text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ.Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến đó
Gợi ý
Khổng Tử từng nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Mỗi người ngay từ lúc sinh ra không ai mang trong mình mầm mống của những thói hư tật xấu. Chỉ khi va đập với cuộc sống, bản tính thiện trong con người mới bị pha tạp. Có người cho rằng có ba thứ có thể làm hỏng một con người, đó là rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ. Điều đó có hoàn toàn chính xác?
Tôi cho rằng, rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ đúng là ba điều có thể làm hỏng một con người. Khái niệm “hỏng” ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là hỏng về thân xác mà còn là biến dạng về nhân cách, nhân tính. Bản thân mỗi điều đó cũng đủ khiến con người không còn là chính mình bởi lẽ, tác hại của chúng rất lớn.
Thực tế mà nói, bản thân rượu không có hại nhưng sự lạm dụng của con người khi dùng rượu gây ra những tác hại khôn lường. Rượu làm con người mất tỉnh táo, không làm chủ được hành vi của mình, vì thế nhiều điều đáng tiếc đã xảy ra. Những tác hại do rượu gây ra vô cùng nghiêm trọng. Trước tiên. xét về phương diện sức khoẻ y tế, một chút rượu có thể làm con người hưng phấn, những loại rượu thuôc, nếu biết sử dụng chừng mực sẽ có tác dụng bồi bổ sức kho 3 cho con người.
Nhưng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói trong Tuyên ngôn đọc lập rượu “làm cho nòi giống ta suy nhược”. Những người uống rượu có khả năng mác các bệnh về gan, tim mạch, bao tử, thần kinh… rất cao. Hàng năm, trên thế giới có hàng triệu người bị u xơ gan, phần lớn nguyên nhân là do uống quá nhiều rượu bia. Cũng có không ít trường hợp đột tử do uống quá nhiều rượu.Xem thêm: Trình bày những suy nghĩ của anh (chị) về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác con người qua đoạn trích hồi VII của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) Bên cạnh những ảnh hưởng về sức khoẻ là những thiệt hại về kinh tế. Không tính đến chi phí sản xuất, chi phí cho hoạt động tiêu thụ rượu cũng chiếm một khoản không nhỏ. Những cuộc nhậu nhẹt đến linh đình chắn chắn sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền cho khoản mua rượu.
Người uống rượu say thường không làm chủ được bản thân nên hay có những hành vi không kiềm chế, gây rối rắm mất trật trị an xã hội. Mỗi ngày hàng chục vụ tai nạn giao thông ở Việt Nam nguyên nhân do người điều khiển phương tiện tham gia giao thông uống quá nhiều rượu, bia. Những tổn thương về tinh thần cho cả nạn nhân và người thân của họ là không thể đong đếm được. Hình ảnh những người say rượu bê tha, các vụ đánh cãi chửi nhau do say rượu là những hình ảnh phi văn hoá nhất, cần bị phê phán.
Với những tác hại đó, chúng ta có đủ chứng cớ để kết luận rượu là nhân tố có thể làm hỏng con người.
Điều thứ hai có thể làm hỏng con người là tính kiêu ngạo. Kiêu ngạo là sự ngạo mạn, coi thường người khác. Kiêu ngạo không giông với kiêu hãnh và khác xa lòng tự tôn. Người kiêu ngạo cũng có khi đạt được thành công nên thường cho mình là trên hết, không ai bằng mình. Chính vì thế họ không bao giờ nhận thức đúng đắn về bản thân, không’bao giờ nhìn ra điểm yếu của mình. Vậy nên, tính kiêu ngạo làm con người chủ quan, không biết sửa sai khi mắc lỗi, làm con người không có ý thức vươn lên trong cuộc sống. Đó là lí do người kiêu ngạo rất hiếm khi thành công trong cuộc sống. Một học sinh kiêu ngạo không bao giờ đạt được kết quả học tập như ý. Một giáo viên kiêu ngạo không bao giờ có tiết dạy hay. Hẳn chúng ta ai cũng đã nghe câu chuyện dân gian Thỏ và Rùa, Thỏ kiêu ngạo đù thực lực có chạy nhanh đến đâu cũng phải chấp nhận thua cuộc Rùa kiên nhẫn. Bài học về tính kiêu ngạo của Thỏ là sẽ còn cổ giá trị giáo dục đốì với tất cả chúng ta.Xem thêm: Văn học thời kì từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 có đóng góp gì mới với những truyền thống tư tưởng lớn của lịch sử văn học Việt Nam? Qua việc phân tích một tác phẩm văn học đã học, anh (chị) hăy nói rõ ý kiến của mình
Điều thứ ba làm hỏng con người là sự giận dữ. Giận dữ là trạng thái giận đến mức tức tối, có lời nói và cử chỉ đáng sợ. Thường thì con người hay giận dữ khi gặp phái những điều trái ý mình. Có khi sự giận dữ là chính đáng nhưng cũng có khi sự giận dữ là vô cớ. Và dù có lí do hay không có lí do, lúc giận dữ là lúc con người yếu đuôi nhất, hoang mang nhất.
Tác hại của sự giận dữ cũng ghê gớm không khác gì tác hại của rượu và sự kiêu ngạo. Sự tức giận làm con người mất tỉnh táo, hồ đồ trong hành động, ông cha ta cũng đã dạy: “Cả giận mất khôn". Bất kì sự giận dữ nào cũng khiến mọi việc “sôi hỏng bỏng không”. Người giận dữ sẽ thấy chính mình tổn thương và khi không kiềm chế được, làm tổn thương người khác là không thể tránh khỏi. Sự giận dữ của những tên bạo chúa thời phong kiến làm biết bao dân lành phải chịu cái chết thảm khô’c. Có khi giận dữ đi liền với tội ác. Hành động đánh đứa trẻ hai tuổi của người đàn bà trông trẻ độc ác với lí do trẻ không chịu ăn là hành động vô nhân đạo. Không thể lí giải nó từ sự giận dữ.
Chung quy lại rượu, tính kiêu ngạo và sự tức giận đúng là ba điều làm hỏng con người. Nhưng đó chưa phải là tất cả những yếu tố làm nhân hình, nhân tính con người biến dạng. Còn nhiều thứ khác làm hỏng con người, ví dụ như ma tuý, các tệ nạn xã hội, thậm chí cả tình yêu không đúng cách…Xem thêm: Kể về chị ruột em Chỉ một trong số những thứ trên đã đủ làm hỏng con người. Nhiễm phải bất kì điều tệ hại nào, chúng ta cũng rất dễ khiến mọi người xa lánh, ghét bỏ. Vậy nên, tất cả những thói xấu ấy đều đáng bị lên án.
Nhưng làm thế nào để bài trừ những thói hư, tật xấu đó ở mỗi con người? Trước hết, bản thân mỗi người phải có ý thức tăng cường khả năng tự miễn dịch. Hãy nói “không" với rượu, với tính kiêu ngạo, với sự tức giận, với tất cả những thói xấu, nết xấu trong cuộc sống. Để làm được điều đó, mỗi người cần phải xác định cho mình một bản lĩnh vững vàng. Cùng với những nỗ lực của cá nhân, cộng đồng, xã hội cũng cần có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục bằng mọi hình thức, xử lí nghiêm minh những trường hợp vi phạm nặng… Có như vậy chúng ta mới có những người tốt – những bông hoa đẹp như Bác Hồ kính yêu từng trông đợi.
Thế hệ thanh niẽn ngày nay đang đứng trước nhiều vận hội và thách thức lớn. Một trong những thách thức đó là sự cám dỗ của những tệ nạn xã hội, những tư tưởng bảo thủ. Các học sinh, sinh viên không nên chủ quan mà cần chủ động nhận thức và bài trừ chúng.
Đã có rất nhiều nhân cách bị “hỏng” vì rượu, tính kiêu ngạo và sự tức giận. Đó là điều đáng buồn nhưng không đáng tiếc bởi những con người không có bản lĩnh trong cuộc sống thì nên bị đào thải.
Vanmau.edu.vn | Có ba điều làm hỏng một con người_ rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ.Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến đó | 1,417 | |
Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: “thời gian, lời nói và cơ hội”. Nêu suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến đó
Gợi ý
Trong cuộc đời, những thứ quí giá thường khó giữ vì thế con người có cảm giác nuối tiếc. Có những nuối tiếc qua đi có thể lấy lại được nhưng cũng có những điều không thể có được lần thứ hai. về điều này, có ý kiến cho rằng: “Có ba điều trong cuộc đời nếu qua đi sẽ không lấy lại được: "thời gian, lời nói, cơ hội”. Hiểu được ý kiến đó, chúng ta sẽ có một thái độ sống đúng đắn và có ý nghĩa hơn.
Câu nói là một câu khẳng định mang ý nghĩa tuyệt đối về giá trị quí báu của thời gian, lời nói và cơ hội.
Thời gian là quy luật khách quan, nằm ngoài ý muốn của con người, là sự tuần hoàn chảy trôi của vũ trụ. Thời gian đã trôi đi sẽ không bao giờ trở lại. Nói thời gian tuần hoàn chỉ là sự lặp lại của vòng quay trái đất, nhưng trong đó vạn vật sẽ không còn như cũ được nữa. vẫn là bốn ngày của xuân, hạ, thu, đông; ba ngày của quá khứ, hiện tại, tương lai; hai ngày của hôm trước và hôm sau nhưng vạn vật thì luôn thay đổi. Cây trái đâm chồi nảy lộc vào mùa xuân sẽ tàn lụi khi đông đến, và cũng không còn hoàn toàn giông nó vào những mùa sau nữa. Con người trong hiện tại và tương lai không phải là trẻ trung, xinh đẹp của quá khứ. Cũng như bông hoa cúa ngày hôm trước là rực rỡ thì ngày hôm sau đã là tàn lụi, héo úa…Cùng với thời gian, tuổi trẻ và sức lực sẽ tàn phai theo năm tháng.
Lời nói như “bát nước hắt đi”, nói ra thì rất dễ dàng nhưng không thể thu lại được. Lời nói, đó là sản phẩm, phương tiện giao tiếp của con người, thể hiện trình độ phát triển của xã hội cũng như khả năng tư duy của con người. Nó là thứ con người chỉ có thể chủ động được khi đang thuộc về mình. “Lời nói gió bay” nhưng ý nghĩa và ấn tượng về nó thì sẽ còn đọng lại ở những người tiếp nhận nó, trong trường hợp cụ thể nào đó là không thể nào quên.
Cơ hội là những điều may mắn đến với ta trong cuộc sống, đó có thể là một cơ may, một thuận lợi nào đó mà nhờ nó con người thay đổi cuộc sống cũng như số phận của mình. Tuy nhiên, cơ hội lại thường rất hiếm hoi, muốn có được nó phải là sự hội tụ của rất nhiều yếu tố, và không phải ai cũng là nắm bắt được khi nó đến. Cơ hội khi đã qua đi thì khó có thể có lại lần hai.
Tất nhiên, trong cuộc sống có rất nhiều thứ quí giá đáng để người ta trân trọng bởi cuộc đời là hữu hạn và không có nhiều thời gian để bắt đầu lại. Đối với những giá trị thuộc về vật chất như tiền bạc, nó cần thiết và quan trọng đối với con người nhưng nếu mất đi, người ta vẫn có cơ hội tìm lại được. Còn với những thứ không thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, họ khó có thể tự mình tìm lại được. Đời người không thể lúc nào cũng vẹn toàn như mình mong muốn. Thế nên mới có chuyện khi nhìn lại người ta thường hay nuối tiếc về những điều đã qua. Và thời gian, lời nói, quá khứ là những thứ phải nuối tiếc nhiều nhất. Đó là một quy luật.Xem thêm: Phân tích bài thơ "Lửa đèn” của Phạm Tiến Duật“Có ba điều trong cuộc đời nếu qua đi sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói, cơ hội”. Có thể nói, đây là một ý kiến đúng đắn được đúc rút, chiêm nghiệm và chứng minh bằng thực tế đời sống. Mọi điều khác trong cuộc sống, xét đến cùng chính là sự bắt nguồn từ ba điều quí báu ấy. Người ta thường nói: “Nếu như được quay ngược thời gian, nếu như có được cơ hội ấy một lần nữa, tôi sẽ…”. Nghĩa là nếu như có được thời gian và cơ hội, người ta sẽ có điều kiện để làm lại và làm tốt hơn nhiều thứ…Nhưng tất nhiên, đó chỉ là “nếu như”, và những điều “nếu như” ấy sẽ không bao giờ trở thành sự thật, nghĩa là con người sẽ không thể đoạt quyền tạo hóa để quay ngược thời gian, hay đảo ngược quy luật cuộc sống để tạo lại cơ hội cho mình.
Vũ trụ bao la, thời gian của vũ trụ là tuần hoàn nhưng cuộc sống con người lại hữu hạn. Ý thức được điều này, ở từng thời kì khác nhau quan niệm về thời gian là khác nhau. Là “người thư kí trung thành của thời đại”, văn học phản ánh một cách chân thực và sâu sắc đời sống, quan niệm thời đại trong các sáng tác. Thời trung đại, ý thức về sự chảy trôi của thời gian, con người mong muốn gắn mình với vũ trụ, đặt mình vào vòng quay của vũ trụ để tồn tại mãi. Điều này giải thích cho việc trong văn học trung đại xuất hiện rất nhiều những hình ảnh phóng đại, con người đứng ngang tầm vũ trụ để tự khẳng định như hình ảnh người tráng sĩ “cắp ngang ngọn giáo bảo vệ non sống đã mấy thu”.
Cũng bởi ý thức được sự trôi chảy của thời gian, nhà thơ Mãn Giác Thiền sư trong “Có bệnh bảo mọi người” viết:
“Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa tươi
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi”
Nguyễn Trãi vì
“Tiếc xuân cầm đuốc mảng đi chơi
Những lệ xuân qua tuổi tác thêm”
Nguyễn Du luyến tiếc khi “Thu đến”:
“Bốn mùa cảnh đẹp được bao ngày
Vùn vụt thoi đưa gọi không trở lại”
Và đã không ít người như Nguyễn Công Trứ khẳng khái ca ngợi cuộc sống hưởng thụ bởi ý thức cuộc đời là ngắn ngủi:
“Dẫu ba vạn sáu nghìn ngày là mấy chốc
Hạn lấy tuổi để mà chơi lấy
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi bấy
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù”
Bước sang thời hiện đại người ta càng ý thức sâu sắc hơn nữa giá trị và sự chảy trôi của thời gian. Xuân Diệu, “chàng hoàng tử của phong trào thơ Mới” có lẽ là người cuống quýt, lo lắng nhiều nhất:
“Nói là chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng, tôi tiếc cả đất trời”
Với một tâm hồn lúc nào cũng khát khao tình yêu, khát khao “giao cảm với đời” như Xuân Diệu thì bằng nào thời gian cũng là không đủ. Nhà thơ muốn níu giữ tất cả vị ngon của tình yêu và cuộc sống khi nó đang thời kì hương sắc nhât. Ông sống “vội vàng”, “không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. sống và tận hưởng đắm say:
“Tôi muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
(…) Cho chuyếnh choáng mùi thơm
Cho dã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng. Ta muốn cắn vào ngươi!”
Cùng với sự chảy trôi của thời gian, lời nói và cơ hội khi đã qua đi rồi cũng không thể lấy trở lại.Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão Ông cha ta xưa đã từng dặn dò:
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nỗi cho vừa lòng nhau”
Cũng chính bởi ý thức được điều này. Tại sao có những câu nói ra được người khác đón nhận nhiệt tình nhưng cũng có những câu nói làm người khác cảm thấy khó chịu? Có những câu nói có thể làm thay đổi một số phận nhưng cũng có những câu nói có thể kết thúc cuộc đời một con người. Thế mới biết lời nói có sức mạnh to lớn như thế nào. Tuy vậy, con người lại thường không biết trân trọng những gì mình đang có. Có trong mình một phương tiện giao tiếp hữu ích là quan trọng nhưng đôi khi người ta lại không biết cách để sử dụng nó có ý nghĩa.
Lời nói ra giông như bát nước đã hất đi, dù có cố gắng thế nào đi nữa thì cũng không thể thu lại được như cũ. Thế nên mới có chuyện chỉ một câu nói nhỡ mồm mà vạch trần bản chất ích kỉ, nhỏ nhen của ông thầy đồ nọ. Thầy tham ăn, trong một lần đi ãn cỗ mang theo cả học trò. Nhà chủ mang bánh ra thiết đãi. Thầy ăn nhiều mà vẫn thòm thèm nhưng ngại gia chủ nên cầm một cái đưa cho học trò, kèm theo một cái nháy mắt ẩn ý. Cậụ học trò đáng thương không hiểu nên cầm chiếc bánh ăn ngon lành. Thầy tức lắm nhưng không làm gì được. Trên đường về, trò đi như thế nào cũng bị thầy quở trách, mếu máo hỏi thầy. Thầy tức mình: “Thế bánh của tao đâu?”. Chỉ một câu nói lỡ miệng ấy thôi cũng đủ để khiến nhân cách của ông thầy đồ bị hạ xuống mức thảm hại, không thể cứu vãn được
Trong quan niệm của cha ông “quân tử nhất ngôn”, người quân tử phải là người nói một là một, nói lời phải giữ lời. Đó là một tiêu chí để đánh giá và phân biệt với kẻ tiểu nhân. Thế mới biết giá trị của lời nói từ xưa đã được đề cao như thế nào.
Thời hiện đại, nắm được giá trị lời nói cũng như vận dụng nó phù hợp với từng hoàn cảnh, cũng như tâm lí của người mình giao tiếp cũng là một bí quyết của thành công. Lời nói là thứ có thể tác động rất lớn đến người khác. Nếu như biết cách sử dụng khéo léo thì những gì nó mang lại cho bản thân và những người xung quanh là rất lớn.
Thời gian đến cùng với nó là những cơ hội, nhưng nếu ta không biết nắm bắt chúng thì cơ hội sẽ qua đi. Thời gian không chờ đợi một người nào. Có những cơ hội do con người tạo ra, cũng có những cơ hội do bên ngoài đưa đến nhưng không phải lúc nào nó cũng được thể hiện rõ ràng và dễ nắm bắt. Cơ hội có khi gõ cửa rất khẽ và đến lúc nó qua rồi người ta mới nhận ra rằng mình vừa để tuột mất. Khi ấy, dù có nuôi tiếc thì cũng không thể thay đổi được, và cái lần thứ hai sẽ chẳng biết khi nào mới có thể quay trở lại.
Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ, nhà quân sự vĩ đại của dân tộc Việt Nam chẳng phải vì nhận ra thời cơ cách mạng đã chín muồi mà lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nưởc Việt Nam dân chủ cộng hòa? Nếu không có sự phân tích tình hình đúng đắn, chớp thời cơ có một không hai khi “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị", nhân dân chuẩn bị được thế và lực sẵn sàng cho cuộc khởi nghĩa thì đã không thể nào có được độc lập như ngày hôm nay.Xem thêm: Giáo dục thay đổi số phận của cá nhân, thậm chí số phận của một dân tộc Có một điều gì đó tương đồng giữa cơ hội với việc nắm bắt vẻ đẹp, “bắt những vật thoáng qua phải dừng lại trong nhiều thế kỉ” như trong “Nghệ thuật nhìn thế giới” (Bông hồng vàng) Pau-tốp-xki đã đề cập đến. Người họa sĩ bối rối trước vẻ đẹp của tạo vật đang trong sự vận động bày ra trước mắt nhưng lại không làm sao có thể dừng nó lại để thưởng ngoạn. Cơn giông đến mang lại bức tranh đầy màu sắc, nhưng đó chỉ là một khoảnh khắc. Và khi nó qua đi rồi người ta chỉ còn biết tiếc nuối: “Thế là hết!” – Họa sĩ xúc động kêu lên. – Cái cảnh hỗn độn này ta chẳng được thấy luôn đâu”. Tất nhiên rồi sẽ có những cơn giông khác nhưng những mảng màu, những khoảnh khắc của những lần sau đó sẽ không bao giờ có thể giống lần này. Và cũng có nghĩa là chẳng bao giờ người nghệ sĩ được gặp lại một lần thứ hai như thế. Có lẽ đó chính là điều làm cho anh ta phải suy nghĩ nhiều nhất. Cơ hội cũng vậy. Có thể sẽ có một cơ hội khác đến sau cơ hội vừa qua đi, nhưng nó không bao giờ lặp lại như cũ. Và hơn nữa, để có được một cơ hội không phải là một điều đơn giản.
Nhận thức được điều này ta càng thấm thìa sâu sắc hơn giá trị của những gì ta đang có mà nắm bắt và tận dụng nó. Thời gian qua đi sẽ không bao giờ quay trở lại, vì vậy con người cần phải biết quí trọng thời gian, biết quí trọng những gì mình đang thuộc về mình. Tận dụng thời gian để làm những việc có ích cho bản thân cũng như cho xã hội. Thời gian hiện tại đối với những người đã trải qua phần lớn cuộc đời không vận động nhiều. Họ thường hướng về quãng thời gian trong quá khứ, để chiêm nghiệm lại những gì mình đã và không làm được. Khác với đó, người trẻ tuổi lại là những người đang được sống với khoảng thời gian đẹp nhất của cuộc đời mình, thời gian của sức trẻ, của tình yêu, của những dam mê và khát vọng, cần phải quí trọng và phân đâ’u hết mình trong những phút giây hiện tại. Biết được sức mạnh của lời nói, mỗi chúng ta cần phải cẩn thận và chín chắn hơn khi ăn nói, mở lời.
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau"
Cũng luôn cần phải biết nhận biết, nắm bắt và tận dụng cơ hội. Bởi có những thứ, nếu như bỏ qua chúng có thể ta sẽ phải nuôi tiếc suốt cả cuộc đời. Cuộc sống hiện đại năng động càng đòi hỏi nhiều hơn nữa sự nhanh nhạy của mỗi người. Và có một điều có thể chắc chắn là những ai biết quí trọng thời gian, quí trọng mỗi lời nói ra cũng như mỗi cơ hội đến vđi mình là người sáng suốt. Và họ sẽ thành công.
“Có ba điều trong cuộc đời nếu qua đi sẽ không lấy lại dược: thời gian, lời nói, cơ hội". Con người hãy ý thức sâu sắc giá trị quí báu của chúng để không bao giờ phải nói lời hối tiếc…
Vanmau.edu.vn | Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được_ “thời gian, lời nói và cơ hội”. Nêu suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến đó | 2,562 | |
Có ba điều tạo nên hạnh phúc: đó là một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn và một trái tim trong sạch (Domat). Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên?
Gợi ý
Nếu bạn đưa một ý kiến của Domat ra để nói với tôi rằng: “Có ba điều tạo nên hạnh phúc: đó là một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn và một trái tim trong sạch”, tôi sẽ không ngần ngại mà gật đầu đồng ý với bạn. Trong cuộc đời một con người, đó là những điều quý giá nhất, là mong muốn mà không phải ai cũng có được.
Trong câu nói của Domat, sức khỏe là yếu tố đầu tiên được nhắc đến, nó là yếu tố tiên quyết có ý nghĩa quan trọng trong việc làm nên hạnh phúc của con người. Không phải ai sinh ra cũng có một cơ thể khỏe mạnh. Khi một ai đó đang phải chịu những khiếm khuyết do tạo hóa sinh ra, họ là một người bất hạnh. Có thể bạn đang ấp ủ trong đầu rất nhiều ý tưởng. Có thể bạn đang ấp ủ trong mình rất nhiều hoài bão. Nhưng bạn sẽ làm được gì với một cơ thể yếu ớt không có chút sức lực? Những ý tưởng cũng sẽ chỉ tồn tại trong đầu óc, trên giấy tờ mà thôi. Sức khỏe mang lại cho bạn niềm hứng khởi để bắt tay vào công việc. Khởi đầu một ngày mới khi bạn cảm thấy cơ thể mình tràn đầy sinh lực báo hiệu một ngày làm việc có hiệu quả. Sức khỏe là điều kiện đầu tiên, là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Người hạnh phúc cũng là người có được một tinh thần minh mẫn và một trái tim trong sạch. Trí tuệ minh mẫn giúp con người có thể làm học tập và làm việc đạt hiệu quả cao nhất. Còn trái tim trong sạch như một ngọn đèn, chỉ lối cho con người vượt qua mọi khó khăn, đêm tối, vượt qua những cám dỗ của cuộc đời. Trái tim trong sạch thể hiện cho tâm hồn và nhân cách cao thượng luôn nghĩ và làm những điều tốt đẹp cho người. Đó là trái tim luôn khao khát yêu thương và được yêu thương. Trí tuệ minh mẫn lại luôn được dẫn đường bằng ánh sáng của trái tim thì sẽ sớm đạt được đỉnh cao vinh quang. Tình cảm có sự soi sáng của lý trí sẽ không bao giờ đi lạc bước. Có thể nói, đây chính là ba yếu tố quan trọng, cần thiết cùng nhau tạo nên niềm hạnh phúc, nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì niềm hạnh phúc sẽ không trọn vẹn nếu như không muốn nói rằng đó chưa thực sự là một người hạnh phúc.Xem thêm: Văn biểu cảm - Vui buồn tuổi thơ Có thể lấy Hồ Chí Minh như là một tấm gương tiêu biểu cho những bài học về hạnh phúc. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, không lúc nào Bác không có ý thức tự rèn luyện sức khỏe cho mình đồng thời kêu gọi toàn dân thực hiện theo, vẫn còn mãi hình ảnh Người giản dị trong bộ quần áo nâu, đôi dép cao su, ngày đông cũng như ngày hè, đều không mất đi thói quen tập thể dục buổi sáng. Người tắm nước lạnh, đi bộ, tập võ… Người kêu gọi đồng bào mình làm theo bởi chỉ có khỏe mạnh thì mới có thể “xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Cũng trong suốt cuộc đời giản dị nhưng vĩ đại của mình, Hồ Chí Minh vẫn thường hay nhắc nhở: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng. Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đức và tài luôn đi liền với nhau cũng như việc một trí tuệ thông minh cần có sự trợ lực của một trái tim trong sáng. Cái này sẽ trở thành động lực cho cái kia. Và khi đó, cùng với một cơ thể khỏe mạnh, niềm hạnh phúc của con người sẽ là một niềm hạnh phúc trọn vẹn.
Yếu tố làm nên hạnh phúc là vậy. Nhận thức được điều này, chúng ta sẽ biết được cụ thể hơn những việc nên làm để tự cảm thấy bản thân cũng như trong mắt mọi người, bạn là một người hạnh phúc. Trước hết, cần chuẩn bị cho mình yếu tố tiên quyết: sức khỏe. Sức khỏe là vốn quý của mỗi người, là cái làm tiền đề để bạn thực hiện tất cả những ước mơ hoài bão. Có sức khỏe là có tất cả, bởi vậy, bạn luôn phải có ý thức chăm lo cho sức khỏe của bản thân mình. Một chế độ ăn uống đầy đủ kết hợp với việc tập luyện và nghỉ ngơi phù hợp là cách tốt nhất. Bên cạnh đó, cần giữ cho tầm hồn mình luôn thư thái, minh mẫn bởi “một nửa sức khỏe của con người là trong tâm lý” (S. Aleksievist) và những tác động về tinh thần thường có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Song song với rèn luyện thân thể là việc bồi dưỡng tâm hôgn, trí tuệ mình ngày càng hoàn thiện hơn. Hãy không ngừng tích lũy tri thức, mở mang hiểu biết và nhận thức của bản thân. Xã hội ngày càng phát triển theo hướng hiện đại hóa, cùng với những đòi hỏi của nền kinh tế tri thức, nếu như không có ý thức tự bổ sung và phát triển tri thức cho mình thì sẽ đứng trước nguy cơ tụt hậu. Cũng trong xã hội đó, con người dễ bị cuốn theo những cám dỗ vật chất mà đánh mất đi nhân cách, đánh mất đi lòng tốt và tình yêu thương con người. Giữ cho trái tim mình trong sạch thực sự không phải là điều đơn giản. Nếu không quyết tâm, nỗ lực, người ta sẽ khó mà có thể đi đến cùng trên con đường hoàn thiện tâm hồn và nhân cách của mình.Xem thêm: Bàn về lợi ích và hứng thú của việc tự học Đối với những người trẻ tuổi, đặc biệt là những học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường, việc bồi dưỡng và phát triển con người một cách toàn diện càng có ý nghĩa quan trọng. Xưa nay vẫn thường ví tuổi trẻ như mùa xuân. Đó là lứa tuổi căng tràn nhựa sống, đầy ước mơ và hoài bão; là lứa tuổi mà não bộ phát triển trong giai đoạn đỉnh cao, dần đi đến ổn định nên khả năng học hỏi, và tiếp thu tri thức rất lớn. Thêm vào đó, đây cũng là giai đoạn do những đặc điểm tâm sinh lý nên rất phù hợp với việc hình thành, phát triển và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp. Bởi vậy, bên cạnh sự quan tâm của toàn xã hội, bản thân mỗi người trong chúng ta cũng cần luôn có ý thức trong việc tự rèn luyện vì tương lai của bản thân cũng như góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.
Hạnh phúc là điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Tất cả những điều chúng ta theo đuổi trong cuộc đời cũng chỉ nhằm đạt được đích do mình đề ra tức suy cho cùng cũng nhằm để đạt được tới hạnh phúc. Hạnh phúc là trái ngọt dành chung cho tất cả mọi người, vấn đề chỉ là ở chỗ người ta có thể biết cách để nắm bắt, để tận hưởng để duy trì và phát triển nó hay không mà thôi. Và trên cuộc hành trình chinh phục hạnh phúc ấy, mong mỗi người trong chúng ta sẽ luôn nhớ rằng: “Có ba điều tạo nên hạnh phúc: đó là một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn và một trái tim trong sạch”…Xem thêm: Bình giảng bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm TâmVanmau.edu.vn | Có ba điều tạo nên hạnh phúc_ đó là một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn và một trái tim trong sạch (Domat). Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên_ | 1,365 | |
Có lần bạn em cứu em thoát chết đuối. Hãy kể lại kỉ niệm đó của mình
Gợi ý
Tính tôi vui vẻ nên có nhiều bạn. Trong những người bạn ấy, tôi thân nhất Thành. Chúng tôi lớn lên bên nhau, học cùng với nhau, chia sẻ bao nỗi buồn vui. Có một kỉ niệm mà tôi sẽ không bao giờ quên.
Chuyện xảy ra vào mùa hè nàm ngoái. Mùa hè đối với lũ trẻ làng quê như chúng tôi thật thú vị. Không phải lo học chính, học thêm, chúng tôi suốt ngày chạy rong ngoài đồng, trên đê để mò cua, tát cá, thả diều… Hôm ấy, tôi rủ Thành đi mò trai ở đầm sen.
Đầm sen rất rộng, gió mát lộng, thoảng hương sen. Những lá sen to tướng, xanh mát như những cái ô xếp ngược, những ngó sen nhổ lên trắng muốt, ngọt lịm, những nụ sen khiêm nhường bên những bông hoa nở to rực rỡ, những đài sen xanh ngát đung đưa… tất cả thật tuyệt vời. Nhưng đối với bọn tôi, điều tuyệt vời nhất lại nằm ở dưới đáy bùn kia. Nước trong lắm nhưng ta không thể nhìn tới đáy được. Phải dùng chân giẫm, lúc nào thấy kệnh kệnh thì lặn xuống bới lên. Có thể đó chỉ là hòn đá, mảnh ngói nhưng phần lớn là một con trai béo với lớp vỏ nâu vàng, nhiều con to bằng vốc tay. Canh trai đầm sen ngọt và thơm phải biết!Xem thêm: Tả lại một cảnh đẹp hoặc một di tích lịch sử khi em có dịp về thăm quê Chúng tôi len lỏi trong đám sen. Trời nắng nhưng gió mát và thơm. Chẳng sợ nắng, cũng, không ngại đám cọng sen đầy gai nhọn cào xước thân mình, hai đứa mải mê mò mẫm. Tôi đã bắt được 5 con, Thành còn nhiều hơn thế. Vừa đến chỗ thưa sen, chúng tôi hò nhau bơi thi sang bờ bên kia.
Tôi sung sướng quẫy ùm ùm, đập nước tung tóe. Nước thật ấm, bơi thích lắm. Tội bơi giỏi hơn Thành, nên bỏ cách cậu ta một quãng xa. Sung sướng vì thêm một lần thắng bạn, tôi rướn lên. Chợt một cảm giác đau nhói dội lên. Thôi chết, chuột rút! Tôi cố ngoi nhưng càng vùng vẫy càng thấy mình chìm. Trong lúc ấy, tôi dường như không còn hơi sức. Không kìm được mình, tôi liên tục há miệng uống nước. Tôi không thở được. Người tôi cứng lại vì nghĩ đến cái chết. Tôi lịm đi.
Khi tôi mở được mắt ra thì thấy Thành đang ấn ngực tôi, nước trong miệng tôi vẫn còn trào ra. Tôi không còn chút hơi sức nào. Cậu ấy vừa ấn ngực tôi vừa khóc.
Một lức sau, tôi hồi sức dần. Chúng tôi nằm dài bên bờ đầm. Thành bảo thấy tôi giãy giụa rồi chìm xuống, cậu ấy biết là tôi nguy rồi, vội cố bơi đến. Thành lặn xuống tìm, thấy tôi liền nắm tóc, kéo tôi vào bờ? Cậu hà hơi thổi ngạt, rồi giúp tôi nôn nước ra.Xem thêm: Tả ông em đang chăm sóc cây Tôi cảm động nắm chặt tay bạn. Không có Thành cứu giúp, tôi bây giờ ra sao? Tôi rùng mình. Thành cừời bảo tôi khi mắt vẫn còn hoen nước: “Chuyện này bí mật, bố mẹ mà biết thì đừng hòng đi bơi!,”.
Sau lần ấy, chúng tôi vẫn đi bơi nhưng không dám ra giữa đầm mà chỉ loanh quanh gần bờ. “Dù sao cẩn thận vẫn hơn” – Thành cười và tôi thấy nụ cười của cậu ấy thật đẹp.
Vanmau.edu.vn | Có lần bạn em cứu em thoát chết đuối. Hãy kể lại kỉ niệm đó của mình | 612 | |
Có lần em làm phiền lòng bạn. Em hãy kể lại chuyện đó
Gợi ý
– Hôm ấy, vào một buổi trưa trời nắng gay gắt, lớp em đang học tiết toán. Ngồi trước mặt em là nhỏ Mai lớp phó học tập, nó mặc chiếc áo trắng tinh với cái nơ cài tóc màu vàng trông thật xí xọn và đáng ghét.
Em dường như không nghe thầy giảng bài mà cảm thấy bứt rứt khó chịu rồi em chìm vào giấc ngủ với niềm ganh ghét. Trong lúc ngủ, em mơ thấy mình trả thù được nhỏ bằng cách… Bỗng em như bị kéo lên và em mở mắt ra thì nhỏ lớp phó hiện ra trước mặt, một tay nó nắm tóc em, một tay chỉ lên bảng và nói:
– Sao bạn không chép bài mà lo ngủ?
Em càng tức tối và lấy cây viết máy rảy một vệt mực theo chiều dọc của chiếc áo từ trên xuống hết lưng Mai. Bạn quay phắt xuống nhìn em với ánh mắt căm hờn. Em cũng sẵn sàng làm tiếp một vệt mực thứ hai. Có lẽ một cuộc chiến nảy lửa sắp xảy ra bởi em thấy khuôn mặt Mai đỏ bừng rồi dần dần tái ngắt và đanh lại. Em thấy Mai kiểm tra lại ống mực xem còn không, nhưng bạn ấy không làm như em tưởng tượng mà cúi xuống chăm chú viết bài.
Giờ học tan, Mai rầu rĩ xếp tập âm thầm ra khỏi lớp. Bạn ấy chờ em ở cổng trường. Gặp Mai, em bối rối và hối hận vô cùng. Vừa định mở lời xin lỗi thì Mai đã lên tiếng trước, giọng lí nhí:Xem thêm: Cảm nhận của tác giả trong bài thơ Qua Đèo Ngang – Đáng lẽ mình không nên đánh thức bạn bằng kiểu ấy… mình đã thiếu tế nhị với bạn rất nhiều, mình xin lỗi bạn.
Nói xong, Mai bỗng vụt chạy, em đứng trơ lại sững sờ và không quên khuôn mặt của Mai lúc ấy.
Em hứa cố gắng học tính tốt của bạn để khỏi phải làm phiền lòng ai, xứng đáng là con ngoan trò giỏi dưới mái trường Xã hội chủ nghĩa.
Vanmau.edu.vn | Có lần em làm phiền lòng bạn. Em hãy kể lại chuyện đó | 367 | |
Có lần nào em được tham dự trại hè hay đi thăm một cảnh đẹp của đất nước chưa? Hãy thuật lại chuyến đi chơi đầy thú vị ấy
Gợi ý
Cứ mỗi khi nghĩ đến lần cắm trại ấy, là tôi lại cảm thấy lấp lánh những vì sao và những nụ cười bè bạn.
Tôi còn nhớ rõ sáng hôm đó, chúng tôi rủ nhau đi từ rất sớm. Những khuôn mặt rạng rỡ, ánh mắt sôi nổi, chúng tôi kéo nhau đến nhà Văn hóa Thiếu nhi thành phố. Kia rồi, một nơi rạng rỡ cờ hoa.
Khai mạc trại long trọng nhưng nhanh gọn. Từng nhóm, từng nhóm bắt tay ngay vào dựng lều – công việc ấy hấp dẫn nhất. Mặc cho nắng gắt, mồ hôi tuôn, các bạn chạy đi chạy lại như con thoi, cười đùa như pháo nổ. Trong chốc lát, lều được mọc lên như nấm. Chúng tôi chạy quanh ngắm lều, chui vào trong đua nhau trang trí. Ai cũng “mình thấy như thế này” hoặc “phải sửa chỗ ấy”, người nào cũng muốn có sự đóng góp của mình.
Nghỉ ngơi một lát, ai nấy lại xúm nhau vào nấu ăn. Một bữa nấu phải đun bằng củi, phải xách nước, lo tránh gió lùa, đối diện với “mặt trời cười…” thật là vất vả. Khói mù mịt, mùi thức ăn thơm lừng, tiếng cơm sôi sùng sục, mặt mày người nào cũng đỏ lự, nhễ nhại nhưng vẫn cười vui thích thú. Sau mấy tiếng đồng hồ chịu khói, chịu nóng, mâm cơm đầy công phu được dọn vào giữa khoang lều. Chúng tôi ít ai nghĩ đến cuộc thi. Chúng tôi chỉ cần tin với chính mình: ta đã làm được, tất cả ngồi bên nhau vừa râm ran cười nói, vừa chén ngon lành – ngon chưa từng thấy…Xem thêm: Nhân dịp ngày 20 tháng 11, lớp em có tổ chức cuộc thi viết báo tường. Em hãy viết một bài văn nghị luận với chủ đề: Nhớ ơn thầy cô Thời gian trôi nhanh quá. Vừa dọn dẹp mâm bát xong thì chiều đã đến. Chẳng thiết nghỉ ngơi, chúng tôi vội vàng chuẩn bị đêm lửa trại.
Ngọn lửa đêm ấy rất đẹp. Tình bạn của chúng tôi đã cùng đêm lửa trại ấy, gắn bó với nhau trong mỗi bài ca, mẩu chuyện quanh ngọn lửa bập bùng. Quây quần thành vòng tròn, tôi cùng các bạn xiết chặt tay nhau, cảm thấy đêm nay thật là một đêm của tình bạn. Bốn tiếng đồng hồ đã trôi qua, mà vẫn thấy sao mà ngắn thế. về khuya, nằm trong lều tôi mơ thấy cơ man nào là sao, là hoa, cả những ngọn lửa rực rỡ…
Sớm tinh mơ hôm sau chúng tôi nhanh nhẹn xếp gọn lều và bước vào ngày vui chơi thứ hai. Mới qua một ngày, nhưng tôi cảm thấy chúng tôi rất thân nhau, hiểu nhau nhiều hơn trước. Trò chơi đầu tiên là đi xe đạp chậm. Xen lẫn cảm giác hồi hộp và niềm thán phục, tôi vui cùng người thắng cuộc, vui với không khí hồ hởi bạn bè hôm nay. Tiếp đến là một trò chơi lớn: lên đường tới Thảo Cầm viên để tìm anh phụ trách, ai đến trước, tìm thấy trước sẽ được giải. Đạp xe xa, mệt nhoài, nhưng ai nấy hăm hở trổ tài của mình. Chạy hết chuồng thú này lách vào chuồng thú khác, men theo bờ suối nhỏ vượt qua cầu… Thấy anh phụ trách ngồi nấp sau lùm cây, cả đội tôi reo hò lao tới. Các đội khác cũng vội vã chạy đến bên anh. Chúng tôi nhìn nhau hả hê, cười rộ lên, quên cả phần thưởng trên tay anh phụ trách.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của dòng sông Hương qua tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường Kéo nhau về trại, chuyện trò càng sôi nổi hơn lúc đi, thời gian cứ vùn vụt. Đến trại rồi! Chỉ còn bữa ăn chung này nữa là chúng tôi sẽ xa nhau, phải xa nhau rồi.
Cọc và lều hạ xuống. Tôi cảm thấy quang cảnh trống vắng hẳn đi, và mọi vật xung quanh sao đầy lưu luyến, chúng tôi chẳng cười nói nữa, xếp hàng ngay ngắn bên nhau vào lễ bế mạc.
Dẫu sao, đã đến lúc về nhà, chắc là bố mẹ mong lắm đây. Tự nhiên tôi thấy cứ luyến tiếc thế nào…
Vanmau.edu.vn | Có lần nào em được tham dự trại hè hay đi thăm một cảnh đẹp của đất nước chưa_ Hãy thuật lại chuyến đi chơi đầy thú vị ấy | 758 | |
Có một bộ phim truyện rất hay, liên quan tới tác phẩm đang học, cả lớp cần đi xem. Em hãy viết một văn bản gửi lên thầy cô giáo để buổi đi xem phim học tập được tổ chức
Gợi ý
Cộng hoà Xậ hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày…, tháng… năm….
Giấy đề nghị
Kính gứi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 7C trường THCS Hoàng Hoa Thám.
Tên em là Đoàn Thị Hà Thu, lớp trưởng lớp 7C trường THCS Hoàng Hoa Thám.
Ngày… tháng… năm…, tới, tại Rạp chiếu phim Quốc gia có chiếu bộ phim “Hồ Chí Minh, chân dung một con người”. Bộ phim là nguồn tư liệu quý giá cho việc học văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ mà chúng em được học trong chương trình Ngữ văn 7. Vì vậy thay mặt tập thể lớp, em viết giấy này đề nghị cô giáo cho phép tập thể lớp được tổ chức đi xem bộ phim.
Chúng em xin hứa sẽ đảm bảo an ninh và kỉ luật. Nếu có sơ suất xảy ra, chúng em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Thay mặt tập thể lớp
Lớp trưởng
Hương
Phạm Lan Hương
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Phân tích giá trị của những từ Hán Việt.trong bài thơ Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan: "Tạo hoá gây chi cuộc hí trường... Cảnh đấy người đây luống đoạn trường." | Có một bộ phim truyện rất hay, liên quan tới tác phẩm đang học, cả lớp cần đi xem. Em hãy viết một văn bản gửi lên thầy cô giáo để buổi đi xem phim học tập được tổ chức | 235 | |
Có một nhà văn Nga đã nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương”. Em nghĩ thế nào về câu nói ấy
Gợi ý
Tại sao Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương’? Phải là một con người từng trải mới nói được những lời mang ý nghĩa sâu sắc như thế.
Qua sách báo, qua những bài học địa lí, ta mới biết được Bắc Cực lạnh lắm. Băng tuyết bao phủ quanh năm. Những ngọn núi băng cao chọc trời bao phủ cả một vùng mênh mông, kéo dài hàng nghìn hải lí. Lạnh dưới độ âm năm, sáu mươi độ. Phải là những nhà thám hiểm, nhà khoa học,… mới đến được Bắc Cực. Chỉ có các loài gấu trắng, hải cẩu, chim cánh cụt,… mới sống được ở Bắc Cực.
Nghe nói đến hai tiếng Bắc Cực mà đã ghê người. Nhưng nhà văn Nga lại nói: "Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương
Nơi không có tình thương hoặc thiếu tình thương là một xã hội mà chế độ bóc lột, áp bức ngự trị. Nơi đó, con người sống đau khổ trong thù hận, máu và nước mắt. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết:
“Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây thằng chúa đất
Đứa đè cổ, đứa lột da". Xem thêm: Bình luận tinh thần tương thân tương ái (Đất nước)
Nơi không có tinh thương thì quyền sống của con người bị chà đạp, bị tước đoạt. Nơi ấy, có kẻ ngồi mát ăn bát vàng, kẻ ăn không hết, người lần không ra, có kẻ không có cháo cầm hơi, không có manh áo che thân giữa những ngày đông tháng giá.
Nơi không có tình thương, lòng người, trái tim người khô héo, băng giá. Sự cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau không có. Sống chết mặc bay. Dửng dưng trước sự đau khổ của đồng loại. Con người khác nào cẩm thú! Đọc “
Đám tang lão Gô-ri-ô" của văn hào Ban-dắc mà ta thấy hãi hùng. Cha già yếu, ốm đau, hai cô con gái chẳng đoái hoài. Cha chết trong cô đơn, tủi nhục, nghèo khổ,… nhưng hai người con gái giàu sang không thèm đến tiễn đưa, không một giọt nước mắt. Tiền bạc trong xã hội tư sản đã làm băng giá tim người. Tình cha con, mẹ con, tình anh em, tình bè bạn, tình dồng loại… không còn nữa. Người ta tôn thờ thần tiền. Đúng là nơi không có tình thương còn lạnh lẽo, băng giá hơn Bắc Cực.
Xã hội thực dân nửa phong kiến là nơi không có tình thương. Vì thế mới có hiện tượng như nhà chí sĩ Phan Châu Trinh đã khinh bỉ đả kích: "Dân khôn mà chi! Dân ngu mà chi! Dân hại mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại *càng phú quý! chẳng những thế mà thôi "một người làm quan, một nhà có phước", dầu tham, dầu nhũng, dầu vơ vét! dầu rút tỉa của dân thế nào cũng không ai phẩm bình; dầu lấy lúa của dân mua Vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa cũng không ai chê bai" (Về luân lí xã hội ở nước ta). Xem thêm: Có lần em làm phiền lòng bạn. Em hãy kể lại chuyện đó Nơi không có tình thương thì không có đạo lí, con người trở nên tham lam, ích kỉ, độc ác, ti tiện. Sự chênh lệch quá lớn về giàu, nghèo trong xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự băng giá tình người. Nơi không có tình thương, chế độ không có tình thương không thể tồn tại được. Khi dân chủ và công bằng xà hội đã bị tước đoạt, chà đạp thì nơi đó làm gì có tình thương. Nơi đó là địa ngục, còn lạnh hơn cả Bắc Cực.
Nói đến tình thương là nói đến đạo lí, là nói đến lòng nhân ái. Nhân dân ta luôn luôn nhắc nhở nhau: “Thương người như thể thương thân". Gia đinh là cái nôi của tình thương: tình cha con, mẹ con, tình anh em, tình ông bà con cháu. Dân tộc là nơi phát triển tình thương: tình đồng bào, tình yêu quê hương, đất nước. Dưới mái trường, tuổi trẻ được giáo dục và phát triển tình thương: tình thầy trò, tinh bằng hữu, tình yêu Tổ quốc.
Phải sống nơi thiếu tình thường là điều bất hạnh.
Được sống trong tình thương là hạnh phúc.
Các phong trào như giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, ủng hộ đồng bào nghèo, đồng bào vùng bão lụt… là để xây dựng tình thương cho con người và cho xã hội.
Câu nói của nhà văn Nga về sự thiếu tinh thương có giá trị giáo dục lòng nhân ái cho bất cứ ai, bất cứ thời đạo nào. Xem thêm: Phải chăng “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi"Vanmau.edu.vn | Có một nhà văn Nga đã nói_ “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương”. Em nghĩ thế nào về câu nói ấy | 856 | |
Có một niềm tự hào về mảnh đất Thăng Long – Hà Nội ấy là: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Em hiểu điều đó như thế nào?
Gợi ý
Đồng hành cùng lịch sử dân tộc, Thủ đô thân yêu đã trải qua chặng đường một nghìn năm. Một nghìn năm ấy, Thủ đô đã đi vào lòng người với những nét đẹp rất riêng về lịch sử, văn hóa, phong tục… và không thể không kể đến nét đẹp của con người. Một kinh thành xưa và những con người của mảnh đất Rồng thiêng ấy đã tạo cho mình một phong cách rất riêng. Phong cách ấy được ghi nhận đầy tự hào:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Nói rằng chẳng thơm, nói rằng không thanh lịch chỉ là cách nói phủ định để khẳng định một nét đẹp của người thủ đô Thăng Long Hà Nội: Nét thanh lịch.
Hoa nhài là một loài hoa giản dị, mộc mạc với sắc trắng ngần. Nó không lộng lẫy kiêu sa như hoa hồng và cũng không rực rỡ như hoa phong lan. Nhưng sắc trắng của hoa mới thanh cao làm sao. Trắng là màu sắc bên ngoài, đồng thời cũng gợi ra sự trong trắng bên trong: sự kín đáo, dịu dàng của hương thơm. Hương hoa nhài không sực nức, nồng nàn mà chỉ thoang thoảng nhưng lâu bền.Xem thêm: Em đã từng chứng kiến chú công an đang làm nhiệm vụCòn Tràng An, vốn là kinh đô của mười hai vương triều phong kiến Trung Quốc. Là đất kính kì nhiều đời vua nhất Trung Quốc, nên Tràng An là nơi tụ hội, kết tỉnh của những nét đẹp văn hóa cả nước, rồi sau trở thành bản sắc truyền thống của Tràng An, không đâu sánh bằng. Lâu dần Tràng An trở thành biểu tượng của nét đẹp kính kì, được sử dụng như một danh từ chung, đồng nghĩa với kính kì, kỉnh đô nói chung của các nước vùng lân cận Trung Quốc như nước ta. Bởi vậy, cụm từ "Người Tràng An" trong câu ca có nghĩa là người kinh đô, người Thăng Long. Người kinh đô Thăng Long có lối sống rất tao nhã, thanh cao, cử chỉ rất văn minh, lịch sự. Lối sống đó đã trở thành bản sắc, dù có đi ngược về xuôi, vào Nam ra Bắc, bản sắc đó cũng không thay đổi. Dù ở đâu người ta vẫn có thể nhận ra người Hà Nội, cũng như người ta nhận ra hương nhài giữa rùng hương.
Ở đất kinh kì này, phụ nữ thì trang phục trang nhã, dáng đi nhẹ nhàng, ăn nói dịu dàng, lời lẽ giản dị mà lịch sự, nổi tiếng cả nước về vẻ xinh tươi, đoan trang, dịu hiền mà vẫn lanh lợi, tinh anh. Người đàn ông thì thông minh, nhạy bén trong giao tiếp, lịch sự với những người khác phái và cũng có một sự ưa nhìn không kém. Ngày nay, tiếp thu nhiều luồng ánh sáng văn minh trên thế giới, người Hà Nội đích thực vẫn vừa thanh lịch vừa thông minh, sắc sảo hơn. Nhưng trong quá trình mở cửa cũng không ít những văn hóa đồi trụy du nhập vào thủ đô ta, làm xuất hiện không ít những lối sống kém văn hóa, xóa đi nét đẹp của con người kinh thành. Xem thêm: Từ một số bài ca dao than thân đã học hoặc đã đọc, hãy phát biểu cảm nghĩ của anh (chị) về số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. (Yêu cầu viết bài văn) Vậy để giữ gìn những truyền thống tốt đẹp mà ông cha ta để lại, mỗi chúng ta phải làm gì?
Điều này tùy thuộc vào bản thân mỗi người, tùy thuộc vào sự cố gắng để trở thành người Tràng An thanh lịch. Trong gia đình, chúng ta cần kính trọng người trên, nhường nhịn kẻ dưới. Trong quan hệ với hàng xóm, láng giềng, mỗi người đều cần phải biết tôn trọng lẫn nhau, cần cư xử đúng mực, ăn nói, hành động lịch sự, nhã nhặn. Có việc gì xích mích xảy ra cũng cần phải bình tĩnh giải quyết, không nên cãi cọ, chửi bới, ẩu đả. Ra ngoài thì ăn mặc sao cho đứng đắn. Đi làm, đi học thì nên mặc theo quy định của cơ quan, nhà trường. Ngày nghỉ, đi chơi, đi dự lễ hội hoặc theo lễ phục dân tộc hoặc theo y phục mới cũng cần lựa chọn thích hợp với dáng người, với lứa tuổi. Tránh đua đòi, ăn chơi theo mẫu mốt không thích hợp.
Tóm lại, chúng ta thế hệ con cháu cần phải giữ gìn nét thanh lịch của ông cha để lại và hơn thế nữa là những truyền thống, phong tục tốt đẹp, không để chúng phôi pha dần theo ngày tháng. Chúng ta cần cố gắng tự rèn luyện để đất nước có thể tự hào với truyền thống mà qua chặng đường lịch sử dài vẫn giữ được và lấy đó làm cơ sở để xây dựng một xã hội tươi đẹp, hạnh phúc. Để dù một nghìn năm đã qua đi ta vẫn tìm thấy người Tràng An, thấy hoa nhài mỗi khi ta về với thủ đô yêu dấu. Xem thêm: Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ của Tô HoàiVanmau.edu.vn | Có một niềm tự hào về mảnh đất Thăng Long – Hà Nội ấy là_ “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Em hiểu điều đó như thế nào_ | 927 | |
Có một đêm vắng đi trên con đường, em chợt nghe tiếng thì thầm: Bạn ơi!… Tiếng con đường trò chuyện cùng em. Hãy ghi lại câu chuyện ấy
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
– Giới thiệu không gian, thời gian, địa điểm diễn ra cuộc trò chuyện.
– Nắm được ý đồ của người ra đề “nghe tiếng thì thầm: Bạn ơi!…” là một lời tâm sự, trên cơ sở đó để lựa chọn một chủ đề hợp lí.
B. THÂN BÀI:
Nội dung lời trò chuyện là tâm sự của em và con đường.
C. KẾT LUẬN:
Những suy nghĩ, cảm xúc của em sau buổi trò chuyện (suy nghĩ, cảm xúc, tùy thuộc vào chủ đề câu chuyện).
BÀI LÀM
Đêm khuya, ánh trăng nhạt nhòa. Cơn gió nhẹ mơn man trên tóc, tôi lững thững đi giữa khoảng không gian ấy để lắng nghe tiếng cựa mình của mùa thu. Và bất chợt, tôi đã nghe tiếng con đường làng nho nhỏ: “Bạn ơi!…”
Giọng nói ấy sao nghe đầm ấm, thiết tha. Tôi bỗng ngỡ ngàng sau cảm giác cứ mơ hồ dịu ngọt!
– Bạn có biết không? Dưới vầng trăng này, làn gió này, tôi muốn kể cho bạn nghe, tồi muốn nói một điều, một điều cho riêng bạn mà thôi…
– Bạn ơi! Bạn kể đi, để lòng tôi không khỏi bâng khuâng. Tôi cứ ngỡ đây chỉ là một giấc mơ. Một giấc mơ đẹp mà tôi hằng mơ ước, có vầng trăng, có làn gió, có cả một không gian, có tôi và bạn.Xem thêm: Tả cảnh đầm sen vào mùa hạ
– Vâng. Chỉ có vậy thôi, tôi và bạn. Và giữa chúng ta có một huyền thoại. Bạn có biết chăng? Tôi yêu quý nơi đây, yêu những hàng dừa tỏa bóng, yêu những đồng ruộng xanh ngát một màu và tôi yêu hơn hết những con đường một nắng hai sương, dầm dãi nắng mưa. Tôi không thích cao sang, bóng bẩy mà tôi yêu sự mộc mạc đơn sơ. Tôi muốn ở mãi nơi đây để chiều chiều được nhìn những làn khói bếp từ mọi nhà bay lên nồng ấm. Mùi cơm mới đọng trong những nếp nhà tranh. Nơi đây, tôi đã có một tuổi thơ với nụ cười giòn tan và những giọt nước mắt hờn dỗi. Mặc dù thỉnh thoảng thịt da tôi cào xé bởi bàn tay của những bạn học trò tôi yêu. Đó là những bạn nhỏ chân quê hồn nhiên đáng yêu. Những việc làm kia còn nông nổi, dại khờ. Tôi cũng như bạn, tôi cũng có một tuổi thơ đẹp đẽ và tôi đã chứng kiến một câu chuyện về một cô gái mở đường. Cô đã công hiến sự sống của mình cho sự sống của muôn người, của thiên nhiên, đất nước. Cô đã đem tình yêu và nhiệt huyết tuổi trẻ của mình để xây đắp những con đường đi đến thắng lợi ngày mai…
Phải chăng đâu đấy trong gió đêm, trong ánh trăng, giọng thơ nào đang ngân rung tha thiết:
Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời nằm yên trong đất
Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng
Những vì sao ngời chói lung linh.
Tôi bồng bềnh, mình đang tỉnh hay mơ, chợt thấy trên cao vầng trăng vằng vặc, xung quanh mình gió vẫn hát ru đêm. Trong một đêm như thế tôi đã được nghe tiếng thì thầm của con đường nhỏ: “Bạn ơi! Bạn có biết không!…” tha thiết êm đềm…Xem thêm: Ca dao xưa có bài: "Công cha như núi Thái Sơn ,Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con". Giải thích câu ca dao và lấy những nhân vật thiếu nhi trong văn học để chứng minh rằng: Các em vẫn luôn làmVanmau.edu.vn | Có một đêm vắng đi trên con đường, em chợt nghe tiếng thì thầm_ Bạn ơi!… Tiếng con đường trò chuyện cùng em. Hãy ghi lại câu chuyện ấy | 638 | |
Có người cho rằng ngày nay trong siêu thị cái gì cũng có, vì thế nên dẹp bỏ hết các chợ quê, Ý kiến của anh (chị) thế nào?
Hướng dẫn
Yêu cầu của câu hỏi theo hướng mở nên người viết có thể tự do trình bày ý kiến của mình – tán thành hoặc phản đối. Khi bàn luận, cần chú ý nhìn vấn đề từ nhiều phương diện: kinh tế và văn hoá, sự tiện ích và những cảm xúc thẩm mĩ. Đề yêu cầu HS thể hiện chính kiến của mình và vận dụng tổng hợp các thao tác nghị luận: chứng minh, giải thích, bác bỏ, bình luận… cũng như kết hợp các phương thức miêu tả, thuyết minh, biểu cảm, tự sự…
Có thể tham khảo gợi ý sau:
– Siêu thị có những ưu thế vượt trội nào so với chợ quê, đáp ứng được những nhu cầu nào của cuộc sống hiện đại?
– Chợ quê "thua" siêu thị hiện đại ở những điểm nào nhưng lại phù hợp với thực tế cuộc sống nào? Đặc biệt, chợ quê có thể lưu giữ được những nét đẹp văn hoá nào của làng quê Việt; có sức hút ra sao với khách du lịch?
– Từ đó, có thể tìm được câu trả lời thoả đáng: nên dẹp bỏ hết các chợ quê hay nên duy trì cả hai hình thức – chợ và siêu thị?
– Khái quát mở rộng, nâng cao vấn đề: từ siêu thị và chợ quê nghĩ tới nhiều hiện tượng khác tương tự. Đó là vấn đề mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, xưa và nay, cái cũ và cái mới, bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế,…
– Có thể bàn luận mở rộng và nâng cao vấn đề bằng cách khẳng định và phê phán những đổi mới, cải tiến, những thay đổi trên nhiều lĩnh vực trong cuộc sống hiện nay. Có những thay đổi tích cực nhưng cũng có những thay đổi để lại những hậu quả không hay, cần bàn bạc, suy nghĩ kĩ trước khi quyết định thay đổi, cải tiến; liên hệ rộng ra các sự việc và hiện tượng khác trong cuộc sống mà người viết thấy có loại thay đổi làm cho tốt lên và có loại làm cho xấu đi… Từ đó rút ra bài học cho bản thân.
Nguồn: thêm: Có người lạ đến hỏi bố mẹ em. Em sẽ trả lời thế nào nếu bố mẹ có ở nhà và nếu bố mẹ đi vắng | Có người cho rằng ngày nay trong siêu thị cái gì cũng có, vì thế nên dẹp bỏ hết các chợ quê, Ý kiến của anh (chị) thế nào_ | 426 | |
Có người cho rằng sự ham muốn vô độ về tiền bạc sẽ dẫn con người đến chỗ sa đoạ tâm hồn
Hướng dẫn
1. Mở bài
– Một câu châm ngôn phương Tây từng nhắc nhờ ta: “Tiền bạc không tạo ra hạnh phúc, mà chỉ góp phần vào hạnh phúc’’
– Tuy nhiên trong xã hội ngày nay, một số người vẫn mưu cầu sung sướng, hạnh phúc bằng cách làm bất cứ hành động nào bất chấp thủ đoạn, để kiếm thật nhiều tiền. Họ cho rằng có tiền sẽ có được mọi thứ, kể cả hạnh phúc, mà không ý thức được rằng sự ham muốn vô độ về tiền bạc sẽ đấy họ vào cho sa đoạ tâm hồn.
2. Thân bài
a) Giải thích
– Từ xưa, con người đã nhận rõ giá trị vạn năng của đồng tiền. Có tiền là có thểchiếm hữu mọi thứ tài sản, quyền thế, địa vị, nhất là trong xã hội có giai cấp. Tiền bạc làm thoả mãn lòng ham muốn của con người: Có tiền mua tiên cũng được.
– Cuộc sống hiện tại đặt ra nhiều nhu cầu cá nhân cho con người. Cho nên, thay vì nhận thức đúng đắn giá trị của tiền bạc, một số người cho rằng phải kiếm thật nhiều tiền để thoả mãn mọi tiện nghi đời sống vật chất. Do quan niệm sai lầm đó về hạnh phúc, họ sinh lòng ham muốn vô độ về tiền bạc.
– Sự thèm muốn vô độ đó sẽ đẩy con người vào chỗ sa đoạ tâm hồn.
+ Bị tiền bạc ám ảnh, người ta phải tiêu phí quá đáng công sức, thì giờ, quay cuồng đầu óc về chuyện kiếm tiền. Sự ham muốn ích kỉ nào cũng làm cho người ta khổ sở, nhất là sự ham muốn vô độ.
+ Tiền bạc có thể làm cho con người dễ tráo trở:
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Xem thêm: Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố HữuHết cơm, hết rượu, hết ông tôi.
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Quên cả nhân nghĩa:
Tiền tài hai chữ, son khuyên ngược
Nhân nghĩa đôi đường, nước chảy xuôi.
(Nguyễn Công Trứ)
Đôi khi trở nên tàn nhẫn, độc ác:
Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền
(Truyện Kiều).
b) Bài học
b1. Cần nhận thức đúng đắn về giá trị đồng tiền
– Tiền bạc chỉcó giá trị như một phương tiện đảm bảo cuộc sống của ta được ấm no, hạnh phúc.
– Đừng để tiền bạc trở thành ông chủ sai khiến ta làm chuyện bất nhân hại người, dày vò áp bức ta, biển ta thành một tên nô lệ.
b2. Cần quan niệm đúng đắn về hạnh phúc và cuộc sống
– Hạnh phúc không phải là sự thoả mãn mọi ham muốn cá nhân một cách ích kỉ. Hạnh phúc chính là sự thoả mãn lâu dài những ước mơ, lí tưởng cao đẹp về cuộc sống hạnh phúc của ta và mọi người xung quanh, của đồng bào ta.
– Con người, ngoài tài sản vật chất do lao động chân chính tạo ra, còn có những bảo vật tinh thần: một tâm hồn trong sáng, một nhân cách thanh cao, niềm say mê lao động phục vụ xã hội, đất nước… Những thứ này không thể nào mua được bằng tiền bạc.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị câu nói đề bài
– Vận dụng bài học vào cuộc sống
Nguồn: thêm: Có người lạ đến hỏi bố mẹ em. Em sẽ trả lời thế nào nếu bố mẹ có ở nhà và nếu bố mẹ đi vắng | Có người cho rằng sự ham muốn vô độ về tiền bạc sẽ dẫn con người đến chỗ sa đoạ tâm hồn | 593 | |
Có người nói, cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về Tây Tiến
Gợi ý
Đề bài:
Có người nói, cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về Tây Tiến.
Hãy bình giảng đoạn thơ sau để làm sáng tỏ ý kiến trên:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
(Trích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, Văn học 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2000, tr.76)
Phân tích đề
– Đề yêu cầu bình giảng một đoạn thơ theo hướng chỉ định: nỗi nhớ về Tây Tiến của Quang Dũng. Vì thế, đây chính là giới hạn về kiểu bài làm văn. Thể loại vẫn là bình giảng thơ trữ tình.
– Mặc dù đề chỉ yêu cầu bình giảng phần đầu của bài thơ Tây Tiến, nhưng người viết phải hiểu rõ toàn bài. Qua việc thể hiện cảm thụ chỉ ở phần đầu của bài thơ nhưng người viết hướng cho độc giả biết nỗi nhớ chính là cảm hứng chủ đạo của toàn bài thơ.
Bài tham khảo
Lâu nay, nhiều người khi tiếp xúc với Tây Tiến của Quang Dũng thường bị mê hoặc bởi một âm điệu lạ lùng.
Chỉ phần đầu của bài thơ thôi, cảm xúc về một thế giới Tây Tiến đã mở ra, rồi đọng lại mãi:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
…
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Phải chăng thế giới ấy đã chiếm một vị trí riêng có, duy nhất trong lòng nhà thơ khiến người Tây Tiến – Quang Dũng không thể nào quên?
*
* *
Tây Tiến mở đầu bằng một tiếng kêu, tiếng kêu có phần thảng thốt, buột miệng mà kêu:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Liền sau đó là nỗi nhớ. Nỗi nhớ tràn về, bất chợt và ào ạt, đến nỗi không còn hiện tại. Con người chìm đắm trong quá khứ, sống với thời đã qua. Và thơ, đã hiện tại hóa cái thời đã mất ấy, biến nó hiển hiện trước mặt. Khả năng hiện thực hóa của thơ mạnh đến nỗi nếu ngắt đi hai câu đầu và hai câu cuối của đoạn thứ nhất, người ta nghĩ mình đang sống với Tây Tiến:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
…
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhưng thực ra, đó là hiện thực qua nỗi nhớ, hiện tại trong hoài niệm.
Trong tình cảm của con người, buồn, nhớ là những tâm trạng phức tạp, nhiều cung bậc nhát. Khi nhớ, người ta thường rơi vào trạng thái đặc biệt khôn tả, nhiều khi không rõ ràng, mất cả định hướng. Trong bài thơ Việt Bắc, một bài thơ trữ tình chính trị tiêu biểu của Tố Hữu và của cả nền thơ kháng chiến chống Pháp, nhưng vẫn có những câu “lạ kỳ”:Xem thêm: Viết một bài văn bản nghị luận trình bày ý kiến, quan điểm của anh (chị) về một tác phẩm văn học mới ra đời đang được nhiều người quan tâm, bàn luậnTiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, hồn chồn bước đi
hoặc:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương…
Song, đấy là những câu thơ diễn tả rất đúng tâm trạng con người.
Ở Quang Dũng, đó là nỗi “nhớ chơi vơi”, nỗi nhớ khiến lòng người hóa thành chông chênh, bồng bềnh, lơ lửng. Khi đã “chơi vơi” thì khoảng cách không gian như xích lại gần, thời gian đồng hiện. Vì thế, trong một đoạn thơ không dài (14 câu) nhưng xuất hiện hàng loạt địa danh: sông Mã, Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Lịch, Mai Châu và có lẽ còn nhiều địa điểm vô danh khác: Dốc khúc khuỷu; dốc thăm thẳm; heo hút cồn mây; ngàn thước lên cao; ngàn thước xuống; gục lên súng mũ… Nếu kể các địa danh ở những khổ thơ còn lại, Tây Tiến rất có thể là bài thơ có nhiều địa danh vào bậc nhất. Chắc chắn, các địa danh, địa điểm ấy phải ở rất xa nhau. Các sự kiện (xảy ra trong từng thời gian) cũng ào ạt xuất hiện: sương lấp; hoa về; mưa xa khơi; thác gầm thét; cọp trêu người; cơm lên khói… Lẽ dĩ nhiên, trong thực tế, các sự kiện không xảy ra cùng lúc. Nhưng trong nỗi nhớ Tây Tiến, nó ùa về, đồng hiện và tràn ngập hồn người. Và, thật kỳ diệu, quá khứ không mất đi mà nguyên vẹn cả hình hài, vóc dáng. Với Quang Dũng, một người Tây Tiến, đã “sống” với Tây Tiến lần thứ mấy. Còn với những ai, không phải người Tây Tiến, qua thơ, Tây Tiến như đang hiển hiện. Tố Hữu từng nói, văn học giúp con người sống nhiều cuộc đời khác nhau là như vậy!
Ở trên, mới chỉ nói đến cái thế, cái uy của nỗi nhớ Tây Tiến. Bây giờ, nói rõ hơn về hiện thực mà nỗi nhớ ấy đã kéo về.
Đầu tiên là cảnh vật, thiên nhiên vùng Tây Bắc mà ngay từ ban đầu tác giả đã định danh: “rừng núi”, tức là một không gian rộng lớn, ngút ngàn, ở đó, có sương khói lấp cả bóng người, có đèo dốc khúc khuỷu, có vực sâu thăm thẳm, có cồn mây heo hút, có gió mưa mù mịt… Rõ ràng là một địa hình phức tạp với khí hậu nghiệt ngã, đúng là nơi chốn người xưa thường nói: ma thiêng nước độc! Nhưng với nhiều tâm hồn lãng mạn, dũng mãnh, ưa khám phá, thiên nhiên ấy có lẽ khá kỳ vĩ, thậm chí đẹp nữa. Vả lại, vùng đất ấy còn có “hoa về trong đêm hơi”, có bóng nhà thấp thoáng trong “mưa xa khơi”, có mùi thơm ấm nồng của “nếp xôi”. Cảnh vật thiên nhiên kỳ vĩ, mới lạ nhưng hấp dẫn hồn người. Nếu bài thơ dừng lại ở câu Mai Châu mùa em thơm nếp xôi hoặc tiếp tục phát triển theo hướng đó thì bảo đây là “thơ đường rừng” cũng chẳng sai. Có lần, Quang Dũng tâm sự, hồi còn đi học, nhà thơ rất say mê thơ Mới. Trong số các nhà thơ Mới, Thế Lữ là người ông thích hơn cả, “đặc biệt bài Nhớ rừng, bởi chất tâm trạng sơn dã của nó”. Nhà thơ còn nói: Tôi mô tả trong bài thơ Tây Tiến rất thực, có pha chút âm hưởng “Nhớ rừng” của Thế Lữ và sau này vô tình tôi mới nhận ra…
Xem thêm: Tả quả dưa hấu Nhưng đây không phải là thơ đường rừng mà là thơ về anh bộ đội ở trong cuộc đời thực. Khi nhớ về rừng núi cũng là nhớ về nơi chốn, con đường hành quân của của đoàn Tây Tiến, nhớ về người Tây Tiến. Hình bóng đoàn quân ấy thấp thoáng từ xa, trong sương mù lấp kín rồi hiện dần lên trong cuộc chinh phục địa hình:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Cái hay của khổ thơ là nói về địa hình trắc trở, không một từ nào chỉ người (trừ đại từ ai chỉ nơi xa) nhưng bóng dáng con người vẫn hiện ra. Hơn nữa, đó là cuộc hành quân khó khăn, đầy thử thách. Đọc đoạn thơ, người ta không chỉ hình dung từng bước đi khó nhọc mà cả hơi thở gấp gáp, mệt mỏi lẫn thế đứng chênh vênh của người vượt dốc. Xưa nay, nhiều người khi phân tích đã chỉ ra rất đúng sự khó khăn của địa hình đối với người lính Tây Tiến trên đường hành quân: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống, ở câu thơ Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống có sự cân đối giữa chiều cao và chiều sâu: lên hay xuống đều ghê gớm cả! Song, cấu trúc của ba câu thơ này còn điều đặc biệt hơn nữa, không hẳn là sự đối xứng mà là sự gia tăng, chất chồng:
Dốc lên khúc khuỷu / dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây / súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao / ngàn thước xuống
Đối với người lính Tây Tiến, đường hành quân dường như gian nan cứ dày lên mãi và con người lại phải vượt lên, cứ phải đi tới. Điều lạ là họ không bị địa hình quái ác ấy khuất phục. Phút giây ngắm nhìn Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi càng chứng tỏ đó là những người băng rừng vượt dổc, nhưng không bị gian nan đè chặt tâm hồn, con đường không biến thành nỗi sợ hãi. Bởi vậy, đoạn thơ kế tiếp nêu lên những “thế lực” khác vây lấy người lính Tây Tiến mà chẳng thấy ai sợ hãi:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Có lẽ, nỗi sợ hãi được thay thế bằng sự tò mò, khám phá. Nên nhớ, những thập niên 30, 40 của thế kỷ trước, nhiều thanh thiếu niên Việt Nam rất thích phiêu lưu, mạo hiểm, thích rày đây mai đó để thoát khỏi cuộc sống chật hẹp, nhàm chán. Trước năm 1945, Quang Dũng đã là người như thế. Còn nhiều anh bộ đội Tây Tiến vốn là các chàng trai của đất Hà thành. Ở môi trường mới, hoàn cảnh mới nhưng nét tính cách kia vẫn còn chăng? Và một khi được khám phá cái mới lạ, dù nguy hiểm, con người vẫn thích thú hơn là lo sợ.
Nếu hiểu như vậy thì hai câu thơ: Anh bạn dãi dầu không bước nữa / Gục lên súng mủ bỏ quên đời! không nên cho đấy là cái chết như có người đã phân tích. Hiểu đó là những phút giây mệt mỏi (vì dãi dầu) người lính tạm dừng bước trên đường hành quân sẽ phù hợp hơn. Cũng có thể hiểu thêm, gốc gác lính Tây Tiến là những chàng trai Hà Nội nên cốt cách đôi khi kiêu bạc, bất cần đời, bạ đâu nghỉ đó, không như người lính ở Đồng chí của Chính Hữu hay Nhớ của Hồng Nguyên. Vả lại, đầy chưa phải là lúc Quang Dũng nhớ về người lính Tây Tiến với những hy sinh, mất mát như ở đoạn thơ cuối. Càng không thể cho đây là cái chết bởi hai câu thơ liền kề, kết thúc một trường đoạn hoài niệm, là hình ảnh rất thi vị:Xem thêm: Hình ảnh con sông Đà qua sự cảm nhận của Nguyễn Tuân trong đoạn trích tác phẩm Người lái đò Sông Đà.Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Câu thơ diễn tả khung cảnh thật thanh bình, dường như không hề có chiến tranh. Đó là những khoảnh khắc có thật, dù ít ỏi đi chăng nữa, trên con đường hành quân khắc nghiệt của đoàn Tây Tiến. Thời gian càng lùi xa, càng phủ lên làn khói cơm chiều ấy vẻ đẹp của sự bình yên và thân thuộc, càng gây thêm mùi nhớ của hương vị nếp xôi thơm nồng. Câu thơ trên với ba vần trắc (nhớ, Tiến, khói) như chạm khắc làn khói cơm chiều vào bầu trời ký ức. Câu thơ thứ hai hầu hết là vần bằng (chỉ có một vần trắc: nếp) lại đưa đẩy, khuếch tán cái hương vị ngọt ngào ấy vào sâu tâm hồn con người.
Cầu thơ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi còn có một từ đặc biệt: mùa em. Khi tiếp xúc với Tây Tiến, ai cũng thừa nhận chính từ ấy đã làm cho câu thơ trở nên lạ lùng và… khó hiểu! Chắc là trước Quang Dũng chưa ai sử dụng mỹ từ đó. Điều mọi người đều thừa nhận là khi đã trở thành anh Vệ quốc quân, nhà thơ của chúng ta vẫn là chàng trai hào hoa và… lãng mạn. Ở bài thơ viết năm 1949, sau Tây Tiến một năm, Đôi mắt người Sơn Tây, một bài thơ nói về những mất mát trong chiến tranh còn thảm khóc hơn nhiều, Quang Dũng vẫn có những hình ảnh và ngôn từ sang trọng, không kém phần mỹ lệ:
Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương…
Chiến tranh không làm mất đi nét hào hoa và lãng mạn ở Quang Dũng. Tôi đồ rằng, ở nhà thơ này con có một thước đo riêng. Đó là thước đo của cái Đẹp và từ phía Đẹp. Thiên nhiên, thời gian cũng được nhà thơ đo bằng thước đo ấy. Người đời đã có mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông. Quang Dũng, với Tây Tiến, có thêm ít nhất một mùa nữa. Mùa ấy có chiều kích ở đôi mắt và tâm hồn của chính thi nhân.
*
* *
Sông Mã xa rồi… thơm nếp xôi là một trường đoạn trong nỗi nhớ dài da diết của Quang Dũng về Tây Tiến.
Nỗi nhớ ấy làm hiện lên một vùng đất với thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa khắc nghiệt, vừa đầy thơ mộng vừa hết sức nguy nan. Nhưng xao động lòng người vẫn là chân dung của những người lính Tây Tiến rất đỗi hào hùng và hào hoa. Cho dù thời gian có biến tất cả trở thành quá khứ nhưng Tây Bắc và người Tây Tiến qua thơ Quang Dũng vẫn còn đọng lại mãi.
Vanmau.edu.vn | Có người nói, cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về Tây Tiến | 2,338 | |
Có người sau khi đọc Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu cứ băn khoăn…, vậy hãy giải thích cho người đó rõ
Gợi ý
Đề bài:
Có người sau khi đọc Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu cứ băn khoăn: Vì sao Nguyễn Ái Quốc không để nhân vật Phan Bội Châu vạch tội hay thét mắng vào mặt Va-ren mà chỉ im lặng, với nụ cười ruồi thoáng qua, "kín dáo, vô hình" trên gương mặt. Người đó cũng không hiểu vì sao "cái ỉm lặng dửng dưng" của Phan Bội Châu lại có thể "làm cho Va-ren sửng sốt cả người".
Em đã học kĩ tác phẩm này, vậy hãy giải thích cho người đó rõ
Bài làm:
Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu là một truyện ngắn đặc sắc của cây bút châm biếm nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc. Tác phẩm lên án, vạch mặt bản chất vô liêm sỉ, bỉ ối của tên quan Toàn quyền Đông Dương Va-ren đồng thời ngợi ca nhà chí sĩ cách mạng yêu nước Phan Bội Châu. Nhưng có người sáu khi đọc truyện ngắn này vẫn băn khoăn: Vì sao Nguyễn Ái Quốc không để nhân vật Phan Bội Châu vạch tội hay thét mẩng vào mặt Va-ren mà chỉ im lặng, với nụ cười ruồi thoáng qua, "kín đáo, vô hình" trên gương mặt. Người đó cũng không hiểu vì sạo "cái im lặng dửng dưng" của Phan Bội Châu lại có thể "làm cho Va-ren sửng sốt cả người". Chúng ta cần hiểu những điều đó như thế nào?
Tác phẩm ra đời khi đất nước ta vẫn còn bị thực dân Pháp đô hộ. Chúng mượn chiêu bài “khai hóa văn minh” mà áp bức, bóc lột đồng bào ta. Khi đó, viên quan Toàn quyền Pháp Va-ren chuẩn bị sang Đông Dương nhậm chức, từ chính lòng nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu. Tác phẩm là một truyện ngắn có tính chất kí sự nhưng thực tế là hư cấu, do tác giả tưởng tượng và sáng tạo từ sự việc trước khi sang Đông Dương nhậm chức, Va-ren có tuyên bố sẽ quan tâm tới Phan Bội Châu.Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người: Góp một đóa hồng ngày 8 - 3 Phan Bội Châu là ai? Ông là nhà chí sĩ yêu nước vĩ đại, là niềm hi vọng cho nền độc lập của dân tộc Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ. Ông đã có nhiều hoạt động cách mạng nhằm giành lại độc lập tự do cho đất nước: phong trào Đông Du, phong trào Đông Kinh nghĩa thục,… Đó là “con người đã hi sinh cả gia đình và của cải để xa lánh khỏi thấy mặt bọn cướp nước mình”, “đang xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng”. Đứng trưóc Va-ren và những lời dụ dỗ ngọt ngào của hắn trong nhà tù ông chỉ “im lặng dửng dưng" với nụ cười ruồi thoáng qua, "kín đáo, vô hình" trên gương mặt. Quả thực, Va-ren xứng đáng nhận được “lời chào mừng” thâm thúy ấy của người tù nổi tiếng ấy.
