text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Bình giảng bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan
Hướng dẫn
Hãy khẽ ngâm và lắng nghe âm điệu réo rắt, du dương của bài thơ kiệt tác
này:
‘Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoà.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
*, Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta’
Bài thơ thất.ngôn bát cú Đường luật tả cảnh Đèo Ngang lúc chiều tàn và nỗi lòng của người lữ khách.
1. Câu thơ phá đề mở ra một không gian nghệ thuật là ‘Đèo Ngang’, một thời gian nghệ thuật là ‘bóng xế tà’, một tâm trạng nghệ thuật, đó là sự ngạc nhiên của người lữ khách lần đầu ‘bước tới’ một miền đất lạ. ‘Bóng xế tà’ là lúc ngày tàn, mặt trời đã gác núi, cảnh vật đi dần vào trạng thái yên tĩnh nghỉ ngơi. Khoảnh khắc ấy đối với li khách đứng trước con đèo xa lạ, sao mà chẳng buồn? Chữ ‘tà’ của vần thơ như một tiếng lòng ngân nga, rung động man mác buồn:
‘Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà’
Hai chữ ‘bước tới’ gợi cho người đọc đoán định thời điểm nữ sĩ viết bài thơ này 150 năm về trước, đó là khi nữ sĩ trên đường thiên lí vào Kinh đô Phú Xuân nhận chức nữ quan ‘Cung trung giáo tập’ của triều Nguyên.
Câu thơ thứ hai mở ra một thế giới, một cảnh sắc nơi con đèo ‘Đệ nhất hùng quan’ của Đại Việt. Cũng có cỏ và cây, tất cả phải ‘chen’ với đá. Cũng có lá nhưng phải ‘chen’ với hoà, hoa dại, hoa mua, hoa sim. Điệp từ ‘chen’ gợi tả cảnh hoang vu, hoang dại của thiên nhiên nơi con đèo. Hai tiếng ‘đá’ và ‘lá’ ở giữa câu thơ vần với nhau (vần lưng) phối âm với vần chân (tà – hoà) đã làm cho nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, đọc lên nghe rất thú vị:
‘Bước tới Đèo Ngang bóng xê'tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoà’
2. Từ trên con đèo, người lữ khách nhìn về chân núi, trông về dòng sông dưới chân đèo xa xa. Điểm nhìn hướng về mấy chú tiều phu đang ‘lom khom’ gánh củi dưới núi, rồi trông về mấy nhà ‘lác đác’ chợ bên sông. Từ láy ‘lom khom’ gợi tả sự vất vả của tiều phu khi gánh củi đè nặng trên vai, đang từng bước từng bước xuống dốc núi. Từ tượng hình ‘lác đác’ làm nổi bật sự thưa thớt, lèo tèo mấy lều chợ miền núi ngày xưa. Nghệ thuật đảo ngữ và phép đối làm cho không gian nghệ thuật Đèo Ngang thêm phần hoang sơ, hoang vắng. Trước cảnh vật ấy, thế giới ấy, lữ khách càng cảm thấy lẻ loi, cô đơn. Bút pháp tả cảnh ngụ tình của nữ sĩ rất tinh tế. Cảm xúc của thi nhân như thấm sâu vào dáng hình ‘lom khom’, vào đường nét ‘lác đác’ trong màu vàng nhạt, vàng thẫm của ‘bóng xế tà’:
‘Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà’
Miền đất lạ, tuy có núi và sông, có mấy nhà chợ, có vài chú tiều phu, nhưng đối với lữ khách lúc chiều tàn vẫn hoang vắng cô liêu.
Xem thêm: Hãy nói lên cảm tưởng của mình khi nhận được quà của một người thân hay bạn bè tặng3. Trời tối dần, bóng hoàng hôn bao phủ Đèo Ngang. Bút pháp nghệ thuật của thi pháp Đường thi được nữ sĩ vận dụng tài tình. Cảnh đèo trở nên hoang vắng khi tiếng chim cuốc gọi đàn, khi tiếng chim gia gia giục giã. Con cuốc cuốc kêu hoài như tiếng của ‘người xưa’ thiết tha ‘nhớ nước đau lòng’… Cái gia gia gọi bầy trong nỗi niềm ‘thương n?à mỏi miệng’. Tiếng chim rừng gọi đàn cũng chính là tâm trạng ‘nhớ nước’, ‘thương nhà’ của li khách. Nữ sĩ từ Kinh kì Thăng Long của đất ‘Đàng Ngoài’, nơi chôn nhau cắt rốn của mình lần đầu đi vào xứ ‘Đàng Trong’ sao không khỏi ‘nhớ nước’ và ‘đau lòng’? Thương loài chim rừng ‘đau lòng’ và ‘mỏi miệng’ chính là tiếng than tự thương mình, ở phần luận bài ‘Qua Đèo Ngang’ khúc nhạc rừng cũng là khúc nhạc lòng buồn thương của nữ sĩ:
‘Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia’
Một lần nữa, phép đối của luật Đường, biện pháp đảo ngữ được vận dụng một cách điêu luyện làm cho vần thơ vang lên trong nhạc điệu du dương, trong ngôn từ hài hòa cân xứng. Có thể nói đây là những vần thơ truyền cảm nhất, khi nói về một nỗi buồn đẹp: nhớ nước, thương nhà.
4.Hai câu kết cực tả nồi niềm cô đơn, lẻ loi của lữ khách khi đứng trên đỉnh Đèo Ngang lúc hoàng hôn. Chầm chậm bước, rồi ‘dừng chân đứng lại’ nhìn cao, nhìn xa, nhìn về bốn phía chỉ thấy ‘trời non nước’ bát ngát mênh mông. Giữa vũ trụ bao la ấy, nữ sĩ cảm thấy nỗi riêng của lòng mình tan ra thành ‘mảnh’. Chẳng thấy quê nhà, chẳng có người thân thương (chồng, con), chỉ có ‘ta với ta’:
‘Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta’
Ba chữ ‘ta với ta’ đã thể hiện một cách sâu sắc xúc động nỗi buồn nhớ gia đình quê hương, nỗi niềm lẻ loi, cô đơn của nữ sĩ. Tâm trạng ấy một lần nữa tác giả nói đến rất thơ trong bài ‘Chiều hôm nhớ nhà’:
‘Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn’
‘Thơ là tiếng lòng của thi nhân’,thi sĩ Tô Đông Pha đã nói như vậy. Ba chữ ‘ta với ta’ trong bài ‘Qua Đèo Ngang’ nói lên nỗi buồn cô đơn lẻ loi của khách li hương. Trong câu thơ của Nguyễn Khuyến:
‘Đầu trò tiếp khách trầu không có,
Bác đến chơi đáy ta với ta’
thì ba chữ ‘ta với ta’ thể hiện một tình bạn tri âm tri kỉ. Bác cũng là ta, ta cũng là bác, hai ta chan hòa trong một tình bạn thắm thiết thủy chung, cao đẹp. Qua đó, ta càng thấy rõ cá tính sáng tạo của hai nhà thơ Nôm lỗi lạc của dân tộc.
Trong bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ có tả thực, có ước lệ tượng trưng, có lối tả phác họa chấm phá, có lấy động nói tĩnh, lấy điểm để gợi diện, lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm cảnh, cho thấy một hồn thơ rất tài hoà. Cảm xúc và tâm hồn nữ sĩ, nỗi buồn cô đơn, nỗi nhớ quê, nhớ nhà của khách li hương như thấm sâu vào cảnh vật.
Nghệ thuật gieo vần, phép đổi và đảo ngữ, tả cảnh ngụ tình đã làm cho nhạc điệu thơ du dương, réo rắt. Ngôn từ trang nhã, điệu thơ trang trọng, khoan thai. Đó chính là ma lực tuyệt vời của áng thơ tuyệt bút này. Đó là hồn thơ của Bà Huyện Thanh Quan từng làm cho triệu triệu người ngâm nga ngưỡng mộ ‘Qua Đèo Ngang’ gần hai thế ki nay.
Nguồn: thêm: Lời tâm sự của một người mẹ: Nhưng trên tất cả, ... thành đạt. (Trái tim người mẹ). Từ câu trên, anh (chị) suy nghĩ gì về tình mẫu tử trong cuộc đời | Bình giảng bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan | 1,261 | |
Bình giảng bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng’ của Trần Nhân Tông
Hướng dẫn
… ‘Để biểu cảm, người viết biến đồ vật, cảnh vật, sự việc, con người… thành hình ảnh bộc lộ tình cảm của mình’.Hai bài thơ Thiên Trường văn vọng của vua Trần Nhân Tông, Côn Sơn ca của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi chính là hai văn bản như thế. Qua bức tranh cảnh vật và con người, hai tác giả đã bộc lộ những tình cảm thật chân thành của mình. Hai bức tranh thiên nhiên hai hồn thơ thắm thiết tình yêu quê hương, đất nước, niềm lạc quan, yêu đời, rất đáng trân trọng.
"Thiên Trường văn vọng’(Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra):
‘Thôn hậu thôn tiền đạm tư yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền’
Nhà văn Ngô Tất Tố dịch là:
‘Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không.
Mục đồng sáo vẳng trâu vê hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng’
Tương truyền: Sau khi lãnh đạo quân dân ta chiến đấu chống giặc Mông – Nguyên thắng lợi, đất nước trở lại thanh bình, nhân dịp về thăm quê hương ở Thiên Trường (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng sáng tác bài thơ này. Bài thơ được viết theo thể thơ Đường, thất ngôn tứ tuyệt, âm điệu hài hòa, nhẹ nhàng, thanh thoát.
Đây là bức tranh thôn dã vào lúc chiều tà, đang ngả dần về tối. Hai câu đầu tả cảnh làng xóm mơ màng, yên ả:
‘Trước xóm sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều man mác có dường không’
Xem thêm: Tìm hiểu bài Cảnh ngày hè của Nguyễn TrãiThôn xóm, nhà tranh mái rạ nối nhau, sum vầy phía trước, phía sau, bốn bề san sát, khói phủ nhạt nhòa, mờ tỏ, ‘bán vô bán hữu’ nửa như có, nửa như không. Khói tỏa từ đâu ra thế? Phải chăng, đó là những làn sương chiều lãng đãng hòa quyện với những vầng khói thổi cơm ngay từ những mái nhà lan tỏa thành một màn sương – khói trắng mờ, êm dịu bay nhẹ nhàng thanh thản khiến người ngắm cảnh cảm thấy chỗ tỏ, chỗ mờ, lúc có, lúc không. Cảnh thoáng, nhẹ, khiến tàm hồn con người như cũng lâng lâng. Hay chính lòng người đang lâng lâng, mơ mộng nên nhìn thấy làng xóm, khói sương êm ả, thanh bình như thế? Ngoại cảnh và tâm cảnh hòa hợp rất tự nhiên. Xuống hai câu sau, trong cảnh có chút xao động:
‘Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng’
Bức tranh thôn dã có thêm âm thanh, màu sắc và vài ba cử động. Nơi gần, có mấy ‘mục đồng’ lùa trâu về xóm, vừa đi vừa thổi sáo, tiếng sáo vi vu, văng vẳng cất lên. Nơi xa, mấy cánh cò trắng, từng đôi, từng đôi sà xuống đồng như muốn tìm mồi, hay định nghi ngơi! Người, vật, thiên nhiên, đồng ruộng, âm thanh và màu sắc,… tất cả đã hòa nhập với nhau vẽ nên bức tranh quê hương thanh bình, êm vắng mà thật có hồn. Nhà thơ chỉ chọn vài chi tiết tiêu biểu, rồi chấm phá vài nét như muốn thổi cả tâm hồn mình vào cảnh vật. Cảnhvốn đẹp, qua hồn người càng đẹp thêm. Cả một miền quê rộng lớn được thu lại trong bốn dòng thơ hàm súc và biểu cảm. Rõ ràng cảnh tượng buổi chiều ở phủ Thiên Trường là cảnh tượng vùng qué trầm lặng mà không đìu hiu vì ở dây vẫn cố sự sống con người trong mối giao
hòa với cảnh vật thiên nhiên rất đỗi nên thơ. Một ông vua mà sáng tác những vần thơ gợi hình gợi cảm như thế chứng tỏ đây là con người tuy địa vị tối cao, nhưng tâm hồn vẫn gắn bó máu thịt với quê hương thôn dã.Nói khác đi, qua bài thơ Thiên Trường văn vọng, vua Trần Nhân Tông bộc lộ một tình yêu quê hương, tình yêu nhân dân, yêu đời trong sáng. Điều đó cũng chứng tỏ, ở thời đại nhà Trần, dân tộc ta, nhân dân ta sống rất cao đẹp. Bài thơ của Trần Nhân Tông góp thêm một vầng sáng nữa vào ‘Hào khí Đông A’ của thơ văn đời Trần.
Nguồn: thêm: Nghị luận xã hội Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận | Bình giảng bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng’ của Trần Nhân Tông | 759 | |
Lập dàn ý cho đề văn: Bình giảng bài thơ ‘Thăng Long thành hoài cổ’
Hướng dẫn
I. Mở bài:
… Bà còn để lai 6 bài thơ Nôm đều viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: ‘Qua Đèo Ngang’, ‘Chiều hôm nhớ nhà’, ‘Thăng Long thành hoài cổ’, ‘Chùa Trấn Bắc’, ‘Chơi đài Khán Xuân Trấn Võ’, ‘Tức cảnh chiều thu’.
Ngôn ngữ thơ trang nhã, điêu luyện, âm điệu du dương, réo rắt, giọng thơ buồn man mác, hoài cổ,… là những nét đặc sắc trong hồn thơ của Bà Huyện Thanh Quan.
Bài thơ nói lên nỗi nhớ xưa thành Thăng Long và nỗi đau buồn về cuộc đời tang thương.
1. Đề:
Như một lời than, nhẹ trách tạo hóa. Hí trường: sân khấu. Tinh sương: Tinh là sao, sương là sương giá. Mấy tinh sương là đã nhiều năn tháng. Ong trời gây chi thế, làm cho cuộc đời luôn biến đổi, chẳng khác gì có các lớp kịch, lớp này tiếp sang lớp khác trên sân khấu. Cho đến nay đã mấy năm thấm thoắt trôi nhanh qua. Ý thơ sâu lắng buồn man mác về cuộc đời bể dâu:
‘Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương’
2.Thực:
Kinh thành xưa – thuở vàng son nay còn đâu nữa? Chỉ còn vẻ hoang tàn:
‘Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương’
Đường bàn cờ dọc ngang, xưa kia xe ngựa của ông hoàng bà chúa đi lại rầm rập… nay chỉ còn lại ‘hồn thu thạo’ – hồn cỏ thu tàn tạ. Lâu đài xưa đổ nát, đã hoàng tàn nay chỉ còn lại cái ‘nền cũ’, vẻ tang thương hiện lên dưới ‘bóng tịch dương’ – bóng mặt trời chiều tối. Hai câu thơ đối nhau làm nổi bật cái hoang phế, tàn tạ, thương tâm. ‘Lối xưa’ với ‘nền cũ’, ‘xe ngựa’ với ‘Tâu đài’, ‘hồn thu thảo’ với ‘bóng tịch dương’ đăng đối, hòa hợp; nỗi đau buồn tang thương từ cảnh vật đã và đang thấm sâu vào lòng người. Đó là nỗi buồn hoài cổ về kinh thành xưa. '
3.Luận:
Nỗi đau về cuộc đời tang thương biến đổi như chất chứa dồn nén vào cảnh vật:
‘Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Xem thêm: Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ: Có công mài sắt, có ngày nên kimNước còn cau mặt với tang thương’
Đá và nước đã được nhân hóa, như hai chứng nhân lịch sử. Như thách thức (trơ gan) cùng năm tháng (tuế nguyệt). Như đau đớn, giận hờn (cau mặt) với sự đổi thay, với dâu bể (tang thương). Nghê thuật chọn từ, phối thanh (bằng trắc), phép đối – được nữ sĩ vận dụng rất điêu luyện. Các triều đại đã nối tiếp nhau hưng phế. Kinh thành xưa, đế đô nghìn năm xưa, nay đã xuống cấp trở thành một tỉnh dưới triều Nguyễn. Với nữ sĩ, ông cha đã mấy đời ăn lộc triều Lê, Thăng Long lại là chốn cũ quê nhà thì nỗi đau buồn không thể nào kể xiết. Đá và nước được nói đến trong phần luận chính là nỗi lòng buồn thương của thi nhân.
4.Kết:
Hai câu kết nói về dòng chảy thời gian và nỗi đoạn trường của Bà Huyện Thanh Quan – nỗi buồn hoài cổ:
‘Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường’
Gương cũ nghĩa bóng là lịch sử, là trang đời. Kim cổ là hiện tại và quá khử. Chuyện lịch sử qua hàng năm như soi vào quá khứ và hiện tại. Nhìn ‘cảnh đấy’ – cảnh Thăng Long tang thương, cảnh ‘sóng lớp phế hưng’ mà ‘người đây’ (nữ sĩ) đau đớn tưởng như đứt ruột (luống đoạn trường). Đó là nỗi đau của một con người, cũng là nỗi buồn của một lớp người khi nhớ về Kinh thành xưa một thời vàng son, hoa lệ.
III. Kết bài:
‘Thăng Long thành hoài cổ’được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ tả cảnh ngụ tình. Cảnh thì tang thương. Tình thì hoài cổ với nỗi đau đoạn trường. Có hồn thu thảo, bóng tịch dương, đá và nước… như chứng nhàn lịch sử, san sẻ nỗi đoạn trường với thi nhân.
Thi liệu và từ ngữ chọn lọc tinh tế. Một gam màu nhạt của bóng tịch dương, phủ mờ bài thơ. Âm điệu du dương, réo rắt như một tiếng than mà ta cảm nhận được. Các từ Hán Việt (tạo hóa, hí trường, thấm thoắt, tinh sương, thu thảo, lâu đài, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường…) tạo nên cốt cách trang trọng, cổ kính. Điêu luyện nhất là phép đối, nghệ thuật phối thanh và nhân hóa. Bài thơ mang vẻ đẹp trang nhã và một nỗi buồn hoài cổ thấm thía. ‘Thăng Long thành hoài cổ’ – bài thơ để ta yêu, ta nhớ mãi…
Nguồn: thêm: Thuyết minh về sự gia tăng dân số | Bình giảng bài thơ ‘Thăng Long thành hoài cổ’ | 831 | |
Bình giảng bài thơ ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ sáu bài của Đỗ Phủ
Hướng dẫn
Phân tích
…. Nếu đặt tên cho bài thơ có thể viết như thế này được chăng: ‘Cảnh mưa rào buổi chiều’, hay ‘Chiều muộn, mưa rào’Khương Hữu Dụng đã dịch rất hay bài thơ theo đúng nguyên điệu của nó:
‘Chân suối mưa rào lướt,
Lưng cây bóng xế lồng.
Oanh vàng gù cách tổ,
Cá trắng nhảy tung rong’.
Đọc bài thơ này, ta có nhiều suy ngẫm. Năm 764, Đỗ Phủ và gia đình đang sống trên một con thuyền nhỏ bé trên sông Tương, ven núi. Cảnh nghèo, tuổi già, tóc bạc, ốm đau thường xuyên. Và chỉ có sáu năm sau nữa thôi, ông đã qua đời trên con thuyền rách nát ấy. Có điều bài thơ, cả bốn câu, câu nào cũng đẹp, đặc biệt câu 1 và câu 4, cảnh vật đầy sức sống. Câu 2, 3 phảng phất một nỗi buồn. Cảm giác chung khi đọc bài thơ, ta thấy hiện lên, thoáng lên một vẻ trầm ngâm, hình như sau khi mưa rào vừa tạnh, Đỗ Phủ ra đứng ở mui thuyền, hay ngồi trong khoang thuyền ngắm cảnh chiều.
Thơ Đường cũng như thơ cổ thường tả ít gợi nhiều. Bài thơ này lại được viết bằng ngũ ngôn nên rất hàm súc. Cảnh và tình, ngôn ngữ và hình ảnh như dồn nén lại. Mỗi câu là một cảnh đẹp đầy chất thơ.
Hai câu đầu đăng đối: ‘Mưa rào’ với ‘ánh tà’, ‘lướt’ với ‘chuyển’, ‘chân suối’ với ‘lưng cây’ đều đối nhau, hô ứng nhau. Sau cơn mưa rào, nước suối ào ào chảy mạnh. Câu thơ không hẻ nói đến âm thanh, nhưng qua từ ‘sảo’ (lướt qua), người đọc không chỉ nhìn thấy nước suối chảy rất mạnh mà còn như nghe thấy nước suối chảy ào ào. Nói về ‘động và tĩnh’ trong thơ Đường, Tuỳ Lý Vương đời Nguyễn có viết: ‘Đổ Tử Mỹ sở dắc cái cực độ của động’. Câu thơ tả cảnh nước suối chảy sau trận mưa rào thể hiện ‘cái cực độ của động’ trong thơ Đỗ Phủ vậy. Câu thứ hai tả ánh chiều tà (tà huy). Chiều đã muộn, ở dưới thuyền nhìn lên, nhìn cao và xa. Mặt trời lúc ấy đã gác núi, vì thế mới có cảnh ‘Lưng cây bóng xế lồng’. Câu thơ chữ Hán không có từ ‘lồng’, đó là dịch thoát. Chữ ‘chuyển’ cũng diễn tả ‘cái động’ của ánh ‘tà huy’ – chiều tà – ánh chiều tà đang chuyển dần xuống chiếu vào lưng cây, thân cây. Ngòi bút miêu tả chính xác, một nét vẽ tinh tế, gợi lên màu vàng nhạt, mờ dần, một không gian bao la êm đềm và thoáng buồn man mác.
Đặc biệt là hình ảnh ‘tà huy’ (ánh chiều tà) rất đẹp mà buồn. Kẻ tha hương, tuổi già, ốm đau, cảnh nhà khó khăn, vợ con nheo nhóc, trước cảnh chiểu tà, cảnh hoàng hôn sao không buồn được? Câu thơ cho thấy: tình chìm trong cảnh, mang tính hàm nghĩa. Tả cảnh là để tả tình, ý tại ngôn ngoại là như thế. Câu thơ của Đỗ Phủ gợi nhớ trong lòng ta bao vần thơ tuyệt bút nói về hoàng hôn, về tà huy:
– ‘Tà huy, tà huy hựu tà huy’(Cổ thi)
– ‘Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng’
(‘Truyện Kiểu’ – Nguyễn Du)
– Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn’…
(‘Chiều hôm nhớ nhà’ – Bà Huyện Thanh Quan)
– ‘Mây hồng ngừng lại sau đèo,
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi…’
(‘Tiếng sáo Thiên Thai’ – thế Lữ)
Trở về bài thơ của Đỗ Phủ, hai câu 3, 4 đối nhau. Cảnh vật và màu sắc hòa hợp. Thơ giàu chất hội họa. Cái cao cái thấp, sắc trắng, sắc vàng, cá trên sông và chim trên cây. Màu xanh thẫm của cây nổi lên màu vàng tươi của chim hoàng anh.
Xem thêm: Phân tích bài ca dao Thương thay thân phận con tằmMàu nước sông xanh trong, màu rêu xanh nhạt điểm tô bởi sắc trắng của cá. Cảnh vật đẹp đầy sức sống hữu tình. Câu thơ dịch rất hay, chất thơ, hồn thơ, ý thơ, hình thơ đều đạt được cả. Đọc lên nghe rất thích:
‘Oanh vàng gù cách tổ,
Cá trắng nhảy tung rong’
Có lẽ nơi Đỗ Phủ ở có nhiều chim oanh, loại hoàng li, một loại chim nhỏ rất đẹp, hót tuyệt hay. Trong chùm thơ Tuyệt cú (bốn bài) cũng viết tại Thành Đô năm 764, có câu ‘Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu’, và nhà thơ Tản Đà đã dịch: ‘‘Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc’. Sau khi cơn mưa rào đã tạnh, dưới ánh tà huy vàng nhạt, đôi chim hoàng oanh, con trống con mái đứng kề nhau bên tổ (cách sào), đó cũng là một nét vẽ tạo vật, vẽ chim, vẽ thiên nhiên rất hữu tình.
Nói đến ‘cái động’ trong thơ Đường, không thể không nhắc đến câu tả cá này – bạch ngư – cá trắng: ‘Phiên tảo bạch ngư khiêu’. Tung rong cá trắng nhảy. ‘Phiên’ là động từ, đặt ở vị trí đầu câu thơ cuối bài, góp phần đặc sắc tả cái thần của cảnh vật, làm «tôn ‘cái động’ của dòng suối, của cá, dòng sông sau cơn mưa rào. Mỗi lần đọc đến câu thơ này của Đỗ Phủ, tôi cứ miên man nghĩ đến những câu thơ tả cá trong thơ văn Việt Nam. Tả cá sông Đà, thi sĩ Tản Đà có câu: ‘Sóng gợn sông Đà con cá nhảy’. Chắc là con cá Anh Vũ, một loài cá quý hiếm, đặc sản sông nước quê ta? Cũng tả cá Đà giang, nhà văn Nguyễn Tuân viết: ‘Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến…’ (Người lái đò sông Đà). Nói rằng đó là những câu thơ, câuvăn mang ‘hồn Đường’ cũng không phải là thiếu căn cứ?
Bài thơ của Đỗ Phủ làm người đọc liên tưởng đến bài thơ tả cảnh mưa rào trên Tây Hồ của Tô Thức đời Tống. Nguyên tác là thất ngôn tứ tuyệt. Đây là bản dịch của Nam Trân:
‘Mây đen trút mực chưa nhòa núi,
Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền.
Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch,
Dưới cẩu nước gợn sống thanh thiên’
Hai câu đầu tả cơn mưa rào ập đến nhanh và dữ dội. Hai câu sau tả cảnh cơn mưa. Mưa tạnh rất nhanh. Một mái lầu hiện lên tuyệt đẹp trên mặt hồ gợn sóng, dưới bầu trời xanh. Một cái nhìn khoáng đạt, mênh mông. Tứ thơ vân động biến hóa. Cảnh tả từ cao đến thấp, từ xa đến gần. Cũng có mây, mưa, gió, cũng có núi, có thuyền, có bầu trời, con sóng trên mặt hồ và mái lầu. Câu thơ thứ tư tả cảnh trung tâm của bài thơ. Cảm hứng của bài thơ càng về cuối càng vui, chứa chan bao hi vọng.
Còn bài thơ của Đỗ Phủ viết bằng thơ ngũ ngôn tứ tuyệt. Cũng nói về cảnh mưa rào một buổi chiều muộn. Mỗi câu thơ là một bức tiểu họa. Cảnh đẹp thấm đẫm một nỗi buồn man mác. Thi sĩ như đang trầm ngâm ngắm cảnh chiều tà sau cơn mưa rào ở Thành Đô trên con sông Tương. Còn bài thơ của Tô Thức tả cảnh mưa rào ở Tây Hồ, vào buổi sáng hoặc buổi trưa (?). Vậy là, cả hai bài thơ tuy đều tả cảnh thiên nhiên, cảnh mưa rào, đều là những bài thơ tuyệt tác, nhưng thể thơ, tính thời gian, tính không gian, đối tượng miêu tả cụ thể, cảm hứng của thi sĩ đều không giống nhau, cả hai bài thơ đều cho thấy rõ cá tính sáng tạo thi ca của Đỗ Phủ và Tô Thức, hai nhà thơ lỗi lạc, sống trong hai thời đại khác nhau.
Tóm lại, bài thơ ‘Tuyệt cú’ trên đây của Đỗ Phủ là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Mỗi câu thơ là một nét vẽ tinh tế, giàu hình tượng. Cảnh vật chiều tà sau cơn mưa rào trên dòng Tương giang cách xa trên 13 thế kỉ thấm một nỗi buồn của khách li hương. Thơ viết về thiên nhiên của Đỗ Phủ bao giờ cũng hàm súc, hữu tình. Tâm hồn ông lúc vui cũng như lúc’ buồn đều chan hòa và thấm sâu vào cảnh vật, làm cho cảnh sắc thiên nhiên trở nên hữu tình đáng yêu.
Nguồn: thêm: Khổ cuối trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận đã kết lại bài thơ bằng những hình ảnh huy hoàng, mạnh mẽ thể hiện sức mạnh và vẻ đẹp của con người. Em hãy viết đoạn văn phân tích khổ thơ này để làm rõ nhận định đó | Bình giảng bài thơ ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ sáu bài của Đỗ Phủ | 1,495 | |
Bình giảng bài thơ ‘Xa ngắm thác núi Lư’ của Lí Bạch
Hướng dẫn
Nếu thơ Đỗ Phú là những bức tranh hiện thực của bao nỗi cơ cực buồn thương thì thơ Lí Bạch là tiếng lòng lãng mạn trữ tình lành mạnh. Chúng ta dễ bắt gặp ở thơ ông sự liên tưởng độc đáo, mạnh mẽ của một trí tưởng tượng phong phú, sự rung động sâu xa của một tấm lòng yêu đất nước nồng nàn và tha thiết. ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là một minh chứng. Sâu đây là bản dịch của bài thơ ấy:
‘Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này.
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mảy’
Đầu đề của nguyên tác là: ‘Vọng Lư Sơn bộc bố’, nghĩa là xa ngắm thác bạc trên Lư Sơn. Lư Sơn là dãy núi ở Giang Tây Trung Quốc có nhiều ngọn chạy dài, nhưng chỉ có một ngọn là có thác đổ:
‘Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này’
Hương Lô hay Hương Lư là núi Lư Hương, một ngọn của dãy núi Lư trông giống như chiếc bình hương. Hai câu đầu của bài thơ là cảnh tổng quát của bức tranh sông núi hùng vĩ. Nhà thơ'đứng ngắm thác từ phía xa và ở một vị trí thấp hơn nhiều so với chiều cao của thác. Do đó, trước mắt ông, cảnh dòng thác và núi Lư đâu khác gì một bức tranh sơn thủy trẹo ở lưng chừng trời. Bức tranh này có nhiều màu sắc và có vẻ đẹp huyền ảo. Ở độ cao ba nghìn thước, dòng thác đổ xuống như bay, hơi nước bốc lên thành những làn khói. Các làn khói nước này với muôn ngàn thấu kính li ti được ánh nắng mặt trời rọi vào, tạo nên một sắc tía cầu vồng kì ảo, đó là khói tía. Màu vàng của nắng, sắc tía có khói nước gợi lên vẻ đẹp huyền ảo của toàn cảnh. Dáng núi lại gợi hình giống chiếc bình hương. Bởi vậy, khi nhìn vào, nhà thơ chợt nghĩ đến chiếc bình hương khổng lồ đang toả khói nghi ngút giữa trời và nước.
Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
Bức tranh kì vĩ của núi sông này như được bàn tay của người thợ vẽ tài hoa là tạo hóa đã pha màu tạo sắc. Giữa nền xanh cùa núi, hơi nước nắng rọi tỏa bay như khói hương là dòng nước bạc đồ sộ, tuôn dài như một tấm vải trắng. Chữ Hán bộc là thác, bố là tấm vải. Bộc bố ý nói thác nước tuôn như một tấm vải trắng: ‘Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước’
Lời thơ và nhịp thơ mạnh mẽ làm nổi bật hẳn lên hình ảnh hùng vĩ kì diệu của một dòng thác từ trên cao gần ba ngàn thước ‘bay thẳng xuống’.
Chỉ với ba câu thơ ngắn, ngòi bút tài tình của nhà thơ Lí Bạch, khung cảnh Lư Sơn hiện ra trước mắt ta với đầy đủ màu sắc, hình khối, đường nét… Nhưng dường như ba câu thơ ấy chỉ để chuẩn bị. Sức mạnh của bài thơ, vẻ đẹp huyền ảo kì v và đồ sộ của dòng thác núi Lư đã được dồn vào câu kết:
‘Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây’
Câu thơ, trước hết là cảm nghĩ của nhà thơ khi đứng trước cảnh thực. Ông so sánh thác bay thẳng xuống như dải Ngân Hà tuột khỏi mây. Thật là một so sánh sáng tạo bất ngờ đầy thú vị và sảng khoái cho người đọc: ‘Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên’. Dải Ngân Hà là nơi tập trung dày đặc muôn vàn vì tinh tú vắt ngang trời. Ánh sáng của dải sao này được so sánh với dòng sông bạc trên trời. Cách so sánh ấy cũng làm tôn thêm vẻ đẹp kì vĩ của dòng thác núi Lư có thực ở trấn thế.
Thấy dòng thác lấp lánh bạc đổ xuống tưởng như dải Ngân Hà lạc khỏi chín tầng mây ở trời cao, cao lắm, rơi xuống hạ giới. Đây là hình ảnh đầy tự hào về trí tưởng tượng của nhà thơ trước khung cảnh hùng vĩ và đầy thi vị của thiên nhiên.
Bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ của Thi tiên Lí Bạch đã lưu lại cho muôn đời bằng phương tiện văn học cái đẹp hùng vĩ của một dòng thác khổng lồ kì lạ.
Càng đọc thơ ông, ta càng thêm yêu thiên nhiên đất nước và càng khâm phục sự phóng khoáng của một nhà thơ có trí tưởng tượng dồi dào, phong phú, có nghệ thuật sử dụng ngôn từ và tài hoa vào bậc nhất đời Đường.
Nguồn: thêm: Bàn về những thứ “rỗng” | Bình giảng bài thơ ‘Xa ngắm thác núi Lư’ của Lí Bạch | 817 | |
Bình giảng bài thơ “Chạy giặc” của Nguyễn Đình Chiểu.
Gợi ý
Có những tác phẩm văn chương bất tử, khi nó trở thành chứng nhân lịch sử, gắn liền với nỗi vui, buồn của một dân tộc. “Chạy giặc" là một bài thơ như thế.
Năm 1859, thực dân Pháp tấn cồng thành Gia Định. Trước họa xâm lăng, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài thơ “Chạy giặc". Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, phản ánh nỗi đau thương của dân tộc, căm thù lên án tội ác quân Pháp xâm lược và thể hiện lòng thương xót nhân dân:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Nỡ để dân đen mắc nạn này?".
Hai câu đề nói lên một cục diện bi thảm của đất nước ta hồi bấy giờ. Giặc Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định. Trận đánh diễn ra như “một bàn cờ thế" phút chốc thay đổi bất ngờ: ‘Phút sa tay". Thành Gia Định thất thủ, Đồng Nai, Bến Nghé rơi vào tay giặc. Vần thơ cất lên như một lời than:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tày,
Một bàn cờ thế phút sa tay."
Các từ ngữ: “vừa nghe tiếng súng Tây", “phút sa tay" làm nổi bật thời gian, sự việc diễn ra bất ngờ, nhanh chóng và nói lên nỗi kinh hoàng của nhà thơ, của nhân dân khi thành Gia Định bị giặc Tây nổ súng đánh chiếm. “Một bàn cờ thê" là một ẩn dụ, cách nói ước lệ, hàm súc về một cục diện chiến trường, một tình thế chiến tranh hồi ấy (1859). Xem thêm: Viết bài văn kể về các hoạt động tình nghĩa đối với các gia đình thương binh liệt sĩ ở địa phương em mà em đã từng được tham gia hoặc chứng kiến Hai câu thực tả cảnh chạy loạn, chạy giặc trong nỗi kinh hoàng của nhân dân. Các từ ngữ: "bỏ nhà", “lơ xơ chạy", "mất ổ “dáo dát bay" đặc tả sự tan nát, hoảng sợ, hãi hùng. Nhà thơ lấy thế giới con người là ‘lũ trẻ", lấy thế giới thiên nhiên là "đàn chim", hai hình ảnh ấy điển hình cho nỗi đau thương của nhân dân trước thảm họa đất nước quê hương bị xâm lược:
“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ đàn chim dáo dát hay".
Phép đảo ngữ đặt vị ngữ trước chủ ngữ để nhấn ý các chữ “bỏ nhà" và “mất ổ’ tạo nên nỗi ám ảnh bi thương về cảnh chạy giặc của dân lành.
Hai câu luận đối nhau làm hiện lên hai cảnh tang thương điêu tàn nơi Bên Nghé và Đồng Nai. Gần 200 năm về trước, Bến Nghé đã là cành đô hội, sầm uất, trên bến dưới thuyền buôn bán tấp nập. Đóng Nai là vựa lúa miền Nam. Thế mà chỉ trong chốc lát đã bị giặc Pháp bắn giết, đốt phá, cướp bóc rất dã man. Tài sản của nhân dân, ta bị chúng cướp phá sạch sành sanh “tan bọt nước". Nhà cửa, phố phường, làng xóm của đồng bào ta bị quân xâm lược đốt phá tan hoang.
Lửa khói ngút trời, bao phủ một vùng rộng lớn “nhuốm màu mây". Nhà thơ tả ít mà gợi nhiều. Chỉ bằng hai hình ảnh rất chọn lọc, đối nhau: "của tiền tan bọt nước", “tranh ngói nhuốm màu mây" đã đủ mô tả cảnh giặc giã tan hoang, khiến lòng người hết sức căm giận, lên án tội ác tày trời của quân xâm lược. Nỗi đau đớn và căm thù chứa đầy vần thơ: Xem thêm: Nghị luận Tình thương là hạnh phúc của con người"Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây".
Tội ác quân giặc không thể nào kể xiết! Nhà thơ tưởng như cất lời than uất hận trước tội ác tày liếp của giặc Pháp:
"Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé,
ai làm nên bốn phía mây den;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai,
ai cứu đặng một phường con đỏ."
("Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc")
Sau khi hạ thành Gia Định, giặc Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì.
Cả một vùng rộng lớn của đất nước ta chìm trong máu lửa. Phan Văn Trị, người bạn thân của Nguyễn Đình Chiểu, khi nghe tiếng kèn giặc đã căm giận viết:
“Tò te kèn thổi tiêng năm ba,
Nghe lọt vào tai dạ xót xa.
Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói,
Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa…"
("Cảm tác")
Hai câu kết cảm xúc nghẹn lại bỗng trào lên, biểu lộ một tâm trạng đau đớn, lo âu. Lo âu cho tính mạng và tài sản của nhân dân ta đang bị giặc Pháp bắn giết, cướp phá dã man. Lo âu cho vận mệnh đen tối của đất nước. Câu hỏi tu từ thể hiện tình thương xót nhân dân, đau khổ trước họa xâm lăng:
"Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này? "
"Chạy giặc" là bài ca yêu nước thể hiện sâu sắc lòng căm thù giặc Pháp và nói lên tình thương xót nhân dân trước họa xâm lãng. Những cảnh mà nhà thơ nghe thấy (tiếng súng Tây), nhìn thấy, cảm thấy (lũ trẻ lơ xơ chạy, đàn chim dáo dát bay, của tiền tan bọt nước, tranh ngói nhuốm màu mây) là những chi tiết nghệ thuật rất hiện thực mang giá trị lịch sử sâu sắc. Bài thơ "Chạy giặc" là một chứng tích về tội ác giặc Pháp trong những ngày tháng đầu chúng xâm lược đất nước ta. Xem thêm: Hình ảnh thiên nhiên trong các bài thơ Tràng Giang (Huy Cận), Đây mùa thu tới (Xuân Diệu), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử). Phân tích những nét chung của thiên nhiên trong ba bài thơ và chỉ ra đặc điểm riêng của thiên nhiên trong từng bài thơ Ngôn ngữ hàm súc, nghiêm trang, chứa chan tình cảm, bài thơ thể hiện tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu. Qua đó cho thấy tính mẫn cảm chính trị của nhà thơ yêu nước "đâm mấy thằng gian bút chẳng tà ". Với ông, "thơ lủà súng là gươm ". ("Đọc thơ Đồ Chiểu " – Lê Anh Xuân).
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Chạy giặc” của Nguyễn Đình Chiểu. | 1,044 | |
Bình giảng bài thơ “Hương Sơn phong cảnh ca” của Chu Mạnh Trinh
Gợi ý
Chu Mạnh Trinh (1862 – 1905) đậu tiến sĩ, nổi danh tài hoa phong nhã, văn chương lỗi lạc, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc… tinh thông. Chu Mạnh Trinh là người vẽ kiểu, trùng tu chùa Thiên Trù ở Hương Sơn. Thi sĩ Xuân Diệu đã xếp Chu Mạnh Trinh vào hàng ngũ những tao nhân – tài tử – tài tình trong nền văn học Việt Nam thời cận đại.
Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, một vùng sơn thuỷ hữu tình có động Hương Tích với nhiều chùa chiền tuyệt đẹp, được coi là "Nam thiên đệ nhất động". Hội chùa Hương là một lể hội lớn nhất ở miền Bắc nước ta, kéo dài từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch hằng năm. có ngày khách hành hương đông tới hàng vạn người. Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã từng viết:
"Người tai mắt kẻ nhân gian,
Ai chẳng đến Hương Sơn thì cũng tục".
(Hương Sơn phong cảnh)
Thơ viết về Hương Sơn khá nhiều. Trong hàng trăm bài thơ của các thi sĩ thời cận đại và hiện đại, bài thơ "Hương sơn phong cảnh ca" của Chu Mạnh Trinh được xem là áng thơ kiệt tác. Bài thơ được viết theo thể hát nói (đối hai khổ giữa) gồm 19 câu thơ. Tính nhạc du dương, cảnh đẹp thiên nhiên đượm mùi Thiền, được miêu tả và cảm nhận qua tâm hồn nghệ sĩ tài hoa là nét đặc sắc của bài thơ này.
Khổ thơ đầu giới thiệu khái quát phong cảnh Hương Sơn được tả từ xa trong tầm mắt của du khách. Giọng thơ trang trọng, điệu thơ khoan thai, thể hiện du khách vừa đi vừa đứng lại ngắm cảnh và suy ngẫm:
"Bầu trời cảnh Bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non nước nước mây mây
Đệ nhất động hỏi rằng dây có phải
Một thiên nhiên mênh mông chan hoà với màu sắc Phật giáo. Hương Son là thiên tạo nhưng cũng là cảnh Bụt đã và đang vẫy gọi người đời. Đi lễ hội chùa Hương là thú vui, là niềm ước ao bấy lâu nay của nhiều người. Vốn từ xưa, trong dân gian lưu truyền câu: "Dục dáo Hương Sơn bất khả ước" nghĩa là muốn đến Hương Sơn không thể nói trước. Người đời tin rằng nếu nói trước sẽ gặp trở ngại không đi được. Câu thơ thứ hai của Chu Mạnh Trinh mang một ý mới mẻ: cảnh đẹp Hương Sơn và lễ hội chùa Hương là thú vui mà nhiều người từng, ao ước bấy lâu nay. "Kìa" là đại từ để trỏ một vật từ xa; ở trong văn cảnh biểu lộ sự ngạc nhiên trước cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ. Ba chữ "non non nước nước mây mây" được điệp lại hai lần chỉ số nhiều, gợi tả cảnh núi non, sông nước, mây trời tầng tầng lớp lớp, nhấp nhô trùng điệp như mở ra và dẫn du khách vào một thế giới thiên nhiên kì vĩ hấp dẫn. Khách trầm trồ, tự hỏi để rồi khẳng định: Hương Sơn có phải là "Nam thiên đệ nhất động". Cảm xúc mà vần thơ tạo nên vừa hư vừa thực, lâng lâng mộng ảo. Du khách như mở rộng tâm hồn chiếm lĩnh "bầu trời cảnh Bụt" kì quan tạo hoá xây đắp đã bao đời nay, đã tô điểm giang sơn gấm vóc.Xem thêm: Bàn về phẩm chất mà một người thanh niên ngày nay cần có Khổ thơ tiếp theo trong bài hát nói, thi pháp gọi là khổ giữa, nhà thơ nói về suối, rừng và tiếng chuông chùa. Ba chi tiết nghệ thuật này đều tô đậm nét đặc trưng của
Hương Sơn. Rừng là rừng Mai với trái mơ đặc sản của chùa Hương. Tiếng chim hót thỏ thẻ – chậm rãi, nỉ non – gọi bầy tìm bạn, kết đôi. Bầy chim trời vừa hót vừa mổ trái mơ. Hình ảnh "chim cúng trái" là nét vẽ độc đáo, tài hoa. Bầy chim mổ trái mơ như khách hành hương đứng dưới mái chùa cổ trong hang động đang khom lưng khấn vái trước mâm ngũ quả dâng trên bàn thờ Phật. Suối ở đây là suối Yến. Chơi chùa Hương ai cũng phải đi đò dọc bến Đục, suối Yến. Đàn cá nơi suối Yến lửng lơ bơi – từ từ, thong thả – như đang cùng du khách "cá nghe kinh". Cũng là một hình ảnh sáng tạo, đầy chất thơ. Đây là hai câu thơ hay nhất trong bài hát nói:
‘Thỏ thẻ rừng Mai, chim cúng trái
Lửng lơ khe Yến, cá nghe kinh".
Cảnh lâm tuyền hữu tình đăng đối hài hoà, có chim có cá, có khe Yến rừng Mai, tạo vật được nhân hoá đượm mùi Thiền: "chim cúng trái", "cá nghe kinh". Có âm thanh: "thỏ thẻ", có đường nét "lửng lơ". Nét vẽ vừa thanh vừa nhẹ thể hiện bút pháp điêu luyện của nghệ sĩ tài hoa. Cũng tả cảnh rừng mơ Hương Tích, một thi sĩ khác cảm nhận:
"Trong bụi rậm đàn chim thỏ thẻ
Dưới rừng xanh mấy chị tìm mơ
Lá vàng man mác ngẩn ngơ…"
(Hương Sơn phong cảnh – Vũ Pham Hàm)
Lội suối trèo non… thăm thú chùa xưa, hang động nơi "cảnh Bụt" bỗng một tiếng chuông chùa xa đưa tới "thoáng bên tai,ẩ êm ái mơ hồ. Khách hành hương như trút đi bao nỗi ưu phiền trong cuộc đời tang hái – bể dâu – đầy biến động, nhọc nhằn. Tiếng chuông như ru hồn khách tang hải, "giật mình" trong khoảnh khắc chìm sâu hơn vào giấc mộng diệu huyền:
‘Thoảng bên tai một tiếng chày kình
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng".
Câu thơ cho ta nhiều thú vị về nhạc điệu du dương. Hai thanh bằng có âm vang ngân nga, ngọt ngào vần với nhau: "kình – mình" tạo nên nhạc điệu, âm hưởng trầm bổng của vần thơ. Chỉ "một tiếng chày kình" êm ái trầm bổng nơi chùa Hương cũng đủ rửa sạch bụi trần làm thanh thản, thảnh thơi tâm hồn khách tang hải. Chu Mạnh Trinh không chỉ tạo nên những vần thơ có nhạc có hoạ khi tả chim, tả cá, tả tiếng chuông chùa mà còn thể hiện sự kì diệu của hồn cảnh vật Hương Sơn "Nam thiên đệ nhất động".
Hai khổ thơ ba, bốn tiếp theo là hai khổ đôi của bài hát nói. Hương Sơn có biết bao cảnh đẹp nên thi sĩ phải sử dụng khổ đôi để diễn tả cảm xúc và miêu tả cảnh vật. Du khách như dần bước vào thế giới Hương Sơn, nơi "bầu trời cảnh Bụt". Chu Mạnh Trinh dùng biện pháp tu từ liệt kê và điệp từ để tả, để vẽ, để tạo nên nhạc điệu trầm bổng của vần thơ. Hai cặp câu song hành với bức tranh tứ bình nối tiếp hiện ra. Bốn chừ "này" vang lên như bốn nốt nhấn của khúc ca:Xem thêm: Từ trích đoạn vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nghĩ về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi người"Này suối Giải Oan, này chùa cửa Võng Nàv am Phật Tích, này động Tuyết Quynh".
Sự phối thanh bằng, trắc ở hai tiếng chần (2, 4, 6, 8) trong hai câu thơ này cũng cho thấy bút pháp già dặn, tài hoa của tác giả để làm nổi bật tính nhạc của bài hát nói. Hương Sơn có rất nhiều di tích, thắng cảnh nhưng Chu Mạnh Trinh chỉ giới thiệu bốn cảnh điển hình, chỉ gợi ra mà không tả. Suối Giải Oan, chùa Cửa Võng, am Phật Tích, động Tuyết Quynh, mỗi di tích, mỗi thắng cảnh đều đem đến cho ta
nhiều liên tưởng và hướng thiện lòng người hành hương. Ai cũng cảm thấy mình đang cùng nhà thơ chan hoà vào "cảnh Bụt" được sống lại giây phút mà chỉ có "bầu trời, cảnh Bụt" nơi Hương Sơn mới ban phát cho mình. Cảm hứng tín ngưỡng về đạo Phật được thể hiện qua những vần thơ nói về suối, chùa, am, động như mời gọi du khách, lắng nghe tiếng chuông chùa xa đưa lại, mà ngạc nhiên, mà ngỡ ngàng…
Chu Mạnh Trinh có những vần thơ đầy màu sắc tả hang động. Cảnh sắc ấy được tạo dựng nên bởi hoá công và tài trí của con người:
"Nhác trông lên ai khéo vẽ hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt".
Những liên tưởng so sánh về nhũ đá trong các hang động biểu lộ niềm tự hào của nhà thơ về đất nước và con người Việt Nam: yêu đời, yêu tạo vật, biết đem bàn tay khéo léo tô điểm cảnh trí non sông.
Hương Sơn có đường lên trời, có hang xuống âm ti địa ngục dẫn khách hành hương du nhập vào thế giới siêu thoát. Cảnh được tả từ xa tới gần, từ khái quát đến cụ thể, từ cao xuống thấp, từ thấp lên cao, huyền ảo. Các từ láy: "thăm thẳm", "gập ghềnh" gợi tả độ sâu, nét lượn cheo leo, khúc khuỷu của sườn non, hang động mà du khách dần bước vượt qua để hoà nhập với thiên nhiên, để chiếm lĩnh cái hồn của "cảnh Bụt". Phép đảo ngữ đã làm nổi bật cái độ sâu "thăm thẳm" của hang động, cái nét "gập ghềnh" của những sườn non, những "thang mâv" cao vút:
‘Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt,
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây".
Có hang sâu "thăm thẳm", lại có lối uốn "gập ghềnh", có bóng nguyệt "lồng hang", lại có thang mây "uốn lối"… Câu thơ mềm mại uyển chuyển, mỗi một chi tiết nghệ thuật là một nét vẽ, nét khắc tài hoa. Cảnh đẹp mang tình người và hồn người, đáng yêu và đáng nhớ. Hương Sơn là mảnh hồn thiêng liêng sông núi, là gấm hoa giang sơn. Mọi di tích, cảnh đẹp, chùa chiền, hang động, suối Yến rừng Mai, am Phật Tích… tuy hùng vĩ, đượm mùi Thiền nhưng không xa lạ cõi trần. Xem thêm: Tả chiếc trống đồng Đông SơnKhách hành hương không hề cảm thấy rợn ngợp nhỏ bé, trái lại luôn luôn tìm thấy niềm vui hoà nhập chiêm ngưỡng. Con người đã tìm thấy niềm vui trong thiên nhiên. Tình yêu thiên nhiên cũng là tình yêu quê hương đất nước:
"Chừng giang sơn còn đợi ai dây,
Hay tạo hoá khéo ra tay xếp dặt".
ở trên tác giả đã viết: "ai khéo vẽ hình" ở dưới lại nói: "Hay tạo hoá khéo ra tay xếp đặt". Có biết Chu Mạnh Trinh là người từng đem tiền của, công sức, tài năng ra trùng tu chùa Thiên Trù, tạc tượng đúc chuông… mới cảm nhận được một chữ "ai" đáng tự hào kín đáo đã hai lần xuất hiện trong bài thơ này.
Ba câu cuối gọi là khổ xếp của bài hát nói. Câu cuối chỉ có sáu từ gọi là câu keo. Luật thơ quy định chặt chẽ như vậy. Không gian nghệ thuật được miêu tả theo bước chân xa dần của đoàn người hành hương. Họ vừa đi vừa ngắm cảnh, miệng tụng kinh, tay lần tràng hạt. Không khí thành kính trang nghiêm. Lòng hướng thiện của du khách đều hướng về cửa từ bi của đạo Phật, ai cũng cảm thấy tự hào đối với giang sơn đất nước:
"Lần tràng hạt niệm nam mô Phật,
Cửa từ bi công đức biết là bao! Càng trông phong cảnh càng yêu".
Câu keo láy lại hai lần chữ "càng" – "càng trông… càng yêu" – nói lên thật hay cái thú vị đi hội chùa Hương của nhân dân ta. Chẳng có cách nào nói hay hơn, hồn nhiên hơn và đậm đà hơn cách nói của Chu Mạnh Trinh vậy.
Lễ hội nói chung, hội chùa Hương nói riêng thể hiện bản sắc văn hoấá dân gian Việt Nam vô cùng giàu đẹp. Cảnh Hương Sơn vốn đã được chúa Trịnh Sâm ngợi ca là "Nam thiên đệ nhất động". Đó là một miền thiên nhiên kì thú hữu tình. Bài thơ của Chu Mạnh Trinh giúp chúng ta chiếm lĩnh vẻ đẹp hồn thiêng núi sông. Thơ nên hoạ nên nhạc cho thấy chất tài hoa nghệ sĩ của Chu Mạnh Trinh. Bài thơ đã làm đẹp, làm phong phú thể ca trù – hát nói của dân tộc. Có đi lễ hội chùa Hương mới thấy hết cái hay của bài thơ "Hương Sơn phong cảnh ca". Có được nếm vị chua giòn mơ Hương Tích, có được ăn rau sắng chùa Hương, ta mới thêm yêu hơn nhiều lần Hương Sơn, mới thêm tự hào vẻ đẹp thiên nhiên đất nước.
Tổ quốc ta không chỉ có Hương Sơn mà còn có trăm sông nghìn núi tráng lệ, bao thắng cảnh kì quan. Hãy làm cho đất nước mãi mãi thanh bình, nhân dân được sống yên vui trong những mùa xuân tưng bừng lễ hội. Mùa Xuân đã về rồi đó.
Hãy trẩy hội Chùa Hương mà "ta"đã từng "ao ước bấy lâu nay…".
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Hương Sơn phong cảnh ca” của Chu Mạnh Trinh | 2,221 | |
Bình giảng bài thơ “Lai Tân” trong ”Ngục trung nhật kí” của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Tập thơ "Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh gồm những bài thơ có tính "nhật kí", tác giả ghi lại những sinh hoạt trong tù, ghi lại tâm tư, tình cảm của chính tác giả trong những ngày đen tối ở chốn lao tù, hoặc ghi lại những điều tai nghe mắt thấy trên đường bị giải đi từ nhà lao này đến nhà lao khác. Duy có bài thơ "Lai Tân" là có giá trị tổng kết hiện thực trong và ngoài nhà tù, phác họa được bộ mặt của nhà cầm quyền trong và ngoài nhà tù ở huyện Lai Tân mà cũng là những bộ mặt điển hình cho nhà cầm quyền Trung Quốc dưới thời Quốc dân đảng bấy giờ.
Bài thơ mở đầu như kiểu phóng sự, lạnh lùng mà trung thực:
"Giam phòng ban trưởng thiên thiên đổ"
(Ban trưởng nhà lao chuyên đánh hạc)
Hồ Chí Minh làm thơ, nhưng cũng đừng quên Người là một nhà báo lừng danh thời hoạt động cách mạng ở Pháp, đã từng làm chủ bút báo "Người cùng khổ". Tập thơ "Nhật kí trong tù" có nhiều nét báo chí như cách chọn nhân vật, lựa sự kiện, nghệ thuật đưa tin. Câu thơ mở đầu trong bài thơ "Lai Tân", tác giả đã "chộp" được một sự kiện hết sức kinh ngạc là tên "ban trưởng" nhà lao đánh bạc! Làm sao trong tù, tác giả nhạy tin tức đến thế? Có gì đâu, tên cai ngục này đánh bạc trong nhà tù, đánh bạc công khai với tù cờ bạc! Người dân đánh bạc ở ngoài thì bị bắt, bị tù, còn con bạc vào tù đánh bạc thì tha hồ. Có lần tác giả đã châm biếm:
"Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội,
Trong tù đánh bạc được công khai;
Vào tù con bạc ăn năn mãi,
Sao trước không vô quách chốn này".
Tù nhân cờ bạc có người bị hành hạ, đói rét. chết ngay trong nhà tù ở Đêm qua còn ngủ bên tôi, Sáng ra anh đã về nơi suối vàng"), thật là thê thảm! Có thể nói nhà tù là nơi thực thi luật pháp, nhưng nhà tù ở Lai Tân thủ tiêu luật pháp. Ban trưởng nhà lao đã biến nhà tù thành chỗ hắn kiếm chác. Đánh bạc với tù cờ bạc trong tù là một cách ăn cướp trắng trợn của tên ban trưởng đối với tù nhân. Câu thơ chỉ "đưa tin", không bình luận mà có sức tố cáo sâu sắc chế độ nhà tù ở Lai Tân. Xem thêm: Giải thích và bình luận câu tục ngữ: Đói cho sạch, rách cho thơm. Với ra ngoài nhà tù, tác giá lại "tóm" ngay được một tên "trưởng" nữa làm bậy. Lại cũng là một quan chức thi hành luật pháp: cảnh sát trưởng ở Lai Tân!
"Cảnh trướng tham thôn giải phạm tiền"
(Giải người cảnh trường kiếm ăn quanh).
Nạn ăn hối lộ trong xã hội Trung Quốc thời đó đã trầm trọng. Nhà tù lại càng thối nát. Tù nhân vào tù phải nộp tiền! Nếu khỏng có tiền thì "mỗi bước anh đi mỗi bước phiền". Muốn có đèn sáng phải có tiền, muốn có nước dùng phải có tiền. Cảnh sát trưởng giải phạm nhân cũng kiếm chác. Tác giả không còn nén được sự căm giận, đã lộ ra trong mấy tiếng "cảnh trưởng tham thôn" (cánh sát trưởng tham lam).
Tác giả đã lôi ra hai tên "trưởng" ở Lai Tân làm bậy, tên thì đánh bạc, tên thì ăn hối lộ. Còn tên "huyện trưởng" làm gì mà có vẻ "nghiêm túc". Hình ảnh thơ thật là bí mật, mà cũng thật là hay:
"Huyện trưởng thiên đăng biện công sự"
(Chong đèn huyện trưởng lo công việc)
Bản dịch "Nhật kí trong tù" lần thứ nhất, câu thơ này được dịch là:
"Chong đèn huyện trưởng làm công việc"
Từ "hiện" mà dịch là "làm" thì cũng chưa hay, nhưng còn hơn từ "lo". Lí giải dần dần, ta sẽ thấy sự bất ổn của từ này.
Theo luận lí bình thường tên "ban trưởng" làm bậy, tên "cảnh trưởng" làm bậy, đến tên "huyện trưởng" tất phải làm bậy. Vậy mà "Huyện trưởng thiên đăng biện công sự’. Tên huyện trưởng này làm gì? Nhóm dịch giả "Nhật kí trong tù" lần thứ nhất không lí giải được, đành hỏi đại sứ quán Trung Quốc. Tuỳ viên văn hóa đại sứ quán Trung Quốc nói là quan lại thời đó không làm gì cả, chỉ chong đèn hút thuốc phiện. Thế là từ đó các sách giáo khoa và giáo trình đại học đều giảng là ngục trường đánh bạc, cảnh sát trưởng ăn hối lộ, huyện trưởng hút thuốc phiện! Xem thêm: Nói và làm trong cuộc sống Có nhà nghiên cứu vẫn còn hoài nghi. Giáo sư Lê Trí Viễn viết: "Bài "ở Lai Tân" có một câu không rõ nghĩa ngay ở nguyên văn "Khiêu đăng huyện trưởng biện công sự" (Dịch: "Khêu đèn, huyện trưởng làm công việc"). Hai câu thơ trên nói sự đánh bạc và hối lộ, còn ở đây anh huyện trưởng làm công việc (việc công chứ không.phải là công việc) gì mà phải đốt đèn? Có người nói hắn moi việc để kiếm chác, nhưng như thế cũng là ăn đút. Có ý lại cho rằng: Hay là hắn ta hút thuốc phiện? Không rõ. Chỗ này có lẽ nên nghiên cứu thêm".
(Tác phẩm mới, số 8)
Nhóm dịch giả đã viết thư hỏi tác giả. Đại ý câu hỏi là tên huyện trưởng bài thơ "Lai Tân" làm công việc hay "hút thuốc phiện". Hồ Chủ tịch đã gạch bỏ ba chữ "hút thuốc phiện" bằng mực đỏ. Nhận được hồi âm của tác giãả, các học giả lại hoang mang. Thế là bí mật của câu thơ vẫn còn nguyên.
Theo tôi không nên hiểu câu thơ này theo logic mà phải hiểu theo phi logic (hình thức thôi). Cứ hiểu là tên huyện trưởng này làm "việc công" (dịch là "công việc" cũng không suy suyển với nguyên tác là mấy). Thì hắn đang làm "việc công" đấy thôi, làm ở công sở chưa xong, đêm về "chong đèn" (thiêu đăng) lên hắn cũng chẳng thấy gì. Hắn thuộc loại quan tứ chứng nan y (què, mù, câm, điếc) mà bệnh trầm trọng của tên huyện trưởng này là "mù". Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo (Có dàn ý chi tiết) Hắn làm huyện trưởng Lai Tân mà hai tên quan tai to mặt lớn là "ban trưởng" và "cảnh trưởng" làm bậy sờ sờ trước mũi hắn, hắn không thấy. Loạn đến thế là cùng, thối nát đến thế là cùng, vậy mà dưới đèn chong, dưới mắt hắn:
"Lai Tân y cựu thái bình thiên"
(Trời đất Lai Tân vẫn thái bình)
Bọn quan chức dưới quyền của tên "huyện trưởng" làm giặc trước công đường, chứ chưa nói đến bọn nha lại dưới xã thôn, vậy mà hắn vẫn tự hào về cái huyện Lai Tân hắn cai trị là mọi sự đều tốt đẹp, "thái bình". Nụ cười châm biếm của Hồ Chí Minh thật là sâu cay! Hãy nghe thêm lời bình của nhà thơ Hoàng Trung Thông về tên huyện trưởng "tử chứng nan y" này: Ở đâu đánh giặc thì cứ đánh, còn cái trời đất Lai Tân này thì vẫn "thái bình" như muôn thuở. Một chữ "thái bình" mà thâu tóm lại bao nhiêu việc làm trên vốn là chuyện muôn thuở của xã hội Trung Quốc còn giai cấp bóc lột thống trị. Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự "thái bình" dối trá nhưng thực sự là "đại loạn bên trong!".
Xét về mặt cấu trúc, không nên xem ngang bằng ba câu một, hai, ba vì như vậy thì chủ đề bài thơ chỉ là phê phán những thói hư tật xấu của bọn quan lại đương thời ở Lai Tân. Theo tôi, hai câu đầu là tầng trệt, câu thứ ba đã vút lên thành gác, thành lầu, thành lâu đài thơ. Và như vậy chủ đề của bài thơ "Lai Tân" là lên án thái độ và hành động vô trách nhiệm của nhà cầm quyền ở Lai tân mà cũng là của xã hội Trung Quốc thời Quốc dân đảng. Bài thơ có giá trị khái quát rộng lớn và sâu sắc biết bao!
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Lai Tân” trong ”Ngục trung nhật kí” của Hồ Chí Minh | 1,428 | |
Bình giảng bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương
Gợi ý
Tú Xương có nhiều bài thơ, bài phú nói về vợ. Bà Tú vốn là "con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ một người con dâu giỏi làm ăn buôn bán, hiền lành được bà con xa gần mến trọng:
"Đầu sông bến bãi, đua tài buôn chín bán mười;
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ".
Nhờ thế mà ông Tú mới được sống cuộc đời phong lưu: "Tiền bạc phó cho con mụ kiếm – Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi".
"Thương vợ" là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Đó là bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của ông Tú đối với người vợ hiền thảo của mình.
Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh của bà Tú trong gia đình và ngoài cuộc đời – hình ảnh chân thực về một người vợ tần tảo, một người mẹ đôn hậu, giàu đức hi sinh.
Hai câu thơ trong phần đề giới thiệu bà Tú là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó. Nếu như bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ "hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, chân nam chỉ chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc" (câu đối của Nguyễn Khuyến) thì bà Tú là một người đàn bà:
"Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng".
"Quanh năm buôn bán" là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác… không được một ngày nghỉ ngơi. Bà Tú "Buôn bán ở mom sông", nơi cái mảnh đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước; nơi làm ăn là ở cái thế đất chênh vênh. Hai chữ "mom sông" gợi tả một cuộc đời nhiêu mưa nắng, một cảnh đời cơ cực, phải vật lộn kiếm sống, mới "Nuôi đủ năm con với một chồng". Một gánh gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ. Thông thường, người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc,… chứ ai "đếm" con, "đếm" chồng! Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia đình gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải "ăn lương vợ".Xem thêm: Bài đọc tham khảo Cần kiệm xây dựng nước nhà Có thể nói, hai câu đầu, Tú Xương ghi lại một cách chân thực người vợ tần tảo, đám đang của mình.
Phần thực tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỏi sáng mỗi tối đi đi về về "lặn lội" làm ăn như "tỉìàn cò" nơi "quãng vắng". Ngôn ngữ thơ tăng cấp tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ. Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng: đã "lận lội" lại "thân cò", rồi còn "khi quãng vắng". Nỗi cực nhọc kiếm sống ở "mom sông" tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh "con cò", "cái cò" trong ca dao cổ: "Con cò lặn lội bờ sông…", "Con cỏ đi đón cơn mưa…", "Cái cò, cái vạc, cái nông…" được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh "thân cò" lầm lụi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ,… của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ:
"Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông".
"Eo sèo" là từ láy tượng thanh chỉ sự rầy rà bằng lời đối, gọi liên tiếp dai dẳng; gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi "mặt nước" lúc "đò đông". Một cuộc đời "lặn lội", một cảnh sống làm ăn "eo sèo". Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được "Nuôi đủ năm con với một chồng" phải "lặn lội" trong mưa nắng, phải giành giật "eo sèo" phải trá giá bao mồ hôi, nước mắt giữa thời buổi khó khăn!
Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: "một duyên hai nợ" và "năm nắng mười mưa", đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:
"Một duyên hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng mười mưa, dám quản công".
"Duyên" là duyên số, duyên phận; "nợ’ là cái "nợ’ đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng. "Nắng", "mưa" tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực trong cuộc đời. Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: "một… hai… năm… mười…" làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương chịu khó vì sự ấm no hạnh phúc của chồng con và gia đình. "Âu đành phận"… "dám quản công"… giọng thơ nhiều xót xa thương cảm.Xem thêm: Em nhận thức như thế nào về đạo đức Hồ Chí Minh và phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Sáu câu thơ đầu, bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương, chịu khó, thầm lặng hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Tú Xương thể hiện bút pháp điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, các số từ, phép đối, đảo ngữ, sử dụng sáng tạo thành ngữ và hình ảnh "thân cò"… đà tạo nện ấn tượng và sức hấp dẫn của văn chương.
Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngừ thông tục, lấy tiếng chửi nơi "mom sông", lúc "buổi đò đông" đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị. Ông tự trách mình:
"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!"
Trách mình "ăn luơng vợ’ mà "ăn ở bạc". Vai trò người chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn "hờ hững" với vợ con. Lời tự trách sao mà chua xót thế!
Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận. Sống giữa một xã hội "dở Tây dở ta" chữ nho mạt vận lúc mà "Ông nghè, ông cống cũng nằm co" cho nên nhà thơ tự trách mình, đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Ông không xu thời để vinh thân phì gia "tối rượu sâm banh, sáng sữa bò".
Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con mà gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương chính mình vậy. Đó là nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!
Bài thơ "Thương vợ’ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Ngôn ngữ thơ bình dị như tiếng nói đời thường nơi "mom sông" của những người buôn bán nhỏ, cách ngày nay một thế kỉ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với "năm con, một chồng") vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa). Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau êời. "Thương vợ’ là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao tình cảm trân trọng tốt đẹp. Hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.Xem thêm: Trình bày những nét chính về phong trào thơ Mới Tú Xương là nhà thơ trào phúng xuất sắc trong nền văn học Việt Nam. Tên tuổi ông sống mãi với non Côi, sông Vị. Sinh bất phùng thời giữa cái xã hội dở Tâv dở ta, khi mà Hán học đã mạt vận, Tú Xương vẫn giữ được nhân cách kẻ sĩ, vẫn sống "sang trọng" như ai, bới lẽ nhà thơ có người vợ hiền thảo đảm đang. Tú Xương không bảng vàng bia đá, nhưng ông đà khắc tên tuổi bà Tú vào bia đá bảng vàng:
"Một ngọn đèn xanh, mấy quyển vàng,
Bốn con làm lính, bố làm quan.
(…) Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ,
Đem chuyện trăm năm – giở lại bàn".
(Quan tại gia)
Tú Xương đã có bài "Văn tế sống vợ", lại có thêm bài"Thương vợ", đó là những áng văn thơ vừa tài tình vừa nghĩa tình. Ca dao đã nói về người vợ tao khang "tay bưng chén muối đĩa gừng", Tú Xương có bao giờ quên được công ơn của bà Tú "Nuôi đủ năm con với một chồng".
Á Nam Trần Tuấn Khải (1894 – 1983) nhà thơ cùng thời với Tú Xương đã có bài thơ "Viếng bà Tú Xương" viết năm 1931:
"Hơn sáu mươi năm đất Vị Hoàng,
Mẹ hiền, vợ đức đã treo gương.
Nếm chung trời Việt trăm cay đắng,
Vững với non côi một mối giường.
Bia miệng đã nên trang khổn phạm,
Nếp nhà không thẹn dấu văn chương.
Tấm thân tuy thác, danh nào thác,
Hồn cũng thơm lây dưới suối vàng".
Bài thơ của Á Nam giúp ta hiểu hơn Tú Xương và bà Tú, và chúng ta mới thấy hết cái hay, cái đẹp của tấm lòng Tú Xương được nói đến trong bài "Thương vợ".
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương | 1,637 | |
Bình giảng bài thơ “Tiến sĩ giấy” – Bài 2 của Nguyễn Khuyến
Gợi ý
Nguyễn Khuyến có đến trên 50 câu đối và bài thơ trào phúng; câu đối nào, bài thơ nào cũng hóm hỉnh, đầy ý vị sâu xa:
‘Vui chèo còn chẳng ra gì,
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề".
(Lời, vợ anh phường chèo)
"Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp,
Tiên là ý chú muốn vòi xu".
(Bồ tiên thi)
"Trời đất khéo thương chàng Bạch quỳ,
Giang sơn riêng sướng á hồng nhan".
(Lấy Tây)
Bài "Tiến sĩ giấy" – bài 2 cũng là một bài thơ trào phúng độc đáo của Nguyễn Khuyến, được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật:
"Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!".
"Tiến sĩ giấy" còn được gọi là "Ông nghè tháng tám" – một thứ đồ chơi trong dịp Tết Trung thu của trẻ em. Bài thơ có hai lớp nghĩa: vịnh ông nghè tháng tám, qua đó, Nguyễn Khuyến châm biếm những tiến sĩ giấy – hư danh, bất tài, vô dụng – trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
Hình ảnh ông nghè tháng tám, thứ đồ chơi của trẻ em được tác giả miêu tả cụ thể, sinh động và hay bằng nhiều chi tiết: cờ, biển, cân đai, mảnh giấy, nét son, xiêm áo, ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe. Câu thứ tám rất hóm hỉnh. Ông nghè tháng tám chỉ là một thứ đồ chơi nhưng lại làm cho mọi người tưởng lầm là đổ thật: "Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi".Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi... Đất Nước có từ ngày đó Sắc phục rực rỡ, tư thế "ngồi bảnh choẹ" rất buồn cười. Một thứ đồ chơi của trẻ em mà làm được như thế phái nói là khéo tay. Vì thế trong bài "Tiến sĩ giấy" – bài 1, Nguyễn Khuyến mới viết:
"Rõ chú hoa man khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu"…
Lớp nghĩa thứ hai của bài ‘Tiến sĩ giấy" thể hiện cái nhìn sắc sảo của tác giả về thân phận các ông nghè giữa thời buổi "Nào có ra gì cái chữ Nho" (Tú Xương).
Hai câu đề, chữ "cũng" được điệp lại bốn lần đã làm cho giọng điệu giễu cợt cất lên cùng với cái cười mỉm về cờ biển, cân đai… của các ông nghè. Trang phục ấy, cờ biển ấy… đều là của vua ban cho "có kém ai". Cách so sánh để hỏi ấy cũng hàm ý giễu cợt:
"Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai?".
"Có kém ai" về mặt "ân tứ vinh quy", hay "có kém ai" về mặt tài đức?
Hai câu thực nói về "thân giáp bảng" và "mặt văn khôi" của ông nghè. "Thân giáp báng" chí là "mảnh giấy" mỏng manh được "làm nên". "Mặt văn khôi" chỉ là "nét son", được "tô vẽ, được "điểm rõ". Câu ba và câu bốn đối chọi nhau tài tình. Ngôn từ và giọng điệu gợi cho người đọc nghĩ về sự tầm thường của những tiến sĩ Xem thêm: “Trí tuệ con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách trưởng thành trong bão táp" (W.Gơt). Anh chị suy nghĩ gì về ý kiến trên?
Giấy trong cái xã hội thực dân nửa phong kiến. Cái danh giá hão của ông nghè chỉ là "mảnh giấy" đề rách, chỉ là "nét son" dễ nhoè mà thôi!
"Mảnh giấy làm nên thân giúp háng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi".
Cũng nói về cái hư danh của những ông nghè, có lúc nhà thơ giễu cợt:
"Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu! ".
( Tiến sĩ giấy – bài 1)
Cặp câu luận là sự bình phẩm, đánh giá về xiêm áo, về khoa danh của ông nghè: "sao mà nhẹ", "thế mới hời". Hời là tiếng cổ, nghĩa là dễ dãi, giá rẻ. Nhẹ và hời vì tầm thường. Không phải là thực tài, thực danh nên mới nhẹ, nên mới hời. Nhẹ và hời vì vô dụng và chỉ là hư danh, hư vị mà thôi. Tác giả sử dụng câu nghi vấn và câu cảm thán khắng định, đối chọi nhau rất tài tình để châm biếm, để giễu cợt; giọng điệu thơ nhẹ nhàng mà mỉa mai:
"Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời"..
Hai câu kết, tác giá sử dụng nghệ thuật tương phản thật sắc sảo:
"Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ choi".
Cái tư thế ngồi rất oai: "ngồi bảnh chọe" trên "ghế tréo", "dưới lọng xanh". Ra vẻ vênh vang và tự đắc, hợm mình về sự cao sang phú quý. Nhưng "chỉ là đồ chơi". Tương phản ý ở câu bảy và câu tám, tương phản giữa "đồ thật" với "đồ chơi". Tương phản để châm biếm cái hư danh, hư vị của những tiến sĩ giấy dưới thời Pháp thuộc.Xem thêm: Văn nghị luận: Bàn về đức tính giản dị Trong gần một nghìn năm, chế độ khoa cử của nước ta đã đào tạo được hàng nghìn tiến sĩ. Có biết bao ông nghè đà đem đức tài làm rạng danh đất nước và dân tộc, lưu danh sử sách. Dưới thời Pháp thuộc, cả dân tộc là vong quốc nô, thì "Ông nghè, Ông cống cũng nằm co", hoặc chỉ trở thành hư danh, hư vị mà thôi. Nguyễn Khuyến là một nhà nho thực tài, ba lần đỗ đầu thi Mương, thi Hội, thi Đình. Thế nhưng trong cảnh ngộ đất nước bị ngoại bang thống trị. có lúc ông cảm thấy “thẹn”:
"Sách vớ ích gì cho buổi ấy,
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già".
(Ngày xuân dặn các con)
Có lúc ông lại tự cười mình, cười cái hư danh của mình:
"Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng".
(Tự trào)
"Tiến sĩ giấy" là bức tranh biếm hoạ chế giễu, châm biếm nhừng ông nghè trong thế kí XIX ở nước ta, tuy "Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai" nhưng chỉ là thứ "đó chơi" của bọn Toàn quyền, Khâm sứ, Công sứ – những ông Tây bụng phệ mà thôi.
Tiếng cười trong "Tiến sĩ giấy" là tiếng cười trong nước mắt. Bài thơ cho thấy nghệ thuật dùng từ, cách đối xứng, tạo giọng điệu rất điêu luyện, đúng là cụ Tam nguyên Yên Đổ xuất khẩu thành thơ.
Ngày nay, trong xà hội đã và đang xuất hiện không ít những tiến sĩ giấy mà báo chí từng nổi đến. Đọc bài thơ này, ta càng cảm phục tài thơ Nguyễn Khuyến
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Tiến sĩ giấy” – Bài 2 của Nguyễn Khuyến | 1,180 | |
Bình giảng bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính
Gợi ý
Trong phong trào Thơ mới, Nguyễn Bính đã tạo ra một dòng riêng. Trong khi các nhà thơ lãng mạn hướng về phương Tây, chịu ánh hưởng của nghệ thuật phương Tây, thì Nguyễn Bính hướng về nghệ thuật dân tộc, chịu ánh hưởng của thơ ca dân gian. Nguyễn Bính là thi sĩ đồng quê. "Chỉ có quê hương mới tạo nên được từng chữ, từng câu Nguyễn Bính. Trên chặng đường ngót nửa thế kỉ đời thơ, mỗi khi những gắn bó mồ hôi nước mắt kia đằm lên, ngây ngất, day dứt không thể yên, khi ấy xuất hiện những bài thơ tình quê tuyệt vời của Nguyễn Bính" (Tồ Hoài). Bài thơ "Tương tư’ tiêu biểu cho phong cách thơ của Nguyễn Bính.
Cũng như các nhà thơ lãng mạn đương thời, Nguyễn Bính say mê với đề tài tình yêu. Nhưng cách biểu hiện thì Nguyễn Bính theo một lối riêng. Có thể coi bài thơ "Chân quê" là tuyên ngôn thơ của Nguyễn Bính:
"Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều".
Ví như cùng viết về nỗi thương nhớ trong tình yêu mà giữa "Tương tư’ của Nguyễn Bính và "Tương tư chiều" của Xuân Diệu khác nhau biết mấy! Xuân Diệu thì rất Tây mà Nguyễn Bính thì "chân quê", cả hai đều có sức hấp dẫn riêng.
Cái tôi trong thơ Nguyễn Bính không nổi lên mà lặn xuống tan hoà vào không gian của đồng quê bằng thủ pháp nhân hóa như trong ca dao. Hãy nghe mấy lời mở đầu bài "Tương tư:
"Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng".
Người con trai đang yêu này là con người có gốc rễ sâu xa với làng mạc quê hương. Thơ của thi sĩ lãng mạn mà như của dân dã. Từng chữ thơ đều có dây mơ rễ má với thơ ca dân gian. Các cụm từ "ngồi nhớ "chín nhớ mười mong" gợi nhớ câu ca dao:
"Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than".
Nguyễn Bính thích lối cụ thể hoá cái trừu tượng của ca dao, cụ thể ra thành chữ số (yêu nhau tam tứ núi cũng trèo), nhưng lại có cấu trúc điêu luyện của thơ:Xem thêm: Viết đoạn văn để bác bỏ hai quan niệm dưới đây, rồi đề xuất một vài kinh nghiệm học Ngữ văn tốt nhất: a) Muốn học giỏi môn Ngữ văn... thơ văn. b) Không cần đọc nhiều sách, ...về tư duy, về cách nói, cách viết là có thể học giỏi môn Ngữ văn"Một người chín nhớ mười mong một người"
"Một người" đứng ở hai đầu câu thơ, diễn tả sự xa cách, nhớ mong như vậy thật là hay!
Tâm trạng của người tình đơn phương cũng được mở ra với trời đất:
"Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng".
Thanh niên từ Nam chí Bắc đều nhớ những câu thơ này vì đã nói hộ cho họ rất nhiều, thậm chí họ không biết đó là thơ của Nguyền Bính, họ nhớ như nhớ ca dao, họ thốt lên như từ cõi lòng mình. Đó là vinh quang của thi sĩ, vinh quang của Nguyễn Bính.
Nhớ mong đơn phương là "quyền được yêu" của con người, nhưng sao lại trách móc? Tinh yêu phi lí như thế đấy:
"Hai thôn chung lại một làng Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này".
Thật là tội nghiệp cho người trách và cũng tội nghiệp cho người bị trách. Nàng "thôn Đông" đâu có hay biết rằng mình đã lọt vào mắt xanh của chàng "thôn Đoài".
Cái "chung" đã không chung được thì thời gian càng đằng đẵng, nỗi chờ mong càng vò võ:,
"Ngày qua ngày qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng".
Lối láy chữ "ngày qua ngày lại…" như là âm hưởng của luyến láy trong âm nhạc dân gian, như dân ca, như hát chèo. Cách phô diễn của Nguyễn Bính cũng uyển chuyển. Cùng là sự vận động của một thời gian mà câu trên là nhạc, và câu dưới là màu. Nhạc là của ngày, màu là của mùa. Nhưng không thể viết "mùa qua mùa lại…" mà phải viết "Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng" thì ấn tượng tương tư mới đậm, tương tư đã đến vàng vọt cả "lá xanh" (hay là tuổi xanh?)
Rồi lại kiếm cớ để mà trách:
"Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đinh,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?"
Tương tư như thế chẳng khác chi chàng trai tương tư trong ca dao "Lá khoai anh ngỡ lá sen, – Bóng trắng anh tưởng bóng đèn anh khâu". Nhưng không phải chỉ có người tình phương Đông mới yêu phi lí như vậy, người tình phương Tây yêu có khác gì. Anh chàng Phê-lít Ác-ve (Félix Arvers) yêu một thiếu phụ đoan trinh, yêu đơn phương, đau đớn và tuyệt vọng trong bài Xon-nê (Sonnet) bất tử:Xem thêm: Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gian"… Người nào ngọc nói hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Nào ngờ chân đạp lên trên mối tình…"
Chao ôi, mỗi bước chân lãng đãng của nàng đã giẫm lên mối tình của chàng thi sĩ mà nàng nào có hay!
Hết trách móc (trách yêu thôi) lại kể lể nào nề:
"Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho".
Kể lể như vậy là để bộc lộ lòng yêu tha thiết của người tình, nhưng khốn nỗi có "ai" biết cho nỗi lòng tương tư trắng đêm ấy. Nhưng từ ai phiếm chỉ được điệp lại gây âm hưởng trùng điệp nghe mà não lòng. Những từ "ai" gợi nhớ những từ "ai" trong ca dao: "Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai". Có lẽ nhớ thương não nề vì mong ước vô vọng:
"Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?".
Cùng một lúc nhà thơ dùng hai biểu tượng Bến và Đò, Hoa và Bướm thường thấy trong ca dao. Cũng như trong ca dao, biểu tượng tĩnh như Bến, Hoa ám chỉ người con gái, biêu tượng động như Đò, Bướm ám chỉ cho người con trai. Vận dụng biểu tượng chung, Nguyễn Bính đã khéo léo biểu đạt cảnh ngộ riêng của đôi bạn tình. Sao lại "Bao giờ bến mới gập đò?" Thế là mong ước của chàng trai vô vọng rồi. Đò dịch thì thuận chứ sao lại đòi bến dịch! Cho nên cứ trách "Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này", rồi "Không sang là chẳng đường sang đã đành", rồi "tình xa xôi". Lại nữa "hoa khuê các" làm sao gặp "bướm giang hồ"! Rõ ràng Nguyễn Bính đã thổi vào Hoa – Bướm của dân dã một chút tình làng mạn của thời đại. Thành ra cuộc tình của đôi lứa vừa bó cái bí ẩn như những cuộc tình trong ca dao lại thêm chút "khó hiểu của thời đại" (Hoài Thanh). Trong thâm tâm, Nguyễn Bính đã cảm nhận được cuộc tình của đôi lứa không thể hoà hợp, gắn bó, bền chặt được.Xem thêm: Anh (chị) hãy viết đoạn văn bình luận quan niệm của một số bạn mới ít tuổi đã bắt chước hút thuốc: “Thuốc lá có thể có hại, nhưng cũng có thể có mặt lợi nào đó....” Kết, bài thơ trở về với giai điệu ban đầu, có thêm một vài biến tấu:
"Nhà em có một giàn giầu
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?"
Giai điệu ban đầu "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" được nhắc lại, có thêm cặp biểu tượng của tình yêu là trầu – cau, nhưng cũng chỉ nhớ đơn phương thôi, người nhớ người, cau nhớ trầu, chứ không làm sao "đỏ với nhau" được (Miếng trầu với lại quả cau – làm sao cho đỏ với nhau thì làm – Ca dao) thành ra "tương tư’. Mà tương tư đơn phương gọi đúng tên là thất tình. Đúng đấy là bài Thơ Thất tình của Nguyễn Bính.
Nguyễn Bính là ca sĩ của đồng quê. Trong khi ngọn gió nghệ thuật phương Tây ào ào thổi tới, Nguyễn Bính vẫn một mực giữ lấy chút "hương đồng gió nội" cho thơ minh. Với tài hoa và tâm huyết, với nghệ thuật dân tộc, Nguyễn Bính đã thành công. Thơ Nguyễn Bính thành ra lạ so với trường phái thư lãng mạn đương thời. Sức hấp dẫn của "Tương tư không chỉ là ở chuyện tình yêu lứa đôi mà còn ở tấm lòng tha thiết của nhà thơ đối với quê hương, với người với cảnh, ở sự nâng niu trân trọng của nhà thơ đối với nghệ thuật dân tộc, ở lối tư duy thơ đậm màu sắc dân gian. Có thể nói hồn quê chính là hồn thơ "Tương tư mà cũng là hồn thơ Nguyễn Bính. "Thơ là niềm khát khao, là ước nguyện của con người. Khi chưa quen Nguyễn Bính, tôi cũng không thật hiểu được những bài thơ viết về đồng quê của Nguyễn Bính và cũng chưa phân biệt được đâu là chút lòng mộc mạc thiết tha của người làm thơ, đâu là cái hoa hoà hoa sói của chàng trai quê ra tỉnh. Rồi mỗi khi gặp chính trong cuộc sống khốn khó hàng ngày tưởng như chẳng liên quan gì đến những bài thơ quê hương đẹp nõn như lụa của Nguyễn Bính, tôi lại nghĩ ra ý nghĩa sâu thảm của mỗi câu thơ với quê hương" (Tồ Hoài).
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính | 1,669 | |
Bình giảng bài thơ “Tảo giải” trong “Ngục trung nhật kí” của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Nhà thơ Hoàng Trung Thông khi đọc tập thơ “Nhật kí trong tù ” đã có những cảm nhận thật sâu sắc:
"Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vần mênh mông bát ngát tình".
Đấy cũng là cảm nhận chung của chúng ta khi đọc thơ Bác. Xưa nay, những tác phẩm lớn không hề biết đến thời gian, lớp bụi thời gian càng dày, càng tôn thêm giá trị của tác phẩm. “Nhật kí trong tù ” như một viên ngọc trong suốt. Tác phẩm đã trở thành bất tử. Ta gặp trong “Nhật kí trong tù ” một người tù vĩ đại, một nhà thơ vĩ đại, một chiến sĩ cách mạng ưu tú, một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Điều đó đã được thể hiện phần nào trong bài thơ “Giải đi sớm"
“Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt đêm thu, trận gió hàn.
Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tôi đêm tàn, quét sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng”.
(Nam Trân dịch)
Mùa thu năm 1942, trên đường đi công tác, Bác Hồ của chúng ta bị bọn Tưởng Giới THạch bắt giữ. Mãi đến cuối năm 1943, Người mới được trả lại tự do. Trong suốt hơn một năm trời ấy, Người đã phải chịu dựng bao cảnh lao khổ. Ta được biết đã bao lần Người bị "Giải đi sớm", đã bao lần Người phải "ngồi trên hố xí đợi ngày mai", đã bao lần Người bị chúng làm tình làm tội. Cuộc Sống trong tù thiếu thốn đói rét, người tù lại bị đày đọa cả về tinh thần. Nhưng thật lạ lùng, cứ sau mỗi thử thách, ta lại thấy hiện lên một con người vĩ đại, một chiến sĩ cộng sản kiên cường. Đọc bài thơ ta thấy hiện lên một tâm hồn lớn – tâm hồn Hồ Chí Minh vĩ đại.
“Gà gáy một lần đêm chưa tan,
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn ".
Hai câu thơ đầu ta chưa thấy xuất hiện hình ảnh người tù. Cảnh được tả ở đây chưa phải là cảnh của một buổi sớm mai, "gà gáy một lần" tức là đêm còn rất khuya. Đêm còn rất khuya mà Bác đã phải giải đi; bài thơ không nói ra nhưng ta biết Bác bị trói hoặc bị còng tay áp giải trên con đường dài dằng dặc ấy. Những câu thơ giàu hình ảnh phác họa cho chúng ta thấy một bức tranh đơn sơ, dường như cảnh vật yên tĩnh nhưng cũng đang chuyển động. Trên cái nền không gian và thời gian ấy đã hiện ra một con người – một người tù vĩ đại:
“Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mật đêm thu, trận gió hàn
Nếu như Bác không đặt tên cho bài thơ là “Giải đi sớm ”, thì chưa chắc ta đã đoán ra đây là cảnh bị giải đi của người tù. Trên con đường khuya hiu quạnh vắng vẻ, Bác – người tù, đã hiện lên với một phong thái hết sức ung dung đường hoàng. Theo nguyên bản chữ Hán "Nghênh diện thu phong trận trận hàn" tức là những trận gió rét buốt mùa thu liên tiếp táp vào khuôn mặt. Một cuộc giải đi sớm vào một đêm khuya lạnh cuối thu, nhưng người tù vẫn mạnh mẽ cất bước trên con đường xa thẳm. Người tù đó còn cảm thấy mình không đơn độc, vì hồn người đã giao cảm với thiên nhiên:Xem thêm: Nhiều ý kiến cho rằng chữ “hồng” là nhãn tự bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh. Anh (chị) có đồng ý như vậy không? Hãy nêu ý kiến của mình, phân tích để làm sáng tỏ Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn.
Đúng trăng sao đã làm bạn với Bác trên con đường đi đày dài dằng dặc ấy. Tấm lòng yêu thiên nhiên của Bác mới nồng nàn và đằm thắm làm sao? Vầng trăng sao ấy là vầng trăng sao ta đã gặp bao lần trong “Nhật kí trong tù ”, vừa có vẻ đẹp trong sáng, vừa gần gũi thân thiết với con người. Tình yêu thiên nhiên của Bác khiến ta liên tưởng đến tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi. Hai con người đó đều có cốt cách của nhà hiền triết phương Đông. Nguyễn Trãi đã từng viết "Núi láng giềng, chim bầu bạn, – Mây khách khứa, nguyệt anh tam", ịNhưng có điều khác là, Nguyễn Trãi làm bài thơ khi đang ở ẩn, còn Bác Hồ thì làm trên đường đi đày. Chúng ta nhắc tới điều đó là để thấy được cái vĩ đại, cảm được chất "thép" trong con người Bác. Bác là một vị lãnh tụ thiên tài, một vị anh hùng dân tộc. Bác là sự kế thừa, kết tinh những nét văn hoá truyền thống mà chúng ta thường thấy ở các vị anh hùng dân tộc trước kia.
Trong một trường hợp khác, phẩm chất vĩ dại của Bác, tình yêu thiên nhiên của Bác lại được thể hiện qua giọng điệu cười cợt, chấm biếm trước những cực hình mà nhà tù Tưởng Giới Thạch đã dành cho Bác:
"Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh,
Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình;
* Làng xóm ven sông đông đúc thế,
Thuyền câu lướt sóng nhẹ thênh thênh ”.
(Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh)
Trong gian khổ tù đày, nhiều khi Bác như quên minh đang sống trong cảnh giam cầm, cảnh mất tự do, Bác thả hồn mình hòa nhập với cuộc sống nhộn nhịp xung quanh và thả hồn mình tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên non nước như thế.
Đọc “Giải đi sớm ”, ta còn liên tưởng tới hình ảnh người tù cộng sản trong thơ Tố Hữu bài "Tiếng hát đi đày ”:
"Đường lên đỉnh núi Đúc Lay
Heo heo gió lạnh, sương dày vắng chim
Gà đâu gáy động im lìm
Mơ mơ mấy xóm tranh chìm trong mây".
Rõ ràng, hai người tù cùng một thế giới quan cách mạng, nhưng hình ảnh người tù trong "Giải đi sớm ” vẫn thấy hiện lên với một tầm vóc phi thường. Điều lớn nhất làm cho ta phân biệt được Bác với những người cộng sản khác là ở cái nhìn tỉnh táo, phong thái ung dung tự tại, phát hiện và nắm bắt được quy luật của thiên nhiên và qua đó nhận thức được quy luật xã hội. Hãy đọc tiếp đoạn sau:Xem thêm: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người lái đò sông Đà. Hãy phân tích và chứng minh.
"Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đêm tàn, quét sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng. ”
Đoạn thơ này là sự tiếp nối tự nhiên của đoạn thơ trên. Lúc Bác bắt đầu bị giải đi khi trời còn tối, đêm còn khuya: đến lúc này, sự vật vần xoay trời đã dần sáng. Nhờ có ánh sáng bình minh cảnh vật hiện ra thật đẹp đẽ biết bao:
“Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đêm tàn, quét sạch không".
Đêm tàn, trời sáng, mặt trời lên, nhưng đâu chỉ thấy sự chuyển vần một cách tự nhiên mà đó còn là kết quả sau một đêm trường thao thức ở phía chân trời bên kia. Nắm bắt được quy luật của thiên nhiên, Người cũng thấy được quy luật phát triển tất yếu của cách mạng. Mặt trời nhất định sẽ lên xua bóng đêm qua, cũng như cách mạng sẽ hoàn toàn thắng lợi, mặc dù còn phải trải qua muôn vàn khó khăn thử thách. Bởi có lần, Người đã viết: *
"Hết mưa là nắng hửng lên thôi
Hết khổ là vui vốn lẽ đời".
Con đường cách mạng là con đường gian khổ, chông gai, nhưng tất thắng. Con thuyền cách mạng dù gặp nhiều bão tố, sóng to gió lớn, nhưng cuối cùng nhất định nó sẽ cập bến vinh quang, tới bờ hạnh phúc. Màu hồng trong thơ Bác chính là niềm hi vọng, là tương lai của đất nước. Đã bao lần ta bắt gặp màu hồng đó:
"Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi".
Cũng có lúc màu hồng ấy gieo vào lòng ta cái cảm giác ấm áp đến lạ lùng:
"Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết lò than đã rực hồng ".
Nhưng, thường thường khi nhắc đến màu hồng, Bác thường ngụ ý nói đến tương lai sáng lạn. sự tất thắng không gì lay chuyển của cách mạng. Màu hồng trong thơ Bác là màu hồng kì diệu, màu hồng quy luật của thiên nhiên và xã hội, màu hồng quét bóng đêm để binh minh trải khắp không gian, thế gian. Không thể có câu thơ ấy, nếu như không có tình yêu thiên nhiên tha thiết, tình yêu nhân quán mãnh liệt ớ Bác: "Bóng tối đêm tàn quét sạch không". Mặt trời lên đem theo bình minh như cái chổi lớn quét đi bóng đêm đen tối. Những năm 1942, 1943 là những năm cách mạng Việt Nam đang trên đà phát triển nhưng cũng gặp không ít khó khăn, nhân dân ta đang rên xiết dưới ách áp bức bóc lột của bọn thực dân – phong kiến và phát xít Nhật. Cả Việt Nam như một "đống cỏ khô" chỉ chờ một tia lửa nhỏ sẽ bùng lên đốt cháy kẻ thù. Câu thơ của Bác có giá trị dự báo cho sự tất thắng của cách mạng Việt Nam. Đêm hết, mặt trời lên, đó là quy luật của tự nhiên, nhưng cũng là quy luật của xã hội – Bác lại nhìn thấy hiện tượng ấy với con mắt của người chiến sĩ cộng sản ưu tú. Bác là người Việt Nam đầu tiên tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc. tầm nhìn của Bác là tầm nhìn của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một lãnh tụ thiên tài suốt đời phấn đấu vì dân tộc, vì tương lai của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.Xem thêm: Qua bài Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và bài Thương vợ của Trần Tế Xương, anh (chị) hiểu những gì về người phụ nữ Việt Nam thời xưa? Bình minh rực rỡ của một ngày mai đã làm cho người tù bừng dậy một niềm vui, một cảm hứng lớn lao:
"Hơi ấm bao la trùm vũ trụ.
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng".
"Hơi ấm hao la trùm vũ trụ" nghĩa là hơi ấm trùm lên khắp không gian và tỏa ấm lòng người. Bác hòa tâm hồn mình vào vũ trụ, vào không gian bao la tươi đẹp.
Và thật lạ lùng, ta chẳng thấy người tù đâu, chỉ thấy một nhà thơ đang ngây ngất trước cảnh bình minh rực rỡ đang lên. Rõ ràng người tù ở đây đã là thi nhân. Cảnh đi đày đối với Bác đâu chỉ là khổ ải, mà ngược lại, đôi khi đã trở thành những cuộc du ngoạn thú vị, vì cuối cùng Bác đà được ngắm thiên nhiên, ngắm không gian đang nhuộm màu hồng đẹp tươi rực rỡ, lại thấy cảnh sinh hoạt cuộc Sống thường ngày đáng yêu của nhân dân lao động, Bác thêm cảm hứng làm thơ. Con người Hồ Chí Minh giàu "chất thép", qua lò lửa của gian khổ. hi sinh càng ánh lên vẻ đẹp cao cả, đáng quý. Cả bài thơ toát lên một tinh thần lạc quan ung dung tự tại. Câu thơ cuối mãi để lại cảm hứng nồng thắm trong lòng người đọc:
“Người đi thi hứng bỗng thêm nồng".
Câu thơ đã nâng bài thơ lên một tầm cao mới, qua đó, chúng ta hiểu hơn tình cảm lãng mạn cách mạng trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở đây có sự kết hợp thật hài hòa giữa con người chiến sĩ và tâm hồn thi sĩ. "Nóng’ ở đây là cái không khí nồng ấm của cả bài thơ hay, còn là cái nồng nàn của tâm hồn lớn Hồ Chí Minh? Thơ văn Bác thể hiện con người của Bác, thể hiện tâm hồn của Bác.
Bài thơ đã cho ta thấy được một tâm hồn vĩ đại của một con người vĩ đại. Bài thơ không chỉ thể hiện lòng yêu thiên nhiên thiết tha của Bác, mà còn cho ta thấy một dũng khí lớn của một bậc "đại trí, đại nhân, đại dũng".
Nhớ về Bác, mỗi người Việt Nam nhớ về một tâm hồn vĩ đại của một con người vĩ đại. Nhớ về Bác, mỗi người Việt Nam nhớ về vị lãnh tụ thiên tài suốt đời phấn đấu vì dân, vì nước! Tên tuổi của Bác đã gắn liền với non sông đất nước:
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen,
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Mỗi chúng ta mãi mãi biết ơn Bác – con người Việt Nam vĩ đại mà bình dị đã mang lại mùa xuân huy hoàng cho dân tộc chúng ta hôm nay
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Tảo giải” trong “Ngục trung nhật kí” của Hồ Chí Minh | 2,242 | |
Bình giảng bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm
Gợi ý
Thâm Tâm làm bài thơ Tống biệt hành để tiễn một người bạn ra đi vì nghĩa lớn. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, đất nước bị thực dân Pháp thống trị, người làm thơ không thể nói rõ tâm trạng thật của mình mà phải dùng cách nói lấp lửng. Tuy vậy, người đọc vẫn cảm nhận và thấu hiểu được không khí và ý nghĩa của toàn bài. Qua bài thơ, tác giả đã kín đáo gửi lòng yêu nước vào tình cảm yêu mến và ngưỡng vọng đối với người chiến sĩ Cách mạng dám hi sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc.
Trước hết là nhan đề bài thơ. Tống biệt hành là tiễn đưa, hành là một thể thơ cổ điển của Trung Quốc vừa trữ tình vừa tự sự, tương đối tự do, không theo niêm luật chặt chẽ như thơ Đường (Tì bà hành). Tống biệt hành nói chuyện tiễn đưa.
Bốn câu thơ mở đầu thể hiện tâm trạng của người đưa tiễn:
“Đưa người ta không đưa qua song
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?"
Câu đầu toàn thanh bằng tạo nên không khí bâng khuâng xao xuyến, ở câu thứ hai nổi lên mấy thanh trắc tưởng như có tiếng sóng thật trong lòng và nghe trong tiếng sóng như có cả hơi lạnh của gió sông.
Tiễn đưa một người mà dùng chữ tống biệt, nghe mang máng dư âm ngàn xưa. Cho nên cuộc tiễn đưa cũng có khí vị xưa trong cách xưng hô ta với người và trong âm vang của từ không: Đưa người ta không đưa qua sông; Bóng chiều không thắm không vàng vọt… Trong cái nền không ấy lại nổi lên cái có: có tiếng sóng ở trong lòng, có hoàng hôn đầy trong mắt trong.
Dòng sông, bến đò được người xưa sử dụng như là một biểu tượng của chia li. Ở đây, cuộc chia tay không diễn ra nơi bến sông nên không có sóng làm tác nhân gợi nỗi buồn li biệt, nhưng vẫn cỏ tiếng sóng ở trong lòng. Sự ra đi của một con người dám trả lời không cho cả cuộc đời bình an, đó là khí phách, là dám đánh đổi cuộc sống bình yên lấy gian khổ, hi sinh, người tiễn đưa làm sao không nổi sóng trong lòng, những con sóng âm thầm không thành tiếng, sóng cảm phục, sóng thương yêu.Xem thêm: Cảm nghĩ về bà ngoại của em lớp 7 Buổi chiều chia tay cũng bình thường như bao chiều khác, không có gì đặc biệt: Bóng chiều không thắm không vàng vọt nhưng ánh hoàng hôn lại đọng đầy trong mắt kẻ ra đi. Hoàng hôn trong mắt là buồn và lo. Ra đi dù đã quyết trong lòng nhưng cũng không khỏi buồn và lo, nhất là lo cho người ở lại.
