text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Cha ông đã nhắc nhở chúng ta: “Cá không ăn muối cá ươn, Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư”. Em hãy giải thích và trình bày suy nghĩ của mình về lời dạy trên? Gợi ý Dân tộc Việt Nam có truyền thống tôn trọng đạo lí từ ngàn xưa. Trong các quan hệ tình cảm thì quan hệ giữa cha mẹ và con cái là thiêng liêng nhất. Trách nhiệm lớn lao của cha mẹ là nuôi dạy các con nên người. Ngược lại, bổn phận của con cái là phải lễ phép và vâng lời cha mẹ. Vâng lời là biểu hiện của lòng hiếu thảo, của đạo làm con. Nếu trái lời cha mẹ, phụ lòng cha mẹ, con cái khó trở nên người tốt. Để khẳng định vai trò răn dạy, chỉ bảo của cha mẹ đối với con cái, người xưa đã có câu: Cá không ăn muối cá ươn Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư Bài học lớn về đạo làm người được rút ra từ một thực tế hết sức giản đơn: Mua cá ở chợ về, muốn giữ được tươi lâu, người ta ướp muối. Cá thấm muối, thịt săn chắc, khi chế biến thành món ăn, hương vị sẽ đậm đà. Ngược lại, nếu để lâu không ướp muối, cá sẽ ươn, ăn mất ngon. Vấn đề mà câu tục ngữ đặt ra rất đúng. Sự hiểu biết, từng trải trong xã hội khiến cha mẹ có kinh nghiệm sống. Những kinh nghiệm ấy phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt, có khi cả bằng máu nên lại càng quý báu. Với tình thương yêu vô bờ, với trách nhiệm lớn lao, các bậc làm cha, làm mẹ không những tận tình mà còn không tiếc cả tâm sức của mình để chăm lo nuôi dạy con cái ngày một lớn khôn cả về thể xác lẫn tâm hồn. Con váng mình sốt mẩy, cha mẹ lo đêm, lo ngày. Con học hành được điểm tốt, cha mẹ vui mừng. Con có biểu hiện không ngoan, cha mẹ đau lòng xót ruột, tìm cách dạy dỗ, giáo dục. Xem thêm: Bình giảng bài thơ Chiều tối (Mộ) trong Nhật kí trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh để làm rõ chất thép, vẻ đẹp cổ điển, vẻ đẹp hiện đại, tấm lòng nhân đạo bao la của Người Người xưa có câu: Nước mắt chảy xuôi; lại có câu: Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ. Mong muốn duy nhất của cha mẹ là con cái nên người, tức là trở thành người tốt, có ích cho xã hội, làm rạng rỡ gia đình, Tổ quốc. Cho nên, những bậc cha mẹ chân chính đều thiết tha dạy con những điều đúng đắn, tâm huyết, có khi như là cắt ruột truyền cho con. Đó là nhiệm vụ, là lo toan, mong ước sâu xa, tha thiết nhất của cha mẹ. Phận làm con nên biết rằng: trong đường đời, người thầy đầu tiên của con cái chính là cha mẹ. Cha mẹ dìu dắt con những bước chập chững đầu tiên. Cha mẹ dạy cho con những bài học đầu tiên. Cha mẹ chuẩn bị hành trang cho mỗi đứa con khi bước vào đời. Vì vậy, nghe lời, vâng lời cha mẹ trước tiên là biết vâng theo, tập theo cái đúng. Sau đó là tự mình nhận thấy đúng mà tự giác tiếp thu. Bấy giờ mới rõ những điều cha mẹ khuyên răn, dạy dỗ là điều hay, lẽ phải. Biết nghe, biết vâng lời cha mẹ là tỏ ra biết kính, biết thương, hiếu thảo với cha mẹ. Trước đây, ông cha chúng ta quan niệm rằng con cái phải tuyệt đối phục tùng cha mẹ; chỉ một lòng thờ mẹ kính cha, nhất thiết không được trái lời. Ngày nay, quan niệm truyền thống ấy có phần thay đổi. Con cái vâng lời cha mẹ, đồng thời cũng có quyền bàn bạc, góp ý với cha mẹ để công việc đạt kết quả tốt hơn. Tuy nhiên khi góp ý, con cái phải giữ thái độ lễ phép và đúng mực. Xem thêm: Phát biểu ý kiến của em về Đôn-ki-hô-tê Cha mẹ gánh vác trách nhiệm chính trong gia đình nên có quyền quyết định mọi việc, song cha mẹ cũng nên biết lắng nghe tâm tư tình cảm của các con, hiểu rõ tính nết của con, để từ đó đưa ra những biện pháp giáo dục thích hợp, có hiệu quả hơn. Có như vậy, quan hệ giữa cha mẹ và con cái mới thực sự gắn bó và gia đình sẽ sống trong không khí đầm ấm, thuận hoà, tôn trọng lẫn nhau. Đó là yếu tố để tạo nên hạnh phúc gia đình. Thực tế xung quanh chúng ta cho thấy có nhiều người con tài đức vẹn toàn. Những Lê Bá Khánh Trình, Đặng Thái Sơn, hai anh em Từ Hoàng Thông, Từ Hoàng Thái, Trần Bình Gấm… và bao nhiêu bạn khác là con ngoan, trò giỏi, là niềm tự hào của gia đình, nhà trường và xã hội. Bài học đạo đức mà câu tục ngữ trên nêu ra từ xưa vẫn là một kinh nghiệm quý, nhắc nhở mỗi người phải giữ đạo làm con. Nó có liên quan đến chữ hiếu, và chữ hiếu ngày nay dù có mang nét mới, tiến bộ của thời đại nhưng vẫn là đức lớn trong đạo làm người của dân tộc. Vanmau.edu.vn
Cha ông đã nhắc nhở chúng ta_ “Cá không ăn muối cá ươn, Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư”. Em hãy giải thích và trình bày suy nghĩ của mình về lời dạy trên_
920
Chia sẽ và cảm nhận bài ca dao trong đầm gì đẹp bằng sen Hướng dẫn Đất nước Việt Nam thân yêu có muôn ngàn cây lá khác nhau, hoa thơm quả ngọt bốn mùa. Một màu xanh bát ngất bao trùm sông núi. Cảnh trí thiên nhiên tuyệt vời “Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Lòng người hồn hậu, giàu tình yêu thương. Những khúc dân ca, những bài ca dao cùng với sữa mẹ, lời ru của bà đã thấm sâu vào tâm hồn của mỗi chúng ta. Con trâu, con cò, con bống, hoa sen, hoa bưởi, hoa cà… cùng với lời ca tình nghĩa đem đến cho ta men say cuộc đời, làm vợi đi ít nhiều lam lũ, vất vả. Em từng nghe anh hát: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Em từng nghe chị hát: “Hoá thơm thơm lạ thơm lùng, Thơm cành, thơm rễ, người trồng cũng thơm” Và còn hoa sen trong đầm đã làm em say mê từ thuở ấu thơ qua lời ru của mẹ. Năm tháng đã trôi qua, hồi tưởng lại, em cảm thấy lòng mẹ ngạt ngào hương sen: “Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Cảnh đầm sen đẹp quá. Và lòng người cũng đẹp như sen. Sen là loại cây, loại hoa đẹp nhất trong đầm. Hoá súng hoa lục bình, hoa muống màu tím biếc đã đẹp, nhưng không thể so sánh với sen. Bằng cách nói so sánh “gì đẹp bằng”, tác giả tự hào khẳng định: “Trong đầm gì đẹp bằng sen”. Câu thứ hai giới thiệu cụ thể vẻ đẹp của đầm sen. Nhà thơ dân gian đang cùng chúng ta say mê ngắm đầm sen một ngày hè đẹp: “Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng” Trên mặt hồ trong vắt, lá sen xòe ra như những chiếc lọng xinh xinh, những bông sen trắng, sen hồng nở xòe ra, nhị hoa màu vàng tươi, tỏa hương thơm ngào ngạt. Lá, hoà, nhị, xanh, trắng, vàng, bấy nhiêu nét vẽ chấm phá trong một câu thơ tám từ mà làm nổi bật vẻ đẹp của sen với màu sắc hài hòa. Sự thần diệu của lời ca là chẳng nói đến hương sen mà người đọc vẩn cảm thấy hương sen tỏa ngát, tâm hồn lâng lâng”. Câu thứ ba đổi vần một cách kì lạ. Hai hình ảnh “lá xanh” và “nhị vàng” được giao hoán cho nhau. Câu thứ ba hầu như khép Lại câu thứ hai (giản lược) hai chữ ‘Tại chen”. Nghệ thuật đổi vần ở đây chứng tỏ một bút pháp già dặn, điêu luyện của một nghệ sĩ cao tay, tạo nên một ấn tượng đặc biệt. Ta như cảm thấy có một bàn tay thon thả, xinh xinh của thiếu nữ đang lật đi lật lại từng lá sen xanh, nàng niu từng bông sen trắng, ngắm nghía trầm trồ nhị vàng của búp sen: Xem thêm: Cảm nhận về tình yêu quê hương qua hai bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buồi mới về quê của Hạ Tri Chương và Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch“Nhị vàng, bông trắng, lá xanh” Vẻ đẹp của đầm sen, của hoa sen cũng là vẻ đẹp của làng quê, của thiên nhiên đất nước. Tác giả miêu tả vẻ đẹp rực rỡ của đầm sen với tình yêu cỏ cây hoa lá của tạo vật, với cả niềm tự hào dân tộc về đất mẹ quê cha. Bài ca dao còn mang một hàm nghĩa, một ẩn ý sâu sắc, đẹp đẽ. Lời thơ được cấu trúc bằng biện pháp tương phản: “gần bùn” – “mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Bùn hôi tanh. Sen mọc từ nơi hôi tanh của bùn nhưng sen rực rỡ, thơm ngát thế! Câu ca dao đã đưa ta đến một liên tưởng thú vị. Cuộc đời của nhân dân ta ngày xưa, dưới ách thống trị của bọn vua quan, địa chủ, cường hào, sưu thuế nặng nề, phải trải qua nhiều khó nhọc, thiếu thốn. Cuộc đời vật lộn giữa bùn đen hôi tanh, nhưng tâm thế của nhân dân ta rất vững vàng “chẳng hôi tanh mùi bùn”. Có thể tác giả bài ca dao là một nhà nho nghèo, từ chiêm nghiệm cuộc đời mà nêu lên một triết lí nhân sinh cao đẹp của nhân dân ta, ca ngợi bản lĩnh dân tộc: sống thanh cao, sông trong sạch. Ca dao dân ca có biết bao bài học đặc sắc nói về hoa lá. Có bài nói về dáng trúc mang tiết tháo người hiền “trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Có bài nói về hoa mai thanh cao. Có bài nói về hoa nhài tinh khiết, trong trắng. Dân ca Quan họ có bài nói về trăm loài chim, trăm loài hoà… Qua đó ta thấy tâm hồn nhân dân ta rất đẹp, yêu mến quý trọng hoa thơm cỏ lạ mà thiên nhiên ban tạng cho con người. Với lòng yêu quý hoa lá, chúng ta lấy làm thú vị được thưởng thức cái hay, cái đẹp của bài ca dao “Trong đấm gì đẹp bằng sen…” này.. Ta yêu thêm vẻ đẹp đồng quê, yêu thêm tâm hồn, vẻ đẹp tâm thế của con người Việt Nam: “Rủ nhau ra tắm hồ sen, Nước trong bóng mát, hương chen cạnh mình. Cứ chi vườn ngọc, ao quỳnh, Thôn quê vẫn thú hữu tình xưa nay”… Trong chúng ta, ai đã có lần được ngắm sen Hồ Tây, sen hồ Tĩnh Tàm (Huế), sen Đồng Tháp Mươi…? Nghĩ về đầm sen, hương sen, chúng ta tự hào biết bao về người con vĩ đại của làng Sen thân thuộc như nhà thơ Bảo Định Giang đã ngợi ca: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” Nguồn: thêm: Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo lúc chiêu tối được Thạch Lam thể hiện trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" và phát biểu cảm nhận của mình
Chia sẽ và cảm nhận bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen
1,020
Chiếc nón lá Việt Nam Gợi ý Chiếc nón lá Việt Nam là một công cụ che nắng, che mưa, làm quạt, khi còn để che giấu gương mặt, nụ cười hay tạo thêm nét duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam. Vật liệu để làm nên cái nón là lá cọ, chỉ tơ, móc, tre làm khung. Nón lá có cấu tạo đơn giản nhưng cũng đòi hỏi một sự khéo léo của người thợ. Nón có hình chóp đều, thành được bao bọc bởi những chiếc vanh uốn quanh thành nhiều lớp. Vanh nón làm bằng tre, vót tròn như bộ khung nâng đỡ cái hình hài duyên dáng của nón. Ở phần đáy nón có một chiếc vành uốn quanh, cứng cáp hơn những chiếc vanh nón ở trên. Vanh nón, vành nón cứng hay giòn sẽ quyết định đến độ cứng cáp, bền lâu của chiếc nón. Nhưng bộ phận quan trọng nhất của chiếc nón lại là hai lớp lá cọ – vật liệu chính để hình thành nên một chiếc nón. Lá cọ phải là lá non, phơi thật trắng. Lót giữa hai lớp lá cọ là lớp mo nang làm cốt, được phơi khô, lấy từ mo tre, mo nứa. Tất cả các vật liệu làm nên nón đều phải không thấm nước, dễ róc nước để chống chịu với những cơn mưa vùi dập, những ngày nắng oi ả thất thường. Để tăng thêm nét duyên dáng, đồng thời giữ chặt nón vào đầu người đeo, người ta làm ra chiếc quái bằng lụa mềm gắn cùng hai chiếc nhôi đính vào mặt trong của chiếc nón. Nhôi nón được đan bằng những sợi chỉ tơ bền, đẹp. Người ta cũng có thể trang trí những hoa văn đậm nét dân tộc vào bên trong chiếc nón hoặc quét một lớp quang dầu thông bóng bẩy lên mặt ngoài chiếc nón.Xem thêm: Bài văn gửi bạn trong tù khiến cô giáo phê "Nói quá vừa thôi chứ" Quy trình làm nón không khó lắm: trước hết, phơi lá nón (lá cọ non) ra trời nắng cho thật trắng, để rải trên nền đất cho mềm, rồi rẽ cho lá rộng bản. Sau đó, là lá trên một vật nung nóng cho phẳng. Vanh nón được vuốt tròn đều đặn. Việc cuối cùng là thắt và khâu khi lá đã đặt lên lớp vành khuôn. Sợi móc len theo mũi kim qua 16 lớp vòng bằng cột tre để hoàn chỉnh sản phẩm. Nón khâu xong có thể hơ trên hơi lửa cho thêm trắng và tránh bị mốc. Quy trình làm nón là vậy. Nói là: không khó lắm, nhưng thực ra đó là những tinh hoa, những đúc kết bao đời nay của nghệ thuặt làm nón. Ở Việt Nam, có nhiều vùng nổi tiếng về nghề làm nón: nón làng Chuông (Hà Tây cũ) vừa bền vừa đẹp; ở Huế có nón bài thơ thanh mảnh nhẹ nhàng; nón Quảng Bình, Nam Định cũng có những nét đẹp riêng. Chiếc nón lá rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Nó che mưa, che nắng, là một món quà kỷ niệm đầy ý vị độc đáo, sâu sắc. Nó làm thêm phần duyên dáng cho các thiếu nữ Việt Nam trong các dịp hội hè. Còn gì đẹp hơn một người thiếu nữ mặc chiếc áo dài thướt tha, đội chiếc nón lá, bước đi uyển chuyển trong bài múa nón.Xem thêm: Giới thiệu về một đồ dùng trong học tập hoặc trong sinh hoạt Chiếc nón đã thực sự trở thành một biểu tượng sinh động của người phụ nữ Việt dịu dàng, nết na, duyên dáng: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang. Ngày nay, trong cuộc sống hiện đại, chiếc nón đã không còn vị trí, vai trò như trước. Những chiếc mũ xinh xinh, những bộ quần áo mưa sang trọng đã thay dần chiếc nón bình dị xưa. Nhưng trong ý thức mỗi người dân Việt, hình ảnh chiếc nón cùng những nỗi nhọc nhằn, những mũi chỉ khâu tinh tế sẽ mãi mãi trường tồn vĩnh cửu. Nó mãi mãi là một nét đẹp trong nền văn hoá độc đáo của đất nước Việt Nam tươi đẹp. Vanmau.edu.vn
Chiếc nón lá Việt Nam
711
Cho các nhân vật Chim Chích, Hoa Sen, Mặt Trời. Hãy tưởng tượng và viết một câu chuyện về các nhân vật đó Gợi ý Vào một buổi sáng mùa hè, Chim Chích Bông thức dậy, nó đứng rỉa lông, rỉa cánh một hồi rồi bay vút đi. Nó sục sạo vào các tán lá, bụi cây, nghiêng cái đầu xinh xắn, tìm những con sâu phá hoại cây trồng. Chích Bông làm việc miệt mài đến giữa trưa thì nghỉ. Nó thấy rất mệt và nghĩ rằng: ‘‘Giờ nếu mình ra hồ nghỉ ngơi thì có lẽ sẽ tốt hơn chăng? Ngoài đấy gió rất mát mẻ mình sẽ lại sức nhanh chóng và làm việc được tốt hơn”. Và thế là Chích Bông dang đôi cánh bé nhỏ bay ra phía hồ nước. Chim Chích Bông mới biết đến hồ nước này từ mùa xuân thôi. Trong một lần đi chơi Tết nó có bay qua đây, hồ rất rộng, trên phủ một lớp lá xanh mướt y như tấm thảm vậy. Chim Chích chẳng bao giờ chú ý đến những đám lá xanh hay mặt nước hồ thế nào. Nó đến đây chỉ với mục đích nghỉ ngơi chứ không phải để ngắm cảnh. Hơn nữa, nó nghĩ chẳng nên phí phạm thời gian để ngắm nghía cái hồ trong khi nó có thể làm việc để giúp đỡ các bác nông dân. Nhưng hôm nay thì khác, khi Chim Chích đến nơi thì nó trông thấy một bông hoa, một bông hoa đẹp nhất mà nó từng gặp. Bông hoa màu hồng với các cánh hoa như những bàn tay khum khum che chở cho đài hoa màu vàng rực như nắng. Bông hoa đó hồng trông thật nổi bật giữa đám lá xanh. Nó đứng ngẩn ngơ nhìn bông hoa và thầm hỏi bông hoa tên gì. Nó quyết định đi hỏi ông Mặt Trời. Nghĩ sao làm vậy, nó bèn đi tìm gặp Mặt Trời. Thấy nó, Mặt Trời liền hỏi:Xem thêm: Viết đoạn văn tả buổi chiều trên cánh đồng– A! Chích Bông, cháu đến có chuyện gì vậy? – Cháu chào ông Mặt Trời. – Chích lễ phép thưa – Thưa ông, ông có biết bông hoa mọc ở bờ hồ tên là gì không ạ? – Ồ, đấy là Hoa Sen. Con bé xinh đáo để, mà lại ngoan ngoãn nữa chứ. Thế nào, cháu định kết bạn với nó à? – Ông mặt trời hấp háy mắt hỏi. – Vâng, thưa ông – Chim Chích lúng túng – Nhưng cháu sợ bạn ấy từ chối. – Đừng lo, Chim Chích ạ. Hoa Sen tốt bụng lắm, cháu cứ mạnh dạn lên, đừng sợ. – Vâng, cháu cảm ơn ông! Cháu về ạ. Chim Chích bay đi nhưng không về nhà mà vòng lại bờ hồ, nó đứng ngắm Hoa Sen rồi lại nhìn mình. Nó thở dài: “Hoa Sen thật xinh đẹp, đáng yêu. Vậy thế làm sao lại kết bạn với mình được, mình vừa xấu xí vừa bé nhỏ, chắc bạn ấy chẳng muốn làm bạn với mình đâu”. Thế rồi Chim Chích dang cánh bay về nhà. Tất nhiên mọi hành động của Chim Chích chẳng thể lọt qua mắt ông Mặt Trời và ông đã quyết định một chuyện. Sáng hôm sau, Chim Chích đến bờ hồ thật sớm, nó ngạc nhiên khi thấy Hoa Sen được trang điểm bằng vô vàn hạt sương long lanh như ngọc. Mỗi tia nắng ban mai chiếu vào đều làm loé lên muôn vàn tia sáng lung linh, Chim Chích sững sờ trước vẻ lộng lẫy của Hoa Sen thì chợt có tiếng gọi làm nó giật mình: – Này bạn! Chim Chích ngó nghiêng xem ai vừa lên tiếng thì thấy Hoa Sen đang nhìn mình. Chim Chích lập cập: – Bạn… gọi tôi… à? – Phải, bạn có thể lại đây được không?Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện cổ tích Em bé thông minh. Chim Chích sung sướng bay tới gần. Hoa Sen hỏi nó: – Có phải bạn muốn làm quen với tôi không? – Ừ… à… ừm – Chim Chích ngượng ngùng. – Bạn đừng ngại. Ông Mặt Trời đã nói hết với tôi rồi. Vậy từ giờ chúng ta là bạn nhé! Chích Bông tưởng như không còn gì hạnh phúc hơn đối với nó trên đời này. Hàng ngày, mỗi sáng sớm nó bay đi bắt sâu, sau đó lại ra hồ chơi đùa với Hoa Sen đến tận trưa. Đối với Chim Chích đây là quãng thời gian hạnh phúc nhất. Nhưng cũng chẳng được bao lâu, Hoa Sen ốm nặng, Chim Chích túc trực ngày đêm bên bạn, chẳng màng đến công việc. Hoa Sen rất cảm động trước tấm lòng của Chim Chích, nhưng nó chẳng thể cưỡng lại được số mệnh, nó nói với Chim Chích: – Bạn Chim Chích thân mến! Bạn cũng nên nghỉ ngơi đi, đừng gắng sức quá kẻo lại ốm mất. – Nhưng bạn sẽ khỏi bệnh, phải không? – Chim Chích lo âu. – Không đâu, tôi sắp chết rồi, cuộc sống của tôi đã gần hết, tôi biết rõ lắm. – Không, Hoa Sen ạ, bạn nhầm rồi, bạn sẽ không chết đâu mà! – Chim Chích, không gì có thể tồn tại mãi được. Hoa sẽ tàn, đồ vật sẽ hỏng, chim muông sẽ chết, đó là quy luật của tự nhiên mà. Chim Chích im lặng, nó biết rõ điều đó, nhưng nó muốn trốn tránh sự thật, nó sợ cái sự thật ấy. Giọng Hoa Sen lại cất lên dịu dàng: – Chim Chích, hãy hứa với tôi! Khi các cánh hoa của tôi rụng hết, bạn hãy giữ lại cánh hoa cuối cùng, được không? Chim Chích muốn trả lời, nhưng cổ họng nó tắc nghẹn lại, nó đành gật đầu. Đêm ấy có cơn mưa rào, Chim Chích nằm trong tổ lo lắng cho Hoa Sen. Trời vừa sáng, Chim Chích đã bay vút ra mặt hồ. Đêm qua Hoa Sen đã bị rụng gần hết cánh nhưng nó đã dùng toàn bộ sức lực còn lại níu giữ cánh hoa cuối cùng để đợi Chim Chích. Khi nhìn thấy Chim Chích từ xa nó mừng rõ nhưng nó đã kiệt sức. Cánh hoa rời khỏi đài hoa và bị cuốn theo làn gió. Chim Chích thấy vây bèn đuổi theo cơn gió, nó dang rộng đôi cánh bé nhỏ, gắng hết sức đua tranh với cơn gió để giành lại cánh Sen. Nó thở hổn hển, hai cánh rã rời nhưng vẫn không chịu thua, cố đeo bám lấy. Cuối cùng, nó cũng giữ lại được cánh hoa. Chim Chích ngậm chặt cánh hoa vào mỏ, bay về phía hồ. Hoa Sen giờ chỉ còn trơ lại cái đài xác xơ, chẳng ai ngoài Chim Chích biết rằng bông hoa kia đã có một thời lộng lẫy thế nào. Chim Chích đã khóc, giọt nước mắt rơi vào đài sen. Thật kỳ diệu, Hoa Sen đã mở mắt, nó mỉm cười khi thấy Chim Chích cắp cánh hoa bên mình, Hoa Sen nói yếu ớt.Xem thêm: Kể chuyện về một người thân mà em yêu quý nhất.– Cảm ơn bạn. Tôi thật hạnh phúc vì có người bạn tốt. Xin vĩnh biệt! Thế rồi Hoa Sen nhắm mắt để lại Chim Chích ủ rũ bên bờ hồ. Chim Chích cắp cánh Hoa Sen bay lên, bay mãi, cuối cùng đến chỗ ông Mặt Trời. Chim xin ông phép màu để cánh hoa mãi tươi và mang về tổ. Hàng đêm, Chích Bông ngủ bên cánh Hoa Sen hồng thơm dịu dàng ấy. Và trong thời gian đó nó đã phát hiện Hoa Sen sai một điều, vẫn có thứ mãi mãi tổn tại trên thế gian này, đó là tình bạn. Vanmau.edu.vn
Cho các nhân vật Chim Chích, Hoa Sen, Mặt Trời. Hãy tưởng tượng và viết một câu chuyện về các nhân vật đó
1,294
Cho câu chủ đề “Đọc sách là công việc vô cùng bổ ích vì nó giúp ta hiểu biết thêm về đời sống”, em hãy viết một đoạn văn từ 8 câu dến 10 câu theo kiểu quy nạp Gợi ý Sách là kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại. Từ xưa, cha ông ta đã lưu lại những hiểu biết phong phú về mọi mặt đời sống xã hội và muôn hình vạn trạng trạng thái vận động của tự nhiên. Và như vậy, sách cung cấp cho ta những tri thức về hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Nhờ đó, khi tiếp xúc với sách, con người có cơ hội tiếp xúc với toàn bộ kho tàng văn hoá của văn minh nhân loại. Đọc sách, ta biết về những gì đã xảy ra trong lịch sử loài người. Có xuất phát điểm từ loài vượn thông minh, con người dần gây dựng được những nền văn minh rực rỡ: văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ai Cập, văn minh Hi Lạp – La Mã,… và từ đó trải qua bao hình thái kinh tế xã hội phức tạp mới có xã hội văn minh, hiện đại như ngày nay. Đọc sách, ta còn biết về những phát minh có ảnh hưởng quan trọng đến sự tiến bộ xã hội: đèn điện, máy bay, điện thoại,… Đặc biệt, nhờ có sách mà ngày nay, ta ngồi trong nhà mà có thể biết về mọi nơi trên thế giới, giống với đi du lịch vậy! Đọc sách quả là công việc vô cùng bổ ích vì nó giúp ta hiểu biết thêm về đời sống.Xem thêm: Thuyết minh về Văn Miếu - Quốc Tử GiámVanmau.edu.vn
Cho câu chủ đề “Đọc sách là công việc vô cùng bổ ích vì nó giúp ta hiểu biết thêm về đời sống”, em hãy viết một đoạn văn từ 8 câu dến 10 câu theo kiểu quy nạp
288
Cho câu chủ đề: “Chiến tranh phi nghĩa là một tội ác”. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 đến 10 câu) để triển khai ý của câu chủ đề trên theo lối tổng hợp – phân tích – tổng hợp Gợi ý Chiến tranh phi nghĩa là một tội ác. Những cuộc chiến tranh gây ra bao cảnh li tán, chia lìa; là nguyên nhân của sự đợi chờ, mòn mỏi, những khổ đau tan nát, thậm chí là hiểu lầm tai hại. Chẳng ai có thể quên hình ảnh những người mẹ mắt lòa đi vì khóc nhớ thương con, cũng chẳng ai có thể quên nàng Vũ Nương bị chồng hiểu lầm rồi chết trong oan ức. Không dừng lại ở đó, tội ác lớn nhât mà chiến tranh phi nghĩa gây ra là sự giết chóc dã man, sự phá hoại tàn khốc. Sau mỗi trận chiến, những xác người la liệt, những dòng máu loang lổ, những đôi mắt trợn trừng… là lời tố cáo đanh thép nhất đối với sự man rợ của lửa đạn chiến trường. Và kia nữa, hãy nhìn thân thể của những bé thơ vô tội, những cụ già đau yếu để rùng mình vì sự nhẫn tâm của bom rơi đạn nổ. Những con đường mang đầy thương tích, những ngôi nhà đổ nát, những trường học tan hoang… Sau chiến tranh, bóng dáng của khổ đau và bất hạnh vẫn chưa buông tha con người. Đó là những nỗi đau của đất và người hai thành phố Na-ga-sa-ki và Hi-rô-si-ma, là những nạn nhân chất độc da cam đi-ô-xin Việt Nam đang hứng chịu… Với tất cả những điều đó, loài người tiến bộ cần lên án và chống lại chiến tranh phi nghĩa.Xem thêm: Nghị luận xã hội về lòng kiên nhẫnVanmau.edu.vn
Cho câu chủ đề_ “Chiến tranh phi nghĩa là một tội ác”. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 đến 10 câu) để triển khai ý của câu chủ đề trên theo lối tổng hợp – phân tích – tổng hợp
303
Cho câu chủ đề: “Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta”, em hãy viết một đoạn văn theo kiểu diễn dịch Gợi ý Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Đất nước ta vốn là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý giá, bởi vậy luôn bị kẻ thù nhòm ngó rắp tâm xâm lược. Nhưng chưa khi nào dân ta cam chịu cảnh nô lệ lầm than, chưa khi nào bó tay nhìn giặc tràn sang xâm lấn. Từ những năm 40, Hai Bà Trưng với nỗi hận nợ nước thù nhà đã phất cờ nổi dậy đánh tuổi tên Thái thú Tô Định nhà Hán. Trong lời hịch xuất quân của Hai Bà có những lời thật hùng tráng: “Một xin rửa sạch nước thù Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng Ba kẻo oan ức lòng chồng Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”. Sau Hai Bà Trưng còn có Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Thúc Loan,… liên tục nổi dậy chống ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc. Và đến năm 938, với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử, Ngô Quyền đã khẳng định quyền tự chủ của đất nước, đưa giang san vào kỉ nguyên mới. Sau Ngô Quyền, tinh thần yêu nước của cha ông tiếp tục thể hiện đậm nét trong nhiều chiến thắng lớn. Đó là ba lần đánh đuổi giặc Nguyên – Mông của vua tôi nhà Trần. Đó là đại chiến mùa xuân 1789 đánh quân xâm lược nhà Thanh của Nguyễn Huệ… Và gần thời đại chúng ta nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, là đại thắng mùa xuân 1975 đầy hào sảng…Xem thêm: Nét đặc sắc của bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ thứ nhất và hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên trong đoạn thơ như thế nào?Vanmau.edu.vn
Cho câu chủ đề_ “Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta”, em hãy viết một đoạn văn theo kiểu diễn dịch
337
Cho câu chủ đề: “Những chuyến tham quan, du lịch đem đến cho ta nhiều niềm vui”, em hãy viết một đoạn văn tổng phân hợp Gợi ý Những chuyến tham quan, du lịch đem đến cho ta rất nhiều niềm vui. Thú vui đầu tiên là được đi đây đó ngắm nhìn thiên nhiên và cảm nhận cuộc sống ở những nơi xa xôi. Cùng sống trên một đất nước, một hành tinh nhưng điều kiện tự nhiên nơi ta đang sống và nhiều nơi rất khác nhau. Được đến những vùng biển mênh mông nắng vàng, nước xanh, cát trắng mà nô giỡn với bao con sóng bạc đầu thì thật thú vị. Hay được đến những đỉnh núi cao chót vót, giữa mây trời trắng xoá mà hét lên một tiếng để đồi núi vọng về âm thanh tha thiết ấy thì cảm động biết bao! Không chỉ vậy, đến những vùng đất xa xôi ta còn được biết đến bao phong tục, tập quán lạ lùng. Đó là tục cướp vợ của người Mông, là họp chợ tình của Sa Pa, là chợ Viềng bán rủi cầu may,… Đó còn là Tết con trai của đất nước Nhật Bản, hội thi đấu bò tót Tây Ban Nha, cuộc thi uống bia của người Đức,… Thật là mỗi vùng đất một màu vẻ. Qua những điều mắt thấy tai nghe, điều thú vị lớn nhất là chúng ta học hỏi được nhiều điều bổ ích. Nói như cha ông ta, đó là "Đi một ngày đàng học một sàng khôn". Ta có thể học hỏi, giao lưu với các vùng đất khác những cái hay, cái đẹp. Đó là sự giao lưu về văn hoá, kinh tế. Ta có thể học được cách đan thổ cẩm của người Mông, cách nấu cơm nếp của người Thái,… Ta cũng có thể học được ở người Nhật sự chịu khó cần cù và sức sáng tạo không ngừng nghỉ; học ở người Mĩ sự tự do, phóng khoáng,… Chính bởi những chuyến tham quan du lịch đem lại cho ta nhiều niềm vui, nhiều điều bổ ích vậy nên mỗi chúng ta cần có ý thức đúng đắn đối với việc tham quan học hỏi ở những vùng đất khác lạ.Xem thêm: Bình giảng bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm TâmVanmau.edu.vn
Cho câu chủ đề_ “Những chuyến tham quan, du lịch đem đến cho ta nhiều niềm vui”, em hãy viết một đoạn văn tổng phân hợp
390
Cho câu chủ đề: “Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại”. Dựa vào câu chủ đề trên, em hãy viết một đoạn văn phân tích tổng hợp (khoảng 10 câu) Gợi ý Từ xa xưa, những người Ai Cập cố đã phát minh ra giấy pa-py-rus; người Trung Quốc cổ đã nghĩ đến mai rùa, thân trúc… tất cả những vật dụng đó được dùng để ghi lại những hiểu biết của người xưa về tự nhiên và xã hội. Đó là cách đo đạc, cách tính toán, cách tính lịch âm dương, cách chế tạo thuốc nổ, lịch sử của những vùng đất, quốc gia,… về sau, những nhà khoa học theo đó mà tiếp tục kế thừa thành tựu của cha ông đế phát minh ra những công trình khoa học mới: đèn điện, các chất hóa học,… hoặc để nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc hơn về các chế độ xã hội, các vấn đề lịch sử,… Ngày nay, thế giới lại có hàng trăm bộ sách ghi chép, lưu giữ thành tựu khoa học của tiền nhân, về khoa học tự nhiên có thế kế đến những tác phẩm của Ga-li-lê, Niu-tơn, Ga-loa, Men-đen-lê-ép, Ma-ri Cu-ri, An-be Anh-xtanh,… về khoa học xã hội có thể kế đến Khổng Tử, Tư Mã Thiên, các vị tư tế phương Tây, Các Mác, Lê-nin,… Ngày nay, chúng ta đang tiếp tục nghiên cứu những tác phẩm bất hủ đó đế phát triển đời sống xã hội. Sách thực sự là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại.Xem thêm: Kể lại câu chuyện Những ngôi sao xa xôi cúa Lê Minh KhuêVanmau.edu.vn
Cho câu chủ đề_ “Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại”. Dựa vào câu chủ đề trên, em hãy viết một đoạn văn phân tích tổng hợp (khoảng 10 câu)
282
Cho câu chủ đề: “Văn chương có một sức mạnh tố cáo rất mãnh liệt”. Dựa vào tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du em hãy viết đoạn văn làm rõ nhận định trên Gợi ý Văn chương có một sức mạnh tố cáo rất mãnh liệt. Nó lên án những hiện thực giả dối, tầm thường và nhơ bẩn. Người đọc không thể quên được cái xã hội đen tối, lật lọng trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. vẻ bề ngoài, đó là một xã hội bình yên thời thịnh trị: “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Nhưng dưới cái vỏ bọc đẹp đẽ đó, thực tế xã hội là gì? Nguyễn Du đã bóc trần sự thật, điểm mặt chỉ tên từ những bậc quan lớn đến gã quan nhỏ; từ phường nhà chứa đến lớp Ưng Khuyển tay sai. Này gã bán tơ và đám quan lại địa phương “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” khiến gia đình Kiều tan nát. Này phường buôn phấn bán hương Mà Giám Sinh cùng Bạc Bà, Bạc Hạnh, Sở Khanh,… đã vào hùa để dìm đời Kiều xuống bùn đen nhơ nhớp. Này gã “tổng đốc trọng thần” Hồ Tôn Hiến bỉ ổi, dâm ô khiến Kiều trở thành người thiếu phụ giết chồng và buộc người anh hùng Từ Hải trân trân chết đứng. Rồi nữa, bầy Ưng Khuyển, lũ tay chân của Hoạn Thư cùng đã khiến Kiều bao phen điêu đứng,…Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của dòng sông Hương khi chảy về đồng bằng đến ngoại vi thành phố Huế trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (đoạn trích được học) của Hoàng Phủ Ngọc TườngVanmau.edu.vn
Cho câu chủ đề_ “Văn chương có một sức mạnh tố cáo rất mãnh liệt”. Dựa vào tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du em hãy viết đoạn văn làm rõ nhận định trên
291
Cho đề bài Kể về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch). Em hãy viết đoạn văn mở bài cho bài viết đó Gợi ý Quê hương tôi cũng đẹp và đáng yêu như quê hương của Tế Hanh. Cũng có con sông xanh biếc và những hàng tre rợp mát những buổi trưa hè. Chỉ tiếc tôi sống ở quê không nhiều lắm. Mỗi năm tôi chỉ được về quê có một lần và thường là những ngày hè oi bức. Hè năm nay cũng vậy, tôi cũng theo bố mẹ về thăm quê nội. Thế nhưng chuyến đi năm nay buồn man mác và nhói đau hơn. Bởi nội tôi khuất núi. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Tả cây đào vào ngày Tết
Cho đề bài Kể về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch). Em hãy viết đoạn văn mở bài cho bài viết đó
133
Cho đề bài “Em hãy thuật lại (kể lại) chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng năm tháng Giêng”. Em hãy viết đoạn văn kết bài cho bài viết trên Gợi ý Chiến công đại phá quân Thanh đã chứng tỏ nước Việt Nam là một nước mạnh mẽ, có độc lập, chủ quyền. Đế khắc hoạ sâu sắc hình tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ với tài mưu lược, ý chí kiên cường đấu tranh, và ôn lại chiến thắng lịch sử hào hùng của dân tộc, hàng năm, dân ta vẫn tố chức lễ hội Đống Đa. Lễ hội dó cũng là để nhớ đến công lao cúa ông cha thời xưa đã đại phá quân Thanh thần tốc. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích có tám câu cuối nhà thơ đã rất tài hoa trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Mỗi cảnh vật như nói với ta một nỗi buồn khác nhau và nỗi buồn đó ngày càng mãnh liệt hơn... Phân tích đoạn trích để làm rõ nội dung đó
Cho đề bài “Em hãy thuật lại (kể lại) chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng năm tháng Giêng”. Em hãy viết đoạn văn kết bài cho bài viết trên
190
Cho đề bài “Em hãy thuật lại (kể lại) chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng năm tháng Giêng”. Em hãy viết đoạn văn mở bài cho bài viết trên Gợi ý Lê Chiêu Thống, một con người phản nước hại dân, do lo sợ mất ngôi vị hoàng đế đã cầu cứu mở đường cho quân Thanh xâm lược nước ta. Ngày hai mươi hai tháng mười một, Lê Chiêu Thống nhận sắc phong của nhà Thanh lả Nam Quốc Vương. Ngày hai mươi tư tháng mười một, Văn Tuyết vào Nam cấp báo Bắc Bình Vương về việc Tôn Sĩ Nghị ‘mang quân Thanh xâm lược Thăng Long. Do quân Thanh quá mạnh, Ngô Văn Sở phải rút lui về Tam Điệp, không giữ được đất từ cửa ải phía Bắc cho đến Thăng Long, đây là một biến cố lớn trong lịch sử nước ta. Bắc Bình Vương là người mưu lược, dũng tướng, nhạy bén, trí tuệ sáng suốt, mạnh mẽ và có tài điều binh khiển tướng. Trước biến cố đó, ông tức giận vô cùng nhưng vẫn hết sức bình tĩnh và quyết định mở cuộc tiến công ra Bắc đại phá quân Thanh. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Em hãy viết đoạn văn thuyết minh về lợi ích của cây chuối
Cho đề bài “Em hãy thuật lại (kể lại) chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng năm tháng Giêng”. Em hãy viết đoạn văn mở bài cho bài viết trên
223
Cho đề bài: Em hãy tưởng tượng và kể lại cuộc gặp gỡ với một nhân vật cổ tích yêu thích. Em hãy viết một đoạn văn phần thân bài trong đó có sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm Gợi ý Phải rồi, đêm nay là đêm Nô-en. Tôi nhận ra những tiếng hát bài thánh ca từ nhà thờ vang lên. Bước đi lạo xạo trong tuyết, tôi thấy ngón chân tôi cứng đờ, vì đôi giầy của mình đã rách nát hết. Tưởng chừng chỉ vài bước nữa là những chiếc giầy sẽ bung ra. Tôi kéo lê từng bước về đến một ngôi nhà tối om, ọp ẹp. Không hề có một ngọn nến, một món quà hay một thứ gì của Giáng sinh, chỉ có một chiếc chuông đồ chơi sứt mẻ. Thế đấy, đêm nay tôi phải rời nhà để đến nơi tồi tàn này, chịu cái rét cắt da cắt thịt chẳng để làm gì. Hay là ông trời đã giúp tôi đến đây để gặp được nhân vật cổ tích mà bao lần tôi mong ước? Đến mười hai giờ đêm, khi những hồi chuông nhà thờ vang lên, tôi rón rén bước ra khỏi nhà. Dù cái lạnh tê tái quất vào mặt nhưng tôi vẫn muôn đi để tìm gặp nhân vật cổ tích nào đó, chỉ một thôi cũng được. Trong thâm tâm, tôi nghĩ như vậy, nhưng liệu có thực hiện được, và biết bao giờ tôi mới trở về nhà? Tôi vẫn cứ đi, hai bên đường đèn sáng đủ màu, thỉnh thoảng có những cỗ xe ngựa phóng qua đê đến những nơi tiệc tùng, hò hẹn.Xem thêm: Phân tích những, nét đẹp trong suy nghĩ và ứng xử của nhân vật bà Hiển trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn KhảiVanmau.edu.vn
Cho đề bài_ Em hãy tưởng tượng và kể lại cuộc gặp gỡ với một nhân vật cổ tích yêu thích. Em hãy viết một đoạn văn phần thân bài trong đó có sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm
307
Cho đề bài: Giới thiệu một nét văn hóa của địa phương em. Em hãy viết đoạn văn kết luận cho bài viết đó Gợi ý Dân ca quan họ quả là một tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nó cần được tiếp tục nuôi dưỡng, trân trọng gìn giữ và lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau, ở trong nước và cho cả cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Thiết nghĩ, những ban ngành chức năng nên giới thiệu sâu rộng những nét đặc sắc nhất của dân ca quan họ, từ khái quát về quê hương quan họ với những truyền thống xứ Kinh Bắc, về các làng quan họ, các lề lối ca hát và phong tục giao du; đến lời ca quan họ với sự phân tích về nội dung lời ca và nghệ thuật thơ ca. Và không thể thiếu được là một số làn điệu quan họ, vừa có kinh điển, vừa có cả cải biên, được trình bày bởi tiếng hát dung dị, trữ tình của chính những liền anh, liền chị trên quê hương quan họ Kinh Bắc. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến (Có dàn ý chi tiết)
Cho đề bài_ Giới thiệu một nét văn hóa của địa phương em. Em hãy viết đoạn văn kết luận cho bài viết đó
203
Cho đề bài: “Kể về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch)”. Em hãy viết đoạn văn kết bài cho bài văn đó Gợi ý img alt=”tình yêu thương” title=”tình yêu thương” width=”700″ height=”525″ /> Chuyến đi về quê nội lần này đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc: nỗi thương nội, thương các cô chú và các em. Nhưng tôi cũng tự hào biết bao về quê hương của mình, đời sống nghèo khó nhưng mọi người luôn yêu thương, bao bọc lấy nhau. Tôi thầm hứa với nội sẽ chăm chỉ học tập để xứng đáng với tình yêu thương, sự kì vọng của mọi người. Và nhất định sẽ có ngày tôi trở về giúp đỡ họ hàng và quê hương yêu dấu. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Thư gửi con mùa thi 2013
Cho đề bài_ “Kể về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch)”. Em hãy viết đoạn văn kết bài cho bài văn đó
146
Đề bài: Chuyển nội dung bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải thành một bài văn tả cảm xúc của tác giả trước khung cảnh mùa xuân. Những ngày cuối cùng của mùa đông đã hết. Bầu trời màu xám từ từ chuyển sang màu xanh lơ, trông quang đãng hẳn lên. Trong không trung bao la, hây hẩy ngọn gió xuân ấm mát, từng đàn chim én vun vút chao liệng, báo hiệu mùa xuân đã đến. Tôi lững thững thả bộ dọc bờ sông Hương trong một sớm mai hồng, say mê ngắm phong cảnh non nước hữu tình của xứ Huế – quê mẹ thân thương, mảnh đất đã gắn bó với tôi suốt cả cuộc đời. Bất chợt, tôi phát hiện ra giữa dòng sông xanh, một bông hoa tím biếc vừa nở, đang rập rờn trên sóng. Đơn giản chỉ có vậy thôi mà trong lòng tôi dâng lên một cảm giác lâng lâng, khó tả vô cùng! Dòng nước ăm ắp sức xuân. Bông hoa tươi thắm sắc xuân và trên đầu tôi là bầu trời xuân bát ngát, lảnh lót tiếng chim chiền chiên. Từng chuỗi âm thanh trong vắt như từng chuỗi ngọc long lanh thả xuống từ trời, khiến tôi sung sướng đưa tay ra hứng. Cả vũ trụ quanh tôi đều thấm đượm hơi thở nồng nàn của mùa xuân. Hành trang trên lưng người cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Mùa xuân hiện ra trong màu xanh mướt của mạ non quấn quýt theo từng bước chân người ra đồng cấy lúa. Nhịp điệu mùa xuân hối hả, xôn xao khiến cho lòng người cũng rạo rực một niềm vui sống. Xem thêm: Bài văn tả buổi sum họp gia đình em lớp 5Chân bước đều và trí óc tôi miên man suy nghĩ về quê hương, đất nước. Ôi, Tổ quốc Việt Nam với bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước vĩ đại, lại vừa trải qua hai cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lăng. Bao xương máu của tổ tiên, ông cha, con cháu… nối tiếp đổ xuống đất này, tạo nên hồn thiêng của dân tộc bất khuất, hiên ngang. Đất nước vất vả và gian lao giờ đây vẫn như ngôi sao sáng ngời, tiếp tục cuộc hành trình tiến lên phía trước, xây dựng tương lai. Tôi ao ước được hóa thân làm con chim chiền chiện hay làm một cành hoa để dâng tiếng hót, dâng hương sắc cho đời. Tôi muốn cuộc đời mình là một mùa xuân nho nhỏ để góp phần tạo nên mùa xuân rộng lớn của đất nước và dân tộc. Trong bản giao hưởng rộn rã ca ngợi mùa xuân, tôi chỉ xin được làm một nốt trầm xao xuyến. Trái tim tôi hân hoan cất lời ca ngợi cuộc sống đẹp tươi. Tôi muốn chia sẻ tâm trạng tràn đầy hạnh phúc với mọi người. Các bạn ơi! Hãy biến cuộc đời mình thành mùa xuân nho nhỏ, lặng lẽ dâng cho đời. Hãy giữ cho cuộc đời mình mãi mãi là mùa xuân, dù là tuổi hai mươi hay khi mái đầu đã bạc! Tâm hồn tôi đang say sưa trước điệu hát Nam ai, Nam bình quen thuộc của quê hương: Nước non ngàn dặm mình, nước non ngàn dặm tình… trong nhịp phách tiền rộn rã. Đất nước mình đâu cũng đẹp như gấm như hoa và dân tộc Việt Nam mãi mãi tràn đầy sức sống bất diệt của mùa xuân! Xem thêm: “Thơ... thơ” (Trần Đình Sử - Những thế giới nghệ thuật thơ). Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy phân tích trong thế đối sánh “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến và “Thơ duyên” của Xuân Diệu để làm sáng tỏ nhận định trên
Chuyển nội dung bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải thành một bài văn
645
Đề bài: Em hãy chuyển nội dung bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu sang văn xuôi theo lời kể của tác giả Có thể nói rằng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc ta đã kết thúc vẻ vang và kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng làm chấn động thế giới. Và dễ nhận thấy là trong suốt chín năm trường kì gian khổ, Việt Bắc dường như cũng đã trở thành chiến khu vững chắc của Đảng, Chính phủ và quân đội ta. Ta như thấy được chính đồng bào các dân tộc thiểu số ở đây đã hết lòng hết sức đùm bọc, giúp đỡ cán bộ, những cán bộ chiến sĩ và góp phần rất lớn vào thắng lợi huy hoàng. Và khi mà hòa bình lập lại, mở ra một thời kì mới của đất nước. Lúc này đây thì chủ tịch Hồ Chủ tịch cùng các cán bộ, chiến sĩ chúng tôi về lại Thủ đô Hà Nội. Trong giờ phút chia tay đã đến. Đồng bào Việt Bắc ra tiễn chúng tôi rất đông. Và có thể nói rằng chính giữa kẻ ở, người đi và đã có biết bao là vấn vương và có biết bao những lưu luyến. Và ngay cả ông ké trưởng bản lưng còng tóc bạc, cũng đã ra và nắm lấy tay tôi mà mắt rưng rưng mà rằng “Cán bộ về xuôi hãy thưa giùm với Bác là đồng bào Việt Bắc không nguôi nhớ Bác! Và cũng kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu!”. Tôi thực sự xúc động gật đầu nhận lời và xiết chặt bàn tay thô ráp của ông. Đoàn xe nhanh chóng và đã khởi hành mà đồng bào vẫn vẫy tay theo, hẹn ngày gặp lại.Xem thêm: Trong văn học, môt câu chuyện kết thúc buồn thường lại là khởi đầu cho một niềm hi vọng mới Có lẽ giờ đây chúng tôi không thể nào quên những kỉ niệm gắn bó với thiên nhiên và con người Việt Bắc. Thiên nhiên cũng như rất hùng vĩ, tươi đẹp và có thể thấy được những người dân chất phác đồng thời trong học cũng như thật nặng nghĩa nặng tình. Và dường như vẫn còn nhớ những ngày mưa nguồn suối lũ, đường dây tiếp tế lương thực từ miền xuôi lên bị quân thù bao vây, cắt đứt; cán bộ, chiến sĩ ta được đồng bào chia sẻ từ miếng cơm, hạt muối… Và ta cũng biết rằng cuộc sống tuy gian nan vất vả mà ấm áp tình người. Và hơn hết chúng tôi đã in dấu chân trên khắp các nẻo đường Việt Bắc và có lẽ rằng chính những hình ảnh của cây đa Tân Trào, mái đình Hồng Thái, ngòi Thia, sống Đáy, suối Lê, Phủ Thông, đèo Giàng, sống Lô, phố Ràng, Cao- Lạng Nhị Hà… sẽ mãi mãi in sâu trong kí ức một thời đánh Tây đuổi Nhật của đất nước anh hùng này Và có những nỗi nhớ da diết như nhớ người yêu. Nhớ những kỷ niệm như cứ ùa về đó là hình ảnh người mẹ nắng cháy lưng, rồi nhưu lại còn địu con lên rẫy để hái những chiếc bắp ngô về. Nhớ cả những lớp học i tờ nữa. Và ta như thấy được cảnh rừng Việt Bắc với màu hoa chuối đỏ tươi nổi bật trên nền xanh của lá rừng Việt Bắc. Và đó còn chính là ánh nắng lấp lánh trên chiếc dao người đi rừng giắt ngang lưng. Bốn mùa ở Việt Bắc ta như thấy được cảnh thiên nhiên Việt Bắc đều là những bức tranh đẹp đẽ sống động, cuốn hút hồn người. Ngày xuân, thì cảnh vật thật đẹp đó là hoa mơ nở trắng rừng. Mùa hè, tiếng ve ngân vang như tiếng đàn trong rừng phách nở hoa vàng thắm. Và vẫn còn đó là bóng cô em gái lúi húi hái măng giữa không gian vắng lặng. Khi đến mùa thu, ánh trăng rọi sáng nơi nơi, tạo nên vẻ thanh bình, thơ mộng. Ta như thấy được những tiếng hát ân tình thủy chung cứ ngân nga mãi trong nỗi nhớ của chúng tôi.Xem thêm: Nghị luận xã hội về hiện tượng nữ sinh ăn mặc sexy – Văn lớp 12 Ta như thấy được những khí thế của cuộc kháng chiến càng ngày càng lên cao. Sức mạnh chính nghĩa của quân dân ta như triều dâng bão cuốn. Và có lẽ rằng trên các nẻo đường Việt Bắc, thì trong đêm đêm quân ta đi diệp điệp trùng trùng, ánh đuốc rừng rực soi sáng ngôi sao trên mũ và những đầu súng nhấp nhô theo bước quân hành. Vfa những cô dân công từng đoàn, từng đoàn nối nhau vận chuyển lương thực, thuốc men ra mặt trận. Ta như thấy được những ánh lửa, ánh đèn pha xua tan màn sương u ám của đêm dày. Và từ khắp các chiến trường Hòa Bình, cũng như Tây Bắc, Điện Biên… tin chiến thắng dồn dập dường như cũng đã bay về khiến quân dân cả nước càng thêm phấn khởi và tin tưởng biết bao nhiêu. Và cũng như đúng giữa khói lửa kháng chiến, Hồ Chủ tịch cùng Trung ương Đảng, Chính phủ dường như cũng vẫn bình tĩnh, sáng suốt luận bàn việc dân cũng như là việc nước. Ta như thấy được các lãnh đạo quân dân ta vừa đánh giặc vừa đấu tranh chống phong kiến, địa chủ bóc lột ô nông thôn, đồng thời như cũng đã vừa mở mang đường sá, trường học ở khắp nơi để nâng cao dân trí. Dường như cũng đã có biết bao kỉ niệm vui buồn trong suốt chín năm kháng chiến đã in đậm trong tâm hồn mỗi con người. Rồi nhớ những lần giặc lùng sục, càn quét, và cũng như đã bắt bớ hòng tiêu diệt lực lượng của bộ đội ta, cả rừng cây, và cả núi đá cùng người đánh Tây. Núi giăng thành luỹ thép dày, rừng chở che bộ đội, như cũng đã ngăn buớc quân thù, bủa vây và tiêu diệt chúng nhanh chóng.Xem thêm: Phân tích ý nghĩa của bản "Tuyên ngôn độc lập" (Hồ Chí Minh) Và chính chiến khu Việt Bắc đã trở thành điểm tựa tỉnh thần thiêng liêng cho cả dân tộc Việt Nam vì ở đó có Bác Hồ – vị Cha già kính yêu cả cả dân tộc ta. Ở đó như đã còn có ánh sáng cách mạng của Đảng dường như cũng đã soi đường dẫn lối để sự nghiệp đấu tranh giải phóng tiến tới thành công. Và chiến khu Việt Bắc thực sự là quê hương của cách mạng, của kháng chiến cyar nhân dân và dân tộc ta. Có thể thấy được ngay từ những năm 1941, Bác Hồ cũng như đã thật là kiên trì vượt quạ bao gian nan, thử thách, hiểm nguy để có thể cùng với Đảng khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với đầy đủ những quyền như: chủ quyền tự do, độc lập. Ta như thấy được thiên nhiên và con người Việt Bắc một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ kính yêu. Đồng thời những điều đó đã để lại trong tâm khảm mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng tôi tình cảm thật sâu sắc, tốt đẹp, không thể nào quên. Nguồn: Văn mẫu hay
Chuyển nội dung bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu sang văn xuôi theo lời kể của tác giả
1,256
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ là khát vọng về chiến thắng của công lí và chính nghĩa. Anh (chị) hãy phân tích để làm sáng tó nhận định trên Gợi ý Nguyễn Dữ người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Ông là con trai của Tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu và là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ được viết bằng chữ Hán, gồm hai mươi truyện ra đời đầu thế kỉ XVI. Bóc đi cái vỏ hoang đường, kì ảo, người đọc sẽ nhận ra hiện thực xã hội phong kiến mà tác giả muốn phơi bày. Là một trong số hai mươi tác phẩm trong tập truyện này, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên đã thể hiện khát vọng về chiến thắng của công lí và chính nghĩa gắn với tình yêu nước và lòng tự hào dân tộc của nhà văn. Truyền kì là loại truyện có nguồn gốc từ Trung Hoa, thịnh hành vào thời nhà Đường, sau đó được truyền bá vào Việt Nam. Đây là loại truyện dùng yếu tố kì ảo, hoang đường làm phương thức phản ánh cuộc sống. Cuốì thế kĩ XV đầu thế kỉ XVI, truyền kì Việt Nam phát triển mạnh, đánh dấu bằng hai tác phẩm Thánh Tông di thảo tương truyền của Lê Thánh Tông và Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Chủ đề của các tác phẩm trong Truyền kì mạn lục thường xoay quanh việc vạch trần những thối nát của chế độ phong kiến; đả kích lũ hôn quân bạo chúa, bọn tham quan vơ vét nhũng nhiễu nhân dân; bày tỏ sự cảm thông với tình cảnh của những người dân lương thiện bị chà đạp, ức hiếp; phản ánh sự phẫn nộ của quần chúng trước các tệ nạn xã hội; có truyện viết về tình yêu nam nữ, có truyện ca ngợi lí tưởng của kẻ sĩ phong kiến. Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ được người xưa mệnh danh là “Thiên cổ kì bút”. Đây là tác phẩm đạt tới đỉnh cao nghệ thuật của thể loại truyền kì, đánh dâu bước trưởng thành đột khởi của loại hình truyện ngắn Việt Nam thời trung đại. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là câu chuyên ngợi ca khí phách, tài năng của chàng nho sinh Ngô Tử Văn trong việc trừ diệt vong hồn tên tướng giặc Minh. Tướng giặc đã tử trận nhưng vong hồn vẫn còn lưu lại trên đất Việt, tác oai tác quái, đánh đuổi vị thần Thổ địa để trấn giữ hương lửa ở một ngôi đền thiêng. Chàng nho sinh Tử Văn đã dũng cảm đốt đền để xua đuổi hồn tên yêu ma xâm lược. Cuối cùng, tên yêu ma chiếm đền đã bị vạch tội, bị giam vào ngục tối. Những chi tiết li kì của truyện đã làm tăng thêm sức hấp dẫn, góp phần thể hiện tinh thần yêu nước và khí phách quật cường của kẻ sĩ Việt Nam trước mọi thế lực tàn bạo, cho dù thế lực ấy thuộc về cõi nào. Ngay từ đầu truyện, Ngô Tử Văn được giới thiệu là một người tính tình cương trực, thẳng thắn, khảng khái, nóng nảy, ghét gian tà. Đây là lời giới thiệu mang tính chất ngợi khen, có tác dụng định hướng người đọc về hành động kiên quyết của nhân vật này. Minh chứng rõ ràng cho tính cách cứng cỏi của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền tà của chàng. Trong khi hồn ma của tướng giặc bại trận họ Thôi đánh bại Thổ công của ngôi đền, đút lót các thần miếu bên cạnh, tác oai tác quái cả một vùng thì ở làng của Tử Văn, mọi người đều lắc đầu, lè lưỡi không dám động chạm đến quỷ thần ở ngôi đền đó. Tử Văn đã cương quyết đốt đền, công khai, ung dung và đường hoàng làm công việc diệt trừ yêu ma quấy nhiễu dân lành. Chàng đốt đền là đổt nhà của tên yêu quái nhằm xua đuổi, không cho hắn tiếp tục trú ngụ ở đó để nhũng nhiễu, gây cảnh khốn đốn cho dân. Trước khi hành động, chàng tắm rửa sạch sẽ, làm nghi thức khấn trời rồi châm lửa đốt đền. Hành động đó xuất phát từ mong muốn diệt trừ yêu ma, trừ hại cho dân, đứng về phía chính nghĩa. Điều đó chứng tỏ cốt cách khảng khái của kẻ sĩ trong con người Ngô Tử Văn. Hành động đốt đền của Ngô Tử Văn không phải là sự báng bổ thần thánh mà thể hiện sự bất bình, tuyên chiến với các thế lực hắc ám trong xã hội. Hành động đốt đền đã thể hiện tính cách cương trực, can đảm, mạnh mẽ, quyết liệt “thấy sự gian tà không chịu được” của Tử Văn. Chàng tin hành động chính nghĩa sự trong sạch và chân thành của mình sẽ được trời ủng hộ. Hành động này là điểm thắt nút của câu chuyện, tạo nên sự xung đột giữa các nhân vật và sức hấp dẫn cho tác phẩm. Sau khi đốt đền, Tử Văn thấy trong người khó chịu, lên cơn sốt nóng rồi sốt rét. Chàng thấy một người “khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ đi đến, nói năng và quần áo rất giông người phương Bắc, tự xưng là cư sĩ”, trách mắng Tử Văn. Hắn dùng những nguyên lí của đạo Nho để buộc tội Tử Văn là kẻ sĩ mà lại “không biết cái đức của quỷ thần”, đã không kính trọng quỷ thần lại còn “dám khinh nhờn hủy tượng, đốt đền”, bắt Tử Văn “dựng trả ngôi đền như cũ”, rồi đe dọa nếu không dựng trả ngôi đền thì “sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ”. Trước thái độ hung hăng của tên tướng giặc, “Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên”. Thái độ ấy cho thấy Tử Văn là con người cứng rắn, mạnh mẽ, uy vũ không dễ gì khuất phục. Bất chấp những lời đe dọa của tên tướng giặc, Tử Văn tỏ ra rất bình thản, cái bình thản của con người sẵn sàng đương đầu với những thế lực hắc ám, cho dù mình có phải chết. Tử Văn bị bọn quỷ sứ đến bắt và giải đi qua những cảnh rùng rợn, qua con sống lớn “gió tanh sóng xám”, thấy bọn quỷ Dạ Xoa mắt xanh tóc đỏ nanh ác nhưng Tử Văn không hề nao núng. Chàng đã khẳng định với bọn quỷ “Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian”. Chàng tin vào sự ngay thẳng và chính nghĩa của mình. Trước Diêm Vương, trong không khí rùng rợn nơi âm phủ, bị tên Bách hộ họ Thôi vu cáo, sỉ nhục, bị Diêm Vương mắng và áp đảo tinh thần, Tử Vãn không hề nao núng. Chàng tầu trình với Diêm Vương đầu đuôi mọi chuyện bằng những “lời rất cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào”. Tử Văn cương quyết nói với Diêm Vương: “Nếu nhà vua không tin lời tôi, xin tư giấy đến đền Tản Viên để hỏi; không đúng như thế, tôi xin chịu thêm cái tội nói càn”. Trước những chứng cớ mà Tử Văn đưa ra, Diêm Vương đã nhận ra sự thật. Tên Bách hộ họ Thôi đã bị trừng trị đích đáng: bị tống giam vào ngục Cửu u. Sự cương trực, thẳng thắn, dũng cảm đấu tranh cho chính nghĩa của Tử Văn đã chiến thắng. Chàng đã giải trừ được tai họa, đem lại sự an lành cho người dân, diệt trừ tận gốc thế lực xâm lược tàn ác, làm sáng tỏ nỗi oan khuất và khôi phục danh vị cho Thổ thần nước Việt.Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Giăng - van - giăng trong đoạn trích “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” (Huy- gô) Hồn ma chiếm giữ đền là của tên Bách hộ họ Thôi, vốn là viên tướng bại trận của giặc Minh, lúc sống đi xâm lược nước ta, lúc chết hắn vẫn giữ nguyên bản chất của kẻ xâm lăng, xảo quyệt. Hắn đã mạo danh là Thổ thần, tự xưng với Tử Văn là cư sĩ. Khi bị Tử Văn đốt đền, hắn tức giận, đến gặp Tử Văn, trách mắng và đòi chàng phải dựng trả ngôi đền như cũ. Thấy Tử Văn điềm nhiên không đếm xỉa gì đến những lời trách mắng của mình, hắn đã buông lời đe dọa. Những lời đe dọa cũng không làm cho Tử Văn nao núng, hắn tức giận phất áo đi. Khi Tử Văn bị bắt xuống âm phủ, vào đến cửa điện của Diêm Vương, chàng đã “thấy người đội mũ trụ đương kêu cầu ở trước sân”. Thấy Tử Văn cứng cỏi, tên bách hộ họ Thôi đã ngoan cố vu vạ cho Tử Văn: “Ay là ở trước cương phủ mà hắn còn ghè gớm như thế, mồm năm miệng mười, đơm đặt bịa tạc. Huống hồ ở một nơi đền miếu quạnh hiu hắn sợ gỉ mà không dám cho một mồi lửa”. Vu vạ không được thì hắn lập lờ nhận tội. Song lời nhận tội của hắn cũng thể hiện bản chất gian ngoan. Hắn tâu với Diêm Vương: trách mắng Tử Văn như vậy “cũng đủ răn đe rồi”, Diêm Vương nên khoan dung cho Tử Văn bởi nếu Diêm Vương thẳng tay trị tội chàng sẽ “hại đến cái đức hiếu sinh”. Sự thay đổi thái độ đột ngột của hắn đã khiến Diêm Vương nghi ngờ và nhận ra sự thật. Rõ ràng tên Bách hộ họ Thôi khôn ngoan, xảo quyệt nhưng cũng không thể thoát được lưới trời lồng lộng. Sự lừa đảo, càn bậy của y cuối cùng bị Diêm Vương trị tội đích đáng.Xem thêm: Hãy chừng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta Cuộc đấu tranh giữa Tử Văn với hồn ma tên tướng giặc là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa hai thế lực: một bên là con người, đại diện là Tử Văn; một bên là thần linh ma quỷ, đại diện là hồn ma tên tướng giặc Bắc triều bại trận. Thế lực thần linh, ma quỷ trong truyện phần nào đã phản ánh các thế lực cường quyền phong kiến thời Nguyễn Dữ. Chúng đã kết bè với nhau để hãm hại dân lành. Diêm Vương và các phán quan đại diện cho công lí cũng bị lấp tai, che mắt. Những hiện tượng tiêu cực ở cõi âm chính là bóng dáng của những bất công trong xã hội đương thời. Các đền miếu lân cận vì tham của đút đều làm ngơ cho hồn ma tên tướng giặc cũng giông như bọn quan tham đã tiếp tay cho kẻ ác, kẻ xấu để gây nên bao nỗi khôn khổ cho người dân. Với bản lĩnh cứng cỏi, kiên quyết chống gian tà, phi nghĩa; lại được giúp sức của Thổ thần, Tử Văn đã chiến thắng. Sự chiến thắng của Tử Văn thể hiện niềm tin của nhân dân lao động: chính nghĩa thắng gian tà, thiện thắng ác. Đây là quan niệm của nhân dân đã được thể hiện qua nhiều truyện cổ tích dân gian. Cuộc đấu tranh của Tử Văn với hồn ma tên tướng giặc bại trận còn khẳng định nhân cách cứng cỏi của kẻ sĩ đồng thời lên án dã tâm của bọn xâm lược, dù đã chết chúng còn vẫn đang tâm gây tội ác.Xem thêm: Cảm nhận chung của anh (chị) về cuộc sống và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn Sử dụng yếu tố thần kì là một đặc điểm nổi bật của truyện truyền kì. Trong Chuyện chức phán sự dền Tản Viên, Nguyễn Dữ đã sử dụng một loạt các yếu tố thần kì: có chuyện thần linh (Thổ công, đức Thánh Tản Viên); có ma quỷ (Diêm Vương, hồn ma tướng giặc, bọn quỷ sứ); đốt đền xong, Tử Văn phát bệnh, chàng bị quỷ sứ bắt đi; viên Bách hộ họ Thôi bị đày xuống ngục Cửu U; Tử Văn về nhà mới biết mình đã chết được hai ngày; Tử Văn sống lại, rồi lại không bệnh mà mất; Tử Văn trở thành phán sự ở đền Tản Viên; Tử Văn cưỡi gió biến mất;… Những yếu tổ’ kì ảo khiến cho câu chuyện được kể một cách tự nhiên, sinh động, lôi cuốn và hấp dẫn người đọc. Truyện có kết cấu chặt chẽ, tác giả xây dựng tình huống hấp dẫn, tạo xung đột ngày càng gay gắt, các tình tiết lôi cuốn. Nhà văn đã dẫn dắt truyện một cách khéo léo, kể và tả sinh động, hấp dẫn. Câu chuyên được mở nút, kết thúc khi sự thật được phơi bày, công lí được thực thi, kẻ ác bị trừng trị, người lương thiện được đền đáp. Truyện được xây dựng đầy kịch tính, kết cấu chặt chẽ, hấp dẫn và lôi cuốn. Người đọc bị cuốn hút theo diễn biến của câu chuyện và số phận nhân vật. Tác phẩm có lôì kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn, chỉ qua ngôn ngữ và hành động mà tính cách nhân vật hiện lên rõ nét, diễn biến truyện giàu kịch tính, để lại ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc trong lòng người đọc. Chuyện chức phán sự đền Tản Viển đề cao tinh thần khảng khái, cương trực, dám đấu tranh chổng lại cái ác trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn. Tác phẩm thể hiện niềm tin của tác giả vào công lí và chính nghĩa. Sự cứng cỏi, bản lĩnh của Ngô Tử Văn thật sự rất cần thiết và có ý nghĩa đối với cuộc sống của chúng ta hiện nay. Vanmau.edu.vn
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ là khát vọng về chiến thắng của công lí và chính nghĩa. Anh (chị) hãy phân tích để làm sáng tó nhận định trên
2,361
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh (Nguyễn Duy). Em hãy dùng biện pháp nhân hóa để cây tre tự kể chuyện mình Gợi ý YÊU CẦU 1. Kiểu bài kể chuyện. 2. Hình thức kể chuyện tự do, nhưng nên dựa vào bài thơ cùa Nguyễn Duy để có những nội dung cho chuyện kể. Câu chuyện có thể đề cập đến hai nội dung chính: – Đời sống của loài tre: tre có từ rất lâu, tre cần cù, tre đoàn kết, tre yêu thương nhường nhịn, măng tre tiếp tục truyền thống của tre. – Tre gắn bó với cuộc sống loài người: măng tre làm thức ăn; cây tre làm nhà cửa đồ dùng; gốc tre, ngọn tre làm củi… 3. Cần giới thiệu khéo léo để cây tre tự kể chuyện mình chứ không phải người kể chuyện cây tre. BÀI LÀM Cũng như thường lệ, chiều nay tôi lại ra ngồi dưới bóng tre đầu làng hóng mát và nhẩm bài. Giữa làn gió mát rượi và không khí êm ả, yên tĩnh của làng quê, tôi đã ngủ lúc nào không biết. Trong giấc mợ, tôi thấy mình đứng giữa họ hàng nhà tre. Người già nhất sau khi nhận lời chào lễ phép của tôi, hiền từ hỏi: – Ồ, cô bé, sao cô lại tới được đây? – Thưa cụ! Hôm qua học bài Tre Việt Nam của Nguyễn Duy, cháu thấy tre rất giống con người nên cháu muốn tìm đến đây để hỏi chuyện ạ!Xem thêm: Kể về một người thân của em (ông bà, bố mẹ, anh chị, cô chú...) – Ồ, lão cũng được nghe đọc bài thơ ấy. Nhà thơ viết tự năm 1970 mãi đến 1972 mới xong đấy. Nhà thơ tả chúng tôi giống hệt những con người. Mà cô bé ơi, cô thích hỏi về chuyện gì? – Thưa cụ, về đời sống của loài tre. Cụ tre già thong thả kể bằng một giọng trầm trầm: – Tôi nghe các cụ kể lại thì chúng tôi sống ở mảnh đất này đã lâu lắm rồi. Nhà thơ viết rằng: Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh. Chắc là cô còn nhớ truyện cổ tích Cây tre trăm đốt chứ? Nhờ có cây tre dài đặc biệt do Bụt giúp mà anh Khoai cưới được cô út đấy. Cuộc sống của chúng tôi gian nan vất vả lắm. Cô có thấy loài tre chúng tôi nhiều rễ không? Rễ nhiều để bám vào đất, chắt mỡ màu nuôi cho cây lá xanh tươi. Bao giờ tre cũng mọc thành bụi, thành gồ, làm nên thành lũy. Đó là tinh thận đoàn kết gắn bó của họ nhà tre đấy. – Thưa cụ vì thế mà nhà thơ Nguyễn Duy viết về loài tre: Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm Thương nhau tre không ở riêng… – Đúng như vậy. Chúng tôi bao giờ cũng lo cho các lứa con cháu mình, cho nên tất cả người lớn đều cởi trần chịu nắng sương, còn manh áo cộc thì nhường cho măng con. Những cây măng bao giờ cũng vươn lên dáng thẳng, hiên ngang như loài tre chúng tôi.Xem thêm: Hãy giải thích câu tục ngữ sau và trình bày cảm nhận của em về câu tục ngữ đó: Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn Theo tay chỉ của cụ tre già, tôi nhìn thấy những cây măng tròn, mập mạp, đầu nhọn hoắt như mũi chông trông thật oai phong. Cụ tre già hỏi: – Cô bé có biết vì sao người ta quý loài tre chúng tôi không? – Dạ thưa, cháu không biết rõ lắm, nhưng cháu thấy làng nào cũng có tre, tre làm thành bóng mát cho mọi người, tre làm nhà cửa nữa. – Ồ đúng, nhưng không chỉ có thế. Cô nhìn xem trong nhà chúng tôi làm kèo, làm đòn tay, làm phên. Chúng tôi làm nong nia, giần sàng, rổ rá. Chúng tôi làm thành cái chõng tre, làm đòn gánh… Những cây măng của họ nhà tre còn làm cả thức ăn cho người. Kháng chiến chống thực dân Pháp, ta thiếu vũ khí, tre làm gậy gộc, có chiến sĩ du kích dùng đòn gánh tre đánh giặc. Tre còn được vót làm chông. Tre làm hầm kèo chống bom của giặc. Tre làm chiến sĩ hiên ngang bất khuất giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín… Đến bây giờ, chúng tôi vẫn gắn bó với cuộc sống con người. Chúng tôi vẫn làm nhà cửa, đồ dùng, làm những trang giấy. Trong chúng tôi có bao người đã đi xa, những gốc tre già, những ngọn tre sau khi làm giàn bầu bí còn làm củi đun cho con người nữa… Chúng tôi mãi mãi gắn bó với con người như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết:Xem thêm: Bình giảng bài ca dao Đồng Đăng có phố Kì LừaĐất xanh tre mãi xanh màu tre xanh. Tôi choàng tỉnh giấc. Những cây tre xanh vẫn rì rào như đang hát. Tôi ngắm kĩ từng cây và thấy thêm yêu lũy tre, yêu làng xóm của mình. Vanmau.edu.vn
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh (Nguyễn Duy). Em hãy dùng biện pháp nhân hóa để cây tre tự kể chuyện mình
862