Trước khi sang Đông Dương, do sức ép của công luận ở Pháp và Đông Dương, Va-ren đã hứa sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu. Nhưng thực chất đó chỉ là một lời hứa dốì trá nhằm trấn an công luận, trấn an nhân dân Việt Nam đang đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu. Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng biện pháp châm biếm sâu cay để lật tẩy bộ mặt giả dối của Va-ren. Y đã hứa một cách "nửa chính thức”, tức là hứa ỡm ờ, hứa mà không nhất thiết phải thực hiện. Tiếp theo Người lại viết: "giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa…". Viết như thế, Người đã ngầm cho độc giả (nhân dân Việt Nam) nhận rõ bộ mặt thật của những tên quan thực dân. Trong quá trình cai trị, để có thể vơ vét được nhiều của cải, để bóc lột được công sức lao động của nhân dân Đông Dương một cách tàn tệ, thậm chí đi làm bia đỡ đạn cho chúng, chúng đã hứa rất nhiều nhưng không bao giờ giữ lời hứa, nhất là khi những lời hứa ấy lại không mang đến lợi ích cho chúng.Xem thêm: Về tác phẩm Những trò lố, hay là Va-ren và Phan Bội Châu
Đặc biệt, trong đoạn văn đối thoại (mà thực chất là độc thoại) trong văn bản có hai nhân vật: Va-ren và Phan Bội Châu. Trong cuộc đối thoại tưởng tượng của tác giả, hầu như chỉ có Va-ren nói, còn Phan Bội Châu thì im lặng. Bởi vậy, ngôn ngữ của Va-ren thực chất là ngôn ngữ độc thoại, tự nói một mình. Qua lời nói, cử chỉ, Va-ren bộc lộ rõ tính cách nham hiểm, thâm độc. Y không ngừng ve vuốt, dụ dỗ, bịp bợm một cách trắng trợn nhằm thuyết phục Phan Bội Châu từ bỏ tư tưởng cách mạng, cộng tác với chúng (thực chất là đầu hàng). Thậm chí ý còn đenạ cả thân thế của mình: từng là một kẻ phản bội đồng đội, đồng chí trong Đảng Xã hội, để thuyết phục Phan Bội Châu hãy theo gương y để có được một cuộc sống sung sướng.
Qua ngôn ngữ “tự bộc lộ” của mình, Va-ren tỏ ra là một kẻ xảo trá, bỉ ổi, vô liêm sỉ,… hắn đã mất hết lòng tự trọng của một con người. Phản bội đồng chí. phản bội lí tưởng – còn gì ghê tởm hơn những điều ấy? Và như thế, ta thật dễ hiểu thái độ của Phan Bội Châu đốì với hắn.
Đứng trước một kẻ như Va-ren, Phan Bội Châu im lặng, cái im lặng dửng dưng. Im lặng vì ghê tởm không còn gì đế nói và cũng không còn biết nói gì với một kẻ như vậy (rằng dù có nói gì cũng vô ích!). Đặc biệt, cái “dửng dưng” của vị thiên sứ tái thế ấy đã khẳng định rằng Phan Bội Chầu không quan tâm đến lời Va-ren nói, thậm chí ông biết trước hắn sẽ nói gì! Như vậy chưa đủ, tác giả còn dẫn lời của một nhân vật tưởng tượng khác (anh lính dõng) để tạo cho câu chuyện cảm giác khách quan. Theo lời anh lính dõng, anh ta có thấy "đôi ngọn râu mép người tù nhếch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay, và cái đó chỉ diễn ra có một lần thôi". Nụ cười “kín đáo, vô hình” đó thế hiện một thái độ khinh bỉ cực độ, nhạo báng đến tột cùng cái kẻ đang thao thao bất tuyệt những điều nhơ bẩn. Đồng thời đó cũng cho thấy bản lĩnh kiên cường của nhà cách mạng trước kẻ thù, cho dù đó là toàn quyền Đông Dương đi chăng nữa.Xem thêm: Miêu tả loài hoa em yêu - Cảm nhận về hoa đào Trước thái độ của Phan Bội Châu, Va-ren “sửng sốt cả người”. Tác giả đã bình luận rằng: "Nhưng cứ xét binh tình, thì đó chỉ là vì (Phan) Bội Châu không hiểu Va-ren cùng như Va-ren không hiểu (Phan) Bội Châu". Điều đó cũng thật dễ hiểu, hai con người ấy không hiểu được nhau bởi họ không thể và không bao giờ cùng tư tưởng, chí hướng, không bao giờ đi chung một con đường. Dù Va-ren có nói gì chăng nữa thì với Phan Bội Châu, y cũng chỉ là một kẻ xa lạ, một kẻ không đáng để Phan Bội Châu phải bận tâm.
Hai nhân vật chính của văn bản được xây dựng theo quan hệ tương phản, đối lập: Va-ren là một viên toàn quyền, còn Phan Bội Châu là một người tù. Một bên là kẻ bất lương nhưng thống trị, bên kia là người cách mạng vĩ đại nhưng đang bị cầm tù. Tác giả dành một số lượng từ ngữ lớn, hình thức ngôn ngữ trần thuật để khắc hoạ tính cách Va-ren. Còn với Phan Bội Châu, tác giả dùng sự im lặng làm phương thức đối lập. Đây là một. cách viết vừa tả vừa gợi, rất thâm thuý, sinh động và lí thú.
Nguyễn Ái Quốc đã rất thành công khi viết truyện ngắn “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu”. Đặc biệt, qua thái độ của Phan Bội Châu đối với Va-ren và sự sửng sốt, kinh ngạc của gã phản bội, tác giả đã phản ánh tính cách đặc trưng của hai nhân vật. Thiên truyện ngắn này lưỡi gao. găm sắc bén vạch mặt kẻ thù đồng thời là khúc hát ngợi ca khí phách hiên ngang, bất khuất của người anh hùng Phan Bội Châu.
Vanmau.edu.vn | Có người sau khi đọc Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu cứ băn khoăn… , vậy hãy giải thích cho người đó rõ | 1,512 | |
Có nhà nghiên cứu văn học cho rằng: “Nhân vật Mị” trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài là một hình tượng đẹp về người phụ nữ Tây Bắc
Gợi ý
A. DÀN BÀI
1. Mở bài
Văn học Việt Nam đã xây dựng thành công nhiều hình tượng đẹp về người phụ nữ. Đó là những người mẹ, người chị, người em cần cù, tần tảo, giàu tình thương, giàu đức hi sinh, luôn lấp lánh vẻ đẹp tâm hồn đáng quý dẫu bị hoàn cảnh dập vùi. Nhắc tới điều ấy, khó có thể quên nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
2. Thân bài
Chú ý khai thác hai vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Mị:
– Sự trỗi dậy mãnh liệt của lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc của Mị trong cảnh đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài.
– Mị cắt dây trói cứu A Phủ thoát khỏi cảnh ngộ bi thảm, hành động cứu A Phủ cũng là hành động tự cứu mình cùa Mị (xuất phát từ sức mạnh của tình thương và lòng đồng cảm giai cấp).
3. Kết bài
Với Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã xây dựng thành công một hình tượng người phụ nữ Tây Bắc với vẻ đẹp phong phú, da dạng.
B. BÀI LÀM
Văn học Việt Nam đã xây dựng thành công nhiều hình tượng đep về người phụ nữ. Đó là những người mẹ, người chị, người em cần cù, tần tảo, giàu tình thương, giàu đức hi sinh, luôn lấp lánh vẻ đẹp tâm hổn đáng quý dẫu bị hoàn cảnh dập vùi. Nhắc tới điều ây, khó có thể quên nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
Đúng như nhiều nhà phê bình đã nhận xét, hình tượng Mị là điểm sáng, là thành công nổi bật nhất của Tô Hoài khi viết Vợ chồng A Phủ. Bằng vốn hiểu biết phong phú, bằng niềm đồng cảm sâu sắc trước cuộc đời người phụ nữ lao động miền núi Tây Bắc và ngòi bút nghệ thuật tinh tế, Tô Hoài đã xây dựng nhân vật Mị thành hình tượng điển hình cho một thế hệ phụ nữ Tây Bắc đang từ thân phận nô lệ tối tăm vươn ra ánh sáng tự do với sức sống tiềm tàng.
Đọc tác phẩm, độc giả bắt gặp ngay hình ảnh Mị. Cô đang ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa nhà thống lí. Dường như sự xuất hiện của Mị thường gắn với cái không gian chật hẹp, bẩn thỉu này. Lúc nào cũng vậy, dù đang làm công việc gì, cô gái ấy cũng “cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí thường thắc mắc, tại sao nhà thống lí lắm người nhiều của, lúc nào cũng tấp nập người mà lại có cô con gái buồn đến như vậy. Nhưng hỏi ra người ta mới rõ cô ấy không phải con gái nhà Pá Tra mà là vợ A Sử, con trai thống lí.
Tô Hoài đã mở đầu truyện bằng một hình ảnh gợi ngạc nhiên, tô đậm ấn tượng vào lòng người đọc để từ đó quay lại kể về lai lịch Mị.
Sinh ra trên đời, Mị đâu đã khổ. Tuổi thiếu nữ, cô từng được sống những tháng năm hạnh phúc, dù trong đói nghèo. Mị xinh đẹp, hát hay, có tài thổi sáo, từng được bao trai làng mê. Nhiều đêm mùa xuân, con trai đến thổi sáo “đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng nhà Mị”. Một cô gái như thế, lẽ ra xứng đáng hưởng cuộc đời hạnh phúc. Nhưng Mị lại sinh ra trong một nhà nghèo và trăm sự cũng bởi cái nghèo, bởi bọn thống trị tham lam và độc ác. Vì món nợ truyền kiếp, vì tục cướp vợ của người H’mông mà cô gái tự do, trong trắng ấy bỗng chốc bị biến thành con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Thời gian đầu bị bắt về nhà thống lí, “có đến mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc”. Cô thấm thía nỗi đau của một cuộc đời bị tước đoạt tự do. Đã có lần, Mị toan tìm đến cái chết để giải thoát. Nhưng rồi vì lòng thương bố mà Mị không đành chết. Cô vứt nắm lá ngón, lẳng lặng quay lại nhà thống lí chẳng khác gì trở về chốn địa ngục trần gian. Từ đó, Mị âm thầm chấp nhận thân phận nô lệ. Cô không còn biết khóc, suốt ngày “lùi lũi” như con rùa nuôi trong xó cửa. Ngày nào cũng như ngày nào, Mị quần quật hết việc này sang việc khác, tưởng mình cũng là con trâu, con ngựa nhà thống lí. Cô giam mình trong căn buồng kín mít, có một cửa sổ vuông bàng bàn tay, trông ra chỉ thấy mờ mờ trăng trắng. Dường như Mị đã mất ý niệm về thời gian, về tuổi trẻ. Cuộc đời đối với Mị lúc bấy giờ chỉ là một đêm dài thăm thẳm mà thôi. Ngày trước, Thúy Kiều của Nguyễn Du đă vì chữ hiếu mà hi sinh chữ tình. Giờ đây, cô Mị của Tô Hoài có khác gi đâu. Có đành quên đi tuổi trẻ, đánh đổi tự do mà trả món nợ cho nhà giàu.Xem thêm: Phân tích cuộc gặp gỡ giữa chị Hoài với cụ Bằng và những người em chồng trong chiều ba mươi Tết Tưởng chừng ở lâu trong cái khổ, Mị đã hoàn toàn chai lì, mê mụ đi. Vậy mà không. Tận sâu thẳm tâm hồn người phụ nữ bất hạnh ấy vẫn âm thầm niềm khát khao hạnh phúc, khát khao được thay đổi. Khát khao này cứ âm ỉ tựa đốm than hồng bị vùi nén để khi nào gặp được ngọn gió lành sẽ bùng lên thành ngọn lửa.
Ngọn gió lành đầu tiên khơi dậy sức sống tiềm tàng trong Mị chính là tiếng sáo gọi bạn tình vào một đêm mùa xuân. Mùa xuân đã đem đến cho thiên nhiên và lòng người ở các bản Mèo một sức sống mới rạo rực. “Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bồi hồi”. Cô ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi.
Vậy là tiếng sáo gọi bạn tình bắt đầu thức dậy nơi Mị hoài niệm về tuổi trẻ hạnh phúc. Ngòi bút Tô Hoài như cũng bắt đầu hồi hộp dõi theo các bước diễn biến tâm trạng và hành động của cô gái để diễn tả thật tinh tế.
Lúc bấy giờ, cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma. Mọi người đang nhảy múa đánh chiêng ầm ĩ và uống rượu bên bếp lửa. Nhìn người ta như thế, Mị nghĩ: “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu”. “Cô lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát”. Đã là con người, ai cũng có quyền uống đôi ba chén rượu ngày Tết. Mị cũng uống để chứng tỏ rằng mình đang là một con người. Mị uống như thế cho bõ tức, bõ hờn bấy lâu nay. Hành động uống rượu này của Mị chính là thể hiện của ý thức làm người, ý thức về quyền bình đẳng. Nó là gì nếu không phải là một cuộc sống tiềm tàng đang trỗi dậy? Uống rượu đến say, lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy múa nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Cũng những đêm mùa xuân như thế này, Mị được thổi sáo, được đi chơi. “Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Cô uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Đột nhiên, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng vui sướng như những đêm Tết ngày trước. “Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”. Lời văn Tô Hoài cũng chộn rộn, náo nức cùng cõi lòng cô gái ở thời điểm ấy. Chợt nghĩ lại thân phận bất hạnh của mình lúc này, một lần nữa Mị lại muốn chết: “Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau!”.Xem thêm: Bàn luận về vai trò của số 0 và số 1
“Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa, nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường…”. Lần muốn chết trước là ý định giải thoát đầy uất ức. Lần muốn chết này cũng thế nhưng là kết quả của sự nhận thức đầy đủ hơn về cảnh ngộ éo le của mình.
Tiếp đó, Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Cô cứ nghĩ, cứ làm như không có A Sử đang gần đấy. “Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo”. Từ âm thanh bên ngoài vọng đến, tiếng sáo giờ đây đã nhập vào hồn Mị, cứ ám ảnh, chập chờn như vẳng lên từ lòng cô. Bây lâu nay, Mị có bận tâm gì tới bóng tối hay sáng xung quanh mình đâu. Nhưng có lẽ giờ đây cô không còn chịu nổi cái bóng tôi đang vây bọc lấy mình nữa. Thắp sáng thêm đĩa đèn hay là Mị đang muốn thắp sáng lại cuộc đời mình? Mị quấn lại tóc, với tay lấy chiếc váy hoa vắt ở phía trong vách chuẩn bị đi chơi.
Chính cái lúc sự phản kháng trong Mị trỗi dậy đến độ cao nhất thì bị A Sử phũ phàng chặn đứng. A Sử đã trói Mị đứng vào cột nhà bằng cả thúng sợi đay. Mái tóc dài của Mị bị quấn lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa. Thế nhưng, thật là kì lạ, ngay trong lúc bị hành hạ như thế, sức sống tiềm tàng ở Mị vẫn không lụi tắt. “Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi”. Có khi, Mị như không biết mình đang bị trói, định vùng bước đi. Nhưng sợi dây trói nghiệt ngã lại kéo Mị về với thực tại. Cô thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. “Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi”. Cả đêm ấy, Mị nửa sống với hiện tại, nửa sống về ngày trước. “Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ”.
Cái sức sống tiềm tàng đã một lần trỗi dậy thì không thế lực nào dập tắt nổi. Nó cứ âm thầm tồn tại để rồi bùng lên mạnh mẽ hơn vào một đêm năm sau. Ấy là một mùa đông giá lạnh trên vùng núi cao, Mị không ngủ được, trở dậy đốt bếp lửa sưởi. Đã mấy đêm nay như thế rồi. Mỗi khi ngọn lửa bùng lên, Mị nhìn sang, vẫn thấy A Phủ còn sống. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Chuyện A Phủ bị trói nào có lạ lùng gì đối với Mị.
Mặt khác, A Phủ sống hay chết thì có liên quan gì tới Mị đâu. Nhưng lần này. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị hé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Một người như A Phủ đâu dễ khóc. Có lẽ đến lúc này, anh nhận ra mình sắp đi đến cái chết oan ức rồi đây. Từ đây, Mị mới bắt đầu nghĩ. Cô chợt nhớ lại đêm năm trước mình cũng bị trói đứng vào cột như thê này, cũng dòng nước mắt tủi hờn chảy xuống miệng, xuống cổ không sao lau đi được. Rất tự nhiên, Mị nghĩ đến cái chết và cô so sánh hai cái chết: ta là thân đàn bà, đã trình ma nhà nó rồi thì chỉ biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi, còn người kia, việc gì mà phải chết oan ức đến như vậy. Chính từ so sánh này, Mị mới phảng phất nghĩ đến chuyện chết thay cho A Phủ. Nghĩ đến cảnh mình lại bị trói thay vào đấy, phải chết trên cái cọc ấy, Mị không khỏi cảm thấy lo sợ.Xem thêm: Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên được sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân với vận mệnh chung của cộng đồng, của đất nước trong đoạn thơ trên. Vậy là nước mắt, đã gợi nhớ nước mắt. Dòng nước mắt nơi A Phủ bỗng thức dậy niềm đồng cảm, lòng yêu thương ở người phụ nữ từng chịu nhiều đắng cay, bất hạnh này. Và tình thương đã chiến thắng nỗi sợ trong phút chốc. Mị đi đến một hành động thật táo bạo: cắt dây trói, giải thoát cho A Phủ.
Trong khi làm việc ấy và đến khi cắt đứt sợi dây cuối cùng trên người A Phủ, Mị chỉ nghĩ tới chuyện chết thay chứ đâu đã định cũng chạy thoát khỏi nhà thống lí. Nhưng khi đứng lặng trong bóng tối nhìn theo A Phủ, vừa chạy, vừa lăn xuống dốc để rời xa chỗ chết thì Mị lại không muốn chết nữa. Cô vùng chạy theo A Phủ. “ở đây thì chết mất”. Câu nói và hành động này của Mị chứng tỏ lòng ham sống trỗi dậy thật tự nhiên trong người con gái tiềm tàng khả năng phản kháng. Giải thoát cho A Phủ, đồng thời Mị cũng tự giải thoát cho chính mình. Lí giải hành động quyết liệt này của Mị, trước tiên là niềm đồng cảm sâu sắc giữa hai thân phận. Nếu Mị từng là con trâu gạt nợ thì A Phủ là đứa ở trừ nợ. Cả hai đều phải đem tuổi trẻ, tự do của mình mà trả món nợ cho nhà giàu. Nếu như Mị từng bị trói đứng vào cột, dòng nước mắt tủi hờn chảy xuống miệng, xuống cổ không sao lau đi được thì giờ đây A Phủ cũng giống như thế. Nhưng niềm đồng cảm là điều kiện cần chứ chưa thể là điều kiện đủ. Để đi đến hành động táo bạo ấy còn bởi trong Mị luôn tiềm tàng một sức sống. Rõ ràng không phải bất cứ người phụ nữ nào ở vào hoàn cảnh như Mị cũng đều hành động được như cô. Ở đây, Tô Hoài đã miêu tả nhân vật đúng với lo¬gic vận động nội tại của tính cách. Với sự phát triển tự thân chứ không hề bắt ép, gượng gạo. Tưởng chừng bột phát, bất ngờ, song các hành động của Mị lại rất tự nhiên, hợp lí.
Khi đi vào thế hiện cảnh ngộ bất hạnh cùng vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ, tác phẩm văn học có điều kiện để đạt tới chiều sâu nhân đạo, để khơi gợi niềm đồng cảm thiết tha ở bạn đọc. Với nhân vật Mị, Tô Hoài đã làm được điều ấy. Vợ chồng A Phủ đã xây dựng thành công một hình tượng người phụ nữ Tây Bắc với vẻ đẹp phong phú, đa dạng. Một cô Mị xinh dẹp, hồn nhiên là thế mà có những lần tìm đến cái chết để tự giải thoát. Một cô Mị dằn lòng chấp nhận kiếp sống nô lệ, tưởng chừng chai lì, mê mụ đi trong cái khổ mà vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. Cô Mị ấy dã vùng lên cắt đứt sợi dây trói của cường quyền, thần quyền để đi tới tự do. Thành công của hình tượng này chứng tỏ sự am hiểu, niềm đồng cảm sâu sắc của Tô Hoài đối với người phụ nữ lao động miền núi Tây Bắc, chứng tỏ khả năng nắm bắt và diễn tả tài tình quá trình tâm lí phức tạp, tinh tế của cây bút văn xuôi vào loại hàng đầu trong văn học Việt Nam hiện đại.
Vanmau.edu.vn | Có nhà nghiên cứu văn học cho rằng_ “Nhân vật Mị” trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài là một hình tượng đẹp về người phụ nữ Tây Bắc | 2,732 | |
Có phải: Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi thiếu tình thương
Hướng dẫn
Tham khảo cách triển khai cụ thể sau:
– Giải thích:
+ Lạnh: cảm giác của con người do tác động của thời tiết khắc nghiệt, khi nhiệt độ xuống thấp (lạnh buốt, lạnh giá). Lạnh còn được hiểu theo nghĩa chuyển: sự thờ ơ, không quan tâm, bỏ mặc đồng loại trong gian khó, hoạn nạn (lạnh lùng, lạnh lẽo).
+ Bắc cực là nơi nhiệt độ xuống thấp, thời tiết rất lạnh; nhưng nơi không có tình thương còn giá lạnh hơn cả Bắc cực.
– Phân tích, chứngminh:
+ Tại sao "Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi thiếu tình thương"?
Với thời tiết giá lạnh, con người có thể khắc phục và vượt qua được (áo ấm, lều bạt dày, trang thiết bị hiện đại, con người quây quần, sẻ chia hơi ấm); nhưng ở nơi thiếu tình thương, cái lạnh không phải của thiên nhiên thời tiết mà là cái lạnh từ tâm hồn, từ cách đối nhân xử thế, từ thái độ thờ ơ ghẻ lạnh, từ sự giá băng của lòng người mới chính là cái lạnh đáng sợ nhất.
+ Nơi thiếu tình thương không chỉ lạnh mà còn dẫn đến nhiều trạng thái khác còn hơn cả lạnh: sự ích kỉ, vô cảm, sự tàn nhẫn,… Thực tiễn hiện nay cho thấy có những nơi, những chốn trên thế giới ngay giữa miền nắng nóng mà có những hành động vô cảm, thiếu tình thương vẫn cứ làm giá buốt lòng người.
– Bàn luận, liên hệ:
+ Tình thương là bản tính tốt đẹp của con người, là nguồn hơi ấm tốt đẹp, cần được lưu giữ và nhân lêntrong cuộc sống. Nếu có tình thương thì ngay cả ở chốn Bắc cực, tình người cũng đủ sức để xua đi cái lạnh giá của thời tiết.
+ Để giữ láy tình thương, giữ lấy nguồn ấm nóng cao đẹp ấy, cần cả những hành động để loại bỏ sự vô cảm, tàn nhẫn của con người trong cuộc sống.
+ Mỗi cá nhân hãy bằng những hành động cụ thể đé nhân lên ngọn lửa ấm nóng từ trái tim mình,…
Nguồn: thêm: Kể lại truyện "Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu | Có phải_ Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi thiếu tình thương | 383 | |
Có thể nói ở văn học trung đại không có một nhà thơ thứ hai nào thành công trong việc miêu tả nội tâm nhân vật như Nguyễn Du, nhất là nội tâm nhân vật Thúy Kiều
Hướng dẫn
Nhận định về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong Truyện Kiều có ý kiến cho rằng:
“Có thể nói ở văn học trung đại không có một nhà thơ thứ hai nào thành công trong việc miêu tả nội tâm nhân vật như Nguyễn Du, nhất là nội tâm nhân vật Thúy Kiều.”
Hãy làm sáng tỏ nhận định trên qua hai đoạn trích “Trao duyên” và “Những nỗi lòng tê tái”.
Bài làm
Trong văn học trung đại, hầu như tác phẩm nào cũng mang những nỗi lòng u uất, những tâm trạng thổn thức đến bất an. Việc miêu tả nội tâm nhân vật chính là hơi thở, giá trị của tác phẩm, là hiện thực của cuộc sống và của xã hội, là những trắc ẩn dường như đến mênh mông… Mỗi một tác giả có một cách khác nhau để xây dựng thế giới nội tâm ấy, nhưng hãy dừng lại một chút ở “Truyện Kiều”, lắng nghe tiếng rói tâm trạng ta sẽ thấy được những nét chấm phá rất nghệ thuật, rất Nguyễn Du. Nhà thơ đã từng viết:
Cánh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!
Có lẽ đó là chân lí nghệ thuật thơ của Nguyễn Du. Một thế giới nội tâm trong thơ ông là những buồn vui trước thiên nhiên và cuộc sống phức tạp xung quanh, là con người, là hiện thực xã hội trong thơ. Chính vì vậy không phải ngẫu nhiên mà ai đó đã nhận xét: Có thể nói ở văn học trung đợi không có một nhà thơ thứ hai nào thành công trong việc miêu tả nội tâm nhản vật như Nguyễn Du, nhất là nội tâm nhân vật Thuỷ Kiều.
Ở đây, tác giả đã viết rằng có thể nói, thật ra có thể nói là một sự mở đầu uyển chuyển. Cái tài của Nguyễn Du không là đoán định, mà phải là khẳng định và không bao giờ là có thể. Truyện Kiều là một tác phẩm văn học vĩ đại, và cái góp phần làm nên sự vĩ đại đó là nội tâm của Kiều. Một nhân vật, một tác phẩm không thể tuyệt vời được nếu như nhân vật đó không có nội tâm, tác phẩm ấy không tạo cho nhân vật cái nội tâm, cái hồn. Bởi nội tâm là thế giới tâm hồn phức tạp đem lại sức sống của nhân vật, nội tâm cũng chính là cái hồn của tác phẩm, cái hồn lắng đọng của thơ. Những cung bậc, trạng thái nội tâm chồng chất đan chéo mâu thuẫn chính là cái hay trong ngòi bút của Nguyễn Du khi viết truyện thơ, khi viết về Kiều.
Đoạn Kiều trao duyên cho Thúy Vân, Nguyễn Du đã không mở đầu bằng một nàng Kiều u uất, mà ông viết về một Thúy Vân vô tư:
Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân
Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:
"Cơ trời dâu bể đa đoan,
Một nhà để chị riêng oan một mình
Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh
Nổi riêng còn mắc mối tình chi đây?
Thế đấy, tâm trạng của Kiều được bộc bạch qua hành động của Thúy Vân, được bắt đầu bằng những lời nói của Thúy Vân. Thúy Vân đang say giấc xuân thế sao Kiều lại ngồi nhẫn tàn canh. Thúy Vân đang cùng chị chuẩn bị mừng duyên mới, cớ sao Kiều lại ngồi khóc. Tiếng khóc ấy không bật ra, truyện chỉ qua lời nói của Thúy Vân, nhưng ta vẫn cảm nhận, vẫn nhìn thấy cái thẫn thờ, dằn vặt, day dứt, bối rối, vẫn cảm nhận, vẫn nhìn thấy cái thẫn thờ, dằn vật, day rứt, bối rối, băn khoăn, xót xa, và đau đớn qua cái vô tư, bình thản của Thúy Vân. Ngay cả cái hoàn cảnh mỏ đầu của một đoạn thơ, chúng ta vẫn có thể nhận thấy cái vô rình rất nghệ thuật của Nguyễn Du. Cái vô tình ấy là một vô tình có dụng ý, nó càng chứng tỏ sự tinh tế trong cách diễn tả nội tâm của nhân vật. Vân càng vô tâm để rồi sau mới thắc mắc, hỏi han, càng làm bật lên nỗi âm thầm đau xót của Kiều. Chính vì thế không vô tình khi bắt đầu đoạn đời gái lầu xanh, bắt đầu phải tiếp khách làng chơi của Kiều, Nguyễn Du đã xây dựng tâm trạng nhân vật trong khung cảnh: Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh. Ngay sau cơn say, ngay giữa lúc canh tàn, khi cuộc vui đã chấm dứt, khi thời gian đã tàn lụi, tác giả nói về nội tâm của nàng Kiều. Nội tâm Kiều được thể hiện ngay ở những dòng đầu tiên của đêm trao duyên và đêm truy hoan. Hai giai đoạn nội tâm khác nhau và cũng là hai hoàn cảnh khác. Nếu như lúc trao duyên, Kiều day dứt, băn khoăn được thể hiện qua cô em Thúy Vân, thì ở đây, trong cái cảnh phải tiếp khách làng chơi, Nguyễn Du lại đặt nội tâm của Kiều vào đêm khuya, vào mặt trái của những cuộc vui để thấy được cái chua chát, đau đớn của Kiều. Cái hay chính là ở đó, chính là những khoảnh khắc mà con người trải qua để rồi từng từ, từng ngữ, từng ý thơ, Nguyễn Du có thể biến nó thành những nội tâm chồng chất một cách khéo léo và tài tình. Nhà thơ đã viết:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
… Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai”.
Một lời mở đầu rất dịu dàng, dường nhu năn nỉ, dường như nài ép của Kiều. Cậy, Kiều cậy em, Kiều nhờ em chịu lời, Kiều xin, Kiều lạy rồi Kiều thưa. Từng từ, từng từ được thốt ra là đều cân nhắc và chọn lọc. Cái hay, cái sắc của từ ngữ cũng chính là cái tinh tế trong thế giới nội tâm mà Nguyễn Du diễn ta. Sự chọn lọc chính xác ấy cho ta thấy Kiều đã suy nghĩ rất chín, Kiều đã quyết định trao duyên mình cho Thúy Vân. Cái băn khoăn của Kiều là băn khoăn cho Kim Trọng sẽ phải lỡ làng, cái ray rứt của nàng là day dứt của Thúy vân phải chắp mối tơ thừa. Nhưng khi ngỏ lời nàng còn biết cách nói cho dịu lòng vân, để ép Vân nhưng tại sao, tại sao nàng lại kể về mối tình đầu thơ mộng, tuyệt đẹp của mình. Đáng lẽ ra trao duyên cho Vân, nàng phải kể về những cái đẹp cái tốt, cái đáng thương của KimTrọng; đằng này nàng lại khẳng định mối tình của mình Khi đọc đoạn: Kể từ khi gặp chàng Kim…, ta bỗng thấy dường như câu thơ bị khựng so với ý của câu trên. Đó chính là tâm lý của cô gái, đó chính là nghệ thuật trong ngòi bút của Nguyễn Du. Sự xúc động, niềm thương cảm đã làm bật dậy tình cảm, tâm trạng của nàng Kiều. Suy nghĩ, đắn đo để quyết định trao duyên, những khi thực sự mở lời, nàng không thể kìm được sự xúc động của chính mình. Đó là một tâm lí rất bình thường, một diễn biến tâm trạng rất hiển nhiên của con người. Đem trao một mối tinh ai chẳng xót Xá. Nếu như lúc đầu lời lẽ nàng cân nhắc, sắc sảo bao nhiêu thì giờ đây, khi nghĩ về mối tình của mình, nàng chợt lộ một tâm trạng mâu thuẫn đáng thương:
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơmlây.
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên.
Kiều trao duyên cho em, thì chiếc thoa với bức tờ mây là của Vân và Trọng. Thế mà nàng nghẹn ngào: Duyên này thì giữ, vật này của chung. Ngay cả nhịp thơ bốn-bốn ở câu thơ này cũng bộc lộ nỗi niềm sâu kín của Kiều. Như nghẹn ngào thổn thức bật lên vật này của chung, nàng luyến tiếc đau khổ xót xa cho những kỉ vật xưa. Và rồi những tình cảm chân thực ấy, tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của Kiều được Nguyễn Du thể hiện bằng một từ duy nhất dù (Dù em nên vợ nên chồng). Khi đã quyết định trao duyên cho Vân, lẽ ra Kiều phải nói nên vợ nên chồng nhưng ở đây lại là dù nên vợ nên chồng. Kiều không còn bình tĩnh nữa, một sự lúng túng trong từng lời nói rất nhỏ nhặt này đã bộc lộ tài năng của Nguyễn Du. Trong Kiều lúc ấy sự lưu luyến tiếc thương, một nỗi lòng xúc động đau đớn, bằng những lời, từng chữ và đặc biệt là bằng sự cảm thông sâu sắc lạ lùng của nhà thơ. Bởi thế mới thấy được cái hay xác thực trong nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật của tác giả truyện Kiều Trong thơ ông, nghệ thuật ấy chính là sức cảm thông lạ lùng mà thi hào dành cho tâm trạng những con người đang yêu, nó ánh lên sự hi sinh cao đẹp và bật lên cái ích kỉ đáng yêu trong tình yêu. Kiều trao duyên cho em nhưng nàng vẫn mong mình được nhớ đến. Cái mâu thuẫn ấy, những tâm trạng mong manh ấy đã là một minh chứng hùng hồn cho sự tài tình có một không hai ở ngòi bút của Nguyễn Du. Cái tài tình ấy còn là tâm trạng phức tạp, sự khác biệt nội tâm của nhân vật. Nhà thơ viết:
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Xem thêm: Giới thiệu bài Tựa "Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức LươngKhi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thăn?
Cũng là một nàng Kiều với nội tâm đầy sóng gió của mình, nhưng ở hai giai đoạn đời người là hai sự đúc kết khác nhau, là hai cách diễn đạt khác nhau. Nếunhư ở đoạn trao duyên cô gái trong trắng Thúy Kiều rất bình tĩnh, bình tĩnh đến lạnh lùng đáng sợ. Bởi tâm trạng nàng giờ đây không còn là mong manh đau khổ của người con gái lần đầu tiên đối mặt với cuộc đời, nó trở thành cái đau đớn lạnh giá trong lòng một người phụ nữ ô nhục sao, sao, và lại sao (khi sao, giờ sao, mặt sao…), điệp từ ấy như khúc điệp, đập vào lòng người vào tâm trạng tủi nhục đến ê chề của Kiều. Nàng không còn là sự lưu luyến ngây thơ đau khổ, mà nàng đang chán chường oán hận. Cũng là đau khổ đấy, cũng là tiếc thương cho những gì đã có đã qua, một mối tình, một cuộc sống phong gấm rủ là, nhưng ở cô gái Thúy Kiều còn trướng rủ màn che nó khác với người phụ nữ đã dày gió dạn sương, đã bướm chán ong nhường. Hai tâm trạng đời người với hai nét bút, hai nét. Cái khổ nào cũng là tột cùng, cái khổ nào của chàng cũng là sự tan vỡ tâm hồn. Nhưng khi nghĩ về chính mình ở đoạn trao duyên, sự đau đớn của nàng được bật lên thành lời, một tiếng kêu khẩn thiết của nỗi lòng đau khổ của một cô gái yếu đuối:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng rừ đây…
Sự đau khổ, sự ức chế được thốt ra thì khi nghĩ về phận minh, về đời mình ở chốn lầu xanh, Nguyễn Du đã cho nàng đắm chìm trong suy nghĩ, không cho nàng một tiếng kêu xót xa, có chăng thì đó chỉ là những câu hỏi thầm oán hận không câu trả lời. Để rồi chính nhà thơ bằng ngòi bút của mình đã nói lên nỗi đau khổ, tuyệt vọng tột đỉnh của nhân vật:
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
Lần lần thỏ bạc ác vàng
Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn…
Đã cho lấy chữ hồng nhan
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân.
Thế đấy, nội tâm của Kiều thể hiện qua tiếng lòng xót thương của Nguyễn Du: Song sa, vò võ rồi lại phương trời, từng từ, từng từ như luyến như quyện vào nhau để bật lên cái cô đơn ê chề trong hoàn cảnh của Kiều, cho cái kiếp hồng nhan bạc mệnh của nàng. Không chỉ là một sức cảm thông lạ lùng của Nguyễn Du dành cho Kiều, mà còn là tình thương to lớn, thương cho tâm trạng tan nát của nàng. Nguyễn Du đã thốt lên rằng: Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân. Thật sự nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật của Nguyễn Du đã lên đến cái đỉnh cao trong dòng văn học cổ. Bất kì một chi tiết, một hoàn cảnh nào, Nguyễn Du cũng mượn nó để chứa đựng, để phơi bày thế giới nội tâm của nhân vật. Thật vậy, trong đau khổ, con người ta hay tự tìm cho mình một chỗ dựa để vươn lên, và để sống. Ở Kiều, chỗ dựa vững chắc cho tâm hồn nàng chính là tình gia đình và người tình. Nhưng nếu như trong những ngày bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, nàng đã sớm nghĩ về Kim Trọng trong sự lo lắng cho người yêu và có chút gì đó hi vọng thì ở đây nàng lại nghĩ về gia đình trước:
Nhớ ơn chín chữ cao sâu
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà
Dặm nghìn nước thẳm non xa
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này.
Nàng nghĩ về chữ hiếu, rồi mới nhớ đến chữ tình:
Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
Khi về hỏi liễu Chương Đài
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay!
Tình sâu mong trả nghĩa dày,
Hoa kia đã chắp cánh này cho chưa?
Tại sao trong đoạn đời tủi nhục này, nàng lại nghĩ trước hết về chữ hiếu, về cha mẹ? Đó là một khía cạnh trong nội tâm của Kiều mà Nguyễn Du khéo diễn tả. Nếu như trước đây, Kim Trọng là sự đau đớn vô vọng. Nàng chỉ mong được trả nghĩa, nàng tự hỏi hoa kia đã chắp cành này liaỵ chưa? Nàng đã chấp nhận số mạng, Kim Trọng chỉ còn là những kỉ niệm bởi nàng đã là người phụ nữ ê chề chốn lầu xanh. Cha mẹ, chữ hiếu giờ đây chính là điểm tựa để nàng sống, để nàng vượt lên những đau khổ hiện tại. Những nét đẹp tâm hồn ấy, những biểu hiện trong nội tâm của Kiều đã được Nguyễn Du khai thác triệt để, nó càng chứng tỏ tài năng vượt trội của thi hào. Nếu như ở Hồ Xuân Hương hay ở Nguyễn Khuyến thế giới nội tâm cũng được bộc lộ trong từng từ, từng câu, từng hoàn cảnh với những dụng ý viết rất nghệ thuật. ỞNguyễn Du, cao hơn một bước, thế giới nội tâm không bó trong một không gian hẹp, không giới hạn trong cái nhìn về những bức xúc của người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn; cũng như không chỉ là những trăn trở về thời cuộc như Nguyễn Khuyến. Thế giới nội tâm trong Truyện Kiều trải dài, xuyên suốt một tác phẩm, đi từ những cái nhỏ nhất, bình dị nhất của cuộc sống đến những khái quát cao sâu. Trong dòng văn học trung đại, thế giới nội tâm thường là những khái quát về một bức xúc trong xã hội, thì ở Nguyễn Du là nội tâm của con người trong từng giai đoạn đời người, đó là những tâm lí đời thường dung dị.
Không dừng lại ở đó, ngòi bút của Tố Như là một ngòi bút thiên phú, thế giới nội tâm trong Truyện Kiều của Nguyễn Du còn được ngụy trang bằng thiên nhiên, bằng những nghệ thuật ước lệ tài tình:
Đòiphen gió tựa hoa kề
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnhcó vui đâu bao giờ!
Đòi phen nét vẽ câu thơ
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa
Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Tám câu thơ là hai đoạn đối nhau, đối về hình thức, nghệ thuật và nội dung. Tám câu thơ là rất nhiều khung cảnh thiên nhiên. Với bút pháp ước lệ quen thuộc của mình, Nguyễn Du đã bộc lộ tâm trạng nàng Kiều rất sâu sắc. Có thể nói Nguyễn Du là bậc thầy trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Cảnh vật trong thơ ông bao giờ cũng mang cái tình, cũng in đậm một thế giới nội tâm. Thl hào Nguyễn Du, đã mượn thiên nhiên để tả cuộc sống lầu xanh, một cuộc sống có hoa, có gió, có trăng, có những cảnh đẹp tưởng nên thơ; một cuộc sống cũng có cái vẻ thanh thản thưởng thức tiếng đàn dưới trăng, chơi cờ ngâm thơ trong cái ngạt ngào của hương hoa. Nhưng cũng chính những “mặt phải ” tưởng như tao nhã ấy đã làm nổi bật cái nội tâm sâu sắc, cái tâm hồn tinh khiết của Thúy Kiều. Nếu như Nguyễn Trãi mượn thiên nhiên để gửi vào đó cái u ám của xã hội thì Nguyễn Du sử dụng thiên nhiên để “làm đẹp ” cho cuộc sống ở lầu xanh, một xã hội phong kiến thu nhỏ bởi cả hai đều đẩy con người vào con đường cùng. Để rồi chính những nét đẹp đó bị nội tâm, trăn trở u uất của Kiều đè bẹp. Chính nội tâm sâu sắc của Kiều: Vui là vui gượng kẻo là – Ai tri ân đó mặn mà với ai? Chính sự bức xúc đau đớn, chính cái ai bế tắc, chính vui gượng tỏa trong nội tâm của Kiều đã công kích, đối nghịch với những nét tao nhã chốn lầu xanh. Mặt trái cuộc sống được phơi bày, những nét đẹp ấy chỉ là sự giả tạo dối trá gió chỉ tựa và hoa chỉ kề, tiếng đàn vui gượng… mới thấy được những tiếng vỗ tay tán thưởng cho tài năng của nàng hoàn toàn vô nghĩa. Đó chỉ là cuộc sống bạc bẽo, nhầy nhụa ở chốn lầu xanh. Nỗi lòng cô đơn u uất của Kiều là lời tố cáo cuộc sống mà nàng đang phải sống. Nó bóp nghẹt liếng đàn, câu thơ của nàng. Nhưng tâm trạng, nội tâm của nàng không bị vùi lấp bởi sự đau khổ ấy, nó vẫn vươn lên.
Sự chán chường, đau khổ, tuyệt vọng của Kiều được Nguyễn Du diễn tả bằng những bút pháp khác nhau. Để rồi từ những diễn biến tâm lí rất hợp lí, tinh vi trong cuộc sống trong tình yêu. Nguyễn Du khái quát thành một thế giới nội tâm phong phú đầy day dứt băn khoăn khắc khoải. Chính qua cái thế giới nội tâm ấy, thi hào Nguyễn Du làm bật lên một đặc điểm cố hữu: mượn cái đau đớn của nội tâm để tố cáo xã hội, tố cáo những kẻ đã đẩy con người, đã trút lên con người những tủi nhục ê chề đó.
Thơ Nguyễn Du khi diễn tả thế giới nội tâm có cái chung trong thơ văn cổ, và cũng có những nét riêng sáng tạo. Đó chính là một nghệ thuật diệu kì, và đó cũng chính là lời minh chứng hùng hồn: Không có một nhà thơ thứ hai nào thành công trong việc miêu tả nội tâm nhãn vật như Nguyễn Du. Và Kiều, thế giới nội tâm của nàng là cơ sở nền tảng cho lời nhận xét ấy.
Nguồn: thêm: Nghị luận xã hội về đức tính chăm chỉ | Có thể nói ở văn học trung đại không có một nhà thơ thứ hai nào thành công trong việc miêu tả nội tâm nhân vật như Nguyễn Du, nhất là nội tâm nhân vật Thúy Kiều | 3,424 | |
Có thể xem bài thơ Lai Tân là bức tranh thu nhỏ của cái chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch được không? Phân tích bài thơ
Gợi ý
Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh được kết hợp từ hai yếu tố "trữ tình" và "hiện thực". Lai Tân là một trong những bài thơ thể hiện rõ những yếu tố đó. Nó là một thành công của Bác trong việc kết hợp bút pháp tả thực và trào phúng vẽ nên bức tranh thời sự về chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch.
Với tư cách là người thư kí trung thành của thời đại, Bác đã ghi lại một cách khách quan những cảnh:
Giam phòng ban trưởng thiên thiên đố
Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền
Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự
Khác với Tú Xương trong hoàn cảnh tự do nên có thể thẳng tay độp vào mặt bọn thống trị những cái tát giáng trời:
Ở phố Hàng Song thật lắm quan
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang
Chồng chung vợ chạ kìa cô Bố
Dậu lạy quan xin nọ chú Hàn
(Lắm quan)
Hồ Chí Minh chỉ có thể mỉa mai, châm biếm sâu cay bọn thống trị bằng ngòi bút trong hoàn cảnh tù đày, gông xiềng. Từ cái mặt bên ngoài đến tận cùng những ngóc ngách bên trong của bộ máy thống trị Trung Hoa quốc dân đảng đã chứa đầy những mâu thuẫn. Tác giả Lai Tân đưa ra ba gương mặt điển hình của bộ máy chính quyền Tưởng Giới Thạch đó là: "Ban trưởng", "cảnh trưởng", "huyện trưởng". Cái chức "trưởng" của họ khá oai vệ, đầy uy lực, nhưng việc làm của họ đầy khuất tất, bất chính. Khuôn khổ bài thơ rất ngắn gọn nhưng lại được đặt liên tiếp ba chữ "trưởng" trong ba câu thơ đầu là sự "cố tình" dùng phép lặp của Bác trong việc dựng lên những chân dung tiêu biểu của giai cấp thống trị. Ba câu thơ – mỗi câu là một bức tranh sống động mang tính thời sự nóng hổi, chân thật đến từng chi tiết được vẽ bằng nét bút bình thản, lạnh lùng. Bức thứ nhất bày ra trước mắt mọi người là hình ảnh một "ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc". Bức thứ hai là hình ảnh "cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải". Cả ban trưởng và cảnh trưởng đều là những công cụ thi hành pháp luật rất đắc lực của cái xã hội đầy rẫy những bỉ lậu, xấu xa. Chúng khoác trên mình chiếc áo "công lí" để làm những việc "bất công lí" một cách thường xuyên hết ngày này đến ngày khác. Chức "trưởng" của chúng đã to, sự phạm pháp của chúng còn lớn hơn ngàn vạn lần. Tiếng cười trào lộng bật lên từ nghịch cảnh đó. Thoạt tiên, mới nhắc đến "ban trưởng", "cảnh trưởng" thiết tưởng đó là những người cầm cân nẩy mực chắc hẳn phải công minh, trong sạch nhưng ta thực sự bất ngờ khi biết chúng chẳng qua là những con mọt dân, gây rối, bắt bớ dân để mà tham nhũng, cờ bạc. Chúng mượn cái danh để tự đặt ra cho mình cái quyền thích làm gì thì làm. Đất Lai Tân có ban trưởng, cảnh trưởng tưởng chừng cuộc sống bình yên nhưng trớ trêu thay trật tự an ninh không được đảm bảo, những vi phạm pháp luật vẫn diễn ra đầy rẫy mà những kẻ đứng đầu bộ máy thống trị ở Lai Tân cũng chính là những kẻ cầm đầu những chuyện phạm pháp đó. Nực cười thay, nhà tù là nơi giam giữ những kẻ phạm tội vậy mà lại chính là nơi để tội phạm có thể thịnh hành rộng rãi nhất, tiêu biểu hơn cả, nhiều hơn cả vẫn là tội phạm cờ bạc mà chính giai cấp thống trị nhà lao cũng là những "đỗ phạm". Cái nghịch cảnh "đánh bạc ở ngoài quan bắt tội, trong tù được đánh bạc công khai" là hiện thực thối nát của nhà tù Tưởng Giới Thạch không thể phủ nhận được. Xem thêm: Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu Cấp dưới sống và hành động bê tha, tàn ác như thế, vậy mà cấp trên – huyện trưởng – vẫn đêm đêm "chong đèn lo công việc". Mức độ mỉa mai, châm biếm của tác giả tăng dần. Kích thước của những bức tranh về sau to hơn, rộng hơn bức trước. Từ chân dung một ban trưởng trông coi một phạm vi nhà tù nhỏ hẹp tới một cảnh trưởng cai quản một địa phận lớn hơn đến một huyện trưởng cai trị một vùng rộng lớn và bao quát cả quyền của ban trưởng cảnh trưởng. Bức tranh thứ ba mở ra hình ảnh "Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự’ vẻ ngoài tưởng mẫu cách, sát sao với "công việc" nhưng thực ra lại là một kẻ quan liêu, vô trách nhiệm, không biết tay chân, cấp dưới làm những gì, phạm pháp những gì. Câu thơ phạm luật "nhị tứ lục phân minh" ở một chữ "công". Bao mỉa mai, đả kích sâu cay dồn nén vào một chữ "công" đó. Huyện trưởng "lo công việc" hay là mượn "việc công" để tạo một tấm bình phong che cho mình "lo việc riêng", "chong đèn" hút thuốc phiện? Tác giả đặt chữ "đăng" chính giữa câu thơ không nhằm mục đích tỏa sáng chân dung huyện trưởng mà nhằm đối lập, phản chiếu cái tối tăm của bộ máy thống trị Lai Tân (nói riêng), hệ thống chính quyền Tưởng Giới Thạch (nói chung).
Xem thêm: Phân tích bài thơ Thương Vợ của Tú Xương hay nhất Giữa thực trạng ấy, thử hỏi bình yên ở đâu? Câu trả lời là: Bình yên vẫn ở chốn Lai Tân này!
Trời đất Lai Tân vẫn thái bình
Câu trả lời bất ngờ đến mức khiến người đọc ngã ngửa người. Thì ra là thế! Lời bình giá đã đi ngược lại với tất cả những mục ruỗng, thối nát của chính quyền Tưởng Giới Thạch được phơi bày ở trên. Từ lời bình giá đó đã vút lên một lời đã kích mạnh mẽ. Tác giả Lai Tân đã kết luận đầy châm biếm, mỉa mai sắc sảo và rất hùng hồn về cái xã hội ấy. Thủ pháp nói ngược của Bác đã làm bật ra tiếng cười trào phúng. "Trời đất Lai Tân vẫn thái bình". Đúng vậy! Nhưng chỉ một chữ "vẫn" ("y") cũng đủ "điếng người". Một cái bĩu môi dài, một cái cười khẩy, một giọng mỉa kéo dài bắt đầu từ chữ "vẫn" ấy. Nghệ thuật nâng cao – quật mạnh, nâng càng cao – quật càng mạnh được Bác sử dụng rất công hiệu ở câu thơ cuối bài này đã lay tỉnh người đọc nhìn sâu vào xã hội ấy mà xem xét, đánh giá đúng thực chất của nó. Như con đà điểu thấy nguy hiểm là húc đầu vào sâu trong cát, giai cấp thống trị ở Lai Tân thấy trời đất thái bình là tưởng thấy yên ổn chúng bằng lòng với cách thái bình đó mà không ngờ rằng đó chỉ là cảnh thái bình giả dối, trong đó chất chứa rất nhiều sóng gió, hiểm nguy. Điều ấy cũng thể hiện sự ngu dốt, vô trách nhiệm hết sức của bọn chúng. Ba bức tranh – ba chân dung của ba kẻ đại diện cho giai cấp thống trị chế độ Tưởng Giới Thạch ghép lại với nhau thành một bức tranh lớn – một chân dung lớn đầy đủ, trọn vẹn về xã hội Trung Hoa quốc dân đảng. Với "nghệ thuật vẽ đường tròn đồng tâm", tác giả Lai Tân đã vẽ được một bức tranh sinh động mỗi lúc một toàn diện hơn chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch. Nhà "dột từ nóc dột xuống" chỉ qua một huyện Lai Tân mà cả bộ mặt thối nát, bỉ lậu của xã hội Tưởng được phơi bày. Tác giả đã phủ định triệt để tận gốc giai cấp thống trị ấy. Cái "loạn" của mảnh đất Lai Tân được tô đậm bằng màu xám, màu tối của những bê tha, xấu xa, vô trách nhiệm, rất quan liêu của văn võ bá quan. Và hơn thế, nó được "trang trí" bằng sự "thái bình" nhưng ai cũng hiểu trời đất Lai Tân "thái bình" như thế nào. Cách kết thúc bài thơ của Hồ Chí Minh giống lối thơ trào phúng truyền thống của các nhà thơ trào phúng Việt Nam như Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương… đồng thời đậm chất humour (gây cười) của phương Tây. Hai chữ Lai Tân dường như không chỉ là một tên huyện đơn thuần mà tự bản thân nó đã mang một lớp nghĩa là mảnh đất mới, sáng sủa, bình yên. Và quả thật, huyện Lai Tân rất bình yên – bình yên "như xưa". Nhưng "như xưa" ở đây nghĩa là sự trì trệ, là chậm chạp không phát triển đã thành truyền thống; "như xưa" là không hề đổi thay, là duy trì những cái xấu xa, bỉ lậu của ngày trước. Hồ Chí Minh đã đả kích trực tiếp và khách quan chế độ Tưởng, do đó sức tố cáo, châm biếm của nó rất mạnh mẽ, quyết liệt. Bác đã giáng những đòn liên tiếp, chính xác vào xã hội ấy khiến nó phải "quăn lên" ở nhát đòn quyết định có tên là "thái bình". Xem thêm: Trong truyện ngắn Đời thừa, nhà văn Nam Cao viết: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho…". Hãy bình luận ý kiến trên và phân tích một số tác phẩm của Nam Cao để làm sáng tỏ quan điểm nghệ thuật đó Không phải chỉ ở Lai Tân mà ở rất nhiều bài thơ khác của Nhật kí trong tù, Bác cũng đã đả kích châm biếm sâu sắc xã hội Tưởng Giới Thạch như Trảng binh gia quyến, Đổ, Đổ phạm… Đó là "những ngón đòn trào phúng thâm thúy mà Bác đã đánh thẳng vào kẻ thù, vạch trần cái vô lí, tàn tệ" của chế độ ấy khiến "ta cười ra nước mắt". Tiếng cười trào lộng cất lên vừa trữ tình, vừa đậm chất trí tuệ khiến ta thoải mái, hả hê.
Ta chợt nhớ tới Tú Xương ngày trước cũng từng có một tiếng cười trào lộng như thế:
Tri phủ Xuân Trường được mấy niên
Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên
(Đùa ông phủ)
Tiếng cười dân tộc đã thấm nhuần trong thơ hiện thực trào phúng của Hồ Chí Minh mà càng đọc ta càng thấy nó sâu cay. Lai Tân là một bài thơ cũng nằm trong số đó. Vừa có ý nghĩa hiện thực chân xác, vừa mang tính chiến đấu sắc sảo; tố cáo châm biếm cao độ, bài thơ đã giúp ta hiểu thêm về xã hội Tưởng Giới Thạch và hiểu hơn tâm hồn tài năng của Bác.
Vanmau.edu.vn | Có thể xem bài thơ Lai Tân là bức tranh thu nhỏ của cái chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch được không_ Phân tích bài thơ | 1,875 | |
Có ý kiến cho rằng Những thói xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở nên người bạn thân ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính. Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên
Gợi ý
Giữa dòng chảy của cuộc đời, xã hội, có rất nhiều điều tiêu cực mà con người khó tránh khỏi. Nói về sự lây lan và ảnh hưởng nhanh chóng của thói xấu đến con người, có ý kiến cho rằng: Những thói xấu ban đầu là người khách lạ qua đường, sau đó là người bạn thân ở chung nhà và kết cục trở thành ông chủ khó tính.
Quả thật, bất cứ chế độ nào, bất kì thời đại nào cũng tồn tại những điều xấu. Đó là những lề thói, những đức tính không tốt có hại cho bản thân, cho mọi người xung quanh và cao hơn nữa là cho cả cộng đồng. Nếu những điều xấu ấy được tồn tại, phát triển lâu dần sẽ thành thói xấu, khó mà thay đổi được.
Những thói xấu ban đầu là người khách lạ qua đường. Con người ta sinh ra vốn trong sáng, thánh thiện. Rồi những tiêu cực đến với ta một cách vô tình, bất ngờ, không báo trước. Cũng không ai nghi ngờ về nó. Một học trò ngoan ngoãn, lễ phép được sống trong môi trường gia đình lành mạnh, hạnh phúc sẽ thấy lạ lẫm với những thói xấu của xã hội, học đường: ma tuý, trộm cắp, nghiện ngập. Ban đầu đó chỉ là sự tiếp xúc vì tò mò, sau đó ngày càng lún sâu, ảnh hưởng. Nếu một con người có bản chất nhân hậu, lương thiện thì khó mà nghĩ được những chuyện đó và càng không nghĩ tới biện pháp đề phòng, loại bỏ người khách lạ nguy hiểm đó. Dù thế điều tất yếu sẽ đến: Sau trở thành người bạn thân ở chung nhà.
Từ người khách bâng quơ, không quen biết thói xấu trở thành người bạn thân. Nghĩa là từng giờ, từng phút, từng khoảnh khắc con người sẽ chịu sự tác động lớn của thói xấu. Nó đánh vào điểm yếu của người đó, hiểu thấu và len lỏi vào trong suy nghĩ, hành động của họ. Nó trở thành kẻ song hành đáng ghét mà chủ nhân không nhận ra. Bạn thân là một phần con người ta, chia sẻ, thấu hiểu mình. Ngược lại, bản thân mình cũng yêu mến, sẵn sàng hi sinh vì bạn. Cũng vậy, một khi thói xấu là bạn thân thì ta sẽ làm nhiều việc để thỏa mãn thói xấu đó. Dần dần con người sẽ bị tha hóa, xấu xa.Xem thêm: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Nhưng đó chưa phải là điều nguy hiểm nhất. Từ lúc cái xấu bắt rễ đến lúc nó ngự trong tâm hồn ta là một quá trình dễ dàng, nhanh chóng. Qua những bước ban đầu, nó trở thành kẻ chi phối hoàn toàn, tác oai tác quái ghê gớm. Lúc ấy con người chỉ như một kẻ nô lệ, phụ thuộc, chuyên hành động những việc bị xã hội và mọi người lên án. Con người ta sẽ chỉ là kẻ phục tùng, không có khả năng chống cự hoặc chống lại rất yếu ớt vì nó đã kết cục là thành ông chủ khó tính.
Người khách qua đường, tới người bạn thân và cuối cùng là ông chủ – đó là quá trình bao chiếm và xâm nhập của cái xấu. Tưởng không thể mà có thể, tưởng khó mà dễ. Một khi con người không giữ được thiên lương, nhân phẩm trước sự cám dỗ của vật chất, hưởng thụ… thì rất dễ mất đi nhân phẩm. Thói xấu như kẻ xảo quyệt, ranh ma đội lốt người khách để thực hiện ý đồ của mình. Đó là sứ giả của ác quỉ, của bóng tối, của những tiêu cực đi ngược lại với con người, xã hội. Trong cuộc sống có rất nhiều trường hợp như vậy. Một sinh viên đại học có tương lai sáng sủa, có tất cả các điều kiện để trở thành công dân tốt. Nhưng vì bị cám dỗ, mê hoặc mà dính vào ma tuý, nghiện ngập. Bị chi phôi, anh ta trở thành kẻ trộm cắp, luôn có suy nghĩ xấu trong đầu. Tồn tại song hành với con người đó là những mưu toan, tâm tính để thỏa mãn nhu cầu của mình. Cuối cùng, người ấy trở nên là kẻ nhẫn tâm, mảng tâm tính của kẻ thú tính. Lúc ấy, thói xấu đã trở thành ông chủ khó tính – kẻ sai khiến tàn nhẫn.Xem thêm: Kể lại kỉ niệm đáng nhớ giữa mình và thầy cô giáo cũ nhân ngày 20-11 Tục ngữ Việt Nam cũng có nhiều câu thể hiện sự tác động của hoàn cảnh tới nhân phẩm: Gần mực thì đen, gần đèn thỉ sáng hay Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Và thêm một lần câu nói trên khẳng định đúng đắn về sức mạnh ghê gớm của cái ác, cái đê tiện, một thứ vi-rut có sức lây lan khủng khiếp. Nhưng qua đó, tác giả cũng mang đến cho ta những bài học phải có sự lựa chọn, lập trường chín chắn trước hoàn cảnh. Con người không ai trong đời là không gặp cái xấu, vấn đề bản thân con người phải tìm cho mình một con đường sống, đề phòng và loại bỏ suy nghĩ xấu. Làm được vậy con người sẽ thấy thanh thản.
Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là bất cứ ai cũng bị tác oai, tác quái bởi cái xấu. Ca dao có câu: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Nhiều chiến sĩ cộng sản của ta đã làm nội gián trong lòng giặc vẫn sáng ngời phẩm chất trung thành, tốt đẹp, hướng đến nhân dân, Tổ quốc. Tố Hữu từng ngợi ca nhữrig chiến sĩ giải phóng sáng ngời tâm hồn:
Giặc muốn ta hóa thành tro bụi,
Ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm.
Một con người biết chiến thắng hoàn cảnh là con người có lập trường. Con người đó sẽ không để thói xấu thành người bạn thân và ông chủ nhà.Xem thêm: Cảm nhận về bài ca dao: Trèo lên cây khế nửa ngày…Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.Vanmau.edu.vn | Có ý kiến cho rằng Những thói xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở nên người bạn thân ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính. Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên | 1,088 | |
Có ý kiến cho rằng tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Bằng những hiểu biết của anh (chị) về bài thơ Chiều tối, hãy bàn luận ý kiến trên.
Hướng dẫn
– Vài nét về tác giả, tác phẩm:
+ Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam đồng thời cũng là nhà thơ lớn của dân tộc. Ở Người, nhà thơ và nhà cách mạng gắn liền, hoà quyện không thể tách rời. Đó là một hồn thơ kết hợp được vẻ thâm trầm, sâu sắc của thơ ca cổ điển phương Đông và tính hiện đại của một con người đã tiếp thu được những tư tưởng tiến bộ của nhân loại từ phương Tây. Trên hết, Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng luôn tin tưởng vào tương lai của dân tộc để từ đó có được một nghị lực.
+ Nhật kí trong tù là tập thơ chữ Hán được viết trong giai đoạn Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm và hành hạ một cách phi lí trong hơn một năm từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu năm 1943. Đúng như tên gọi, tập thơ là tập nhật kí phản ánh trung thành tâm hồn của một thi sĩ lớn, một nhà cách mạng lớn. Đó là một tập thơ mang đậm vẻ đẹp cổ điển nhưng cũng rất hiện đại, là tiếng nói của một nhân cách vĩ đại, có nghị lực phi thường, luôn lạc quan, hướng về sự sống và ánh sáng trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chiều tối là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Hồ Chí Minh trong tập thơ này. Đó là bài thơ được làm trong một lần chuyển lao, vào lúc chiều tối giữa núi rừng. Trong bài thơ, nghị lực, tinh thần lạc quan của nhà thơ được thể hiện một cách sâu sắc qua sự biến chuyển của hình tượng thơ cũng như ý nghĩa triết lí sâu xa của bài thơ.
Xem thêm: Bình giảng bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên– Chất cổ điển của bài thơ:
+ Trước hết, bài thơ cũng như cả tập thơ được viết bằng chữ Hán. Điều này xuất phát từ hoàn cảnh ra đời đặc biệt của tập thơ nhưng cũng cho thấy sự uyên bác của Bác, một nhà cách mạng hiện đại nhưng xuất thân trong một gia đình Nho học.
+ Bài thơ làm theo thể tứ tuyệt Đường luật, một thể thơ quen thuộc của thơ ca cổ điển Trung Quốc và Việt Nam.
+ Trong bài thơ có hình ảnh con người cô độc, ngắm nhìn thiên nhiên, tròi đất, rất quen thuộc trong thơ ca cổ điển Trung Quốc và Việt Nam.
+ Bút pháp miêu tả cảnh vật gợi nhiều hơn tả, thiên về chấm phá chứ không miêu tả chi tiết, ngụ tình trong cảnh, cái tôi nhà thơ hiện lên một cách gián tiếp trong bài thơ.
• Mô tả một cách chấm phá, ít chi tiết nhưng gợi lên được cái thần của thiên nhiên lúc chiều tối (hai câu thơ đầu).
• Gợi nhiều hơn tả, không nói mà lại nói được rất nhiều (hai câu thơ sau: dùng hình ảnh bếp lửa để nói về bóng tối).
– Chất hiện đại của bài thơ:
+ Gắn liền với hoàn cảnh riêng của Bác: bị giam cầm, giải đi từ nhà tù này đến nhà tù khác.
+ Chất liệu của bài thơ lấy từ chính cuộc sống hiện thực, những hình ảnh thơ rất chân thực chứ không ước lệ như trong thơ cổ, đặc biệt, in đậm dấu ấn của cuộc sống lao động.
+ Niềm lạc quan tin tưởng, triết lí sống của một người chiến sĩ cách mạng.
Nguồn: thêm: Viết đoạn văn ngắn (khoảng 3, 4 câu) về chim thiên nga | Có ý kiến cho rằng tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Bằng những hiểu biết của anh (chị) về bài thơ Chiều tối, hãy bàn luận ý kiến trên. | 661 | |
Có ý kiến cho rằng Vợ nhặt của Kim Lân là một bài ca sự sống. Anh (chị) hãy phân tích tình huống truyện của tác phẩm này để làm nổi bật ý kiến trên
Gợi ý
Là một truyện ngắn hay, Vơ nhặt của Kim Lân đã thu hút sự chú ý của đông đảo người yêu văn chương. Không ít vẻ đẹp sâu xa của văn phẩm đã được khám phá. Riêng một khâu tình huống truyện không thôi, người ta cũng đã "nhặt" được khá nhiều điều lí thú. Song, người đến sau không phải đã hết hi vọng. "Muốn ăn cơm trắng mấy giò này…" câu hò của Tràng, một cách không ngờ, dường như muốn mời mọc… cả những cây bút nghiên cứu phê bình.
Tôi nhớ Nguyễn Minh Châu ở đâu đó, bằng cách nói hình ảnh đặc thù của người sáng tác, đă xem tình huống truyện như "một khúc của đời sống”, " một lát cắt của đời sống" mà qua đó ta có thể hình dung trăm năm của đời thảo mộc. Ý ông muốn nhấn mạnh vào tính nghịch lí của nó: tuy chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi, song lại giúp người ta có thể hình dung được diện mạo toàn thể của cả đời sống. Người làm lí luận thì hình dung tình huống như hạt nhân cấu trúc của thế loại truyện ngắn, nó sắm vai một nhà tổ chức đối với toàn bỏ thiên truyện. Chung qui, tình huống vẫn được hiểu như một loại sự kiện đặc biệt của đời sống được sáng tạo ra theo hướng lạ hoá. Tại đó, vẻ đẹp nhân vật được hiện hình ảnh sắc nét, ý nghĩa tư tưởng được phát lộ toàn vẹn. Người viết có được một tình huống đặc sắc là đã có được một tiền đề khá chắc chắn cho thành công của một truyện ngắn. Còn người đọc nắm được tình huống thì xem như có một chìa khoá tin cậy để mở vào thế giới bí ẩn của tác phẩm.
Dễ thấy rằng hạt nhân của truyện ngắn Vợ nhặt là một cuộc hôn nhân kì lạ. Thực ra, hôn nhân kì lạ và những mối kì duyên vốn là mô típ rất phổ biến trong văn chương nghệ thuật, ở văn học dân gian, những mối tình Tiên Dung – Chử Đồng Tử. Từ Thức – Giáng Hương, Thạch Sanh – Quỳnh Nga, Lọ Lem – Hoàng Tử, Cô Tấm – Nhà vua, Sọ Dừa – Con gái Phú Ông. V. V… Hay những cuộc hôn nhân trong thế giới Truyện Nôm những Tống Tràn Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Hoàng Trừu…, cả trong văn học viết, thậm chí cả trong văn hoc hiện đại nữa bao mối tình Chí Phèo – Thị Nở, Nguyệt – Lãm, Mị – A Phủ…, dù ít dù nhiều, đều có dáng dấp của những mối kì duyên. Nghiên cứu hệ thống mô típ này sẽ hứa hẹn không ít những thú vị cả về quan niệm nhân sinh lẫn tư duy nghệ thuật. Nằm trong mạch ấy, Vợ nhặt của Kim Lân có những sắc thái rất riêng. Nói hôn nhân trong Vợ nhặt kì lạ ít nhất vì ba lẽ. Một là, sự đảo lộn về giá trị: Tràng – một gã trai nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư, lâu nay ế vợ,, bỗng dưng "nhặt" được vợ, mà lại là vợ theo không. Hai là, sự ngược đời: Tràng lấy vợ lúc không ai lại đi lấy vợ – giữa những ngày nạn đói đang lăm le cướp đi mạng sống của mỗi người. Ba là, nghịch lí: một đám cưới thiếu tất cả mà lại như đủ cả. Những điều này quyết định đến việc tổ chức mạch truyện và cả cấu tứ của thiên truyện nữa.
Không phải ngẫu nhiên mà mạch truyện là một chuỗi ngạc nhiên kế tiếp. Khi Tràng dẫn vợ về thì cả xóm ngụ cư ngạc nhiên. Thoạt tiên là lũ trẻ. "Lũ ranh" ấy bỗng nhiên mất hẳn đi một bạn chơi, khi có đứa chợt nhận ra quan hệ của họ là "chồng vợ hài". Còn đằng người lớn thi ngớ ra "không tin được dù đó là sự thật". Khi đã tỏ, họ tò mò thì ít mà ái ngại nhiều hơn: " Giời đất này còn rước cái của nợ đời về"! Tiếp đó là bà cụ Tứ. Tràng lấy được vợ là điều bà đều mong ngày tưởng, vậy mà khi sự xảy đến, bà hoàn toàn không tin nổi – không tin vào mắt mình (ngỡ mình trông gà hoá cuốc), không tin vào tai mình (quái, sao lại chào mình bằng "u”). Song, đáng nói nhất vẫn là Tràng. Là "thủ phạm" gây ra tất cả, mà vẫn không hết ngac nhiên (chẳng những cứ đứng "tẩy ngầy" giữa nhà tối hôm trước mà đến tận hôm sau, qua một đêm có vợ rồi mà "hắn cứ lơ lừng như người đi ra từ trong một giác mơ"). Trong chuỗi ngạc nhiên ấy, ta đọc thấy những định nghĩa xót xa về người vợ: Vợ là cái của nợ đời. Vợ là gánh nặng phải đèo bòng. Có thể nói, chưa có ở đâu giá trị của người vợ lại thấp kém, lại bèo bọt như hoàn cảnh này. Và cũng chưa bao giờ, hạnh phúc lại có một nghĩa lí đáng sợ như ở đây: hạnh phúc là một mạo hiếm, một nguy cơ. Như vậy, tạo được tình huống này, tác phẩm đã tố cáo được tội ác của phát xít Nhật, kẻ đã gây ra nạn đói khủng khiếp, không chỉ cướp đi sinh mệnh của mấy triệu người Việt Nam, mà còn đánh tụt giá người xuống hàng cỏ rác bọt bèo. Mặt khác cũng toát lên được niềm tin vào bản chất Người trong con người: dù hoàn cảnh muốn biến con Người thành Bèo Bọt, nhưng Con Người vẫn không chịu làm Bèo Bọt mà vẫn kiên nhẫn làm Người. Nghĩa là một tình huống giúp ta hiểu sâu tầm vóc nhân văn của tác phẩm.Xem thêm: Phân tích 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc Bởi vì đó là tình huống: đùa mà không đùa. Hôn nhân là một chuyện hệ trọng và thiêng liêng vào bậc nhất của đời sống nhân sinh, ấy thế mà ở đây, hoàn cảnh tai ác và cả con người nữa như muốn biến thành trò đùa – "Tràng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai lần thế mà thành truyện. Nếu trước sau chỉ là một trò đùa, thì Con Người đã thành Bèo Bọt. May thay, các nhân vật đã bước ra khỏi trò đùa kia với tư cách Con người. Một diễn biến như thế, có thể thấy về bản chất là: Cảnh ngộ cứ lâm le Bèo Bọt hoá Con Người, nhưng con người đã vượt lên cả cảnh ngộ lẫn bàn thân mình, vẫn cứ làm người.
Nhìn từ phía cô "vợ nhặt", cái đói quay quắt ném cô vào một đời sống vất vưởng. Đời sống vất vưởng nghiệt ngã đã biến cô thành một kẻ chanh chua, chao chát, cong cớn, trơ tráo, chằng những làm biến dạng tính cách con người, nạn đói khủng khiếp còn như một cơn lủ lớn đã cuốn phăng đi bao sinh mệnh. Chới với giữa dòng lũ, tiếng nói thường trực nhất, tất nhiên, là tiếng nói của băn năng Cần phải sống đã, cần phải bám ngay vào tất cả những gì có thể bám được. Và bản năng ham sống đã xui khiến cô làm tất cả những giì để có thế thoát khỏi cái chết đang đe doạ từng giờ từng phút. Thật may mắn, cô đã bám vào được một cái cọc, thoạt đấu có vẻ ơ hờ không đâu, té ra lại vững vàng đáo để. Cái cọc ấy có tên là Tràng. Đầu đuôi, chưa phải là bám vào Tràng, hay bám vào cái xe bò, mà là bám vào một cái rất không đâu, rất mong manh vô hình, ấy là câu hò của Tràng. Để làm được kỳ công ấy cô đã biến một câu hò vu vơ giữa cho thành một lời hứa hẹn thật (Muốn ăn cơm trắng mấy giò này. lại đây mà đẩy xe bò với anh nì"), quyết định nhất là, biến một lời rủ rê đùa thành một lời cầu hôn chính thức <"Làm đếch gì đã có vợ. Nói thế chứ muốn về với tớ thi sửa soạn các thứ rồi cùng về!). Có phải bản năng đã lấn át mất danh dự? Nếu quả thực chỉ có thế, thì có cũng chỉ là một thứ Bèo Bọt, không hơn không kém. Nhìn kĩ, bên trong chưa hẳn đẫ mất hết lòng tự trọng. Nếu hoàn toàn không còn ý thức ấy, hẳn ở cô không thể có những cung cách như khi nhìn thấy căn lều rách nát của mẹ con Tràng. "Thị nén một tiếng thở dài trong ngực", không thể ngổi mớm trên giường ôm khư khư cái thúng trong lòng, không thể đêm khuya cứ ngồi bán thân bất động trong khi Tràng đã sốt ruột leo lên giường định vào đém tân hôn. Nhất là cái cung cách ứng xử vào sáng hôm sau: không phải việc lao vào dọn dẹp cùng với mẹ chồng từ sáng sớm – việc ấy nghĩ cũng bình thường, mà là khi nhận bát "chè khoán" từ tay bà cụ Tứ, thị chợt "sầm mặt lại", sau đó "và ăn một cách điềm nhiên". Thái độ và cung cách như thế chỉ có thể có ở người có ý thức về cảnh ngộ mình cùng thân phận mình. Té ra, những chao chát, chỏng lòn, cong cớn kia chỉ là những du nhập từ bên ngoài vào, như một thứ vũ khí để tự vệ để đối phó với cảnh sống vất vưởng thôi. Bản tính sâu xa đến giờ mới hiện ra, mà có lẽ cuộc hôn nhân này mới làm hổi sinh thì phải! Như thế, nảy nở bởi một trò đùa, nhưng bên trong con người vốn dỉ là một cái mầm nghiêm túc luôn khát sống và khát làm Người. Ta mới hiểu được vì sao, cô tự rơi vào một hoàn cảnh rất dễ bị khinh rẻ, nhưng người đọc và cả người trong truyện không thấy khinh mà chỉ thấy thương, rồi thấy quí, dù lắm lúc thấy… buồn cười.Xem thêm: Nghị luận xã hội về tác dụng của việc đọc sách
Nhỉn từ phía Tràng, tình huống này không hẳn là lưỡng lự giữa sự đùa cợt phất phơ và ý định nghiêm túc, mà ở chiều sâu, chính là sự phân vân giữa một bên là sự khước từ của lòng vị kỉ, một bên là sự cưu mang của lòng vị tha. Sau những gì đã" gây ra" bởi hàng loạt những trò đùa tầm phào, Tràng có "chọn", nghĩa là thoáng lo sợ và ân hận của kẻ đã trót đẩy trò đùa đi quá trớn. Nếu lúc ấy, Tràng bỏ của chạy lấy người, thì vể lí, chẳng ai trách được gã trai ấy Nhưng tình người trong gã thì chắc mất mát đi nhiều lắm. Và Tràng cũng chẳng hơn thứ Bèo Bọt là bao. Song, Tràng đã "Chặc, kệ!" Có vẻ như một quyết định không nghiêm túc, nhưng phóng lao phải theo lao vậy. Đến đây cả người đọc thừa thãi niềm tin nhất, cũng chưa thể tin là rồi ra có thế chắc chắn, dù ngẫm cho cùng, họ đến với nhau, bề ngoài thì ngẫu nhiên, không đâu, mà bên trong lại là tất nhiên: người này cần người kia để có một chỗ dựa mà qua thời đói kém, con người kia cũng cần đến người này để mà có vợ, để biết đến hạnh phúc làm người. (Nếu không "gặp cái nước nay, người ta mới lấy đến " Tràng, thì tình trạng ế vợ trường kì của gã trai đây còn khuya mới đến hồi kết. thúc!). Và cuối cùng, nằm ngoài mọi tưởng tượng và ngờ vực, hai que củi trôi dạt ấy đã chụm vào nhau, đã nhen nhóm lên thành bếp lửa. Sau cái tiếng "Chặc, kệ!" đó, mọi tầm phơ tầm phào đã khép lại, nhường chỗ hoàn toàn cho sự nghiêm trang. Hãy chú ý đến việc làm ngay sau đó của Tràng. Còn bao nhiêu tiền, Tràng dôồ vào ba việc: mua cho vợ một cái thúng, ăn với nhau một bừa cơm và mua một chai dầu. Hai việc đầu là thiết thực. Việc thứ ba xem chừng xa xỉ, cứ như một thứ chơi sang, chơi ngông. Hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, không có đèn thắp, có chết đâu! Nhưng chính cái việc ngỡ như xa xỉ kia lại nói với ta rất nhiều về tấm lòng của Tràng. Thì ra, không phải lấy dược vợ quá dễ dàng thỉ Tràng cũng rẻ rúng hạnh phúc của mình. Nếu rẻ rúng, Tràng cũng chỉ là Bèo Bọt. Trái lại, Tràng rất trân trọng. "Vợ mới vợ miếc thì cũng phải sáng sủa một chút chứ chả nhẽ chưa tối đã rúc ngay vào", Cách nói có cái vẻ bỗ bã của một gã trai quê, nhưng động cơ thỉ không thiếu cái nghiêm trang của một người giai tử tế tối tân hôn. Hôm nay phải là một ngày khác hẳn. Phài là một sự kiện của đời mình. Ngày mình có vơ, nhà cần phải sáng. Mua chai dấu chính là nỗ lực để đàng hoàng ở cái mức mình có thể có được vào lúc này. Kể từ khi ấy, họ gắn bó với nhau chân thành và nghiêm trang như bất cứ đôi lứa nào trên cõi đời này. Chỉ cần làm một so sánh nhỏ với chương "Hạnh phúc của một tang gia" trong Sổ đỏ của Vũ Trọng Phụng cũng có thể thấy ngay nghĩa lí sâu sa của nó. Đám tang cụ cố tổ cực kì long trọng to tát, thừa thãi mọi đồ lễ và nghi lễ hình thức. Chỉ thiếu duy nhất một thứ, ấy là lòng xót thương dành cho người quá cố. Mà thiếu điều này, mọi thứ khác chi còn là trò loè bịp rởm đời trống rỗng và vô nghĩa. Nó là hình ảnh của một xã hội đồi bại, cũng là niềm phẫn uất, là nỗi bi quan của Vũ Trọng Phụng về cái cuộc đời vô nghĩa lí chó đểu đó. Còn cuộc hôn nhân này lại thiếu tất cả, kể cả những nghi lễ tối thiểu nhất của một đám cưới. Thế nhưng, nó lại có cái quan trọng nhất, cốt lõi nhất: đó là sự thương yêu gắn bó thực lòng. Mà đã có đươc điều này, thì những cái thiếu kia đều không còn đáng kể, thậm chí đều trờ lên vô nghĩa. Nên đây là hình ảnh của Tình Người, của tư cách Người trong con người. Cuộc hôn nhân như thế chẳng phải là niềm tin mãnh liệt vào phẩm giá Người bất diệt của Kim Lân đó sao?
