗi chữ trong câu thơ Tú Xương đều chất chứa bao tình ý, từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Bà Tú nuôi đủ cả con, cả chồng, nuôi đảm bảo đến mức: Cơm hai bữa: cá kho rau muống Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô (Thầy đồ dạy học) Trong hai câu luận, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự hy sinh rất mực của vợ: Năm nắng mười mưa dám quản công Ở câu thơ này, nắng mưa chỉ sự vất vả, năm mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo (năm nắng mười mưa) vừa nói lên sự vất vả gian lao, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú. Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp ở phía sau, nhìn tinh mới thấy. Khi đã thấy rối thì ấn tượng thật sâu đậm. Ở bài thơ thương vợ cũng vậy. Ông Tú không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện trong từng câu thơ. Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ. về câu thơ Nuôi đủ năm con vói một chồng, có người cho rằng ở đây ông Tú tự coi mình là một thứ con đặc biệt để bà Tú phải nuôi. Tú Xương đã không gộp mình với con để nói mà tách riêng, con riêng rất rạch ròi là để ông tự riêng tri ân vợ. Nhà thơ không chỉ cảm phục, biết ơn sự hi sinh rất mực của vợ mà ông còn tự trách, tự lên án bản thân. Ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Bà Tú lấy ông là do duyên nhưng duyên một mà nợ hai. Tú Xương tự coi mình là cái nợ mà bà Tú phải gánh chịu. Nợ gấp đòi duyên, duyên ít nợ nhiều, ồng chửi thói đời bạc bèo, vì thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ. Nhưng Tú Xương cũng không đổ vấy cho thói đời. Sự hờ hừng của ông với con cũng là một biểu hiện của thói đời bạc bẽo. Câu thơ Tú Xương tự rủa mát mình cũng là lời tự phán xét, tự lên án: Có chồng hờ hừng cũng như không Ở cái thời mà xả hội đã có luật không thành văn đối với người phụ nữ: xuất giả tòng phu (lấy chồng theo chồng), đối với mối quan hệ vợ chồng thì phu xướng, phụ tùy (chồng nói, vợ theo), thế mà có một nhà nho dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừa nhận mình là quán ăn lương vợ, không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn dám tự nhận khuyèt điểm. Một con người như thế chẳng đẹp lắm sao. Nhan đề Thương vợ chưa nói hết sự sâu sắc trong tình cảm của Tú Xương đối với vợ cũng như chưa thể hiện được đầy đủ vẻ đẹp nhân bản của hồn thơ Tú Xương. Ở bài thơ này, tác giả không chỉ thương vợ mà còn ơn vợ, không chỉ lên án thói đời mà còn tự trách. Nhà thơ dám tự nhận khuyết điểm, càng thấy mình khiêm khuyết càng thương yêu, quý trọng vợ hơn. Tình thương yêu, quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong văn học trung đại. Cảm xúc mới mẻ đó lại được diễn tả bằng hình ảnh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian, chứng tỏ hồn thơ Tú Xương dù mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vần có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc. Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của anh (chị) về nhân vật Gia-ve trong đoạn trích "Người cầm quyền khôi phục uy quyền" ("Những người khốn khổ") của V.Huy-gô
Bình giảng bài thơ Thương vợ của Trấn Tế Xương
1,433
Bình giảng bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên Gợi ý Đề bài: Bình giảng bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên: Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu, Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây bắc, chứ còn đâu. Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng? Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi? Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép Tâm hón anh chờ gặp anh trên kia. Trên Tày Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc Xử thiêng liêng, rửng núi đã anh hùng Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân. Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường Con đã đi nhưng con cần vượt nữa Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương. Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Con nhớ anh con, người anh du kích Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con. Con nhớ em con, thằng em liên lạc Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư. Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi. Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương? Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tmh yêu làm đất lạ hóa quê hương. Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương. Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi? Tình em đang mong tình mẹ đang chờ Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga. Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào Rẽ người mà đi vịn tay mà đến Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao. Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ Tây Bắc ơi, ngươi là mẹ của hồn thơ Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa Nay trở về, ta lấy lại vàng ta. Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng? Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân. (Ánh sáng và phù sa, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1960) Bài tham khảo 1. Tiếng hát con tàu lôi cuốn chúng ta trước hết bằng âm hưởng thật dào dạt. Người đọc bị lôi cuốn vào từng đợt cảm xúc lúc sôi nổi trào dâng, lúc lắng sâu trầm tĩnh để rồi đi đến cao trào ở cuối bài thơ thật bay bổng, say mê và mơ mộng: Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân Trong sóng nhạc tâm tình ấy, ánh lên lớp lớp những hình ảnh lung linh, với những so sánh, ẩn dụ, tượng trưng mỗi lúc một mới lạ, bất ngờ. Cái thi tứ chủ đạo Tâm hồn ta đã hóa những con tàu với hình ảnh trung tâm là con tàu đang hăm hở băng về những miền xa, những chân trời rộng rãi, đã làm “bệ phóng” cho mọi tưởng tượng sáng tạo, kết liền cả hoài niệm quá khứ về cuộc kháng chiến chống Pháp với những trăn trở và dự cảm về tương lai. Cái ấn tượng nổi đậm tiếp theo ở bài thơ này là sự kết hợp giữa thực và ảo, thật và mơ. Hình tượng con tàu lên Tây Bắc đã là một tưởng tượng đầy mơ mộng: Sự thực thì cho đến nay cũng chưa có đường tàu lên Tây Bắc, nhưng điều đó không ngăn cản nhà thơ hình dung ra con tàu tâm tưởng của mình vượt trăm ga ngói đỏ, đêm đêm lại uống một vầng trăng… Trong bài, chúng ta còn gặp rất nhiều hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng biến hóa được sáng tạo từ sức tưởng tượng phong phú của nhà thơ. Nhưng mặt khác, bài thơ cũng lại chất chứa những hình ảnh thật cụ thể như được kết tinh từ những kỷ niệm, những cảnh sống thực đã đã trải của tác giả, những so sánh dung dị lấy từ đời sống quen thuộc mà không kém rung động (Những hình ảnh cụ thể về nhân dân và kỷ niệm kháng chiến ở phần hai bài thơ). Có thể nói, cảm xúc của tác giả đi về giữa thực và ảo, giữa thật và mơ, làm cho thi tứ của bài luôn vận động bất ngờ, mới lạ, tạo ra sức cuốn hút nhiều mặt cho tác phẩm.Xem thêm: Vẻ đẹp bi tráng của ngươi lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. (Bài viết số 3, SGK Ngữ văn 12 chuẩn, tập 1).2. Hãy đọc lại bốn câu thơ đề từ: Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu, Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu. Bây giờ chắc ít ai còn nhớ đến sự kiện kinh tế – xã hội đã khơi gợi cảm hứng cho Chế Lan Viên viết bài Tiếng hát con tàu. Đó là cuộc vận động nhân dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế vùng núi Tây Bắc diễn ra vào những năm 1958 – 1960 ở miền Bắc. Nhưng bài thơ không phải là một sự minh họa đơn giản, phục vụ kịp thời cho nhiệm vụ kinh tế và chính trị. Sự kiện thời sự ấy chỉ là điểm xuất phát, gợi ý cho tác giả khơi dậy những ấn tượng, cảm xúc, suy ngẫm về nhân dân, đất nước và thơ ca. Bài thơ là niềm hân hoan và lời giục giã của một tâm hồn đã thức tỉnh một chân lý lớn, lẽ sống lớn của đời người và đời thơ: đó là nhân dân… được cảm nhận như là ngọn nguồn của đời sống, của thơ ca. Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc, Tây Bắc ở đây chỉ là một biểu tượng của những miền xa xôi của Tổ quốc, nơi đã ghi sâu những kỷ niệm kháng chiến, nơi đang vẫy gọi, nơi tình dân đang chờ những cánh tay và tấm lòng đốn chung sức xây dựng. Nhưng tiếng gọi của Tây Bắc, của cuộc sống đất nước cùng là tiếng gọi của chính lòng mình: Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi. Lên với Tây Bắc cũng là về với chính lòng mình, với những kỷ niệm và nghĩa tình sâu nặng của nhân dân trong những năm kháng chiến gian lao vừa qua. Bởi thế Khi lòng ta đã hóa những con tàu giữa cảnh sôi động dựng xây, hồi sinh của đất nước bốn bề lên tiếng hát thì soi vào lòng mình mà có thể tìm thấy Tây Bắc, và tâm hồn nhà thơ cũng chính là Tây Bắc, chứ còn đâu. Cái điều tưởng chừng như nghịch lý (tâm hồn đã hóa con tàu, lại có thể cũng là Tây Bắc) lại nói lên một quy luật của tâm lý, của đời sống tâm hồn con người, đó là cái sự thật của nội tậm dưới cái vẻ ngoài dường như vô lý kia. 3. Bài thơ kết câu theo trình tự diễn tiến tâm trạng. Ngoài bốn câu đề từ, hai khổ đầu là sự trăn trở, lời giục giã lên đường. Chín khổ tiếp là thể hiện khát vọng về với nhân dân, với Tây Bắc, được gợi lên qua những hình ảnh, kỷ niệm nặng nghĩa tình của nhân dân trong kháng chiến chống Pháp. Bốn khổ cuối là khúc hát lên đường say mê, sôi nổi, rạo rực. Âm hưởng, giọng điệu của bài thơ cũng biến đổi theo diễn biến của mạch tâm tư ấy. Ở đoạn đầu, lời giục giã với những câu hỏi ngày càng thôi thúc (Anh đi chăng? Anh có nghe, Sao chửa ra đi?). Đây là sự phân đôi chủ thể trữ tình để đối thoại, như là lời thuyết phục một người khác: Tàu gọi anh sao chửa ra đi? Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép. Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kìa. Ở đoạn giữa, những kỷ niệm kháng chiến được gợi lại trong giọng hồi tưởng thiết tha, cảm động, với lối xưng hô thân mật: Con nhớ anh con – Con nhớ em con – Con nhớ mế. Xen với những hình ảnh lung linh của hồi tưởng là những đúc kết chiêm nghiệm triết lý trong giọng trầm lắng. Đoạn cuối là khúc hát lên đường say mê lôi cuốn, giàu chất lãng mạn với nhiều hình ảnh biến hóa bất ngờ, kỳ ảo, với sự trùng điệp tăng tiến của từ ngữ và hình ảnh tạo ra âm hưởng dồn dập, hối hả như một con tàu đang băng băng tới chân trời xa rộng.Xem thêm: Soạn bài Đất nước mùa thu4. Tiếng hát con tàu là sự bừng sáng trong tâm và trí của nhà thơ về một chân lý lớn: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa Đó là những câu thơ thật chân thành và cảm động của một hồn thơ khi nhận ra cái lẽ sống, nguồn sống của đời mình, của thơ mình. Trong khổ thơ trên, Chế Lan Viên dùng liên tiếp tới năm hình ảnh so sánh như để nói cho đủ, khắc cho sâu tư tưởng này: hồn thơ ấy đã thuộc về nhân dân, đã tìm thấy nguồn nuôi dưỡng từ nhân dân, đã được hồi sinh trong cuộc đời rộng lớn của nhân dân. Những hình ảnh so sánh ở khổ thơ này đều rất dung dị, gần gũi với sự sống bình dị của thiên nhiên và con người, nó rất ít dấu vết của trí tuệ, của lý lẽ, mặc dù là để nói về chân lý lớn của cuộc đời mình. Nhân dân trong tâm cảm của nhà thơ không phải là một ý niệm trừu tượng, đó là những con người cụ thể, với những số phận cụ thể. Nhân dân đó là người anh du kích với “Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách. Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”, là em liên lạc đưa đường, là cô gái với “vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng”, là bà mế “lửa hồng soi tóc bạc. Năm con đau mế thức một mùa dài”. Những câu thơ bằng chi tiết cụ thể, bình dị khắc họa được hình ảnh nhân dân với những tấm lòng rộng lớn và hy sinh thầm lặng, đồng thời cũng biểu hiện lòng biết ơn sâu nặng, những xúc động thấm thìa của một tấm lòng, nó là tâm cảm của Chế Lan Viên, là những trải nghiệm của tác giả qua những năm kháng chiến. Theo dòng hoài niệm, mạch thơ dẫn đến những câu thơ chất chứa những khái quát, triết lý về cuộc sống được kết tinh từ những chiêm nghiệm: Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn Nói đến Chế Lan Viên, chúng ta nghĩ ngay đến một giọng thơ triết lý với trí tuệ sắc sảo, những hình ảnh ý niệm. Cái đặc sắc của những câu thơ “triết lý” trên đây là ở sự tự nhiên, bình dị mà sâu sắc của tư tưởng đã được rút ra bằng chính sự sống, bằng những trải nghiệm của lòng người. Câu thơ có thể gợi nghĩ đến nhiều điều, nhưng trước hết là nói đến cái quy luật của đời sống tâm hồn; tâm hồn con người đã được bồi đắp, tạo dựng nên bằng chính những gì người ta đã trải qua, đã gắn bó, chia sẻ. Cái khách thể đã hóa thành chủ thể, cái ở ngoài ta đã hòa nhập và làm phong phú cho đời sống bên trong của mỗi cuộc đời. Một lần khác, Chế Lan Viên đã viết: Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ Con ngọc trai đêm hè đáy bể Uống thủy triều bỗng hóa hạt châu. (Chim lượm trăm vòng) Thì cũng là nói về chân lý ấy, về sự tái sinh và giàu có của tâm hồn nhà thơ khi đã được hình hài của đất nước, đời sống của nhân dân in dấu, soi bóng vào đó.Xem thêm: Nguyễn Đình Thi đã cảm nhận và suy tư như thế nào về quê hương đất nước trong phần 2 bài thơ Đất nước? Mạch thơ chuyển sang sự rung cảm và suy tưởng về tình yêu: Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hóa hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Cũng được dẫn dắt từ những cảm xúc và hình ảnh cụ thể đến một triết lý khái quát như ở khổ trên, nhưng ở đây, khi nói về tình yêu, câu thơ bỗng ngời lên lấp lánh trong những hìrh ảnh rực rỡ sắc màu. Chúng ta lại bắt gặp nét quen thuộc của phong cách Chế Lan Viên: hồn thơ ấy ham triết lý ngay cả khi đắm mình trong những xúc cảm của tình yêu. Nhà thơ phát hiện một quy luật của tình yêu qua những so sánh từ đời sống tự nhiên: sự gắn bó của hai trái tim, hai tâm hồn trong đời sống tình yêu là một tất yếu như cái rét với mùa đông, như mùa xuân với bộ lông biếc của chim rừng. Đến đây, tâm trí nhà thơ như reo lên khi phát hiện một tương quan gắn bó giữa tình yêu và đất lạ: Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Đoạn thơ nói về tình yêu, nhưng rốt cuộc thì cũng là nói về sự gắn bó với đất nước, nhân dân. Có điều là ở đây, sự gắn bó ấy đã được bền chặt và sâu xa như tình quê hương, bởi chất “kết dính” tâm hồn và đất lạ chính là tình yêu! Chính vì thế mà bốn câu thơ về tình yêu có vẻ như bất ngờ chuyển mạch đột ngột giữa mạch thơ hoài niệm về nhân dân, thực ra lại vẫn là nằm trong mạch suy tưởng ấy, thậm chí, như là sự kết tinh những suy ngẫm và xúc cảm về nhân dân, đất nước của bài thơ. 5. Phần cuối (4 khổ thơ) là khúc hát lên đường trong một nhịp điệu lôi cuốn, dồn dập, say mê, đồng thời tiếp tục mạch suy tưởng của bài thơ, với những hình ảnh kết hợp giữa thực và mộng, cảm xúc và tưởng tượng lãng mạn, bay bổng. ; Tiếng gọi của đất nước, của tình dân cũng là lời giục giã của chính tâm hồn tác giả (Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi), thành sự thôi thúc, nỗi khát khao bồn chồn không thể cưỡng lại (Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng; Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga). Tạo ra âm hưởng dồn dập lôi cuốn của đoạn thơ này có vai trò của thủ pháp trùng điệp, những từ ngữ và hình ảnh ở khổ trên được láy lại và mở rộng ở khổ dưới, làm cho các khổ thơ liền mạch, nhịp điệu trở nên dồn dập, tuôn chảy dạt dào (mắt ta thèm… / Mắt ta nhớ mặt người… Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao / Nhựa nóng cần lao…). Trong sóng nhạc xúc cảm dồn dập lại ánh lên những hình ảnh phong phú, biến hóa sáng tạo, chủ yếu là những hình ảnh ẩn dụ, những biểu tượng, tượng trưng. Hình ảnh con tàu ở phần đầu được trở lại như hình ảnh trung tâm, cùng với hình ảnh mùa nhân dân giăng lúa chín, vàng ta đau trong lửa, uống một vầng trăng, mặt hồng em v.v.. Các hình ảnh được tạo ra bằng những liên tưởng độc đáo, tưởng tượng táo bạo nhưng không xa lạ. Câu thơ của Chế Lan Viên như được xâu chuỗi bằng hình tượng, hình tượng liên kết từng chùm, tầng tầng, lớp lớp, với nhiều dạng thức cấu tạo: so sánh, liên tưởng, biểu tượng. 6. Tiếng hát con tàu là một trong những thành công nổi trội nhất của thơ Chế Lan Viên. Bài thơ đạt đến cái mà người ta thường gọi là độ chín. Không phải là cái hay của một hồn thơ non tơ tươi trẻ mới phát lộ, mà là sự nhuần nhuyễn của tài năng, tư tưởng và tâm hồn. Kỹ thuật và chữ nghĩa điêu luyện (cái tài) ở trường hợp này không lấn át mà nhuần nhuyễn với tình cảm chân thành, cảm xúc hòa quyện với suy tưởng, triết lý,… tất cả, tạo cho bài thơ có một vẻ đẹp riêng, mang đậm phong cách Chế Lan Viên và cũng tiêu biểu cho giai đoạn “Ánh sáng” và “Phù sa” của tác giả. Vanmau.edu.vn
Bình giảng bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
3,001
Đề bài: Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính. Tương tư là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tâm hồn và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính. Bài thơ viết về một đề tài khá quen thuộc trong đời sống và văn chương: sự tương tư, tức một trạng thái tình cảm nam nữ khi yêu nhau, hoặc phải xa cách, hoặc không được đáp lại. Nhà thơ lại sáng tác bằng thể thơ cũng rất quen thuộc – lục bát. Song, để bài thơ có thể sống dài lâu trong lòng bạn đọc không phải là chuyện dễ. Tương tư của Nguyễn Bính vừa có vẻ thân quen như một làn điệu dân ca khiến bao người thuộc lòng. Thậm chí trở thành một bài hát ru em, vừa mang tâm tình mới của lớp thanh niên thời bấy giờ. Nói cách khác, Tương tư cũng như rất nhiềụ bài thơ khác của Nguyễn Bính trước năm 1945, đậm đà chất dân tộc, trong điệu tâm hồn, cả trong lối diễn đạt, nhưng lại là tiếng thơ của một thời đại mới. Vì thế, khi bình giảng cần biết rằng Tương tư là nỗi nhớ, là tâm trạng của một chàng trai đối với một cô gái. Cô gái ấy vô tình, hay hữu ý không biết nỗi lòng ấy. Tình cảm của chàng trai rất đỗi tha thiết. Tương tư là một thứ bệnh của tình yêu. Chàng trai ấy đang mang bệnh đó. Anh ta buồn, anh ta nhớ, anh ta thao thửc và cả trách móc nữa, nhưng là sự trách móc của một người đang yêu nên cũng rất đáng yêu: Bảo ràng cách trở đò giang, Không sang là chẳng đường sang đã đành. Nhưng đây cách một đầu đình Có xa xôi mấy mà tình xa xôi Nhà em một gian giàn giầu, Nhà anh có một hàng cau liên phòng. Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông, Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? Khi bình giảng lại lần theo tâm trạng đó. Tuy nhiên, không phải là sự diễn xuôi, kể lại (vì có gì đáng kể đâu) mà để thay từng cung bậc tình cảm trong trái tim chàng trai đang tương tư. Xem thêm: Tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh được sáng tác trong hoàn cảnh nào? Hãy trình bày ngắn gọn những nội dung chính của tác phẩm nàyTương tư là bài thơ tình yêu, bài thơ diễn tả nỗi tương tư. Thành công của nó ở chỗ bao tâm hồn đã tìm thấy ở đó sự đồng điệu, tiếng thơ. Điều này tưởng chừng bình thường, đơn giản, song thật ra không phải ai cũng làm được. Nhiều bài thơ tuy rất hay, rất nổi tiếng, nhưng người ta nhận ra trước hết đó là nỗi lòng rất đơn chiếc của một người, và nếu có chỉ là tiếng lòng của một số người, một bộ phận tương đối hẹp nào đó. Chẳng hạn: Ai bảo em là giai nhân Cho đời anh sầu khổ? Ai bảo em ngồi bên cửa sổ Cho vướng víu nợ thi nhân. (Luu Trọng Lư – Một mùa đông) hoặc: Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng, Mà sầu trong dạ đã mang mang. Tình yêu như bóng trăng hiu quạnh, Lạnh lẽo đêm trường, giãi gió'sương. (Lưu Trọng Lư – Một chút tình) Thơ Nguyễn Bính, ở Tương tư, cũng như nhiều bài thơ khác, không phải vậy. Rất đông thanh niên, nhất là những người bình thường, thời bấy giờ và sau đó nữa, tìm thấy sự đồng điệu ở thơ ông. Có được như vậy, trước hết là do thơ Nguyễn Bính có nhiều hình ảnh quen thuộc của thế giới ruộng đồng, dân dã (Ở bài thơ này là: bướm, hoa, thôn Đoài, thôn Đồng, đình làng, bến đò, hàng cau, giàn trầu.,.). Dường như tiếng nói trong thơ Nguyễn Bính được cất lên từ chính thế giới thân thuộc đó, là một phần của thế giới ấy, chứ không là sự vay mượn. Thành ra lốì diễn đạt cũng thế. Nó mang dáng vẻ mộc mạc, chân thành, bình dị (Ngày qua ngày lại qua ngày / Bao giờ bến mới gặp đò? / Nhà em có một giàn giầu…). Và dĩ nhiên, đây là hình thức thể hiện của một cái khác, sâu xa hơn, ở thơ Nguyễn Bính, đó chính là tình quê, hồn quê thấm đẫm trong tâm hồn nhà thơ. Chính cái tình, cái hồn ấy làm nên sự quen thuộc, gần gũi và thân thiết của thơ Nguyễn Bính đối với bao người Việt Nam, dù ở bất cứ thời đại nào. Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận
Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
781
Đề bài: Bình giảng bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão để làm nổi bật cảm hứng yêu nước anh hùng của bài thơ. Triều đại nhà Trần (1226 – 1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử. Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi ca là “hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng — thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tuớng sĩ” của Trần Quôc Tuấn, “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão, “Tụng giá hoàn kinh su” của Trần Quang Khải, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quôc công Hưng Đạo Đại vương”. Bài thơ “Thuật hoài” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi tổ quốc bị xâm lăng. Đó là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Phạm Ngũ Lão đan sọt bên đường Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đâu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu” là một câu thơ có hình tượng kì vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (cáp kỉ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cắp ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý. Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tì hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Với khí thế ngút trời, đội quân “phụ tử chi binh” ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, cao rộng như vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu thắng đấy mà còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc: Xem thêm: Từ bài văn Lao xao của Duy Khán, em hãy tả lại khu vườn vào một buổi sáng đẹp trời“Thuyền bè muôn đội; Tinh kì phấp phới Tì hổ ba quân Giáo gươm sáng chói (Bạch Đằng giang phú) “Giang sơn hoành sóc, khí thôn Ngưu”. (Vịnh Phạm Ngũ Lão – Đặng Minh Khiêm) Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã: “Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”. “Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bàng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dùng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thế bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông). “Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng ki vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông A”. Xem thêm: Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về quan niệm sống của Xuân Diệu thể hiện trong hai câu thơ sau: Thà một phút huy hoàng rồi chợt tốiCòn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
1,047
Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: Ta về, mình có nhớ ta … Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. Việt Bắc là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu. Lời thơ như khúc hát ân tình tha thiết về Việt Bắc, quê hương của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ở đó, bên cạnh cách những bức tranh hùng tráng, đậm chất sử thi về cuộc sống đời thường gần gũi, thân thiết được bao bọc bởi thiên nhiên vô cùng tươi đẹp: Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. Đây là bức tranh được dệt bằng ngôn từ nghệ thuật toàn bích, có sự hòa quyện giữa cảnh và người, giữa cuộc đời thực với tấm lòng của nhà thơ 1 cách mạng. Mười câu thơ trên nằm trong trường đoạn gồm 62 câu thơ diễn tả tâm tư tình cảm của người cán bộ sắp sửa rời Việt Bắc, nơi mình đã 15 năm gắn bó với bao tình cảm máu thịt. Đoạn thơ mở đầu bằng một câu hỏi: Ta về, mình có nhớ ta. Nhưng thực ra, hỏi chỉ để mà hỏi, hỏi để tạo thêm cái cớ để giải bày nỗi lòng của mình: Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Câu thơ có nhịp điệu êm ái nhờ những điệp từ tạo và các thanh bằng B (6/8) như một lời ru, một câu hát không chỉ diền tả tâm trạng tha thiết của nhân vật trữ tình. Đây còn là lời ngợi ca về thiên nhiên và con người Việt |B Bắc. Trong ngôn ngữ Việt, hoa còn có ý nghĩa biểu trưng về thiên nhiên, về những gì tươi đẹp. Đặt hoa bên cạnh người là sự tôn vinh về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Vả lại hoa và người hòa quyện, gắn bó với nhau. Nói tới thiên nhiên không thể không nói đến con người và ngược lại, những con người ấy đã ở trong một thiên nhiên đẹp gần gũi. Bốn câu thơ lục bát còn lại là một bức tranh liên hoàn về con người và thiên nhiên Việt Bắc. Nhiều người gọi đây là bộ tứ bình(xuân, hạ, thu, đông). Nhà thơ kế thừa nghệ thuật hội họa cổ truyền của dân tộc trong khi miêu tả thiên nhiên. Mỗi một câu thơ khắc hòa một bức tranh cụ thể nhưng cũng có thể ghép lại thành một bộ liên hoàn. Bức tranh thứ nhất: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn. Trên cái nền xanh bạt ngàn của rừng, nổi bật lên hình ảnh những bông hoa chuối đỏ tươi. Nghệ thuật điểm xuyết trong thơ cổ (Cỏ non xanh rợn chân trời – cành lê trắng điểm một vài bông hoa – Nguyễn Du) tỏ ra rất hữu hiệu. Giữa bạt ngàn xanh của núi rừng Việt Bắc, màu đỏ của hoa chuối bỗng gợi lên sự ấm áp, có sức lan tỏa. Vì thế, thiên nhiên hùng vĩ ấy không xa lạ; trái lại, gần gũi, thân thiết với con người: Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Cũng là cách điểm xuyết những hình ảnh điểm nổi rõ hơn cảnh. Hơn nữa, cách điểm xuyết ấy rất độc đáo: càng chọn điểm nhỏ nhất thì sức gợi càng lớn hơn. Vì thế, câu thơ có sự nhấp nháy (nắng ánh) của hình ảnh và cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch, bỗng có sức sống, sự chuyền động- Thơ ca là nghệ thuật của thời gian. Với những nghệ sĩ tài hoa đó, việc tạo dựng nên những lớp thời gian chồng lấp và không gian không bất động, bất biến mà ngang sức sống nhờ sự tái sinh của những lớp ngôn từ. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng là một câu thơ như thế. Bức tranh thứ hai: Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Khác bức. tranh thứ nhất, bức tranh thơ thứ hai mở đầu có sự định vị về thời gian (Ngày xuân). Nhưng tự thân thời gian ấy cũng đã mở ra không gian: Ngày xuân mở nở trắng rừng. Cách điệp âm (mơ / nở; trắng / rừng) cùng với hình ảnh của hoa mơ (màu trắng) tạo ra một không gian vừa rộng lớn, vừa có sự rộn ràng, náo nức của thiên nhiên. Nếu ở bức tranh thơ thứ nhất, nghệ thuật miêu tả của tác giả ở điểm xuyết, tìm hình ảnh gợi, sắc màu sáng (hoa đỏ, nắng ánhí dể diễn tả sự chuyển động của cảnh vật thì ở đây, nhà thơ lại hướng cái nhìn vào sự bao quát điệp trùng để tìm cái rạo rực (tiềm ẩn) của thiên nhiên. Xem thêm: Phân tích đoạn thơ “Trao duyên” để làm rõ nỗi đoạn trường về tình duyên lỡ bỏTrên cái nền không gian rộng lớn và náo nức ấy, nhà thơ hướng mắt nhìn về một hoạt động có vẻ tỉ mỉ: ..Người đan nón chuốt từng sợi giang. Nhiều người nói câu thơ ca ngợi “dáng diệu cần mẫn, cẩn trọng và tài hoa” trong “công việc thầm lặng” của người Việt Bắc. Có người nói “dưới ánh sáng của rừng mơ mùa xuân, hình ảnh cô gái Việt Bắc hiện lên thanh mảnh, dịu dàng”. Câu thơ có hình ảnh ấy. Con người Việt Bắc trong hoài niệm của Tố Hữu là như thế. Nhưng đó là hình ảnh thực. Trong chuồi hoài niệm của tác giả, hình ảnh kia chỉ là một điểm gợi nhớ. Câu thơ gợi lên cách cảm, cách nhìn của tác giả hơn là tả thực. Đó là hình ảnh đặc trưng của sinh hoạt đời thường ở Việt Bắc. Với nhiều người, nó có thể nhỏ nhật, không đáng nhớ. Với một nhà thơ ân tình như Tố Hữu, đó lại là hình ảnh khắc ghi trong tâm khảm. Bức tranh thứ ba: Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Câu thơ mở đầu bằng âm thanh (ve kêu), nhưng cũng là cách định vị bằng thời gian (mùa hè). Dòng thơ vừa có âm thanh rộn ràng, vừa có màu sắc đặc trưng của rừng Việt Bắc. Âm thanh và màu sắc ấy tạo nên cảnh tưng bừng của thiên nhiên. Nếu nói thiên nhiên cũng có đời sống riêng của nó thì đây quả thực là ngày hội của cảnh vật. Vì vậy, trong “ngày hội” ây hình ảnh cô em gái hái măng một mình không lẻ loi mà góp phần tạo nên bức tranh thơ hoàn chỉnh: Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Như đã nói, hoa và người Việt Bắc trong thơ Tố Hừu hòa quyện, cùng tôn vinh lẫn nhau. Trong hoài niệm này, tác giả dùng bút lực của mình để ca ngợi, tôn vinh sự hài hòa đó. Và chính sự hài hòa đó đã tạo nên chất thơ. Vì thế, không nên suy diễn, giàu chất tượng trứng với những nét sinh hoạt, lao động của cuộc sống thực. Bức tranh thứ tư: Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. Câu thơ có kiểu mở đầu bằng sự định vị cả không gian lẫn thời gian (rừng thu). Đến đây, ta chú ý các kiểu định vị