text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Bình luận tư tưởng hàm chứa trong câu nói của Gớt: “Tôi là người nghĩa là một kẻ chiến đấu”
Gợi ý
HƯỚNG DẪN
Con người sinh ra trên đời không phải chỉ nhờ có những thời trân phẩm quả của thiên nhiên và xã hội mà sống và lớn lên; muốn tồn tại và phát triển con người phải đấu tranh không ngừng trong nhiều lĩnh vực: đấu tranh với thiên nhiên để cải tạo thiên nhiên, chế ngự thiên nhiên, đấu tranh với người để cải tạo xã hội, làm cho xã hội tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn, đấu tranh với bản thân để hoàn thiện bản thân, trau dồi năng lực, phẩm chất đặng có thể trở thành một con người chân chính, đóng góp được phần mình vào hai cuộc đấu tranh trên.
Người viết có thể bàn luận thêm nói con người là chiến sĩ không có nghĩa biến con người thành khắc kỉ, cuộc sống con người thành khắc khổ, hành trình của con người chỉ có gian truân mà cuộc sống ngoài chiến đấu ra còn có hưởng thụ và ngay trong chiến đấu người ta cảm thây hạnh phúc, hạnh phúc trước chiến công, hạnh phúc trong tình người, hạnh phúc trước ý nghĩa của cuộc sống.
BÀI LÀM
Con người khi mới lọt lòng mẹ, thường cất tiếng khóc oa oa oa. Có người nói đó là vì đời là bể khổ, nên con người đã khóc ngay từ phút đầu tiên làm người. Có người nói: Không, tiếng khóc đó là động tác làm cho phổi nở ra và đứa bé tự sống độc lập được từ đây. Đứa bé còn giơ hai tay lên như thách thức, môi chóp chép tìm sữa mẹ, tìm sự sống. Đứa bé đó bắt đầu chiến đấu. Quan niệm sống là chiến đấu cũng là quan niệm của Gớt, thi hào vĩ đại Đức thế kỉ XIX, ông nói: “Tôi là người nghĩa là một kẻ chiến đấu”.
Con người là một kẻ chiến đấu vì sự sống là một cuộc chiến đấu, con người sinh ra và lớn lên không chỉ nhờ những thành quả có sẵn mà thiên nhiên và xã hội ban tặng mà luôn luôn phải chiến đấu để làm nên và phát triển những thành quả mới. Cuộc chiến đấu của con người diễn ra trên ba lĩnh vực: lĩnh vực tự nhiên, lĩnh vực xã hội và trong bản thân mình.
Trong quan hệ với tự nhiên, con người phải chiến đấu chế ngự thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên. Trong thời đại hái lượm và săn bắt, con người sống dựa vào những vật phẩm có sẵn của thiên nhiên nhưng cũng phải trèo hái, tìm kiếm mới có, phải đánh nhau với thú dữ, chế tạo ra các công cụ dù còn thô sơ như bẫy đá, mác, lao, cung, nỏ để giết thú. Con người phải tìm ra thuốc chữa bệnh từ cây lá… Tiến lên một bước nữa, con người biết phòng tránh thiên tai như biết làm nhà kiên cố để tránh bão, biết đắp đê để ngăn lũ, biết dựng cột thu lôi để chống sét… Tiến lên một bước cao hơn nữa, con người biết cải tạo thiên nhiên để thiên nhiên phục vụ tốt hơn cho con người như biết khơi suối nguồn thành sông, biết ngăn sông làm thủy điện, biết biến ánh sáng mặt trời thành năng lượng, biết tìm ra các hóa chất trong thực vật, động vật, trong khoáng sản để làm thuốc chữa bệnh… Tất cả những hoạt động ấy đều là cuộc chiến đấu của con người bằng mồ hôi, trí óc và có khi cả xương máu nhằm chế ngự, cải tạo, chinh phục và khai thác nhằm bảo vệ, duy trì và nâng cao cuộc sống của con người.Xem thêm: Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích bản dịch Chinh phụ ngâm) của Đoàn Thị Điểm. Trong lĩnh vực xã hội, từ thuở còn sống thành bầy đàn rồi thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, tiến lên dân tộc,… con người luôn vừa chung sống vừa đấu tranh với nhau, đấu tranh chống cái xấu, cái ác, cho chiến thắng của cái tốt, cái thiện, nhằm làm cho xã hội tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn, con người sống hạnh phúc hơn. Cuộc đâu tranh ấy diễn ra dưới nhiều hình thức tư tưởng, chính trị, kinh tế và có khi cả quân sự nữa.
Dân tộc Việt Nam từ thuở sơ khai đã phải chiến đấu chống thú dữ mộc tinh, hồ tinh (thần thoại Lạc Long Quân), đã phải chiến đấu chống thiên tai (Sơn Tinh, Thủy Tỉnh), đã phải khai phá đầm lầy (Chử Đồng Tử), đã phải chiến đâu chông ngoại xâm (Thánh Gióng)… Từ khí có sử thì hầu như thế kỉ nào cũng có cuộc kháng chiến, thế kỉ X chông quân Nam Hán, thế kỉ XI chống quân Tông, thế kỉ XIII chống Nguyên Mông, thế kỉ XV chông quân Minh, thế kỉ XVIII chống quân Thanh, từ giữa thế kỉ XIX đến 1975 chống Pháp, chống Mỹ và ngày nay đang tiếp tục chiến đấu với nghèo nàn, lạc hậu và các thế lực thù địch âm mưu diễn biến hòa bình và âm mưu biến nước ta thành phụ thuộc… Bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu đã đổ mới có non sống gấm vóc và niềm tự hào dân tộc như ngày nay.Xem thêm: Em hãy viết đoạn văn thuyết minh về lợi ích của cây lúa
Song song, đồng thời với hai cuộc đấu tranh – đấu tranh với thiên nhiên va đấu tranh xã hội trên, luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh trong bản thân con người vì con người vốh là một sinh thể lưỡng tính vừa là con nhưng lại là người, vừa là cá thể nhưng lại sôhg cộng đồng, vừa có tính thiện nhưng lại vừa có mầm ác… Để bản thân tồn tại và phát triển, con người đã phải tự đấu tranh, ví dụ đấu tranh với tính hèn nhát để không sự bóng tôi, đấu tranh với thói lười biếng để không ngại học tập, đấu tranh với thói tham lam để không lấy của người khác… Theo yêu cầu của cuộc đấu tranh chung, con người còn phải tự đấu tranh nhiều hơn nữa, ví dụ đấu tranh với lợi ích cá nhân khi nó mâu thuẫn với lợi ích chung, đấu tranh với tính cầu an để chiến đấu với những tiêu cực xã hội, đấu tranh với bản năng ham sống trước yêu cầu phải hi sinh cho sự tồn vong của cộng đồng, đấu tranh với tính tự mãn ngại khó đã vươn cao hơn nữa tới đỉnh cao của tài năng, trí tuệ…
Trong ba lĩnh vực đấu tranh đó thì đấu tranh với bản thân là khó khăn nhất, nhiều người từng chiến thắng trong hai lĩnh vực trên mà gục ngã trước chính mình, như một số cán bộ đã thoái hóa biến chất trong xây dựng hòa bình.
Đời là chiến đấu, chiến đấu không ngừng không nghỉ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Thế thì đời còn gì là vui tươi, thanh thản nữa nhỉ? Không, nói đời là chiến đấu, không hề nói con người không còn lúc nào thanh thản để hưởng thụ những niềm hạnh phúc ở đời. Song song với chiến đấu, con người vẫn yêu nhau, vẫn ca hát, vẫn ngắm cảnh và hơn thế con người chiến đấu còn cảm thấy hạnh phúc hơn, hạnh phúc trong tình người, hạnh phúc trước thành quả của chiến đấu, trước ý nghĩa của cuộc sống mà chiến đấu đem lại cao. Các Mác nói: “Hạnh phúc là đấu tranh”. Câu nói không chỉ có nghĩa có đấu tranh mới giành được hạnh phúc mà còn có nghĩa trong đấu tranh, con người cảm thấy hạnh phúc, một hạnh phúc cao cả, lớn lao không gì so sánh được và trong cuộc đấu tranh bản thân cũng vậy. Khi ta đấu tranh bản thân thắng lợi thì một niềm hạnh phúc tự hào dâng lên tràn ngập tâm hồn như người chiến sĩ trong bài thơ Con cá chột nưa của Tố Hữu đã “cười đắc thắng” khi chiến thắng được sự dụ dỗ của “cái bụng” trong cuộc đấu tranh tuyệt thực quyết liệt trong nhà tù đế quốc.Xem thêm: Nghị luận xã hội - Thời trang nói gì Lớp trẻ chúng ta ngày nay sinh ra thì đất nước đã hòa bình… nhiều thành quả của cuộc sống đến với ta có vẻ dễ dàng nên nhiều người không có ý niệm “là người – là chiến sĩ”. Nên biết rằng những thành quả mà ta đang được hưởng cũng đã là do bao mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của nhân dân, của các thế hệ đã làm nên và đến lượt ta, ta lại phải phát huy những thành quả đó, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. muốn vậy, chúng ta phải ra sức học tập, rèn luyện, tích cực lao động sáng tạo, vượt khó, đấu tranh chông tiêu cực, công hiến nhiều nhất cho Tổ quốc và nhân dân nghĩa là phải chiến đấu. Cuộc chiến đấu ấy diễn ra trong tất cả các lĩnh vực mà ta chưa hình dung hết vì chúng ta chưa thực sự chiến đấu mà mới trang bị cho mình những “vũ khí” cần thiết của người chiến sĩ tương lai, đó jà kiến thức và ý chí. Nhưag có một cuộc chiến đấu mà ngay bây giờ đã và đang diễn ra quyết liệt trong bản than ta, đó là chiến đấu chông sự ngại khó, chổng tư tưởng hưởng thụ, ỷ lại, trung bình chủ nghĩa để vươn lên đạt kết quả cao trong học tập, itu dưỡng, rèn luyện. Hãy chiến thắng bản thân trong cuộc đấu tranh này để chiến thắng trong cuộc sống – cuộc chiến đấu – ngày mai.
Vanmau.edu.vn | Bình luận tư tưởng hàm chứa trong câu nói của Gớt_ “Tôi là người nghĩa là một kẻ chiến đấu” | 1,708 | |
Bình luận về chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Gợi ý
Có như là một thời, hai chữ lãng mạn thường gợi cho ta về một cái gì có hại, mang ý nghĩa tiêu cực, mềm yếu, không lành mạnh.v.v… Thực ra thì lãng mạn cũng có năm bảy đường. Lãng mạn như trong Tây Tiến của Quang Dũng là lãng mạn cách mạng, lãng mạn anh hùng. Nó làm cho đất nước thêm tráng lệ, kì vĩ, con người thêm sang trọng, hào hoa.
Có thể nói, cuộc sống tinh thần của mỗi con người hay cả một cộng đồng dân tộc sẽ nghèo nàn, cằn cỗi và nhàm chán biết bao nếu thiếu đi những ước mơ bay bổng, thiếu đi trí tưởng tượng phong phú, diệu kì… Lãng mạn hiểu theo nghĩa đúng đắn, chắp cánh cho những ước mơ, thúc giục con người hướng tới cái đẹp, cái cao cả và sự hoàn thiện mà hiện thực cuộc sống còn chưa đạt tới. Chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến chính là cảm hứng bay bổng của nhà thơ hướng tới vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của thiên nhiên và con người Tây Bắc. Vẻ đẹp ấy được cảm nhận từ một hiện thực gian khổ và đầy khốc liệt, khó khăn. Chính vì thế, chất lãng mạn của bài thơ càng đáng trân trọng, nâng niu. Nói đúng hơn, chính nhờ chất lãng mạn ấy mà người lính Tây Tiến có thể vượt qua được mọi vất và gian lao, mọi khó khăn thử thách. Chất lãng mạn trong Tây Tiến xuất hiện dường như để lấy lại "thăng bằng9 cho cảnh vật và tâm hồn của con người. Vì thế, bên cạnh một thiên nhiên hiểm trở, dữ dằn, những núi đá cheo leo, những cảnh rừng thiêng nước độc… ta lại thấy một thiên nhiên thơ mộng đến say người, một Tây Bắc đẹp như tranh thuỷ mặc. Nỗi nhớ Tây Tiến trong lòng nhà thơ cứ "chơi vơi" giữa hai gam màu ấy. Còn gì dữ dội và hiểm trở hơn những cành:
"Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Xem thêm: Bàn về thơ, nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: “Quy... nội tâm”. Còn nhà phê bình Nga Bi-ê-lin-xki cho rằng: “Bất... xã hội”. Anh (chị) suy nghi gì về những ý kiến trên. Chứng minh qua một hiện tượng thơ ca mà anh (chị) tâm đắc Heo hút cồn mây, súng ngửi trời…"
Còn gì hoang dại và âm u, rùng rợn hơn tiếng thác gào và tiếng cọp gầm:
"Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người"
Nhưng liền đó lại là những cành rất đỗi nên hoạ, nên thơ. Đó là chiều sương Mộc Châu, là "hòn lau" thấp thoáng "nẻo bến bờ", là dáng người mảnh mai, mềm mại trên chiếc thuyền độc mộc:
"Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"
Rõ ràng thiên nhiên Tây Bắc ở đây được cảm nhận với một vẻ độc đáo: vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa tươi tắn, thơ mộng. Mà không chỉ thiên nhiên, chất lãng mạn bay bổng còn thể hiện rõ khi tác giả khác hoạ chân dung người lính Tây Tiến hiện lên trên cái nền hùng vĩ và mỹ lệ ấy của núi rừng Tây Bắc. Vẫn là sự đối chọi để "cân bằng" giửa một bên là hiện thực khắc nghiệt., là cuộc sống đầy gian nan và lắm hy sinh mất mát. với một bên là cuộc sống tươi đẹp và đầy chất thơ. Này đây là những vất vả, gian lao của cuộc đời người lính Tây Tiến: "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi", "Anh bạn dãi dầu không bước nữa – Gục lên súng mũ bỏ quên đời" Hỉnh ảnh đoàn quân "không mọc tóc" với nước da "xanh màu lá" là kết quả của những trận sốt rét triền miên. Những nấm mồ nằm "rải rác" khắp "biên cương" và cảnh người lính ngã xuống không manh chiếu liệm.v.v… đủ nói lên tất cả gian khổ cùng cực của cuộc chiến đấu mà người lính phải gánh chịu. Nhưng nếu chỉ có thế, sức mạnh của hiện thực sẽ đè nát ý chí và tâm hồn người chiến sĩ. Chính cảm hứng lãng mạn đã truyền niềm tin đến những người lính Tây Tiến khiến các anh sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh". Trong cái gian khổ khắc nghiệt trên, bỗng thoảng hương cùa nếp xôi của những cô gái xứ Mai Châu. Ta nao nao, say người trong đêm lửa trại giữa "hội đuốc hoa", khi bắt gặp trong mơ hình ành "nàng e ấp" trong xiêm áo lộng lẫy và tiếng khèn man điệu hoang dại của núi rừng. Nhiều khi sự cân bằng, đối chọi giữa hai sắc màu – hiện thực và lãng mạn – thể hiện ngay trong từng câu thơ, từng đoan thơ. Vừa thấy rợn người, trên độ cao ngàn thước chênh vênh bên bờ vực thẳm "ngàn thước xuống" đã lại thấy lòng thanh thản ngắm nhìn qua cơn mưa thanh bình nhà ai đó thấp thoáng ở lưng núi Pha Luông. Vừa thấy hiện lên trước mắt hình ảnh: "Sài Khao sương lấp doàn quân mỏi" rất hiện thực, đã lại chuyển sang hình ảnh đầy chất thơ "Mường Lát hoa về trong đêm hơi". Câu thơ lung linh huyền ảo với hàng loạt thanh bằng (6/7) đã ảo hoá hiện thực. Người đọc chỉ cảm nhận được có một cái gỉ đó nhẹ nhàng, bâng khuâng, chơi vơi như nỗi nhớ, bảng lảng như sương chiều, xua tan đi cái mệt mỏi của đoàn quân. Cũng như thế ở câu trên ta vừa thấy sự uất hận của người lính Tây Tiến gửi vào hai chữ"/nổ/ trừng" thì ngay sau đó lại "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" (một câu thơ cũng phần lớn dùng thanh bằng (5/7). Tính chất lãng mạn của bài thơ còn thể hiện ở một phương diện khác. Đó là chất bi tráng. Dường như vẫn là một cặp đối chọi nhau. Bi mà không lụy, buồn đau mà hùng tráng, mất mát hy sinh mà vẫn lạc quan. Không bi sao được trước những gian nan đến ghê người, những cơn sốt rét, nước da xanh màu lá và tóc rụng không mọc lại được; không bi sao được trước những mất mát hy sinh "Rải rác biên cương mồ viễn xứ". Tuy nhiên bi mà không luy, bi mà hùng trảng, mạnh mẽ, "Quân xanh màu la mà vẫn "dữ oai hùm”. Ngay trong một dòng thơ, ta đã thấy rõ tính chất này: "áo bào thay chiếu anh về đất". Những gian khổ, thiếu thốn đến thế là cùng: chết không có chiếu để chôn Nhưng người lính cho dù là cái chết thê thảm nhất cũng không thể cướp đi được vẻ đẹp hào hùng oai phong và sang trọng trong tâm tưởng họ, nghĩ mình là những tráng sĩ thời xưa ngã xuống chiến trường trong áo bào đỏ thắm. Một câu thơ lãng mạn hoá cái chết. Một sự ra đi nhẹ nhàng, thanh thản, ung dung. Giọng thơ muốn hạ xuống cung bậc thấp nhất, phù hợp với nỗi tiếc thương. Nhưng hạ thấp là để mà cuối cùng vút lên bản nhạc dữ dội và hùng tráng: "Sông Mã gầm lên khúc độc hành". Những mất mát đau thương của con người như dồn nén, tích tụ trong tiếng gầm vang rung chuyển cả núi rừng của dòng sông Mã. Ai bảo lãng mạn như thế là tiêu cực, là yếu mềm? Thực chất, chính chất lãng mạn của bài thơ đã nâng được người đọc lên, vực dậy những người lính mệt mỏi đang "dãi dầu không bước nữa", xoá tan đi bao nhọc nhằn đau khổ, lãng quên đi bao nỗi hiểm nguy và lấy lại cân bằng trong tâm hồn người lính, giúp họ vững bước đi lên.. Chất lãng mạn ấy là sức mạnh và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh Chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến nói riêng và ở Quang Dũng nói chung thực ra cũng là chất người, là cá tính của nhà thơ – một thanh niên trí thức rất mực hào hoa và lãng mạn. Đã đành đó còn là chuyện của cái tài nữa, phải tài lắm mới có được những câu thơ như thế. Nhưng đúng như một nhà phê bình đã nói: "Xét đến cùng cũng chỉ có lòng chân thật tuyệt đối với cảnh, chân thật với người và nhất là với chính lòng mình mới có thể tạo ra được những câu thơ vừa giản dị, mộc mạc, vừa táo bạo, mới lạ như thế’. Có lẽ cái gốc lớn nhất của tài năng Quang Dũng là ở đó chăng? "Chân thật rất mực với lòng mình"
Vanmau.edu.vn | Bình luận về chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng | 1,520 | |
Bình luận về câu tục ngữ: “Chết trong còn hơn sống đục”
Gợi ý
Mỗi con người trên đời chỉ sống có một lần mà thôi, cuộc sống ấy có thể ví dài như dòng trường giang, mà cũng có thể ngắn ngủi như dòng thác đổ, lao xuống một chóc là ngừng lúc nào chẳng hay. Vì thế người ta chẳng lấy thời gian mà đo ý nghĩa cuộc sống con người. Ngược lại, ý nghĩa cuộc sống ấy cao đẹp và đáng giá ra sao, hoàn toàn phụ thuộc vào hành động của bản thân. Có người sống hàng chục năm, nhưng vì làm những việc phi nghĩa nên cứ sống mãi trong chui nhủi. Ngược lại có người đã ngừng nhịp tim ở tuổi hai mươi, nhưng được nhớ mãi nhờ những hành động cao đẹp của họ. Nhân dân ta từ xưa đã ý thức rất rõ về sự quan trọng của cách sống đôi với danh dự, với tiếng thơm của mình, vì vậy đã để lại cho hậu thế lời khuyên qua một câu tục ngữ quen thuộc “Chết trong còn hơn sống đục”.
Từ thuở còn nằm trên nôi, hẳn mỗi con người Việt Nam đã được nghe lời giảng giải ân cần của người bà, người mẹ về câu tục ngữ ấy, hoặc ít nhất, đã hiểu được một phần của lời dạy qua những bài hát ru, chẳng hạn như:
“Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”.
Xin mượn lời cầu khẩn chân thành của con cò — một biểu tượng cho người nông dân trong xã hội xưa, để một lần nữa lí giải cho câu tục ngữ. Sống đục là sống với những hành động bán rẻ nhân cách và lương tâm của mình, coi thường danh dự phẩm cách mỗi con người. Thuở trước đây, người ta phân biệt rạch ròi giữa trong và đục. Con người trung với đất nước, hiếu với cha mẹ, nhân từ với mọi người, tín nghĩa với bè bạn được coi là con người sống trong, nghĩa là bậc quân tử. Ngược lại, những kẻ bất trung phản loạn, bất hiếu với nghiêm từ đã dày công sinh dưỡng, vong ơn bội nghĩa với bạn bè hay người có ơn với mình, tất cả đều xem như sống đục. Kẻ ‘không biết làm ăn lương thiện, chỉ buôn gian bán lận, trộm cướp đạo tặc đều bị xã hội rẻ rúng coi thường, vì họ đã làm mất đi của chính mình cái cốt cách cao đẹp nhất của đạo làm người.
Ngược lại với coi thường sống đục, con người rất trân trọng và khâm phục những con người vì nghĩa lớn mà chết trong. Thời trước các bậc tiền nhân xem chết trong là những cái chết cho một mục tiêu cao đẹp hơn. Ca dao, văn thơ cũng vì thế mà xướng danh những con người có cái chết oanh liệt. Người bình dân tưởng như học thức ít ỏi, mà đã biết ngợi ca Lê Lai vì liều mình cứu chúa mà chết trong vòng vây của giặc, Trần Bình Trọng thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc, đó là những sự hi sinh ngời sáng lên chữ trung. Họ cũng ngợi ca những con người vì thương nhân dân sống trong cảnh bạo tàn của phong kiến mà đứng lên dấy nghĩa như “Ớ làng Minh Giám có vua Ba Vành" hay “Chiều chiều én lượn Truông Mây – Cảm thương chú Lía bị vây trong thành”. Ấy là những hi sinh làm sáng thêm chữ nghĩa. Cũng học từ đạo lí của nhân dân và một phần của Nho học mà cụ Đồ Chiểu đã sáng tác nên những án Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc hay Văn tế Trương Công Định làm xúc động lòng người. Thì ra quan niệm rạch ròi về chết trong và sống đục đã được ông bà ta khẳng định từ xưa, trở thành một trong những chuẩn mực sống tiêu biểu nhất cho người Việt Nam từ xưa đến nay.Xem thêm: Phân tích bài thơ Dục Thuý Sơn của Nguyễn Trãi. Và để tạo nên những con người có khí tiết, có phẩm chất, có đạo đức, biết đâu là trong đâu là đục mà sống; nhân dân ta đã mượn triết lí của đạo Nho, đạo Phật mà dạy cho con cháu. Những người bình dân không có học thức, cũng biết dùng ca dao tục ngữ mà giáo dục cho thế hệ sau. Những tấm gương về Trần Minh khô chuối, về Kiều Nguyệt Nga với cuộc đời sáng trong; những câu chuyện về Nguyễn Trãi chịu hàm oan, Trạng Trình từ quan cáo lão để gìn giữ thanh bạch đã bao nhiêu thế kỉ nuôi dưỡng tinh thần người Việt Nam. Vì thế dù thời thế có đổi thay nhưng không thời nào không có bậc trung thần nghĩa sĩ hay bậc quân tử vì nghĩa trong nhân dân. Thời Pháp mới đánh Bắc Kì, hai vị tổng đốc Hà thành là Nguyễn Trì Phương và Hoàng Diệu đều tuần tiết để khỏi rơi vào tay giặc. Chín năm kháng chiến chống Pháp, quân dân Hà Nội và các tỉnh miền Bắc đã tình nguyện đốt nhà ngăn giặc, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Đến thời chống Mĩ, gương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân vẫn còn sống mãi, dù các anh đã hi sinh trước họng súng của kẻ thù. Ta chợt cúi mình, các bậc cha anh của chúng ta cao thượng quá, trung nghĩa quá, sự ra đi của họ đã hóa thành bất tử trong mỗi thế hệ người Việt Nam đời sau, càng chứng minh cho chúng ta thấy cách sống trong sạch, nghĩa khí là quan trọng như thế nào đối với mỗi con người.
Nhưng ta bỗng giật mình, hình như thời đại ngày nay đã khác rồi so với ngày xưa. Chiến tranh khốc liệt đã trôi qua từ lâu, cuộc sống của con người càng ngày được cải thiện. Mà sao có những điều làm ta nhức nhôi quá. Đọc báo, ta thấy vẫn còn có những con người tham nhũng của nhân dân đến hàng chục tỉ đồng, để cho nhà cao không vững chãi, cầu đường hư hại, nỗi khổ đè lên bao nhiêu con người. Nghe đài, xem tin, ta thấy buồn thương cho nạn trộm cắp ngày càng tràn lan, bao nhiêu con người thuộc thế hệ trẻ, sức vóc dẻo dai sao không làm những công việc lương thiện, mà lại luồn lách “ăn đêm” như thế. Mắt thấy tai nghe, những biểu hiện sống đục không chỉ diễn ra ở một nơi, một ngành; mà nhan nhản nhiều nơi có một vài con sâu làm rầu nồi canh như vậy, làm cho khắp nơi, khắp ngành cũng phải nhón nháo. Chẳng phải vậy ư? Có người bán công thức bản quyền của công ti mình cho một đối thủ khác vì tiền, bỏ đi công sức của bao nhiêu người làm ra công trình ấy, đó chẳng phải là một thứ sống đục sao? Lắm người chạy quyền chạy chức cho những kẻ bất tài, chạy án cho những kẻ phạm pháp, đó lại chẳng phải là một thứ sống đục sao? Làm bằng giả, làm chúng chỉ giả, cho người thi đại học thuê… Còn quá nhiều thứ biểu hiện làm nhơ nhớp xã hội này, làm mất đi ý nghĩa và niềm tin của con người vào cuộc sống vốn dĩ rất tốt đẹp.Xem thêm: Phân tích giá trị của những từ Hán Việt.trong bài thơ Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan: "Tạo hoá gây chi cuộc hí trường... Cảnh đấy người đây luống đoạn trường."
Phải chăng thời đại ngày nay không cần đến chết trong, sống đục nữa. Phải chăng trong đục giờ chẳng còn ý nghĩa gì nữa, quan trọng chăng, chỉ còn lại quyền lợi cá nhân của mỗi con người?
Câu trả lời là không. Xin khẳng định một điều chắc chắn rằng: sống trong vẫn là cần thiết và được coi trọng, sống đục vẫn bị khinh bỉ và coi thường. Dù thời đại này hay thời đại nào tiến bộ hơn về sau, với những thay đổi hàng loạt trong cuộc sống, thì xã hội vẫn ngợi ca những hi sinh cho đất nước, cho nhân dân, cho những người xung quanh; sẵn sàng phê phán, lên án những kẻ vì quyền lợi cá nhân của mình bán rẻ lợi ích của bao nhiêu con người khác. Nghĩa là truyền thống từ xưa của nhân dân ta sẽ mãi tồn tại lâu dài dù cho vòng xoáy thời gian sẽ đổi thay tất cả.
Chúng ta có quyền tin tưởng điều đó, vì không phải trong xã hội chỉ toàn là những con người vị kỉ, vẫn còn bao nhiêu con người vị tha sẵn sàng công hiến cho đất nước, cho mọi người sức lực và tâm huyết của họ. Ta sẽ không nói về chết trong nữa, vì thời đại đã đổi thay. Thay vào đó ta sẽ nói về sống trong. Có những vị cán bộ đồng lương ít ỏi, nhưng ngày ngày trôi qua, họ tận tình làm việc vì dân, không mảy may nghĩ đến lợi ích riêng tư, càng không bao giờ làm những việc sai trái với pháp luật; vị cán bộ ấy chẳng phải là những điển hình cho việc sống trong trong thời đại ngày nay đấy sao? Có người cựu chiến binh đã từ chốì chức vụ cao trong chính quyền địa phương để về lại chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội, lòng không lo nghĩ đến sự nghiệp của bản thân mình, lại chẳng phải là một con người sống trong nữa sao? Người thầy giáo già suốt đời vì giáo dục, không làm điều gì vì cá nhân mà quên lợi ích của học sinh; người chiến sĩ biên cương tặng tuổi xuân cho những vùng núi và miền hải đảo; những nhà báo chân chính không sợ sự đe dọa của cường quyền, công khai viết bài tô’ cáo những hành vi tiêu cực trong xã hội… Tất cả đã hóa thành biểu tượng cho một lổỉ sống trong sạch, cao đẹp và ý nghĩa trong xã hội đang thay đổi từng ngày.
Hiểu được những nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của con người từ lúc trẻ là như vậy, ta phải hành động như thế nào để ta và những người thân trở thành những con người hữu tâm, biết sống sao cho đúng với phẩm cách, danh dự, lương tâm của mình. Từ thuở con cái mới sinh ra, hẳn vai trò to lớn nhất sẽ thuộc về cha mẹ trong gia đình. Thật buồn rằng ngày nay dường như còn ít người mẹ biết ru con, nếu không từ thuở nằm nôi chắc đứa bé cũng học được nhiều điều qua những lời ru ngọt ngào ấy. Ngược lại, nếu người mẹ nào vẫn còn những khả năng tuyệt vời là tiếng ru chân chất, lời kể chuyện thiết tha, chắc chắn sẽ làm nảy sinh trong lòng con mình những sự hướng thiện và lôi sống trong sách, giống như măng sinh ra vốn mọc thẳng vậy. Lớn lên, cha mẹ phải luôn là người gần gũi con và chia sẻ với con những điều xảy ra trong cuộc sống. Đặc biệt, người cha, người mẹ là những tấm gương sáng nhất để con noi theo. Xin đừng quá vùi đầu vào công việc, đừng chỉ nghĩ đến tiền bạc và những lợi ích nhỏ của riêng gia đình mình, bạn sẽ vô tình làm cho con học theo và trở thành một con người vị kỉ đấy.Xem thêm: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ là khát vọng về chiến thắng của công lí và chính nghĩa. Anh (chị) hãy phân tích để làm sáng tó nhận định trên Nhà trường có vai trò tiếp theo trong uôn nắn học sinh thành người có ích, trong đó vai trò của người thầy là cực kì quan trọng. Người thầy thanh bạch sẽ tạo ra nhiều thế hệ học sinh trong sạch, biết vì mọi người thậm chí quên bản thân mình và ngược lại. Ngày nay đang có phong trào chông bệnh thành tích trong giáo dục, tức là trị cái ung nhọt xấu nhất, trị cái lôi sống đục nhất của ngành giáo dục. Nếu phong trào ấy thành công, tin rằng tương lai sẽ có một thế hệ thanh niên trẻ vừa có tài năng đích thực vừa biết công hiến cho mọi người, chứ không chỉ làm việc vì đồng lương của minh thôi.
Xã hội là nhân tố thứ ba làm thay đổi nhận thức con người. Song môi trường xã hội không phải bao giờ cũng là lí tưởng. Vì thế lập trường của mỗi con người phải là quyết định trong mọi tình huống. Đừng vì người khác bảo ta là nguyên tắc, là bảo thủ mà thay đổi đi cách sống vốn là đúng đắn của mình. Hãy quan sát những hành động của người khác, suy nghĩ về lời nói của người khác nhưng không phải bao giờ cũng được nói theo họ, làm theo họ, Sống trong môi trường với nhiều người xung quanh, đừng để ảnh hưởng bởi những thói xấu của mọi người, nhưng cũng dừng cô’ chấp mà không nhìn thấy những điều tốt đẹp mà người khác đã tạo ra trước mắt mình. Phải sống hài hòa, biết quan sát, lắng nghe và suy nghĩ, như thế ta mới biết mình cần phải sống ra sao: thế nào là trong, thế nào là đục trong xã hội này. Xin một lần nữa nhắc lại về lẽ trong đục ở đời. sống trong là sống đúng theo phẩm cách, lương tâm của con người, là làm những việc có lợi cho mọi người, rộng ra là cho đất nước. sống đục là sống coi thường nhân cách con người, chỉ nghĩ đến mình, làm những việc sai trái có hại cho muôn người. Và hãy nhớ lấy câu tục ngữ như phương châm định hướng của người Việt Nam xưa nay: Chết trong còn hơn sống đục.
Hoa đẹp được người đời ca ngợi nhờ cả hương thơm chứ không chỉ nhờ cái hình thức. Cây đứng vững chãi qua trăm năm là nhờ cái gốc rễ vững vàng. Lòng người cũng như cây, cái trong sạch trong dạ phải vững bền như gốc rễ của loài cổ thụ, cái vị tha cao cả phải ngào ngạt, nồng nàn như hương hoa tỏa khắp muôn nơi. Người sống sẽ được xã hội coi trọng thế nào, khi mất đi liệu còn được danh thơm, tất cả phụ thuộc vào cách sống và những công hiến cho xã hội lúc sinh thời. Xin hãy ghi nhớ bài học về lẽ trong đục để tìm ra lối sống và hành động cho riêng bạn.
Vanmau.edu.vn | Bình luận về câu tục ngữ_ “Chết trong còn hơn sống đục” | 2,545 | |
Bình luận về danh và thực
Gợi ý
Danh và thực là hai khái niệm gắn liền với con người và xã hội. Đó cũng là hai phạm trù có môi quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau. Bàn về danh và thực, có rất nhiều vấn đề khiến chúng ta phải suy ngẫm.
Danh là tiếng tăm. Có người tiếng tăm lừng lẫy thiên hạ: nhưng phần lớn đều là tiểu tốt vô danh. Chữ danh thường đi kèm với các từ ngữ khác để có một nghĩa rộng hơn: danh giá, danh dự, tài danh, khoa danh, hữu danh, vô danh, thanh danh, công danh… Danh dự, vinh danh và giá trị của một người rát khó phân giải. Danh tiếng càng lớn thì địa vị càng cao; rất nhiều người nổi tiếng rồi nhờ danh tiếng ấy mà kiếm được nhiều tiền. Các “sao” hiện nay trên vũ trường, kịch trường, các minh tinh màn bạc hiện nay cho ta rõ sự thật đó.
Danh luôn gắn với tài và đức. Có thực tài mới có thực danh. Có đức, có tài mới có danh. Chế độ khoa cử ngày xưa là để chọn nhân tài; những ông trạng, ông nghè là những người tài danh, có thực danh. Thời kháng chiến, trong nhân dân đã xuất hiện bao anh hùng. Đó là những tài danh đã đem xương máu lập nên bao chiến công, tô thắm lá cờ Tổ quốc thêm đỏ chói. Thành ngữ “hữu danh vô thực” là sự đánh giá về “cái tài” và “cái thực” của một loại người nào đó trong xã hội. Những “giáo sư rởm”, “tiến sĩ rởm”, “chuyên gia rởm” nhan nhản trong xã hội ta hiện nay đã làm cho mọi người hiểu rõ, hiểu sâu hơn thành ngữ “hữu danh vô thực”. Loại cán bộ tham nhũng hiện nay, dù “cái danh” có cao chót vót tầng mây, dù có đi xe hơi, ở nhà lầu, ăn sơn hào hải vị, thực chất chỉ là loại sâu mọt, bị nhân dân khinh bỉ, bị đồng loại căm ghét.
Danh không phải là một thứ, một giá trị bất biến. Có bậc tài danh nhưng sinh bất phùng thời nên đã mai danh ẩn tích. Có người đã thoái quan vi sư. Có người đã lấy “trăng thanh gió mát làm bầu bạn”. Nguyễn Trãi đã có lúc phải lui về Côn Sơn, lấy suối làm đàn cầm, lấy đá, rêu làm chiếu, lây thông, trúc làm bóng mát, để “ngâm thơ nhàn”. Văn vương phải đến bờ sông Vị Thủy để mời Lã Vọng về triều làm Thái sư; Lưu bị phải “tam cổ thảo lư” để mời cho kì được Khổng Minh làm quân sư.. Đó là chuyện ngày xưa ở bên Tàu. Còn ở ta, sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã ân cần, đã trân trọng mời nhiều vị nhân sĩ như cụ Huỳnh Thúc Kháng ra gánh vác việc nước.Xem thêm: Bàn về vai trò, tác dụng của thơ ca đối với cuộc sống con người Cũng như hương sắc của hoa, danh có thể sớm nở chiều tàn. Trần Đăng Khoa nổi danh tài thơ từ lúc 7-8 tuổi. Sau Góc sân và khoảng trời, vườn thơ của đứa con họ Trần đã nhạt nhòa ánh trăng. Sau cái vụ “Giá – Lương – Tiền” trong thập kỉ 80 thế kỉ XX ở nước ta, “cái danh” của một nhà thơ lớn đã bị sứt mẻ. Nhiều người vẫn nhắc lại câu ca dao châm biếm thời hãi hùng đó!
Thời Đông Tấn bên Tàu (thế kỉ IV), Đào Uyên Minh chỉ nổi danh là kẻ sĩ cao khiết: treo áo mũ từ quan về quê cày ruộng, ương cúc, uống rượu, làm thơ. Khi ông mất, Nhan Điền là bạn tri kỉ của ông, một thi bá thuở ấy, trong văn tế truy điệu chỉ ngợi ca danh tiết cao quý của Đào Uyên Minh, không có cầu nào nói về thơ của bạn. Nhưng từ mấy thế kỉ nay, người ta đáp hết lời ngợi ca phong cách thơ giản dị, sâu sắc của thi sĩ họ Đào, xếp ông ngang hàng với Khuất Nguyên, Lí Bạch, Đỗ Phủ… những đại thi hào của Trung Quốc thời cổ đại.
Như trăng, sao có khi tỏ khi mờ, cái danh của các nhân tài, hiền tài cũng vậy. Nhân tài, hiền tài là vốn quý của quốc gia. cần được vun trồng, ưu ái. Có vua sáng mới có tôi hiền, mới có thịnh trị. Hôn quân bạo chúa coi nhân tài như cỏ rác. Thuở “bình ngô”, Nguyễn Trãi mới có thể phát huy tài năng, “viết hư, thảo hịch tài giỏi hơn hết một thài”, nhưng năm 1442, Nguyễn Trãi đã chết thảm khóc trong vụ án Lệ Chi Viên!Xem thêm: Phân tích nghệ thuật lập luận kết hợp với biểu cảm của trong bài Tựa “Trích diễm thi tập"
Thời Nam Tông, Tể tướng Tần Cối đã dùng 12 kim bài để sát hại Nhạc Phi, một vị Trung Thần, một vị danh tướng. Ai đã từng nhìn tận mắt tượng Tần Cối mới hiểu thế nào là ô danh; mới thấy rõ kẻ phản bội để lại tiếng nhơ muôn đời.
Trong kháng chiến chống Pháp và chốhg Mĩ, các nhà trí thức lớn như Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Lương Đình Của., đã phát huy cao độ lòng yêu nước, đem tài năng hiến dâng đất nước và nhân dân. Họ đã gặp cụ Hồ, đã được cụ Hồ giao phó trọng trách và đãi ngộ, làm nên bao sự tích to lớn, đúng là “rồng gặp mây”. Nếu coi trí thức là “cục phân” thì sẽ gây ra bao bi kịch, bao tổn thất to lớn cho xã hội. Đó là một sự thật đau đớn! Nhân tài phải được trọng dụng để phát huy. Cái thói đố kị tài năng thường dễ xảy ra, nhất là những nơi mất đoàn kết nội bộ, bị bọn cơ hội thao túng.
Vì danh và mệnh trong con mắt người đời có giá trị ngang nhau, cho nên nhiều người vì hám danh mà không từ bất cứ một thủ đoạn nào: chạy chức, chạy quyền, chạy khen thưởng, mua bán bằng cấp, mua quan bán tước… Có người vì hư danh mà “làm láo báo cáo hay’’, vì hư danh mà đánh mất chính bản thân mình, như tục ngữ đã nói: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng".
Có tài mói có danh. Có danh mới có quyền thế, bổng lộc. Có thực tài mới có thực danh. Kẻ sĩ chân chính xưa nay đều là người đức trọng tài cao, nêu gương sáng về tu nhân tích đức, sống cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng vì nước vì dân. Tên tuổi họ, công đức họ để lại tiếng thơm muôn đời mai sau.
Trái lại, có kẻ hữu danh vô thực. Cũng bằng cấp đấy, cũng chức trọng quyền cao đấy, nhưng lại là hạng người vô tích sự. Thời nào cũng vậy, sự coi trọng hư danh đã làm nảy sinh tính giả tạo. Không hề ra trận đánh giặc mà có thẻ thương binh. Chẳng có công trạng gì, thành tích gì mà có huân chương treo lủng lẳng đầy ngực. Thích khoe học vị, học hàm ầm ỉ. Vì danh luôn luôn đi liền với lợi; danh lợi là cái bả. Có kẻ chìm đắm trong vòng danh lợi mà thân bại danh liệt. Nhà thơ Tú Xương trong bài Chúc Tết đã châm biếm:Xem thêm: Cảm nghĩ của anh (chị) về đoạn thơ: "Bỗng nhận ra hương Ổi .../ Phả vào trong gió se/ Sương chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về." (Sang thu - Hữu Thỉnh)Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang,
Đứa thì mua tước, đứa mua quan
Phen này, ông quyết định đi buôn lọng.
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng!
Thật buồn cười mà đau lòng. Có đứa con bất hiếu nhưng khi cha mẹ qua đời lại khóc lóc thảm thiết, tổ chức ma chay om sòm, kèn trống ầm ĩ. Lại có ả đàn bà dâm đãng nhưng trước mặt chồng lại tỏ ra chính chuyên.
Cổ nhân có nói: “Danh chỉ vu thục’’. Qua đó, muốn nhắc nhở mọi người phải coi trọng tài danh, thực danh, thanh danh, công danh… và đừng vì hám danh, háo danh mà làm méo mó nhân cách, mà đánh mất bản tính của mình.
Ở đời, ai cũng muốn có nhiều tài năng để mưu sinh, để thi thố công danh với thiên hạ. Có tài năng bẩm sinh, nhưng tất cả đều phải học tập và rèn luyện, trải qua nhiều gian khổ, bền bỉ để “mài sắt nên kim”. Phải khiêm tôn học hỏi, chớ tự kiêu tự đại, mà bông hoa tài năng sớm lụi tàn!
Tài năng chỉ có thể phát huy rực rỡ trên tâm đức. Tâm đức càng sáng, càng trong thì tài năng mới nở rộ. Đức trọng tài cao là cốt cách kẻ sĩ, bất cứ thời nào cũng thế.
Nghĩ về danh và thực, lúc nào tôi cũng nghĩ và nhớ tới hai câu thơ của ức Trai trong Quốc âm thi tập:
Mấy kẻ công danh nhàn lẵng đẵng,
Mồ hoang cỏ lục thấy ai đâu!
(Bài số 10)
Vanmau.edu.vn | Bình luận về danh và thực | 1,571 | |
Bình luận về gương, noi gương và nêu gương
Gợi ý
Gương là một vật dụng, một đồ dùng mà hầu như gia đình nào cũng có, người con gái nào cũng có. Soi gương để điểm trang, để tự ngắm nghía, tự kiểm tra mặt mũi của bản thân hằng ngày. Soi gương trước lúc đi học, đi làm là một thói quen đẹp, một nếp sống đẹp.
Cô thôn nữ soi gương xuống mặt giếng khơi. Chàng trai thợ mộc Thanh Hoa, mài lưỡi rìu, lưỡi bào… để ngắm vuốt. Các tráng sĩ thời xưa vừa mài gươm dưới bóng trăng, vừa ngắm hàm râu én, mày ngài… Ngày nay, trong các siêu thị có bày bán đủ loại gương soi đủ dáng hình kích cỡ… thật đẹp, làm hài lòng các “nữ thượng đế”.
Nói đến gương, ta nghĩ ngay đến nghĩa bóng, đó là tấm gương tinh thần, tấm gương cuộc đời. Cha mẹ sống cần kiệm, hiền lành… làm gương cho con cái. Anh chị hiếu thảo, chăm học, chăm làm… làm gương cho các em. Thầy, cô giáo dạy giỏi, chăm sóc thương yêu học trò, nêu cao gương sáng trong nhà trường. Những tấm gương của các anh hùng liệt sĩ sáng mãi ngàn thu: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Cán bộ phải “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”, phải là “công bộc của dân”. Việc học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay là để cán bộ, đảng viên, thanh niên… trở thành những tấm gương sáng trong xã hội.Xem thêm: Hãy chọn và tóm tắt một văn bản sử thi, truyền thuyết hay cổ tích trong sách giáo khoa
Đã có gương sáng tất có gương mờ. Có không ít huynh trưởng hoen ố tâm hồn. Có không ít đảng viên, cán bộ tha hóa về đạo đức, tham ô, đục khoét… trương ra bộ mặt hoen ố, nhân cách méo mó… Đó là những gương xấu, để lại tiếng dơ, bị nhân dân khinh bỉ.
Gương mắt là điều nên biết. Mắt là cửa sổ tâm hồn. Mắt là tấm gương để nhìn nhận, phân biệt trắng/đen; tròn/méo; tốt/xấu; nhân nghĩa/ bất nhân bất nghĩa; trung thành/ phản trắc; cần cù/ lười nhác; thật thà/ gian dối…
Nhà thơ mù đất Đồng Nai – Nguyễn Đình Chiểu – trong thế kỉ XIX có nhiều câu thơ nói về mắt, về đạo (làm người), và gương mắt, ai được đọc qua một lần là nhớ mãi:
– Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương.
Sau trời thúc quý tan mây,
sống trong biển lặng mắt thầy sáng ra.
Bao giờ nhật nguyệt vầy gương sáng,
Bốn biển âu ca hiệp một nhà.
(Ngư tiều y thuật vấn đáp)
Tố Hữu dùng hình ảnh “gương vỡ lại lành" và “Cây khô đâm cành nở hoa” để nói về sự hồi sinh, phục hưng:
Đài ta gương vở lại lành,
Cây khô cây lại đâm cành nở hoa.
(30 năm đời ta có Đảng)
Ai cũng có đôi mắt để nhìn, để quan sát, phải biết nhìn cho tinh tường mọi sự vật, đừng có “nhìn gà hóa cáo!”. Biết sống đẹp, nghĩa là biết noi gương và nêu gương (gương sáng).Xem thêm: Đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa người với ngườiVanmau.edu.vn | Bình luận về gương, noi gương và nêu gương | 567 | |
Bình luận về nhân vật A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài
Gợi ý
"Vợ chồng A Phủ" là một trong ba truyện ngắn của tập "Truyện Tây Bắc" của nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1953. Truyện kể về hai chặng đường đời của Mị và A Phủ những ngày ở Hồng Ngài trong nhà thống lý Pá Tra và sau khi sang Phiềng Sa nên vợ nên chồng, gặp gỡ Cách mạng và trở thành chiến sĩ du kích. Trong đó, A Phủ là một nhân vật gây ấn tượng khá sâu sắc.
Tác giả cho A Phủ xuất hiện khá đột ngột trong một hoàn cảnh đánh nhau với A Sử, bị bắt, bị đánh đập tàn nhẫn ở nhà thống lý Pá Tra, rồi mới kể về lai lịch của nhân vật. Đó là một người nghèo khổ đã mất hết cả mẹ cha và anh em trong một trận đậu mùa khủng khiếp đã phải sống kiếp bơ vơ khi còn rất nhỏ và "người làng đói bụng đã bắt A Phủ đưa xuồng bán đổi lấy thóc của người Thái ở dưới cánh đồng". Không cam chịu cuộc sống khôn khổ, mới 10 tuổi đầu A Phủ đã tự khẳng định tính cách gan góc: một mình kiếm sống, học hỏi đủ thứ nghề "biết đúc lưỡi cày lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo". Khi lớn lên, A Phủ chẳng những hiền lành, lao động giỏi mà còn có sức khoẻ hơn người. "Công việc làm hay đi săn, cái gì cũng làm phăng phăng", "A Phủ chạy nhanh như ngựa". Vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt, A Phủ vấn sống một đời sống tâm hồn phóng khoáng, hồn nhiên, yêu đời, yêu chính nghĩa, tự tin của tuổi trẻ. "Đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù chẳng có quần áo mới như nhiều trai làng khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng trên cổ. A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn con quay và quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong rừng". Vì vậy, A Phủ trở thành niềm mơ ước của biết bao cô gái Mèo. Họ kháo với nhau "Đứa nào được A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu". Tuy vậy với tập tục khắc nghiệt của xã hội phong kiến miền núi đương thời. A Phủ chẳng những bị khinh thường mà thực tế cũng chẳng bao giờ anh kiếm đủ tiền đề làm nhà và cưới vợ.Xem thêm: Suy nghĩ của anh chị về vấn đề: Việt Nam và con đường phát triển khoa học công nghệ
Đau khổ hơn, A Phủ là đứa con của núi rừng tự do mà vẫn không sao thoát khỏi kiếp sống nô lệ. Sự việc xảy ra vào đêm hội mùa xuân. A Phủ dám đánh lại con nhà quan phá đám chơi "Chạy vụt ra, vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kẹp dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp". Hành động dữ dội đó của A Phủ có nguyên cớ sâu xa từ mối hận thù giai cấp. Sau đó, bị tay chân nhà Pá Tra đánh đập rất dã man, A Phủ đã chứng tỏ mình là con người bất khuất, cứng rắn gan dạ. A Phủ không hề khóc lóc van xin trái lại "A Phủ quỳ, chịu đòn, chỉ im như tượng đá". Cuối cùng trong cảnh xử kiện quái gở khi kẻ phát đơn kiện cũng là người ngồi ghế quan toà, A Phủ đã bị Pá Tra buộc làm nô lệ không công suô’t đời để trừ nợ. Đó là kiếp sống bị khinh rẻ, bị ngược đãi và phải gánh vác những công việc nặng nhọc, nguy hiểm nhất như "cày ruộng, cuốc nương và săn bò tót, bẫy hổ, chăn ngựa quanh năm một thân một mình rong ruổi ngoài gò bãi, nương rừng".