Chuyện tối thứ bảy ở nhà em Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG A. MỞ BÀI: Giới thiệu một cách ngắn gọn về thứ bảy hàng tuần ở nhà em. B. THÂN BÀI: – Trình bày có cảm xúc những sự việc xảy ra vào tối thứ bảy trong gia đình em. – Trí tưởng tượng tự do nhưng phải đảm bảo: Tối thứ bảy là tối cả nhà nghỉ ngơi, vui vẻ (tất nhiên có thể tạo tình huống bất ngờ ngược lại). – Quá trình kể có kết hợp thái độ, cách đánh giá sự việc của bản thân. B. KẾT LUẬN: Nhận xét chung và cảm nghĩ chung về tối thứ bảy trong gia đình. BÀI LÀM Vầng trăng quê dịu dàng lấp ló sau lũy tre làng. Nó phóng khoáng ban phát cho đất trời một màu vàng rực rỡ, lung linh và tinh khiết nhát của mình. Để rồi nguồn sáng dịu ngọt ấy còn vương mãi trong buổi tối thứ bảy – một buổi tối giản dị, đầm ấm không khí gia đình. Ánh sáng của trăng, ánh sáng của ngọn đèn nê-ông đan xen, quyện hòa lẫn nhau càng làm rạng rỡ thêm bao khuôn mặt của những người thân trong gia đình. Tối thứ bảy thường là tối đông vui nhất trong gia đình sau một tuần lễ làm việc mệt nhọc. Chỉ có tối thứ bảy, mọi người mới có đủ thời gian để nhìn lại công việc tuần qua, để quây quần bên nhau, trò chuyện trong sự rảnh rang không vướng bận. Thứ bảy tuần này mọi người đều thấy như vui hơn. Ai nấy đều ánh lên cái nhìn hạnh phúc, mà có lẽ, vui mừng sung sướng nhất là bé Diệp. Bởi tuần này bé đạt được 5 điểm 10 và luôn được cô giáo khen. Hôm nay bé bỗng ngoan ngoãn lạ, ai sai gì cũng đi, cũng làm. Chẳng còn vẻ mặt bướng bỉnh hay cãi chị nữa. Thấy bé ngoan vậy, chẳng ai nỡ sai gì, mọi người đều nhìn bé với một ánh mắt trìu mến. Niềm vui của bé bây giờ đã trở thành niềm vui của cả gia đình.Xem thêm: Hãy viết một đoạn văn ngắn về tình cảm quê hương Một cơn gió bất chợt thoảng qua, mang theo cái lành lạnh của không khí đêm, bưng chén trà nóng trên tay, bỗng thấy ấm áp lạ. Mình vẫn còn thua em, những điểm 10 đối với mình thật khó khăn, phải cố gắng thôi, thua em thì xấu quá: Bất chợt bé Cún (tên thường gọi ở nhà của Diệp) từ nãy giờ ngồi im trong lòng mẹ mới cất tiếng hỏi: – Mẹ ơi! Thế Cún làm gì nào? – Ồ! Bây giờ Cún hát một bài cho bà, bố mẹ và hai chị nghe đi! Mẹ âu yếm trả lời. Rất tự nhiên, Cún đứng dậy, bắt đầu cái giọng “vịt đực”: “Con cò bé bé, nó đậu cành tre…”. Ôi! Thật là… cả nhà buồn cười nhưng phải cố nén vì sợ bé xấu hổ lại “nhè” thì tội. Hát xong, bé lại múa, mấy điệu múa “học lỏm” trong chượng trình “bông hoa nhỏ”. Múa mà tay bé cứ ngượng nghịu, có lúc cứng đơ như que củi. Khi hết, bé muốn mọi người khen nên cứ lặp đi lặp lại bài hát “con cò bé bé…”. Đến bây giờ tất cả mọi người không nhịn được cười, vừa vỗ tay vừa cười rất to. Hình như đến bây giờ bé mới bắt đầu hiểu ra, ngượng quá nó gục đầu vào lòng mẹ nũng nịu: “ứ…ừ…”. Bố bưng chén ra, uống một ngụm nhỏ để thưởng thức hương vị sen mới. Cún nũng nịu đòi bố chơi bi với nó. Bà được bầu làm trọng tài với một trăm phần trăm số phiếu. Cuộc chơi bắt đầu. Cún hí hửng cầm viên bi “xông vào cuộc”. Bé cười giòn tan khi thắng cuộc, tiếng cười của bé hồn nhiên trong trẻo lan tỏa khắp căn nhà, tiếng cười của bé làm cho căn nhà ấm áp hơn lên. Kể ra thì bé cũng chơi hay đáo để (vì bé được bố giúp đỡ). Bây giờ đến lượt mẹ chơi với bé. Bên mẹ “bắt đầu phản công”. Bé bị thua, nó có vẻ ức, miệng cứ lẩm bẩm, nhưng khóc làm sao được. Không thắng được bằng sức thì thắng bằng “mẹo”. Còn “mẹo” đó như thế nào thì “phải bí mật quân sự”. Bà làm trọng tài nhưng chẳng thấy gì cả, như thế là bé điềm nhiên “phá lưới”.Xem thêm: Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục Ngoài kia, ánh trăng đã lên cao, chiếu sáng những khoảng tối trong đêm. Cả một không gian bát ngát trăng sao. Lòng bỗng vui sướng lâng lâng! Chỉ một buổi tối đơn sơ mà tôi cứ thấy nhớ nhớ… thương thương… thấy mình như được chắp cánh. Vanmau.edu.vn
Chuyện tối thứ bảy ở nhà em
821
Chép lại chính xác bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến. Phân tích vẻ đẹp trong hai câu thơ sau: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” Gợi ý Câu cá mùa thu “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ dưa vèo. Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Tựa gối, buông cần lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Là nhà thơ của “quê hương làng cảnh Việt Nam”, là nhà thơ của các mùa ở nông thôn, Nguyễn Khuyến làm rất nhiều bài thơ về mùa xuân, mùa hạ. Nhưng ông vẫn rất nổi tiếng với đề tài mùa thu. Đặc biệt là với “chùm thơ thu”. Bên cạnh những lá ngô đồng, tiếng chày đập vải trong thơ chữ Hán của ông là những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Dường như ông đã tập trung hết tâm hồn mình vào trong ba bài thơ thu. Cùng viết về đề tài mùa thu, nhưng mỗi bài lại có một vẻ đẹp riêng, tạo nên những sắc cạnh khác nhau, bổ sung cho mùa thu của quê hương sứ xở. “Câu cá mùa thu” là một trong số đó. Giữa không gian thu xanh ngắt là một vệt xám nhỏ của chiếc “thuyền câu bé tẻo teo”. Và ngay đó chợt phào qua một làn gió nhẹ khẽ gợn trên làn sóng biếc:Xem thêm: Em hãy viết bài văn để thuyết phục các bạn chăm học hơn“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí," Một làn gió thoảng qua cũng đủ làm rung động mặt nước, thêm một sắc xanh cho nền trời xanh. Nhưng đó không phải là hai màu xanh giống nhau. Màu xanh ngắt của mây trời đâu có hòa lẫn với màu ngọc biếc xanh của sóng, của mặt nước. Màu xanh của mặt nước thu là sự hoà trộn giữa sắc xanh ngắt của bầu trời với sắc trong của mặt nước với cái lung linh của nắng thu. Mặt hồ khẽ gờn gợn theo làn gió thoảng “theo làn hơi gợn tí”. Câu thơ vừa gợi hình vừa gợi cảm. Nó hướng cái nhìn của người đọc theo từng làn gió nhẹ. Thật tinh tế biết bao! Rồi bất chợt, trên làn sóng nhẹ đó một chiếc lá vàng không biết từ đâu xuất hiện: “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. Chỉ nghe từ “vèo” vút qua rất nhanh rồi mất hút. Không khí lạí quay trở về cái tĩnh lặng như ban đầu. Câu thơ là hình ảnh động nhưng nhẹ nhàng đến mức tinh vi. Trong văn chương trung đại người ta thường gợi nhiều hơn tả. Tuy hai câu thơ là động nhưng chúng lại nhằm lột tả cái tĩnh tại của không gian. Giữa mặt hồ trong xanh, hoạt động của chiếc thuyền và làn gió thoảng cũng chỉ đủ làm cho mặt nước “hơi gợn tí” mà thôi. Thử hình dung xem, chắc người trên thuyền phải ngồi trầm ngâm, yên lặng đến mức nào và không gian phải rất tĩnh lặng thì mới có thể cảm nhận được âm thanh của chiếc lá thu “khẽ đưa vèo” trong không gian. Dường như con người và cảnh vật đang rơi vào trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối. Tĩnh lặng mà không chết lặng. Cái tĩnh lặng của con người chi phối cái tĩnh lặng của cảnh vật. Bởi:Xem thêm: Bàn về những lợi ích và hứng thú của việc tự học“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cảnh thu là “cảnh tâm hồn thơ”, là chất lắng đọng trong tâm hồn nhà thơ. Không trực tiếp nói ra tâm trạng của mình, tác giả dành những biểu hiện đó cho thiên nhiên. Nó thể hiện mối giao cảm sâu sắc giữa người và cảnh. Và có lẽ mùa thu của ông dù đẹp đến mấy cũng luôn luôn đượm buồn. Mùa thu, có lẽ nếu như trước đó đã có, và sau này vẫn sẽ có rất nhiều bài thơ viết về nó nhưng người ta sẽ không thể nào quên đi bức tranh “câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến khi mà: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. Vanmau.edu.vn
Chép lại chính xác bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến. Phân tích vẻ đẹp trong hai câu thơ sau_ “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
732
Chí khí anh hùng qua phép thử của hạnh phúc lứa đôi. Cảm nhận khi đọc đoạn trích Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du). Hướng dẫn Trong bài viết Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du: “Từ Hải" đăng trên báo Thanh nghị, số 36, tháng 5 -1943, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thực suốt cả quyển Đoạn trường tân thanh tức là Truyện Kiều không có chỗ nào ngòi bút Nguyễn Du hân hoan bằng những khi Từ Hải nói hay nói đến Từ Hải (…).Biết đâu Từ Hải chẳng là cái mộng tưởng lớn nhất trong đời Nguyễn Du”. Nhân xét và phỏng đoán (có màu sắc khẳng định) nói trên của nhà phê bình thật đáng được chia sẻ, một khi ta đã đọc kĩ Truyện Kiều và hơn thế nữa đọc đến những tác phẩm văn học Trung Hoa xưa có nói đến nhân vật Từ Hải, nhất là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tàm Tài Nhân – cuốn sách mà Nguyễn Du đã dựa vào đó để dựng nên kiệt tác của mình. Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là một anh hùng toàn vẹn.Từ “anh hùng” và cùng với nó là những từ có cùng trường nghĩa luôn hiện khi nhà thơ nói đến chàng dù thông qua lời trần thuật hay lời nhân vật khác. Thậm chí, nhà thơ đã để cho nhân vật nhiều lần tự xưng mình là anh hùng – một con người tự tin đến thế là cùng! Dĩ nhiên, muốn chứng minh nhân vật của mình là anh hùng, riêng việc dùng từ như trên chưa đủ. Nguyễn Du rất hiểu điều đó, vì vậy đã dụng tâm tạo dựng một không gian riêng – không gian mở, không gian bao la – để Từ Hải xuất hiện. Bên cạnh đó, nhà thơ cũng không quên vận dụng cách thức miêu tả ngoại hình và hành động có tính ước lệ, khoa trương để tô đậm cốt cách hơn người, hơn đời của Từ Hải. Nói tóm lại để thấy được chí khí anh hùng ở con người này, ta có thể giở bất cứ trang nào trong Truyện Kiều có nhắc đến hai chữ Từ Hải, hay nhắc đến hành tích, sự nghiệp và cả kết cục số phận của chàng. Tuy nhiên, dù điều trên là có thật, nhiều người vẫn muốn chú ý trước hết đến tình huống Từ Hải tạm biệt Thuý Kiều để lên đường theo đuổi nghiệp lớn. Ai bảo khí phách anh hùng của một kẻ nam nhi chỉ được thể hiện rõ nét khi anh ta đứng giữa vòng tên đạn bời bời? Nguyễn Du không hoàn toàn nghĩ thế. Ông dụng tâm miêu tả sâu cách ứng xử của Từ Hải với mĩ nhân, với hạnh phúc được sống cùng mĩ nhân, qua đó mà làm bật nổi cốt cách hơn đời có ở chàng. Nghĩ cho cùng, đây là một lựa chọn nghệ thuật tuyệt đối phù hợp. Bao giờ mĩ nhân chả là một cửa ải khó vượt đối với những kẻ nam phi, những bậc anh hùng?. Trước đoạn kể buổi Từ Hải lên đường, Nguyễn Du chỉ nói hết sức vắn tắt về cuộc sống hạnh phúc của cặp “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”. Ông không rề rà miêu tả, dù rề rà một chút trong trường hợp này cũng có thể chấp nhận được, bởi tâm lí độc giả vẫn muốn dành thêm ưu ái cho Thuý Kiều – một con người đã nếm trải vô số bất hạnh trong cuộc đời. Không, nhà thơ quá hiểu Từ Hải. Một khi nghiệp lớn chưa thành, chàng không đành tâm vui hưởng hạnh phúc, với mĩ nhân, dù người đó là hồng nhan tri kỉ. Và chàng đã ra đi giữa lúc khó ra đi nhất, giữa lúc ái tình đang toả hương ngây ngất. Nửa năm hương lửa đương nồng Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Trông vời trời bể mênh mang Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong. Từ thoắt cùng với chi tiết “lên đường thẳng rong ” đã vẽ lên rất linh hoạt tính cách của một con người hành động, làm việc gì cũng nhanh chóng, dứt khoát. Ai cũng biết Từ Hải rất yêu, rất trọng Kiều, nhưng cái chí tung hoành giữa bốn phương vẫn lớn hơn giúp chàng vượt qua trạng thái bịn rịn, nhùng nhằng một cách nhẹ nhàng. Từ Hải là con người biết sống cho tình yêu nhưng cũng là con người của mênh mang trời bể. Đây chính là chỗ phân biệt chàng với những nhân vật đàn ông khác tùng yêu nàng Kiều như Kim Trọng và Thúc Sinh. Vả chăng, chàng ra đi cũng là để gây dựng một cuộc sống mới, cho chàng và cả chính nàng Kiều nữa. Chàng không đứng khoanh tay chờ đợi sự ưu ái của số phận, của cuộc đời hay ngồi phấp phỏng âu lo vì những điều bất hạnh khó dự liệu sẽ tới. Chàng biết chủ độnggiành lấy cái mà chàng thấy mình cùng người tri kỉ đáng được hưởng. Đoạn đối thoại sau đã làm rõ tất cả những điều đó: Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng, Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin đi”. Từ rằng: “Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Bao giờ mười vạn tinh binh Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường. Làm cho rõ mặt phi thường Bây giờ ta sẽ rước nàng nghi gia. Bằng nay bốn bể không nhà Theo càng thêm bận, biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu Xem thêm: Phân tích nhân vật Ngô Tử Văn trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Có dàn ý chi tiết)Chầy chăng là một năm sau, vội gì! Quả có một cái gì đó như là sự vô lí trong trình tự kể của tác giả: tại sao lại nói chuyện Từ Hải “lên đường thẳng rong” trước chuyện hai người đối thoại với nhau? Đây là một cái “lỗi” trong nghệ thuật trần thuật hay là sự cố ý? Theo Tản Đà, Nguyễn Du đã “vội lời”. Kể ra nhận xét như thế cũng chẳng sai. Nhưng nếu hiểu rằng trong nghệ thuật viết tiểu thuyết, trình tự kể không nhất thiết phải ứng khớp với trình tự của câu chuyện được kể, nó là một cái gì mang tính ước lệ, thì ta lại thấy Nguyễn Du có cái lí của mình. Ông không để cái tiểu tiết làm hại tinh thần chung của một đoạn thơ có mục tiêu làm rõ sự dứt khoát trong hành động của người anh hùng Từ Hải. Vả chăng có thể biện minh rằng: Từ Hải tuy chưa thực sự cất bước ra đi nhưng chí của chàng thì đã ruổi rong cùng thanh gươm, yên ngựa. Nói thẳng một lèo như thế, câu thơ dễ gây ấn tượng về một con người có hành tung như ngọn gió vừa mới thấy đây mà phút chốc thân đã ởngoài muôn dặm. Một số người nghĩ rằng đoạn đối thoại này là do Nguyễn Du sáng tạo ra không có trong Kim Vân Kiều truyện. Sự thực không hoàn toàn như vậy. Trong tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân vẫn có, nhưng nó được đặt trong bốicảnh Từ Hải chuộc Kiều ra, không đưa Kiều về quê nhà mà lại dựng một toà nhà để cùng ăn ở với Thuý Kiều. Khi Kiều thắc mắc chàng mới nói rõ sự tình: “Chứ như nay, ta chỉ trơ trọi một mình, khi đưa nàng nào biết về đâu?”. Nguyễn Du có cách xử lí nghệ thuật khác, tuân theo cấu trúc tự sự riêng của chính Truyện Kiều và cũng hợp với tính cách các nhân vật của ông hơn. Ông không để cho Kiều thắc mắc về những điều vụn vặt, cũng không để cho Từ Hải nói những lời chưa phải lúc. Ông thích quan sát nhân vật trong những cuộc chia tay và muốn những cuộc chia tay đó phải nói được một điều gì lớn hơn chính bản thân sự việc được kể. Hãy xem Từ Hải đã “đả thông tư tưởng” cho nàng Kiều như thế nào khi nàng một lòng xin đi. Thoạt tiên, chàng trách nàng “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?”. Trách nhưng thực chất là đề cao, bởi trong suy nghĩ của chàng, Kiều là người “tâm phúc tương trí” và chàng muốn nàng luôn như vậy. Đã nói đến chuyệntương tri, bao nhiêu tâm sự, hoài bão phút chốc được biểu lộ. Thì ra chàng có tâm nguyện “Làm cho rõ mặt phi thường”, muốn sự tồn tại của mình giữa cuộc đời phải đặc biệt có ý nghĩa. Chàng không chấp nhận sự vô danh. Khi chưa đạt được điều ấy thì chàng chưa thể an hưởng hạnh phúc. Khái niệm hạnh phúc của chàng có một nội hàm riêng. Hạnh phúc là hạnh phúc của kẻ làm nên nghiệp lớn, và điều rất đáng chú ý nữa là hạnh phúc của việc biết đem nghiệp lớn để tặng cho người mình yêu. Chàng tự thấy trong thời điểm hiện tại, nghi lễ đón rước Kiều chưa thật xứng với phẩm chất của nàng, ít nhất đó là một việc đòi hỏi chàng phải ra tay. Phân tích đến đây, ta bỗng phân vân không biết nên gọi Từ Hải là gì cho đúng. Một anh hùng có cốt cách phong lưu hay một kẻ phong lưu tràn đầy khí chất anh hùng? Có lẽ nói thế nào cũngphải tuỳ theo góc độ nhìn nhận, bởi Từ Hải là một nhân cách đã tích hợp được tất cả những phẩm chất đó. Nếu nhấn mạnh vào cốt cách phong lưu ta có thể quên lưu ý lời dặn dò ân cần cùng sự thu xếp chu đáo mà chàng đã thể hiện với nàng Kiều. Nếu nhấn mạnh vào khí độ anh hùng, ta lại phải hết sức tán thưởng lời nói đầy quyết đoán, tự tin “Chầy chăng là một năm sau, vội gì”. Đang lúc bốn bể không nhà mà đã thấy trước một viễn cảnh nào “mười vạn tinh binh”, nào “tiếng chiêng dậy đất”, nào “bóng tinh rợp đường”, thì đó quả là con người biết làm chủ cuộc đời mình và biết sắp xếp lại thế giới theo một trật tự mà bản thân mong muốn. Thực tế cho thấy Từ Hải đã làm được điều chàng hứa. Không nghi ngờ gì, đây chính là nhân vật chủ động nhất trong thế giới nhân vật của Truyện Kiều. Giữa cuộc sống đầy những xáo trộn bất trắc mà ở đó con người luôn lâm vào thế bị động, thế bị dồn đuổi, Từ Hải quả là một giấc mơ đẹp của Nguyễn Du và của biết bao người có hùng tâm tráng chí. Trong các đoạn thơ kể về cuộc chia tay giữa Thuý Kiều với Kim Trọng và Thuý Kiều với Thúc Sinh, Nguyễn Du luôn để nàng Kiều lời sau nói hết. Điều đó thật thuận tình và hợp lẽ. Nhưng trong đoạn thơ này, Từ Hải lại là người chấm dứt cuộc đối thoại. Thì Kiều còn biết nói gì hơn! Nàng hiểu Từ Hải và tin chàng, một cách tuyệt đối, ít nhất là trong thời điểm này. Thế rồi Từ Hải ra đi. Như được gió bốc. Hay chính chàng là một trận gió lớn đùng đùng thổi qua đời Kiều? Quyết lời dứt áo ra đi Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi. Chim bằng đã bay đi nhưng tiếng vẫy của nó vẫn còn để lại dư âm, để lại niềm tin tưởng và hi vọng, trong lòng Thuý Kiều và trong lòng bao độc giả mơ ước một cuộc sống tụ do, khoáng đạt!. Nguồn: thêm: Phát biểu cảm nghĩ về truyện sự tích Hồ Gươm
Chí khí anh hùng qua phép thử của hạnh phúc lứa đôi. Cảm nhận khi đọc đoạn trích Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du).
1,992
Chí Phèo – một nhân vật điển hình Gợi ý Nếu “Truyện Kiều” của Nguyễn Du để lại cho đời những ấn tượng và định nghĩa về những kẻ sở khanh đểu giả, những mụ Tú Bà buôn thịt bán người, những hoạn thư ghèn tuông đáng sợ… thì “Chí Phèo” của Nam Cao cũng đã có một anh Chí – nhân vật điển hình – đi vào đời sống tự lúc nào. Chí Phèo là nhân vật chính trong tác phẩm cùng tên được nhà văn Nam Cao viết về người thật việc thật ở làng Đại Hoàng, quê hương của tác giả, kết hợp với các hư cấu nghệ thuật để tạo nên nhân vật mang nhiều nét đậc sắc và có ý nghĩa khái quát cao. Nhân vật điển hình là nhân vật phải mang được những nét chung, đặc trưng, khái quát nhất của thời đại nhân vật ấy sống nhưng đồng thời cũng phải mang những đặc điểm tính cách, ngoại hình, suy nghĩ chân thực nhất, riêng nhất không thể trộn lẫn với bất cứ ai để ghi lại dâu ấn riêng của mình trong mọi thời đại. Chí Phèo đại diện cho những người nông dân lương thiên bị đẩy vào con đường cùng bởi bọn cường hào địá chủ phong kiến. Chí cũng như bao người nông dân thời ấy, nghèo phải đi ở cho nhà này đến nhà khác kiếm bát cơm ăn. Chỉ khác, Chí vốn xuất thân là đứa trẻ bị bỏ rơi, hắn có một cuộc đời mang con số không tròn trĩnh từ lúc mới lọt lòng: không cha không mẹ, không ai chờ đợi hắn ra đời. Chỉ có cái lò gạch hoang không người chờ hắn mà thôi. Hắn được quấn trong một chiếc váy đụp rồi bỏ trong lò gạch, một anh đi thả ống lươn nghèo khổ nhặt hắn về nuôi, rồi bán ra bà góa mù, bà góa mù lại bán cho bác phó côi. Khi bác phó cối chết thì Chí lại bơ vơ. Năm mười tám tuổi, số phận đưa đẩy Chí tới gia đình Bá Kiến, một kẻ điển hình cho sự tàn bạo xấu xa của bọn cường hào địa chủ khét tiếng tàn bạo, gian hùng. Cuộc đời Chí không may cứ nối tiếp không may vì Bá Kiến là một tên cường hào cáo già có bản chất gian hùng, có “giọng quát rất sang và cái cười Tào Tháo”. Giọng quát và tiếng cười ấy luôn luôn che đậy bản chất nham hiểm xảo quyệt của một tên cường hào đã già đời trong nghề bóc lột. Tất cả những suy nghĩ tính toán của Bá Kiến đã bị Nam Cao bóc trần qua những độc thoại hội tâm. Bá Kiến đi lên từ chức Lý tổng rồi đến Chánh tổng, lại xuất thân trong gia đình bốn đời lầm Lý tổng hắn ”khôn róc đời”. Qua mấy đời làm quan Bá Kiến đã đúc kết được bao kinh nghiệm rồi nâng lên thành phương sách, nội dung truyền dạy cho con cháu. Theo hắn, nghệ thuật trị người là “mền nắn rắn buông” “nắm thằng có tóc không nắm thằng trọc đầu”, “dùng độc trị độc” hay “đầu bò trị đầu bò”. Trong “nghề bóc lột” hắn còn đúc kết ra kinh nghiệm “đè nén con em đến nỗi nó không chịu được phải bỏ làng đi là dại, mười thằng đi thì chín thằng trở về với cái vẻ hung dữ và tính cách ương ngạnh học được ở phương xa”. Cho nên một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửa chừng “ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông rồi lại dắt nó lên để cho nó đền ơn. Hãy đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng rồi lại vứt trả 5 hào vì thương anh túng quá”. Bởi vì hắn quá nham hiểm nên Chí Phèo tưởng đến cửa nhà giàu kiếm được miếng cơm manh áo nào ngờ lại gặp phải địa ngục trần gian. Bởi vì cái con vợ ba “quỷ cái” của Bá Kiến cứ bắt hắn bóp chân và khêu gợi những chuyện dâm dật. Hắn vùng vằng không thích nhưng Bá Kiến thì chẳng buông tha. Con cáo già dâm đãng lại có máu ghen tuông thảm hại đã tìm cớ để tông Chí vào tù, vào tù cũng có nghĩa là trượt dài trên dốc của cuộc đời để rồi đi vào lưu manh tội lỗi. Vậy là một Chí Phèo “hiền như cục đất”, một kẻ trẻ tuổi nghèo khó nhưng biết phân biệt đúng sai, trong sáng lương thiện và dâm dục xấu xa, giàu tự trọng đã buộc phải đặt chân vào ngưỡng cửa của những kẻ lưu manh tha hoá. Đó cũng là tình cảnh chung của rất nhiều người nông dân lúc bấy giờ.Xem thêm: Các tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi đều viết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Sau bảy tám năm ở tù về, Chí thành một con quỷ dữ đáng sợ “cái đầu thì trọc lốc, cái răng cao trắng hớn, cái mặt đen mà rất cơng cơng, đôi mắt gườm gườm trông gớm chết”, “trên người hắn xăm đầy những hình thù quái dị” làm mất luôn bản chất hiền lành năm xưa. Bây giờ hắn là kẻ ác, chỉ biết làm việc ác. Chí bây giờ là kẻ nối bước của Binh Chức, Nãm Thọ ngày trước; tất cả như một quy luật nghiệt ngã tồn tại trong xã hội ngày ấy, số phận của những người nông dân lam lũ làm việc bán rẻ sức lao động của mình chưa đủ mà còn phải bán cả linh hồn. Chí Phèo trở về tuy là bậc đàn em nhưng có phần còn hơn cả thế hệ đàn anh đi trước và để lại dấu ấn mạnh mẽ ngay từ nét ngoại hình du đồ hung hãn chẳng giông ai mà đặc biệt là một khuôn mặt đầy vết sẹo dọc ngang đến nỗi tưởng chừng không còn chỗ nào để có thể có thêm sẹo được nữa, kết quả chiến công cho việc làm tay sai cho Bá Kiến chuyên đi rạch mặt ăn vạ những người bà con hiền lành vô tội. Chỉ bảy giờ không thể lẫn với ai bởi thói quen “vừa đi vừa chửi” mà hắn chửi mới lạ lùng và ngoa ngoắt làm sao. “Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cả những ai không chửi nhau với hắn, chửi cả đứa chết mẹ nào đã đẻ ra hắn” để đời hắn giờ khốn nạn thế này. Người ta chửi có đối tượng cụ thể còn hắn chửi vu vơ, chửi tất cả nhưng “ai cũng nghĩ chắc hắn trừ mình ra nên chẳng ai thèm lên tiếng cả”; và thế là Chí cứ chửi, chửi để thấy rằng thật xót xa cho đời Chí khi tất cả những gì quanh hắn đều đáng nguyền rủa. Nam Cao đã để cho nhân vật của mình giải toả những bức xúc nội tại theo một cách bình dị tới mức không ai ngờ tới, vì người ta vẫn làm thế nhưng khi Chí thể hiện theo cách của riêng hắn bạn đọc vẫn ngớ người ra. Người ta thấy mình trong Chí nhưng Chí lại không thể lẫn với bất cứ ai với cái vẻ bât cần đời lên đến đỉnh điểm. Đó chính là tài năng của Nam Cao trong việc xây dựng nên một nhân vật Chí Phèo điển hình. Cũng mang tâm lý như những người nông dân thời đó hay cũng chính tâm lý của chúng ta bây giờ: luôn khát khao vươn tới sự hoàn lương, lương thiện, Chí cũng vậy. Sau khi ở tù về một ngày Chí ra chợ uống rượu với thịt chó rồi say khướt. Hắn vác dào đến nhà Bá Kiến réo tên tục ra mà chửi rồi đòi nợ năm xưa, cái món nợ mà có lẽ cả đời Bá Kiến cũng không trả nổi cho Chí và eũng là món nợ hắn chịu của nhiều người. Sạu khi tới đó bị Lý Cường đánh Chí cào mảnh chai vào mặt rồi lăn lộn kêu “ối làng nước ôi cứu tôi với bố con thằng Bá Kiến nó đâm chết tôi, thằng Lý Cường nó đâm chết tôi rồi!”. Nhưng rồi với hiểu biết hạn hẹp và nông cạn của một người nông dân bần cùng, Chí cũng chẳng thể thắng nổi lão Bá Kiến, con cáo già thừa sự khôn ngoan. Hắn vừa mới về thoáng nhìn qua đã biết ngay cơ sự. Hắn quay sang quát ngay con mình rồi quay sang ngọt ngào với dân làng – những người đổ ra xem và cổ động cho Chí “các ông các bà nữa về đi thôi chứ, có gì mà xúm lại như thế này”. Khi mọi người đã về hết chỉ còn lại mình Chí Phèo cụ Bá mới vỗ về “Anh Chí đây à, về bao giờ thế? Sao không vàc tôi chơi? Đi vào nhà uôìig nước đã… nào cứ đứng lên vào đây uống nước đã… ai chứ anh với thằng Lý Cường còn có họ với nhau kia đấy”. Con cáo già Bá Kiến đã khôn ngoan cho Chí Phèo vào bẫy bởi những lời ngọt nhạt, hắn đã đánh quá đúng vào tâm lý của những người nghèo hèn khôn khổ: mong một ngày được mồ mặt mở mày nay tự dưng lại trở thành “có họ” với người sang thế này. Và thế là chỉ vài ba câu chuyện Chí đã khúm núm một “bẩm cụ” hai “bẩm cụ” nhất nhất thuần phục Bá Kiến.Xem thêm: Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ Khát khao trở về lương thiện vẫn còn nhen nhóm, lần thứ hai Chí lại đến nhà Bá Kiến, miệng thì nói xin đi ở tù nhưng thực tình là sinh sự kiếm tiền. Nhưng nào ngờ đã bị lợi dụng bị Bá Kiến biến thành tay sai đắc lực. Chí từ đó thành công cụ “đốt nhà, đâm chém” “tác oai tác quái cho bao nhiêu gia đình, phá vỡ bao nhiêu hạnh phúc”. Chí trở nên xa lạ với đồng loại. Nhưng có lẽ ấn tượng nhất về cuộc đời Chí Phèo là mối tình giữa Chí và Thị Nở. Chí gặp Thị Nở và cuộc đời đã rẽ sang một lối khác. Thị là ánh trăng mát lành của cái đêm tình cờ ấy mang đến cho Chí khao khát yêu thương. Tình yêu giữa hai mảnh đời chắp vá gặp nhau đã thức dậy bản chất lương thiện vốn có và sự tự ý thức về mình của Chí. Chí sống lại với mong ước có một gia đình nhỏ “chồng cày thuê cuốc mướn vợ dệt vải quanh nãm” “hai đứa bỏ vốn nuôi chung con lợn”. Sau bao năm tháng, hôm nay Chí lại nghe thấy tiếng “chim hót ngoài kia vui vẻ quá” hay “tiếng những người đi chợ về hỏi nhau: hôm nay vải mấy xu hắ đì?” – những âm thanh ấy hôm nào cũng có nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy bởi hôm nay Chí mới tỉnh rượu, mới thiết tha hướng về cuộc sống. Bát cháo hành của Thị Nở đem đến cho Chí Phèo làm Chí cảm động “mắt ươn ướt” và “hắn cười thật hiền”. Và hắn muốn hướng về tương lai bình dị như hắn hằng mơ ước. Hắn nói với Thị Nở “cứ thế này-mãi thì thích nhỉ, hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”. Lần đầu tiên trong đời hắn nói ra những lời như thế với một người phụ nữ, đó là gì? Đó chính là “lời tỏ tình của Chí”, thực sự đó là một lời tỏ tình mang bản sắc của Chí mà thôi: không thể là những lời có.cánh bay bướm văn hoa, không thể là “anh” “em”, “chàng” “nàng” trong xưng hô vì ở Chí ngay từ đầu luôn thông nhất là một sự mộc mạc, chân thành, một anh nông dân ít học hành chính hiệu, một kẻ đã bị lẳm cho trở nên thô ráp bởi nhà tù và những cuộc ăn vạ, đốt nhà, đòi nợ… Cũng khó có thể tìm được một lời cầu hôn thứ hai nào trong văn học Việt Nam giống thế bởi ồ đó có sự thẹn thùng, ngượng ngập và vụng về nhưng hết sức chân thành của một nhân vật. Chí Phèo đặc biệt từ vẻ ngoại hình đến những câu chửi thề đến cách hắn tỏ tình và yêu. Mọi thứ sẽ tốt đẹp nếu như Thị đồng ý tấm chân tình của hắn, đáng tiếc người đàn bà dở hơi ấy đã từ chối bởi bà cô của Thị không cho phép cháu gái lấy một thằng “chỉ có mỗi một cái nghề là rạch mặt ăn vạ”. Nhưng trách gì bà, đó cũng là cách nhìn của cả làng Vũ Đại và rộng ra là cả xã hội với Chí khi bị Thị Nở cự tuyệt. Tất cả đều coi hắn là quỷ dữ. Hắn rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Thế là hắn tìm đến rượu “càng uống càng tỉnh” hắn cứ uống cho đến lúc say mềm lại vừa vác dao vừa đi vừa chửi. Mồm thì chửi cô cháu nhà Thị Nở nhưng chân thì đưa hắn đến nhà Bá Kiến. Hắn đến nhà Bá Kiến để “xin làm người lương thiện”. Xã hội ấy có tàn bạo đến đâu cũng không thể huỷ hoại được ánh sáng nhân phẩm trong con người cơ cực. Chính kẻ gieo nhân xấu sẽ phải gặt quả báo. Thấm thìa tình trạng tuyệt vọng của mình và con đường trở về lương thiện là không thể Chí đã lao vào đâm chết Bá Kiến và cũng tự kết thúc đời mình. Cái chết của Bá Kiến là khẳng định cho: “nợ máu phải trả bằng máu”. Cái chết của Chí Phèo đã thể hiện ý tưởng sâu xa nhằm góp phần tạo nên giá trị hiện thực của tác phẩm. Chí Phèo chết là bản án tó cáo xã hội đương thời, một xã hội phi nhân tính đã tước bỏ quyền sống, quyền tâm người của những người dân lương thiện. Chí Phèo chết thà chết chứ không chịu quay lại con đường lưu manh, không chịu sống kiếp sống của loài cầm thú chuyên làm điều ác, thà chết chứ không chịu từ bỏ khát vọng hoàn lương. Đó là sự cảm thông và cũng là niềm tin của Nam Cao vào bản chất tốt đẹp của con người.Xem thêm: Cảm nhận của em về bốn câu thơ cuối bài “Tây tiến” của Quang Dũng: "Tây Tiến người đi không hẹn ước (...) chẳng về xuôi" Chí Phèo được xây dựng điển hình bằng bút pháp hiện thực với những nét ngoại hình rất riêng từ “cái đầu trọc lốc” đến “hàm răng trắng hớn”, “đôi mắt gườm gườm” đến khuôn mặt đầy những vết sẹo dọc ngang. Sự cà tính nằm trong cả hành động và ngôn ngữ: “hắn vừa đi vừa chửi”, “uống rượu xong là hắn chửi”, “hắn chửi đời, chửi trời, chửi cả cái đứa chết mẹ nào đẻ ra hắn”, cả một thế giới ngôn từ thô nháp ngay đến cả khi bày tỏ những lời yêu thương. Hình tượng Chí Phèo đã được khắc hoạ thành công và khái quát, mang tính điển hình cao, nó chỉ ra bản chất của xã hội sẽ còn có những Chí Phèo. Cuộc đời Chí Phèo là một hiện tượng có tính chất quy luật: Chí Phèo có những tiền bối như Binh Chức, Năm Tho; và sẽ có những hậu duệ của Chí Phèo ra đời. Vanmau.edu.vn
Chí Phèo – một nhân vật điển hình
2,667
Chùm ca dao “Thân em…” là một nét đặc sắc trong kho tàng ca dao Việt Nam. Em hãy chứng minh Gợi ý Hình ảnh người phụ nữ được coi là biểu tượng muôn đời của cái đẹp. Nhưng bên cạnh đó, họ phải chịu đựng biết bao khổ đau về cả vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt là trong xã hội phong kiến với thói trọng nam khinh nữ. Tâm trạng này của họ được thể hiện rất rõ qua chùm ca dao than thân "Thân em…" Nói về thân phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ, Nguyễn Du đã có câu: Thương thay thân phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Quả thật, trong xã hội ấy không riêng gì ai mà bất kỳ người phụ nữ nào cũng phải chịu khổ đau. Đó là vì xã hội họ sống là xã hội đen tối, bất công với tập tục "trọng nam khinh nữ", không cho họ quyền làm chủ và quyết định cuộc sống của mình. Cuộc đời họ bất hạnh hay đau khổ đều phụ thuộc vào những người đàn ông. Tâm trạng buồn đau ấy được họ gửi gắm vào những câu ca dao ngọt ngào để giãi bày và chia sẻ cùng mọi người. Vì vậy, đọc những câu ca ấy, ta thấy rõ những cảm xúc, suy nghĩ cũng như những nỗi khổ đau của họ. Đó là những nét đặc sắc trong chùm ca dao "Thân em…". Những bài ca dao than thân này được bắt đầu bằng một mô tip truyền thống "Thân em…". Thân em như dải lụa đào…. Thân em như cây quế giữa rừng… Hai tiếng "Thân em…" vang lên nhẹ nhàng, êm ái. Đó là lời tự giới thiệu, tự giãi bày về bản thân của người phụ nữ. Người phụ nữ thể hiện sự tự ý thức về thân phận của mình qua cách nói rất giản dị, khiêm nhường. Dù các bài ca dao đề tài này đều là những tiếng nói chung của người phụ nữ nhưng mỗi bài đều mang những nét đặc sắc riêng.Xem thêm: Bình giảng đoạn đầu bài ‘Côn Sơn ca’ của Nguyễn TrãiThân em như dải lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? "Dải lụa đào" là mảnh lụa rất đẹp, là biểu tượng cho cái đẹp mỏng manh, bấp bênh. Cuộc đời của họ là cuộc đời trôi nổi, không quyết định được số phận của mình. Phất pha giữa chợ biết vào tay ai? Câu hỏi tu từ ngân lên đầy nhức nhối, xót xa. Đó không chỉ là lời than, lời trách móc, nỗi lo sợ mà còn thể hiện sự bế tắc của họ. Đồng thời, đây cũng là lời lên án, tố cáo xã hội bất công. Câu hỏi tu từ ấy là câu hỏi nhức nhối muôn đời của người phụ nữ. Câu ca nêu lên nghịch cảnh trớ trêu, tài, sắc đi đôi vởi bất hạnh càng làm bật lên nỗi khổ đau của họ. Thân em như giếng giữa đàng. Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân Người phụ nữ so sánh thân phận của mình với hình ảnh "giếng giữa đàng" vừa trong lành, mát lạnh để thể hiện vẻ đẹp tinh khiết của mình. Người phụ nữ có nội tâm trong sáng, đẹp đẽ như thế nhưng vẫn phải chịu sự bất hạnh, phải phụ thuộc vào những người đàn ông. Số phận của họ hèn mọn và nhỏ bé biết bao! Câu ca đao trở thành tiếng khóc thầm của người phụ nữ cho số kiếp đau khổ của mình. Nếu như ở hai bài ca trên, người phụ nữ thể hiện sự tự hào, kiêu hãnh về vẻ đẹp ngoại hình và nội tâm thì trong bài ca này, họ lại coi mình là những vật rất nhỏ bé, vô nghĩa.Xem thêm: Kể lại câu chuyện “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ -văn lớp 7Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày Người phụ nữ so sánh mình chỉ như "miếng cau khô". Họ trở thành một món hàng trao đi đổi lại. Người phụ nữ không chỉ ý thức được tài, sắc của mình mà còn ý thức được thân phận hèn mọn của họ. Đối với họ, dù là "kẻ thanh" hay "người thô" thì đều là những con người tham lam, họ vẫn phải chịu đựng nồi khổ đau. "Mỏng" hay "dày" cũng chỉ là cách nói ẩn dụ về những bất hạnh, trắc trở trong cuộc đời người phụ nữ. Cuộc đời của họ gặp biêt bao truân chuyên. Số phận của họ thật là đáng thương. Câu ca còn là lời lên án xã hội phong kiên với hình ảnh "kẻ thanh", "người thô" chà đạp lên số phận người phụ nữ, không cho họ định đoạt cuộc đời mình. Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa Thân em như hạt mưa sa. Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày. "Hạt mưa" cũng là, một vật nhỏ bé, rơi vô định. Và số phận người phụ nữ cũng thế, bấp bênh, trôi nổi. Họ dù có xinh đẹp, sắc tài vẹn toàn thì cũng đều chịu thân phận bi kịch, không được tự do hôn nhân, không được chủ động định hướng cuộc đời mình. Lời ca không chỉ là tiếng than mà còn là tiếng nói lên án gay gắt xã hội đen tối bất công, chỉ coi thân phận người phụ nữ là con sâu cái kiến. Qua đây, ta cũng nhận ra khát vọng của người phụ nữ về quyền hạnh phúc. Một khát vọng bé nhỏ nhưng rất đáng trân trọng.Xem thêm: Hãy giải thích câu tục ngữ sau và trình bày cảm nhận của em về câu tục ngữ đó: Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn Chùm ca dao "Thân em…" là tiếng nói tâm hồn của người phụ nữ. Nét đặc sắc của những bài ca này là ở sự tự ý thức về mình của người phụ nữ. Họ ý thức tài, sắc và cả thân phận nhỏ bé, hèn mọn của mình. Họ chịu biết bao bất công, khổ đau trong cuộc đời mà có ai hiểu cho. Chùm bài ca không chỉ là lời than thân trách phận cho số kiếp của người phụ nữ mà còn là lời lên án xã hội tàn bạo, bất công không cho con người quyền sống và mưu cầu hạnh phúc. Lời từng bài ca vang lên xót xa, thổn thức bởi đó chính là tiếng khóc thầm của những người phụ nữ. Trong thế giới ca dao muôn màu, muôn vẻ, có lẽ chùm ca dao than thân "Thân em…" là một trong những đề tài đặc sắc nhất. Đọc các bài ca dao, ta càng cảm thông, thương xót cho số phận của những người phụ nữ – biểu tượng của cái đẹp muôn thuở đã từng chỉ được coi là thân phận của con sâu, cái kiến, không có quyền gì trong cuộc đời mình. Vanmau.edu.vn
Chùm ca dao “Thân em…” là một nét đặc sắc trong kho tàng ca dao Việt Nam. Em hãy chứng minh
1,183
Chất chữ tình và màu sắc anh hùng ca trong Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu. Hướng dẫn Trương Hán Siêu sáng tác khá nhiều tác phẩm, gồm nhiều loại như hình luật, phú, thơ, văn xuôi, tất cả đều được viết bằng chữ Hán. Trong số đó, Bạch Đằng giang phú là tác phẩm nổi trội nhất của ông và đồng thời cũng là bài phú nổi tiếng nhất trong số các bài phú chữ Hán đời Trần còn lại đến ngày nay, tổng cộng gồm 32 liên và 2 bài ca, nói về vẻ đẹp hùng vĩ vùng cửa sông Bạch Đằng và gợi lại các chiến công thắng xâm lược từng gắn với địa danh này. Bài phú được chia thành ba phần với ba kiểu tâm trạng, ba khoảng không gian và thời gian khác nhau. Tuân theo hình thức của loại phú cổ thể, bài phú như một bài ca dài, tản văn và vận văn đan xen nhau, nhân vật chủ và khách đối thoại, đối đáp, trò chuyện hô ứng nhau rồi thể hóa trong vào một nhật vật "khách", một nghệ sĩ, bật du tử, lãng tử, ham xê dịch và ham hiểu biết: Khách có kẻ: Giương buồm giong gió chơi vơi, Lướt bể chơi trăng mải miết. Nhân vật "khách" ở đây được phóng đại, khoa trương, cực tả bởi những ham thích, bởi sựđi nhiều, biết nhiều, trải nghiệm cũng nhiều. Nhưng chuyến đi của người "khác" có ý nghĩa bước chân thần thoại, có tính biểu trưng, ước lệ: Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương, Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt. Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết. Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều, Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết. Nối hai khoảng thời gian "sớm… chiều" giói hạn trong một ngày là những khoảng không gian xa vời, những địa danh cách biệt, những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Trung Quốc. Việc liệt kê các địa danh mà "khách" đã từng đặt chân, chứng kiến, đi qua trong tưởng tượng càng nhấn mạnh sự hòa nhập giữa con người với thiên nhiên, khát khao hiểu biết và chí hướng mơ về những chuyến viễn du: "Mà lòng tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết", về nghệ thuật, những chữ "chừ" (dịch từ chữ hề) tạo nên lối ngắt nhịp độc đáo, âm điệu du dương, khơi gợi tâm trạng bay bổng, phóng khoáng. Từ đây hình ảnh người "khách" được thể hiện cụ thể hơn, gắn bó với hiện thực không chỉ là hình ảnh ước lệ với những chuyến viễn du tiêu dao trong mộng ước mà đã có thể kiểm chứng được bằng những cảnh sắc không gian, của biển, bến bãi, dòng sông có tên Đại Than, Đông Triều, Bạch Đằnggần gũi thân quen. Cách miêu tả phong cảnh nơi sông nước vẫn mang tính khoa trương nhưng đã chọn lọc được những hình ảnh sát đúng cảnh tượng sông Bạch Đằng với những bãi rộng sóng lớn, thuyền bơi ngược đòng, nước trời một sắc, lau lách san sát, bến nước đìu hiu: Bát ngát sóng kình muôn dặm Thướt tha đuôi trĩ một màu. Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu, Bờ lau san sát, bến nước đìu hiu. Trước cảnh tượng sông nước ngày hôm nay, tác giả – nhân vật "khách" cảm nhận nỗi buồn vui thế sự, bộc lộ niềm cảm thán trước cái còn cái mất, cái vô cùng vô tận của thời gian: Sông chìm giáo gãy, gò đẩy xương khô, Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu. Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá, Tiếc thay dấu vết luống còn lưu! Người khách để lòng mình hòa hợp cùng đất trời, "đứng lặng giờ làu" vì ngậm ngùi trước những điều đã một đi không trở lại. Cảm giác ấy gieo vào lòng người đọc tâm trạng hoài niệm, sự đồng cảm và niềm thương cảm sâu sắc. Tâm trạng hoài niệm về quá khứ như thế sau này còn được Nguyễn Du phát triển với những ý thơ: "Những ngôi nhà lớn nghìn xưa nay thành đường cái quan" (Thăng Long, bài I), "Thành quách đổi dời, việc người đã khác" (Bài ca người gảy đàn ở thành Thăng Long), hay Bà Huyện Thanh Quan với "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương" (Thăng Long thành hoài cổ). "Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu/ Khách qua đường dễ chạnh niềm đau" (Chùa Trấn Bắc)… Tiếp theo, khi xuất hiện nhân vật "các bô lão" thì bài phú cũng chuyển đổi từ cảm xúc cá nhân người "khách" – tác giả tới việc tái hiện, phản ánh sự kiện lịch sử trên sông Bạch Đằng chiến thắng quân Nguyên, bắt sống tướng Ô Mã Nhi vào năm 1288 và nhân đó cũng nhắc lại chuyện xưa Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, bắt sống Lưu Hoằng Thao (con trai vua Nam Hán Lưu Cung) vào năm 938. Khí thế chiến trận được tái hiện với những quân hùng tướng mạnh và cuộc đối đầu quyết liệt: Đương khi ấy: Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới, Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói … Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, Bầu trời đất chừ sắp đổi. Xem thêm: Phân tích đoạn trích Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh của Phạm Đình HổGắn với cuộc đối đầu quyết liệt ấy là mưu mô của quân xâm lược phương Bắc, cho dù có khác nhau về thời gian nhưng thống nhất ở mục đích và kế hoạch. Tác giả chỉ rõ sức mạnh của quân Nguyên với vai trò của Hốt Tất Liệt có lực lượng kị binh hết sức tinh nhuệ; chuyện thời Ngô Quyền hơn bốn trăm năm trước, vua Nam Hán là Lưu Cung vừa sai con Lun Hoằng Thao đem quân sang nói là giúp Kiều Công Tiễn nhưng thực ra nhằm xâm lược nước Nam. Những kẻ xâm luợc trước sauđều cậy thế mạnh, đều ngạo mạn tưởng rằng chỉ một trận đánh là dẹp được bốn cõi. Bằng cách mượn điểm cốvà lối nói khoa trương, chiến thắng trên sông Bạch Đằng được so sánh với những trận thủy chiến vang dội nhất trong lịch sử phương Bắc: Khác nào như khi xưa: Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi Đến nay sông nước tuy chảy hoài Mà nhục quân thù khôn rửa nổi! Những hình ảnh "tan tác tro bay" đăng đối với "hoàn toàn chết trụi" nói lên được tính chất khốc liệt của trận chiến và sự thất bại thảm hại của quân giặc. Hình ảnh nước sông chảy hoài như ngàn đời vẫn thế vừa mang nghĩa thực vừa mang nghĩa liên tưởng, so sánh khi đật trong thế đối lập về ý “Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”. Dòng nước trôi đi, thời gian rồi qua đi, người xưa cảnh cũ rồi thay đổi nhưng thất bại của giặc thù cùng mưu mô xâm lược của chúng thì chìm dưới đáy sông, mãi mãi không có gì gột rửa nổi, mãi mãi là bài học đắt giá cảnh tỉnh giặc ngoại xâm. Ngược lại, đối với người chiến thắng thì đó chính là công lao của ông cha, sức mạnh và niềm tự hào dân tộc.Đến đây lời thơ trở nên hào sáng, hướng tới đúc kết, khái quát những quy luật lớn lao: Tuy nhiên: từ có vũ trụ, đã có giang san. Quả là: trời đất cho nơi hiểm trở, Cũng nhờ: nhân tài giữ cuộc điện an. Qua đoạn thơ này, sự ý thức về cõi riêng giang sơn đất nước, về quan niệm "các đế nhất phương” (mỗi vua làm chủ một phương) tiếp tục được khẳng định. Một cõi núi sông nước Nam độc lập bên cạnh phương bắc tựa hồ như đã phân định từ thuở khai thiên lập địa, tựa như do thiên thư – sách trời (Nam quốc sơn hà…) quy định vậy. Thêm nữa, quan niệm về mối quan hệ "Thiên – Địa – Nhân" (Trời – Đất – Người) cũng tiếp tục được khẳng định, trong đó trời đất hiểm trở giữ vai trò điều kiện cần đủ và chính con người mới là chủ thể "nhân tài giữ cuộc điện an". Con người làm nên chiến thắng ở đây là những tấm gương trung nghĩa, tài năng lỗi lạc. Việc Trần Quốc Tuấn hội tướng sĩ, vương hầu ở bến Bình Than cũng giống như vương sư Lã Vọng, người đời Ân, đã giúp vua Vũ hội quân các nước chư hầu ở Mạnh Tân và diệt được vua Trụ tàn ác; tựa như bậc quốc sĩ Hàn Tín, người đời Hán, đã giúp Lưu Bang đánh tan quân Tề ở Duy Thủy. Nguồn cội cơ sở chiến thắng ở đây chính là con người, sức người, tài trí con người: Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng Bởi đại vương coi thế giặc nhàn Tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn. Sự thật, sau hai lần thất bại, giặc Nguyên lại sang xâm lược nước ta năm 1287. Vua Trần Nhân Tông hỏi Trần Quốc Tuấn: "Giặc đến làm thế nào?", ông tâu: "Năm nay đánh giặc nhàn". Cách nhìn nhận thế giặc dễ đánh thắng, "thế giặcnhàn" không phải là thái độ chủ quan mà chính dựa trên tài thao lược, niềm tin vào sức mạnh toàn dân và kinh nghiệm qua hai cuộc chiến trước đây. Đó là một câu nói, một chi tiết của hiện thực đã đi vào vãn chương và thể hiện được tinh thần, tầm vóc của dân tộc anh hùng. Cho đến đoạn kết, bài ca của các bô lão và người "khách" – tác giả vừa đăng đối vừa tạo nên sự hô ứng, tôn vinh những người anh hùng chủ nhân đất nước. Thông qua lời ca của các bô lão, một lần nữa hình ảnh nước sông trôi đi cuốn theo tất cả kẻ thù bất nghĩa và chỉ còn danh tiếng người anh hùng lại được sử dụng, có ý nghĩa như điệp khúc được nhấn mạnh, nâng cao. Riêng lời ca của người "khách" – tác giả nhằm hướng đến ca ngợi hai vua cụ thể Trần Thánh Tông – Trần Nhân Tông như là biểu tượng của Người tài đức, văn võ song toàn: Anh minh hai vị Thánh quân, Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh Giặc tan muôn thuở thăng bình Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao. Thêm một lần nữa, vai trò và vị trí con người lại được tôn vinh. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, những người lãnh đạo biết tận dụng ưu thế "đất hiểm" nhưng trước hết cần thấy rõ sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của lòng dân và ý chí Diên Hồng. Điều này trái hẳn với tấn bi kịch diễn ra dưới triều nhà Hồ sau này, khi mà cọc gỗ, lưới sắt và thế hiểm núi sông không thể ngăn được quân thù. Chính bởi thế mà bài học "Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao" sẽ mãi còn soi sáng cho muôn đời sau. Nguồn: thêm: Tả người mẹ kính yêu của em văn 5
Chất chữ tình và màu sắc anh hùng ca trong Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu.
1,878
Chất thơ trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài). Hướng dẫn Tô Hoài được mệnh danh là nhà văn "sinh ra để viết" (Tế Hanh). Hơn sáu mươi năm cầm bút, ông đã để lại gần hai trăm đầu sách với nhiéu thể loại – truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, hồi kí,… Riêng truyện ngắn, độc giả nhớ nhất và bản thân nhà văn tâm đắc nhất có lẽ vẫn là Vợ chồng A Phủ. Nói về sức cuốn hút của tác phẩm này, người đọc nhắc nhiều đến vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục, tập quán của các dân tộc miền núi; khả năng quan sát tinh tường, lối trần thuật tự nhiên, hóm hỉnh của một người cầm bút từng trải, sắc sảo; tài nghệ phân tích tâm lí nhân vật, vốn ngôn ngữ dồi dào;… Nhưng tôi vẫn nghĩ, điều thú vị nhất là ở chỗ, Tô Hoài đã mang được vào truyện ngắn Vợ chồng A Phủ cái chất thơ riêng của miền Tây Bắc. Trong cuốn sổ tay viết văn Tô Hoài từng tâm sự về những ý thơ trong văn xuôi: "Vâng, đúng là những ý thơ, đã từ lâu tôi làm, tôi cảm thấy mà chưa phân tích được". Theo ông, những ý thơ đó sẽ làm nên cái giá trị "ngoài tài liệu và trên cả sự sáng tạo". Ở đây, tác giả Sổ tay viết văn đã có sự gặp gỡ với quan niệm của nhiều nhà văn lớn:A.Pu-skin từng ví chất thơ trong văn xuôi như "chất nước ngọt ngào thấm trong trái táo"; L. Tôn-xtôi không chấp nhận ranh giới giữa văn xuôi và thi ca. Thậm chí, K. Pau-tốp-xki còn khẳng định rằng: "Văn xuôi là sợi cốt, còn thơ là sợi ngang. Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dãn dắt ta đi đâu cả"… Cũng chính họ – các nhà văn đích thực, bằng tác phẩm của mình, đã giúp cho người đọc hiểu thế nào là chất thơ trong văn xuôi. Đó có thể là những cánh đồng Nga, tâm hồn Nga hiển hiện trên trang văn Pu-skin; là lời thì thầm của cây sồi mùa đông, là hình ảnh người thiếu nữmuốn bay lên cùng ánh trăng (L. Tôn-xtôi) hay giai điệu ngọt ngào, say đắm, nồng ấm tình đời của Âm nhạc Véc-đi, Lắng quả thông(Pau-tốp-xki),… Cũng có thể là khi nhà văn khiến ta nhớ mãi cả mùi cát bụi "quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng đấy là mùi riêng của đất, của quê hương này" (Thạch Lam); hay bấy nhiêu ngạc nhiên, cảm động, bâng khuâng, ăn năn, khao khát,… được đánh thức nhờ hương thơm của một bát cháo hành (Nam Cao)… Chất thơ có khi đọng lại trong chi tiết, hình ảnh; có lúc thấm đượm trong bức tranh đời sốnghay lan toả vào câu chữ… Trở lại với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, nếu "đọc vội" cũng có thể thấy được sự phong phú của hiện thực đời sống, đón nhận được niềm cảm thương, trân trọng của tác giả dành cho những phận người cùng khổ ở miền cao Tây Bắc. Các giá trị đó được "tường minh" bằng cốt truyện với sự tương phản quen thuộc của hai phần đời. Lối kể truyền thống, cách xây dựng nhân vật cũng chưa có gì là "đột phá"… Nhưng muốn nắm bắt được những ý thơ toát lên từ cảnh sắc và tâm hồn con người nơi đây, thì có lẽ phải đọc chậm, đọc sâu. Đọc chậm để các giác quan và trí tưởng tượng có thể "theo kịp" ngòi bút của nhà văn khi vẽ nên quang cảnh Tết đầy khác biệt trên núi cao. Tết ở đây không đến trong làn mưa bụi giăng mù gọi chồi non, lộc nõn; cũng không phải với những rừng đào, rừng mận tưng bừng khoe sắc vẫn mặc nhiên hiện về mỗi khi người ta nghĩ tới mùa xuân Tây Bắc. Nó không về theo lời hẹn trước, không nhất nhất phải đồng hành cùng tháng ấy, ngày ấy trên tấm lịch… Trái lại, người dân vùng núi miền Tây "cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong, không kê ngày tháng nào. Ăn Tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới". Nhịp sống của con người "hoà thuận" một cách hồn nhiên, tự nhiên cùng nhịp điệu của thiên nhiên, vũ trụ như thuở sơ khai. Khi "các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho", người được an nhàn, thư thái thì vui chơi đón Tết. Có phải vì thế mà Tô Hoài tả cảnh Tết đến vào lúc "gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội", nhưng vẫn gợi được cái không khí náo nức, tươi tắn của mùa xuân? Ngòi bút của nhà văn chỉ phác qua vài sắc màu đậm chất địa phương, vài âm thanh quen thuộc của đời thường cũng đủ khiến lòng người háo hức không kém gì đám trẻ "đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà". Hình ảnh những chiếc váy hoa "đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ" trong các làng Mèo Đỏ và tiếng sáo gọi bạn đi chơi "lấp ló ngoài đầu núi" mang hương vị độc đáo của mùa xuân Tây Bắc. Tết ở đây gắn liền với những đêm tình nồng nàn, mê đắm: "trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách". Có cả bữa cơm Tết cúng ma, bữa rượu bên bếp lửa, rồi "người nhảy đồng, người hát"… Bằng lối "điểm xuyết" như thế, Tô Hoài dần xoá đi khoảng cách thời gian và không gian, đưa người đọc nhập vào nhịp sống riêng của miền đất này. Đọc sâu để "đầu và tim" (theo cách nói của Nguyễn Tuân) có thể cảm nhận được cái chất thơ vút lên từ cuộc sống của những con người bị vùi dập trong đau khổ, bất hạnh nhưng chưa bao giờ lụi tắt khát vọng sống, khát vọng tình yêu và tự do. Một A Phủ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, không họ hàng thân thích mà lớn lên vẫn là chàng trai tài khéo, mạnh mẽ, táo bạo của núi rừng: "biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo". Dẫu nghèo khó, "Tết đến […] chẳng có quần áo mới như nhiều trai khác […] chỉ có độc một chiếc vòng vía lằn trên cổ", A Phủ vẫn mang khèn, sáo đi tìm người yêu. vẻ hoang sơ của những cánh rừng, vóc dáng hiên ngang của những ngọn núi miền Tây như đã hun đúc cho chàng trai này tính cách bướng bính, gan góc và lòng ham sống mãnh liệt. Nó trao cho A Phủ sức mạnh để đối mật với bạo lực, cường quyền; vượt lên những nỗi hèn, nỗi sợ truyền kiếp để giành lại cuộc sống tự do… Chất thơ toả sáng từ tâm hồn Mị – người con gái dẫu đi qua chốn địa ngục trần gian vẫn ấp ủ trong lòng bao xúc cảm đẹp đẽ và nồng ấm tình người. Tôi cứ nghĩ về nhân vật này như cô Tấm miền Tây Bắc – bị đày đoạ đến chết đi sống lại nhưng luôn tiềm tàng sức sống. Diễn biến hai cuộc hồi sinh của tâm hồn Mị xứng đáng được liệt vào hàng những trang văn giàu ý thơ nhất của Tô Hoài. Cuộc hồi sinh thứ nhất diễn ra trong đêmhội mùa xuân ở Hồng Ngài. Lúc đó, kiếp con dâu gạt nợ ở nhà thống lí đã biến Mị từ một cô gái trẻ trung, tài hoa, mạnh mẽ… thành người đàn bà nhẫn nhục, chai sạn trước đau khổ. Cô vẫn sống nhưng đã mất dần những dấu hiệu của một con người: không giao tiếp, không xúc cảm và suy nghĩ, không kí ức, "chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại" như con trâu phải nhớ luốngcày, con ngựa phải nhớ đường đi. Mị mất cảm giác về thời gian, khônggian; mất luôn cả ý thức về sự tồn tại của chính mình. Với cô, thế giới bên ngoài chỉ còn là một ô vuông bằng bàn tay "mờ mờ trăng trắng" không biết là sương hay là nắng, là sáng hay là chiều. Mị cũng nghĩ mình sẽ lặng lẽ "ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi"… Nhưng bất chấp số phận cay đắng, nghiệt ngã, trái tim Mị vẫn âm thầm gìn giữ niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc. Khi đau khổ xoá mờ kí ức, Mị vẫn không quên giai điệu ngọt ngào, tha thiết của tiếng sáo gọi bạn tình. Nó quấn quýt, vương vấn, thức tỉnh, nâng đỡ, chắp cánh cho tâm hồn Mị: "Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi […] Tai Mị vãng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng […] Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường […] Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo…". Tiếng vẫy gọi của tình yêu đã làm sống dậy những cảm xúc và kỉ niệm Mị từng chôn vùi, quên lãng Người đàn bà câm lặng suốt bao năm tháng giờ đây đang ngồi "nhẩm thầm bài hát" của người thổi sáo. Từng câu hát nồng nàn, tình tứ gọi về trong tâm tưởng những tháng ngày hạnh phúc, tươi sáng nhất: "Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lácũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị". Trong khoảnh khắc, Mị vượt qua mọi khoảng cách của thời gian, không gian, băng qua ranh giới của quá khứ và hiện tại để trở về sống trọn với tuổi thanh xuân tươi đẹp. Tâm hồn Mị đã hồi sinh. Cô lại ý thức được về bản thân mình, cảm nhận được nguồn sức sống đang trào dâng: "Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ". Người phụ nữ đang chết mòn trong tuyệt vọng lại muốn được sông cuộc sống có niềm vui, có tự do: "Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi". Trái tim cô không còn "quen khổ" nữa mà thấm thìa hơn bao giờ hết nỗi bất hạnh của đời mình: "Huống chi A sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra". Cảm biết được nỗi đau, biết phẫn uất – Mị trở lại là người con gái mạnh mẽ, giàu tinh thần phản kháng của ngày xưa! Kể từ giây phút "đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn", Mị đã biến thành một con người khác. Cô không chỉ khơi ngọn đèn làm sáng căn buồng mờ tối mà còn thắp lên ngọn lửa của tình yêu cuộc sống trong chính lòng mình! Đi chơi Tết đối với Mị chính là một hành động "nổi loạn" để chấm dứt kiếp tù nhân, giành lại quyền được sống như một con người. Thậm chí, cá lúc bị A Sử trói đứng vào cột nhà, lòng MỊ vẫn nồng nàn, tha thiết nhớ, vẫn đắm trong tiếng gọi yêu thương; tiếng sáo "đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi"… Khát vọng tình yêu và hạnh phúc đã là nguồn sức mạnh kì diệu nuôi dưỡng tâm hồn MỊ. Xem thêm: Nêu quá trình phát triển và thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ 1975 đến cuối thế kỷ XX.Cuộc hồi sinh lần thứ hai đã không được báo trước bằng bất kì "tín hiệu" nào (như không khí tưng bừng của mùa xuân, men rượu say nồng bên bếp lửa hay tiếng sáo gọi bạn tình,…). Nó đến bất chợt, bất ngờ – với người đọc và với cả chính bản thân Mị. Bởi vì, sau đêm bị trói đứng, Mị rơi vào cái chết tinh thần nặng nề, đau đớn. Người phụ nữ cô đơn, bất hạnh ấy đã hoàn toàn tách biệt với xung quanh "chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa". Cô không còn tìm được chút hơi ấm nào từ cuộc sống. Mị bám víu lấy bếp lửa không chỉ vì cái lạnh của những đêm đông trên núi cao mà còn vì sự buốt giá của lòng mình: "nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mị đã dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần". MỊ thờ ơ, vô cảm với chính mình và với mọi sự xung quanh. Có đêm, A Sử bắt gặp, đánh MỊ ngã ngay xuống cạnh bếp nhưng đêm sau cô vẫn thản nhiên ra sưởi lửa như đêm trước. Tôi có cảm giác nếu A Sử đánh chết Mị bên bếp lửa, thì cô cũng sẽ lặng thinh và thờ ơ như thế. Thân còn chẳng thiết) nên khi tận mắt chứng kiến cảnh tượng A Phủ chết dần trong đói rét, đau đớn, Mị vẫn dửng dưng: "Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi"! Miêu tả cái chết tinh thần ấy, Tô Hoài đã tự đặt mình trước một thử thách lớn. Làm sao nhà văn lại khiến người đọc tin rằng, từ trạng thái vô cảm kia, Mị có thể thức tỉnh, cắt dây trói củaA Phủ và tự cứu chính mình? Làm sao ông có thể tìm được "chìa khoá" để mở lại cánh cửa của một cõi lòng đã đóng chặt và cơ hồ đã chết? Vì thế, không ít lần tôi ngẫm đi ngẫm lại cái câu văn tả "dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại" của A Phủ. Không phải là nước mắt khiếp sợ của kẻ hèn nhát hay giọt lệ van xin, cầu khẩn lòng thương hại. Dòng nước mắt kia chất chứa nỗi đau đớn, uất hận thầm lặng mà dữ dội của một con người tràn đầy sức mạnh, có thừa lòng can đảm mà đành bất lực trước cái chết oan ức, phi lí. Nó đập mạnh vào trái tim Mị – trái tim dường như chỉ còn nỗi đau. Cô bừng tỉnh trong mối đồng cảm sâu xa với người cùng chung cảnh ngộ đau thương, uất hận: "Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước. A Sử trói Mị, MỊ cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được". Lúc trước, miêu tả cảnh Mị bị trói đứng, Tô Hoài nhắc nhiều đến những đau đớn vé thể xác: "tay chân đau không cựa được […] khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức […] cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau dứt từng mảnh thịt […] Sợi dây gai dưới bắp chân vừa lỏng ra, Mị ngã sụp xuống […] Mị quên cả đau, đứng lên. Nhưng không nhích chân lên được". Nỗi đau thể chất này, thời gian có thể làm nhoà đi nhưng nỗi đau tinh thần kia thì vẫn hằn sâu trong tâm trí, khi con người bị tước đoạt đến cả cái quyển đưa tay lên lau những giọt nước mắt của chính mình! Từ chỗ biết thương mình, trong lòng Mị dâng lên nỗi xót xa, thương cảm cho bao kiếp người bị đày đoạ: "Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bất mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này". Cùng với tình thương, trong lòng MỊ sống dậy cả lòng căm thù, sự phẫn nộ: "Chúng nó thật độc ác". Với A Phủ, Mị chia sẻ nỗi đau đớn bằng cả trái tim vì chính cô đã từng biết thế nào là "chết đau, chết đói, chết rét, phải chết" trên cây cột trói người. Đột nhiên, nhưng cũng là tự nhiên, tất yếu với một con người giàu "năng lực" yêu thương, Mị xót xa cho A Phủ hơn chính bản thân mình: "Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết thế".Trong khoảnh khắc, người con gái có tâm hồn trong sáng, nhân hậu của ngày xưa đã lại trở về! Bấy nhiêu cảm xúc trỗi dậy khiến MỊ không cảm thấy sợ hãi cả khi tưởng tượng mình phải trói thay A Phủ. Bằng sức mạnh của tình yêu thương, sự đồng cảm, lòng vị tha, Mị đã vượt lên nỗi sợ cường quyền, cắt dây trói cứu A Phủ, để rồi lòng ham sống mãnh liệt lại giúp cô vượt qua nỗi ám ảnh thần quyền, tự cứu chính mình… Vẫn là cái quy luật muôn thuở của tình người bất diệt "Thương người như thổ thương thân", nhưng qua ngòi bút Tô Hoài, nó đã mang đậm sắc màu riêng của tính cách, tâm hồn con người Tây Bắc – chân chất, mộc mạc mà nồng nàn, sâu sắc; lặng lẽ mà quyết liệt trong khát vọng sống, khát vọng tự do. Những ý thơ trong Vợ chồng A Phủ cũng gắn liền với một Tô Hoài đặc biệt chú trọng đến chuyện "tinh thông về chũ". Ông từng tâm niệm và ao ước: "Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống những trang bản thảo, hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách văn chương của mình mà có". Tôi đã thấy những "hạt ngọc" như thế lấp lánh trong Vợ chồng A Phủ. Công phu dùng chữ của tác giả hiện rõ qua lời kể, lối miêu tả, nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật,… Từ đối thoại, độc thoại đến những đoạn ngôn ngữ nửa trực tiếp,… chưabao giờ thấy gợn lên sự thiếu hài hoà giữa lai lịch, vốn sống, tâm trạng và tính cách,… với lời ăn tiếng nói của nhân vật. Có những câu nói chỉ bớt đi một từ thôi (chúng tôi in đậm), nó đã không còn là cách nói riêng của người miền cao – mộc mạc, đầy hình ảnh và cảm xúc chân thật, tự nhiên: lời khen ngợi A Phủ của các cô gái trong làng: "Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà"; lời của người cha già hiểu con, thương con mà đành bất lực: "Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? […] Không được, con ơi!" hay tiếng vọng đau đớn vang lên từ tâm trí Mị, nhắc nhở về nỗi tủi nhục, cay đắng đến tận cùng của kiếp nô lệ: "Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được"… Màu sắc địa phương đậm đà ấy đã góp phần không nhỏ làm nên vẻ sinh động, độc đáo của các nhân vật. Tác giả Vợ chồng A Phủ cũng sáng tạo nhiều kiểu câu văn giàu nhịp điệu "như biết co duỗi nhịp nhàng" (Nguyễn Tuân). Có kiểu câu với cấu trúc tầng lớp, trùng điệp các vế, thường được dùng để miêu tả các sự kiện kéo dài, lặp lại, triền miên, nặng nề: tả kiếp đàn bà như con trâu con ngựa "chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi" trong nhà thống lí ("Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi"); tả cảnh hành hạ người dã man, quái gở ("Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút"),… Có kiểu câu ngắn, dồn dập, diễn tả những biến động bất ngờ: "Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. […] Hơi rượu toả. Tiếng sáo. Tiếng chó sủa xa xa. Mị lúc mê, lúc tỉnh". Những cấu trúc mới lạ, phong phú đan xen, phối hợp với nhau một cách linh hoạt mang dến cho lời vãn tính đa thanh, phức điệu. Ngôn ngữ văn xuôi của Tô Hoài giàu chất thơ, chất hoạ. Không thiếu những đoạn văn, đọc lên, ngỡ như mình đang đứng trước một bức tranh hay đang xem một trường đoạn phim với góc quay thật rộng: "Hai người đi liền hơn một tháng. Họ đi chuyền trên những triền núi cao ngất, lốm đốm nhà, thấp thoáng ruộng, đất đỏ, suối trắng tinh, trông thấy ở trước mặt mà đi mấy ngày chưa tới. […] A Phủ làm nhà thèo đảnh ra một ngọn đồi gianh. Những ngày quang trời trông thấy dòng sông và cánh đồng Bản Pe có ruộng xoènhư cánh quạt". Gần rồi xa, cao và thấp, diện và điểm, đậm xen nhạt, khi thì sắc nét như ở ngay trước mặt, lúc lại thấp thoáng mơ hồ như ở ngoài tầm mắt; vừa trải rộng với những nét vẽ sông, suối mềm mại, đã lại sừng sững thu về trong dáng núi gân guốc, hùng vĩ… Tả con đường vượt suối, băne rừng mà thấy được hành trình và khát vọng đi tìm cuộc sống tự do. Tái hiện khung cảnh thiên nhiên mà gợi được vẻ đẹp mạnh mẽ, phóng khoáng, lãng mạn của hồn người… Những ý thơ trong Vợ chồng A Phủ được tạo nên bằng ngòi bút của một người "thợ chữ" tài hoa và kiên tâm trên con đường sáng tạo. Phải nói đến cả tình cảm gắn bó thắm thiết, sâu nặng của nhà văn: "thiên nhiên và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không bao giờ quên" (Tô Hoài). Không chỉ nhà văn, mà cả người đọc cũng muốn nói lời tri ân núi rừng, sông suối và con người Tây Bắc – nguồn "nguyên liệu" thấm đẫm chất thơ! Tô Hoài đã trả được món nợ ân tình đó khi truyền cho người đọc những rung cảm sâu xa với cảnh, với người. Ông cũng đã thực hiện được điều mà mọi nhà văn đều mong ước: "trong văn xuôi, cần phải đượm hồn thơ, có như thế vãn xuôi mới trong sáng cất cao" Nguồn: thêm: Tả mẹ em đang nấu cơm
Chất thơ trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài).