Khổ thơ đượm một nỗi buồn nhưng là nỗi buồn lành mạnh và chính đáng của con người. Để thể hiện nỗi buồn này, Thâm Tâm đã sử dụng những hình ảnh đẹp phẳng phất hương vị cổ điển nhưng vẫn có phần sáng tạo riêng của mình (sóng lòng, hoàng hôn trong mắt…) và từ ngữ giàu khả năng gợi tả. Bên cạnh đó là nghệ thuật phối hợp âm thanh cũng như đặt lời thơ trong âm điệu nghi vấn: sao có tiếng sóng, sao đầy hoàng hôn… để tạo cảm giác xao xuyến, bồi hồi của buổi chia li. Đây là đoạn thơ hay và đẹp của bài thơ.
Vậy người ra đi là người nào?
Cả bài thơ có bảy lần lặp lại từ người: đưa người, đưa người, đưa người, người buồn, người buồn, người đi, người đi nhưng vẫn chưa giúp ta hiểu gì về người đó. Con người không tên tuổi, con người đang ẩn mình ấy lại là chủ thể trữ tình trong bài thơ. Con người mà vào thời điểm gần kề Cách mạng tháng Tám ấy được nhà thơ tặng cho một âm điệu có vang vọng hơi hướng tráng sĩ là Tống biệt hành:
“Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong! ”
Li khách là cách gọi người đi với thái độ trân trọng. Con đường nhỏ là con đường mới mở, gập ghềnh, đầy nguy hiểm, nhưng đi vào đó là đi theo chí nhớn. Mà chí nhớn bấy giờ là đi theo Cách mạng đánh Nhật đuổi Tây, giành lại độc lập cho nước nhà. Nó đang chờ mong, đang thúc gọi. Mà đi lần này thì nhất quyết không về với hai bàn tay không, thậm chí một đi là không trở lại.Xem thêm: Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Nêu nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật này của nhà văn Như thế là đã rõ. Con người này ra đi cứu nước, cứu dân. Xông pha vào con đường ấy là cầm chắc tù đày, chết chóc. Và người đó đã tự trả lời mình bằng bao chữ không: không bịn rịn gia đình, là dửng dưng, nhằm vào con đường nhỏ kia mà đi, mà làm li khách, không xong chí nhớn thì không nói trở lại quê nhà, dù ba năm mẹ già cũng đừng mong. Từ chối tất cả để góp công sức vào sự nghiệp cứu nước. Không nói đến hi sinh nhưng thực tế là đã hi sinh, đã nhất quyết cắt bỏ bao nhiêu thiết tha quyến luyến trong con người mình.
Lẽ ra, người ở lại phải cứng lòng hơn mới xứng đáng với chí khí dù là thầm lặng của người đi, bởi bản thân con người ấy đã từ giã gia đình mà vẫn giữ thái độ dửng dưng. Nhưng đâu dễ cho người đưa tiễn vượt qua những cảm xúc thường tình của phút biệt li. Tuy vậy, khi đã rõ người đi là ai, chí hướng và khí tiết đặt vào đâu thì người đưa tiễn như ẩn mình để cho người ra đi hiện lên với những nét bản lĩnh: bàn tay không thì không bao giờ nói trở lại. Và xót đau cắn răng mà lạy mẹ già, dù ba năm hay dù bao năm cũng đừng mong, hãy coi như con đã chết.
Còn với chị em trong gia đình thì tình cảm của người đi ra sao?
‘Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cùng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay,
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay… ”
Chiều hôm trước, người buồn, ta biết. Sáng hôm nay, người buồn, ta biết. Chia tay vào cuối mùa hạ, trong ao lác đác mấy đóa sen nở muộn. Người đi ước mong hai chị mình cũng tươi thơm bền vững như sen. Hai chị khuyên em dòng lệ sót. Buổi sáng tiễn đưa, giời chưa mùa thu tươi lắm thay. Em nhỏ nhìn anh với đôi mắt biếc mà lặng thầm cuộn tròn thương tiếc trong chiếc khăn tay. Người ra đi trong chí lớn, trong quyết tâm, với gia đình không chỉ một mực dửng dưng mà vẫn gửi lại cho mẹ, cho các chị, cho em những tình cảm tha thiết nhất, dù cố nén vào trong.Xem thêm: Phân tích bức tranh đời sống của phố huyện nghèo lúc chiều tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ Và tất cả dồn lại, kết tinh lại thành mấy hình ảnh giản đơn mà vô hạn thấm thía ở cuối bài:
“Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say. ”
Người ra đi thực rồi, mọi điều quyến luyến vấn vương coi như chấm dứt. Người ra đi sẽ nhẹ mình, người ở lại cũng sẽ nhẹ lòng. Cấu trúc ba câu thơ lặp lại cùng một điệu buông xuôi, đã rồi, gần như bất đắc dĩ, không thể khác được: thà coi như, thà coi như, thà coi như… tưởng như là tiếng khóc òa mà cố giữ để không bật lên thành tiếng.
Chiếc lá vàng bay vèo rơi vào khoảng không mất tăm. Hạt bụi li ti, hơi rượu say chốc lát rồi qua. Tất cả đều coi như không có gì đáng kể. Con người là quý nhất. Nhưng hi sinh cứu nước thì càng quý gấp bao lần. Vậy mà người ra đi coi mình là không đáng kể. Không phải coi nhẹ mình mà là để an ủi người thân và khẳng định thêm quyết tâm ra đi.
Bài thơ chấm dứt trong âm điệu trầm lặng. Lời lẽ có chỗ gợi lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ nhưng cái bâng khuâng khó hiểu của thời đại như nhận xét của Hoài Thanh thì đến nay ta đã thấu hiểu. Đó là bước dấn thân của tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ, tuy không qua sông mà đủ thứ tiếng sóng trong lòng phải át đi để bước tới, hòa nhập vào dòng người của Cách mạng tháng Tám sục sôi.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm | 1,569 | |
Đề bài: Em hãy bình giảng bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Tố Hữu được xem là một trong những nhà thơ cách mạng đã có nhiều đóng góp lớn lao cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam nói chung. Ta có thể thấy được dường như thơ của ông là những chân thực ngọt ngào và nó như cũng đã chứa được những tình cảm sâu sắc về một vùng đất mà dường như cũng đã phải chịu nhiều đau thương, và chính những nỗi đau ấy đang thấm nhuần và in sâu vào trong từng trang sách của ông. Có thể nói được sự tiêu biểu đó là bài “Việt Bắc”.
Ta như có thể thấy được những cuộc chiến đấu hào hùng tại vùng đất Việt Bắc dường như cũng như đã để cho tác giả Tố Hữu những nguồn cảm hứng thật riêng. Đó là những nguồn cảm hứng về con người và vùng đất nơi đây. Có thể thấy được những hình ảnh đó dường như cũng đã thẫm đẫm chất dân tộc và đó còn chính là những kỉ niệm khó quên nó như sâu sắc mà dường như trong mỗi chúng ta cần nhớ. Và đó không là gì khác ngoài chính là cội nguồn của sự tư do. Ngay từ những trang mở đầu bài thơ tác giả Tố Hữu như cũng đã nói về những phút giây lịch sử hào hùng. Có thể nói đó chính là những giây phút chia tay như thật sự xúc động và cuỗ chia tay như diễn ra là giữa người ra đi và người ở lại. Có lẽ rằng ta như cũng đã thấy được ở đây thì chính tác giả như cũng đã thể hiện cảm xúc của mình qua những nỗi nhớ thương đó. Và rồi đó còn chính là những kỉ niệm gắn bó của tác giả những ly niệm hào hùng cũng như đã tạo nên cho chúng ta những cảm xúc nhớ thương da diết khôn nguôi biết bao nhiêu. Nhất là khi thời gian gắn bó với chiến trường đó khá dài và nó cũng như đã thật vang vọng trong tâm trí mỗi con người. Có lẽ rằng chính khoảng thời gian gắn bó với miền đất nơi đây cũng như thật khá dài. Có lẽ cũng chính vì vậy khi ra đi chia tay họ mà tác giả hay cả những người đi như lại có những cảm xúc nhớ thương, và rồi họ như lại thật tiếc nuối về những gì đã qua. Đó chính là những vấn đề đã diễn ra ở đây hình ảnh đó rung động và như cũng đã mang những cung bậc ngọt ngào. Như thật sâu sắc biết bao nhiêu. Và có lẽ rằng trong những giây phút lịch sử đó chúng ta như lại được quyền tự hào về tự hào về quãng thời gian đã trôi qua khi từng gắn bó để bảo vệ tổ quốc thân thương như là máu là thịt của mình.Xem thêm: Người sống ở đời không thể thiếu bạn. Trình bày quan niệm của anh (chị) về ý kiến trên
Mình về mình có nhớ ta?
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.
– Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Và khi ra đi thì ngoài việc nhớ những người đồng chí đồng đội của mình, tác giả Tố Hữu như cũng đã còn nhớ thiên nhiên nơi đây. Và đó cũng chính là những khoảnh khắc như đã được chia ngọt sẻ bùi của những người cách mạng đối với nhau. Và cũng có lẽ rằng chính với những kỉ niệm đó dường như cũng đã tạo nên những giai điệu như ngân vang như thật là sâu sắc. Hơn nữa nó như cũng có những tác động mạnh mẽ vào sâu thẩm cho đến tâm trí của con người. Vẫn còn đó chính là những hình ảnh về quê hương đất nước cũng như đã thấm đẫm trong tư tưởng của nhà văn. Hơn hết đó chính là niềm tự hào và mong ước đó đã diễn ra,và có thể thấy khi mà những hình ảnh nơi mà tác giả Tố Hữu đã và đang chiến đấu vẫn luôn hiện diện trong tâm trí của ông. Tố Hữu như đã thật không ngừng suy nghĩ và nhớ thương về một quãng thời gian gian khổ và hào hùng đã qua đó là những điều thật kì diệu biết bao nhiêu mà nó như đã khiến cho tác giả cảm thấy thương và mong nhớ về những kí ức đã qua. Có thể thấy được khi khoảng thời gian chiến đấu đã qua đi nhưng chính những hình ảnh đó nó cũng như vẫn mãi còn đọng lại trong nỗi nhớ của người. Ta cũng không thể nào mà quên được hình ảnh về một đất nước thân thuộc và hào hùng dường như cũng đã mang trong tim của chúng ta. Và có thể thấy được những niềm tự hào riêng mà nó cũng như thật đã vang vọng và khắc sâu trong tâm trí của người. Ta cũng như đã thấy được những địa danh nổi bật mà tác giả cũng như đã dùng ngòi bút của mình để như đang nhắc đến đó là Tân Trào, Hồng Thái… Có lẽ đây là những căn cứ địa cách mạng cũng rất nổi bật và nó như lại có những ấn tượng vô cùng sâu sắc:
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Xem thêm: Bài văn tả một đêm trăng đẹp lớp 5 hay nhất
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
Khi mà đi ra đi khỏi miền đất này dường như cũng đã từng gắn bó máu thịt của mình ở đó những lời thề như cũng đã thật thủy chung son sắt. Và chính những lời thề này như đã diễn ra và nó trở thành động lực cho con người, giúp cho con người ta như cố gắng và nuôi dưỡng ý chí trong con người của mình.
Và khi ra đi tác giả như vẫn còn vương vấn, như vẫn còn nhớ mong tất cả những điều đã diễn ra. Tất cả điều đó nó như còn vang vọng mãi mãi trong trái tim mỗi người. Ta như có thể thấy được những hình ảnh đó như một miền đất hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp cũng như đã diễn ra. Và cho dù là một vùng đất mà ngay mà tác giả Tố Hữu cũng đã vào sinh ra tử nhưng đó để lại cho tác giả những cảm nhận riêng và dường như ta không thể nào nguôi đi nỗi nhớ về vùng đất này. Và đó chính là một vùng đất có khung cảnh thiên nhiên như mê mẩn đắm say, nó như thật tuyệt đẹp tác giả dường như chính tác giả cũng như đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên tứ bình đặc sắc và nó thể hiện những nỗi niềm sâu thẳm trong tâm hồn con người. Ta như đã thấy những hình ảnh hoa và thiên nhiên nơi đây đã thể hiện sự gắn bó như thật sâu sắc chính trong tâm hồn của tác giả Tố Hữu về chính vùng đất này. Và nó dường như chính là niềm mong ước và sự tự hào gắn bó trong khoảng thời gian ở nơi đây. Và có thể thấy được những màu xanh của núi rừng bạt ngàn và dường như chính những màu sắc mang đậm những nét tươi tắn của thiên nhiên:
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy
Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Ta như cũng thấy thiên nhiên ở đây gần gũi và gắn bó với con người bởi những nét bình dị và gắn bó với cuộc sống của con người. Dường như chúng ta không ngừng học hỏi và có lẽ rằng chính những điều thật tuyệt vời với vùng đất quê hương này một vùng đất đã để lại nhiều gắn bó cũng giống như có nhà văn đã từng nói
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.
Quả là khi ra đi thì tình yêu thương mới được thể hiện một cách ngọt ngào và sâu lắng đến như thế này. Có thể thấy được chính những hình ảnh đó gợi nhớ những khoảng thời gian trôi đi nhẹ nhàng và nó tình cảm và gắn bó với những ai đã từng sống và làm việc chiến đấu tại nơi đây. Đó chính là một khung cảnh thiên nhiên ở vùng Việt Bắc dường như làm cho con người ta như cũng đã thật chứa chan biết bao nhiêu cảm xúc khó tả.Xem thêm: Bàn về một kĩ năng sống
Và đó chính là một bức tranh với đa dạng màu sắc đã được tác giả thể hiện như cũng như rất sâu sắc nó như cũng đã tạo nên những khoảng thời gian riêng để có thể nhớ lại những quãng thời gian đã qua. Và ta như cũng đã thấy được chính những hình ảnh và thiên nhiên Việt Bắc như lại vô cùng phong phú, bởi như nó cũng như đã mang bao âm điệu sâu sắc. Có thể thấy được khi hình ảnh thiên nhiên nơi đây dường như cũng đã mang lại biết bao những vẻ đẹp của một vùng quê gắn bó với những người cách mạng trong suốt một chiều dài lịch sử.
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Có thể thấy được chính những hình ảnh về thiên nhiên đã hiện lên trong khoảng không gian rộng lớn đó như cũng chính là bốn bề của mùa xuân hạ thu đông. Dường như ở mỗi mùa lại có những nét đẹp riêng biệt và nó cũng như đã vang vọng cho con người của tác giả. Ta như cũng đã thấy được nhiều hình ảnh khác cũng được tác giả thể hiện đó cũng như chính là nơi đây còn. Mảnh đất Việt Bắc đó chính là một mảnh đất anh hùng, nơi diễn ra rất nhiều những chiến công.
Ta như cũng nỗi nhớ của tác giả đã bao trùm lên toàn bộ bài thơ, đây là bài thơ thể hiện tiếng lòng sâu sắc của tác giả Tố Hữu như là về một vùng đất cách mạng. Và người ra đi như có những nhớ thương về một vùng đất hào hùng và ta như thấy được chính những sự chiến đấu đầy gian nao nguy hiểm nhưng dường như những người chiến sĩ của ta vẫn chiến đấu kiên cường để giành được độc lập cho cả một dân tộc.
Nguồn: Văn mẫu hay | Bình giảng bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn 12 | 1,913 | |
Bình giảng bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” của Tú Xương
Gợi ý
Tú Xương sinh năm 1870, đến năm 15 tuổi đã bắt đẩu đi thi. Khoa Ât Dậu 1885, không đỗ. Khoa Mậu Tí 1888, khoa Tân Mão 1891 đều hỏng. Khoa Giáp Ngọ 1894, chỉ đỗ tú tài, năm đó ông mới 24 tuổi và từ đó đã chính thức thành danh là Tú Xương. Ông có câu thơ nói về mùi vị chuyện khoa danh: "Thi không ăn ớt thế mà cay". Sau đó, Tú Xương còn vác lều chõng thi tiếp bốn khoa nữa: Khoa Đinh Dậu 1897, khoa Canh Tí 1900, Khoa Quý Mão (1903) và khoa Bính Ngọ 1906. Nguyễn Tuân nói: "Thế rồi Tú Xương mất vào đầu năm sau (1907). Tức là Tú Xương thi chết thôi, thi cho dân chết mới thôi".
"Một việc văn chương thôi cũng nhảm,
Trăm năm thân thế có ra gì?".
(Buồn thi hỏng)
Khoa thi Đinh Dậu đối với Tú Xương có một ý nghĩa đặc biệt: nhiều hăm hở và hi vọng. Khoa thi trước (khoa Giáp Ngọ, 1894) ông đã đỗ tú tài nên khoa thi này ông hi vọng sẽ đỗ cử nhân bước lên đài danh vọng: "Võng anh đi trước, võng nàng theo sau".
Nhan đề bài thơ còn có một cái tên khác: "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu". Bài thơ miêu tả lễ xướng danh khoa thi Hương tại trường Nam năm 1897, qua đó nói lên nỗi nhục mất nước và niềm chua xót của kẻ sĩ đương thời.
Hai câu đề giới thiệu một nét mới của khoa thi Đinh Dậu:
"Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà".
Việc thi cử ngày xưa là của vua, của triều đình nhằm mục đích kén chọn kẻ sĩ tài giỏi, chọn nhân tài ra làm quan giúp vua, giúp nước. Bấy giờ nước ta đã bị thực dân Pháp thống trị. việc thi cử vẫn còn thi chữ Hán theo lệ cũ "ba năm mở một khoa" nhưng đã cuối mùa. Và kẻ chủ xướng ra các khoa thi ấy là nhà nước – là chính phủ bảo hộ. Câu thơ thứ hai nêu lên tính chất hỗn tạp của kì thi này: "Trường Nam thi lẫn với trường Hà". Đời Nguyễn, ở Bắc Kì có hai trường thi Hương là trường thi Hà Nội và trường thi Nam Định. Tây thực dân chiếm trường thi Hà Nội, nên mới có chuyện sĩ tử Hà Nội phải thi lẫn với trường Hà như thế. Theo Nguyễn Tuân cho biết, khoa thi 1894, trường thi Nam Định có mười một ngàn sĩ tử, lấy đỗ 60 cử nhân và 200 tú tài. Tú Xương đỗ tú tài khoa thi đó. Chắc chắn khoa thi Hương năm Đinh Dậu số người dự thi còn đống hơn nhiều!Xem thêm: Bình giảng bài thơ "Tương tư" của Nguyễn Bính Hai câu thực miêu tả cảnh nhập trường và xướng danh bằng hai nét vẽ rất đặc sắc. Vì là người trong cuộc nên Tú Xương mới làm nổi bật cái thần của quang cảnh trường thi như vậy. Dáng hình sĩ tử thì "vai đeo lọ" trông thật nhếch nhác, "lôi thôi". Sĩ tử là người đi thi, là những trí thức trong xã hội phong kiến từng theo nghiệp bút nghiên. Trong đám sĩ tử "lôi thôi" sẽ xuất hiện những ông cử, ông tiến sĩ, ông tú nay mai. Câu thơ "Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ" là một cảnh hài hước, chua chát. Đảo ngữ hai chữ "lôi thôi" lên đầu câu thơ gây ấn tượng nhếch nhác đáng buồn: "vai đeo lọ". Lọ mực hay lọ đựng nước uống trong ngày thi? Đạo học (chữ Hán) đã cuối mùa, "Sĩ khí rụt rè gà phải cáo – Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi" nên trường thi mới có hình ảnh mỉa mai: "Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ" ấy!
Nét vẽ thứ hai cũng thật tài tình:
"Ậm oẹ quan trường miệng thét loa".
Ậm oẹ nghĩa là ra bộ nạt nộ, hăm dọa. Cấu trúc câu thơ đảo ngữ đưa hai tiếng tượng thanh "ậm oẹ" lên đầu câu thơ để làm nổi bật hình ảnh các quan trường "miệng thét loa". Trường thi không còn là chốn tôn nghiêm nền nếp nữa, quá lộn xộn, quá ồn ào, khác nào cảnh họp chợ, nên quan trường mới "ậm oẹ" và "thét loa" như thế. Tú Xương đối rất chỉnh làm hiện lên hai hình ảnh trung tâm của trường thi. Sĩ tử thì lôi thôi nhếch nhác, mất đi cái vẻ nho nhã thư sinh. Quan trường, giám thị, giám khảo cũng chẳng còn cái phong thái nghiêm trang, trịnh trọng vốn có. Bức tranh nhị bình biếm họa độc đáo này gợi lại cảnh hoàng hôn của chế độ phong kiến ở nước ta:
"Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm oẹ quan trường miệng thét loa".Xem thêm: Anh (chị) hiểu như thế nào về quan niệm sau đây của Vũ Trọng Phụng: “Các... thực ở đời”. Phân tích “Hạnh phúc một tang gia’’ để chứng minh cho quan điểm đó
Hai câu luận tô đậm bức tranh "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" bằng hai bức biếm họa về ông Tây và mụ đầm. Tài liệu cũ cho biết, năm đó toàn quyền Paul Doumer và vợ chồng tên công sứ Nam Định Le Normand đã đến dự. Các ông cử tân khoa, các ông tú mền, tú kép… phải cúi rạp mình xuống mà lạy ông Tây, lạy mụ đầm "váy lê quét đất", "trên ghế, ngồi đít vịt". Cái nhục của hàng vạn sĩ tử Bắc Hà không thể nào kể hết:
"Lọng cắm rợp trời, quan sứ đến,
Váv lê quét đất, mụ dầm ra".
Tây thực dân đang đè đầu cưỡi cổ dân ta. Hình ảnh "Lọng cắm rợp trời" gợi tả cảnh đón tiếp dành cho "quan sứ’, lũ ăn cướp đất nước ta, một nghi lễ cực kì long trọng. Đó là nỗi đau mất nước. Từ xưa tới năm ấy (1897) chốn trường thi là nơi tôn nghiêm, lễ giáo phong kiến vốn trọng nam khinh nữ, đàn bà đâu được bén mảng đến nơi kén chọn nhân tài. Thế mà bây giờ, không chỉ "mụ đầm ra" mụ đầm đến với "váy lê quét đất" mà còn bày ra giữa thanh thiên bạch nhật một nghịch cảnh vô cùng nhục nhã:
‘Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân, ông cử ngỏng đầu rồng”.
Nguyễn Tuân đã nói về nỗi nhục đó như sau: "Không đỗ cũng cực, mà đỗ để phải phủ phục xuống mà lạv tây, lạy cả đầm, thì quá là nhục".
Vịnh khoa thi Hương năm Đinh Dậu nếu thiếu đi hai hình ảnh ông Tây mụ đầm, bức tranh biếm họa coi như chang còn gì. Nghệ thuật đối của Tú Xương đã làm tăng sức hấp dẫn cho phong cách hiện thực của Tú Xương. Và nhờ có "lọng" đối với "váy", "quan" đối với "mụ" mà giọng cười, lối cười, hương cười, sắc cười (chữ của Nguyễn Tuân) của câu thơ Tú Xương kế thừa cái cười dân tộc trong ca dao, trong tuồng, chèo cổ. Có hiểu được rằng lọng là một thứ nghi trượng (cờ, biển, tán, tàn, võng, lọng,…) cao sang được dùng trong nghi lễ đón rước cúng tế lại được đem đối với váy (đồ dơ), mới thấy nghệ thuật trào phúng độc đáo trong phép đối của Tú Xương. Nỗi đau, nỗi nhục mất nước được cực tả một cách cay đắng, lạnh lùng qua cặp câu luận này.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Nguồn mạch trữ tình như được chiết xuất ra từ những điều mắt thấy tai nghe, từ những nhố nhăng, lôi thôi, lộn xộn trong ngoài, trên dưới nơi trường Nam khoa thi năm Đinh Dậu:
"Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”.
Câu thơ như một lời than; trong lời kêu gọi hàm chứa bao nỗi xót xa, tủi nhục và cay đắng. Nhân tài đất Bắc là những ông nghè, ông cống, những con người có lòng tự tôn dân tộc,… ở vùng Sơn Nam, ở Kinh kì Thăng Long ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ nhân tài, tinh hoa của đất nước. Ba tiếng "nào ai đó" phiếm chỉ càng làm cho tiếng than, lời kêu gọi trở nên thấm thía, lay gọi thức tỉnh. Chữ "ngoảnh cổ" gợi tả một thái độ, một tâm thế không thể cam tâm sống nhục mãi trong cảnh đời nô lệ. Phải biết "ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà". "Cảnh nước nhà" là cái cảnh nhục nhã:
”Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu…
(…) Kẻ chức bồi, người tước cu li
Thông ngôn, kí lục chi chi
Mãn đời lính tập, trọn vì quan sang!”.
(Á tế Á ca)
Tú Xương là một trong hàng vạn sĩ tử dự khoa thi Hương năm Đinh Dậu. Ông là người tham dự, là người chứng kiến,… Từ nổi đau của người hỏng thi mà ông ngẫm về cái nhục của sĩ tử, của trí thức, của nhân tài đất Bắc. Nỗi đau nhục về mất nước như ngưng đọng uất kết lại thành tiếng thở dài, lời than, có cả những dòng lệ…
Bài thơ "Vịnh khoa thi Hương" vừa tả cảnh "nhập trường ‘, vừa tá cảnh "lễ xướng danh", qua đó nói lên tâm trạng đau đớn, chua xót của nhà thơ. Một hiện thực đau buồn, nhốn nháo, nhố nhăng. Và trữ tình thấm thía bao cay đắng tủi nhục. Chất thơ, hồn thơ, phong cách thơ Tú Xương là như thế!
Bình về bài thơ này, Nguyễn Tuân viết: "… thơ nói về trường thi của Tú Xương giống như những lời thanh nghị của một lớp sĩ phu thời đó. Không đánh được ai bằng khí giới, thì ít nhất cũng phải lấy bút ra mà vẩy cái mực sĩ khí vào những nghè, những cứ bịt mũi xu thời! vẩy vào, và than một
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” của Tú Xương | 1,691 | |
Bình giảng bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu
Gợi ý
Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới.
Hai tập Thơ Thơ và Gửi hương cho gió đã tạo nên tên tuổi lừng lẫy của Xuân Diệu một thời. Xuân Diệu là nhà thơ của tuổi trẻ, tình yêu và của cái mới. Xuân Diệu đã đem lại những suy nghĩ và cảm xúc mới lạ đối với lớp thanh niên đương thời. Ông cũng đem lại những tình cảm và cảm xúc thẩm mĩ mới về đề tài thiên nhiên. Xuân Diệu có nhiều bài thơ hay viết về mùa xuân, mùa thu. Đây mùa thu tới của Xuân Diệu cùng với Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Thu của Chế Lan Viên là những bài thơ vào loại hay nhất của phong trào Thơ mới.
Miêu tả mùa thu là một vấn đề khó vì cổ kim đã có nhiều thơ hay về thu.
Thơ ca phương Đông có truyền thống miêu tả về mùa thu. Thơ ca phương Tây với Huy-gô, Bồ-đơ-le cũng có nhiều sáng tác hay về mùa thu. Xuân Diệu cũng chịu nhiều ảnh hưởng thơ viết về mùa thư trong thơ Đường, thơ Tống. Mở đầu bài thơ, tác giả miêu tả hình ảnh của một rặng liễu buồn như đứng chịu tang. Cây liễu cũng có thể buồn nhưng đây chủ yếu là nỗi buồn của tâm trạng tác giả đang bế tắc không tìm được lối thoát. Thực ra thơ đã nói nhiều đến hình ảnh đẹp của liễu, dáng liễu, mành liễu, lá liễu.
Như câu thơ của Thế Lữ:
"Gió đào mơn trớn liễu buông tơ"
Hay như câu thơ của Tế Hanh:
"Chắc gì mắt em như lá liễu
Để cắt lòng anh một nét dao"
Xuân Diệu cũng viết nhiều câu thơ đẹp về liễu:
"Tóc liễu buông xanh quá mĩ miều"
"Lá liễu dài như một nét mi"
Những câu thơ đầu của Đây mùa thu tới gợi lên một tâm trạng buồn đến tang tóc ủ dột. Từ ý tưởng đến âm thanh, nhạc điệu đều rất buồn. Nỗi buồn là do cảnh sắc mùa thu hoà hợp với tâm trạng buồn của tác giã. "Xuân, người ta vì ấm mà cần tình. Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà cũng cần đôi, cho nên không gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cỏ đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau và lòng tôi nghe tất cả du dương của thứ vô tuyến điện ấy". (Xuân Diệu)
Tâm trạng buồn của Xuân Diệu là một nỗi buồn thế hệ, không tìm được lối ra trong cuộc đời cũ, tác giả tìm đến những hình ảnh thiên nhiên có tính tương đồng để biểu hiện xúc cảm. Các cụm từ "đìu hiu", "tóc buồn buông xuống", "lệ ngàn hàng" gợi lên sự hắt hiu, lặng lẽ, gợi cảm giác về sự trôi chảy của tâm trạng buồn mà không có gì ngăn lại được. Hoàng Trung Thông cũng có nhận xét: "Những chữ đìu hiu, chịu tang, tóc buồn, lệ ngàn hàng, run rẩy, khô gầy, mỏng manh, rét mướt, vắng người, u uất, hận chia li, tất cả gợi lên.xa xăm và thương nhớ". Trong cuộc đời cũ, có rất nhiều lí do để buồn, kể cả đứng trước cái đẹp, cái đẹp làm cho con người dễ khát khao nhưng không dễ với tới được và thường rơi vào trạng thái cô đơn, buồn tủi. Mùa thu có nhiều vẻ đẹp, màu sắc khác nhau và Xuân Diệu đã mở rộng sự tiếp nhận, cảm xúc xúc động của mình trước vẻ đẹp, màu sắc của mùa thu:Xem thêm: Thuyết minh về truyện Chuyện chức phản sự đền Tản Viên (Tản Viên từ phán sự lục - Trích Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ). (Yêu cẩu viết bài văn)"Đây mùa thu tới, mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng".
Bức tranh về mùa thu luôn thay đổi màu sắc. Một tiếng kêu thầm như reo vui khi cảm nhận mùa thu đang đến. Câu thơ có hai tiết tấu "mùa thu tới" trùng điệp và gây ấn tượng mạnh. Tác giả miêu tả bộ áo mới của mùa thu mang lại cho cỏ cây, tấm áo màu vàng mơ choàng lên cảnh vật. Trong thơ ca có hình ảnh của chiếc lá vàng đã đến trong thơ Nguyễn Khuyên:
"Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo"
Và "bóng vàng" trong thơ Nguyễn Du:
"Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng"
Và gió vàng trong thơ Nguyễn Gia Thiều:
Trái vách quế gió vàng hiu hắt.
Nhưng "gió vàng" đây là "kim phong", tức gió mùa thu.
Trong thơ hiện đại sắc vàng của mùa thu cùng được quan tâm miêu tả. Lưu Trọng Lư với hình ảnh con nai và chiếc lá vàng khô:
"Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô".
Bích Khê với màu vàng chan chứa sắc thu:
"Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông".
Khổ thơ đã thể hiện được chủ đề của bài thơ. Riêng về phía nhà thơ, tuy ở trong tâm trạng buồn nhưng vẫn thiết tha yêu cuộc sống.
Đẹp buồn và tĩnh lặng thường là những chuẩn mực quen thuộc của thơ ca lãng mạn. Khổ thơ đầu đã thể hiện khá đầy đủ đặc trưng đó.
Xuân Diệu nói lên những đổi thay của mùa thu trong cảnh vật thiên nhiên:Xem thêm: Hãy bình luận ý kiến sau đây của Tuân Tử (313 - 235 trước Công nguyên): “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta; người khen ta mà khen phải là bạn ta; những kẻ vuốt ve y nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy""Hơn một loài hoa đã rụng cành".
Nhà thơ Thế Lữ chữa hộ lời thành thơ: "Đã mấy loài hoa rụng dưới cành" và in trên báo, Xuân Diệu lại lấy lại câu thơ của mình vì ông miêu tả một mùa thu đang tới.
Câu thơ "Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh" nói lên sự lấn dần của màu vàng, màu đỏ với màu xanh của cây cỏ. Có ý cho rằng đây là "màu đỏ rũa màu xanh". Xuân Diệu không tán thành ý trên mà xem "rũa" là lấn dần, ăn mòn dần. Xuân Diệu vận dụng cảm giác quan sát rất tinh tế những đổi thay của cảnh vật. Mùa thu đến, những con gió lạnh đầu mùa làm cho cỏ cây run rẩy: "Những luồng run rẩy rung rinh lá". Cách sử dụng những điệp từ và láy âm góp phần tạo hiệu quả cho câu thơ với người đọc. Trong thơ ca cổ cũng đã có những câu thơ có nghệ thuật láy ý, láy âm tuyệt vời như "Dưới trăng quyên đã gọi hè – Đầu đường lửa lựu lập lòe đơm bông" (Truyện Kiều – Nguyễn Du) hoặc "Lưng giậu phất phơ màn khói nhạt – Làn ao lóng lánh bóng trăng loe" (Thu ẩm – Nguyễn Khuyến). Theo Xuân Diệu, điều quan trọng không chỉ là sự láy âm mà còn ở cái luồng cảm xúc mới của thi nhân, luồng cảm xúc có tính chất hiện đại của những nhà thơ trong một thời kì mới khác với các nhà thơ cổ điển. Câu thơ cuối được miêu tả như những nét phác hoạ trong bức tranh thuỷ mặc của Trung Quốc.
"Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh".
Tác giả mở rộng tầm quan sát đến những cảnh vật ở nơi xa: ngọn núi, vầng trăng, dòng sông, con đò:
"Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ".
Vầng trăng thu có một vẻ đẹp riêng, có khi trong vắt, có khi mờ ảo trong sương khói. Xuâu Diệu đặc biệt nhấn mạnh đến chữ "tự "tự ngẩn ngơ" chứ không phải bị ngẩn ngơ. "Tự ngẩn ngơ’ là trạng thái ngẩn ngơ từ bên trong, nhà thơ đã nhập vào đối tượng miêu tả khác với lối miêu tả khách quan từ bên ngoài trong thơ xưa. Rồi hình ảnh của núi non cũng nhạt nhoà dần trong sương:
"Non xa khởi sự nhạt sương mờ".
Hai chữ "khởi sự’ là nói lên sự bắt đầu và theo Xuân Diệu thì từ ngữ hơi cứng nhưng cũng hòa hợp được với câu thơ. Hai câu thơ được xem là hay nhất trong Đây mùa thu tới miêu tả không khí thu, cái lạnh của mùa thu đã làm cho sinh hoạt của làng quê, của bến sông không còn tấp nập như ngày hè:Xem thêm: Quan niệm của anh (chị) về giá trị nhân đạo trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng mà anh (chị) đã đọc"Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò".
Câu thơ giản dị, tự nhiên nhưng cách miêu tả rất nghệ thuật. Chưa hẳn vào mùa đông mà ở đây thỉnh thoảng những con gió mang theo cái rét trở về như luồn đi trong không gian… Chữ "luồn" cũng có một khả năng diễn tả đặc biệt. Huy Cận xem hai câu thơ này là hay nhất trong toàn bài. Xuân Diệu đã miêu tả được không gian rộng lớn của mùa thu với cách cảm nhận chân thực giản dị.
Sau những ngày hè nóng nực, không khí của những ngày thu se lạnh dễ làm cho con người đi dần về phía nội tâm với nhiều xao xuyến, xúc động và nghĩ về sự đoàn tụ của gia đình và hiểu thêm về những cảnh ngộ chia li xa cách. Cảnh vật mùa thu cũng mang nhiều hình ảnh của sự chia li xa cách, những cánh chim bay về những vùng quê ấm áp:
Mây vấn từng không chim bay đi
Khí trời u ất hận chia li
ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì".
Khổ thơ kết gợi nhiều về tâm trạng. Xuân Diệu miêu tả tâm trạng buồn một cách tĩnh lặng cho hòa hợp với cảnh thu. Hình ảnh thiếu nữ "tựa cửa nhìn xa" như đang mong đợi, mơ ước một điều gì còn chưa đến. Câu thơ khép lại bằng những hình ảnh đẹp của con người với chiều sâu của nội tâm. "Hai câu cuối cùng nói lên nỗi buồn, một sự ngơ ngác mà tạo ra được một hình ảnh đẹp" (Hoàng Trung Thông).
Đây mùa thu tới là một bài thơ có giá trị, tác giả đã miêu tả được những nét tiêu biểu và gợi cảm nhất của cảnh vật mùa thu với cách cảm nhận có tính chất hiện đại. Mặc dù có những hình ảnh hoa tàn, lá rụng nhưng người đọc vẫn thấy một mùa thu đẹp có sức sông ở bên trong, về phía tác giả, tuy mang một tâm trạng buồn nhưng vẫn bộc lộ kín đáo lòng yêu đời tha thiết, đúng như nhận xét của Hoài Thanh: "Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dạt dào chưa từng thấy ở chỗ nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sông cuống quýt muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn đều nồng nàn tha thiết".
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu | 1,876 | |
Bình giảng bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
Gợi ý
Đây thân Vĩ Dạ trích trong tập có tựa đề là Thơ điên, sau đổi thành Đau thương, ra đời năm 1938. Từ những bài thơ Đường luật đầu tiên, qua tập Gái quê, đến Đau thương, thơ Hàn Mạc Tử đã đi qua một bước dài.
Trong phong trào Thơ mới giai đoạn 1930 – 1945, có nhiều bài thơ hay về thiên nhiên, đất nước. Đây thôn Vĩ Dạ viết về cảnh đẹp xứ Huế thơ mộng và thanh lịch, đồng thời bộc lộ khát khao được gắn bó, hòa hợp với cảnh, với người của Hàn Mặc Tử.
Thôn Vĩ Dạ nằm ven thành Huế, ngay bên bờ sông Hương. Thôn này nổi tiếng bởi những vườn cây xanh tốt, hoa thơm trái ngọt bốn mùa và phong cảnh hữu tình cùng với những thiếu nữ duyên dáng, đoan trang dễ làm say đắm lòng người.
Bài thơ mở đầu bằng một lời trách: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?". Trách nhẹ nhàng, sơ sơ mà nghe rất đáng yêu. Trách mà ngụ ý mời mọc: anh hãy về thăm thôn Vĩ và thăm… em. Cách nói rất tinh tế, cô gái nhờ cái nắng hàng cau để gửi gắm ý mình. Anh về thôn Vĩ mà ngắm cảnh: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Cái nắng mới lên buổi sớm mai – phơn phớt hồng trên tán lá cau xanh cao vút, từ xa đã đập vào mắt. Từ nét rất thực của cảnh vật ấy, ta có thể nghĩ cây kia thay người kiễng chân lên thật cao để đón lấy cái trìu mến của người về thăm, thay em để được đầu tiên đón lấy cái nhìn của anh. Hình ảnh này gợi nên một tình lưu luyến vơi đầy.
Câu 2, 3, 4 là cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp của vườn cây Vĩ Dạ. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc là lời trầm trồ ngạc nhiên trước cảnh đẹp lộng lẫy: màu xanh mỡ màng, non tươi của lá, màu vàng tinh khiết của nắng sớm lọc qua vòm lá tạo nên màu xanh như ngọc bích. Tất cả đều rạo rực, tưng bừng sức sống. Tưởng như nghe tiếng nhựa chuyển lên cành, lên lá. Tâm hồn con người trước cành ấy cũng một điệu tươi vui.
Vườn ai có thể là vườn của cô gái. Cây đã đẹp, người càng đẹp hơn: Lá trúc che ngang mật chữ điền. Con người thấp thoáng ẩn hiện sau khóm trúc. Đường nét thanh mảnh của lá trúc làm tồn thêm vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu của gương mặt chữ điền. Câu thơ nêu bật nét e ấp, dịu dàng cổ truyền của cô gái Huế.
Ý nghĩa của khổ thơ này là vậy. Kẻ ở thôn Vĩ thì trách khéo bằng lời mời mọc và giới thiệu nét đẹp dân dã quê mình. Người về thăm thì khen ngợi, say mê cảnh đẹp và người đẹp. Cảnh đẹp màu, người đẹp nết. Tất cả hài hoà thành một bức tranh quê hương tươi mát, tràn đầy sinh lực và có sức quyến rũ lạ lùng. Trên cái nền phong cảnh đầy hương sắc ấy, có một cuộc hội ngộ tuy không nói ra mà niềm vui thấm vào cảnh vật, nghe như có tiếng thì thầm mơ hồ, hư ảo của tình yêu.Xem thêm: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng (Có dàn ý chi tiết) Phút vui không dài. Mà không một tiếp chuyển nào, cái buồn tiếp theo ngay:
“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay. ”
Hoa bắp trổ cờ, lay lay trong gió nhẹ. Dòng nước sông Hương như không muốn trôi, lặng lẽ, im lìm. Gió mây trên tầng không cũng mỗi thứ mỗi đường, gió ở cây lá còn mây ở tận trên trời. Cảnh thật chứ? Đúng. Trên kia thật mà đây cũng thật. Tươi tắn, ủ ê đều Huế cả. Vườn tươi sáng mai, sông ủ buổi chiều. Cái buồn phơn phớt, nhè nhẹ, thấm tận vào đáy lòng, cái nét trầm tư không nơi nào có được, ấy là đặc trưng của Huế. Nhớ Quê mẹ, Tố Hữu nhớ cái không khí vô hình mà rất thấm ấy: Mây núi hiu hiu chiều lặng lặng… Đây có gió thổi, máy bay, có hoa bắp lay mà nghe vắng lặng đến nao người.
Nỗi buổn ấy trong cảnh có liên quan gì tới người không? Kẻ mời, người về, hai đàng lặng lẽ mà nên cảnh tươi vui. Nhưng ngăn cách nằm sâu trong sự thật gió mây chia đường. Gió thổi mây bay thường là một chiều, đây lại đứt gãy: Gió theo lối gió, mây đường mây. Lại ngăn cách quyết liệt, gió đóng khung trong gió (hai chữ gió đóng hai đầu); mây cuộn trong mây (hai chừ mây cũng khép kín vòng lại). Số kiếp của cô gái và chàng trai này là vậy. Cho nên dòng nước cũng như buồn theo và hoa bắp cũng vật vờ lay động như lảo đảo bên cạnh dòng nước im lìm.
Buồn đến thế ư? Có chút hi vọng nào chăng? Đến lúc chàng trai hỏi: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay? thì câu thơ sáng hẳn lên. Từ ngày đến đêm và đêm trăng là một bước nhảy vọt không báo trước. Tối nay lại là một sự đột ngột khác.
Thuyền đậu, thuyền đi trên sông Hương đêm trăng là chuyện bình thường, chở cả tình cũng hình dung được. Nhưng sông trăng thì chỉ có trong hồn thơ của Hàn Mặc Tử. Nếu có một cuộc hèn hò tối nay cần trăng cần thuyền thì thuyền về kịp cuộc hẹn sẽ vui, có rượu có trăng, có những người yêu nhau thì đẹp biết bao! Bù lại cảnh tượng ở hai câu trên là ngăn cách, buồn não trong lặng lẽ, đây là hi vọng của cuộc gặp gỡ hoà hợp mát lành. Hi vọng mỏng manh bởi vì nó được đặt thành một nghi vấn, dù đã được chốt lại một cách xác định rõ ràng: kịp tối nay?.Xem thêm: Miêu tả món ăn để lại ấn tượng cho em - Canh cua thiên lí Buồn nào đã liên quan đến hai người thì hi vọng này có mối liên hệ gì tới không? Thuyền ai là thuần tuý phiếm chỉ hay là một chiếc thuyền xác định: thuyền em? Thuyền em đang đậu ở bến sông đầy trăng như đời em đang đầy xuân tươi, em có chở trăng về, chở tươi vui về bến anh cho anh được chút vui mát lành một tối là tối nay? Nỗi ước mong thầm lặng mà tha thiết đến mức từ xa xôi trong thời gian vội hiện ngay vào hiện tại: tối nay. Tha thiết mà mỏng manh. Càng mỏng manh càng tha thiết.
Bốn câu trước khổ này là vậy. Gió mây chia đường. Bạn tình rẽ đôi. Buồn đến cả dòng sông, ngọn bắp. Buồn quá! Thuyền ai đó hay thuyên em mà sáng đầy trăng? Chở trăng về kịp tối nay để ta gặp nhau. Nhưng đó chí là ước mong, sáng lòng mà mờ ảo, mông lung.
"Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà! "
Hình ảnh cô gái Huế hết sức thân thiết nhưng cũng xa vời. Xa vời về thời gian, không gian và nhà thơ linh cảm thấy mối tình giữa mình và cô gái ấy cũng thành hư ảo. Bởi đã hứa hẹn gắn bó gì đâu? Em là thiên thần ở cõi nào, còn anh trời đày thân xác dưới trần gian. Câu thơ trên đương còn là mơ, câu này đã bay vào ảo giác, một bước nhảy vọt rất Hàn Mặc Tử, khó tìm thấy ở những bài thơ tình khác…
Lời thơ ở hai câu này sao mà nghe như có gì đứt đoạn, tắc nghẹn, hụt hẫng, chới với, mất thăng bằng. Bẽ bàng, tội nghiệp biết bao cho lòng chàng trai!
Đâu còn nắng hàng cau, vườn mướt quá, đâu còn xanh như ngọc, mặt chữ điền. Cũng chẳng còn gió mây lặng lẽ, dòng nước buồn, hoa bắp lay, sông trăng và con thuyền chở trăng về… Chỉ còn sương khói che khuất bóng người: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh. Em cũng mờ mà anh cùng mờ tan, trong khói sương lạnh lẽo. Còn lại may có chữ tình, như: Ai biết tình ai có đậm đà? Ai trước là người nào? Ai sau là người nào? Sau những gió lối gió, mây đường mây, có chở trăng về, mơ khách đường xa, nhìn không ra thì ai trước phải là cô gái, còn ai sau là chàng trai.Xem thêm: Kể về thầy (cô giáo) của em (người quan tâm, lo lắng và động viên em học tập) Ở khổ thơ cuối, tác giả trả lời cho câu trách móc ở đầu bài thơ: Sao anh không về? Có về đấy chứ. Về bằng tưởng tượng, bằng hồi ức, lặng lẽ mà nhìn, mà say, mà buồn, mà trông mong, hi vọng, rồi thất vọng, bẽ bàng. Chi còn chắc chắn một điều, đó là tâm tình đậm đà mãi mãi của anh. Câu thơ chấm dứt lơ lửng. Và như thế là phải xét lại hai chữ ai, và xét lại tình. Đảo ngược lại, chữ ai trước là anh, chữ ai sau là em. Về phía anh, anh tự biết tình vẫn đậm đà, nhưng em có biết cho không?
Dù hiểu cách nào đi nữa, câu thơ vẫn có nét buồn buồn: sương khói mờ nhân ảnh đã là mù mịt mông lung, khuất lấp mất dạng, chữ có đậm đà lại gieo thêm một nỗi lửng lơ, nghi hoặc nên càng buồn.
Khổ thơ thứ ba này tiếp nối đi sâu vào bên trong mối tình, từ cái cách ngăn mây giỏ chia đường đến sự đứt gãy. Từ cảnh thiên nhiên như reo vui, tràn đầy sức sống ở khổ thơ một đi dần tới sự xóa nhoà tất cả vào mơ, vào sương khói ở khổ ba. Một mối tình hết sức thiết tha đang để nó mất hút vào mông lung, mờ mịt, chỉ còn lại dư vị đậm đà trong lòng người và cả lòng mình.
Bài thơ bắt đầu bằng điệu vui, nếu không thì cũng điệu tươi, nhưng kết thúc lại man mác buồn như vừa lỡ một cuộc hẹn hò. Cái buồn mới đến thế. Nó đang ở trong miếng đất của lãng mạn. Bài này và một số bài khác vốn đứng riêng và mang một ánh sáng riêng trong tập Đau thương.
Có phải bài thơ chỉ giới hạn ở một nỗi đau cụ thể là mối tình lỡ làng với một người con gái Huế? Nếu vậy, số mệnh nó không dài đến tận nay. Cũng không phải nó nói giùm niềm đau của ngàn vạn chàng trai không may trong trường tình. Gốc rễ sâu của nỗi bẽ bàng trong bài thơ vượt ra khỏi khuôn khổ một đôi trai gái, mà nói lên tâm trạng chưa kịp vui đã thấy buồn, mới vừa ban mai mà đã vội chiều tà, bao ước mơ tốt đẹp tất thảy đều tuột khỏi tay mình. Tâm trạng của thế hệ thanh niên 1930 – 1945 rất hào hùng, tự khẳng định mình nhưng những cách ngăn của xã hội luôn có mặt để phủ định, khi tiếng vọng của Cách mạng đối với họ vẫn còn xa
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử | 1,963 | |
Bình giảng bài thơ “Đèo Gió” của Nông Quốc Chấn
Gợi ý
Hầu như mọi miền quê trên đất nước ta, từ miền Bắc, miền Trung đến miền Nam, từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên, từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long, từ Hạ Long đến Nha Trang, Vũng Tàu, Phú Quốc, Cà Mau,… ở đâu cũng có phong cảnh đẹp, sản phẩm giàu có, nhiều đặc sản hoa thơm trái ngọt, bà con ta, nhân dân ta rất cần cù siêng năng, thông minh hiếu học, nhân hậu, giàu lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình.
Có rất nhiều áng thơ văn viết về phong cảnh đẹp. Những áng thơ văn đó đã góp phần mở rộng tầm mắt và nâng cao tâm hồn mỗi chúng ta về tình yêu quê hương đất nước.
Tôi đã nhiều lần đọc bài thơ “ Đèo Gió” của Nông Quốc Chấn, nhà thơ dân tộc Tày; lần nào đọc cũng thấy lạ, thấy thích. Bài thơ khá dài, ở đây tôi chỉ nói đến 4 khổ thơ mà tôi đã thuộc.
Mở đầu bài thơ là tiếng gọi cất lên tha thiết. Nhà thơ như đang mê say ngắm cảnh đèo và vẫy tay gọi:
Đèo Gió ơi! Đèo Gió
Con đèo được nhân hóa. Nhà thơ như muốn hỏi tuổi con đèo, muốn cảm thông với con đèo đã tồn tại, đã “đứng” giữa đất trời bao la, “đã bao nhiêu ngàn ngày”, đã mấy nghìn năm, mấy vạn năm?
Đèo Gió ơi! Đèo Gió
Người đứng ở nơi đây
Cạnh con đường quốc lộ
Đã bao nhiêu ngàn ngày?
Ta bâng khuâng tự hỏi, không biết ngày xưa người đàn bà gánh gạo tiễn chồng đi lính thú Cao Bằng có qua Đèo Gió không?Xem thêm: Hãy viết một đoạn văn ngắn (3, 4 câu) kể về một lần em chăm sóc mẹ ốm Cái cò lận lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng
(Ca dao)
Đèo Gió thuộc địa phận huyện Ngân Sơn, tỉnh Thái Nguyên. Ai muốn ngược Cao Bằng phải đi qua Đèo Gió. Từ Cao Bằng, ai muốn về xuôi cũng phải đi qua Đèo Gió.
Trong bài thơ “ Cao Bằng”, nhà thơ Trúc Thông có viết:
Sau khi qua Đèo Gió
Ta lại vượt Đèo Giàng
Lại vượt Đèo Cao Bắc
Thì ta tới Cao Bằng
Cao Bằng, rõ thật cao!…
Đồng bào Tày gọi Đèo Gió là “Khau vải luẩy” nghĩa là Đèo trâu đi chơi, vì con đèo đã gắn liền với huyền thoại cổ tích mà nhiều người trong chúng ta hoặc đã biết, hoặc chưa nghe kể. Vì thế Nông Quốc Chấn mới hóm hỉnh hỏi: “Bao nhiêu đàn trâu bước?”.
Nông Quốc Chấn viết bài thơ “Đèo Gió” vào năm 1968, đó là năm sục sôi đánh Mỹ cứu nước. Cả nước ta ào ào ra trận, mà nhà thơ Chính Hữu đã viết trong bài “Đường ra mặt trận” (1965):
Những buổi vui sao cả nước lên đường
Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục
Xóm dưới làng trên, con trai con gái
Xôi nắm cơm đùm ríu rít theo nhau,
Súng nhỏ súng to chiến chật chội,
Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu
Bộ đội dân quân trùng trùng điệp điệp…
Sau khi hỏi đèo: “Bao nhiêu đàn trâu bước”, nhà thơ lại hỏi: “Bao nhiêu dấu xe đi? – Bao nhiêu người xuôi ngược? – Đứng đây có người nghe”. Lúc bấy giờ, Đèo Gió suốt đêm ngày nhộn nhịp: xe vận tải quân sự chở vũ khí, đạn dược nối đuôi nhau tiến ra mặt trận, bộ đội dân quân nối bước nhau cuồn cuộn đổ về phía Nam. Đứng trên đỉnh Đèo Gió không chỉ có nghe gió thổi mà con nghe tiếng vọng sục sôi quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân ta. Đèo Gió lúc bấy giờ trở thành con đèo mà cả nước ra trận đã hành quân qua.Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về việc lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên hiện nay Nông Quốc Chấn sử dụng liên tiếp bốn câu hỏi tu từ để nói lên một sự thật lịch sử: con Đèo Gió đã trở thành một chứng nhân của lịch sử hào hùng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là con đèo, con đường ra trận “cả nước lên đường”.
Khổ thơ tiếp theo, tác giả nói lên vẻ đẹp hùng vĩ của Đèo Gió. Đèo Gió rất cao. Đêm đi qua Đèo Gió, tưởng là “đầu đội trời sao”. Sáng đi qua Đèo Gió, tưởng là “cưỡi mây bay cao”. Nghệ thuật đối tạo nên hai hình ảnh sao trời và mây trời tương ứng, vừa nói lên cái tầm cao vũ trụ của Đèo Gió vừa thể hiện chí khí của “ta”, của quân và dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh. Qua điệp ngữ “ta qua”, giọng thơ vang lên như tiếng reo rất hào hùng:
Đêm, ta qua Đèo Gió
Tưởng đầu đội trời sao!
Sáng, ta qua Đèo Gió
Tưởng cưỡi mây bay cao!
Trên đường vượt qua Đèo Gió để đi lên phía trước, “ta” còn phải vượt qua nhiều đèo cao, nhiều con đường xa tít dài vạn dặm, còn gặp nhiều thử thách gian lao. Đó là con đường của quân và dân ta phải vượt qua, phải đổ nhiều xương máu để chiến thắng, để giành lấy độc lập, tự do và hòa bình:
Ta vượt bao nhiêu đèo
Trên con đường vạn dặm
Từng đợt gió gió reo Xem thêm: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người lái đò sông Đà. Hãy phân tích và chứng minh. Đôi chân ta bước thẳng!
Thơ mang hàm nghĩa đẹp và sâu sắc qua các hình ảnh tượng trưng: bao nhiêu đèo, con đường vạn dặm, từng đợt gió gió reo. Đó là những gian khổ khó khăn. Hành động “Đôi chân ta bước thẳng” là ý chí, là quyết tâm sắt đá quyết không lùi bước trước mọi thử thách gian lao. Bài học đi đường, leo núi, vượt đèo cũng là bài học quyết tâm để vượt qua con đường đời, con đường chiến đấu. Bài học vượt qua đèo được tác giả nói lên một cách bình dị, hồn nhiên mà thấm thìa.
“Đèo Gió” viết theo thể ngu ngôn trường thiên, là một trong những bài thơ tả cảnh ngụ tình mà ta thường thấy in đậm trong nhiều bài thơ của các tao nhân mặc khách xưa nay. Vào khoảng đầu thế kỉ XIX, Hồ Xuân Hương có bài thơ “Đèo Ba ”, trong phần kết, nữ sĩ viết:
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo.
Ở “Đèo Gió” trong phần kết, nhà thơ dân tộc Tày lại viết: “Ta vượt bao nhiêu đèo …Đôi chân ta bước thẳng”.
Qua đó, ta càng thấy rõ, chất trữ tình trong thơ phản ánh rất rõ phong cách nghệ thuật của mỗi nhà thơ, đồng thời in đậm màu sắc thời đạt.
“Đèo Gió” là bài thơ đặc sắc ca ngợi cảnh sắc hùng vĩ của quê hương đất nước. Nhà thơ vượt Đèo Gió mang sức mạnh của thời đại. Bài học đi đường, vượt đèo nêu lên thấm thía và khá hay, đậm đà và truyền cảm.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Đèo Gió” của Nông Quốc Chấn | 1,224 | |
Bình giảng bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi
Gợi ý
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài. Ở lĩnh vực nào của nghệ thuật văn, thơ, nhạc, kịch, ông cũng đều có những tác phẩm vang dội. Trong thi ca, bài “Đất nước” rất được bạn đọc mến mộ, đã từng được đưa vào giảng dạy trong nhà trường ngót nửa thế kỉ nay.
Phần đầu là tâm trạng của thi nhân khi đứng giữa chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ một buổi “sáng mát trong” tác giả nhớ “những ngày thu đã xa” ở Thủ đô:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Hà Nội hiện lẻn rất đẹp và cũng phảng phất buồn. Một thoáng “hơi may” lan toả mà đã thấm vào tận từng mái nhà, góc phố, từng hàng cây bờ hồ và cả trong hồn người. Nhạc điệu trầm lắng, lơ lửng làm cho thi phẩm càng thêm gợi cảm.
Ở đây có câu thơ xuất thần:
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
Có hai cách ngắt nhịp khác hẳn nhau:
Sau lưng thềm/nắng lá/rơi đầy
Sau lưng/thềm nắng/lá rơi đầy
Ngắt theo cách thứ nhất thì tạo nên một vẻ đẹp kì lạ (nắng và lá cùng rơi); ngắt theo cách thứ hai thì tạo nên một vẻ đẹp giản dị (chỉ có lá rơi đầy trên thềm nắng).
Tùy thị hiếu nghệ thuật mà thích cách này hay cách kia. Những áng thơ hay thường gợi ra nhừng cách hiểu khác nhau mà vẫn có lí như thế.
Cảnh thu ở đây là những ngày trước cách mạng tháng Tám. “Người ra đi” là những chiến sĩ đang rời Hà Nội yêu dấu để lên chiến khu cách mạng.Xem thêm: Nêu suy nghĩ về tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng Mùa thu nay ở Việt Bắc thì khác hẳn:
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
Nhạc điệu thơ thay đổi: những câu thơ ngắn tạo nên một sự rộn ràng. Hình ảnh thơ trong trẻo, tươi sáng lạ thường. Có cảm tưởng như trời xanh hơn, cao hơn, âm thanh như cũng vang xa hơn.
Từ mùa thu mới, nhà thơ nghĩ về đất nước:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Điệp ngữ “của chúng ta” nói lên niềm tự hào của con người khi được làm chủ đất nước. Ai đã sống những năm dài dưới thời nô lệ mới hiểu hết nỗi đau xót, nhục nhã của người dân mất nước:
Giặc cướp hết non cao, biển rộng
Cướp cả tên nòi giống, tổ tiên
(Tố Hữu)
Mở rộng tầm mắt nhìn về tám hướng phương trời, nhà thơ sung sướng reo lên:
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Điệp ngữ “những”như muốn khẳng định rằng nói bao nhiêu, kể bao nhiêu cũng không hết cái đẹp, cái giàu của đất nước thân yêu, giang sơn gấm vóc nghìn đời do tổ tiên ông cha để lại.
Nhà thơ còn lắng nghe cả tiếng dội của lịch sử:
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
“Đất nước”tượng trưng cho sự bền vững. “Rì rầm” là âm thanh không vang dội nhưng kéo dài không dứt. Đó chỉ có thể là tiếng của cha ông từ ngàn xưa nhắc nhở con cháu hãy sống anh hùng, bất khuất.
Sang đoạn thơ thứ hai, tác giả cảm nhận về đất nước từ trong đau thương đứng lên chiến đấu và chiến thắng.Xem thêm: Soạn bài Con người là bạn của thiên nhiên Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Cánh đồng quê là hoán dụ để chỉ Tổ quốc. Cơ thể Tổ quốc đang chảy máu vì bom đạn quân thù. Câu thơ nói về nỗi đau vật chất. Câu tiếp theo nói về nỗi đau tinh thần. Bầu trời chiểu êm ả gợi lên một cuộc sống thanh bình. Vậy mà giặc đến, dây thép gai tua tủa nơi đồn bốt chúng đâm nát tất cả. Sự man rợ của kẻ thù đã đến tột đỉnh. Đọc câu thơ tưởng như được xem một đoạn phim quay chậm làm nổi rõ những đường nét và màu sắc tương phản, gây ấn tượng nhức nhối trong lòng độc giả.
Hai câu tiếp theo là tâm trạng người chiến sĩ:
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Hình ảnh đôi mắt người yêu như ngôi sao sáng trong trời đêm soi tỏ con đường cho anh đi tới. Tình cảm riêng chung đã hòa làm một trong anh. Trước đây, trong bài “Nhớ”, Nguyễn Đình Thi cũng đã gợi lên điều đó:
Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần.
Những khổ thơ tiếp theo ca ngợi đất nước đã đứng lên kháng chiến. Đoạn thơ có những yếu tố chính luận làm cho ngôn ngữ trở nên rắn chắc:
Xiềng xích chúng bay không khoá được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà
Kẻ thù đang thất bại vì bị bao vây trong biển cả chiến tranh nhân dân. Và điều quan trọng nhất là chúng ta có những người anh hùng kiểu mới, “ người áo vải” đang gánh cả cuộc kháng chiến trên vai. Họ có ba phẩm chất cao cả: Một là bất khuất (Đã đứng lên thành những anh hùng), hai là có nhiều suy nghĩ sâu sắc (Trán cháy rực nghĩ trời đất mới) và ba là lạc quan cách mạng (Lòng ta bát ngát bình minh). Xem thêm: Trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Ơ - nít Hê - minh - uê. Kể tên hai tác phẩm tiêu biểu của ông Mấy câu kết rất xuất sắc:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà.
Theo lời tác giả thì đoạn này được viết dựa vào một cảnh thực mà anh đã thấy ở chiến dịch Điện Biện Phủ năm 1954: Trong tiếng đại bác dồn dập vang rền, chiến sĩ ta từ các chiến hào đầy bùn đỏ ào ạt xông lên như thác lũ đánh chiếm những cứ điểm cuối cùng của giặc.
Nhịp điệu thơ ngắn, dồn dập như bước chân của người anh hùng xung kích. Câu thơ cuối cùng đã phác hoạ ba tư thế tuyệt đẹp của chiến sĩ và cũng là tượng trưng cho dân tộc Việt Nam:
Rũ bùn: Vất bỏ quá khứ đau thương,
Đứmg dậy: Kiên quyết tiêu diệt kẻ thù,
Sáng loà: Chiến thắng huy hoàng.
Bài thơ đã tạo tác thành công một tượng đài hùng vĩ về đất nước ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thơ Nguyên Đình Thi mang một phong cách hiện đại: Kết hợp cảm xúc và chính luận, vận dụng cả những thủ pháp của điện ảnh để gây ấn tượng, nhịp thơ phóng khoáng, hình ảnh thơ gợi cảm.
“Đất nước” là thi phẩm mang dáng dấp của một bản hùng ca có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn bạn đọc. Nó là bài thơ tuyệt tác của thi ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp viết về đề tài đất nước quê hương.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi | 1,242 | |
Đề bài: Bình giảng đoạn thơ: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ …Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương” trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên.
Nếu Huy Cận là nhà thơ của triết lí. Tố Hữu mượt mà với âm hưởng của những làn điệu trữ tình mà sâu sắc thì Chế Lan Viên lại là một chất giọng lạ táo bạo và đầy trí tuệ. Nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh đã có lần nhận xét: “Thơ Chế Lan Viên vốn dĩ là một người phụ nữ đẹp. Thế nhưng ông ta đeo quá nhiều trang sức vào khiến người ta khó gần, người ta không thấy hết được vẻ đẹp vốn có của nó, chỉ có một ít cá nhân mới tiếp xúc được, thơ ông thường thiên về trí tuệ và giàu chất triết lí, suy tưởng”.
Có thể nói Tiếng hát con tàu là khúc hát yêu thương của một tấm lòng hướng về nguồn cội khi đă hóa thân “tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”. Đặc biệt là đoạn thơ:
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
Trong giai đoạn 1955 – 1964 cùng với Nguyễn Khải, Nguyễn Tuân, Tô Hoài…, Chế Lan Viên thức tỉnh khỏi kiếp “sống hờ”, “thoát tục”, “vui cùng trăng gió, ngủ cùng sao”, hòa mình vào nhịp sống chung của dân tộc trong những ngày đầu sơ sinh của đất nước. Nhà thơ ý thức rõ nhiệm vụ của người cầm bút và hướng tới cuộc sống mới bằng một tâm hồn khát khao mãnh liệt qua Tiếng hát con tàu.
Cùng với nỗi nhớ nỗi khát khao về Tây Bắc: “Xứ thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng”, những kỉ niệm ngày nào về tình nghĩa dàn quân cả nước lại được sống dậy trong tâm tư tác giả. Nhà thơ nhớ “thằng em liên lạc", “người anh du kích”, nhớ mế: “Năm con đau mế thức một mùa dài". Nhân dân được hiện ra trong quầng sáng ấp ám của nghía tình ruột thịt, đấy là những người anh với “chiếc áo nâu suốt một đời vá rách”, những người mẹ “lửa hồng soi tóc bạc” đã hết lòng cưu mang đùm bọc chở che tác giả trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Những người mẹ, người anh không là “núm ruột rứt ra”, nhưng tấm lòng của nhân dân đáng quý đáng trọng đến dường nào!
Có thể ta mới thấy được tình cảm tha thiết mà nhà thơ dành cho nhân dân đúng hơn là dành cho Tây Bắc.
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương. vẫn những giọng điệu rất quen đầy gợi cảm và của suy tưởng, câu thơ ngỡ như rất lạ mà vẫn đậm đà nỗi nhớ về Tây Bắc. Phải rồi chỉ ở Tây Bắc mới có “bản sương giăng”, có “đèo mây phủ”. Nỗi nhớ từ những hình ảnh cụ thể từ những người mẹ, người anh, những đứa em xa lạ mà gắn bó tựa ruột rà được khái quát và bất ngờ nhân lên thành một chân lí:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bồng hóa tâm hồn.
Có lẽ trong những chân lí của đời thường, đây đúng là một chân lí dung dị và sâu sắc nhất. Nhẹ như không “hình tượng thơ trong đoạn thơ trên đã vận động từ cảm xúc đến suy tưởng. Từ những tình cảm nhớ thương mảnh đất con người, tác giả đã nâng cảm xúc lên thành một suy nghi.
Ranh giới giữa cảm xúc và suy nghĩ đã bị vượt qua nhẹ nhàng làm cho câu thơ vừa rung động về cảm xúc vừa lắng sâu suy nghĩ” (Hà Minh Đức).
Thật vậy đoạn thơ trên có cái gì đó thật mông lung, mơ hồ như một thứ trái chín đỏ lấp ló giữa vườn xanh gợi cho ta biết bao háo hức, suy tưởng. Người đọc như cùng chung dòng tâm tưởng của nhà thơ nhớ về những miền đất đã qua và đã sống, nhớ về những con người tuy “không phải hòn máu cắt” nhưng “trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”. Phải chăng chính sợi dây nghĩa tình ấy đã làm sống lại mảnh đất ngỡ như vô tri mà:
Khi ta ở đất chỉ là nơi đất ở.
Chính nghĩa tình sâu nặng dân quân đã hóa thân vào mảnh đất khiến cho nó cũng có tâm hồn:
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Viết về nỗi nhớ không chỉ có Chế Lan Viên, Tố Hữu cũng đã từng hướng về Việt Bắc với tấm lòng của đứa con xa:
Xem thêm: Bút pháp của Quang Dũng trong bài thơ “Tây Tiến" là bút pháp hiện thực hay lãng mạn? Phân tích, so sánh với bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu để làm sáng rõ biện pháp đóNhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, Sông Đáy, suối Lê vơi đầy…
(Việt Bắc)
Phong cách quen thuộc của Tố Hữu là hay tả cảnh để gợi tình. Ông tá cảnh núi rừng Việt Bắc như muôn khơi lại những tình cảm lưu luyến ngày xưa với vùng rừng núi chiến khu. Còn với Chế Lan Viên thì từ những hoài niệm về Tây Bắc, nhà thơ của trí tuệ đã đúc kết, chiêm nghiệm được cho mình một chân lí rất riêng:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Klìi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Mạch thơ đang vận động một cách đều đặn theo dòng suy tường đột nhiên bị chặn đứng lại bởi nỗi nhớ “bỗng” tràn về. Nhà thơ dành hẳn một đoạn thơ để viết cho “em”:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoa quê hương.
Đoạn thơ như một nốt đệm rất lạ sang ngang dòng tâm tưởng. Vâng, lạ ngay từ câu đầu:
Anh bỗng nhở em như đông về nhớ rét.
Người ta hay dùng từ “bỗng” để chỉ những gì xảy ra đột ngột và bất ngờ. Thế mà ở đây “anh” chỉ vừa “bỗng nhớ em” mà nỗi nhớ đà được định hình khá sâu sắc: “đông về nhớ rét”. Càu thơ dường như cỏ cái gì đó phi logic nhưng vẫn rất đúng với logic của tinh yêu. Ai đó đã nói “tình yêu biến thiên như một hàm số” có lẽ đúng! Nhà thơ đưa ra một loạt so sánh về tình yêu giữa anh và em như “Đông về nhớ rét” như “cánh kiến hoa vàng” như “xuân đèn chim rừng lông trở biếc”. Giữa muôn vàn định nghĩa về tình yêu phái chăng Chế Lan Viên đang tìm cho mình một định nghía mới về tình yêu? Tình yêu là thế đó phải chăng nhà thơ đang định nghía tình yêu thông qua những so sánh táo bạo đầy bất ngờ. Và cũng chính sự so sánh linh động ây đã tạo nên một giá trị mới trong vô vàn cách nghĩ về tình yêu. Với cảu thơ tưởng chừng như rát ngô nghê:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét.
Nhưng rõ ràng cáu thơ có một sự so sánh đầy gợi cảm về ban chất của mùa đông là giá rét. Có rét mướt mới là tiết đông, nhất là mùa đông Tày Bắc. Do đó, nếu anh có em, anh mới tìm được chính mình. Và nếu khồng có em, anh không phái là anh.
Hơn nữa cái giá rét còn gợi đến nhu cầu cần có nhau:
Cái rét dầu mùa anh rét xa em
Đêm nay lạnh chăn chia làm hai nửa
Nửa đắp cho em ở vùng biển lạnh
Nửa đắp cho mình ớ phía không em.
Tình yêu đến bất ngờ đã trở nên sâu thẳm chỉ “bỗng” nhớ thôi mà nỗi nhớ đã thiết tha như thật. Và cái giây phút “bỗng” ấy đã giúp họ tìm thấy nhau và tìm thấy chính mình. Dưới mắt ta, tình yêu bỗng hiện ra lung linh sắc màu, giản dị mà thiêng liêng đến nhường nào. Theo nỗi nhớ của tình yêu, Chế Lan Viên triết lí lúc nào ta chẳng hay:
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
Thật giản dị mà cũng thật sâu sắc, thì ra trong tình yêu riêng dành cho em còn có cả tình yêu đốì với quê hương đất nước. Và chúng ta cũng chợt nhận ra rằng càng biết yêu thương những điều riêng tư, ta càng yêu quê hương tha thiết hơn.
Đến đây ta chợt nhận ra mạch vận động của bài thơ thật đặc biệt; như trăm sông đổ về biển cả, mạch cảm hứng luôn luôn vẫn hướng về nhân dân và đất nước.
Những vần thơ đẹp nhất là những vần thơ viết về tình yêu, về quê hương đất nước. Riêng bài Tiếng hát con tàu có thể nói Chế Lan Viên đã rất thành công với tình cảm trong sáng, chân thành, tha thiết được thể hiện qua trí tưởng tượng phong phú và khả năng liên kết, sáng tạo táo bạo, bất ngờ.
Xem thêm: Kể lại một truyện (truyền thuyết, cổ tích) mà em biết bằng lời văn của em | Bình giảng bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên | 1,576 | |
Bình giảng bài ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ bốn bài của Đỗ Phủ
Hướng dẫn
Tuyệt cú
Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu,
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lí thuyền.
Đỗ Phủ
Đôi chim oanh vàng hót trong liễu biếc,
Một hàng cò trắng bay lên trời xanh.
Cửa sổ ngậm tuyết Tây Lĩnh đọng hàng nghìn năm, Trước cửa, thuyền Đông Ngô từ muôn dặm đến đỗ.
Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc Một hàng cò trắng vút trời xanh.
Nghìn năm tuyết núi song in sắc,
Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình.
Tản Đà dịch
Liễu xanh hót cặp oanh vàng,
Trời xanh trắng điểm một hàng cò bay.
Song lồng mái tuyết non Tây,
Thuyền Ngô muôn dặm đổ ngay cửa ngoài.
Tương Như dịch
Gợi ý làm bài
… đã bị gió thu thổi tốc mái. Sau đó, gia đình nhà thơ đã xuống ở trong một chiếc thuyền trên sông Tương bồng bềnh theo sóng nước.
Có người gọi bài ‘Tuyệt cú’ này là một bức tranh tứ bình tuyệt mĩ. Mỗi câu thơ là một bức tiểu họa xinh xắn. Câu thứ nhất có hình ảnh khóm liễu xanh biếc, trong đó cất lên tiếng hót của đôi chim oanh vàng. Bức tranh đẹp lộng lẫy: nổi lên trên nền biếc của liễu là màu Vàng của đôi chim oanh bé nhỏ hót ríu rít. Thơ vừa có nhạc vừa có họa đầy mĩ lệ và ấn tượng:
‘Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc’
Câu thơ thứ hai tả bầy cò ở phía xa và trên tầm cao. Cò trắng bay thành hàng, bay hướng lên trời xanh, sắc trắng của hàng cò nổi bật trên nền xanh của bầu trời. Bức tiểu họa này cho thấy nghệ thuật phối sắc thần tình. Đàn cò được miêu tả trong trạng thái ‘động’ đang bay giữa trời xanh: ‘Một hàng cò trắng vút trời xanh’.
Câu 1 và câu 2 được cấu trúc đăng đối hài hòa. Cảnh vật thiên nhiên đang cùng tồn tại, vật này cảnh này hòa hợp với vật kia, cảnh kia:
‘Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,
Một hàng cò trắng vút trời xanh’
‘Hai cái oanh vàng hót’đối với ‘một hàng cò trắng bay’, ‘liễu biếc’ đối với ‘trời xanh’. Thiên nhiên vốn đẹp như vậy. Có liễu biếc và trời xanh, có oanh vàng và hàng cò trắng. Màu sắc tươi sáng, rực rỡ: vàng, biếc, xanh. Có liễu bay, chim hót, có hàng cò vỗ cánh giữa trời xanh. Có điểm và diện, có cái nhỏ bé và cái bao la. Thật là mĩ lệ và thần tình trong bút pháp miêu tả.
Xem thêm: Kể về một lần em mắc lỗi khiến mẹ buồn và nêu những suy nghĩ của em về điều đóCàu thứ 3 đích thực là cảnh thu phương Bắc rồi. Ở câu thơ trên mới nói đến trời xanh, câu này nói đến núi tuyết. Cảnh sắc bao la một màu ‘thiên thu tuyết’–,
tuyết trùm lên các đỉnh non Tây, tuyết tràn ra ‘cửa sổ ngậm tuyết’. Cả không gian là một màu trắng lạnh, vắng lặng mênh mông. Nhà thơ hình như đang đứng trong con thuyền – ngôi nhà mình, vén bức màn thư nơi cửa sổ khoang thuyền bâng khuâng ngắm tuyết:
‘Nghìn năm tuyết núi song in sắc’
Câu thứ tư miêu tả dòng sông tương. Có cơ man nào thuyền Đông Ngô từ muôn dặm đến đỗ trước cửa – con thuyền nhà thơ. Hình ảnh những thuyền từ Đông Ngô xa muôn dặm đến đã gợi lên trong lòng nhà thơ – kẻ tha hương biết bao nỗi niềm: ’.
‘Muôn dặm thuyền Ngô của rập rình’
Nhiều nhà nghiên cứu thơ Đường cho rằng Đỗ Phủ dùng hình ảnh những chiếc thuyền này để gửi gắm ý định rời Tứ Xuyên đi về phía Đông rồi vòng lên quê nhà tại Hà Nam. Trong những bài thơ cuối đời, Đỗ Phủ luôn gửi gắm ý định về quê vào hình ảnh những chiếc thuyền:
– ‘Con thuyền buộc chặt mối tình nhà’…
(Thu hứng)
‘Bạn bè một chữ vẫn không,
Thán già ma bệnh chiếc bồng lẻ loi…’
(Lên lầu Nhạc Dương)
Hai câu thơ 3, 4 cũng cấu trúc đăng đối: ‘ngoài song’với ‘trước cửa’, ‘Tây Lĩnh’với ‘Đông Ngô’, ‘thiên thu tuyết’với ‘vạn lí thuyền’đã làm hiện lên bức
tranh thu lạnh lẽo, mênh mông, xa vời; bức tranh thiên nhiên ấy trải dài, trải rộng trên một không gian tuyết đầy núi, thuyền đầy sông. Cảnh đẹp mà lòng nhà thơ nhiều man mác:
‘Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền’ ị Song lồng mái tuyết non Tây,
Thuyền Ngô muôn dặm đố ngay cửa ngoài)
Bài thơ này chỉ có hai vần: ‘thiên’ câu 2 vần với ‘thuyền’ câu 4. Câu 1 và 2 câu 3 và 4 đối nhau từng cặp một. Có thể nói bài tuyệt cú này là hình ảnh phần thực và phần luận của một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật.Mỗi câu thơ là một cảnh thu. Câu nào cũng có màu sắc, đường nét hoặc âm thanh. Có chim hót, liễu buông, có cò bay, có sắc biếc của liễu, có màu trắng bầy cò xếp hàng chữ nhất trên nền trời xanh, có màu trắng tuyết lạnh của Tây Lĩnh,… Cảnh đẹp nhưng chứa ẩn bao nỗi niềm của kẻ tha hương: gia cảnh nghèo, tuổi già, lắm bệnh, bâng khuâng nhớ quê buổi thu về.
Có thể nói, qua bài thơ này, ta cảm nhận sâu hơn nghệ thuật miêu tả thiên nhiên qua ngòi bút thiên tài của Đỗ Phủ. Bài thơ ‘Tuyệt cú’ này đã nâng cao cảm xúc thẩm mĩ cho mỗi chúng.ta khi tiếp cận, khám phá vẻ đẹp văn chương ‘thi trung hữu họa’ của thơ Đường và thơ ca dân tộc.
Nguồn: thêm: Cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan | Bình giảng bài ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ bốn bài của Đỗ Phủ | 980 | |
Bình giảng bài ‘Tụng giá hoàn kinh sư’của Trần Quang Khải
Hướng dẫn
…Sau chiến thắng Hàm Tử, rồi chiến thắng Chương Dương năm 1285, trong ngày vui đất nước được giải phóng, Trần Quang Khải vinh dự đón nhà vua về Kinh đô. Trên đường đi, ông đã hứng khởi sáng tác bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’.Bàithơ nguyên văn bằng chữ Hán, theo thể thơ Đường ngũ ngôn tứ tuyệt, toàn bài bốn câu, mỗi câu năm tiếng tuyệt hay. Tác phẩm thuộc loại biểu ý là chính, nhưng đằng sau những ý tưởng lớn lao vẫn dạt dào biết bao cảm xúc sâu lắng. Đây là khúc khải hoàn đầu tiêncủa dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
Trước thời đại nhà Trần, dân tộc ta từng đã nhiều lần đánh tan bọn giặc ngoại xâm. Nhưng sau những chiến công ấy, chúng ta chưa được đọc, được nghe một tác phẩm văn chương nào viết về chiến thắng, hoan ca khúc khải hoàn. Do đó,, bài thơ ‘Phò giá về kinh’ của vị thượng tướng – thi sĩ không những có tính lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Chúng ta hãy đọc nguyên tác bài thơ phiên âm chữ Hán:
‘Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san’.
Và đọc bản dịch thơ của Trần Trọng Kim:
‘Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu’.
bố cục tác phẩm gồm hai phần khá mạch lạc. Hào khí chiến thắng được thể hiện ở hai câu đầu:
‘Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù’
Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên đời Trần, quân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhít là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quang Khải chỉ nói tới hai chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. Tại sao? Phải chăng đây là hai chiến dịch tiêu biểu, có tính quyết định để giành thắng lợi cuối cùng? Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, xa giá nhà vua và cả triều đình sau thời gian sơ tán, tạm lánh về nông thôn, được trở về kinh đô, vui lắm, phấn khởi lắm, đáng làm thơ, đáng ca hát lắm? Trong thực tế, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước (tháng 4 năm 1285), chiến thắng Chương Dương sau (tháng 6 năm 1285). Tại sao tác giả nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Đây cũng là câu hỏi thú vị.
Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng, ở chiến thắng trước – Hàm Tử – người chỉ huy là tướng Trần Nhật Duật, còn Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn tại Chương Dương, thượng tướng Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chí huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó đón nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền niềm vui được ‘phò giá’ dồn đập nối tiếp nhau lay động trí tuệ và tâm hồn.
Có lẽ vì thế trong phút ngẫu hứng, vị thượng tướng đã nhắc ngay tới Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch Chương Dương và Hàm Tử, chắc quân dân ta đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, khí thế trận mạc vô cùng sôi động, thành tích chiến đấu vô cùng phong phú… Song, tác giả chí đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn, mười âm tiết. Ớ mỗi chiến thắng, cũng đúc lại bằng hai từ: ‘Đoạt sáo’ (cướp giáo), ‘cẩm Hồ’ (bắt quân Hồ). Cần chú ý câu thơ nguyên tác ‘đoạt sáo’. ‘Đoạt’ nghĩa gốc là ‘lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác’w. Như vậy, dùng từ ‘đoạt sáo’, nhà thơ vừa ghi chiến công, vừa ngợi ca hành động chính nghĩa và dũng cảm của quân dân ta. Bản dịch dùng từ ‘cướp giáo’ làm giảm phần nào vẻ đẹp của chiến thắng, Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí quàn giặc. Còn ở Hàm Tử, ta bắt được quân tướng của chúng.
Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh Mỗi chiến dịch một thành tích khác nhau bổ sung cho nhau, thật hài hòa, toàn diện. Trong chiến trận, chắc có thương vong, quân giặc chắc bị ta tiêu diệt, giết chết, đuổi chạy khá nhiều. Nhưng lời thơ không nói tới cảnh máu chảy, đầu rơi, mà chỉ nhắc hai hành động ‘đoạt sáo’, ‘cầm Hồ’. Cách nói ấy nhẹ mà sâu, biểu hiện rõ mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là chém giết mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải quy thuận, trả lại non sông, đất nước cho ta.
Câu thơ dồn nén, biểu ý rắn khỏe. Nhưng nhịp thơ, âm điêu vẫn toát ra niềm vui, niềm tự hào phơi phới. Đọc thơ, ta có cảm giác vị thượng tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vừa đi giữa đoàn quân chiến thắng vừa sang sảng cất tiếng ngâm thơ. Tiếng ngâm lan truyền và được ba quân nối tiếp, trở thành khúc ca hào bùng vang động núi sông. Đúng là khúc khải hoàn ca.
Xuống hai câu dưới, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ suy nghĩ về tương lại đất nước:
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.
Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về ngày mai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng, của một người đã trở thành ý nghĩ, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao trách nhiệm, cố gắng ‘tu trí lực’, tức là rèn luyện, tu dưỡng tài năng, sức lực. Đồng thời động viên quân dân ‘gắng sức, đồng lòng’ phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình bền vững dài lâu. Câu thơ kết ‘Vạn cổ thử giang san’ vừa chỉ ra cái đích đi tới của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ biểu cảm. Lời răn dạy hài hòa niềm tin, niềm hi vọng.
Ba năm sau khi bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’ ra đời, vào tháng 4 năm 1288, trong buổi tế thần tại Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông), đức vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng đọc hai câu thơ:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng’
Phải chăng hai câu thơ trên của nhà vua đã đồng vọng với bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của thượng tướng Trần Quang Khải? Và phải chăng đấy cũng chính là hào khí của cả dân tộc ta thời đại nhà Trần, mà sau này người đời gọi là Hàokhí Đông – A? Hào khí Đông – A nghĩa là thế nào? Đông A là chiết tụ tên họ Trần, gồm hai chữ: Chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự. Hào khí Đông A là lòng yêu.nước, niềm tự hào dân tộc, là khí thế, quyết tâm lớn lao của quân dân đời Trần trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước thanh bình, bền vững. Hào khí Đông A không chí là tư tưởng, tâm hồn của con người mà còn là nội dung tư tưởng, là âm hưởng bao trùm trong rất nhiều tác phẩm thơ văn Việt Nam thời nhà Trần, thế kỉ XII, XIII.
Trở lại với bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải, ta thấy bài thơ thật ngắn gọn, hàm súc, biểu ý sâu SẶC, biểu cảm dạt dào. Trong bài thơ có nhiều từ Hán Việt, nhưng khá quen thuộc với chúng ta ngày nay, như: ‘Chương Dương độ, Hàm Tử quan, thái bình, trí lực, vạn cổ, giang sơn’. Do đó, đọc thơ, chịu khó tìm tòi, suy ngẫm, chúng ta vẫn hiểu được và rung cảm được với ý thơ, hồn thơ của tác giả – người sống cách chúng ta gần một ngàn năm.
Nếu ta gọi bài thơ ‘Sông núi nước Nam’là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, thì cũng có thể coi ‘Phò giá về kinh’là khúc khải hoàn ca đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm và trong lịch sử văn học Việt Nam. Bằng hình thức diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng, bài thơ ‘Phò giá về kinh’ đã thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ỏ thời đại nhà Trần.
Nguồn: thêm: Thiên nhiên trong hai bài thơ “Cảnh khuya” và “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí Minh | Bình giảng bài ‘Tụng giá hoàn kinh sư’của Trần Quang Khải | 1,511 | |
Bình giảng cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa mẹ Tràng với nàng con dâu qua đoạn văn trích sau đây trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân: “Tràng nhắc mẹ:… con cái chúng mày về sau!”
Gợi ý
Đã rất nhiều lần đọc truyện Vợ nhặt của Kim Lân nhưng lần nào cũng thế, cứ đọc đến đoạn miêu tả cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa bà cụ Tứ (mẹ Tràng) với người "con dâu mới" mà con trai bà vừa "nhặt" được về là tôi lại thấy lòng mình rưng rưng cảm động. Với những lời văn trần thuật giản dị và mộc mạc, tác giả đã dựng được lại rất sinh dộng những diễn biến tâm lý tinh vi và phức tạp đang diễn ra trong tâm trạng của một bà mẹ nghèo, trước một tình huống éo le không hiểu nên mừng hay lo, là hạnh phúc hay tai họa.
Mở đầu đoạn trích là lời Tràng nhắc mẹ "Kia nhà tôi nó chào u". Người con trai cứ tưởng mẹ mình chưa nghe lời chào của vơ; cứ tưởng bà chưa biết có sự hiện diện của đứa con dâu. Nhưng đâu có phải như thế. Đọc truyện, trước đoạn trích này, chúng ta đều hiểu bà cụ Tứ đã thấy và sau đó đã nghe, đã biết nhưng chưa hiểu hàng loạt cảu hỏi đặt ra trong đầu bà thể hiện một sự băn khoăn, kinh ngạc. "Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay ở đầu giường thằng con mình thế nhỉ? Sao lại chào mình bằng U?… Ai thế nhỉ?… Ô hay, thế là thế nào nhỉ? Kim Lân dùng một giọng văn trần thuật rất mộc mạc. Ông gọi Tràng là "hắn", vợ Tràng là "thị". Tràng xưng với mẹ bằng "tôi", "chúng tôi" và gọi bà bằng "u": "Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau. Cách xưng hô và gọi tên nhân vật dân dã, quê mùa như thế giúp ban đọc hình dung rõ hơn về những con người nghèo khổ ở một vùng quê quanh năm đói túng, lạc hậu. Riêng đối với người mẹ, Kim Lân muốn biểu thị một thái độ tôn trọng và cảm thông. Ông gọi người mẹ ấy là "bà lão", "bà cu Tứ", "người me nghèo khổ". Cũng chính với thái độ này, tác giả như nhập thân vào bà cụ Tứ, nhìn sự việc, kể lại theo con mắt và tâm trạng của bà Một người mẹ nghèo khổ thấy dằn vặt, đau xót và lo lắng vì không lo nổi cho con: một con người đã trải qua nhiều cay đắng gian truân. Nay đứng trước tình cảnh của con, người mẹ ấy "hiểu ra biết bao cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số phận cùa đứa con mình". Trong lúc đó, dường như Tràng quá mừng vì bỗng nhiên "nhặt" được vợ nên không tỏ ra lo nghĩ gì lắm. Không phải ngẫu nhiên mà toàn bộ đoan trích trên chủ yếu tập trung khắc hoạ tâm trạng của bà cụ Tứ. Một tâm trạng vui mà tội nghiệp, mừng mà vừa tủi vừa lo. Vui mừng vì dẫu sao con bà củng đã có vợ, dù là vợ "nhặt" được ở ngoài đường. Việc Tràng có vợ là ngoài sức tưởng tượng của bà. Chính vỉ thế, ban đầu bà không hiểu nổi. Có lẽ vì niềm vui và sự cảm thông mà từ thái độ ngạc nhiên, lo lắng và tủi nhục, bà đã "nhẹ nhàng nói với nàng dâu mới" một cách thật chân tình, xúc động:Xem thêm: Tả cảnh biển vào buổi sớm
Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng..". Chắc chắn là trước đó, người con trai nghĩ thế nào mẹ cũng rầy la nặng nhẹ. Vì thế, sau khi bà nói "Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi". Tuy nhiên, mừng là mừng vậy "vui là vui gượng kẻo là". Chứ thực ra tâm trạng người mẹ nặng trĩu một niềm lo. Lòng bà ngổn ngang như mối tơ vò. Kim Lân chỉ lặng lẽ miêu tà bằng hàng loạt cử chỉ, chi tiết nhằm thể hiện tâm trạng đó của bà: "Bà lão cúi đầu nín lặng", "Bờ lão hiểu rồi", "Trong kẽ mắt kèm nhèm cùa bà rủ xuống hai dòng nước mắt…", "Bà lão khẽ thở dài dứng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà…". Suốt từ lúc về gặp con đến lúc bà cất tiếng, "nhẹ nhàng nói vói nàng dâu mới" là cả một khoảng thời gian dài im lặng, một không khí nặng nề, ủ ê, một cơn bão lòng cố nén. Cố nén nhưng nó vẫn bật ra từ hai chữ “Chao ỏi" như một tiếng than tan vỡ. Đến câu hỏi ngập ngừng, ngắt quãng: "Con mình thì… biết rằng chúng nỏ có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?” Suy nghĩ đấy lo âu ấy là những lời tự an ủi, tư động viên và tư trách mình: "Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ đươc… Thôi thỉ bổn phận bà là mẹ. bà đã chẳng lo lắng gì được cho con…". Nghe những lời tâm sự thầm kín của bà mà cảm thấy không còn nỗi tủi nhục nào hơn thế nữa Sao số kiêp của những con người ấy khốn cùng đến vậy?. Những lời từ tốn của bà dặn dò đôi vợ chồng ở cuối đoan trích là những lời nói rất chân tình, vừa mơ hồ hy vọng, vừa tự động viên, an ủi, vừa thừa nhận một sự thật đắng cay trong một tình thế chẳng có gì chắc chắn cả: "Rồi ra may mà ông giời cho khá… biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Xem thêm: Tả cảnh đêm trăng rằm Trung thu ở quê em Tuy chỉ là một đoạn trích rất ngắn so với toàn bộ thiên truyện Vợ nhặt nhưng cũng đủ cho ta thấm thìa nỗi đắng cay tủi nhục của những kiếp người khốn khổ trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời hiểu được tình mẫu tử và lòng nhân ái hết sức cảm động của một bà mẹ nghèo. Doạn trích cũng cho ta thấy được tài năng của Kim Lân trong việc khác họa tính cách và miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa mẹ Tràng với nàng con dâu qua đoạn văn trích sau đây trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân_ “Tràng nhắc mẹ_ … con cái chúng mày về sau!” | 1,116 | |
Bình giảng khố cuối bài thơ Tràng Giang của Huy Cận: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa, Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Gợi ý
YÊU CẦU
Bình giảng khổ thơ làm nổi rỗ vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại của cảnh hoàng hôn trên sông đang dâng đầy nỗi nhớ quê hương trong lòng tác giả. Cảnh hoàng hôn đẹp nhưng buồn, và lòng thi nhân cũng buồn da diết, lắng sâu. Hình ảnh, âm điệu, giọng điệu thơ trang trọng cổ kính như Đường thi, nhưng cái tứ trong câu cuối thì thật mới mẻ, độc đáo và đầy sáng tạo.
BÀI LÀM
Thơ mới xuất hiện như một dàn đồng ca đa sầu, đa cảm nhưng "ảo não" nhất là hồn thơ Huy Cận. Bình về thơ của con người này, Xuân Diệu viết:
"Trong thơ Việt Nam nghe bay dậy một tiếng địch buồn. Không phải sáo thièn thai, không phải điệu ái tình, không phải lời li tao kể chuyện một cái "tôi", mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải tiếng đìu hiu của khóm trúc, bồng lau; có phải niềm than vãn của bờ sông, bãi cát; có phải mặt trăng một mình đang cảm thương cùng các vì sao?… Thơ Huy Cận đó u? Ai nhắc làm chi những nỗi thô thiết của ngàn đời, ai động đến cái lớp sầu dưới đáy hồn nhân thế, những lời muôn năm than thầm trong lòng vạn vật, ai thuật lại mà não nuột lắm sao?"
Chẳng cần tới tập Lứa thiêng, chí riêng bài thơ Tràng Giang cũng đủ làm nên hồn thơ "ảo não" – Huy Cận. Và đây là khổ thơ sâu lắng, thê thiết nhất trong trường buồn Tràng Giang:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Nếu như trong ba khổ thơ đầu, tâm trạng buồn – "nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra nên như kéo dài triền miên" (Huy Cận) của thi nhân dàn trải theo cái mênh mông, vô định của sông nước, thì tới khổ thơ cuối, tâm trạng ấy đã được mở lên chiều cao, lan tỏa trong không gian hoàng hôn của buổi chiều tàn:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cảnh nhỏ bóng chiều sa
"Thiên nhiên, tạo vật buồn nhưng đôi lúc bộc lộ vẻ đẹp kì vĩ, lạ lùng", đó là lời tự bình của tác giả về hai câu thơ này. Thật vậy, không gì vui và rạo rực bằng lúc bình minh, nhưng cũng không gì buồn tan tác bằng buổi ngày tàn, khi "bóng chiều sa". Nhưng chính lúc ấy, trong thơ Huy Cận, nơi "Tràng Giang" lại rạng lên vẻ đẹp tráng lệ với "lớp lớp" những tầng mây hợp thành "núi mây" khổng lồ được những vạt nắng chiếu rọi thành "núi bạc". Đó là cảnh thực, song cung là một hình ảnh nghệ thuật đẹp tuyệt diệu. Viết được hình tượng "núi bạc", thi nhân phải có một sự cảm nhận vẻ đẹp rất tinh tế, và đó phải là một hồn thơ yêu quê hương, đất nước đằm thắm. Hình ảnh "núi bạc" ấy sinh động hơn, hùng vĩ hơn qua động từ "đùn": "Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng nở ra trên trời cao, ánh chiều trước khi vụt tắt rạng lên vẻ đẹp" (Huy Cận). Nhà thơ tâm sự: Ông học được chữ "đùn" trong bài dịch thơ của Đỗ Phủ: Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Giăng - van - giăng trong đoạn trích “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” (Huy- gô) Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa
Ta thấy trong suốt hành trình Tràng Giang, hình ảnh thi nhân cô đơn trong từng cảnh vật đổi thay nhưng cùng chung dáng vẻ: trôi nổi, mông lung, lạc loài, vô định: một cành củi khô bập bềnh trôi trên sóng (Củi một cành khô lạc mấy dòng), một đám bèo xanh trôi nổi trên sông (Bèo dạt về đâu hàng nối hàng)… Và tới khổ thơ cuối hình ảnh thi nhân, nỗi buồn của thi nhân lại thấp thoáng ẩn hiện trong một hình ảnh cô đơn, lạc loài nữa, một hình ảnh rất tội nghiệp. Đó là một cánh chim nhỏ nhoi, cánh chim đang chở nặng bóng chiều, nghiêng cánh cố bay về nơi chân trời xa vắng.
Trong thơ ca cổ điển cùng như hiện đại, chỉ riêng việc khắc họa hình ảnh một cánh chim lẻ loi đã gợi lên một cái gì cô đơn, tội nghiộp, gợi lên cái buồn vắng, trống trải trong tâm hồn, huống chi trong thơ Huy Cận, đó lại là một cánh chim "nghiêng cánh nhỏ" và đang chở nặng "bóng chiều sa" cứ xa mờ dần đối lập với hình ảnh "núi bạc" hùng vĩ trong trời nước bao la. Sự tương phản ấy khiến cảnh "Tràng Giang" đã mênh mông, xa vắng lại càng mênh mông hơn, xa vắng hơn và "Tràng Giang" đã buồn lại càng buồn hơn. Hãy nghe thêm lời tự bình của tác giả:
"Cánh chim bay liệng tuy gợi lên một chút ấm cúng cho cảnh vật nhưng mông lung quá và nỗi buồn đến đây càng thêm da diết trong nhớ thương. Nó không đóng khung trong cảnh sông nước ở trước mặt mà mở ra đến chân trời của miền quê xa".
Hình ảnh cánh chim bay liệng trong buổi hoàng hôn là hình ảnh ước lệ, tượng trưng trong thơ ca cổ điển. Không gian ấy, cánh chim ấy đã từng là nơi bao thi nhân xưa thả những tâm tình tha thiết, thấm thìa vào đó. Và có lẽ nó sẽ còn là nơi để thi nhân muôn đời gửi gắm những nỗi niềm sâu kín. Trong dòng suy nghĩ ấy, một lần nữa, cánh chim lẻ loi, cô đơn, lạc đàn "nghiêng cánh nhỏ" trong Tràng Giang lại gợi cho ta nhớ tới tâm tưởng, nỗi buồn bơ vơ, trống trải của một người lữ thứ xa quê đang cô đơn thả những mảnh hồn theo "cánh chim mỏi" cố bay về nơi chân trời xa vắng để tìm một điểm dừng chân:
"Ngàn mai gió cuốn chim hay mỏi"
(Bà Huyện Thanh Quan)
Đó là sự đồng điệu, giao cảm giữa cái hiện đại và cái cổ điển trong thơ Huy Cận. Cánh chim ấy, "bóng chiều sa" ấy ngoài Huy Cận thật khó tìm trong làng Thơ mới. Và đúng như Hoài Thanh nhận xét: Xem thêm: Bình giảng bài thơ "Lai Tân” trong ”Ngục trung nhật kí" của Hồ Chí Minh"Trong nền văn học mới, Huy Cận đã làm một việc táo bạo: tìm về cảnh xưa, nơi bao người đã sa lầy – tôi muôn nói sa vào khuôn sáo. Người nói cùng ta nỗi buồn nơi quán chật, đèo cao, nỗi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của người lữ thứ…".
Hai câu thơ đầu của khổ thơ cuôì rất hay. Nếu như câu thơ "lớp lớp mây cao đùn núi bạc" gợi lên cái cao, cái bồng bềnh của cảnh mây trời thì câu thơ tiếp theo lại trĩu xuông theo hình ảnh "bóng chiều sa". Chữ "sa" rất hay. Có lẽ bóng chiều ấy đang chở nặng những tâm tình buồn nhớ của thi nhân nên mới có chữ "sa" ấy, chứ không phải là "xa", bởi nếu đó là "bóng chiều xa" thì nỗi buồn của thi nhân chỉ giản đơn là một nỗi buồn man mác trước cảnh vật lúc giao thời, chứ đâu còn là "nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra nên như kéo dài triền miên" của thi nhân. Tâm trạng cô đơn cùng nỗi "sầu nhân thế" như ngưng đọng và không thể giải tỏa trong không gian của "bóng chiều sa" ấy, và nó còn thể hiện sâu đậm trong hình ảnh thi nhân một mình đứng lẻ loi giữa vũ trụ bao la, lặng lẽ cảm nhận cái vĩnh hằng, cái vô cùng, vô tận của không gian đối lập với kiếp người hữu hạn:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Trong suốt hành trình "Tràng Giang", ta luôn gặp những từ láy: "điệp điệp", "song song", "đìu hiu", "lớp lớp"… tựa như một bản nhạc buồn với những âm điệu thê thiết, và nốt nhạc kết thúc là "dợn dợn", nó gợi lên muôn nhịp sóng: sóng nước, sóng lòng. "Dợn dợn" diễn tả sự rợn ngợp của nhà thơ trước cảnh trời nước mênh mông trong khoảnh khắc hoàng hôn gắn liền với tình quê, cố hương:
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước
Một mảnh tình riêng: ta với ta
(Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)
hay:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
(Hoàng Hạc Lâu – Tản Đà dịch)
Gợi lên từ tứ thơ ấy của Thôi Hiệu, hai câu thơ Đường:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Cũng là tấm "tình quê" của Huy Cận. Nhưng đây là một tình quê tha thiết hơn, sâu nặng hơn và cũng mãnh liệt hơn, bởi tấm "tình quê" ấy được toát lên trong một câu thơ vừa cổ điển, vừa hiện đại: cổ điển ở cảnh xưa: khói sóng, ở kết cấu thơ Đường; hiện đại ở cách nói trái ngược với ý Thôi Hiệu – một sự cách tân mới mẻ, độc đáo của một hồn thơ đầy "lãng mạn". Xưa kia, đứng trên lầu Hoàng Hạc, Thôi Hiệu nhìn thấy khói sóng phủ mờ trên sông mà tình quê thổn thức. Nhưng nay Huy Cận không cần cái mờ ảo của khói sóng tác động vào thị giác, tri giác, cũng không cần cái se lạnh thấm vào da thịt – không cần những thứ vốn đã gợi buồn (khói sóng) tác động, nhưng "tình quê" Huy Cận vẫn trào dâng: Xem thêm: Vẻ đẹp lãng mạn và tính chất bi tráng của hình tượng người lính Tây tiếnKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Rõ ràng tâm tình của Huy Cận sâu lắng hơn, mãnh liệt hơn, nó luôn thường trực trong tâm hồn và luôn sẵn sàng tỏa ra, thấm vào vạn vật. Huy Cận có lần tâm sự: cái "nhớ” ở đây không đơn thuần chỉ là nhớ quê hương Hà Tĩnh – nơi chôn nhau cắt rốn, mà "nhớ nhà" nên hiểu theo nghĩa rộng là nhớ quê hương, đất nước Việt Nam. ông còn kể: Khi phát xít Đức xâm lược nước Pháp, chiếm đóng Paris, nhà thơ Aragon cảm thấy lạc loài ngay chính trên quê hương của mình. Tới nay, trước cảnh nhân dân cơ cực, lầm than, sống cuộc đời nô lệ dưới ách thông trị của thực dân Pháp, thi sĩ Huy Cận lại có tâm sự lạc loài ấy. Chính vì thế, Huy Cận đã nói: "Lúc đó tôi buồn hơn Thôi Hiệu đời nhà Đường". Ân tình thi sĩ Huy Cận dành cho quê hương, đất nước thật là sâu nặng.