Tính mạng của A Phủ sống hay chết cũng được quyết định bởi bàn tạy tàn bạo của thống lý Pá Tra. Chỉ vì để hổ bắt mất bò, A Phủ đã bị đánh, bị trói vào cọc "bằng dây mây quấn từ chân lên vai". Và nếu bọn A Sử không bắt được hổ về thì chắc chắn A Phủ sẽ phải chết "chết đau, chết đói, chết rét"- Như Mị từng chứng kiến những cảnh tương tự.Xem thêm: Nghị luận xã hội về môn lịch sử- Văn 12 Tuy vậy, với tình yêu cuộc sống mãnh liệt, bản chất gan góc, bất khuất, sẵn có, A Phủ không cam chịu chết mà tìm mọi cách tự giải thoát: "Đêm đến, A Phủ cúi xuống, nhay đứt hai đầu dây, nhích dần dây trói một bên tay". Và với sự trợ giúp của Mỵ, A Phủ đã được tự do. Hai người trốn khỏi Hồng Ngài, tới khù du kích ở Phiềng Sa, gặp cán bộ A Châu. A Phủ và Mị lần lượt trở thành chiến sĩ du kích, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn cuộc đời mình, giải phóng bản làng quê hương, từ đấu tranh tự phát, A Phủ và Mị đã tiến dần đến cuộc đấu tranh tự giác.
Cùng với Mỵ, cuộc đời và tính cách của A Phủ có ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và phẩm chất của người dân vùng cao Tây Bắc. Từ trong bóng tốì của cuộc đời đầy đau khổ, tủi nhục, họ đã vươn tới ánh sáng rực rỡ của nhân phẩm và tự do, ánh sáng của Cách mạng. Đấy cũng là giá trị nhân đạo, mới mẻ sâu sắc của tác phẩm giàu chất thơ này.
Vanmau.edu.vn | Bình luận về nhân vật A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài | 984 | |
Bình luận về nỗi lo và sự rèn luyện, tu dưỡng
Gợi ý
Không lo là không có địa vị mà chỉ lo là mình không có tài năng; không lo là không ai biết, ai hiểu mình mà chỉ lo tài đức mình không nổi trội, nên chẳng ai đoái hoài đến.
Điều quan trọng của mọi người là phải không ngừng rèn đức luyện tài, nâng cao bản lĩnh sống. A dua, đua đòi, khinh bạc, khoe khoang sao được!
Tri thức, học vấn, trình độ, nhân cách bản lĩnh., đều do học tập, rèn luyện, tu dưỡng mà có. Mọi sự khen, chê đều căn cứ vào tốt/ xấu; thiện/ ác…
Cho nên sự rèn luyện và tu dưỡng là bài học muôn thuở cho bất cứ ai.
Con đốì với cha mẹ phải hiếu thảo, vợ chồng phải thủy chung, bạn hữu phải sắt son tình nghĩa; đối với Tổ quốc và dân tộc phải trung, đôi với mọi người phải nhân ái. Trung hiếu, nhân ái, thủy chung… tuy mỗi thời kì có màu sắc khác nhau, nhưng tất cả đều thể hiện tâm hồn Việt Nam, tính cách Việt Nam, đạo lí của dân tộc ta qua hàng ngàn năm giữ nước và dựng nước. Bất cứ con người Việt Nam nào dù trẻ hay già, dù địa vị nào, Việt kiều sinh sốhg ở nơi xa hay đồng bào trên mọi miền quê đất nước đều phải tu dưỡng, rèn luyện, phải sống đẹp theo chuẩn mực ấy.Xem thêm: Tuổi trẻ học đường trước vấn đề tai nạn giao thông. (Yêu cẩu viết bài văn) Đọc Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, ta rơi lệ trước thảm họa của dân tộc dưới ách thông trị của quân “cuồng Minh”-, ta “lo” nỗi lo, ta “giận” trước nỗi giận của Lê Lợi và các nghĩa sĩ Lam Sơn thuở “bình Ngô”.
Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống.
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời,
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Từ xưa đến nay, bất cứ người nào cũng cần phải rèn luyện, tu dưỡng. “Bác học cũng phải học”, phải đọc sách thầu canh, phải làm thí nghiệm suốt đêm này qua đêm khác; nhà lai tạo giống cùng nông dân một nắng hai sương qua nhiều ngày tháng mới sáng tạo ra giông lúa mới giàu năng suất. Sĩ tử xưa nay đều phải “thập niên đăng hỏa”, phải “dùi mài kinh sử” mới nên ông Nghè, ông Công, mới ghi tên vào bảng vàng, mới chiếm được một chỗ ngồi sang trọng trong các trường đại học.
Mọi thành công ở đời đều có giá; cái giá của mồ hôi, nước mắt và máu; cái giá của sự rèn luyện, tu dưỡng lâu dài, gian khổ.
Mài sắt mới nên kim. Ngọc càng mài càng sáng; vàng càng luyện càng trong. Đó là chân lí, là bài học về sự rèn luyện tu dưỡng.
Thế hệ trẻ phải sống có chí hướng, có lí tưởng, phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, học vấn, tài năng để bước vào đời phục vụ Tổ quốc, và ngẩng cao đầu trước thiên hạ.Xem thêm: Tả cái đồng hồ báo thức của emVanmau.edu.vn | Bình luận về nỗi lo và sự rèn luyện, tu dưỡng | 541 | |
Bình luận về sức thuyết phục của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Tuyên ngôn độc lập là một tác phẩm hàm chứa nhiều giá trị. Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, giá trị nào của tác phẩm này cũng thật sâu sắc.
Về mặt thể loại văn học, Tuyên Ngôn Độc Lập là một áng văn chính luân hào hùng, mẫu mực, đáng lưu truyền muôn thuở. Một trong những nét nổi bật của bản Tuyên Ngôn Độc Lập là sự lập luận sắc sảo, chặt chẽ tạo nên một sức thuyết phục rất lớn. Xuất phát từ quan điểm sáng tác và đặc trưng thể loại của tác phẩm này, chúng ta sẽ thấy được cội nguồn của sức thuyết phục ấy.
Như mọi người đếu biết, Tuyên Ngôn Độc Lập là một tác phẩm chính luận. Văn chính luận thuyết phục người ta bằng những lý lẽ, nếu đánh địch thì cũng đánh địch bằng những lý lẽ. Sức mạnh của nó là ở những lý lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không aỉ chối cãi được. Văn chính luận nếu có dùng đến hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm cho sự thuyết phục bằng lý lẽ mà thôi. Chúng ta sẽ nói đến cái hay, cái tài của Tuyên Ngôn Độc Lập theo quan niệm đó. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập viết cho ai? Câu hởi đặt ra có vẻ như thừa. Bời vì lời giài đáp đã có sẵn trong văn bản:
"Hỡi đồng bào cả nước!… ”Chúng tôi (…) trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng". Như vậy là Bác viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới chứ còn cho ai nữa. Còn viết để làm gì, thì viết để Tuyên ngôn độc lập chứ còn có mục đích nào khác?
Thực ra vấn dề không hẳn chỉ có thế. Nếu chỉ viết cho đồng bào và thế giới chung chung thì chắc Người không phải dùng đến lắm lý lẽ như vậy. Và chưa hẳn đã cần phải mở đầu bằng những câu trích trong hai bản Tuyên ngôn độc lập và Tuyên Ngôn nhân quyền và dân quyền của Mỹ và Pháp từ thế kỷ XVIII. Vậy đối tượng và mục đích của văn kiện lịch sử này phải được tìm hiểu cận kẽ hơn nữa. Cần thấy rằng khi Bác Hồ đọc bản Tuyên Ngôn thì ở miền Nam, thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh (thay mặt quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương, còn ở phía Bắc thì bọn Tàu Tưởng, tay sai của đế quốc Mỹ, đã trực sẵn ở biên giới Người viết bản Tuyên Ngôn cũng thừa hiểu rằng "mâu thuẫn giữa Anh – Mỹ – Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mỹ nhân nhượng lời Phen va để cho Pháp trở lại Đòng Dương" (Nhận định của Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 15-8-1945 – Ban Nghiên cứu lịch sứ Đảng. 1970) Và bọn thực dân này, để chuẩn bị cho cuộc xâm lược thứ hai của mình đã tung ra trong dư luận quốc tế những lí lẽ "hùng hồn" của bọn ăn cướp. Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp. Pháp có công khai hoá đất nước này, nay trở lại là lẽ đương nhiên, khi phát xít Nhật đã bị Đồng minh đánh bại. Như vậy là bản Tuyên Ngôn không chỉ đọc trước đồng bào và một thế giới trừu tượng, cũng không phải chi để tuyên bố độc lập một cách đơn giản. Đối tượng thế giới ở dây trước hết là bọn đế quốc Mỹ, Anh, Pháp. Và sự khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc ở đây đồng thời là một cuộc tranh luận nhằm bác bỏ lý lẽ của bọn xâm lược trước dư luận thế giới. Trong tranh luận, để bác bỏ luận điệu của một đối thủ nào đấy, không gì thú vị và đích đáng hơn là dùng chính lí lẽ của đối thủ ấy. Người ta gọi thế là "lấy gậy ông đập lưng ông".Xem thêm: Em hãy viết đơn xin được cấp thẻ đọc sách trong thư viện của trường hoặc xã (phường) Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính lời lẽ của tổ tiên người Mỹ, người Pháp đã ghi trong hai bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Tuyên Ngôn Nhân quyền và Dân quyền từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hoá của những dân tộc ấy. Cách nói, cách viết như thế là vừa khéo léo, vừa kiên quyết Khéo léo vì nó tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mỹ. Kiên quyết vì nhác nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mỹ, nếu nhát định tiến quân xâm lược Việt Nam.
Ngoài ra mở đầu bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại của hai nước lớn như thế, thì cũng có nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang bằng nhau, ba nền độc lập ngang bằng nhau, ba bản Tuyên Ngôn ngang bằng nhau. Một cách kín đáo hơn, bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh dường như muốn gợi lại niềm tự hào của tác giả bài Binh Ngô đại cáo ngày xưa, khi mở đẩu tác phẩm bằng hai vế cân xứng như để đặt ngang hàng triều Đinh, Lê, Lý, Trần của Nam quốc với Hán, Đường, Tống, Nguyên của Bắc quốc.
Mà đăng đối cân xứng cũng là phải, vì cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thực ra đã giái quyết đúng những nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mỹ (1776) và của Pháp (1789). Bản Tuyên Ngôn đã nêu rõ: "Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay đã gây dụng nên nước Việt Nam độc lập". Đó cũng là yêu cầu đặt ra cho cuộc cách mạng của nước Mỹ: đấu tranh giải phòng các dân tộc thuộc địa Bắc Mỹ ra khỏi ách thực dân Anh. Bản Tuyên Ngôn cũng viết: "Dân ta lại đánh dổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỳ mà lặp nên chế độ dân chủ cộng hoà". Đấy cũng là tinh thần cơ bản của cuộc cách mạng nhân quyền và dân quyền của Pháp thế kỷ XVIII
Nhưng để đối thoại với bọn đế quốc xâm lược lúc bấy giờ, vấn đề hàng đẩu là vấn đề độc lập dân tộc. Điều đó giải thích vì sao bản Tuyên Ngôn Độc Lập đã mở đầu như thế: "Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyên không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới, sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".
Ý kiến "suy rộng ra” ấy quả là một đóng góp đẩy ý nghĩa cử Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Một nhà văn hoá nước ngoài đã viết: "Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình. (Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới – NXB Sự thật. HN. 1979).Xem thêm: Nếu em là Minh Long, em viết một đoạn văn ngắn nói về mình như thế nào? Vậy thì có thể xem cái luận điểm "suy rộng ra" kia là phát sứng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỷ XX?
Nhưng kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đe doạ nền độc lập của dân tộc khi bàn Tuyên Ngôn ra đời là bọn xâm lược Pháp. Đẩy lùi nguy cơ ấy phải là cuộc chiến đấu vũ trang lâu dài của toàn dân Nhưng cuộc chiến đấu ấy rất cần đến sự đồng tình và ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Muốn vậy phải xác lập cơ sở pháp lý của cuộc kháng chiến, phải nêu cao chính nghĩa của ta và đập tan luận điệu xảo trá của bọn thực dân muốn "hợp pháp hoá" cuộc xâm lược của chúmg trước dư luận quốc tế. Bản Tuyên Ngôn đã giải quyết được yêu cầu ấy bằng một hệ thống lập luận hết sức chặt chẽ và danh thép
Thực dân Pháp muốn khoe khoang công lao khai hoá của chúng đối với Đông Dương ư? Thì bản Tuyên Ngôn đã vạch trần những hành động trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa của chúng trong 80 nam thống trị nước ta: thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, chia rẽ ba kỳ, tắm máu các phong trào yêu nước và cách mạng, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc bằng thuốc phiện rượu cồn. bóc lột vơ vét đến tận xương tuỷ, cuối cùng gây ra nạn đói khiến "từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ hơn hai mươi triệu đồng bào ta bị chết đói”. Thực dân Pháp muốn kể công "bảo hộ" Đông Dương ư? Thì bàn Tuyên Ngôn đă chỉ rõ đó không phải là công mà là tội vì "trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật".
Thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của chúng và chúng có quyền trở lại Đông Dương ư? Nhưng Đông Dương có còn là thuộc địa của chúng nữa đâu? Bản Tuyên Ngôn vạch rõ: "Sự thật là từ mùa thu năm 1940. nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng Minh thi nhân dân có nước ta đã nổi dậy giành chính quyên lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp". Luận điểm này, đứng về ý nghĩa pháp lý cực kỳ quan trọng. Nó sẽ dẫn tới lời tuyên bố tiếp theo của bản Tuyên Ngôn: "Bởi thế cho nên chúng tôi lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam tuyên bố thoát ly hằn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam. Xoá bỏ mọi đặc quyền của pháp trên Đất nước Việt Nam". Sức mạnh của chính nghĩa bao giờ cũng đồng thời là sức mạnh của sự thật. Và không có lý lẽ nào có sức thuyết phục cao hơn là lý lẽ của sự thật. Vì thế Người viết Tuyên ngôn luôn luôn láy đi láy lại hai chữ "sự thật": "Sự thật là…" "sự thật là…" Và cuối cùng thì nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đà thành một nước tự do độc lập"… Đấy là những điệp khúc tiếp nối nhau tăng thêm âm hưởng hùng biện của bản Tuyên Ngôn. Đấy là hệ thống lý lẽ bác bỏ luận điệu của bọn đế quốc, thực dân. Còn đối với dân tộc Việt Nam? Dân tộc ta có xứng đáng được hưởng độc lập tự do hay không, có đủ tư cách làm chủ đất nước mình hay không? Bản Tuyên Ngôn đã đưa ra những lý lẽ không phải để bác bỏ mà để khẳng định:Xem thêm: Giới thiệu sơ lược về Lỗ Tấn và truyện ngắn ThuốcNếu thực dân Pháp có tội phản bội Đồng Minh, hai lần bán rẻ Đông Dương cho Nhật., thì dân tộc Việt Nam đại diện là Việt Minh đã đứng lên chống Nhật cứu nước và cuối cùng giành chủ quyền từ tay phát xít Nhật.
Nếu thực dân Pháp bộc lộ tính chất đê hèn, tàn bạo và phản động của chúng ở hành động "Thẳng tay khủng bố Việt Minh, thậm chí khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết một số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng" thì nhân dân ta vẫn giữ thái độ khoan hồng và nhân đạo ngay đối với kẻ thù đã thất thế: "Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy quo biên thuỳ, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam của Nhật và bảo vệ tính mạng, tài sản của họ” Một dân tộc phải chịu biết bao đau khổ dưới ách thực dân tàn bạo, đã anh dũng chiến đấu cho độc lập tự do, đã đứng hẳn vể phe Đồng Minh chống phát xít, đã nêu cao tinh thần nhân đạo, bác ái như thế. "Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập"…
Tinh thần khẳng định trong lời kết luận, còn được tăng cấp lên một bậc nữa: hưởng độc lập tự do không chỉ là một cái quyền phải có, không phải chỉ là một tư cách cần có, mà đó là một hiện thực: "Nước Việt Nam có quyền hường tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập". Và vì thế “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy"
Người ta gọi bài Bình Ngô đại cáo là "Thiên cổ hùng văn". Cũng có thể nói như thế đối với bàn Tuyên Ngôn Độc Lập cụa Chủ tịch Hồ Chi Minh. Tất nhiên bản Tuyên Ngôn ra đời không còn ở thời kỳ văn học nguyên hợp, văn sử bất phân nữa để người viết đưa vào những hình tượng hào hùng, tầng tầng lớp lớp như bài Cáo của người xưa. Ngày nay, văn chính luận là văn chính luận. Tài nghệ ở đây là dàn dựng được một lập luận chặt chẽ, đưa ra được những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được. Và đằng sau những lý lê ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hoá lớn đã tổng kết được trong một bàn Tuyên ngôn ngắn gọn, trong sáng, khúc triết, kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu tranh vì độc lập tự do, vì nhân quyền, dân quyền của dân tộc và của nhân loại. Chính Bác Hồ cũng đánh giá đây là thành công thứ ba khiến Người cảm thấy "sung sướng" trong cả cuộc đời viết văn, làm báo đấy kinh nghiệm của minh
Vanmau.edu.vn | Bình luận về sức thuyết phục của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh | 2,570 | |
Bình luận về tinh thần dũng cảm
Gợi ý
Bác Hồ đã dạy thiếu nhi: “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Đó là ba phẩm chất tốt đẹp cần có của mỗi người, nhất là đối với tuổi trẻ chúng ta.
Trong bài văn này, tôi chỉ bàn về tinh thần dũng cảm, lòng dũng cảm.
Vậy thế nào là dũng cảm’? – Trước hết phải hiểu thế nào là dũng? – Dũng là sức mạnh và tinh thần trên hẳn mức bình thường, tạo khả năng đương đầu với sức chống đôi, với nguy hiểm để làm nên những việc nên làm. Dũng thường đi đối với trí, để có trí dũng song toàn; cũng trường hợp hữu dũng vô mưu.
Dũng cảm nghĩa là có dũng khí dám đương đầu với chống đối, với nguy hiểm để làm những việc nên làm. Ngôn ngữ dân tộc ta có những từ ngữ gần nghĩa với dũng cảm là: dũng khí, dũng mãnh, quả cảỉn, dũng sĩ, dũng tướng… Đó là những từ cùng trường từ nghĩa…
Dũng cảm được thể hiện ở tinh thần và hành động. Không sợ khó, sợ khổ, sợ hi sinh, là tinh thần dũng cảm. Dám đối mặt với mọi thách thức, không lùi bước trước mọi khó khăn nguy hiểm là dũng cảm. cổ ngữ có câu ca ngợi những con người chân chính là: “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nói lên sự thật với động cơ tốt đẹp là dũng cảm. Dám xông vào nơi nguy hiểm, xông vào rừng tên biển giáo của quân giặc để chiến đâu, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng… là hành động dũng cảm. Chiến đấu hi sinh đến giọt máu cuối cùng, bắn đến viên đạn cuổì cùng là hành động dũng cảm.Xem thêm: Vẻ đẹp của hai nhân vật Việt và Chiến trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Tình cảm yêu nước đã phát huy cao độ tinh thần dũng cảm của nhân dân ta tạo thành khí phách anh hùng, chủ nghĩa anh hùng. Tố Hữu đã có những vần thơ thật đẹp, thật hay ca ngợi truyền thông cao quý của dân tộc:
Dân ta gan dạ anh hùng
Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn
Các chiến sĩ Điện Biên trải qua 55 ngày đêm trong mưa bom bão đạn của giặc Pháp, đã “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, đã “lấy lưng chèn pháo”, đã “thân chôn làm giá súng, đầu bịt lỗ châu mai”… đem máu xương và chí khí dũng cảm lập nên chiến công “chấn động địa cầu”. Bài ca Điện Biên là bài ca yêu nước, lòng dũng cảm, chí khí anh hùng của quân đội ta, nhân dân ta, của tuổi trẻ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Các trang sử vàng, các chiến công chói lọi của dân tộc ta từ xưa tới nay như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đông Đa, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử… đều được làm nên bằng máu xương, bằng truyền thông yêu nước và tinh thần chiến đấu dũng cảm của bao thế hệ, của triệu triệu con người Việt.
Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn biểu lộ một ý chí căm thù sôi sục lũ giặc Nguyên Mông, một tinh thần dũng cảm chiến đấu quyết xả thân trên chiến địa để bảo vệ sơn hà xã tắc. Hơn 700 năm đã trôi qua, tiếng hịch vẫn bừng bừng khí thế “Sát Thát”; “Ta thường tới bữa quèn ăn, nửa đêm. vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”.
Xem thêm: Một lễ hội ghi lại những nét đẹp của phong tục truyền thống hoặc thể hiện khí thế sôi nổi của thời đạiBình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca của dân tộc ta trong thế kỉ XV. Tinh thần chiến đấu dũng cảm của nghĩa quân Lam Sơn đã tạo nên khí phách anh hùng quyết thắng:
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận; sạch không kình, ngạc.
Đánh hai trận: tan tác chim muông
Văn thơ yêu nước và cách mạng nói nhiều đến lòng kiên trung, ý chí sắt đá, lòng dũng cảm của các nhà chí sĩ, chiến sĩ, quyết “xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ” (Phan Bội Châu). Họ hiên ngang trước xà lim, máy chém của quân thù. Trước mọi thử thách nặng nề của chốn lao tù đế quốc, người chiến sĩ cách mạng vẫn bất khuất, hiên ngang:
Kiên trì và nhẫn nại,
Không chịu lùi một phân,
Vật chất tuy đau khổ,
Không nao núng tinh thần.
Tinh thần dũng cảm, lòng dũng cảm không chỉ được thể hiện trong chiến đấu, trước thử thách giữa cái sông và cái chết, giữa bại và thắng, giữa nhục và vinh, mà còn được biểu hiện trong sinh hoạt đời thường. Biết nhận ra thiếu sót, khuyết điểm, lỗi lầm của mình, để sửa chữa, để khắc phục tự vươn lên, hoàn thiện nhân cách của mình là dũng cảm.
Dũng cảm nhìn thấy điểm yếu của mình là một việc làm không đơn giản vì sợ mất uy tín trước đồng loại, vì mang tâm lí “dại gì tự vạch áo cho người xem lưng!” Trong học tập, ta thường bắt gặp cậu học trò này giấu dốt, cô nữ sinh kia giấu dốt, nhưng chỉ vì thiếu tinh thần dũng cảm mà không có tinh thần nỗ lực vươn lên.
Trái với tinh thần dũng cảm là gì? – là sợ sệt, là run rợ, khiếp sợ, khiếp đảm, là phách lạc hồn xiêu, là bạt vía kinh hồn… Trong xã hội, những kẻ tham sống sợ chết là loại người hèn nhát, thường bị đối phương lợi dụng. Loại người ngày khi đứng trước mọi nguy hiểm chết chóc sẽ trở thành kẻ đầu hàng phản bội.Xem thêm: Viết một bài văn về vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu Rèn luyện tinh thần dũng cảm không hề đơn giản. Dân ta có câu: “Có gan đi lính, giỏi tính đi buôn”-, “gan” là gan góc, dũng cảm. Phải xông pha, vật lộn với cuộc sống, có vào sinh ra tử chiến đấu, dám xả thân vì việc nghĩa, biết rèn luyện ý chí như tôi thép qua lửa đỏ, và phải trải qua nhiều thời gian năm tháng mới có thể hình thành phẩm chất đức tính cao quý đó.
Những tấm gương ngời sáng như Lê Văn Tám, Kim Đồng, Vừ A Dính, Phạm Ngọc Đa… là những thiếu niên anh hùng dũng cảm. Những người bắt cướp hoặc băng qua dòng nước lũ để cứu tài sản và tính mạng của nhân dân là những tấm gương dũng cảm, giàu đức hi sinh được ca ngợi.
Những tấm gương dũng cảm ấy mãi mãi sáng ngời trong cuộc đời và sử sách, để tuổi trẻ chúng ta noi gương học tập. Tinh thần dũng cảm khi được nâng cao sẽ trở thành bản lĩnh, khí phách: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” như của các chiến sĩ cảm tử quân Hà Nội trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến chống Pháp (20-12-1946).
Bàn về tinh thần dũng cảm, ta ghi nhớ sâu sắc vào lòng, ta mãi mãi ngưỡng mộ những chiến sĩ yêu nước của dân tộc ta đã nêu cao khí tiết lẫm liệt trước mọi kẻ thù tàn bạo: “Thà chết vinh còn hơn sống nhục”.
Vanmau.edu.vn | Bình luận về tinh thần dũng cảm | 1,307 | |
Bình luận về tình trạng ô nhiễm môi trường và trách nhiệm của người dân
Gợi ý
Danh y cổ đại Hi-pô-rát từng nói: “Người thầy thuốc tốt nhất là bản thân thiên nhiên”. Nhưng ngày nay thiên nhiên đã và đang bị tàn phá nặng nề khiến cho môi trường sống của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng. Bài toán về ô nhiễm môi trường đã trở nên cấp bách và mỗi người dân, mỗi quốc gia đều có trách nhiệm giải bài toán ấy.
Những năm 60 của thế kỉ trước, người đọc tấm tắc những câu thơ: “Khói những nhà máy mới ban mai”, hoặc: “Phía sau thành phố khói vờn trong mây”… Ngày nay, những nhà máy tỏa khói bụi mù trời như thế đã được cải tạo hoặc phải di dời, phải chấm dứt hoạt động để bảo vệ môi trường.
Việc sử dụng túi ni lông hiện nay ở chợ búa, ở các siêu thị cứ tưởng là văn minh, nhưng thật vô cùng nguy hại, nguy hiểm. Túi ni lông khó phân hủy. Nó làm ảnh hưởng đến sự thông thoáng của đất, hạn chế sự phát triển của cây trồng, làm tắc nghẽn cống rãnh, làm cho đất dễ bị xói mòn… Nhân dân đang lạm dụng túi ni lông. Túi ni lông vứt bừa bãi khắp nơi: cửa hàng, siêu thị, đường thôn ngõ xóm, bệnh viện, trường học, cổng chợ. Thậm chí những cảnh đẹp như Hồ Tây, Hồ Gươm, khách tham quan, dạo mát “tự nhiên, vô tư" ném túi ni lông xuống bờ cỏ, xuống mặt hồ! Nghe nói ở Trung Quốc từ tháng 5-2008 đã có lệnh cấm sản xuất và sử dụng túi ni lông khắp cả nước.Xem thêm: Theo phương hướng mới, thầy dạy Văn đã tổ chức một cuộc thi đọc diễn cảm. Cuộc thi diễn ra sôi nổi và thú vị. Em hãy thuật lại cuộc thi đó
Công nghiệp hóa, đô thị hóa đang từng tháng từng năm làm thay đổi bộ mặt đất nước ta. Nhiều khu công nghiệp ra đời. Dân số các đô thị gia tăng.ô tô, xe máy ngày một nhiều. Nạn tắc đường, kẹt xe, khói bụi… làm cho cả đô thị lẫn nông thôn bị ô nhiễm nặng nề. Con người nghẹt thở vì phải sống chung với khói bụi.
Đà Lạt có suối Cam Ly đẹp nổi tiếng. Ba, bốn năm nay, nước công rãnh, nước bẩn của thành phố Đà Lạt xả thẳng xuống suối Cam Ly. Mùi xú uế nồng nặc bốc lên nồng nặc khiến du khách phải bịt mũi, lắc đầu khó chịu. Suôi Cam Ly cẩn được cứu sống.
Sông Đáy, sông cầu bị ô nhiễm, nước đen ngòm bởi nước xả của các làng nghề, các nhà máy. Sông Tô Lịch ở Hà Nội, trong ca dao, trong văn Tô Hoài thơ mộng như thế, bây giờ có đoạn “chết”, có đoạn nước đặc sệt đen ngòm! Còn đâu nữa văn minh đô thị!
Bảo vệ môi trường “xanh, sạch, đẹp” không chỉ là trách nhiệm của chính quyền mà còn là trách nhiệm của toàn dân. Xanh, sạch, đẹp môi trường là điều mà cả cộng đồng ao ước, mong muôn. Mỗi người, mỗi nhà phải nâng cao ý thức và hành động, góp phần làm môi trường ngày một thêm xanh, sạch, đẹp.
Vanmau.edu.vn | Bình luận về tình trạng ô nhiễm môi trường và trách nhiệm của người dân | 559 | |
Bình luận về vai trò của sách đối với đời sống con người
Gợi ý
Có những vật phẩm thuộc về giá trị tinh thần, trải qua thời gian, cùng với những biến đổi của cuộc sống vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọng của mình. Đó là sách.
Nói đến sách, người ta nhắc đến kho tàng tri thức rộng lớn của nhân loại. Từ những địều lớn lao trong cuộc sống như những phát minh khoa học, những con người kiệt xuất, các sự kiện vĩ đại đến những câu chuyện giản dị của cuộc sống sinh hoạt thường ngày, của chuyện ăn, chuyện uống, chuyện mặc, chuyện đi lại… tất cả đều cớ thể tìm thấy được từ trong sách. Tù khi chữ viết ra đời, ghi và tập hợp lại thành sách đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, kho sách của nhân loại cũng từng giây từng phút, đầy lên theo thời gian.
Sách mở ra trước mắt ta những chân trời mới. Sách chứa trong mình một khối lượng tri thức khổng lồ, kết tinh qua nhiều thế hệ. Nó là nơi lưu giữ lượng kiến thức giúp ích cho con người khi cần thiết trong điều kiện trí nhớ và bộ óc của con người có hạn. Tri thức ngày càng nhiều lên, và con người không thể tự mình lưu trữ hết nó trong đầu. Sách giúp giải quyết vấn đề này một cách triệt để và là cứu cánh của con người trước những khối lượng kiến thức huy động khi cần thiết. Vai trò quan trọng đầu tiên của sách là ở chỗ đó. Không chỉ cung cấp những tri thức của nhân loại, sách còn là phương tiện để người ta truyền bá kiến thức đến cho người khác, là một phương tiện đắc dụng trong việc lôi kéo độc giả, truyền bá cho số lượng người đọc đông đảo ở khắp nơi trên thế giới.
Nếu như các loại hình thông tin, giải trí khác như xem trên truyền hình, nghe trên đài phát thanh, tác động trực tiếp và tức thời đến giặc quan của người tiếp nhận, thì đọc sách khiến cho trí óc phải hoạt động toàn diện, vừa để chuyển hoá nó vào trong đầu, vừa để suy ngẫm, vừa để ghi nhớ… Nó đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ hơn, nhờ đó mà khả năng phát triển trí não hơn hẳn. Đọc sách giúp con người hình thành thói quen tự mình khám phá và chiếm lĩnh tri thức theo cách của riêqg mình một cách chủ động và khoa học. Việc này có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của loài người.Xem thêm: Phân tích phần mở đầu bản "Tuyên ngôn Độc lập" để làm nổi bật giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật lập luận của Chủ tịch Hồ Chí MinhCó nhiều cách phân loại sách. Có sách khoa học, sách giải trí; sách phổ thông, sách chuyên ngành; sách nghiên cứu, sách phê bình; sách thuộc về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, sách thuộc về các lĩnh vực khoa học xã hội… Mỗi loại sách lại cung cấp cho con người những hiểu biết và các khía cạnh tri thức riêng. Học sinh, sinh viên đi học không thể thiếu các loại sách giáo khoa, giáo trình cung cấp kiến thức cơ bản, định hướng kiến thức. Bên cạnh đó còn là các loại sách tham khảo thuộc các lĩnh vực khác nhau để bổ sung kiến thức đã học ở trường đồng thời làm phong phú kiến thức khoa học và đời sống. Các nhà khoa học cần sách như một kho tri thức kế thừa từ nhân loại đi trước để tổng hợp, phát minh ra những tri thức của mình, trong thời đại mình, và lại tổng hợp lại trong sách để truyền đạt lại cho người đời sau. Người học vàn không thể thiếu các loại sách tác phẩm, nghiên cứu, phê bình… Có thể nói, sách là nơi cung cấp tri thức vô cùng rộng lớn của toàn nhân loại nên nó luôn luôn cần thiết và có ý nghĩa với mọi người, trong mọi thời.
Không chỉ cung cấp tri thức, sách còn là tiếng nói thể hiện đời sống tình cảm của con người. Đọc sách, ta hiểu thêm về một con người, một cảnh ngộ, hiểu thêm về một lẽ sống công bằng và hạnh phúc thực sự mà phấn đấu vì nó. Những cuốn sách có giá trị luôn là những cuốn sách hướng tới việc xây dựng một đời sống xã hội tốt đẹp. M. Go-rơ-ki đã từng khẳng định: Mỗi cuốn sách là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên nó tôi tách ra khỏi con thú để tiến gần hơn đến con người. Sách mang lại những giá trị giáo dục và nhân văn rất lớn. Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ cung cấp cho ta hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ XIX đầy bầt công đối với con người đặc biệt là người phụ nữ, những con người tài hoa bạc mệnh. Hơn thế nữa, từ câu chuyện về cuộc đời mười lăm năm lưu lạc, Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần của Thuý Kiều ta có sự thêm đồng cảm vớí số phận của đồng loại mình. Đọc sách giúp cho tâm hồn ta căng lên như một dây đàn, tinh tế để đón nhận và làm nẩy lên tất cả những thanh âm trong trẻo của cuộc sống. Tập truyện kí về Tây Bắc của Tô Hoài là một kho tư liệu dành cho những ai muốn tìm hiểu về đời sống, phong tục của người miền núi, từ tục đi tìm bạn tình ngày xuân đến tục cướp vợ, cúng trình ma… Nhưng bên cạnh đó, đọc lên ta còn biết cảm thương và xót xa cho cuộc sống còn nhiều vất vả, thiếu thôn với những hủ tục vẫn còn lạc hậu của họ…Xem thêm: Hãy kể lại một vài câu chuyện cười đã đọc ngoài chương trình mà anh (chị) cho là có ý nghĩa phê phán sâu sắc
Các cuốn sách giáo dục cho con người về thẩm mĩ để họ có thể nhận ra đâu là vẻ đẹp chân chính cần tôn thờ, đâu là những cái xấu xa đê tiện cận phải né tránh. Sách giáo dục cho con người những tình cảm nhân bản, nhân văn tốt đẹp để con người biết thương yêu đồng loại mình, biết trân trọng những giá trị vật chất và tinh thần của nhân loại, từ đó phấn đấu xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Sách hướng con người đến gần hơn với phần “Người” thánh thiện vượt qua phần “Con” mang tính bản năng để ngày càng hoàn thiện. Không ai có thể phủ nhận được vai trò của sách ngay cả trong thời kì hiện đại khi mà sự phát triển của công nghệ thông tin và văn hoá nghe nhìn khiến cho sách không còn chiếm được vị trí độc tôn như trước nữa. Nhưng nếu như một ai trước đó từng đọc Sông Đông êm đềm của Mi-kha-in Sô-lô-khốp sẽ không thể phủ nhận rằng nó hay hơn hẳn so với bộ phim Sông Đông êm đềm đã được chuyển thể lên màn ảnh. Và Làng Vũ Đại ngày ấy không thể chuyển tải được hết cái tinh thần của Chí Phèo, của Lão Hạc, của Đời thừa, không thể diễn tả được sâu sắc cái bi kịch của những con người trong xã hội đó, cái thần thái của nhân vật như nó đã được thể hiện trong tác phẩm. Nói như vậy không để so sánh vai trò của sách với các loại văn hoá nghe nhìn khác mà chỉ nhằm nhấn mạnh một thế mạnh quan trọng của sách mà những loại hình kia không có được.
Nhưng một sự thực có phần đáng buồn đang diễn ra đó là tuy sách có vai trò quan trọng như vậy nhưng người ta đang đánh mất dần thói quen đọc sách. Cuộc sống ngày càng năng động, phát triển nhanh từng ngày từng giờ khiến cho con người ít có thời gian và cơ hội để ngồi nghiền ngẫm, nghiên cứu một cuôn sách. Một cuốn sách hàng nghìn trang nếu để đọc sẽ mất rất nhiều thời gian lại có thể được gói gọn vào vài tiếng trên màn ảnh. Lẽ dĩ nhiên, người ta sẽ lựa chọn cách tiết kiệm được nhiều thời gian nhất mặc dù giá trị của nó vì thế mà cũng đã bị thay đổi đi khá nhiều. Văn hoá nghe nhìn đang dần thay thế thậm chí có chiều hướng chiếm ưu thế ngày càng lớn so với văn hoá đọc. Điều này kéo theo nhiều hệ luỵ. Những tri thức được truyền tải một cách cụ thể và chi tiết trong sách khi được tiếp thu dưới một hình thức khác, thậm chí có khi đã bị thay đổi, vắn tắt đi cho phù hợp thường không còn giữ nguyên giá trị vốn có. Nếu không đọc sách ta sẽ không thể hiểu được chúng một cách chính xác cụ thể. Học sinh đi học, cần tiếp cận nhiều với văn bản mới có thể hiểu sâu, hiểu đúng những gì mình đã học. Đọc sách cũng là một cách giúp họ hình thành thói quen độc lập tự chủ trong nghiên cứu, trình bày quan điểm. Thói quen đọc sách cũng giúp cho người học có thời gian và điều kiện để nghiền ngẫm, tự tìm ra cho mình một phương pháp tư duy, phân tích, tổng hợp phù hợp, chủ động trong việc nắm bắt tri thức nhân loại đồng thời cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện của bản thân họ.Xem thêm: "Giá trị của con người không ở chân lí người đó sở hữu hoặc cho rằng mình sở hữu, mà ở chỗ gian khó chân thành người đó nhận lãnh trong khi đi tìm chân lí” (Lét-xinh). Em hiểu ý kiến trên như thế nào Vậy phải làm thế nào để cho đọc sách vẫn trở thành một thói quen tốt trong xã hội hiện đại như hiện nay? Tất nhiên, điều quan trọng trước tiên là người ta phải tìm thấy những hứng thú và niềm dam mê thực sự trong việc đọc sách mà các loại hình văn hoá, giải trí khác không thể có được. Trong nhịp sông nhanh của thời đại, mỗi người nên dành cho mình những khoảng thời gian nhất định để đọc sách, để có thời gian lắng lại, chiêm nghiệm ‘những điều mà sách mang lại cho ta. Có như vậy ta sẽ cảm nhận được nhũng giá đích thực của cuộc sống do những cuốn sách mở ra.
Sách vẫn luôn là một phần không thể thiếu trong đời sống của con người. Và hãy để sách được đứng ở đúng vị trí mà nó xứng đáng, để sách thực sự trở thành một phần không thể thiếu của con người.
Vanmau.edu.vn | Bình luận về vai trò của sách đối với đời sống con người | 1,886 | |
Bình luận về văn minh, lịch sự trong xây dựng nếp sống mới, con người mới hiện nay ở đất nước ta
Gợi ý
Xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, con người mới của xã hội mới mang vẻ đẹp mới đậm đà bản sắc dân tộc đã được nhiều người nhắc tới, lưu ý nhiều đến văn minh, lịch sự. Đây là một vấn đề có nội dung rộng lớn, phong phú, vừa mang tính truyền thống vừa mang tính hiện đại, rất thiết thân đối với mỗi chúng ta trong cuộc sống và nếp sống hằng ngày.
Thế nào là văn minh, lịch sự? Văn minh là một khái niệm khá rộng lớn nói về trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài ngoài, có nền văn hóa vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng. Ví dụ: Văn minh Ai Cập; Văn minh phương Đông… Hiểu theo nghĩa hẹp thì văn minh là chỉ con người, sự vật, nếp sống, nếp sinh hoạt đã được định hình với những đặc trưng trong sáng, đẹp đẽ của nền văn hóa phát triển cao. Ví dụ, một nếp sống văn minh, một con người văn minh.
Vậy thế nào là lịch sự? Lịch sự là có thái độ, cử chỉ nhã nhặn, lễ độ khi tiếp xúc, phù hợp với quan niệm và phép tắc xã giao của cộng đồng, của xã hội. Ví dụ, ăn nói lịch sự. Nói đến lịch sự là nói đến cách sống đẹp vừa sang trọng, vừa nhã nhặn từ lời nói, cử chỉ, thái độ, hành động, cách ăn mặc, cách sống…. được đồng loại quý mến, trân trọng.Xem thêm: Hãy phát biểu ý kiến của em về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình"Ở đây, chúng tôi chỉ bàn về nghĩa cụ thể, nghĩa hẹp của vấn đề văn minh, lịch sự.
Bước sang thế kỉ XXI, đất nước ta, xã hội ta đã có nhiều đổi mới và phát triển đáng tự hào. Nhiều khu đô thị mới ra đời. Giao thông phát triển mạnh. Đường sá, cầu công đi lại thuận tiện, nhanh chóng. Bến đò ngang, cầu khỉ, cảnh xếp hàng chen lấn… đang được khẩn trương giải quyết từng ngày.
Trong tập thơ Dòng nước ngược, Tú Mỡ từng viết:
Phá đình đi! Phá đình đi.
Còn đình hủ tục, còn di hại nhiều!
Có biết bao hủ tục từng diễn ra nơi cái đình “xôi thịt” ngày xưa của những lí đương, lí cựu, của Nghị Quế… mà Ngô Tất Tô’ đã nói đến trong tiểu thuyết Tắt đèn, trong phóng sự Việc làng, nay đã bị xóa bỏ. Nhưng những đình làng Mông Phụ xứ Đoài, đình làng Đình Bang ở Bắc Ninh, và hàng nghìn đình làng khác ở xứ Đông, ở Sơn Nam Hạ… vẫn được tồn tại giữ gìn, vì đó là biểu tượng cho nền văn hóa cổ truyền của dân tộc. Những túp lều gianh xiêu vẹo ẩm thấp đã được thay thế trong phong trào “ngói hóa”. Các công trình đường, trường, trại, điện đã làm thay đổi hẳn bộ mặt nhiều xóm làng. Nông thôn Việt Nam đã và đang phát triển trên con đường văn minh; kĩ thuật canh tác mới đã làm cho nền sản xuất nông nghiệp được công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lúa gạo đứng thứ hai trên thế giới.Xem thêm: Về tác phẩm Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xôn xao).
Tết trồng cây gây rừng được tổ chức thành phong trào quần chúng rộng khắp. Toàn dân hưởng ứng bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp. Xử lí ô nhiễm nguồn nước, bầu không khí, chống lốỉ sống, nếp sống, thói quen xấu như xả rác bừa bãi khắp mọi nơi… để tạo nên cảnh quan đẹp, nếp sống mới văn minh. Đẩy lùi các tệ nạn mại dâm, cờ bạc, ma túy. Các lễ hội dân gian đầu xuân được tổ chức đông vui; vẻ đẹp dần tộc truyền thông được giữ gìn và phát triển theo hướng văn minh, hiện đại.
Vẻ đẹp văn minh thể hiện ở trường học, bệnh viện, nhà trẻ, nhà máy, cơ quan, công viên, nông thôn, thành phố… Cuộc sống và phong cách sống của các thế hệ trẻ in rõ nhất dấu ấn văn minh hiện đại, mà đến đâu ta cũng dễ dàng nhìn thấy.
Có văn minh mới có lịch sự; có lịch sự mới có văn minh. Chỉ xin nói về lịch sự trong sinh hoạt, nếp sống cá nhân giữa cộng đồng. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, không nói tục, chửi bậy để làm cho con người sống lịch sự hơn. Ăn mặc không rách rưới; áo quần sạch sẽ, gọn gàng, đầu tóc, mặt mày sạch sẽ, ngay ngắn; không chen lấn, xô đẩy kiểu mạnh ai nấy làm; trên xe bus, biết nhường chỗ ngồi cho người tàn tật, cụ già, đàn bà mang thai, em nhỏ…; đó là lịch sự trong ứng xử, trong nếp sống. Kẻ bất lịch sự bị chê cười. Ai cũng cảm thấy sống lịch sự là đẹp.Xem thêm: Có ba điều tạo nên hạnh phúc: đó là một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn và một trái tim trong sạch (Domat). Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên? Mọi người biết trên kính, dưới nhường. Trẻ em lễ phép, ngoan ngoãn biết “gọi dạ bảo vâng”, thực hiện đúng năm điều Bác Hồ dạy; niềm nở khi khách đến nhà; thân tình, vui vẻ, hòa nhã trong quan hệ bạn bè, láng giềng.
Tuy đó đây còn có hiện tượng cảnh lộn xộn, chụp giật, xô bồ, bẩn thỉu; còn có loại người gian manh, bất hiếu, bất nghĩa, vô lễ, càn quấy, sống buông thả, nhếch nhác. Tuy đó đây còn bao hiện tượng tiêu cực làm cho bức tranh xã hội bị hoen ố’. Nhưng mỗi chúng ta có thể tự hào về đất nước ta, con người Việt Nam đã và đang đổi mới, ngày càng văn minh, lịch sự. Khách du lịch kéo đến Việt Nam ngày một nhiều. Hà Nội là thủ đô hòa bình. Con người Việt Nam lịch sự, mến khách. Xin được nhắc lại câu ca dao: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Thanh lịch là nét đẹp của người Hà Nội, của người dân Việt. Bàn về văn minh, lịch sự, nhắc lại câu ca dao trên, mỗi chúng ta cũng cảm thấy ít nhiều thú vị.
Vanmau.edu.vn | Bình luận về văn minh, lịch sự trong xây dựng nếp sống mới, con người mới hiện nay ở đất nước ta | 1,124 | |
Bình luận về vấn đề giữ gìn vệ sinh
Gợi ý
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cần phải biết giữ gìn vệ sinh.
Vệ sinh là những biện pháp phòng bệnh, giữ gìn và tăng cường sức khỏe. sống sạch sẽ, khoa học và văn minh là cách sống vệ sinh.
Vệ sinh bao gồm: vệ sinh thân thể, ăn ở vệ sinh, ăn uống vệ sinh; vệ sinh trong sinh hoạt, vệ sinh trong lao động, vệ sinh cá nhân, vệ sinh công cộng, vệ sinh môi trường,… Đó là những điều mà ai cũng cần biết, cần thực hiện, cần giữ gìn khi nói tới vấn đề vệ sinh.
Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn uống. Đánh răng, rửa mặt hằng ngày. Thường xuyên tắm rửa, gội đầu, giặt giũ áo quần sạch sẽ. Không ăn quá no, không nghiện ngập, không rượu chè bê tha. Biết ăn, ngủ, chơi bời, học hành, lao động có điều độ. sống như thế là biết giữ gìn vệ sinh. Nhà ở, cơ quan, trường học, bệnh viện,… phải cao ráo, sạch sẽ, thoáng mát, ngăn nắp. Chúng ta nên nhớ câu tục ngữ “nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon cơm”.
Vệ sinh cá nhân chưa đủ mà còn phải biết giữ gìn vệ sinh chung như góp phần gìn giữ môi trường xanh, sạch, đẹp. Không xả rác lung tung. Không khạc nhổ, phóng uế bừa bãi. Không làm ô nhiễm bầu khí quyển, làm ô nhiễm sống hồng, nguồn nước. Phải biết giữ gìn vệ sinh nơi công cộng như trường học, bệnh viện, phố xá, công viên, các di tích lịch sử, văn hóa…Xem thêm: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du hay nhất Học hành cũng phải biết giữ gìn vệ sinh, từ cách đọc sách, học bài đến cách ngồi, cách viết. Tại sao có nhiều học sinh bị cận thị? Tại sao có nhiều học sinh hay ôm vặt, hay uể oải, chóng mặt? Tại sao có nhiều thanh, thiếu niên thân thể bẩn thỉu, tóc tai bù xù, áo quần luộm thuộm?…
Có người phàn nàn văn hóa công cộng của dân ta còn thấp kém. Họ chê một số người không có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, hay khạc nhổ, xả rác bừa bãi.
Giữ gìn vệ sinh chung để được sống khỏe, sống đẹp, sống có văn hóa. Giữ gìn vệ sinh là vấn đề thiết thân đốỉ với mọi người. Học sinh phải biết thực hiện lời Bác Hồ đã dạy “Giữ gìn vệ sinh thật tốt”.
Vanmau.edu.vn | Bình luận về vấn đề giữ gìn vệ sinh | 430 | |
Bình luận về vấn đề tuổi trẻ phải sống đẹp
Gợi ý
Tuổi trẻ phải sống đẹp. Đó là một vấn đề rất lí thú, có nhiều ý nghĩa, lúc nào cũng mới mẻ, nhất là trong hoàn cảnh hội nhập, đổi mới của đất nước ta hiện nay.
Tôi quan niệm tuổi trẻ là thế hệ thiếu niên, thanh niên, là lớp người đang học phổ thông và đại học, cao đẳng, đó là lớp người từ 14, 15 đến 30 tuổi.
Sống đẹp nghĩa là thế nào? – Sống đẹp nghĩa là có tâm hồn đẹp: yêu nước, yêu nhà, yêu người. Phải là đứa con hiếu thảo của ông bà, cha mẹ: phải là người anh, người chị, đứa em biết yêu thương, coi “anh em như thể tay chân”, biết “chị ngã, em nâng” trong gia đình. Phải là người giàu lòng yêu nước, tận tụy, trung thành với nhân dân. Biết dũng cảm đánh giặc để cứu nước, cứu dân; biết lao động cần cù, sáng tạo để xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp, có thể “sánh vai các cường quốc năm châu” là sống đẹp. sống đẹp là giàu tình thương, biết san sẻ, cưu mang, biết quan tâm đến đồng bào, biết “thương người như thể thương thân”.