Từ một góc nhìn nào đó ta còn thấy tình huống này là đám cưới ở giữa đám ma. Thậm chí, đám cưới nhỏ nhoi giữa một đám ma khổng lổ. Là việc hai cá thể tự nguyện gắn bó với nhau, lập nên một gia đinh rồi sinh con đẻ cái, đám cưới được coi như sự kiện khởi đầu một sự sống mới trong nhân gian. Còn đám ma lại là sự kiện kết thúc một chu trình sống trên cõi đời này Tình huống "vợ nhặt", do đó, còn có thể gọi là sự sống nảy sinh giữa cái chết. Có thể Kim Lân chưa chắc đã ý thức thật đầy đủ về khía cạnh này. Nhưng ý nghĩa khách quan của tác phẩm thì toát lên điều đó. Không phải ngẫu nhiên mà trong thiên truyện, ta thấy nổi lên song hành hai cuộc giao tranh: Sự sống với cái chết và Ánh sáng với Bóng tối.Xem thêm: Hãy phát biểu cảm nghĩ của em về những bài ca dao ân tình, nghĩa tình mà em đã học Cuộc hôn nhân hình thành một phần lớn là do Cái Chết đến đuổi. Khi dắt nhau về xóm ngụ cư, họ đi trong sự bao vây của cái chết. Cái chết hiện ra với nhiều bộ mặt, nhiều biến thể: khi thì trong hình ảnh xác những người chết đói nằm la liệt trên bãi chợ, khi thì ở bóng những người đói rật rờ như những bóng ma đằng sau gốc đa hay gốc gạo, khi lại hiện ra trong hình ảnh bày quạ bu kín trên ngọn cây, chỉ chờ những người đói đổ xuống ùa tới moi gan rỉa thịt, khi lại hiện trong hình ảnh khói của những nhà đốt đống rấm để xua mùi tử khí… Cái Chết truy đuổi rình rập quanh bước chân của họ. Thậm chí, khi đôi trai gái sắp lên giường ngủ, nó vẫn chưa chịu buông tha. Đúng lúc ấy, họ nghe thấy tiếng khóc hờ của những nhà mới có người chết tỉ tê lọc qua kẽ vách. Nhưng sự sống không bao giờ chán nàn. Sáng hôm sau, tất cả các thành viên trong gia đình ấy đã cùng lao vào một việc có thể nói là không thiết thực, bởi không có một hiệu quà kinh tế trực tiếp gì: dọn dẹp nhà cửa. Nhưng cái việc có vẻ chưa cấn thiết một ti nào ấy lại nói với ta rất nhiều về thái độ sống của họ. Họ không muốn tạm bợ, mà muốn đàng hoàng. Họ đang chuẩn bị cho cuộc sống lâu dài. Họ bướng bỉnh tuyên chiến với nạn đói. Ở người mẹ già nua sự sống ngỡ như đã khô cằn đi. lại như bừng lên một sức sống mới Bà xăm xắm lao vào công việc, hay cười, hay nói và toàn nói về tương lai. tương lai gần còn chưa hiện ra đã lại nghĩ đến nhưng tương lai xa hơn nữa ”Tràng à. lúc nào có tiền mua lấy đôi gà. Tao tính cái đám đất đầu bếp kia nếu làm chuồng gà thì rất tiện. Này, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ cỏ ngay đàn gà cho mà xen”. Rõ ràng, sự sống khỏng đầu hàng cái chết. Sự sống đang kiên nhẫn vượt lên cái chết.
Nhưng, tinh vi nhất vẫn là cuộc giao tranh thứ hai: Ánh sáng với Bóng tối. Phần thắng cuối cùng thuộc vể Ánh sáng. Điều này hiện rõ ngay trong kết câu. Có ngẫu nhiên không khí câu chuyện mở ra lúc trơi nhá nhem tói và kết thúc vào sáng hôm sau, khi mặt trời lên cao bằng con sào? Và hệ thống tình tiết dọc theo mạch truyện cũng không hẳn là ngẫu nhiên. Trước khi đôi trai gái dắt nhau về, bao chum lên xóm ngụ cư là một bầu không khí âm u, ảm đạm bởi từ khí vây quanh cùng bao ánh mắt lo âu. Nhưng họ về đến đâu ánh sáng theo về đến đó. Thoạt tiên là có một cái gì tươi mát thổi vào đám người ngụ cư làm cho gương mặt hồc hác u tối của họ bỗng rạng sáng lên. Rổi đêm ấy căn lều lâu nay bóng tối vẫn ngự trị của mẹ con bà cụ Tứ cùng sáng lên – bằng ngọn đèn từ chai dầu của Tràng? Không, sâu xa hơn, là bằng nguồn sống bùng lên từ cuộc hồn nhân ấy. Sáng hôm sau, gương mặt lâu nay u ám bủng beo của bà cụ Tứ cũng sáng lên Cảnh vật bao quanh căn lều cũng sáng sủa quang đãng… Tuy nhiên, chai dầu của Tràng giỏi lắm cùng chỉ xua đi được Bóng tối trong căn lều nhỏ bé ấy thôi. Còn Bóng tối bao trùm lên toàn bộ thế giới của câu chuyện thì ngọn đèn dầu kia không xua tan nổi. Nó phài nhờ vào một nguồn sáng khác lớn lao hơn, mãnh liệt hơn Đó là nguón sáng của lá cờ. Câu chuyện được khép lại bằng hỉnh ảnh lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ hiện lên trong tâm trí của Tràng nằm vào mạch ngầm tất yếu đó. Một kết thúc bằng Ánh sáng. Một kết thúc lạc quan.
Thế là, nảy sinh trên một mảnh đất mà Cái chết đang lan tràn, nhưng sự sống quyết không chán nản. Sự sống vẫn cố bám ghì lấy mặt đất, vẫn kiên nhẫn vươn ra Ấnh sáng, vươn lên phía trước. Sự sống bao giờ cũng mạnh hơn cái chết. Đó chính là bản tính tích cực của sự sống. Điều ấy chẳng phải là dư vị triết lí của Vợ nhặt, chỗ sâu sa nhất trong ý nghĩa nhân văn của tác phẩm này sao? Gọi Vợ nhặt là Bài ca sự sống, thiết tưởng cũng khỏng phải là đề cao quá đáng.
Vanmau.edu.vn | Có ý kiến cho rằng Vợ nhặt của Kim Lân là một bài ca sự sống. Anh (chị) hãy phân tích tình huống truyện của tác phẩm này để làm nổi bật ý kiến trên | 3,551 | |
Có ý kiến cho rằng “có 3 điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”. Hãy bình luận ý kiến đó
Gợi ý
Kiếp nhân sinh dài hay ngắn? Làm người khó hay dễ? Có biết bao câu hỏi được mỗi người, tự đặt ra để hỏi mình. Có biết bao câu ca, tiếng hát, danh ngôn sâu sắc, lí thú, đã trở thành hành trang vào đời của mỗi người, mỗi chúng ta. Làm sao để sống đẹp, sống tốt, vươn lên làm chủ với ý kiến sau đây: “Có 3 điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”.
Mỗi người là một cá thể trong cõi nhân sinh. Sướng hay khổ, vui hay buồn, giàu sang hay nghèo hèn, khỏe mạnh hay đau ốm, trường thọ hay đoản thọ – mỗi người một số phận, một cảnh ngộ, nào ai giông ai? Đúng thời gian, lời nói và cơ hội là những “tài sản” vô cùng quý báu đối với mỗi người. Những thứ ấy để trôi qua thì không bao giờ lâỳ lại được. Do đó, phải sống như thế nào, sống tích cực hay buông xuôi, sống đẹp hay sống vô vị, sống nhạt nhẽo, sống thừa như “phường giá áo túi cơm!”.
1 – Trước hết, nói về thời gian.
Thời gian là vàng; thời gian quý hơn vàng. Quỹ thời gian là vốn sống của mỗi người. Ăn ngủ, vui chơi, học hành, lao động… của bất cứ ai đều diễn ra theo ngày đêm, bốn mùa, năm tháng. Con người dùng thì giờ để lao động sản xuất ra của cải vật chất và mọi giá trị tinh thần, để sống trong no ấm, hạnh phúc. Con người cũng dùng thời gian để học hành, mở mang trí tuệ, vươn lên tầm cao của học vấn, văn minh.
Quỹ thời gian sinh lí thì mọi người như nhau, nhưng quỹ thời gian tâm lí của mỗi người lại khác nhau. Có người sống trong tâm trạng: “Ba thu dồn lại một ngày dài ghê”. Có người “uống rượu tiêu sầu” nên cảm thấy: “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy – Kiếp phù du trông thấy cũng nực cười!” Có người lại hôi hả “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, nhất là bà con dân cày đã thức khuya dậy sớm, đã một nắng hai sương cuốc bẫm cày sâu để làm ra những mùa vàng, những bát cơm đầy dẻo thơm.
Thời gian trôi nhanh “vun vút như tên bay, như bóng câu (ngựa) lướt qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu”. Thời gian một đi không trở lại. Sinh, trưởng, lão, bệnh, tử và vòng đời của mỗi người. Tuổi trẻ thường phung phí thì giờ, cho nên lúc mái tóc chớm bạc mới hối hận, mới tiếc nuôi: “Ôi kiếp nhân sinh là thế ấy, như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như tuyết tan…”.
Kẻ lười biếng nên sống buông thả: “Ăn no rồi lại nằm khoèo – Nghe giục trống chèo, vác bụng đi xem”. Dân gian đã châm biếm: “Đời người có một gang tay – Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang!” Muốn chiếm được bảng vàng, các thí sinh, sĩ tử phải “dùi mài kinh sử”, phải “Thập niên đăng hỏa”, ở nước ta đã có những “vua lợn”, “vua quỷ”… như Lê Ngọa Triều, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, nhưng cũng có những vị minh quân như Lê Thánh Tông: “Trống đời canh, còn đọc sách – Chiêng xế bóng, chửa thôi chầu”.
Kẻ lười biếng, ăn không ngồi rồi thì lúc nào cũng cảm thấy thừa thời gian. Người siêng năng cần cù thì luôn cảm thấy thiếu thời gian. Biết làm chủ thời gian là biết sống tích cực. Trong bài thơ Vội vàng viết vào thời mười tám, đôi mươi, thi sĩ Xuân Diệu đã thể hiện một tâm thế tuyệt đẹp:Xem thêm: Thi hào Goethe cho rằng: “Dù vua chúa hay dân cày, kẻ nào tìm thấy sự bình an trong gia đình, kẻ ấy là người sung sướng nhất”. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu nói trênMỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Vì cảm nhận được “Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật – Không cho dài thời trẻ của nhân gian”, nên chàng thi sĩ họ Ngô mới “vội vàng”, muốn “say”, muốn “riết”, muốn “ôm”…
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng…
Thật vậy, thời gian rất quý, thời gian trôi nhanh, một đi không trở lại, nên không được vung phí thời gian, phải biết làm chủ thời gian.
2 – Thời gian mải miết trôi qua, không thể nào lấy lại được, vậy lời nói thì thế nào? Người xưa từng nói: Tên bắn đi thì máu sẽ đổ, và thịt nát xương tan, đô thị hoang tàn. Tên bắn đi làm sao thu hồi được? Lời đã nói ra làm sao lấy lại được? “Lời nói gió bay” (tục ngữ). Lời nói là vàng. Đó là những lời nói tốt đẹp, mang tình người, hoặc là lời ngợi khen, hoặc là lời động viên, an ủi. Hoặc là lời ông bà, cha mẹ bảo ban con cháu. Hoặc là lời thầy, cô dạy bảo học trò. Hoặc là lời bạn bè tâm sự. Hoặc là tiếng nói tâm tình của lứa đôi. Hoặc là lời chào hỏi ân cần, vui vẻ của đồng loại. Lời nói dù tốt đẹp, nhân văn đến đâu cũng không thể nào lấy lại được.Xem thêm: Em hiểu như thế nào về ý nghĩa bài thơ Tự khuyên mình của Hồ Chủ tịch: "Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân/ Nghĩ mình trong bước gian truân/ Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng"
Còn có những lời nói độc địa, tiếng chửi rủa, quát tháo. “Lời nói đọi máu” (Tục ngữ). Có những lời nói có thể làm người nghe đau đớn, tủi nhục, căm giận, nhưng khi đã được “phun ra” thì làm sao lấy lại được? Nhất là những lời nói tục tằn, thô lỗ, phàm phu càng không lấy lại được:
Đất xấu trồng cây khẳng khiu,
Những người thô tục nói điều phàm phu!
Cũng như tiếng chim hót nghe rất vui tai, câu hát, lời ru của bà, của mẹ tuy “gió đưa về trời” những vẫn thấm sâu vào tâm hồn con cháu. Đúng như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết:
Cái cò… sung chát đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người.
Cũng không đi hết những lời mẹ ru.
(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)
Khi lời nói đã “xuất khẩu”, dù hay, dở thế nào cũng không lấy lại được, do đó, lúc nói năng phải đắn đo, suy nghĩ cẩn trọng. Không thể ăn nói văng mạng được. “Ản nhai, nói nghĩ”, phải “uốn lưỡi bảy lần mới nói” – đó là lời khuyên về sự ăn nói. Trong chúng ta, hầu như ai cũng nhớ câu:
Lời nói chẳng mất tiền mua.
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Lời nói thể hiện tư tưởng, tình cảm, cách ứng xử, bộc lộ cá tính, nhân cách văn hóa của mỗi người. Lời nói khi đã phát ngôn thì không thể nào lấy lại được, do đó, chúng ta phải học cách ăn nói văn minh, lịch sự, lễ phép. Và phải thận trọng, lễ độ trong nói năng, ứng xử.
3. Thời gian đã trôi, không thể chạy ngược dòng, lời nói đã phát ngôn không thể thu hồi, còn cơ hội có lấy lại được không?
Cơ hội là dịp may hiếm có, mang tính khách quan, ngoài mong muốn chủ quan của mỗi người. Có loại cơ hội nghìn năm mới có một. Đời người có mấy cơ hội tốt đẹp trong học hành, thi cử, làm ăn?
Sau gần một thế kỉ làm trâu ngựa cho ngoại bang, nhân dân ta bao phen quật khởi vùng dậy, nhưng đã bị kẻ thù “tắm trong những bể máu”. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồ Chủ tịch và Đảng ta đã chủ động “Chớp lấy cơ hội” Pháp chạy, Nhật hàng Đồng Minh, lãnh đạo nhân dân ta thực hiện cuộc Cách mạng tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Xem thêm: Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết) Nhờ cơ hội phát triển nền kinh tế thị trường mà có nhiều doanh nhân trẻ, nhà quản lí tài ba xuất hiện, góp phần làm đổi thay bộ mặt đất nước.
Nhờ cơ hội mở rộng giao lưu văn hóa, giáo dục với các nước trên thế giới, mà hiện nay Việt Nam có hàng ngàn, hàng vạn học sinh, sinh viên du học ở Anh, Pháp, Mĩ, Nhật… Đó là những “ca hội đỏ” giúp nhiều tài năng trẻ được đào tạo, hứa hẹn tương lai tươi sáng.
Bao giờ cũng thế,, vận may rất hiếm, cơ hội một đi không trở lại. Vì thế, con người phải có ý thức chuẩn bị tốt mọi điều kiện chủ quan, mọi thực lực để chủ động đón bắt cơ hội. Không thể chần chừ do dự, không thể “há miệng chờ sung” mà phải có ý chí, có quyết tâm, sẵn sàng nắm bắt cơ hội, để thi thô" tài năng, để làm nên sự nghiệp.
Tuổi trẻ phải 12 năm (hoặc lâu hơn nữa) siêng năng, chăm chỉ học hành, rèn luyện mới có thể tiến xa được. Các kì thi đại học, cao đẳng hàng năm là “ca hội vàng” để thanh niên, thiếu niên biến mơ ước thành hiện thực. Học hành lười biếng, thích ăn chơi đua đòi thì sao đón được “ca hội vàng”, dù trước ngày thi có theo nhau vào Văn miếu “xoa đầu các cụ rùa”, thắp hương cầu khẩn bia Tiến sĩ! Chao ôi! Cơ hội đến rồi qua nhanh, không lấy lại được cơ hội, dù có phép thánh thần!
4.– Tóm lại, “có ba điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội” – là một lời khuyên đẹp, một lời nói hay, hàm chứa chất triết lí và đạo đức. Phải biết sống tích cực, sống chủ động, phải biết nỗ lực học tập và siêng năng lao động, nâng cao kiêh thức, tu dưỡng đức hạnh, nâng tầm văn hóa của bản thân mình lên cao, ngang tầm thiên hạ. Phải biết quý trọng thời gian, thì giờ. Phải biết “Học ăn, học nói, học gói, học mở” để giao tiếp văn minh lịch sự, trung thực, lễ phép. Phải biết chuẩn bị đức tài để đón nhận thời cơ, cơ hội.
Câu nói trên đây luôn luôn nhắc nhở mỗi chúng ta phải học cách sống, phải biết sống, sống đẹp để trở thành con người văn hóa khi bước sang thế kỉ XXI.
Vanmau.edu.vn | Có ý kiến cho rằng “có 3 điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được_ thời gian, lời nói và cơ hội”. Hãy bình luận ý kiến đó | 1,878 | |
Có ý kiến cho rằng: Bài thơ (“Thu hứng”) tuy không miêu tả trực tiếp tình hình xã hội nhưng vần có ý nghĩa hiện thực rộng lớn. Nêu ý kiến của anh (chị)
Gợi ý
Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc. Mỗi sáng tác của ông là một bức tranh hiện thực sinh động và chân xác. Riêng Thu hứng, tuy không trực tiếp miêu tả tình hình xã hội nhưng qua bức tranh cảnh vật và bức tranh tâm trạng của thi nhân, người đọc ít nhiều hình dung được bức tranh hiện thực thời đại ông.
Đỗ Phủ sinh năm 712, mất năm 770, ông sống trọn thời Khai Nguyên, Thiên Bảo đời Đường Huyền Tông (712 – 755). Sau khi đưa quốc gia lên đỉnh cao, Đường Huyền Tông trở thành một ông vua hưởng lạc và chính ông ta đã gián tiếp gây tai hoạ cho đất nước. Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn. Quân đội triều đình nhanh chóng thất bại trước sức tấn công mãnh liệt của quân bạo loạn. Quân An Lộc Sơn đã tàn sát hai phần ba dân số Trung Quốc. Năm 764, loạn An Lộc Sơn được dẹp, nhưng từ đây nhà Đường suy yếu. Chiến tranh liên miên làm xã hội có nhiều biến động to Ịớn, đặt thi nhân trước những hiện thực khắc nghiệt, đòi hỏi thơ ca phải phản ánh hiện thực. Đỗ Phủ đã trở thành người thư kí trung thành của thời đại.
Thu hứng được viết vào mùa thu năm Đại Lịch thứ nhất (766), sau khi loạn An Lộc Sơn được dẹp hai năm và trước khi Đỗ Phủ qua đời bốn năm. Sự biến chấm dứt nhưng nhà Đường vẫn trên đà suy thoái, các ngoại tộc quấy nhiễu biên cương và thường xuyên đột nhập, bọn phong kiến đua nhau cát cứ, uy hiếp triều đình. Lúc này Đỗ Phủ đang cư ngụ ở Quỳ Châu – nơi cách xa quê nhà thi nhân mấy ngàn dặm. Cảnh thu hiu hắt ở Quỳ Châu đã gợi nỗi buồn sâu thẳm trong tâm hồn người nghệ sĩ.Xem thêm: Cảm nhận của tác giả trong bài thơ Qua Đèo Ngang Bài thơ chia làm hai phần. Bốn câu đầu là bức tranh phong cảnh, bốn câu sau thể hiện tãm trạng đau xót của nhà thơ. Thiên nhiên trong bốn câu đầu là thiên nhiên ở Quỳ Châu – nơi đất khách, Đỗ Phủ đang sống ở đó:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng, kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Mùa thu được thi nhân nhận ra từ những tín hiệu quen thuộc: sương móc, rừng phóng. Đây cũng là những hình ảnh mang tính biểu tượng mang ấn tượng về sự lạnh lẽo, tang thương. Nói tang thương vì rừng phong khi vào thu luôn bị sương móc làm cho tiêu điều, thương tổn. Đưa cái nhìn ra xa, về phía núi Vu, kẽm Vu, thi nhân cũng chỉ thấy sự ảm đạm, tối tăm của cảnh vật. Cái hùng vĩ, hiểm trở của núi non đã bị khuất lấp bởi khí thu hiu hắt đó. Cảnh sắc trong hai câu đầu đẫm màu bi thương, tàn tạ.
Khi hướng nhìn của nhà thơ chuyển xuống lòng sông và ngược lên vùng quan ải, cảnh vật có phần hùng tráng, dữ dội hơn. Sóng và mây chuyển động ngược chiều, lấp kín không gian, gây ấn tượng xao động dữ dội và nghẹt thở. Nhưng dường như cảm giác về sự bi thảm trong lời thơ vẫn lấn át sự hùng tráng.
Ớ bổn câu này, tuy Đỗ Phủ chưa nói tới cảnh đời, song nó đã thấp thoáng ẩn hiện sau hình ảnh những cánh rừng phong điêu tàn vì sương móc, cảnh đất trời đảo lộn trên sóng nước Trường Giang và qua mây mù quan ải. Trước khung cảnh đó, nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương dậy lên trong lòng thi nhân như một lẽ tất yếu:Xem thêm: Một lễ hội ghi lại những nét đẹp của phong tục truyền thống hoặc thể hiện khí thế sôi nổi của thời đạiTùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
Đỗ Phủ có một vườn cũ (cố viên) ỗ Lạc Dương nên nỗi lòng quê cũ, trước hết là nỗi nhớ Lạc Dương, nhớ Đông Đô, một trong những kinh đô của không ít triều đại Trung Quốc. Khi viết hai câu luận, nhà thơ đã đồng nhất nhiều sự vật và hiện tượng. Trước hết là sự đồng nhất giữa tình và cảnh (nhìn hoa cúc nở mà trông như xoè ra những cánh hoa bằng nước mắt)? Không chỉ có vậy, tác giả còn đồng nhất giữa hiện tại và quá khứ (giọt lệ hiện tại cũng là giọt lệ của quá khứ gần hai năm qua, kể từ ngày tới Quỳ Châu và quá khứ xa – trước và trong loạn An Sử), đồng nhất sự vật và con người (dây buộc thuyền cũng chính là dây thắt lòng người lại). Trong loạn An – Sử, cả con người và thiên nhiên bị tàn phá, huỷ diệt. Trước cảnh thu buồn, hồi ức về những nỗi đau trong quá khứ đã qui tụ về thời điểm hiện tại, đọng lại trên khóm hoa. Còn cô chu là một hình ảnh ẩn dụ vì nó là phương tiện duy nhất để nhà thơ gửi gắm vào đó ước vọng trở về quê nhà. Nếu như ở hai câu này, hiện thực của quá khứ đau thương được gợi lại một cách gián tiếp thì đến hai câu kết, hiện thực của hiện tại đã được gợi lên qua những ấm thanh đặc trưng của mùa thu Trung Quốc.Xem thêm: Tóm tắt truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O. Henri Âm thanh vang động của tiếng chày đập vải, đập áo để chuẩn bị đốì phó với mùa đông tới gần đã khiến không khí có phần tấp nập hơn. Trong thơ cổ Trung Hoa, tiếng chày đập vải về chiều và đêm là hình tượng âm thanh đặc biệt, có sức gợi cảm lớn. Trong thơ Lí Bạch, Tiếng chày đập áo muôn nhà có thể làm người chinh phụ xao xuyến nghĩ tới người thân nơi biên ải. Còn trong thơ Bạch Cư Dị, Nghe tiếng chày ban đêm có thể khiến cho sáng mai đầu bạc phau vì mỗi tiếng chày nện xuống là thêm một sợi tóc trắng như tơ. Bởi vậy, khi nghe tiếng chày chiều hôm cấp tập nơi quê người, khách không vui lây mà chỉ thêm não lòng.
Mùa thu luôn mang đến cảm hứng bất tận cho các thi nhân. Mùa thu Quỳ Châu đã gợi hứng để Đỗ Phủ viết nên một Thu hứng tuyệt hay. “Hứng” của bài thơ là buồn nhưng buồn mà không bi lụy. Thời tráng niên, trung niên, nhà thơ đã từng quyết tâm:
Giúp vua vượt Nghiêu – Thuấn Khiên cho phong tục thuần
Song đến thời điểm này, tất cả chỉ còn là dĩ vãng. Sự sa đoạ của triều đình và chiến tranh phong kiến đã đẩy Đỗ Phủ về tận góc trời xa thẳm. Con người ấy ngày đêm chỉ ôm ấp hi vọng mong manh là được trở về quê cũ. Ước mơ của ông cũng chính là ước mơ của biết bao người dân nghèo khổ lưu vong đương thời. Bởi vậy, tuy không trực tiếp miêu tả tình hình xã hội nhưng Thu hứng vẫn chứa chan tình đời và có ý nghĩa hiện thực sâu sắc.
Vanmau.edu.vn | Có ý kiến cho rằng_ Bài thơ (“Thu hứng”) tuy không miêu tả trực tiếp tình hình xã hội nhưng vần có ý nghĩa hiện thực rộng lớn. Nêu ý kiến của anh (chị) | 1,297 | |
Có ý kiến cho rằng: Cái gốc của ca dao hài hước, suy đến cùng, cũng là trữ tình, vì có yêu, có ghét, và đến một mức nào đó thì bật ra tiếng cười hài hước. Nêu ý kiến của anh (chị)
Gợi ý
Trong Lẽ ghét thương, Nguyễn Đình Chiểu có viết: Phải chăng hay ghét cũng là hay thương. Theo cách tư duy của Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta cũng có thể nói: Cái gốc của ca dao hài hước, suy đến cùng, cũng là trữ tình, vì có yêu, có ghét,… và đến một mức nào đó thì bật ra tiếng cười hài hước.
Với người dân lao động, khi sáng tác những bài ca dao hài hước, mục đích đầu tiên họ hướng tới là tiếng cười trào lộng để xua đi những mệt nhọc của một ngày lao lực. Nhưng nếu những bài ca đó chỉ thuần nhất mua vui thì những tiếng cười được bật lên sẽ rất chóng tắt đấy là chưa nói đến sự nhạt nhẽo của chúng. Một điều chắc chắn là các tác giả dân gian sẽ gửi gắm trong các câu ca những ý nghĩa nhất định. Và suy cho cùng, cội rễ của các ý nghĩa này phải là một tấm lòng yêu hay ghét.
Cưới nàng anh toan dẫn Voi,
Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn…
Bài ca thực chất là tiếng cười tự trào của người bình dân. Người lao động tự cười mình trong cảnh nghèo. Cưới xin là việc trọng đại nhất trong cuộc đời con người nhưng chàng trai chỉ có thể dẫn cưới bằng một con chuột béo và cô gái chỉ thách cưới có… một nhà khoai lang. Lời thách cưới của cô gái chứa đựng một triết lí nhân sinh của người lao động trong cuộc sống xưa: tình nghĩa cao hơn của cải. Như vậy, cái nghèo không làm họ khổ tâm, mặc cảm mà còn trở thành đề tài để họ vui đùa. Điều ấy thể hiện lòng yêu đời và tinh thần lạc quan của họ. Rõ ràng, nụ cười hóm hỉnh của những người dân nghèo được nảy nở từ sự cảm thông, yêu thương, từ sự chia sẻ, được bắt nguồn từ tình người nhân bản.Xem thêm: Có một nhà văn Nga đã nói: "Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương". Em nghĩ thế nào về câu nói ấy Cái gốc của ca dao hài hước không chỉ là tình yêu thương mà còn là thái độ phê phán, còn là “cái ghét”:
– Làm trai cho đáng sức trai,
Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng.
– Chồng người đi ngược về xuôi,
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo.
Lỗ mũi mười tám gánh lông,…
Cả ba bài ca này cùng chung một cảm hứng châm biếm, phê phán. Đó là những tiếng cười phê phán trong nội bộ nhân dân nhằm nhắc nhở nhau tránh những thói hư tật xấu mà con người thường mắc phải. Hai bài ca đầu chế giễu loại đàn ông yếu đuối, lười nhác trong xã hội. Mỗi bài là một bức tranh vừa sinh động cụ thể lại vừa mang tính khái quát cao, điển hình cho hai loại đàn ông đáng phê phán. Người đàn ông thứ nhất phải cố gắng hết sức khom lưng chống gối mới gánh nổi hai hật vừng còn người đàn ông thứ hai thì vô tích sự đến mức suốt ngày ru rú xó bếp. Những “phẩm chất” mà hai người đàn ông này có được vốn dĩ không thời đại nào trân trọng, yêu mến. Họ hiện lên vừa hài hước vừa thảm hại. Chúng ta không thể hoan nghênh những con người như thể trong cuộc đời thực này. Đó chính là lí do vì sao các tác giả dân gian đã dùng tiếng cười để châm biếm, chế giễu họ. Tất nhiên, đó là tiếng cười thể hiện thái độ nhẹ nhàng, thân tình. Nhưng rõ ràng, nguồn gốc của mỗi tiếng cười chính là “cái ghét”. Tiếng cười cất lên để phủ định chứ không nhằm mục đích tôn vinh những đấng mày râu như thế.Xem thêm: Cảm nghĩ về ngày đầu tiên bước vào trường THPT hay nhất Tương tự, trong bài ca dao cuổì cùng, các tác giả dân gian cũng xuất phát từ thái độ không đồng tình để chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Nghệ thuật phóng đại và trí tưởng tượng phong phú của người bình dân đã mang lại tiếng cười hài hước cho bài ca đồng thời ẩn chứa ý nghĩa châm biếm nhẹ nhàng đối với loại phụ nữ này. Tuy nhiên có thể nhận thấy các tác giả dân gian đã nhìn họ bằng con mắt nhân hậu, thông cảm bởi lẽ sự đỏng đảnh, vô duyên ở họ có thể do trời “phú” hoặc cũng có thể do họ chưa điều chỉnh được bản thân. Cấu trúc chồng yêu chồng bảo… đã nói lên ý đó một cách rõ ràng.
Từ các bài ca trên đây, có thể khẳng định cái gốc của ca dao hài hước xét đến cùng chính là tấm lòng, là tình yêu của những con người lao động. Vì yêu nên họ mới ghét những điều chưa hoàn thiện, những điều làm hình ảnh con người trở nên xấu xí. Vì yêu nên họ mới chế giễu, phê phán để phủ định chúng
Cùng với ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa, ca dao hài hước là một trong những điểm tựa tinh thần để người bình dân, để những độc giả muôn đời của nó vươn lên cuộc sống tốt đẹp hơn.
Vanmau.edu.vn | Có ý kiến cho rằng_ Cái gốc của ca dao hài hước, suy đến cùng, cũng là trữ tình, vì có yêu, có ghét, và đến một mức nào đó thì bật ra tiếng cười hài hước. Nêu ý kiến của anh (chị) | 956 | |
Có ý kiến cho rằng: Thiếu sức tưởng tượng, tri thức không có tiềm năng phát triển. Anh (chị) có suy nghĩ gì? Bàn luận về ý nghĩa của sức tưởng tượng trong quá trình học tập
Gợi ý
Một nhà giáo dục người Nga đã nói: Trí tưởng tượng linh hoạt, phong phú chính là đặc tính quan trọng của trí tuệ. Trí tưởng tượng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập của con người.
Nếu không có trí tưởng tượng tốt, ta sẽ gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm, các hình minh họa trong mỗi bài giảng, khi làm văn cũng sẽ không biết miêu tả một cách sinh động, Trí tưởng tượng còn có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển về sức sáng tạo của cọn người, trong khi những phát minh nổi tiếng trên thế giới đều bắt đầu từ trí tưởng tượng mà thành.
Tôi hay tự hỏi tại sao người Phương Tây (Đức, Pháp, Anh…) từ cách đây hàng trăm, hàng nghìn năm lại có thể viết những tác phẩm triết học, kinh tế và khoa học tinh hoa đến thế, chỉ kể một số ví dụ như Của cải của các dân tộc (A. Smith), Các nguyên lý triết học của khoa học tự nhiên (Newton), Bách khoa thư các khoa học triết học (Hegel)… Không những thế, họ còn xây dựng lên những công trình, những thành phố, vẽ những bức tranh, và có những sáng chế công nghệ đáng ngưỡng mộ. Người Mỹ cũng chính là con cháu của những người Châu Âu đi cư, họ tiếp nhận di sản trí tuệ của tổ tiên và dựa trên đó tiếp tục phát triển triết học, khoa, học và công nghệ mang sắc thái của những người di cư đi tìm cuộc sống ở những vùng đất mới – tính hiệu quả và thực dụng chẳng hạn. Do đó mà người Mỹ có thực dụng luận, tư duy thực dụng của người Mỹ nổi tiếng thế giới rồi.Xem thêm: Thơ Đường và bài Buổi sớm mùa xuân của Mạnh Hạo Nhiên qua một số bản dịch. Tôi thường đọc triết học cổ điển Đức khi rảnh rỗi, thường đọc nhưng những gì hiểu được thật sự không nhiều, triết học Đức quá khó, quá tư biện. Nhưng một số thứ hiểu được thì khá có ích cho tư duy của tôi. Ví dụ đoạn dưới đây trích từ tác phẩm của một triết gia Đức giúp tôi tìm được câu trả lời cho thắc mắc trên: Con nhện làm những động tác giống như động tác của người thợ dệt, và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn. Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi. Cuối quá trình lao động, người lao động thú được cái kết quả mà họ đã hình dung ngay từ dầu quá trình ấy, tức là đã có trong ỷ niệm rồi. Còn nhớ cảm giác lần đầu tiên đọc đến đoạn đó, tôi đã “à” lên một tiếng, đây chính là đặc trưng cho cách làm việc của con người, mọi thứ do con người làm ra đều chỉ là hiện thực hóa tư duy của con người, mọi hành vi của con người đều chỉ là sự thể hiện ra bên ngoài suy nghĩ của con người mà thôi. Có thể nhận xét rằng sản phẩm của anh tinh tế thế nào thì tư duy của anh tinh tế thế ấy nhưng điều ngược lại thì không chắc đúng. Vì vậy, phát triển tư duy là điều kiện cho sự phát triển kinh tế, nhưng trong tư duy của con người thì cần ưu tiên phát triển trí tưởng tượng (một cách tương đối) hơn là trau dồi sự hiểu biết (trau dồi tri thức), do trí tưởng tượng là cái làm ra tương lai, còn tri thức lừ. cái được đúc kết lại từ quá khứ. Con người chỉ có thể phát triển bằng cách làm ra một cái gì đó ít nhất là khác với hiện tại và quá khứ – làm ra một cái mới. Những cái mới liên tiếp nhau sẽ tạo ra sự phát triển. Mà cái mới chỉ có thể xuất hiện trước hết trong trí tưởng tượng mà thôi. Muốn thúc đẩy sự phát triển của trí tưởng tượng thì con người cần không gian tự do, tự do tư duy, tự do hành động trong khuôn khổ của văn hóa lành mạnh.Xem thêm: Giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều - Nguyễn Du
Có thể nhận xét rằng thế giới phương Tây đã tạo điều kiện tốt nhất cho sự tự do của con người, từ đó thúc đẩy sự đa dạng trong tư duy của người phương Tây, thúc đẩy sự phát triển của trí tưởng tượng theo mọi hướng có thể có. Mọi tác phẩm hay mọi công trình tinh hoa của người phương Tây mà chúng ta có thể đọc hay nhìn ngắm hiện nay đều đã từng là tương lai trong suốt thời gian trước khi chúng được viết ra hoặc được xây dựng lên. Trước hết, chúng phải được thai nghén trong trí tưởng tượng của các tác giả của chúng, sau đó chúng mới được hiện thực hóa và có hình hài như chúng ta thấy ngày hôm nay.
Đối với học sinh, sinh viên chúng ta, thực ra trong quá trình học tập rất cần đến trí tưởng tượng. Trí tưởng tượng phong phú giúp ta có thể hiểu bài, hiểu những môn học trừu tượng một cách nhanh chóng và sâu sắc.
Bạn hãy thử nghĩ xem, bạn học môn Văn mà không có trí tưởng tượng, sao bạn có thể cảm thụ các tác phẩm một cách sâu sắc nhất. Giả như học văn mà không tưởng tượng, liệu bạn có thể hiểu được hoàn cảnh của Kiều khi phải bán mình chuộc cha. Bạn không hề hiểu về xã hội và giá trị con người, giá trị đồng tiền trong xã hội đó nên bạn không thể hiểu được nỗi khổ của Kiều khi phải bán mình. Vì không có trí tưởng tượng, bạn luôn áp đặt những tình huống trong văn thơ vào cuộc sống thật – nơi bạn được sống, được biết những thực tế, nắm bắt sự việc rồi kết luận cách sống, cách làm của nhân vật là sai. Chính vì thế, điểm mấu chốt của việc học văn là bạn cần có trí tưởng tượng phong phú để có thể hiểu tác phẩm một cách sâu sắc.Xem thêm: Một trong những nội dung lớn của văn học trung đại là nội dung yêu nước. Qua các sáng tác thơ phú thời Lí Trần (Vận nước - Pháp Thuận, Tỏ lòng - Phạm Ngũ Lão, Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu, ... ) hãy làm sáng tỏ nhận dịnh trên Môn Văn là vậy, còn môn toán thì sao? Nếu không có trí tưởng tượng và tư duy sắc bén, liệu bạn có học được hình học không gian? Môn học này đòi hỏi có sự tưởng tượng tinh tế, và mọi cuộc khảo sát đều cho thấy rằng, những người học tốt bộ môn tự nhiên bao giờ cũng là những người có trí tưởng tượng tốt.
Việc học thực ra rất cần đến trí tưởng tượng, không chỉ một, hai môn mà là tất cả các bộ môn, trí tưởng tượng đều đóng vai trò hết sức quan trọng. Trí tưởng tượng giúp bạn có thể hiểu bài sâu hơn, nắm bài chắc hơn. Và thiếu sức tưởng tượng, quả thật tri thức không có tiềm năng phát triển.
Vanmau.edu.vn | Có ý kiến cho rằng_ Thiếu sức tưởng tượng, tri thức không có tiềm năng phát triển. Anh (chị) có suy nghĩ gì_ Bàn luận về ý nghĩa của sức tưởng tượng trong quá trình học tập | 1,331 | |
Có ý kiến cho rằng: “Những thói xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở nên bạn thân ở chung nhà và kết cục trở thành ông chủ khó tính”. Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào
Gợi ý
Giữa dòng chảy của cuộc đời, có rất nhiều điều tiêu cực mà con người khó tránh khỏi. Nói về sự lây lan và ảnh hưởng nhanh chóng của thói xấu đến con người, có ý kiến cho rằng: “Những thói xấu ban đầu là người khách lạ qua đường, sau đó là người bạn thân ở chung nhà và kết cục trở thành ông chủ khó tính”.
Quả thật trong bất cứ chế độ nào, bất kì xã hội nào cũng đều tồn tại những cái xấu, cái tiêu cực. Đó là những lề thói, những đức tính không tốt, có hại cho bản thân, cho mọi người xung quanh và cao hơn nữa là cho cả cộng đồng. Nếu những điều xấu ấy tồn tại, phát triển lâu dần sẽ thành thói xấu, khó mà thay đổi được. Thông điệp mà ý kiến trên gửi tới chúng ta là con người phải luôn luôn đề phòng sự thâm nhập của thói xấu, không dung túng cho thói xấu. Phải có bản lĩnh, tỉnh táo để chống lại sự lây lan của thói xấu. Không để thói xấu chế ngự mình.
“Những thói xấu ban đầu là người khách lạ qua đường” vì con người ta sinh ra vốn. trong sáng, thánh thiện, những thói xấu đến với ta một cách vô tình, bất ngờ và con người có thể không để ý đến nó. Một học trò ngoan ngoãn, lễ phép được sống trong môi trường gia đình lành mạnh, hạnh phúc sẽ thấy lạ lẫm với những thói xấu như ma túy, trộm cắp, nghiện ngập. Nhưng nếu sống không tỉnh táo và bản lĩnh mà tiếp xúc với thói xấu thì sẽ ngày càng lún sâu, sa ngã. Đúng là nếu như một con người bản chất nhân hậu, lương thiện thì khó mà hình dung được những chuyện đó và càng không nghĩ tới biện pháp đề phòng, loại bỏ “người khách lạ” nguy hiểm đó và từ người khách bâng quơ, không quen biết nó đã trở thành “người bạn thân”. Nghĩa là từng giờ, từng phút, từng khoảnh khắc, con người sẽ chịu sự tác động của thói xấu. Nó đánh vào điểm yếu của người đó, hiểu thấu và len lỏi vào trong suy nghĩ, hành động của họ. Nó trở thành kẻ song hành đáng ghét mà chủ nhân không nhận ra. Một khi thói xấu đã trở thành “bạn thân” thì con người sẽ làm nhiều việc để thỏa mãn thói xấu đó và dần dần sẽ bị tha hóa. Nhưng đó chưa phải là việc nguy hiểm nhất. Từ lúc cái xấu bắt rễ đến lúc cái xấu ngự trị trong tâm hồn ta là một quá trình dễ dàng và nhanh chóng đến không ngờ. Qua những bước ban đầu, nó trở thành kẻ chi phối hoàn toàn, tác oai tác quái ghê gớm. Lúc ấy con người chỉ như một kẻ nô lệ cho cái xấu, làm những việc bị xã hội và mọi người lên án. Con người lúc này sẽ chỉ là kẻ phục tùng, không có khả năng chống cự bởi thói xấu đã “trở thành ông chủ khó tính”.Xem thêm: Viết bài văn kể về các hoạt động tình nghĩa đối với các gia đình thương binh liệt sĩ ở địa phương em mà em đã từng được tham gia hoặc chứng kiến
Từ người khách qua đường tới người bạn thân và cuốỉ cùng là ông chủ khó tính, đó là quá trình cái xấu xâm nhập, chiếm lĩnh và sai khiến con người. Đó là điều tưởng như không thể mà lại là có thể, tưởng là khó mà lại là dễ. Một khi con người không giữ được thiên lương, nhân phẩm trước sự cám dỗ của vật chất, hưởng thụ,… thì rất dễ mất đi nhân phẩm. Thói xấu như kẻ xảo quyệt, ranh ma. Ban đầu nó đội lốt người khách qua đường để thực hiện ý đồ của mình. Sau đó nó xâm nhập và sai khiến con người, biến con người trở thành công cụ thực hiện những việc làm trái với đạo lí và pháp luật.
Ta có thể đưa ra rất nhiều ví dụ mà ta bắt gặp ngay trong cuộc sống. Một sinh viên đại học có tương lai tươi sáng, có tất cả các điều kiện để trở thành một công dân tốt nhưng vì bị cám dỗ, mê hoặc mà dính vào ma túy, nghiện ngập. Ban đầu chỉ nghĩ đơn giãn là “thử cho biết” nhưng càng ngày càng sa đà và dẫn đến nghiện ngập, sức khỏe sa sút, bỏ bê việc học. Lúc đầu thì lừa dối cha mẹ để có tiền mua ma túy, sau đó thì trở thành kẻ trộm cắp, luôn có những mưu toan để thỏa mãn nhu cầu của mình. Cuối cùng, người ấy trở thành gánh nặng của gia đình và xã hội.Xem thêm: Kể tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Tấm Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam cũng có những câu thể hiện sự tác dộng của hoàn cảnh tới nhân cách con người: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” hay “Ớ bầu thì tròn ở ống thì dài”… Tất cả đều nói lên sức mạnh ghê gớm của cái ác, cái xấu như một thứ vi rút có sức lây lan khủng khiếp. Nhưng qua đó, tác giả cũng mang đến cho ta những bài học sâu sắc: phải có sự lựa chọn, lập trường chín chắn trước hoàn cảnh. Không ai trong đời là không gặp cái xấu, vấn đề là bản thân con người có đủ tỉnh táo và bản lĩnh để nhận diện và chông lại nó hay không?. Hãy để cái xấu mãi mãi là “người khách qua đường”, đừng để nó trở thành “bạn thân” rồi thành “ông chủ khó tính” chi phối cuộc đời ta.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là bất cứ ai cũng bị cái xấu xâm chiếm, ngự trị. Ổng cha ta từng ca ngợi những con người bản lĩnh “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Để chiến thắng hoàn cảnh, con người cần có tri thức, lập trường, nghị lực. Để có đủ bản lĩnh phòng chông sự cám dỗ, thâm nhập của thói xấu, chúng ta phải không ngừng học tập và rèn luyện. Học tập để có hiểu biết, có tri thức, biết phân biệt cái xâu, cái tốt. Rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tác phong để có đức tính tốt, có khả năng “miễn dịch” với thói xấu.Xem thêm: Nỗ lực học là trách nhiệm của thanh niên Phấn đấu trong học tập và công tác, cố gắng tự hoàn thiện nhân cách bản thân, cảnh giác với thói xấu là ý nghĩa mà câu nói trên gửi tới chúng ta. Xã hội càng phát triển, thói hư tật xấu càng xuất hiện nhiều đòi hỏi con người càng phải có bản lĩnh để đối mặt với nó. “Những thói xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở nên bạn thân ở chung nhà và kết cục trở thành ông chủ khó tính” là một sự cảnh báo, một lời khuyên sâu sắc cho mỗi chúng ta.
Vanmau.edu.vn | Có ý kiến cho rằng_ “Những thói xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở nên bạn thân ở chung nhà và kết cục trở thành ông chủ khó tính”. Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào | 1,259 | |
Có ý kiến cho rằng: “Tha thứ là món quà ta dành cho người khác nhưng tha thứ chính là món quà ta dành cho chính mình”. Từ nhận định trên em hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa sự tha thứ
Gợi ý
Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng gửi vào lời ca, giai điệu của mình một triết lí sống sâu sắc: “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Sự bao dung độ lượng, tha thứ là một đức tính tốt đẹp của con người. Bàn về ý nghĩa sự tha thứ có ý kiến cho rằng; “Tha thứ là món quà mà ta dành cho người khác nhưng tha thứ chính là món quà ta dành cho chính mình”.
Trước hết, tha thứ là thái độ bỏ qua, không trách cứ hay trừng phạt những người đã phạm sai lầm, làm điều có lỗi với minh. Ý kiến trên tuy ngắn gọn nhưng đã nêu lên được vai trò đầy đủ và sâu sắc của sự tha thứ. Tha thứ không chỉ đem đến sự tốt đẹp cho người khác, mà quan trọng hơn, tha thứ còn đem đến sự thanh thản hơn, thoải mái cho chính tâm hồn mình. Từ xưa đến nay, đã có bao ý kiến cho thấy tầm quan trọng của sự tha thứ. Đạo Phật đã dạy: “Tha thứ luôn là linh dược màu nhiệm có thể trị liệu mọi nỗi khổ, niềm đau cho mọi người được tha thứ và cho cả người tha thứ”. Có người lại cho rằng: “Nếu bạn không sẵn lòng tha thứ cho một ai đó thì cũng giông như việc bạn đang uống thuôc độc mà mong cho người khác chết”. Rất nhiều ý kiến cho rằng tha thứ rất quan trọng, với cả người được tha thứ và người tha thứ. Tựu chung lại, các nhận định đều nhằm mục đích cho người đời thấy tha thứ cần thiết như thế nào trong cuộc sống của chúng ta.
Vậy tại sao lại cần có tha thứ? Con người không có ai hoàn hảo, ai cũng đã từng ít nhất một lần phạm sai lầm, gây tổn thương cho người khấc. Lúc đó, ai cũng mong mình được tha thứ, được xóa tội. Chính vì thế, chúng ta cần phải tha thứ cho người khác, cũng giôhg như chúng ta cần sự tha thứ của người khác khi ta phạm sai lầm. Hơn nữa, tha thứ là phẩm chất tốt đẹp của người dân Việt Nam từ bao đời. ông cha ta có câu dạy: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại”. Tức là, ta không bỏ qua, tha thứ hay tạo cơ hội cho những kẻ không nhận ra lỗi lầm, không ăn năn, hối cải, mà chỉ tha thứ cho những người biết hổi lỗi, biết sửa sai. Trong cuộc sống luôn tồn tại những mâu thuẫn, đấu tranh, nó là mầm mống của oán giận, hận thù. Nếu không tha thứ để cho những oán giận, hận thù đó chất đầy lên nhau, thì cuộc sống con người càng trở nên bế tắc, nặng nề. Cũng giống như Vanvenargues đã nói: “Sự tha thứ khuyến dụ những tâm hồn ngoan cố, nó làm dịu những di hận và những cơn phẫn nộ, nó bảo tồn sự đoàn kết và sự an vui trong phố phường và trong gia đình, nó tạo cái hứng thú lớn lao nhất trong đời sống dân dã hằng ngày”. Trái ngược với tha thứ là oán giận, oán giận sẽ làm cuộc sống trở nên chật hẹp đi và tình người sẽ độc ác hơn. Vậy nên tha thứ luôn đi đôi với hận thù, nếu tha thứ cho người khác là bạn đã xóa đi được hận thù.Xem thêm: Cảm nhận về mùa hè cuối cùng của tà áo trắng – văn lớp 12 Như trên ta đã nói tha thứ là món quà ta dành cho người khác. Món quà ấy giúp người phạm sai lầm trút bỏ cảm giác tội lỗi do sai lầm đã gây ra, cho họ một cơ hội mới trong cuộc sống.
Trở về với lịch sử dân tộc, đất nước ta đã trải qua bao cuộc chiến tranh xâm lược. Khi gươm, đao, bom, đạn kết thúc, cũng là lúc chúng ta khép lại những hận thù. Với kẻ thù, ta luôn dành sự khoan hồng, độ lượng. Nhà thơ, nhà văn hóa lỗi lạc Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo: “Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh”. Đó là tấm lòng bao dung, độ lượng của quân dân nhà Trần dành cho lũ giặc Mông – Nguyên khi chúng bị đánh tan tác. Chiến tranh cống Pháp, chống Mĩ đã qua đi, kẻ thù đã gây cho nhân dân ta biết bao đau đớn, hậu quả của họ nặng nề đến tận bây giờ. Những người lính yêu quê hương, sau chiến trường họ bị bao nhiêu thương tật về thể xác lẫn tinh thần. Những quả bom bi đã ngủ bao nhiêu năm cướp đi sinh mạng của bao người phụ nữ tần tảo, bao em thơ… Nhưng hiện nay, với những người lính Mĩ Ngụy đã nhận ra sai lầm, chúng ta luôn dành một tấm lòng vị tha, bao dung với họ. Chúng ta tha thứ cho họ để họ nhận ra sai lầm, để họ trút bỏ cảm giác tội lỗi trong tâm hồn, và để họ có cơ hội sửa sai, sống tốt hơn. Có không ít người lính Mĩ trước đây đã từng sang xâm lược Việt Nam, nay họ đều nói: “Đất nước tôi quá sai lầm khi quyết định tàn phá đất nước xinh đẹp này, tôi thay họ mà cảm thấy xấu hổ”.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ Hai Bà Trưng trích Đại Nam quốc sử diễn ca Tôi đã đọc câu chuyện “Mẹ tôi” của Ét-môn-đô-đơ A-mi-xi và đã rất cảm động trước tấm lòng của người cha. Người cha tha thứ cho đứa con bé bỏng En-ri-cô sau khi En-ri-cô đã thiếu lễ độ với mẹ trước mặt cô giáo. Bố mẹ đã giúp En-ri-cô có một cơ hội để sửa sai. Bố dạy con bài học rất quý giá, nó sẽ giúp En-ri-cô nên người và sống tốt hơn. Tôi nhớ mãi câu nói của người bố “En-ri-cô này! Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng, cao cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó”.
Như vậy, tha thứ cho người khác cũng là giúp cho cuộc sống xung quanh ta tốt đẹp hơn, mọi người hiểu nhau và yêu thương nhau góp phần tạo nên một cộng đồng đoàn kết, gắn bó bền chặt.
Như đã nói, tha thứ đem lại cho con người khác sự tốt đẹp và quan trọng hơn, nó đem lại cho tâm hồn ta sự thanh thản, thoải mái giúp ta sống vui vẻ, hạnh phúc hơn. Tha thứ là một trong những bước quan trọng và khó khăn nhất để quên đi những điều không hay đã xảy ra, nó giải thoát ta khỏi những u uất, giúp ta thoát khỏi cảm giác trống trải, sợ hãi. Nếu chúng ta không tha thứ thì sự hận thù sẽ làm chúng ta bực bội, đau khổ.Xem thêm: Giới thiệu tác giả, xuất xứ, chủ đề và bố cục bài hát nói Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Câu chuyện của chị Kim Phúc là một minh chứng cho điều đó. Nám 1972, chị bị trúng bom Napal, khi đó chị mới 9 tuổi. Chị đã bị bỏng hơn 65% cơ thể, đã phải trải qua biết bao đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần, cũng có lúc oán giận, hận thù. Nhưng khi gặp lại người lính Mĩ năm xưa đã lái máy bay thả bom xuống làng chị, chị đã không oán giận, trả thù anh mà đã tha thứ. Chị đã nói “Tôi phát hiện ra rằng nếu cứ giữ mãi nỗi hận thù trong tâm trí, nó có thể sẽ giết chết tôi”. Chị đã phải cố gắng để vượt qua chính mình, dùng nghị lực để đè nén lòng mình lại và hơn hết chị hiểu ý nghĩa của sự tha thứ.
Tóm lại, chúng ta tha thứ không chỉ để xóa bỏ sai lầm cho người khác mà chính là giúp bản thân xóa bỏ những cảm xúc tiêu cực đang bủa vây tâm trí, đè nặng trái tim mình.
Tha thứ là một quyết định rất khó khăn. Chúng ta chỉ có thể tha thứ khi đã phục hồi những tổn thương do người khác gây nên, thấy được sự ăn năn, hối hận của người làm tổn thương ta. Tha thứ đòi hỏi phải có thời gian. Không phải đối với tất cả trường hợp, chúng ta đều tha thứ mà chúng ta phải có hành động phù hợp để người mắc lỗi nhận ra sai lầm. Tha thứ phải xuất phát từ trái tim, từ tấm lòng nhân hậu, sự tha thứ không đi kèm những điều kiện ràng buộc.
Cuộc sống ngày càng hiện đại và cũng càng ngày càng phức tạp. Do đó con người càng dễ nảy sinh mâu thuẫn. Tôi tin rằng sau khi ngẫm kĩ trên ý kiến mọi người sẽ hiểu thêm về ý nghĩa sự tha thứ để mở rộng lòng mình, đem đến cho cuộc sống những món quà ý nghĩa nhất.
Vanmau.edu.vn | Có ý kiến cho rằng_ “Tha thứ là món quà ta dành cho người khác nhưng tha thứ chính là món quà ta dành cho chính mình”. Từ nhận định trên em hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa sự tha thứ | 1,605 | |
Cô tô ngữ văn 6
Hướng dẫn
I. ĐỀ LUYỆN TẬP .
Đề 1. Đọc diễn cảm bài kí "Cô Tô" của Nguyễn Tuân rồi chép lại một số câu văn, đoạn văn có hình ảnh so sánh độc đáo.
Đề 2. Cảm nhận của em về cảnh bình minh tráng lệ trên đảo Thanh Luân sau cơn bão qua bài kí "Cô Tô" của Nguyễn Tuân.
Đề 3. "Cô Tô" là bài kí đầy chất thơ của Nguyễn Tuân. Cảm nhận của em về vẻ đẹp kì diệu của biển qua cách viết tài hoa của tác giả.
II. BÀI VĂN TỰ LUẬN
Đề 1. Đọc diễn cảm bài kí "Cô Tô" của Nguyễn Tuân rồi chép lại một số câu văn, đoạn văn có hình ảnh so sánh độc đáo.
Đọc bài kí “Cô Tô” của nhà văn Nguyền Tuân, em rất thích một số câu văn, đoạn văn tả cảnh biển, cuộc sống con người qua hình ảnh so sánh độc đáo.
Đây là cảnh bình minh tráng lệ trên đảo Thanh Luân thuộc quần đảo Cô Tô, Chân trời, ngấn bể, mặt trời được so sánh bằng những hình ảnh so sánh độc đáo:
“Sau cơn bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi. Mặt trời như lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quá trứng thiên nhiên đày đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ, đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằngcả một cái chân trời màu ngọc trai nước hiển hửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trongbình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở Biển Đông”.
Cảnh sinh hoạt nơi cái giếng nước ngọt trên đảo được so sánh một cách ý vị, đậm đà:
“Cái giếng nước ngọt ở ria một hòn đảo giữa bể, cái sinh hoại của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trời đất liền"
Và người phụ nữ, người vợ, người mẹ trên đảo được so sánh làm nổi bật vẻ đẹp tần tảo, đôn hậu đáng yêu:
"Trông chị Chân Hoà Mãn địu con, thấy nó dịu dàng yên tâmnhư cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành".
Xem thêm: Kể về một lần em mắc lỗi – chọc ghẹo cô giáo
Đề 2. Cảm nhận của em về cảnh bình minh tráng lệ trên đảo Thanh Luân sau cơn bão qua bài kí "Cô Tô" của Nguyễn Tuân.
Sinh thời, Nguyên Tuân "đi" nhiều; nơi nào có danh lam thắng cảnh là ông đến thăm thú. Đỉnh Lũng Cú ở Hà Giang. Con sông tuyến Hiền Lương. Nắng và gió miền Trung. Cây đước Cà Mau. Con sông Đà ở Tây Bắc, v.v… Ông tả rạng đông trên đảo Cô Tô với nhiều thi vị và cảm hứng thiên nhiên trữ tình.
Trước hết, ta nghe ông nói về hoàng hôn ở Vân Hải "đúng là một lẵng hoa nổi bềnh trên sóng biển mẹ hiền". Khoảnh khắc ấy thấy được "Núi gần núi xa, đảo gần đảo xa rủ nhau cùng xuống màu" trên Hạ Long thần tiên. Có xem hoàng hôn trên hải đảo, rồi mới thấy hết cái đẹp của rạng đông trên Cô Tô. Nguyễn Tuân đã thức dậy từ 4 giờ sáng để đi đón ông mặt trời mọc. Chân trời, ngấn bể sau trận bão "sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi". Mặt trời "nhú lên dần dần". Mặt trời "tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn". Mặt trời rạng đông như một "quả trứng hồng hào thăm thẳm, và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọctrai nước biểnhửnghồng". Mặt trời mọc mỗi sáng trên Cô Tô là quà tặng Tạo hóa cho bà con dân đảo, vì hạnh phúc của con người. Mặt Trời, nguồn sáng, nguồn sống và niềm vui "y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừngcho sự trườngthọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở Biển Đông".Đó là cảm hứng vũ trụ hòa quyện với cảm hứng nhân văn được thể hiện bằng bút pháp tài hoa.
Xem thêm: Dựa vào văn bản Động Phong Nha, em hãy tưởng tưởng và miêu tả lại kì quan này
Đề 3. "Cô Tô" là bài kí đầy chất thơ của Nguyễn Tuân. Cảm nhận của em về vẻ đẹp kì diệu của biển qua cách viết tài hoa của tác giả.
Văn có hay, có đẹp mới được gọi là trang hoa, tờ hoa. Bài tùy bút "Cô Tô" của Nguyễn Tuân đích thực là trang hoa, tờ hoa vậy. Bài tùy bút dài trên 6.000 chữ, người đọc cảm thấy mình được di du lịch đến Cô Tô, được nhà văn chỉ cho biết bao cái lạ, cái đẹp. Cảnh biển và rạng đông trên đảo Cô Tô đẹp tuyệt vời.
Cô Tô là một quần đảo có "sáu trăm hòn đảo dư" thuộc vịnh Bắc Bộ. Sau trận bão, bầu trời Cô Tô “trong sang”núi đáo "xanh mượt", nước biển "lam biếc đậm đà". Cát, bãi cát "vàng giòn" tinh khôi. Nhà văn cho biết, người đến thăm đảo Cô Tô cảm thấy "yêu mến hòn đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên theo mùa sóng ở đây", nghĩa là yêu thương quý mến Cô Tô như nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Với tình yêu biển, say biển, Nguyễn Tuân đã khám phá ra bao vẻ đẹp nước biển Cô Tô. Với óc tuởng tượng đầy mĩ cảm, ông đã tung ra hàng loạt ẩn dụ, so sánh nói về sắc nước, sắc biển. Nhìn biển, nhà văn thốt lên: “Sao chiều nay nó xanh quá quắt đến như vậy”? Ông thầm hỏi mình: Xanh như lá chuối non, như lá chuối già? Xanh như cốm vòngmùa thu? Xanh như màn áo Kim Trọng? Xanh như vạt áo nước mắt của ông quan Tư Mã nghe đàn tì bà trên con song GiangChâu? Xanh như một trang sử cổ việt lên thân tre? Xanh cái màu xanh ngọc bích? Xanhnhư một niềm hi vọng trên cửa bể?… Qua đó, ta càng thấy rõ Nguyễn Tuân là nhà văn rất uyên bác, tài hoa, độc đáo, có một vốn sống và một kho từ ngữ rất giàu có,sáng tạo! Có bao nhiêu so sánh là có bấy nhiêu phát hiện và yêu thương: yêu "sự sốnggiàuđẹp của quần đảo".
III. BÀI ĐỌC THAM KHẢO
Giới thiệu, miêu tả hương vị và cảnh sắc thiên nhiên, đất nước
1. Hồ Ba Bể
Ai chưa một lần đến hồ Ba Bể thì thực đáng tiếc. Toàn bộ vùng hồ nằm giữa bốn bề vách đá. Chiều dài của hồ bằng một buổi chèo thuyền độc mộc. Hai bên hồ gồm nhiều ngọn núi cao, khuất khúc chia hồ thành ba phần liền nhau, gọi là: Bể Lầm, Bể Lèng, Bể Lù. Hồ Ba Bể ở trên độ cao 1.200 mét so với mực nước biển. Nơi đây còn có 2 hồ nữa là Bể Trâu và Bể Nạn. Vậy cớ sao không gọi là Ngũ Hồ? Hay là người xưa sợ nhầm với Ngũ Hồ của Trung Quốc chăng?
Cảnh vật nơi này cực kì diễm lệ. Vì mến cảnh, cổ nhân đã khắc lên bia đá: "Lạ thay, núi mà nổi danh nhờ bể. Bể mà kiếm dược củi. Núi mà đánh được cá. Tạo vật thật khéo đặt bày để dành cho khách du quan".
Ở hồ Ba Bể, mỗi hòn đá, gốc cây, mỗi loài thú, loài chim cho đến từng loài thủy mộc đều gần với một sự tích, một huyền thoại li kì, sắc nước, hương trời ở đây cũng mang màu huyền thoại. Các cô gái ngồi bên khung cửi dệt thổ cẩm soi bóng xuống hồ. Xung quanh hồ còn biết bao cảnh lạ khác như động Puông, núi Cửa Trời, thác Đầu Đẳng và con sông Năng mềm mại nhu mái tóc nàng tiên. Hồ Ba Bể không nhũng chỉ đẹp mà còn rất giàu nữa, có cả mỏ vàng, mó đá quý và nhiều loại sản vật khác. Người Việt Bắc nói rằng: "Ai chưa biết hát bao giờ đến Ba Bể sẽ biết hát. Ai chưa biết làm thơ đến Ba Bể sẽ làm được thơ".Nếu ai chưa tin điều đó xin hãy lên Ba Bể một lần.
Dương Thuần
(Trích báo Nhi đồng – 1996)
Nguồn: NhungbaivanhayXem thêm: Phân tích bài thơ Chiều Tối của Hồ Chí Minh hay nhất | Cô tô ngữ văn 6 | 1,449 | |
Cùng bộc lộ nỗi nhớ về Tây Bắc, trong bài “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!… Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ trên
Gợi ý
Đề bài:
Cùng bộc lộ nỗi nhớ về Tây Bắc, trong bài
"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi".
Trong bài thơ "Tiếng hát con tàu”, Chế Lan Viên viết:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”.
Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ trên.
Bài làm:
Tây Bấc – mảnh đất xa xôi đã khiến cho rất nhiều thi sĩ phải hạ bút viết về nó. Có lẽ, mảnh đất miền Bắc địa đầu Tổ quốc ấy có một sức hút kì lạ cho nên bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng và “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên đã ra đời. Cùng bộc lộ nỗi nhớ về Tây Bắc nhưng mỗi nhà thơ lại có những cách thể hiện khác nhau. Chính sự khác nhau ấy đã tạo nên sự độc đáo khác lạ giữa hai bài thơ.
Khởi nguồn cảm hứng từ một thời gian khổ và oanh liệt của lịch sự đất nước nhưng Tây tiến đã được thể hiện theo một cách rất riêng qua ngòi bút Quang Dũng, với một tâm trạng cụ thể – nỗi nhớ đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến và rộng hơn là nỗi nhớ Tây Bắc. Đặc biệt là khổ thơXem thêm: Phân tích nhân vật Đào trong truyện ngắn Mùa lạc của Nguyễn Khải. Từ đó nêu lên tư tưởng nhân đạo của tác phẩm“Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sượng lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm khơi”
Khổ thơ nằm ở đầu bài thơ, là nỗi nhớ da diết, bâng khuâng khó tả:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”’
Văn thơ. Việt Nam có không ít những câu hay nói về nỗi nhớ, nhưng nỗi nhớ “chơi vơi” thì rất có thể Quang Dũng là người đầu tiên. Nỗi nhớ ấy như có dáng hình, bồng bềnh, bồng bềnh trong không gian, trong thời gian, bâng khuâng, không dễ tả.
Người đọc như lạc vào chôn Tây Bắc hiểm trở và hùng tráng được dàn trải trong không gian nhớ mênh mông. Rồi cứ thế, nỗi nhớ đồng đội dần dần lan tỏa, thấm đượm trong từng câu thơ, khổ thơ. Có thể thấy, bài thơ được xây dựng trên cảm hứng thương nhớ triền miên, với bao cảm giáo ào ạt xô tới:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm khơi”
Nỗi nhớ của Quang Dũng cứ thu hẹp dần, hẹp dần. Những địa danh miền Tây, Sài Khao, Mường Lát và những địa danh khác có thật khác gợi lên cái âm u, mịt mù của miền đất lạ, nơi ấy có đoàn quân mệt mỏi đang đi trong sương, lại vừa có vẻ lãng mạn, huyền thoại.
“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Câu thơ quả là độc đáo, “hoa về” mà không phải “hoa nở”, “đêm hơi” mà không phải là “đêm sương”. Hoa hiện ra mờ mờ ảo ảo trong màn sương, câu thơ đẹp, lung linh, huyền ảo. Đọc đến đây, cái mỏi của đoàn quân dường như tan biến hết. Quang Dũng đã viết về nỗi nhớ rất đặc biệt đó là nỗi nhớ về mảnh đất Tây Bắc, nhớ về những địa danh cụ thể nơi mà binh đoàn Tây Tiến đi qua.Xem thêm: Thơ Đường và bài Buổi sớm mùa xuân của Mạnh Hạo Nhiên qua một số bản dịch. Nếu nỗi nhớ Tây Bắc là nỗi nhớ về Sài Khao, Mường Lát, nhớ sông Mã..mà Quang Dũng đã viết thì nỗi nhớ của Chế Lan Viên lại khác hoàn toàn. Đó là nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ của một người con trai dành cho một người con gái. Chế Lan Viên đã nhớ Tây Bắc như vậy:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương”
Câu thơ như một chân lí. Những bản làng, những núi đèo ẩn hiện qua sương mờ và mây phủ đã gợi lên trong lòng bạn đọc biết bao miền đất trong đời đã từng đi qua làm sống dậy vô vàn kỷ niệm. Và chính những miền đất, những kỷ niệm ấy đã nuôi dưỡng, bồi đắp và làm phong phú lòng yêu qua hương đất nước Việt Nam.
Nói đến tình yêu trong nỗi nhớ, câu thơ Chế Lan Viên lấp lánh, rực rỡ những sắc màu, bồi hồi, xôn xao những xúc động. Chế Lan Viên đã diễn tả thật hóm hỉnh, độc đáo và sâu sắc mối quan hệ khăng khít, sự gắn bó chặt chẽ giữa những kẻ đang yêu:
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”
Tình yêu ở đây không chỉ giới hạn ở tình yêu đôi lứa của anh và em mà còn là sự kết tinh của những tình cảm sâu nặng đối với quê hương, đất nước với mảnh đất miền Tây. Nhà thơ đã khẳng định sức mạnh của tình yêu, chính tình quê hương ta đã hóa thành máu thịt tâm hồn ta. “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Những câu thơ cô đúc như một châm ngôn chứa đựng những phát hiện sâu sẩc về quy luật của tình cảm này không xuất phát, không lấy điểm tựa từ trí tuệ sắc sảo mà chủ yếu được Chế Lan Viên biến tạo trên cái nền của những xúc động của chính tâm hồn mình, lắng nghe tiếng lòng của chính mình mà châm nghiệm ra một chân lí phổ quát của đời sống tình cảm con người.Xem thêm: Thuyết minh về cái quạt điệnHai đoạn thơ trên cùng bộc lộ nỗi nhớ về Tây Bắc, cùng bộc lộ tình yêu quê hương, đất nước. Nhưng điều đặc biệt không nằm ở nỗi nhớ mà là trạng thái cảm xúc của từng tác giả, là đối tượng mà hai tác giả nhớ đến. Hai đoạn thơ đã mở ra trước mắt người đọc một mảnh đất Tây Bắc, một mảnh đất miền Tây xa xôi nhưng tình cảm giữa người với người thì sâu nặng vô cùng.
Vanmau.edu.vn | Cùng bộc lộ nỗi nhớ về Tây Bắc, trong bài “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!… Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ trên | 1,122 | |
Cùng trong cảm hứng tổng hợp về đất nước nhưng chương Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm lại có một vẻ đẹp riêng. Phân tích vẻ đẹp đó
Gợi ý
Đất Nước là chương V của trường ca Mặt đường khát vọng được viết trong không khí sôi động của tuổi trẻ các đô thị miền Nam xuống đây đấu tranh chống Mỹ tìm về với dân tộc. Nét đặc sắc của bài thơ là tác giả cảm nhận đất nước từ nhiều phương diện, trong chiều dài thời gian, chiều rộng không gian chiều sâu văn hóa và tư tưởng chủ đạo như sợi len đỏ xuyên suốt đó là tư tưởng Đất Nước của Nhân dân.
Với Nguyễn Khoa Điềm, đất nước có từ lâu đời xa xôi. Đất nước là những gì gần gũi thân thiết nhất. Đất nước có trong câu chuyện mẹ thường hay kể, có trong phong tục ăn trầu của bà. Đất nước đâu phải là cái gì xa lạ mà thật gần gũi quen thuộc trong cuộc sống của mỗi người. Đất nước đó là hạt gạo ta ăn hàng ngày, là cái kèo cái cột nơi nhà ta ở. Đất nước đó là nơi dân mình đoàn tụ. Đất nước đi cả vào đời sống tình cảm riêng tư của mỗi con người:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm.
Nét đặc sắc của Nguyễn Khoa Điềm là ở chỗ nhà thơ cảm nhận đất nước không chỉ là cái khách thể ở bên ngoài con người mà còn là cái chủ thể có trong mỗi con người. Đất nước đã trở thành cuộc sống thành máu thịt của mỗi con người. Trong mỗi người đều có một phần Đất Nước chính vì đất nước đã trở thành máu xương của mình nên mỗi con người phải có trách nhiệm đối với đất nước. Mỗi con người phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở làm nên đất nước muôn đời.Xem thêm: Phân tích hinh ảnh Đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu Tư tưởng chủ đạo như sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài Đất Nước là tư tưởng Đất Nước của Nhân dân. Nhà thơ sử dụng rộng rãi những chất liệu dân gian như văn hóa dân gian, văn học dân gian để nói về đất nước. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm ta gặp nhiều ý thơ lấy từ chuyện kể dân gian từ ca dao tục ngữ. Câu thơ Đất Nước có trong miếng trầu bà ăn gợi ta nhớ đến truyện cổ tích Trầu cau. Còn câu thơ: Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu là nhắc về sự tích Nàng vọng phu. Ý thơ: Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn có xuất xứ từ câu ca dao: Tay nâng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau. Việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để nói về đất nước không đơn thuần là thủ pháp nghệ thuật mà còn là sự thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Đất Nước của Nhân dân. Bởi lẽ viết về Đất Nước của Nhân dân thì không gì tốt hơn là dùng ngay lời ăn tiếng nói của nhân dân sử dụng ngay những sáng tạo của nhân dân để viết về họ. Trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm nhân dân còn là người sáng tạo ra đất nước trên tất cả các phương diện từ không gian địa lý đến đời sống lịch sử và truyền thống văn hóa.
Nhận thức Đất Nước của Nhân dân đưa nhà thơ đến cách cảm nhận kỳ thú về vẻ đẹp của những danh lam thắng cảnh. Chính những khát vọng, những cuộc đời của người dân bình dị đã hóa thân bằng hình hài đất nước. Lòng chung thủy sắt son của người vợ chờ chồng qua bao cuộc chiến tranh, qua bao chuyến đi xa đã tạc hình thành những đá Vọng Phu. Núi Bút non Nghiên hay là quyết tâm, là mơ ước của bao học trò nghèo:Xem thêm: Chỉ ra và phân tích giá trị của biện pháp tu từ ngữ âm trong câu thơ sau: "Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan/ Đường bạch dương sương trắng nắng tràn" (Tố Hữu)
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu.
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái.
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên.
Đến những tên đất tên làng cũng mang tên những con người nôm na bình dị Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm. Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Vì vậy khi nói về đất nước tác giả không nhắc tên những triều đại, nhũng anh hùng nổi danh mà khẳng định vai trò vị trí của những anh hùng vô danh. Những anh hùng vô danh ấy là nhân dân vô tận. Họ không để lại những bảng vàng bia đá họ sống và chết giản dị bình tâm.
Không ai nhớ mặt đặt tên – Nhưng chính họ đã làm ra đất nước.
Từ sự cảm nhận nói trên nhà thơ đi đến khái quát:
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta,
Nhân dân cũng là người sáng tạo những giá trị vật chất và giá trị tình thần. Họ để lại cho các thế hệ sau nhũng giá trị vật chất từ hạt lúa đến ngọn lửa. Họ truyền lại cháu con những giá trị tinh thần:
Họ truyền lại giọng mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên làng trong một chuyến di dân.
Nhân dân là người sáng tạo ra nền văn hóa dân tộc. Khẳng định điều này tác giả lại trở về với kho tàng văn học dân gian. Tâm hồn giàu chất thơ của dân tộc đã được gửi gắm qua những câu tục ngữ ca dao cũng đầy chất thơ. Qua văn học dân gian Nguyễn Khoa Điềm thấy được những truyền thống do nhân dân sáng tạo ra. Đó là truyền thống nhân ái nghĩa tình: Dạy anh biết yêu em từ thủa trong nôi (lấy từ câu ca dao: Yêu em từ thủa trong nôi, em nằm em khóc anh ngồi anh ru), Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội (có nguồn gốc từ câu ca dao: cầm vàng mà lội qua sông – Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng) đó là truyền thống yêu nước bất khuất: Biết trồng tre đợi ngày thành gậy – Đi trả thù mà không sợ dài lâu (lấy từ câu ca dao: Thù này ắt hẳn còn lâu – Trồng tre nên gậy gặp đâu đánh què). Với Nguyền Khoa Điềm, nhân dân chính là người sáng tạo, xây dựng và bảo vệ đất nước:Xem thêm: Dựa vào văn bản Động Phong Nha, em hãy tưởng tưởng và miêu tả lại kì quan này Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân.
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Nhìn chung chủ đề đất nước trong văn học Việt Nam có những biểu hiện thật phong phú đa dạng từ nội dung cảm xúc đến hình thức nghệ thuật. Có khi đất nước được cảm nhận qua không gian, có lúc lại cảm nhận qua thời gian. Lòng yêu nước có khi gắn với những gì cụ thể thân thiết, có khi lại mang tình cảm khái quát tổng hợp. Lòng yêu nước có khi là những đợt sóng tình cảm trào dâng có khi lại kết tinh sâu lắng trong nhận thức. Đất nước có khi được nói qua giọng điệu trữ tình sâu lắng có lúc lại được thể hiện qua những vần thơ chính luận sôi nổi hào hùng. Với tất cả những biểu hiên phong phú sinh động thì những bài thơ hay về đất nước đều có tác dụng bồi dưỡng lòng yêu nước và nâng cao hiểu biết, nâng cao nhận thức về đất nước của mỗi người Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Cùng trong cảm hứng tổng hợp về đất nước nhưng chương Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm lại có một vẻ đẹp riêng. Phân tích vẻ đẹp đó | 1,394 | |
Căn cứ vào hoàn cảnh chính trị của đất nước ta khi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập, anh (chị) hãy phán đoán về mục đích viết, đối tượng viết của bản tuyên ngôn?
Gợi ý
Đối với Hồ Chí Minh, trước khi viết cái gì, Người luôn đặt câu hỏi viết cho ai và viết để làm gì, tức là xác định rõ ràng về đối tượng, mục đích sáng tác. Trường hợp Tuyên ngôn Độc lập, một văn bản chính trị có ý nghĩa đối với cả dân tộc, điều đó càng rõ hơn.
– Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, có những câu: Hỡi đồng bào cả nước;… chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng… Điều đó có nghĩa, Bác Hồ viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới. Mục đích viết nằm ngay ở tên của văn bản: Tuyên ngôn Độc lập. Song, nếu đặt vào hoàn cảnh chính trị của đất nước ta lúc bấy giờ, đối tượng và mục đích viết của Tuyên ngôn Độc lập không đơn giản như thế.
– Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), thì ở miền Nam, thực dân Pháp núp bóng quân đội Anh (danh nghĩa thay mặt Đồng minh, vào giải giáp quân Nhật) đang tiến vào Đông Dương. Còn ở phía Bắc, bọn Tưởng Giới Thạch, tay sai của đế quốc Mỹ, đang ở sẵn ngoài biên giới. Vả lại, với trí tuệ mẫn tiệp của mình, Hồ Chủ tịch biết lúc ấy, “mâu thuẫn giữa Anh – Pháp – Mĩ và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mĩ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương”. Bản thân thực dân Pháp, rắp tâm chuẩn bị cho cuộc xâm lược Đông Dương lần thứ hai của mình, đã đưa ra dư luận thế giới những lí lẽ: đây vốn là thuộc địa của chúng; chúng đã có công “khai hóa” xứ sở này; việc trở lại Đông Dương là lẽ bình thường, khi Nhật đã thua trận.Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói của nhà giáo dục học Ma-ca-ren-cô: ‘Kỉ luật là tự do’.
– Hoàn cảnh chính trị ấy cho thấy, dù được, đọc trước quần chúng nhân dân nước nhà và để “tuyên bố với thế giới”, nhưng đối tượng của bản Tuyên ngôn Độc lập không trừu tượng và mục đích của văn bản ấy cũng không đơn giản chỉ là lời tuyên bố độc lập. Đối tượng mà bản Tuyên ngôn Độc lập nhắm đến, trước hết là bọn đế quốc Anh, Pháp, Mĩ. Ở bản Tuyên ngôn Độc lập, bên cạnh sự khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam, còn là một cuộc tranh luận nhằm bác bỏ lí lẽ của bọn đế quốc xâm lược trước dư luận quốc tế.
– Tuyên ngôn Độc lập tuy trích dẫn hai bản tuyên ngôn của nước Mĩ và nước Pháp, nhưng tác giả không dừng lại với nội dung của các văn bản ấy. Hồ Chí Minh trích dẫn để “suy rộng ra” về quyền độc lập tự do của các dân tộc thuộc địa và để khẳng định “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Như vậy, dù là Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng nó còn có ý nghĩa đối với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam mở đầu cho một kỷ nguyên mới của lịch sử nhân loại – kỷ nguyên độc lập dân tộc đối với các nước thuộc địa, và Tuyên ngôn Độc lập là văn bản đánh dấu kỷ nguyên ấy.Xem thêm: “Giá trị của con người... tìm chân lí”. (Lét-xinh). Từ câu nói trên, anh (chị) suy nghĩ gì về những thành công và thất bại trong hành trình kiếm tìm những giá trị cao đẹp của đời sống con ngườiVanmau.edu.vn | Căn cứ vào hoàn cảnh chính trị của đất nước ta khi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập, anh (chị) hãy phán đoán về mục đích viết, đối tượng viết của bản tuyên ngôn_ | 687 | |
Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
Hướng dẫn
1. Mở bài
– Giới thiệu về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.
– Giới thiệu về cảm hứng lãng mạn như một nét cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
2. Thân bài
– Giải thích cảm hứng lãng mạn là gì và sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong tác phẩm văn chương:
+ Cảm hứng lãng mạn trong văn học được hiểu là xu thế vươn lên, vượt lên trên thực tại khách quan bằng cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ, thể hiện những khát vọng mạnh mẽ hướng về những vẻ đẹp khác lạ trong thế giới của mơ ước, tưởng tượng, ở tương lai hay quá khứ.