3,944
Chất trào phúng trong tiêu đề “Hạnh phúc của một tang gia” (trích “Số đỏ” – Vũ Trọng Phụng) Gợi ý “Sổ đỏ” là tác phẩm tiêu biểu nhất của Vũ Trọng Phụng và được đánh giá vào loại xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam, kể từ khi có chữ quốc ngữ. Thông qua tác phẩm, “nhà văn đả kích sâu cay cái xã hội tư sản thành thị đang chạy theo lối sống nhố nhăng, đồi bại đương thời” (Nguyễn Hoành Khung). Dùng tiếng cười để làm vũ khí, “Số đỏ” vạch trần thực chất thối nát của các phong trào “Âu hoá”, “Thể thao”, “Vui vẻ trẻ trung”… được bọn thống trị khuyến khích và lợi dụng, từng lên cơn sốt vào những năm 30 của thế kỉ XX. Trong tác phẩm, thành công nổi trội nhất phải kể đến việc ông đã xây dựng được một loạt chân dung biếm hoạ xuất sắc mà “Xuân tóc đỏ” là một điển hình; Nghệ thuật xây dựng tình huống bất ngờ, bút pháp hết sức biến hoá linh hoạt. Không chỉ vậy, nhà văn còn rất thành công trong việc xây dựng những tình tiết, chi tiết đối lập nhau gay gắt nhưng lại cùng tồn tại trong một đối tượng và sử dụng rộng rãi kiểu nói ngược của dân gian, vạch trần bản chất xấu xa của nhân vật, tạo nên tiếng cười sảng khoái. Tiêu đề một đoạn trích trong tác phẩm mang tên “Hạnh phúc của một tang gia” là một ví dụ tiêu biểu.Xem thêm: Danh ngôn phương Tây có câu: “Hỏi một câu, chỉ dốt nát trong chốc lát, không hỏi sẽ dốt nát cả đời”. Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên? Theo “Từ điển thuật ngữ”, “trào phúng” là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác. Tiếng cười thường được tạo ra khi người ta phát hiện ra “mâu thuẫn trào phúng”. Muốn tiếng cười xuất hiện.thông thường cần ba yếu tố: Bản chất mang tính hài của đối tượng; Sự cường điệu giữa đường nét, kích thước và những liên hệ giữa đường nét, kích thước với việc miêu tả đối tượng; Sự sắc bén, hóm hỉnh của người thể hiện để tăng cường hiệu quả cho tiếng cười. Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, phẩm chất của một tác phẩm trào phúng trước hết thể hiện ở việc tác giả của nó đã xây dựng được những tình huống trào phúng và xây dựng được những nhân vật trào phúng thành công đến mức nào. Sự thành công của đoạn trích này thể hiện từ ngay trong tên đề của nó. Nhan đề chương truyện là “Hạnh phúc của một tang gia”. Tang gia mà lại hạnh phúc. Nhà có tang mà lại vui vẻ. Thật là một sự ngược đời, oái oăm, trái khoáy! Ngay từ đầu nhan đề đã là một cái “tít” rất lạ, rất “giật gân” thu hút sự chú ý của người đọc. Hạnh phúc là niềm vui sướng của con người khi đạt được những ước nguyện trong cuộc sống. Còn tang gia thì là lúc nguời ta đau buồn khôn xiết khi người thân mãi mãi ra đi. Một đằng là sự sinh sôi, nảy nở viên mãn, tròn đầy còn phía kia là sinh li tử biệt, mất mát không thể bù đắp. Thế mà chúng lại song hành, gắn kết với nhau, đúng là chuyện đáng thương, bi hài, đáng cười. Người ta thường nói: “tang gia bối rối”. Vũ Trọng Phụng đã dựng lên đúng cái cảnh bôi rối của gia đình cụ cố Hồng khi cụ cô Tổ nằm xuống. Chẳng những bối rối mà còn lo lắng nữa, thậm chí là hết sức bận rộn. Nhưng lo lắng, bận rộn là để tổ chức cho thật chu đáo, cho thật linh đình một ngày vui, một đám hội, để vênh mặt, hãnh diện với hàng phố, để trưng bày môt quần áo, để trổ tài chụp ảnh… chứ không phải là chuẩn bị cho một đám ma. Đó là thứ hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui của mẹt lũ con cháu đại bất hiếu. Tên đề là cả một khối mâu thuẫn nhưng lại phản ánh đúng một sự thật mỉa mai, hài hước: Con cháu gia đình này vui sướng thực sự khi cụ cố Tổ chết. Đó cũng là tình huống trào phúng xuyên suốt trong toàn bộ đoạn trích.Xem thêm: Tường thuật lại buổi lễ khai giảng năm học ở trường em Như vậy, có thể thấy chất trào phúng của tiêu đề hiện ra từ sự mâu thuẫn trên bề mặt câu chữ đến cái mâu thuẫn trong chính bản thân mỗi sự việc. Nó gợi cho người ta sự tò mò và khi đi vào khám phá thì sự mâu thuẫn ban đầu ấy lại trở nên hoàn toàn phù hợp và hoàn toàn không khó lí giải. Nhan đề ngay từ đầu đã dự báo một màn bi kịch sắp diễn ra với nhiều cảnh nghịch lí, nhiều pha cười ra nước mắt. “Số đỏ” gây ấn tượng cho người ta từ trong từng tình tiết nhỏ, ngay từ trong mỗi tên gọi hay cái tiêu đề của mỗi chương. Tiếng cười bật ra sảng khoái sau từng câu chữ nhưng cười xong, người ta suy ngẫm, mà xót xa cho những dấu hiệu chứng tỏ sự suy đồi, băng hoại ngày càng tồi tệ của xã hội. Đó là cái tài và cũng là cái tâm của Vũ Trọng Phụng. Vanmau.edu.vn
Chất trào phúng trong tiêu đề “Hạnh phúc của một tang gia” (trích “Số đỏ” – Vũ Trọng Phụng)
941
Chọn và phân tích một số câu thơ hay trong bài thơ Cảnh ngày hè Gợi ý Rồi hóng mát thuở ngày trường, Hòe lục đùn đùn tán rợp giương. Thạch lựu hiên/ còn phun thức đỏ, Hồng liên trì/ đã tiễn mùi hương. Thi nhân xưa đến với thiên nhiên thường bằng bút pháp vịnh, ở đây Nguyễn Trãi lại thiên về bút pháp tả. Thời gian đã là cuối ngày /lầu tịch dương’), nhưng thiên nhiên hiện lên vẫn sinh động và căng tràn nhựa sông. Điều này được thể hiện rất rõ qua việc thi nhân sử dụng liên tiếp hai động từ mạnh: đùn đùn, giương. Dường như sự sông tràn đầy, ứa căng đến độ không thể kìm lại ở mạch ngầm bên trong được nữa mà phải khoe ra thành hương, thành sắc. Đó là màu lục của lá hòe làm nổi bật màu đỏ của hoa thạch lựu và ánh mặt trời buổi chiều như dát vàng lên những tán hòe xanh. Thêm vào đó là cách ngắt nhịp 3/4 — không theo nhịp 4/3 của thơ luật Đường hoàn chỉnh – đã tập trung được sự chú ý của người đọc, làm nổi bật hơn cảnh vật vào thời điểm cuốì ngày. Cùng viết về cảnh mùa hè, các tác giả thời Hồng Đức đem đến cho người đọc một bức tranh với vẻ đẹp mộc mạc và có phần thô tháp: Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi, Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè. Nguyễn Trãi không thế. Ông biết hòa màu sắc, âm thanh, đường nét theo quy luật của cái đẹp trong hội họa, trong âm nhạc, làm cho bức tranh thiên nhiên vừa có hình, vừa có hồn, vừa gợi tả, vừa sâu lắng. Khi nhà thơ viết: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ” thì sự kết hợp giữa động từ mạnh phun với từ thức (theo nghĩa là màu vẻ, dáng vẻ chứ không chỉ là màu sắc đơn thuần) thì câu thơ lại nghiêng về diễn tả trạng thái tinh thần của cảnh vật. Nguyễn Trãi giao cảm với thiên nhiên mạnh mẽ nhưng tinh tế, sâu sắc là vì thế.Xem thêm: Phân tích tính sử thi trong truyện “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn 12Vanmau.edu.vn
Chọn và phân tích một số câu thơ hay trong bài thơ Cảnh ngày hè
374
Chứng minh chân lí trong những lời Bác Hồ dạy thanh niên:”Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên” Gợi ý Trong cuộc sống, không phải ngả đường nào dẫn đến tương lai đều phẳng phiu, tốt đẹp. Có những đoạn đường đầy chông gai, sỏi đá. Cũng có đoạn đường thơm ngát hoa hồng. Nhưng ngay cả những đoạn hoa hồng, ta cũng đừng quên "hoa hồng nào cũng có gai sắc". Liệu con người có thể băng qua sỏi đá chông gai, chấp nhận mọi thử thách để xây dựng tương lai? Liệu có những đèo dốc, ghềnh thác nào không thể vượt qua nổi? Lời dạy của Bác Hồ đã giải đáp dứt khoát những nỗi băn khoăn ấy: Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên Lời dạy đó đã được thực tế cuộc sống nhân loại, lịch sử dân tộc và quá trình đấu tranh của chính Bác chứng minh. Từ ngàn xưa, loài người đã từ hai bàn tay không, hai gót chân trần mà chinh phục thú dữ, khai phá đất đai, tạo nên ruộng vườn, nuôi thành gia súc, bảo đảm cuộc sống ổn định cho mình, con người còn lần hồi từ việc ghép bè mảng đến lúc đóng được những con tàu lớn vượt đại dương, có tàu vũ trụ bay lên cung trảng, thám hiểm bầu trời. Đó là những chuyện xưa kia ông cha không thể tưởng tượng mơ ước nổi. Nhưng do kiên trì nghiên cứu, không ngừng sáng tạo phát minh, nhà khoa học sau tiếp bước nhà khoa học trước mà loài người mới đạt được những thành quả hạnh phúc hiện nay. Xem thêm: Kể lại nội dung bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ thành một câu chuyện Ngẫm lại lịch sử đất nước ta cũng vậy. Thử hỏi nếu không kiên trì từ thuở lương hết, quân thiếu, trải qua mười năm trường kì hi sinh chiến đấu, làm sao khởi nghĩa Lam Sơn có thể đánh đuổi giặc Minh? Và rõ ràng nhất, cuộc kháng chiến ba mươi năm chống Pháp chống Mỹ của dân ta khác nào trứng chọi đá? Vậy mà, cuối cùng "ngọn tầm vông đã dựng lên Thành Đồng Tổ Quốc", chính vì toàn dân chúng ta đã có quyết tâm rất lớn: Chân toạc máu, chân dồn đuổi giặc Tay chém thù, tay sắc như guơm Chính vì chúng ta biết kiên trì chịu đựng "Miếng khoai củ sắn thay cơm – khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng" mà chúng ta sau chín năm đã làm nên chiến thắng Điện Biên "chấn động địa cầu". Bài học kiên trì vượt khó tuyệt vời nhất là cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ bàn chông thô sơ, súng tự tạo, từ địa đạo Củ Chi, từ những năm tháng đồng khởi, cuối cùng người tí hon Việt Nam đã hạ đo ván gã khổng lồ đế quốc Mỹ. Rõ ràng chính vì bền chí quyết tâm, ta đã đưa sự nghiệp chống Mỹ đến toàn thắng, đã làm được điều khiến cả thế giới bất ngờ, khâm phục: Việt Nam! Việt Nam! Rất đỗi diệu kì! Quân thù sợ, mà người thân kinh ngạc Cả nhân loại nhìn Người không chớp mắt, Có cái gì như tỉnh một cơn mê Bản thân cuộc đời của Bác cũng chứng minh rất rõ chân lí này. Ta hãy nhớ lại từ lúc anh Ba xuống làm phụ bếp dưới tàu chỉ với hai bàn tay trắng. Những ngày tháng bôn ba xứ người "Một viên gạch hồng. Bác chống lại cả một mùa băng giá", đến những ngày việt Minh trên hang Pắc-Bó, quanh quẩn cháo bẹ măng tre… Nếu không có suốt "Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ" trên đường gian lao phấn đấu, làm sao Bác có thể đưa dân tộc tới đích vinh quang? Xem thêm: Hãy chứng minh rằng: Trong trích đoạn Nỗi oan hại chồng, nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu có, tàn ác khinh rẻ Đó là trong chiến đấu giành độc lập của dân tộc. Còn trong xây dựng đất nước sau chiến tranh thì sao. Hãy nhìn vào chặng đường hơn ba mươi năm sau ngày đất nước giải phóng ta sẽ thấy "không có việc gì khó" mà con người không làm được. Từ một đất nước đổ nát, hoang tàn sau chiến tranh, cả dân tộc đã từng bước đứng vững rồi tiến lên để theo kịp thời đại. Bắt đầu từ cây lúa – hạt gạo bạn sẽ thấy rõ sự phi thường. Những năm tám mươi, có bữa ăn nhà nào chỉ toàn cơm trắng, ngay cả hạt mạch cứu đói cho dân ta cũng nhận viện trợ của nước ngoài. Vậy mà bằng tấm lòng bền bỉ, ý chí quyết tâm, đất nước không chỉ vượt qua đói nghèo mà còn đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Lúa vàng khắp nơi nơi, nhìn thấy no ấm biết nhường nào. Rồi những công trình thế kỉ mọc lên. Từ thủy điện Hòa Bình trên dòng sông Đà làm ta ngỡ ngàng đến nay vô số những nhà máy thủy điện khắp nơi suốt từ Bắc vào Nam mọc lên. Rồi những giàn khoan ngạo nghễ trên biển khơi đem lại nguồn dầu mỏ vô tận cho đất nước. Chúng ta đã "ngăn sông làm điện, khoan biển làm dầu", những việc mà chúng ta tưởng chừng không thể nào làm nổi. Đó chẳng phải là "không có việc gì khó" sao? Ròi còn đó những cây cầu sừng sững "nối những bờ vui" chẳng phải cũng chính là thành quả của những tấm lòng bền bỉ và ý chí vươn lên sao? Xem thêm: Tả con chim sẻ Từ xưa đến nay, nhờ lòng kiên trì bao nhiêu việc lớn đã thành công. Đó là chân lí hiển nhiên. Đó cũng là bài học quý cho muôn đời. Vanmau.edu.vn
Chứng minh chân lí trong những lời Bác Hồ dạy thanh niên_”Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên”
1,027
Đề bài: Qua truyện Vợ nhặt hãy chứng minh câu nói “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống” "Vợ nhặt" là tác phẩm ưu tú của nhà văn Kim Lân và cũng là một trong những thành tựu xuất sắc của nền vãn học cách mạng. Tác phẩm ra đời cách đây đã trên bốn mươi năm, viết về một giai đoạn đau thương trong lịch sử dân tộc: nạn đói năm 1945 – từ Quảng Trị đến Bắc Bộ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói; thế nhưng, tác phẩm không mang tính nhất thời và sẽ bất tử với thời gian bởi giá trị nhân văn cao cả, niềm tin không bao giờ tắt hướng về con người. Trong tác phẩm, niềm tin ấy được thể hiện ở chỗ: những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống. Như nhiều tác phẩm trước đó viết về nạn đói, ngòi bút Kim Lân chứa chan thương cảm trước những số phận lương thiện và cùng khổ. Ông không dành nhiều trang viết mô tả kĩ hiện thực tàn khốc lúc bấy giờ – người chết đói như ngả rạ – mà chủ tâm thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu trong cái bề ngoài xác xơ vì đói khát của những người nghèo khổ. Cốt truyện "Vợ nhặt" thật đơn giản: Một anh chàng nghèo khổ – tên Tràng độc thân, chỉ với mấy câu "hò chơi cho đỡ nhọc", đã có được cô "vợ nhặt" – đang sống dở, chết dở vì đói. Họ thành vợ thành chồng giữa cái cảnh "tối sầm lại vì đói khát”. Đêm tân hôn của họ âm thầm trong bóng tối, giữa tiếng than khóc tỉ tê của những nhà có người chết đói theo gió đưa lại. Bữa cơm cưới của đôi vợ chồng trẻ và người mẹ già chỉ có cháo loãng, muối hột, nhưng ăn uống rất ngon lành, trong hồi trống thúc thuế. Ba mẹ con vừa ăn cơm, vừa bàn chuyện Việt Minh phá kho thóc chia cho dân nghèo. "Trong óc Tràng, vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới". Ngay từ đầu, câu truyện đã hiện lên đượm màu sắc tang thương tử khí: "Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người". Thực không còn gì ảm đạm hơn bức tranh quê ấy. Trong khi trước đó không lâu, mỗi chiều Tràng đi làm về, “cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy lại xôn xao lên được một lúc" con bây giờ, cái đói đã đè nặng lên vai mỗi người; ngay cả bọn trẻ – những đứa bé hồn nhiên, vô tư nhất cũng mất đi sự tự nhiên, ngây thơ của mình, chúng ủ rũ, không buồn nhúc nhích… "Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều, người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa". Tràng dẫn người đàn bà này về làm vợ, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để tiếp nối sự sống. Giọng văn lúc này thật dồn nén và gây cảm xúc mạnh, mộc mạc mà lôi cuốn: "Mặt hắn có vẻ gì phởn phơ khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh". Đọc đến đây, ta không thể không nghĩ đến những trang bi kịch của Secxpia, Môlie hay Stăngđan. Tuy nhiên, bi kịch ở đây đã vượt lên sự thông thường vẫn có; nó cũng không phải là "hiện thân của sự ngu dốt" như Mác nói, mà trở nên sự cao cả "đẹp tươi lạ thường". Đó là biểu hiện cao nhất của sự chiến thắng, vượt lên trên thực tại chết chóc, đen tối để hướng tới sự sống, niềm tin, ánh sáng. Với chi tiết Tràng cùng vợ đi về nhà, chủ nghĩa nhân đạo trong văn học nước nhà cũng có thêm một tiêng nói mới, có sức mạnh. Chuyện lấy vợ của Tràng, trước hết là một chuyện lạ mà thi vị. Điều ấy đã khiến người dân ở xóm ngụ cư hết sức tò mò, từ bọn trẻ con cho đến tất cả người làng; "Họ bàn tán… Họ hiểu đôi phần, khuôn mặt họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên”. Từ trong sâu thẳm tâm hồn những người dân làng, le lói lên một chút niềm vui. Họ thú vị nghĩ tới chuyện Tràng có vợ. Có thể nói, trong phút chốc, khi Tràng cùng với cô "Vợ nhặt" đi về làng, cái chết, sự ảm đạm thâm u nơi xóm ngụ cư được đẩy sang một bên. Xóm ngụ cư đang ở trên miệng vực cái chết, bỗng hé lên một thoáng sống. Nhưng, niềm vui vừa đến, đã phải nhường chỗ chó sự âu lo. Dân làng lo thay cho Tràng: Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không. Tuy nhiên, đó không phái là nỗi lo tuyệt vọng, mà là lo cho cái sống. Sự chết chóc cứ ám ảnh, đe dọa sự sống, nhưng sự sống vẫn vượt lên cái chết. Khuôn mặt "rạng rỡ" của người dân làng, ánh mắt của họ thực ý nghĩa, nói với chúng ta bao điều. Ở bước đường cùng, người ta sinh ra liều lĩnh – điều đó thực đúng lắm thay! Hành động nhân đùa làm thật của cô gái theo chân Tràng về nhà, xét đến cùng, là một hành động liều lĩnh. Tràng gặp người đàn bà ấy tất cả chỉ có hai lần vào các dịp chở thác lên tỉnh. Với Tràng, chị ta chẳng để lại trong anh một ấn tượng gì. Bởi thế, lần thứ hai gặp lại, Tràng phải mất một thời gian mới nhận ra và cũng như nhiều nhân vật khác trong các sáng tác của Nam Cao, cái dạ dày chị đã chiến thắng khối óc và con tim: được Tràng đãi, chị ăn liền một chập bốn bát bánh đúc. Cái đói đã đẩy lùi ý thức nhân cách, sĩ diện. Quên cả thẹn thùng, người đàn bà không tên ấy cắm đầu ăn "không chuyện trò gì". Khi Tràng ngỏ lời, không cần suy nghĩ, chị cũng đi theo một cách dễ dàng, "vô tư lự". Thế mới hay, cái đói ghê gớm biết chừng nào. Và hai cái "liều" gặp nhau đã tạo nên một gia đình thời tao loạn. Điều đáng chú ý là ở đây, khi cùng người "Vợ nhặt" về nhà, Tràng bỏ ra hai hào để mua một chai dầu, điều này có nghĩa là anh đã thắp lên một ngọn lửa trong cuộc sông tăm tối của mình, đem lại chút ánh sáng cho gia đình cũng như dân làng. Điều này chi phối toàn bộ văn phẩm. Cũng từ cuộc "hôn nhân" của Tràng, những người đời mới thực sự không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống. Xem thêm: Cha ông ta có câu: "Học đi đôi với hành". Em hiểu lời dạy đó như thế nào?Khi Tràng cùng vợ về nhà, cuộc sông trước mắt họ không kém phần thảm hại: căn nhà vắng teo, rúm ró; niêu bát, áo xống bừa bộn… Ôi, lấy vợ cưới chồng, yên bề gia thất!. Việc lớn một đời, hạnh phúc trăm năm! Vậy mà, họ bị bủa vây bởi sự nghèo đói chết chóc. Nhưng, sự sống là bất diệt, chẳng bao giờ chán nản. Trong cái chết, sự sống vẫn tồn tại, tìm chỗ sinh sôi nảy nở. Tất cả thật dữ dội, mà ý nghĩa thì lớn lao: sự sông luôn tồn tại, bất chấp cái chết… Việc hai người xa lạ bỗng gắn bó với nhau trong cơn đói kém, chứng tỏ quyết tâm nghĩ đến cái sống của hai người, đem lại cho họ – trước hết là Tràng một niềm vui lớn lao. Trong truyện ngắn, hơn hai mươi lần nhà văn nhắc đến niềm vui và nụ cười thường trực của Tràng, khi đã có vợ. Tình yêu của hai người, có sức cải biến thật lớn. “Trong một lúc, Tràng như quên hết những cảnh sông ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát đang đe dọa… Trong lòng hắn, lúc này chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông ấy…”. Đúng vậy. Niềm vui lớn nhất đời anh đã thành sự thực; có vợ. Cái "mới mẻ", "lạ lẫm" ấy là tinh thần trách nhiệm của một người chủ gia đình sẽ phải lèo lái con thuyền nhà – gia đình qua thời điểm khó khăn, vươn lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt để xây dựng cuộc sống. Tràng bỏ sau lưng tất cả những tiếng hờ khóc, tiếng quạ kêu… Chỉ sau một đêm "nên vợ, nên chồng", Tràng thấy mình có sự đổi khác: "Trong người êm ái lửng lơ như người ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ như không phải…". Chuyện được "vợ nhặt" của Tràng ngỡ như đùa nhưng lại là sự thật; bao nhiêu sự sống, sinh khí trở lại với Tràng, với gia đình sau khi anh có vợ. Và cũng từ buổi "sáng hôm sau đó", dường như tất cả sự thực chết chóc không còn tồn tại nữa, Tràng chỉ nghĩ đến sự gây dựng cuộc sống, hướng về sự sống mà tạo lập hạnh phúc: "Tràng thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm ché mưa, che nắng. Một nguồn vui sướng, phân chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thây hắn có bổn phận phải lo cho vợ con sau này",.. Có thể nói, đó là biếu hiện cao nhất của tinh thần hướng về sự sống, quên đi cái chết đang bủa vây. Vợ Tràng là một nhân vật khá độc đáo. Chị không có tên, không tuổi, không đặc điểm nhận dạng và, quê quán. Tưởng rằng, khi chị theo Tràng đi về nhà, với sự chao chát, chỏng lỏng văn học Việt Nam lại có thêm một nhân vật "không bình thường”. Nhưng không, ngòi bút Kim Lân chưa bao giờ để nhân vật của mình tha hóa, biến chất đến độ ấy. Khi về đến nhà Tràng, con người thật của chị mới hiện lên đầy đủ. Chị cứ "ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng". Vì sao vậy? Cái thế ngồi rụt rè, chông chênh ấy cũng là cái thế của lòng chị, trăm mối ngổn ngang. Liệu chỗ ngồi ấy có phải là chỗ của chị không? Nhà này có phải chốn để chị dung thân? Và cũng như Tràng, sau một đêm làm vợ, chị đã thay đổi hẳn: "Trông chị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực…". Cái đói một khi được xua đi, thì sự tốt đẹp đúng như bản chất hiền trở lại với chị. Ấy cũng là lúc chị nghĩ đên sự sống, lo cho gia đình mình. Chị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang… Có bàn tay săn sóc của chị, căn nhà trở nên gọn gàng, sáng sủa. Sự sống trở về với người với cảnh… Bà cụ Tứ càng để lại cho người đọc những thiện cảm tốt đẹp. Thấy con lấy vợ trong hoàn cảnh khó khăn, bà không khỏi bùi ngùi, thương xót: "Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái, mở mày mở mặt sau này. Còn mình thì…". Nhưng, bà thực sự vui mừng khi con trai đã yên bề giá thất: "Bà lão nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên…". Rồi trong bữa cơm, cả ba mẹ con đều quên đi hiện thực đau lòng để hướng đến một tương lai tươi đẹp hơn: "Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tin rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này, ngoảnh đi ngoảnh lại, chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…". "Nghĩ đến cái sống, không nghĩ đến cái chết là ở chỗ đấy. Bà cố gắng xua đi thực tại hãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho các con. Tuy nhiên, món chè cám đã nhắc họ về với thực tại. Chao ôi, chè cám! Phải đói đến một mức nào đó, người ta ăn cám mới cảm thấy ngon! Cuộc sống khắc nghiệt, đày đọa, bắt họ phải sống cuộc sống loài vật, nhưng nào có dập tắt được phần NGƯỜI đáng quí trong mỗi con người. Cái phần NGƯỜI ấy, sẽ giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn này. Sẽ là thiếu sót lớn nếu bỏ qua hình ảnh những người nông dân trên đê Sộp cùng nhau đi phá kho thóc, khi nói đến những kẻ hấp hối trong vòng tử địa vẫn hướng tới cuộc sống. Đó là hình ảnh không hề ngẫu nhiên chút nào, được nhà văn chuẩn bị từ trước. Nó là dấu hiệu của "bước đường cùng", không còn cách giành sự sống nào khác, phải vùng dậy đấu tranh, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tràng thấy "ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu" bởi anh chưa bắt được mạch nguồn cách mạng. Trước mắt người đọc lúc này, sự sống trở thành mục đích chung của mỗi người; họ đấu tranh, đoạn tuyệt dứt khoát với cái chết. Và chắc chắn, mẹ con Tràng sẽ tiếp nối dòng người kia, giành sự sống cho mình. "Vợ nhặt" là thành công xuất sắc của nền văn học cách mạng. Với truyện ngắn này, Kim Lân bày tỏ thiện cảm sâu sắc với những người nghèo khổ, nhưng giàu lòng nhân ái. Ông luôn khẳng định cái đói khát, chết chóc không thể giết chết niềm tin vào cuộc sống, Năm tháng qua đi, còn mãi với thời gian là chất nhân văn cao cả của một nghệ sĩ nhân đạo. Xem thêm: Tình người trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
Chứng minh câu nói “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống”
2,516
Đề bài: Chứng minh câu tục ngữ "Có chí thì nên" "Chí" là gì? Là hoài bão, lí tưởng tốt đẹp, ý chí, nghị lực, sự kiên trì. Chí là điều cần thiết để con người vượt qua trở ngại.- "Nên" là thế nào? Là sự thành công, thành đạt trong mọi việc.- "Có chí thì nên" nghĩa là thế nào Câu tục ngữ nhằm khẳng định vai trò, ý nghĩa to lớn của ý chí trong cuộc sống. Khi ta làm bất cứ một việc gì, nếu chúng ta có ý chí, nghị lực và sự kiên trì thì nhất định chúng ta sẽ vượt qua được mọi khó khăn, trở ngại để đi đến thành công. Ngày nay, có biết bao nhiêu người vừa mới gặp khó khăn là đã từ bỏ, nản chí. Thế nhưng bên cạnh đó còn có những con người có ý chí, quyết tâm để đạt mục đích chính đáng của mình. Chính họ đã nhận ra rằng: “Có chí thì nên”.Có chí thì nên -: một bài học giáo dục cho con trẻ rất hay của người xưa, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ hiện nay. Đôi khi chính chúng ta phải nhìn nhận rằng số người thiếu sự quyết tâm, ý chí phấn đấu cầu tiến ngày càng nhiều trong xã hội. Dường như chính bản thân họ, đúng hơn là sự tự giác, tự thân vận động đã bị mất đi trong cái tiện nghi đầy đủ. Vì lẻ đó mà học lại sống một cách an nhàn, thiếu sự nỗ lực, ý chí cầu tiến. Và sẽ tai hại hơn khi chính họ chưa được rèn luyện, được dạy cách thích ứng với mọi tình huống bất ngờ xảy đến. Mặc khác còn có những người lại bi quan, không có sự kiên trì, quyết tâm, thấy việc nặng nhọc trước mắt là đùn đẩy, có suy nghĩ là sẽ không làm được, từ bỏ tất cả mọi thứ. Những con người ấy chỉ nhìn sự việc qua một khía cạnh, một khía cạnh bó hẹp trong cái khuôn khổ mà họ từ tạo ra. Một cái vỏ bọc của sự bi quan. Họ chỉ thấy cái xấu, cái bất lợi trước mắt nhưng lại quên đi lợi ích lâu dài. Bên cạnh đó lại có những người mới vừa gặp thử thách đầu tiên là lại tự bỏ cuộc. Chuyện này đã quá quen thuộc. Việc từ bỏ nhanh chóng ấy là do người đó thiếu sự tự tin, cầu tiến, họ sợ thất bại, họ không dám nhìn nhận sự thật dù có thể là phủ phàng. Và cũng đôi khi có nhiều người đã nổ lực hết sức mình để vượt qua thử thách nhưng lại không đạt được kết quả mong muốn. Điều đó lại càng dẫn đến việc người ấy sẽ bị áp lực đè nặng, để rồi nản chí, dừng cuộc đua nửa chừng trong khi bản thân học chỉ mới đi một phần ba chặng đường.Thật ra chẳng có gì mới lạ cả. Con người từ cổ chí kim vẫn chạy đường trường trên cái lối mòn, ngặt nghèo này. Bù lại-và cũng chính từ đó mà ra?- xã hội loài người vẫn luôn trọng vọng những ai đạt được mục đích của mình, và mục đích càng cao lại càng thêm vinh dự. Cái chính yếu và được đề cao vẫn lài cái quyết tâm, chừng nào còn bền gan trên đường; cho dù đã thất thểu, hay chỉ còn thoi thóp; thì tệ lắm cũng vẫn được người đời khen tặng là có chí hướng, có nghị lực. Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo NgangVì vậy, chúng ta cứ cố gắng hết sức của mình, hãy sử dụn chính khả năng, con người thật của ta thì dù có thất bại đi chăng nữa, chúng ta cũng vui long. Điều đó đâu đáng để ta buồn, có thật bại mới có thành công, có nghị lực mới đạt được kết quả.Văn hóa con người vẫn chỉ quảng bá và đề cao sự kiên cường. Chúng ta đều được dạy từ lúc nằm nôi là một khi đã quyết định hướng đi và mục tiêu thì nhất định phải vững lòng theo đuổi đến cùng. Phải theo đuổi cho đến khi thắng lợi vẻ vang hay thất bại hào hùng, nhưng chúng ta tuyệt không được dạy cách rút lui kịp thời, cách bỏ cuộc đúng lúc. Sa lầy trong cuộc chiến, bám trụ một cách bền gan, chôn vùi thêm bao sinh mạng cũng mặc kệ. Nhưng để lập trường bị lung lạc hay mất niềm tin là tệ hại, xét lại mục tiêu hay đường hướng đạt ra-cho dù trên cơ sở nào cũng vậy- thì quả phạm vào tối kị. Điều này nghe chừng như chỉ là một sự rang buộc về văn hóa hay xã hội, song thực sự lại có vẻ được đóng khuôn sẵn trong tâm trí, tư duy con người.Theo đó, chính những con người có khả năng lí luận sâu sắc lại là những người ít sẵn sang tự chuyển đổi cách nhìn. Trái lại, họ là thành phần bám víu mạnh mẽ nhất vào đường hướng đã từng lựa chọn. Lẽ nào, con người ta lại tâm niệm cuộc sống chỉ là những quảng đường việt dã nối tiếp và đã lên thì không thể dừng hay quay lại. Nói thẳng ra là chính chúng ta cần phải biết lượng sức mình, đừng lấy cái tính bền chí của mình mà lại làm dụng nó vì mục đích thiếu thiết thực. Nếu nói một vận động viên chỉ cần tính bền bỉ, kiên cường là có thể chinh phục đường đua 42km thì quả là một sai lầm. Có chí thì nên: họ hiểu rằng chỉ một yếu tố “ý chí” thì không thể giúp họ hoàn thành chặng đường nếu thiếu “sức lực”. Chúng ta cũng như học nhưng thay vào đó là “cơ hội”. Chính chúng ta tạo nên cơ hội và cần phải khôn ngoan trong việc tận dụng nó. Đừng ngồi đó mà há miệng chờ sung, một việc ngu xuẩn, phung phí thời giờ. Và khi biết cách tạo ra cơ hội cho bản thân mình thì ắc hẳn người ấy sẽ có được lợi thế. Việc để có được ý chí bền bỉ cần phải dựa vào chính chúng ta. Nó dễ có, nhưng cũng dễ mất nếu như không biết gìn giữ và di dưỡng nó hằng ngày. Đừng cố tạo ra áp lực cho ta, điều đó sẽ gây ra việc phản tác dụng trong việc hình thành tính “kiên trì”. Mối quan hệ giữa “chí” và “cơ hội” là sự liên kết chặt chẽ mà một người muốn thành công có. Nguồn Edufly Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: Mình về mình có nhớ ta… Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa.
Chứng minh câu tục ngữ “Có chí thì nên”
1,167
Đề bài: Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” Bài làm Trong mỗi chúng ta ai cũng có ước mơ của riêng mình và hàng ngày chúng ta đều cố gắng để thực hiện ước mơ đó. Nhưng trong cuộc sống luôn chứa đựng những điều rủi ro, những khó khăn thử thách làm cản trở chúng ta tới được với ước mơ của mình. Tuy nhiên, nếu như chúng ta có ý chí, kiên cường bền gan quyết chí thì nhất định sẽ “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Có công mài sắt là gì? Thể hiện sự gian khổ, cần cù chịu khó của con người trong việc mình làm. Dù việc đó vô cùng khó khăn, vất vả khó thực hiện như việc mài giũa một thanh sắt to trở thành một cây kim nhỏ bé, nhưng nếu kiên trì, chịu khó không nản chí chúng ta có thể thành công. Hình ảnh cây kim là chỉ thành quả lao động miệt mài mà có, là sự nỗ lực đã được đền đáp xứng đáng. “Có công mài sắt, có ngày nên kim” ám chỉ một chuyện tưởng như hoang tưởng, không thể làm được nhưng nếu ta kiên trì, cố gắng nhất định sẽ thành công. Đúng như thế, mỗi con người chúng ta ai cũng có hướng đi của riêng mình, để thành công gặt được hoa thơm trái ngọt không hề dễ dàng, bởi vậy điều chúng ta cần là ý chí, bản lĩnh kiên trì, cần cù, nỗ lực không ngừng nghỉ thì mới có thể thành công như mong muốn.Xem thêm: Tuần 8: Luyện từ và câu (Thiên nhiên – Từ nhiều nghĩa) Trong lịch sử dân tộc ta từ xưa tới này chúng ta đã trảiqua vô cùng nhiều chiến tranh đau thương, mất mát, để có những ngày tháng bình yên, nhiều người dân chúng ta đã phải hy sinh máu xương, thân thể của mình ở những chiến trường khác nhau. Nhờ sự chiến đấu, nỗ lực không nghỉ ngơi đó mà con cháu hôm nay đã được hưởng tự do thái bình Trong cuộc sống chúng ta có rất nhiều người đã bị số phận bạc đãi khi cho họ một cơ thể không khỏe mạnh, thiếu đi một vài bộ phận như thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, Nguyễn Sơn Lâm… nhưng bằng sự nỗ lực của mình họ đã sử dụng đôi chân vô cùng thiện nghệ như một đôi tay có thể làm mọi việc như viết lách, chơi thể thao. Nhờ sự nỗ lực ý chí “Có công mài sắt, có ngày nên kim của mình” mà họ đã trở thành những tấm gương sáng trong học tập, làm việc mà nhiều người lành lặn có đủ tay chân như chúng ta cũng không thể theo kịp. Bên cạnh những người kiên trì, cần cù trong cuộc sống có rất nhiều bạn trẻ hay nóng vội, chóng chán nản và luôn mong muốn thành công nhanh nên bất chấp mọi thủ đoạn để thành công học bỏ cuộc giữa chừng, vì họ ngại khó ngại khổ, không muốn nỗ lực Là một học sinh ngồi trong ghế nhà trường em thấy câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” là vô cùng đúng đắn. Nó khuyên con người nên biết cố gắng, phấn đấu thì mới có thành quả tốt đẹp, xứng đáng công sức bỏ ra.Xem thêm: Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau của hai nhân vật Việt và Chiến truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi Nguồn: Tài liệu văn mẫu
Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim”- văn lớp 7
606
Đề bài: Nhân dân ta có câu câu tục ngữ: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Hãy chứng minh câu tục ngữ trên Trong cuộc sống, con người ta đều có những thành công đạt được và những ước mơ muốn vươn tới. Và để thực hiện được điều đó thì ta phải có lòng kiên trì, bền bỉ, nỗ lực. Chính vì vậy ông cha ta đã có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim” để động viên, khích lệ hay nói một cách khác là khuyên răn con cháu, dạy bảo những kinh nghiệm trong đời thường, cuộc sống. Câu tục ngữ được chia làm hai vế, mỗi vế có 4 từ. Hai vế này có hai cặp từ tương ứng với nhau: “Có công – có ngày ; mài sắt – nên kim”. Một vế chỉ sự nỗ lực, một vế chỉ thành quả đạt được. Cây kim tuy nhỏ nhưng nó rất có ích, tròn trịa, trơn bóng, sắc nét. Để mài được một cây kim như vậy thì thật là khó. Câu tục ngữ này mượn hình ảnh cây kim để nói lên được phẩm chất cao quý truyền thống của dân tộc Việt Nam từ hàng nghìn đời nay. Từ những việc nhỏ như quét nhà, nấu cơm đến những việc lớn như xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm. Những thành tựu hiện nay mà ông cha ta đạt được đã minh chứng cho điều đó. Những tháp chùa cổ kính có giá trị, một số công trình nghệ thuật nổi tiếng như tháp Chương Sơn, chuông chùa Trùng Quang… với những đường nét hoa văn thanh thoát, mạnh mẽ, thể hiện tinh thần thượng võ, yêu nước. Và một thành tựu lớn nhất của ông cha ta đó chính là xây dựng nên được một quốc gia văn minh, nhân dân đồng lòng, đất nước yên bình. Công cuộc dựng, giữ, phát huy, đổi mới đất nước đó đã thể hiện được sự bền bỉ, chịu thương chịu khó, sự sáng tạo, lao động kiên cường của ông cha ta. Xem thêm: Truyền thuyết Thánh Gióng lớp 6Trong lao động sản xuất, nhân dân ta cũng đã có những việc làm và kết quả đạt được để khẳng định ý nghĩa của câu tục ngữ trên là hoàn toàn đúng. Từ xưa tới giờ, đất nước ta đã gặp phải những khó khăn rất lớn, từ những thảm hoạ thiên nhiên như lụt lội, bão bùng đến những cuộc chiến tranh do con người tạo ra nhưng nhờ sự cố gắng, chịu đựng, vượt khó mà chúng ta đã khắc phục được những trở ngại đó. Và trong học tập thì điều đó lại càng được khẳng định rõ nét hơn. Những em bé chập chững bước vào lớp một, tập toẹ đánh vần, viết chữ đến những năm tháng tiếp theo lên lớp, phải kiên trì cần cù mới mong đạt được kết quả tốt trên con đường học tập của mình. Trong đường đời cũng vậy, những danh nhân, thương gia, thi sĩ, nhà nho, nhà văn nổi tiếng cũng từng phải vất vả, hi sinh, sử dụng những kiến thức mình có nhưng không thể thiếu đi và phải luôn gắn liền với sự kiên trì, chuyên cần, sáng tạo mới có thể thành đạt. Những tấm gương chăm học, những tấm gương chịu khó như Bác Hồ là một điển hình rõ nét nhất. Bác đã phải vất vả làm việc, chịu khó học tiếng nước ngoài, đi bôn ba khắp nơi để tìm đường cứu nước. Thật hiếm ai như vậy! Và cũng nhờ những sự nỗ lực đó mà đất nước ta mới được tự hào về một danh nhân, một vị lãnh tụ vĩ đại nổi tiếng mà khắp năm, châu bốn bể đều biết tới. Câu tục ngữ trên với hình thức ngôn từ dân dã nhưng thật ngắn gọn súc tích, bao hàm những ý nghĩa sâu sa. Đó chính là những đúc kết lâu đời trong quá trình lao động, kinh nghiệm chiến đấu, sản xuất và cả trong đời thường cuộc sống của ông cha ta. Nó như một bài học quý báu, một thông điệp hữu dụng, một lời dạy chân tình rằng: “Hãy biết tu dưỡng, rèn luyện những đức tính, phẩm chất kiên trì, nhẫn nại, chịu khó, cần cù, sáng tạo, kết hợp với khả năng vốn có của bản thân để làm nên một sức mạnh vô địch vượt mọi gian truân, vất vả trong cuộc sống, những trở ngại éo le nhất mà đi tới thành công, thắng lợi”. Nào chúng ta hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ nhất như học tập chăm chỉ, lao động cần cù để trở thành con ngoan trò giỏi, trở thành chủ nhân tương lai của đất nước. Nguồn Edufly Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư (“Vọng Lư sơn bộc bố”) của Lí Bạch
Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim”
827
Đề bài: Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ "Một cây làm chẳng nên non ba cây chụm lại nên hòn núi cao" Trong kho tàng văn học dân gian hay của cha ông ta rât phong phú, đó là những câu ca, câu thơ, câu đối, hò… và ý nghĩa lớn lao đó còn là những câu răn dạy hậu thế về đạo đức, về đối nhân xử thế, về kinh nghiệm sống… Đó là những đúc kết từ kinh nghiệm quý báu của cha ông chung ta để lại." Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao" chỉ là một trong số kho tàng đó, nhưng đây lại là kinh nghiệm sống lớn lao vơi mỗi con người. Một cây làm chẳng nên non,ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Xét về câu chữ và vần điệu, đó chỉ một câu thơ vần điệu hay, dễ nhớ, dường như là một cái nhìn với cảnh vật: Một cái cây lẻ loi lắm, làm sao có thể che phủ bóng mát nhiều, làm sao có được cái bóng của một khu rừng, một "non" ở đây được. Lúc đó cây sẽ sợ gió to, mưa lớn lũ lụt. Nhưng nếu có 3 cây hay nhiều hơn nữ, cái lẻ loi không còn nữa, mà luc này đã ra dáng vẻ oai vệ của một khu rừng rậm với bóng mát to, sức mạnh trước những cơn gió to, mưa lớn mà những cái cây vẫn hiên ngang, sững sững như núi, như non vậy. Xem thêm: Anh (chị) hãy đọc văn bản sau Nơi Dựa... Những hình tượng người dàn bà - em bé, người chiến sĩ - bà cụ già gợi trong anh (chị) suy nghĩ gì về nơi dựa trong cuộc sốngNhưng ông cha ta khôgn phải chỉ gúp hậu thế vãn cảnh, nhận xét cái cây đơn giản vậy, mà đây chỉ là ông cha ta mượng hình tượng cái cây để làm minh chứng cho sự đoàn kết tạo nên sức mạnh con người. Đó là một lời răn dạy quí báu của cha ông. với cái cây là vậy, nhưng với một con người hay một tập thể nhỏ nếu chỉ vì những lợi ích riêng của mình, của tập thể mình thì kết quả cũng chỉ là cho mình hoặc cho tập thể thôi, không lớn lao được gì cả. Khi ếkt quả chỉ cho mình và cho tập thể thì đâu có gì là lớn lao? nếu chỉ vì mình, vì lợi tập thể nhỏ thì vơi sức lực nhỏ ấy cũng không làm được gì lớn lao cả. Cũng như một cái cây sao làm nên "non" được. Nhưng một khi lợi ích vượt ra ngoài một cá nhân, vượt ra ngoài tập thể để trở thành một tập thể lớn hơn thì chính vì mục đích đó lại hướng chúng ta, tập thể nhỏ lúc đầu chung tay với nhiều người, đồng lòng đồng sức, đoàn kết cùng làm thì kết quả sẽ lớn hơn nhiều. Kết quả công việc lớn hơn nhiều. Có sức mạnh tập thể, thì ta có một sưc mạnh vĩ đại như rừng cây vượt qua mọi cơn giông tố,cuồng phong, thác lũ. Nó cũng ví như câu chuyện cổ tích kể về người cha đã răn dạy con bằng bó đũa. Từng chiếc đũa bẻ gẫy dễ dang, nhưng 2 chiếc thì phải dùng sức hơn, 3 chiếc, bốn chiếc đến 10 chiếc thì khôgn sức mạnh nào bẻ gẫy nữa. Đó là tinh thần đoàn kết. Trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước, cha ông ta cũng dựa vào sức mạnh toàn dân mà làm nên trang sử sáng ngời. Những trang sữ ấy không viết lên bởi một người mà nó được làm nên từ một dân tộc. Tinh thần đoàn kết anh em, bè bạn, gia dình, xã hội là quý báu, là lớn lao, là sức mạnh của mỗi con người trên thế giới này. Đó chính là lời răn dạy của cha ông với chúng ta. Chúng ta càng thấy yêu quý kho tàng văn học dân gian ấy chừng nào! Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích bài thơ Mao ốc vị thu phong sở phá ca của Đổ Phủ
Chứng minh câu tục ngữ “Một cây làm chẳng nên non ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
715
Chứng minh câu tục ngữ: ‘Một cây làm chẳng nên non…’ Hướng dẫn ĐẶT VẤN ĐỂ …Bài học về tình thương và đoàn kết đã ăn sâu vào tâm hồn dàn tộc. Vì thế, nhân dân ta thường nhắc nhở nhau: ‘Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao’. I. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỂ 1. Giải thích khái niệm (nghĩa đen, nghĩa bóng): ‘Một cây’chẳng thể nào làm nên núi ‘nên non’, nên rừng. Đó là một sự thật hiển nhiên. Nhưng ‘ba cây’, tượng trưng cho nhiều cây, rừng cây) thì có thể tạo nên non, ‘nên núi’, không phải là núi thấp, mà là ‘núi cao’. Từ ‘một cây’ đã chuyển thành ‘ba cây’, số lượng đã thay đổi thì chất lượng cũng biến đổi. Nhưng yếu tố quyết định của sự vận động từ ‘lượng’ thành ‘chất’ là sự ‘chụm lai’ của ‘ba cây’ nên mới có hiện tượng thiên nhiên sừng sững ‘hòn núi cao’ kia. ‘Chụm lại’ là hành động, là biểu hiện tâm lí thể hiện sự hợp lực, đổng lòng, là sự gắn bó đoàn kết. ‘Cây’ trong câu tục ngữ được nhân hóa, trở thành một biểu tượng rất sống động và thấm thía về nhân dân, nói lên tình thương yêu đoàn kết dân tộc. Qua câu tục ngữ nhân dàn ta nêu lên một bài học quý báu về tinh thần đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhau trong cộng đồng dân tộc. 2. Phần chứng minh: Lịch sử và cuộc sống, thơ văn và thực tế đã có biết bao thí dụ sống động nói về tình đoàn kết dân tộc. Từ thời xa xưa, với công cụ thô sơ, người Việt đã bạt rừng, lấn biển, đập đê đào kênh để làm nên những cánh đồng màu mỡ, xanh tươi: Việt Nam đất nước ta ơi! Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn. (Nguyễn Đình Thi) Con đê sông Hồng, sông Thái Bình sừng sững như bức tường thành, dài hàng trăm cây số là kết tinh từ sức mạnh đoàn kết, chung lưng đấu cật của hàng triệu triệu con người ta qua hàng ngàn năm lao động. Nhờ công ơn của nữ tướng Lê Chân mà có ấp An Biên những năm đâu Công Xem thêm: Hai bức tranh đời tương phản trong truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốnnguyên. Và mồ hôi, xương máu của bao thế hệ ‘chụm lại’ mà ta có thành phô' Cửa biển to đẹp như ngày nay. Tiếng hô: ‘Quyết chiến! Quyết chiến!’ của các bô lão vang lên khắp điện Diên Hồng thời nhà Trần trong thế kỉ 13 không chỉ biểu thị cho tinh thần yêu nước bất khuất mà còn thể hiện sức mạnh lớn lao của nhân dàn Đại Việt quyết chiến quyết thắng quân xâm lược Mông cổ, như Trần Quốc Tuấn đã nói: ‘Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức’. Đoàn kết là sức mạnh. Đoàn kết để chiến thắng ngoại xâm. Đoàn kết để khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế. Từ ngày miền Nam giải phóng đến nay, sức lao động của bộ đội và nhân dân đã làm thay đổi bộ mặt Đồng Tháp Mười, vùng đồng cói mênh mông đã trở thành vựa lúa Long An. Công trình thủy điện Hòa Bình, đường dây dẫn điện cao thế Bắc – Nam, xây dựng con đường Trường Sơn cũng như hàng nghìn công trình khác trên mọi miền đất nước hiện nay đã làm sáng tỏ một chân lí vĩ đại: "… Ba cây chụm lại nên hòn núi cao’. Em nhớ mãi bài thơ của Bác Hồ nói về sức mạnh đoàn kết, về chí, sự hợp sức, đồng lòng cho con người niềm vui lớn: ‘Hòn đá to Hòn đá nặng Nhiều người nhắc Nhắc lên đặng!’ Nhân dân ta đã biến lời dạy của Hồ Chủ tịch thành hiện thực: ‘Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công’ Và dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ sức mạnh đoàn kết càng được nhân lên gấp bội, nhân dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc. II. KẾT THÚC VẤN ĐỂ Câu tục ngữ: ‘Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao’ đã làm cho mỗi chúng ta thêm thấm thía về bài học đoàn kết. Nó thấp sáng niềm tin và lòng tự hào dân tộc trong mỗi con người Việt Nam. Sức mạnh Việt Nam bắt nguồn từ tình yêu thương đoàn kết dân tộc. Nguồn: thêm: Kể chuyện lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo
Chứng minh câu tục ngữ_ ‘Một cây làm chẳng nên non…’
773
Đề bài: Chứng minh câu “Thời gian là vàng là bạc” Bài làm Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chính vì vậy, mỗi giây, mỗi phút đều vô cùng đáng quý, đúng như câu nói “Thời gian là vàng là bạc” Thời gian là vàng là bạc vì sao? Trong mỗi giây chúng ta đang sống hôm nay, khi nó qua đi chúng ta không bao giờ có thể lấy lại được. Vì thời gian là thứ không bao giờ lấy lại được. Nó quý giá hơn cả vàng bạc. Vàng bạc là một thứ khoáng sản quý hiếm nó tạo ra nhiều của cải vật chất cho con người chúng ta. Để tạo được một cục vàng, hay bạc con người phải bỏ ra rất nhiều mồ hôi công sức mới khai thác được nó. Vàng, bạc cũng là thứ khoáng sản mà tự nhiên phải tinh luyện hàng nghìn năm mới có thể thành quả. Chính vì hai thứ này đều có giá trị quý hiếm ngang nhau nên ông bà ta ngày xưa mới nói câu so sánh như vậy “thời gian là vàng là bạc”. Bên cạnh đó, thời gian giúp cho con người tạo ra nhiều của cải vật chất, những sản phẩm khác nhau tạo ra nhiều nguồn kinh tế, tiền tài, tạo ra nguồn lợi cho xã hội, làm cho nền kinh tế của nước ta, phát triển vững mạnh. Thời gian là thứ vô cùng quý giá mỗi giây trôi đi vô nghĩa là một lần chúng ta đánh mất một phút giây được sống trong cuộc đời mình. Chính vì vậy, các bạn cần phải biết quý trọng thời gian, phân chia thời gian làm việc, học tập, nghỉ ngơi, vui chơi cho thật hợp lý.Xem thêm: So sánh hình ảnh buổi chiều và cảm xúc của chủ thể trữ tình trong bài Mộ của Hồ Chí Minh và khổ cuối bài Tràng giang của Huy Cận. Từ đó nêu lên vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại của bài Mộ Không nên dành thời gian cho những trò chơi vô bổ như game online, hay những hoạt động vô nghĩa sống ảo trên mạng xã hội. Để rồi khi thời gian trôi đi bạn sẽ hối tiếc vì những tháng ngày đã sống hoài sống phí của mình. Thời gian không chờ đợi một ai. Nó không hề vì bạn đang vội mà chạy chậm lại chờ đợi bạn theo kịp nó, cũng không vì bạn đang đủng đỉnh mà chạy nhanh hơn. Thời gian tuân theo quy luật riêng của nó. Trong những nhà máy xí nghiệp, những người công nhân đang làm việc vô cùng hăng say. Mỗi giây phút trôi qua họ lại tạo ra rất nhiều sản phẩm cho xã hội. Họ ngày đêm lao động miệt mài tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Nếu bạn không quản lý thời gian hợp lý, lãng phí thời gian vô ích thì khi già nhìn lại bạn sẽ không làm được gì có ý nghĩa. Trong khi mọi người xung quanh bạn đã tiến rất xa thì bạn lại tụt hậu lại đằng sau lưng họ rất nhiều. Nguồn: Tài liệu văn mẫu
Chứng minh câu “Thời gian là vàng là bạc”- văn lớp 7
533
Chứng minh nghệ thuật châm biếm đặc sắc của Nguyễn Ái Quốc qua tác phẩm Vi hành Gợi ý Vi hành là một trong những truyện ngắn hay nhất của Nguyễn Ái Quốc ra đời vào những năm 20 cùa thế kỷ này. Tác phẩm được viết bằng tiếng Pháp, đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản pháp, số ra ngày 19-2-1923. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), đế quốc Pháp tuy là nước thắng trận nhưng kinh tế kiệt quệ, phải đối phó với phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Trong tình thế đó, chúng một mặt tăng cường vơ vét các thuộc địa, mặt khác lại phải tuyên truyền, lừa bịp về "sự thịnh vượng" và "tình hình ổn định" của những nước chúng "bảo hộ" và "khai hoá". Để thực hiện âm mưu ấy, thực dân Pháp bày ra cuộc "đấu xảo" thuộc địa ở Macxây vào giữa năm 1922 và đưa Khải Định sang với tư cách là quốc vương An Nam. Cuộc "Pháp du" của tên vua bù nhìn này là một trò quảng cáo cho chủ nghĩa thực dân (tỏ thái độ thần phục "mẫu quốc", cảm ơn công khai hoá của "mẫu quốc", cầu xin "mẫu quốc" tiếp tục dìu dắt trên con đường văn minh, tiến bộ) đã bị những người yêu nước Việt Nam lên án mạnh mẽ. Nguyễn Ái Quốc viết Vi hành (cùng với một loạt tác phẩm khác như kịch Con rồng tre, tiểu phẩm Sở thích đặc biệt, truyện ngắn Lời than vãn của bà Trưng Trắc…) để lột tẩy con bài chính trị "Khải Định" của thực dân Pháp. Tác phẩm viết bằng tiếng Pháp, xuất, bản ở Pari, tất nhiên đối tượng là người Pháp, sau đó là công chúng biết tiếng Pháp ở các thuộc địa. Mục đích và đối tượng ấy quyết định nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm Vi hành. Tinh huống truyện và nhân vật truyện Sáng tạo tình huống, đó là khâu then chốt của nghệ thuật truyện ngắn. Trong truyện Vi hành, Nguyễn Ái Quốc đã tạo ra một tình huống thật oái oăm vừa vui, vừa gây được hiệu quả châm biếm sâu cay. Đó là tình huống nhầm lẫn: đôi trai gái người Pháp trên toa tàu điện ngầm đã nhầm lẫn nhân vật người dẫn truyện (xưng tôi) với Khải Định. Sụ nhầm lẫn tuy có dụng ý, nhưng không phài là không thể xảy ra. Đối với người phương Tây thật khó phân biệt được những bộ mặt khác nhau của người da vàng "vẫn cái mũi tẹt ấy, vẫn đôi mắt xếch ấy, vẫn cái mặt bủng như vỏ chanh ấy, cò gì khác đâu (cũng như người Việt Nam nhìn người phương Tây, thấy ai cũng mũi lõ, mắt xanh, da trắng như nhau cà). Tình huống ấy có tác dụng nghệ thuật gì? Nó tạo điều kiện để nhân vật tôi có thể nghe lỏm được cuộc trò chuyên thầm kín và tinh quái của đôi trai gái Pháp về Khải Định, dẫn đến một điều thú vị là Khải Định không xuất hiện trong tác phẩm mà lại được dựng lên hết sức cụ thể và ngộ nghĩnh. Cách lố bịch hoá tên vua bù nhìn như thế lại giữ được tính khách quan rất cần thiết đối với độc giả người Pháp: không phải Nguyễn Ái Quốc, một người cộng sản mạt sát Khải Định như một kẻ thù giai cấp. Đây là người dân Pháp nghĩ như thế về Khải Định đấy chứ… Mà trong con mắt người Pháp thì Khải Định mới kỉ quái một cách hài hước đến thế: cái nón của vua An Nam thành cái chụp đèn, y phục và đồ trang sức của vị hoàng đế là những lụa là đeo trên người cùng với những bộ hạt cườm… Tóm lại, qua cuộc trò chuyện củạ đôi tình nhân Pháp, người đọc hình dung được tên vua bù nhìn, khi ở trường đua, khi "vi hành" trong tàu điện ngầm, là một gã An Nam mũi tẹt, mặt bủng, đội chụp đèn lên đầu, đeo rất nhiều lụa là và hạt cườm, vẻ nhút nhát, lén lút, lúng ta lúng túng… Họ đặt câu hỏi: Hắn đến đây làm gì trên tàu điện ngầm, không ăn mặc diêm dúa, không có tuỳ tùng hộ giá? và tự trà lời: “Thế hay là hắn dem tất cả các thứ dó đến tiệm cầm đồ rồi?”Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu “- Có khi đã gửi tuốt ở kho hành lý nha ga, để đi vi hành đây!" Các cụ ngày xưa thường nói đến thủ pháp nghệ thuật "vẽ mây nẩy trăng". Trong trường hợp Vi hành, Khải Định không rõ mặt mà chân dung hắn lại được tô đậm đến từng chi tiết: một hộ dạng ngớ ngẩn, kì quái, lố bịch, một gà ãn tiêu bừa bãi, chơi bời lén lút không ra thể thống gì cả. Và cái giá của vị vương quốc An Nam mới thảm hại làm sao: người dân Pari coi y chỉ là một mục giải trí rẻ tiền, thậm chí không tốn một xu – khòng như xem hề Saclô, xem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên hay trò leo trèo nhào lộn của sư thánh xứ công gô… Nghệ thuật trần thuật. Nói về nghệ thuật trần thuật của Vi hành, nên chú ý đặc điểm này: tác già dùng hình thức một lá thư gửi cô em gái họ ở quê nhà (dịch ra tiếng Pháp). Viết truyện dưới hình thức viết thư, thực ra khỏng có gì mới mẻ, độc đáo cà. Vấn đề là tác giả sử dụng hình thức này có thích hợp không và đạt hiêu quả nghệ thuật ra sao. Thư riêng gửi người thân – không phải thư công vụ – là một lối văn hết sức vô tư, phóng túng. Người viết cò thế từ chuyện nọ xọ chuyện kia, chuyển cảnh, đổi giọng thoải mái. Trong một bức thư người ta có thể thông tin, nhắn tin đủ loại, có thể trao đổi tâm sự thầm kín nhất cũng như những suy nghĩ riêng tư nhất. Chuyển cảnh, chuyển giọng linh hoạt: nhờ hình thức viết thư, tác giả có thể dang từ giọng trần thuật khách quan (tường thuật cuộc trò chuyện của đôi trai gái Pháp) chuyển ngay sang giọng trữ tĩnh thân mật khi tâm sự với cô em họ. Có thể tìm thấy trong Vi hành nhiều giọng điệu khác nhau, khi nghiêm trang, khi cười cợt, khi vui tươi nhí nhảnh, khi buồn nhớ mênh mông, khi lạnh lùng sắc sảo… Tuy nhiên, bao trùm lên tất cả vẫn là giọng mỉa mai châm biếm, bề ngoài nhiều khi có vẻ nhẹ nhàng và vui nữa, nhưng thực ra đều là những đòn đả kích sâu cay mãnh liệt:Xem thêm: Phân tích hình tượng sóng để làm nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Hắn đấy! Đâu phải! Đúng mà! Anh đã bảo là chính hắn đấy! Chắc thật à? Em thì em đã thấy hắn ở trường đua, trông hắn có vẻ nhút nhát hơn, lúng ta lúng túng hơn cơ, có cả cái chup đèn chụp lên cái đầu quấn khăn, các ngón tay thì đeo đầy những nhẫn". Thế hay là hắn đã đem tất cả các thứ đó đến hiệu cầm đồ rồi? Nhưng mà nhìn kĩ mà xem kìa! Chẳng phải vẫn cái mũi tẹt ấy, vẫn đôi mắt xếch ấy, vẫn cái mặt bủng như vỏ chanh ấy đấy à”. – Đổi xe ở đây chứ? Anh yêu ơi! – Không, ga sau. Đúng sau lúc đó thì có một anh vua đến với chúng ta" Em thì thích Saclô hơn. Với lại, vua thì tốn lắm" Đâu có! Thế em vẫn nhớ buổi dạ hội thuộc địa ở nhà hát Ca Vũ đấy cliứ? Phải trả những nghìn rười phơrăng để xem vợ lẽ nàng hầu cua Cao Miên (…), hôm nay thi chúng mình có mất ti tiên nào đâu mà được xem vua đang ngay cạnh. Nghe nói ông bầu nhà hát múa rối có ý định kí giao kèo thuê đấy…" Nhờ hình thức viết thư. tác phẩm cũng có thế chuyển cảnh một cách thoải mái: từ cảnh đi xe điện ngầm ở Pari chuyển thẳng đến cảnh quê nhà, thời thơ ấu của nhân vật "tôi" khi còn ngồi vắt vẻo trên đầu gối của ông bác để nghe truyện cổ tích; từ chuyện cải trang của vua Thuấn bên Tầu, vua Pie bên Nga đến chuyện vi hành của các ông hoàng, bà chúa vì những lý do "không cao thượng bằng". Liên hệ tạt ngang, so sánh thoải mái nhằm châm biếm nhiều đối tượng một lúc. Thư là một lối văn rất chủ quan, người viết có thể đưa ra đủ mọi cảm nghĩ tự do của mình, đổng thời liên tưởng tạt ngang từ đối tượng này đến đối tượng khác nhiều khi chẳng có quan hệ gì với nhau Tác già Vi hành đã làm như thế. Chẳng hạn, từ câu chuyện "vi hành" của Khài Định, tác giả đã đưa ra đủ từ để suy đoán về hành vi bất chính của y, với những "phải chăng ngài muốn…", "hay là ngài muốn…". Ai cấm được người viết thư nêu ra những phán đoán mỉa mai như thế. Đặc biệt từ sự nhầm lẫn của đôi trai gái người Pháp, tác giả lại liên hệ tạt ngang hết sức bất ngờ đến bọn mật thám ở pari luôn luôn bám sát những người yêu nước Việt Nam theo lệnh của Chính phủ Pháp: "Cái vui nhất là ngay đến Chính phủ cũng chẳng nhận ra được khách thật của mình nữa, và để chắc chắn khỏi thất tHồ trong nhiệm vụ tiếp dân, chính phủ bèn đối đãi tất cà mọi người An Nam vào hang vua chúa và phái tuỳ từng đi hộ giá tuốt. Có thể nói là các vị bám lấy đế giày tôi, dính chặt với tôi như hình với bóng. Và thật tình là các vị cuống cuồng cả lên nếu mất hút tôi chỉ trong dăm phút".Xem thêm: Từ đoạn trích vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ, nghĩ về niềm hạnh phúc khi được sống thực với chính mình và mọi người Vi hành là một tác phẩm đầy tính chiến đấu. Tuy được viết ra để ứng chiến kịp thời, tác phẩm đã đạt tới trình độ nghệ thuật cao. Đặc biệt nghệ thuật châm biếm của thiên truyện thật độc đáo, linh hoạt, đa dạng, dường như mỗi chi tiết, mỗi câu, mỗi chữ đều muốn trở thành một lười dao sắc, một mũi tên nhọn nhằm vào kè thù Vanmau.edu.vn