Những kẻ bất hiếu, bất trung, bất nghĩa, sống ích kỉ, tham lam, độc ác… sao có thể gọi là “sống đẹp “Miệng thê”, sự đánh giá của nhân dân, của người đời là đúng đắn nhất, công bằng nhất ai là người sống đẹp, ai là kẻ sống ích kỉ.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau nói về nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ.Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
Tục ngữ có câu: “Người đẹp vì lụa”, về hình thức, có thể hiểu là ăn mặc đẹp, sống nhà lầu xe hơi, sống sang trọng là sống đẹp, nhưng cần biết, cần nhớ là không được, không nên xa hoa lãng phí mới là sống đẹp. Vì hiểu không đúng, không đầy đủ mà có không ít cô, cậu đang ngày ngày cắp sách tới trường mà đầu tóc nhuộm đỏ, nhuộm vàng, con trai mà tai đeo khuyên bạc, ngực, lưng, cánh tay… xăm đủ hình thù cổ quái. Bỏ học, trốn học, ăn chơi, sống buông thả, chạy theo “mốt”… Cách sống, cách ăn nói, cách ứng xử… của số’ ít chàng trai, cô gái này sao có thể gọi là “sống đẹp?” Học sinh, sinh viên mà thuôc lá phì phèo đầu môi, ăn nói tục tằn, coi vũ trường là chốn “nương thân” để khoe tài, khoe của.. Hiện nay, có không ít người trong giới trẻ, trong học sinh hiểu không đúng về hai chữ “sống đẹp” nên đã sống buông thả, trở thành loại người “cá biệt” trong nhà thường, trong gia đình và xã hội.
sống đẹp phải được thể hiện bằng hành động phong phú, sôi nổi, đẹp. Tuổi trẻ phải biết sống vì lí tưởng cao đẹp, sống có ước mơ cao đẹp. Tuổi trẻ phải biết hiến dâng. Nghĩa là chăm chỉ học hành, tu dưỡng đạo đức, không ngừng vươn lên, hăm hở bước vào con đường lao động sáng tạo, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, học thêm ngoại ngữ để làm công cụ tiến lên. Phấn đấu trở thành “con ngoan, trò giỏi”, “thanh niên tiên tiến”, “sống có ích”… là sống đẹp.Xem thêm: Phân tích truyện Tấm Cám. Khỉ Tổ quốc và dân tộc đắm chìm trong vòng nô lệ nhục nhã, chí sĩ Phan Bội Châu kêu gọi thanh niên:
Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi
Cởi lốt xưa mà tu dưdng lấy tinh thần
Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn
Đúc gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…
(Bài ca chúc Tết thanh niên)
Thi sĩ Tố Hữu có những vần thơ náo nức, lay gọi:
Hỡi những chàng trai, những cô gái yêu
Trên những đèo mây, những tầng núi đá
Hai bàn tay ta hãy làm tất cả
Xuân đã đến rồi, hối hả tương lai!…
Thời kháng chiến chống Mĩ, con đường ra trận là con đường mòn Hồ Chí Minh, là ngày hội lớn của tuổi trẻ anh hùng. Tuổi trẻ thuở ấy đã sống đẹp, đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, đã nêu cao tinh thần “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”.
Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, vì một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh… đã và đang hướng tuổi trẻ chúng ta ngày nay phải biết sống đẹp. sống đẹp trong lòng Tổ quốc và nhân dân. sống đẹp cho hôm nay và ngày mai sống đẹp trong cách sống, trong học tập và lao động. Và nên nhớ: sống để hiến dâng và phục vụ, như Tố Hữu đã nói: “sống là cho đâu chỉ riêng mình”.
Vanmau.edu.vnXem thêm: Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ | Bình luận về vấn đề tuổi trẻ phải sống đẹp | 850 | |
Đề bài: Em hãy bình luận về ý kiến của Tố Hữu “Ôi sống đẹp là gì hỡi bạn”
Có lẽ trong cuộc đời mỗi con người ta sinh ra và lớn lên, ai lại không một lần ước mơ và cho dù đó có thể là những ước mơ thật bình thường. Và nó như thật đơn giản và ai cũng có những khát vọng, và nếu như chúng ta có niềm tin và có lý tưởng để sống nhất là đối với tuổi trẻ của chúng ta, lứa tuổi người ta cho là đẹp nhất thì ước mơ và lý tưởng lại bộc lộ rõ nét, và dường như có lúc lại đan xen với nhau, có lúc lại là một cuộc đấu tranh không khoan nhượng. Và người ta luôn luôn trăn trở về những lối sống, thể hiện điều trăn trở đó nhà thơ Tố Hữu cũng đã từng nói “Ôi sống đẹp là gì hỡi bạn” đã để lại chho ta biết bao suy nghĩ.
Dường như “Sống đẹp” không hề là một cái gì to lớn lắm, nó rất gần gũi với chúng ta, đó không phải là những lý lẽ, cũng càng không phải là những lời nói suông, nhưng phương châm trên giấy, sách vở… mà đó có thể chính là những việc làm, những hành động cụ thể diễn ra hàng ngày trong đời sống của chúng ta. Ðịnh nghĩa về “Sống đẹp” dường như là sẽ có rất nhiều cách khác nhau. Và có thể nói đó chính là sống có đạo đức trong sáng và bản lĩnh vững vàng, có lý tưởng và sống hết mình vì lý tưởng. Và như chúng ta chỉ khi xác định được điều đó ta mới sống và làm việc thật sự có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Dường như có thể hiểu “Sống đẹp” là sống có ích, và đó cũng là sống có lý tưởng, có bản lĩnh vững vàng. Và phải chắc chắn là phải có mục tiêu phấn đấu rõ ràng. Và với lối “Sống đẹp” chỉ có được khi xác định được điều đó ta mới sống và làm việc thật sự có ích mang lại cho bản thân, gia đình và xã hội.Xem thêm: Ý kiến của anh (chị) về luận điểm: “Im lặng là vàng”
Trong thực tế ngày nay thì rất có thể có một số bạn lại nghĩ rằng “Sống đẹp” là một khái niệm xa vời và dường như là nó rất khó thực hiện. Tuy nhiên chúng ta phải xem kỹ lại nếu như chúng ta nhìn thẳng và sâu vào vấn đề này trong thời kỳ đất nước đổi mới tiến vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước như hiện nay thì chúng ta thấy điều đó thật sự không có gì xa lạ cả. Dường như là trái lại với đó thì nó tồn tại ngay trong cách nghĩ, cách làm hay nói gần hơn đó chính là trong cách ăn nói, ứng xử trong lao động, công tác, học tập và đời sống thường nhật của mỗi con người. Và nếu như trong những năm tháng chiến tranh, lớp lớp cha anh ta đã sống và cống hiến quên mình cho nền độc lập dân tộc, tính mạng con người và cuộc sống hạnh phúc cá nhân là rất qúy giá, nhưng dường như tất cả đều được tình nguyện gác lại, tình nguyện hy sinh, họ như đã rất sẵn sàng đánh đổi những gì là riêng tư nhất để đổi lấy nền độc lập dân tộc.
Họ đã “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” khi đó tuổi đời của họ còn rất trẻ và cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp chung của Tổ quốc. Và họ là những con người mà khi Tổ quốc cần, họ cũng như đã tự nguyện ra đi. Họ đã anh dũng chiến đấu và hy sinhthật kiên cường, chính họ đã viết lên những trang sử hào hùng cho đất nước. Đó chính là một sự dấn thân, một sự cống hiến hoàn toàn tự nguyện khi bản thân đã hiểu thế nào là một lẽ sống của một con người và lý tưởng của Người Cộng sản kiên trung với Tổ quốc. Họ dường như cũng đã có niềm tin tuyệt đối vào độc lập tự do, có lý tưởng cao cả vì sự nghiệp cao cả, sự nghiệp giải phóng dân tộc, vô tư dâng hiến tuổi trẻ và cuộc đời cho đất nước. Ta như thấy được những niềm tin và lý tưởng ấy được bồi đắp và khích lệ mạnh mẽ bởi sự hy sinh lớn lao và hơn nữa chính là nhân cách cao cả của bộ máy lãnh đạo mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Và phải khẳng định rằng đã có biết bao nhiêu anh hùng, liệt sĩ đã nghĩ và hành động như vậy.Xem thêm: Kể lại một buổi cắm trại cùng các bạn trong lớp
“Sống đẹp” như là một câu hỏi nhưng lại có vô vàn cách giải quyết khác nhau. Và đó chính là khi chúng ta phải biết dung hoà mọi mặt: môi trường sống và làm việc, quan hệ xã hội, gia đình… Dường như một hành động giúp đỡ người già cả, tàn tật, người gặp khó khăn hoạn nạn, và đó chính là một phong trào cứu trợ đồng bào bị thiên tai và cũng đồng thời là một phong trào đền ơn đáp nghĩa rộng khắp; những lớp học tình thương đem ánh sáng văn hoá đến với trẻ em nghèo… Dường như tất cả những việc làm ấy là kết quả của một cách sống coi trọng nhân nghĩa. Chúng ta đã thật sự cảm động và cảm thấy nghẹn ngào khi bắt gặp rất nhiều những hình ảnh thanh niên tình nguyện đang lao động quên mình trên mọi miền của dải đất hình chữ S. Và đấy chính là những thanh niên có lý tưởng cao đẹp, họ đã có trái tim nồng nhiệt, xung kích vào những công việc mà tổ quốc và nhân dân gọi đến.
Và hoạt động tình nguyện chính là một trong những hành động đẹp có thể nhìn thấy trong ánh mắt và qua chuyện kể của các bạn tình nguyện. Và dường như những ngọn lửa truyền thống yêu nước nồng nàn và lòng nhân ái cao đẹp của thanh niên ta. Và cũng chỉ riêng hai chữ “tình nguyện” đã nói lên những đức tính quên mình vì nước và cũng chính là vì dân của các bạn và một phong cách mới “mình vì mọi người”, không đòi “mọi người vì mình”.Xem thêm: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn thơ: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng... Nuôi lớn đời ta tự buổi nào." (Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)
“Sống đẹp” phải chăng nó cũng như những lý tưởng và ước mơ và cho dù bao giờ nó cũng đi đôi với nhau. Bởi chỉ sống đẹp, hay là có những ước mơ không thôi thì sẽ dễ sản sinh ra một lớp người chỉ thích hưởng thụ. Và điều đó đã khiến chúng ta dễ lầm lạc và dễ sa ngã. Còn nếu như sống chỉ có lý tưởng thì con người dễ bi quan, dễ chao đảo khi có cái gì đó không như họ muốn. Nếu như mà họ nghĩ vậy thì chẳng khác nào sống có ích, và có lý tưởng là cái gì đó thật cao qúi, tốt đẹp mà mình mơ ước và hướng tới, coi đó là mục đích phải thực hiện được. Và cho dù dẫu phải trải qua những khó khăn gian khổ. Có những lúc, chính cái lối “Sống đẹp” mà bản thân ta như đang kiên trì hướng tới lại là cái tạo cho mình sức mạnh để vượt qua khó khăn.
“Sống đẹp” hay nói khác đi đó cũng chính là lý tưởng cao đẹp của một thời, lý tưởng càng đẹp càng cao thì sức mạnh càng nhân lên gấp bội. Trong những thời kháng chiến gian khổ ác liệt, dường như sự sống chết trong gang tấc thì cái lý tưởng giải phóng đất nước đánh đuổi kẻ thù luôn là động lực thúc đẩy để người chiến sỹ cách mạng như cũng đã vượt lên và có thể dành được chiến thắng. Còn trong khi mà hòa bình lập lại lối sống đẹp cũng càng được quan tâm và chú trọng để có thể xây dựng được một xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Tôi và bạn đang sống trong thời kỳ hội nhập, chính vì vậy cần phải xây dựng cho mình những lối sống đẹp để có thể chung sống cũng như thích nghi. Và cao hơn nữa là để hoàn thiện bản thân và giúp ích cho xã hội.
Nguồn: Văn mẫu hay | Bình luận về ý kiến của Tố Hữu “Ôi sống đẹp là gì hỡi bạn”- Văn 12 | 1,499 | |
Bình luận về ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai – giếng nước trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy
Gợi ý
Cách kết thúc truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy không chỉ đẫm máu và nước mắt mà còn mang đậm màu sắc bi kịch. Mỗì tình Mị Châu – Trọng Thủy là một mối tình đầy oan trái mà cho đến tận khi cả hai chết đi, chúng ta vẫn thấy dư âm của một nỗi buồn sâu thẳm. Nỗi buồn, nỗi day dứt ấy hiển hiện trong lòng người đọc chính qua hình ảnh ngọc trai – giếng nước.
Ngọc trai – giếng nước là cặp hình ảnh rất đẹp đẽ nhưng cũng đầy bi kịch. Mị Châu là nàng công chúa đất Việt, Trọng Thủy là chàng hoàng tử đất Bắc; tình yêu của hai người chỉ nảy nở khi Trọng Thủy về nước Nam ở rể và đảm nhận một nhiệm vụ quan trọng. Nhưng có lẽ tình yêu với Tổ quốc quá lớn, nhiệm vụ vua cha giao quá lớn nên khi cân nhắc giữa tình và hiếu, Trọng Thủy đã chọn chữ hiếu. Vả lại, tình cảm với Mị Châu cũng là đến sau lời hứa với vua cha. Vào vai một tên gián điệp, Trọng Thủy đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc nhưng với tư cách một người chồng thì quả thật y là một gã chồng tồi. Mị Châu vì quá yêu và tin tưởng Trọng Thủy nên đã vô tình trở thành đứa con bất hiếu, kẻ tiếp tay cho giặc. Nhiệm vụ đánh tráo nỏ thần — bí mật quốc gia của Âu Lạc – vì có Mị Châu vô tình giúp sức nên Trọng Thủy đã hoàn thành. Hắn đã đánh lừa cả An Dương Vương và toàn dân Âu Lạc một cách “xuôi chèo mát mái” nhưng về tình riêng thì hắn thất bại một cách thảm hại. Cuối cùng, Trọng Thủy cũng không thể bảo vệ tình yêu của mình, bảo vệ người vợ đã hết mực thương yêu và tin tưởng y. Trước cảnh nước mất nhà tan, “kẻ sau lưng chính là giặc”, An Dương Vương đã tự tay giết chết đứa con gái mà mình yêu thương nhất. Trước khi chết, Mị Châu đã khấn nguyền thần linh và hình ảnh ngọc trai ứng với lời nàng khấn nhằm chiêu tuyết, thanh minh cho danh dự và tấm lòng trong sáng của nàng.Xem thêm: Bài văn điểm 10 độc đáo về nghịch cảnh trần gian Còn Trọng Thủy, trước cái chết của Mị Châu, vì quá đau xót, ân hận đã nhảy xuống giếng tự vẫn. Có lẽ sự cấn rứt lương tâm không cho phép hắn tha thứ cho bản thân mình. Người vợ hết mực yêu thương hắn, đã làm tất cả vì hắn thì cũng chính vì hắn mà phải chết. Cái chết của Trọng Thủy vừa như một sự chuộc tội vừa là sự giải thoát cho chính y. Hình ảnh giếng nước có hồn Trọng Thủy hòa cùng nỗi hối hận là sự chứng nhận cho mong muôn hóa giải tội lỗi của hắn.
Chi tiết ngọc trai đem rửa nước giếng càng trở nên sáng đẹp hơn cho thấy dường như Trọng Thủy đã tìm thấy sự hóa giải tội lỗi trong tình cảm của Mị Châu. Nếu ngọc trai – giếng nước tượng trưng cho sự gặp lại của hai người ở kiếp sau thì đó cũng chỉ là hình ảnh môì oan tình được hóa giải. Có lẽ Mị Châu đã tha thứ cho Trọng Thủy nhưng đó chỉ là sự thứ tha mà thôi. Mị Châu trước khi chết đã kịp nhận ra rằng mình bị lừa, mà kẻ lừa nàng chính là người mà nàng yêu thương nhất. Sự nhẹ dạ của nàng phải trả giá bằng sinh mạng của chính nàng, của người cha thân yêu và vận mệnh của toàn dân tộc. Vì lẽ đó, nếu có kiếp sau thì Mị Châu cũng không thể mù quáng mà chung tình với kẻ đã từng lừa dối và gây cho nàng bao đau khổ.Xem thêm: Phân tích tâm sự của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh kí Ngọc trai – giếng nước là một sáng tạo nghệ thuật mang vẻ đẹp hoàn mĩ. Song vẻ đẹp ấy không phải là dành cho mối tình Mị Châu – Trọng Thủy. Nếu cho rằng hình ảnh này được sáng tạo để ca ngợi cho mối tình chung thủy, đẹp đẽ thì không phù hợp với sự thức tỉnh của Mị Châu bởi đến lúc chết nàng không còn mù quáng nữa. Thêm vào đó, truyền thuyết phản ánh lịch sử theo quan niệm của nhân dân, nhằm đề cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, không bao giờ nhân dân lại sáng tạo ra một câu chuyện với những chi tiết ca ngợi những người đã đưa họ đến bi kịch mất nước. Nhân dân không thể nào ca ngợi một nàng công chúa chỉ biết nghe lời chồng mà bỏ quên bổn phận đôì với đất nước.
Trong khi phê phán Mị Châu, nhân dân cũng thể hiện thái độ thông cảm và thấu hiểu với sự vô tình, ngây thơ, cả tin của nàng; vì vậy nhân dân đã biến ước muôn của nàng thành hiện thực: để máu nàng biến thành ngọc trai – chứng minh cho tấm lòng trong sáng. Còn đôĩ với Trọng Thủy, có lẽ nhân dân ta chỉ có thể thông cảm chứ không thể tha thứ và càng không thể ngợi ca được. Vậy nên sự sáng tạo hình ảnh ngọc trai – giếng nước vừa thể hiện thái độ nghiêm khắc vừa cho thấy cái nhìn nhân ái và sự thấu tình đạt lí của nhân dân ta.Xem thêm: Soạn bài: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh. Ngọc trai – giếng nước không chỉ là một hình tượng nghệ thuật mà còn minh chứng cho nỗi đau của toàn dân tộc – nỗi đau mất nước. Người đọc không thể quên đi nỗi đau ấy cũng như hình ảnh ấy. Đó cũng là bài học về tinh thần cảnh giác và ý thức bảo vệ, đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu sẽ khiến chúng ta nhớ mãi. Có lẽ vì thế mà nhà thơ Tản Đà đã bình luận về câu chuyện này như sau:
Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi móng
Lông ngỗng thiếp đưa đường
Thề nguyền phu phụ
Lòng nữ nhi,
Việc quân vương
Duyên nợ tình kia dở dang
Nệm gấm vó câu
Trăm năm giọt lệ
Ngọc trai giếng nước
Nghìn thu khói nhang.
Vanmau.edu.vn | Bình luận về ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai – giếng nước trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy | 1,131 | |
Bình luận về đức tính khiêm tốn
Gợi ý
Một trong những đức tính tốt đẹp của mỗi người là khiêm tốn. Trẻ em, người lớn, người già, học trò, kẻ sĩ, người dân, kẻ làm quan, vị lãnh đạo… đều phải khiêm tốn, tu dưỡng đức tính khiêm tốn.
Khiêm tốn là có ỷ thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không tự cho mình là hơn người. Các biểu hiện của đức tính khiêm tốn: lời lẽ khiêm tốn, cử chỉ, hành động khiêm tốn, thái độ, cách ứng xử khiêm tốn, cách sống khiêm tốn,…
Người có nhân cách, có phẩm hạnh mới khiêm tốn. Người có học, có lòng tự trọng, có nhân cách văn hóa mới khiêm tốn. Trái với khiêm tốn là kiêu ngạo, kiêu căng, coi trời bằng vung, coi thường mọi người.
Có khiêm tốn mới biết học tập mọi người; không bao giờ giấu dốt, tự cho mình là giỏi, là hơn người. “Mục hạ vô nhân” là kiêu ngạo. Làm tướng, cầm binh mà kiêu ngạo là thất bại, sớm muộn cũng sẽ chết. Học trò mà không khiêm tốn học hỏi thì không bao giờ học giỏi, không thể trở nên tài ba lỗi lạc.
Cổ ngữ có câu nói về lòng khiêm tốn, cách sống khiêm tốn: “Tri vi tri, bất tri vi bất tri, thị tri dã” nghĩa là: Biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết, ấy mới gọi là biết.Xem thêm: Thuyết minh về con mèo Ông bà, cha mẹ vẫn nhắc nhở con cháu trong ứng xử khiêm tốn: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. “Con hát, mẹ khen hay”, “Mẹ hát, con khen hay”, cái gì cũng tự cho mình là “nhất thiên hạ”, “nhất thế giới” thì không phải là khiêm tốn rồi!
Con người khiêm tốn biết sống mực thước, kín đáo, hợp lí, hợp lẽ, không phô phang, khoe khoang, không xa hoa, lãng phí; không khoe đức, khoe tài, khoe công… “Bác học cũng phải học” là cách sống khiêm tốn.
Bác Hồ dạy thiếu nhi: “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Bài học khiêm tốn ấy cho ta sức mạnh, tạo nên tiềm lực, tiềm năng để bước vào đời.
Khiêm tổn nhưng không tự ti, cũng không tự mãn. Người khiêm tốn sẽ được anh em, bè bạn quý trọng.
Vanmau.edu.vn | Bình luận về đức tính khiêm tốn | 403 | |
Bình luận về đức tính siêng năng, cần cù
Gợi ý
Siêng năng, cần cù là phẩm chất tốt đẹp của người lao động, mà học sinh chúng ta, tuổi trẻ chúng ta phải rèn luyện hằng ngày.
Chăm chỉ làm việc và học hành một cách đều đặn, thường xuyên thì gọi là siêng năng. Cần cù nghĩa là chăm chỉ, chịu khó một cách thường xuyên trong bất cứ công việc nào, nhất là trong lao động và học tập.
Có quý trọng thì giờ, mới biết cần cù, siêng năng. Có biết coi thì giờ quý như vàng bạc thì mới có ý thức chăm chỉ, chịu khó trong lao động sản xuất, trong học hành luyện trí, luyện tài. Có siêng năng, cần cù mới có ý thức không để thì giờ trôi qua một cách vô ích, vô vị.
Biết dùi mài kinh sử, biết suy nghĩ vận động, vươn lên học hỏi những điều mới mẻ, những kiến thức khoa học hiện đại thì mới có thể nói là cần cù, siêng năng. Thức khuya dậy sớm, chăm chỉ làm ăn, vượt qua mọi khó khăn thì mới gọi là siêng năng, chịu khó.
Người thợ coi 8 giờ lao động là vàng ngọc. Người nông dân cuốc bẫm cày sâu, một nắng hai sương để làm nên những mùa vàng bội thu, những cánh đồng đỗ khoai xanh tốt. cần cù, siêng năng để làm ra của cải vật chất, để sáng tạo nên mọi giá trị tinh thần để làm cho cuộc sông ngày một ấm no hạnh phúc, làm cho đất nước, xã hội ngày một thêm giàu có. Muốn được sống trong ấm no, hạnh phúc thì phải siêng năng, cần cù. “Có làm thì mới có ăn – Không dưng ai dễ đem phần đến cho” là một lời khuyên chí lí. Muốn dân giàu, nước mạnh thì người người phải lao động, nhà nhà phải lao động; lao động một cách cần cù, siêng năng.Xem thêm: Tràng Giang mang nỗi buồn mênh mang, sâu lắng trong giọng thơ vừa cổ điển vừa lãng mạn rất tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Hãy phân tích và chứng minh Nhân dân ta, đặc biệt là người nông dân rất siêng năng, cần cù. Có biết bao bài ca dao ngợi ca phẩm chất cao quý của họ:
Lao xao gà gáy rạng ngày,
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.
Bước chân xuống cánh đồng sâu,
Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu ra cày.
Ai cà, bưng bát cơm đầy,
Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng.
Trên đời, xưa và nay, cái đáng quý là lao động, người đáng quý là người lao động. Chính nhân dân lao động đã giáo dục chúng ta lòng yêu nước và đức tính cần cù, siêng năng. Nhờ siêng năng, cần cù mà mỗi chúng ta không sợ khó, sợ khổ, biết bền bỉ, nhẫn nại trong làm ăn, trong học hành.
Trái với siêng năng, cần cù là lười biếng, là “nhác làm siêng ăn”, là lãng phí thì giờ, trở thành kẻ sống thừa, vô tích sự.
Châm biếm kẻ lười biếng, nhân dân ta có câu ca:
Đời người chỉ một gang tay
Ai hay ngủ ngày còn được nửa gang.
Kẻ “hay ngủ ngày” là kẻ lười biếng, chỉ biết “há miệng chờ sung”.
Học sinh chúng ta, tuổi trẻ chúng ta phải chăm học chăm làm, phải siêng năng thức khuya dậy sớm, chịu khó cần cù học hành, luyện tập thì mới nên người. Phải biết “học ngày chưa đủ, tranh thủ học đêm”. Trong đợt ôn tập, kiểm tra, thi cử, học sinh phải siêng năng, phải cần cù ôn luyện. Có chịu khó, có nỗ lực cao thì mới có thể vươn lên học khá, học giỏi, mới giành được điểm cao trong thi cử?Xem thêm: Tiếng khóc và nỗi đau của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên. Học tập hôm nay là để có ngày mai đúng ý nghĩa. Đó là một ngày mai lao động sáng tạo, ấm no, hạnh phúc. Siêng năng và cần cù hôm nay là để có một ngày mai tươi đẹp…
Vanmau.edu.vn | Bình luận về đức tính siêng năng, cần cù | 694 | |
Bình luận về ứng xử lịch sự, văn minh
Gợi ý
Phép đối xử lịch sự với người khác là một nghệ thuật sống. Nghệ thuật sống có thể gói gọn trong sáu chữ: văn nhã, hòa khí, khiêm tốn.
Văn nhã, tức là phải biết sử dụng những từ ngữ giao tiếp như: xin chào, cảm ơn, tạm biệt, xin thứ lỗi… và sử dụng cho đúng lúc. Nét mặt, giọng nói, cử chỉ phải nhẹ nhàng, trang trọng, kính cẩn, thân mật, lịch thiệp…
Hòa khí: tức là khi nói chuyện phải bình tĩnh, từ tôn, nhẹ nhàng, nội dung câu chuyện phải có tình, có lí, biểu cảm: tránh suồng sã, khiếm nhã; tránh nói to, cười to, vừa nói, vừa vung tay.
Khiêm tốn: không khoe khoang, nói ít mà nghe nhiều, biết lắng nghe, không cướp lời. Người khiêm tôn thường sống chân thành, chân thật, cởi mở; ý tứ lúc đi xe, đi đường; không nên tranh lấn mà biết nhường nhịn.
Nói tóm lại phải đề cao chữ “lễ”, đúng như Khổng Tử đã nói: “Bất học lễ vô dĩ lập”, nghĩa là không học lễ nghĩa thì không nên người.
Ớ trường phải kính thầy, quý bạn, ở nhà phải hiếu để ra ngoài xã hội phải lễ phép, ứng xử lịch sự là biết tôn trọng, kính trọng người khác, mà thực chất là tự trọng bản thân mình. Nếu thô lỗ, cục cằn, vô lễ… là tự hạ thấp nhân cách mình ứng xử lịch sự là phong cách sống văn minh, sống có văn hóa.Xem thêm: Viết bản tự thuậtVanmau.edu.vn | Bình luận về ứng xử lịch sự, văn minh | 264 | |
Bình luận ý kiến sau đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
Gợi ý
Đảng ta và Hồ Chủ tịch quan tâm lãnh đạo văn hóa nghê thuật. Đường lối văn nghệ của Đảng được thể hiện trong nhiều Nghị quyết, trong những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1951, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đang diễn ra vô cùng ác liệt, trong Thư gửi anh chị em hoạ sĩ, Bác đã viết:
"Văn hóa nghệ thuật cũng là một mật trận. Anh em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
Câu nói trên đây của Hồ Chí Minh đã thâu tóm đầy đủ bản chất xã hội và lịch sử, chức năng và nhiệm vụ của văn học nghệ thuật trong kháng chiến, đồng thời chỉ ra chỗ đứng (vai trò và vị trí) của văn nghệ sĩ trong cách mạng và thời đại mới. Bác Hồ nói câu này khi cuộc kháng chiến đã giành được nhiều thắng lợi, nhưng còn đầy gian khổ, hi sinh, chân trời thắng lợi còn ở xa phía trước. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mang tính chất toàn dân và toàn diện sâu sắc. Toàn dân là chiến sĩ. Ta đánh giặc trên tất cả các mặt trận và phương diện: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa nghệ thuật v.v…
"Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận”. Bác nhấn mạnh đến nhiệm vụ cao cả, thiêng thiêng, đến tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh trên mặt trận này. Tuy không có tiếng súng, không có kẻ thù trực tiếp nhưng tính chất của nó vô cùng phức tạp và quyết liệt. Mặt trận này diễn ra trên phương diện tư tưởng tình cảm của thời đại. Văn học nghệ thuật thể hiện tư tưởng, tâm lí giai cấp, tâm hồn dân tộc, là vũ khí đấu tranh sắc bén. Trước cách mạng, nó vạch trần tội ác Pháp, Nhật và lũ tay sai bán nước, khích lệ lòng yêu nước căm thù giặc, cổ vũ nhân dân đứng lên chiến đấu giành tự do. Trong kháng chiến, nó góp phần lo lớn trong sự nghiệp cách mạng, vì độc lập, tự do, vì cơm áo hòa bình của dân tộc. Khi quân xâm lược dùng mọi mưu ma chước quỷ gieo rắc tư tưởng chiến bại, chia rẽ đồng bào ta thì văn học nghệ thuật là vũ khí tuyên truyền, là bài ca yêu nước, là khúc tráng ca xung trận và chiến thắng, khích lệ sĩ khí toàn dân và toàn quân ta tiến lên: "… Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu – Thề diệt xâm lâng lũ sói cầy" ("Lên núi" – Hồ Chí Minh, 1950). Xem thêm: Giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân."Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận" vì ở đó luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt, liên tục giữa cái lạc hậu và cái tiến bộ, giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa nhân dân ta và kẻ thù, giữa cái mới và cái lạc hậu. Câu nói của Bác chỉ rõ tác dụng lớn lao của văn hóa nghệ thuật. Nó là món ăn tinh thân không thể thiếu đối với chiến sĩ và đồng bào.
Ngay trong "Nhật kí trong tù" (1942-1943), Bác Hồ đã từng viết:
"Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong".
Thơ ca hiện đại phải có "thép", nhà thơ phải là người chiến sĩ "biết xung phong" trên mật trận văn hóa nghê thuật. Chất "thép" là tính chiến đấu, là nội dung cách mạng của thơ ca nói riêng, đồng thời cũng là bản chất của văn hóa nghệ thuật phục vụ công nông binh, góp phần tuyên truyền đường lối kháng chiến. Văn hóa nghệ thuật có một sức mạnh vô cùng to lớn như nhà thơ Sóng Hồng đã viết:
"Lấy bút làm đòn chuyển xoay chế độ
Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền”.
"Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” không những thế vị trí và vai trò của người nghệ sĩ chân chính rất vẻ vang: "Anh em là chiến sĩ trên mặt trận ấy". Văn nghệ sĩ không thể ngồi trong tháp ngà, thoát li cuộc sống để làm nghệ thuật. Họ không thể "ngủ yên trong đời chật" để "gặm nhấm văn chương”. Trái lại, họ phải là người lính, người trí thức, người nghệ sĩ của thời đại “đau nỗi đau của giống nòi, vui niềm vui của người lính”. Họ tự nguyện đứng trong hàng ngũ nhân dân lấy ngòi bút và tác phẩm để phục vụ chính trị, phục vụ công nông binh, ngợi ca chiến đấu và chiến thắng của dân tộc.Xem thêm: Kể lại câu chuyện Những hạt thóc giống bằng lời của chú bé Chôm“Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” biết bao niềm tin yêu chứa đựng trong câu nói ấy. Bác khẳng định trách nhiệm nặng nề nhưng hết sức vẻ vang của nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ… Trong thời máu lửa, câu khẩu hiệu: “Văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa" đã trở thành phương châm sống và sáng tác của các văn nghệ sĩ. Các nhà văn, nhà thơ như Nam Cao, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân,… đã cùng bộ đội tham gia các chiến dịch. Có một số nhà văn, nhà thơ đã ngã xuống trên chiến trường như Trần Đãng, Nam Cao, Hoàng Lộc,… và sau này là Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Dương Thị Xuân Quý…
Nhà thơ Xuân Diệu đã viết một cách thấm thía tình cảm của người nghệ sĩ gắn trang văn câu thơ với nhịp đập của trái tim nhân dân một thời gian khổ:
… "Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi
Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu.
Của triệu người yêu dấu gian lao"…
(“Những đêm hành quân")
Vai trò công dân, tư thế chiến sĩ của người nghệ sĩ là sự thức nhận rất đẹp, được nhiều tác giả nói đến trong những năm kháng chiến:
"Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy
Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng
và hạ trực thăng rơi”
(Chế Lan Viên)Xem thêm: Phân tích hình tượng cây xà nu trong Rừng xà nu (Có dàn ý chi tiết) Bộ đội kéo pháo vào Điện Biên, nhạc sĩ Hoàng Vân có bài “Hò kéo pháo”. Sau 55 ngày đêm dũng cảm chiến đấu, quân đội ta đã bắt sống tướmg Đờ-cát lập nên chiến công Điện Biên "chấn động địa cầu" thì Tồ Hữu có bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên", Đỗ Nhuận có khúc tráng ca anh hùng “Chiến thắng Điện Biên”, v.v.. Qua đó, ta càng thấy rõ văn nghệ sĩ là chiến sĩ, những bài thơ, bản nhạc, bức vẽ của họ “là súng là gươm" của thời máu lửa.
Cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ của nhân dân ta đã toàn thắng. Cùng với máu xương của đồng bào, chiến sĩ, những trang thơ văn, những thước phim, bức hoạ, bản nhạc… của văn nghệ sĩ đã góp phần làm nên bản anh hùng ca thắng lợi.
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn nghệ sĩ đã xứng đáng là người chiến sĩ trên "mật trận văn hóa nghệ thuật". Với sứ mệnh lớn lao, nặng nề, nhưng vẻ vang họ đã góp phần xứng đáng làm đẹp, làm giàu nền văn hóa Việt Nam. Đất nước đang chuyển động đi lên phía trước, văn nghệ Việt Nam đổi mới và có nhiều khởi sắc. Câu nói nổi tiếng trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn có ý nghĩa động viên văn nghệ sĩ bồi dưỡng cái tâm và cái tài, khám phá và sáng tạo nên nhiều tác phẩm hay và tốt để phục vụ Tổ quốc, tô đẹp nền văn hiến Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Bình luận ý kiến sau đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh_ “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” | 1,363 | |
Đề bài: Trong lớp có bạn cho rằng: Không nên kết bạn với những người học yếu. Anh (chị) hãy viết một bài văn bác bỏ quan niệm đó.
Chọn bạn mà chơi, đó là câu châm ngôn mà người xưa thường dạy con cháu. Bạn bè là mối quan hệ thân thiết, khăng khít, không khác gì mối quan hệ cha con, anh em, thầy trò… Trong lớp, có bạn học giỏi, có bạn học yếu, có bạn tốt, có bạn chưa tốt. Có ý kiến cho rằng: Không nên kết bạn với những người học yếu. Ý kiến đó đúng, sai ra sao? Thái độ của chúng ta đối với các bạn học yếu nên như thế nào cho đúng?
Trước hết, ta hãy bàn về mặt đúng của ý kiến trên. Mỗi chúng ta ai cũng mong muốn có được những người bạn tốt để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, khuyến khích, động viên ta vươn lên trong học tập và tu dưỡng. Nói một cách đầy đủ, bạn tốt là người đồng hành rất đáng quý đối với chúng ta trong cuộc sống.
Ngược lại, nếu chơi với những bạn học yếu hoặc chưa tốt thì có thể chúng ta sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều. Tục ngữ có câu: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng là vậy. Các bạn học yếu vì nhiều lí do nhưng phần lớn thường ham chơi, lười học, thích quậy phá, nghịch ngợm, ngại khó, hay mượn cớ ốm đau để trốn học rồi rủ rê, tụ tập nhau đua xe, chơi game, đá bóng trên hè phố, gây rối nơi công cộng. Dần dà, các bạn đó tiêm nhiễm những thói hư tật xấu để rồi gây ra những hậu quả khôn lường, trở thành mối lo, thành gánh nặng cho gia đình, xã hội. Vì vậy, khi chơi với các bạn học yếu, các bạn chưa tốt, nếu chúng ta không có bản lĩnh thì sẽ dễ bị lôi kéo. Thực tế cho thấy theo điều tốt thì khó như trèo núi ngược, theo điều xấu thì dễ như nước chảy xuôi. Từ người tốt chẳng mấy chốc biến thành người xấu. Vậy nên chúng ta phải cân nhắc thận trọng trong quan hệ với các bạn học yếu hoặc bạn chưa tốt.
Xem thêm: Viết đoạn văn bình luận về đóng góp to lớn của các nhà khoa học nông nghiệp Việt NamTuy nhiên, nếu không ai chơi với bạn học yếu, bạn chưa tốt thì các bạn ấy biết dựa vào đâu? Bị hắt hủi, các bạn ấy sẽ có mặc cảm tự ti, bi quan, thất vọng. Cho nên, chúng ta không thể xa lánh hoặc bỏ rơi mà cần phải động viên, khích lệ các bạn ấy bằng tình cảm chân thành và hành động thiết thực, dẫn dắt các bạn ấy tham gia vào những hoạt động bổ ích, lành mạnh như thể dục thể thao, sinh hoạt tập thể, câu lạc bộ dã ngoại, lửa trại, các hoạt động từ thiện…
Trong học tập, chúng ta nên giúp đỡ các bạn gặp hoàn cảnh khó khăn hay có trở ngại về nhận thức; trao đổi từng bài văn hay, tranh luận cách làm mỗi bài toán khó. Đây cũng là dịp tốt để ta khắc sâu kiến thức, nhớ kĩ, nhớ lâu bài giảng của thầy. Dùng những lời nói hay, hành động đúng khích lệ các bạn vượt lên chính mình để thi đua cùng bạn bè. Trước mỗi thành tích dù là nhỏ cùa các bạn ấy, chúng ta nên động viên kịp thời. Khi bạn vấp ngã, chúng ta hãy quan tâm nâng đỡ bằng trái tim nhân hậu. Chúng ta không nên thành kiến mà phải tạo nhiều cơ hội tốt để các bạn đó thử thách, sửa chữa khuyết điểm, tiếp cận với cái tốt, cái đẹp của cuộc sống. Chúng ta hãy mong đợi và tin tưởng vào sự tiến bộ của các bạn. Tình yêu thương chân thành sẽ cảm hóa được tất cả. Cha ông ta thường dạy con cháu rằng: Có cái ác nhiều khi là do người tốt mà chẳng chịu làm điều gì cả.
Trong văn học dân gian lưu truyền giai thoại về tình bạn cao đẹp giữa Lưu Bình và Dương Lễ. Dương Lễ khi làm quan to vẫn không quên bạn cũ là Lưu Bình và tìm mọi cách giúp đỡ để bạn cũng hiển đạt như mình. Ngày nay, trên khắp đất nước ta có biết bao tấm gương giúp bạn vươn lên trong học tập. Có những học sinh cõng bạn bị liệt đến trường suốt mấy năm trời. Có nhiều bạn bè nhường cơm sẻ áo cho nhau, cùng động viên nhau vượt khó, học giỏi.
Nền kinh tế thị trường có nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức đặt ra cho thế hệ trẻ. Chúng ta phải biết xa lánh sự cám dỗ của các thói hư tật xấu, đồng thời chủ động nắm bắt cơ hội, cùng bạn bè say mê học tập, nuôi chí lập nghiệp, tạo dựng tương lai. Những bạn học yếu cũng cần xác định cho mình trách nhiệm trước bản thân, gia đình, xã hội. Cần khiêm tốn, tự tin thi đua cùng các bạn khá giỏi để trở thành người có ích, đáp lại niềm tin yêu của cha mẹ, thầy cô, bè bạn.
Xem thêm: Tự lựa chọn một đoạn trích trong truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, em hãy phân tích để làm nổi bật thành công của tác giả trong việc khắc họa nội tâm nhân vật | Bình luận ý kiến “Không nên kết bạn với những người học yếu” | 941 | |
Bình luận ý thơ sau trong “Truyện Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”
Gợi ý
“Truyện Lục Vân Tiên” là truyện thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ lớn của Nam Bộ trong thế kỉ XIX. Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga là linh hồn của tác phẩm. Cả hai nhân vật đều mang vẻ đẹp lí tưởng. Lục Vân Tiên là người văn võ song toàn:
"Văn đà khơi phụng dằng giao,
Võ thêm ba lược sáu thao ai bì".
Nhân vật Kiều Nguyệt Nga có nhan sắc tuyệt thế “vóc ngọc mình vàng ”, đoan trang, thủy chung trong tình yêu.
Đoạn thơ “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ” rất hào hùng, hấp dẫn, đầy kịch tính. Chuyện anh hùng đánh cướp cứu dân, chuyện anh hùng, giai nhân tương ngộ được nhà thơ kể lại một cách sinh động, lôi cuốn, làm ta nhớ mãi.
Trên đường sang Hà Khê thăm cha, Kiều Nguyệt Nga bị lũ cướp Phong Lai bắt đem về sơn trại. Vân Tiên đã đánh bọn cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga. Thoát khỏi tay bọn hung đồ, Kiều Nguyệt Nga chân thành và cảm động thổ lộ:
"Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng người".
Nhưng Lục Vân Tiên đã “cười ” và khước từ một cách cao thượng:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn ”.
Câu nói ấy biểu lộ một cách ứng xử cao đẹp của Lục Vân Tiên, thể hiện phong cách của kẻ sĩ trọng nghĩa khinh tài. Đối với bọn bất lương, chàng nghiêm khắc lên án “chớ quen làm thói hồ đồ hại dân ”. Chàng đã “ra sức anh hào ” dũng cảm đánh tan ‘lũ kiến chòm ong ”, quyết trừng phạt tên tướng cướp Phong Lai. Vân Tiên đã đánh cướp để bảo vệ nhân dân, vì sự sống yên vui và hạnh phúc của nhân dân: Xem thêm: Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ hay nhất"Tôi xin ra sức anh hào,
Cứu người cho khỏi lao đao buổi này!".
Đó là thái độ yêu, ghét dứt khoát, rõ ràng, một quan niệm sống đẹp: “Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương ”.
Đối với Kiều Nguyệt Nga, Vân Tiên đã xử sự như thế nào? Hành động dũng cảm đánh cướp của Lục Vân Tiên đã làm cho nàng vô cùng khâm phục và biết ơn. Nhờ chàng cứu giúp mà nàng thoát khỏi bàn tay bọn Phong Lai, bảo toàn được danh giá, phẩm tiết. Nàng đã làm đúng đạo lí, muốn được “báo đức thù công ” người quân tử. Nếu Vân Tiên vui vẻ nhận sự đền ơn của người đẹp, thì đó cũng là chuyện thường tình, chính đáng. Nhưng chàng đã “cười” một nụ cười rất tươi, khảng khái khước từ sự trả ơn của người mắc nạn được mình cứu giúp. Chàng đã hành động theo lí tưởng anh hùng, lấy việc cứu nhân độ thế làm niềm vui hạnh phúc. Chàng đã cười vui vẻ khi nghe người đẹp nói đến “bạc vàng ”, đến “báo đức thù công ”. Câu nói của Lục Vân Tiên cho ta thấy chàng là một anh hùng vị nghĩa, có tâm hồn đẹp, cao thưọng, giàu nghĩa khí, thấy việc bất binh, ngang trái, quyết ra tay hành động, không lùi bước trước mọi nguy hiểm. Câu nói vang lên như một lời thề:
"Nhớ cân kiến ngãi bất vi, Xem thêm: Phân tích số phận bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô qua đoạn Vĩnh biệt cửu Trùng Đài trích từ tác phẩm Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng Làm người thế ấy cũng phi anh hừng".
Qua câu nói của Lục Vân Tiên, nhà thơ Nguyễn Đinh Chiểu đề cao tư tướng nhân nghĩa có tình thương bao la, ghét bất công, căm thù cái ác. Người nhân nghĩa sống vì lẽ phải, hành động vì tính mạng và hạnh phúc của nhân dân, dũng cảm bênh vực, che chở kẻ bị áp bức đau khổ. Họ không màng danh lợi, rất hào hiệp, vị tha.
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn ”, câu nói ấy thể hiện một lẽ sống đẹp. Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi một quan niệm anh hùng rất cao đẹp và tiến bộ, như người xưa đã nói: “Lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ”, hoặc:
"Anh hùng tiếng đă gọi rằng,
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!".
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Người anh hùng chân chính lấy cái nghĩa làm trọng, coi cái chết nhẹ tựa lồng hồng, sẵn sàng dấn thân vào rừng gươm biển giáo để cứu người, cứu đời. Câu nói của Lục Vân Tiên phản ánh ước mơ khát vọng cháy bỏng của nhà thơ yêu nước Nam Bộ. Xã hội phong kiến Việt Nam trong thế kỉ XIX vô cùng thối nát, loạn lạc. Vua quan tham lam độc ác, cướp bóc nổi lên như ong, nhan nhản kẻ bất lương bất nghĩa, lừa thầy, phản bạn như cha con Võ Thế Loan, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm,… Nhà thơ hi vọng mong chờ xuất hiện nhiều người tài đức như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Hớn Minh; nhưng con người hào hiệp nghĩa khí như ông Quán, ông Tiều, ông Ngư, Tiểu Đồng,… Xem thêm: Bình luận câu: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp” Thân Nhân Trung (1418 - 1499) viết năm 1484, thời Hồng Đức) Người đọc xúc động khi nghe Ngư ông nói với Vân Tiên, sau khi chàng gặp nạn được gia đinh ông cứu sống:
"Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ,
Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn".
“Truyện Lục Vân Tiên ” ra đời cách chúng ta khoảng 150 năm. Nhiều nhân vật trong truyện thơ có một sức sống lâu bền kì lạ và rất hấp dẫn. Hành động anh hùng vị nghĩa của nhân vật Lục Vân Tiên vẫn có nhiều ý nghĩa tích cực đối với con người Việt Nam xưa nay. Tinh thần hào hiệp nghĩa khí của người nông dân Nam Bộ kiên cường chống phong kiến và đế quốc là điều ta cảm nhận được qua những vần thơ Nguyễn Đinh Chiểu.
Vanmau.edu.vn | Bình luận ý thơ sau trong “Truyện Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu_ “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” | 1,073 | |
Bình luận ý thơ sau đây của Tố Hữu: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn
Gợi ý
“Phải sống như thế nào?" là một câu hỏi tự đặt ra, luôn luôn trăn trở với nhiều người trong cuộc sống hằng ngày. Đó là một câu hỏi mà nhiều người trong chúng ta từng phấn đấu thể hiện không mệt mỏi. Thi sĩ Tố Hữu đã từng viết: “Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn?” Có thể nói đó là một câu thơ hay, một ý thơ đẹp, nhiều gợi mở, từng trở thành hành trang tâm hồn của bao bạn trẻ ngày nay.
Vậy thế nào là sống đẹp? Cách sống là cách làm người; sống đẹp là sống đúng đạo lí của dân tộc, sống đúng gia phong nếp nhà, biết “giấy rách phải giữ lấy lề”. sống đẹp là cách sống có văn hóa, có học, từ cách ăn mặc đi đứng đến ngôn ngữ ứng xử từ hành động thái độ đến việc làm cụ thể đều đúng mực, có ích, được mọi người đồng tình và ngợi khen, cổ nhân lây nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm chuẩn mực để đánh giá nhân cách kẻ sỉ để phân biệt quân tử với tiểu nhân. Ngày nay, nhân dân ta lại lấy gương người tốt việc tốt, nêu cao những con người biết sống, học tập, lao động theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để hướng tới và vươn lên. Sống đẹp phải tùy thuộc vào lứa tuổi, vị thế xã hội. Các em nhỏ chăm ngoan, vệ sinh sạch sẽ, học giỏi là sống đẹp. Các cụ già “tuổi xưa nay hiếm” lại nêu cao khẩu hiệu: “Sống khỏe, sống vui, sống có ích” để làm gương cho con cháu noi theo. Một em bé chăn trâu đã dũng cảm nhảy xuống dòng sống cứu bạn khỏi chết đuối là sống đẹp. Một cán bộ biên phòng dũng cảm băng qua dòng nước lũ để cứu dân là sống đẹp. Một Việt kiều, một cán bộ sứ quán Việt Nam đã nêu cao, làm nổi bật những nét bản sắc của nhân dân ta trước bạn bè năm châu bốn biển là sống đẹp.Xem thêm: Phân tích và nêu cảm nghĩ của em về đoạn trích "Cha con nghĩa nặng” trong tác phẩm cùng tên của Hồ Biểu Chánh
Phải biết sống đẹp trong đời thường hằng ngày. Siêng năng làm ăn, cần cù lao động, sống giản dị khiêm tôn, học hành chăm chỉ… là sống đẹp. Tham ô, lãng phí, đè đầu cưỡi cổ nhân dân là kẻ tha hóa, bất lương. Cán bộ, công chức sống đẹp là phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm theo điều Bác Hồ dạy là sống đẹp.
Thầy, cô giáo thương yêu, chăm lo dạy bảo học sinh, coi học sinh như con em ruột thịt của mình, phấn đấu dạy tốt, dạy giỏi là sống đẹp. Thầy thuốc hết lòng săn sóc bệnh nhân, chữa bệnh giỏi, lương y như từ mẫu là sống đẹp.
Nhân ái là truyền thống đạo lí cao đẹp của nhân dân. Tình thương đã tỏa sáng tâm hồn mỗi con người Việt Nam. Các câu ca, câu hát: “Lá lành đùm lá rách", “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” luôn luôn được hàng triệu người nhắc đi nhắc lại và làm theo. Người có lòng nhân sống yêu thương săn sóc mọi người là sống đẹp.
Gia huấn ca tương truyền là của Nguyễn Trãi được các cụ già nhắc lại để khuyên bảo con cháu biết sống đẹp để giữ lấy gia phong, giữ lấy nếp nhà:
Khi còn bé tại gia hầu hạ,
Dưới hai thân vâng dạ theo lời,
Khi ăn, khi nói, khi cười,
Vào trong khuôn phép, ra ngoài đoan trang…
Thời kháng chiến chống Mĩ tuổi trẻ Việt Nam đã xả thân anh dũng chiến đấu để sống đẹp, nêu cao tâm thế và lí tưởng: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng!”.
“Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn?” – Đó là một câu thơ, câu hỏi rất thú vị. Một anh bạn đã nói: “Chí hướng của mình là học giỏi hôm nay để làm giàu ngày mai”. Lại có một cô nữ sinh tâm sự: “Phấn đấu thi tốt nghiệp, thi đại học đạt điểm cao, thi đỗ vào trường mà mình mơ ước”.
Vanmau.edu.vnXem thêm: Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Độc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí) | Bình luận ý thơ sau đây của Tố Hữu_ Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn | 773 | |
Bình luận ý thơ sau đây: “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”… (Đi thi tự vịnh Nguyễn Công Trứ)
Gợi ý
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) là nhà thơ nổi tiếng của đất nước ta trong nửa đầu thế kỉ XIX. Ông để lại nhiều bài thơ nôm, trong đó có nhiều bài hát nói tuyệt bút, với giọng điệu thơ hào hùng. Trong nền thơ ca trung đại, chưa có nhà thơ nào. viết hay và độc đáo về đề tài chí nam nhi, chí làm trai, chí anh hùng như Nguyễn Công Trứ.
Bài thơ “Đi thi tự vịnh " được Nguyễn Công Trứ viết từ thuở hàn vi, đầy chí khí hăm hở của kẻ sĩ. Trong bài có câu thơ từng được nhiều người yêu thích và truyền tụng:
“Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông ".