Khổ thơ đã khép lại về tứ thơ, nhưng cái tình quê buồn tha thiết, sâu lắng thì như kéo dài, vang vọng mãi theo cái âm điệu "dập dềnh như sóng nước Tràng Giang" của hai câu thơ cuối.
Đây là khổ thơ rất hay: hay ở sự kết hợp nhuần nhuyễn thơ ca truyền thống – những nét cổ điển của thơ Đường với những nét hiện đại; hay ở cảm xúc vũ trụ thể hiện ở cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng nhưng thấm đượm nỗi buồn tâm trạng của thi nhân – "nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước" (Huy Cận). Nỗi buồn khơi nguồn từ tâm ra ngoại cảnh, rồi từ ngoại cảnh trở về tim – lặng lẽ thế nhưng sâu nặng và mãnh liệt vô cùng:
Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang mang thiên cổ sầu
Bâng khuâng trời rộng nhở sông dài. Cảm hứng của lời đề tựa ấy dàn trải trong ba khổ thơ đầu, để rồi hội tụ và kết tinh trong khổ thơ cuối – khổ thơ có thể xem như một bài thơ tứ tuyệt hay, bộc lộ chân thực nhất, sâu đậm nhất tình yêu quê hương của tác giả. Và ở hoàn cảnh đất nước bị quân giặc giày xéo, càng yêu quê hương thắm thiết bao nhiêu, thi nhân lại càng "ảo não", càng "buồn" bấy nhiêu.
Ai đó đã nói: Thơ đích thực nâng đỡ lòng người, khơi gợi những gì đẹp đẽ nhất tiềm ẩn nơi đáy sâu tâm hồn để vươn tới cái cao cả. Tràng Giang, đặc biệt là khổ thơ cuối đã thực sự khơi dậy trong tâm hồn bạn đọc một tình yêu thiêng liêng, cao quí – tình yêu đất nước.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng khố cuối bài thơ Tràng Giang của Huy Cận_ “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa, Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” | 2,174 | |
Đề bài: Em hãy bình giảng khổ thơ 10, 11 trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên.
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua, lòng chẳng lại yêu thương?
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
Khi mà được trở về với cuộc sống xanh tươi, và trở về với nhân dân, đất nước, hồn thơ giàu tính chất trí tuệ, nó như được trầm lắng của Chế Lan Viên đã được tắm đẫm trong cảm xúc đằm thắm ngọt ngào. Và có thể nói rằng chính điều đó tạo nên nét phong cách khó lẫn của thơ ông. Tác phẩm “Tiếng hát con tàu” được xem như là một bài thơ tiêu biểu của tập “Ánh sáng và phù sa” được sáng tác 1960, trong đó dường như cũng đã có những đoạn thơ đã kết tinh được những nét đặc sắc ấy của bài thơ:
Nhớ bản sương giăng, nhớ con đèo mây phủ
Nơi nao qua, lòng chẳng lại yếu thương?
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
Và trong những năm người nghệ sĩ kháng chiến cùng nhân dân Tây Bắc dường nư cũng đã được tiến hành cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại là những năm tháng vô cùng gian khổ và đó cũng chính là sự hy sinh, nhưng cũng sâu nặng nghĩa tình và không thể nào quên. Cho nên ta có thể nói được chính giữa những ngày đất nước rộn ràng không khí xây dựng, như đã được sống giữa thủ đô hoa lệ, và nó như là được hồi tưởng về Tây Bắc, nhà thơ vẫn cảm thấy nhớ da diết một bản làng ” Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ”. Ta có thể nhận thấy được tiểu đối “bản sương giăng” với “đeo mây phủ”, cùng với điệp từ “nhớ” dường như cũng đã tô đậm cảm xúc ấy. Và cũng chỉ như thế là chỉ bằng một hình ảnh mà tác giả Chế Lan Viên dường như cũng đã làm sống dậy được một vùng quê Tây Bắc xa xôi với “bản sương giăng, đèo mây phủ”. Tây Bắc dường như cũng đã hiện lên trong câu thơ Chế Lan Viên thật đẹp, đó chính là một vẻ đẹp huyền ảo, và ở trong đó như đã có cái gì đó heo hút mà vẫn kỳ vĩ rất tiêu biểu cho vẻ đẹp núi rừng miền Tây. Và phải quen thuộc và phải thật gắn bó nhiều với Tây Bắc thì mới tạo ra được một hình ảnh thơ đơn sơ mà gợi cảm và đúng đến thế. Ta như cũng đã được bắt gặp một hình ảnh gợi lại một miền đất xa xôi như lại được ẩn hiện trong sương mờ mây núi và dường như nó cũng chính là trong sương khói của hoài niệm mà dường như cũng đã làm khơi dậy trong tâm hồn ta biết bao hình ảnh như đã thật thân thiết của những bản làng Tây Bắc. Có thể nói được chính những tình cảm thắm thiết nghĩa tình của những con người chất phác nhưng rất đỗi bình dị và cả một mạch thơ về tình quân dân, tình đồng bào trong những năm kháng chiến chống Pháp dường như có thể kể đến đó là “Nhớ” của tác giả Hồng Nguyên, Bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông, Viết Bác của Tố Hữu:…Xem thêm: Bạn Mai Xuân Lan viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
“Bản sương giăng, đèo mây phủ” cũng là một câu như thường gợi lên những gian khổ của những ngày kháng chiến và thường nó cũng như lại dễ gợi nỗi buồn cho con người. Có thể thấy được bằng một tấm lòng gắn bó thiết tha với đất nước, với nhân dân, ta như cũng có thể thấy được những người mà nhà thơ “trọn đời nhớ mãi ơn nuôi” thì những nơi đó bỗng trở thành niềm thương, trở thành những nỗi nhớ của trái tim tác giả. Và ta cũng đã thấy được các tác giả càng thấm thía một điều dường như đã trở thành chân lý trái tim đó chính là”nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương?”. Câu hỏi tu từ được Chế Lan Viên sử dụng như đã thật nhẹ nhàng tha thiết hỏi đấy mà nào cần ai phải trả lời. Và cũng chính như bởi bản thân câu thơ đã chứa đựng cả câu trả lời rồi. Câu thơ Chế Lan Viên dường như cũng đã thật là mang nặng tính chất khái quát và rất giàu tính chất triết lý. Có thể thấy được những triết lý được nếu ra nhưng lại không khô khan. Và cũng chính vì đó còn là những ý thơ được cất lên từ những xúc động dường như cũng đã được lắng nghe của chính lòng mình thông qua sự trải nghiệm của cuộc sống để rút ra quy luật phố biến của đời sống trái tim con người.Xem thêm: Bình giảng bài thơ "Lai Tân” trong ”Ngục trung nhật kí" của Hồ Chí Minh
Và phải nói rằng bằng trí tuệ sắc sảo và trái tim nhạy cảm, Chế Lan Viên cũng như đã còn khám phá ra một quy luật sâu xa mà lý thú.
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.
Thật vậy, ta như cảm thấy được những gì gần gũi và quá quen thuộc với chúng ta thì khi có nó, và cũng như ở gần nó ta không thể nào mà có thể nhận ra được sự quan trọng. Bất cứ khi nào mất đi thì xa cách ta mới thấy được sự thấm thía của sự gắn bó. Bởi thế mà đất ở cũng đã thành có tâm hồn vậy.
Ở khổ thơ tiếp theo, mạch thơ dường như đột ngột chuyển sang một rung cảm và suy tưởng khác. Đó là tình yêu và đất lạ:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương
Tình yêu được xem là một trong những đề tài khá quen thuộc. Nhưng khi mà viết về nó, bằng những câu thơ trên Chế Lan Viên ông dường như vẫn có cách nói độc đáo và hấp dẫn. Khi tác giả nói về tình yêu và nỗi nhớ, tác giả đã có cách so sánh thật mới lạ và thú vị. Ta dường như cũng lại đã bắt gặp một nét quen thuộc rất dễ nhận ra của phong cách Chế Lan Viên đó chính là những hình ảnh thơ giàu chất trí tuệ, như chứa đựng được nhữn sự triết lý qua sự chiêm nghiệm của cuộc đời mà chất chứa cảm xúc dạt dào nó như thể tiếng lòng bật lên từ một trái tim đang nồng nàn nỗi nhớ.Xem thêm: Phân tích bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)
Ta cũng như đã cảm thấy chính nỗi nhớ trong tình yêu giữa anh và em là tất yếu như “đông về nhớ rét”. Và còn chính tình yêu của ta thật thiêng liêng thật quý “như cánh kiến hoa vàng” nó chính là một đặc sản của núi rừng Tây Bắc và đẹp lung linh như sắc biếc chim rừng khi xuân sang vậy.
Dễ nhận thấy được trên cái mạch triết lý ấy, nhà thơ như bỗng reo lên khi phát hiện ra một chân lý giản dị mà sâu xa khác của tình cảm đó chính là “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương” như thật thi vị biết bao nhiêu.
Với hai khổ thơ đặc sắc trên nhà thơ Chế Lan Viên dường như cũng đã nói nhiều về nỗi nhớ, về “Tình yêu”. Nói nhiều về tình yêu nhưng thực chất là nói về tình cảm của nhà thơ đối với nhân dân đất nước. Và đây cũng có thể hiểu được nó như cũng chính là cội nguồn để sáng tạo nghệ thuật, thơ ca. Cũng chính vì thế mà ý thơ vẫn nằm trong mạch suy tư và cảm xúc chung của bài thơ.
Nguồn: Văn mẫu hay | Bình giảng khổ thơ 10, 11 trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên- Văn 12 | 1,456 | |
Bình giảng khổ thơ kết thúc bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi sau đây: “Súng nổ rung trời giận dữ, Người lên như nước vỡ bờ. Nước Việt Nam từ máu lửa, Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
Gợi ý
Nguyễn Đình Thi có những câu thơ viết về mùa thu rất gợi:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới”
Có những câu thơ đẹp, giàu cá tính sáng tạo:
“Những dòng sông đỏ nặng phù sa”
Thơ Nguyễn Đình Thi có bản sắc riêng, có những tìm tòi vể hình ảnh và ngôn ngữ; dạt dào về cảm xúc khi ông viết về đất nước trong chiến tranh:
“Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng”
Kết thúc bài thơ “Đất nước” là hình ảnh nước Việt Nam – Tổ quốc thân yêu – lẫm liệt và hiên ngang, quật khởi và kiêu hãnh trong tư thế hào hùng chiến đấu và chiến thắng:
“Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn, đứng dậy sáng lòa”
Khổ thơ kết này được Nguyễn Đình Thi sử dụng rất sáng tạo thể thơ lục ngôn thể hiện cảm xúc như bị dồn nén lại, chất chứa trong lòng đất nước bấy nay. Giọng thơ bừng bừng vang lên như một khúc ca chiến trận. Đất nước đã trải qua những năm dài “đau thương chiến đấu”, biết bao máu đổ xương rơi, bao hi sinh gian khổ “Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội – Mối bước đường mỗi bước hi sinh”, thì mới có cảnh tượng hào hùng này:
“Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ” Xem thêm: Nghị luận về chiến thắng của cái thiện đối với cái ác trong truyện cổ Tấm Cám Cả đất nước đứng lên nổ súng tấn công quân xâm lược; tiếng súng nổ rung trời, quân thù bị giáng những đòn chí mạng. Trên những con đường chiến dịch, quân và dân ta ào ào ra trận, “người người lớp lớp” (Trần Dần), “đêm đêm rầm rập như là đất nung” (Tố Hữu) vì thế trong tổng công kích, tổng phản công mới có cảnh tượng “súng nổ rung trời giận dữ” như vậy. Đất nước tiến công với sức mạnh của cả dân tộc. Hai tiếng “rung trời”cảm nhận thế đánh của đất nước mang tầm vóc kì vĩ vũ trụ. Đó là thế tiến công của quân dân ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ mới có sức mạnh thần kì ấy. Tiếng súng ấy còn chứa chất bao nỗi căm thù, giận dữ sôi sục. Giận dữ vì quân thù đã giày xéo đất nước ta, gây ra bao nhiêu tội ác tày trời: “Bát cơm chan đầy nước mắt”,… “những cánh đồng quê chảy máu” và đã 9 năm trời đằng đẵng “Dây thép gai đâm nát trời chiều” quê hương đất nước ta. Giận dữ biến thành sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.
Câu thơ “Người lên như nước vỡ bờ” là một câu thơ hàm súc, khơi nguồn cảm hứng từ một thành ngữ – tục ngữ dân gian: “Tức nước thì vỡ bờ" rồi tạo nên một so sánh, để hình tượng hóa sức mạnh chiến đấu vô cùng mạnh mẽ và to lớn của nhân dân ta quyết đánh tan mọi kẻ thù, cuốn phăng mọi thế lực tàn ác trên con đường đất nước đi tới tương lai tươi sáng. Câu thơ nói ít mà gợi nhiều, thế và lực của đất nước dồn nén và tích tụ, bật lên và phóng tới như một mũi tên từ cánh cung thần của người anh hùng thẩn thoại. Sức mạnh của thời đại Hồ Chí Minh, của 9 năm kháng chiến chống Pháp của đất nước ta đã truyền cho ngòi bút Nguyễn Đình Thi niềm tin tưởng tự hào để viết nên những vần thơ hào sảng, cho ta nhiều liên tưởng và cảm xúc vể sức mạnh quật khởi của đất nước anh hùng.Xem thêm: Bạn Mai Xuân Lan viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình Hai câu cuối như một tổng kết về hành trình lịch sử của đất nước. Có “rũ bùn” mới có “đứng dậy”, từ “máu lửa” mới có cảnh tượng “sáng lòa”. Câu thơ như một lời đúc kết về chiến tranh cách mạng, vể một chân lí lịch sử của đất nước ta trong thời đại Hồ Chí Minh:
“Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn, đứng dậy sáng lòa”.
Chữ “từ” trong câu thơ nói lên một quá trình, một sự thay đổi lớn lao của đất nước. Ba tiếng “Nước Việt Nam” cất lên, vang lên trong vần thơ biểu lộ niềm vui sướng tự hào vô hạn của tác giả. Mười sáu nãm sau, trên chiến trường Trị Thiên giữa những ngày sôi sục đánh Mỹ, kết thúc bài thơ “Đất nước” – Chương V bản trường ca “Mặt đường khát vọng”, nhà thơ trẻ Nguyễn Khoa Điềm, cũng với cảm hứng tự hào ấy đã gọi tên Đất Nước:
“Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào
Ta nghẹn ngào: Đất nước Việt Nam ơi!”
Từ “máu lửa” là từ những hi sinh, mất mát, đau thương. Nói như Chế Lan Viên thì “Mỗi trang sử đất này đều ngập máu cha ông” (Sao chiến thắng). Từ “máu lửa” là từ những năm dài kháng chiến “một gốc tre ba đời đánh giặc”. “Từ máu lửa” là từ nô lệ lầm than mà nhân dân “rũ bùn đứmg dậy” trong tư thế lẫm liệt chiến thắng vẻ vang: “sáng lòa”. Câu thơ từ nhịp 6 chuyển sang nhịp 2 diễn tả dáng đứng Việt Nam hào hùng:Xem thêm: Em hãy trả lời những câu hỏi sau đây theo hai cách (đồng ý và không đồng ý)“Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn/ đứng dậy /sáng lòa”
“Đứng dậy” – thể hiện sức mạnh quật khởi của đất nước, khát vọng tự do của nhân dân cầm vũ khí chiến đấu với quyết tâm “thà hi sinh tất cả chứ nhất không chịu mất nước, nhất định khống chịu làm nô lệ! ”(Hồ Chí Minh). “Từ máu lửa” đến “rũ bùn đứng dậy” mới có cảnh tượng huy hoàng: “sáng lòa”. Tứ thơ này được viết ra bằng cảm hứng lãng mạn nói về viễn cảnh của đất nước ta sau ngày đánh thắng quân xâm lược, bước vào một kỉ nguyên mới: độc lập, tự do, thịnh vượng. Câu thơ còn mang một hàm nghĩa lịch sử: cái giá của độc lập, tự do và niềm tự hào lớn lao về đất nước và kháng chiến.
Đoạn thơ trên mang đầy vẻ đẹp hàm súc về ngôn ngữ, vẻ đẹp tráng lệ về niềm tự hào đất nước về kháng chiến. Ý thơ khái quát nâng lên tầm trí tuệ: khẳng định và ngợi ca sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đoạn thơ cho ta niểm tin về đất nước trên hành trình lịch sử: “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” để ta sung sướng, reo lên:
“Ta nghẹn ngào: Đất nước Việt Nam ơi!”
Vanmau.edu.vn | Bình giảng khổ thơ kết thúc bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi sau đây_ “Súng nổ rung trời giận dữ, Người lên như nước vỡ bờ. Nước Việt Nam từ máu lửa, Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” | 1,216 | |
Bình giảng khổ thơ sau trong bài thơ “Bác ơi!” của Tố Hữu: “Bác sống như trời đất của ta. Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa. Tự do cho mỗi đời nô lệ. Sữa để em thơ, lụa tặng già!”
Gợi ý
Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Trong dịp lễ quốc tang lãnh tụ vĩ đại, bài thơ "Bác ơi!" của Tố Hữu được giới thiệu trên báo "Nhân dân", sau này in trong tập thơ "Ra trận". Bài thơ gồm có 52 câu thơ thất ngôn, chia đều thành 13 khổ thơ. Bốn khổ đầu thể hiện nỗi đau thương bao trùm sông núi và lòng người. Sáu khổ thơ giữa ca ngợi công đức to lớn của Bác Hồ. Ba khổ thơ cuối nói lên nỗi thương tiếc Người và nguyện thực hiện lời Bác đặn. Đây là khổ thớ thứ 7 nằm trong phần 2 bài thơ "Bác ơi!":
“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già!”.
Đoạn thơ đã ca ngợi tầm vóc và tâm hồn cao cả, lớn lao; tình yêu thương mênh mông của Bác Hồ kính yêu. Mỗi câu thơ là một khám phá, một nét vẽ tuyệt đẹp tâm hồn của Bác. Giọng thơ trang trọng, trang nghiêm.
1. Câu thơ thứ nhất là một so sánh, một lời ngợi ca khẳng định:
“ Bác sống như trời đất của ta”.
“Trời đất của ta” là quê hương đất nước, là xứ sở thân yêu của ta vô cùng tươi đẹp, rộng lớn và vĩnh hằng. Cuộc đời “79 mùa xuân” và đời sống tinh thần của Bác được so sánh với “trời đất của ta” nhằm ca ngợi tầm vóc lớn lao và cao cả của Người. Đó là sự nghiệp cách mạng cứu nước cứu dân, là lí tưởng và đạo đức cách mạng của Bác Hồ. Đó là một tâm hồn trong sáng, thanh cao, thoát khỏi mọi ràng buộc của danh lợi vươn tới cái vô cùng, cái cao cả. Là một chiến sĩ “Mong manh áo vải, hồn muôn trượng”. Là một lãnh tự “Một đời thanh bạch, chẳng vàng son”. Là một con người Việt Nam mang cái tên đẹp “Ái Quốc” đã “ôm cả non sông, mọi kiếp người”. Lấy thiên nhiên để so sánh với con người là một cách nói quen thuộc của nhân dân ta. Ca ngợi công cha nghĩa mẹ, ca dao có câu:Xem thêm: Ai chiến thắng mà không hề chiến bại. Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần?“Công cha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông”.
Trong nhiều bài thơ viết về Bác Hồ, với lối nói ấy, Tố Hữu đã sáng tạo nên nhiéu câu thơ tuyệt đẹp:
“Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non”
(Sáng tháng năm)
“Bác ơi!
Thôi đập rồi chăng? một trái tim
Đỏ như sao Hỏa, sáng sao Kim”
(Theo chân Bác)
2. Ba câu thơ tiếp theo nói lên lẽ sống cao đẹp và trái tim yêu thương mênh mông của Hồ Chủ tịch hướng tới năm đối tượng đều vì cuộc sống con người. Bác “yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa”. Hai vế tiểu đối: “từng ngọn lúa // mỗi cành hoa” là biểu tượng về mỗi nét đẹp của thiên nhiên, về mỗi thành quả của cuộc sống cần lao, về cái đẹp trong cuộc đời. Tất cả đều được Bác chăm chút, quan tâm. Đó là cách nói ẩn dụ về tình yêu sâu sắc của Bác đối với Đất nước, nhân dân. Câu thơ thứ ba “Tự do cho đời nô lệ” nói lên lẽ sống cao đẹp của Người. Yêu tự do và chiến đấu cho tự do: “Tự do cho đồng bào tôi, tự do cho Tố quốc tôi” là ý nguyện suốt đời của Bác. Câu thơ của Tố Hữu đã nói lên sâu sắc cái gốc nhân ái, cái “ham tột bực” của Người “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân ta được hoàn toàn tự do, dồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Tự do là lí tường cao đẹp của Hồ Chủ tịch. Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Người đã viết: “Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Sự thật, Người không chỉ mang lại tự do cho dân tộc Việt Nam ta, mà còn góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh giành lại tự do cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Vì thế, câu thơ của Tố Hữu còn mang tầm khái quát: “Hồ Chí Minh là lương tâm của thời đại”. Xem thêm: Nhân vật Thị Kính và nỗi oan hại chồng của nàng gợi cho em những suy nghĩ gì?Câu thơ cuối đoạn cũng có hai vế tiểu đối thể hiện tình yêu thương mênh mông của Bác Hồ hướng tới hai lứa tuổi cần được quan tâm đặc biệt trong xã hội là em thơ và các cụ già Việt Nam:
“Sữa để em thơ, lụa tặng già”
Chữ “để”có nghĩa là “để dành cho”.Chữ “tặng” thể hiện một tấm lòng, một cách ứng xử vô cùng trân trọng quý mến. Với tuổi thơ Việt Nam, Bác đã dành cho tất cả tình thân yêu. San sẻ một ánh trăng thu sáng ngời. Nhiều cái hôn Bác dành cho các cháu gần xa. Các vị lão giả cao niên “xưa nay hiếm” chắc đều đã về cõi thiên thu, nhưng những chiếc áo lụa Bác Hồ tặng các cụ, vẫn mãi mãi là kỉ vật thiêng liêng mà con cháu giữ gìn đến muôn đời mai sau? Cả ba câu thơ đều viết dưới hình thức liệt kê và đối xứng, tựa như những trang đời của Bác Hồ được dần mở rộng ra. Và mỗi chúng ta tưởng như đang mở rộng tầm mắt và tâm hồn chiếm lĩnh dần “hương nhân ái” Hồ Chí Minh, như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:
“Đoá hoa sen mặt đất tỏa hương trời
Hương nhân ái thấm vào hồn ta mãi”
Đoạn thơ trên đây của Tố Hữu không có hình tượng mĩ lệ, nhưng đọc lên, “tình thơ, hương thơ, hồn thơ” cứ quyện lấy lòng ta mãi. Tố Hữu đã dùng cách nói bình dị, hồn nhiên để thể hiện cái cao cả vĩ đại, đó là tâm hồn và nhân cách cao đẹp Hồ Chí Minh. Các vị ngữ dược sử dụng: “ sống”, “yêu”, “cho”, “để”, “tặng” – đã cho thấy ngòi bút nhuần nhị, tinh tế của Tố Hữu khi viết về Bác Hồ kính yêu. Đoạn thơ trên đã trở thành câu hát của mỗi chúng ta khi nhắc đến tên Người với niềm tự hào và lòng biết ơn vô hạn.Xem thêm: Hãy trình bày những suy nghĩ của mình về trách nhiệm với biển đảo quê hương qua bài thơ Nguyễn Việt Chiến – Tổ quốc nhìn từ biểnVanmau.edu.vn | Bình giảng khổ thơ sau trong bài thơ “Bác ơi!” của Tố Hữu_ “Bác sống như trời đất của ta. Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa. Tự do cho mỗi đời nô lệ. Sữa để em thơ, lụa tặng già!” | 1,190 | |
Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, từ: “Súng nổ rung trời giận dữ… Rũ bùn đứng dậy sáng loà”
Gợi ý
Chúng ta biết "Đất nước" tuy là một bài thơ ngắn, nhưng lại có dáng dấp một khúc tráng ca thu nhỏ. Khỏng phải ngẫu nhiên mà có thể gặp ở đây bức tranh toàn cảnh về tổ quốc Việt Nam qua những thăng trầm lịch sử: Đất nước buồn trong thu xưa, Đất nước ngày đổi mới, Đất nước chìm trong đau thương, Đất nước vùng lên quật khởi. Mỗi phần tương đương với một chương tráng ca. Qua những bước dài ấy, người ta cứ thấy ngời lên một sức sống Việt Nam kì diệu, sức sống đã biến những người áo vải thành những anh hùng, biến một nước Việt chân đất cần lao lam lũ thành nước Việt Nam rũ bùn đứng dậy sáng loà.
Đây là khổ thơ kết lại toàn bài thơ, chưa lúc nào, hình ảnh Đất nước lại hiện ra kì vĩ và hoành tráng như thế:
Súng nồ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa
Dẫu bốn câu thơ được viết rất chặt chẽ, chúng ta vẫn có thể thấy tự nó đã chia thành hai phần khá rõ rệt. Hai câu trên phác ra khung cảnh để làm phông nền, hai câu dưới tập trung khác hoạ hình ảnh Đất nước nối hình nối khối hằn lên trên cái nền ấy. Nếu nửa trên có phần nghiêng về tả thực, thì nửa dưới lại đẩy tính khái quát, hình tượng hiện ra vừa kì ảo vừa kì vĩ.
Ở chương Đất nước (trích trường ca "Mặt đường khát vọng"), khi hình dung về đất nước, Nguyễn Khoa Điềm thường tựa vào hai bình diện, hai hình ảnh chính là Đất và Nước (Đất là nơi anh đến trường / Nước là nơi em tắm… đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc / nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi… Đất là nơi chim về? Nước là nơi rồng ở). Trong khi đó, hai bình diện chính, hai hệ thống ảnh chính mà Nguyễn Đình Thi lấy làm điểm tựa để hình dung về một Đất nước toàn vẹn, lại là Đất và Trời (Đất nước đổi đời: Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới… Đất nước giành lại chủ quyền: Trời xanh đây là của chúng ta / Núi rừng đây là của chúng ta.. Đất nước đau thương: Ôi những cánh đồng quê chảy máu? Dây thép gai đâm nát trời chiều…), Ở đây cũng thế, hình ảnh đất nước Việt Nam vùng lên được nhìn nhận ở cả hai phía Bầu trời và Mặt đất:Xem thêm: Bình giảng bài thơ Chiều tối (trích Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh) Súng nồ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Cà hai hợp lại thành một Tổ quốc Việt Nam tràn đầy hào khí.
Nguyễn Đình Thi đã dụng công trong việc tiết chế ngòi bút dồn khí lực vào bên trong để cuối cùng bùng lên thành sự công phá. Tương ứng với điều này là hình tượng một nước Việt Nam nung nấu đau thương, tích tụ căm hờn, âm thầm biến tất cả thành sức mạnh để cuối cùng quật khởi vùng lên. Ban đầu là cái nấu nung bên trong phát lộ ra thành nỗi bồn chồn: "những đêm dài hành quân nung nấu bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu". Nó bật lên thành tiếng: "Từ gốc lúa bờ trê hồn hậu đã bật lên những tiếng căm hờn". Rồi nó phát lộ ra thành tiếng kèn gọi quân: "Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng", nó hiện ra trong vầng trán cháy rực: "Trán chảy rục nghĩ trời đất mới"… Đó là quá trình chuyển hoá kì diệu bên trong cùa sức sống dân tộc, quá trình những người áo vải hoá thành những anh hùng: "Ôm đất nước những người áo vải / Đã đứng lên thành những anh hùng". Nhưng tất cả những điều đó chỉ nhằm vào cái đích cuối cùng là quật cường đồng khởi. Bốn câu cuối cùng này là đỉnh điểm của cảm xúc thơ, cũng là những nét vẽ cuối cùng hoàn tất hình tượng đất nước của ngòi bút Nguyễn Đình Thi. Có nhìn như thế, mới thấy giá trị nghệ thuật của hai tiếng súng nổ. Nó đâu chỉ là một sự kiện chiến trận được tả thực. Nó còn là hiệu lệnh quật khởi. Hơn thế nữa, nó chính là cái khối chất nổ tích tụ bao năm trong lòng một dân tộc bị daỳ xéo giờ đang bùng nổ thành sức công phá mãnh liệt, thành hào khi xung trận vù bão, thành hào khí chiến thắng.
Bức tranh hoành tráng sử thi về đất nước được vẽ bằng những nét bút lớn, đầy tính khái quát tượng trưng: Súng nổ rung trời giận dư. Lời thơ cũng đạt đến một độ hàm súc cao. Hai chữ giận dữ khiến cho ý thơ thật đa nghĩa. Bởi nó có tới hai chữ từ. Đó là tiếng súng giận dữ của con người hay bầu trời cũng đang nổi giận với kẻ thù? Có lẽ là cả hai. Tội ác của chúng gieo rắc bao năm khiến cho trời không dung đất không tha.Xem thêm: Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ. Đói. Nó vừa cay đắng, vừa đớn đau, đồng thời một mặt nào đó nó lại loé lên những tia sáng về đạo đức, danh dự Nếu câu thứ nhất mở lên chiều cao, thì câu thứ hai lại trải ra bề rộng. Hình ảnh Người lên như nước vỡ bờ được gợi hứng trực tiếp từ những biển người tràn lên cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám và lớp lớp chiến sĩ xông lên phá bốt diệt đồn giành lại đất đai trong những năm kháng chiến. Những ấn tượng thực ấy được tái tạo cùng một thành ngữ quen thuộc: Tức nước vỡ bờ. Cả hai hoà vào nhau trong một câu thơ vừa có sức gợi tả vừa cách điệu tượng trưng. Người đọc có thể hình dung một biển người đang vùng lên, một khí thế mạnh mẽ cứ tràn đi cuốn phăng tất cà. Thật ít có hình ảnh nào thể hiện sức mạnh của chiến tranh nhân dân bằng hình ảnh nước vỡ bờ như thế.
Trên cái phông nền ấy, hình tương đất nước hiện lên như một thực thế vừa kì ảo vừa kì vĩ:
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sảng lòa
Nguyễn Đình Thi từng "tiết lộ" về xuất xứ của hình ảnh này trong chiến dịch Điện Biên, ông đã từng chứng kiến cảnh những chiến sĩ của ta dám nửa mình trong bùn dưới giao thông hào. Đến khi đươc lệnh tấn công, họ đã nhất tề vượt lên trên miệng giao thông hào, bùn bắn tung toé. Cảm quan thi sĩ liền nhận ra đây là một tư thê lẫm liệt, một biểu trưng cao đẹp. Thế là. từ hình ảnh thật vẽ một chiến sĩ, thi sĩ đã nâng tầm vóc lên thành hình ảnh của cả đất nước. Nói rõ hơn, bằng lối tư duy đậm chất huyền thoại, người làm thơ đã làm cho hình ảnh cá biệt nhò nhoi thành một hình tượng khổng lồ, kì ảo, hoành tráng. Nếu máu lửa là nỗi đau thương, thì bùn đen là nỗi nhục nhằn nô lệ. Hình ảnh thơ diễn tả một nước Việt Nam bị vùi trong đau thương, bị nhấn sâu xuống bùn đen nô lệ vụt đứng lên như một thiên thần. Rũ bỏ bùn nhơ, toả sáng hào quang. Đây là quy luật kì diệu của sức sống Việt Nam khi đương đầu với ngoại xâm. Đâu phải ngẫu nhiên, sau này, khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ, Nhà thơ Tố Hữu cũng viết:Xem thêm: Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm– Văn 12 Ôi Việt Nam từ trong biển máu
Người vươn lên như một thiên thần
Phải nói rằng, chất liệu ngôn từ đã được Nguyễn Đình Thi sử dụng rất thành công. Người đọc không thể khống thấy hệ thống những động từ, tính từ được sử dụng ở đây đều thuộc cường độ mạnh mẽ chói gắt: nồ rung trời, vỡ bờ, giận dữ, máu lừa, sảng lòa… Và dường như chúng đều từ những cảm xúc mang tính trực quan mà được tượng trưng hoá. Nếu không có nguồn ngữ liệu ấy, hình tượng thơ khó vượt khỏi tầm mức tả thực để có được tầm vóc tượng trưng kì vĩ như thế.
Làm nên thành công của khổ thơ này, không thể không tính công cho thể loại thơ lục ngôn. Trong toàn thi phẩm, thể lục ngôn được dùng tới hai lần (Trước đó là khổ thơ lên án tội ác của thằng giặc Tây, thằng chúa đất). Nhưng đắc dụng hơn cả vẫn là lần này. Cả nhịp chân lẫn nhịp lẻ của thể lực ngôn đều được phát huy đúng lúc.
Hai câu đầu nghiêng về nhịp chẵn. Đến câu thứ ba. nó bất ngờ thay đổi nhịp 2/2/2 dàn trải dừng lại Nhịp 3/3 bật sức trỗi lên:
Nước Việt Nam / từ máu lửa
Khác nào một đột biến không có nhịp điệu ấy thật khó mà biểu hiện cho sắc nét cú đột khởi vươn mình thành khổng lổ, thành thiên thần của hình tượng Đất nước. Hình và Nhạc đã hỗ trợ nhau hay đã hoá thân vào nhau, thật khó mà phân biệt được.
Bài thơ mở đấu bằng hương cốm hiền hoà trong những sáng thu muôn thuở để rồi kết thúc bằng hình ảnh quật cường, vừa dư dội vừa oai hùng. Chỉ riêng điều đó dù cho ta thấy sức sống kì diệu nào đã biến một nước Việt Nam hiền hoà thành một nước Việt Nam bất khuất. Khổ thơ kết này chính là cái thời điểm chót cùng của cuộc hoá thân màu nhiệm đó
Vanmau.edu.vn | Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, từ_ “Súng nổ rung trời giận dữ… Rũ bùn đứng dậy sáng loà” | 1,726 | |
Bình giảng một bài thơ xuân mà em yêu thích
Gợi ý
Xuân về
Nguyễn Bính
Đã thấy xuân về với gió đông,
Với trên màu má gái chưa chồng.
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong.
Từng đàn con trẻ chạy xun xoe,
Mưa tạnh, giời quang, nắng mới hoe.
Lá nõn, nhành non, ai tráng bạc?
Gió về từng trận, gió bay đi…
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng,
Lúa thì con gái mượt như nhung.
Đầy vườn hoa bưởi, hoa cam rụng,
Ngào ngạt hương bay, bướm lượn vòng.
Trên dường cát mịn, một đôi cô,
Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa.
Gậy trúc dắt bà già tóc bạc,
Tay lần tràng hạt miệng nam mô.
1937
(Tâm hồn tôi)
Thi sĩ Nguyễn Bính xuất hiện trong phong trào Thơ mới trước năm 1945. Phong cảnh đồng quê, hình ảnh cô thôn nữ, bến đò ngang, phiên chợ Tết… được Nguyễn Bính nói lên một cách bình dị, thân mật đáng yêu. ‘Tương tư", "Chợ Tết", "Mưa xuân", "Xuân về",… là những bài thơ hay của ông được nhiều người yêu thích.
Bài thơ "Xuân về" là một bức tranh xuân có bốn cảnh xinh xắn, thân mật về đồng quê, làng quê Việt Nam hơn 60 năm về trước. Con người và cảnh sắc nông thôn đã được thi vị hóa qua một hồn thơ lãng mạn tài hoa.
Cảnh.xuân thứ nhất nói về cô thôn nữ khi gió đông (gió xuân) thổi về. Gió xuân mang hơi ấm và khí xuân làm hồng lên đôi má "gái chưa chồng", tuổi xuân mơn mởn. Cô láng giềng, cô hàng xóm của nhà thơ bâng khuâng nhìn trời với "đôi mắt trong" như đang ước hẹn, đợi chờ ai… Bức tranh xuân trẻ trung, tình tứ được chấm phá qua hai hình ảnh "màu má gái chưa chồng" và "đôi mắt trong" của cô hàng xóm đang "ngước mắt" nhìn trời xuân:Xem thêm: Em có cho rằng: "Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người""đã thấy xuân về với gió đông,
Với trên màu má gái chưa chồng.
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong".
Cảnh.xuân thứ hai vừa đẹp, vừa sống động, hồn nhiên và tươi xinh. Gió xuân thổi về từng trận rồi "gió bay di", gợi lên sự phơi phới. Sau những tháng ngày mưa xuân, mưa bụi trắng trời, nay mưa đã tạnh, bầu trời rất đẹp, một không gian ấm áp: "giời quang, nắng mới hoe". Nắng mới là nắng đầu xuân: "nắng mới hoe" là nắng hồng nhạt. Có cây đâm chồi nảy lộc:
"Lá nõn, nhành non, ai tráng bạc?"
"Lá nõn" là những mầm lá, những lá non màu xanh mượt, "nhành non" là những cành tơ mới nẩy lộc có nhiều lá nõn màu xanh như ngọc. Nhà thơ sung sướng ngạc nhiên nhìn "lá nõn, nhành non” rồi thốt lên câu hỏi "ai tráng hạc?". Lá xuân mỡ màng, non tơ sáng ngời lên lấp lánh. Các chữ: "nõn", "non", "bạc?", đã gợi lên sắc xuân và sức xuân kì diệu. Thi sĩ Xuân Diệu cũng đã nói hoa, lá, cành mùa xuân, cùng nói đến "cành tơ" đầy gợi cảm:
"Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội..xanh rì
Này đày lá của cành tơ phơ phất…"
(Vội vàng)
Cảnh xuân càng trở nên rộn ràng, vui tươi và hồn nhiên khi xuất hiện ‘Từng đàn con trẻ chạy xun xoe". Các em nô đùa, các em đón nắng mới, các em theo bà, theo chị đi trẩy hội mùa xuân. Cảnh xuân càng trở nên ý vị đậm đà.Xem thêm: Phân tích bài thơ Từ ấy khổ 1 của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết) Nét xuân đẹp thứ ba trong bức tranh xuân của Nguyễn Bính mở ra một không gian nghệ thuật rộng lớn gợi lên cái hồn quê buổi xuân về. Giêng hai là thời gian nông nhàn, bà con dân cày "nghỉ việc đồng", ai nấy đều tíu tít trong lễ hội mùa xuân. Cánh đồng làng bát ngát "Lúa thì con gái mượt như nhung". Một so sánh rát hay, rất gợi cảm làm hiện lên những cánh đồng quê lúa xanh thẳm, biển lúa êm đềm "mượt như nhung". Vườn tược, xóm thôn nở trắng màu hoa cam, hoa bưởi "ngào ngạt hương bay". Mùi thơm nồng nàn, quấn quít "bướm vẽ vòng". Cánh bướm, hoa trong vườn xuân thật trữ tình nên thơ:
"Đầy vườn hoa bưởi, hoa cam rụng,
Ngào ngạt hương bay, bướm lượn vòng."
Chữ nđầy, chữ "ngào ngạt" là hai nét vẽ gợi lên cái thần, cái hồn cùa vườn xuân chốn quê. Nguyễn Bính đã dem cái tình yêu mùa xuân, yêu làng mạc đồng quê để viết nên những câu thơ tuyệt bút về hương hoa, về bướm hoa trong mùa xuân.
Một nét đẹp nữa trong bức tranh "Xuân về" là cảnh đi trẩy hội. "Một đôi cô" duyên dáng, tươi xinh trong bộ đồ dân tộc: "yếm đỏ, khăn thâm" đi trẩy hội chùa. Các cụ già, bà già "tóc hạc" lưng còng, tay chống gậy trúc, vừa đi vừa lần tràng hạt, miệng lầm rầm tụng nam mô. Có cái phơi phới, say mê của cô gái quê. Có cái phúc hậu, thánh thiện của tuổi già. Cảnh trẩy hội xuân vừa tưng bừng náo nhiệt, vừa dân dã hồn hậu đáng yêu. Ta cảm thấy như mình đang được sống lại lễ hội mùa xuân của làng quê hơn trăm năm về trước:Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu"Trên đường cát mịn, một đôi cô,
Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa.
Gậy trúc dắt bà già tóc bạc,
Tay lần tràng hạt miệng nam mô",
"Xuân về" là một bài thơ xuân đẹp, cho ta nhiều ấn tượng và yêu thích. Những nét vẽ về "lá nõn, nhành non…", về lúa con gái "mượt như nhung", về hoa bưởi hoa cam rụng đầy vườn "ngào ngạt hương bay", với "bướm vẽ vòng"… Tất cả đã gợi lên một bức tranh xuân tươi đẹp, đầy hương sắc, rất mặn mà, thân thuộc. Bức tranh xuân ấy còn có hình ảnh thiếu nữ với má hồng, mắt trong, duyên dáng đi hội chùa làng, với "yếm đỏ khăn thâm": còn có bà già đi hội, chống gậy trúc, lần tràng hạt miệng nam mô. Cảnh xuân, tình xuân được nhà thơ nói đến rất bình dị, mộc mạc, rất thân thuộc đậm đà, đáng yêu. Nguyễn Bính đã gợi lên cái hồn quê nơi chốn quê, đã để thương để nhớ trong lòng người bấy nay.
Tình quê, hồn quê là nét đẹp trong "Xuân về" của Nguyễn Bính. Thơ trong sáng, dung dị vơi đầy một tình xuân đồng quê đầm ấm và rung động, thiết tha. Thơ Nguyễn Bính dịu dàng, êm đẹp như ca dao, dân ca.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng một bài thơ xuân mà em yêu thích | 1,143 | |
Bình giảng một đoạn văn tả cảnh và cảm xúc của nhân vật Mị giữa ngày Tết trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (đoạn từ “Hồng Ngài năm ây…” đến “… quả pao rơi rồi”)
Gợi ý
A. DÀN BÀI
1. Mở bài
Đọc truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài, khó có thể quên nhân vật Mị và “những đêm tình mùa xuân” Tây Bắc. Không từng sống với Tây Bắc, không từng yêu Tây Bắc thiết tha, không từng mong ước có sự đổi đời với người dân Tây Bắc thì không thể có được những trang viết đẹp và thơ mộng như thế.
2. Thân bài
а. Cảnh mùa xuân ở Hồng Ngài
– Một cái Tết muộn và lạ…
– Mùa xuân đã về trên núi cao.
b. Cảnh đêm tình mùa xuân của đời Mị
– Có rất thực một ngày xuân, đêm xuân ở Hồng Ngài.
– Có một đêm tình mùa xuân của đời Mị.
Đêm tình mùa xuân là đêm khởi đầu cho sự sống lại của nhân vật MỊ.
3. Kết bài
Thành công của Tô Hoài là đã hát thật lòng mình khúc ca đáng yêu về đất trời và con người Tây Bắc, đã vẽ bức tranh xuân đế nâng niu khát vọng sống vĩnh cửu của con người – bằng ngôn ngữ – có phần lắng đọng và âm vang của thơ.
B. BÀI LÀM
Đọc truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài, khó có thể quên nhân vật Mị đã đành, lại càng khó quên hơn “những đêm tình mùa xuân” Tây Bắc. Không từng sống với Tây Bắc, không từng yêu Tây Bắc thiết tha, không từng mong ước có sự đổi đời với người dân Tây Bắc thì khó thể có được những trang viết đẹp thơ mộng rất miền núi như nhiều trang trong tập Truyện Tây Bắc, đặc biệt trong Vợ chồng A Phủ và tập trung nhất là ở đoạn Tô Hoài tả tình cảnh và cảm xúc của Mị giữa ngày Tết.Xem thêm: Bình giảng đoạn văn sau trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà" của Nguyễn Tuân: "Thuyền tôi trôi trên sông Đà… nó khắc hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên” Trước hết, chúng ta thấy một cái Tết muộn và lạ đã đến. Có nắng, gió mang nắng đến cho đồi cỏ gianh hay cỏ gianh đã ươm vàng, ửng vàng, rực vàng màu nắng? Có rét cùng song hành về cùng gió, rất dữ dội. Có gì tựa hồ sự vươn lên trong thời tiết khắc nghiệt – của thiên nhiên, ở Hồng Ngài?
Mùa xuân đã về trên núi cao.
Về trong sự chờ đón của bao người, đặc biệt là người phụ nữ. Kiểu so sánh, hoán dụ: “Những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoe như con bướm sặc sỡ” là dấu hiệu của mùa xuân hoa bướm trong lòng người.
Về trong sự chuyển màu của hoa thuốc phiện trên nương từ trắng chuyển sang đỏ, đỏ hau, đỏ đậm sầm, rồi tím, tím man mát trong mắt ai? Trong hồn ai?
Về trong trò chơi quay của trẻ con đợi Tết. Chúng cười ầm trên sân chơi trước nhà. Chúng hoàn toàn hồn nhiên, rất đỗi mừng vui bởi Tết sắp đến!
Về trong tiếng sáo gọi bạn tình – lấp ló ngoài đầu núi, âm vang thiết tha bồi hồi. Âm thanh của những đêm tình mùa xuân đã tới: “ Ta đi tìm người yêu”.
Về trong lòng Mị – một con người tưởng như khép kín an phận trong chuỗi ngày mờ đục dằng dặc kéo dài! Mị nghe tiếng sáo vọng thiết tha bồi hồi. Mị ngồi nhẩm bài hát ngày xưa. Mị nghe tiếng chó sủa xa xa. Mị cảm nhận được “những đêm tình mùa xuân đã tới…”.
Và đêm tình mùa xuân của đời Mị đã đến
Có rất thực một ngày xuân, đêm xuân ở Hồng Ngài. Trai, gái, trẻ con tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi kèn và nhảy ở sân chơi đầu làng. Cả nhà thống lí Pá Tra cũng đang vui xuân, chơi Tết (Tết cúng ma, nhảy ốp đồng, chiêng ầm ĩ…) náo động. Mị là con dâu gạt nợ nên có muốn uống rượu cũng phải lén “uống ừng ực từng bát”. Cô Mị say, lịm mặt, ngồi đấy… thả lòng mình trôi về quá khứ. Mị sống đời sống ngày trước.Xem thêm: So sánh các bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, (...) trích đoạn Đất nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm. Phân tích và đánh giá những tình cảm riêng, những khám phá riêng của mỗi nhà thơ về vẻ đẹp của đất nước quê hương mình Có một đêm tình xuân của đời Mị. Men rượu làm Mị say, men nhớ làm Mị sống lại. Mị nhớ về thời con gái của mình, ngày ấy Mị cùng thuờng đi chơi Tết. Mị trẻ trung và tài hoa, bao chàng trai đã theo Mị hết núi này qua núi khác ngày đêm. Mị thổi kèn lá hay thổi sáo cũng hay. Ở đây, thủ pháp đồng hiện có mặt đã vẽ nên sự sống mới trẻ trung cho cô Mị, báo hiệu sự sống lại của ý thức của Mị. Mị đã có ý thức về không gian, thời gian, ý thức về sự sống.
Men rượu làm Mị say, men nhớ làm Mị sống lại. Quán tính khiến Mị không bước ra đường chơi, mà Mị bước vào buồng, ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ vuông mờ mờ trắng trắng. Cũng có thể bằng cách ấy – tác giả vừa dựng được cuộc giao tranh giữa quá khứ và hiện tại, giữa sống yêu đời và tồn tại lặng câm vô hồn manh nha trong Mị, lại vừa khẳng định sự hồi sinh tâm hồn này có từ vùng đất chết, tại chính địa điểm đau thương vô cùng của đời Mị này. Sự chuyển biến mới trong khát vọng sống của Mị là Mị đã tìm thấy niềm vui sống: “Mị thấy phơi phới trở lại” – không chỉ là sự thức dậy của ý thức mà là sự mãnh liệt tràn trề của cảm xúc.
Mị còn tự ý thức được về mình: Mị còn trẻ lắm. Mị còn ý thức được cả ý muốn, khát vọng của Mị nữa: “Mị muốn đi chơi”. Dấu hiệu của khát vọng sống đã thức dậy hoàn toàn ở Mị. Mị bất bình về cuộc sống vợ chồng của mình (không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau). Từ nỗi đau về hạnh phúc đó dẫn đến ý thức phản kháng cao hơn: Mị nghĩ đến cái chết “giá có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay…”.Xem thêm: Dựa vào văn bản Động Phong Nha, em hãy tưởng tưởng và miêu tả lại kì quan này Mị đã suy nghĩ và có thể hành động như một con người tự do. Đêm tình mùa xuân này là đêm khởi đầu cho sự sống lại của nhân vật Mị: Mị đã khóc: “nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra”. Giọt nước mắt của Mị trong đêm tình mùa xuân này hẳn có liên quan một cách nghệ thuật với giọt nước mắt của A Phủ và “đêm mùa đông trên núi cao” – đêm đáng nhớ thứ hai của đời Mị.
Đọc Vợ chồng A Phủ, không thể không dừng lại ở cái Tết muộn của Hồng Ngài, càng khó dứt lòng mình ra khỏi tiếng sáo của những đêm tình mùa xuân Tây Bắc. Có tiếng sáo ai thổi lấp ló ngoài đầu núi cho Mị nghe tha thiết bồi hồi, cho Mị nhẩm thầm lời hát, cho Mị đồng cảm với nỗi niềm bạn tình “Ta đi tìm người yêu” trong bài hát. Là tiếng sáo rủ bạn tình văng vẳng bên tai Mị, xui trái tim Mị theo nhịp đập hồi sinh. Là tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường:
Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi…
Thành công của Tô Hoài là đã hát thật lòng mình khúc ca đáng yêu về đất trời và con người Tây Bắc, đã vẽ bức tranh xuân để nâng niu khát vọng sống vĩnh cửu của con người – bằng ngôn ngữ – có phần lắng đọng và âm vang của thơ.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng một đoạn văn tả cảnh và cảm xúc của nhân vật Mị giữa ngày Tết trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (đoạn từ “Hồng Ngài năm ây…” đến “… quả pao rơi rồi”) | 1,421 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Sóng của Xuân Quỳnh: “Con sóng dưới lòng sâu… Hướng về anh một phương”
Gợi ý
Đề tài tình yêu là một đề tài đã khiến cho rất nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ tốn nhiều giấy mực. Viết về tình yêu, thì điều đặc biệt là viết về nỗi nhớ, sự thủy chung trong tình yêu, nhưng có lẽ một nhà thơ nữ viết về tình yêu của chính những người phụ nữ thì ít thấy. Nhưng Xuân Quỳnh đã làm được điều đó qua bài thơ Sóng – một bài thơ tình hay nhất trong sự nghiệp của bà. Khi nhắc về tình yêu, người ta không thể không nhắc tới nỗi nhớ và sự thuỷ chung nên trong Sóng, Xuân Quỳnh đã dành cho nỗi nhớ và sự thuỷ chung một phần khá quan trọng trong hai khổ thơ:
Con sóng dưới lòng sâu
…
Hướng về anh một phương
Khi nhắc đến Xuân Quỳnh, người đọc thường nhắc tới một giọng thơ nồng hậu, thiết tha lúc nào cũng khao khát và ngập tràn thương yêu. Tình yêu trong thơ bà lúc nào cũng cồn cào, sâu sắc và mạnh mẽ, nhưng cũng không kém phần dịu dàng nữ tính. Sóng được chị viết vào năm 1967 khi bà còn rất trẻ với một tâm hồn còn đầy rạo rực yêu thương và tình yêu. Bài thơ được in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào.
Hai khổ thơ mà ta bình giảng trên nằm ở phần giữa bài thơ, nó nói lên nỗi nhớ nhung của tình yêu và sự thuỷ chung.
Hình tượng xuyên suốt bài thơ vẫn là hình tượng sóng. Sóng ở đây được Xuân Quỳnh gửi vào đó cả tâm hồn người con gái khi đang yêu. Mượn sóng để nói đến người phụ nữ và tình yêu của phụ nữ, đây là việc Xuân Quỳnh đã từng làm trong Thuyền và biển. Nhưng ở trong hai khổ thơ này, sóng là sóng của nhớ nhung, chung thuỷ. Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Sọ Dừa Ngay khổ thơ thứ nhất, Xuân Quỳnh với cách sử dụng điệp cấu trúc, điệp từ con sóng và cách sử dụng tương quan đối lập dưới lòng sâu – trên mặt nước đã miêu tả hai con sóng ở hai vị trí khác nhau nhưng chúng cùng mang một nỗi nhờ bờ… Tương quan đối lập được nối ở trên khiến người đọc cảm nhận ‘nỗi nhớ ấy như mạnh mẽ, da diết hơn, nỗi nhớ ấy không chỉ hiện hữu trên mặt nước mà còn ở chiều sâu từng mét nước. Dường như con sóng mang nổi nhớ tràn ngập trong suốt bản thân mình. Nỗi nhớ như thấm đẫm trên từng ngọn sóng tới chân sóng. Bởi vì sóng là hiện thân của người con gái, là hiện thân của tình yêu mãnh liệt của người con gái nên ở đây ta có thể hiểu nỗi nhớ cũng đang tràn ngập trong lòng người con gái, nó hiện hữu qua khuôn mặt buồn nhớ qua tâm trạng sầu nhớ. Câu thơ thứ ba cất lên như một tiếng thốt của tâm trạng: Ôi con sóng nhớ bờ. Phải nhớ thương nhiều lắm, nỗi nhớ phải da diết, nồng nàn lắm thì mới có thể thốt lên, mới có thể gọi thành tên như vậy. Từ Ôi là từ cảm thán được nhà thơ đưa lên đầu câu thơ càng khiến tứ thơ thêm mềm mại như tâm hồn người con gái:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Xuân Quỳnh đã nhân hoá hình ảnh sóng khiến sóng như một con người cụ thể với những diễn biến tâm trạng sinh động. Chính vì vậy, nỗi nhớ của người phụ nữ qua hình ảnh sóng nhớ bờ càng đậm nét. vẫn với cách nhân hoá hình tượng sóng ở câu thơ thứ tư, Xuân Quỳnh đã đem tới một ý thơ mới mẻ: Ngày đêm không ngủ được. Trạng từ chỉ thời gian ngày đêm cùng với đại từ phủ định không đã góp phần miêu tả một nỗi nhớ dai dẳng, khôn nguôi luôn luôn thường trực cả trong ngày và đêm. Có lẽ khi tình yêu đến, khi nỗi nhớ trong tình yêu ngập tràn trong lòng, thì đó lại là điều không khó hiểu. Nếu như ở khổ thơ này, nỗi nhớ của người phụ nữ trong tình yêu được gián tiếp gửi gắm qua hình tượng con sóng, thì ở hai câu cuối Xuân Quỳnh đã chính thức cất lên tiếng nói nhớ nhung: Xem thêm: Hãy viết từ 3 đến 5 câu nói về em bé của em Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Sóng không ngủ được ở trên, đến đây hoàn toàn có thể hiểu là người con gái không ngủ được. Nỗi nhớ ở đây một lần nữa được tràn ngập trong lòng người con gái nó hiển hiện trong cả lúc có nhận thức và cả trong vô thức lúc mơ. Khổ thơ nói tới nỗi nhớ, nhưng cũng góp phần miêu tả một tình yêu sâu sắc mãnh liệt với nhớ nhung là biểu hiện rõ nét nhất của tình yêu.
Khổ thơ tiếp theo
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dầu ngược về phương Nam
Nơi nào em củng nghĩ
Hướng về anh một phương
Một lần nữa biện pháp điệp cấu trúc, cách sử dụng tương quan đối lập được Xuân Quỳnh tận dụng để nói tới sự thuỷ chung trong tình yêu. Dẫu là một từ có tính chất phủ định dù có xa xôi cách trở, dù cách xa với những miền đất xa tắp phương Bắc hay phương Nam thì trong lòng con sóng chỉ có một phương là bến bờ, còn trong lòng người phụ nữ thì chỉ có một phương hướng tới đó chính là tình yêu của mình, đó chính là người yêu. Thủy chung là một đặc tính đặc biệt và hết sức cần thiết trong tình yêu, nó cũng là đặc điểm của những người phụ nữ Việt Nam. Khi sử dụng cụm từ nơi nào, Xuân Quỳnh đã như cất lên lời nguyện suốt đời chung thuỷ với người yêu, với anh. Nếu như xuôi về phương Bắc, ngược về phương Nam là con đường thực tế nối những vùng đất thì hướng về anh một phương là con đường gắn kết nối hai trái tim con người đang tràn ngập yêu thương. Xem thêm: Bình luận ý thơ sau trong “Truyện Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” Với hai khổ thơ, Xuân Quỳnh một lần nữa khắc họa tình yêu người phụ nữ. Cách sử dụng các biện pháp tu từ như đối lập, tương phản, điệp, cách sử dụng từ cảm thán và cách mượn hình tượng sóng đã góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm. Với thành công của mình, Sóng luôn xứng đáng là bài thơ tình được mọi thế hệ thanh niên yêu thích.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Sóng của Xuân Quỳnh_ “Con sóng dưới lòng sâu… Hướng về anh một phương” | 1,182 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Đất nước (Nguyễn Đình Thi): Mùa thu nay khác rồi!… Những buổi ngày xưa vọng nói về
Gợi ý
Bài thơ Đất nước được hình thành trong một quãng thời gian dài (1948-1955); lần đầu tiên được dưa vào tập Chiến sĩ (1956). Bài thơ được tổ hợp từ một số bài thơ khác như Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và Đêm mít tinh (1949). Chủ đề bao trùm của Đất nước là lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha, ý thức độc lập tự chủ, là lòng tự hào về đất nước và nhân dân anh hùng, từ trong đau thương nô lệ, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã quật khởi vùng lên chiến thắng huy hoàng.Trong đó có những đoạn thơ Nguyễn Đình Thi đó là Tổ quốc hồi sinh tràn đầy sức sống, ý thức độc lập tự chủ và niềm tự hào về Tổ quốc giàu đẹp, có truyền thông bất khuất kiên cường:
Mùa thu nay khác rồi!
…
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Sau khi hồi tưởng đến mùa thu của những ngày rời Hà Nội ra đi vì nghĩa lớn với cảm xúc "Buồn buồn lặng lặng" (Hoài Thanh), tác giả bộc lộ cảm nghĩ của mình về mùa thu mới, mùa thu trên đất nước nhân dân đã làm chủ vận mệnh của mình, mùa thu kháng chiến ở núi rừng Việt Bắc: "Mùa thu nay khác rồi". Lời thơ đầy tính chất khẳng định. Đó là sự khác rồi về không gian, thời gian và tâm trạng con người trước mùa thu. Nhưng cái khác trước hết của mùa thu này được người đọc nhận ra ngay ở nhịp điệu, tiết tấu, hình ảnh thơ: từ những câu thơ thất ngôn sâu lắng, cổ kính mang đậm màu sắc Đường thi, bài thơ bỗng chuyển sang những câu thơ tự do, tạo nên một nhịp điệu hối hả phơi phới làm cho đoạn thơ như hát vang lên từ một trái tim chất chứa niềm vui.
Đứng giữa không gian bao la, giữa đất trời bát ngát thoáng đãng, với trái tim reo vui, tác giả đã lắng nghe, cảm nhận sắc thu, hồi thu mới "Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi". "Vui nghe" chứ không phải là nghe vui. Nghe vui là niềm vui từ bên ngoài còn vui nghe là niềm vui từ trái tim trỗi dậy, dâng lên, lan toả, nhuốm lên tất cả cảnh vật, đất trời, cỏ cây mây nước "Gió thổi rừng tre phấp phới". "Phấp phới" là một từ láy rất gợi hình, gợi cảm và giàu ý nghĩa diễn tả. Phấp phới rừng tre gió thổi hay phấp phới của lá cỏ đỏ tung bay giữa chiến khu tự do hay còn gợi cho ta niềm vui phơi phới của con người đang bay lên cùng với đất trời giải phóng?
Trong niềm vui lâng lâng ấy, nhà thơ đã cảm nghe được sự chuyển đổi rất mực tinh tế của hồn thu:
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
Nhờ sử dụng biện pháp nhân hóa đặc sắc, nhà thơ không chỉ diễn tả được sự thay đổi của sắc thu mà còn diễn tả được sự thay đổi của lòng người, hồn người. Qua câu thơ của Nguyễn Đình Thi, dường như mùa thu đất nước đã được hồi sinh và hiện lên như một cô gái đầy sức trẻ, trẻ cả hình sắc, trẻ cả tâm hồn. "Trong biếc nói cười thiết tha". Câu thơ có 6 chữ mà dồn nén biết bao nhiêu cảm xúc và ấn tượng: âm thanh thì "nói cười" tươi trẻ, màu sắc thì "trong biếc", tình cảm thì "thiết tha”. Nhớ lại cảnh mùa thu cũ hiện về như thiếu nữ "đứng chịu tang – Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng" với "áo mơ phai dệt lá vàng" còn thu nay đã được thay bằng chiếc áo màu tươi sáng, bình dị, ta càng thấm thía thu từ đây "không thu thảm thu sầu" mà là "thu sướng nhuộm màu xuân mát mát":Xem thêm: Vẻ đẹp của hai nhân vật Việt và Chiến trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.Mùa thu vàng sáng tới rồi đây
Áo mới em phơi gió thổi đầy
Áo trắng đòi tà phơ phất hoá
Áo vàng em mặc cánh thu bay
(Xuân Diệu)
Đoạn thơ trên được tác giả sử dụng nhiều động từ "đứng, nghe, gió thổi, thay áo, nói, cười" đã gợi được không khí nhộn nhịp sôi nổi rộn ràng của mùa thu. Cảnh sắc thiên nhiên ở đây vừa bình dị khoẻ khoắn, vừa trong trẻo tươi sáng hoà hợp với tâm trạng vui hồ hởi của thi nhân tạo nên một vẻ đẹp mới cho mùa thu đất nước. Nguyễn Đình Thi đã đưa đến một nét mới cho những bài thơ về mùa thu Việt Nam muôn đời.
Đứng trước khung cảnh mùa thu đất nước như đang hồi sinh, trào dâng sức sống, niềm vui, với tình yêu thương nồng thắm, tác giả đã bộc lộ ý thức độc lập, tự chủ và niềm tự hào về Tổ quốc giàu đẹp. Thông qua tình cảm nồng thắm yêu thương và chói đỏ tự hào của tác giả, bức tranh đất nước cứ lần lượt được mở ra với không gian ba chiều bát ngát và hiện lên với những đường nét, màu sắc, hình khối và cả hương vị nữa, thật nên thơ, nên họa.
Ngẩng đầu lên là bầu trời "thu xanh ngắt mấy từng cao". Dường như không nén nổi cảm xúc, tác giả phải reo lên "Trời xanh đây là của chúng ta". Trời ta xanh mắt ai mà chẳng thấy, vốn rất xanh tứ cái thuở xa xưa. Bầu trời ấy qua thơ ca của Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… đã cao xanh, giờ đây càng trở nên xanh cao hơn nữa. Vì trong sắc xanh muôn thuở của bầu trời, này có thêm sắc xanh của lòng người được hưởng độc lập, tự do. Đúng như Chế Lan Viên đã viết:
Xanh biết mấy là trời xanh Tổ quốc
Khi tự do về chói ở trên đầu
Trời thu xanh ngắt sáng tuyên ngôn
Trời bỗng xanh hơn nắng chói loà
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
(Tố Hữu)
Nhìn sang bên kia là những dãy núi, những cánh rừng trùng trùng điệp điệp "Núi rừng đây là của chúng ta". Hai chữ "núi rừng" không hề gợi lên cảnh ma thiêng nước độc mà chỉ gợi lên sự giàu có của Tộ quốc, ẩn chứa biết bao tài nguyên phong phú "Rừng vàng bể bạc đất phì nhiêu". Nhớ lại cảnh quê hương làng xóm trong máu lửa chiến tranh, bầu trời cánh đồng như ứa máu, rách nát bởi dây thép gai, móng vuốt của kẻ thù "Ôi những cánh đồng quê chảy máu – Dây thép gai đâm nát trời chiều!" chúng ta mới thấm thía cái vang hưởng của lòng tự hào, niềm kiêu hãnh và ý thức độc lập tự chủ toát ra từ hai câu thơ:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những câu thơ khẳng định, những đại từ chỉ định "đây” cùng với điệp từ ngữ "của chúng ta" đã vang lên dõng dạc niềm tự hào kiêu hãnh về quyền làm chủ đất nước. Cảm hứng này là một cảm hứng mà ta thường gặp trong thơ ca Việt Nam sau ngày giải phóng:Xem thêm: Hãy phát biểu suy nghĩ của anh (chị) về bài học cuộc sống mà bài thơ Những bó hoa của Văn CaoCủa ta trời đất, đêm ngày
Núi kia đồng nọ, sông này của ta
(Tố Hữu)
Những câu thơ "Tôi nhớ; Tôi đứng vui nghe" là những lời độc thoại của nhân vật trữ tình. Sau lời độc thoại, đến đây dường như nhà thơ hát chung với dàn đồng ca của nhân dân, hòa trong cảm hứng vui sướng, tự hào được làm chủ đất trời thiên nhiên Tổ quốc tươi đẹp:
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Bằng hàng loạt từ "những", một từ chỉ số nhiều không xác định mở đầu các dòng thơ, trước hết tác giả như muốn kể thêm nhiều hơn vẻ giàu đẹp của đất nước, sau nữa đoạn thơ gợi cho người đọc bức tranh đất nước cứ lần lượt được mở ra lộng lẫy, bát ngát. Nguyễn Đình Thi sử dụng nhiều tính từ chỉ cảm xúc "thơm mát, bát ngát, đỏ nặng". Điều đó vừa diễn tả được tình cảm yêu nước thiết tha, nồng nàn của tác giả vừa làm cho bức tranh đất nước như có thêm đường nét, màu sắc, hình khối. Với tấm lòng yêu nước thiết tha sâu nặng, dường như tác giả cảm nhận được cả cái vị "thơm mát" của cánh đồng, tận mắt thấy được cái "bát ngát" tự do của những ngả đường mở ra, như trông thây được cả những dòng sông đỏ nặng phù sa cuộn chảy về xuôi. Câu thơ của Ngụyễn Đình Thi thật trĩu nặng suy tư. "Những dòng sông đỏ nặng phù sa" hay đỏ nặng tấm lòng yêu thương và tự hào đối với đất nước của tác giả? Ở đây nhà thơ sử dụng nhiều nguyên âm mở "a, at” cuối dòng thơ cũng đã góp phần diễn tả thành công cái cảm xúc thơ nói trên (Từ cuộc sống có phần tù túng trong năm cửa ô, các văn nghệ sĩ mang ba lô hành hương lên đất thánh Việt Bắc. Qua bao nhiêu nẻo đường kháng chiến, cảm nhận về đất nước được mở ra theo chiều rộng không gian với bầu trời thu trong xanh, những núi rừng bát ngát của Việt Bắc, những cánh đồng lúa thơm mùi sữa, những dòng sông Lô, sông Thao, sông Hồng cuồn cuộn phù sa).
Từ những cảm nhận về cái hữu hình của đất nước với không gian, bầu trời, cánh đồng, dòng sông, câu thơ đang náo nức, dồn dập reo vui bỗng như trầm lắng hẳn xuống, đượm vẻ thiêng liêng thành kính khi nghĩ về cái vô hình là hồn thiêng đất nước trên chiều dài của thời gian 4000 năm lịch sử:
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
"Nước chúng ta", câu thơ có ba chữ mà như nổi bật lên giữa bài thơ giống như dòng nước đang cuộn chảy bỗng chững lại, dồn nén lại. Câu thơ bình dị mà chất chứa bao nhiêu cảm xúc yêu thương và tự hào.
Nghĩ về quá khứ của đất nước chúng ta, điều làm tác giả cảm phục nhất là truyền thống bất khuất kiên cường. Truyền thống ấy nổi bật lên tạo thành gương mặt rạng rỡ nhất của lịch sử cha ông "Nước những người chưa bao giờ khuất". Câu thơ giản dị như một lời nói thường nhưng đã làm sống dậy trước mắt ta cả một quá khứ oanh liệt của tổ tiên. Ta như thấy trong đó tư thế của Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… luôn luôn hiên ngang bất khuất trước mọi đợt sóng ngoại xâm hung tàn: Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh.Xem thêm: Cảm nghĩ về truyện Vợ chồng A Phủ Sức mạnh anh hùng bao đời của dân tộc đối với hiện tại là một sự thực lớn lao hùng hồn. Nhưng ở đây đà được nhà thơ diễn tả thông qua việc sáng tạo ra một hình tượng âm thanh như không thật, một âm thanh của tâm tưởng hơn là của thính giác: âm thanh rì rầm đêm đêm trong lòng đất vọng từ nghìn xưa vọng tới mai sau. "Rì rầm" là một từ láy tượng thanh rất gợi cảm. Nó không ồn ào vang động, vang xa nhưng liên tục đều đặn như dòng suối chảy bất tận. "Rì rầm" trong lòng đất "đêm đêm" còn gợi lên không khí thầm lặng thiêng liêng. "Đất" là hình ảnh tượng trưng cho đất nước, của sự khổng lồ, vĩnh hằng. "Đất" cũng là cái được dựng lên từ mồ hôi nước mắt, kể cả xương máu của biết bao thế hệ cha ông. Với hình ảnh thơ độc đáo này, tác giả đã hình tượng hóa được truyền thống anh hùng của đất nước thành một hình ảnh đầy sức sống, đầy mạnh thầm lặng, thiêng liêng và vững bền muôn thuở, trở thành nhịp đập của con tim lịch sử Việt Nam bất khuất anh hùng:
Tim Việt Nam có Bạch Đằng ca hát
Có đường gươm "sát thát" chém Toa Đô
Có Nguyễn Trãi trong hồn thơ ý nhạc
Sang sảng ngân trong Đại cáo hình Ngô
Đúng là một hình ảnh thơ đầy sáng tạo, vừa mang yếu tố cảm xúc cụ thể vừa có ý nghĩa tượng trưng khái quát sâu xa.
"Những buổi ngày xưa vọng nói về". Nhờ sự kết hợp khéo léo giữa các từ "những… xưa… vọng… về", câu thơ của Nguyễn Đình Thi cũng đã diễn tả được tính chất liên tục truyền thống bất khuất kiên cường của dân tộc. Cả quá khứ sâu thẳm của lịch sử đất nước dường như cũng đều có mặt với con cháu hôm nay, luôn luôn nhắn gửi về những lời thiêng liêng tha thiết. Đúng như Lê Anh Xuân đã từng viết:
Nghe như tiếng của cha ông thuở trước
Truyền con cháu hãy ngẩng cao đầu mà bước
Nghe như lời cây cỏ gió mưa
Hãy viết tiếp bài ca bất khuất ngày xưa
Bằng những câu thơ giàu tính chất suy tư và cảm xúc, bằng những hình ảnh nhân hoá vừa cụ thể vừa tượng trưng, đoạn thơ trên không chỉ thể hiện được niềm vui, niềm tự hào về Tổ quốc giàu đẹp và ý thức độc lập tự chủ mà còn bảy tỏ được niềm biết ơn thành kính với tổ tiên. Vì hơn ai hết, nhà thơ đã ý thức được những chiến công vẻ vang hôm nay là kết quả của sức mạnh tổng hợp giữa quá khứ oanh liệt của cha ông với cuộc đấu tranh anh hùng của nhân dân ta:
Thời đại lớn cho ta đôi cánh
Không gì quý hơn độc lập tự đo
Bốn mươi thế kỉ cùng ra trận
Có Đảng ta đây, có Bác Hồ
(Tố Hữu)
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Đất nước (Nguyễn Đình Thi)_ Mùa thu nay khác rồi!… Những buổi ngày xưa vọng nói về | 2,414 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Đất nước của Nguyền Đình Thi: Mùa thu nay khác rồi… Những buổi ngày xưa vọng nói về
Gợi ý
A. DÀN BÀI
1. Mở bài
– Đây là một bài thơ hay của Nguyễn Đình Thi và của thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp.
– Đoạn thơ mở đầu bài thơ Đất nước được đánh giá là đoạn hay nhất bài thơ vì biểu lộ cảm xúc trực tiếp về một mùa thu mới đang tới trên quê hương.
2. Thân bài
– Đoạn thơ nguyên là những đoạn của hai bài thơ khác nhau nối lại với sự điều chỉnh và sửa chữa chút ít.
– Mở đầu, nhà thơ gợi lại hình ảnh của một “mùa thu đã xa” với không khí “xao xác” và hình ảnh “người ra đi” lặng lẽ. Nỗi xao xuyến, bâng khuâng là âm điệu chính của đoạn đầu này.
– Tiếp theo, tác giả bộc lộ niềm vui giao hòa giữa lòng người và cảnh vật khi chứng kiến “mùa thu nay” đầy âm điệu háo hức – mùa thu của đất trời giải phóng. Hai chữ “vui nghe” không chỉ diễn tả một trạng thái tình cảm nhất thời mà còn nói rõ cách nghe hay là một cách nhận thức mới của nhà thơ về cuộc đời.
– Từ niềm vui nói trên, đoạn thơ chuyển ý rất tự nhiên, nhấn mạnh ý thức sở hữu của cái ta cộng đồng với non nước mình, mặt khác, bộc lộ cảm xúc tự hào và sung sướng của nhà thơ trước vẻ đẹp đắm say của Tổ quốc.
– Phần cuối của đoạn thơ dẫn người đọc vào mạch suy tư về truyền thống anh hùng của đất nước. Ớ đây xuất hiện một định nghĩa rất thơ và cũng rất Nguyễn Đình Thi về Tổ quốc Việt Nam.
3. Kết bài
Trong bài thơ, cảm hứng thời đại đã hòa quyện với cảm hứng lịch sử trong một niềm xúc động đẹp đẽ.
B. BÀI LÀM
Có lẽ những câu thơ hay nhất là những câu thơ nói về tình yêu quê hương đất nước. Tình yêu ấy được sinh ra trong mỗi chúng ta khi còn nằm trong nôi nghe những lời nồng nàn của mẹ. Lớn lên, hình ảnh quê hương được thu vào tầm mắt, và tình yêu trỗi dậy trong lòng. Đất nước đã đi vào những trang thơ như tình yêu đi vào lòng ta vậy. Một vài câu, một vài giai điệu hình thành nên đất nước. Đất nước của Nguyễn Đình Thi là một bài thơ như thế. Phải chăng ý thơ đã dồn lại ở đây:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát Xem thêm: Phân tích bi kịch trong Hồn Trương Ba da Hàng thịt của Lưu Quang Vũ Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Hình ảnh đất nước được bắt đầu bằng nỗi nhớ về. những tháng ngày đã xa. Nỗi nhớ ấy có gì buồn bã nhưng không bi lụy, mà nó chỉ thể hiện quyết tâm của người ra đi. Nhớ về quá khứ để mà nhìn lại thực tại:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.
Âm hưởng đoạn thơ như một tiếng reo vui khác hẳn đoạn đầu của bài thơ, không có những con phố dài xao xác hơi may, những lá rơi đầy, những người ra đi đầu không ngoảnh lại, mà chỉ có niềm vui phấp phới trong lòng tác giả. Trở về hoàn cảnh sáng tác bài thơ ta thấy đây là giai đoạn đất nước ta phải thực hiện cuộc chiến tranh chống quân xâm lược. Trải qua những tháng ngày gian khổ nhưng đầy hào hùng ấy ta đã giành được thắng lợi. Mở đầu bài thơ là những ngày đất nước bắt đầu cuộc kháng chiến. Người thanh niên tiểu tư sản phải từ giã mái trường và thời trung học tươi đẹp để dấn thân vào con đường cách mạng phục vụ cho lí tưởng. Và hôm nay, trong chiến khu Việt Bắc, niềm vui đã ùa đến lòng người thanh niên học sinh năm nào. Nhớ lại những ngày tháng xưa để bộc lộ rõ niềm vui hôm nay. Với niềm tin của mình, người thanh niên ấy đã khẳng định “Mùa thu nay khác rồi”. Và từ đáy lòng mình thốt ra những niềm say sưa bất tận. Mùa thu năm nay đã khác mùa thu xưa vì đất nước đã chuyển mình đổi khác.
Giữa núi đồi bình yên của chiến khu, tác giả như nghe rõ sự chuyển biến của đất nước. Núi rừng cũng vui theo từng cơn gió, bầu trời ảm đạm năm nào của mùa thu xưa nay đã thay áo, một màu xanh biếc phủ lên nền trời lạnh lẽo của gió heo may. Bom đạn không còn nữa, làn khói mịt mù âm u và những chuỗi ngày xa vắng của núi rừng đã tan biến. Trong niềm vui hân hoan tột đỉnh ấy ta bỗng nhớ lại mình và khẳng định mình:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta.
Hai câu thơ khẳng định này như một lời tuyên ngôn. Nó làm ta nhớ lại âm điệu sang sảng, hào hùng trong lời tuyên ngôn của Lí Thường Kiệt
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời.
(Nam quốc sơn hà)
“Nước của ta”, đó là điều tác giả muốn khẳng định. Trời xanh này, núi rừng này là của những người suốt đời gắn bó với nó. Sự xâm lưực của những kẻ điên cuồng chỉ là vô ích. Câu thơ khẳng định nhẹ nhàng nhưng có sức cảnh báo lớn đối với kẻ thù. Hình ảnh đất nước hiện lên thật đơn sơ nhưng rất đẹp, nó hiền hòa như những luỹ tre, gợi mở như những tấm lòng. Đất nước còn gì nữa?Xem thêm: Tục ngữ có câu: Lời nói chằng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Em hiểu lời khuyên đó như thế nào? Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa.
Ôi đất nước! Càng nghĩ càng thêm yêu mến quê hương. Đất nước của những anh hùng áo vải làm nên những chiến công phi thường là thế đó. Những cánh đồng bao la, những hạt lúa chín vàng óng ả, những ngả đường khắp nẻo của quê hương, những dòng sông nghìn đời lặng lẽ chở nặng phù sa bồi đáp đồng ruộng… những hình ảnh ấy thấm đậm những giọt máu của người ngã xuống để bảo vệ mảnh đất này. Hình ảnh của đất nước ta là dáng hình sừng sững của chiến sĩ giải phóng trên đường bay Tân Sơn Nhất, là bóng dáng gầy gò của người mẹ chèo đò sang sông, và cũng là những hình ảnh của tuổi thơ êm đềm, ngây thơ của đứa trẻ hỏi “Quê hương là gì hở mẹ?”. Hàng nghìn năm qua đất nước đã tồn tại, những người đã ngã xuống có những người khác tiếp bước đứng lên. Cứ thế, đất nước có mãi trong lòng mỗi người.
Lời reo vui của tác giả giờ đây hòa nhập trong cảm hứng chung của mọi người. Cái âm hưởng vui tươi giờ có vẻ trầm lắng hơn và trang trọng khi cảm xúc chủ quan của tác giả chuyển sang lời tuyên ngôn của dân tộc.
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Những người đã dâng cuộc đời cho đất nước ngàn năm vẫn sống mãi với quê hương. Hàng nghìn năm qua đất nước đã chịu bao gót giày của quân xâm lược xéo nát. Những vết thương vẫn còn mãi, nhưng dân tộc ta không bao giờ khuất phục, nếu có người gục xuống thì người khác sẽ lên thay. Đất nước này là của chúng ta và là của những người đã ngã, họ không bao giờ mất đi trong lòng đất nước. Câu thơ “Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất” làm người ta nhớ lại hình ảnh người mẹ già đào hầm nuôi giấu bộ dội trong thơ Dương Hương Ly:
Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác
Bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh.
Hình ảnh của người mẹ này sẽ bất diệt cùng hình ảnh của đất nước. Tiếng cuốc của mẹ vọng vào đêm trường như lời của “Những buổi ngày xưa vọng nói về”. Đoạn thơ cô đọng với những tiếng rì rầm, vang vọng của người đã khuất. Đất nước là những hình ảnh đẹp, những ý chí hào hùng sảng khoái, nhưng cũng chứa đựng những khắc nghiệt, những đau đớn mất mát do quân xâm lược gây ra. Đã nhiều nhà thơ lấy đề tài đất nước gợi cám hứng cho mình. Trong trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm cũng cho ta hình ảnh của đất nước: Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể…, những hòn Vọng Phu, những hòn Trống Mái, và Đất Nước là tiếng đàn bầu, là những cuộc tiễn đưa…Xem thêm: Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ qua hai nhân vật Mị và A Phủ Đoạn thơ trên là khúc hoan ca của tác giả khi đất nước đã có một vùng giải phóng “dẫu chưa toàn vẹn đã bay cờ hồng” ở chiến khu Việt Bắc. Cái đáng quí của bài thơ là sự chân thành của tác giả trước đất nước độc lập tự do. Có được độc lập dân tộc ta đã phải đổ biết bao xương máu. Chế Lan Viên đã từng nói: “ Phải trăm năm mới có ngày độc lập”. Và làm sao đếm được hết người hi sinh bởi lửa đạn chiến tranh, những roi vọt ngục tù mà dân tộc ta đã phải trải qua? Xiềng xích, súng đạn của quân thù không khuất phục được ta, mà ngược lại, những xóm làng vườn ruộng của ta sẽ “mọc lên những luỹ thép”, sẽ hóa thành những bể dầu sôi để giết quân thù.
Những câu thơ như có giai điệu của âm nhạc. Nghệ thuật đoạn thơ phong phú, những hình ảnh về đất nước giản dị nhưng có sức khẳng định mạnh.
Và một phần lớn đất nước còn lại đang dưới sự kiểm soát của kẻ thù. Mặc dù vui trong thắng lợi nhưng tác giả cũng không quên được mối nguy hiểm đe dọa đất nước. Tác giả như thay lời đất nước khẳng định quyền làm chủ của dân tộc mình. Những lời nói tự hào này là lời cảnh cáo đối với kẻ thù. Đất nước Việt Nam ta qua năm tháng đã ghi lại những trang sử hào hùng chói lọi. Tượng đài đất nước là những bài thơ, những cảm xúc và suy nghĩ chân thành của tác giả. Có những tháng năm không thể nào quên, những năm tháng hào hùng và nước mắt. Đất nước ta đã trải qua những ngày tháng ấy. Nguyễn Đình Thi đã xây dựng khá hoàn chỉnh hình ảnh đất nước trong lòng quá khứ và trong hiện tại. Nói đúng hơn, điểm nhìn cúa tác giả là một thời điểm đầy cam go của dân tộc nhưng tâm hồn của nhà thơ, của những người kháng chiến, của đất nước vẫn là “mát trong như sáng năm xưa”. Đọc Đất nước, lòng chúng ta thấy xao xuyến, chúng ta thấy niềm vui vô bờ bến của một người tự do đang say sưa với đất nước tự do và đang chiêm nghiệm quá khứ của ông cha với niềm tự hào vô bờ bến…
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Đất nước của Nguyền Đình Thi_ Mùa thu nay khác rồi … Những buổi ngày xưa vọng nói về | 2,036 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh: “Cuộc đời tuy dài thế (…) Để ngàn năm còn vỗ”
Gợi ý
Có những vần thơ tình đẹp như thế. Như giọng chim ríu rít đa điêu đa thanh giữa mùa xuân. Có những vần thơ nói lên niềm tin và mong ước về tình yêu hạnh phúc đẹp như thế:
"Cuộc đời tuy dài thế…
… Để ngàn năm còn vỗ”
Đây là hai khổ thơ cuối bài thơ ngũ ngôn trường thiên “Sóng” của Xuân Quỳnh một bài thơ tình tuyệt tác viết về nỗi khát vọng tình yêu của thiếu nữ.
1. Từ thương nhớ đợi chờ: "Cả trong mơ còn thức" tâm hồn thiếu nữ ánh lên một niềm tin mãnh liệt trong tình yêu. "Năm tháng" nhất định sẽ "đi qua" cuộc đời “dài”. “Mây” trên bầu trời nhất định sẽ vượt qua biển "rộng" để "bay xa". Thời gian dài dằng dặc, không gian rộng mênh mông, cũng như tình yêu là vô cùng mãnh liệt:
"Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa”
Câu 1, 2 song hành đối xứng với câu 3, 4 làm cho giọng thơ, âm điệu thơ tha thiết, ngọt ngào. Cấu trúc chính – phụ được sử dụng đắc địa: “tuy…vẫn”, “dẫu…vẫn”, ý thơ được khẳng định mạnh mẽ. Điệp từ "vẫn" biểu lộ một niểm tin về tình yêu: "Năm tháng vẫn đi qua", "Mây vẫn bay về xa". "Năm tháng” và “mây” là 2 ẩn dụ nói về tình yêu, một tình yêu đẹp hướng tới hạnh phúc.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau: "Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày dêm không ngủ được/ Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức" (“Sóng” - Xuân Quỳnh) Tình yêu như con sóng trên biển: "Dữ dội và dịu êm – ồn ào và lặng lẽ”. Có lúc "em" lại cảm thấy cô đơn trong xa cách:
"Lời thương nhớ ngàn lần em muốn nói
Nhưng bây giờ chỉ có sóng và em",
(“Chỉ có sóng và em")
Lại có lúc tràn ngập nỗi nhớ khắc khoải chờ mong:
"Còn hiện tại của em là nỗi nhớ
Thời gian ơi sao không đổi sắc màu:
("Thời gian trắng")
Còn ở khổ thơ này là niềm tin, một niềm tin mãnh liệt: Con thuyền tình nhất định cập bến bờ hạnh phúc. Nữ sĩ đã lấy độ dài của thời gian, chiều rộng của không gian để đo niềm tin về tình yêu hạnh phúc. Các từ ngữ: “vẫn đi qua", “vẫn bay về xa" là sự kết đọng "đinh ninh lời thề" của một tình yêu đẹp.
2. Khổ cuối bài thơ là lời nguyện cầu của em về một tình yêu thủy chung bền vững. Hình tượng sóng hội tụ bao cảm xúc nồng hậu:
"Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm con vỗ”
Hai tiếng "làm sao" gợi lên một niềm mong ước cháy bỏng tâm hồn “em”. Sóng trên đại dương trường tồn bất diệt. “Trăm con sóng nhỏ” rì rào vỗ, xôn xao reo "giữa biển lớn tình yêu" mang vẻ đẹp nhân văn cao quý của tình yêu. Đó là niềm ước mong của thiếu nữ được sống trong hạnh phúc bền vững như những con sóng vỗ mãi trên "biển lớn tình yêu" đến ngàn năm sau. Con số "ngàn năm”, “nghìn năm” đã từng làm ta xúc động:Xem thêm: Suy nghĩ về hiện tượng Tháng Giêng là tháng ăn chơi"Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề”
(“Thề non nước” – Tản Đà)
Tình yêu không hề làm cho em trở nên nhỏ bé ích kỉ; trái lại tình yêu của em sẽ mãi mãi chan hòa trong tình thương của đồng bào, xã hội. Một ý tưởng rất đẹp, rất mới trong tình yêu. Một trái tim đa tình và nhân hậu biết bao!
Nói đến thơ là nói đến nhạc điệu, vần điệu. Đoạn thơ trên đây có điệu thơ nhẹ nhàng, đằm thắm. Vần thơ phong phú, nhạc điệu dư ba. Sự phối hợp giữa vần bằng và vần trắc, giữa vần liền và vần cách rất tinh tế, nhịp nhàng. Từ "qua” bắt vần với "xa” và "ra"; chữ "nhỏ” hiệp vẫn với "vỗ", đọc lên nghe rất thú vị.
Đoạn thơ hội tụ bao vẻ đẹp. Một ý tưởng đẹp: niềm tin về tình yêu hạnh phúc. Lời thơ đẹp: thanh tao, ý vị. Giọng thơ nồng nàn, ngọt ngào. Hình tượng “con sóng nhỏ” và "biển lớn tình yêu" rất sáng tạo. Đoạn thơ mang vẻ đẹp nhân văn sáng giá.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh_ “Cuộc đời tuy dài thế (…) Để ngàn năm còn vỗ” | 784 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng: “Sông Mã xã rồi Tây Tiên ơi!(…) Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Gợi ý
Năm 1948, cuộc kháng chiến của quân và dân ta chống thực dân Pháp bước sang năm thứ 3. Ta vừa thắng lớn trên chiến trường Việt Bắc thu đông 1947. Chặng đường lịch sử phía trước của dân tộc còn đầy thử thách gian nan. Cuộc kháng chiến đã chuyển sang một gian đoạn mới. Tiền tuyến và hậu phương tràn ngập tinh thần phấn chấn và quyết thắng.
Thời gian này, văn nghệ kháng chiến thu được một số thành tựu xuất sắc. Một số bài thơ hay viết về "anh hộ đội Cụ Hồ” nối tiếp nhau xuất hiện: “Lên Tây Bắc” (Tố Hữu), "Đồng chí” (Chính Hữu), "Nhớ” (Nguyên Hồng)… và “Tây Tiến" của Quang Dũng.
Quang Dũng viết “Tây Tiến" vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một làng ven con sông Đáy hiền hòa. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ: nhớ đồng đội thân yêu, nhớ đoàn binh Tây Tiến, nhớ bản mường và núi rừng miền Tây, nhớ những kỉ niệm đẹp một thời trận mạc… Nói về nỗi nhớ ấy, bài thơ đã ghi lại hào khí lãng mạn của tuổi trẻ Việt Nam, của "bao chiến sĩ anh hùng” trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ mà vinh quang.
“Tây Tiến" là phiên hiệu của một đơn vị bộ đội hoạt động tại biên giới Việt — Lào, miền Tây tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình. Quang Dũng là một cán bộ đại đội của "đoàn binh không mọc tóc" ấy, đã từng vào sinh ra tử với đồng đội thân yêu.
Hai câu thơ đầu nói lên nỗi nhớ, nhớ miền Tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã thương yêu:
"Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”
Đã "xa rồi" nên nỗi nhớ không thể nào nguôi được, nhớ da diết đến quặn lòng, đó là nỗi nhớ "chơi vơi”.Tiếng gọi "Tây Tiến ơi!” vang lên tha thiết như tiếng gọi người thân yêu. Từ cảm "ơi!" bắt vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng câu thơ sâu lắng, bồi hồi, ngân dài, từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng, lan rộng lan xa trong không gian. Hai chữ "xa rồi" như một tiếng thở dài đầy thương nhớ, hô ứng với điệp từ ”nhớ" trong câu thư thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây. Sau tiếng gọi ấy, biết bao hoài niêm một thời gian khố hiện về trong tâm tưởng.Xem thêm: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Có dàn ý chi tiết) Những câu thơ tiếp theo nói vể chặng đường hành quân đầy thử thách gian nan mà đoàn binh Tây Tiến từng nếm trải. Các tên bản, tên mường: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… được nhắc đến, không chỉ gợi lên bao thương nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng vể sự xa xôi, heo hút, hoang dã, thâm sơn cùng cốc,… Nó gợi trí tò mò và háo hức của những chàng trai “Từ thưở mang gươm đì giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long". Đoàn binh hành quân trong sương mù giữa núi rừng trùng điệp:
"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Bao núi cao, đèo cao, dốc thẳm dựng thành phía trước mà các chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua. Dốc lên thì "khúc khuỷu "gập ghềnh, dốc xuống thì "thăm thẳm", "heo hút" đặc tả gian khổ, gian truân của nẻo đường hành quân chiến đấu: "Dốc lên khuỷu, dốc thâm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Đỉnh núi mù sương cao vút. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới: "Khó khan nào cũng vượt qua — Kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: "Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. Câu thơ được tạo thành 2 vế tiểu đối: "Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống", hình tượng thơ cân xứng hài hòa, cảnh tượng núi rừng hùng vĩ như mái nhà chọc trời được đặc tả, thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí của nhà thơ – chiến sĩ.
Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi". Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp, gợi sự êm dịu tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng một bài thơ của Xuân Quỳnh mà mình yêu thích
Trước đây Đặng Trần Côn, trong "Chinh phụ ngâm” cũng đã viết về cảnh tượng chiến trường:
"Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua,
Hình khe thế núi gần xa
Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
Sương đầu núi buổi chiều như dội
Nước lòng khe nẻo suối còn sâu
Não người áo giáp bấy lâu
Lòng quê qua đó mặc sầu chẳng khuây…"
(Đoàn Thị Điểm)
Thật là hãi hùng khủng khiếp! Nhưng đó chỉ là những ước lệ tượng trưng, những tưởng tượng của nàng chinh phụ. Chàng chinh ph: mới ngày nào đó còn “Thét roi Cầu Vị ào ào gió thu”, thì nay đã mệt mỏi, nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ vợ con héo hon cả ruột. Có đặt 2 đoạn thơ cạnh nhau, ta mới cảm nhận được vẻ đẹp tráng chí của "anh hộ đội Cụ Hồ", cảm nhận được cảm hứng lãng mạn trong thơ Quang Dũng.
Ta trở lại đoạn thơ trên, gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu.
"Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngươi”
"Chiều chiều…" rồi "đêm đêm" những âm thanh ấy, “thác gầm thét", "cọp trêu người", luôn luôn chỉ rõ cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc hoạ chí khí anh hùng đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, băng lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và chí khí con người được nâng cao hẳn lên một tầm vóc mới. Quang Dũng cũng không hề né tránh khi nói đến sự hi sinh của đồng đội trên những chặng đường hành quân vô cùng gian khổ:Xem thêm: Phân tích bài thơ “Dọn về làng” của Nông Quốc Chấn"Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời..".
Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hi sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát, hi sinh nhưng không chút bi lụy, thảm thương. "Bỏ quên đời" vì các anh coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Hai câu cuối đoạn thơ, cảm xúc bồi hồi tha thiết. Như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình. Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm. Vừa bâng khuâng vừa tự hào:
"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
"Nhớ ôi!"tình cảm dạt dào, đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến "đoàn không mọc tóc". Câu thơ đậm đà tình quân dân. Hương vị bản mường với "cơm lên khói” với"mùa em thơm nếp xôi"có bao giờ quên? Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca, nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ, điệu thơ trở nên uyển chuyển, mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp. Cũng nói về hương nếp, hương xôi, về “mùa em” và tình quân dân ấy, sau này Chế Lan Viên viết trong bài “Tiếng hát con tàu":
"Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”
"Nhớ mùi hương", nhớ "cơm lên khói”, nhớ "thơm nếp xôi” là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu.
Mười bốn câu thơ trên đây là phần đầu bài “Tây tiến”, một trong những bài thơ hay nhất viết vế người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật lên hình ảnh người chiến sĩ can trường và lạc quan, đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”.Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nửa thế kỉ đã trôi qua, bài thơ Tây Tiến" của Quang Dũng, ngày một thêm sáng giá.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng_ “Sông Mã xã rồi Tây Tiên ơi!(…) Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” | 1,679 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu: “Mình về với Bác đường xuôi…Người đi rừng núi trông theo bóng Người”
Gợi ý
Viết về lãnh tụ vĩ đại của cách mạng và của dân tộc, thi sĩ Tố Hữu có một số bài thơ kiệt tác như: "Hồ Chí Minh”, "Sáng tháng năm ", “Cánh chim không mỏi", “Theo chân Bác",v.v…Ông còn có một số câu thơ, đoạn thơ rất hay viết về Bắc Hồ in trong các bài thơ như: "Ta đi tới", "Việt Bắc”, “Ba mươi năm đời ta có Đảng”,…
"Trên đường ta về lại thủ đô
Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ”
("Ta đi tới”)
"Bạc phơ mái tóc người Cha
Ba mươi năm Đáng nở hoa tặng Người”
(”Ba mươi năm đời ta có Đảng”)
Đoạn thơ dưới đây trích trong bài thơ “Việt Bắc” đã thể hiện nỗi nhớ, lòng kính yêu, tình lưu luyến của đồng bào các dân tộc đối với Bác Hồ khi Người từ chiến khu Việt Bắc trở lại thủ đô Hà Nội sau hơn ba ngàn ngày khói lửa”
"Mình về với Bác đường xuôi”
…………………….
Người đi rừng núi trông theo bóng Người",,.
1. Hai chữ "thưa giùm" là cách nói đậm đà của dân gian. Vì xa cách nên phải “thưa giùm", gửi lời yêu thương, kính nhớ "không nguôi nhớ Người”. Nhớ không nguôi là nhớ da diết, nhớ day dứt triền miên. Kể từ ngày Người ở hải ngoại trở về Pắc Bó, Cao Bằng đến ngày Thủ đô hoàn toàn giải phóng (1941-1954), Bác đã sống và hoạt động giữa núi rừng Việt Bắc "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” Bác về lại Thủ đô, nên đồng bào Việt Bắc mới có nỗi nhớ ấy:Xem thêm: Phân tích bài thơ ‘Đi thuyền trên sông Đáy” của Hồ Chí Minh"Mình về với Bác đường xuôi
Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người”
Chữ "nhớ" là cảm xúc chủ đạo, thấm sâu trong lòng người, tỏa rộng trong không gian, thời gian, và đã in đậm trên từng vần thơ của Tố Hữu.
2. Người đã về xuôi nhưng "ta” vẫn nhớ không nguôi. Nhớ cặp mắt “sáng ngời” của Bác, nhớ màu "áo nâu" dân dã Người vẫn mặc, nhớ chiếc "túi vải” mà Người vẫn mang theo bên mình khi đi công tác, khi đi chiến dịch:
"Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời!
Áo nâu túi vài đẹp tươi lạ thường”
Các hoán dụ nghê thuật (mắt, áo nâu, túi vải) tượng trưng cho sự thông minh, tài trí, đời sống giản dị của Bác Hồ kính yêu. Các chữ: "đẹp lạ thường” đã gợi lên cái thần thái và cốt cách lão thực của Ông Cụ, một con người xuất chúng đã kết tinh những tinh hoa văn hóa cổ kim đông tây. Bức truyền thần Hồ Chí Minh như được vẽ bằng màu sắc và ánh sáng tuyệt đẹp. Tố Hữu đã nhiều lần nói về chiếc áo nâu của lãnh tụ. Một đời sống giản dị đáng yêu vô cùng:
"Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị
Màu quê hương bền bỉ đậm đà”
("Sáng tháng Năm")
"Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”
(“Bác ơi”)
Và đôi mắt Bác Hồ, đôi mắt ấm áp tình thương, đôi mắt lạc quan yêu đời, đôi mắt của niềm tin dào dạt:Xem thêm: Phân tích bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn 12"Bác Hồ đó, là lòng ta yên tĩnh
Ôi người Cha, đôi mắt mẹ hiền sao!
(…) Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười
Quên tuổi già, tuơi mãi tuổi đôi mươi”.
(“Sáng tháng Năm")
3. Bốn câu thơ tiếp theo thể hiện một nét đẹp, một phẩm chất cao quý của lãnh tụ, đó là phong thái ung dung tự tại của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại mang cốt cách nhà hiền triết phương Đông:
"Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trồng theo bóng Người"…
Bửc chân dung Ông Cụ được vẽ bằng những nét vẽ động và sự phối sắc thần tình. Lãnh tụ xuất hiện trên yên ngựa, "trên đường suối reo" với phong thái ung dung, với tư thế đĩnh đạc "bước lên đèo", Cái nền của bức tranh rất đẹp. Có màu trắng nhạt của "tinh sương", Có màu lóng lánh trong xanh của “suối reo”. Có màu đất đỏ của con "đèo", Và có màu xanh của rừng núi Việt Bắc. Điệp ngữ "nhớ” là tâm trạng nghệ thuật đồng hiện trong một không gian nghệ thuật đầy màu sắc và âm thanh (suối reo). Núi rừng được nhân hóa nói lên thật cảm động tình lưu luyến của đồng bào Việt Bắc đối với Bác Hồ kính yêu: "Người đi rừng núi trông theo bóng Người”.
Đoạn thơ trên đây là bức tranh lụa truyền thần tuyệt tác vể lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tài trí thông minh, giản dị, ung dung tự tại là cái thần của bức chân dung Ông Cụ. Điệp ngữ "nhớ" được kết hợp với các từ ngữ biểu cảm khác như: “Không nguôi nhớ Người", "trông theo bóng Người" đã diễn tả một cách chân thật cảm động mối quan hệ thân thiết tốt đẹp giữa lãnh tụ với nhân dân, giữa Bác Hồ với đồng bào Việt Bắc. Ngòi bút Tố Hữu rất giàu có khi nói về lãnh tụ: Bác, Người, Ông Cụ, một cách nói vừa thành kính trang trọng, vừa dân dã bình dị. Xem thêm: Dàn ý Cảm nhận 3 khổ đầu bài thơ Ánh Trăng để thấy vẻ đẹp của tình nguời và ánh trăng Tình cảm là suối nguồn vô tận của thi ca. Tình cảm tạo nên hồn thơ, hương vị thơ. Tố Hữu đã viết nên những vần thơ dung dị, đậm đà ca ngợi những phẩm chất cao quý của lãnh tụ thiên tài của dân tộc với tất cả niềm kính yêu và lòng tự hào sâu sắc. Hình ảnh Bác Hồ càng trở nên thân thiết yêu thương đối với mỗi con người Việt Nam. Đoạn thơ biểu hiện cao độ vẻ đẹp nghệ thuật và tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu_ “Mình về với Bác đường xuôi…Người đi rừng núi trông theo bóng Người” | 1,032 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu: “Ta về mình có nhớ ta,(…) Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Gợi ý
Bài thơ "Việt Bắc" ra đời vào tháng 10-1954, rút trong tập “Việt Bắc” – tập thơ kháng chiến của Tố Hữu. Sau hơn ba ngàn ngày khói lửa, Hồ Chủ tịch cùng đoàn quân chiến thắng tiến về thủ đô. Trong bối cảnh lịch sử hào hùng ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ này. Đây là một trong những đoạn thơ tiêu biểu nhất trong "Việt Bắc” thể hiện một cách tập trung vẻ đẹp giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ Tố Hữu.