Chứng minh nghệ thuật châm biếm đặc sắc của Nguyễn Ái Quốc qua tác phẩm Vi hành
1,847
Đề bài: Chứng minh Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và trẻ em qua đoạn trích Trong lòng mẹ Văn của Nguyên hồng giàu cảm xúc,ngọt ngào và nhuần nhị rất hợp với những kỉ niệm về mẹ và về tuổi thơ.Phải chăng vì lẽ đó mà có ý kiến đã cho rằng “Nguyên hồng là nhà văn của phụ nhữ và nhi đồng”.Lời nhận định khái quát gần trọn sự nghiệp sáng tác của Nguyên hồng và đặc biệt đúng ở đoạn trích Trong lòng mẹ. Nguyên hồng đến với phụ nữ và trẻ em không phải như là một sự ngẫu nhiên.Ngay từ hai tập sách đầu tay,tiểu thuyết Bỉ vỏ và hồi ký Những ngày thơ ấu,nhà văn đã dụng công viết về những gian truân của họ.Từng có lúc nếm trải cuộc sống cùng cực ở xóm Cấm,Hải Phòng,Nguyên hồng hiểu những nỗi đắng cay kia như chính cuộc đời mình.Có thể nói những trang hồi ký về “ngày thơ ấu”là những trang văn đậm sâu kỷ niệm về tình mẫu tử,ở đó,tác giả đã để cho tình thương yêu vượt lên bao định kiến hằn học mà tỏa sáng. Trong lòng mẹ là một đoạn trích ngắn gọn gồm ba nhân vật:hai người phụ nữ và một cậu bé trai.Ba nhân vật khác nhau về tính cách nhưng đều đã hiện lên sinh động và đầy ấn tượng dưới ngòi bút của Nguyên hồng.Đoạn trích chứng tỏ sự am hiểu sắc của nhà văn về phụ nữ và trẻ em.Đặc biệt là sự nắm bắt cá tính và tâm lý. Nhân vật người cô được nhà văn xây dựng qua đối thoại.Nhân vật không được đặc tả nhưng tính cách cứ lộ dần qua lời đối thoại.Đó là một hình mẫu điển hình cho sự tàn nhẫn và lòng đố kỵ.Sự nhỏ nhoi của người cô làm bé Hồng đau nhói.Những lời nói lạnh lùng mà quái ác của người cô như được chắt ra từ bao cảnh đời ngang trái mà Nguyên hồng đã gặp.Cái ác có nhiều loại nhưng sự tàn nhẫn giả dối và đố kỵ thì ở đâu chẳng có những nét mặt giống nhân vật của Nguyên hồng. Xem thêm: Phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, từ đó rút ra ý nghĩa nhân đạo của tác phẩmHiểu sâu sắc về nhân vật phản diện nhưng tác giả còn tỏ ra tinh tế hơn nhiều khi lật mở những vẻ đẹp của tình yêu thương trong tâm hồn non nớt của bé Hồng.Tình yêu mẹ của bé Hồng vượt qua tất cả những dèm pha nanh nọc của bà cô.Ở trong em,kỷ niệm về mẹ,hình ảnh của mẹ bao giờ cũng tươi đẹp và trong sáng vô cùng.Dù có những lúc boăn khoăn nhưng cậu bé Hồng vẫn kiên trì một suy nghĩ đầy yêu thương về mẹ.Thế mới biết Nguyên Hồng hiểu và rất hiểu tuổi thơ.Ở đó,có thể nói trong tất cả chúng ta,cái anh sáng chiếu rọi lung linh và duy nhất đó là sự hiền hòa,yêu thương của lòng mẹ.Với hình ảnh bé Hồng,nhà văn dường như đã làm cho tình mẫu tử trên thế gian này thiêng liêng và ý nghĩa hơn gấp nhiều lần. Nhân vật kiệm lời nhất nhưng lại để lại cho chúng ta nhiều day dứt nhất chính là mẹ bé Hồng.Một người phụ nữ hẳn phải hiền hậu vô cùng.Chỉ cần xem cái nhìn nhân vật đón bé Hồng,ôm trọn cái sinh linh bé nhỏ vào lòng mà ta cảm thấy cái tình mẫu tử sâu nặng và cao quý biết bao.Không thể diễn tả hiết nỗi đau của người mẹ khi phải xa con và cũng không thể diễn tả hết niềm hạnh phúc trong ngày gặp lại con,nhà văn để cho người mẹ đáng thương im lặng.Ngày gặp lại con không biết có bao nhiêu cảm giác trong lòng người mẹ đang được ngân lên:vui có,buồn có,lo lắng,tủi hờn cũng có.Vậy sự im lặng đã trở thành sự diễn đạt tình tế nhất. Viết về phụ nữ,nhi đồng,viết về những kỷ niệm tuổi thơ không khó nhưng viết cho hay thì không dễ chút nào.Văn của Nguyên Hồng có nguồn mạch tự nhiên về đề tài người phụ nữ,về tuổi thơ.Cái nguồn mạch ấy chính là sự chắt lọc từ lòng yêu thương của Nguyên Hồng,từ những kỷ niệm tuổi thơ đẹp đẽ và sâu sắc về người mẹ kính yêu. Nguồn Edufly Xem thêm: Cảm nhận về nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi
Chứng minh Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và trẻ em
762
Đề bài: Chứng minh Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam qua chùm thơ Thu Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX của nước ta. Thơ ông đậm đà tính dân tộc và mang một phong cách riêng khó lẫn. Có ý kiến cho rằng: “Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ đặc sắc của làng cảnh Việt Nam”. Điều đó thể hiện rất rõ qua những sáng tác về thiên nhiên, nhất là qua chùm thơ: “Thu vịnh”, “Thu điếu”, “Thu ẩm”. Đáng lưu ý là các chi tiết trong ba bài thơ này cũng như nhiều bài thơ khác đều rút ra từ cảnh vật ở quê hương tác giả, một vùng đồng chiêm trũng quanh năm ngập nước, trong làng vô số ao chuôm với những bờ tre quanh co bao bọc những mái rạ nghèo. Tình yêu quê hương, sự hiểu biết tường tận về làng quê kết hợp với hồn thơ đằm thắm, tinh tế của tác giả đã sáng tạo nên những vần thơ bất hủ về mùa thu nơi thôn dã của đồng bằng Bắc bộ. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến không phải là những hình ảnh trừu tượng, ước lệ thường thấy trong thơ cổ điển mà là những cảnh vật bình dị, thân quen ở nông thôn. Cái hồn của cảnh vật thấm sâu vào tâm hồn nhà thơ, đồng điệu với tâm trạng buồn, trăn trở của ông. Ba bài thơ, ba cảnh thu khác nhau nhưng hợp lại thành một bức tranh hoàn chỉnh về mùa thu với những nét đặc trưng nhất. “Thu vịnh” vẽ nên cảnh thu với bầu trời “xanh ngắt”, cao vời vợi, mấy “cành trúc” cong cong, nhè nhẹ đung đưa trước làn “gió hắt hiu”. Tiết thu se lạnh, sương khói lãng đãng phủ trên mặt ao hồ lúc sáng sớm và chiều tối khiến cho khung cảnh thực trở nên huyền ảo: Trời thu xanh ngắt từng cao, Cần trúc lơ phơ, gió hắt hiu. Nước biếc trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. Nét đẹp của mùa thu tụ lại ở bầu trời “xanh ngắt”, ở làn “nước biếc” thấp thoáng khói sương, ở ánh trăng thu bàng bạc tràn qua song cửa, gợi nên khung cảnh quen thuộc của một miền quê yên ả, thanh bình. Nhà thơ quan sát rất kĩ chuyển biến tinh tế của cảnh vật trong những thời điểm khác nhau của một ngày. Tất cả đều gần gũi, gắn bó và đồng điệu với tâm hồn nhạy cảm của thi nhân. Xem thêm: Bình giảng cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa mẹ Tràng với nàng con dâu qua đoạn văn trích sau đây trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân: "Tràng nhắc mẹ: ... con cái chúng mày về sau!"Ở “Thu điếu”, khung cảnh không mở ra mà thu nhỏ lại. Ao đã nhỏ, chiếc “thuyền câu” càng nhỏ: “Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Mọi hoạt động cũng hết sức nhẹ nhàng: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí. Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. Gió heo may chỉ đủ sức bứt lìa những lá tre, lá trúc vàng úa và lá rơi không thành tiếng. Trên cao, “trời xanh ngắt” một màu, “tầng mây lơ lửng” như đứng im một chỗ và ông câu với cái dáng ngồi “tựa gối ôm cần” cũng như cố thu mình cho nhỏ lại. Yên lặng bao trùm lên hết thảy, đến nỗi nghe được cả tiếng “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Âm thanh ấy càng làm tăng thêm phần yên lặng. Ông câu thu mình bất động phải chăng cũng là để tan hòa vào trời đất xung quanh. Mùa thu trong “Thu ẩm” lại hiện ra với một vẻ đẹp khác. Nhà thơ uống rượu một mình dưới trăng. Hình ảnh làng quê biến hiện theo cái nhìn, cái cảm dần dần thấm độ say của rượu. Vẫn là “ba gian nhà cỏ”, “ngõ tối”, “làn ao”, “bóng trăng”, “da trời”… thường ngày quen nhìn đến mức chẳng có gì đáng chú ý. Không đáng chú ý nhưng đó là những cảnh, những vật từ đất này mà ra, thiếu nó thì hình như không còn gì là làng xóm tự nghìn xưa. Vậy mà với tâm trạng u buồn có sẵn, lại được men rượu ngấm vào khơi lên, nhà thơ thấy cảnh vật nhòe dần theo con mắt ngà ngà: “nhà” thì “thấp le te”, “đóm” thêm “lập lòe”, “bóng trăng” thì “loe”, “mắt”cũng “đỏ hoe” và “người” thì cũng “say nhè”. Ba gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu, đóm lập lòe. Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng hoe. Nghĩa là cảnh vật cũng như lảo đảo, chếnh choáng men say. Người say bởi rượu thì ít mà bởi buồn đau, day dứt và giận mình bất lực trước thời thế thì nhiều. Gác bút lại không làm thơ nữa, quên mình trong mộng, đắm chìm trong yên lặng hay uống rượu đến “say nhè” để quên bớt nỗi chua chát đắng cay đến cùng xuất phát từ tâm tư ấy, tuy nhiên nó vẫn được ẩn giấu ở bên trong. Nét chung của ba bài thơ “Thu” đều quy tụ vào việc tả cảnh vật thân thuộc, đơn sơ mà dung dị, đáng yêu của làng cảnh Việt Nam. Cái nhìn trên bề mặt cùng cái hồn đồng quê hiện lên rất rõ trong từng câu, từng chữ. Cái tình của nhà thơ cũng thật đằm thắm và tinh tế. Trong những năm tháng cáo quan về ở ẩn tại quê nhà, chỉ có thiên nhiên gần gũi, trong sạch, nên thơ mới giúp Nguyễn Khuyến khuây khỏa đôi lúc trong khi nỗi buồn thời cuộc thường xuyên đè nặng trái tim ông. Ba bài thơ “Thu vịnh”, “Thu điếu”, “Thu ẩm” tạo thành một chùm thơ thu tuyệt đẹp, thể hiện nét tài hoa của ngòi bút cụ Tam Nguyên, tiêu biểu cho hồn thơ dung dị, thẳm sâu, đầy chất trữ tình. Bạn đọc Việt Nam yêu thơ Nguyễn Khuyến, yêu quê hương một phần là từ những bài thơ đó. Nguồn Edufly Xem thêm: Tả một cảnh sông nước (một vùng biển, một dòng sông, một con suối hay một hồnước…)
Chứng minh Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam qua chùm thơ Thu
1,051
Chứng minh rằng Bác Hồ luôn thương yêu thiếu nhi Gợi ý “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng? Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng?…”. Thiếu niên nhi đồng Việt Nam và cả những bạn thiếu niên nhi đồng thế giới luôn dành cho Bác Hồ một tình yêu thương, quý mến rất tha thiết, chân tình. Bởi đâu Bác có được những tình cảm thiêng liêng đáng trân trọng ấy? Bởi Người cũng rất yêu thương những em nhỏ, không chỉ những người cháu Việt Nam chung một nguồn gốc con Rồng cháu Tiên mà cả những em nhỏ thiếu niên nhi đồng quốc tế. Sinh thời, Bác rất quan tâm đến đời sống, điều kiện học tập của thiếu niên nhi đồng cả nước. Trọng những năm tháng còn hoạt động bí mật hoặc khi phải lập căn cứ cách mạng ở chiến khu Việt Bắc, Bác rất chú ý đến việc nhắc nhở các cô chú cùng làm việc chăm lo cho con cháu của họ. Có lần, thấy các cháu chơi đùa mà người lấm đất cát, mồ hôi Người đã tự tay múc nước tắm cho từng cháu một. Kháng chiến thành công, Bác càng quan tâm đến thiếu nhi hơn nữa. Chỉ vài ngày sau Cách mạng tháng Tám, Bác đã kí sắc lệnh thành lập cơ quan phụ trách việc học tập của thiếu niên nhi đồng cả nước. Trong ngày khai trường đầu tiên Bác đã gửi thư chúc mừng tới các em. Trong bức thư ấy có những dòng thật cảm động: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang được hay không chính lặ một phần lớn ở công học tập của các cháu’. Những câu nói ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho hàng triệu người cháu nhỏ, động viên thiếu niên Việt Nam học tập, thi đua. Vào ngày Tết Trung thu, Người cũng viết những dòng thơ cảm động gửi tặng các cháu:Xem thêm: Viết một đoạn văn 3-4 câu nói về mùa hè ở thành phố“Trung thu trăng sáng như gương Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng Sau đây Bác viết mấy dòng Gửi cho các cháu tỏ lòng mến thương”. Sự quan tâm ấy thật như tấm lòng của người ông dành cho những đứa cháu ruột thịt của mình. Chuyện còn kể rằng, một lần trên đường đi công tác, Bác đang ngồi trên xe ô tô đi qua một cổng trường. Lúc ấy đúng giờ tan học, các bạn học sinh ùa ra, Bác đã yêu cầu chú lái xe đỗ xe lại để nhường đường cho các cháu học sinh đi trước. Chuyện lại kể rằng một lần Bác đến thăm trại thiếu niên, Bác muốn tặng kẹo cho các cháu. Đến lượt bạn Tộ, bạn rụt rè không dám nhận vì “Thưa Bác cháu vẫn chưa ngoan ạ”. Bác cười xòa nói rằng như vậy Tộ vẫn xứng đáng được nhận kẹo vì biết nhận ra lỗi cùa mình… Lòng bao dung của Bác đối với các cháu thật vĩ đại nhường nào… Trong di chúc thiêng liêng của mình, Người cũng để lại muôn vàn lời yêu thương, quý mến cho thiếu niên. Nhà thơ Tô’ Hữu khi về “Thăm cõi Bác xưa” từng nghẹn ngào thốt lên: “Ô vẫn còn đây của các em Chồng thư mới mở Bác đang xem Chắc Người thương lắm lòng con trẻ Nên để bâng khuâng gió động rèm”. Điều đáng trân trọng là tấm lòng yêu thương thiếu nhi của Bác đã vượt không gian để chia sẻ cho thiếu nhi thế giới. Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Người luôn dành những tình cảm nồng ấm nhất cho những cháu nhỏ Người gặp. Trong những câu chuyện về Bác, ta còn nhớ lá thư mà cậu bé Pôn – con một đồng chí người Pháp – đã gửi cho Bác gọi Bắc là “chú Nguyễn” đầy trìu mến kèm theo đó là “một cái hôn thật kêu” vô cùng thân thiết. Pôn cũng kể lại bao kỉ niệm thân thương giữa hai chú cháu: cùng ngồi tâm sự, cùng ngồi chơi, cùng vui đùa với con chó Ma-ri-uýt,… Đáng kinh ngạc là có những giây phút, tình thương thiếu nhi của Bác vượt qua cả nỗi thương mình. Trong những năm 1940, khi Bác bị giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch, được chứng kiến cảnh một em bé phải cùng mẹ vào nhà lao ngồi tù thay bố, Người đã vô cùng xúc động viết nên thơ:Xem thêm: Cảm nhận khi đọc Mùa xuân của tôi (Trích Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng)"Oa… oa… oa, cha trốn không đi lính nước nhà Nên nỗi thản em vừa nửa tuổi Phải theo mẹ đến ở nhà pha" Lại có lần Bác đến một thành phố của Pháp,, rời khỏi bàn tiệc, Người có cầm theo một quả táo. Điều đó khiến không ít người ngạc nhiên. Nhưng ngay khi gặp các cháu thiếu niên ùa ra đón, Bác đã bế lên tay cháu bé nhỏ nhất và tặng cháu trái táo: Mọi người cảm thấy vô cùng thú vị và vỗ tay tán thưởng. Cậu bé này sau đó về nhà đã giữ trái táo rất lâu, ai giục ăn cũng không ăn: em ấy muồn giữ “trái táo Bác Hồ” để làm kỉ niệm! Tình thương của Bác đối với thiếu niện nhi đồng thật cao cả, mênh mông. Nhớ đến tình Bác, chúng cháu không chỉ yêu quý Người hơn mà còn biết chăm chỉ học hành xây dựng đất nước để đưa đất nước đi lên “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như điều mà Người hằng mong mỏi. Vanmau.edu.vn
Chứng minh rằng Bác Hồ luôn thương yêu thiếu nhi
966
Đề bài: Hãy chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta Suốt chiếu dài Tổ quốc không đâu là không có rừng. Rừng có ở khắp nơi trên mảnh đất hình chữ S này cho thấy tầm quan trọng to lớn của rừng đến nhường nào. Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta. Rừng vô cùng quan trọng đối với đời sống con người. Rừng được chia làm hai loại: rừng nguyên sinh và rừng nhân tạo. Rừng nguyên sinh là do thiên nhiên tạo ra còn rừng nhân tạo là rừng được hình thành nên bởi con người.Cỏ cây, hoa lá, động vật hoang dã… đều là các yếu tố hình thành nên rừng. Rừng có mối lien quan mật thiết đến đời sống con người, rừng là lá phổi xanh của Trái Đất, lá máy lọc khí khổng lồ của con người. Chính vì điều đó, rừng là một yếu tố thiên nhiên hữu dụng và lợi ích. Rừng đem lại bao lợi ích cho con người. Ô xi chúng ta hít vào hang ngày một phần là từ rừng. Cây cối trong rừng ban ngày quang hợp, lấy khí CO2 và hải ra khí O2 cho con người hô hấp. Rừng còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu, cho cuộc sống hang ngày. Rừng chè, rừng cà phê,… cho con người nguyên liệu để tiêu dung trong nước cũng như xuất khẩu ra toàn thế giới. Rừng tre, rừng trúc cống hiến than mình cho con người làm cơm lam, làm đôi đũa,… Vai trò to lớn hơn cả của rừng là ngăn chặn lũ lụt, bảo vệ cuộc sống của con người. Có biết bao nhiêu trận lũ đã giảm bớt được sức tàn phá khi vào tới khu vuecj dân sinh là nhờ có rừng. Những cánh rừng phòng hộ đầu nguồn luôn ngày đêm đứng vững trên mảnh đất để bảo vệ cuộc sống của người dân trong phố. Có cây, có rừng nên đất mới không bị sói lở. Nếu không có sự xuất hiện của rừng thì bao nhiêu người dân đã bị chết vì đất lở. Những khu rừng ngập mặn đóng vai trò chắn sống từ ngoài biển khơi, ngăn chặn dòng nước mặn từ biển đổ vào thành phố. Rừng không những đóng vai trò to lớn trong hiện tại mà trước kia, rừng cũng là mồ chon quân giặc. Những anh lính bộ đội cụ Hồ cần đến rừng để làm nơi ẩn náu, phục vụ kháng chiến. Có biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ lấy rừng làm đề tài cho tác phẩm của mình. Ca khúc “Nhạc rừng” mang đậm nét thoáng đạt của rừng, bài thơ “Rừng Việt Bắc” đã nâng cao ý nghĩa của rừng trong kháng chiến,… và bao nhiêu tác phẩm thơ văn khác nữa Hiện nay, nhiều khu rừng ở Viêt Nam đang đi xuống một cách trầm trọng. Người dân thì cử thẳng tay chặt phá rừng mà không nghĩ đến tương lai sau này. Rừng đầu nguôn thì bị xóa sổ. Chính vì rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ bị xóa sổ mà gây ra biết bao nhiêu trận lũ quét. Việc khai thác rừng trái phép đã trở thành chuyện thường tình ở khắp mọi nơi, khắp mọi khu rừng trên đất nước. Hiện tượng lâm tặc hoành hành ngày càng nhiều ở các cánh rừng. Cứ vào mùa hanh khô, chì cần đốt một cái cây trong rừng cũng có thể gây cháy toàn bộ khu rừng. Người dân đốt phá rừng không có kế hoạch, không chịu trồng lại rừng. Chặt hết rừng này thì vẫn còn rừng khác, có lẽ, người dân nào cũng nghĩ như vậy. Sâu trong rừng là một mỏ khoáng sản khổng lồ, chính vì điều đó mà long tham của con người mới nổi lên, con người mới đi khai thác khoáng sản trái phép. Chỉ vì mục đích bảo vệ rừng mà nhiều nhân viên làm ở khu quản lí lâm nghiệp đã phải hi sinh cả tính mạng của mình. Lâm tặc chỉ yêu mỗi tiền của, coi tính mạng con người như cỏ rác, thẳng tay mà giết người để bịt đầu mối. Không những chặt cây lấy gỗ, người dân còn săn bắt động vật hoang dã để thu nguồn lợi nhuận trái phép. Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài- văn lớp 7Chính vì việc phá hoại rừng của người dân mà đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Cuộc sống của người dân vùng miền Trung Việt Nam nói riêng và toàn thế giới nói chung đang phải gánh chịu những cơn bão, những cơn song thần vào sâu trong đất liền là do không có rừng chắn. Hàng năm, có biết bao nhiêu trận lũ đổ về đất liền, cứ thế mà “tự nhiên xông thẳng” vào khu vực dân sinh vì không có rừng che chở. Bao nhiêu người thiệt mạng, mất nhà cửa vì lũ lụt. Qủa thật là “gậy ông đập lưng ông”, chính người dân chặt phá rừng cho nên bây giờ có lũ, lấy đâu ra rừng mà chắn nước lũ. Có những nơi thì đất trống đồi trọc, đất cứ thế mà trơ ra, chả có cây cối gì vì do bị khai thác bừa bãi. Động vật do bị săn bắn quá nhiều nên nhiều loài đang được ghi tên trong sách đỏ vì mang nguy cơ tuyệt chủng, loài ít, loài nhiều gây mất cân bằng sinh thái.Loài này tuyệt chủng thì còn loài kia, cứ thế mà chẳng mấy chốc trên Trái Đất này sẽ chẳng còn sự sống của muông thú. Nhiều khu vực hạ tầng cơ sở đã bị phá hủy. Ở miền Trung, hiện tượng sa mạc hóa đã xuất hiện và đe dọa người dân ở nơi đây. “Hiệu ứng nhà kính”, biến đổi khí hậu toàn cầu là do không có rừng điều hòa khí hậu, lọc không khí. Môi trường không khí đã bị ô nhiễm mà rừng thì không còn thì việc nhiệt độ Trái Đất tăng cao là vô cùng dễ dàng. Một số khu rừng nguyên sinh, thắng cảnh đã mất sạch. Để ngăn chặn việc lâm tặc hoành hành, nhà nước đã phải bỏ ra hang chục tỷ đồng để khắc phục sự cố này. Không có rừng, nước mưa từ trên trời cứ xối xuống đất, làm đất đai cứ thế mà sạt lở. Các khu rừng ngập mặn bị phá hủy, đi liền với nó là lượng nước mặn từ biển tràn ngập khắp các đồng ruộng làm thu hẹp diện tích canh tác. Mất rừng cho nên một số thú dữ đã tấn công cuộc sống của con người. Động vật mất nơi ở là rừng cho nên nó đành phải di cư, đến phá hoạt cuộc sống của con người. Tự dưng tự bịa, đang ngồi trong nhà thì voi trong rừng kéo đến, đạp phá nhà cửa thì chẳng có một ai chịu đựng nổi. Và mối lo ngại lớn nhất của con người đang tiến dần đến, đó là lượng ô xi giảm. Ô xi giảm thì coi như Trái Đất này sẽ trở về thời nguyên thủy, không có sự sống. Để ngăn chặn việc số lượng rừng đang ngày một giảm, nhà nước, chính quyền địa phương hay mỗi cá nhân nên có những biện pháp nhất định. Tốt nhất là không nên chặt phá rừng, còn nếu có phá rừng thì nên có ý thức trông lại. Những loài động vật trong rừng đang kêu cứu, cần sự giúp đỡ của con người đó. Hãy đừng bắn giết chúng nữa, đã là rừng thì phải có động thực vật, nếu chúng ta giết động vật thì còn gọi gì là rừng nữa. Hiện nay, nhiều quan chức cấp cao cũng đã huy động lực lưỡng tổ chức tuyên truyền cho con em kiến thức về rừng. Chương trình ti vi, các cuộc vận động,… đều đã được mở ra để con người có ý thức bảo vệ rừng hơn. Các cô, các chú kiểm lâm cũng đã bỏ ra hết sức mình để bảo vệ rừng, ngăn chặn lâm tặc. Rừng có một vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người. Vì vậy, mỗi con người chúng, hãy góp một chút ít sức lực của mình để bảo vệ rừng, cũng như là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta. Nguồn Edufly Xem thêm: Cảm nhận khi đọc bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch
Chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta
1,464
Chứng minh rằng bộ sách Ngữ văn 7 là những cuốn sách hấp dẫn và bổ ích Gợi ý Bộ sách giáo khoa lớp 7 của Nhà xuât bán Giáo dục đã được cải cách là một bộ sách bổ ích, cung cấp cho chúng em nhiều kiến thức cập nhật, hiện đại, bồi dưỡng cho chúng em những tình cảm tốt đẹp, trong sáng. Bộ sách giáo khoa Ngữ văn 7 (gồm tập một và tập hai) là những cuốn sách như vậy Trước đây, sách Ngữ văn lớp 7 có được chia làm ba cuô’n là Văn học 7, Tiếng Việt 7 và Tập làm văn 7. Giờ đây, ba phân môn đã được gộp lại trong một cuốn với tên gọi là Ngữ văn và được chia thành hai tập. Với tên gọi mới, cuôn sách đã thê hiện phương pháp tích hợp rất tiến bộ trong việc dạy và học. Trong chương trình học, ba phần Văn bản văn học – tiêng Việt – tập làm văn luôn có sự liên hệ, gắn bó với nhau: văn bản dùng làm ngữ liệu cho tiếng Việt, tập làm vãn; Tiếng Việt, Tập làm văn dùng làm tư liệụ đọc hiểu, cảm thụ văn bản văn học… Văn bản văn học có những bài thật hay, chúng bồi đắp cho ta những tình cảm đẹp đẽ, gắn bó với gia đình, người thân, quê hương, đất nước. Chẳng hạn như: Ánh đi anh nhớ que nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. Lời thơ giản dị nhưng chứa chan tình nghĩa, gần gũi với mọi người.Xem thêm: Tường thuật lại buổi lễ khai giảng năm học ở trường em Sách còn ngược dòng thời gian giúp người đọc cảm nhận được số phận người dân trong xã hội phong kiến, đặc biệt là người phụ nữ. Qua bài "Chinh phụ ngâm khúc" ta hiểu được nỗi. lòng của người vợ, ước mong đôi lứa và chán ghét chiến tranh. Qua bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương ta cám được thân phận của người phụ nữ bé mọn phụ thuộc vào gia đình và cả xã hội nhưng vẫn giữ được những nét đẹp trung trinh cao quý: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non… Từ đó, ta biết thông cảm với người phụ nữ hơn. Sách cũng hướng đến những vấn đề thời sự trong xã hội hiện đại. Đó là vấn đề học tập của học sinh trong văn bản “Cổng trường mở ra” của Lí Lan. Đó là vấn đề quyền trẻ em, tình cảm gia đình trong "Cuộc chia tay của những con búp bê" của Khánh Hoài. Đọc cuốn sách này, ta còn có rất nhiều kinh nghiệm bổ ích qua việc học hỏi những kinh nghiệm của dân gian: kinh nghiệm về thời tiết, về lao động sản xuất, về con người xã hội: “Nhiều sao ‘hì nắng, vắng sao thỉ mưa”, “Nhật canh trì, nhì canh viên, tam cành điền”, “Người ta là hoa đất”,… Đặc biệt, cuốn sách cũng chú trọng cung cấp cho người học cách thức tạo lập những vãn bản hành chính để đáp ứng nhu cầu khi có những sự việc cẩn giải quyết như đề nghị nhà trường câp đồ dùng mới, đơn xin nghỉ học,… Đó là những điều bổ ích thực tế và quan trọng hơn cả là chúng giúp ý thức của chúng ta được nâng cao hơn, từ đó làm được những việc có ích, có nghĩa.Xem thêm: Tâm sự của quyển sách giáo khoa Toán 6 khi chủ nhân của nó rất yêu môn Văn nhưng rất ngại học Toán Còn có biết bao điều bổ ích mà ta chưa thể nói hết về hai cuốn sách đặc biệt này. Hai cuốn sách Ngữ văn vừa cho ta hiểu biết, dạy ta kĩ năng, vừa bồi dưỡng cho ta những tình cảm đúng đắn, tốt đẹp… Và để cảm nhận hết những điều to ‘lớn ấy, không gì hơn là phải học tập chăm chỉ, cần cụ đối với tùng bài học. Vanmau.edu.vn
Chứng minh rằng bộ sách Ngữ văn 7 là những cuốn sách hấp dẫn và bổ ích
690
Đề bài: Chứng minh rằng Cần phải chọn sách mà đọc Sách có một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người nên đọc sách là thói quen tốt cần duy trì và phát huy. Nhưng có phải sách nào cũng nên đọc không? Thực tế cho thấy là việc đọc sách cũng cần có sự lựa chọn kĩ càng. Đọc sách là để bồi dưỡng và nâng cao trình độ của bản thân. Đọc sách cũng là để bồi dưỡng và vun đắp những tình cảm tốt đẹp của con người. Nhưng những trí thức và tình cảm ấy cần phải có sự phù hợp với lứa tuổi. Khi còn học cấp một, chúng em còn nhỏ nên việc học toán bắt đầu từ những con số nhỏ trong phạm vi hàng nghìn, từ những phép tính cộng trừ nhân chia hai, ba chữ số. Việc học văn cũng bắt đầu từ những câu chuyện kể ngây ngô, những bài tiêu vụng về… Trong chương trình cấp hai, mức độ tư duy của chúng em đã cao hơn nên có thể học đến những phép nhân chia đa thức phức tạp, viết những bài văn dài đòi hỏi có sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế. Vì vậy, việc lựa chọn sách đọc phải hợp với lứa tuổi cũng như lựa chọn nội dung học phải phù hợp nhận thực. Cấp một, cấp hai có thể đọc “Những câu chuyện vui về Hóa học / Văn học/ Toán học….”, truyện cổ tích, đọc truyện Harry Potter… nhưng không nên đọc những truyện tâm lí tình cảm của người lớn. Đọc những cuốn sách không phù hợp với lứa tuổi, trình độ có thể tạo ra “hiệu ứng ngược” trong việc đọc sách. Có nghĩa là khiến người đọc sợ đọc hơn hoặc nảy sinh những tình cảm, suy nghĩ tiêu cực. Chẳng hạn, nếu một học sinh học lực bình thường mà đã phải đọc những cuốn sách nâng cao thì em sẽ thấy quá khó và sợ không dám học nữa. Hoặc mới lứa tuổi cấp hai đã đọc những cuốn tiểu thuyết tình cảm thì dễ yêu trước tuổi, không tập trung vào việc học tập được. Xem thêm: Suy nghĩ của em về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân hay nhất Mặt khác, đọc sách cũng cần có chọn lọc bởi ngày nay, có rất nhiều loại sách có nội dung không lành mạnh trôi nổi trên thị trường, nếu không chọn lọc ta rất dễ bị “nhiễm độc”. Đó là những cuốn sách mang nội dung phản động, kích động lôi kéo tham gia các tổ chức, đảng phái, tôn giáo chính trị không lành mạnh. Đó là những cuốn sách “đen” mang nội dung đồi trụy xấu xa. Vậy là, bên cạnh những loại sách tốt có tác dụng tích cực đối với việc phát triển con người thì lại có những loại sách hạn chế sự phát triển ấy. Đối với loại sách này ta cần lên án, tố cáo và thiêu hủy. Sách đọc không đơn giản là một vật dụng bình thường, đó còn là một người thầy, một người bạn thân thiết. Trong cuộc sống, ta phải chọn thầy mà học, chọn bạn mà chơi vậy nên cũng cần chọn sách mà đọc. Nguồn Edufly
Chứng minh rằng Cần phải chọn sách mà đọc
557
Chứng minh rằng nói dối có hại cho con người Gợi ý Nói dối là một việc làm rất có hại đối với đời sống con người. Nói dối là nói sai sự thật, là làm cho người khác hiếu sai sự thật khách quan. Và vì thế, trước hết nó khiến người khác có cái nhìn lệch lạc về cuộc sống. Nhưng nguy hiểm hơn, nói dối khiến ta làm mất lòng tin của mọi người, tự hạ uy tín của mình trước tập thể. Khi đó, trong mắt mọi người ta là một chú “Cuội” nói láo, lời nói của ta không còn trọng lượng nữa vì vậy, ta cô đơn trong tập thể. Chuyện rằng có chú bé chăn cừu rất thích thú vởi trò lừa gạt mọi người: cậu hét rất to là có chó sói đến khiến mọi người lo lắng bồ hết việc chạy đến giủp chú. Nhưng đến nơi chẳng thấy chó sói đâu mọi người bực tức ra về. Hôm sau, chợt có chó sói đến thật, câu ta la hét nhưng mọi người chẳng ai đến. Kết cục là đàn cừu của cậu bị xơi sạch! Truyện dân gian Việt Nam cũng có câu chuyện tương tự về một cậu bé tên Ngỗ. Cậu cũng la hét là có chó dại đến khiến mọi người hốt hoảng ùa ra. về sau, cậu phải nhận cái bi kịch xứng đáng là bị chó dại cắn thật. Lịch sử Trung Quốc cũng có vô vàn câu chuyện về những ông vua mất nước chỉ vì chiều ý mĩ nữ mà gây ra những sự dối trá tai hại. Ngày nay, có nhiều trường hợp nói dô’i dù có ác ý hay không đều gây những hiểu lầm tai hại dẫn đến.thái độ thiếu thiện ý trong các mối quan hệ giữa người với người. Đặc biệt, gần đây rộ lên phong trào hưởng ứng “Ngày nói dối Cá tháng tư 1 – 4”. Bản chất cúa ngày lễ này là tạo ra tiếng cười giúp con người thoải mái sau. những ngày làm việc căng thẳng. Nhưng lại có người lạm dụng nó mà khiến người khác mất việc, tiêu tốn thời gian, tiền của. Có người cha đang miệt mài làm ở công sở, cô con gái nhấc điện thoại: “Bố ơi, bà ốm nặng!”. Người cha hốt hoảng lao về thì gặp mẹ đang xén cỏ ngoài vườn còn đứa con đang cười ngặt nghẽo nhìn bố. Chưa nói đến cái ý bất hiếu trong lời bịa chuyện “bà ốm nặng” chi tính riêng việc người cha phải bỏ dở công việc bộn bề thì đứa con cũng đã đáng tội. Thậm chí, không aỉ nói trước được điều gì có thể xảy ra với người cha khi ông lái xe về nhà với vận tốc lớn và tâm trạng lo lắng, hốt hoảng như vậy. Sau sự việc ấy, người chá còn có thể yêu quý, tin tưởng con gái mình như trước?… Sau bao sự việc khẳng định tính có hại của nói dối có lẽ chúng ta sẽ thận trọng hơn trong mỗi phát ngôn của mình!Xem thêm: Tả chim đại bàngVanmau.edu.vn
Chứng minh rằng nói dối có hại cho con người
532
Chứng minh rằng trong thời đại hiện nay, con người đang đứng trước một thảm họa lớn – đó là tình trạng ô nhiễm môi trường hết sức nặng nề Gợi ý Môi trường là yếu tố cực kì quan trọng tác động trực tiếp đến đời sống của con người. Từ bao đời nay mối quan hệ giữa môi trường với con người vô cùng khăng khít, hữu cơ, không thể tách rời. Tuy nhiên, ngày nay con người trên khắp hành tinh này lại đang đứng trước một thảm họa vô cùng to lớn: Đó là tình trạng “ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nặng nề, đe dọa trực tiếp tới cuộc sống của con người”. Tình trạng ấy thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Trước hết ta phải nói tới sự ô nhiễm của môi trường đất. Ngay từ thủa khai thiên lập địa, loài người đã tạo dựng cuộc sống của mình bắt đầu từ việc khai thác đất đai để trồng trọt. Đời này qua đời khác, đất đai màu mỡ đã cung cấp nguồn lương thực chính cho con người. Nhưng tài nguyên đắt đai của con người trong thời gian gần đây đã cạn kiệt. Việc khai thác tài nguyên đất đai của con người trong thời gian gần đây đã được tiến hành một cách ồ ạt, vô tổ chức, không tuân thủ quy luật tự nhiên. Con người không chỉ tác động vào đất bằng sức lao động như cày, bừa, cuốc, xới để làm ra những sản phẩm nông nghiệp đơn thuần với lúa gạo ngô khoai. Con người cũng không dừng lại thỏa mãn với những khoáng sản có trong lòng đất. Sự phát triển của khoa học kĩ thuật tiên tiến, hiện đại đã giúp con người có sức mạnh để khai thác triệt để tài nguyên đất. Các loại giống cây trồng với năng suất cao. Rồi thâm canh tăng vụ. Việc chăm bón đất đai chủ yếu phụ thuộc vào phân vi sinh, chưa kể con người tác động đến đất bằng nhiều loại thuôc kích thích tăng trưởng hay thuốc trừ sâu. Kể cả các loại chất độc hóa học – “sản phẩm” của các cuộc chiến tranh tàn khóc. Rừng đầu nguồn bị khai thác bừa bãi, gây ra biết bao trận lũ lụt lớn. Hậu quả là đất đai bị phá hoại nặng nề, chất màu mỡ bị cạn kiệt, tình trạng xói mòn, sạt lở ngày một nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp tới cuộc sống hằng ngày của con người.Xem thêm: Viết đoạn văn bình luận vấn đề: Đứng vững và không nghĩ rằng mình sẽ ngó thỡ sẽ chẳng bao giờ ngỏ (H.Andersen). Bên cạnh đó, ta phải kể tới tình trạng “ô nhiễm môi trường nước”. Tốc độ phát triển của nền kinh tế công nghiệp như hiện nay đã kéo theo sự ra đời của hàng loạt những khu công nghiệp, những nhà máy, những nhà xưởng. Từng ngày, từng giờ, từ các khu công nghiệp này đã thải ra nhiều hợp chất ở thể rắn, thể lỏng. Nhiều bãi rác khổng lồ đã không kịp xử lí, cộng với ý thức về công cộng của con người kém khiến cho rác thải ngập lòng ao, lòng sống. Lượng nước thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt thì quá khổng lồ. Theo thông kê của các nhà khoa học, lượng nước thải trên thế giới vào cuôì thế kỉ XX là khoảng 1000km khôi trong một năm. Và để xử lí khối lượng nước bẩn này thì cần một lượng sạch gấp 20 lần. Như vậy là con người đã phí phạm một nguồn nước ngọt lớn dự trữ trong thiên nhiên (ao, hồ, sống, suối…). Và hậu quả là nguồn nước sinh hoạt của con người ngày càng trở nên eo hẹp. Nước ngọt ở nhiều vùng thiếu trầm trọng. Đó là chưa kể tới việc dùng nguồn nước đã bị nhiễm bẩn có thể gây ra nhiều bệnh tật cho con người. Thực tế cho thây, nhiều nơi sự phát triển công nghiệp cũng như hoạt động của các làng nghề đã ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng.Xem thêm: Cảm nhận về bài ca dao: Khăn thương nhớ ai…Lo vì một nỗi không yên một bể…Ô nhiễm môi trường không khí cũng là một tình trạng đáng báo động trên toàn cầu. Như trên đã nói, sự phát triển của công nghiệp cũng như trào lưu hóa học nông nghiệp đã có những tác động xấu tới nguồn không khí quanh ta (tăng khoảng từ 3-4°C) khiến cho khí hậu toàn cầu thay đổi thất thường. Tại các khu đô thị, lượng xe “ô tô, xe máy khổng lồ” đã thải vào không khí bao nhiêu khói độc hại. Thời gian gần đây, con người đang phải chứng kiến hậu họa của việc tầng ozôn bao bọc trái đất bị chọc thủng. Sức khỏe cộng đồng bị đe dọa nghiêm trọng. Nhiều loại bệnh nguy hiểm đang gây ra bao nhiêu cái chết thương tâm. Ngoài ra ta còn phải kể tới tình trạng mất cân bằng sinh thái do việc khai thác, săn bắt các sản vật của rừng. Gỗ bị chặt một cách vô tội vạ, tạo ra bao cánh rừng hoang, bao quả đồi trọc. Các loại động vật quý hiếm bị tiêu diệt khiến cho nhiều loại động vật quý đã và đang đi đến tuyệt chủng. Tóm lại, trong thời gian gần đây, con người đang phải trực tiếp đón nhận những trừng phạt của thiên nhiên do tình trạng “ô nhiễm môi trường sống”. Mổi quan hệ vốn khăng khít, hữu cơ giữa con người với thiên nhiên đã trở nên tồi tệ tới mức phải báo động. Và nhiệm vụ của tất cả các quốc gia, tất cả mọi người trên hành tinh này là phải chặn đứng và đẩy lùi tình trạng “ô nhiễm môi trường”, sao cho “ngôi nhà chung” được an toàn, xanh, sạch, đẹp.Xem thêm: Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú XươngVanmau.edu.vn
Chứng minh rằng trong thời đại hiện nay, con người đang đứng trước một thảm họa lớn – đó là tình trạng ô nhiễm môi trường hết sức nặng nề
1,021
Đề bài: Chứng minh rằng “Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta” Bài làm “Rừng vàng biển bạc” là câu nói mà tổ tiên chúng ta đã để lại nhằm nhắc nhở con cháu mình về việc bảo vệ rừng vì nó là nguồn tài nguyên vô cùng thiêng liêng, vô cùng quý giá, có giá trị vô cùng to lớn với cuộc sống của con người. Chính vì vậy mới có câu nói “Bảo vệ sinh chính là bảo vệ cuộc sống của con người” Nước ta 3/4 lãnh thổ là rừng núi, nơi có những đồi núi bao la, có nguồn thực vật phong phú. Rừng tạo ra bóng râm che chở, cuộc sống cho những con người. Rừng chống bão lũ xói mòn, sạt lở đất đá ảnh hưởng nguy hại tới cuộc sống người dân. Rừng còn cho cây ăn quả, chim thú quý hiếm tạo ra nguồn lợi cho con người phát triển kinh tế. Hàng năm, rừng của nước ta còn cung cấp nhiều loại gỗ giúp cho con người sản xuất ra những đồ dùng nội thất, phục vụ cho cuộc sống của con người, tạo công ăn việc làm, lợi nhuận.. giúp con người mưu sinh tốt hơn. Rừng còn giúp điều hòa không khí chống ô nhiễm môi trường ở nơi nào có nhiều cây xanh sẽ có nhiều khí O2 giúp cho con người có nhiều không khí để thở, tâm trạng cảm thấy thư thái, nhẹ nhàng hơn, sức lực tinh thần nhờ đó mà cảm thấy khỏe mạnh phấn khởi hơn.Xem thêm: Bớc-na-sô cho rằng: “Vũ trụ có nhiều kì quan nhưng kì quan tuyệt phẩm nhất là trải tim người mẹ”. Trình bày ý kiến của anh (chị) Không khí của nước ta ngày càng bị ô nhiễm nặng nề bởi sản xuất công nghiệp làm ô nhiễm nguồn không khí, ô nhiễm nguồn nước nhưng nhờ có rừng lọc các chất thải đi và thải nhiều khí O2 nên chúng ta có thể tồn tại được. Ngoài ra, rừng phòng hộ của nước ta khá nhiều, những cánh rừng đầu nguồn thì giúp chắn sạt lở, tránh khi mưa bão con người bị nước và đất cát cuốn trôi, những cánh rừng ngập mặn như những cánh rừng tràm, rừng đước ở vùng đồng bằng thì giúp ngăn lũ, ngăn chặn diện tích đất ngập mặn bị mở rộng, giữ lại đất canh tác nông nghiệp trồng lúa gạo, hoa màu cho người dân vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Nếu không có những cánh rừng phòng hộ, rừng ngăn ngập mặn này thì cuộc sống của người dân sẽ vô cùng khó khăn, không thể nào thuận lợi để mưu sinh, phát triển kinh tế được Rừng có vai trò vô cùng to lớn với cuộc sống của con người chính vì vậy chúng ta cần bảo vệ sự tàn phá rừng. Hiện nay, tình trạng tàn phá rừng đầu nguồn rừng phòng hộ để lấy gỗ quý hiếm của lâm tặc càng ngày càng trầm trọng, những cánh rừng được mệnh danh là lá phổi của con người đang từng ngày từng giờ bị sát hại không thương tiếc, nếu tình trạng này tiếp diễn tới một lúc nào đó chính cuộc sống của con người bị trả giá.Xem thêm: Lòng khiêm tốn có thể coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ thuật xử thế và đối đãi với sự vật” (Lâm Ngữ Đường). Em hãy giải thích và chứng minh nhận xét trên Hiện tượng biến đổi khí hậu, thiên tai, mưa lũ ngày càng nhiều gây ra nhiều thiệt hại về người và tài sản cho người dân chính do việc phá hoại rừng mà ra. Vì vậy, bảo vệ rừng là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết của mỗi chúng ta cần làm trong lúc này bởi “Bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta”. Nguồn: Tài liệu văn mẫu
Chứng minh rằng “Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta”- văn lớp 7
659
Chứng minh rằng, nếu chịu khó suy nghĩ kĩ thì ta có thể nhận ra nhiều điều đáng bàn từ một hiện tượng tưởng chừng nhỏ bé nhỏ trong đời sống Gợi ý Trong cuộc sống, có những điều tưởng chừng như thật nhỏ bé, đôi khi ta vô tình lướt qua và không để tâm tới. Nhưng nếu như bạn chỉ cần thử để tâm một chút thôi, có thể thấy được rằng, những điều giản dị trong cuộc sống lại luôn luôn mang đến những điều thú vị. Đầu tiên, hãy thử tìm hiểu về hiện tượng sóng trong tự nhiên. Thoạt đầu, khi nghe đến “Sóng”, bạn có thể tưởng tượng đến sóng biển rì rào, những giai điệu của một bản nhạc hoặc một bài thơ nào đó. Nhưng ở đây, lại là “sóng” trong các hiện tượng vật lí. Đã bao giờ bạn tự hỏi vì sao khi làm những cái cán búa, tùy vào loại búa gì mà người ta thường ước chừng những độ dài thích hợp? Nếu sau khi mua về ta cắt ngắn cán búa đi một nửa hay thay một cái cấn búa khác dài hơn liệu tốt hơn không? Những người thợ mộc, thợ rèn thường dùng phải búa, thậm chí cả những cầu thủ đánh bóng chầy đều có kinh nghiệm sau: Nơi tay nắm vào cán, nếu không thích hợp thì có thể làm cho tay rung đến phát tê, thậm chí rất đau. Vì sao lại như vậy chứ? Những hiện tượng trên có thể chỉ là những hiện tượng hết sức bình thường, đôi khi bạn chắng để ý, nhưng chỉ cần bạn quan tâm một chút thôi, bạn sẽ nhận ra được những hiện tượng rất thú vị đấy. Hãy trở lại với cái búa nhé. Đầu tiên, hãy khoan trả lời câu hỏi vì sao kia. Bạn đã từng quan sát một người kéo đàn nhị chưa? Thoạt nhìn thì việc kéo nhị hay đánh đàn củạ người chơi nhạc và việc đập búa của người thợ rèn không liên quan gì với nhau, nhưng thực ra chúng vẫn có điểm chung đấy.Xem thêm: Cảm nhận về vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người Trước tiên, hãy xem khi kéo nhị, dây nhị đã rung động (tạo thành sóng) như thế nào: Nếu đem phóng đại rung động của dây nhị bạn sẽ thấy mội hiện tượng rất thú vị. Khi rung động không phải nơi nào trên dây nhị cũng rung như nhau mà có nơi biên độ rung động rất lớn, đó là điểm rung động cực đại, lại có nơi không rung động. Mấy điểm bất động ấy chia dây nhị thành mấy đoạn, điểm giữa của mỗi đoạn là điểm rung động cực đại; vì sao lại xuất hiện hiện tượng đó? Đó là vì khi kéo nhị cái cần kéo đã làm dây nhị rung động. Cũng giống như sự truyền lan chấn động trên mặt nước làm hình thành sóng nước, sự rung động của dây cũng truyền lan trên dây. Khi rung động đó truyền đến một đầu dây nó có thể phản xạ trở lại, tạo thành sóng phản xạ. Thế là trên dây nhị vừa có sóng tới vừa có sóng phản xạ và như vậy mỗi một điểm trên dây đều chịu ảnh hưởng của hai loại sóng. Nếu hai loại sóng đó gây ra dao động hoàn toàn như nhau (Vật lý cùng pha) thì dao động ở điểm đó đặc biệt mạnh, dùng ngón tay khẽ chạm vào đó, bạn sẽ cảm thấy ngón tay tê đi; còn nếu như hai loại sóng đó gây ra dao động hoàn toàn ngược nhau (ngược pha) thì ở điểm đó dứt khoát sẽ không có dao động, dùng tay chạm nhẹ vào đó, bạn thấy nó khồng rung. Bây giờ thì là cái búa nhé. Khi dùng búa đập vào vật, dao động do đầu búa gây ra cũng truyền lan. theo cán búa, khi rung động truyền đến một đầu cán búa; thì cũng tạo thành sóng phản xạ. Mỗi một điểm trên cán búa, dưới ảnh hưởng của hai loại sóng cũng sẽ có điểm dao động mạnh nhát và điểm không dao động. Vị trí của các điểm này là xác định, nơi nắm cán búa thích hợp nhất là điểm không dao động vì vậy cán búa phải có một độ dài thích hợp. Cũng không phức tạp lắm phải không!Xem thêm: Phân tích những phẩm chất tốt đẹp của con người Tây nguyên qua các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng trong truyện ngắn "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành Suy rộng ra một chút nhé, nếu bạn là giáo viên, thường cầm trên tay những viên phân trắng, bạn có thể thấy ngay, khi một viên phấn rơi xuống đất nó thường đứt thành ba đoạn, đó là vì điểm đứt gãy chính là điểm dao động mạnh nhất và vị trí của các điểm này là xác định. Từ nhỏ suy ra to, những ông khói cao to, những công trình kiến trúc cao tầng, những cây cầu có khẩu độ dài đều có điểm dễ bứt gẫy, vì thế khi thiết kế và thi công phải đặc biệt chú ý gia cô’ những điểm đó. Ngoài ra tay cầm của một sộ’ máy móc rung động mạnh như tay cầm của máy kéo đẩy tay, của máy đầm rung, máy khoan v.v… cũng nên đặt vào vị trí không rung động, nếu không sẽ làm cho người sử dụng chóng mệt, thậm chí gây ra tai nạn lao động. Bạn thấy không, chỉ cần chịu khó tìm hiểu một chút thôi, ta có thể thấy được những hiện tượng rất thú vị đấy chứ. Hiện tượng trên đây chỉ là một trong số những hiện tượng vô cùng lí thú của cuộc sống quanh ta. Ngày bé, ta luôn thường hỏi mẹ rằng “Mẹ ơi, sao ông trăng cứ đi theo con?” và mẹ luôn trả lời rằng “ừ, vì ông trăng thích đi theo mình đó”. Vậy liệu ông trăng có biết đi? Bạn đã bao giờ thử tìm câu trả lời lí giải cho hiện tượng này chưa? Những đêm trăng sáng, nếu vừa đi bộ vừa chú ý nhìn trăng, bạn sẽ thấy như trăng đang đi theo bạn. Không riêng gì mặt trăng, nếu để mắt quan sát các đỉnh núi xa xa, bạn cũng sẽ có cảm giác tương tự. Nguyên do là khi ta đi bộ, chúng ta không thể không chú ý tới mọi vật xung quanh. Nhưng tầm mắt của ta lại có giới hạn. Lúc ta đi về phía trước, mọi vật gần quanh ta (chiếm khoảng lớn trong tầm nhìn) trôi đi rất nhanh, nhưng những vật ở xa (chiếm khoảng rất nhỏ trong tầm nhìn) thì trôi đi rất chậm và rất lâu mới ra khỏi tầm mắt.Xem thêm: Hãy kể một chuyện vui (hoặc chuyện buồn) xảy ra trong lớp Các bạn hãy nhớ lại cảm giác trên xe lửa đi với tốc độ nhanh. Bạn sẽ thấy các cột điện ở dọc đường trôi qua vùn vụt ngoài cửa sổ, nhưng cây cối, cột điện, nhà cửa ở phía xa xa thì trôi rất chậm, còn dãy núi ở tận cuối chân trời thì như dán chặt vào cửa sổ. Hiện tượng này giống hệt như khi mặt trăng và các vì sao mà bạn đã thấy vậy! Những vật này cũng chiếm khoảng rất nhỏ trong tầm nhìn, nên bạn sẽ thấy nó rất lâu. Đối với Mặt Trăng, vì nó là vật to và sáng nhất trong đêm nến nó nổi bật hơn hắn các vì saọ và vật thể khác, cũng chính vì thế mà ta luôn có cảm giác mặt trăng theo sát bước chúng ta… Bạn có biết tại sao nước biển lại mặn? Đơn giản hơn là tại sao con lật đật không bị đổ. Thực ra, mỗi một vật đù nhỏ bé trong cuộc sống, đều có những sự lí giải rất thú vị. Bạn hãy tìm hiểu để biết được nhiều thông, tin hơn, để nâng cao kiến thức cho bản thân mình nhé. Bạn thấy không, chỉ cần chịu khó tìm hiểu một chút thôi, ta có thể thấy được những hiện tượng rất thú vị đấy chứ. Hiện tượng trên đây chỉ là một trong số những hiện tượng vô cùng lí thú của cuộc sống muôn màu. Xem ra, con sóng này đã hơn cả “Con sóng dưới, lòng sâu. Con sóng trên mặt nước. Ôi con sóng nhớ bờ. Ngày đêm không ngủ được” của thi sĩ Xuân Quỳnh rồi. Vanmau.edu.vn
Chứng minh rằng, nếu chịu khó suy nghĩ kĩ thì ta có thể nhận ra nhiều điều đáng bàn từ một hiện tượng tưởng chừng nhỏ bé nhỏ trong đời sống
1,451
Chứng minh rằng: Bảo vệ nguồn nước sạch là bảo vệ cuộc sống con người Gợi ý Trong thời đại ngày nay, có nhiều nguồn tài nguyên quý giá đang dần vơi cạn. Nước sạch là một trong số đó. Chúng ta cần hiểu được rằng: Bảo vệ nguồn nước sạch là bảo vệ cuộc sống con người, từ đó có ý thức bảo vệ nguồn nước sạch. Nước sạch chính là loại nước chúng ta có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt, sản xuất hàng ngày như tắm rửa, giặt giũ… tưới cây,… mà không lo bị nhiễm độc hay nhiễm khuẩn. Nước sạch rất quan trọng trong đời sống hàng ngày. Dẫn chứng sinh động nhất là hàng ngày chúng ta cần có đầy đủ nước sạch đế uống. Nếu mỗi ngày không được cung cấp đầy đủ từ 2 đến 3 lít nước, cơ thể chúng ta sẽ bị thiếu nước. Ngoài ra, nước sạch còn rất quan trọng dùng cho sinh hoạt hàng ngày, nước để rửa thực phẩm, chế biến thực phẩm, nước để tắm rửa, để lau dọn… Như vậy, nước chiếm một vai trò rất lớn đối với sự sống con người: nước chiếm một lượng lớn trong tế bào, nước vận chuyển, đưa máu đi khắp cơ thể, nước thanh lọc thận… Không có nước sạch, các loại thực phẩm như rau củ quả, thịt cá cũng không được rửa sạch, khi đó con người cũng không được dùng chúng một cách ngon lành. Nước là một mạch ngầm xuyên suốt mọi sự vật trong đời sống hàng ngày. Hãy thử tưởng tượng, nếu nước bị vấy bẩn thì mọi thứ cũng theo đó mà ô nhiễm, tanh hôi…Xem thêm: Phân tích nhân vật "thị” mà anh cu Tràng đã “nhặt” được Nước sạch cũng trở thành yếu tố không thể thiếu để sản xuất. Nước dùng để tưới cây: cây ăn quả, cây cho bóng mát, rau củ… Nếu không có nước lập tức cây cối sẽ khô héo, chết hàng loạt. Và nếu tưới cây bằng nước không sạch (nước bị nhiễm phóng xạ, nước bị nhiễm chất hóa học,…) cây cối cũng sẽ bị chết hoặc bị nhiễm độc theo. Nước còn dùng để giảm nhiệt máy cho công nghiệp nặng, nước để làm sạch nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ… Như vậy, nước sạch là một tài nguyên không thể thiếu cho sự duy trì và phát triển kinh tế. Vai trò của nước rất to lớn nhưng tiếc thay, nước sạch lại không phải là tài nguyên vô tận. Càng đáng tiếc hơn khi con người không bảo vệ được nước sạch vì thế mà nguồn nuớc sạch đang dần dần vơi cạn. Thực.tế cho thấy các mạch nước ngầm đang giảm dần. Vài năm trở lại đây, nhiều khu vực ở nước ta cũng như trên thê giới mới xuất hiện tình trạng hạn hán kéo dài đáng báo động. Mặt khác, nhiều dòng sông cung cấp nước sạch đang bị ô nhiễm rất nặng nề: sông Đồng Nai, sông Thị Vải, sông Tô Lịch, sông Cầu,… Rác thải sinh hoạt càng khiến những dòng sông đồi màu nhanh chóng. Chất độc hoá học làm ô nhiễm mạch nước ngầm. Đó là chưa nhắc đến tình trạng lãng phí nước sạch ở nhiều gia đình, nhiều cá nhân.Xem thêm: Bài văn biểu cảm về cây chuối lớp 7 hay nhất Hậu quả của tình trạng vơi cạn nước sạch đang khiến chúng ta đau xót. Những “làng ung thư”, “làng u bệnh” xuất hiện trong vài năm trở lại đây khiến nhiều người dân lao đao, lo lắng. Nguyên nhân bắt nguồn từ những mạch nước ngầm bị nhiễm độc. Rồi mùa màng bị tàn phá, kim loại bị ăn mòn… đó là hậu quả của những cơn mưa axit độc hại… Vì tất cả những điều trên, con người phải hành động để giữ gìn, bẳo vệ nước sạch và cũng là bảo vệ chính bản thân mình. Tiết kiệm nguồn nước sạch hiện có là biện pháp trước mắt. Nhưng về lâu dài phải biết giữ vệ sinh; rác thải sinh hoạt, rác thải cồng nghiệp phải được thu gom xử lí. Bên cạnh đó bảo vệ rừng cũng là cách để thanh lọc nguồn nước bị ô nhiễm, từ đó cải hoá nựớc mưa axit, các nguồn nước bị ô nhiễm. Bảo vệ nước sạch chính là bảo vệ sự sống của mình. Vì vậy, tất cả chúng ta hãy cùng hành động! Vanmau.edu.vn
Chứng minh rằng_ Bảo vệ nguồn nước sạch là bảo vệ cuộc sống con người
756