Câu thơ “Đã mang tiếng ở trong trời đất”, chủ thể trữ tình là ai? Đó là kẻ nam nhi, kẻ làm trai trong xã hội phong kiến. Câu thơ nêu bật vai trò và vị thế của kẻ làm trai, của đấng nam nhi trong cuộc đời, trong vũ trụ.
Câu thơ thứ hai “Phải có danh gì với núi sông” là một lời tuyên ngôn tự tin, tự hào. Hai tiếng “phải có” là sự khẳng định trách nhiệm, nghĩa vụ của kẻ làm trai. “Danh ” ở trong câu thơ là danh tiếng, là công danh, sự nghiệp ở đời; “với núi sông " là với đất nước; “núi sông ” trường tồn, vĩnh hằng thì “danh ” cũng luôn truyền mãi mãi.
Có thể nói, hai câu thơ trên của Nguyễn Công Trứ đã thể hiện một quan niệm sống đẹp và tích cực của kẻ sĩ. Là chí nam nhi, là kẻ sĩ trong cõi đời phải làm nên sự nghiệp to lớn, để lại công đức, danh tiếng cho đất nước, quê hương.
Tại sao “Đã mang tiếng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông "? Xem thêm: Cảm nhận của Anh/Chị về hai đoạn thơ sau: "Gió theo lối gió, mây đường mây... Có chờ trăng về kịp tối nay?" ("Đây thôn Vĩ Dạ" - Hàn Mặc Tử); "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc... Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà"("Tràng giang" - Huy Cận) Theo quan niệm của các nhà nho xưa kia, kẻ sĩ là phải lập thân bằng con đường khoa cử. Triều đình phong kiến chọn nhân tài bằng con đường khoa cử. Sĩ tử phải dấn thân vào con đường thi cử, thi thố tài năng với thiên hạ, mong ghi tên vào bảng vàng bia đá để làm quan. Làm quan là để thực hiện lí tưởng trung quân ái quốc. Gặp thời loạn thì giúp vua dẹp giặc đem lại thái bình cho quê hương. Trong thời bình thì đem tài kinh bang tế thế, trị nước cứu đời, làm cho đất nước cường thịnh. Là đấng trượng phu, là kẻ nam nhi không thể sống tầm thường, không thể ru rú nơi xó nhà, mang thân phận phường giá áo túi cơm.
Kẻ sĩ chân chính phải bằng tài đức, qua rèn luyện “thập niên đăng hỏa” ở cửa Khổng sân Trình, dùi mài kinh sử và bằng con đường thi cử, đỗ đạt, làm nên những công việc phi thường như dời non lấp bể, đội đá vá trời, ghi danh vào sử sách, làm rạng rỡ gia đình, dòng họ, làm vẻ vang cho đất nước, quê hương.
Quan niệm trên đây của Nguyễn Công Trứ rất đúng đắn và tích cực đối với một nhà nho, một kẻ sĩ hăm hở lập thân trong xã hội cũ. Cái “danh” mà nhà thơ nói đến không phải là danh hão, là hư danh, là thứ danh lợi vị kỉ tầm thường. Công danh sự nghiệp phải là tiếng thơm, là những công cuộc ích quốc lợi dân, là công danh sự nghiệp được đo bằng tầm vóc phi thường, là tài năng, đạo đức xuất chúng. Kẻ dốt nát, tham lam, loại hạ lưu… không thể nào có cái danh ấy. Câu thơ trên đây thể hiện một tâm thế tuyệt đẹp của kẻ tài trai, của đấng nam nhi mang khát vọng công danh, mang hoài bão tung hoành "Phái cỏ danh gì với núi sông". Xem thêm: Cảm nghĩ của em về nhân vật Hoài Văn Hầu, Trần Quốc Toản trong cuốn truyện “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của Nguyễn Huy Tưởng Hai câu thơ “Đã mang tiếng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông " rút trong bài thơ "Đi thi tự vịnh ", vì thế “danh” phải gắn liền với bảng vàng bia đá. Nguyễn Công Trứ có lúc lại viết:
"Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,
Không công danh thời nát với cỏ cây".
(Phận sự làm trai)
Như vậy có nghĩa là: muốn làm nên công danh thì phải có trung hiếu; kẻ sĩ không có công danh thì cuộc đời cũng mất hết ý nghĩa, trở nên vô nghĩa "nát với cỏ cây". Có danh là được ghi tên vào sử sách, để lại tiếng thơm cho đời:
"Nhân sinh thế thượng thùy vô nghệ
Lưu đắc đan tâm chiếu hãn thanh ".
Có tài mới có danh. Có đức mới có danh. Có chí nam nhi, có nợ tang bồng mới mong làm nên công danh sự nghiệp: Lập thân, lập công danh là khát vọng ở đời:
"Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc,
Nợ tang bồng vay trả trả vay.
Chí làm trai nam, bắc, đông, tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể… "
(Nợ tang bồng)
Theo Nguyễn Công Trứ thì công danh luôn luôn gắn liền với chí anh hùng. Có chí anh hùng mới lập nên công danh, để lại tiếng thơm cho muôn đời: "Túi kinh luân từ trước đến ngàn sau / Hơn nhau một tiếng công hầu " (Trên vì nước, dưới vì nhà).
Nguyễn Công Trứ là một tài năng đích thực, đi thi: đỗ giải nguyên. Cầm quân "Có lúc bình tây cờ đại tướng". Làm quan, lúc thì ‘Tổng đốc Đông", khi thì giữ chức "Phủ doãn Thừa Thiên ". ông đã di dân lập ấp, lấn biển, sáng lập ra hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn trên miền Bắc nước ta. Đến nay vẫn được nhân dân ca ngợi và lập đền thờ. Xem thêm: Vẻ đẹp độc đáo đồng thời cũng là đặc sắc bao trùm bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Hãy giải thích vì sao có điều đó và phân tích bài thơ để làm sáng tỏ Quan niệm về công danh, về chí nam nhi, nhân dân ta từng ca ngợi những con người mang khát vọng bay xa, bay cao, đi tới mọi chân trời mà làm nên sự nghiệp:
"Làm trai cho đáng nên trai,
Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng "
(Ca dao)
Quan niệm công danh sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ rất gần gũi với quan niệm của nhân dân ta. Tuy tiến bộ và tích cực tuy hăm hở và giàu bản lĩnh, nhưng quan niệm về cồng danh sự nghiệp của Nguyền Công Trứ vẫn là lí tưởng anh hùng của kẻ sĩ thời phong kiến, bị hạn chế bởi tư tưởng “trung quân ". Cuộc đời Nguyễn Công Trứ thăng trầm dữ dội, có lúc làm đại tướng, có lúc bị giáng chức làm lính thú,… Cuối đời ông ngao ngán thốt lên:
“Kiếp sau xin chớ hơn người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo "…
(Cây thông)
Hai câu thơ trên đây đã nêu một quan niệm, một bài học đẹp về cách sống, về lập thân, về nỗ lực phấn đấu làm nên công danh sự nghiệp ở đời. Có học tập tất phải có thi cử. Học sinh chúng ta tìm thấy ở hai câu thơ sự hăm hở trong đua tranh, thi thố tài năng về học tập, thi cử với bạn bè. Thế kỉ XXI đang vẫy gọi. Đất nước đang vẫy gọi. Thanh thiếu niên học sinh phải biết nỗ lực học tập, tiến quân vào con đường khoa học kĩ thuật, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, học giỏi, thành tài, để phục vụ đất nước vì mục tiêu “Dân giàu nước mạnh ". Chúng ta càng trân trọng Nguyền Công Trứ, trân trọng vần thơ nổi tiếng của ông:… “Phải cỏ danh gì với núi sông"… Công danh của tuổi trẻ chúng ta ngày nay luôn luôn gắn liền với lợi ích của Tổ quốc và cách mạng, vì hạnh phúc của nhân dân.
Vanmau.edu.vn | Bình luận ý thơ sau đây_ “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”… (Đi thi tự vịnh Nguyễn Công Trứ) | 1,456 | |
Bình luận đoạn thơ sau đây trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ… Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.”
Gợi ý
Đề bài:
Bình luận đoạn thơ sau đây trong bài thơ "Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn
Anh bổng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
Bài làm:
Chế Lan Viên là một nhà thơ nổi tiếng của phong trào thơ Mới 1930 – 1945. Sau này, ông tham gia cách mạng và trở thành nhà thơ lớn của nền thơ hiện đại. Thơ Chế Lan Viên có phong cách rõ nét và độc đáo, nổi bật là chất suy tưởng triêt lý mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của thế giới hình ảnh được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa. ‘Tiếng hát con tàu’ là một trong nhiều bài thơ đặc sắc của nhà thơ Chế Lan Viên, được rút ra từ tập ‘Ánh sáng và phù sa’ (1960). Bài thơ là không chi là tình yêu quê hương đất nước, đặc biệt còn là nỗi nhớ thương da diết dành cho thiên nhiên, các dân tộc vùng núi phía Bắc của nhà thơ
"Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi. nào qua lòng lại. chẳng yêu thương
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn
Anh bỗng nhá em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”
Những năm người nghệ sĩ kháng chiến cùng nhân dân Tây Bấc tiến hành cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại là những tháng ngày vô cùng gian khổ, đầy những mất mát, hi sinh nhưng cũng sâu nặng nghĩa tình và không thể nào quên. Giữa thủ đô hoa lệ và hồi tưởng về ngày tháng ở Tây Bắc, nhà thơ vẫn cảm thấy da diết một nỗi nhớ bản làng, xóm núi "Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ”. "Bản sương giăng”, "đèo mây phủ” cùng điệp từ "nhớ" đã tô đậm cảm xúc của nhà thơ. Chỉ bằng một hình ảnh mà tác giả đã làm sống dậy được một vùng quê Tây Bắc xa xôi với những gì đặc trưng nhất. Tây Bắc hiện lên trong trang thơ của Chế Lan Viên thật đẹp, thật quyến rũ. Một miền đất xa xôi không những chỉ ẩn hiện trong sương mờ mây núi mà còn ẩn hiện trong sương khói của hoài niệm đã làm khơi dậy trong tâm hồn ta biết bao hình ảnh thân thiết của bản làng Tây Bắc, những tình cảm thắm thiết của quân dân, tình đồng bào trong những năm kháng chiến chống Pháp. Đã có rất nhiều bài thơ nói lên nỗi nhớ và những hình ảnh đẹp của bản làng Tây Bắc như "Nhớ" của Hồng Nguyên, "Bao giờ trở lại" của Hoàng Trung Thông hay "Việt Bắc" của Tố Hữu:Xem thêm: Em hãy kể lại một câu chuyện xảy ra gần đây mà em nhớ mãi”Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về"
Chế Lan Viên đặc biệt nhẩn mạnh đến tình cảm với Tây Bắc – mảnh đất thân yêu, đầy nghĩa tình. "Bản sương giăng", "đèo mây phủ” thường gợi lên sự gian khổ trong những ngày kháng chiến và thường dễ gợi nỗi buồn cho con người. Thế nhưng, bằng tấm lòng gắn bó thiết tha với đâ’t nước, với nhân dân, với những người mà nhà thơ "trọn đời nhớ mãi ơn nuôi” thì những nơi đó bỗng trở thành niềm thương nỗi nhớ trong trái tim tác giả. "Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?”, câu hỏi tu từ nhẹ nhàng, tha thiết nhưng khắc sâu thêm ấn tượng và cảm xúc cho người đọc về tình cam, sự thương yêu của nhà thơ đối với mảnh đất Tây Bắc. Những câu thơ được cất lên từ những xúc động lắng nghe của chính lòng mình, thông qua sự trải nghiệm của cuộc sống đế rút ra một quy luật thật ý nghĩa
"Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn”
Người đọc dễ nhận ra những hình ảnh đối lập để nhấn mạnh, tô đậm ý mà ta thường gặp trong thơ Chế Lan Viên. Đó chính là sự đối lập giữa "ở’ và "đi”, giữa "đất” và "tâm hồn”, đó chính là sự đối lập giữa cái hữu hình và cái vô hình sâu thẳm. Con người ta thường vần vậy, những cái đã quá đỗi quen thuộc thường không biết trân trọng, nâng niu, ta thờ ơ với những gì đã quá gắn bó, luôn ở bên cạnh mình, chỉ có khi đi xa mới thấy lưu luyến, gắn bó, mới thấy một ngọn lửa lung linh của hoài niệm, của cảm xúc. Nhà văn Tô Hoài cũng đã từng nêu lên một quan niệm là phải sông có kinh nghiệm, sống có chiều sâu, có ý thức và biết gắn bó với những gì có ý nghĩa sâu sắc nhất của cuộc sống, ở đây, Chế Lan Viên đã nâng hình ảnh "đất" — một vật vô tri vô giác lên thành "tâm hồn" rất đỗi thiêng liêng, cao đẹp. Tâm hồn ở đây là tấm lòng, là nỗi nhớ, là tình cảm của người ra đi. Trong những nỗi nhớ chung, tác giả dành riêng câu thơ đặc biệt cho một người đặc biệt:Xem thêm: Nhà văn Nga, c. Pau-lốp-xki viết: ‘Dù người ta nói với bạn điều gì đi chăng nữa, bạn cũng hãy tin rằng cuộc sống là kì diệu và đẹp. Hãy phát biểu suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên."Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng"
Tình yêu vốn là một đề tài đã rất quen thuộc trong thơ ca, nhưng khi viết về nó, Chế Lan Viên vẫn có một cách nói độc đáo rất riêng. Nói về tình yêu và nỗi nhớ, tác giả đã có cách so sánh thật mới lạ và thú vị, ta lại bắt gặp một nét quen thuộc rất dễ nhận ra của phong cách Chế Lan Viên, đó là những hình ảnh thơ giàu chất trí tuệ, triết lý qua sự chiêm nghiệm của cuộc đời mà chất chứa cảm xúc như thể tiếng lòng bật lên từ một trái tim đang nồng nàn nỗi nhớ. Chế Lan Viên đã dùng hình ảnh rất mới lạ, mùa đông đến mà thiếu vắng đi cái rét làm cho khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống con người thiếu sự hài hoà. Hình ảnh "cánh kiến hoa vàng" cũng nói lên sự gắn bó của những chất liệu ở miền núi làm nên sự giàu, có cho đời. Cái hay của câu thơ là tác giả đã cụ thể hoá khái niệm trừu tượng của tình yêu thành những hình ảnh gần gũi, quen thuộc với con người. Miêu tả vùng rừng núi Tây Bắc tác giả đặc biệt nhớ đến những sinh hoạt, những hình ảnh của cảnh vật, cỏ cây hoa lá. Mùa xuân đến, những cằnh chim rừng có màu lông đẹp hơn, tiếng hát trong trẻo hơn:Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu hay nhất"Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương”
Có thể nói tình yêu như một phép màu kì diệu của cuộc sống, tạo nên sự thay đổi và biến cải sự vật. Nói đến tình yêu quê hương là nói đến tình cảm của con người với nơi ta đã sinh ra và lớn lên, mỗi người đều có một quê hương "Quê hương là chùm khế ngọt/ Cho con trèo hái mỗi ngày”. Tình yêu như có một sức mạnh kỳ lạ, có thể biến một nơi xa xôi thành quê hương thân thiết. Tình yêu trong thơ Chế Lan Viên không chỉ giới hạn trong tình yêu của anh và em mà nó còn là kết tinh của những tình cảm ấy đối với quê hương, đất nước, làm sâu nặng thêm tình cảm ấy. Trong tâm trí của tác giả. thì nhân dân Tây Bắc, người anh, người em và người mẹ, tất cả như đang nhắc nhở, chờ mong. Đi vào kết thúc, nỗi nhớ trỏ thành những tình cảm da diết hoà hợp quá khứ với hiện tại, hiện tại với tương lai.
Chế Lan Viên nói về Tình yêu nhưng thực chất là nói về tình nhân dân, đất nước, cội nguồn sáng tạo nghệ thuật, thơ ca để đến cuối cùng, nhà thơ đã viết
"Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta”
Đoạn thơ trên là một trong những đoạn thơ hay nhất của bài thơ "Tiếng hát con tàu". Bằng những hình ảnh vô cùng độc đáo và thi vị về tình yêu, Chế Lan Viên đã diễn tả một cách rất chân thực tình yêu, nỗi nhớ da diết không chỉ dành cho vùng núi Tây Bắc mà còn dành cho đất nước, quê hương.
Vanmau.edu.vn | Bình luận đoạn thơ sau đây trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên_ “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ… Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.” | 1,604 | |
Bút pháp của Quang Dũng trong bài thơ “Tây Tiến” là bút pháp hiện thực hay lãng mạn? Phân tích, so sánh với bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu để làm sáng rõ biện pháp đó
Gợi ý
Có thể khắng định rằng những thi phẩm viết về người lính trong kháng chiến thường để lại ấn tựợng rất sâu sắc trong lòng người đọc. Cùng viết về đề tài người lính như “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Đồng chí” của Chính Hữu nhưng “Tây tiến” của Quang Dũng vẫn mang một gương mặt riêng thật khó quên, mang đậm hào khí lãng mạn của một thời gắn bó với một giai đoạn lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Nơi ấy, cuồn cuộn dòng chảy của lạnh lùng và đa tình, hiện thực và lãng mạn, bi và tráng.
“Tây tiến” không có một sáng tạo gì khác thường, đột xuất mà chỉ là sự tiếp tục cùa một dòng thơ lãng mạn nhưng đã được tác giả thổi vào hồn thơ rất trẻ, rất mới, khác hẳn những tiếng thơ bi lụy, não nùng. Cùng khơi nguồn cảm hứng từ một thời gian khố và oanh liệt của lịch sử đất nước nhưng bài thơ “Tây tiến” của Quang Dũng và bài thơ Đồng chí của Chính Hữu đều mang những nét chung và riêng.
Như đã nói, bài “Tây tiến” được viết theo bút pháp lãng mạn cho nên khi đọc bài thơ “Tây tiến”, người đọc như lạc vào chốn Tây Bắc hiểm trở và hùng tráng được dàn trải trong không gian nhớ mênh mang: “Tây Tiến ơi!”, “nhớ chơi vơi”, Và người lính “Tây tiến” xuất hiện trên một bối cảnh hoang vu và hiểm trở, dữ dội khác thường:
“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lèn cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi’’
Những câu thơ mới đọc lên đã thấy sự gập ghềnh, hiểm trở. Hàng loạt thanh trắc “dốc”, “khúc khuỷu”, “dốc thăm thẳm”, như vẽ ra hình ảnh cheo leo, gập ghềnh của dốc núi. Tiếp đó là những chữ đùng rất bạo, nhất là ba chữ “súng ngửi trời”, hai câu sau có sự phối thanh tuyệt vời. Câu trên cũng đầy thanh trắc và dòng thơ như bẻ đôi để vẽ ra hai dóc núi vút lên và đố’ xuống gần như thẳng đứng “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” và câu thơ sau thì toàn thanh bằng “nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, một dòng thơ như bỗng bay ngang lưng trời. Ta tưởng tượng người lính tạm dừng chân nơi một sườn núi nào đó rồi phóng tầm mắt ra xa, thấy nhà ai đó thấp thoáng, ẩn hiện qua một không gian mịt mù sương rừng, mưa núi… Và trên cái nề hiểm trở, hùng vĩ đó, người lính Tây tiến xuất hiện cũng thật oai phong và dữ dội khác thường:Xem thêm: Viết đoạn văn diễn dịch trình bày ý kiến của anh (chị) về tầm quan trọng của việc xác định mục đích học tập“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới”
Trong thực tế, người lính Tây Tiến, do sinh hoạt gian khổ’, thiếu thốn và bệnh sốt rét rừng hành hạ, da dẻ xanh xao, đầu trụi cả tóc. Nhưng ngòi bút lãng mạn của nhà thơ đà biến những người lính Tây tiến thành những bức chân dung lẫm liệt, oai hùng.
Thơ ca lãng mạn quan niệm đã là người anh hùng ra nơi chiến địa thì phải như Kinh Kha đi sang đất Tần “một đi không về”. Hình tượng người lính Tây Tiến dường như cũng phảng phất bóng dáng của người anh hùng ấy:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh”
Người lính Tây tiến sinh hoạt và chiến đấu trong một hoàn cành vô cùng thiếu thốn cực khổ, các chiến sĩ chết vì sốt rét nhiều hơn vì chết trận, lúc chôn cất có khi đến manh chiếu che thân cũng chẳng có. Nhưng dù thế, hình tượng người chiến sĩ trong thơ vẫn phải đẹp, phải sang, phải hào hùng:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Nói đến bi mà không lụy, vẫn đẹp và hào hùng, bài thơ có một màu sắc bi tráng, độc đáo. Nhưng sự chuyển mạch cảm xúc của Quang Dũng rất tự nhiên. Đến khổ thơ sau đây, trạng thái cảm xúc lại chuyển sang một gam khác:Xem thêm: Phân tích nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài- Văn 12
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Binh đoặn Tây tiến chủ yếu là những chàng trai Hà thành trẻ trung, hào hoa, thanh lịch cho nên những tâm hồn ấy rất dễ bị cuốn hút bởi cái tình tứ của cảnh, của người đặc biệt là cái đẹp có màu sắc xứ lạ phương xa. Trước những tiếng reo hò đầy vui sướng của các vũ nữ dân tộc Lào, tâm hồn nhạy cảm của các chiến sĩ Tây tiên còn phát hiện ra:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có thấy dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Phải là những tâm hồn tài hoa và mơ mộng mới cảm thấy được những vẻ đẹp vô cùng giản dị ấy.
Những con người không nề hà trước những khó khăn, trước những gian khổ nơi rừng núi đêm đêm hồn mộng vẫn bay về với những cô gái Hà Nội. Đó là Hà thành hoa lệ, là những nàng kiều, những người con gái đẹp, mang đến xúc cảm đầy chất lãng mạn.
“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Như vậy, cuốn theo hồn thơ Quang Dũng, Tây tiến đối với người đọc đã không chỉ còn là sự lưu giữ những sự kiện, những địa danh có thể chìm vào quên lãng. Tây Tiến còn là minh chứng cho một quá khứ hào hùng, một hồn thơ bi tráng và lãng mạn.
Đối lập với bài thơ “Tây tiến”, sự thăng hoa của một tâm hồn lãng mạn, bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu lại được viết theo một bút pháp khác hẳn, đó là bút pháp hiện thực.
Người lính xuất hiện trong bài thơ này không trên một bốì cảnh khác thường mà trong cái môi trường quen thuộc, bình dị thường thấy ở các làng quê còn đói nghèo xơ xác:
“Quê hương anh nước mặn dồng chua
Làng anh nghèo đất cày lên sỏi đá"
Làng quê nào mà chẳng có giếng nước gốc đa, nơi người dân quê thường gặp gỡ hàng ngày, cho nên:Xem thêm: Em hãy viết bài văn tả người thân yêu và gần gũi nhất với mình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị...)“Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
Tác giả không hề có ý che giấu, trái lại còn nhấn mạnh đến cái vẻ nghèo đói, lam lũ của họ:
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày”
Vẻ đẹp của họ là ở tình đồng chí, tình đồng đội gắn bó với tình giai cấp giữa những người nông dân mặc áo lính. Họ gần gũi nhau vì cùng ra đi từ những làng quế nghèo, trong kỉ niệm của họ cũng cảnh đồng ruộng, cũng túp lều tranh “gió lung lay”, cũng giếng nước gốc đa bình dị ấy và trở thành người lính. Họ lại gặp nhau trong hoàn cảnh thiếu thôn lam lũ của đời lính cũng chẳng khác hoàn cảnh người dân cày bao nhiêu. Cái gần gũi, cái giống nhau, cái thống nhất được nhấn mạnh hơn là cái đặc biệt, cái phi thường. Và sự thông nhất cao hơn cả là tình đồng chí. Đấy là một tình cảm lớn khiến họ vốn xa lạ và cũng chẳng hẹn quen nhau bỗng trở thành thân thiết, thậm chí thành đôi “tri kỉ”. Đó là một sức mạnh tinh thần to lớn khiến họ có thể rời bỏ ruộng nương, gia đình, coi thường mọi gian khổ, hi sinh. Chỉ cần “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” là đã cồ đủ hơi ấm để. chống chọi với những cơn “sốt run người”, những ngày “buốt giá”, những đêm sương muối giữa rừng. Họ thật sự là những anh hùng nông dân, anh hùng áo vải.
Nhìn chung, những thi phẩm viết về người lính nhiều vô cùng nhưng tất cả những thi phẩm ấy đều quy tụ lại những vẻ đẹp của hình tượng chiến sĩ. Tuy đứng ở hai thái cực đôi lập nhau: bài thơ Tây tiến được viết theo bút pháp lãng mạn, bài thơ Đồng chí viết theo bút pháp hiện thực nhưng những con người anh hùng, dũng cảm ấy luôn sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Đó là những tượng đài bất tử về người lính.
Vanmau.edu.vn | Bút pháp của Quang Dũng trong bài thơ “Tây Tiến” là bút pháp hiện thực hay lãng mạn_ Phân tích, so sánh với bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu để làm sáng rõ biện pháp đó | 1,521 | |
Bút pháp lãng mạn trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Gợi ý
Khuynh hướng lãng mạn là một khuynh hướng sáng tác nổi bật của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám – 1945. Song, nói đến lãng mạn trong văn xuôi phải nhắc đến Nguyễn Tuân – nhà văn của sự tài hoa và luôn khát khao cái đẹp. Bút pháp nghệ thuật lãng mạn đã chắp cánh nâng bổng những trang văn ông bay cao bay xa trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Với “ Chữ người tử tù”- một sáng tác nổi tiếng của Nguyễn Tuân, bút pháp nghệ thuật lãng mạn thể hiện rõ ở thủ pháp cuờng điệu hoá và thủ pháp đối lập đặc sắc. Bay bổng trong thế giới của những con người tài hoa nghệ sĩ là niềm dam mê của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám. Thú uống trà, thả thơ, chơi hoa… một cách nghệ thuật của người xưa hấp dẫn Nguyễn Tuân như thứ men say càng uống càng nồng. Chơi chữ – thú chơi nghệ thưật đầy thanh cao dĩ nhiên cũng là đối tượng để Nguyễn Tuân chiêm ngưỡng ngợi ca. “Chữ” ở đây là chữ Nho – chữ thánh hiền. “Chữ” ở đây là những khối vuông được viết bằng bút lông nên có nét thanh nét đậm chẳng những có tính tạo hình mà còn thể hiện được cái tâm, cái tài của người viết. Theo ý nghĩa ấy, chơi chữ là thứ nghệ thuật cao cấp chỉ dành chỉ dành cho những người có học, biết thưởng thức cái đẹp của chữ và cái cao siêu của nghĩa. Chọn đề tài ấy với cảm hứng ngợi ca, Nguyễn Tuân đã cường điệu hoá nét tài hoa của nhân vật chính khiến mọi sự xung quanh con người ấy đều trở thành tuyệt mĩ, hoàn hảo: Huấn Cao không chỉ là chuẩn mực có cái Tài mà còn điển hình cho người nho sĩ xưa về cái Đức, cái Tâm, cái nhân cá h trong sáng vô biên cải hoá cả bụi trần.
Mở đầu tác phẩm người đọc chưa biết Huấn Cao là ai mà đã nghe danh vang dội bốn phương. Con người được “vùng tỉnh Sơn… vẫn khen”, con người mà “ người ta đồn” “văn võ đều có tài cả”. Con người ấy tài năng đi vào dân gian như một huyền thoại kì diệu. Ông nổi tiếng “viết chữ rất nhanh và rất đẹp”, “chữ ông Huấn Cao đẹp lắm và vuông lắm” và “có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời!”. Chữ Thánh hiền có thể kẻ sĩ nào cũng biết, những viết được chữ Thánh hiền vừa đẹp vừa vuông thì hỏi thử nhân gian mây người? ấy vậy mà chữ ông Huấn còn được ngợi ca như “một báu vật trên đời”. Điều đó đủ thây con người ông tài hoa xuât chúng đến nhường nào. Chẳng những thế, ông “còn có tài bẻ khoá và vượt ngục nữa”. Thực ra, đó chỉ là một cách nói thể hiện sức khoẻ phi thường và võ công thâm hậu của người tử tù đặc biệt ấy. Chi tiết này càng khiến Huấn Cao trở thành hình mẫu lí tưởng của đấng trượng phu trong xã hội xưa, con người vãn võ song toàn được người dân tin yêu kính nể. Nguyễn Tuân đã hé lộ cho người đọc biết tất cả những điều đó về Huấn Cao qua lời kể độc thoại nội tâm của những kẻ quanh năm chỉ biết có tù ngục đọa đầy – viên quản ngục, viên thơ lại – để hơn một lần nhấn mạnh, ghi khắc cái tài hoa tuyệt vời của con người Huấn Cao.
Đã trọn tài, lại vẹn đức, Huấn Cao còn là hình mẫu lí tưởng cho một nhân cách trong sạch và khí phách anh hùng. Bị bắt giam trong ngục, Huấn Cao không hề sợ cường quyền áp bức. “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”. Câu nói khẳng khái ấy khiến ta nghĩ đến ý thơ thanh cao của Cao Bá Quát “Nhất sinh đệ thử bái hoa mai”, hay cái nhếch mép “Coi khinh nghìn lực sĩ”, của một nhà thơ Trung Quốc, hay cái ý niệm sâu xa của… “Người đàn ông chỉ có thể quỳ trong hai trường hợp: Để uống nước nguồn và để hái hoa”…dù là ai, họ đều gặp nhau ở vẻ đẹp sáng người của lòng tự trọng, của chữ tâm vuông vức và “thơm mùi mực” mới.Xem thêm: Phân tích cái hay cái đẹp của bài ca dao Hỡi cô tát nước bên đàng Gặp thời rối ren loạn lạc, chữ Tâm của Huấn Cao đã thông nhất với cái lực cái tài của một con người văn võ song toàn để tạo nên khí phách anh hùng trong thời đại. Con người ấy chẳng phải đã khao khát tự do và dám phá tan tù ngục để tìm tự đo đó sao? Cái tài “bẻ khoá” “vượt ngục” thể hiện sâu sắc khao khát tự do, đến nỗi chẳng nhà tù nào kìm giữ nổi. ông đòi tự do cho bản thân mình, còn đòi tự do cho dân làng, cho đồng bào mình nữa. Việc chính quyền phong kiến luôn rình rập, giam giữ kĩ càng Huấn Cao chỉ chứng minh một điều rất lớn: Huấn Cao luôn xả thân vì nghĩa lớn, yêu thương nhân dân, bất bình với chính quyền thối nát suy đồi mà dọc ngang khởi nghĩa không mảy may lo sợ hay hối tiếc.
Bước vào nhà ngục, ông vẫn ngẩng cao đầu ung dung tự chủ, bản lĩnh hiên ngang. Không, đó không phải là con người “điếc không sợ súng”, ông biết và “đợi một trận lôi đình báọ thù và những thủ đoạn tàn bạo của quản ngục” nhưng chính người quản ngục đã ý thức “những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta còn chẳng biết đến ai nữa”. Huấn Cao thực sự là một con người hiên ngang khí phách.
Con người “chọc trời quấy nước ấy” tưởng chỉ biết có đao gươm hay những chuyện quốc gia đại sự. Ai ngờ Huấn Cao cũng tinh tế độ lượng vô cùng, ông là người biết trọng kẻ có thiên lương.
Bắt đầu bước chân vào nhà ngục, Huấn Cao đã cùng các đồng chí “dỗ mạnh gông”. Hành động ấy ngạo mạn và thách thức viên quản ngục nhiều lắm. Vào nhà ngục rồi, ông luôn tỏ ra “khinh bạc đến điều” ông quan ấy… Ta cứ ngỡ lòng Huấn Cao luôn căng ra như thế với kẻ đại diện cho cái chính quyền ông chán ghét. Ngờ đâu! Nó chợt chùng xuống khi Huấn Cao biết rõ quản ngục. Tưởng rằng Huấn Cao lòng được đúc bằng sắt thép nhưng ông đã thấy ân hận vì “thiếu chút nữa đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Những dòng chữ tài hoa cuối cùng của bậc nhân sĩ đã được trân trọng trao cho viên quản ngục với tất cả sự đồng cảm về cái đẹp.
Muôn đời nay ta vẫn nói “Nhân vô thập toàn”, “Ngọc nào ngọc không có vết” nhưng nhân vật Huấn Cao của Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp toàn diện, toàn mĩ, đó là sự thống nhâ’t giữa người nghệ sĩ và người anh hùng. Hình tượng Huấn Cao là ước mơ của tác giả, của xã hội về con người có vẻ đẹp toàn diện tuyệt đối. Sự bay bổng của ước mơ trở thành một đặc điểm quan trọng trong bút pháp nghệ thuật lãng mạn của văn Nguyễn Tuân.
Với một khởi đầu như thế, xuất phát từ nhân vật chính lí tưởng “Mười phân vẹn mười”, những tưởng tác phẩm hứa hẹn những tài tử giai nhân êm ái dặt dìu đến cuối truyện. Nhưng không phải vậy, xây dựng một nhân vật hoàn mĩ chỉ có trong mơ, Nguyễn Tuân đang chuẩn bị để tạo ra hàng loạt những mâu thuẫn, những đối lập, càng làm tăng thêm chất lãng mạn bay bổng trong ngòi bút vốn không chịu nằm im dưới mặt đất yên bình.Xem thêm: Em hãy miêu tả về bà của em
Mâu thuẫn đầu tiên rất dễ nhận thấy nằm trong số phận Huấn Cao. Một con người tài hoa tột đỉnh đáng lẽ ra phải được vinh danh chốn quan trường, hưởng bổng lộc muôn đời, con đàn cháu đông. Nhưng không! Với Huấn Cao ấy là hoa vùi xuống cát, kiếm quăng xuống biển, bút lìa khỏi nghiên. Bị giam chân nơi tù ngục tăm tốì đã đành, chỉ ngày mai thôi, đầu rơi lúc nào không biết. Khi ấy, chẳng phải lỡ cả một đời khổ công dùi mài, văn ôn võ luyện hay sao? Không những vậy, con người thương dân, yêu dân xả thân vì đại nghĩa lại phải chết cái chết tức tưởi với tội danh “phản loạn”, “phản thần tặc tử”. Thật oan trái không sao kể xiết!
Bên cạnh Huấn Cao còn hai số phận trái ngang không kém: viên thơ lại và nhất là viên quản ngục. Hai con người ấy sông, làm việc, gắn đời mình ở nơi ngục tù quanh năm chỉ có sự nhẫn tâm, tăm tối của tra khảo, chém giết. Ngờ đâu nhục hình và quyền lực chưa làm vẩn đục, không đồng hoá được tâm hồn họ. Trong chốn sâu thẳm của lương tri, họ vẫn dành chỗ cho sự tài hoa và cho cái đẹp. Viên quản ngục luôn đau đáu ước mơ “được treo… một câu đối”, ấy thực là “một sở thích cao quý” khó có thể có được ở một con người như vậy.
Tù nhân như thế, quản ngục, thơ lại là vậy hỏi làm sao không diễn ra những sự ngược đời trong lao tù trong thời điểm ấy. Kẻ tử tù ngạo nghễ, ung dung “thản nhiên nhận, rượu thịt, coi đó như là một việc vẫn làm… lúc chưa bị giam cầm” thậm chí “khinh bạc đến điều” quan coi ngục. Nhưng viên quan coi ngục thì ngược lại. Ông “kiêng nể” người tử tù sắp nhận án chém, thậm chí tỏ ra lễ phép rất mực, đặc biệt là cái “run run” khi cúi mình nhận chữ của Huấn Cao.
Đặt con người rất mực tài hoa Huấn Cao vào bối cảnh tù ngục, Nguyễn Tuân còn muốn làm nổi bật sự đối lập giữa cái thanh cao của nghệ thuật chơi chữ với cái quay quắt, tối tăm của tù ngục; giữa cái đẹp và cái xấu; giữa sự sáng bừng của lương tâm phẩm giá con người và hoàn cảnh điêu tàn mục ruỗng…
Thực là một cảnh tượng hiếm có xưa nay. Tất cả tài năng, bút mực, sự bay bổng của ngôn ngữ đã được Nguyễn Tuân tập trung vào cảnh cho chữ này. Thông thường, việc viêt chữ, cho chữ, chiêm ngưỡng chữ người ta thường làm ở những nơi trang nghiêm, trang trọng của những người học rộng, tài cao. Chưa từng có chuyện chôn ngục tù nơi “buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián’’, nơi “tận đáy cùng xã hội nhơ nhớp tanh hôi” lại là nơi diễn ra việc cho chữ. Ấy vậy mà chuyện đó đã xảy ra vào một đêm khuya thanh vắng trước ngày Huấn Cao về kinh chịu tội. ở đây, người cho chữ là Huấn Cao – người rất mực tài hoa, người nhận chữ là viên quản ngục người mà xã hội chỉ coi là người đi bên lề cuộc sống sinh động cao cả. Tâm thế của người tù – người cho chữ – trong sáng, bay bổng, thanh cao cùng cái đạo chữ thánh hiền, mặc thể xác đang bị giam cầm, đày đoạ trái ngược hẳn với người quản ngục – người nhận chữ.- “run run”, khúm núm như đón nhận sự gia ơn của người tử tù. Thật là “cảnh tượng xưa nay chưa từng thấy”.Xem thêm: Con người Nguyễn Khuyến qua "Câu cá mùa thu” Giữa đêm đen đặc quánh, sâu thăm thẳm của chốn nhà lao âm u tĩnh mịch lại bất ngờ rực lên ánh sáng của bó đuôc, mùi thơm của mực tàu, hay đó chính là ánh sáng, hương thơm của khí phách, của cái thần con chữ thánh hiền. “Ba cái đầu chụm lại” trên vuông lụa trắng tinh “còn nguyên lần hồ” đã được ánh sáng của bó đuốc soi tỏ. Cảnh tượng thật quá thiêng liêng và trang trọng. Bóng tối không thể làm tắt đi ngọn đuốc, màn đêm không thể che được màu trắng tinh của lụa và sự hôi tanh của phân gián phân chuột không thể làm cho mùi mực thơm ngạt ngào ngừng ướp hương tẩm vị vào tâm hồn con người.
Chốn ngực tù này mọi trật tự xã hội thông thường bị đảo lộn tất cả. Cảnh cho chữ tập trung mọi sự đối lập, mọi mâu thuẫn của tác phẩm để mỗi chi tiết, mỗi lời nói hành động của nhân vật đều khẳng định sự chiến thắng của cái Đẹp, của cái Thiện. Chốn ngục tù nhưng cảnh tù ngục chỉ được diễn tả rất ít, chỉ một đoạn ngắn ngủi còn lại phần lớn dành cho bó đuốc, lượt lụa, hương mực và sự thành kính thiêng liêng của con người đối với cái chữ, cái đạo, cái chí, cái tâm… Không gian im ắng chỉ còn nghe thời gian đang đếm nhịp trên bó đuốc bừng bừng.
Nếu có âm thanh vang lên thì đó là tiếng nói của Huấn Cao, tiếng nói của cái đẹp, tiếng nói khuyên con người về với cái Thiện “ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy… về quê không ở đây nhem nhuốc” cả tâm hồn nhân phẩm. Và người quản ngục chỉ có thể nghẹn ngào một tiếng “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Vậy là cái Đẹp đã cảm hoá cái xấu, cái ác và nói như Đôtxtôiepki “Cái Đẹp đã cứu vớt nhân thế”. Lời khuyên chân tình của Huấn Cao “ở đây không phải chôn treo tấm lụa” Còn khẳng định một điều: Cái Đẹp không thể sống chung, sống cùng, sống lẫn lộn với cái ác, cái xấu.
Sau câu nói của Huấn Cao, không gian tĩnh lặng. Tĩnh lặng để cho cái đẹp bồi hồi ngân vang… Và khi ấy, Huấn Cao, người quản ngục, người thơ lại từ thế đôi lập đã hoà vào nhau chỉ còn niềm tôn kính vô bờ trang trọng với cái Đẹp, cái Thiện của cuộc đời này.
Cùng với thủ pháp cường điệu và thủ pháp đối lập, biện pháp so sánh giàu hình ảnh bay bổng sức liên tưởng phong phú cũng góp phần thể hiện chất lãng mạn của ngòi bút Nguyễn Tuân “Vì sao chính vị tụt xuống chân trời vô định”.
Bút pháp nghệ thuật lãng mạn đặc sắc đã khắc hoạ thành công chân dung hình tượng nhân vật. Qua đó, tác phẩm cất lời ngợi ca cái tài hoa toàn vẹn, cái đức anh hùng khí phách của thời đại. Bút pháp lãng mạn cũng làm nổi bật cái Đẹp, cái Thiện, thể hiện quan niệm của Nguyễn Tuân: Cái Đẹp cứu vớt nhân thế, cái Đẹp có thể nảy sinh từ cái ác, cái xâu nhưng không thể sống lẫn lộn với cái ác, cái xấu.
Vãn chương Việt Nam hiếm có ai tài hoa như Nguyễn Tuân trong việc tuyệt tả cái tài hoa và sử dụng thủ pháp đôĩ lập tài tình đến thế. Bút pháp nghệ thuật lãng mạn trở thành “thứ của để dành” của riêng nhà văn mà cho đến nay cha ai vượt qua được. “Chữ người tử tù” cũng nhờ xương cốt đúc bằng nghệ thuật độc đáo ấy mà bay cao bay xa mang những giá trị nội dung, nghệ thuật tiến bộ, mới mẻ, đặc sắc đến muôn đời.
Vanmau.edu.vn | Bút pháp lãng mạn trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân | 2,706 | |
Bướm và Ong gặp nhau trong rừng cây, cùng nhau đối thoại về cách sống ở đời. Em hãy kể lại cuộc đối thoại đó theo tưởng tượng của em
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI
Giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh.
+ Trong khu vườn rậm.
+ Bướm nhởn nhơ trên những bông hoa.
+ Bướm nhìn thấy Ong đang mải mê hút mật.
B. THÂN BÀI
Phát triển câu chuyện:
– Bướm thắc mắc với Ong tại sao cứ bận rộn mà không thảnh thơi như Bướm?
– Ong đáp vội vàng cho rằng lao động là cần thiết. Rồi có ngày Bướm phải hiểu điều đó.
– Bướm cho rằng ở đời có cánh bay là để nhởn nhơ. Làm việc chỉ mệt mỏi. Chi bằng mang quần áo đẹp đi chơi.
– Ong cho Bướm biết con người ca ngợi và phê phán Bướm.
– Bướm cho xã hội loài Ong là xã hội gò bó. Cuộc sống như vậy rất chán.
C. KẾT BÀI
+ Trong trò chuyện, Ong vẫn hăng hái làm công việc hút mật.
+ Khi đã đầy mật, nó không bàn cãi mà bay về tổ.
BÀI LÀM
Trong khu rừng cây rậm rạp, um tùm có một chú Bướm vàng với những chấm đen trên cánh đang xập xòe nhởn nhơ dạo chơi. Bướm bay qua những cành cây với một vài bông hoa đang nở rộ đón chào.
Bỗng Bướm phát hiện một chú Ong mật đang mải mê hút mật trên một bông hoa mà Bướm vừa đến. Bướm bay tới, buông lời thỏ thẻ:Xem thêm: Nghị luận xã hội - Đọc sách là tìm đến một thế giới khác – Chào Ong mật, đến hôm nay tôi mới gặp lại bạn. Ô, lúc nào bạn cũng cần cù hút mật. Tại sao bạn không đi du ngoạn, vui chơi như tôi? Trời cho ta đôi cánh để bay lượn tung tăng kia mà! Chúng ta thật diễm phúc, suốt đời chỉ biết du ngoạn mà thôi, phải không Ong?
– Ô, bạn nói sao? Suốt đời bạn chỉ biết du ngoạn thôi à! Không thể đơn giản như thế đâu, cũng có đến một lúc nào đó bạn nên làm việc như tôi đây này, Bướm ạ!
Vẫn cái giọng thỏ thẻ ấy vang lên:
– Trời cho ta đôi cánh, còn con người ở đời lại được đôi chân. Cánh chẳng để bay nhởn nhơ, chân chẳng để rong chơi thì để làm gì? Bạn chẳng biết gì cả, suốt ngày lo làm lụng, thật là mệt nhọc. Còn tôi chỉ biết bay khắp nơi, bay dập dìu qua những rừng cây trái ngọt, những vườn hoa màu sắc rực rỡ suốt cả bốn mùa. Xuân đến, loài bướm chúng tôi được khoác lên những bộ trang phục mới để dạo chơi, thật là hạnh phúc!
Ong vốn ít nói nhưng nghe cái giọng chua loét ấy của Bướm, bèn cất tiếng:
– Bướm có biết con người nói gì về chúng ta không? Bướm suốt ngày chỉ biết rong chơi, còn loài Ong chúng tôi bay đây đó để tìm mật giúp con người chữa bệnh và đem lại cuộc sông con người nhiều điều tốt đẹp.Xem thêm: Tóm tắt truyện ngăn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen Bướm nghe thế, vội tranh cãi:
– Ô, cuộc sống bạn lúc nào cũng bận bịu, vất vả như vậy, ai mà chịu được. Các nhà khoa học đã bảo rằng xã hội loài ong là một xã hội nghiêm ngặt, đi làm về phải có phấn hoa, có sản phẩm thì mới được vào cửa, mà khi vào không được lộn cửa lộn nhà. Còn nếu không có sản phẩm thì đừng hòng vào cửa. Ôi! Cuộc sống của bạn sao lại gò bó như thế! Còn cuộc sống tôi thì khác hẳn, suốt ngày tôi chỉ biết dạo chơi, chỉ biết đi khắp nơi để tìm nhiều điều mới mẻ, tốt đẹp. Tôi không phải làm nhiều chi cho cực cái thân!
Tuy trò chuyện với Bướm nhưng Ong vẫn không ngừng làm việc. Ong vẫn mải mê hút mật. Nghe Bướm nói, Ong rất bực mình nhưng cố lặng thinh bởi Ong còn làm biết bao công việc. Trong khu rừng bao la này có biết bao bông hoa chứa đầy ắp mật vàng óng đang chờ đón Ong. Vì vậy, Ong không nỡ bỏ lỡ công việc để phân giải đối với gã Bướm lười biếng này Ong phải đi làm đây. Ong sẽ chắt chiu cho con người những giọt mật ngọt ngào tươi mát và làm cho cuộc sống của chúng ta ngày tốt đẹp hơn.
Vanmau.edu.vn | Bướm và Ong gặp nhau trong rừng cây, cùng nhau đối thoại về cách sống ở đời. Em hãy kể lại cuộc đối thoại đó theo tưởng tượng của em | 762 | |
Bạn Anh Thư kể về gia đình
Gợi ý
Mẹ em mất từ khi em còn rất nhỏ, em sống với bố. Em đang học lớp 2D, Trường Tiểu học Thanh Bình. Còn bố em là thợ xây. Bố ốp tường, lát nền rất đẹp. Hàng ngày, bố em đi làm từ sớm đến tối mới về, áo quần dính đầy vôi vữa. Tuy sống vất vả nhưng bố con em rất yêu thương nhau. Em mong bố con em có thật nhiều niềm vui trong cuộc sống.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Đừng để lòng tốt phải đi vào ‘sách đỏ’. Theo anh (chị), nhan đề của bài báo trên đẻ cập đến vấn đề gì? Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đế đó. | Bạn Anh Thư kể về gia đình | 131 | |
Bạn Bùi Ngọc Hân viết một đoạn văn nói về bạn cũ
Gợi ý
Trong lớp mẫu giáo của tôi hồi xưa, tôi là cô bé chậm chạp nhất: đi chậm, ăn chậm, nói chậm, chơi cũng chậm. Chỉ có Hoài Anh là hay chơi với tôi. Bạn ấy thường cùng tôi chơi trò xếp hột hạt. Hai đứa xếp hình ngôi nhà, rồi hoa, lá, củ cà rốt, v.v. Tôi thích Hoài Anh lắm, nhất là tiếng cười trong trẻo của cô ấy. Từ khi vào Trường Tiểu học, chúng tôi không còn gặp nhau. Tôi mong sẽ gặp lại Hoài Anh, tôi nhớ bạn ấy lắm.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả con chó | Bạn Bùi Ngọc Hân viết một đoạn văn nói về bạn cũ | 110 | |
Bạn Bùi Thu Hiền viết một đoạn văn nói về bạn cũ
Gợi ý
Bạn thân hồi mẫu giáo của tôi là Hải Dương. Cậu ấy nhỏ bé, gầy gò nhưng rất nghịch ngợm. Giờ ngủ trưa, cậu ấy hay giả vờ ngủ rồi khi các bạn đã ngủ hết thì mở mắt đếm những ngôi sao bằng giấy dán trên trần nhà. Cậu ấy đếm bao nhiêu lần mà chẳng lần nào ra con số giống nhau. Bây giờ, cậu ấy học ở đâu tôi cũng không biết. Tôi rất nhớ Hải Dương.
Vanmau.edu.vn | Bạn Bùi Thu Hiền viết một đoạn văn nói về bạn cũ | 92 | |
Bạn có yêu đời không? Vậy đừng phung phí thời gian và chất liệu của cuộc sống được làm bằng thời gian (Fran – klin). Viết đoạn văn bàn về vai trò của thời gian
Gợi ý
Bạn có yêu đời không? Nếu bạn yêu đời, bạn sẽ thấy mỗi giờ phút đang trôi qua thật ý nghĩa. Một phút trôi qua là thêm một phút bạn được trao đi và nhận lại những lời yêu thương, thêm một phút để bạn tận hưởng dư vị của cuộc sống, thêm một phút để hiểu thêm về cuộc sống, về con người. Cuộc sống có muôn màu, nó được đặt trong thời gian và được đo đếm bằng thời gian. Nếu như không có thời gian thì tất cả những màu sắc ấy cũng sẽ trở thành vô nghĩa, người ta đâu có thời gian để cảm nhận, đâu có thời gian để thưởng thức và sáng tạo ra cuộc sống. Phung phí thời gian, đó cũng chính là cách mà bạn đang phung phí đi cuộc sông của mình. Mỗi thời khắc trôi qua vô nghĩa là thêm một thời khắc bạn để lãng phí cuộc đời của mình. Bạn yêu đời? hãy sống trọn vẹn vối tất cả những thời khắc trong cuộc đời mình bạn nhé.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả câu chuyện Có công mài sắt có ngày nên kim | Bạn có yêu đời không_ Vậy đừng phung phí thời gian và chất liệu của cuộc sống được làm bằng thời gian (Fran – klin). Viết đoạn văn bàn về vai trò của thời gian | 228 | |
Bạn Dương Ngọc Anh bị thủy đậu, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho
Gợi ý
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Thanh Hóa, ngày 14 tháng 9 năm 2009
ĐƠN XIN NGHỈ HỌC
Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 3B
Trường Tiểu học Thanh Sơn
Em tên là: Dương Ngọc Anh Học sinh lớp: 3B
Em làm đơn này xin phép cô cho em nghỉ học ngày từ 14/9/2009.
