text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương Bài làm Năm 1976, sau ngày đất nước ta được hoàn toàn giải phóng, lăng Bác được khánh thành. Nhà thơ Viễn Phương từ miền Nam đã ra thăm lăng Bác. Cảm xúc dâng trào, nhà thơ đã làm một bài thơ như một lời bộc bạch chân tình của hàng triệu người con miền Nam với Bác. Đây là một bài thơ đặc sắc, giàu ý nghĩa, làm cho người đọc xúc động. Hai khổ thơ đầu là những dòng cảm xúc ban đầu của nhà thơ khi được lần đầu đến thăm lăng Bác: một chút tự hào, xen lẫn vui sướng, lẫn xúc động khi sắp đc kề cận bên Người cha thân yêu của dân tộc. Bằng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, nhôn ngữ bình dị mà hàm súc, tinh tế, đoạn thơ đã để lại trong lòng người đọc những cảm xúc vô cùng sâu sắc. Hai khổ cuối bài thơ như những nốt nhạc du dương, trầm bổng, réo rắt như tấm lòng tha thiết yêu mến của nhà thơ với Bác. Bằng những ngôn từ ẩn dụ đặc sắc,từ ngữ bình dị mà giàu sức gợi, câu thơ đã khơi gợi trong lòng người đọc những rung động sâu sắc và đáng quý. Bài thơ được phân chia theo bố cục thời gian, và khổ thơ đầu tiên nói về cảm xúc của tác giả khi nhìn thấy lăng Bác từ xa. “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” Câu thơ đầu tiên thật ngắn gọn nhưng nó lại là một lời tâm sự chân tình của nhà thơ cũng như hàng triệu người con miền Nam. Một tiếng “con” thật ấm áp, gần gũi, thể hiện lòng kính yêu to lớn đối với Bác. Bác thật gần gũi với người dân, như là một vị cha già của dân tộc. “Con ở miền Nam” – mấy tiếng ấy bao hàm một nỗi đau và một niềm tự hào. Miền Nam gian khổ và anh hùng, miền Nam đi trước về sau, miền Nam thành đồng Tổ quốc, miền Nam vừa chiến thắng kẻ thù hung bạo trở về trong đại gia đình Việt Nam đây Bác ơi! Nhà thơ mong nhìn thấy Bác một lần sau khi đất nước đã giải phóng nhưng thật đau xót, Bác đã không còn. Vì vậy, từ “viếng” đã được nhà thơ thay bằng từ “thăm” để giảm nhẹ nỗi đau cũng như bày tỏ niềm tin rằng Bác vẫn sống mãi. “Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” Đập vào mắt nhà thơ là hình ảnh hàng tre xanh ngắt trước lăng Bác. Cây tre – biểu tượng cho sự bất khuất, kiên cường nhưng giản dị, thanh cao của người dân Việt Nam – đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lòng tác giả trước khi bước vào lăng Bác. Hàng tre bát ngát – Hàng tre xanh xanh – Hàng tre Việt Nam: hàng tre bao đời như một dấu hịêu đặc biệt của dân tộc. Hàng tre trùm bóng mát rượi lên bao thế hệ cuộc đời, hàng tre mang bao phẩm chất của con người Tổ quốc ta: dẻo dai, đoàn kết, bất khuất, kiên cường. Ở Bác có tất cả những gì mà những con người Việt Nam từng có, cũng cái dấu hiệu xanh tươi sự sống ấy, cũng cái kiên cường “đứng thẳng hàng” trong “bão táp mưa sa” ấy. Dân tộc ta thật sự có sức sống mãnh liệt, cho dù những thử thách của thiên nhiên, của lịch sử có khắc nghiệt cách mấy thì vẫn kiên cường chống chọi, và vẫn cố gắng đứng thẳng chứ nhất quyết không chịu bị bẻ cong. Hàng tre đứng đó, bên lăng Bác như ru giấc ngủ ngàn thu của Bác, gắn bó mãi mãi với Bác như dân tộc Việt Nam vẫn kính trọng Bác mãi mãi. Đến gần lăng Bác, xếp hàng vào viếng thì tác giả có thêm nhiều cảm xúc mới. “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” Hai câu thơ sinh động với nhiều hình ảnh gợi cảm được tạo nên từ những hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ sóng đôi với nhau. Một mặt trời thực đi qua trên lăng, là mặt trời của tự nhiên, của muôn loài, soi sáng cho muôn loài, đem lại sức sống cho thế giới. Từ mặt trời thật ấy, một mặt trời ẩn dụ khác hiện ra trong lăng, rất đỏ. Bác nằm trong lăng với ánh sáng đỏ xung quanh như một mặt trời. Bác tồn tại vĩnh cửu trong lòng mỗi người dân Việt Nam như sự tồn tại của một mặt trời thật. Bác soi sáng đường cho dân tộc ta đi, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giành độc lập của Tổ quốc. Bác giúp nhân dân ta thoát khỏi kiếp sống nô lệ, trở thành một con người tự do để bây giờ được hạnh phúc. Công lao của Bác đối với dân tộc ta cũng như mặt trời, to lớn không kể xiết. Bác là một mặt trời. Cái ẩn dụ mặt trời ở đây không biết đã đủ nói về Bác chưa?. Không, nếu nói Bác là mặt trời thì phải nhấn mạnh thêm cho rõ cái đặc tính của vầng mặt trời ấy: rất đỏ. Cái mặt trời đang tỏa sáng trên cao kia, cái mặt trời của thiên nhiên, tượng trưng của nguồn nóng, nguồn sáng, nguồn sự sống ấy, không phải bao giờ cũng nguyên vẹn thế đâu, không phải lúc nào cũng ấm nóng thế đâu! Vầng mặt trời ấy có thể bị bóng đêm lấn át. Nhưng vầng mặt trời Bác Hồ của ta thì mãi mãi đỏ thắm, mãi mãi là nguồn sưởi ấm, nguồn sáng soi đường cho con người Việt Nam. Hôm nay có hai mặt trời chiếu rọi trên đường đời: một mặt trời tỏa sáng trước mặt, một mặt trời tỏa sáng tâm hồn…Như mặt trời kia, Bác thuộc về vĩnh cửu. Bác sẽ sống mãi trong lòng mỗi con người Việt Nam. “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…” Cùng với mặt trời đi qua trên lăng, ngày ngày dòng người vẫn đi qua lăng trong thương nhớ. Điệp ngữ “ngày ngày” ý nói rằng nhân dân ta mãi luôn ghi nhớ công lao to lớn của Bác, mãi mãi là như vậy. Nhịp thơ của đoạn chậm, diễn tả đúng tâm trạng khi đứng xếp hàng trước lăng chờ đến lượt vào, ngậm ngùi tưởng nhớ đến Bác đã khuất. Tuy vậy, nhịp thơ chầm chậm như bước chân người đi trong cuộc tưởng niệm mà sao câu thơ vẫn không buồn? Phải rồi. Chúng ta không làm cái việc tưởng niệm bình thường với Bác như một người đã khuất. Dòng người đang đi đây là đang đi trong cuộc hành trình ngợi ca vinh quang của Bác. Và tràng hoa vinh quang này không phải được kết bằng những bông hoa bình thường như mọi tràng hoa vinh hiển khác trên đời đâu. Tràng hoa đây là một hình ảnh ẩn dụ của tác giả, đó chính là những đoá hoa thật sự của đời, là đàn con mà Bác đã cố công tạo nên suốt bảy mươi chín mùa xuân Bác sống trên đời. Những bông hoa trong vườn Bác nay đã lớn lên, nở rộ ngát hương kính dâng lên Bác. Vào bên trong lăng Bác, thấy Bác đang nằm đó, nhà thơ lại một lần nữa cố giấu tiếng nấc nghẹn ngào: “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền” Khung cảnh bên trong lăng thật êm dịu, thanh bình. Lúc này, trước mặt mọi người chỉ có hình ảnh Bác. Bác nằm đó trong giấc ngủ vĩnh hằng. Bác mất thật rồi sao? Không đâu. Bác chỉ nằm đó ngủ thôi, Bác chỉ ngủ thôi mà! Suốt bảy mươi chín năm cống hiến cho đất nước, bây giờ đất nước đã bình yên, Bác phải được nghỉ ngơi chứ. Bao quanh giấc ngủ của Bác là một “vầng trăng sáng dịu hiền”. Đó là hình ảnh ẩn dụ cho những năm tháng làm việc của Bác, lúc nào cũng có vầng trăng bên cạnh bầu bạn. Từ giữa chốn tù đày, đến “cảnh khuya” núi rừng Việt Bắc, rồi “nguyên tiêu”… Tuy vậy, Bác chưa bao giờ thảnh thơi để ngắm trăng đúng nghĩa. Khi thì “trong tù không rựơu cũng không hoa”, khi thì “việc quân đang bận”. Chỉ có bây giờ, trong giấc ngủ yên, vầng trăng ấy mới thật sự là vầng trăng yên bình, để Bác nghỉ ngơi và ngắm. Trăng dịu hiền, soi sáng hình ảnh Bác. Nhìn Bác ngủ ở đấy thật bình yên, nhưng có một sự thật dù đau lòng cách mấy ta vẫn phải chấp nhận: Bác đã thật sự ra đi mãi mãi. “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim!” Trời xanh bao la kia kéo dài đến vô tận, không bao giờ chấm dứt. Dù lí trí vẫn luôn trấn an lòng mình rằng Bác vẫn sống đấy, vẫn còn dõi theo Tổ quốc mãi mãi như màu xanh thanh bình trên nền trời Tổ quốc độc lập nhưng con tim ta vẫn nhói đau vì một sự thật đau lòng. Một từ “nhói” của nhà thơ nói hộ ta nỗi đau đớn, nỗi đau vượt lên mọi lí lẽ, mọi lập luận lí trí. Bác như trời xanh, Bác là mãi mãi, Bác vẫn sống trong tâm tưởng mỗi chúng ta, Bác mãi hiện diện trên mỗi phần đất, mỗi thành quả, mỗi phần tử tạo nên đất nước này. Nhưng mà Bác mất thật rồi, ta không còn có Bác trong cuộc đời thường này. Mất Bác, cái thiếu vắng ấy liệu có thể nào bù đắp được? Tổ quốc ta đã thật sự không còn Bác dõi theo từng bước chân, không còn được Bác nâng đỡ mỗi khi vấp ngã. Bác ra đi, nỗi đau ấy liệu có từ ngữ nào diễn tả hết? Cả đàn con Việt Nam luôn tiếc thương Bác, luôn nhớ về Bác như một cái gì đó thật vĩ đại, không thể xoá nhoà. Dù Bác ra đi thật sự rồi nhưng những điều Bác đã làm vẫn sẽ đọng lại trong tâm hồn, hình ảnh Bác vẫn tồn tại trường kì trong trái tim mỗi người dân Việt Nam. Cuối cùng dẫu thương tiếc Bác đến mấy, cũng đến lúc phải rời lăng Bác để ra về. Khổ thơ cuối như một lời từ biệt đầy xúc động: “Mai về miền Nam thương trào nước mắt” Ngày mai phải rời xa Bác rồi. Một tiếng “thương của miền Nam” lại vang lên, gợi về miền đất xa xôi của Tổ quốc, một nơi từng có vị trí sâu sắc trong trái tim người. Một tiếng “thương” ấy là yêu, là biết ơn, là kính trọng cuộc đời cao thượng, vĩ đại của Người. Đó là tiếng thương của nỗi đau xót khi mất Bác. Thương Bác lắm, nước mắt trào ra, thật đúng là tình thương của người Việt Nam, vô bờ bến và rất thật. “Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này” Cùng với nỗi niềm yêu thương vô hạn, tác giả nói lên muôn vàn lời tự nguyện. Điệp ngữ “muốn làm” khẳng định mạnh mẽ những ước nguyện ấy. Ước chi ta có thể biến hình thành những gì thân yêu quanh nơi Bác ngủ để mãi mãi được chiêm ngưỡng Bác, cuộc đời và tâm hồn của Bác, để bày tỏ lòng ta với Bác. Một con chim nhỏ góp tiếng hót làm vui những bình minh của Bác, một đóa hoa góp mùi hương làm thơm không gian quanh Bác hay một cây tre trong hàng tre xanh xanh VN tỏa bóng mát dịu dàng quê hương của Bác, tất cả đều làm Bác vui và ngủ an giấc hơn. Đây cũng chính là nguyện ước chân thành, sâu sắc của hàng triệu con tim người Việt sau một lần ra thăm lăng Bác. Bác ơi! Bác hãy ngủ lại bình yên nhé, chúng cháu về miền Nam tiếp tục xây dựng Tổ quốc từ nền móng Bác đã tạo ra đây! Câu thơ trầm xuống để kết thùc, ngừng lặng hòan toàn. Về nghệ thuật, bài thơ Viếng lăng Bác có nhiều điểm nghệ thuật rất đặc sắc, giúp biểu hiện thành công thêm về những giá trị nội dung. Bài thơ viết theo thể tám chữ, trong có có xen một vài câu bảy và chín chữ. Nhiều hình ảnh trong bài thơ lấy từ ngoài đời thực đã được ẩn dụ, trở thành một cách thể hiện cảm xúc thành kính của tác giả. Nhịp thơ của bài linh hoạt, lúc nhanh là biểu hiện cho ước nguyện đền đáp công ơn Bác, lúc chậm là lúc thể hiện lòng thành kính với Bác. Giọng điêu của bài trang trọng, tha thiết, ngôn ngữ thơ bình dị mà cô đúc. Bằng những từ ngữ, lời lẽ chân thành, giàu cảm xúc, nhà thơ Viễn Phương đã bày tỏ được niềm xúc động cùng lòng biết ơn sâu sắc đến Bác trong một dịp ra miền Bắc viếng lăng Bác. Bài thơ như một tiếng nói chung của toàn thể nhân dân Việt Nam, biểu lộ niềm đau xót khi thấy Bác kính yêu ra đi. Qua bài thơ, tôi cảm thấy rằng đất nước ta có hoà bình như ngày hôm nay một phần lớn là nhờ công lao của Bác, như vậy chúng ta cần phải biết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta, để những công ơn to lớn của Bác không bị bỏ phí.
Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương
2,345
Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác – Viễn Phương Hướng dẫn Viếng lăng Bác – tiếng lòng thiết tha của người con Nam bộ Mở bài: Viễn Phương là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. Ông gắn bó với cuộc sống và chiến đấu của bà con quê hương trong suốt thời kì chiến tranh. Thơ Viễn Phương dung dị, cảm xúc sâu lắng, thiết tha, ngôn ngữ thơ đậm đà màu sắc Nam Bộ và giàu chất mộng mơ ngay trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến trường. Phong cách ấy được thể hiện đậm nét trong bài thơ Viếng lăng Bác được Viễn Phương viết năm 1976, khi cùng đoàn miền Nam ra thăm lăng Bác sau ngày đất nước giải phóng. Thân bài: Sự nghiệp giải phóng dân tộc vĩ đại của Bác, vẻ đẹp tâm hồn của Bác, lòng kính yêu vô hạn của nhân dân đối với Bác đã trở thành cảm hứng cho biết bao nghệ sĩ sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật bất hủ. Đến sau trong đề tài thơ về Bác bởi do là người con miền Nam, lại cầm súng ở ngoài tiền tuyến, nhà thơ Viễn Phương cũng kịp để lại bài thơ Viếng lăng Bác, một tình yêu thiết tha của người con miền Nam trong ngày viếng lăng Người. Cảm xúc bao trùm bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính; niềm tự hào, đau xót của nhà thơ từ miền Nam vừa được giải phóng ra thăm lăng Bác. Đó là tình cảm của người con miền Nam xa xôi dành cho vị cha già dân tộc đã về nơi vĩnh hằng. Bất cứ ai khi nghĩ về điều đó đều thấy vừa mất mát đi một phần tâm hồn. Dù là đến muộn khi Bác đã mãi mãi đi xa nhưng Viễn Phương không kìm nén nổi niềm xúc động của mình. Khởi đầu bài thơ là lời tâm tình thiết tha, nghe quăn thắt trong lòng: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp phong ba đứng thẳng hàng”. Câu thơ mở đầu như một lời thông báo ngắn gọn, lời lẽ giản dị nhưng chứa đựng trong nó biết bao tình cảm sâu xa. Tiếng “con” nghe ngọt ngào, thành kính biết bao. Tiếng gọi như chất chứa trong lòng bao năm, giờ được thốt ra trong nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt. Trở về với lăng Bác như trở về với cội nguồn, trở về với chính mình, với sự yên bình và hạnh phúc. Nhà thơ như tìm được ở Người một sự che chở ấm áp hết sức trìu mén, thân thương. Tiếng gọi tự nhiên mà thiêng liêng đến thế. Đó cũng là tất cả tình yêu mến mà nhân dân miền Nam muốn dành tặng cho cho Người – vị cha già kính yêu của dân tộc. Nhà thơ không hề bất ngờ khi đón nhận hình ảnh ấy bởi hàng tre vốn là hình ảnh hết sức thân thuộc và gần gũi của làng quê, đất nước Việt Nam. Hàng tre còn là một biểu tượng con người, biểu tượng của dân tộc Việt Nam ngàn đời kiên trung, bất khuất. Dù có “bão táp phong ba” vẫn luôn “đứng thẳng hàng” như người lính kiên trung không rời khỏi vị trí chiến đấu. Đó là tinh thần đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục kẻ thù; tất cả vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ. Đó cũng là lời hứa của nhân dân miền Nam trước lăng Người, mãi mãi trung thành với đất nước và quyết tâm gìn giữ những thành quả mà dân tộc ta đã giành lấy được. Từ hình ảnh hàng tre bát ngát trong sương quanh lăng Bác, nhà thơ đã suy nghĩ, liên tưởng và mở rộng khái quát thành một hình ảnh hàng tre mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Niềm xúc động và tự hào về đất nước, về dân tộc, về những con người Nam Bộ đã được nhà thơ khắc họa thật xúc động. Chỉ một khổ thơ ngắn thôi nhưng cũng đủ để thể hiện những cảm xúc chân thành, thiêng liêng của nhà thơ và cũng là của nhân dân đối với Bác kính yêu. Kìm nén niềm xúc động lớn lao của mình, nhà thơ nhìn bao quát toàn cảnh “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”. Nhà thơ nghĩ về Bác, nghĩ về sự nghiệp vĩ đại của Người, ánh sáng của niềm tin bàng bạc khắp không gian. Người không chỉ là một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, không chỉ là người có trái tim yêu thương con người vô hạn mà Người còn sánh ngang với cái kì vĩ của vũ trụ này. Dù người đã đi xa nhưng nhà thơ vẫn cảm nhận một nguồn ấm còn bao trùm khắp đâu đây. Hình ảnh “tràng hoa” người thật chân thật và tinh tế vô cùng. Đó là cái nhìn hiện thực của nhà thơ, không hề tô vẽ. Nhưng với cái nhìn của nhà thơ, từng dòng người vào viếng lăng như mang theo những sắc màu yêu thương của khắp mọi miền đất nước. Họ đến với lãnh tụ và mang theo một tình yêu tha thiết, thành kính, thiết tha. Mạch thơ tiếp tục chuyển động theo bước chân của nhà thơ. Bước vào trong lăng, đứng trước linh cữu của Bác, Viễn Phương không khỏi xúc động. Một không gian nghiêm trang, tĩnh lặng; hình ảnh lãnh tụ kính yêu đang bình yên trong giấc ngủ hiện ra trước mắt: “Bác vẫn nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Dẫu biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Ánh sáng thanh bình bao trùm khắp nơi, vạn vật lặng im, trầm tư canh giấc ngủ nghìn thu của Người. Ngỡ như hồn Người còn ở đâu đây rất gần. Nhà thơ cảm thấy thật gần gũi, thật ấm áp, thật bình yên. Người đã rời bỏ tất cả tìm về cõi thoát tục, trở về với siêu nhiên. Trên khuôn mặt người hiện lên sự thanh thản như đã hiểu thấu được niềm vui của cả dân tộc khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng. Vầng trăng dịu hiền sáng soi càng làm cho không gian trở nên huyền ảo, lung linh phi thường. Đột ngột, như sực tỉnh giữa cõi mơ, trở về với thực tại, nhà thơ bàng hoàng, thẫn thờ khi nhận ra rằng đó chỉ là hồi tưởng, là ảo vọng do muôn vạn tình yêu thương kết tụ. Từ “nhói” ở câu thơ trực tiếp biểu hiện nỗi đau quặn thắt ấy. Tác giả tự cảm thấy nỗi đau mất mát ở tận trong đáy sâu tâm hồn mình, nỗi đau uất nghẹn tột cùng không nói thành lời. Đó không chỉ là nỗi đau riêng tác giả mà của cả triệu trái tim con người Việt Nam. “Mai về miền nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”. Nghĩ đến ngày mai phải về miền Nam, rời xa Bác, rời xa thủ đô Hà Nội, tình cảm của nhà thơ không kìm nén, ẩn giấu trong lòng mà bộc phát thể hiện ra ngoài một cách mãnh liệt. Từ “trào” diễn tả cảm xúc thật mãnh liệt lại vừa quyến luyến, bịn rịn không muốn xa rời. Ước muốn cuối cùng trước khi rời lăng chính là lời hứa mãi mãi kiên trung với đất nước, quyết giữ gìn đất nước, sống xứng đáng với ý nguyện của Người. Hình ảnh “cây tre trung hiếu” một lần nữa lại hiện lên khẳng định đinh ninh lòng thủy chung, son sắt của nhân dân, của dân tộc trước linh cữu của Bác. Kết bài: Viễn Phương đã rất thành công khi đi từ cảm xúc cá nhân đối với lãnh tụ đến tình yêu mến vô hạn của quân dân miền Nam kính yêu dành tặng cho Người. Đặc biệt, nhà thơ đã hình tượng hóa sâu sắc hình ảnh Hồ Chí Minh bằng những biểu tượng có sức khái quát cao độ, khẳng định mạnh mẽ sức sống vĩnh hằng của Người trong lòng dân tộc. Ông đã nhẹ nhàng đóng góp vào nền thơ ca Việt Nam một khúc ca réo rắt tình cảm yêu thương, ngợi ca sự nghiệp vĩ đại của Bác. Có thể nói thơ Viễn Phương dễ nhớ, giàu cảm xúc, nhưng không bị lụy hay cường điệu nỗi đau…Thơ ông chân thật như tâm hồn, như tiếng nói người Nam Bộ. Thơ Viễn Phương nền nã, thì thầm, man mác, bâng khuâng, day dứt, không gút mắt, cầu kỳ, kênh kiệu hay khoa ngôn. Bởi thế, thật dễ hiểu, qua bao năm tháng, bài thơ Viếng lăng Bác vẫn còn vang vọng mãi trong lòng người đọc, đặc biệt là đối với người dân Nam Bộ.
Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác – Viễn Phương
1,580
Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu- văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu- văn lớp 12 Bài làm Nhà thơ Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng, lá cờ tiên phong của nền thi ca Việt Nam. Mỗi tác phẩm của ông đều thể hiện cho quan điểm chính trị, thái độ sống tích cực của một thanh niên yêu nước, dám hy sinh xả thân vì dân tộc. Bài thơ Việt Bắc là một bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh khi đất nước ta đã chiến thắng thực dân Pháp, những chiến sĩ cụ Hồ rời Việt Bắc trở về miền xuôi sau 15 năm gắn bó với đồng bào dân tộc nơi đây. Bài thơ thể hiện tinh thần quân dân, thắm thiết, bền chặt như người thân trong một gia đình. Mở đầu bài thơ Việt bắc là cuộc chia tay đầy xúc động giữa những người dân tộc vùng núi Việt Bắc với những chiến sĩ cách mạng: “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… ” Trong những dòng thơ mở đầu này thể hiện cho tâm trạng bồi hồi lưu luyến không muốn chia tay của những người chiến sĩ trước lúc lên đường về thủ đô. Tâm trạng của những người ở lại thì cảm thấy tiếc nuối, nhớ thương bịn rịn không muốn cho người ra đi. Cách xưng hô ta mình thể hiện tinh thần thân thiết giữa những người thân trong gia đình. Tuy không cùng chung huyết thống nhưng gắn bó thân thiết hơn cả người cùng một nhà. Sau 15 năm gắn bó với mảnh đất núi rừng Việt Bắc tình quân dân như anh em trong cùng một gia đình, như nghĩa vợ chồng thủy chung son sắc. Nhưng nay phải rời xa, khiến cho cả đôi bên đều lưu luyến không muốn rời đi. “Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?” Điệp từ “Nhớ” được tác giả Tố Hữu nhắc đi nhắc lại nhiều lần thể hiện cho tâm tư tình cảm của tác giả dành cho mảnh đất thiêng liêng này. Tất cả những vùng núi non những đám lau, những hạt trám, đều là kỷ niệm ngọt ngào không thể nào quên với người chiến sĩ bộ đội cụ Hồ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp ở núi rừng Việt Bắc. “Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu… Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy Ta đi, ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi… Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ sao lớp học i tờ Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa… ” Trong những câu thơ này tác giả đã phác họa lên một bức tranh người nhân dân với hình ảnh sinh hoạt lao động, đầy nhiệt huyết, thể hiện sự hăng say lao động chăm chỉ của những người con núi rừng, những người dân đồng bào Tây bắc. Trong những câu thơ hình ảnh người mẹ, người con gái hiện lên thật chăm chỉ, dịu dàng nết na với những công việc lao động nặng nhọc của mình. Thể hiện một tinh thần sống nghiêm túc với tất cả. “Ta về, mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. ” Trong những câu thơ này hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc hiện lên vô cùng tươi đẹp. Tác giả Tố Hữu đã vô cùng khéo léo khi viết lên một bức tranh tứ bình tuyệt đẹp về cảnh bốn mùa vô cùng tươi đẹp. Mùa đông hình ảnh những bông hoa chuối rừng đỏ tươi hiện lên vô cùng đẹp mắt thể hiện sự tin tưởng của những người dân nơi đây với cuộc kháng chiến gian nan, khó khăn của dân tộc. Bức tranh mùa xuân mơ nở trắng cả khu rừng, hoa mơ cũng như hoa đào hoa mai là biểu tượng của mùa xuân và chỉ nở vào mùa xuân tác giả đã vô cùng tinh tế khi thể hiện bức tranh mùa xuân tinh khôi, trong trẻo làm say đắm lòng người. Hình ảnh người con gái đan nón một công việc thể hiện sự tinh tế, cần mẫn của người phụ nữ trong công việc thường ngày của mình. Trong bức tranh mùa hè tác giả gợi mở bằng tiếng ve kêu râm ran một biểu tượng ai cũng có thể biết đó là mùa hè một mùa hè rực lửa. Hình ảnh người con gái hái măng một mình như không hề gợi sự cô đơn, lẻ loi mà gợi sự ấm áp vui vẻ đảm đang “Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Ðất trời ta cả chiến khu một lòng. Ai về ai có nhớ không? Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà… ” Bức tranh thiên nhiên được đan xe cùng với những con người chân chất, can đảm yêu nước đã trở thành hình tượng vô cùng tươi đẹp trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu thể hiện sự gắn bó quân dân keo sơn như một. Trong những ngày bom đạn khói lửa chính những cánh rừng Việt Bắc cùng người dân lao động lam lũ đã che chở cho những chiến sĩ cụ Hồ. Ai về ai có nhớ không? Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang. Nắng trưa rực rỡ sao vàng Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công Ðiều quân chiến dịch thu đông Nông thôn phát động, giao thông mở đường Giữ đê, phòng hạn, thu lương Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu… Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền. Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào. ” Bức tranh chia ly kẻ ở người đi, những người chiến sĩ cách mạng phải trở về miền xuôi theo chỉ thị của nhà nước, khi giặc Pháp đã tan, nghe lòng rạo rực một nỗi niềm bâng khuâng xao xuyến. Những giờ phút chia tay khiến cho những kỷ niệm trở nên vỡ òa niềm xúc động. Bài thơ Việt Bắc là một bài thơ hay của Tố Hữu thể hiện tinh thần yêu nước, tình quân dân thắm thiết của tác giả dành cho những người dân vùng núi Việt Bắc.
Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu- văn lớp 12
1,321
Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Bài làm Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình. Đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa. Tác giả đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca dao dân ca và hình tượng hoá Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến là Ta – Mình. Cuộc chia li giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng như là cuộc chia tay của một đôi bạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến. Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Mở đầu là lời của Việt Bắc. Để cho Việt Bắc – người ở lại – mở lời trước là rất tế nhị, vì trong chia tay thì người ở lại thường không yên lòng đối với người ra đi “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?” Bài thơ “Việt Bắc” có hai giai điệu chính. Câu thơ mở đầu “Mình về mình có nhớ ta” là giai điệu chính thứ nhất. Câu thơ mới đọc thoáng qua tưởng không có gì nhưng sâu sắc lắm. Một trăm cặp tình nhân chia tay cũng đều nói lời này. Tố Hữu mượn màu sắc của tình yêu mà phô diễn tình cảm cách mạng. Đại từ mình và ta đứng ở hai đầu câu thơ, đã thấy xa cách. Từ “nhớ” được điệp lại ba lần đã tạo ra âm hưởng chủ đạo của bài thơ: lưu luyến, nhớ thường, ân tình ân nghĩa. Người về lặng đi trước những câu hỏi nặng tình nặng nghĩa của Việt Bắc: “Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” Việt Bắc lại hỏi: “Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?” Để cho Việt Bắc hỏi là một cách nhà thơ khơi gợi lại những ngày kháng chiến gian khổ. Chỉ vài hình ảnh “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” là khung cảnh rừng núi hiện lên ảm đạm trong những ngày đầu kháng chiến. Mình và Ta đã từng chịu chung gian khổ “miếng cơm chấm muối”, đã cùng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung “mối thù nặng vai”. Vẫn còn là lời hỏi của Việt Bắc, nhưng tứ thơ chuyển: “Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già. Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son” Biện pháp tu từ nhân hoá “rừng núi nhớ ai” nói lên tình cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người kháng chiến. Mình về thì núi rừng Việt Bắc trống vắng “Trám bùi để rụng, măng mai để già”. Quả trám (trám xanh và trám đen) và măng mai là hai món ăn thường nhật của bộ đội và cán bộ kháng chiến. Mượn cái thừa để nói cái thiếu, thật hay! Hình thức đối lập giữa cái bên ngoài (hắt hiu lau xám) và bên trong (đậm đà lòng son) biểu hiện chân thật cuộc sống lam lũ, nghèo đói của người dân Việt Bắc, nhưng trong lòng thì thuỷ chung son sắt với cách mạng. Cuối lời Việt Bắc hỏi người về: “Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?” Giai điệu chính thứ hai của bài thơ xuất hiện: “Mình đi, mình có nhớ mình”. Nếu giai điệu một là đạo lí của dân tộc với tư tưởng ân nghĩa thì giai điệu hai là cách mạng. Việt Bắc nhắn nhủ với người về là chẳng những “nhớ ta” mà còn phải “nhớ mình’, nói theo ngôn từ của tình yêu thì chẳng những phải “nhớ em” mà còn phải “nhớ anh” nữa. Cái “anh” mà hồi ở với em. Mình đã sống với Ta mười lăm năm, tình nghĩa biết mấy, anh hùng biết mấy! Mình với Ta viết lên những trang sử oai hùng của dân tộc “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”. Bây giờ xa cách, Mình về thành thị, nhớ đừng thay lòng đổi dại với Ta, mà cũng đừng thay lòng đổi dạ với chính mình: “Mình về thành thị xa xôi Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng? Phố đông, còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?” Để cho Việt Bắc ướm hỏi dè chừng như vậy là một cách khéo léo nhà thơ Tố Hữu dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình. “Mình đi, mình có nhớ mình” Đó là câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc” mà cũng là một sáng tạo tuyệt vời của Tố Hữu. Đón hết những lời ân tình ân nghĩa của Việt Bắc, bây giờ người về mới mở lời. Lời người về cũng chí tình chí nghĩa: “Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh, Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…” Hai đại từ ta – mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Ý nghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một: “Mình đi, mình lại nhớ mình” (Trả lời cho câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ta”) Diễn ra ngôn ngữ của tình yêu là “Anh đi anh lại nhớ em”. Nỗi nhớ của người đi thật là dào dạt, nghĩa tình của người đi đối với Việt Bắc thật là bất tận “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”. Người đi trả lời như vậy hẳn làm yên lòng người ở lại – Việt Bắc. Như vậy là biến tấu của giai điệu một đã hình thành và mở rộng đến vô cùng. Tất nhiên đấy chỉ là một thủ pháp để nhà thơ miêu tả mối quan hệ khăng khít giữa Việt Bắc và cách mạng, miêu tả lại bản anh hùng ca kháng chiến của quân dân Việt Bắc. Để xua tan những hoài nghi của người ở lại, người về phải nói những lời thật nồng thắm, phải so sánh với những tình cảm cao quý nhất của con người: “Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” Từ “nhớ” được điệp lại trùng trùng và mỗi từ lại gợi lên không biết bao nhiêu kỉ niệm thân thương giữa Ta với Mình. Những chi tiết nhỏ nhặt đã được hồi tưởng (mà cái nhỏ trong tình yêu chính là cái lớn). “Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” Con người Việt Bắc trong lòng người về mới đáng yêu đáng quý làm sao: “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.” Một tiếng mõ trâu giữa rừng chiều, một tiếng chày đêm ngoài suối âm vang mãi trong lòng người ra về: “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” Nói gọn lại là người về nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, thơ mộng hữu tình(1); nhớ con người Việt Bắc giản dị, tình nghĩa, thủy chung. Từ giọng điệu anh hung ca. Cuộc kháng chiến anh hùng của ta và mình được tái hiện trong hòai niệm của người về: “Nhớ khi giặc đến giặc lung Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.” Thiên nhiên Việt Bắc như có linh hồn là nhờ tác giả sử dụng phép nhân hóa. Núi rừng Việt Bắc tươi đẹp đã trở thành lũy sắt bảo vệ và che chở cho bộ đội. “vây”, “đánh” quân thù. Mỗi một tên núi, tên sông, tên phố, tên bản là một chiến công lừng lẫy của quân dân Việt Bắc. Rồi những đêm hành quân, những đoàn dân công, những đòan xe vận tải tấp nập sôi động: “Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.” Tác giả lại chuyển sang giọng điệu thơ trang trọng, thiêng liêng để diễn tả nỗi nhớ của người về đối với Trung ương Chính phủ – Cụ Hồ. Và hình ảnh của Việt Bắc trong trí nhớ của người về là quê hương cách mạng, là căn cứ địa kháng chiến, lừ niềm tin là hi vọng của cả dân tộc. Người về cũng không quên trả lời câu hỏi gay cấn của Việt Bắc: “Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” (2) (Trả lời cho câu hỏi “Mình đi mình có nhớ mình”) Nghĩa là người về muốn nhắn nhủ với Việt Bắc là dù xa cách dù về thành thị xa xôi thì người các bộ kháng chiến năm xưa vẫn giữ gìn và phát huy phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ cách mạng. Như vậy là với biến tấu của giai điệu hai, tác giả đã khép lại phần một của bài thơ”Việt Bắc”. Và chủ đề chung thủy – chung thủy với cách mạng của bài thơ “Việt Bắc” đã đạt đến độ sâu sắc ngay trong phần một này. “Việt Bắc” là một kiệt tác của Tố Hữu mà cũng là kiệt tác của thơ ca cách mạng, thơ ca kháng chiến. Bài thơ thể hiện tài hoa nhiều mặt của nhà thơ Tố Hữu. Thể thơ lục bát được tác giả phô diễn những tình cảm, tư tưởng mới mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Lối hát đối đáp tạo ra giai điệu phong phú cho bài thơ. Nhiều biện pháp tu từ được tác giả vận dụng khéo léo. Ngôn ngữ trong sáng, nhuần nhị, và có nhiều nét cách tân(đặc biệt là hia đại từ Ta – Mình). Tiếng nói yêu thương – nét nổi bật trong phong cách thơ Tố Hữu – không có bài nào thấm thía hơn “Việt Bắc”. Bài thơ còn thể hiện tư tưởng mới mẻ với những dự báo sáng sưốt được biểu hiện bằng hình ảnh phong phú và tấu lên băng âm nhạc làm say mê lòng người.
Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
1,838
Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc thể hiện rất đậm đà tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu Bài làm “Từ cuộc sống hiện đại, thơ anh ngày càng bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ của dân tộc” – Nguyễn Đình Thi đã nhận xét như thế về thơ Tố Hữu. Đọc Tố Hữu ta thấy nhận xét của Nguyễn Đình Thi thật đúng và cảm nhận được dân tộc đậm đà, thấy phảng phất trong “hồn thơ” của một thời quá khứ. Việt Bắc là một trong số rất nhiều bài thơ mang nét “cổ điển" như thế.Đọc Việt ta cảm nhận được sức mạnh của bản sắc dân tộc ấy. Phân tích bài thơ Việt Bắc thể hiện rất đậm đà tính dân tộc Tính dân tộc trong thơ Tố Hữư trước tiên thể hiện ở hình thức thể hiện.Có lẽ Việt Bắc là bài thơ lục bát hay nhất của Tố Hữu. trong đó âm điệu lục bát đẫ nhuần nhuyễn, tinh diệu, đến mức mẫu mực: Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son. Nhớ sau tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa. Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương. Những câu thơ lục bát ây có thể xếp bên cạnh những câu ca dao dân gian, những câu lục bát cổ điển hay nhất của ta. Tiếng Việt trong những câu ấy thật bình dị mà đằm thắm, thật trong trẻo mà sâu lắng. Lời thơ quyện thật chặt với những tiết tấu co duỗi mềm mại, cất lên như những nét nhạc, những giai điệu bằng ngôn từ. Nhưng nói đến Việt Bắc có lẽ cái gấy ấn tượng đậm nhất trong người đọc là cái cấu trúc độc đáo của nó. Tố Hữu đã tái hiện một bức tranh hoành tráng trải ra trong một thời gian dài tới mười lăm năm (Nhớ khi kháng Nhật thủa cồn Việt Minh) bao quát một không gian rộng, bao quát toàn bộ Việt Bắc (từ "Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào" đến "Nhớ từ Cao Lạng nhớ sang Nhị Hà”). Bài thơ muốn có xu hướng trở thành diễn ca lịch sử (kiểu như "Ba mươi năm có Đảng" sau này!). Nhưng sở dĩ nó không là diễn ca hẳn, bởi vì thi sĩ đã tìm đến một kết cấu truyền thống của lối Hát giao duyên, cả bài thơ dài như một cuộc hát đối đáp nam nữ. Tựa như những khúc trữ tình trong Giã bạn hay tiễn dặn người yêu. Cả bài thơ dài chủ yếu là lời của hai nhân vật. Người ở lại rừng núi chiến khu là cô gái Việt Bắc, người về xuôi là anh cán bộ cách mạng. Tựa như "liền chị – liền anh" trong hát Quan họ. Cuộc chia tay lớn của cán bộ Đảng và Chính phủ kháng chiến với Việt Bắc được thu vào cuộc chia tay của một trai gái. Nói khác hơn, tác giả đã chọn tình yêu của đôi trai gái làm một góc nhìn để bao quát toàn cảnh Việt Bắc, với "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng". Chuyện chung đã hoá thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của dân nước trở thành chuyện tình yêu của lứa đôi. Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách tâm tình hóa chính là một đặc trưng của lối thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu. Việc "dời đô” (Việt Bắc là thủ đô kháng chiến – Tố Hữu gọi là "Thủ đô gió ngàn") đã thành câu chuyện ân tình chung thuỷ của người cách mạng với rừng núi chiến khu, với đồng bào, với quá khứ, với chính mình… Đôi trái gái xưng hô theo lối rất dân gian: Ta – mình. Nỗi băn khoãn lớn nhất của ta và mình trong cuộc chia tay giã bạn là ân tình – chung thuỷ: Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng? Phố cao còn nhớ bàn làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng "Mình về mình có nhớ ta" đã là chuyện chung thuỷ! Nhưng "mình đi mình có nhớ mình” thì ân tình chung thuỷ đã được đẩy lới một mức thật sâu. Mình đi khỏi Việt Bắc là đi khỏi thời gian khổ, nơi gian khổ, có thể mình quên ta, phụ ta. Nhưng mình có nhớ chính mình chăng, có phu chính mình được chăng? Bởi quên Ta cũng chính là quên Mình đó. Những câu hỏi thâm thuý ân tình như vậy đã giúp Tố Hữu dân gian hoá, truyền thống hoá một vấn đề của cách mạng, vấn đề của hôm nay. Người con trai cũng trả lời, cũng ghi lòng tạc dạ với một tinh thần như thế. Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Nhớ cao chàng khuất non xanh Phố đông càng giục chân nhanh bước đường Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu Kết cấu đối đáp hài hoà với lối thơ lục bát giàu chất dân gian như thế đã làm cho bài Việt Bắc của Tố Hữu có cái dáng dấp của một bài hát giao duyên bác họ được viết theo lối dân gian. Nó làm cho bài thơ gần gũi với tâm hồn quần và dễ dàng gia nhập vào mạch văn hoá dân gian, trở thành những bài hát chí có thể trình bày bài thơ theo lối diễn xướng dân gian rất phù hợp. Có lẽ cũng cần phải nói thêm về phong vị cổ điển của nó. Đây là một nét truyền thống khác của thơ Tố Hữu. Trong bài "Kính gửi cụ Nguyễn Du", chúng ta thấy không khí lục bát thật trang trọng. Thi sĩ đã dùng những thi liệu của “truyện Kiều" để tâm tình với tác giả "Truyện Kiều”. Ông cũng dùng hình thức lấy Kiều, tập Kiều để làm cho bài thơ có phong vị cổ điển. Còn ở đây không thế. Chúng ta đã thấy kết câu trữ tình của bài thơ, giọng điệu tứ bình của bài thơ có phần nghiêng hẳn về cổ điển. Câu lục bát ở những chỗ ấy thường chật chứ không lỏng, chữ "đúc" nhiều, chữ "nước" ít. Hình thức tiểu đối được sử dụng rất dầy và biến hoá nhịp nhàng. Nhưng có lẽ đáng nói hơn vẫn là lối vẽ thiên nhiên: các câu thơ lục bát ấy. Nói riêng đoạn "Hoa cùng người", có thể thấy thi sĩ lạo hình theo lôi xây dựng bộ tranh trữ tình – một hình thức rất phổ của nghệ thuật cổ diển. Hoa và người soi chiếu nhau, tôn vinh lẫn nhau, bức tranh dường như đã tái hiện trọn vẹn đầy đủ nhịp vận hành luân chuyển của thiên nhiên và con người Việt Bắc: Ta về mình có nhớ ta, Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trổng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung Thành công của bài thơ Việt Bắc còn ở nhiều phương diện khác như: ngôn ngữ, nội dung, hình tượng nhân vật trữ tình… Nhưng có thể khẳng đinh chất dân chất truyền thống đậm đà đã tạo nên sức sống, sức lay động lòng người cho thơ. Và Việt Bác cùng với những bài thơ khác của Tố Hữu đã khẳng định phong cách độc đáo cùa ông trong suốt chặng đường cầm bút của người nghệ sĩ mạng: từ hiện đại trở về với cổ điển, trở về với nét dân tộc và truyền thống.
Phân tích bài thơ Việt Bắc thể hiện rất đậm đà tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu
1,324
Phân tích bài thơ Việt Bắc-Tố Hữu Hướng dẫn Mở bài: Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu, và cũng là một thành tựu quan trọng của thơ ca trong kháng chiến chống Pháp. Bài thơ ra đời nhân một sự kiện có ý nghĩa lịch sử: Đó là tháng 10/1954, trung ương Đảng và Chính thủ rời chiến khu Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội. Từ điểm xuất phát ấy, bài thơ thể hiện nghĩa tình thắm thiết của nhà thơ, của những con người kháng chiến với Việt Bắc – quê hương của Cách Mạng, với đất nước, với nhân dân, với Đảng và Bác Hồ, với cuộc kháng chiến chống Pháp nay đã trở thành những kỉ niệm sâu nặng trong tâm hồn… Có thể coi bài thơ là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước, là truyền thống ân nghĩa, đạo lý thủy chung của dân tộc. Thân bài: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 10/1954, trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc. Bài thơ kể về tình cảm của nhà thơ – của người cán bộ kháng chiến đối với Việt Bắc – nơi đã đùm bọc, che chở, nuôi dưỡng Cách Mạng kháng chiến trong suốt những năm đầu gian khổ cho đến chiến thắng huy hoàng. Việt Bắc đã cắm một móc lớn trên chặng đường thơ của Tố Hữu, và cũng là một thành tựu thơ ca trong kháng chiến chống Pháp. Bằng kiểu kết cấu “đối đáp” rất đậm đà tình nghĩa ca dao. Bài thơ trước hết là tình yêu với thiên nhiên đất nước, được thể hiện cụa thể qqua sự gắn bó với núi rừng Việt Bắc. Trong nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi, khung cảnh Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp vừa hiện thực, thơ mộng lại thú vị, gợi rõ những nét độc đáo riêng biệt, khác hẳn những miền quê khác của đất nước. Mở đầu bài thơ là câu hỏi thiết tha ân tình: “Mình về mình có nhớ ta? Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không? Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” Nhà thơ sử dụng kiểu hát đối quen thuộc trong ca dao, dân ca; đậm đà. Cách sử dụng đại từ xưng hô “ ta – mình” vừa mang tính truyền thống, lại hiện đại. Bốn câu thơ đầu là lời hỏi của “người ở lại” đối với “người đi” Bốn câu mở đầu: những câu thơ trên làm chúng ta nhớ đến câu ca dao: “Mình về có nhớ ta chăng? Ta về ta nhớ hàm răng mình cười” Và câu Kiều: “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình?” (1940-1954). Trong 15 năm ấy, bao nhiêu sự kiện lịch sử trọng đại đã diễn ra, xuất phát từ cái nôi Cách Mạng, bắt đầu từ khi cái hang Bắc Bó rồi mở rộng ra cho cả nước. Từ khi lập mặt trận Việt Minh cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ, bao nhiêu sự kiện là bấy nhiêu nghĩa tình. Dưới ngòi bút của Tố Hữu, những yếu tố truyền thống của văn học được vận dụng, để biểu hiện tình cảm gắn bó thủy chung với Cách Mạng. Hình ảnh nhân dân Việt Bắc với chiếc áo chàm, màu xanh giản dị của lá cây là minh chứng cho cuộc sống nghèo khổ của nhân dân, nhưng thủy chung, đôn hậu với Cách Mạng. Chính lòng dân son sắc kiên trinh, tình quân dân cả nước nặng tình nghĩa mà trong buổi chia tay kẻ ở – người đi ấy cứ “bâng khuân trong dạ, bồi hồi bước đi”. Và cán bộ nhân dân Việt Bắc “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Không phải không biết nói gì mà trong lòng tràn ngập tình nhớ thương, không biết nói gì chính là đã nói lên được rất nhiều về tình cảm thương nhớ trong giây phút chia tay. Trong bài thơ Việt Bắc có 34 lần nhà thơ nhắc đến từ “nhớ” và trong đoạn thơ trích (10 câu) cũng đã có đến 5 lần từ “nhớ” được nhắc đến và nổi nhớ ở đây cũng được thể hiện hết sức đa dạng: lúc nhớ cảnh, lúc nhớ người, có khi tác giả nhớ về những con người cụ thể như là “nhớ người đan nón”; “nhớ cô em gái”, nhưng cũng có khi là nỗi nhớ chung, tưởng như mơ hồ: “nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Về mặt này, đây là một đoạn thơ lục bát rất thành công của Tố Hữu, qua đoạn thơ, người và cảnh Việt Bắc hiện lên với những đặc điểm sắc thái riêng: đa dạng về đường nét, màu sắc, ánh sáng, âm thanh gợi lên cho người đọc những rung động trước khung cảnh vừa hùng vĩ, vừa nên thơ lại vừa mênh mông man mác. Có thể nói, trong bài thơ “Việt Bắc”, khung cảnh thiên nhiên hiện lên với lên với bao vẻ đẹp đa dạng trong những thời gian và không gian khác nhau, thay đổi theo thời tiết từng mùa. Gắn bó với từng cảnh ấy là hình ảnh những con người bình dị bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình. Họ đã góp phần không nhỏ vào sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến. Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ, bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề khó khăn,… càng làm cho Việt Bắc sáng ngời lung linh. Trong ánh hồi quang của kỉ niệm, “ 15 năm ấy thiết tha mặn nồng” Việt Bắc – đó là hình ảnh những mái nhà “hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”; là những tháng ngày đồng cam cộng khổ “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”; là nghị lực kiên cường vượt trên hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh “gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”. Nhìn chung, âm hưởng trữ tình vang vọng suốt bài thơ đã tạo nên khúc ca ngọt ngào đằm thắm của tình đồng chí, nghĩa đồng bào của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu đời. Hình ảnh con người Việt Bắc: Đó là những người dân thuộc dân tộc thiểu số, mộc mạc chất phác, cần cù lao động. Cuộc sống của họ còn nghèo khổ, còn nhiều vất vả gian nan. Thế nhưng những con người đó luôn một lòng một dạ gắn bó thủy chung với Cách Mạng. Bằng công việc thầm lặng, bé nhỏ họ đã có những đóng góp lớn lao làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến. Tình cảm của nhà thơ đối với Việt Bắc Niềm đồng cảm, chia sẻ trước cuộc sống còn nhiều vất vả, gian nan của người dân Việt Bắc. Bày tỏ tình cảm biết ơn chân thành trước sự giúp đỡ, nuôi giấu, che chở, đùm bọc của người dân Việt Bắc. Ca ngợi những đóng góp và hi sinh thầm lặng, lớn lao của họ. Theo mạch cảm xúc hoài niệm, bài thơ dẫn người đọc đến với khung cảnh Việt Bắc kháng chiến, với núi rừng rộng lớn. Những hoạt động tấp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, rồn rập, náo nức. Ở đây, bài thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca mang dáng vẻ sử thi hiện đại bởi vì chỉ cần phác họa khung cảnh hùng tráng của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc, Tố Hữu đã cho thấy khí thế vô cùng mạnh mẽ của cả một dân tộc chiến đấu vì Tổ quốc. “Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rầp như là đất nung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát dốc, muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dây Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”. Qua đoạn thơ, Tố Hữu đã tái hiện một cách chân thực, sinh động khí thế hào hùng, quật khởi nghĩa của cả một dân tộc đang đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do. ( Điều này đã được thể hiện rất rõ nét qua những hình ảnh hào hùng,những điệp ngữ,những từ láy như: rầm rập, điệp điệp, trùng trùng,…) Với hình ảnh “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”, nhà thơ đã thể hiện được một lí tưởng chiến đấu cao đẹp của người chiến sĩ. “Ánh sao” ấy dẫn dắt, soi sáng mỗi bước đi của người lính. Câu thơ cũng gợi cho chúng ta nhớ đến một hình ảnh trong bài thơ “Núi đôi” của tác giả Vũ Cao: “Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng trên đường” Qua đoạn thơ, Tố Hữu cũng đã thể hiện được tình cảm của cuộc kháng chiến chống Pháp – đó là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, với sự tham gia của nhiều tầng lớp con người. Có bộ đội “quân đi điệp điệp trùng trùng”, có dân công “đỏ đuốc từng đoàn. Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”, lại có cả già, trẻ, gái, trai, cả miền xuôi, lẫn miền ngược,… Hai câu thơ cuối vừa là hình ảnh thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Nó khái quát được chặng đường kháng chiến đầy gian khổ vất vả, từ đêm đen “thăm thẳm sương dày” cho đến ngày thắng lợi rực rỡ “đèn pha bật sáng như ngày mai lên” Đoạn thơ chỉ là một đoạn trích trong bài thơ dài của Tố Hữu nhưng có tính độc lập tương đối của nó, sự hấp dẫn của đoạn thơ tái hiện ở những hình ảnh đẹp, tráng lệ, ở nhịp điệu, tiết tấu nhanh, ở những điệp từ, điệp ngữ,… Dân tộc Việt Nam đã vượt lên bao nhiêu thiếu thốn, gian khổ,hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công như: Thủ Thông, Đèo Giàng, sông Lô, Phổ Ráng, Hòa Bình, Tây Bắc,… và cuối cùng đi tới chiến thắng Điện Biên Phủ “nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng” nhưng Tố Hữu không chỉ miêu tả Việt Bắc của cuộc kháng chiến mà ông còn đi sâu vào lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng. Đó là sức mạnh của lòng căm thù “miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” của khối tình nghĩa thủy chung: “mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi” của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoàn quyện, gắn bó giữa thiên nhiên với con người: “Núi dăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng” Đặc biệt với những lời thơ trang trọng và thiết tha, Tố Hữu đã nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của Cách Mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến,là nơi hội tụ tình cảm, suy nghĩ,khát vọng của những người Việt Nam yêu nước. Trong những ngày đen tối năm xưa, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa: “Mưa nguồn suối lũ những mây cùng núi” đến xác định như một điểm chốt vững chắc, một chiến khu kiên cường – nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc: “Mình về còn nhớ nước non Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh Mình đi mình có nhớ mình Tân trào Hồng Thái mái đình cây đa”. Trong những ngày kháng chiến giang lao, Việt Bắc là nơi “cụ Hồ sáng soi”, là nơi “ Trung ương chủ luận bàn việc công” để khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc. Tố Hữu lại sử dụng những vần thơ giản dị mang đậm sắc thái ca dao dân dã vừa trang trọng, vừa thắm thiết nghĩa tình: Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương Cách Mạng dựng nên Cộng hòa”. Khung cảnh Việt Bắc ở đây bao gồm ba phần lớn: Thiên nhiên Việt Bắc: + đẹp, thơ mộng, trữ tình + gắn bó với con người + còn là môi trường thử thách ý chí con người ( với mưa nguồn suối lũ, đèo ca vực thẳm) Khung cảnh Việt Bắc kháng chiến + là căn cứ địa của cuộc kháng chiến + là cuộc sống kháng chiến sôi nổi, tấp nập + là nơi mà nhân dân cả nước hướng đến với niềm tin tưởng và hi vọng Tình cảm của nhà thơ: + Đồng cảm chia sẻ + Bày tỏ biết ơn + Ca ngợi những đóng lâu thầm lặng, lớn lao + Sự hứa hẹn gỡ, sự đền đáp công ơn. Từ tình cảm yêu thương, gắn bó với cảnh và người Việt Bắc, từ niềm tin vững chắc vào sức mạnh vĩ đại của cuộc chiến tranh toàn dân, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ, cảm hứng của Tố Hữu bay bổng về phía một tương lai tươi sáng. Nhà thơ vẽ nên một viễn cảnh đẹp đẽ, rực rỡ của 23 ngày mai trong khung cảnh của cả nước xây dựng một cuộc sống hòa bình, phồn vinh: “Ngày mai rộn rã sơn khê Ngược xuôi tàu chạy bốn bề lưới giăng Than Phấn Mẽ, Thiếc Cao Bằng Phố phường như nấm như măng giữa rừng” Những hình ảnh ấy là mong muốn, là ước mơ nhưng cũng là nghĩa tình mà những con người kháng chiến muốn đền đáp nơi từng là cội nguồn của Cách Mạng, từng cưu mang che chở cho mình trong bao năm tháng đầy gian khổ, hi sinh. Đáng chú ý là những dòng cuối của bài thơ, người đọc càng hiểu thêm sự sắc sảo nhạy bén của hồn thơ Tố Hữu, khi hướng tới ngày mai nhà thơ không quên một nét đẹp mang tính truyền thống của dân tộc. Đó là sự thủy chung son sắt, là tình nghĩa có mới mà không nới cũ, luôn nghĩ đến và vì nhau giữa miền xa xuôi với miền ngược, giữa cán bộ với nhân dân: “Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng? Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng” Việt Bắc là một bài thơ mang đậm chất dân tộc: Bài thơ đã tái hiện cả một giai đoạn lịch sử hào hùng có liên quan đến vận mệnh sống còn của cả một dân tộc. Trong bài thơ, Tố Hữu đã thể hiện được những tình cảm, tình nghĩa của nhân dân, của dân tộc (tình cảm gắn bó miền xuôi – miền ngược, giữa người dân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến). Về hình thức nghê thuật, Tố Hữu đã sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc, lối hát đối đáp, cách xưng hô, cách sử dụng hình ảnh mang đậm chất truyền thống. Kết luận: Bài thơ Việt Bắc có tính dân tộc đậm đà, cách kết cấu đặc biệt. Đó là kiểu kết hợp đối đáp tưởng tượng giữa mình và ta theo lối ca dao. Thể thơ lục bát được tác giả vận dụng cũng là thể thơ dân tộc. Những hình ảnh và những biện pháp nghệ thuật khác được vận dụng cũng là hình ảnh và biện pháp nghệ thuật quen thuộc trong thơ dân gian và thơ cổ điển Việt Nam như ở “Việt Bắc” tất cả đều được nâng cao sáng tạo làm cho bài thơ vừa dân tộc, vừa hiện đại, vừa quen thuộc và gần gũi với nhân dân.