Chứng minh rằng: Với bài thơ Ông đồ Vũ Đình Liên đã chạm được vào những rung cảm tâm linh của giống nòi nên nó còn tha thiết mãi Gợi ý Trước kia, vào những ngày Tết, trên bàn thờ tổ tiên, bên cạnh cặp bánh chưng, mâm ngũ quả là đôi câu đối Tết. Bởi chính vậy, những ông đồ già trên vỉa hè, phố xá rất đông khách thuê viết. Hình ảnh ông đồ đội khăn xếp, mặc áo the viết câu đối đã khắc ghi vào sâu trong tâm trí nhà thơ Vũ Đình Liên. Với bài thơ "Ông đồ", Vũ Đình Liên đã chạm được vào những dung cảm tâm linh của giống nòi nên nó còn tha thiết mãi đến những thế hệ sau này. Nhà thơ viết lên bài với một tấm lòng yêu thương, trân trọng, ngợi ca những tài năng, sự đóng góp của những lớp người đi trước với nền văn hoá của dân tộc. Nhà thơ đã làm như vậy khi viết bốn câu thơ đầu: "Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua." "Một thời vang bóng" của lớp người đã được xã hội trọng vọng, lúc mà nền tảng Hán học đang có một địa vị vững chắc. Gắn liền với sự hưng trịnh đó là hình ảnh những ông đồ giữa phố phường đông vui đầy sắc màu. Màu thắm của hoa đào, màu đỏ của giấy, màu đen nhánh của mực tầu và mái tóc hoa râm của ông đồ. Tất cả đã hài hoà, quyện với nhau thành một tác phẩm tranh lộng lẫy, ngoạn mục giữa phố xá tấp nập. Một vẻ đẹp sao vui tươi quá vậy!Xem thêm: Là người chứng kiến cảnh cô bé bán diêm trong đêm giao thừa, em hãy kể lại câu chuyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xen Đây mới là những hình ảnh thoáng qua như gió xuân hây hẩy nhưng cũng đã đủ để gợi lên cái gì đó thật quen trong lòng người. Ở khổ tiếp theo, hình ảnh ông đồ vẫn không phai nhạt: "Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thao những nét Như phượng múa rồng bay." Quả thực, đến lúc này, tài năng của ông đồ đã được phô bầy trong không khí phố phường, lúc này mọi người chú ý và trân trọng tài năng đó. Cái tài năng "Phượng múa rồng bay" của ông đồ dưới một bàn tay đầy khéo léo nghệ thuật đã làm rạng danh cho nên Hán học. Những con người đi trước với nền văn hoá dân tộc. Những câu chữ thánh hiền ông viết đã tặng cho mọi người về làm quà đón xuân, trang trí ngôi nhà ấm cúng, tình cảm gia đình thật ấm áp hơn. Thật đáng buồn biết bao, một truyền thống đẹp của dân tộc đã bị mai một đi, một hình ảnh đầy sắc màu mùa xuân đã dần mất đi khi nền văn hoá phương Tây du nhập vào nước ta. Người ta quên lãng đi câu đối tết và thay vào đó những bức tranh màu sắc rất sặc sỡ. "Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu." Độc giả đã hụt hẫng, cảm xúc tươi vui đã bị mất đi khi đọc khổ thơ này. Trước sự tàn tạ, ra đi của ông đồ và lớp người xưa cũ, lòng thương người của nhà thơ Vũ Đình Liên được biểu hiện ở sự cảm thông, nỗi xót xa và niềm tiếc nuối khôn nguôi. Ở 2 câu thơ:Xem thêm: Viết đoạn văn (6-8 câu) nêu cảm nghĩ của em về Bác Hồ sau khi học bài thơ Đi đường, trong đó có sử dụng 1 câu nghi vấnNhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Ta như thấy nhà thơ bâng khuâng đi tìm lại bóng dáng của lớp người xưa cũ. Giọng thơ xót xa khi những con người tài hoa đã bị đẩy ra ngoài lề đường. Trong bối cảnh ấy, tình cảnh ông đồ dần trở nên buồn chán. Người thuê viết giảm đi theo thời gian và năm tháng "mỗi năm mỗi vắng”. Hình ảnh ông đồ giữa đường phố đông vui chỉ còn là một thứ bóng mờ xa xôi. Nỗi xót thương của nhà thơ được bộc lộ rõ nét khi ông đồ và lớp người xưa cũ dần mất đi: "Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu." Người buồn, nên những vật dụng từng gắn bó thân thiệt với ông cũng sầu đạm theo: giấy không đỏ như xưa, mực trong nghiên cũng sầu não theo. Có lẽ, giấy, nghiên mực không có tâm trạng, nhưng cái bi kịch tâm trạng của giấy, mực mà nhà thơ Vũ Đình Liên nhìn thấy chính là những nỗi xót xa, bẽ bàng của ông đồ nói riêng và lớp người xưa cũ nói chung. Nỗi buồn ấy không chỉ thấm vào phương tiện mưu sinh mà còn thấm đẫm vào cảnh vật thiên nhiên, cảnh vật đã làm cho không gian thêm hiu quạnh và hoang vắng. "Ổng đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay." Cho dù, ông đồ vẫn ngồi đấy nhưng đã bị mọi người quên lãng. Ông chỉ còn là một di tích tiều tuy đáng thương của "một thời tàn". Và có lẽ từ đó, ông vĩnh viễn vắng bóng. Đấy âu cũng là sự dĩ nhiên, phũ phàng. Một Tết nào đó, khi hoa đào lại nở, người đời đã thảng thốt nhận ra sự vắng bóng của ông đồ trước cảnh nhộn nhịp của chốn phố phường. Một tiếng gọi tha thiết vang lên:Xem thêm: Kể về những giây phút đầu tiên khi em gặp lại anh trai sau một thời gian xa cách"Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?" Ở hai khổ thơ đầu gợi lên cho độc giả niềm phấn chấn, tươi vui thì ba khổ thơ sau là một hình ảnh buồn bã, xót thương, sắc màu cũng phai nhạt theo. Giờ đây, ông đồ và lớp người xưa cũ đã trở nên vô nghĩa giữa cuộc đời. Bài thơ khép lại bằng những hình ảnh, câu thơ mang nặng nỗi buồn tha thiết của tác giả Vũ Đình Liên. Đọc bài thơ "Ông đồ" xong, ta thấy Vũ Đình Liên đã diễn tả được tình yêu thương con người sâu sắc trước số phận hẩm hiu của ông đồ, nhưng nó đẹp biết bao. Bài thơ còn thể hiện một tâm hồn cao cả và nhân hậu, một con người rất giàu tình yêu thương sâu đậm, ngợi ca những tài năng của người xưa và khuyên răn chúng ta hãy sống để giữ gìn và phát huy những tinh hoa văn hoá của dân tộc. Nền văn hoá đó xứng với một tầm cao mới. Vanmau.edu.vn
Chứng minh rằng_ Với bài thơ Ông đồ Vũ Đình Liên đã chạm được vào những rung cảm tâm linh của giống nòi nên nó còn tha thiết mãi
1,160
Đề bài: Qua văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ hãy chứng minh cho sự giản dị của Bác Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.Bác không chỉ đáng yêu mà còn rất đáng kính bởi Bác là người mang đến tự do cho dân tộc.Ở con người Bác ta còn học tập được nhiều điều đặc biệt là lối sống giản dị. Bác mãi là tấm gương để chúng ta học tập noi theo. Bác Hồ là người giản dị như thế nào chắc mỗi chúng ta đều biết. Trước hết Bác giản dị trong đời sống sinh hoạt. Không chỉ trong những năm tháng khó khăn mà ngay khi đã là một vị chủ tịch nước trong bữa ăn của Bác cũng rất giản dị: chỉ có vài ba món đơn gián, khi ăn Bác không để rơi vãi, ăn xong cái bát bao giờ cũng sạch sẽ. Trong cách mặc của Bác cũng rất giản dị, phù hợp với hoàn cảnh, với con người Bác. Bộ quần áo ka-ki, bộ quần áo nâu, đôi dép cao su, chiếc đồng hồ Liên Xô…..là những đồ vật giản dị gắn liền với cuộc đời Bác. Dù là một vị chủ tịch nước nhưng Bác không hề giống như những vị vua thời phong kiến, không có long bào, không có lầu son gác tía,… mà nơi ở của Bác là ngôi nhà sàn vài ba phòng đơn giản, có vườn cây, ao cá để Bác được lao động sau những giờ làm việc căng thẳng Xem thêm: Hãy tả bố của emTrong việc làm Bác cũng thể hiện sự giẳn dị của mình. Việc gì làm được thì Bác không cần ai giúp đỡ nên số người giúp việc cũng ít, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bác làm việc rất cần cù, cả đời Bác không ngày nào nghỉ ngơi, từ nhũng công việc hàng ngày đến việc cách mạng vì dân vì nước. Không những vậy trong quân hệ với mọi người Bác cũng rất giản dị. Từ việc đi thăm nhà tập thể công nhân, viết thư cho một đồng chí hay nói chuyện với các cháu miền Nam hoặc đi thăm và tặng quà cho các cụ già mỗi khi Tết đến. Trong lần về quê, khi mọi người kéo đến rất đông Bác đã cùng mọi người ngồi trước cửa nhà nói chuyện. Dù là một vị chủ tịch nước nhưng ta không hề thấy Bác cao sang xa vời mà luôn gần gũi thân thiết. Trong lời nói và bài viết Bác cũng thể hiện sự giản dị của mình bởi Bác muốn mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo nên Bác đã nói rất giản dị về những điều lớn lao, chân chính như:"Không có gì quý hơn độc lập tự do" hay để kêu gọi tinh thần đoàn kết Bác đã nói' Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết Thành công thành công đại thành công" Và rất nhiều những lời nói, bài văn, bài thơ rất giản dị của Bác mà chúng ta có thể biết. Tóm lại sự giản dị của Bác càng làm nổi bật đời sống nội tâm và tôn thêm vẻ đẹp con người Bác. Sự giản dị của Bác là tấm gương mà chung ta phải học tập và noi theo. Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích bài ca dao Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng
Chứng minh sự giản dị của Bác
575
Chứng minh tinh thần yêu nước của cha ông ta trong lịch sử. Từ đó, em rút ra cho mình những bài học gì? Gợi ý Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, lòng yêu nước luôn được nhân dân ta đặt lên hàng đầu. Mảnh đất Việt có được sự tươi đẹp như ngày hôm hay là nhờ các thế hệ ông cha chúng ta đã cần mẫn vun xới bằng tình yêu của mình đối với mảnh đất ấy. Trải qua bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu thời đại, ông cha ta vẫn giữ trọn lòng mình với đất mẹ kính yêu. Văn học chính là cuốn lịch sử ghi chép, lưu giữ, phản ánh sinh động và cụ thể quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha. Từ văn học dân gian, lòng yêu nước đã được thể hiện rất rõ ràng. Đó là Thánh Gióng vươn mình thành Phù Đổng, đánh đuổi giặc Ân, là Lê Lợi với thanh gươm thần quét sạch quân Minh ra khỏi bờ cõi… Trong chiến trận, người dân sẵn sàng xả thân cho quê hương đất nước, còn khi đất nước thái bình, người dân hăng say sản xuất, ngợi ca vẻ đẹp quê hương: “Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương Mịt mù khói toả ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”. Hay: “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ” Đến khi văn học viết xuất hiện, cảm hứng yêu nước vẫn là tư tưởng, chủ đề chính trong các sáng tác văn học nghệ thuật cũng như văn học chức năng.Xem thêm: Bàn về học vấn với con người và cuộc sống, ngạn ngữ Hi Lạp có câu: "Học vấn là những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào". Em hãy giải thích và trình bày cảm nhận của mình về ý kiến trên Lòng yêu nước thời kì này thể hiện ở nhiều khía cạnh. Trước hết, đó là lòng tự hào về đất nước khi vừa giành được độc lập. Chúng ta thấy dõng dạc vang lên bài thơ thần của Lí Thường Kiệt khẳng định chủ quyền cho đất nước: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ, lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.” Và để thể hiện cũng như khẳng định quyền làm chủ thiêng liêng ấy, đúng như dự báo của Lí Thường Kiệt, quân và dân ta đã đánh cho bọn giặc tơi bời: “Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.” (Bạch Đằng giang phu) Cái nhàn ấy không phải dấu hiệu mất cảnh giác mà đó là sự kết hợp tác chiến giữa khả năng thao lược của con người với hình sông thế núi hiểm trở trợ giúp. Một thiên nhiên tươi đẹp nhưng cũng anh hùng: “Vừa bốn bể trong, vừa bụi lặng Độ xưa so với độ nay thua.” (Hạnh Thiên Trường hành cung) Lòng yêu nước còn là sự căm thù giặc sâu sắc khi tổ quốc lâm nguy. Nêu như sau này Chế Lan Viên nói: “Ôi, tổ quốc ta yêu như máu thịt” thì trước đó Trần Quốc Tuấn đã không khỏi đau đớn, day dứt khi thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, cậy quyền cậy thế “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình. Đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ” đến nỗi phải: “thường tới bữa quên ăn. Nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa…” Nguyễn Trãi cũng đau đớn, chua xót miêu tả đến cùng bản chất độc ác, man rợ của kẻ thù:Xem thêm: Phân tích bài thơ Thu điếu và Thu vịnh của Nguyễn Khuyến“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…” Sự căm thù giặc đến tận xương tuỷ đã tạo nên một sức mạnh vô địch. Đó là tinh thần quyết chiến quyết thắng trong hai chữ “Sát thát”, để rồi “bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở Cảo Nhai” trong cuộc phản công chiến lược: “Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù…” Tinh thần yêu nước ấy không chỉ thể hiện trong trận mạc mà còn thể hiện trong lẽ sống, trong sáng tác văn chương, trong tư thế của người anh hùng. Chẳng thế mà nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu vẫn giơ ngòi bút làm vũ khí đánh quân thù: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.” Ông cha ta chiến đấu vì tình yêu vô hạn đối với đất nước, bằng lòng căm thù quân giặc và bằng cả một niềm tin mạnh mẽ vào tương lai tươi sáng. Chính bởi niềm tin ấy nên "Nam quốc sơn hà” mới có được giọng đanh thép, Hịch tướng sĩ mới thu hút người nghe. Chính bởi thế nên Trần Quang Khải mới khẳng định: “Thái bình nên gắng sức Non nước ấy nghìn thu.” (Tụng gia hoàn kinh sư) Nhìn lại toàn bộ chiều dài lịch sử chúng ta thấy tinh thần yêu nước của nhân dân ta là không hề phai mờ. Bắt dầu từ khi dựng nước và suốt những năm tháng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta thấy lòng yêu nước của nhân dân ta chưa bao giờ phai nhạt. Đến tận ngày nay, trong thời kì đổi mới, lòng yêu nước vẫn không thôi chảy trong mỗi trái tim con người Việt Nam. Nó vẫn lưu truyền mãi trong nhiều thế hệ. Những chặng đường cha ông đã đi qua chính là những bài học quý giá cho thế hệ trẻ chúng ta học tập và phát huy.Xem thêm: Thời thơ ấu, em sống với bà. Bà đã kể lại cho em nhiều kỉ niệm cảm động. Hãy kể lại một trong những kỉ niệm đóVanmau.edu.vn
Chứng minh tinh thần yêu nước của cha ông ta trong lịch sử. Từ đó, em rút ra cho mình những bài học gì_
975
Chứng minh trong bài thơ của Bác Hồ chứa đầy trăng Hướng dẫn I. Mở bài: Ngoài tập ‘Nhật kí trong tù’, chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại nhiều bài thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt. Thơ của Bác phong phú đẹp đẽ chứa chan tình yêu nước thương dân. Bác cũng có viết một số bài thơ cảm hứng trữ tình nói về tình yêu thiên nhiên. Những vần thơ trăng của Bác đẹp lắm. Nhà văn Hoài Thanh nhận xét: ‘Thơ Bác đầy trăng’. I. Thân bài: 1. Phân tích và chứng minh: ‘Thơ Bác đầy trăng’ – ‘thơ trong tù’,thơ chiến khu… có nhiều bài, nhiều câu thơ nói về trăng xinh đẹp và trữ tình. a. Trước hết nói về thơ trăng trong ‘Nhật kí trong tù’. ‘Ngắm trăng’ là bài thơ tuyệt tác. Trong ngục tối, nhà thơ không có rượu, có hoa để thưởng trăng. Trăng như một người bạn thân từ phương trời xa, vượt qua song sắt nhà tù đến thăm Bác. Trăng dược nhân hóa tuyệt đẹp: có ánh mắt và tâm hồn. Vượt lên mọi cơ cực cảnh tù đày, Bác say sưa ngắm vầng trăng. Trăng với Bác lạng lẽ nhìn nhau, cảm động. Bài thơ ghi lại một tư thế ngắm trăng hiếm thấy: một tâm hồn tha thiết yêu thiên nhiên, tạo vật, một phong thái ung dung tự tại của nhà thơ – chiến sĩ. Trăng hữu tình nên thơ. Trăng với người tù cảm thông chan hòa trong mối tình tri kỉ: ‘Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ’. ‘Ngắm trăng’đã phản ánh tinh thần lạc quan và khát vọng sống hướng về ánh sáng, tự do của Bác trong cảnh tù đày. b. Tiếp theo, ta nói đến thơ trăng chiến khu của Bác. Có gì đẹp hơn gió núi, trăng ngàn? ‘Rằm tháng giêng’ là một bài thơ trăng kì diêu. Hai câu đầu là cảnh trăng xuân sông nước… Một màu xanh bao la bát ngát: Sông xuân, nước xuân, trời xuân lung linh dưới vầng trăng đêm nguyên tiêu. Ba chữ ‘xuân’ trong nguyên tác là một gam màu nhẹ, sáng và tươi mát: ‘Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân’ Hai câu thơ cuối ghi lại công việc của Bác trong đêm rằm tháng giêng: giữa nơi khói sóng của dòng sông, Bác ‘hàn bạc việc quân’ để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Nửa đêm, con thuyền chở đầy ánh trăng vàng quay về bến: ‘Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya vê bát ngát trăng ngán đầy thuyền’ Con thuyền của lãnh tụ trở thành con thuyền của thi nhân chở'đầy ánh trăng vàng. Sự xuất hiện của vầng trăng cho ta thấy một hồn thơ tuyệt đẹp: Trong khói lửa chiến tranh ác liệt, căng thẳng, bận rộn ‘việc quân, việc nước’, nhưng Bác vẫn ung dung, lạc quan yêu đời. ‘Nguyệt mãn thuyền’ (trăng đầy thuyền) là một hình tượng thơ cổ kính, mĩ lệ rất độc đáo. c. Có vầng trăng ‘bơi theo’ con thuyền của lãnh tụ trên dòng sông Đáy mênh mang giữa núi rừng chiến khu Việt Bắc: ‘Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo’ (Đi thuyền trên sông Đáy). Có vầng trăng đến ‘đòi thơ’ như bạn tri âm, cùng 164 Bác chia vui tin thắng trận. Trăng xuất hiện thì chuông lầu đêm thu reo lên, tin vui thắng trận dồn dập báo về… Cái đẹp gắn liền với niềm vui. Trong cảnh tù đày, trăng đã đến với Bác thì trong máu lửa chiến tranh, trong niềm vui thắng trận, trăng cũng không thể nào vắng bóng: Xem thêm: Phân tích truyện ngắn Tôi Đi Học của Thanh Tịnh ‘Trăng vào cửa sổ đòi thơ, Việc quân đang bận xin chờ hôm sau. Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu, Ây tin thắng trận Liên khu báo về’ (‘Tin thắng trận’ – 1948) Có vầng trăng thu dát vàng núi rừng đêm khuya, cổ thụ, ngàn hoa hiện lên dưới vầng trăng làm cho cảnh khuya đẹp như vẽ. Thi nhân thao thức ngắm vầng trăng, • nghe tiếng suối chảy ‘trong như tiếng hát xa’, lòng bồi hồi, xúc động: ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà’ (‘Cảnh khuya’ -1947) d.Thiếu nhi, lớp măng non của dân tộc không thể nào quên vầng trăng thu thuở ấy… Bác yêu thương các cháu cho nên khi ngắm trăng Trung thu, Bác lại nhớ các cháu gần xa.'Tấm lòng của Bác như vầng trăng thu ngời sáng: ‘Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng’ e. Có vầng trăng ước hẹn một ngày mai chiến thắng. Nước nhà độc lập, thanh bình, Bác thanh thản trở về cuộc sống bình dị, chan hòa với thiên nhiên: ‘Kháng chiến thành công ta trỏ lại, Trăng xưa, hạc cũ với xuân này’ (Cảnh rừng Việt Bắc) Kể sao hết vầng trăng trong thơ Bác Hồ, bởi lẽ ‘Thơ Bác đẩy trăng’. 2. Phát biểu cảm nghĩ của em về trăng trong thơ của Bác Hồ: Thơ Bác đầy trăng, trăng tròn, trăng sáng, trăng trên mọi nẻo đường Bác đã đi qua. Có vầng trăng trong cảnh tù đày. Có vầng trăng kháng chiến. Có vầng trăng thanh bình. Bác nói nhiều về trăng thu. Bác yêu thiên nhiên, sống lạc quan yêu đời cho nên tâm hồn Bác lúc nào cũng hướng về ánh sáng, về cái đẹp. Tràng là biểu tượng cho vẻ đẹp vĩnh hằng, là bạn tri âm của tao nhân mặc khách. Bác là một nhà thơ yêu trăng. Ca dao, dân ca, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến… có nhiều • bài tuyệt tác nói về trăng. Thơ Đường, nổi bật nhất là thơ Lí Bạch dào dạt ánh trăng. Bác Hồ đã kế thừa tinh hoa thơ ca cổ để viết nên những bài thơ trăng kiệt tác. Trăng là biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên, của non xanh nước biếc. Bác yêu trang, viết nhiều thơ về trăng vì Bác giàu lòng yêu thương con người. Trăng trong thơ Bác chiếu sáng một tấm lòng hồn hậu đối với thiên nhiên tạo vật, đối với nhân dân và đất nước quê hương thiết tha, gắp bó. Trăng đã góp phần làm cho thơ Bác thêm đặc sắc. Thơ Bác vừa thực vừa mộng, vừa mang màu sắc cổ điển vừa mới mẻ hiện đại, đậm đà thi vị. Trăng đã tạo nên gương mặt, bản sắc và tính thẩm mĩ trong thơ Bác. III. Kết luận: Cuộc đời không thể thiếu vầng trăng. Đọc thơ trăng của Bác Họ, tâm hồn mỗi chúng ta thêm giàu có, trong sáng, biết hướng tới ngày mai, vươn tới ánh sáng mà đi lên phía trước. Chúng ta căng yêu thêm cảnh trí non sông. Yêu cái đẹp trong thơ trăng của Bác, cái đẹp trong thơ trăng cổ nhân, chúng ta học tập tình yêu nước, thương dân của Bác. Ước sao đất nước tỏa sáng vầng trăng thanh bình, trăng thu tròn và đẹp cho tuổi thơ, trăng đến với Nguồn: thêm: Viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau: Anh em nào phải người xa/ Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân/ Yêu nhau như thể tay chân/ Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần
Chứng minh trong bài thơ của Bác Hồ chứa đầy trăng
1,223
Đề bài: Chứng minh tình thương là hạnh phúc của con người – văn lớp 12. Bài làm Hạnh phúc từ trước đến nay luôn là cái mà con người ta luôn hướng tới.Nhưng khái niệm về hạnh phúc đối với mỗi người là hoàn toàn khác nhau.Có người cho rằng hạnh phúc là khi mình giàu có no đủ.Nhưng đối với em sự yêu thương mới là hạnh phúc của con người. Để tìm hiểu bất kể một vấn đề nào chúng ta phải hiểu khái niệm của nó.Vậy hạnh phúc là gì? Theo ý nghĩa cơ bản về hạnh phúc là cảm giác sung sướng khi hoàn thành được ý nguyện của mình. Còn tình thương là tình cảm nồng niệt gắn bó mật thiết,có trách nhiệm của người với người. Vậy tại sao quan điểm tình thương là hạnh phúc của con người lại được nhiều người tán thành.Vì đối với nhân dân ta quan niệm tình thương là hạnh phúc thì nó là truyền thống đi sâu vào trong lối sống đã có từ bao đời của nhân dân việt nam.Cùng với đó tình thương là sự sẻ chia,quan tâm lẫn nhau nó khiến chúng ta gần nhau hơn.Hạnh phúc đôi lúc chỉ đơn giản thế không cần cao hương mỹ vị,nhà lầu xe hơi. Sự yêu thương mang đến hạnh phúc luôn luôn là đề tài muôn thủa của thi,ca.Vì nó là điều rất cần thiết trong cuộc sống.Tuy nhiên tình thương có nhiều phương diện.Đầu tiên là tình thương trong gia đình.Chamẹ dành tình yêu thương cho con cái,anh chị em yêu thương lẫn nhau…Không có ai yêu thương chúng ta vô điều kiện như chamẹ mình. ‘’ Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha’’ Cha mẹ lúc nào cũng ở bên ta lo lắng cho ta từ khi còn đỏ hỏn chào đời.Lo lắng từng bữa ăn giấc ngủ.Xót xa,buồn bã khi ta vấp ngã không nghe lời.Rồi lại mỉm cười khi ta thành công trở thành người có ích cho xã hội.Vất vả là thế mà chưa lần nào cha mẹ bỏ rơi chúng ta.Vì đơn giản hạnh phúc của cha mẹ là được yêu thương chúng ta.Hạnh phúc của cha mẹ là nhìn thấy ta trưởng thành,vui vẻ.Nên sống sao cho tốt,yêu thương cha mẹ,để bớt được gánh nặng cho cha mẹ,làm cho cha mẹ vui lòng đó là những điều những người con rất cần làm.Vì sinh ra có bố mẹ vẫn còn bên mình là một điều may mắn không phải ai cũng có.Đó là điều nhiều người luôn mơ ước.Hãy luôn trân trọng những gì mình đang có.Với tình thương và hạnh phúc của cha mẹ với con cái. Trong tình cảm về gia đình còn có tình cảm về anh em,chị em.’’Anh em như thể tay chân,gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau…’’ Nếu anh em thuận hòa thì gia đình yên ấm,cha mẹ yên tâm vui vẻ.Gia đình hạnh phúc.Đó chính là sức mạnh và điều kì diệu mà tình thương mang lại. Một tình thương nữa mà ai ai cũng mong muốn được có.Đó chính là tình yêu đôi lứa.Nó là tình thương khi con người ta luôn nghĩ về nhau,quan tâm đến nhau,sống vì nhau.Và chỉ cần những món quà nhỏ thôi chỉ cần 1 lời chúc,hay 1 bó hoa đó đã là quá đủ khi họ yêu nhau.Nhiều khi chỉ cần 1 ánh mắt,hay nụ cười đã đủ làm xao xuyến,rung động…Và hạnh phúc bền chặt khi tình yêu thương trao đến nhau là chân thật. Em rât thích câu nói: ‘’ Có những nỗi nhớ không được đặt tên, có những yêu thương không được gửi trao, nhưng vẫn lâng lâng hạnh phúc vì được yêu đúng cảm xúc’’ Đó tình yêu và hạn phúc đơn giản chỉ thế. Xem thêm: Đến với tuỳ bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân, độc giả luôn thấy xuất hiện bên cạnh hình tượng sông Đà, người lái đò là hình tượng “tôi” – tác giả. Anh (chị) có cảm nhận gì về hình tượng đặc biệt này? Ngoài tình thương trong gia đình. Tình thương trong phạm vi xã hội cũng vô cùng quan trọng. Từ bao đời nay tình cảm đó đã được đưa vào thi ca nhiều như câu mà người dân việt nam nào cũng biết; ‘’ Bầu ơi thương lấy bì cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn ‘’ Tình thương giữa những người dân việt nam, giữa con lạc cháu hồng,luôn luôn được coi trọng đặc biệt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nếu không có tình yêu thương,đoàn kết tương trợ nhau,hi sinh không tiếc xương máu vì dân tộc. Thì liệu ngày nay chúng ta có được sống hạnh phúc,no ấm như ngày nay. Vì thế hãy luôn luôn sống và yêu thương nhau cùng nhau xây dựng đất nước Việt nam ngày càng phát triển. Đừng quên lời Bác Hồ đã nói ‘’ Đoàn kết,đoàn kết,đại đoàn kết ; Thành công,thành công,đại thành công’’ là thế. Mỗi chúng ta không phải ai cũng may mắn sinh ra trong gia đình giàu có,được bố mẹ yêu thương. Ngoài kia vẫn còn biết bao nhiêu đứa trẻ mồ côi,lang thang ngoài đường trong khi chúng ta vẫn chăn ấm đệm êm. Thế đã bao giờ ta nghĩ cần chia sẻ tình thương với những người khó khăn như thế. Em đã được có cơ hội đưa một chiếc bánh mỳ cho một người ăn xin ngoài đường. Ôi! cảm giác lúc đó thật khó tả,người run run vì sung sướng. Vì họ chỉ dơn giản cuối nhẹ người và cảm ơn em. Lúc đó em hiểu rằng cuộc sống này khi mình trao yêu thương cho một ai đó không chỉ người nhận thất hạnh phúc mà chính người cho còn vui hơn bao lần. Như câu nói ‘’ Cho đi một,nhận lại mười là thế’’ Đúng thế sau sự việc đó em đã có cho mình bài học về sự yêu thương,sự sẻ chia. Bạn đã bao giờ đi phát quà cho những trẻ em khó khăn vùng cao,không có áo mặc,cơm ăn cũng không có. Cho học hơi ấm họ trao cho mình nụ cười,niềm vui. Nụ cười của những đứa trẻ là một sức mạnh thần kì cho em. Cho em biết mình đang sống là người có ích,cần phải cho đi nhiều hơn nữa.Ôi! hạnh phúc đến lạ kì,’’khổ đau được san sẻ vơi nửa,hạnh phúc được san sẻ nhân đôi’’ Em chợt nhận ra rằng được yêu thương là một hạnh phúc,nhưng được yêu thương người khác còn hạnh phúc hơn. Mỗi người chỉ có một lần để sống, nên hãy luôn tận dụng cơ hội để cảm nhận cuộc sống của cuộc đời. Nên chúng ta hãy sống sao cho có ý nghĩa,đừng vô cảm với bất kì ai,đặc biệt với những người nghèo khổ. Hãy một lần dẫn một cụ già qua đường, cho một đứa bé ăn xin một đồng tiền. Xem bạn có run lên vì sung sướng,rồi chợt nhận ra rằng mình quá may mắn khi được sống,được yêu thương. Bạn sẽ làm theo lời tôi nói ngay hôm nay chứ? Vì đơn giản sống là để yêu thương. Để tình thương thực sự trở thành hạnh phúc của con người. Mỗi ngày chúng ta hãy học cánh mở rộng trái tim hơn, trao tình thương đến cho mọi người. Lúc đó hạnh phúc không chỉ đến với người nhận,mà còn cho chính chúng ta. Để mỗi buổi sáng thức dậy hít một hơi thật sâu,thở ra nhẹ nhõm rồi thầm nghĩ; ‘’ Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy Cho ta một ngày nữa để yêu thương’’. Nguồn: Văn mẫu hayXem thêm: Nhà thơ Tố Hữu viết: Ôi! sống đẹp là thế nào hỡi ban? Theo anh (chị) thế nào là sống đẹp? Lấy ví dụ thực tế để chứng minh
Chứng minh tình thương là hạnh phúc của con người – văn lớp 12
1,325
Đề bài: Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Nền văn học Việt Nam sau năm 1945 không chỉ giàu tính chiến đấu mà còn giàu tính nhân đạo. Hai tính chất này không tách rời nhau bởi vì cuộc chiến đấu của dân tộc hơn ba trăm năm nhằm mục đích khẳng định con người, mặt khác, muốn bảo vệ, thương yêu con người, người ta phải dấn thân vào chiến đấu. “Vợ nhặt” được hoàn thành vào thời gian sau năm 1955 dựa trên một bản thảo cũ viết ngay sau Cách mạng tháng Tám bị thất lạc. Khoảng cách mười năm đó đã giúp tác giả thể nghiệm sâu sắc tư tưởng của tác phẩm, làm cho nó trở thành một tác phẩm mang những giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc và phong phú. Bước vào câu chuyện, người đọc đã cảm thấy bất ngờ bởi chính cái nhan đề “Vợ nhặt”. Tại sao không phải là nhan đề gì khác? Chính cái nhan đề đó đã gây ấn tượng đầu tiên và gợi ra một hoàn cảnh bi thảm của người phụ nữ… Truyện ngắn “Vợ nhặt”, sau khi đọc qua một lần, người đọc có lẽ sẽ cảm thấy tình huống truyện khá lạ. Truyện kể về nhân vật Tràng, một con người nghèo khổ, xấu xí lại còn là dân ngụ cư. Giữa lúc thiên hạ đói khát lại có vợ. Và việc một người như Tràng cổ vợ giữa lúc thế thời khắc nghiệt đó đã gây ra một sự ngạc nhiên cho mọi người, cho mẹ Tràng và ngay chính cả bản thân Tràng. Truyện được đặt trong bối cảnh là vào nạn đói ở miền Bắc năm 1945, một nạn đói thảm khốc được hiện lên qua hàng loạt hình ảnh, đó là những đứa trẻ vốn chỉ biết vui chơi, nô đùa nay ngồi ủ rũ nơi xó tường. Người lớn vốn khỏe mạnh nhanh nhẹn nay da dẻ xanh xám với những bước đi dật dờ như những bóng ma. Nơi nơi người chết như ngả rạ nằm ngổn ngang giữa lều chợ không kịp chôn. Cái đói, cái khắc nghiệt đã thấm vào cả cảnh vật, đó là con đường khẳng khiu bé nhỏ, những ngôi nhà lúp xúp xiêu vẹo, rồi màu đen của màn đêm tăm tối, màu xanh xám của xác người chết và da người sống. Chốc chốc trong không khí lại vang lên những tiếng khóc vì người chết, tiếng quạ kêu và cả mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người. Khung cảnh đó đã tái hiện chân thực một bức tranh ảm đạm thê lương của xóm ngụ cư trong nạn đói. Không chỉ dừng lại ở đó, nạn đói kia còn có thể khiến người con gái trong truyện vỗn dĩ hiền hậu, rón rén, e thẹn trở nên ăn nói chua ngoa, chỏng lỏn, liều lĩnh. Quả thật trong nạn đói đó, không ai tin là mình có thể sống sót qua được cả. Giữa lúc đó, Tràng lại nhận cô gái kia làm vợ, cưu mang cô rồi đưa cô về nhà. Người ta thường nói cái đói làm con người ta mất giá, một cô gái phải theo không một người đàn ông không quen biết chỉ vì bốn cái bánh đúc. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, với tấm lòng nhân hậu, nhà văn nhìn thấy khát vọng được sống tha thiết của cô gái, và ông cũng cảm thông niềm khát khao được có vợ của Tràng. Anh chàng liều lĩnh tặc lưỡi: Kệ, cứ đón cô ta về đã. Tràng đưa cô gái về nhà, mọi người trong xóm thấy vậy thì đều lạ lắm. Họ đứng cả nhìn ra và bàn tán. Có người thì chợt rạng rỡ nhưng cũng có người thở dài: “biết có nuôi nổi nhau sống qua cái thì này không?”. Và họ cùng nín lặng. Hai người dìu dắt nhau về nhà, có lẽ Tràng là người vui vẻ nhất, khi thì phởn phơ, khi thì tủm tìm, khi thì bật cười chứng tỏ anh chàng đang rất hạnh phúc. Đi cạnh cô gái gầy gò xơ xác, anh không hề coi thường cô gái đã theo không mình vì bát bánh đúc. Anh cũng không hề có cảm giác lên mặt khi trong túi đang rích bố cu mà ngược lại, anh còn cảm thấy nhờ có cô mà anh đã quên hết cảnh sông ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe doạ… Bởi Tràng đã nhìn thấy ở cô gái một nguồn ấm áp, tươi sáng tỏa rạng đời mình. Còn cô gái, cô cùng không hề có chút mặc cảm nào về thân phận bị nhặt của mình. Trên con đường về, khi thì cô giễu anh, khi thì cô mắng anh khỉ gió, rồi lại đánh đét vào lưng anh và khoặm mặt lại với anh. Cô vẫn cảm thấy bản thân tự hào như bất cứ cô gái nào, họ đã thực sự hướng về nhau, quý mến nhau như một đôi tình nhân khi bắt đầu làm quen. Xem thêm: Nêu những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hoá có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.Thật thú vị khi tác giả đã để hai con người đó đi về trước sự chứng kiến của dân làng. Hình ảnh đó cho thấy sự thách thức quyết liệt của khát vọng sống còn và khát vọng hạnh phúc trước mọi sự tuyệt vọng và tê liệt vì nạn đói. Ở đoạn này, tác giả đã khẳng định sự sống và ý chí sống còn của con người, trân trọng và yêu mến hành động của họ. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm không chỉ có thế. Qua chi tiết đôi vợ chồng mới ra mắt người mẹ già và sau một đêm thành vợ chồng, nhà văn còn khẳng định một điều, tình yêu của cuộc sống sẽ thắng được chết chóc, cuộc sống sẽ thay đổi… Trước nạn đói khủng khiếp kia, bà mẹ cũng thất vọng và hoài nghi như bao người: “biết có nuôi nhau qua được cơn đói khát này không?” rồi bà thở dài. Người mẹ đó đã sống một đời trong sự nghèo khổ. Người mẹ bao giờ cũng là người hiểu con mình nhất, như nhà thơ người Nga Êxinhin đã viết: “Ánh sáng diệu kỳ vào lúc hoàng hôn Xin cứ tỏa trên mái nhà của mẹ”. Thế nhưng lúc đầu khi nhìn thấy người đàn bà lạ trong ngôi nhà của mình, bà đã không hiểu gì cả. Bà ngỡ ngàng phân vân với nhiều câu hỏi “sao có người đàn bà nào ở đấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế nhỉ? Bà đưa tay dụi mắt rồi quay lai nhìn con tỏ ý không hiểu. Rõ ràng nạn đói ác nghiệt đã khiến người mẹ quên đi sự linh cảm, thấu hiểu con của một người mẹ. Trong nạn đói, tính mạng bị đe dọa, con người hầu như mất hết tình cảm lí trí. Và khi bà đã hiểu ra, cảm tính của một người mẹ trong người bà trỗi dậy. Bà thương con, ai oán xót xa cho con mình, cho cả bản thân mình. Bà nhận ra trong việc này con mình là người may mắn nhất: người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Theo lẽ thường khi con người ta lấy vợ phải làm lễ cúng bái tổ tiên, làm dăm ba mâm rượu đãi họ hàng làng xóm nhưng trong hoàn cảnh thế kia, làm sao có khả năng đấy. Bà chợt cảm thấy tủi thân cho nàng dâu mới, rồi bà lại thương quý cô gái chịu phận “vợ nhặt” kia. Bà thương nàng dâu tội nghiệp, hướng mọi tình cảm của mình về phía nàng dâu. Trong đêm đen xám xịt của nạn đói, vẻ đẹp tâm hồn của hai mẹ con là hai đốm sáng lung linh, đã thể hiện một vẻ đẹp nhân đạo cao quý của con người Việt Nam. Sau một đêm dài. tăm tối, hai con người đã nên vợ nên chồng bắt đầu một cuộc sống mới. Tuy vẫn trong cơn đói khát nhưng mọi vật dường như đã được tiếp thêm một luồng sinh khí mới. Ngôi nhà sạch sẽ, gọn gàng, ang nước đầy ắp, người vợ trẻ hiền hậu đảm đang còn Tràng thì chợt cảm thấy thương yêu gắn bó với ngôi nhà của hắn lạ lùng. Hắn chợt thấy hắn nên người, hắn thấy hắn phải có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này. Một nỉềm tin vào tương lai đã gieo rắc vào trong lòng mỗi người. Hình như ai nấy đếu có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn. Chưa bao giờ trong nhà mà mẹ con lại đầm ấm hòa hợp đến thế. Nhưng bữa cháo, bữa rau và nhất là nồi chè cám đắng ngắt đã đưa họ trở về với thực tại. Chỉ có lòng yêu thương, hi vọng thì không thể nào giúp họ vượt qua cơn đói khổ này. Họ phải làm gì? Hình ảnh và tin đồn về Việt Minh phá kho thóc xuất hiện, và muốn họ phải hành động, hành động bằng chính sức lực của mình, hình ảnh Việt Minh, đoàn người đã vượt qua sự mặc cảm đói nghèo, tủi hờn để khảng định sự sống. Khác với các tác phẩm văn học hiện thực phê phán trước đó, tác giả đã mở cho họ một coin đường sông nhưng ông đã không dễ dãi trong việc miêu tả gia đình Tràng tham gia cách mạng, nhưng lôgíc cuộc sống sẽ cho thấy họ không còn con đường nào khác. Tóm lại, “Vợ nhặt” đã thể hiện lòng yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của những người nghèo đói, giúp họ vượt qua cơn hoạn nạn khôn cùng. Với tình huống truyện đặc sắc, giọng văn mộc mạc giản dị, giàu sức gợi cảm. Qua tác phẩm “Vợ nhặt”, nhà vãn Kim Lân đã bộc lộ được giá trị nhân đạo của tác phẩm và nêu bật được bản chất của cuộc sống: Sự sống sẽ chiến thắng cái chết, cái tàn bạo. Trong cái chết, sự sống vẫn nảy mầm; trong nghèo đói, hạnh phúc vẫn vươn lên; trong bế tắc, tương lai vẫn mở hướng. Xem thêm: Hãy trình bày quan niệm của anh (chị) về hạnh phúc và cách có được hạnh phúc.
Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
1,826
Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ: “Có công mài sắt, có ngày nên kim” Gợi ý Chăm chỉ, cần cù, chịu thương chịu khó,… những đức tốt đẹp đó từ lâu đã trở thành truyền thông đáng quý của nhân dân ta. Chăm chỉ, cần cù, chịu thương chịu khó,… bởi ông cha ta tin rằng: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Câu tục ngữ phản ánh một hiện thực tồn tại hiển nhiên trong đời sống: dù thỏi sắt có lớn đến mấy thì qua bàn tay lao động, qua công sức mài giũa của con người thì cuối cùng cũng mòn đi, nhỏ lại thành cây kim. Không chỉ vậy, thỏi sắt ban đầu là một vật thô phác, vô ích nhưng nhờ công sức lao động của con người đã trở thành cây kim tinh xảo có ích cho đời sống hàng ngày. Từ những ý nghĩa trên, câu tục ngữ đã khuyên răn, nhắc nhở chúng ta nhiều điều có ý nghĩa trong cuộc sống. Trước hết, công việc dù lớn đến mấy, dù khó khăn đến mâ’y nếu chịu khó, cần cù làm lụng thì nhất định sẽ thành. Ý nghĩa này giống như một câu ngạn ngữ phương Tây: “Đi là đến”. Bên cạnh đó, câu tục ngữ cũng nhắc nhở ta cần có ý thức kiên trì, bền bỉ đế biến những công việc gian khó thành dễ dàng, sự thành công. Từ đó động viên con người: nếu có công làm lụng thì nhất định sẽ thành công.Xem thêm: Phân tích nhân vật Ông lão đánh cá trong tác phẩm Ông Lão Đánh Cá và Con Cá Vàng. Trong thực tế, câu tục ngữ này đã được chứng minh rất nhiều. Xưa, Mạc Đĩnh Chi nhà nghèo, lại xấu xí, tưởng chẳng thể có được chút đóng góp cho đời. Vậy mà ông đã kiên trì tự học, học bằng chữ viết trên lá chuối, học bằng ánh sáng của trăng, của đom đóm, của những ánh lửa bốc lên từ đông lá khồ,… Cuối cùng ông đã trở thành một Trạng nguyên tài ba nổi tiếng với bài thơ “Hoa sen trong giếng ngọc” xúc động lòng người. Nhà giáo ưu tú Nguyễn Ngọc Kí trước đây là một câu bé bị liệt cả hai tay. Nhưng với tinh thần ham học hỏi, Kí đã vượt qua bao đau đớn, bao nỗi mặc cảm, vật lộn với những cơn chuột rút những lần thất bại. Giờ đây, chẳng những Nguyễn Ngọc Kí đã viết được bằng chân rất đẹp mà còn trở thành một nhà giáo ưu tú được học trò hết lòng yêu mến, kính trọng. Ngày nay, cũng có biết bao học người học trò nghèo kiên trì học tập và trở thành những học sinh giỏi. Cũng có biết bao những cô chú công nhân, những nhà doanh nghiệp đi lên từ vất vả gian khó. Với đôi bàn tay cần cù và sự kiên trì chịu khó họ đã làm nên những điều kì diệu nhất cho cuộc đời này. Quả thực, nếu ta quyết tâm làm việc thì công việc dù khó, dù lâu đến mấy nhất định sẽ xọng.Xem thêm: Bàn về học vấn với con người và cuộc sống, ngạn ngữ Hi Lạp có câu: "Học vấn là những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào". Em hãy giải thích và trình bày cảm nhận của mình về ý kiến trên Câu tục ngữ đúng đắn cùng những thực tế sinh động đã cho mỗi chúng ta một bài học lớn. Trong cuộc sông có bao công việc gian khó, vất vả: việc học tập, việc lao động,… nhựng nếu chúng ta biết vượt qua gian khó, kiên trì và quyết tâm thì thành công. “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, câu tục ngữ xưa của cha ông vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay nhắc nhở chúng ta cần có lòng quyết tâm và sự kiên trì trong công việc hàng ngày. Vanmau.edu.vn
Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ_ “Có công mài sắt, có ngày nên kim”
674
Chứng minh văn học của dân tộc luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn Gợi ý Bạn và tôi thuở ấu thơ trong nôi, chắc chúng ta ai cũng được nghe lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ: "Àơi… Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước (ơ) phải thương nhau cùng" Gốc của thơ và nhạc là từ đó, vốn văn học nảy sinh từ nền văn hoá dân gian mang theo điệu hồn dân tộc ở trong mỗi người. Mỗi bài thơ ta đọc, mỗi bài văn thầy giảng em nghe đều thấm đẫm một triết lý nhân sinh cao cả nhắc nhở ta đạo làm người biết "thương người như thể thương thân" và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ dửng dưng trước người gặp hoạn nạn. Đó chính là tư tưởng cốt lõi của văn hoá dân tộc. Văn học là nhân học, gắn văn học với chức năng giáo dục tư tưởng thẩm mĩ, trong mỗi tác phẩm văn chương ở nhà trường, ta đều cảm nhận tinh thần nhân ái của con người Việt Nam, một truyền thống đạo lý tốt đẹp mà mỗi chúng ta luôn trân trọng nâng niu và soi vào đó để tự răn mình. Từ buổi đầu tiên cắp sách đến trường, trong những lời cô giảng, câu ca dao trong SGK lớp 1 đã thấm vào hồn con lòng nhân ái yêu thương gần gũi như lời thủ thỉ tâm tình của người mẹ. Lớn lên học lớp 5, lớp 6 nghe thầy đọc những trang thơ, những truyện cổ hay, lòng em thấy xúc động nao nao: em thương cô Tấm thảo hiền, ghét Lý Thông ở ác, em thêm yêu quê hương qua lời thơ ngọt ngào của Trần Đăng Khoa: Em nghe thầy đọc bao ngày Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây quanh nhà Mái chèo nghe vọng sông xa Êm êm như tiếng của bà năm xưa Nghe trăng thở động tàu dừa Ào ào nghe chuyển cơn mưa giữa trời Thêm yêu tiếng hát nụ cười Nghe thơ em thấy đất trời đẹp hơn. (Nghe thầy đọc thơ)Xem thêm: Nghị luận xã hội Học đi đôi với hành Càng yêu thơ văn dân tộc ta càng khám phá được trong mỗi tác phẩm vẻ đẹp kì diệu lung linh của nó mà cơ sở cho sự sáng tạo chính là cội nguồn của tình yêu thương sự đồng cảm, chân thành của nhà văn với con người tạo nên linh hồn trong mỗi sáng tác. Đọc truyện "Sơn Tinh Thuỷ Tinh" ai cũng hiểu đó là câu chuyện hoang đường nhưng sao nghìn đời nay ta vẫn yêu vẫn quí, đọc trăm lần không chán bởi hình tượng chàng Sơn Tinh chính là hình ảnh của dân Văn Lang thuở hồng hoang khai thiên lập địa gặp muôn ngàn khó khăn. Càng đọc ta càng khâm phục sự sáng tạo kì diệu của nhân dân khi xây dựng hình tượng nghệ thuật này dưới câu chuyện tình lãng mạn đẹp thời cổ đại. Và càng đọc ta càng thấy dụng ý ngợi ca con người, sức mạnh và ý chí con người quả là lớn lao đáng khâm phục: bao lần đấu tranh, chiến sự xảy ra nhưng Sơn Tinh vẫn thắng, Thuỷ Tinh giao chiến mệt mỏi đành rút quân về. Ca ngợi con người, những con người chính nghĩa, bảo vệ cho công lý đó là chức năng của tác phẩm nghệ thuật nói chung và tác phẩm văn học nói riêng. Hồi kí "Những ngày thơ ấu" củạ Nguyên Hồng sao đáng yêu đến thế. Bức chân dung chân thực mà sống động về một cậu bé bất hạnh sống thiếu tình thương nhưng vô cùng trong sáng hồn nhiên và có tình yêu thương mẹ mãnh liệt. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm chính là một con người đáng quí, đáng để các bạn nhỏ học tập noi gương về nghị lực sống, về tình yêu thương và lòng nhân ái vô bờ. Cậu bé mồ côi cha phải sống bên người bà cô cay nghiệt luôn lấy chuyện mẹ em có con với người khác, phải đi ở tha phương cầu thực mà nhiếc móc hành hạ em. Song tình yêu thương mẹ và niềm tin trong sáng của cậu bé 12 tuổi đã giúp em có thêm bản lĩnh sống và vượt qua mọi thử thách để rồi cuối cùng ước mơ được gặp mẹ đã toại nguyện. Cảm giác hạnh phúc đến vô bờ khi ngồi trong lòng mẹ được mẹ ôm ấp vỗ về, được ngắm nhìn khuôn mặt thân yêu của người mẹ, được mẹ gãi rôm ở sống lưng… của cậu bé Hồng được gợi lại chân thực và xúc động bằng một đoạn văn thấm đẫm chất trữ tình đã đưa mỗi chúng ta về với cội nguồn, về với tình mẫu tử thiêng liêng của chính mình mà vô tình ta chẳng nhận ra. Tập hồi kí hay và lắng đọng hồn người chính bởi tình thương, sự đồng điệu của trái tim nghệ sĩ đã hoà cùng nhận vật với niềm yêu thương sẻ chia với những cuộc đời đắng cay, bất hạnh.Xem thêm: Bài văn của con gái bị mẹ bỏ rơi Văn học thể hiện tình yêu thương ngợi ca những con người có trái tim nhân ái nhưng đồng thời văn học cũng bày tỏ thái độ phê phán nghiêm khắc những kẻ bạc ác, những kẻ thờ ơ dửng dưng trước những người gặp hoạn nạn. Trong các tác phẩm của mình, người nghệ sĩ không chỉ tạo nên các nhân vật với tính cách một chiều. Chính vì vậy, ta đọc tác phẩm và thấy trong đó những con người với những tính cách đối lập. Phải chăng nhà văn muốn để ta so sánh đối chiếu họ với nhau mà nhận ra thái độ của tác giả, tìm đến sự đồng cảm với trái tim người nghệ sĩ mà yêu, ghét, giận hờn, ngợi ca hay khinh bỉ. Đọc "Lão Hạc" của Nam Cao, ta càng yêu thương quí trọng lão nông già yếu nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu thương và đức tự trọng để mà thêm mến thêm yêu Nam Cao, học được ở ông cái cách nhìn người "cố tìm hiểu họ" mà cảm thông chia sẻ…, thì ta càng chê trách Binh Tư, con người khoẻ mạnh mà lười biếng, nhân cách thoái hoá đi ăn cắp ăn trộm… đáng khinh bỉ. Hai tuyên nhân vật tiêu biểu cho giai cấp thống trị – bị trị trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố là 2 bức tranh đối lập về con người mà qua đó nhà văn muốn nhắn gửi bức thông điệp, tiếng kêu cứu về số phận người nông dân dưới chế độ cũ. Chính vì vậy nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nhận xét: Cái cách viết lách như thế, Ngô Tất Tố xui người nông dân nổi loạn.Xem thêm: Hãy tóm tắt văn bản trích Tức nước vỡ bờ (trích Tắt đèn của Ngô Tất Tố) trong khoảng 5 câu đến 7 câu, trong đó có sử dụng ít nhất một câu ghép Sự nổi loạn mà Nguyễn Tuân muốn nói đến trong "Tắt đèn" là sự nổi loạn đầy ý thức khi cái tốt, cái thiện bị ngược đãi, chèn ép nên tức "nước vỡ bờ". Mâu thuẫn cơ bản của xã hội thể hiện trong hai tuyến nhân vật rõ rệt: một bên là những kẻ thống trị cậy chức quyền hà hiếp dân lành mà tiêu biểu là quan Tri phủ Tư Ân, Nghị Quế, Lý trưởng, Chánh tổng… Và một bên là người dân lương thiện chịu cảnh bần cùng đè nén là chị Dậu. Mâu thuẫn đối kháng dâng lên đỉnh điểm nhưng Ngô Tất Tố chỉ đặt ra ở đó. Phải chăng bởi ý thức cách mạng chưa cập đến người dân hay bởi nhà văn mới bằng trái tim nhân đạo của mình rung lên hồi chuông cảnh tỉnh về những cuộc nổi loạn sẽ xảy ra khi những kẻ núp bóng quan Tây bị mất hết nhân tính chỉ mượn cớ đục nước béo cò… Bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, văn học thể hiện tinh hoa văn hóa và khẳng định sự sáng tạo nghệ thuật của con người Việt Nam. Song điều cốt lõi và cội nguồn của văn chương chính là tình yêu thương, "thương người như thể thương thân". Tiếng nói yêu thương ấy của văn chương đã cất lên ru tâm hồn ta, khiến ta sống “người” hơn. Vanmau.edu.vn
Chứng minh văn học của dân tộc luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn
1,456
Đề bài: Chứng minh văn học là tình thương Từ khi xa xưa con người biết phản ánh tâm tư tình cảm của mình qua văn học truyền miệng hay trên những trang giấy, văn học đã trở thành người bạn thân thiết, gắn bó với con người. Nó là sợi dây liên kết vô hình khiến con người xích lại gần nhau hơn. Văn học giúp cho con người chung sống với nhau bằng tình cảm đẹp đẽ, sự sẻ chia và cảm thông. Vì thế ngay từ khi sinh ra, văn học và tình thương đã có mối quan hệ chặt chẽ: tình thương tạo nên sự hấp dẫn cho văn học và văn học có nhiệm vụ quan trọng là truyền tải tình thương. Văn học vô cùng quan trọng đối với cuộc sống tinh thần của con người. Nó là một bộ môn nghệ thuật có từ rất lâu đời, là công cụ giúp con người bày tỏ cảm xúc hay tình cảm của mình bằng những từ ngữ, kí hiệu và con dấu. Các tác phẩm văn học được làm nên từ các chất liệu có trong cuộc sống chính vì vậy chúng miêu tả được cuộc sống muôn hình vạn trạng một cách chân thực và chính xác hơn bất cứ ai. Văn học cũng chính là chiếc chìa khoá vàng mở rộng lòng nhân ái trong tâm hồn, phát triển nhân cách tốt đẹp. Văn học gồm nhiều thể loại tác phẩm nhgệ thuật như truyện ngắn, tự truyện, hồi kí hay tiểu thuyết,… Ta có thể nói văn học là nhân học, tức là nó có tính nhân văn. Văn học chứa đựng trong nó muôn vàn những tình cảm tốt đẹp giữa con người. Đó chính là tình thương. Nhưng cụ thể hơn, tình thương được thể hiện trong văn học khá sâu sắc và đa chiều. Chúng thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của con người. Đó cũng là khi những nhà văn, thi sĩ bộc lộ sự thương cảm xót xa sâu sắc đối với những mảnh đời, thân phận bất hạnh; phê phán gay gắt những việc làm sai trái và những kẻ chà đạp lên con người; hay là lời ca ngợi vẻ đẹp quê hương, thiên nhiên, đất nước. Văn học và tình thương gần như là hai khái niệm không thể tách rời, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Văn học thể hiện tình thương trong nhiều mối quan hệ khác nhau. Ấm áp và thiết tha như tình cảm gia đình, cái nôi hình thành nhân phẩm đạo đức của mỗi người. Cũng vì vậy mà người xưa cũng rất coi trọng tình cảm thiêng liêng này và trân trọng đặt nó lên hàng đầu qua câu ca dao: “ Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông.” Công lao cao cả của người bố cùng tình thương vô bờ bến của người mẹ được so sánh với các hình ảnh hùng vĩ của thiên nhiên đã in sâu vào tâm trí nhũng người làm con giúp cho họ làm tròn chữ hiếu, đền đáp lại công ơn trời biển của cha mẹ. Còn trong văn học hiện đại, tác phẩm tiêu biểu mà ta đã được học là “ Trong lòng mẹ”. Bài văn thể hiện tình cảm trong sáng, sâu sắc của bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh của mình. Bằng cả tâm hồn và tình yêu thương, em đã cố giữ cho hình ảnh người mẹ nhân hậu, hiền dịu không bị vấy bẩn bởi nhũng hủ tục và thành kiến thâm độc. Vì sao mà một cậu bé còn nhỏ đã có thể có tình thưong lớn lao và lòng tin tưởng tuyệt đối về người mẹ đến vậy? Tình cảm gia đình không chỉ có tình mẫu tử mà còn có tình anh em thắm thiết. Sau khi đọc tác phẩm “Bức tranh của em gái tôi” bạn có thể cảm nhận được tấm lòng khoan dung, sẵn sàng tha thứ cho người anh trai để rồi giúp cho người anh thức tỉnh khỏi sự ganh tị và ghen ghét. Cũng là tình cảm anh em nhưng bài “Cuộc chia tay của những con búp bê” lại thấm nặng tình nghĩa và cuộc chia ly đẫm nước mắt, buồn tủi của những đứa trẻ bất hạnh. Chũng yêu thương nhau biết bao thì lúc xa nhau càng đau đớn bấy nhiêu. Nỗi đau đấy đã để lại một ấn tượng sâu nặng trong lòng người đọc, khiến họ càng thêm xót xa và khâm phục tình cảm thiết tha của hai anh em Thành và Thủy. Xem thêm: Trình bày những cảm nhận, nhận xét của anh (chị) về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu được thể hiện qua đoạn thơ trong bài Việt BắcKhông chỉ thế, văn học cũng góp phần khắc họa nên sự gần gũi, thân thiết và vui vẻ của tình bạn- một thứ tình cảm đẹp không hề vụ lợi, toan tính. Và đó chính là nhũng gì mà Nguyễn Khuyến đã miêu tả một cách chân thực trong bài thơ “ Bạn đến chơi nhà”. Mở đầu bài thơ là một câu chào hỏi vồn vã, thân tình như reo lên khi người bạn tri kỉ đến. Bằng một giọng văn hóm hỉnh, ông đã nêu lên những thiếu thốn về vật chất để khẳng định một tình bạn gắn bó giữa mình và bạn. Phải đó là một tình bạn cao đẹp vượt lên trên tất cả những tầm thường về vật chất và của cải để đến với nhau bằng tấm lòng. Ngoài tình thương đối với những người mà ta thân quen, văn học cũng ca gợi tình cảm giữa những người cùng chung sống trong một xã hội. Vì vây, “thương người như thể thương thân” từ lâu đã trở thành một truyền thống dạo lý của người Việt Nam. Văn học ca ngợi tình cảm đẹp và đồng thời cũng phê phán những việc làm, hành động hay những kẻ chà đạp lên con người. Văn học luôn lên án gay gắt những kẻ chỉ biết nghĩ tới bản thân mà thờ ơ với mạng sống của người khác. Nhân vật điển hình mà học sinh đã được học là viên quan phụ mẫu trong bài “Sống chết mắc bay”. Hắn là một con người tàn nhẫn đến độ có thể bình thản mà ngồi chơi bài trong khi mưa bão đang cướp đi mạng sống của những người dân đen. Tiếng thét kinh hoàng hòa cùng với tiếng gió giật, mưa rít vẫn không làm bậc “quan cha mẹ” bận lòng. Câu chuyện kết thúc cũng là lúc quan thắng ván bài, tất cả mọi thứ đều chìm trong biển nước. Nụ cười hả hê, phi nhân nghĩa của quan vang lên càng xoáy sâu vào lòng người đọc sự thương cảm, xót xa đến tột độ đến những con người bất hạnh. Câu chuyện “Cô bé bán diêm” đã nhẹ nhàng đi vào lòng người đọc bởi hiện lên từng trang sách là hình ảnhcủa một em bé mồ côi nghèo khổ không được sống trong vòng tay yêu thương của gia đình. Cảnh ngộ đó còn đáng thương hơn khi con người xung quanh cũng lạnh giá như mùa đông khắc nghiệt. Câu chuyện đã tố cáo một cách kín đáo sự thờ ơ và vô tâm của xã hội lúc bấy giờ đã đẩy những con người nghèo khổ vào bước đường cùng. Và ngay với những kẻ gian ác xảo quyệt, dối trá cũng vậy văn học quyết không nương tay với chúng. Như trong chuyện Lí Thông cuối cùng cái thiện cũng thắng cái ác, hai mẹ con Lí Thông bị biến thành những con bọ hung suốt ngày chui rúc nhũng chốn bẩn thỉu cho đến cuối đời vì những tội ác chúng đã gây ra. Văn học nước ngoài cũng góp phần làm phong phú thêm kho tàng tình cảm của con người. Đặc biệt nó ca ngợi cả tình cảm đẹp giữa những người không cùng ruột già máu mủ. Và O’henri đã chỉ rõ cho ta thấy điều đó qua tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng”. Khi Giôn-xi bị ốm, Xiu cùng cụ Bơ-men đã hết lòng chăm sóc mong giành lại cô khỏi cái chết đang đến gần. Cụ Bơ-men tuy chỉ xuất hiện rất ít nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Cụ yêu thương Giôn-xi như con gái mình và sẵn sàng hi sinh mạng sống của mình để cứu Giôn-xi khỏi những suy nghĩ tuyệt vọng đang kéo cô xa dần cuộc sống thực tại. Văn học trau dồi tình thương, gợi cảm xúc cho con người, làm cho họ gắn bó với nhau. Có người đã từng nói “Tình cảm của con người cũng giống một viên kim cương thô mà nhờ có văn chương “mài nhẵn” mới trở thành viên đá quý đẹp gấp vạn lần”. Đọc các tác phẩm văn học ta thấy gần hơn với những nhân vật trong chuyện và từ đó biết lắng nghe, rung động, cảm thông, chia sẻ. Đó là bước đi đầu để hình nhân phẩm đạo đức và từ đó có những suy nghĩ, hành động đúng. Quả thật không sai, như M.Gorki đã từng nói “xét đến cùng, ý nghĩa thực sự của văn học là nhân đạo hóa con người”. Nhờ thế, văn học không chỉ dừng lại ở giá trị văn chương mà còn được mở rộng thành những viên gạch đầu tiên xây đắp ngôi nhà của tình thương giữa con người với con người trong xã hội. Từ tất cả những dẫn chững trên ta càng thấy văn học và tình thương gắn bó chặt chẽ với nhau đến chừng nào. Bởi lẽ tình thương khởi nguồn cho văn học và làm cơ sở để văn học tiếp tục truyền tải tình thương. Văn học và tình thương hòa quyện vào nhau và tạo nên những điều tốt đẹp nhất cho con người giúp con người phát triển theo một định hướng chung để ngày một hoàn thiện. Có vậy, con người mới có thể cùng nhau chung sống trong tình yêu thương. Nguồn Edufly Xem thêm: Cảm nghĩ về câu "Nhiễu điều phủ lấy giá gương..."