Lý do nghỉ học: em bị thủy đậu.
Em xin hứa sẽ chép bài, học bài và làm bài đầy đủ.
Ý kiến của gia đình học sinh Học sinh
Cháu bị thủy đậu. Kính xin cô cho cháu Ngọc Anh
được nghỉ học đến khi khỏi bệnh. Dương Ngọc Anh
Thu
Nguyễn Thị Thu
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Hãy tưởng tượng mình là Đăm Săn để kể lại trận đánh Mtao Mxây. (Yêu cẩu lập dàn bài) | Bạn Dương Ngọc Anh bị thủy đậu, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho | 146 | |
Bạn em say mê học Toán nhưng chưa thích học Văn. Em hãy góp ý kiến với bạn để giúp bạn học tập toàn diện hơn
Gợi ý
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1. Văn học là gì và học Văn để làm gì?
– Văn học là sáng tạo của con người, vì lợi ích và đời sống của con người. Một tác phẩm văn học tốt, hay, trước hết là bồi dưỡng tình đời cho mỗi chúng ta để có thái độ sống cho đúng đắn.
– Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực xã hội: Thông qua văn học, chúng ta nhận thức được nhiều điều bổ ích về con người và cuộc sống trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Văn học giúp ta hiểu được đời sống một cách đầy đủ hơn.
– Văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi con người. Nó làm tâm hồn, tư tưởng, tình cảm thêm phong phú, nhạy cảm trước cái đẹp, cái thiện, cái thực của cuộc đời. Văn học sẽ giúp con người hoàn thiện nhân cách, sống tốt hơn, cao thượng hơn, biết yêu thương mọi người và có ích cho mọi người. Ngoài ra, văn học còn là phương tiện giải trí lành mạnh và bổ ích.
2. Khẳng định sự cần thiết học Văn
– Học Văn trước hết là học tiếng nói, ngôn ngữ của dân tộc, học cách nói, cách viết, cách diễn đạt. Hai điều này rất cần thiết đối với mọi người.Xem thêm: < Phân tích bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ
+ Học Văn sẽ giúp cho chúng ta sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho học tập cũng như trong sinh hoạt, làm việc… của mỗi người.
+ Thông qua học Văn và làm văn, kĩ năng viết văn sẽ được phát triển, nâng cao, từ viết đúng đến viết tốt, viết hay. Năng lực viết văn ngày càng cần thiết cho cuộc sống của mỗi người (dẫn chứng).
– Học Văn dể nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, năng lực thẩm mĩ. Học Văn cũng là học đạo làm người.
3. Bàn luận mở rộng
– Trở thành một nhà toán học hoặc một nhà kĩ thuật có trình độ cao là ước mơ chân chính. Trong tình hình đất nước ta đang đổi mới, khoa học kĩ thuật so với thế giới còn lạc hậu thì toán học là cửa ngõ để đi vào kĩ thuật hiện đại.
– Mối quan hệ giữa toán học và văn học là điều cần phải bàn bạc. Nếu chỉ chuyên sâu môn Toán mà coi nhẹ môn Văn và các môn học khác thì con người phát triển không toàn diện, không cân đối giữa trí tuệ và tâm hồn, nhất là đối với học sinh phổ thông, trước hết là học sinh tiểu học, trung học cơ sở.
– Mỗi con người phải được phát triển toàn diện. Chính trên nền tảng của sự phát triển toàn diện đó, mới có thể đi sâu và đạt thành tựu cao ở một chuyên ngành nào đó thuộc khoa học tự nhiên và kĩ thuật hay khoa học xã hội.Xem thêm: Lời tâm sự của một người mẹ: Nhưng trên tất cả, ... thành đạt. (Trái tim người mẹ). Từ câu trên, anh (chị) suy nghĩ gì về tình mẫu tử trong cuộc đờiVanmau.edu.vn | Bạn em say mê học Toán nhưng chưa thích học Văn. Em hãy góp ý kiến với bạn để giúp bạn học tập toàn diện hơn | 567 | |
Bạn hãy phân tích bài thơ Nhàn cúa Nguyễn Bỉnh Khiêm
Gợi ý
HƯỚNG DẪN
VỀ NỘI DUNG
1. Vẻ đẹp cuộc sống và nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm
a. Vẻ đẹp cuộc sống
– Cuộc sống thanh bạch của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện ngay trong hai câu thơ đầu. Cụ Trạng về sống giữa thôn quê như một “lão nông tri điền”, với những công cụ lao động: mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để bắt cá.
– Cuộc sống bậc đại ẩn am Bạch Vân đạm bạc mà thanh cao. Sự đạm bạc thể hiện ở những thức ăn quê mùa, dân dã như măng trúc, giá đỗ. Còn ở, còn sinh hoạt thì cũng tắm hồ, tắm ao như bao người dân quê khác.
– Cuộc sống dù đạm bạc nhưng không khắc khổ bởi đạm gắn liền với thanh. “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”, nói như Xuân Diệu là có cảm giác ăn giá tuyết, uống băng đông. ‘Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” thì vừa có nước trong vừa có hương thơm thanh quý.
b. Vẻ đẹp nhân cách
– Nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện rất rõ trong cách nói đùa vui hóm hỉnh của ông: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ – Người khôn, người đến chốn lao xao”. Đây thực chất là cách nói ngược của nhà thơ, dại mà thực chất là khôn, còn khôn mà hóa dại.
– Nhưng qua cách nói ấy, chúng ta nhận ra sự tỉnh táo của Trạng Trình, sự tỉnh táo của con người ý thức rất rõ chốn công danh là nơi nhiều cạm bẫy. Chỉ có trở về với thiên nhiên, làm lão nông nơi thôn quê vắng vẻ thì mới giữ được sự thanh sạch của tâm hồn. Đó cũng chính là vẻ đẹp của nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm.Xem thêm: Nhân vật Mị trong truyện "Vợ chồng A Phủ” là một thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh. Hãy chứng minh nhận định ấy?2. Ý nghĩa tích cực trong quan niệm “nhàn” của tác giả
– Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là sống nhàn nhã, trốn tránh vất vả, cực nhọc về mặt thể chât, không phải là quay lưng lại với xã hội, chỉ lo cho cuộc sông nhàn tản của bản thân. Nhàn là xa lánh nơi quyền quý, danh lợi mà tác giả gọi là “chôn lao xao”. Nhàn là sông hòa hợp với tự nhiên, về với tự nhiên để di dưỡng tinh thần. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhàn thân mà không nhàn tâm, nhàn mà vẫn canh cánh nỗi niềm yêu nước, lo dân. Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiến có những biểu hiện suy vi về đạo đức thì quan niệm sông nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang những yếu tố tích cực.
VỀ NGHỆ THUẬT
1. Ngôn ngữ tự nhiên, giản dị mà sâu sắc
Ngoài hai câu thơ cuổì có sử dụng điển tích, toàn bài thơ được viết nên bằng ngôn ngữ dung dị mà giàu sắc thái biểu cảm. Nhà thơ sử dụng những lời ăn tiêhg nói hằng ngày của nhân dân một cách tự nhiên: dại, khôn, ăn, tắm,… những hình ảnh đời thường quen thuộc cũng được nhà thơ vận dụng: mai, cuốc, cần câu, ao,… và đặc biệt là các từ láy: thơ thẩn – diễn tả niềm vui, bước đi ung dung của tác giả, lao xao – chôn cửa quyền ngựa xe tấp nập nhưng nhiều thủ đoạn, lắm bon chen, luồn lọt, sát phạt.Xem thêm: Thuyết minh về một thể loại văn học (Phú)2. Sự kết hợp giữa trữ tình và triết lí
Bài thơ Nhàn là cảm hứng nhàn mà cũng là triết lí nhàn. Triết lí nhàn thể hiện qua quan niệm của tác giả về dại và khôn: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ — Người khôn, người đến chôn lao xao”. Triết lí sâu sắc mà hóm hỉnh trong cách nói đùa vui ngược nghĩa, dại mà thực chất là khôn còn khôn mà hóa dại. Triết lí giáo huân mà không khô khan, trái lại vẫn tràn đầy cảm xúc bởi nhà thơ nói bằng tất cả trái tim chân thành, nói bằng chính sự trải nghiệm của cuộc đời mình.
Vanmau.edu.vn | Bạn hãy phân tích bài thơ Nhàn cúa Nguyễn Bỉnh Khiêm | 719 | |
Bạn hãy tưởng tượng cuộc gặp gỡ bạn Lượm trong một lần đi liên lạc.
Hướng dẫn
Hôm nay cô giáo dạy văn đã giảng cho tôi nghe một thơ về chú bé Lượm, hình ảnh Lượm luôn hiện trong tâm trí tôi trong suốt buổi học. Buổi trưa hôm đó khi đang trên đường đi học về qua cánh đồng làng, tôi đã gặp được Lượm.
Cánh đồng làng đang mùa trổ bông mà ruộng nào ruộng nấy gãy rạp từng mảnh, loang lổ những vết cháy đen. Đường quốc lộ thì nham nhở những hầm hố ở gà, nhìn hết sức bi thương. Không chỉ vậy, từ xa thỉnh thoảng lại vang lên tiếng súng nổ đì đùng. Tôi nhìn thấy một cậu bạn chừng tuổi tôi, rất hồn nhiên vui tươi, trên đầu còn đội mũ ca nô nữa. Nhìn cậu bạn dễ thương, tôi trấn tĩnh lại rồi hỏi:
– Chào bạn! Bạn là ai? Và đây là ở đâu hả bạn?
Nụ cười lại lấp lánh trên đôi môi của người bạn mới gặp:
– Bạn không biết mình đang ở đâu ư? Bạn đang đứng ở trên mảnh đất bom đạn: Thừa Thiên Huế. Còn tôi, tôi tên là Lượm.
– Sao nhìn bạn giống Lượm được nói đến trong bài thơ mà tôi đã học thế.
– Ừ đúng mình rồi đấy. Chắc gia đình bạn tản cư, bạn bị lạc đường mất rồi. Bạn có nhìn thấy cái cây cổ thụ phía xa kia không? Bạn chịu khó đi đến đó hỏi đường các chú cảnh vệ nhé. Mình phải đi bây giờ, mình đang vội lắm!Xem thêm: Văn tự sự
Lượm toan rảo bước chân đi nhưng tôi phần vì không muốn rời xa người bạn đáng mếm mới quen như thế, phần vì tò mò (bom đạn thế này sao bạn ấy không đi tản cư như mình mà định đi đâu?) nên vội níu áo bạn:
– Ấy khoan! Cậu đi đâu mà vội thế?
– Mình là liên lạc của Việt Minh! – Cậu bạn tự trả lời. Khi nói câu này, mặt cậu ấy còn hơi nghênh lên rất ngộ! – Mình đi làm việc như mọi ngày thôi, đưa thư cho các các bộ trong tỉnh, trong huyện…
Tôi thấy ngạc nhiên và vô cùng thán phục tài năng của bạn, bạn nhỏ xíu mà làm được việc thật lớn lao, tôi hỏi:
– Thế… thế cậu có sợ không?
– Ư… Sợ thì cùng có sợ chứ. Tớ mấy lần bị đạn bắt hụt chết. Có lần bị thương thật rồi đấy, nằm mấy ngày liền. Nhưng đất nước có chiến tranh ai cũng phải góp sức mình cho Tổ quốc. Nghĩ đến những mất mát mà đồng bào ta phải chịu, sự anh dũng hi sinh của các chiến sĩ và sự chiến đấu kiên cường của dân tộc, mình không sợ gì nữa. Hơn nữa, cứ ở nhà mà nghe tin này, tin nọ của ta, của địch sốt ruột lắm, mình thấy chân tay như thừa cả ra ấy, chỉ muốn góp chút sức mình cùng với mọi người. Mình làm liên lạc, đi lên đồn Mang Cá với các anh chị trên ấy vui lắm! Thôi chào bạn nhé! Mình đi đây!Xem thêm: Em đã được học rất nhiều thầy cô giáo và có những kỉ niệm sâu sắc, em hãy kể lại một trong những kỉ niệm đó
Tôi ngỡ ngàng nhìn bóng Lượm thoăn thoắt trên con đường đầy thương thích. Cậu ấy đang chữa lành vết thương cho những con đường đấy! Để tin tức của ta không vì bom đạn mà đứt quãng. Nhìn từ xa, tôi chỉ thấy một dáng nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn, chiếc xắc lắc lên đập xuống theo nhịp chân sáo của Lượm; nhất là cái mũ ca lô, Lượm đã vào những bờ lúa mà chiếc mũ vẫn nhấp nhô thoắt ẩn thoắt hiện. Nắng đang lên nhẹ rải những ánh vàng trên con đường Lượm đi…
Bóng Lượm vẫn đang thấp thoáng, bỗng có tiếng! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Tôi giật bắn mình, mắt ngớ ngàng nhìn những tia máu nóng bắn tung lên và dáng Lượm chơi vơi giữa đồng lúa…mảnh đạn đã bắn trúng vào thân hình nhỏ bé của Lượm, Lượm đã anh dũng hi sinh.
Cuộc gặp gỡ của tôi và Lượm diễn ra rất ngắn ngủi, nhưng tôi được chứng kiến thái độ yêu đời, tu thế hiên ngang bất khuất trước bom đạn của kẻ thù của một chàng thiếu niên dũng cảm. Cuộc gặp gỡ với Lượm làm tôi thấy được rõ hơn những mất mát trong chiến tranh mà cha ông ta đã phải chịu đựng. Tôi nhận thấy mình cần cố gắng học tập thật tốt để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp.
Nguồn: | Bạn hãy tưởng tượng cuộc gặp gỡ bạn Lượm trong một lần đi liên lạc. | 796 | |
Bạn Hương kể về việc học tập trong học kì I
Gợi ý
Học kì I vừa qua, lớp em học tập rất hăng hái. Bạn nào cũng thi đua giành được nhiều điểm 10 nhất để mang về khoe với bố mẹ. Không khí học tập ở lớp em rất vui. Vì vậy cũng như các bạn, em đã quyết tâm học tập và giành được rất nhiều điểm 10. Em cũng chẳng nhớ nổi là mình được bao nhiêu điểm 10 nữa, chỉ biết rằng rất nhiều. Em thấy rất vui khi có một môi trường học tập như vậy.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Dựa theo bài tập đọc Báo cáo kết quả tháng thi đua Noi gương chú bộ đội, hãy viết lời cho bài báo cáo kết quả học tập, lao động của tổ trong tháng qua | Bạn Hương kể về việc học tập trong học kì I | 136 | |
Bạn Hồng Giang kể về gia đình
Gợi ý
Gia đình em có rất đông người: ông bà nội, bố mẹ em, cô Linh, chú Khải và em. Ông bà nội đã nghỉ hưu, bố mẹ và cô chú em đều đi làm trong Công ti Bóng điện, Phích nước Rạng Đông. Bố mẹ và cô chú em đi làm theo ca nên ít khi bữa cơm gia đình có đông đủ mọi người. Em rất thích ngày lễ, ngày tết vì đó là những dịp cả nhà có những bữa cơm thật vui.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Phê phán thái độ thờ ơ, lanh nhạt với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên | Bạn Hồng Giang kể về gia đình | 130 | |
Bạn Kim Anh kể về gia đình mình với người bạn mới
Gợi ý
Gia đình mình có 4 người bạn ạ!
Bố mình là công nhân, hàng ngày bố đi làm từ rất sớm. Mẹ mình là kĩ sư nông nghiệp, mẹ rất yêu cây cối. Vì vậy nếu bạn có dịp đến nhà mình chơi, bạn sẽ được chiêm ngưỡng khu vườn nhà mình với rất nhiều loại cây khác nhau được mẹ trồng ở những chiếc chậu rất xinh xắn. Anh mình đang học cấp 2, tương lai sau này có lẽ anh ấy cũng sẽ trở thành kĩ sư nông nghiệp như mẹ mình, vì có thời gian rảnh rỗi là anh mình lại ra vườn để chăm sóc cho chúng. Còn mình, vẫn rất mải chơi.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Từ trích đoạn vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nghĩ về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi người | Bạn Kim Anh kể về gia đình mình với người bạn mới | 159 | |
Bạn Kiều Trang kể về buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Năm nay em đã lên 9 tuổi. Mỗi khi nhớ lại buổi đầu tiên mới đến trường, lòng em vẫn thây rất bồi hồi, xúc động với biết bao kỉ niệm.
Sáng hôm ấy, em được mẹ gọi dậy từ rất sớm. Mẹ mặc cho em một bộ quần áo mới tinh, bộ quần áo em được mẹ mua cho cách đó đã hơn một tuần. Vậy mà hôm nay em mới được mặc, trông em ra dáng một “thanh niên” ghê. Không hiếu sao lúc đó em thấy rất hồi hộp.
Khoác chiếc cặp ra sau lưng, em cất tiếng chào mọi người trong gia đình để cùng mẹ đi đến trường. Cả nhà em đồng thanh nói: Chúc “chú cuội” đi học vui vẻ. Lòng em thấy vui vui.
Trên đường đi, em vừa muốn mẹ đi nhanh, nhưng cũng lại muốn mẹ đi chậm lại vì em cảm thấy hơi lo lo. Càng đến gần trường, tim em lại càng đập mạnh. Nhưng hình như mẹ lại rất tin tưởng ở con trai, nên trông mẹ rất bình thản và dắt em vào lớp. Vào đến cửa lớp, mẹ xoa đầu nói: Chào con trai mẹ, vào với Cô và các bạn đi nhé. Chúc con có một buổi học bổ ích. Rồi mẹ trở ra về chỉ còn lại mình em. Em rón rén bước vào lớp cất tiếng chào cô và được cô đón vào với nụ cười trên môi. Điều đó khiến em cảm thấy vững tin hơn và không còn cảm thấy hồi hộp nữa. Buổi học đầu tiên với em thật là thú vị.Xem thêm: Giới thiệu về văn bân Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ emVanmau.edu.vn | Bạn Kiều Trang kể về buổi đầu tiên đi học | 303 | |
Bạn Linh Chi kể lại buổi đầu đi học
Gợi ý
Đã ba năm trôi qua, nhưng mỗi khi thu về, lòng em lại bồi hồi, nao nức nhớ buổi đầu tiên đến trường.
Buổi sáng hôm ấy, em dậy rất sớm, mặc quần áo mới, vai đeo cặp sách cùng mẹ đi đến trường dự lễ khai giảng năm học mới.
Tới cổng trường, mẹ dừng lại mua cho em một quả bóng bay và lá cờ đỏ sao vàng trông rất đẹp. Mẹ đưa em vào tận sân trường, đến chỗ cô giáo đang tập trung các bạn học sinh lớp một. Lúc đầu em còn bỡ ngỡ nhưng khi nhìn thây mấy bạn học cùng lớp mẫu giáo, em mừng quá chạy tới chuyện trò tíu tít.
Buổi lễ khai giảng năm học mới hôm ấy diễn ra thật vui vẻ. Những quả bóng xanh đỏ thi nhau bay vút lên trời cao như mang theo cả niềm vui buổi đầu tiên đến trường của chúng em.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về cô giáo dạy môn năng khiếu của em | Bạn Linh Chi kể lại buổi đầu đi học | 176 | |
Bạn Lê Kim Dung gửi điện báo tin cho gia đình
Gợi ý
– Họ tên, địa chỉ người nhận: Lê Quang Bách, thôn An Giới, xã An Sơn, huyện Nam Sách, Hải Dương.
– Nội dung: Con đã lên đến nơi rồi.
– Họ tên, địa chỉ người gửi: Lê Kim Dung, tổ 2, thị trấn Tân Thanh, Lạng Sơn.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Giới thiệu về ca dao Việt Nam | Bạn Lê Kim Dung gửi điện báo tin cho gia đình | 65 | |
Bạn Lê Thanh Sơn kể về buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Hoà trong không khí chung của học sinh cả nước, ngày mồng 5 – 9 – 2007 là ngày em được công nhận là một học sinh. Buổi sáng hôm đó là một kỉ niệm thật đẹp trong đời học sinh của em.
Đúng 6 giờ em bước chân ra khỏi nhà. Ô hay! Sao hôm nay bầu trời lại đẹp thế? Hàng cây ven đường khẽ đung đưa theo gió như đang đưa bước chân em nhanh đến trường. Con đường làng quen thuộc hôm nay lại càng trở nên thân thương hơn. Tiếng lúa rì rào như chào đón em, vẫy gọi em. Lòng thấy vui vui, em nhảy chân sáo thật nhanh.
Đến trước cổng trường, em ngỡ ngàng bởi khung cảnh ở đây. Cánh cổng mở to. Đứng trước cổng trường là hai hàng anh chị học sinh lớp 5 đang cầm cờ giơ tay vẫy vẫy. Bước vào bên trong, hai dãy nhà còn mới tinh. Một khung cảnh thật sôi động diễn ra trước mắt em. Các bạn học sinh đã đứng vào hàng. Tiếng trông trường rộn rã. Em vội vàng đi tìm lớp của mình và hoà vào không khí chung của ngày khai giảng.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết một bức điện báo gửi về gia đình em | Bạn Lê Thanh Sơn kể về buổi đầu tiên đi học | 223 | |
Bạn Lý Thị Bình viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình
Gợi ý
Em học ở Trường Tiếu học Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Trường của em nằm giữa đồng lúa xanh. Sáng sớm, trước giờ vào lớp, em thích đứng ở hành lang, đón những cơn gió mang theo mùi thơm của lúa. Trường em trồng rất nhiều cây phượng. Mỗi độ hè về, phượng nở đỏ rực, chỉ thấy hoa đỏ mà chẳng nhìn thấy lá xanh.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Ôn tập giữa kì 1 lớp 5 tiết 7 + 8 (Bài Luyện Tập) | Bạn Lý Thị Bình viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình | 98 | |
Bạn Lự Thị Thắm viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình
Gợi ý
Trường em là Trường Tiểu học Trạm Tấu, thuộc huyện Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Trường em nằm trên một quả đồi, xung quanh trồng biết bao nhiêu là quế. Quanh năm, hương quế phảng phất, thơm thơm. Đường đến trường men theo chân đồi, uốn lượn như dải lụa mềm. Em yêu trường, yêu cô giáo và các bạn trong lớp rất nhiều.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả cây phượng nơi sân trường (hay trước sân đình, trên đường làng) | Bạn Lự Thị Thắm viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình | 93 | |
Bạn Mai Ly kể về gia đình mình với người bạn mới
Gợi ý
Nhà mình ở quận Tư, đường Nguyễn Tất Thành. Ngôi nhà mình ở nằm ngay phía ngoài mặt đường lớn của thành phố. Bố mình thường xuyên phải đi công tác xa nhà, mẹ mình thì làm diễn viên. Công việc của mẹ rất bận rộn, cũng vắng nhà luôn. Mình và em trai ở nhà với ông bà nội. Ông bà rất thương anh em mình. Năm nay ông bà cũng đã ngoài 70 rồi, may sao trời phú cho bà một sức khoẻ để bà có thể chăm sóc cho anh em mình. Nếu không có bà thì anh em mình không biết sẽ ra sao. Ông mình rất hiền, ông rất yêu cây côi vì vậy nhà mình lúc nào cũng được sống trong một bầu không khí mát lành của cây xanh. Tối đến ông bà thường kế cho anh em mình nghe những câu chuyện cổ tích thật là lý thú. Mình rất yêu gia đình của mình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết bài bình luận ngắn về tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay (không quá 400 từ) | Bạn Mai Ly kể về gia đình mình với người bạn mới | 195 | |
Bạn Mai Trang kể về gia đình với một người bạn mới quen
Gợi ý
Gia đình mình có bốn người. Đó là bố mình, mẹ mình, mình và mình trai em. Bố em làm công an. Bố rất hiền nhưng cũng thật nghiêm khắc. Mẹ mình là cô giáo. Mẹ rất đảm đang và nấu ăn khá ngon. Em trai mình hàng ngày đi học mẫu giáo. Ngày nghỉ, chị em mình thường được bố mẹ cho đi chơi công viên hoặc đi sở thú. Mình rất yêu quí gia đình – tổ ấm bé nhỏ của mình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về tác hại của sự tức giận trong cuộc sống | Bạn Mai Trang kể về gia đình với một người bạn mới quen | 112 | |
Bạn Mai Xuân Lan viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình
Gợi ý
Em tên là Mai Xuân Lan, là học sinh lớp 2A. Trường em là Trường Tiểu học Đinh Xá. Đó là một ngôi trường nhỏ nằm dưới những rặng cây rợp bóng mát, sau lưng là dòng Châu Giang chảy hiền hòa. Trường em là cái nôi đào tạo cho biết bao nhiêu thế hệ học sinh trưởng thành. Em rất yêu ngôi trường này. Em sẽ cố gắng học thật giỏi để tiếp bước truyền thống tốt đẹp của trường đồng thời em luôn giữ gìn và quét dọn để cho trường Đinh Xá thêm đẹp.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một người bạn mà em mới quen | Bạn Mai Xuân Lan viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình | 122 | |
Bạn Mai Đức Huy viết một đoạn văn nói về bạn cũ
Gợi ý
Hồi bé, tôi rất thích trò lê-gô, trong nhà tôi có bao nhiêu bộ xếp hình, nhưng bộ nào tôi cũng mau chán vì tôi xếp hình kém lắm. Thế rồi một lần, Minh Long, cậu hàng xóm sang nhà tôi chơi và tôi không thế nào rời cậu ấy được nữa. Sao lại có người xếp lê-gô giỏi thế không biết! Cậu ấy xếp nào lâu đài, có cả hàng rào và vườn hoa, sân chơi nhé; nào là ô tô, rất nhiều ô tô, lại còn cả xe tăng với cái nòng pháo dài thượt nữa chứ. Tôi khâm phục cậu ta sát đất.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Em hãy kể về tình cảm của em gái em đối với em | Bạn Mai Đức Huy viết một đoạn văn nói về bạn cũ | 132 | |
Bạn Minh Quân kể về gia đình mình với người bạn mới
Gợi ý
Gia đình mình rất đồng bạn ạ! Ông bà mình năm nay đã ngoài 70. Ông có mái tóc trắng như cước, chòm râu bạc, trông rất hiền từ. Bà mình trông có vẻ yếu hơn ông một chút, tóc bà đã rụng gần hết vì vậy ngày nào bà cũng phải vấn khăn mỏ quạ trên đầu. Bố mẹ mình đều là công nhân, ngày nào cũng đi làm từ rất sớm, chiều tối mới về. Hai chị em mình còn nhỏ vì thế mẹ mình rất vất vả. Sáng mẹ dậy sớm đi chợ chuẩn bị thức ăn cho cả nhà. Buổi trưa mẹ tranh thủ về nấu cơm, ăn vội vàng rồi lại đi ngay. Tối về mẹ lại lo cơm nước cho cả nhà, dọn dẹp nhà cửa đến khuya mới xong mọi công việc. Mong sao mình lớn thật nhanh để giúp mẹ việc nhà.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Thiên nhiên trong nhiều bài Thơ mới (1932 - 1945) đẹp nhưng buồn. Hãy giải thích vì sao như vậy và chứng minh bằng bài thơ Tràng Giang của Huy Cận | Bạn Minh Quân kể về gia đình mình với người bạn mới | 194 | |
Bạn Minh Sơn kể về buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Niềm vui lớn nhất của trẻ em chính là được cắp sách đến trường.
Nhà em ở thành phố vì vậy việc đến trường không có gì là xa lạ và ngạc nhiên với chúng em. Nhưng không hiểu sao, ngày hôm đó em vẫn cảm thấy có một sự thay đổi trong lòng.
Ba mẹ em đã chuẩn bị cho em rất đầy đủ. Từ sách vở đến sữa, bánh ngọt. Tất cả đều được mẹ em đựng trong một chiếc ba lô khá to so với thân hình của em. Sáng hôm ấy, em mặc bộ quần áo đồng phục của nhà trường. Chưa bao giờ em thấy mình lại chững chạc đến vậy. Em thấy phấn khởi trong lòng và háo hức được đến. trường ngay.
Vừa đến cổng trường, em vội vàng xuống xe. Quên cả chào mẹ, em chạy tọt vào trường, tự đi tìm lớp và các bạn của mình. Nhưng chính lúc này, tự nhiên em lại thấy hơi lo vì không biết thầy cô mới của mình như thế nào, bạn bè ra sao?… Biết bao câu hỏi ở đâu tự nhiên cứ hiện về. Đang chạy bỗng em dừng bước vì những suy nghĩ đó, thì cũng là lúc em đứng trước cửa lớp mình.
Ánh mắt hiền hoà của cô nhìn em khiến em cảm thấy yên tâm và tự tin bước vào lớp.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Chí Phèo - một nhân vật điển hình | Bạn Minh Sơn kể về buổi đầu tiên đi học | 249 | |
Bạn Mùi Thu Thủy kể lại buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Ngày đầu tiên đi học đối với em là một kỉ niệm không bao giờ quên. Biết bao bỡ ngỡ và rụt rè trước cảnh tượng của ngôi trường rất khang trang và rộng rãi. Trong sân trường, các bạn đã đến rất đông và mang trên mình rất nhiều bộ quần áo khác nhau tạo nên một bức tranh rất đẹp. Dưới cái nắng mùa thu, em cảm thấy rất bồi hồi khí lần đầu tiên bước chân tới trường. Em quay lại chào bố mẹ và hoà mình vào đám đông các bạn. Thế là từ nay em đã là một học sinh!
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Bàn về vấn đề: Chỗ chơi cho trẻ em - Một vấn đề bức xúc | Bạn Mùi Thu Thủy kể lại buổi đầu tiên đi học | 132 | |
Bạn Mạnh Hùng kể về gia đình mình với người bạn mới
Gợi ý
Chắc bạn sẽ ngạc nhiên lắm nếu có dịp đến thăm nhà mình. Nhà mình tuy không rộng nhưng cũng đủ chỗ cho 11 người ở đấy bạn ạ. Cụ mình năm nay đã 91 tuổi nhưng cụ vẫn còn minh mẫn lắm. Cụ hát trầu văn rất hay, thỉnh thoảng cụ vẫn hát cho mình nghe những đoạn trầu văn nghe rất hài hước. Ỏng bà nội mình cũng già, đã 70 rồi. Ông có mái tóc trắng như cước, nhưng ông cắt ngắn. Chỉ có chòm râu là ông đế dài. Mỗi khi mình bị mẹ mắng, ông lại ôm mình vào người và cho mình vuồt chòm râu bạc của ông. Hàng ngày ông phụ cho bà bán hàng nước ngoài ngõ, cạnh cửa hàng gia đình mình thuê để mở cửa hàng kinh doanh. Bố mẹ mình làm ở cửa hàng cùng với; vợ chồng chú thím mình. Chị mình năm nay 15 tuổi, chị rất đảm đang. Đi học về là chị lại thay mẹ nấu cơm cho gia đình. Thông thường thì cụ, ông bà, hai chị em minh và hai em con của chú thím ăn cơm trước.
Dù ở đông như vậy nhưng gia đình mình rất hoà thuận, chẳng mấy khi có “chiến sự” cả. Có chăng chỉ là bọn mình đùa nghịch rồi chí choé với nhau một tí thôi. Gia đình mình vui lắm bạn ạ!Xem thêm: Trong truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi có nêu lên một quan niệm: “Chuyện... ta”. Anh (chị) có cho rằng, ... , ông cha cho đến lớp người điVanmau.edu.vn | Bạn Mạnh Hùng kể về gia đình mình với người bạn mới | 282 | |
Bạn Nguyễn Diệu Anh gủi điện báo tin cho gia đình
Gợi ý
– Họ tên, địa chỉ người nhận: Nguyễn Kim Thành, 47 phố Hàng Ngang, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
– Nội dung: Cháu đã về tới quê bình an.
– Họ tên, địa chỉ người gửi: Nguyễn Diệu Anh, thôn Mậu, xã Tam Nông, huyện Lâm Thao, Phú Thọ.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Trường em có một độỉ bảo vệ cây xanh. Hãy kể lại việc làm của các bạn trong độỉ đó | Bạn Nguyễn Diệu Anh gủi điện báo tin cho gia đình | 79 | |
Bạn Nguyễn Hoàng Nam viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình
Gợi ý
Em tên là Nguyễn Hoàng Nam, là học sinh lớp 2B Trường Tiểu học Trưng Vương. Trường em là một ngôi trường rất to và đẹp, nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội. Trường em có nhiều thầy cô dạy giỏi và học sinh rất chăm ngoan. Em rất yêu ngôi trường của mình. Em sẽ cố gắng học thật giỏi để xứng đáng là học sinh của trường Trưng Vương.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Nhà văn Pháp Gioóc-giơ Đuy-a-men (1884 - 1966) nói: “Một, ...lí giải thế giới”. Bình luận câu nói ấy dựa trên cơ sở một truyện ngắn hoặc một tiểu thuyết đã học | Bạn Nguyễn Hoàng Nam viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình | 119 | |
Bạn Nguyễn Quốc Thiên gửi điện báo tin cho gia đình
Gợi ý
– Họ tên, địa chỉ người nhận: Trần Văn Trung, số nhà 22 phố Trần Hưng Đạo, thị xã Sơn Tây.
– Nội dung: Cháu đã đến chỗ bố rồi.
– Họ tên, địa chỉ người gửi: Nguyễn Quốc Thiên, thốn Đông, xã Trạm Tấu, huyện Nghĩa Lộ, Yên Bái.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Cảm nghĩ của em về những khía cạnh nực cười ở lão Giuốc-đanh trong trích đoạn kịch vừa học | Bạn Nguyễn Quốc Thiên gửi điện báo tin cho gia đình | 79 | |
Bạn Nguyệt Anh kể lại buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Buổi đầu tiên đi học với em là một buổi học đầy ý nghĩ và bỡ ngỡ. Khung cảnh sân trường thật hay và lạ. Có bạn thì khóc rất to, có bạn thì cười rất lớn, có bạn thì ngơ ngác trước bao điều lạ lẫm. Riêng em, em cảm thấy mình vừa như muốn bước chân vào lớp, vừa như muốn trở ra về. Muốn vào vì muốn có nhiều bạn bè mới. Muốn về vì thấy nhớ mái trường mầm non thân quen. Tiếng trống vang lên như nhắc nhở em nhanh bước chân vào lớp. Và thế là ngôi trường mới đã nhận thêm một học trò nhí là em.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Nói những điều em biết về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (TNTPHCM) | Bạn Nguyệt Anh kể lại buổi đầu tiên đi học | 140 | |
Bạn Phương Anh kể về việc học tập trong học kì I
Gợi ý
Cô giáo em rất nhiệt tình, quan tâm đến lớp. Đặc biệt học kì I vừa qua cô đã tổ chức cho lớp em rất nhiều trò chơi bổ ích giúp cho việc học được tốt hơn như Học mà chơi, chơi mà học, Câu lạc bộ yêu thơ, Bé làm toán… Chúng em rất thích các trò chơi mà cô tổ chức. Mỗi khi được chơi xong bạn nào cũng thấy ham học hơn và học tiến bộ hơn rất nhiều. Cũng nhờ có động lực ấy mà học kì I vừa qua em đã đạt học sinh giỏi. Em thây rất vui.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể một kỉ niệm với thầy giáo (hay cô giáo) của em | Bạn Phương Anh kể về việc học tập trong học kì I | 129 | |
Bạn Phạm Thu Hoa bị ốm, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho
Gợi ý
Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam
Độc hập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 12 thúng 10 năm 2009
ĐƠN XIN NGHỈ HỌC
Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 3A2
Trường Tiếu học Trưng Vương
Em tên là: Phạm Thu Hoa Học sinh lớp: 3A2
Em làm đơn này xin phép cô cho em nghỉ học ngày 12/10/2009.
Lý do nghỉ học: em bị ốm
Em xin hứa sẽ chép bài, học bài và làm bài đầy đủ.
Ý kiến của gia đình học sinh
Cháu bị ốm.
Kính xin cô cho cháu
được nghỉ học một ngày.
Hùng
Phạm Thế Hùng
Hoc Sinh
Hoa
Phạm Thu Hoa
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Hai bài văn điểm 10 khiến dân mạng "rưng rưng nước mắt" | Bạn Phạm Thu Hoa bị ốm, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho | 128 | |
Bạn Quốc Cường kể lại buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Đó là một buổi sáng đẹp trời. Em dạy từ rất sớm. Đánh răng, rửa mặt, chuẩn bị mọi thứ ngay ngắn rồi đeo cặp sách lên lưng. Eo ôi! Chiếc cặp mới nặng làm sao, em tưởng như mình không thể khoác nổi chiếc cặp trên lưng.
Không hiểu sao em thấy rất vui và háo hức được đến trường ngay bây giờ. Em giục mẹ rốì rít và bắt mẹ đưa đi từ sớm. Ra đến ngoài đường em thấy hình như ai cũng đang nhìn em và cười. Em thấy rất vui.
Đến cổng trường, em vô cùng ngạc nhiên. Ôi! Sao ngôi trường lại to lớn đến vậy. Em sung sướng chào mẹ và chạy ngay vào lớp.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết đoạn văn tả hoa hướng dương | Bạn Quốc Cường kể lại buổi đầu tiên đi học | 138 | |
Bạn Quốc Thái kể những điều biết về nông thôn
Gợi ý
Trong câu chuyện bà kể, trong bài học cô giảng, nông thôn là một nơi có cuộc sống thật thanh bình, tình ríghĩa. Điều đáng quý nhất ở nông thôn chính là tình làng nghĩa xóm, là tối lửa tắt đèn có nhau. Nông thôn là bữa cơm đạm bạc với canh rau muống cà dầm tương. Là những người nông dân, chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, một nắng hai sương để làm ra hạt gạo ta ãn hàng ngày.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một bạn hàng xóm mà em quý mến | Bạn Quốc Thái kể những điều biết về nông thôn | 108 | |
Bạn Quỳnh Liên làm văn tả quang cảnh sau cơn mưa. Bài văn có bốn đoạn nhưng chưa đoạn nào hoàn chỉnh. Em hãy giúp bạn viết thêm để hoàn chỉnh từng đoạn văn
Hướng dẫn
1.Đoạn 1: Lộp độp, lộp độp. Mưa rồi. Cơn mưa ào ào đô xuống làm mọi hoạt động dường như ngừng lại. Mưa ào ạt. Mưa như trút nước, dường như ông trời có bao nhiêu nước đều đô xuống cùng một lúc. Những hạt mưa đan chéo nhau dày đặc, tạo thành những hàng rào bằng lưới nước màu xám bạc. Chỉ cách nhau chừng mười lăm thưđc đã không nhìn thấy nhau. Một lát sau, mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn.
2.Đoạn 2: Ánh nắng lại chiếu sáng rực rỡ trên những thảm cỏ xanh. Nắng lấp lánh như đùa giỡn, nhảy nhót với những gợn sóng trên dòng sông Nhuệ. Mấy chú chim không rõ tránh mưa ở đâu giờ đã đậu trên cành cây cất tiếng hót véo von. Chị gà mái tơ nhanh nhẹn có mặt ơ đụn rơm mục vừa bươi vừa “tục tục” gọi con. Đàn gà con nghe tiếng của mẹ, ba chân bốn cẳng tranh nhau chạy đến. Chú mèo khoang lững thững đi lại trước sân nhà, thỉnh thoảng ngước nhìn ông mặt trời, mặt nhăn lại như chú khỉ ngậm phải gừng.
3.Đoạn 3: Sau cơn mưa, có lẽ hoa lá là tươi đẹp hơn tất cả. Bao nhiêu bụi bặm bám vào mình đã được ông trời tắm gội, lau chùi sạch sẽ. Trông chúng tươi xanh, rực rỡ dưới ánh mặt trời.
4.Đoạn 4: Con đường trước cửa đang khô dần. Trên đường xe cộ qua lại nườm nượp như mắc cửi. Mọi hoạt động dường như đang trở lại bình thường. Mấy chú bán báo, đánh giầy lượn di lượn lại trên hè phố, Miệng rao bán chào mời dẻo quẹo. Các quầy hàng tạp hóa dọc hai bên đường đã mở cửa trở lại. Góc phố, mấy cô bé đang chơi nhảy dây. Những bím tóc tun ngủn vung vẩy theo từng nhịp chân nhảy.
Xem thêm: Kể về một con người đáng yêu, đáng kính mà em biết | Bạn Quỳnh Liên làm văn tả quang cảnh sau cơn mưa. Bài văn có bốn đoạn nhưng chưa đoạn nào hoàn chỉnh. Em hãy giúp bạn viết thêm để hoàn chỉnh từng đoạn văn | 364 | |
Bạn Quỳnh Như kể lại buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Hình như ở xóm em ai cũng biết nãm nay em vào lớp 1. Buổi sáng hôm ấy, em được anh trai đưa đến trường. Ngồi đằng sau xe đạp của anh, đeo chiếc cặp màu vàng sau lưng vậy mà không ngớt tiếng gọi của mọi người trong xóm: Cóc con đi học đấy à?
Học ngoan nhé!
Vèo một cái anh đã đưa em đến trước cổng trường. Trước mắt em là một băng rôn dài và rất nhiều lá cờ được treo ở sân trường. Anh em nói: “Vui không? Đấy cả trường đang nhiệt liệt chào đón học sinh lớp một đến trường đấy. Thích nhé. Thôi vào lớp đi”.
Em xuống xe, chạy vào giữa sân trường và đứng ngắm nhìn xung quanh một hồi rồi đi tìm lớp học của mình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Quan sát một bức ảnh về lễ dâng hương, kể lạỉ quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội | Bạn Quỳnh Như kể lại buổi đầu tiên đi học | 168 | |
Bạn Thanh Bình kể về gia đình
Gợi ý
Em sống cùng với bố mẹ và anh trai nhưng anh em thường nói gia đình em có năm thành viên vì tính cả chú mèo Mun Tin nữa. Bố mẹ em mở cửa hàng bán tạp phẩm ở nhà và hàng ngày thay nhau bán hàng. Anh trai em tên là Thế. Anh ấy đang ôn thi đại học nên bận học suốt ngày. Em học lớp 2. Còn Mun Tin thì vẫn bé lắm, chỉ thích nghịch mấy cuộn len thôi.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Những khám phá riêng của mỗi bài thơ về đất nước quê hương | Bạn Thanh Bình kể về gia đình | 104 | |
Bạn Thanh Hoa kể những điều biết về nông thôn
Gợi ý
Nông thôn là một vùng quê yên ả, thanh bình. Không có sự ồn ào của, xe cộ, cũng không có nhiều những ngôi nhà khổng lồ và những nhà máy lớn. Nông thôn chỉ có những cánh đồng lúa chín vàng, những ngửời dân lao động giản dị, sống vui vẻ trong những ngôi nhà mái ngói. Nông thôn có những luỹ tre làng xanh thắm, thẳng tắp và con trâu là đầu cơ nghiệp.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Em hãy giới thiệu về nhà văn Kim Lân và truyện ngắn Làng | Bạn Thanh Hoa kể những điều biết về nông thôn | 100 | |
Bạn Thanh Sơn kể về gia đình
Gợi ý
Em là Thanh Sơn, em đang học lớp 2 Trường Tiểu học Sơn Trà. Em sống với mẹ. Hàng ngày, mẹ em tráng bánh cuốn để bán. Em rất thương mẹ. Em muốn lớn nhanh để giúp mẹ thật nhiều việc.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Nhân dịp ngày 20 tháng 11, lớp em có tổ chức cuộc thi viết báo tường. Em hãy viết một bài văn nghị luận với chủ đề: Nhớ ơn thầy cô | Bạn Thanh Sơn kể về gia đình | 80 | |
Bạn Thu Thủy kể về gia đình
Gợi ý
Gia đình em có bốn người. Đó là bố, mẹ, anh trai và em. Bố em là kỹ sư xây dựng, bố đã góp phần làm nên những tòa nhà đẹp của thủ đô. Mẹ em làm bác sĩ ở Bệnh viện Xanh Pôn. Anh trai em là học sinh trường Trung học Cơ sở Ngô Sĩ Liên. Còn em học lớp 2 ở Trường Tiểu học Bán công Tràng An. Mọi người trong gia đình em rất yêu thương nhau. Em rất yêu quý và tự hào về gia đình mình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Từ xưa đến nay, cha ông ta luôn coi văn học là một thứ vũ khí chiến đấu mãnh mẽ và sắc bén. Anh (chị) hãy làm sáng tỏ quan niệm đó | Bạn Thu Thủy kể về gia đình | 132 | |
Bạn Thu Tuyết kể về buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Kỉ niệm về buổi đầu tiên đi học vẫn mãi còn trong kí ức tuổi thơ của em.
Hôm đó mẹ đưa em tới trường trên con đường làng quen thuộc thơm mùi của lúa. Con đường hôm nay bỗng trở nên xa lạ quá. Đi bên cạnh mẹ, bàn chân em như muốn dừng bước và ước sao con đường thật dài để không phải xa rời bàn tay mẹ.
Tới cổng trường, đi gần tới cửa lớp, em oà khóc và ôm chặt lấy mẹ. Mẹ dỗ dành, an ủi mãi. Cô giáo bước ra, ân cần, dịu dàng đón em vào lớp. Các bạn ai cũng tròn xoe mắt nhìn em như gọi mời: bạn vào lớp đi, đừng khóc nữa, chúng mình cũng như bạn thôi: Em cảm thấy vững tin hơn và theo chân cô vào lớp. Chỗ em ngồi là bàn đầu, cạnh bàn cô giáo. Thỉnh thoảng cô lại nhìn em bằng ánh mắt trìu mến. Em cảm thấy lòng mình ấm áp hẳn lên và từ hôm sau đi học, em không còn thấy lo sợ nữa.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một nhân vật hoạt hình mà em thích | Bạn Thu Tuyết kể về buổi đầu tiên đi học | 204 | |
Bạn thân của em ước mơ trở thành chiến sĩ công an
Gợi ý
Mang bộ trang phục công an dùng để biểu diễn về nhà, Hùng Sún – thằng bạn thân của tôi khoe khắp xóm ngày mai nó được đóng vai chú công an trong hội diễn của trường. Tối, tôi sang chơi thấy cu cậu vẫn lúi húi với bộ quân phục. Nào là ủi, nào là gấp, rồi lại treo, suốt cả tiếng đồng hồ mà không biết chán. Vừa làm lại vừa huyên thuyên đủ chuyện. Mà chuyện nào cũng là các chú công an giỏi thế này, các chú giỏi thế kia. Bởi trong mắt Sún, các chú công an vốn là hình mẫu lí tưởng, là thần tượng lâu nay.
Sáng hôm sau, khi tôi còn đang ngái ngủ, tiếng thằng Hùng đã í ới gọi tôi từ đầu ngõ. Mơ màng, tôi kéo lê mình ra mở cửa. Nhìn thấy nó tôi tỉnh cả ngủ. Ngay trước mắt tôi là Hùng Sún như một chiến sĩ công an thực thụ với bộ cánh xanh xanh màu lá cây. Còn trên đầu là chiếc mũ cứng được bọc vải xanh, vành mũ màu nâu bóng, ở giữa là một đường viền lớn bằng vải đỏ. Nổi bật trên đỏ là sợi dây màu vàng được tết khéo léo. Ở chính giữa mũ là một ngôi sao vàng năm cánh ẩn giữa hai nhành lúa hướng thẳng lên trên.
Bộ quân phục Hùng mặc trông rất vừa vặn, y như là đặt may sẵn cho nó vậy. Trên nền cổ áo sơ mi trắng tinh là chiếc cà vạt màu xanh được thắt rất chuyên nghiệp. Mặc bên ngoài lớp áo trắng là chiếc áo khoác xanh với hàng khuy tròn, mạ vàng. Hai bên vai áo gắn hai chiếc quân hàm nền đỏ thắm. Trên đó đính hai ngôi sao nhỏ và hai đường kẻ chỉ màu vàng, ở phần eo, Hùng Sún cũng đeo một chiếc thắt lưng da màu nâu, to bản. Còn dưới chân là đôi giầy da bóng loáng còn thơm thơm mùi xi. Nhìn Sún khác hẳn mọi ngày. Trông nghiêm nghị và oai phong lắm. Đến nơi tôi suýt không nhận ra.Xem thêm: Dựa vào truyền thuyết Tháng Gióng kể tiếp câu chuyện Thánh GióngTrong buổi biểu diễn, Sún tỏ ra rất chuyên nghiệp. Từ cách đi đứng nghiêm trang, cách nói năng làm việc trông giống hệt các chú công an thật. Khán giả đến xem ai cũng thán phục hết mức còn tôi thì chắc mẩm rằng lớp mình sẽ có một chiến sĩ công an trong tương lai.