Bao trùm lên toàn bộ đoạn thơ là nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến đối với cảnh và người Việt Bắc. Nỗi nhớ tha thiết, bồi hồi thể hiện tình cảm thủy chung, nặng tình nặng nghĩa giữa "ta" với "mình", giữa kẻ ở với người về, giữa người cán bộ kháng chiến với người dân Việt Bắc:
"Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
… Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
… Nhớ cô em gái hái măng một mình
… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Chữ "nhớ" như một luyến láy trong khúc ca tâm tình làm cho vần thơ lục bát trở nên ngọt ngào sâu lắng.
Trong 5 câu thơ của đoạn trích thì câu 2 mang ý nghĩa khái quát: “Ta về, mình có nhớ ta – Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”. Câu nào cũng có hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc, câu nào cũng có hình ảnh con người Việt Bác.
Hình ảnh thiên nhiên trong đoạn thơ của Tố Hữu đẹp đẽ, tươi sáng, thơ mộng, đầy sức sống đến lạ thường. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận xét: “Những câu thơ của Tố Hữu viết về thiên nhiên trong Việt Bắc có thể sánh với bất kì đoan thơ tả thiên nhiên nào trong văn học cổ điển". Thiên nhiên trong thơ Tố Hữu đa dạng độc đáo. Bốn câu thơ là bức tranh bốn mùa trong một năm, mỗi mùa lại mang một sắc thái riêng biệt. Đoạn thơ làm ta liên tưởng đến bức tranh tứ binh trong "Truyện Kiều” qua ngòi bút thiên tài của thi hào Nguyễn Du:
"Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân”
Với Tố Hữu, cảnh rừng Việt Bắc khi mùa đông đến là một màu xanh bạt ngàn, điểm tô, thắp sáng bởi "hoa chuối đỏ tươi". Thơ nên hoạ đã làm hiện lên vẻ đẹp hoang sơ và tráng lệ của những cánh rừng Việt Bắc. Khi mùa xuân đến một vẻ đẹp trong trắng, thanh khiết, tinh khôi gợi cảm giác thơ mộng và bâng khuâng – một sức sống bừng dậy "trắng rừng" làm đổi thay quang cảnh thiên nhiên chiến khu. Và mùa hè "ve kêu rừng phách đổ vàng". Chỉ có Việt Bắc mới có rừng phách vàng rực trong mùa hè. Sự chuyển đổi của thời gian, sự chuyển vần từ xuân qua hè được thể hiện qua âm thanh tiếng ve, được diễn tả qua từ "đổ”. Câu thơ hay vì thời gian cũng mang màu sắc. Trước mắt người cán bộ kháng chiến là những rừng phách đang ngả dần sang màu vàng rực khi mùa hè đến trong âm thanh rộn rã tiếng ve ngân suốt đêm ngày. Chữ "đổ" là một nhãn tự làm ta nhớ đến câu thơ của Xuân Diệu trong bài “Thơ duyên": "Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá. Thu đến nơi nơi động tiếng huyền”. Mùa thu chiến khu quên sao được "Rừng thu trăng rọi hòa bình”. Rừng cây, núi đá, khe suối, "bản khói cùng sương" càng đáng yêu hơn dưới vầng trăng xanh hòa bình dịu mát. Ta bồi hồi nhớ lại câu thơ trăng của Bác viết những năm đầu kháng chiến: “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa" (Cảnh khuya).Xem thêm: Kể lại truyện “Đất” của Anh Đức Bức tranh thiên nhiên trong thơ Tố Hữu tươi sáng, gợi cảm, thơ mộng và đầy màu sắc thẩm mĩ. Mỗi câu thơ là một phiên cảnh với mảng màu và nét vẽ tài hoa. Màu của rừng già, màu đỏ tươi của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ mùa xuân, màu vàng rực của rừng phách mùa hạ, màu xanh hòa bình dịu mát của ánh trăng thu. Nghệ thuật phối sắc tài tình của Tố Hữu trong miêu tả đã làm hiện lên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, đầy sức sống như Bác Hồ đã viết:
"Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay"…
(Cảnh rừng Việt Bắc)
Thiên nhiên Việt Bắc còn đẹp trong sự hòa hợp gắn bó với con người đang sống và hoạt động. Vì vậy, thiên nhiên Việt Bác không hoang vu buồn tẻ mà trái lại, nó tràn đầy sức sống – sức sống mãnh liệt của một đất nước đang kháng chiến. Con người được nói tới trong đoạn thơ này rất đẹp và hữu tình. Trước hết là con người xuất hiện trong khung cảnh lao động, trong sự hòa hợp và chan hòa với thiên nhiên.
"Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng" là một trong những câu thơ đặc sắc của đoạn thơ. Câu thơ được coi là sự phát hiện độc đáo của Tố Hữu mang màu sắc “rất Việt Bắc" như cách nói của Xuân Diệu. Đồng bào Việt Bắc lúc đi rừng thăm rẫy, làm nương đều gài dao ở thắt lưng. Trên tầm cao của đèo, ánh sáng mặt trời chiếu vào những con dao ấy, tạo nẽn sự phản quang rực rỡ, lấp lánh. Chỉ một câu thơ thôi mà người đọc có thể cảm nhận được hình ảnh mạnh mẽ, hào hùng của con người Việt Bắc trong tư thế lao động, làm chủ thiên nhiên, trong tư thế vận động đi lên phía trước. Phải có một tâm hồn thi sĩ tinh tế, sự quan sát sắc sảo mới viết được những câu thơ hay như vậy. Con người kháng chiến mang tầm vóc thời đại là người sản xuất hay người chiến sĩ đều mang tư thế hào hùng:Xem thêm: Phân tích đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm)"Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo”
(Lên Tây Bắc)
Nhớ "mơ nở trắng rừng” trong những ngày xuân cũng là sự bồi hồi “nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang". Tác giả viết về con người Việt Bắc trong một khung cảnh cụ thể, một công việc cụ thể. Từ "chuốt" trong câu thơ là trau chuốt, làm bóng lên, làm đẹp thêm lên. Chữ "từng" (từng sợi giang) gợi tả đức tính cần mẫn, cách làm tỉ mỉ và chịu khó. Có khéo tay mới "chuốt từng sợi giang” mỏng và bóng để đan thành những chiếc nón xinh xắn, một trong những vật phẩm mĩ nghệ thủ công đặc trưng của Việt Bắc. Con người cần cù và tài hoa ấy thật đáng "nhớ" vì như Nguyễn Đình Thi đã từng ca ngợi: “Tay người như có phép tiên – Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ”. Thế là cùng với chiếc nón bài thơ của xứ Huế được nói đến trong dân ca, ta biết thêm chiếc nón đan bằng sợi tắc qua thơ Tố Hữu.
Câu thơ "Nhớ cô em gái hái măng một mình” là câu thơ hay ở vần điệu. Sự hiệp vần: "gái – hái" (vần lưng) và cách sử dụng phụ âm “m” liên tiếp của các từ “măng – một – mình" tạo cho câu thơ đa thanh, mang tính nhạc hấp dẫn. Cô gái Việt Bắc trẻ trung, xinh tươi, lạc quan yêu đời, đi hái măng giữa rừng vầu rừng nứa một mình trong khúc nhạc rừng, tuy chỉ có "một mình" mà chẳng cảm thấy lẻ loi cô đơn. Con người ấy đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời. Giữa một không gian nghệ thuật đầy màu sắc và âm thanh của suối rừng, cô gái Việt Bắc xuất hiện thật hồn nhiên và đáng yêu lạ! Câu kết của đoạn thơ: "Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung" nói lên vẻ đẹp tâm hồn người Việt Bắc. "Ai" là đại từ phiếm chỉ gợi lên bao hoài niệm, bâng khuâng nghĩa tình thủy chung. Tiếng hát ân tình thủy chung giữa “ta” với "ai” được thử thách trong cay đắng ngọt bùi, trong máu lửa, "mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” nên không bao giờ có thể quên được.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về anh Khoai trong “Cây tre trăm đốt” Đoạn thơ của Tố Hữu viết về thiên nhiên và con người Việt Bắc là đoạn thơ tràn đầy tình cảm nhớ nhung và thương mến với bao niềm tự hào đối với Việt Bắc "Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa", và chiến khu bất khả xâm phạm "Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù". Có thể nói, Tố Hữu không chỉ ca ngợi Việt Bắc mà còn viết nên những vần thơ đẹp nhất ca ngợi đất nước và con người Việt Nam trong lửa đạn.
Đoạn thơ thấm đẫm tình người. Nỗi nhó thiết tha đã thấm sâu vào cảnh vật, vào lòng người – kẻ ở người vể. Vần thơ lục bát với âm điệu ngọt ngào, bồi hồi như câu hát giao duyên "mình – ta" thuở nào. Chữ "nhớ" được điệp lại nhiều lần diễn tả tình thương nỗi nhớ vơi đầy dào dạt…
"Việt Bắc" là một trong những bài thơ lục bát hay nhất của Tố Hữu, Đoạn thơ trên tiêu biểu cho cái hay, cái đẹp của "Việt Bắc". Ngòi bút nghệ thuật mang tính kế thừa và sáng tạo độc đáo, từ âm điệu trữ tình ca dao đến tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh và người đều đẹp và đáng yêu mang sức sống và khí thế của thời đại mới. Cấu trúc đoạn thơ mang vẻ đẹp tứ bình cổ điển, chặt chẽ, cân xứng, hài hòa cho ta nhiều ấn tượng và cảm xúc thẩm mĩ. Thơ là tấm lòng, tiếng lòng. Đoạn thơ trên đây là tấm lòng, tiếng lòng của người cán bộ kháng chiến đối với Việt Bắc “thủ đô gió ngàn”.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu_ “Ta về mình có nhớ ta,(…) Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” | 1,752 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi: “Ôi những cánh đồng quê… nhớ mắt người yêu”
Gợi ý
Có những vần thơ xao xuyến bồi hồi. Có những vần thơ ngọt ngào say đắm. Lại có những vẩn thơ đĩnh đạc, hào hùng. Còn có lúc, ta bị ám ảnh khôn nguôi trước những vần thơ yêu thương và căm giận:
"Ôi những cánh đồng quê chảy máu,
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu".
(“Đất nước" – Nguyễn Đình Thi)
"Đất nước" là bài thơ sáng giá nhất của Nguyên Đình Thi viết trong kháng chiến chống Pháp, cũng là bài thơ kiệt tác viết về để tài quê hương đất nước của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Nó đã được tác giả thai nghén và hình thành trong một quá trình lịch sử khá dài (1948-1955). Các áng thơ "Đêm mít tinh", “Sáng mát trong như sáng năm xưa" – đã khơi nguồn cảm hứng để Nguyền Đinh Thi khám phá và thể hiện tuyệt đẹp tình yêu nước một cách nồng nàn, say đắm.
"Đất nước" như một phức điệu đa thanh nói về cảm xúc mùa thu quê hương xưa và nay. Là tiếng nói say mê về cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, là niềm tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc anh hùng. Nó là tiếng nói xót xa, căm giận quân xâm lược đang giày xéo đất nước thân yêu. Phần cuối bài thơ biểu lộ niềm kiêu hãnh của người chiến sĩ trước tư thế chiến đấu và chiến thắng lẫm liệt hiên ngang "rũ bùn đứng dậy sáng lòa!" của đất nước. Đoạn thơ bốn câu trên đây trích trong phần thứ ba của bài "Đất nước".
Nhà thơ – người chiến sĩ – như đang nắm chắc tay súng “lắng hồn núi sông ngàn năm", lắng nghe những âm vang của lịch sử, giống nòi “rì rầm trong tiếng đất” tự nghìn xưa "vọng nói về": những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa… bất tử! Từ quá khứ nghìn xưa trở về hiện tại, câu thơ vút lên nghẹn ngào, đau đớn:
"Ôi những cánh đồng quê chảy máu".
Cảnh tượng đau thương mà nhà thơ nói đến là mùa thu 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt! Nhiều đô thị, nhiều vùng nông thôn rộng lớn của đất nước ta đang bị giặc Pháp chiếm đóng và giày xéo "Đường làng bao xương máu tơi bời – Vườn không nhà trống tàn hoang" ("Làng tôi" – Văn Cao). "Những cánh đồng quê chảy máu"- hình ảnh hoán dụ tượng trưng cho đất nước thân yêu, những làng xóm thân thuộc đang bị quân thù càn quét, bắt giết dã man. Máu những người nông dân hiền lành đã chảy ngập đường thôn, luống cày… dưới làn bom đạn của lũ cướp nước. Xưa kia thuở thanh bình, đất nước là "những cánh đồng thơm mát…”, "xanh xanh bãi mía bờ dâu…", thì kể từ khi "súng giặt đất rền", đã trở nên tang thương, điêu tàn với "những cánh đồng quê chảy máu". Nhân dân ta bị giặc Pháp tàn sát dã man. Hai chữ "chảy máu" lên án tội ác và chính sách tam quang của quân cướp nước: giết sạch, cướp sạch, đốt phá sạch! Từ "ôi" cảm thán diễn tả nỗi lòng đau đớn, xót xa không thể nào kể xiết!Xem thêm: Trong bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu có đoạn: Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân... Đành như thân gái sóng xao Tiền Đường! Hãy phân tích đoạn thơ, làm rõ sự thương cảm của nhà thơ cách mạng với số phận, cảnh ngộ của Thúy Kiều và đại thi hào Nguyễn Du Từ cái nhìn toàn cảnh về không gian đau thương, về "những cánh đồng chảy máu", nhà thơ đứng lặng nhìn về các phía chân trời. Một nét vẽ thậm xưng, độc đáo, rất sáng tạo:
“Dây thép gai đâm nát trời chiều”.
Quân giặc tàn bạo ra sức bắn giết, càn quét, chiếm đất, dồn dân. Đồn giặc như nấm độc mọc lên khắp mọi nơi. "Dây thép gai" cũng là một hình ảnh hoán dụ nói về bốt đồn giặc, sự chiếm đóng dã man của quân cướp nước. Những núi thép gai, những hàng rào dây thép gai tua tủa nhọn hoắt bao bọc xung quanh đồn giặc không chỉ nhằm chống đỡ những trận tấn công vũ bão của quân đội ta, mà còn "đâm nát trời chiều” Một cách nói thậm xưng đầy ấn tượng về tội ác và âm mưu cướp nước của giặc Pháp. "Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên” là những chiều thôn trang êm đềm có "cánh cò trắng vẫy mênh mông", có "tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn", có tiếng sáo mục đồng dẫn trâu về thôn… Nhưng nay còn đâu nữa? Cảnh trời chiều quê hương đã và đang bị dây thép gai đồn giặc "đâm nát". Nỗi đau từ đất trời như đang cứa nát, đâm nát lòng người!
Ở phần đẩu bài thơ, Nguyễn Đình Thi nói về cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ của đất nước với trời xanh, núi xanh, những cánh đồng quê thơm mát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù – và tất cả đều "của chúng ta". Nhưng từ khi giặc tràn tới, đồng quê thì "chảy máu", trời chiều thôn trang thì bị dây thép gai "đâm nát",biết bao đau đớn, căm hờn! Tác giả "Đất nước" tạo nên sự đối lập, tương phản đầy ấn tượng: xưa và nay, thanh bình với chiến tranh, hữu tình nên thơ với điêu tàn,tang tóc – để lên án tội ác dã man của giặc Pháp mà trời không thể dung tha, người người đều căm giận! Sự kết hợp tài tình các biện pháp tu từ hoán dụ, cảm thán, thậm xưng, và tương phản đã tạo nên vần thơ giàu hình tượng và biểu cảm. Qua đó, ta cảm nhận được cốt cấch thi sĩ của Nguyễn Đình Thi: thơ đẹp, tài hoa, cảm dồn nén, ngôn từ xác thực, hình tượng sáng tạo. Nhà thơ đã dẫn hồn người đọc sống và cảm với hiện thực đất nước một thời khói lửa, mở rộng cho ta một trường liên tưởng về không gian nghệ thuật để mọi người cùng suy ngẫm về dòng chảy lịch sử và hành trình bi tráng của dân tộc. Và đó cũng là cái giá của độc lập tự do để ta nhớ và tự hào!
Gần 150 nãm vé trước, trong bài thơ "Chạy giặc", Nguyễn Đinh Chiểu đã căm giận lên án quân xâm lược:
"Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây…
(…) Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây…”
Có biết bao câu thơ xúc động làm sôi sục lòng người những năm tháng đất nước "ra trận":
“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tản Xem thêm: Anh (chị) hãy nêu những hiểu biết của mình về nhà văn Lỗ Tấn và truyện ngắn “Thuốc" Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang…”
("Bên kia sông Đuống” – Hoàng Cầm)
Đó là những vần thơ một thờỉ tạc vào thời gian và lòng người để ta nhớ mãi.
Câu thơ thứ ba nói lên tâm trạng người chiến sĩ ra trận:
"Những đêm dài hành quân nung nấu".
Câu 1 nói về "những cánh đồng quê chảy máu”, câu ba tứ thơ chỉ rõ "Những đêm dài hành quân nung nấu", từ không gian đau thương mở ra thời gian căm giận, không chỉ một đêm, năm mười đêm mà là "những đêm dài”…Cấu trúc song hành, điệp lại 2 lần chữ "những", chữ "nấu" vần với chữ "máu” (vần chân) đã tạo nên giai điệu, nhạc điệu trầm hùng đang nung nấu tâm hồn người chiến sĩ xung kích trên đường hành quân ra trận. "Nung nấu" vì căm thù dữ dội. Nòng súng nóng bỏng, lưỡi lê nhọn hoắt căm thù! Mối thù đối với giặc Pháp cướp nước nung nấu, ngùn ngụt bốc lửa, sôi sục trong lòng, không chỉ trong một thời gian hữu hạn mà kéo dài trong thời gian vô hạn "Những đêm dài hành quân nung nấu". Hai chữ "nung nấu” biểu hiện sâu sắc tình yêu nước của " những người áo vải – Đã đứng lên thành những anh hung!”.
Càng nung nấu căm hờn quân xâm lược bao nhiêu thì lòng càng yêu quê hương đất nước bấy nhiêu. Người lính ra trận nung nấu, sôi sục căm thù giặc khi nhìn thấy đất nước tang tóc, điêu tàn "những cánh đồng quê chảy máu…”, nhìn thấy “những bóng thù hắc ám", những đồn giặc mọc lên với bao “dây thép gai đâm nát trời chiều”. Câu thơ thứ tư tiếp theo là một nét vẽ, nét khắc chiều sâu tâm hồn người chiến sĩ ra trận; nhiều khám phá và sáng tạo:
"Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
"Nung nấu" căm thù và "bồn chồn nhớ" là hai nét biểu hiện của một tâm trạng, làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của anh Vệ quốc quân thời kháng chiến 9 năm đánh Pháp. Anh ra trận với sức mạnh căm thù giặc, với tình yêu nước thương dân, với bao nổi nhớ. Nhớ luống cày mái rạ, nhớ bãi mía nương dâu, nhớ giếng nước gốc đa, nhớ "người tình chung"… "nhớ mắt người yêu". “Mắt người yêu” cũng là một hình ảnh hoán dụ rất đắt diễn tả hình bóng quê hương, vẻ đẹp duyên dáng "người tình chung" sau lũy tre làng mà anh nhớ lắm:
"Vầng trán em mang trời chiều quê hương
Mắt em như giếng nước thôn làng
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương?…”
("Mắt người Sơn Tây” – Quang Dũng)
"Nhớ mắt người yêu" với bao kỉ niệm đẹp một thời trai trẻ. "Xa em năm nhơ – gần em mười thương". Chàng trai cày ngày xưa nhớ quê nhà là nhớ hương vị đậm đà “bát canh rau muống, quả cà giòn tan", là "nhớ ai tát nước bên đường hôm nào”. Anh bộ đội Cụ Hồ giã từ nơi chôn nhau cắt rốn, nơi “nước mặn đồng chua”, nơi “đất cày lên sỏi đá", có người nhớ thầm: "Bầm ra ruộng cấy bầm run – Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non”. Có người nhớ "người vợ trẻ- mòn chân bên gạo canh khuya”. Chàng lính trẻ hào hoa tronng đoàn binh Tãy Tiến thì lại " Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm". Có trăm nghìn nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân thương: “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét – Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng" (Chế Lan Viên), v.v…Xem thêm: Phân tích cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân để nêu rõ "Đây là sự chiến thắng của ảnh sáng... trước thái độ cam chịu nô lệ" Trở lại câu thơ "bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” hai chữ “bồn chồn" nghĩa là nóng ruột, không yên tâm (Từ điển tiếng Việt); diễn tả nỗi nhớ xôn xao, rung động, dâng lên như những đợt sóng vỗ mãi trong lòng. Đã có nỗi nhớ “bổi hổi bồi hồi”. Đã có sự vấn vương "không yên một bề". Đã có tâm tình khao khát “nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai…".Câu thơ "Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” là một nét vẽ rất đẹp thể hiện bút pháp tài hoa của Nguyễn Đình Thi. "Nhớ" là cảm hứng nhiều màu sắc và dáng vẻ đã làm nên những câu thơ hay, những vần thơ đẹp của Nguyễn Đình Thi trong tập thơ "Người chiến sĩ":
… "Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn”…
(Nhớ)
Trong cái chung nhớ nước, nhớ "nguồn thiêng ông cha” (Hữu Loan), lại có cái riêng "bỗng bổn chồn nhớ mắt người yêu". Có nỗi hờn "nung nấu”, có nỗi nhớ “bồn chồn” nên mới có sức mạnh chiến đấu và niềm tin thắng trận: "Anh lại tìm em – Em mặc yếm thắm – Em thắt lụa hồng – Em đi trẩy hội non song – Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh" (Hoàng Cầm).
Tình cảm là cái gốc của thơ ca, là ngọn nguồn sáng tạo của thơ ca. Thơ chỉ đẹp khi thơ ca hút màu mờ, phù sa trong lòng đất – hiện thực cuộc sống – mà nảy mầm xanh tươi, đơm hoa kết trái dâng hương thơm, vị ngọt cho đời. Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi như một bông hoa đẹp trong cành hoa đẹp đã mang hơi thở nóng hổi của thời đại, mang tình yêu đất nước mãnh liệt của con người Việt Nam trong ba ngàn ngày khói lửa.
Đọc đoạn thơ trên, ta cảm nhận được phần nào vẻ đẹp của phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi, một hồn thơ giàu cá tính sáng tạo. Hiện thực chiến tranh: đất nước điêu tàn, dân tộc đau thương trong bom đạn quân thù đã được diễn tả một cách tuyệt vời qua những vần thơ hàm súc, biểu cảm và giàu hình tượng.
"Cánh đồng quê chảy máu", "Giây thép gai đâm nát trời chiều” là những hình ảnh thơ mới mẻ, độc đáo và hay. "Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu" là một hình ảnh mang tính kế thừa sáng tạo, thể hiện một hồn thơ chiến sĩ cho ta nhiều rung cảm thấm thía
Đọc "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi, tâm hồn ta được bồi đắp bao tình cảm đẹp trở nên trong sáng và phong phú, để ta yêu, để ta nhớ, ta sống lại và tự hào về những năm tháng hào hùng và oanh liệt với ngọn lửa Điện Biên thần kì của đất nước và dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi_ “Ôi những cánh đồng quê… nhớ mắt người yêu” | 2,398 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ ”Bên kia sông Đuống” (Hoàng Cầm): Em ơi buồn làm chi… Sao xót xa như rụng bàn tay
Gợi ý
Trong vườn thơ ca kháng chiến chống Pháp, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm được sáng tác tháng 4 năm 1948 nổi lên như một bông hoa thắm sắc ngát hương. Bài thơ đã diễn tả được một cách khá thấm thía và cảm động tấm lòng của nhà thơ đối với quê hương Kinh Bắc nói riêng, quê hương nước Việt nói chung với những tình cảm yêu thương, tự hào về quê hương giàu đẹp, có nền văn hoá nghìn đời đáng yêu và niềm căm giận trước tội ác kẻ thù đã giày xéo quê hương một cách phũ phàng qua những vần thơ như những lời tâm sự của tác giả.
Em ơi buồn làm chi
…
Sao xót xa như rụng bàn tay
Hoàng Cầm là một thi sĩ đa tài: làm thơ, viết kịch, diễn kịch. Ông thân sinh ra nhà thơ là một nhà nho nghèo đã từng thi trường Nam Định vài ba khoa nhưng không đậu nên phải đi dạy chữ Nho, bốc thuốc ở các nơi trong tỉnh Bắc Ninh. Mẹ Hoàng Cầm vốn là một cô gái xinh đẹp có tài hát dân ca Quan Họ, quê làng Bửu Xim, huyện Tiên Du, Hoàng cầm đã từng giới thiệu:
Tôi người làng Quan Họ
Quê mẹ bên này sông
Cách quê cha một dòng
Nước trắng
Bên kia sông Đuống ra đời vào tháng 4/1948 và được đăng lần đầu tiên trên báo "Cứu quốc". Sông Đuống còn gọi là sông Thiên Đức chia tỉnh Bắc Ninh ra làm 2 phần, Nam (hữu ngạn), Bắc (tả ngạn). Quê hương của Hoàng Cầm ở bên này hữu ngạn sông Đuống. Khi giặc Pháp chiếm đóng vùng đất này thì Hoàng Cầm đang công tác văn nghệ ở Việt Bắc. Hay tin giặc tàn phá quê hương mình, ông xúc động viết một mạch từ 12 giờ đêm đến gần sáng bài thơ nói trên với tâm trạng "niềm căm giận và thương cảm sâu sắc" như chính nhà thơ đã có lần tâm sự:Xem thêm: Ý nghĩa nghệ thuật của hình tượng "mảnh trăng” trong truyện ngắn "Mảnh trăng cuối rừng" của Nguyễn Minh ChâuEm ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngay ở đoạn thơ đầu tiên mở đầu bài thơ gồm 10 câu mở ra một cái nhìn toàn cảnh từ bên này nhìn sang bên kia, toàn cảnh về không gian và thời gian:
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Đoạn thơ mở đầu bằng một tiếng gọi trìu mến thân thương để bày tỏ sự vỗ về an ủi của tác giả đối với một người "em" nào đó. Có thể đây là người em tưởng tượng nhưng thường trực trong trái tim tác giả. Phải chăng một cô gái nào đó cùng quê Bên kia sông Đuống với Hoàng Cầm? Điều đó làm cho lời thơ của tác giả trở nên trữ tình, thơ mộng hơn và dễ gây được sự đồng cảm sẻ chia đối với người đọc. Và phải chăng đại từ "em" trong câu thơ trên còn là sự phân thân của tác giả để tạo cớ hoài niệm, vừa cụ thể vừa phiếm chỉ tạo cảm giác ảo thực rất thi vị?
Thông qua niềm hoài niệm ấy, nhà thơ đã trở về với con sông Đuống trong cuộc sống thanh bình ngày xưa của mình. Dòng Sông Đuống vốn êm đềm yên ả, lặng lẽ "trôi" bất tận giữa lòng đất nước từ bao đời nay với cái màu "cát trắng phẳng lì" rất mực bình yên thơ mộng. Nhưng nay trong cái cảm giác mất hay còn, nhà thơ cảm thấy Sông Đuống như "lấp lánh" sắc màu hơn, hắt ánh sáng cầu vồng lên quê hương rực rỡ, lộng lẫy:Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng đoạn thơ sau, trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: "Ta về, mình có nhớ ta... Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung."Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Cái dáng nằm "nghiêng nghiêng" ấy của Sông Đuống làm cho nó trở thành một sinh thể xinh xắn, duyên dáng, lãng mạn mà có tâm trạng như khắc khoải lo âu hơn, vì bên kia sông quân giặc đã tràn về. Đó là con sông hiện lên trong tâm tưởng của nhà thơ.
Qua tấm lòng yêu thương đầy tiếc nuối về quê hương Kinh Bắc của tác giả, cảnh bờ bãi ven sông cứ trải ra với một màu xanh trù phú, màu mỡ, bát ngát "Xanh xanh bãi mía bờ dâu – Ngô khoai biêng biếc". Tác giả không dùng chữ "xanh", chữ "biếc" mà dùng từ láy "xanh xanh", "biêng biếc" làm cho cái màu xanh thanh bình, sự sống và hy vọng cứ mở ra vô tận, hút tầm mắt trong niềm nhớ tỉếc khôn nguôi xen lẫn tự hào của thi nhân về quê hương giàu đẹp. Hình ảnh thơ do đó vừa mang giá trị tạo hình, vừa có ý nghĩa biểu cảm:
Đứng bền ni đồng ngó bên tê đồng mêng mông bát ngát
Đứng bèn tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông
(Ca dao)
Như vậy chỉ bằng mấy câu thơ đơn sơ mà Hoàng cầm đã tạo dựng lên được một bức tranh quê hương xứng đáng là một bức tranh sơn mài với những đường nét, màu sắc hài hoà tuyệt đẹp. Bức tranh được phác thảo bằng một vài nét chấm phá tài hoa với cái màu "cát trắng phẳng lỳ" xen lẫn với cái "xanh xanh bãi mía bờ dâu" trải dài nỐi tiếp với cái "Biêng biếc ngô khoai". Xem thêm: Giới thiệu về lễ hội Thánh Gióng Nhưng giờ đây từ Việt Bắc, từ bên này nhìn về chỉ còn là một "nỗi nhớ tiếc". Cho nên tác giả có cảm giác "sao xót xa như rụng bàn tay". Điệp từ "sao" được nhắc lại "sao nhớ tiếc", "sao xót xa" như một nốt nhạc láy lại hằn sâu thêm nỗi day dứt chồng chất, dồn nén nỗi đau đến bàng hoàng quặn thắt khi quê hương thanh bình giàu đẹp bỗng chốc bị chìm trong máu lửa. "Như rụng bàn tay" là một hình ảnh thơ tuyệt hay. Trước hết nó diễn đạt một cảm xúc rất cảm động: giặc chiếm quê hương là như chiếm một phần thân thể, như đứt tay rụng chân của mình vậy. Đúng như Tố Hữu đã viết:
Giặc về giặc chiếm đau xương máu
Đau cả lòng sông, đau cỏ cây
Sau nữa, qua hình ảnh thơ, Hoàng Cầm dường như đã biến nỗi đau tinh thần thành nỗi đau thể xác như cảm giác được.
Đoạn thơ trên đây của Hoàng Cầm là sự cảm nhận tình thế, sự thể hiện tài hoa của nhà thơ về sông Đuống – quê hương Kinh Bắc của tác giả, có sức lay động mạnh mẽ đối với trái tim người đọc. Đoạn thơ cũng đã thể hiện được tình cảm yêu nước sâu sắc, mãnh liệt và sự căm giận trước tội ác của giặc Pháp xâm lược của nhà thơ nói riêng và con người Việt Nam nói chung.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ ”Bên kia sông Đuống” (Hoàng Cầm)_ Em ơi buồn làm chi… Sao xót xa như rụng bàn tay | 1,227 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến (Quang Dũng): Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa… Trôi dòng nước lũ hoá đong đưa
Gợi ý
Đề bài:
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoá đong đưa.
(Trích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, Văn học
12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2000, tr.76)
Phân tích đề
– Đề yêu cầu bình giảng một đoạn thơ của bài Tây Tiến. Người viết cần hiểu và đặt đoạn thơ vào toàn bộ tác phẩm để có thể cảm nhận và bình giảng hay.
– Đoạn trích trên nằm ở phần thứ hai của bài thơ. Cả bài thơ là một nỗi nhớ da diết về đoàn quân Tây Tiến. Hai khổ thơ trên là một trường đoạn của nỗi nhớ ấy, tập trung là những kỷ niệm khó quên về con người ở Tây Bắc, gắn liền với từng bối cảnh cụ thể. Tuy nhiên, hai kỷ niệm ấy dường như tách rời nhau, một đằng là cảnh tượng tưng bừng, tươi mới; một đằng là cảnh tượng man mác buồn thương. Do đó, âm điệu ở mỗi đoạn cũng khác nhau, nói lên từng cung bậc tình cảm của nhà thơ khi nhớ về Tây Tiến.Xem thêm: Tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm, nhân vật chính là cái tôi của nhà văn… Cho nên sự hấp dẫn của tuỳ bút chủ yếu là sự hấp dẫn của cái tôi ấyBài làm
Tây Tiến là dòng hồi tưởng đầy xúc động của Quang Dũng về binh đoàn Tây Tiến nổi danh một thời. Đoàn quân ấy đã từng trải qua nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt, kể cả hy sinh, mất mát. Nhưng trên con đường hành quân thăm thẳm, binh đoàn Tây Tiến đã từng có những giờ phút vui vầy, hào hứng:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
…
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Tâm hồn nhà thơ, một người trong cuộc, khi hồi tưởng lại, cũng bâng khuâng, bay bổng và say sưa với từng kỷ niệm.
*
* *
Đó là một buổi liên hoan tưng bừng ngay trong doanh trại Tây Tiến:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Khi nhớ lại đêm liên hoan năm xưa, hồn nhà thơ như đang sống với quá khứ. Và, quá khứ không còn là năm xưa nữa, mà như đang diễn ra, rộn rã:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Trong đêm tối đen giữa chốn núi rừng, cả doanh trại chợt bừng tỉnh giấc và niềm vui cũng bùng nổ theo. Cuộc sống gian khổ, những ngày cơ cực, trèo đèo, vượt thác hầu như lùi vào dĩ vãng, chỉ có ánh sáng cùng với sự reo vui lan tỏa khắp chốn. Ánh đuốc được thắp lên trong trại lính mang đến ánh sáng của lễ hội. Trong doanh trại không chỉ có những người lính:Xem thêm: Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (từ khi Mị bị bắt làm con dầu gạt nợ đến khi cùng A Phủ trốn chạy khỏi Hồng Ngài)
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Những người thiếu nữ vùng đoàn Tây Tiến đang đóng quân đã đến với họ, vừa thân thuộc, vừa gây ngạc nhiên. Ngạc nhiên vì em đã đến với Tây Tiến khác ngày hôm qua, đến để cùng trẩy hội. Vì thế, đêm liên hoan biến thành “hội đuốc hoa” của tuổi trẻ, khiến người ta nghĩ tới đêm tân hôn rộn ràng. Đến lúc điệu khèn, điệu nhạc trỗi lên, những người trai trẻ thực sự đang sống với một không khí khác, đang say sưa với hạnh phúc:
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Khổ thơ thứ hai nối tiếp dòng hồi tưởng của Quang Dũng về những kỷ niệm lúc đoàn quân Tây Tiến tạm dừng bước nơi miền sơn cước. Nhưng nếu như đoạn trên là một cảnh tượng vui vầy, tưng bừng cụ thể thì dòng hồi ức lúc này có vẻ tản mạn, mơ màng:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Phải nói ngay rằng, đấy là một khung cảnh buồn. Không gian trải rộng đến mênh mông. Âm điệu chùng xuống, như được kéo giãn ra. Khổ thơ có câu trúc lạ: bên cạnh một cảnh tượng là một lời nhắc nhớ, tâm tình:
Châu Mộc chiều sương
Hồn lau nẻo bến bờ
Có thấy
Người trên độc mộc
Nước lũ hoa đong đưa
Có nhớ
Dường như ánh mắt quấn quýt, quyến luyến lấy cảnh vật và nỗi nhớ bao trùm, trải rộng khắp không gian. Đành rằng, đây là cảnh buồn, buồn đến nao lòng. Nhưng thử hỏi, một vùng đất mà nhắc tới nó, người ta nhớ nhung da diết, buồn thương đến vậy có phải vùng đất ấy đã “hóa tâm hồn” không? Và, nỗi buồn kia mới đáng quý, đáng trọng biết bao!Xem thêm: Phân tích chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong hai tác phẩm Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình Ở đây cũng cần nói thêm, có những kỷ niệm vốn rất vui, không một chút gợn buồn. Nhưng một khi đã trở thành ký ức, sống trong hoài niệm thì kỷ niệm ấy lại được bao bọc màn sương của nhớ nhung và trở thành cảnh buồn. Vì lẽ gì ư? Vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Vì hiện tại, người ta đã mất nó, không còn được sống những giờ khắc ấy nữa. Âu đó cũng là lẽ thường xưa nay!
*
* *
Hai khổ trên trong bài Tây Tiến là những câu thơ đẹp. Đẹp, vì một vùng đất, vì những con người đã để lại hình bóng không phai mờ trong tâm hồn của nhà thơ hào hoa, lãng mạn. Đẹp, vì niềm say mê, nỗi nhớ nhung tha thiết của nhà thơ đối với Tây Bắc và Tây Tiến.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến (Quang Dũng)_ Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa… Trôi dòng nước lũ hoá đong đưa | 1,062 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá dữ oai hùm, …Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Gợi ý
YÊU CẦU
Qua việc bình giảng đoạn thơ, nêu rõ:
– Hình ảnh phi thường – tài hoa của người lính Tây Tiến khi các anh còn sống và cả khi các anh đã hi sinh vì Tổ quốc (qua diện mạo ngoại hình, qua mộng – mơ, qua cái chết bất tử).
– Để khắc họa chân dung người lính, Quang Dũng đã sử dụng những chi tiết, hình ảnh thực của đoàn quân Tây Tiến nhưng những hình ảnh đó lại được diễn tả bằng bút pháp lãng mạn để tô đậm cái phi thường – tài hoa, đem đến cho người đọc một vẻ đẹp độc đáo hiếm có của người lính trong một thời kì lịch sử.
BÀI LÀM
Tây Tiến là bài thơ hay nhất của đời thơ Quang Dũng và cũng là thành tựu xuất sắc của nền văn học kháng chiến. Có thể nói, nếu chọn năm tác giả tiêu biểu của giai đoạn văn học này, có thể không có Quang Dũng nhưng nếu chọn năm bài thơ tiêu biểu, nhất định Tây Tiến phải được nhắc tên, đứng ở hàng danh dự. Đọc Tây Tiến, chúng ta sống lại một thời lửa cháy cùng đoàn quân lừng tiếng đã đi vào lịch sử, và chúng ta có thể quên một số câu thơ trong bài, nhưng không thể quên được hình ảnh đoàn quân ấy:
Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Xem thêm: Phân tích bài thơ sau đây: "Tôi yêu em, Tôi yêu em: đến nay chừng có thể, Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai; Nhưng không để em bận lòng thêm nữa, Hay hồn em phải gợn bóng u hoài ... Cầu em được người tình như tôi đã yêu em" 1829 - Pu - skin Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành!
Nếu như ở những đoạn thơ đầu, hình ảnh đoàn quân mới hiện lên qua nét vẽ gián tiếp – nói đến gian khổ, hi sinh và địa bàn hoạt động – thì ở đây, đoàn quân ấy đã hiện lên với những nét vẽ cụ thể, gân guốc, rạch ròi. Đã thành khuôn sáo khi đề cập đến sự can trường của các chiến binh. Ở đây, ta tưởng như gặp một mô tip như thế:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Nhưng, trước hết, đây là những câu thơ tả thực – thực một cách trần trụi: chiến sĩ Tây Tiến hồi ấy hoạt động ở những vùng núi rừng hiểm trở, ma thiêng nước độc, chết trận thì ít mà chết vì bệnh tật thì nhiều, có những con suối rửa chân rụng lông, gội đầu rụng tóc. "Quân xanh" ở đây có thể hiểu là xanh màu áo, xanh lá ngụy trang và xanh làn da vì thiếu máu. Những hình ảnh rất thực đó, vào bài thơ, với giọng điệu và cách diễn tả lãng mạn của Quang Dũng đã như mang nghĩa tượng trưng, rất có khí phách. Mười bốn chữ thơ mà chạm khắc vào lịch sử hình ảnh một đoàn quân phi thường, độc đáo, có một không hai trong cuộc đời cũng như trong thơ ca. Đoàn quân của một thuở "xếp bút nghiêng lên đường chinh chiến" của các chàng trai Hà Nội kiêu hùng hào hoa.
Vì vậy, khó khăn, gian khổ là thế, nhưng các chiến binh Tây Tiến vẫn không nguôi, vơi đi những tình cảm lãng mạn: Xem thêm: Phân tích nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù (Có dàn ý chi tiết) Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
"Mộng" và "mơ" của người lính được gửi về hai phương trời: biên cương, nơi còn đầy bóng giặc – mộng giết giặc lập công, và Hà Nội, quê hương yêu dấu – mơ những bóng dáng thân yêu. "Dáng kiều thơm", ấy là vầng sáng lung linh trong kí ức, "tố cáo" nét đa tình của người lính. Nhưng với các chiến sĩ Tây Tiến, nỗi nhớ ấy là sự cân bằng, thư thái trong tâm hồn sau mỗi chặng hành binh vất vả, chứ không phải để thối chí nản lòng. Vậy mà một thời, câu thơ "đẹp một cách lãng mạn" này đã khiến cho tác giả của nó và chính bài thơ phải "trải bao gió dập, sóng dồi".
Cổ lai chính chiến kỉ nhân hồi – xưa nay đi chiến trận, mấy ai trở về, các chiến sĩ Tây Tiến cũng không khỏi tránh phải những mất mát, hi sinh:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Sau những câu thơ rắn rỏi, đẹp đẽ, đến đây, âm điệu câu thơ chợt trầm và trùng xuống để độc giả thấy rõ hơn bản chất của sự việc. Dường như đây là một cảnh phim được cố ý quay chậm. Còn gì thiêng liêng và cao cả hơn sự hi sinh, chấp nhận gian khổ của người lính. Trên đường hành quân người chiến sĩ Tây Tiến gặp biết bao ngôi mồ viễn xứ của những kẻ chết xa quê. Nhưng các chiến sĩ ta nhìn thấy với đôi mắt bình thản, bởi họ đã chấp nhận điều đó. Một trong những động cơ thôi thúc họ lên đường là hình ảnh người anh hùng da ngựa bọc thây mà họ tiếp nhận được trong văn chương sách vở. Một niềm đam mê trong sáng pha chút lãng mạn. Xem thêm: Phân tích tâm trạng của Nguyễn Khuyến trong bài Khóc Dương Khuê Hai câu thơ cuối tiếp tục âm hưởng bi tráng, tô đậm thêm sự mất mát hi sinh nhưng đó lại là một cái chết cao đẹp – cái chết bất tử của người lính Tây Tiến:
– Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Hai câu mới đọc qua tưởng như chỉ làm nhiệm vụ miêu tả, thông báo bình thường nhưng sức gợi thật lớn. Đâu đây vẫn như còn thấy những giọt nước mắt đọng sau hàng chữ. Hai câu thơ rắn rỏi mà cảm khái, thương cảm thật sâu xa. Làm sao có thể dửng dưng trước cảnh "anh về đất"? "Anh về đất" là hóa thân cho dáng hình xứ sở, thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình. Tiếng gầm của sông Mã về xuôi như loạt đại bác rền vang, vĩnh biệt những người con yêu của giống nòi.
Trước đây, khi nhắc đến những dòng thơ này, người ta chỉ thấy những biểu hiện nào là "mộng rớt", "buồn rơi"… nhưng thời gian đã khiến chúng ta nhìn đúng hơn vào bản chất, có thời đại ấy mới có văn chương ấy.
Tây Tiến là bài thơ, là tấc lòng của những người chiến binh Tây Tiến. Bài thơ có nhạc, họa; bên cạnh cái bi là cái hùng, bên cạnh mất mát, đau thương là anh hùng. Nửa thế kỉ đã qua, bài thơ ngày một thêm sáng giá và đoạn thơ khắc họa đoàn quân Tây Tiến đã trở thành một hoài niệm khó quên của một thời kì lịch sử hào hùng trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng_ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá dữ oai hùm, …Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành” | 1,276 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu: Ta về, mình có nhớ ta. Ta về, ta nhớ những hoa cùng người… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Gợi ý
A. DÀN BÀI
1. Mở bài
Tố Hữu là nhà thơ cách mạng nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Đặc biệt, bài thơ Việt Bắc trong tập thơ cùng tên của Tố Hữu là một sáng tác nghệ thuật đặc sắc. Ở tập thơ ấy, tiếng nói của quảng đại quần chúng, nhân dân đã được Tố Hữu nâng lên thành thơ.
2. Thân bài
a. Cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Khúc dạo đầu ấy đã làm “thoảng bay” nội dung của cả đoạn thơ nỗi nhớ da diết về thiên nhiên nơi núi rừng Việt Bắc và con người ở nơi “ân tình thủy chung” ấy.
– Cặp từ “ta – mình”: một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, khơi nguồn cho dòng mạch nhớ thương trôi chảy.
– “Ta về mình có nhớ ta” là câu hỏi tu từ được dùng làm cái cớ để bộc lộ tình cảm của chính bản thân mình: “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”.
b. Thiên nhiên và con người Việt Bắc
* Thiên nhiên: đẹp như một bức tranh tứ bình, hiện lên ở câu lục:
– Mùa đông: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
– Mùa xuân: Ngày xuân mơ nở trắng rừng
– Mùa hạ: Ve kêu rừng phách đổ vàng
– Mùa thu: Rừng thu trăng rọi hòa bình.
* Con người
Con người Việt Bắc là linh hồn của cả bức tranh thơ, là trung tâm của nỗi nhớ mênh mang.
c. Đánh giả
– Thiên nhiên và con người hòa quyện, quấn quýt bên nhau và điểm tô cho nhau.
– Nghệ thuật điệp câu trúc cú pháp, đổi trật tự cú pháp, điệp từ được nhà thơ sử dụng rất thành công.
– Nhịp, âm điệu thơ hài hòa, mềm mại, uyển chuyển, làm say lòng người.
– Cách xưng hô “mình.” – “ta” rất gần với điệu hát dao duyên trong kho tàng ca dao – dân ca.
– Sự kết hợp điêu luyện, hài hòa giữa nghệ thuật thơ ca với các yếu tố hội họa, âm nhạc, điện ảnh đã chứng tỏ Tố Hữu là một người nghệ sĩ tài hoa, yêu cảnh, yêu người, yêu quê hương đất nước sâu nặng.
3. Kết bài
Trích đoạn trên thuộc những dòng thơ đặc sắc nhất, tài hoa nhất, chất chứa vẻ mĩ học sâu sắc nhất trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, là đoạn thơ “có thể sánh với bất kì đoạn thơ miêu tả thiên nhiên nào trong văn học cổ điển”(Hoài Thanh).
B. BÀI LÀM
Tố Hữu là nhà thơ cách mạng nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Tố Hữu được Chủ tịch nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (Đợt I – 1996). Ông để lại cho đời nhiều tập thơ (tính đến năm 2001): Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra trận (1972), Máu và hoa (1977), Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999). Thơ Tố Hữu vượt thời gian nhờ một phong cách nghệ thuật độc đáo. Đó là một hồn thơ cách mạng sôi nổi, mãnh liệt. Đó là nhà thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn, của lòng thương mến và ân tình thủy chung. Đó là một nghệ thuật thơ ca giàu tính dân tộc và hồn nhiên. Đặc biệt, bài thơ Việt Bắc trong tập thơ cùng tên của Tố Hữu là một sáng tác nghệ thuật đặc sắc. Ở tập thơ ấy, tiếng nói của quảng đại quần chúng, nhân dân đã được Tố Hữu nâng lên thành thơ. Đây là một đoạn thơ trong bài Việt Bắc:
Ta về, minh có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Xem thêm: Phân tích tính sử thi trong truyện “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn 12 Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng,
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, hiệp định Giơ-ne- vơ về Đông Dương được kí kết (tháng 7-1954), hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10-1954, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc để trở về thủ đô Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Phần đầu bài thơ tái hiện một giai đoạn gian khổ, vẻ vang của Cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỉ niệm sâu đậm trong lòng người. Phần sau nói lên sự gắn bó giữa miền ngược và miền xuôi trong một viễn cảnh hòa bình tươi sáng của đất nước và kết thúc bằng lời ngợi ca công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng đối với dân tộc.
Việt Bắc là một đỉnh cao chói lọi của thơ Tố Hữu, là một bản hợp xướng của nhân dân Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Pháp xâm lược.
Đoạn thơ được trích dẫn trên đây thuộc phần thứ nhất của bài thơ – phần nói về những kỉ niệm kháng chiến.
Cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ được bộc lộ ở hai câu đầu:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Đây là lối nói đưa đẩy, “vòng vo” – một mô-típ trong nghệ thuật thơ ca dao, dân ca – là một khúc dạo đầu của bài ca trữ tình, chan chứa nghĩa tình cách mạng. Khúc dạo đầu ấy đã làm “thoảng bay” nội dung của cả đoạn thơ: nỗi nhớ da diết về thiên nhiên thơ mộng của núi rừng Việt Bắc và con người ở nơi “ân tình thủy chung” ấy.
Cặp từ“ta”- “mình”- một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, khơi nguồn cho dòng mạch nhớ thương tuôn chảy. Trong tiếng Việt, từ “mình”, “ta” có hai ý nghĩa chính:
“Ta”: (1) tiếng mình tự xưng (người phát ngôn); (2) tiếng để chỉ mình đối với người, có nghĩa là chúng mình, chúng ta.
“Mình”: (1) thân người tả (2) tiếng xưng hô thân mật giữa vợ chồng.
Ở đoạn thơ, từ “ta” – “mình”chủ yếu được dùng theo nghĩa (2) để tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa hai nhân vật đối lập.
Câu hỏi tu từ “ta về mình có nhớ ta” được dùng làm cái cớ để lộc lộ tình cảm chính bản thân mình. “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”.
Ở tám câu thơ lục bát còn lại nhà thơ chìm lắng trong cõi nhớ mênh mang. Thiên nhiên ở các câu lục hiện lên đẹp như một bức tranh tứ bình.
Thứ nhất là bức tranh mùa đông:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi.
Những đốm đỏ tươi của hoa chuối rừng bùng lên như một bó đuốc sáng rực, cháy trên sắc biếc xanh bạc ngàn của lá. Sự tương phản giữa gam màu xanh và đỏ càng làm cho bức tranh thơ lộng lẫy, chói chang hơn.
Thứ hai là bức tranh mùa xuân:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng.
Sự ngàn ngập sắc trăng tinh khôi, thanh khiết của hoa mơ phủ lên cả cánh rừng gợi cảm giác choáng ngợp, thơ mộng trong những chuỗi ngày xuân cách mạng. Câu thơ gợi nhớ, gợi thương cái duyên với hoa mơ của Tố Hữu năm nào:
Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt
Trăng rừng biên giới nở hoa mơ.
Thứ ba là bức tranh mùa hạ:
Ve kêu rừng phách đổ vàng.
Bức tranh này không chỉ có màu sắc, ánh sáng mà còn có cả những âm thanh vang ngân của núi rừng: tiêng “ve kêu” – khúc nhạc rừng. Tiếng “ve kêu” báo hiệu hè sang. Khi đức vua mùa hạ đến ngự trị thì cả rừng phách chuyển màu vàng rực. Nếu Xuân Diệu dùng từ “đổ” để ca ngợi vẻ đẹp của mùa thu:Xem thêm: Phân tích khổ ba trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.
(Thơ duyên)
thì Tố Hữu dùng từ “đổ” để gợi vẻ mĩ miều của mùa hạ. Mặt khác, từ chính là “con mắt”(nhãn tự) của câu thơ. Nó miêu tả được sự luân chuyển sống động của thời gian (ve kêu – hè về) và không gian (rừng phách đổ vàng) trong sắc thái rộn rã, huy hoàng. Như vậy, sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ là thời gian cũng mang màu sắc.
Thứ tư là bức tranh mùa thu:
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Khác với ba bức tranh mùa đông, mùa xuân, mùa hạ trên đây được vẽ dươi ánh nắng mặt trời trán đầy; bức tranh mùa thu được nhà thơ động bút vào một đêm thu dịu dàng, hòa quyện ánh trăng huyền ảo khúc xạ vào vòm lá. Cách dùng từ “rọi” của nhà thơ vừa hay, vừa mang kỹ thuật điện ảnh cao. Bức tranh ấy thấp thoáng ước mơ thầm kín về một cuộc sống thanh bình, êm ả. Vả lại, câu thơ còn gieo vào lòng ta nỗi niềm bồi hồi, xúc động gợi nhớ câu thơ của Bác hứng khởi cất lên trong những tháng ngày dài sống – làm việc nơi chiến khu Việt Bắc: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng loa.
Nhìn chung, khung cảnh bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông của núi rừng Việt Bắc rất rực rỡ, thi vị, lãng mạn và gợi cảm. Bức tranh thơ sống động, hòa quyện ánh sáng, màu sắc ấy vừa chuyên chở vẻ đẹp cổ điển vừa chuyên chở vẻ đẹp hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển dễ làm độc giả liên tưởng bộ tứ bình trong Truyện Kiều của thiên tài văn học Nguyễn Du vẽ đã hơn 200 năm qua:
Sen tàn, cúc nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân.
Nếu các câu lục miêu tả bức tranh thiên nhiên thì các câu bát là bức tranh con người Việt Bắc. Con người Việt Bắc là linh hồn của bức tranh thơ, là trung tâm của cõi nhớ: Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng.
Nghệ thuật quan sát và miêu tả của nhà thơ rất tinh tế, sắc sảo, mang màu sắc “ rất Việt Bắc”. Các luồng sáng của nắng bỗng chói lên bởi sự phản quang của lưỡi dao trên thắt lưng người lao động tạo nên hình ảnh lấp lánh “ nắng ánh”. Nhưng cái thế đứng cao vời vợi, mạnh mẽ, tự tin của người làm chủ thiên nhiên đẹp hơn.
Ở câu bát nối tiếp, nhà thơ nhớ về cô gái làm nghề thủ công mĩ nghệ:
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
“Chuốt” là cách làm cho vật thật nhẵn bằng cách đưa nhẹ lưỡi dao sắc nhiều lần sát bề mặt. “Từng” là mỗi cái một, riêng rẽ. Cách phối hợp hai từ “chuốt” và “từng” vô cùng ăn ý, điêu luyện làm tăng sức gợi tả đức tính tỉ mỉ, cẩn thận, chịu thương, chịu khó của người con gái thạo nghề đan nón. Những chiếc nón xinh xắn, dễ thương được đan từ vật liệu “sợi giang” như món quà của đồng bào Việt Bắc gửi tặng người miền xuôi. Ôi! Tình tứ làm sao! Bởi vậy, một trái tim nhạy cảm như Tố Hữu không nhớ nhung, không luyến lưu làm sao được!
Vì “Nhớ người đan nón” nên nhà thơ không thể không:
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Nghệ thuật gieo vần lưng “gái” – “hái” và điệp phụ âm đầu “m”: “măng” – “một”- “mình” làm tăng tính nhạc cho lời thơ. Cô gái Việt Bắc “hái măng một mình” nhưng cảm thấy cô đơn, trống vắng vì cô vừa hăng say lao động vừa lắng đọng tâm hồn mình để thưởng thức khúc nhạc rừng trong trẻo. Mặt khác, sự hiện diện của cô làm tăng thêm nét duyên dáng, mềm mại và sự trẻ trung của bức tranh mùa hạ.Xem thêm: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Có dàn ý chi tiết) Ở câu bát cuối cùng của trích đoạn, tiếng hát ai bỗng vọng về từ hai đầu nỗi nhớ:
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Lời thơ cô đọng, súc tích đồng thời là lời ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn cùa con người Việt Bắc. Những con người ấy rất thật thà, chất phác, nhân hậu, thủy chung, trung thành tuyệt đối với Đảng, Cách mạng và Bác Hồ vĩ đại. Họ đã cần cù, kiên nhẫn, hay làm, tần tảo ngược xuôi để nuôi nấng, đùm bọc, cưu mang che chở bộ đội, góp công sức to lớn trong thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.
Có thể nói rằng, sự xuất hiện của con người, đặc biệt là bóng dáng của các cô sơn nữ Việt Bắc đã làm giảm đi cái vẻ hoang sơ, hiu hắt của núi rừng. Núi rừng trở thành một người bạn gần gũi, thắm thiết vô hạn với con người. Câu thơ: “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy ” như lời đồng vọng trong tâm hồn của đôi lứa yêu nhau, dù khi ở gần nhau hay xa nhau đều hướng về nhau, đều có sợi nhớ, sợi thương xuyên suốt, buộc chặt.
Xét cho cùng, ở bức tranh thơ kép: “hoa” và “người” trên đây, chúng ta thấy thiên nhiên đẹp, con người càng đẹp. Những cô gái như những bông hoa xinh xắn của núi rừng, ẩn hiện giữa cỏ, cây, hoa, lá của Việt Bắc. Vậy nên, thiên nhiên và con người hòa quyện, quấn quýt bên nhau và tô điểm cho nhau.
Đặc biệt, Tố Hữu đã phối hợp nhiều biện pháp nghệ thuật để nâng cao tính dân tộc cho đoạn thơ, bài thơ. Nghệ thuật điệp cấu trúc cú pháp và đổi trật tự cú pháp đã làm tăng tính cân xứng, nhịp nhàng của bức tranh thơ kép. Nhịp thơ lục bát mềm mại, uyển chuyển, câu nọ gọi câu kia như một tiếng gọi hoài niệm ngọt ngào, bâng khuâng. Âm điệu thơ khi bổng, khi trầm, khi du dương, khi réo rắt, khi ngân nga như một khúc hát ru kỉ niệm, đưa độc giả vào một thế giới tâm tình da diết, đong đầy ân nghĩa. Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại nhiều lần ở đoạn thơ, kết hợp với nghệ thuật tăng tiến có tác dụng nhấn mạnh nỗi nhớ cồn cào, cháy bỏng và tấm lòng vấn vương của nhà thơ đối với quê hương, cách mạng. Tuyệt diệu hơn còn ở cách xưng hô “mình” – “ta” thắm thiết như đôi lứa đang yêu, rất gần! với điệu hát giao duyên trong kho tàng dân ca – ca dao Việt Nam. Ngoài ra, sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật thi ca với các loại hình nghệ thuật hội họa, âm nhạc, điện ảnh đã chứng tỏ Tố Hữu là người ghệ sĩ tài hoa, yêu cảnh, yêu người, yêu quê hương đất nước sâu nặng. Vả lại, vẻ đẹp mộc mạc. dung dị và bừng bừng sức sống của Việt Bắc đã mở ra cái nhìn mới mẻ! về Việt Bắc: chiến khu cách mạng không phải là nơi rừng sâu nước độc, âm u, hiểm trở.
Tóm lại, trích đoạn trên thuộc những dòng thơ đặc sắc nhất, tài hoa nhất, chất chứa vẻ mĩ học sâu sắc nhất trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, là đoạn thơ “có thể sánh với bất kì đoạn thơ miêu tả thiên nhiên nào trong văn học cổ điển” (Hoài Thanh). Vì lẽ đó, bài thơ Việt Bắc và tập thơ cùng tên của nhà thơ xứng đáng là một viên ngọc sáng long lanh trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu_ Ta về, mình có nhớ ta. Ta về, ta nhớ những hoa cùng người… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung | 2,731 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Gợi ý
YÊU CẦU
Bình giảng đoạn thơ để làm nổi bật vẻ đẹp của bức tranh tứ bình Việt Bắc qua nỗi nhớ tha thiết và sâu nặng của Tố Hữu đối với quê hương cách mạng. Cảnh đẹp thơ mộng và trữ tình, con người lao động cần cù và ân tình thủy chung. Đó là một bức tranh thiên nhiên – con người đẹp hiếm có trong thơ mà Tố Hữu đã dựng lên được nhờ tình cảm sâu nặng đối với Việt Bắc và con mắt nhìn đúng đắn, tiến bộ của nhà thơ cách mạng đối với con người và cảnh vật miền núi.
BÀI LÀM
Mình về mình có nhớ ta…
Việt Bắc tràn đầy nỗi nhớ của người kháng chiến về xuôi với quê hương cách mạng trong mười lăm năm "thiết tha mặn nồng" tình nghĩa. Biết bao nhiêu chữ "nhớ" vang lên trong bài thơ cùng với bao nhiêu nỗi nhớ của người ra đi với người ở lại. Nhớ chiến khu, nhớ "mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào", nhớ những đêm "quân đi điệp điệp trùng trùng", nhớ "ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang", và cả "nhớ gì như nhớ người yêu”… Giữa rất nhiều nỗi nhớ ấy, hiện lên một nỗi nhớ vừa đằm thắm thiết tha lại vừa bâng khuâng man mác:
Ta về, mình có nhớ ta
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Mười câu thơ trên là đoạn thơ thứ năm của bài thơ "Việt Bắc", tự nó đã có tính hoàn chỉnh. Đó là bức tranh toàn cảnh và tiêu biểu của Việt Bắc qua bốn mùa trong năm. Bức tranh ấy hiện lên thật sinh động trong âm điệu nhịp nhàng, tha thiết yêu thương. Bức tranh ấy rực rỡ, tươi tắn nhưng cũng bâng khuâng, man mác vì nó được lọc qua nỗi nhớ của người về xuôi. Nỗi nhớ được bộc lộ tha thiết trong buổi chia tay: Xem thêm: Ước mơ, tư tưởng của nhân dân được thể hiện như thế nào trong Tấm Cám 2. Anh (chị) hãy nêu những điểm nổi bật về nghệ thuật kể chuyện của truyện Tấm Cám Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Hai lần "ta về” láy lại ở đầu câu – cùng một thời điểm chia tay, nhưng câu trên là hỏi người, câu dưới là giãi bày lòng mình. Cái giọng thơ tâm tình của Tố Hữu ở đây thật ngọt ngào dễ thương. Cuộc chia tay giữa người kháng chiến và người Việt Bắc, giữa miền ngược với miền xuôi đã trở thành một cuộc "giã bạn" đôi lứa (ta – mình). Nỗi nhớ về những ngày gian nan gắn bó với cảnh và người Việt Bắc cứ hiện dần trong tâm trí người đi. Cảnh vật, con người Việt Bắc, cái gì cũng đáng yêu, đáng nhớ. Nhớ trước nhất là hoa cùng người. Hoa và người hòa quyện trong nỗi nhớ. Nhớ hoa là nhớ tới cái đẹp của thiên nhiên Việt Bắc, mà cái đẹp của Việt Bắc không thể tách rời với cái đẹp của những con người Việt Bắc đã từng cưu mang, gắn bó với người đi, với cách mạng, vẻ đẹp của bức tranh Việt Bắc, trước tiên, là vẻ đẹp của sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người.
Bức tranh đó được diễn tả bằng những câu thơ êm ả, nhẹ nhàng. Có màu sắc tươi tắn rực rỡ, có ánh sáng lung linh chan hòa, có âm thanh vui tươi đầm ấm. Cảnh và người hòa quyện vào nhau: bốn cặp lục bát tả bốn mùa, thì câu trên nhớ cảnh, câu dưới nhớ người. Mà cảnh nào, người nào được nhắc tới cũng đều có cái riêng để nhớ. Tất cả đã hiện lên trước mắt ta một bức tranh Việt Bắc tuyệt diệu, nên thơ qua nét bút châm phá tài tình của tác giả.
Mỗi mùa được nhà thơ nhớ lại bằng một nét tiêu biểu nhất, với cách diễn tả tinh tế gợi cảm. Nhớ mùa đông Việt Bắc là nhớ tới "rừng xanh hoa chuối đỏ tươi". Giữa cái bạt ngàn của màu xanh, hiển hiện một màu sắc ấm nóng (tươi đỏ), bức tranh mùa đông của Việt Bắc đâu còn cái lạnh lẽo, hoang vu nữa. Xuân sang sắc màu lại đổi khác, tràn ngập sinh sôi một màu trắng tinh khiết, thơ mộng: "Ngày xuân mơ nở trắng rừng". Cảnh này có gì đó giống như cảnh Bác về nước năm 1941: Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm: "Đêm buông xuống dòng sông Đuống(...) Những chuyện muôn đời không nói năng” Ôi sáng xuân nay, Xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về… Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…
(Tố Hữu – Theo chân Bác)
Bốn cặp lục bát sau Tố Hữu dùng để tả cảnh hè đến và cảnh mùa thu. Nếu như sắc màu chủ đạo của cảnh đông là màu xanh điểm vào đó có sắc hoa tươi đỏ, của cảnh xuân là màu trắng hoa mơ, thì của mùa hè là màu vàng tươi đẹp của rừng phách: Ve kêu rừng phách đổ vàng. Đây là một câu thơ vào loại hay nhất của bài thơ "Việt Bắc". Câu thơ sáu chữ mà thấy được sự chuyển đổi của thời gian, sự biến đổi của cảnh sắc thiên nhiên. Câu thơ ấy ran lên một tiếng ve kêu không dứt trong màu vàng chói chang của rừng phách dưới nắng hạ. Cuối cùng, cảnh thu hiện ra với màu sắc dịu hiền của ánh trăng, màu của mơ ước về cuộc sống hòa bình giữa những ngày gian khổ. Cảnh nào cũng đẹp, mùa nào cũng đáng yêu, và mỗi mùa là một bức tranh nên thơ, kì thú.
Bức tranh bốn mùa ấy còn ánh lên vẻ đẹp đằm thắm của con người Việt Bắc. Cảnh làm nền cho người và người gắn với cảnh, chúng quyện hòa vào nhau và tô điểm cho nhau. Dường như những cảnh ấy phải có những con người này, và nhà thơ đã đưa vào bức tranh Việt Bắc những con người thật bình dị đáng yêu: hình ảnh người lên núi với lưỡi dao lấp lánh ánh nắng cạnh sườn, bàn tay "chuốt từng sợi giang" của người đan nón, và "cô em gái hái măng một mình" giữa khúc nhạc ve ran và sắc vàng rừng phách. Cả "tiếng hát ân tình" nữa cùng làm cho rừng thu êm dịu và ánh trăng hòa bình tỏa sáng lung linh. Xem thêm: Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến Không hiểu Việt Bắc sâu sắc, không yêu Việt Bắc nồng nàn và nhớ Việt Bắc tha thiết, thì không thể dựng lên bức tranh quê hương cách mạng đẹp tuyệt diệu và ấm tình người đến thế. Nhưng để có bức tranh này, còn có quan điểm đúng đắn và cách nhìn tiến bộ của nhà thơ cách mạng. Khác với những cách nhìn sai lệch trong văn học trước đây về miền núi và con người miền núi (là nơi "ma thiêng nước độc" với những con người dữ tợn, kém văn minh…), Tố Hữu đã có một cách nhìn đầy thông cảm, thương yêu và ưu ái với quê hương cách mạng. Bức tranh thơ này chính là bắt nguồn từ sự gắn bó thủy chung, từ lòng nhớ thương sâu nặng của nhà thơ đối với cảnh và người Việt Bắc.
Tình cảm nhớ thương tha thiết ấy là âm hưởng bao trùm cả đoạn thơ – và nhạc điệu dịu dàng trầm bổng của thể thơ lục bát làm cho âm hưởng đó bâng khuâng, tha thiết. Kết cấu của bài thơ Việt Bắc là kết cấu đối đáp, có ta và mình, có người đi, kẻ ở, nhưng thực ra đó chỉ là sự phân thân của một chủ thể trữ tình. Đoạn thơ trên là lời đáp, lời giãi bày của người đi; nhưng không hẳn là thế. Nhớ cảnh, nhớ người, nhớ đến từng chi tiết sống động như vậy là nỗi nhớ chung của những người đã cùng gắn bó với nhau, đồng cam cộng khổ trong "mười lăm năm thiết tha ân tình". Không phải ngẫu nhiên mà Tố Hữu khép lại đoạn thơ bằng "… tiếng hát ân tình thủy chung”.
Tiếng hát ân tình ấy vấn vương trong người đi kẻ ở, vấn vương trong tâm hồn người đọc…
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu_ “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” | 1,461 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm: “Em ơi buồn làm chi (…) Sao xót xa như rụng bàn tay”
Gợi ý
"Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều”
(Đỗ Trung Quân)
Kì lạ thay hai tiếng quê hương! Là một ngọn núi, một cánh đồng, một mái trường, một dòng sông… đó là quê hương ta, mang nặng trong lòng ta. Quên sao được dòng sông tuổi thơ? Sông mang nước ngọt, sông chở nặng phù sa, sông cho ta nhiều tôm cá… Và dòng sông quê hương còn mang bao kỉ niệm của hồn ta trôi về năm tháng, đi tới mọi chân trời xa xôi…
"Sông ơi! Thương nhớ một đời!
Sông ơi! Một trời mơ ước”
Mỗi lần đọc bài "Bên kia sông Đuống" của thi sĩ Hoàng Cầm, tôi lại nao nao, lại xao xuyến bồi hồi. Một miền quê yêu thương, một thế giới Kinh Bắc, một dòng sông êm đềm lại hiện về, thấp thoáng, Nửa thế kỉ đã trôi qua mà vần thơ “ Ai về bên kia sông Đuống” vẫn mải miết trôi, vẫn lao xao vỗ sóng trong lòng tôi…
"Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
………………
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao sót xa như rụng bàn tay…”
Đây là đoạn thơ mở đầu bài "Bên kia sông Đuống” một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến viết về cảm hứng quê hương đất nước. Nỗi buồn, nỗi nhớ tiếc, xót xa của đứa con li hương bao trùm cả đoạn thơ.
1. Mở đầu là hai tiếng "Em ơi” vang lên bồi hổi xao xuyến. Vừa nhắn gọi, vừa an ủi vỗ về. Buồn làm chi hoài, buồn làm chi mãi, em hãy cùng anh trở về dòng sông Đuống thân thương ”ngày xưa”:
"Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì”
Hai tiếng "em ơi" này phải chăng được khơi gợi từ những câu ca Quan họ: “Người ơi người ở đừng về…”như có người đã cảm nhận? Em là cô gái Kinh Bắc từng “để thương, để nhớ, để sầu cho ai", một lần nữa xuất hiện với dáng vẻ xinh tươi, yêu kiều trong ngày hội non sông mà nhà thơ mong ước:Xem thêm: Kể lại câu chuyện “Bà ngoại” trong truyện Đô-rê-mon mà em đã đọc. Em hãy phát biểu cảm nghĩ của mình về câu chuyện ấy"Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn long xuân xanh”.
Câu thơ "Ngày xưa cát trắng phẳng lì" là một nét đẹp về dòng sông ấu thơ trong hoài niệm. Bờ sông thoai thoải, cát trắng mịn màng, từng in dấu chân nhỏ thon trần một thời cắp sách.
Đứa con li hương bồi hồi thương nhớ. Nhớ cồn cào dòng sông:
“Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì".
Hai tiếng "trôi đi" gợi tả nước sông êm đềm lững lờ trôi xuôi với thời gian năm tháng, và đang "trôi” trong lòng người, mang theo bao kỉ niệm đẹp "mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên…”. Nước sông trong xanh, gương sông trong suốt phẳng lặng. Từ láy chỉ màu sắc "lấp lánh” là một nét vẽ có hồn về sông Đuống yêu thương. Gương sông "lấp lánh” phản chiếu ánh hồng bình minh, phản chiếu bóng tà dương, ánh trãng sao những đêm thu đẹp. Đã có sông Cầu nước chảy lơ thơ. Có sông Thương bên lở bên bồi, dòng trong dòng đục mang theo bao nỗi niềm xưa nay: "Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi”…Và còn có "Sông Đuống trôi đi – Một dòng lấp lánh” đã trở thành một mảnh tâm hồn của nhà thơ Hoàng Cầm.
Con sông làng ta quanh co uốn lượn như con rồng trong ca dao đã để nhiều nhớ thương cho ta:
“Làng ta phong cảnh hữu tình
Dân cư giang khúc như hình con long”
Con sông Đáy mộng mơ trong thơ Cao Bá Quát: “Sông tựa dài là cô gái đẹp…”. Con sông Hương của Huế đẹp và thơ:
" Hương Giang ơi, dòng sông êm
Qua tim ta vẫn ngày đêm tự tình”
(“Bài ca quê hương”- Tố Hữu)
Với Hoàng Cầm thì sông Đuống yêu thương lại có một dáng hình rất kì diệu và nên thơ: "Năm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”. Dòng sông như một sinh thể mang nặng tình quê và lòng người. Ọuê hương đang bị cắt chia, bên này là vùng tự do, bên kia là quê mẹ đang bị quân thù chiếm đóng và giày xéo, nên dòng sông mới "nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” như vậy?Xem thêm: Kinh nghiệm ôn học và ôn thi Đại Học môn Văn Miền quê thương nhớ cũng là không gian nghệ thuật được mở rộng và trải dài theo hai bờ sông. Bức tranh quê tắm mát tâm hồn ta một màu xanh bạt ngàn. Có màu “xanh xanh" của bãi mía, bờ dâu. Có màu "biêng biếc " của ngô khoai. Hồn quê, tình quê đã hội tụ qua màu xanh ấy. Nó gợi lên một vẻ đẹp trù phú của quê hương, với những cánh đồng phì nhiêu tươi tốt, với những con người cần mẫn làm ăn quanh năm. Màu sắc trong thơ Hoàng Cầm được phối sắc một cách tài hoa, tuy “đơn sơ mà lộng lẫy” đầy ấn tượng. Màu xanh của ấm no, thanh bình:
"Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc".
Quê hương giàu đẹp và thanh bình nay còn đâu nữa? Dòng sông, cánh đồng, xóm làng đang bị quân Pháp đốt phá tan hoang, “ngùn ngụt lửa hung tàn”… Từ hoài niệm thơ mộng "ngày xưa", Hoàng Cầm đau đớn, nghẹn ngào thốt lên, vừa “nhớ tiếc” vừa "xót xa":
"Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay”
Đứa con li hương đang đêm ngày đăm đăm nhìn về quê mẹ mà “ruột đau chin chiều". "Đứng bên này sông" là tả ngạn sông Đuống, vùng tự do; bên kìa là hữu ngạn, là huyện Thuận Thành, quê mẹ yêu thương đang bị quân thù chiếm đóng và giày xéo. Hai câu hỏi tu từ liên tiếp: "Sao nhớ tiếc…","sao xót xa” đã cực tả nỗi đau tê tái quặn lòng. Âm điệu vần thơ như những tiếng nấc đau đớn. “Nhớ tiếc” một dòng sông thơ ấu với "cát trắng phẳng lì" với "một dòng lấp lánh"…, “Xót xa” một miền quê giàu đẹp với màu"xanh xanh","biêng biếc"của mía, dâu, khoai… nay đã trở thành điêu tàn, tang tóc! Câu thơ "Sao xót xa như rụng bàn tay" là một so sánh độc đáo, đã cụ thể hóa nỗi xót xa như chết đi một phần cơ thể. Sông Đuống và quê mẹ thân yêu đã trở thành một mảnh tâm hồn của đứa con xa nhà đi kháng chiến mới có nỗi "nhớ tiếc” và “xót xa"như thế! Tinh cảm mãnh liệt ấy được thể hiện một cách xúc động, chân thành, đạt tới đỉnh điểm điển hình của bi kịch li hương trong chiến tranh.Xem thêm: Từ hiểu biết của mình về người mẹ Việt Nam và các thông tin trên, anh (chị) hãy viết bài văn với tiêu đề: Tượng đài về lòng yêu nước và đức hi sinh. Thơ là tiếng lòng đồng vọng trong lòng người và thời gian nãm tháng. Đoạn thơ 10 câu trên đây là phần tiền tấu bài ca quê hương, là khúc tâm tình, là tiếng lòng của thi sĩ Hoàng Cầm. Mở đầu đoạn thơ là nỗi buồn, khép lại đoạn thơ là sự nhớ tiếc, nỗi xót xa. Cảm xúc trữ tình ấy trở thành nguồn mạch của mọi giai điệu tâm tình với bao thương nhớ, đau buồn, căm giận, tự hào tin tưởng được gửi gắm và trang trải xuyên suốt bài thơ "Bên kia sông Đuống".
Cấu trúc câu thơ, đoạn thơ biến hóa, đa thanh, phức điệu. Cảm xúc dồn nén. Hình tượng hội tụ lung linh đem đến nhiều liên tưởng tâm tình đầy xúc động. Câu thơ dài, ngắn phối hợp các thanh trắc, thanh bàng đã hô ứng, hòa quyện tạo nên nhạc điệu réo rắt, thiết tha: "Em ơi, buồn làm chi… sông Đuống… một dòng lấp lánh… nghiêng nghiêng… xanh xanh… biêng biếc…nhớ tiếc… xót xa..". Câu chữ, vần thơ như được đứa con Kinh Bắc thổi hồn vào, cứ quyện lấy lòng ta như đang được lắng nghe một làn điệu dân ca Quan Họ sau bờ dâu bãi mía bên dòng sông Đuống mênh mang buổi xuân về.
Tâm trạng buồn thương, đau đớn của Hoàng Cầm được thể hiện trong đoạn thơ cũng là nỗi lòng của mỗi con người Việt Nam đối với quê hương trong những năm dài xa nhà đi kháng chiến. Tinh yêu quê hương, nỗi đau li hương vẫn là một trong những tình cảm đẹp nhất, sâu nặng nhất của con người Việt Nam xưa và nay:
"Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Bể dâu biến đổi biết đâu là nhà”
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm_ “Em ơi buồn làm chi (…) Sao xót xa như rụng bàn tay” | 1,536 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm: “Đêm buông xuống dòng sông Đuống(…) Những chuyện muôn đời không nói năng”
Gợi ý
Tháng 4.1948, tại chiến khu Việt Bắc, Hoàng Cầm viết “Bên kia sông Đuống” một kiệt tác của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Giai điệu thiết tha của dân ca Quan họ thấm vào từng vần thơ. Lòng nhớ tiếc xót xa quê hương bị giặc giày xéo, lòng uất hận căm thù giặc bùng cháy, niềm tin dào dạt vào một ngày mai, quê hương trở lại thanh bình đã được thể hiện một cách cảm động.
Đoạn thơ dưới đây trích trong phần 3 bài thơ ghi lại cảnh mẹ già trong vùng địch hâu đón bộ đội về giải phóng quê hương. Đoạn thơ được viết dưới hình thức đối thoại rất gợi cảm:
"Đêm buông xuống dòng sông Đuống
…………………
Những chuyện muôn đời không nài năng”
Trong bài thơ, 12 lần Hoàng Cầm nhắc đến dòng sông Đuống yêu thương. Đây là lần thứ 9, sông Đuống hiện ra trong một thời điểm đáng nhớ:
" Đêm buông xuống dòng sông Đuống”
Đã mấy năm dài "giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn", quê hương ta điêu tàn, tang tóc: "Ruộng ta khô – Nhà ta cháy…". Bao nước mắt và máu đã đổ xuống! Bao thịt nát xương tan… Bao tháng ngày, mẹ già vùng địch tạm chiếm khắc khoải chờ mong. Đêm nay, khi màn đêm "buông xuống", màn đêm bí mật bao phủ dòng sông Đuống thì "bộ đội bên sông đã trở về”. Mẹ già gặp lại đàn con xa. Câu thơ gồm từng âm, từng tiếng nối tiếp xuất hiện gợi tả màn đêm từ từ, nhẹ nhàng buông xuống. Một không khí bí mật bao trùm dòng sông. Các láy âm: "buông – xuống – Đuống” rất gợi, gợi không khí, một đêm địch hậu có bộ đội vượt sông trở về. Đó là một “đêm lịch sử” chờ mong của mẹ già.Xem thêm: Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: "thời gian, lời nói và cơ hội”. Nêu suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến đó Hai câu hỏi của mẹ già nối tiếp xuất hiện. Phút đầu gặp gỡ bộ độỉ, những đứa con xa. Ngạc nhiên và xúc động. Câu hỏi ngắn. Chữ “con” nhiều ấm áp, tin cậy và yêu thương:
“- Con là ai? Con ở đâu về?”
Sau lời nói như nghẹn lại, là những giọt lệ mừng vui. Cử chỉ mẹ già run run: "Hé một cánh liếp".Đúng là "Nhà lá đơn sơ- Nhưng tấm lòng rộng mở…” ("Bao giờ trở lại" – Hoàng Trung Thông). Không gian bé nhỏ mà lòng mẹ thì mênh mông, bao la:
“- Con vào đây bốn phía tường che”…
Một chữ "che" ấp ủ biết bao tình thương của bà mẹ, của đồng bào vùng địch hậu. Một tấm liếp mỏng manh mà vững chắc hơn cả thành đồng vách sắt. Bộ đội đánh giặc vì nước vì dân. Đồng bào đùm bọc, chở che bộ đội. Bộ đội sống trong lòng nhân dân. Các từ ngữ: "bốn phía", "che", và lời chào mời: "vào đây" đã thể hiện một cách sâu sắc cảm động tình thương, sự đùm bọc chở che của mẹ già, của đồng bào đối với bộ đội thời kháng chiến. Tinh quân dân như cá với nước là thế! Tác giả đã tạo nên một tình huống gặp gỡ, gợi lên một không khí vừa bí mật, vừa thiêng liêng. Cảnh mẹ già vùng giặc chiếm gặp bộ đội trong màn đêm, mà người đọc cảm thấy sự việc đang diễn ra trước mắt mình, mình đang được chứng kiến.Xem thêm: Màu sắc dân tộc thể hiện như thế nào qua cách sử dụng hình ảnh của tác giả trong bài thơ Dọn về làng
Sau ngôn ngữ, cử chỉ của mẹ già, Hoàng Cầm sáng tạo nên một số hình ảnh hoán dụ, tương phản và so sánh rất đặc sắc: "tình mẹ ", “tóc trắng", “lửa đèn leo lét", "như dựng trăng". Một cảnh sống âm thầm, đen tối, đau khổ trong “lửa đèn leo lét" nhưng vẫn "soi tình mẹ". Tình mẹ là lòng yêu nước, là tình thương bộ đội. Thủ pháp tương phản của Hoàng Cầm đã sáng tạo nên một câu thơ có hình ảnh đẹp, làm sáng bừng lên tình mẹ, lòng mẹ Việt Nam: "Lửa đèn leo soi tình mẹ". Tình mẹ, lòng mẹ mênh mông:
"Nơi hầm tối là nơi sáng nhất
Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam”
("Đất nước quê ta mênh mông”- Dương Hương Ly)
Câu thơ “khuôn mặt bừng lên như dựng trăng" có hình ảnh so sánh đẹp. "Dựng trăng” là trăng mọc, trăng lên, cảnh vật nơi nơi trên mặt đất, trên làng quê đều sáng bừng lên. Trăng lên xua tan màn đêm bóng tối, đem lại ánh sáng cho núi sông, làng quê. Cũng như bộ đội vượt sông Đuống trở về đánh giặc để xua tan, quét sạch hắc ám. Gặp bộ đội về làng, mẹ vui sướng, gương mặt mẹ rạng rỡ "bừng lên như dựng trăng". Mẹ già như được hồi sinh trong sự hồi sinh của quê hương đất nước.
Có biết bao nổi đau như nén lại trong lòng mẹ. "Không nói năng", mẹ già vùng địch hậu không nói nên lời. Mái "tóc trắng" là hiện thân của tủi nhục, của mất mát đau thương mà mẹ già đã phải chịu đựng trong những ngày tháng "khủng khiếp”. Chữ “kể” rất đắt. "Kể" bằng "tóc trắng" của mẹ. "Kể" bằng nỗi "ngậm ngùi” của mẹ mà đứa con xa thấu hiểu:Xem thêm: Phân lích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)"Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể,
Những chuyện muôn đời không nói năng”
Dùng hình ảnh để gợi tả nội tâm, gợi tả lòng mẹ là một cách viết hình tượng biểu cảm thể hiện bút pháp nghệ thuật tài hoa của thi sĩ Hoàng Cầm.
Trong bài thơ "Bên kia sông Đuống", ba lần nhà thơ nói đến hình ảnh người mẹ đang sống trong vùng giặc chiếm đóng. Đoạn thơ trên đây nói đến hình ảnh mẹ lần thứ hai. Hình ảnh người mẹ già được nhắc đến trong đoạn thơ tượng trưng cho những mất mát, đau thương trong thời chiến tranh. Các hình ảnh hoán dụ như: “cánh liếp”, "tường che” "lửa đèn", "tình mẹ", "khuôn mặt", "tóc trắng”, cho thấy một lối viết rất gợi, cảm xúc như nén lại biểu hiện sâu sắc bi kịch quê hương thời chiến tranh và lòng mẹ Việt Nam.
Tưởng tượng là một nhân tố làm nên vẻ đẹp thi ca. Năm 1948, chưa thể có cảnh tượng hào hùng "Bộ đội bên sông đã trở về". Chỉ là dự cảm, dự báo mang sắc màu lãng mạn đẹp. Qua đó, ta thấy sự tưởng tượng phong phú bay bổng của Hoàng Cầm đã sáng tạo nên một đoạn thơ mang tình huống cảm động. Hoàng Cầm là thi sĩ viết kịch thơ rất tài hoa, độc đáo (Hận Nam Quan, Trương Chi…). Bút pháp nghệ thuật ấy đã in đậm qua đoạn thơ này. Niềm vui của mẹ già trong vùng địch hậu đón bộ đội về đánh giặc mang ý nghĩa sự hồi sinh của quê hương trong chiến đấu và chiến thắng.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm_ “Đêm buông xuống dòng sông Đuống(…) Những chuyện muôn đời không nói năng” | 1,269 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ. Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương… Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”
Gợi ý
Chế Lan Viên (1920-1989) là nhà thơ giàu tài năng và sáng tạo. Hơn một nửa thế kỉ làm thơ, cảm hứng thơ ca của ông dào dạt như một dòng sông vỗ sóng. Từ "Điêu tàn” đến "Ánh sáng và phù sa", hành trình thơ của Chế Lan Viên “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui", vượt qua quá khứ nặng nề, u buồn, đến với cuộc đời, với nhân dân và đất nước.
Bài thơ "Tiếng hát con tàu" rút từ tập “Ánh sáng và phù sa” là khúc hát say mê mang hương vị và tình yêu cuộc đời. Nhà thơ ví tâm hồn mình như con tàu "uống vầng trăng", vùn vụt tiến lên phía trước đầy hăm hở trong bài ca xây dựng cuộc đời. Đến với Tây Bắc là trở về với nhân dân – những con người tình nghĩa. Đến với Tây Bắc là đến vói "Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng". Suốt những năm dài kháng chiến được sống trong lòng nhân dân, bước chân nhà thơ đã đi qua nhiều miền đất nước: khu Bốn, khu Ba, Việt Bắc, Tây Bắc… Bao kỉ niệm đầy ắp trong lòng về những con người, về những miền quê xa lạ. Trong hoài niệm, nhà thơ ân tình hát lên. Đây là đoạn thơ tiêu biểu trong phần haỉ bài “Tiếng hát con tàu":
"Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
… Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”
Nỗi nhớ Tây Bắc đầy vơi trong lòng. Nhớ núi rừng, nhớ làng bản, nhớ những con đèo mây trắng phủ mờ, nhớ những "Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất”. “Bản sương giăng" và "đèo mây phủ" gợi tả cảnh núi rừng mịt mù, xa xôi nghìn trùng cách trở. Hai chữ trong vần thơ diễn tả sự tha thiết bồi hồi. Câu thơ cân xứng qua hai vế tiểu đối: “Nhớ bản sương giăng // nhớ đèo mây phủ" với bao ân tình thương nhớ.
Bao năm tháng đã qua, những dốc núi đèo cao, những làng bản mù sương, những nẻo đường một thời gian khổ vẫn còn vương vấn trong lòng. Những kỉ niệm đẹp một thời máu lửa đâu dễ quên. Nhà thơ tự hỏi lòng mình: "Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương?". Cũng là để khẳng định mình với tất cả niềm tự hào sâu sắc. Giọng thơ sâu lắng, êm ái, ngọt ngào. Nỗi nhớ và "yêu thương” cũng là tình cảm của người chiến sĩ Tây Tiến với núi rừng và con sông Mã miền Tây: “Sông Mã xa rồi Tây Nhớ ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi".Câu thơ của Chế Lan Viên hàm chứa tình cảm đẹp, đồng thời phát hiện chiều sâu của tâm hồn và quy luật tình cảm của con người. Đó cũng là sự tổng kết đường đời, cách sống, đạo lí sống của người cán bộ kháng chiến. Hai câu thơ tiếp theo cấu trúc song hành, ánh lên vẻ đẹp trí tuệ. Đó là nét đặc sắc trong thơ Chế Lan Viên:Xem thêm: Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: "thời gian, lời nói và cơ hội”. Nêu suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến đó"Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”
"Khi ta ở" rồi "khi ta đi" đã trải qua nhiều năm tháng? Hai cảnh ngộ, hai hoàn cảnh sống đã đổi thay. Thời gian và không gian, ở và đi, quá khứ và hiện tại không làm cho lòng dạ đổi thay, trái lại "đất đã hóa tâm hồn”, “Nơi đất ở" trước đây, nay có sự chuyển hóa kì lạ: "Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Kẻ vô tâm và bất nghĩa thì "đi" là hết: "nơi đất ở" chỉ còn lại sự dửng dưng mà thôi. Có sống hết mình, sống đẹp với “nơi đất ở" thì khi xa cách, lòng ta mới mang theo bao kỉ niệm vui, buồn sâu sắc. Câu thơ là tiếng nói tình nghĩa ở đời, là niềm tự hào về cách ăn ở thủy chung, sắt son. Tây Bắc – mảnh đất thiêng liêng, anh hùng đã mang tình sâu nghĩa nặng đối với nhà thơ và bao chiến sĩ. Bao chiến sĩ đã đem xương máu thắp sáng ngọn lửa Điên Biên thần kì. Mảnh đất ấy có bao con người tình nghĩa, để thương để nhớ trong lòng ta. Là anh du kích: "Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn – Chiếc áo suốt một đời vá rách – Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con". Là bà mế "Lửa hồng soi tóc bạc", tuy "không phải hòn máu cắt" nhưng "Trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi". Là cô gái Tây Bắc "Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng", để lại nhiều bâng khuâng: "Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương". Vì thế thật là dễ hiểu, mảnh đất ấy, cùng với những con người như thế ấy sao mà "lòng lại chẳng yêu thương?". Có trải nghiệm, mới thấm thía vị đời sâu nặng, mới cảm được cái diệu kì mơ hồ mà hiện hữu nơi sâu thẳm lòng người:Xem thêm: Viết một bức thư cho bạn ở tỉnh khác, bạn của bạn em, để làm quen và hẹn bạn cùng thi đua học tốt
"Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn".
Con người có nhân hậu, biết sống trong đạo lí, biết ăn ở trong tình nghĩa thủy chung, có cái tâm đẹp và cái tài lớn mới viết nên những câu thơ mang màu sắc triết lí đẹp và hay như thế! Có điều thú vị là những triết luận ấy khống chút khô khan mà chủ yếu là những xúc động của chính tầm hồn mình, được lay động và cất cánh thành lời ca. Triết luận ấy lại được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ giàu hình tượng và cảm xúc nên đã khơi dậy trong mỗi chúng ta bao hoài niệm đẹp đối với miền quê đã gắn bó như nơi chôn nhau cắt rốn của riêng mình.
Khổ thơ tiếp theo, mạch thơ đột ngột chuyển sang một rung cảm và suy tưởng khác – tình yêu và đất lạ:
"Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,
Như xuân đến chim rừng lòng trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương".
Nói về tình yêu – một tình yêu đẹp – Chế Lan Viên sử dụng liên tiếp những hình ảnh so sánh ẩn dụ, tạo nên những vần thơ độc đáo, thi vị. Mỗi một so sánh là một liên tưởng nói lên tình yêu và nỗi nhớ xôn xao, mơ màng và thấm thìa, lan tỏa trong lòng. Câu thơ "Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét” thể hiện sự gắn bó yêu thương giữa haỉ trái tim, hai tâm hồn như quy luật kì diệu của thiên nhiên, của sự sống. Cánh kiến – sản phẩm của núi rừng, là chất kết dính. Hoa vàng tượng trưng cho vẻ đẹp êm dịu và thơ mộng. Để nói lên một tình yêu thắm thiết thơ mộng, tác giả có một cách nói mới lạ, đậm đà: “Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng”, Mùa xuân đến, trăm hoa đua nở, cây cỏ đâm chồi nảy lộc. Mùa xuân cũng là mùa của tình yêu, của sự sánh đôi, kết bầy, của cái đẹp nảy nở trong hạnh phúc: "Chim rừng lòng trở biếc” ca hót rộn ràng: “Của yến anh này đây khúc tình si" (Xuân Diệu). Nhà thơ Chế Lan Viên đã cụ thể khái niệm trừu tượng tình yêu thành những hình ảnh so sánh cụ thể, gần gũi thân thuộc với con người, nhất là đối với đồng bào miền núi. Nếu trong "Việt Bắc", Tố Hữu đã nói về nỗi nhớ chiến khu với bao cung bậc thiết tha bồi hồi:
“Nhớ gì như nhớ người yêu Xem thêm: Tả cái bút chì mà em đang dùng lớp 4 Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưmg nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”
thì ở trong bài thơ này, Chế Lan Viên nói vể nỗi nhớ ấy với tất cả ân tình sâu nặng và được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ giàu mĩ cảm.
Ở khổ thơ trước có câu: "Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn", ở khổ thơ sau, tác giả lại viết: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương". Sống có ân nghĩa thì đất lạ mới "hóa tâm hồn". Sống trọn tình yêu thì "đất lạ hóa quê hương”. Ca dao có câu: "Đến đây thì ở lại đây – Bao giờ bén rễ xanh cây mới về". Đó là sự níu giữ của tình yêu. Và cũng từ tình yêu này mà mở rộng, hòa quyện trong tình yêu một miền đất quê hương. Câu thơ: "Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương" như một mệnh đề ngắn gọn và cô đúc. Châm ngôn sống đẹp, thủy chung ở đây được khẳng định như một chân lí! Nên, như một hệ quả, ta không chỉ yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình mà tâm hồn, tấm lòng còn rộng mở ra đến mọi miền quê. Tinh yêu quê hương gắn liền với tình yêu đất nước. Tình yêu đất là gắn liền với những con người mà mình lừng mang trong lòng nghĩa nạng tình sâu. Chữ “hóa” trong câu thơ là một "nhãn tự” thể hiện sự biến đổi kì diệu, từ lượng là “đất lạ” thành chất là “quê hương" mà yếu tố quyết định là "tình yêu”. Câu thơ của Chế Lan Viên cho ta nhiều liên tưởng và suy tưởng để tự đo lòng mình, phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn và sự phong phú của tâm hồn mình.
Đoạn thơ trên cho thấy vẻ đẹp văn chương và cốt cách thi sĩ của Chế Lan Viên. Thơ ông hàm súc, mang chất trí tuệ lại được trang phục bằng một thứ ngôn ngữ giàu hình tượng và truyền cảm. Giọng thơ tha thiết, đằm thắm. Đến với nhân dân, sống trong lòng nhân dân là trở về cội nguồn hạnh phúc để cống hiến và sáng tạo. Bài học vể tình nghĩa, về thủy chung trong tình yêu được diễn tả một cách thấm thía. Những tình cảm sâu sắc ấy và chân thành ấy là tấm lòng của thi sĩ đối với đất nước và nhân dân được diễn tả một cách tài hoa, giàu cá tính sáng tạo trong bài thơ “Tiếng hát con tàu”.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên_ “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ. Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương… Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương” | 1,840 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa (…) Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Gợi ý
Quang Dũng là nhà thơ – chiến sĩ, từng cầm súng đánh giặc và làm thơ thời kháng chiến chống Pháp. Năm 1948, tại Phù Lưu Chanh (Hà Tây cũ ), ông viết bài thơ “Tây Tiến" nói lên tình thương nhớ chiến trường miền Tây, nhớ đồng đội thân yêu một thời trận mạc. Mở đầu bài thơ là một lời nhắn gọi biết bao thiết tha bồi hồi:
"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”
Bài thơ có 34 câu thơ thất ngôn, chia thành 4 đoạn, mỗi đoạn thơ là sự hồi tưởng bao kỉ niệm sâu sắc. Đây là đoạn thơ thứ hai có 8 câu mang vẻ đẹp như một nói về 2 nỗi nhớ: nhớ hội đuốc hoa và nhớ chiều sương Châu Mộc:
"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
……………
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa".
1. Từ "Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói – Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” Quang Dũng nhớ đến "hội đuốc hoa"thắm thiết tình quân dân:
"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Đuốc hoa là cây nến thắp lên trong phòng tối tân hôn. “Truyện Kiều” có câu: “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa" (3096). Quang Dũng sáng tạo thành “hội đuốc hoa"để nói về đêm liên hoan lửa trại giữa các cán bộ chiến sĩ đoàn binh Tây Tiến với đồng bào các bản mường. Chữ "bừng"vừa chỉ ánh lửa, ánh đuốc sáng bừng lên, vừa tả âm thanh tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát, tiếng khèn vang lên tưng bừng rộn rã trong hội đuốc hoa. Đêm lửa trại, đêm liên hoan chắc là có múa sạp, có múa xoè của các cô gái Mường, cô gái Thái tham gia? Chữ "kìa"là đại từ để trỏ một đối tượng (người, vật) từ xa; trong văn cảnh thể hiện sự ngạc nhiên, niềm vui thích, tình tứ của chàng lính trẻ Tây Tiến khi nhìn thấy các "em", các "nàng"đến dự hội đuốc hoa trong bộ xiêm áo xinh đẹp. Hình ảnh "nàng e ấp" là một nét vẽ tài hoa và có hồn đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, kín đáo, tình tứ của các thiếu nữ miền Tây. Ánh lửa, tiếng hát, tiếng khèn, màu xiêm áo rực rỡ, vẻ đẹp kiều diễm của các "em”, các “nàng” như đã “xây hồn thơ” các chàng lính trẻ. Con người thì trẻ trung, xinh đẹp, hào hoa, đa tình; ngòi bút của thi nhân cũng rất tài hoa, lãng mạn. Qua hội đuốc hoa, ta càng thấy đời sống tinh thần vô cùng phong phú của đoàn binh Tây Tiến nơi chiến trường miền Tây gian khổ ác liệt.Xem thêm: Viết một bài văn ngắn về người thân yêu nhất của mình 2. Bốn câu thơ tiếp theo dòng hồi tưởng “trôi” về một miền đất lạ, đó là Châu Mộc thuộc tỉnh Sơn La, nơi có những bãi cỏ bát ngát mênh mông, nơi có dãy núi Pha Luông cao 1880m, nơi có bản Pha Luông sẫm uất cua người Thái. Quang Dũng người lính chiên với tâm hồn thi sĩ đã khám phá ra bao vẻ đẹp kì thú miền Châu Mộc. Năm tháng đã trôi qua, cảnh và người miền đất lạ ấy đã trở thành một mảnh tâm hồn của bao ngựời:
"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
"Chiều sương ấy "là chiều thu 1947. Sương trắng phủ mờ núi rừng chiến khu chiều thu ấy in đậm hồn người; hoài niệm càng trở nên mênh mang. Chữ câu trên bắt vần với chữ "thấy"câu dưới tạo nên một vần lưng giàu âm điệu, như một tiếng khẽ hỏi "có thấy"cất lên trong lòng. Hồn lau là hồn mùa thu. Hoa lau nở trắng cờ, lá lau kêu xào xạc trong gió thu "nẻo bến bờ", nơi bờ sông bờ suối. Với tâm hồn thi sĩ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Châu Mộc qua cảnh sắc "chiều sương" và "hồn lau nẻo bến bờ". Những thi liệu ấy đã tạo nên vẻ đẹp cổ điển bức tranh suối rừng nơi miển đất lạ. Thấp thoáng trong vần thơ “Tây tiến” là những câu cổ thi tuyệt bút:Xem thêm: Tả cây hoa hồng"Sương đầu núi buổi chiều như dội,
Nước lòng khe nẻo suối còn sâu…”
(Chinh phụ ngâm)
Các thi sĩ xưa nay vẫn gọi hồn thu là hồn lau:
"Ngàn lau cười trong nắng
Hồn của mùa thu về
Hồn mùa thu sắp đi
Ngàn lau xao xác trắng".
(Lau mùa thu – Chế Lan Viên)
Điệp ngữ "có thấy" và "có nhớ" làm cho hoài niệm về chiều sương Châu Mộc thêm phần man mác, bâng khuâng. Nhớ cảnh rồi nhớ đến người. Trong chia phôi còn “có nhớ"."Có nhớ"con thuyền độc mộc và "dáng người” chèo thuyền độc mộc? "Có nhớ” hình ảnh "hoa đong đưa”trên dòng nước lũ? "Hoa đong đưa” có phải là hoa rừng "đong đưa" làm duyên trên dòng nước lũ như giáo sư Phan Cự Đệ đã nói? Hay "Hoa đong đưa"là hình ảnh ẩn dụ gợi tả các cô gái miền Tây xinh đẹp lái thuyền độc mộc duyên dáng, uyển chuyển như những bông hoa rừng đang "đong đưa" trên sông suối. Bài hát "Sơn nữ ca”của nhạc sĩ Trần Hoàn, “Nụ cười sơn cước” của nhạc sĩ Tô Hải cho ta cảm nhận ấy. Phải có "tay lái ra hoa" mói có thể “đong đưa” được như vậy.
Những dòng hồi tưởng trên đây về cảnh sắc và con người nơi suối rừng miền Tây, nơi cao nguyên Châu Mộc đã được thể hiện một cách tuyệt đẹp qua bút pháp tài hoa và hồn thơ lãng mạn. Thuở ấy, núi rừng Tây Bắc vô cùng hoang vu, là chốn rừng thiêng nước độc, nhưng Quang Dũng với tâm hồn lạc quan và yêu đời của một khách chinh phu thời đại mới đã cảm nhận và phát hiện bao vẻ đẹp thơ mộng, xinh tươi của cảnh sắc thiên nhiên và con người Tây Bắc.Hoài niệm, kỉ niệm về chiến trường núi rừng miền Tây như được chắt lọc qua tâm hồ. Nhà thơ có gắn bó với cảnh vật và con người Tây Bắc, có vào sinh ra tử với đồng đội mới có kỉ niệm đẹp và sâu sắc như vậy, mới có thể viết nên những vần thơ sáng giá như thế.Xem thêm: Tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố và truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao đều viết về người nông dân nghèo trong xã hội cũ. Anh (chị) hãy phân tích truyện Chí Phèo trong sự đối sánh với Tắt đèn để thấy được sự độc đáo, mới mẻ về hiện thực của ngòi bút ông Bức tranh chiều sương Châu Mộc và hội đuốc hoa như một bức tranh sơn mài của một danh hoạ mang vẻ đẹp màu sắc cổ điển và lãng mạn kết hợp hài hòa với tính thời đại và hiện đại trong máu lửa chiến tranh.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng_ “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa (…) Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” | 1,237 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tây tiến” của Quang Dũng: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc (…)Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Gợi ý
"Tây Tiến" là bài thơ hay nhất của Quang Dũng cũng là một trong những bài thơ tuyệt bút viết về "anh bộ đội Cụ Hồ" trong kháng chiến chống Pháp. Quang Dũng là nhà thơ – chiến sĩ, vừa cầm súng đánh giặc, vừa làm thơ. Ông viết về đồng đội, về đoàn binh Tây Tiến thân yêu của mình. Thơ của Quang Dũng nóng bỏng hào khí chiến trường.