+ Cảm hứng lãng mạn vì thế thường khai thác những đề tài như thiên nhiên, tình yêu, tôn giáo, hồi tưởng, kỉ niệm,… đồng thời đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, phi thường, độc đáo, vượt lên những cái tầm thường, quen thuộc của đời sống hằng ngày. Nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của tưởng tượng, liên tưởng, cảm hứng lãng mạn cũng thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, thủ pháp tương phản, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnh mẽ.
– Sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng: Cần phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến trên hai phương diện: nội dung cảm hứng (nỗi nhớ về một thời chiến chinh gian khổ, nhiều mất mát hi sinh nhưng cũng thật hào hùng; hình tượng thiên nhiên; hình tượng người lính Tây Tiến); nghệ thuật thể hiện (bút pháp tương phản trong việc thể hiện hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống và chất thơ từ chính cuộc sống đó, tính chất bi tráng của hình tượng người lính, giọng điệu trữ tình và bi tráng của tác phẩm,…).
Xem thêm: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống”. Dựa vào những tác phẩm đã học và đọc thêm, em hãy chứng minh ý kiến trên của Hoài Thanh
+ Vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người: địa hình gập ghềnh, hiểm trở với núi cao, vực thẳm, sông sâu; thiên nhiên hoang sơ, bí ẩn nhưng cũng toát lên vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng, trữ tình với tất cả vẻ quyến rũ, làm say lòng người.
+ Vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến: những khó khăn, thử thách không ngăn được bước chân người lính vốn là những chàng trai Hà Thành hào hoa, tinh tế; những nét bi thương "không mọc tóc,", "mổ viễn xứ",… là những âm trầm trong bản hùng ca về những con người "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh".
– Nhận xét, bàn luận về ý nghĩa, giá trị của sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến:
+ Cảm hứng lãng mạn và giá trị của bài thơ Tây Tiến: Cảm hứng lãng mạn giúp tác giả khắc hoạ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, sự hi sinh bi tráng của người lính Tây Tiến cùng vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây, tạo nên một tác phẩm độc đáo trong thơ ca thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.
+ Cảm hứng lãng mạn và sự thể hiện phong cách của tác giả: nét hồn nhiên, tinh tế, vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng.
3. Kết bài
Cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về vẻ đẹp của cảm hứng lãng mạn trong bài thơ (có thể so sánh với một số bài thơ ra đợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp).
Nguồn: thêm: Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ mà mình thích nhất trong bài thơ "Chạy giặc" của Nguyễn Đình Chiểu | Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. | 680 | |
Đề bài: Phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến
Nhà thơ Trần Lê Vân, người bạn thân, đã từng sống nhiều năm, từng in thơ chung với Quang Dũng viết về hoàn cảnh Quang Dũng sáng tác bài thơ như sau:
" Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đoàn 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà đông cũ _ T.Đ.X) anh biết bài thơ "Tây Tiến"
Muốn hiểu được bài thơ Tây Tiến, trước hết cần phải có những hiểu biết về đoàn quân Tây Tiến cùng với điạ bàn hoạt động cuả nó.
Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào_Việt, đánh tiêu hao địch ở Thượng lào để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào. Điạ bàn hoạt động cuả đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hoá. những nơi này lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, nuí cao, sông sâu, rừng dầy, nhiều thú dữ.
Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên (Quang Dũng thuộc số này). Sinh hoạt cuả những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn là vì đánh trận. Tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt cuả chiến tranh và hoàn cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn.
Bài thơ "Tây Tiến" có 2 đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.
Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở "cái tôi" đầy tình cảm, cảm xúc cuả nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yêú tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ.
Thiên nhiên Tây Bắc qua ngòi bút lãng mạn cuả Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vưà đa dạng vưà độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người Tây Bắc càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng cuả núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẵn sàng xả thân, hi sinh tất cả cho lí tưởng chung cuả cộng đồng, cuả toàn dân tộc.
"Tây Tiến" không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không bi lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hoà hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹp độc đáo cuả bài thơ. Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:
"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng nuí nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi"
Nỗi nhớ đơn vĩ cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ "chơi vơi" như vẽ ra trạng thái cụ thể cuả nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, sông sâu, vực thẳm, rừng dầy v.v… liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:
"Dốc lên khúc khủyu dốc thăm thẳm
heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi"
Khổ thơ này là một bằng chứng "thi trung hữ hoạ" ( trong thơ có hoạ). Chỉ bằng 4 câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút cuả núi rừng Tây Bắc, điạ bàn hoạt động cuả đoàn quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ đầy giá trị tạo hình "khúc khủyu", "thăm thẳm", "cồn mây", "súng ngửi trời" đã diễn tả thật đắc điạ sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời cuả núi đèo Tây Bắc. Hai chữ "ngửi trời" được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vưà ngộ nghĩnh, vưà có chất tinh nghịch cuả người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn "heo hút".Người lính trèo lên những ngọn nuí cao dường như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ 3 như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm.
Nếu như câu thứ ba nhìn lên và nhìn xuống thì câu thứ tư là nhìn ngang. Có thể hình dung cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mưa núi thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giưã biển khơi. Bốn câu thơ này phối hợp với nhau, tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét vẽ rất mềm mại (câu thứ tư toàn thanh bằng). Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội hoạ: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại, như xoa mát cả khổ thơ.
Cái vẻ hoang dại dữ dội, chưá đầy bí mật ghê gớm cuả nuí rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác. Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cả chiều thời gian, luôn luôn là mối đe doạ khủng khiếp đối với con người.
"Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người"
Vậy là cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ và hiểm trở, qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ v.v… những tên đất lạ Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, những hình ảnh đầy giá trị tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả và nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu thơ có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vưà đa dạng, vưà độc đáo cuả núi rừng Tây Bắc. Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:
"Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu muà em thơm nếp xôi"
Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt suối, lội đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm luá nếp ngày muà xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn lên. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áo, chuẩn bị tâm thế cho người đọc bước sang đoạn thơ thứ hai.
Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác cuả Tây Bắc. Cảnh núi rừng hoang vu, hiểm trở, dữ dội lùi dần rồi khuất hẳn để bất ngờ hiện ra vẻ mĩ lệ, thơ mộng, duyên dáng cuả miền đất này. Những nét vẽ táo bạo, khoẻ, gân guốc ở đoạn thơ đầu, đến đoạn thơ này được thay bằng những nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế. Và ngòi bút tài hoa của Quang Dũng cũng được bộc lộ rõ nhất trong đoạn thơ này. Hồn thơ lãng mạn cuả Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn cuả con người và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa.
Cảnh ấy, người ấy được thể hiện lên trong một thời gian làm nổi rõ nhất vẻ lung linh, huyền ảo cuả nó: cảnh một đêm liên hoan lưả đuốc bập bùng và cảnh một buổi chiều sương phủ trên sông nước mênh mang. Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ cuả những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rất mộng, rất ảo:
Xem thêm: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết)"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kià em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu buồn e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ"
Cả doanh trại "bừng sáng", tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh cuả ngọn lưả đuốc trong âm thanh réo rắt cuả tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. Hai chữ "kìa em" thể hiện một cái nhìn vưà ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vưà mê say, vui sướng. Nhân vật trung tâm, linh hồn cuả đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng tây bắc bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy vừa e thẹn, vưà tình tứ trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ đã thu hút cả hồn viá những chàng trai Tây Tiến. Nếu cảnh một đêm liên hoan đem đến cho người đọc không khí mê say, ngây ngất thì cảnh sông nước Tây Bắc lại gợi lên được cái cảm giác mêng mang, mờ ảo:
"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"
Không gian dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương. Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử. Trên dòng sông đậm màu sắc cổ tích, huyền thoại ấy, nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển cuả một cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc. Và như hoà hợp với con người, những bông hoa rừng cũng "đong đưa" làm duyên trên dòng nước lũ. Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi, vậy mà cảnh vật thiên nhiên xứ sở qua ngoài bút cuả ông như có hồn phảng phất trong gió, trong cây. Ông không chỉ làm hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp cuả thiên nhiên mà còn gợi lên cái phần thiêng liêng cuả cảnh vật. Đọc đến đoạn thơ này ta như lạc vào thế giới cuả cái đẹp, thế giới cuả cõi mơ, cuả âm nhạc. Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên tự tâm hồn ngây ngất, say mê cuả những người lính Tây Tiến. Hơn ở đâu hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt. Trên cái nền hùng vĩ, hiểm trở cuả núi rừng và duyên dáng, thơ mộng, mĩ lệ cuả Tây Bắc, đến đoạn thơ thứ ba, hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuât hiện với một vẻ đẹp đầy tính chất bi tráng:
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gởi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"
Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất cuả những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát được cái gương mặt chung cuả cả đoàn quân. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yêú cuả bức tượng đài, chúng hoà quyện, xâm nhập vào nhau, nương tựa, nâng đỡ nhau, tạo nên vẻ đẹp bi tráng – cái thần thái chung cuả cả bức tượng đài. Thơ ca thời kháng chiến chỉ viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Chính Hữu trong bài "Đồng chí" đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy:
"Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi"
Còn Tố Hữu, khi vẽ chân dung anh vệ quốc quân trong bài "Cá nước" với những hình ảnh thật cụ thể:
"Giọt giot mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ"
Cũng không quên ảnh hưởng cuả thứ bệnh quái ác đó. Quang Dũng trong Tây Tiến không hề che giấu gian khổ, khó khăn, những căn bệnh hiểm nghèo và sự hi sinh lớn lao cuả người lính. Chỉ có điều, tất cả những cái đó, qua ngoài bút của ông, không được miêu tả một cách trần trụi mà qua một cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn. Những cái đầu không mọc tóc cuả người lính Tây Tiến đâu phải là hình ảnh li kì, giật gân, sảnh phẩm cuả trí tưởng tượng biạ đặt cuả nhà thơ mà chưá đựng một sự thực nghiệt ngã. Những người lính Tây Tiến người thì cạo trọc đầu để thuận lợi tiến khi đánh nhau giáp lá cà với địch, người thì bị sốt rét đến rụng tóc trọc đầu.
Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét cuả những người lính, qua cái nhìn cuả Quang Dũng vẫn toát lên cái oai phong dữ dằn cuả những con hổ nơi rừng thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện qua ánh mắt giận dữ "mắt trừng gửi mộng" cuả họ. Những người lính Tây Tiến, qua ngòi bút cuả Quang Dũng, không phải là những người khổng lồ không tim. Cái nhìn nhiều chiều cuả Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng dữ dằn bề ngoài cuả họ, là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm).
Như vậy, trong khổ thơ này, Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc hoạ dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ cuả họ. Ngòi bút cuả Quang Dũng khi dựng lên hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng cuả ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh cuả lí tưởng, cuả tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà cái bi thương được gọi lên qua hình ảnh cuả những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi, một mặt đã được giảm nhẹ đi nhiều nhờ những từ Hán Việt cổ kính, trang trọng: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” mặt khác, chính cái bi thương ấy cũng lại bị mờ đi trước lí tưởng quên mình, xả thân vì tổ quốc cuả những người lính Tây Tiến (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh).
Những người lính tây Tiến tiều tụy, tàn tạ trong hình hài nhưng vẫn chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng dấp cuả những người tráng sĩ thuở xưa, coi nhẹ cái chết tựa lông hồng. Cái sự thật bi thương: những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có cả đến manh chiếu để che thân, qua cái nhìn cuả Quang Dũng, lại được bọc trong những tấm áo bào sang trọng. Cái bi thương ấy vợi đi nhờ cách nói giảm “anh về đất” và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội cuả dòng sông Mã:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Trong cái âm hưởng vưà dữ dội, vừa hào hùng cuả thiên nhiên ấy, cái chết, sự hi sinh cuả những người lính Tây Tiến không bi lụy mà thấm đẫm tinh thần bi tráng. Giọng điệu chủ đạo cuả đoạn thơ thứ ba này sang trọng, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn cuả nhà thơ trước sự hi sinh cuả đồng đội. Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ, một lần nữa, tô đậm thêm không khí chung cuả cái thời Tây Tiến, tinh thần chung cuả những người lính Tây Tiến. Nhịp thơ chậm, giọng thơ buồn, nhưng cái linh hồn cuả đoạn thơ thì vẫn toát lên vẻ hào hùng:
“Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến muà xuân ấy
Hồn về Sầm Nưá chẳng về xuôi”
Cái tinh thần “ nhất khứ bất phục hoàn” thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm cuả cả đoàn quân Tây Tiến. Tâm hồn, tình cảm cuả những người lính Tây Tiến vẫn gắn bó máu thịt với những ngày Tây Tiến, những nơi mà Tây Tiến đã qua. “Tây Tiến muà xuân ấy” đã thành một thời điểm một đi không trở lại. Lịch sử dân tộc không bao giờ lặp lại cái thời thơ mộng, lãng mạn, hào hùng đến nhường ấy trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù (Có dàn ý chi tiết) | Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến | 3,019 | |
Đề bài: Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng.
“Tây Tiến”là một trong những sác tác độc đáo và hay nhất của nhà thơ Quang Dũng. Tây Tiến như chính là minh chứng cho tình yêu, sự gắn bó của nhà thơ đối với đoàn quân Tây Tiến. Và điều đặc biệt hơn nữa là bài thơ mang được cảm hứng lãng mạn cũng như tinh thần bi tráng thu hút được người đọc.
Có thể hiểu cảm hứng lãng mạn trong văn học chính là cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc, như đã hướng về lí tưởng. Nó dường như cũng đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, và nó còn rất phi thường độc đáo, dường như cũng đã vượt lên những cái tầm thường, và thật làquen thuộc của đời sống hàng ngày, nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của trí tưởng tượng liên tưởng. Cảm hứng lãng mạn dường như cũng thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, đối lập, ngôn ngữ thì thật giàu tính biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnh mẽ. Ta có thể thấy cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 dường như chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới Có thể thấy chính vẻ đẹp con người mới, như cũng đãca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Cảm hứng lãng mạn lúc này dường như cũng đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác, nó cũng như đã nâng đỡ con người có thể vượt lên mọi thử thách trong máu lửa của chiến tranh gian khổ để hướng đến ngày chiến thắng.
Có thể cảm nhận được cảm hứng lãng mạn thể hiện đậm nét trước hết ở cái tôi của Quang Dũng. Nó dường như đã trào ra từ đầu bài thơ đầy ắp và mãnh liệt một nỗi nhớ – nhớ chơi vơi, một nỗi nhớ rất lạ, nỗi nhớ lúc này hình như nhẹ tênh mà nặng trĩu vô cùng, và dường như để rồi sau đó tuôn chảy ào ạt như một dòng suối trong suốt bài thơ.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”
Ta có thể thấy được ở cái nỗi nhớ trải dài theo dòng sông Mã trùng điệp theo hình non thế núi. Nỗi nhớ dường như cứ đến hụt hẫng, mà lại như trống vắng trong lòng người. Tây Tiến chính là một đoàn quân, nhưng có thể thấy những tiếng gọi “ơi” lại trìu mến như tiếng gọi với một người thân. Ba vần “ơi” như da diết vang vọng vào vách núi. Đó là nỗi nhớ của tác giả với Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến. Nỗi nhớ da diết, lan tỏa thấm đượm trong từng câu thơ, hình ảnh thơ. Cái tôi Quang Dũng có mặt khắp nơi, lắng đọng từng chỗ, từ cảnh chiến trường hiểm trở, hoang sơ đến cảnh sông nước thanh bình thơ mộng đến đêm hội đuốc hoa đầy màu sắc xứ lạ phương xa, từ nỗi nhớ bản làng “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” đến “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” thật là hào hoa và lãng mạn biết bao nhiêu.
Ngoài ra chính cảm hứng lãng mạn trong thi phẩm đặc sắc “Tây Tiến” như đã còn thể hiện đậm nét trong bút pháp lãng mạn. Và đặc biệt là những thủ pháp cường điệu, đối lập được sử dụng rộng rãi, như cũng đã sáng tạo đã tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hào hùng, hùng vĩ và cái tuyệt mĩ của con người và thiên nhiên.
Ta như nhận thấy được thiên nhiên miền Tây Bắc qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng được cảm nhận với vẻ đẹp đa dạng, vừa độc đáo nhưng cũng vừa hùng vĩ dữ dội, vừa thơ mộng trữ tình nó lại như vừa hoang sơ mà ấm áp, làm say lòng người. Có thể thấy rằng chính những trí tưởng tượng bay bổng khiến thi nhân hình dung ra một “đêm hơi’. Và trong đem hơi đó dường như không chỉ có sương rừng ướt lạnh mà còn có cái lãng đãng, hay sự huyền ảo, cảm được cái oai linh của thần núi, thấy được ra là “hồn lau nẻo bến bờ” và cũng như đã nghe thấu được cả tiếng “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Nhà thơ Quang Dũng như đã nhớ những cuộc hành quân gian khổ qua những chặng đường núi non hiểm trở. Sẽ không bao giờ quên được những thử thách ghê gớm với các chiến sĩ Tây Tiến vốn chính là những chàng thanh niên đất Hà thành lần đầu tiên đến Miền Tây xa lạ này. Còn xa lạ ở chỗ các tên bản, tên mường như Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… cũng như đã được nhắc đến không chỉ gợi bao nỗi nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang sơ. Nó cũng như vừa gợi ra sự gian nan, bí ẩn hay chứa đựng cả những sự thách thức, vừa như lại gợi được sự tò mò và không kém phần háo hức của những chàng trai thành thị. Tất cả, tất cả những khung cảnh thiên nhiên đều được khắc họa với ấn tượng mạnh nhất. Ta như thấy được cảnh đoàn binh hành quân trong sương mù ẩm ướt dày đặc đến mức che lấp cả đoàn quân Tây Tiến kia. Có thể thấy rằng ngay trong cảnh khắc nghiệt, thì dường như những người chiến sĩ Tây Tiến dường như vẫn có thể phát hiện ra vẻ đẹp của “hoa về trong đêm hơi”. Đó chính là những bông hoa núi với hương thơm ngan ngát như cũng đã hiện ra dần dần mờ ảo qua đêm sương. Và có thể chính việc qua cái nhìn say mê lãng mạn, khiến cái mệt mỏi của đoàn quân dường như tan biến. Biết bao nhiêu là đèo cao, dốc thẳm dựng thành phía trước mà người chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua:Xem thêm: Phân tích truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc- Văn 12
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Thật là ghê sợ giữa cảnh thiên nhiên Tây Bắc, đó chính là dốc lên thì khúc khuỷu, gập ghềnh, ngoằn ngoèo mà còn dốc xuống thì thăm thẳm, dựng đứng. Câu thơ rất giàu chất tạo hình như họa lại như vẽ lại một chặng đường hành quân hiểm trở. Dốc núi ngoằn ngoèo là thế có cả những dốc vút lên ngàn thước, rồi lại đổ xuống thẳng đứng ngàn thước. Câu thơ dường như cũng thật cũng gập ghềnh với nhiều thanh trắc và cách ngắt nhịp 4/3 dường như cũng đã bẻ gập câu thơ tạo thế núi hoang dại, khủng khiếp. Hình ảnh độc đáo và lãng mạn đó là mũi súng trên vai của của người chiến binh được nhân hóa tạo thành hình ảnh “súng ngửi trời” vừa diễn tả được độ cao ngất, hoang sơ như lại rất đỗi lạ lẫm vừa hàm chứa vẻ đẹp tâm hồn người lính. Đó có chăng chính là chất tinh nghịch, hồn nhiên rất lính của người chiến binh Tây Tiến.
Có thể thấy chính cảnh đoàn quân đi trong mưa rơi“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” thật dữ dội mà lại thật nên thơ. Thiên nhiên mưa giăng mịt mù như đã khiến những ngôi nhà sàn Pha Luông ở lưng chừng núi thấp thoáng trong mưa như bồng bềnh trên biển khơi vậy. Thêm nữa là câu thơ toàn thanh bằng như chứa đựng một sự bồng bềnh và nhẹ nhàng hơn bao giờ hết.
Dường như những sự gian khổ với các chiến sĩ còn là “thác gầm thét” dữ dội hòa với tiếng hú man dại, ghê gớm của thú rừng. Chi tiết “Cọp trêu người” như mang theo cái oai linh, và đó chính là những bí ẩn của rừng đại ngàn. Có thể nói chính vẻ hoang dại ấy không chỉ mở ra ở không gian cụ thể mà còn được khám phá ở thời gian “đêm đêm”, “chiều chiều”. Tác giả Quang Dũng dường như đã miêu tả thời gian, nhưng lại gợi được không gian núi rừng, lúc nào cũng âm u, hoang vu như trong bóng tối. Nó luôn luôn chính là một mối đe dọa sẵn sàng nuốt chửng con người. Đặc biệt hơn thế nữa là ở những người lính họ toàn là những người lính trẻ thủ đô mới lần đầu rời thành phố đến rừng đại ngàn hẻo lánh và đầy nguy hiểm này.
Dường như đối lập với sự khắc nghiệt là vẻ đẹp tuyệt mĩ của thiên nhiên Tây Bắc. Chính những vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc như được kết bằng hoa rừng như câu “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”; “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Đặc biệt đoạn thơ:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Tất cả dường như đã gợi nhớ ra cảnh Châu Mộc trong một buổi chiều sương phủ trên dòng nước mênh mông, hoang dại thật huyền ảo. Cảnh vật lúc này có lẽ như đã nhòe đi, như mềm mại và có hồn hơn. Chữ “ấy” và ở câu trên và chữ “thấy” ở câu dưới cũng như khéo léo bắt thành một vần lưng giàu âm điệu. Và chính những hình ảnh hoa lau nở trắng sáng, lá lau lay động xào xạc trong gió vốn là những thi liệu cổ điển quen thuộc nhưng khi đi vào thơ của Quang Dũng như mang hồn lưu luyến của cảnh chia li. Và có thể thấy nổi bật trên dòng nước là dáng uyển chuyển thanh tú trên thuyền độc mộc của các cô gái Tây Bắc. Ta như có thể thấy và cảm nhận được chính những hình ảnh “hoa đong đưa” vừa là hình ảnh tả thực nhất, và những bông hoa khẽ lay động đong đưa làm nét duyên dángXem thêm: Hãy bình luận ý thơ sau đây: "Nhớ câu kiến ngãi bất vi. Làm người thế ấy cũng phi anh hùng" (Trích “Truyện Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu)
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Và những cô gái miền sơn cước xinh đẹp làm nhiệm vụ nuôi quân không quản ngại vất vả, hiểm nguy cũng như đã để lại trong lòng người lính trẻ một nỗi nhớ không nguôi. Dường như chính nỗi nhớ cất lên thành lời tha thiết “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói”. Và hai chữ “mùa em” như được sử dụng tài tình vì đã kết tinh cả hương nếp ngày mùa lẫn tình em ấm áp. Dường như bàng bản Mai Châu, bóng hình sơn nữ, hương nếp xôi quyện lại trong hình ảnh thơ thành nỗi nhớ ngọt ngào, bâng khuâng, lãng mạn trong tâm hồn của người lính trẻ.
Và đó là những đêm liên hoan văn nghệ ở doanh trại bừng lên sôi nổi, vui tươi trong ánh lửa đuốc lung linh, trong âm thanh của tiếng kèn réo rắt, trong tâm hồn say sưa đắm đuối của người lính trẻ nơi Hà thành xa xôi.
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Ngọn đuốc dường như cũng đã thắp sáng đêm liên hoan văn nghệ truyền thống đã thành “hội đuốc hoa” khiến khung cảnh tuy thiếu thốn mà rực rỡ lung linh bao ước mơ, hạnh phúc. Và bỗng nhiên ta bắt gặp ở hai chữ “kìa em” diễn tả cái nhìn ngỡ ngàng đến say mê, rạo rực của người lính trẻ. Có thể thấy những hình ảnh các cô gái Tây Bắc bất ngờ hiện ra lộng lẫy trong bộ áo xiêm rực rỡ dưới ánh đuốc lung linh nhưng vẫn giữ nguyên vẻ e ấp, và như cũng rất tình tứ trong điệu múa lạ như múa sạp, múa xòe… trong tiếng khèn mang linh hồn của núi rừng càng trở nên lôi cuốn. Lúc này ta như đã thấy tâm hồn các chiến sĩ mộng mơ, lãng mạn. Nét đẹp những đêm liên hoan văn nghệ trên biên cương xa xôi này, cũng như đã như đã “xây hồn thơ” cho thấy tâm hồn trong sáng, giàu mộng mơ, giàu lí tưởng trong kí ức của chiến sĩ trẻ.
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm”
Và ta như thấy được cả đoàn binh “Tây Tiến” dường như không mọc tóc ví sốt rét rừng khắc nghiệt, hoặc vì chủ trương cạo trọc tóc để tiện cho việc đánh giáp lá cà với địch. Quang Dũng thực tả và không né tránh hiện thực của cuộc kháng chiến gian khổ này. Thơ ca kháng chiến chống Pháp cũng thường nói về căn bệnh sốt rét rừng ghê sợ. Đã làm cho “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” và cũng là màu da xanh xao do sốt rét rừng, nhưng qua nét bút lãng mạn và cảm hứng anh hùng của Quang Dũng thì màu xanh ấy lại mang vẻ tươi xanh đầy sức sống của núi rừng. Đặc biệt hơn là hình ảnh “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” như đã gợi được những ánh mắt quyết liệt, hướng đến quân thù, như đã khao khát giết giặc lập công cho tổ quốc. Nhưng dường như bên ngoài dáng vẻ oai phong đó là tâm hồn trẻ trung, trong sáng, giàu mộng mơ. Và để rồi “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” và với lối diễn đạt này có vẻ cầu kì nhưng phù hợp với tâm hồn những người lính trẻ thu đô xa người yêu đi kháng chiến. Dường như người kính trẻ như nhớ về các cô gái hà thành, bóng dáng những thiếu nữ Hà Nội yêu kiều thơ mộng lại không hề phai nhạt trong tâm hồn những người lính ngay cả trong khói lửa chiến tranh.
Bi tráng trong tác phẩm văn học dường như lạiđược thể hiện ở việc miêu tả hiện thực, không né tránh cái bi, tức cái gian khổ, đau thương. Chính là cái bi nhưng không phải là bi lụy mà đó chính là bi tráng, hào hùng. Cũng là cái chết nhưng không bi lụy mà là cái chết hào hùng lẫm liệt, oai phong cái chết đi vào cõi bất tử. Cái bi thường được biểu hiện ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng.
Có thể nhận thấy chính cái tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến dường như cũng đã được thể hiện ở chỗ lời thơ không né tránh cái bi, thường đề cập đến cái chết. Và nhưng đó chắc chắn cũng không phải là cái chết bi lụy mà là cái chết hào hùng, mãnh liệt, cái chết của người chiến sĩ đi vào cõi bất tử.Xem thêm: Viết một bức thư cho người bạn thân về ước mơ của mình
Và chính trên nền thiên nhiên Tây Bắc dữ dội và huyền ảo, nhà thơ tô đậm hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hào hùng và lại rất đỗi hào hoa bằng bút pháp lãng mạn, nhưng không thoát li hiện thực và cảm hứng bi tráng. Bài thơ “Tây Tiến” là bài thơ viết về chiến tranh, nhưng Quang Dũng lại không hề nói đến, không hề đả động đến trận đánh, tiếng súng. Nhưng dường như người đọc vẫn hình dung được sự khốc liệt của chiến tranh. Bởi chính bài thơ viết nhiều về sự hi sinh của người lính. Nhưng có lẽ chính bằng ngòi bút tài hoa lãng mạn và cảm hứng bi tráng, Quang Dũng đã miêu tả điều đó một cách thấm thía, xúc động, hào hùng. Cái chết, sự hi sinh bao giờ cũng đã như gợi cảm xúc đau thương. Ta có thể thấy được hình ảnh những nấm mồ “rải rác biên cương mồ viễn xứ” càng nhân lên cảm xúc bi thương đó, nhưng có thể thấy chính cách Quang Dũng dùng từ Hán Việt trang trọng đã khiến cái bi thương lạnh lẽo mờ đi. Hơn nữa câu thơ tiếp theo:
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Cũng như phần nào khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi trẻ một thời không chỉ tự nguyện chấp nhận mà còn vượt lên cái chết. Đặc biệt sẵn sàng dâng hiến cả sự sống, cả tuổi trẻ cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ dường như cũng đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, đó chính là sự yêu lí tưởng, dâng hiến cả đời xanh, và cuộc đời trai trẻ đầy hi vọng của mình cho tổ quốc. Dường như đây không phải chỉ là cách nói của thơ ca không thôi mà đây thực sự đây là dũng khí tinh thần và hành động của biết bao thế hệ trong những năm kháng chiến. Và cũng chính với lí tưởng đánh giặc thanh thản đến lạ lùng như thế thì cái chết có nghĩa lí gì với họ.
Ta như đã biết ở các tráng sĩ xưa ở chốn sa trường từng lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh thì ở đây các chiến sĩ Tây Tiến thì chính với chiếc chiếu đơn sơ của đồng bào tặng hay chỉ bằng tấm áo đẫm máu và mồ hôi của các anh cũng tạc nên sự hi sinh bất tử. Dường như chính sự kết hợp một từ Hán Việt và một từ thuần Việt: “áo bào” khiến tấm áo liệm thân của liệt sĩ trở nên trang trọng. Sự hi sinh của các anh là “về đất”, về đất hay chính là về lòng đất mẹ thân yêu. Ta như cảm thấy có một sự hi sinh thầm lặng, thanh thản như một chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ. Trong cái giây phút vĩnh biệt đồng đội vang lên không phải bằng lời ngợi ca hay những giọt nước mắt, mà dường như trong tiếng gầm của dòng Sông Mã như một “khúc độc hành” bi tráng. Dòng sông kia như đã được nhân hóa như có linh hồn, có tâm trạng, cất lên tiếng khóc xót xa, thương tiếc, uất hận căm thù trong âm hưởng dữ dội, hào hùng của Sông Mã. Có thể nói chính sự hi sinh của người lính Tây Tiến thấm đẫm tinh thần bi tráng và đậm đà chất sử thi. Và cũng từ đây các anh đã hòa quyện vào cỏ cây, sông núi, và đã trở thành hồn thiêng của đất nước. Bài thơ 3 lần nói đến cái chết, thì cái chết nào cũng đẹp, nhưng đẹp nhất là cái chết trang trọng và hiên ngang này
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Có thể nhận thất chất bi tráng làm nên sắc diện bài thơ có mặt trong cả tác phẩm, nhưng nổi rõ và in dấu đậm nét nhất chính là đoạn Quang Dũng miêu tả chân dung người lính Tây Tiến. Và cả những cặp hình ảnh đối lập giữa ngoại hình tiều tụy với phong thái như “dữ oai hùm”; giữa “mắt trừng” và cả “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”;
Và người đọc như nhận thấy chính cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng bao trùm bài thơ làm nên vẻ đẹp riêng của Tây Tiến. Chính hai yếu tố này đã làm cho bài thơ có sắc thái riêng không bị hòa lẫn vào các bài thơ khác cùng thời khi viết chung về chủ đề người lính.
Nguồn: Văn mẫu hay | Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ “Tây Tiến”- Văn 12 | 3,400 | |
Cảm hứng thẩm mĩ và văn phong của Hoàng Phù Ngọc Tường qua đoạn trích bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Hướng dẫn
Cảm hứng thẩm mĩ và văn phong của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua đoạn trích bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?
a) Cảm hứng thẩm mĩ
– Ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên phong phú đa dạng, huyền ảo như đời sống tâm hồn con người.
Cảnh vật sông Hương – con sống gắn bó với lịch sử, văn hoá của Huế và cũng là của dân tộc – qua đó thể hiện sự yêu mến, say mê vẻ đẹp đối với dòng sông, đất nước.
b) Nét đặc sắc của văn phong Hoàng Phủ Ngọc Tường
– Soi bóng tâm hồn với tình yêu quê hương đất nước vào đối tượng miêu tả khiến đối tượng trở nên lung linh, huyền ảo đa dạng như đời sống, như tâm hồn con người.
– Sức liên tưởng kì diệu, sự phong phú về kiến thức địa lí, lịch sử, văn hoá, nghệ thuật và những trải nghiệm của bản thân.
– Ngôn ngữ uyển chuyển, giàu hình ảnh, phong phú, giàu chất thơ, sử dụng nhiều biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hoá, ẩn dụ…
– Có sự kết hợp hài hoà của cảm xúc và trí tuệ, chủ quan và khách quan.
Nguồn:
Xem thêm: Gần đây, báo chí có đưa tin về trường hợp của bạn Đỗ Mạnh Hùng (sinh năm 1991). Từ một cử nhân ngành Quản trị kinh doanh, Đại học Ngoại ngữ tin học Thành phố Hồ Chí Minh, Hùng đã bỏ công việc c&oac | Cảm hứng thẩm mĩ và văn phong của Hoàng Phù Ngọc Tường qua đoạn trích bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông_ | 269 | |
Cảm nghĩ bài ca dao Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh không hỏi những ngày còn không
Hướng dẫn
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không”.
“Miếng trầu” là cách nói hoán dụ lấy một bộ phận chỉ toàn thể, một cuộc lễ hỏi có ý nhắn nhủ, với thái độ nhún nhường nhằm trách nhẹ chàng trai. Với em thì dễ dàng thôi mà, sao chàng không sớm mạnh bạo tỏ lời ý ấy trong cảnh này làm dịu đi nỗi lòng đang cháy lên bao nhớ tiếc của chàng trai. Duyên dáng và nhân hậu biết nhường nào.
Nhân hậu ngay trong một nghịch cảnh đã không thể khác, không thể lấy lại được rồi: Cô gái đã ngầm ý để rồi truyền báo một sự thật:
“Bây giờ em đã có chồng”
Về mặt lý, đến đấy đã có thể dừng lời. Vì trong cuộc gặp gỡ muộn mằn này, nỗi lòng phía chàng và cảnh ngộ hiện tại phía em dã trình bày tròn ý, cạn lời, đột ngột ở đây có làm cháy thêm nỗi tiếc thương, day dứt của chàng trong khung cảnh rạo rực bồi hồi? Bởi thế cần phải tiếp lời mới mong giãi bày hết lòng mình.
“Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá Cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra”
Hình ảnh so sánh có ý nghĩa ẩn dụ “chim vào lồng, cá cắn câu” đã cụ thể hóa hoàn cảnh thực tại của cô gái. Nhưng không phải là lời than thở, ngậm ngùi đầy vơi nước mắt. Cùng với lối điệp câu, những hình ảnh ấy chỉ khẳng định một tình thế không thể đổi khác và cũng có ý khéo léo chối từ.
Vả chăng, cô gái còn có ý này. Cô gái dường như chủ động khi nói về hạnh phúc của mình. Hình ảnh “chim lồng”, “cá chậu” không có ý nghĩa về sự tù túng bế tắc mà chỉ có ý nghĩa về tương ứng hoặc về một sự ổn định – Chim dã có nơi chốn có chủ, cá đã cắn mồi – đã có người câu, như phận em nay gái đã có chồng!
Nguồn: thêm: Cảm nhận của em về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư (“Vọng Lư sơn bộc bố”) của Lí Bạch | Cảm nghĩ bài ca dao Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh không hỏi những ngày còn không | 388 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về câu nói “Đèn nhà ai nấy rạng”
Bài làm
Xã hội hiện đại khiến cho con người sống ích kỷ hơn, đòi hỏi nhiều hơn và ít quan tâm tới những người xung quanh. Theo kiểu cuộc sống “đèn nhà ai nấy rạng”
Nhiều người sống trong một khu phố, một khu chung cư nhưng không bao giờ nói chuyện, chào hỏi nhau, không quan tâm tới chuyện của nhau. Thậm chí bên nhà hàng xóm có bạo hành gia đình, hay bị trộm vào vơ vét của cải thì những nhà xung quanh cũng câm lặng, mặc kệ xem như chẳng liên quan tới mình. Họ sợ những phiền lụy có thể xảy ra nếu như họ can dự vào.
Con người sống trong xã hội là một cá nhân. Mỗi cá nhân là một mắt xích tạo nên một tập thể. Nếu một tập thể đoàn kết yêu thương nhau thì xã hội mới phát triển được, nhưng nếu những cá thể mà không đoàn kết thì sẽ tạo ra những xung đột, mối quan hệ thờ ơ, lạnh lùng, không có sự tương thân tương ái.
Đèn nhà ai nấy rạng thể hiện những con người sống hẹp hòi, ích kỷ sống chỉ biết tới bản thân mình mà không quan tâm tới những người xung quanh mình.
Đây là lối sống đáng lên án, thường có ở những thành phố lớn. Người xưa muốn lấy hình ảnh chiếc đèn trong mỗi gia đình để ám chỉ mối quan hệ giữa con người với nhau trong một cộng đồng, một tập thể. Nó là hình ảnh đầy ẩn dụ tinh tế.Xem thêm: Phân tích bài ca dao Anh em nào phải người xa
Trong mỗi gia đình sẽ có những sự sáng tối, sự sắp xếp khác nhau mà người ngoài không muốn bận tâm, can thiệp miễn sao nó không ảnh hưởng tới nhà mình là được. Câu nói này thể hiện mối quan hệ mờ nhạt, không gắn bó trong quan hệ cộng đồng xóm làng, láng giềng với nhau.
Người xưa thường nói “bán anh em xa mua láng giềng gần” để thể hiện sự quan trọng trong mối quan hệ làng xóm, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, tạo điều kiện giúp đỡ nhau. Nhưng câu nói “đèn nhà ai nấy rạng” lại dạy con người ta sống khép kín, ích kỷ không quan tâm tới người xung quanh. Chính vì vậy lối sống này cần phải loại bỏ
Những người sống ích kỷ, sống không quan tâm tới hàng xóm, tới những người xung quanh mình thì sẽ có những hậu quả đáng tiếc, đó là họ không nhận được nhiều tình cảm của những người xung quanh, khi họ gặp khó khăn chẳng có ai muốn giúp đỡ, cuộc sống con người ai cũng có lúc gặp khó khăn trở ngại mong muốn có một bàn tay chìa ra giúp đỡ mình.
Một xã hội phát triển giàu mạnh là một xã hội mà những con người trong đó biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển, chứ không phải một xã hội sống lạnh lùng, ích kỷ theo kiểu đèn nhà ai nấy rạng.Xem thêm: Có lần nằm mơ, em thấy mình ra thăm giàn khoan khai thác dầu khí. Gặp nàng tiên biển hiện lên, nàng cho em biết về cung điện nguy nga dưới biển, về kho dầu mỏ quí báu, nàng hứa sẽ tặng Tổ quốc ta. Tỉnh dậy, em hãy kể lại giấc mơ đó cho em bé em nghe
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Cảm nghĩ câu nói “Đèn nhà ai nấy rạng”- văn lớp 7 | 602 | |
Cảm nghĩ của anh (chị) khi nhìn con chim bị nhốt trong lồng
Gợi ý
Đó là một chú chim vàng anh có bộ lông sặc sỡ. Tôi nhận ngay ra chú đang ủ ê nằm xẹp trong lồng vì chiếc lồng đẹp đẽ được treo ngay phía ngoài cổng – bất kì ai đi vào nhà cũng nhận ra ngay.
Chiều nào tôi cũng sang nhà Hải học nhóm, nhưng hôm nay mới gặp chú chim này chứng tỏ chú mới được mang về. Hỏi ra mới biết, Hải được ông cho đi hội chợ chim, thấy chú vàng anh thích mắt quá, Hải xin ông mua về. Mới sau có một đêm mà nhìn chú chim nhỏ thật tiều tuỵ. Ngày hôm qua, khi Hải mang chú từ hội chợ chim về chú vẫn. con nhảy nhót, đập cánh liên hồi vào thành lồng. Vậy mà hôm nay… Tôi thấy quặn lên trong lòng một cảm giác tội lỗi và thương xót khi nhìn chú chim bé bang bị nhốt trong lồng.
Tôi đau xót nhìn chú chim tội nghiệp đang đập cánh liên hồi. Cảnh tượng ấy khiến tôi nghĩ đến hình ảnh một người tù đang gào khóc đòi tự do một cách bất lực. Chiếc mỏ xinh xắn mổ mổ không ngớt vào song sắt của lồng. Vàng anh ơi! Đừng tự hành hạ mình như vậy nữa. Cậu chủ nhỏ bé của mày sẽ chăm sóc mày tử tế, cho mày ăn, cho mày uống… Duy có tự do, mày hãy chấp nhận tự do trong cái lồng đẹp đẽ nhưng tù túng ấy. Tôi muốn thì thầm với Vàng anh điều ấy nhưng có lẽ chú chẳng nghe được và cũng chẳng muốn nghe: sự thực, nếu cho tôi lựa chọn giữa một bên là bầu trời tự do và một bên là những nan lồng chật hẹp thì tôi sẽ chọn cái thứ nhất. Vàng anh không đập cánh loạn xạ lên nữa. Nó nằm xẹp xuống đầy đau khổ. Cảnh tượng ấy như một sợi dây thít vào họng tôi nghẹn ngào…Xem thêm: Nêu cảm nghĩa của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh Chú vàng anh bé nhỏ nhìn tôi đầy đau xót. Có lẽ chú cũng thấy được nỗ lực thuyết phục Hải của tôi. Nhưng cả tôi và chú đều thết vọng. Tôi nhìn vàng anh với một niềm đồng cảm lớn nhất có thể. Vàng anh ơi! Cố gắng lên nhé! Ta tin rằng cậu chủ nhỏ của chú sẽ nhanh chóng thay đổi ý kiến và trả chú về cánh rừng rộng lớn của chú và họ hàng bè bạn.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của anh (chị) khi nhìn con chim bị nhốt trong lồng | 446 | |
Cảm nghĩ của anh (chị) về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)
Gợi ý
Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một bài thơ trong trẻo, thiết tha. Nó là phần tinh tuý nhất của một con người luôn khát khao công hiến, khát khao sống có ý nghĩa. Nó là tiếng lòng của nhà thơ và cũng là của tất cả những ai ham mê cái cuộc sống trần gian rất đẹp đẽ này.
Mùa xuân nho nhỏ ra đời khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Chắc hẳn, vào những ngày cuối cùng ấy, sau những chiêm nghiệm về cuộc sống với tất cả tình yêu, Thanh Hải muốn tiếp tục cất lên tiếng hót của con chim chiền chiện để. góp nên một “mùa xuân nho nhỏ” cho cuộc đời, cho con người và cho đất nước yêu thương.
Với thể thơ năm chữ, với cách ngắt nhịp nhanh, gọn mà vẫn có độ dư ba, bài thơ đã dâng lên trong lòng tôi cảm giác rộn ràng, náo nức. Những gam màu trong trẻo, những hình ảnh đẹp, tươi sáng và đầy sức sống trong mỗi câu thơ cứ thấm dần vào trái tim tuổi trẻ của tôi.
Mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước được nhà thơ cảm nhận trong sự căng đầy nhựa sống, trong nhịp sống đang hối hả và trong sự tươi non mơn mởn của những hi vọng vào tương lai. Giữa màu xanh yên bình của dòng sống xuân, sắc tím biếc của bông hoa không hề lạc lõng, chông chênh. Nó bám chắc vào lòng sống như một sợi dây vô hình làm nên sức sống. Trên cái nền màu dịu êm của sống xanh và hoa tím biếc, tiếng hót trong vắt của con chim chiền chiên vút cao, ngân vang đến bất tận đến trời xanh. Từng tiếng, từng tiếng chim trong veo hay tiếng nhịp thở của khí xuân hoà vào trời đất, vang vọng vào trong lòng người như những “giọt tâm hồn” sáng long lanh. Tiếng hót ấy khiến ta không thể dửng dưng, khiến ta phải thốt lên tiếng gọi rủ về cái khát khao muốn nắm bắt, muốn đưa tay hứng.
Xem thêm: Phân tích diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ trong đoạn văn sau: "... Thấy mẹ,... không?” (Trích Vợ nhặt của Kim Lân trong Truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1985, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1985) Không tách mình khỏi khí xuân của thiên nhiên, đất nước trong công cuộc chuyển mình đi lên cũng rộn ràng, hối hả. Sức sống của đất nước không chung chung, trừu tượng mà nó biểu hiện ra ở sức xuân của mỗi con người. Mùa xuân trên lưng lính, lộc xuân trong tay người nông dân. Mỗi bước đi của người gieo thêm một chồi biếc, một mầm non. Và cứ thếị sức xuân của đất nước lại dâng lên như những lớp sóng xôn xao. Đất nước phấn chấn, hứng khởi trong một nhịp thở mới, hối hả khẩn trương. Niềm tin mới của dân tộc được chắp cánh từ truyền thông bốn nghìn năm dựng nước. Thế nên, dẫu biết có những vất vả và gian Ịao nhưng cả nước vẫn đi lên phía trước với một quyết tâm không mệt mỏi.
Những câu thơ của Thanh Hải đầy ắp hình ảnh, màu sắc và âm thanh. Nó tạo nên một không khí sôi nổi, háo hức, phơi phới vui tươi. Nó là một bức tranh tươi sáng sắc màu, là một bản nhạc rộn ràng tiết tấu trong trẻo, ngân nga và gợi cảm. Điều đặc biệt là bức tranh thiên nhiên, bức tranh đất nước đầy sức sống ấy đã được nhà thơ cảm nhận khi ông đang ở vào cái giây khắc sắp rời xa cuộc đời. Trên giường bệnh, nhà thơ vẫn mở rộng hồn mình, lắng nghe và đón nhận tất cả những thanh âm xao động của cuộc sống ngoài kia. ông vẫn lắng nghe từng bước đi rất khẽ của đời. Bốn bức tường của phòng bệnh không thể ngăn cách cuộc đời với nhà thơ, những cơn đau của bệnh tật không làm giảm ý chí, bầu nhiệt huyết và niềm tha thiết yêu đời trong trái tim của người nghệ sĩ. Cái nghị lực phi thường ấy đáng để ta phải nâng niu và trân trọng xiết bao.Xem thêm: Anh (chị) Bình luận ý kiến sau đây của triết học gia Hi Lạp Dê - nông (364 - 254 trước Công nguyên): “Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn" Bài thơ khép lạỉ trọn vẹn trong tâm hồn và sự say sưa của người đọc bằng một ước nguyện thật chân thành, thật mãnh liệt biết bao. Nó thực là một khát khao đang bùng cháy: muốn được làm một nhành hoa như bông hoa tím biếc kia, muốn làm con chim hót vang trời những giọt long lanh như con chim chiền chiện. Cái khát khao không hề gợi một chút gì về hình ảnh khổ đau của một con người đang chết. Nó giống cái mãnh liệt và rạo rực của một sức thanh xuân đang tràn trề nhựa sống và khát khao công hiến cho đời.
Nhiều người đã từng đồng ý với tối rằng những người trẻ tuổi đọc Mùa xuân nho nhỏ có thể tìm ra lý tưởng sống cho minh, còn với những người đã dâng cả tuổi thanh xuân cho đất nước thì vẫn thấy mình cõn có thể làm được nhiều hơn. Mùa xuân nho nhỏ quả đã không chỉ là niềm say mê của riêng tôi. Nó xứng đáng là một bài thơ hay trong tủ sách quý của muôn người.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của anh (chị) về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) | 967 | |
Cảm nghĩ của anh (chị) về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” (Trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác)
Gợi ý
Không chỉ là một danh y lỗi lạc của đất nước thế kỉ XVỊII và mãi mãi muôn đời sau, Lê Hữu Trác còn là một thi nhân, một văn nhân tài ba của nền văn học Việt Nam – đến tác phẩm Thượng kinh kí sự của ông, thể kí văn học nước nhà mới thực sự ra dời. Thượng kinh kí sự là một tác phẩm kí độc đáo, mang giá trị hiện thực sâu sắc. Ta có thể cảm nhận giá trị ấy qua đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của tác phẩm.
Lê Hữu Trác sinh năm 1724, mất nãm 1791, nghĩa là cuộc đời ông nằm trọn trong thời kì lịch sử nhiều biến động thăng trầm nhất của lịch sử nước nhà: thời kì các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh tranh giành quyền lực, nhân dân cực khổ trăm bề, khởi nghĩa nông dân bùng nổ dữ dội,… Đặc biêt, sự xa hoa, trụy lạc, chuyên quyền nơi phủ chúa Trịnh càng khiến bức tranh lịch sử vô’n đã đẫm màu đau thương nay lại thêm phần tốì đen, xám xịt.
Là một danh y tài năng nức tiếng xa gần, Hải Thượng Lãn ông đã được mời vào cung chữa bệnh cho thế tử nơi phủ chúa Trịnh – chữa thứ bệnh con nhà giàu, vì dư ăn thừa mặc mà mắc phải. Sự thực ấy đặt vào hoàn cảnh dân chúng lầm than cơ cực, bị bóc lột đến tận xương tuỷ chỉ khiến người ta thấy đau đớn, chua xót và bất bình. Nhân chuyến lên kinh – một lần mà nhớ mãi, vì cảm thán mà Lãn Ông đã viết Thượng kinh kí sự ghi lại những điều tai nghe mắt thấy và những suy nghĩ cảm xúc của mình nơi sang nhất trời Nam.
Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh ghi lại ngày đầu Lê Hữu Trác được triệu vào phủ chúa. Qua miêu tả cảnh vật và cung cách sinh hoạt chốn quyền uy lừng lẫy, đoạn trích đã thể hiện giá trị hiện thực, sâu sắc.
Cảnh vật phủ chúa là điều đầu tiên tác giả cảm nhận được. Nó là dấu hiệu dẫu tiên đánh dấu sự khác biệt nơi đế đô hoa lệ và chốn dân gian cát bụi. Vạn vật mới đẹp đẽ, lộng lây làm sao! “đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”. Nhưng đó không phải thứ cây cối hoang dại bụi bờ, không phải giống chim sâu chim sẻ,… Đó đều là giống cỏ lạ chim quý “những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ”, tất thảy đều “thật là xinh đẹp”. Chưa hết. Thành quách nơi này mới thực lầu son gác tía. Kiểu cách xây dựng thật công phu “mấy lần cửa” tiếp nhau, “những dãy hành lang quanh co nối tiếp”. Nó tạo nên những phủ chúa cao rộng, lộng lẫy, nguy nga “cái nhà lớn thật là cao và rộng”, “sập sơn son thếp vàng”. Cảnh vật ấy khiến tắc giả không cầm lòng được phải ngợi ca:Xem thêm: Viết đoạn văn miêu tả một buổi sớm mai“Lầu từng gác vẽ tung mây,
Rèm châu hiên ngọc, bóng mai ánh vào
Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới,
Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen”
Đây thực là nơi “Cả trời Nam sang nhất là đây”!
Đáng lưu ý là ở tâm sự của tác giả: ông từng là kẻ xuất thân cao quý, chốn phồn hoa đi lại cũng nhiều, “sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết”; vậy mà chốn phủ chúa này đã khiến ông phải choáng ngợp, trầm trồ “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường”. Lê Hữu Trác tự thấy mình như kẻ “quê mùa” lần đầu đên nơi “cung cấm”, như chàng “ngư phủ” gặp chốn “Đào nguyên”. Sự liên tưởng ấy thật đắt giá biết chừng nào. Điều đó phản ánh một sự thực lịch sử trong cuộc tranh giành quyền lực lịch sử, nhà Trịnh đang giành thế thượng phong, uy quyền phủ chúa lấn át cả cung vua, trong khi phủ chúa lộng lẫy, xa hoa, cung vua chẳng khác nào một cái nhà lớn rỗng trong, tứ bề gió lùa hoang phế.
Còn nhớ trong “Vũ trung tuỳ bút”, Phạm Đình Hổ đã có lần ngậm ngùi “Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lây, không thiếu một thứ gì”. Như vậy hỏi sao chô’n đây không thơm lừng hoa thơm cỏ lạ cho được? Cảnh vật nơi này, bên cạnh vẻ đẹp của chốn non Bồng nước Nhược, nó còn phản ánh một sự thực là lòng tham vô đáy, sự ích kỉ hẹp hòi của phường quan chúa. Cũng trong Vũ trung tuỳ bút, một sự thực đất nước khi đó được phản ánh thật đau lòng. Nhân dân phải “chịu hại về việc binh đao đến mười tám năm”, nhiều nơi “ruộng đất hầu thành rừng rậm”. Tình cảnh ấy tất yếu dẫn đấn thảm cảnh “Những người dân sông sót phải đi bóc vỏ cây, bắt chuột mà ăn”. Thậm chí, có bậc nho sinh trên đường đi ghé vào một hàng cơm, khi ăn thì thấy “trên mặt nước bát canh thịt nổi sao lên như hình bán nguyệt (…) thấy có con rận chết ở trên mặt bát mới biết là thịt người…”. Chao ôi! Vậy mà phủ chúa vẫn rộn ràng, bình yên như thế, có ai lắng nghe thấy tiếng khóc hờ của những oan hồn thảm khốc chốn dân gian?
Xem thêm: Kể chuyện về một người bạn tốt Đồng điệu với cảnh vật chốn này nhưng thêm ngàn lần tương phản với đời sống nhân dân trăm họ là những con người nơi phủ chúa và cung cách sinh hoạt cầu kì, kiểu cách, xa hoa, bệnh hoạn của họ.
Không phải vô tình Lê Hữu Trác tả kĩ mọi sự việc mắt thấy tai nghe đến thấy. Phải trách những sự ấy quá lạ lẫm, đặc biệt, nó khác với lẽ thường vốn có. Tác phong làm việc của họ thật khó hiểu! Đi đón một danh y chữa trị cho bậc vua chúa, họ “gõ cửa rất gấp” “vừa nói vừa thở hổn hển” vào “buổi sáng tinh mơ”. Thời gian ấy, cách gọi cửa ây khiến ta ngỡ tình trạng người bệnh đã nguy kịch lắm. Đó là chưa nhắc đến cách vội vã khi đi đường của họ “cáng chạy như ngựa lồng, tôi bị xóc một mẻ, khổ không nói hết”. Thân già, phận thấp, tác giả đành cam lòng chứ còn biết làm sao?!
Nhưng thật bất ngờ! Vào đến phủ chúa, ta không khỏi kinh ngạc. Những tưởng nó thê lương, đau đớn vì sắp mất đi một người thân (gọi, “mời” thầy thuốc vội vã đến thế kia mà?) nhưng không, vội vã, “hổn hển” là ai kia, là lũ lính hầu bọn “đầy tớ” “giữ cửa” “vệ sĩ”,… chứ không phải bậc quan, bậc chúa. Trước khi vào hầu mạch cho thế tử, Hải Thượng Lãn ồng phải “đi qua mấy lần cửa”, qua “những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau”, rồi lại “qua mấy lần cửa” (có lẽ vì nhiều cửa quá không thể nhớ hết, đếm hết), đến điếm “Hậu mã quân túc trực”, tiếp tục “đến một cái cửa lớn” “qua dãy hành lang phía tây đến một cái nhà lớn thật cao và rộng”, lại “qua một cửa nữa, đến một cái lẩu cao và rộng”,… Theo bước chân Quan Chánh đường ta tưởng như tác giả đang đi vào một mê cung chứ đâu phải nơi người ở. Chúng còn kiểu cách đến mức đặt tên cho mỗi nơi, mỗi chốn: nhà “Đại đường”, nhà “Quyển bồng”, “Gác tía”, riêng vì kiêng chữ “thuốc” nên Gác tía còn được gọi là “Phòng trà”. Đi qua những nơi ấy nhưng vẫn chưa được gặp được người cần gặp. Phủ chúa cao rộng và sâu và xa quá, có lẽ vì vậy mà tiếng khóc muôn dân không vang tới, nó chặn kín con đường họ Trịnh về với cái Nhân, cái Thiện của con người. Đến “phòng trà” mới biết còn “bảy, tám người” ngự y cũng đang túc trực. Vậy mới biết, cách sinh hoạt của phủ chúa cầu kì, rườm rà, câu nệ vô cùng. Chỉ vì một người mà làm khổ đến bao người. Từ một ông thầy thuốc “quèn” phải dậy từ tinh mơ, “chịu xóc một mẻ, khổ không nói hết”, phải đi bộ qua quãng đường lê thê những lính canh, lính kiểm đến những ngự y phải túc trực hàng ngày, hao tôn thì giờ nơi đây. Trong khi ấy dân gian vẫn rên xiết, khổ đau. Chưa hết, vượt một quãng đường khó khăn, dài dặc như vậy đến, chỉ vì quanh thế tử khi ấy có “Thánh thượng” cùng các phi tần đang ở xung quanh, họ lại phải quay trở lại điếm Hậu Mã! Việc ân uống nơi này xa hoa vô cùng “mâm vàng chén bạc, đồ ăn toàn của ngon vật lạ”. Thật cơm nhà giàu đổ cho chó để chốn dân gian người chết đói vô cùng!Xem thêm: Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu từng viết: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương’’ (truyện Lục Vân Tiên). Anh (chị) hiểu ý thơ trên như thế nào? Hãy viết bài văn bàn về “lẽ ghét thương” trong cuộc sống hàng ngày Sau bao nhiêu chờ đợi, cuối cùng người đọc cũng được tiếp kiến mặt rồng. Bèn ngoài khung cảnh xinh đẹp rộn rã là thế nhưng nơi vua nằm chúa ở lại “tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả”. Không gian ấy giống như một cái hang, ẩn chứa nhiều khuất tất, lạ lùng. Thứ ánh sáng duy nhất tác giả thấy được là ánh sáng của nến sáp, nơi đây ánh mặt trời không chiếu tới. Điều đó hàm một ý rất tinh: Mặt trời mang sự sống cho muôn loài nhưng rõ ràng kẻ trong này không được thần Dương ban ánh sáng, không được ban phúc lành, tất sẽ ô’m đau bệnh hoạn. Điều đó được chứng minh ngay bởi dáng vẻ thân hình của thế tử “ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi (…) tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, tay chân gày gò”. Tình cảnh ấy thật thảm thương. Đứa trẻ thiếu ăn, thiếu mặc gày gò ốm yếu đã đành, nay chỉ vì dư ăn dư mặc mà ôm yếu thì thật mỉa mai đau xót. Nhìn con người ây, bậc thế tử ấy hỏi sao đảm đương được việc triều chính, gánh sao cho được sơn hà? Lốì sinh hoạt nơi phủ chúa xa hoa, nghi thức mà ám muội, bệnh hoạn quá mức.
Qua miêu tả đời sống nơi phủ chúa, Lê Hữu Trác hàm một ý phê phán nhẹ nhàng lối sống xa hoa, cầu kì nơi phủ chúa. Đặt đoạn trích nói riêng và tác phẩm kí nói chung vào hoàn cảnh lịch’ sử ta mới thấy hết giá trị hiện thực của ngòi bút Hải Thượng Lãn ông. Tác phẩm đã tố cáo sự ích kỉ, chuyên quyền của phủ chúa, đời sống nơi này chính là nguyên nhân gây nên mọi tai vạ đau thương cho đất nước.
Lê Hữu Trác bằng Thượng kinh kí sự đã chứng minh bản thân ông không chỉ là một người thầy thuốc có tài mà còn là một ngòi bút có tâm, có tấm lòng nhân ái, vì dân mà trách kẻ có tội. Thượng kinh kí sự đã ghi danh thêm tên tuổi một văn nhân có tài vào lịch sử văn học nước nhà.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của anh (chị) về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” (Trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác) | 2,046 | |
Cảm nghĩ của anh (chị) về nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ
Gợi ý
Nếu ai đã từng đến xã cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội hẳn không thể không tìm đến với những dấu tích của thành cổ Loa xưa, nơi có giếng Trọng Thuỷ, còn gọi là giếng Ngọc, đền Thượng thờ An Dương Vương, am Bà Chúa thờ Mị Châu, chứng tích gợi nhớ đến một thời “xây thành – chế nỏ”, của một bi kịch tình yêu được thần kì hoá. Truyền thuyết về An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ đã đi vào đời sống tâm linh của nhân dân ta và trở thành một nét văn hoá tín ngưỡng không thể thiếu. Cả ba nhân vật chính trong tác phẩm cuối cùng đều phải nhận lấy những kết cục khác nhau nhưng có lẽ đáng giận và cũng đáng thương nhất là nhân vật Mị Châu.
Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ có thể chia thành hai phần. Phần thự nhất là bài học giữ nước rút ra từ những thành công của An Dương Vương và quan trọng hơn là phần thứ hai của bài học giữ nước rút ra từ sự mất cảnh giác của An Dương Vương và nhất là sự ngây thơ nhẹ dạ (và cả mất cảnh giác) của Mị Châu trong tình yêu và trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hạnh phúc cá nhân riêng tư với quyền lợi của dân tộc, đất nước. Cả hai bài học đều quan trọng như nhau. Bi kịch mất nước bắt nguồn từ sự mất cảnh giác của An Dương Vương. An Dương Vương quá mơ hồ về bản chất tham lam, độc ác nham hiểm của kẻ thù nên đã nhận lời kết tình thông hiếu; giặc kéo vào lại chủ quan không có phòng bị gì nên bị thua chạy thảm hại. Sau nữa, nó lại được tạo điều kiện từ sự nhẹ dạ, cả tin của Mị Châu. Vô tình tiếp tay cho hành động xâm lược của kẻ thù, Mị Châu vừa đáng giận, đáng trách lại vừa đáng thương. Mị Châu đáng giận vì nàng đã phạm phải những sai lầm lẽ ra không thể có ở một nàng công chúa con vua. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là sức mạnh bí ẩn lậm nên sự bách chiên bách thắng của nước Đại Việt, vậy mà, vì thứ tình cảm vợ chồng cá nhân, riêng tư, để thoả mãn điều mà nàng cho là trí tò mò của chồng mà đã lén lấy nỏ cho chồng xem, để đến nỗi nỏ thần bị đánh tráo mà không biết. Làm lộ bí mật quốc gia cho một kẻ sẵn có âm mưu xâm lược, Mị Châu đã không thể ngờ hậu quả những hành động của mình nghiêm trọng đến nhường nào. Hành động rắc lông ngỗng khi ngồi sau yên ngựa của cha để chạy thoát thần cũng chỉ là một hành động vô tình, bởi: Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ỡ ngã tư đường để làm dấu, như vậy có thể cứu được nhau. Chỉ đơn thuần là nghĩ đến hạnh phúc của cá nhân mình nhưng cuối cùng không thể cứu nhau mà lại còn là dấu cho quân giặc đuổi theo, để cuối cùng nàng phải chịu cái chết như một kề “giặc trong”. Sai lầm và tội lỗi của Mị Châu là không thể chối cãi và nàng bị kết tội một cách hoàn toàn đích đáng. Cũng nhờ thế mà bài học, về tinh thần cảnh giác càng trở nên thấm thìa và sâu sắc.Xem thêm: Vẻ đẹp lãng mạn và tính chất bi tráng của hình tượng người lính Tây tiến
Tuy vậy, dân gian cũng vẫn luôn rất công bằng và đầy lòng nhân ái. Người xưa chỉ ra lỗi lầm của Mị Châu nhưng cũng tìm thấy ở đó những căn nguyên sâu xa khiến cho ta thấy thực ra nàng cũng chỉ là một nạn nhân, một nạn nhân thật đáng thương. Sai lầm của nàng xuất phát đầu tiên là từ sai lầm của An Dương Vương. An Dương Vương gả Mị Châu cho Trọng Thuỷ cũng đồng nghĩa với việc nhà vua đã trao cho nàng những nghĩa vụ trách nhiệm của một người vợ là cũng phải theo chồng. Đấy là chưa kể đến việc tình yèu và nghĩa vợ chồng có thể làm làm lu mờ nghĩa vụ và trách nhiệm. Mị Châu vì quá cả tin mà đã không thể ngờ được người chồng của mình lại là một kẻ “gián điệp”; thế nên mới mang bí mật của nước mình mà san sẻ với Trọng Thuỷ như một câu chuyện san sẻ thường hay gặp ở những cặp vợ chồng. Cũng giống như việc tiết lộ bí mật nỏ thần làm cho quân nước nhà bại trận, việc rắc áo lông ngỗng một lần nữa lại vô tình chỉ lối cho kẻ thù đuổi theo hai cha con. Hai lần nàng liên tiếp phạm lỗi mà không hề ý thức được sai lầm mình đang mắc phải. Tội lỗi được gây nên chính từ sự ngây thơ, cả tin nên thật đáng thương. Việc Rùa Vàng kết tội Mị Châu làm giặc tuy đẩy nhân vật đến số phận bi thảm nhưng lại là một kết thúc cần thiết theo quan niệm của nhân dân. Rõ ràng là Mị Châu có tội. Tội trực tiếp gây nện mất nước ấy của nàng xứng đáng phải nhận lấy cái chết. Đó là bài học cần thiết để răn dạy tinh thần đề cao cảnh giác trong sự nghiệp gìn giữ đất nứớc. Phế phán Mị Châu bằng “bản án tử hình” nhân dân cũng thấu hiểu rằng nầng mắc tội không phải do chủ ý mà là vô tình, ngây thơ, nhẹ dạ và cả tin. Bởi thế, họ đã khuôn xếp cho nàng được biến thành ngọc trai đúng như lời nguyền trên bờ biển. Máu Mị Châu chảy xuống biển, trai sò ăn được thì đều biến thành ngọc châu, xác đem về táng ở Loa Thành thì biến thành ngọc thạch. Mị Châu bị trừng phạt cho những tội lỗi nhưng cũng đã được chiêu tuyết cho tâm hồn trong sáng và ngây thơ của mình. Hình ảnh ngọc trai – giếng nước ở cuốì tác phẩm là một sáng tạo đến mức hoàn mĩ. Nó thuộc về thái độ ứng xử vừa nghiêm khắc, vừa nhân đạo vừa thấu lí đạt tình của nhân dân ta.Xem thêm: Trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy có một khổ thơ như sau: "Trăng... mình." Phút thoáng giật mình của tác giả có phải cũng là phút thoáng giật mình của người đọc? Viết đoạn văn phân tích khổ thơ để làm rõ ý kiến của em Nhân vật Mị Châu vã kểt cực của nàng đã khiến cho chúng ta vừa giận, lại vừa đồng cảm và xót thương sâu sắc. Mong rằng ở một thế giới khác, nàng đã tự nhận ra được bài học cho bản thân mình mà có một cuộc sống đúng đắn và thanh thản hơn. Và khi ấy, số phận Mị Châu sẽ khác…
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của anh (chị) về nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ | 1,254 | |
Cảm nghĩ của anh (chị) về vẻ đẹp của nhân vật Đăm Săn qua đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây
Gợi ý
Văn học dân gian Việt Nam, bên cạnh những bài ca dao trữ tình sâu lắng, bên cạnh những làn điệu chèo mượt mà làm mê đắm lòng người… còn có những áng sử thi hào hùng thể hiện sức mạnh và trí tưởng tượng tuyệt vời của con người. Người anh hùng Đăm Săn trong sử thi Đăm Săn qua đoạn trích Chiến thắng M’tao M’xây đã để lại trong lòng người đọc lòng yêu mến, khâm phục xen lẫn niềm tự hào về vẻ đẹp của sức mạnh thể chất, trí tuệ và tâm hồn cha ông tiên tổ của mình.
Đăm Săn là một tù trưởng giàu có và đầy sức mạnh. Bị Mtao Mxây cướp mất vợ, lòng tự trọng của một người con núi rừng, lòng tự trọng của một người tù trưởng đã cho chàng sức mạnh để đến nhà M’tao M’xây thách chiến. Trong cuộc chiến gay cấn và khốc liệt ấy, lòng dũng cảm, sự mưu trí và sức mạnh thể chất phi thường của người anh hùng Đăm Săn khiến bất cứ ai cũng cảm thấy khâm phục.
M’tao M’xây cũng là một tù trưởng giàu có và mạnh mẽ. Chính Đăm Săn cũng cũng thừa nhận Ngôi nhà của lão tù trưởng nhà giàu này trông quả thật là đẹp và trông hắn dữ tợn như một vị thần. Với một tù trưởng như vậy, giao chiến với hắn ngoài chiến trường đã là một khó khăn, giao chiến tại nhà của hắn lại là một thử thách lớn hơn. Nhưng Đăm Săn đã dám “vào hang cọp” để đòi lại người vợ, đòi lại danh dự của mình. Chàng đến nhà M’tao M’xây thách thức ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đây, rồi hết lời khinh bỉ, mỉa mai cót dụ hắn ra khỏi nhà để giao chiến. Sự can đảm đó thật hiếm có.Xem thêm: Hạnh phúc là đấu tranh (C.Mác) Con người chàng cũng thượng võ vô cùng. Kẻ thù không dám xuống thang bởi lẽ hắn sợ chàng đâm khi đang đi xuống. Khi M’tao.M’xay đi xuống thang chính là lúc hắn sơ hở nhiều nhát. Những kẻ cơ hội, hèn hạ thường lợi dụng lúc ấy để tấn công kẻ thù (bản thân M’tao M’xay có lẽ cũng là một kẻ như vậy, nếu không tại sao hắn nghĩ đến việc Đăm Săn sẽ làm như vậy với hắn). Nhưng Đăm Săn thì khác. Chàng nói: đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất, ta cũng không thèm đâm nữa là, đến con trâu của nhà ngươi trong chuồng ta cũng không thèm đâm nữa là. Tinh thần ấy chỉ có thể có ở một tâm hồn cao thượng và một sức mạnh vững vàng.
Bước vào trận chiến, người đọc lại càng thêm khâm phục tài năng và sức mạnh của vị tù trưởng đầu đội khăn kép, vai mang túi da này. Trong khi M’tào M’xây múa khiên lạch xạch như quả mướp, hắn lại được cậu, được bác, được Thần Rồng dạy múa khiên đánh võ thì Đăm Săn tự học tất cả. Vậy mà chàng đã tự rèn cho mình một sức mạnh và tài năng làm trời long núi lở. Đăm Săn múa khiên một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh… vượt một đồi lồ ô, chàng chạy vun vút… Chàng không chỉ mạnh mẽ về thể chất mà còn nhanh trí vô cùng. M’tao M’xây bảo Hơ Nhị quăng cho miếng trầu, hắn chưa kịp đớp lấy Đăm Săn đã nhanh hơn đón được từ đó sức mạnh của chàng tăng lên gấp bội. Người anh hùng toàn tài toàn trí không khỏi khiến lòng ta trầm trồ thán phục.Xem thêm: Bày tỏ thái độ của mình trước những mảnh đời bất hạnh và đói nghèo còn tồn tại trong xã hội ta. Sự tài giỏi, trí lực của Đăm Săn đâu chỉ được người người yêu mến. Con người ấy còn được thần linh hết lòng giúp đỡ. Sự thần thánh hoá chi tiết Đăm Săn được Trời giúp diệt M’tao M’xây cũng chỉ là một cách để bày tỏ lòng yêu mến con người phi phàm này.
Giết chết M’tao M’xây, Đăm Săn không giết chóc thêm ai. Chàng thể hiện sự đôn hậu, nhân ái trong tiếng gọi tôi tớ kẻ thù về với mình. Kẻ mạnh thường khiến người khác phải sợ nhưng ở đây, trong đoạn trích này, sức mạnh của Đăm Săn lại được yêu mến. Bởi ở Đăm Săn không chỉ có sức mạnh của thể chất mà còn ánh lên vẻ đẹp của sức mạnh trong tâm hồn.
Ở những người anh hùng ngoài chiến trận, sa trường thường toát lên vẻ gân guốc, khô khan và cứng nhắc. Nhưng đến với Đăm Săn ta không khỏi ngạc nhiên, thích thú với vẻ ngoài vừa mạnh mẽ vừa dẹp đẽ của chàng. Mình chàng quấn tấm mền chiến, khoác áo chiến. Chân chàng bắp bằng xà ngang, đùi bằng ống bễ. Mắt chàng sáng long lanh – ánh sáng của trí tuệ, của sức mạnh, của lòng dũng cảm. Và có một chi tiết rất ấn tượng tóc (chàng) thả dài trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa’. Bên cạnh cái đẹp của sự gan góc, can trường ở Đăm Săn vẫn có những nét thật mềm mại, đáng mến.Xem thêm: Kể lại cuộc gặp gỡ của Mị Châu và Trọng Thuỷ ở dưới thủy cung. (Yêu cầu viết bài văn) Yêu mến, khâm phục vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn khiến ta thấy tự hào, trân trọng hơn về cha ông, về quá khứ của tổ tiên mình. Hình ảnh của những Đăm Săn, Xinh Nhã… đã dựng dậy một thời kì xa xưa âm vang tiếng cồng chiêng, vang vọng tiếng voi gầm… và vang dội tiếng những con người anh hùng đi mở đất cho cộng đồng, dân tộc.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của anh (chị) về vẻ đẹp của nhân vật Đăm Săn qua đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây | 1,019 | |
Cảm nghĩ của anh chị sau khi đọc đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ.
Hướng dẫn
Qua đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xúc anh hàng thịt, tìm hàm ý mà nhà viết kịch Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm?
Gợi ý:
– Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho hồn Trương Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy” với một lời độc thoại đầy khẩn thiết:
“Không, không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi lắm rồi! Cái thân kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát”.
Rõ ràng hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ, những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với cái ước nguyện khắc khoải của hồn đã nói lên điều đó. Hồn bức bối bởi không thể nào thoát ra khỏi thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn ghê tởm không còn là mình nữa. Trương Ba bây giờ đâu còn là một người làm vườn chăm chỉ, hết lòng thương yêu vợ con, quan tâm tới hàng xóm láng giềng như ngày trước, ông Trương Ba được mọi người kính trọng đã chết rồi. Trương Ba bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Người đọc, người xem càng lúc càng thấy rõ điều đó qua các đối thoại và hồn Trương ba cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái đau khổ, tuyệt vọng.
– Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba ở vào thế yếu, đuối lí, bởi xác nói nhũng điều mà dù muốn hay không muốn thì hồn vẫn phải thừa nhận. Đó là cái đêm khi ông đúng cạnh vợ anh hàng thịt với ”tay chân run rẩy”, ”hơi thở nóng rực”, ”cổ nghẹn lại” và ”suýt nữa thì…”. Đó là cái lần ông tát thằng con ông ”toé máu mồm máu mũi”, tất cả đều là sự thật. Xác anh hàng thịt gợi lại tất cả sự thật ấy khiến hồn càng cảm thấy xấu hổ, cảm thấy mình ti tiện.Xác anh hàng thịt còn cười nhạo vào cái lí lẽ mà ông đưa ra để nguỵ biện: ”ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…”. Trong cuộc đối thoại này xác thắng thế nên rất hả hê tuôn ra với những lời thoại dài với giọng khi thì mỉa mai cười nhạo, khi thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với những giọng nhát gừng kèm theo tiếng than, tiếng kêu. Không chỉ đau khổ, hồn còn xấu hổ trước những lời nói công khai của xác mà trước đó hồn đã cảm thấy mà không muốn nói ra, nhận thấy mà không không muốn thừa nhận.
Hãy chỉ ra sự khác nhau trong quan niệm của Trương Ba và Đế Thích về ýnghĩa sự sống. Theo anh (chị), Trương Ba trách Đế Thích, có đúng không? Vìsao? Màn đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích toát lên ý nghĩa gì?
Gợi ý:
– Cuộc trò chuyện giữa hồn Trương Ba và Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai lời thoại của hồn trong cảnh này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
+ Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn đượclà tôi toàn vẹn.
+ Sống nhờ vào đồ đạc của cải của người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ vào anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông không cần biết.
– Người đọc, người xem có thể nhận ra những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm thìa qua lời thoại này.
+ Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hoà. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng đổ tội cho thân xác, không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn.
+ Thứ hai, sống thực sự cho ra một con người quả không dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là chính mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của hồn Trương Ba với ĐếThích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảm trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thìa nỗi đau khổ ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện.
Khi Trương Bơ nhất quyết đòi trả xác cho hàng thịt, Đế Thích định cho hồn Trương Ba nhập vào cu Tị, Trương Ba đã từ chối. Vì sao?
Gợi ý:
– Quyết định dứt khoát xin tiền ĐếThích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết hẳn chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa của nhân vật hồn Trương Ba là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa quyết định này cần phải đưa ra cho kịp thời vì cu Tị vừa mới chết. Hồn Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào xác của cu Tị đã sống và thấy rõ “bao nhiêu sự rắc rối” vô lí lại tiếp tục xảy ra. Nhận thức tỉnh táo ấy cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát.
– Quyết định này chúng ta càng thấy Trương Ba là con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt đó là con người ý thức được ý nghĩa của cuộc sống.
– Cái chết của Cu Tị có ý nghĩa đẩy nhanh diễn biến kịch đi đến chỗ “mở nút”, Dựng tả quá trình đi đến quyết định dứt khoát của nhân vật hồn Trương Ba, Lưu Quang Vũ đã đảm bảo được tính tự nhiên, hợp lí của tác phẩm.
Xem thêm: Tình cảm ruột thịt giữa cha mẹ và con cái là tình cảm tự nhiên nhất, ... của loài người. Anh chị nghĩ như thế nào về vấn đề này? Hãy viết đoạn văn trình bày quan điểm của mìnhCảm nghĩ của anh chị sau khi đọc đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ.
Gợi ý:
Không chỉ có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, trong vở kịch nói chung và đoạn kết nói riêng. Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tích cực trong lối sống lúc bấy giờ.
– Thứ nhất, con người đang có nguy cơ chạy theo ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở nên phàm phu, thô thiển. Nói như Chế Lan Viên trong một bài thơ đãtừng cảnh báo “muốn nuôi sống xác thân đem làm thịt linh hồn”.
– Thứ hai, lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng quý trọng mà chẳng chăm lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn. Thực chất đây là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, của sự lười biếng, không tưởng. Cả hai quan niệm, cách sống trên đều cực đoan, đáng phê phán.
– Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một số vấn đề không kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sổng giả, không dám, cũng không được sống với thực chất bản thân mình. Đấy cũng là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hoá do danh và lợi.
Với tất cả những ý nghĩa đó, đoạn trích rất tiêu biểu cho phong cách viết kịch của Lưu Quang Vũ.
Giả định Đế Thích cho hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị và Trương Ba đồng ý? Những rắc rối gì sẽ xảy ra? Thử viết một đoạn văn ngắn (20 dòng) để thể hiện điều đó.
Gợi ý:
Dựa vào những gợi ý sau để làm bài:
– Căn cứ vào tâm trạng hồn Trương Ba khi phải ở trong xác anh hàng thịt để đặt ra những ý tưởng mới khi hồn Trương Ba ở trong xác cu Tị.
– Đặt vào tâm sinh lí của một đứa trẻ để tưởng tượng ra những nghịch cảnh trớ trêu khác mà hồn Trương Ba gặp phải.
Qua lớp kịch hồn Trương Ba và gia đình (vợ, con, cháu), anh (chị) nguyên nhân nào đã khiển cho người thân của Trương Ba và cả chính Trương Ba rơi vào trạng thái bất ổn và phải chịu đau khổ? Trương Ba có thái độ như thế nào trước những rắc rối đó.
Gợi ý:
a) Nỗi đau khổ tuyệt vọng của hồn Trương Ba càng được đẩy lên khi đối thoại với những người thân:
– Người vợ mà ông rất mực thương yêu giờ đây buồn bã và cứ nhất quyết đòi bỏ đi. Với bà “đi đâu cũng được… còn hơn là thế này” bà đã nói ra cái điều mà chính ông cũng cảm nhận được: “ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”.
– Cái Gái, cháu ông bây giờ không cần phải chú ý. Nó một mực khước từ tình thân (tôi không phải là cháu ông., ông nội tôi chết rồi). Cái Gái yêu quý ông bao nhiêu thìbây giờ nó không thể chấp nhận cái con người có “bàn tay giết lợn”, bàn chân “tobè như cái xẻng” đã làm “gãy tiệt cái chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, “ông nội đời nào thô lô, phũ phàng như vậy”. Nổi giận dữ cái Gái biến thành sự xua đuổi quyết liệt “ông xấu lắm,ác lắm! Cút đi! lão đồ tể, cút đi!”.