Vanmau.edu.vn | Bạn thân của em ước mơ trở thành chiến sĩ công an | 440 | |
Bạn Thùy Trang kể về gia đình
Gợi ý
Em tên là Thùy Trang, gia đình em có ba người: bố, mẹ và em. Bố em là kĩ sư xây dựng nên hay theo công trình đi xa. Mẹ em là cô giáo mầm non. Còn em đang học lớp 2 Trường Tiểu học Nguyễn Lương Bằng. Em mong mẹ em sớm sinh thêm em bé để em được làm chị.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Nêu ngắn gọn quá hình sáng tác và các đề tài chính của nhà văn Nguyễn Tuân | Bạn Thùy Trang kể về gia đình | 87 | |
Bạn Triệu Tòn Ton viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình
Gợi ý
Nếu đi qua con đường An Bình – Lâm Giang xuyên qua xã An Bình, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái thì bạn sẽ nhìn thấy bên đường một ngôi trường nhỏ. Đó là Trường Tiểu học An Bình thân yêu của chúng tôi. Trường nằm dựa lưng vào dãy đồi Khe Trần, mái ngói đỏ tươi nổi bật giữa màu xanh bạt ngàn của cây lá ở đồi núi xung quanh. Sân trường được láng xi măng nên ngày mưa cũng sạch sẽ. Tôi rất yêu quý và tự hào về trường của mình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả cô giáo trong một giờ học đáng nhớ | Bạn Triệu Tòn Ton viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình | 120 | |
Bạn Trung Dũng kể về gia đình mình với người bạn mới
Gợi ý
Nhà mình chỉ có hai mẹ con. Mẹ mình là giáo viên Trường Tiểu học. Hàng ngày hai mẹ con mình cùng đến trường và cùng về nhà. Ngôi nhà của mình rất nhỏ bé, nằm cách trường không xa lắm, nhưng ở đó mình thấy rất ấm áp bởi tình yêu thương mẹ dành cho mình. Mẹ là người rất gọn gàng, ngăn nắp. Mọi thứ của gia đình đều được mẹ sắp xếp ngay ngắn, đặc biệt là chiếc giá sách và bàn học của mình. Nhiều khi mình mải chơi để đồ đạc bừa bộn khắp nhà nhưng chợt nhớ đến mẹ thế là mình lại phải đi dọn lại ngay.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết bức thư ngắn kể về nhân vật hoạt hình: Chuột Mickey | Bạn Trung Dũng kể về gia đình mình với người bạn mới | 139 | |
Bạn Trường Sơn kể về gia đình
Gợi ý
Gia đình em có bốn người: bà em, bố, mẹ và em. Bà em là người làm cốm ngon nổi tiếng ở làng Vòng. Bố, mẹ em đều làm ruộng. Còn em đang học lớp 2 ở Trường Tiểu học Phú Diễn. Em rất yêu quý gia đình mình. Em mong gia đình em sẽ mãi êm ấm và hạnh phúc.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Văn biểu cảm - Cảm nghĩ về mái trường thân yêu | Bạn Trường Sơn kể về gia đình | 80 | |
Bạn Trần Công Chính bị sốt cao, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho
Gợi ý
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Phú Thọ, ngày 19 tháng 10 năm 2009
ĐƠN XIN NGHỈ HỌC
Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 3B
Trường Tiểu học Lâm Thanh
Em tên là: Trần Công Chính
Học sinh lớp: 3B
Em làm đơn này xin phép cô cho em nghỉ học ngày 19/10/2009.
Lý do nghỉ học: em bị sốt cao, phải vào bệnh viện truyền nước.
Em xin hứa sẽ chép bài, học bài và làm bài đầy đủ.
Ý kiến của gia đình học sinh Học sinh
Cháu bị sốt cao. Kính xin cô cho cháu Chính
được nghỉ học một ngày. Trần Công Chính
Trực
Trần Chính Trực
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Bạn Dương Ngọc Anh bị thủy đậu, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho | Bạn Trần Công Chính bị sốt cao, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho | 148 | |
Bạn Trần Huy cường kể những điều biết về nông thôn
Gợi ý
Nông thôn là một nơi rất xa thành phố. ở nông thôn có những bãi cỏ xanh mượt mà, những cánh đồng bát ngát thẳng cánh cò bay, hàng tre xanh, dòng sông, con đò, mái đình cây đa… Nếu ta muốn biết về nét đẹp truyền thống văn hoá dân tộc thì đó chính là nông thôn. Nhiều món ăn đặc sản của người thành phố ngày nay như ốc, ếch,… chính là những món ăn đạm bạc, dân dã của người nông thôn xưa. Đến với nông thôn là về với cuộc sống của chính mình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một ngườỉ đào gốc cây thuê | Bạn Trần Huy cường kể những điều biết về nông thôn | 118 | |
Bạn Trần Quý Quyết gủi điện báo tin cho gia đình
Gợi ý
– Họ tên, địa chỉ người nhận: Mai Thu Trang, tổ 5, thị trấn Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
– Nội dung: Con đang ở nhà bác Thanh rồi.
– Họ tên, địa chỉ người gửi: Trần Quý Quyết, số 44/5, đường Cách mạng tháng Tám, thành phố Hồ Chí Minh.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh | Bạn Trần Quý Quyết gủi điện báo tin cho gia đình | 71 | |
Bạn Trần Thảo Nguyên viết một đoạn văn nói về bạn cũ
Gợi ý
Hồi tôi còn ở nhà cũ, tôi chơi thân với bạn Như Hoa. Nhà bạn ấy ở sát nhà tôi, chúng tôi lại còn học cùng trường mẫu giáo. Hoa chơi cờ phú ông rất giỏi, cô ấy còn biết chơi cả cờ vua và cờ ca rô nữa. Chính Hoa là người dạy tôi chơi những trò đó và chúng tôi có thể chơi cả buổi mà không chán. Từ ngày chuyển nhà, tôi không gặp bạn ấy nữa, thật tiếc.
Vanmau.edu.vn | Bạn Trần Thảo Nguyên viết một đoạn văn nói về bạn cũ | 94 | |
Bạn Trần Văn Vinh viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình
Gợi ý
Năm nay em đang học lớp 2 tại Trường Tiểu học Cộng Hòa. Trường của em vừa mới xây xong nên rất khang trang, sạch đẹp. Trường gồm ba dãy nhà hai tầng xếp hình chữ u, ở giữa là sân chơi rộng. Trường em có nhiều bồn hoa và cây. Hoa nở đẹp nhưng những cây bàng và phượng thì vẫn còn bé lắm. Em mong cây lớn thật nhanh để che nắng cho chúng em hàng ngày.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả lại quang cảnh buổi kết nạp vào Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh | Bạn Trần Văn Vinh viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình | 111 | |
Bạn Vũ Văn Quyền kể về buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Với em, buổi, đầu tiên đi học là một kỉ niệm không bao giờ quên. Cuộc sống của gia đình em rất khó khăn, Vì vậy, hành trang cho em vào lớp một là một chiếc cặp sách đã cũ cùng bộ sách giáo khoa do chị em để lại.
Buổi sáng hôm ấy, em cũng được bố mẹ và chị gái chuẩn bị rất tinh tươm để đến trường. Bố mẹ thì phải đi làm xa, em cùng chị gái đi học vì chị đang học lớp 4. Hai chị em đi bộ, con đường mọi khi em vẫn theo chị đến trường chơi hôm nay sao bỗng nhiên em cảm thấy nó dài quá và xa lạ làm sao.
Trong đầu em lúc đó có biết bao điều muốn hỏi chị. Bỗng từ đâu tiếng trống vang lên, đó là tiếng trống báo chào đón học sinh lớp 1 và ngôi trường từ từ hiện ra trước mắt em. Chân em như muốn dừng lại, biết bao ánh mắt tò mò đang nhìn vào em. Em rụt rè bước theo chị vào cửa lớp.
Ôi! Em không sao kể hết được lòng mình lúc đó.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Quan sát một bức ảnh về trò chơi đu trong hội làng, kể lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia trò chơi ấy | Bạn Vũ Văn Quyền kể về buổi đầu tiên đi học | 233 | |
Bạn Xuân Phong kể lại buổi đầu tiên đi học
Gợi ý
Nhớ lại ngày đầu tiên đi học đến bây giờ em vẫn thấy ngờ ngợ như mới vừa hôm qua. Thật là vui vì chưa bao giờ em được chứng kiến cảnh sân trường đông vui tấp nập đến như vậy. Biết bao nhiêu là học sinh của trường và các thầy cô giáo trong những bộ trang phục mới mẻ và đẹp mắt đi đi lại lại trong sân trường để đón chào một năm học mới. Em mải mê đứng ngắm nhìn khung cảnh sân trường mà quên mất từ bao giờ là mình phải vào lớp để chuẩn bị học buổi học đầu tiên.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Giới thiệu và kể về hoạt động của tổ em trong tháng 3 vừa qua với một đoàn khách đến thăm | Bạn Xuân Phong kể lại buổi đầu tiên đi học | 139 | |
Bạn đã là người của thế kỉ XXI chưa? (đề mở)
Gợi ý
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Đề bài đặt ra một vấn đề có ý nghĩa thiết thực dối với mỗi con người hiện nay. Có thể thấy trong câu hỏi lớn này có nhiều câu hỏi: thời đại hỏi bạn; dân tộc (đất nước) hỏi bạn; gia đình hỏi bạn; và chính bản thân bạn hỏi bạn về điều quan trọng nhất hiện nay: bạn đã là người của thế kỉ XXI chưa?
Đây là loại bài nhìn lại bản thân mình. Nhưng từ đâu mà nhìn lại: từ chỗ nào, góc độ nào, yêu cầu nào…? Và nhìn lại dể làm gì: để có thể sống hòa cùng thời đại, và hơn thế nữa, góp phần mình vào thời đại,… Vì vậy, trước hết, cần thấy rõ đặc điểm nổi bật của thời đại là gì, yêu cầu của thời đại ra sao,…; và sau nữa, cần xác định thời đại đó đòi hỏi ở mỗi con người những tố chất gì, những phẩm chất như thế nào? Trên cơ sở đó, tự nhìn lại bản thân mình dể bàn luận – không chỉ cho riêng mình mà còn mở rộng đến mọi người, đặc biệt là ở lứa tuổi thanh niên học sinh cùng trang lứa với mình.
Dàn ý có thể như sau:
Thế kỉ XXI mở ra một thời đại mới cho nhân loại với những đặc điểm mới và những yêu cầu mới.
Nhìn lại bản thân mình xem dã đáp ứng với những đòi hỏi của thời đại mới khi bước vào thế kỉ XXI chưa?
Bàn luận: Phải làm gì để trở thành con người của thế kỉ XXI?
Đây là hướng chung. Bài viết của anh (chị) hoàn toàn có thể theo một hướng khác, một lập luận khác, miễn sao có lí và có sức thuyết phục người đọc (có những ý kiến riêng của mình về luận đề này).
GIỚI THIỆU BÀI VĂN THAM KHẢO
Bài văn tham khảo dưới đây là một bài viết có nhiều phát hiện đúng và sâu, kết hợp nhuần nhị lí lẽ và thực tiễn, lập luận logic, chặt chẽ với giọng văn tâm huyết của một người quan tâm đến việc "chuẩn bị hành trang cho thế hệ trẻ bước vào thế kỉ mới". Bài viết có thể gợi nhiều ý tưởng để anh (chị) suy nghĩ, nhìn lại bản thân mình sâu sắc hơn để bàn luận trong bài làm của mình. Xem thêm: Phân tích khổ thơ đầu trong bài thơ “Từ ấy” của nhà thơ “Tố Hữu”. Từ đó, em rút ra cho mình bài học cần thiết trong cuộc sốngCHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỈ MỚI
Lớp trẻ Việt Nam cần nhận ra những cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam dể rèn những thói quen tốt khi bước vào nền kinh tế mới.
Tết năm nay là sự chuyển tiếp giữa hai thế kỉ, và hơn thế nữa, là sự chuvển tiếp giữa hai thiên niên kỉ. Trong thời khắc như vậy, ai ai cũng nói tới việc chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới, thiên niên kỉ mới.
Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử. Trong thế kỉ tới, ai ai cũng thừa nhận rằng nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò con người lại càng nổi trội.
Cần chuẩn bị những cái cần thiết trong hành trang mang vào thế kỉ mới, trong khi chúng ta đã chứng kiến sự phát triển như huyền thoại của khoa học và công nghệ, làm cho tỉ trọng trí tuệ trong một sản phẩm ngày càng lớn. Chắc rằng chiều hướng này sẽ ngày càng gia tăng. Một phần dưới tác động của những tiến bộ về khoa học và công nghệ, sự giao thoa, hội nhập giữa các nền kinh tế chắc chắn sẽ sâu rộng hơn nhiều.
Trong một thế giới như vậy, nước ta lại phải cùng một lúc giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đồng thời lại phải tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức. Làm nên sự nghiệp ấy đương nhiên là những con người Việt Nam với những điểm mạnh và điểm yếu của nó.
Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh, nhạy bến với cái mới. Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu. Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn tồn tại không ít cái yếu. Ây là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học "thời thượng", nhât là khả nằng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề. Không nhanh chóng lấp những lỗ hổng này thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đựng đầy tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng. Xem thêm: Nét độc đáo trong nghệ thuật viết phóng sự hiện đại của Ngô Tất Tố thể hiện qua "Nghệ thuật băm thịt gà" (Trích Việc làng) Cái mạnh của con người Việt Nam là sự cần cù, sáng tạo. Điều đó thật hữu ích trong một nền kinh tế đòi hỏi tinh thần kỉ luật cao và thái độ nghiêm túc đốì với công cụ và quy trình lao động với những máy móc, thiết bị rất tinh vi. Tiếc rằng ngay trong mặt mạnh này của chúng ta cũng lại ẩn chứa những khuyết tật không tương tác chút nào với một nền kinh tế công nghiệp hóa chứ chưa nói tới nền kinh tế tri thức. Người Việt Nam ta cần cù thì cần cù thật, nhưng lại thiếu đức tính tỉ mỉ. Khác với người Nhật vốn cũng nổi tiếng cần cù lại thường rất cẩn trọng trong khâu chuẩn bị công việc, làm cái gì cùng tính toán chi li từ đầu, người Việt Nam ta thường dựa vào tính tháo vát của mình, hành động theo phương châm "nước đến chân mới nhảy", "liệu cơm gắp mắm". Do còn chịu ảnh hương nặng nề của phương thức sản xuất nhỏ và cách sông ở nơi thôn dã vốn thoải mái và thanh thản nên người Việt Nam ta chưa có được thói quen tôn trọng những quy định nghiêm ngạt của công việc là cường độ khẩn trương. Ngay bản tính "sáng tạo" một phần nào đó cũng có mặt trái ở chỗ ta hay loay hoay "cải tiến", làm tắt, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ. Trong một xã hội công nghiệp và "hậu công nghiệp", những khuyết tật ấy sẽ là những vật cản ghê gớm.
Trong một "thế giới mạng", ở đó hàng triệu người trên phạm vi toàn cầu gắn kết với nhau trong một mạng internet thì tính cộng đồng là một đòi hỏi không thể thiếu được. Nhân dân ta có truyền thông lâu đời đùm bọc, đoàn kết với nhau theo phương châm "nhiễu điều phủ lấy giá gương". Bản sắc này thể hiện mạnh mõ nhất trong cảnh đất nước lâm nguy, ngoại bang đe dọa. Nhưng tiếc rằng phẩm chất cao quý ấy thường lại không được bộc lộ đậm nét trong việc làm ăn, có thể do ảnh hưởng của phương thức sản xuất nhỏ, tính đô’ kị vô’n có của lối sống theo thứ bậc không phải theo năng lực và lối nghĩ "trâu buộc ghét trâu ăn" đối với người hơn mình ở làng quê thời phong kiến. Ta có thể quan sát thây điều đó ngay trong cả những việc nhỏ nhặt. Ví dụ vào thăm bảo tàng thì người Nhật túm tụm vào với nhau chăm chú nghe thuyết minh, còn người Việt Nam ta lại lập tức tản ra xem những thứ mình thích; người Hoa ở nước ngoài thường cưu mang nhau song người Việt lại thường đố kị nhau… Xem thêm: Anh (chị) hãy tóm tắt tác phẩm "Người trong bao" của Sê-khốp và cho biết giá trị tác phẩm Bước vào thế kỉ mới, nước ta sẽ hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thê’ giới. Bản tính thích ứng nhanh sẽ giúp dân ta tận dụng những cơ hội, ứng phó với thách thức do tiến trình hội nhập đem lại. Nhưng thái độ kì thị đối với sự kinh doanh, thói quen ảnh hưởng sự bao cấp, nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức đều sõ cản trở sự phát triển của đâất nước. Thói quen ở không ít người thích tỏ ra "khôn vặt", "bóc ngắn cắn dài", không coi trọng chừ "tín" sẽ gây tác hại khôn lường trong quá trình kinh doanh và hội nhập.
Bước vào thế kỉ mới, muốn "sánh vai cùng các cường quốc năm châu" thì chúng ta sẽ phải lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu. Muốn vậy thì khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là hãy làm cho lớp trẻ – những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỉ tới – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất.
Vanmau.edu.vn | Bạn đã là người của thế kỉ XXI chưa_ (đề mở) | 1,618 | |
Bằng một vài câu em hãy tóm tắt bài tập đọc “Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất” trong Tiếng Việt 4, tập 2
Gợi ý
Ngày 20-9-1519, Ma-gien-lăng chỉ huy hạm đội gồm năm chiếc thuyền lớn xuất phát từ cảng Xê-vi-la (Tây Ban Nha) ra biển đi tìm vùng đất mới. Trong hành trình dọc theo Đại Tây Dương xuôi xuống phía nam của mình, Ma-gien-lăng đã phát hiện ra một đại dương mới hiền hoà đặt tên là Thái Bình Dương. Hành trình của ông đã phải trải qua rất nhiều khó khăn, thiếu lương ăn, nước uống, đánh nhau với thổ dân đảo Man-ta. Và rất tiếc là ông đã hi sinh trong trận giao tranh đó. Nhưng không phụ lòng ông, sau 1083 ngày lênh đênh trên biển, đoàn thám hiểm do ông phát động đã đi vòng quanh trái đất và trở về nơi xuất phát vào ngày 8-9-1522. Năm chiếc thuyền ra đi giờ chỉ còn một với mười tám thuỷ thủ, gần hai trăm người khác đã bỏ mạng. Nhưng họ đã không hi sinh vô ích. Chuyến đi vòng quanh trái đất đầu tiên này đã chứng tỏ trái đất hình cầu, giúp họ phát hiện ra Thái Bình Dương và nhiều vùng đất mới.
Vanmau.edu.vn | Bằng một vài câu em hãy tóm tắt bài tập đọc “Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất” trong Tiếng Việt 4, tập 2 | 213 | |
Bằng sự tưởng tượng, em hãy kể một câu chuyện với nội dung: “Mọi vật trong cuộc sống đều có ích nhất định”
Gợi ý
Mọi vật trên trái đất này, dù là bông hoa, hạt cát bé nhỏ hay một viên phấn lẻ loi đều có cuộc sống hữu ích cho đời.
Sáng nay, em ngồi bên khóm hoa lài trước ngõ để học bài. Một lúc sau em thiếp đi và thấy bông hoa lài nói chuyện với em. Lài kể về cuộc đời của nó:
“Tôi vốn là một bông hoa. Bạn đừng tưởng rằng hoa không giúp ích cho đời. Cuộc sống của tôi thường chỉ là một ngày, hai ngày hay một tuần. Cuộc sống của tôi tuy ngắn ngủi nhưng tôi giúp ích cho đời rất nhiều. Hương thơm tôi quyến rũ loài ong, loài bướm hút mật tạo cho con người có một chất bổ dưỡng như mật ong. Còn nữa, hương thơm của tôi đã đưa con người vào giấc ngủ êm dịu của những buổi trưa hè nóng bức. Tôi đã làm dịu đi không khí oi nồng của ngày hạ chói chang. Tôi đã hy sinh thân tôi để cho bạn được uống ngụm trà thơm.
Đời tôi có ích lắm, bạn thấy không. Nếu không có tôi thì bạn nào có ngụm trà lài thơm ngọt, có được mùi hương đầm ấm thanh cao thoang thoảng đang hòa mình vào không khí trong lành…”.
Em bừng tỉnh giấc mơ. Đến bây giờ em mới hiểu: “Sự hữu ích của hoa là như thế đó”.Xem thêm: Có một câu chuyện xảy ra vào một buổi sáng cuối năm học: đó là sự ngỡ ngàng của những cô cậu điểm 9, điểm 10 chợt bắt gặp một chú điểm 2 trong căn nhà tập bài kiểm tra của cậu (cô) học sinh. Em hãy ghi lại câu chuyện đóVanmau.edu.vn | Bằng sự tưởng tượng, em hãy kể một câu chuyện với nội dung_ “Mọi vật trong cuộc sống đều có ích nhất định” | 312 | |
Bệnh thành tích – một “căn bệnh” gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay. Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về “căn bệnh” đó
Gợi ý
DÀN BÀI
I. Mở bài
Giới thiệu về bệnh thành tích, một căn bệnh gây nguy hại cho xã hội đang ngày càng lan rộng.
II. Thân bài
– Thành tích là gì? (là kết quả tốt đẹp đạt nhờ sự nỗ lực). Vai trò của thành tích (tác dụng tích cực).
– Bệnh thành tích là gì? (Làm việc má không quan tâm đến thực tế, không suy nghĩ về hậu quả lâu dài chỉ chăm chú đến vẻ bề ngoài, đến việc đạt được những chỉ tiêu một cách khiên cưỡng).
-Tác hại của bệnh thành tích:
+ Gây ra sự đối lập giữa hình thức và thực tế, vấn đề bản chất không được quan tâm mà chủ yếu tập trung vào “bề nổi”.
+ Là nguồn gốc của những sai trái, gian lận trong kiểm tra, đánh giá tiếp tay cho tham nhũng, quan liệu.
– Nguyên nhân của bệnh thành tích:
+ Tật xấu “con gà tức nhau tiếng gáy”, đốt cháy giai đoạn muốn có thành tích ngay.
+ Sự quản lí thiếu sát sao của các cấp lãnh đạo, hình thức trong quản lí, chỉ quan tâm đến văn bản, báo cáo.
– Giải pháp:
+ Cần chú ý đến hậu quả lâu dài, tránh “ăn xổi ở thì”.
+ Các cấp lãnh đạo phải sát sao, thực tế hơn, điều chỉnh quản lí.
III. Kết bài
Khẳng định tầm quan trọng của việc khắc phục bệnh thành tích. Đó là công việc của toàn xã hội.
BÀI LÀM
Trong thực tế, ai cũng thích, cũng mong muốn được khen ngợi, được ghi nhận, được thành danh. Có người vì thế mà nỗ lực phấn đâu để biến đổi về chất. Song đáng buồn lại có những người muốn rút ngắn con đường để bước đến vinh quang mà ăn xổi ở thì, không chăm lo cho thực tế chỉ có tô vẽ bề ngoài để được khen thưởng. Đáng buồn hơn, chúng ngày càng phổ biến và trở thành một căn bệnh xã hội. Bệnh thành tích.Xem thêm: Nêu quan điểm của em về trang phục áo dài và đồng phục của học sinh- Văn 12 Thực chất, thành tích là. kết quả được đánh giá tốt do nỗ lực mà đạt được vậy, thành tích là nhằm để biểu dương, nêu gương những kết quả thực tế tốt đẹp. Điều đó động viên sự cố gắng của người được nêu gương, thúc đẩy họ tiếp tục cố gắng. Mặt khác thành tích của người này còn là “cú hích” cho người khác cùng “chạy đua” để tiếp tục đi lên. Rõ ràng, thành tích là điều tốt đẹp và nó cũng mang lại những điều tương tự cho cuộc sống.
Tuy nhiên, khi đặt trước từ “thành tích” một chữ “bệnh” – bệnh thành tích thì vấn đề đã khác. Bởi từ “bệnh” không gợi đến điều gì tốt đẹp. “Bệnh thành tích” là thói a dua, là chỉ chăm lo đến vẻ bề ngoài nhằm được tuyên dương khen thưởng nhưng thực chất bên trong vấn đề không đạt mong muốn. Nói khác đi, bệnh thành tích là tên gọi của sự không phù hợp giữa hình thức rất hào nhoáng, sáng bóng, lẫy lừng nhưng bán chất thì xuống cấp, rỉ sét, cong vênh.
Bệnh thành tích đã tồn tại từ lâu trong đời sống xã hội, đục sâu lan rộng vào nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Trong giáo dục, bệnh thành tích còn được gọi là bệnh hình thức. Có những trường vì thành tích mà luôn cố gắng tập trung luyện “gà” – luyện thi học sinh giỏi, tạo mọi điều kiện đế các em có thời gian tập trung học môn mình thi nhằm đạt kết quả cao mang vinh dự cho trường. Hay trong mỗi kì thi tốt nghiệp, có những trường huy động giáo viên cùng làm với học sinh rồi ném bài cho các em. Trong các cơ quan, công ty, nhà máy,… bệnh thành tích nằm ở những bản báo cáo được mài cho nhẵn, viết cho đẹp. Trong thực tế người ta không màng đến chất lượng, chỉ chạy theo số lượng để đạt chỉ tiêu. Họ chỉ sung sướng khi nghe đến những con số 100%, 99%,… Trong kì thi tốt nghiệp THPT những năm trước, trường nào chỉ đạt 95%, 96% thì đã lo lắng căng thẳng rồi. Nhưng một hai năm trở lại đây, khi công tác kiếm tra, giám sát chặt chẽ hơn, trung bình cả nước chỉ đỗ khoảng 60% – 70%. Rõ ràng kết quả xa nhau, nó phản ánh thực tế chất lượng giáo dục trong một thời gian dài bị o bế, làm nhiễu.Xem thêm: Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: Đau đớn thay phận đàn bà. Nhận xét đó có còn đúng với người phụ nữ trong cuộc sống hôm nay? Rõ ràng, bệnh thành tích sẽ để lại hậu quả vô cùng tai hại. Trước hết, nó khiến mỗi cá nhân, tổ chức không hiểu rõ về thực lực của mình, tự mãn về thành tích, không có xu hướng vận động phát triển. Bệnh thành tích do đó tiếp tục “được” duy trì, phát triển. Dần dần nó sẽ ăn sâu, đeo bám vào tư tưởng, lối sống cách thức làm việc của xã hội, làm cho chất lượng thực bị bỏ bê, xuống dốc, chỉ có cái vẻ bề ngoài là hào nhoáng, đẹp đẽ. Nó thực chẳng khác nào một trái bí đỏ bị thối rữa bên trong. Dân gian ta nhắc nhở: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” vì sơn có thể tróc nhưng gỗ không được phép mục, gỗ mục sẽ làm sụp đổ cả một hệ thống quan trọng. Nhưng bệnh thành tích đã làm đảo lộn truyền thống đạo lí ấy và mỗi hệ thống xã hội đang có nguy cơ lung lay, suy sụp vì chất gỗ bên trong đang mối mọt dần.
Bệnh thành tích gây hại cho mọi ngành nghề, lĩnh vực. Và hậu quả dễ thấy nhất, tai hại nhất thể hiện ở ngành giáo dục. Có những trường lớp, vì thành tích mà cho học sinh lên lớp hàng loạt, bất chấp kết quả thực tế. Hậu quả là hàng trăm học sinh ngồi nhầm lớp, nhầm trường. Có em đã học lớp 7 mà chưa đọc thông viết thạo. Cũng vì thành tích mà các thầy cô “cấy điểm” cho học sinh giỏi ở những môn các em không thi học sinh giỏi, giúp các em ôn luyện cho thi cử. Và hàng trăm học sinh sa vào tình cảnh đạt giải học sinh giỏi quốc gia nhưng trượt tốt nghiệp, trượt đại học… Học sinh là người gánh chịu hậu quả trực tiếp. Nhưng hậu quả lâu dài là tương lai đát nước phải chấp nhận sự thui chột về đạo đức, tài năng của nhiều thế hệ.Xem thêm: Phân tích giá trị lịch sử của bản "Tuyên ngôn độc lập”. Nêu một vài cảm nhận về phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh qua bản "Tuyên ngôn Độc lập” này Bệnh thành tích có căn nguyên sâu xa từ một thói xấu của con người: thói ghen ăn tức ở, “con gà tức nhau tiếng gáy”. Thấy cá nhân, đơn vị khác được nêu gương, cá nhân, đơn vị mình cũng muốn được như vậy. Song, thay vì tập trung nâng cao chất lượng họ lại đốt cháy giai đoạn, đánh bóng hình thức đế được tuyên dương. Nhưng công bằng mà đánh giá, bệnh cũng có nguyên nhân từ những sai lầm trong công tác quản lí tổ chức của nhiều cấp, ngành: trọng giấy tờ, hình thức, không gần gũi, sâu sát thực tế và chỉ tiêu hóa, kế hoạch hóa cao độ mọi vấn đề thi đua. Bởi vậy, các tổ chức, cá nhân chỉ cốt lo sao cho bản báo cáo, cuốn sổ của mình được sạch sẽ đẹp đẽ. Rồi lo sao để chỉ tiêu kế hoạch trên giao ta “trăm phần trăm” hoàn thành. Rõ ràng, để xảy ra căn bệnh ấy lỗi thuộc về tất cả chúng ta.
Nhận rõ hậu quả của bệnh thành tích, xã hội cần đẩy mạnh công cuộc loại trừ nó. Các nhà lãnh đạo cần kiểm tra, giám sát sát sao hơn hoạt động của các tổ chức, cá nhân trực thuộc, đồng thời điều chỉnh hệ thống, cơ chế quản lí tổ chức. Các cơ quan đoàn thể vì tương lai bản thân xóa bỏ bệnh hình thức để đi vào chất lượng thực tế. Chỉ khi nào làm được điều đó, xã hội ta mới thực sự trong sạch và đi lên.
Vanmau.edu.vn | Bệnh thành tích – một “căn bệnh” gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay. Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về “căn bệnh” đó | 1,482 | |
Bố em đang công tác xa nhà. Em hãy viết một bức thư thay mặt gia đình hỏi thăm bố
Gợi ý
Hà Nội, ngày… tháng… năm….
Bố kính yêu!
Con chào bố Con là Cún của bố đây ạ. Lâu rồi con không được nghe bố gọi Cún con. Dạo này bố có khoẻ không ạ? Công việc của bố có tốt không? Ở xa, chắc bố nhớ nhà lắm. Bức ảnh gửi về tháng trước ai cũng khen trông bố thật phong độ. Cả nhà cũng nhớ bố lắm. Nhất là em Mèo, hôm nào cũng hỏi bao giờ bố về bố đi đâu mà lâu thế hay bố quên Mèo rồi… Em hỏi rất nhiều làm con và mẹ phải giải thích mãi mới chịu. Mấy hôm trước, con và mẹ đưa Mèo đi mua sách vở, quần áo để chuẩn bị vào lớp một. Em háo hức lắm, mong bố về để khoe.
Cũng khá muộn rồi, một lần nữa con chúc bố luôn mạnh khoẻ, công tác tốt và nhớ về gia đình. Bố cứ yên tâm nhé, ở nhà mọi người vẫn khoẻ và mong bố về từng ngày. Khi nào về, bố mua quà cho chúng con nha.
Con của bố
Cún con
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Hãy sử dụng câu sau đây làm câu chủ đề để viết một đoạn văn hoàn chỉnh (khoảng 10 - 15 câu): "Đọc truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa ta thấy cái lặng lẽ chỉ là bề ngoài giấu kín nhịp sống sôi động... của những người lao dộng hết lòng vì dất nưởc" | Bố em đang công tác xa nhà. Em hãy viết một bức thư thay mặt gia đình hỏi thăm bố | 258 | |
Bố em đi công tác nước ngoài, hãy viết thư thăm bố
Gợi ý
Điện Biên, ngày 5/5/2009
Bố thân yêu!
Lâu rồi con không viết thư thăm bố. Bố có khoẻ không ạ? Ớ. Tô-ki-ô bố đã thấy quen thuộc chưa? Công việc của bố thế nào rồi? Còn nhà mình, mẹ và hai chị em con vẫn khoẻ. Chỉ có điều, hai đứa vẫn hay cãi nhau bố ạ. Có khi lại trêu nhau cười sằng sặc. Con báo cho bố một tin vui nhé, con được học sinh giỏi. Chị Thinh thi thử tốt nghiệp được 48 điểm, thi thử đại học được 20 điểm bố ạ!
Cuối thư con chúc bố mạnh khoẻ, vui vẻ và luôn nhớ đến ba mẹ con còn. Bây giờ con phải dừng bút rồi. Con chào bố.
Con của bố
Quân
Lường Hải Quân
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết thư thăm hỏi tình hình học tập của người bạn mới chuyển đi | Bố em đi công tác nước ngoài, hãy viết thư thăm bố | 151 | |
Bộ sách Ngữ văn 7 là những cuốn sách hấp dẫn và bổ ích. Em có đồng ý như vậy không?
Gợi ý
Bộ sách giáo khoa lớp 7 của Nhà xuất bản Giáo dục đã được cải cách là một bộ sách bổ ích, cung cấp cho chúng em nhiều kiến thức cập nhật, hiện đại, bồi dưỡng cho chúng em những tình cảm tốt đẹp, trong sáng. Bộ sách giáo khoa Ngữ văn 7 (gồm tập một và tập hai) là những cuốn sách như vậy.
Trước đây, sách Ngữ văn lớp 7 có được chia làm ba cuốn là Văn học 7, Tiếng Việt 7 và Tập làm văn 7. Giờ đây, ba phân môn đã được gộp lại trong một cuốn với tên gọi là Ngữ văn và được chia thành hai tập. Với tên gọi mới, cuốn sách đã thể hiện phương pháp tích hợp rất tiến bộ trong việc dạy và học. Trong chương trình học, ba phần Văn bản Văn học – Tiếng Việt – Tập làm văn luôn có sự liên hệ, gắn bó với nhau: văn bản dùng làm ngữ liệu cho Tiếng Việt, Tập làm văn; Tiếng Việt, Tập làm văn dùng làm tư liệu đọc hiểu, cảm thụ Văn bản văn học…
Văn bản văn học có nhũng bài thật hay, chúng bồi đắp cho ta những tình cảm đẹp đẽ, gắn bó với gia đình, người thân, quê hương, đất nước. Chẳng hạn như:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Lời thơ giản dị nhưng chứa chan tình nghĩa, gần gũi với người.Xem thêm: Viết đoạn văn nêu rõ vai trò của rừng đối vời đời sống con ngườỉ Sách còn ngược dòng thời gian giúp người đọc cảm nhận được số phận người dân trong xã hội phong kiến đặc biệt là người phụ nữ. Qua bài "Chinh phụ ngâm khúc" ta hiểu được nỗi lòng của người vợ, ước mong đôi lứa và chán ghét chiến tranh. Qua bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương ta cảm được thân phận của người phụ nữ bé mọn phụ thuộc vào gia đình và cả xã hội nhưng vẫn giữ được những nét đẹp trung trinh cao quý:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non…
Từ đó, ta biết thông cảm với người phụ nữ hơn. Sách cũng hướng đến những vấn đề thời sự trong xã hội hiện đại. Đó là vấn đề học tập của học sinh trong văn bản “Cổng trường mở ra” của Lí Lan. Đó là vấn đề quyền trẻ em, tình cảm gia đình trong "Cuộc chia tay của những con búp bê" của Khánh Hoài.
Đọc cuốn sách này, ta còn có rất nhiều kinh nghiệm bổ ích qua việc học hỏi những kinh nghiệm của dân gian: kinh nghiệm về thời tiết, về lao động sản xuất, về con người xã hội:
“Nhiều sao thì nắng, vắng sao thì mưa’’,
“Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền”,
“Người ta là hoa đất”,…
Đặc biệt, cuốn sách cũng chú trọng cung cấp cho người học cách thức tạo lập những văn bản hành chính để đáp ứng nhu cầu khi có những sự việc cần giải quyết như đề nghị nhà trường cấp đồ dùng mới, đơn xin nghỉ học,… Đó là những điều bổ ích thực tế và quan trọng hơn cả là chúng giúp ý thức của chúng ta được nâng cao hơn, từ đó làm đuợc những việc có ích, có nghĩa.Xem thêm: Hai bức tranh đời tương phản trong truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn Còn có biết bao điều bổ ích mà ta chưa thể nói hết về hai cuốn sách đặc biệt này. Hai cuốn sách Ngữ văn vừa cho ta hiểu biết, dạy ta kĩ năng, vừa bồi dưỡng cho ta những tình cảm đúng đắn, tốt đẹp… Và để cảm nhận hết những điều to lớn ấy, không gì hơn là phải học tập chăm chỉ, cần cù đối với từng bài học.
Vanmau.edu.vn | Bộ sách Ngữ văn 7 là những cuốn sách hấp dẫn và bổ ích. Em có đồng ý như vậy không_ | 690 | |
Bớc-na-sô cho rằng: “Vũ trụ có nhiều kì quan nhưng kì quan tuyệt phẩm nhất là trải tim người mẹ”. Trình bày ý kiến của anh (chị)
Gợi ý
Vũ trụ là khoảng không gian bao la, rộng lớn mà tâm hồn mọi con người muốn thỏa sức vẫy vùng, đặt chân đến để chiêm ngưỡng. Dù những kì quan của vũ trụ có nhiều, có đẹp đẽ, vĩ đại, hấp dẫn con người đến mấy, dù có đi đến tận cùng Trái Đất thì người con vẫn tìm về bên mẹ. Bởi mẹ là kì quan tuyệt phẩm nhất. Và không biết tự khi nào, Bớc-na-sô cho rằng: “Vũ trụ có nhiều kì quan nhưng kì quan tuyệt phẩm nhất là trái tim người mẹ”.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao biến đổi của thời gian, có những công trình kiến trúc xưa bị phá hủy, nhưng cũng có những công trình tồn tại mãi mãi với thời gian, trường tồn cùng thời gian khiến ta phải choáng ngợp đến kinh ngạc. Vì sao chứ? Bởi đó là những “kì quan”. Vậy ta phải hiểu “kì quan” nghĩa là gì? “Kì quan” là cảnh quan kì lạ, đặt trong mối quan hệ rộng hơn ta có thể hiểu đây là những gì khiến con người thấy lạ, thấy độc đáo, khác thường. Kim tự tháp (Ai Cập) được xem là một kì quan trong thế giới cổ đại, chứng tỏ sức mạnh của lao động và trí tuệ con người. Nó mang nhiều nét độc đáo, mới lạ mà cả loài người từ xưa tới nay phải ngưỡng mộ. Đó là những hình khối hùng vĩ, nghệ thuật chạm trổ tỉ mỉ chưa từng thấy trên đời. Kì quan của thế giới không chỉ dừng lại ở đây mà nó còn khiến người đời phải choáng ngợp khi đến với những kì quan khác trong tổng thể văn hóa nhân loại. Có thể kể đến Vạn lí trường thành (Trung Quốc), Vườn treo Ba-bi-lon (Iraq). Đây là những công trình đồ sộ và vĩ đại, nó không những chứng tỏ sức mạnh của con người thời cổ đại mà còn làm nên một nền văn hóa muôn đời. Nhưng theo Bớc-na-sô thì “trái tim người mẹ” vẫn là một kì quan tuyệt phẩm nhất. Ta phải hiểu điều này như thế nào?Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm“Tuyệt phẩm” là phẩm chất đẹp nhất, tuyệt vời nhất không còn gì đẹp hơn. Tuyệt vời hơn – một vẻ đẹp tuyệt đốĩ. Câu nói của Bớc-na-sô chắc hẳn đã làm cho mọi người phải lần giở lại những trải nghiệm của mình, những tình cảm mà người mẹ vĩ đại của mình dành cho. Trái tim mẹ là biểu tượng đẹp đẽ của lòng yêu thương, đức hi sinh cao cả. Nếu những kì quan thế giới cổ đại làm cho ta choáng ngợp, kinh ngạc bởi hình khôi, nghệ thuật chạm trổ,… sáng tạo độc đáo của con người thì trái tim người mẹ luôn để lại cho con những ấn tượng sâu nặng về một tâm hồn cao cả. Không chỉ vậy, đó còn là sự ngưỡng mộ, trân trọng một con người sao có trái tim cao cả đến vậy. Nếu kì quan của thế giới là sản phẩm vật chất có thể bị tàn lụi, bị hủy hoại bởi thăng trầm của thời gian thì “trái tim người mẹ” luôn sống mãi trong tâm tưởng mỗi con người.
Trước hết, lí do mà “trái tim người mẹ” là “kì quan tuyệt phẩm nhất” bởi ở đó tình yêu thương hiện lên đậm đặc nhất. Đúng vậy, đứa con là máu thịt của người mẹ. Mẹ đã phải mang nặng hơn chín tháng, rồi phải dứt ruột mới có được một tiểu thiên thần bé nhỏ, non nớt ấy sao? Đối với mẹ, con là tất cả. Trong tim mẹ tình cảm thiêng liêng nhất là tình mẫu tử, vì vậy có người mẹ nào mà không yêu con – một tình yêu thương bao la vô bờ bến. Mẹ nuôi con bằng dòng sữa ngọt lành, tinh khiết, được chắt lọc tự trong trái tim, ru con bằng những lời ru thiết tha, ngọt ngào mà trìu mến. Con lớn lên, được hoàn thiện cả về thể chất và tâm hồn là nhờ có tình thương bao la, sự đùm bọc, che chở, vỗ về của mẹ dành cho. Tình yêu mẹ dành cho “hòn máu cắt đôi” này thật tự nhiên mà cao cả vô cùng, theo suốt con cả cuộc đời. Con hiểu được niềm hạnh phúc, vui sướng, đau khổ xen lẫn, chen chúc, xô đẩy trên nét mặt mẹ. Ánh mắt mẹ luôn dõi theo từng bước đi của con, đó là ánh mắt hi vọng, tin tưởng một điều gì đó ở đứa con khờ dại. Mẹ hi vọng khi con cất tiếng gọi mẹ đầu tiên, khi con lớn hơn một chút mẹ mong con tự đứng dậy sau khi ngã,… còn rất nhiều, nhiều nữa những mong mỏi của mẹ. Tất cả đều xuất phát trong tình yêu thương vô bờ của mẹ dành cho con.Xem thêm: Phân tích phong cách Nguyễn Tuân trong bài "Người lái đò sông Đà" Trái tim người mẹ là kì quan tuyệt phẩm nhất, ở đó con thấy được đức hi sinh cao cả. Mẹ luôn đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho con mà bản thân mình lại luôn phải chịu nhiều thiệt thòi và đau khổ. Mẹ đâu quản khó nhọc của nắng mưa, gió bão, những khắc nghiệt của cuộc đời, người mẹ ấy vẫn lặn lội cho cuộc sống mưu sinh… Hình ảnh “Con cò lặn lội bờ sông” trong ca dao là biểu tượng cho những vất vả, khó nhọc của người mẹ. Trái tim mẹ có thể có nhiều vết thương vì những cực nhọc về thân thể, những lo âu, suy nghĩ trăn trở, dằn vặt về tâm hồn… Nhưng chỉ cần một nụ cười rạng rỡ trên đôi môi con là đủ xóa tan mọi buồn phiền, những nếp nhăn, những vết chân chim in hằn trên khuôn mặt rám sạm của mẹ…; và cũng chính niềm hạnh phúc bé nhỏ ấy đủ để vá lại những vết thương bao ngày qua. Niềm hạnh phúc ấy tiếp thêm sức mạnh cho cha mẹ làm việc hăng say hơn, yêu đời hơn.
Trái tim người mẹ quả là cao cả! Trái tim ấy luôn cho và nhận nhưng con thấy mẹ cho nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu. Có lẽ bà mẹ nào cũng vậy, họ chỉ biết hi sinh cho gia đình, cho hạnh phúc của con cái.
Ý kiến của Bớc-na-sô thật đúng: dù những công trình cổ đại có hoành tráng vĩ đại đến mấy nhưng vẫn không thể bằng được trái tim của người mẹ thương con, hi sinh vì con. Nó sẽ mãi đúng và phù hợp với mọi thời đại vì sứ mạng của người mẹ là vì con, yêu thương và che chở cho con. Câu nói phản ánh một tư tưởng nhân sinh tích cực làm cơ sở cho mọi hành động, suy nghĩ của con người, hướng con người đến sự cao cả, cao thượng của nhân cách và tâm hồn.Xem thêm: Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương Chắc chắn rằng cũng sẽ có những trái tim không phải là kì quan tuyệt phẩm. Bởi trong xã hội ngày nay có không ít những trường hợp mẹ bỏ con để chạy theo cuộc tình khác, khiến con cái bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời. Hay có những người mẹ chỉ biết lao vào làm kinh tế mà bỏ bê con cái; và trong những trường hợp đó người mẹ đã quên đi chức năng và nghĩa vụ đối với con cái của mình…
Câu nói của Bớc-na-sô vừa muốn đề cao, ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn người mẹ vừa muốn thức tỉnh những trái tim người mẹ chưa tìm thấy chuẩn mực về cái đẹp, cái cao thượng trong tâm hồn.
Một trái tim có thể trở thành một kì quan tuyệt phẩm hay không là nhờ tình cảm có đạt đến độ “tuyệt phẩm” hay không. Tình cảm mẹ dành cho con – tình mẫu tử mãi là tình cảm đẹp nhất của con người, vậy nên nó mãi là kì quan tuyệt phẩm nhất.
Vanmau.edu.vn | Bớc-na-sô cho rằng_ “Vũ trụ có nhiều kì quan nhưng kì quan tuyệt phẩm nhất là trải tim người mẹ”. Trình bày ý kiến của anh (chị) | 1,417 | |
Bức chân dung tự họa qua hai bài thơ “Chiều tối” và “Cảnh chiều hôm” trong “Ngục trung nhật kí” của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Bài thơ số 3 trong "Nhật kí trong tù" với nhan đề "Bị bắt ở phố Túc Vinh", Bác Hồ viết:
"Túc Vinh mà để ta mang nhục,
Cố ý làm cho chậm bước mình ;
Bịa đặt vu ta là gián điệp,
Không dưng danh dự phải hi sinh"
(Nam Trân dịch)
Trên đường sang Trung Quốc công tác, Bác Hồ đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Phố Túc Vinh trên tỉnh Quảng Tây là khởi điểm hành trình đày dọa, khổ nhục trong suốt "Mười bốn trăng tê tái gông cùm" mà Bác phải nếm trải từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943. Tập "Nhật kí trong tù" gồm có 133 bài thơ chữ Hán được Người viết ra trong những tháng ngày đen tối ấy để "Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do". Nó đã phản ánh một tâm hồn lớn, một dũng khí lớn, một trí tuệ lớn của người chiến sĩ vĩ đại. về phương diện thể hiện tâm hồn phong phú, cao đẹp, "có thể xem "Nhật kí trong tù" như một bức chân dung tự họa" của người tù vĩ đại (Văn 12).
1. "Nhật kí trong tù" chủ yếu mang tính hướng nội trữ tình, thể hiện một cách chân thực cảm động bức chân dung tinh thần tự họa của Bác trong chốn ngục tù. Đó là hình ảnh một con người có trái tim mênh mông "yêu nước, yêu người, yêu cỏ hoa". Là một bậc đại dũng kiên cường, bất khuất, ung dung, tự tại, lạc quan và yêu đời trong cảnh tù đày: "Kiên trì và nhẫn nại – Không chịu lùi một phân – Vật chất tuy đau khổ – Không nao núng tinh thần" (Bốn tháng rồi). Là một bậc đại trí hiểu sâu, hiểu rộng nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề, sắc sảo, tinh tế và mẫn cảm… Những phẩm chất cao đẹp ấy đều bắt nguồn từ bản chất của một tâm hồn yêu nước lớn, một tấm lòng nhân đạo lớn, một cốt cách nghệ sĩ lớn.
2. Bài thơ "Chiều tối" và "Cảnh chiều hôm" chỉ thế hiện một vài nét rất đẹp "bức chân dung tự họa" của người tù vĩ đại.Xem thêm: Miêu tả một cảnh đẹp mà em đã gặp trong mấy tháng nghỉ hè (có thể là phong cảnh nơi em nghỉ mát, hoặc cánh đồng hay rừng núi quê em) a. "Chiều tối" là bài thơ số 31 trong "Nhật kí trong tù" ghi lại cảm xúc của Bác vào lúc ngày tàn nơi xóm núi xa lạ, khi Người bị giải từ nhà tù Thiên Bảo đến nhà ngục Long Tuyền vào tháng 10 năm 1942. Mặc dù chân tay bị trói nhưng Người vẫn ngắm cảnh, dõi theo một áng mây lẻ loi, lơ lửng trên bầu trời, một cánh chim mỏi mệt bay về rừng tìm cây trú ẩn:
"Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không".
Cánh chim thì mệt mỏi {quyện điếu), áng mây thì lẻ loi, cô đơn (cô vân): ngoại cảnh như đồng điệu với tâm cảnh của người tù sau một ngày dài bị giải đi. Cách nhìn, cách cảm và cách tả thể hiện một tâm hồn tinh tế giàu tình yêu thiên nhiên tạo vật. Cảnh vật thiên nhiên thoáng buồn nhưng rất đẹp, trở thành nơi nương tựa tâm hồn nhà thơ trên chặng đường khổ ải. Không có một đời sống tinh thần phong phú không thế viết được vần thơ mang màu sắc cổ điển như thế!
Từ bức tranh thiên nhiên chiều tối, nhà thơ nói đến cảnh đời thường dân dã nơi xóm núi. Hai câu cuối thể hiện sự vận động của thời gian và không gian:
"Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết lò than đã rực hồng".
Thiếu nữ xay ngô, một hình ảnh trẻ trung, cần mẫn. Chừ "ma" nghĩa là xay trong câu thơ chữ Hán được điệp lại hai lần "ma bao túc… bao túc ma hoàn…" đã làm nổi bật đức tính siêng năng cần mẫn của cô thiếu nữ xóm núi. Không phải là bếp lạnh tro tàn mà là "lò than đã rực hồng" gợi lên một cảnh đời ấm áp, đoàn tụ, no ấm và yên vui. Người chiến sĩ đi đày đã hướng tới con người lao động và ánh lửa hồng lò than, tìm thấy ít nhiều niềm tin yêu, xua đi sự cô đơn lẻ loi và mệt mỏi trên bước đường khổ ải. Chữ "hồng" nằm ở vị trí cuối bài tứ tuyệt, làm sáng bừng bài thơ "Chiều tối", là một nhãn tự mang ý nghĩa thẩm mĩ đặc sắc. Nhà thơ từ bóng tối đang hướng về ánh sáng và cuộc sống mà đi tới với sức mạnh của niềm tin và hi vọng. Chữ "hồng" tỏa sáng vần thơ và tâm hồn thi nhân biểu lộ một tinh thần lạc quan trong đày đọa. Nó là "màu đỏ" của tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh: nó cho thấy "Ngục tối trái tim cùng cháy lửa" (Hoàng Trung Thông).Xem thêm: Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh Từ cánh chim, áng mây trên bầu trời đến hình ảnh thiếu nữ xay ngô và "lò than đã rực hồng", ta cảm nhận được sự vận động trong tâm hồn, tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh. Đó là sự vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ buồn đến vui, từ lẻ loi cô đơn hướng về sự sống chứa chan niềm tin và hi vọng. Bài thơ "Chiều tối" gợi tả một nét vẽ đẹp, một gam màu sáng, bức chân dung tự họa của người tù vĩ dại.
b. Đọc bài thơ "Cảnh chiều hôm" ta cảm nhận thêm một nét đẹp nữa trong "bức chân dung tự họa" con người tinh thần của Bác. Đây là bài thơ số 114 trong "Nhật kí trong tù" được Người viết vào mùa xuân 1943 tại nhà ngục Cục chính trị chiến khu ủy thuộc Liễu Châu, Trung Quốc. Cảm hứng thiên nhiên trữ tình và cảm hứng tự do dào dạt bài thơ.
Hai câu thơ đầu cho thấy một con người giàu tình yêu thiên nhiên, nâng niu quý mến cái đẹp, cảm thương cho một kiếp hoa nở và tàn trước sự vô tình trong cõi đời:
"Hoa hồng nở, hoa hồng lại rụng,
Hoa tàn hoa nở cùng vô tình".