Chứng minh văn học là tình thương
1,726
Chử Đồng Tử tự kể về mình Gợi ý Ta là Chử Đồng Tử, cha ta là Chử Cù Vân. Chúng ta sống ở thời kì xa xưa, ngàỳ mà mọi sự vật còn nhuốm màu thần kì, huyền ảo. Nhà ta rất nghèo, mẹ ta mất sớm, hai cha con ta chăm chỉ làm việc, đánh cá bắt tôm hoài mà không đủ ăn. Cả nhà chỉ có một manh khố, hai cha con chung nhau dùng. Ai có việc đi ra ngoài thì đóng khố, người ở nhà thì ở trần. Chẳng may, cha ta cũng mất. Khi nhắm mắt người dặn ta: Cha chết rồi thì con lấy khố mà dùng, ta nằm xuống ở trần thì cũng chẳng sao. Nhưng phận làm con ai nỡ để cha như vậy. Sống đã không có gì, lẽ đâu chết cũng không một mảnh vải che thân? Ta tặng khố cho cha còn mình thì vẫn ở trần như vậy. Một hôm, ta đang lặn ngụp bắt cá ở bờ sông thì bất chợt thấy một đoàn thuyền cờ buồm rợp bóng nước. Chắc toàn người quyền quý chi đây. E họ nhìn thấy mình ở trần thì sinh kinh hãi, ta bèn lên bờ nằm xuống mà lấy cát sông phủ kín mình. Oái oăm thay, ta đang nằm yên không nhúc nhích thì bất chợt thấy tiếng người lao xao lại gần, mà lạ thay toàn là tiếng đàn bà con gái. Họ nói chuyện, rồi tắm ở trên bờ. Rồi bất chợt ai đó dội nước lên bờ cát, mình ta ướt đẫm, nước dội đến đầu, mình ta lộ ra đến đấy. Ta nghe thấy một tiếng á rất nhẹ. Hé mắt ra, ta thấy một mĩ nữ tuyệt trần đang nhìn ta kinh ngạc. Người ấy cho ta quần áo để mặc rồi hỏi han chuyện nhà, tại sao ta lại mình trần mà nằm đó? Ta thực thà kể lại gia cảnh, cha ta mất ra sao, ta để khố táng cha như thế nào. Người ấy nghe xong thì than:Xem thêm: Kể tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Cám – Thiếp đã nguyền sống ở vậy không lập gia đình. Nhưng ắt đây là duyên trời se thì biết chối sao đây! Lúc ấy ta mới biết người con gái tắm trên bờ cát là Tiên Dung công chúa. Dân gian vẫn đồn nàng là người có tấm lòng nhân hậu, phóng khoáng. Nàng chẳng muốn lấy chồng mà chỉ thích ngao du sơn thuỷ. Hôm nay, nàng đi qua đây, thấy cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình nên sai a hoàn vây màn mà tắm. Ngờ đâu… Ta đã hết lời chối từ nhưng nàng vẫn khăng khăng một mực muốn lấy ta. Ta không còn cách nào khác. Ta và nàng kết duyên chồng vợ. Nhưng nghe tin ấy, vua cha nàng giận lắm. Người không chấp nhận một chàng rể nghèo hèn như ta. Người truyền lệnh không nhận Tiên Dung là con mình nữa và thu quân lính, kẻ hầu người hạ về. Chao ôi, vậy là chỉ vì ta mà Tiên Dung đoạn tuyệt tình nghĩa với cha, rời bỏ lầu son gác tía. Sống với ta, liệu nàng có chịu đựng được cảnh gian khó hay không? Tiên Dung sống với. ta thực sự là một người vợ ngoan hiền. Chúng ta sống vui vẻ và hạnh phúc. ít lâu sau, ta từ biệt nàng lên núi tìm thầy dạy học phép tiên. Thầy dạy ta là một người tài cao đức lớn. Thấy ta chăm chỉ, chịu khó, người cũng truyền cho ta mọi phép hay. Sau ba năm khổ luyện, ta chào thầy xuông núi. Trước khi ta về, thầy cho ta một cái nón và một cây gậy, bảo rằng sẽ có lúc cần đến.Xem thêm: Trong “Nhà văn hiện đại”, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã viết: “Với... thấm thía”. Qua phân tích bài thơ “Vội vàng”, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên Ta trở về truyền phép thuật cho Tiên Dung. Chúng ta giúp đỡ dân làng, dạy dân trồng trọt chăn nuôi sao cho hiệu quả. Làng xóm trở nên trù phú, đông đúc. Chẳng may, vua cha nghe tin làng xóm của vợ chồng ta phát triển ngày càng thịnh vượng thì ngờ rằng chúng ta có ý làm phản, người cho quân đến bắt chúng ta. Lúc quan quân kéo đến hai vợ chồng ta vì không muón làm hại người của cha nên cả hai lánh đi nơi khác. Đến một bờ sông, trời lúc ấy cũng đã tốì. Quan quân cũng không đuổi theo nữa. Ta đem chiếc gậy cắm xuống đất, lây chiếc nón úp lên trên để che sương – hai vật năm xưa thầy ta ban cho. Hai vợ chồng ta dựa vào nhau ngủ thiếp đi. Đến khi tỉnh dậy thì thấy xung quanh kẻ hầu người hạ đi vào nhộn nhịp. Thì ra những thứ ấy thầy ta ban cho cả. Về sau, chúng ta được Ngọc Hoàng vời lên tiên giới, ở cõi thần tiên, ta và vợ vẫn thường nhìn xuống nhân gian giúp người nước Việt chống quân thù. Bờ sông nơi Tiên Dung tắm và gặp ta được người đời sau gọi là bãi Tự Nhiên, nơi vợ chồng ta nghỉ lại một đêm gọi là đầm Nhất Dạ. Vanmau.edu.vn
Chử Đồng Tử tự kể về mình
899
Con chim bị nhốt trong lồng tự kể chuyện mình Gợi ý Tôi là một chú chim vàng anh. Có lẽ các bạn đều khen tôi đẹp đẽ, nhiều màu sắc. Nhưng các bạn ạ, chính vẻ đẹp ấy đã khiến tôi bị giam giữ trong chiếc lồng chật hẹp này. Kể lại chuyện này, tôi đau đớn lắm. Hôm ấy, tôi đang chao lượn cùng bạn bè trên bầu trời xanh thẳm. Đột nhiên, một bên cánh của tôi nhói đau. Tôi rơi bịch xuống nền đất và ngất đi. Lúc tỉnh lại, tôi thấy có ai đang băng bó cho mình. Họ vừa chăm chút thuốc thang cho tôi vừa xuýt xoa khen bộ lông sặc sỡ sắc màu của tôi. Nhưng cũng từ đấy không khi nào họ cho tôi rời chiếc lồng nhỏ hẹp. Khi cánh của tôi đã khỏi hẳn thì họ mang tôi ra chợ bán: Số phận run rủi cho tôi bước chân vào ngôi nhà này… Dẫu sao, tôi vẫn yêu bầu trời tự do trong xanh đang mời gọi, tôi vẫn thích uống sương mai đọng trên lá và nhấm nháp hoa cỏ thẫm hương rừng. Tôi nhớ cha mẹ, anh chị em và những người bạn vẫn cũng tôi thì bay nhảy… Nhưng biết đến khi nào tôi mới được rời khỏi chiếc lồng này, thoát khỏi số phận chim lồng cá chậu. Tôi tự hỏi vì sao con người lại thích ngắm nghía cảnh kẻ khác khổ đau, giãy giụa? Loài chim sinh ra để bay, để hót, để tô điểm cho những cánh rừng, những tán cây đâu chứ phải để bị giam cầm, tù túng trong lồng, trong nhà? Ngày qua ngày, tôi ủ ê buồn chán. Và tôi đợi chờ sự hồi tâm chuyển ý của cậu chủ nhỏ bé của tôi…Xem thêm: Hãy miêu tả con đường em yêu thíchVanmau.edu.vn
Con chim bị nhốt trong lồng tự kể chuyện mình
311
Con người Hồ Chí Minh hiện lên qua bài thơ Tức cảnh Pác Bó Gợi ý Nhắc đến Bác Hồ là nhắc đến người lãnh đạo thiên tài của Cách mạng Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Nhưng nhắc đến Bác, còn là nhắc đến một lối sống thanh bạch, khiêm nhường, suốt đời chỉ chăm lo đến sự nghiệp cách mạng của đất nước. Điều đó được thể hiện rất rõ qua bài thơ “Tức cảnh Pác Bó”: “Sáng ra bờ suối tối vào hang Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Cuộc đời cách mạng thật là sang”. Bài thơ ra đời năm 1942, một thời gian ngắn sau khi Bác Hồ về nước. Trở lại Tổ quốc sau hơn ba mươi năm bôn ba, lặn lội, Bác Hồ ở trong một hang nhỏ tại Pác Bó, Cao Bằng. Khung cảnh thiên nhiên và đời sống sinh hoạt nơi đây đã khiến Người “tức cảnh sinh tình” và viết nên bài thơ này. “Sáng ra bờ suối tối vào hang Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng” Trong ba câu đầu của bài thơ, Bác nhắc đến điều kiện ở – ăn – làm việc của mình. Ở và ăn là hai nhu cầu tất yếu của con người. Và riêng với Hồ Chí Minh, khi nói đến đời sống sinh hoạt của mình, Người luôn đề cập thêm vấn đề công việc. Ấy bởi Bác là người luôn luôn làm việc, suốt đời làm việc, suốt đời lo cho dân, cho nước. Với Hồ Chí Minh, làm việc như một nhu cầu tất yếu, một bản năng. Điều đó cho thấy tấm lòng dành cho dân, cho nước của Bác vĩ đại nhường nào!Xem thêm: Kể lại một kỷ niệm đáng nhớ thời thơ ấu của mình Nơi thâm sơn cùng cốc ấy, Người ở – ăn – làm việc như thế nào? “Sáng ra bờ suối tối vào hang”, câu thơ cho biết không gian sống của Bác là không gian núi rừng hoang sơ, dân dã: suối, hang. Không phải là tòa biệt thự đồ sộ, không phải là giường ấm, đệm êm dù Bác đang là một yếu nhân của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, gian lao của đất nước, Người sẵn sàng sẻ chia thiếu thốn. Câu thơ có sự đối xứng nhịp nhàng: “sáng” – “tối”, “suối” – “hang”, “ra” – “vào”. Không gian và thời gian khép lại câu thơ đầy bóng tối: “tối”, “vào”, “hang”. Điều đó đã nhấn mạnh những gian khổ trong điều kiện ở của Bác. Chẳng những vậy, điều kiện ăn uống của Bác cũng rất hạn chế: “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”. “Cháo bẹ “ là cháo ngô, loại thức ăn đạm bạc thường ngày của đồng bào dân tộc Việt Bắc. “Rau măng” cũng vậy. Nhà thơ Phạm Tiến Duật từng viết “Hết rau rồi em có lấy măng không?”, nghĩa là măng còn đạm bạc hơn cả rau rừng (vốn đã bị coi là đạm bạc rồi!). Nhưng dẫu thiếu thốn, gian khổ đến vậy, Người “vẫn sẵn sàng” cho công việc cách mạng, phục vụ cho lợi ích của nước, của dân. Và điều kiện làm việc của Người cũng không tránh khỏi những thiếu thốn “bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”. Từ “chông chênh” là từ láy chỉ tư thế không vững chãi, ở vị trí bấp bênh. Hình ảnh “bàn đá chông chênh” vừa gợi sự gian khổ của điều kiện làm việc vừa gợi tình thế gian nan của sự nghiệp cách mạng nước nhà. Hình ảnh Bác Hồ đăm chiêu làm việc bên một “bàn đá chông chênh” gợi bao niềm cảm động trong lòng độc giả. Nhưng Bác không để cảm hứng bài thơ xuôi theo cảm xúc ủy mị, yếu ớt của sự thiếu thốn, gian khổ. Câu thơ hợp của bài tứ tuyệt thật độc đáo:Xem thêm: Phân tích bài thơ “Tiếng hát con tàu” của nhà thơ Chế Lan Viên“Cuộc đời cách mạng thật là sang!” “Cuộc đời cách mạng’” chính là cuộc sống với cái ở, cái ăn và sự làm việc như ba câu thơ trên. Bác dùng từ “thật là” mượn của khẩu ngữ rất tự nhiên, nó thể hiện sự cảm thán của người viết. Và chữ kết lại bài thơ thật bất ngờ: “thật là sang!”. Chữ “sang” mang ý nghĩa là sang trọng, đầy đủ. Chữ “sang” làm bật lên tiếng cười vui yẻ, niềm lạc quan trước cuộc sống gian khổ, thiếu thốn. Chính tinh thần ấy đã trở thành động lực để Bác cùng những người đồng chí vượt qua sự ngặt nghèo của đời sống và tình thế cách mạng để làm việc và chiến đấu. Chỉ một chữ mà khắc họa chân dung tinh thần của một con người. Chữ “sang” xứng đáng là “nhãn tự” của bài thơ tứ tuyệt “Tức cảnh Pắc Bó”. “Tức cảnh Pác Bó” của Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần lạc quan của Bác Hồ trong những năm tháng khó khăn của đời sống cách mạng. Dù những điều kiện sinh hoạt vô cùng hạn chế song bằng tinh thần làm việc hăng say và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Bác vẫn lạc quan mỉm cười để lấy đó làm động lực hoạt đông. Bài thơ sử dụng một thể thơ cổ (thất ngôn tứ tuyệt) song ngôn ngữ rất giản dị, gần gũi, thậm chí có cả khẩu ngữ. Điều đó thể hiện tinh thần dân tộc trong ngòi bút thơ ca Hồ Chí Minh. Bài thơ cũng rất tinh tế trong việc lựa chọn trật tự từ, sử dụng từ ngữ… điều đó góp phần không nhỏ trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm.Xem thêm: Phân tích tình yêu quê hương đất nước qua Đây thôn Vĩ Dạ, Đây mùa thu tới, Thơ duyên… Cùng với “Vọng nguyệt”, “Nguyên tiêu”, “Cảnh khuya”…,“Tức cảnh Pác Bó” xứng đáng là một trong những bức chân dung tinh thần xinh xắn của con người vĩ đại Hồ Chí Minh. Vanmau.edu.vn
Con người Hồ Chí Minh hiện lên qua bài thơ Tức cảnh Pác Bó
1,028
Con người không cảm nhận được bóng tối sẽ không bao giờ nhìn thấy ánh sáng (Bo-ke). Suy nghĩ và bình luận ý kiến trên Gợi ý Một ngày nọ, Bóng Tối tìm gặp Ánh Sáng, buồn rầu hỏi: – Ánh Sáng à! Có phải tôi xấu xa, đáng ghét lắm không? Tại sao mọi người đều căm ghét tôi, tránh xa tôi, đẩy lùi tôi khỏi cuộc sống của họ? Tôi không xứng đáng sống trên đời sao? Ánh Sáng mỉm cười đáp lời: – Không đâu Bóng Tối ơi! Bạn chính là một phần quan trọng của cuộc đời. Bạn đã tạo nên giá trị cho tôi và làm cho con người ngày càng hoàn thiện, tốt đẹp hơn đó! Phải! Bóng Tôi đã cùng Ánh Sáng tạo nên cuộc sống này. Và, như Bo-ke đã nói: “Con người không cảm nhận được bóng tối sẽ không bao giờ nhìn thấy ánh sáng” – đó chính là quy luật tất yếu của cuộc đời. Nếu được lựa chọn giữa một ngôi nhà tràn ngập ánh sáng và một ngôi nhà tối tăm ẩm thấp thì kết quả không cần nói cũng biết. Bởi “ánh sáng” cũng giông như những điều tốt đẹp ở trên đời như hạnh phúc, thành đạt, giàu có, hiểu biết, yêu thương… mang lại cho mọi người cảm giác ấm áp, bình yên. Còn “bóng tối” hay chính những mặt tôi của cuộc đời như bất hạnh, thất bại, nghèo khổ, dốt nát, căm thù… chỉ khiến người ta hụt hẫng, thất vọng, thậm chí đau khổ. Nhân loại ai cũng ghét bóng tối và muốn đấu tranh để loại bỏ nó ra khỏi cuộc sổng của mình, nhưng tại sao đến nay nó vẫn tồn tại? Đây, Bo-ke nói, muốn thây sáng, phải cảm nhận được tối, bóng tối chính là cái tạo nên giá trị của ánh sáng, tạo nên cuộc sống đẹp đẽ của chúng ta ngày hôm nay. Tại sao “bóng tôi” lại có một vai trò quan trọng như vậy? Nghe có vẻ vô lí quá nhưng thực ra nó chính là quy luật trong cuộc sống. Hãy hình dung cuộc đời là một bức tranh khổng lồ, những điều làm chúng ta hạnh phúc, vui sướng sẽ là những vệt màu sáng và những điều làm chúng ta đau khổ, buồn bã là những gam màu tối tăm. Nếu ta chỉ chọn điểm tô lên bức tranh cuộc đời những vệt màu sáng chói, sặc sỡ thì dù bức tranh của chúng ta có rực rỡ đến đâu, chúng cũng chỉ là những khối màu chói mắt và nhàm chán. Song chỉ cần điểm tô lên đó một vệt màu tối, bạn sẽ thấy khác ngay. Nơi những vệt màu ấy đi qua, cái rực rỡ, chói mắt dịu đi, gợi cho chúng ta cảm giác buồn trầm lắng. Rung động, cái rung động được tạo ra từ một vết màu buồn trên nền tranh rực rỡ. Đấy là cuộc sống! Lên xuống, trầm bổng, thú vị biết bao! Nhiều vệt màu tối đan xen nhau, cùng với những gam màu sáng tạo nên bức tranh thực sự của cuộc đời. Con người có lạc vào bóng tối mới thực sự hiểu được giá trị của ánh sáng. Cũng giông như bức tranh ấy, chính vệt màu buồn bã đã tôn lên giá trị, vẻ đẹp của những gam màu rực rỡ. Nếu thực sự bóng tối biến mất trên Trái Đất này thì phải chăng thứ ánh sáng chói lòa – những giá trị tốt đẹp của cuộc sống trở thành những món hàng “đồng giá” vì đâu đâu cũng có, đâu đâu cũng thấy? Người nào cũng hạnh phúc, thành đạt, hiểu biết, yêu thương… thì chúng ta còn sống để làm gì? Tận hưởng ư? Làm sao chúng ta có thể tận hưởng một vẻ đẹp hay một cảm giác vui sướng mà không thật sự hiểu rõ về nó? Một người chưa nếm trải mùi vị cay đắng của bất hạnh sẽ không bao giờ yêu quý cái vị ngọt ngào của hạnh phúc. Một người chưa bao giờ vấp ngã trong cuộc đời sẽ không bao giờ biết được cái cảm giác vui sướng, tự hào khi đứng dậy bước tiếp về phía trước. Một người chưa bao giờ khao khát con chữ như sự sống sẽ không bao giờ hiểu được cái tột cùng hạnh phúc khi được cầm trong tay cây viết viết nên những dòng chữ đầu tiên… Và còn nhiều nhiều nữa những cảm xúc vui sướng hạnh phúc mà ta không bao giờ được nếm trải nếu không thực sự cảm nhận được những đau khổ trong đời. Chính những đau khổ ấy, cái bóng tối đáng sợ bao trùm lên chúng ta ấy sẽ giúp chúng ta có động lực mà tìm đến ánh sáng đích thực, giúp chúng ta thực sự “sống ” trong cuộc đời, với những đen trắng, buồn vui, sướng khổ cứ đan xen nhau, tạo nên giá trị cho nhau. Nghĩ lại, tạo hóa thật tài tình khi tạo ra mọi vật đều có hai mặt tương phản. Nếu mất một trong hai, dù là mất đi mặt xấu, chúng sẽ không tồn tại. Cuộc đời cũng vậy, mất đi “bóng tối”, thật vô nghĩa!Xem thêm: Phân tích Đi Thi Tự Vịnh của Nguyễn Công Trứ. “Bóng tôi” quả là giúp cuộc đời đẹp hơn. Nhưng sẽ thật tồi tệ khi ta đắm chìm trong đó. Nó là một phần không thể thiếu của cuộc sống nhưng tuyệt đổi không phải là mục đích cuôì cùng của đời người. Có còn đẹp nữa không khi bức tranh chỉ toàn màu tối, âm u, ghê sợ? Có còn ngon nữa không một tô phở chỉ toàn mùi ớt cay nồng? Đành rằng phải “sống chung” với đau khổ để cảm nhận hạnh phúc của cuộc đời nhưng thật sai lầm khi nghĩ rằng có đau khổ ắt sẽ có hạnh phúc, ở đời chẳng có gì là tự nhiên cả. Muốn có hạnh phúc, phải tự mình vượt qua nỗi đau. Đau khổ sẽ cho ta thêm động lực, nhưng còn sức mạnh, đó là của chính chúng ta. Đau khổ trong cuộc đời, ai cũng sẽ gặp phải nhưng không phải ai cũng có đủ sức vượt qua chặng đường tôi này. Nếu không đủ khát khao, không đủ nghị lực, không đủ niềm tin để vượt qua, ta trở thành một kẻ chiến bại thật đáng trách! Này bạn, đừng ngồi mãi trong bóng râm bên vệ đường. Sau một hành trình đầy cam go, bạn đã biết thế nào là những niềm vui, hạnh phúc thật sự. Hãy cán đảm bước lên phía trước, đối đầu với thử thách, vượt qua những vùng tối để đón nhận và sống trọn vẹn cuộc sống ánh sáng đẹp ngời. Đừng bỏ qua bất cứ một gam màu nào có thể làm đẹp bức tranh cuộc đời. Đừng bỏ qua bất cứ một gia vị nào có thể làm đậm đà thêm mùi vị cuộc đời. Nhưng phải nhanh lên đấy, bạn chỉ có duy nhất một cuộc đời mà thôi.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại trong bài thơ Tràng Giang của Huy Cận Hãy nhớ lấy thông điệp mà Bo-ke đã gửi cho đời, cho chúng ta, những người đang tìm kiếm cho mình một cuộc sống trọn vẹn. Hãy nhớ lấy câu trả lời của Ánh Sáng dành cho Bóng Tối và đừng phụ lòng họ: – Bạn nói thật sao? – Bóng Tối nghi ngờ. – Phải! Bạn có thấy không? Con người đang hết sức vượt qua khổ đau để tìm đến hạnh phúc. Chính bạn đã giúp họ hiểu được giá trị cuộc sống và sốhg trọn vẹn, ý nghĩa cuộc sống này. Tuy họ đang cố gắng vượt qua bạn nhưng khi đã vượt qua được, họ nhất định sẽ hiểu và biết ơn bạn. Bóng Tốì mỉm cười cảm ơn Ánh Sáng. Rồi cả hai lại tiếp tục cùng nhau đan dệt nên những vùng sáng tối, làm trọn vẹn cuộc sống của con người. Vanmau.edu.vn
Con người không cảm nhận được bóng tối sẽ không bao giờ nhìn thấy ánh sáng (Bo-ke). Suy nghĩ và bình luận ý kiến trên
1,361
Con người không thể sống thiếu tình bạn. Em hãy phát biểu cảm nghĩ về vai trò của tình bạn trong cuộc sống của em và mọi người Gợi ý Ca dao Việt Nam có câu: “Ra đi vừa gặp bạn hiền Cũng bằng ăn quả đào tiên trên chùa”. Câu ca dao đã khẳng định và ngợi ca vị trí, ý nghĩa của những người bạn tốt trong cuộc sống. Quả thực, tình bạn có một vai trò tọ lớn trong đời sống của mỗi con người. Tình bạn là gì? Đó là điều chúng ta không thể định nghĩa. Chỉ biết rằng đó là thứ tình cảm nảy nở vô cùng tự nhiên giữa người với người dựa trên những nét tương đồng nào đó về tính cách: sở thích, suy nghĩ, chí hướng… từ đó, nảy sinh lòng yêu mến, quý trọng… lẫn nhau. Tình bạn đã kết nối con người với nhau, đưa những tâm hồn đến với tâm hồn để chúng ta có thể sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống. Mỗi người trong một tập thể đều có những người bạn thân thiết của mình. Những lúc có chuyện vui, chuyện buồn, chuyện bức xúc… ta lại tìm đên nhau để kể cho nhau nghe và để tìm sự hưởng ứng hay niềm cảm thông. Có những người bạn cách xa nhau hàng trăm cây số, họ vẫn tìm đến nhau qua những lá thư, dòng chữ. Thậm chí, những lúc cần nhau, họ sẵn sàng vượt đường xa để đến với nhau. Sự chia sẻ khi ấy thật cảm động và thiêng liêng biết bao.Xem thêm: Chứng minh sự giản dị của Bác Tại sáo giữa bạn bè lại cần tâm sự sẻ chia đến vậy? Bởi mỗi chúng ta đều tìm được điều mình mong mỏi trong từng tiếng nói, tiếng cười, cử chỉ hay đơn giản chỉ là bàn tay nắm chặt của bạn. Nghĩ ra được cách làm bài mới, ta hào hứng kể với bạn. Sự công nhận, tán thưởng của bạn sẽ giúp ta tiếp tục sáng tạo. Ta có chuyện buồn khẽ thủ thỉ với bạn, bạn lại động viên, ta giúp ta cởi mở hơn, quên đi những muộn phiền. Còn có những người bạn dũng cảm không ngại khó, ngại khổ dày công giúp đỡ bạn trong học tập. Có những người bạn vượt qua nhiều rào cản của cuộc sông giúp bạn thoát khỏi ma túy, tệ nạn xã hội… Tình bạn đã nâng đỡ tâm hồn ta, động viên ta bước tiếp tới thành công, thậm chí vực ta dậy khỏi tội lỗi. Quả thực, "Hoa quả của đất chỉ nở hoa hai lần trong năm còn hoa quả của tình bạn là nở suốt bổn mùa". Với riêng em, tình bạn là tình cảm em không thể thiếu trong cuộc đời mình. Tình bạn không chỉ giúp em được sẻ chia trong cuộc sông. Trên đường đi học em có bạn cùng vui sánh bước. Trong học tập, em có bạn cùng thi đua, trao đổi bài học. Trong cuộc sống, em lại có bạn để rủ rỉ những chuyện riêng, “bí mật”! Bên em luôn có những người bạn thân thiết gần nhà, trong tổ, trong lớp và nhất là nhóm bạn thân “3M” (gồm ba cô gái tên bắt đầu bằng vần M chúng ếm đó: Mai, Minh, My!).Xem thêm: Thanh niên và vấn đề lựa chọn nghề nghiệp hiện nay. Và hơn thế, tình bạn còn cho em thấy mình có thể làm được những gì cho những người xung quanh. Khi giúp bạn giải được một bài toán, khi giúp bạn chia sẻ được một chuyện buồn,… em đều thấy mình sống thật có ý nghĩa. Sự hiện diện của những người bạn quanh em giúp em thấy tự tin và yêu cuộc sống hơn rất nhiều! Tình bạn quả là diệu kì! Và vì thế, chúng ta hãy cùng gìn giữ và nuôi lớn tình cảm thiêng liêng ấy các bạn nhé! “Sống trong bể ngọc kim cương Không bằng sống giữa tình thương bạn bè”; Vanmau.edu.vn
Con người không thể sống thiếu tình bạn. Em hãy phát biểu cảm nghĩ về vai trò của tình bạn trong cuộc sống của em và mọi người
680
Con người không thể sống thiếu tình yêu thương. Tại sao vậy? Hãy viết đoạn văn bày tỏ những suy nghĩ của bản thân mình Gợi ý Mỗi con người luôn cần một tình yêu thương bên mình. Nó chắp cánh cho những ước mơ, hoài bão, vực bạn dậy khi buồn đau thất bại. Nếu như một ngày, trái đất không còn tình yêu thương thì tất cả sẽ ra sao? Ngoài kia, ánh nắng không còn đùa giỡn, trái tim mỗi người sẽ đóng băng, lạnh giá. Trái tim không còn mở cửa cho tình yêu thương. Nhân loại sẽ chìm trong lạnh giá. Mỗi người chỉ còn là cái xác vô hồn, không còn biết yêu, biết quan tâm tới nhau. Trái tim họ chứa đầy nỗi tức giận, căm phẫn, ghét bỏ. Ngày trái đất không còn yêu thương là ngày con người sẽ dần chết bởi sự vỡ vụn của trái tim. Rồi một ngày, tình yêu thương lại tới, con người biết chia sẻ và dần lìa xa thù hận. Phải chăng tình yêu thương là vật hữu hình – biểu hiện con người quan tâm tới nhau và cũng là vật vô hình. Tình yêu thương là chất keo gắn kết mảnh vỡ tâm hồn, vực dậy những con người lầm lỗi. Có lẽ tình yêu thương là điều không thể thiếu trong mỗi trái tim con người, để trái tim xích lại gần nhau hơn. Bởi lẽ nếu không có yêu thương là mất đi sự sống.Xem thêm: Tấm lòng của nhà văn Tô Hoài với đồng bào miền núi qua tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”Vanmau.edu.vn
Con người không thể sống thiếu tình yêu thương. Tại sao vậy_ Hãy viết đoạn văn bày tỏ những suy nghĩ của bản thân mình
272
Con người Nguyễn Khuyến qua “Câu cá mùa thu” Gợi ý Nhắc đến Nguyễn Khuyến người ta nhớ ngay đến một nhà thơ được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” của miền quê Bắc Bộ. Và cũng khi nhắc đến ông, người ta nhớ ngay đến chùm thơ thu gồm ba bài: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Ba bài thơ được coi là “nức danh nhất” trong các sáng tác của ông. Mỗi bài thơ miêu tả bức tranh làng cảnh ở một góc nhìn, một khía cạnh khác nhau nhưng đều gặp nhau ở hình ảnh một Nguyễn Khuyến có tình yêu thiên nhiên tha thiết, một Nguyễn Khuyến với những nỗi niềm tâm sự riêng, nặng lòng vì nước. Đến với “Thu điếu” (Câu cá mùa thu) ta sẽ càng hiểu rõ hơn về con người ấy. “Ao thu lạnh lẽ nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo là hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối buông cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Bài thơ dựng lên một bức tranh thiên nhiên ở vùng đồng bằng Bắc Bộ trong một không gian rất đặc trưng là ao thu. Cái nhìn của bài thơ cũng được đặt từ đây để hướng ra xa rồi lên cao rồi lại quay trở lại điểm nhìn thật gần. Trung tâm của bức tranh mùa thu là hình ảnh “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, một ngư ông ngồi “tựa gối buông cần”. Từ một cái thuyền con giữa lòng ao, cái nhìn của nhà thơ bao quát ra xung quanh: mặt nước ao thu lạnh lẽo, trong veo đến hết độ sắc trong, sóng biếc chỉ hơi khẽ gợn, ngang tầm mắt người là “thu dứt lá gọi mùa đi”, hướng lên trên cao để thu vào một khoảng trời trong xanh vời vợi, lơ lửng như yên tĩnh tự muôn đời; bao quát để nhìn thấy cái quanh co của những ngõ trúc uốn lượn. Và tầm nhìn cuối cùng quay về thu lại ở chiếc thuyền câu cá bởi tiếng “đớp động dưới chân bèo”. Bằng ngòi bút tinh tế cùng cách sử dụng ngôn từ, cách gieo vần tài tình nhà thơ đã đưa những thi liệu vốn quen thuộc trong thơ ca cổ (thu thuỷ, thu thiên, thu diệp, ngư ông) để tạo nên những vần thơ vừa cổ điển lại vừa hiện dại. Bút pháp lấy điểm tả diện, lấy động tả tĩnh được sử dụng một cách đắc địa. Bức tranh thiên nhiên hiện lên tĩnh lặng gần như tuyệt đối. Phải tĩnh lặng mới thấy rõ cái “hơi gợn tí” của mặt ao và chút “khẽ đưa vèo” của lá vàng. Tĩnh đến độ con người và thiên nhiên nghe thấy tiếng đớp động của chân bèo để mà giật mình sực tỉnh. Người đọc ấn tượng về một cảnh thu thanh vắng, quạnh hiu, dường như chỉ có một thi nhân trong vai ông già ngồi câu cá đối diện trước cảnh thiên nhiên thu nhỏ để lắng vào cõi suy tư. Phải có một tâm hồn tinh tế và yêu thiên nhiên sâu sắc, Nguyễn Khuyến mới có thể khám phá những đường nét trong bức tranh thiên nhiên hài hoà đến vậy. Hồn quê xứ sở đã thấm vào hồn thơ để tạo nên một ấn tượng đặc biệt. “Cái thú vị của bài “Thu điếu” là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đám ngang của chiếc lá thu rơi” (Lê Trí Viễn). “Diệp lạc tri thu”. Chỉ thoáng một chiếc lá vàng gọi hồn thu vĩnh cửu trong thơ thu sách vở, và các gam màu xanh thì thật dân dã, đồng quê, gần gũi.Xem thêm: Thiên nhiên trong thơ Bác phản ánh tâm hồn lớn của nhà thơ Hồ Chí Minh. Hãy chứng tỏ điều đó qua các bài thơ Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi Bài thơ thiên về gợi nhiều. Không chỉ bức tranh thiên nhiên từ điểm gợi ra được hiện mà từ bức tranh thiên nhiên ấy, hình ảnh thi nhân cũng được gợi ra một cách rất cụ thể, chân thực và sinh động. Phải đến hai câu thơ cuối cùng hình ảnh nhà thơ trong vai trò của một ngư ông mới được miêu tả trực tiếp nhưng người ta đã bắt gặp bóng hình của ông thấp thoáng hiện hữu trước đó. Đó là ánh mắt chăm chú dõi theo mọi chuyển động tinh vi của thiên nhiên, sự sống từ đầu đến cuối bài thơ. Và còn là hình ảnh của một thi nhân trầm ngâm, tư lự. Người ngồi trên thuyền trầm ngâm tĩnh lặng đến mức không làm cho chiếc thuyền động đậy. Cái chuyển động của sóng nước mặt ao chỉ là hơi gợn tí, nhưng cũng là do gió mà thôi. Nhà thơ cùng với con thuyền câu như hoá thành một búc tượng mà chỉ có sự sống xung quanh là vận động, tuy buồn, tuy quạnh hiu, vắng vẻ nhưng vẫn cứ gợi nhiều cảm xúc. Hẳn phải có cái gì đó lôi cuốn thi nhân ghê gớm lắm mới có thể khiến ông bị cuốn toàn bộ tâm trí vào như vậy. Đến đây, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ hình ảnh của một con người “đau” đang có rất nhiều tâm trạng. Dường như có gì đó tương đồng giữa cảnh “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” của nhà thơ với tâm trạng của Tản Đà trước sự biến ảo, đổi thay của thời thế trong câu thơ “Vèo trông lá rụng ngoài sân”. Có cái gì đó như buồn, như nuối tiếc trước cái đổi thay, rối ren của thời thế. Hình ảnh “bầu trời xanh ngắt” không chỉ xuất hiện trong bài “Câu cá mùa thu”. Đó là màu đặc trưng rất thu trong một không gian thu thoáng đãng. Nhưng trước suy tư miên man của người trong cuộc, dường như trời xanh ấy, và cả đám mây lững lờ trôi cũng chứa đầy tâm trạng. Thơ Nguyễn Khuyến đã xuất hiện không ít lần câu thơ bày tỏ nỗi day dứt, “vò đầu mấy bạn làm thơ đi về”. Và phải chăng cái “lửng lơ”, “quanh co”, “vắng teo” chính là tâm trạng cô quạnh, cô đơn của nhà thơ, là nỗi niềm, là tâm trạng thời thế được gửi gắm kín đáo và sâu xa?Xem thêm: Nhất nghệ tĩnh, nhất thân vinh Ai ơi phải quý nghề mình mới nên Mải mê với suy tư đến mức thi nhân phải giật mình bởi một thứ âm thanh gần như rất mơ hồ: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo” Bài thơ viết về câu cá mùa thu mà đến tận hai câu thơ cuối cùng mới đề cập đến chuyện câu cá. Mà đề cập đến thì cũng chỉ là cái giật mình sửng sốt của người đi câu trước tiếng đớp động. Thì ra là vậy! Người đi câu nhưng đâu có để ý đến việc câu cá, bởi tâm hồn đang nặng trữu suy tư. Đi câu chỉ là một cái cớ để nhà thơ có thời gian yên tĩnh một mình, chiêm nghiệm về cuộc đời, về những nỗi niềm tâm sự thầm kín. “Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả và đa cảm” (Vôn-te). Bài thơ là tiếng lòng của một người thơ lúc nào cũng luôn nặng trĩu suy tư. Phải hiểu được hoàn cảnh riêng của nhà thơ và bối cảnh thời đại bấy giờ mới thấy hết được tâm sự cũng như cái thanh cao trong tâm hồn Nguyễn Khuyến. Là một nhà thơ có khí tiết thanh cao nhưng lại sinh ra vào thời buổi: “Vua chèo còn chẳng ăn ai/ Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề” ông chọn con đường cáo quan về ở ẩn để, giữ nguyên khí tiết. Nhưng nhàn thân mà chẳng nhàn tâm. Ý thức của một nhà nho và một tâm hồn yêu nước, luôn nặng suy tư đã khiến ông luôn mang mặc cảm của người: “Cờ đang dở cuộc không còn nước/ Bạc chửa thâu canh đã chạy làng”. Trở về vườn Bùi chốn cũ, tâm hồn ấy vẫn còn nặng lòng với thời cuộc: “Ngọn gió đông ngoảnh lại lệ đầm khăn/ Tình thương hải tang điền qua mấy lớp?”. Là một người tài năng, một nhà nho yêu nước có cốt cách thâm trầm, khí phách thanh cao, ông gửi gắm tất cả nỗi niềm của mình vào trong cảnh vật. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Thế nên bức tranh thiên nhiên mới có độ thanh vắng, quạnh hiu, gợi nỗi buồn sâu đến vậy. Thế nên đi câu là đi câu lây cái tĩnh, cái thanh, cái trong, cái lắng, cái nhàn trong tâm hồn nhưng tiếng “cá đâu đớp động” đã phá vỡ không gian im vắng. Cậu cá để câu nhàn mà dường như không thể, bởi nhàn trước hoàn cảnh hiện tại, đối với một nhà thơ như Nguyễn Khuyến là một điều không thể thực hiện được.Xem thêm: Vẻ đẹp của người lao động qua hai tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa và Đoàn thuyền đánh cá“Câu cá mùa thu” cho ta biết thêm về Nguyễn khuyến, một tâm hồn thiết tha với quê hương, đất nước. Vanmau.edu.vn
Con người Nguyễn Khuyến qua “Câu cá mùa thu”
1,602
Con người trong cộng đồng nhân loại Gợi ý HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Đây là đề mở. Đề bài đặt ra một luận dề rộng lớn, không giới hạn về thời gian và không gian. Vấn đề nghị luận là con người trong cộng đồng nhân loại. Vì vậy, có thể bàn luận về: – Con người qua các thời kì lịch sử; – Con người ở các không gian (vùng đất, xứ sở) khác nhau; – Những đặc tính quan trọng, nổi bật của con người; – Những vẻ đẹp (thiên lương) của con người; – Con người chung sống với nhau như thế nào? – Làm thế nào dể hiểu con người trong cộng đồng nhân loại? – Con người trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay; v.v… Khó có thể bàn luận tất cả mọi vấn dề về con người. Vì vậy, cần có sự lựa chọn. Anh (chị) nên chọn vấn dề nào mà mình tâm đắc, thích thú nhất – nhưng đó phải là vấn đề mà mình am hiểu nhất và bản thân đã có sự trải nghiệm sâu sắc. Như thế mới có ý tưởng để viết và mới có những tình huống, câu hỏi đặt ra để bàn luận và giải quyết. Ở bài viết này, có thể kết hợp sử dụng nhiều thao tác lập luận dể trình bày chủ kiến và thể hiện những suy ngẫm của mình. Ví như: – Dùng thao tác so sánh con người ngày xưa với ngày nay, con người ở xứ sở này với xứ sở khác,… – Dùng thao tác bác bỏ: đưa ra một quan niệm, một nhận định không đúng đắn về con người; sau đó dùng lí lẽ và dẫn chứng để bác bỏ. – Dùng thao tác phân tích để phân tích các đặc tính của con người. – Dùng thao tác bình luận để bình luận về một vấn đề nhạy cảm, thiết yếu của con người trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay,… GIỚI THIỆU BÀI VÃN THAM KHẢO Dưới đây giới thiệu một bài viết nêu những suy nghĩ chung về con người từ câu cách ngôn La-tinh cổ: "Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi" (bài của Ác-ka-đi Vác- béc). Tác giả bài viết đã nêu lên nhừng vấn đề chung rất cơ bản về con người trong cộng đồng nhân loại như một cái nền kiến thức để chúng ta cùng suy ngẫm. Trên cơ sở đó, anh (chị) có thể lựa chọn vấn đề mà mình cần bàn luận trong bài làm sao cho bài viết có tính phát hiện (nêu được những suy nghĩ mới) lại mang tính cập nhật nhằm góp phần giải quyết một vấn đề có ý nghĩa thiết thực về con người trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay. Xem thêm: Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh ChâuNGHĨ VỀ CÂU CÁCH NGỒN "KHÔNG CÓ GÌ THUỘC VỀ CON NGƯỜI MÀ XA LẠ ĐỐI VỚI TÔI" "Cách đây hơn một trăm năm, trong một trò chơi "tự bạch", các con gái của Các Mác đã nêu cho ông mười tám câu hỏi, trong đó có câu: "Câu cách ngôn mà cha ưa thích là gì?". Mác đã trả lời: "Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đôi với tôi". Không riêng gì Mác mà Lê-nin và nhiều người khác đều rất yêu thích câu cách ngôn La-tinh cổ này. Cái gì đã làm cho câu cách ngôn cổ sống mãi, và hôm nay nó còn có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Câu cách ngôn là một cách nói bóng bẩy về con người, loài người và tính người. Có một cái gì thuộc về con người đang thông nhất mọi người lại và tôi không thể đứng ngoài. Nói không xa lạ có nghĩa là tôi và mọi người đồng nhất, đồng tính, đồng loại. Câu cách ngôn biểu thị, bất cứ ai sử dụng nó đều tự trực tiếp khẳng định: Tôi thuộc về nhân loại. Cái gì là thuộc về con người? Có thể nói là tất cả, tất cả những gì gắn liền với cuộc sống, sự sống của con người. Hãy nói về những khát vọng, ước mơ thầm kín của mỗi người. Ai chẳng mong được yên ổn, no ấm, hạnh phúc, văn minh, tiến bộ? Ai không mong được sông trong một đất nước độc lập, tự do, dân chủ, không ai bóc lột mình, nô dịch mình? Ai không thích những thú vui, các thứ hưởng thụ, và có ai lại thích khổ đau, bị sỉ nhục? Những cái chung như vậy có thể kể thêm rất nhiều. Chúng có thể đoàn kết con người trong cuộc đâu tranh chung vì cuộc sống. Có những cái thuộc về con người nhưng nằm ngoài ý muốn của con người, cũng đang chứng tỏ họ là đồng loại. Chẳng hạn, không ai có thể đảm bảo không phạm sai lầm. Ngay từ thời cổ xưa, người ta đã biết điều đó. Xi-xê-rông, nhà hiền triết Hi Lạp đã nói: "Là con người thì có sai lầm, chỉ có kẻ ngu xuẩn mới cô’ chấp sai lầm của mình mà thôi". Đó là một điều tất nhiên, vì con người luôn luôn bị đặt vào những điều kiện, hoàn cảnh phức tạp không thể biết trưức và phải quyết định tức thời. Con người có thể đi sai đường, có thể có những quyết định không đúng, có thể đánh giá lệch lạc một sự kiện. Đôi khi đó chỉ là chuyện nhỏ, không đáng kể. Nhưng đôi khi con người phải trả giá đắt cho sai lầm. Mong sao cho điều đó đừng xảy ra. Con người càng sâu sắc thì càng hay lắng nghe ý kiến người khác, và càng biết nhiều thì càng ít mắc sai lầm. Xem thêm: Em hãy miêu tả con mèo nhà em nuôi Nhưng nếu sai lầm đã xảy ra thì sao? Chế giễu người mắc sai lầm chăng? Nói xấu người đó chăng? Mắng mỏ, quở trách một cách thô lỗ chăng? Làm như vậy là tàn ác, vô nhân đạo. Lê-nin có nói: "Chỉ có ai không làm gì cả thì mới không mắc sai lầm". Người còn nói thêm: "Người thông minh không phải là người không mắc sai lầm mà là người phạm sai lầm không trầm trọng và biết mau chóng sửa chữa nó". Không ai trên Trái Đất này có thể hiểu biết được tất cả. Đấy cũng là một đặc tính hết sức tự nhiên của con người. Bởi vì các kiến thức mà nhân loại tích lũy được là vô hạn, còn khả năng tiếp thu của mồi người tiếc thay, lại có hạn. Tất nhiôn, khả năng này ở mỗi người một khác, nhưng không ai có thể thật sự nắm được tất cả. Vì vậy, nếu ai có điều gì không biết, thì cũng chẳng có gì lạ. Trái lại, ai thành thật thú nhận điều mình không biết thì được mọi người tôn trọng. Được làm việc với những người có thể bộc lộ một cách chân thành: "Tôi không biết" thì dễ chịu biết bao so với những người xét đoán người khác một cách ngạo mạn, kiêu căng về những điều mà họ hoàn toàn chẳng biết gì cả. Cái đáng sợ không phải là hiểu biết, mà là không muốn hiểu biết. Con người còn có một đặc tính quan trọng là biết hiểu người khác. Mỗi người đều có cách nhìn, ý thức và thói quen riêng. Không thể nào khác được, vì người ta chẳng ai giống ai và đều có những đặc điểm cá nhân. Xem thêm: Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia Có lẽ cuộc sống hết sức buồn tẻ nếu như bỗng nhiên tất cả mọi người đều suy nghĩ hoàn toàn giống nhau, cùng thích một vật, cùng ghét một vật như nhau. Khi đó, chúng ta có thể nói rằng con người đã biến thành những người máy không hồn và mất một tính chất hết sức quan trọng của con người là tính chất khác biệt. Nếu như tôi không quan tâm gì đến hình thức, đến áo quần của mình, thì đấy là việc của tôi. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi có quyền lên án những người khác thích mặc đẹp, hợp thời trang, vì đấy là việc của họ. Không thể đem ý thích và thói quen của mình bắt người khác phải theo, hơn nữa còn nên tôn trọng ý thích và thói quen của người khác. Khi nói không có gì thuộc về con người mà xa lạ với con người là chúng ta còn có ý nói rằng con người có thể có những lúc buồn phiền, bực bội, vấp váp, thất bại. Trong những phút giây ấy, ta phải tế nhị, nhạy cảm và chú ý. Có những lúc chúng ta vô tình hay hữu ý đòi hỏi ở người khác một nụ cười tươi tỉnh trong khi người ta đang có một tâm tư buồn phiền. Hiểu và thông cảm tâm trạng của người khác là một phẩm chất hết sức tốt đẹp của những người có tâm hồn nhiệt thành. Vì vậy, họ bao giờ cũng có nhiều người bạn thực sự là bạn. Câu cách ngôn khẳng định tiếng nói chung giữa những con người. Nắm được tiếng nói ấy, con người sẽ hiểu nhau, chấp nhận nhau và chờ đợi nhau. Cái làm cho con người giông nhau chính là ở chỗ mỗi người ai cũng đều là một thế giới riêng, khác nhau. Và do khác nhau mà đều khát khao sự đồng cảm của người khác. Câu cách ngôn thể hiện khát vọng được hòa nhập. Dù ở đâu, tình huống nào, con người đều không muốn tách khỏi đồng loại, đứng trên hoặc đứng ngoài đồng loại. Với câu cách ngôn ấy, ở đâu ta cũng có thể tìm thấy bạn bè. Vanmau.edu.vn
Con người trong cộng đồng nhân loại
1,675
Con ngưởi sống không thể thiếu bạn Gợi ý Trong vô vàn mối quan hệ, trong những thứ tình cảm của con người lâu nay vồn có một vị trí đặc biệt, cha ông ta từng ghi nhận điều ấy qua ca dao: “Ra đi vừa gặp bạn hiền/ Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời”. Và ngày nay, chúng ta đúc kết một điều giản dị: Con người không thể thiếu bạn. “Bạn” là những người như thế nào? Đó là người quen biết và có quan hệ gần gũi, coi nhau ngang hàng, do hợp tính hợp ý hoặc cùng cảnh ngộ chí hướng; đó cũng có nghĩa là người đồng tình, người ủng hộ ta, cùng ta sẻ chia vui buồn, giúp đỡ động viên ta. Trên đường đời nhiều khó khăn, cam go và cạm bẫy, không ai có thể tồn tại nếu như không có người giúp đỡ; không ai có thể sống mà không có sự sẻ chia; không ai có thể đi lên mà không cần trợ giúp và ai ai cũng có thể thất bại, gục ngã nếu không có người cùng đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử với mình,… Rõ ràng, con người không thể sống đơn độc, làm mọi thứ một mình, cổ nhân vẫn dạy ta “giàu vì bạn…”. Được lắng nghe và được chia sẻ đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu của mỗi người trong cuộc đời này. Chúng ta còn nhớ mãi câu chuyện về tình bạn giữa Lưu Bình và Dương Lễ. Câu chuyện làm xúc động lòng người vì tình bạn sâu đậm, chân tình đến quên đi cả hạnh phúc của riêng mình. Ngày nay, cũng không hề hiếm những câu chuyện cảm động như thế: nhiều người bạn nhỏ ròng rã mấy chục năm trời cõng bạn đi học không quản mưa nắng, xa xôi; những người quên mình hi sinh cứu bạn,… và hàng ngày hàng giờ, trên thế giới có hàng nghìn người bạn đã san sẻ cùng nhau những ưu tư phiền muộn, giúp đỡ nhau trong công việc, học hành,… Và thực tế, đã có những người phải trả giá vì không biết trân trọng, nâng niu tình bạn. Câu chuyện “Cô chủ không biết quý tình bạn” chỉ là một minh hoạ nhỏ cho điều ấy. Không có bạn, cuộc sống sẽ buồn tẻ, cô độc biết bao. Không có bạn con người chết dần, chết mòn trong buồn rầu và hiu quạnh. “Con người không thể thiếu bạn”, vậy thì mỗi người hãy biết xây dựng cho mình những tình bạn đẹp đẽ, gắn bó keo sơn và luôn nhớ rằng:Xem thêm: Văn nghị luận - Bình luận về tình nhân ái“Chơi hoa đừng để hoa tàn Chơi bạn đừng để bạn tàn như hoa". Vanmau.edu.vn
Con ngưởi sống không thể thiếu bạn
470
Con Rồng, cháu Tiên văn học lớp 6 Hướng dẫn I. ĐỀ LUYỆN TẬP Đề 1: Kể lại ngắn gọn truyền thuyết "Con Rồng, cháu Tiên". Đề 2: Bằng lời kể của Vua Hùng, em hãy trần thuật sáng tạo truyện “Con Rồng, cháu Tiên”. Đề 3: Cảm nghĩ của em về truyền thuyết "Con Rồng, cháu Tiên". Đề 4: Truyền thuyết "Con Rồng, cháu Tiên" nhằm giải thích nguồn gốc của dân tộc Việt Nam. Hãy nói lên cảm nhận của em. Đề 5: Cảm nghĩ của em về công đức vĩ đại, thần kì của Lạc Long Quân. Đề 6: Phân tích truyền thuyết "Con Rồng, cháu Tiên" và nói lên cảm nghĩ của em. II. BÀI VĂN TỰ LUẬN Đề 1: Kể lại ngắn gọn truyền thuyết "Con Rồng, cháu Tiên". Thuở xa xưa ở miền Lạc Việt có một vị thần thuộc nòi Rồng, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, cao lớn phi thường, là con trai nữ thần Long Nữ nơi Thủy cung. Lạc Long Quân có sức khỏe vô địch, nhiều phép lạ đã diệt Hồ Tinh, Ngư Tinh, Mộc Tinh và nhiều yêu quái khác. Thần đã dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi, chài lưới, cách ăn ở… Cũng thuở ấy, có nàng Âu Cơ ở vùng núi phương Bắc thuộc dòng họ Thần Nông, vô cùng xinh đẹp. Nghe tin vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ. Âu Cơ bèn du ngoạn tới thăm. Âu Cơ gặp Lạc Long Quân, rồi hai người yêu nhau, kết duyên thành vợ chồng. Chẳng bao lâu sau. Âu Cơ đẻ ra một cái bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con vô cùng tuấn tú, khôi ngô, xinh đẹp. Một hôm, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: "Ta vốn nòi rồng ở nước, nàng là dòngTiên ở non cao. Khó ở với nhau một nơi lâu dài được. Ta sẽ đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau trấn giữcác phương, khi có đại sựgì nhớ giúp đỡ nhau, chớ sai lời hẹn…". Âu Cơ đưa đàn con lên rừng. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu, truyền ngôi mười mấy đời cho con cháu. Từ sự tích trăm trứng này mà con cháu vua Hùng – người Việt Nam chúng ta vẫn tự hào nhắc đến nguồn gốc mình là con Rồng, cháu Tiên. Đề 2: Bằng lời kể của Vua Hùng, em hãy trần thuật sáng tạo truyện “Con Rồng, cháu Tiên”. Xem thêm: Vượt thác ngữ văn 6Thế giới thần linh cũng có ngôi thứ, vị thứ cao, thấp, trên, dưới, và được chia làm hai loại: phúc thần và hung thần. Lạc Long Quân và Âu Cơ rất đẹp duyên, một bên là thuộc nòi Rồng, một bên thuộc dòng Tiên, một bên là trai tài có sức khỏe phi thường, nhiều phép lạ, một đằng thì xinh đẹp tuyệt trần. Lạc Long Quân lấp lánh chiến công huyền thoại: diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh và tiễu trừ nhiều loài yêu quái khác từng làm hại dân lành. Lạc Long Quân còn là vị thần của lao động và sự sống, Thần đã dạy dân trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, săn bắn… để xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. đẻ ra một cái bọc trăm trứng, nở ra đúng một trăm người con tuấn tú, khôi ngô, xinh đẹp lạ kì. Sự tích trăm trứng là một huyền thoại vô cùng kì diệu biểu lộ biết bao tự hào về nòi giống. Hai tiếng đồng bào bắt nguồn từ sự tích thiêng liêng ấy. Tình tiết năm mươi người con theo cha xuống biển, năm mươi người con theo mẹ lên núi, chia nhau đi bốn phương trời lập nghiệp, trấn giữ bờ cõi xứ sở. Truyền thuyết “Còn Rồng, cháuTiên” đã giải thích nguồn gốc giống nòi, biểu lộ niềm tự tôn tự hào dân tộc, khơi dậy tình yêu thương đoàn kết dân tộc, khẳng định nghĩa đồng bào vô cùng cao cả thiêng liêng. Cuộc đời và chiến công của Lạc Long Quân, chuyện sinh nở kì lạ của Âu Cơ với cái bọc trăm trứng đã tạo cho truyền thuyết "Con Rồng, cháu Tiên" một màu sắc huyền thoại, diễm lệ. Đề 3: Cảm nghĩ của em về truyền thuyết "Con Rồng, cháu Tiên". Lạc Long Quân là vị thần, nòi rồng, con trai của thần Long Nữ ở dưới thủy cung. Thần rất khôi ngô tuấn tú, có sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ và giàu lòng thương yêu nhân dân. Thần đã ra tay tiêu diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh, đem lại cuộc sống yên vui cho dân lành. Lạc Long Quân còn dạy dân trồng trọt, đánh cá, săn bắn, chăn nuôi và cách ăn ở. Lạc Long Quân là vị phúc thần vô cùng vĩ đại. Không có yếu tố kì diệu thì sẽ không có truyền thuyết. Yếu tố kì diệu hoang đường tạo nên sức hấp dẫn và màu sắc thần kì của truyền thuyết. Ngư Tinh thân dài hơn 50 trượng, đuôi xòe như cánh buồm, chân nhiều như chân rết…, Hồ Tinh có 9 đuôi, sống trên nghìn năm… Mộc Tinh cao hàng ngàn trượng, tàng hình ẩn hiện. Ba con yêu quái này tượng trưng cho cái ác, cho sức khỏe ghê gớm của lực lượng siêu nhiên rất kì lạ. Lạc Long Quân phải có sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ mới tiêu diệt được. Cái bọc trứng của Âu Cơ nở ra một trăm người con tuấn tú, xinh đẹp, lớn nhanh như thổi. Câu gọi của mẹ Âu Cơ: "Bố ở nơi nào mà để mẹ con tôi cô độc, ngày đêm buồn khổ thế này", tuy ở tận thủy phủ xa cách nghìn vạn dặm, mà Lạc Long Quân cũng nghe được, chỉ nháy mắt đã hiện về, v.v… Đó là những yếu tố hoang đường kì diệu nhất của truyền thuyết "Con Rồng, cháu Tiên". Nguồn: thêm: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Có dàn ý chi tiết)
Con Rồng, cháu Tiên văn học lớp 6
1,024
Con trâu ở làng quê Việt Nam Gợi ý Hình ảnh con trâu trong bài ca dao: Trâu ơi, ta bảo trâu này Trâu ăn no cỏ, trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quản công! Đã cho ta thấy sự gần gũi của người dân Việt Nam với con trâu, người bạn đã gắn bó từ biết bao đời. Nhắc đến con trâu, người ta liền nghĩ ngay tới một con vật to khoẻ nhưng hiền lành, chăm chỉ. Trên những cánh đồng, ta bắt gặp hình ảnh con trâu cần mẫn kéo cày, giúp xới tung cánh đồng để người nông dân gieo trồng được dễ dàng hơn. Có thế nói, trâu là một người bạn luôn giúp những người nông dân trong công việc đồng áng nặng nhọc. Ngoài ra, trâu cũng còn có thế kéo xe như trong những ngày gặt hái vì trâu là một loài động vật rất khoẻ mạnh có thế kéo được tải trọng khoảng 450 – 750kg, rất thuận tiện trong việc thồ hàng ớ nông thôn. Không chỉ có thế, con trâu còn có một vị trí to lớn trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Hình ảnh "con trâu đi trước cái cày theo sau" đã trở nên gần gũi từ bao đời nay. Chính vì vậy, con trấu đã gắn liền với cuộc sống của người nông dân. Hình ảnh con trâu ung dung gặm những ngọn cỏ non, xanh mát, và trên trời là những cánh diều bay cao giữa không trung đã in sáu trong tăm trí mỗi người Việt Nam. Chăn trâu, thả diều là một trong nhiều trò chơi của trẻ em nông thôn, một thú vui mà chúng yêu thích. Trên lưng trâu còn có bao nhiêu là trò như đọc sách, thổi sáo… Những đứa trẻ đó lớn dần lên, mỗi người một cuộc sống nhưng không bao giờ quên những kỷ niệm đẹp đẽ thời thơ ấu.Xem thêm: Bạn hãy phân tích bài thơ Nhàn cúa Nguyễn Bỉnh Khiêm Ngoài ra, trâu còn gắn liền với các lễ hội như chọi trâu, đâm trâu… Lễ hội chọi trâu ở Hải Phòng có lẽ là nổi tiếng nhất: Dù ai đi đâu về đâu Nhớ ngày lễ hội chọi trâu thì về. Lễ hội chọi trâu là một phong tục tín ngưỡng để tạ ơn thần biển cùa người dân nơi đây. Những con trâu khoé mạnh nhất sẽ ra chọi với nhau đế tim ra con giành chiến thắng. Con trâu này sẽ được đem giết đế cúng thần linh, cầu cho mưa thuận gió hoà. Đó là một nét đẹp trong văn hoá cô truyền của Hái Phòng nói riêng và của Việt Nam nói chung. Gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của người dân, trâu còn góp mật trong đời sống văn hoá. Cùng với cây lúa nước, trâu cũng gắn liền với nền văn minh lúa nước của Việt Nam và cả của Đông Nam Á. Trâu đã trở thành linh vật của Sea games 22 năm 2003. Có thể khi trình độ khoa học kỷ thuật ngày càng phát triển, hình ánh con trâu đã dần vắng bóng trên những cánh đồng, nhưng với một xã hội có nền tảng của một nền văn minh lúa nước như đất nước chúng ta, những câu hát của trẻ chăn trâu sẽ chẳng bao giờ mất đi: Trâu ơi ta bảo trân này Trâu ăn no cỏ, trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia Ta đây, trâu đấy ai mà quản công… Vanmau.edu.vnXem thêm: Nghị luận xã hội về cách ứng xử
Con trâu ở làng quê Việt Nam
602
Con đường đến trường đã trở nên quen thuộc, em hãy tả lại con đường đó Gợi ý Con đường từ nhà em tới trường không xa lắm. Đã bao năm đi lại trên con đường này em không biết từ bao giờ nó đã trở thành người bạn thân thiết. Nhìn từ xa, con đường như một dải lụa mềm mại nổi bật giữa tấm thảm màu xanh khổng lồ của cánh đồng lúa. Con đường tới trường chạy thẳng, có những ngã rẽ đi vào các thôn. Đường tới trường là con đường đất. Nó khoác trên mình chiếc áo màu nâu, trầm tĩnh và hiền lành. Mặt đường có những chỗ lồi lõm, bà tôi bảo đó là vết thương của thời gian in dấu. Bà tôi thỉnh thoảng cũng nói thơ văn lắm. Và mặc dù chẳng hiểu vết thương thời gian là gì nhưng tôi vẫn chăm chú lắng nghe từng lời nói của bà. Đi trên con đường đất này thấy bàn chân mát rượi. Vào những ngày mưa, đường trơn như đổ mỡ. Lúc đi, nhũng ngón chân phải bám chặt cho khỏi ngã. Hai bên đường, hàng cây bạch đàn cao vút, lá xanh rì đu đưa trong gió. Những buổi đi học, chúng tôi thường chạy xuống vệ đường, đi dưới tán cây và trên đám cỏ xanh mềm xen lẫn vài bông hoa dại bé nhỏ. Lác đác bên đường người ta trồng những luống rau. Những bông hoa cải màu vàng làm cho con đường thêm rực rỡ. Vừa đi chúng tôi vừa ngắm cánh đồng thẳng cánh cò bay. Gió từ ngoài thổi vào làm dịu đi cái oi ả trưa hè. Bên cạnh con đường có một cái hồ khá rộng. Chiều chiều đi học về, học trò chúng tôi hay xuống đó nghịch nước, hái hoa sen, hoa súng, nô đùa ầm ĩ.Xem thêm: Viết văn tả cảnh hoàng hôn trên quê hương em Con đường từ nhà tới trường vào lúc tan tầm thật ồn ào, náo nhiệt, có bao người đi lại. Học trò đi học về, từng tốp, từng tốp một vừa đi vừa chuyện trò rôm rả. Chúng nói chuyện với nhau về bài giảng của cô giáo hôm nay, về thầy hiệu trưởng, về bác bảo vệ hay cô lao công, bao nhiêu là thứ chuyện. Chúng chạy tung tăng trên đường. Có đứa còn bỏ cặp trên lưng, lội xuống hồ hái sen. Có cậu học trò đi trên vệ cỏ trơn, tự dưng ngã oạch. Chúng bạn quay ra trêu đùa khiến cậu xấu hồ chạy mất. Giờ này người lớn cũng đi làm về. Người đi xe đạp, người đi bộ…hối hả. Các bác nông dân sau một ngày vất vả, vội vàng quang gánh ra về lo cơm tối. Dưới đồng, lác đác vài người đang làm cỏ. Mấy chú trâu, chú bò thảnh thơi gặm cở ngon lành. Trong khi mọi người đang về với tố ấm của mình thì những chú đánh tôm, đánh tép mới bắt đầu công việc. Trên tay chú lỉnh kỉnh bao đồ, chuẩn bị sẵn sàng cho một chuyến đi may mắn. Con đường tới trường thật đẹp và thơ mộng. Nó đã gắn bó với tôi suốt thời gian dài. Tôi thích nhất con đuờng lúc tan tầm. Đó là khoảng thời gian sôi động nhất. Lúc ấy, tôi lại lặng yên ngắm nhìn mọi thứ, cảnh vật thanh bình và con người thuần hậu. Nhìn con đuờng đi học, tôi nhớ về câu nói của một nhà văn, trên đời này làm gì có đường, người ta đi lại nhiều thì thành đường mà thôi. Vì thế mà tôi cũng chẳng biết con đường này đã bao nhiêu tuổi nữa…Xem thêm: Hãy kể lại một kỉ niệm ngày xuân mà em nhớ mãiVanmau.edu.vn
Con đường đến trường đã trở nên quen thuộc, em hãy tả lại con đường đó
638
Cuộc sống là một chuỗi bất tận những lựa chọn. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này Hướng dẫn – Cuộc sống xã hội nói chung thật phong phú, phức tạp, trong đó, cuộc đời của mỗi con người chẳng bao giờ đơn giản. Có nhiều yếu tố tạo nên cuộc đời của mỗi chúng ta, trong đó, yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu là những sự lựa chọn mà ta đã thực hiện ở các chặng đời khác nhau. “Đời ta có thể đã khác”, “Đời ta có thể đã không như bây giờ”… là những lời than vãn quen thuộc. Qua những lời than vãn đó, ta hiểu rằng đã từng có nhiều khả năng xuất hiện trước ta, dành cho ta lựa chọn khi ta bước trên đường đời. – Ngoại trừ việc không thể lựa chọn bố mẹ, chọn nơi sinh, phần lớn những sự lựa chọn khác, đặc biệt là những lựa chọn ở tuổi trưởng thành thì ta phải chịu trách nhiệm. Ngay khi ta dễ dãi uỷ thác quyền lựa chọn của mình cho ai đó, ta cũng không thể thoái thác được trách nhiệm này. Chầng hạn, việc ta để bố mẹ chọn hộ trường học, ngành nghề. Nếu đời ta bế tắc vì điều đó thì cũng nên hiểu rằng ta chỉ có thể tự trách mình mà thôi. Có nhiều hỗ trợ từ các phía khác nhau cho sự lựa chọn của ta, nhưng ta phải là người đưa ra quyết định cuối cùng. Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Mỵ trong tác phẩm ‘Vợ chồng A Phủ’- Văn 12– Lựa chọn, trong văn cảnh này, gần như đồng nghĩa với quyết định. Mỗi lựa chọn, quyết định khác nhau sẽ bẻ lái cuộc đời đi theo những hướng khác nhau. Có lựa chọn, quyết định đúng; có lựa chọn, quyết định thiếu chuẩn xác; có lựa chọn, quyết định hoàn toàn sai. Đúng, sai ở đây chỉ là chuyện tương đối, nhưng hệ quả, hậu quả thì rành rành, trở thành một sự kiện thực tế khiến ta phải trực tiếp đối diện. Tuy nhiên, cuộc đời luôn dành cho ta những cơ hội lựa chọn mới, để ta điều chỉnh, khắc phục hậu quả lựa chọn ban đầu, nhằm hướng tới một kết cục tốt đẹp hơn. Vấn đề quan trọng là ta có biết tận dụng những cơ hội mói ấy không, hay tiếp tục bỏ lỡ chúng. – Đã hình dung cuộc đời như một chuỗi bất tận những lựa chọn, ta phải tự tạo được cho mình một tâm thế sống chủ động. Nói đời ta, tương lai ta “nằm trong tay của chính mình” là vì thế. Biết tiếp nhận một cách kịp thời, sáng suốt những gợi ý, hỗ trợ từ bên ngoài cho lựa chọn của mình cũng là một lựa chọn thông minh. Chỉ khi sống cuộc đời của mình với tinh thần hành động không ngừng, ta mới thật sự vững vàng trong những lựa chọn. Một thái độ sống thụ động tưởng giúp tránh khỏi bao lựa chọn phiền toái hoá ra lại đẩy ta mắc kẹt vào trong đó. – Trong cuộc sống, bên cạnh những lựa chọn của cá nhân là lựa chọn của xã hội. Xã hội thực ra là thực thể được tạo thành nhờ sự tương tác giữa những cá nhân. Ta lựa chọn hướng đi cho mình cũng là góp phần vào việc định hướng vận hành cho cả một xã hội. Luôn nghĩ đến xã hội trong khi thực hành những lựa chọn riêng, đó cũng là một điều hệ trọng mà mỗi chúng ta phải ý thức được. Nguồn: thêm: Em hãy nói lời an ủi khi gặp những tình huống sau đây
Cuộc sống là một chuỗi bất tận những lựa chọn. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này
633
Cuộc sống sẽ ra sao nếu nguồn nước sạch ngày càng vơi cạn? Gợi ý “Hơn bẩy mươi phần trăm cơ thể bạn là nước” – đó không còn là lời quảng cáo cho một hãng nước khoáng nào nữa, giờ đây nó trở thành lời cảnh báo cho con người về tầm quan trọng của nước sạch đối với đời sống. Đặc biệt trong thực tế nguồn nước sạch ngày càng vơi cạn như hiện nay. Nhắc đến nước sạch, ta nhắc đến những nguồn nước ngầm được đưa lên mặt đất (nước máy, nước giếng), hay nước mưa,… Những nguồn nước này được sử dụng cho sinh hoạt của con người: ăn uống, tắm giặt… cho sản xuất mà không gây hại cho sức khoẻ. Con người có thể nhịn ăn cả tuần nhưng khó có thể nhịn uống một vài ngày. Nhận định ấy phần nào thể hiện được vai trò của nước sạch đối với đời sống. Không chỉ vậy, nhắc đến nước sạch, ta còn nhắc đến một phần tết yếu không thể thiếu trong nhiều mặt của cuộc sống. Nước sạch dùng cho sinh hoạt hàng ngày, nước để uống, nước để rửa thực phẩm, chế biến thực phẩm, nước để tắm rửa, để lau dọn… Cơ thể người có đến hơn 70% là nước. Như vậy, nước chiếm một vai trò rất lớn đối với sự sống con người: nước chiếm một lượng lớn trong tế bào, nước vận chuyển, đưa máu đi khắp cơ thể, nước thanh lọc thận,… Không có nước sạch, rau củ quả, thịt cá cũng không được rửa sạch, khi đó con người cũng không được dùng chúng một cách ngon lành. Không có nước sạch, thực phẩm rất khó được chế biến, lúc đó biết đâu ta sẽ phải ăn sống hoặc ăn toàn đồ cháy? Có ai đó nói rằng: nước là thứ duy nhất trên cõi đời này trong sạch. Nước trong sạch trước hết bởi chính bản thân chúng trong sạch và còn bởi nước làm trong sạch nhiều thứ. Nước để giặt giũ, nước để lau dọn, để thanh lọc,… Hãy thử tưởng tượng, nước bao trùm lên mọi thứ vì lí do này hay vì lí do khác kể cả con người, khi ấy nếu nước vây bẩn thì mọi thứ cũng theo đó mà ô nhiễm, tanh hôi,…Xem thêm: Người trí thức Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 qua các sáng tác của Nam Cao mà anh (chị) biết Nước sạch còn là yếu tố không thể thiếu để sản xuất. Nước để tưới tiêu cho nông nghiệp. Nước để giảm nhiệt máy cho công nghiệp nặng: nước để làm sạch nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ,… Nước sạch là một tài nguyên không thế thiếu cho sự duy trì và phát triển kinh tế. Vai trò của nước to lớn là vậy nhưng tiếc thay, nước sạch lại không phải là tài nguyên vô tận. Càng đáng tiếc hơn là khi con người không bảo vệ được nước sạch vì thế mà nguồn nước sạch đang dần dần vơi cạn. Thực tế cho thấy các mạch nước ngầm đang giảm đần. Để có được nước sạch, giếng phải đào sâu hơn vào lòng đất, có nơi sâu đến vài chục mét mà vẫn vô vọng. Lưu lượng các con sông cũng giảm dần. Ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây, sông Hồng, sông Đuống,… hay rơi vào tình trạng “sông cạn”, mực nước xuống thấp dưới mức báo động làm tàu thuyền không thể lưu thông,… Đó là chưa nói đến tình trạng nước sạch bị ô nhiễm, vấy bẩn. Rác thải sinh hoạt khiến những dòng sông đổi màu nhanh chóng. Chất độc hoá học làm ô nhiễm mạch nước ngầm. Đó là chưa nhắc đến tình trạng lãng phí nước sạch ở nhiều gia đình, nhiều cá nhân. Bởi sự phụ thuộc của sự sống con người, của sản xuất đối với nước sạch, khi nước sạch dần vơi cạn đời sống con người cũng phải lên tiếng kêu cứu.Xem thêm: Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về một đức tính cần có ở con người Đâu cứ phải Châu Phi nóng bức, sa mạc trải dài mới thiếu nước sạch. Ngay giữa lòng thành phố của nhiều quốc gia tình trạng thiếu nước cũng vẫn là vấn đề căng thẳng, nhức nhối. Hà Nội là một ví dụ sinh động, tiêu biểu cho điều đó. Những con sông ô nhiễm nặng nề như một mầm bệnh nguy hiểm nằm im chờ dịp bùng phát bệnh tật. Những làng “ung thư" làng “u bệnh” xuất hiện trong vài năm trở lại đây là hậu quả của những mạch nước ngầm bị nhiễm độc. Rồi mùa màng bị tàn phá, kim loại bị ăn mòn,… đó là hậu quả của những cơn mưa axit độc hại,… Nước sạch đang dần vơi cạn, thực tế đó như một hiểm họa đe doạ sự sống toàn nhân loại. Trái đất tự ép mình, co rúm, méo mó, ép hoài, ép hoài mới cho ra vài giọt nước hiếm hoi mỏng manh,… Vài giọt ấy sao có thể ban phát sự sống cho mấy tỉ con người vẫn đang tiếp tục gia tăng? Con người phải hành động để giữ gìn, bảo vệ nước sạch và cũng là bảo vệ chính con người. Tiết kiệm nguồn nước sạch hiện có là biện pháp trước mắt. Nhưng về lâu dài phải biết giữ vệ sinh; rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp phải được thu gom xử lí. Bên cạnh đó bảo vệ rừng cũng là cách để thanh lọc nguồn nước bị ô nhiễm, từ đó cải hoá nước mưa axit, các nguồn nước bị ô nhiễm.Xem thêm: Cổ nhân nói: “Làm người khó". Hãy bình luận Bên cạnh nước sạch, không khí, rừng,… cũng là những tài nguyên vô giá thiên nhiên ban tặng cho sự sống. Song, trước thực tế đang ngày càng vơi cạn, dần bị ô nhiễm của các loại tài nguyên, con người cần gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh lẫn nhau để cùng bảo vệ sự sống. Vanmau.edu.vn
Cuộc sống sẽ ra sao nếu nguồn nước sạch ngày càng vơi cạn_
1,027
Cuộc đời giọt nước là những cuộc phiêu lưu kỳ thú. Em hãy kể lại những cuộc phiêu lưu ấy Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG 1. MỞ BÀI Nhân vật Giọt Nước tự giới thiệu: Được sinh ra từ biển cả. + Cuộc đời gắn với những cuộc phiêu lưu. 2. THẨN BÀI D. Khi còn ở trong biển: + Tôi tung tăng đi đó đây. + Tôi đùa giỡn với mọi vật. E. Lúc thành hơi: + Tôi chu du khắp nơi và ngắm bao nhiêu cảnh sắc. F. Lúc thành giọt nước rơi theo mưa: + Tôi xuống dòng sông nhỏ. + Thực hiện nhiệm vụ: Kỳ cọ cho những đứa bé ở biển. + Được mang về nhà nấu pha trà và lại bay hơi. G. Chu du theo mây: + Đi chán, mỏi mệt tôi nặng nề đến công trường thủy điện sông Đà. + Thành mưa rơi xuống dòng sông và cùng các bạn chạy máy thủy diện. H. Xuôi dòng sông: + Ngắm nhìn cảnh đẹp trên sông. + Ra gặp lại mẹ biển của mình. 3. KẾT BÀI Lại muốn phiêu lưu để ngắm cảnh và làm việc có ích cho đời. Cuộc đời giọt nước là những cuộc phiêu lưu kỳ thú. Em hãy kể lại những cuộc phiêu lưu ấy. BÀI LÀM Tôi vốn được sinh ra từ biển cả. Cuộc đời tôi gắn liền với nhừng cuộc phiêu lưu thật dễ thương và kỳ thú. Mẹ tôi, người có nước da xanh lơ màu trời, luôn vỗ về, âu yếm tôi. Ngày ngày, tôi theo mẹ đi khắp đó đây, lúc thì nhảy lăn tăn nô đùa với những chị rong biển dịu dàng, lúc thì trò chuyện với các chàng san hô tráng trẻo…Xem thêm: Bài văn quá sức tưởng tượng của cô bé lớp 5 Thế rồi một hôm, tôi cảm thấy nóng bức và trong chốc lát, ông Mặt trời đã hút tôi lên cao. Tôi được gió đưa đi khắp nơi, từ những rặng núi cao đến cánh đồng lúa chín như tấm thảm vàng. Nhưng hoàng hôn đã buông xuống, mọi vật quanh tôi chìm dần trong giấc ngủ, tôi thấy nhớ mẹ, nhớ nhà và, ôi chao! Lạnh quá! Đang co ro chợt tôi bị rơi xuống một dòng sông nho nhỏ và hiền hòa. Ngày ngày tôi cùng các bạn có nhiệm vụ rất quan trọng: Làm vệ sinh cho mọi người sau giờ lao động. Các bà mẹ thường nhờ tôi kỳ cọ cho các cô các cậu bé nghịch bẩn. Vào một buổi chiều nọ, tôi được bác nông dân mang về nhà, cho vào ấm và đun lên. Lúc đầu, tôi cảm thấy khoan khoái, dễ chịu vô cùng. Nhưng một lúc sau, tôi cảm thấy nóng bức quá mà bác nông dân nọ lại chẳng chịu ngừng tay. Những tiếng rên của tôi tuy nhỏ nhưng bác vẫn nghe: "e…e…e… nóng quá", rồi đến lúc tôi rên to hơn: "ục…ục…ục… đừng đun nữa!", không chịu đươc, tôi đành buồn rầu bảo: "rè…rè…rè… vĩnh biệt" và thoát ra ngoài qua ống vòi. Sáng hôm sau, tôi nhập vào họ hàng li ti nhà tôi và kết thành một đám mây bay bồng bềnh trên nền trời xanh ngắt, ơ trên ấy thật sung sướng. Chúng tôi luôn thấy mát mẻ và dễ chịu. Cứ rong ruổi hoài với những ngọn gió lang thang, chúng tôi lúc thì kết lại với nhau thành những tảng lớn, lúc thì phân tán thành những đám mây nhỏ. Có bạn thì muốn lại gần mặt trời, có bạn thì muốn lên cao, bạn thì muốn xuống thấp để nhìn cho rõ cảnh vật kỳ thú của núi đồi sông nước dưới kia… Một hôm tôi đang cùng bạn bè mình bay đến bàn bạc với đám mây mỡ gà ở phía chân trời. Bay mãi bay mãi mà đám mây kia vẫn cứ xa tít tắp. Mỏi mệt, nặng trĩu nỗi buồn, chúng tôi như muốn đứt hơi, đứng lơ lửng giữa tầng không. Thì bỗng nhiên bao nhiêu là mây dồn lại phía chúng tôi. Gió cứ vậy xua chúng tôi chạy đến chóng mặt ra phía Bắc. Rồi gió ngừng thổi. Cả bầu trời xám lại. Mặt trời chạy trốn từ lúc nào. Nhìn xuống phía dưới tôi thấy một dòng sông loáng nước. Và một cái đập chắn khổng lồ. Một cảnh tượng kỳ lạ, mới mẻ và thật hùng vĩ. Càng sa xuống thấp, tôi càng ngạc nhiên vì có những cột thép to lớn với những cánh tay rắn rỏi kéo căng những sợi dây điện to lớn. Tiếng thác đổ, tiếng chạy ì ì của một cái máy nào rất lớn. Tôi biết ngay đây là sông Đà và kia là nhà máy thủy điện Hòa Bình.Xem thêm: Phân tích nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình (Có dàn ý chi tiết) Thế rồi trời nổi cơn mưa. Theo các bạn tôi lao nhanh xuống đất. Thật may mắn, tôi rơi ngay vào mặt nước sông Đà. Tôi chạy rất nhanh tới cái đập nước sừng sững trước mặt. Và chưa kịp suy nghĩ và ngắm cảnh tôi chạy như bay đến một dòng nước xiết. Thật là chóng mặt đến kinh khủng. Tôi thấy như có ai hút lấy tôi với một mãnh lực ghê gớm. Tôi hụt hẫng và cùng các bạn lao nhanh về phía ngọn thác đang đổ xuống ầm ầm phía xa. Chỉ nháy mắt tôi đã lao vào một vật gì thật cứng và tôi nghe rất rõ tiếng máy nhà máy điện đang chạy. Cuốn tôi phăng phăng xuống phía hạ lưu, dòng nước đã bắt đầu được hiền hòa hơn. Chúng tôi thong thả chảy dọc đê sông Hồng để được ngắm những bãi bắp non, những màu xanh trên những cù lao màu mỡ phù sa… Chúng tôi vẫn không quên những thích thú khi nhảy ào vào máy phát điện… Tôi mê mải nghe các bạn kể về những xứ sở mà các bạn ấy đã đi. Bao nhiêu nơi kỳ thú mà qua lời kể, tôi thấy rằng mình còn thèm muốn được chu du. Thì ra họ hàng nước nhà tôi có khả năng du lịch rất nhiều nơi, cả trên trời lẫn dưới đất. Một ngày nọ tôi bỗng nghe tiếng vỗ sóng dào dạt, vui tươi… Trước mặt tôi, mẹ biển cả yêu dấu đang mở lòng đón những đứa con trở về… Tôi nhìn màu nước xanh thẳm, tôi nếm vị mặn của muối mà rưng rưng, cảm động. Trên trời, những đứa con của mẹ hiền lại kết thành những đám mây bạc để tiếp tục cuộc hành trình mang lợi ích đến cho đời… Tôi muốn nghỉ ngơi trong lòng mẹ một thời gian. Rồi một ngày nào đó, tôi lại bay đi.Xem thêm: Mượn lời một người dân trong làng em hãy kể lại câu chuyện "Em bé thông minh"Vanmau.edu.vn
Cuộc đời giọt nước là những cuộc phiêu lưu kỳ thú. Em hãy kể lại những cuộc phiêu lưu ấy
1,144
Các chi tiết tưởng tượng, kì ảo có vai trò rất quan trọng trong các truyền thuyết. Em hãy làm rõ điều đó qua tác phẩm con Rồng cháu Tiên Gợi ý Thể loại truyền thuyết có mối quan hệ chặt chẽ với thần thoại. Các chi tiết hoang đường, kì ảo vốn là đặc trưng của thần thoại cũng thường xuyên được sử dụng trong truyền thuyết làm chức năng "huyền ảo hoá" các nhân vật, sự kiện; thể hiện sự tôn sùng, ngưỡng mộ của nhân dân đối với các nhân vật đã đi vào truyền thuyết. Các chi tiết này có vai trò rất quan trọng đối với thể loại truyền thuyết. Điều này được thể hiện rất rõ trong truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên. Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên có nhiều chi tiết thể hiện tính chất kì lạ, lớn lao, đẹp đẽ về nguồn gốc và hình dạng của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Trước hết, cả hai đều thuộc dòng dõi các thần. Lạc Long Quân là con trai Thần Long Nữ (thường ở dưới nước), Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông (ở trên núi). Thứ hai, Lạc Long Quân có sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ, thường giúp dân diệt trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi; Âu Cơ xinh đẹp tuyệt trần. Việc kết duyên của Lạc Long Quân cùng Âu Cơ và chuyện Âu Cơ sinh nở có nhiều điều kì lạ: Một vị thần sống dưới nước kết duyên cùng một người thuộc dòng họ Thần Nông ở trên núi cao. Âu Cơ không sinh nở theo cách bình thường. Nàng sinh ra một cái bọc một trăm trứng, trăm trứng lại nở ra một trăm người con đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần. Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con ra làm hai: năm mươi người theo cha xuống biển, năm mươi người theo mẹ lên núi. Chia như vậy là để khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau.Xem thêm: Kể lại câu chuyện Cây bút thần theo lời kể của em Chi tiết tưởng tượng, kì ảo là những chi tiết không có thật. Đó là những chi tiết có tính chất hoang đường, kì lạ. Trong truyện truyền thuyết, nhân dân sáng tạo ra những chi tiết tưởng lượng, kì ảo nhằm dựng lên những câu chuyện thần kì, giải thích những sự kiện, sự việc chưa thể giải thích theo cách thông thường hoặc là để thần thánh hoá các nhân vật mà nhân dân ngưỡng mộ, tôn sùng. Trong truyện Con Rồng, cháu Tiên, những chi tiết này có vai trò tô đậm tính chất kì lạ, đẹp đẽ của các nhân vật (Lạc Long Quân và Âu Cơ), đồng thời chứng tỏ người Việt có nguồn gốc khác thường, rất cao quý và đẹp đẽ. Qua việc thần kì hoá, linh thiêng hoá nguồn gốc dân tộc, nhân dân ta muốn nhắn nhủ người đời sau hãy luôn luôn tự hào, tôn kính tổ tiên mình. Các chi tiết tưởng tượng, kì ảo trong truyện vừa phản ánh một trình độ hiểu biết nhất định ở giai đoạn lịch sử sơ khai, vừa là kết quả của óc tưởng tượng phi thường của người Lạc Việt. Truyện Con Rồng, cháu Tiên tuy có những yếu tố tưởng tượng, kì ảo nhưng về cơ bản đã giải thích, suy tôn nguồn gốc của đất nước ta. Đồng thời truyện cũng thể hiện niềm tự hào dân tộc, ý nguyện đoàn kết, thống nhất từ xa xưa của cộng đồng người Việt: dù ở bất cứ đâu, đồng bằng hay miền núi, trong Nam hay ngoài Bắc, người Việt Nam đều là con cháu các vua Hùng, có chung dòng dõi Con Rồng, cháu Tiên, vì thế phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.Xem thêm: Kể về một kỉ niệm đáng nhớ của em với người…Vanmau.edu.vn
Các chi tiết tưởng tượng, kì ảo có vai trò rất quan trọng trong các truyền thuyết. Em hãy làm rõ điều đó qua tác phẩm con Rồng cháu Tiên
673
Các con đứng như tượng đài quyết tử Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa. Hướng dẫn Các con đứng như tượng đài quyết tử Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa. (Nguyễn Việt Chiến – Tổ quốc ở Trường Sa) Anh/chị hiểu ý thơ trên như thế nào? Hãy trình bày những suy nghĩ của mình về trách nhiệm với biển đảo quê hương qua bài viết khoảng 600 từ. Gợi ý trả lời a) Nội dung ýthơ: – Chủ quyền biển đảo Việt Nam được xác lập và được các thế hệ bảo vệ vững chắc bằng cả máu và nước mắt trong suốt chiều dài lịch sử. – Sự hi sinh của những người con đất Việt như tượng đài Tổ quốc giữa trùng khơi để “thêm một lần Tổ quốc được sinh ra”. Đó là truyền thống yêu nước vô cùng quí báu được trao truyền từ đời này qua đời khác. b) Xác định trách nhiệm bản thân. – Biển đảo của chúng ta có giá trị rất lớn về kinh tế, du lịch, giao thông vận tải. Đặc biệt biển đảo cũng có ý nghĩa về quốc phòng rất quan trọng. – Hiện nay tình hình biển Đông đang diễn biến phức tạp. Kẻ thù luôn rình rập để độc chiếm biển đảo của ta. Thái độ của quân và dân ta là kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. – Bản thân dù ở cương vị nào cũng ra sức tuyên truyền về chủ quyền biển đảo. Tích cực tham gia các phong trào hướng về Trường Sa, Hoàng Sa thân yêu như Góp đá cho Trường Sa, Em yêu biến đảo quê hương, Viết thư cho Trường Sa… Đặc biệt sẵn sàng ra Trường Sa, Hoàng Sa để bảo vệ biên đảo. Bài viết phải thể hiện được cảm xúc chân thành, mãnh liệt. Nguồn: thêm: Em có nguyện vọng học thêm một môn năng khiếu hội họa. Trước khi nói với bố mẹ, em muốn trao đổi với anh (chị) để anh (chị) hiểu và ủng hộ ý kiến của em
Các con đứng như tượng đài quyết tử Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa.