– Người con dâu là người sâu sắc, chín chắc, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị cảm thấy thương bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm “khổ hơn xưa nhiều lắm”. Nhưng nồi buồn đau trước cảnh gia đình “như sắp tan hoang ra cả” khiến chị không thể bẩm bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau đó. “Thầy bảo con: cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả như lệch lạc, nhoà mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa…”
Tất cả những người thân yêu của hồn Trương Ba đều nhận ra cái nghịch cảnh trớ trêu. Họ đã nói ra thành lời bời với họ ngày chôn xác Trương Ba xuống đất họ đau, họ khổ, nhưng “cũng không khổ bằng bây giờ”
– Sau tất cả những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng cách nói riêng, giọng nói riêng của mình đã khiến hồn Trương Ba không thể chịu nổi. Nỗi cay đắng với bản thân mình cứ lớn dần… lớn dần, muốn đứt tung, muốn vọt trào. Đặc biệt sau hàng loạt câu hỏi có vẻ tuyệt vọng của chị con dâu: “Thầy ơi, làm sao giữ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ tốt lành như thầy của chúng con ngày xưa kia? Làm thế nào, thầy ơi?” thì dường như hồn không thể chịu đựng hơn được nữa.
b) Nhà viết kịch đã để cho hồn Trường Ba còn lại trơ trọi một mình với nỗi đau khổ, tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời độc thoại đầy chua chát đầy quyết liệt: “Mày đã thắng thế rồi, cái thân xác không phải của ta ạ… Nhưng lẽ nào ta lại phải chịu thua mày”, khuất phục mày và tự đánh mất mình? “Chẳng lẽ không còn cách nào khác!” Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không còn cách nào khác? Có thật không còn cách nào khác? Không cần đến đời sống do mày đem lại! Không cần!”. Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát.
Nguồn: thêm: Tục ngữ có câu: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Nhưng có bạn nói: Nếu không có ý thức học tập thì chắc gì đã có "sàng khôn" nào. Hãy nêu ý kiến của riêng mình và chứng minh cho ý kiến đó | Cảm nghĩ của anh chị sau khi đọc đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ. | 2,216 | |
Cảm nghĩ của anh chị về thiên nhiên trong thời khắc giao mùa
Hướng dẫn
Mở bài:
Một ngày mới đã đến có nghĩa là bạn đã đi qua thời khắc của một ngày đã qua. Thời gian chẳng bao giờ ngừng trôi vì thế mà vòng quay của vũ trụ cứ thế tiếp diễn và lặp lại vào mỗi năm. Cái cảm giác chờ đợi một mùa sắp đến và giã từ một mùa đi qua rất đặc biệt, nó giống như khi ta tiễn chân một người bạn cũ và chờ đợi một người bạn mới hay xếp tập sách năm cũ chuẩn bị cho năm học mới với cặp sách mới. Thời khắc giao mùa cũng vậy, nó khiến cho lòng người vừa hồi họp vừa mong đợi lại vừa luyến tiếc. Đối với riêng tôi, sự chuyển đổi từ mùa xuân sang mùa hạ là nhiều xúc động và suy tư nhất.
Thân bài:
Mỗi người có một khoảnh khắc trong năm sẽ cảm giác như trôi qua thật nhanh, với tôi đó là khoảng thời gian sau tết. Trời đang độ mùa xuân mát mẻ bởi những cơn gió nhẹ và cái nắng không quá chói chang. Những nụ hoa xuân cứ đợi ra giêng là tàn mất, thấm thoát lại qua tiết thanh minh rồi một mùa xuân tàn đã đến. Nhất là đối với lũ học trò chúng tôi, khoảng thời gian này như rượt đuổi. Ngày tết gương mặt nào cũng hớn hở được những ngày thật sự nghỉ ngơi và vui chơi trong suốt một năm, chăng được mấy chốc lại tập vở đến trường, rồi thi giữa kì hai, không bao lâu lại thi kì hai. Lúc này cũng là lúc những nhành phượng ra hoa đỏ thắm.Xem thêm: Tiếng khóc và nỗi đau của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên.
Ngồi trong phòng học, qua khung cửa sổ những nụ hoa đầu tiên đã chúm chím như nụ cười của cô gái mới lớn. Rồi ngày qua ngày bận bịu cùng bài thi cuối năm chúng tôi quên mất đã không còn cái nắng dịu nhẹ của mùa xuân với khí trời trong xanh mỗi sớm mai. Sáng nay thức dậy thấy cơn mưa đầu tiên của mùa hè đến sớm có cô bé đã hốt hoảng vì sắp nghỉ hè. Không chỉ có mưa là đến bất chợt, nắng cũng gay gắt hơn. Mặt trời thức dậy sớm và đi ngủ cũng trễ hơn. Dòng sông xanh trong của mùa xuân buổi sáng còn thấy cả những chú cá rô con vậy mà chỉ cần mưa một trận là nước đã mênh mông tràn lên cả bờ. Hoa mai vàng đã rụng hết nhường chỗ cho hoa súng tím mọc dưới hồ. Hoa bằng lăng cũng trở mình thao thức khi sắp chia tay học trò.
Lũ học trò tinh nghịch hái những chùm hoa phượng kết thành bướm đỏ ép vào tập, chuyền cho nhau quyển lưu bút để ghi lại khoảnh khắc đáng nhớ này. Không ai bảo ai nhưng trong lòng ai cũng chớm một nỗi buồn vì sắp phải xa nhau và mong chờ một mùa hè thật sự vui vẻ. Lúc này đây, cái cảm giác chia tay cô bạn nhỏ ngày xưa ùa về làm tôi rưng rưng nước mắt. Tôi còn nhớ rất rõ một ngày cuối xuân năm năm trước, khi tôi còn thơ ngây bên những con búp bê xinh đẹp và chơi trò trốn tìm cùng các bạn sau nhà, tôi đã phải xa ngôi nhà thân thuộc của mình, xa mái trường bạn bè và xa cô bạn cạnh nhà. Đó là những ngày buồn nhất trong kí ức của tôi cho đến giờ. Ngày ấy, công việc làm ăn của ba tôi thất bại nên phải bán ngôi nhà ấm êm đang sống và chuyển về quê ngoại của tôi bây giờ. Ngôi nhà mà mùa xuân luôn đến sớm trên những nụ mai vàng và mùa hè văng vẳng tiếng ve kêu. Những lúc chuyển mùa cũng đẹp làm sao, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn những vật dụng để xây một ngôi nhà chòi xinh xắn từ lúc cuối mùa xuân, chỉ đợi mùa hè đến là chúng tôi thỏa thích cùng những trò chơi. Nhưng cuối xuân năm ấy, tôi phải chia tay mọi người mà đi trong nước mắt, tôi còn nhớ nhỏ bạn thân của tôi chìa tay tặng tôi chùm hoa phượng vừa nở trước nhà và bảo đợi tôi về thăm. Ấy vậy mà 5 năm dài tôi chưa lần nào về quê cũ, thế nên mỗi dịp giao mùa xuân sang hạ tôi lại thấy bồi hồi, nhớ nhung. Tôi chưa có dịp quay trở về để thực hiện lời hứa của mình, biết cô bạn ngày xưa có chờ tôi dưới mài chòi cạnh gốc phượng già đang nở rộ.Xem thêm: Nghị luận xã hội tình thương là hạnh phúc của con người.
Mỗi lần chuyển sang mùa, tôi lại nghĩ đến cuộc sống hiện tại với nhiều thay đổi. Cuộc sống lúc nào cũng chuyển biến và có sự giao nhau giữa cũ và mới, giữa hiện đại và truyền thống, giữa đông và tây…Con người luôn đứng trước sự lựa chọn mà nghiêng về bên nào cũng có những mặt thuận lợi và mặt trái của nó. Giữa vòng xoáy của thời gian, chúng ta cần có một tâm thế vững vàng mới có thể không lạc mất bản thân.
Kết bài:
Khoảnh khắc giao mùa luôn là khoảnh khắc đẹp của thiên nhiên ban tặng. Để cảm nhận được thời khắc này cần một đôi mắt tinh tế và trái tim nhạy cảm, cũng như để cảm nhận những chuyển biến của cuộc sống dù rất nhỏ bạn cũng cần phải sống thật chậm, sống đúng nghĩa với từng ngày. | Cảm nghĩ của anh chị về thiên nhiên trong thời khắc giao mùa | 977 | |
Cảm nghĩ của em khi bước vào trường trung học phổ thông
Bài làm
Mới ngày nào em còn là cậu học trò nhỏ bỡ ngỡ bước vào lớp một ấy vậy mà mười năm trôi qua thật nhanh, chỉ ngày mai thôi em sẽ trở thành một học sinh cấp ba, được học ở một ngôi trường lớn hơn, với nhiều các bạn hơn. Ngày hôm nay em lại có cảm giác hồi hộp, mong chờ giống như lần đầu tiên em đi học vậy.
Trải qua một mùa hè với biết bao căng thẳng. Không giống với những mùa hè trước là được nghỉ ngơi, du lịch mà hè vừa rồi em phải trải qua rất nhiều kì thi. Ngay từ những bài thi cuối cấp hai, rồi ôn thi vào mười, sau đó là thi vào lớp chọn. Tất cả những căng thẳng đã trôi qua bằng một niềm vui khi em biết tin mình đỗ vào cấp ba của huyện, thi đậu được vào khối chọn mà em yêu thích. Chính vì thế ngày mai, ngày chính thức em bước vào trường trung học phổ thông chính là ngày em mong chờ nhất.
Những chuẩn bị về sách vở, trang phục cũng như đồ dùng học tập khác đều được em tự tay chuẩn bị chu đáo không giống với ngày vào lớp một khi được mẹ chuẩn bị cho tất cả mọi thứ. Khi biết tin em thi đỗ cấp ba thì bố em dù đi làm xa nhưng đã hay tin và đặt mua cho em một chiếc xe đạp mới toanh và đúng dòng xe mà em yêu thích. Điều đó khiến em rất vui và càng thêm có động lực học tập để không phụ công bố mẹ. Những bạn học cấp hai của em hầu hết đều đỗ vào cấp ba và chúng em hẹn nhau sáng sớm hôm sau sẽ tập trung ở cây đa cuối làng để đi học. Ngôi trường cách nhà em khoảng năm cây mà đây là ngôi trường của huyện với hơn mười xã đều tập trung học ở đây. Chính vì thế mà khoảng cách khá xa khi tới trường. Sáng hôm sau ngay lúc mới hơn sáu giờ thì mấy đứa bạn trong xóm em đã ý ới gọi nhau đi học. Với trang phục quần đen, áo trắng em nhảy lên chiếc xe và đi cùng bạn đến chỗ hẹn. Tại đó đã có mấy bạn nữa đang đợi. Mặc dù lên cấp ba mỗi đứa học một lớp khác nhau, rất ít người học chung với nhau nhưng việc đợi nhau đi học chúng em vẫn duy trì đến bây giờ. Con đường tới trường là con đê liên xã với một bên là cánh đồng lúa và một bên là làng xóm. Mùa thu khai trường, cánh đồng lúa đương ngả vàng và chuẩn bị cho thu hoạch. Trong nắng sớm thoang thoảng mùi lúa chín khiến cho tâm trạng của em hân hoan, vui vẻ khi tới trường.Xem thêm: Tả con chó nhà em lớp 4
Cảm nghĩ của em khi bước vào trường thpt
Ngôi trường mới có diện tích rất rộng gồm hai dãy nhà ba tầng và một dãy phòng 2 tầng với phòng thí nghiệm, bộ môn. Trường học với số lượng học sinh gấp mười lần khi em học cấp hai nên em cảm nhận được sự đông đảo và tính cạnh tranh ở ngôi trường mới này. Khi mới vào trường em ấn tượng nhất với chiếc cổng trường lớn và khuôn viên của trường. Sân trường rộng với rất nhiều cây cổ thụ cao lớn, những bồn hoa, cây cảnh. Những loài cây quen thuộc gắn liền với lứa tuổi học trò. Những cây phượng đón chào năm học mới bằng những cành lá xanh và một vài chùm hoa nở muộn. Những cây bàng lá đỏ tỏa bóng mát. Tất cả tạo nên một không gian xanh, tươi mát và đẹp đẽ cho ngôi trường.
Lớp em học là lớp 10a5, nằm ở tầng một, một lớp học có phần đông là các bạn nữ. Trong đó có hai bạn là bạn học cùng em cấp hai nên khi vào lớp mới không khiến em bỡ ngỡ như nhiều bạn khác. Thầy chủ nhiệm lớp em là thầy dạy toán, một người thầy vui tính và rất dễ gần. Ngoài giờ học thầy thường hay kể chuyện ngày thầy đi học cho chúng em nghe. Lớp em chỉ có mười người con trai và những trận bóng đá giao hữu với lớp khác thì thầy luôn là một thành viên tham gia vào đội bóng ấy. Chính vì thế ngay từ những buổi đầu tiên đi học lớp chúng em đã sớm có sự hòa đồng với nhau.Xem thêm: Kể chuyện Cuộc chạy đua trong rừng
Từ sau ngày đầu tiên bước vào trường cấp ba, biết bao nhiêu thử thách cũng như cơ hội mở ra. Những bỡ ngỡ ban đầu sẽ nhanh chóng trôi qua và chúng em phải ngay lập tức làm quen với môi trường học tập mới. Trong ba năm học sắp tới em sẽ phải thật cố gắng học tập để đối mặt với những kỳ thi quan trọng hơn và quan trọng đó chính đặt ra được mục tiêu học tập, xác định ước mơ nghề nghiệp mà mình theo đuổi để có thể có những lựa chọn chính xác, để phấn đấu cho những mục tiêu ấy.
Đối với em thì ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông chỉ giống như mới diễn ra ngày hôm qua thôi vậy. Tất cả những cảm xúc, những suy nghĩ còn đọng trong tâm trí em. Em nghĩ rằng dù sau này trưởng thành, không còn học tập dưới mái trường này nữa thì em vẫn sẽ nhớ mãi những ký ức của ngày hôm ấy.
Loan Trương | Cảm nghĩ của em khi bước vào trường trung học phổ thông | 985 | |
Cảm nghĩ của em khi đọc Truyện lạ nhà thuyền chài trích trong Thánh Tông di thảo.
Hướng dẫn
"Truyện lạ nhà thuyền chài” có bao yếu tố li kì rất hấp dẫn và thú vị. Một câu chuyện cổ viết cách chúng ta hơn năm thế kỉ mà thật giàu ý nghĩa.
Nhân vật Thúc Ngư con nhà thuyền chài, bốmẹ gần 60 tuổi mới sinh ra cậu; đêm cậu sinh ra thì cha cậu lại đánh bắt được con cá to. Cái tên Thúc Ngư của cậu được đặt ra là vì thế. Mười lăm tuổi mà cậu không muốn học hành. Cậu hỏi bố: “Đi học là như thếnào? ", "Trong sách có cá không? ”, "Lời nói và việc làm của Thánh hiện có đánh cá được không?’’. Ta cứ tưởng cậu ta ăn nói "rấtngu”và chí thích chơi bời, lêu lổng. Suốt ba năm trời, Thúc Ngư thường bỏ nhà đi chơi xa. Có lần đến hai ba hôm mới về nhà. Sau này, ta mới biết, cậu ta đi tìm vợ, tìm vợ tận “đảo ấp ” cách xa nhà cậu chừng một vạn dặm. Vợ là dòng dõi “hải tiên ”, con nhà giàu sang, rất xinh đẹp.
Phải chăng qua nhân vật Thúc Ngư người viết truyện muốn nói về việc học: học trong sách vở thánh hiền có hay bằng học trong cuộc sống; có đi đó đây mới nhìn rộng biết nhiều. Câu tục ngữ: “Có người là có của ” mà Thúc Ngư nhắc lại, câu tục ngữ: “Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng” của ông chài nói ra để khen con trai, và việc Thúc Ngư lấy được vợ đẹp một “hải tiên” nơi “đảo ấp” xa xôi chứa đựng bao ý nghĩa: phải có niềm tin trong cuộc sống, và “hạnh phúc là sự kiếm tìm ”, đâu có chuyện cứ “há miệng chờ sung”. Việc Thúc Ngư lấy được vợ tiên nơi hải đảo còn thể hiện một triết lí của người xưa: có duyên mới nên vợ nên chồng; tình yêu trai gái là do “thiền duyên Qua nhân vật Thúc Ngư, mỗi người sẽ có cách cảm nhận riêng của mình. Có thể nói, nhân vật Thúc Ngư thật “dễ thương” nên mới lọt vào mắt xanh cô “hải tiên ” chứ!
Xem thêm: Đại thi hào Nguyễn Du đã từng tâm sự: Thôn ca sơ học tang ma ngữ (Học được tiếng nói của người trồng dâu, trồng gai). Hãy minh họa bằng các đoạn trích đã học trong Truyện Kiều
Nhân vật “hải tiên ” nơi "đảo ấp ” tên là "Ngọa Vân ”, nghĩa đen là áng mây nằm, áng mây đứng yên một chỗ. Nàng là con gái thứ 89 của một ông già mà “dưới cằm có hai cái râu rất dài”. Nàng có thuật "rút đường” rất kì diệu: đường xa vạn dặm sẽ được rút ngắn lại bằng gang tấc. Sau khi đã thành vợ của Thúc Ngư, hình như nhờ có nàng dâu mà ông chài “mỗi lần buônglưới là được toàn cá ngon, chốc lát đã đầy nửa thuyền, chiều đem về chợ bán, thườngđược giá đắt”.
Đang sống hạnh phúc, nhưng trước cơn bão biển (sóng thần) khinh khủng, Ngọa Vân đã "giơ tay bắt quyết, hô to một tiếng “Biến! 'Tức thì nàng biến thành một con cá to, dài độ ngàn thước, mình lớn ước tới ba mươi quầng… ” ngăn chặn làn sóng dữ, bảo vệ sự bình yên cho gia đình nhà chồng. Cho dù có làm “thiên cơ tiết lộ” không thể cùng Thúc Ngư “chung mộng dẹp nữa” nhưng Ngọa Vân vẫn làm. Người xưa đã qua hành động phi thường chắn sóng dữ của Ngọa Vân để ca ngợi đức hi sinh, tính đảm đang gánh vác của người vợ, người mẹ, người phụ nữ trong cuộc sống. Tiếng khóc của Ngọa Vân, "một điểm rãi” gửi lại cho chồng trước lúc hoá rồng bay về phương tây bắc cũng thể hiện tình ân nghĩa sâu nặng của Ngọa Vân, của người vợ hiền thảo, thuỷ chung trong cuộc đời.
Nhân vật Ngọa Vân đã làm cho "Truyện lạ nhà thuyền chài” thêm “lạ” Nhưng nhân vật này rất đời, rất sống vì mang bao phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa nay.
“Truyện lạ nhàthuyền chài” còn có nhiều yếu tố li kì nữa. Những món ăn "ngon tuyệt phẩm, thơm lạ thường ’’ mà cha Ngọa Vân thết đãi ông bà thông gia; hình ảnh “gã bán kinh ” kéo thuyền, đẩy thuyền như bay trên biển, với “vảy rồng, mồm giải, mật thú, thân xà”, thoắt hiện, thoắt biến – đã đem đến cho người đọc bao cuốn hút, thú vị!
Gấp trang sách lại, nhưng ta vẫn còn nghe tiếng hát của nàng Ngọa Vân; tiếng hát của tình thương, của đạo lí, của đức hi sinh.
“Thiên cơ đã lộ
Lại e cha mẹ mắc tai ương,
Làm sao giữ được cành đồng sàng?
Thúc Ngư lang!
Trời một phương!"
Nguồn: Những bài văn hayXem thêm: Phân tích bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão | Cảm nghĩ của em khi đọc Truyện lạ nhà thuyền chài trích trong Thánh Tông di thảo. | 854 | |
Đề bài: Cảm nghĩ của em sau khi học xong “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch
Bài làm
Lý Bạch là một nhà thơ trong thời cổ đại nổi tiếng của đất nước Trung Quốc. Ông nổi tiếng với những vần thơ lãng mạn, trữ tình sâu lắng làm người đọc đắm say, như chìm vào trong chốn bồng lai tiên cảnh, nhưng cũng mộc mạc, giản dị gần gũi đời thường. Trong thơ của Lý Bạch những hình ảnh thiên nhiên như trăng, gió, mây, tuyết thường xuyên được xuất hiện được thổi hồn như một con người.
Tác phẩm “Tĩnh dạ tứ” được tác giả Lý Bạch sáng tác trong những năm ông phải rời xa quê hương, sống cuộc đời tha phương, nay đây mai đó ở những vùng quê khác nhau, bất chợt một đêm khó ngủ ông bắt gặp vầng trăng sáng trong một phút xuất thần ông đã viết bài thơ này để thể hiện tâm trạng nhớ nhà, nhớ quê hương tha thiết của mình.
Bài thơ được viết với bút pháp bay bổng lãng mạn, trữ tình nhưng cũng có những nét mộc mạc giản dị, thể hiện tình cảm nhớ quê, nỗi buồn trong lòng của tác giả.
“Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương
(Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương)
Khi nhớ về Lý Bạch người ta thường nhớ tới những bài thơ vương mùi thơm của rượu, thưởng thức tửu trà dưới ánh trăng, rồi tức cảnh sinh tình. Nhưng lần này dù vẫn là một bài thơ về ánh trăng nhưng lại trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác. Một không gian khác, nó không ma mị, ngà ngà say sưa, mà là hiện thực rõ nét, phản ảnh chân thực tới từng chi tiết, thể hiện cho việc tác giả hoàn toàn tỉnh táo, không có hơi men.Xem thêm: Giới thiệu một vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi
Hai câu thơ đầu thể hiện một đêm trăng sáng, ánh trăng thật nhẹ nhàng, không gian buổi đêm vô cùng yên ắng tĩnh mịch, tạo nên sự huyền ảo hư hư thực thực. Trong tâm trạng của tác giả cũng có nhiều sự bâng khuâng nhớ về những gì đã qua, những kỷ niệm về một thời xa vắng.
Tác giả cảm thấy ánh trăng giống như một người bạn tri kỷ xa cách lâu ngày hôm nay mới có dịp gặp gỡ, cảm xúc vui mừng xen lẫn sự buồn vương, tủi hơn đang dâng lên trong lòng một cách vô cùng mãnh liệt.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương
(Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương)
Trong câu thơ đầu tiên tác giả thể hiện sự mừng vui khi thấy ánh trăng người bạn tri kỷ thân thiết lâu năm. Một câu thơ có ý ẩn dụ sâu sắc. Sự đối lập giữa ngẩng và cúi. Khi tác giả ngẩng lên thể hiện sự hướng tới, vươn cao nhìn thấy ánh trăng tâm trạng vô cùng hoan hỉ, nhưng khi những giây phút vui vẻ đó đi qua tác giả cúi xuống đối diện với trái tim ấm nóng của mình, một cảm xúc nhớ cố hương, nhớ quê nhà khiến cho người cảm thấy rưng rưng lệ.
Ánh trăng thực chất là chất xúc tác dẫn dắt tác giả đi tới phía sâu trong tâm hồn mình. Ánh trăng hôm nay và ánh trăng nơi quê nhà, nơi cố hương vẫn là một vầng trăng. Tác giả chợt nhớ lại những ngày tháng sống ở quê hương chắc có nhiều đêm cùng uống rượu thưởng trăng, ngắm hoa thưởng nguyệt… Nhưng đêm nay trong một không gian khác, ở một nơi đất khách quê người vẫn vầng trăng đó nhưng cuộc sống hiện thực đã đổi thay rất nhiều.Xem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng’ của Trần Nhân Tông
Qua bài thơ tác giả Lý Bạch đã gửi gắm một nỗi nhớ quê hương nhẹ nhàng nhưng sâu lắng. Bài thơ chỉ có 4 câu ngắn ngủi nhưng lại chứa đựng nhiều cảm xúc khác nhau vẽ lên một khung trời đêm trăng tuyệt vời vừa gợi lên những nỗi nhớ thầm kín trong tâm hồn tác giả nơi quê xa, vừa thể hiện tâm trạng miên man buồn của tác giả. Nỗi buồn nỗi nhớ của tác giả khiến cho người đọc cảm thấy như chính mình cũng đang thổn thức theo ánh trăng.
Với tứ thơ giản dị, ngôn ngữ bình dân và cảm xúc chân thành, bài thơ “TĨnh dạ tư” của Lí Bạch đã thực sự khiến người đọc cảm nhận được những xúc cảm tinh tế nhất. Có lẽ vì thế người ta mới nói thơ Lí Bạch càng đọc càng ngấm, càng thấm.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Cảm nghĩ của em sau khi học xong “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch- văn lớp 7 | 802 | |
Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Chú trọng nền giáo dục thực tiễn trích trong Tế cấp bát điều của Nguyễn Trường Tộ
Hướng dẫn
Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) từng du học ở phương Tây (năm 1866), ông vừa giỏi chữ Hán vừa thạo tiếng La-tinh. Ông là người viết "Tế cấp bát điều ” (8 việc cần làm gấp) gửi vua Tự Đức. Đoạn văn "Chú trọng nền giáo dục thực tiễn ” trích trong “Tề cấp bút điều ” ấy.
Mấy dòng đầu, Nguyễn Trường Tộ giải thích về học và hành. Ông đã nói: "Học làgì? Học tức là học nhữngcái chưa biết đểbiết màđem ra thực hành. Nhưng thực hành cái gì? Thực hành ở dâu? Đó là thực hành những gì thực tế trước mắt và còn để lại lợi ích cho đời sau nữa”
Ông vừa hỏi vừa trả lời, thểhiện một cách viết, cách nói rất cặn kẽ, rõ ràng, mạch lạc, đầy sức thuyết phục.
Phần tiếp theo, ông chứng minh và bình luận cái sự học của dân ta, ở nước ta thời bấy giờ là vô cùng cũ kĩ, lạc hậu và xa rời thực tế. Chi biết học "văn, từ, thơ, phú", học toàn chuyện bên Tàu, nào là Sơn Đông, Sơn Tây… nào là lễ nhạc, cách ăn uống, cư xử của Tàu, học đến "mòn bút khô môi cũngkhôngkể hết". Trong lúc đó, Nam kì, Bắc kì… của ta, cách chiên đấu, phép ăn ởcủa dân ta thì không học, không biết, học một đàng làm một nẻo. Việc học ấy thật vô nghĩa, rất lố bịch và buồn cười.
Phải học điều thực tế và có ích, ích nước lợi nhá. Học về non sông bờ cõi nước ta, hình thế biển hồ, đồn thành và đất đai trong nước ta thay đổi như thế nào, để biết rõ, tránh nhầm khi làm. Luật nước, lệ làng, phong tục nhân dân ta, nước ta, cái gì hay cái gì dởthì "cần phải học hỏi tìm tòi để hiểurõ và bổ cứu ”, và cần đưa ra thí nghiệm. Ông khẳng định: “Như thế mới làcái học trị nước giúp đời”.
Học để biết tài nguyên đất nước ta (mỏ kim loại, đá quý, thú nuôi, cây trồng…) để "khai thác phát triển, để tự cấp tự túc.”Đất nước đang đứng trước nguy cơ "bốn bềbị ép, người ngoài sắp chiếm làm hang ổ” thì phải biết, phải học cái gì cần, đặng “hiến dângtrí khôn, sức khoẻra chốnggiữđểbảo vệ nước nhà”.
Qua đó, ta càng thấy rõ, học không chỉ mở mang dân trí mà còn phải học và hành những điều thiết thực, cấp thiết, để chấn hưng đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh và văn minh. Học thiết thực, học và hành thiết thực là vì nước vì dân.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay nhấtTiếp theo, Nguyễn Trường Tộ đã châm biếm lối học cử nghiệp chỉ biết “đua nhau trau chuốt từng câu hay, từng chữ khéo”. Ông chế giễu: “Sao tệ mạt đến thế! Ông dùng cách lập luận so sánh để nêu bật lợi ích của việc học thực tế, hướng về khoa học. "Nếu đem cái công phu đã bỏ tâm trí một dời ra trau chuốt chữ nghĩa mà học những việc hiện tại như trận đồ, binh pháp, đáp thành giữ nước, sử dụng súng ống, thì cũng có thể chống được giặc ". Hãy bỏ cái lối học “nhai lại nhữngnghĩa lí cặn bã xa xưa của Ngu, Hạ, Thương, Chu, Hán, Đường, Tống, Nguyên ”, mà học những cái mới khác như: binh, hịch, luật lệ, tài chính, thương mại, xây dựng, canh nông, dệt… thì “dần dần cũng có thể làm cho nước mạnh dân giàu”
Là một người nhiệt tình tha thiết đến vận nước, ông đặt ra câu hỏi: "Tại sao đến nay vẫn chưa nghe dân chúngkhuyên nhau học những cái thực dụng ấy, mà chỉ ưa những chuyện kì dị xa xưa…? Đó là tình trạng lạc hậu, sự tối tăm u mê của một dân tộc, một đất nước đã kéo dài nhiều thế kỉ.
Cuối bài văn, Nguyễn Trường Tộ đề nghị và khuyên nhủ cần phải “tìm học cái học thực dụng'', phải “phân chia ra các khoa, các môn” và “ban thưởng chonhững người dự thi vào các khoa, các môn này để khuyến khích dần dần đưa đến kết quả lợi ích thì các tệ đoan dần dần sẽ mất đi"…
Những ý kiến của Nguyễn Trường Tộ về việc học và hành thật sâu sắc, chí lí và tiến bộ. Cái lợi ích của việc học thực tế, học là đểlàm, học cái cần thiết và cấp thiết cho nước, cho dân – được ông nêu ra đầy sức thuyết phục. Ông đã đưa ra những lờichâm biếm, chế giễu, đả kích cái lối học chuộng hư văn. Chỉbiết "nhai lại những nghĩa lí cận bã xa xưa " của Tàu. Những ý kiến của ông cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa sâu sắc. Chuyện chạy bằng cấp, hám hư danh, gian lận trong thi cử… hiện nay, xét cho cùng vẫn là chuyện học và chuyện hành ở xứ ta. Bài toán về sự "tụt hậu vàđổi mới'' chỉ có thể bắt đầu và tìm lời giải ở công cuộc cải cách nền giáo dục nước nhà.
Có một điều mà chúng ta muốn biết là “Tế cấp bát diều” của Nguyễn Trường Tộ đã có tác dụng gì hay chỉlà chuyện "hòn đá ném vào hangsâu ”?
Trong cuốn “Việt Nam sử lược ”, Trần Trọng Kim có viết:
“Như năm Bính Dần (1866) là năm Tự Đức thứ 19, có mấy người ở Nghệ An là Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn TrườngTộ, Nguyễn Điềuđi du học phương Tây. Sau Nguyễn Trường Tộ về làm mấy bài điều trần, kể hết cái tình thế nước mình và cái cảnh tượng các nước, rồi xin nhà Vua mau mau cải cách mọi việc, không thì mất nước. Vua giao những tờ điều trần ấy cho các quan duyệt nghị. Đình thần đều lấy làm sự nói càn, không ai chịu nghe”
Đó là bi kịch của đất nước ta, dân tộc ta trong thế kỉ XIX!
Nguồn: thêm: Bàn về phẩm chất mà một người thanh niên ngày nay cần có | Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Chú trọng nền giáo dục thực tiễn trích trong Tế cấp bát điều của Nguyễn Trường Tộ | 1,068 | |
Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trích trong Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên.
Hướng dẫn
Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng của Đại Việt thuở "Bình Nguyên ”, văn võ toàn tài, tên tuổi gắn liền với chiến công Bạch Đằng giang bất tử.
Trong “Đại Việt sử kí toàn thư”, nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã dành những lời đẹp nhất ca ngợi đức độ, tài năng của Hưng Đạo Đại Vương.
Phần đầu nói về kế sách giữ nước của Trần Quốc Tuấn. Có thể nói đây là những lời vàng ngọc của vị thánh nhân Đại Việt khi vua Trần ngự tới thăm ông và hỏi ông: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sangxâm lược thì kế sách như thế nào?
Đại Vương đã nhắc lại những kinh nghiệm lịch sử, những bài học lịch sử: Triệu Vũ dùng kế "thanh dã” và phục kích mà đánh tan quân nhà Hán; đời nhà Đinh, nhà Lê thì “dùng người tài giỏi”, “trên dưới một dạ, lòng dân khônglìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống”. Thời nhà Lí, nhờ "có thế” mà Lí Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm đến trận Mai Lĩnh. Thời nhà Trần, khi Tọa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây”, nhưng “vì vua tôi đồng tâm, anh em hoàmục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt”. Giặc dùng trường trận thì ta dùng đoàn binh để chế ngự, để tuỳ thời tạo thế, và phải có một đội quân "một lòng như cha con Thượng sách giữ nước là "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượngsách giữ nước”.
Mưu lược trong dụng binh, xây dựng quân đội (phụ tử chi binh), dùng đoản binh chế trường trận, bồi dưỡng sức dân, thắt chặt khối đại đoàn kết dân tộc – là những bài học sâu sắc để giữ nước và dựng nước mà Trần Quốc Tuấn để lại cho dân tộc ta muôn đời sau.
Phần thư hai, Ngô Sĩ Liên nói về tư chất và tính cách của Trần Quốc Tuấn. Ông là con Yên Sinh Vương Trần Liễu. Lúc mới sinh ra, có một ông thầy tướngxem cho và bảo: “người này ngày sau có thể giúp nước cứu đời”. Lớn lên, TrầnQuốc Tuấn “dungmạo khôi ngô”, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ”.
Tác giả kể lại mối hiềm khích giữa An Sinh Vương và Trần Thái Tông, lời trăng trối của cha, Trần Quốc Tuấn chí “ghi để điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải”. Chuyện Trần Quốc Tuấn đem lời cha dặn nói với Dã Tượng, Yết Kiêu, với các con, và thái độ của ông, lúc thì "cảm phục đến khóc, khen ngợi… lúc thì “ngầm cho là phải ”, lúc thì nổi giận quát Quốc Tảng là “tên loạn thần…đứa con bất hiếu ”, rút gươm toan chém – tất cả đều thể hiện tấm lòng trung nghĩa của vị Quốc công, xoá hận thù riêng, đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết.
Xem thêm: Em hãy kể lại truyện cổ tích Sọ Dừa
Phần thứ ba nói vềđức độ “kính cẩn giữ tiết làm tôi” của Trần Quốc Tuấn. Tuy chức trọng quyền cao, được nhà vua cho phép ông được quyền phong tước cho người khác, nhưng "Quốc Tuấn chưa bao giờ phong tước cho một người nào”. Vì thế, mùa thu ngày 20 tháng 8 ta (năm 1300), ông mất ở phủ đệ Vạn Kiếp, nhà vua và triều đình đã tặng ông là "Thái sưThượng phụ Thượngquốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại VươngVua Thánh Tông soạn bài văn bia, ví ông với Thượng phụ ngày xưa. Điều đó cho biết Trần Quốc Tuấn được trọng vọng như thế nào.
Qua đoạn trích, ta thấy Ngô Sĩ Liên đã kể lại những mẩu chuyện rất cụ thể và cảm động để làm nổi bật tài năng và đức độ của Trần Quốc Tuấn. Nghệ thuật thuyết minh kết hợp với tự sự để khắc họa chân dung nhân vật lịch sử cho thấy ngòi bút bình sử của Ngô Sĩ Liên thật đặc sắc.
Phần cuối nói về sự linh nghiệm, ứng nghiệm, sự hiển linh của Hưng Đạo Vương, đặc biệt là hình ảnh "tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn ” rất giàu ý nghĩa. Điều đó nói lên Trần Quốc Tuấn là hồn thiêng Đại Việt, tình yêu nước thương dân và khí phách anh hùng của ông đã trở thành bất tử trong lòng người; nhân dân tôn kính và ngưỡng mộ ông vô cùng.
Các tác phẩm của Trần Quốc Tuấn như “Binh gia diệu lí yếu lược”, “Vạn Kiếp tôngbí truyền thư” là tinh hoa, là tài sản tinh thần vô giá của Đại Việt. Ngô Sĩ Liên đã nhắc lại một số tên tuổi như Dã Tượng, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu… là để ca ngợi cái tài “dùng người ” và "khéo tiến cử người tài giỏi ” cho đất nước, khẳng định Đại Vương "có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa vậy”. Câu nói của Trần Quốc Tuấn trả lời Trần Thánh Tông khi thế nước ngàn cân treo sợi tóc: “Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng ” là tượng trưng cho khí phách Đại Việt, cho "hào khí Đông A ” sáng rực đến nghìn thu.
Qua đoạn trích "Đại Việt sử kí toàn thư”, ta cảm thấy Ngô Sĩ Liên đã dựng nên một tượng đài kì vĩ, tráng lệ về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người anh hùng có công lớn nhất trong ba lần kháng chiến đánh thắng giặc Nguyên – Mông.
Kết hợp thuyết minh với tự sự bằng những mẩu chuyện sống, giọng văn thâm trầm, Ngô Sĩ Liên đã tạo nên một bài bình sử đặc sắc, đem đến nhiều lí thú cho người đọc.
Nguồn: Những bài văn hayXem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật tên quan phủ trọng truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn | Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trích trong Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên. | 1,035 | |
Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài tựa Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương
Hướng dẫn
Hoàng Đức Lương đỗ tiến sĩ năm Mậu Tuất 1478, soạn giả cuốn “Trích diễm thi tập ”, gồm có 6 quyển. Có thể xem đây là một tuyển tập thơ nước ta ra đời sớm nhất đã được khắc ván in dưới thời Hồng Đức vua Lê Thánh Tông.
Bài Tựa "Trích diễm thi tập” được Hoàng Đức Lương viết vào mùa xuân năm thứ 28, niên hiệu Hồng Đức (1497). Qua bài Tựa, ông nói lên quá trình tuyển chọn thơ, biểu lộ niềm tự hào, lòng trân trọng và ý thức bảo tồn di sản văn học của dân tộc.
Phần đầu bài Tựa, Hoàng Đức Lương nói lên tình trạng và lí do thơ ca của các thời Lí, Trần, Lê “không truyền lại đầy đủ ở đời”. Ông nêu lên 4 lí do:
Lí do thứ nhất là sắc đẹp của thơ ca "ở ngoài mọi sắc dẹp, mắt thường không thấy được”', vị ngon của thơ ca “ở ngoài mọi vị ngon, miệng thường không nếm thấy”. Ông khẳng định thơ ca là sản phẩm tinh thần rất đặc biệt, “chỉ có thi nhân mới có thể thấy được sắc đẹp đó, nếm được vị ngon đó". Vì thế "khiến thơ ca không lưu truyền đầy đù được ở đời”.
Lí do thứ 2 là thơ ca của các bậc giai nhân, tài tử thời Lí, Trần đã góp phần tô đẹp nền văn hiến Đại Việt, nhưng vì các bậc danh nho làm quan to vì bận rộn công việc triều đình mà “không có thì giờ để biên tập", còn các quan viên cấp thấp, vì “lật đật lo thi cử, hoặc lo công việc hàng ngày” nên "không để ý”, vì thế “thơ ca không lưu truyền đầy đủ ở đời”.
Lí do thứ 3 là có thể cũng có người đã từng sưu tập thơ ca, nhưng vì thấy “trách nhiệm nặng nề, rồi lượng sức mình yếu kém rồi bỏ dở”, nên khiến "thơ ca không lưu truyền đầy đủ được ở đời”.
Lí do thứ 4 là ở nước ta, chỉ nhà chùa mới được tự do khắc ván in sách, còn các nhà nho, "nếu như chưa được nhà vua cho phép, thì không được in ra để lưu hành " nên đã "khiến thơ ca khống lưu truyền đầy đủ ở đời”.
Qua đó, ta thấy Hoàng Đức Lương đã sử dụng thao tác liệt kê và phép quy nạp để thuyết minh và giải thích 4 lí do "khiến thơ ca không lưu truyền đầy đủ ở đời”.
Xem thêm: Cảm nhận đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)Sau hơn 5 thế kỉ, chúng ta có ít nhiều phân vân về lí do thứ nhất mà Hoàng Đức Lương đã nêu lên. Ngoài 4 lí do mà ông đã nêu ra, chúng ta cảm thấy còn thiếu một lí do quan trọng nhất mà thơ ca nước nhà “không lưu truyền đầy đủ ở đời”. Đó là chính sách đồng hóa vô cùng thâm hiểm của Thiên triều, nhất là của giặc Minh đã thi hành một chính sách cướp, phá, đốt vô cùng dã man:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
(Bình Ngô đại cáo)
Triều Minh đã nhiều lần ra lệnh cho bọn Trương Phụ, Hoàng Phúc ra sức tịch thu, tiêu hủy các thứ sách vở và phá huỷ các bia đá của ta. Chúng còn bắt nhân dân ta phải thay đổi cả phong tục tập quán cho đến cả cách ăn mặc cũng phải theo lối phương Bắc. Phan Huy Chú trong cuốn “Lịch triều hiến chương văn tịch chí” cho biết giặc Minh không những đã đốt của nhân dân ta hàng núi sách mà còn cướp "mất trên một trăm bộ sách quý giá thời Lí, Trần.
Giặc Minh chiếm nước ta năm 1407. Hoàng Đức Lương viết bài Tựa "Trích diễm thi tập ” năm 1497, nghĩa là 90 năm sau, không biết vì sao nhà soạn giả không nói đến lí do này?
Phần thứ hai của bài Tựa, Hoàng Đức Lương nói lên tâm trạng của mình phảithan thở " khi học làm thơ "chỉ dựa vào các nhà thơ đời Đườngmà thôi, còn thơ văn ta thời Lí – Trần thì không khảo cứu vào đâu được.Ông vô cùng đau xót trước hiện trạng “một nước văn hiến, trải mấy nghìn năm xây dựng, lẽ nào không có một quyển sách để làm chứngtích, mà phải tìm đọc xa xôi qua thơ ca thời Đường… ”. Có thể nói đó là tâm trạng của một con người, một kẻ sĩ giàu tinh thần dân tộc, tự tôn và tự cường cao độ.
Phần thứ ba, Hoàng Đức Lương khiêm tốn nói lên quá trình sưu tập, chọn lọc sắp xếp… để làm nên "Trích diễm thi tập" được 6 quyển, vốn biết công việc thì nặng nề, mà khả năng còn hạn chế… ”
Bài Tựa "Trích diễm thi tập" được Hoàng Đức Lương trình bày một cách sáng sủa, khúc chiết về lí do ông biên soạn nên công trình thơ ca này. Cái tài và cái tâm của ông đã góp phần to lớn vào công việc bảo tồn di sản thơ ca của dân tộc. "Trích diễm thi tập” là một công trình văn học vĩ đại góp phần tô đẹp nền văn hiến Đại Việt với tất cả lòng yêu nước, tự hào.
Nguồn: thêm: Tài năng xây dựng nhân vật của Nguyễn Du thể hiện trong đoạn trích Trao duyên (Truyện Kiều - Nguyễn Du) | Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài tựa Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương | 950 | |
Cảm nghĩ của em sau khi đọc Hồi trống cổ thành
Hướng dẫn
"Tam quốc diễn nghĩa " kể lại cuộc phân tranh trong vòng 97 năm giữa 3 tập đoàn phong kiến: Ngụy (Tào Tháo), Thục (Lưu Bị) và Ngô (Tôn Quyền).
– Từ hồi 1 đến hồi 14 (năm 184 – 190) cuộc khởi nghĩa nông dân “Khăn Vàng”. Đổng Trác thâu tóm quyền hành. Vương Doãn dùng mĩ nhân kếdiệt Đổng Trác.
– Từ hồi 15 đến hồi 50 (190 – 208): Viên Thiệu xưng hùng rồi đại bại. Tào Tháo tiêu diệt sạch các tập đoàn phương Bắc, làm chủ Trung nguyên. Lưu Bị đã có binh hùng tướng mạnh nhưng chưa có lãnh địa. Tào Tháo đại bại ở Xích Bích. Lưu Bị được đất Kinh Châu. Thế chân vạc Ngụy – Thục – Ngô hình thành.
– Từ hồi 51 đến hết (208 – 280) Tào Tháo có binh hùng tướng mạnh, lúc đánh Ngô, lúc tiến công Thục, lúc thế trận giằng co thì Tào Tháo chết. Con là Tào Phi lên thay, phế vua Hán, lập ra nhà Ngụy, quyền hành rơi dần vào tay thừa tướng Tư Mã Ý.
Lưu Bị có mưu sĩ Khổng Minh, có ngũ hổ tướng, thế lực ngày một mạnh. Lưu Bị lên ngôi vua. Quan Vũ bị Đông Ngô giết. Trương Phi cất quân đi đánh báo thù cho anh mà bị hại. Lưu Bị thảm bại vì hỏa công của Đông Ngô rồi ốm chết. Con là Lưu Thiện nối ngôi. Khổng Minh "thất cầm Mạnh Hoạch ”, “lục xuất Kì Sơn ”, sự nghiệp đang dở dang thì ốm chết. Thục suy vong dần. Năm 263, tướng Ngụy là Đặng Ngải diệt Thục, Lưu Thiện đầu hàng. Nhà Ngô có địa thế Giang Đông hiểm yếu, có binh hùng tướng mạnh, lấy thủ làm công, nhiều lần đánh bại Ngụy, Thục. Sau khi Tôn Quyền chết, Tôn Hạo lên thay, thế yếu dần. Năm 729, Tư Mã Viêm (cháu Tư Mã Ý) kéo đại binh đánh Đông Ngô, Tôn Hạo đầu hàng. Tư Mã Viêm phế Ngụy đế, lập ra nhà Tấn, thống nhất Trung Quốc.
Tóm tắt “Hồi trống Cổ thành” (Trích hồi 28 – “Tam quốc diễn nghĩa”)
Bài làm
Biết tin anh là Lưu Bị ởHà Bắc trên đất Viên Thiệu, Quan Vũ đưa 2 chị (vợ của Lưu Bị) đi tìm anh. Tào Tháo tránh không tiếp Quan Vũ đến từ biệt vì muốn lưu giữ Quan Vũ để dùng. Tháo không cấp giấy qua ải, nhưng cũng không cho tướng đuổi bắt. Các tướng vẫn không cho Quan Vũ qua ải, Quan Vũ phải mở đường máu mà đi.
– Qua ải Đông Lĩnh chém Khổng Tử
– Đến ải Lạc Dươngchém Hán Phúc vù Mạnh Thầu.
– Qua Nghi Thủy giết Biện Hỷ.
– Vượt ái Huỳnh Dươngchém VươngThực.
– Đến bờ HoàngHàgiết Tân Kì.
Đến Cổ thành, Quan Vũ ngỡ là gặp được em xiết bao vui mừng, ai ngờ Trương Phi “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò thét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”. Bất ngờ, Sái Dương lại kéo quân đến bắt Quan Vũ. Phi càng nghi ngờ… Chí đến lúc đầu Sái Dương bị Quan Vũ chém đứt, Phi mới đánh được hồi trống, Phi mới nguôi giận dần. Và chỉsau khi nghe tên lính kể đầu đuôi mọi chuyện… Phi mới tin, “rỏ nước mắt khóc, thụp lạy Vân Trường”.
Cảm nghĩ của em sau khi đọc “Hồi trống cổ thành ” (Trích hồi 28 – "Tam quốc diễn nghĩa”)
Bài làm
“Hồi trống Cổ thành " trong “Tam quốc diễn nghĩa” cứ rung động mãi hồn người. Hình ảnh Trương Phi, quan Vân Trường, những tấm lòng trung nghĩa sắt son, tình huynh đệ vườn đào thắm thiết đã để lại nhiều ấn tượng cho người đọc mấy thế kỉ nay.
Trương Phi là người anh hùng trong thời loạn đề cao trung nghĩa: “Trung thần thà chịu chết không chịu nhục. Có lẽ đâu đại trượng phu lại thờ hai chủ?”. Trong suy nghĩ của Trương Phi thì Quan Công đã hàng Tào, "được phong hầu tử tước”, đã “bội nghĩa”, đến cổ thành là đểlập mưu bắt Phi! Nên phủi đâm chết: “Phen này tao quyết liều sống chết với mày!” "Xin hai chị cứ thong thả, để tôi giết thằng phụ nghĩa này đã…”
Trung thực, nóng nảy, quyết liệt. Nghe Tôn Càn vào báo tin hai chị và Quan Vũ đến, mời Phi ra đón. Phi “chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp vác mâu lên ngựa, dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa Bắc”. Hành động dữ dội, sôi sục “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò thét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”. Mạt sát Quan Công: “Mày đã bội nghĩa còn mặt nào đến gặp tao nữa”.
Ai phân trần khuyên bảo cũng không nghe. Chí có một điều kiện "xong3 hồi trốngphải chém đầu tướngTào" để làm tin. Đầu Sái Dương rụng, tên lính nói rõ mọi chuyện thì Phi mới tin: "Rỏ nước mắt khóc, sụp lạy Vân Trường”. Phục thiện và biết điều.
Tóm lại, tác giả miêu tả Trương Phi rất sống động: Cươngtrực, thẳng thắn, quyết liệt, trongsáng và trungnghĩa.
Quan Vũ là một hổ tướng: Tuyệt dũng và tuyệt nghĩa. Vượt qua nguy hiểm để tìm anh, quá ngũ quan trảm lục tướng.
“Hồi trống Cổ thành ” hấp dẫn bởi tình huống đầy kịch tính.
Tình huống 1: Trương Phi ngỡ là Quan Công đến lừa bắt mình nộp Tào Tháo. Phi phải giết Quan Công. Tình huống 2: Sái Dương mang quân đến hỏi tội Quan Công… Phi ngỡ là âm mưu của Quan Công. Tình huống 3: Trương Phi đánh 3 hồi trống thì Quan Công phải chém chết tướng Tào. Đầu Sái Dương bị Quan Công chém lăn dưới đất, Trương Phi chí vừa đánh xong một hồi trống. Mâu thuẫn được giải quyết, Phi khóc, thụp lạy Vân Trường.
Nhân vật được mô tả bằng hành động; các tình tiết diễn biến nhanh, đầy xung đột nên rất hấp dẫn.
Tóm lại, tiếng trống cổ thành vang lên là đầu giặc bị chém rụng xuống đất để người anh hùng minh oan bằng tài năng.Đó là tiếng trống của sự hội ngộ đẩy tình nghĩa, của lòng trung thực, của khí phách người anh hùng. Cũng là tiếng trống thúc quân, tiếng trống thắng trận tưng bừng giòn giã…
Tóm tắt chuyện “Tào Tháo uống rượu luận anh hùng” (Trích hồi 21 – "Tam quốc diễn nghĩa”)
Xem thêm: Phân tích đạo lý uống nước nhớ nguồn qua bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy
Bài làm
Lúc bấy giờ, ba anh em Lưu, Quan, Trương đang nương náu trên đất Tào. Lưu Bị sợ Tào Tháo nghi mình mưu đồ nên đã bày ra chuyện làm vườn cho Tháo khỏi ngờ. Một hôm Quan Trường, Trương Phi đi chơi vắng, Lưu Bị đang lom khom tưới rau, bỗng thấy Hứa Chử và Trương Liêu dẫn vài chục người đến mời sứ quân đến ngay phủ. Lưu Bị giật mình hỏi là việc gì khẩn cấp thế rồi đi ngay.
Tào Tháo cười, hỏi chuyện làm vườn. Lưu Bị sợ tái mặt. Tháo cầm tay dắt Lưu Bị vào vườn sau nhà, rồi nói về chuyện “rừng mơ" ngày đi đánh Lưu Tú, dẫn đến chuyện mời Huyền Đức đến thưởng mơ xanh mới hái và uống rượu nấu vừa chín.
Hai người ngồi đối diện ăn uống vui vẻ. Lúc rượu ngà ngà say, chợt mây đen mù mịt, cơn mưa to sắp kéo đến. Tháo và Huyền Đức dựa vào bao lơn ngắm xem vòi rồng lấy nước. Chợt Tháo hỏi sứ quân về chuyện rồng, rồi nói về sự biến hoá của rồng bay, rồng nấp, ví rồng như anh hùng. Tào Tháo hỏi Lưu Bị có bao anh hùng đời nay, xin thử nói cho nghe. Lưu Bị nói mình là người trần mắt thịt biết đâu được anh hùng, nhưng Tào Tháo nói: "Đã đành khôngbiết mặt nhưng cũng có nghe tiếng chứ? ”
Lưu Bị lần lượt nêu tên 5 người: Viên Thuật, Viên Thiệu, Lưu Biểu, Tôn Sách, Lưu Chương, và hỏi Tháo: "Có thể cho làanh hùng được chăng? " Tào Tháo vừa nghe, vừa cười nói: “Khôngthể gọilà anh hùng được! Khi nghe Lưu Bị nói ngoài những người ấy ra, không biết ai nữa, thì Tháo nói: "Anh hùng là người trong bụngcó chí lớn, có mưu cao, có tài bao trùm cảvũ trụ, có trí nuốt cả trời đất kia”.
Nghe Lưu Bị hỏi: "Ai có thể xứng đángđược như thế? ” thì Tào Tháo lấy tay trỏ vào Huyền Đức rồi lại trỏ vào mình nói rằng:
– Anh hùng trong thiên hạ bây giờ chỉsứ quân và Tháo này mà thôi.
Nghe nói thế, Huyền Đức giật nảy mình, cái thìa, đôi đũa cầm ở tay rơi cả xuống đất. Một tiếng sét cơn mưa nổ ra. Lúc Bị cúi xuống nhặt thìa và đũa nói tảng rằng: “Gớm thế! Tiếng sét dữ quá!” Tào Tháo cười hỏi Lưu Bị cũng sợ sấm à thì Lưu Bị nói các bậc đức thánh ngày xưa lúc gặp sấm dữ gió to cũng đổi sắc mặt, huống chi là tôi đây sao lại không sợ!
Tào Tháo thấy thế không nghi ngờ gì Huyền Đức nữa.
Cảm nghĩ của em sau khi đọc “Tào Tháo uống rượu luận anh hùng” (Trích hồi 21 – “Tam quốc diễn nghĩa ”)
Bài làm
"Tam quốc diễn nghĩa ” là kiệt tác của La Quán Trung, bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, gồm có 120 hồi. Với tài kể chuyện siêu việt, "Tam quốc diễn nghĩa” cuốn hút người đọc mãi mãi không thôi.
Hồi nào cũng hay, cũng mới lạ, đủ mặt anh hùng và gian hùng: "Tào Tháo uống rượu luận anh hùng”, "Hồi trốngCổthành ”, "Hoa Dung lộ ”, “Trận Xích Bích ”, “Trận Quan Độ ”, “KhổngMinhbảy lần bắt Mạnh Hoạch ”,…
“Tào Tháo uốngrượu luận anh hùng” là một hồi cực kì hấp dẫn và thú vị. Tào Tháo và Lưu Bị cùng đối tửu, cùng luận anh hùng, người thì kín đáo, kẻ thì kiêu hùng, chuyện trò “vui vẻ” hôm nay, nhưng mai kia thì một mất một còn giữa cõi sa trường với trăm vạn hùng binh, hàng nghìn chiến mã, máu chảy thành suối, thây chật thành đồi…
Nói về thế thì lúc bấy giờ ba anh em Lưu, Quan, Trương đang nương nhờ Tào Tháo, khác nào cá nằm trên thớt, vô cùng hiểm nghèo. Nếu lộ tung tích thiên cơ thì cái chết cầm chắc, vì Tào Tháo là một tay đa nghi, quỷ quyệt.
Lưu Bị làm vườn, bề ngoài tựa như vui thú điền viên, nhưng bên trong là để Tào Tháo khỏi ngờ. Với Quan Trường thì việc làm đó của anh mình là không xứng đáng, ví đó là "việc của kẻ tiểu nhân" và khẽ nhắc "sao anh không lưu tâm đến việc lớn thiên hụ Câu nói: "Hai em biết đâu ýanh!” thể hiện đức tính kín đáo, cẩn trọng của Lưu Bị.
Việc Tào Tháo sai Hứa Chử và Trương Liêu – dũng tướng thân cận đến mời Lưu Bị là một tình huống bất ngờ và bất lợi, vì Quan Vũ và Trương Phi thì đi vắng, mời đến dinh Thừa tướng để làm gì, nên Lưu Bị đã "giật mình ” hỏi: “Việc gì khẩn cấp thế, hai ông? Không đi hoặc nấn ná trì hoãn đều không ổn. Lưu Bị phải theo Hứa Chử, Trương Liêu đến dinh yết kiến Thừa tướng.
Lưu Bị “sợtái mặt’’ khi nghe Tào Tháo cười và hỏi về chuyện làm vườn. Khi Tào Tháo "cầm tay… dắt vào sau vườn nhà”, Lưu Bị nói một cách tự nhiên: "Khôngcó việc gì, làm để tiêu khiển đó thôi.”
Tháo nhắc lại chuyện “rừngmơ" khi trước đi đánh Trương Tú, chuyện nhân có mơ xanh trên cành mai hái xuống và thưởng, có rượu nấu vừa chín, "cho nên mời sứ quân đến tiểu đình uốngrượu.”Cũng là một cách dàn cảnh "rình mồi "…
Cảnh Tào Tháo và Lưu Bị ngồi uống rượu có phải là cảnh "Tri kỉ tương phùngthiên bôi thiểu ”, hay là cảnh “anh hùng tương ngộ đối tửu ”, hay là cảnh con hổ đang sắp vồ mồi? Tào Tháo và Lưu Bị, chủ và khách "ngồi dối diện, ăn uống vui vẻ”. Cả hai đều “đóngkịch " và "thủ vai diễn ” tài tình!
Chợt mây đen mù mịt, cơn mưa to sắp kéo đến, nghe quân sĩ nói đến vòi rồng, khi Tào Tháo và Lưu Bị “đangcùngdựa vào bao lơn ngắm xem", thì câu chuyện lại chuyển sang đề tài mới. Không phải vô cớ mà Tào Tháo hỏi Lưu Bị vềsự biến hóa của con rồng. Không phải là chuyện vui, vôcớ. Sâu xa là một điều ám chỉ, một sự thăm dò. Sự biến hoá của con rồng là sự biến hóa của Lưu Bịhay của Tào Tháo?
Tào Tháo vốn là một thi sĩ rất giỏi thơ văn nên khi ông ta nói về sự biến hoá của con rồng thật hay và nhiều ngụ ý:
"Rồng lúc thì to, lúc thì nhỏ, lúc thì hay, lúc thì núp. Lúc to thì nổi mây phun mù; lúc nhỏ thì thu hình ẩn bóngkhi bay ra thì liệngtrongtrời đất; khi ẩn thì núp ở dưới sông. Nayđang mùa xuân, rồng gặp thời biến hoá, cũngnhư người ta lúc đắc chí, tung hoành trong bốn bể. Rồngví như anh hùng trongđời… ”
Tào Tháo là một tay đa mưu túc kế, nên đã chủđộng lái câu chuyện sang một hướng khác rất tự nhiên. Tào Tháo đã đưa Lưu Bị vào tình thế khó xử, khi hỏi: “Huyền Đức lâu nay đã đi khắp bốn phương, bao nhiêu anh hùngđời nay, hẳn đã biết cả, xin thửnói cho nghe.”
Cuộc đối tửu giữa chủ và khách, hay là cuộc đấu trí giữa hai con người đều biết lòng dạ của nhau "muốn nuốt cả trời đất ", hay là hai con hổ đang tạo thế rình mồi. Lưu Bị tự coi mình là “người trần mắt thịt…" khi nghe Tào Tháo hỏi về anh hùng thời nay. Khi Tào Tháo nói: "Huyền Đức khôngnên nhún mình quá!” thì Lưu Bị như phân bua: ''Bi này được nhờ ơn Thừa tướng làm quan trongtriều, anhhùngtrongthiên hạ khôngđược biết”. Khi bị ép "khôngbiết mặt nhưng cũng có nghe tiếng chứ? ” thì Lưu Bị mới lần lượt nêu ra tên tuổi 5 người: Viên Thuật, Viên Thiệu, Lưu Biểu, Tôn Sách, Lưu Chương. Cách nói của Lưu Bị rất tôn kính (gọi họ kèm tước hiệu): gọi Lưu Biểu là Lưu Cảnh Thăng, Tôn Sách là Tôn Bá Phù, gọi Lưu Chương là Lưu Quý Ngọc. Mỗi người được nhắc đến, Lưu Bị đều chỉ ra được sức mạnh và thế lực của từng người.
– Viên Thuật binh lương nhiều ở Hoài Nam.
– Viên Thiệu như con hổ dữ hùng cứ ởKí Châu; bộ hạ có nhiều tay tài giỏi.
– Lưu Biểu nổi tiếng trong 8 kẻ tuấn kiệt, uy danh khắp cả chín châu.
– Tôn Sách sức lực đương khoẻ, đứng đầu xứ Giang Đông…
– Lưu Quý Ngọc ở ích Châu…
Lưu Bị vừa chí ra cái mạnh của từng người để giới thuyết, vừa sử dụng câu nghi vấn để hỏi lại Tào Tháo như: "Có thể cho là anh hùng được chăng? ”, "có phải là anh hùng không? Chỉ có trường hợp Tôn Bá Phù thì Lưu Bị vừa khẳng định vừa nghi vấn: “Có một người, sức lực đương khoe’, đứngđầu xứ Giang Đông, làTôn Bá Phù, hắn là anh hùng?
Qua cách nói đó, ta thấy Lưu Bị rất khôn khéo, kín đáo, chí nói về cái sức mạnh quá khứ và hiện tại của mỗi người, có vẻ "thật thù" nói lên sự hiểu biết các anh hùng trong thiên hạ, và quan niệm về người anh hùng thời loạn như thế nào. Lưu Bị không hề nhắc đến Tào Tháo chắc có nhiều lí do. Đó là sự khéo léo, khôn ngoan, kín đáo rất mực.
Trái lại, Tào Tháo rất khinh bạc, coi thường, gọi thẳng họ tên, dùng ẩn dụ, chí ra sự bại vong tất yếu hoặc sự tầm thường của từng người mà Lưu Bị đã nêu lên. Tào Tháo lúc thì nói, lúc thì cười nói, và sử dụng toàn câu phủ định.
– Với Viên Thuật thì Tào Tháo khinh ra mặt, coi là "Xươngkhô trong mả,chỉnay mui là ta hắt được.”
– Tào Tháo cho rằng Viên Thiệu “Khôngthể gọilàanh hùngđược! ” vì con người này "nhút nhát, khôngquyết đoán”, rất tầm thường: "thấy lợi nhỏ thì lại quên mình…
– Tào Tháo cho Lưu Biểu “chỉ có hư danhkhôngcó thực tài”.
– Tôn Sách "nhờ danh tiếngcủa bố, không phải anh hùng”.
– Lưu Chương thì bị Tào Tháo coi thường và khinh ra mặt, "… tuy lànhà tôn thất, nhưng chỉlà con chó giữnhà, sao gọi là anh hùngđược?
Việc Tào Tháo uống rượu luận anh hùng khi các nhân vật mà Lưu Bị nêu ra, trong tay có hàng vạn hùng binh và ngựa tốt, có nhiều kiện tướng, đang hùng cứ một phương. Thế nhưng Tào Tháo đã chỉra cái yếu, cái tầm thường, sự bại vong tất yếu của họ. Cái tầm nhìn của Tào Tháo là một tầm nhìn chiến lược, rất sâu sắc, trí tuệ hơn người. Nghĩ về chuyện Tào Tháo luận anh hùng, ta chợt nhớ đến câu nói của Từ Hải trong ‘Truyện Kiều ” của thi hào Nguyễn Du:
"Khen cho con mắt tinh dời,
Anhhùngđoán giữa trần ai mới già".
Khi cái thế chân vạc "Nguỵ – Thục – Ngô" chưa hình thành mà Tào Tháo với mưu cao, chí lớn đã đưa ra những dự báo tài tình.
Quan niệm về anh hùng của Tào Tháo cũng rất sâu sắc: "Anh hùng là người trong bụng cóchí lớn, có mưu cao, có tài bao trùm được cả vũ trụ, cái tri nuốt cử trời đất kia”.
Bốn tiêu chí mà Tào -Tháo nêu ra phải chăng là tự nói về mình? Nếu coi "nhân, trí, dũng" là phẩm chất của người anh hùng thì quan niệm về người anh hùng của Tào Tháo chưa đầy đủ, nhưng sự thật là với thanh gươm yên ngựa giữa thời Tam quốc loạn lạc, con người này đã giành được chức Thừa tướng, dưới trướng có hàng trăm vạn hùng binh, hàng nghìn kiện tướng đang tung hoành bốn cõi.
Một tình huống đầy kịch tính xảy ra khi Tào Tháo lấy tay trỏ vào Lưu Bị rồi lại trỏ vào mình nói rằng: “Anh hùngtrongthiên hạbây giờchỉ có sứ quân và Tháo này mà thôi”. Câu nói ấy đã làm cho Lưu BỊ “giật nảy mình ” đánh rơi cả thìa và đũa xuống đất. Lưu Bị sợ vì tưởng Tào Tháo đã biết rõ mưu cao chí lớn của mình, biết rõ mình là một con rồng đang ẩn nấp. Tiếng sét cơn mưa nổ ra. Bất ngờ và ngẫu nhiên. Nhờ thế mà Lưu Bị nói như phân trần: "Gớm ghê! Tiếngsét dữquá! Câu trả lời của Lưu Bị như một sự bộc bạch "thật thà ” về sự tầm thường của mình: "Đức Thánh ngày xưa gặp lúc sấm dữ gió to cũngđổi sắc mặt, huống chi là tôi đây sao lại không sợ”.
Trong cuộc luận anh hùng này, thực chất là cuộc đấu trí giữa Tào Tháo và Lưu Bị. La Quán Trung đã khép lại câu chuyện một cách khá nhanh gọn và hóm hỉnh như hạ màn một vở kịch đặc sắc:
"Huyền Đức đã che đậyđược hết củ việc giật mình đánh rơi cả thìa đũa khi nghe Tháo gọi mình là anh hùng.
Tháo thấy thế không nghi ngờ gìHuyền Đức nữa
Trong "Tam quốc diễn nghĩa ", Tào Tháo được mô tả là một tay gian hùng quỷ quyệt. Còn trong lịch sử Trung Quốc, Tào Tháo lại được đánh giá khá cao. Trong hồi thứ 21 ‘‘Tam quốc diễn nghĩa ”, ta thấy Tào Tháo rất trân trọng và lịch sự gọi Lưu Bị là Huyền Đức, là sứ quân. Qua việc luận anh hùng, ta thấy Tào Tháo đã dự báo diễn biến thời cuộc lịch sử rất đúng đắn, có tầm nhìn sâu rộng về thời thế, sự thắng bại đó là một Thừa tướng "có chí lớn, cómưu cao, có tài hao trùm cá vũ trụ,có trí nuốt cả trời đất”.
Việc Tào Tháo mời Lưu Bị đến dinh ăn tiệc, uống rượu mơ… đểdò xét. Việc làm ấy là rất tự nhiên đối với những người đang tranh hùng xưng bá giữa thời loạn.
Nhân vật Lưu Bị kín đáo, khôn khéo, tự hạ thấp, tự tầm thường mình… và đã “đóng kịch ” rất giỏi. Nếu không có tiếng sét cơn mưa bất ngờ nổ ra, liệu Lưu Bị có che giấu nổi “thiên cơ” của mình khi đánh rơi thìa đũa?
Nghệ thuật kể chuyện tạo tình huống, sử dụng ngôn ngữ đối thoại rất sống và linh hoạt đã tạo nên sự hấp dẫn của câu chuyện và khắc họa, tô đậm tính cách của Tào Tháo, Lưu Bị – kì phùng địch thủ ngày mai. Qua đó, ta càng thấy rõ ngòi bút của La Quán Trung thật già dặn, điêu luyện và thâm hậu.
Nguồn: thêm: Tả một chị bán hàng đang làm việc ở cửa hàng bách hóa (hoặc cửa hàng hợp tác xã mua bán) lúc đông khách | Cảm nghĩ của em sau khi đọc Hồi trống cổ thành | 3,603 | |
Cảm nghĩ của em sau khi đọc Truyện chức phán sự đền Tản Viên trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
Hướng dẫn
“Truyện chức phán sự đền Tản Viên ” ca ngợi khí tiết và khí phách của kẻ sĩ dũng cảm đương đầu với mọi thế lực đen tối, độc ác thâm hiểm trong cuộc đời, dám chấp nhận mọi nguy hiểm, ngay cả đến cái chết cũng không lùi bước.
Đây là một trong số 20 truyện rất đặc sắc và độc đáo trích trong “Truyền kì mạn lục ” của Nguyễn Dữ, tác phẩm văn xuôi chữ Hán trong thế kỉ XVI, từng được ngợi ca là "thiên cổ kì bút”.
Nhân vật Ngô Tử Văn chiếm bao cảm tình tốt đẹp trong lòng ta. Quê Ngỏ Từ Văn ở Yên Dũng, Lạng Giang, tính tình khảng khái, nóng nảy, ghét tà gian, được khen là một người cương phương.
Hành động đốt đền của Tử Văn đã làm cho mọi người “lắc đầu lè lưỡi ” tỏ vẻ lo sợ cho kẻ hàn sĩ dám chọc tức quỷ thần. Trước khi phóng hoả, Tử Văn đã “tắm gộichay sạch, khấn trời". Điều đó cho thấy, chàng tự cho việc làm của mình là chính đáng, sẽ được trời biết cho, phù hộ cho; đồng thời dám chấp nhận mọi nguy hiểm. Với Tử Văn thì tên bách hộ họ Thôi kia là một tên giặc trong đám quân Mộc Thạnh đi xâm lược nước ta. Hắn đã bị giết, bị trừng phạt. Lúc sống là tên giặc cướp, lúc chết “làm yêu quái trongdân gian ” thì có gì đáng thờ. Phải đốt đền đi! Tử Văn “tức giận ” là vì thế! Thử hỏi: trong vùng Lạng Giang thuở ấy đã có người nào dám làm như Tử Văn?
Có lẽ bị quỷ ám, ma báo thù nên Ngô Tử Văn sau khi đốt đền về đến nhà thì bị ốm, bị “nổilên một cơn sốt nóng”. Trong khi sốt, chàng thấy một người đi đến "đầu đội mũtrụ ”, quần áo rất giống người phương Bắc, tự xưng là "cư sĩ” nặng lời trách móc chàng, đòi làm trả lại toà đền; hăm doạ: “Phong đô không xa xôi gì… rồi sẽ biết! ” Vốn đã coi khinh, đã căm ghét, nên Tử Văn "mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên… ”, càng làm cho con ma họ Thôi tức giận, phất áo ra đi.
“Kẻ sĩ khôngsợ chết mà chỉ sợ khôngbiết ” – Tử Văn, cũng vậy thôi. Khen, chê là chuyện thường tình. Vì thế, đến chiều tối, Tử Văn lại gặp một ông già “áo vải mủ màu đen, phong độ nhàn nhã” cho biết, ông vốn là Ngự sử đại phu thời Lí Nam Đế chết vì việc cần vương, đã được phong nhưng đã bị "tên hoạt tặc ” kia, tên tướng bại trận của Bắc triều, hồn bơ vơ ở Nam quốc tranh chiếm mất miếu đền… Hắn vô cùng xảo quyệt: "Thượng đế bị nó bưngbít, hạ dãn bi nó quấy rầy… Cụ già còn cho biết “hắn đã kiện thầy ở Minh ri, thầy phải liệu kế, khỏi phải chết một cách oan uổng.Trước Minh ti, thầy nhớ kêu "xin tư giấy đến đền Tản Viên, tôi sẽ khai rõ…
Xem thêm: Thuyết minh về Lễ hội Cầu ngư.Kiện tụng ở cõi trần đã khó, kiện tụng ở Minh ti chốn âm phủ thì chắc là khó khăn và rùng rợn biết bao! Chất truyền kì của truyện được tô đậm qua nhiều chi tiết vô cùng khủng khiếp. Ngô Tử Văn bị hai tên quỷ sứ đến bắt giải đi trong đêm. Bị dẫn đến một dinh tòa rất lớn, xung quanh có thành sắt cao vọi đến mấy chục trượng. Bị hai con quỷ dùng gông dài thừng lớn gông trói giải đi. Bước qua một cái cầu dài ước hơn nghìn thước bắc qua một con sông lớn "gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương”. Có đến mấy vạn quỷ Dạ Xoa “mát xanh mỏ đỏ, hình dáng nanh ác ” đứng chật hai đầu cầu canh giữ. Tử Văn bị dẫn vào cửa điện.
Cuộc đối chất diễn ra ở Minh ti thật gay go giữa Tử Văn và tên họ Thôi tướng Tàu. Tử Văn "rất cươngchính, khôngchịu chùn nhụt chút nào”. Tên "hoạt tặc” cho Tử Văn là kẻ “mồm năm miệng mười, đơmđặt bịa tạc ”, Hai bên “cãi cọ nhau mãi vẫn chưa phân phải trái”. Diêm Vương bụng cũng sinh nghi. Khi Tử Văn xin Diêm Vương “đem giấy đến đền Tản Viên đểhỏi thực hư”, thì tên bách hộ họ Thôi lên giọng đạo đức giả, xin Diêm Vương “tỏ cái đức rộng rãi” và “khoan tha” cho kẻ học trò “ngu bướng”.
Diêm Vương rất công minh và nghiêm khắc. Khi sai nhân đến đền Tản Viên về tâu, ngài trách mắng các phán quan đểlọt “sự dối trá càn bậy”. Đại Vương ralệnh trừng phạt tên tướng Tàu: ''lấy lồng sắt chụp vào đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ vào ngục Cửu U”. Ngài khen Tử Văn “có côngtrừ hại”, sai lính đưa chàng về.
Cuộc đối tụng ở Minh ti, Tử Văn đã chiến thắng. Chính nghĩa và lẽ phải đã chiến thắng. Kẻ gian xảo, độc ác đã bị trừng phạt đích đáng.
Sau hai ngày chết đi, Tử Văn được sống lại. Cái đền cũ được dựng lại. Ngôi mộ của tên tướng Tàu bị bật tung lên, hài cốt tan tành ra như cám. Tử Văn đã được tiến cử chức phán sự đền Tản Viên. Lão phu đã được trở về đến miếu cũ. Rồi Tử Văn không ốm đau gì mà mất. Đó là chuyện kì lạ. Kì lạ mà như thật: sáng sớm năm Giáp Ngọ (1444), một người làng đã nhìn thấy Ngô Tử Văn ngồi trên chiếc xe ngựa chạy ầm ầm ở ngoài cửa tây thành Đông Quan, nghe tiếng người quát: “Người đi đường tránh xa, xe quan phán sự! Và ởquê cũ “nhà quan phán sự” vẫn còn đó.
“Truyện chức phán sự đền Tản Viên " có bao yếu tố thần kì hoang đường bao phủ các nhân vật, cốt truyện, các tình tiết. Trong 4 cảnh: Ngô Tử Văn đốt đền rồi gặp hai hồn ma, cảnh Ngô Tử Văn bị bọn quỷ sứ gông và trói giải đưa xuống toà Minh ti, cảnh Diêm Vương xử kiện, trừng phạt tên tướng Tàu, cảnh người làng gặp quan phán sự ngồi trên cỗ xe chạy ầm ầm ngoài thành Đông Quan, cảnh nào cũng có tình huống giàu kịch tính, để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc với niềm tin là chuyện lạ mà như thật, có thật.
Qua nhân vật Ngô Tử Văn, tác giả ca ngợi nhân cách cao đẹp của một hàn sĩ: dũng cảm, khẳng khái đấu tranh chống lại cái ác trừ hại cho dân, thể hiện niềm tin vào công lí, chính nghĩa; còn bọn bạc ác tà ma nhất định bị trừng phạt đích đáng! Cuộc đời cần có nhiều Ngô Tử Văn.
Nguồn: thêm: Đọc Hồi trống cổ Thành trích Tam Quốc diễn nghĩa – La Quán Trung. | Cảm nghĩ của em sau khi đọc Truyện chức phán sự đền Tản Viên trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. | 1,211 | |
Cảm nghĩ của em về bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ
Hướng dẫn
… Chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 là một chiến công lớn của quân và dân ta:
‘Trận chợ Đồn, chợ Rã Ta đánh giặc chạy re…
Rồi Bông Lau, Ỷ La Ba trăm thằng tan xác…
Tàu giặc đắm sông Lô Tha hồ mà uống nước.
Máu tanh đến bây giờ Chưa tan mùi bữa trước…’
(‘Cá nước’ – Tố Hữu)
Khi chiến dịch Việt Bắc đang diễn ra ác liệt, Bác Hồ đã viết bài thơ ‘Cảnh khuya’ theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật:
‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà’.
Bài thơ tả cảnh khuya chiến khu Việt Bắc và thể hiện tâm trạng của Bác.
Cảnh khuya Việt Bắc rất đẹp. Có suối và trăng. Có hoa và cổ thụ:
‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa’ –
Thơ của Bác vừa có âm thanh, đường nét, màu sắc. Tiếng suối chảy rì rầm trong rừng khuya rất ‘trong’ được ví với ‘tiếng hát xa’. Cách so sánh ấy rất hay: lấy thiên nhiên so sánh với tiếng hát của con người đã làm nổi bật ý nghĩa cảnh. rừng chiến khu Việt Bắc mang hơi ấm và sức sống của quân dân kháng chiến. Nghệ thuật lấy động để tả tĩnh rất đặc sắc; tiếng' suối trong nghe êm đềm gợi lên sự thanh vắng của rừng khuya.
Câu thơ thứ hai đã nhân hóa cảnh vật. Trăng, hoa, cổ thụ đang chan hòa, đang ‘lồng’ vào nhau. Trên bầu trời cao là vầng trăng thu. Ánh trăng ‘lồng’ vào cổ thụ; bóng cổ thụ ‘lồng’ vào hoa; những bông hoa rừng: ‘Phê văn hoa núi ghé nghiên soi’. Tạo vật hiện lên từng mảng sáng, mờ, lung linh huyền ảo, nên thơ. Bức tranh thiên nhiên cảnh khuya mang vẻ đẹp màu sắc cổ điển. Nó gợi nhớ trong lòng ta những vần cổ thi về suối, về hoa, về trăng:
Xem thêm: Miêu tả một cảnh đẹp gần gũi, giản dị em đã thường được ngắm nhìn (góc phố nơi em ở, con đường em đi học, cánh đồng quê em, ...)
‘Côn sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai’:..
(‘Côn Sơn ca’)
‘Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông’…
(‘Chinh phụ ngâm’)
Hai câu cuối bài thơ nói lên tâm trạng của Bác.
Cảnh khuya rất đẹp, Bác lặng ngắm rồi khẽ thốt lên: "Cảnh khuya như vẽ’. Ba chữ ‘người chưa ngủ’ thể hiện niềm thao thức, nỗi xúc động của nhà thơ: yêu thiên nhiên, yêu non nước hữu tình. Câu cuối bài thơ, cánh cửa tâm hồn của Bác như được mở rộng. Bác không chỉ thao thức vì xúc động trước vẻ đẹp cảnh khuya núi rừng chiến khu Việt Bắc mà còn vì một lí do sâu xa hơn nữa:
‘Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà’
Bác thao thức, lo lắng vì công cuộc kháng chiến của quân và dân ta, vì độc lập tự do của Tổ quốc. Lúc bấy giờ, cuộc kháng chiếnchống Pháp đang diễn ra ác liệt khó khăn. Câu cuối bài thơ diễn tả tình yêu nước sâu nặng, thiết tha của Bác. Hai chữ ‘chưa ngủ’ được điệp lại hai lần đã làm cho thơ liền mạch, tô đậm tâm trạng thao thức, ‘lo nỗi nước nhà’ của lãnh tụ kính yêu.
Bài thơ ‘Đi thuyền trên sông Đáy’, Bác cũng nói lên tâm trạng ấy, tình ‘ưu ái ây:
‘Lòng riêng riêng những bàn hoàn,
Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng’
‘Cảnh khuya’là bài thơ kiệt tác của nhà thơ Hồ Chí Minh. Vừa mang vẻ đẹp cổ điển vừa mang tính thời đại, tính lịch sử. Cốt cách thi sĩ lồng trong tâm thế chiến sĩ. Ngôn ngữ thơ trong sáng, hình tượng thơ mĩ lệ, cảm xúc thơ nồng hậu. Tinh yêu thiên nhiên, tình yêu nước tỏa sáng trong những vần thơ đẹp mà em nhớ mãi.
Nguồn: thêm: Dựa vào văn bản “Ý nghĩa văn chương” của Hoài Thanh, hãy viết một đoạn văn nêu lên tác dụng của văn chương đối với đời sống con người, trong đó có sử dụng phép liệt kê tăng tiến (gạch chân dưới những từ ngữ liệt kê ấy) | Cảm nghĩ của em về bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ | 728 | |
Đề bài: Cảm nghĩ của em về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên,nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà, đồng điệu.Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã gặp một Hữu Thỉnh tinh tế,sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu”.