Sau một thời gian xa đơn vị và đồng đội, ông viết bài thơ Tây tiến này vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một địa điểm bên bờ sông Đáy hiền hòa. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nổi nhớ và niềm tự hào đối với đoàn binh Tầy Tiến, đối với con sông Mã và núi rừng miền Tây xa xôi. Đó là nỗi nhớ “chơi vơi” bao kỉ niệm đẹp và cảm động một thời trận mạc đầy gian khổ, hi sinh. Đây là đoạn thơ thứ 3 trong bài "Tây Tiến", đã khắc hoạ khí phách anh hùng và tâm hồn lãng mạn của người chiến sĩ trong máu lửa:
Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc
(…) Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Trên những nẻo đường hành quân chiến đấu, vượt qua bao núi cao dốc thẳm "Heo hút cồn mây súng ngửi trời", đoàn binh Tây Tiến hiện ra giữa màu xanh của núi rừng trùng điệp, vừa kiêu hùng vừa cảm động. Người chiến binh với quân trang màu xanh của lá rừng, với nước da xanh phong sương vì sốt rét rừng, thiếu thuốc men, lương thực: “không mọc tóc". Câu thơ trần trụi như hiện thực chiến tranh những năm đầu kháng chiến vốn thế. "Không mọc tóc" là hình ảnh phản ánh cái khốc liệt của chiến trường:
“Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Cái hình hài không lấy gì làm đẹp: "quân màu lá ", “không mọc tóc" tương phản với "dữ oai hùm" là một nét chạm khắc tài tình làm nổi bật chí khí hiên ngang, tinh thần quả cảm xung trận của các chiến binh Tây Tiến từng làm cho quân giặc phải khiếp sợ. "Dữ oai hùm" là một hình ảnh ẩn dụ nói lên chí khí người lính mang tính kế thừa và sáng tạo của Quang Dũng. Các chiến binh ”Sát Thát” đời Trần: “Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói” (Trương Hán Siêu). Nghĩa quân Lam Sơn xung trận trong khí thế “bình Ngô”: “Sĩ tốt kén tay tì hổ – Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh”(Bình Ngô cáo)— Một dân tộc anh hùng trên trận tuyến đánh quân thù thời đại nào cũng có những chiến sĩ "tì hổ” và “dữ oai hùm” như thế đó! Với niềm tự hào, Quang Dũng đã viết nên một câu thơ rất hay: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”, lấy cái "thô", cái "mộc"để tô đậm cái đẹp, cái dũng khí ẩn chứa trong tâm hồn người chiến sĩ.Xem thêm: Phân tích hình tượng Cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Gian khổ, ác liệt, thiếu thốn, bệnh tật… muôn lần khó khăn, thử thách nhưng họ vẫn có những giấc "mơ", giấc "mộng" rất đẹp:
"Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Mộng và mơ gửi vé hai phía chân trời: biên giới và Hà Nội, nơi còn đầy bóng giặc. "Mắt trừng" – hình ảnh gợi tả nét dữ dội, oai phong lẫm liệt, tinh thần cảnh giác, tỉnh táo của người lính trong khói lửa ác liệt. "Mộng qua biên giới”- mộng tiêu diệt quân thù, bảo vệ biên cương, lập nên bao chiến công nêu cao truyền thống anh hùng của đoàn binh Tây Tiến. Lại có những giấc mơ đẹp. Chiến sĩ Tây Tiến vốn là những học sinh, sinh viên, những chàng trai Hà thành "xếp bút nghiên theo việc đao, cung”, giàu lòng yêu nước, phong độ hào hoa: "Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long" (Huỳnh Văn Nghệ), Sống giữa núi rừng miền Tây, gian khổ, ác liệt, cái chết bủa vây, lửa đạn mịt mù, nhưng các anh vẫn mơ về Hà Nội. Quên sao được những hàng me, hàng sấu, những phố cũ, trường xưa, "Những xao xác hơi may"?… Quên sao được những tà áo trắng, những thiếu nữ thương yêu, những "dáng kiều thơm" từng hò hẹn. Hình ảnh "dáng kiều thơm” trong câu thơ của Quang Dũng đem đến cho người đọc nhiều thú vị: ngôn từ vốn có trong thơ lãng mạn thời "tiền chiến"nhưng dưới ngòi bút nhà thơ – chiến sĩ nó trở nên có hồn, đặc tả chất lính hào hoa, trẻ trung, lãng mạn của người lính trẻ đoàn binh Tây Tiến trong trận mạc.
Nếu người nông dân mặc áo lính trong thơ Chính Hữu mang theo nỗi nhớ "giếng nước gốc đa",nhớ mái nhà gianh, nhơ ruộng nương…; trong thơ Hồng Nguyên là nỗi nhớ "người vợ trẻ – Mòn chân bên cối gao canh khuya”,… thì người chiến sĩ trong thơ Quang Dũng, nỗi nhớ gắn liền với "mộng”và “mơ”. Mộng lập chiến công, mơ “dáng kiểu thơm”, Hữu Loan trong bài thơ "Màu tím hoa sim” cũng viết rất hay về nỗi nhớ của người lính chống Pháp:Xem thêm: Phân tích nhân vật cô Hiền trong truyện “Một người Hà Nội” của nhà văn Nguyễn Khải.. "Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến tranh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê…”
Viết về "mộng”và "mơ" của người chiến binh Tây Tiến, Quang Dũng đã ca ngợi tinh thần lạc quan yêu đời của đồng đội. Đó là một nét khám phá của nhà thơ khi vẽ chân dung "anh bộ đội Cụ Hồ" xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong chín năm kháng chiến chống Pháp.
Bốn câu thơ tiếp theo là những nét vẽ bổ trợ, tô đậm bức chân dung người lính:
"Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Trong gian khổ và chiến trận, bao đồng đội đã ngã xuống trên chiến trường miền Tây. Họ nằm lại nơi chân đèo góc núi. Nấm mồ người chiến sĩ “rải rác biên cương”. Câu thơ để lại trong lòng ta nhiều thương cảm, biết ơn, tự hào: “Rải rác cương mồ viễn xứ".Nếu tách câu thơ trên ra khỏi đoạn thơ thì nó tựa như bức tranh xám lạnh, ảm đạm và hiu hắt, đem đến nhiều xót thương. Nhưng nằm trong văn cảnh, đoạn mạch, câu thơ tiếp theo: "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã nâng cao chí khí và tầm vóc người lính. Các anh đã ra trận vì một lí tưởng rất đẹp.”Đời xanh” là đời trai trẻ, là tuổi thanh xuân của "Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…”, những học sinh, sinh viên Hà Nội. Họ lên đường đầu quân vì nghĩa lớn của chí khí làm trai. Họ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Câu thơ "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” vang lên như một lời thề thiêng liêng, cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Anh bộ đội cũng như nhân dân ta đã đứng lên kháng chiến với quyết tâm sắt đá: "Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".Quang Dũng ghi lại cảnh tượng bi tráng giữa chiến trường miền Tây thuở ấy:Xem thêm: Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân"Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành".
Các tráng sĩ ngày xưa giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh. Các chiến sĩ Tây Tiến với chiếc chiếu đơn sơ, với tấm "áo bào" bình dị ấy: "anh về đất". Một cái chết nhẹ nhàng, thanh thản. Anh ra trận giết giặc vì quê hương. Anh ngã xuống là: "về đất", nằm trong lòng Mẹ Tổ quốc thân yêu. Nhà thơ không dùng từ "chết",từ "hi sinh"mà lấy cụm từ "về đất" để ca ngợi sự hi sinh cao cả mà bình dị, thầm lặng mà thanh thản, nhẹ nhàng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Người chiến binh Tây Tiến đã sống và chiến đấu cho quê hương, đã chết vì đất nước quê hương. “Anh về đất" bằng tất cả tấm lòng chung thủy của người chiến sĩ. Tiếng thác sông Mã "gầm lên" giữa núi rừng miền Tây như tiếng kèn trong bài “chiêu hồn liệt sĩ” tống tiễn linh hồn liệt sĩ về nơi an giấc ngàn thu. Câu "Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là một câu thơ hay vì gợi tả được không khí thiêng liêng, trang trọng, đồng thời tạo nên âm điệu trầm hùng, thương tiếc. Phong cách ngôn ngữ của Quang Dũng rất đặc sắc, bên cạnh những từ ngữ bình dị đời lính như: gục, không mọc tóc, dữ, trừng, về đất, chiếu, gầm lên… lại có một số từ Hán Việt như: mộng, mơ, biên giới, dáng kiều, viễn xứ, áo bào, khúc độc hành – nhờ đó mà cái bình dị làm nổi bật cái cao cả thiêng liêng, cái bình thường tô đậm cái anh hùng, vĩ đại. Chất bi tráng và màu sắc lãng mạn từ vần thơ tỏa rộng trong không gian và chiếu dài lịch sử.
Đoạn thơ viết về chân dung người lính trong bài thơ "Tây Tiến" là đoạn thơ độc đáo nhất. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được nhà thơ kết hợp vận dụng sáng tao trong miêu tả và biểu lộ cảm xúc, tạo nên những câu thơ “có hồn". Người lính đã sống anh dũng, chết vẻ vang. Hình tượng người chiến sĩ Tây tiến mãi mãi là một tượng đài nghệ thuật bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc.
"Anh Vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh thế!”
(Cá nước- 1947, Tố Hữu)
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tây tiến” của Quang Dũng_ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc (…)Sông Mã gầm lên khúc độc hành” | 1,743 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi: “Mùa thu nay khác rồi… vọng nói về”
Gợi ý
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đích thực tài hoa và giàu sáng tạo. Trên các lĩnh vực văn xuôi, thơ, nhạc, kịch bản văn học, lí luận phê bình,… ông đều có thành tựu đáng tự hào. Thơ Nguyễn Đình Thi có bản sắc riêng, có những tìm tòi về hình ảnh và ngôn từ. Thơ ông giàu cảm xúc khi viết về đất nước trong chiến tranh.
Bài thơ "Đất nước" trích trong tập thơ "Người chiến sĩ”, nó được thai nghén và hình thành trong một thời gian khá dài từ năm 1948-1955. Từ thực tiễn lịch sử và sự sống còn của dân tộc, nhà thơ suy ngẫm về đất nước.
Đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về cảm hứng quê hương đất nước của nền thơ ca Việt Nam hiện đại.
Biểu lộ niềm vui phơi phới của người chiến sĩ cầm súng đánh giặc bảo vệ quê hương, thể hiện tình yêu và lòng tự hào vể đất nước với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và truyền thống anh hùng của dân tộc, Nguyễn Đình Thi đã viết:
… "Mùa thu nay khác rồi
………………..
Những buổi ngày xưa vọng nói về”
Cảm hứng yêu nước, tự hào dâng lên dào dạt trong tâm hồn nhà thơ, trong tâm hồn những người chiến sĩ "đã đứng lên thành những anh hùng”. Người chiến sĩ đã ra đi từ mùa thu ấy, khi "Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng” (Chính Hữu), giã từ phố cũ thân yêu, dấn thân vào lửa máu.
Đối lập với "những ngày thu đã xa" đẹp mà buồn, là "Mùa thu nay khác rồi". Nhà thơ reo lên sung sướng tự hào, một niềm vui phơi phới dâng trào. Đứng giữa núi đồi chiến khu, say mê ngắm đất trời. Thiên nhiên bao la tươi đẹp như xôn xao niềm vui với con người. Bốn chữ “thôi đứng vui nghe" thể hiện một tư thế, một dáng đứng kiêu hãnh tuyệt vời. Con người chan hòa cùng cây cỏ và say đắm trong màu sắc quê hương. Ngọn gió mát lành mùa thu quyện “hương cốm mới" như hát cùng đất nước. Hình ảnh "rừng tre phấp phới” diễn tả thật hay sức sống mãnh liệt của đất trời quê hương:
"Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồiXem thêm: Phân tích nhân vật A Phủ trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết) Gió thổi rừng tre phấp phới…”
Mùa thu lại về với đất nước và con người trong sắc màu tươi sáng: "Mùa thay áo mới – Trong biếc nói cười thiết tha". Bao trùm đất nước là cả một không gian bao la, một thiên nhiên đẹp hữu tình được nhân hóa, gắn bó hòa hợp với con người. Con người kháng chiến với khát vọng tự do, nên tầm nhìn cũng cao xa, mênh mông. Có lẽ vì thế, nhà thơ đặc biệt chú ý đến bầu trời. Năm lần nhà thơ nói đến bầu trời, mỗi lần có một cách nói, cách cảm nhận đầy khám phá:
– "Trời thu thay áo mới”
– "Trời xanh đây là của chúng ta
– "Trời đầy chim và đất đầy hoa".
– "Dây thép gai đâm nát trời chiều”
– "Trán cháy rực nghĩ trời đất mới".
Cái khác của mùa thu nay được diễn tả qua vần điệu náo nức, xôn xao, được đặc tả qua hình ảnh sống động, tươi mát: "Gió thổi rừng tre phấp phới” được thể hiện ở ánh mắt, nụ cười: "Trong biếc nói cười thiết tha”. “Biếc” ở trời xanh, "biếc" ở con mắt những chàng trai, cô gái đang say mê ngắm trời thu thời máu lửa.
Nguyên nhân của niềm vui ấy thật sâu xa, rộng lớn. Cách mạng thành công, nhân dân đã và đang đem tài năng và xương máu để giữ gìn và xây dựng đất nước. Đất nước là của nhân dân. Nguyến Đình Thi như reo lên, hát lên niềm hạnh phúc tột cùng cửa những con người đang làm chủ đất nước:
"Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta,
Những cánh đồng thơm mái,
Những ngả đường bát ngát,
Những dòng sông đỏ nặng phù sa”
Một lối nói khẳng định: "của chủng ta" vang lên đĩnh đạc, tự hào. Một dân tộc đã gan góc đứng lên đánh Pháp mới có tiếng nói hào hùng ấy. Tất cả những gì cao quý, thiêng liêng trên đất nước thân yêu này là "của chúng ta”, của nhân dân chúng ta. Sau những đêm dài nô lệ, nước nhà độc lập, nhân dân ta mới có niềm vui tự hào mênh mông ấy. Khát vọng làm chủ đất nước với tất cả niềm tự hào là của bao thế hệ con người Việt Nam trong suốt bốn nghìn năm lịch sử: “Của ta, trời đất, đêm ngày – Núi kia đồi nọ, sông này của ta!” ("Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”- Tố Hữu). Với nghệ thuật diễn tả trùng điệp, với cách liệt kê, sử dụng điệp từ điệp ngữ (của chúng ta… đây là… những) tác giả đã tạo nên giọng thơ lôi cuốn, hấp dẫn mang âm điệu anh hùng ca.Xem thêm: Trình bày những nét chính trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân Dáng hình đất nước trong thơ Nguyễn Đình Thi hiện lên sống động qua những vần thơ tráng lệ. Nhà thơ như đang ngước mắt và chỉ tay về “trời xanh” và “núi rừng”,…mà reo lên sung sướng. Có tình yêu nào lớn hơn tình yêu đất nước? Đất nước bao la, hùng vĩ với trời cao biển rộng, sông dài,… trở nên thân thiết, thiêng liêng. Đất nước với những cánh đồng quê mênh mông thẳng cánh cò bay, "thơm mát" hương lúa bốn mùa. Đất nước với những nẻo đường tự do, những dặm đường kháng chiến "bát ngát" đến mọi chân trời. Đất nước với những dòng sông – sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Mã, Cửu Long Giang,… "đỏ nặng phù sa", bồi đắp nên những cánh đồng màu mỡ, nuôi sống nhân dân ta tự bao đời nay. Các tính từ: “xanh”, “thơm ngát”, “bát ngát”, “đỏ nặng",… cực tả vẻ đẹp và sự bền vững đất nước, đồng thời cho thấy ngòi bút thơ tài hoa, điêu luyện của Nguyễn Đình Thi trong lựa chọn ngôn từ để hình tượng hóa vần thơ, tạo nên sắc điệu trữ tình đằm thắm.
"Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi"(Tố Hữu), cảm xúc dào dạt ấy về đất nước cứ ngân nga mãi trong lòng chúng ta khi tiếp cận và cảm thụ những vần thơ của tác giả "Người chiến sĩ" nói về dáng hình đất nước.
So với lớp nhà thơ đương thời, Nguyễn Đình Thi là nhà thơ có cái nhìn mới mẻ, sâu sắc về đất nước. Cảm hứng lịch sử và truyền thống được kết hợp nhuần nhuyễn với cảm hứng thời đại. Chí khí quật cường của tổ tiên từ nghìn xưa như đem đến cho nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh một sức mạnh vô biên mà không một thế lực thù địch bạo tàn nào có thể khuất phục được:
"Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất,
Những buổi ngày xưa vọng nói về”
Ba chữ "nước chúng ta" là sự khẳng định ý chí tự cường, niềm tự tôn dân tộc. Đất nước và dân tộc với lưỡi cày, thanh gươm và chiếc gộc tre "chưa bao giờ chịu khuất”. "Những buổi ngày xưa" mà nhà thơ nhắc đến là những năm tháng đau thương và vinh quang của giống nòi. Quên sao được ngày Bà Trưng, Bà Triệu xuất quân, khi Lý Thường Kiệt viết "Nam quốc sơn hà" trên chiến tuyến sông Cầu – Như Nguyệt, khi Trần Quốc Tuấn bắt sống Ô Mã Nhi trên Bạch Đằng Giang, khi Liễu Thăng bị quân ta chém đầu tại Chi Lăng, khi Tôn Sĩ Nghị quăng cả ấn tín, triều phục chạy tháo thân qua biên giới,… Nhân dân mãi mãi tự hào về "những buổi ngày xưa” ấy:Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau: "Trong anh và em hôm nay... Làm nên Đất Nước muôn đời" của Nguyễn Khoa Điềm… "Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên sóng Bạch Đằng".
("Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng" – Chế Lan Viên)
Hai chữ " đêm đêm" nói lên tính liên tục dòng chảy lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc. Từ láy “rì rẩm" như một nốt nhạc trầm hùng vang xa trong bài ca Tổ quốc, nó gợi tả cái mạch ngầm của giang sơn, giống nòi, đó là truyền thống anh hùng bất khuất chống xâm lăng. Biên độ câu thơ mở, khép tài tình, lúc rút ngắn lại 3 từ, lúc duỗi dài ra 8 từ, các câu lục ngôn, thất ngôn đan chéo vào nhau, cài chặt vào nhau làm nên tính nhạc phong phú. Cảm xúc dào dạt, âm hưởng hào hùng, ngôn ngữ đẹp và tinh tế. Song song với chuỗi hình ảnh về dáng hỉnh đất nước là sự phát triển của chuỗi liên tưởng vế quá khứ hào hung, về sức mạnh Việt Nam.
Đoạn thơ trên đây tiêu biểu cho vẻ đẹp và cốt cách thơ Nguyễn Đình Thi. Một hồn thơ tài hoa, bay bổng. Một tình yêu nước sâu nặng và thiết tha. Một đất nước đẹp tươi, hùng vĩ, giàu tiềm năng và tiềm lực, một dân tộc anh hùng được nhà thơ nói đến và ca ngợi. Chiều dài của lịch sử, tầm cao của dân tộc, thế đứng bất khuất của con người Việt Nam là những điều tốt đẹp nhất được thể hiện qua đoạn thơ này mà ta cảm nhận được một cách sâu sắc. "Đất nước", bài thơ làm rung động tâm hồn chúng ta…, như "lắng hồn núi sông ngàn năm..".
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi_ “Mùa thu nay khác rồi… vọng nói về” | 1,704 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi: “Sáng mát trong như sáng năm xưa… Những dòng sông đỏ nặng phù sa”
Gợi ý
“Đất nước” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Nguyễn Đình Thi, thể hiện tập trung cảm hứng về đất nước của tác giả. Đoạn trích này là phần hay nhất, tinh tế nhất, độc đáo nhất của bài thơ. Thật vậy, bài thơ được nung nấu và sáng tác trong một khoảng thời gian dài: bảy năm, từ năm 1948 đến năm 1955. 21 dòng đầu trong đoạn trích này chủ yếu lấy từ các đoạn trong bài thơ “ Sáng mát trong như sáng năm xưa” viết năm 1948 và bài "Đêm mít tinh” viết năm 1949. 28 dòng còn lại gồm 7 khổ, mỗi khổ 4 dòng viết năm 1955, tuy vẫn có những câu hay nhưng vẫn có những lời kể lể, ý thơ không thật sâu sắc, mặc dù vẫn thống nhất trong cảm hứng chung.
Đoạn thơ này gồm ba đoạn nhỏ. 7 dòng đầu hoài niệm về những ngày thu đã xa, 5 dòng tiếp theo nói về mùa thu nay, và 9 dòng còn lại là cơn trào dâng của tình cảm yêu nước.
Bài thơ mở đầu bằng một cảm xúc mùa thu trong sáng, nồng nàn, đầy sức sống:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới.
Trời thu trong sáng, gió thu mát dịu, và thoang thoảng đâu đây hương cốm mới, hương vị đặc trưng của quê hương Việt Nam, của Hà Nội.
Từ niềm vui bất ngờ chuyển sang hoài niệm về Hà Nội:
Tôi nhớ những ngày thu đã xa Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh “Mặt trời chân lí chói qua tim” trong bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Không rõ cái sáng mát trong của năm xưa là sáng nào, nhưng cái sáng sớm chớm lạnh của những ngày thu đã xa này là sáng ra đi rời xa Hà Nội. Nhà thơ nhớ như in hình ảnh Hà Nội những sáng sớm tinh mơ đầu thu. Phố như dài thêm vì chưa có người lại qua, gió thổi lá khô xao xác trên đường, làm tăng thêm không khí heo may. Người ra đi có một cử chỉ dứt khoát không quyến luyến, để lại đằng sau “thềm nắng lá rơi đầy”. Đây là hình ảnh ấn tượng trong kí ức, không theo trật tự chặt chẽ của thời gian, những hình ảnh dổn nén, đa nghĩa, gợi ra nhiều hướng cảm nhận. Một mặt, đây là những hình ảnh rất chân thực về ngày thu Hà Nội, không bao giờ quên: phố dài, xao xác hơi may, thềm nắng lá rơi đầy, những đường nét thân yêu, gần gũi và có cái gì đó xót xa. Nhưng mặt khác, tác giả có cảm xúc rất buồn về mùa thu, nhìn Hà Nội chỉ thấy hiu hắt, lạnh lẽo, rơi rụng.
Đoạn hoài niệm này không phải hoài cổ, bởi nó đóng vai trò tương phản, đối sánh cho cảnh “Mùa thu nay khác rồi”, một tứ đối lập xưa nay để khẳng định hiện tại khá quen thuộc với thơ ca cách mạng.
Tuy vậy hình ảnh “mùa thu nay” của Nguyên Đình Thi là một hình ảnh khá độc đáo:
Mùa thu nay khác rồiXem thêm: Giáo dục thay đổi số phận của cá nhân, thậm chí số phận của một dân tộc
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.
Một mùa thu trung du, núi đồi, rừng tre. Kể ra nếu hiểu so sánh mùa thu xưa Hà với mùa thu nay trung du khác rồi thì không khỏi khập khiễng, nhưng đây là so sánh cảm xúc mùa thu của tác giả đã thay đổi. Mùa thu xưa, nhà thơ nhìn Hà Nội chỉ thấy heo hút, lạnh lẽo rơi rụng, mùa thu này nhìn vào đâu cũng thấy vui reo, xôn xao, phấp phới, nói cười thiết tha. Cả mùa thu được ẩn dụ, nhân hoá với trời thu thay áo mới, rừng tre phấp phới niềm vui, cả trời thu trong xanh như nói cười. Đây vẫn là hình ảnh quen thuộc kiểu Nguyễn Đình Thi, hoà lẫn thực và ảo.
Nếu đoạn 1 thiên về hoài niệm, đoạn 2 nghiêng về cảm xúc thì đoạn 3 tiếp theo là dòng cảm xúc dào dạt với những câu khẳng định, câu trùng điệp. Cảm xúc sung sướng, tự hào của người làm chủ như muốn nói to lên vật sở hữu của mình. Những câu thơ bảy chữ được tổ chức dõng dạc như lời tuyên bố đanh thép:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta.
Những chữ “đây” như nói về một cái gì rất cụ thể đã được nắm vững, chứ không phải cái gì xa xôi, trừu tượng, mơ hồ. Đất nước hiện lên với tất cả tính chất gợi cảm, đẹp tươi, thân yêu nhất:
Những cánh đồng thơm mát.
Những ngả đường bát ngát.
Những dòng sông đỏ nặng phù sa.Xem thêm: Viết một bức thư ngắn cho người thân kể những điều em biết về nông thôn Những trời xanh, núi rừng, cánh đồng, ngả đường, dòng sông tạo ra một hình ảnh đất nước rộng mở, bao la. Không giản đơn là liệt kê khô khan, mà là mở rộng các ấn tượng. Sau khi ôm trọn đất nước, nhà thơ như nghẹn lại trong một câu thơ ngắn: “Nước chúng ta” để rồi mở ra một hướng cảm xúc đất nước ở bề sâu lịch sử. Đây là đất nước trong tâm linh linh thiêng, thầm kín:
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về…
Tác giả vẫn tiếp tục các hình ảnh ấn tượng của mình, không kể lể dài dòng về lịch sử, địa danh, nhân danh, mà gợi đến tiếng nói rì rầm của cha ông, hồn thiêng đất nước.
Đoạn đầu bài Đất nước là một đoạn thơ hay, giàu cảm xúc và sức khái quát. Khởi đầu một bài thơ viết về đất nước bằng một hoài niệm mùa thu đã xa, mới nhìn có vẻ như là lạc đề, nhưng ngẫm lại, cũng có cái lí của nó. Đất nước vươn mình, đã đổi mới cảm nhận về mùa thu, và nhà thơ cũng từ đổi mới cảm nhận mùa thu mà khởi đầu cảm nhận về đất nước. Từ kỉ niệm riêng hoà vào niềm vui chung, từ niềm vui ấy khơi sâu niềm tự hào về đất nước.
Thật thú vị khi nghĩ rằng cùng với cách mạng mùa thu, bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi góp một tiếng thơ đổi mới cảm xúc mùa thu trong thơ ca dân tộc.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi_ “Sáng mát trong như sáng năm xưa… Những dòng sông đỏ nặng phù sa” | 1,176 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong bàỉ “Việt Bắc” của Tố Hữu: “Mình đi, có nhớ những ngày (…) Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”
Gợi ý
“Trên đường ta về lại thủ đô
Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ",
(Ta đi tới)
Sau hơn ba ngàn ngày khói lửa, thủ đô Hà Nội và miền Bắc hoàn toàn giải phóng (10-1954). Bài thơ “Việt Bắc" của Tố Hữu ra đời trong bối cảnh lịch sử hào hùng và vẻ vang ấy. Mang tầm vóc một trường ca, với 150 câu thơ lục bát, bài thơ ca ngợi mối tình Việt Bắc, những kỉ niệm sâu sắc cảm động của người cán bộ kháng chiến đối với Việt Bắc với bao ân tình thủy chung "15 năm ấy thiết tha mặn nồng”.
Phần mở đầu bài "Việt Bắc” gồm có 20 câu thơ, là lời đưa tiễn của kẻ ở lại đối với người về, của "ta" đối với "mình”, Đoạn thơ 8 câu dưới đây (từ câu 9 đến câu 16) nằm trong phần mở đầu bài thơ "Việt Bắc”:
… "Mình đi, có nhớ những ngày
…………………
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”…
Đoạn thơ đầy ắp kỉ niệm về Việt Bắc, "Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa", mà "ta" hỏi "mình đì, có nhớ”. Hai chủ thể trữ tình, là người ở lại, là đồng bào Việt Bắc, là cô gái Việt Bắc, đang hát lời tiễn đưa "tha thiết bên cồn”. “Mình” cũng là một chủ thể trữ tình phiếm chỉ, ước lệ, cùng với "ta" tạo nên một cặp nhân vật trong giao duyên, đưa tiễn, ở đây là người cán bộ kháng chiến về xuôi, trong đó có nhà thơ. Mỗi cặp lục bát nhắc lại một kỉ niệm về Việt Bắc. Những chi tiết nghệ thuật vừa cụ thể, vừa mang ý nghĩa tượng trưng giàu sắc thái biểu cảm.Xem thêm: Phân tích nhân vật cô Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải 1. Các câu lục trong đoạn thơ là những câu hỏi tu từ nối tiếp xuất hiện, như nhắc nhở, như gợi nhớ gợi thương: "Mình đi, có nhớ những ngày”…, “Mình về có nhớ chiến khu"…, "Mình về, rừng núi nhớ ai"…, "Mình đi, có nhớ những nhà”…Điệp ngữ “có nhớ” làm cho cảm xúc thơ lắng đọng, giọng thơ trở nên tha thiết bồn chồn, ngọt ngào sâu lắng. Hai tiếng "mình đi”và "mình về" được luân phiên giao hoán, chuyển đổi, một cách diễn đạt biến hóa, sinh động, có giá trị gợi lên cảnh tiễn đưa nhiều bâng khuâng, hình ảnh người cán bộ kháng chiến về xuôi mỗi lúc một đi xa dần, nhưng trong lòng vẫn mang theo tiếng hát và nỗi nhớ.
2. Các câu bát trong đoạn thơ đều được tạo thành hai vế tiểu đối 4/4 cân xứng hài hòa. Những kỉ niệm sâu sắc chứa chan ân tình ân nghĩa đối vói kẻ ở, người về được nhắc lại gợi lên bao nỗi niềm " bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi",..
Mình đi, có nhớ "Mưa nguồn suối lũ // những mây cùng mù" Cảnh mưa trắng nguồn, lũ ngập đầy suối, mây mù bao phủ núi rừng… là sự khắc nghiệt của thời tiết, của thiên nhiên Việt Bắc. Mưa, lũ, mây, mù còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những gian khổ, thử thách mà quân và dân ta phải trải qua trong những nãm dài máu lửa.Xem thêm: Em hãy tả lại cảnh sum họp của gia đình em vào một buổi tối
Mình về, có nhớ "Miếng cơm chấm muối // Mối thù nặng vai"? Tố Hữu đã lấy cái cụ thể "Miếng cơm chấm muối" để nói lên cái trừu tượng: gian khổ thiếu thốn. “Mối thù nặng vai" cũng là một hình ảnh cụ thể biểu cảm. Mối thù đối với quân xâm lược đè nặng đôi vai, luôn luôn nhắc nhở nuôi dưỡng ý chí chiến đấu để giải phóng đất nước, giành lại tự do, hòa bình cho nhân dân. Không bao giờ có thể quên ấy.
Hỏi núi rừng "nhớ ai", cũng là hỏi "mình về, có nhớ”. Nghẹ thuật nhân hóa và đại từ "ai” phiếm chỉ gợi lên bao man mác, bâng khuâng:
"Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng // măng mai để già".
Trám bùi, măng mai là nguồn lương thực vô tận của núi rừng Việt Bắc để nuôi bộ đội đánh giặc trong những tháng ngày gian khổ. Hương vị núi rừng ấy tượng trưng cho mối tình Việt Bắc sâu nặng ân nghĩa. Các từ ngữ: "để rụng”, “để già” thoáng chút bùi ngùi, cô đơn, thương nhớ.
Kỉ niêm thứ tư, ta hỏi "minh đi, có nhớ":
"Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám // đậm đà lòng son”
Hai câu thơ có hình ảnh tượng trưng và tương phản đặc sắc. "Những nhà” được nhà thơ nói đến là tất cả đồng bào các dân tộc Việt Bắc. "Hắt hiu lau xám" là cảnh hoang vu hoang vắng của núi rừng, biểu tượng cho sự nghèo đói, thiếu thốn vật chất. Tương phản với "hắt hiu lau xám" là "đậm đà lòng son", một hình ảnh ẩn dụ rất đẹp ca ngợi tấm lòng son sắt thủy chung. Câu thơ "Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son” là một câu thơ hay và đẹp. Đẹp ở hình tượng và hay vì giàu sắc thái biểu cảm. Qua thủ pháp tương phản, Tố Hữu ca ngợi đồng bào Việt Bắc tuy còn nghèo khổ, thiếu thốn nhưng giàu tình yêu nước, gắn bó thủy chung với cách mạng và kháng chiến.Xem thêm: Anh/ chị hiểu như thế nào về tâm sự của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn thơ sau: "Em ơi ... muôn đời” (Đất Nước - trích Mặt đường khát vọng, theo Văn học 12, tập một, tr.249, NXB Giáo dục - 2006) 3. Cùng với chữ "ta", chữ "mình" xuất hiện vói tần số cao trong bài “Việt Bắc” cũng như trong đoạn thơ này, đã tạo nên sắc điệu trữ tình thắm thiết, đậm đà tính dân tộc. Tố Hữu đã vận dụng cách nói và cách thể hiện tình cảm của dân gian trong ca dao, dân ca một cách sáng tạo. Tinh cảm cách mạng và kháng chiến, tình Việt Bắc, tình lưu luyến của lứa đối, của kẻ ở người về được diễn tả qua hai tiếng "mình – ta" ấy.
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Tố Hữu đã sống và hoạt động tại Việt Bắc đã cùng đống chí, đồng bào, bộ đội trải qua những tháng ngày gian khổ mà hào hùng, vinh quang. Lời đưa tiễn thiết tha, sâu lắng, bồi hồi trong lòng kẻ ở người về. Cảm xúc ấy là tiếng lòng của "mình – ta" cũng là tiếng lòng của nhà thơ.
"Thơ là tiếng lòng trang trải". "Việt Bắc" là tiếng lòng trang trải của người cán bộ kháng chiến với bao "ân tình thủy chung".
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong bàỉ “Việt Bắc” của Tố Hữu_ “Mình đi, có nhớ những ngày (…) Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son” | 1,176 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong chương “Đất Nước” (trích trường ca “Mặt đường khát vọng”) của Nguyễn Khoa Điềm: “Trong anh và em hôm nay(…) Làm nên Đất Nước muôn đời”
Gợi ý
"Mặt đường khát vọng" là trường ca độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, ra đời trong chiến tranh ác liệt thời chống Mĩ, tại chiến trường Bình – Trị – Thiên – một điểm nóng – trên chiến trường miền Nam vào năm 1971. Bài thơ đã truyền đến người đọc bao xúc động, tự hào về Đất Nước và Nhân Dân. Trong bài “Có một thời đại mới trong thi ca” Trần Mạnh Hảo viết:
"Vào đêm giao thừa Tết âm lịch 1973-1974, dưới rừng Phước Long, chúng tôi xúc động nghe trích đoạn Đất nước trích trong trường ca "Mặt đường khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm phát trên Đài phát thanh. Những suy nghĩ về đất nước, về dân tộc đã được nhà thơ hiện đại hóa bằng chất suy tư lắng đọng và cảm xúc mãnh liệt”.
"Đất Nước" – là chương V trong trường ca "Mặt đường khát vọng" dài 110 câu thơ (trong "Văn 12" chỉ trích 89 câu). Phần đầu (42 câu) là cảm nhận của nhà thơ trẻ về Đất Nước trong cội nguồn sâu xa văn hoá – lịch sử, và trong sự gắn bó thân thiết với đời sống hàng ngày của mỗi con người Việt Nam. Phần thứ hai (68-21=47 câu), cảm hứng chủ đạo về Đất Nước là sự ngợi ca, khẳng định tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân. Từ đó, nhà thơ nhận diện, phát hiện Đất Nước trên bình diện về địa lí, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tinh thần dân tộc – nền văn hiến Việt Nam. Vẻ đẹp độc đáo của chương V “Đất Nước” là tác giả vận dụng sáng tạo nhiều yếu tố văn hóa dân gian, tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục,.., cùng với cách diên đạt bình dị, hiện đại gây ấn tượng vừa gần gũi vừa mới mẻ cho người đọc.
13 câu thơ dưới đây trích trong phần đầu chương “Đất Nước” thể hiện cảm nhận: Đất Nước gắn bó thân thiết với mỗi con người Việt Nam:
"Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
(…)
Làm nên Đất Nước muôn đời”…
Trong chương V trường ca "Mặt đường khát vọng” hai từ Đất Nước và Nhân Dân đều được viết hoa, trở thành "mĩ tự” gợi lên không khí cao cả, thiêng liêng và biểu lộ cao độ cảm xúc yêu mến, tự hào về Đất Nước và Nhân Dân. Chủ thể trữ tình là “anh và em", giọng điệu tâm tình thổ lộ, sâu lắng, thiết tha, ngọt ngào. Cấu trúc đoạn thơ 13 câu thơ là cấu trúc tổng – phân – hợp mà ta cảm nhận được tính chất chính luận của ngòi bút thơ Nguyễn Khoa Điềm.
1. Hai câu thơ mở đoạn là sự thức nhận chân lí về cội nguồn, về truyền thống, về lịch sử,… Đất nước gần gũi và gắn bó thân thiết với với mọi người:
"Trong anh và em hôm nayXem thêm: Kể về dì của em và nghề nghiệp của dì Đều có một phần Đất Nước”.
Chỉ "một phần" nhỏ bé thôi, nhưng xiết bao gần gũi, gắn bó, yêu thương và tự hào. Từ khái niệm, ý niệm "mỗi công dân là một phần tử của cộng đồng, của Đất Nước” được diễn đạt một cách "mền hóa" qua tiếng nói tâm tình của lứa đôi, của "anh và em”
2. Bảy câu thơ tiếp theo mở rộng ý thơ trên từ đến từ “hai đứa” đến “mọi người”, từ “hôm nay" đến "mai sau":
"Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”
Ở phần trước, nhà thơ cảm nhận: "Đất là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm – Đất Nước là nơi ta hò hẹn – Đất Nước là em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm". Và "khi hai đứa cầm tay" thì một mái ấm, tổ ấm gia đinh đã xây dựng. Gia đình là "một phần"của Đất Nước. Chỉ có tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo nên sự "hài hòa, nồng thắm” với tình yêu quê hương Đất Nước. Đó là bản chất thống nhất trong tình cảm của thời đại mới. Ý tưởng ấy đã được Nguyễn Đình Thi thể hiện trong một tứ thơ sâu và đằm về nỗi "nhớ”:
"Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần…”
Từ tình yêu và hạnh phúc lứa đôi mà biết yêu gia đình, yêu quê hương, yêu đất nưởc, mới có thể có tình nghĩa sâu nặng. “Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm ”, mới tìm thấy đất nước quê hương cả trong niềm vui và nỗi đau của anh, của em, của bao lứa đôi khác:
"Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những lần trốn học bị đòn roi.
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt em tôi".
(Giang Nam)
Nói về cội nguổn của giòng giống, của dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm nhắc lại sự tích "Trăm trứng”; "Đất là nơi Chim về – Nước là Rồng ở – Lạc Long Quân và Âu Cơ – Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng – Những ai đã khuất – Những ai bây giờ..". Từ huyển thoại thiêng liêng ấy mới có ý thơ này:
"Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn”
Hai chữ "cầm tay" trong câu thơ "Khi hai đứa cầm tay" có nghĩa là giao duyên, là yêu thương. "Khi hai chúng ta cầm tay mọi người” là đoàn kết, là yêu thương đồng bào,… Mọi người có cầm tay nhau, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau mới có thể có hình ảnh "Đất Nước vẹn tròn, to lớn", mới có đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh Việt Nam. Từ "hài hòa, nồng thắm" đến "vẹn tròn, to lớn” là cả một bước phát triển và đi lên của lịch sử dân tộc và đất nước. Đất nước được cảm nhận là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Chỉ khi nào "ba cây chụm lại ", và chỉ khi nào “lá lành đùm lá rách”, "Người trong một nước phải thương nhau cùng” thì mới có hình ảnh đẹp đẽ, thiêng liêng "Đất Nước vẹn tròn,to lớn". Xem thêm: Viết một đoạn văn khoảng 4, 5 câu nói về hoa mai
Bốn câu thơ trên đây cấu tạo theo phép đối xứng về ngôn từ: “Khi hai đứa cầm tay"… "Khi chúng ta cầm tay mọi người", “Đất nước hài hòa nồng thắm”…"Đất Nước vẹn tròn, to lớn". Cách diễn đạt uyển chuyển, sinh động ấy có ý nghía thẩm mĩ sâu sắc: hình thức này thể hiện nội dung ấy, nội dung ấy được diễn đạt bằng hình thức này. Phép đối xứng làm cho thơ liền mạch, hài hòa, gắn bó, thế hiện rõ ý thơ: tình yêu lứa đôi, tổ ấm hạnh phúc, gia đình, tình yẽu quê hương đất nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc là những tình cảm đẹp, làm nên truyền thống “yêu nước, yêu nhà, yêu người” và đó là sức mạnh Việt Nam.
Đất Nước "nguồn thiêng ông cha", Đất Nước "Trong anh và em hôm nay", Đất Nước trong mai sau. Như một nhắn nhủ, như một kì vọng sáng ngời niềm tin:
"Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng”
Những Nguyễn Thi, Anh Đức, Lê Anh Xuân, Sơn Nam… đã tạo nên giọng điệu Nam Bộ hấp dẫn trong thơ ca và truyện của mình. Ngay Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải,… cũng có một giọng điệu "rất Huế” dễ thương dịu ngọt. Hai tiếng “mai này" là cách nói của bà con xứ Huế.
Thế hệ con cháu mai sau sẽ tiếp bước ông cha "Gánh vác phần người đi trước để lại" xây dựng đất nước ta "Vạn cổ thử giang sơn” (Trần Quang Khải), “To đẹp hơn, đàng hoàng hơn "(Hồ Chí Minh). Hai chữ biểu lộ một niềm tin về trí tuệ và bản lĩnh nhân dân trên hành trình lịch sử đi tới ngày mai tươi sáng. Nghĩa là rất đẹp ngoài trí tưởng tượng về một Việt Nam cường thịnh, một cường quốc văn minh. Điều mà "anh và em", mỗi người chúng ta mơ mộng hôm nay, sẽ biến thành hiện thực "mai này" gần.
Bốn câu thơ cuối đoạn cảm xúc dâng lên thành cao trào. Giọng thơ trở nên ngọt ngào say đắm khi nhà thơ nói lên những suy nghĩ sâu sắc, đẹp đẽ của mình:
"Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời”
"Em ơi em" – một tiếng gọi yêu thương, giãi bày và san sẻ bao niềm vui sướng đang dâng lên trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về Đất Nước: "Đất Nước là máu xương của mình". Đất Nước là huyết hệ, là thân thể ruột thịt thân yêu của mình, là mồ hôi xương máu của tổ tiên, ông cha của dân tộc ngàn đời. Vì “Đất Nước là máu xương của mình" nên Trần Vàng Sao đã viết:
"Nuôi lớn người từ ngày mở đất,
Bốn ngàn năm nằm gai nếm mậtXem thêm: Phân tích Nội dung và nghệ thuật châm biếm, đả kích trong truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc Một tấc lòng cũng đẩy hồn Thánh Gióng”
(" Bài thơ của một người yêu nước mình” 19/12/1967)
Với Nguyễn Khoa Điẻm thì "gắn bó", "san sẻ” là những biểu hiện của tình yêu nước, là ý thức, là nghĩa vụ cao cả và thiêng liêng. “Phải biết gắn bó và san sẻ… phải biết hóa thân…" thì mới có thể “Làm nên Đất Nước muôn đời”. Điệp ngữ "phải biết" như một mênh lệnh phát ra từ con tim, làm cho giọng thơ mạnh mẽ, chấn động. Có biết trường ca "Mặt dường khát vọng" ra đời tại một nơi nóng bỏng, ác liệt nhất của thời chiến tranh chống Mĩ thì mới cảm nhận được các từ ngữ: “gắn bó", "san sẻ", "hóa thân" là tiếng nói tâm huyết "mang sức mạnh ý chí và khát vọng vượt ra ngoài giới hạn thông tin của ngôn từ" như một nhà ngôn ngữ học lừng danh đã nói.
Trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến, đề tài quê hương đất nước được tô đậm bằng nhiều bài thơ kiệt tác, những đoạn thơ hay, những câu thơ tuyệt cú. Cảm hứng về đất nước được diễn tả bằng nhiều tứ thơ độc đáo, mang phong cách sáng tạo riêng cửa mỗi nhà thơ. Chất trữ tình thấm đẫm dư ba. Đất nước trong máu lửa mới mang cảm xúc sâu nặng thế. Đây là tiếng nói ở hai đầu đất nước:
"Tôi yêu đất nước này chân thật
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi
Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi
Và yêu tôi đã biết làm người
Cứ trông đất nước mình thống nhất".
(Trần Vàng Sao)
"Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi! Tổ quốc, nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông".
(Chế Lan Viên)
Trở lại đoạn thơ trên đây của Nguyễn Khoa Điềm. Tứ thơ rất đẹp. Đất Nước thân thương gắn bó với mọi người. Phải biết hiến dâng cho "Đất Nước muôn đời". Đoạn thơ đẹp còn vì sáng ngời niềm tin về tương lai Đất Nước và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Đoạn thơ mang tính chính luận, chất trữ tình hàm ẩn tính công dân của thời đại mới. Giọng thơ tâm tình, dịu ngọt, tứ thơ dạt dào cảm xúc, sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh, thể hiện một hồn thơ giàu chất suy tư, khẳng định một thi pháp độc đáo, có nhiều mới mẻ tìm tòi.
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình…” – một tứ thơ rất đẹp! Một tứ thơ lung linh mang vẻ đẹp trí tuệ! Lúc hòa bình phải biết đem “trí lực" để xây dựng Đất Nước, " làm nên Đất Nước muôn đời”, Đất Nước “to đẹp hơn đàng hoàng hơn”. Lúc có chiến tranh phải đem xương máu để bảo toàn Sông Núi. “Gắn bó, san sẻ, hóa thân” cho Đất Nước, ấy là nghĩa vụ cao cả thiêng liêng, ấy là tình yêu Đất Nước của “anh và em" hôm nay, của thế hệ Việt Nam "Mai này con ta lớn lên"…
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong chương “Đất Nước” (trích trường ca “Mặt đường khát vọng”) của Nguyễn Khoa Điềm_ “Trong anh và em hôm nay(…) Làm nên Đất Nước muôn đời” | 2,140 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm: “Đất là nơi em đến trường… Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”
Gợi ý
Đất Nước là chương năm của trường ca Mặt đường khát vọng mà Nguyễn Khoa Điềm đã viết ở chiến khu Trị Thiên trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Qua phần thơ này có thể thấy được những cảm nhận tinh tế của nhà thơ về đất nước trong chiều sâu cảm xúc suy nghĩ và trong sự gắn bó thân thiết với cuộc đời mỗi người. Đặc biệt là đoạn trích:
Đất là nơi em đến trường.
…
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng.
Đã thể hiện tập trung những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ khi thể hiện những khám phá mới mẻ về đất nước mình.
Tiếp nối những suy nghĩ về đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã táo bạo khi đưa ra định nghĩa về Đất Nước được tạo thành bởi hai yếu tố thời gian và không gian. Đó chính là đất và nước. Khi đi vào tìm hiểu, chính tư duy nghệ thuật của nhà thơ đã dẫn đến những liên tưởng bất ngơ khi ông định nghĩa về đất nước:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất gắn liền với những kỉ niệm thời thơ ấu của anh, gắn liền với con đương hàng ngày đến trường với bao trò chơi, bao lần đùa nghịch cùng bạn bè. Còn nước là nơi em tắm. Nó cũng gắn với kỉ niệm tuổi thơ em, một kỉ niệm êm dịu và nhẹ nhàng như những dòng sông em thường tắm mát. Những kỉ niệm ấy, tất cả hợp lại thành đất nước, thành nơi ta hò hẹn. Khi cả anh và em cũng trưởng thành, tình yêu kết dính giữa anh và em thành một mối khăng khít, không tách rời. Và đến đây, đất nước không còn tách riêng mà hòa hợp với nhau. Và điểm hẹn hò giữa anh và em cũng chính là ở bắt đầu của tình yêu đất nước. Tình yêu cá nhân, tình yêu thiêng liêng giữa anh và em đã to lớn và nó hòa vào tình yêu đất nước. Hay đất nước bắt nguồn từ tình yêu nam nữ. Tiếp tục mạch thơ ấy, Nguyễn Khoa Điềm đi đến khẳng định Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm. Nỗi nhớ thầm kín, da diết của em, nỗi nhớ ấy đã gắn kết tình yêu anh và em, nỗi nhớ cũng nuôi lớn tình yêu hai chúng ta và nỗi nhớ ấy cũng hòa vào đất nước, gắn kết đất nước lại thành một mối khăng khít, bền chặt. Có nỗi nhớ tình yêu, có nỗi nhớ đất nước. Xem thêm: Cảm nghĩ của anh (chị) về vẻ đẹp của nhân vật Đăm Săn qua đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây Nguyễn Khoa Điềm đã đưa khái niệm đất nước từ sự kết hợp của tình cảm cá nhân nam nữ riêng tư, từ sự tách riêng để đi đến cái khái quát, nâng lên rộng hơn:
Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông mong nước biển khơi”
Từ tình cảm riêng tư, tác giả đi đến định nghĩa đất nước là nơi dân mình đoàn tụ, sinh sống. Từ cá thể anh, em đã đi đến cái chung, cái lớn hơn là dân mình, là đồng bào.
Tác giả đã mở ra một không gian, một thời gian theo chiều dài từ quá khứ nghìn xưa:
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Và kết lại Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ. Tác giả còn ngầm chỉ rõ yếu tố tạo nên sự gắn kết giữa các cá nhân, từ những con người đơn lẻ gắn kết lại thành nhân dân. Sự gắn kết ấy, sợi dây vô hình ấy chính là tinh thần đoàn kết của nhân dân ta. Nó tạo nên sức mạnh kì diệu, liên kết mọi người lại, từ cái tôi đã hoà vào thành cái ta chung, cái ta của dân tộc, của đất nước trên cả hai phương diện địa lý và lịch sử.
Và nó trở lại kết cấu:
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Xem thêm: Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Từ đó em có suy nghĩ gì về người lính trong kháng chiến chống Mĩ Tách riêng từng yếu tố để chứa đựng một huyền thoại xưa. Hình ảnh chim về chính là nơi sinh sống của người mẹ Âu Cơ với 50 người con trên rừng. Còn nước lại là nơi Lạc Long Quân sinh sống cùng 50 người con. Nó kết lại thành câu chuyện truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng. Hay nói cách khác là nguồn gốc của dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên. Tất cả các anh em dân tộc sinh sống trên mảnh đất Việt Nam đều là anh em với nhau, đều do một mẹ sinh ra.
Đoạn trích ngắn gọn chỉ 13 câu nhưng đã đưa ra được ba khái niệm khác nhau về đất nước với ba lần cảm xúc khác nhau nhưng đều thống nhất trong sự chuyển hóa từ cái riêng đến cái chung, từ bộ phận đến khái quát, nâng lên để chúng hòa quện, kết dính lại với nhau làm nên đất nước trong chiều dài và chiều sâu của lịch sử, của truyền thống văn hóa.
Đoạn trích ngắn gọn, lời thơ khúc chiết đã nói lên một cách nhìn mới, nhận định mới của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước. Sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc sâu lắng cùng với nhìn nhận mới mẻ, đúng đắn đã làm nên giá trị của đoạn thơ.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm_ “Đất là nơi em đến trường… Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng” | 1,006 | |
Bình giảng đoạn thơ sau trong ‘Chinh phụ ngâm khúc’
Hướng dẫn
1. Trông bến nam bãi che mặt nước,
Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh,
Nhà thôn mấy xóm chông chênh,
Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.
2. Trông đường bắc đôi chòm quán khách,
Rườm rà cây xanh ngất núi non,
Lúa thành thoi thót bên cồn
Nghe thôi ngọc địch véo von trên lầu.
3. Non đông thấy lá hầu chất đống,
Trĩ xập xòe, mai cũng be’ bai,
Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió, lạc loài kêu sương.
4. Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,
Nhạn triện không, sóng giục thuyền câu,
Ngàn thông chen chúc khóm lau,
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.
… Mỗi cảnh là một phương hướng, trong một mùa. Có nam, bắc, đông, tây. Có xuân, hạ, thu, đông. Bút pháp miêu tả ước lệ, tượng trưng, cấu trúc cân xứng qui phạm theo ‘tứ bình’, đó là vẻ đẹp cổ điển.
Mùa xuân đến, người vợ trẻ ‘trông bển nam’ chỉ nhìn thấy một màu xanh của ‘cỏ biếc um’, của ‘dâu mướt’ mà thôi. Thấy nhà thôn ‘chông chênh’ xa gần mấy xóm, thấy đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm. sắc của cỏ, dâu thì mơn mởn. Cảnh đàn cò kết bầy kết đôi. Ngoại cảnh ấy gợi lên trong lòng nàng chinh phụ còn trẻ nhiều khao khát, mong đợi. Tủi cho thân phận cô đơn của mình.
Mùa hè đến, nàng ‘trông đường bắc’ nhìn xa chỉ thấy ‘rườm rà cây xanh ngất núi non’, mịt mù; trông gần chỉ thấy ‘đôi chòm quán khách’ cũng gợi tả nỗi buồn lẻ loi đơn chiếc. Câu thơ ‘Lúa thành thoi thót bên cồn’ cũng mượn ngoại cảnh ngọn lúa bay rập rờn trước gió bên bờ thành để đặc tả nỗi ám ảnh buồn thương tiêu điều của hàng chinh phụ. Nàng chợt nghe tiếng sáo ngọc ngân lên véo von, dồn dập. Cũng là âm thanh gợi nhớ, gợi thương, não nùng thê thiết!
‘Lúa thành thoi thót bên cồn,
Nghe thôi ngọc địch véo von trên lầu’
Mùa thu đến, nàng thấy ‘non đông’ lá rụng ‘chất đống’ tàn tạ buồn thương. Trĩ từng đôi ‘xập xòe’, khóm mai ‘bẻ bai’ uốn lượn. Câu thơ ‘Trĩ xập xòe, mai cũng bẻ bai’ là một nét vẽ tương phản đầy ấn tượng, cỏ hoa, chim chóc được sánh đôi múa lượn còn nàng thì gối chiếc chăn đơn. Nàng càng thêm sầu tủi, cô đơn, lẻ loi hơn bao giờ hết khi nghe tiếng nhạn lạc bầy kêu lên trong màn sương khói mịt mù: ‘Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió lạc loài kêu sương’
Ngọn gió thu lạnh thổi bạt cánh nhạn lạc bầy. Và đó cũng là bão táp chiến tranh làm cho những lứa đôi trở nên lẻ loi, đơn chiếc, lạnh lùng. Nàng chinh phụ thổn thức thương mình bao nhiêu lại thương chồng nơi ải xa đang dãi dầu sương tuyết bấy nhiêu.
Xem thêm: Phân tích chất thép biểu hiện trong bài thơ Giải đi sớm của Hồ Chí MinhMùa đông đến, nàng lại nhìn về phương tây, nhìn về Lũng Tây bãi chiến trường núi xương sông máu,… Nàng chỉ nhìn thấy sông nước mịt mù, ngàn thông, rừng lau trùng điệp. Cánh nhạn chao liệng trên từng không. Xa xa thấp thoáng có bóng người đi về… Cánh nhạn và bóng người thấp thoáng là hai nét vẽ đầy ấn tượng. Nhìn cánh nhạn, cô phụ ngỡ là cánh nhạn đưa thư. Nhìn về phía bên kia ghềnh, thấy thấp thoáng ‘người đâu đi về’, chinh phụ tưởng là người chồng thân yêu từ chiến trường xa trở về… Nhớ quá, thương nhiều, đợi chờ, mòn mỏi, nên chinh phụ mới cảm nhận hư ảo ấy. Hi vọng lắm nên càng thất vọng nhiều. Càng thất vọng lại càng sầu tủi!
‘Ngàn thông chen chúc khóm lau,
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về’
Nét đặc sắc nghệ thuật là vẻ đẹp màu sắc cổ điển.
Cảnh vật mang tính ước lệ tượng trưng (ngọc địch, mai, trĩ, nhạn, thuyền câu, thông, lau, Lũng Tây, bóng người…), cấu trúc cân xứng: xuân, hạ, thu, đông; nam, bắc, đông, tây. Lối diễn đạt cũng hài hòa cân xứng:
… Trông bến nam…
… Trông đường bắc…
… Non đông thấy…
… Lũng Tây thấy…
Bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, điêu luyện.Thi sĩ mượn ngoại cảnh bôn phương trời, bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; lấy cỏ, dâu, lúa, thông, lau, bãi, núi, sông, ghềnh; lấy khói mù, sương, gió, lấy đàn cò, chim trĩ, chim nhạn,v.v… bấy nhiêu nét vẽ ngoại cảnh đều góp phần đặc tả tâm cảnh, khắc họa những biến thái, những rung động trong tâm hồn, những nhớ mong, thương nhớ, đợi chờ, cô đơn, hi vọng để rồi thất vọng mà thêm sầu tủi…
Ngôn ngữ thi ca giàu hình tượng và biểu cảm.Các từ chỉ màu sắc (cỏ biếc um dâu mướt màu xanh… Khói mù nghi ngút ngàn khơi…), các từ tượng thanh tượng hình (chông chênh, rườm rà, thoi thót, véo von, xập xòe, bẻ bai, nghi ngút, chen chúc, thấp thoáng’ được thi sĩ (dịch giả) vận dụng rất thần tình, cho thấy bút pháp điêu luyện, sự giàu có về từ ngữ, trí tưởng tượng tuyệt vời. Đến bản dịch
‘Chinh phụ ngâm’,ngôn ngữ thi ca dân tộc trở nên trong sáng, mềm mại, giàu có và đẹp đẽ vô cùng.
Vần điệu, âm điệu, nhạc điệucủa ‘Chinh phụ ngâm khúc’là một thành tựu tuyệt mĩ.
Thơ song thất lục bát còn gọi là song thất, một điệu ngâm, một thể thơ dân tộc giàu có về vần điệu, âm điệu, nhạc điệu. Trong bốn câu thơ ‘song thất lục bát’ có đến bảy tiếng để gieo vần, vừa có vần chân vừa có vần lưng, vừa có vần bằng vừa có vần trắc, tạo nên điệu ngâm du dương, réo rắt, trầm bổng, đọc lên nghe rat thú vị (xem các từ in nghiêng, đọc đúng trọng âm các từ gieo vần). Sự phối hợp giữa nhịp lẻ và nhịp chẵn ở câu 7 và câu lục bát làm cho âm điệu thơ, giai điệu thơ biến hóa đa thanh, phức điệu.
Đoạn thơ ‘Trông bến nam… người đâu đi về’ giúp ta cảm nhận vẻ đẹp văn chương qua bút pháp tả cảnh ngụ tình và sử dụng ngôn ngữ dân tộc. Bút pháp điêu luyện, thơ giàu cảm xúc, giàu hình tượng. Lấy thời gian bôn mùa, lấy không gian bôn phương trời để tả tâm trạng nhân vật trữ tình, tác giả và dịch giả đã làm nổi bật nỗi mong nhớ đợi chờ chồng, nỗi buồn cô đơn… của nàng chinh phụ trong một thời loạn lạc. Giá trị nhân bản của đoạn thơ lay động mọi tâm hồn người xưa nay.
Nguồn: thêm: Phát biểu cảm nghĩ về hai nhân vật Sơn Tinh và Thủy Tinh, trong truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” | Bình giảng đoạn thơ sau trong ‘Chinh phụ ngâm khúc’ | 1,156 | |
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài thư Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm: “Bên kia sông Đuống… Vài ba vết máu loang chiều mùa đông.” (Văn 12. NXB GD 1992)
Gợi ý
Để trả lời câu hỏi có nên làm thơ không, trong bức "Thư gửi một nhà thơ trẻ", Rainer Maria Rilke viết: "Hãy truy cứu cái nguyên do khiến mình cầm bút; hãy kiểm tra xem nó có bắt rễ từ chỗ sâu xa nhất của trái tim không; hãy tự thú xem nếu không viết liệu mình có chết không? Và trước hết hãy tự hòi mình vào giờ khắc tĩnh mịch nhất trong đêm: Ta có phải viết không Nếu ông có quyền đáp lại câu hỏi nghiêm trọng ấy bằng một lời mạnh mẽ và giản dị rằng: "Ta phải viết" thì ông hãy xây đời mình trên sự tất yếu đó". (Thư gửi một nhà thơ trẻ – NXB Hội Nhà văn, H, 1996). Cứ theo lời khuyên trên của Rilke, thì vào cái đêm tháng 4.1948 ấy nếu không viết Bên kia sông Đuống có lẽ Hoàng Cầm không sống nổi. Ông sẽ "chết" vỉ những đớn đau, uất hận không được giải toả bằng thơ. Chẳng thế mà đọc bất kỳ đoạn nào trong bài thơ ấy, ta đều thấy mạch thơ cuốn cuộn chảy, trào dâng biết bao là yêu thương, nhung nhớ, biết bao câm giận, xót xa… Đoạn thơ sau đây là một đoạn thơ như thế:
“Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô,
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giày đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông.”
Trong cái ngày "giặc tràn lên đốt phá" năm xưa, đứng bên này nhìn về Bên kia sông Đuống, biết bao hình ảnh thân thiết nơi quê hương hiện lên trong nỗi nhớ da diết của nhà thơ. Trong nỗi nhớ ấy, hình ảnh người mẹ già nua, gầy yếu, tất tả giữa cảnh quê hương đói nghèo, bị giặc dày xéo đã để lại một ấn tượng thật đậm trong lòng người đọc.Xem thêm: Thuyết minh về một nhà văn đã được tìm hiểu trong chương trình Ngữ văn 8 Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cỗi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô,
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thép giấy dầm hoen sương sớm
Chừng ấy dòng thơ cũng đủ để khác vào lòng ta hình bóng của người mẹ; cũng đủ diễn tả niềm cảm thương da diết của nhà thơ đối với những bà mẹ suốt đời một nắng hai sương, gió mưa lặn lội; suốt một đời nhọc nhằn, lam lũ… Có một cái gì rất đỗi quen thuộc với mỗi người Việt Nam không biết tự đời nào. Từ xa xưa cho đến hôm nay, biết bao nhiêu người mẹ đã trở thành những tượng đài bất tử, đổ bóng xuống những trang thơ. Hình ảnh những người mẹ, người vợ, hai vai gánh nặng, dáng dấp hao gầy, lặn lội bươn trải nuôi chồng, nuôi con, ta đã từng được thấy từ trong ca dao, từ ngày xửa ngày xưa qua lời ru của mẹ:
Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Nguyễn Du ngày xưa khi chiêu hồn những vong linh bất hạnh, chắc cũng nghĩ đến thân phận những người mẹ nghèo. "Đòn gánh tre chín rạn hai vai". Câu thơ trong Văn chiêu hồn, đã để lại vết bỏng rát trong tâm khảm người đọc suốt hơn hai thế kỷ. Không phải ngẫu nhiên sau này, nhà thơ Tố Hữu đã lấy hình tượng bà mẹ gánh gồng để làm biểu tượng cho cả một dân tộc giàu đức hy sinh:
Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu!
Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều
Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng
Nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng
Biết hy sinh nên chẳng nhiều lời…
Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc với người đọc. Tuy thế, hình ảnh người mẹ trong thơ Hoàng Cầm vẫn có một sức ám ảnh riêng:
"Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong"
Hai tính từ "già nua", "còm cõi" muốn thể hiện được hình bóng một người mẹ mà thời gian, năm tháng và muôn nỗi gian truân, nhọc nhằn đã vắt kiệt sinh lực Nhưng "còm cõi" có lẽ còn có nghĩa là gánh hàng rong còm cõi; nó còm cõi như thân hình bà mẹ. Cái gánh hàng rong nghèo nàn. được nhà thơ miêu tả thật tội nghiệp:Xem thêm: Soạn bài Buôn làng đón cô giáoDăm miếng cau khô,
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm
Biện pháp liệt kê với mấy từ chỉ số lượng: dăm, mấy, vai đa biểu đạt được cái vẻ lèo tèo, của gánh hàng rong của mẹ. Cuộc sống khốn khó đã phô bày ngay trên những mặt hàng quá nghèo nàn mẹ gánh đi từ chợ này đến chợ khác với tấm thân "còm cõi, già nua", "bước thấp, bước cao" trong làn sương sớm lạnh. Niềm xót thương thấm thía trong từng câu, từng chữ. Trong thời bình mẹ đã vất vả lo toan, trong chiến tranh mẹ càng vất vả hơn và nỗi khổ của mẹ như nhân lên gấp nhiều lần. Nỗi thương cảm trào dâng đối với mẹ, chuyển thành những dòng thơ đầy uất hận đối với kẻ thù:
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giày đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo.
Bốn câu thơ này đă tạo nên một bức tranh tương phản gay gắt với mấy câu trên. Một. bên là hình ảnh bà mẹ "còm cõi, già nua", lẩy bẩy cùng "gánh hàng rong" nghèo khổ, trong cái quán chợ "gầy teo"… Một bên là "lủ quỷ mắt xanh trừng trợn" hùng hổ "khua giày đinh", "đạp gãy quán", "xì xồ cướp bóc"… Ta bỗng nhớ tới hình ảnh Bà má Hậu Giang trong thơ Tố Hữu. Đối lập với bà má già yếu "lẩy bẩy như tàu chuối khô" là thằng Tây "mắt xanh mũi lõ" "dốc gươm dài tuốt vỏ cầm tay". Nó bước vào túp lều của má:
Rung rinh bậc cửa tre gầy
Nghênh ngang một ống chân đầy lối đi
cũng là sự đối lập gay gắt giữa bọn tham tàn bạo ngược và một bà mẹ gầy yếu "lẩy bẩy như tàu chuối khô". Bút pháp đối lập đã giúp Tố Hữu vạch trần sự hung bạo của kẻ thù; đồng thời ngợi ca sức mạnh tinh thần vỉ đại của bà mẹ anh hùng.Xem thêm: Phân tích những đặc sắc nghệ thuật của thiên truyện anh hùng của Nguyễn Minh Châu: "Mảnh trăng cuối rừng" Trong thơ Hoàng Cầm, bút pháp ấy nhấn mạnh tính chất bất lương cua bọn xâm lược, đồng thời tô đậm tình cảm vô cùng đáng thương của bà mẹ những ngày loạn lạc. Đoạn thơ kết lại bằng hình ảnh thật đau xót:
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông.
Hai câu thơ chuyển sang thể lục bát, mang âm điệu thảm thiết, thê hương. Lời thơ gợi tả một cách cảm động cảnh làng quê trong chết chóc, hoang tàn, vẫn là hình ảnh làng quê quen thuộc với cây đa quán nước, nhưng sao buồn thảm lạ: một mái lếu xiêu đổ, nững chiếc lá đa ‘lác đác", vài ba vết máu loang trên mặt đất dưới ánh "chiều mùa đông" ảm đạm… Cảnh quê hương vừa chân thực tới từng chi tiết vừa mang tính biểu tượng cùa một miền quê "đầy bóng giặc". Còn đâu hình ảnh quê hương yên bình với dòng sông Đuống êm trôi lấp loáng, với đôi bờ "cát trắng phẳng lì", với "xanh xanh bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc"! Còn đâu "những hội hè đình đám" tưng bừng rộn rã buổi đầu xuân! Tất cả "giờ tan tác về dâu tất cả "đi đâu, về đâu?"…
Đoạn thơ tuy ngắn (11/134 dòng) nhưng là một nốt nhạc thật cảm động trong bài ca dài Bên kia sông Đuống. Nó vừa tha thiết, trầm lắng yêu thương, vừa mãnh liệt, tuôn trào căm giận. Dòng cảm xúc tuôn trào ấy bắt nguồn từ tình yêu đất nước quê hương đằm thắm, thuỷ chung; một tình yêu đã thấm vào máu thịt và luôn luôn sục sôi trong trái tim và huyết quản Hoàng Cầm. Tinh yêu mãnh liệt ấy, trong một hoàn cảnh nào đó, khi bị dồn nén đến tột cùng thì trái tim nhà thơ không chịu nổi. Nó phải oà vỡ thành thơ và đã vờ oà thành Bên kia sông Đuống trong một đêm cách đây vừa tròn nửa thế kỳ.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài thư Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm_ “Bên kia sông Đuống… Vài ba vết máu loang chiều mùa đông.” (Văn 12. NXB GD 1992) | 1,478 | |
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Tây Tiến của Quang Dũng: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói…Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”
Gợi ý
"Ôi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa
Ngàn năm sau còn đủ sức soi đường"
(Chế Lan Viên – Tiếng hát con tàu)
Cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp lắm gian khổ hi sinh nhưng cũng đầy tự hào, oanh liệt ấy đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào cho nhiều thi phẩm nổi tiếng ra đời ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Tây Tiến là một trong những bài thơ đặc sắc đó
Bài thơ giàu chất hiện thực nhưng lại dào dạt cảm hứng lãng mạn. Hình ảnh người chiến sĩ hiện lên trong bài thơ vừa hào hùng vừa hào hoa như nhiều người đã nhản xét. Đoạn thơ sau dù chỉ là trích đoạn, cũng cho thấy rất rõ đặc sắc ấy của bài thơ:
…
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kia em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Bài thơ Tây Tiến có thể chia làm 4 đoạn. Trích đoạn trên bao gồm đoạn 2 và đoạn 3. Đó là những đoạn thơ tái hiện lại hình tượng những con người Tây Bắc trong gian khổ hy sinh vẫn hiên ngang và đẹp một cách hào hoa, thanh lịch.
Từ "Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói" đến "trôi dòng nước lũ hoa đong đưa" là bức tranh tuyệt vời mỹ lệ về cảnh và người Tây Bắc. Đoạn sau, những câu còn lại, dựng chân dung người lính Tây Tiến với giọng thơ trầm hùng, bi tráng.Xem thêm: Thư gửi con mùa thi 2013 Nếu chi đọc phần đầu của đoạn trích này ta như lạc vào một thế giới khác: một thế giới bình yên, một xứ sở mà cảnh vật và con người đều đẹp đẽ, mộng mơ như một bức tranh thuốc nước tươi mát Cái cảm giác nó ấm, yên bình gợi lên trong ta trước hết do làn khói lam chiểu và mùi hương nếp xôi nồng nàn quyến rũ. Mai Châu, cái dịa danh ấy dù ta chưa một lần đặt chân tới, nhưng trở nên thân thiết biết bao nhờ câu thơ "thơm nếp xôi" và nỗi nhớ không thể không cất lên thành lời của Quang Dũng: "nhớ ôi Tây Tiến.." Tiếp theo, người đọc lại như lạc vào một thế giới của ánh sáng, vủ điệu và âm thanh; một thế giới vừa thực vừa hư, đầy mộng và thơ.
"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Có một cái gi đó thật lãng mạn và say đắm trong tâm hồn Quang Dũng khi ông viết những dòng thơ này. Trong ánh lửa đuốc của đêm liên hoan, hình ảnh nàng "e ấp" trong "áo xiêm" lộng lẫy và tiếng khèn "man điệu" khiến nhà thơ thực sự say sưa và kinh ngạc. Hai tiếng "kìa em" bộc lộ tất cà cái ngỡ ngàng; ngỡ ngàng và vui sướng "Kia em…" câu thơ như một tiếng reo vui. Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng như được chấp cánh bởi vẻ đẹp của con người và cảnh vật nơi đây. Một vẻ đẹp vừa mới lạ vừa huyền ảo, xa xôi và có gì đó bí ẩn của một khung cảnh nơi đất lạ, trời xa… Những chữ xiêm áo, man điệu, khèn, hồn thơ gợi lên trong ta cảm giác ấy.
Nếu như bốn câu thơ trên tràn ngập ánh sáng, âm thanh và vũ điệu thì bốn câu thơ tiếp theo lại giấu chất thơ và chất hoạ. Một chiếc thuyển độc mộc với dáng người mềm mại in trên nên "dòng nước lũ hoa đong đưa". Những bông lau ven bờ bỗng trở nên có hồn và gợi nhớ da diết. Tất cà đều thấp thoáng, mờ ảo trong chiều sương Châu Mộc. Người xưa nói "thi trung hữu họa". Bốn câu thơ của Quang Dũng quả là một bức tranh lụa với những nét vẽ tài hoa, tinh tế và mềm mại lạ thường:Xem thêm: Hãy nói lời đáp của em khi gặp những tình huống sau đây Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Trên cái nén diễm lệ, hào hoa, mềm mại và rát đỗi nên thơ. Nền nhạc cùa núi rừng Tây Bắc. nhà thơ dựng lên tượng đài của người chiến sĩ Tây Tiến có vẻ đẹp thật là bi hung, bi tráng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Nhà thơ không che giấu những gian khổ hy sinh của người lính Tây Tiến. Chỉ có điều những gian khổ khó khăn. những mất mát hy sinh ấy dược thế hiện bằng một bút pháp lãng mạn. Qua cách nhìn của nhà thơ, cái Bi bỗng trở nên cái Hùng, mang đến cho hình ảnh người lính Tây Tiến một vẻ đẹp riêng. Cái sự thực tàn khốc mà đoàn lính Tây Tiến phải chịu dựng: tóc trụi, da xanh ngát màu lá rừng vì sốt rét, qua con mắt nhà thơ bỗng trở nên lẫm liệt "dữ oai hùm". Cái dáng vẻ ấy cộng với đôi "mắt trừng gửi mộng" tạo nên hình ảnh người lính Tây Tiến vừa phẳng phất gương mặt những trang anh hùng hào kiệt ngày xưa vừa như nét hận cừu nguyên sơ, phú bẩm của lớp trẻ trai "chiến trường đi chảng tiếc đời xanh" thời đánh Pháp, lại vừa như hằn vết tàn phá của thuỷ tận sơn cùng nơi rừng thiêng nước độc mà người chiến sĩ đã từng qua. (Nguyễn Đình Thi – Tây Tiến, đường lên heo hút, nỗi nhớ chơi Vơi – Tiếng nói tri âm T2, NXB Trẻ 1996).Xem thêm: Em hãy viết đoạn văn thuyết minh về lợi ích của cây lúa Cái đẹp hào hùng, bi tráng của người chiến sĩ Tây Tiến còn được nhà thơ ghi lại bằng những dòng thơ thật trang trọng khi nói về những mất mát hy sinh:
Rài rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chằng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Người lính Tây Tiến ngã xuống không một manh chiếu bọc thân, nhưng trong tâm hổn nhà thơ, các anh lại được bọc trong những chiếc áo bào chói lọi. Những nấm mồ người lính nằm "rải rác biên cương", nơi rừng hoang biên giới bỗng trở thành những nấm mồ tôn nghiêm nhờ nhưng từ Hán Việt cổ kính trang trọng: biên cương, viễn xứ… Đoạn thơ kết thúc bằng tiếng gầm dữ dội và đầy uất hận của dòng sông Mã. Đó cũng là khúc nhạc bi hùng của núi rừng Tây Bắc như nói lời vĩnh biệt tiền đưa những "người không hẹn ước" từ mùa xuân năm ấy còn vọng mãi đến bây giờ.
Mấy khổ thơ trên, dù chi là một trích đoạn trong bài thơ Tây Tiến nhưng cũng đủ dựng lên bức tượng đài những người lính Tây Tiến năm xưa đi đánh Pháp. Một tượng đài rất dẹp, một vẻ đẹp kiêu hung, bi tráng Tượng đài ấy đã được xây bởi hồn thơ Quang Dung với tất cá sự trân trọng, mến yêu, thành kính Và Quang Dũng đa đem tượng đài này "đặt chơi vơi giữa ngàn non, ngàn mây, ngàn cây Tày Bắc. Bởi vậy lời thơ như âm u vọng mỏi tiếng gọi hoang sơ của núi rừng. Và mỗi khi nhắc đến một tên đất, tên mường… hồn thơ Quang Dũng lại rộn rạo phiêu du, nhịp lên những tiếng gọi đàn thăm thẳm" (Nguyễn Đinh Thi – Sách đã dẫn).
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Tây Tiến của Quang Dũng_ “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói…Sông Mã gầm lên khúc độc hành.” | 1,406 | |
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, từ: “Mùa thu nay khác rồi… Những buổi ngày xưa vọng nói về”
Gợi ý
Đất nước là một trong những bài thơ hay nhất viết về Tổ quốc và nhân dân của Nguyễn Đinh Thi nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung. Cả bài thơ tràn ngập một tâm trạng xốn xang khó tả của người viết: buồn bã, vui sướng, cảm giận, hả hê, tự hào, sảng khoái… Dường như nó còn là tấm gương phản ánh tâm trạng và tình cảm của cả một dân tộc từ lúc bắt đầu đánh Pháp đến khi kháng chiến thành công. Mỗi đoạn thơ trong bài thể hiện một sắc thái tâm trạng và tình cảm nhất định. Đoạn thơ sau đây tập trung thể hiện tất cả niềm tự hào và nỗi vui sướng đến nghẹn ngào của nhà thơ trước đất nước Tổ quốc vừa sạch bóng bọn xâm lăng:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Nhưng cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
(Văn 12. Phần văn học Việt Nam – NXB GD. 1992)
"Mùa thu nay khác rồi", câu thơ mở đầu đoạn thơ vang lên như một lời khẳng định, một tiếng reo vui, một tâm trạng náo nức, một tiếng thở phào nhẹ nhõm bật ra từ lồng ngực khoan khoái của nhà thơ Nói "Mùa thu nay" là hàm ý so sánh với mùa thu trước, "những ngày thu đã xa" mà ông nói tới ở đoạn thơ trên. Đó là một mùa thu gần như khác hẳn với "mùa thu nay", khi ông viết bài thơ Đất nước. Đứng giữa đất trời trong mùa thu giái phóng, tác giả trở về mùa thu trước. Một mùa thu quạnh vắng với nỗi buồn "xao xác hơi may". Hồi ấy, Hà Nội vẫn đẹp, nhưng có một cái gỉ thật hiu hắt khiến người chiến sĩ ra đi tuy cương quyết đấy mà vẫn thấy nao lòng:Xem thêm: Phác họa hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Việt Bắc Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Mùa thu nay khác rồi: Không phải khác vì nhà thơ đã rời Hà Nội lên Việt Bắc mà khác vì cách mạng đã thành công, con người được làm chủ đất nước mình:
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nỏi cười thiết tha.
Cả một không gian núi đồi rạo rực, xốn xang, ăm ắp tiếng nói, tiếng cười. Rừng tre phấp phới hay chính lòng người phấp phới? Hai chữ phấp phới đã thể hiện được rất rõ tâm trạng náo nức của nhà thơ trước đất trời vừa được giải phóng. Dưới con mắt của nhà thơ, đất nước giờ đây thật thanh sạch, tinh khôi, trong trẻo và đẹp đẽ.
Bầu trời như được "thay áo mới” nên càng "trong" càng "biếc" và dưới bầu trời ấy vang rộn tiếng nói cười "thiết tha". Câu thơ "Trong biếc nói cười thiết tha" giàu tình từ và chấp chới giữa hai làn nghĩa: bầu trời "trong biếc" hay tiếng nói, tiếng cười "trong biếc". Phải chăng niềm vui quá lớn ấy đã bao trùm lên và xoá nhòa đi tất cả, không phân biệt đâu là đất trời, đâu là con người, tất cả đều trong, đều biếc, đều tha thiết. Dù là nghĩa nào đi nữa mấy câu thơ trên cũng dều xuất phát từ một tâm trạng náo nức say sưa của người con một dân tộc vừa chiến thắng.
Đất nước mới hôm qua còn nằm trong gót sắt của quân thù, nay bỗng trong tay ta tất cả, là của ta tất cả. Nhà thơ sung sướng, reo lên như ôm trọn đất nước vào lòng:Xem thêm: Cảm nghĩ của em khi đọc Truyện lạ nhà thuyền chài trích trong Thánh Tông di thảo."Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa"
Đoạn thơ liệt kê hàng loạt hình ảnh: trời xanh, núi rừng, những cánh đồng, những ngả đường, "những dòng sông đỏ nặng phù sa". Và từ đó vang lên điệp khúc: đây là của chúng ta như khắc sâu thêm vào lòng người, khẳng định chắc chắn trước lịch sử về chủ quyền của một dân tộc vừa thoát ách ngoại xâm. Lời thơ hùng tráng, nhịp thơ mạnh mẽ tuôn chảy như gọi mãi không hết, kể mãi không cùng. Tình cảm và tâm trạng ấy, ta cũng đã từng bắt gặp trong thơ Tố Hữu. Cũng vào những thời khắc chói chang của "Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực" năm ấy, Tố Hữu đã cất cao lời khẳng định:
Của ta, trời đất, đêm ngày
Núi kia, đồi nọ, sông này của ta!
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)
Hoặc là:
Mây nhởn nhơ bay
Hôm nay trời đẹp lắm
Mây cùa ta, trời thắm của ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
(Ta đi tới)
Một dân tộc vừa thoát khỏi 80 năm đô hộ của bọn thực dân Pháp bằng cuộc cách mạng tháng Tám long trời lở đất lại bước ngay vào cuộc kháng chiến trường kỳ chín năm gian khổ, không một phút nghỉ ngơi với bao hy sinh mất mát… dân tộc ấy hơn ai hết thấm thía cái giá của tự do, nỗi nhục của cuộc đời nô lệ và ý nghĩa sâu sắc của độc lập, chủ quyến. Có đặt trong hoàn cảnh lịch sử ấy mới thấu hiểu và cảm nhận hết âm vang đầy tự hào của mấy chữ "của ta" "của chúng ta" trong những đoạn thơ trên. Và cũng chính từ tột cùng của niềm vui đó, cảm hứng tự hào về một đất nước giàu truyền thống văn hiến và quật khỏi chống xâm lăng lại dào dạt trong lòng nhà thơ.Xem thêm: Thuyết minh về một thể loại văn học hoặc văn bản Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Giọng thơ như trầm lắng lại và da diết hơn khi nói về truyền thống đầy tự hào của dân tộc. Lịch sử của dân tộc, truyền thống bất khuất của ông cha, luôn luôn động viên và nhắc nhủ mỗi người dân Việt. Ý thơ là thế, nhưng đọc câu thơ "Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất – Những buổi ngày xưa vọng nói về", ta vẫn cảm thấy có một cái gì đó rất thiêng liêng, cao cả bao trùm lên câu thơ. Cứ đêm đêm tiếng cha ông lại rì rầm vang vọng trong tiếng đất. Tiếng rì rầm vọng lại ấy là gì, nếu không phải là lời nhắc nhở thiêng liêng: hãy giữ lấy mảnh đất này, giữ lấy truyền thống "chưa bao giờ khuất" của "nước chúng ta". Bài học lịch sử đã được hình tượng hoá và cụ thể hoá một cách sinh động bằng một lối diễn đạt độc đáo và sáng tạo.
Đoạn thơ trên tuy chỉ là một trích đoạn ngắn trong bài thơ dài Đất nước cùa Nguyễn Đình Thi nhưng cùng đã phản ánh được rất xuất sắc tâm trạng, tình cảm và tư tưởng của nhà thơ trong những giờ phút huy hoàng nhất của lịch sử dân tộc. Đó là tâm trạng náo nức, xốn xang, là niềm sung sướng tột cùng và một ý thức đầy tự hào, một trách nhiệm sâu sắc về truyền thống bất khuất của cha ông. Tất cả lại được thể hiện bằng những lời thơ trang trọng, những hình ảnh thơ đẹp đẽ, bay bổng và một cách diễn đạt hàm súc, giàu gợi cảm. Đây là một trong những đoạn trích hay nhất của bài thơ
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, từ_ “Mùa thu nay khác rồi … Những buổi ngày xưa vọng nói về” | 1,361 | |
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, từ: “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội…Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.”
Gợi ý
Mùa thu là cảm hứng muôn đời của người nghệ sĩ. Thu đến, thu đi; thu là khoảng giao mùa, khoảng lặng để thi nhân tìm thấy ở đó một mối đồng cảm sâu xa, để tạc nên những bức tranh cảnh sắc đa thanh, đa hình mà người đọc bao thế hệ vẫn ngẩn ngơ chiêm ngưỡng. Giữa mạch thơ chung dồi dào ấy, ta luôn nhớ đến mùa thu Hà Nội xưa đầy ý vị của Nguvễn Đình Thi:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Mùa thu xưa nay vẫn đẹp và dịu dàng, thanh nhã. Thu trở thành một phần không thể thiếu khi nhắc đến thơ viết về thiên nhiên. Ấy là một mùa thu thuần quê đất Việt trong thơ Nguvễn Khuyến, một mùa thu thâm trầm, huyền bí trong thơ Lưu Trọng Lư, một mùa thu chứa đầy sự phôi pha theo nhịp chảy thời gian trong thơ Xuân Diệu. Rõ ràng nét phong phú của một đề tài cũ như thế là thách thức cho sáng tạo, tìm tòi và khám phá. Nguyễn Đình Thi hiểu hơn ai hết điều đó. Ông không muốn bị mờ đi, thậm chí chìm hẳn giữa những nét rất đậm, rất sâu, rất tinh của người trước. Chẳng phải" Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao" (Nguyễn Khuyến), cũng không phải "Sen tàn, cúc lại nở hoa" (Nguyễn Du), nét thu của Nguyễn Đình Thi là nét thu đô thị, nét thu thủ đô hào hoa, thanh lịch:
"Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Mùa thu được cảm nhận ở thời điểm mẫn cảm của đất trời. Dường như thu đã về đâu đó khi hơi lạnh đang mơn man chạm nhẹ vào da thịt. Chữ" chớm" do đó mới thật tinh tế. "Chớm" là sự bắt đầu, là điều mới mẻ, nó chứa đựng trong mình chút gì như là e ấp của mùa thu. Cảm quan mơ hồ về những làn hơi giá chưa hẳn là mùa thu. Biết được cái" chớm lạnh" là thi sĩ đang ở ngưỡng giao thoa của khí trời – ở khoảnh khắc mà tín hiệu thu đã xuất hiện, nhưng thu ấy vẫn chưa đến độ nổng đậm nhất. Báo hiệu ban đều như thế dễ nhoè đi, phần vì bất ngờ, phần vì hết thẩy đều sẽ sàng quá. Cho nên, cũng là đương nhièn khi chỉ những tâm hồn thật nhạy cảm, thật, gắn bó với nét đặc trưng thân thuộc này mới có thể hiểu và đón ủnhận trọn vẹn ân sủng tuyệt vời của thiên nhiên Ở đây không chỉ có mình thi sĩ mà còn có cả không gian Hà Nội cả phố phường Hà Nội, cả lòng người Hà Nội cảm nhân dược khi trời nay đổi khác bởi thoáng hiện diện của mùa thu. Nhưng có thật là heo may tan loãng vào không gian đó trở thành ám hiệu riêng của đất trời và lòng người Thủ đô? Chẳng biết nữa, nhưng qua những vần thơ đẹp dịu dàng của Nguyễn Đình Thi tất thảy chúng ta đã được cảm nghe đầy đủ hồn thu của một Hà Nội trong sáng đến vô ngần.Xem thêm: Kể lại cuộc gặp gỡ của Mị Châu và Trọng Thuỷ ở dưới thủy cung. (Yêu cầu lập dàn bàì) Từ trước đến nay nhiều người trong nét bối hồi xúc cảm chỉ chú tâm đem cái "chớm lạnh" đặt vào "lòng Hà Nội" mà quên đi trường thời gian trong trẻo của một sớm thu. Đừng xem "sáng" đơn thuần chỉ là yếu tố thông tin. Đó là sự nhấn mạnh. "Sáng mát trong" hôm nay hoài niệm về "sáng chớm lạnh" năm xưa. Không gian nguyên lành, dễ chịu của ngày mới là điểm khởi đầu cho mạch cảm xúc Nguyễn Đình Thi. Như thế Hà Nội đang ôm trọn cái" chớm lạnh" của sáng thu, rồi Hà Nội lại mở rộng vòng tay, trài dài ra để sẻ lòng cùng thi sĩ
" Những phố dài xao xác hơi may"
Câu thơ bảy chữ là sự kết nối giữa nét hữu hình" những phố dài" và nét vô hình" hơi may" bằng từ tượng thanh "xao xác". "Xao xác" là từ láy gợi âm thanh, có tác dụng làm xao động cánh không gian vắng lặng. Biết thế, nhưng mỗi khi đọc câu thơ, tôi vẫn bị ám ảnh bởi trường nghĩa khác của hai chữ này. Hình như đây không còn là từ tả âm, nó là sự pha trộn của một âm – hình, để nghe" xao xác" mà thấy cả khung cảnh trống lặng chung quanh. Nó khác hẳn" xào xạc", từ láy – đặc – âm trong thơ Lưu Trọng Lư:
"Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô"
(Tiếng Thu)
Thực ra, "xao xác" và "xào xạc" chi là một âm nhưng vang lên ở hai cung khác nhau. Vậy mà nếu thử thế chỗ cho nhau thì âm chung chẳng còn mà cung khác nhau cũng chẳng thấy. "Xào xạc" của Lưu Trọng Lư là âm trầm và đục thể hiện vẻ âm u, huyền bí của rừng già. Còn "xao xác" của Nguyễn Dinh Thi là âm trong và cao gợi được tiếng lá khô quét mình trên dường phố. Đặt vào câu thơ, "xao xác" lại cụ thể hoá cho "hơi may" vốn vô hình. Phải chăng đó là sư chuyển đổi cảm giác ngoài Nguyễn Đình Thi chưa ai từng biểu đạt? Nhờ thế thi sĩ đã chuyền tải được hơi thở nhẹ nhàng của mùa thu đến từng con phố, từng ngả đường. Trong cái se se chưa đù góp thành gió của" hơi may", những phố dài như càng dài thêm, lòng người dang xôn xao một niềm riêng khó hiểu, cơ hồ cũng "xào xạc" hơnXem thêm: Em hãy tả hình dáng và tính tình một cô giáo (thầy giáo) đã dạy em trong những năm học trước mà em nhớ nhất Quả thật ngôn ngữ của Nguyễn Đình Thi dễ làm người ta lạc vào mê cung, nếu không tinh nó sẽ khó thoát ra, dễ bị luẩn quẩn trong cái luyến láy rất tài hoa của câu từ. Hình ảnh thơ bình dị nhưng cứ lắng đọng chút mơ hồ chẳng thể nắm bắt. Để bất chợt, nhà thơ đặt vào giữa những băn khoăn còn bỏ ngỏ của" chớm lạnh", cùa" hơi may" một hỉnh ảnh cụ thể, rõ ràng:
"Người ra đi đầu không ngoảnh lại”.
Hoá ra cảnh thu Hà Nội đẹp và mơ huyền thế cứ bị phủ chút man mác xác xao là do đây: người ra đi. Nếu đặt riêng câu thơ, ta có thể cho rằng đây là một chiêm nghiệm tâm lý. Bất cứ một chí nam nhi nào khi chia xa đều dàn lòng nén xúc cảm. Trần Đăng Khoa có nhận xét rất tinh về hoàn cảnh này, ấy là người ra đi, tiến bước mà" mặt tái ngắt không dám ngoảnh lại phía sau". Có cảm tưởng như chỉ khẽ đưa mắt lại thôi là người ra đi không còn đủ can đảm để bước tiếp. Nếu đặt hình ành thơ vào chỉnh thể của cà đoạn thì ta thấy đây mới là hồn thơ, là chiều sâu bức tranh thu Hà Nội. Thế người ra đi là ai? Đó là những chiến sĩ trung đoàn thủ đô? Không, Nguyễn Đình Thi hoàn toàn bác bỏ ý kiến này. Điều ông muốn thể hiện, giản dơn là sự lưu luyến, bịn rịn của người con thủ đô phải chia xa Hà Nội trong những thu xưa. Thái độ "không ngoảnh lại" vì thế là một cách kìm lòng bởi thành phố của mình đang ở thời khắc đẹp nhất, thành phố ấy đủ sức níu giữ một tâm tình Hà Nội, thành phố ấy tiễn các anh với một trời nắng vàng và lá vàng:Xem thêm: Bình giảng bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch"Sau lưng thêm nắng lá rơi đầy”
Có người cho rằng đây là sự phi lô – gíc giữa hành động và cảm giác. Hành động thì "không ngoảnh lại" mà cảm giác lại ngập đầy nắng lá sau lưng. Vâng, nếu như có ai đó cố tâm đưa hình tượng thơ theo trật tự tuyến tính này thì cũng xin" ngoái lại" để hiểu rằng cái" chớm lạnh", "xao xác" đã được mùa thu gửi đến làm sứ giả cho mình tự khi nào. Do đó sau khí thu, hồn thu, lẽ dĩ nhiên phải là tình thu man mác ấy
Như người ta vần nói đầu câu là cái then cửa. là nét nhấn nhá cùa bài thơ thì ở đoạn thơ này ta không thấy xuất hiện một dấu câu nào Nguyên Đình Thi đã để ngỏ lòng mình, từ đó người đọc có nhưng trường suy tưởng khác nhau, tự tìm cho mình cách ngắt nhịp tạo sự đa thanh đa nghĩa của ý thơ. Câu thơ "Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy" có hai cách ngắt nhịp tương ứng với hai cách hiểu. Cách thứ nhất ngắt theo nhịp 2/2/3 (Sau lưng / thềm nắng / lá rơi đầy). Nó ứng với cách hiểu sau lưng người đi là thềm nắng, trên đó lá vàng rơi dầy Cách thứ hai ngắt theo nhịp 2/2/1/2 <Sau lưng / thềm nắng / lá / rơi đầy). Nó ứng với cách hiểu sau lưng người đi là thềm váng, trên đó nắng với lá cùng rơi xuống. Rồi người thì cho cách ngắt nhịp thứ nhất quá giản dị, thông thường, người khác lại nhận xét cách ngắt thứ hai quá ư cẩu kì. Dù đứng trên bình diện nào thì đó cũng là cách cảm riêng để tìm đến chuẩn mực của cái hay, cái đẹp. Hơn thế đó là cách biếu hiện (đa dạng nhất cho nét huyền ào, biến hiện của tiết tấu câu thơ. Với tôi, tôi yêu cả hai cách hiểu.
Khi nắng lá cùng rơi, khi nắng đã rải lá rác vàng lên những thềm vắng thì đều gợi được sắc thái riêng của trời thu Hà Nội.
Có thể nói đoạn thơ là những nốt nhạc lòng được chắt chiu từ một tâm hồn đa càm, một tình yêu thiết tha, nồng thắm với đất nước quê hương. Bức tranh cảnh sắc được gợi từ hoài niệm nhưng không đơn thuần chỉ là nhớ về để kể, tả. Nguyễn Đình Thi đã làm sống dậy vẻ đẹp thu của Hà Nội xưa. Hê-ghen cho rằng thơ ca cao hơn sử học hình như cũng vì lẽ ấy.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, từ_ “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội…Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.” | 1,834 | |
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong phần đầu bài “Việt Bắc” của Tố Hữu: “Mình về mình có nhớ ta…Tân Trào, Hổng Thái, mái đình, cây đa”
Gợi ý
“Việt Bắc” là bài thơ lục bát dài 150 câu thơ của Tố Hữu được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, ngày Thủ đô Hà Nội được hoàn toàn giải phóng.
“Việt Bắc” là bản hùng ca và tình ca của cách mạng và kháng chiến. Đoạn thơ sau đây dài 20 câu thơ nằm trong phần đầu bài “Việt Bắc”:
– Mình về mình có nhớ ta
…………………..
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
Đoạn thơ ghi lại tình cảm của ta khi đưa tiễn mình: mình đi…mình về…Có thể hiểu ta là cô gái Việt Bắc, là đồng bào các dân tộc Việt Bắc; mình là người cán bộ kháng chiến, là anh bộ đội Cụ Hồ. Chữ ta được vây bọc, được quấn quýt trong vòng tay yêu thương của mười hai chữ mình.
Bốn câu thơ mở bài cất lên nghe thật tha thiết bồi hồi; cảm xúc được nén lại trong lòng bỗng ùa dậy và trào lên. Ta hỏi mình, hay ta đang hỏi lòng ta trong buổi phân li ấy:
– Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Minh về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tinh nghĩa giữa ta với mình không phải là ngày một ngày hai mà đã giao hoà gắn kết “thiết tha, mặn nồng” trong suốt mười lăm nãm trời, kể từ ngày khởi nghĩa Bắc Sơn (1940) đến ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (tháng 10-1954). Cây, núi, sông, nguồn Việt Bắc “mình có nhớ không? Câu hỏi tu từ mở ra một trời thương nhớ.
Tố Hữu đã học tập và vận dụng sáng tạo ca dao dân ca, gợi nhớ trong lòng người đọc hai tiếng mình, ta trong những bài hát giao duyên của trai gái làng quê thuở nào: “Mình về có nhớ ta chăng – Ta về ta nhớ hàm mình răng cười”. Chất trữ tình đắm thắm ấy đã tạo nên một nét đẹp trong đoạn thơ, cũng như cả bài thơ.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ của đoạn thơ sau: "Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn" ("Đò Lèn” - Nguyễn Duy) Bốn câu thơ tiếp theo gợi tả không gian, thời gian và tâm trạng nghệ thuật của người ra đi, của kẻ ở lại. Tiếng hát tha thiết của ai cất lên bên cồn, nơi mé rừng, nơi bờ suối? Hình ảnh hoán dụ “áo chàm” làm nổi bật đối tượng đưa tiễn và màu sắc Việt Bắc. “Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi…Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” gợi lên nhiều thương nhớ rưng rưng. Các từ láy: “tha thiết, bang khuâng, bồn chồn” là tâm trạng của mình,của ta:
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Mười hai câu thơ tiếp theo, các cặp từ ngữ: “mình đi” và “mình về” được giao hoán, luân phiên đến ba lần đầy ấn tượng. Điệp ngữ “có nhớ” được láy lại đến năm lần, chốt lại ở các câu lục, tạo nên cảm xúc bâng khuâng, bồn chồn, tha thiết:
Mình đi,có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai
Những gian khổ, thiếu thốn, khó khăn khi cách mạng còn trứng nước, những ngày Bác Hồ mới về nước “nhóm lửa” tại Pắc Bó, Cao Bằng. “Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù ”nơi chiến khu giữa vòng vây của giặc Pháp, giặc Nhật đã trở thành kỉ niệm sâu sắc trong lòng kẻ ở người về. “Miếng cơm chấm muối” thuở ấy đã làm cho tình đồng chí, tình đồng đội, tình quân dân thêm sắt son bển chặt, đã soi sáng lí tưởng chiến đấu cứu nước, cứu nhà, đã làm cho mối thù đế quốc thêm khắc sâu vào xương tủy:
Mày sẽ chết! Thẳng giặc Pháp hung tànXem thêm: Phong cách văn xuôi của Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng rất khác nhau, nhưng họ đều là những nhà văn nhân đạo chủ nghĩa Băm xương thịt mày, tao mới hả.
(Dọn về làng- Nông Quốc Chấn)
Mình về xuôi, mình đi xa để lại bao nhớ thương cho cho người ở lại, cho cảnh vật cỏ cây, núi rừng chiến khu. Rừng núi, trám bùi, măng mai được nhân hoá, mang theo bao nỗi nhớ, bao nổi buồn thương. Cảnh vật như hoà lệ, Các chữ chữ “già ”gợi lên nhiều bơ vơ, man mác, bâng khuâng:
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Làm sao có thể quên được nghĩa tình Việt Bắc trong những tháng ngày gian lao và anh dũng ấy:
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đã lòng son
Tố Hữu đã sáng tạo nên những hình ảnh tượng trưng, tương phản (lau xám / lòng son) để ca ngợi đồng bào các dân tộc Việt Bắc. Tuy nghèo khó, thiếu thốn nhưng tình yêu nước, tình cách mạng vẫn thuỷ chung son sắt, vẫn đậm đà. Đây là những vần thơ đẹp nhất, cảm động nhất nói về nỗi nhớ, lòng biết ơn và lòng tự hào đối với Việt Bắc.
Việt Bắc là “đầu nguồn ”, là “cái nôi “của cách mạng và kháng chiến, là căn cứ địa của Việt Minh thời kháng Nhật, là Tân Trào, nơi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân làm lễ xuất kích (tháng 12-1944), là mái đình Hồng Thái, nơi họp Quốc dân đại hội (tháng 8-1945). Việt Bắc là chiến khu bất khả xâm phạm, là thủ đô gió ngàn: “Núi giăng thành luỹ sắt dày – Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, nên bao giờ có thể quên:
Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
Những địa danh lịch sử, núi non, mái đình, cây đa… đã trở thành kỉ niệm sâu sắc trong lòng kẻ ở, người về đối với Việt Bắc:
Mười lăm năm ấy ai quênXem thêm: Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng. Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa
Một nét đặc sắc của đoạn thơ là tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đối xứng rất tài tình. Các câu bát được tạo thành hai vế đối nhau (tiểu đối) làm cho ngôn ngữ thơ hài hoà, mang vẻ đẹp cổ điển:
Nhìn cây nhớ núi,// nhìn sông nhớ nguồn?
Bâng khuâng trong dạ, // bồn chồn bước đi
Mưa nguồn suối lũ,// những mây cùng mù
Miếng cơm chấm muối,// mối thù nặng vai
Trám bùi để rụng,// măng mai để già
Hắt hiu lau xám, // đậm đà lòng son
Nhớ khi kháng Nhật, // thuở còn Việt Minh
Tân Trào, Hồng Thái, // mái đình, cây đa.
Đoạn thơ trên đây cũng như cả bài thơ, có trường hợp chữ mình xuất hiện đến ba lần trong một câu thơ. Thật không dễ phân biệt rạch ròi chủ thể trữ tình trong ba chữ mình đó. Phải chàng mình cũng là ta, ta cũng là mình, hai tâm hồn đã nương tựa vào nhau:
– Mình đi, mình có nhớ mình
– Mình đi, mình lại nhớ mình
“Việt Bắc " là đỉnh cao của thơ Tố Hữu, cũng là thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến. Đoạn thơ trên đây tiêu biểu cho vẻ đẹp đặc sắc đó.