373
Các Mác nói: “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”, Anh (chị) hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói trên Gợi ý Về vấn đề tiết kiệm, Các Mác, nhà triết học vĩ đại người Đức trong thế kỉ XIX đã có một ý kiến rất hay: "Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”. Mọi tiết kiệm trong cuộc sống là những tiết kiệm nào? Như nhiều người thường nghĩ đó là tiết kiệm tiền bạc, lương thực, thực phẩm. Tiết kiệm cái ăn, cái mặc, mọi sự chi tiêu hàng ngày. Không nên hoang phí, xa hoa, xa xỉ. Tiết kiệm vật chất chưa đủ, lại còn phải biết tiết kiệm sức người. Coi thường mồ hôi, sức lao động, tính mạng của con người là một tội ác. Lê Tương Dực, Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài làm cho trăm họ đói khổ, hàng nghìn người bị chết… là một tội ác, nên cả hai đã phải đền tội. Nhân dân ta có nhiều câu tục ngữ nói về tiết kiệm rất hay, mang ý nghĩa sâu sắc: -"Buôn tàu buôn bè chẳng bằng ăn dè hà tiện”. ”Miệng ăn, núi lở”. "Được mùa chớ phụ ngô khoai, Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng”. "Nước sông công lính". Có biết phòng xa, có biết quý trọng sức người, sức của thì mới có ý thức tiết kiệm. Nhưng tiết kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, chẳng dám ăn, dám mặc, dám tiêu… Xem thêm: Văn nghị luận: Suy nghĩ về tham nhũng Tiết kiệm vật chất chưa đủ, mà còn phải biết tiết kiệm thời gian. Đúng như Mác đã nói: "Mọi tiết kiệm, xét cho cùng là tiết kiệm thời gian". Thời gian là vàng ngọc. Có thời gian là có tất cả. Dùng thời gian để học tập, để nấu sử sôi kinh. "Học ngày chưa đủ còn tranh thủ học đêm". Dùng thời gian để lao động. Lao động cật lực trong tám giờ vàng ngọc, ta sẽ có những bát cơm đầy dẻo thơm, sẽ có áo quần lành ấm và đẹp, có vật dụng và tiền bạc để chi tiêu, làm cho cuộc sống đầy đủ, ngày thêm hạnh phúc. Dành thời gian để nghi ngơi, giải trí, để bồi dưỡng tinh thần, thể lực. Thời giờ một đi không trở lại. Biết tiết kiệm thời gian nên không thể lãng phí thời gian, sống vô công rồi nghề, lười biếng, chỉ biết ăn chơi du hí, cờ bạc rượu chè, nghiện hút… hết ngày này qua tháng khác: "Đời người có một gang tay, Ai hay ngủ ngày còn được nửa gang”. (Tục ngữ) Tiết kiệm thời gian có nghĩa là biết quý trọng tuổi xuân. Thi sĩ Xuân Diệu đã viết: "Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất, Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian’… (Vội vàng) Tuổi trẻ, tuổi thanh xuân là đẹp nhất, đáng yêu nhất. Mỗi con người chỉ có một thời hoa niên. Biết tiết kiệm thời gian để học tập, lao động, sáng tạo, vui chơi làm cho tuổi xuân thêm đẹp, thêm hạnh phúc. Xem thêm: Bài văn viết thư cho bạn vùng lũ lụt để hỏi thăm tình hình bão lụtTóm lại, ta không được phí phạm tài sản vật chất. Ta càng không được lãng phí thời gian. Thời gian là nguồn sống, nguồn sáng tạo. Hơn bao giờ hết, ta càng thấm thía câu nói của Mác: "Mọi tiết kiệm, xét cho cùng là tiết kiệm thời gian". Biết tiết kiệm thời gian mới biết làm chủ bản thân, đó là cách sống văn minh nhất Vanmau.edu.vn
Các Mác nói_ “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”, Anh (chị) hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói trên
621
Các Mác nói: “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”, Hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói trên Gợi ý Mọi giá trị vật chất, mọi giá trị tinh thần trong xã hội xưa và nay, đều do con người làm ra, sáng tạo nên. Mọi giá trị ấy cần được sử dụng một cách hợp lí, trân trọng, không xa hoa lãng phí. Và phải tiết kiệm. Tiết kiệm như thế nào? Đây là ý kiến của Các Mác: "Mọi tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian Một ý kiến thật sâu sắc, chí lí. Ta thường nghĩ tiết kiệm cơm, áo, gạo, tiền. Tiết kiệm mọi thứ của cải vật chất như vàng bạc châu báu. Đã mấy ai nghĩ đến tiết kiệm thời gian, như Mác nghĩ, Mác nói. Tiết kiệm là thế nào? Hoàng Phê trong "Từ điển Tiếng Việt” đã giải nghĩa như sau: g‘Tiết kiệm là sử dụng đúng mức, không phí phạm sức lực, của cải, thời gian Qua đó, ta biết có ba thứ cần phải tiết kiệm, đó là tiết kiệm sức lực, tiết kiệm của cải, tiết kiệm thời gian. Tại sao "Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian ”? Thời gian là vàng. Thời gian một đi không trở lại. Lời nói được nói ra, mũi tên được bắn đi và thời gian trôi qua không bao giờ trở lại được. Người xưa đã nhắc nhở như vậy. Đời người rất ngắn và hữu hạn? Nhân sinh bách tuế. Nhưng đã mấy ai sống đến trăm năm? "Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy/ Kiếp phù du trông thấy cũng nực cười" (Cao Bá Quát). Lượng thời gian: giây, phút, ngày, đêm, tuần, tháng, mùa, năm – thì lại là giống nhau, ai cũng như ai. Chí có cách sử dụng thời gian, quan niệm về thời gian của mọi người, của nhiều người, trong chúng ta chưa giống nhau, không giống nhau. Có người cho rằng: ‘Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê!". Có người lại nghĩ: “Thời gian thấm thoắt thoi đưa, như ngựa chạy, như nước chảy qua cầu Xem thêm: Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo lúc chiêu tối được Thạch Lam thể hiện trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" và phát biểu cảm nhận của mình Tiết kiệm thời gian là quan trọng nhất vì thời gian đi qua không bao giờ trở lại. Và lại con người phụ thuộc vào thời gian, có thời gian mới có sự sống, và qua thời gian, con người mới sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và mọi giá trị tinh thần. Thời gian là nhịp sống và cõi sống, nên "mọi tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian ". Tuổi thơ cần có thời gian để khôn lớn, trưởng thành. "Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi" (Tục ngữ). Tuổi thơ cần thời gian để học tập, để trở thành con ngoan, trò giỏi. Thanh thiếu niên cần 12 năm, 15 năm, 20 năm học hành để trở thành trí thức. Phải siêng năng, chuyên cần, chăm chỉ học hành. Không chơi bời, lêu lổng, không lười học. Phải biết quý trọng thời gian, tiết kiệm thời gian, dành cho học tập. Nếu không sẽ bị dốt nát, ngu si, làm đầy tớ cho thiên hạ. Lao động là vẻ vang. Lao động là sáng tạo. Nhờ lao động mà con người được ấm no, hạnh phúc, đất nước ngày một giàu có. Nhưng lao động cũng cần thời gian và phải tiết kiệm thời gian. Phải ngày làm 8 giờ. Phải thức khuya dậy sớm. Nhà nông phải một nắng hai sương, phải dầm mưa dãi nắng. Có tiết kiệm thời gian, có tranh thủ thời gian mới có ngô khoai đầy bồ, lúa đầy kho, mới no ấm: Xem thêm: Kể lại truyện Một trí khôn hơn trăm trí khôn (Tiếng Việt 2)"Lao xao gà gáy rạng ngày, Vai vác cái cày, tay dắt con trâu. Bước chân xuống cánh đồng sâu, Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu ra cày. Ai ơi bưng bát cơm đầy, Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng? " (Ca dao) Những năm 60, 70 của thế kỉ trước, tuy có những câu khẩu hiệu rất đẹp, rất kêu như: ‘Hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ nhưng nông dân cày, bừa,… theo kẻng, nên ruộng đất bị bỏ hoang, thiếu lương thực, phải ăn bo bo! Thảm cảnh ấy là do bệnh ‘duy ý chí cách quản lí áp đặt, bao cấp và nô lệ ngoại bang, là do không biết tiết kiệm thời gian và quý trọng sức người, sức của nhân dân. Các "dự án treo" hiện nay để hoang hóa, cỏ mọc hàng trăm, hàng nghìn héc ta đất màu mỡ của nông dân, trong lúc bà con dân cày đang thiếu đất đai để canh tác, đến địa phương nào ta cũng thấy rõ. Xây dựng các khu công nghiệp nhưng phải có quy hoạch đúng, phải nhớ "tấc đất tấc vàng". Thời chiến hay thời binh đều phải biết quý trọng từng giọt mồ hôi, từng giọt máu của đồng bào chiến sĩ. Bệnh quan liêu giấy tờ lâu nay là một vấn nạn làm phiền hà nhân dân, làm phí phạm thời giờ, tiền của, công sức của nhân dân, làm mất lòng tin của dân. Cuộc cải cách hành chính hiện nay tuy đã thu được một số thành tích bước đầu, nhưng không thể dừng lại ở mức đó. Chống tệ nạn tham ô lãng phí không chỉ làm sạch dần bộ máy công quyền mà còn là để tiết kiệm tiền của, ngân sách của quốc gia, của nhân dân; là để tiết kiệm thời gian của hàng triệu người trong xã hội.Xem thêm: Em hãy phân tích bài "Mộ” (Ngục trung nhật kí) của Hồ Chí Minh Các báo chí, cho biết việc tổ chức hội hè hiện nay phát triển rầm rộ khắp mọi nơi; ở nước ta có-đến gần một vạn lễ hội hàng năm! Lễ hội kéo dài. Hàng triệu người đi lễ hội. Tiền “âm phủ rải khắp đền chùa miếu mạo! Văn hóa lễ hội bị xuống cấp. Nếu biết rằng “mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời giun " thì có lẽ những người có trách nhiệm hiện nay không thể, không nên để xảy ra hiện trạng đó. Vì tâm linh hay vì đồng tiền, có nhiều người đã nêu lên câu hỏi đó. Tóm lại, phải siêng năng, chăm chỉ học hành, làm ăn. Phải tiết kiệm tiền của, sức người. Cần kiệm phải là nếp sống, phải là đạo lí. Và bất kì ai, lứa tuổi nào cũng phải biết: Thời gian là vàng; thời gian trôi qua nhanh; phải biết tiết kiệm thời gian, coi tiết kiệm thời gian là trước hết, trên hết mọi thứ, mọi việc phải tiết kiệm. Vanmau.edu.vn
Các Mác nói_ “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”, Hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói trên
1,170
Các tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi đều viết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Hướng dẫn 1. Mở bài – Giới thiệu sơ lược về hai tác giả, hai tác phẩm. – Nêu chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu và trong văn học chống Mĩ. 2. Thân bài Các tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi đều viết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. a) Những khám phá, sáng tạo của Nguyễn Trung Thành trong Rừng xà nu. – Chọn một loại cây rất gần gũi với đời sống của đồng bào Tây Nguyên và xây dựng hình ảnh ấy thành biểu tượng đẹp đẽ, đặc sắc, tiêu biểu cho sức sống mãnh liệt và ý chí kiên cường, bất khuất của đồng bào Tây Nguyên trong công cuộc chống Mĩ cứu nước – Hình tượng rừng xà nu. Miêu tả rừng xà nu thành một nền cảnh thiên nhiên hùng vĩ và tráng lệ cho cuộc chiến đẩu anh hùng của dân làng Xô Man chống Mĩ, tô đậm chất sử thi hào hùng cho câu chuyện. – Chọn thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước qua hình ảnh một tập thể nhân dân anh hùng, đó là dân làng Xô Man. Phát hiện ra vẻ đẹp riêng của từng con người chống Mĩ gắn với số phận, tính cách và phẩm chất của họ: cụ Met (già làng), Dít (bí thư chi bộ), đặc biệt là Tnú. – Chủ đề của truyện là chân lí của thời đại cách mạng: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Xem thêm: Trái đất là ngôi nhà chung của chúng ta.b) Những khám phá, sáng tạo của Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình. – Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong tác phẩm được thể hiện sắc nét trong truyền thống anh dũng, đáng tự hào của một gia đình. Tiêu biểu cho ý tưởng đó của tác giả là hình ảnh hai chị em Chiến và Việt. – Chọn một gia đình để viết truyện, ý tưởng của nhà văn chính là để nói lên điều sâu xa: gia đình là tế bào của xã hội, một gia đình bình thường mà còn như thế, thì cả miền Nam, cả nước sẽ như thể nào? Đó chính là sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng khi nó đã thấm sâu đến từng người dân, đặc biệt nó đầy ắp trong tim thế hệ trẻ. – Nguyễn Thi rất hiểu con người miền Nam, đặc biệt là “kiểu người út Tịch”, sinh ra là để đánh giặc cứu nước, mà đã đánh giặc thì dũng cảm, gan góc không ai bằng. Vì thế, ông đã xây dựng rất thành công kiêu nhân vật đánh Mĩ trong gia đình, đặc biệt là Chiến và Việt. 3. Kết bài – Hiện thực cuộc chiến đấu là đề tài phong phú cho sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ. – Nhà văn đi sâu vào cuộc sống chiến đấu anh hùng của nhân dân mới có được cảm hứng sáng tạo. Đó là mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống. – Đóng góp của Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đối với văn học thời chống Mĩ. Nguồn: thêm: Từ chuyện gia đình trong các tác phẩm Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) và Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), bàn về vai trò của gia đình trong đời sống con người
Các tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi đều viết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
598
Cách làm bài văn nghị luận lớp 10 Hướng dẫn Để làm tốt một bài văn nghị luận lớp 10, các em cần làm đầy đủ các ý sau đây: 1/Mở bài – Các em nên đặt vấn đề một cách ngắn gọn để đưa được nội dung yêu cầu của đề bài vào mở bài. – Sau khi đã giới thiệu được vấn đề, cần có một câu chuyển ý để dẫn tới thân bài. 2/Thân bài: a. Trước hết chúng ta cần giải thích được vấn (nếu là câu nói thì giải thích ý nghĩa câu nói đó ra, khuyên ta điều gì; nếu là 1 vấn đề thì cũng giải thích ra.ví dụ'''Lòng tự trọng là gì…;Ô nhiễm môi trường là gì?…''). b. Chúng ta phải dùng lý lẽ để khẳng định vấn đề đó là đúng hay sai (bình) c. Trong quá trình đưa ra những lời lẽ phân tích, các bạn nêu tối thiểu 2 dẫn chứng để chứng minh cho những lập luận của mình. *1 dẫn chứng trong lịch sử(ví dụ như lòng yêu nước thì có bác Hồ,…..) *1 dẫn chứng trong đời sống(có thể lấy trên báo chí) các bạn có thể lấy trong tác phẩm văn học hoặc truyện ) Phân tích các dẫn chứng để bài văn của các bạn chặt chẽ. d. Cần đưa ra những phê phán(phản biện) mang tình ý kiến cá nhân của mình e.Rút ra bài học và liên hệ bản thân(Em hiễu gì….;Em sẽ làm gì…)Xem thêm: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân. Đây là bài văn không thể thiếu trong một bào văn nghị luận. 3/Kết bài: -Khẳng định lải vấn đề 1 lần nữa -Nêu ra bài học chung(Chúng ta…;Mọi người chúng ta hãy….) Nguồn:
Cách làm bài văn nghị luận lớp 10
287
Cách làm bài văn phân tích tác phẩm thơ trữ tình Hướng dẫn 1. Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình a) Nhân vật tữ tình trong bài thơ là loại nhân vật trữ tình trực tiếp (tác giả thể hiện trực tiếp tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ của mình). Cũng có khi là loại nhân vật trữ tình gián tiếp đằng sau nó còn một nhân vật nữa là tác giả (Mẹ Suốt, Người con gái Việt Nam…). b) Sau khi đọc xong toàn bài, cần chỉ ra những nét nghĩa trong các câu thơ, phải nắm bắt ý tưởng chung toàn bài. Đây là bước đầu tiên, nhằm có được một ấn tượng chung. Ví dụ đọc Đây mùa thu tới, ấn tượng đầu tiên gợi cho ta đó là: Bài thơ viết về mùa thu, một mùa thu buồn mà đẹp. Sau đó có thể trên cái nền chung ấy mà khám phá tiếp. c) Nắm bắt được sự vận động và phát triển của tâm trạng nhân vật trữ tình. Muốn nắm bắt được sự vận động và phát triển của tâm trạng nhân vật trữ tình, thường là theo cách phân chia bài thơ ra làm các phần, đoạn (nếu là thơ cách luật thì theo câu) tương ứng với tính chất và ý nghĩa của tâm trạng được thể hiện trong đó. Ví dụ ở bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi, ta thấy sự vận động và phát triển tâm trạng cảm xúc như sau: – Từ mùa thu nay nhớ về một mùa thu Hà Nội quá khứ, một mùa thu đẹp, mơ mộng, buồn, lặng lẽ và quyến luyến. – Mùa thu Việt Bắc, cũng là mùa thu đất nước hôm nay hiện ra trong một cảm xúc hân hoan, phấn chấn, tự hào, sau đó là cảm xúc sâu lắng hướng về nguồn cội. – Hình ảnh đất nước trong đau thương mà anh dũng hiện ra trong cảm xúc căm thù giặc, khí thế quật khởi, hào hùng, bi tráng, mang âm hưởng sử thi. d) Chú trọng các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu và tâm trạng nhân vật trữ tình. Các chi tiết này có khi là hình ảnh thơ, có khi là cách ngắt nhịp câu thơ, haylà sự điệp lại từ, hoặc có khi chỉ là một từ, v.v… Tâm trạng của nhân vật trữ tình có khi thuần nhất một loại tâm trạng, có khi rất phức tạp như một phức hợp tâm trạng. Tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài Đất nước kể trên cũng là một loại tâm trạng phức hợp. Ở những bài thơ dài, lớn về khuôn khổ và lý tưởng, nhân vật trữ tình thường mang tâm trạng phức hợp đó. e) Cuối cùng là phải tổng hợp, khái quát và nâng cao, thường là kèm theo đánh giá. Cũng có khi liên hệ, so sánh giữa các bài, chủ để, tâm trạng… 2. Phân tích toàn bộ bài thơhoặc đoạn thơ Cách phân tích cả bài thơ, hoặc đoạn, khổ, câu thơ thường khai thác trên hai phương diện là nội dung và nghệ thuật. Có thể lần lượt phân tích ý nghĩa tư tưởng trước, rồi mới phân tích các giá trị nghệ thuật đặc sắc. Song, cũng có thể tiến hành song song cùng lúc. a) Bám sát vào văn bản thơ, tiến hành chia đoạn và tìm những ý chính của mỗi đoạn. Đối với từng khổ, đoạn, câu thơ vẫn có thể chia tách ra thành các ý nhỏ được. Riêng đối với thơ tứ tuyệt (ví dụ một số bài thơ của Hồ Chí Minh trong Nhật kí trong tù), cách thức thông thường là chia theo cấu trúc: khai, thừa, chuyển, hợp; hoặc chia thành hai câu đầu và hai câu cuối (tuỳ từng bài cụ thể). b) Sau khi tìm được ý chính của mỗi đoạn, biến những ý chính đó thành các luận điểm. Ví dụ với bài Tràng giang, có thểchia ra làm ba luận điểm tương ứng ba phần như sau: – Hình ảnh dòng sông mênh mang vô tận. – Hình ảnh dòng sông hoang vắng. – Tâm trạng nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả. Xem thêm: Phát biểu ý kiến của em về Đôn-ki-hô-têc) Khi phân tích thì thao tác giảng giải, cắt nghĩa là quan trọng nhất, nhằm giúp cho người đọc hiểu được ý nghĩa của tác phẩm trên tất cả các cấp độ, làm cho người đọc tin và đồng cảm với những ý kiến của mình. Cho nên thành phần lí lẽ phải chiếm vịtrí cơ bản, sau đó mới kết hợp với những dẫn chứng nhằm minh hoạ cho lí lẽ. Việc phân tích các dẫn chứng lấy ra từ tác phẩm (hình ảnh, câu, từ, nhạc điệu, các thủ pháp chuyển nghĩa…) phải lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu, thích hợp. Ví dụ trong khổ thơ đầu của Đây mùa thu tới có hai hình ảnh chính: rặng liễu và chiếc áo… d) Trong quá trình phân tích, luôn luôn hướng đến sự tổng hợp, khái quát ở từng cấp độ sao cho thích hợp để rồi tiến tới những khái quát lớn của toàn bài. Luận điểm là một khái quát. Toàn bài có khái quát của toàn bài. Đây chính là quá trình quy nạp. Tuy nhiên trong bài làm, các thao tác có khi biến hoá rất linh hoạt, có thể đi theo con đường diễn dịch vẫn chấp nhận được. e) Tránh diễn nôm các câu thơ thành văn xuôi. Nếu diễn nôm thì bài viết thiếu cảm xúc, rời rạc, không hấp dẫn người đọc. 3. Bình giảng thơ trữ tình a) Phải nhận ra được những tín hiệu nghệ thuật độc đáo, khác lạ, đặc sắc mà ta chưa từng gặp trong thơ ca. Trong một câu thơ, chỉ có một tín hiệu, có khi lại có vài ba tín hiệu cùng lúc. Thường là ởnhững câu thơ hay, xuất hiện nhiều tín hiệu nghệ thuật. Ví dụ hai câu thơ: Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều. Ít nhất phải để ý những tín hiệu nghệ thuật sau: cảm thán từ “ôi”, “cánh đồng quê chảy máu” là hình ảnh nhân hoá, “Dây thép gai đâm nát trời chiều" vừa bao gồm thủ pháp nhân hoá, vừa mang tính tạo hình; sự phối hợp hai câu thơ: mặt đất thì máu đỏ, trời chiều thì bị cào xé rách nát… tạo nên một cảnh tượng bi tráng. b) Sau khi nhận ra những tín hiệu nghệ thuật quan trọng như vậy, phải tiến hành giảng giải (cắt nghĩa, giải thích) cho mạch lạc ý tứ mà câu thơ biểu hiện. Khi giảng giải cần thuyết phục người đọc ở cái nghĩa lí của sự phân tích, làm cho người đọc tin cậy. Cần tránh diễn nôm đơn giản hoặc thô thiển ý của câu thơ, hình ảnh thơ. Tránh liệt kê các cách hiểu khác nhau về cùng một chi tiết nghệ thuật nào đó, mà không bày tỏ thái độ đồng tình hay không đồng tình với một cách hiểu nào. Phải đặt các đoạn, khổ, câu thơ vào trong toàn bài; và đến lượt nó, lại phải đặt vào trong toàn bộ sáng tạo của tác giả, có khi đặt vào bối cảnh lịch sử – văn hoá mà bài thơ ra đời để hiểu đúng ý nghĩa của thơ. c) Cùng với thao tác giảng là bình. Ởđây có rất nhiều cách: bộc lộ cách đánh giá trực tiếp của người viết, mượn lời người khác để đánh giá, nhập vào tác giả mà suy luận, nhập vào nhân vật trữ tình mà tưởng tượng; liên hệ với các câu thơ, bài thơ khác để thấy những nét độc đáo riêng, v.v… Giảng có sâu sắc thì bình mới tâm đắc. Nếu giáng hời hợt, chưa tới thì dù có bình tâm huyết đến mấy cũng sẽ thiếu sức thuyết phục, người đọc sẽ không tinvào những lời bình “rỗng” như thế. Lời bình thể hiện rõ nhất giọng điệu, thái độ, cảm xúc, độ tinh nhạy của mỹ cảm. Cho nên nó mang đậm dấu ấn cá nhân của người viết rất đậm. Dưới đây là lời bình thật tài hoa và tinh tế của Hoài Thanh về bài thơ Duyên: “Xuân Diệu có hai câu thơ thiệt hay: Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang, nắng trở chiều Chính là hai câu tả cảnh. Nhưng cảnh như muốn theo lời thơ mà tan ra.Nó chỉ mất một tí rõ ràng để được thêm rất nhiều thơ mộng”. Nguồn: thêm: Nghị luận về tình yêu quê hương
Cách làm bài văn phân tích tác phẩm thơ trữ tình
1,440
Cách làm bài văn phân tích tác phẩm văn xuôi Hướng dẫn 1. Tóm tắt truyện a) Giới thiệu xuất xứ Giới thiệu ngắn gọn về xuất xứ tác phẩm, nội dung phản ánh và chủ đề của tác phẩm. b) Tóm tắt các bước phát triển của cốt truyện Tóm tắt các bước phát triển của dòng cốt truyện dựa vào những sự kiện nổi bật, những diễn biến của tính cách và số phận các nhân vật chính. Khi tóm tắt cốt truyện, cần bám vào nhân vật chính để làm nổi rõ từng giai đoạn phát triển của nó. Nhân vật chính thường xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm, có vai trò chi phối đối với các nhân vật khác và góp phần chủ yếu bộc lộ chủ để, tư tưởng của tác phẩm. Chẳng hạn, cốt truyện của truyện ngắn “Chí Phèo” (Nam Cao) xoay quanh hai nhân vật điển hình là Chí Phèo và Bá Kiến cũng như diễn biến mối quan hệ giữa hai nhân vật này. Tóm tắt cốt truyện của Chí Phèo, phải dựa vào lai lịch, thân phận của Chí từ một đứa bé bị bỏ rơi đến đi ở, làm thuê rồi vô cớ bị cụ Bá đẩy đi ở tù. Dựa vào những lần Chí Phèo đến nhà Bá Kiến sau khi ở tù về để thấy được quá trình tha hoá tất yếu của Chí khi gặp phải kẻ thống trị xảo quyệt, gian ngoan như Bá Kiến, thấy được số phận bi thảm của kẻ bị cự tuyệt quyền làm người… Mặt khác, khi tóm tắt cốt truyện, cần đặc biệt quan tâm đến những chi tiết, sự kiện tạo bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật. Ở truyện ngắn Chí Phèo, ấy là thời điểm Chí Phèo tình cờ gặp Thị Nở, được Thị Nở thương yêu, chăm sóc. Người cố nông lương thiện với những ước muốn bình dị bấy lây nay bị vùi lấp trong con quỷ dữ Chí Phèo sống dậy…, rồi bị Thị Nở đột ngột cự tuyệt tình yêu. Sự kiện này khiến Chí Phèo vỡ lẽ, tự ý thức ra tấn bi lịch bị cự tuyệt quyền làm người ở mình để từ đó đi đến hành động trả thù quyết liệt cuối tác phẩm và kết thúc với số phận của từng nhân vật. Có thể tóm tắt theo trình tự thời gian, cũng có thể bám vào bố cục tác phẩm mà tóm tắt. Dù tóm tắt bằng cách nào cũng cần làm nổi bật được các sự kiện quan trọng, các chặng đường phát triển của nhân vật chính và mối liên kết chặt chẽ giữa chúng để giúp người đọc hình dung ra chủ đề, ý nghĩa của tác phẩm. Để xây dựng văn bản tóm tắt cốt truyện, cần rèn luyện về lời văn để độ dài, ngắn của một văn bản tóm tắt cần gọn gàng, súc tích, chứa lượng thông tin cao. 2. Phân tích nhân vật Một nhân vật văn học thành công bao giờ cũng mang một tính cách, một số phận riêng. Vậy phân tích một nhân vật chính là làm sáng tỏ một tính cách, một số phận độc đáo. Những tính cách, số phận ấy bộc lộ qua các phương diện sau: a) Lai lịch Là phương diện đầu tiên góp phần chi phối đặc điểm tính cách cùng cuộc đời nhân vật. Lai lịch có quan hệ khá trực tiếp và quan trọng với đường đời của một người (một nhân vật). Lai lịch gồm thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình. Chí Phèo ngay từ khi được sinh ra đã bị vứt ra khỏi cuộc sống, đã là đứa trẻ hoang không biết bố mẹ, chẳng có cửa nhà. Hoàn cảnh xuất thân ấy đã góp phần tạo nên số phận cô độc thê thảm của Chí. Vốn xuất thân từ tầng lớp trên, quen hưởng cuộc sống giàu sang, lại ít có dịp gần gũi với quần chúng lao động nên văn sĩ Hoàng (Đôi mắt) dễ có cái nhìn khinh miệt về người dân quê kháng chiến… Tính cách, số phận nhân vật được lí giải một phần bởi thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình và điều kiện sinh hoạt… b) Ngoại hình Trong văn học, miêu tả ngoại hình chính là một biện pháp của nhà văn nhằm hé mở tính cách nhân vật. Phần lớn, đặc điểm tính cách, chiều sâu nội tâm (cái bên trong) của nhân vật được thống nhất với ngoại hình (vẻ bề ngoài). Một nhà văn có tài thường chỉ qua một số nét khắc hoạ chấm phá có thể giúp người đọc hình dung ra diện mạo, tư thế cùng bản chất của nhân vật nào đó. Miêu tả nhân vật văn sĩ Hoàng, Nam Cao chỉ vài nét phác họa dáng người béo, bước đi khệnh khạng, vừa đi vừa như bơi hai cánh tay ra hai bên vì những khối thịt ở dưới nách kềnh ra, bàn tay múp míp, bộ mặt đầy đặn và trên mép một cái vành móng ngựa ria trông như một chiếc bàn chải nhỏ… Chừng ấy chi tiết cũng đủ giúp người đọc hình dung rõ một con người kiểu cách, trưởng giả, một lối sống sung túc dư thừa giữa lúc nhân dân đang gian khổ kháng chiến. Trong phân tích nhân vật, cần qua các chi tiết ngoại hình mà đi sâu vào nội tâm, vào bản chất của nhân vật. c) Ngôn ngữ Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn học được cá thể hoá cao độ, nghĩa là mang đậm dấu ấn của một cá nhân. Nhân vật cụ cố Hồng trong tiểu thuyết Sốđỏ của Vũ Trọng Phụng hễ cứ mở miệng ra là gắt: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Trở thành “nhà cải cách thẩm mỹ”, “đốc-tờ Xuân”, “giáo sư quần vợt”, “cố vấn báo Gõ mõ"… được cả xã hội thượng lưu thành thị trọng vọng, Xuân Tóc Đỏ vấn đầu cửa miệng mấy chữ “mẹ kiếp”, “nước mẹ gì”. Chứng tỏ tính chất lưu manh, vô học của y. Nhân vật Đào (Mùa lạc) thường có lối nói ví von bóng bẩy của ca dao, tục ngữ, chứng tỏ người phụ nữ xuất thân từ tầng lớp nông dân có học và từng trải. Nhưng mặt khác, đằng sau những câu đối đáp sắc sảo, đanh đá của những ngày đầu lên Điện Biên, chúng ta dễ nhận ra vẻ ngậm ngùi, chua chát cho thân phận éo le của Đào. Xem thêm: Trong ngành Giáo dục đang phát động phong trào "Chống bệnh thành tích trong giáo dục". Em hãy viết đoạn văn nêu cách hiểu của mình về vấn đề "bệnh thành tích trong giáo dục"d) Nội tâm Khi phân tích nhân vật cần quan tâm đến thế giới bên trong với những cảm giác, cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ… Một nghệ sĩ tài năng bao giờ cũng là một bậc thầy trong việc nắm bắt và diễn tả tâm lí con người. Miêu tả chân thực, tinh tế đời sống nội tâm nhân vật là chỗ thử thách tài nghệ nhà văn và cảm nhận, phân tích được một cách thuyết phục. Đây cũng là nơi chứng tỏ năng lực của người phân tích tác phẩm. Ở truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, hay nhất có lẽ là những trang Tô Hoài diễn tả sự trỗi dậy từng bước của sức sống tiềm tàng trong lòng Mị, quá trình hồi sinh của tâm hồn của Mị trong đêm mùa xuân nghe tiếng sáo gọi bạn tình. Sự hồi sinh này biểu hiện qua diễn biến tâm trạng, qua các cử chỉ, hành động. Nhìn mọi người trong nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma đang tụ tập quanh bếp lửa khua chiêng, nhảy múa và uống rượu, Mị nghĩ: “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu”. Cô lén lấy cái hũ rượu, cứ uống ừngực từng bát… hành động uống rượu ấy là gì nếu không phải là biểu hiện của ý thức về quyền làm người, quyền bình đẳng đang trỗi dậy. Cuộc đời đối với người con dâu gạt nợ như một đêm dài. Nhưng giờ đây, có lẽ Mị không còn chịu nổi bóng tối đang vây bọc quanh mình nữa. Thắp sáng thêm đĩa đèn hay là Mị đang muốn thắp sáng lại cuộc đời mình? Hành động đó chứng tỏ sóng cuộn trong chiều sâu tâm trạng từ khi nghe tiếng sáo gọi bạn yêu lấp ló ngoài đầu núi, lửng lơ bay ngoài đường… e) Hành động Bản chất con người ta bộc lộ chân sát, đầy đủ nhất qua cử chỉ, hành động. Phân tích nhân vật, vì thế, cần tập trung khai thác kỹ các cử chỉ, hành động. Nam Cao đã dựng lên trước mắt ta một Chí Phèo bằng xương bằng thịt với tính cách điên khùng, uất ức, với số phận cô độc và bi thảm không thể lẫn với bất kì một ai khác: Chí Phèo từ bộ mặt đầy những vằn ngang vạch dọc, dáng đi ngật ngưỡng đến cách chửi, từ kiểu rạch mặt ăn vạ, kiểu uống rượu đến lối làm tình với Thị Nở, từ hành động xách dao đi trả thù đến cách đâm chết Bá Kiến rồi tự kết liễu đời mình… Khi điển hình hoá nhân vật, nhà văn thường lựa chọn cho nhân vật những hành động độc đáo, gây ấn tượng sâu đậm đối với người đọc. * Một số điểm lưu ý – Không phải bất cứ nhân vật nào cũng được nhà văn thể hiện đẩy đủ các phương diện như: lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm, cử chỉ, hành động. Có chỗ nhiều, chỗ ít, chỗ đậm, chỗ nhạt. Cũng không cứ phải tuần tự theo năm phương diện như thế mà nên sắp xếp theo thực tế từng nhân vật ở từng truyện kể cho bài làm văn hấp dẫn. – Có thể xem năm phương diện đã nêu đều là sự cụ thể hoá, hiện thực hoá của tính cách, số phận nhân vật. Nói cách khác, phân tích những phương diện ấy chính là để khái quát lên tính cách, số phận. – Nắm vững năm phương diện cơ bản khi phân tích nhân vật chính là điều có ý nghĩa định hướng cho việc đọc tác phẩm tự sự. Đọc tác phẩm tự sự phải hiểu được, nhớ được nội dung phản ánh của tác phẩm và mối quan hệ giữa các nhânvật, nắm được tính cách, số phận của các nhân vật chính. Để có căn cứ phân tích, để có chất liệu làm bài, khi đọc tác phẩm cần ghi nhớ các chi tiết, các hình ảnh về từng phương diện ở nhân vật. 3. Phân tích tình huống truyện Tình huống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện tính cách và số phận nhân vật. Tình huống là hoàn cảnh bất bình thường thử thách con người. Nó gồm những diễn biến, sự kiện đòi hỏi con người cần phải xoay xở, cần phải bộc lộ một cách chân xác năng lực và bản chất của mình. Như vậy, tình huống gắn chặt truyện và tác động trực tiếp tới nhân vật. Xây dựng tình huống là nhiệm vụ và hứng thú, là thử thách tài năng của nhà văn. Khi phân tích nhân vật, cần quan tâm thích đáng đến tình huống. Đó chính là căn cứ để phân tích, lí giải sự phát triển của tính cách, số phận nhân vật. Chí Phèo gặp gỡ tình cờ với Thị Nở, một bàn tay đàn bà chăm sóc, được hưởng hương vị cháo hành. Nhưng chỉ vì lời lẽ của bà cô, Thị Nở đột ngột trở mặt. Chí Phèo tự nhận ra tấn bi kịch chua xót của kẻ bị cự tuyệt quyền làm người… Những sự kiện dồn dập ấy làm nổi bật lên quá trình hồi sinh cảm động, đáng thương của người cốnông lương thiện trong con quỷ dữ Chí Phèo, càng ngời lên vẻ đẹp nhân phẩm và số phận tuyệt vọng, bế tắc của một tầng lớp nông dân cùng khổ. Kim Lân trong Vợ nhặt với bối cảnh xám xịt của nạn đói khủng khiếp mùa xuân năm 1945 với cuộc trở về lạ lùng của Tràng cùng một người đàn bà lạ vào căn nhà tồi tàn trong xóm ngụ cư. Hai bận tầm phơ tầm phào với mấy câu nửa đùa nửa thật, với bốn bát bánh đúc, ấy thế mà thành vợ thành chồng. Đó là tình huống “ nhặt được vợ”. Quả là những tình huống cười ra nước mắt, đan xen thú vị giữa hài và bi, giữa đen tối và tươi sáng. Mối quan hệ giữa tình huống với nhân vật thể hiện mối tương quan giữa hoàn cảnh và tính cách. Hoàn cảnh càng có tính điển hình, càng có độ gay cấn thì càng dễ nổi bật tính cách điển hình của nhân vật. Khi phân tích tác phẩm tự sự cần xác định đúng đắn tình huống truyện, những tình huống có ý nghĩa góp phần thể hiện nội dung và chủ đề tác phẩm, góp phần bộc lộ tính cách nhân vật. Nguồn: thêm: Nghị luận xã hội về tình thương
Cách làm bài văn phân tích tác phẩm văn xuôi
2,228
Cách làm văn nghị luận lớp 12 Hướng dẫn Văn nghị luận có dạng nghị luận văn học, nghị luận xã hội, chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách làm cả hai dạng nghị luận trên. Cách làm bài văn nghị luận văn học • Mở bài: – Dẫn dắt vấn đề. – Nêu xuất xứ và trích dẫn ý kiến. – Giới hạn phạm vi tư liệu. • Thân bài: – Giải thích, làm rõ vấn đề: + Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong đề bài. Để tạo chất văn, gây hứng thú cho người viết, những đề văn thường có cách diễn đạt ấn tượng, làm lạ hóa những vấn đề quen thuộc. Nhiệm vụ của người làm bài là phải tường minh, cụ thể hóa những vấn đề ấy để từ đó triển khai bài viết. + Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung của vấn đề cần bàn luận. Thường trả lời các câu hỏi: Ý kiến trên đề cập đến vấn đề gì? Câu nói ất có ý nghĩa như thế nào? -Bàn bạc, khẳng định vấn đề. Có thể lập luận theo cách sau: + Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai? Mức độ đúng sai như thế nào? + Lí giải tại sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định được như vậy? + Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và trong cuộc sống?Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến (Quang Dũng): Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa... Trôi dòng nước lũ hoá đong đưa – Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học. • Kết bài: + Khẳng định lại tính chất đúng đắn của vấn đề. + Rút ra những điều đáng ghi nhớ và tâm niệm cho bản thân từ vấn đề. Cách làm bàinghị luận xã hội – NLXH thường là những vấn đề rất rộng của đời sống, học sinh lại thiếu hiểu biết xã hội, nên không có vốn để viết.- NLXH hay có những câu danh ngôn, định nghĩa, khái niệm, nên chúng thường rất trừu tượng, học sinh sẽ gặp khó khăn khi phải hiểu, phải lý giải được ý nghĩa của nó, ngay từ bước đầu đã vướng phải những vấn đề "khó nuốt" như vậy huống hồ phải triển khai thành bài văn với hệ thống ý chặt chẽ, kín kẽ, thuyết phục… – NLXH cần ở học sinh sự linh hoạt trong nhận thức vấn đề, và từ nhận thức đi đến trình bày cái hiểu là cả 1 quá trình, để áp dụng và diễn đạt những cái mình hiểu đâu phải chuyện dễ dàng gì với nhiều học sinh. Nguồn:
Cách làm văn nghị luận lớp 12
471
Cách thể hiện tình thương bà của tác giả (trong bài thơ Đò Lèn) có gì đặc biệt? So sánh với bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt? Hướng dẫn Người ta thường có xu hướng tạo ra hình ảnh thật đẹp đẽ về chính mình trong tuổi ấu thơ. Gòn ở bài thơ Đò Lèn, tác giả đã thể hiện thời thơ ấu của mình như thế nào? Nét quen thuộc mới mè trong cách nhìn của tác giá về chính mình trong quá khứ? Gợi ý: Nhắc đến kỉ niệm – đặc biệt kỉ niệm của tuổi thơ – hầu hết người ta thường nhớ về những kỉ niệm đẹp. Đó là một thói quen khá phổ biến trong thơ ca. Với Nguyễn Duy, kỉ niệm được nhắc đến trong Đò Lèn trước hết đó là tính chân thật. – Tuổi thơ của tác giả phải nếm trải những cơ cực, nghèo đói do chiến tranh; nhưng hình ảnh tác giả thời ấu thơ vẫn vừa rất tình cảm, tội nghiệp, đáng yêu, vừa tinh nghịch ranh mãnh, và có cả cái xấu hồn nhiên của đứa trẻ: Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi khi ăn trộm nhãn chua Trần Những kỉ niệm vừa đẹp vừa không đẹp nhưng hấp dẫn chúng ta vì sự chân thành hết lòng, khác với xu hướng phổ biển là tô đẹp cho những kỉ niệm thuở nhỏ của mình. – Nét mới: nói ra cả những kỉ niệm không đẹp nhưng là sự thật lẽ ra phải giữ kín, hoặc phải quên đi: “ăn trộm nhãn chùa Trần” là một lỗi lầm của tác giả thời trẻ con, nhưng là lỗi lầm nhỏ, có thể thông cảm được và khi tác giả thành thật thú nhận thì người còn thấy đó là một đứa trẻ dễ mến, đáng yêu và còn rất xúc động trước sự chân thật ấy. Đây cũng là sự đổi mới trong cách nhìn, cách cảm của những nhà văn, nhà thơ sau 1975; dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, dám nói ra sự thật từ góc nhìn không thuận chiều. Hình ảnh người bà (trong bài thơ Đò Lèn) âm thầm chịu đựng muôn vàn vất vả để nuôi dạy đứa cháu mồ côi nghịch ngợm, sống lại tròng kí ức thể hiện tình cảm gì trong lòng tác giả đối với bà khi đã trưởng thành? Gợi ý: Hình ảnh người bà âm thầm chịu đựng, hi sinh vì đứa cháu mồ côi trong tình thương của tác giả được tái hiện rất cảm động: Xem thêm: Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng đại từ nhân xưng “mình” - “ta”– Hình ảnh người bà lam lũ, vất vả, lặn lội thân cò trong tình thương của đứa cháu: bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn – Hình ảnh người bà đi bán trứng ở ga Lèn đầy cảm động giữa cái tan hoang của cảnh vật. Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn – Nỗi xót xa của người cháu thi sĩ ấy là ngày trở lại, ngày chiến thắng trở về không còn được gặp người bà thân yêu. Hình ảnh nam mồ thể hiện sự hối hận chân thành và đó cũng là tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ đối với bà của mình: "Khi tôi biết thương bà thì đã muộn Bà chỉ còn là một nắm cỏ thôi" Cách thể hiện tình thương bà của tác giả (trong bài thơ Đò Lèn) cógì đặc biệt? So sánh với bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt? Gợi ý: Trong Bếp lửa, nhà thơ Bằng Việt thể hiện tình cảm dành cho bà bằng việc tái hiện những hồi ức thiêng liêng, cảm động về tình bà cháu. Tình cảm ấy được thể hiện qua tiếng tu hú tha thiết, qua hình ảnh bếp lửa bập bùng: Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà… Rồi sớm rồi chiều bếp lửa bà nhen… Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn… Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm… Nhóm dậy cả nhũng tâm tình tuổi nhỏ… Nét độc đáo trong cách thể hiện tình cảm đối với người bà của Nguyễn Duy là bộc lộ tình cảm trực tiếp, những kí ức ùa về dào dạt rất chân thành, không che đậy dưới bất kì hình ảnh, biểu tượng nào. Mặt khác, nhà thơ bày tỏ tình cảm đối với bà bằng những lời thơ như tự trách mình, như ăn năn, hối lỗi khi nhớ về một thời vô tâm, vụng dại đã qua, chưa kịp làm gì để thương và đền đáp công ơn của bà. Lời thơ rưng rưng đau nhói lòng người: Khi tôi biết thương bà thì đã muộn Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi! Nguồn: thêm: Trình bày hiểu biết của anh (chị) về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu
Cách thể hiện tình thương bà của tác giả (trong bài thơ Đò Lèn) có gì đặc biệt_ So sánh với bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt_
849
Cách ăn điểm bài văn nghị luận Hướng dẫn Để ăn điểm trong khi làm bài văn nghị luận, chúng tôi xin chia sẻ tới các bạn những mánh khóe sau đây để bạn có một kết quả tốt trong bài làm của mình. 1.Khi làm bài các bạn nên căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, vào ý đồ sáng tác của nhà văn mà phân tích, làm sáng tỏ các tầng lớp nội dung, ý nghĩa trong ngôn từ, trong hình ảnh của văn bản. Bạn sẽ làm tốt được yêu cầu của đề bài và là một trong những tiêu chuẩn để cho điểm trong bài làm của bạn. Muốn bình đúng, bình hay trước tiên phải phân tích đúng, giảng sâu ý ngĩa của câu thơ. Giảng có nghĩa là khám phá, giảng giải nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, là giải thích, khẳng định nghĩa lí của văn bản. Nó có nhiệm vụ chỉ ra các tầng lớp nội dung và chứng minh một cách thuyết phục rằng nội dung ấy tất phải được thể hiện qua hình thức nghệ thuật ấy, rằng hình thức nghệ thuật ấy “hợp lẽ thuận tình”, có tính độc đáo hơn cả trong việc thể hiện nội dung. Trong quá trình phân tích, chứng minh tính độc đáo của sự thống nhất giữa nội dung và hình thức ở văn bản tác phẩm, người nghị luận cần tìm trúng những chỗ hay, chỗ lạ của các phương thức, thủ pháp thể hiện và khẳng định được rằng hình thức nghệ thuật ấy là “phương án tối ưu” để thể hiện sinh động nội dung, rằng bất kì sự đổi thay nào đó (dù rất nhỏ) cũng có thể phá vỡ nghĩa lí, phá vỡ tính chỉnh thể của tác phẩm. 2.Các bạn cần có đánh giá, bàn luận về những “lời hay ý đẹp” nơi văn bản, về giá trị của tác phẩm, ý nghĩa của vấn đề Xem thêm: Hãy bình luận câu tục ngữ: Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau Để khẳng định tính độc đáo, các giá trị của tác phẩm, bài nghị luận phải đào sâu vào các tầng lớp ý nghĩa, vào sự thống nhất cao giữa nội dung và hình thức, đồng thời cần liên hệ mở rộng xung quanh chính các vấn đề ấy, cần tổng hợp, nâng cao bằng năng lực khái quát. Ở đây rất cần thao tác so sánh cũng như khả năng cảm thụ văn chương tinh tế cùng với vốn tri thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực. 3. Bài văn nghị luận cần có hệ thống luận điểm rõ ràng, mạch lạc, những luận cứ đúng đắn, sinh động và lập luận thuyết phục, sẽ gây ấn tượng với người đọc. Một bài văn nghị luận hay thường có hệ thống luận điểm rõ ràng được kết dính một cách tự nhiên, liền mạch, ý nọ gọi ý kia. Đòi hỏi hệ thống luận điểm mạch lạc, màu sắc cá nhân của các nhận xét, đánh giá, mặt khác, bài văn nghị luận cũng yêu cầu tính cụ thể, thuyết phục của những luận cứ. Nếu cứ sa đà vào dẫn chứng, phân tích cụ thể mà không nâng lên được tầm khái quát, không đúc kết được thành các nhận định, bài văn sẽ nhạt tính tư tưởng, khó gây ấn tượng. Mặt khác, nếu cứ nêu nhận định, ca ngợi hay phê phán một cách chung chung mà không qua các căn cứ cụ thể, dẫn chứng sinh động thì bài văn cũng yếu sức thuyết phục, dễ trở nên sáo rỗng. 4. Lời văn của một bài nghị luận cần chuẩn xác, trong sáng, thể hiện rung cảm chân thành, tự nhiên của người viết Khi viết một bài văn, một tiểu luận, hơn nhau không chỉ ở chỗ viết cái gì mà quan trọng còn là viết như thế nào, bằng thái độ, tình cảm ra sao. Cần cân nhắc từ cách dùng từ đến cách ngắt câu. Ngôn từ phải làm sao diễn tả sát, trúng bản chất của đối tượng, điều mình muốn nói. Giọng văn làm sao phải hợp với vấn đề, với nội dung, nhiều khi như có hình có khối, giàu nhịp điệu. Nguồn: thêm: Văn nghị luận: Bàn về hai chữ “Vinh - nhục”
Cách ăn điểm bài văn nghị luận
720
Cái chết không phái là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống Hướng dẫn Tham khảo một số ý cụ thể sau: – Trong cuộc đời, người ta vẫn nói đến cái chết như một sự mất mát lớn nhất của mỗi con người. Tuy nhiên, có nhữne điều mất mát còn hơn cả cái chết, đó là khi anh đang sống mà để cho tâm hồn tàn lụi, là khi anh sống không phải là anh, sống mà thiếu sức sống, thiếu khát khao, thiếu tình người, sống mòn. – Sự mất mát hơn cả cái chết là tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống, bởi đó là sự mất mát vềtinh thần, về phẩm chất. Nếu mất đi những cái đó thì cuộc sống của anh sẽ chỉ là cái bóng mờ vô nghĩa. Khi thể xác đang sống mà tâm hồn đã chết thì còn bi kịch hơn cả cái chết. – Do vậy, để cuộc sống của mỗi người không trở thành vô nghĩa, hãy làm sao cho tâm hồn được cháy sáng, cháy bằng trí tuệ, cháy bằng những hành động có ý nghĩa, để anh không là cái bóng của chính mình. Và nếu làm được điều này thì ngay cả khi anh đã chết thì với anh và với mọi người, đó khôngphải là sự mất mát. – Cái sống và cái chết, theo quan niệm trên, không phải chỉ là sự còn mất của thể xác mà chính là sự tồn tại của tâm hồn. Điều này làm nên sự khác biệt giữa sống và sống có ý nghĩa. – Câu nói nêu ra một bài học lớn lao cho mỗi người, rằng phải tự làm giàu có, phong phú tâm hồn mình, để mỗi ngày sống là một ngày đầy ý nghĩa. Bài làm tham khảo Xem thêm: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), từ đó nêu ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm nàyI. Mở Bài Cuộc sống con người là hằng số hữu hạn của biến số thời gian. Thời gian thì vô hạn mà đời người thì hữu hạn nhưng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” Nhận định của Nooc man- Kusin phải chăng đã định hướng cho con người trả lời câu hỏi: ta nên sống như thế nào? II. Thân Bài Tự ngàn xưa, cái chết đã trở thành nỗi ám ảnh trong tiềm thức con người. Có người cho răng” chết là hết”, là chấm dứt hết thảy mọi liên quan ràng buộc với cuộc đời, là chìm vào thế giới vô cảm vô thức. cái chết được coi như 1 sự mất mát to lớn, J. Archer cho rằng “ chết là trở về với cát bụi” nhưng quan niệm tâm linh của ngưới Á Đông thì “ thác là thể phách, còn là tinh anh”tức là cái mất đi chỉ là phần xác thịt, cái còn lại vẫn là linh hồn. Sự sống con người không hoàn toàn mất đi mà chỉ biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ vật chất hữu hình sang vật chất siêu thực vô hình. Cái chết là hành trình tất yếu của sự sống, con người cũng như tạo vật, sinh ra với cát bụi rồi lại trở về với cát bụi. Đó là quy luật là định mệnh ko thể cưỡng lại. Bởi thế nói như N. Kusin, đó ko phải là sự mất mát lớn, cái mất mát lớn nhất là “để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống”. Một tâm hồn khô héo, tàn lụi, ráo hoảnh trước ống kính cuộc đời mới là điều đáng sợ nhất. Thơ Mới là dấu ấn của những tháng ngày kinh hoàng, là cái tàn úa của những hồn thơ trẻ đng sống, là cái bơ vơ vô định, vô thức, vô cảm, ngập chìm trong “ cái sầu dưới đáy hồn nhân thế”,là nỗi khiếp đảm của “ Điêu tàn”, là cái cuồng dại của “ Thơ điên”. Đó là cái thời kì đầy khổ đau khi chưa tìm ra lí tưởng của những linh hồn vất vưởng “ sốg mòn”, chết mỏi, của những thanh niên trí thức trẻ tuổi với “cái mất mát lớn nhất” của đời người là “ để linh hồn tàn lụi ngay khi còn sống”, sống mà khao khát né tránh: Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa Để nơi đó tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với sầu lo. Cuộc sống quanh ta cũng tồn tại bao cuộc đời sống tàn úa trong cái gặm nhấm của thời gian. Đó là hiện thân của không ít bạn trẻ hiện nay, sống thừa thãi trong cảnh sung túc xa hoa,cảm thấy mọi thứ đều trở thành chán nản, đâm đầu vào cuộc sống ăn chơi, trụy lạc, sa ngã vào tai tệ nạn xã hội. Có lẽ khi đó, họ cũng ko ý thức được rằng, tâm hồn mình với tất cả những gì nguyên sơ và thánh thiện nhất cũng đang lụi tàn chết héo trong lớp bụi mù của nhịp sống đương đại. Có những bạn học sinh chán nản việc học tập, chuyện gia đinh mà tìm đến cái chết! Điều đó trong những năm trở lại đây ko lấy gì là lạ. Rõ ràng, họ ko sợ cái chết, họ sợ cảm giác sống mòn chết mỏi trong cái ao đời phẳng lặng, có lẽ họ chưa tìm ra lí tưởng cho cuộc đời mình, chưa xác định được hướng đi cho tuơng lai mình, với họ ước mơ chỉ là viễn tưởng, không ai muốn và dám thực hiện chúng. Nhưng cuộc sống với bao sắc thái đối cực, giữa bao hỗn tạp của cuộc sống xô bồ, vẫn vẳng lên những thanh âm trong trẻo. Có những con người không sợ cái chết, họ dám chết để tìm thấy ý nghĩa trong cuộc đời. Cô bé Xa Diễm- nhân vật chính trong bài báo khiến hơn 1 tỉ người rơi lệ chính là hiện thân của lối sốg cao đẹp đó. Đứa bé 8 tuổi ấy không chỉ tự lo hậu sự cho mình, ko chỉ để lại trong di chúc với những lời nói nghẹn ngào cảm động “Con đã đến trong cuộc đời này và con rất ngoan” mà còn tự nguyện từ bỏ điều trị, dành toàn bộ số tiền 540000 ND tệ quyên góp được (tương đương với 1,1 tỉ VNĐ) để cứu mạng sống của 7 bệnh nhi khác cũng đang quằn quại giữa ranh giới của sự sống và cái chết vì căn bệnh ung thư máu. Bất giác chết lặng nghĩ tới câu nói của nhạc sĩ thiên tài Beethooven “ ko có gì cao quý và hạnh phúc hơn là mang lại hạnh phúc cho nhiều người”. III. Kết Bài Phải chăng, những biểu hiện trên đã trở thành đáp số cho bất đẳng thức- nhận định của Noocman- Kusin “ cái chết ko phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống”. Nguồn: thêm: Bàn về những thứ “rỗng”
Cái chết không phái là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống
1,236
Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn lụi tàn ngay khi còn sống. Hướng dẫn – Con người hơn hẳn muôn loài ở chỗ: không chỉ biết sống, mà còn biết suy tư về cuộc sống của mình. Những suy tư ấy xoay quanh những câu hỏi từng được đặt ra từ bao đời nay: Thế nào là sống đẹp? Ý nghĩa đích thực của cuộc sống là gì? Làm sao để nâng cao giá trị cuộc sống?… Trong mạch suy tư ấy, câu nói sau đây của Noóc-man Ku-sin rất đáng được tìm hiểu: "Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn lụi tàn ngay khi còn sống". – Câu nói của Noóc-man Ku-sin nêu lên tầm quan trọng của tâm hồn đối với cuộc sống con người. Ông diễn đạt tư tưởng của mình bằng hai vế, quan hệ với nhau theo lối đòn bẩy. Trước hết, trong câu nói này, Ku-sin cũng đồng tình với quan điểm cho rằng: cái chết là sự mất mát rất lớn của con người. Một trong những niềm hạnh phúc không gì sánh nổi của con người là được sinh ra trên cõi đời này, là được sống. Nhờ được sống, chúng ta mới có thể tận hưởng mọi niềm vui, mọi hương vị của thế giới diệu kì. Vì sự sống thể xác đáng quý như vậy, nên từ xưa đến nay, hễ là người, ai cũng ham sống. Người ta không ngừng tìm mọi cách nâng cao và duy trì lâu dài sự sống của mình. Lương thực, thực phẩm được cải thiện, thuốc men chữa bệnh được bào chế, các hình thức tập luyện một cách khoa học được khám phá…, tất cả đều hướng tới mục đích thiết thực ấy. – Vì sự sống là thiêng liêng và đáng quý như vậy, cho nên, đối với con người, cái chết thực sự là một điều mất mát lớn. Cái chết xoá đi tất cả, biến con người thành hư vô. Thể xác con người đẹp đẽ là thế, bỗng chốc bị hư hoại. Trong cõi nhân gian này, ở đâu cũng thế, nơi nào có người chết, nơi đó không khí tiếc nuối, đau thương bao trùm. – Tuy nhiên, cái chết chưa phải là sự mất mát lớn nhất, bởi vì, sự tàn lụi của tâm hồn là điều mất mát lớn hơn cả cái chết. Không chỉ tồn tại về thể xác, con người còn có tâm hồn. Điều kì diệu thiêng liêng này không tạo vật nào sánh nổi. Những gì thuộc về đời sống tâm hồn của con người hết sức phong phú, đó là lí tưởng cao đẹp mà con người hướng tới; là đạo đức, lẽ sống mà con người không ngừng xây đắp; là danh dự, niềm tin, khát vọng vẫy gọi con người vươn lên; là nhu cầu thưởng thức cái đẹp của cuộc sống và của nghệ thuật… Chính tâm hồn mới làm cho sự sống về thể xác của con người trở nên thực sự cao quý. Không có thể xác thì không có tâm hồn, ngược lại, nếu không có tâm hồn thì thể xác sẽ rơi vào vũng bùn của sự tầm thường, phàm tục. Câu nói của Đum-bát-dê – nhà văn Liên Xô trước đây: "Ở đời, tâm hồn nặng gấp trăm lần thể xác" là sự xác nhận tương quan giữa phần hồn và phần xác của mỗi con người. Từ điểm nhìn ấy, ta thấy Ku-sin thật có lí khi khẳng định: "Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn lụi tàn ngay khi còn sống". Xem thêm: Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt– Tâm hồn lụi tàn thì cũng chẳng khác gì tâm hồn chết. Đó là khi con người không còn nhân tính, sống kiểu bản năng, thú tính. Đó là khi con người sống vô cảm, ích kỉ, không còn khả năng yêu thương, xúc động trước bất hạnh của đồng loại; là hết mọi hoài bão, khát vọng; là trơ lì cảm xúc, chỉ chăm chút cho cái thể xác của mình… Một cuộc sống như thế, có hơn gì cuộc sống của súc vật như cách nói của Các Mác. Nếu so với cái chết của thể xác thì cái chết của tâm hồn có vẻ âm thầm lặng lẽ, nhưng đáng sợ hơn nhiều. Trên đời này, có những người đã chết về thể xác từ lâu, nhưng những giá trị mà họ để lại thì mãi mãi bất tử. Những sếch-xpia, Huy-gô, Nguyễn Du… vẫn luôn sống trong lòng nhân loại. Ngược lại, có những kẻ còn trơ ra đấy, nhưng do thoái hoá biến chất, tâm hồn tàn lụi mà họ như đã chết trong lòng người khác. – Câu nói của Ku-sin là một chân lí, động chạm đến những vấn đề hệ trọng nhất của mỗi đời người. Suy ngẫm về lời của Ku-sin, ta tự hỏi: có phải trong cuộc sống sôi động, gấp gáp hiện nay, do mải mê với cuộc mưu sinh, nhiều lúc ta đã quá lo lắng chăm sóc phần thể xác mà bỏ quên đời sống tâm hồn? Xã hội hiện đại quả thật đang quay cuồng trong lối sống thực dụng. Sự phát triển của khoa học, công nghệ đang đem đến những tiện nghi vật chất hiện đại, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống con người. Nhưng ngược lại, cũng chính điều đó đã góp phần làm cho tâm hồn con người ngày càng cằn cỗi. Ngày ngày, con người đang huỷ hoại môi trường sống, trở nên xa lạ với thiên nhiên, mất dần khả năng đồng cảm với người khác. Những lí tưởng cao đẹp, thiêng liêng bị coi thường. Nghệ thuật cũng đang tự biến đổi để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng như một món hàng ở chợ trời. Giữa bức tranh hỗn độn ấy, ý thức của mỗi cá nhân về giá trị cuộc sống của mình là vô cùng quan trọng. Lấy lại sự cân bằng cho cuộc sống, tạo nên sự hài hoà giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần phải là hành động của mỗi con người. Nó là trách nhiệm của cá nhân đối với đời sống của chính mình và đối với xã hội. – Mỗi khi cảm thấy bức xúc vì khó khăn, thiếu thốn, mỗi khi cảm thấy tâm hồn mình có dấu hiệu lụi tàn, hãy nhớ lại câu nói của Ku-sin để hiểu rằng, tình trạng đó có khi còn tệ hại hơn cái chết. Nhận thức được như vậy là để xác định cho mình một thái độ sống đúng đắn, như cách nói của người Ả Rập: "Nếu tôi có hai cái bánh mì thì tôi sẽ bán đi một cái để mua hoa hồng, bởi vì, tâm hồn tôi cũng cần ăn uống". Nguồn: thêm: Được tin quê bị bão, bố mẹ về thăm ông bà. Bạn Tuấn Thành viết một bức thư ngắn để hỏi thăm
Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn lụi tàn ngay khi còn sống.