Phân tích bài thơ Việt Bắc-Tố Hữu
2,614
Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc Bài làm Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ tố Hữu và cũng là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ ra đời nhân một sự kiện lịch sử: tháng 10 năm l954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núi trở về miền xuôi. Từ điểm xuất phát ấy, bài thơ ngược về quá khứ để tưởng nhớ một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, để nói lên nghĩa tình gắn bó thắm thiết với Việt Bắc, với Đảng và Bác Hồ, với đất nước và nhân dân – tất cả là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để dân tộc ta vững vàng bước tiếp trên con đường cách mạng. Nội dung ấy được thể hiện bằng hình thức đậm tính dân tộc.Bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu. Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt, đầy xúc động bâng khuâng: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…. Đó là cuộc chia tay của những người từng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình, từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi, nay cùng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sáng. Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi. Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Diễn biến tâm trạng như trong tình yêu lứa đôi được tổ chức theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca, bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ tâm sự, người hô ứng, đồng vọng. Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, mở ra bao nhiêu nỗi niềm nhớ thương. Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư, tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến. Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp. Nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng Việt Bắc vời vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vi, gợi rõ những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác của đất nước. Chỉ những người đã từng sổng Việt Bắc, coi Việt Bắc cũng là quê hương thân thiết của mình mới có nỗi nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sâu sắc, thấm thía về ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi rừng sông suối mang những cái tên thân thuộc – tất cả là khoảng thời gian và không gian lóng lánh kỷ niệm: Nhớ gì như nhớ người yêu …………………. Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy. Nhưng có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình: Ta về, mình có nhớ ta …………………….. Nhớ ai Tiếng hất ân tình thuỷ chung Có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa. Gắn bó với từng khung cảnh ấy là hình ảnh những con người bình thường người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng,….Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, họ đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến. Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ, bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, khó khăn,… tất cả càng làm Việt Bắc thêm ngời sáng trong tâm trí của nhà thơ. Việt Bắc – đó là hình ảnh những mái nhà “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”, là hình ảnh người mẹ trong cái “nắng cháy lưng- Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”, là những tháng ngày đồng cam cộng khổ: Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng,… Có thể nói, âm hưởng trữ tình vang vọng suốt bài thơ đã tạo nên khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình đồng chí, nghĩa đồng bào, của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu đời. Theo dòng hồi tưởng của chủ thể trữ tình, bài thơ dẫn người đọc vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn, những hoạt động tấp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức. Cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng, đồng thời khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Bài thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ một sử thi hiện dại, bởi vì chỉ cần phác hoạ khung cảnh hùng tráng ở Việt Bắc, Tố Hữu đã cho thấy khí thế vô cùng mạnh mẽ của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì Tổ quốc độc lập, tự do: Những đường Việt Bắc của ta ……………………………. Đèn pha bật sáng như ngày mai lên. Dân tộc ấy đã vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công gắn với những địa danh: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên,… Nhưng Tố Hữu không chỉ miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến mà còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng. Đó là sức mạnh của lòng căm thù: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên – tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên: Nhớ khi giặc đến giặc lùng ………………………… Đất trời ta cả chiến khu một lòng. Đặc biệt, với những lời thơ trang trọng mà thiết tha, Tố Hữu đã nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của Cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước. Trong những năm tháng đen tối trước Cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa (mưa nguồn suốt lũ, những mây cùng mù )đến xác định như một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc: Mình về,còn nhờ núi non ……………………… Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa. Trong những ngày kháng chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công. Để khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc, Tố Hữu lại dùng những vần thơ rất mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình: Ở đâu đau đớn giống nòi ………………………. Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà. Nghệ thuật biểu hiện của bài thơ đậm đà tính dân tộc. Điểm đáng chú ý trước hết là Tố Hữu đã phát huy được nhiều thế mạnh của thể lục bát truyền thống. Cấu tứ của bài thơ là cấu tứ ca dao với hai nhân vật trữ tình là ta và mình, người ra đi và người ở lại hát đối đáp với nhau. Trong cuộc hát đối đáp chia tay lịch sử này, người ở lại lên tiếng trước, nhớ về một thời xa hơn, thời đấu tranh gian khổ trước Cách mạng, sau đó người ra đi nối tiếp nhớ lại kỉ niệm thời chín năm kháng chiến. Nhà thơ rất chú ý sử dụng kiểu tiểu đối của ca dao, chẳng những có tác dụng nhấn mạnh ý mà còn tạo ra nhịp thuyên chuyển, cân xứng, hài hoà, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư: Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già; …Điều quân chiến dịch thu đông Nông thôn phát động giao thông mở đường,… Về ngôn ngữ thơ, Tố Hữu chú ý sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất giản dị mộc mạc nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa. Đó là thứ ngôn ngữ rất giàu hình ảnh cụ thể: Nghìn đêm thăm thẳm sương dày; Nắng trưa rực rỡ sao tràng;… và cũng là thứ ngôn ngữ rất giàu nhạc điệu: Chày đêm nện cối đều đều suối xa; Đêm đêm rầm rập như là đất rung;… Đặc biệt, thơ Tố Hữu sử dụng rất nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian: Mình về, mình có nhớ ta; Mình về, có nhớ chiến khu; Nhớ sao lớp học i tờ; Nhớ sao ngày tháng cơ quan,; Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều,… tất cả tạo ra một giọng điệu trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào như âm hưởng lời ru, đưa ta vào thế giới của kỉ niệm và tình nghĩa thuỷ chung. Bài thơ là khúc ca ân nghĩa, là hồi tưởng đầy xúc động và ân tình của Tố Hữu về chặng đường mười lăm năm đã qua của đất nước (từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 đến hoà bình lập lại năm 1954), từ đó mà hướng về tương lai tươi sáng, nhắc nhớ tâm nguyện thuỷ chung. Viết về nghĩa tình dân tộc và hướng về đồng bào mình, Tố Hữu đã phát huy được hình thức nghệ thuật mang tính dân tộc, trong đó nổi bật là cách sử dụng thể thơ lục bát và ngôn ngữ thơ đậm sắc thái dân gian. Có thể coi Việt Bắc là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước, là niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc Việt Nam.
Phân tích bài thơ Việt Bắc
1,793
Đề bài: Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu Bài làm Trong cuốn Văn thơ Phan Bôi Châu, giáo sư Đặng Thai Mai có nhận xét: “Phan Bội Châu là một người can đảm, vui vẻ trong những giờ phút nguy hiểm và hoạn nạn”. Đúng vậy, những ngày bị cầm tù ở Quảng Đông, đối diện với cái chết, Phan vẫn ung dung, lạc quan. Đọc bài thơ Vào nhà ngục Quãng Đông cảm tác ta sẽ bắt gặp được cái tư thế tuyệt đẹp của nhà chí sĩ cách mạng: vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu, Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Đã khách không nhà trong bốn biển, Lại người có tội giữa năm châu. Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở mìệng cười tun cuộc oán thù. Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sự thật đâu. Năm 1912, Phan bị chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương tuyên án tử hình vắng mặt và năm 1913 ông bị bắt ở Quảng Đông. Bọn quân phiệt Quảng Đông hí hửng định dùng tính mạng của nhà chí sĩ cách mạng Việt Nam làm cuộc trao đổi với bọn thực dân Pháp ở Đông Dương để mượn đường xe lửa xuyên Việt. Cuộc mặc cả giữa bọn chúng không thành, Phan bị cầm tù đến năm 1917 mới được trả tự do. Tuy bị sa cơ thất thế, bị kẻ thù giam hãm nhưng Phan vẫn không xem mình là kẻ thất bại. Ông thản nhiên nói: vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu, Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Nhà tù chỉ là nơi tạm dừng chân nghĩ ngơi trên con đường quanh đâu đầy cam go. Một thái độ bình thản, một giọng điệu bông đùa, cười cợt của một người coi khinh tù đày, nguy hiểm. “Có thể nói lạc quan chủ nghĩa đó cũng là một đặc tính của người dân xứ Nghệ” (Đặng Thai Mai). Ba mươi năm sau, trong nhà lao của bọn quân phiệt Tưởng Giới Thạch ta lại bắt đầu gặp một con người của xứ Nghệ cũng có cái cách “pha trò” hóm hỉnh ấy: Ăn cơm nhà nước ở nhà công, Lính tráng thay phiên đến hộ tòng; Non nước dạo chơi tùy sở thích, Làm trai như thế cũng hào hùng! (Pha trò – Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh) Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh, hai nhà thơ yêu nước vĩ đại của dân tộc có những net tương đồng thật thú vị. Vào tù, sống trong sự kiềm kẹp của kẻ thù nhưng Phan vẫn ung dung thanh thản, vẫn giữ cái cối cách của con người có tài cao chí lớn, hơn người, vẫn giữ cái vẻ trang nhã lịch sự. Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu. Câu thơ mở đầu bài thơ bằng điệp từ “vẫn” để khẳng định một thái độ vững vàng không hề nao núng, ngả lòng trước hoàn cảnh thách thức nghiệt ngã. Phan là con người có chí lớn, tung hoành dọc ngang không ràng buộc bởi cuộc sống gia đình cá nhân chật hẹp. Năm châu, bốn bể với cụ là nhà: Đã khách không nhà trong bổn biển, Lại người có tộigiữa năm châu. Con đường cách mạng còn dang dở, sự nghiệp chưa thành, nay làm thân tù tội, cụ tự coi mình là “người có tội giữa năm châu”. Đây là một thái độ “tự phê phán” nghiêm khắc, thẳng thắn và cảm động. Cho đến cuối đời, Phan vẫn canh cánh bên lòng nợ nước chưa báo đền, vẫn mặc cảm về cái “tội” của mình với đất nước non sông. Phan là người của “bốn bể”, “năm châu”, một chân dung khoáng đạt của một người anh hùng thời đại khác hẳn với bọn người cá chậu, chim lồng nhỏ nhen. Vì vậy, cho dù thân bị tù đày nhưng khí tiết sắt đá của người anh hùng không gì có thể chuyển lay được: Bùa tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Mộng “kinh bang tế thế”, giúp nước, cứu đời vẫn còn đây và quyết chí thực hiện đến cùng. Lí tưởng đó đã được nhen nhóm trong Phan từ khi dấn thân vào con đường cách mạng, ngay từ những ngày đầu trên đường “xuất dương lưu biệt”. Cụ hăm hở: Muốn vượt bể Đông theo cánh gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. (Xuất dương lưu biệt) Con người có hoài bão lớn lao như vậy, cho dù có sa cơ thất thế vẫn ung dung, ngạo nghễ. Tiếng cười sảng khoái cất lên trong hoàn cảnh lao lung đối diện với gian nguy thử thách chính là thái độ thách thức và chiến thắng của tinh thần cách mạng. Bài thơ được kết thúc bằng một niềm tin mãnh liệt: Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sự gì đâu. Hai từ “còn” đi liền nhau giữa hai nhịp thơ tạo nên một âm hưởng mạnh mẽ. khẳng định ý chí sắt đá, niềm tin tưởng lạc quan sáng ngời. Bị sa vào tay giặc, có nguy cơ bị trao cho thực dân Pháp ở Đông Dương để thi hành bản án tử hình, nhưng người chiến sĩ cách mạng tuyệt nhiên không một thoáng nao núng bi quan. Toàn bộ bài thơ toát lên một phong thái ung dung tự tại, một niềm tin sáng ngời. Không có chủ định lập nghiệp bằng con đường văn chương, văn chương với Cụ chỉ là một phương tiện để tuyên truyền, vận động cách mạng. Nhưng những lời viết ra từ tâm huyết của một con người nguyện cả cuộc đời dâng hiến vì sự nghiệp cứu dân, cứu nước lại có sức truyền cảm mạnh mẽ. Văn chương của Cụ đi vào lòng người khơi dậy nhiệt tình yêu nước và niềm tin. Phan Bội Châu không những là một nhà cách mạng lỗi lạc mà còn là nhà thơ lớn của dân tộc.
Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu
989
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu. Bài làm Đầu thế ki XX, khi các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược ở cả ba miền lần lượt thất bại, một bầu không khí đau thương bao trùm trên đất nước ta. Trong văn chương, bên cạnh những bài ca hùng tráng đã xuất hiện những tiếng thở than bi phẫn và bất lực. Phong trào cần vương do vua Hàm Nghi khởi xướng đã bị dập tắt. Ông vua yêu nước bị chính quyền thực dân bắt đi đày trên một hòn đảo mịt mù giữa đại dương, cách biệt hẳn đất nước và dân tộc. Tuy vậy, chí báo thù phục quốc vẫn âm ỉ nung nấu trong mọi tầng lớp nhân dân. Bước sang đầu thế ki XX, luồng gió mới của tư tưởng dân chủ tư sản từ Âu châu thổi tới, từ Nhật Bản, Trung Hoa tràn sang đã thúc đẩy những người có tâm huyết với sự nghiệp cứu nước lại náo nức khởi sự một cuộc đấu tranh theo khuynh hướng mới, với mục đích vừa đánh đuổi kẻ thù xâm lược, vừa tấn công vào giai cấp phong kiến tay sai cam tâm bán nước. Chủ trương của họ là khai thông dân khí, mở mang dân trí, chấn hưng công thương nghiệp, để nước nhà phát triển toàn diện, đạt tới mức văn minh, giàu mạnh. Phương pháp thực hiện có thể khác nhau (có phái chủ trương bạo động, có phái chủ trương ôn hòa) nhưng đều nhằm mục đích cao cả là đem lại độc lập, tự do cho dân tộc. Bởi thế, các khuynh hướng không loại trừ nhau mà hợp nhất thành cao trào đấu tranh cách mạng lan rộng khắp nơi. Thực dân Pháp khủng bố dã man, phong trào tạm lắng, những người lãnh đạo phần lớn phải vào tù hoặc lưu lạc ở nước ngoài. Một số chí sĩ cách mạng nổi tiếng đầu thế ki XX như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… đều xuất thân là nhà Nho nhưng lại tiếp thu rất nhanh những tư tưởng tiến bộ của thời đại. Trong lao tù của bọn thực dân, họ thường làm thơ để bày tỏ chí khí. Đó là những lời gan ruột, tâm huyết của những người anh hùng cứu nước nên có sức mạnh làm rung động lòng người. Từ năm 1912, thực dân Pháp đã kết án tử hình vắng mặt nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Khi bị bọn quân phiệt tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) bắt giam và biết chúng có ý định trao trả cho Pháp, cụ Phan Bội Châu đã nghĩ rằng mình khó có thể thoát chết. Bởi thế, đầu năm 1914, ngay từ những ngày đầu bị giam vào ngục, cụ đã viết Ngục trung thư; nhằm ghi lại những điều tâm huyết để lại cho đồng bào, đồng chí. Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác theo lời cụ là làm để tự an ủi mình. Cụ còn kể rằng sau khi làm xong, cụ đã “ngâm nga lớn tiếng rổi cả cười vang động cả bốn vách, hầu như không biết thân mình đang bị nhốt trong ngục”. Nội dung bài thơ như sau: Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Đă khách không nhà trong bốn biển, Lại người có tội giữa năm châu. Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. Bài thơ mang đậm khẩu khí anh hùng này đã khắc hoạ rõ nét khí phách hiên ngang, bất khuất và hình ảnh tuyệt đẹp của người chiến sĩ cách mạng lúc sa cơ. Thể thơ thất ngôn bát cú gồm 4 phần: đề, thực, luận, kết, mỗi phần chỉ có hai câu ngắn gọn nhưng lại chứa đựng một nội dung cực kì hàm súc. Hai câu đề: Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu, Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Một tù nhân mà vẫn tự khẳng định mình là bậc hào kiệt, phong lưu, điều đó thể hiện phong thái đường hoàng, tự tin, vừa ung dung, thanh thản, vừa hiên ngang bất khuất, lại vừa tài hoa tài tử. Người chiến sĩ cách mạng chẳng may rơi vào vòng tù ngục thì cứ coi như người đi đường dài chạy mỏi chân thì nghỉ một chút để lấy sức đi tiếp. Thực chất không phải như vậy. Cụ Phan kể rằng trên đường bị áp giải đến nhà lao, bọn lính đã đối xử với cụ rất tàn nhẫn: nào trói tay, nào xiềng chân. Vào ngục, cụ lại bị giam chung một chỗ với bọn tử tù. Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Đúng là như vậy! Bị giam cầm có nghĩa là bị tước đoạt tự do, bị đày đọa cả về thể xác lẫn tinh thần và cận kề cái chết. Ấy vậy mà người anh hùng vẫn ngẩng cao đầu và cảm thấy mình vẫn hoàn toàn tự do về mặt tinh thần. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn ấy nên khi bàn đến sự sống chết, Phan Bội Châu vẫn nói bằng giọng cười cợt như vậy. Đây là lối thơ khẩu khí khá phổ biến trong văn chương dùng để nói lên chí lớn của người xưa. Hai câu thực: Đã khách không nhà trong bốn biển, Lại người có tội giữa năm châu. Nhà thơ tóm lược về cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Mười năm lưu lạc, khi Nhật Bản, khi Trung Quốc, khi Xiêm La (Thái Lan), xa mái ấm gia đình, chịu trăm ngàn cực khổ về vật chất, cay đắng về tinh thần; thêm vào đó là sự hiểm nguy thường xuyên đe doạ vì cụ Phan là đối tượng truy nã đặc biệt của thực dân Pháp và đã bị chúng kết án tử hình vắng mặt. Phan Bội Châu nói như vậy không phải là để than thân mà chỉ nêu lên bi kịch chung của các chí sĩ yêu nước thời bấy giờ. Cuộc đời đầy sóng gió của cụ Phan gắn liền với tình cảnh nô lệ của đất nước, đồng bào. Giọng điệu trầm thống của hai câu thơ trên phần nào thể hiện được tâm trạng đau đớn, xót xa của bậc anh hùng cứu nước. Hai câu luận: Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Đúng là khẩu khí của một bậc đại trượng phu. Cho dù gặp hoàn cảnh bi đát đốn mức độ nào thì lí tưởng kinh bang tế thế, lo đời giúp dân của Phan Bội Châu vẫn không thay đổi. Trước sau cụ vẫn một lòng theo đuổi sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc ra khỏi ách thống trị của giặc ngoại xâm. Lí tưởng và mục đích cao cả ấy đã giúp cụ giữ vững khí tiết cương cường, tư thế hiên ngang, bất khuất trước kẻ thù. Lối nói khoa trương này thường được dùng nhiều trong thơ ca lãng mạn, nhất là trong anh hùng ca. Nó nâng cao tầm vóc và năng lực của con người lên đến mức siêu nhiên, thần thánh. Từ thuở thanh niên, Phan Văn San (tên thật của Phan Bội Châu) đã nuôi chí lớn chờ thời cơ cứu nước: Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ, Nắm địa cầu vừa một ti con con. Đạp toang hai cánh càn khôn, Đem xuân vẽ lại cho non nước nhà… (Chơi xuân) Gần như suốt cuộc đời, cụ Phan đã chấp nhận gian khổ, hi sinh để theo đuổi và thực hiện lí tưởng thiêng liệng ấy. Hai câu kết: Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, Ý chí gang thép và niềm tin to lớn của người anh hùng quả là không gì lay chuyển nổi. Con người ấy còn sống nghĩa là còn tiếp tục chiến đấu, còn tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, vì thế mà bất chấp mọi thử thách gian nan. Từ còn lặp lại hai lần liền nhau ở giữa câu thơ vừa có tác dụng ngắt nhịp, vừa nhấn mạnh ý thơ. Hai câu kết như một tuyên ngôn dõng dạc, dứt khoát, có sức truyền cảm mạnh mẽ, lớn lao, lay động hồn người. Phan Bội Châu được nhân dân tôn vinh là một trong những nhà chí sĩ yêu nước và cách mạng nổi tiếng đầu thế ki XX. Tên tuổi và gương sáng của cụ ảnh hưởng rộng rãi tới phong trào giải phóng dân tộc không chi trong thời kì đó mà mãi mãi về sau. Người chiến sĩ cách mạng lão thành họ Phan dù trải qua bao giông bão cuộc đời vẫn giữ vững khí tiết của một bậc chính nhân quân tử: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất. (Giàu sang không thể làm cho mê đắm, nghèo khó không thể làm cho thay lòng đổi dạ, uy vũ không thể làm cho khuất phục). Tuy xuất thân từ cửa Khổng sân Trình nhưng cụ đã vượt khỏi khuôn khổ cứng nhắc của giáo lí thánh hiền để tiếp cận tư tưởng dân chủ, dân quyền mới. Trước cảnh đồng bào đang chịu cảnh lầm than, nô lệ, cụ đau đớn, xót xa và nuôi khát vọng xoay chuyển càn khôn, đánh đuổi quân thù, đem xuân vẽ lại cho non nước nhà. Với lí tưởng cao đẹp đó, cụ lao vào cuộc đấu tranh, bất chấp mọi gian khổ, hi sinh, thậm chí đối diện với cái chết, cụ cũng không sờn lòng, nản chí. Bởi thế nên đối với cụ, dẫu có sa cơ, rơi vào vòng tù ngục thì chẳng qua cũng chi là dừng bước tạm nghi trên con đường đấu tranh lâu dài và gian khổ. Ở bài thơ này, các biện pháp nghệ thuật thường thấy trong thơ Đường như nghệ thuật đối: bốn biển – năm châu, bủa tay – mở miệng, bồ kinh tế – cuộc oản thù… được sử dụng hợp lí đã làm cho tầm vóc của nhân vật trữ tình trở nôn lớn lao, kì Vĩ, phù hợp với giọng điệu hào hùng. Cảm xúc chân thành của tác giả đã tạo nên sức sống bất diệt cho bài thơ.
Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu
1,723
Phân tích bài thơ Vận nước Hướng dẫn Phân tích bài thơ Vận nước Đỗ Pháp Thuận là một nhà thơ từng giữ chức cố vấn dưới thời Tiền Lê, trong cuộc đời của mình ông không chỉ tham gia cố vấn về chính trị mà ông còn sáng tác văn thơ. Tác phẩm của ông hiện nay còn lại không nhiều nhưng đó đều là những tác phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật cao. Một trong số ít còn bài thơ còn sót lại của Đỗ Pháp Thuận là Vận nước ( Quốc tộ) Ngay trong phần mở đầu của bài thơ, tác giả Đỗ Pháp Thuận đã có sự so sánh đầy độc đáo: “Quốc tộ như đằng lạc” Dịch: Vận nước như dây leo quấn quýt Tác giả Đỗ Pháp Thuận đã so sánh vận nước với dây leo quấn quýt để thể hiện được sự vững mạnh, cường thịnh của đất nước. Trong thực tế, vận nước luôn có sự thay đổi, vận động, có lúc thịnh cũng có lúc suy. Cách so sánh vận nước như dây leo đã thể hiện niềm tin của tác giả đối với sự vững mạnh của vận nước. Đó là sự vững mạnh được tạo nên bởi sự đoàn kết, đồng lòng của nhân dân cả nước, vì vậy mà có thể tồn tại lâu dài, trường tồn cùng thời gian. Mượn hình ảnh của thiên nhiên để nói về vận mệnh của đất nước là một nét đặc sắc trong nghệ thuật của bài thơ, thể hiện được sự am hiểu cùng niềm tin mãnh liệt của Đỗ Pháp Thuận vào vận mệnh trong tương lai của đất nước. Dịch: Ở cõi trời nam mở ra cảnh thái bình Nếu như câu thơ trên tác giả thể hiện niềm tin vào vận mệnh lâu bền của đất nước thì trong câu thơ này nhà thơ đã mở ra một không khí thái bình của cõi trời Nam khi đất nước được sống trong cảnh hòa bình, ấm no, ổn định cuộc sống. “Thái bình” là sự bình yên, vui vẻ, nhân dân được an cư, lạc nghiệp, đất nước không có loạn lạc, chiến tranh. Việt Nam thường xuyên trải qua những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm ác liệt, trong bối cảnh của bài thơ,đất nước cũng vừa trải qua một cuộc chiến tranh để bảo vệ độc lập của tổ quốc, đã từng đi qua khói lửa của chiến tranh nên không khí hòa bình hiện ra thật cảm động, bởi đó là một không gian, một cuộc sống lí tưởng cho người dân trên khắp đất nước Nam. “Vô vi cư điện các Xứ xứ tức đao binh” Dịch: “Vô vi ở nơi cung điện Khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh” Khái niệm vô vi là một khái niệm được sử dụng nhiều trong Phật giáo và đạo giáo. Trong câu thơ này, “vô vi” là không làm điều gì trái với tự nhiên, con người sống thuận theo tự nhiên, không bị ràng buộc bởi những khuôn phép ứng xử mà con người đặt ra. Nếu hiểu theo quan niệm của nhà Phật thì vô vi còn mang ý nghĩa là từ bi, bác ái. Hiểu một cách khác, vô vi còn là một đường lối chính trị trong đó có sự đoàn kết, gắn bó chặt chẽ của nhân dân và triều đình. Qua đó sẽ tạo được sức mạnh to lớn khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ. Nếu đảm bảo được những nguyên tắc trị nước trên thì đất nước sẽ được thái bình, cảnh đao binh, chiến tranh loạn lạc sẽ không thể xảy ra. Qua bài thơ ta có thể thấy được tình yêu nước cũng như niềm tin,niềm tự hào vào vận mệnh đất nước của thiền sư Đỗ Pháp Thuận. Tác giả đã đại diện cho dân chúng thể hiện khát vọng thái bình, hạnh phúc. Bài thơ Vận nước của Đỗ Pháp Thuận là một tác phẩm chính luận ngắn gọn, súc tích, hình ảnh thơ độc đáo và mang nhiều ý nghĩa triết lí sâu sắc đến việc trị nước và giữ nước. Bài thơ cũng là lời khuyên về việc trị nước cho nhà vua, qua đó ta thấy được tình yêu nước, ý thức trách nhiệm với đất nước của nhà thơ.
Phân tích bài thơ Vận nước
712
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật Hướng dẫn Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Mở bài Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới vẫy tương lai Đó là những câu thơ vô cùng tuyệt đẹp mà nhà thơ Tố Hữu đã viết ra để ca ngợi cả một thế hệ những chàng trai, cô gái thanh niên xung phong đã dũng cảm từ giã gia đình, từ bỏ giảng đường đại học để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc. Họ ra đi và dấn thân vào con đường Trường Sơn máu lửa, nơi bom đạn kẻ thù liên tiếp dội xuống, nơi sự sống và cái chết trở nên mong manh với một niềm tin niềm lạc quan phơi phới vào tương lai đất nước. Và viết về những người lính trên tuyến đường Trường Sơn năm ấy, ta không thể nhắc đến bài thơ “Bài thơ tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Thân bài: Bài thơ khắc hoạ thành công hình tượng những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm chống Mĩ với một tư thế hiên ngang dũng cảm, coi thường mọi gian khổ khó khăn, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Hình ảnh những chiếc xe không kính và thái độ ung dung của người chiến sĩ lái xe khiến người đọc không khỏi ngỡ ngàng: Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh những chiếc xe không kính với một cách nói rất tự nhiên, mộc mạc, vòng vèo pha chút lính. Lời thơ giản dị, tự nhiên, gần gũi như chính cuộc sống đời thường đi vào trong trang viết. Nhưng ẩn sau những lời thơ giản dị, mộc mạc ấy là một hiện thực chiến tranh vô cùng khốc liệt, là cảnh mặt đường bị cày nát, loang lổ những hố bom. Hình ảnh những tấm kính chắn gió xe bị vỡ vụn tan tành, vì “bom giật, bom rung” rú gầm dữ dội là chứng nhân của cuộc chiến đấu gian nguy và khốc liệt của người lính lái xe. Biết bao gian khổ hiểm nguy đang rình rập, đe doạ tính mạng con người. Vậy mà kỳ lạ thay khi nói về nó giọng điệu người lính trẻ rất thản nhiên, vô tư, nhẹ nhàng. Phải là một con người dũng cảm không sợ gian khổ, không sợ hi sinh mạng sống của bản thân mình mới có cách nói nhẹ tệnh, tự nhiên như thế: Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng Từ láy “ung dung” gợi lên hình ảnh người lính đang ở trong một tư thế, dáng ngồi bình thản, tự do tự tại, ngang tàng, ngạo nghễ, không hề bận tâm lo lắng, sợ hãi. Điệp từ “nhìn” cho ta cảm giác người lính đang mở rộng tầm mắt của mình nhìn về phía bầu trời cao rộng. Đặc biệt, từ nhìn thẳng nhấn mạnh thái độ dứt khoát, tự tin của một con người sẵn sàng đối đầu với mọi khó khăn thử thách đang chờ đợi mình trên con đường phía trước. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái Ngồi trong khoang lái không có kính chắn gió, người lính có dịp nhìn thẳng vào thiên nhiên trước mắt mình và anh có cảm giác con đường trước mặt đang lao về phía mình. Những cơn gió ùa vào buồng lái như xoa dịu đôi mắt đắng vì bụi đường. Đặc biệt các anh cảm nhận cánh chim và những vì sao lung linh trên bầu trời như sa, như ùa vào buồng lái để bầu bạn, tâm tình trên vạn dặm trường chinh. Cảnh vật lướt qua thật nhanh trong mắt người chiến sĩ. Qua cách cảm nhận hồn nhiên, vô tư ấy, ta hình dung chiếc xe đang lao đi với một tốc độ rất nhanh. Hình ảnh con đường chạy thẳng vào tim vừa là hình ảnh thực miêu tả tốc độ lao nhanh của chiếc xe đồng thời là hình ảnh ẩn dụ tượng trung cho con đường lý tưởng. Đó là con đường ra tiền tuyến, con đường chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc mà người lính tự nguyện dấn thân theo đuổi trong suốt cuộc đời mình. Mặt khác hình ảnh thiên nhiên hiện lên trong bài thơ này với vẻ đẹp nên thơ của một bầu trời cao lồng lộng với ánh trăng sao lung linh toả sáng giữa màn đêm, với một cánh chim trời lướt ngang mạnh mẽ cho thấy một nét đẹp trong tâm hồn người lính. Đó là những con người có tâm hồn lãng mạ, yêu đời. Mặc dù con đường hỉnh ảnh đầy gian khổ nhưng người lính vẫn mở rộng lòng mình ra để đón nhận vẻ đẹp thiên nhiên đất trời và tạo vật dù chỉ là trong khoảnh khắc. Những gian khổ trên con đường hành quân và tinh thần chịu đựng gian khổ khẳng định bản lĩnh phi thường của người lính lái xe: Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngòai trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Vì lái những chiếc xe không kính cho nên suốt con đường hành quân, người lính phải chịu biết bao gian khổ, nào mưa tuôn, mưa xôi, nào bụi phun trắng như người già, rồi thì ướt áo, mặt mày lấm lem vì bụi đường. Biết bao gian khổ, bức bối, khó chịu, nhưng đã là lính thì phải. Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc, nhìn nhau mặt lắm cười ha ha. Chưa cần thay lái trăm cây số nữa, mưa ngừng gió lùa khô mau thôi là cách nói đầy lạc quan tin tưởng. Đã là lính thì phải biết coi thường gian khổ, dù mưa gió, bụi bẩn, quần áo ướt sũng thì cũng phải vượt qua. Lúc nào cũng phải vững vàng tay lái, tiếp tục đưa xe băng băng ra chiến trường tiếp viện. Đã là lính thì phải biết vượt qua mọi gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Cái tiếng cười ha ha, tếu táo, nghịch ngợm không chỉ thể hiện sự hồn nhiên, trẻ trung, sôi nổi của người lính, mà còn thể hiện bản lĩnh, tinh thần lạc quan của họ. Nó khiến ta liên tưởng đến miệng cười buốt giá của những anh vệ quốc quân trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu. Nụ cười ấy giúp con người quên đi mọi gian khổ, có thêm niềm tin sức mạnh vượt qua bom đạn và chông gai trên con đường phía trước. Chính trên quãng đường đầy hiểm nguy ấy, tình đồng chí đồng đội được củng cố, bồi đắp bằng sự cảm thông, tin tưởng ssau sắc: Những chiếc xe từ trong bom rơi Ðã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Tình cảm đồng đội, đồng chí của người lính lái xe đêm không phải chỉ được hình thành ở nơi dầu sôi lửa bỏng, nơi chiến trường đạn bom ác liệt, hay trong lúc “súng bên súng, đầu sát bên đầu”, cùng chung vai sát cánh trong chiến đâu, mà còn là lúc dựng bếp giữa trời. Tình đồng đội được gắn kết khi ta cùng chung bát đũa, chung bữa cơm dã chiến trên rừng. Chiếc võng mắc chông chênh đường xe chạy, ta nằm cùng nhau kể lể chuyện tâm tình. Chỉ vậy thôi trong những phút giây gặp gỡ vô cùng ngắn ngủi, tình cảm đồng đội, đồng chí vẫn được hình thành thiêng liêng gắn bó, sâu đậm, thân thiết, như những người ruột thịt trong gia đình. Vẫn đau lòng xót xa khi nghe tin một đồng đội ngã xuống, và sững sờ khi một ngày nào đó trên con đường ra trận, họ gặp lại bạn mình. Họ trao nhau một cái bắt tay, một nụ cười, ánh mắt, lời nói và trao nhau biết bao tình yêu thương nồng nàn ấm áp. Để từ đó họ trao nhau niềm tin sức mạnh, động viên nhau vượt qua những khó khăn gian khổ trên con đường phía trước. Sau những giây phút ngắn ngủi đó, họ tiếp tục ra đi “lại đi lại đi trời xanh thêm”. Đi để nhìn thấy bầu trời trong xanh, không còn thấy khói súng, bom đạn của kẻ thù. Đi để đất nước được hoà bình thống nhất. Một lần nữa, hình ảnh chiếc xe không kính lại hiện ra, đóng khép lại khúc ca ra trận hào hùng: Không có mui xe, thùng xe có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim. Điệp từ “không” lặp đi lặp lại nhiều lần như nhấn mạnh một hiện thực chiến tranh tàn khốc, với hình ảnh một chiếc xe méo mó, biến hình biến dạng. Hiểm nguy rình rập trên từng bước đường xe chạy. Cái khốc liệt của chiến tranh hiển hiện ngay trên những vết đạn còn in dâu trên thân xe. Thế nhưng dù gian khổ, nguy hiểm, dù chiến tranh có tàn khốc thế nào đi chăng nữa, những người lính vẫn đinh ninh đưa xe tiến về phía trước, về miền Nam thân yêu. Chính sức mạnh của tình yêu nước đã thôi thúc, khơi dậy nơi người lính lòng quả cảm, biến họ thành những anh hùng của thời đại. Những trái tim nhiệt tình yêu nước, những trái tim mang khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đang toả sáng sôi sục trong tâm hồn của người lính trẻ. Họ mong muốn góp sức, hiến máu xương mình cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, để đất nước được hoà bình thống nhất, nhà nhà đoàn tụ, cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước bởi trong xe luôn có một trái tim tràn trào khí phách. Như một lời khẳng định đinh ninh, dứt khoát, thể hiện ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của cả thế hệ thanh niên Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ngày đó. Chính nhờ có lòng yêu nước nồng nàn đó, những người lính của chúng ta đã góp sức mình làm nên những chiến thắng vẻ vang trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Phạm Tiến Duật đã viết nên những lời thơ giản dị, tự nhiên, đậm chất khẩu ngũ như lời ăn, tiếng nói trong cuộc sống thường ngày. Hình ảnh thơ chân thật, giản dị như lấy ra từ chính hiện thực chiến đấu đã làm cho bài thơ nét đẹp riếng rất chân thành, mộc mạc và rất đỗi sâu sắc. Qua bài thơ, tác giả đã xây dựng hình tượng người lính lái xe trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là những con người anh hùng, dũng cảm, lạc quan, yêu đời, coi thương gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ, biết hi sinh bản thân mình vì nghĩa lớn, vì nhân dân, vì đất nước: Cái vết thương xoàng mà đưa viện Hàng còn chờ đó tiếng xe reo Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến Nôn nao ngồi dậy nhơ lưng đèo.” Kết bài: Chính tình đồng chí, đồng đội đã biến thành động lực giúp các anh vượt qua khó khăn, nguy hiểm, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu.Sức mạnh của người lính thời đại Hồ Chí Minh là vẻ đẹp kết hợp truyền thống và hiện đại. Họ là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là hình tượng đẹp nhất của thế kỷ “Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi” (Tố Hữu).
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật
2,081
Đề bài: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Bài làm Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”(Tố Hữu), Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính, khoẻ, dạt dào sức sống, tinh nghịch vui tươi, giàu suy tưởng. “Bài thơ về tiểu đội không kính” (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó. Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió – hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực, độc đáo, mới lạ. Xưa nay, hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hoá, tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể, thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm Tiến Duật. Với bút pháp hiện thực như bút pháp miêu tả “anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp” của Chính Hữu trong bài Đồng chí (1948), Phạm Tiến Duật đã ghi nhận, giải thích về “những chiếc xe không kính” thật đơn giản, tự nhiên: Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt, mới trở thành hư hỏng: không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước. Hìmh ảnh những chiếc xe không kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ, một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm, trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sáng tạo, nghệ thuật. Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ. Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe. Đó là những con người trẻ trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh. Trong buồng lái không kính chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh và điệp ngữ: Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh, vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. Các anh nhìn thấy từ “gió”,”con đường” đến cả “sao trời”, “cánh chim”. Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Hình ảnh “những cánh chim sa, ùa vào buồng lái” thật sinh động, gợi cảm. Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng. Hiên ngang, bất chấp gian khổ, những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng. Những câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi, lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp, tự tin, có tính cách ngang tàng: Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô, mau thôi. Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính, tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ. Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ, trước kẻ thù mà trái lại “tiếng hát át tiếng bom”, họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí. Yêu đời, tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm. Câu thơ “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy. Tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính. Những khoảnh khắc của chiến tranh, giữa sống chết, những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ, lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt, gia đình: Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. “Trời xanh thêm” vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. “Trời xanh thêm” vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nước sâu sắc. Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc: Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim. Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn. Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ thú vị. Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống, do đường trường gây ra: xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước … Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính/ rồi xe không có đèn / Không có mui xe / thùng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom đạn. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét. Đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước. Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình ảnh “trong xe có một trái tim”. Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ, kết đọng ở “trái tim” gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này. Ẩn sau ý nghĩa câu thơ “chỉ cần trong xe có một trái tim” là chân lý của thời đại chúng ta:sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, “con mắt của thơ”, làm bật lên chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ. Thiếu phương tiện vật chất nhưng những chiến sĩ vận tải Đoàn 559 vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ, nêu cao phẩm chất con người Việt Nam anh hùng như Tố Hữu đã ca ngợi: Thiếu tất cả, ta rất giàu dũng khí Sống chẳng cúi đầu, chết vẫn ung dung Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hoá anh hùng Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 – 1975.
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
1,571
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tiểu đội xe không kính Đề bài: Nêu cảm nghĩ về Bài thơ về tiểu đôi xe không kính của Phạm Tiến Duật. 1. Yêu cầu – Viết bài văn nghị luận về một bài thơ nhưng nghiêng về biểu cảm. – Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. – Phân tích cảm nhận về cái hay, cái đẹp của nội dung và hình thức của các khổ thơ. – Những điều cảm nhận, phân tích phải đặt trong tương quan giữa các khổ với nhau và với toàn bài, đồng thời làm nổi rõ tư tưỏng chủ đề của ca bài. 2. Gợi ý – Đọc kĩ cả bài thơ. – Tham khảo các bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về bài thơ. – Những cảm nhận về thiên nhiên của người lái xe không kính như thế nào? Sự tinh tế và mới lạ trong cách cảm nhận và thể hiện là gì? – Những khó khăn của người lái xe khi xe không có kính như thế nào? – Hình ảnh của người chiến sĩ lái xe thể hiện ra sao? (ngang tàng, tự tin, tất cả vì miền Nam) – Biện pháp nghệ thuật chủ yếu của bài thơ: sự đối lập. – Kết hợp nghị luận với biểu cảm. 3. Lập dàn ý (dàn ý sơ lược) a. Mở bài: Chiến tranh và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. b. Thân bài – Cảm nhận về thiên nhiên khi xe không kính Lập luận và thái độ ngang tàng của người lính. Vẻ đẹp của các từ ngữ đời thường: không có, không phải là, bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi, ừ thì. – Những khó khăn khi không có kính Bụi. Mưa. – Tư thế của người chiến sĩ Ung dung. Bất cần, coi thường gian khổ (chưa cần rửa, chưa cần hong). Đoàn kết, gắn bó với đồng đội. – Thành công của tác giả viết về người lính lái xe c. Kết bài: Nhấn mạnh vẻ đẹp của toàn bà người chiến sĩ lái xe ung dung, dũng cảm trong kháng chiến chống Mĩ. 4. Bài làm minh hoa Bải 1 Chiến tranh không chỉ tạo nên những con người phi thường với những hành động phi thường mà nó còn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà thơ. Có thể mỗi người trong chúng ta vẫn còn ngỡ ngàng trước sự thật sống động của những sáng tác thi ca ấy. Chúng như đưa ta trở về một thời ác liệt, thời của những con người quên đi hạnh phúc riêng tư, thời của những kỉ niệm mà ai đã qua thì không thể nào quên được. Họ hiện lên trong tâm tưởng như ta đã gặp ngày hôm qua, đã gặp hôm nay. Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một bài thơ như thế. Phạm Tiến Duật đã xây dựng một hình tượng độc đáo: những chiếc xe không kính chắn gió vẫn băng băng trên đường ra trận. Phải là một con người gắn bó, gần gũi với các đoàn xe Trường Sơn như Phạm Tiến Duật mới có thể viết về những hình ảnh rất thật trong chiến tranh như vậy. Hình ảnh những chiếc xe không kính thời bình là những chiếc xe của lịch sử, tĩnh lặng, được lau chùi. Còn những chiếc xe thời chiến mang tâm hồn của người cầm lái, dù phủ bụi, bám bùn đất nhưng vẫn đầy ắp nụ cười và sự trẻ trung của người lính Trường Sơn. Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi. Làm sao ta còn có thể tìm lại trong cuộc sống những chiếc xe như vậy. Những chiếc xe ấy là sản phẩm đặc biệt của một cụộc chiến đầy kịch tính, đầy khốc liệt cam go. Dù không còn là những chiếc xe hoàn chỉnh song sau ngần ấy dặm đường ra tiền tuyến chúng đã được chắp nối thêm phần hồn vào đó. Những miếng kính vỡ có thể hoà lẫn nụ cười của một lần ra quân thắng lợi và những giọt nước mắt tất yếu của chiến chinh. Mỗi vết xước, mỗi chỗ bẹp nhúm đều gắn liền với bao kỉ niệm. Qua đó, ta thấy được phần nào những phẩm chất tốt đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ. Anh bộ đội lái xe trên đường Trường Sơn là những người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Trong gian khổ, hiểm nguy vẫn giữ vững tư thế hiên ngang, tự chủ: Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Chúng ta phải khâm phục những con người ấy. Chiến tranh gắn liền với sự hi sinh, công việc lái xe của bộ đội là vô cùng nguy hiểm bởi giặc không ngừng xối bom đạn để tàn phá con đường huyết mạch vốn là mạch máu nuôi sống chiến trường đánh Mĩ, ngăn chặn sự tiếp viện của cả nước cho giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sống và chiến đấu trong bối cảnh ấy, ai là người không lo lắng, giữ gìn. Nhưng các anh vẫn “cười ha ha”, vẫn lái vì tiền tuyến. Những con người ấy chiến đấu vì tình yêu Tổ quốc cao cả, ý chí và quyết tâm của họ không gì lay chuyển được. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng. Nếu xe có kính nghiêm chỉnh như chưa hề chinh chiến trận mạc thì gió, bụi, chim rừng đâu có hồn nhiên ùa vào buồng lái. Chính vì vậy, chỉ lái xe không kính mới biết cảm giác khi gió thổi mạnh. Trên những chặng đường dài ban ngày mù mịt bụi, ban đêm gồ ghề khó đi ấy, những người ìính vẫn luôn tự tin “vì miền Nam phía trước”. Dù đường có dài muôn dặm nhưng phía trước cũng là tiền tuyến đạn lửa đang chờ mong những chiếc xe từng phút từng giờ. Nhưng người lính lái xe như thấy trên từng chặng đường đi tới mang theo nhịp thở của tiền tuyến và nhịp con tim đập rộn ràng. Ngay cả sao trời, cả chim bay cũng, làm bạn với họ. Thấy sao trời uà đột ngột cánh chim Như sa như và vào buồng lái. Những người cầm tay lái như sống trong mơ. cả bầu trời cũng như muốn trùm lên chiếc xe của họ. Chỉ những chiếc xe không kính mới có thể tạo ra ấn tượng bất ngờ đến vậy. Trong gian khó, có thể cận kề cả cái chết, họ vẫn bật ra những nụ cười chân thật xuất phát từ một trái tim lạc quan yêu đời. Mặc hiểm nguy gian khó, mặc bão táp hay “mưa tuôn mưa xối”, tiếng cười hồn hậu vẫn tràn ngập suốt dọc đường ra trận. Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Những con người ấy còn trẻ tuổi nên sự lạc quan yêu đời trong con người họ quả là điều dễ hiểu. Nhưng không chỉ sự lạc quan của tuổi trẻ mà ẩn sâu trong đó còn có vẻ tươi mới của chiến tranh. Họ rất dũng cảm và tràn ngập ý chí chiến đấu để rủ nhau: “lại đi, lại đi trời xanh thêm”. Họ bất chấp mọi trở ngại, bình tĩnh đối mặt với tử thần. Dù cái sống và cái chết là danh giới không phân định nhưng nghị lực, ý chí quyết tâm đã gạt khỏi họ những tị hiềm, những suy nghĩ riêng tư, nâng con người họ khỏi cái tầm thường cố hữu. Không có kính ừ thì ướt áo… Không có kính ừ thì có bụi. Cuộc sống của người lính vô tư đến lạ lùng, họ khẳng định “ừ thì” mặc dù cho chiến tranh tước bỏ mọi điều kiện chiến đấu. Ta ngạc nhiên khi thấy một chiếc xe không kính chạy hàng nghìn dặm đường ra tiền tuyến, vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ta ngạc nhiên bởi tiếng cười hồn hậu của người lính vẫn vang lên trong mỗi dặm đường ra trận. Họ, những người lái xe vẫn vật lộn với chiến tranh, bom đạn, chất độc, cái chết và cũng bị chiến tranh lấy đi bao điều quý giá: tuổi thanh xuân, sức khoẻ, thậm chí cả mạng sống của mình, nhưng tước thế nào được sự hồn nhiên, yêu đời vốn có của họ. Hơi thở nóng hổi của cuộc chiến tranh chống Mĩ vẫn sục sôi trong tâm hồn những người lính ngày ấy: Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vở rồi. “Vạn dặm tha hương ngộ cố nhân” đã tạo nên cái xiết tay chân tình bền chặt “qua cửa kính vỡ rồi”, mặc dù bàn tay ấy nhem nhuốc bởi bụi bặm, xăng dầu, khói lửa của bom đạn. Có thể nói, không một thế lực đen tối, tàn bạo nào cản nổi bước chân ra trận của những người anh hùng: Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim. Ta không còn ngạc nhiên khi nhìn thấy thắng lợi vẻ vang của dân tộc phải đổi bằng nhiều đau thượng mất mát. Chiến thắng ấy phải chăng do trong mỗi chiếc xe đều có sức mạnh của “một trái tim”. Bài thơ có ngôn ngữ tự nhiên, giọng điệu thoải mái, mạch lạc như lời trò chuyện. Ông đã sử dụng ngôn từ phong trần, ngang tàng, vui tếu trong đời sống thường nhật của những người lính. Không có kính không phải vì xe không có kính. Câu thơ nghe như lời giải thích của một bác tài khi có người hỏi về cửa kính vỡ để rồi khẳng định chắc nịch, thô tháp như của người lao động: Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhịp thơ nghe chắc nịch, cứng cỏi càng lột tả rõ nét cái khí phách của những người lính lái xe chống Mĩ khi xưa. Câu thơ nghe chắc gọn, gần gũi với lời nói thường ngày và đậm nét văn xuôi. Không khoa trương, mĩ lệ lại càng không ngọt ngào tha thiết như những câu thơ tình, nhưng thơ ông vừa chân thực, đằm thắm vừa di dỏm, vui đùa mà vẫn tình tứ, đáng yêu. (Nguyễn Thuý Vinh, lớp 9CA, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Một bài viết chắc tay. Bạn đã phân tích, cảm nhận về hai hình ảnh nổi bật của bài thơ: xe không kính và người chiến sĩ lái xe, những con người trẻ trung, ung dung, vui tếu nhưng dạn dày trận mạc. Tư thế của người lái xe “ung dung”, hành động bất cần, coi thường “chưa cần rửa”, “chưa cần thay”, việc “cười ha ha” bên cạnh khó khăn và cái chết rình rập đã cho thấy phẩm chất anh hùng nhưng bình dị của những người lính. Đáng tiếc là người viết vẫn còn dùng từ ngữ và diễn đạt chưa chuẩn ở một vài chỗ, làm cho câu văn tối nghĩa và có thể bị hiểu sai. Ví dụ: Nhưng không chỉ sự lạc quan của tuổi trẻ mà ẩn sâu trong đó còn có vẻ tươi mới của chiến tranh, hoặc Cuộc sống của người lính uô tư đến lạ lùng, họ khẳng định “ừ thì” mặc dù cho chiến tranh tước bỏ mọi điều kiện chiến đấu. Mở bài cũng là một câu văn viết vụng. Bài 2 Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ ca chống Mĩ với giọng thơ vừa khoẻ khoắn, tự nhiên, tràn trề sức sống vừa tinh nghịch, vui tươi đến ngỡ ngàng. Nhà thơ đã thể hiện không khí chiến tranh sôi nổi và sự can trường, tự tin của người lính. Và một trong những tác phẩm hay nhất trong thời kì này của ông chính là Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Mở đầu bài thơ, tác giả đã đề cập đến một hình ảnh hết sức chân thực, độc đáo, mới lạ: những chiếc xe không kính vẫn băng băng không ngại chi bụi bặm, gió mưa, tiến thẳng ra chiến trường. Qua đó, nhà thơ đã làm nổi bật hình ảnh những người lái xe trong chiến trường Trường Sơn hiên ngang, dũng cảm, trẻ trung, sôi nổi. Ta không rõ nhà thơ đã từng bao nhiêu lần trực tiếp cầm lái, hay ngồi trong ca bin bên cạnh người cầm lái mà ngôn ngữ, cảm hứng và suy nghĩ trong bài lại hết sức chân thực và giàu nhạc điệu đến vậy. Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi. Lời thơ giản dị như câu văn xuôi, như lời nói hằng ngày, hình ảnh thơ mộc mạc mà gợi tả rõ nét, cứ y như một đoàn xe đang lừng lững tiến lại trước mắt ta. Một hình ảnh thật độc đáo hiện ra ngay trong phần mở đầu của bài: “những chiếc xe không kính”! Xưa nay, những phương tiện mà con người sử dụng khi đuầ vào thơ thì thường được “mĩ lệ hoá” hoặc thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn tả thực. Điều đó ta đã gặp trong Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên hay Bài ca lái xe đêm của Tố Hữu và nhiều cách thể hiện của các nhà thơ khác nữa. Với mình, Phạm Tiến Duật không ngần ngại đuầ vào thơ hình ảnh nhữing chiếc xe trần trụi, bị phá huỷ gần như là phế thải và giải thích cũng rất đơn giản: Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi. Từ cách giới thiệu đến cách lí giải nguyên nhân xe không có kính đều rất thật, rất tự nhiên, pha chút ngang tàng như nhắc nhở về vẻ bề ngoài khác lạ của nó. Bom đạn chiến tranh đã tước dần đi những bộ phận còn lại, làm cho nó biến dạng “không có đèn”, “không có mui”, “thùng xe có xước”,… Trên thực tế, chúng không còn mang hình dạng đúng như ban đầu nữa mà trở thành đoàn xe vận tải có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới từ xưa đến nay. Chúng không phải chỉ có một, hai chiếc mà hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, đều bị tàn phá, đập nát đến tận cùng. Phải là một con người nhạy cảm và kiên cường, Phạm Tiến Duật mới chớp được những hình ảnh độc đáo và lạ lẫm đến vậy. cả một hình ảnh tràn đầy hơi thở nóng hổi của cuộc chiến tranh thần kì xưa kia hiện lên sừng sững trong bài thơ. Đoàn xe càng sống động bao nhiêu thì hình ảnh người chiến sĩ lái xe càng đáng khâm phục bấy nhiêu. Họ xuất hiện ngay ở đầu bài thơ: Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng Nhìn thấy gió ưào xoa mắt đắng Thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và dột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. Đó là những câu thơ tả thực chính xác đến từng chi tiết. Không có kính chắn gió, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với biết bao khó khăn, nguy hiểm. Nào là “gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rồi sao trên trời, rồi chim bay lượn trên không đột ngột, bất ngờ sà vào, bầu bạn với người lái xe. Những chiếc xe không kính với biết bao sự việc có thể xảy ra khiến cho câu chữ trong bài thơ mới sinh động và gợi lên được cảm giác đầy ấn tượng cho người đọc. Tất cả khó khăn, thử thách như dồn nén, đòi hỏi ở họ một nghị lực phi thường, một sự phấn đấu không mệt mỏi. Điều kiện lúc này không cho phép họ nghĩ về quyền lợi cá nhân và cũng không chấp nhận sự hèn nhát, run sợ. Trái lại, ở họ chỉ có tư thế hiên ngang, ý chí vững vàng không kẻ thù nào, không khó khăn nào cản nổi bước chân những người lính anh hùng đó. Hai khổ thơ mở đầu tái hiện lại muôn ngàn khó khăn, gian khổ mà người chiến sĩ lái xe phải trải qua trong cuộc chiến tranh chống Mĩ trước đây. Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút, bươn trải ngày cũng như đêm trên đường ra trận. Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già. Lái những chiếc xe không kính, người chiến sĩ phải đương đầu với bao trở ngại trên đường đi tới: bụi đường, muầ tuôn, muầ xối,… lại còn bom đạn kẻ thù xối xả không phút giây nào ngừng. Trước những thử thách ấy, họ càng trở nên cứng cỏi, kiên cường hơn: “không có kính, ừ thì”… Cấu trúc câu được lặp lại càng toát lên một thái độ ngang tàng, bất chấp mọi khó khăn để cười đùa, vui tếu bằng niềm lạc quan, yêu đời của mình. Đoạn thơ như khúc nhạc vui của tuổi mười tám đôi mươi hoà cùng những hình ảnh hóm hỉnh “phì phèo châm điếu thuốc”, “mặt lấm cười ha ha” làm cho lời thơ thêm rộn rã, tươi vui. Dũng cảm bất chấp hiểm nguy trước kẻ thù nhưng lại sống chan hoà với nhau trong tình đồng đội gắn bó yêu thương như keo sơn. Họ gặp nhau, dựng “bếp Hoàng Cầm” để hợp lại trong tình cảm mà bữa cơm “chung bát đũa” làm nên một “gia đình” sum họp. Rồi các anh lại cùng nhau lên đường, câu thơ phơi phới, vừa như thực vừa như mơ: Lại đi, lại đi, trời xanh thêm. Ở đây sự đối lập giữa hai phương tiện: vật chất (hình dạng chiếc xe) và tinh thần (tâm hồn người lính) đã khẳng định chiếc xe dù bị bom Mĩ tàn phá nhưng nó vẫn chạy vì bên trong có một “trái tim”. Những tình cảm cao đẹp trong trái tim đó là nguồn sức mạnh nâng đỡ họ vượt lên mọi khó khăn gian khổ để đóng góp sức mình vào công cuộc giải phóng đất nước. Phải chăng, đó cũng là điều mà Phạm Tiến Duật muốn nói với chúng ta qua bài thơ của minh. Bài thơ về tiểu đội xé không kính là một tầc phẩm tiêu biểu cho thơ ca thời kì kháng chiến chống Mĩ. Nó không chỉ dựng nên bức tranh toàn cảnh về cuộc chiến tranh đầy khốc liệt, một mất một còn của dân tộc ta mà còn khắc hoạ hình ảnh những người chiến sĩ lái xe vô cùng đẹp đẽ và hiên ngang. Những con người đó để lại cho chúng ta niềm cảm phục sâu sắc, lòng biết ơn chân thành, tha thiết. (Lương Minh Phương, lớp 91, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bạn đã biết cách làm bài văn nghị luận về thơ, đã tập trung phân tích và làm nổi bật hình ảnh xe không kính và người chiến sĩ lái xe. Nhận xét này, nếu bạn tự rút ra thì rất đáng khen, hoặc nếu bạn dẫn lại của ai đó thì cũng đáng ghi nhận về sự tích hợp: Xưa naỵ, những phương tiện con người sử dụng nếu đưa vào thơ thì thường được “mĩ lệ hoa” hoặc thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn tả thực. Điều đó ta đã gặp trong “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên haị) “Bài ca lái xe đêm” của Tố Hữu uà nhiều cách thể hiện của các nhà thơ khác nữa. Với mình, Phạm Tiến Duật không ngần ngại đưa vào thơ hình ảnh những chiếc xe trần trụi, bị phá huỷ gần như là phế thải và giải thích cũng rất đơn giản: Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi. Tuy vậy, một số từ ngữ dùng chưa thật chính xác: chiến tranh sôi nổi, (những chiếc xe) bị tàn phá, độp nát đến tận cùng. Khen Phạm Tiến Duật đưa hình ảnh xe không kính vào thơ thì được, nhưng viết: Phải là một con người nhạy cảm và kiên cường, Phạm Tiến Duật mới chớp được những hình ảnh độc đáo và lạ lẫm đến vậy thì lại chưa ổn.