Ngôn ngữ thơ vừa thấm đẫm chất trữ tình ca dao dân ca, vừa mang vẻ đẹp của thi ca cổ điển dân tộc. Tinh nghĩa thuỷ chung của ta với mình, lòng biết ơn, niềm tự hào đối với chiến khu Việt Bắc và đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã tạo nên tính nhân dân sâu sắc của bài thơ.
Sau hơn nửa thế kỉ, đọc “Việt Bắc ”của Tố Hữu, ta càng xúc động, bồi hồi về điệp ngữ “có nhớ”. “Việt Bắc” là bài ca tinh nghĩa thủy chung. Bài ca ấy, bài học ấy cho tuổi trẻ chúng ta thời đổi mới ngày nay niềm tin yêu và sức mạnh để bước vào đời và biết sống đẹp.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau đây trong phần đầu bài “Việt Bắc” của Tố Hữu_ “Mình về mình có nhớ ta…Tân Trào, Hổng Thái, mái đình, cây đa” | 1,426 | |
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm: Trong anh và em hôm nay… Làm nên Đất Nước muôn đời
Gợi ý
Đề bài:
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…
(Văn học 12, tập một, Nxb. Giáo dục, 2000, tr.249)
Phân tích đề
Đề yêu cầu phân tích một đoạn trong bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm. Cần lưu ý: bài thơ Đất Nước là một phần của trường ca Mặt đường khát vọng. Cả bản trường ca có chung một nguồn cảm hứng to lớn là cảm hứng về đất nước được gợi lên từ những năm tháng nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bài thơ Đất Nước là phần cảm hứng ấy được thể hiện một cách tập trung nhất, cùng với những suy ngẫm của tác giả, một nhà thơ trẻ khi đối diện với chiến tranh.
Đoạn trích ở đề nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thể hiện suy nghĩ của mình về mối quan hệ riêng – chung, quan hệ cá nhân – cộng đồng, sự tiếp nối của các thế hệ trong một đất nước, một dân tộc. Dĩ nhiên, những suy ngẫm ấy được thể hiện bằng thơ, tức không đơn thuần là tư tưởng, mà chứa đựng cảm xúc, tình cảm của tác giả.
Bài làm
Mở bài
Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ trẻ tiêu biểu thời chống Mỹ, cứu nước. Thơ ông giàu chất trí tuệ, cảm xúc được dồn nén và có nhiều liên tưởng phong phú. Đất Nước được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng (1971) khá điển hình cho vẻ đẹp của thơ Nguyễn Khoa Điềm những năm tháng ấy.
Đoạn trích ở trên thể hiện suy nghĩ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về mối quan hệ riêng – chung, quan hệ cá nhân – cộng đồng, sự tiếp nối của các thế hệ trong một đất nước, một dân tộc. Những suy ngẫm ấy được thể hiện ấy bằng thơ, tức không đơn thuần là tư tưởng, mà chứa đựng cảm xúc, tình cảm của tác giả, do đó có sức lay động tâm tư người đọc.Xem thêm: Rèn luyện kỹ năng tự học môn Ngữ VănThân bài
1. Phân tích 9 dòng thơ đầu: Cảm nhận mới của nhà thơ về đất nước.
Chín dòng thơ đầu nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm nêu lên những cảm nhận của mình về đất nước. Nếu như ở đoạn thơ trước đó trong bài thơ, tác giả nhìn nhận đất nước từ bề dày văn hóa dân tộc hàng nghìn năm qua, thì ở đây lại là những suy nghĩ về đất nước từ cuộc sống hiện tại trong các mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – cộng đồng, sự tiếp nối giữa các thế hệ.
Khổ thơ mở đầu bằng một lời khẳng định:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Lâu nay, trong suy nghĩ của nhiều người, đất nước, quê hương, Tổ quốc, dân tộc… luôn là những khái niệm trừu tượng. Với nhà thơ trẻ đang đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt một mất một còn, đất nước gần gũi, thân thiết. Điều này chưa hẳn đã mới, trong ca dao, dân ca có không ít những câu hát như thế:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Quê hương là tất cả những gì gắn bó, ruột rà với con người. Đó là người ta yêu tha thiết. Đó là buổi sáng làm đồng. Đó cũng là từng miếng ăn quê kiểng mỗi ngày…
Song, cái mới ở khổ thơ Nguyễn Khoa Điềm là đất nước ở trong mỗi một con người, đất nước ở trong ta chứ không ở ngoài ta (Trong anh và em hôm nay… / Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm… / Đất Nước là máu xương của mình). Đó là một nhận thức mới về đất nước. Nhận thức ấy được nêu ra để dẫn dắt đến một ý tứ khác của những dòng thơ ở cuối khổ này (từng cá nhân phải làm gì cho đất nước).
Bốn dòng thơ kế tiếp mở rộng ý ban đầu:
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn to lớn
Hai câu thơ (bốn dòng) được câu trúc giống nhau theo kiểu cấu trúc của câu có điều kiện trong văn xuôi hay lời nói thông thường: Khi… Đất Nước. Hai câu thơ cũng là những lời khẳng định (kết quả của sự nhận thức) về một chân lý. Cả bốn dòng chỉ có một hình ảnh, lại là hình ảnh mang tính tượng trưng: cầm tay diễn tả sự thân thiết, tin cậy, yêu thương lẫn nhau. Hình ảnh ấy đi liền với những tính từ chỉ mức độ (hài hòa, nồng thắm, vẹn tròn, to lớn). Bởi vậy, dù ý tứ tuy không phải là quá mới mẻ, song, những câu thơ ấy lại có sức nặng của tình cảm chân thành. Những câu thơ này còn có một tầng nghĩa thứ hai, tác giả không trực tiếp nói ra. Đó là đất nước không phải là một khái niệm trừu tượng, càng không phải là một giá trị bất biến, có sẵn. Đất nước là một thực thể sống và sự sống ấy ra sao ở về phía tất cả những con người trong đất nước đó. Nói rõ ràng ra, đó là mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa mỗi một con người với đất nước. Nhưng như thế thì còn gì là thơ nữa!Xem thêm: Tình yêu thương giữa con người với con người thể hiện qua tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân Từ câu chuyện hiện tại, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc và suy nghĩ về đất nước ở tương lai:
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Đất nước không chỉ có ngày hôm qua và hôm nay. Đất nước của ngày mai. Từng thế hệ kế tiếp sẽ làm cho đất nước trường tồn mãi mãi.
Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến khóc liệt thời bấy giờ, phải thấy ở những câu thơ trên còn là một khát vọng: đất nước sẽ hòa bình, đất nước sẽ tươi đẹp và còn nhiều hơn thế nữa.
2. Những khổ thơ cuối, nhà thơ nêu lên trách nhiệm của cá nhân đối với Đất Nước:
Em ơi em đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…
Câu trúc của câu thơ cũng theo kiểu suy luận: Đất Nước là… nêu lên một tiền đề. Từ tiền đề ấy, phải biết… / phải biết… để làm nên… Câu thơ giàu chất duy lý nhưng không lên gân mà trở thành lời nhắn nhủ tha thiết, ở đây có những từ tượng trưng rất đáng chú ý: máu xương, gắn bó, san sẻ, hóa thân, dáng hình, muôn đời. Sau rất nhiều suy nghĩ cụ thể về đất nước, đến đây nhà thơ khẳng định Đất Nước là máu xương của mình. Máu xương là sự sống. Rất ít trường hợp người ta ví một điều gì với máu xương, bởi nó biểu trưng cho sự thiêng liêng. Đất nước là máu xương có nghĩa là đất nước tồn tại như một sự sống và để có sự sống ấy hẳn phải có rất nhiều hy sinh. Quả đúng như vậy, biết bao con người, bao thế hệ đã ngã xuống cho sự sống còn của đất nước. Vì thế, mỗi một con người phải biết gắn bó và san sẻ. Gắn bó là yêu thương, quan hệ mật thiết với nhau. Từ gắn bó ấy mới có thể san sẻ, san sẻ về trách nhiệm, san sẻ niềm vui, niềm hạnh phúc cho nhau.Xem thêm: Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu Đất nước vĩ đại nhưng đất nước là một thực thể sống. Thực thể ấy không phải là sự tập hợp của những cá nhân rời rạc mà là một cộng đồng. Hóa thân cũng có nghĩa là dâng hiến. Thời bình, người ta dâng hiên sức lực, mồ hôi cho Tổ quốc. Thời chiến, người ta dâng hiến cả sự sống của mình. Sự dâng hiến ấy, theo suy ngẫm của nhà thơ, là cuộc hóa thân. Bóng dáng mỗi người đã làm nên bóng dáng quê hương, xứ sở, đất nước. Không có sự hóa thân kia làm sao đất nước trường tồn, làm sao có được Đất nước muôn đời!
Những câu thơ đậm chất duy lý (khá chặt chẽ, lô gích) cất lên như tiếng gọi của trái tim, vì thế nó không thiết tha, thúc giục lòng người.
Kết luận
Đoạn thơ trên là một đoạn thơ hay trong bài Đất Nước. Nhà thơ đã thể hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình về đất nước bằng một giọng trữ tình, ngọt ngào. Câu chuyện về đất nước đối với mỗi người luôn là câu chuyện của trái tim, vừa thiêng liêng, cao cả, cũng vừa gắn bó, thân thiết. Từ suy nghĩ và tình cảm ấy, khi đố diện với kẻ thù của dân tộc, hẳn người ta phải biết làm chi cho Tổ quốc, giang sơn.
Ngày nay, đất nước đã sạch bóng quân thù. Nhưng trách nhiệm của mỗi công dân đối với đất nước vẫn rất cần đặt ra thường xuyên, bởi đó là câu chuyện không bao giờ cũ.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau đây trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm_ Trong anh và em hôm nay… Làm nên Đất Nước muôn đời | 1,709 | |
Bình giảng đoạn thơ sau: “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu… Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”
Gợi ý
Hình ảnh đất nước đã khơi nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao thi sĩ cách mạng để sáng tạo nên những vần thơ đẹp tuyệt vời. Chế Lan Viên nhìn suốt chiều dài lịch sử oanh liệt để khẳng định: Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Lê Anh Xuân đã tạc vào thơ một dáng đứng Việt Nam với hình ảnh Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân. Tố Hữu với hình ảnh đất nước sáng ngời Ôi! Việt Nam từ trong biển máu – Người vươn lên như một thiên thần. Với chương Đất Nước trong Mặt đường khát vọng (1974), Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên những cảm nhận sâu sắc về đất nước; về nhân dân, về dân tộc và trách nhiệm lớn lao của tuổi trẻ Việt Nam trước non sông đất nước qua những vần thơ:
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi! Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 ở Thừa Thiên Huế là con nhà phê bình văn học Hải Triều, một nhà phê bình xuất sắc đã từng chủ trì lý thuyết nghệ thuật vị nhân sinh trong cuộc tranh luận với Hoài Thanh 1936 – 1939. Đất Nước được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng (1974). Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ sinh viên các đô thị tạm chiếm ở miền Nam trước 1975 trước vận mệnh hiểm nghèo của đất nước; kêu gọi họ hướng về nhân dân mà xuống đường đấu tranh hoà nhập với cuộc kháng chiến của toàn dân tộc. Trong các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm giầu chất suy tưởng, xúc cảm dồn nén, thể hiện một chiều sâu văn hoá, đặc trưng của thế hệ các nhà thơ thời kỹ chống Mỹ cứu nước đã có một hành trang văn hoá chuẩn bị khá chu đáo trước khi bước vào chiến trường. Xem thêm: Phân tích bài thơ “Dọn về làng” của Nông Quốc Chấn Chương Đất Nước khai triển có vẻ phóng túng tự do như một thứ tuỳ bút thơ, nhưng thực ra tứ thơ vẫn tập trung thể hiện tư tưởng Đất Nước của Nhân dân qua các bình diện chủ yếu, đó là Đất nước trong chiều dài thời gian lịch sử, đất nước trong chiều rộng không gian lãnh thổ địa lý, đất nước trong bề sâu truyền thống văn hoá, phong tục, lối sống tâm hồn cốt cách dân tộc.
Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân là một tư tưởng rất tiến bộ của thơ ca thời đại cách mạng. Đoạn trích bình giảng trên đây đã thể hiện một cách sâu sắc và cụ thể sự hoá thân của nhân dân vào đất nước muôn đời.
Để nói lên công lao to lớn của nhân dân trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhà thơ đã nhắc đến những danh lam thắng cảnh, những tên đất tên làng trên mọi miền đất nước từ Bắc chí Nam. Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn thấy hình sông, thế núi là sự kết tinh đời sống tâm hồn của nhân dân.
Xuất phát từ quan niệm của nhà Phật (hoá thân), tác giả đã trình bày những cảm xúc suy tưởng của mình: chính nhân dân đã hoá thân thành đất nước hoá thân cho dáng hình xứ sở, làm nên đất nước vĩnh hằng. Những danh lam thắng cảnh không còn là những cảnh thú thiên nhiên thuần tuý nữa mà đã được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự hoá thân của những con người không tên, không tuổi. Xem thêm: Bình giảng 7 câu thơ đầu bài thơ "Đất nước” của Nguyễn Đình Thi Với nghệ thuật sâu sắc, từ ngữ giàu hình ảnh gợi cảm, tác giả đã viết lên những hình tượng sinh động, giàu sức khái quát. Từ hình sông, thế núi, từ truyền thống, tác giả đã tạo nên những liên tưởng độc đáo thú vị, giúp người đọc cảm nhận công lao to lớn của nhân dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân khiến cho những địa danh ngàn đời của Tổ quốc, qua cái nhìn sắc sảo đầy khám phá của nhà thơ chính là sự hoá thân của những con ngươi bình dị vô danh. Những con nguơi không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ đã làm ra đất nước.
Hòn Trống Mái, những địa danh, những hình sông thế núi mang hồn người, linh hồn dân tộc. Chúng là sự tượng hình, kết tinh đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân mang đậm chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Việt Nam. Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái là kết tính của tình yêu chung thuỷ của biết bao ngươi vợ chờ chồng trong chiến tranh liên miên, của sự gắn kết muôn đời, bất chấp mọi sự bão tố của thơi gian:
Không hoá thạch kẻ ra đi mà hóa thạch kẻ đợi chờ
Đợi một dáng hình trở lại giữa đơn cô
Tác giả không chỉ chiêm ngưỡng những hình ảnh núi Bút, non Nghiên mà còn nhìn ra trong đó phẩm chất, truyền thống hiếu học của dân tộc ta từ bao đời nay. Những núi Bút non Nghiên phô bày vẻ đẹp mỹ lệ giữa đất trời nước Việt hay là hình tượng những người học trò nghèo đã gửi gắm quyết tâm, ước vọng của mình vào đấy?
Người học trò nghèo… non Nghiên
Nhà thơ đã tìm về cội nguồn để cảm nhận sâu sắc dáng hình đất nước. Những hình ảnh thân thuộc của non sông đất nước gợi lên quá khứ hào hùng với truyền thống đánh giặc ngoại xâm oanh liệt của nhân dân ta với truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân, với sự nghiệp dựng nước đầy gian lao của Vua Hùng: Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng một bài thơ của Xuân Quỳnh mà mình yêu thích Gót ngựa Thánh Gióng… đất tổ Hùng Vương
Cho đến những con rồng nằm im cùng góp phần làm nên dòng sông xanh thẳm; con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh. Và cả những địa danh thật nôm na bình dị: Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm. Nguyễn Khoa Điềm đã đặt cái nhìn trân trọng của mình vào nhân dân không tên không tuổi những người dân nào không ai biết cũng làm nên tên núi, tên sông, và tất cả những cái bình thường trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân cũng hoá thân thành dáng hình xứ sở.
Tính khái quát của hình tượng thơ cứ được nâng dần lên. Đó là một hình dáng của tư thế, truyền thống Việt Nam, truyền thống văn hiến của dân tộc có 4000 năm lịch sử. Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi – Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha. Hình tượng thơ càng được nâng dần lên và chốt vào một câu đầy trí tuệ:
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Nhừng cuộc đời đã hóa núi sông ta
Đoạn thơ có kết cấu chặt chẽ, tự nhiên và được viết theo thể tự do, câu thơ mở rộng kéo dài nhưng không nặng nề mà biến hoá linh hoạt làm cho đoạn thơ giàu sức biểu hiện và sức khái quát cao. Đó là hình ảnh Đất Nước của Nhân dân – Nhân dân đã hoá thành đất nước. Bởi trên khắp ruộng đồng, gò, bãi, núi, sông đâu đâu cũng là hình ảnh của văn hoá, của lịch sử, của đời sống tâm hồn, cốt cách của Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau_ “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu… Những cuộc đời đã hóa núi sông ta” | 1,464 | |
Bình giảng đoạn thơ sau: “Trong anh và em hôm nay… Làm nên Đất Nước muôn đời” của Nguyễn Khoa Điềm
Gợi ý
Hình ảnh Tổ quốc đất nước đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca. Đã biết bao các thi sĩ cách mạng sáng tạo nên những vần thơ đẹp tuyệt vời ca ngợi đất nước trong 4000 năm lịch sử. Với Nguyễn Đình Thi đó là Tổ quốc đau thương dưới gót giày xâm lược đã quật khởi đứng lên chiến thắng huy hoàng. Với Lê Anh Xuân đó là dáng đứng Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân đã tạc vào thế kỷ. Còn Nguyễn Khoa Điềm với chương Đất Nước trong Mặt đường khát vọng (1974) đã cảm nhận sâu sắc đất nước là của nhân dân, đất nước là sự gắn bó giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa thế hệ này với thế hệ khác được diễn tả thật sâu sắc qua những vần thơ đầy tính chính luận và trữ tình:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng.
Em ơi em
Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hay nhất Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời
Cảm nhận đất nước một cách toàn vẹn, từ nhiều bình diện để làm nổi bật tình cảm và trách nhiệm của cá nhân. Đất nước là sự gắn bó giữa cái riêng và cái chung; giữa cá nhân và cộng đồng; giữa thế hệ này và thế hệ khác: trong anh và em, trong mỗi cá thể đều có một phần Đất Nước. Khi có sự kết hợp giữa các cá thể thì Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm, bền vững và đầy sức sống. Khi chúng ta cầm tay mọi người, liên kết gắn bó với cộng đồng thì Đất Nước vẹn tròn to lớn, có sức mạnh và tầm vóc vĩ đại. Thế hệ sau con ta lớn lên sẽ mang đất nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng, đến những tương lai tươi đẹp hơn, huy hoàng hơn hôm nay.
Từ sự cảm nhận nói trên về đất nước, tác giả bày tỏ thái độ đầy trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc gìn giữ, xây dựng cho đất nước bền vững muôn đời: Đất Nước là máu xương mình, là sinh mệnh của mình. Nói như nhà thơ Chế Lan Viên:
Ôi Tổ quốc, ta yêu như máu thịt
Như mẹ, như cha, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông
Vì thế, chúng ta phải biết quý, biết yêu, phải bảo vệ, phải gắn bó san sẻ, hy sinh cái riêng cho cái chung như nhà thơ Tố Hữu đã viết:Xem thêm: Tóm tắt truyện Thuốc của Lỗ Tấn Nếu là con chim chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình?
Xuất phát từ quan niệm nhà Phật (hoá thân), tác giả đã chứng minh chính nhân dân đã hoá thân thành đất nước, thành những hòn Vọng Phu, hòn Trống Mái… những thắng cảnh, những di tích, những tượng đài vĩnh cửu, tạo thành non sông, gấm vóc, vẻ đẹp tâm hồn, văn hoá Việt Nam đã hóa thân cho dáng hình xử sở làm nên Đất Nước muôn đời:
Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm
(Vũ Cao)
Thơm rất xa theo gió thoảng hương trầm
Cây trầm đẹp như cuộc đời chiến sĩ
Sống tươi tốt bao niềm tin bình dị
Thân hy sinh thơm đất, thơm trời
(Nguyễn Đức Mậu)
Các cô để lại tuổi thanh nỉèn
Mười chín, hai mươi, hăm hai tuổi
Cho đất nước, quê hương
Hồn trong như suối
Bình minh đời sáng rực vừng dương…
(Huy Cận)
Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
Đêm đêm tâm hồn em toả sáng
Những vì sao ngời chói, lung linh
Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong
Đã hoá thành những làn mây trắng
(Lâm Thị Mỹ Dạ)
Với mười ba câu thơ trên tác giả sử dụng linh hoạt thể thơ tự do, có phần phóng túng, phù hợp với tình cảm, mạch suy tư. Từ Đất Nước được lặp lại sáu lần và viết hoa, càng tăng thêm sự tôn kính, thiêng liêng. Những đại từ anh, em rồi chúng ta đặt đúng lúc, đúng chỗ đã thể hiện được mối quan hệ riêng – chung hài hoà. Đoạn thơ đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn cảm xúc và suy nghĩ, chính luận và trữ tình.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn KhuyếnVanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ sau_ “Trong anh và em hôm nay… Làm nên Đất Nước muôn đời” của Nguyễn Khoa Điềm | 853 | |
Bình giảng đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: Mình về mình có nhớ ta… Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa.
Hướng dẫn
1. Mở bài
– Sau hiệp định Geneve 1954, miền Bắc nước ta được giải phóng. Khoảng tháng 10 năm ấy, các cơ quan trung ương của Đảng và Nhà nước rời Việt Bắc chuyển về Hà Nội. Niềm lưuluyến giữa nhân dân Việt Bắc và nhũng người cán bộ cách mạng là nguồn cảm hứng để Tố Hữu sáng tác bài Việt Bắc, một khúc ca trữ tình hay nhất trong tập thơ cùng tên của nhà thơ.
– Đoạn mở đầu 20 câu thơ đã thể hiện tình cảm gắn bó giữa kẻ ở người về, tiêu biểu cho phong cách thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu.
2. Thân bài
a) Cuộc chia tay
a1. Lời người ở lại:
Mình về mình có nhớ ta,
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không,
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
– Với kết cấu theo lối hát giao duyên, đoạn thơ tả cuộc chia tay giữa người Việt Bắc và người cách mạng. Nghĩa tình kẻ ở người về được biểu hiện đằm thắm qua các đại từ mình, ta gợi bao lưu luyến trong buổi chia tay.
– Những lời nhắn nhủ của người ở lại với những từ láy gợi cảm quacách hỏi mình có nhớ ta, mình có nhớ không vang lên như day dứt không nguôi. Mười lăm năm ấy gợi thời gian, cây, núi, sông, nguồn gợi không gian. Thời gian của một thời kì hoạt động cách mạng và kháng chiến chống Pháp, không gian của một vùng căn cứ địa cách mạng. Trạng ngữ thiết tha mặn nồng thể hiện ân tình đầy hương vị mặn mà nồng thắm của bao nhiêu kỉ niệm mến yêu. Điệp từnhớ gợi nỗi nhớ triền miên…
a2. Lời người ra đi:
Tiếng ai tha thiết bên cồn,
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi.
Áo chàm đưa buổi phần li,
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu– Đây là tiếng lòng của người về. Người về nghe câu hỏi, lòng bồi hồi nên bước chân bồn chồn, áo chàm bình dị, chân tình. Câu thơ bỏ lửng với nhịp thơ ngập ngừng cầm tay nhau – biết nói gì – hôm nay diễn tả sự vấn vương vì xúc động nên không thể giãi bày tâm tình.
b) Người ở lại
Mười hai câu thơ tiếp theo là lời Việt Bắc. Giọng thơ vừa hỏi han vừa gợi nhớ theo thời gian, lan toả trong không gian. Nhớ về những kỉ niệm xa xưa từ buổi đầu cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp.
– Những không gian, địa điểm cứ hiện dần từ mờ xa, mưa nguồn, suối lũ, mây mù, đến xác định như một điểm chốt vừng vàng chiến khu, rồi dấy lên một sức mạnh tranh đấu, khi kháng Nhật, thuở Việt Minh, khai sinh những địa danh lịch sử như những cái nôi đón đỡ Tân Trào, Hồng Thải, mái đình, cây đa.
– Những chi tiết về cuộc sống và tình người: bát cơm chấm muối, quả trám bùi, đọt măng mai, mái nhà lau xám hắt hiu… cứ dần dần tái hiện, nhắc nhở mối thù hai vai chung gánh, những tấm lòng son không bao giờ phai nhạt.
– Nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ rừng núi nhớ ai…, trám để rụng, măng để già, điệp từ mình về, mình đi, có nhớ, còn nhớ, nhịp câu 2/4 – 4/4 đều đặn… gợi lên hình ảnh một người đang bâng khuâng sững sờ với cảm giác hụt hẫng của cuộc chia li, dè chừng sự lãng quên nên thiết tha nhắc nhở người về bằng những hoài niệm ân nghĩa nhất, nguồn cội sâu rộng nhất…, sâu trong tình người, rộng trong thời gian, không gian. Đây là tình cảm những con người cách mạng trong không gian, thời gian của cách mạng.
3. Kết bài
– Đoạn thơ thể hiện những tình cảm lớn có ý nghĩa thời đại. Đó là tình đoàn kết, nghĩa thuỷ chung giữa nhân dân và cách mạng, từ phong trào Việt Minh đến thời kì kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc.
– Đoạn thơ cũng thể hiện chất thơ trữ tình chính trị, đậm đà tính dân tộc của Tố Hữu. Phong cách đó đã ảnh hưởng quan trọng đối với thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại.
Nguồn: thêm: Bạn Bùi Thu Hiền viết một đoạn văn nói về bạn cũ | Bình giảng đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu_ Mình về mình có nhớ ta… Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa. | 769 | |
Bình giảng đoạn thơ trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi: “Sáng mát trong như sáng năm xưa… Sau lưng thềm lá… đầy”
Gợi ý
Dàn bài chi tiết
1. Mở bài
– Bài thơ Đất nước được hình thành trong một quãng thời gian dài (1948-1955); lần đầu tiên được đưa vào tập Chiến sĩ (1956). Bài thơ được tổ hợp từ một số bài thơ khác như Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và Đêm mít tinh (1949).
– Chủ đề bao trùm của Đất nước là lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha, ý thức độc lập tự chủ, là lòng tự hào về đất nước và nhân dân anh hùng, từ trong đau thương nô lệ, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã quật khởi vùng lên chiến thắng huy hoàng.
– Đoạn mở đầu bài thơ là một bức tranh thu Hà Nội trong những ngày tác giả rời thủ đô đi chiến đấu và hình ảnh người ra đi:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
…
Sau lưng thềm lá… đầy
2. Thân bài
– Bài thơ Đất nước không viết về mùa thu nhưng khởi nguồn cảm hứng cho nhà thơ nghĩ về đất nước là một buổi sáng mùa thu ở chiến khu Việt Bắc mang đậm đặc trưng thu của Việt Nam với bầu trời trong xanh, làn gió mát thổi nhẹ hoà lẫn với hương cốm ngạt ngào. Là một nghệ sĩ – chiến sĩ của thời đại cách mạng, Nguyễn Đình Thi cảm nhận mùa thu bằng hương cốm mới. Các nghệ sĩ đặc biệt yêu món ăn Việt Nam đều ca ngợi vẻ đặc sắc, độc đáo của cốm. Chỉ với hình ảnh "hương cốm mới", Nguyễn Đình Thi vừa gợi được thời gian, không gian thu, vừa bộc lộ được tấm lòng yêu nước thật bình dị mà không kém phần sâu lắng thiết tha của mình.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ đầu trong bài Tiếng hát đi đày của Tố Hữu
– Từ buổi sáng mùa thu ấy, nhà thơ bồi hồi nhớ lại "mùa thu đã xa". Đó là mùa thu phải từ biệt quê hương ra đi vì nghĩa lớn. "Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội", câu thơ đã đưa lại cho bức tranh thu một nét vẽ thật cụ thể. Từ "chớm" và cụm từ "chớm lạnh" đã gợi rất đúng một ngày mới chớm vào thu của Hà Nội.
– Dường như trong cái buổi sáng chớm lạnh ấy, chỉ có gió thổi trong những phố dài, làm cho phố như dài thêm ra vì vắng lặng. Từ nhạc điệu đến từ ngữ, câu thơ gợi cho ta cảm giác chưa thật phải là gió. Vì không phải là "heo may" mà là "hơi may". Từ "xao xác" là một từ láy vừa gợi hình vừa gợi cảm. Ở đây tác giả sử dụng thủ pháp đảo ngữ đã tạo nên một hiệu quả biểu đạt khá cao. Hình như nghe "xao xác" rồi mới nhận ra "hơi may". Một câu thơ chứa đầy tâm trạng: tâm trạng của những người thiết tha gắn bó với quê hương Hà Nội mà phải rời quê hương ra đi vì nghĩa lớn, lòng không thể thanh thản dửng dưng, trái lại luôn luôn trĩu nặng một nỗi yêu thương, bâng khuâng lưu luyến, mong nhớ lặng buồn:
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
– Đã có nhiều ý kiến khác nhau về hình ảnh người ra đi trong hai câu thơ trên. Câu thơ này cũng có nhiều cách ngắt nhịp khác nhau. Nguyễn Đình Thi đã có lần phát biểu về ý thơ này. Ông cho rằng vẻ đẹp của mùa thu là vẻ đẹp giản dị sâu lắng. Câu thơ gợi lên một khung cảnh rất đẹp nhưng có cái gì đó tĩnh lặng, hoang vắng, man mác buồn. Đó là tâm trạng buồn rất thực của những người rời Hà Nội vì mục đích, lẽ sống cao cả.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam– Nổi lên trên bức tranh thu Hà Nội với những hình khối, màu sắc và ánh sáng đầy ấn tượng vẫn là hình ảnh người chiến sĩ vừa hiên ngang kiên nghị, vừa có nét hào hoa tinh tế, gắn bó thiết tha với quê hương. Hình ảnh này làm ta nhớ đến hình ảnh tráng sĩ một thuở kiên quyết lên đường vì đại nghĩa với tâm hồn lãng mạn mộng mơ có sức hấp dẫn mạnh mẽ được diễn tả khá sinh động và đẹp đẽ trong những vần thơ của Thâm Tâm, Quang Dũng.
– Nhịp điệu của câu thơ cuối nói riêng, đoạn thơ nói chung cũng đã góp phần diễn tả cái tâm trạng rất thực của người ra đi nói trên: chậm rãi đều đều trầm lắng như nhịp bước của người ra đi, quả quyết và lưu luyến, lặng lẽ, mà xao động.
3. Kết luận
– Đoạn thơ chỉ có bảy câu thơ nhưng vừa có hình, có tình, có nhạc, có ánh sáng, màu sắc. Nó xứng đáng là một trong những đoạn thơ hay nhất viết về mùa thu.
– Đằng sau bức tranh thu nên thơ nên họa là tấm lòng gắn bó tha thiết với quê hương đất nước và niềm ngưỡng vọng của thi nhân đối với vẻ đẹp của những con người lên đường theo tiếng gọi của non sông.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi_ “Sáng mát trong như sáng năm xưa… Sau lưng thềm lá… đầy” | 914 | |
Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Tiếng hát đi đày của Tố Hữu:
Đường lèn xứ lạ Kông Tum
Quanh quanh đèo chật, trùng trùng núi cao.
Thông reo bờ suối rì rào,
Chim kêu chiu chít, ai nào kêu ai?
Tiếng hát đi đày là bài thơ cuối cùng của phần “Xiềng xích trong tập thơ Từ ấy”. Bài thơ được Tố Hữu làm trong một chuyến chuyển nhà lao năm 1942 từ Quy Nhơn lên nhà tù Daklay ở sâu trên miền núi Tây Nguyên. Bài thơ vừa như một bút kí ghi lại bức tranh phong cảnh vừa như một sự thổ lộ trang trải những cảm xúc tâm trạng của người chiến sĩ trên con đường ấy. Cảnh và tâm trạng gắn bó hài hòa với nhau tạo nên một bức tranh phong cảnh đẹp được thể hiện qua khổ thơ:
Đường lèn xứ lạ Kông Tum
Quanh quanh đèo chật, trùng trùng núi cao.
Thông reo bờ suối rì rào,
Chim kêu chiu chít, ai nào kêu ai?
Cùng với khung cảnh này càng làm cô liêu hưu quạnh, núi rừng chập trùng hiểm trở, tâm trạng người chiến sĩ cũng chuyển biến, tăng tiến. Ban đầu mới chỉ là nỗi buồn nhớ, nhớ nhà: “Nhà sao trông lại yêu hơn mọi lần”; nhớ người: “Ở sao như đã quen thân từ nào”. Rồi dần chuyển sang cảm giác cô đơn khi “nhà đã rải lơ thơ” và “ Người đi mấy bóng vẩn vơ trên đường”. Cảm giác ấy xâm chiếm tâm hồn người chiến sĩ:
Đường lên xứ lạ Kông Tum
Quanh quanh đeo chật, trùng trùng núi cao.
Hai chữ "xứ lạ" cho ta thấy một cảm giác ngỡ ngàng, xa lạ về vùng đất đầu tiên anh tới. Đó là một vùng núi hiểm trở: "Quanh quanh đèo chật, trùng trùng núi cao". Hình thức tiểu đối rất chỉnh trong câu thơ đã nêu bật sự hiểm trở đó. Núi thì cao trùng trùng, đèo thì chật quanh quanh: sự hiểm trở như đã phô bày trước mắt, có thể nhìn thấy, có thể cảm thấy được.
Hai câu trên dường như chỉ là sự thông báo, sự miêu tả cảnh vật, tâm trạng con người chưa rõ nét. Nhưng chính sự thông báo, sự miêu tả đó đã chuẩn bị cho tâm trạng con người trào ra trọng hai câu tiếp! Chỉ có điều, tâm trạng ấy lại được lồng trong cảnh vật, hòa vào cảnh vật để tạo nên những câu thơ đẹp khó quên:
Thông reo bờ suối rì rào
Chim chiều chiu chít, ai nào kêu ai?
Cảnh thông reo trên bờ suối, chim chiều kêu chiu chít thật đẹp và cũng thật đúng với rừng núi Kông Tum. Hình ảnh và âm điệu trong câu thơ rất đặc sắc và gợi cảm. Hình ảnh "thông reo bờ suối" thật mơ mộng, mang cái đẹp của thiên nhiên thuần khiết hoang sơ, nhưng còn đẹp hơn là âm thanh của tiếng thông reo. Hãy đọc câu thơ và lắng nghe trong đó: có phải là tiếng thông đang reo rì rào bên suối? Câu thơ sáu chữ mà ba chữ có phụ âm rung lại toàn thanh bằng (reo rì rào) đọc lên như nghe có tiếng gió, tiếng lá cây… và từ tượng thanh "rì rào” đặt ở cuối câu thơ thật "đắc địa" làm cho tiếng thông reo như càng trầm lắng, ngân xa…
Xem thêm: Suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa văn chương nghệ thuật với cuộc đời thông qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu?Đến cái tiếng "chim chiều chiu chít" thì lại càng đặc sắc và gợi cảm. Câu trên, ba phụ âm "r" thì câu dưới có đến bốn phụ âm "ch" đứng liền nhau trong bốn chữ tạo thành cái tiếng chim kêu rất thích. Chiều xuống, chim gọi nhau về tổ kêu "chiu chít". Nhưng có phải rằng, chỉ hai tiếng "chiu chít" thì cái tiếng chim ấy vẫn chưa vang lên da diết, hối hả gọi nhau: mà phải có cả bốn tiếng “chim chiều chiu chít" thì cái âm thanh ấy mới thực sự vang lên trong lòng người đọc. Không phải chỉ hai con gọi nhau mà nhiều con cùng gọi nhau trong tiếng kêu hoảng loạn, hốt hoảng vì chiều đã xuống. Và bốn phụ âm "ch” đứng liền nhau đã tạo ra được cái tiếng chim kêu đó. Điều quan trọng là phải đứng liền nhau để tạo ra sự luyến láy, nếu đứng tách ra thành "chim chiều kêu chiu chít” thì hiệu quả nghệ thuật sẽ không còn gì nữa.
Tạo ra được cái tiếng thông reo và cái tiếngchim kêu ấy trong hoàn cảnh đi đày đã là một nét tài hoa sáng tạo của Tố Hữu. Nhưng còn tài hơn và sâu sắc hơn là nhà thơ đã giao cảm với hai âm thanh đó và gửi lòng mình vào hai âm thanh đó. Tiếng thông reo bên bờ suối và tiếng chim chiều chiu chít là âm thanh của thiên nhiên. Tiếng lòng nhà thơ là tiếng của con người. Hai âm thanh của thiên nhiên đều phảng phất buồn, nhất là tiếng chim chiều gọi nhau về tổ. Tiếng lòng của con người cũng buồn trong cảnh đi đày cô đơn, hoang vắng giữa "xứ lạ Kông Tum". Người gặp cảnh và tìm thấy nỗi buồn của lòng mình trong cảnh vật, trong tiếng thông reo rì rào bên bờ suối, trong tiếng chim chiều chiu chít. Có khác gì khi Bác nhận ra tâm trạng mình trong cánh chim mỏi bay về rừng vì chòm mây cô đơn bay trên bầu trời trong buổi chiều muộn nơi đất khách quê người trong thân phận người tù xa xứ? (Chiều tối – Nhật kí trong tù). Ở đây cũng
vậy. Trong sự giao hòa, đồng cảm ấy, nhà thơ đã thốt lên một câu hỏi tự đáy lòng mình: "ai nào kêu ai?" Cây thông, con chim và con người, cả ba đều buồn, đều đáng thương, vậy thì "ai nào kêu ai?" là phải, là đúng. Ai nỡ kêu ai khi họ là những người cùng cảnh ngộ. Câu hỏi đầy cảm thông, thương yêu đó, không chỉ cho ta hiểu lòng người tù – thi sĩ mà còn cho ta thây rõ hơn nỗi lòng buồn đau cô đơn của ông lức bấy giờ. Một nỗi buồn cô đơn rất "con người", nhưng không hề bi lụy, mà nó sẽ nâng con người đi lên như ta sẽ thấy qua tâm trạng của ông ở phần cuối bài thơ..
Trên đường đi đày, làm thơ đã khó, làm thơ hay lại càng khó. Vậy mà Tố Hữu lại để lại cho đời một Tiếng hát đi đày hay, trong đó có những khổ thơ hay và cả những câu thơ tuyệt mĩ không thể quên:
Thông reo bờ suối rì rào,
Chim chiều chiu chít, ai nào kêu ai?
Hãy nhớ đến cái tiếng "thông reo bờ suối rì rào", cái tiếng "chim chiều chiu chít" ấy để nhớ mãi một tấm lòng, giữa cô đơn hoang vắng trên đường đi đày, vẫn đầy thương yêu thông cảm sẻ chia, dù đó chỉ là một cây thông bên suối hay một cánh chim gọi nhau về tổ lúc hoàng hôn.
Xem thêm: Nêu tóm tắt quan điểm sáng tác nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Chứng minh sự thể hiện quan điểm ấy qua các sáng tác của người. -văn 12 | Bình giảng đoạn thơ đầu trong bài Tiếng hát đi đày của Tố Hữu | 1,251 | |
Đề bài: Em hãy bình giảng đoạn thơ đầu trong bài Tiếng hát đi đày của Tố Hữu
Tố Hữu được xem là một nhà thơ đồng thời cũng là một người chiến sĩ Cách mạng kiên trung. Vậy nên, có thể thấy rằng những sáng tác của ông thường gắn liền với cuộc đời Cách mạng của mình. In trong tập “Từ ấy”, và bài thơ “Tiếng hát đi đày” dường như đã ghi lại khoảnh khắc trên đường ông chuyển nhà lao từ Quy Nhơn lên nhà từ Đắc Lắc. Đặc biệt, có thể thấy đoạn thơ đầu hiện lên một bức tranh phong cảnh hòa quyện giữa cảnh vật thiên nhiên và tâm hồn nhà thơ:
“Đường lên xứ lạ Kông Tum
Quanh quanh đèo chật, trùng trùng núi cao.
Thông reo bờ suối rì rào,
Chim kêu chiu chít, ai nào kêu ai?”
Mở đầu đoạn thơ là sự ngỡ ngàng của nhà thơ khi đặt chân đến Kông Tum:
“Đường lên xứ lạ Kông Tum
Quanh quanh đeo chật, trùng trùng núi cao.”
“Xứ lạ” dường như đã cho thấy đây là vùng đất lần đầu tiên nhà thơ được đạt chân đến. Có thể thấy rằng ấn tượng đầu tiên của người chiến sĩ Cách mạng trên quãng đường tù đày chính là những cảnh vật thiên nhiên đầy hiểm trở của núi rừng. Từ láy gợi hình như “quanh quanh”, “trùng trùng” gợi cho người đọc liên tưởng đến sự trắc trở trên đường đi cứ thế nối tiếp nhau như đã được phô bày, hay lộ diện. Nhưng tiếp theo, cảnh vật lại có sự khác biệt đến không ngờ đến đó là:Xem thêm: Trình bày hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nhan đề bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo
“Thông reo bờ suối rì rào
Chim chiều chiu chít, ai nào kêu ai? “
Cảnh vật lúc này lại trở nên thật đẹp đến ngỡ ngàng. Có thể nói dường như khung cảnh thiên nhiên nơi đây mang vẻ đạp thơ mộng, hoang sơ mà lại rất thuần khiết. Các hình ảnh, âm thanh dường như đan hòa, hòa quyện vào nhau. Đẹp là vậy đó, nhưng dường như trong câu thơ vẫn phảng phất nỗi buồn của người bị tù đày, “Ai nào kêu ai?” – một câu hỏi mà như đã mang tâm trạng buồn cô đơn giữa thiên nhiên hoang vắng này. Có thể thấy xen lẫn trong nỗi buồn, nhà thơ cũng phần nào thể hiện nỗi niềm phẫn uất bị giam cầm tù đày. Nó như đã hé mở cho người đọc khát vọng tự do của nhà thơ ở những câu thơ tiếp theo.
Có thể nói đoạn thơ đầu của bài thơ “Tiếng hát đi đày” dường như đã cho thấy tài năng và tâm trạng của nhà thơ đã được thể hiện qua từng con chữ. Chính việc “Tả cảnh ngụ tình” khổ thơ tuy miêu tả cảnh vật thiên nhiên Kông Tum nhưng đồng thời lại như đã hòa quyện trong đó là những cảm xúc đan xen của người chiến sĩ Cách mạng bị tù đày.
Nguồn: Văn mẫu hay | Bình giảng đoạn thơ đầu trong bài “Tiếng hát đi đày” của Tố Hữu- Văn 12 | 522 | |
Bình giảng đoạn thơTa về mình có nhớ ta…… Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Hướng dẫn
– Nghệ thuật (có thể phối hợp với nội dung): nghệ thuật xây dựng hình ảnh cảm xúc, cách diễn đạt; ngôn ngữ (vần, nhịp, từ ngữ, câu thơ…) thểthơ… có những đặc điểm gì? Mở rộng so sánh để bình luận.
1. Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn thơ
2. Thân bài
a) Vị trí đoạn trích:
– Gồm 10 câu tập trung miêu tả vẻ đẹp của Việt Bắc thông qua hình ảnh của “hoa và người”
– Nêu bố cục của đoạn thơ: hai câu đầu là lời mở đoạn, tám câu tiếp theo là những nỗi nhớ cụ thể về Việt Bắc trong đó đã dựng lên bốn bức tranh đẹp như một bộ tranh tứ bình về cảnh và người Việt Bắc
b) Bình giảng đoạn thơ
– Mở đầu bài thơ, tác giả viết: Ta về mình có nhớ ta/ Ta về ta nhớ những hoa cùng người: là lời bộc bạch tình cảm luyến nhớ về hoa và người ở Việt Bắc, sau đó là bức tranh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Lời thơ không theo thứ tự của thời gian, không ngừng lặng mà sống mãi trong lòng người về, thời gian trong đoạn là hoài niệm của nhà thơ từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến, nó không tuân theo quy luật của thời gian mà tuân theo quy luật của tâm trạng.
– Bức tranh bốn mùa của “hoa và người” nơi núi rừng Việt Bắc
+ Mùa xuân: Cách dùng từ ngữ gọi tên mùa: “ngày xuân” làm nên sự sống động của thời gian, mùa xuân trong câu thơ như vận động tùng ngày, toả sáng vẻ đẹp thông qua gam màu vàng trắng của hoa mơ, làm nên sự trong trẻo của thiên nhiên, của núi rừng Việt Bắc. Cùng với thiên nhiên là hình ảnh cô gái lao động Việt Bắc với công việc và động tác đẹp trong lao động. Từ “chuối” vừa là công việc nhưng vừa thể hiện được sự trân trọng công việc của người lao động. Niềm đam mê, tình yêu lao động của người con gái Việt Bắc.
Xem thêm: Ôn tập giữa kì 1 lớp 5 tiết 1+ Mùa hạ: Âm thanh mùa hạ làm nên sự chuyển vận của thời gian, cảnh vật có sự phối hợp cả màu sắc và âm thanh. Trên nền thiên nhiên đó, xuất hiện hình ảnh gợi cảm, dễ thương của cô gái miền sơn cước: cô gái hái măng.
+ Mùa thu: Là bức tranh đẹp với ánh trăng trong trẻo, thanh bình. Trong cảnh trăng rừng đêm thu đó, ngân lên tiếng hát ân tình của người Việt Bắc. Đó cũng là khúc hát ân tình của nỗi lòng nhà thơ.
+ Mùa đông: Nổi bật trên nền núi rừng là màu đỏ tươi của hoa chuối, gam màu tươi sáng xua tan đi không khí giá lạnh của núi rừng Việt Bắc. Nếu màu đỏ tươi của hoa chuối là điểm sáng của núi rừng, của thiên nhiên Việt Bắc thì ánh nắng lạ, lung linh lấp lánh trên con dao người đi rừng lại là chi tiết sống động nhất. Đây là hình ảnh con người toả sáng vẻ đẹp trong lao động. Cách dùng từ trong câu thơ độc đáo, mới lạ, không phải là ánh nắng mà là “nắng ánh”, từ ngữ diễn tả được vẻ đẹp lung linh, sáng chói của ánh nắng. Câu thơ đồng thời thểhiện được thế đứng của con người lao độngtrong bức tranh thiên nhiên mùa đông đó.
c) Mỗi bức tranh trong bài thơ là một vẻ đẹp với hình ảnh, màu sắc, đường nét riêng. Thiên nhiên luôn gắn với người, những người lao động bình dị của miền sơn cước. Hình ảnh và hoạt động của con người làm cho thiên nhiên không hoang vắng mà trở nên sinh động, gần gũi nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ.
3. Kết bài
– Vẻ đẹp cảnh và người Việt Bắc trong kháng chiến tiếp thêm sức mạnh cho các thếhệ nối tiếp biết giữ gìn và phát huy trong xây dựng cuộc sống hôm nay.
– Liên hệ trách nhiệm bản thân làm gì cho quê hương?
Nguồn: thêm: Về một phương diện nghệ thuật mà anh (chị) cho là đặc sắc trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên | Bình giảng đoạn thơTa về mình có nhớ ta…… Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung | 741 | |
Bình giảng đoạn thơ: “Ta về mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài Việt Bắc của Tố Hữu
Gợi ý
Việt Bắc là một trong những đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10/1954, khi Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến từ giã "Thủ đô gió ngàn" về với "Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình". Cả bài thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương tuôn chảy về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ nhưng vui tươi hào hùng. Giữa trăm nghìn tình cảm nhớ thương tha thiết ấy, tác giả đặc biệt dành những cảm xúc đẹp nhất cho cảnh và người Việt Bắc:
Ta về mình có nhớ ta
…
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Mở đầu đoạn thơ là hai câu thơ giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơ:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Câu hỏi tu từ "mình có nhớ ta" vừa là lời đối thoại vừa là cái cầu nối xuống câu dưới và đấy cũng là cái cớ để bày tỏ tấm lòng, nỗi niềm của mình. Với Tố Hữu, người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ "bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng", mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của hoa cùng Người. Từ xưa đến nay, trong văn chương nghệ thuật, hoa và trăng là biểu tượng cho cái đẹp của thiên nhiên tạo vật. Ở đây, hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc. Hoa ở bên người để người mang gương mặt sắc màu của hoa. Người bên hoa để cho hoa mang hồn người. Hoa và Người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hoà đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt, độc đáo của vùng đất này. Chính điều ấy đã tạo nên cái cấu trúc đặc sắc cho đoạn thơ. Trong bốn cặp lục bát còn lại, câu sáu dành cho nhớ hoa, câu tám dành cho nhớ người. Cảnh và người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp dẫn.
Đọc đoạn thơ trên, chúng ta có cảm giác đoạn thơ được tác giả viết không hề trau chuốt mà như cứ tuôn chảy từ một tấm lòng nhớ thương da diết của người cán bộ về xuôi. Qua đấy mà cảnh và người cùng những hoạt động của nó ở núi rừng chiến khu Việt Bắc cứ lần lượt hiện lên có đủ bốn mùa trong năm, mỗi mùa có một màu sắc, âm thanh chủ đạo tạo thành một bộ tứ bình đặc sắc: khi lắng dịu, khi rực rỡ chói chang, khi rộn ràng náo nức.Xem thêm: Viết một bức thư ngắn (khoảng 10 dòng) cho một người bạn thân nói về ước mơ của em (ước mơ làm bác sĩ thú y)
Ở đây ta thấy bức tranh mùa đông hiện về với màu xanh bát ngát bao la của cánh rừng, có điểm những bông chuối đỏ tươi như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hoà, vừa cổ điển vừa hiện đại. Cái màu "đỏ tươi" của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của rừng, làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống, xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng.
Cùng hiện lên với cái lung linh của hoa chuối ấy là con người của vùng chiến khu lên núi làm nương, phát rẫy sản xuất ra nhiều lúa khoai cung câp cho kháng chiến "Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng". Trước thiên nhiên bao la, con người dường như càng trở nên kỳ vĩ, hùng tráng hơn. Ở đây nhà thơ không khắc hoạ gương mặt mà chớp lấy một nét thần tình rực sáng nhất. Đó là ánh mặt trời chớp loé trên lưỡi dao rừng ở ngang lưng. Con người như một tụ điểm của ánh sáng. Con người ấy cũng đã xuất hiện ở một vị trí, một tư thế đẹp nhất. Đấy là cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh và vững chãi: Giữa núi và nắng giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang. Con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc.
Mùa đông qua đi thì mùa xuân lại về mang bao nhiêu điều tốt lành đến cho con người, báo hiệu những niềm vui, sức sống âm thầm đang trỗi dậy. Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng: "ngày xuân mơ nở trắng rừng", "trắng rừng" được viết theo phép đổi trật tự cú pháp và từ "trắng" được dùng như động từ có tác dụng nhấn mạnh vào màu sắc, màu trắng dường như lấn át tất cả mọi màu xanh của lá, và làm bừng sáng cả khu rừng bởi sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu mát của hoa mơ. Điều đó chứng tỏ đây là những giờ phút hoa mơ nở rộ nhất.Xem thêm: Kết thúc bản "Tuyên ngôn Độc lập", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố rằng: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập... giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Anh (chị) hãy phân tích đoạn văn trên để làm sáng tỏ những tư tưởng lớn của Người
Ôi sáng xuân nay, Xuân bốn mốt (41)
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về im lặng, con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ
(Tố Hữu)
Nổi bật trên cái nền của hoa mơ nở trắng ấy, là hình ảnh con người với công việc của mùa xuân: đan nên những chiếc nón tình nghĩa gửi tặng bộ đội, dân công "nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang". Hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút và phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc
Bức tranh trong nỗi nhớ của Tố Hữu không chỉ có màu đỏ tươi của hoa chuối, màu xanh ngắt của rừng, màu trắng muốt của hoa mơ, mà còn có cả màu vàng rực của rừng Phách đang đổ "ve kêu rừng Phách đổ vàng". "Đổ vàng" có nghĩa là chuyển sang màu vàng nhưng nhiều và đậm hơn gợi cảm giác đột ngột. Màu của cây Phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng vàng ra. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm thanh. Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa, mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật. Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây Phách ngả sang mầu vàng rực rỡ. Đây chính là một biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc.
Hiện lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy, là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn đi hái búp măng rừng cung cấp cho bộ đội kháng chiến: "Nhớ cô em gái hái măng một mình". Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; mà trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương tha thiết. Hình ảnh thơ cũng gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái. Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả.Xem thêm: Trình bày hiểu biết của anh (chị) về những nét chính trong trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 - 1945 Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu mát.
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
"Trăng rọi hoà bình" là ánh trăng chiếu sáng không khí thanh bình nơi chiến khu kháng chiến. Những ai đã từng đi qua những tháng ngày "mưa bom bão đạn", đi qua bao đêm "vầng trăng" cũng "quầng lên một vầng lửa máu", thì mới thấy hết sự xúc động của lòng người trong những đêm trăng hoà bình đó. Vì vậy tả cảnh trăng rừng mà không thấy vắng lặng, lạnh lẽo; mà trái lại đã gợi lên không khí rạo rực đắm say. Bởi giữa ánh trăng rừng ấy, đã vang lên tiếng hát mang đậm ân tình thuỷ chung của ai đó càng làm cho ánh trăng như sáng hơn và cũng lung linh, thắm đượm tình người Việt Bắc hơn.
Đây là đoạn thơ vừa sâu sắc về nội dung, vừa độc đáo về nghệ thuật. Nó xứng đáng là đoạn thơ hay nhất Việt Bắc. Đoạn thơ cũng thể hiện rõ phong cách thơ Tố Hữu: trữ tình sâu lắng, tha thiết ân tình và mang đậm tính dân tộc. Những câu thơ lục bát đậm đà âm hưởng ca dao, nhịp nhàng, uyển chuyển; câu nọ gọi câu kia, ý nọ gọi ý kia cứ tuôn trào lên dào dạt cảm xúc qua cách xưng hô Mình – Ta, một cách xưng hô truyền thông thắm thiết tình nghĩa. Nhạc điệu dịu dàng trầm bổng khiến cho cả đoạn thơ mang âm hưởng bâng khuâng êm ái như một khúc hát ru kỷ niệm. Đặc biệt từ "nhớ" được lặp lại nhiều lần, mỗi lần một khác và sắc độ cứ tăng dần làm cụ thể hơn tấm lòng của người ra đi đối với cảnh và người Việt Bắc.
Với những nét chấm phá đơn sơ giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, đoạn thơ trên của Tố Hữu đã làm nổi bật được bức tranh cảnh và người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc. Cảnh và người hoà hợp với nhau tô điểm cho nhau, làm cho bức tranh trở nên gần gũi, thân quen, sông động và có hồn hơn. Tất cả đã tan chảy thành nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về xuôi.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ_ “Ta về mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài Việt Bắc của Tố Hữu | 1,803 | |
Bình giảng đoạn thơ: “Tiếng thơ ai động đất trời… Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày” trong bài Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu
Gợi ý
Có lẽ ở nền văn học nào, thời đại văn học nào người ta cũng thấy tồn tại một nguồn cảm hứng đầy tinh thần nhân văn, ấy là cảm hứng về con người và sự nghiệp của những danh nhân văn hoá. Ngoại trừ nhưng bài chỉ dừng ở mức thù tạc, giao đãi, lễ lạt, thành công chủ yếu ở đây trước hết thuộc về những tác phẩm xuất phát từ tấc lòng tri âm, tri kỷ. Người nay đồng cảm với người xưa, viết về người xưa nhưng để ký thác những tâm sự tri âm của người nay. Mà phần lớn là nỗi niềm cùa những kẻ, tuy cách xa về không gian, về thời đại, nhưng đều là "đồng bệnh tương liên”. Ngày xưa Nguyễn Du đã viết về Đỗ Phù, Khuất Nguyên, Tiểu Thanh… là thế. Giờ đây, Tố Hữu cũng viết về Tố Như như vậy. "Kính gửi cụ Nguyễn Du" được viết nhân 200 năm sinh đại thi hào là tấc lòng tri âm của Tố Hữu dành cho tác giả "Truyện Kiều", là sự cảm thông của một nhà thơ với một nhà thơ, một người thời chống Mỹ với một người thời đen tói của chế độ phong kiến, một người cách mạng với một người nạn nhân của những thế kỷ tăm tối bạo tàn…
Bằng thể thơ lục bát, bằng hình thức tập Kiều, Tố Hữu đã tạo nên một tiếng thơ thật cảm động. "Kính gửi cụ Nguyễn Du" là tiếng nói tri âm, là bắc một nhịp cầu giao cảm với người xưa. Mà với tác giá "Truyện Kiều", nhịp cầu khăng khít nhất khó có thể là gì khác hơn ngoài thể thơ lục bát và lối tập Kiều. Trong "Kính gửi cụ Nguyễn Du", người ta thấy Tố Hữu và Tố Như có cùng một tiếng nói. Nói khác đi Tố Hữu đã nói bằng chính cái ngôn ngữ của Tố Như. Vì thế mà âm điệu thì trang trọng cổ điên, không khí đượm một vẻ "Truyện Kiều" – Ta nói ràng Tố Hữu đã nhập được vào linh hồn của người xưa
Bày tỏ sự cảm thông với tâm sự bi kịch của con người Nguyễn Du, bày tỏ sự xót thương đối với nỗi khao khát đồng cảm tri âm cùa Nguyễn Du. bày tỏ sự tha thiết với "tấm lòng thơ vẫn tinh đời thiết tha" của Nguyễn Du…, Tố Hữu cứ dần dà trải lòng mình ra theo từng đoạn thơ gửi Nguyễn Du. Nhưng tiếng nói tri âm, cuối cùng cứ phải kết lại thành niềm trân trọng, biết ơn, thành những lời đánh giá đối với các phẩn tinh tuý nhất của người tri kỷ trong kiệt tác "Truyện Kiều". Bốn câu thơ sau đây là sự kết lại ấy:Xem thêm: Hình tượng "sóng” trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh là lời giải bày rất chân thực về khát vọng tình yêu của tác giả. Hãy phân tích và chứng minh vấn đề trên Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Ấy chính là những lời mẹ ru, Hoài Thanh lấy làm căn cứ để khẳng định: sau cách mạng chưa có ai đánh giá Nguyễn Du cao như Tố Hữu. Tố Hữu cảm nhận tiếng thơ Nguyễn Du trong một tương quan kỳ vĩ: thơ Nguyễn Du ở giữa "đất trời” và trong "nghìn năm". Nghĩa là trong sự trường tồn, đời đời, vĩnh hằng!
Ngày trước, lần đầu tiên khi gặp Bác Hồ trong "Sáng tháng Năm", Tố Hữu đã cảm nhận về tiếng nói của Người:
Giọng của Người không phải sấm trên cao
Âm từng tiếng thấm vào lòng mong ước
Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước
Tiếng ngàn xưa và cả tiếng mai sau.
Viết về một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Tố Hữu mới dùng đến những lời ấy, mới đồng nhất hồn Người với hồn Nước. Lời Người là lời của Nước non, của lịch sử, giống nòi. Và đây là lần thứ hai, viết về một nhà thơ vĩ đại, một nhà văn hoá lỗi lạc vào bậc nhất của dân tộc, Tố Hữu lại dùng đến lối nói ấy:
Tiếng thơ ai động dất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Một tiếng thơ có thể làm cảm động đến cả trời đất, thì đó là cách đánh giá tột bậc rồi! Chữ "đồng" rất gơi hình. Nó gợi ra sự vang vọng, trầm rung của thơ Nguvễn I)u giữa đất trời sông núi. Người ta thấy thơ Nguyễn Du như một điệu hồn bay trong đất trời, bay khắp núi sông Chữ "động" cũng rất giàu biểu cảm. Nó gợi được khía cạnh này: chính đất trời cũng đang thổn thức, xao xuyến. Cả hai khía cạnh ấy hội lại càng cho thấy sức sống và sức mạnh kỳ diệu của thơ Nguyễn Du. Ở câu thứ hai, cảm nhận và đánh giá còn cao hơn. Có lẽ là lời đánh giá cao nhất dành cho một tiếng thơ. Tiếng thơ từ trái tim của một người đã thành tài sản chung của cả nước non này. Bời tiếng thơ ấy không phải là tiếng noi của cá nhân, ấy là lời non nước Non nước cất lời, vọng lời lên qua tiếng thơ của Nguyễn Du Non nước này đã mượn tiếng thơ cùa Nguyễn Du để gửi điệu hồn của mình. Câu thơ giản dị mà trang trọng, nhất là nó thể hiện được sự bất hủ cùng sông núi ngàn năm của tiếng thơ ấy. "Nghe như non nước vọng lời ngàn thu". "Non nước" – phạm trù không gian, "ngàn thu", phạm trù thời gian. Cả hai đều có tính chất vỉnh viễn. Xem thêm: Nêu cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng hay nhất"Truyện Kiều " đã thuộc về sông núi này, "Truyện Kiều " đã hoà vào non sông đất nước nà.y Nó là tiếng nói của non sông, là linh hồn của đất nước. Nó sẽ trường tồn trong sự trường tồn của núi sông này.
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Ba trăm năm sau cái chết của Tiểu Thanh – một người con gái tài sắc mà bất hạnh – Nguyễn Du vô cùng ngậm ngùi thương tiếc. Õng muốn nhắn gửi hậu thế ba trăm năm lẻ niềm ước ao dược cảm thông, chia sẻ:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khắp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nửa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?)
Thì nay Tố Hữu đà trả lời: "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du" Tố Hữu khẳng định thật đinh ninh, không phải ba trăm năm mà đến nghin năm vẫn nhớ. Một điều thật đáng nói là con số 300 (tam bach dư niên hậu) của Nguyễn Du là con số cụ thế, chi một độ dài xác định và hạn định Còn chữ "nghìn năm" của Tố Hữu ở câu này (cũng như chữ "ngàn thu" ở câu trên) là một con số không xác định không hạn định. Nó đồng nghĩa với sự vỉnh viễn muôn đời. Với số từ như thế, câu trả lời của Tố Hữu vừa là một đánh giá. một dự báo vừa là một niềm tin vô bờ bến về sự đổng cảm của muôn thế hệ sau dành cho Nguyễn Du. Cũng cần phải nói thêm về sự tinh tế trong ngôn từ của Tố Hữu. Cũng khái niệm nghìn (1000) mà ở câu trên thì sĩ dùng "ngàn thu", câu dưới lại dùng "nghìn năm". Không chỉ giản đơn là tránh trùng lặp! Đằng sau đó thấy rõ một dụng công. ’’Nghìn" chi dơn thuần là từ chỉ số lượng, còn "ngàn” dường như có cả sác thái biểu vật, biểu hình, nó vừa chỉ số lượng lại vừa gợi được không gian – Do nằm trong chuỗi liên hệ với những "đại ngàn", "non ngàn”, v.v… vì thế ở câu trên, Tố Hữu đã dùng "ngàn": Nghe như non nước vọng lời ngàn thu. "Ngàn thu", do đó, vừa gợi được chiều dài thời gian vừa gợi được bề rộng không gian cho tiếng thơ Nguyễn Du, – cho lời non nước vang vọng. Tiếng thơ Nguyễn Du vọng qua không gian và vọng qua cả thời gian. Chữ "nghìn năm" chi biểu hiện sắc thái thơi gian, và ở câu sau nó được khai thác đúng như thế: "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du", và ý thơ cũng chỉ cần có thế!Xem thêm: Viết một bài văn kêu gọi con người: “Hãy giật đổ thành lũy của sự im lặng trước HIV/ AIDS" Trong bốn câu thơ này, chúng ta còn thấy niềm trân trọng, sự nâng niu, thành kính của Tố Hữu khi viết về bản thân lời thơ. Mở đầu là "Tiếng thơ ai" rồi nó thành "Lời ngàn thu – lời non nước". Chưa hết, nó thành "tiếng thương" và cuối cùng là "tiếng mẹ ru". Nó là các cấp độ đánh giá ngày một cao, hay là những chặng đường đi vào bất tử của thơ Nguyễn Du? Thật vinh phúc cho ai khi thơ họ đã đi vào tiếng ru đã nhập vào nguồn mạch văn hoá, đời sống tâm linh của cả một cộng đồng, nó đã nhập vào dòng sữa tinh thần để nuôi dưỡng thế hệ này sang thế hệ khác của giống nòi. "Truyện Kiều " của Nguyễn Du đã nhập vào dòng sữa tinh thần ấy. Chữ "tiếng hương’’ cũng thật hàm súc, là tiếng nói của tình thương? Là tiếng lời chở tình thương? là tiếng nói gợi cảm thương? Là tiếng thơ dễ thương? Thương là cội nguồn, là nội dung, là hình thức, là bản chất; là phẩm chất? Có lẽ nó là tất cả! Bởi thơ chân chính là thế! Thơ Nguyễn Du là thế; thơ của trái tim dào dạt thương yêu. Nên nó không phải là thơ, nó là "tiếng thương" của một trái tim lớn
Coi "tiếng thương" là bản chất của tiếng thơ Nguyễn Du, Tố Hữu xem như đã xứng đáng là tri âm của Tố Như
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn thơ_ “Tiếng thơ ai động đất trời… Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày” trong bài Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu | 1,748 | |
Bình giảng đoạn văn sau trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà… nó khắc hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”
Gợi ý
Từ "Vang bóng một thời" (1940) đến "Sông Đà” (1960), con đường sáng tạo văn chương của Nguyễn Tuân đã trải qua 20 năm tròn. Tùy bút "Sông Đà" làm cho chân dung văn học của Nguyễn Tuân thêm tươi sáng, rạng rỡ. Với 15 tùy bút và một bài thơ phác thảo, "Sông Đà" đã khẳng định vị trí vẻ vang của Nguyễn Tuân trong lịch sử văn học Việt Nam hiên đại, tô đậm một phong cách nghệ thuật uyên bác, độc đáo, tài hoa để ta thêm yêu mến tự hào.
"Người lái đò Sông Đà" rút trong tập tùy bút “Sông Đà” thể hiện cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân trên một tầm cao phát triển mới. Là nhà văn của những tính cách phi thường, Nguyễn Tuân phát hiện, miêu tả con người Tây Bắc mang bao phẩm chất tuyệt đẹp mà ông gọi đó là "chất vàng mười" của tâm hồn. Là một con người yêu thiên nhiên tha thiết, ông nói về cảnh sắc sông Đà với những phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi và sông, về cỏ cây trên một vùng đất nước bao la, hùng vĩ và thơ mộng.
Bút pháp của Nguyễn Tuân rất biến hóa. Lúc thì ông miêu tả sông Đà “hung bạo và trữ tình" qua cặp mắt ông lái đò dũng cảm tài hoa. Lúc thì ông nhắc đến sông Đà như một "cố nhân" sau những ngày dài ở rừng đi núi “them chỗ thoáng” và khi gặp lại con sông "vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng". Có lúc Nguyễn Tuân từ trên tàu bay nhìn xuống Đà Giang bâng khuâng dõi theo dáng hình của nó "tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình…”. Có lúc ông lại trôi theo con đò êm êm xuôi dòng để thăm thú và tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ, kì thú mà nhiều người trong chúng ta thèm khát. Nhà văn đang miêu tả hay đang tâm tình. Đây là một đoạn tùy bút đẹp, gợi tả vẻ đẹp hoang sơ, thơ mộng của miền trung lưu Sông Đà, một bài thơ trữ tình bằng văn xuôi hiếm có:
"Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ… và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên".
1. Nếu trong cảnh vượt thác, Nguyễn Tuân tung ra một vốn từ ngữ phong phú, chính xác, mới lạ để diễn tả cuộc chiến giữa ông đò với thần sông, thần đá có đủ quân đông, tướng dữ, bằng một giọng văn mạnh mẽ, nhịp văn gấp như thác gầm, sóng réo, thì đến đoạn văn này giọng văn, nhịp điệu thay đổi hẳn: nhẹ nhàng, lâng lâng, mơ màng, vẻ đẹp thơ mộng, êm đềm của Đà Giang ở quãng trung lưu được diễn tả đầy chất thơ. Đó là quãng sông từ thác Tiếu trở xuống, như một câu tục ngữ Thái đã nói: "Qua thác Tiếu trải chiếu mà nằm" – mới có vẻ êm đềm thơ mộng ấy. Câu văn toàn thanh bằng diễn tả con thuyền êm ái, nhẹ nhàng trôi xuôi: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà…". Một không gian nghệ thuật "lặng tờ” như ru “ông khách sông Đà" vào giấc mộng phiêu du. Cái ý "lặng tờ" được nhấn đi nhấn lại như ướp hương rừng gió núi vào hồn người mà lắng nghe, mà cảm nhận, mà thưởng ngoạn: “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi".Xem thêm: Tóm tắt tác phẩm số phận con người của SôlôkhốpNgược thời gian một thiên niên kỉ về trước, hai tiếng "lặng tờ” dẫn người đọc trở về với "mây trăm năm thấp thoáng mộng hình yên" (Hoàng Cầm). Đã có cái “phẳng lặng tờ" của con sông trong cổ thi: “Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ" nên mới có cái "lặng tờ" êm như ru của sòng Đà mà Nguyễn Tuân cảm mến.
2. Mơ màng nhìn dòng sông, nghe nước êm trôi “lặng tờ”, ông khách sông Đà bâng khuâng nhìn xa, nhìn gần cảnh ven sông. Bao trùm cảnh vật là một màu xanh hoang sơ, hồn nhiên. Cũng thấy nương ngô "nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa” đã có dấu ấn của con người in trên màu xanh mỡ màng ấy, nhưng thật vô cùng ngạc nhiên “mà tịnh không một bóng người". Chỉ có đồi gianh nôi tiếp đồi gianh trùng điệp với những “nõn búp" ngon lành. Hình ảnh đàn hươu xuất hiện trên màu xanh bát ngát những đồi gianh là một nét vẽ tài hoa làm cho bức tranh thiên nhiên sông Đà đượm màu “hoang dại” và "cổ tích". Không phải chú nai vàng ngơ ngác trong cái xào xạc của lá thu rơi thuở nào mà ở đây chỉ có: "Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm". Chỉ có Nguyền Tuân mới có cái nhìn ấy, mới có cách nói, cách tả độc đáo ấy; ông đã thả hồn mình vào cảnh vật, mà yêu mến, nâng niu. Câu văn của ông tường như là hai vế của một câu song quan trong bài phu lưu thủy:
"Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử
Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.
Nguyễn Tuân so sánh không phải để cụ thế hóa sự vật mà là trừu tượng hóa, thơ mộng hóa cảnh vật. "Bờ tiền sử", "nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” là chữ của nhà văn bậc thầy về ngôn ngữ này. Nguyễn Tuân không dựa vào trực giác để so sánh, ông đã dùng tưởng tượng để tạo nên những liên tưởng, những so sánh đầy chất thơ và rất kì thú, gieo vần vào tâm hồn người đọc bao cảm xúc, để cùng ông tận hưởng cái vẻ đẹp "hoang dại” và “hồn nhiên" của Đà Giang.
Rồi từ trong cái không gian "hoang dã" ấy của đôi bờ sông Đà, Nguyễn Tuân khao khát sống, khao khát "thèm" một âm vang của thời đại. Từ giấc mơ của “bờ tiền sử" chuyển sang giấc mơ về một tương lai huy hoàng qua một tiếng còi tàu kì diệu,… Trong mộng tưởng có nhiều say mê: "Chao ôi thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu”. Ông yêu sông Đà với cái "hồn nhiên", "hoang dại" của nó, đã "nhìn sông Đà như một cố nhân”, ông còn "thèm" ánh sáng của thời đại chiếu rọi đôi bờ Đà Giang, đưa người đọc cùng ông bay lên cùng "ngọn gió ngày mai thổi lại”. Chất lãng mạn trong văn Nguyễn Tuân dìu dịu trong hương hoa " bữa tiệc thạch lan hương” thuở nào, chỉ đủ cho ta mơ ước về một viễn cảnh… Đó là dư vị, là nhã thú mà ta cảm nhận được qua tiếng còi xúp-lê mơ màng. Cuộc đối thoại giữa ông khách sông Đà và con hươu thơ ngộ đích thực là một bài thơ trữ tình kì diệu, một giấc mơ chập chờn chơi vơi trong cái lặng tờ của ven sông. Cái tĩnh lặng của khoảnh khắc giao cảm thần tiên giữa ông khách sông Đà với đàn hươu núi đã lên đến đỉnh điểm. Trên cái nền xanh của cỏ sương, hươu chăm chăm nhìn người như dò hỏi. Lòng người và tạo vật cùng rung động: “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lư lừ trôi trên một mũi đò". Hươu nhìn người mà ngơ ngác… Người nhìn đàn hươu mà lâng lâng chìm vào mộng tưởng. Không một tiếng động nhỏ. Cả một không gian nghệ thuật trở nên tĩnh lặng, thiêng liêng, nhiệm màu. Hươu hỏi người hay người tự hỏi? Một giả định vừa thực vừa mộng ảo, siêu thực mà lãng mạn. Từ cõi mộng mà trở về thực tại với bao nỗi bồi hồi: Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi mình bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: "Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?". Có thể nói những nét vẽ của Nguyễn Tuân vể đàn hươu núi là những nét vẽ tài hoa, độc đáo, đã gợi tả cái vẻ đẹp hồn nhiên hoang dại của đôi bờ con sông Đà, đã tạo nên chất thơ, chất mộng ảo, dào dạt trong lòng người và thiên nhiên tạo vật. Câu chữ rất có duyên gợi lên cái hồn của cảnh vật: “Con hươu thơ ngộ”, "ngẩng đầu nhung", "áng cỏ sương", "chăm chăm nhìn", “con vật lành”, “tiếng còi sương…”. Nguyễn Tuân đã nhìn thiên nhiên với cái nhìn phát hiện ở những chi tiết, dáng vẻ mang tính thẩm mĩ tài hoa.Xem thêm: Kể về kỉ niệm tuổi học trò
Cảnh biến đổi nên câu văn Nguyên Tuân cũng co duỗi biến hóa. Một tiếng động nhỏ của con cá dầm xanh như làm cho ông khách sông Đà chợt tỉnh mộng. Mượn cái động để tả cái tĩnh được vận dụng sáng tạo, mở ra một không gian nghệ thuật mới. Cá quẫy, đàn hươu vụt biến, cá vọt lên mặt sông “bụng trắng như bạc rơi thoi”. Như một đoạn phim chuyển cảnh từ tĩnh qua động để rồi tĩnh lặng hơn. Hươu núi vụt biến, cá bụng trắng vượt lên rồi rơi xuống, lặn xuống; trước mắt du khách chỉ còn là một màu xanh của nước, màu xanh của cỏ gianh đồi núi. Câu văn "Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bọc rơi thoi" là một câu văn đẹp, có âm thanh, có màu sắc, có cái nghe thấy, có vật nhìn thấy, có điều cảm thấy. Hình ảnh so sánh “đàn cá… bụng trắng như bạc rơi thoi" đầy chất thơ vừa gợi tả sắc trắng (như bạc), vừa chỉ rõ dáng hình thon dài (như thoi) của đàn cá dầm xanh.
3. Cá quẫy… đàn hươu vụt biến… Và ông khách sông Đà chợt tỉnh mộng, trở về thực tại, với con đò trôi xuôi, êm ái, lặng tờ. Vốn là một nhà văn tài hoa, uyên bác, những câu văn, câu thơ cổ kim đông tây, ông "giắt đầy mình", vui thì ông đưa duyên, buồn thì ông ngâm ngợi. Tản Đà với Nguyên Tuân là đôi bạn vong niên. Chưa có thi sĩ nào viết nhiều và viết hay về núi Tản sông Đà như Nguyễn Khắc Hiếu. Có trăng phải có rượu, cũng như có cảnh đẹp thì phải ngâm thơ. Nguyễn Tuân coi sông Đà là “cố nhân", nên lấy thơ thi sĩ Tản Đà mà ngâm vịnh, mà ngắm cảnh đẹp Đà Giang, hỏi có còn nhã thú nào bằng? Tản Đà có ba bài thơ trường thiên cùng chung một giọng điệu: "Thư đưa người tình nhân không quen biết" (1918), "Thư trách người tình nhân không quen biết" (1921), “Thư lại trách người tình không quen biết” (1926). Nguyễn Tuân chỉ trích hai câu trong bài thơ thứ hai, trích 2 câu hay nhất, đích đáng nhất, lại vừa hợp cảnh, hợp tình. Ông viết:
“Thuyền tôi trôi trên "dải sông Đà bọt nước lênh bênh – bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình" của"mộtngười tình nhân chưa quen biết”(Tản Đà). Việc trích dẫn thơ Tản Đà ở đây còn mang một ý nghía "tri âm". "Rượu ngon không có ban hiền” để cùng nhau “đối tửu”. Cũng như có cảnh đẹp mà thiếu bạn thì cái tình yêu hoa thưởng nguyệt đã giảm đi ít nhiều nhã thú, Đọc thơ bạn, ngâm thơ bạn trong lúc này, Nguyên Tuân xem như bạn đang cùng mình ngồi trên con thuyền trôi trên “dải sông Đà bọt nước lênh bênh…” – mơ màng tâm tình và thưởng ngoạn. Đó là tài tử, là tài hoa. Đó là tri âm, tri kỉ.Xem thêm: Phân tích giá trị nhân đạo của truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân Càng về xuôi, sông Đà càng rộng thêm ra, dòng sông mênh mông hơn, êm nhẹ hơn. Nhìn dòng sông nước chảy "lững lờ", nhà văn cảm thấy nó “như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”. Dòng sông vẫn “lững lờ” êm trôi "như dang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con đang trôi nhữmg con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt dây cổ điển trên dòng trên"."Con đò mình nở chạy buồm vải", “con đò đuôi én thắt dây cổ điển” là nhận xét, là cách tả, là cách dùng từ rất độc đáo của Nguyễn Tuân. Mỗi câu, mỗi chữ đều phả linh hồn vào dòng sông, vào con đò, vào cảnh vât. Những so sánh ẩn dụ, những nhân hóa trong đoạn văn này cho thấy một tình yêu sông núi thiết tha, một cái nhìn đằm thắm nồng hậu, một cái lắng nghe trìu mến yêu thương. Nguyễn Tuân như đang mở rộng lòng mình, tâm hồn mình với dòng sông, để cùng với nó mà "lắng nghe", mà nhớ thương, những âm vang, những nhịp sống ấm áp của cuộc đời. Ta cảm thấy có một dòng sông đang êm trôi, đang lững lờ trong tâm hồn mình, bát ngát mênh mông… Văn Nguyễn Tuân không chỉ đem đến cho ta bao nhã thú mà còn để lại nhiều dư vị, dư ba là vậy!
Nguyễn Tuân yêu sông Đà, yêu Tây Bắc, yêu một trời hoa ban, yêu một sắc đào Tô Hiệu, yêu một ông lái đò dũng mãnh tài ba, lúc vượt thác cũng như lúc ngồi trong hang đá nướng ống cơm lam,… Bác Nguyễn yêu cái lặng tờ của dòng sông, yêu đàn hươu rừng thơ ngộ, yêu một tiếng cá dầm xanh quẫy, vọt lên mặt sông "bụng trắng như bạc rơi thoi". Tác giả "Sông Đà" còn yêu và say mê ngắm “con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển" của người Thái, "con đò mình nở chạy buồm vải” của người Kinh, người Mường… Yêu sông Đà, yêu cảnh sắc sông Đà, yêu Tây Bắc, với Nguyễn Tuân, với chúng ta, chính là tình yêu sông núi, yêu con người Việt Nam cần cù, nhân hậu, dũng cảm, tài ba…
Đoạn văn trên đây chỉ là một đoạn ngắn trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà”, chỉ nói về một nét đẹp – vẻ đẹp thơ mộng – của Đà Giang ở quãng trung lưu. Tuy vậy, ta vẫn cảm được cái hay, cái đẹp trong văn Nguyễn Tuân. Một chất thơ tỏa rộng, man mác. Một ngòi bút nhiều khám phá, sáng tạo và kiến tạo trong tạo hình, dựng cảnh, trong dung chữ, đặt câu. Những so sánh, ẩn dụ và liên tưởng rất gợi. Đây là một đoạn hay và đẹp nói về hương sắc đất nước. Chất tài hoa, tài tử, cái bề thế độc đáo, sắc sảo và uyên bác của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân để lại dấu ấn trên “trang hoa", "tờ hoa" này… Người đọc vẫn cảm thấy mình trở thành “ông khách sông Đà” đang cùng con thuyền nhẹ trôi trên Đà Giang cùng với Bác Nguyễn say mê ngắm cảnh đẹp của hương núi, hoa ngàn và lắng nghe tiếng cá dầm xanh quẫy trên cái lững lờ của dòng sông "dải sông Đà bọt nước lênh bênh…"…
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn văn sau trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân_ “Thuyền tôi trôi trên sông Đà… nó khắc hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên” | 2,712 | |
Bình giảng đoạn văn trích sau đây trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, từ: “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu (…) Mị nín khóc Mị lại bồi hồi”
Gợi ý
Vợ chồng A phủ là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám. Hiện thực và nhân đạo là nội dung nổi bật của thiên truyện này. Nội dung ấy lại được thể hiện bằng giọng văn trần thuật, miêu tả và thể hiện tâm trạng, tính cách nhân vật hết sức tinh vi và sâu sắc. Đoạn văn trên thể hiện rất rõ tài năng của Tô Hoài trong việc mô tả và khác hoạ tâm trạng nhân vật Mị, một nhân vật trung tâm của thiên truyện Vợ chồng A Phủ.
Đoạn văn chủ yếu nhằm diễn tả tâm trạng của Mị trong một đêm sau bữa cơm Tết cúng ma ờ nhà thống lý Pá Tra. Một tâm trạng hỗn hợp: vui sướng và đau khổ, ham sống và tủi nhục muốn chết. Và chủ yếu là thể hiện nội tâm nhân vật, ta thấy ít lời thoại Mị không nói câu nào. Chỉ một câu hỏi duy nhất của A Sử: "Mày muốn đi chơi à?, Mị không nói. A Sử cững không hỏi thêm nữa". Tất cả chìm đi trong im lặng, lầm lũi Mị như chiếc bóng câm lặng, vật vờ trong bóng đêm nhà A Sử. Đọc đoạn văn, người đọc thấy thời khắc trôi đi với Mị thực chậm chạp và nặng nề làm sao. Trong bóng tối nặng nề, mòn mỏi ấy, hành động của Mị cũng rất ít. Tô Hoài chỉ để vài dòng miêu tà vài ba hành động "Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát… Mị đứng dậy… từ từ bước vào buồng… Mị quấn lại tóc… Với tay lấy cái váy hoa vắt ở trong vách…". Chỉ có thế, phần lớn đoạn văn còn lại là những dòng nội tâm đang trỗi dậy, tuôn trào trong lòng Mị. Cũng vì để thể hiện nội tâm nhân vật rất đậc biệt này, không có cách nào hơn là trần thuật theo con mắt của chính người trong cuộc, con mắt và tấm lòng của Mị. Một người con gái tràn đầy sức sống nhưng bị đè nén đầy đoạ trong đau khổ và tủi nhục. Một số phận bi thảm. Và chính vì giàu sức sống nên bi kịch càng trở nên sâu đậm. Giá như tâm hồn Mị đã khô cạn, đã chết hẳn; giá như Mị quên hết được những kỷ niệm ngày trước, thì chắc Mị sẽ bớt đi được nhiều đau khổ, dằn vặt. Tô Hoài đã rất thành công trong việc diễn tà bi kịch tinh thần này. Rõ ràng là ban đầu Mị chỉ hành động theo thói quen một cách vô thức "Ngày Tết Mị cũng uống rượu, Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát rồi say". "Cũng uống" tức là chỉ làm theo người xung quanh Ngày tết người ta uống, Mị cũng uống. Tuy nhiên "uống ực từng bát", là hành vi bước đầu thể hiện một cái gì khác thường trong tâm lý người con gái rồi đây. Bi kịch bất đầu nổi lên khi ý thức Mi bắt đầu hoạt động thật sự. Mở đầu là nỗi nhớ "Lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mi văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng". Rồi Mị nhớ lại những ngày xuân trước, Mị thổi sáo giỏi "Có biết bao nhiêu người mê. ngày đêm đã thổi sao đi theo Mị"… Chính vì sống quá sâu sắc với quá khứ mà Mị quên tất cà hiện tại "Rượu đã tan lúc nào. Người về, kẻ đi chơi đã vãn cả. Mị không biết". Cũng chính vì sống lại với quá khứ, quên hiện tại mà "Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngay trước" và cô thấy mình còn trẻ "Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi". Giá như đừng nhớ lại, không nhớ lại được những ngày ấy thì Mị không rơi vào tâm trạng "Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay. chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại chi thấy nước mắt ứa ra". Đấy chính là tâm trạng khi Mị bừng tỉnh lại sống trong hiện tại. Quá khứ và hiện tại giằng xé trong tâm hồn Mị. Hiện tại tăm tối, ngột ngạt "Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lơ lửng bay ngoài đương" thức dậy quá khứ đẹp đẽ đang náo nức trong lòng Mị. Để làm nổi bật sức sống nội tâm vẫn mãnh liệt, nồng nàn trong tâm hồn Mị, như trên đã nói (đoạn văn ít hành động và chỉ duy nhất có một câu hỏi của A Sử mà Mị không trả lời), Tô Hoài đã tạo ra một cô Mị bên trong đang rạo rực, náo nức và quằn quại niềm ham sống và một cô Mị bên ngoài như cái bóng lầm lũi, như đã chết. Bên ngoài là một cô Mị không nói, không hề phản ứng gì trước những việc A Sử làm, A Sử nói Ngay cả việc A Sử "Còn muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ. Cũng chẳng bao giờ Mị nói gï". A Sử hỏi, Mị không trả lời. A Sử bắt đầu trói Mị bằng cả một thúng sợi đay, quấn tóc lên cột "làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa". Không có một dòng hay một chữ nào mô tả lại hành động phản kháng của Mị suốt từ đầu đến cuối, chỉ thấy cô im lặng, âm thầm cam chịu. Ẩn chứa bên trong lại là một cô Mị khác, một cỏ Mị đang náo nức, say sưa với những kỷ niệm tình yêu. Say sưa đến nỗi "như không biết mình đang bị trói… Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi. những đám chơi". Nhưng rồi "tay chân dau không cựa được" lại đưa Mị trở vể với hiện thực cay đắng "Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa". Kết thúc đoạn trích ta lại thấy con người bền trong của MịXem thêm: Hãy sử dụng câu sau đây làm câu chủ đề để viết một đoạn văn hoàn chỉnh (khoảng 10 - 15 câu): "Đọc truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa ta thấy cái lặng lẽ chỉ là bề ngoài giấu kín nhịp sống sôi động... của những người lao dộng hết lòng vì dất nưởc"
Xuất hiên "Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi". Đây chinh là lúc Mị quên đi thực tại. Nhớ về thời điểm trai làng "đến bên nách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vach ra rừng chơi Có thể thấy rõ thực tại và kỷ niệm cứ đan xen nhau, giằng xé tâm hồn Mị Càng nhớ tới kỷ niệm Mị càng xót xa, đau khổ với thực tại phũ phàng. Đoạn văn cho ta thấy trong con người lầm lũi, khốn khổ đó vẫn tiềm tàng một sức sống âm thầm nhưng mãnh liệt. Người đọc không mấy khó khăn khi muốn phân tích giá trị phản ánh hiện thực xã hội một cách sâu sắc ở đoạn văn. Chỉ cần dẫn ra chi tiết tác già mô tả thái độ của A Sử khi trói Mị một cách lạnh lũng, tàn nhẫn cũng đủ thấy bộ mặt thật ghê tởm của lũ chúa đất và số phận khốn khổ. tủi nhục của người dân miền núi, đặc biệt là người phụ nữ dưới ách thực dân phong kiến. Bên cạnh giá trị hiện thực ấy, đoạn văn tuy được trần thuật bằng một chất giọng có vẻ rất khách quan, người đọc vẫn nhận ra thái độ đồng cảm, xót thương của Tô Hoài đối với nhân vật Mị. Không thấu hiểu và thông cảm với những người bị chà đạp như Mị, nhà văn không thể hoá thân và diễn tả được thành công đời sống nội tâm phức tạp và phong phú của Mị trong cái đêm mùa xuân ấy. Cũng qua đoạn văn này, người ta còn thấy được thái độ cảm phẫn của tác giả đối với loại người như A Sử Không một lời bình phẩm, bình luận, chỉ qua vài nét phác hoạ hành động của A Sử hoặc tác già chỉ cần hạ vài chữ như "trói vợ xong" cũng đủ thấy thái độ căm phẫn của tác già… Đó chính là ý nghĩa nhân đạo của đoạn văn.Xem thêm: Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân (Có dàn ý chi tiết) Đoạn văn trên là một trong những đoạn văn hay nhất của truyện Vợ chồng A Phủ. Tuy rất ngắn ngủi so với toàn bộ thiên truyện, nó đã thể hiện được rõ nét tài năng miêu tả diễn biến nội tâm của nhân vật một cách chân thật, sinh động trên tinh thần hiện thực và nhân đạo sâu sắc.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn văn trích sau đây trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, từ_ “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu (…) Mị nín khóc Mị lại bồi hồi” | 1,536 | |
Bình giảng đoạn đầu bài ‘Côn Sơn ca’ của Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
‘Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’
Về Nguyễn Trãi, chúng ta biết rằng: ông là người có công lớn trong việc phụ tá vua Lê Lợi cầm quân đánh thắng giặc Minh xâm lược thế kỉ XV. Nhưng khi hòa bình trở lại, đất nước đi vào công cuộc xây dựng và phát triển thì ông bị ghen ghét, nghi ngờ bởi những kẻ xấu xa. Đang làm quan, Nguyễn Trãi phải cáo quan về ờ ẩn. Sau đó, ông lại bị chết thảm thương trong vụ án Lệ Chi Viên năm 1442. Với công lao to lớn và tài năng toàn diện, Nguyễn Trãi đã được nhân dân ta tôn vinh là anh hùng dân tộc và thế giới đã tặng ông danh hiệu Danh nhân văn hóa. Bài thơ ‘Côn Sơn ca’ có thể được ra đời khi Nguyễn Trãi cáo quan về nghỉ tại Côn Sơn. Với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là vùng đất gắn bó bằng nhiều kỉ niệm từ thuở ấu thơ đến lúc tuổi già. Nơi đây có núi non hùng vĩ, cây cối tốt tươi, sơn thủy hữu tình. Đây là đất được phong của quan tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại Nguyễn Trãi. Cha Nguyễn Trãi từng đến dạy học nơi đây, rồi kết duyên với tiểu thư con gái quan Tư đồ. Bản thân Nguyễn Trãi cũng đã nhiều năm tuổi trẻ sống ờ đây. Khi cáo quan, Nguyễn Trãi về Côn Sơn như về với nơi chôn nhau, cắt rốn, về với bạn bè tri ki tri âm. Mỗi hòn đá, gốc cây, ngọn suối, đất nước và mây trời Côn Sơn gắn bó với người anh hùng, vị danh nhân văn hóa bàng tình cảm máu thịt. Vì thế, bài ‘Côn Sơn ca’ là tiếng nói cất lên từ trái tim sâu nặng, da diết của Nguyễn Trãi.
Trước hết, chúng ta cần hiểu đại từ ‘ta’ trong đoạn thơ là để chỉ ai? ‘ta’ chính là Nguyễn Trãi. Trong đoạn thơ tám dòng lục bát mà xuất hiện năm lần đại từ ‘ta’. ‘Ta’ hiện ra liền mạch, nối tiếp trong những dòng thơ tám âm tiết, riêng dòng thứ sáu ‘ta’ điệp hai lần liền: ‘ta lên ta nằm’. Nếu để ý sẽ thấy kết cấu đoạn thơ khá chặt chẽ. Câu sáu tả cảnh, câu tám xuất hiện ‘ta’ với những hành động cụ thể mang ý nghĩa tác giả tự họa chân dung mình. Điều đó gợi cảm giác giữa thiên nhiên cây rừng, núi đá, suối reo của Côn Sơn, hình ảnh Nguyễn Trãi thấp thoáng, đan cài, vấn vít, hòa quyện không phút nào rời xa. Con người và thiên nhiên như muốn nhập làm một, tạo thành sự sống của toàn cảnh Côn Sơn..
Sống giữa Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã nhìn ngắm, suy ngẫm và làm những việc gì? Đoạn thơ chia làm hai đoạn nhỏ thể hiện hai khía cạnh nội dung. Tã hãy đọc bốn dòng thơ đầu:
Xem thêm: Giáo sư Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học... văn học yêu nước”. (Theo Trần Văn Giàu, Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam). Bình luận ý kiến trên‘Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn cố đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm’
Nghe tiếng suối rì rầm, nhà thơ mường tượng ra tiếng đàn khi trầm, khi bổng, réo rắt bên tai. Nhìn thấy mặt đá phẳng có rêu phơi, nhà thơ ngồi trên đá mà ngỡ như đang ‘ngồi chiếu êm’. Trí tưởng tượng và nghệ thuật so sánh của Nguyễn Trãi thật lãng mạn, thật tài hoà. Tạo vật thiên nhiên bỗng hóa thành những vật dụng của con người, gần gũi, thân thương với con người. Đôi tai nhạy cảm của thi sĩ đã thổi hồn vào tiếng suối, khiến cho nó vốn đơn điệu trở thành cây đàn đa thanh, cuốn hút. Xúc giác tinh tế của nhà thơ đã hóa thân cho mặt đá vốn khô rắn thành mặt chiếu dịu êm. Những biến đổi ấy kì diệu làm sao! Nguyễn Trãi đã thưởng thức những nét đẹp ấy ở Côn Sơn một cách say mê, hào hứng.
Đến bốn dòng thơ sau, niềm say mê hào hứng ấy tiếp tục được đẩy lên cao hơn:
‘Trong ghểnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’
Câu năm và câu sáu tiếp tục nghệ thuật so sánh tài hoa và một cử chỉ thanh thản tuyệt vời. Đọc thơ, ta ngỡ Nguyễn Trãi đang nằm giữa một rừng thông xanh ngắt, mát rợp, thả hồn trong sắc màu của cỏ cây, đắm chìm trong bóng râm, gió thoảng, ngủ một giấc ngon lành, để quên hết sự đời, rũ bỏ mọi vướng bận, để hóa thân vào hư vô, vũ trụ. Nhưng đến hai câu cuối thì bất ngờ thay, Nguyễn Trãi không ngủ, trái lại ông đã cất tiếng ngâm thơ, những bài ‘thơ nhàn’. Nếu có điều kiện đọc tiếp những dòng thơ sau đoạn này, ta sẽ thấy những bài ‘thơ nhàn’ của Nguyễn Trãi không phải nói về thú vui nhàn tản vô vị như nhiều nhà nho bế tắc thời trung đại mà là những suy nghĩ, những quan niệm sâu sắc mang tính triết lí thời đại, triết lí nhân sinh tiến bộ.
Tóm lại, đoạn thơ tám dòng của ‘Bài ca Côn Sơn’cho ta thấy một sự giao hòa tuyệt đối giữa Nguyễn Trãi với cảnh vật Côn Sơn. Sự giao hòa đó vừa nói lên nhân cách thanh cao, vừa nói lên phẩm chất thi sĩ lớn lao của Nguyễn Trãi và tất cả là dựa trên một triết lí sâu xa: con người và thiên nhiên là một, muốn sống thanh thản, con người hãy đến với thiên nhiên, tìm ở thiên nhiên những vẻ đẹp, những biến dổi kì diệu để có cách ứng xử đúng nhất…’.
Nguồn: thêm: Tả hình dáng và tính tình một cụ già mà em kính yêu (cụ già đó có thể là ông, bà em hoặc một người mà em quen) | Bình giảng đoạn đầu bài ‘Côn Sơn ca’ của Nguyễn Trãi | 1,049 | |
Bình giảng đoạn “Con sóng dưới lòng sâu… cả trong mơ còn thức” trong bài Sóng của Xuân Quỳnh
Gợi ý
"Sóng" là bài thơ dài, lời thơ cũng triền miên như sóng. Hình ảnh sóng biến hoá qua từng khổ, từng khổ. Phải nói rằng hình ảnh nào cũng sâu xa, thi vị. Nhưng nếu phải chọn một khổ nào là hay hơn cả, hẳn không ít người sẽ chọn đoạn diễn tả sóng và nỗi nhớ.
Giản dị thôi, đơn sơ thôi! Nhưng dường như đó lại là đoạn xuất thần của ngòi bút Xuân Quỳnh:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ dến anh
Cả trong mơ còn thức
Trong bài thơ, tác giả hiện ra như một người phụ nữ đang trầm ngâm suy cảm trước từng con sóng biển. Lần này. đối diện với đại dương, Xuân Quỳnh mới khám phá ra một điều giản dị mà cũng là một chân lý sâu xa: biển gồm cả nhưng con sóng nổi lẫn nhưng con sóng chìm. Bởi mang hai thứ sóng ấy trong lòng mà biển chẳng bao giờ nguồi yên. Thì ra đai dương là cả một tâm trạng lớn. Đại dương đang bị những khát khao, những mong nhớ dày vò đến cồn cào. ở đoạn trên, băn khoăn tìm hiểu về nguồn gốc bí ẩn của sóng, thi sĩ thấy bất lực. Nhưng ở đoạn này, xem ra Xuân Quỳnh đã thấy một sự lý giải không ngờ: sóng bắt đấu từ nổi nhớ:Xem thêm: Vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Sóng mang trong mình nỗi nhớ và sóng chính là nỗi nhớ. Tuy nhiên, điều thú vị là ở chỗ: đã là sóng thì bao giờ cũng thức. Sóng không ngủ. Bởi sóng ngủ thì sóng cũng không tồn tại. Vì lý do này mà người ta đã thấy sóng là nhịp đập của biển, là trái tim của biển, là sự sống của biển. Đối với Xuân Quỳnh, chỉ vì sóng nhớ bờ da diết mà sóng không ngủ được. Từ đó, thi sĩ liên tưởng đến trái tim người phu nữ khi yêu. Và, thật bất ngờ, thi sĩ khám phá ra chính mình:
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Có lẽ thế, nếu sóng là sự sống của biển thì nhớ là sự sống của tình yẽu. Nỗi nhớ đồng nghĩa với tình yêu. Một tâm hồn ngừng nhớ là dấu hiệu chắc chắn để khẳng định một trái tim đã ngừng yêu, một mỗi tình đã tắt. Sóng thức trong lòng biển đã cồn cào, sóng thức trong lòng em còn muôn vạn lần cồn cào hơn. Sóng chỉ nhớ bờ trong cõi này “Ngày đêm không ngủ được". Người phụ nữ khi yêu là hiến dâng toàn tâm, toàn ý, toàn hồn. Cho nên ngay đến "Cả trong mơ còn thức" Câu thơ cũng tựa như một con sóng đi xuyên qua cả hai cõi Thực và Mộng. Giới hạn của sóng là cõi thực. Còn người phụ nữ khi yêu thì nỗi nhớ đã xáo trộn cả Thực và Mơ. Nếu còn một cõi nào khác nữa thì người phụ nữ ấy cũng sẽ dành trọn cho tình yêu. Cả cuộc đời là nỗi trăn trở lớn! Đã không ngủ trong cõi thực lại thao thức cả trong cõi mộng. Câu thơ đã diễn tả thật hàm súc tâm lý của người phụ nữ khi yêu. Chẳng phải khi yêu, người ta muốn tận hưởng đến từng khoảnh khắc của hạnh phúc? Cho nên người phụ nữ này ở đâu cũng muốn thức. Phải cố thức cả trong cõi thực lẫn trong cõi mộng để nâng niu, chắt chiu từng khoảnh khác hạnh phúc. Ngỡ như chỉ cần chợp mắt. trong giây lát thế là một khoảnh khắc đã trôi qua uổng phí, không kịp tận hưởng. Chẳng phải khi yêu, người ta cũng thường phấp phổng, lo âu vì nỗi sợ mất nhau? Cơ hồ chỉ cần chợp mắt một chút thôi, thì e rằng, vì một lý do nào đó, người mình yêu bỗng nhiên tan biến Cái hạnh phúc mình đang cầm nắm sẽ tuột khỏi lòng tay! "Cả trong mơ còn thức", lời thơ thật phi lí mà khát khao thật cảm động. Muốn vào cả trong giấc mơ, đó không chi là khao khát của tình yêu, với Xuân Quỳnh đó còn là khao khát của tỉnh mẫu tử. ở một bài khác, viết cho con, chị cũng bộc lộ ham muốn này, nếu không được thì đó là một đau khổ lớn:Xem thêm: Hãy trình bày những cảm nhận của mình về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong chương “Đất nước” (trích trường ca "Mặt đường khát vọng") Con thức ban ngày mẹ chở che con
Đêm con mơ mẹ làm sao che chở
Trong giấc mơ chỉ mình con bẻ nhỏ
Chỉ mình con chống chọi với quân thù
"Cả trong mơ còn thức" sự phi lí đã chứa đựng một chân lý. Chỉ có ai biết trân trọng tình yêu, biết yêu chân thành mãnh liệt mới có thể chia sẻ được điều đó.
Tình yêu là một lĩnh vực xưa cũ mà luôn mới mẻ. Xưa cũ và mới mẻ như chính con người, cùng với cả loài người. Mỗi đôi lứa yêu nhau là một khám phá về tình yêu. Mỗi thi sĩ đem đến một phát hiện mới về tình yêu. Xuân Quỳnh là một tâm hồn sống trong tình yêu, sống bằng tình yêu.
Suốt đời trăn trở kiếm tìm một tình yêu lý tưởng. Suốt đời mệt nhoài để chắt chiu gìn giữ cái hạnh phúc đời thường. Cho nên mỗi lời thơ được viết ra dường như đều được trả giá bằng chính những khác khoải của bàn thân mình. Thơ Xuân Quỳnh đã đi vào tâm hồn người đọc và làm rung động mãi lòng ta có lẽ là vì thế.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn “Con sóng dưới lòng sâu… cả trong mơ còn thức” trong bài Sóng của Xuân Quỳnh | 1,014 | |
Bình giảng đoạn “Nhớ bản sương giăng… Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương” trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
Gợi ý
"Tiếng hát con tàu" là một trong những thành công tiêu biểu cho phong cách thơ Chế Lan Viên: phong cách triết luận – tâm tình. Đó là lúc bài thơ vừa dồi dào cảm xúc. vừa trĩu nặng suy tư. "Tiếng hát con tàu" dạt dào tình cảm với đất nước và con người, vừa tràn đầy những suy tư chiêm nghiệm về lẽ đời, lẽ sống của con người, lẽ sống cùa thơ ca, trong đó có những đoạn đã kết tinh được toàn bộ xúc cảm và ý thơ của bài thơ.