Hoa hồng tượng trưng cho cái đẹp. Hoa "sớm nở tối tàn", một kiếp hoa ngắn ngủi đáng thương! Cái đẹp sớm bị tàn tạ, hủy diệt. Đang sống trong cảnh cay đắng, tủi nhục tù đày, nhà thơ hướng tới cái đẹp bị tàn tạ với bao day dứt cảm thương. Nhà thơ với trái tim nhân đạo và tâm hồn nhân vãn, vô cùng áy náy, không thể lạnh lùng dửng dưng. Tạo hóa và ai đó có thể vô tình, nhưng nhà thơ Hồ Chí Minh cảm thấy không thể vô tình với hoa, với cái đẹp đang tàn tạ. Tình thương của Người thật mênh mông.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù Một tứ thơ mới xuất hiện. Hoa hồng tàn và rụng rồi, nhưng "linh hồn" hoa thì bất diệt, hương thơm của hoa vẫn tồn tại giữa đất trời. Cái đẹp được nâng niu. Cái đẹp được tái sinh và vĩnh hằng. Hương hoa đã tìm được khách tương thức, tri âm. "Một lòng đau tìm đến một lòng đau" (Lưu Trọng Lư), để cảm thông, để san sẻ và chia sẻ:
"Hương hoa hay thấu vào trong ngục,
Kể với tù nhân nỗi bất bình".
Hương hoa được nhân hóa cùng với nhà thơ bất bình cho cái đẹp bị hủy diệt trước sự vô tình của tạo hóa, bất bình vì cái ác đang chà đạp, đang tước đoạt mất tự do. Sáng tạo ra hình tượng hương hoa. nhà thơ đã bày tỏ một cách chân thành, một tấm lòng nhân hậu bao dung chan hòa với tạo vật, yêu thương nâng niu cái đẹp, thiết tha vì tự do. Một tấm lòng nhân đạo, một cốt cách thi sĩ, nghệ sĩ là nhưng nét vẽ có thần hiện lên "bức chân dung tự họa" người chiến sĩ vĩ đại Hồ Chí Minh qua bài thơ "Cảnh chiều hôm". Có hương hoa đẹp trong thơ vì có tâm hồn nhân văn đẹp, thanh cao trong cuộc sống. Sen tỏa hương ngào ngạt trong tâm hồn Người.
"Nhật kí trong tù" sáng mãi trong lòng ta "trăm bài trăm ý đẹp". Cho rằng tập nhật kí bằng thơ của Bác là "bức chân dung tự họa" của người tù vĩ đại là một nhận xét đúng đắn, sâu sắc. Một tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp, một tấm lòng thiết tha với tự do, gắn bó cuộc sống bằng niềm tin và yêu đời – đó là những biểu hiện cao đẹp của nhân cách Hồ Chí Minh mà chúng ta cảm nhận được qua hai bài thơ "Chiều tối" và "Cảnh chiều hôm". Phẩm chất thi sĩ lồng trong phẩm chất chiến sĩ đã được thể hiện tinh tế thần tình, được chiếu sáng trên "bức chân dung tự họa" tinh thần Hồ Chí Minh.
Vanmau.edu.vn | Bức chân dung tự họa qua hai bài thơ “Chiều tối” và “Cảnh chiều hôm” trong “Ngục trung nhật kí” của Hồ Chí Minh | 1,584 | |
Bức tranh của em gái tôi
Hướng dẫn
I. ĐỀ LUYỆN TẬP
Đề 1. Tóm tắt truyện "Bức tranh của em gái tôi" của Tạ Duy Anh.
Đề 2. Cảm nghĩ về nhân vật Kiều Phương trong truyện "Bức tranh của em gái tôi" của Tạ Duy Anh.
Đề 3. Nêu cảm nhận về bức tranh "Anh trai tôi" của Kiều Phương khi đọc truyện "Bức tranh của em gái tôi''.
Đề 4. Cảm nghĩ về nhân vật người anh trai của Kiều Phương trong truyện "Bức tranh của em gái tôi" của Tạ Duy Anh.
Đề 5. Phân tích tâm trạng của nhân vật người anh trai của Kiều Phương khi cùng mẹ đến phòng trưng bày xem bức tranh được giải nhất của em gái trong truyện ''Bức tranh của em gái tôi".
II. BÀI VĂN TỰ LUẬN
Đề 1. Tóm tắt truyện "Bức tranh của em gái tôi" của Tạ Duy Anh.
Em gái tôi tên là Kiều Phương. Em hay lục lọi đồ vật, và mặt em luôn bị chính em bôi bẩn. Tôi gọi em là Mèo, em vui vẻ chấp nhận và còn dùng để xưng hô với bạn bè. Đít xoong chảo bị em cạo trắng cả. Một hôm tôi bắt gặp nó đang nhào một thứ bột gì đó đen sì thì ra nó đang chế thuốc vẽ. Tôi bí mật theo dõi và thấy nó lôi trong túi ra bốn lọ nhỏ, cái màu đỏ, cái màu vàng, cái màu xanh lục, cái màu đen, đều do nó tự chế.
Một hôm chú Tiến Lê, họa sĩ, bạn thân của bố tôi, đưa theo bé Quỳnh đến chơi. Em gái tôi mừng quýnh lên được gặp bạn gái. Hai đứa lôi nhau ra vườn. Bé Quỳnh được Mèo cho xem tranh. Thỉnh thoảng hai đứa lại reo lên khe khẽ. Còn tôi thì đang mải mê với chiếc diều. Bé Quỳnh nói thầm với bố. Chú Tiến Lê đi ra vườn, một lúc sau chú trở vào, mặt rạng rỡ nói: "Anh chị có phúc lớn rồi. Anh có biết con gái anh là một thiên tài hội họa không?". Bố tôi ngây người ra, rồi ôm thốc Mèo lên: "Ôi, con đã cho bố một bất ngờ lớn". Mẹ tôi cũng vô cùng xúc dộng. Chú Tiến Lê hứa sẽ giúp em gái tôi phát huy tài năng. Kể từ hôm đó, tôi cảm thấy mình bất tài, có lúc tôi chỉ muốn gục xuống khóc khi ngồi bên bàn học. Tôi không thể thân với Mèo như trước nữa. Tôi hay gắt um lên mỗi khi em mắc một lỗi nhỏ. Chú Tiến Lê tặng em một hộp màu ngoại xịn. Bố mẹ tôi mua sắm cho Kiểu Phương những gì cần cho công việc vẽ.
Rồi em gái tôi được mời tham gia trại thi vẽ quốc tế. Bức tranh của em được tặng giải nhất. Trước lúc đi nhận giải thưởng em ôm cổ tôi thì thầm: "Em muốn cả anh cùng đi nhận giải". Trong một gian phòng lớn tràn ngập ánh sáng, tranh thí sinh treo kín bốn bức tường. Bố mẹ tôi kéo tôi qua đám đông để xem bức tranh Kiều Phương được đóng khung, lồng kính. Bức tranh vẽ một chú bé ngồi nhìn ra cửa sổ, mặt chú bé như tỏa ra một thứ ánh sáng rất lạ. Cặp mắt, tư thế ngồi rất mơ mộng. Mẹ tôi hỏi: "Con có nhận ra con không"… Tôi giật sững người… Thoạt tiên là ngỡ ngàng rồi đến hãnh diện, sau đó là xấu hổ. Như bị thôi miên khi tôi nhìn dòng chữ đề trên bức tranh: "Anh trai tôi". Tôi muốn khóc quá, khi nghe mẹ hỏi: "Con đã nhận ra con clnra?". Nếu nói được với mẹ, tôi sẽ nói: "Không phải con đâu. Đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy"!
Đề 2. Cảm nghĩ về nhân vật Kiều Phương trong truyện "Bức tranh của em gái tôi" của Tạ Duy Anh.
1. Với truyện ngắn "Bức tranh của em gái tôi", tên tuổi của cây bút trẻ Tạ Duy Anh trở nên thân thiết đối với hàng triệu độc giả thiếu nhi trên mọi miền Tổ quốc. Một truyện ngắn xinh xắn, với cách viết nhẹ nhàng, Tạ Duy Anh đã sáng tạo nên một tác phẩm chan chứa tình yêu thương, đó là lòng yêu quý anh trai của đứa em gái – họa sĩ tí hon, tác giả bức tranh "Anh trai tôi", bức tranh được giải nhất trại thi vẽ quốc tê. Nhân vật Kiều Phương, nữ họa sĩ tí hon ấy đã để lại bao ấn tượng đẹp, đầy cảm mến đối với mỗi chúng ta.
2. Kiều Phương hình như đang học Tiểu học (chúng ta có cảm nhận ấy, niềm tin ấy)? Cô bé này thật đáng yêu. Rất ngây thơ, hồn nhiên và yêu đời, hiếu động. Bộ mặt xinh xắn lại hay tự tay mình "bôi bẩn". Có niềm "thích thú" riêng là hay "lục lọi" các đồ vật trong gia đình. Được anh trai tặng cho biệt hiệu "Mèo", cô em gái "vui vẻ chấp nhận", còn dùng để xưng hô với bạn bè. Tuổi thơ, đứa em nào mà chẳng có lúc "cãi lại" hoặc "bắt nạt" chị gái, anh trai trong gia đình? Kiều Phương cũng thế. Bị anh trai phàn nàn về chuyện hay "lục lọi", thì Kiều Phương đã "vênh mặt" cãi lại: "Mèo mà lại! Em không phá là được…".Đó là một thái độ "bướng bỉnh" đáng yêu của cô bé này, của tuổi thơ.
Kiều Phương là một đứa con ngoan. Sau công việc "tự chế" thuốc vẽ, em đã làm những công việc bố mẹ phàn công, em "vừa làm vừa hát, có vẻ vui lắm". Chăm chỉ siêng năng là một nét đẹp đáng yêu của Mèo.
Kiều Phương càng đáng yêu hơn. Chắc là cô bé học rất giỏi. Cô bé này có một đời sống nội tâm phong phú, có một sở thích riêng rất yêu hội họa và có năng khiếu mĩ thuật bẩm sinh. Không vòi vĩnh bố mẹ mưa sắm "đồ nghề". Em tự chế thuốc vẽ. Em cũng có một "kho báu" riêng, đó là bốn cái lọ nhỏ "cái màu đỏ, cái màu vàng, cái màu xanh lục…". Các nghệ nhân dân gian Đông Hồ ngày xưa vẽ tranh "Thầy đồ Cóc", "Đám cưới chuột", "Hứng dừa", "Đánh đu", tranh Gà, tranh Lợn… bằng thứ "màu dân tộc". Màu đen được họ sáng chế từ than lá tre. Thi sì nào đã viết câu thơ này nhỉ:
"Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấyđiệp"…
Nữ họa sĩ tí hon Kiều Phương cũng có cách điều chế thuốc vẽ màu đen rất độc đáo. Đít xoong chảo đã bị cô “cạo trắng cả”để có một chất liệu mới "màu đen nhọ nồi". Hoạt động mĩ thuật của Kiểu Phương rất lặng lẽ và bí mật. Bố mẹ cũng không biết. Anh trai phải "bí mật theo dõi" mới biết em gái mình đang “chế thuốc vẽ”.Và cũng chỉ biết thế thôi! Tác phẩm nghệ thuật, thế giới nghệ thuật của Kiều Phương là "mọi thứ trong ngôi nhà" rất gần gũi thân thiết với em. Là cái bát múc cám lợn, sứt một miếng. Là con mèo vằn… vô cùng dễ mến,… Em vẽ bằng "những nét to tướng…" ngộ nghĩnh… Khán giả thứ nhất được xem tranh vẽ Kiều Phương là bé Quỳnh, con gái họa sĩ Tiến Lê. Bé dã "reo lên khe khẽ" khi xem tranh. Khán giả thứ hai là chú Tiến Lê với niềm vui "rạng rỡ lắm" sau khi thưởng thức tác phẩm "đồng nghiệp". Cha mẹ bé Kiều Phương là sung sướng nhất. Người mẹ thì "không kìm được cơn xúc động". Bố thì “ôm thốc Mèo lên”: "Ôi, con đã cho bố một bất ngờ quá lớn", sau khi nghe họa sĩ Tiến Lê nói: “Anh chị có phúc lớn rồi. Anh có biết con gái anh là một thiên tài hội họa không”. Tranh vẽ của Kiều Phương qua sự "thẩm định" của họa sĩ Tiến Lê là "rất độc đáo, có thể đem đóng khung treo ở bất cứ phòng tranh nào".Với bé Kiều Phương thì nghệ thuật là sự say mê, là tình yêu thương, là sự phát sáng, nên chúng ta lại thêm quý mến "họa sĩ Mèo".
3. Kiều Phương rất đáng mến, vì em có một tấm lòng nhân hậu bao la. Lòng nhân hậu biểu hiện sâu sắc nhất ở tình yêu thương quý mến anh trai của mình; tình yêu thương, lòng nhân hậu ấy đã được em gửi gắm, trang trải vào những bức tranh vẽ "rất độc đáo" của mình. Có lúc Mèo đã bị anh trai "quát" thì “xịu xuống,miệngdẩu ra!”,làm cho anh trai tưởng là em gái "chọc tức" mình. Yêu quý anh trai, họa sĩ Mèo đã chủ định đưa hình ảnh anh trai vào tranh vẽ của mình khi được mời tham gia trại thi vẽ quốc tế, nên trước khi đi em "có vẻ hay xét nét" anh trai mình. Em đang quan sát hình mẫu, em đang tìm cảm hứng, nhưng anh trai đâu có biết! Từ trại thi sáng tác trở về, Kiều Phương đã giành được giải nhất, em muốn được san sẻ niềm vui vinh quang với anh trai. Em đã "ôm cổ" anh trai "thì thầm" vào tai anh trai: "Em muốn cả anh cùng đi nhận giải". Kiều Phương nhân hậu biết bao! Vì có anh trai thì mới có bức tranh của em gái được giải. Vì có yêu quý anh trai thì Kiều Phương mới "muốn cả anh cùng đi nhận giải".
Xem thêm: Soạn bài Con Gái4. Bức tranh được giải nhất của Kiều Phương là sự kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ, tài năng của họa sĩ Mèo tí hon. Đó là hình ảnh "một chú bé đang ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi bầu trời trong xanh". Tư thế ngồi và cái nhìn ấy thể hiện một ước mơ, một hoài bão lớn. "Mặt chú bé như tỏa ra một thử ánh sáng rất lạ", thứ ánh sáng của tài năng và trí tuệ cao siêu. Chú bé còn có một tâm hồn "rất mơ mộng nữa". Đó là hình ảnh của người anh trai hiện tại, và là hình bóng người anh trai lí tưởng của ngày mai. Bức tranh ấy đã được "đóng khung, đóng kính"treo trong gian phòng lớn tràn ngập ánh sáng, mà bốn bức tường đã treo kín những bức tranh của thí sinh. Người mẹ xúc động tự hào, hồi hộp, hai lần "thì thầm" nói với cậu con trai thơ bé yêu thương: "Con có nhận ra con không…", "Con đã nhận ra con chưa?". Nghệ thuật đích thực đã nhân đạo hóa đồng loại "làm cho người gần người hơn", đã "thanh sạch hóa hồn người". Bức tranh của Kiều Phương cũng vậy, nó đã làm người anh trai trong tuổi ấu thơ "thoạt tiên là sự ngỡ ngàng, rồi đến hãnh diện, sau dó là xấu hổ". Bức tranh của em gái đã làm cho người anh trai vô cùng xúc động "giật sững người", rồi như bị thôi miên khi nhìn vào dòng chữ đề trên bức tranh: "Anh trai tôi". Người anh trai "muốn khóc quá". Cậu bé dễ thương sẽ nói với mẹ rằng, sau khi nghe mẹ nhắc: "Không phải con đâu. Đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy". Thi hào nào đã viết câu thơ này nhỉ: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"? Chữ "tâm" đã tỏa sáng bức tranh "Anh trai tôi", là sự hội tụ lòng nhân hậu, tình yêu thương, quý mến của Kiều Phương đối với người anh trai của mình.
Con đường nghệ thuật của Kiều Phương chỉ mới là bước đầu; những kiệt tác làm nên một sự nghiệp lớn còn ở chân trời tương lai. Có điều, cái hiện hữu của Mèo: Tình yêu quý anh trai bằng tất cả tấm lòng nhân hậu, niềm say mê hội họa của một tài năng chớm nở – đã để lại trong lòng tuổi thơ mỗi chúng ta bao cảm mến nồng hậu. Nhân vật Kiều Phương đã làm đẹp trang văn của Tạ Duy Anh.
Đề 4. Cảm nghĩ về nhân vật người anh trai của Kiều Phương trong truyện "Bức tranh của em gái tôi" của Tạ Duy Anh.
1. Truyện ngắn "Bức tranh của em gái tôi" của Tạ Duy Anh là một truyện ngắn hay. Hay ở lối kể chuyện, bình dị mà có sức lay, sức gợi sâu xa. Hay ở nghệ thuật xây dựng nhân vật – nhân vật tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng, nhân hậu rất đáng yêu. Trong hai nhân vật: Kiều Phương và người anh trai, ai là nhân vật chính của truyện? cả hai anh em đều là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Nhân vật nào cũng để lại trong tâm hồn chúng ta những ấn tượng đẹp, gần gũi, mến thương. Ta như gặp cả hai anh em Kiều Phương dưới mái trường Tiểu học, đã cùng nhau thả diều, ăn me,ăn sấu,…
Ta sẽ nói đến nhân vật Kiều Phương sau. Ta hãy đến với nhân vật "Tôi", người đang kể chuyện, đó là anh trai của Kiều Phương. Truyện "Bức tranh của em gái tôi" vừa có hình ảnh người anh trai trong gia đình, vừa có hình ảnh người anh trai trong bức tranh, cả hai hình ảnh đều đáng yêu.
2. Người anh trai của Kiều Phương đang độ tuổi chơi diều, hồn nhiên, rất yêu quý em gái. Cái biệt hiệu "Mèo" tặng em gái đã nói lên tính hồn nhiên, ngây thơ của người anh trai nhỏ tuổi. Đã là người anh trai thì phải ra dáng anh trai chứ! Anh trai của Kiều Phương cũng "khó chịu" khi thấy đứa em gái hay "lục lọi các đồ vật với sự thích thú". Cũng rất "hách" khi bắt bẻ em gái: “Này, em không để chúng nó yên được à?”. Cũng tò mò và xét nét "bí mật theo dõi em gái" khi nó chế tạo thuốc vẽ.
Kể từ khi họa sĩ Tiến Lê phát hiện ra tài năng của Kiều Phương, hết lời ca ngợi, người bố "ngây người ra" nhìn sáu bức tranh do Mèo vẽ, "ôm thốc" Mèo lên, và nói: "Ôi, con đã cho bố một bất ngờ quá lớn". Người mẹ hiền thì "không kìm được cơn xúc động" khi kịp nghe, kịp chứng kiến chuyện vui về con gái. Chú Tiến Lê hứa "sẽgiúp Kiều Phương phát huy tài năng".Trong không khí ấy, người anh trai thơ bé "luôn luôn cảm thấy mình bất tài nên bị đẩy ra ngoài", ngồi bên bàn học, chú bé ấy "chỉ muốn gục xuống khóc", chú cảm thấy mình chẳng có "một năng khiếu gì". Tâm trạng đó rất thực, rất người, nhất là đối với tuổi thơ. Chú buồn vì cảm thấy mình không có tài năng. Chú cảm thấy cô đơn vì bị bố mẹ "bỏ rơi", bố mẹ hầu như chỉ săn sóc, yêu quý con gái nhiều hơn, nhất là khi thấy bố mẹ "hào hứng mua sắm cho em gái những thứ cần cho côngviệc vẽ". Có nhà giáo cho rằng đó là "lòng tự ái, thói đố kị" của người anh trai (!?). "Bi kịch" của người anh một phần do bố mẹ thiếu sự tinh tế trong thể hiện tình yêu thương, săn sóc các con. Chú bé buồn, cảm thấy mình không có một năng khiếu gì, đó là một sự tự ý thức giàu nhân bản. Hay gì những con người, những trẻ em có thói tự phụ, kiêu căng, tự cho mình là tài giỏi nhất!
Tạ Duy Anh đã phát hiện ra "phần mờ" trong tâm hồn trong sáng tuổi thơ. Người anh đã "xem trộm" những bức tranh của Mèo, một việc làm mà chú "vẫn coi khinh". Chú đã "trút ra một tiếng thở dài…". Thở dài vì cảm thấy mình bất tài,chứ không phải đố kị tài năng. Có lúc chú "gắt um lên" khi em gái có một lỗi nhỏ; "không thân" với Mèo như trước nữa, nhưng "không hiểu vì sao",… Trước kia thấy "rất ngộ" gương mặt "lem nhem" của em gái, nhưng giờ đây thấy em gái "xịu xuống, miệng dẩu ra" khi bị "quát" thì anh trai lại tưởng là em gái "chọc tức" mình. Em gái trước khi đi thi vẽ đã quan sát người mẫu… thì anh trai lại tưởng là "nó có vẻ cứ hay xét nét tôi, khiến tôi rất khó chịu". Em gái từ trại thi vẽ quốc tế trở về vui sướng giành được giải nhất, muốn được anh chia vui cho, ôm lấy cổ anh nói thầm: "Em muốn cả anh cùng đi nhận giải" thì anh lại "viện cớđang dở việc đẩy nhẹ nó ra". Những biểu hiện ấy là những nhược điểm của tuổi thơ, khi mà nhân cách đang hình thành và phát triển. "Bi kịch" của người anh được tự người anh nói ra một cách thành thực, chân thật. Ta càng cảm thông và quý mến.
3. Cảnh cuối truyện nói về tâm trạng người anh khi cùng mẹ đến phòng trưng bày xem bức tranh được giải nhất của em gái, cảnh này có hai người anh. Người anh trong bức tranh rất đẹp: "Một chú bé đang ngồi nhìn ra cửa sổ, nơi bầu trời trong xanh. Mặt chú bé như tỏa ra một thứ ánh sáng rất lạ. Toát lên từ cặp mắt, tư thếngồi của chú không chỉ sự suy tư mà còn rất mơ mộng nữa".Đó là hình ảnh người anh lí tưởng rất thông minh, nhiều khát vọng, có tâm hồn mơ mộng. Bức tranh ấy được vẽ bằng bút pháp lãng mạn, hội tụ cái tài và cái tâm của họa sĩ Mèo tí hon.
Người anh đứng xem tranh với bao tâm trạng. Xúc dộng cao độ "giật sững người", "phải bám chặt lấy tay mẹ" vì ngạc nhiên ngỡ ngàng khi nghe mẹ "thì thầm" vào tai: "Con có nhận ra con không?". Tâm hồn người anh xao động: "Thoạt tiên là sự ngỡ ngàng, rồi đến hãnh diện, sau dó là xấu hổ". Ngỡ ngàng vì cảm thấy người anh trong bức tranh kì diệu quá, ngoài sức tưởng tượng của mình. Hãnh diện vì mình có một cô em gái có tài năng và giàu năng khiếu hội họa, có tấm lòng nhân hậu bao la. Xấu hổ vì bản thân mình "bất tài", không có một năng khiếu gì, tình cảm đối với em gái có lúc còn "gợn", ý nghĩ: "Dưới mắt em tôi, tôi hoàn hảo thế kia ư?" đã thể hiện rất rõ sự xấu hổ của mình. Người anh như bị thôi miên khi ngắm bức tranh có dòng chữ: "Anh trai tôi". Lại nghe mẹ nhắc, mẹ hỏi: "Con đã nhận ra con chưa?" thì chú bé "muốn khóc quá". Nếu nói được với mẹ thì chú bé sẽ nói rằng: "Không phải con dâu. Đây là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy". Chú bé cảm thấy mình chưa được hoàn hảo, phải cố gắng vươn lên, càng yêu thương, quý mến em gái hơn bao giờ hết.
Trước bức tranh của em gái, ta cảm thấy nhân vật người anh trai "đang lớn lên về mặt tâm hồn", ta càng thấy chú trở nên gần gũi và đáng quý trọng biết bao! Nghệ thuật đích thực hướng tới Chân, Thiện, Mĩ. Truyện "Bức tranh của em gái tôi" của Tạ Duy Anh cho ta cảm nhận ấy. Dưới ánh sáng nghệ thuật, hai anh em Kiều Phương thật đáng yêu, như đang cùng tuổi thơ khắp mọi miền đất nước đồng hành hướng về “Tươnglai vẫy gọi”.
Nguồn: thêm: Viết một bài văn ngắn miêu tả một em bé khoảng 4 đến tuổi | Bức tranh của em gái tôi | 3,368 | |
Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo lúc chiêu tối được Thạch Lam thể hiện trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” và phát biểu cảm nhận của mình
Gợi ý
Trong nền văn học đặc biệt sôi động, phong phú thời kì 1930 – 1945 với sự xuất hiện gần như đồng thời một loạt tài năng chói sáng, giọng văn nhỏ nhẹ, điềm tĩnh mà lắng sâu, nhiều dư vị của tác phẩm Thạch Lam vẫn có sức truyền cảm đặc biệt.
Tên tuổi Thạch Lam đã nổi bật như là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thế kỉ XX. “Hai đứa trẻ” (in trong tập “Nắng trong vườn ”, xuất bản năm 1938) là một trong những truyện ngắn hay nhất, tiêu biểu nhất cho khuynh hướng tư tưởng và bút pháp nghệ thuật của nhà văn có biệt tài về truyện ngắn đó.
Giống như phần lớn truyện ngắn khác của Thạch Lam, Hai đứa trẻ là một truyện không có cốt truyện. Hai đứa trẻ ngồi trên chiếc chõng nát trước cửa nhà của một phố huyện, ngắm cảnh phố xá lúc chiều muộn đi vào đêm; tuy đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai chị em vẫn cố thức để đợi xem chuyến tàu đêm đi qua, rồi mới khép cửa hàng đi ngủ…
Truyện chỉ có thế, nó có thể làm thất vọng những người đọc nông nổi thích đọc những truyện nhiều biến cố, có tính kịch để được hồi hộp. Tuy không có cốt truyện nhưng tác phẩm “Hai đứa trẻ” không hề nhạt nhẽo, vô vị, mà trái lại, rất thấm thía, nhiều dư vị và những trăn trở, day dứt.
Truyện mở ra bằng cảnh chiều muộn ở một miền quê, "một chiều êm ả như ru”. Rồi màn đêm dần dần buông xuống, "một đêm mùa hạ êm như nhung và thoáng qua gió mát…". Dưới ngòi bút tinh tế và nặng lòng gắn bó với quê hương của Thạch Lam, bức tranh quê ở đây rất bình dị mà rất đỗi thân thiết và nên thơ.
Nhưng “Hai đứa trẻ” không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà trước hết đó là bức tranh đời sống. Đó là đời sống một phố huyện nghèo lúc chiều tối và đêm xuống, được quan sát, cảm nhận qua tâm hồn nhạy cảm, ngây thơ của cô bé Liên. Chính bức tranh đời sống vừa rất chuẩn mực chân thực, vừa thấm đượm cảm xúc trữ tình này, đã gây nên cảm giác buồn thương day dứt, là cảm giác chủ yếu của người đọc sau khi gấp trang sách. Ý nghĩa tư tưởng của truyện chủ yếu toát lên từ bức tranh đời sống phố huyện nghèo đó.Xem thêm: Phân tích bài thơ Chí Khí Anh Hùng của Nguyễn Du hay nhất Dưới mắt của hai đứa trẻ, cảnh phố huyện nghèo nơi chúng đang ở lúc chiều tối, có những gì?
Có cảnh bãi chợ trống trải, vắng vẻ khi buổi chợ "đã vãn từ lâu". "Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất". Cảnh chợ đã tan càng phơi bày sự nghèo nàn, xơ xác của đời sống phố huyện nghèo: "Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía". Và cái mùi vị rất quen thuộc mà chị em Liên có cảm tưởng là "mùi riêng của đất, của quê hương này" chính là mùi vị của nghèo khổ, lầm than: mùi âm ẩm bốc lên lẫn mùi cát bụi, rác rưởi… của cái chợ nghèo.
Trong khung cảnh tiêu điều, buồn bã đó, hình ảnh những con người nghèo khổ, lam lũ, nhếch nhác của phố huyện hiện dần ra: "Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì có thể dùng được của các người bán hàng để lại"mẹ con chị Tí lễ mễ đội chõng, xách điếu đóm ra dọn hàng, "Ngày, chị đi mò cua bắt tép, tối đến chị mới dọn cái hàng nước này (…). Chị Tí chá kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối đến đêm", nhưng "Ôi chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì "; "gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để ở trước mặt", "Thằng con bò ra đất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường…". Và hai chị em Liên, với "cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu, mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc". Rồi hình ảnh bà cụ Thi, hơi điên, mua rượu uống cười khanh khách, lảo đảo đi vào bóng tối… Tất cả đều là những kiếp sống lầm than, cực khổ, tàn tạ.Xem thêm: Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người qua nhân vật Chí Phèo
Qua con măt cô bé Liên, tất cả cuộc sống phố huyện chìm dần trong đêm tối mênh mông. Chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, cái bếp lửa của bác Siêu, ngọn đèn hoa kì vặn nhỏ của Liên…, tức chỉ là mấy đốm sáng lù mù. Những đốm lửa nhỏ nhoi ấy chẳng làm cho phố huyện trở nên sáng sủa mà chỉ càng khiến cho đêm tối càng thêm mịt mùng, dày đặc mà thôi. "Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí". Hình ảnh ngọn đèn con nơi hàng nước của chị Tí "chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ" ấy trở đi trở lại tới 7 lần trong truyện, là hình ảnh đầy ám ảnh và có sức gợi rất nhiều về những kiếp sống nhỏ nhoi, leo lắt, mù tối trong đêm đen mênh mông của cuộc đời. Truyện kết thúc cùng với hình ảnh ngọn đèn tù mù của chị Tí đi vào giấc ngủ chập chờn của cô bé Liên.
Cảnh phố huyện chiều tối hôm nay cũng giống như hôm qua và sẽ lặp lại trong ngày mai. Bởi vì, chiều tối nào cũng vậy, mẹ con chị Tí lại lễ mễ dọn hàng; chị em Liên lại đếm những phong thuốc lào, những bánh xà phòng, tính tiền hàng và tối nào cũng "ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc bàng" để ngắm nhìn phong cảnh ngoài phố; tối nào bác phở Siêu cũng lại gánh hàng ra và thổi lửa, bác xẩm cũng lại trải chiếu và bày cái thau sắt… Mọi người lại chờ đợi những điều mọi ngày họ vẫn chờ đợi; mấy chú lính trong huyện hay người nhà cụ thừa, cụ lục đi gọi người đánh tổ tôm rẽ vào uống nước, hút thuốc… Nhịp sống ấy cứ lặp đi lặp lại ngày này sang tháng khác, đơn điệu, uể oải, buồn tẻ. Nhưng biết làm sao được! Không phải những con người khốn khổ ấy không hi vọng – không hi vọng thì làm sao sống được? "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngàv của họ". Có điều, sự mong đợi ấy thật tội nghiệp: "một cái gì tươi sáng" ấy là "một cái gì" thật mơ hồ; và biết đến bao giờ nó mới đến?Xem thêm: Phân tích bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy hay nhất “Hơi đứa trẻ ” chỉ là hai đứa trẻ; chúng không thể có ý thức rõ rệt về tình cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang sống, cũng như về những khát vọng tinh thần mơ hồ của mình. Song với tâm hồn trong trẻo, ngây thơ nhưng nhạy cảm, cô bé Liên đã cảm nhận thấm thía, tuy chỉ là vô thức tình cảnh đó, khát vọng đó. Chính vì khát khao được thoát khỏi cảnh tù đọng, mù tối ấy mà Liên đêm đêm cố thức để đợi xem chuyến tàu đêm đi qua. Chuyến tàu đêm rầm rộ với "cái toa đèn sáng trưng" là hình ảnh cụ thể của "một cái gì tươi sáng" mà cô mong đợi. "Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng của ngọn đèn chị Tí và ánh súng lửa của bác Siêu".
“Hai đứa trẻ” (cũng như phần lớn truyện ngắn Thạch Lam) không đi vào những chuyện áp bức bóc lột, cũng không kể tỉ mỉ những cảnh ngộ thương tâm, mà chỉ lặng lẽ đưa ra những hình ảnh xoàng xĩnh quen thuộc ở một phố huyện nghèo, qua con mắt của một đứa trẻ! Nhưng bức tranh đời sống phố huyện nghèo trong truyện không phải không chân thực (chân thực trong từng chi tiết miêu tả và chân thực trong chiều sâu: nói được thực trạng của đời sống một cách ám ảnh, rất thấm thía), đồng thời, chan chứa niềm cảám thương chân thành của tác giả đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh, bế tắc, bị chồn vùi trong kiếp sống tối tăm.
Vanmau.edu.vn | Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo lúc chiêu tối được Thạch Lam thể hiện trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” và phát biểu cảm nhận của mình | 1,545 | |
Bức tranh mùa thu và tâm trạng của Đỗ Phủ trong Thu hứng
Gợi ý
Thơ Đỗ Phủ có nhiều bài tuyệt, hay, một trong số đó là Thu hứng. Đọc Thu hứng, người ta vừa có thể ngắm bức tranh thu tuyệt đẹp, vừa chia sẻ được bao tâm sự trong lòng thi nhân.
Bài thơ tự nó chia thành hai phần. Bốn câu trước tả cảnh, trong cảnh đượm tình. Bốn câu sau thể hiện tình cảm thi nhân nơi đất khách trên nền phong cảnh ở bốn câu trước. Bức tranh cảnh vật được bắt đầu từ sự đổi màu của rừng phong:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
(Sương móc trắng xoá làm tiêu điều cả rừng cây phong)
Từ những hình ảnh mang tính biểu tượng trong thơ cổ Trung Quốc như ngọc lộ (sương móc), phong thụ (cây phong), người đọc có thể hình dung mùa thu đã đến trên đất Quỳ Châu này – nơi Đỗ Phủ đang cư ngụ. Hình ảnh sương móc, rừng phong còn gợi lên sự lạnh lẽo và nỗi buồn. Hai chữ điêu thương vừa miêu tả rừng phong tàn tạ, vừa thể hiện nỗi buồn thương của con người. Trong từ vựng Trung Quốc, thông thường người ta chỉ dùng “điêu tạ”, “diêu linh”, “điêu lạc”, “điêu tàn”, chỉ với Đỗ Phủ mới có “điêu thương”. Rừng phong điêu tạ, lòng người bi thương” (PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hải). Trở lại nhan đề bài thơ, Thu hứng, tức là “cảm hứng mùa thu”. Ngay câu thơ đầu chúng ta đã bắt gặp “hứng”, đó chính là nỗi buồn được gợi lên từ khung cảnh rừng phong tàn tạ; lòng người buồn thương.
Đến câu thơ thứ hai, thi nhân đưa cái nhìn ra xa, thu vào tầm mắt hình ảnh núi Vu, kẽm Vu:
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm (Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt)Xem thêm: Phân tích bài thơ Độc tiểu thanh ký của Nguyễn Du Thiên Sông ngòi ở cuốn Thủy kinh chú đời Lục triều miêu tả: Suốt cả vùng Tam giáp (Vu giáp, Cù Đường giáp, Tây Lăng giáp) dài bảy trăm dặm, núi liên tiếp đôi bờ, tuyệt không có một chỗ trống. Vách đá điệp trùng che khuất cả bầu trời, chẳng thấy cả ánh nắng lẫn ánh sáng trăng. Hai chữ tiêu sâm trong câu thơ Đỗ Phụ đã lột tả được thần thái phong cảnh nơi đây. Sự hùng vĩ, hiểm trở của núi Vu, kẽm Vu phải nhoà đi sau hơi thu tối tăm, ảm đạm. Hai câu thơ đầu tả cảnh rừng núi tĩnh tại nhưng đượm tình thu.
Nếu như hai câu đầu, hướng nhìn của thi nhân di chuyển từ rừng núi xuống lòng sông (câu 3) và bao quát theo chiều rộng thì đến hai câu sau, hưởng nhìn lại chuyển từ lòng sông lên vùng quan ải và quét theo chiều dọc. Cảnh sắc ở hai câu này cũng không đẫm màu bi thương, tàn tạ nữa mà có phần hùng tráng, dữ dội:
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
(Giữa dòng sông, sóng vọt lên tận lưng trời,
Trên cửa ải, mây sà xuống giáp mặt đất âm u.)
Sóng và mây vận động ngược chiều, lấp kín cả không gian, gây ấn tượng xao động dữ dội và nghẹt thở. Cảnh hùng vĩ thật nhưng vẫn bị lấn át bởi cảm hứng bi tráng vôn thường thấy trong thơ Đỗ Phủ. Không gian quan ải hợp với không gian rừng núi bên trên mang đến người đọc cảm giác khá đậm nét về nỗi buồn mà thi nhân dường như cố tình phong kín trong lời thơ.
Trời đất bao la của mùa thi bị dồn nén, thu hẹp lại khiến nhãn giới con người phải tự thu về. Nhưng rút tầm mắt về, mùa thu vẫn hiện qua dòng lệ trên khóm cúc. Để rồi, thi nhân phải đô’i diện với mối tình quê hương trong lòng:Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về chất thơ trong truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch LamTùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
(Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước,
Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ.)
Có thể nói đây hai câu hay nhất, tiêu biểu cho tinh thần của Thu hứng. Tác giả đã đồng nhất tình và cảnh (nhìn hoa cúc nở mà trông như xoè ra những cánh hoa bằng nước mắt), hiện tại và quá khứ (giọt lệ hiện tại cũng là giọt lệ củá quá khứ). Hoa thường khiến người ta vui nay lại làm con người thêm buồn. Điều lạ lùng là tùng cúc của không nở ra hoa mà nở ra nước mắt. Đối cảnh sinh tình hay chính con người đã phổ tình vào cảnh. Chiếc thuyền lẻ loi là một hình ảnh ẩn dụ không chỉ vì tính chất trôi nổi, đơn độc của nó mà còn vì nó là phương tiện duy nhất để Đỗ Phủ gửi gắm vào đó ước vọng về quê.
Nhãn tự của hai câu thơ là hai động từ khai (nở) và hệ (buộc). Thông thường, hai động từ này gắn với các vật thể vật chất, nhưng trong lời thơ khai và hệ còn gắn với những thứ thuộc về tinh thần, tình cảm (nở ra… nước mắt, buộc vào… trái tim). Đi kèm với hai động từ đó còn là hai số ‘từ lưỡng, nhất. Lưỡng vừa là hai, vừa chỉ số nhiều, chỉ sự lặp lại: đã từng nở, bây giờ lại nở, đã từng rơi nước mắt, giờ lại rơi nước mắt. Nhất là “một”, là “duy nhất” nhưng cũng là “mãi mãi”, nhất hệ là “buộc mãi”. Mỗi còn chữ chất chứa nỗi lòng thi nhân, thể hiện một nỗi nhớ thương vườn xưa, nhà xưa tha thiết.Xem thêm: Nêu tóm tắt quan điểm sáng tác nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Chứng minh sự thể hiện quan điểm ấy qua các sáng tác của người. -văn 12 Mạch thơ chuyển đột ngột từ tả cảnh sang gợi thanh:
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
(Chỗ nào cũng rộn ràng đao thước để may áo rét,
Về chiều, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo nghe càng dồn dập.)
Sáu câu thơ trước không hể có một âm thanh nào. Đến hai câu cuối này, sự tĩnh lặng đó bị phá vỡ bởi bao âm thanh: tiếng “thước” đo vải, tiếng “dao” cắt vải, tiếng chày đập vải để may áo rét. Đây chính là âm thanh đặc thù của mùa thu Trung Quốc khi xưa – may áo ehống rét gửi cho người chinh thú đang trấn thủ biên cương bởi mùa thu lạnh lẽo đang về. (Lúc này, loạn An Lộc Sơn đã được dẹp nhưng đất nước chưa yên, bao người còn giữ ải xa). Bóng tối khiến con người chỉ có thể nghe thấy âm thanh tiếng chày đập vải. Âm thanh của mùa thu may áo, âm thanh của sinh hoạt đời thường nhưng cũng là âm thanh não lòng. Nó gợi niềm thương nhớ người thân nơi phương trời giá lạnh. Nó cũng thắc thỏm một nỗi lo âu vì chiến tranh chưa dứt… (PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hải). Hai câu thơ kết lại bài thơ nhưng lại mở ra nỗi buồn nhớ, lo âu. Đó cũng chính là “thu hứng” bắc bài thơ này sang bài thơ sau.
Thu hứng mang đến người đọc ấn tượng về một mùa thu nhưng quan trọng hơn, chúng tạ đã có thể tri âm với Đỗ Phủ về những tâm sự sâu kín trong lòng thi nhân.
Vanmau.edu.vn | Bức tranh mùa thu và tâm trạng của Đỗ Phủ trong Thu hứng | 1,293 | |
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố Hữu
Gợi ý
“Nơi hầm tối là nơi sáng nhất
Nơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam”
Trong những năm tháng nô lệ đau thương của đất nước, rất nhiều những chiến sĩ trung kiên của cách mạng Việt Nam đã bị bắt giam trong những nhà tù thực dân. Nhưng từ bóng đem căm hờn vẫn vút lên những tiếng thơ bày tỏ niềm say mê, khao khát với cuộc đời. Bài thơ “Khi con tu hú” của Tố Hữu là một trong số ấy. Sáu câu thơ đầu của bài thơ là bức tranh phong cảnh thiên nhiên rực rỡ thể hiện sự phong phú, sôi nổi và niềm yêu đời tha thiết của người chiến sĩ cộng sản trê tuổi:
Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần.
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…
Bài thơ "Khi con tu hú" sáng tác tháng 7 năm 1939, khi nhà thơ trên bước đường hoạt động cách mạng bị địch bắt giam tại lao Thừa Thiên – Huế (Tố Hữu bị địch bắt tháng 4-1939 – khi nhà thơ mới 19 tuổi). Bài thơ thể hiện tâm trạng ngột ngạt của người cộng sản trẻ tuổi sôi nổi yêu đời bị giam cầm giữa bốn bức tường vôi lạnh. Tâm trạng ấy càng trở nên bức bối khi nhà thơ hướng tâm hồn mình đến với bầu trời tự do ở bên ngoài.Xem thêm: Em hãy nêu định nghĩa truyện Cổ tích. Qua đó em hãy làm rõ thể loại của tác phẩm Sọ Dừa Giữa tháng hè nắng lửa, giữa cái im lìm đáng sợ của chốn lao tù chợt vang lên tiếng tu hú gọi bầy:
“Khi con tu hú gọi bầy"
Trong tiềm thức của con người Việt Nam, tiếng tu hú là tiếng gọi mùa: "Tu hú kêu, tu hú kêu, hoa phượng nở, hoa gao đỏ đầy ước mơ hi vọng…”. Đó là mùa hạ chói chang ánh nắng và đi cùng với đó là những sắc màu rực rỡ của thiên nhiên. Tiếng tu hú thân quen bất chợt vang vọng gợi lên trong tâm hồn người thanh niên trẻ tuổi đang sục sôi ước mơ, khát vọng nhưng bị mất tự do ấy bao suy tưởng về một mùa hè ngập tràn màu sắc và niềm vui.
Lúa chiêm đường chín, trái cây ngọt dần.
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…
Mùa hè được tái hiện trong tâm trí người tù rất chân thực, màu sắc hài hòa với những âm thanh sống động. Đó là màu rộm vàng của lúa chín, sắc đỏ lấp ló của quả ngọt, màu vàng tươi của ngô, sắc đào tươi của nắng, màu xanh thẳm của trời cao… tiếng ve ngân râm ran, tiếng sáo diều vi vút… Chao ôi! Đẹp đẽ quá! Rạo rực quá! Mới hồi tưởng thôi đã đủ cồn cào khao khát lao ra trời cao mà nhảy nhót hát ca. Tác giả đã vẽ lên bức tranh mùa hè sống động và tươi tắn bằng những từ ngữ giản dị, nhưng đầy sức gợi hình, gợi cảm. Nếu không có niềm gắn bó tha thiết với cuộc đời, không có niềm khao khát tự do mãnh liệt, không có một tâm hồn tinh tế nhạy cảm và một trí tưởng tượng vô cùng phong phú thì nhà thơ không thể viết được những câu thơ tuyệt vời đến thế….Xem thêm: Hãy kể lại một việc làm của em làm bố mẹ vui lòng Đoạn thơ sử dụng nghệ thuật tả cảnh rất sinh động, cụ thể và gợi cảm, các từ ngữ lựa chọn có giá trị tạo hình. Đặc biệt, phép liệt kê được vận dụng tạo ra những ấn tượng huy hoàng về một mùa hè phong phú, sôi động đong đầy ước mơ và khát vọng tuổi trẻ.
Hình ảnh thiên nhiên mùa hè hiện lên trong tâm hồn nhà thơ trong cảnh lao tù ấy đã thể hiện niềm khát vọng tự do cháy bỏng không thể kìm nén nổi. Đoạn thơ đã cho ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi. Người chiến sĩ xả thân vì lí tưởng cao đẹp đó có một thế giới nội tâm rất mực phong phú, rung động mãnh liệt với nhịp đập của cuộc sống, gắn bó thiết tha với quê hương ruộng đồng.
Vanmau.edu.vn | Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố Hữu | 777 | |
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Buổi chiều đứng phủ Thiên Trường trông ra” (“Thiên Trường vãn vọng” – Trần Nhân Tông)
Gợi ý
Thiên nhiên giản dị, tươi đẹp miền thôn dã muôn đời nay vẫn là người bạn gắn bó của các thi nhân – dù cho thi nhân ấy có là một nhà vua đi chăng nữa. Trong bài thơ “Buổi chiều đứng phủ Thiên Trường trông ra” tức “Thiên Trường vãn vọng” của nhà vua Trần Nhân Tông, khung cảnh thiên nhiên hiện lên thanh bình yên ả khiến lòng người thấy tĩnh tâm lạ thường.
"Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng”.
Trần Nhân Tông là một vị vua nổi tiếng đời nhà Trần sống ở thế kỉ XIII của dân tộc. Ông là người yêu dân, yêu nước và nổi tiếng khoan hòa, êm ái. Dưới triều đại của mình, ông chẳng những đã đoàn kết được tướng sĩ, nhân dân đánh thắng giặc Mông – Nguyên mà còn xây dựng cho nhân dân đời sống ấm no, yên ổn. Sau khi rời ngai vàng, ông lên núi Yên Tử tĩnh tu và được tôn là tổ sư của thiền phái Trúc Lâm. Tương truyền rằng sau khi lãnh đạo dân ta chống giặc Mông – Nguyên thắng lợi, đất nước trở lại yên bình, nhân dịp thăm quê cũ ở Thiên Trường, vua Trần Nhân Tông đã tức cảnh sinh tình mà viết nên “Thiên Trường vãn vọng”. Bài thơ được viết theo thể thơ Đường luật, thất ngôn tứ tuyệt, âm điệu bài thơ nhẹ nhàng, hài hòa, thanh thoát.Xem thêm: Tuy cách nhau đến hai thế kỉ nhưng hai bài thơ Sông núi nước Nam (Lí Thường Kiệt) và Phò giá về kỉnh có nhiều điểm tương đồng. Em hãy làm rõ những nét tương đồng ấy Phủ Thiên Trường, Nam Định vốn là quê cũ của nhà Trần. Đó là một miền quê yên ả, thanh bình. Trong bài thơ, tác giả đã vẽ lên một bức tranh thôn dã vào lúc chiều tà, hoàng hôn đang kéo đến:
"Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không"
Trong nguyên văn chữ Hán, cụm từ bánvô bán hữu nghĩa là nửa nhưcónửa như không gợi phong cảnh mờ ảo; vừa như có lại như không; vừa thực lại vừa hư. Quang cảnh gợi lên ở đây là làng xóm đang mờ trong sương khói. Thôn xóm, nhà tranh, làng quê nối nhau, san sát, sum vầy phía trước, phía sau, khói phủ nhạt nhòa, mờ tỏ, nửa như có, nửa như không. Khói tỏa ra từ đâu vậy? Phải chăng, đây chính là khói bếp nhà tranh và lớp sương chiều lãng đãng hòa quyện với nhau thành một làn sương – khói trắng mờ, êm dịu bay nhẹ nhàng khiến người ta cảm thấy chỗ tỏ, chỗ mờ, lúc có, lúc không? Tâm hồn người lâng lâng bởi cảnh hay chính lòng người đang lâng lâng, mơ mộng nên nhìn thấy xóm làng thanh bình, êm ả đến? Cảnh tượng trong hai câu thơ đầu trầm lặng làm sào! Cảnh có nét thực nhưng lại có nét ảo. Chính điều này tạo nên sự mơ màng, nên thơ rất độc đáo của câu thơ.
Đến hai câu sau đã có sự xao động trong cảnh vật:Xem thêm: Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thái... anh” (Tuyển tập Hoài Thanh, NXB Văn học, 1982). Bình luận ý kiến trên và chứng minh bằng các tác phẩm của Tố Hữu anh (chị) đã được học"Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng".
Cách nơi nhà vua đứng không xa, mấy chú bé chăn trâu đang lùa trâu về làng, vừa ngồi trên lưng trâu vừa thổi sáo. Tiếng sáo vi vu, văng vẳng, cất lên làm xao động lòng người. Xa xa, trên cánh đồng lúa, mấy cánh cò trắng đang từng đôi một sà xuồng như muốn tìm mồi hay định nghỉ ngơi! Người, vật, đồng ruộng, màu sắc, âm thanh…, tất cả đã hòa nhập với nhau để vẽ nên bức tranh quê hương thanh bình, êm vắng mà thật có hồn.
Qua bức tranh được miêu tả, có thể nhận thấy cảnh tượng nhìn từ phủ Thiên Trường thật nên thơ. Đứng trước cảnh thiên nhiên ấy, tác giả như chìm đắm say xưa trong cảnh vật. Ngắm nhìn, thưởng thức nét đẹp của xóm thôn mà vui mừng với cuộc sống không vướng bận binh đao.