Bài thơ là những cảm nhận,những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa.Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se,
Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ.Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian.Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ: “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm.Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm, hương thơm lựng, vị giòn, ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê.Và không chỉ có thế,cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng,thong thả, chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn:
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sương thu đã được nhân hoá,hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu. Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu,gió thu, thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi:Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng, mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm, bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ của Thanh Hải hay nhấtKhông gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn,cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại,những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái, hữu tình và chứa chan thi vị, đặc biệt là hình ảnh:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ,trắng xốp,kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi, nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”.Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian: thu bắt đầu sang, hạ chưa qua hết, mùa thu vừa chớm, rất nhẹ, rất dịu, rất êm, mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới …
Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật, đất trời:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp của mùa hạ vương lại đâu đây, song chỉ là “vẫn còn”, “đã vơi dần”, “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến.Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió, thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ, bị động.Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa.
Hình ảnh thơ đẹp, ngôn từ tinh tế, giọng thơ êm đềm và những rung động man mác,bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả. Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha, nồng hậu của quê nhà.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích bài thơ Buổi sớm mùa xuân của Mạnh Hạo Nhiên | Cảm nghĩ của em về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh | 762 | |
Cảm nghĩ của em về bài thơ “Anh bộ đội và tiếng nhạc la” của Hoàng Nhuận Cầm
Gợi ý
Hoàng Nhuận Cầm, sinh năm 1952, quê ở Hà Nội. Năm 1971 đang học Đại học Tổng hợp, anh vào lính thuộc binh chủng pháo binh, nhiều năm sống và chiến đấu tại chiến trường Bình – Trị – Thiên, và đã tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Anh có 3 tập thơ: Thơ tuổi 20 (1974), Những câu thơ viết đợi mặt trời (1983), Xúc xắc mùa thu (1992)… đó là hành trang đẹp của một thời thanh xuân.
Bài thơ “Anh bộ đội và tiếng nhạc la" viết tại Trường Sơn thời kháng chiến chống Mỹ. Nhan để bài thơ rất độc đáo. Mười sáu câu thơ trong đó, câu số 1, câu số 10 có 8 chữ, 14 câu thơ còn lại theo thể thơ bảy chữ. Hình ảnh anh bộ đội và bầy la chở vũ khí ra trận đi trong rừng mưa được ghi lại với bao cảm xúc và ấn tượng rất đẹp, nên thơ.
Âm điệu của bài thơ trầm hùng; nhạc của thơ cũng là nhạc trên cổ la, nhạc của rừng xanh và nhịp bước chân người, chân bầy la đi trong rừng hoang, rừng đại ngàn,
1. Đoạn vận tải quân sự không có tàu xe, không có voi ngựa mà chí có binh lính với bầy la. Thật đặc biệt. Lính "xắn quần đi trong mưa”. Bầy la nối đuôi nhau đi trong "rừng già, rừng thưa” của chốn đại ngàn hoang vu. Cuộc vận tải đầy gian truân, gian khổ và bí mật giữa rừng vắng. Chỉ có "tiếng nhạc cổ la”, tiếng chim rừng và tiếng mưa rơi. Tác giả đã lấy động để tả tĩnh, tạo nên một không gian mơ hồ, trầm vắng như cổ tích:Xem thêm: Phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (Có dàn ý chi tiết) Anh bộ đội xắn quần đi trong mưa
Bầy la theo rừng già, rừng thưa
Rừng đâu chỉ có giọng chim lạ
Còn có tiếng nhạc trên cổ la.
2. Cảnh rừng già, rừng vắng được làm rõ thêm trong khổ thơ thứ hai. Nấm rừng và hoa rừng (hoa dại) được nhân hóa. Nấm nâu, nấm già, đú loại nấm “thức dậy bên vòm lá”. Các loại hoa rừng cũng "mở cánh ra nghe ngóng”. Các từ ngữ: “tự dung”, “bỗng nhiên” thể hiện cảm giác ngạc nhiên của nấm, của hoa. Vì đó cũng là sự biến đổi kỳ diệu của rừng già sau những cơn mưa (chắc là mưa xuân?). Rừng vắng được đánh thức bất ngờ trước sự xuất hiện của bầy la và các anh bộ đội hành quân qua. Cảnh vật thiên nhiên nơi rừng già, rừng thưa được tác giả khám phá và miêu tả một cách tinh tế.
Cấu trúc song hành bằng phép đối và biện pháp tu từ nhân hóa đã tạo nên những hình ảnh rất ngộ nghĩnh, rất thơ. Chất cảm giác thấm đẫm vần thơ. Hoàng Nhuận Cầm quả có con mắt xanh và một trái tim đa cảm, yêu đời;
Những cây nấm nâu, màu nâu già,
Tự dưng thức dậy bên vòm lá
Những hông hoa chưa có tên hoa
Bỗng nhiên mở cánh cửa ra nghe ngóng.
3. Không phải ngày một ngày hai mà đã sáu năm (hơn hai ngàn ngày), anh bộ đội và bầy la đã vượt qua hàng vạn dặm đường, vượt qua bao đèo cao dốc thẳm, trải qua bao gian khổ hiểm nguy trên "những con dường hoang dại”. Anh bộ đội và bầy la đã chuyên chở hàng ngàn, hàng vạn tấn lương thực, súng ống, đạn dược, thuốc men,… chi viện cho mặt trận. Anh bộ đội và bầy la đã mang bao tình cảm và sức mạnh hậu phương chi viện cho tiền tuyến. Cuộc chiến đấu của họ diễn ra thầm lặng và bền bỉ. Chiến tích của họ vô cùng to lớn. Chỉ có những “con đường hoang dại” là in dấu chân người lính và bầy la. Chỉ có tiếng nhạc trên cổ la là đã làm nên “bài hát của rừng”.Xem thêm: Phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (Có dàn ý chi tiết)
Nhà thơ đã lấy tiếng nhạc trên cổ la, lấy dấu chân anh bộ đội và dấu chân bầy la để khẳng định và ca ngợi những chiến tích thầm lặng, thần kỳ của những anh hùng vô danh. Một cách nói rất ý vị, ân tình, thấm thía:
Tiếng nhạc trên cổ la rung rung
Đã sáu năm là bài hát của rừng
Có những con đường hoang dại lắm
Chỉ in chân la và chân anh.
Công việc và nhiêm vụ của anh bộ đội và bầy la được giao phó, được gánh vác rất nặng nền gian khổ và vô cùng vẻ vang. Con đường chiến đấu mà anh bộ đội và bầy la từng đi qua là “những con đường xa, con đường xanh” – con đường ra mặt trận, tuy đầy máu lửa nhưng rất đẹp vì đó là con đường ước mơ, con đường khát vọng vươn tới độc lập tự do của quân và dân ta:
Những con đường xa, con đường xanh
Sáng lên viên đạn vàng căm giận
Hình ảnh ẩn dụ: con dường và viên đạn, những tính từ: xa, xanh, vàng đã nói lên rất đẹp lí tưởng sống và chiến đấu của anh bộ đội và bầy la, của dân tộc ta thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Tôi đã từng gặp những con thuyền độc mộc chở lương thực vũ khí ra trận trên sông suối PaCô Tây Nguyên. Cũng từng được mục kích những đàn voi kéo pháo ở mặt trận đường 9 Nam Lào. Đọc bài thơ cùa Hoàng Nhuận Cầm được biết thêm còn có nhiều bầy la làm công tác vận tải quân sự thời kháng chiến.Xem thêm: Nhân vật Thị Kính và nỗi oan hại chồng của nàng gợi cho em những suy nghĩ gì? Bầy la không chỉ là vật nuôi, là phương tiện mà còn là người bạn thủy chung, người đồng chí chiến đấu cùng đồng cam cộng khổ, cùng vào sinh ra tử với các anh bộ đội trên “những con đường hoang dại”, “những con đường xa, con đường xanh”… Nhiều con la đã hi sinh trong lửa đạn, nhiều con la đã lập chiến công.
Nhà thơ đã nhân hóa bầy la, dành những lời tốt đẹp nhất để khẳng định và ca ngợi công sức to lớn của con vật hiền lành, cần mẫn, đáng yêu ấy:
Cần mẫn bầy la đi ra trận
Bao gùi hàng hồi hộp trên lưng.
Tôi chưa được đọc một tác phẩm nào nói về bầy la ra trận phục vụ kháng chiến như bài thơ “Anh bộ đội và tiếng nhạc la” của Hoàng Nhuận Cầm.
Thật độc dáo. Nó có thể xếp ngang hàng với “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
Anh bộ đội và bầy la ra trận mang tầm vóc dũng sĩ sao không đáng yêu! Họ đã sống và chiến đấu, phục vụ và hiến dâng một cách cần cù, bền bỉ, hy sinh trong thầm lặng vì một sự nghiệp vì đại của dân tộc. Họ là những anh hùng vô danh, tượng trưng cho nhân dân vĩ đại – động lực to lớn làm nên lịch sử. Đó là nội dung và ý nghĩa sâu sắc mà ta cảm nhận được khi đọc bài thơ “Anh bộ đội và tiếng nhạc la” của Hoàng Nhuận Cầm.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của em về bài thơ “Anh bộ đội và tiếng nhạc la” của Hoàng Nhuận Cầm | 1,269 | |
Cảm nghĩ của em về bài “Tre Việt Nam” của nhà thơ Nguyễn Duy
Gợi ý
Tre xanh xanh tựbao giờ?
Làm sao trả lời được câu hỏi này! Ta lọt lòng mẹ dưới bóng tre xanh và tự nghìn xưa quê hương cũng được lũy tre đùm bọc. Bài thơ Nguyễn Duy đã miêu tả loài cây gắn bó thân thuộc bao đời với dân tộc ta ấy.
Ấn tượng đậm nét đầu tiên của em về bài thơ là sức sống mãnh liệt của cây tre Việt Nam ở đây. Mọc trên mảnh đất nghèo, mỡ màu chẳng có bao nhiêu, nhưng ở đâu tre cũng xanh tươi. Như vậy, không phải nhờ vào hoàn cảnh khách quan thuận lợi, mà sức sống mãnh liệt này có được là nhờ sự kiên trì dồn chắt lâu hóa nhiều. Đúng là lối sống ăn nhịn để dành, kiến tha lâu cũng đầy tổ – cách sống tự bao đời của người Việt Nam. Sức sống ấy còn thể hiện ở phong thái lạc quan, ngay trong Kham khổ vẫn hát ru lá cành của tre. Em nhớ đến phong cách tương tự Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo của dân ta thời chống Pháp. Quả thật, tre không chỉ biết vững vàng tồn tại mà còn biết phát triển lớn lên, nên lũy nên thành một cách kiên cường trong những điều kiện gay go hạn hẹp. Đó là một đặc tính sinh thái nổi bật của loài tre, đồng thời cũng là đặc điểm truyền thống Việt Nam quý báu.Xem thêm: Chất trào phúng trong tiêu đề “Hạnh phúc của một tang gia” (trích "Số đỏ” - Vũ Trọng Phụng)
Làm sao nên lũy nên thành từ cây tre gầy guộc? Đây cũng lại là những vấn đề tưởng chừng khó hiểu, được nhà thơ cắt nghĩa đơn giản bằng một bí quyết đã được kiểm nghiệm từ xa xưa: Một cây làm chẳng nên non… Hình ảnh được nhân hóa đầy tình nghĩa cảm động Bão bùng thân bọc lấy thân – Tay ôm tay níu, tre gần nhau thêm đã lí giải khá thú vị cái bí quyết nên lũy nên thành của tre. Đó cũng là bí quyết vạn năng chống mọi thiên tai địch họa của một dân tộc đất không rộng, người không đông như dân tộc ta. Cái bí quyết Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công mà Hồ Chủ tịch đã đúc kết từ hàng loạt kì tích, những Thánh Gióng vươn vai, Sơn Tinh nâng núi… trong lịch sử dân tộc.
Hình ảnh kết thúc bài thơ được điệp tới ba lần, nhấn mạnh mãi mãi mai sau cây tre vẫn phủ xanh đất nước, với dáng thẳng, thân tròn riêng của nòi tre, theo em, có ý nghĩa thiết thân với chúng ta trong cơ chế thị trường mở cửa hiện nay. Đó là làm sao hòa nhập với thế giới nhưng không thể hòa tan mất gốc, mãi mãi con cháu ta vẫn giữ vững được bản sắc Việt Nam tươi xanh sáng giá của mình.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của em về bài “Tre Việt Nam” của nhà thơ Nguyễn Duy | 522 | |
Cảm nghĩ của em về bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra” (“Thiên Trường vãn vọng” – Trần Nhân Tông)
Gợi ý
Thiên nhiên giản dị, tươi đẹp miền thôn dã muôn đời nay vẫn là người bạn gắn bó của các thi nhân – dù cho thi nhân ấy có là một nhă vua đi chăng nữa. Trong bài thơ “Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra” tức “Thiên Trường vãn vọng” của nhà vua Trần Nhân Tông, khung cảnh thiên nhiên hiện lên thanh bình yên ả khiến lòng người thấy tĩnh tâm lạ thường.
"Trước xóm. sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vảng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng”.
Trần Nhân Tông là một vị vua nổi tiếng đời nhà Trần sống ở thế kỉ XIII của dân tộc. Ông là người yêu dân, yêu nước và nổi tiếng khoan hòa, êm ái. Dưới triều đại của mình, ông chẳng những đã đoàn kết được tướng sĩ,, nhân dân đánh thắng giặc Mông – Nguyên mà còn xây dựng cho nhân dân đời sống ấm no, yên ổn. Sau khi rời ngai vàng, ông lên núi Yên Tử tĩnh tu và được tôn là tổ sư của thiền phái Trúc Lâm… Tương truyền rằng sau khi lãnh đạo dân ta chông giặc Mông – Nguyên thắng lợi, đất nước trở lại yên bình, nhân dịp thăm quê cũ ở Thiên Trường, vua Trần Nhân Tông đã tức cảnh sinh tình mà viết nên “Thiên Trường vãn vọng”. Bài thơ được viết theo thể thơ Đường luật thất ngôn tứ tuyệt, âm điệu bài thơ nhẹ nhàng, hài hòa, thanh thoát.Xem thêm: Tả bác bảo vệ trường em Phủ Thiên Trường, Nam Định vốn là quê cũ của nhà Trần. Đó là một miền quê yên ả, thanh bình. Trong bài thơ, tác giả đã vẽ lên một bức tranh thôn dã vào lúc chiều tà, hoàng hôn đang kéo đến:
"Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không"
Trong nguyên văn chữ Hán, cụm từ bán vô bán hữu nghĩa là nửa như có nửa như không gợi phong cảnh mờ ảo; vừa như có lại như không; vừa thực lại vừa hư. Quang cảnh gợi lên ở đây là làng xóm đang mờ trong sương khói. Thôn xóm, nhà tranh, làng quê nối nhau, san sát, sum vầy phía trước, phía sau, khói phủ nhạt nhòa, mờ tỏ, nửa như có, nửa như không. Khói tỏa ra từ đâu vậy? Phải chăng, đây chính là khói bếp nhà tranh và lớp sương chiều lãng đãng hòa quyện với nhau thành một làn sương – khói trắng mờ, êm dịu bay nhẹ nhàng khiến người ta cảm thấy chỗ tỏ, chỗ mờ, lúc có, lúc không? Tâm hồn người lâng lâng bởi cảnh hay chính lòng người đang lâng lâng, mơ mộng nên nhìn thấy, xóm làng thanh bình, êm ả đến? Cảnh tượng trong hai câu thơ đầu trầm lặng làm sao! Cảnh có nét thực nhưng lại có nét ảo. Chính điều này tạo nên sự mơ màng, nên thơ rất độc đáo của câu thơ.
Đến hai câu sau đã có sự xao động trong cảnh vật:Xem thêm: Viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau: Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều"Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng".
Cách nơi nhà vua đứng không xa, mấy chú bé chăn trâu đang lúa trâu về làng, vừa ngồi trên lưng trâu vừa thổi sáo. Tiếng sáo vi vu, văng vẳng, cất lên làm xao động lòng người. Xa xa, trên cánh đồng lúa, mấy cánh cò trắng đang từng đôi một sà xuống như muôn tìm mồi hay định nghỉ ngơi! Người, vật, đồng ruộng, màu sắc, âm thanh…, tất cả đã hòa nhập với nhau để vẽ nên bức tranh quê hương thanh bình, êm vắng mà thật có hồn.
Qua bức tranh được miêu tả, có thể nhận thấy cảnh tượng nhìn từ phủ Thiên Trường thật nên thơ. Đứng trước cảnh thiên nhiên ấy, tác giả như chìm đắm say sưa trong cảnh vật. Ngắm nhìn, thưởng thức nét đẹp của xóm thôn mà vui mừng với cuộc sông không vướng bận binh đao.
Tác giả của bài thơ là một ông vua có tâm hồn thi sĩ. Đọc bài thơ, ta thấy hoàn toàn không có sự ngăn cách nào giữa một người lãnh đạo cao nhất của một quốc gia với một người nông dân thuần phác (cảnh được nhìn và miêu tả ở những nét gần gũi và dân dã nhất). Điều đó cho thấy, nhà vua rất gần dân chúng, rất yêu dân, yêu chuộng sự thanh bình. Phải chăng vì các vị vua Trần rất thân dân, yêu dân như con mà mỗi khi đứng trước hoạ xâm lăng (nhất là trong ba lần quân Nguyên – Mông xâm lược nước ta) nhà Trần đều lãnh đạo nhân dân chống xâm lược thành công.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về cây bàng hay nhất“Thiên Trường vãn vọng” (Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra) của Trần Nhân Tông là một bức tranh phong cảnh làng quê xinh xắn. Nó đã gợi được cái hồn, cái cốt của làng quê Việt Nam. Bài thơ phảng phất chất thiền thể hiện tâm hồn sâu lắng, thanh cao của bậc vua hiền tài nhân ái Trần Nhân Tông.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của em về bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra” (“Thiên Trường vãn vọng” – Trần Nhân Tông) | 939 | |
Cảm nghĩ của em về con người Nguyễn Trãi qua văn bản “Côn Sơn ca”
Gợi ý
Người xưa có câu: Thi dĩ ngôn chí nghĩa là dùng thơ để nói lên ý chí, khát vọng của mình. Như vậy là qua thơ ca, người nghệ sĩ cũng thể hiện tâm hồn và bản ngã của bản thân. Qua văn bản “Côn Sơn ca”, Nguyễn Trãi đã thê hiện một tấm lòng rộng mở với thiên nhiên, chí hướng hưởng “nhàn” xa lánh bụi trần vấn đục.
“Côn Sơn ca” ra đời trong những năm tháng Nguyễn Trãi rời bỏ chốn quan trường quy về ở ẩn ở núi Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương. Cảnh núi Côn Sơn thanh bình yên ả và mong muốn xa lánh cát bụi trần ai, những toan tính đời thường đã gợi cảm hứng cho sự ra đời của văn bản.
Yêu thiên nhiên, Nguyễn Trãi mở lòng đón nhận cảnh rừng Côn Sơn với tất cả tâm hồn mình:
"Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm
Trong ghềnh thông mọc như nêm
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm
Trong rừng có trúc bóng râm
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”.
Thật vậy, tác giả cảm nhận thiên nhiên Côn Sơn bằng hầu hết các giác quan: thính giác để lắng nghe tiếng suối, thị giác để chiêm ngưỡng hình ảnh rừng thông mát dịu, xúc giác để tận hưởng cái êm ái của những nệm rêu xanh. Tiếng suối Côn Sơn được so sánh với thứ âm thanh trác tuyệt mà con người có thế tạo ra: “tiếng đàn cầm”. Đàn cầm là loại đàn quý, thường được sử dung trong những buổi tấu nhạc cung đình. So sánh tiếng suối với tiếng đàn cầm, Nguyễn Trãi ngầm ngợi ca sự trong trẻo, réo rắt nên nhạc nên thơ của tiếng suôi. Không chỉ vậy, thiên nhiên dưới cái nhìn của Nguyễn Trãi rất tự nhiên mà cũng rất tiện nghi chẳng kém chốn cao sang là mấy: suối như tiếng đàn, rêu như nệm êm, thông trúc cho bóng mát cho cảnh đẹp… Phải là người khoáng đạt yêu thiên nhiên đến nhường nào, chan hòa với thiên nhiên đến nhường nào mới có được những cảm xúc rộng mở thanh thản đến thế.Xem thêm: Chứng minh chân lí trong những lời Bác Hồ dạy thanh niên:"Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên" Nhưng trên hết, Nguyễp Trãi thể hiện một khát vọng lánh đục về trong, hướng cái “nhàn” ung dung nơi trần thế. Hình ảnh nhân vật ta ngồi ngâm thơ nhàn dưới màu xanh mát của tán trúc che ngang, gợi cho ta nghĩ đến hình ảnh một tiên ông nhàn tản, không chút vấn vương thế sự. Đó một thi sĩ đa tình đang thả trọn tâm hồn với thiên nhiên. Thực ra, trong cuộc đời, không kể lúc làm quan mà ngay khi đã về ở án ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi vẫn một lòng lo cho nước, cho dân. Thế nhưng có lẽ chính vì thế mà chúng ta càng cảm phục vẻ đẹp tài hoa và tâm hồn thi sĩ của ông. Trong muôn vàn vướng bận, Nguyễn Trãi vẫn dành cho thiên nhiên một tình yêu thật tươi trong và tuyệt đẹp. Đó cũng chính là vẻ đẹp nhất trong tâm hồn cao quý của ông.
Người xưa từng nói: Thơ văn cũng chính là người. Điều đó thật đúng với con người Nguyễn Trãi. Và như thế, đọc “Côn Sơn ca”, đọc thơ Nguyễn Trãi ta càng thêm hiểu, càng thêrọ trân trọng, khâm phục một tâm hồn, một nhân cách cao đẹp, trong sáng.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của em về con người Nguyễn Trãi qua văn bản “Côn Sơn ca” | 637 | |
Cảm nghĩ của em về một người thầy giáo hoặc cô giáo kính yêu
Gợi ý
Trong cuộc đời học sinh của mỗi người, ại cũng lưu giữ trong mình một hình ảnh đẹp đẽ, đáng trân trọng về một người thầy hoặc người cô mà mình yêu mến. Riêng với em, em còn nhớ mãi và sẽ chẳng thể nào quên được thầy giáo chủ nhiệm lớp 6 của em. Thầy đã để lại trong em niềm yêu mến và kính trọng vô bờ.
Thầy là thầy giáo chủ nhiệm và cũng là giáo viên dạy Văn lớp em khi đó. Thầy có dáng vẻ gầy gầy, xương xương và lặng lẽ của một người hay suy nghĩ, trăn trở và từng trải. Thầy có nước da sáng, gương mặt thanh thoát và đôi mắt trầm tĩnh lạ kì. Khi đến trường, thầy thường mặc chiếc áo sơ mi trắng, quần âu. Mùa đông thì mặc thêm một chiếc áo khoác hoặc áo “vét”. Hình ảnh thầy hiện lên trong mắt chúng em thật gần gũi và giản dị biết mấy.
Là giáo viên chủ nhiệm, thầy quan tâm đến chúng em rất mực. Cứ ngỡ rằng chỉ có các cô giáo chủ nhiệm mới chăm lo đến học sinh nhiều (chúng ẽm đã từng rất thất vọng khi biết rằng giáo viên chủ nhiệm của mình là một thầy giáo – nhưng đó là chuyện của lúc chúng em vừa mới bước vào cấp hai!) nhưng thực ra thầy đã làm cho chúng em cả những điều mà nhiều học sinh ở lớp khác không được hưởng. Thầy hay chuyện trò với cán bộ lớp để nắm bắt tình hình học sinh. Thầy còn trực tiếp trao đổi với những bạn học sinh cá biệt để tìm hiểu điều kiện riêng của mỗi người rồi khuyên nhủ, dặn dò động viên các bạn ấy nữa. Điều đặc biệt là thầy để chúng em tự do sáng tạo trong giờ sinh hoạt lớp của mình. Trước đó, các bạn cán bộ lớp được thầy hướng dẫn tận tình là sẽ phải xây dựng chương trình ra sao,.điều khiển lớp thế nào… thầy chỉ ngồi dự và góp ý kiến thôi. Nhờ sự hướng dẫn và quản lí lớp như vậy của thầy mà chúng em rất tự giác thực hiện nội quy của nhà trường. Chúng em chỉ bị bỡ ngỡ với ngôi trường mới trong thời gian rất ngắn, sau ít lâu tất cả đã hòa nhập được và có kết quả học tập rất tốt.Xem thêm: Bàn về những lợi ích và hứng thú của việc tự học
Giờ Văn của thầy của thầy mới thực sự là một thiên đường đôi với đám nhỏ chúng em ngày ấy. Dáng vẻ lặng lẽ hàng ngày của thầy bỗng dưng mất hẳn chỉ còn một người thầy say sưa, mê mải với những lời giảng thấm thìa, sâu sắc của mình. Những ngày đầu, chúng em cứ lặng mình ngồi nghe rồi ngồi… ngắm thầy mà quên không ghi bài. Bất chợt thầy dừng lại hỏi: “Sao các em không ghi bài?” thì cả lớp như choàng tĩnh khỏi cơn mơ. Lời giảng của thầy giàu hình ảnh, hấp dẫn và sống động vô cùng. Có một lần, thầy nói cho chúng em nghe về tác phẩm “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Sau lần ấy, chẳng hiểu sao, mỗi khi nhắc đến thầy chúng em lại thấy thầy giông nhân vật Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản trong tác phẩm ấy lạ kì!
Thầy giáo đã đặt cho chúng em những nền tảng đầu tiên vững chắc khi chúng em mới chập chững bước vào cổng trường cấp hai đầy mới lạ. Lên đên lớp 7, chúng em không còn được thầy dìu dắt nữa nhưng em sẽ mãi nhớ về thầy với một niềm kính yêu và biết ơn vô bờ.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của em về một người thầy giáo hoặc cô giáo kính yêu | 655 | |
Đề bài: Cảm nghĩ của em về người cha thân yêu.
Trong đời sống tinh thần đa dạng và phong phú của con người thì tình cha con là tình cảm máu thịt thiêng liêng, sâu đậm nhất. Công lao to lớn của người cha được nhắc đến rất nhiều trong ca dao, dân ca: Công cha như núi Thái Sơn,.., Con có cha như nhà có nóc, Phụ tử tình thâm…
Người cha đóng vai trò trụ cột trong gia đình, là chỗ dựa đáng tin cậy cho vợ con. Mọi việc lớn như làm nhà, tậu ruộng, tậu trâu, dựng vợ gả chồng cho con cái… thường là do người cha quyết định. Trách nhiệm của người cha rất nặng nề. Con cái ngoan hay hư, chủ yếu là tùy thuộc vào sự bảo ban dạy dỗ của người cha. Bên cạnh người mẹ dịu dàng là người cha nghiêm khắc. Dẫu cách thức biểu hiện tình thương yêu có khác nhau nhưng bậc cha mẹ nào cũng mong muốn nuôi dạy con cái trưởng thành về mọi mặt, đúng như dân gian đã nói: Con hơn cha là nhà có phúc. Trong lúc mẹ hằng ngày chẳng quản vất vả nhọc nhằn, lo lắng cho các con từ bát cơm, tấm áo thì người cha, ngoài những thứ đó ra còn phải nghĩ đến việc dạy dỗ, truyền kinh nghiệm sống mà mình đã đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, để các con học được những bài học thiết thực khi bước vào đời. Thật hạnh phúc cho những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ!
Có biết bao người cha chấp nhận thiệt thòi về mình, dành tất cả thuận lợi cho con cái. Em đọc trên báo và xem truyền hình thấy những người cha lam lũ, quần quật làm những việc như: quét rác, đội than, đội trấu, đạp xích lô… không từ nan bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện đế kiếm tiền nuôi đàn con ăn học đến nơi đến chốn. Gần nhà em có một bác người Quảng Ngãi, tuổi hơn năm chục, làm nghề mài dao kéo. Ngày ngày, bác rong ruổi khắp nơi trên chiếc xe đạp cà tàng với vài hòn đá mài và thùng nước nhỏ. Bác vào thành phố đã hơn ba năm, kể từ khi anh con trai lớn thi đậu đại học Bách khoa. Mỗi lúc kể về những đứa con ngoan, bác cười rất mãn nguyện, đôi mắt ánh lên vẻ tự hào: – Nhà bác nghèo lắm! Được mấy đứa con, đứa nào cũng ham học và học giỏi. Năm nay, cô con gái thứ hai cũng đậu Đại học Sư phạm. Bác ráng làm kiếm ngày vài chục ngàn, cha con đùm túm nuôi nhau. Mình chẳng có chi cho các con thì cho chúng cái chữ, cái nghề!
Xem thêm: Hãy tường thuật lại buổi thu hoạch tôm ở nông trườngEm thấy ở bác có những nét rất giống cha em, một người thợ cơ khí bình thường, quanh năm làm việc với máy móc, dầu mỡ. Đôi bàn tay cha chai sần, thô ráp, mạnh mẽ nhưng ấm áp lạ thường. Có thể nói rằng trong gia đình em, cha làm nhiều nhất và hưởng thụ ít nhất; Cha giống mẹ ở chỗ nhường nhịn hết cho đàn con những miếng ngon miếng lành, còn mình chỉ cơm dưa cơm mắm qua ngày.
Đức tính nổi bật của cha em là cần cù chịu khó, hết lòng vì vợ con. Tuy công việc thường xuyên bận bịu, cha vẫn cố dành thời gian quan tâm săn sóc đến việc học hành của các con. Cha em ít lời, chỉ nói những câu nào đáng nói như nhắc nhở, uốn nắn khuyết điểm hay động viên, khen ngợi khi các con làm được điều tốt, điều hay. Cha dạy chúng em lòng tự trọng và tính tự lập. Có lần cha bảo: – Đã là người thì phải có ý chí, không được ngại khó ngại khổ.
Càng khó càng phải làm bằng được. Em quý nhất cha em ở thái độ tôn trọng mọi người, tôn trọng vợ con. Có việc gì không vừa ý, cha bình tĩnh phân tích chứ không la lối, chửi bới. Bởi thế nên dù tính cha nghiêm khắc mà vẫn dễ gần, từ vợ con đến hàng xóm láng giềng đều nể phục. Cứ nghe những lời cha nói, nhìn những việc cha làm, em học được rất nhiều điều hay, điều tốt. Cha thường bảo con cái lấy bố mẹ làm gương nên cha rất giữ gìn ý tứ.
Chúng em yêu kính cha, cố gắng chăm học, chăm làm để cha mẹ vui lòng. Đó cũng là cách đáp đền chữ hiếu cụ thể và thiết thực nhất. Cảm ơn nhạc sĩ Phạm Trọng cầu đã nói giúp tuổi thơ chúng em những suy nghĩ tốt đẹp về cha mẹ: Cha sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa. Mẹ sẽ là cành hoa, cho con cài lên ngực. Cha mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con… Ngày mai con khôn lớn, bay đi khắp mọi miền. Con đừng quên con nhé, ba mẹ là quê hương!
Xem thêm: Phát biểu suy nghĩ của em về niềm vui, nổi buồn tuổi thơ hoặc tình cảm với một món đồ chơi | Cảm nghĩ của em về người cha thân yêu | 901 | |
Cảm nghĩ của em về nhân vật Hoài Văn Hầu, Trần Quốc Toản trong cuốn truyện “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của Nguyễn Huy Tưởng
Gợi ý
Được đọc cuốn Lá cờ thiêu sáu chữ vàng cũng đã lâu rồi, nhưng trong tâm trí em như đang phấp phới lá cờ trận đỏ chói của người thiếu niên mười sáu tuổi đánh quân Nguyên tự thuở nào “căng phồng lên trong gió hè lồng lộng thổi… đi mãi, đi mãi tới những nơi nào còn có bóng quân Nguyên”. Từ vài dòng còn ghi trên trang lịch sử, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã làm sống dạy thật đẹp cả một trang anh hùng trong một triều đại anh hùng, in đậm trong em những cảm nhận vừa mến phục vừa phấn chấn tự hào.
Ngay từ trang mở đầu, em đã được hả hê cùng Hoài Văn Hầu trong giấc mộng bắt trói Sài Thung – viên sứ thần ngạo ngược của quân Nguyên. Em hoàn toàn đồng tình với câu hỏi giận dữ: “Ai chủ hòa? Dâng giang sơn gấm vóc này cho giặc hay sao?” Và lời tâu như thét lên đầy dũng khí của Hoài Văn: “Xin quan gia cho đánh!”. Em rất thông cảm với sự phẩn nộ của chàng khi không được dự hội nghị Bình Than. Nhiệt tình yêu nước thù giặc sục sôi khiến chàng không thể bằng lòng với cương vị ngoài cuộc, không thể không bộc lộ quan điểm của mình trong lúc Tổ quốc lâm nguy. Hành động liều mạng bất chấp phép tắc Triều đình, xét đến cùng, chính do nhiệt tình trung quân ái quốc của tuổi trẻ bộc phá mà ra, đúng như lời phán độ lượng của vua Thiệu Bảo: “Biết lo cho vua cho nước, chí ấy đáng trọng”.Xem thêm: Giới thiệu về nhà thơ Thế Lữ và bài thơ Nhớ rừng
Càng đáng trọng biết bao, khi Trần Quốc Toản không chỉ thể hiện nhiệt tình cao quý ấy bằng lời, mà còn tự nguyện thể hiện nó bằng hành động, trước hết bằng cử chỉ đã được ghi lại sáng ngời trong lịch sử sách; sức phẫn nộ, chí diệt thù đã chuyển một phần thành năng lượng bóp nát quả cam vua ban trong tay lúc nào không biết! Chàng trai hừng hực nhiệt tình ấy đã luyện tập miệt mài ngày đêm, nôn nóng “làm thế nào cho ta bằng chú ta được? Ba keo liền bị Chiêu Thành Vương vật ngã trắng bụng “vẫn hăng máu xin vật nữa…” Điều đó cho em thấy không chỉ gan to, chí quyết của một Hoài Văn, mà còn khiến em hết sức tự hào với tráng khí của một thời đã từng khắc hai chữ “Sát Thát” vào tay, quyết châu chấu đá xe, với một kẻ thù khổng lồ khét tiếng hung bạo thiện chiến suốt từ Âu sang Á.
Giống như Thánh Gióng thuở xưa, từ cơm cà mẹ nuôi mà gồng mình lớn vượt đi dẹp giặc Ân, em rất cảm động thấy Hoài Văn vừa nêu cao chữ trung, vừa không quên chữ hiếu, khi chàng xin mẹ may cho lá cờ Sáu chữ để “đến khi xông pha chiến trận, con nhìn lá cờ mà thấy được mẫu thân”. Cũng kế tục dũng khí Thánh Gióng nhổ gốc tre quật giặc, phát huy quyết tâm chiến thắng như trong ba keo vật chú trước kia, trong trận đánh Toa Đô, Hoài Văn đã dũng cảm ba phen giáp chiến với hổ tướng này, đánh cho y phải bỏ chạy tháo thân. Rõ ràng “Tuổi trẻ, chí cao”. Hoài Văn đã không hổ thẹn với lời thề “đuổi giặc cứu dân” của mình trong buổi xuất quân, đã xứng đáng với lời trầm trồ kinh ngạc của bậc cha chú: “Chú không ngờ! Thật chú không ngờ!”. Uy phong Trần Quốc Toản ngợi ca nhớ đến uy phong “ Ông nhỏ của Lí Tự Trọng trước kẻ thù, của Đoàn Văn Luyện sinh lớp 7 lần đầu sử dụng B40 đã diệt liền hai xe tăng giặc…Xem thêm: Phân tích bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến Em vô cùng tự hào với tấm gương lịch sử rạng ngời của Hoài Văn Hầu – Trần Quôc Toản đã được miêu tả sống động, đầy vẻ đẹp hấp dẫn trong truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Em tự nhủ: nếu trước kia, Trần Quốc Toản đã ý thức được “khi quốc biến thì đứa trẻ cũng phải lo”; không lẽ ngày nay trước cảnh lạc hậu nghèo nàn của đất nước, thế hệ nhà trường chúng em lại có thể thờ ơ mơ hồ với trách nhiệm lịch sử phải đảm nhận ấy của mình?
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của em về nhân vật Hoài Văn Hầu, Trần Quốc Toản trong cuốn truyện “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của Nguyễn Huy Tưởng | 796 | |
Cảm nghĩ của em về những khía cạnh nực cười ở lão Giuốc-đanh trong trích đoạn kịch vừa học
Gợi ý
1. Qua đoạn trích vở kịch “Gã tư sản quý tộc” của Môlie vừa được học, nhân vật lão Giuốc-đanh bộc lộ một số nét khá buồn cười của một gã giàu tiền nhưng dốt nát muốn học đòi làm sang.
2. Giuốc-đanh có tham vọng lớn là “trở thành một nhà bác học”. Kể ra, điều đó bản thân nó không có gì đáng cười cả, thậm chí còn đáng kính trọng nếu nó thể hiện một động cơ thực sự khao khát trí thức, muốn có tri thức cao để giúp cho cuộc sống của mình và mọi người được phong phú tốt đẹp hơn. Nhưng ở lão Giuốc-đanh em không hề nhận thấy có động cơ chân chính ấy. Lão “khao khát trở thành một nhà bác học”, nhưng không biết tôn trọng trí thức, và nhất là không hề có một quyết tâm dù nhỏ đế tiếp nhận, chiếm lĩnh nó. Giọng lão đầy khinh thị khi hỏi “vật lí học tán cái quái gì nhỉ?”. Đối với lão, mọi khái niệm thuật ngữ khoa học cần dày công học hỏi, chỉ là những “tiếng váng óc”, một “món canh thập cẩm” thêm nặng đầu, chẳng ngon lành gì cả! Lão đã thật thà nói thẳng lí do không thiết đến luân lí học, là vì “tôi muốn được tha hồ nổi giận và giận lúc nào tùy thích!” Thật nực cười. Đến đây ta đã rõ; lão mời thầy về chỉ là đua đòi, bắt chước lề lối ở những gia đình quý tộc khác, tuyệt nhiên không phải từ khát vọng thực sự ham muốn tri thức, quý trọng khoa học.Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về lời của một bài hát: Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay.Một điều nữa em thấy nực cười ở lão nhà giàu này là thói tham lam hoàn toàn không có cơ sở thực tế gì hết. Lão muốn trở thành nhà bác học, thành đỉnh cao tri thức, trong khi chẳng có hiểu mô tê gì về những điều sơ đẳng nhất. Đối với lão, mọi nguyên lí về khoa học, chỉ là “biết đọc, biết viết”; thậm chí toàn bộ yêu cầu về nội dung kiến thức một “nhà bác học” cần có, chỉ là biết “chính tả” và biết xem lịch để tìm “khi nào có trăng, khi nào không trăng”. Thật là thói tham lam điên khùng của con ếch muốn to bằng con bò. Nhưng ở con ếch, ít ra nó còn có cố gắng tự thân, còn ráng căng hơi phình bụng. Đằng này, lão Giuôc-đanh chỉ muốn ăn sẵn với đầu óc thực dụng thô sơ, thiển cận nhất. Lão mù tịt cả về thơ lẫn văn xuôi, mà tỏ ra đầy thỏa mãn, thậm chí hợm mình vì đã “hơn bốn mươi năm nay, tôi nói văn xuôi”, vì câu tán tỉnh phụ nữ sáo mòn “ngay lần đầu mà đã hay như thế đấy!” Và rút cuộc, bản chất trọc phú của lão đã phơi trần qua giọng nói đắc chí tự phụ: “Ấy là tôi chẳng học hành gì cả đây”.
Em nhận thấy ở lão trọc phú này, quý trọng trí thức, có bao giờ người ta dấu dốt, thậm chí còn lên giọng “cho tôi nghe thử” (!) như vậy? Đối với Giuốc-đanh, ước mơ thành “nhà bác học”, một ước mơ cháy bỏng đến nỗi lão phát “oán cha mẹ lắm” vì không cho lão học, rút cuộc chỉ để thành người biết “cái gì thu thú”, “những thứ hay ho” như kiểu khi đọc âm u, để “khi ngài muốn bĩu môi chế giễu ai, ngài chỉ việc nói với anh ta”: “U”. Và cuối cùng, động cơ chủ yếu nhất, “tâm sự thiết tha nhất của “nhà bác học” tương lai này, chỉ cốt sao có đủ tri thức viết nổi “một lá thư nho nhỏ để thả rơi dưới chân “một” phu nhân”… “đại quý tộc” cho đúng kiểu quý tộc! Sự nực cười nữa ở đây, sự nực cười thể hiện trung thành cái tính cách “bác học” lỏm, “bác học” trọng phú của lão Giuốc-đanh là thái độ khăng khăng “chỉ muốn viết những lời ấy thôi”, những lời vừa nhàm sáo vừa thô kệch của một gã trọc phú, để gửi cho một phu nhân đại quý tộc, hòng rung động con tim của bà ta!Xem thêm: Giải thích một số câu tục ngữ nói về cần kiệm
Nếu tìm hiểu thêm nhân vật Giuốc-đanh này trong cảnh lão “mặc lễ phục” ta càng thấy đặc trưng học đòi dỏm, khoe mẽ hình thức ấy thật là một khía cạnh nực cười rất đậm nét ở lão. Đối với lão, chỉ cần “những người cao quý mặc áo ngược hoa”, thì lão cũng đòi hỏi ngay thợ may phải may “hoa lộn lên” cho lão, bất chấp lương tri tự nhiên và thẩm mĩ thông thường. Chi tiết hài hước này khiến em nhớ đến tích ngày xưa, một cô gái xấu ma chê quỷ hờn đã bắt chước Tây Thi nhăn mặt, vì tưởng làm thế sẽ đẹp như nàng; cũng như ngày nay ở những thanh niên mặc chiếc áo phông có mấy chữ Anh nhiều khi rất lố lăng, thô bỉ mà ngay cả dân Hippy phương Tây cũng chỉ dùng trong phòng ngủ, nghênh ngang ra diễu trên đường phố, tưởng thế mới đúng mốt hiện đại!
3. Thế đó, ngày nay chưa phải đã hết những Giuốc-đanh tân thời, coi tri thức là một thứ thời trang, cốt kiếm lấy chứng chỉ này chứng chỉ nọ bằng đủ cách dù “dỏm” cũng được kể khoe mẽ. Những trò nực cười giả dối kiểu Giuốc-đanh mà Môlie đã căng lên với mọi chi tiết uốn éo sống động trên tấm ván văn học ấy, theo em nghĩ, vẫn có tác dụng như những tấm gương tày liếp cho cuộc sống chúng ta đang cần phải nỗ lực chiếm lĩnh thực sự những tri thức hiện đại để hội nhập với thế giới những năm 2000 trước mắt này.Xem thêm: Chứng minh văn học là tình thươngVanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của em về những khía cạnh nực cười ở lão Giuốc-đanh trong trích đoạn kịch vừa học | 1,062 | |
Cảm nghĩ của em về tình bà cháu trong bài thơ “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh
Gợi ý
Tình bà cháu là một thứ tình cảm gần gũi, tự nhiên và vô cùng thiêng liêng sâu sắc. Nhà thơ Xuân Quỳnh đã một bài thơ thật hay khi viết về đề tài giản dị mà gợi bao. niềm xúc động này: bài thờ "Tiếng gà trưa".
Nhân vật trữ tình của bài thơ là người chiến sĩ trẻ tuổi, đi theo tiếng gọi của Tổ quốc đã tạm cất đi sách vở đê’ lên đường chống Mỹ. Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ bà, nhớ quê cồn dào, da diết của anh. Và những kỷ niệm êm đẹp tuổi thơ, tình bà cháu sâu nặng đã làm sâu sắc hơn tình cảm đối với gia đình, quê hương, non sông đất nước.
Mở đầu bài thợ là hình ảnh của người chiến sĩ dừng chần nghỉ lại ở một xóm nhỏ bên đường khi đang hành quân và bất giác tiếng gà trưa vang lên làm song dậy những kỷ niệm thuở ấu thơ:
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ:
Cục, cục tác, cục ta"
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ.
Chỉ từ một tiếng gà lanh lảnh bất chợt nghe được lúc đang dừng chân bên xóm nhỏ, giữa buổi trưa nóng nực của mùa hè đã gợi dậy cả một trời thương nhớ, đã làm thay đối mọi vật xung quanh. Chỉ một tiếng gà trưa quen thuộc ấy thôi không những làm cho cái nắng hè xao động, bàn chân đỡ mỏi sau chuyến băng rừng, vượt biển hiếm trở, gian nguy, gợi dậy bao khát vọng tuổi thơ mà bên cạnh đó còn làm xao động lòng người. Bằng điệp từ “nghe” được nhắc lại nhiều lần đoạn thơ đã làm tăng lên gấp bội tình cảm nồng nàn đối với quê hương, điều đó thê hiện sự rung cảm vô bờ trong tâm hồn người chiến sĩ.Xem thêm: Thời thơ ấu, em sống với bà. Bà đã kể lại cho em nhiều kỉ niệm cảm động. Hãy kể lại một trong những kỉ niệm đó Tuổi thơ của người lính xe cũng xao động những tiếng gà đáng yêu đáng mến:
“Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đôm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng…”
Làm sao có thể quên được hình ảnh quen thuộc của "ổ rơm hồng những trứng", của mấy chị mái mơ, mái vàng khoác trên mình chiếc áo xinh xắn, rực rỡ, tươi đẹp. Làm sao có thể quên được hình ảnh người bà kính yêu đã một đời tần tào, chắt chiu vì con vì cháu. Thương biết mấy, hồn nhiên biết mấy cái cảnh đứa cháu nhìn trộm gà đẻ bị bà mắng: "Gà đẻ mà mày nhìn rồi, sau này lang mặt". Bị bà mắng, cháu không khóc mà lại có những hành động thật đáng yêu: "Cháu về lấy gương soi, lòng dại thơ lo lắng". Giờ đây người cháu ước ao trở về thời thơ ấu để lại được nghe tiếng mắng yêu của bà, được thấy hình bóng bà khum tay soi trứng, chắt chiu, gìn giữ từng quả trứng hồng, những mầm hy vọng nhỏ để sẽ có được một.đàn gà con đông đúc:
“Cứ hàng năm hàng năm
Khi gió mùa đông đến
Bà lo đàn gà toi
… Để cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới”.
Suốt một cuộc đời làm lụng vất vả, biết bao lo toan, khó nhọc, bà chẳng bao giờ nghĩ cho riêng bà, bởi đứa cháu đôi với bà là tất cả. Bà lo cho đàn gà, mong nó không bị dịch bệrih để mỗi mùa đông tới: Cháu được quần áo mới. Mong ước của đứa cháu được cái quần chéo go, cái áo canh trúc bâu, còn mới hồ sột soạt và thơm mùi vải mới được nhân lên gấp bội trong lòng bà yêu thương cháu. Hạnh phúc gia đình giản dị, đầm ấm rất đỗi thiêng liêng với bao khát vọng tuổi thơ, dường như gói gọn cá trong tiếng gà trưa:Xem thêm: Vẻ đẹp trong bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão“Tiếng gà trưa
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng”.
Giờ đây khi đã cầm chắc cây súng nơi biên cương nhưng hình ảnh ấn tượng ấy vẫn luôn luôn trĩu nặng trong tâm hồn, trong cả những mơ và hoài bão. Đối với người chiến sĩ đó quê hương, "tiếng gà trưa" là tất cả là hạnh phúc, là muôn vàn yêu thương. Chính chúng đã thắp sáng tâm hồn anh bộ đội Cụ Hồ đã nâng anh đến khung trời đẹp đẽ với ố trứng hồng xinh xinh.
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi cũng vi bà
Vi tiếng gà: "Cục tác"
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Khổ thơ cuối cùng là lời tâm sự chân thành của đứa cháu gửi về người bà lánh yêu ở hậu phương. Trải qua sau bao nhiêu thử thách, giờ đây anh mong ước, những ước muốn thật bình dị. Chinh chiến nơi xa xôi, trái tim anh- luôn hướng về với tiếng gọi quê hương, hằng mong có sức khỏe và nghị lực chiến đấu vì hạnh phúc em thơ, vì người bà yêu dấu, vì xóm giềng, hơn cả là vì tiếng gà gần gũi yêu thương. Điệp từ "vì" đã được sử dụng tài tình khiến mục đích chiến đấu đó lại càng trở nên cao cả, thiêng liêng lạ thường.
Bài thơ sử dụng thể thơ năm chữ nên rất linh hoạt trong việc giúp nhân vật trữ tình chia sẻ những tâm sự, suy nghĩ về tuổi thơ, về người bà yêu dấu. Đặc biệt, câu thơ ba tiếng “Tiếng gà trưa” được lặp đi lặp lại nhiều lần như mô phỏng tiếng gà “Ò Ó O” như điệp khúc bất tử, cảm động về tuổi thơ say mê đầy thương mến.Xem thêm: Cảm nghĩ về người thân: ông bà nội của em Nhà văn I-li-a-Ê-ren bua thật sáng suốt khi đúc kết nên thành ngữ: "Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải Trường Giang Vôn-ga. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Với người chiến sĩ trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh, tình yêu bà, nỗi nhớ tuổi thơ đã khơi nguồn cho tình yêu đất nước thiêng liêng, sâu lắng
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ của em về tình bà cháu trong bài thơ “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh | 1,098 | |
Cảm nghĩ của em về tình bạn
Bài làm
Con người từ khi sinh ra vốn không đơn độc. Trên mỗi bước đường chúng ta đi, sẽ có một ai đó xuất hiện đồng hành một quãng, có khi một đời. Bởi lẽ vậy nên ngoài tình thân cao quý nhất, tình yêu lãng mạn nhất, con người còn có cả tình bạn tuyệt vời nhất.
Không ai có thể đi trên con đường dài mà không có người kề bên. Thuở nhỏ chúng ta được học cách yêu quý, hòa đồng với người khác, cũng vì thế mà sự kết nối theo tính chủ quan hay khách quan, đều tạo nên những điều kỳ diệu trong cuộc sống, tạo nên tình bạn. Bạn từng nói có thể chia sẻ với tôi một cái kẹo mút, miếng bánh bẻ đôi, một câu chuyện vui hay những ấm ức… Tình bạn cứ dần dần đâm chồi khi chúng ta tiếp nhận ai đó trong cuộc đời, bằng lòng nắm tay, vượt qua tất cả. Trên đời này có muôn vàn kiểu tình bạn, tốt có, xấu có, vui vẻ có, đau buồn có. Có thể có ai đó xuất hiện mở ra cánh cửa vốn khóa kín trong lòng vì tổn thương và chữa trị nó, cũng có thể có ai đó lợi dụng và khiến bạn bị đau. Nhưng dù thế nào, chúng ta vẫn luôn mở lòng không màng đến kết quả.
Đôi khi tình bạn bắt đầu bằng những điều giản đơn thôi, cùng nhau đi học về, cùng nhau đi ăn sáng, chép bài hộ, viện cớ này cớ kia cho bạn nghỉ học. Chúng ta có thể huyên thuyên truyện trên trời dưới đất và đổi lấy cái cười nhạt nhẽo, lời trêu chọc của đứa kia. Có người thì tình trường trống không, lại vì một đứa bạn vỗ về yêu thương chạy theo tình yêu mà quân sư giỏi vô kể. Tình bạn ấy, khẽ ôm nhau khóc trước những mất mát, khẽ mừng thầm khi bạn được vui nhưng cố tỏ ra không quan tâm, là những hôm hai đứa chen chúc dưới cái ô bé để về nhà rồi cùng ướt hết. Chia sẻ với nhau từng tí một, thương nhau từng tí một. Đứa kia bị bắt nạt, là bạn lại đứng lên vỗ ngực bảo vệ dù sức khỏe hay mưu kế chẳng hơn ai. Tình bạn có khi là hy sinh, là sẻ chia, là giúp đỡ, cũng có khi chỉ cần người kia xuất hiện, thế giới vốn tăm tối của bạn sẽ rực rỡ như nắng tháng 4, mềm và ấm.Xem thêm: Nghị luận xã hội về khiêm tốn và giản dị
Nhưng có khi chúng ta lại gặp dăm ba kẻ xấu, mang danh tình bạn mà làm tổn thương chúng ta. Họ đến mang theo tất cả những lý do tuyệt vời nhất, họ đi cướp luôn theo cả tin yêu và để lại một khoảng trống không lấp đầy. Có người đến vì tiền bạc, vì danh tiếng, vì trò đùa, vì không có chỗ dựa… Gặp chuyện họ bỏ đi, rời bỏ bạn… có khi nào chúng ta chạnh lòng vì những tình bạn như vậy không? Có, rất nhiều là đằng khác. Nhưng không vì thế mà chúng ta ngừng lại niềm tin với tình bạn, tiếp tục tìm kiếm những điều tuyệt vời nhất trong cuộc đời.
Cảm nghĩ của em về tình bạn
Khoảng cách đặc biệt của tình bạn so với tình thân, là cùng thế hệ, cùng quan điểm, cùng phát triển, còn so với tình yêu là không quá đậm sâu, nhưng đủ để thấu hiểu. May mắn trong cuộc đời của chúng ta là có người xuất hiện và trở thành bạn. Đối xử với nhau chân thành, trong sáng, tử tế và bao dung. Bạn đã bao giờ gặp trường hợp thế này chưa? Lúc đầu hai người rất thân, dính nhau không xa rời được… nhưng bỗng một ngày phát hiện thời gian qua đi khoảng cách đã nới rộng nhiều, người kia chạy theo những thú vui, bạn mới, bỏ rơi bạn, quên đi những thói quen và trò đùa khi trước. Đôi khi cuộc sống chính là như vậy, phải thuận theo quy luật tất yếu về mới và cũ. Có người trở lại trân trọng mình bởi vì họ nhận thấy chẳng tìm được ai tốt hơn và đối xử thật lòng với bạn, có người thì đi mất, lãng quên mọi thứ và đắm chìm vào cảm giác mới. Nhưng dù thế nào, tình bạn có tổn thương chúng ta hay nâng đỡ chúng ta, chúng ta vẫn mong đối phương có được tâm nguyện mà mình mong muốn.Xem thêm: Kể lại nội dung câu chuyện được ghi trong một bài thơ “Lượm” của Tố Hữu
Chạy theo xô đẩy của cuộc đời, cơm áo gạo tiền nặng trĩu, chúng ta vẫn chưa từng bỏ lỡ tình bạn. Hẹn nhau ra quán cafe, ngồi ngắm đường xá không nói gì cũng thấy bình yên. Cả mấy năm chẳng nhắn tin hỏi han nhau thế nào vì còn bận bước tiếp, bon chen, nhưng chỉ cần gặp gỡ là đều hết mình, kể về những năm tháng đã qua, hoài bão, đau thương mà không sợ đánh giá. Tưởng chừng như gục ngã trước cuộc đời khốc liệt, bạn lại xuất hiện thích hợp đưa tay đỡ tôi lên. Chúng ta bao bọc nhau như anh em, vui buồn cười khóc đều ghé vai san sẻ. Là lời mắng mỏ khi chúng ta sai, là lòng bao dung khi chúng ta dại dột làm điều gì đó, là sự bao che cho những trò đùa quái đản, là cùng gánh chịu khi phạm lỗi sai. Tình bạn như một chén nước trong giữa mùa hè nóng nực, giải khát cho người cần, mát mẻ cho người khó khăn.
Đôi khi chỉ cần bình dị thế thôi, nói có người lắng nghe, buồn có người hiểu, họ sẽ nhớ ta thích ăn gì, thói quen sao, chưa từng quên lãng. Giống như thuở đầu gặp gỡ, dùng những thứ tốt nhất để quan tâm nhau. Tình bạn, như một viên pha lê sợ vỡ, chung thủy thuần khiết, có lúc lại giống ghế tựa vững chãi, bạn tiến tôi đỡ, cùng nhau trải qua thăng trầm, che chở và yêu thương.Xem thêm: Cảm nhận về tình yêu Sài Gòn qua Sài Gòn tôi yêu của Minh Hương
Ai cũng cần có lấy một vài người bạn, ít thôi, nhưng thật lòng, thân thiết, mang tới nắng xuân cho đông rét, là cây kem của mùa hè. Có khi đi đến hết cuộc đời, có những câu chuyện chỉ có thể cùng bạn bè sẻ chia. Thế nên mỗi chúng ta, muốn có được tình bạn đẹp và gắn bó, hãy biết cho đi. Chỉ cần bạn mở lòng và thật tâm, cuộc sống sẽ an bài những người tốt đến bên. Cũng đừng sợ nếu bị tình bạn tổn thương, người xứng đáng sẽ nhận được điều xứng đáng, ai trong đời cũng cần có vài người bạn đểu để biết rõ đâu là bạn đâu là bè, ai thật tâm với mình mà biết cách cư xử. Và cũng đừng buồn quá nếu ai đó rời xa chúng ta, đôi khi tình bạn cũng như tình yêu vậy, cần một người phù hợp chứ không phải gượng ép.
Trân trọng hiện tại, trân trọng những người bạn không vì bất cứ thứ gì mà rời xa. Và quan trọng hơn chính là bao dung và thật tình, để sau này bất kể có chuyện gì, chúng ta nhìn lại quãng thời gian gắn bó khi trước không phải hối hận. Tin chắc rằng ở mỗi thời điểm trong đời, chúng ta sẽ gặp được những người bạn thật tốt và cùng họ đi qua những đoạn đường bằng phẳng hay gồ ghề. Tin chắc rằng, mỗi chúng ta đều sẽ có một tình bạn cả đời khó quên.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ của em về tình bạn hay nhất | 1,347 | |
Đề bài: Cảm nghĩ của em về tình bạn thời học sinh
Trong cuộc sống hiện nay có rất nhiều mối quan hệ thân sơ, nhiều cung bậc tình cảm giữa con người với nhau. Tất cả hoà quyện vào nhau, hình thành nên nhiều khúc tình cảm tâm tình: tình cảm gia đình, tình yêu, tình bạn…. Tuy rằng, tình cảm bạn bè không thiêng liêng, cao cả bằng tình cảm gia đình, không nồng nàn, mãnh liệt như tình yêu, nhưng ai cũng cần có một tình bạn chân thành để có thể cùng nhau chia sẽ bao niềm vui và nỗi buồn. Nếu trên thế gian này không có tình bạn thì sẽ tẻ nhạt biết bao. Có thể nói tình bạn đã tiếp thêm cho chúng ta nghị lực để vươn lên trong cuộc sống. Đặc biệt, những tình bạn thời học sinh là những tình cảm hồn nhiên, trong sáng và đẹp đẽ biết bao.
Có khi nào ngồi buồn, bạn tự hỏi mình “ Tình bạn là gì ” chưa? Tình bạn – friendship. Nếu dịch sát nghĩa từ tiếng Anh, theo như tôi hiểu, là con thuyền của tình bạn. Mỗi chiếc thuyền lớn là một sự gắn kết của biết bao mảnh ghép nhỏ bé. Nếu không có sự liên kết bền chặt thì những mảnh ghép mãi mãi chỉ là những miếng gỗ vô dụng không hơn không kém… Và tình bạn cũng như con thuyền kia, cũng được xây dựng từ những mảnh ghép của sự thông cảm, hiểu biết và chia sẻ. Nếu lỡ một ngày nào đó, một trong hàng ngàn, hàng vạn mảnh ghép nhỏ bé đấy mất đi, hay mai một, đấy là lúc luyển tiếc thay một tình bạn tình bạn bị tan vỡ chỉ vì một chuyện nhỏ. Cũng như những chiếc thuyền lớn, thường xuyên cần được tu sửa. Đấy là khi bạn đã quá mệt mỏi với biết bao lo toan, suy nghĩ giữa những bon chen của cuộc sống và dường như cảm thấy không còn thời gian dành cho những người bạn của mình. Đừng vội trách bạn không chia sẻ, không quan tâm để rồi sẽ làm cho mình xa bạn hơn thôi. Hãy tạm quên đi tất cả và quan tâm hơn đến những người bạn của mình. Đừng để những mối mọt phiền muộn, hiểu lầm làm hư mục, rạn nứt tình bạn. Nếu có người từng ví tình yêu như những chuyến tàu, sẽ đi ngang qua cuộc đời ta hoặc đưa ta đi đến những chặng dừng khác nhau… thì tình bạn chân thành sâu sắc sẽ như những chiếc thuyền vững chắc, cùng ta vượt qua tất cả bão tố, sóng gió của cuộc đời… Luôn luôn thầm lặng và bền bỉ …. Như vậy, một tình bạn sẽ chẳng thể bền vững nếu như thiếu đi những chia sẻ, đồng cảm và hiểu nhau… cũng như 1 chiếc thuyền không thể đối mặt với phong ba, bão táp nếu thiếu đi bất kỳ một mảnh ghép nào, dù là một mảnh ghép rất nhỏ.
Tình bạn được xây dưng từ những giọt kết tinh tình cảm của bạn bè. Đó là người có thể thay đổi cuộc sống của bạn dù chỉ là một phần nhỏ nào đó, là người có thể làm cho bạn cười đến ngặt nghẽo đến nỗi bạn không thể dừng lại, làm cho bạn tin rằng thế giới này thật tốt đẹp, và có thể người đó đã ngồi hàng giờ để thuyết phục bạn rằng “ thật sự cánh cửa cuộc đời vẫn chưa đóng lại với bạn và nó đang cho bạn mở ra”. Người bạn ấy có thể giúp bạn vượt qua những giây phút khó khăn của cuộc sống, lúc buồn và cả những lúc rối trí hay những lúc khi bạn ngã qụy và thế gíơi quanh bạn dường như qúa đen tối và trống rỗng. Người bạn ấy sẽ nắm lấy tay bạn và nói với bạn rằng mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp. Và nếu bạn đã tìm thấy một ngừơi bạn như thế, bạn đã cảm thấy hạnh phúc và đầy đủ, bởi vì bạn không cần lo âu, bạn đã có một tình bạn mãi mãi trong cuộc đời và nó sẽ không bao giờ kết thúc. Bạn sẽ không còn những ngày tháng cô đơn, tẻ nhạt mà sẽ luôn tươi cười, sống một cuộc sống đầy hạnh phúc và ấm áp trong vòng tay bè bạn.
Người bạn bình thường có thể chưa bao giờ thấy bạn khóc, nhưng người bạn thật sự sẽ luôn là đôi vai cho bạn tựa vào mỗi khi bạn buồn khổ. Người bạn bình thường tỏ ra khó chịu khi bạn trễ hẹn, nhưng người bạn thật sự sẽ hỏi xem bạn mắc kẹt chuyện gì. Người bạn bình thường lắng nghe những vướng mắc của bạn, nhưng người bạn thật sự sẽ giúp bạn giải quyết những vướng mắc đó. Người bạn bình thường luôn là khách khi đến thăm bạn, nhưng người bạn thật sự thì luôn tự phục vụ mình khi đến nhà bạn. Người bạn bình thường cho rằng tình bạn sẽ chấm dứt sau những lần cãi cọ, còn người bạn thật sự lại tin rằng tình bạn sẽ càng thân thiết hơn sau những cuộc tranh cãi như vậy. Người bạn bình thường luôn mong muốn bạn sẽ giúp đỡ họ, người bạn thật sự luôn có mặt khi bạn cần sự giúp đỡ. Vậy người bạn thật sự là ai? Là người vẫn gắn bó với bạn ngay cả khi tất cả những người bạn khác xa lánh bạn. Có người nói có một người bạn là điều dễ dàng. Làm một người bạn tốt là một điều khó.
Xem thêm: Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000Bước đầu tiên để có một tình bạn đẹp là làm bạn với chính bản thân bạn. Khi chúng ta thật sự yêu thương bản thân mình, chúng ta sẽ tạo được sự lôi cuốn đối với người khác. Vì chúng ta không chú trọng nhiều tới cá nhân chúng ta nên chúng ta sẽ quan tâm đến người khác nhiều hơn. Chúng ta sẽ có niềm tin để dành thời gian cho người bạn của mình vì chúng ta muốn có những giây phút yên bình, vui vẻ bên bạn ấy chứ không phải chúng ta cần người ấy để làm những điều có lợi cho bản thân. Sự gần gũi, thân mật thì quan trọng hơn nhiều so với khoảng thời gian cả hai tiếp xúc nhau. Hãy quyết tâm dành cho nhau những giờ phút vô cùng đặc biệt và đáng nhớ, đừng ngại ngần gì cả. Nếu bạn muốn tình bạn được phát triển, hãy bỏ đi nỗi sợ người ta không muốn làm bạn với bạn. Mời họ ăn trưa hoặc tổ chức một buổi họp nhóm và cùng nhau ăn tối. Khi bạn bè giận nhau, nên là người gọi điện trước nhất. Bạn của bạn cũng đang nóng lòng muốn làm lành với bạn.
Hãy cư xử với bạn của bạn như là cư xử với chính bản thân bạn. Quan tâm người khác hơn là chờ đợi người ấy quan tâm mình. Hãy thông cảm, tránh than phiền về nhau, cũng như việc ngồi lê đôi mách và chỉ trích nhau, hãy luôn nghĩ về những người yêu thương bạn…. Với mỗi người làm bạn khóc, sẽ có ba người làm bạn cười, và một nụ cười sẽ tồn tại thật lâu, thật lâu nhưng giọt nước mắt thì chỉ tồn tại trong một lúc. Nếu ai đó có một điều gì đó tội lỗi, đừng để nó hằn sâu vào bạn. Vì thế để có thể hành động một cách đích xác, hãy nghĩ đến những người yêu thương bạn và đừng để điều gì làm hỏng cái thứ tình cảm cao đẹp ấy
Niềm vinh quang của tình bạn không phải là ở vòng tay giang ra, không phải là ở nụ cười thân mật, cũng không phải là sự vui vẽ bên nhau, đó là nguồn cảm hứng thiêng liêng mà ngươì này cảm nhận được khi phát hiện có ai đó tin tưởng ở mình và vui sướng với sự tin tưởng đó trong tình bạn hữu. Với 1 người bạn thật tình, mình có thể nói thật lòng về 1 điều ngốc ngếch nào đó bởi vì bạn là 1 người đáng tin cậy. Khi niềm vui đến với bạn, nó sẽ lan qua bạn. Ngọn đèn của bạn tôi sáng lên bao nhiêu thì đèn của tôi cũng sáng lên bấy nhiêu. Có tình bạn là có được chiếc chìa khoá mở vào tâm hồn của ngươì khác. Hãy tin cậy người đã giúp bạn vượt qua nỗi sầu muộn, những ngày đen tối hơn là những ngươì chung vui với bạn, những ngày huy hoàng thịnh vượng vì đó mới chình là tình bạn thật sự. Tình bạn sẽ xoa dịu đi mọi lo lắng, xua tan đi mọi buồn phiền và khuyên nhũ ta khi bất hạnh.Tình bạn chân thành là 1 cái cây mọc chậm và phải thử thách nó, phải chịu đựng nhiều nghịch cảnh trước khi được kêu bằng danh hiệu đó. Không ai toàn điện cả và bạn bè là phần mà mình còn thiếu. Tình bạn lí tưởng chỉ có những người bạn tốt và những ng có cùng đức tính tốt. Hãy duy trì một cuộc sống tốt đẹp với bạn bè, đó là ưu điểm của tình bạn. Bạn mới là bạc, bạn cũ là vàng.
Mỗi khi nhắc tới hai tiếng “ tình bạn” thân thương đó, trái tim nhỏ bé của tôi lại xao xuyến hẳn lên. Trăm hoa đẹp nhất bông hồng, không bằng tình cảm trong thời học sinh. Tình bạn thật trong sáng và đẹp đẽ biết bao. Tình bạn cao cả hơn vật chất, luôn tồn tại trong tâm hồn mỗi con người chúng ta, đó là những ngôn lửa hồng ấp ám giúp chúng ta đoàn kết, yêu thương nhau hơn. Nó còn là một vị thuốc tinh thần giúp chúng ta vượt qua mọi sự khó khăn, nguy hiểm, giúp chúng ta luôn hướng tới cái đẹp, cái tốt – một vị thuốc không thể thiếu trong đời người. Việc kết bạn đã khó nhưng giữ gìn được 1 tình bạn thuỷ chung còn khó hơn. Nếu ta biết coi trọng nó, thì tình bạn luôn đâm hoa, kết trái, không bào giờ tạn lụi.Chính vì vậy, khi chúng ta đã có một tình bạn chân chính, thì ta đã là người hạnh phúc nhất rồi. Đúng như Gióoc giơ Hê be đã viết “ Sống không có bạn là chết cô đơn”.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Cảm nhận khi đọc bài Một món quà của lúa non: cốm (Thạch Lam) | Cảm nghĩ của em về tình bạn thời học sinh | 1,828 | |
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em về tình bạn.
Trong đời sống tinh thần của con người có rất nhiều tình cảm thiêng liêng như tình cha con, mẹ con, tình anh em, tình thầy trò, bè bạn… Nhu cầu về tình bạn là nhu cầu cần thiết và quan trọng, vì vậy mà trong ca dao, dân ca có nhiều câu rất cảm động về vấn đề này:
Bạn bè là nghĩa tương tri,
Sao cho sau trước một bề mới yên.
Hoặc:
Ai về ta gởi bức thơ,
Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao?!
Hoặc:
Chim lạc bầy thương cây nhớ cội,
Xa bạn xa bè, lặn lội tìm nhau.
Có những tình bạn lưu danh muôn thuở trong văn chương như Lưu Bình với Dương Lễ, Bá Nha với Chung Tử Kì, như Nguyễn Khuyến với Dương Khuê… Trong cuộc sống xung quanh ta cũng có rất nhiều tình bạn đẹp đẽ.
Vậy thế nào là một tình bạn đẹp? Theo em, trước hết đó phải là một tình cảm chân thành, trong sáng, vô tư và đầy tin tưởng mà những người bạn thân thiết dành cho nhau. Tình bạn bước đầu thường được xây dựng trên cơ sở cảm tính nhiều hơn lí tính. Trong số đông bạn bè chung trường, chung lớp, ta chỉ có thể chọn và kết thân với một vài người. Đó là những người mà ta có thiện cảm thực sự, hiểu ta và có chung sở thích với ta, mặc dù là cùng hoặc không cùng cảnh ngộ.
Tình bạn trong sáng không chấp nhận những toan tính nhỏ nhen, vụ lợi và sự đố kị hơn thua. Hiểu biết, thông cảm và sẵn sàng chia sẻ vui buồn, sướng khổ với nhau, đó mới thực sự là bạn tốt. Còn những kẻ: Khi vui thì vỗ tay vào, Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai không xứng đáng được coi là bạn.
Đã là bạn thân thì thường dễ dàng xuê xoa, bỏ qua những thói hư tật xấu của nhau. Đó là một sai lầm nên tránh. Nể nang, bao che… chỉ làm cho bạn dấn sâu hơn vào con đường tiêu cực mà thôi. Trong tình huống như thế, bạn rất cần những lời khuyên đúng đắn, sáng suốt và đầy tình thân ái. Giúp bạn sửa chữa sai lầm cũng chính là giúp mình, giữ cho mình đi trên đường ngay lối thẳng để tu dưỡng thành người hữu ích.
Xem thêm: Bài văn văn biểu cảm tả về cây khế lớp 7Một yếu tố cơ bản để giữ cho tình bạn được bền lâu chính là niềm tin tưởng. Tin bạn cũng như tin mình, luôn nghĩ về bạn bè với những điều tốt đẹp. Có như vậy bạn bè mới trở thành chỗ dựa đáng tin cậy của ta trong cuộc đời.
Tục ngữ có câu: Học thầy không tày học bạn với nội dung đề cao vai trò của bạn bè không chỉ trong phạm vi học hành mà còn ở nhiều mặt khác. Bạn tốt là gương sáng cho ta noi theo, nhiều lúc bạn đóng vai trò người thầy dẫn dắt, chỉ vẽ cho ta những điều hay lẽ phải. Đường đời vạn nẻo không ít gian nan, thử thách. Trên con đường dằng dặc ấy, nếu có được vài người bạn tâm giao cùng chí hướng, cùng quyết tâm, kề vai sát cánh thì lòng ta ấm áp thêm nhiều và nghị lực cũng tăng lên gấp bội.
Vì những lẽ đó mà tình bạn cao quý là một món quà tinh thần vô giá dành cho những ai biết tôn trọng và nâng niu nó. Tình bạn không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của một quá trình gắn bó dài lâu giữa những người bạn trung thành, thân thiết.
Ta hãy thử hình dung cuộc sống của một người không có bạn bè sẽ tẻ nhạt và cô độc biết bao nhiêu! Cuộc sống ấy u ám như mặt đất thiếu ánh mặt trời, như khu vườn hoang vắng thiếu sắc màu rực rỡ của những bông hoa, thiều tiếng chim ríu rít trong vòm lá. Nói tóm lại, đó là cuộc sống buồn bã và vô vị.
Tình bạn đáng yêu, đáng quý như vậy nên chúng ta phải biết giữ gìn, vun trồng cho nó mãi mãi xanh tươi. Đối với tuổi trẻ, tình bạn lại càng cần thiết hơn bao giờ hết. Nào! Chúng ta hãy giạng rộng vòng tay, nối kết tình bạn bè và tình thân ái. Các bạn ơi hãy nhở: Tình bạn – đó là niềm hạnh phúc lớn lao của mỗi con người!
Xem thêm: Cảm nhận về bức thư của người bố gửi con trai mình | Cảm nghĩ của em về tình bạn | 786 | |
Cảm nghĩ về bà ngoại của em lớp 7
Hướng dẫn
Bà tiên trong truyện cổ tích là người mà các em nhỏ yêu quý vì bà có một tấm lòng bao dung, nhân hậu đối với mỗi con người trên trần đời này. Còn với riêng em, bà tiên ngoài đời thực của em đó chính là bà ngoại.
Bà ngoại của em năm nay đã bày mươi tuổi, tóc đã bạc trắng, dáng vẻ khom khom của tuổi già. Khuôn mặt bà em phúc hậu lắm! Bà hay kể cho em về những gì thời chiến mà bà đã trải qua. Bà kể về các đồng đội của mình đã chiến đấu oanh liệt như thế nào, bà kể những mất mát, hi sinh trong chiến trận. Thời chiến, bà là một chiến sĩ tay cầm súng vai gánh vác việc gia đình (vì ông em mất trên chiến trường năm đó nên bà gánh vác hết mọi việc).
Em tự hào về Bà lắm, một người phụ nữ với tấm vai gầy nhưng đảm nhiệm trên mình việc nước, việc nhà. Thử hình dung xem, bà mạnh mẽ đến thế nào? Một tay bà nuôi năm đứa con khôn lớn, một tay bà dạy các con về lí lẽ sống sao thành người có ích cho đời. Mẹ thường nói với em: trong mắt mẹ, bà là người cha, người mẹ, người bạn bè thân thiết của mẹ. Cũng hiểu thôi, vì ông mất sớm mà! Nhưng em thắc mắc vì sao bà lại là người bạn thân của mẹ. Mẹ trả lời rằng: ’bất kể chuyện gì, mẹ đều tâm sự với bà và sau đó bà gải đáp những tò mò, những nỗi lòng của mẹ như một người bạn thực thụ’
Xem thêm: Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hoặc trong công viên, trên cánh đồng, trên nương rẫy, đường phố)Bà tiên trong mắt em tốt bụng làm sao? Bà không chỉ tốt với những đứa cháu của mình mà với các em nhỏ nhà hàng xóm xung quanh bà thường cho những cái kẹo, gói bánh. Tấm lòng của bà đức độ, rộng lớn lắm. Bà hay dạy em những bài học trong cuộc sống, những bài học về đạo làm người, những bài học về cách ứng nhân xử thế. Bà đối với em không chỉ là bà ngoại của em mà như cô giáo dạy cho em lẽ phải cuộc đời.
Một mình bà đã nuôi dưỡng năm đứa con ăn học, trở thành những người giáo viên, cán bộ trong quân ngũ hẳn rất vất vả nhưng thực sự đáng nể phục biết bao.
Bà ngoại là thần tượng trong mắt em. Mm yêu quý bà nhiều lắm. Em sẽ cố gắng ngày ngày chăm ngoan, học giỏi để bà được vui, để bà biết được đứa cháu gái của mình cũng giỏi giang lắm. Bà thật tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ. Bà hi sinh tất cả cho những đứa con của mình để giờ đây khi về già bà thỏa nguyện với những gì mình tạo ra, đã dạy dỗ các con.
Nguồn: | Cảm nghĩ về bà ngoại của em lớp 7 | 528 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ xuân Hương
Hồ xuân Hương là một trong rất ít phụ nữ Việt Nam thời phong kiến có tác phẩm văn học lưu truyền cho đến ngày nay. Bà được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Cuộc đời của bà vẫn còn là một vấn đề đang được nghiên cứu. Bà thường mượn cảnh, mượn vật để nói lên thân phận người phụ nữ thời bấy giờ, bài thơ “Bánh trôi nước” là một trong số đó.
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Bánh trôi nước-một loại bánh dân dã, bình thường thấy quanh năm, được Hồ xuân Hương miêu tả một cách sinh động về màu sắc, hình dáng như là chiếc bánh đang tự nói về chính mình:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
Qua đó, người phụ nữ Việt Nam có thể hóa thân vào những chiếc bánh dân dã đáng yêu ấy. Bà không dùng “khuôn mặt hình trái xoan”, hay “đôi mày hình lá liễu” để mô tả vẻ đẹp quý phái của phụ nữ, trái lại bà dùng hình tượng “tròn”, “trắng” để cho ta có thể liên tưởng đến một vẻ đẹp mạnh mẽ, xinh xắn.Bên cạnh đó, điệp từ “vừa” càng làm tăng thêm sự tự hào về vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ Việt Nam. Người phụ nữ Việt Nam mạnh khỏe, xinh xắn, đáng yêu là thế, còn cuộc đời của họ thì sao? Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ cũng lênh đênh chìm nổi như chiếc bánh trôi nước trong nồi.
“Bảy nổi ba chìm với nước non”
Xem thêm: Bình giảng bài thơ “Đèo Gió” của Nông Quốc ChấnCuộc đời long đong, gian truân đầy sóng gió dường như đã dành sẵn cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến, nghe như một tiếng than thầm, cam chịu, nhưng cũng phảng phất vẻ cao ngạo của họ. Cũng nổi, cũng chìm, nhưng lại nổi chìm “với nước non”.
“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”
Lời thơ có vẻ trở nên cam chịu, người phụ nữ xưa vốn không có một vai trò gì trong xã hội. Họ không tự quyết định được số phận của mình, cuộc đời họ từ khi mới sinh ra cho đến lúc lìa đời là một cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc. Khi còn nhỏ thì phụ thuộc vào cha mẹ, khi lấy chồng thì phụ thuộc vào chồng, chồng mất thì phụ thuộc vào con cái. Họ không có cuộc sống của riêng họ, cuộc sống của họ chỉ để tô điểm thêm cho cuộc sống của người khác. Thế nhưng, thơ của Hồ xuân Hương lại phảng phất chút phớt lờ, bất cần. Thấp thoáng đâu đó trong thơ bà có chút phảng kháng, chống cự lại những quan điểm bất công thời ấy. Nếu như trong ca dao, người phụ nữ được ví: “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” chỉ để thể hiện thân phận lênh đênh, thì trong thơ của Hồ xuân Hương ngoài việc miêu tả số phận người phụ nữ còn khẳng định nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ
“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Cuộc đời có bạc bẽo, bất công,cuộc sống có gian khổ, long đong như thế nào chăng nữa, người phụ nữ vẫn giữ được sự son sắt, thủy chung cùng những phẩm chất tốt đẹp của mình. Đó là sự khẳng định của bà và đó cũng chính là phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam.
Với hình tượng cái bánh trôi nước, Hồ xuân Hương đã nói lên được vẻ đẹp, phẩm chất trong trắng, son sắt của người phụ nữ, đồng thời cũng đã đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn đối với người phụ nữ – sự bình đẳng giới. Đây cũng chính là vấn đề mà xã hội tốt đẹp của chúng ta đang xây dựng. Cám ơn bà đã để lại cho đời một bài thơ thật đẹp.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Kể về một người bạn thân | Cảm nghĩ về bài Bánh trôi nước của Hồ xuân Hương | 712 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn”
Bài làm
Kho tàng ca dao tục ngữ của nước ta vô cùng phong phú. Nó phản ánh tâm tư tình cảm của người dân trong cuộc sống lao động hàng ngày. Đồng thời thể hiện mối quan hệ tình cảm gia đình thiêng liêng cao quý.