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Ngữ Văn 9
3,424
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật. Hướng dẫn Bài thơ về tiểu đội xe không kính Mở bài: Phạm Tiến Duật thuộc lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ Phạm Tiến Duật hồn nhiên vui tươi và đầy tinh nghich và đậm đà chất lính. Thơ ông có vai trò động viên, cỗ vũ con người vượt qua khó khăn thử thách, tiếp tục với nhiệm vụ kháng chiến cứu nước. Bài thơ về tiểu đội xe không kính thể hiện sâu sắc phong cách thơ ấy của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Thân bài: “Không kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ thật ngộ nghĩ, đâu khác gì câu nói đời thường. Dường như tác giả muốn giải thích: xe thì phải có kính chứ, nhưng bom đạn làm kính vỡ mất rồi. Cụm từ “bom giật bom rung” giúp ta hình dung cái cảnh nguy hiểm, ác liệt của chiến trường Trường Sơn lúc bấy giờ. Vậy mà giọng thơ lại rất đỗi thản nhiên, nhất là: “Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Sự xuất hiện của từ láy “ung dung” phải chăng càng nhấn mạnh cái chất thản nhiên đó? Những người chiến sĩ ấy đang ngạo nghễ ngồi trên xe, tự tin, bình tĩnh, làm chủ tình hình. Khẩu khí của họ thật mạnh mẽ: “ta”, càng làm cho những người lính ấy thêm oai phong, lẫm liệt. Điệp ngữ “nhìn” nhấn lại đến ba lần trong một câu thơ. Rõ ràng những người chiến sĩ lái xe rất cảnh giác. Đôi mắt lúc nào cũng hướng thẳng đến mục tiêu. Đó chính là tư thế sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào. Thật là đáng khâm phục, bởi xung quanh họ là những khó khăn, thư thách: “Nhìn thấy hoa vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim”. Chính đôi mắt đắng nghét ấy đã nói lên bao điều. Là gió bụi Trường Sơn hay những đêm thức trắng chiến đấu mà đôi mắt ấy như cay, như xót, như “muốn nhắm” bất cứ lúc nào? Thế nhưng, dù cay, dù xót họ vẫn: “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” về phí trước. Đôi mắt không lúc nào lơ là nhiệm vụ của mình, ngay cả khi cơn gió dịu dàng “xoa” họ vào giấc ngủ. Đọc đến những dòng thơ này, người đọc như cùng đắng cùng xót, không ai không xúc động trước những hi sinh, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn lao nhất của người chiến sĩ. Làm sao họ có được sức mạnh để vượt qua những khó khăn, thử thách đó? Có lẽ là do mỗi người lính anh hùng ấy đều nhìn thấy một “con đường chạy thẳng vào tim”. Qua biện pháp nghệ thuật ẩn dụ “con đường” ấy mang tên “cách mạnh” là lý tưởng chiến đấu hay cũng chính là tấm lòng yêu nước, yêu đồng bào thiết tha, luôn rạo rực trong tim người chiến sĩ lái xe. Hai dòng thơ ngắn gọn nhưng rất sinh động, ấn tượng, phát xuất từ thực tế cuộc sống. Thử hỏi nếu không trải nghiệm những ngày tháng khói lửa trên chiến trường Trường Sơn thì làm sao tác giả có thể viết được những câu thơ xúc động đến dường này? Như sa như ùa vào buồng lái”. Hình ảnh thơ rất lãng mạn, bay bổng. “Sao trời” và “cánh chim” như mở ra trước mắt chúng ta một không gian mênh mông, rộng lớn. Đó là bầu trời xanh trong, tự do và hòa bình. Phải chăng, đó chính là ước mơ, hy vọng của những người chiến sĩ? Họ chiến đấu hôm nay để bầu trời Tổ quốc ngày mai. Bầu trời ấy không còn những chiếc máy bay rầm rú, nhả đạn mà là những cánh chim bồ câu cất cánh bay lượn thảnh thơi. bầu trời ấy không còn những cơn mưa bơm đạn bất kể ngày đêm, mà là muôn vần tinh tú tỏa sáng lấp lánh. Ánh nhìn của những người chiến sĩ lạc quan, tươi đẹp quá! Họ tin yêu vào một tương lai tươi sáng, niềm tin mạnh mẽ được thể hiện qua những ca từ “sa”, “ùa”, “đột ngột”. Và niềm tin thiêng liêng đó, hôm nay họ sẵn sàng đổ máu hy sinh. Chỉ là những chàng trai tuổi đôi mươi nhưng họ quá là: “Làm trai cho đáng nên trai”. Họ biết xem thường những khó khăn, thử thách, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Thật hiên ngang, thật bất khuất! Sự hòa quyện đến tài hoa của chất lãng mạn và hiện thực đã đem lại vẻ đẹp tuyệt vời cho thơ, vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Thế nhưng có ai biết được rằng những con người anh hùng ấy có lúc nghịch ngợm, đùa vui như trẻ thơ: “Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo chăm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. Họ chẳng những thân thiện chấp nhận những thiếu thốn về vật chất: “Không có kính, ừ thì có bụi” mà còn biết biến những khó khăn đó thành trò đùa vui thú. Trước mắt chúng ta giờ đây thật sinh động hình ảnh người lính “tóc trắng” hay những “anh hề mặt lấm” đang quay quần bên nhau, giọng cười thật sảng khoái: “ha ha”, âm vang khắp núi rừng Trường Sơn. Cuộc đời quân ngũ gian khổ của họ tuy vật chất thiếu thốn nhưng tinh thần lúc nào cũng dâng đầy niềm lạc quan phơi phới, đó chính là lòng hăng hái và nhiệt tình của tuổi trẻ Việt Nam. “Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời”. Ngồi trong xe mà “mưa tuôn mưa xối” chẳng khác gì ngoài trời, cơn mưa Trường Sơn có khác gì ngàn lưỡi dao nhọn cứa vào da thịt người chiến sĩ? Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”. Vậy mà vẫn cái giọng điệu ngang tàn, bất chấp, những người lính xem thử thách của thiên nhiên là con số không, họ cứ tiếp tục công việc của mình và chẳng một chút bận tâm tới: “Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”. Câu nói thực hồn nhiên nhưng sao ta nghe mà thấy lòng chua xót? Họ cũng chỉ là những con người bình thường nhưng với ý chí, tinh thần sắt thép, học sẵn sàng đón nhận những khó khăn, thử thách. “Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc dọc đường đi tới Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi”. Trong chiến đấu không thể thiếu vẻ đẹp thiêng liêng của tình đồng chí. Những chiếc xe đầy “thương tích” đã hợp thành tiểu đội, như anh em bốn phương chiến đấu lại sum vầy bên nhau. Cái bắt tay của họ thể hiện niềm vui sướng, vui vì đã chiến thắng hay vui vì cả tiểu đội xe không kính vừa trở về từ cõi chết? Nói cho cùng, họ vui vì lại được kề vai sát cánh chiến đấu bên nhau. Cái bắt tay của những người chiến sĩ lái xe gợi lại trong ta cái bắt tay của những người lính vệ quốc năm xưa: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” (Đồng chí-Chính Hữu) Cái bắt tay thân thiết ấy là bằng chứng cho tình đồng chí thắm thiết, sâu sắc; tình đồng đội keo sơn gắn bó của hôm qua và cả hôm nay, thêm cái sôi nổi, hừng hực khí thế và đầy ắp tiếng cười của những người lính trẻ. “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Hai tiếng “gia đình” cất lên sao mà thân thương, thăm thiết. Lần đầu tiên trong văn học cách mạng, từ “đồng chí” được định nghĩ thiêng liêng như vậy, được nhìn nhận như một bước tiến trong tình cảm cao đẹp của người lính. Nếu ngày trước những người lính vệ quốc xem nhau là “tri kỷ”, thì hôm nay với người chiến sĩ lái xe tình đồng đội, đồng chí là anh em chung một mẹ Việt Nam, chung một cha Bác Hồ. Dòng máu “gia đình” trong họ quyện vào nhau và sẵn sàng vì nhau mà hi sinh. Tình cảm sâu đậm ấy chính là một trong nguồn động lực giúp người chiến sĩ chiến đấu, là sức mạnh tinh thần lớn lao giúp họ làm nên chiến thắng để viết nên những trang lịch sử hào hùng: “Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm”. Khúc nhạc hành quân vang lên với điệp khúc: “lại đi, lại đi…” đã mở ra phía trước một con đường. Và lần lượt, từng chiếc xe không kính tiến lên, đến chiến trường miền Nam. Họ ra đi với niềm tin mạnh mẽ, với tâm hồn lạc quan phơi phới về một bầu trời càng “xanh thêm”, “xanh thêm…”. Đó chính là ước mơ về miền Nam được giải phóng, cả nước được hòa bình, thống nhất. Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim”. Có lẽ đây là dòng thơ xúc động nhất, đáng quý nhất. Lạ kỳ chưa, là trái tim của xe hay chính trái tim người chiến sĩ? Với biện pháp hoán dụ, hình ảnh “trái tim” càng thêm rực rỡ. Đó là trái tim trung thành với Tổ Quốc, với cuộc sống cách mạng của dân tộc. Đó là trái tim yêu thương đồng bào, yêu thương những người anh em miền Nam còn đang trong nước sôi lửa bỏng. Đó là trái tim quyết đánh đuổi đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước, đem lại hòa bình cho nhân dân; cũng chính là trái tim đang rạo rực, sôi sục trong lòng mỗi người chiến sĩ lái xe không kính. Chắc chắn họ phải tự hào lắm, trân trọng lắm “trái tim” chân thành và trung kiên ấy. Bởi như tác giả đã nhận xét: “chỉ cần” người chiến sĩ với “trái tim” ấy thì gian khổ, khó khăn và cả cái chết cũng “mặc kệ”. Vậy thì những thiếu thốn vật chất: không kính, không đèn, không mui… có sá gì đâu. Giọng thơ khẳng định đến mạnh mẽ, tình thơ cũng là lòng quyết tâm đến sắt đá! Giọng thơ ngang tàn, có cả chất nghịch ngợm, rất phù hợp với những đối tượng miêu tả (những chàng trai lái xe trên những chiếc xe không kính ). Giọng điệu ấy làm cho lời thơ gần với lời văn xuôi, lời đối thoại, lời nói thường ngày nhưng vẫn thú vị và giàu chất thơ. Chất thơ ở đây là từ những hình ảnh độc đáo của những chiếc xe không kính, từ cảm hứng về vẻ hiên ngang, dũng cảm, sự sôi nổi trẻ trung của những người lính lái xe, từ ấn tượng cảm giác được miêu tả cụ thể, sống động và gợi cảm. Kết bài: Cả bài thơ là lời nói, cảm xúc của người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Thử thách ngày càng tăng, nhưng mức độ và hướng đi không thay đổi. Vẫn là khẳng định tinh thần bất khuất, quyết thắng của quân đội ta, nhưng Phạm Tiến Duật đã đem lại nhiều hình ảnh mới và giọng điệu mới: trẻ trung, tinh nghịch, ngang tàn mà kiên định. Bài thơ đâu chỉ nói về tiểu đội xe không kính,nó phản ánh cả khí thế quyết tâm giải phóng miền Nam của toàn quân và toàn dân ta, khẳng định rằng ý chí của con người mạnh hơn cả sắt thép. Họ chính là những con người ưu tú của dân tộc đã chiến đấu và sẵn sàng hi sinh để Tổ Quốc mãi mãi “bay lên ngát xanh mùa xuân”.
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật.
2,004
Đề bài: Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Tú Xương Bài làm Có lẽ đây là bức tranh sinh động và chân thực nhất về tình hình xã hội thi cử của Việt Nam buổi giao thời trong chế độ thực dân và phong kiến. Bức tranh miêu tả quang cảnh kì thi Hương cuối mùa, lố lăng, trơ trẽn, bộc lộ nỗi nhục mất nước và niềm đau xót của một kẻ sĩ đương thời. Mở đầu bài thơ, tác giả viết: Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Hai câu thơ giới thiệu khéo léo đặc điểm của kì thi Hương này. Đặc điểm thứ nhất là cứ ba năm, "nhà nước" mở một kì thi như thế. Đó là quy định bình thường của lệ thi cử. Đặc điểm thứ hai làm cho cái bình thường đó trở nên hơi bất thường: trường Nam Định thi lẫn với trường Hà Nội. Đời nhà Nguyễn, toàn Bắc Kì có hai địa điểm thi Hương, đó là Nam Định và Hà Nội. Năm Đinh Dậu 1897, vì sợ các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta nên thực dân Pháp không cho tổ chức thi ở Hà Nội nữa, nên chính quyền nhà Nguyễn cho dồn tất cả vùng Nam Định. Chữ "lẫn" diễn tả khéo cái tính chất hỗn tạp, láo nháo, không còn thể thống gì. Cho nên, về mặt nghệ thuật, hai câu đề đã làm tốt nhiệm vụ giới thiệu của nó. Tính chất tạp nhạp, lôi thôi của thi cử lập tức hiện ra trước mắt người đọc khi bước sang hai câu thực: Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Những nhân vật trọng tâm của trường thi – sĩ tử và quan trường – được khắc hoạ rất sắc nét, bộc lộ tính cách kỳ thi và tính chất xã hội. Sĩ tử là người đi thi quan trường là những ông quan coi thi, chấm thi có trách nhiệm trong việc thi cử. Bằng nghệ thuật đảo ngữ, tác giả đã vẽ nên trước mắt người đọc hình ảnh người thí sinh lôi thôi với những chai lọ trên vai thật là xốc xếch. Chữ "lôi thôi" này đặt ở đầu câu, gây ấn tượng mạnh, làm cho hình ảnh "vai đeo” chụp được tư thế và tư cách của những kẻ một thời được mang danh là kẻ sĩ, tiêu biểu cho ý thức xã hội phong kiến. "Lọ" ở đây người có người hiểu là lọ mực, có người hiểu là lọ đựng nước uống mà thí sinh phải mang theo. Dù là hiểu theo nghĩa nào, hình ảnh "vai đeo lọ" vẫn nổi lên thật mỉa mai cái vẻ xiêu vẹo, gãy đổ, lếch thếch, chẳng ra gì của những ông cử tương lai. Đối với đám sĩ tử như thế, còn bọn quan trường cũng được Tú Xương tìm cho một từ thật xứng đáng: “Ậm oẹ quan trường miệng thét loa” Bọn sĩ tử thì "lôi thôi"; lũ quan trường thì "ậm oẹ". Ậm oẹ là một từ rất sáng tạo của Tú Xương. Lũ quan trường dùng cái loa để chỉ dẫn, điều khiển, nhắc nhở gọi tên các thí sinh. Vì vùng đất đặt trường thi rất rộng, và số thí sinh hẳn là rất đông, nên quan trường phải thét vào loa thì người ta mới nghe được. Đây là một chi tiết rất chân thực, gần như Tú Xương chỉ làm nhiệm vụ của một nhà nhiếp ảnh thu hình mà thôi. Nhưng chính từ ngữ "ậm oẹ" hết sức độc đáo này đã khiến người thợ chụp hình bình thường ấy thành một nghệ sĩ rất sắc sảo, rất thú vị. Nó bộc lộ thực chất và chân tướng tay sai của đám quan trường này. Ậm oẹ là âm thanh ú ớ, nói không thành tiếng rõ, nhưng cái giọng điệu lên gân la lối, vênh váo của những kẻ dựa hơi chứ không có thực quyền. Cho nên, nếu "thí sinh" mất đi cái vẻ nho nhã trí thức của thuở nào thì giám thị, giám khảo cũng không còn cái dáng nghiêm trang đáng tôn kính nữa. Tất cả hiện lên song song trong hai câu bình đối làm nổi bật cảnh tượng hết sức khôi hài của một trường thi. Và cảnh tượng ấy nói lên với ta bao nhiêu ý nghĩ về cái xã hội hỗn tạp, nhố nhăng trong buổi đầu của chế độ thực dân và phong kiến Việt Nam, mà triều đình nhà Nguyễn chỉ còn là cái bóng mờ thảm hại đến buồn cười. Tư tưởng đó bộc lộ rõ hơn nữa trong hai câu luận tiếp theo: “Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra.” Tác giả lại tiếp tục "tả thực" cảnh trường thi. Theo như sách sử cho biết, kì thi năm Đinh Dậu 1897 có vợ chồng tên toàn quyền Paul Doumer và vợ chồng tôn công sứ Nam Định Le Normand đến dự. Vì vậy, tả kì thi này mà thiếu cái chi tiết ấy thì là thiếu tất cả. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà một người làm thơ sành sõi như Tú Xương lại đem hình ảnh này đặt vào cặp luận của bài thơ. Nếu hai câu luận có vị trí chủ chốt trong bài thơ, thì hình ảnh của "ông Tây mụ đầm" ở đây là một phản ánh đúng bản chất xã hội Việt Nam lúc bấy giờ: xã hội nô lệ, mà người nắm thực quyền là thực dân. Hình ảnh "lọng cắm rợp trời” cho thấy cảnh tiếp đón dành cho Tây thật là long trọng, thật là kính cẩn. Hình ảnh quan Tây mụ đầm ngồi trên vị trí cao ngất đó cho thấy cảnh mất nước của chúng ta. Nhưng cái thú vị nhất trong hai câu thơ này không phải chỉ có bấy nhiêu chi tiết đó. Cái thú vị nhất chính là Tú Xương đã biến nghệ thuật làm thơ Đường thành một vũ khí sắc bén để bày tỏ thái độ của mình đối với cái mà mình không ưa thích. Lợi dụng nghệ thuật đối, Tú Xương, đã đặt cái "váy" của bà đầm ngang với cái "lọng" của ông Tây. Nói cách khác, ghép hai hình ảnh đó với nhau, cho nó đối nhau, Tú Xương đã chơi một vố rất đau và rất thẳng tay đối với lũ quan Tây. Và cũng trong nghệ thuật đối, "quan sứ" đối với "mụ đầm" là một dụng ý của Tú Xương. Quan sứ là chữ trang trọng để gọi ông Tây, nhưng "mụ đầm" là chữ "chơi xỏ", là chữ để chửi. Mụ là tiếng gọi hạng đàn bà không ra gì. Gọi ông quan Tây thì trang trọng, nhưng gọi vợ ông quan là con mụ chẳng ra gì, đó là một cách chửi của Tú Xương. Người ta nói "văn học là suy tư chứ không phải là miêu tả". Chính ở trong trường hợp này, qua miêu tả, nhà thơ Tú Xương đã thể hiện một suy tư sắc sảo, một thái độ phê phán sắc bén. Cho nên, đậm đà chất hiện thực, nhưng thơ Tú Xương không phải chỉ là hiện thực đơn điệu, lạnh lùng, ở trong hiện thực mà ông phơi bày có cơn giận và niềm đau của tâm hồn, của tấm lòng con người. Cho nên, không lạ gì, đứng trước cảnh oái oăm và nhục nhã ấy, nhà thơ đã buột miệng thốt lên: Nhân tài đất Bắc nào ai đó, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà. Đất Bắc chỉ vùng Hà Nội, kinh đô của ngàn năm văn vật, nơi tụ hội của nhân tài đất nước. Câu thơ là một tiếng kêu than đối với chính mình hay là một lời kêu gọi đối với những ai còn nghĩ tới cái nhục mất nước, còn tự hào về truyền thống của dân tộc? Âm điệu câu thơ có cái gì xót xa, cho thấy tâm trạng xốn xang của chính nhà thơ. Nhân tài ở đây chỉ ai, nếu không phải là nhằm tới những người trí thức của thời đại đã từng đi qua cái cửa của trường thi này? Kết thúc bài thơ "Chạy Tây", Nguyễn Đình Chiểu cũng kêu gọi: Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng, Nỡ để dân đen mắc nạn này? Đối với hai tâm trạng, ta thấy có chỗ khác nhau mặc dù mỗi người để bộc lộ nỗi đau xót của mình trước cảnh nước mất nhà tan. Ở Nguyễn Đình Chiểu, lời kêu gọi của ông nhắm tới những người "dẹp loạn". Điều đó đã bộc lộ ý thức đánh giặc, và quyết tâm "dẹp loạn" của nhà thơ ca ngợi và chủ xướng quan niệm "Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây". Ở Trần Tế Xương, lời kêu gọi của ông không thể hiện một tư tưởng quyết liệt như vậy. Nó chỉ gợi lên một nỗi nhục mất nước đang sờ sờ trước mắt mà có người còn không thấy, có kẻ còn làm ngơ, quay mặt đi như vậy, nên Tú Xương mới kêu gọi "ngoảnh cổ mà trông". Ngoảnh cổ là một từ rất bạo của Tú Xương. Chữ "ngoảnh cổ" của Tú Xương rất hình ảnh và biểu cảm, loại hình ảnh biếm họa của truyện cười. Cho nên không phải đến hai câu kết, cái cười của Tú Xương chợt tắt để nhường chỗ cho nỗi đau của ông. Mà ngay ở trong cái cười ấy, và vẫn cái cười sâu cay ấy, tiếng lòng của ông bật ra như một giọt nước mắt rơi xuống bất ngờ. 3. Vì vậy, không có gì là khó hiểu khi có người cho rằng "thơ Tú Xương” đi bằng cả hai chân: hiện thực và trữ tình, mà cái chân hiện thực ở người Tú Xương chỉ là một cẳng chân trái (Nguyễn Tuân). Trên đôi chân đó, mà cái chân trữ tình là chủ yếu qua bài thơ "Vịnh khoa thi Hương", Tú Xương đã vẽ lại cái cảnh trường thi nhỏ thôi mà bộc lộ được bản chất của cả xã hội Việt Nam.
Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Tú Xương
1,695
Phân tích bài thơ Vịnh Khoa Thi Hương Hướng dẫn Phân tích bài thơ Vịnh Khoa Thi Hương Trần Tế Xương thường được gọi là Tú Xương vì đi thi tới Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy nên chỉ đỗ Tú tài. Tuy nhiên. Ông có tài năng thơ ca, đặc biệt là thơ trào phúng. Vịnh khoa thi Hương là một tác phẩm nổi bật cho phong cách đó của ông. “Có người cho rằng Vịnh khoa thi Hương là tiếng khóc nhưng lại có người cho đó là tiếng cười châm biếm sâu cay của Trần Tế Xương trước thời cuộc lúc bấy giờ.” Cả hai nhận xét trên đều đúng. Bài thơ đã thể hiện thái độ mỉa mai căm uất của Tú Xương đối với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường thi cử gian nan, lận đận của riêng ông. Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Long cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra. Nhân tài đất Bắc nào ai đó, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà. Bài thơ là bức biếm họa toàn cảnh khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) Vì tình hình chính trị bất ổn nên sĩ tử ở Hà Nội phải xuống thi chung với sĩ tử của trường thi Nam Định. Chính vì thế mà quang cảnh lộn xộn, trái hẳn với không khí trang nghiêm vốn có chốn cửa Khổng sân Trình. Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Hai câu đề đơn thuần mang tính chất thông báo, nhưng đốn câu thừa đề thì ý châm biếm của tác giả đã bộc lộ qua từ lẫn. Từ đó mọi chuyện bát nháo, nực cười nơi trường thi cũng khởi nguồn từ sự chung đụng lẫn lộn này. Tiếp theo hai câu thực: Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Với kết cấu đảo ngược đưa tính từ lên vị trí đầu câu, Tú xương đã đặc tả cảnh tượng đáng buồn của một trường thi ở giai đoạn chữ Hán đang bị chữ quốc ngữ đẩy lùi. Ngày xưa, sĩ tử đi thi phải mang theo lều chõng, cơm nước, tráp để đựng bút, giấy, nghiên mực… và một ống quyển để đựng quyển thi. Cùng với lọ ở đây là lọ nước uống. Trông họ lôi thôi, lại chen lấn, xô đẩy nên càng giống một đám đông hỗn loạn ngoài đường ngoài chợ chứ không phải ở chốn trường thi vốn dĩ uy nghiêm. Đến hai câu luận: Long cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra. Tú Xương tiếp tục tả thực cái “chợ phiên” chữ nghĩa ấy với những chi tiết vô cùng độc đáo bằng bút pháp trào lộng sắc sảo. Biết bao là trớ trêu, ngậm ngùi ẩn chứa trong khung cảnh ấy. Để chứng tỏ sự quan tâm của “mẫu quốc”, tên toàn quyền Pôn Đu-me (Paul Doumer) cùng vợ đã đến dự khai mạc trường thi cho thêm phần long trọng. Con mắt tinh đời và tâm trạng phẫn uất của Tú Xương đã giiúp mọi người nhận ra nỗi nhục mất nước qua hai hình ảnh tương phản trong hai câu thơ đối nhau chan chát là: Cờ của triều đình phong kiến bán nước đối với Váy của vợ tên quan thực dần cướp nước. Ngậm ngùi, cay đắng biết bao nhiêu! Dâu không có giọt nước mắt nào nhưng người đọc thấy rõ là nhà thơ đang cắn răng cố nuốt tiếng khóc vào trong, ông khóc vì quốc thể bị xúc phạm, khóc vì nỗi nhục nô lệ của giới trí thức nói riêng và cả dân tộc nói chung. Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà. Nhân tài đất Bắc là cách gọi mỉa mai của Tú xương đối với đám Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ đang chen chúc chốn trường thi nhốn nháo đúng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong đám đông ấy, hỏi có ai nghĩ tới cảnh nước nhà đáng đau, đáng hận; hay chỉ chúi mũi chúi tai tranh nhau cố kiếm miếng đinh chung mà quay lưng ngoảnh mặt làm ngơ?! Nhiều người có cùng một nhận xét là trong thơ Trần Tế xương, sự kết hợp hài hoà, chặt chẽ giữa tính hiện thực và tính trữ tình được thể hiện khá rõ. Có thể coi bài Vịnh khoa thi Hương này là một ví dụ tiêu biểu. Đằng sau tiếng cười châm biếm mang ý nghĩa xã hội sâu xa là tiếng khóc ngậm ngùi, nuối tiếc cho nền Hán học suy tàn và tất cả những gì từng được coi là tinh hoa của nó đã bị đẩy lùi trước làn sóng văn hoá phương Tây đang tràn vào nước ta theo bước chân của đạo quân viễn chinh xâm lược Pháp. Vịnh khoa thi Hương quả là một tác phẩm để đời!
Phân tích bài thơ Vịnh Khoa Thi Hương
833
Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố của Lí Bạch Hướng dẫn I. Mở bài: – Thiên nhiên chiếm một vị trí sang trọng trong hồn thơ Lí Bạch. Với thanh kiếm hiệp sĩ và bầu rượu, túi thơ, Thi tiên đã đi tới mọi chân trời góc bể. Ở đâu có cảnh đẹp là ông tìm đến thăm thú, thưởng ngoạn và để thơ. – Núi Hương Lô, thác núi Lư ở Giang Tây, Trung Quốc là một danh lam thắng cảnh. Bài ‘Vọng Lư Sơn bộc bố’ (Xa ngắm thác núi Lư) của Lí Bạch viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng): – Có thể dẫn nguyên tác hoặc bài thơ dịch? – Bài thơ tả.cảnh thác núi Lư tráng lệ với cảm xúc mạnh mẽ, ấn tượng sâu sắc của Lí Bạch khi đứng từ xa say sưa ngắm nhìn. II. Thân bài: Cảnh đẹp thác núi Lư được tả bằng mắt và bằng tưởng tượng vì nhà thơ đứng ở một nơi rất xa ngắm thác. – Câu thứ nhất tả núi Hương Lô (núi tựa như là cái lò hương thiên tạo khổng lồ) được ánh mặt trời chiếu xuống, rọi vào, sinh ra muôn ngàn làn khói tía (tím đỏ) Vôcùng huyền ảo rực rỡ. Một nét vẽthơ mộng: ‘Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên’ (Nắng rọi Hương Lô khói tía bay) – Gâu thứ hai, tả vị trí ngắm thác, ở một nơi rất xa. Núi cao, thác cao, tưởng như thác treo trên dòng sông lơ lửng, cheo leo ở phía trước. Chữ Hán ‘quải’ nghĩa treo, một động từ tả hình dáng thác núi Lư! Bó là một thi nhãn rất hình tượng và gợi cảm: (Xa trông dòng thác trước sông này) Câu thơ dịch rơi mất chữ ‘quải’. Hai câu thơ đầu có năm chi tiết được nói đến, có núi, thác và sông, có ánh mặt trời và làn khói tía. Chữ ‘sinh’ là một vẻ động rất thần tình, gợi tả vẻ đẹp huyền diệu của núi và thác. – Câu thơ thứ ba tả độ cao, chiều dài, tốc độ của dòng thác. ‘Phi lưu trực há’nghĩa là chảy như bay đổ thẳng xuống, đó là độ cao, là tốc độ mạnh ghê gớm của dòng thác. Con số ước lượng ba nghìn thước tả chiều dài: chảy bay (phi lưu), các tính từ – trạng ngữ: thẳng xuống (trực há) là những vẻ động, rất thần tình: ‘Phi lưu trực há tam thiên xích’ (Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước) – Câu thơ thứ tư là lời thốt lên vô cùng ngạc nhiên và thú vị của Thi tiên Lí Bạch: ‘Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên’ (Tưởng dài Ngân Hà tuột khỏi mây) Với trí tưởng tượng phi thường và cảm xúc lãng mạn bay bổng, Lí Bạch sử dụng thủ pháp nghệ thuật so sánh va thậm xưng để ví thác núi Lư kì vĩ, tráng lệ như dải Ngân Hà lấp lánh… triệu vì sao trên bầu trời. Dải Ngân Hà ấy đã rơi tự chín tầng mây cao xuống. Chữ ‘lạc’ nghĩa là rơi, rụng, là thi nhãn trong câu thơ tuyệt cú. – Nét đặc sắc, độc đáo của bài ‘Vọng Lư Sơn bộc bố’ là thủ pháp lấy diện để tô đậm điểm. Trên cái nền núi sông làn khói tía, Ngân Hà, chín tầng mây của bầu trời bao la, kì vĩ hiện lên thác núi Lư. Các động từ: chiếu, sinh, quải, phi lưu, lạc – là những nét vẽ đẹp rất gợi hình và gợi cảm. Hình ảnh so sánh thác núi Lư với dải Ngân Hà tuột khỏi mây là một sáng tạo kì diệu thể hiện một bút pháp nghệ thuật lãng mạn bay bổng. – ‘Vọng Lư Sơn bộc bô’thể hiện một tình yêu thiên nhiên say đắm, một sự cảm mến nồng hậu trước vẻ đẹp gấm vóc của giang sơn.
Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố của Lí Bạch
646
Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố hay Hướng dẫn Vọng Lư Sơn bộc bố Lí Bạch (701 – 762) Nhật chiếu Hương Lô sinh tủ yên, Dao khan bộc bốquải tiền xuyên. Phỉ lưu trực há tam thiên xích, Nghi thị Ngán Hà lạc cửu thiên. Dịch nghĩa. Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía, Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước. Thác chảy như say đổ thẳng xuống ba nghìn thước, Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây. Dịch thơ. Xa ngắm thác núi Lư Lí Bạch (701 – 762) Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây. … đất nước, coi thường công danh, coi trọng tình bằng hữu, sống hào hiệp, nghĩa khí. Lí Bạch để lại trên một nghìn bài thơ, với phong cách lãng mạn bay bổng, tràn đầy cảm xúc và tưởng tượng, khắc họa thành công những hình tượng kì vĩ, hào hùng. Lí Bạch đi nhiều, hầu như các danh lam thắng cảnh trên đất nước Trung Hoa bao la, ông đều đặt chân tới và làm thơ. ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là một trong những bài thơ tả cảnh tuyệt bút của ông: ‘Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây’ Núi Hương Lô trong dãy Lư Sơn trùng điệp ở tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Hương Lô nghĩa đen là lò hương; dáng núi như vậy nên mới được đặt tên là Hương Lô. Núi cao có mây khói bao phủ, xa trông như chiếc lò hương thiên tạo khổng lổ. Hương Lô càng trở nên nổi tiếng nhờ có thác đẹp, nhất là những ngày rực nắng, trời xanh trong. Hai câu đầu cho thấy Lí Bạch đứng xa ngắm thác: ‘Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này’ Sau gần 13 thế kỷ, không biết Lí Bạch đến thăm thác núi Lư vào buổi sáng hay buổi chiều, chỉ biết đó là một ngày rất đẹp có ‘nắng rọi’. Lưu truyền tiếng thác ‘như sấm động, như ngàn vạn con ngựa Hí vang trời’. Ớ đây, nhà thơ không tả âm thanh của tiếng thác mà chí tả bằng mắt vì đứng rất xa ngắm thác. Nắng chiếu xuống núi, chiếu xuống thác ‘khói tía bay’ mù mịt, bao phủ một vùng bao la. ‘Khói tía’ là khói màu đỏ pha tím sẫm. Thác núi Lư phản quang ánh mặt trời, du khách đứng xa tường như nhìn thấy Hương Lô có hàng ngàn vạn mảnh trầm, có muôn triệu cây hương đốt lên ‘khói tía bay’ trông rất ngoạn mục. Hình ảnh vừa thực vừa ảo làm hiện lên vẻ đẹp kỳ lạ của thác núi Lư. Câu thơ đầy màu sắc: màu trắng của thác, màu xanh của núi, màu vàng của nắng và màu tía của sương khói. Đằng sau câu thơ, người đọc cảm thấy Thi tiên đang đứng lặng trầm ngâm và say sưa ngắm thác núi Lư. Thác núi Lư trong xa như dòng sông treo trước mặt: Tường dải Ngân Hù tuột khỏi mây’ Từ núi cao, thác đổ xuống, trút xuống, ‘nước bay thẳng xuỗng’, tạo thành dòng trắng xóa ‘ba nghìn thước’. Trước cảnh tượng hùng vĩ lạ lùng ấy, Lí Bạch thốt lên ngạc nhiên… Với cảm hứng lãng mạn, nhà thơ đã sáng tạo nên một hình ảnh ẩn dụ để so sánh thác núi Lu với ‘dải Ngân Hà tuột khỏi mây’. Một nét vẽ phóng đại thần tình ca ngợi công trình tráng lệ và kỳ vĩ của tạo hóa. Nói rằng thơ Lí Bạch tràn đầy hùng tâm và tráng chí là như vậy. Với một tình yêu thiên nhiên đến say đắm, với một trí tưởng tượng đến phi thường, Thi tiên đã để lại một bức tranh hoành tráng về thác núi Lư bằng ngôn ngữ thi ca hiếm có. Hơn một thiên niên kỉ trôi qua, đã mấy ai được đến núi Lư Sơn Trung Quốc ngắm thác trong ‘nắng rọi’? Quả vậy, thác núi Lư làm cho thơ Lí Bạch trở nên vĩnh hằng, và thơ Lí Bạch cũng góp phần làm cho cảnh thác núi Lư kì vĩ in sâu vào tâm hồn nhân loại. Bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Trí tưởng tượng hiếm có, nét vẽ thậm xưng tráng lệ, cảm hứng lãng mạn dạt dào là những yếu tô’ đã làm nên cốt cách áng thơ kiệt tác này. Qua bài thơ, ta thấy rõ hồn thơ Lí Bạch: một tình yêu lớn đối với thiên nhiên và đất nước. Nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước Trung Hoá đã soi bóng vào thơ Lí Bạch, để từ đó đi sâu vào lòng người khắp mọi nơi trên hành tinh. Bài thơ ‘Xa ngắm thác núi Lư’ đã mở rộng tầm nhìn, làm phong phú hơn tâm hồn chúng ta trong cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên, nàng tâm hồn chúng ta lên một tầm cao nhân văn khi tiếp cận các danh lam thắng cảnh trong và ngoài nước.
Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố hay
869
Đề bài: Phân tích bài thơ Vọng Nguyệt – Ngắm trăng của Hồ Chí Minh Bài làm Sinh thời, Bác Hồ luôn chú tâm chăm lo cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, Người không có ham muôn trở thành một nhà thơ nhưng như đã có lần Bác viết: “Ngâm thơ ta vốn không ham Nhưng ngồi trong ngục biết làm sao đây?” Hoàn cảnh “rỗi rãi” khiến Người đến với thơ ca như một kì duyên. Trong những năm tháng bị giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch, Bác đã có một bài thơ thật hay: “Vọng nguyệt”. “Ngục trung vô tửu diệc vô hoa Đối thử lương tiêu nại nhược hà? Nhăn hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia" Bài thơ được dịch là “Ngắm trăng”: "Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” Thi đề của bài thơ là “Vọng nguyệt” – “Ngắm trăng”. Người xưa ngắm trăng trên những lầu vọng nguyệt, những vườn hoa với bạn hiền, túi thơ, chén rượu.. Nhưng nay, Bác ngắm trăng trong hoàn cảnh thật đặc biệt: “Trong tù không rượu cũng không hoa” Câu thơ hé mở bao điều bất ngờ. Người ngắm trăng là một người tù không có tự do “trong tù”. Trong hoàn cảnh ấy, con người thường chỉ quay quắt với cái đói, cái đau và sự hận thù. Nhưng Hồ Chí Minh với tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết, Người lại hướng đến ánh trăng trong sáng, dịu hiền. Chẳng những vậy, chốn ngục tù tăm tối ấy “không rượu cũng không hoa”. Từ “diệc” trong nguyên văn chữ Hán (nghĩa là “cũng”) nhấn mạnh những thiếu thốn, khó khăn trong điều kiện “ngắm trăng”của Bác. Không tự do, không rượu, không hoa nhưng “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?” – Đối diện với ánh trăng sáng ta biết làm sao đây? Nguyên văn chữ Hán là một câu hỏi đầy bối rối, đầy băn khoăn của tâm hồn thi nhân trước vẻ đẹp trong sáng, tròn đầy của ánh trăng. Không có những điều kiện vật chất tối thiểu, không có cả tự do nhưng ở Hồ Chí Minh đã có một cuộc “vượt ngục tinh thần” vô cùng độc đáo như Bác đã từng tâm sự: “Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao” Thể xác bị giam cầm nhưng tâm hồn Bác vẫn bay bổng với thiên nhiên. Điều đó được lí giải bởi tình yêu của Bác đối với thiên nhiên và còn bởi một tinh thần “thép” không bị khuất phục bởi cái xấu, cái ác. Trăng trong sáng, lòng người cũng trong sáng nên giữa trăng và người đã có sự giao hòa tuyệt vời: “Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia” Bản dịch thơ: "Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe của ngắm nhà thơ” Trong bản nguyên tác chữ Hán, nhà thơ sử dụng phép đối giữa hai câu thơ “nhân” – “nguyệt”, “hướng” – “tòng”, “song tiền” – “song khích”, “minh nguyệt” – “thi gia”. Điều đó thể hiện sự đồng điệu, giao hòa giữa người và trăng để trăng và người giống như đôi bạn tri âm tri kỉ. “Nhân” đã chẳng quản ngại cảnh lao tù mà “hướng song tiền khán minh nguyệt”. Trong tiêng Hán, “khán” có nghĩa là xem, là thưởng thức. Đáp lại tấm lòng của người tù – thi nhân, vầng trăng cũng “tòng song khích khán thi gia”. Trong tiếng Hán, “tòng” là theo; trăng theo song cửa mà vào nhà lao “khán” thi gia. Đó là một cảm nhận vô cùng độc đáo. Vầng trăng là biểu tượng cho vẻ đẹp vĩnh hằng của vũ trụ, là niềm khát vọng muôn đời của các thi nhân. Vậy mà nay, trăng lên mình qua song cửa hẹp, đặt chân vào chốn lao tù ẩm ướt hôi hám để chiêm ngưỡng nhà thơ hay chính là tâm hồn nhà thơ vậy. Điều đó đã khẳng định vẻ đẹp trong con người Hồ Chí Minh. “Vọng nguyệt” ra đời trong những năm 1942 – 1943 khi Bác Hồ bị giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch. Bài thơ thể hiện phong thái ung dung, coi thường hiểm nguy gian khổ của Bác. Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, Người cũng hướng đến thiên nhiên bộc lộ tấm lòng ưu ái rộng mở với thiên nhiên. Đó là một trong những biểu hiện quan trọng của tinh thần thép Hồ Chí Minh. “Vọng nguyệt” không chỉ là một bài thơ tả cảnh đơn thuần. Thi phẩm còn là một bức tranh chân dung tinh thần tự họa của Hồ Chí Minh. Và như thế, bài thơ thực sự là một thi phẩm đáng trân trọng trong kho tàng thi ca Việt Nam.