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn.
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
Đây là một đoạn đặc sắc. Đoạn thơ này thuộc về mạch hồi tưởng vừa da diết, vừa ân tình đối với miền Tây. Tây Bắc hiện lên với một chuỗi nỗi nhớ gắn với những gương mặt thân thương: "con nhớ anh con", "con nhớ em con", "con nhớ mế". Rồi đến các bản làng, những miền đất mà người con ấy đã đi qua, đã gắn bó. Và cuối cùng là nỗi nhớ dành cho tình yêu đôi lứa.
Doạn thơ này gồm hai khổ. Mỗi khổ có một nội dung riêng. Nếu ba khổ trên, nói đến người anh, người em và bà mẹ, tác giả chi bộc bạch những tình cảm chân thành, đằm thắm của mình, thì ở khổ này, bên cạnh những cảm xúc chân thành và sâu lắng, chúng ta còn thấy Chế Lan Viên đúc kết. chưng cất những xúc cảm ấy thành nhưng triết lý, chân lý, thành quy luật của tình cảm. Do đó, nó vừa có vẻ đẹp của thơ, vừa có sự sâu sắc cùa một châm ngôn
Khổ thơ thứ nhất mở đầu bằng một câu giản dị, cất lên từ nguồn xúc cảm mãnh liệt:
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Câu thơ được ngắt thành hai vế, mỗi vế được bắt đầu bằng chữ "nhớ". Nó tạo cho câu thơ âm hưởng như một điệp khúc. Nó gợi ra hình ảnh một cái tôi, một nhân vật trữ tình chìm đắm trong một nỗi nhớ triền miên. Kỷ niệm này chưa mờ đi, kỷ niệm khác đã trỗi dậy.. Đến câu thứ hai, cảm xúc đã có phần chuyển hoá thành suy tư, đúc kết:Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về sự giống nhau và khác nhau giữa nhân vật Tnú (truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành) và nhân vật A Phủ (truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài). Nơi nào qua, lòng lại chằng yêu thương
Nhưng dẫu sao đây mới chỉ là một sự khái quát đơn thuần Phải đến hai câu tiếp theo nó mới thật sự là triết lý, xúc cảm đã kết tinh thành châm ngôn:
Khi ta ở chi là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.
Câu thơ này là sự đúc kết về một quy luật nhân sinh, một sự kỳ diệu của tâm hồn, nó đánh động đến tâm linh của tất cả chúng ta. Trong đời ai chẳng từng sống ở những mảnh đất, qua những miền quê, nhất là những cán bộ kháng chiến. Những năm tháng sống vói các miền đất ấy, chính là những quãng đời của chúng ta. Nhưng quãng đời ấy nối tiếp nhau dệt thành cuộc đời mỗi con người. Đúng vậy, đời người là gì nếu chẳng phải là sự kế tiếp tuần hoàn của "ở” và "đi". Chuyện "ở" và "đi" của con người đã chứa đựng trong đó sự chuyển hoá âm thầm mà chính chúng ta cũng không hay biết. Khi ta ở, nghĩa là khi ta đang sống trong hiện tại, thì hiện tại dường nhu chưa cho chúng ta thấy tình cảm thật sự của mình Thậm chí. ta tưởng như miền đất ta đang ở cũng chỉ như bao nhiêu miền đất khác, "chi là nơi đất ở", thế thôi. Phải đến khi vì một lý do nào đó ta phải từ giã miền đất ấy, quãng đời sống ở đây bỗng trở thành quá khứ, miền đất từng cưu mang ta lùi lại phía sau lưng, bấy giò ta mới hiểu. Nhin vào lòng ta, ta mới chợt nhận ra: chính ta đã gắn bó với miền đất kia từ lúc nào ta cũng không hay. Tình cám cứ âm thầm hình thành, âm thầm bồi đắp mà ta không biết. Phải đến lúc này ta mới nhìn rõ hơn bao giờ hết và tình cảm đã làm nên một điều kỳ diệu: nó khiến cho "đất đá hóa tâm hồn". Thì ra, trong những tháng ngày ta đi, mảnh đất từng che chờ nuôi nấng ta vẫn cứ dõi theo ta từng bước, vẫn thầm nhắc ta trở lại, ấy thế mà nhiều lúc ta thật vô tình. Song, kỳ thực là mảnh đất ấy đã gắn bó máu thịt với ta "Đất đã hóa tâm hồn nghĩa là miền đất ấy mang trong nó tâm hồn của một cố nhân. Nhưng quan trọng hơn là miền đất ấy đã hoá thành tâm hồn của chúng ta. Mảnh đất mà ta từng sống đã trở thành một phần đời ta. Ta không thể hình dung được đầy đủ về cuộc đời mình, nếu thiếu đi những năm tháng sống trên mảnh đất ấy. Những kỷ niệm với mành đất kia là một phần cuộc đời ta, là hành trang tinh thần không thể thiếu của ta… Có lẽ vì thế mà tác già đã viết "Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn". Câu thơ này gợi nhớ đến một câu thơ nổi tiếng của Hoàng Trung Thông:Xem thêm: Không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ, đắng cay. Hãy viết đoạn văn bình luận theo chủ đề trên
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.
Câu thơ cũng được viết theo một lối tư duy. Đó là lối đúc kết triết lý. Cũng phát hiện về sự kỳ diệu, nhưng nếu Hoàng Trung Thông khám phá ra sự kỳ diệu của lao dộng, thì Chế Lan Viên khám phá ra sự kỳ diệu của tình cảm. Nói khác đi, đó là sự kỳ diệu của bàn tay và trái tim, "sỏi đá thành cơm" là một sự biến hoá, nhưng dù sao vật chất cũng mới chỉ là vật chất. Còn "đất đã hoá tâm hồn" thì quả thật là một sự đột biến, bởi vật chất đã hoá thành tinh thần. Thậm chí, từ đống thô sơ nhất của vật chất biến thành dạng tinh tuý nhất của tinh thần. Rõ ràng câu thơ của Chế Lan Viên là một chân lý có tính phổ biến toàn nhản loại, nó không chi đúng với một nơi, một thời, mà đúng với hết thảy con người trên thế gian này.
Trong chuỗi nhớ về Tây Bắc cuối cùng là nỗi nhớ của tình yêu. Và nó là hình ảnh rực rỡ nhất, óng ánh nhất của đoạn thơ. Lời thơ của Chế Lan Viên vừa sâu sắc, vừa tình tứ:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng.
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương.Xem thêm: Từ các đoạn trích Truyện Kiều đã học, hãy nhận xét khái quát về nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Nguyễn Du Đến đây, Chế Lan Viên đã dùng lại bút pháp đã từng sử dụng khi viết về mối quan hệ giữa con và nhân dân. Đó là việc tạo ra những cặp hình ảnh gắn bó khăng khít với nhau, không thể tách rời, cái này là sự sống của cái kia, cái kia là điều kiện sống của cái này:
Con gặp lại nhân dân như nai về suốỉ cũ
Cỏ đón giêng hai. chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
Trong khổ thơ ấy, chúng ta có thế thấy các cặp hình ảnh nai – suối cũ, cỏ – tháng giêng, chim én – mùa xuân, cơn khát trẻ thơ – bầu sữa mẹ, chiếc nôi ngừng – cánh tay đưa ở đoan thơ viết về tình yêu này, chúng ta cũng thấy Chế Lan Viên dùng những cặp hình ảnh: đông – rét, cánh kiến – hoa vàng, mùa xuân – lông trở biếc của chim rừng. "Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét", chúng ta không chỉ thấy trong đó sự so sánh tương đồng mà còn thấy cả sự tế nhị của tình yêu. Câu thơ "Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng" rực rỡ. hư ảo. "Cánh kiến hoa vàng", "chim rừng" đểu là những hình ảnh quen thuộc của Tây Bắc. Trên cơ sở ấy, tác giả đi đến cái đúc kết cuổi cùng, lời thơ thực sự trở thành châm ngôn: "Tinh yêu làm đất lạ hoá quê hương". Đúng là tình yẽu có bao điều kỳ diệu, ở trên ta đã thấy chính tình yêu đã làm cho vùng đất vô tri vô giác trở thành có tâm hồn, trở thành tâm hồn của chính chúng ta. Còn ở đây, tình yêu đã biến những mành đất xa lạ thành quê hương của mỗi người.
Đoạn thơ này là một trong những đoạn hay nhất của bài thơ, trong đó có những câu được xem là hay nhất của đời thơ Chế Lan Viên. Ở đây, những cảm xúc sâu lắng lại được một suy tư sắc sảo nâng đỡ, cuối cùng nó đã kết tinh thành những câu thơ vừa đẹp, vừa trĩu nặng triết lý. Nghĩa là thành công này rất tiêu biểu cho một nét phong cách thơ của Chế Lan Viên. Triết luận – Tâm tình.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn “Nhớ bản sương giăng… Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương” trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên | 1,710 | |
Bình giảng đoạn “Ta về mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Gợi ý
Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biếu nhất cùa nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông được xem là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng. Nói đến Tố Hữu là nói đến một tiếng thơ trừ tình – chính trị suốt cả đời mình, Tố Hữu đã viết về lý tưởng lớn, lẽ sống lớn, niềm vui lớn, tình cảm lớn của người cách mạng Người ta vẫn nói ở Tố Hữu có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố cổ điển, dân gian và yếu tố cách mạng hiện đại. Có lẽ vì thế mà thơ Tố Hữu có khả năng thấm sâu vào tâm hồn quần chúng nhân dân. Cho đến nay, Tố Hữu đã cho xuất bản 6 tập thơ: "Từ ấy”, ”Việt Bắc”, "Gió lộng’", ‘Ra trận”, ”Máu và hoa", và gần đây nhất là "Một tiếng đờn”. Những tập thơ ấy đều gắn liền, tương ứng với những chặng đường lớn của cách mạng Việt Nam. Có lẽ vì thế mà có người đã gọi thơ Tố Hữu là cuốn "biên niên sử bằng thơ của cách mạng Việt Nam". Nghĩa là cho đến nay, Tố Hữu đã hoàn chỉnh một phong cách thơ của mình, một cuộc đời thơ của mình.
"Việt Bắc” là một trong những tập thơ hay nhất của Tố Hữu. Tập thơ này chủ yếu viết về thời kỳ kháng chiến chống Pháp, trong đó "Việt Bắc" được xem là đỉnh cao của thơ Tố Hữu. Bài thơ là một bức tranh trữ tình mà hoành tráng, bao quát cả một diện lớn về thời gian suốt 15 năm "Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, trên một không gian là toàn bộ Việt Bắc, kéo tràn sang Tây Bắc. Bút của Tố Hữu ở bài thơ này tỏ ra rất dồi dào. "Việt Bắc” là một bài thơ dài, không phải đoạn nào viết cũng đều tay. Nhưng có những đoạn quả thật là đặc sắc mà ở đó người đọc thấy được vẻ đẹp của ngòi bút Tố Hữu
Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiêng hát ân tình thuỷ chung
Đây là một trong nhưng đoạn như thể tất cả chỉ có 10 câu, tập trung nói đến một chủ đề. nhưng nó đa đạt đến sự toàn bích. Đoạn thơ này có thể chia làm hai phần: phần đầu gồm hai câu, nó như lời mở đầu đưa dẩy trong các cuộc hát giao duyên. Trong đó người con trai (người về xuôi” vừa ướm hỏi lòng người ở lại, vừa khầng định những tình cảm trong lòng mình. Phần sau gồm 8 câu chia thành 4 cặp lục bát ở mỗi cặp. cứ câu lục tả hoa thì câu bát tả người. Nó là một bức tranh tứ bình diễn tả hoa và người Việt Bắc trong bốn mùa bằng những nét đặc trưng nhất của miền đất này. Có thể nói, cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc tuy được mô tả rải rác trong cả bài thơ nhưng dường như nó dươc kết tinh vào đoạn này một cách hàm súc, cô đúc nhất.Xem thêm: Qua hai nhân vật Mị và A Phủ hãy phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) Chúng ta biết bài thơ được viết theo hình thức hát đối đáp của dân gian. Hai câu thơ đầu, về chức năng đối đáp, là hai câu đưa đẩy để nối liền các mảng đề tài trong một cuộc hát. Đó là người con trai ướm hỏi người con gái:
Ta về mình có nhớ ta
Lời hỏi vẫn có cái giọng tình tứ, với cách xưng hô ta mình – mình ta. Nhưng quan trọng hơn vẫn là ở sự cao nhã trong tình cảm. Ta về chẳng biết mình có nhớ ta không, nhưng ngay cả khi mình không nhớ ta thì ta vẫn cứ nhớ mình. Mà nỗi nhớ mới duyên dáng và tế nhị làm sao:
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Như vậy là người ra đi khẳng định tình cảm của mình bằng nỗi nhớ mà là nhớ về những gì đẹp nhất của Việt Bắc. Đó là hoa và người. Trong nỗi nhớ của người đi hai hinh ảnh này là đồng hiện, soi chiếu vào nhau. Hoa là thứ đẹp nhất của thiên nhiên, con người ta lại là "hoa của đất". Vì vậy, hễ nhớ đến người thì hiện bóng hoa, hễ nhớ về hoa thì hiển hiện hình người. Hoa và người không thể tách rời Mà nói với một người con gái, lại nói "hoa cùng người" thì đó chẳng phái là một lời đánh giá kín đao hay sao? Và như thế, chù đề của đoạn thơ đã được giới thiệu đó là hoa cùng người Việt Bắc.
Tranh tứ bình là một trong những loại hình rất phổ biến trong nghệ thuật trung đại. Nó thường là một bộ tranh gồm bốn bức mô tả bốn mặt của một đối tượng nào đấy Vì vậy, tư nó đã có tính hoàn chỉnh riêng. Thậm chí tự nó là một cách khái quát riêng, một thế giới riêng. Ta đã từng gặp nhưng bộ tứ bình như: tùng – trúc – cúc – mai, xuân – hạ – thu – đông (tứ quý), ngư – tiều – canh — mục. long – li – quy – phượng, cầm – kỳ – thi – hoạ. Trong thơ ca chúng ta cũng từng gặp rất nhiều, đó là cảnh "Trông bốn bể” trong Chinh phụ ngâm", đoạn "buồn trông" khi Kiều ở lầu Ngưng Bích, đoạn thơ mô tả bốn cảnh thuộc thời oanh liệt của con hổ trong "Nhớ rừng" cùa Thế Lữ Những bức tranh tứ bình này giúp cho nhà thơ mô tà được một cách toàn diện và thâu tóm những gì là đặc trưng nhất. Tố Hữu đã sử dụng lối vẽ tranh tứ bình khá nhuần nhuyễn trong nhiều bài, đoạn thơ này có thể xem là bộ tranh tứ bình tứ quý về "hoa và người" của 4 mùa Việt Bắc.Xem thêm: Quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh
Mở dầu là một hình ảnh có tính khái quát, trong đó Việt Bắc hiện lên như một miền quê thật lặng lẽ:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Gam màu cơ bàn của bức tranh này là màu xanh. Đó là một màu xanh mênh mông và trầm tĩnh của rừng già. Nó gợi ra hình ảnh một xứ sở êm đếm, lặng lẽ, tĩnh. Nhưng trên cái nền xanh ấy, chúng ta nhìn thấy hỉnh ảnh hoa chuối rừng bập bùng cháy như những bó đuốc. Ai đã biết, hoa chuối nở, sẽ thấy rằng tuy tác giả chi viết hai chữ " đỏ tươi" nhưng cũng đủ gợi cho chúng ta biết hoa chuối đã làm sáng lên cả một góc rừng. Thế là hoa chuối làm cho cảnh rừng trở nên sống động hơn. Đồng thời hình ảnh hoa chuối lại được tô điểm thêm những tia nắng ở câu thứ hai càng làm cho không khí vốn trầm mặc ở nơi này trở nên tươi sáng và linh động. Trên nền cành ấy, hình ảnh con người xuất hiện: "Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Người đứng trên đinh đèo cao, ánh nắng chiếu vào lưỡi dao trên thắt lưng, loé sáng. Nó gợi được một tư thế vững chãi, tự tin của người làm chủ núi rừng Tố Hữu thường mô tả con người trong tư thế ấy. Trong bài "Lên Tây Bắc" tác giả có viết:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá nguy trang reo với gió đèo.
Cũng là một hình ảnh ấy nhưng ở đoạn thơ trên, Tố Hữu phải viết bằng 4 câu thơ 28 chữ. Còn ờ bài Việt Bắc này dường như nhà thơ đã cô đúc vào 8 chữ. Nhà thơ không vẽ kỹ mà chi chấm pha vài nét song cũng đủ cho ta hình dung khá rõ về hình tượng. Vậy là. tương ứng với một cánh hoa là một dáng điệu người, mỗi dáng diệu toát lên một phẩm chất của người Việt Bắc
Bức tranh thứ hai:
Ngày xuân hoa nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Đến đây nền xanh trầm tỉnh đã nhường chỗ cho nền trắng tinh khiết của hoa mơ rừng. Hai chữ "trắng rừng" khiến cảnh rừng như bừng sáng. Phài nói rằng đây là một hình ảnh có sức ám ảnh lớn đối với hồn thơ Tố Hưu Việt Bắc trong nỗi nhớ của Tố Hữu dường như không thể thiếu dược sắc hoa này. Về sau, trong bài "Theo chân Bác", Tố Hữu đã viết:
Ôi sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ.
Trên nền cảnh ấy hiện ra hình ảnh người Việt Bắc trong một công việc thầm lặng: "Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang". Hai chữ "chuốt từng" gợi ra được dáng điệu cáầ mẫn, cần trọng và tài hoa. Không biết người đan nón kia gửi vào từng sợi giang nỗi niềm gì, ước mơ gì?Xem thêm: Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Trong những bức tranh trên, chúng ta mới chỉ thấy màu sắc, đường nét và ánh sáng. Đến đây chúng ta còn nghe thấy được âm thanh của rừng, đó là tiếng nhạc ve. Nhạc ve làm cho không khí trở nên xao động. Phải nói rằng trong các bức tranh ở đây thì Việt Bắc mùa hè là đặc sắc hơn cả. Trong câu thơ, chúng ta thấy dường như có một phản ứng dây chuyền chạy từ đầu dến cuối câu thơ. Ve kêu gọi hè đến, hè đến làm cho những rừng phách ngả sang màu vàng. Ai đã lên Việt Bắc, dễ thấy hỉnh ảnh kì lạ của những cánh rừng phách. Trong những ngày cuối cùng của mùa xuân, những cây phách vẫn là màu xanh, nụ hoa vẫn náu kín trong những kẽ lá. Nhưng khi những tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên thì chúng nhất loạt trổ hoa vàng Chi có vài ba ngày mà những rừng phách đã lênh láng sắc vàng. Chữ "đổ” là một chữ tinh tế. Nó nhấn mạnh vào khía cạnh mau lẹ trong việc biến đổi màu sắc, đồng thời diễn tả nhưng trận mưa hoa vàng rừng phách mỗi khi có một luồng gió ào qua. Rõ ràng, gam màu đến đây đã thay đổi hẳn, sắc trắng đã nhường chỗ hắn cho sắc vàng. Dường như âm thanh đã làm đổi thay màu sắc. Trên nền cảnh ấy xuàt hiện một hình ảnh lao động đầy kiên nhẫn của một cô gai Việt Bắc: "Nhở cô em gái hái măng một mình". Hình ảnh này làm tóat lên dáng điệu chịu thương, chịu khó, hay lam hay làm. giàu đức hy sinh Bao bọc lên hình ảnh này dường như chúng ta thấy sự cảm thương kín đáo của người viết
Bộ tranh này kết thúc bằng bức tranh thu. Ba bức tranh trên là cảnh ngày, riêng bức này là cảnh đêm. Bức tranh vẽ ra những ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành một khung cành huvền áo: "Rừng thu trăng rọi hoà bình". Nó xui khiến ta nhớ đến một câu thơ cũng viết về đêm rừng Việt Bắc của Hồ Chí Minh: "Trăng Lồng cổ thụ bóng Lồng hoa". Đây đúng là khung cành trữ tình dành cho những cuộc hát giao duyên. Cho nên nó là cảnh cuối cùng: "Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung". Chữ "ai” là cách nói bóng gió, ám chỉ người đang hát cùng với mình, làm cho lời lẽ trở nên tình tứ hơn. Và qua tiếng hát chúng ta thấy được phẩm chất ân tình, chung thuỷ của người Việt Bắc.
Tóm lại, bốn bức tranh, bốn cảnh sắc, bốn dáng điệu. Tố Hữu đã thâu tóm được những gì là đặc trưng nhất của quê hương cách mạng. Điều thú vị là tất cả đều hiện lên trong điệp khúc nhớ thương. Những chữ "nhớ" đứng ở đầu câu tạo nên âm hưởng rất mặn mà, da diết của nỗi nhớ. Trong nỗi nhớ tất cả đều hiện lên lung linh hơn, huyền ảo hơn.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng đoạn “Ta về mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu | 2,190 | |
Bình giảng “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ
Gợi ý
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là nhà thơ lớn của dân tộc ta trong nửa đầu thế kỉ XIX. Văn chương lỗi lạc, có tài kinh bang tế thế, lưu danh sử sách. Lúc sống cuộc đời một hàn sĩ, lúc cầm quân chinh chiến, lúc làm lính thú, lúc làm đại quan. Vinh nhục đã từng, thăng trầm đã trãi, nhưng lúc nào ông cũng hăm hở chí nam nhi, sòng phẳng với nợ tang bồng, sống vì một khát vọng phi thường:
"Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông".
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ vô cùng rạng rỡ, cho thấy một cá tính sáng tạo rất độc đáo được thể hiện tuyệt đẹp qua bài phú Nôm "Hàn nho phong vị phú", và trên 60 bài thơ hát nói cực kì tài hoa. "Bài ca ngất ngưởng" là một trong những bài thơ hát nói kiệt tác trong nền thơ ca dân tộc. Bài hát nói này có hai khổ đôi, tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, lúc khoan thai, lúc hào hùng, đọc lên nghe rất thú vị. Hát nói là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ chất nhạc kết hợp rất hài hoà, hấp dẫn.
Nguyễn Công Trứ về trí sĩ năm 1848, sau gần 30 năm làm quan với triều Nguyễn. Bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" được ông viết sau khi đã về trí sĩ tại quê nhà. Bài thơ vang lên như một lời tự thuật về cuộc đời, qua đó ông Hy Văn tự hào về tài năng và công danh của mình, biểu lộ. một cá tính, một phong cách sống tài tử, phóng khoáng ở đời.
"Ngất ngưởng" nghĩa là không vững, ở chỗ cheo leo dễ đổ, dễ rơi (Từ điển Tiếng Việt). Trong bài thơ này nên hiểu "ngất ngưởng" là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người. Và ngất ngưởng đã được Nguyễn Công Trứ nâng lên thành bài ca, thành điệu tâm hồn với tất cả niềm tự hào và sự say sưa hiếm thấy.
Khổ thơ đầu cất cao một tiếng nói, một lời tuyên ngôn của đấng nam nhi, đấng tài trai. Rất trang trọng và hào hùng: Vũ trụ nội mạc phi phận sự" – mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào không là phận sự của ta. Một cách nói phủ định để khẳng định tâm thế của một nhà nho chân chính. Mà đâu chỉ có một lần? Lúc thì ông viết: “Vũ trụ giai ngô phận sự" (Những việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta – "Nợ tang bồng"); "Vũ trụ chức phận nội" (Việc trong vũ trụ là chức phận của ta – "Gánh trung hiếu"). Có cái tâm thế ấy chính vì "ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng". Hy Văn là biệt hiệu của Nguyền Công Trứ. "Tài bộ" là tài năng lớn, nhiều tài năng. Chữ "lóng" trong câu thơ có nhiều cách hiểu khác nhau. Tào lồng" là vào khuôn phép vua chúa cái nơi chật hẹp, tù túng trái với cái tài đội trời đạp đất của ông" (Lê Trí Viễn). Có người lại giải thích: "lồng là trời đất, vũ trụ". Nguyễn Công Trứ đã nhiều lần nói: "Đã mang tiếng ở trong trời đất", hoặc "Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn" (trần hoàn: cõi đời, cõi trần). Cách hiểu thứ hai hợp lí hơn, vì có vào lồng vũ trụ thì mới có ý chí đua tranh, như ông nói:Xem thêm: Phân tích để làm nổi bật cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng"Chí làm trai nam bắc tây đông,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể".
Sau khi đã xưng danh, nhà thơ tự khẳng định tâm thế mình, "tài bộ" mình, chí nam nhi của mình mang tầm vóc vũ trụ.,
Ông Hy Văn là một người có thực tài và thực danh. Học hành thi cử, ông dám thi thố với thiên hạ: "Cái nợ cầm thư phải trả xong". Năm 1819, Nguyễn Công Trứ đỗ Thủ khoa trường Nghệ An. Làm quan võ, giữ chức Tham tán; làm quan văn, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên). Tiếng tăm lẫy lừng "Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ" ("Chí anh hùng"). Đứng trên đỉnh cao danh vọng bởi có văn võ toàn tài, bởi có "gồm thao lược", và chính lúc đó ông Hy Văn mới trở thành "tay ngất ngưởng", một con người hơn đời và hơn thiên hạ. Câu thơ với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2), ba lần điệp lại chữ "khi" đã tạo nên một giọng điệu hào hùng, thể hiện một cốt cách phi thường, một chí khí vô cùng mạnh mẽ:
"Khi thủ khoa / khi Tham tán / khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược / đã nên tay / ngất ngưởng".
Bốn câu tiếp theo (khổ giữa), ý thơ mở rộng, tác giả tự hào, khẳng định mình là một con người, một kẻ sĩ có tài kinh bang tế thế. Thời loạn thì xông pha trận mạc, giữ trọng trách trước ba quân: "Bình Tây cờ Đại tướng". Thời binh thì giúp nước giúp vua, làm "Phủ doãn Thừa Thiên". Đó là năm 1847, Nguyễn Công Trứ đã lên tới đỉnh cao nhất danh vọng, ông đã từng nói: "Lúc làm Đại tướng, ta chẳng lấy thế làm vinh, lúc làm lính thú, ta cũng chẳng lấy thế làm nhục". Sau 30 năm làm quan, Nguyễn Công Trứ về trí sĩ ở quê nhà, năm đó, ông vừa tròn 70 tuổi ( 1848):
"Đô môn giai tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng".
Trở lại đời thường, cụ Thượng Trứ đã hành động một cách ngược đời, hình như để giễu đời với tất cả sự ngất ngưởng. Vị đại quan thuở nào "ngựa ngựa xe xe " nay chỉ cưỡi bò vàng và cho bò đeo đạc ngựa. Cả người và bò vàng đều ngất ngưởng. Như một sự thách đố với "miệng thế". Cho đến nay dân gian vẫn cười và truyền tụng bài thơ đề vào chiếc mo cau của ông Hy Văn thuở nào:Xem thêm: Tuần 5: Luyện từ và câu (Từ đồng âm)
"Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng nhàn,
Lợm mùi giáng chức với thăng quan.
Điền viên dạo chiếc xe bò cái,
Sẵn tấm mo che miệng thế gian".
Tám câu tiếp theo trong hai khổ đôi nói lên một cách sống ngất ngưỡng. Xưa kia là một vị đại thần, một danh tướng – "tay kiếm cung" – thế mà nay sống cuộc đời hiền lành, bình dị "nên dạng từ bi". Đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh "Kìa núi nọ phau phau mây trắng", ông đã mang theo "một đỏi dì", những nàng hầu xinh đẹp với "gót tiên đủng đỉnh"…
"Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…"
Ông đã sống hết mình và chơi cũng hết mình. "Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng" là một tứ thơ độc đáo. Câu thơ tự trào gợi ít nhiều hóm hỉnh. Bụt cười, hay thiên hạ cười? Hay ông Hy Văn tự cười mình? Đã thoát vòng danh lợi rồi, thì chuyện "dược, mất" là lẽ đời, như tích "Thất mã tái ỏng" mà thôi, cũng chẳng bận tâm làm gì! Chuyện "khen, chê" của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông (xuân) phơi phới thổi qua. Có bản lĩnh, có tự tin về tài đức của mình mới có thái độ phủ định như thế, dám sống vượt lên trên mọi thế tục. Có biết Nguyễn Công Trứ là một nhà nho được đào luyện nơi cửa Khổng sân Trình, một vị đại quan của triều Nguyễn thì mới thấy được một phần nào cá tính, cốt cách khác đời, một nhân cách khác đời, rất phóng túng, phong tình và tài tình hiếm thấy của ông. Không quan tâm đến chuyện "được, mất", bỏ ngoài tai mọi lời thị phi, khen chê, ông đã sống một cách nhi nhiên, hồn nhiên, vô cùng thảnh thơi, vui thú. Tuy ngất ngưỡng mà trong sạch, thanh cao. Đây là hai câu thơ tuyệt hay trong "Bài ca ngất ngưỡng":
"Khi ca! khi tửu! khi cắc / khi tùng! Không phật / không tiên / không vướng tục".
Cách ngắt nhịp 2, nghệ thuật hoà thanh (bàng, trắc), lối nhấn, lối diễn tả trùng diệp (khi… không…) đã tạo cho câu thơ phong phú về nhạc điệu, biểu lộ một phong thái ung dung, yêu đời, ham sống, thanh cao chẳng vướng chút bụi trần. Có đọc to và hát lên, có lắng nghe tiếng đàn đáy, nhịp phách, tiếng trống chầu, ta mới cảm được chất thơ, chất nhạc hoà quyện trong những vần thơ đẹp như thế! Ngất ngưởng mà tài hoa, tài tử.Xem thêm: Bình giảng khổ thơ sau trong bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" (Hàn Mặc Tử). "Gió theo lối gió, mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay/ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay?" Khổ xếp của bài hát nói chỉ có ba câu. Câu cuối gọi là câu "keo" chi có 6 từ. Nên ghi đúng như văn bản "Tuyển tập thơ ca trù" – NXB Văn học 1987 mới đúng thi pháp:
"Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua, tôi cho vẹn đạo sơ chung,
Đời ai ngất ngưởng như ông!"
Nguyễn Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thần thủy chung, trọn vẹn "nghĩa vua tôi". Ông đã viết trong bài "Nợ tang bồng":
"Chí tang bồng hẹn với giang san,
* Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác".
Tài năng, công danh mà Nguyên Công Trứ để lại cho đất nước và nhân dân có kém gì Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật – những anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. Hai so sánh gần xa, trong ngoài, phương Bắc và phương Nam, tác
giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng "ông" đĩnh đạc, hào hùng: "Đời ai ngất ngưởng như ông!". Cái bản ngã phi thường của nhà thơ đã được phô bày cực độ.
Tóm lại, với Nguyên Công Trứ, thì phải có thực tài, thực danh, phải "vẹn đạo vua tôi" mới trở thành "tay ngất ngưởng", "ông ngất ngưởng" được. Và cách sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ thể hiện chất tài hoa, tài tử, không ô trọc, "không vướng tục", cũng không thoát li. Ngất ngướng thế mới sang trọng.
Cái nhan đề, thi đề "Bài ca ngất ngưởng" của ông Hy Văn rất độc đáo. Cách bộc lộ bản ngã của nhà thơ cũng rất độc đáo. Một thế kỉ sau, thi sĩ Tản Đà cũng có nhiều bài thơ hát nói, thơ trường thiên đậm đặc chất "ngông". Một đằng ngất ngưởng mà tài danh, một đằng ngông mà chán đời và lãng mạn.
Thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Các câu thơ chữ Hán đem lại sự bề thế, uyên bác. Chất thơ, chất nhạc phối hợp hài hoà, lôi cuốn, hấp dẫn.
Trong nền thi ca cổ điển Việt Nam, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Dương Khuê, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… là những nhà thơ cự phách để lại một số bài thơ hát nói tuyệt tác. Nguyễn Công Trứ đã tạo nên một giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng, chất tài tử hoà nhập với chí anh hùng, nợ tang bồng, chí nam nhi. Đó là phong cách nghệ thuật, là cốt cách, là bản sắc thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ. "Bài ca ngất ngưởng" đích thực là "Bài ca từ đáy lòng" của ông Hy Văn cho
Vanmau.edu.vn | Bình giảng “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ | 2,018 | |
Bình giảng “Tự tình” – Bài 2 của Hồ Xuân Hương
Gợi ý
Hồ Xuân Hương có chùm thơ "Tự tình" ba bài. Đây là bài thơ thứ hai, trong chùm thơ ấy:
"Đêm khuya văng vắng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại.
Mảnh tình san sẻ tí con con!".
Bài thơ thể hiện nỗi buồn thao thức cô đơn của người phụ nữ lẽ mọn, phận hám duyên ôi, phẫn uất vươn lên, nhưng càng giãy giụa càng bế tắc, đau khổ.
Hai trong ba bài thơ, nữ sĩ đều nói về đêm khuya, cảnh khuya. ‘Tự tình"- bà viết: ‘Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom – Oán hận trông ra khắp mọi chòm". Ở bài thơ này cũng vậy. bà tỉnh dậy lúc canh khuya, hay thao thức suốt đêm khuya, tâm trạng ngổn ngang phiền muộn. Âm thanh "văng vẳng" của tiếng trống từ một chòi canh xa đưa lại như thúc giục thời gian trôi nhanh, tuổi đời người đàn bà trôi nhanh: "Đâm khuya văng vẳng trống canh dồn". "Hồng nhan" là sắc mặt hồng, chỉ người phụ nữ. ‘Trơ" nghĩa là lì ra, trơ ra, chai đi, mất hết cảm giác. "Nước non": chỉ cả thế giới tự nhiên và xã hội. Cả câu thơ: ‘Trơ cái hồng nhan với nước non" nói lên một tâm trạng: Con người đau buồn nhiều nỗi, nay nét mặt thành trơ ra, vô cảm trước cảnh vật, trước cuộc đời, tựa như gỗ đá, mất hết cảm giác. Nỗi đau buồn đã đến cực độ. Từ "cái" gắn liền với chữ "hồng nhan" làm cho giọng thơ trìu xuống, làm nổi bật cái thân phận, cái duyên phận, cái duyên số đã quá hẩm hiu rồi. Ta có cảm giác tiếng trống dồn canh khuya, thời gian như cơn gió lướt qua cuộc đời, lướt qua số phận và thân xác nhà thơ. Con người đang than thân trách phận ấy đã có một thời son trẻ tự hào: ‘Thân em vừa trắng lại vừa tròn", có phẩm hạnh một "tấm lòng son" trọn vẹn, lại tài năng, thế mà nay đang trải qua những đêm dài cay đắng. Qua đó ta thấy, cái xã hội phong kiến thời ấy, với những hủ tục của nó chính là thủ phạm đã làm xơ xác, khô héo phận hồng nhan. Xem thêm: Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng đại từ nhân xưng “mình” - “ta” Đằng sau hai câu đề là những tiếng thở dài ngao ngán. Cố vẫy vùng để thoát ra, bươn ra khỏi cái nghịch cảnh nhưng đâu dễ! Tiếp theo là hai câu thực:
"Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn".
Nghệ thuật đối rất thần tình: "Chén rượu" với "vầng trăng", trên thì "hương đưa", dưới lại có "bóng xế, đặc biệt ba chữ "say lại tỉnh" với "khuyết chưa tròn" đăng đối, hô ứng nhau làm nổi bật bi kịch về thân phận người đàn bà dang dở, cô đơn. Muốn mượn chén rượu đế khuây khỏa lòng mình, nhưng vừa nâng chén rượu lên môi, mùi hương phả vào mặt, đưa vào mũi. Tưởng uống rượu cho say để quên đi bao nỗi buồn, nhưng càng uống càng tỉnh. "Say lại tỉnh"để rồi tỉnh lại say, cái vòng luẩn quẩn ấy về duyên phận là của nhiều phụ nữ đương thời, trong đó Hồ Xuân Hương như một oan trái.
Buồn tủi cho thân phận, bao đêm dài thao thức đợi chờ, nhưng tuổi đời ngày một "bóng xế”. Bao hi vọng đợi chờ. Đến bao giờ vầng trăng mới "tròn"? Đến bao giờ hạnh phúc đến trong tầm tay, được trọn vẹn, đầy đủ? Sự chờ mong gắn liền với nỗi niềm khao khát. Càng cô đơn càng chờ mong, càng chờ mong càng đau buồn, đó là bi kịch của những người đàn bà quá lứa lỡ thì, tình duyên ngang trái, trong đó có Hồ Xuân Hương.
Hai câu trong phần luận, tác giả lấy cảnh để ngụ tình. Đây là hai câu thơ tả cảnh "lạ lùng" được viết ra giữa đêm khuya trong một tâm trạng chán ngán, buồn tủi: Xem thêm: Bàn về chuyện chơi và nghiện game Online
"Xiên ngang mật đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn".
Ý thơ cấu trúc tương phản để làm nổi bật cái dữ dội, cái quyết liệt của sự phản kháng. Từng đám rêu mềm yếu thế mà cũng "xiên ngang mặt đất" được! Chỉ có rải rác "đá mấy hòn" mà cùng có thể "đâm toạc chân mây" thì thật kì lạ! Hai câu thơ, trước hết cho ta thấy thiên nhiên tiềm ẩn một sức sống đang bị nén xuống đã bắt
đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng. Thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương không chỉ mang màu sác, đường nét, hình khối mà còn có gương mặt, có thái độ, có hành động, cũng "xiên ngang…", cũng "đâm toạc"… mọi trở ngại, thế lực. Xuân Hương vốn tự tin và yêu đời. Con người ấy đang trải qua nhiều bi kịch vẫn cố gắng gượng với đời. Phản ứng mạnh mẽ, dữ dội nhưng thực tại vẫn chua xót. Đêm đã về khuya, giữa cái thiên nhiên dào dạt, bốn bể mịt mùng bao la ấy, người đàn bà hẩm hiu càng cảm thấy có đơn hơn bao giờ hết. Chẳng thế mà trong bài "Tự tình I", nữ sĩ đã buồn tủi viết:
"Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?".
Cả nỗi đau trần thế như dồn tụ lại đáy lòng một người đàn bà cô đơn. Khao khát được sống trong hạnh phúc, được làm vợ, làm mẹ như mọi người đàn bà khác. Nhưng "hồng nhan bạc mệnh"! Đêm càng về khuya, người đàn bà không thể nào chợp mắt được, trằn trọc, buồn tủi, thân đơn chiếc, thiếu thốn yêu thương, xuân đi rồi xuân trở về, mà tình yêu chỉ được "san sẻ tí con con", phải cam chịu cảnh ngộ:
"Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con".
Xuân đi qua, xuân trở lại, nhưng với người phụ nữ thì "mỗi năm mỗi tuổi như đuổi xuân di"… Chữ "ngán" nói lên nỗi đau, nồi buồn tủi của người đàn bà lỡ thì quá lứa. đang trải qua sự mòn mỏi, đợi chờ. Tình duyên, tình yêu như bị tan vỡ, tan nát thành nhiều "mảnh", thế mà chua chát thay chỉ được "san sẻ tí con con". Câu thơ là tiếng than thân trách phận. Phải chăng đây là lần thứ hai Hồ Xuân Hương chịu cảnh làm lẽ? Tình đã vờ ra thành "mảnh" lại còn bị "san sẻ", đã "tí" lại,ỷcon con". Mỗi chữ như rưng rưng những giọt khóc. Câu thơ này, tâm trạng này được nữ sĩ nói rõ thêm trong bài "Lấy chồng chung": Xem thêm: Giải thích ngắn gọn chín câu tục ngữ sau về con người và xã hội"Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,
Năm thì mười họa hay chăng chớ,
Một tháng đôi lần có cũng không!…".
Tóm lại, ‘Tự tình" là lời tự than, tự thương xót, buồn tủi cho duyên số, duyên phận hẩm hiu của mình. Càng thao thức cô dơn, càng buồn tủi. Càng buồn tủi, càng khao khát được sống trong hạnh phúc trọn vẹn, đầy đủ. Thực tại nặng nề, cay đắng bủa vây, khiến cái hồng nhan phơi ra, "trơ" ra với nước non, với cuộc đời. Người đọc vô cùng cảm thông với nỗi lòng khao khát sống, khao khát hạnh phúc của nữ sĩ và người phụ nữ trong xã hội cũ. Giá trị nhân bản là nội dung sâu sắc nhất của chùm thơ "Tự tình" của Hồ Xuân Hương.
Cách dùng từ rất đặc sắc, độc đáo thể hiện phong cách nghệ thuật Hồ Xuân Hương: "trơ cái hồng nhan", "say lại tỉnh", "khuyết chưa tròn", "xiên ngang", "đâm toạc", "ngán nỗi", "lại lại", "tí con con",… Chữ dùng sắc nhọn, cảnh ngụ tình, diễn tả mọi đau khổ bi kịch về duyên số. Qua bài thơ này, ta càng thấy rõ Hồ Xuân Hương đã đưa ngôn ngữ dân gian, tiếng nói đời thường vào lời ca, bình dị hóa và Việt hóa thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bà xứng đáng là "Bà Chúa thơ Nôm" của nền thi ca dân tộc.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng “Tự tình” – Bài 2 của Hồ Xuân Hương | 1,444 | |
Bình giảng “Tự tình” – Bài I của Hồ Xuân Hương
Gợi ý
Đây là bài thơ thứ nhất trong chùm thơ "Tự tình " ba bài được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thể hiện một tâm trạng buồn cồ đơn của người đàn bà phận hẩm duyên ôi đang thao thức giữa đêm khuya.
Mở đầu bài thơ, hai câu đề gợi ra một không gian bao la, mờ mịt từ bom thuyền ở nơi dòng sông đến khắp mọi chòm xóm, thôn làng. Người phụ nữ thao thức suốt những canh dai. Tiếng gà gáy "văng vẳng" trên bom thuyền từ xa đưa tới. Đêm dài chuyển canh, mịt mùng vắng lặng mới nghe thấy tiếng gà gáy "văng vắng" như thế. Nghệ thuật lấy động (tiếng gà gáy) để diễn tá cái tĩnh lặng vắng vẻ của đêm dài nơi làng quê đã góp phần làm nổi bật tâm trạng “oán hận" của người phụ nữ thao thức suốt những canh trường. Nàng ngồi dậy, lắng tai nghe tiếng gà gáy sang canh, rồi “trông ra" màn đêm mịt mùng. Màn đêm như bủa vây người phụ nữ trong nỗi buồn cô đơn, oán hận:
"Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm
Hai câu ba, bốn trong phần thực, tác giả tạo ra hai hình ảnh "mõ thảm" và “chuông sầu" đối nhau, hô ứng nhau, cực tả nỗi đau khổ, sầu tủi của riêng người phụ nữ đang sống trong cảnh ngộ quá lứa lỡ thì, trắc trở trong tình duyên. Vần thơ đầy ám ảnh. Phủ định để khẳng định tiếng “cốc" của "mõ thảm", tiếng "om" của "chuông sầu". Nữ sĩ đã và đang trải qua những đem dài thao thức và cô đơn, đau cho nỗi đau của đời mình cố đơn như "mõ thảm", chẳng ai khua "mà cũng cốc ", tủi cho nỗi tủi của riêng mình lẻ bóng chăn đơn như "chuông sầu" chẳng đánh "cớ sao om". Nỗi oán hận, đau buồn sầu tủi như thẩm vào đáy dạ, tê tái xót xa, như đang tỏa rộng trong không gian "khắp mọi chòm", như kéo dài theo thời gian cứa nhừng đêm dài. "Om" là tiếng tượng thanh, tiếng chuông sầu, cũng là gợi tả nỗi thảm sầu tê tái, đau đớn đến cực độ. Câu hỏi tu từ đã làm cho giọng thơ thắm thiết, xoáy sâu vào lòng người như một lời than, như một tiếng thơ dài tự thương mình trong nỗi buồn ngao ngán:Xem thêm: Miêu tả một cảnh đẹp gần gũi, giản dị em đã thường được ngắm nhìn (góc phố nơi em ở, con đường em đi học, cánh đồng quê em, ...)"Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om? "
Có biết thời con gái, Hồ Xuân Hương đã có những vần thơ tươi xinh, phơi phới như "Thân em vừa trắng lại vừa tròn" {Bánh trôi nước), "Hai hàng chân ngọc duỗi song song" (Đánh du),… ta mới thấy hết nỗi thảm sầu về bi kịch cô đơn của nữ sĩ được diễn tả tê tái trong hai câu ở phần thực này.
Lời than tự tình trong cồ đơn được khơi sâu trong phần luận, để mà "rầu rĩ” thêm, giận hờn thêm cho duyên phận hẩm hiu:
"Trước nghe” đối với "sau giận”’, "tiếng" hô ứng với "duyên": "rầu rĩ’ là tâm trạng đối với "mõm mỏm” là trạng thái. "Trước nghe những tiếng…", là những tiếng gì? – Tiếng của miệng thế? Hay tiếng gà văng vẳng gáy, tiếng "chuông sầu", tiếng "mõ thảm” đang "cấc”, đang "om” trong lòng minh? Giữa canh khuya thao thức, càng nghe càng thêm "rầu rĩ”, buồn tủi. Giữa lúc tàn canh thao thức, càng nghe càng "giận”, càng hờn về tình duyên bẽ bàng. Tình duyên của mình được ví với trái cây, không còn "má hây hây gió” (Xuân Diệu) nữa mà đã chín "mõm mòm", nghĩa
là quá chín, đã nẫu đi! "Duyên mõm mòm" là duyên phận hẩm hiuquá lứa lỡ thì! Trong câu thơ như có dòng lệ, có tiếng thở dài, vừa than thân trách phận, vừa buồn tủi về con đường tình duyên. Tiếng thư tự tình của Hồ Xuân Hương là lời than tự thương mình, đồng thời thương cho những người đàn bà cùng cảnh ngộ đã luống tuổi mà vẫn cô đơn lẻ bóng: "Giật mình mình lại thương mình xót xa’ (Truyện Kiều).Xem thêm: Phân tích bài thơ Thu Điếu của Nguyễn Khuyến Phần kết xuất hiện một tứ thơ rất lạ. Như một sự thách đố với số phận, với duyên số. Nữ sĩ vẫn "bướng bỉnh" trước bi kịch cò đơn của mình khi "duyên để mõm mòm" rồi:
"Tài tử văn nhân ai đó ta?
Thân này đâu đã chịu già tom! ".
Vừa nghi vấn, vừa cảm thán, hai câu kết đầy nghịch lí. Nữ sĩ như vẫn còn tin vào tài năng của mình có thể làm xoay chuyển được duyên phận, vẫn hi vọng tìm được bạn đời trăm năm trong đám tài tử văn nhân. Câu sáu nữ sĩ viết: "Sau giận vì duyên để mõm mòm", câu tám bà lại viết: "Thân này đâu đã chịu già tom!". “Già tom" nghĩa là rất già, già hẳn! Đó là một cách “nói cứng“ thể hiện một thái độ “bướng bỉnh“, một bản lĩnh cứng cỏi trước ngang trái cuộc đời. Đọc chùm thơ "Tự tình" cũng như tìm hiểu cuộc đời của nữ sĩ, về mặt tình duyên; ta thấy hạnh phúc tình yêu chưa một lần mỉm cười với Xuân Hương. Bài thơ "Cám cựu kiêm trình cần chánh học sĩ Nguyên Hầu" (Nhớ người cũ, viết gửi Cẩn chánh học sĩ Nguvễn Du – tước hầu) như một bóng quang âm soi tỏ một "mảnh tình riêng" của "Bà chúa thơ Nôm", giúp ta cảm nhận bài thơ "Tự tình" này:
"Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đây gởi cho cùng.Xem thêm: Có người cho rằng bài thơ Vịnh khoa thi Hương là tiếng khóc, nhưng có người lại cho đó là tiếng cười châm biếm sâu cay của Trần Tế Xương trước thời cuộc lúc bấy giờ. Ý kiến của anh (chị) như thế nào? Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trôm mừng duyên tấp nập,
Phấn son cùng túủi phận long dong.
Biết còn mấy chút sương sin mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong ".
Bài thơ "Tự tình" I được nữ sĩ gieo vần "om", năm vần thơ, vần nào cũng hóc hiểm, tài tình: "bom-chồm-om-mồn-tom". Những vần thơ hóc hiểm ấy, một mặt thể hiện bút pháp điêu luyện, mặt khác đã tạo nên nhạc điệu, âm điệu như thắt, như nén lại cái "oán’ cái "hận", cái "ngang bướng" của một tâm trạng; một cá tính rất Xuân Hương.
Duyên số và hạnh phúc tình yêu của người phụ nữ là nội dung đầy ám ánh đối với mỗi chúng ta khi đọc bài thơ "Tự tình" này của Xuân Hương. "Tự tình" là tiếng than thân trách phận cho nỗi buồn cô đơn, cho bi kịch tình yêu, là niềm khao khát được sống trong hạnh phúc, được làm vợ, làm mẹ trong cuộc đời của người phụ nữ. Vì lõ đó, "Tự tình" mang giá trị nhân bản sâu sắc.
Vanmau.edu.vn | Bình giảng “Tự tình” – Bài I của Hồ Xuân Hương | 1,236 | |
Bình luận 2 câu thơ trong bài Đề Đền Sầm Nghi Đống
Hướng dẫn
Thế kỉ* 19, trên thi đàn Việt Nam xuất hiện những nữ sĩ tài ba như Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương,… Nữ sĩ Hồ Xuân Hương chiếm một địa vị vẻ vang, được nhà thơ Xuân Diệu ngợi là ‘bà chúa thơ Nôm’. Bà để lại trên dưới 50 bài thơ Nôm thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú, Thơ trữ tình cũng như thơ trào phúng của bà độc đáo, hóm hỉnh, sâu sắc vô cùng.
‘Đề đền Sẩm Nghi Đống’,bài thơ tứ tuyệt, đề tài nhỏ mà đa nghĩa, tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Xuân Hương. Hai câu cuối của bài thơ, bà đã viết:
"… Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?’
1.Ý nghĩa hai câu thơ:
Sầm Nghi Đống là một võ tướng của nhà Thanh cùng Tôn Sĩ Nghị mang 29 vạn quân sang xâm lược nước ta. Chúng đã bị vua Quang Trung đánh cho đại bại. Sầm Nghi Đống thất trận, cùng kế phải thắt cổ tự tử. Hắn được Hoá kiều lập đền thờ ở một hẻm phố thành Thăng Long. Nếu như hai câu đầu, nữ sĩ tả ngôi đền và nói lên thái độ khinh miệt của mình thì hai câu cuối, bà nêu lên một giả định so sánh để bình giá ‘cái sự anh hùng’, cái nhân cách quá tầm thường của tên tướng Thiên triều bại trận. Ý thơ còn biểu lộ một khát vọng về quyền nam nữ bình đẳng của người đàn bà nước Nam.
2 Bình:
Xã hội phong kiến, nhất là bọn vua quan rất coi thường phụ nữ. Thế mà Hồ Xuân Hương lại đem chính mình ra so sánh với quan Thái thú phương Bắc, bĩu môi bình giá ‘cái sự anh hùng’ của tên tướng Thiên triều là một lối nói giễu cợt, mỉa mai, coi thường. ‘Đây’ là đại từ nhân xưng để trỏ, chỉ dùng trong mối quan hệ thân tình hoặc coi thường. ‘Cái sự anh hùng’ của kẻ đang được Hoá kiều thờ cúng trong ngôi đền ấy thực ra tài năng không bằng một người đàn bà (trong xã hội trọng nam khinh nữ)! Nữ sĩ đã tạo nên một ý thơ sắc nhọn, bằng lối nói giả định so sánh để bình giá và đã lột trần chân tướng và giá trị thật của Sầm Nghi Đống.
Câu hỏi tu từ với ba tiếng ‘há bấy nhiêu’ cho thấy bà đã bĩu môi châm biếm nhân cách tầm thường, cách ứng xử đê hèn của một viên tướng trong vòng tênđạn, gươm giáo. Anh hùng thì phải mưu lược, quả cảm, võ công lừng lẫy, có chết trong trận mạc thì cũng được ‘bọc thây da ngựa’ lưu lại tiếng thơm muôn đời. Anh hùng phải vị nghĩa, vì nước vì dân, ‘giữa đường dẫu thấy ỈỊâ't bằng mà tha’ (Kiều). Trái lại, hành động của quan Thái thú là đem quân đi ăn cướp nước người, lúc bị quân ta đánh cho tơi bời, lúc sa cơ hắn lại treo cổ tự tử! Viên bại tướng với cái chết nhục nhã không đáng mặt nam nhi, không có một chút gì đáng gọi là ‘sự anh hùng’cả.
Xem thêm: Bài viết số 5 lớp 10. Thuyết minh về tấm gương học tốt của lớp em
1.Luận:
Hai câu thơ phản ánh một tâm thế đàng hoàng, tự tin về tài năng, phẩm hạnh của mình, của giới mình, của người đàn bà Việt Nam. Ta đã biết Hồ Xuân Hương từng có thái độ ‘bất kính’, coi thường các bậc hiền nhân quân tử, giới mày râu trong xã hội phong kiến. Bà chế giễu, châm biếm bộ mặt đạo đức giả của họ. Nữ sĩ mỉm cười hỏi viên hoạn quan ‘đem cái xuân tình vứt bỏ đâu?’, đả kích bọn công tử dốt nát mà lại ngông nghênh, chẳng khác gì ‘ong non ngứa nọc châm hoa rữa. Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa’, hoặc báng bổ lối tu hành của các nhà sư hố mang: ‘oản dâng trước mặt năm ba phẩm, Vãi nấp sau lưng sáu, bảy bà’, v.v…
Nhà thơ đã góp một giọng thơ trào phúng, để lại một bức biếm họa thần tình, lột tả bộ mặt xấu xa, tàn ác, bất tài của bọn Thái thú ‘Thiên triều’ có nhiều tội ác đẫm máu đối với dân tộc ta. Cái đền thờ Sầm Nghi Đống mãi mãi là một vết nhơ cho tất cả bọn chúng.
Ý thơ biểu thị một lập trường dân tộc, một ý thức dân tộc. Nữ sĩ tuy không thể ‘đổi phận làm trai được’, nhưng lịch sử chống xâm lăng của nhân dân ta, những gương sáng của Hai Bà Trưng, của Lê Chân, của Bà Triệu,… đã tạo nên cảm hứng tự hào để nữ sĩ xuất khẩu thành những vần thơ bất hủ ấy! Hai câu thơ, qua hình thức nghệ thuật cảm thán (mỉa mai) và câu hỏi tu từ (hỏi đề bình giá) đã biểu lộ một khát vọng về bình đẳng nam nữ, về quyền sống của ‘phận gái’ muốn được thi thố tài năng, đức hạnh với đời. vẻ đẹp nhân văn tiềm ẩn, lấp lánh trong hai câu thơ đặc sắc ấy.
Ngoài ra, người đọc còn lấy làm thú vị trước một giọng điệu thơ ca đặc sắc, tài ba của ‘Bà chúa thơ Nôm’. Bút pháp của nữ sĩ đã làm cho thơ thất ngôn Đường luật được Việt hóa cao độ. Học tập nghệ thuật trào phúng của thơ ca dân gian, bà đã sáng tạo nên những vần thơ mộc mạc, bình dị mà đa nghĩa, sắc sảo, biểu lộ một cá tính sáng tạo, một phong cách rất ‘Hồ Xuân Hương’.
Tóm lại, hai câu thở ‘Ví đây đổi phận…’ có một giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Nó không chỉ chế giễu bọn Thái thú phương Bắc sang xâm lược và đô hộ nước ta mà còn thể hiện một ý thức tự tôn dân tộc, một khát vọng về quyền bình đẳng nam nữ. Đọc những vần thơ ấy, ta cảm nhận được một phần nào ngôn ngữ thơ ca, tính cách và vẻ đẹp tâm hồn của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Nguồn: thêm: Bàn về thơ, nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: “Quy... nội tâm”. Còn nhà phê bình Nga Bi-ê-lin-xki cho rằng: “Bất... xã hội”. Anh (chị) suy nghi gì về những ý kiến trên. Chứng minh qua một hiện tượng thơ ca mà anh (chị) tâm đắc | Bình luận 2 câu thơ trong bài Đề Đền Sầm Nghi Đống | 1,108 | |
Bình luận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy
Gợi ý
Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng phát hiện:
“Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”
Đúng vậy, ai cũng mang trong mình một quê hương và Nguyễn Duy cũng vậy. Cho dù đi đâu, làm gì, ông cũng không quên được quê hương của mình – quê hương Thanh Hóa, không quên tri ân người bà thân yêu của mình. Bài thơ Đò Lèn đã được ra đời như vậy.
Bài thơ "Đò Lèn" được viết năm 1983, trong dịp nhà thơ trở về quê hương, sông với hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu. Cái thời tuổi nhỏ hồn nhiên nhưng cũng thật vô tình.
Toàn bộ bài thơ là một dòng hồi ức xa xưa ùa về, ngay từ khổ đầu tác giả đã nhớ lại rất rõ nét, chi tiết những trò chơi thuở nhỏ của mình.
“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần”
Bốn dòng thơ của khổ thơ đầu tiên, đã tái hiện lại cảnh vui chơi “câu cá, đi chợ, bắt chim sẻ” và có cả những trò nghịch dại “ăn trộm nhãn”. Nốì tiếp dòng hồi tưởng ấy vẫn là cảnh vui chơi
“Thuở nhỏ tôi lên chơi đền
Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùa huệ tráng quyện khói trầm thơm lắm
Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”
Haỉ khổ thơ đầu là hai dòng hồi tưởng của tác giả về tuổi thơ của mình, tác giả không chỉ nhớ lại mà còn tự trách sự vô tình của mình vởi nỗi vất va cua bà:Xem thêm: Kể một chuyến về thăm quê làm em nhớ mãi“Tôi đầu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ả đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”
Nguyễn Duy đã rất khéo léo tạo nên hai cực đối lập, sự vô tư, trẻ con của mình. Tác giả đã làm nổi bật lên sự vất vả của bà. Từ “thập thững” đã nói lên tất cả. Trong bài thơ Bên kia sông Đuống, nhà thơ Hoàng cầm đã viết:
“Bước cao thấp bèn bờ tre hun hút”
“Bước cao thấp” mới chỉ diễn tả được quãng đường không bằng phẳng khiến người bước không chắc nhưng Nguyễn Duy lại viết khác “Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”. Câu thơ không chỉ gợi ra sự chông chênh của con người, sự gồ ghề của mặt đường mà người đọc còn cảm nhận được sự nặng nhọc của gánh hàng trên vai người bà. Bà đã cam chịu mọi vất vả, khó nhọc để cho cháu có một cuộc sông ấm no. Tác giả nhận ra:
“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe tham mình huệ trắng, hương trầm”
Tình cảm mà tác giả dành cho bà của mình rất sâu nặng, thể hiện đặc biệt trong khổ thơ cuồi:
“Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”
Đối với tác giả, hình ảnh người bà hiện lên luôn chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng mọi khó khăn. Khi “bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất”, vậy mà “bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Và khi bà đã không còn thì tác giả mới nhận ra mình thương bà thế nào. Có thể thấy cách thương bà của tác giả rất đặc biệt. Đó là sự tri ân, lòng thương bà sâu sắc khi bà đã không còn nữa, khi “bà chỉ còn là nấm cỏ mà thôi”, chính lúc này cháu đã khôn lớn và biết thương bà, cảm nhận được sự vất vả của người bà.Xem thêm: Phân tích bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng Bài thơ "Đò Lèn" của Nguyễn Duy không chỉ đơn thuần là dòng hoài niệm xưa khi trở lại quê hương mà đó còn là sự tri ân, lòng cảm ơn sâu sắc và lời xin lỗi chân thành của tác giả dành cho người bà của mình.
Vanmau.edu.vn | Bình luận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy | 724 | |
Bình luận bài “Bài phát biểu đọc trước mộ Mác” của Ph. Ăng – ghen
Gợi ý
Mác và Ăng-ghen là đôi bạn chiến đấu chí thân, là hai nhà triết học vĩ đại trong thế kỉ XIX.
Qua "Bài phát biểu đọc trước mộ Mác", Ăng-ghen đã ca ngợi những cống hiến to lớn của Mác và biểu lộ tình cảm tiếc thương của những người cộng sản đối với người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân trên toàn thế giới.
1. Mở đầu bài phát biểu, Ăng-ghen đau buồn nhắc lại giây phút lâm chung của Mác: "Ngày 14 tháng ba (năm 1883), buổi chiều, vào lúc ba giờ kém mười lăm phút…". Ăng-ghen tôn vinh Mác là "nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại". Ông đã dùng ngôn từ trang trọng, lối nói giảm để nén bớt nỗi đau thương của mình đối với người bạn thân thiết vừa mới qua đời: "đà ngừng suy nghĩ’, "chúng tôi đã thấy Mác ngủ đi thanh thản", "nhưng là giấc ngủ ngàn thu". "Chết" là quy luật tất yếu của tạo vật, của con người. Sống ở trên đời, ai cũng có sinh, có tử. Có người sau khi nhắm mắt xuôi tay là hết: "Thân cát bụi lại trở về cát bụi" (Kinh Thánh): "Trăm năm còn có gì đâu? / Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì" (Nguyễn Gia Thiểu). Nhưng tình người, tình đời vốn sâu nặng. Mỗi một cái tang thường để lại nhiều tổn thất, đau thương cho người thân. Mác "ngừng suy nghĩ’ – tổn thất này thật là lớn lao, đau thương này thật là vô hạn. Đối với giai cấp vô sản, đối với khoa học lịch sử thì việc Mác qua đời "là một tổn thất không sao lường hết được". Nỗi đau sẽ thấm sâu vào thời gian và lòng người vì "Sau đây, người ta sẽ cảm thấy một nỗi trống trải do cái chết của bậc vĩ nhân gây ra".
2. Phần thứ hai của bài phát biểu, Ăng-ghen dùng những lời tốt đẹp nhất đánh giá các cống hiến to lớn của Mác trên nhiều lĩnh vực về triết học, về hoạt động cách mạng…
a. Tầm vóc của Mác vô cùng vĩ đại. Nếu Đác-uyn, nhà tự nhiên học và sinh vật học người Anh, nhà bác học thiên tài "đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ" thì Mác "đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người". Mác đã chỉ ra kinh tế là nền tảng của chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo; các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật, tôn giáo,… của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi thời đại chỉ có thể phát triển trên nền táng kinh tế và cơ sở sản xuất, để làm ra những tư liệu sinh hoạt vật chất phục vụ cuộc sống con người, thúc đẩy tiến hoá xã hội. Đó là cống hiến vĩ đại thứ nhất của Mác.Xem thêm: Phân tích bài thơ Xuất Dương lưu biệt của Phan Bội Châu b. Tầm vóc của Mác vô cùng vĩ đại. Sau khi so sánh với Đác-uyn, ca ngợi cống hiến của Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người, Ăng-ghen sử dụng phương pháp suy luận tăng cấp để khảng định sự vĩ đại của Mác "không phải chỉ có thế thôi". Mác đã "tìm ra" quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại và của xã hội tư sản do phương thức đó đề ra. Mác đã "phát hiện ra" giá trị thặng dư của nền kinh tế, của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại. Ăng-ghen đã dùng hình ảnh "lập tức một ánh sáng đã hiện ra" trong bóng tối, và dùng cách lập luận tương phản giữa Mác với các nhà kinh tế học tư sản, các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa để khẳng định cống hiến to lớn của Mác, khi ông viết: Với việc phát hiện ra giá trị thặng dư trong lĩnh vực này thì lập tức một ánh sáng đã hiện ra trong khi tất cả các công trình nghiên cứu trước đây của các nhà kinh tế học tư sản cũng như của các nhà phê bình.xã hội chủ nghĩa vần đều mò mẫm trong bóng tối". Đó là cống hiến vĩ đại thứ hai của Mác.
Mác là một thiên tài, một nhà triết học xuất chúng. Ăng-ghen đã dùng phép suy luận tăng cấp để ca ngợi Mác là một người hạnh phúc nhất trong những người hạnh phúc vì ông đã có hai phát minh cống hiến cho nhân loại: "hai phát minh như vậy đối với một đời người cũng là đủ rồi. Người nào mà có được một phát minh như vậy thì hẳn là đã hạnh phúc lắm rồi".
Mác là "con người của khoa học", ông đã nghiên cứu nhiều lĩnh vực và "đã có những phát minh khác nhau trong mỗi lĩnh vực": thậm chí cả trong lĩnh vực toán học, "nhưng không một lĩnh vực nào ông nghiên cứu hời hợt cả". Đối với Mác, khoa học "là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng". Ông không chỉ say mê nghiên cứu mà còn có "một niềm vui thực sự khi việc ứng dụng của mỗi một phát minh mới mà.mọi người "chưa thể nhìn thấy ngay được". Niềm vui của Mác "còn hoàn toàn khác nữa" khi mà một phát minh có ảnh hưởng ngay đến công nghiệp, đến sự phát triển lịch sử nói chung. Qua đó, ta biết hạnh phúc của Mác, niềm vui của Mác không chỉ hướng về các phát minh khoa học mà còn đem toàn bộ trí tuệ, tâm hồn của mình gắn liền với tiến bộ xã hội, với hạnh phúc của con người. Vì thế, Mác đã theo dõi rất kĩ các phát minh về điện, phát minh về kĩ thuật truyền tải điện công nghiệp của Mác-xen Đê-prê.Xem thêm: Nghị luận xã hội về tình bạn
Ăng-ghen đã dùng biện pháp so sánh lập luận tăng cấp khi nói về "niềm vui thực sự của Mác đối với các phát minh khoa học và ứng dụng khoa học:
"Mỗi một phát minh mới trong bất cứ một khoa học lí luận nào mà thậm chí, đôi khi việc ứng dụng nó vào thực tế, người ta chưa thể nhìn thấy ngay được thì đã có thể đem lại cho Mác một niềm VUI thực sự như thế nào rồi – nhưng niềm vui của ông còn hoàn toàn khác nữa, khi đó là một phát minh có ảnh hưởng cách mạng ngay đến công nghiệp, đến sự phát triển lịch sử nói chung".
c. Mác là một nhà cách mạng. Bằng cách này hay cách khác, Mác đã tham gia vào việc lật đổ xã hội tư bản và thiết chế nhà nước do nó dựng lên, ông đã tham gia vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại, ông là "người đầu tiên" đã đem lại cho giai cấp vô sản "một ý thức về địa vị của bản thân mình và yêu cầu của mình,ý thức về điều kiện để giải phóng mình".
Ăng-ghen chỉ rõ: "Đấu tranh là hành động tự nhiên của Mác". Ông đã chứng minh tính chất phong phú, sôi nổi vể đấu tranh cách mạng của Mác, đấu tranh một cách "say sưa, kiên cường và có kết quả", và khẳng định là "không mấy người được như vậy". Trên lĩnh vực báo chí, từ năm 1842 đến năm 1861. Mác lúc làm cộng tác viên, lúc làm chủ biên, lúc làm tổng biên tập cho nhiều tờ báo tiến bộ, cấp tiến như tờ Báo Sông Ranh, tờ Tiến lên, tờ Báo Brúc-.xen Đức, tờ Báo Sông Ranh Mới, tờ Niu-oóc Diễn đàn Nhật báo. Ông còn viết "vô số những cuốn sách mỏng mang tính chất chiến đấu". Ông là một trong những người cộng sản sáng lập ra Hội Liên hiệp công nhân quốc tế vĩ đại. Ăng-ghen dùng hình ảnh "vòng hoa vinh quang" để tôn vinh sự nghiệp cao cả của Mác đối với phong trào cộng sản thế giới và giai cấp công nhân toàn quốc tế, "vòng hoa vinh quang của toàn bộ sự nghiệp đó, – đó chính là sự nghiệp mà ai.xây dựng nên nó đều lấy làm tự hào, thậm chí dù cho người đó không làm được gì thêm nữa ngoài việc đó". Đó là cống hiến vĩ đại thứ ba của Mác.
Tóm lại, sự cống hiến của Mác thật vô cùng to lớn. ông là nhà triết học vĩ đại, là con người của khoa học, là nhà cách mạng lỗi lạc về lí luận, về tổ chức, về đấu tranh thực tiễn, dù ở lĩnh vực nào ông cũng xứng đáng giữ vai trò tiên phong, xứng đáng là lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Ăng-ghen lúc thì dùng hình ảnh "một ánh sáng đã hiện ra" y lúc thì dùng hình ảnh "vòng hoa vinh quang’ để ca ngợi cống hiến vĩ đại của Mác. Cách lập luận của Ăng-ghen rất chặt chẽ và biến hóa, lúc thì so sánh tăng cấp, lúc thì so sánh tương phản, lúc thì liệt kê để chứng minh những phát minh, những hoạt động cách mạng "say sưa, kiên cường và có kết quả’ của vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân quốc tế. Ngôn từ của Ăng-ghen rất trang trọng vừa biểu lộ niềm ngưỡng mộ tự hào, vừa đau xót tiếc thương.Xem thêm: Ngày nay, rất nhiều bạn trẻ thích sống "sành điệu". Em hiểu thế nào là "sành điệu"? "Sành điệu" có phải là hư hỏng? Hãy viết bài văn ngắn bày tỏ suy nghĩ của bản thân 3. Phần cuối bài phát hiểu y Ăng-ghen ca ngợi nhân cách cao đẹp và bản lĩnh kiên cường của Mác. Mặc dù ông "bị căm ghét nhiều nhất và bị vu khống nhiều nhất trong thời đại ông bị "trục xuất” bị "vu khống và nguyền rủa", nhưng các chính phủ – cả chuyên chế lẫn cộng hòa, bọn tư sản – cá bảo thủ lẫn dân chủ cực đoan, đều bị Mác "gạt sang một bên” coi khinh ”như là cái mạng nhện vướng chân”. "không thèm để ý" và "chỉ đáp lại khi thấy hết sức cần thiết mà thôi".
Mác mất đi không chỉ là tổn thất, để lại bao tiếc thương cho riêng một gia đình, một dòng họ, một dân tộc, một quốc gia mà là "hàng triệu người cộng sự cách mạng với ông ở khắp châu Âu và châu Mĩ, từ những hầm mỏ ở Xi-bia cho đến Ca-li-phoóc-ni-a, đã tôn kính, yêu mến và khóc thương ông".
Ăng-ghen đã tự hào nói rằng. Mác "có thể có nhiều kẻ đối địch nhưng chưa chắc ông đã có một kè thù riêng nào cả".
Các vĩ nhân xưa nay đều bất tử bới lẽ "Thác là thể phách, còn là tinh anh". Với Mác cũng vậy, "Tên tuổi và sự nghiệp của ông đời đời sống mãi ".
Có thể xem bài phát biểu này là bài "điếu văn" của Ăng-ghen đọc trước mộ Mác. Ăng-ghen đã thể hiện nỗi tiếc thương, ca ngợi công lao to lớn, khẳng định và tôn vinh sự nghiệp vĩ đại của Mác, người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản, người thầy của giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Bài điếu văn này được viết bằng văn phong châu Âu hiện đại, cách lập luận chặt chẽ, cách nêu lí lẽ sắc sảo, cách đưa dẫn chứng sáng tỏ. Sự kết hợp giữa tình cảm và lí lẽ rất hài hòa.
Một ấn tượng sâu sắc đối với mỗi chúng ta khi đọc bài "điếu văn" này là được cúi đầu ngưỡng mộ một nhà triết học, nhà tư tưởng vĩ đại, cám động trước lời lẽ chân thành và tình bạn thắm thiết của Ăng-ghen đối với Mác, người đồng chí chiến đấu thuỷ chung.
Vanmau.edu.vn | Bình luận bài “Bài phát biểu đọc trước mộ Mác” của Ph. Ăng – ghen | 2,059 | |
Bình luận bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” của Phan Châu Trinh
Gợi ý
Phan Châu Trinh (1872 – 1926) quê ở Quảng Nam, biệt hiệu là Hy Mã. Cụ là một trong những chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của nước ta trong ba thập niên đầu thế kỉ XX.
Cụ để lại nhiều thơ văn yêu nước và cách mạng. Cụ là chiến sĩ tiên phong nêu cao ngọn cờ duy tân… mở mang dân trí, tự cường, chống thực dân và bọn vua quan tay sai:
"Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cầm quyên
trông gió cũng gai ghê;
Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, của dân chủ
khêu đèn thêm sáng chói ".
(Văn tế Phan Châu Trinh – Phan Bội Châu)
Bài "Về luân lí xã hội ở nước ta " là một phần trích trong tác phẩm "Đạo đức và luân lí Đông Tây " của Phan Châu Trinh viết năm 1925.
Chúng ta có thể coi đây là một văn bản bình luận về một vấn đề chính trị – xã hội, một vấn đề mang tính lịch sử bức thiết của nhân dân ta thời bấy giờ.
1. Phần đầu văn bản, cụ Phan nêu lên vấn đề: "Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến". Hai chữ "tuyệt nhiên " là cách nói khẳng định của tác giả. Khái niệm "luân lí xã hội" tức là luân lí, đạo đức của chủ nghĩa xã hội coi trọng sự bình đẳng và ý thức nhân quyền, không chỉ thể hiện mối quan hệ của con người trong mỗi gia đình, trong mỗi quốc gia mà còn là mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội rộng lớn.
Cụ Phan bình luận: “Một tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lí được". Còn tư tưởng "bình thiên hạ" trong câu: "Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" của Khổng Mạnh thì "mất đi dà từ lâu rồi". Hai tiếng "võ vẽ" trong câu: "Ngày nay những kẻ học ra làm quan cũng võ vẽ nhắc đến hai chữ đó (hai chừ thiên hạ") nhưng chỉ làm trò cười cho kẻ thức giả đấy thôi", đã thê hiện thái độ châm biếm, khinh bỉ đối với bọn đạo đức giả trong xã hội thực dân nửa phong kiến.Xem thêm: Nghị luận xã hội về chất độc màu da cam 2. Phần thứ hai, Phan Châu Trinh chứng minh và bình luận thực trạng luân lí, đạo đức của xã hội ta thời bấy giờ (thời Pháp thuộc).
Tác giả cho biết xã hội luân lí bên châu Âu rất thịnh hành và phát triển. Vì mỗi người dân đều "có đoàn thể ”, có ý thức về nhân quyền dân chủ và bình đẳng) đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Còn dân mình thì "phải ai tai nấy, ai chết mặc ai!" Thật đáng buồn là dân ta đi đường gặp người bị nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua "…
Sống thì phải biết bênh vực nhau. Ông cha mình ngày xưa đã hiểu đến nên mới có những câu tục ngữ: "Không ai bẻ đũa cả nắm","Nhiều tay làm nên bộp". Tác giả dùng lập luận tương phản để nêu lên hiện tượng đáng buồn của dân ta.
"Thế thì dân tộc Việt Nam ngay hồi cơ sở cũng biết đoàn thể, biết công ích, cũng góp gió làm bão, gom cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi, lơ láo. sợ sệt. ù lì như ngày nay".
Tác giả chỉ ra nguyên nhân của sự thoái hoá luân lí xã hội ở nước ta trong ba bốn trăm năm trở về đây là do bọn học trò (tầng lớp kẻ sĩ, trí thức trong xã hội phong kiến, trong chế độ thực dân nửa phong kiến) gây ra: mắc ham quyền tước, ham bá vinh hoa, giá dối nịnh hót, chỉ biết có vua mà chẳng biết có dân. Chúng tham lam, hám địa vị "muốn giữ túi tham mình được đầy mãi, địa vị của mình được vững mãi, bèn kiếm cách thiết pháp luật, phá tan tành đoàn thể của quốc dân".
Đám quan trường bị tác giả "phơi mặt", lên án một cách nghiêm khắc. Chúng vô trách nhiệm và coi thường nhân dân. Chúng ra sức vơ vét làm giàu. Chúng ham mồi phú quý. Cụ Phan Châu Trinh đã tạo nên những câu cảm thán, sử dụng tài tình điệp ngữ và tăng cấp làm cho lí lẽ sắc bén, giọng văn khinh bỉ sâu cay:Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Mùa đông Hà Nội"Dân khốn mà chi! Dân ngu mà chi! Dân lợi mà chi! Dân hại mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý! Chẳng những thế mà thôi, "một nhà làm quan một nhà có phước", è,dầu tham, dầu nhũng, dầu vơ vét, dầu lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng,.xây nhà làm cửa cũng không ai chê bai". Đạo đức suy đồi đến cùng cực, bọn hãnh tiến, bọn cơ hội nhan nhản đó đây: "Người ngoài thì khen đắc thời, người nhà thì dựa hơi quan, khiến những kẻ ham mồi phú quý không đua chen vào đám quan trường sao được ".
Bọn quan lại ấy là lớp người như thế nào? Hoặc là bọn Nho học "đỗ được cái bằng cử nhân, tiến sĩ". Hoặc là bọn Tây học "đã được cái chức kí lục, thông ngôn; có khi là bồi bếp dựa vào thân thế của chủ cũng ra làm quan nữa ". Đầu thế kỉ XX, tác giả bài thơ ẳ,Á tế Á ca " đã châm biếm, viết:
"Kẻ chức bồi, người tước cu li,
Thông ngôn, kí lục chi chi,
Mãn đời lính tập, trọn vì quan sang! ”
Hai ba mươi năm sau Phan Châu Trinh đã khinh bỉ gọi đám quan trường ấy là "lũ ăn cướp có giấy phép ". Lũ tham quan ô lại trong xã hội thực dân nửa phong kiến đã bị cụ giáng cho một đòn chí mạng, làm cho "nhà cầm quyền trông gió cũng gai ghê!"
Một thực trạng đáng buồn nữa là có không ít người trong xã hội cũng "bén mùi làm quan ". Có bài ngà, có Bắc đẩu bội tinh đeo lủng lẳng trước ngực thì lấy thế làm vinh, chạy chọt được cái Cửu phẩm, thì nở mày nở mặt, mổ trâu bò ăn khao! Vì thế, anh nhiêu, ông xã, những kẻ ở vườn "Nào lo cho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược nào chạy xuôi, dầu có ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi".Xem thêm: Chứng minh trong bài thơ của Bác Hồ chứa đầy trăng Vì thế nền đạo đức, luân lí sao không khỏi băng hoại. Nhà cách mạng cay đắng cất lời than: "Ôi! Một dân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được! Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có là cũng vì thế". Những lời cảm thán cất lên vừa đau buồn, cay đắng, vừa chua xót!
3. Phần cuối văn bản, Phan Châu Trinh đưa ra hướng chữa trị căn bệnh "luân lí xã hội ở nước ta ": phải có đoàn thể phải truyền bá xã hội chủ nghĩa. Tác giả đã dùng cách lập luận móc xích làm cho lí lẽ sắc bén, thuyết phục: "Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã. Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này ".
Sau hơn tám mươi năm (1925 – 2010) đọc bài ‘Về luân lí xã hội ở nước ta ", ai cũng cảm thấy mình đang được tham dự buổi diễn thuyết của cụ Phan Châu Trinh vào tháng 11 năm 1925 tại Sài Gòn.
Bút pháp nghị luận của Phan Châu Trinh thật đặc sắc: lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, mọi dẫn chứng nêu ra thật chí lí, đích đáng đầy sức thuyết phục. Tác giả đã dùng lời lẽ và giọng văn chua cay đế châm biếm thực trạng luân lí xã hội ở nước ta thời bấy giờ. Bọn quan trường đã bị giáng những đòn đau điếng.
Đọc bài văn của Phan Châu Trinh, ta càng thấy rõ công việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, cuộc sống mới là vô cùng cấp thiết và quan trọng. Đạo đức là cái gốc của con người; luân lí là nền tảng của xã hội. Có đả phá được những tư tưởng hủ lậu, có xây dựng được nền luân lí, đạo đức xã hội chủ nghĩa thì mới có thể làm cho đất nước phát triển, giàu mạnh, và làm cho dân tộc Việt Nam ngày một văn minh.
Vanmau.edu.vn | Bình luận bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” của Phan Châu Trinh | 1,521 | |
Bình luận cách nhìn của Nam Cao về người nông dân qua tác phẩm đôi mắt
Gợi ý
Cách mạng tháng Tám bùng nổ chưa được bao lâu thì cả nước lại bước vào một cuộc trường chinh mới. Bước vào cuộc chiến đấu đầy gian khổ khó khăn này phần lớn là những người nông dân mặc áo lính: "áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá – miệng cười buốt giá – chân không giày" (Chính Hữu). Họ đã "gặp nhau từ hồi chưa biết chữ" (Hồng Nguyên). Những con người từ "bùn lầy nước đọng "ấy đã "rũ bùn đứng dậy sáng loà" (Nguyễn Đình Thi). Cách mạng tháng Tám và hiện thực cuộc kháng chiến chống Pháp đã thức tỉnh và buộc những nhà Văn đi theo kháng chiến phải nhận thức lại vai trò cũng như bản chất của người nông dân. Nam Cao đã trình bày sự nhận thức và những thu hoạch cùa mình về vấn đề ấy bằng truyện ngắn Đôi mắt.
Hai nhân vật trung tâm trong truyện ngắn này là Hoàng và Độ. Hai người đại diện cho hai cách nhìn về người nông dân. Một người chỉ nhìn thấy cái bề ngoài lố bịch, ngu dốt, đáng khinh và đáng cười của người nông dân. Người kia biết vượt qua được hình thức bên ngoài, nhìn thấy "những nguyên cớ thật đẹp bên trong" của những người dân cày. Nam Cao đã làm nổi bật tư tưởng, thái độ cũng như quan điểm của mình qua sự đối lập cách nhìn của hai nhân vật này về người nông dân.
Tuy không hề xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm, người đọc vẫn thấy rõ khuynh hướng tư tưởng của tác giả. Thực ra Hoàng hay Độ cũng là "con đẻ" của nhà văn Nam Cao. Hai cách nhìn ấy rất có thể có trong bản thân con người Nam Cao hay bất cứ một người tri thức tiểu tư sản nào hồi đó. Tác giả cho hai con người ấy đối mặt và cọ xát với nhau như sự cọ xát giữa hai tư tưởng nhưng người đọc thấy rõ ông đứng về phía nhân vật Độ, phê phán cái nhìn lệch lạc của Hoàng. Hoàng xuất hiện trong truyện như một trí thức trưởng giả, sống an nhàn và ích kỷ giữa một vùng đồng quê đang sục sồi kháng chiến. Riêng điều đó đã hàm chứa thái độ phê phán của tác giả đối với nhân vật này.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu: "Những đường Việt Bắc của ta/... / Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
Ông còn dùng chính ngôn ngữ của các nhân vật dể phê phán nó. Không phải ngẫu nhiên mà ông đã cho nhân vật Hoàng nói rất nhiều, nói say sưa, đầy hào hứng, về người nông dân với những nhận xét tuy không phải hoàn toàn bịa đặt nhưng hết sức hời hợt, phiến diện, đi kèm với một lối diễn đạt có tính phóng đại và một giọng điệu mỉa mai châm biếm rất cay độc. Những nhận xét chắc hẳn đã tích luỹ và dồn nén lâu ngày, nay được dịp tuôn ra thật là hả hê. Nói chung toàn là những chi tiết về "cái ngố", "cái ngớ ngẩn", "cái lố bịch" của người nông dân. Nào là chuyện hỏi giấy chứng minh của các "bố tự vệ", nào là chuyện anh thanh niên vác tre "đọc thuộc lòng bài ba giai đoạn", nào là chuyện anh ta chỉ đường cho Hoàng đi chợ "lôi thôi rắc rối, nhiều bên phải, bên trái quá", nào là chuyện "các ông thanh niên, các bà phu nữ bây giờ lại càng nhố nhăng. Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên".. Đối lập với cách nhìn ấy cùa Hoàng, tác giả đã thể hiện cách nhìn của mình bằng việc cho nhân vật Độ nhận xét về Đôi mắt và con người của Hoàng. Đây là con người chỉ "quen nhìn đời. nhìn người một phía thôi. Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài "ba giai đoạn", nhưng khỏng trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia anh cũng chỉ thấy cái ngố bề ngoài của nó mà không thấy cái nguyên cớ thật đẹp bên trong. Vẫn giữ Đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản…" Không cần phân tích nhiều, người đọc cũng thấy rõ cách nhìn của Nam Cao về người nông dân như thế nào. Cách nhìn ấy còn được thể hiện ở việc miêu tả sự chuyển biến trong nhận thức của nhân vật Độ về nhẽng con người lao động chân đất từ khi anh tham gia cách mang và kháng chiến. Không phải trước đây, Độ đã có được cái nhìn đúng đắn về người nông dân. Anh đã thú nhận rất hồn nhiên và chân thật: trước anh gần như thất vọng vì thấy họ phần đông "dốt nát. nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương., vạn kiếp nữa cũng chưa làm được cách mạng… Phải đến hồi Tổng khởi nghĩa, Độ mới "ngã ngửa người" nhận ra: "người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm hăng hái lắm, tuy bề ngoài chỉ là nhửng anh "răng đen mắt toét, gọi lựu đạn là "nựu đạn", hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cáu kỉnh". Sự chuyển biến này rất tiêu biểu cho sự giác ngộ về vai trò của quần chúng cách mạng của phần đông giới trí thức văn nghệ sĩ yêu nước hồi bấy giờ. Chính vì thế cách nhìn của Nam Cao về người nông dân có một ý nghĩ hết sức sâu sắc và là một bài học lớn. Cần chú ý, tác giả Đôi mắt qua nhân vật Độ, không chi thấy mặt mạnh mà còn thấy cả mặt yếu của người nông dân. Ông không hề ca ngợi một chiều. Trong những chuyện Hoàng kể về người nông dân, theo Nam Cao cũng chứa một phần sự thật. Ta thấy được điếu đó bởi Độ phê phán Hoàng là phê phán "thói quen nhìn đời một phía", phía bên ngoài. Nam Cao hướng bạn đọc đến một cách nhìn khoa học, nghĩa là biết phân biệt bản chất với hiện tượng, biết gạt đi cái bên ngoài để nhìn sâu vào "cái nguyên sơ thật đẹp đẽ bên trong". Ông cũng không hề đơn giản hoá người nông dân mà luôn thấy "họ có nhiều cái kỳ lạ lắm. Người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một bí mật đối với chúng ta" Qua nhân vật Độ. Nam Cao thể hiện cách nhìn của chính mình. Đó là một cái nhìn đây cảm thông và trân trọng. Tuy cũng thấy hết các nhược điểm của họ, nhưng không có thái độ dè bỉu, giễu cợt, xoi mói và đầy định kiến như Hoàng. Qua thực tế nhận thức của bản thân mình về người nông dân, cách nhìn của Nam Cao là một bài học sâu sắc đối với những người nghệ sĩ hồi ấy mới tham gia cách mạng và kháng chiến. Tiếng nói chân thực của Nam Cao như vang lên ở cuối thiên truyện: Hãy sống gần gũi hơn. tìm hiểu kỹ hơn về những người nông dân, tự khắc anh sẽ xoá bỏ đi được cách nhìn đầy định kiến và sai lệch về họ. Thưc ra vấn đề đôi mắt nhìn cuộc đời và nhìn con người thấu vào bản chất của nó như thế, Nam Cao đã trăn trở day dứt từ trước cách mạng tháng Tám. Trong truyện Lão Hạc ông viết: ”Chao ôi! Đối với những người quanh ta, nếu ta không có tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở ngu ngốc, bần tiện xấu xa, bi ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương…". Đến thiên truyện này, vấn đề đổi mắt lại được đặt ra. Cách nhìn của Nam Cao không chi là lời tự bạch đầy tâm huyết, quyết rũ bỏ cách nhìn cũ, cách sống cũ, đi sâu vào cuộc sống mới để có cách nhìn, cách nghĩ và cách viết mới cho chính minh. Đó còn là một tuyên ngôn nghệ thuật của cả một thế hệ nhà văn đi theo cách mạng. Vì nông dân là đội quân chủ lực của cuộc kháng chiến, đối tượng chính mà văn nghệ cần phản ánh, cần biểu dương và cổ vũ.Xem thêm: Bình giảng đoạn "Nhớ bản sương giăng... Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương" trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên Cách nhìn ấy không chỉ có ý nghĩa với giới cầm bút, mà còn là bài học sâu sắc về quan điểm quần chúng, quan điểm nhân dân rất cẩn thiết cho tất cả mọi người. Suy rộng ra hơn nữa, vấn đề "Đôi mắt" mà Nam Cao đặt ra trong thiên truyện của mình còn nói với độc già một điều: Cuộc sống luôn luôn đổi thay, vì thế, cách nhìn cuộc đời, cách đánh giá con người và sự vật. cũng phải luôn luôn đổi mới.
Nhìn nhận đánh giá một con người, cho dù đó là những con người rất bình thường là một việc vô cùng khó khăn, rất nên thận trọng. Trong cuộc đời cầm bút của Nam Cao, dường như ông luôn trăn trở, băn khoãn về điều đó. Mỗi thiên truyện của ông đều thể hiện một cách nhìn và một đề nghị với bạn đọc. Sau cách mạng, Nam Cao mới viết Đôi mắt nhưng thực ra vấn đề "đôi mắt" đã được ông đặt ra từ rất lâu trong các tác phẩm viết từ trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Vanmau.edu.vn | Bình luận cách nhìn của Nam Cao về người nông dân qua tác phẩm đôi mắt | 1,714 | |
Đề bài: Hãy bình luận câu ca dao: Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Lời nói là phương tiện quan trọng để con người trao đổi tư tưởng, tình cảm và kinh nghiệm với nhau (bao gồm kinh nghiệm xử thế, lao động sản xuất, học tập…). Vì thế nó có giá trị đặc biệt trong đời sống. Để khuyên bảo con cháu cách nói năng sao cho đạt hiệu quả cao nhất, ông cha ta đã từng căn dặn:
Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Trong cuộc sống hằng ngày, con người thường xuyên phải dùng ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp. Nếu biết lựa chọn những lời nói thích hợp thì sẽ hiểu nhau hơn, công việc sẽ thuận lợi hơn, kết quả sẽ cao hơn. Lời nói là một loại công cụ lợi hại trong đời sống xã hội. Ai cũng biết rằng, mỗi con người bình thường đều có khả năng nói lên mọi điều nhưng có lời hay, lời đẹp mà cũng có lời thô, lời vụng. Người khôn ngoan phải biết lựa lời:
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
Lời nói có thể chọn lựa được tùy theo ý định và trình độ văn hóa của người nói. Vì thế, cha ông ta hình dung lời nói như một thứ sản phẩm, một thứ công cụ dễ kiếm, dễ tìm, dễ chọn trong tầm tay của mọi người. Nếu chọn đúng, lời nói sẽ đem đến kết quả tốt đẹp, còn lựa sai, thì lời nói sẽ làm mất lòng nhau. Hiệu quả của lời nói đẹp là làm vừa lòng nhau. Lời nói đẹp tạo ra sự cảm thông, ăn ý và hiểu biết lẫn nhau. Đó là cơ sở để con người đạt được mục đích giao tiếp. Để cho vừa lòng nhau, người nói cần phải biết lựa chọn ngôn ngữ thích hợp với đối tượng và hoàn cảnh.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Ông đồ
Ví dụ cùng nói về một hiện tượng là cái chết, có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau như: sư già đã viên tịch, người chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc… Là người có văn hóa, khi đến chia buồn với tang chủ, khách phải biết lựa chọn cách nói thích hợp. Một lời nói hợp cảnh, hợp tình sẽ làm cho quan hệ thêm tốt đẹp và việc làm thêm hiệu quả.
Một lời nói hớ hênh, thô vụng sẽ làm hỏng hết mọi dự định ban đầu. Chọn được những lời nói thích hợp chính là ta đã làm tốt việc lựa lời.
Nhưng để có khả năng lựa lời, chúng ta phải học tập, rèn luyện liên tục, lâu dài. Ông cha ta cũng đã từng để lại rất nhiều lời khuyên về việc nói năng của con người: Ăn phải nhai, nói phải nghĩ; hoặc: Học ăn, học nói, học gói, học mở…
Tuy coi trọng việc lựa lời để đạt được hiệu quả giao tiếp nhưng ông cha ta cũng không bao giờ cho rằng mục đích giao tiếp chỉ là làm vừa lòng nhau. Cần phải chọn lời nói thích hợp, lời nói đúng chứ không phải chỉ quan tâm đến sự đồng tình của người nghe, bởi vì, có nhiều khi sự thật mất lòng. Một lời nói êm tai nhẹ nhàng nhưng giả dối thì không thể coi là một hành vi giao tiếp đúng đắn. Nói gần nói xa chẳng qua nói thật. Lời nói thích hợp trước hết phải là lời nói chân thành, sau đó mới là lời nói đẹp.
Lời nói là công cụ giao tiếp, lời nói thể hiện đạo đức, trình độ của mỗi con người. Biết lựa lời sẽ tạo được hiệu quả tốt trong giao tiếp. Vì vậy, chúng ta cần phải tự rèn luyện cách nói năng văn minh, lịch sự để đạt được mục đích như mong muốn.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá | Bình luận câu ca dao “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” | 676 | |
Bình luận câu cách ngôn “Thất bại là mẹ thành công”
Gợi ý
Thất bại là gì? Thành công là gì? Đó là hai câu hỏi luôn đặt ra đối với mỗi con người trong cuộc sống. Có lẽ ai cũng nghĩ thành công và thất bại đối lập nhau, một cái mang đến niềm vui, hạnh phúc cho con người; còn một cái lại đem đến nỗi buồn, sự thất vọng. Thất bại và thành công tưởng chừng như không có mối liên hệ nào nhưng thực chất chúng có một mối quan hệ chặt chẽ bởi “Thất bại là mẹ thành công”.
“Mẹ” ở đây được hiểu là nguồn gốc, nguyên nhân. Vậy câu cách ngôn “Thất bại là mẹ thành công” có nghĩa là có thất bại thì mới có thành công. Mỗi lần thất bại là một lần ta nhận thức được những hạn chế, sai lầm; khắc phục và rút kinh nghiệm để không thất bại nữa, cũng có nghĩa là ta sẽ chuẩn bị đầy đủ hơn trong hành trang đi tới mục đích của mình và có thể thành công. Thành công là mơ ước của tất cả mọi người – đứng trước một bài toán khó, học sinh mơ ước tìm ra cách giải; đứng trước những bệnh nhân đang trong tình trạng nguy kịch, bác sĩ mong muốn cứu sổng họ; khi gieo mầm xuống đất, người nông dân mong muốn có được một vụ mùa bội thu;… Nhưng có được thành công không phải dễ dàng. Có ai đó đã nói trong mọi thành công chỉ có 1% may mắn còn 99% là do nỗ lực của con người. Trong hành trang đi tới thành công của mỗi người thì khát vọng, niềm tin, nghị lực, tri thức, sự cầu thị,… là những yếu tố vô cùng quan trọng. Những phẩm chất này mới nghe qua ta tưởng chừng khó có thể đạt tới nhưng trên thực tế tất cả những tính cách đó được hình thành từ cuộc sống của mỗi người. Cuộc sống đời thường, quá trình học tập và làm việc sẽ khiến chúng ta tự rèn luyện mình để có những phẩm chất ấy. Và đặc biệt, mỗi một lần thất bại chúng ta sẽ tự rút ra những bài học cần thiết cho mình để những phẩm chất đó ngày càng hoàn thiện, bền vững, đảm bảo cho sự thành công.Xem thêm: Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều Thất bại chỉ thực sự là mẹ thành công khi người thất bại nhận ra được những hạn chế, khuyết điểm dẫn đến thất bại của mình. Con người thường có tính kiêu hãnh, họ luôn muôn chinh phục và luôn muôn thành công. Vì vậy thừa nhận thất bại là một việc không dễ nhưng chỉ khi con người vượt lên được lòng kiêu hãnh mù quáng để thừa nhận và tìm ra nguyên nhân của sự thất bại thì họ mới có thể tạo thêm cho mình những hành trang mới để đi đến thành công. Để có được thành công sau những thất bại còn đòi hỏi con người có nghị lực đứng dậy và bước tiếp con đường mình đã lựa chọn sau khi vấp ngã. Nếu vì thất bại mà mất hết niềm tin, nghị lực và khát vọng vươn lên thì con người sẽ luôn ở trong tâm thế của người chiến bại và họ không bao giờ có thể đi tới thành công.
Khi thất bại con người cần tự đặt câu hồi vì sao mình thất bại. Điều đầu tiên phải nghĩ tới là năng lực của mình đã đủ chưa, mình thực hiện công việc đã đúng thời điểm chưa. Khi ta tìm được câu trả lời cho những câu hỏi đó, ta sẽ chuẩn bị tốt hơn cho những lần sau để không thất bại nữa. Đôi khí chúng ta thất bại không phải là do chúng ta không có khả nàng làm việc mà là vì chúng ta thực hiện công việc chưa đúng thời điểm. Do đó khi thất bại ta không nên bi quan, chán nản mà chính nhờ sự thất bại đó ta đã học thêm một điều gì đó. Thất bại không có nghĩa mình không thể làm việc, mà là cần làm theo một hướng khác hợp lí hơn. Thất bại không có nghĩa là
ta đã hoang phí thời gian của cuộc đời mình mà đó chính là lí do để ta bắt đầu lại từ đầu. Thất bại không có nghĩa là ta nên từ bỏ, mà ta cần phải nỗ lực nhiều hơn. Thất bại có nghĩa là ta cần phải rèn luyện nhiều hơn nữa.Xem thêm: Cảm nghĩ về một người thân yêu nhất Chẳng ai muôn tự rước thất bại về mình. Nhưng trong cuộc sống ai cũng có đôi ba lần thất bại ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, ở thời điểm này hay thời điểm khác. Thất bại không chỉ giúp ta trưởng thành hơn, rút ra được nhiều kinh nghiệm hơn mà nó còn giúp chúng ta cứng cỏi hơn, tự tin hơn. Lịch sử đã chứng minh thất bại rất quan trọng đối với thành công và những thành công lớn luôn phải trải qua những thất bại. Trong khoa học, càng thử nghiệm nhiều thì càng thu được kết quả chính xác. Trước khi tìm ra cách làm cho một bóng đèn điện sáng, Tô-mát Ê-đi-xơn đã thất bại tới mười ngàn lần. Mỗi lần thất bại được ông coi là một bước tiến gần hơn tới mục tiêu cuối cùng của mình. Và phương pháp này đã có hiệu quả đôĩ với ông. ông trở thành nhà phát minh có hiệu suất cao nhất trong lịch sử hiện đại với 1.097 bằng phát minh sáng chế mang tên Tô-mát Ê-đi-xơn. Cuộc đời Ê-đi-xơn để lại cho chúng ta một bài học sâu sắc: thành công sẽ luôn mỉm cười với những ai ham học hỏi, chăm chỉ, chịu khó rèn luyện bản thân.
“Thất bại là mẹ thành công”. Trải qua những thất bại, chúng ta càng cảm thấy tự hào, vui sướng trước những thành công và mỗi khi thành công ta càng thêm thấm thìa những bài học mà ta tự rút ra cho mình sau những thất bại. Thất bại sẽ là tiền đề của thành công nếu bạn có đủ khát vọng, nghị lực, trí tuệ và sự cầu thị. Chúc các bạn thành công!Xem thêm: Tả con cá vàngVanmau.edu.vn | Bình luận câu cách ngôn “Thất bại là mẹ thành công” | 1,093 | |
Bình luận câu cổ ngữ: “Ngọc vô cùng qúy giá, nhưng ngọc tâm hồn còn qúy giá hơn nhiều”
Gợi ý
Sống ở trên đời đã mấy người có ngọc làm gia bảo, làm đồ trang sức, làm tài sản? Thế mà cổ ngữ lại có cầu: “Ngọc vô cùng quý giá, nhưng ngọc tâm hồn còn quý giá hơn nhiều”.
Một sự so sánh nhiều ý nghĩa, giúp cho mỗi chúng ta hiểu rõ và trân trọng giá trị của ngọc tâm hồn.
Ngọc còn có tên là hạt minh châu rất quý hiếm, có giá trị kinh tế cao, hơn hẳn vàng, Ngọc rất cứng, có màu sắc lóng lánh, đủ loại: bạch ngọc, hồng ngọc, ngọc lam, huyền ngọc, ngọc lưu li… Ngọc được chế tác thành nhiều vật dụng tuyệt đẹp: chén ngọc, ấn ngọc, tượng ngọc, đồ nữ trang… Trên thị trường thế giới, có những viên ngọc giá nhiều triệu đô la.
Thật vậy, ngọc vô cùng quý giá. Đã mấy ai sở hữu được ngọc; có ngọc làm tài sản, làm đồ gia bảo?
“Nhưng ngọc tâm hồn còn quý giá hơn nhiều” là tại sao?
Trong câu cổ ngữ này, ngọc tâm hồn là một ẩn dụ, một hình tượng nhằm khẳng định, ngợi ca tâm hồn đẹp hơn, trong sáng hơn, quý giá hơn thứ ngọc vật chất.
Tâm hồn thì người nào chẳng có, nhưng ngọc tâm hồn thì không phải ai cũng có. Không phải đá nào cũng có ngọc. ‘Người ba đấng, của ba loài” (Tục ngữ). Không phân biệt tuổi tác, giới tính, học vấn, địa vị xã hội… mà có ngọc tâm hồn.Xem thêm: Tóm tắt sử thi Ra-ma-ya-na Một em bé học sinh nhảy xuống hồ Bảy Mầu cứu bạn thoát khỏi chết đuôi. Một cụ già “thất thập cổ lai hi”, trước lúc qua đời gửi lại sổ tiết kiệm, với lời trăng trối “gửi tặng các cháu mồ côi”. Một thầy thuôc giàu y đức cứu chữa được nhiều người bệnh mà không hề lấy tiền công, tiền thuốc,… Đó là những tấm gương sáng ngời ngọc tâm hồn mà báo chí từng ngợi ca, hàng triệu người ngưỡng mộ.
Không phải có học vấn cao, chức vụ cao, giàu sang phú quý… mà có ngọc tâm hồn. Người có ngọc tâm hồn là người giàu tình thương, thương mình, thương người, biết san sẻ, đồng cảm, cưu mang đồng loại. Có tấm lòng “thương người như thề thương thân”, coi trọng tình người hơn vàng bạc… là có ngọc tâm hồn.
Phong cách sông của người có ngọc tâm hồn rất đẹp: thanh cao, bao dung, lễ độ. Khổng Tử có nói: “Văn nhã, hòa khí, khiêm tốn là cốt cách kẻ sĩ”. Phải chăng văn nhã, hòa khí, khiêm tôn là ngọc tâm hồn?