Công cha nghĩa mẹ là những điều khắc cốt ghi tâm của phận làm con đối với cha mẹ mình. Bởi công ơn của cha mẹ như trời biển, không gì có thể sánh được. Công ơn sinh thành dưỡng dục, cho chúng ta làm người thì phận làm con chúng ta phải báo hiếu, biết ơn cha mẹ đó mới là phải đạo.
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Bài ca dao này gắn liền với con người Việt Nam qua nhiều thế hệ. Nó có sức sống vô cùng mãnh liệt mà ai sinh ra cũng đều biết đều thuộc lòng. Bởi nó hay dễ đọc, dễ nhớ và nó dạy chúng ta bài học làm người mà ai cũng phải biết:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Trong hai câu này bài ca dao sử dụng nghệ thuật so sánh. Ví von công lao to lớn của người cha cao tựa như núi Thái Sơn một ngọn núi hùng vĩ, sừng sững ở Miền Bắc nước ta. Một trong những ngọn núi hoang sơ lâu đời có truyền thống lâu năm.Xem thêm: Em hãy thay mặt En-ri-cô viết một bức thư cho bố nói lên nỗi ân hận của mình vì trót thiếu lễ độ với mẹ kính yêu
Điều này thể hiện cho sự biết ơn, tôn kính của người con với cha mẹ với công lao như trời biển của cha mẹ dành cho con cái.
“Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” tình mẹ là cái gì đó ngọt ngào ấm áp vô cùng. Nó tựa như dòng suối mát trong, những dòng sữa ngọt ngào dịu dàng mẹ dành cho con từ khi sinh ra cho tới khi trưởng thành. Tình mẹ là vô bờ bến, nó chảy hoài chảy mãi như nước trong nguồn không có điểm kết thúc.
Chúng ta dù con cái có lớn khôn, hay có trưởng thành thì tình mẹ vẫn theo chúng ta cho tới khi chúng ta già tóc đã đổi màu mẹ vẫn còn lo lắng cho con. Tình mẹ không bao giờ có giới hạn. Nỗi lo lắng của người mẹ dành cho con mình thì chỉ khi đã nhắm mắt xuôi tay cũng không hết.
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Trước những công ơn to lớn như trời biển của mẹ cha dành cho mình, thì đạo làm con cần phải coi trọng chữ hiếu nghĩa. Phải biết nghe lời cha mẹ, đền đáp công ơn cha mẹ của mình.
Lúc nhỏ thì học hành chăm chỉ, giúp đỡ cha mẹ những việc nhà phù hợp sức lực. Khi cha mẹ già yếu, không còn sức lao động thì hay chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ như khi chúng ta còn nhỏ cha mẹ đã chăm sóc ta.Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
Đó chính là truyền thống ngàn đời mà cha ông ta muốn răn dạy con cháu mai sau phải khắc cốt ghi tâm công lao cho mẹ. Và phải báo hiếu đền ơn cha mẹ mình cho thật xứng đáng.
Bài ca dao có ý khuyên nhủ con người ta phải sống đúng đạo đức làm người, biết ghi nhớ công ơn của cha mẹ, phụng dưỡng báo hiếu cha mẹ khi về già.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Cảm nghĩ về bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn” | 636 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về bài ca dao “Đi cấy”
Bài làm
Trong kho tàng ca dao, tục ngữ dân gian Việt Nam có rất nhiều bài hay thể hiện tình cảm của người nông dân một nắng hai sương trên đồng. Thể hiện những tâm tư, tình cảm của người nông chân thật thà, chất phác. Mỗi bài ca dao đều gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc khác nhau.
Bài ca dao “Đi cấy” thể hiện tâm tư tình cảm của người nông dân trong cảnh nông vụ, phải lo toan nhiều chuyện, khi thời tiết không ủng hộ.
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng
Thông qua bài ca dao này nói lên nguyện vọng của người nông dân mong cho mưa thuận gió hòa để công việc nhà nông được thuận lợi, vụ mùa bội thu, người nông dân đỡ nhọc nhằn vất vả.
Trong câu đầu tiên của bài ca dao đã thể hiện sự lo lắng của người nông dân khi mùa cấy lúa đang tới gần.
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Người ta chỉ những người đi làm thuê, cấy lúa cho xong nhiệm vụ rồi lấy tiền công về không phải lo lắng gì nhiều việc cây lúa sau khi được cấy xuống ruộng có bị khô hạn, hay ngập úng nước hay không. Người nông dân trong bài ca dao là một người đi “cấy” cho chính mảnh ruộng của mình. Họ lo lắng trăm bề, sợ cây lúa sau khi trồng xuống không thể phát triển được mà chết đi thì công sức của họ sẽ bị mất trắng.Xem thêm: Chứng minh tinh thần yêu nước của cha ông ta trong lịch sử. Từ đó, em rút ra cho mình những bài học gì?
“Tôi” “trông nhiều bề” thể hiện sự lo lắng, lo toan nhiều mặt trong cuộc sống khác, thể hiện sự chu đáo, có con mắt nhìn xa trông rộng của một người hay lo toan việc nhà.
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Điệp từ “Trông” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần thể hiện sự lo lắng, mong mỏi trông chờ, mưa nắng, thời tiết có thể là cho cây lúa của người nông dân bị chết bất cứ lúc nào, thể hiện sự vất vả của nghề nông khi phải phụ thuộc số phận của mình vào thời tiết, thiên tai có thể giáng xuống bất kỳ lúc nào cướp đi công sức, sự hy vọng của người nông dân.
Khiến cho người nông dân không thể không lo lắng. Sự lo lắng cho cái ăn cái mặc của cả gia đình chỉ trông vào sự tồn tại của cây lúa nếu chẳng may cây lúa có mệnh hệ gì thì cả nhà sẽ chết đói, biết lấy gì để sống.
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng
Sự lo lắng của người nông dân chỉ có thể dừng lại khi người nông dân có thêm sức mạnh, thời tiết mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng. Trong hai câu ca dao này thể hiện mong muốn của người nông dân là có thời tiết an lành, phù hộ cho công việc đồng áng của người dân. Người dân khỏe mạnh để có thể chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thời tiết. Đó là mong ước rất chính đáng, của những con người làm nghề nông.Xem thêm: Giải thích câu nói “Sách là người bạn tốt của con người”- văn lớp 7
Thông qua bài ca dao này ta thấy sự cực nhọc của người nông dân khi làm ra hạt gạo, bưng bát cơm thơm dẻo người nông dân đã đổ rất nhiều công sức tâm huyết của mình vào đó. Chính vì vậy, chúng ta phải biết tôn trọng thành quả của người nông dân không nên lãng phí lúa gạo.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Cảm nghĩ về bài ca dao “Đi cấy”- văn lớp 7 | 684 | |
Cảm nghĩ về bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
Bài làm
Viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ Tố Hữu có viết
Bác ơi, tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người.
Cả cuộc đời và sự nghiệp của Bác gắn liền với công cuộc cách mạng giải phóng đất nước, một con người giản dị chân chất, yêu thương đồng bào. Nhưng điều đó không đủ khi nói về Hồ chủ tịch, trong trái tim người còn là tâm hồn của một người thi sĩ ẩn sâu dưới vẻ ngoài của người chiến sĩ yêu nước. Hồn thơ của bác trầm ấm, nhẹ nhàng, mượt mà nhưng không kém phần sinh động, âm vang. Điều đó ta thấy được trong bài thơ “Cảnh khuya” được Bác viết năm 1947 khi người đang lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở chiến khu Việt Bắc
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Viết về Việt Bắc, rất nhiều bài thơ phác lên cảnh núi rừng hoang sơ, tịch mịch. Nhưng Bác Hồ lại viết theo lối cổ phong, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hơi hướm Đường thi đã tái hiện lại một bức tranh thiên nhiên đậm chất trữ tình, thanh thoát và tuyệt mỹ. Trước hết, mở đầu bài thơ là ý so sánh hết sức tinh tế
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trong núi rừng hoang vu, tĩnh lặng, “tiếng suối” đã vang vọng khắp không gian. Ắt hẳn là một vùng rộng lớn nhưng im ắng, xung quanh nhuốm nét u tịch mới có thể nghe được tiếng suối vọng xa từ một chốn nào đó như vậy. Tiếng suối xuất hiện, vừa gần gũi giản dị, vừa cổ điển bí ẩn. Suối là thứ gắn liền với con đường hành quân của người chiến sĩ, suối đem lại nguồn nước mát lành, nên nó đã trở thành nét liên tưởng đầu tiên của nhà thơ. Không những thế suối nước còn gợi đến bóng dáng của một vị tao nhân mặc khách ẩn dật giữa núi non, phải rất tĩnh tâm mới có thể thấy được tiếng “trong” của suối. Phải chăng, cái “trong” ấy không chỉ là âm thanh thanh khiết không bị các tạp âm trong màn đêm lẫn lộn mà còn là cái “trong” của tâm hồn con người. So sánh “tiếng suối trong” với “tiếng hát xa”, tác giả đã kéo gần khoảng cách con người với con người. Trong không gian im vắng, “tiếng hát” du dương từ khe suối như xoa dịu tâm hồn tìm đến cái đẹp từ thiên nhiên của thi nhân, ngân mãi không ngừng. Ta dường như mường tượng đến nét đẹp không gian trong “Côn Sơn ca” của Nguyễn TrãiXem thêm: Phân tích truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ
Côn Sơn có suối nước trong
Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm.
Nguyễn Trãi ví tiếng suối với “cung đàn”, âm điệu của thứ nhạc cụ cần có sự học hỏi trau chuốt mới hay. Còn Bác so sánh âm thanh suối với “tiếng hát”, gần gũi hơn, mang hơi ấm bình dị của con người nhưng không mất đi phần cổ kính. Lấy động tả tĩnh, lấy âm thanh để tả cảnh vật, lấy âm hưởng để phác lên cái tĩnh lặng của không gian, ấy là cái hay tinh tế của người thi nhân giữa mênh mang im vắng. Con người như lẫn vào thiên nhiên, trong thiên nhiên lại thấy con người, ẩn ẩn hiện hiện, không tìm ra đâu là cảnh, đâu là người, chỉ thấy cái tình trộn lẫn trong bát ngát yêu mến với non nước.
Đến câu thơ thứ hai, bức tranh thiên nhiên trong “Cảnh khuya” thật giàu tính tạo hình, đan cài ở đó là tầng tầng lớp lớp cảnh, vừa hòa trộn vừa tôn vinh.
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
“Trăng” đã trở thành kẻ bầu bạn với thi nhân, trong ngục tù hay trong tự do
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ
Cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
Nhìn lên trên cao, dưới vòm cây rộng lớn, ánh trăng đan cài, lấp ló trên cổ thụ lúc ẩn lúc hiện. Khung cảnh mang nét cổ điển, thơ mộng, cần cái nhìn rộng lớn, phóng khoáng. Nhìn xuống thấp hơn, bóng cổ thụ đan cài bóng hoa, bóng trăng trên cao lồng trên bóng cổ thụ. Tầng tầng lớp lớp cảnh, tầng tầng lớp lớp tình như hòa quyện, quấn quít, vương vấn. Người đọc như dạo chơi trong một khu vườn không chỉ là tâm cảnh mà còn là thực cảnh, mê đắm, như say dưới ánh trăng bóng hoa mềm mại. Điệp từ “lồng” cùng những cảnh vật phác trên ngòi bút nhỏ làm nên ba tầng không gian nối tiếp trời và đất. Nét tả không nhiều nhưng cảnh vật như bung nở, tỏa sáng, làm nên khung cảnh đẹp đẽ nơi núi rừng Việt Bắc. Cách viết đan cài của Bác còn được thấy qua câu thơXem thêm: Cảm nhận về tình yêu Sài Gòn qua Sài Gòn tôi yêu của Minh Hương
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
(Núi ấp ôm mây, mây ấp núi)
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên
(Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân)
Chỉ với hai câu thơ đầu, một bức tranh thiên nhiên huyền ảo, trong vắt đã hiện ra, ta như đưa ta vào thế giới thi trung hữu họa, cô đúc, lắng đọng những nét đẹp tinh túy nhất. Tiếp đó, tác giả đã uyển chuyển biến đổi từ cảnh sang bóng dáng con người
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Câu thơ trên vừa tóm gọn khung cảnh thiên nhiên vừa khẽ lồng ghép con người trong đó. Thế giới xung quanh quá đẹp, như một bức bích họa giữa cảnh và tình khiến lòng người xao xuyến bồi hồi, phải chăng vì vậy mà người khó ngủ thao thức? Khép lại cảnh khuya, con người trở thành nhân vật chính nổi bật trên bức bích họa thiên nhiên. Cấu trúc điệp vòng “chưa ngủ” xuất hiện ở cuối câu trước và đầu câu sau không chỉ khiến cho ý thơ liền mạch, làm bản lề khép mở giữa cảnh và người mà còn làm rõ sự trăn trở thao thức không nguôi của Bác. Người không ngủ không hẳn vì cảnh đêm quá đẹp làm say lòng thi nhân mà vì “nỗi nước nhà” cứ mãi đau đáu day dứt trong tâm tưởng người chiến sĩ cách mạng. Hiếm có bài thơ nào mà kết thúc lại là lời giải thích trực tiếp như vậy, đó là cái độc đáo mà Bác đã làm được tạo nên phong cách riêng của Hồ Chí Minh. Kết thúc bài thơ, nỗi canh cánh vì nợ nước thù nhà, dân tộc đang chìm trong vòng nô lệ đã vang thành tiếng sóng lòng cuồn cuộn không dứt. Câu thơ trực tiếp bộc bạch nỗi lòng của thi nhân, khiến hình ảnh thức đêm không ngủ vì lo lắng cho vận mệnh dân tộc đã in đậm mãi trong tâm tưởng người đọc “Cả cuộc đời Bác ngủ có yên đâu” (Hải Như)Xem thêm: Em hãy tả về cô giáo mà em yêu thích nhất
“Cảnh khuya” của tác giả Hồ Chí Minh là bông hoa sen trong sự nghiệp văn thơ của người, lặng lẽ tỏa hương và bừng sáng. Cả không gian tươi đẹp giữa đêm khuya không ngăn được nỗi lòng vì nước vì dân cứ mãi dâng lên trong tâm trí thi nhân cũng như sự trăn trở không dứt chẳng ngăn được trái tim hòa nhịp với vẻ đẹp thiên nhiên.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh hay nhất | 1,317 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về bài Rằm tháng giêng
Khi nhắc dến dân tộc Việt Nam độc lập tự do hôm nay, không mấy ai quên đựơc công lao của người. Người là một vị lãnh tụ vĩ đại, là một danh nhân văn hoá thế giới và còn là một nhà thơ lớn nhà thi sĩ yêu trăng. Bác dã dể lại cho thơ văn Việt Nam rất nhiều tác phẩm trong đó có bài '' Rầm tháng giêng ''. NĂm 1948 trên chiếc thuyền nhỏ neo giữa dòng sông ở chiến khu Vịêt Bắc oanh liệt. Bác đã cùng Trung ương Đảng mở cuộc họp về tình hình quân sự kháng chiến chống Pháp ( 1947 – 19448 ). Khi cuộc họp kết thúc thì đêm đã khuya. Trăng rầm toả sáng khắp mặt đất lan toả trên dòng sông bao la. Cảnh sông núitrong đêm trăng càng trở nên hùng vĩ và thơ mộng. Trước cảnh đẹp của thiên nhiên và của đêm trăng thơ mộng. Trước những cãnh đẹp tuyệt vời ấy Bác đã ứng khẩu thành thơ:
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên.
Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm sứ đàm quân sự.
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
Về sau nhà thơ Xuân Thuỷ dịch bài thơ ra tiếng Việt thể lục bát. với tên là " Rầm Tháng Giêng ". Bản dịch diển tả gần hết ý thơ trong nguyên tácvới nội dung biểu hiện tính yêu thiên nhiên tha thiết và lòng yêu nước của Bác.
Ở bài " Cảnh Khuya " Bác tả dêm trăng rừng Việt Bắc thì bài này cảnh trăng được Bác tả trên sông nước hùng vĩ:
Rằm xuân lòng lọng trăng soi
Xem thêm: Phân tích bài thơ Ngắm Trăng của Hồ Chí MinhSông xuân nước lần màu trời thêm xuân
Vầng trăng tròn toả sáng bát ngát khắp nơi bầu trời mặt đất đều lồng lộng ánh trăng. Khung cảnh mênh mông tưởng dường như sông nước tiếp liền với bầu trời " sông xuân nước lẫn bầu trời thêm xuân". Vạn vật đều mang sắc xuân, Sông xuân, nước xuân, trời xuân giao hoà cới nhau tạo nên một khung cảnh tràng dầy sức sống làm náo nức lòng người. Điệp từ xuân lập lại nhiều lần tạo nên không khí vui tươi của cảnh trăng rầm:
Giữa dòng bàn bạc việc quân
khuya về bát ngát trăng ngân dầy thuyền.
Trên một chiếc thuyền nhỏ giữa chốn mịt mù khói sóng. Bác cùng các vị lãnh đạo Trung ương Đảng bàn việc quân, việc nước. bu6ồi dầu cu6ỗc kháng chiến dầy giang khổ biết bao? Tuy vậy BÁc vẫn ung dung, thư thả.Buổi họp kết thúc vào lúc nữa đêm. Trăng tròn treo giữa trời ( nguyệt chính viên ) ánh trăng đang loà sáng khắp mọi nơi. Cảnh sông nước trong đêm càng trơ nên thơ mộng. Dòng sông nước biến trỏ thành dòng sông trăng và con thuyền nhỏ dường như chở dầy trăng tuyệt dẹp tâm hồn Bác lâng lâng bạn tri âm muôn đời. Hình ảnh con thuyền nhỏ chở dầy ánh trăng trên sông vô cùng lãng mạng àa sâu sắc. Chắc có lẽ Bác đã có một phong thái ung dung, tự tại, lac quan mãnh liệt nên Bác đã tạo ra đươc hình tượng nghệ thuật độc đáo trong hoàn cảnh đặc biêt.
Bài " Rầm tháng giêng với âm sắc sâu lắng, tười vui đem lại cho người đọc cảm hứng thanh cao, trong sáng. Bài thơ là một dẫn chứng cho thấy Bác là vị lãnh tụ cách mạng tài ba, vùa là một thi sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm. Qua bài thơ cho chúng tôi học được tinh thần lạc quan và phong thái ung dung bình tỉnh ở Bác.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Cảm nghĩ của em về ông nội kính yêu văn 10 | Cảm nghĩ về bài Rằm tháng giêng | 645 | |
Cảm nghĩ về bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra
Hướng dẫn
Trong lịch sử nước ta có một số vị vua hiền đức: vừa nhân hậu, vừa là một nhà thơ lớn. Vâng, đó chính là Trần Nhân Tông, một vị vua đời Trần vừa là một vị vua anh minh, một vị anh hùng dân tộc, một nhà tư tưởng lớn đồng thời còn là một vị tổ sáng lập phái Trúc Lâm. Ông đã sáng tác ra nhiều bài thơ trữ tình, gây xúc động cho người đọc, người nghe và một trong những bài thơ hay như thế là bài “Thiên Trường vãn vọng” (Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra). Bài thơ mang nét quen thuộc của văn thơ cổ đã miêu tả cảnh vật làng quê yên lành, thanh tĩnh. Bài thơ được viết như sau:
“Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biền
Mục đồng địch lí ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.”
Dịch thơ:
“Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.”
Cảnh hoàng hôn, sự vật xóm trước, thôn sau chìm dần vào trong sương đang dần buông khi xế chiều. Trong ánh hoàng hôn, mọi vật thấp thoáng ẩn hiện. Hình ảnh trong thơ thật giản dị đến lạ lùng. Điều đơn giản đó tác giả hoạ lên vẻn vẹn chỉ trong một câu thơ:
“Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Câu thơ thứ hai lại làm cho khung cảnh buổi chiều ở Thiên Trường càng thêm huyền ảo hơn:
“Bán vô bán hữu tịcli dương biên”
(Bóng chiều man mác có dường không)
Xem thêm: Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000Bán vô bán hữu có ý mơ hồ, không rõ, lúc có, lúc không, có lúc huyền ảo, có lúc diệu kì… Đọc câu thơ ta liên tưởng đến một quang cảnh mờ ảo trong làn sương chiều: không gian kì diệu tiên cảnh hoá vạn vật, thực mờ xen lẫn lúc rõ ràng sáng tỏ, lúc hư hư ảo ảo. Cảnh vật tĩnh lặng nhưng không đìu hiu. Tâm hồn của nhà vua lúc này giản dị, thanh cao, thấm đẫm tình yêu thiên nhiên đất nước tha thiết, gắn bó máu thịt với quê hương thôn dã.
“Mục đồng địch lí ngưu quy tận.”
(Mục đồng sáo vẳng trâu về hết)
Lời thơ không chỉ để kể mà còn diễn tả một cảm xúc kì lạ, một niềm vui rạo rực. Cảnh tượng xế chiều ở nông thôn được tác giả phác hoạ bằng những nét vẽ đơn sơ nhưng đậm đà nét quê, hồn quê với hình ảnh những chú mục đồng thổi sáo văng vẳng đưa trâu về. Đọc đến đây ta có thể cảm nhận được cảnh tượng buổi chiều ở phủ Thiên Trường là cảnh tượng của một vùng quê trầm lặng nhưng không u buồn. Ớ đây vẫn ánh lên nét hoà hợp với thiên nhiên một cách nên thơ, chứng tỏ tác giả là con người tuy có địa vị vương giả nhưng tâm hồn vẫn gắn bó máu thịt với quê hương thôn dã.
“Bạch lộ song song phi hạ điền.”
(Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
Khung cảnh lãng mạn đầy huyền ảo, đẹp lạ lùng hiện ra trước mắt nhà vua: một cuộc sống thanh bình yên ấm. Từng đôi cò trắng nhẹ nhàng lướt xuống cánh đồng… thật bình yên. Nhà vua thật hạnh phúc khi thấy nước nhà yên ấm, cư dân sống trong hai chữ hạnh phúc. Hướng mắt nhìn về phía xa xa ấy, nhà vua nở một nụ cười mãn nguyện.
Bài thơ “Thiên Trường vãn vọng” là một tác phẩm thành công viết về thiên nhiên tươi đẹp của nước ta. Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc, giọng điệu nhẹ nhàng thiết tha, bài thơ đã lôi cuốn người đọc, người nghe, ghi sâu vào lòng người đọc, người nghe hình ảnh tuyệt đẹp về khung cảnh một thôn quê yên lành, êm ấm. Từ đó làm tăng thêm trong lòng mọi người tình yêu quê hương, đất nước.
Nguồn: thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích mà em đã đọc ở tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài | Cảm nghĩ về bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra | 726 | |
Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà Ngữ văn lớp 7
Hướng dẫn
Tình bạn là một tình cảm rất đỗi thiêng liêng và cao quý. Đề tài này gây cảm hứng cho các nhà văn, nhà thơ sáng tác ra những bài thơ xuất sắc. Một trong những tuyệt tác đó chính là bài bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến được xưng tụng là Tam Nguyên Yên Đổ. Những vần thơ trữ tình, dí dỏm dã tự động len vào lòng người đọc, người nghe về một tình bạn đậm đà, thắm thiết, không cần những vật chất tầm thường mà vẫn gắn bó keo sơn. Tình bạn tri kỉ đó đã được mọi người truyền từ đời này sang đời khác qua nguyên văn của cụ Nguyễn Khuyến như sau:
“Đã bấy lâu nay, bác tới nhà,
Trễ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta”
Bài thơ mở đầu thật sinh động và hàm súc bằng hình ảnh như sau: “Đã bấy lâu nay, bác tới nhà”
Đọc câu thơ trên, em cảm nhận được tình cảm của tác giả chất chứa trong từng câu chữ, thể hiện được tình cảm thâm giao sâu sắc khi người bạn đến thăm trong hoàn cảnh nhà thơ cáo quan về ở ẩn tại thôn quê mà từ lâu lắm rồi tình đời bạc bẽo hầu như không ai ngó ngàng tới. Để đáp lại tấm chân tình của người bạn, tác giả đã gọi “bác”. Đại từ “bác” chỉ được sử dụng khi gọi một người mà mình rất mực yêu quý như người thân trong gia đình. Cũng giống như người dân Việt Nam đã gọi vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc bằng “Bác Hồ” thể hiện sự kính trọng, lòng yêu thương Bác như một bậc bề trên trong gia đình.
Và khi một người bạn thân như ruột thịt đến nhà chơi, chắc chắn phải được tiếp đón thật nồng hậu. Nhưng mọi việc không phải lúc nào cũng như ý ta muốn:
“Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá.”
Ở nông thôn, muốn đãi bạn bằng những món ăn ngon nhất thì phải đi ra chợ, ra phố. Nhưng ngặt một nỗi ngay vào lúc đó, vợ con, người hầu đều di vắng thì làm sao sai bảo ai ra đứợc. Món ăn ngon ngoài chợ không có, thôi thì đành tìm món ăn ngon nhất ở quanh nhà vậy. À, thì ra đây rồi! Có món cá đặc sản của miền quê: món cá. Niềm vui chưa kịp bùng lên thì đã tắt vi nhìn ra ao thì hỡi ôi: ao quá sâu trong khi đó nước lại đương lớn, đương dâng cao mà đối với một người tuổi già sức yếu thì đành chịu thua.
Không có món ăn ngon thì đành đãi bạn bằng những món tàm tạm vậy:
“Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ”
Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ Lời Nói Gói VàngMón cá thịt thường đi dôi với nhau. Không có cá thì nghĩ đến thịt. Nhưng thật tiếc vì vườn thì rộng, còn rào thì thưa: làm sao đuổi bắt được gà để làm món ăn đây. Thịt cá không có thì đành làm tạm một bữa ăn dưa cà thanh đạm vậy. Nhưng khi nhìn ra vườn rau thì nỗi thất vọng hiện lên vì cải chỉ mới lú nhú chưa mọc ra cây, còn cà thì không thấy bóng dáng đâu mà chỉ toàn là nụ.
Để cứu vãn tình thế, chúng ta thử nghĩ xem nhà thơ sẽ nghĩ đến món gì để đãi bạn?
“Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có.”
Đến lúc này, người đọc thấy được nét bối rối hiện rõ trên nét mặt của tác giả. Những món ăn ngoài chợ, ngoài vườn đều không có thì đành cầu cứu đến giàn mướp, giàn bầu ngay trước cửa nhà. Nhưng oái oăm thay khi không thấy một trái bầu nào cả, còn tìm đến trái mướp cũng như không vì chỉ nhìn thấy toàn là hoa. Cuối cùng đành phải bước vào nhà tiếp bạn bằng khay trầu để trên bàn theo tục lệ thông thường nhất ngày xưa “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Vậy mà không hiểu sao hôm nay khay trầu dùng để tiếp khách ở trên bàn lại biến đâu mất. Thế là đến món đãi khách bình thường nhất cũng không có. Mà đâu phải khách tầm thường, đây là người bạn thân quý mến nhất, dáng trân trọng nhất. Thật là khó xử!
Trong tình thế như vậy, nhà thơ sẽ xử sự ra sao?
“Bác đến chơi đây, ta với ta.”
Câu thơ cuối cùng bỗng bừng sáng, bỗng oà lên niềm vui sau bao nỗi buồn vì không có gì để tiếp bạn hiền. Bác đến chơi dây chỉ còn có “ta với ta” mà thôi: nhà thơ và bạn hiền tuy hai người nhưng chỉ là một, chung một tấm lòng, một tình bạn chân thật. Và diều này mới là cao quý nhất trên đời hơn hẳn những vật chất tầm thường. Ớ dây em thấy được nhà thơ đã gửi vào tác phẩm của mình một điều mới mẻ: với bố cục sáng tạo (1-6-1) phá luật thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, nhà thơ đã khéo léo lồng ghép tình huống vào từng câu thơ làm cho mọi người cảm xúc theo từng nỗi băn khoăn, khó xử khi không có gì để tiếp đãi bạn để rồi cuối cùng nêu lên một câu kết hóm hỉnh chứa đựng tình bạn đậm đà, thắm thiết, gây bất ngờ cho người đọc, người nghe. Thật là xuất chúng! Thế mới là Tam Nguyên Yên Đổ!
Nếu ai đã từng đọc qua bài thơ Bạn đến chơi nhà của cụ Nguyễn Khuyến thì nhất định sẽ hiểu được tình bạn là thiêng liêng, cao quý đến nhường nào! Em cũng vậy: càng thấm thìa được cái hồn trong tác phẩm, em càng muốn có được một tình bạn chân thành như cụ Nguyện Khuyên. Để thực hiện được điều này thì ngay bây giờ em càng phải trau dồi bản thân, hoàn thiện mình và nhất là đối xử tốt với mọi người chung quanh, với những người bạn tốt của mình.
Nguồn: thêm: Phân tích bài ca dao Tháng chạp là tháng trồng khoai | Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà Ngữ văn lớp 7 | 1,107 | |
Cảm nghĩ về bài thơ Phò Giá Về Kinh (Tụng giá hoàng kinh sư)
Hướng dẫn
Dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, luôn sẵn sàng đứng lên chống giặc, sẵn sàng hi sinh vì đất nước. Vì thế lịch sử nước ta thấm đẫm những cuộc chiến tranh đau thương, tàn khốc nhưng cũng đầy hào hùng, vẻ vang với những chiến thắng vinh quang in đậm dấu vết của biết bao anh hùng dân tộc trên từng trang lịch sử vàng. Một trong những vị anh hùng đó là Trần Quang Khải, một vị tướng tài ba dưới thời nhà Trần, là con trai thứ ba của vua Trần Nhân Tông, lập công lớn tại Chương Dương Độ, lừng danh muôn đời. Ông không chỉ là một vị tướng kiệt xuất mà còn là một văn nhân có những vần thơ sâu xa, lý thú. Bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư” (Phò giá về kinh)) là một bài thơ do Trần Quang Khải viết sau khi quân dân nhà Trần chiến thắng quân Nguyên lần thứ hai. Bài thơ nói về cảm xúc người tướng khi theo xa giá vua trở về kinh đô khải hoàn được thể hiện qua những câu thơ như sau:
“Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.”
(Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu. )
Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt hàm súc đã vẽ lên một khung cảnh hoành tráng với khí thế chiến đấu và thắng lợi vẻ vang của quân ta. Lúc bấy giờ đại binh của Thoát Hoan đóng tại Thăng Long, còn chiến thuyền thì đóng ở bến Chương Dương, thuộc địa phận huyện Thượng Phúc. Trần Quang Khải được lệnh vua, cùng Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão dem quân từ Thanh Hóa đi thuyền vòng đường biển ra đến bến Chương Dương tấn công chiến thuyền của quân Nguyên. Quân giặc địch không nổi phải bỏ thuyền lên bờ chạy.
Còn Hàm Tử hay Hàm Tử quan là địa danh nổi tiếng, nơi xảy ra trận Hàm Tử trong cuộc Kháng chiến chống quân Nguyên 1285 của quân dân Đại Việt. Cửa Hàm Tử xưa thuộc xã Hàm Tử bên tả ngạn sông Hồng, gần bãi Màn Trù. Trận quyết chiến tại cửa Hàm Tử diễn ra vào cuối tháng 5 năm 1285, 5 vạn quân do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chỉ huy, đã nhanh chóng giành thắng lợi. Cùng với các trận Tây Kết, Chương Dương, Vạn Kiếp, chiến thắng Hàm Tử dã góp phần tiêu diệt và quét sạch 50 vạn quân Nguyên ra khỏi bờ cõi, giải phóng hoàn toàn Đại Việt.
Xem thêm: Cảm nghĩ của em về con người Nguyễn Trãi qua văn bản “Côn Sơn ca”Nghệ thuật đảo ngữ đưa hai cụm từ “đoạt sáo”, “cầm Hồ” lên trên đầu câu đã thể hiện được khí thế dũng mãnh của quân ta, đồng thời cũng diễn tả được sự thất bại nhục nhã của quân giặc. Nhịp điệu bài thơ nhanh, gấp kết hợp với các động từ biểu thị động tác mạnh mẽ, dứt khoát tạo nên nhịp dộ dồn dập, sôi động, quyết liệt của không khí chiến trận. Nhà thơ không nói nhiều về những chiến công và cũng không tỏ ra say sưa với chiến thắng nhưng người đọc vẫn có thể cảm nhận được niềm phấn khởi, kiêu hãnh vô bờ toát lên từ âm hưởng của bài thơ.
Hơn nữa, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp liệt kê và phép đối để làm nổi bật hai sự kiện lịch sử mang tầm chiến lược. Hai chiến công oanh liệt này dã làm 'thay đổi thế trận của quân ta: mở đầu và tiếp thêm sức mạnh, niềm tin đến quân và dân ta đập tan âm mưu xâm lược, đánh bại được kẻ thù hung bạo nhất thế giới thời bấy giờ, giành lại kinh thành Thăng Long. Ở đây có một điểm nổi bật là Trần Quang Khải là nhà thơ dầu tiên đã đưa địa danh sông núi Đại Việt vào thơ ca.
Đất nước sạch bóng quân thù, được hưởng thái bình yên ổn là một điều rất khó nhưng để giữ gìn non nước mãi hoà bình, thịnh trị lại là điều càng khó hơn. Phải chăng vì thế mà Trần Quang Khải đã nhắn nhủ:
“Thái hình tu trí lực,
Vạn cổ thủ giang san.”
(Thải bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu. )
Nếu muốn đất nước không bị hoạ xâm lược thì dân phải giàu, nước phải mạnh. Cho nên Trần quang Khải đã khuyên nhủ mọi người không nên ngủ trên chiến thắng mà phải bắt tay ngay vào xây dựng đất nước, củng cố lực lượng cả về kinh tế và chính trị thì mới có thể giữ vững nền độc lập, dập tắt mọi tham vọng ngông cuồng của bọn ngoại xâm. Chỉ hai câu thơ ngắn gọn mà đã thể hiện dược tấm lòng và tài trí của một danh tướng với tầm nhìn xa, hiểu biết rộng, suy xét sự việc một cách sâu sắc kết hợp với lòng yêu nước thương dân, có trách nhiệm với Tổ quốc luôn đặt Đất nước lên hàng đầu.
Bằng thể thơ ngữ ngôn tứ tuyệt, lời thơ cô đọng, ý thơ hàm súc, Trần Quang Khải đã dựng lên trước mắt người dọc bức tranh sinh động về khí thế chiến đấu hào hùng của quân dân ta, về quyết tâm hoà bình, độc lập, giữ vững chủ quyền, nhất là khẳng định nước Nam là của người dân Đại Việt, đó là định luật muôn đời không thể thay đổi.
Dầu đã trải qua bao thế hệ, với bao lớp bụi thời gian nhưng bài thơ vần còn mang ý nghĩa lớn lao, không chỉ vào thời xưa mà cả ở thời nay. Lớp trẻ chúng ta muốn dất nước hùng mạnh, độc lập chủ quyền thì phải mở mang kiến thức, rèn luyện phẩm chất xứng đáng với những người làm chủ tương lai của đất nưức.
Nguồn: thêm: Miêu tả con đường từ nhà đến trường | Cảm nghĩ về bài thơ Phò Giá Về Kinh (Tụng giá hoàng kinh sư) | 1,037 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh
Nhắc đến Xuân Quỳnh, người ta thường nghĩ tới những vần thơ nhẹ nhàng, sâu lắng của một trái tim phụ nữ đa cảm. Không da diết, khắc khoải như những sáng tác về tình yêu, trong giây phút hướng về tình cảm gia đình gần gũi, như tình mẹ con, tình bà cháu,… tiếng thơ Xuân Quỳnh thường cất lên với giọng trong trẻo nhưng vẫn thể hiện nét đẹp tâm hồn của một phụ nữ giàu yêu thương. Tiếng gà trưa là một bài thơ như vậy.
"Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ:
“Cục… cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ"
Bài thơ là phút lắng lòng của người chiến sĩ trên chặng đường hành quân mệt mỏi. Lúc dừng chân bên thôn xóm yên bình, vẳng nghe tiếng gà nhảy ổ quen thuộc của làng quê, người chiến sĩ để lòng mình cuốn vào âm thanh ấy và trải ra mênh mông theo sức lan tỏa của nó. Mỗi lần động từ nghe được lặp lại, trường lan tỏa của âm thanh tiếng gà mỗi lúc một rõ nét nhưng đó không phải là sự mở ra theo chiều rộng không gian mà là sự chuyển động theo chiều sâu của cảm xúc. Đầu tiên là sự thay đổi của ngoại cảnh: Nghe xao động nắng trưa, sau đó là sự xâm lấn vào cảm giác: Nghe bàn chân đỡ mỏi và cuối cùng là sự thấm sâu trong tâm hồn: Nghe gọi về tuổi thơ. Điệp từ nghe cùng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác đã diễn tả tinh tế diễn biến cảm xúc ấy trong tâm hồn người chiến sĩ. Tiếng gà mở đầu bài thơ là một âm thanh của thực tại, vẳng đến từ nơi nào đó trong xóm nhỏ. Nhưng đến cuối khổ, nó đã trở thành âm thanh vọng về từ kí ức, khi người chiến sĩ chìm trong giây phút trầm lắng để thả hồn miên man theo tiếng gọi tuổi thơ.
Theo dòng hồi tưởng ấy, những kỉ niệm ùa về, sống động như đang hiện ra trước mắt. Điệp ngữ tiếng gà trưa mở đầu các đoạn thơ sau, lặp đi lặp lại bốn lần như một điệp khúc, điểm nhịp cho dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình. Mỗi lần lặp lại, nó mở ra một ô cửa lung linh làm sáng bừng lên cả khung trời kỉ niệm:
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng
Nhân vật trữ tình đã ngược dòng thời gian để trải nghiệm lại những cảm xúc trẻ thơ trong sáng. Đó là niềm thích thú khi nâng niu ổ trứng hồng ấm áp, là niềm vui say khi ngắm nhìn không chán mắt màu hoa, màu nắng trên mình mỗi chú gà. Từ hình ảnh đàn gà và ổ trứng, người bà xuất hiện trong sự kết nối tự nhiên của mạch cảm xúc. Đây chính là tâm điểm hội tụ mọi kí ức về những năm tháng tuổi thơ của người cháu.
Có giọng bà vang vọng:
Tiếng gà trưa
Có tiếng bà vẫn mắng
– Gà đẻ mà mày nhìn
Rồi sau này lang mặt!
Cháu về lấy gương soi
Lòng dại thơ lo lắng
Có bóng dáng thân thuộc của bà:
Tiếng gà trưa
Tay bà khum soi trứng
Dành từng quả chắt chiu
Cho con gà mái ấp
Tất cả đều hiện lên trong niềm xúc động của người cháu khi được sống lại trong tình yêu thương và sự chăm chút của bà. Tiếng bà mắng, bàn tay bà khum khum soi trứng, những mảnh kí ức ấy đã thức dậy trong lòng người cháu cả một tuổi thơ sống trong sự tần tảo, chắt chiu, hi sinh quên mình của bà:
Cứ hàng năm hàng năm
Khi gió mùa đông đến
Xem thêm: Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu (Có dàn ý chi tiết)Bà lo đàn gà toi
Mong trời đừng sương muối
Để cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới"
Sự kéo dài của chuỗi thời gian “cứ hàng năm hàng năm” cũng là sự lặp lại của bao nỗi lo âu, mong mỏi đã dệt nên đời bà. Bà đổi những lo âu, mong mỏi và chắt chiu ấy chỉ để lấy nụ cười được bộ quần áo mới của đứa cháu thơ. Đó là món quà gói trọn tình cảm yêu thương và hi sinh của bà nên ấm áp và thiêng liêng vô cùng.
"Ôi cái quần chéo go
Ống rộng dài quét đất
Cái áo cánh trúc bâu
Đi qua nghe sột soạt"
Những câu thơ giản dị mà dồn nén bao cảm xúc. Đó không chỉ là niềm vui trong quá khứ của đứa cháu nhỏ được quà mà còn là niềm xúc động rưng rưng trong hiện tại của người chiến sĩ khi thấm thía tình cảm của người bà thân thương.
Tiếng gà, ổ trứng và niềm hạnh phúc mà bà mang lại đã trở thành suối nguồn yêu thương nuôi dưỡng và ghi dấu trong tâm hồn người cháu:
"Tiếng gà trưa
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng"
Từ những giấc ngủ bình yên và ấm áp niềm hạnh phúc trẻ thơ như thế, hình ảnh bà và những kỉ niệm tuổi thơ gắn với tiếng gà đã đi sâu vào tâm thức và trở thành một phần thiêng liêng trong lòng người cháu. Đó chính là một động lực mạnh mẽ để người chiến sĩ hôm nay quyết tâm chắc tay súng. Khổ cuối, mạch cảm xúc quay trở lại hiện tại một cách tự nhiên bởi chính mối liên hệ sâu sắc ấy:
"Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ."
Giọng thơ vẫn nhẹ nhàng nhưng mỗi lần điệp từ vì được lặp lại, dường như cảm xúc lại lắng sâu thêm để tìm về với ngọn nguồn gần gũi và thiêng liêng nhất. Những yếu tố tạo nên động lực của lòng quyết tâm chiến đấu ở người cháu qua từng dòng thơ mỗi lúc một thu hẹp lại về phạm vi: Tổ quốc – xóm làng – người bà – tiếng gà, ổ trứng đã nói lên một quy luật tình cảm vô cùng giản dị: tình cảm gia đình làm sâu sắc thêm tình yêu quê hương, đất nước và sự thống nhất giữa hai tình cảm cao đẹp này là cội nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người lính. Lòng yêu nước cũng không phải là cái gì xa xôi, lớn lao hay trừu tượng. Đó có thể chỉ là yêu một bếp lửa ấp iu như Bằng Việt; yêu một tiếng gà cục tác, một ổ rơm trứng hồng như Xuân Quỳnh hay yêu cái cây trồng trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông như I-li-a Ê-ren-bua chẳng hạn. Nên ở một góc độ nào đó, sự thu hẹp phạm vi ở khổ thơ cuối là cách thức cụ thể hóa lòng yêu nước, làm nổi bật chân lí giản dị: Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc. Bài thơ được mở đầu bằng tiếng gà trưa và kết thúc lại trở về với tiếng gà. Nhưng đó không đơn thuần là tiếng gà gọi về tuổi thơ nữa, mà là tiếng gà gọi dậy trong lòng người chiến sĩ bản chất của lòng yêu nước, cái lí do cao cả mà rất đỗi cụ thể, hối thúc bàn chân băng rừng lội suối đấu tranh vì độc lập, thống nhất nước nhà.
Bằng một hình thức nghệ thuật độc đáo: thể thơ năm tiếng kết hợp biểu cảm với tự sự, miêu tả; thỉnh thoảng, trong mỗi tiết đoạn liên tưởng được gợi ra từ tiếng gà, lại được ngưng nghỉ, phân định bởi một lời thơ ba tiếng (lời thơ: Tiếng gà trưa) như đánh dấu một nấc cảm xúc, bài thơ đã diễn đạt một cách tự nhiên những tình cảm bình dị mà thiêng liêng, sâu sắc của người chiến sĩ trẻ trên bước đường hành quân. Chất liệu dân gian thô mộc, cách lựa chọn tứ thơ thông minh, chất trữ tình vừa bồng bột, nhí nhảnh vừa sâu lắng, đằm thắm là đặc trưng của thơ Xuân Quỳnh trong giai đoạn này, cũng là một điểm chung của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Hãy phát hiểu cảm nghĩ của mình về phần kết của truyện nói riêng, về truyện “Cô bé bán diêm” của Anđecxen nói chung | Cảm nghĩ về bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh | 1,465 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử.
Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuật hoài” ( Tỏ lòng ) của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc.
Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.
Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng Phạm Ngũ Lão.
Hoành sóc giang san kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.
Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (kháp kỷ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.
Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu: ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:
Xem thêm: Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong đoạn trích “Đất nước” (trong trường ca "Mặt đường khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm) và bài thơ “Đất nước" của Nguyễn Đình Thi“Thuyền bè muôn đội;
Tinh kỳ phấp phới
Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…”
(Bạch Đằng giang phú)
Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:
“Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”
“công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông).
“Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Bình luận về vai trò của sách đối với đời sống con người | Cảm nghĩ về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão | 1,027 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương
Bài làm
Hồ Xuân Hương được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm của nước ta. Một trong những người phụ nữ học rộng tài cao của thi ca Việt Nam trong giai đoạn phong kiến. Nhưng cuộc đời bà lại gặp nhiều trắc trở éo le trong tình duyên, hạnh phúc lứa đôi, khiến cho mỗi câu thơ của bà đều chua chát, gắn liền với số phận người phụ nữ.
Bài thơ Bánh trôi nước mà một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Hồ Xuân Hương nó thể hiện cái tài chơi chữ của bà. Cũng như thể hiện sự tinh tế sắc sảo của bà khi mượn hình ảnh bánh trôi để nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa.
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Bánh trôi nước thường xuất hiện trong tết ngày 3/3 âm lịch nước ta hàng năm. Hình ảnh bánh trôi được tác giả miêu tả vô cùng độc đáo, sinh động, gợi lên nhiều khao khát, như đang nói về chính bản thân mình
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
Hình ảnh người phụ nữ được hóa thân nhập mình vào trong chiếc bánh trôi bình dị, dân dã đó. Sự trắng trong, tròn trĩnh của người con gái giống như chiếc bánh trôi tròn trịa đầy đặn nhiều sức sống của tuổi thanh xuân phơi phớiXem thêm: Giới thiệu về cuộc đời của nhân vật Hồ Xuân Hương
“Bảy nổi ba chìm với nước non”
Bánh trôi khi nặn xong được người ta cho vào luộc với nước sôi, khi bánh sống thì chìm xuống đáy nồi, lúc bánh chín thì nổi lên bề mặt nước. Tác giả Hồ Xuân Hương đã vô cùng tinh tế, sắc sảo khi miêu tả hình ảnh “bảy nổi ba chìm” của bánh trôi để nói về số phận, cuộc đời người con gái thời xưa, luôn chịu nhiều cay đắng,
Họ luôn chịu cuộc sống long đong, lận đận không được tự ý quyết định vận mệnh cuộc sống của mình mà luôn phải phụ thuộc đời mình vào người đàn ông.
Sống trong một xã hội “Trọng nam khinh nữ” thì một người phụ nữ càng có tài càng gặp nhiều bất hạnh, éo le.
“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”
Trong câu thơ này thể hiện sự cam chịu của người phụ nữ thời xưa. Họ chỉ là một cái bóng trong gia đình trong xã hội, luôn luôn phải phục tùng những người bề trên. Khi còn ở nhà thì nghe lời cha mẹ, lớn lên theo chồng thì phải nghe chồng, chồng chẳng may chết sớm thì phải nghe theo sự sắp xếp của con trai. Chính vì vậy người xưa mới có câu “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử thì tòng tử”
“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Dù cuộc đời có bất công, có bạc bẽo thì người con gái vẫn không thay lòng đổi dạ, như chiếc bánh trôi kia bên trong chứa nhân đường ngọt ngào, của vị mật. Người con gái cũng vậy luôn chung thủy sắc son một lòng với người đàn ông của mình dù người đàn ông có khi năm thê bảy thiếp, bạc bẽo phụ tìnhXem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Phò Giá Về Kinh (Tụng giá hoàng kinh sư)
Tác giả đã vô cùng tinh tế khi mượn hình ảnh chiếc bánh trôi để nói lên vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ thời xưa.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Cảm nghĩ về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương- văn lớp 7 | 612 | |
Cảm nghĩ về bố của em lớp 7 hay nhất
Hướng dẫn
Trong chương trình Đôrèmi có một chú bé hát bài tựa đề “Cả thế giới ở trong túi bố”, nói về tình cha con của hai chú chuột túi. Chú bé đó còn tâm sự rằng ba của bạn ấy ở tận Trường Sa, không có ti vi để xem con mình biểu diễn. Thật là tội nghiệp cho chú bé! Em bỗng thấy mình thật hạnh phúc khi có ba luôn quan tâm, thương yêu, theo dõi theo mỗi bước em đi trên đường đời.
Bạn bè thường nói ba em có khuôn mặt nghiêm khắc. Cũng đúng thôi vì ba em đã bỏ ra cả cuộc đời để làm việc, kiếm tiền và giáo dục cho mấy chị em nên người. Nhìn kĩ vào gương mặt khắc khổ đầy vẻ cực nhọc vì phải tần tảo làm việc ngày đêm, em bỗng nhận ra đôi mắt sáng đầy vẻ tinh anh của ba trước kia đâu mất rồi? Mà thay vào đó là đôi mắt đầy vẻ suy tư ẩn sau đôi kính lão. Biết bao giờ ba mới có thể nghỉ ngơi, không phải lo lắng cho mấy chị em chúng tôi nữa? Khi nào ba mới có thể thảnh thơi, không phải vất vả kiếm tiền nữa?
Ba thường nói rằng trước đây ba không có được điều kiện để đi học nliiểu nên mong muốn con mình có thể học hành đến nơi đến chốn. Vì thế khi có cơ hội để chị em chúng tôi học được điều mới, ba sẽ ủng hộ ngay. Mỗi lần em học được cái mới, em muốn thực hành ngay để đền đáp lại kì vọng của ba. Thế rồi củng có dịp để cho em trổ tài. Đó là dịp kỉ niệm 20 năm ngày cưới của ba mẹ tôi. Tôi đã dựng một đoạn phim về những hình ảnh đám cưới của ba mẹ tôi ngày xưa, rồi tới hình ảnh của chị em tôi từ bé đến lớn. Kết thúc đoạn phim là những lời chúc tụng đấng sinh thành… Xem xong, tuy không nói lời nào nhưng em biết ba tự hào về các con của mình lắm! Đêm đó thật là một đêm khó quên dối với gia đình em.
Tuy nhiên cũng có lúc em làm cho ba buồn lòng. Em nhớ như in vào ngày sinh nhật năm trước của em. Ba đã muốn tạo một dịp bất ngờ cho em. Nhưng đáng tiếc là em lại không có mặt ở nhà để đón nhận điều bất ngờ đó do đi chơi quá giờ với bạn bè. Lúc về, thấy bữa ăn đã dọn sẵn, thấy món quà mà ba đã chuẩn bị, sao em thấy hối hận quá! Em muốn thời gian quay trở lại để sủa chữa khuyết điểm của mình. Nhưng đã quá muộn rồi! Cả nhà đều buồn mà người buồn nhất là ba, người đã đặt cả niềm hi vọng, yêu thương qua món quà sinh nhật dành tặng cho em…
“Cả thế giới ở trong túi bố. “Ba em đúng là một người như vậy. Ba đã dạy cho em rất nhiều điều hay, lẽ phải, nhưng còn hơn thế nữa, điều mà em học được lớn nhất chính là tấm gương cao đẹp của ba. Và nếu có ba, em sẽ có được cả thế giới này.
Nguồn: thêm: Tả lại một cảnh lễ hội mà em đã được tham dự | Cảm nghĩ về bố của em lớp 7 hay nhất | 582 | |
Cảm nghĩ về bố
Bài làm
Nước càng chảy xiết, bề mặt càng tĩnh lặng. Tình cảm một khi đã sâu đậm, cũng sẽ tỏ ra bình đạm. Đó có lẽ là câu nói thích hợp nhất khi nói về bố của tôi. Bố là người vô cùng yêu thương con cái nhưng rất ít khi diễn tả bằng lời, bố luôn chiều chuộng, chăm nom và để ý từng chút một trong cuộc sống hàng ngày của tôi. Tôi yêu bố rất nhiều, người đàn ông đầu tiên xuất hiện trong đời và hết lòng bảo vệ tôi.
Có rất nhiều việc trên đời này kể về mẹ, ca ngợi, tôn vinh… Nhưng đối với bố, phần nhiều bị thiệt thòi. Thật ra không phải chúng ta không yêu bố, mà dường như hình ảnh người đàn ông đầu tiên xuất hiện trong cuộc đời lúc nào cũng mang một dáng vẻ kiên cường, vững chãi lo toan trước mọi sóng gió và chở che gia đình bé nhỏ. Đối với bố, tình yêu thương không hẳn là những cái cưng nựng vuốt ve, mà là sự yêu thương tự trong đáy lòng. Bố luôn nghiêm khắc, cứng cỏi nhưng dạy chúng ta mạnh mẽ. Cũng vì thế tình yêu giữa bố và con giống như tình yêu của những người bạn bè xương máu trong đời, gần gũi nhưng là sự chỉ bảo, trưởng thành dành cho con.
Từ trong ký ức đến khi lớn, bố như là ngọn gió nâng đỡ cánh diều của tôi. Nếu gia đình khác yêu thương con bé bỏng, sợ con ngã, con đau, con trải qua những điều không hay so với tuổi thì bố luôn là người dẫn tôi đến đoạn đường khúc khuỷu nhất để tôi đi qua. Học đi xe đạp, tự có ý thức làm bài tập, sống tự tin, không tranh giành những thứ không phải là của mình, hiểu được khi lớn rồi sẽ phải tự lập như thế nào… mỗi thứ bố đều dạy bảo tôi để tôi có hành trang trưởng thành. Bất kể cuộc sống, học tập, tình bạn, rung động đầu đời, bố đều cho tôi lựa chọn và đứng sau quan sát, nếu tôi có thể vượt qua thì là điều tốt, nếu chẳng may vấp ngã thì vẫn còn bố ở bên. Bố để tôi khóc trong vòng tay bố nhưng không muốn tôi khóc khi gặp chuyện mà mình không giải quyết được, vì tôi hiểu khi không có bố ở cạnh thì tôi phải tự bảo vệ mình, tự học cách vượt qua thất bại của cuộc sống.Xem thêm: “Bài hát nhà tranh bị gió thu phá nát” của Đỗ Phủ chứa chan tình yêu thương con người... Hãy phân tích bài thơ để chứng minh ý kiến trên
Cảm nghĩ về bố
Không giống như mẹ, tình yêu của mẹ ngọt ngào, dịu dàng, êm đềm và lặng lẽ chỉ cho tôi cách yêu thương, cách bao dung cho người khác, làm một con người nghĩa tình và nhu hòa. Tình yêu của bố rắn rỏi, nhiệt huyết, mạnh mẽ, vĩ đại, kiên cường chỉ cho tôi sự can đảm, tiến lên phía trước, không được phép bỏ cuộc và chịu thua số phận. Có thể bố nấu cơm không ngon, giặt đồ không sạch, có lúc hơi hậu đậu nhưng mẹ vắng nhà thì ba bữa chính vẫn chưa từng thiếu hay để tôi ăn ngoài hàng. Bố không hoàn hảo, nhưng bố luôn giành cho tôi những gì tốt nhất trong đời bố. Bố đứng sau chúng tôi chở che những sóng gió ập đến, nhưng lại là chỗ dựa vững chắc nhất đẩy chúng tôi bước đi. Trên con đường hướng đến tương lai, sự có mặt của bố đã trở thành động lực tuyệt vời nhất để tôi có hy vọng thực hiện ước mơ của mình.
Tôi ít khi thấy nước mắt của bố nhưng nếu nó đã rơi cũng chỉ toàn giành cho gia đình mình. Bố giấu tôi khóc trong góc hành lang bệnh viện khi mẹ tai nạn tưởng không qua khỏi được. Nhưng rồi bố vẫn kiên cường bảo tôi rằng không sao đâu mẹ sẽ khỏe lại. Tôi luôn tin rằng lời nói của bố rất có trọng lượng và sẽ không bao giờ sai và quả thực mẹ tôi đã bình an. Bố khóc vì tôi nấu cho bố một bát cháo nóng khi bố ốm và mẹ thì vắng nhà. Bố bảo tôi biết chăm sóc cho người khác rồi thì không sợ sau này tự lập bố phải lo lắng cho tôi nữa.Xem thêm: Phân tích câu ca dao "Thân em như con hạc đầu đình, Muốn bay không cất nổi mình mà bay"
Trái tim bố thật sự là thứ ấm áp và kiên cường nhất thế gian. Nhờ có bố mà tôi có thể sải cánh bay cao trên con đường tiến tới tương lai. Nhờ có bố tôi học được cách lo lắng và bảo vệ chính mình. Bố thương yêu nhưng không dung túng, bao bọc nhưng không để yếu hèn, nghiêm khắc nhưng chưa từng quá đáng. Tất cả những thứ bố làm cho tôi đều rất vừa phải. Đủ yêu thương, đủ dạy dỗ.
Tôi yêu bố và cảm ơn bố rất nhiều. Thật may mắn khi được làm con của bố. Tôi sẽ hoàn thiện chính mình, chuẩn bị đầy đủ hành trang bước vào đời, làm niềm tự hào mà bố luôn muốn. Sau này có thể chăm lo cho bố lúc tuổi già, thay bố gánh nặng cơm áo gạo tiền và làm người lớn bảo vệ lại cho bố. “Trẻ cậy cha, già cậy con”. Tôi vẫn nhớ mãi câu này, bố đã nâng đỡ tôi biết bao nhiêu năm nay, sắp đến lượt tôi là chỗ dựa cho bố rôi. Tôi yêu bố tôi, người đàn ông duy nhất trên đời yêu thương tôi vô điều kiện.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về bố hay nhất | 997 | |
Cảm nghĩ về cha mẹ của em
Hướng dẫn
Không có một ngôn từ nào trên thế gian này nói hết được ‘công cha nghĩa mẹ’. Cha mẹ là những con người tuyệt vời đối với phận làm con như chúng ta, chúng ta tự hào vì có họ trong cuộc đời này.
Cha mẹ là người tạo ra hình hài, đưa chúng ta đến với cuộc sống muôn màu này. Chúng con thầm cảm ơn cha mẹ vì đã sinh ra chúng con. Mẹ mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày, cha vất vả sớm hôm mong ngóng đứa con tựa thiên thần mình chào đời. Không có Cha Mẹ thì chúng ta không thể tồn tại trên thế gian này, không thể chạm đến cuộc sống này:
"Có phải cha mẹ hứa nhau từ kiếp trước Tạc lại hình con nguyên vẹn trái tim người"
Cha mẹ vất vả cả cuộc đời để nuối nấng những đứa con, họ không hề nghĩ chút gì cho bản thân họ. Họ như tồn tại trong cuộc đời này chỉ vì những đứa con của mình. Sinh con ra là điều mà chúng con không biết trả ơn sao cho hết đằng này người còn giành tất cả những gì tốt đẹp nhất trên thế gian này cho chúng con.
"Tảo tần sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn.Đưa tấm lưng gầy cha che chở đời con"
Cha mẹ không quản cực nhọc trong cuộc sống để kiếm ra những đồng tiền nuôi các con có cái ăn, cái học; có cái cho bằng bạn bằng bè. Cha mẹ đổ mồ hôi vì những ước muốn của các con. cha mẹ bán lưng cho trời bán mặt cho đất chỉ để mong cho con họ có được cuộc sống viên mãn nhất.
Cha Mẹ không quan tâm đến hạnh phúc của riêng bản thân; Cha Mẹ có thể nhin đói, có thể mặc một bộ áo quần với những chỉ khâu nhưng tấm lòng bao la của họ làm đủ mọi cách để con mình có một bữa cơm no, có một bộ quần áo đẹp.
Xem thêm: Một nhà văn đã nói: "Trên con đường đi đến thành công, không có vết chân của kẻ lười biếng". Em hiểu nội dung câu nói trên như thế nàoKhông vì những vất vả trong cuộc sống mà Cha Mẹ lời to tiếng nặng với con mình; Cha Mẹ luôn nói một cách nhẹ nhàng, một cách ấm áp để dạy các con; Cha Mẹ có tấm lòng bao dung và vị tha qua lớn đối với các con.
Từ khi tạo nên hình hài trong đầu Cha Mẹ luôn thao thức, nghĩ cách nào để dạy dỗ con mình thật ngoan, thật một người tốt. Cha Mẹ không ngừng suy nghĩ về điều đó. Cha Mẹ dạy ta cách làm người, cách đối nhân xử thế sao cho đúng; người dạy ta muôn vàn cái hay, cái đẹp nhưng người cũng không quên dạy ta cách đứng vững trên đường đời.
Đôi khi chính những đứa con mình sinh ra không hiểu hết lòng mình, lại dùng những ngôn từ hỗn láo với họ. nhưng họ không bực tức vì những câu nói đó, và rồi phận làm con chúng ta hiểu ra cái sai cần phải sửa của mình. Cha mẹ luôn mở tấm lòng bao dung, nhân ái và đọ lượng với con mình. Hành động của con mình là sai nhưng họ không một lời mằng mỏ mà luôn vỗ về, an ủi, động viên các con. (Ví dụ: hình ảnh người cha già tay đeo xách túi với những hoa quả, món ăn ngon vào thăm đứa con trai tù tội của mình cho ta thấy hai chữ’cha mẹ’ tuyệt vời như thế nào).
Cha Mẹ đã cho chúng ta tất cả những gì họ có nhưng không một lần đòi hỏi những gì ở chúng ta: ‘Cha: có nghĩa là chỗ dựa, suốt đời con trọn vẹn yêu thương Mẹ: có nghĩa là mãi mãi, là cho đi không đòi lại bao giờ ‘
Cha mẹ cho ta sự sống, cho ta cái ăn,cái mặc; trao tình yêu thương nồng nhiệt; lo lắng, chăm sóc chúng ta mỗi khi đau ốm; tận tụy sớm hôm kiếm tiền nuôi con. Nhưng Cha Mẹ chẳng cần đến hai từ báo hiếu, chẳng cần một bữa cơm no từ chúng ta.
Nói về cha mẹ ắt hẳn sẽ không thể nói hết về sự hi sinh cao cả của họ. Chúng ta chỉ cần hiểu một điều: không ai tốt với bạn trên thế gian này ngoài cha mẹ của bạn
Nguồn: thêm: Trong truyện ngắn Đời thừa, nhà văn Nam Cao viết: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho…". Hãy bình luận ý kiến trên và phân tích một số tác phẩm của Nam Cao để làm sáng tỏ quan điểm nghệ thuật đó | Cảm nghĩ về cha mẹ của em | 822 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về câu nói “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
Bài làm
Trong cuộc sống con người thường có câu nói “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” để thể hiện việc đánh giá ai đó không thể thông qua vẻ bề ngoài được, mà cần phải có thời gian. Cần phải nhìn vào nội dung bên trong, xem xét tâm hồn, bản tính của con người đó mới nói lên sự thật
Nếu như chúng ta chỉ nhìn vào bề ngoài của sự vật, sự việc, con người mà vội vàng đưa ra kết luận thì chúng ta sẽ bị thiệt thòi. Giống như việc chúng ta mua một chiếc tủ quần áo bằng gỗ ép công nghiệp nhìn bên ngoài chúng rất đẹp được sơn màu long lanh sáng bóng. Nhưng chỉ sau một thời gian sử dụng chúng ta sẽ thấy nó dễ bị ngấm nước, cong vênh hư hỏng, không bền lâu.
Thế nào là tốt gỗ? Tốt gỗ thể hiện nội dung bên trong, chất lượng loại gỗ tốt, thượng hạng dùng lâu dài không bị mối mọt ăn, không bị cong vênh dùng hàng chục năm, hàng trăm năm vẫn tốt như ngày ban đầu. Mở rộng hơn, tốt gỗ chính là tâm tính, bản chất con người không nhìn thấy qua vẻ bên ngoài được mà phải có thời gian tìm hiểu, chơi thân, thì mới biết.
Người tốt là người ngay thẳng, chân thành luôn giúp đỡ người khác, ham học hỏi cầu tiến…sẽ tốt hơn người có vẻ ngoại hình đẹp nhưng xấu tính đố kỵ, thường xuyên hại người khác vì lợi ích của mìnhXem thêm: Phân tích truyện cổ tích Tấm Cám Nước sơn là gì? Chỉ cái bên ngoài màu sơn có đẹp hay xấu. Mở rộng thì chính là ngoại hình của con người xinh đẹp hay xấu xí.
Nhưng nếu chúng ta chọn một chiếc tủ gỗ Lim không được đẹp bên ngoài, nhưng dùng lại vô cùng tốt, bền theo thời gian. Vì vậy, chúng ta nên lựa chọn những sản phẩm có chất lượng gỗ tốt hơn là chọn mẫu mã vẻ ngoài đẹp.
Trong cuộc sống con người cũng vậy, phải biết chọn bạn mà chơi. Khi chúng ta chơi với một người bạn nào đó cũng vậy. Có thể người bạn đó không xinh xắn đáng yêu về ngoại hình bên ngoài nhưng bản chất lương thiện, tốt bụng học giỏi luôn giúp đỡ người khác sẽ tốt hơn rất nhiều với một người bạn.
Trông hình thức xinh xắn, quần áo đẹp nhưng nội tâm nham hiểm, thường xuyên đố kỵ ganh ghét với bạn bè, không bao giờ muốn giúp đỡ người khác, làm gì cũng chỉ nghĩ tới lợi ích bản thân mình trên hết, thì sẽ chẳng bao giờ tình bạn này lâu bền
Câu nói “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” muốn khuyên nhủ con người ta hay nhìn vào bên trong vấn đề chọn những gì tốt đẹp bên trong chứ đừng vì mờ mắt bởi cái đẹp bên ngoài mà rước họa vào thân. Trong cuộc sống một con người có nội tâm nhân hậu, tính cách tốt đẹp, hòa đồng, biết yêu thương bạn bè, người khác, biết nỗ lực, ý chí vươn lên bằng chính năng lực của bản thân mình, sẽ tốt hơn một con người chỉ được vẻ đẹp bên ngoài, nhưng lười lao động, không biết nỗ lực vươn lên, xấu tính hay hãm hại, đố kỵ với người khác.Xem thêm: Trong vai Âu Cơ hãy kể lại truyện Con Rồng, cháu Tiên
Trong thực tế ai cũng muốn mình sẽ chọn được những thứ hoàn hảo vừa đẹp nước sơn vừa tốt gỗ. Nhưng vạn vật, con người khó có cái gì hoàn hảo hết. Nên khi lựa chọn chúng ta nên chọn những thứ tốt bên trong có giá trị tồn tại lâu dài đừng vì cái đẹp trước mắt mà phải hối hận về sau.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Cảm nghĩ về câu nói “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”- văn lớp 7 | 663 | |
Đề bài: Viết cảm nghĩ về câu "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng"
Từ nghìn xưa, nhân dân ta đã khẳng định dân tộc Việt Nam là anh em ruột thịt với nhau, là đồng bào, nghĩa là cùng sinh ra từ một bọc trứng của mẹ Âu Cơ. Do đó phải thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Truyền thống cao cả và tốt đẹp ấy còn biểu hiện trong câu ca dao gợi cảm:
"Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước thì thương nhau cùng”.
Ta thử tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của câu ca dao này như thế nào? Trước hết, từ câu ca dao ta thấy hiện lên một hình ảnh khá đẹp: tấm nhiễu điều bao phủ phía ngoài chiếc giá gương trải qua ngày này tháng kia, hứng chịu biết bao bụi bặm, bẩn nhơ của cuộc đời để chiếc gương phía trong mãi hoài sáng trong, ngời chiếu. Tác giả vô danh ở đây đã mượn hình ảnh đẹp đẽ, gợi cảm ấy để ngầm so sánh với tấm lòng rộng mở, sẵn sàng chở che, đùm bọc lẫn nhau của nhân dân cả nước ta. Câu ca dao phản ánh một nguyện vọng, tình cảm của mỗi con người Việt nam trong mọi hoàn cảnh đều phải đoàn kết “Lá lành đùmlá rách” một lòng giúp đỡ lẫn nhau vươn lên trong cuộc sống.
Mỗi người Việt Nam dẫu ở miền xuôi hay miền ngược, đồng bằng hay cao nguyên, rừng núi cũng đều có quan hệ là “người trong một nước”. “Người trong một nước” tuy khác nhau về nguồn gốc, hoàn cảnh và điều kiện sống riêng biệt nhưng bên trên những cái khác nhau đó, mọi người vẫn có nhiều cái giống nhau, chung với nahu làm nên tình nghĩa. Chung tổ tông ấy là tình đồng bào. Chung xóm làng, thôn ấp ấy là tình đồng hương. Chung trường học ấy là tình đồng môn. Chung cảnh ngộ ấy là tình đồng cảnh. Chung một mục đích một lí tưởng sống ấy là tình đồng chí. Chung một nghề ấy là tình đồng nghiệp. Chung một nghề ấy là tình đồng nghiệp. Chung một họ hàng là tình đồng tông…
Xem thêm: Hai câu kết bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan có thể coi là hai câu thơ hay nhất trong bài. Nhà thơ Tế Hanh đã có một nhận xét rất hay về hai câu thơ ấy như sau: “Hai...mới”. Em hãy phân tích bài thơ dể làm sáng tỏ ý kiến đóVượt lên trên các khác biệt nhỏ, vì sự giống nhau của một điều chung lớn hơn, người ta biết thương yêu, đỡ đần đoàn kết nhau. Trong thôn ấp, mối quan hệ tình làng nghĩa xóm thắt chặt mọi người lại với nhau thể hiện bằng lòng yêu thương, sự tương trợ lẫn nhau mỗi khi tắt đèn tối lửa. Tinh thần đoàn kết của nhân dân ta đâu chỉ gói gọn trong lũy tre thôn ấp mà còn được biểu hiện rộng rãi vượt ra phạm vi cả nước qua mối quan hệ trao đổi về vật chất lẫn tinh thần.. Một hạt gạo, một tấm áo đầy tình nghĩa của địa phương này gửi đến địa phương khác khi biết đồng bào mình nơi đó bị thiên tai, hoạn nạn đang lâm phải cảnh màn trời chiếu đất đều thắm thiết biết bao tình cảm nhiễu điều giá gương. Đặc biệt, mỗi khi đất nước có họa ngoại xâm, mọi tầng lớp nhân dân ta ở mọi miền đều xông lên tận tâm, tận lực góp cả sức người, sức của để giữ gìn từng ngọn rau tấc đất của cha ông.
Các cuộc kháng chiến chống giặc thù xâm lược từ nghìn xưa đến nayđã cho thấy tinh thần đoàn kết một lòng của nhân dân ta. Tình đất nước nghĩa đồng bào khi nước nhà gặp cơn nguy biến, được phát huy thấm đượm hơn lúc nào hết. Có thương yêu nhau người ta mới cảm thấy đau đớn, xót xa trước cảnh đồng bào mình trong xiềng xích, gông cùm của bọn chúng. Chính trong hoàn cảnh ấy, lòng yêu nước, yêu đồng bào được khơi lên phát huy thành cao trào để thể hiện mạnh mẽ bằng hành động cụ thể là góp lòng góp sức dẫn đến chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.Tinh thần đoàn kết của nhân dân ta, nói theo Bác Hồ, đó là một vật báu được gìn giữ truyền đời, có sức phát huy tác dụng vượt cả không gian và thời gian.
Lúc nào cũng vậy, tình thương yêu đoàn kết giữa người trong một nước ấy không phải chỉ có lời nói đầu môi cuối lưỡi hay chỉ là ước mơ cho nhau được một đời sống vật chất và tinh thần sung túc, ấm no mà phải được biểu lộ ra bằng hành động hay việc làm cụ thể và thiết thực. Chính những hành động hay việc làm thiết thực ấy làm cho tình yêu thương đoàn kết thắm thiết và cao quý hơn bội phần.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về cây bàng hay nhất | Cảm nghĩ về câu “Nhiễu điều phủ lấy giá gương…” | 879 | |
Cảm nghĩ về cây Bàng trên sân trường em lớp 7
Hướng dẫn
Gắn với kí ức thời áo trắng của mỗi cô cậu học sinh là dưới những tán cây bàng rộng khắp sân trường
Cây bàng là loài cây mọc khắp từ những hẻm xóm, đến cạnh các con sông rồi mọc tràn lan khắp sân trường. Cây bàng như một cái ô che nắng che mưa khắp các làng quê.
Cây Bàng vươn ra những cánh bàng rộng, mọc thành tầng lớp xếp chồng lên nhau. Đứng dưới cây bàng ta cảm thấy dễ chịu dưới một mùa hè oi ả nắng nắng, dưới những cơn mưa rào mặc dù không che mưa được hết những nó cũng cố tạo thành cái ô tạm thời mỗi dịp mưa rào chợt tới.
Cây Bàng là loài cây gắn với tuổi thơ chúng tôi. Mỗi ngày trước giờ học hay giờ ra chơi chúng tôi lại tụ tập dưới góc cây bàng kể chuyện trên trời dưới đất cho nhau nghe. Chơi những trò chơi của tuổi trẻ thơ. Ngồi dưới góc cây bàng chúng tôi cảm giác như bàn tay mẹ giang rộng che nắng cho các con thơ của mình. Cái nắng nực của thời tiết làm chúng tôi phát minh ra cây quạt tay được làm từ chính lá bàng, lá bàng như một cái quạt nan.
Nó gắn với thế hệ học trò dưới những mái trường. Học từ cấp một lên đến cấp hai cấp ba, hình ảnh cây bàng luôn có trước mắt chúng tôi. Giờ ra chơi là giờ giải trí để chúng tôi ngồi dưới những ghế đá sân trường trao đổi bài cùng nhau.
Đó cũng là điểm hẹn quen thuộc của mỗi học sinh chúng tôi vì lẽ đương nhiên không chỗ nào lại mát và che khuất ánh nắng hơn ở chỗ đó. Điểm hẹn đó gắn với những người bạn thân quen là cùng nhau nhảy dây, cùng nhau chơi đùa
Vào mùa đông những tán lá xanh ngắt đó không còn nữa, vậy là chúng em phải đợi đến lúc nó hồi sinh. Nhìn cây bàng em cảm phục sự sống của nó, nó trơ trọi gầy hao vào mùa đông bao nhiêu thì nó lại càng tỏ ra sức sống mãnh liệt vào mùa xuân bấy nhiêu
Chúng em thầm xem cây bàng như là người bạn tri kỉ của mình vậy, nó luôn luôn có mặt trên bước hành trình học tri thức của chúng em
Nguồn: thêm: Lòng khiêm tốn có thể coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ thuật xử thế và đối đãi với sự vật” (Lâm Ngữ Đường). Em hãy giải thích và chứng minh nhận xét trên | Cảm nghĩ về cây Bàng trên sân trường em lớp 7 | 453 | |
Cảm nghĩ về cây dừa
Hướng dẫn
– Tôi không biết tuổi thơ các bạn gắn với gì? Nhưng tuổi thơ tôi gắn với loài cây quen thuộc miền Tây, đó là cây dừa. Cây dừa gắn bó với tuổi thơ tôi với đầy ắp những kỉ niệm đẹp. Tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất non nước miền Tây vì thế hình ảnh cây dừa luôn trong tâm thức của những đứa con xa quê hương tại đây.
– Dừa là loại cây biểu tượng cho người dân miền Tây Bến Tre quê tôi. Nó được xem là biểu tượng nơi đây là vì nó mọc khắp từ con sông, các vùng, các miền ở đây
Cây dừa biểu hiện cho sự dẻo dai của con người Bến Tre quê tôi. Những tán lá dày và dài như những mái tóc bóng mượt, dài suôn của người con gái chốn này.
Dáng đứng của bóng dừa là dáng đứng yêu kiều, thùy mị,..Là dáng đứng của những cô gái nơi đây như trong câu hát: “Ai đứng như bóng dừa tóc dài bay trong gió/có phải người còn đó là con gái của Bến Tre…” < bài hát: dáng đứng Bến Tre>.
Hình ảnh cô gái miền Tây với bộ áo bà ba đứng cạnh cây dừa đã trở thành đề tài của rất nhiều thi nhân.
Những cuộc chơi thời thơ ấu của chúng tôi bên cạnh góc dừa, với những tán dừa rợp mát. Chúng tôi nối vòng tay với nhau và cố gắng ôm trọn thân dừa sau đó đi vòng quanh và hát nghêu ngao. Là hình ảnh chúng tôi dùng những lá dừa làm kèn thổi, hay xếp thành những con châu chấu.
Cây Dừa là gia vị được nhắc đến nhiều nhất trong ẩm thực miền Tây.
– Vẻ đẹp cây dừa không một ai phủ nhận được, nó có sức sống riêng, có hương vị riêng của nó. Dù đi tới thật nhiều mảnh đất, khám phá những món ngon vật lạ nhưng hương vị của dừa vẫn mang nét đặc trưng nhất định. Nó có một tâm hồn riêng trong tâm trí của những con người mảnh đất miền Tây.
Nguồn: thêm: Em hãy tả lại phiên chợ quê hương em | Cảm nghĩ về cây dừa | 372 | |
Cảm nghĩ về cây lúa quê hương em lớp 7
Hướng dẫn
Đi từ nam ra bắc hình ảnh mà chúng ra bắt gặp nhiều nhất trên hành trình đó là cây lúa. Lúa mọc khắp nơi trên dải đất Việt Nam hình chữ S, nó như là biểu trưng cuộc sống của dân tộc Việt.
Người dân Việt Nam quen với hình ảnh lúa nước trên những cánh đồng làng quê. Khí hậu nhiệt đới gió mùa cùng với những ruộng đất màu mỡ,phù du giúp chúng ta có diều kiện để trồng lúa nước.
Cây lúa nước là biểu trưng sức sống con người nhân dân ta. Con người Việt Nam tuy nhỏ bé như cây lúa nhưng sức sống thì vô cùng mãnh liệt. Khi mới là mầm móng nhỏ từ một hạt thóc chúng được người nông dân gieo nên những hạt mầm, những hạt mầm đó được gieo dưới những vùng đất màu mỡ và chúng vươn mình để tạo nên những bông lúa vàng nặng trĩu.
Con người VIệt Nam cũng thế, họ sống trong một đất nước không quá rộng lớn, họ không có một nền tảng ban đầu giàu có như các nước châu âu, châu mĩ nhưng họ với tình yêu cuộc sống, tình yêu đất nước họ nổ lực từng ngày làm việc chăm chỉ, cẩn cù.
Đối với những người nông dân, cây lúa như bạn đồng hành suôt cuộc đời họ. Người Việt Nam coi lúa gạo là lương thực chính. Họ trân trọng những hạt cơm, những hạt cơm đó thơm vị quê nhà và họ cúng ý thưc được rằng để tạo thành những hạt cơm dẻo ngon này là cả mồ hôi, công sức của những người nông dân.
Nó đem lại về mặt kinh tế. Ngoài ra nó có một giá trị văn hóa khá lớn, nếu không có lúa tạo ra những hạt gạo thì văn hóa Việt nam khó có thể phong phú và giàu bản sắc dân tộc. Nói vậy là bởi vì, những món ăn đặc sắc của người Việt chúng ta đều bắt nguồn từ những hạt lúa đó.
Cây lúa không phải là loài cây chỉ cần gieo nó xuống đất là nó có thể tự mọc lên thành quả mà đó là cả một quá trình tỉ mỉ, cần cù của những người nông dân áo nâu ấy
Cây lúa gắn với kí ức tuổi thơ chúng tôi, gắn với cuộc đời của ba mẹ tôi; những ngày rong chơi thả diều trên những cánh đồng lúa xanh ngắt một màu khiến chúng tôi sẽ không quên những kỉ niệm đẹp ấy.
Dù đang ở trong cuộc sống hiện đại, có rất nhiều loài lương thực khác có thể thay thế lương thực hằng ngày của bạn bằng gạo, thóc nhưng nó chỉ thay thế trong tức thì còn những hạt cơm làm cho bạn không bao giờ chán về vị cơm dẻo ngon đó. Chúng ta cảm ơn trời đất đã tạo điều kiện cho chúng ta trồng nên những hạt mầm tinh túy này.
Nguồn: thêm: Bài văn tả về cái trống trường em lớp 4 | Cảm nghĩ về cây lúa quê hương em lớp 7 | 520 | |
Cảm nghĩ về cây Tre Việt Nam lớp 7
Hướng dẫn
Nhắc đến hình ảnh các chiến sĩ dẻo dai, ngoan cường của dân tộc Việt ta sẽ nhớ đến hình ảnh cây tre. Tre không chỉ là bạn đồng hành của những tiền tuyến ngoài chiến trường ác liệt ấy mà nó còn gắn với cuộc sống chân chất của những con người hậu phương.
Tre thực sự là loài cây nhỏ nhưng sức sống và độ dẻo dai của nó rất lớn. Hình ảnh đó cũng giống như những con người mang dòng máu Việt, họ tuy có thân hình nhỏ bé hơn so với các nước bạn nhưng họ luôn ý thức với sự sống này luôn vươn lên vượt mọi hoàn cảnh cuộc sống.
Cây tre biểu tượng cho đức tình cần cù, dẻo dai của những dòng máu’con Rồng, cháu Lạc’.Trong mọi việc họ luôn cẩn trọng, tỉ mỉ từng tí một nó biểu hiện rõ nhất với những người nông dân áo nâu. Dẻo dai trong đời sống hàng ngày, dẻo dai trong chiến đấu.