Tác giả của bài thơ là một ông vua có tâm hồn thi sĩ. Đọc bài thơ, ta thấy hoàn toàn không có sự ngăn cách nào giữa một người lãnh đạo cao nhất của một quốc gia với một người nông dân thuần phác (cảnh được nhìn và miêu tả ở những nét gần gũi và dân dã nhất). Điều đó cho thấy, nhà vua rất gần dân chúng, rất yêu dần, yêu chuộng sự thanh bình. Phải chăng vì các vị vua Trần rất thân dân, yêu dân như con mà mỗi khi đứng trước họa xâm lăng (nhất là trong ba lần quân Nguyên – Mông xâm lược nước ta) nhà Trần đều lãnh đạo nhân dân chống xâm lược thành công.Xem thêm: Văn biểu cảm - Cảm nghĩ về một cuộc chia tay“Thiên Trường vãn vọng”, “Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra” của Trần Nhân Tông là một bức tranh phong cảnh làng quê xinh xắn. Nó đã gợi được cái hồn, cái cốt của làng quê Việt Nam. Bài thơ phảng phất chất thiền thể hiện tâm hồn sâu lắng, thanh cao của bậc vua hiền tài nhân ái Trần Nhân Tông.
Vanmau.edu.vn | Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Buổi chiều đứng phủ Thiên Trường trông ra” (“Thiên Trường vãn vọng” – Trần Nhân Tông) | 972 | |
Bức tranh thiên nhiên trong hai bài thơ: “Giải đi sớm” và “Chiều tối” của Hồ Chi Minh
Gợi ý
Nhắc đến Bác Hồ ta nhắc đến một tình yêu thương bao la và vĩ đại. Trong trái tim nhân ái của mình Bác vẫn không quên dành một vị trí đặc biệt cho thiên nhiên. Chỉ một chút thôi cũng đủ để thiên nhiên bừng sáng trong thơ Người. “Giải đi sớm” và “Chiều tối” không chỉ là hai bài thơ mang đậm giá trị nhân văn mà còn là những bức tranh thiện nhiên đẹp đẽ, vận động từ bóng tối đến ánh sáng qua đó thể hiện tâm hồn cao đẹp của Hồ Chí Minh.
Nằm trong tập thơ “Nhật ký trong tù” – tập thơ được sáng tác khi Bác Hồ bị nhà tù Tưởng Giới Thạch giam cầm những năm 1942 – 1943, hai bài thơ đều được lấy cảm hứng từ phong cảnh bên đường khi Bác chuyển lao.
Hai bài thơ, hai bức tranh ở hai thời điểm khác nhau: chiều tối và sáng sớm song cả hai đều đẹp, tinh tế. Đặc biệt, ở cả hai bài thơ thiên nhiên đều đi từ tốì tăm, lạnh lẽo đến ánh sáng và ấm áp.
Ở “Chiều tối”, nhà thơ đã có một sự đồng cảm đặc biệt với thiên nhiên:
“Chim mỏi về rừng tỉm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”.
“Chim bay về núi” là báo hiệu trời đã “tối rồi”. Ớ đây, chim cũng bay về rừng tìm điểm tựa, về với gia đình và “tìm chốn ngủ”. Nhưng đó không phải cánh chim bình thường mà là cánh chim “mỏi”. Nhìn cánh chim bay đã biết chim mệt mỏi sau một ngày kiếm ăn vât vả. Phép nhân hóa đã thể hiện tấm lòng nhà thơ đối với thiên nhiên. Chưa hết, “chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Câu thơ nguyên văn chữ Hán là “Cô vân mạn mạn độ thiên không”. “Cô vân” là chòm mây lẻ loi, cô độc, “độ thiên không” là bay ngang qua bầu trời. Câu thơ miêu tả một chòm mây cô đơn, lẻ loi một mình thực hiện cuộc hành trình dài dặc bay ngang qua khoảng trời rộng lớn. Khung cảnh vắng vẻ, mệt mỏi gợi buổi chiều tà đăng lắng dân những thời khắc cuối ngày. Bóng tốì đang mơn man mặt đất… Bầu trời rộng lớn chỉ có cánh chim và áng mây lẻ loi. Còn mặt đất, nơi vẵn đông đúc vui vẻ sự sồng thì:Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh“Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã ủng hồng”
Thực ra trong nguyên tác là:
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
Thật kỳ diệu, bài tả cảnh chiều tôi mà toàn bài không hề có một chữ “mộ” nào. Ngược lại cảnh chiều tối nhưng lại để ánh sáng ngân vang. Bài thơ khép lại với hình ảnh “lò than rực hồng” – “lô dĩ hồng”. Trong tiếng Hán, “hồng” là ánh sáng, hồng còn là ấm áp. Sự ấm áp của ngọn lửa giữa buổi tốì miền núi lạnh lẽo; cũng là sự ấm áp của tình cảm gia đình đoàn tụ quây quần. Và biết đâu, còn ấm bởi tình Người – tình cảm của Bác đốì với những kiếp cần lao, với người dân miền núi bên cạnh nhịp quay nặng nề của cối xay “ma bao túc – bao túc ma hoàn”.
Bài thơ đi từ bóng tối chiều hôm, từ sự mệt mỏi; cô đơn, lang thang vô định của chim, của mây đến ánh sáng hồng tơi âm áp của ngọn lửa, của tình người.
Ta cũng gặp sự vận động kỳ diệu ấy trong “Giải đi sớm”. Bài thơ chia làm hai phần nhỏ rất rõ ràng khác biệt.
Phần một là cảnh thiên nhiên khi “đêm chửa tan”. “Đêm chửa tan” – “dạ vị lan” tức là trời đang đêm, còn tối “dạ”. Bóng tối nơi miền núi hoang sơ gắn với cái lạnh lẽo, hoang vu và cả nỗi sợ hãi. Những núi non, vực thẳm hiểm trở, chỉ xảy chân một chút là… Không chỉ thế, còn là miền núi lúc nửa đêm thu. Mùa thu đất Bắc thì lạnh lẽo vô cùng. Ớ đây, Bác chỉ nhắc đến những cơn gió thu “trận trận hàn” đã thấy tê buốt xương da như đóng băng vậy.Xem thêm: Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh vẽ Bác Hồ bên ao cá của Người
Nhưng sang đến phần hai thì khác hẳn. Màu sắc, không gian đối lập hoàn toàn với phần trước. Đất trời “màu trắng chuyển sang hồng”. Màu hồng của ánh dương rực rỡ, của sự ấm áp, của miền núi hy vọng. Bóng tối bị quét sạch, không gian được thanh lọc đến vô cùng: “Bóng tốì đêm tàn, sớm sạch không”. Nguyên tác Bác dùng từ “tảo nhất không” – đã hết sạch.để nói đến cái trong trẻo tuyệt đối của sớm mai. Và hơi ấm ngày mới lan tỏa bao trùm “Hơi ấm bao la toàn vũ trụ” để “Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”.
Từ sự lạnh lẽo, tối tăm của đêm thu đến buổi sớm mai ấm áp trong lành đầy màu sắc, thiên nhiên.vận động tơi sáng nhịp nhàng còn tác động tích cực đến con người và cũng thể hiện tâm hồn một con người yêu thiên nhiên, lạc quan tin tưởng vào ngày mai đầy ánh sáng.
Ngay ở “Chiều tối” ta đã bắt gặp một tình yêu thương bao la Bác đành cho thiên nhiên và sự sống con người. Có vậy Bác mới đồng cảm với sự “mỏi” của cánh chim; cái cô đơn, lang thang của chòm mây “mạn mạn độ thiên không”. Đặc biệt, Bác chia sẻ với nỗi vất vả của người dân ngoại quốc. Điều đó thể hiện qua câu thơ diễn tả nhịp quay nặng nề của cối xay ngô “ma bao túc – bao túc ma hoàn”.
Ta cần lưu ý rằng, khi ấy Bác đang phải chịu cảnh tù đày, Bác đau khổ hơn cánh chim, áng mây và người sơn nữ kia nhưng người vẫn mồ lòng để cảm thông chia sẻ. Đặc biệt, qua cái ấm áp của ánh lửa gia đình, ta hiểu rằng Bác đang chung vui, chung ấm với bữa cơm đoàn tụ gia đình người sơn nữ.
Ớ “Giải đi sớm” không chỉ tấm lòng mà cả bản lĩnh của người tù cách mạng cũng thể hiện rõ. Đêm thu lạnh lẽo hiểm nguy, người vẫn mở lòng ưu ái với thiên nhiên, nhìn thiên nhiên bằng đôi mắt hữu tình tinh tế; “Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn” – “Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san”. “Quần” là quây quần gợi cái đòng vui, ríu rít. “ủng” là bao lấy, ỏm lấy. Hình ảnh những vì sao đông đúc vui vẻ ôm ấp vầng trăng cùng bay lên “thướng” thật tình tứ thi vị. Cũng trong đêm hàn thu ấy, người chiến sĩ cách mạng đã thể hiện bản lĩnh bằng thái độ sẵn sàng đón nhận gian khổ, đón nhận hiểm nguy thậm chí thách thức chúng “nghênh diện thu phong trận trận hàn”. Nếu như điệp từ “trận trận” gợi đến lớp lớp đợt gió thu lạnh buốt táp vào thì từ “nghênh” đầy kiêu hãnh thể hiện thái độ sẵn sàng đối mặt gian nguy. Con người ở đây mạnh mẽ, can trường và kỳ vĩ, tự nâng mình lên sánh với thiên nhiên. Không chỉ vậy, với sự khắc nghiệt của thiên nhiên Người “nghênh diện” nhưng với sự ấm áp, sáng tươi Người hòa mình vào ban mai tươi sáng “Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”.Vậy là bỗng chốc một tù nhân vụt hóa thành thi nhân. Khổ đau chỉ là cảm hứng để Bác tỏ lòng can trường. Ánh sáng ban mai để Bác ấm lòng lạc quan tin tưởng.Xem thêm: Phân tích bài ca dao sau “Bắc thang lên tận cung mây, Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời …” Không chỉ “Chiều tối” và “Giải đi sớm”, rất nhiều bài thơ trong “Nhật ký trong tù” tả cảnh thiên nhiên và tất cả thiên nhiên đều có sự vận động tươi sáng từ bóng tối tói ánh sáng. Ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, những vần thơ ấy thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu tự do bao la của Bác. Và hơn hết, nó thể hiện bản lĩnh, tinh thần người cách mạng luôn lạc quan tin tưởng vào ngày mai tươi sáng.
“Chiều tôi, “Giải đi sớm”… đó thực sự là những vần thơ đẹp đẽ. Và đúng như một nhà thơ từng ca ngợi:
“Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn bao la bát ngát tỉnh".
Cái “tình” trong những bài thơ như thế có ngọn nguồn cảm hứng từ thiên nhiên – người bạn chung tình muôn đời của các thi nhân.
Vanmau.edu.vn | Bức tranh thiên nhiên trong hai bài thơ_ “Giải đi sớm” và “Chiều tối” của Hồ Chi Minh | 1,516 | |
Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người trong bài thơ “Chiều tối” (mộ) của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Một buổi chiều tối, vào cuối mùa thu năm 1942, trên con đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, dù đã trải qua một ngày dài gian lao, vất vả nhưng bác vẫn còn tiếp tục bị bọn lính áp giải trên đường và trước mắt là một đêm trong nhà giam chặt hẹp, bẩn thỉu, lại “Được cùm chân mới yên bề ngủ/ Không được cùm chân biết ngủ đâu”. Những đày đọa ban ngày chưa qua, những đày đoạ ban đêm đã sắp đến. Vậy mà trong hoàn cảnh ấy, người vẫn vượt lên trên tất cả để ghi lại một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống thật đẹp:
“Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiểu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngụ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò thân đã rực hồng).
Cả bài thơ là bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người gần gũi, sinh động trong cảm nhận của một người tù cách mạng.
“Chiều tối” mở đầu bằng hai câu thơ miêu tả thiên nhiên vừa gần gũi lại vừa khác lạ. Cũng giống như trong thơ ca cổ điển phương Đông, khung cảnh thiên nhiên trong hai câu thơ đầu đã được phác hoạ bằng những nét châm phá. Nhà thơ không nghiêng về tả mà chỉ gợi ra một vài nét để bắt lấy cái hồn của tạo vật. Toàn bộ khung cảnh miền thiên nhiên sơn cước hiện ra đơn sơ qua cánh chim chiều mệt mỏi đang vỗ cánh bay về nơi trú ngụ, và trong áng mầy lẻ loi, lững lờ trôi giữa tầng không. Nghệ thuật lấy điểm vẽ diện, lấy động tả tĩnh được vận dụng sáng tạo, Nhìn cánh chim bay, mây trôi mà cảm thấy bầu trời bao la hơn, cảnh chiều tối êm ả, tĩnh lặng hơn. Thiên nhiên ở khắc họa ở hai nét rất cơ bản nhưng hiện lên đầy ấn tượng về cảnh sắc và xúc cảm. Nó gợi ta nhớ đến những câu thơ râ’t hay cũng viết về cảnh chiều tà như vậy. Ca dao từng có câu: “Chim bay về núi tối rồi”. Và đó cũng là cánh chim của buổi chiều tà trong thơ Nguyễn Dủ: “Chim hôm thoi thót về rừng”. Câu thơ của Người vì thế mà cũng vừa gợi ý niệm về không gian vừa gợi ý niệm về thời gian. Mặc dù vậy, hình tượng cánh chim trong thơ Bác không chỉ được quan sát ở trạng thái vận động bên ngoài như trong thơ xưa (cánh chim bay) mà còn được cảm nhận rất sâu ở tâm trạng (cánh chim mỏi mệt). Có thể thấy một sự tương đồng gần gũi giữa hình ảnh cánh chim ấy với người tù trên đường chuyển lao mệt mỏi. Nhưng hành trình của cánh chim có thế’ coi như đến đấy là đã tạm ngừng để nghỉ ngơi thì người tù cách mạng vẫn phải tiếp tục những đày đọa. Nhưng ý thơ không vì vậy mà mất đi sự hoà hợp đồng điệu, giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật. Bởi cội nguồn của nó chính là tình yêu thương mênh mông Bác giành cho mọi sự sống trên đời.Xem thêm: Phân tích bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu hay nhất Hình ảnh chòm mây gợi ta nhớ đến câu thơ của Thôi Hiệu trong bài “Hoàng Hạc lâu”: “Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” và câu thơ của Nguyền Khuyến: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu), vẫn là một thi liệu quen thuộc nhưng “mây” trong thơ Bác không gợi sự vĩnh viễn hay cái khắc khoải mơ hồ của con người trước hư không mà là một chòm mây cô đơn đang chậm chạp trôi giữa bầu trời bao la. Chòm mây như có hồn người. Nó như mang cái tâm trạng lẻ loi, đơn độc, băn khoăn, trăn trở, cha biết tương lai sẽ đi đến đâu của người tù nơi đất khách. Khi Lí Bạch, nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc đời Đường “Độc tọa Kính Đình sơn” (Một mình ngồi trên núi Kính Đình) nhìn thấy cảnh:
“Chúng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn”.
(Bầy chim một loạt bay cao
Lưng trời thơ thẩn, đám mây một mình).
để cánh chim bay mất hút vào cõi vô tận thì trong thơ Bác, cánh chim là của đời sống hiện thực, nó bay theo cái nhịp điệu bất tận của cuộc sống: Sáng đi ăn, tối về rừng ngủ. Áng mây của Lí Bạch bay nhàn tản gợi cảm giác thoát tục, còn áng mây trong bức tranh “chiều tối” của Bác toát lên vẻ yên ả, thanh bình của cuộc sống thường ngày, ở trong cảnh đày đọa “Năm mươi ba cây số một ngày/ Mũ áo dẩm mưa rách hết giày” vậy mà hồn thơ ấy vẫn vượt lên trên tất cả đê cảm nhận và đón nhận vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, tạo vật. Tình yêu thiên nhiên và “chất thép” trong tâm hồn người tù cách mạng ấy đã làm nên sức mạnh để chiến thắng hoàn cảnh. Từ bức tranh thiên nhiên, ta bắt gặp một cái nhìn trìu mến dõi theo từng biểu hiện của tạo vật. Không có chân dung người tù khổ ải mà chỉ hiện lên dáng vẻ phong độ của bậc tao nhân mặc khách đang ung dung thư thái thưởng ngoạn cảnh về chiều ở rừng núi.Xem thêm: Anh (chị) nghĩ gì về tình yêu trong độ tuổi học sinh Nếu như trong hai câu thơ đầu, cảnh vật hiện ra trong những nét vẽ chấm phá phần nào mang tính chất ước lệ cổ điển thì hình ảnh cô thôn nữ trong hai câu thơ còn lại lại được gợi tả một cách chân thực, sinh động và cụ thể như một bức tranh hiện thực. Bức tranh di chuyển điểm nhìn vào cuộc sống con người. Chính nét vẽ đời thường ây đã làm cho bài thơ tãng thêm dáng vẻ hiện đại. Hình ảnh người con gái nổi bật lên, trở thành trung tâm của bài thơ. Thời khắc đầu đêm nơi xóm núi đã làm người tù quên đi cảnh ngộ khổ đau của mình để cảm nhận cuộc sống của nhân dân. Bác đã vợt qua những khoảng cách về không gian, đẳng cấp, dân tộc để đón nhận vẻ đẹp con người ở ngay nơi mà mình bị đày đọa. Đó là điều không phải ai cũng có thể làm được. Hai câu thơ nói lên sự quan tâm và tình cảm yêu thương của Bác đối với ngửời lao động nghèo mà sự làm việc mệt nhọc thể hiện qua âm điệu khắc khổ của bài thơ. Đến đây bài thơ có sự vận động từ bức tranh thiên nhiên sang bức tranh đời sống. Cũng là sự xuất hiện của con người nhưng không phải là cảnh “Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sống chợ mây nhà” chỉ làm tăng thêm nỗi buồn và sự cô đơn của nhân vật trữ tình trong thơ Bà huyện Thanh Quan, con người trong thơ Bác xuất hiện chỉ một mình nhưng lại mang theo sức ấm nóng của sự sống Hành động xay ngô gợi đến những bữa ăn gia đình đông đúc và vui vẻ, gợi cuộc sống lao động b)nh dị. Hơn thế nữa, nó lại đi liền với “lô dĩ hồng”, cái â’m nóng của bếp lửa. Trong một đêm mùa thu giá rét phương Bắc, một bếp lửa rực hồng thật có ý nghĩa. Nó trở nên ấm áp và có sức lan toả hơn bao giờ hết. Cô thôn nữ được miêu tả trong sự lao động cần mẫn. “Ma bao túc” rồi “ma túc ba hoàn” vòng quay của cốì xay ngô cứ đều đặn không ngừng nghi trong thái độ lao động hăng say của con người. Trong sự vận động của câu thơ có sự vận động của thời gian. “Nguyên văn không nói đến tốì mà tự nhiên nói đến: thời gian cứ trôi dần theo cánh chim và làn mây, theo những vòng quay của cối ngô, quay quay mãi, “ma bao túc… bao túc ma hoàn” và đến khi côi xay dừng lại thì “lô dĩ hồng”, lò đã rực hồng, tức là trời tôi, trời tôi thì lò rực lên” (Lê Trí Viễn). Như vậy, bếp lửa của cô gái xay ngô đã hồng lên, nghĩa là buổi chiều êm ả đã kết thúc để bước vào đém tối, nhưng lại không phải đêm tối lạnh lẽo, âm u mà là đêm tối ấm áp, bừng sáng bởi ngọn lửa hồng. Nếu hình dung cả bài thơ là một bức tranh thì chính cái châm lửa đỏ mà người nghệ sĩ tài hoa đã châm lên đó đã mang lại thần sắc cho toàn cảnh, dường như nó làm tăng thêm niềm vui và sức mạnh cho người đang cất bước trên đường xa. Giũa cái hoang sơ hùng vĩ của thiên nhiên đất trời, hình ảnh cô gái xay ngô và bếp lửa rực hồng của cô toát lên vẻ trẻ trung, khoẻ mạnh, sống động, đáng quí và đáng trân trọng biết bao.Xem thêm: Hãy trình bày những hiểu biết của anh (chị) về khái niệm chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học (...) ở Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, dựa trên những điều anh (chị) đã được học và được đọc về các nhà văn Nguyễn Công Hoan, ... Bài thơ là sự kết hợp của hai mảng màu chính: mảng màu của thiên nhiên và mảng màu của cuộc sống con người. Cái làm nên sự hài hoà giữa hai mảng màu ấy là tâm lòng thiết tha yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của người tù cách mạng. Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống có sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng, từ buồn đến vui. Sự vận động này cho thây cái nhìn tràn đầy niềm lạc quan yêu đời, thể hiện tâm hồn luôn vận động hướng ra ánh sáng, hướng ra sự sống, một “chất thép” đáng khâm phục trong tâm hồn thi sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.
Vanmau.edu.vn | Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người trong bài thơ “Chiều tối” (mộ) của Hồ Chí Minh | 1,771 | |
Ca dao dân ca là tiếng nói cảm động về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước. Em có đồng ý như vậy không? Hãy phân tích một số dẫn chứng để làm rõ
Gợi ý
DÀN Ý
Mở bài:
+ Ca dao dân ca thể hiện nhiều tình cảm với những cung bậc khác nhau.
+ Giới thiệu và trích dẫn: “Ca dao dân ca là tiếng nói cảm động về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước”.
Thân bài:
+ Ca dao dân ca là sự bộc bạch những tình cảm, nỗi niềm của nhân dân lao động trong cuộc sống hàng ngày → là tiếng nói của nhân dân.
+ Tiếng nói về tình cảm gia đình:
Tình yêu thương, công lao trời biển của cha mẹ dành cho con cái: “Công cha như núi ngất trời…”.
Tình cảm của con cháu với ông bà: “Ngó lên nuộc lạt mái nhà…”.
Tình cảm của con cái với cha mẹ: nỗi nhớ nhung, đau khổ, xót xa của người con gái lấy chồng xa trong những buổi chiều trông về quê mẹ: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau…”.
Tình anh em gắn bó, đoàn kết: “Anh em nào phải người xa,…”.
+ Tiếng nói về tình yêu quê hương đất nước:
Hát đối đáp về những địa danh của đất nước: “Ở đâu năm cửa chàng ơi…”.
Ca ngợi vẻ đẹp của phong cảnh quê hương đất nước: “ Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ…”, “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh…”.
=> Tất cả đều là những tình cảm chân thành, cao đẹp và cảm động.Xem thêm: Nghị luận xã hội về hiện tượng quá tin vào thần thánh mê tín dị đoan của một số ngườiKết bài:
+ Khẳng định lời nhận xét là đúng đắn.
+ Vai trò của những câu ca dao dân ca đó trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam và trong đời sống hàng ngày.
Vanmau.edu.vn | Ca dao dân ca là tiếng nói cảm động về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước. Em có đồng ý như vậy không_ Hãy phân tích một số dẫn chứng để làm rõ | 313 | |
Ca dao là lời hát tâm tình của người lao động, là bài ca về tình yêu quê hương đất nước. Em hãy chứng minh ý kiến trên
Gợi ý
Ai trong chúng ta lớn lên và trưởng thành trên mảnh đất quê hương cũng đều cảm nhận được cái hay cái đẹp của Văn học dân gian ngay từ lúc còn nằm trong nôi qua lời ru của mẹ. Dòng sữa Văn học đã chắp cánh cho ước mơ bay bổng đưa tâm hồn những "cánh cò trắng" bay hoài không mỏi. Tất cả đều sinh động và len lỏi vào trong tận giấc mơ của những ngày ta thơ dại. Có thể nói, nếu như kể đến những tinh túy chắt lọc từ cuộc sống cực nhọc của người lao động thì những câu ca dao chính là những hạt ngọc sáng lấp lánh trong kho tàng văn học nước nhà vốn phong phú và vô tận. Văn học bao giờ cũng đi từ cuộc sống và trở về cuộc sống. Chính nó phản ảnh hiện thực và hiện thực góp phần tô điểm cho loại hình nghệ thuật đặc sắc này phát triển trở thành "món ăn tinh thần" không thể thiếu được trong đời sống con người. Vì vậy, có ý kiến nhận định rằng: "Ca dao và lời hát tâm tình của người lao động là bài ca về tình yêu quê hương đất nước".
Trải qua bốn nghìn năm lịch sử, truyền thống hào hùng của dân tộc niềm tự hào của mỗi con người Việt Nam. Chúng ta nhận thức được cái đẹp, cái toàn mĩ bằng tất cả trái tim nhân hậu của mình. Chính những tình cảm cao đẹp đó đã thấm sâu vào tâm hồn họ, như máu thịt. Và bắt rễ từ cuộc sống lao động chiến đấu, những bài ca đêm trăng, ngày hội, mà đã thực sự là những tâm tình mà con người lao động gởi gắm tất cả khát vọng và tình cảm của mình. Rất mộc mạc và chân tình tha thiết mà xốn xang, ca dao bay bổng nhưng lắng đọng trong lòng ta, bâng khuâng đến lạ kì. Ta hãy đọc câu ca dao khi người đi xa nhớ quê hương:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Câu ca dao như khúc nhạc luyến láy bổng trầm, ở đây ta bắt gặp sự lưu luyến của người tha hương xa xứ, nhớ làng quê bao kỉ niệm thân thương. Trong câu hát, ta còn nghe chất chứa một nỗi vấn vương khôn tả. Người con trai rời xa quê hương, trong tim mang nặng hình ảnh quê nhà trên mỗi bước chân đi. Anh nhớ đến những món ăn quê hương mộc mạc đơn sơ mà thấm đẫm nghĩa tình. Thấp thoáng trong câu ca dao còn là hình dáng của một người em gái nhỏ, một con người lao động cần cù. Chính những nét đó đã tô điểm cho câu ca dao thêm đẹp và nỗi nhớ của người tha phương với đất nước càng da diết mà lay động lòng tay. Tình yêu quê hương đất nước trong ca dac bao giờ cũng được những nghệ sĩ dân gian phác ra bằng những nét bút rất đơn sơ nhưng đậm đà. Đó là một bức tranh thủy mặc với những đường nét cổ kính nhạt màu mà cũng nên thơ:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Rất tế nhị, tình yêu đất nước trong câu ca dao không sôi nổi nhưng lại dạt dào như mạch suối nước ngầm âm ỉ, chảy mãi. Niềm tự hào về non sông đất nước được khơi gợi qua từng nét bút, từng chữ, từng câu. Và ta hiểu rằng chỉ có thể bắt nguồn từ tình yêu tha thiết và sâu nặng, trái tim người "nghệ sĩ dân gian" mới có thể trào lên những câu ca dao ngọt ngào đến thế. Và đây là cảnh Hồ Gươm:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc xem đền Ngọc Sơn Xem thêm: Miêu tả loài hoa em yêu - Cảm nhận về hoa đào Đài Nghiên tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai xây dựng nên non nước này?
Một cung đàn gảy lên, đôi khi còn trùng phím, nhưng sao mỗi bài ca dao đều đem đến cho ta những tình cảm ấm áp và trìu mến lạ kì. Tất cả như một bản đồng ca trỗi lên từ mỗi tâm hồn yêu nước gắn bó với quê hương của mình. Đọc nó ta như bắt gặp lại chính mình trong nhạc điệu rộn ràng bất tử của quê hương. Tất cả như đánh thức trong ta thứ tình cảm mơ hồ nhưng chợt bùng lên như đánh thức ngọn lửa, sáng lấp lánh. Suốt bảy năm cắp sách đến trường, biết nhận thức điều hay lẽ phải, trái tim ta đã từng xúc động trước những quá khứ hào hùng của cha ông, đã biết yêu, biết ghét, biết nghĩ biết nhìn nhưng chưa bao glờ thật sự đối diện với chính bản thân, nhận thức rõ trách nhiệm và tình yêu của mình đối với mảnh đất tươi đẹp mà ta đang thừa hưởng, càng hiểu thêm sức lay động mạnh mẽ của ca dao. Bất cứ nghệ thuật nào, dù lớn hay nhỏ sẽ mãi tồn tại khi nó biết rung lên trong lòng mỗi con người một thứ tình cảm đồng điệu. Và ca dao đã sống thực tế qua bao câu hát ấp ủ tâm hồn ta:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ
Làm sao kể xiết được bao vẻ đẹp mà thiên nhiên hào phóng đã ban tặng cho đất nước ta? Mỗi cảnh đẹp, con sông, con đò giếng nước đều đã mang đậm dấu ấn của quê hương Việt Nam với một quá khứ hào hùng đã gắn liền với bao cảnh vật. Tất cả đã gợi lên những vẻ đẹp rất riêng, rất Việt Nam. Nhưng điều đáng nói ở đây chính là tình cảm mà con người gởi gắm qua từng câu ca dao. việt Nam đẹp, nhưng các nước khác còn có những kì quan lộng lẫy sáng chói hơn. Tô điểm cho những câu ca dao không phải chỉ đơn thuần người dân muốn ca ngợi vẻ đẹp của mình. Mà nỗi bật trên hết là tình yêu họ. Con người họ vun vén trau chuốt cho từng chữ từng câu, họ yêu đất nước bằng thứ tình cảm say mê gần như máu thịt, họ tự hào đất nước bằng tất cả trái tim, người nghệ sĩ để "vẽ" lên những bức tranh sống động, điêu luyện và tinh tế như thế. Cái hồn của câu ca dao đã vượt qua tầm vóc bé nhỏ của nó đến với tâm hồn người đọc và tồn tại ở đó qua bao thế hệ.
Sẽ chẳng thể nào quên được những "cành trúc" đưa nhẹ nhàng trong gió, tiếng chuông ngân nga vang vọng trong khoảng không tĩnh mịch "mặt nước" hồ lãng đãng sương mù mơ hồ huyền diệu. Cảnh đẹp ở miền Nam không mang vẻ cỗ kính như Huế, cũng chẳng tĩnh lặng như bức tranh Tây Hồ, mà ở đây, dường như sống động hơn.
Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về.
Đứng trước bao la mới thấy mình bé nhỏ. Đất nước trong mắt ta mang dáng dấp hào hùng mà vững chãi từng địa danh hiểm trở đến từng con sông đều in bóng một thời oanh liệt, chẳng thể phai mờ. Biết bao xương máu đã đổ trên dòng sông Nhà Bè lịch sử? Ai có thể quên mảnh đất Gia Định, Đồng Nai, mà mỗi tên gọi gắn liền với mỗi chiến công? Chiến tranh có nghĩa là gắn liền với mất mát hi sinh. Mảnh đất đau thương mà oanh liệt ngày xưa vẫn rạng rỡ và tươi đẹp trên đôi môi những ai đọc qua câu ca dao ấy. Câu ca dao như tiếng gọi của chính quê hương, níu bước chân người ra đi, mời đón kẻ trở về, đất mẹ mở rộng vòng tay đón những đứa con. Từ xa xôi một lần được trở lại quê hương, hay được viếng thăm một miền đất "ngỡ lạ mà quen" ta chợt thấy tâm hồn mình như trải dài VỚI bao tình cảm dạt dào tha thiết nhất. Xem thêm: Giới thiệu một vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi Đồng Tháp Mười cò bay thằng cánh
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm
Cũng một cánh cò trắng, chao liệng trên một khoảng không rộng mở, nhưng thấm vào ta một cảm giác mạnh mẽ mà rạo rực trước sự giàu đẹp của mảnh đất nổi tiếng, mảnh đất gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống Mĩ và chống Pháp. Từ trong ca dao tình yêu của mỗi con người đối với quê hương đất nước đã rạng rỡ như một bài ca du dương mà hùng tráng. Chính tình yêu đó là sức mạnh quật khởi, đưa con người đến với những khát vọng và những tình cảm cao đẹp khác. Tiếng nói yêu nước là tiếng nói sâu thẳm nhất trong mỗi trái tim. Bởi lẽ họ đã cảm nhận được thứ tình cảm thiêng liêng nhất, thứ tình cảm mà từ lâu đời đã gắn bó con người lại với nhau trong hai cuộc kháng chiến kéo dài giữ nước và dựng nước.
Đến với ca dao là đến với tâm hồn Việt Nam, mỗi trái tim Việt Nam. Một quê hương Việt Nam với những cánh cò bay, dòng sông lặng lờ trôi, hoa bưởi trắng những đêm soi bóng nước, hay chiếc đò như khúc nước, chiếc cầu tre lắt lẻo chênh vênh. Dường như mọi cảnh đẹp mà bình dị. Nhưng văn học khác với hội họa hay âm nhạc nhờ ngôn ngữ rất riêng và độc đáo. Văn học còn thể hiện những khía cạnh khác, lột tả một chiều sâu, chiều rộng trong cuộc sống mà các nghệ thuật khác không thể thay thế. Chính vì vậy mà sức tồn tại của Văn học luôn được ví như một tòa nhà vững chắc cùng với thơ ca, ca dao cũng góp phần không nhỏ trong việc khẳng định sự giàu đẹp của quê hương. Nó không chỉ khái quát một vẻ đẹp đơn thuần mà từ đó đi sâu vào cuộc sống, đến với tâm hồn của mỗi con người. Chẳng khó hiểu nếu như nói ca dao chính là cái nền vững chắc cho Văn học từ đó đi lên cuộc sống đời thường và cuộc sống tình cảm của con người luôn hòa quyện sóng đôi. Đến với cuộc sống là câu ca dao đã đi đến với con người. Câu hát của người lao động luôn vang lên qua từng câu tha thiết:
Cây đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần.
Có đổ giọt mồ hôi để làm ra vật chất, người ta mới thấu hiểu được giá trị của sức lao động. Và từ đó biết trân trọng thành quả do mình hay người khác làm ra Câu ca dao làm ta sực nhớ đến bài học ngày còn tấm bé: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Những gì chúng ta đang thừa hưởng chính là bao mồ hôi nước mắt của bao người, câu ca dao vút cao vừa là lời tâm sự nỉ non vừa chính là sự khuyên răn dành cho ta: hãy trân trọng và góp phần làm đẹp cuộc sống. Đất nước ngày càng đi lên con người phải nắm tay nhau xây dựng, từ bước đầu chập chững, theo thời gian đứa trẻ sẽ lớn lên. Và cũng vậy, từ những khó khăn ban đầu nếu biết khắc phục ta sẽ chiến thắng, như ta đã chiến thắng.
Hòa bình lập lại. Chế độ phong kiến đã xóa bỏ để đến với một cuộc đời bình đẳng hơn, tự do và nhân ái hơn. Nhưng những lời tâm sự của con người dưới chế độ khắc nghiệt ấy vẫn là những nỗi đau không ngừng làm ta bật khóc, tiếng khóc của họ hòa cùng nỗi xót xa trong ta đã tạo nên cho ca dao một nét đẹp riêng, rất riêng.
Em như con hạc đầu đình
Muốn bay không cất nổi mình mà bay Xem thêm: Câu nói của M. Go-rơ-ki "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống" gợi cho em những suy nghĩ gì? Rồi lời tâm tình của những cô gái về số phận của mình:
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra.
Lễ giáo phong kiến tập tục khắc nghiệt, đó là những gọng kềm trói chặt người phụ nữ. Họ được ví như con chim bị nhốt trong lồng nếu có thả ra thì bị trói hai đôi cánh. Họ là chiếc lá trên cành suốt một tuổi xanh, lúc lá lìa cành bay bổng trong tự do, thì lá đã úa vàng, tuổi xuân trôi qua. Ca dao đã từ lâu gắn liền tiếng hát người phụ nữ với cuộc sống:
Thân em như tấm lụa đào
Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai
Hay:
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra luống cày
Vang trong từng câu, từng chữ là những tâm tình khát vọng mà họ nhắn gửi. Một cuộc đời bị gói tròn trong bất cộng, tâm tình của mỗi con người "bật trào" lên nghe nấc nghẹn.
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non
Hình ảnh con cò đi vào Ca dao làm đẹp cuộc sống. Ngày nay những tiếng khóc đó đã chìm vào quá khứ. Người phụ nữ đã thật sự tìm một chỗ đứng của mình trong xã hội. Cuộc sống vẫn tiếp diễn, con người lại tìm cho mình được lẽ sống chân chính. Đây là lời khuyên nhủ rất tha thiết về ruộng đồng:
Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu
Gắn bó với quê hương, cuộc sống con người trang trải với ruộng vườn cảnh vật "con trâu là đầu cơ nghiệp". Một lần nữa người nông dân lại bày tỏ tâm tư của mình thông qua chú trâu – người bạn gắn liền với nhà nông, với cuộc sống của họ:
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Một cuộc sống ấm no, tất cả là niềm mơ ước của người lao động, ước mơ giản dị mà hồn hậu vẫn để lại trong tâm hồn ta một cảm xúc đẹp. Đó là mơ ước đời thường xuất phát từ tình yêu cuộc sống lao động. Trải qua bao khó khán thử thách và gian nan con người càng trân trọng hơn sự yên bình.
Một hạnh phúc bình dị mà họ mong chờ. Một ngôi nhà, một đồng ruộng, một con trâu và trên cả là một chút bâng khuâng của thứ tình cảm ngọt ngào. Câu hát tâm tình của chàng trai cô gái rất tế nhị mà đáng yêu:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thi đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Thật tinh tế, mộc mạc mà đằm thắm. Tình yêu của họ làm đẹp thêm ngôn ngữ ca dao và ca dao góp phần làm đẹp cuộc sống. Tất cả đều rộng mở và dâng tặng cho đời.
Trải qua bao năm dài, ca dao vẫn đến với ta bằng thứ tình cảm ngọt ngào và dịu êm. Dòng sữa văn học dân gian không những nuôi lớn con người mà còn cho ta hiểu những điều hay và đẹp. Trong ta dạt dào tình yêu đối với đất nước quê hương. Đó là tất cả tình cảm chân thành từ một trái tim chứ không phải những sáo ngữ phát ra đầu lưỡi. Ai cũng có thể nói rằng mình yêu nước, nhưng yêu bằng cách nào và tình yêu ra sao? Ta hiểu rằng, thứ tình cảm thiêng liêng đó xuất phát trong ta từ những cái nhìn về mỗi con người Việt Nam, quá khứ hào hùng của dân tộc Việt Nam và ý thức mình là một con người có tổ quốc. Nhưng tận trong sâu thẳm, vì ta yêu văn học Việt Nam rất đậm đà mà sâu sắc.
Vanmau.edu.vn | Ca dao là lời hát tâm tình của người lao động, là bài ca về tình yêu quê hương đất nước. Em hãy chứng minh ý kiến trên | 2,838 | |
Ca dao thực sự là tiếng hát về lao động và tiếng hát tâm tình của người dân lao động. Em hãy chừng minh điều đó
Gợi ý
Cao dao thực sự là tiếng hát của người dân lao động. Tiếng hát trong ca dao Việt Nam phong phú vô cùng nhưng chủ yếu vẫn là tiếng hát lao động và tiếng hát tâm tình.
Qua ca dao, ta thấy được nỗi vất vả nhọc nhằn của người lao động nông thôn:
Lao xao gà gáy rạng ngày
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu
Bước chân xuống cánh đồng sâu
Mắt nhắm, mắt mở đuổi trâu ra cày.
Ca dao vốn phát sinh từ công việc lao động, rồi lại phục vụ lao động, nên nó thực sự là tiếng hát của nhân dân lao động. Phải là người lao động thực sự mới có thể hiểu hết được nỗi vất vả của công việc đồng áng:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Và từ nỗi vất vả nhọc nhằn ấy người dân lao động đã hiểu rõ mồ hôi công sức mà họ đỗ xuống để có được hạt lúa vàng. Cho nên họ đã nhắc nhở:
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hột. Đắng cay muôn phần
Câu ca dao đã giúp ta thêm kính trọng mồ hôi nước mắt của người làm ra hạt lúa, đồng thời lên tiếng phán xét nghiêm khắc đối với bản chất ăn bám, coi khinh lao động của bọn người "ngồi mát ăn bát vàng". Qua đó ta thấy rằng tiếng hát ca dao không bao giờ là của hạng người "ăn trên ngồi trốc".
Cuộc sống của nhân dân lao động xưa là cuộc sống đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương, quanh năm "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", một cuộc sống lao động vất vả, nhưng tâm hồn họ rất trong sáng và rộng mở, họ luôn lạc quan và tin tưởng vào cuộc sống chân chính của mình. Người lao động phải đổ "mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày" nên họ tin rằng:Xem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Thăng Long thành hoài cổ’Mồ hôi mà đổ xuống đồng
Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương
Hay:
Công lênh chẳng quản bao lâu
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
Chính vì lạc quan, tin tưởng trong lao động nên người dân lao động luôn hăng say với công việc của mình:
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trang vàng đổ đi
Còn gì đẹp hơn bức tranh cô thiếu nữ tát nước dưới đêm trăng? Tâm hồn trong sáng của cô hòa với ánh trăng, trăng tan vào nước như những giọt mồ hôi của cô thấm mát từng gốc lúa củ khoai… Phải tinh tế vô cùng người nghệ sĩ quần chúng mới thấy được vẻ đẹp hào phóng của công việc lao động cũng như tâm hồn người lao động.
Dù lao động vất vả, nhọc nhằn nhưng tâm hồn, tình cảm của người dân lao động rất phong phú, trong sáng, sâu sắc và chân tình. Tình cảm ấy được thể hiện rõ trong ca dao trữ tình. Trước hết, ta hãy nói đến tình yêu quê hương đất nước của nhân dân ta. Đây là một tình cảm thiêng liêng, mặn mà, sâu sắc của người lao động đối với Tổ quốc.
Quê hương đất nước Việt Nam gắn liền với con người Việt Nam. Chẳng biết từ bao giờ, thiên nhiên và cuộc sống con người đã hài hòa làm một:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
Không gian trời đất lắng trải giữa một buổi sáng êm đềm. Những cành trúc la đà trước gió, một tiếng chuông hay một tiếng gà những tưởng như chìm sâu vào cảnh tĩnh mịch đó. Thế nhưng trong "mịt mù khói tỏa ngàn sương" ấy cuộc sống thực sự bắt đầu, SÔI động và lan tỏa như mặt nước Hồ Tây. Xem thêm: Chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta
Trên đường về quê Bác, câu hò xưa lại vẳng vào tâm trí chúng ta:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Không chỉ bộc lộ tình yêu quê hương qua vẻ đẹp và niềm tự hào về thiên nhiên, ca dao Việt Nam còn ca ngợi những con người xây dựng và làm chủ quê hương tươi đẹp ấy. Tình cảm đồng bào trong ca dao Việt Nam rộng lớn vô cùng:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Hay:
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
Tình cảm của người dân Việt Nam mộc mạc như giàn bí, giàn bầu, nhưng lại thiêng liêng cao cả như "Nhiễu điều phủ lấy giá gương". Tình yêu quê hương trong ca dao việt Nam gắn chặt với những gì rất cụ thể. Đây là tiếng lòng thổn thức của trái tim ai đó khi phải đi xa:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Rồi nỗi lòng của những người làm cha, làm mẹ gửi gắm qua những vần điệu tha thiết:
Nuôi con cho được vuông tròn
Mẹ thầy dầu dãi xương mòn gối cong
Con ơi cho trọn hiếu trung
Thảo ngay một dạ kẻo uổng công mẹ thầy
Thật vô cùng cảm động trước sự mong ước đơn sơ nhưng chính đáng và sâu sắc của những trái tim làm mẹ, làm cha.
Cuộc sống có thể hết sức vất vả, những tình vợ chồng của người lao động vẫn keo sơn:
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon Xem thêm: Tả đêm trăng tròn Tình yêu chân chính là cội nguồn của sự thủy chung không gì lay chuyển được:
Chồng ta áo rách ta thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người
Tình cảm nam nữ trong tiếng hát của người lao động cũng là một tình cảm lành mạnh, trong sáng và dạt dào:
Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.
"Lửa mới nhen" nhất định sẽ bùng lên ngọn lửa, "trăng mới mọc" sẽ còn lên cao, sáng tỏ, "đèn mới khêu" thì nguồn sáng mới bắt đầu. Tất cả những tình cảm lành mạnh ấy đều được "nhắn nhủ" từ buổi gặp gỡ ban đầu:
Đường xa thì thật là xa
Mượn mình làm mối cho ta một người
Một người mười chín đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình
Không chỉ có tình cảm gia đình, tình bạn của người lao động Việt Nam cũng được bộc lộ rất đẹp, chĩ có thể sánh với vầng trăng tròn dịu hiền, với bầu trời cao mênh mông, xanh thẫm:
Bạn về có nhớ ta chăng
Ta về nhớ bạn như trăng nhớ trời
Nói chung tình cảm của người dân Việt Nam vốn phát sinh từ lao động nên rất tế nhị và chân chính.
Cuộc sống của nhân dân Việt Nam gắn chặt với lao động sản xuất. Từ lao động, ca dao ra đời và phục vụ lại lao động. Do đó nó chính là tiếng hát thực sự của người lao động. Tâm hồn của người lao động Việt Nam trước nỗi vất vả nhọc nhằn của cuộc sống là một tâm hồn trong sáng, rộng mở, tràn đầy niềm tin tưởng lạc quan. Ca dao ca ngợi lao động chính là ca ngợi con người lao động có tình cảm sâu sắc, tế nhị, phong phú và chân tình. Tha thiết yêu ca dao là tha thiết yêu con người lao động.
Vanmau.edu.vn | Ca dao thực sự là tiếng hát về lao động và tiếng hát tâm tình của người dân lao động. Em hãy chừng minh điều đó | 1,285 | |
Cha ông ta có câu: “Học đi đôi với hành”. Em hiểu lời dạy đó như thế nào?
Gợi ý
Học tập là công việc quan trọng đối với cuộc đời mỗi con người. Nhưng cần học tập như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất? Cha ông ta từng căn dặn: "Học đi đôi với hành".
"Học" là một quá trình mà ở đó chúng ta tiếp thu kiến thức của nhân loại dưới sự hướng dẫn của thầy cô. Học cũng có thể là một quá trình tự thân vận động. Quá trình ấy gọi là quá trình tự học: học trong sách vở, tài liệu hay học trong cuộc sống. Nội dung học là các kiến thức nhân loại được chọn lọc (được phân loại thành khoa học tự nhiên và khoa học xã hộí) cùng với đó là các kĩ năng, kĩ xảo tương ứng. Quá trình này nhằm đến một cái đích chung, đó là làm phong phú những hiểu biết của con người, giúp phát triển vẹn toàn nhân cách và đặc biệt việc học trang bị cho mỗi chúng ta những kiến thức, những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp để từ đó tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội đem đến lợi ích cho bản thân, cho gia đình và cho đất nước: Như vậy, “học” ở đây được hiểu là gắn với vấn đề lí thuyết. Người học giỏi thường được hiểu là người nắm được nhiều nội dung lí thuyết.Xem thêm: Thuyết minh về cái phích nước Bên cạnh đó, "hành" là thực hành, là quá trình vận dụng kiến thức vào cuộc sống, là đem những cái đã học được vào thực tế để kiểm tra độ đúng sai hay để làm sinh động nó. “Hành” có nhiều cấp độ: bắt chước người khác làm, làm lại theo những gì còn lưu trong trí nhớ, sáng tạo những cách thức hoạt động mới,… "Hành” được đến đâu, điều đó còn tùy thuộc vào tri thức mà bạn học được phong phú sinh động và sâu sắc đến bao nhiêu. Công việc của người nông dân làm việc trên đồng ruộng rất khác với người kĩ sư nông nghiệp làm việc trong phòng nghiên cứu. Tương tự, người công nhân vận hành máy móc trong nhà máy về bản chất rất khác với nhà khoa học thí nghiệm trong phòng chuyên dụng,… Điểm khác ấy chính là mức độ lao động của mỗi đối tượng.
Ta có thể khẳng định: giữa học và hành, học có tính chất quyết định. Vốn tinh hoa tri thức nhân loại ta học trong hơn chục năm là có thể coi như nhận thức được đa số. Nhưng cả đời người không thể thực hiện lại một phần nhỏ những gì lớp lớp cổ nhân từng làm. Bởi vậy, phải có đầy đủ lí thuyết trước mới đảm bảo cho thành công của công việc. Đó là lí do vì sao ta cần học giỏi, nắm vững được những kiến thức cần thiết.Xem thêm: Em hãy cho biết những nét thành công về nghệ thuật của văn bản Tôi đi học (Thanh Tịnh). Sức cuốn hút của văn bản được tạo nên từ đâu?
Tuy nhiên, không thể tuyệt đối hoá vai trò của học bởi mục đích cuối cùng của mọi nỗ lực học tập là nhằm giúp mỗi người sống tốt trong xã hội con người. Vì vậy, học cần đi đôi với hành. Chúng là hai mặt thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau. Bởi như ta đã biết, nếu chỉ biết học lý thuyết mà không hề biết đến thực hành thì những lý thuyết ta học cũng chỉ là những tri thức chết, chúng không hề có tác dụng đối với đời sống. Đó là trường hợp nhiều học sinh Việt Nam đi thi học sinh giỏi quốc tế các môn khoa học tự nhiên. Chúng ta làm lí thuyết rất xuất sắc, thậm chí đạt điểm tuyệt đối. Nhưng khi thực hành, trong khi bạn bè các nước làm rất tốt thì chúng ta loay hoay hàng giờ, thậm chí phải bỏ cuộc. Đó cũng là trường hợp nhiều học sinh, sinh viên đạt kết quả học tập rất cao nhưng hoàn toàn không có kĩ năng sống thực tế. Họ không biết ứng xử sao cho hợp hoàn cảnh giao tiếp, không nấu được một bữa cơm, không tự viết nổi một lá đơn xin việc,… học như vậy chỉ phí phạm thời gian,, công sức tiền bạc bởi thực tế học như vậy để làm gì nếu không thể ứng dụng vào đời sống? Như vậy, chúng ta không, chỉ học lý thuyết mà còn phải biết áp dụng những lý thuyết đó phục vụ thực tế.Xem thêm: Giới thiệu về một món ăn dân gian Mặt khác, có lúc những lý thuyết chúng ta đã được học khi đưa vào thực hành lại gặp phải rất nhiều khó khăn. Vì vậy, chúng ta phải biết kết hợp vừa học lý thuyết, và thực hành nhuần nhuyễn những điều đã học. Có như vậy, thì những kiến thức chúng ta được học sẽ trở nên sâu hơn, giúp chúng ta nắm vững nguồn tri thức. Nếu chỉ học mà không thực hành thì tất cả cũng chỉ là lý thuyết. Chính vì vậy, học phải đi liền với thực hành, có như vậy ta mới có thể đem hết những gì đã học công hiến phục vụ cho đất nước.
Học đi đôi với hành, quan niệm ấy không mới bởi cha ông ta đã đặt ra vấn đề đó từ vài thế kỉ trước (Văn bản Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là một bằng chứng sinh động) song là đó kim chỉ nam cho phương hướng học tập, rèn luyện của mọi người, mọi thời. Trong xã hội, chúng ta cần phổ biến rộng rãi, hiệu quả cách học này để đạt hiệu quả học tập cao nhất.
Vanmau.edu.vn | Cha ông ta có câu_ “Học đi đôi với hành”. Em hiểu lời dạy đó như thế nào_ | 1,009 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.