ở những câu thơ trên: Rừng xanh => không gian. Ngày xuân => thời gian Ve kêu => âm thanh (thời gian) Ứng với mỗi câu thơ và cách định vị trên là một mùa của thiên nhiên (mùa đông, mùa xuân, mùa hạ). Câu thơ này cũng là bức tranh về một mùa của thiên nhiên (mùa thu). Nhưng có lẽ vì đó là bức tranh cuối của bộ tứ bình và là tiếng hát cuối của một trường đoạn hoài niệm nên hình ảnh tất thảy đều trở nên tượng trưng, âm hưởng cũng bao quát hơn: Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung Không gian mênh mông chẳng khác gì cảnh thu huyền ảo của thơ mới: Nai cao gót lẫn trong mù Xuống rừng nẻo thuộc nghìn thu mới về. (Huy Cận) Trời thu nhuộm ánh tà dương Gió thu trong quãng canh trường nỉ non. Trăng thu soi bóng cô thôn, Hỏi người lữ thứ mộng hồn về đâu? (Hằng Phương) Rừng thu Việt Bắc trong thơ Tố Hữu mênh mông nhưng không lạnh lẽo. “Trăng rọi hòa bình” vừa mang ý nghĩa ánh trăng của cuộc đời ân tình ấy, lại vừa mang ý nghĩa cuộc sống có sự soi rọi ấm áp của niềm tin, tự do. Và, trong cuộc sống ấm áp ấy, có biết bao nhiêu nghĩa tình sâu nặng. Thơ Tố Hữu là khúc hát của tự do, của ân tình cách mạng. Bản thân cuộc đời ân tình ấy, đối với nhà thơ, luôn là bài ca sâu nặng. Vì thế, nhà thơ không chỉ cảm, nghĩ về cuộc dời mà cất tiếng ca ngợi. Tiếng hát ân tình thuỷ chung trong bài thơ Việt Bắc là tiếng hát như thế. Bộ tứ bình bằng thơ về cảnh và người Việt Bắc được dệt dưới ánh sáng của hoài niệm da diết. Thông thường, người ta chỉ nhớ những gì mang ấn tượng nhất của quá khứ và thời gian càng lùi xa thì ấn tượng ấy càng trở nên tươi dẹp, huyền ảo hơn. Hàng loạt điệp từ nhớ (5 từ) trong một thơ như là sư nối dài của lòng hoài niệm không dứt. Việt Bắc là bài thơ hay của Tố Hữu. Ở đó, nhà thơ thể hiện sự tài hoa của mình trên nhiều phương diện của nghệ thuật sáng tạo thi ca. Sự tài hoa ấy được dẫn dắt của một điệu tâm hồn đầy tình nghĩa của nhà thơ. Đoạn thơ trên là một trong những đoạn thơ hay nhất của bài thơ Việt Bắc bởi kết tinh một nghệ thuật thơ ca vừa giàu tính dân tộc, vừa mang tính hiện đại trong một điệu tâm hồn say đắm. Xem thêm: Nội dung và nghệ thuật truyện Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy
Bình giảng bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
1,761
Đề bài: Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt nam, Hoài Thanh đã thấy "Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt". Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tựa đề Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự hoạ của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình. Thực ra, cái điệu sống vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là kết cục không thể tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao kì diệu. Mà sống là phải tận hưởng và tận hiến! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp. Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy. Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất "ngại" cặp kè với chính luận. Thế nhưng, nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên thuộc loại thơ cảm xúc. Nhưng đọc kĩ sẽ thấy thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mây trôi nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cấu tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột có lúc đã thực sự là một cơn lũ cảm xúc, cuốn theo bao nhiêu hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh hoạ cho triết học. Mà đó chính là cảm niệm triết học của một hồn thơ. Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài, nhưng tự nó đã hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ "Ta muốn ôm". Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ trực tiếp cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều dễ thấy là thi sĩ có dụng ý chọn cách xưng hô cho từng phần. Trên, xưng "tôi" – lập thuyết, đối thoại với đồng loại. Dưới, xưng "ta" – đối diện với sự sống. Trình tự luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ ào ạt, sôi nổi như thác cuốn đã xoá mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm. Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ. ấy là ước muốn quay ngược qui luật tự nhiên – một ước muốn không thể: Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi Muốn "tắt nắng", muốn "buộc gió" thật là những ham muốn kì dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng được qui luật, làm sao có thể vĩnh viễn hoá được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ với cái thế giới thắm sắc đượm hương này. Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường đầy sắc hương đó hiện diện trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đang lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khiêu gợi. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên. Hãy xem cách diễn tả vồ vập về một thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân tình: Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Có lẽ trước Xuân Diệu, trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn tơ non đầy một sức sống thanh tân kia sao mà quyến rũ – tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một một người tình rạo rực, trinh nguyên. Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái lôgic luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn "tắt nắng", muốn buộc gió chính vì muốn giữ mãi hương sắc cho một trần thế như thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của nó, là vẻ đẹp, là cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì trong sự sống và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, "ngon" nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái "ngon" kia khi còn trẻ thôi. Trong khi đó, cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm này: Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Con người thời trung đại lấy sinh mệnh vũ trụ để đo đếm thời gian. Nên hình như họ yên trí với quan niệm thời – gian – tuần – hoàn, với cái chu kì bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu nghìn ngày của kiếp người. Hết một vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu. Con người hiện đại lấy sinh mệnh cá thể làm thước đo thời gian. Nên họ sống với quan niệm thời – gian – tuyến – tính. Thời gian như một dòng chảy vô thuỷ vô chung mà mỗi một khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại! Không chỉ dùng sinh mệnh cá thể, Xuân Diệu còn đo đếm thời gian bằng cái quãng ngắn ngủi nhất của sinh mệnh cá thể: tuổi trẻ. Tuổi trẻ đã một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn. Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người quá ư ngắn ngủi hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ: Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời Xem thêm: Phân tích bài ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa…Không chỉ quan niệm, mà ngay cả cảm giác cũng hết sức mới lạ. Xuân Diệu đã đem đến một cảm nhận đầy tính "lạ hoá" về thời gian và không gian: Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt… Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép "tương giao" (Correspondance) của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới, trước hết là thời gian và không gian. Có những câu thơ mà cảm giác được liên tục chuyển qua các kênh khác nhau. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: "Mùi tháng năm" – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương – chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn "buộc gió lại" ư – hương bay đi là thời gian trôi mất, là phai lạt phôi pha! Một chữ "rớm" cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ "vị" liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một thứ vị hoàn toàn phi vật chất: "vị chia phôi"! Thì ra chữ "rớm" và chữ "vị" đều từ một hình ảnh ẩn hiện trong cả câu thơ là giọt lệ chia phôi đó. Giọt lệ thường long lanh trên khoé mắt người trong giờ phút chia phôi. Giọt lệ thành hiện thân, biểu tượng của chia phôi. Vì sao thời gian lại mang hương vị – hình thể của chia phôi? ấy là những cảm giác chân thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo kịch bản của phép "tương giao"? Thực ra cái tinh tế của Xuân Diệu là ở chỗ này đây. Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều đang có một cuộc ra đi như thế, thời gian đang chia tay với con người, chia tay với không gian và với cả chính thời gian. Tựa như một phần đời của mỗi cá thể đang vĩnh viễn ra đi. Từng phần đời đang chia lìa với cá thể. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than triền miên bất tận: "than thầm tiễn biệt". Không gian đang tiễn biệt thời gian! Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kì này bước vào độ tàn phai. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi! Và, một điều rất đáng nói đã bộc lộ đây đó trong thi phẩm này là: do dùng tuổi trẻ để đo đếm thời gian, nên ở Xuân Diệu đã xuất hiện một ý niệm thời gian khá đặc biệt, đó là thì sắc. Thời gian được nhìn ở phía nhan sắc, gắn với nhan sắc của sự vật. Vì thế mà với hồn thơ này, thời gian, về thực chất không có ba thì phân lập rành rẽ với quá khứ – hiện tại – tương lai, mà chỉ có hai thì luôn tranh chấp và chuyển hoá thôi đó là thời tươi và thời phai. Nó không phải là hai mùa. Không phải Xuân Diệu lược qui bốn mùa vào hai mùa. Mà là hai thì của mỗi một tạo vật thiên nhiên. Thời tươi: vạn vật thắm sắc, thời phai: vạn vật phôi pha, phai lạt. Vật nào trong trần thế này cũng trải qua hai thì ấy. Tất cả những ý niệm thời gian khác như năm tháng, mùa vụ, phút giây… dường như đều tan trong cái ý niệm thì sắc tổng quát đó. Mà ta thấy ở đây, nó hiện diện trong sự đối lập của "độ phai tàn" (thời phai) và "thời tươi": – Chim rộn ràng chợt dứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa. – Cho no nê thanh sắc của thời tươi. Có thể nói ý niệm thì sắc này đã chi phối toàn bộ nhỡn quan Xuân Diệu đối với việc cảm nhận vẻ đẹp của thế giới trong sự trôi chảy vô thuỷ vô chung của nó. Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, không thể cầm giữ được thời gian, thì chỉ có một cách thực tế nhất, khả thi nhất là chạy đua với thời gian, là tranh thủ sống: Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao gì nữa… Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm Đến đây, phần luận giải cuả tuyên ngôn Vội vàng đã đủ đầy luận lí! Phần cuối của bài thơ là lúc tuyên ngôn được hiện ra thành hành động, ấy là Vội vàng trong hình thái sống của cái tôi cá nhân cá thể này. Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những ham muốn mỗi lúc mỗi cuồng nhiệt, vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát sống trào cuốn của mình: Ta muốn ôm: Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi; – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi, bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làn sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa, song song, thành những đợt sóng vỗ mãi vào vào tâm hồn người đọc. Câu thơ Ta muốn ôm chỉ có ba chữ, lại được đặt ở vị trí đặc biệt: chính giữa hàng thơ, là hoàn toàn có dụng ý. Xuân Diệu muốn tạo ra hình ảnh một cái tôi đầy ham hố, đang đứng giữa trần gian, dang rộng vòng tay, nới rộng tầm tay để ôm cho hết, cho khắp, gom cho nhiều nữa, nhiều nữa, mọi cảnh sắc mơn mởn trinh nguyên của trần thế này vào lòng ham muốn vô biên của nó. Cái điệp ngữ:"Ta muốn" được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm – riết – say – thâu – cắn. Có thể nói, câu thơ "Và non nước, và cây, và cỏ rạng" là không thể có đối với thi pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với người xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ "và" đến thế? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ "và" hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc ham hố, tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lồng ngực yêu đời của thi s! Câu thơ: Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ "cho" điệp lại với nhịp độ tăng tiến, nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thoả thuê: chếnh choáng – đã đầy – no nê. Sóng cứ càng lúc càng tràn dâng, cao hơn, vỗ mạnh hơn, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh: – Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhuỵ đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình lang trong một cuộc tình chếnh choáng men say. Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc, phải sống vội vàng. Thế là, Vội vàng chính là cách duy nhất để đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc và dường như cũng là cái giá trả cho hạnh phúc vậy! Xuân Diệu quả đã mang trong mình nguồn sống trẻ. Xuân Diệu là thi sĩ của nguồn sống trẻ. Ta hiểu vì sao, khi Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ! Nguồn Edufly Xem thêm: Kể lại truyện “Đất” của Anh Đức
Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
2,890
Bình giảng bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy Gợi ý Trong cuộc đời con người, có lẽ tuổi thơ là quãng thời gian trong sáng nhất, đẹp nhất. Có những tuổi thơ êm đềm, cũng có những tuổi thơ dữ dội nhưng dù thế nào, khi không thể trở lại, mỗi chúng ta vẫn có những phút giây hoài niệm đầy tiếc nuối. Xuân Quỳnh thương ổ trứng gà của bà, Tế Hanh nhớ con sông quê hương, Bằng Việt trở lại bếp lửa yêu thương… và Nguyễn Duy mải miết tìm về một Đò Lèn thuở nghe cổ tích. Cùng với Tre Việt Nam, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xita, Ánh trăng… Đò Lèn là bài thơ được nhiều bạn đọc yêu thích bởi những xúc cảm yêu thương chân thành mà người viết đã phổ một cách tự nhiên trong đó. Bài thơ gồm sáu khổ. Hai khổ thơ đầu là những kí ức về tuổi thơ với những trò chơi ngày nhỏ. Hai khổ tiếp theo là nhận thức và cảm xúc của nhân vật trữ tình về những hi sinh thầm lặng của bà ngoại. Khổ thơ thứ năm là kí ức về một những ngày bom Mỹ đánh phá tan hoang nhà cửa, chùa chiền. Và khổ cuối cùng là tâm trạng bùi ngùi của nhân vật tôi khi bà ngoại không còn nữa. Xuyên suốt tác phẩm là tình yêu sâu nặng người cháu dành cho bà ngoại. Bài thơ bắt đầu bằng dòng hoài niệm, bằng những hồi ức về thuở xa xăm: Thuở nhỏ tôi ra Cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi khi ăn trộm nhăn chùa Trần Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khỏi trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng Hai chữ thuở nhỏ mở đầu văn bản, được láy lại lần nữa ở khổ thứ hai không chỉ là dấu mốc thời gian mà như còn đong đầy nỗi ngậm ngùi. Chủ thể điểm nhìn trong bài thơ là nhân vật tôi – nhưng không phải là tôi của thuở nhỏ mà là tối khi đã lớn khôn, trưởng thành. Đó là lí do những kỉ niệm ùa về rất nhiều nhưng tất cả chỉ được gọi tên vội vã: câu cá, níu váy bà đi chợ, bắt chim sẻ, ăn trộm nhãn, chơi đền Cây Thị, xem lề Đền Sòng. Những trò chơi của cậu bé nông thôn được liệt kê với mức độ dày đặc. Ngần ấy trò cho phép chúng ta hình dung về một chú nhóc tinh nghịch, hiếu động. Điều đáng nói là kỉ niệm của cậu không gắn với lũ bạn cùng tuổi mà luôn quấn quýt với bà ngoại. Bà ngoại tôi chỉ xuất hiện duy nhất trong hành động đến chợ Bình Lâm nhưng tưởng như bước chân bà luôn theo đỡ bao kỉ niệm của đứa cháu ngoại, Trẻ con – nhất là những bé trai – vẫn thích tha thẩn nơi vườn cây, ao cá nhưng điểm đến của nhân vật tôi lại là những đền chùa, chợ búa – nơi các bà cụ thường lui tới. Nguyễn Duy nhắc đến năm địa danh thì trong số đó có đến ba tên chùa, đền. Chùa Trần, đền Sòng, đền Cây Thị bà đến cũng chính là những nơi cậu bé theo đi, tất nhiên không phải để thành tâm lễ Phật như bà mà để khám phá bao điều kì thú ở đó. Có thể ngày bé, nhân vật tôi chỉ mải miết với những trò nghịch ngợm của mình, thậm chí sẽ bị bà ngoại quở trách vì các hành động bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật, ăn trộm nhãn chùa Trần. Nhung rồi tất cả những gì trầm tích trong kí ức lại là mùi huệ trắng quyện khói trầm và điệu hát văn cùng bóng dáng cô đồng trong chùa. Giờ thi ta hiểu tại sao tác giả không dùng lại miêu tả cụ thể một trò chơi nào. Mùi hương thanh khiết, trầm tịch chốn thâm nghiêm và điệu hát cô đồng khó hiểu là tất cả những gì choán đầy nỗi nhớ nhân vật trữ tình. Điều phảng phất, thậm chí không cố tình được trẻ thơ lưu lại trong trí nhớ lại có sức bám đọng mãnh liệt nhất khi kí ức dội về. Căn nguyên là đâu? Có phải vì thấp thoáng trong khói hương thơm ngát và điệu hát văn thuở xưa là bóng dáng bà ngoại yêu dấu của nhân vật tôi? Sang khổ thơ tiếp theo tứ thơ có sự biến đổi đột ngột. Không còn là các trò tinh nghịch thuở thiếu thời nữa mà là nỗi yêu thương không thể nén kìm: Xem thêm: Cảm nghĩ của em khi bước vào trường trung học phổ thông Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh che xanh ba Trại Quán Chảo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn Dòng hoài niệm không dừng lại ở những trò chơi thuở nhỏ mà được tiếp nối bằng hình ảnh bà ngoại lam lũ, tảo tần. Tôi đâu biết – không hẳn là lời sám hối nhưng đó là lời tự trách đầy tiếc nuối, xót xa của người cháu khi trưởng thành. Tất cả những gì khuất lấp trong tuổi thơ giờ đã được nhận thức sáng tỏ. vẫn là thao tác liệt kê nhưng không phải là trò chơi thuở nhỏ mà là bao vất vả, cơ cực của bà. Thực ra, mò cua, xúc tép, gánh che… là những việc quen thuộc của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Nếu ai đã đọc những câu thơ của Trần Đăng Khoa, chắc sẽ thương lắm dáng bà, dáng mẹ giữa trưa tháng sáu: Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy Nếu ai đã đọc Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, sẽ thấy có sự đồng điệu giữa Hoàng Cầm và Nguyễn Duy trong hình ảnh thơ: Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong Dăm miếng cau khô Mấy lọ phẩm hồng Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm Những cơ cực đó lẽ ra không nên có ở những người bà đã đi qua bao nhọc nhằn trong cuộc sống, không nên có ở lứa tuổi lẽ ra phải được thảnh thơi, vui vầy bên con cháu. Một lần nữa Nguyễn Duy cho các địa danh xuất hiện, nhưng đó không còn là những đền chùa linh thiêng. Ba Trại, Đồng Quan, Quán Cháo, Đồng Giao là nơi in dấu chân bà ngoại tảo tần sớm hôm. Không gian nối tiếp không gian, mở rộng, kéo dài hành trình lam lũ của bà đồng thời khơi sâu thêm nỗi xa xót trong lòng cháu. Từ láy thập thững dựng lên trước mắt người đọc dáng đi không vững chãi, thậm chí siêu vẹo của người mắt kém đang phải mang gánh nặng trên vai. Cụm từ những đêm hàn vừa chỉ thời gian, vừa có giá trị mô tả không gian. Đêm là thời khắc muộn hơn tối. Cũng để chỉ cái lạnh nhưng Nguyễn Duy không viết đêm lạnh, đêm rét mà viết đêm hàn. Kết hợp từ khéo léo này mang lại hiệu quả nghệ thuật bất ngờ. Trong cái lạnh của đêm tối. ta còn cảm nhận được cả cái buốt giá của sương đêm. Những cơ cực của bóng dáng lầm lụi không được miêu tả chi tiết nhưng vẫn được gợi nên trong suy tưởng người đọc. Đó chẳng phải là những hi sinh âm thầm sao? Xem thêm: Phân tích nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân – văn 12 Nhân vật trữ tình dường như không dám tin vào những điều mình nhận ra, không dám tin vào những điều thuở bé thơ mình không cảm nhận được. Cảm thức về bà ngoại cùng bao kí ức sâu đậm về những vị Phật tiên đã khiến nhà thơ phân