Cây tre nó thường mọc trên những mảnh đất khô cằn, nhưng nó bám rất chắc và rất sâu với mảnh đất ấy. Đó cũng là hình ảnh con người Việt yêu nước, yêu dân tộc mình mặc dù sống trong một đất nước chịu áp bức của bọn thực dân nhưng họ không bỏ dân tộc của mình, họ vẫn luôn chiến đấu, bám chắc với mảnh đất sinh ra mình;không những vậy còn bám sâu nhất có thể. Để bảo vệ mảnh đất ấy khỏi bọn xâm lăng.
Xem thêm: Suy nghĩ về đoạn trích “Nỗi oan hại chồng trong Quan âm Thị Kính”- văn lớp 7Tre là một biểu hiện cho tinh thần đoàn kết dân tộc, đất nước của toàn thể nhân loại là ở chỗ nó thường mọc thành những rặng tre, những lũy tre chụm lại bên nhau. Sức mạnh to lớn nhất của mỗi đoàn quân là sự đoàn kết giữa quân và dân, dân tin quân và quân chiến đấu hết mình vì dân. Họ không bao giờ chỉ biết sống cho riêng mình. Luôn là vậy, họ sống kề vai sát cánh bên nhau, nương tựa nhau mỗi khi khó khăn.
‘Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà chung’ – Hình ảnh làng quê Việt Nam từ xưa gắn liền với luỹ tre làng – những bụi tre gai ken dày chắn gió bão thiên tai và che chắn cho mỗi làng Việt trước trộm đạo, giặc cướp và kẻ xâm lược. Vì tre bám chặt vào đất nên những thiên tai lụt lội ta lại thấy tre có tác dụng giữu đất chống xói mòn.
Cây Tre hiện hữu mọi nơi từ khung cửa sổ đến những chiếc đũa bình dị hằng ngày, những chiếc bánh chưng bành giày được buộc chặt cúng bởi từ cây tre mà ra’lạt mềm buộc chặt’.
Cây Tre là loài cây biểu hiện truyền thống nối tiếp giữ nước, giữ làng của dân ta ‘tre già măng mọc’, luôn có những thế hệ sau tiếp nối các truyền thống của ông cha; tiếp tục bám đất, bám quê hương, bảo vệ Tổ Quốc
Tre biểu trưng cho con người VIệt Nam ngay thẳng, thủy chung, đoàn kết.
Nguồn: thêm: Giải thích và bình luận câu tục ngữ: ‘Có làm thì mới có ăn…’. | Cảm nghĩ về cây Tre Việt Nam lớp 7 | 560 | |
Cảm nghĩ về dòng sông (hoặc dãy núi, cánh đồng, vườn cây,…) quê hương
Gợi ý
Người dân quê tôi quanh năm sống yên bình trong làng xóm. Nếu có ai đi xa, dẫu chỉ ít ngày thôi cũng sẽ nhớ khôn nguôi con sông bình dị của quê hương mình. Dòng nước êm đềm, mát lành của con sông Hồng tươi trẻ, giàu sức sống đã trở thành một biểu tượng không thể phai về làng quê ven sông của tôi.
Điều đó chẳng có gì là lạ bởi tất cả mọi người đều yêu dòng sông quê hương như yêu gia đình, xóm làng quen thuộc. Tôi cũng không nằm ngoài số ấy. Mỗi khi nhớ đến dòng sông, kí ức tuổi thơ tôi lại hiện lên, rõ ràng, rành rọt như những câu chuyện mới xảy ra. Phải chăng chính dòng nước mát lành của dòng sông đã gột bỏ những lớp bụi thời gian giúp tôi quay về quá khứ!
Dòng sông thân thiết ấy uốn mình quanh làng xóm tôi rồi chập vào một nhánh sông khác, đổ ra biển. Bề rộng của sông chỉ chừng hai chục thước nhưng chiều dài của nó thì chẳng thể nào bao quát hết được, dường như sông vẫn mãi tiếp tục chảy về phía chân trời. Tôi chẳng thể nào quên được cảm giác choáng ngợp, sự ngạc nhiên đã bất ngờ oà đến tâm hồn non nớt của tồi vào lần đầu tiên được nhìn thấy sự rộng dài tưởng như vô tận của nó: Ấy là lần tôi được ngồi trên thuyền ở giữa dòng sông. Ngày ấy tôi mới bảy tuổi, đôi mắt tôi còn bé nhỏ mà lòng sông đã mênh mông, cuồn cuồn nước phù sa…Xem thêm: Tường thuật một cuộc gặp gỡ với các em học sinh nghèo vượt khó học tốt
Sự choáng ngợp qua đi nhường chỗ cho cảm giác gần gũi, bình yên. Đó là những lần tôi tập bơi bên bờ sông. Còn nhớ, lần đầu được vùng vẫy trong làn nước đỏ au, cảm giác mát lành, sung sướng, dịu ngọt đã ập đến trong tôi một cách ngẫu nhiên, tôi như thấy mình được trở về trong vòng tay dang rộng chào mừng của những người bạn lâu ngày không gặp. Rồi tôi nhớ tới những lần chèo thuyền trên sông, nhớ những lần đi vớt lưới cá chăng ngang sông. Những bầy cá đông đúc tụ tập dưới làn nước mát lành. Mỗi khi trăng rải sáng lên sông, mặt nước cá đùa lại ánh lên như dát bạc. Tôi từng nghĩ rằng dòng sông Hồng đã làm cho quê hương tôi giàu có lên bội phần. Những suy nghĩ thơ dại cũng qua đi, tôi lại tiếp tục sống bên dòng sông mà tôi yêu quí. Rồi kỉ niệm về những lần mò trai cùng lũ bạn, những lần mà phù sa như hút lấy chân tôi, hay những lần tôi tức giận làn nước mát mẻ lại vỗ về tôi, xoa dịu những giận hờn vu vơ thơ dại…
Những kỉ niệm như vậy về dòng sông luôn khiến tôi bồi hồi, xúc động. Dòng nước cứ chảy trôi, thời gian cứ nhạt nhoà nhưng sẽ chẳng bao giờ tôi quên được cái vị mằn mặn, ngòn ngọt của nước sông, chẳng thế quên được những bầy cá chép, cá diếc đông đúc nghịch ngợm…. Đơn giản bởi tôi đã chảng có một tuổi thơ trong sáng, ngọt ngào, dịu dàng nếu không có dòng sông yêu quí ấy.Xem thêm: Lời tỏ tình ý nhị qua bài ca dao: Đêm qua tát nước sau đình...Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ về dòng sông (hoặc dãy núi, cánh đồng, vườn cây,…) quê hương | 607 | |
Cảm nghĩ về dòng sông quê hương lớp 7
Hướng dẫn
Tôi không biết các bạn cảm nhận như thế nào về dòng song quê mình, nhưng đối với tôi nó gắn liền với kí ức tuổi thơ đẹp đẽ của tôi và những người bạn ở đó sinh ra và lớn lên bên cạnh dòng sông quê hương, tôi cảm thấy yêu nó biết bao nhiêu.
Dòng sông uốn quanh khắp mọi nẻo đường tôi đi trên quê hương. Từ nhà tôi đến trường học hôm nào cũng được ngắm nhìn con sông thơ mộng đó. Nó không chỉ để lại trong kí ức tuổi học trò tôi mà còn để lại kí ức đẹp đẽ đối với các bạn tôi.
Hằng ngày đạp xe qua những cây cầu dưới là con sông quê hương, với chiếc khăn quàng đỏ thắm hình ảnh đó mà khi trưởng thành chúng tôi luôn luôn lưu luyến mãi. Bạn thử tưởng tượng xem, đẹp lắm đúng không.
Ngôi trường cấp hai chúng tôi theo học mang tên dòng sông ấy. chúng tôi cảm thấy tự hào về điều đó. Con sông đó gắn sâu với kí ức trẻ thơ của chúng tôi.
Trưa hè nắng nóng, chúng tôi lại tụ tập bên bờ sông, bên những gốc cây bằng cạnh dòng sông và chơi những trò chơi của trẻ con như nhảy dây, ‘đi chợ về chợ’,… Chiều chiều về, chúng tôi rủ nhau nhảy xuống sông tắm sông, đùa nghịch với nhau trên dòng nước trong veo đó.Ôi! nhắc lại mà tôi cảm thấy hình ảnh đó lại về, miệng tôi lại mỉm cười với những kí ức đó.
Rồi những lần cùng mẹ và các cô hàng xóm xung quanh xuống cạnh bờ sông giặt đồ, họ nói chuyện với nhau rôm rả sau một ngày làm việc vất vả. Có thể nói, mọi hoạt động của chúng tôi và gia đình đều gắn với những kỉ niệm bên dòng sông huyền thoại đó.
Hằng năm, con sông đó lại dậy sóng bởi lễ hội đua bơi thuyền truyền thống mùng 2/9. Chúng tôi cảm thấy tự hào khi con sông đó đã có mặt trên quê hương tôi. Vào ngày đó, tất cả con dân ở quê hương tôi, kể cả những con xa xứ đều đổ về đứng cạnh bờ sông hay hàng ngàn người đứng trên những cây cầu để chứng kiến màn đua thuyền kịch liệt đó. Có lẽ ngày quốc khách mọi năm đối với quê hương tôi là một ngày tưng bừng gắn với con sông quê hương
Tôi yêu con sông quê hương tôi. Con sông đó nó mang lại cho tôi nhiều kỉ niệm và hình ảnh đẹp nhất, thực nhất để sau này tôi có cái mà nhớ, mà hoài niệm về nó.
BIỂU CẢM VỀ SÔNG SÀI GÒN
Xem thêm: Phân tích bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác HồCon sông có tự bao giờ mà chứng kiến cả một nền văn hóa của đất phương Nam: con sông Sài gòn. Quận 4, nơi tôi sống, củng có niềm vinh dự được con sông Sài gòn ghé ngang qua với bao nét đẹp quyến rũ cũng như những chủng tích lịch sử vẻ vang.
Nếu ai đã một lần ngắm nhìn sông Sài Gòn từ trên cầu Khánh Hội thì chắc sẽ không bao giờ quên được cảm giác lâng lâng khó tả. Lúc ấy, tôi tưởng chừng như được dòng sông đưa về thời ấu thơ, thật êm đềm, trong sáng, thuần khiết. Dòng nước uốn lượn như mái tóc người thiếu nữ, mềm ại, óng ả, trải dài cả cây số. “Mái tóc ấy” nhuộm màu xanh ngọc bích. Đó là vào buổi chiều thôi còn nếu vào buổi sáng lại có màu xanh lơ như bầu trời lồng lộng trên cao. Tôi thích được thả hồn theo dòng nước trôi như những người bạn thầm thì với nhau, có lúc đùa giỡn, có lúc giận hờn. Còn buổi tối thì sao? Dòng sông lấp lánh, huyền ảo với những con sóng lăn tăn phản chiếu ánh đèn đường nhìn như những chú cá bơi lội tung tăng. Ôi! sao cảnh tượng chẳng khác gì một bức tranh thủy mặc.
Đã nói đến sông nước thì phải nói đến tàu thuyền thông thương qua lại vì sông mà thiếu thuyền bè giống như em bé thiếu sữa mẹ vậy. Tôi rất thích ngắm nhìn những con tàu đủ hình đủ dạng. Nếu ai chưa một lần ghé Cảng Sài Gòn thì chắc chắn sẽ ngạc nhiên trước những con tàu hiện đại với hình dáng một con cá mập trắng muốt. Ớ gần nơi neo đậu những con tàu “cá mập” ấy là bến phà Thủ Thiêm. Nơi đây lúc nào cũng tấp nập người người qua sông cùng từng đoàn xe nối đuôi nhau xuống phà. Buổi sáng thì thế nhưng đến tối ai củng phải ngất ngây trước khung cảnh những con tàu lớn bé cùng nhau lên đèn hoà cùng ánh sáng chói rực của những dòng xe lưu thông lioà quyện với ánh đèn xanh đỏ nhấp nháy của những khách sạn sang trọng tạo nên một bức tranh huyền ảo như lạc vào cõi tiên.
Thật tự hào biết bao! Khi bên sông Sài Gòn sững sững một toà nhà di tích lịch sử: Bến Nhà Rồng. Đây là một di tích mà cả dân tộc ta đều nhớ đến. Đây chính là nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911. Nơi đây con tàu Latouche Tréville đã đưa người anh hùng dân tộc đi khắp các nước để tìm ra chân lí cách mạng, giải phóng dân tộc.
Nếu như sông có nghe được những gì tôi nói thì tôi sẽ thốt lên:”Tôi yêu sông Sài Gòn lắm!”. Với những gì dòng sông đã đem lại cho chúng ta thì việc hằng ngày vô số rác rưởi vứt xuống sông là một hành động vong ân bội nghĩa. Tôi tự nhủ mình sẽ góp phần giữ cho màu nước sông Sài Gòn luôn trong xanh và tươi mát.
Nguồn: thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về tình mẹ con | Cảm nghĩ về dòng sông quê hương lớp 7 | 1,025 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về hình tượng phụ nữ trong bài ca dao Khăn thương nhớ ai
Ca dao là tiếng hát cất lên từ cõi lòng những người bình dân. Trong đó, có không ít những câu ca thể hiện nỗi lòng của những người phụ nữ. Họ là những người bị coi thường trong chế độ xã hội phụ quyền với tư tưởng"trọng nam khinh nữ". Qua những bài ca dao than thân về thân phận những người phụ nữ trong xã hội cũ, phần nào tôi hiểu được nỗi đau khổ mà họ phải chịu đựng.
Trong xã hội ấy, họ bị tước đi những quyền lợi cơ bản của con người. Họ bị biến thành nô lệ cho những luật lệ, những ràng buộc nghiêm khắc của lễ giáo phong kiến và những quan niệm cổ hủ lạc hậu. Họ không có quyền quyết định số phận mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác bởi quy định "tam tòng" quá nghiêm khắc của Nho giáo "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" (ở nhà theo bố mẹ, lấy chồng nghe lời chồng, chồng chết phụ thuộc con). Điều giàng buộc ấy dẫn theo bao nhiêu bất hạnh của người phụ nữ, vì thế họ cất lên tiếng hát thân thở về thân phận bị động của mình:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào giếng ngọc, hạt ra ruộng cày
Thân em như giếng giữa đàng
Người không rửa mặt, người phàm rửa chân
Họ so sánh "Thân em…" với rất nhiều thứ, thể hiện nhiều bình diện khác nhau song vẫn có một điểm chung là: khẳng định giá trị của bản thân và than về số phận phụ thuộc của mình. Dù là "tấm lụa đào" quý giá hay"giếng giữa đàng" mát trong thì họ vẫn không biết tương lai như thế nào. Những hình ảnh so sánh ấy làm nổi bật thân phận bơ vơ, bất trắc của họ. Họ không thể tự quyết định số phận của mình. May mắn thì được chỗ yên lành hạnh phúc, bất hạnh thì bị rơi vào chốn lao đao và dù trong hoàn cảnh nào họ cũng phải chấp nhận bởi thân "các chậu chim lồng":
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra
Vì phụ thuộc nên học phải lấy chồng khi còn ít tuổi, người phụ nữ là nạn nhân đau khổ nhất của nạn tảo hôn:
Bướm vàng đậu đọt mù u
Lấy chồng càng sớm, lời ru càng buồn
Đọt mù u non nớt đã bị bướm vàng đến đậu và quấy phá. Cũng như người phụ nữ, càng làm vợ sớm thì càng khổ nhiều. Họ gửi nỗi buồn vào lời ru bởi không thể tâm sự cùng ai. Những cô gái bị ép gả khi còn tuổi niên thiếu đã dẫn đến những bi kịch số phận, đã có những câu ca dao tự trào đầy cay đắng xót xa:
Xem thêm: Hướng dẫn làm thể loại văn nêu cảm nghĩ về người mẹ của emLấy chồng từ thủa mười ba
Đến nay mười tám thiếp đà năm con
hay:
Ra đường thiếp hãy còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng
Vì nạn tảo hôn, vì những hủ tục lạc hậu ấy mà người con gái trong xã hội xuă không được hưởng tuổi thanh xuân. Chưa kịp lớn, chưa kịp hiểu cuộc đời thì họ đã phải gắn cuộc đời mình với con thơ, phải chịu cảnh làm dâu trăm chiều cay đắng. Bao nhiêu gánh nặng cuộc đời đè nặng lên đôi vai gầy guộc của người phụ nữ.
Quá nhiều bất trắc đón đợi người phụ nữ trên con đường đời, vì thế họ luôn mang trong mình những nỗi lo âu, khắc khoải. Số phận bấp bênh, hạnh phúc mong manh quá đỗi. Có được người yêu thương chân thành đã khó, giữ được người ấy và được sống chung lại càng khó hơn bởi họ đâu có quyền tự lựa chọn hạnh phúc cho mình. Quan niệm "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" đã tước đi của người con gái quyền được tự lựa chọn hạnh phúc cho mình. Bao nhiêu bất trắc, âu lo về số phận được gửi trong những câu ca dao đầy tâm sự:
Hòn đá đóng rong vì hòn nước chảy
Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa
Em thương anh không dám nói ra
Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời
Em với anh cũng muốn kết đôi
Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan
Bao nhiêu giàng buộc, bao nhiêu bất trắc trút lên vai cô gái để cô phải mang trong lòng mình những nỗi lo âu. Thân phận yếu đuối của người phụ nữ trong xã hội xưa đã được thể hiện trong rất nhiều câu ca dao ca dao như thế. Thân phận con cò, con vạc lầm lũi, gầy guộc, vất vả kiếm sống, số phận lênh đênh đã trở thành một biểu tượng quen thuộc trong dân ca ca dao để chỉ người phụ nữ. Điều đó cho ta thấy, trong xã hội cũ, khi con người chưa có sự bình đẳng giới thì người phụ nữ phải chịu thiệt thòi như thế nào.
Ngày nay, xã hội đã tiến bộ, nam nữ đã bình quyền, người phụ nữ đã được sống hạnh phúc hơn. Mặc dù không thể có sự bình đẳng tuyệt đối, nhưng người phụ nữ ngày nay đã được xã hội quan tâm đúng mực. Họ đã được phát huy hết khả năng của mình, được chủ động quyết định số phận của mình. Tuy đây đó còn nhiều bất công, người phụ nữ còn chịu thiệt thòi, song so với người phụ nữ thời xưa thì xã hội đã tiến một bước rất dài. Chúng ta sẽ loại bỏ dần những quan niệm lạc hậu, không phù hợp để người phụ nữ được quyền sống hạnh phúc, để những lời ca dao than thân được thay thế bằng những khúc ca vui.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích bài thơ “Trở về quê nội” của Lê Anh Xuân | Cảm nghĩ về hình tượng phụ nữ trong bài ca dao Khăn thương nhớ ai | 1,024 | |
Cảm nghĩ về mái trường em đang học
Hướng dẫn
Năm đầu tiên đó là lớp sáu chúng tôi được học trong một ngôi trường mới với những cái hay, cái đẹp.
Đó là một ngôi trường mang tên vùng đất của quê hương tôi. Ban đầu khi từ lớp năm lên lớp sáu, một sự thay đổi về môi trường học khiến mỗi người trong chúng tôi có sự ngỡ ngàng nhất định. Ngỡ ngàng hơn nữa vì đây là một ngôi trường tuyệt đẹp với nền vàng trên các dãy nhà là chủ yếu, cộng hưởng vào đó là ngôi trường này với rất nhiều cây xanh rợp bóng mát.
Giờ ra chơi nhìn sân trường thấy các bạn đùa vui rất đỗi hồn nhiên và sáng trong như màu áo trắng.
Bước vào lớp học là một sự khang trang:ở đây có đầy đủ các đồ dùng giúp cho việc học của chúng tôi tốt hơn. Cô thầy ở đây rất thân thiện, quan tâm tỉ mỉ đến việc học, việc hành của các em học sinh. Thầy cô đã không phânbiệt học sinh giỏi và học sinh yếu, thầy cô đãgiúp đỡ rấtnhiều về vật chất lẫn tinh thần.
Trường tôi các cô, thầy thường xuyên tổ chức các hoạt động gây quỹ để giúp đỡ các bạn có hoàn cảnh khó khăn; chắp cánh, nâng bước ước mơ cho các bạn. Thầy cô luôn dạy tận tâm, làm những gì hết khả năng của mình để cho học sinh có những điều tốt đẹp nhất có thể có.
Ở trường của tôi thường diễn ra các hoạt động vui chơi giải trí có phần vừa chơi mà vừa học rất bổ ích như thi ‘rung chuông vàng’, thi các cuộc thi ‘về luật giao thông’
Ngôi trường này có truyền thống dạy tốt – học tốt là nơi trưởng thành của nhiều anh chị đi trước. Trường tôi có rất nhiều bằng khen từ cấp tỉnh, cấp Trung ương.Chứng tỏ một điều hiển nhiên trường tôi có truyền thồng không chỉ dạy tốt, học tốt mà tham gia các hoạt động giúp ích cho xã hội cũng rất tốt. Chúng tôi được học trong ngôi trường này là niềm tự hào đối với mỗi cá nhân.
Có một ngôi trường và thầy cô giáo đẹp như nột bài ca không thể nào quên. Mai sau này lại học ở một ngôi trường mới với những thứ mới hơn, nhưng những hoài niệm mà ngôi trường này đem lại cho tôi thì tôi không bao giờ quên được.
Cảm ơn các thầy, các cô, các bạn học sinh nơi đây đã để lại cho tôi những năm tháng học trò rạng rỡ và tươi đẹp
Nguồn: thêm: Cảm nghĩ của em về bài “Tre Việt Nam” của nhà thơ Nguyễn Duy | Cảm nghĩ về mái trường em đang học | 464 | |
Cảm nghĩ về mái trường THCS thân yêu
Bài làm
Đã hơn một năm trôi qua kể từ ngày em được bước chân vào mái trường THCS Nguyễn Trãi, chỉ một năm thôi nhưng em đã thực sự yêu mến ngôi trường này. Không chỉ tự hào vì trường được mang tên Nguyễn Trãi – vị danh nhân lịch sử, nhà văn hóa vĩ đại của dân tộc, mà em còn gắn bó sâu sắc với bạn bè, thầy cô và từng sự vật nơi đây.
Người ta thường nói: thời gian trôi như một dòng sông, nó cuốn đi hết những kỉ niệm rồi chôn vùi xuống đáy sông sâu thẳm. Nhưng đối với em, những hình ảnh quen thuộc như cây phượng già, cái cột bóng rổ trên sân trường hay những chùm hoa dừa cạn ven hành lang đã được cất kĩ vào trong một ngăn khóa riêng mang tên “tuổi thơ” mà em sẽ mang theo suốt cuộc đời. Giờ đây, trong tiết trời cuối thu se lạnh, hoa đang tàn dần theo từng ngọn gió mùa đông bắc, nhưng những hình ảnh tươi đẹp về sân trường sẽ còn đọng mãi trong trái tim em.
Và hình ảnh sân trường thân yêu ấy luôn gắn liền với những người bạn đáng yêu, đáng quý của em. Ở đây chúng em sống trong tình yêu thương bạn bè giống như một mái ấm gia đình vậy. Những người bạn ấy chính là người mà em có thể chia sẻ những nỗi niềm buồn vui trong cuộc sống thường ngày. Chúng em vui chơi chan hòa với nhau và giúp đỡ nhau trong mọi việc. Nhiều lúc trong tập thể lớp còn xảy ra xích mích to nhỏ, nhưng sau đó, mọi người lại tươi cười với nhau và khoác vai nhau thân mật, vui vẻ. Nhớ biết bao nhiêu những bữa tiệc trung thu, cả lớp chúng em cùng nhau bày mâm cỗ một cách say mê. Hay những lần lớp chúng em tham gia thi bóng đá, các bạn nam luôn gắng sức mình để mang về ngôi vô địch cho cả lớp. Ngoài sân, chúng em cùng nhau cổ vũ thật nhiệt tình. Tuy 2 năm liền chỉ đạt giải nhì, nhưng đối với chúng em, tình đoàn kết vẫn là quan trọng nhất, chẳng vô địch, chúng em vẫn có thể cùng nhau tận hưởng niềm vui bằng cách “chén” một chầu kem ngon lành.Vì vậy, em rất trân trọng tình bạn vô giá dưới mái trường này.Xem thêm: Bác Hồ từng dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Em hãy viết đoạn văn chứng minh những thành công mà nhân dân ta có được nhờ tinh thần đoàn kết
Bạn bè chúng em như thể người một nhà và cha mẹ trong gia đình vĩ đại ấy chính là các thầy cô. Sau này khi bước vào con đường đời không ít chông gai, thì có lẽ em sẽ nhớ da diết về những tiết học mà thầy cô đã trao ánh mắt trìu mến và tấm lòng nhiệt huyết, yêu nghề cho đám học trò nhí nhố ngày nào. Có lúc thầy cô hiền hòa ân cần bảo ban chúng em. Có khi lại nghiêm khắc uốn nắm cho chúng em nên người. Và chẳng biết tự lúc nào, những tiết học quý giá và đẹp đẽ ấy đã trở thành một phần kí ức thiêng, một hành trang quý giá của chúng em để bước vào đời. Thầy cô ơi! Công lao của thầy cô thật như trời biển. Và con hiểu rằng, cho dù có bày tỏ thế nào cũng chẳng thể hết được tấm lòng biết ơn, trân trọng của chúng con với Thầy cô.
Bao nhiêu đó chưa thể nói hết những gì ngôi trường thân yêu này đem lại cho chúng em. Ở đây, chúng em được chắp thêm đôi cánh ước mơ, được bước vào thế giới kì diệu mà trong bài “Cổng trường mở ra” nhà văn Lí Lan đã viết. Mai này, dù có ra trường và trưởng thành thì chúng em sẽ mãi nhớ về mái trường THCS Nguyễn Trãi yêu thương. | Cảm nghĩ về mái trường THCS thân yêu | 702 | |
Cảm nghĩ về mái trường thân yêu
Bài làm
Bước chân vội vàng qua năm tháng, chỉ còn những ký ức ở lại suốt quãng đường nơi chúng ta từng đi qua. Có thể con người trải hết non nước ngàn thu, cảnh đẹp thiên nhiên nhưng chẳng có nơi nào bình an và ấm áp như mái nhà của mình. Và còn cả nơi đã thay ta cất giữ kỷ niệm một thời đi học vụng dại, bồng bột non nớt cũng đầy hoài bão tự do, đó chính là mái trường thân yêu đã che nắng che mưa suốt thời trẻ con chưa kịp lớn.
Ai cũng đều cất giữ trong lòng hình ảnh về ngôi trường đã vun xới cuộc hành trình sau này của họ, nơi ấy mãi là mái nhà nhỏ bé của những người lạ gặp nhau nhưng lại luôn sẵn sàng đón chúng ta trở về. Mái trường thân thương như người mẹ phương xa không biết nói cứ mãi ngóng đợi sự trở lại của những đứa con đã khôn lớn, thay chúng cất giữ những tuyệt vời nhất của thanh xuân. Ngôi trường ấy là vô vàn tiết học dài đằng đẵng, những môn học học mãi chẳng chịu hết, là những bài giảng tuần tự ru ngủ… nhưng đó sẽ trở thành những bài học mà sau này không còn được nghe thấy nữa sẽ thương nhớ biết bao. Đó là ngôi trường treo bảng đen, bám đầy bụi phấn, tiếng trống vui mừng đón chào, buồn bã chia biệt. Ngôi trường yêu dấu của ta vẫn còn vang mãi đâu đây tiếng hi hi ha ha rộn rã, những dòng văn mực thước, những nét bút ngoằn nghoèo, rồi cả vô tư hồn nhiên chúng ta để lại đó.Xem thêm: Niềm vui và nỗi khổ của việc học môn Ngữ văn
Chúng ta hạnh phúc vì ngôi trường ấy đã vun xới nên cây cao bóng cả, những người cha người mẹ bề ngoài mắng mỏ nhưng yêu thương chúng ta. Bóng dáng thầy cô in hằn trong tâm trí, cử chỉ không lẫn vào ai đều được mái trường dịu dàng để lại suốt những năm tháng sau đó. Đôi khi chỉ cần nhìn lại tưởng chừng như xa lắm mà cảnh vật cứ hiện về trước mắt đến thân yêu. Mái trường còn là nơi cất giữ tháng năm của tình bạn một thời, những đứa tếu táo nghịch dại, đứa mọt sách, đứa thích hát, đứa ngẩn ngơ. Nó cất cả những dấu phấn trên tường vàng ghi nội dung bài học, cất cả những lời tỏ tình ngọt ngào tuổi mới lớn. Hành lang dài lát đá sạch sẽ, đám học trò ngồi la liệt chép bài của nhau, ngóng thầy cô mà bày trò nghịch ngợm. Mái trường thân yêu ấy để lại tim chúng ta những khoảnh khắc của bữa tiệc ngọt ngào cả lớp dành tặng sinh nhật cô, những buổi làm đại hội, chương trình sao cho dài mà trốn tiết. Nơi ấy còn là những lớp học san sát nghe thấy cả tiếng quát của thầy cô bên lớp bên, hóng lời bài hát mà lẩm nhẩm hát theo. Cái quạt trần vù vù trên đầu, điều hòa mát rượi… Mái trường đã thay ta giữ lại những dấu vết của quá khứ, chỉ cần về lại nhìn thấy, mọi thứ như một bộ phim chạy ngược chiếu đầy đủ mọi chuyện.Xem thêm: Hãy nói lên cảm tưởng của mình khi nhận được quà của một người thân hay bạn bè tặng
Cảm nghĩ về mái trường thân yêu
Mái trường thân yêu, nơi lưu giữ kỷ niệm, nơi dạy dỗ chúng ta, nó còn là một chốn bình an tươi đẹp không đánh thuế người nhớ về hay người đang ở lại. Màu nắng tháng 9 mướt mải trên tán cây bàng, giờ chào cờ từng hàng người xếp thẳng tắp. Mùa thu lá rụng rơi lả tả, mùa đông cây khô hoa héo… bức tranh bốn mùa xếp trong khuôn viên trường, chúng ta cứ mãi bâng quơ nhìn ngắm. Sau này đi đâu cũng đều nghĩ, thì ra những mùa đẹp nhất đều để lại ở mái trường than yêu đó rồi.
Tình yêu đối với mọi sự trên đời này nếu không có ký ức thì đều rất dễ tàn phai. Từng ngóc ngách căng tin, mấy tầng nhà, khu nào phong cảnh đẹp, khu nào tĩnh lặng, chúng ta đều ôm ấp nhớ thương với nó mãi rồi, suốt cả cuộc đời sao có thể nỡ lòng lãng quên mất. Ghi nhớ từng gốc cây, ngọn cỏ, từng căn phòng, bệ đá, màu hoa… cho dù hoa phượng có bung nở bao nhiêu lần tiễn biệt chúng ta, một phần ký ức đã nằm yên đợi chờ người đi rồi sẽ trở về. Chẳng biết từ bao giờ, mái trường gắn bó ấy cứ sống trong tim như một thói quen, nhắc về là không biết bao yêu thương cho đủ. Chẳng biết từ bao giờ, chúng ta lại thật yêu vô cùng mái trường đã ru tuổi ngây thơ chúng ta ở đó, không thể nào quên đi cảm giác hạnh phúc và ngọt ngào được chở che, bao dung.Xem thêm: Anh (chị) hãy đọc văn bản sau Nơi Dựa... Những hình tượng người dàn bà - em bé, người chiến sĩ - bà cụ già gợi trong anh (chị) suy nghĩ gì về nơi dựa trong cuộc sống
Có thể sau này chúng ta sẽ là những cánh diều bay cao trên con đường vô biên của thành đạt và hạnh phúc nhưng làm sao quên được nơi chúng ta đã yêu thương và khóc đẫm áo trắng khi phải chia tay. Mái trường thân yêu, mái trường luôn nhớ thương và mong ngóng chúng ta trở về, nó như thành bến đỗ yên bình khiến chúng ta không thể nào phụ lòng mà thôi nhung nhớ.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về mái trường thân yêu hay nhất | 997 | |
Cảm nghĩ về mái ấm tình cảm gia đình
Hướng dẫn
– Lúc còn nhỏ tôi mơ ước trưởng thành thật nhanh để đủ khả năng bước ra khám phá thế giới ngoài kia. Nhưng khi trưởng thành rồi tôi lại mong mình bé lại, chỉ muốn là trẻ thơ bên gia đình nhỏ của mình
– Có những ước mong đó là vì ngoài thế giới kia không một ai yêu quý mình bằng những người thân trong gia đình. Những người thân đó cho chúng ta tất cả. Họ là điều tuyệt vời nhất mà tôi từng có.
– Gia đình là nơi có ba, mẹ. Họ là đấng sinh thành, nuôi dưỡng, dạy cho chúng ta những điều hay lẽ phải về cuộc sống. Ba tôi là một công nhân, ông là người sống rất tình cảm.Còn mẹ tôi bà có gương mặt phúc hậu, mẹ đảm đang trong mọi công việc. Ba cho ta bờ vai vững chắc, mẹ cho ta một trái tim nhân hậu.
Ba mẹ cho ta một tổ ấm gia đình đầy ắp tình thương, cho ta được sống trong một gia đình trọn vẹn. “ Người ta có thể mua tất cả, trừ cha và mẹ ”– Danh ngôn Anh. Trái tim họ luôn nghĩ đến chúng ta đầu tiên trong mọi hoàn cảnh cuộc sống.
– Tình thân đó còn được thể hiện qua mối quan hệ tình anh em, chị em ruột thịt. Là sự che chở của người chị dành cho đứa em nhỏ của mình hay là sự thứ tha của người anh trai cho những sai lầm nhỏ nhoi của một đứa em thơ. Mối quan hệ đó dạy chúng ta cách bảo ban nhau, thương yêu lẫn nhau.
– Đó là gia đình nhỏ, còn những người thân trong đại gia đình chúng ta ( ông, bà, dì, cậu,..) cho ta hiểu được tình máu mủ có ý nghĩa lớn lao như thế nào. Dạy chúng ta cách trân trọng các mối quan hệ đó. Họ luôn nghĩ đến nhau, vui thì cùng vui, buồn thì cùng buồn.
– Dù có khám phá bao nhiêu cái hay, cái đẹp ngoài đời đi chăng nữa thì gia đình hơn những gì trên thế gian này vẫn ấm áp nhất, là nơi chốn ta luôn mong ngóng quay về sum vầy.
Trong trái tim của một đứa con, đứa em, đứa cháu thì gia đình luôn giữ vị trí quan trọng trong trái tim tôi. Luôn nghĩ cho gia đình vì thế những hành động, việc làm, cử chỉ, thái độ của tôi tôi luôn luôn cân nhắc.
Nguồn: thêm: Hãy miêu tả ngôi nhà em đang ở | Cảm nghĩ về mái ấm tình cảm gia đình | 441 | |
Cảm nghĩ về mùa xuân
Bài làm
Mùa đông hút hết sinh khí, để lại màu xám xịt cho bầu trời, cây cối ảm đạm, hoa cỏ héo tàn. Thế nhưng chỉ cần bước nhảy trời xuân bắt đầu rộn rã thì không gian lại bừng bừng sức sống. Mùa xuân là mùa khởi đầu vạn vật.
Nếu mùa hạ cuồng nhiệt thì sắc xuân lại mang một vẻ dịu dàng đằm thắm như hoa lê mới nở. Nó mang một hương vị riêng, ngọt ngào thanh thanh khiến người ta mê đắm. Có lẽ mùa được mong chờ nhất chính là mùa xuân. Đất đai khô cằn lại được nhuốm hơi ẩm của sương mới, lúc ấy tuyết trên bắc bán cầu bắt đầu tan, những dòng sông phá băng trở về với sự hoang dã ào ào dữ dội, cỏ non nhú mình, tiết trời trả lại sự ấm áp vốn có. Xuân đến, động vật bắt đầu chui ra khỏi hang, vươn mình kiếm chút đồ ăn sau kỳ ngủ đông lạnh lẽo. Thời gian và không gian như lột xác, mang dáng vẻ tinh khôi và trong sạch, cũng vì thế mà vạn vật khoác lên mình một chiếc áo gấm hoa lệ, đón chào năm mới.
Mùa xuân là mùa đầu tiên trong năm. Những loài hoa tàn hết khi đông về bắt đầu nhú mầm non hoặc nở rộ. Trăm hoa khoe sắc đua nở, mở một màn tiệc thơm ngát dư vị đất trời dâng lên mẹ thiên nhiên. Nét tinh tế của thược dược, sự sống động của lay ơn, vị ngọt ngào của những đóa hải đường… Ngủ một giấc đông tỉnh dậy, tất cả những chuyện năm cũ đều đươc gột bỏ thay vào đó là vẻ tươi mát hơn bao giờ hết. Những cánh én thon thon uốn lượn trên trời cao báo hiệu tin mừng của ngày xuân đang về tới. Nó còn là hình ảnh của sự đoàn viên khi mùa xuân cũng là lúc sắp đến Tết Nguyên Đán, mọi người gác bỏ những gánh nặng trên vai trở về nhà cùng nhau sum họp bên mâm cơm gia đình.Xem thêm: Chứng minh câu nói “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống”
Xuân sang, hoa đào hoa mai nở rộ, loài hoa chỉ có tiết trời xuân ấm đủ lạnh đủ mới có thể nở rộ. Những cành đào khẽ rung rinh sau chiếc xe của người chở hoa mang xuân về trong tâm thức mọi người. Chỉ cần nhìn thấy đào, mai người ta sẽ ngầm hiểu Tết về, xuân đã về đến đầu ngõ. Trong cảm nhận của người Việt, mùa xuân lúc nào cũng mang đến một sự bồi hồi khó tả. Sự bồi hồi của cái mới đang dần nảy nở mỗi khi xuân đến, sự bồi hồi nhớ nhà đoàn viên, sự bồi hồi được hạnh phúc, tròn đầy. Mùa xuân thích hợp cho những cuộc vui, những cuộc hội ngộ, những niềm hân hoan trong cuộc sống. Vạn vật khởi đầu từ mùa xuân, vì mùa xuân mà nảy sinh, vì mùa xuân mà rực rỡ. Mùa xuân chính là có phép màu kỳ diệu đến vậy, khiến người ta mong nhớ, xao xuyến, yêu thương.
Cảm nghĩ về mùa xuân
Vào mùa xuân, rất nhiều lễ hội được tổ chức, đó không chỉ là dịp vui chơi giải trí mong muốn một năm mới an lành, nảy nở mà còn là dịp để người với người gần lại, thêm phần yêu mến nhau hơn. Cũng nhờ có mùa xuân mà rất nhiều lễ hội cho đến ngày nay vẫn được duy trì, tri ân và tưởng nhớ tổ tiên, những nét đẹp trong văn hóa truyền thống như là Lễ hội chùa Hương – Hành trình về với cõi Phật, Lễ hội khai ấn đền Trần, Hội Lim… Tất cả các không gian văn hóa phần lớn được diễn ra trong mùa xuân, tạo nên sự đa dạng trong phong tục và lối sống giữa các vùng miền.Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về nhan đề bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải
Không những thế, tiết xuân còn là lúc tưởng nhớ và bày tỏ lòng thành kính với ông bà tổ tiên. Người Việt cũng chú trọng Tiết Thanh Minh, mùa xuân mới, người đã khuất cũng cần được tân trang phần mộ. Đó có thể coi là hoạt động ý nghĩa nhất trong mùa xuân. Và mùa xuân còn có một dịp quan trọng nữa đó là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, tất cả con dân nước Việt đều hướng đến đền Hùng ở Phú Thọ, dâng lên những thức quà tươi mới nhất tri ân tổ tiên. Cũng bởi lẽ bánh chưng, bánh dày làm ra trong tiết xuân lúc nào cũng mang hương thơm ngọt dẻo của trời đất nên trong năm, ngoại trừ mùa xuân khó có mùa nào có được thức quà ngon nhất để làm đồ tế lễ. Nhớ đến mùa xuân, mùa của những hoạt động vui chơi, nghỉ ngơi, thay da đổi thịt luôn khiến lòng người vui mừng khác lạ.
Mùa xuân, mùa đầu tiên báo hiệu năm mới đang về bất kể trời đất đổi khác nhưng nét xuân lúc nào cũng mang một phong vị riêng, thanh sạch vui vẻ và hạnh phúc. Cũng nhờ có mùa xuân, tất cả những dự định, khởi đầu đều tốt đẹp. Trong lòng mỗi người, mùa xuân là bà chúa của muôn loài, luôn được tôn vinh và mong đợi.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về mùa xuân hay nhất | 938 | |
Cảm nghĩ về mùa Xuân trên quê hương em lớp 7
Hướng dẫn
Đông qua là xuân tới, từng đàn chim én chao lượn trên bầu trời mang thông điệp báo hiệu mùa Xuân đang về. Không như mùa đông lạnh giá, mùa hè chói chang ánh nắng, mùa thu buồn với những chiếc lá vàng rơi, mùa xuân mang tới cho chúng ta một không khí ấm áp, dịu hiền.
b) triển khai
– Mùa xuân là mùa của vạn vật sinh sôi, nảy nở. Mùa Xuân báo hiệu một sức sống tươi trẻ, tinh khôi cho từng chồi non, tạo nên cho con người sức sống mãnh liệt như trong lời của bài hát về mùa Xuân:
"Nghe Xuân sang thấy trong lòng mình chứa chan".
Tiếng hát vui vang đó đây ôi rộn ràng
Kìa mùa Xuân đang đến trước thềm
Gần xa điệu nhạc Xuân đến
Nghe bước chân tô đẹp thêm.
(bài hát: Đoản xuân ca)
+ Những ánh nắng vàng của mùa xuân như thay áo mới cho một màu thu lạnh lẽo, u tối. Bầu trời sắc xuân đem cho con người cảm giác bình yên đến lạ thường.
– Mùa xuân là mùa thay sắc, đổi áo. Khi những mầm non đâm chồi khoác lên mình những bộ quần áo tươi xinh sau mỗi dịp thu đông giá rét với những cành cây khô quặn
– Moa mai có lẽ là đặc trưng nhất để báo hiệu một mùa xuân sang. Những cành mai đâm chồi nở ra những cánh hoa vàng xinh đẹp, khoác lên mình bộ áo quần tươi xinh rạng rỡ.
Xem thêm: Viết đoạn văn tóm tắt giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn+ Mùa xuân với những hạt sương long lanh của khí trời, nó bao trùm như lớp áo choàng trắng phủ kín cả bầu trời. Những mà sương đó sẽ vơi đi để thành những giọt sương long lanh trên những cành hoa, chiếc lá.
– Mùa xuân như la một bức tranh thiên nhiên đẹp diệu kỳ với trăm hoa chen nhau đua sắc. Con người cũng không nằm ngoài lẽ tự nhiên ấy. Với tất cả dân tộc trên Trái đất, bất kể khác biệt về văn hóa, mùa xuân là mùa của tình yêu, mùa gửi gắm những yêu thương tới mọi người.
+ Mùa xuân là mùa trao những niềm thương yêu thầm kín
‘Anh cho em mùa xuân
Rộn ràng tiếng chim hót
Tháng giêng tình mật ngọt
Nồng nàn khúc ái ân’
+ Mùa xuân đem đến cho con người sự gần gũi với thiên nhiên, được cảm nhận và hòa mình vào sự thay đổi của sự giao mùa.
– Tôi càng yêu mùa xuân hơn bởi lẽ ngày xuân những khúc hát mặt trời luôn tới sớm nhất và kết thúc cũng muộn nhất. Làm cho mọi hoạt động con người được kéo dài hơn không cảm thấy một ngày quá ngắn như mùa đông vậy.
– Mùa xuân là những khởi đầu mới, những khởi đầu mang nhiều hoài bào, nhiều ước vọng đẹp đẽ. Bác Hồ từng nói:”một năm khởi đầu từ mùa xuân-một đời khởi đầu từ tuổi trẻ-tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.
c) Đánh giá:
– Tóm lại, mùa xuân là mùa của sự tươi trẻ, của những gì đẹp đẽ nhất. Tôi yêu những mùa xuân trên quê hương tôi!
Nguồn: thêm: Bức tranh thiên nhiên trong hai bài thơ: “Giải đi sớm” và “Chiều tối” của Hồ Chi Minh | Cảm nghĩ về mùa Xuân trên quê hương em lớp 7 | 576 | |
Cảm nghĩ về mẹ của em
Hướng dẫn
– Mỗi khi nhắc đến một chữ thân thường ‘Mẹ’ thì cảm xúc của tôi bắt đầu chững lại, tôi lại có cảm giác nghẹn ở lồng ngực. Có thể giải thích cho cảm xúc của tôi ngay lúc đó là vì khi mẹ hi sinh quá lớn lao cho cuộc sống của chúng tôi mà chúng tôi chưa thể làm điều gì cho Người.
– Người phụ nữ đó đã bỏ cả thanh xuân, bỏ cả hạnh phúc riêng của mình chỉ vì chúng tôi. Mẹ là điều tuyệt vời nhất mà tôi có!
– Đó là người sinh thành, nuôi nấng nên chúng tôi: Người cho chúng tôi đến với cuộc sống này, dắt chúng tôi hào nhập với thế giới này từ khi lọt lòng không ai khác là mẹ
+ Có thể bạn có rất nhiều mối quan hệ, bạn có nhiều bạn bè, nhiều thầy cô, nhiều anh chị nhưng quan hệ mẫu tử chỉ có một, không một ai có thể thay thế cho mối quan hệ thiêng liêng,ruột thịt đó được.
+ Dùng nhiều ngôn từ mĩ miều đi chăng nữa thì không bao giờ nói hết được tấm lòng mẹ đối với đứa con của mình được, như trong câu nói:
Ngôn ngữ trần gian khờ dại quá
Sao đong đầy hai tiếng mẹ ơi!
+ Mẹ là người đã nuôi dưỡng chúng tôi từ đạo lí làm người, dạy cho chúng tôi những tiền đề bước vào cuộc sống để tránh những vấp ngã.
– Người phụ nữ đó chịu thương, chịu khó, lam lũ vì chúng tôi: Để chúng tôi có cái chữ bước vào đời, để chúng tôi có một hành trang tốt cho sự nghiệp sau này mẹ đã không quản nắng mưa lao động kiếm tiền để nuôi mấy đứa con.
+ Ai chả muốn sung sướng, ai chả muốn có công việc nhẹ nhàng, đỡ khổ nhưng mẹ chấp nhận chịu đựng bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để chắp cánh những ước mơ của con. Mẹ không ngần ngại cực nhọc từ sáng đến tối để kiếm ra những đồng tiền cho con cái ăn, cái học.
– Trong mắt những đứa con mẹ là người phụ nữ phúc hậu, có một trái tim nhân thiện, bao dung: Trái tim người mẹ là trái tim luôn nghĩ cho những đứa con, mẹ luôn bảo vệ chúng con dù cả xã hội có chống đối lại đi nữa.
+Mẹ nói rằng: mai sau này nếu lầm đường lạc lối thì hãy về bên mẹ. mẹ luôn giang rộng vòng tay cho con. Có những khi tôi cãi lại mẹ, lớn tiếng với mẹ nhưng bà ấy không một lời trách móc mà sau đó ngồi giải thích cho tôi cái đúng, cái sai trong những hành động của mình.
“ Trái tim của người mẹ là vực sâu muôn trượng mà ở dưới đáy, bạn sẽ luôn tìm thấy sự thứ tha” – Balzac
+Mẹ luôn sống tâm thiện vì các con, giống như trong câu ca dao:
“Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây phúc để đời cho con”
– Là người phụ nữ coi trọng hạnh phúc gia đình lên tất cả: là người vun vét cho gia đình, bảo vệ tổ ấm gia đình bởi vậy chúng tôi mới được sống trong một gia đình trọn vẹn đầy ắp tình yêu thương như hôm nay.
– Mẹ là người cam chịu sự nhọc nhằn của số phận để tiếp tục chắp cánh tương lai cho những đứa con của mình
– Có thể mẹ không cho được con điều tốt nhất trên thế giới nhưng mẹ sẽ cho con điều tốt nhất mà mẹ có. Vì vậy là một người con tôi hiểu cần và nên làm gì để mẹ vui, để mẹ bớt những suy nghĩ, những gánh nặng về chúng tôi.
BÀI LÀM 2: CẢM NGHĨ VỀ ĐÔI MẮT CỦA MẸ
Dạo gần đây, truyền hình có chiếu một phim quảng cáo của một hãng sữa, trong đó có đoạn nhạc rất hay:”Cám ơn mẹ, vì Ich mẹ hát ru. Cám ơn mẹ, vòng tay mãi dịu êm. Mẹ là tia nắng ấm áp cho đời con thật ngọt ngào.” Bài hát đó thật xúc động! Dù chỉ một vài câu ngắn ngủi thôi mà đã lột tả hết được công lao cao cả của mẹ hiền.
Xem thêm: Đọc truyện "Tấm Cám", em suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong cuộc đời xưa, nayEm nhớ mỗi lần đi học xa nhà, mẹ em chở ra hến xe buýt rồi dặn dò đủ thứ. Đôi mắt sâu thẳm màu hổ phách như truyền hơi ấm của tình mẹ bao la vào lòng em, như động viên em cô' gắng học hành. Người ta thường nói đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Quả là đúng vỉ mẹ chỉ cần 'nhìn vào mắt em là có thể hiểu được tâm trạng của em. Đôi lúc đôi mắt đẹp ấy trông về một nơi rất xa, nhưng chắc nơi đó cũng thật gần… Đó là những kỉ niệm trong các bức ảnh chụp cảnh đám cưới, cảnh anh em lúc còn nhỏ… Những tấm ảnh dù cũ kĩ nhưng đã khắc sâu vào lòng, không bao giờ phai. Mỗi lần mẹ xem hình thì nụ cười tươi như hoa lại hé nở trên môi.
Có lần, hồi học lớp một, em bị bệnh sốt xuất huyết. Mẹ đã vội vàng, bỏ hết công việc để chạy ngay vào bệnh viện để chăm sóc cho em. Khi đến, mẹ hồi.hộp ở ngoài phòng cấp cứu để theo dõi tình hình của em. Có lẽ mẹ đã thức trắng đèm, không chợp mắt một giây. Khi khỏi bệnh, nhìn lại mẹ, em thấy đôi mắt của mẹ sâu hoắm, mệt mỏi nhưng mẹ lại nở một nụ cười mãn nguyện. Lúc ấy sao em cảm thấy thương mẹ đến thế không biết! Em ước mình có thể lán thật nhanh để chăm sóc cho mẹ, thương yêu mẹ giống như mẹ đã hết lòng thương em.
Còn khi em thi Tốt nghiệp Tiểu học, hai 'mẹ con đi xem kết quả. Điểm đỗ của em rất cao. Em nhớ nụ cười tươi tắn vì hạnh phúc. Đôi mắt mẹ long lanh vỉ vui sướng, vì tự hào có một đứa con ngoan, giỏi như em. Hình ảnh đó suốt đời em sẽ nhớ mãi, không bao giờ quên.
Nhà văn Edmondo de Amicis đã viết: “Con hãy nhớ rằng tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kể nào chà đạp lên tình thương yêu đó.” Em cảm thấy lời khuyên đó rất đúng và em. sẽ luôn tôn trọng tình cảm thiên liêng mà mẹ đã dành cho em.
BÀI LÀM 3: CON YÊU MẸ
“Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc
Nhánh dương kia ai lỡ ngắt nó đi
Hoa kia tàn rồi có hoa khác nở
Mẹ mất rồi tất cả hoá thành không.”
Ôi! Câu thơ ấy vẫn cứ vang mãi trong lòng em. Thế gian này, đời này của con chỉ có mẹ là tất cả.
Mùa xuân lại về, mẹ lại già thêm một tuổi. Mái tóc đen tuyền ngày nào giờ đã thay màu bạc trắng. Khuôn mặt xinh xắn ngày nào giờ xuất hiện nhiều nếp nhăn khổ cực. Chỉ có đôi môi của mẹ thi lúc nào củng nở nụ cười tươi như hoa.
Ôi! Khi nhìn thân xác của mẹ, tim con như đau nhói, như muốn đứt từng khúc ruột. Thân hình yêu kiều ngày xưa giờ nay còn đâuĩ Thân mẹ giờ đây ốm yếu, xanh xao. Con yêu mẹ vì những hi sinh tột cùng: mẹ đã mang nặng để đau để sinh ra con trong đời này. Mẹ đã gánh phần cơ cực để cho con có được một thân hình khoẻ mạnh. Biết bao đêm mẹ thức trắng, túc trực bèn giường bệnh khi con đau ốm.
Con yêu mẹ vì mẹ là lá chắn vĩ đại che chở cho con trước những sóng gió của cuộc sống. Khi con mắc lỗi, bị cha la rầy, bề ngoài mẹ tỏ ra không bênh vực con. Nhưng trong sâu thẳm, mẹ vẫn ngấm ngầm bảo vệ con. Dù đói khát, mẹ vẫn bảo rằng no để cho con được ăn ngon miệng. Dù có lạnh nhưng mẹ vẫn bảo rằng không để dành hơi ấm cho con trong mùa đông giá rét.
Con hạnh phúc vô cùng! Vì được tắm mình trong đôi mắt dịu hiền của mẹ. Dầu con có đi bất cứ nơi đâu trên trái đất này, ánh mắt mẹ vẫn dõi theo từng bước chân con. Những lúc con vấp ngã, mẹ là người đầu tiên nâng đỡ con lèn, tiếp cho con sức mạnh trên quãng đường đời đầy chông gai, trắc trở. Và chính nhờ bàn tay đỡ nâng của mẹ mà con tự tin tiến bước, vượt qua khó khăn mà đi đến đích thành công:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.”
(Chế Lan Viên)
Mỗi khi nghe câu “Mẹ già như trái chín cây. Gió lay mẹ rụng, con phải mồ côi…”, con lại thấy nao lòng, sợ rằng mẹ như câu hát đó, sẽ bay đi mất, bỏ con lại một mình. Mẹ ơi! Mẹ phải sống lâu đó nha! Mẹ phải sống với con để nhìn thấy con trưởng thành, nhất là để con có cơ hội phụng dưỡng mẹ, để con trả đứợc công ơn bao la của mẹ. Mẹ ơi!!!
Nguồn: thêm: Lập chương trình thăm các chú công an giao thông | Cảm nghĩ về mẹ của em | 1,622 | |
Cảm nghĩ về một bài ca dao mà anh (chị) yêu thích
Gợi ý
Ca dao là những bài thơ trữ tình, phản ánh đời sống nội tâm, tình cảm của nhân dân lao động. Mỗi bài ca dao là một mảnh tâm trạng, một nếp suy nghĩ, một điệu tâm hồn con người trong cuộc sống sinh hoạt. Tẩt cả những tâm hồn dân tộc khỏe khoắn, yêu đời đều được ấp ủ, nâng niu trong những vần ca dao đẹp nhất, chảy trôi trong tâm thức người đọc muôn thế hệ và nuôi dưỡng những tiếp nhận thẩm mĩ, những xúc cảm tươi mát, trong lành. Người ta đọc ca dao là để đi tìm hồn Việt, tình Việt và lắng nghe lòng mình rung lên những cung bậc tình cảm đồng điệu, thiết tha.
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay.
Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không.
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra.
Đây là bài ca dao viết về tình yêu nam nữ, thấm đượm nỗi chua xót, đắng cay, được tạo nên trên hình thức đối đáp quen thuộc, giữa lời người con trai và người con gái. Thể thơ lục bát da diết, nhịp nhàng gieo vào lòng người những xúc cảm yêu đương thiết tha, đìu dặt, nhưng lại được biến thể ở hai câu cuối, thể hiện những rối bời, hẫng hụt, xót xa của một tình yêu không thành, của một thân phận cay đắng. Nhân vật trữ tình là chàng trai và cô gái với những tâm sự tình yêu sâu sắc, chần thành, trong hoàn cảnh cô gái đã có chồng. Cách phản ánh tình yêu mang tính chất hiện thực, chứ không đậm tính lí tưởng hóa như tâm sự của những đôi trai gái đang yêu. Kết cấu đối đáp thể hiện ở toàn bộ bài ca dao và kết cấu trùng lặp in đậm ở ba câu cuốì cùng tạo nên ấn tượng sâu sắc cho người đọc về đặc trưng thi pháp ca dao. Bốn câu thơ đầu tiên là lời của người con trai, gửi gắm tâm trạng xót xa, hẫng hụt của chàng khi cô gái đã có chồng:Xem thêm: Tôi tên là Oanh Liệt.... Dựa theo những lời tâm sự trên, Anh (Chị) hãy viết bài văn theo ngôi thứ nhất, kể về số phận và nỗi niềm của của chú gà chọi bị bỏ rơi. (Yêu cầu viết phần mở bài)Trèo lèn cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay.
Hoàn cảnh bày tỏ tình cảm là hoàn cảnh ảo, không có thực. Chàng trai mượn cách diễn đạt quen thuộc của ca dao để chở đi tình cảm của mình:
– Trèo lên cây khế nửa ngày
– Trèo lên quán dốc, ngồi gốc cây đa
– Trèo lên cây gạo cao cao
Cảnh hiện thực phi lí: đến vườn cà để hái nụ tầm xuân đã diễn đạt cái có lí trong tâm trạng con người. Lời ca thể hiện rất chính xác tâm trạng rối bời, hẫng hụt của chàng trai đang yêu, nhưng vẫn khát khao kiếm tìm, khát khao hái tặng nụ tầm xuân. Ngôn ngữ không chỉ mang tính chất tạo hình mà còn chứa đựng những ý nghĩa biểu hiện sâu sắc. Hình ảnh nụ tầm xuân là một hình ảnh đẹp, biểu trưng cho tình yêu nam nữ. Cánh biếc xanh của nụ tầm xuân lại là một nét phi lí của hiện thực nhưng lại là màu xanh của tâm trạng không ngừng hi vọng, không thôi tin tưởng của một chàng trai với tình yêu mãnh liệt, chung tình. Càng chung thủy, càng thiết tha bao nhiêu thì sự nuôi tiếc trong tình yêu càng sâu thẳm bấy nhiêu. Sự đối lập giữa hiện thực và tâm trạng nuôi tiếc của chàng trai là câu trả lời, khẳng định cho nỗi lòng rối bời, búồn thương, chua xót của nhân vật trữ tinh. Ngôn ngữ biểu hiện, kết cấu đối đáp của ca dao đã trình bày tâm sự ấy của con người một cách khéo léo, tinh tế, tạo ra những hiệu ứng thẩm mĩ độc đáo, in đậm dấu ấn xúc cảm xót thương trong lòng người đọc:Xem thêm: Ai trong đời hẳn đã có ít nhất một lần đi khám bệnh. Hình dung của bạn về nghề thầy thnốcBa đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra
Chàng trai không hỏi nhưng cô gái lại tự trả lời. Câu trả lời của cô là lời giãi bày, tự than chua xót, vừa trách cứ chàng trai vừa đau đớn cho thân phận của mình. Dường như không phải chàng trai yêu đơn phương mà cô gái cũng có tình, có ý nhưng duyên phận của họ vẫn không thành. Chỉ yêu thương sâu sắc thì lời trách cứ mới đắng cay nhường ấy, chỉ nặng, ý, nặng tình thì lời than mởi chua chát như vậy. Cô gái tự ý thức về thân phận nhỏ bé, tội nghiệp của mình qua hình ảnh ba đồng một mớ trầu cay gieo vào lòng người sự xót thương sâu sắc trước số phận của người phụ nữ. Vậy mà lá trầu đến muộn, lời ngỏ lỡ làng, để rồi cả chàng trai và cô gái đều phải chấp nhận một sự thực đau lòng. Cơ hội của con người trong tình yêu mất đi, chàng trai trong bài ca chỉ đau đớn vì không lấy được cô gái thì nỗi đau của cô gái còn gấp bội phần, vì cô vừa không lây được chàng trai, vừa phải chấp nhận cuộc sống của cá chậu; chim lồng. Kết cấu trùng lặp, nhắc đi nhắc lại hình ảnh của cá cắn câu, của chim vào lồng đâ in đậm vào lòng người đọc dấu ấn buồn thương, chua xót của thân phận người phụ nữ đầy bi kịch, không quyết định được số phận của mình. Bài ca là tiếng hát buồn thương, đau đớn, hết sức cảm động, không chỉ về sự lỡ làng của tình yêu đôi lứa mà còn thể hiện sâu sắc về nỗi đau thân phận của người phụ nữ trong xã hội.Xem thêm: Từ câu chuyện về Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (Trích Đại Việt sử kí toàn thư) và Thái sư Trần Thủ Độ (trích Đại Việt sử kí toàn thư), anh chị có suy nghĩ gì về nhân cách và vai trò của người lãnh đạo trong cuộc sống hiện nay Thể hiện đầy đủ những đặc trưng của thi pháp ca dao, với thể thơ lục bát dược biến thể khéo léo, nhân vật trữ tình chàng trai và cô gái trong nỗi đau tình yêu, kết cấu đổì đáp kết hợp kết cấu trùng lặp, ngôn ngữ tạo hình và ngôn ngữ biểu hiện tạo ra một loạt những hình ảnh thẩm mĩ độc đáo, tất cả đã trình bày một cách sâu sắc, xúc động những tâm sự tha thiết, chua xót của con người, làm rung lên trong lòng độc giả những đồng điệu, thấu cảm chân thành.
Nghệ thuật là câu trả lời đầy thẩm mĩ cho con người (Tố Hữu). Ca dao đã đem đến cho người đọc những câu trả lời về tâm tình, nỗi lòng của điệu hồn con người dân tộc.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ về một bài ca dao mà anh (chị) yêu thích | 1,304 | |
Cảm nghĩ về một bài thơ hoặc một nhà thơ
Gợi ý
Giống như ngọn gió mang theo phấn thông vàng, cuộc sống ủ thơ ngay trong lòng của chính nó. Từ bao giờ, thơ ca tồn tại tự nhiên như hơi thở, như nước uống giữa cuộc đời trần. Người nghệ sĩ như con ong chăm chỉ rưới mật thơ vào hồn người để từ đó dậy lên bao chất tình đằm thắm. Muôn đời thơ là một phần tâm linh gắn bó máu thịt với cuộc sống và con người. Những hạt phấn thông, những giọt mật qúy đã làm nên sức sống linh điệu đó. Con người vẫn không ngừng tìm kiếm phấn thông, không thôi khám phá cái say nồng của mật ngọt và đem hồn mình, tình mình để lí giải thế nào là một bài thơ hay? Cất lên từ một trái tim yêu nồng nàn, tha thiết, nảy mầm từ một chồi non sắc biếc trong trẻo, chân thành, Thơ tình cuối mùa thu là một bài thơ hay, là một chỉnh thể giàu thẩm mĩ.Cùng tinh yêu ở lại
Từ bao giờ cho đến bây giờ, từ Hômerơ cho đến Kinh Thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại (Hoài Thanh). Đó là điệu hồn lắng sâu, là tấm tình tha thiết, thao thức đập cùng niềm vui, nỗi buồn của triệu triệu con tim. Một bài thơ hay phải là tiếng nói hồn nhiên của xúc cảm, phải bắt rễ từ cuộc đời và trôi chảy nguồn nhựa ấm nóng từ nhân gian. Cái gốc của thơ là trữ tình, đựng tình, tình có trào dâng, thơ mới lên tiếng, tình có nặng sâu, thơ mới ngân vang. Thơ hay phải bộc lộ chân thực tình cảm của cái tôi trữ tình. Đọc thơ mà thấy được cái thổn thức của một tiếng khóc thương, cái náo nức của một lời reo vui, cái mê đắm của tình yêu tuổi trẻ… Ấy là khi ta đón được hồn cốt của một bài thơ hay. Hồn cốt ấy phải được gói đựng trong một hình thức sáng tạo, độc đáo. Bởi cũng như các thể loại văn học khác, một tác phẩm thơ hay phải là một chỉnh thể thẩm mĩ, là sự gắn bó, quyện hòa giữa hai mặt hình thức và nội dung. Thơ hay như người con gái đẹp (ý Chế Lan Viên) không chỉ lôi cuốn người ta bằng y phục, dáng hình mà còn làm mê đắm lòng người bằng vẻ đẹp Ìihân phẩm bên trong. Thơ chỉ hay khi kết tinh cao độ sự độc đáo, mới lạ của hình thức và sự sâu kín, tế vi của nội dung, là một chỉnh thể thống nhất, hài hòa.
Không một xúc cảm nào lại mãnh liệt và chân thành hơn những rung động trong tình yêu, không một trái tim nào thức đập mạnh hơn những say đắm, mong nhớ, đợi chờ… Tình yêu chính là bài ca muôn đời của cuộc sống mà ở đó cái tôi trữ tình – cái tôi đang yêu được bộc lộ chân thực là mình. Xuân Quỳnh đã sống say đắm, đã yêu hết mình, đã khao khát rất mực chân thành trong những dòng thơ tình yêu đầy mê mải, thiết tha của mình. Thơ tình Xuân Quỳnh là những nhịp đập nồng nàn của một trái tim yêu, là tiếng nói âm vang, ấm nóng dội lên từ tâm thức một người phụ nữ nhiều khao khát, lắm mê say, luôn tôn thờ và tuyệt đôi hóa tình yêu. Thơ tỉnh cuối mùa thu – bài thơ nhỏ nhắn như lá, trong trẻo như mây mất kết tinh, lắng đọng cái tinh chất, nhụy thơm của mùa, cái say mê, vĩnh cửu, bất tận của tình yêu đôi lứa. Với thể thơ năm chữ rất thành công (Sóng, Thuyền và biển, Sân ga chiều em đi…), với tính nhạc dìu dặt, nhịp nhàng, bài thơ như một khúc hát âm vang vẫn ngân nga những giai điệu đắm say của nó trong những trái tim đang yêu:Xem thêm: Soạn bài Tức nước vỡ bờ trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất TốCuối trời mây trắng bay,
Lá vàng thưa thớt quá.
Không gian thu trong sáng, rộng mở với hai màu chủ đạo: trắng và vàng. Sắc trắng của mây là nền, sắc vàng của lá điểm xuyết, tất cả tạo nên một bức tranh trong trẻo, yên bình, gợi vào lòng người một chút xốn xang. Xuân Quỳnh đã dùng từ rất trúng thưa thớt để tả sẩc lá cuối thu, tạo nên một màu vàng điểm xuyết, tạo một điểm nhấn ấn tượng cho bức tranh thu. Hai câu thơ đầu tiên đã thu vào được một không gian thu điển hình, sắc thu điển hình, mà lại là cuối thu. Bức tranh cuối thu với mây, với lá không gợi buồn mà con người lạc vào không gian ấy chỉ cảm thấy độ chín của mùa, độ trong của không gian, độ tĩnh lặng của lòng người.
Phải chăng lá về rừng
Nghệ thuật vắt dòng được Xuân Quỳnh sử dụng rất khéo léo với phép lặp từ lá. Câu hỏi tu từ gieo vào lòng người những băn khoăn, bâng khuâng, mở ra nhiều chiều liên tưởng rộng rãi. Lá về rừng hay con người về về nguồn cội, về với chốn thanh bình đích thực của riêng mình?
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Nghệ thuật vắt dòng và lặp từ lại tiếp tục được triển khai. Không gian được vận động, mở rộng. Những dòng thơ tự nhiên, chân thật dẫn người đọc dạo quanh mùa thu, đi cùng lá, ra biển cả, theo dòng nước… để đến với một tình yêu đẹp. Người ta không chỉ cảm nhận được sự vận động của không gian, bước đi dạo chơi của mùa mà còn nghe thây những nhịp đập hối thúc trong cảm xúc, tâm tư. Câu thơ mềm mại, hình ảnh trong sáng, tính nhạc dặt dìu, tất cả tạo nên một cảm giác yên bình, trong lành, tươi mát của mùa thu, tình thu.
Mùa thu và hoa cúc
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Trong không gian rộng mở và vận động không ngừng ấy nhấn lên một điểm nhấn điển hình: hoa cúc. Đặt mùa thu sánh đôi cùng hoa cúc để so sánh với sự sánh đôi của tình anh – tình em, Xuân Quỳnh không những đã chỉ ra tinh chất của mùa mà còn nâng tình yêu đến chỗ bất tử hóa, vĩnh viễn hóa. Nếu hoa cúc làm nên cả mùa thu thì tình yêu của anh, của em là bất diệt, duy nhất. Câu thơ lặp đi lặp lại như một điệp khúc tình yêu: Chỉ còn anh và em – Chỉ còn anh và em. Điệp khúc như vang lên từ trong tâm thức, khẳng định, nhấn mạnh sự vĩnh cửu, bền vững, không đổi thay của một tình yêu chung thủy. Tình yêu đó thuộc về một mùa thu cũ, một mùa thu vĩnh hằng. Thời gian qua đi, nhưng mùa thu ở lại, tình yêu đôi ta ở lại với những vẻ đẹp muôn đời của nó.
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả
Lối đi quen bồng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Xem thêm: Em hãy tả về cô giáo mà em yêu thích nhất Khoảnh khắc cuối thu, khoảnh khắc giao mùa như kéo nhà thơ, đánh thức nhà thơ trở về với hiện thực. Xuân Quỳnh đã lựa chọn một chi tiết rất điển hình và tê vi của khoảnh khắc cuối thu, chớm đông: làn giò heo may để diễn tả những xao động của mùa, những rung động của lòng. Phải có một giác quan tinh tế, phải có một tâm hồn nhạy cảm, Xuân Quỳnh mới đón được những giây phút giao mùa, mới cảm được cái se lạnh của gió heo may. Đó không chỉ là sự xao động của gió, không chỉ là những biến chuyển của mùa mà còn là những xúc cảm của tâm hồn khi đón nhận bước đi của thời gian. Làn gió heo may hay cái. tình của con người khiên lôi quen bỗng lạ. Sự phi lí của hiện-thực lại là có lí trong thơ, có lí trong tình yêu. Lôi quen trong mắt nhìn của một tâm hồn nhạy cảm lúc giao mùa, của một trái tim yêu đầy say đắm, nhiệt thành bỗng trở nên mới lạ.
Cỏ lật theo chiều mây
Không gian như giao hòa, như nối liền trời và đất, cỏ và mây. Động từ lật được sử dụng đầy tế vi và độc đáo, dường như Xuân Quỳnh có thể cảm nhận được từng bước động của không gian, từng bước đi của thời gian. Bức tranh cuối thu như được nối dài bất tận với một sắc xanh nối liền của cỏ, của mây, của trời, của đất. Người ta không chỉ cảm nhận được sắc màu của không gian mà còn như chạm vào được cái tươi non, ngút ngàn, đầy sức sống của sắc màu ấy, không gian ấy.
Đêm về sương ướt má
Những nét động rất khẽ, rất êm của mùa của được Xuân Quỳnh thu nhận rất tinh tế. Làn sương hôn đôi má, thiên nhiên hòa quyện với con người tạo nên nét đa tình, phong tình cho câu thơ. Dường như tình yêu của con người cũng như thấm quyện vào tình yêu của thiên nhiên.
Hơi lạnh qua bàn tay
Gió heo may không chỉ làm lôi lạ, cỏ lật, sương ướt má, mà còn được cảm nhận bằng hơi lạnh qua bàn tay. Sự cảm nhận bằng xúc giác rất chân thực mà đầy tinh tế. Con người như hứng cái lạnh của đất trời, thu vào mình cái khoảnh khắc của phút gian mùa:
Tình ta như hàng cây
Đã bao mùa bão gió.
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ
Phép lặp và tính nhạc đến đây đã phát huy hết hiệu quả nghệ thuật, hiệu ứng thẩm mĩ của nó. Những câu thơ dìu dặt, nhịp nhàng như một khúc hát về tình yêu muôn đời, tình yêu bất diệt. Những hình ảnh so sánh thật gần gũi, giản đơn nhưng lại chở đi những ý nghĩa sâu sắc khôn cùng. Hàng cây qua mưa gió, dòng sông qua thác lũ, và tình yêu của chúng ta, sau bao gian khó, thử thách vẫn bền vững, trường tồn. Khúc ca trở nên say mê hơn bao giờ hết, những ước vọng tình yêu trở nên rạó rực hơn bao giờ hết. Nghe trong khúc hát say mê ấy những khát vọng yêu đương đẹp đẽ, rạng ngời của tuổi trẻ, những tin tưởng tha thiết về một tình yêu chung thủy, vĩnh hằng:
Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
Xuân Quỳnh đã lấy gió để so sánh với bước đi của thời gian, lấy cái hữu hạn của đời người để đốì lập với cái vô hạn của mùa, của năm tháng. Ta như lại bắt gặp những ý niệm thời gian trong những nhịp đập cồn cào của Sóng
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Xuân Quỳnh luôn ý thức được sự trôi chảy của thời gian, sự phai tàn của tuổi trẻ nhưng sự ý thức ấy không có cái đau đớn, e sợ lỡ làng, muộn màng, không kịp, lỡ thì như trong thơ Xuân Diệu. Xuân Quỳnh để dòng thời gian trôi chảy trong thơ mình nhưng cuối cùng lại gạn lọc ra cái tính chất của đời vĩnh hằng tồn tại, đó chính là tình yêu:Xem thêm: Bộ sách Ngữ văn 7 là những cuốn sách hấp dẫn và bổ ích. Em có đồng ý như vậy không?Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
Điệp khúc tình yêu say mê lại được vang lên đầy tha thiết. Trái tim yêu của người nữ sĩ không thôi tin tưởng, không ngừng khẳng định sự trường tồn, bất tử của tình yêu con người. Tình yêu chính là lẽ sống ở đờì, là phương thức để vĩnh hằng cùng dòng trôi chảy của thời gian. Năm tháng có qua đi, tuổi trẻ có qua đi, nhưng những nhịp đập mê mải của tình yêu đôi lứa vẫn không ngừng hối thúc, rạo rực trong triệu triệu trái tim.
Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may
Hai câu thơ kết là tiếng gọi những người yêu nhau hãy đi theo những nhịp bước của trái tim mình, đi theo sự hối thúc của tình yêu. Hình ảnh gió heo may được lặp lại, không chỉ là một điểm nhấn điển hình của mùa thu, mà còn sánh bước cùng tình thu, tình người: Đi qua cùng heo may. Câu thơ khép lại bài thơ mà mở ra bao nhiêu tình yêu mới, mà hứa hẹn những yêu thương say đắm ngàn đời.
Nhan đề bài thơ là Thờ tình cuối mùa thu, nhưng người đọc lại không cảm nhận thấy nỗi buồn của một sự chấm dứt, sự luyến tiếc một cái gì sắp qua đi, mà lại thấy ngời lên trong tim mình những tin tưởng mãnh liệt, những hứa hẹn tình yêu tươi tắn, rạng ngời. Bài thơ không chỉ có độ chín của một sự trải nghiệm sâu sắc mà còn có độ xanh trong, tươi non của một tình yêu luôn trào dâng, mới mẻ và đắm say. Tính nhạc dặt dìu được tạo nên từ thể thơ năm chữ như ru, như hát, như thủ thỉ tâm tình, dẫn người đọc dạo bước mùa thu, dạo bước tình yêu. Hình ảnh thơ trong sáng, giản dị, nghệ thuật vắt dòng, lặp từ rất khéo léo, thành công khiến bài thơ như một điệp khúc tình yêu ngân vang, tha thiết. Không gian thơ rộng mở, vận động không ngừng nhưng lại có những điểm nhấn nghệ thuật có hiệu ứng thẩm mĩ cao đầy sáng tạo. Đọc Thơ tình cuối mùa thu, con người không chỉ được trông nhìn và thưởng thức một bức tranh thu đẹp đẽ, yên bình mà còn được lặng mình trải nghiệm sự vĩnh cửu, bất tử, vĩnh hằng của tình yêu. Chính tiếng thơ của cảm xúc, chính giọng điệu chân thành mà say đắm của thơ Xuân Quỳnh đã gieo vào lòng người những tin yêu muôn đời đẹp đẽ, để rồi, trong bất cứ một trái tim đang yêu nào cũng thao thiết ngân vang:
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Cùng tinh yêu ở lại.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ về một bài thơ hoặc một nhà thơ | 2,493 | |
Cảm nghĩ về một danh lam thắng cảnh mà em đã được tham quan hoặc xem trên ti vi hay đọc trong sách báo
Gợi ý
Danh lam thắng cảnh là những cảnh đẹp tiêu biểu của một vùng đất bởi vậy những dại danh đó trở thành niềm tự hào của mỗi người con trên mảnh đất họ được sinh ra. Hà Nội có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm, vườn Bách Thảo,… Và đã là người Hà Nội thì ai ai cũng tự hào về chùa Một Cột, ngôi chùa có lịch sử lâu đời và có lối kiến trúc vô cùng độc đáo.
Sự ra đời của ngôi chùa này gắn với những giai thoại lịch sử vô cùng lí thú. Được xây dựng vào mùa đông tháng mười Âm lịch năm 1049, theo truyền thuyết thì chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lí Thái Tông và gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Thời đó, đạo Phật với tư tưởng từ bi hỉ xả hết sức nhân văn đang được trọng dụng. Một đêm, nhà vua nằm mơ thấy được Phật Bà Quan Âm dắt lên toà sen. Nhà vua bèn vời nhà sư Thiền Tuệ vào triều đệ hỏi về giấc mộng của mình. Theo gợi ý của nhà sư, vua Lí Thái Tông đã cho xây dựng ngôi chùa này. Ban đầu chùa có tên là Diên Hựu với ý nghĩa lâu dài mãi mãi, sau này chùa mới được đổi theo nhiều tên gọi khác nhau và cái tên Một Cột được giữ lại đến ngày nay là dựa vào đặc điểm hình dáng vô cùng độc đáo, đặc sắc của ngôi chùa.Xem thêm: Phân tích bài thơ Ngày xuân dặn các con của Nguyễn Khuyến
Chùa hoàn toàn được xây dựng theo lối kiến trúc cố truyền. Chùa có kết cấu bằng gỗ, trong chùa đặt tượng Phật Bà Quan Âm nghìn tay để thờ. Bao quanh chùa là một Hồ nước nhỏ có tên là Linh Chiểu. Chùa bao gồm đài Liên Hoa hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3m, mái cong dựng trên cột cao 4m, có đường kính là l,2m và một cột đá hai khúc chồng lên nhau thành một khối. Chùa có một hệ thông những đòn gỗ làm giá đỡ rất quy mô. Đài Liên Hoa có mái ngói mà bốn góc uốn cong, trên có hình lưỡng long triều nguyệt. Hình ảnh ngôi chùa nhô lên khỏi mặt nước, khiến cho ta nghĩ đến hình tượng bông sen vươn thẳng lên khỏi ao hình vuông, xung quanh bao bọc bằng hàng lan can làm men những viên gạch sành tráng men xanh. Trong chiếc Hồ nhỏ bao quanh chùa có trồng rất nhiều hoa sen. Vào những dịp xuận về những bông sen đua nhau nở hoa, toả hương thơm ngát, làm tăng thêm vẻ đẹp trang nghiêm cho chùa. Kiến trúc đơn giản mà tinh tế ấy đã tạo cho chùa Một Cột nét đẹp giản dị, tao nhã; nó thể hiện cái Hồn cốt thanh cao của vãn hóa Hà Nội nghìn năm văn hiến.
Chùa hiện nay nằm trong khu đi tích gồm cả Bảo tàng Hồ Chí Minh, khu Lăng của Bác và trở thành điểm nhấn cho quần thể di tích này. Vào những dịp lễ tết mọi người lại đến chùa thắp hương khấn Phật mong điều an lành cho gia đình và bản thân.Xem thêm: Nêu cảm nghĩ của em về cây phượng mà em biết Chùa Một Cột đã trở thành biểu tượng truyền thống của văn hoá Hà Nội. Với ý nghĩa đó, địa danh này đã được chọn làm biểu tượng cho Thủ đô Hà Nội và đài truyền hình Hà Nội, ngoài ra chùa còn được thấy ở mặt sau đồng tiền kim loại 5000 đồng.
Chùa Một Cột đã trở thành một chứng nhân lịch sử của những năm tháng thăng trầm của Hà Nội. Cho dù đã qua nhiều lần trùng tu nhưng chùa vẫn không mất đi vẻ đẹp giản dị và thiêng liêng. Và chắc hẳn dù có đi đến đâu con người Việt Nam cũng sẽ tự hào kể cho bạn bè năm châu được biết về di tích lịch sử này
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ về một danh lam thắng cảnh mà em đã được tham quan hoặc xem trên ti vi hay đọc trong sách báo | 720 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.