1,211
Cái nhìn của tác giả Nguyễn Ái Quốc đối với các dân tộc bị áp bức được thể hiện qua Bản án chế dộ thực dân Pháp Gợi ý Phong trào giải phóng dân tộc "đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử thế giới vào đầu thế kỉ 20". Đặc biệt, chiến tranh đế quốc 1914 – 1918 và hòa ước Vécxây đáng sỉ nhục làm cho các dân tộc và các giai cấp bị áp bức trên toàn thế giới nhận định được rõ thêm bản chất của chủ nghĩa tư bản. Các nước đồng mình "chiến thắng", một mặt tăng cường bóc lột giai cấp công nhân Châu Âu, Châu Mĩ, một mặt ra sức khai thác tàn nhẫn thuộc địa. Cách mạng Tháng Mười chỉ ra con đường đấu tranh của nhân loại cần lao. "Phương Đông thức tỉnh" sẽ góp phần quan trọng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc. Nhân dân các nước bị nô dịch nổi dậy giành độc lập, tự do, có nghĩa là từng bộ phận của chủ nghĩa đế quốc sẽ sụp đổ, bão táp cách mạng sẽ nổi lên ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mĩ latinh. Người ánh hùng mới của thế kỉ 20 ra đời với một trách nhiệm lớn lao. Điều đó không thể vắng mặt trong văn học thế giới. Hồ Chủ tịch, người chiến sĩ tiên phong đã phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, dành trọn cuộc đời mình cho công cuộc cách mạng vĩ đại ấy. Ở đâu, bất cứ lúc nào, Bác cũng hướng tình cảm, ý chí, hoạt động vào đó. Bác "tin theo Lênin", tán thành Đệ tam Quốc tế, học tập, nghiên cứu, vào sinh ra tử cũng vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức. Những phút xúc động nhất trong đời Bác, khi ở nước ngoài, thời trẻ, là những phút Bác nghĩ đến những dân tộc còn sống trong vòng nô lệ: khi Bác được tin ông Cúc (Cook), tuyệt thực và chết vì vấn đề độc lập của dân tộc mình, khi Bác thấy những người công nhân da đen bị nước biển cuốn đi. Những lần ấy, Bác đã khóc. Tâm hồn nghệ sĩ của Bác dễ rung cảm trước những cảnh hùng vĩ. Trần Dân Tiên kể rằng: trên tàu biển, anh Ba thích xem cảnh mặt trời mọc; những đêm trăng, anh đi đi lại lại trên tàu, "hầu như không ngủ", và anh Ba "ngây người nhìn một hòn đảo ở Tênêríppho, miệng nhắc đi nhắc lại:Xem thêm: Nghị luận xã hội Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương – “Bốn! Anh nhìn kìa! Đẹp quá, hùng vĩ quá!”. Trái tim ấy hiểu thấu và thương cảm sâu xa hàng trăm triệu người sống cuộc đời lầm than, khổ nhục. Trái tim ấy càng thấy rõ cái "hùng vĩ" của những người nô lệ, những người có tâm hồn trong sáng, thủy chung, kiên cường – những người có đầy đủ chí khí để làm cách mạng. "Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình". Hiểu rõ giai cấp công nhân, Bác Hồ biết tất cả nỗi khổ cực và sức mạnh của họ, những người duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Xuất thân từ một gia đình yêu nước, Bác thông cảm sâu sắc với nông dân. Hình ảnh người nông dân thuộc địa chiếm vai trò lớn trong tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" (…) Đề bạt người nông dân như một người bạn chiến đấu dũng cảm của giai cấp công nhân, đó là một sáng tạo trong văn học lúc bây giờ. Qua hình tượng người nông dân trong tác phẩm, Hồ Chủ tịch chỉ rõ rằng vấn đề thuộc địa thực chất là vấn đề nông dân. Nói đến họ, lời văn "Bản án chế độ thực dân Pháp" bao giờ cũng đầm ấm, thiết tha, bác hiểu tấm lòng thương yêu quê hương đất nước của họ. Đàn cừu, mảnh vườn đối với họ là những gì thân thiết nhất: "Họ phải đột ngột lìa vợ, lìa con, bỏ đàn cừu, bỏ mảnh ruộng để vượt đại dương, đem xương phơi trên các bãi chiến trường Châu Âu". Dù có sống sót, họ cũng chỉ lê "tấm thân tàn ma dại" trở về sống kiếp trâu ngựa dưới cái chế độ "không hề biết gì đến công lí và chính nghĩa". Bọn thực dân kết án tử hình những người vô tội. Tiếng oán hờn thống thiết như thúc giục mọi người hãy thấm máu trên người, đứng dậy làm cách mạng, đánh đuổi bọn thực dân: "Máu của những người Việt Nam ấy nhuộm đỏ cánh đồng Mả – ngụy, dù có phai với thời gian, nhưng vết thương lòng của những bà mẹ già, những em bé mồ côi, thì không bao giờ hàn gắn được". Chương Những nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ chứa chan tình thương cảm xót xa của Bác.Xem thêm: Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của văn bản Thuế máu (trích Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc) Không phải Bác chỉ thấy ở nhân dân lao động thuộc địa cuộc đời đầy oan khốc, Bác còn thấy họ là những người khẳng khái, thương nước yêu nhà, và dũng cảm phản kháng cái chế độ thuộc địa bất lương ấy. Những người phụ nữ có chồng con, cha anh bị giam cầm, đã vượt mọi gian nguy đến thăm họ: "Tất cả cái đám người đã kiệt sức ấy mang theo đủ mọi thứ, nào nón, nào quần áo rách, cơm nắm… để lên đưa cho người bị can, là cha, là chồng". Đó là những người nông dân "nổi lên chống tạp dịch", là những người Lào bỏ nhà bỏ cửa trốn đi, không chịu đi phu cho gỉặc, là "những vụ biến động lừng danh năm 1908 và năm 1916" ở Việt Nam. Đặc biệt, trong chương XII, Nô lệ thức tỉnh, tác giả đã kết thúc tác phẩm bằng hình ảnh đầy hứa hẹn của Trường Đại học Phương Đông, trên đất nước Liên Xô, một dấu hiệu của kỉ nguyên mới của các dân tộc bị áp bức. Tóm lại, với Bản án chế độ thực dân Pháp của Hồ Chủ tịch, một nhân vật tích cực đã ra đời trong văn học hiện đại: nhân vật đại diện cho các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa vùng dậy làm cách mạng, đại diện cho một lực lượng cách mạng hiện nay đang làm chọ chủ nghĩa đế quốc suy yếu và tan vỡ, và thúc đẩy quá trình diệt vong của nó; một nhân vật anh hùng mà giản dị, gian khổ mà trong sáng, kiên cường, bất khuất, một lòng thủy chung với cách mạng.Xem thêm: Cảm nghĩ của em về tình bạn thời học sinhVanmau.edu.vn
Cái nhìn của tác giả Nguyễn Ái Quốc đối với các dân tộc bị áp bức được thể hiện qua Bản án chế dộ thực dân Pháp
1,187
Cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu trời Gợi ý Tản Đà – nhà thơ “gạch nôi giữa hai thế kỷ”, nhắc đến thi nhân là nhắc đến “sầu và mộng”, “ngông và đa tình”. Bốn mặt của một thi sĩ đủ để làm nên một cái tôi riêng trong làng thơ Việt Nam. Nhưng có lẽ, nhắc đến cái tôi độc đáo của nhà thơ núi Tản sông Đà ta vẫn thường trầm trồ cái ngông hơn cả. Trong “Hầu trời”, thi nhân đã thể hiện một cái tôi ngông rất lạ (lạ so với những nhà thơ “ngông có tiếng” thời trước), lạ đủ để làm nên nét riêng độc đáo. Trong sáng tác văn học, không phải ai cũng thể hiện được cái tôi của mình trên trang viết. Cái tồi gắn với cá tính sáng tạo của mỗi người cầm bút. Điều đó đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái riêng có giá trị thẩm mỹ cao có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung. Nhắc đến cái “ngông”, thuật ngữ này được dùng để chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác với thói thường của các nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ. Trước Tản Đà đã có một “dòng” thơ “ngông” mà những nhà thơ như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… truyền nhau tiếp nôi. Tản Đà kế thừa cái “ngông” ấy nhưng lại có thêm những nét riêng do thời đại tác động, ảnh hưởng. Và cái “ngông” ấy trong “Hầu trời” đã tạo ra cho nhà thơ một cái tôi độc đáo. Nhà thơ ý thức sâu sắc về tài năng của mình. Nhưng không phải tự nói về mình, tự khen mình như Nguyễn Công Trứ: “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Giả định một tình huống kỳ lạ, nhà thơ “lập lờ đánh lận con đen” để “người khác” khen mình cho có vẻ khách quan: “Đêm. qua chẳng biết có hay không Chẳng phải thảng thốt không mơ màng Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể Thật được lên tiên sướng lạ lùng!”. Nói như Xuân Diệu, chỉ câu đầu “có vẻ khách quan”, ba câu sau “ăn hiếp người ta” buộc người đọc phải tin chuyện thi nhân lên tiên là có thực.Xem thêm: Ăn mặc có nói lên cá tính của bạn Lên tiên để làm gì? Để “thế gian” thấy rằng tài năng của nhà thơ chẳng những chư tiên khen nức nở mà đến Trời còn say mê ngây ngất! Chà! Tài năng đến độ trần gian ít có đã đành, còn đến mức Trời lại vời lên đàm đạo, sai đọc quả là hiếm hoi. Tài năng vang đến trời thì con người ấ’y khác nào một vị tiên sánh cùng trời đất? Không chỉ vậy, chư tiên và cả Trời đều say mê, yêu thích thơ của thi sĩ. Chư tiên đến đông đúc, đầy đủ như đến chiêm ngưỡng “thần tượng”!: “Bỗng thấy chư tiên đến thật đông Chung quanh bày ghế ngồi la liệt Tiên bà, tiên cô, cùng tiên ông”. Và thơ ca của nhà thơ có một tác động sâu sắc đến người nghe. “Trời nghe, trời cũng lấy làm hay” “Trời lại phê cho “văn thật tuyệt!” Trời đã vậy, tiên càng xúc động mạnh mẽ hơn: “Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày”. Điều đó cũng chẳng có gì là lạ, bởi thơ thi nhân hay lắm kia mà: “Văn dài hơi tốt ran cung mây” “Văn trần được thế chắc có ít Nhài văn chuốt dẹp như sao băng Khí văn hùng mạnh như mây chuyển” Được trời nức nở khen, Tản Đà “tranh thủ khoe”: “Bẩm: Con không dám man của trời” và liệt kê ra những tuyệt phẩm: Khối tình con, khối tình lớn… đủ mọi loại thể văn vần, văn xuôi… Thật đa dạng, phong phú! Bịa ra chuyện lên hầu Trời, Tản Đà mượn lời khen của Trời để tự khen mình. Nhà thơ xưng tên đầy kiêu hãnh “Con tên Nguyễn Khắc Hiếu/ Sông Đà núi Tản nước Nam Việt/ ở phía Á châu của địa cầu". Đầy đủ họ tên, địa chỉ một cách quá đáng như thế chỉ nhằm khẳng định sự cá biệt về tài năng: một tài năng có một không hai trên thế gian. Chưa hết, tài năng được khẳng định chốn thiên cung đã chứa một hàm ý: nhà thơ cũng như tiên. Mặt khác, bằng những ngôn ngữ rấ’t nôm na, đời thường, thi nhân coi những đấng siêu nhiên như những đối tượng rất đỗi bình dân, thậm chí ngang hàng với mình. Điều này thực trước đến nay chưa hề có! Trời có tư thế, cách thức dáng điệu thật buồn cười: “Trời cũng bật buồn cười”, chư tiên như đám đông huyên náo thậm chí lộn xộn “Chư tiên ao ước tranh nhau dặn” rồi họ cũng bình dân hết mức “lè lỡi” “chau mày” “vỗ tay”… “Ngông” như Nguyễn Công Trứ còn cúi mình trước vua chúa, nói chi đến Trời? Nhưng Tản Đà cái chi chi cũng là vung hết!Xem thêm: Nhà văn Nga Lêônít Lêônốp có nói: "Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung". Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên Không chỉ vậy, trước Tản Đà không ít người khoe tài nhưng họ đều khoe tài “kinh bang tế thế”. Nguyễn Công Trứ “Vũ trụ nội mạc phi phận sự… Khi Thủ khoa khi Tham tán khi Tổng đốc Đông”. Nhưng ở Tản Đà, thi nhân “chuyên” về khoe tài thơ văn, nghệ thuật “Nhời văn” “khí văn”… tịnh không khoe thêm tài nào khác. Điều này chứng tỏ Tản Đà đã ý thức sáng tác thơ vãn cũng là một cái “nghề” chuyên biệt, có giá trị và cao quý như mọi chức danh khác trong xã hội. (Nhà thơ còn hiểu văn chương cũng là nghề kiếm sống mới “Văn con còn bán được” “Vốn liếng còn một bụng văn đó”). Khoe tài, phải lên tận trời để đọc văn thậm chí tính chuyện lên trời bán văn “gánh văn lên bán chợ Trời”, Tản Đà còn khẳng định một điều: Trần gian chẳng có ai đáng là kẻ tri âm, tri kỷ của mình ngoài Trời và Chư tiên đâu còn ai? Sự thích thú, niềm sung sướng của nhà thơ khi thấy “Chư tiên ao ước tranh nhau dặn”. Dặn gì? Dặn để “đặt hàng” thi phẩm của Tản Đà! Điều đó chứng tỏ có lẽ đây là những người đầu tiên (và duy nhất!) cảm được cái hay cái đẹp của văn thơ Tản Đà. Nơi trần gian, văn chương ế ẩm “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” bởi chẳng kẻ nào trân trọng hiểu được giá trị văn chương nhưng chốn trời mây này ai ai cũng yêu cũng quý. Thậm chí Trời còn sốt sắng bảo nhà thơ gánh văn lên “bán chợ Trời!”. Tiến lên một bước, nhà thơ khẳng định mình là một vị “trích tiên” bị “đày xuống hạ giới vì tội ngông”! Hình như ông sợ không ai hiểu hết làm ý của mình ở những ý thơ trước nên phải để Trời nói thẳng ra ý ấy. Văn học thế giới mới chỉ có một vị “trích tiên”, ấy là Lý Bạch. Nay Tản Đà nhận thêm có mình, điều đó không có ý sánh mình với Lý Bạch. Mà nếu có sánh thì thậm chí hơn Lý Bạch bởi Lý Bạch do giới văn chương phong tặng người trần ngợi ca, còn Tản Đà, đích thân Trời thừa nhận thì khác đi thế nào được! Ớ đây, nhà thơ “chỉ” muốn khẳng định tài năng và thân phận “khác thường” của mình mà thôi.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Thạch Sanh. Sự khác thường đặc biệt này còn nằm ở việc thi sĩ được thừa nhận là người nhà Trời, được sai xuống hạ giới thực hiện sứ mệnh cao cả: “việc thiên lương của thiên hạ”. Trách nhiệm nặng nề ấy được chuyển tải qua ý thơ, lời thơ thi sĩ. Quay đi quay lại, cuối cùng nhà thơ vẫn muôn khẳng định, tự khen thơ mình! Thơ thi nhân chẳng những đẹp đẽ, êm ái mà còn ẩn chứa những ý niệm cao siêu về cuộc đời, về thiên lương, nhân sinh quan, thế giới quan… Tóm lại là tất cả những gì nhân loại cần có để vươn tới cái Đẹp, cái Thiện, cái Mỹ. Đó giông như một cuốn kinh thánh, nhà nhà người người cần tụng niệm! Rõ ràng, khoe cái tài văn chương của mình, nhà thơ đã rũ bỏ được quan niệm nặng nề: tài phải gắn với chức danh kinh bang tế thế “có danh gì với núi sông”. Rũ bỏ được điều ấy, Tản Đà thực sự thăng hoa trong thế giới nghệ thuật, tung tẩy hơn với cái tự do cá nhân mới mẻ của riêng mình. Kế thừa nét “ngông” của “truyền thống” nhưng ở Tản Đà có cái tôi riêng trong thể hiện và quan niệm. Điều đó càng khẳng định tài năng và vị trí của thi nhân trong nền văn học nước nhà; một gạch nối không thể thiếu giữa hai thế kỷ, hai thời đại thi ca. Vanmau.edu.vn
Cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu trời
1,552
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ thể hiện qua “Bài ca ngất ngưởng” Gợi ý Văn học Việt Nam thế kỉ XIX được đánh dấu bằng sự tỏa sáng của nhiều cá tính sáng tạo độc đáo. Nguyễn Công Trứ cũng góp thêm tên mình trong số đó bởi một cái tôi ngông ngạo đặc biệt. Cái "ngông" đó của nhà thơ được thể hiện rất rõ trong bài thơ "Bài ca ngất ngưởng". Vũ trụ nội mạc phi phận sự Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng Khi Thủ khoa, khi Tam tán. Khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng Lúc bình Tây cờ đại tướng Có khi về Phủ doãn Thửa Thiên Đô môn giải tổ chi niên Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng. Kìa núi nọ phau phau mây trắng Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng Được mất dương dương người tái thượng, Khen chè phơi phới ngọn đông phong. Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng Không Phật, không Tiên, không vướng tục. Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú, Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung Trong triều ai ngất ngưởng như ông! Bài ca ngất ngưởng thuộc thể hát nói, được sáng tác sau 1848, khi Nguyễn Công Trứ đã cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do nhàn tản. Bài thơ là bản tự thuật, tự bạch về một cuộc đời, được nâng lên tầm triết lý sống. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ sống của Nguyễn Công Trứ ở giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm đắng cay của cuộc sống quan trường. Đó là thái độ coi thường danh lợi, vượt lên thói thường để sống cuộc sống tự do tự tại. Giữa cái xã hội mà mọi cá tính đều bị thủ tiêu thì cái tôi "ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ chẳng những bộc lộ một bản lĩnh cứng cỏi, sự thức tỉnh ý thức cá nhân mà còn thể hiện rõ một nhân sinh quan tiến bộ hiện đại. Bằng giọng điệu khoa trương, ý vị trào phúng đặc biệt của thể thơ hát nói, bài ca đã tạc nên một bức chân dung Nhà thơ – Nhà nho tài tử đầy cá tính giữa đám triều thần phàm tục. "Ngông" được hiểu là tỏ ra bất cần sự khen chê của người đời bằng lời nói và việc làm. Trong văn học, "ngông" được hiểu là thái độ sống vượt lên trên sự bình thường, hộc lộ cá tính riêng của bản thân. Trong "Bài ca ngất ngưởng", cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ thể hiện ngay từ nhan đề bài thơ. Ngất ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh, bất ổn định, ớ bài thơ này, từ ngất ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thường, vượt lên thói thường, coi thường dư luận. Ngoài nhan đề, từ "ngất ngưởng" được nhắc đi nhắc lại 4 lần ở cuối các khổ thơ trở thành một biểu tượng cho một phong cách sống, thái độ sống vượt thế tục, một lối chơi ngông thách thức xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ tài năng và nhân cách cá nhân. Cái "ngông" của nhà thơ đã được thể hiện đầy đủ qua thái độ sống "ngất ngưởng" giữa cuộc đời.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi để thấy rõ những cảm hứng vế đất nước của nhà thơ Cái "ngông" thể hiện trước hết khi ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng, có nghĩa là sự ngất ngưởng khi Nguyễn Công Trứ đã bước vào hoạn lộ, ông đang “đắc chí”. Làm nên sự ngất ngưởng lúc này là tài và chí. Cũng như tất cả những nhà nho dấn thân hành đạo, Nguyễn Công Trứ lập chí ỗ việc “kinh bang tế thế” (trị nước giúp đời). Đó là sự nghiệp, đương nhiên có công ắt có danh. Nguyễn Công Trứ đã coi điều đó – công danh – là lẽ sống: “Không công danh thà nát với cỏ cây”-, đã làm trai đứng trong trời đất “phải có danh gì với núi sông”. Với một quan niệm “chí làm trai” như thế, Nguyễn Công Trứ đã “vơ” tất cả mọi việc trong thiên hạ vào phận sự của mình: Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Cũng không mấy nhà nho hào phóng tự tin đến thế trong việc trong việc tự nhận trách nhiệm với đời. Và quả thật trong 28 năm, từ khi thi đỗ đến khi nghỉ quan, Nguyễn Công Trứ đã chứng tỏ tài thao lược của mình. Ông đã liệt kê hàng loạt sự việc lớn: Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông… Lúc bình Tây, cờ Đại tướng, Có khi về Phủ doãn Thửa Thiên. Tất cả, Nguyễn Công Trứ đã thực hiện một cách “ngang ngửa với đời”: Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng. Nguyễn Công Trứ đã tỏ ra tự bằng lòng về mình! Ngất ngưởng là một từ tự khen, thể hiện sự đánh giá cao tài năng, nhân cách và cả phong cách cá nhân mình trong thời gian ở cương vị mà những con người thiếu bản lĩnh rất dễ bị tha hóa: quyền cao chức trọng. Tuy nhiên, đối với Nguyễn Công Trứ, công danh không chỉ là vinh mà còn là nợ, là trách nhiệm. Vì thế ông đã coi đó là sự “dấn thân”, tự nguyện đem tự do, tài hoa nhốt vào vòng trói buộc: Ồng Hy Văn tài bộ đã vào lồng. Nguyễn Công Trứ đã “ngang trời dọc đất” nhưng bằng sự từng trải trong cuộc đời nhiều thăng trầm, nhìn lại ông đã nhận ra tất cả đều không hẳn là quan trọng, vững bền và dường như còn không hoàn toàn nghiêm chỉnh, cũng gần như một thứ trò đùa. Không hẳn là Nguyễn Công Trứ phủ định công tích của mình nhưng ông đã nhìn nó với một cái nhìn có phần khinh bạc. Từ quan là sự kiện thông thường nhưng lại là một việc hết sức hệ trọng, một bước ngoặt trong đời đối với một người làm quan mà lại là quan to như Nguyễn Công Trứ. Nhưng với ông thì chuyện đó cũng chẳng đáng bận tâm. ông không lưu luyến gì và rất muôìi phủi sạch tay trước khi ra về. Khi xin về hưu, ông đã làm đơn nộp trả lại hết bằng sắc cho triều đình và ngày “đô môn giải tổ” chỉ còn đọng lại duy nhất trong ông một sự kiện ngất ngưởng:Xem thêm: Phân tích hai câu thơ đầu của bài thơ "Chiều tối” (Hồ Chí Minh): "Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ/ Cô vân mạn mạn độ thiên không" (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ/ Chòm mây lơ lửng giữa tầng không)Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng. Nguyễn Công Trứ đã làm một việc ngược đời, đã bày ra một đốì nghịch: kinh thành đầy võng lọng, ngựa xe nghiêm trang, còn ông thì ngất ngưởng trên lưng con bò vàng nghênh ngang đủng đỉnh! Không những thế, con bò của ông cũng biểu hiện một sự trái khoáy: đã là bò, một loài vật thấp kém, lại còn là bò cái, nhưng được trang sức bằng đạc ngựa – đồ trang sức sang trọng của ìoài gia súc cao quý. Tương truyền Nguyễn Công Trứ còn cho buộc mo cau vào đuôi bò ở cái chỗ cần che nhất với một tuyên ngôn ngạo ngược: “để che miệng thế gian”! Nguyễn Công Trứ đã trêu ngươi, khinh thị cả thế gian kinh kỳ. Không những riêng ông mà cả con bò vàng của ông cũng ngất ngưởng. Chẳng những đủng đỉnh, ngông nghênh trên lưng bò ông còn muốn chơi ngông với cả Phật! Nguyễn Công Trứ nghỉ quan, cương vị, chức phận và cuộc sống đã thay đổi, mà thay đổi sâu sắc: một ông tướng quyền sinh quyền sát “tay kiếm cung” đã trở thành một ông già mang dáng từ bi. Nguyễn Công Trứ đã để lại đằng sau cả một thời vùng vẫy ngang dọc, còn phía trước, chờ đón ông, dường như là một sự trông vắng: chỉ có núi Đại Nại quê ông với những tầng mây trắng phau: Kìa núi nọ phau phau mây trắng. Câu thơ trữ tình, gợi một chút bâng khuâng, thoáng ý vị chua chát. Hình ảnh những làn mây trắng – rất trắng – trên đỉnh núi gợi nhiều liên tưởng. Nó biểu tượng cho những gì rất thanh, rất cao nhưng nhẹ tênh, mong manh và vô định. Tất cả sẽ là hư vô chăng, “bạch vân thương cẩu” (mây trắng biến ra hình chó xanh) chăng? Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ vốn là một tính cách mạnh, sự bâng khuâng triết học đó không dừng lại lâu trong ông. Ông đã nhanh chóng chọn lối sống phá cách đủ để “thích ý”: Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi. Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì, Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng! Ở đây cũng vậy, giữa Nguyễn Công Trứ và thế gian lại diễn ra những điều trái ngược: dạng từ bi nhưng lại sống tiên cách. Nguyễn Công Trứ đã không đi tu khổ hạnh, cũng không theo những phương pháp nghiên cứu Thiền học để tìm đến sự giác ngộ mà trái lại ông sống phóng túng, thảnh thơi, vui vẻ. Những cuộc dạo chơi, cả khi lên chùa theo sau ông, cũng có vài bóng “hường hường yến yến”. Tuy nhiên lúc này Nguyễn Công Trứ dường như không còn “hết mình” trong những cuộc hành lạc “Chơi cho thủng trống long bồng”. Trạng từ đủng đỉnh, số từ không xác định một đôi rất có giá trị gợi tả, giúp cho người đọc hình dung ra một nhóm người thủng thẳng du ngoạn, kể cả lên chùa, trong đó có sự trang nghiêm của ông già và sự nhũng nhẵng của những cô gái trẻ. Đó quả là một hiện tượng “trái mắt” nhưng nó chỉ đủ để biểu thị sự trêu ngươi, bất cần của tác giả chứ không thể đủ để lên án ông “đắm say tửu sắc”. Chính vì thế Bụt cũng phải bật cười – một nụ cười vừa như khoan dung vừa như chấp nhận.Xem thêm: Tả quả chuối trong vườn nhà em Có thể nói Nguyễn Công Trứ tự coi sự ngất ngưởng là nét độc đáo, khác đời của nhân cách ông. Ở các đoạn trên, Nguyễn Công Trứ đã định nghĩa con người mình từng giai đoạn: một tay ngất ngưởng ở quan trường, một cách làm ngất ngưởng khi nghỉ quan và một cách sống ngất ngưởng khi đã là một là một hưu quan. Đoạn này, Nguyễn Công Trứ đánh giá con người mình một cách tổng quát, toàn diện, ông là một người không quan tâm đến chuyện được mất, không bận lòng về sự khen chê, có những khi hành lạc: uống rượu, cô đầu con hát, nhưng rốt cuộc lại ông không phải là người của Phật, của Tiên mà vẫn là một con người của cuộc đời, duy có điều: không vướng tục. Người như thế thật là một nhân cách, một bản lĩnh cao, đã “chấp” tất cả, đã không để lụy và khinh thị tất cả những gì của thói thường. Tuy vậy, cuối cùng Nguyễn Công Trứ vẫn là một nhà nho, mặc dù các bậc “phương diện quốc gia” không ưa ông và ông cũng không ưa được họ, ông vẫn luôn bày ra những sự trái ngược với họ song trong phần sâu thẳm của tâm hồn, Ịí tưởng mà ông theo đuổi suốt đời không thể nào từ bỏ vẫn là lòng trung quân, giúp đời: Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phương Hàn, Phú, Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung. Tổng kết cuộc đời mình, Nguyễn Công Trứ tự cho rằng hai điều quan trọng nhất đối với kẻ nam nhi là trách nhiệm “kinh bang tế thế” và đạo nghĩa vua tôi. Ông đã giữ được trọn vẹn, đã thực hiện một cách xuất sắc, sánh được với những danh tướng thời xưa. Chính vì vậy, Nguyễn Công Trứ dám ngông ngạo buông một câu khẳng định chắc nịch đầy vẻ thách thức: Trong triều ai ngất ngưởng như ông! Thơ Nguyễn Công Trứ phong phú, nhiều vẻ. Bài ca ngất ngưởng có một vị trí đặc biệt. Nó vừa là lời tuyên ngôn về quan niệm, phong cách sống, vừa tự khẳng định về nhân cách, sự nghiệp của chính mình. Chính nhờ bài thơ này với những đặc sắc nghệ thuật của nó mà hậu thế định hình một chân dung Nguyễn Công Trứ: một con người ngất ngưởng, một cái tôi ngông ngạo vượt lên trên lối sông bình thường của những cuộc đời lặng lẽ giữa sự sôi động của đời sống xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Vanmau.edu.vn
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ thể hiện qua “Bài ca ngất ngưởng”
2,176
Câu ca dao quen mà lạ: Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi? Gợi ý Khi lớn lên, không biết tôi đã thuộc tự bao giờ câu ca dao: Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi? Tôi đọc lên và câm thấy nó hay, nhưng không biết hay ở chỗ nào! Lúc còn đi học phổ thông, có lần tôi nghe cô giáo dạy văn nói về cảnh đẹp ở nông thôn Việt Nam, cô nhắc đến câu ca dao ấy. Cô nói, dưới ánh trăng trong đêm, trên cánh đồng nông thôn, có hình ảnh cô gái làng đang tát nước, tự bản thân cảnh trí ấy gợi lên một nét đẹp thanh bình. Đến với câu ca dao trên bằng suy nghĩ của mình, bây giờ tôi mới chợt nhận ra, phải chăng người ta thầm khen người con trai tỏ tình tế nhị, thông minh? Bởi hình tượng câu ca dao đã lồ lộ rõ ràng: trong đêm, có ánh trăng vàng toả sáng, trùm lên khắp cánh đồng. Trên đồng ruộng ấy, có con đường chạy ngang qua. Bên đường đi, có cô gái làng đang tát nước. Tất nhiên ở đây cô đứng tát một mình (chắc tát gàu sòng). Trên đường có người con trai đi tới, thấy hình ảnh, động tác của cô trong đêm, anh rung cảm và không kìm chế nổi, nên buột mồm đánh bạo gọi cô: "Hởi cô tát nước bên đàng". Nghe gọi, cô gái dừng gàu ngoảnh lại nhìn anh, chờ nghe anh nói tiếp. Nhưng rồi, anh con trai bây giờ mới đâm ra lúng túng, anh không thể nói ra được cái điều mà anh muốn nói. Không lẽ anh mở miệng khen: "Sao cô tát nước đẹp quá chừng cô ơi" chẳng hạn. Nếu khen như thế thì nghe nó trơ trẽn, nó sỗ sàng làm sao! Trong tình huống ấy, anh bèn chỉ lệch tay xuống nước, hỏi một câu tưởng chừng hết sức vu vơ: "Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?". Ui chao! Múc ánh trăng vàng đổ đi thì mặc người ta, việc gì đến anh! Thế thì buồn cười thật, hỏng hết! Mới nghe qua, tưởng anh là kẻ vụng về, anh muốn đánh một đòn lạc hướng để gỡ thế nguy… Nhưng thật ra, người nghe ngẫm lại mới thấy ngấm dần. Trên cánh đồng trong đêm ấy, trên trời có ánh trăng vàng chiếu xuống, dưới nước, có ánh trăng vàng sóng sánh, lung linh. Đúng là nét đẹp dịu êm mà thiên nhiên ưu đãi cho con người, cho anh, cho cô. Anh yêu cái đẹp. Ánh trăng vàng đẹp quá! Còn cô, tại sao cô lại "múc ánh trăng vàng đổ đi?" nghĩa là cô múc cái đẹp đổ đi, có ác không chứ! Anh hỏi cô. Hỏi thì hỏi, nhưng đã ngầm một lời can ngăn: đừng múc, đừng đổ. Một câu hỏi mà ngầm một lời khuyên: Cô ơi, đừng múc cái đẹp đổ đi, mà cô hãy dừng gàu lại. Nhưng dừng gàu lại để làm gì mới được cơ chứ?! Đấy, bây giờ mới vỡ lẽ ra… anh muốn người ta dừng gàu, đừng tát nữa, để nói chuyện với anh, thế thôi. Xem thêm: Sách vở là những đồ dùng vô cùng quan trọng đối với người học sinh. Em hãy nêu những cảm nghĩ của mình về sách vở em đọc và học hàng ngày Ôi! Anh khôn khéo lắm, anh đáo để chẳng vừa, anh mượn ánh trăng vàng để thổ lộ chuyện trái tim anh, gớm chưa! Thật là một lời gợi chuyện – một câu mở đề tuy bóng bẩy mà cũng sát sườn, tỏ ra anh là người tế nhị, thông minh, đỡ cho cái bỡ ngỡ ban đầu. Câu ca dao không khép lại, mà mở ra cho người đọc bước tới, cái bước đầu tiên trông rất nhẹ nhàng, khéo léo, có duyên. Về mặt tình cảm, thanh niên Việt Nam có truyền thống thật thà, chất phác và họ cũng rất tế nhị, thông minh. Tình yêu của họ bao giờ cũng kín đáo, mặn mà, duyên dáng đáng yêu. Lời tỏ tình của họ thường hết sức tế nhị, kín đáo mà có lần ta cũng bắt gặp ở người con gái khi thấy người mình thương: Thò tay ngắt một ngọn ngò Thương anh đứt ruột, giả đò ngó lơ Đúng ra, cái ngó lơ ấy là cả một tâm hồn ngó thẳng đấy mà. Cũng như cái lúng túng của người con trai ở trên lại là cả một sự bạo dạn, muốn người ta dừng gàu để nói chuyện với mình, thế mà dám trách người ta sao "múc ánh trăng vàng đổ đi". Vanmau.edu.vn
Câu ca dao quen mà lạ_ Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi_
800
Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì? Gợi ý Câu nói của M.Gorki vận dụng lối diễn đạt rất logic: Hãy yêu sách – sách là tri thức – tri thức là con đường sống. Vậy nhà văn Nga lỗi lạc muốn nhắn nhủ với người đọc rằng: Hãy biết yêu sách vì đó là con đường sống của nhân loại. Vậy sách là gì? Trước đây, khi chưa có giấy, người cổ đại thường viết lại những hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân lên giây papyrus (người Ai Cập), mai rùa, thân trúc (người Trung Quốc), đất sét, xương động vật (người Lưỡng Hà). Đó là cách đo đạc ruộng đất, cách xây dựng Kim tự tháp, các cuộc chiến tranh… Khi giấy viết ra đời, những hiểu biết ấy lại được sao chép và lưu truyền rộng rãi. Chúng được gọi là sách – là nơi lưu giữ những kho tàng tri thức nhân loại. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, sách trở thành nơi kết tụ những hiểu biết phong phú, đa dạng của con người về tự nhiên và xã hội. Những công thức toán học, những thí nghiệm vật lí, hóa học… giúp con người khám phá thế giới còn được lưu lại trong sách. Nhờ sách, ta biết đến ơclit, Pitago, Edison, Giêm Oát… biết đến những vườn treo, những Kim tự tháp, những bóng đèn điện, đầu máy hơi nước… Cũng nhờ sách, ta biết đến những đất nước xa xôi, hiểu được các phong tục tập quán, các nền văn hóa, các mối quan hệ xã hội phong phú, đa dạng… Đó là dân tộc Nhật giàu ý chí nghị lực; dân tộc Trung Hoa thâm thúy, sâu sắc; con người Vương quốc Anh lại “phớt Ăng-lê” rất độc đáo… Đó còn là đạo Phật từ bi hỉ xả, là đạo Lão thần bí cao siêu, đạo Thiên Chúa bác ái nhân văn… Có thể nói, sách là nguồn tri thức vô tận giúp con người hiểu biết tận tường về thế giới bao la.Xem thêm: Chứng minh văn học của dân tộc luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn Nhưng tại sao chỉ có tri thức – chỉ có sách mới là con đường sống? Sống là quá trình con người tác động vào thế giới tự nhiên và xã hội để tạo ra giá trị vật chất và tinh thần phục vụ đời sống cho bản thân và xã hội. Vậy muốn chinh phục đối tượng ấy phải có hiểu biết về chúng và tri thức chính là phương tiện giúp đỡ con người trên hành trình gian khó ấy. Thật vậy, muốn trồng được cây lúa cho hạt thóc hạt gạo, người nông dân phải có hiểu biết về giống lúa, về cách cấy cày, chăm bón, gặt hái. Muốn làm được chiếc máy, người công nhân phải biết cách chế tạo các chi tiết máy, cách lắp ráp các bộ phận… Muốn dựng được một tiết mục múa người nghệ sĩ phải hiểu biết về văn hóa, về các động tác múa, về âm nhạc,… Muốn quản lí một doanh nghiệp, người giám đốc phải hiểu về cách thức quản lí, có tri thức về vấn đề nhân sự, về công việc… Có thể nói, tri thức là cây cầu dẫn đến sự sống và những cuốn sách đã hiến thân mình để làm nên những nhịp cầu ấy. Sách có vai trò quan trọng như vậy, vậy chúng ta cần có thái độ như thế nào với sách? M.Gorki đã nhắn nhủ: “Hãy yêu sách”. Đúng vậy, hãy biết nâng niu, gìn giữ những cuốn sách và đọc hiểu chúng. Cha ông ta từng nói: “Mười kho vàng không bằng một nang sách”. Chính bởi những điều quí giá mà con người thu lượm được khi đọc sách. Và điều quan trọng là chúng ta cần biết cách đọc sách cũng như chọn lựa sách để đọc. Đọc sách có phương pháp mới giúp ta đọc nhanh, đọc nhiều và nắm được thông tin cần thiết. Đọc sách cũng cần chọn lọc để tránh đọc phải sách mang nội dung xấu.Xem thêm: Phân tích bài thơ Ngắm Trăng của Hồ Chí Minh Là những người còn đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa có nhiều hiểu biết cũng như kinh nghiệm cuộc sống, với người học sinh, việc đọc sách vô cùng quan trọng. Chúng ta đọc sách giáo khoa, đọc các sách tham khảo, đọc báo… Đó chính là chìa khóa giúp chúng ta mở cánh cửa vào cuộc sống. Vanmau.edu.vn
Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì_
802
Câu tục ngữ Lá lành đùm lá rách gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về truyền thống đạo lí của dân tộc ta? Hướng dẫn Tham khảo những ý sau cho bài viết: – Giải thích: + "Lá": hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho con người. + "Lành": nghĩa đen là còn nguyên, không bị sứt mẻ, rách hoặc tổn thương; nghĩa bóng là đầy đủ, giàu có, sung sướng… + "Rách": đối lập lại với lành. + "Đùm": nghĩa đen là bọc tạm hoặc buộc túm lại; nghĩa bóng là bao bọc, che chở, giúp đỡ… Câu tục ngữ nói về việc những người có cuộc sống đầy đủ, sung sướng nhưng không giữ điều đó cho riêng mình mà quan tâm, chia sẻ, đùm bọc, giúp đỡ những người nghèo khó, bất hạnh. Đó là một truyền thống đạo lí tốt đẹp của nhân dân ta từ xưa đến nay. – Phân tích, chứng minh: + Trong xã hội luôn có sự phân hoá giàu nghèo. Bên cạnh những người giàu có nhưng ích kỉ, thì cũng có nhiều người có cuộc sống giàu sang, phú quý nhưng luôn biết chia sẻ tiền bạc, của cải, tình cảm… của mình đối với những người kém may mắn, nghèo khó để giúp họ có cái ăn, cái mặc hoặc vững tin để vượt qua những giai đoạn khó khăn trong đời sống, vươn lên có cuộc sống no đủ. Đó là truyền thống nhân đạo hay tinh thần tương thân, tương ái của nhân dân ta. + Trong xã hội hiện nay, có nhiều việc làm từ thiện của những người giàu có thành đạt hoặc của những người tuy không giàu có nhưng luôn muốn san sẻ những gì mình có, dù ít ỏi, cho những người nghèo khổ, kém may mắn hơn mình (do thiên tai, ốm đau, thất nghiệp,…). + Tục ngữ còn có câu: Một miếng khi đói bằng một gói khi no, Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, Thương người như thể thương thân… Một sự chia sẻ, đùm bọc, giúp đỡ.:, về vật chất và tinh thần (dù ít ỏi) đối với những người sa cơ lỡ vận hoặc khó khăn luôn là nguồn động viên, an ủi, khích lệ để họ tiếp tục duy trì cuộc sống và vươn lên. Hơn nữa, việc chia sẻ, giúp đỡ người khác cũng làm "người cho" nhận được niềm vui, niềm hạnh phúc. – Bàn luận, đánh giá: Câu tục ngữ đã nêu lên một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Truyền thống đó vẫn luôn được giữ gìn và phát huy cho đến ngày nay. Mỗi người hãy biết sống vì người khác, "mình vì mọi người, mọi người vì mình", tránh thái độ thờ ơ, vô cảm, lạnh lùng, ích kỉ trước những cảnh đời bất hạnh, nghèo khổ để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Bài làm tham khảo Thực tế lịch sử đã cho thấy trong bốn ngàn năm sống còn trên dải đất bên bờ biển Đông đầy sóng gió này,dân tộc Việt Nam chúng ta đã từng gánh chịu biết bao là thiên tai,dịch họa vô cùng ác liệt.Phép lạ nào đã giúp tổ tiên chúng ta vượt qua được mọi khó khăn,điêu đứng ấy để đứng vững cùng bè bạn năm châu? Phải chăng là ở sức mạnh của tinh thần đoàn kết,tương trợ lẫn nhau? Phải chăng là nhờ nhân dân ta đã thực hiện đúng như câu tục ngữ mà từ bao đời nay cha ông ta đã truyền đời: “Lá lành đùm lá rách”? Nội dung chứa đựng trong câu ấy có thể xem như một bài học về đạo lí làm người,đồng thời phản ánh mối quan hệ tình cảm đậm đà trong xã hội ta ngày trước. Đọc câu tục ngữ ấy lên,chúng ta hình dung được ngay một hiện tượng rất bình thường trong sinh hoạt hàng ngày của nhân dân ta.Đó là dùng lá cây-lá chuối chẳng hạn-để gói hàng.Nếu lá bị rách,người ta sẽ lấy một tấm lá khác lành lặn bọc lại bên ngoài cho thêm chắc chắn. Đó là nghĩa đen,nghĩa thực của câu tục ngữ.Thế nhưng về mặt nghĩa bóng thì sao? Hình ảnh “lá lành”,”lá rách” ở đây tượng trưng cho con người trong những hoàn cảnh riêng khác nhau.”Lá lành” chỉ con người lúc yên ổn,thuận lợi,cuộc sống xuôi chèo mát mái.Trái lại “lá rách” chỉ con người lúc khó khăn,sa cơ lỡ vận.Bằng lối nói tượng trưng,dùng hình ảnh cụ thể và giản dị ấy,câu tục ngữ ngụ ý khuyên chúng ta nên biết chia sẻ,giúp đỡ,thông cảm,xót thương những người bị rơi vào cảnh ngộ cùng quấn,gieo neo. Xem thêm: Nghị luận về tình yêu biển đảo quê hương emVới nội dung vừa nói,câu tục ngữ trên đã biểu hiện mối quan hệ tình cảm tốt đẹp,đậm đà của nhân dân ta từ xưa trong xã hội.Thật vậy,đoàn kết tương thân tương ái vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.Ngoài câu tục ngữ trên,người xưa còn truyền đời các câu: “Chị ngã em nâng”. “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”. “Bầu ơi! thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”… Các câu trên đều khuyên nhủ ta hễ là đồng bào thì nên đoàn kết,hợp tác,chặt chẽ với nhau trong tinh thần tương thân tương ái,không nên thờ ơ,ngoảnh mặt,quay lưng trước nỗi bất hạnh của người khác mà trái lại phải luôn luôn quan tâm giúp đỡ,đùm bọc,chở che người khó khăn,thất thế.Những người giàu có nên thương yêu giúp đỡ cho những người nghèo khổ nhất là trong những khi họ gặp hoạn nạn tai ương như lụt lội,cháy nhà,bệnh tật… Những người có địa vị cao,trách nhiệm lớn nên tạo điều kiện,giúp đỡ quần chúng được sống một đời no ấm hạnh phúc.Đúng như tinh thần của người xưa đã từng khuyên dạy: “Thấy ai đói rách thì thương Rét thường cho mặc,đói thường cho ăn”. Trong đời sống xã hội,hoàn cảnh con người dễ thay đổi bất thường khi thành công,khi thất bại.Có cái tính thương người như thể thương thân ấy,thì cuộc sống xã hội mới tránh được mầm mống chia rẽ,xung đột,xây dựng được tình đoàn kết,tương thân,tương ái.Điều đó đủ cho thấy lòng nhân ái hay tình cảm nhân đạo chính là một phẩm chất tốt đẹp mà mỗi cá nhân cần phải có để lấy đó làm nền tảng xây dựng nên một xã hội bình đẳng,thân ái.Cũng phải thấy rằng thờ ơ trước nỗi đau bất hạnh của kẻ khác là một thói xấu,một thái độ ích kỉ,vô lương tâm. Trong đời sống còn nhiều khó khăn của buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay,hơn lúc nào hết,lòng nhân ái,tình cảm thương yêu,đùm bọc lẫn nhau ấy phải được nâng lên thành ý thức tự giác ở mỗi con người chúng ta. Câu tục ngữ được truyền tiếp bao đời nay đủ khẳng định truyền thống cao quý trong đạo lí làm người của dân tộc ta.Chính nhờ sự đoàn kết keo sơn,tinh thần tương thân tương ái đậm đà nên trải qua bao đời Bắc thuộc,Pháp thuộc,và Mĩ thuộc,nhân dân ta vẫn bảo vệ được nền độc lập,bảo vệ được sự sống còn vững mạnh cho đến ngày nay. Tuy nhiên chúng ta cần phải nhận định,đánh giá đúng tinh thần của câu tục ngữ này.Lá lành đùm lá rách nghĩa là người khỏe mạnh,bình yên phải giúp đỡ người yếu đuối,khó khăn là một bổn phận cần thiết nhưng phải không được xuất phát từ động cơ cá nhân thấp hèn và cũng không phải là hành động ban ơn trịch thượng kiểu bố thí mà nhất thiết phải bắt nguồn từ lòng nhân ái hay tình cảm nhân đạo mà chúng ta vừa phân tích ở trên.Cả người được giúp đỡ cũng vậy,không nên ỷ lại,hoàn toàn sống nhờ vào tình thương xót của người khác để trở nên thụ động,biếng lười.Họ phải vươn lên xứng đáng để làm nên mối quan hệ bình đẳng thân ái với người khác. Tóm lại,tình yêu thương đùm bọc nhau là một truyền thống đẹp đẽ về đạo lí làm người đã được dân tộc ta giữ vững và phát triển qua nhiều thế hệ,trải qua các giai đoạn lịch sử của đất nước,nhất là trong khó khăn,hoạn nạn,dịch họa,thiên tai. Ngày nay, truyền thống ấy cần được kế thừa và phát huy mạnh mẽ hơn nữa.Mỗi người chúng ta phải có ý thức đoàn kết tương ái,tương thân,tương trợ nhau trong sinh hoạt,học tập và sẵn sàng tích cực tham gia các công tác cứu trợ xã hội.Tuy nhiên,hơn ai hết,thanh niên chúng ta cần chống tư tưởng ỷ lại,đề cao tinh thần tự lực cánh sinh. Nguồn: thêm: Đất nước đang... Để tích cực, chủ động góp phần vào hướng đi đó của đất nước, thanh niên, học sinh cần suy nghĩ và hành động như thế nào
Câu tục ngữ Lá lành đùm lá rách gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về truyền thống đạo lí của dân tộc ta_
1,486
Cây bưởi quê em Gợi ý Nhắc đến Việt Nam, người ta thường chỉ nhớ đến những cây tre, cây chuối dân dã mà ít ai nghĩ đến cây bưởi – một loài cây cũng khá quen thuộc với người dân Việt Nam từ xưa đến nay. Bưởi cho hoa thơm, quả ngọt, vỏ bưởi còn dùng đế đun nước gội đầu cho các bà, các cô nữa. Đó là một loài cây có rất nhiều tác dụng. Đê trồng được một cây bưởi thì có rất nhiều cách, nhưng người ta thường chiết bưởi để trồng. Cách đó rất nhanh và hiệu quả: Khi chiêt nên chọn những cành nhiều lá, không cần thiết là phải có quả, khi cành đó mọc rễ, ta có thế lấy đi, cắm xuống đất để trồng. Bưởi chiết khi mới trồng sẽ rụng hết lá để bắt đầu một cuộc sống mới, một năm sau bưởi đã ra lá mới và hai, ba năm sau nó đã to cao hơn trước rất nhiều, có khả năng ra hoa kết quả được. Có rất nhiều giống bưởi ngon: bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi… Bưởi là loại cây ăn quả, rễ cọc, thân cành xù xì. Khi lớn bưởi có thể cao đến ba mét hoặc bôn mét, có nhiều cành, xum xuê. Lá bưởi rất đặc biệt, lá nhỏ ở gần cuống hình trái tim, lá to nối tiếp lá nhỏ hình bầu dục (trông rất giông "trâu lá đa" mà trẻ con nông thôn thường làm đế chơi). Bưởi ra hoa kết quá vào hai mùa: mùa thu và mùa xuân. Hoa bưởi trắng, năm cánh mịn uốn cong xuống dưới đế lộ ra nhị vàng, hoa cũng rất thơm nữa, một mùi thơm dịu, nhẹ nhàng, tinh tế. Bưởi có quả tròn, nhỏ, nhưng cũng có quả rất to, thường đê bày trên mâm ngũ quả.Xem thêm: Phân tích bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ của Thanh Hải hay nhất Cây bưởi gắn liền với cuộc sống của người dân Việt Nam. Bưởi chua thường rộ vào khoảng tháng 8 âm lịch – tức là mùa trung thu. Thật vậy! Trung thu phá cỗ mà không có bưởi là mất vui. Ngon nổi tiếng là bưởi Phúc Trạch ở Hà Tĩnh. Quả bưởi nhỏ, múi đều, ăn rất ngon. Vào đêm trung thu, các nhà thường bày mâm ngũ quả lên bàn thờ và bưởi là thứ quả không thế thiếu. Tết âm lịch là mùa ra quả của bưởi ngọt. Ngày Tết, nhà nhà đều mua bưởi về ăn để thưởng thức vị ngọt mát của bưởi, ăn nó như ăn cả mùa xuân vào lòng vào dạ. Cây bưởi còn có rất nhiều tác dụng khác nữa: lá bưởi, vỏ bưởi đun với hương nhu, lá sả có thể làm nước gội đầu cho thiếu nữ, rất sạch và thơm. Đó là thứ nước gội đầu được ưa chuông chỉ sau nước bồ kết mà thôi! Hạt bưởi còn có thế chữa rụng tóc nừa cơ! Và nếu vào một nhà dân mà vườn nhà đó trồng những cây bưởi sai trĩu trịt quả, thưởng thức mùi hoa thơm của bưởi ta mới thây trong lòng nhẹ nhõm và cảm thấy bưởi tuyệt vời biết bao. Cây bưởi đúng là một loại cây không thế thiếu đối với cuộc sống cùa người dân Việt Nam. Nó là một phần của những ngày lễ, ngày hội quan trọng ở Việt Nam. Nếu thiếu bưởi, cuộc sống của người dân Việt Nam hẳn sẽ thiếu đi nhiều điều thú vị.Xem thêm: Phân tích bài thơ bếp lửa của Bằng ViệtVanmau.edu.vn
Cây bưởi quê em
606
Cây chuối trong đời sống người Việt Nam Gợi ý Nói đên cây chuối, đã là người Việt Nam thì không ai là không biết. Cây chuối đã tồn tại cùng con người như một người bạn thân thiết. Có thể nói, cây chuối đã trở thành một thứ không thế thiếu trong đời sống người Việt Nam từ xưa tới nay. Chuối có tới năm bảy loại, nào là chuối hương, chuối ngự, chuối sứ, chuối mường, chuối tiêu… Mỗi loại chuối đều có hương vị thơm ngon riêng, tạo ra nét đặc biệt không thế lẫn với những loại khác. Thế nhưng các loại chuối đều mang vẻ bên ngoài giống nhau. Thân cây tròn, thấp, trơn bóng, to bằng cả cái cột đình. Lá cây xanh non, dài, to bản và các gân đối xứng nhau. Thế nhưng lá chuối khô lại có màu nâu, giòn và cứng. Bắp chuối có màu đỏ, thuôn dài, còn gọi là hoa chuối. Nõn chuối xanh non, mịn và mỏng. Mỗi cây chuối trưởng thành đều có – thế cho ta một buồng chuối. Tuỳ theo từng loại, có loại cho hàng trăm quả một buồng, có cả loại mỗi bụồng cho cả nghìn quả. Nhiều cây còn trĩu trịt quà từ ngọn xuống gốc. Để có được vai trò quan trọng như hiện nay trong đời sống của người Việt Nam, chuối đã "công hiến" cho đời sống vật chất không biết bao nhiêu. Thân cây thái nhỏ ra có thế làm thức ăn cho lợn rất tốt. Còn lá cây thì giúp ta trong các việc như là để gói xôi, gói bánh rất tiện lợi và dễ kiếm. Lá chuối khô có thể dùng làm chất đốt, để quấn bánh gai hoặc ở nông thôn, ta còn thấy lá chuối khô còn quận nhỏ làm nút chai rượu. Không chỉ thế, hoa chuổì còn dùng đê làm nộm (nộm hoa chuối). Món nộm hoa chuối được rất nhiều người ưa thích, đặc biệt là sinh viên vì nó vừa ngon lại vừa rẻ. Chỉ cần nhìn thấy thôi cũng đủ khiến cho ta cảm thấy thèm thuồng. Thái một ít nõn chuối ra cho vào đĩa rau muống xanh mướt là ta đã có một đĩa rau vừa ngon miệng vừa đẹp mắt. Quả chuối có lẽ là nhiều công dụng nhất. Các chị, các cô, các bà hay ăn chuối vì trong chuối có chứa nhiều chất vitamin rất tốt cho một làn da mịn màng. Và chú yếu chuối thường dùng để ăn nhiều hơn vì nó rất ngon. Người ta còn thường dùng chuối thắp hương như một lễ vật dâng cho thần linh đê thê hiện lòng tôn kính. Chính vì vậy, chuối là một loại trái cây rất được ưa thích tại Việt Nam và cả một vài nước khác. Cây chuối trong đời sống vật chất của người Việt Nam cũng khá quan trọng, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều eo hẹp. ở nông thôn, mỗi khi chuối chín, người ta hay cắt ra thành từng nải để đem bán, những nải chuối đó đều rất rẻ nên nhiều người mua. Còn trong đời sống văn hoá của người Việt, cây chuối cũng như bưởi hay hồng, nó cũng là một trong năm loại quả dâng lên tổ tiên, nhất là các dịp lễ Tết. Trong tâm thức của mỗi người, cây chuối là một loài cây tượng trưng cho sự thanh bình cua làng quê, nhất là thời thơ ấu.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận Cây chuối từ lâu đã chiếm một phần to lớn trong cuộc sống của người Việt Nam. Đối với mỗi người, cây chuối đã trở thành một loài cây vô cùng gần gũi, thân thiết. Vanmau.edu.vn
Cây chuối trong đời sống người Việt Nam
636
Cây cối là chiếc nôi của nhân loại. Hãy chứng minh vai trò của cây cốì trong đời sống Gợi ý Chúng ta luôn luôn nằm trong lòng chiếc nôi xanh của cây cối – đó là cái máy điều hòa khí hậu vĩ đại của chúng ta. Những số liệu đáng tin cậy của các nhà vệ sinh học kết luận rằng ngồi dưới tán cây bàng, ta bớt được 4 lần cái nóng cháy da buổi trưa hè trên đường nhựa. Diện tích vô cùng to lớn của các tầng lá trùng điệp đã cản 50% bụi đường, tính ra trong một vụ hè, một hàng 100 cây ở đường phố’ đã giữ lại 340kg bụi, để giũ xuống mặt đường sau mỗi trận mưa. Cây cốì còn là hàng rào cách li tiếng động, hấp thụ và hắt lại những sóng âm thanh hỗn tạp để khỏi làm chấn động thần kinh. Một vành đai cây 17 – 20m đủ đảm bảo an toàn cho nhà ở chống tiếng ồn. Nếu trồng cây sát nhà ở hay đường đi, nơi phát ra tiếng động, thì một vành đai dày 7 – 10m là đủ. Người ta ví rất đúng: cây xanh là lá phổi của hành tinh chúng ta. Tất cả các sinh vật đều thở, và liên tục hút dưỡng khí, thải thán khí. Nhà máy lại tuôn ra khí độc và khói làm ô nhiễm không khí. Đất cũng “thở”, nhất là đất tơi, xốp, cành lá cây mục, các chất hữu cơ phân giải, nấm mốc và vi khuẩn hô hấp đã thải ra rất nhiều thán khí.Xem thêm: Một trong những nội dung lớn của văn học trung đại là nội dung yêu nước. Qua các sáng tác thơ phú thời Lí Trần (Vận nước - Pháp Thuận, Tỏ lòng - Phạm Ngũ Lão, Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu, ... ) hãy làm sáng tỏ nhận dịnh trên Không có cây xanh thì chẳng mấy chóc muôn loài sẽ ngạt thở. Tuy ban đêm cây cũng hô hấp, nhưng ban ngày cây lại hấp thu thán khí, kết hợp với ánh nắng để trả lại dưỡng khí và tạo nên chất bột đường. Cho nên không khí ban ngày ở nhà có cây xanh bao bọc chứa rất ít thán khí, chừng 0,02% (đạt tiêu chuẩn vệ sinh). Mỗi năm tất cả cây cối trên mặt đất và dưới biển đã hấp thụ 175 tỉ tấn thán khí lại biến thành 2,7 tấn dưỡng khí. Cây cối ngăn cản và lọc khí độc trong không khí. Trong rừng thông, rừng bá hương, không khí hầu như vô trùng. Lượng vi trùng gây bệnh trong không khí ở nông thôn hay rừng ít hơn thành phố 10 lần. Chẳng hạn về mùa hè trên đường phố Pa-ri, mỗi phân phối không khí chứa 5.500 vi khuẩn các loại, nhưng các làng mạc ngoại ô chỉ có 550 vi khuẩn trong mỗi phân khốỉ không khí. Điều đó chứng minh rằng cây xanh đã thải ra các chất thanh trùng không khí để tự bảo vệ, mà khoa học gọi là chất phi-tôn-xít. Vanmau.edu.vn
Cây cối là chiếc nôi của nhân loại. Hãy chứng minh vai trò của cây cốì trong đời sống(1)
524
Cây cối là chiếc nôi của nhân loại. Hãy chứng minh vai trò của cây cốì trong đời sống Gợi ý Chúng ta luôn luôn nằm trong lòng chiếc nôi xanh của cây cối – đó là cái máy điều hòa khí hậu vĩ đại của chúng ta. Những số liệu đáng tin cậy của các nhà vệ sinh học kết luận rằng ngồi dưới tán cây bàng, ta bớt được 4 lần cái nóng cháy da buổi trưa hè trên đường nhựa. Diện tích vô cùng to lớn của các tầng lá trùng điệp đã cản 50% bụi đường, tính ra trong một vụ hè, một hàng 100 cây ở đường phố’ đã giữ lại 340kg bụi, để giũ xuống mặt đường sau mỗi trận mưa. Cây cốì còn là hàng rào cách li tiếng động, hấp thụ và hắt lại những sóng âm thanh hỗn tạp để khỏi làm chấn động thần kinh. Một vành đai cây 17 – 20m đủ đảm bảo an toàn cho nhà ở chống tiếng ồn. Nếu trồng cây sát nhà ở hay đường đi, nơi phát ra tiếng động, thì một vành đai dày 7 – 10m là đủ. Người ta ví rất đúng: cây xanh là lá phổi của hành tinh chúng ta. Tất cả các sinh vật đều thở, và liên tục hút dưỡng khí, thải thán khí. Nhà máy lại tuôn ra khí độc và khói làm ô nhiễm không khí. Đất cũng “thở”, nhất là đất tơi, xốp, cành lá cây mục, các chất hữu cơ phân giải, nấm mốc và vi khuẩn hô hấp đã thải ra rất nhiều thán khí.Xem thêm: Một trong những nội dung lớn của văn học trung đại là nội dung yêu nước. Qua các sáng tác thơ phú thời Lí Trần (Vận nước - Pháp Thuận, Tỏ lòng - Phạm Ngũ Lão, Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu, ... ) hãy làm sáng tỏ nhận dịnh trên Không có cây xanh thì chẳng mấy chóc muôn loài sẽ ngạt thở. Tuy ban đêm cây cũng hô hấp, nhưng ban ngày cây lại hấp thu thán khí, kết hợp với ánh nắng để trả lại dưỡng khí và tạo nên chất bột đường. Cho nên không khí ban ngày ở nhà có cây xanh bao bọc chứa rất ít thán khí, chừng 0,02% (đạt tiêu chuẩn vệ sinh). Mỗi năm tất cả cây cối trên mặt đất và dưới biển đã hấp thụ 175 tỉ tấn thán khí lại biến thành 2,7 tấn dưỡng khí. Cây cối ngăn cản và lọc khí độc trong không khí. Trong rừng thông, rừng bá hương, không khí hầu như vô trùng. Lượng vi trùng gây bệnh trong không khí ở nông thôn hay rừng ít hơn thành phố 10 lần. Chẳng hạn về mùa hè trên đường phố Pa-ri, mỗi phân phối không khí chứa 5.500 vi khuẩn các loại, nhưng các làng mạc ngoại ô chỉ có 550 vi khuẩn trong mỗi phân khốỉ không khí. Điều đó chứng minh rằng cây xanh đã thải ra các chất thanh trùng không khí để tự bảo vệ, mà khoa học gọi là chất phi-tôn-xít. Vanmau.edu.vn
Cây cối là chiếc nôi của nhân loại. Hãy chứng minh vai trò của cây cốì trong đời sống
524
Cây lúa trong đời sống người Việt Nam Gợi ý Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 50% số dân làm nghề nông. Chính vì thế, cây lúa là một loài cây quan trọng trong đời sống người Việt. Nó phục vụ chủ yếu cho nhu cầu lương thực trong nước, ngoài ra còn đế xuất khẩu ra nước ngoài. Sản lượng xuất khẩu lúa gạo Việt Nam đã đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Thái Lan. Vì thế, cây lúa đã góp phần quan trọng trong việc phát triển đất nước. Đối với mỗi chúng ta, cây lúa đã trở nên quen thuộc. Cây lúa thân nhỏ, có lớp vỏ bên ngoài bao quanh còn bên trong là thân rất bé nhưng khoẻ. Mỗi cây có khoảng năm, sáu lá có màu xanh, nhọn, có một lớp lông hơi ráp. Mỗi cây có một bông lúa với rất nhiều hạt. Mỗi khi lúa lên đòng, mùi sữa trong các hạt lúa ấy toả ra thơm nhè nhẹ. Cây lúa cũng như người Việt Nam, luôn đoàn kết lẫn nhau: Mỗi cây lúa ở trong một khóm lúa, mỗi khóm lúa trong một ruộng lúa, ruộng lúa trong một cánh đồng cùng che chở cho nhau. Nếu như nói: "Cây lúa là loài cây quan trọng nhất trong đời sông Việt Nam" thì cũng không sai. Cây lúa là cây lương thực chủ yếu của Việt Nam. Chính cây lương thực này đã làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng rât nhanh, đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước. Ngoài ra, lúa gạo cũng để làm nguyên liệu chế biến ra những món ăn vừa dân dã vừa đậm đà hương vị dân tộc như bánh chưng, cốm, xôi hoặc các loại bánh… ở nông thôn, người ta còn tận dụng vở trâu đế đốt hoặc sử dụng trong các lò âp trứng. Cám thì lại đế dùng cho gia súc ăn, rất tiện mà hơn thế cám còn giúp cho gia súc tăng trưởng tốt. Còn rơm rạ lại là chất đốt hàng ngày trong cuộc sống ở. nông thôn. Nếu quay trở lại ngày xưa, ta còn thấy cha ông ta lợp nhà bằng rơm. Trong xã hội phát triển như bây giờ, những ngôi nhà lợp rơm hầu như không còn nữa. Thế nhưng, những chiếc chổi làm bằng rơm thì vẫn còn tồn tại vì nó rất tiện sử dụng. Ngoài ra, rơm cũng là thành phần quan trọng trong việc trồng nấm, giúp nấm phát triển nhanh. Nói chung, xét trên phương diện vật chất, cây lúa có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sông của người Việt Nam.Xem thêm: Em hãy tả một hình ảnh thiên nhiên mà em yêu thích (gió, nắng, mưa) s Cây lúa cũng là một loài cây có ý nghĩa rát lớn trong đời sông tinh thần của người Việt Nam. Cây lúa tượng trưng cho nền văn minh lúa nước không chi của Việt Nam mà còn của cả Đông Nam Á. Cây lúa là biểu tượng cho sự no ấm, đầy đủ. Không chỉ thế, cây lúa còn là nguyên liệu để làm ra các món ăn ngon, các món ăn để cúng lễ tổ tiên vào dịp lễ Tết như bánh chưng, xôi, bánh giày… Chính điều này đã tạo ra một nền văn hoá ấm thực đặc sắc của Việt Nam với các món ăn đầy ý nghĩa như bánh chưng tượng trưng cho đát, bánh giày tượng trưng cho trời. Đó là điều khiến cây lúa gắn với con người Việt Nam về vật chât cũng như tinh thần từ bao đời nay. Cây lúa đã trở thành một người bạn gần gũi, thân quen với mọi người dân Việt.Nam. Con người Việt Nam nói chung và người nông dân Việt Nam nói riêng đều coi trọng cây lúa và những sản phẩm mậ nó đem lại. Chắc chắn ràng, cây lúa sẽ luôn tồn tại và gắn bó với con người Việt Nam từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vanmau.edu.vn
Cây lúa trong đời sống người Việt Nam
688
Cây lớn một ôm, khởi sinh từ một cái mầm nhỏ, đài cao chín tầng, khởi đầu từ một sọt đất, đi xa ngàn dặm, bắt đầu từ một bước chân Hướng dẫn Tham khảo một số ý cụ thể sau: – Giải thích: + "Cây lớn một ôm", "đài cao chín tầng", "ngàn dặm" là sự trưởng thành vững chắc, thành tựu to lớn kì vĩ, khoảng cách lớn không thể dễ dàng vượt qua, cũng là kết quả của quá trình sinh thành và phát triển lâu dài, bền bỉ của công phu xây đắp kiên trì và sức mạnh vượt qua gian khó. + "Khởi sinh", "khởi đầu", "bất đầu": thời điểm đầu tiên, những nỗ lực cố gắng đầu tiên, hành động đầu tiên. + "Một cái mầm nhỏ", "một sọt đất", "một bước chân" là những cái nhỏ nhoi, ít ỏi tưởng như không đáng gì. – Phân tích, chứng minh: + Đặc trưng cơ bản nhất của cuộc sống là luôn tồn tại trong một quá trình vận động – hoặc theo hướng đi lên để hoàn thiện, bồi đắp dần, hoặc theo hướng đi xuống mà tàn lụi, phôi pha, huỷ hoại dần. Trong cuộc sống không có điều gì bỗng dưng mà có (cũng khôngbỗng dưng mà mất đi). Mọi cái có, sự thành đạt, thành tựu đều là kết quả của một quá trình nỗ lực phấn đấu rèn luyện, bền bỉ làm việc mới đạt được. + Trong cả quá trình, bước khởi đầu bao giờ cũng rất quan trọng. Vì vậy, cần hiểu cả quá trình cũng như xác định rõ mục tiêu để biết đích xác cần bắt đầu từ đâu và bắt đầu như thế nào. + Cái khởi đầu khi thực hiện được sẽ có tác dụng tích cực: khởi động cả một quá trình, tạo hứng thú và niềm tin, kích thích hành động tiếp tục diễn ra để tiến tới hoàn tất. – Bàn luận, đánh giá: + Câu nói của Lão Tử đúng vì nó thể hiện được những nhận thức chính xác về mối quan hệ giữa khởi đầu và kết quả, về vai trò của cái khởi đầu trong thực tế đời sống. + Câu nói sâu sắc vì đưa ra một bài học cuộc sống: không nên thụ động chờ đợi mà cần chủ động, tích cực hành động dù bằng những việc làm đơn giản nhất, vì chỉ có thế mới thu hẹp khoảng cách tới sự hoàn tất, thành công. Nguồn: thêm: Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu nói của nhà văn Pháp Mi-sen Ê-ken đơ Mông-te-nhơ (1533 - 1592): “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa"
Cây lớn một ôm, khởi sinh từ một cái mầm nhỏ, đài cao chín tầng, khởi đầu từ một sọt đất, đi xa ngàn dặm, bắt đầu từ một bước chân
446
Cây tre Việt Nam là một hình ảnh vô cùng thân thiết đối với mỗi làng quê Việt Nam. Em hãy viết một đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về hình ảnh ấy Gợi ý Tre xanh xanh tự bao giờ? Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh Chẳng ai biết cây tre đã có mặt trên đất nước Việt Nam từ bao giờ, chỉ biết rằng cây tre đã gắn bó với dân tộc Việt Nam từ bao đời nay và nó đã trở thành người bạn thân thiết lâu đời của nhân dân Việt Nam. Cây tre có mặt ở khắp nơi trên đất nước. “Tre Đồng Nai nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi…. đâu đâu cũng có nứa tre làm bạn”. Tre có mây chục loài khác nhau, nhưng đều mọc từ mầm măng non mọc thắng mà thành. Tre không kén đất, vào đâu tre cũng mọc, cũng sinh sôi xanh tốt. Từ lúc còn là một mầm măng tre đã mọc thẳng, lớn lên tre cùng vươn thẳng, không cong, vững chắc, dẻo dai. Dầng tre vươn cao mà ‘mộc mạc, màu tre tươi mà nhũn nhặn. Thế mới biết tre cũng thật khiêm tôn, nhún nhường, nhưng chí khí của tre thì bất khuất, kiên dũng như con người Việt Nam vậy. Từ thuở sơ khai, dưới bóng tre xanh, những người dân cày Việt Nam vỡ đất khai hoang, dựng nhà, cày ‘cấy; dưới bóng tre xanh, nhân dân ta xây dựng và giữ gìn nền văn hoá lâu đời “giang chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình quê thuở ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa”… Cứ thế, tre trở thành một người bạn thân thiết không thê thiếu của nông dân Việt Nam trong cuộc sông hàng ngày và trong lao ‘ động. Những em bé với những que chuyền đánh chắt bằng tre, những cụ già bên chiếc chiếu tre… tất cả các hình ảnh đó đã trở nên quen thuộc, “tre với người, sống có nhau, chết có nhau, chung thuỷ” vô cùng… Rồi đến khi người phái đánh giặc bảo vệ quê hương, tre lại trở thành người bạn chiến đâ’u của con người. Buổi đầu kháng chiến, tre là tất cả, tre là vũ khí. Ngưởi lính chỉ cần một chiếc gậy tầm vông trong tay cũng dám xông pha vào giữa đám quân thù. Tre như tiếp thêm lòng dũng cảm cho người, giúp người dựng nên thành đồng Tố Quốc…Xem thêm: Phân tích nhân vật Đào trong truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải Những lời dẫn trực tiếp đặt trong “…” được trích dẫn từ văn bản “Tre Việt Nam” của Thép Mới. Vanmau.edu.vn
Cây tre Việt Nam là một hình ảnh vô cùng thân thiết đối với mỗi làng quê Việt Nam. Em hãy viết một đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về hình ảnh ấy
462
Cây xà nu và ý nghĩa biểu tượng của loài cây này (Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành) Gợi ý Tâm hồn mỗi nhà văn dường như được vẫy gọi bởi những ngoại cánh riêng biệt, ám ảnh. Với Nguyễn Trung Thành, mảnh đất Tây Nguyên vừa hào hùng, man dại, vừa linh thiêng, bí ẩn khôn cùng có một sức đeo bám lớn. Bắt rễ từ chính hồn thiêng sống núi nơi đây, cây xà nu, rừng xà nu và sức sống mãnh liệt cùa nó đã trở thành điểm nhấn đặc biệt khắc sâu, ghi tạc trong cảm hứng sáng tạo củ.a ông. Hình ảnh cây xà nu được thể hiện rất độc đáo qua tác phâm "Rừng xà nu”. Chính Nguyên Ngọc đã từng tâm sự: “Tôi yêu say mê cây rừng xà nu. Ấy là một cây hùng vì và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận”. Chính tình yêu đầy đam mê cho cây rừng xà nu, chính sự gắn bó máu thịt với núi nước Tây Nguyên anh hùng đã khiến ngòi bút Nguyễn Trung Thành khắc tạc những hình ảnh tuyệt mĩ về thiên nhiên, con người nơi đây. Càm hứng mãnh liệt về loài cây “hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch” đã thôi thúc tận tâm can, thúc giục tự trong máu để rồi “hình tượng lớn bao trùm toàn tác phẩm, là hình tượng những cây xà nu, những xà nu. Chính nó đã đem lại cho tác phẩm sức khái quát lớn cũng như sự sinh động, chân thực như cuộc đời”. “Sức khái quát và sự sinh động, chân thực” cùa hình tượng cây rừng xà nu nằm ở chỗ viết về cây rừng xà nu nhưng Nguyễn Trung Thành còn gợi đến tận cùng bản chất khóc liệt của chiến tranh. Bút pháp miêu tả được sử dụng đầy sáng tạo, tài hoa khiến người đọc hình dung được trước mắt bức tranh Tây Nguyên khốc liệt, xót đau mà hào hùng, kiêu hãnh. Những trang văn đậm chất anh hùng ca cứ vang vọng, hào sáng, lời của núi rừng tạo nên một không khí rất riêng cho truyện. “Hầu hết đạn đại bấc đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Rừng xà nu vươn mình hứng chịu, gánh lấy cái dữ dội, bạo tàn của chiến tranh bom đạn. Người ta như nghe được tiếng bom rơi đạn nổ dội vào nơi đây nhưng cũng như nghiêng mình ngưỡng vọng trước một thê trường tồn đầy kiêu hùng, thách thức. Thu vào mình bao đau thương nhưng ân tượng vè cây rừng xà nu lại là một cam hứng mãnh liệt, hào hùng. Nguyễn Trung Thành miêu tả rất ấn tượng hình ảnh những cây xà nu bị thương, có tác động mạnh mẽ đến giác quan người đọc. “Cả rừng xà pu hàng, vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đố ào ào như một trận bão. Ớ chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Ngay khi cày gục ngã người ta vẫn thấy bừng lên một sức sống diệu kỳ, chính ở chỗ vết thương, sự sống của cây như căng trào, tràn trề nhât: Cái gay gắt của nắng hè gặp gỡ cái ứa tràn của nhựa cây mà kết tụ thành một vẻ đẹp long lanh, lộng lẫy. Ngay trong cái chết, sự sống vẫn trỗi dậy, tưởng như không gì ngăn can nổi, vẻ đẹp vẫn thăng hoa, ngỡ như không bom đạn nào có thể tàn phá. Nguyễn Trung Thành đã nhìn cây xà nu như một sinh thể sống khi đặc biệt khắc tạo hình ảnh những “cục máu lớn”. Nhựa xà nu hay máu con người mà cũng mang trong mình đầy đủ và sống động cái đau thương, khô’c liệt của chiến tranh? Câu văn sinh động với thủ pháp nhân hóa, có sức gợi rất sâu và đánh động đến nỗi đau sâu thẳm của con người trong chiến tranh. Nhìn những cây xà nu bị thương mà người ta tướng chừng tác giả cũng xót xa, đau đớn như chính hình ảnh những con người Tây Nguyên bị thương, tàn phá “Sức khái quát và sự chân thực, sinh động, của hình tượng cây rừng xà nu nằm chính ở sức gợi khôn cùng này chăng?Xem thêm: Chỉ ra và phân tích giá trị của biện pháp tu từ ngữ âm trong câu thơ sau: "Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan/ Đường bạch dương sương trắng nắng tràn" (Tố Hữu) Sức sống kỳ diệu của cây đối lập gay gắt với sự tàn bạo, khốc liệt của kẻ thù. Như một sự thách thức, cây này mới gã gục, “đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Bất chấp bom đạn chiến tranh, bất chấp những đợt đại bác, xà nu vẫn mãnh liệt sinh sôi và kiêu hãnh trường tồn. Hình tượng được miêu tả không chỉ “sinh động, chân thực như cuộc đời” mà còn có sức khái quát lớn lao khi mở ra những liên tưởng thú vị giữa sự sinh sôi của cây xà nu với sức sống con người Tây Nguyên. Nếu sự sinh sôi của cây là bất tận thì sức sống của con người nơi đây là khốn cùng. Nếu không bom đạn nào tàn phá được hết rừng xà nu thì cũng không cuộc chiến tranh nào có thể khiến con người Tây Nguyên gục ngã, đầu hàng. Dường như sức sống man dại, mãnh liệt và kiêu hùng đã trở thành bản chất của núi nước, đại ngàn Tây Nguyên. “Những cây nhọn hoắt hình mùi tên, phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nấng” như mang theo cùng cái khát vọng vươn tới mạnh mẽ, quyết tâm của con người trong đấu tranh cách mạng. Sức vươn tới và sự ham sống của cây rừng’xà nu hay chăng niềm khao khát tự do cùa những ý chí sục sôi, những tinh thần đấu tranh anh dũng. Ngắm nhìn cái dáng vươn lên, cái thế đứng đón đợi mặt trời của cây rừng xà nu, người ta như thấy cả cái bất khuất, ngạo nghễ trong tư thế con người, dân tộc Tây Nguyên. Xà nu đẹp đến lạ thường ngay khi nó đối diện với đạn đại bác của giặc: “thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”. Câu văn nồng nàn cái men say đầy chất thơ, căng trào cái mỡ màng, óng ánh của sự sống, đưa người đọc đến với vẻ đẹp tráng lệ của cây rừng xà nu, lạc bước vào khu rừng đầy sự kỳ diệu. Sức sống xà nu trào dâng trong không gian, bao bọc khắp núi rừng bằng một mùi thơm rất riêng, ngọt ngào, tươi mới. Nó đánh thức niềm tự hào, kiêu hãnh sâu sắc trong lòng người, nó khơi lên cái mỡ màng, dào dạt của sức sống Tây Nguyên. “Đạn đại bác không giết nổi chúng”, những cây xà nu cứ hiên ngang tồn tại như một sự thách thức đầy kiêu hùng với kẻ thù. Câu văn là một lời phủ định nhưng lại bao hàm một sự khẳng định đầy mạnh mẽ, tự hào về sức sống bền bỉ, lâu dài của cây xà nu. Bất chấp sự tàn bạo, khốc liệt của chiến tranh, xà nu trường tồn cùng hồn thiêng sống núi, với vẻ đẹp hoang dại mà đầy chất thơ, với sức sống bền bỉ mà bất khuất. Hình tượng xà nu đã hiện ra như thế, dưới ngòi bút hừng hực cảm hứng ngợi ca và dạt dào một tình yêu đam mê cho mảnh đất nơi này. Nó không chỉ phập phồng hơi thở núi rừng “sinh động, chân thực như cuộc đời” mà còn ẩn chứa những ý nghĩa “khái quát” lớn lao. Sức sống mãnh liệt, ý chí bền gan, tinh thần bât khuât của con người Tây Nguyên phải chăng đã bật lên từ chính gốc rễ cây rừng xà nu, được nuôi dưỡng bằng nhựa sống xà nu? Cây xà nu, rừng xà nu đã trở thành hồn thiêng của núi nước Tây Nguyên, mang trong mình linh hồn con người Tây Nguyên. Người ta hiểu vì sao người Tây Nguyên yêu quý cây xà nu đến thế, tình người và hồn đất lại quyện hòa sâu sắc đến vậy. “Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”, trở thành bức thành trì vững chắc, kiên cô’ để bảo vệ cho dân làng Xô Man. Người ta không chỉ hình dung được cái lớn lao, khỏe khoắn của “tấm ngực lớn” xà nu mà còn cảm nhận được mối quan hệ, sự gắn bó, chở che máu thịt thiêng liêng giữa cây và ngựời. Lời khe tặng của Nguyễn Trung Thành được dệt nên bởi bao nhiêu xúc cảm nâng niu, trân trọng, tự hào, bởi vậy nó không chỉ có “sức khái quát, sự sinh động, chân thực” mà còn lắng đọng tấm tình chân’ thành, cảm hứng ngợi ca của tác giả.Xem thêm: “Thơ là thơ, nhưng đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng" (Sóng Hồng). Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào. Hãy làm sáng tỏ điều đó qua một số bài thơ đã học trong sách Ngữ văn 12 nâng cao, tập một“Tấm ngực lớn” của cây rừng xà nu không chỉ che chở, bao bọc dân làng Xô Man mà còn “bao trùm toàn tác phẩm” của Nguyễn Trung Thành. Xà nu trở thành một nhân vật trung tâm mà từ đây, phát khởi biết bao sức sống, lan tỏa biết bao vẻ đẹp và gọi dậy những tinh thần, ý chí kiên định, sục sôi. “Chính nó đã đem lại cho tác phẩm sức khái quát lớn cũng như sự sinh động, chân thực như cuộc đời”. Nó kết tinh được linh hồn, tinh thần, sức mạnh của con người và mảnh đất Tây Nguyên, nó hiển hiện đầy sống động và linh diệu sự sống trường tồn, vẻ đẹp mỡ màng và tư thế bất khuất. Bút lực Nguyễn Trung Thành đã dồn tụ bao nhiêu tâm huyết đã chạy đua với vẻ đẹp, sức sống xà nu để thâu tóm, kết tụ lên trang vãn, cho hình tượng trung tâm này một “sức khái quát, một sự sinh động, chân thực” độc đáo và đặc sắc. Xà nu không chỉ tỏa bóng trên trang văn mà còn khắc tạc trong máu tim người nghệ sĩ để “khơi lên nguồn cảm hứng dạt dào, trở thành điểm tựa, điểm gợi tứ để nhà văn suy ngẫm về mạch sống của đất nước và sức sống của nhân dân”. Hình tượng xà nu đã đánh động đến cõi sâu thẳm của tâm linh, đã khơi gợi những suy ngẫm, chiêm nghiệm đầy lắng đọng của người viết. Nó không chỉ ào ạt, vang động cái không khí đánh Mỹ hừng hực lúc bấy giờ mà còn tìm về những chiều sâu suy ngẫm “về mạch sống của đất nước và sức sống của nhân dân”. Xà nu đã kết tinh cái lắng sâu của tư tưởng, mở ra phút thăng hoa của cảm xúc để rồi gợi hứng, gợi tứ cho những trang văn. Nguyễn Trung Thành đã viết về “điểm tựa” điểm gợi tứ ấy: “Rừng xà nu chợt đến và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều. Và cũng lập tức đã nhập được vào không khí và không gian ấy. Tất cả trở nên đễ dàng đến ngạc nhiên đôd với tôi. Tôi hình dung ra, thấy hiển hiện ra tất cả. Các chi tiết tự nó đến, cách sắp xếp các lớp thời gian, xen kẽ, đan quyện những mạch nối cùng đến dễ dàng và tự nhiên, như tất nó phải vậy”. Chỉ một phút chợt đến mà rừng xà nu đã mở ra biết bao không gian, hình ảnh, đã “khơi lên nguồn cảm hứng dạt đào” cho ngòi bút Nguyễn Trung Thành. Chẳng phải “điểm tựa, điểm gợi tứ” đã làm được những điều kỳ diệu đó sao?Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ Chiều tối (trích Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh) Cây rừng xà nu đã trở thành biểu tượng của “đất nước đứng lên”, của Tây Nguyên nổi dậy. Chủ nghĩa yêu nước anh hùng cách mạng đã chung đúc, hội tụ trong tâm hồn, trí óc của tất cả mọi người, tạo nên một sức mạnh thống nhất chặt chẽ trong tác phẩm “Mạch sống của đất nước” cuồn cuộn trào dâng với tinh thần đồng khởi, vởi khát vọng diệt giặc cứu nước của tập thể nhân dân anh hùng. “Mạch sống của đất nước” âm ỉ mà mãnh liệt, lặng thầm mà mạnh mẽ, bất tận, không bao giờ thôi trôi chảy, không khi nào ngừng tiếp nối. Giống như hình tượng xà nu “nối tiếp tới chân trời”, con đường kháng chiến của dân tộc còn dài lâu, gian khổ nhưng luôn vút lên cái thê đứng bất khuất, anh hùng. Cây xà nu còn, “mạch sống của đất nước” còn, cây xà nu nối tận chân trời, những thế hệ con người của đất nước ấy vẫn sinh sôi, trưởng thành trong kháng chiến. Cuộc kháng chiến trường kỳ đòi hỏi bao nhiêu công hiến, hi sinh, mất mát, một con đường dài đang trải ra trước mắt nhưng “mạch sống đất nước” vẫn cứ tưới tắm, chảy trôi. Mở ra và kết thúc tác phẩm, hình ảnh những cây xà nu tít tắp phía chân trời giống như một khúc vĩ thanh đẹp đẽ, âm vang và hào sảng, mang theo lời của ‘hồn thiêng sống núi, vang động mạch sống của đất nước, quê hương. Vanmau.edu.vn
Cây xà nu và ý nghĩa biểu tượng của loài cây này (Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành)
2,445