vân: Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư – thực Giữa bà tôi và tiên phật thánh thần Cái năm đói củ dong riềng luộc sượng Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm Có lẽ đây là khổ thơ hay nhất trong bài. Hay bởi cách nói và xúc động bởi chiều sâu tình cảm. Trong suốt là tính từ chỉ tính chất sự vật, hiện tượng được Nguyễn Duy đưa vào lời thơ, đảm nhiệm chức năng của động từ tình thái. Thật khó để gọi tên chính xác cảm xúc của nhân vật trữ tình. Chỉ có thể khẳng định một điều, trạng thái này gần gũi với phút đốn ngộ của các bậc tu hành nhà Phật. Hình ảnh bà được đặt trong thế đối sánh ngang hàng với tiên phật, thánh thần thể hiện lòng ngưỡng mộ, tôn sùng của nhân vật tôi. Phải thực sự thấm thía, trân trọng công ơn của bà, nhân vật trữ tình mới có được tình cảm sâu sắc, mãnh liệt đến vậy. Tình cảm đó được đặt trong thế đối lập giữa hai không gian: không gian trần tục và không gian tịnh độ. Cảm giác đói bị át đi bởi hương huệ trắng và hương trầm thanh khiết. Lần thứ hai hương thơm đó xuất hiện trong bài thơ. Nhưng lần này nó không được cảm nhận bằng khứu giác mà bằng thính giác. Cái tinh tế của ý thơ chính là ở chỗ này đây. Nếu chỉ là cứ thoang thoảng hay cứ ngửi thì hương huệ trắng và hương trầm chỉ là thứ hương của hiện tại. Đấy là chưa kể việc sử dụng từ ngữ sẽ làm mất đi ý vị tao nhã của hình ảnh thơ, của lời thơ. Phải là nghe thì mới thấy quá khứ vọng về, thì mới thấy sức ám ảnh của hương thơm quá khứ. Cảm thức về bà luôn gắn với sự thanh nhã, nhân hậu, đức độ. Bà như thần tiên, bà như cổ tích và bà luôn bất tử trong tâm thức cháu. Xem thêm: Phân tích bài ca dao Khăn thuơng nhớ ai Khổ thơ thứ tư là bản lề khép lại những kí ức thuở nhỏ và đến gần hơn với mất mát thực tế được gợi tả trong khổ thứ năm: Bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn Chiến tranh với những đau thương mất mát đã đi vào thơ ca và trở thành chủ đề xuyên suốt một thời đại. Mỗi người bước vào chiến tranh và đi ra với những mất mát riêng. Với Nguyễn Duy, đau thương nhất là sự tan hoang, đổ nát của những chùa chiền và ngôi nhà bà ngoại. Nhà thơ đã lựa cách nói để kìm giữ những tổn thương tinh thần. Không khắc hoạ kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang như Hoàng cầm, Nguyễn Duy chỉ nhẹ nhàng kể: nhà bà tôi bay mất, đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền. Bay thực chất là tan, là đổ nát. Nhung bay cũng là gắn với cảm thức Tiên, Phật. Nơi bình yên không còn yên bình nữa. Cái khốc liệt của chiến tranh in dấu ấn cả vào trong đời sống của thần tiên, huống gì con người? Điểm kết của những kí ức là hình ảnh người bà đi bán trứng ở ga Lèn mặc cho bom Mĩ dội, mặc cho Thánh với Phật đã phải rủ nhau đi. Bà vẫn nguyên vẹn sự tảo tần để mưu sinh hay sẽ là bắt đầu cho một bất trắc không lường trước được, một mất mát khôn cùng? Ga Lèn là điểm kết của câu thơ nhưng lại được chọn làm nhan đề cho bài thơ, điều đó chứng tỏ địa danh này gắn với sự kiện quan trọng. Phải chăng, chính tại nơi đây, những ngày được gắn bó cùng người bà kính yêu của nhà thơ – nhân vật trữ tình cũng hết? Thời gian trôi bẵng đi, khi đã trưởng thành, đã nhận ra những hi sinh lớn lao của bà, đã ý thức được tình cảm, trách nhiệm của mình, cũng là lúc nhân vật trữ tình mất bà mãi mãi. Hai câu cuối không đặc sắc về tứ thơ nhưng gây xúc động trong lòng người đọc. Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi – lời thơ nghe đầy xót xa, nuối tiếc. Đò Lèn là bài thơ không mới về chủ đề nhưng vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ cách diễn tả độc đáo, nhờ sự phô bày những yêu thương chân thành của người viết. Tình yêu thương bà luôn gắn với cảm thức chùa chiền, Tiên, Phật nên mang màu sắc thanh khiết, sáng trong. Hàng loạt những địa danh của quê hương được gọi tên càng tô đậm sự chân thực trong cảm xúc. Đó là những nét riêng, độc đáo để đọc Đò Lèn, chúng ta không nhầm với Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, Bếp lửa của Bằng Việt… Vanmau.edu.vn
Bình giảng bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy
2,215
Bình giảng bài thơ Đò Lèn của tác giả Nguyễn Duy Gợi ý Trong cuộc đời con người, có lẽ tuổi thơ là quãng thời gian trong sáng nhất, đẹp nhất. Có những tuổi thơ êm đềm, cũng có những tuổi thơ dữ dội nhưng dù thế nào, khi không thể trở lại, mỗi chúng ta vẫn có những phút giây hoài niệm đầy tiếc nuối. Xuân Quỳnh thương ổ trứng gà của bà, Tế Hanh nhớ con sông quê hương, Bằng Việt trở lại bếp lửa yêu thương… và Nguyễn Duy mải miết tìm về một Đò Lèn thuở nghe cố tích. Cùng với Tre Việt Nam, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, ánh trăng… Đò Lèn là bài thơ được nhiều bạn đọc yêu thích bởi những xúc cảm yêu thương chân thánh mà người viết đã phổ một cách tự nhiên trong đó. Bài thơ gồm sáu khổ. Hai khổ thơ đầu là những kí ức về tuổi thơ với những trò chơi ngày nhỏ. Hai khổ tiếp theo là nhận thức và cảm xúc của nhân vật trữ tình về những hi sinh thầm lặng cúa bà ngoại. Khố’ thơ thứ năm là kí ức về những ngày bom Mỹ đánh phá tan hoang nhà cửa, chùa chiền. Và khổ cuối cùng là tâm trạng bùi ngùi của nhân vật tôi khi bà ngoại không còn nữa. Xuyên suốt tác phẩm là tình yêu sâu nặng người cháu dành cho bà ngoại. Bài thơ bắt đầu bằng dòng hoài niệm, bằng những hồi ức về thuở xa xăm: Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ờ vành tai tượng Phật và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng Hai chữ “thuở nhỏ” mở đầu văn bản, được láy lại lần nữa ở khổ thứ hai không chỉ là dấu mốc thời gian mà như còn đong đầy nỗi ngậm ngùi. Chủ thể điểm nhìn trong bài thơ là nhân vật tôi nhưng không phải là tôi của thuở nhỏ mà là tôi khi đã lớn khôn, trưởng thành. Đó là lí do những kỉ niệm ùa về rất nhiều nhưng tất cả chỉ được gọi tên vội vã: “câu cá”, “níu váy bà đi chợ”, “bắt chim sẻ”, “ăn trộm nhãn”, “chơi đền Cây Thị”, “xem lễ đền Sòng”. Những trò chơi của cậu bé nông thôn được liệt kê với mức độ dày đặc. Ngần nấy trò cho phép chúng ta hình dung về một chú nhóc tinh nghịch, hiếu động. Điều đáng nói là kỉ niệm của cậu không gắn với lũ bạn cùng tuổi mà luôn quấn quýt với bà ngoại. Bà ngoại tôi chỉ xuất hiện duy nhất trong hành động đến chợ Bình Lâm nhưng tưởng như bước chân bà luôn theo sát bao kỉ niệm của thằng cháu ngoại. Trẻ con- nhất là những bé trai- vẫn thích tha thẩn nơi vườn cây, ao cá nhưng điểm đến của nhân vật tôi lại là những đền chùa, chợ búa- nơi các bà cụ thường lui tới. Nguyễn Duy nhắc đến năm địa danh thì trong số đó có đến ba tên chùa, đền. Chùa Trần, đền Sòng, đền Cây Thị bà đến cũng chính là những nơi cậu bé theo đi, tất nhiên không phải để thành tâm lễ Phật như bà mà để khám phá bao điều kì thú ở đó. Có thể ngày bé, nhân vật tôi chỉ mải miết với những trò nghịch ngợm của mình, thậm chí sẽ bị bà ngoại quở trách vì các hành động “bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật”, “ăn trộm nhãn chùa Trần”. Nhưng rồi tất cả những gì trầm tích trong kí ức lại là “mùi huệ trắng quyện khói trầm” và “điệu hát vãn” cùng bóng dáng cô đồng trong chùa. Giờ thì ta hiểu tại sao tác giả không dừng lại miêu tả cụ thế’ một trò chơi nào. Mùi hương thanh khiết, trầm tịch chốn thâm nghiêm và điệu hát cô đồng khó hiểu là tất cả những gì choán đầy nỗi nhớ nhân vật trữ tình. Điều phảng phất, thậm chí không cố tình được trẻ thơ lưu lại trong trí nhớ lại có sức bám đọng mãnh liệt nhất khi kí ức dội về. Căn nguyên là đâu? Có phải và thấp thoáng trong khói hương thơm ngát và điệu hát văn thuở xưa là bóng dáng bà ngoại yêu dấu của nhân vật tôi? Sang khổ thơ tiếp theo tứ thơ có sự biến đổi đột ngột. Không còn là các trò tinh nghịch thuở thiếu thời nữa mà là nỗi yêu thương không thể nén kìm:Xem thêm: Phong cách văn xuôi của Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng rất khác nhau, nhưng họ đều là những nhà văn nhân đạo chủ nghĩaTôi đâu biết bà tôi cơ cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn Dòng hoài niệm không dừng lại ở những trò chơi thuở nhỏ mà được tiếp nối bằng hình ảnh bà ngoại lam lũ, tảo tần. “Tôi đâu biết” không hẳn là lời sám hối nhưng đó là lời tự trách đầy tiếc nuối, xót xa của người cháu khi trường thành. Tất cả những gì khuất lấp trong tuổi thơ giờ đã được nhận thức sáng tỏ. vẫn là thao tác liệt kê nhưng không phải là trò chơi thuở nhỏ.mà là bao vât vả, “cơ cực” của bà. Thực ra, mò cua, xúc tép, gánh chè… là những việc quen thuộc của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Nếu ai đã đọc những câu thơ của Trần Đăng Khoa, chắc sẽ thương lắm dáng bà, dáng mẹ giữa trưa tháng sáu: “Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy” Nếu ai đã đọc Bên kia sông Đuống của Hoàng cầm, sẽ thấy có sự đồng điệu giữa Hoàng cầm và Nguyễn Duy trong hình ảnh thơ: “Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong Dăm miếng cau khô Mấy lọ phẩm hồng Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm” Những “cơ cực” đó lẽ ra không nên có ở những người bà đã đi qua bao nhọc nhăn trong cuộc sống, không nên có ở lứa tuổi lẽ ra phải được thảnh thơi, vui vầy bên con cháu. Một lần nữa Nguyễn Duy cho các địa danh xuất hiện, nhưng đó không còn là những đền chùa linh thiêng. Ba Trại, Đồng Quan, Quán Cháo, Đồng Giao là nơi in dấu chân bà ngoại tảo tần sớm hôm. Không gian nốì tiếp không gian, mở rộng, kéo dài hành trình lam lũ của bà đồng thời khơi sâu thêm nỗi xa xót trong lòng cháu. Từ láy “thập thững” dựng lên trước mắt người đọc dáng đi không không-vững chãi, thậm chí xiêu vẹo của người mắt kém đang phải maiig gánh nặng trên vai. Cụm từ“những đêm hàn” vừa chỉ thời gian, vừa có giá trị mô tả không gian. Đêm là thời khắc muộn hơn tối. Cũng để chỉ cái lạnh nhưng Nguyễn Duy không viết “đêm lạnh”, “đêm rét” mà viết “đêm hàn”. Kết hợp từ khéo léo này mang lại hiệu quả nghệ thuật bất ngờ. Trong cái lạnh của đêm tối, ta còn cảm nhận được cả cái buốt giá của sương đêm, Những cơ cực của bóng dáng rầm lụi không được miêu tả chi tiết nhưng vẫn được gợi nên trong suy tưởng người đọc. Đó chẳng phải là những hi sinh âm thầm sao?Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về hình tượng “sống” và khát vọng tình yêu trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Nhân vật trữ tình dường như không dám tin vào những điều mình nhận ra, không dám tin vào những điều thuở bé thơ mình không cảm nhận được. Cảm thức về bà ngoại cùng bao kí ức sâu đậm về những vị Phật tiên đã khiến nhà thơ phân vân: Tôi trong suốt giữa hai ‘bờ hư thực giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng củ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm Có lẽ đây là khổ thơ hay nhát trong bài. Hay bởi cách nồi và xúc động bởi chiều sâu tình cảm. “Trong suốt” là tính từ chỉ tính chất sự vật, hiện tượng được Nguyễn Duy đưa vào lời thơ, đảm nhiệm chức năng của động từ tình thái. Thật khó để gọi tên chính xác cảm xúc của nhân vật trữ tình. Chỉ có thể khẳng định một điều, trạng thái này gần gũi với phút đôn ngộ của các bậc tu hành nhà Phật. Hình ảnh bà được đặt trong thế đốì sánh ngang hàng với tiên phật, thánh thần thể hiện lòng ngưỡng mộ, tôn sùng của nhân vật tôi. Phải thực sự thấm thía, trân trọng công ơn của bà, nhân vật trữ tình mới có được tình cảm sâu sắc, mãnh liệt đến vậy. Tình cảm đó được đặt trong thế đốì lập giữa hai không gian: không gian trần tục và không gian tịnh độ. Cảm giác đói bị át đi bởi hương huệ trắng và hương trầm thanh khiết. Lần thứ hai hương thơm đó xuất hiện trong bài thơ. Nhưng lần này nó không được cảm nhận bằng khứu giác mà băng thính giác. Cái tinh tế của ý thơ chính là ở chỗ này đây. Nếu chỉ là “cứ thoang thoảng” hay “cứ ngửi” thì hương huệ trắng và hương trầm chỉ là thứ hương của hiện tại. Đấy là chưa kể việc sử dụng từ “ngửi” sẽ làm mât đi ý vị tao nhã của hình ảnh thơ, của lời thơ. Phải là “nghe” thì mới thấy quá khứ vọng về, thì mới thấy sức ám ảnh của hương thơm quá khứ. Cảm thức về bà luôn gắn với sự thanh nhã, nhân hậu, đức độ. Bà như thần tiên, bà như cổ tích và bà luôn bất tử trong tâm thức cháu.Xem thêm: Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Bác Hồ muốn khuyên dạy chúng ta điều gì qua hai dòng thơ ấy? Vì sao công việc trồng cây trong mùa xuân của đất trời lại có thể góp phần làm nên mùa xuân cho đất nước? Khổ thơ thứ tư là bản lề khép lại những kí ức thuở nhỏ và đến gần hơn với mất mát thực tế được gợi tả trong khổ thứ năm: Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn Chiến tranh với những đau thương mất mát đã đi vào thơ ca và trở thành chủ đề xuyên suốt một thời đại. Mỗi người bước vào chiến tranh và đi ra vđi những mât mát riêng. Với Nguyễn Duy, đau thương nhất là sự tan hoang, đổ nát của những chùa chiền và ngôi nhà bà ngoại. Nhà thơ đã lựa cách nói để kìm giữ những tổn thương tinh thần. Không khắc hoa. “kiệt cùng. ngõ thẳm bờ hoang” như Hoàng cầm, Nguyền Duy chỉ nhẹ nhàng kể: “nhà bà tôi bay mất”, “đền Sòng bay”, “bay tuốt cả chùa chiền”. “Bay” thực chất là tan, là đổ nát đây chứ. Nhưng “bay” cũng là gắn với cảm thức tiên Phật. Nơi bình yên không còn yên bình nữa. Cái khốc liệt của chiến tranh in dấu ấn cả vào trong đời sống của thần tiên, huống gì con người? Điểm kết của những kí ức là hình ảnh người bà đi bán trứng ở ga Lèn mặc cho “bom Mỹ dội”, mặc cho “Thánh với Phật” đã phải rủ nhau đi. vẫn là sự tảo tần để mưu sinh? Hay sẽ là bắt đầu cho một bất trắc không lường trước được, một mất mát khôn cùng? Ga Lèn là điểm kết của câu thơ nhưng lại được chọn làm nhan đề cho bài thơ, điều đó chứng tỏ địa danh này gắn với sự kiện quan trọng. Phải chăng, chính tại nơi đây, những ngày được gắn bó cùng người bà kính yêu của nhà thơnhân vật trữ tình cũng hết? Thời gian trôi bẵng đi, khi đã trưởng thành, đã nhận ra những hi sinh lớn lao của bà, đã ý thức được tình cảm, trách nhiệm của mình, cũng là lúc nhân vật trữ tình mất bà mãi mãi. Hai câu cuối không đặc sắc về tứ thơ nhưng gây xúc động trong lòng người đọc. “Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!” lời thơ nghe đầy xót xa, nuối tiếc. Đò Lèn là bài thơ không mới về chủ đề nhưng vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ cách diễn tả độc đáo, nhờ sự phô bày những yêu thương chân thành cúa người viết. Tình yêu thương bà luôn gắn với cảm thức chùa chiền, tiên Phật nên mang màu sắc thanh khiết, sáng trong. Hàng loạt những địa danh của quê hương được gọi tên càng tô đậm sự chân thực trong cảm xúc. Đó là những nét riêng, độc đáo để đọc Đò Lèn, chúng ta không nhầm với Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, Bếp lửa của Bằng Việt… Vanmau.edu.vn
Bình giảng bài thơ Đò Lèn của tác giả Nguyễn Duy
2,259
Bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’ Hướng dẫn Hồi hương ngẫu thư Hạ Tri Chương (659 – 744) Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi, Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Nhi đồng tương kiến, bất tương thức, Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai? Dịch thơ. Khi đi trẻ, lúc về già, Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao. Trẻ con nhìn lạ không chào, Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi? Phạm Sĩ Vĩ dịch Trẻ đi, già trở lại nhà, Giọng quê không đổi, sương pha mái đẩu. Gặp nhau mà chẳng biết nhau, Trẻ cười, hỏi: ‘Khách từ đâu đến làng?’ Trần Trọng San dịch Gợi ý phân tích Hạ Tri Chương (659 – 744) là một trong những thi sĩ lớn đời Đường, là bạn vong niên của Thi tiên Lí Bạch. Quê ông ở Cối Kê, thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Đậu tiến sĩ năm 36 tuổi, là đại quan của triều Đường, được hoàng đế Đường Thái Tông và quần thần trọng vọng. Thơ của Hạ Tri Chương thanh đạm, nhẹ nhàng, gợi cảm, biểu lộ một trái tim hồn hậu đáng yêu. ‘Hồi hương ngẫu thư’ là bài thơ xuất sắc của ông, được nhiều người truyền tụng. Tình yêu quê hương là cảm xúc chủ đạo của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt này: Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi, Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Nhi dồng tương kiến, bất tương thức, Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai? 1. Câu thơ thứ nhất dùng thủ pháp tiểu đối nêu lên một cảnh ngộ: phải li biệt gia đình từ ấu thơ, sống nơi đất khách quê người, mãi đến lúc về già mới được trở về thăm cố hương: ‘Thiếu tiểu li gia II lão đại hồi’ (Khi đi trẻ, lúc về già) ‘Thiếu tiểu’với ‘lão đại’, ‘li gia’ với ‘hồi’ hương, đối nhau. Với Hạ Tri Chương, thời gian li biệt quê hương gia đình không chỉ 3 năm, 15 năm mà hơn nửa thế kỉ, gần suốt một đời người, sao không thương nhớ? Cảnh ngộ ấy là bi kịch của vị đại quan đời Đường trên con đường công danh? Với Hạ Tri Chương, công danh thì thành đạt, nhưng suốt cuộc đời phải ‘li gia’. Nỗi sầu ‘li gia’ là một trong những nỗi đau của đời người xưa nay. Câu thơ thứ hai, tác giả một lẩn nữa sử dụng tiểu đối tương phản rất đặc sắc, để nói lên sự gắn bó thiết tha với quê nhà: ‘Hương âm vô cải II mấn mao tồi’ (Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu) Xem thêm: Lòng khiêm tốn có thể coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ thuật xử thế và đối đãi với sự vật” (Lâm Ngữ Đường). Em hãy giải thích và chứng minh nhận xét trênSuốt một đời xa quê, khách li hương giờ đây mái tóc đã bạc phơ, tóc mai đã rụng, nhưng ‘giọng quê’ (hương âm) vẫn không đổi thay! Chi tiết ‘hương âm vô cải’ (giọng quê không đổi) là một biểu hiện cảm động về tấm lòng tha thiết gắn bó với quê hương. Dòng sữa ngọt ngào, tiếng ru, tình thương của mẹ hiền, công ơn của mẹ cha, đã thấm sâu vào tâm hồn mỗi đứa con. ‘Giọng quê’ chính là tâm hồn của mỗi con người yêu thương, gắn bó với đất mẹ quê cha. Chỉ có kẻ mất gốc, kẻ bạc tình mới thay đổi ‘giọng quê’, mới coi thường tiếng mẹ đẻ! Trong cái biến đổi ‘mấn mao tồi’ và cái không thể biến đổi ‘hương âm vô cải’, nhà thơ chân thành thổ lộ tấm lòng son sắt thủy chung, sự gắn bó thiết tha của khách li hương đối với nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tình cảm ấy rất đẹp, rất đáng tự hào đối với Hạ Tri Chương. Hơn nửa thế kỉ làm quan tại kinh đô Tràng An, đứng trên đỉnh cao danh vọng, sống trong cảnh vàng son, thế mà tình cố hương của ông vẫn vơi đầy trong trái tim, ‘giọng quê’ vẫn đậm đà như xưa. Đó là một sự kì diệu cùa tấm lòng đôn hậu đáng trân trọng ngợi ca. 2. Hai càu cuối rất hóm hỉnh ghi lại một tình huống nói về một nghịch lí trong cuộc đời. Có câu hỏi và nụ cười hồn nhiên khi gặp ‘người khách lạ’: ‘Nhi đồng tương kiến bất tương thức, Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?’ Kẻ đi xa, nay trở về làng đã trở thành khách lạ. Trẻ con gặp mà không biết. Thời gian xa quê dài dằng dặc bao năm tháng. Bạn bè tuổi thơ ngày xưa, ai còn ai mất? Vì thế mới có chuyên lạ đời: ‘Trẻ con nhìn lạ không chào, Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?’ Một câu hỏi hồn nhiên ngây thơ của nhi đồng để lại bao man mác, bâng khuâng trong lòng li khách. Vì cảnh ngộ mà phải xa quê. Tuổi già sức yếu vẫn trở lại cố hương. Tình yêu quê hương của Hạ Tri Chương mới thắm thiết biết bao! Tinh cảm ấy rất đẹp, rất chân thành: son sắt và thủy chung. Nhà thơ Tô' Hữu đã từng viết: ‘Ngày đi, tóc hãy còn xanh, „ Mai về, dù bạc tóc anh, cũng về!’ (‘Nước non ngàn dặm’) ‘Hồi hương ngẫu thừ’của Hạ Tri Chương là một bài thơ hay, cho ta nhiều xúc động. Tác giả sử dụng tiểu đối rất thành công, tạo nên những vần thơ hàm súc, nói ít mà gợi nhiều, đem đến chongười đọc bao liên tưởng về bi kịch và nỗi lòng của khách li hương. Một hồn thơ thâm trầm, nhẹ nhàng và hồn hậu. Tình yêu thương và tấm lòng son sắt thủy chung của nhà thơ đối với quê hương thấm đẫm trên từng vần thơ. ‘Thơ là tiếng lòng trang trải…’, ‘Hồi hương ngẫu thư’là tiếng lòng của Hạ Tri Chương. Tiếng lòng ấy mới hồn hậu và đằm thắm biết bao! Nguồn: thêm: Bình giảng đoạn thơ: "Tiếng thơ ai động đất trời... Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày" trong bài Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu
Bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’
1,018
Bình giảng bài thơ ‘Nguyệt’ của Trần Nhân Tông Hướng dẫn Trần Nhân Tông (1258 – 1308) Bán song đãng ảnh mãn sàng thư, Lộ trích thu dinh dạ khí hư. Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ, Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ. Trăng Bóng đèn soi nửa cửa đổ, sách đầy giường, Sương thu rơi ngoài sân, ban đêm khí trời trống không, lặng lẽ. Thức dậy, tiếng chày đập vải đã vắng ngắt, Bóng trăng vừa hé gọi trên chùm hoa mộc. Bên song, đèn rạng, sách đầy giường, Khí lạnh, đêm thu, đượm giọt sương. Thức dậy, tiếng chày đà lặng ngắt, Trên chùm hoa mộc, nguyệt lồng hương. (Bản dịch ‘Hoàng Việt thi tuyển’) ‘Nguyệt’là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Trần Nhân Tông (1258 – 1308), nhà vua anh hùng – thi sĩ của Đại Việt trong thế kỉ 13. Ta dự đoán, bài thơ có thể được viết khi đất nước ta đã ‘rửa sạch mấy lần giáp hĩnh’ bước vào một kỉ nguyên mới: ‘Giặc tan muôn thuở thanh hình’ (‘Bạch Đằng Giang phú’ – Trương Hán Siêu). Bao trùm bài thơ là một không khí, một không gian nghệ thuật êm đềm, trong sáng và thơ mộng. Bài thơ tả cảnh một đêm thu nơi cung cấm. Nhà vua không đắm chìm trong tửu sắc, không chuếnh choáng trong nhã nhạc, mà thức khuya đọc sách. Một không gian thoáng đãng: cửa sổ rộng mở, đầy ánh sáng, ánh sáng của ngọn đèn, ánh sáng của tri thức của trí tuệ. Hình ảnh ‘mãn sàng thư’ (sách đầy giường) đã thể hiện một tâm hồn, một cốt cách cần mẫn, cao nhã và hiếu học. Sử sách cho biết Trần Nhân Tông là một con người siêng năng, giản dị và thông tuệ. Một câu thơ, một con người: ‘Bán song đăng ảnh mãn sàng thư’ (Bên song đèn rạng, sách đầy giường) Xem thêm: Phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn TuânSau này Lê Thánh Tông cũng sống đẹp như thế: ‘Trống dời canh còn đọc sách,• Chiêng xế hóng chửa thôi chầu’ (Tự thuật) Câu thơ thứ hai tả cảnh đêm thu. Sương rơi. Trời đêm trong sáng mênh mỏng, êm đềm lặng lẽ. Câu thơ lấy ngoại cảnh để biểu hiện nội tâm phong phú, vô cùng thư thái. Nhà vua vừa đọc sách vừa nghe tiếng sương thu nhẹ rơi ngoài sân. Câu thơ thứhai đượm màu sắc cảm giác, xúc giác; cảnh diễn tả tinh tế nhẹ nhàng: ‘Lộ trích thu đình dạ khí hư’ (Khí lạnh đêm thu đượm giọt sương) Hai câu 3, 4 tả cảnh nhà vua từng đọc sách suốt đêm khuya nhưng dậy rất sớm. Chưa nghe tiếng gà gáy. Chưa nghe tiếng chày đập vải. Bốn bề vắng lặng, gợi lên không khí thanh bình của đất nước. Nhà thơ ngắm nhìn hoa, nhìn trăng. Hình tượng ‘trăng lồng hoa’ rất thơ mộng hữu tình: ‘Thụy khởi chàm thanh vô mịch xứ, Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ’ (Thức dậy, tiếng chày đà lặng ngắt, Trên chùm hoa mộc, nguyệt lồng hương) ‘Trong động cổ tĩnh, trong tĩnh có động’là một trong những thủ pháp nghệ thuật của Đường thi. Trong bài thơ ‘Trăng’ này, Trần Nhân Tông đã lấy tĩnh để tả động, làm nổi bật ‘trong tĩnh có động’, đó là ngoại cảnh thì bốn bề lặng ngắt (châm thanh vô mịch xứ), bóng trăng thì hé gọi trên chùm hoa mộc, nhưng trong lòng nhà thơ thì xao động, dào dạt sức sống và tinh thần lạc quan yêu đời. Vừa đắm mình vào sách (thi thư), vừa chan hòa vào hương hoa và ánh trăng. Đó là tâm hồn thanh cao, giàu trí tuệ, giàu tình yêu thiên nhiên. ‘Nguyệt’là một bài thơ trăng rất đẹp của Trần Nhân Tông. Lời thơ nhẹ nhàng, thanh khiết. Hình tượng thơ chấm phá, gợi cảm, đầy chất thơ. Nó đã thể hiện một phong cách sống rất đẹp, một hồn thơ đẹp của ông vua anh hùng. Ta cảm thấy nhà vua đang thoát dần bệ ngọc ngai vàng mà đến với trăng, với hoa, với suối rừng Yên Tử. Nguồn: thêm: Trong mỗi ngôi trường đều giương cao khẩu hiệu: “Xây dựng mái trường xanh, sạch, đẹp”. Em hiểu khẩu hiệu đó như thế nào? Hãy viết đoạn văn giải thích rõ?
Bình giảng bài thơ ‘Nguyệt’ của Trần Nhân Tông
707
Bình giảng bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ của Trương Kế Hướng dẫn Phong Kiều dạ bạc (Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều) Trương Kế Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên, Giang phong, ngư hỏa, đối sầu miên. Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Dịch thơ. Trăng tà, chiếc quạ kêu sương, Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ. Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn. …Bài thơ tả cảnh Phong Kiều một đêm sương khuya và tâm trạng thao thức của ly khách đang nằm trong thuyền. Trương Kế viết bài thơ theo thể thất 136 ngôn tứ tuyệt Đường luật: luật trác, vần bằng, có 3 vần thơ (thiên – miên – thuyền); gồm 11 chữ (thanh trắc) và 17 chữ (thanh bằng) gợi lên âm điệu mênh mang, lan tỏa… Bản dịch thành thơ lục bát, có 9 chữ (thanh trắc) và 19 chữ (thanh bằng), nhạc điệu trầm buồn, man mác; là một trong những bản dịch thơ Đường hay nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho biết bản dịch thơ lục bát này là của Tản Đà thi sĩ (?). 1. Hai câu thơ đầu tả cảnh một đêm khuya trên bến Phong Kiều. Năm chi tiết nghệ thuật, tả ít mà gợi nhiều: trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời, cây phong bên sông, ánh lửa chài. Cảnh vật được liệt kê, nối tiếp xuất hiện, đồng hiện. Một li khách đang mơ ngủ trong con thuyền trên bến sông. Cảnh vừa có màu sắc vừa có âm thanh. Màu vàng của vầng trăng xế, vầng trăng tà. Màu trắng bao la của sương đêm phủ đầy trời. Màu lửa chài le lói trong các khoang thuyền. Lùm cây phong đen sẫm ẩn hiện bên bờ sông. Và có tiếng quạ; quạ giật mình thấy sương trắng phủ đầy trời, ngỡ là trời đã sáng, cất tiếng kêu… Một cảnh buồn trên bến Phong Kiều. Và đó cũng là tâm trạng buồn của li khách đang nằm mơ ngủ trong thuyền. Ba chữ ‘đối sầu miên’ cho thấy không gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện. Cảnh buồn, tình buồn; nhịp thơ buồn là vậy. Hãy khẽ đọc lên, ngâm lên: ‘Nguyệt lạc/ ổ để/ sương mãn thiên, Giang phong/ ngư hỏa/ đối sầu miên’ (Trăng tà/ chiếc quạ kêu sương, Lửa chài/ cây bến/ sầu vương giấc hồ) Thơ chỉ gợi, tạo nên nhiều liên tưởng. Thủ pháp lấy động để tả tĩnh, lấy sáng để tả tối; tiếng quạ kêu sương nghe rõ trong đêm thanh vắng, ánh lửa chài le lói, màn sương trắng bao la đầy trời đã cho thấy bến Phong Kiều mịt mờ, mịt mùng khi trăng xế. Qua đó, ta thấy bút pháp nghệ thuật của Trương Kế rất tinh tế, biểu cảm. Xem thêm: Cảm nhận của em về bài ‘Đức tính giản dị của Bác Hồ” của Phạm Văn Đồng2. Thời gian trôi đi lặng lẽ. Đêm đã về khuya. Khách nằm trong thuyền vẫn mơ màng… Bốn bề Phong Kiều im lìm, vắng vẻ. Bỗng một tiếng chuông, một âm thanh trong vắt từ chùa Hàn Sơn ở ngoại thành Cô Tô vọng tới, lay động hồn li khách…: ‘Cô Tô thành ngoại/ Hàn Sơn tự, Dạ bán/ chung thanh/ đáo khách thuyền’ (Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn) Chùa Hàn Sơn toạ lạc trên lưng chừng núi. ‘Sư cụ nằm chung với khối mây’ như nhà sư chùa Đọi mà Nguyễn Khuyến đã nhắc tới? Sư cụ thỉnh chuông hay chú tiểu đánh chuông sang canh? Chùa Hàn Sơn cách bến Phong Kiều bao xa? Tiếng chuông ngân vang từ chùa xa vọng tới, li khách nghe rất rõ. Khách chợt tỉnh hồn mai. Nghệ thuật lấy động để tả tĩnh của thi pháp cổ, một lần nữa được Trương Kế sử dụng rất đặc sắc. Tiếng chuông chùa Hàn Sơn đã làm rõ thêm cảnh vắng lặng, êm đềm bến Phong Kiều một đêm sương; một đêm thu? Tiếng chuông chùa vẳng lên giữa đêm khuya… còn mang một ý nghĩa thẩm mĩ rất tinh tế. Thi sĩ đã lấy tiếng chuông chùa (ngoại cảnh) để thể hiện tâm cảnh, đó là nỗi buồn nhớ cố hương của người lữ khách. Hai chữ ‘dạ bán’ (nửa đêm) là thời gian nghệ thuật, là thời điểm tiếng chuông chùa Hàn Sơn từ ngoại thành văng vẳng vọng đến con thuyền làm lay động hồn du khách đang mơ màng, đang thao thức. Hơn một nghìn năm đã trôi qua, ai đã từng đọc thơ Đường, ai đã yêu thơ Đường, nhất là những khách li hương đó đây, vẫn cảm thấy tiếng chuông chùa Hàn Sơn được Trương Kế nói đến vẫn còn làm rung động hồn mình, làm nao nao, làm thổn thức lòng mình? Bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ là một bức tranh tĩnh xinh xắn. Thi phẩm này từng phủ mờ bao lớp sương giai thoại, huyền thoại. Có tiếng quạ kêu buồn. Có tiếng chuông chùa trong canh khuya buồn thấm thía. Trăng đã xế, lửa chài le lói con thuyền, những lùm cây phong mờ tỏ ẩn hiện, màn sương trắng phủ đầy trời. Li khách buồn nhớ cố hương đang thao thức trong con thuyền! Mơ màng và vắng lặng bao trùm cảnh vật và hồn người. Thi liệu chắt lọc, hình tượng gợi cảm, mở ra bao liên tưởng đầy chất thơ. ‘Phong Kiều dạ bạc’ đẹp như một bức tranh thủy mặc của một danh họa; lối vẽ chấm phá, lấy động để tả tĩnh, lấy sáng để tả tối, lấy ngoại cảnh thể hiện tâm cảnh… Cái hồn của cảnh vật, nỗi lòng li khách thấp thoáng hiện lên qua những vần thơ thanh đạm đáng yêu. Hỡi bạn gần xa có còn nghe tiếng quạ kêu sương, tiếng chuông chùa Hàn Sơn từ nghìn xưa vọng về?… Nguồn: thêm: Cảm nghĩ về mẹ của em
Bình giảng bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ của Trương Kế
995