Cách ứng xử của người có ngọc tâm hồn bất cứ hoàn cảnh nào, tình thế nào đều thể hiện một tâm thế, một bản lĩnh rất đẹp, như người xưa đã nói: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”.
Ngọc tâm hồn là một giá trị tinh thần, có thể biến đổi trong thời gian và không gian. Nó có thể phai mờ, cũng có thể mỗi ngày thêm tỏa sáng. Cho nên phải tu dưỡng, rèn luyện như ông cha từng nhắc nhở: “Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Trang sách giáo khoa và những lời dạy dỗ, giáo huân của thầy cô giáo là những nhân tố bồi đắp nuôi dưỡng ngọc tâm hồn của tuổi trẻ.Xem thêm: Tả chiếc đồng hồ báo thức của em Tiếng ru, điệu hát của bà, của mẹ là chất liệu hình thành và làm sáng trong ngọc tâm hồn của tuổi thơ. Có đứa con, đứa cháu nào dám quên?
Mẹ ru cái lẽ ở đời,
Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn.
Bà ru mẹ, mẹ ru con,
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng’?
(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Du)
Nhân dân ta có nhiều câu ca trở thành điệu ru, tiếng hát nói về ngọc tâm hồn, mà nhiều người luôn nhắc nhở để làm bài học:
Thà chết vinh còn han sống nhục.
Thác trong còn hơn sống đục.
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Ngọc kia có giũa có mài,
Mới thành hữu dụng kẻo hoài ngọc đi.
Tóm lại, “Ngọc vô cùng quý giá, nhưng ngọc tâm hồn còn quý giá hơn nhiều”. Ngọc tâm hồn là thứ tài sản tinh thần vô giá của đời người. Người có ngọc tâm hồn thật đáng quý trọng.
Tuổi trẻ cần phấn đấu học tập văn hóa ngoại ngữ, khoa học kĩ thuật, và rèn luyện tu dưỡng đạo đức để có ngọc tâm hồn, ngẩng cao đầu trước thiên hạ. Đừng nên “ăn xổi ở thì”, mà phải biết: “Vô kiến tiểu lợi, vô cầu tốc thành”, nghĩa là không coi trọng cái lợi nhỏ trước mắt, không vội vàng để mong thành đạt.
Vanmau.edu.vn | Bình luận câu cổ ngữ_ “Ngọc vô cùng qúy giá, nhưng ngọc tâm hồn còn qúy giá hơn nhiều” | 825 | |
Bình luận câu nói của nhà văn Nguyễn Bá Học có nói: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”
Gợi ý
I. MỞ BÀI
– Vai trò của ý chí trong mọi công việc.
– Dẫn câu nói của Nguyễn Bá Học.
II. THÂN BÀI
1. Câu nói trên có nghĩa thế nào?
Nghĩa đen: con đường ta đi, muốn tới đích nhiều khi phải vượt qua núi cao vượt qua sông sâu. Nếu quyết tâm vẫn tới đích được.
Nghĩa bóng (và là nghĩa chủ yếu của câu nói):
Đường ở đây chỉ đích mà con người muốn đi muốn đạt được (con đường đi tới đích). Sông núi ở đây có ý chỉ mọi trở ngại to lớn của hoàn cảnh khách quan, lòng người
ở đây chỉ ý chí của con người.
Hiểu như vậy, ta thấy ý trọng tâm của câu nói là: sức mạnh của ý chí con người có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách dù nó to lớn đến chừng nào.
Tại sao đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà lại khó vì lòng người ngại núi e sông?
Tại sao đường đi tới đích không khó vì những trở ngại khách quan bên ngoài: Những trở ngại trong cuộc đời có nhiều thực nhưng không phải là không thể vượt qua. Núi cao bao nhiêu đi nữa nếu trèo mãi cũng tới đỉnh, sông sâu (hoặc rộng) đến đâu chèo thuyền mãi cũng qua. Mọi khó khăn gian khổ mà ta gặp phải trên con đường di tới đích chỉ là những thử thách ý chí và nghị lực của ta chứ không thể nào chặn đứng đường đi của ta, buộc ta phải lùi bước. Đường đi “không khó vì ngăn sông cách núi” là như vậy.Xem thêm: Phân tích bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm
2. Tại sao đường đi lại khó vì lòng người ngại núi e sông
Nghị lực để thực hiện ý muốn là điều có ý nghĩa quyết định khi muốn làm bất cứ việc gì. Có ý chí quyết tâm, người ta có thể vượt mọi khó khăn trở ngại để đi tới đích. Thiếu ý chí, đường đi dù bằng phẳng cũng chẳng dám vượt qua.
Một số dẫn chứng minh họa:
Nhờ có ý chí, quyết tâm sắt đá. Crittôp Cô lông đã vượt biển với bao thử thách gay go để tìm ra châu Mĩ.
Nhờ có ý chí, con người đã bay vào vũ trụ, đổ bộ lên mặt trăng xa xôi.
Thực tế lịch sử dân tộc ta: các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược đều là sự thử thách ý chí sắt đá của dân tộc ta. Cuối cùng ta đã chiến thắng.
Có thể nêu một sô’ dẫn chứng mà bản thân học sinh biết để chứng minh vấn đề trên.
III. KẾT BÀI
– Khẳng định câu nói trên là hoàn toàn đúng đắn.
– Khẳng định công lao của tác giả trong văn hóa Việt Nam ở đầu thế kỉ XX.
– Bài học rút ra: luôn luôn rèn luyện ý chí trong cuộc sống hằng ngày. Chỉ có quyết tâm cao mới đem lại kết quả mong muốn.
Vanmau.edu.vn | Bình luận câu nói của nhà văn Nguyễn Bá Học có nói_ “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” | 529 | |
Bình luận câu nói sau đây của nhà văn Pháp Đi – đo – rô: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả, anh cũng không làm được cái gì nếu mục đích tầm thường”
Gợi ý
Đi-đơ-rô là nhà văn, nhà lí luận, phê bình nghệ thuật, nhà triết học duy vật vĩ đại của nước Pháp trong thế kỉ XVIII. Hình ảnh Đi-đơ-rô, hình ảnh nhà tư tưởng lớn, hơn hai thế kỉ nay được đông đảo độc giả vô cùng hâm mộ. Khi nói về lẽ sống, mục đích của cuộc đời, ông từng nhắc nhở độc giả gần xa, đặc biệt là tuổi trẻ trong các học đường câu nói bất hủ: "Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả, anh cũng không làm được cái gì nếu như mục đích tầm thường".
Mục đích là gì? Mục đích là chỗ người ta nhằm tiến tới, cái mà người ta nhằm thực hiện cho bằng được.
Tầm thường nghĩa là nói dưới mức trung bình. Mục đích trung bình, mục đích tầm thường là mục đích chẳng có gì cao xa, chỉ nhỏ bé, nhạt nhẽo.
Mục đích cuộc sống thường gắn liền với lẽ sống và ý tưởng của mỗi người. Phải sống như thế nào, học tập và làm việc như thế nào thì mới thực hiện được mục đích, ước mơ của mình. Có mục đích gần mà cũng có mục đích xa, có mục đích cao cả nhưng cũng có mục đích tầm thường, nhỏ bé. Mục đích thường gắn với ước mơ, hoài bão. Có mục đích cao cả, đúng đắn mới tạo thành động lực, sức mạnh, giúp ta vươn tới làm nên sự nghiệp, giúp ích cho đời. Xem thêm: Viết đoạn văn để bác bỏ hai quan niệm dưới đây, rồi đề xuất một vài kinh nghiệm học Ngữ văn tốt nhất: a) Muốn học giỏi môn Ngữ văn... thơ văn. b) Không cần đọc nhiều sách, ...về tư duy, về cách nói, cách viết là có thể học giỏi môn Ngữ văn Câu nói của Đi-dơ-rô không chỉ nói lên tầm quan trọng của mục đích sống mà còn nhắc nhở mọi người phải sống với mục đích cao cả, không nên sống với mục đích tầm thường.
Câu nói của Đi-đơ-rô là một lời giáo huấn hàm chứa tư tưởng sâu sắc, tiến bộ. Nếu không có mục đích, anh chẳng làm nên công trạng gì. Và anh chỉ sống cho hiện tại, không hề nghĩ tới ngày mai. Cuộc đời anh trở nên nhỏ nhoi, thấp hèn, chật hẹp, chỉ là phường giá áo túi cơm. Sống không có mục đích thì người ta chỉ nhìn thấy những lợi ích vặt vãnh, ti tiện hàng ngày, lãng phí thời gian, phí hoài tuổi trẻ. Cuộc sống trở nên tẻ nhạt vì không biết tu dưỡng đạo đức, học hành mở mang trí tuệ, trau dồi nhân cách, tài năng. Sống không có mục đích là sống thừa, sống theo bản năng. Sống không có mục đích, không chỉ không có hạnh phúc mà còn là nguồn gốc của mọi điều xấu, điều ác trong xã hội.
Nếu mục đích tầm thường anh cũng không làm được cái gì vĩ đại. Sống bằng mục đích tầm thường, anh sẽ bị buộc chặt vào danh lợi, ham muốn tầm thường. Cuộc đời anh quẩn quanh, không bao giờ nghĩ tới chuyện cao xa, bay bổng; sống không có ước mơ, khát vọng. Con chim cánh nhỏ, sức yếu không thể bay cao, bay xa. Chí có đại bàng mới tung cánh gió bốn phương trời được. Sống với mục đích tầm thường, con người ta tự bằng lòng với mình, không chịu học tập nên không có tài năng. Không có tài năng thì chẳng làm được cái gì vĩ đại, phi thường như Đi-đơ-rô đã nói. Xem thêm: Phân tích nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù (Có dàn ý chi tiết)
Xưa và nay, lịch sử loài người cũng như lịch sử dân tộc ta đã chứng minh một cách hùng hồn rằng, các anh hùng, các danh nhân… tên tuổi sáng ngời sử sách là những nhân vật vĩ đại đã sống và chiến đấu vì một mục đích cao cả, vĩ đại:
Lê Lợi và Nguyễn Trãi:
"Ngẫm thù lớn, há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống".
(Bình Ngô đại cáo)
Phan Bội Châu:
"Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi".
(Xuất dương lưu biệt)
Và Hồ Chí Minh:
"Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành".
Có tâm hồn đẹp mới biết sống có mục đích. Có ý chí và bản lĩnh phi thường mới thực hiện được mục đích vĩ đại, cao cả. Tuổi trẻ chúng ta ngày nay phải phấn đấu trở thành người công dân tốt, người lao động chân chính, người lao động có kĩ thuật hiện đại và sáng tạo trong nền kinh tế thị trường, để góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Sống vì mục đích đúng đắn, cao cả, học sinh mới thực hiện được lời Bác Hồ dạy: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu". Xem thêm: Tìm những biểu hiện cụ thể của đặc trưng thể loại truyền thuyết trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy Có được giáo dục, được học hành chu đáo, chúng ta mới sống có mục đích đẹp, đúng đắn, cao cả. Khi đã có mục đích sống đẹp, đúng đắn, chúng ta phải biết phấn đấu đến cùng để thực hiện ước mơ, hoài bão của mình. Mọi thành quả trên hành trình đi tới tương lai đâu dễ gặt hái? Phải bền chí và có quyết tâm cao để chiến thắng mọi trở lực trên đường đời. Chúng ta càng thấm thía bài thơ của Bác Hồ:
"Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trừng nước non".
(Đi đường)
Câu nói của nhà văn Đi-dơ-rô thật sâu sắc và chí lí. Đã hơn hai thế kỉ qua, câu nói của ông vẫn sáng ngời chân lí, nó trở thành một danh ngôn, có sức cảm hóa kì diệu. Thực hiện đúng câu nói của nhà văn thế kỉ Ánh súng, cũng có nghĩa là chúng ta đã "Sống, chiến đấu, lao dộng và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đạià
Vanmau.edu.vn | Bình luận câu nói sau đây của nhà văn Pháp Đi – đo – rô_ “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả, anh cũng không làm được cái gì nếu mục đích tầm thường” | 1,151 | |
Bình luận câu nói sau đây: “Có nhân hậu mới biết đồng cảm và sẻ chia”
Gợi ý
Một trong những đức tính tốt đẹp nhất của con người là lòng nhân hậu. Có nhân hậu mới biết đồng cảm và sẻ chia.
– Nhân hậu là gì? Nhân là lòng thương người; nhân hậu là tình thương bao la, mênh mông và sâu sắc đối với mọi người. Cảm thông với cảnh ngộ, với nỗi niềm của đồng loại là đồng cảm: biết chia ngọt, sẻ bùi, biết xót thương với những người bất hạnh là san sẻ. Cây có cội, nước có nguồn; nhân hậu như cội, như nguồn; đồng cảm, san sẻ tựa như cội, như nguồn của lòng nhân hậu.
Hơn 2.000 năm về trước, Khổng Tử đã ca ngợi cái nhân của con người; và ngài đã khẳng định: Nhân là cái gốc của đạo lí; kể có nhân mới có thề tích đức, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
– Trên đời đầy ngang trái, bất công, thảm cảnh. Người có lòng nhân hậu tựa như ngọn lửa, như ánh sáng góp phần xua tan bóng tối, đem lại hơi ấm và hạnh phúc cho đồng loại, đem lại niềm vui và hi vọng của kẻ cô đơn, người bần cùng, bất hạnh. Một bát cơm cho người hành khất, một tấm áo cho người rét giữa mùa đông lạnh lẽo, một chén thuốc cho người ốm đau, một lời an ủi, động viện cho người hoạn nạn,… đó là những cử chỉ, hành động, những biểu hiện cụ thể trong nhân hậu, sự đồng cảm, san sẻ.Xem thêm: Cây chuối trong đời sống người Việt Nam– Nhân dần ta giàu lòng nhân ái, “thương người như thể thương thân”, trong hoạn nạn cơ hàn biết “lá lành đùm lá rách”, nhường cơm sẻ áo cho nhau.
Lời ru, tiếng hát của bà, của mẹ, đã in sâu vào tâm hồn tuổi thơ mỗi chúng ta: “Thấy người hoạn nạn thì thương/ thấy người đói rét, ta nhường áo cơm”. Một chữ “thương” in đậm trong lòng tuổi học trò qua những trang thơ văn của dân tộc giàu giá trị nhân đạo.
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
(Ca dao)
Thương nhau chia củ sắn lùi.
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
(Tố Hữu)
Những nhân vật như Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, những em bé đáng thương như cái Tý trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, những cụ già đau khổ như lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao… đã để lại trong lòng người bao tiếng thở dài và bao giọt nước mắt đồng.
Vì văn sĩ, thi sĩ có trái tim nhân hậu bao la nên câu thơ lời văn mới trở thành tiếng khóc muôn đời mai hậu:
Đau đớn thay phận đàn bà.
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
(Truyện Kiều)
– Đất nước ta trải qua 30 năm chiến tranh (1945 – 1975), hàng triệu người đã ngã xuống trong mưa bom bão đạn của quân xâm lược, hàng chục vạn cô nhi quả phụ, hàng trăm nghìn nạn nhân chất độc da cam, là vết thương chiến tranh… Thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tô’ xảy ra triền miên. Chính trong cảnh ngộ ấy, ta càng thấm thìa về truyền thống nhân ái bao la của dân tộc, ta càng tự hào về đạo lí của nhân dân ta.Xem thêm: Hưởng ứng đợt thi đua “Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp”... Anh (chị) hãy xây dựng lập luận và lựa chọn phương pháp để viết bài tham gỉa hộỉ thảo đóNhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
(Ca dao)
Những quỹ tình thương, những mái nhà tình nghĩa, các phong trào cứu trợ nhân đạo dân vùng bị thiên tai, vùng sâu, vùng xa đã làm bớt bao nỗi đau, bao hoàn cảnh khó khăn của đồng bào. Và qua đó, ta càng hiểu một cách sâu sắc chân lí tỏa sáng tâm hồn dân tộc: “Có nhân hậu mới biết đồng cảm và sẻ chia”. Người nhân hậu là người đẹp nhất. Sống trong tình thương là sống hạnh phúc nhất.
Vanmau.edu.vn | Bình luận câu nói sau đây_ “Có nhân hậu mới biết đồng cảm và sẻ chia” | 708 | |
Đề bài: Người ta thường nói: Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí. Em hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.
Khoa học là một chân trời rộng mở với bao điều kì diệu, hấp dẫn, cuốn hút lạ lùng. Song con đường đến với khoa học không bao giờ bằng phẳng mà đầy chông gai, gian khổ. Đó là con đường không phải ai cũng dám đi. Để trở thành một nhà khoa học chân chính, con người cần phải có rất nhiều phẩm chất và một trong những phẩm chất không thể thiếu được đó là lòng dũng cảm. Có ý kiến cho rằng: Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí. Chúng ta hãy cùng nhau bàn luận ý kiến trên.
Vai trò to lớn của khoa học đối với đời sống con người là điều đã được khẳng định từ lâu. Khoa học đem lại nhiều lợi ích cho nhân loại, khoa học làm thay đổi bộ mặt của trái đất. Những lí thuyết của Galilê, Côpecnic về vũ trụ học, Niutơn về toán học, Anhxtanh về vật lí học, Đácuyn về sinh học…, phát minh ra chất nổ của Nôben, phát minh ra điện của Êđixơn… đã làm đảo lộn thế giới, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành khoa học kĩ thuật tiên tiến.
Trong thời đại mới, khoa học làm nên bao điều kì diệu ngoài sức tưởng tượng của chúng ta, nhưng những thành tựu ấy dù kì diệu đến đâu thì cũng chỉ là sản phẩm trí tuệ của con người. Để đạt được đỉnh cao vinh quang, các nhà khoa học không thể thiếu tinh thần khoa học và dũng khí.
Mọi công trình khoa học đều xuất phát từ cái tâm trong sáng. Người cán bộ khoa học phải luôn luôn nghĩ đến lợi ích của đất nước, dân tộc và nhân loại, đồng thời lấy đó làm mục đích sống. Phải có tinh thần khoa học để góp phần cải tạo đời sống, đổi mới bộ mặt xã hội, xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh, làm cho đời sống nhân loại ngày càng tốt đẹp hơn.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Ông nghè tháng tám của Tam Nguyên Yên ĐỗĐội ngũ các nhà khoa học là lực lượng đi đầu trong những lĩnh vực khoa học mới. Dám nghĩ, dám làm, đột phá vào những lĩnh vực cần thiết đầy khó khăn, nguy hiểm, sẵn sàng đương đầu với mọi cản trở trên bước đường tìm tòi, sáng tạo, bất chấp lời chỉ trích và dư luận xấu của những kẻ bảo thủ, đố kị. Dám cống hiến sức lực, tuổi xuân cho khoa học, chính là dũng khí. Làm việc với nhiệt tình say mê, ý chí bền bỉ, nhẫn nại, phương pháp đúng đắn… chính là tinh thần khoa học. Hai yếu tố này luôn luôn gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau.
Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu, các nhà khoa học thường gặp không ít khó khăn trở ngại về nhiều mặt. Điều kiện vật chất thiếu thốn, sự bất đồng về quan điểm, về phương pháp làm việc… Những lúc đó, càng cần đến tinh thần khoa học, đến dũng khí xông vào khó khăn, nguy hiểm để tìm ra chân lí, bảo vệ cái đúng, bảo vệ chân lí khách quan. Bên cạnh đó, người làm khoa học cần có thái độ cầu tiến và tinh thần trách nhiệm cao. Vì mục đích đúng đắn, người làm khoa học dám quyết tâm theo đuổi công việc đến cùng; chấp nhận tranh luận, trao đổi để làm sáng tỏ quan điểm khoa học của mình. Người làm khoa học phải làm việc bền bỉ, kiên trì với tinh thần thắng không kiêu, bại không nản để có được những phát minh, sáng kiến mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội.
Ở nước ta, mức độ phát triển của khoa học kĩ thuật còn thấp so với các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Do đó mà Nhà nước đã mạnh dạn đầu tư cho lĩnh vực nghiên cứu khoa học, nhất là đối với những đề tài cấp thiết như: tìm ra những giống cây, giống lúa thích hợp cho năng suất cao; ngăn chặn và giải quyết nạn lụt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long; thiết kế và thi công nhà ở cho dân nghèo ở thành phố; làm sạch và bảo vệ môi trường sống…
Bên cạnh đó, chính sách đãi ngộ, động viên thỏa đáng đối với đội ngũ làm công tác khoa học cũng đã được quan tâm. Nhà nước coi trọng chất xám, coi trọng những công hiến của họ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ phát huy hết tài năng của mình, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước.
Để có được một đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật tài giỏi, Đảng và Chính phủ đã có tầm nhìn chiến lược lâu dài. Đào tạo trong nước, ngoài nước, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn bằng mọi hình thức… nhằm mục đích có được những nhà khoa học thực sự tài năng để nghiên cứu…
Xem thêm: Giáo dục thay đổi số phận của cá nhân, thậm chí số phận của một dân tộc | Bình luận câu nói_ Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí | 909 | |
Bình luận câu thơ: Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu.
Hướng dẫn
Nguyễn Đình Chiểu được coi là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam thế kỉ XIX. Là nhà thơ yêu nước tiêu biểu của nhân dân Nam Bộ, trong những ngày đầu chống Pháp xâm lược. Nguyễn Đình Chiểu đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, một tấm lòng tuyệt vời về tình cảm yêu thương con người. Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của ông đã chứng minh cho quan niệm đúng đắn về tấm lòng yêu nước thương dân, về trách nhiệm của người anh hùng trước vận mệnh của đất nước và cuộc sống của nhân dân trong việc cứu người giúp đời: đã là người anh hùng không thể không hành động khi gặp việc nghĩa:
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.
(Lục Vân Tiên)
Người làm việc nghĩa coi việc xả thân cứu giúp người khác là sự thường trực trong hành động của mình, hễ thấy sự bất bình là can thiệp không hề tính toán cá nhân, khó mấy cũng làm. Nếu cần sẵn sàng hi sinh cả tính mệnh. Đã là người quân tử, người anh hùng không thể thấy việc nghĩa mà không làm bởi cái đạo của người quân tử, người anh hùng là luôn luôn hướng về điều thiện, về lòng nhân ái (lòng yêu thương con người). Làm việc nghĩa là hành động phù hợp với quan niệm và lí tưởng của người anh hùng.Xem thêm: Cây cối là chiếc nôi của nhân loại. Hãy chứng minh vai trò của cây cốì trong đời sống
Nếu người thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là nam nhi. Việc nghĩa ở đây là nhân nghĩa, là tình thương người là sự chở che bệnh vực người bị áp bức. Đã là anh hùng thì phải xả thân vì việc nghĩa, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ lẽ phải, công lý ở đời. Những kẻ dửng dưng trước nỗi đau của người khác là những kẻ tâm thường đáng xấu hổ, không đáng mặt một đấng nam nhi.
Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa nhân vật thành công và từ nhân vật đó ông bày tỏ tâm tư nguyện vọng của chính mình. Lục Vân Tiên trên đường lên kinh đô đi thi, giữa đường gặp dân đang chạy cướp tán loạn, chàng đã bẻ cây làm gậy hỏi thăm vào sào huyệt của bọn chúng và đánh tan bọn cướp, cứu được Kiều Nguyệt Nga và Kim Liên. Đó là hành động nghĩa hiệp của đấng nam nhi biết quan tâm đến người khác, cứu giúp kẻ khác, không sợ hiểm nguy với một tinh thần hào hiệp:
Tôi xin ra sức anh hào
Cứu người cho khỏi lao đao buổi này.
Cuộc đấu tranh giữa Vân Tiên và bọn cướp diễn ra gay go, cuối cùng chính nghĩa đã thắng, Vân Tiên đã trừng trị đích đáng bọn hại dân, hết lòng thương yêu nhân dân, biểu hiện cao đẹp của tính cách vị nghĩa. Cũng như Lục Vân Tiên, Hớn Minh bạn chàng cũng có tính cách nhưvậy. Khi thấy con quan huyện làm điều xằng bậy, chàng đã bẻ đi một giò của hắn.
Các nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu đều là những người hi sinh mình vì trượng nghĩa. Ông ngư, ông tiều cũng là người như vậy. Cứu Lục Vân Tiên là một hành động nhân nghĩa vô cùng trong sáng, thấy người gặp nạn là cứu, thấy việc nghĩa là làm ngay với một tinh thần hết mình, vô tư, không tính toán, không cần trả ơn bởi nhân nghĩa là bản chất sống, nhu cầu sống của họ: “ Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn”. Các nhân vật ấy chính là biểu hiện tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, tư tưởng dốc lòng nhân nghĩa, làm việc vì nghĩa, làm việc thiện với một thái độ vô tư, sẵn sàng trừng trị kẻ ác, giúp người hoạn nạn của người anh hùng. Nhưng muốn làm người anh hùng ngoài đức ra thì phải có tài và có tâm, có lòng dũng cảm, không ngại gian khó hiểm nguy, sẵn sàng hi sinh bản thân vì nghĩa lớn.Xem thêm: Hai bức tranh đời tương phản trong truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn
Trong cuộc đời thực của Nguyễn Đình Chiểu, ông luôn thể hiện tư tưởng cao cả đó của mình. Mặc dù bị mù lòa, bệnh tật, ông vẫn hết lòng giúp ích cho đời làm việc nghĩa như mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, sáng tác thơ văn và tham gia kháng chiến cùng những người yêu nước. Ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu sắc bén khác nào viên đạn, thanh gươm góp phần giết giặc với một tấm lòng yêu nước tuyệt vời, lòng yêu dân thiết tha, vì nghĩa lớn ở đời với một trách nhiệm cao quý đối với Tổ quốc trong lúc lâm nguy. Quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu cũng là thể hiện sự kế thừa truyền thống tốt đẹp của người xưa xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên, và những nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng trước ông như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ:
Anh hùng tiếng đã gọi rằng
Giữa đường dẫu thất bất bằng mà tha.
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Tư tưởng cao cả đúng đắn của ông chẳng những có tác dụng lớn đối với thời ông sống, động viên người anh hùng xả thân vì nghĩa lớn đánh giặc Pháp, mà còn giúp chúng ta ngày nay có một phương hướng rèn luyện nhân cách, phấn đấu thành người tốt, người có tấm lòng và hành động cao cả.
Trong cuộc sống của chúng ta hôm nay, khi xã hội còn nhiều tiêu cực, không thiếu kẻ chỉ biết nghĩ đến mình, làm những điều xấu. Hành động dũng cảm bắt cướp chống tiêu cực và chống tham nhũng là thể hiện sự cần thiết của phẩm chất của con người mới, là phát huy quan niệm đúng đắn của cha ông, trong đó có Nguyễn Đình Chiểu.Xem thêm: Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều
Tư tưởng về anh hùng được Nguyễn Đình Chiểu khắc họa thành công qua nhân vật của mình. Tư tưởng đó gắn liền với đạo lí làm người, hướng về nhân dân của tất cả mọi người con của dân tộc Việt. Ngày nay khi xã hội đã phát triển, con người đã có những cách ứng xử khác nhau, nhưng tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu vẫn luôn có giá trị, nó là động lực thúc đẩy chủ nghĩa anh hùng Việt Nam.
Nguồn: | Bình luận câu thơ_ Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu. | 1,138 | |
Bình luận câu tục ngữ Pháp: “Tiền bạc là người đầy tớ trung thành và là người chủ xấu”
Gợi ý
Tiền bạc là một vật dụng được lưu thông trong xã hội, có tác dụng thúc đẩy và phát triển ngành mậu dịch. Nó là một thứ “tài sản đặc biệt” gắn bó thiết thân đốỉ với mỗi người, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia. Đã có nhiều câu tục ngữ, câu thơ, bài ca dao… nói về tiền bạc, về đồng tiền. Người Pháp có câu tục ngữ nói về tiền bạc tùng được nhiều người nhắc đến: “Tiền bạc là người đầy tớ trung thành và là người chủ xấu”.
Câu tục ngữ đã nêu bật được “hai mặt” của đồng tiền, tùy theo cách sử dụng và người sử dụng, mà có khi “tiền bạc là người đầy tớ trung thành”, có khi nó biến thành “người chủ xấu”.
Trên thương trường, trong cuộc sống hằng ngày, ta càng thấy rõ tính chất “hai mặt” của tiền bạc. “Tiền bạc là người đầy tớ trung thành” khi người sử dụng nó vào mục đích tốt đẹp, lương thiện; làm chủ được nó. Trái lại, khi tiền bạc đã được sử dụng sai, mục đích, dùng tiền bạc để gây ra bao điều xấu xa, bất lương, tội ác… thì nó đã trở thành “người chủ xấu”. Lúc ấy, người sử dụng đồng tiền đã trở thành tên nô lệ của tiền bạc, kẻ thù ác vô cùng xấu xa. Vì thế, câu tục ngữ khuyên mọi người phải biết sông lương thiện, biết làm chủ đồng tiền, đừng vì hám bạc, hám tiền, hám lợi mà gây ra bao điều xấu xa, tội lỗi.
Tại sao “tiền bạc là người đầy tớ trung thành?”. Bằng lao động mà kiếm được tiền bạc, đó là tiền bạc trong sạch, là thứ tài sản chân chính. Người nông dân bán nông phẩm sau những ngày tháng dầm mưa dãi nắng: cán bộ, công nhân, thầy giáo, thầy thuốc được phát lương và nhận lương; nhà kinh doanh có tài làm ăn (theo khuôn khổ pháp luật) mà trở thành tỉ phú… có thể nói, đó là thứ tiền bạc, thứ tài sản “trong sạch”, chính đáng. Đồng tiền làm ra ấy lại dùng để mua bán, chi tiêu, dùng vào những nhu cầu thiết yếu của đời sông hằng ngày, biết chi tiêu hợp lí, tiết kiệm, biết dùng để san sẻ, cưu mang bà con nghèo khổ, đóng góp vào quỹ tình thương, quỹ công ích… thì lúc đó “tiền bạc là người đầy tớ trung hành”. Người chủ của những tiền bạc ấy là ông chủ chân chính; nhân ái tỏa sáng tâm hồn họ.Xem thêm: Vẻ đẹp trong bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão Qua các cuộc vận động hiện nay như cứu trợ nạn nhân bị chất độc da cam, cứu giúp đồng bào vùng bị bão lụt, giúp bà con ở các vùng sâu, vùng xa, ta thấy bao gương tốt, người tốt, việc tốt xuất hiện. Các em nhỏ học lớp Một, lớp Hai… bớt tiền quà ủng hộ 1.000 đồng, cụ già về hưu dành một số tiền nhỏ, cán bộ công nhân viên ủng hộ một ngày lương… ai cũng muốn được san sẻ cùng đồng loại, được chia ngọt sẽ bùi, được “lá lành đùm lá rách”. Ớ những trường hợp này, tiền bạc đã làm nổi bật tâm đức, làm sáng tỏ tình người, thể hiện đạo lí “thương người như thể thương thân”.
Tiền bạc có một sức mạnh ghê gớm. “Có tiền mua tiên cũng được”, “Đồng tiền là Tiên, là Phật, là sức bật lò xo…” – đó là những câu thường được nhiều người nhắc lại.
Tại sao, có khi, có nơi, có người tiền bạc lại trở thành “người chủ xấu”. Con người ta rất dễ bị đồng tiền lung lạc. Khi người ta trở thành nô lệ của tiền bạc, bị đồng tiền sai khiến, dùng đồng tiền vào những chuyên bất lương, thì lúc đó tiền bạc đã trở thành “người chủ xấu” rất đáng sợ. Con người lúc ấy sẽ bị đồng tiền sai khiến, hành hạ.
Trong xã hội, ta thấy nhan nhản đó đây bao kẻ làm đầy tớ cho “ông chủ xấu” đồng tiền. Có kẻ ăn tiêu xả láng “quen thói bốc rời” như chàng Thúc Sinh trong Truyện Kiều. Có hàng trăm nam nữ thanh niên ăn chơi sa đọa, dùng thuốc lắc, nhảy múa trong vũ trường bị công an “tóm” đưa về đồn. Có nhiều vị “quan to” dấn thân vào con đường “làm ăn” bất chính, chỉ một chữ kí, một cái “gật đầu” mà thu về hàng tỉ bạc, hàng triệu đô… rồi rơi vào vòng lao lí, tù tội! Cái giá “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” từng được báo chí “bôi danh”. Khi tham nhũng đã trở thành quốc nạn, thì tiền bạc quả là đã trở thành “ông chủ xấu” của không ít vị quan tham bụng phệ! Ta thấy và khinh bỉ bao kẻ, mồm thì tụng câu “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” một cách lem lẽm, nhưng trong bóng tốĩ, trong hậu trường lại đếm đô la một cách thoăn thoắt, tài tình. Tiền bạc – “ông chủ xấu” đã biến họ thành kẻ “mọt dân”, kẻ đạo đức giả.Xem thêm: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi. (Yêu cầu lập dàn bài) Có kẻ vì quá nghèo khổ mà trở thành nô lệ đồng tiền, thật đáng thương. Có kẻ vì quá tham lam mà cướp của, giết người! Vì tiền bạc mà vợ chồng phải li dị. Vì tiền bạc mà có đứa con giết bô’ mẹ, đứa cháu giết ông bà, đứa anh giết em, đứa em giết chị… gây ra bao vụ án mạng rùng rợn. Những kẻ lừa thầy phản bạn, các vụ việc như chạy chức, chạy quyền, chạy khen thưởng, chạy điểm, mua bằng cấp, bán học hàm, học vị (giáo sư rởm, tiến sĩ rởm) đều do “ông chủ xấu” là tiền bạc gây ra!
“Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê”; “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược! Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”; “Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử / Hết xôi, hết rượu, hết ông tôi”; “Có tiền việc ấy mà xong nhỉ / Đời trước làm quan cũng thế a?”; “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”… đó là những câu thơ, câu tục ngữ mà nhiều người đã biết nói về “mặt trái” của đồng tiền, châm biếm tiền bạc là “ông chủ xấu”.
Sống ở đời, ai cũng muốn được giàu sang phú quý, ai cũng hiểu “vạn khổ bất như bần”.
Giữa thời kinh tế thị trường, kinh doanh làm giàu đã và đang được luật pháp và xã hội khuyên khích, nhiều nông dân triệu phú, nhiều nhà kinh doanh trẻ có nhiều triệu đô xuất hiện trên mọi miền đất nước.Xem thêm: Nói về Nguyễn Trãi có ý kiến cho rằng Ở ông ta bắt gặp một nhà chiên sĩ và thi sĩ. Hãy trình bày ý kiến của em về nhận định trên. Hãy học giỏi, bước vào đời, đem tài năng thi thố với thiên hạ và làm giàu để góp phần làm cho đất nước hùng cường thịnh vượng. Câu tục ngữ của người Pháp được bàn tới ở đây là bài học sâu sắc, nó nhắc nhở mỗi chúng ta biết sông đẹp, biết lao động làm giàu, được sông sung sướng hạnh phúc.
Giàu tiền bạc mà lương thiện, nhân ái. Giàu tiền bạc mà không bao giờ tham lam để “hoàng kim hắc nhân tâm”.
Vanmau.edu.vn | Bình luận câu tục ngữ Pháp_ “Tiền bạc là người đầy tớ trung thành và là người chủ xấu” | 1,291 | |
Bình luận câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Hướng dẫn
Ca dao tục ngữ là kho tàng văn học vô giá mà cha ông để lại cho chúng ta. Nó không chỉ là những kinh nghiệm mà cha ông đã đúc rút hàng ngàn năm mà nó còn là những lời khuyên, những lời răn dạy mà cha ông muốn nhắc nhở con cháu. Nó không những góp phần hoàn thiện con người, cuộc sống hôm nay, mà còn nhắc chúng ta biết ơn, nhớ về quá khứ, nguồn gốc tổ tiên; răn dạy ta biết ơn đối với những người vun đắp cuộc sống cho chúng ta. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là một trong những câu tục ngữ biểu hiện rõ nét lời khuyên bảo ấy. Chúng ta nhận xét gì về câu nói ngắn gọn đó?
Để cây ra hoa kết trái và cho trái chín để chúng ta ăn, người trồng nó phải mất rất nhiều mồ hôi và công sức. Có khi người trồng cây chưa được hưởng thành quả của chính mình mà người khác lại được hưởng trước. Câu tục ngữ không chỉ gói gọn trong phạm vi nhỏ hẹp ấy, ý nghĩa của nó còn rộng nhiều hơn. Kết quả ở đây chính là thành quả, kết quả là những gì mà con người đang hưởng thụ hôm nay. Câu tục ngữ mang ý nghĩa khuyên bảo sâu sắc, kín đáo: chúng ta sống phải biết ơn những người đã tạo nên của cải vật chất và tinh thần chúng ta đang hưởng thụ.
Câu tục ngữ đã đưa ra một lời căn dặn, một lời khuyên đối với con cháu về lòng biết ơn đối với thế hệ đi trước. Mọi sự vật không tự nhiên hiện hữu trên cõi đời, nó có được là nhờ công sức của người làm nên nó. Chúng ta xuất hiện trên cõi đời này là do cha mẹ đã sinh ra ta và nuôi ta khôn lớn, dạy bảo ta nên người. Theo thời gian lớn lên, ai giúp ta nhận thức sâu xa hơn về cuộc sống, con người và đất nước xung quanh ta. Đó là thầy cô, người cha mẹ thứ hai hết lòng dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho ta. Trong từng giờ từng phút ta đã và đang hưởng thụ hay nói một cách khá là ta ăn quả. Bát cơm ta cầm trên tay chính là thành quả của những người nông dân đã tần tảo sớm hôm, dầm mưa dãi nắng. Tấm áo ta mặc là quả của những người dệt vải, in bông; sách vở ta đang học là quả của người làm giấy, người in ấn, của những nhà khoa học… Ta làm sao kể cho hết những quả trên đời này do những bàn tay cần cù lao động tích cực. Không những về vật chất mà cả về của cải tinh thần, ta đã phải chịu ơn của biết bao người. Một bộ phim ta xem là do công sức của những người đạo diễn, diễn viên, người quay phim…Xem thêm: Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài Cảnh ngày hè
Những tác phẩm văn chương mà chúng ta được học được đọc là kết quả lao động sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ với khối óc tuôn đầy những cảm hứng văn học, là sự hiểu biết cuộc sống một cách tinh tế. Nhưng hơn hết, người trồng cây ở đây là thế hệ những người đã từng đổ máu xương để mở mang, gìn giữ, xây dựng đất nước Việt Nam tươi đẹp từ ngàn xưa đến ngàn sau. Chúng ta một người dân Việt Nam rất đỗi tự hào. Công lao của tổ tiên ta, của lớp người đi trước cũng như hôm nay, ta làm sao quên được. Chúng ta phải ghi khắc trong lòng những chiến công hiển hách của ông cha ta, những tấm gương sáng của bao thế hệ anh hùng, chiến sĩ đã ngã xuống cho nhân dân Việt Nam được sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc; các cháu thiếu nhi vui tươi nhảy múa, hát ca dưới ánh trăng vàng.
Những người đã tạo nên những thành quả cho chúng ta hưởng thụ, chẳng lẽ chúng ta lại quay mặt làm ngơ, không coi trọng thành quả lao động của người đi trước. Cuộc sống sẽ vô nghĩa và thiếu ý vị biết bao khi con người sống chỉ biết hưởng thụ chứ không biết nhớ ơn, chỉ biết có hiện tại mà không hề hoài niệm về quá khứ. Lòng biết ơn chính là một truyền thống, đạo lí dân tộc, là niềm tự hào kiêu hãnh của nhân dân Việt Nam từ bao đời nay. Nguyễn Trãi – một đại công thần, một danh nhân nổi tiếng về nhiều phương diện, khi đi ngang sông Bạch Đằng bồi hồi nhớ đến những người đi trước lập những chiến công, ông đã thốt lên:Xem thêm: Đóng vai Đăm Săn kể lại đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây
Việc cũ, ngoảnh đầu ôi đã vắng
Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng!
Câu tục ngữ chỉ ngắn ngủi, nhưng chứa đựng một ý nghĩa lớn, không chỉ nói lên sự vất vả của kẻ trồng cây mà còn là lời căn dặn đối với kẻ ăn quả. Nhưng không chỉ biết ơn kẻ trồng cây là nhớ bằng những lời lí thuyết, hô hào mà phải bằng hành động cụ thể được thực hiện với cả tấm lòng chân thành. Để biết ơn người trồng cây, nhân dân ta đã lấy tên họ đặt cho tên đường, tên trường, tên công viên như đường Nguyễn Huệ, Trần Hưng Đạo, trường Hai Bà Trưng, công viên Lê Văn Tám… Ta lại có những ngày kỉ niệm để tưởng nhớ, đặc biệt là có những đền đài, khắc tượng để lễ bái, chiêm ngưỡng. Ngày nay, chúng ta thực hiện lòng biết ơn ấy bằng những ngôi nhà tình nghĩa được mọi người ủng hộ hay ngày thương binh liệt sĩ 27/7 hàng năm.
Có được thành quả như hôm nay, người làm nên nó mất rất nhiều công sức, chúng ta cần sử dụng những thành quả một cách có ý thức, không phung phí. Ta bảo vệ và trân trọng, chính là trân trọng sức lao động của những người đã tạo ra thành quả. Hơn nữa, ta không chỉ nâng niu, không phung phí mà còn cần phải phát huy thành quả ấy, sự nghiệp ấy để làm cho đất nước ngày càng phồn vinh, ngày càng ấm no, hạnh phúc. Chúng ta lại tiếp tục trồng cây cho thế hệ đi sau bằng mọi sức lực và ý thức của ta.Xem thêm: Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi
Câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây có một ý nghĩa vô cùng rõ nét và phong phú. Nó có tác dụng sâu rộng trong quần chúng nhân dân, nó thực sự là một chân lí có giá trị đạo đức hết sức to lớn, là lời khuyên bảo chí tình, chí nghĩa của ông cha ta đối với thế hệ hôm nay và mai sau. Nó chính là một cái nền vững chắc để mọi người cùng vươn lên, sống tốt đẹp hơn. Ăn khế trả vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng. Thế mà trong xã hội nào cũng vậy vẫn còn những tồn tại nhất định; có những kẻ vong ân bội nghĩa, những kẻ chỉ biết ăn chơi phung phí trên máu xương người khác mà không hề ân hận, một gã Lý Thông trong câu chuyện Thạch Sanh – Lý Thông là một tấm gương xấu điển hình mà mọi người đều phỉ nhổ, lên án gắt gao.
Câu tục ngữ là lời dạy bảo của cha ông đối với con cháu, đó là lòng biết ơn của thế hệ đi sau đối với thế hệ trước. Thế hệ đi trước đã dọn đường, đã để lại thành quả cho chúng ta noi theo, chúng ta phải biết quý trọng và gìn giữ những thành quả đó. Câu tục ngữ là hồi chuông cảnh tỉnh những kẻ đang ngủ mê quên đi quá khứ. Nó giúp ta tự hoàn thiện nhân cách mình, đồng thời nó thể hiện một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Nguồn: | Bình luận câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. | 1,409 | |
Đề bài: Phải chăng: Một điều nhịn, chín điều lành? Anh chị hãy viết bài văn bình luận câu tục ngữ này.
Tục ngữ, thành ngữ là kho tàng kinh nghiệm quý giá mà người xưa để lại cho chúng ta. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kho kinh nghiệm đó không những không bị mai một mà còn được trải nghiệm, mài giũa và ý nghĩa của nó ngày càng được khẳng định trong cuộc sống. Câu tục ngữ tiêu biểu nói về kinh nghiệm ứng xử ở đời được nhiều người biết đến là câu: Một điều nhịn, chín điều lành. Hình thức ngắn gọn với hai vế đăng đối cùng vần điệu uyển chuyển của nó khiến người nghe tiếp thu dễ dàng. Ngoài ra, cách so sánh cường điệu cũng làm tăng sức thuyết phục của nội dung.
Trong câu tục ngữ trên có hai khái niệm là nhịn và lành. Nhịn là đức tính nhẫn nại, nhún nhường, luôn giữ hòa khí trong giao tiếp, ứng xử. Lành là kết quả tốt đẹp, thỏa đáng, đúng như mong muốn. Bằng cách so sánh cường điệu: một điều với chín điều, câu tục ngữ nhấn mạnh hiệu quả mà con người đạt được khi biết giữ thái độ nhường nhịn, ôn hòa trong cuộc sống.
Tại sao một điều nhịn lại bằng chín điều lành? Xưa nay, cuộc sống bao giờ cũng đa dạng và phức tạp. Con người không sống đơn lẻ mà sống trong cộng đồng, tập thể, với rất nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau. Cuộc sống luôn vận động đi lên là động lực lôi cuốn con người, mà con người lại là chủ thể của cuộc sống nên cần phải đấu tranh để sinh tồn và phát triển. Muốn vậy, con người phải đoàn kết, hợp tác với nhau, cần xác định được mâu thuẫn nào là cơ bản, là chủ yếu, để tìm ra cách giải quyết tốt nhất, tránh rạn vỡ, tổn thất. Như vậy, nhịn vừa là cách sống, phẩm chất sống, vừa là phương pháp ứng xử quan trọng ở đời.
Vậy đối tượng nhịn là những ai và cần nhịn như thế nào? Có nhiều tình huống, nhiều mối quan hệ đa dạng đang diễn ra hằng ngày mà chúng ta là người trong cuộc. Trước hết là trong tình cảm vợ chồng – mối quan hệ gắn bó keo sơn kể từ khi hẹn hò thề thốt cho đến khi đầu bạc răng long. Bản chất cuộc sống là luôn luôn mâu thuẫn bởi nó vừa thống nhất, vừa đối lập cho nên chuyện xích mích là thường tình, tự nhiên. Nhưng khi vợ chồng không đồng quan điểm thì chúng ta nên ứng xử theo phương châm: Chồng giận thì vợ bớt lời, Cơm sôi nhỏ lửa chẳng đời nào khê. Khi chồng say rượu to tiếng thì vợ nên nói năng nhẹ nhàng hoặc im lặng. Khi vợ cáu gắt, kêu ca việc nhà việc cửa thì chồng nên an ủi, động viên để không khí gia đình trở lại ấm êm.
Mở rộng ra ngoài xã hội, mỗi người đều có những mối quan hệ với bạn bè đồng nghiệp, đồng chí, với người cao tuổi, cấp lãnh đạo v.v… Bạn bè không cho ta tiền bạc, vật chất mà cho ta lời khuyên nhủ, sự chia sẻ… Giàu vì bạn là vậy. Nhờ bạn bè, ta có thể vượt lên trong những hoàn cảnh khó khăn, trắc trở. Đồng nghiệp là những người cùng hội cùng thuyền. Chúng ta nên lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp và luôn giữ thái độ hòa nhã khi đối thoại, tránh đối đầu để tăng cường sức mạnh tập thể nhằm thực hiện mục đích và lí tưởng chung.
Xem thêm: Hãy giải thích và bình luận ý kiến sau đây của Thạch Lam: "Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; ..., vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn"Sử sách còn lưu truyền giai thoại về hai vị anh hùng dân tộc thời Trần là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và Thái sư Trần Quang Khải. Vốn có hiềm khích về quyền lợi trong dòng tộc, nhưng Trần Hưng Đạo đã vì vận mệnh của đất nước mà khéo léo giãi bày tâm sự với Trần Quang Khải, ông đã đích thân ân cần múc nước tắm cho Thái sư để bày tỏ thành tâm thiện ý của mình. Hai vị danh tướng đã biết đặt cái chung lên trên cái riêng, cùng chỉ huy quân dân nhà Trần đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông!
Nguyễn Trãi sau khi giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi, lập nên nghiệp lớn, đã dốc hết tài đức phò vua xây dựng đất nước. Nhưng khi triều đình của vua Lê Thái Tổ bị bọn gian thần, quyền thần thao túng, khuynh đảo thì Nguyễn Trãi đã lui về ở ẩn tại Côn Sơn để giữ trọn khí tiết và lòng trung hiếu với sơn hà, xã tắc.
Còn đối với kẻ thù, chúng ta nên ứng xử như thế nào cho đúng? Đó là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ mềm mỏng, khôn khéo, linh hoạt và sáng suốt. Mối quan hệ với kẻ thù là mối quan hệ đối đầu, vì vậy trong đấu tranh chúng ta phải kiên quyết giữ vững lập trường, không khoan nhượng; nhưng về phương pháp đấu tranh thì tiến thoái, cương nhu uyển chuyển. Khi quân địch mạnh hơn hẳn, chúng ta nên tạm thời rút lui để bảo toàn lực lượng và làm cho kẻ địch chủ quan; đôi khi, phải nhẫn nhục, cam chịu để giữ gìn bí mật và tìm cách đối phó. Ngày xưa, các thế hệ tiền bối thường có cách ứng xử khôn ngoan với kẻ thù phương Bắc để giữ tình giao hảo, tránh họa binh đao, xây dựng nền hòa bình lâu dài cho đất nước.
Ở thời đại ngày nay, sự hội nhập toàn cầu và nền kinh tế thị trường muôn màu muôn vẻ nhiều khi gây nên những áp lực lớn làm cho con người dễ bị ức chế, bức xúc. Thái độ bàng quan, vô cảm của quan chức; thói quan liêu, hách dịch của lãnh đạo dễ gây ra những phản ứng tức thời, thậm chí dẫn đến xung đột đáng tiếc. Những lúc đó đòi hỏi chúng ta phải biết bình tĩnh kiềm chế, không nên có thái độ, hành động tỏ ra đối đầu bởi nó sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. Giữa nhịp điệu sống dồn dập, hối hả, con người càng phải biết trở về với văn hóa truyền thống, cần học tập những giá trị tinh thần quý báu được gửi gắm trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ. Câu tục ngữ: Một điều nhịn, chín điều lành ngắn gọn mà hàm súc. Đó là triết lí sống, là phương châm ứng xử khôn ngoan không chỉ cho mỗi người mà còn vận dụng cho cả cộng đồng dân tộc. Nó không những nhắc nhở về cách ứng xử tế nhị mà còn dạy chúng ta phương pháp đấu tranh khôn khéo và có hiệu quả nhất để đạt được mục đích của mình.
Xem thêm: Viết đoạn văn tả đèn bàn | Bình luận câu tục ngữ ”Một điều nhịn là chín điều lành” | 1,250 | |
Bình luận câu tục ngữ: “Anh em kinh trước, làng nước khinh sau”
Gợi ý
Trong dân gian vẫn lưu truyền nhiều câu tục ngữ nói về khen/chê, khinh/trọng. Mỗi câu tục ngữ là một bài học sâu sắc có tác dụng giáo dục đối với bất cứ ai, nhất là lớp người trẻ tuổi trong xã hội.
Câu tục ngữ sau đây, nhiều người vẫn nhớ, vẫn nhắc:
Anh em khinh trước, làng nước khinh sau.
Khinh là sự đánh giá và chê bai, coi thường. Chữ khinh thường gắn liền với các từ ngữ: khinh thường, khinh bỉ, coi khinh…
Một kẻ nào đó, nhân cách lèm nhèm, có việc làm xấu xa, thối nát… sẽ bị mọi người coi khinh và xa lánh.
Trong gia đình, con cháu bất hiếu, vợ chồng bất hòa, anh em lục đục, bất đễ, sẽ bị mọi người trong nhà, trong gia tộc “khinh trước”. Một kẻ mà đã bị “anh em khinh trước” là kẻ vô cùng suy đốn; từ cử chỉ, thái độ đến hành động, việc làm đều xấu xa, đồi bại, phương hại đến đạo lí, nếp nhà, hành động, việc làm đều xấu xa, đồi bại, phương hại đến đạo lí, nếp nhà, đến gia phong. Những kẻ cờ bạc rượu chè, nhác làm siêng ăn, tham lam, tục tằn… sẽ bị “anh em khinh trước”.
Và khi đã bị “anh em khinh trước” thì con người ấy không còn chỗ đứng trong xóm dưới làng trên, trong làng ngoài xã nữa. Khi đã bị “làng nước khinh sau” thì con người ấy còn dám vác mặt đi đâu nữa. Chỉ còn cúi gầm mặt mà đi. Mọi quan hệ chòm xóm, láng giềng chẳng còn gì nữa. Mọi người đều “sạ” và xa lánh. Kẻ bị làng nước coi khinh sẽ sống trong cô độc, tủi nhục, làm hại đến danh dự chồng con, vợ con; làm nhục ông bà, cha mẹ, anh em.Xem thêm: Có ý kiến cho rằng: Bài thơ (“Thu hứng”) tuy không miêu tả trực tiếp tình hình xã hội nhưng vần có ý nghĩa hiện thực rộng lớn. Nêu ý kiến của anh (chị)“Anh em khinh trước, làng nước khinh sau", câu tục ngữ nghĩ có 8 chữ, điệp lại hai lần chữ “khinh” đã nói lên một cách cô đúc sức mạnh của gia phong, của lệ làng.
Câu tục ngữ nêu bật sức mạnh tính giáo dục đạo đức của gia đình và làng xã; chỉ cần nghe ông bà, cha mẹ nhắc lại một lần là con cháu nhớ mãi. Nhờ đó mà nếp nhà được giữ gìn, gia phong được đề cao, thuần phong mĩ tục được phát triển.
Kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam có nhiều câu nêu bật sự khinh/trọng, khen/chê của cộng đồng đốì với một con người nào, nhất là đốì với những kẻ sa sút, sa đọa, tha hóa. “Bia miệng” thế gian thật đáng sợ:
Hôm kia kể đón người đưa.
Bây chừ đi sớm về trưa một mình.
Ngày xưa võng lọng nghênh ngang,
Bây giờ cúi mặt mo nang che đầu.
Xây dựng nền đạo đức mới, xây dựng gia đình văn hóa, thiết nghĩ câu tục ngữ "Anh em khinh trước, làng nước khinh sau” có tác dụng gấp nhiều lần những bài luận thuyết dài dòng.
Vanmau.edu.vn | Bình luận câu tục ngữ_ “Anh em kinh trước, làng nước khinh sau” | 547 | |
Bình luận câu tục ngữ: “Đi môt ngày đàng học một sàng khôn”
Gợi ý
Tục ngữ Việt Nam giàu có và đầy chất trí tuệ. Nó đúc rút bao kinh nghiệm quý báu trong dân gian. Là bài học nhân sinh, là cách ứng xử… nó dạy khôn, dạy khéo để làm người. Chỉ một chuyện học mà nhân dân ta có bao câu tục ngữ mang tính giáo dục sâu sắc. Một trong những câu tục ngữ đó là câu:
"Đi một ngày đàng học một sàng khôn".
Chúng ta cần hiểu câu tục ngữ này như thế nào cho đúng và đầy đủ?
"Một ngày" so với một năm là ngắn. "Một ngày" trong đời người một trăm năm là vô cùng ngắn. "Đi một ngày đàng" đối với khách bộ hành thì quãng đường đi được có là bao? Thế nhưng nhân dân ta lại khẳng định là "học một sàng khôn". "Khôn" là điều hay, điều tốt, cái mới mẻ rất bổ ích đối với mọi người để mở mang trí tuệ, trau dồi nhân cách. "Sàng" là công cụ lao động, đan bằng tre, nứa của nhà nông dùng để sàng gạo. "Sàng khôn" là biểu tượng chỉ khối lượng kiến thức rất lớn, rất nhiều mà người bộ hành đã "học" được sau một hành trình,ầđi một ngày đàng".
Tóm lại, câu tục ngữ có hai vế tương phản đối lập với cách nói thậm xưng trong mối tương quan hai vế: đi ít mà học được nhiều, qua đó khẳng định một chân lí, đề cao một bài học kinh nghiệm, nhằm khuyên nhủ mọi người cần đi nhiều để mở rộng tầm mắt và sự hiểu biết, sống nhiều, học hỏi trong thực tế cuộc sống. Xem thêm: Em hãy kể một câu chuyện cảm động về bà em. Tại sao "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn"! Câu tục ngữ "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn" là hoàn toàn đúng! Vì, ngoài học ở trường, học trong sách vở, học thầy, học bạn, chúng ta còn cần phải biết học hỏi trong thực tế cuộc sống xã hội rộng lớn. Nhân dân là người thầy vĩ đại của mỗi chúng ta. Học tập trong thực tế cuộc sống là phương thức học tập khoa học và có hiệu quả nhất: học đi đôi với hành, học tập gắn liền với lao động sản xuất và hoạt động xã hội. Nếu chỉ quanh quẩn trong bốn bức tường lớp học, cách học tập như thế là xa rời cuộc sống, học sinh bước vào đời sẽ lúng túng, thiếu năng động. Cá không thể xa rời nước, chim không thể thoát li bầu trời, người đi học cũng vậy, học tập cũng không thể tách rời thực tế cuộc sống xã hội.
Đi rộng biết nhiều, "Đi một ngày đàng" tầm mắt được mở rộng, thấy được bao cảnh lạ, tiếp xúc được nhiều người, nghe được bao nhiêu điều hay lẽ phải của thiên hạ. Từ đó mà biết suy xét: xa lánh điều xấu, kẻ xấu; học tập cái hay, noi gương người tốt việc tốt; "học một sàng khôn" là như vậy.
"Đi một ngày đàng, học một sàng khôn" là cách học tập và giáo dục kết hợp chặt chẽ giữa ba môi trường: gia đình – nhà trường – xã hội. Kiến thức sách vở được củng cố khắc sâu. Sự hiểu biết được mở rộng và nâng cao. Cùng với trang sách học đường, ta có thêm pho sách cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Xem thêm: Phân tích tâm trạng của Nguyễn Khuyến trong bài Khóc Dương Khuê Những hoạt động của thầy và trò như ngoại khóa, cắm trại, đi tham quan là rất bổ ích. Nó đem lại nhiều sinh khí cho trường học. Học sinh được đến với đồng quê, nhà máy, danh lam thắng cảnh… mà thêm yêu nhân dân lao động, tự hào với quê hương đất nước mình. Đi hội Lim ta thấy được cái hay của câu hát "Liền anh liền chị…", "Bèo dạt mây trôi…" của làn điệu dân ca Quan họ tuyệt vời. Đến với đền Hùng, ta trở về cội nguồn, lòng ta xôn xao bài ca tình nghĩa:
"Ai về Phú Thọ cùng ta,
Nhớ ngày giỗ Tổ tháng Ba mồng mười.
Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng Ba".
Đến với Ba Đình lịch sử, viếng lăng Bác Hồ, xúc động trước cuộc đời cách mạng vĩ đại của lãnh tụ, mỗi học sinh chúng ta mới thấy hết cái hay của vần thơ Viễn Phương: "Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng,
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ".
(Viếng lăng Bác)
Thi hào Nguyễn Du đã từng viết: "Nghe khúc hát thôn quê mới học đdược lời nói trong nghề trồng dâu, gai". Văn hào Go-rơ-ki tuy chưa bước qua ngưỡng cửa trường đại học, nhưng nhờ tự học mà đã trở thành một danh nhân văn hóa thế giới và ông đã từng nói: "Dòng sông Vôn-ga và thảo nguyên mênh mông là những trường đại học của tôi". Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về chất thép và chất tình trong ba bài thơ đã học của Bác: Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù tập leo núi. Từ chất thép, chất tình đó, anh (chị) hiểu được gì về con người Bác và phong cách thơ Hồ Chí Minh?Vanmau.edu.vn | Bình luận câu tục ngữ_ “Đi môt ngày đàng học một sàng khôn” | 909 | |
Bình luận hai câu thơ sau của Nguyền Đình Chiểu: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Hãy lấy thơ văn Nguyễn Đinh Chiểu để làm sáng tỏ ý thơ trên
Gợi ý
Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ vĩ đại của đất nước ta trong thế kỉ XIX. Ông đã sống giữa một thời kì lịch sử biến động và đau thương của dân tộc. Cuộc đời của ông đầy bi kịch xót xa. Ông là một nhà nho chân chính đã dạy cho chúng ta bài học về cách sống và ứng xử: vượt lên mọi bất hạnh để sống đẹp, sống trong yêu thương và căm ghét phân minh, rõ ràng. Trong bài thơ ‘Than đạo", ông viết:
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm.
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà".
Hai câu thơ bày tỏ một quan niệm văn chương của Đỗ Chiểu. ‘Thuyền ” là hình ảnh ẩn dụ nói về văn thơ và sự nghiệp văn chương. "Đạo " là đạo đức, đạo lí làm người. Văn chương là chở đạo, chớ bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, thuyền cũng chẳng đầy. Sức chứa đạo đức, đạo lí của con thuyền văn chương là vô cùng to lớn và vô tận.
‘Thằng gian ” là một khái niệm mang tính lịch sử. Trong chế độ phong kiến thối nát, dưới triều Nguyễn là bọn bất lương, bọn lừa thầy phản bạn, kẻ ác, kẻ xấu, bất nhân bất nghĩa. Khi thực dân Pháp đến cướp nước ta thi thằng gian là giặc Pháp và lũ việt gian bán nước, bọn đầu hàng giặc. Chữ "đâm" và chữ "thằng" thể hiện một thái độ quyết liệt, đầy căm thù và khinh bỉ. Câu "Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà" nghĩa là lấy thơ văn để đánh địch, đánh quyết liệt, đánh đến cùng thì ngòi bút (bút lông) cũng không mòn, không cùn, không tù, càng đánh càng sắc.
Hai câu thơ nói lên một quan niệm văn chương văn dĩ tải đạo văn chương có mục đích giáo dục to lớn; nhà thơ có sứ mệnh lấy thơ văn làm vũ khí chiến đấu để bảo vệ đạo đức, nêu cao chính nghĩa, chống lại mọi kẻ thù của nhân dân. Nguyễn Đình Chiểu suốt đời đã sống và sáng tác vì một quan niệm văn chương cao đẹp như thế.
Nguyễn Đinh Chiểu quan niệm văn chương là con thuyền "chở đạo", chở bao nhiêu đạo cũng không khẳm, cũng không đầy bởi lẽ ông đề cao chức năng giáo dục của văn chương. Sứ mệnh của văn chương nhằm giáo dục đức hi sinh, lòng vị tha, nghĩa thủy chung của con người, đề cao đạo đức và đạo lí của nhân dân như trung, hiếu, tiết, hạnh:
“Trai thời trung, hiếu làm dầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình ”.
(Truyện Lục Vân Tiên)
Người xưa quan niệm bản chất của thi ca nghệ thuật là "có ích dụng cho đời", nó có tác dụng "khuyến thiện, trừng ác", góp phần chấn hưng đạo đức, bồi dưỡng nhân tâm, đề cao nhân nghĩa.
Nguyễn Đình Chiếu là một nhà nho chân chính, yêu nước thương dân, cho nên "đạo" mà ông nói đến mang nội dung nhân dân, tích cực tiến bộ:
“Sự đời thề khuất đôi tròng thịt,
Lòng dạo xin tròn một tấm gương
Lời thơ khẳng định "lòng đạo" và quyết tâm của nhà thơ. Thà đui mù, tật bệnh nhưng tình cảm, tấm lòng của ông vẫn trong sáng thuỷ chung với đời, vẫn lo cho dân, cho nước. "Đạo" mà con thuyền thi ca của Nguyễn Đinh Chiểu chở mãi vẫn không đầy chính là tư tưởng nhân văn và tinh thần yêu nước chống xâm lăng.
Một đời thơ của Đỗ Chiểu không chỉ quan niệm "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm" mà ông còn luôn luôn tâm niệm "Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà". Càng "đâm", càng vạch mặt chỉ tên những "thằng gian", lũ bất lương, bất hiếu, bất trung, bọn lừa thầy phản bạn, thì ngọn bút thơ càng sắc nhọn. Nhà thơ phải yêu ghét rõ ràng; thơ ca phải mang tính chiến đấu trên lập trường nhân dân và dân tộc, vì đạo hiếu trung, vì nhân nghĩa: Xem thêm: Hãy nói lên những suy nghĩ của em về lòng vị tha“Mến nghĩa bao đành làm phản nước
Có nhân sao nỡ phụ tình nhà
Trong xã hội phong kiến mục nát, đạo lí suy đồi thì nhà thơ "đâm mấy thằng gian" để bảo vệ nhân nghĩa, làm cho nhân nghĩa vằng vặc chói loà như hai vầng nhật nguyệt. Khi đất nước bị ngoại bang xâm lăng, là kẻ sĩ, không thể để quân thù mua chuộc, lợi dụng:
"Thầy ta chẳng khứng sĩ Liêu
Xông hai con mắt bỏ liều cho đui".
Là thái độ khinh bỉ, vạch mặt chỉ tên bọn bán nước, cầu vinh, bọn xu nịnh, tham lam ở đời: Ắ,Sống chi đua nịnh theo đời – Nay vinh mai nhục mang lời thị phi". Nhưng Nguyễn Đình Chiểu không phải là người chỉ có ghét, chỉ có bất hợp tác, chỉ có một lòng bảo vệ "đạo", bảo vệ "nhân nghĩa" và "thiên luân". Mặc dù bị mù, ống đã nhìn rất rõ mọi việc, mọi sự kiện bằng tất cả mối liên hệ vơi nhân dân. Ông khổng ớ ẩn. Ông đã trực diện dùng ngòi bút sắc nhọn nhân nghĩa để không ngừng đấu tranh với giặc, với bọn buôn dân bán nước, bằng quyết tâm "Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà".
Quan niệm văn chương như trên đây của Nguyền Đinh Chiểu rất gần với lí tưởng thẩm mĩ của người xưa: "Văn chương phái có ích cho thiên hạ… loại văn chương làm sáng đạo lí… là loại văn chương vĩnh viễn tồn tại ở đời… văn chương xu nịnh thì hại cho mình, vô ích cho người"… (Cố Viêm Vũ, đời Thanh…)
Quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu "Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà" là đề cao tính chiến đấu, mà sau này Bác Hồ có một cách nói mới mẻ:
“Nay ở trong thơ nên có thép / Nhà thơ cũng phải biết xung phong”.
Tóm lại, hai câu thơ:
"Chờ bao nhiêu đạo thuyền không khẳm;
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà".
Cho thấy quan niệm văn chương và sứ mệnh của nhà thơ trước, cuộc đời là đúng đắn, tiến bộ. Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã phán ánh một cách trung thực cao đẹp quan niệm văn chương ấy.
3. Trong truyện "Lục Vân Tiên", nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tạo ra hai thế giới nhân vật đối lập nhau, thể hiện sâu sắc ý tưởng hàm chứa trong hai câu thơ ấy. Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Hớn Minh, ông Quán, ông Ngư, Lão Bà, Tiểu Đổng… là những con người giàu lòng nhân nghĩa, đề cao đạo lí làm người, coi thường danh lợi, ăn ở thuỷ chung. Mỗi nhân vật là một tấm gương sáng tiêu biểu cho một lớp người trong xã hội được nhà thơ ngợi ca. Vân Tiên là một anh hùng nghĩa hiệp sãn sàng xả thân để cứu giúp nhân dân:
‘Tôi xin ra sức anh hào,
Cứu người cho khỏi lao đao buổi này!".
"Cứu người" là để "chở đạo" và để cứu người, Vân Tiên đã "bẻ cây làm gậy", "đánh tan lũ cướp" làm cho tên tướng giặc Phong Lai "thác rày thân vong". Nguyễn Đình Chiểu đã"đâm mấy thằng gian" với tất cá sức mạnh và sự khinh bỉ như thế!
Vương Tứ Trực đã mắng nhiếc cha con Võ Thể Loan:
"Chẳng hay người học sách chi,
Nói sao những tiếng dị kì khó nghe ".
Đó là tiếng nói của đạo lí lên án những phường bất nghĩa, bất nhân. Và đó cũng là thái độ "Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà ” của Nguyền Đình Chiểu.
Ông Ngư phảng phất một nhà nho “lánh đục tìm trong" sống cuộc đời ung dung thanh nhàn ‘Tắm mưa, chải gió trong vời Hàn Giang". Con thuyền của ông Ngư đâu chỉ để câu cá, đánh cá mà là con thuyền nhân nghĩa "chở đạo" rất đáng tự hào. Cả nhà xúm lại cứu giúp Vân Tiên bị nạn: "Hối con vầy lửa một giờ | Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày", ông muốn được nuôi nấng, cưu mang người cô đơn, đui mù "Sớm hôm hẩm hút một nhà cho vui". Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi Ngư ông, một con người trọng nghĩa khinh tài bằng những vần thơ "chở đạo" rất hồn hậu: Xem thêm: Đức Phật dạy: “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi”. Anh (chị) nghĩ gì về lời dạy trên? Viết bài văn bàn về cá nhân và tập thể
"Ngư rằng: Lòng lào chẳng mơ,
Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trá ơn.
Nước trong rửa ruột sạch trơn,
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây!
Cha con Võ Thế Loan đẩy Vân Tiên vào hang. Sau mấy ngày bơ vơ đói khát, chân tay rã rời khỏng sao lết đi nổi thì chàng đã gặp lão Tiều. Lão mở gói cơm cho ăn, săn sóc với tất cả tình thương. "Lão ra sức lão cõng Tiên về nhà". Cử chỉ và hình ảnh ấy rất đẹp sáng người đạo lí ‘Thương người như thể thương thân
Kiều Nguyệt Nga không chỉ là một thiếu nữ "vóc ngọc mình vàng mà còn là con người trọng chữ "lề" trong ứng xử, biết sống và phấn đấu đến cùng cho sự thuỷ chung trọn tình vẹn nghĩa. Nàng được mọi người tấm tắc ngợi khen và xứng đáng được hưởng hạnh phúc:
“Nguyệt Nga là gái tiết trinh
Sắc phong quận chúa hiển vinh rõ ràng".
Thế giới nhân vật thứ hai trong truyện thơ "Lục Vân Tiên" là bọn bạc ác tinh ma, bất nhân bất nghĩa ở đời. Là tên Thái sư xảo quyệt độc ác. Là cha con Võ Thế Loan tráo trở, trơ trẽn, vô liêm sỉ. Là Trịnh Hâm, Bùi Kiệm gian manh, xấu xa. Ai đã trói Tiểu Đồng vào gốc cây làm mồi cho cọp? Ai đã đẩy Vân Tiên xuống sông giữa đêm tối? Ai đã bỏ Vân Tiên vào hang Thương Tòng cho chết đói? Ai đã âm mưu đưa Kiều Nguyệt Nga cống giặc Ô Qua? Tội ác của chúng đều không thoát khỏi lưới trời lồng lộng? Võ Công đà chết trong nhục nhã! ‘Thái Sư cách chức về nhà làm dân", ‘Trịnh Hâm là đứa bạo thần" đà bị trói giữa triều đình, bị đuổi về nhà rồi bị sóng thần dìm chết trên dòng Hàn Giang. Và đây là hình ảnh "nhà nho" Bùi Kiệm:
"Con người Bùi Kiệm máu dê,
Ngồi chai bổ mật như sề thịt trâu ".
Sự nhơ nhuốc không thể nào nói hết! Nguyễn Đình Chiểu viết: "Làm người ai nấy thì đừng bất nhân". Bọn gian tà, bất nhân đã bị trừng phạt. Nhà thơ đà vạch mặt chỉ tên trước "tòa án lương tâm", ổông đã khinh bỉ và căm giận "Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà".
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu càng tỏa sáng trong phần văn thơ yêu nước. Khái niệm "đạo" mang một nội dung mới khi "súng giặc đất rền – lòng dân trời tỏ", khi giặc Pháp xâm lược đất nước ta. "Đạo" của mọi người là biết "Mến nghĩa làm quân chiêu mộ", quyết không dung tha “lũ treo đầu dê bán thịt chó", sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp,ẩđoạn kình", "bộ hổ" để cứu nước cứu nhà. Điều đó cho thấy: Nhân nghĩa là yêu nước, "đạo " mà con thuyền văn chương chở, phải chở là lòng yêu nước thương dân, là lòng căm thù bọn giặc cướp nước và bán nước, là quyết tâm không đội trời chung với chúng:
"Ngựa nghĩa còn cứu nhà nước cũ
Làm người sao nỡ phụ quê hương"
(Ngựa tiêu sương)
"Bờ cõi xưa đà chia đất khác
Nắng sương nay há đội trời chung!"
(Xúc cảnh)
Nguyễn Đình Chiểu đã dành những lời thơ cảm động nhất để ca ngợi và viếng những anh hùng đánh Pháp như Trương Định, Phan Tòng… những anh hùng "nghìn nam tiết rỡ":
"Dấu đạn hãy chìm tàu bạch quỷ,
Hơi gươm thêm rạng thẻ hoàng môn". Xem thêm: Em hãy viết thư cho một người bạn để miêu tả phong cảnh quê hương em – "Giúp đời dốc trọn trang nam tử
Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần".
(Thơ điếu Trương Định)
"Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" là bài văn tế hay nhất trong các bài văn tế cổ kim của ta. Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên một tượng đài bi tráng về người nông dân yêu nước đánh Pháp giữa thế kỉ XIX. Lòng yêu nước và ý chí quá cảm của họ đã làm cho giặc Pháp bạt vía kinh hồn:
"Kẻ đâm ngang người chém ngược làm cho mã tà, ma nỉ hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trói kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ".
Sống và chết vì đại nghĩa là cái "đạo" lớn ở đời, để lại tiếng thơm muôn đời, được nhân dân mến mộ:
"Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;
Thác mù ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ".
“Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà", trước hết Nguyễn Đình Chiểu vạch mặt lên án, kết tội giặc Pháp đã kéo tới xâm chiếm đất nước ta, giết người cướp của, gây ra bao tội ác tày trời:
"Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo;
Tội chẳng tha con nít, đàn bà, đốt nhà bắt vật!”
… Kể mười mấy năm trời khốn khó, bị khảo, bị tù, bị đầy, bị giết,
Trẻ già nghe nào xiết đếm tên;
Đem bơ tấc bơi mòn bỏ liễu, hoặc sông, hoặc biển, hoặc núi, hoặc rừng,
quen lạ thảy đều rơi nước mắt"
(Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh)
Nổi đau thương của nhân dân không thể nào kể xiết. Mỗi lời văn tế như thấm đầy máu và lệ, sôi sục căm hờn. Từ ngày "Tây qua cướp đất; dựng tân trào gây nợ oán cừu ", bọn "phụ tình nhà", lũ "làm phản nước" đã núp bóng "cờ tam sắcẻt của bầy "bạch quỷ" để bán nước cầu vinh. Nguyễn Đình Chiểu đã ghét cay ghét đắng, đã mỉa mai, khinh bỉ chúng:
"Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vừa hương, xô bàn độc,
thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gậm bánh mì,
nghe càng thêm hổ!"
(Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)
Nguyễn Đình Chiểu tuy nếm trải nhiều bất hạnh, lại sống trong một giai đoạn lịch sử đen tối và đau thương của dân tộc, thế mà ông đã nhìn đúng hướng đi của lịch sử và giữ trọn tấm lòng son sắt sáng ngời. Thơ văn của ông đã vượt lên cả về mặt tư tưởng và nghệ thuật để "chở đạo" và "đâm mấy thằng gian", vừa chửi thẳng vào mặt các loại kẻ thù của dân tộc, vừa khẳng định và ngợi ca những con người "sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc…". Ông là một nhà nho chân chính, một mặt tiếp thu được những tư tưởng tích cực trong kinh sử, mặt khác – chủ yếu đã "sống cuộc sống của quần chúng, thông cảm sâu sắc với quần chúng, và đã cùng với quần chúng phấn đấu gian nan. Chính quần chúng cần cù dũng cảm đã tiếp sức cho Nguyễn Đình Chiểu, cho trí tuệ, cho tình cảm, cho lòng tin và cả cho nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu" (Hoài Thanh).
Tóm lại, hai câu thơ:
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà"
đã thể hiện một quan niệm văn chương sắc sảo, tiến bộ, một nhân cách văn hóa cao đẹp của nhà thơ mù đất Đồng Nai. Tuy bị mù loà, nhưng tâm hổn ông, tấm lòng ông "vầng vậc như sao Bắc Đẩu " (Báo Định Giang).
Cuộc đời và thơ văn của Nguyền Đình Chiểu là bài ca nhân nghĩa, bài ca yêu nước chống xâm lăng. Ông là nhà thơ, là ‘Thư sinh giết giặc bằng ngòi hút…" như Tùng Thiện Vương đã ca ngợi; ông sống mãi trong lòng Tổ quốc và nhân dân ta.
Vanmau.edu.vn | Bình luận hai câu thơ sau của Nguyền Đình Chiểu_ “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Hãy lấy thơ văn Nguyễn Đinh Chiểu để làm sáng tỏ ý thơ trên | 2,745 | |
Bình luận hai câu thơ: “Ví đây đổi phận làm trai được, Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?” (Đề đền Sầm Nghi Đống – Hồ Xuân Hương)
Gợi ý
Thế kỉ XIX, trên thi đàn Việt Nam xuất hiện những nữ sĩ tài ba như Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương,… Nữ sĩ Hồ Xuân Hương chiếm một địa vị vẻ vang, được nhà thơ Xuân Diệu ngợi ca là "bà chúa thơ Nôm ". Bà để lại trên dưới 50 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú. Thơ trữ tình cũng như thơ trào phúng của bà độc đáo hóm hỉnh, sâu sắc vô cùng.
“Đề đền Sầm Nghi Đống ", bài thơ tứ tuyệt, đề tài nhỏ mà đa nghĩa, tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Xuân Hương. Hai câu cuối của bài thơ, bà đã viết:
… “Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhỉêu?"
Sầm Nghi Đống là một võ tướng của nhà Thanh, cùng Tôn Sĩ Nghị mang 29 vạn quân sang xâm lược nước ta. Chúng đã bị vua Quang Trung đánh cho bại trận Sầm Nghi Đống thất trận, cùng kế phải thắt cổ tự tử. Hắn được Hoa kiều lập đền thờ ở một hẻm của kinh thành Thăng Long. Nếu như hai câu thơ dầu, nữ sĩ tả ngôi đền và nói lên sự khinh miệt của mình thì hai câu cuối, bà nêu lên một giả định so sánh đdể bình giá “cái sự anh hùng", cái nhân cách quá tấm thường của tên tướng Thiên Xem thêm: “Ai cũng có cuộc sống, nhưng chỉ có một số người mới có một cuộc sống đích thực”. Anh (chị) có suy nghĩ gì về ý kiến trên triều bại trận. Ý thơ còn biểu lộ một khát vọng về quyền nam nữ bình đẳng của người đàn bà nước Nam.
Xã hội phong kiến, nhất là bọn vua quan rất coi thường phụ nữ. Thế mà Hồ Xuân Hương lại đem chính mình ra so sánh với quan Thái thú phương Bắc, bĩu môi bình giá "cái sự anh hùng" của tên tướng Thiên triều là một lối nói giễu cợt, mỉa mai, coi thường. “Đây" là đại từ nhân xưng để trỏ, chỉ dùng trong mối quan hệ thân tình hoặc coi thường. "Cái sự anh hùng" của kẻ đang được Hoa kiều thờ cúng trong ngôi đền ấy thực ra tài năng không bằng một người đàn bà (trong xã hội trọng nam khinh nữ)! Nữ sĩ đã tạo nên một ý thơ sắc nhọn, bằng lối nói giả định so sánh để bình giá và đã lột trần chân tướng và giá trị thật của Sầm Nghi Đống.
Câu hỏi tu từ với ba tiếng "há bấy nhiêu " cho thấy bà đã bĩu môi châm biếm nhân cách tầm thường, cách ứng xử đê hèn của một viên tướng trong vòng tên đạn, gươm giáo. Anh hùng thì phải mưu lược, quả cảm, võ công lừng lẫy, có chết trong trận mạc thì cũng được "bọc thây da ngựa" lưu lại tiếng thơm muôn đời. Anh hùng vì nghĩa, vì nước, vì dân, "Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha" (Truyện Kiều). Trái lại, hành động của quan Thái thú là đem quân đi ăn cướp nước người, lúc bị quân ta đánh cho tơi bời, lúc sa cơ hắn lại treo cổ tự tử! Viên bại tướng với cái chết nhục nhã không đáng mặt nam nhi, không có một chút gì đáng gọi là "sự anh hùng" cả! Xem thêm: Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận hay nhất
Hai câu thơ phản ánh một tâm thế đàng hoàng, tự tin về tài năng, phẩm hạnh của mình, của giới mình, của người đàn bà Việt Nam. Ta đã biết Hồ Xuân Hương từng có thái độ "bất kính ", coi thường các bậc hiền nhân quân tử, giới mày râu trong xã hội phong kiến. Bà chế giễu, châm biếm bộ mặt đạo đức giả của họ. Nữ sĩ mỉm cười hỏi viên hoạn quan "Đem cái xuân tình vía bỏ đâu? ", đả kích bọn công tử dốt nát mà lại ngông nghênh, chẳng khác gì "Ong non ngứa nọc châm hoa rữa / Dâ con buồn sừng huc giậu thưa ", hoặc báng bổ lối tu hành của các nhà sư hổ mang: "Oán dâng trước mật năm ba phẩm, Vãi nấp sau lưng sáu, bảy bà ",…
Nhà thơ đã góp một giọng thơ trào phúng, để lại một bức biếm họa thần tình, lột tả bộ mặt xấu xa, tàn ác, bất tài của bọn Thái thú "Thiên triều " có nhiều tội ác đẫm máu đối với dân tộc ta. Cái đền thờ Sầm Nghi Đống mãi mãi là một vết nhơ cho tất cả bọn chúng.
Ý thơ biểu thị một lập trường dân tộc, một ý thức dân tộc. Nữ sĩ tuy không thể "đổi phận làm trai được", nhưng lịch sử chống xâm lăng của nhân dân ta, những gương sáng của Hai Bà Trưng, của Lê Chân, của Bà Triệu,… đã tạo nên cảm hứng tự hào để nữ sĩ xuất khẩu thành những vần thơ bất hủ ấy! Hai câu thơ, qua hình thức nghệ thuật cảm thán (mỉa mai) và câu hỏi tu từ (hỏi để bình giá) đã biểu lộ một khát vọng về bình đẳng nam nữ, về quyền sống của "phận gái" muốn được thi thố tài năng, đức hạnh với đời. vẻ đẹp nhân văn tiềm ẩn, lấp lánh trong hai câu thơ đặc sắc ấy. Xem thêm: Trình bày quan điểm của anh (chị) về tình yêu tuổi học trò. Ngoài ra, người đọc còn lấy làm thú vị trước một giọng điệu thư ca đặc sắc, tài ba của "Bà chúa thơ Nôm ". Bút pháp của nữ sĩ đã làm cho thơ thất ngôn Đường luật được Việt hóa cao độ. Học tập nghệ thuật trào phúng của thơ ca dân gian, bà đã sáng tạo nên những vần thơ mộc mạc, bình dị mà đa nghĩa, sắc sảo, biểu lộ một cá tính sáng tạo, một phong cách thơ rất “Hồ Xuân Hương’’.
Tóm lại, hai câu thơ "Ví đây đổi phận… " có một giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Nó không chỉ chế giễu bọn Thái thú phương Bắc sang xâm lược và đô hộ nước ta mà còn thể hiện một ý thức tự tôn dân tộc, một khát vọng về quyền bình đẳng nam nữ. Đọc những vần thơ ấy, ta cảm nhận được một phần nào ngôn ngữ thơ ca, vẻ đẹp tâm hồn của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Vanmau.edu.vn | Bình luận hai câu thơ_ “Ví đây đổi phận làm trai được, Thì sự anh hùng há bấy nhiêu_” (Đề đền Sầm Nghi Đống – Hồ Xuân Hương) | 1,126 | |
Bình luận tinh thần tương thân tương ái
Gợi ý
Tương thân, tương ái là truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta, đồng thời cũng mang tính nhân loại. Nhưng con người có lương tri bao giờ cũng muốn sống gắn bó với nhau, cùng nhau “chia ngọt sẻ bùi". Đây chính là bản chất lương thiện và bản chất xã hội của con người, tạo nên cộng đồng dân tộc và cộng đồng thế giới.
Tục ngữ, ca dao Việt Nam nói nhiều về lòng tương thân, tương ái: “Lá lành đùm lá rách ”, “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ ”, “Thương người như thể thương thân ”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước phải thương nhau cùng“, và “Khôn ngoan đối đáp người ngoài; Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau ”,..
Có lẽ, hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới, dân tộc Việt Nam từ bao đời nay, luôn luôn phải chiến đấu chống thù trong, giặc ngoài; luôn luôn phải đấu tranh với thiên tai khắc nghiệt, nên tinh thần tương thân tương ái trở thành phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam, trở thành đặc trưng bản sắc của văn hóa Việt Nam và hơn thế nữa, nó trở thành yêu cầu tất yếu để dân tộc và đất nước Việt Nam tồn tại và phát triển.
Truyền thống tương thân, tương ái biểu hiện trước hết ở tình yêu thương, đùm bọc, cảm thông với nhau trong những lúc khó khăn, hoạn nạn. Những năm cả nước có chiến tranh, các gia đình có người thân ra tiền tuyến đều được bà con xóm làng, khu phố an ủi, động viên, giúp đỡ những khi ốm đau, thiếu thốn, tương trợ nhau trong sản xuất. Lòng tương thân, tương*ái của đồng bào hậu phương tạo sức mạnh cho các chiến sĩ ngoài mặt trận đánh thắng kẻ thù. Đất nước hòa binh, nhưng thiên tai dữ dội và liền tiếp lại làm cho nhân dân nhiều tỉnh, nhiều vùng gặp khốn khó, ví dụ như trận lũ lụt khủng khiếp ở các tỉnh miền Trung năm 1999 và nạn hồng thuỷ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long diễn ra gần ba tháng nay. Đồng bào cả nước, từ em nhỏ đến các cụ già, từ người nông dân, công nhân đến các trí thức và nhà tu hành, cùng bà con tiểu thương, ở miền ngược và miền xuôi, đều người ít, người nhiều gom góp tiền của trợ giúp đồng bào vùng lũ lụt. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài và nhiều tổ chức quốc tế cũng nhiệt tình ủng hộ nhân dân vùng lũ. Thật là “Một miếng khi đói, bằng một gói khi no” Những khi khó khăn, những lúc gặp rủi ro, nhân dân ta đều cùng nhau chia sẻ. Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù Cùng với lòng thương người, truyền thống tương thân, tương ái còn được biểu hiện ở tinh thần biết vui với niềm vui chính đáng của nguời khác, biết coi thắng lợi và hạnh phúc của người khác như thắng lợi và hạnh phúc của chính mình. Có thêm điều này, lòng tương thân, tương ái mới trở nên toàn vẹn và sâu sắc. Gia đinh nào có con em lấy vợ, lấy chồng, hoặc đỗ đạt, thành tài, thì bà con xóm phố cũng đều đến chia vui.
Tương thân, tương ái là truyền thống đạo lí dân tộc, là phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Các câu tục ngữ, ca dao: “Nhiễu điều phue lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng ”, hoặc “Bầu ơi thương lấy bí cùng | Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn ”,… không chỉ nói về truyền thống nhân đạo của dân tộc, mà còn là những lời nhắc nhở, khuyên răn mọi người nên có và cần phải có tinh thần tương thân, tương ái.
Vanmau.edu.vn | Bình luận tinh thần tương thân tương ái | 683 | |
Bình luận truyện ngụ ngôn sau đây: Người khiếm thị sờ voi…
Gợi ý
Đề bài:
Bình luận truyện ngụ ngôn sau đây:
Người khiếm thị sờ voi
Ngày xưa có ông vua sai đại thần dắt đến một con voi cho bọn người khiếm thị sờ xem. Sau đó vua hỏi: “Các ông đã biết voi chưa?’’.
– Biết rồi! – Bọn người khiếm thị đáp.
– Thế voi như thế nào?
– Voi xem ra như cái đòn xóc. – Người sờ ngà voi bảo.
– Voi như cái quạt – Người sờ tai nói.
– Voi như tảng dá – Người sờ đầu voi đáp.
– Người sờ vòi lại bảo: "Voi giống như cái chày".
– Voi giống như cái hộp gỗ – Người sờ mắt voi nói.
– Không phải, voi giống như cái giường – Người sờ lưng voi khẳng định.
– Theo tôi con voi như cái thùng to – Người sờ bụng voi kêu lên.
– Đừng cãi nhau nữa, con voi như sợi dây thừng – Người sờ đuôi xác nhận.
Nhà vua nghe bọn người khiếm thị tranh cãi nhau, cảm khái nói:
Người khiếm thị thì rất đông
Còn voi chỉ có một
Ai cũng cho mình đúng
Đúng sai thật bất đồng.
(Dịch từ sách “Cầm hoa mĩm cưởi" của Trung Quốc)
Bài làm:
Từ ngày bé, lúc say mê đọc truyện tiếu lâm, tôi đã biết truyện dân gian “Thày bói xem voi”. Câu chuyện này không chỉ mang đến tiếng cười mà còn hàm chứa trong nó rất nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trong sách “Cầm hoa mỉm cười” của Trung Quốc cũng có câu chuyện “Người khiếm thị sờ voi” tương tự. Truyện trong sách có tuy nhiều chi tiết lí thú hơn nhưng tất nhiên, những ý nghĩa hàm chứa trong đó cũng trùng khít với bài học dân gian xưa cũ.
Câu chuyện kể về những người khiếm thị xem voi. Người khiếm thị là người có khiếm khuyết về thị giác. Đôi mắt không giúp họ nhìn thấy mọi vật. Điều đó rất bất lợi trong việc nhận dạng, nắm bắt đặc điểm, tính chất… sự vật, hiện tượng. Thường thì những người khiếm thị sẽ được bù đắp bằng sự nhạy bén của các giác quan còn lại. Thính giác, xúc giác của họ có thể nhạy cảm hơn người khác. Nhưng hiển nhiên sự bù đắp đó chỉ ở mức độ nhất định. Cái thiệt thòi của người khiếm thị là không bao giờ có cơ hội biết tường tận về bất cứ cái gì trong cuộc sống. Họ không nhìn thấy nên rât khó khăn trong việc hình dung về sự vật.
Những người khiếm thị trong truyện được dẫn đến xem một con voi (họ chưa từng biết con voi trông như thế nào). Nhưng tại sao người kể chuyện không không mượn con vật khác như trâu, gà, hay mèo? Có lẽ một con voi thì đồ sộ hơn, có nhiều chi tiết, bộ phận để xem hơn, đối tượng được đem ra xem xét lởn hơn. Người xem voi muốn miêu tả được nó phải chịu khó xem hết các bộ phận. Với người bình thường, việc đó không khó lắm, nhưng với người khiếm thị, đó lại là thử thách. Họ chỉ có thể xem voi bằng xúc giác. Con voi to lớn quá, người xem lại khiếm thị nên mỗi người được mời đến chỉ biết xem một bộ phận. Họ cho thế là đủ và hài lòng với phán đoán của mình. Khi nhà vua hỏi: “Các ông đã biết voi chưa?”, họ đều tự tin trả lời “Biết rồi!”. Kẻ nào cũng miêu tả rất chính xác, sinh động về “chú voi” mà mình đã “sờ”. Nếu chưa từng nhìn thấy voi, ắt chúng ta sẽ phát hoảng vì mỗi người tả một phách: “Voi xem ra như cái đòn xóc”., “Voi như cái quạt”., “Voi như tảng đá”., “Voi giống như cái chày”., “Voi giống như cái hộp gỗ”, “Voi giống như cái giường”., “Con voi như cái thùng to”., “Con voi như sợi dây thừng”.. Nguyên nhân của sự bất đồng là mỗi người chỉ sờ một bộ phận của voi, họ không có điều kiện trông thấy toàn thể con vật, đã vậy họ còn lười biếng không chịu “mở rộng địa bàn” tìm hiểu. Ai cũng an tâm về nhận định của mình mà không hề biết họ đều sai.Xem thêm: Nghị luận xã hội về tự học Bài thơ của nhà vua đọc đã thâu tóm trong đó hàm ý câu chuyện:
“Người khiếm thị thì rất đông
Còn voi chỉ có một
Ai cũng cho mình đúng
Đúng sai thật bất đồng”.
Trong cuộc sống, không phải con người lúc nào cũng sáng suốt để nhìn nhận toàn diện, thâu đáo bản chất vân đề. Có thể chúng ta không có vấn đề về thị giác như đám người khiếm thị kia nhưng không phải lúc nào cũng thấu tỏ để nhìn nhận diện đúng bản chất mọi vấn đề. Hình ảnh người khiếm thị trong câu chuyện ám ám chỉ sự khiếm khuyết trong cái nhìn của con người. Có ai dám khẳng định tri thức của mình là cuốn bách khoa toàn thư luôn cập nhật? Có ai dám khẳng định mình luôn nhìn nhận đúng đắn, thấu đáo mọi sự vật, sự việc? Người khiếm thị “rấí đông” lằ bởi thế. Việc bất đồng cũng là do “ai cũng cho mình đúng”, ai cũng bảo thủ, cũng cố thủ trên lí lẽ riêng của mình mà không chịu mở rộng cái nhìn, không chịu suy xét toàn bộ sự vật, hiện tượng. Người sờ đầu voi chỉ nghĩ voi như tảng đá, người sờ lưng chỉ nghĩ voi như cầi giường. Đó là sự hạn chế, khuất lấp của cách nhìn nhận.
Câu chuyện ngắn nhưng mang đến cho ta bài học sâu sắc về cái nhìn, cách nhìn trong cuộc sống. Trong văn học hiện đại, Nam Cao với truyện ngắn “Đôi mắt” cũng đã mang đến chúng ta bài học quý giá về cái nhìn, cách nhìn con người… Nếu chỉ giữ cái nhìn một chiều, phiến diện, thì người nghệ sĩ dẫu đi đến đâu, càng quan sát nhiều càng thêm chua chát, chán nản. Vạn vật trong thế giới này vô cùng phong phú, đa dạng, thời thế lại luôn vận động, biến đổi, nếu’không có cái nhìn vận động, không nhanh nhạy trong việc nhận diện vấn đề thì chúng ta sẽ rất khó thích nghi với cuộc sống.
Khoa học càng phát triển, con người càng nhận ra giới hạn không cùng của vũ trụ. Công nghệ siêu âm ba chiều, bốn chiều trong y học giúp các bệnh nhân sớm phát hiện chính xác các cãn bệnh để kịp thời chữa trị. Không gian đa chiều được ứng dụng trong sáng tác văn học, tạo nên cái nhìn đa trị trong các tác phẩm hiện đại… Cái nhìn của con người được mở rộng, nối dài hơn. Nhưng thế nào là cái nhìn, cách nhìn đúng đắn? Mỗi chúng ta chỉ có một đôi mất nhưng kì diệu thay bộ óc con người lại có năng lực xét đoán tuyệt vời. Chúng ta có khả năng soi chiếu, khám phá sự vật, hiện tượng trên nhiều góc độ. Càng khám phá từ nhiều chiều kích, chúng ta càng có thể tiệm cận bản chất của chúng. Cái nhìn, cách nhìn đúng đắn là cái nhìn, cách nhìn nhận chân được sự vật, hiện tượng. Dù Bạch Cốt Tinh có biến hoá thành cô gái, bà lão, ông lão, đôi mắt sáng của Tôn Ngộ Không vẫn nhận ra được. Chúng ta không được luyện trong lò linh đơn, không có phép, màu như Tôn Ngộ Không đế’ nhìn thấu, nhìn ra ngay vấn đề. Nhưng nếu chịu khó suy xét, chịu khó đặt cái nhìn trong nhiều hệ quy chiếu, chúng ta sẽ có cái nhìn đúng đắn. Người chồng Thị Kính chỉ chợt tỉnh giấc, nhìn thấy con dao kề mặt mình mà vội vu cho nàng tội giết chồng (“Quan âm Thị Kính”). Dần làng Vũ Đại chỉ nhìn thấy Chí Phèo là kẻ xấu xa, tàn ác (“Chí Phèo”). Nhân vật Hoàng chỉ nhìn thấy người nông dân “nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục” thảm hại. Tất cả những cái nhìn đó đều phiến diện. Họ chỉ nhìn vào hiện tại mà không mở rộng cái nhìn về quá khứ, tới tương lai, không suy xét cho kĩ vấn đề mà chỉ hời hợt nhìn ở hiện tượng để kết luận bản chất. Những cái nhìn đó chỉ mang lại những kết luận sai lầm.Xem thêm: Phân tích những đặc sắc nghệ thuật của thiên truyện anh hùng của Nguyễn Minh Châu: "Mảnh trăng cuối rừng" Nhưng làm thế nào để chúng ta không tự biến mình thành người khiếm thị, thành kẻ hồ đồ? Suy cho cùng, muôn có cái nhìn đúng đắn thì phải có cách nhìn đúng đắn. Cách nhìn đúng đắn chí có được khi con người chủ động nắm bát sự vật, hiện tượng một cách toàn diện, xem xét đô’i tượng trong mối quan hệ vđi tổng thể. Người khiếm thị nếu chịu khó xem voi ở tất cả các bộ phận thì ít nhất họ cũng không vội kết luận về hình thù con voi. Có sự vật, sự việc, nếu chỉ quen nhìn một phía thì chúng ta sẽ không bao giờ nhận ra được bản chất của nó. Ớ các tác phẩm văn học đương đại, các nhà văn luôn cố gắng mang đến cho độc giả cách nhìn mới mẻ. Nguyễn Khải khám phá giá trị con người ở phương điện văn hoặ ứng xử nên những nhân vật như bà Hiền (Một người Hà Nội) không bị quy chụp thành con người mang ý thức tư sản cá nhân. Bảo Ninh nhìn sự thảm khô’c của chiến tranh thông qua số phận của tình yêu, của mỗi cá nhân trong cuộc chiến, đưa đến bạn đọc những chiêm nghiệm mới mẻ về đề tài quen thuộc. Đó là những câu chuyện của văn chương, còn trong thực tế cuộc sống, chúng ta càng phải quán triệt cách nhìn toàn diện hơn. Phát triển con người toàn diện, xây dựng đất nước về mọi mặt là những chiến lược quan trọng của toàn Đảng, toàn dân ta. Đó là định hướng chung của Đảng, của Nhà nước Việt Nam. Đối với mỗi cá nhân chúng ta, điều đó càng có ý nghĩa thiết thực hơn trong cuộc sống thường ngày. Khi nhận thức về nhân cách một ai đó, chúng ta phải chủ động nhận diện họ trong nhiều mối quan hệ. Ban chất tốt – xấu sẽ tự lộ hiện trong các lời nói, hành động, cử chỉ dù là nhỏ nhặt nhất. Nhận thức về bản chất sự vật, hiện tượng cũng vậy. Đơn cử như trong tâm lí người mua bán, các mặt hàng ngoại nhập bao giờ cũng chiếm được cảm tình của đông đảo người mua. Nhưng sự thực là không ít những mặt hàng trong nước có giá trị sử dụng râ’t cao, thậm chí cao hơn, đáng tin cậy hơn các mặt hàng ngoại nhập lại có giá thành mềm hơn rất nhiều… Một bài văn có nhiều cách viết, một bài toán có nhiều cách giải, con đường mỗi người đi cũng có nhiều ngã rẽ, nếu không chịu mở rộng tầm mắt, không chịu khám phá vấn đề ở những phương diện khác nhau, chúng ta sẽ không thể biết được đâu là chân lí.Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh (Có dàn ý chi tiết) Nhưng cuộc sống này rộng lớn quá, chúng ta bao giờ đủ sức để “bơi” trong đó được. Giữa muôn mặt đa dạng của sự vật, hiện tượng, cái nhìn trên diện rộng phải tìm được trọng tâm, trọng điểm, phải nhìn được cái bản chất nhất bên trong nó. Điều đó sẽ có được khi chúng ta biết học hỏi kinh nghiệm từ mọi người, biết tự rút khinh nghiệm sau những nhận định sai, sẽ có được khi ta biết chọn lọc điểm cốt yếu nhất để khái quát nên vấn đề. Không phải nhà văn Độ (Đôi mắt – Nam Cao) không nhìn ra điểm yếu của người nông dân nhưng anh không cho đó là nét bản châ’t trong tính cách của họ. Anh nhận thấy ở người nông dân vác bó tre lên huyện, miệng thao thao bất tuyệt đọc bài “ba giai đoạn” tinh thần cách mạng nhiệt tình. Không phải Đảng.và Nhà nước ta không nhìn thấy những thách thức trong công cuộc hội nhập kinh tế, nhưng rõ ràng có hội nhập, chúng ta mới phát triển được xã hội và mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội mới thành công. Có khi, cái bản chất, điểm mấu chót của sự vật, hiện tượng lại khuất lâ’p sau rất nhiều những biểu hiện khác. Nếu không tinh ý, không chịu khó đào sâu suy nghĩ, chúng ta sẽ không đi hiểụ được tận cùng nó. Mị Châu vì ngây thơ, cả tin vô tình làm lộ bí mật quốc gia. Nếu không hiểu điều đó, nhân dân ta đã không thể hiện lòng bao dung tha thứ cho tội lỗi nàng gây ra bằng cách thêu dệt thêm chi tiết ngọc trai – giếng nước với mục đích minh oan, chiêu tuyết cho nàng. Không tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ vấn đề, vị thẩm phán không bao giờ kết án chính xác tội trạng của phạm nhân, người hoạ sĩ sẽ không bao giờ tạo được điểm nhấn cho bức tranh của mình, nhà kinh tế không bao giờ đưa ra những chiến lược đúng đắn… Và hậu quả xảy đến sẽ khôn lường.
Với học sinh chúng ta, việc tự rèn luyện để có cái nhìn, cách nhìn thấu đáo mọi vấn đề phải xuất phát từ hoạt động học tập và tu dưỡng đạo đức. Chịu khó mở rộng, đào sâu suy nghĩ để tìm ra nhiều cách hiểu, cách giải cho mỗi bài học, hoà mình vào các hoạt động sinh hoạt tập thể của nhà trường, làng. xóm… là cách tốt nhất để mỗi chúng ta có thể nhận diện được chính xác bản thân mình và những sự vật, sự việc, con người xung quanh.
Câu chuyện Người khiếm thị xem voi mang đến bài học giản dị mà thấm thìa về cái nhìn, cách nhìn cuộc sống. Không dễ để nhận chân được bản chất mọi vấn đề nhưng cũng không quá khó nếu chúng ta tự giác, chủ động khám phá, tìm hiểu những thử thách, những bí mật trong cuộc sống.
Vanmau.edu.vn | Bình luận truyện ngụ ngôn sau đây_ Người khiếm thị sờ voi… | 2,472 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.