Phân tích bài thơ Vọng Nguyệt – Ngắm trăng của Hồ Chí Minh
805
Đề bài: Phân tích bài thơ Vội Vàng của nhà thơ Xuân Diệu Bài làm Tuổi trẻ mỗi đời người chỉ có một, chính vì vậy, ai cũng phải biết trân trọng, sống hết mình với tuổi trẻ. “Vội vàng” là bài thơ độc đáo nhất, “mới nhất” của thi sĩ Xuân Diệu in trong tập “Thơ Thơ” (1933-1938) – đóa hoa đầu mùa đầy hương sắc làm rạng danh một tài thơ thế kỉ. … “Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”… (…) Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn…”. Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, nhạc điệu,vần điệu “Vội vàng” cứ ngân vang dào dạt mãi trong lòng ta, tình yêu đời, yêu sống như tát mãi không bao giờ vơi cạn… Cảm thức về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ… như những lớp sóng vỗ vào tâm hồn ta. “Vội vàng” là bài thơ độc đáo nhất, “mới nhất” của thi sĩ Xuân Diệu in trong tập “Thơ Thơ” (1933-1938) – đóa hoa đầu mùa đầy hương sắc làm rạng danh môt tài thơ thế kỉ. Bài thơ “Vội vàng” nói lên nhịp điệu sống, khát vọng sống của tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Một đời người chỉ có một lần tuổi trẻ. Phải biết trân trọng, quý trọng và sống hết mình với tuổi trẻ, với mùa xuân và với thời gian. Trong “Tiểu dẫn” về bài thơ “Vội vàng” này (Văn 11) Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống”. Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa trên “đồng nội xanh rì”, của lá “cành tơ phơ phất”. “Tuần tháng mật” của ong bướm. “Khúc tình si” của yến anh. “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”. Chữ “này đây” được 5 lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu. Vì lẽ đó nên phải vội vàng “tắt nắng đi” và “buộc gió lại”. Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn. Tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Bình minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất của một ngày, đó là lúc “thần vui hằng gõ cửa”. Tháng giêng là tháng khởi đầu của mùa xuân, “ngon như cặp môi gần”. Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa mới lạ vừa táo bạo. Chiếc môi ấy chắc là của giai nhân, của trinh nữ. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20 tuổi – cái tuổi thanh niên bừng sáng. Nhưng thi sĩ đã “vội vàng một nửa”, một cách nói rất thơ – chẳng cần đến tuổi trung niên (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niên. Dấu chấm giữa dòng thơ, rất mới, thơ cổ không hề có. Như một tuyên ngôn “vội vàng”: “Tháng giêng ngon như cặp môi gần Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Vội vàng vì thiên nhiên quá đẹp, vì cuộc sống quá yêu, vì tuổi trẻ quá thơ mộng. Đang tuổi hoa niên mà đã “vội vàng một nửa”.. cảm thức của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất hồn nhiên, mới mẻ. Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói. Thời gian là vàng ngọc. Bóng ngả lưng ta. Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mã) vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Thời gian một đi không trở lại. Xuân Diệu cũng có một cách nói rất riêng: tương phản đối lập để chỉ ra cái “lượng trời” cho một đời người chỉ có một thời xuân xanh mà tuổi trẻ một đi qua không bao giờ trở lại: “Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…”. Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương phản đối lập: tới – qua, non – già, rộng – chật, tuần hoàn – bất phục hoàn, vô hạn – hữu hạn – để khẳng định một chân lí – triết lí: tuổi xuân một đi không trở lại, phải quý tuổi xuân. Cách nhìn nhận của thi nhân về thời gian cũng rất tinh tế độc đáo, nhạy cảm. Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và đã hé lộ mầm tương lai, cái đang có lại đang mất dần đi… Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn “chia phôi”, hoặc “tiễn biệt”, nên phải “hờn” vì xa cách, phải “sợ” vì “độ phai tàn sắp sửa”. Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời. Nói cảnh vật thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương “vội vàng” của tạo vật. Với Xuân Diệu hầu như cuộc sống nơi “vườn trần” đều ít nhiều mang “bi kịch” về thời gian: “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”. Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió khẽ “thì thào” vì “hờn”, còn “chim” thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lí giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian: “Con gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?” Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối, lo lắng và chợt tỉnh vì “mùa chưa ngả chiều hôm”, nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già. Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng: “Chẳng bao giờ / ôi / chẳng bao giờ nữa… Mau đi thôi / mùa chưa ngả chiều hôm”. Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm “Thơ tiếc cảnh”: – “Xuân xanh chưa dễ hai phen lại Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên”. (Bài số 3) – “Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm”. (Bài số 7) Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong “Vội vàng” về màu thơi gian, về sắc thời gian, về tuổi trẻ. Thật yêu đời, thật ham sống. Mở đầu bài thơ là cái tôi hăm hở “tôi muốn tắt nắng đi”. Kết thúc bài thơ là “ta”, là mọi tuổi trẻ. Một sự hòa nhập và đồng điệu trong một đời người, trong dòng chảy thời gian: sống mãnh liệt, sống hết mình. Sống nồng nàn say mê. Nghệ thuật trùng điệp trong diễn tả gợi lên cái ham hố, yêu đời. Ngôn từ đậm màu sắc cảm giác, xúc giác, rạo rực: “Ta muốn ôm”, “Ta muốn riết… Ta muốn say… Ta muốn thâu…”: “Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong mỗi cái hôn nhiều Và non nước, và cây và cỏ rạng”. Sống cũng là để yêu, yêu hết mình. Thơ hay vì màu sắc lãng mạn. Vì giọng thơ sôi nổi. Nghệ thuật “vắt dòng” với ba từ “và” đồng hiện trong một dòng thơ làm nổi bật cảm xúc. Say mê vồ vập cảnh đẹp, tình đẹp nơi vườn trần. Tất cả mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng… đều là nỗi niềm khao khát của thi nhân: “Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào người!”. Sống vội vàng không có nghĩa là sống gấp, sống ích kỉ trong hưởng thụ. “Vội vàng” thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Biết quý trọng thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ, biết sống cũng là để yêu; tình yêu lứa đôi, tình yêu tạo vật. Tình cảm ấy đã thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ, cấp tiến. Bảy thập kỉ sau bài thơ “Vội vàng” ra đời, nhiều câu thơ của Xuân Diệu vẫn còn làm cho không ít người ngỡ ngàng! Xuân Diệu đã sống “Vội vàng” như vậy. Với hơn 50 tác phẩm, hơn 400 bài thơ tình, ông đã góp phần làm giàu đẹp cho nền thi ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ “Vội vàng” cho thấy một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, rất nhân văn, một giọng thơ sôi nổi, dâng trào và lôi cuốn, hấp dẫn. Có chất xúc giác trong thơ. Có cách dùng từ rất bạo, cách cấu trúc câu thơ, đoạn thơ rất tài hoa. “Vội vàng” tiêu biểu nhất cho “Thơ mới”, thơ lãng mạn 1932-1941. Nhà thơ Xuân Diệu đã đi vào thế giới vĩnh hằng những tao nhân mặc khách, nhưng ta vẫn cảm thấy ông đang hiện diện giữa cuộc đời và hát ca: – “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” – “Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ! Em, em ơi! Tình non sắp già rồi…”
Phân tích bài thơ Vội Vàng của nhà thơ Xuân Diệu
1,616
Đề bài: Phân tích bài thơ Vội Vàng và sức hấp dẫn của nó Bài làm Không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam (1941) đã thận xét về thơ Xuân Diệu: Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết. Thât vậy, đọc Vội vàng chúng ta mới thấy hết được nguồn sống rào rạt chưa từng thấy đó và cũng chính nó tạo nên sức hấp dẫn cùa bài thơ. Dựa theo nội dung hình tượng và lối chuyển đổi xưng hô, chúng ta có thể cảm nhận bài thơ theo bố cục hai phần rõ rệt: Phần đầu (Từ Tôi muốn tắt nắng đi cho đến Mùa chưa ngã chiều hôm).ở đây thi sĩ xưng hô tôi là muốn bộc bạch với mọi người, với cuộc đời. Nội dung cảm xúc ở đây là niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian đang bày ra trước mắt như một bữa tiệc lớn dành cho giác quan và tâm hồn. Nội dung lí luận là việc lập thuyết trình bày những lí lẽ vì sao phải sống vội vàng mà chủ yếu là xuất phát từ nhận thức và quan niệm về hạnh phúc trần gian, thời gian, tuổi trẻ. Phần hai là phần còn lại, thi sĩ xưng ta là muốn đối diện với toàn thể sự sống trần gian – đối tượng cần tận hưởng. Nội dung cảm xúc đó là những vồ vập chếnh choáng của một cái tôi đầy ham hố đang muốn lận hưởng cho thật nhiều, thật đã đầy những hương sắc của trần thế. Tuy vậy, hai phần thơ lại chuyển tiếp rất tự nhiên về cảm xúc rất chặt chẽ về lí luận. Nó khiến cho bài thơ liền mạnh và hoàn chỉnh cứ như một dòng chảy ào ạt. Ngỡ như thi sĩ không phải dụng công trong việc cấu tạo, thiết lập, sắp xếp gì vậy. Đây chính là thành công cũng như sức hấp dẫn của bài thơ. Đi vào phân tích cụ thể bài thơ ta sẽ thấy điều đó. Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu thể hiện một khát vọng kì lạ đến ngông cuồng Tôi muốn tut nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi. Trong làng Thơ mới, Chế Lan Viên thấy cuộc đời tất cả là vô nghĩa, là khổ đau. Không thích mùa xuân, người thanh niên này muốn ngăn bước chân nó bằng những gì sót lại từ mùa thu trước. Những lá vàng rơi, muôn cánh hoa tàn.. với cả thu góp lại tạo nên một hàng rào tâm tưởng để chắn nẻo xuân sang, ở bài Vội vàng, Xuân Diệu dường như lại có thái độ khác hẳn, thi sĩ cũng muốn đoạt quyền của tạo hoá: muốn tắt nắng, muốn buộc gió để cho hương sắc của mùa xuân đừng bay đi. Bằng lối điệp ngữ, điệp cấu trúc câu, nhà thơ đã diễn là điều này một cách thành công. Sở dĩ Xuân Diệu có khát vọng kì lạ đó là do dưới con mắt của ông mùa xuân đầy sức hấp dẫn, đầy sức quyến rũ: Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Đây lá cùa cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si. Mùa xuân – mùa của tình yêu, của sự sống đã đi vào trong thơ ca hàng nghìn năm, nhưng trước Xuân Diệu có lẽ chưa ai có tứ thơ, lời thơ tương tự. Đây là mùa xuân tươi đẹp, bướm ong dập dìu, chim chóc ca hát, lá non phơ phất trên cành hoa nở trên đồng nội…, đáng nói hơn là vạn vật căng đầy tràn trề sức sống, giao hoà, vui sướng. Bằng cách sử dụng linh hoạt, dồn dập các điệp lừ, điệp ngữ của, này đây, những dòng thơ trên tạo cho người đọc ấn tượng một mùa xuân viên mãn, thiên nhiên phong phú bất tận như chờ đợi, như chào mời sẵn sàng dâng hiến, trao tặng cho con người Táo bạo nhất, mới mẻ nhất có lẽ chính là mât câu thơ tiếp: Và này đây ánh súng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Mỗi buổi sáng, thi sĩ thức dậy, mở mắt ra là được chứng kiến một cảnh tượng mới mẻ, diễm lệ: ánh bình minh rực rỡ chiếu sáng thế giới. Nguồn ánh sáng ấy phát ra từ đôi mắt xinh đẹp của người thiếu nữ, mỗi lần nàng chớp chớp hàng mi. Trong một bài thơ khác, Xuân Diệu đã lấy lại hình ảnh gợi cảm này: Tà áo mới cũng say màu gió nước Rặng mi dùi sao động ánh dương vui. (Xuân đầu) Thơ Xuân Diệu câu nào cũng xanh non, biếc rờn. Song ấn tượng nhất, tươi đep nhất vẫn là câu: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Nhà thơ có sự so sánh thật táo bạo, thiên về cảm giác gây được ấn tượng mạnh cho người đọc. Dưới con mắt của thi sĩ mùa xuân tựa hồ như một cô gái kiều diễm, hồng hào, tình tứ, đầy hấp dẫn… ở đây, con người là một thiếu nữ – sản phẩm kì diệu của tạo hoá. được Xuân Diệu coi là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên thế gian này. Xuất phát từ quan niệm thẩm mĩ này, Xuân Diệu sáng tạo ra nhiều câu thơ khỏe khoắn, mới lạ đầy sức hấp dẫn: …Lá liễu dài như một nét mi …Hơi gió thở như ngực người yêu dấu… Như vậy, bằng cặp mắt lạc quan, Xuân Diệu đã nhìn cuộc đời, vạn vật có nhiều điểm khác so với các nhà thơ cũ, ông phát hiện ra ở thiên nhiên, ở con người gần gũi bình dị quanh ta đây biết bao điều mới lạ thật đáng yêu, đáng quý. Cuộc đời là thế! Thật đẹp và hấp dẫn nhưng không ai có thể sống mãi mãi để tận hưởng mọi lạc thú. Nãm tháng chảy trôi, tuổi xuân một đi không trở lại, chúng là thời gian ăn cuộc đời. Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa lù xuân sẽ già. Cách thức trình bày của Xuân Diệu là chống lại quan niệm của thơ cũ. Trong thơ xưa, quan niệm thời gian là túần hoàn. Nghĩa là thời gian được hình dung như một vòng liên tục tái diễn, hết vòng này lại đến vòng khác cứ trở đi rồi trở lại mãi mãi. Quan niệm đó xuất phái từ cái nhìn tĩnh, có phần siêu hình, lấy sinh mệnh vũ trụ làm thước đo thời gian. Bác bỏ quan niệm khác là thời gian tuyến tính. Nghĩa là thời gian được hình dung như một dòng chảy xuôi chiều, một đi không trở lại. Vì thế mỗi khoảnh khắc trôi qua là vĩnh viễn mất đi. Quan nệm này xuất phát từ cái nhìn động, biện chứng về thời gian: Xuân đương tới nghĩa lù xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già. Cho nên, thi sĩ không chờ nắng hạ mới hoài xuân. Thực ra, thơ xưa không ít bài than thở về sự hạn hữu của kiếp người, cổ nhân từng coi đời người trôi qua nhanh chóng chẳng khác gì bóng ngựa qua cửa sổ. Nhưng người xưa không vì thế mà hoảng hốt. Họ quan niệm vũ trụ sẽ nhập thêm cái vĩnh cửu của đất trời. Là người của thời đại, của Thơ mới, Xuân Diệu chỉ thấy thời gian một đi không trở lại và vũ trụ là thế giới khách thể độc lập với con người. Với sự thức tỉnh ý thức cá nhân, nhà thơ cảm nhận thâm thía hơn ai hết sự thật đáng buồn: Tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại, cho đù mùa xuân cùi đất trời vẫn cứ tuần hoàn, vũ trụ có thể vĩnh hằng. Đến đây, cái tươi vui rạo rực ở phần trên đường như đã tan biến, nhường chỗ cho một nỗi u buồn nuối tiếc không nguôi cuộc sống tươi đẹp trên thế gian này. Nỗi buồn ở đây chẳng qua là một cách biểu hiện khác của lòng ham sống, lòng yêu đời thiết tha, say đắm. Tinh cảm mãnh liệt này đã được diễn đạt một cách tài hoa, bằng chính những hình ảnh, màu sắc đầy quyến rũ của mùa xuân, mà ít nhiều la đã gặp ở phần đầu bài thơ: Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Cách cảm nhận về thời gian như vậy xét đến cùng là xuất phát lừ ý thức sâu xa về giá trị của sự sống cá thể. Mỗi khoảnh khắc trong đời sống cá thể đều vô cùng quý giá. Phải chăng vì ý thức rất rõ không có gì ngăn cản được bước đi của mùa xuân, của đời người nên trong tâm tưởng thi sĩ: Cảnh xuân càng trở nên lộng lẫy, cuộc đời càng đáng sống đáng yêu bội phần? Điều này cũng giải thích thái độ ngông cuồng của tác giả muốn đoạt quyền của tạo hoá để tắt nắng, buộc gió ở đầu bài thơ. Và đương nhiên, khát vọng này không bao giờ có thể thành hiện thực. Nhà thơ ham sống cũng phải tuân theo quy luật khắc nghiệt của đất trời. Do đó, chỉ còn một cách duy nhất là phải sống vội vàng, sống cuống quýt, tận dụng cao độ từng giây, từng phút của tuổi thanh xuân. Ý tưởng táo bạo này được diễn tả một cách thật mới mẻ qua đoạn thơ cuối bài: Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào người! Có thể thấy cảm xúc tràn trề, ào ạt đã khiến Xuân Diệu tìm đến một phép sử dụng ngôn từ khá đặc biệt. Đó là lạo ra những làn sóng ngôn từ đan xen nhau, cộng hưởng nhau theo chiều tăng tiến, càng lúc càng dâng lên cao trào. Trong đó việc phối hợp các hệ thống trùng điệp, lối vắt câu đã tạo nên giá trị thẩm mĩ độc đáo cho bài thơ. Toàn bộ phần cuối chính là tiếng lòng của nỗi khao khát mãnh liệt. Tiếng lòng ấy được diễn đạt qua một chuỗi điệp cú, hình thái thì điệp nguyên vẹn, còn động thái và cảm xúc thì điệp lối tăng tiến: Ta muốn ôm, Ta muốn riết, Ta muôn say, Ta muốn thâu và cuối vùng Ta muốn cắn, vì vậy tính cao trào thể hiện khá rõ. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của hệ thống điệp từ, liên từ “và”, và non nước, và cây cỏ,và cỏ rạng; giới từ điệp nguyên vẹn, gắn với những trạng thái càng lúc càng mãnh liệt: cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no nê… Ngoài ra, phải kể đến hệ thống những tính từ chỉ màu sắc, động từ chỉ động thái đắm say, những danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tươi trẻ tạo ra những hình ảnh quyến rũ: bắt đầu mơn mởn, mây đưa gió lượn, cái hôn nhiều, cỏ rụng, mùi thơ, ánh sáng, thanh sắc, thời tươi, xuân hồng… Tất cả những phương tiện ngôn ngữ và phương tiện ngôn từ ấy được dùng thuần thục tinh vi, chuyển lải được nhuần nhuyễn những tình ý mãnh liệt và táo bạo của cái tôi thi sĩ, chứng tỏ một Xuân Diệu ngay từ khi còn trẻ đã là một bậc thầy về Tiếng Việt. Vội vàng đúng là bài thơ tiêu biểu của một thi sĩ lớn luôn khao khát được giao cảm với đời. Tuy có thể còn những cách cảm nhận tác phẩm khác nhau nhìn chung, bài thơ đã giúp phần đông người đọc thêm yêu cuộc sống, biết tận hưởng niềm hạnh phúc trần thế và thêm quý trọng tuổi thanh xuân một đi không trở lại. Có lẽ chính điều này đã tạo nên tính hấp dẫn của bài thơ.
Phân tích bài thơ Vội Vàng và sức hấp dẫn của nó
2,083
Phân tích bài thơ Vội Vàng Hướng dẫn Những bài thơ hay và ấn tượng về tính yêu mãnh liệt của Xuân Diệu được lột tả qua bài thơ Vội Vàng. Dưới đây là những bài văn nổi bật phân tích cảm nhận về bài thơ Vội Vàng của nhà thơ tình Xuân Diệu. Chúc các bạn có những ý tưởng hay để làm tốt bài văn của mình. Phân tích bài thơ Vội Vàng Bài Mẫu 1: Đây là một bài phân thích rất hay của một độc giả với bình luận là phân tích khá hay mấy khổ thơ đầu, phần cuối thơ thì phân tích có phần hơi đuối, bài viết phân tích chưa bao quát nhưng nhìn chung đây là một bài phân tích hay và nên đọc Trước cách mạng tháng tám, hồn thơ của Xuân Diệu hồn nhiên yêu đời, yêu cuộc sống, say mê với cái đẹp, nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian. Nhưng càng yêu say, Xuân Diệu càng sợ cuộc sống sợ tình yêu và vẻ đẹp sẽ bỏ mình và bay đi mất. Chính vì thế mà ta thường gặp trong thơ ông những trạng thái hốt hoảng, lo âu, yêu – sống một cách tham lam, cuống quýt, vồ vập. "Vội vàng" là bài thơ tiêu biểu cho trạng thái cảm xúc ấy của Xuân Diệu. Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu dùng những từ ngữ có tính chất oai nghiêm, mệnh lệnh. "Tôi muốn tắt nắng đi" "Tôi muốn buộc gió lại" Những từ ngữ ấy thể hiện một cái tôi cá nhân đầy khao khát, khao khát đạt quyền của tạo hóa, cưỡng lại quy luật của tự nhiên, những vận động của đất trời. Bởi ông hiểu rằng, sắc thắm nào rồi cũng nhạt, hương nồng nào rồi cũng phai. Xuân Diệu không muốn những vẻ đẹp tự nhiên của đất trời mất đi. Ông muốn lưu giữ nó bên mình để được thưởng thức một cách trọn vẹn, mãi mãi. Sau tâm trạng ấy là tiếng reo vui của nhà thơ. Trong cái nhìn của Xuân Diệu sự sống quen thuộc quanh ta bỗng trở nên vô cùng hấp dẫn. "Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa" Cảnh thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu hiện ra như một khu vườn ngập tràn hương sắc thần tiên, như là ở một cõi nào xa lạ, chứ không phải là của cõi trời trần tục này. Cũng vẫn là thiên nhiên non nước ngàn năm ấy thôi nhưng Xuân Diệu phát hiện ra bao vẻ đẹp bất ngờ, đáng yêu đáng say đắm. Xuân Diệu đã nhìn đời bằng cặp mắt "xanh non", "biếc rờn" vui say, rộn ràng tận hưởng những vẻ đẹp diệu kì mà trời đất đã ban cho mỗi cuộc đời, mỗi con người. Những từ ngữ "này đây" san sát nhau đã phô diễn sự phong phú dường như bất tận của thiên nhiên, đã bày ra một khu vườn địa đàng ngay giữa chốn trần gian – một "thiên đàng trần thế". Người ta nói tháng giêng đẹp, tháng giêng vui, còn Xuân Diệu lại thấy "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Văn học trung đại lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người. Còn Xuân Diệu thì lại lấy vẻ đẹp của con người ở giữa tuổi xuân và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp. Thơ xưa ngại nói đến những biểu tượng của các vị giác còn Xuân Diệu đã không ngần ngại trộn lẫn và huy động tất cả mọi giác quan của mình để thưởng thức được trọn vẹn những vẻ đẹp của thiên nhiên. Đang vui say, Xuân Diệu bỗng chốc lại buồn ngay vì nhận ra một sự thật nghiệt ngã. "Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non nghĩa là xuân đã già" Trước Xuân Diệu, chưa bao giờ có những câu thơ định danh như vậy. Điệp ngữ "nghĩa là" vang lên khô khốc diễn tả một bi kịch trong tâm hồn con người không cách gì nếu giữ được thời gian đang trôi qua. Nỗi nối tiếc vì ngày vui ngắn ngủi qua mau đó, với Xuân Diệu là đau đớn đến tột cùng. Nhà thơ cho rằng mình sẽ chết đi cùng với mùa xuân khi mà vẻ đẹp của cuộc đời không còn nữa. "Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất" Chính cái ý thức thời gian xuôi chảy một dòng, một đi không trở lại, thời gian là tuyến tính chứ không phải tuần hoàn, định lượng chứ không phải định tính đã chi phối cái nhìn cuộc đời của Xuân Diệu. Do chưa có cái nhìn biện chứng về thời gian nên Xuân Diệu thấy thời gian là một dòng suy biến và tàn phai, ở cuối con đường là sự già nua và chết chóc. Thời gian lấy đi của con người tuổi trẻ và tình yêu mang trả con người tuổi già và cái chết. Ý nghĩ đó là cho Xuân Diệu cảm nhận đất trời như cũng đối kháng với con người. "Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian" Đời người thì hữu hạn mà thời gian thì lại vô cùng. Tâm hồn con người ta cứ mãi trẻ trung, cứ đầy khao khát nhưng thể xác thì phải già nua theo ngày tháng, không thể nào cứ qua đi rồi lại vòng trở lại như mùa xuân. "Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi". Xuân Diệu buồn biết bao nhiêu khi nhận ra cái bi kịch khủng khiếp ấy của kiếp người. Chính vì sợ ngày vui ngắn ngủi qua mau, sợ vẻ đẹp sẽ tàn phai nên toàn bộ thiên nhiên tươi sáng ở trên kia đến đây cũng mất dần tính tự nhiên, vô tư của nó. Xuân Diệu dường như cảm nhận được mùi vị của tháng năm, nhưng đó là mùa vị đem đến cho nhà thơ sự nuối tiếc xót xa "vị chia phôi". Những hợp âm rì rào nghe như lời than thầm vang lên khắp sông núi. Cả đến cơn gió xinh cũng dỗi hờn, chim chóc cũng "đứt tiếng reo thi" vì sợ "độ tàn phai sắp sửa". Kết thúc tâm trạng ấy là tiếng thở dài ngao ngán. "Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa" Vì nhận thấy sự nghiệt ngã của thời gian nên nhà thơ lại dậy lên một nỗi khát khao sống hết mình, trọn vẹn. Chính trái tim trẻ tuổi, yêu đời, tràn đầy nhiệt huyết đã không cho phép nhà thơ buông xuôi, phó mặc. Nhà thơ như giục giã chính mình "Mau đi thôi! mùa chưa ngã chiều hôm". Nhà thơ muốn tận hưởng cuộc sống, tận hưởng những vẻ đẹp của đất trời khi nó còn đang trong độ xanh tươi mơn mởn. "Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn chiều" Điệp ngữ "ta muốn" một lần nữa được láy lại dồn dập để bày tỏ một khát khao lớn lao muốn ôm cả sự sống vào lòng. "Cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi" Đấy là một tình yêu nồng nhiệt tới tột độ đối với cuộc sống. Tình yêu ấy đã xua tan đi cái ủ rũ u sầu, làm sống lại cái sinh khí vốn có của một chàng trai trẻ. Kết thúc bài thơ là hình ảnh chàng trai trẻ Xuân Diệu đang hét vang lên niềm đắm đuối, say mê của mình trước thiên nhiên tươi đẹp. "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi". "Vội vàng" thể hiện niềm say mê yêu đời, yêu cuộc sống, một nỗi buồn bã, đơn côi khi nhận ra quy luật nghiệt ngã của đất trời. Tất cả rồi sẽ tàn phai nhưng vượt lên trên tất cả, nỗi khát khao yêu đời vẫn tràn đầy, mãnh liệt. Nó kích thích bạn đọc trẻ tuổi niềm đam mê cuộc sống. Phân tích bài thơ Vội Vàng Bài Mẫu 2: Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, nhạc điệu,vần điệu "Vội vàng" cứ ngân vang dào dạt mãi trong lòng ta, tình yêu đời, yêu sống như tát mãi không bao giờ vơi cạn… Cảm thức về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ… như những lớp sóng vỗ vào tâm hồn ta. "Vội vàng" là bài thơ độc đáo nhất, "mới nhất" của thi sĩ Xuân Diệu in trong tập "Thơ Thơ" (1933-1938) – đóa hoa đầu mùa đầy hương sắc làm rạng danh môt tài thơ thế kỉ. Bài thơ "Vội vàng" nói lên nhịp điệu sống, khát vọng sống của tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Một đời người chỉ có một lần tuổi trẻ. Phải biết trân trọng, quý trọng và sống hết mình với tuổi trẻ, với mùa xuân và với thời gian. Trong "Tiểu dẫn" về bài thơ "Vội vàng" này (Văn 11) Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết: "Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống". Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa trên "đồng nội xanh rì", của lá "cành tơ phơ phất". "Tuần tháng mật" của ong bướm. "Khúc tình si" của yến anh. "Và này đây ánh sáng chớp hàng mi". Chữ "này đây" được 5 lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu. Vì lẽ đó nên phải vội vàng "tắt nắng đi" và "buộc gió lại". Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn. Tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Bình minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất của một ngày, đó là lúc "thần vui hằng gõ cửa". Tháng giêng là tháng khởi đầu của mùa xuân, "ngon như cặp môi gần". Một chữ "ngon" chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa mới lạ vừa táo bạo. Chiếc môi ấy chắc là của giai nhân, của trinh nữ. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20 tuổi – cái tuổi thanh niên bừng sáng. Nhưng thi sĩ đã "vội vàng một nửa", một cách nói rất thơ – chẳng cần đến tuổi trung niên (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niên. Dấu chấm giữa dòng thơ, rất mới, thơ cổ không hề có. Như một tuyên ngôn "vội vàng": "Tháng giêng ngon như cặp môi gần Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân". Vội vàng vì thiên nhiên quá đẹp, vì cuộc sống quá yêu, vì tuổi trẻ quá thơ mộng. Đang tuổi hoa niên mà đã "vội vàng một nửa".. cảm thức của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất hồn nhiên, mới mẻ. Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói. Thời gian là vàng ngọc. Bóng ngả lưng ta. Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mã) vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Thời gian một đi không trở lại. Xuân Diệu cũng có một cách nói rất riêng: tương phản đối lập để chỉ ra cái "lượng trời" cho một đời người chỉ có một thời xuân xanh mà tuổi trẻ một đi qua không bao giờ trở lại: "Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…". Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương phản đối lập: tới – qua, non – già, rộng – chật, tuần hoàn – bất phục hoàn, vô hạn – hữu hạn – để khẳng định một chân lí – triết lí: tuổi xuân một đi không trở lại, phải quý tuổi xuân. Cách nhìn nhận của thi nhân về thời gian cũng rất tinh tế độc đáo, nhạy cảm. Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và đã hé lộ mầm tương lai, cái đang có lại đang mất dần đi… Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn "chia phôi", hoặc "tiễn biệt", nên phải "hờn" vì xa cách, phải "sợ" vì "độ phai tàn sắp sửa". Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời. Nói cảnh vật thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương "vội vàng" của tạo vật. Với Xuân Diệu hầu như cuộc sống nơi "vườn trần" đều ít nhiều mang "bi kịch" về thời gian: "Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt". Cũng là "gió", là "chim"… nhưng gió khẽ "thì thào" vì "hờn", còn "chim" thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì "sợ"! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lí giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian: "Con gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?" Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối, lo lắng và chợt tỉnh vì "mùa chưa ngả chiều hôm", nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già. Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng: "Chẳng bao giờ / ôi / chẳng bao giờ nữa… Mau đi thôi / mùa chưa ngả chiều hôm". Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm "Thơ tiếc cảnh": – "Xuân xanh chưa dễ hai phen lại Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên". (Bài số 3) – "Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm". (Bài số 7) Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong "Vội vàng" về màu thơi gian, về sắc thời gian, về tuổi trẻ. Thật yêu đời, thật ham sống. Mở đầu bài thơ là cái tôi hăm hở "tôi muốn tắt nắng đi". Kết thúc bài thơ là "ta", là mọi tuổi trẻ. Một sự hòa nhập và đồng điệu trong một đời người, trong dòng chảy thời gian: sống mãnh liệt, sống hết mình. Sống nồng nàn say mê. Nghệ thuật trùng điệp trong diễn tả gợi lên cái ham hố, yêu đời. Ngôn từ đậm màu sắc cảm giác, xúc giác, rạo rực: "Ta muốn ôm", "Ta muốn riết… Ta muốn say… Ta muốn thâu…": "Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong mỗi cái hôn nhiều Và non nước, và cây và cỏ rạng". Sống cũng là để yêu, yêu hết mình. Thơ hay vì màu sắc lãng mạn. Vì giọng thơ sôi nổi. Nghệ thuật "vắt dòng" với ba từ "và" đồng hiện trong một dòng thơ làm nổi bật cảm xúc. Say mê vồ vập cảnh đẹp, tình đẹp nơi vườn trần. Tất cả mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng… đều là nỗi niềm khao khát của thi nhân: "Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào người!". Sống vội vàng không có nghĩa là sống gấp, sống ích kỉ trong hưởng thụ. "Vội vàng" thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Biết quý trọng thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ, biết sống cũng là để yêu; tình yêu lứa đôi, tình yêu tạo vật. Tình cảm ấy đã thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ, cấp tiến. Bảy thập kỉ sau bài thơ "Vội vàng" ra đời, nhiều câu thơ của Xuân Diệu vẫn còn làm cho không ít người ngỡ ngàng! Xuân Diệu đã sống "Vội vàng" như vậy. Với hơn 50 tác phẩm, hơn 400 bài thơ tình, ông đã góp phần làm giàu đẹp cho nền thi ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ "Vội vàng" cho thấy một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, rất nhân văn, một giọng thơ sôi nổi, dâng trào và lôi cuốn, hấp dẫn. Có chất xúc giác trong thơ. Có cách dùng từ rất bạo, cách cấu trúc câu thơ, đoạn thơ rất tài hoa. "Vội vàng" tiêu biểu nhất cho "Thơ mới", thơ lãng mạn 1932-1941. Nhà thơ Xuân Diệu đã đi vào thế giới vĩnh hằng những tao nhân mặc khách, nhưng ta vẫn cảm thấy ông đang hiện diện giữa cuộc đời và hát ca: – "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" – "Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ! Em, em ơi! Tình non sắp già rồi…" Phân tích bài thơ Vội Vàng Bài Mẫu 3: Xuân Diệu, “Ông Hoàng của thơ tình yêu” – thi sĩ đã làm say mê bao bạn đọc trẻ tuổi. Sức hấp dẫn của thơ Xuân Diệu đối với tuổi trẻ chính là cái náo nức, cái xôn xao, cái đắm say với cuộc đời, với tình yêu của một tâm hồn trẻ trung khát khao sống trọn vẹn. Ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX, Xuân Diệu đã được lớp trẻ hoan nghênh và say mê. Nhà nghiên cứu Hoài Thanh đã nhận xét: “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới – nên những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu, mà đã thích thì phải mê…”. Đọc thơ Xuân Diệu, ta bắt gặp một nguồn sống dạt dào, chính cái náo nức dạt dào ấy là biểu tượng cho cái chất trẻ – sức xuân của một hồn thơ. Tuổi trẻ – Mùa xuân – Tình yêu – Thời gian – Cuộc đời là những đề tài có sức hấp dẫn lớn trong thơ Xuân Diệu. Vội vàng là một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám. Đó là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt, và chính vì thế mà không thể dửng dưng trước thời gian. Trong Vội vàng có một nỗi lo sợ, hốt hoảng của cái tôi khát khao giao cảm với đời trước sự trôi chảy của thời gian. Mở đầu Vội vàng là những câu thơ đầy khao khát: Tôi muốn tắt nắng đi… Tôi muốn buộc gió lại… Chỉ với một tâm hồn yêu đời đến mãnh liệt, muốn giữ lấy tất cả những hương sắc trần gian mới có một niềm khao khát táo bạo đến thế. Nhà thơ muốn giữ lại tất cả những điều kỳ diệu của cuộc sống: Cho màu dừng nhạt mất… Cho hương đừng bay đi… Ở đây, ta nhận ra nét quen thuộc trong thơ Xuân Diệu, một tâm hồn rất nhạy cảm với thanh âm, hương sắc. Thế giới của cái đẹp, của sự sống có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với tấm lòng thiết tha yêu đời ấy, là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ Xuân Diệu. Tiếp theo những câu thơ ngắn diễn tả cái ý muốn táo bạo và quyết liệt ấy là những dòng thơ như tuôn theo một cảm xúc dạt dào của một tấm lòng say sưa với những thanh sắc của cuộc đời. Nhà thơ hăm hở đi tìm những những nơi sự sống dồi dào tụ lại. Và nơi đâu hơn Mùa Xuân? Thi sĩ thả hồn mình bơi trong ánh nắng, say sưa với ong bướm, rung động với thanh sắc của cỏ cây hoa lá, ngất ngây với thanh âm của tiếng chim mùa xuân… Những từ điệp ngữ “này đây” như gọi mời, như cuốn hút chúng ta vào cái thế giới đầy thanh âm, hương sắc mà thi sĩ đã diễn tả bằng tất cả niềm say sưa, sôi nổi. Với mùa xuân, thơ Xuân Diệu bao giờ cũng có cái đắm say, nồng nhiệt như thế. Với một lòng yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt của một hồn thơ thiết tha, rạo rực, nhà thơ nhìn cuộc sống, cảm nhận mùa xuân rất trần thế: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần… Thế giới thơ Xuân Diệu là một thế giới đầy xuân sắc và xuân tình. Ta bắt gặp một một hình ảnh so sánh thật mới mẻ, độc đáo và khỏe khoắn và đầy sức xuân. Cách ví von ấy thật hợp với dòng cảm xúc nồng nhiệt đang dâng đầy trong một tâm hồn thật trẻ trước mùa xuân – cuộc đời! Có điều nồng nhiệt như thế, say đắm là vậy nhưng vẫn có một nỗi hoài nghi, lo sợ ám ảnh: Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Cái dấu chấm giữa dòng, lại thêm từ “Nhưng” cắt đôi dòng thơ, tạo một cảm giác hụt hẫng, bâng khuâng cho người đọc. Yêu đời, ham sống đến cuống quýt, đến “vội vàng” là đúng với một Xuân Diệu say sưa, bồng bột. Nhưng sao lại “vội vàng một nửa”? Nếu ở trên, ta đã cảm nhận được cái “tôi” khát khao giao cảm với đời bằng tất cả niềm dạt dào, náo nức thì đến đây ta lại bắt gặp cái “tôi” nhỏ bé, cô đơn trước cuộc đời, trước thời gian: Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già Âm điệu câu thơ không còn cái xôn xao, rạo rực như ở trên mà bỗng dưng trầm ngâm, nuối tiếc. Đấy phải chăng là tâm trạng của con người khi khát khao tận hưởng cuộc sống, muốn vươn lên đỉnh cao nhất của sự sống nhưng bất lực trước thời gian? Cuộc đời cứ trôi chảy nên có gì tồn tại bền lâu đâu? Hoa nở để mà tàn Trăng tròn để mà khuyết Bèo hợp để chia tan… Người gần để ly biệt… (Hoa nở để mà tàn) Đó là qui luật tuần hoàn của vạn vật trước thời gian. Những câu thơ tiếp theo đầy ắp nỗi lo âu, tiếc nuối: Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Đúng như nhà thơ Thế Lữ nhận xét: “Xuân Diệu là nhà thơ của cuộc đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ thi sĩ xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian luôn quyến luyến cõi đời, khát khao bám lấy cuộc đời đầy hương hoa thanh sắc”. Nhà thơ tha thiết yêu đời, ham sống, sợ thời gian qua nhanh, lo sợ tuổi trẻ sẽ qua đi: Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại! Bởi thế thi sĩ vội vàng. Vội vàng – nhưng lại lo âu: Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Qua hình ảnh thiên nhiên được nhân hóa, nhà thơ đã diễn tả những rung động rất tế nhị của một nội tâm khá phức tạp. Lo sợ tất cả sẽ qua mau, ngắn ngủi, nhà thơ nuối tiếc, rồi giục giã: Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa… Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm Giọng thơ vừa thảng thốt vừa cuống quýt diễn tả nỗi niềm của nhà thơ cũng như cả một thế hệ bấy giờ – con người thật nhỏ bé, cô đơn và bất lực trước cuộc đời – nên bao giờ cũng vội vàng – giục giã! Đến cuối bài thơ, ta bắt gặp lại cái mạch cảm xúc dạt dào, cuồng nhiệt ở đầu bài thơ, nhưng dòng cảm xúc ấy dâng đến cao trào: Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu tro ng một cái hôn nhiều Và non nước, và cây. Và cỏ rạng… Vì lo sợ, nuối tiếc cuộc đời ngắn ngủi mà con người khao khát được “ôm” lấy tất cả trong đối tay quấn riết; nào là mây đưa, gió lượn, cánh bướm với tình yêu, nào là một cái hôn nhiều, non nước, cỏ cây, ánh sáng… khát khao tận hưởng những thanh sắc của chốn vườn trần. Tất cả: cả cái sự sống mơn mởn ấy, thi nhân muốn giơ tay với lấy tất cả, bám lấy bầu xuân hồng mà tận hưởng: Cho chuếnh choáng…cho đã đầy…cho no nê… Mạch thơ cứ dâng lên, dâng lên đến độ cao trào để diễn tả tận cùng cái tứ “Vội vàng” trong cả bài thơ. Thật bất ngờ nhưng cũng thật nhất quán với cảm xúc trong toàn bài thơ, thi sĩ đã đi đến tận cùng nỗi si mê và cuồng bạo: Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi! Cũng là sử dụng biện pháp tu từ nhưng chỉ có một tâm hồn thật cuồng si mới có thể viết một câu thơ táo bạo gây ấn tượng mạnh mẽ đến như vậy! Bài thơ là tiếng nói của một cá nhân có nhu cầu giao cảm với cuộc đời, khao khát sống, khao khát yêu đến mãnh liệt. Vội vàng là bài ca tình yêu cuộc sống giàu ý nghĩa nhân bản. Thi phẩm thể hiện một quan niệm nhân sinh tích cực. Mùa xuân – Tình yêu – Tuổi trẻ – Cuộc đời trong Vội vàng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Thơ Xuân Diệu vì thế mà vẫn trẻ mãi với nhân gian Phân tích bài thơ Vội Vàng Bài Mẫu 4: Bài thơ Vội vàng được mở đầu bằng bốn dòng thơ ngũ ngôn ngắn gọn, mạnh mẽ như lời tuyên bố về khát vọng của mình: Tôi muốn tắt nắng đi, Cho màu đừng nhạt mất. Tôi muốn buộc gió lại, Cho hương đừng bay đi. Tắt nắng, buộc gió là những điều con người không thể làm được, đó là những khát khao phi lí. Nhưng cái phi lí ấy lại có lí với trái tim của nhà thơ, bởi đó là trái tim đầy khao khát mãnh liệt, muốn sống đến trọn vẹn chữ “sống”, muốn giữ mãi cho mình những hương, những sắc của của cuộc đời. Mà cuộc đời trong cảm nhận của nhà thơ lại đẹp đẽ biết chừng nào, quý giá biết bao nhiêu. Nhà thơ thấy rằng trong cuộc sống, mọi thứ đều kì diệu, mỗi sự vật dù nhỏ bé đến đâu cũng đều dâng hiến cho đời những vẻ đẹp tinh tuý nhất của mình: Của ong bướm này đây tuần tháng mật, Này đây hoa của đồng nội xanh rì, Này đây lá của cành tơ phơ phất, Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi. Bướm ong thì có tuần tháng mật đầy ngọt ngào, cuốn hút, đồng nội thì có vẻ đẹp của màu xanh mơn mởn và muôn hoa rực rỡ, cành tơ non thì có muôn lá rung rinh, ánh sáng bình minh như cái chớp mi của người đẹp…Những câu thơ có nhịp điệu thật nhanh, thật gấp gáp, sử dụng phép liệt kê, điệp ngữ, rất nhiều tính từ, cách liên tưởng táo bạo, đa tình. Cuộc sống trần gian hiện lên qua đó thật sống động, tươi tốt, đáng yêu, đáng sống, tràn ngập âm thanh, màu sắc tươi sáng, khai mở ra một thiên dường tồn tại chính trên cõi trần này. Với Xuân Diệu, cuộc đời lúc nào cũng tràn ngập niềm vui, mỗi ngày mới đến là niềm vui cũng gõ cửa ùa vào theo: Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Niềm vui như một vị thần độ lượng, ban phát hạnh phúc cho từng người. Phải nói rằng trong thơ Việt Nam, chưa ai có cách cảm nhận cuộc sống, mùa xuân như cách cảm nhận của Xuân Diệu: Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần Xuân Diệu chẳng lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp khi so sánh với con người như thơ cổ mà lại lấy con người làm chuẩn mực để so sánh với vẻ đẹp của thiên nhiên. Nếu Nguyễn Du so vẻ đẹp của Thuý Vân-Thuý Kiều “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da” thì Xuân Diệu lại liên tưởng “ Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”. Một cách so sánh rất riêng, rất táo bào, đầy tình yêu đời nồng nhiệt rất Xuân Diệu. Ông thấy mùa xuân với bao vẻ đẹp sinh động của nó giống như cặp môi đỏ mọng của thiếu nữ đang kề gần. Cách so sánh này chứa đựng bao rung động tận đáy lòng, vừa có sự khao khát, thèm muốn, háo hức rất thiêng liêng mà cũng rất trần tục. Nhà thơ yêu cuộc sống đến si mê, cháy bỏng! Có một cuộc sống đẹp như thế để sống, có bao hương sắc tuyệt diệu như thế để tận hưởng, con người ta sẽ sung sướng biết bao. Nhưng, tựa như một cung nhạc đang vút cao, đến đây bỗng chùng xuống: Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Câu thơ bị ngắt làm hai, niềm vui sướng không được trọn vẹn. Bởi Xuân Diệu nhận ra rằng điều sung sướng ấy ngắn ngủi biết bao: Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Xưa nay, người ta chỉ tiếc những kỉ niệm khi nó đã trở thành quá khứ, tiếc xuân khi nó đã không còn. Ở đây, Xuân Diệu với sự nhạy cảm lạ lùng của nhà thơ yêu cuộc sống đến đắm say, ông tiếc mùa xuân ngày khi mùa xuân vẫn còn đang phơi phới. Vì nhà thơ biết rằng thời gian sẽ trôi qua nhanh, mà với những gì quý giá, với những vẻ đẹp, thời gian còn tàn nhẫn trôi nhanh hơn gấp bội, nhanh đến khủng khiép, phũ phàng. Cái non trẻ, thắm tươi rồi sẽ chẳng mấy mà già nua, héo úa. Điều ấy lại ảnh hưởng vô cùng to lớn đến Xuân Diệu: Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Câu thơ đầy cảm giác buồn bã. Nhà thơ phát hiện ra một điều bi thảm cho mình: mùa xuân trôi qua, tuổi trẻ sẽ trôi qua. Mà khi tuổi trẻ đã trôi qua thì cuộc đời nào còn ý nghĩa gì nữa. Bởi quý giá nhất của cuộc đời, dất trời là mùa xuân, quý giá nhất của con người là tuổi trẻ. Con người khao khát vẻ đẹp tồn tại vĩnh cửu, nhưng cuộc đời lại có những quy luật vô cùng chặt chẽ và nghiệt ngã: Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian Thời gian thì vô hồi vô hạn, nhưng đời người thì hữu hạn. Con người trong cái hữu hạn ấy trở nên thật nhỏ bé, tội nghiệp và mong manh. Bao người lí luận rằng xuân đi xuân đến, nhưng với Xuân Diệu, ông chẳng thể tự an ủi mình mà trái lại, càng xót xa hơn: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời. Mùa xuân của đất trời đẹp lắm, quý giá lắm, nhưng mùa xuân chỉ quý giá, chỉ đẹp khi con người biết hưởng, được hưởng vẻ đẹp của nó. Khi con người chẳng còn trẻ mà tận hưởng mùa xuân thì xuân cũng mất hết ý nghĩa. Những câu thơ của Xuân Diệu vì thế mà chuyển sang giọng điệu buồn bã: Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt. Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa Tất cả đều buồn bã, đều mất hết ý vị, chỉ còn “rớm vị chia phôi”, chỉ biết “than thầm tiễn biệt”, chỉ còn “hờn dỗi phải bay đi”, chỉ “sợ độ phai tàn sắp sửa”. Trong thơ Việt Nam, ít ai có giọng thơ nuối tiếc thời gian, thương tiếc cuộc sống thiết tha dường ấy. Cũng vẫn gió lá hoa như đạon đầu nhưng đoạn trên rạo rực náo nức, đoạn này lại buồn thương ngậm ngùi, xót xa biết bao nhiêu. Nhà thơ kêu lên một cách tuyệt vọng: Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao giờ nữa! Nỗi đau đớn của Xuân Diệu phải sâu sắc lắm, cắt cứa lắm, thấm thía lắm thì mới bộc phát thành tiếng than kêu thống thiết dường ấy. Thời gian cứ mênh mông nhưng mùa xuân và tuổi trẻ của con người cứ ngắn ngủi. Con người chẳng thể làm được gì để biến cái hữu hạn của đời người thành cái vô hạn trường tồn cùng vũ trụ. Chỉ còn mỗi cách, đó là phải hối hả, phải đắm say mãnh liệt hơn, phải vội vàng thâu nhận đến mức độ cao nhất, nhiều nhất những vẻ đẹp nhân gian, những thứ ưúy giá của đời sống, của tuổi trẻ, mùa xuân. Xuân Diệu giục giã: Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đàu mơn mởn, Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng. Những câu thơ mạnh bạo, gấp gáp, giục giã như một dòng suối ào ạt tuôn chảy, tưởng chừng ngôn từ xô đẩy vào nhau, chen lấn nhau để cho kịp mạch cảm xúc đang bừng lên sôi nổi của nhà thơ. Những tiếng “ta muốn” láy đi láy lại mãi như một điệp khúc bất tận để khẳng định niềm khao khát cháy bỏng muốn sống đến tận cùng cảm giác của Xuân Diệu. Một loạt điệp từ được sử dụng theo mức độ tăng dần của khao khát: muốn ôm – muốn riết – muốn say – muốn thâu – muốn cắn thể hiện tam trạng si mê đến cuồng nhiệt. Trong một câu thơ mà có đến ba hư từ “và” chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đến rối rít, cuống quýt, như muốn cùng lúc dang tay ôm hết cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình. Sống như thế với Xuân Diệu mới thực là sống, mới đi đến tạn cùng của niềm hạnh phúc được sống. Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi Hạnh phúc của sự sống là mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc. Tận hưởng cuộc đời chính là có dược cảm nhận về những điều ấy ở độ tràn trề nhất. Xuân Diệu muốn tận hưởng cuộc sống cho đến “no nê”, “chuếnh choáng”, “đã đầy”. Trong niềm cảm hứng ở độ cao nhất, Xuân Diệu nhận ra cuộc đời, mùa xuân như một cái gì quý nhất, trọn vẹn như một trái đời đỏ hồng, chín mọng, thơm ngát, ngọt ngào, để cho nhà thơ tận hưởng trong niềm khao khát cao độ: Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi Câu thơ là đỉnh cao của những khao khát sống, của tình yêu sống rạo rực trong con tim nồng cháy của Xuân Diệu. Bài thơ Vội vàng thể hiện tam trạng đắm say bồng bột của một tấm lòng ham sống mãnh liệt. Bài thơ còn thể hiện một quan niệm sống sống gấp gáp vội vàng tận hưởng những hạnh phúc trần thế, một quan niệm sống lành mạnh và tích cực so với đương thời. Bài thơ là một sáng tác tiêu biểu cho phong cách thơ trẻ trung tươi mới của “nhà thơ của tình yêu”, bài thơ rất tự do, hình ảnh giàu sức gợi, giàu nhạc điệu và cách liên tưởng rất hiện đại. Tâm trạng yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt trong tác phẩm khẳng định tư tưởng nhân văn của nhà thơ. Cho đến nay, nội dung thúc giục mọi người sống có nghĩa trong cuộc sống thực tại của bài thơ vẫn còn bao ý nghĩa với thế hệ trẻ. Phân tích bài thơ Vội Vàng Bài Mẫu 5: Đây là bài viết phân tích 13 câu thơ đầu của bài thơ Vội Vàng Thời đại thơ mới là một nhánh rẽ đầy ngoạn mục, táo bạo của thơ ca Việt Nam. Thời điểm thơ văn khoát lên cho mình một chiếc áo được cách tân mới mẻ, là mảnh đất màu mỡ vun trồng những hồn thơ tài ba như: Tản Đà, Thế Lữ, Xuân Diệu,… Theo như Hoài Thanh nhận định Tản Đà là người “ đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc dạo chơi tân kì đương sắp sửa” thì có lẽ Xuân Diệu là người đã đưa những khúc nhạc ấy đến một vị trí xứng tầm trong lòng bạn đọc khi cho ra đời tập: “Thơ thơ” được xem là đỉnh cao trong phong trào thơ mới. Bài thơ “Vội vàng” được trích từ tập thơ ấy, tiêu biểu cho một phong cách thơ được cách tân rất mới mẻ về nội dung và hình thức của Xuân Diệu. “Một hồn thơ rạo rực băn khoăn trong những câu thơ lời ít ý nhiều như đọng lại bao tinh hoa” Giữa lúc ta lên tiên cùng Tản Đà, đắm chìm trong mộng tưởng cùng Hàn Mặc Tử,.. thì Xuân Diệu là người đã “đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”. Lòng yêu đời yêu cuộc sống tha thiết đã khiến tâm hồn của thi sĩ bám chặt lấy cuộc sống trần thế, không thoát ly hoàn toàn như các nhà thơ khác. Với đời, ông có một khát khao cháy bỏng: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi” Nhà thơ sử dụng những câu thơ ngắn với âm điệu nhanh, ngôn ngữ thơ dứt khoát để thể hiện ứơc muốn mãnh liệt muốn níu giữ thời gian. Bởi lẽ thời gian là nỗi ám ảnh nhất trong cuộc đời: “Ôi đau đớn! Ôi đau đớn! Thời gian ăn cuộc đời” (Bauxtelaire) Là một hồn thơ rạo rực, tha thiết với đời, ông muốn tận hưởng những khoảnh khắc tươi đẹp nhất của trần thế nhưng ngặt một nỗi: “Thời gian thấm thoắt thoi đưa Nó đi đi mãi có chờ đợi ai” (Tục ngữ) Vì thế thi nhân rất trân trọng những giây phút tươi đẹp của cuộc đời. Người dùng tất cả giác quan tạo hoá ban tặng để cảm nhận thời gian. Thời gian vốn vô hình, vô vị, vô tình đi vào thơ Xuân Diệu bỗng rất hữu hình, nên thơ qua hình ảnh “nắng”, “gió”. Từ “tôi muốn” được điệp lại kết hợp với những động từ mạnh như “tắt” (nắng), “buộc” (gió) thể hiện một tư thế chủ động muốn đóng băng thời gian vì một lẽ đời tươi đẹp phía trước: “ Của ong bướm này đây tuần tháng mật ————————————————- Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa” Những câu thơ với âm điệu nhẹ nhàng, hình ảnh tươi sáng đã vẽ nên một khung cảnh thiên nhiên đậm sắc, hương, thanh. Vạn vật đang ở độ đương thì tươi ngon nhất, đẹp đẽ nhất. Chim chóc, hoa lá, ong bướm như vực dậy để tận hưởng cảnh xuân tươi tắn, mựơt mà. Cảnh vật không tĩnh lặng mà náo động linh hoạt với những hình ảnh liên tưởng độc đáo của thi sĩ. “Tuần tháng mật” của đôi vợ chồng đắm say trở thành mùa của ong bướm dập dìu rất lãng mạn. Tiếng hót của chim yến chim oanh trở thành “khúc tình si” hút hồn biết bao con người yêu cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Và ánh nắng được nhân hoá như một nàng tiên e thẹn với những ánh mi dài cuốn hút vạn vật. Tất cả như chan hoà làm nên một mảnh vườn đẹp nên thơ mà rất trần đời. Từ đó cái đẹp của mùa xuân thiên nhiên còn ẩn dụ như cái đẹp của con người ở độ sắc xuân, đương thì. Qua đó, ta thấy được thi sĩ có sự cảm nhận mùa xuân rất tinh tế và có tài khéo léo vẽ lại những hình ảnh ấy với một thứ sức sống căng tràn, nảy nở. Nói bóng bẩy như Vũ Bằng thì thứ thứ nhựa sống mỡ màng ấy như “ máu căng lên trong lộc của loài nai, như những mầm non háo hức muốn bức ra từ những thân cây”. Thi sĩ chọn thời điểm rạo rực nhất “tháng giêng”, tươi mới nhất ”mỗi buổi sớm”, để miêu tả khiến bức tranh thiên nhiên mùa xuân càng tinh khôi,xinh đẹp. Không chỉ vậy, nhà thơ còn tạo nên một thiên đường của xúc cảm. Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác được dùng rất linh hoạt từ xúc giác ”tuần tháng mật”, thính giác ”khúc tình si”, thị giác “ánh sáng chớp hàng mi”. Tâm hồn của thi nhân rạo rực, tha thiết, bâng khuâng trước cảnh trần thế xinh đẹp vô cùng đã khơi nguồn nên những hình ảnh sáng tạo độc đáo trong những vần thơ. Vào lúc ấy, hồn thơ, hồn người, hồn của thiên nhiên đất trời như giao hoà để Xuân Diệu viết nên một câu tuyệt bút: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” ”Tháng giêng” vốn vô hình bỗng trở nên hũư hình căng đầy một tình yêu trần thế. Một thứ tình cảm rạo rực, cháy bỏng trong tâm hồn thi nhân đã được dồn nén kết tụ trong một từ “ngon” duy nhất rất tài hoa. Câu thơ với điểm nhấn là từ “ngon” được dùng rất đắt thể hiện một quan điểm mĩ học rất mới mẻ về sự cảm nhận thiên nhiên phản phất sắc thái của “nhục thể”. Tuy vậy, ý thơ không gây thô tục mà có phần mới lạ. Nhà thơ cảm nhận rất tinh tế ý vị của thời gian nên có sự chuyển đổi xúc giác sang vị giác. Quả thật, Xuân Diệu bên cạnh có đôi mắt nhìn đời rất tinh tế còn có một tâm hồn rất thiết tha, nhạy cảm với cuộc sống. Những câu thơ: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật”,”Của yến anh này đây khúc tình si” và ” Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” mang một quan điểm mĩ học rất mới so với thơ ca truyền thống trước đó. Thơ trung đại con người được các nhà văn, nhà thơ tạo tác trên những chuẩn mực của thiên nhiên. Bút pháp ước lệ tượng trưng luôn gắn liền với việc miêu tả con người: “Râu hùm, hàm én, mày ngài” “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn” (Nguyễn Du) Thế mới thấy thơ Xuân Diệu đã hoàn toàn lột xác và hướng về một nguồn quan điểm mới rất gần với shakespears: “Con người là kiểu mẫu của muôn loài” Nhà thơ đã lấy con người làm khuôn mẫu để tạo ra những hình thái thiên nhiên mang một sức hấp dẫn kì lạ, một sự tươi mới chưa từng có. Người cảm nhận thiên nhiên bằng một lăng kính trái hình với thi ca thời xưa. Qua đó, ta thấy thêm tin yêu một hồn thơ mới đã đem đến cho ta một hình ảnh đầy thi vị, một ánh màu mới mẻ trong thơ ca. “Thơ Xuân Diệu là một niềm khát khao giao cảm với đời” (Nguyễn Đăng Mạnh) Hình ảnh của cuộc sống đi vào thơ Xuân Diệu như một thứ ánh sáng được khúc xạ qua lăng kính tình yêu rất tinh khôi và giàu sức sống. Càng yêu đời, nhà thơ càng luyến tiếc trước dòng chảy của thời gian. Thời điểm vạn vật đang căng tràn nhựa sống cũng chính là lúc đang đứng trên ranh giới của sự lụi tàn, héo úa. Vì thế từ những câu thơ gãy gọn ở khổ đầu, nhà thơ đi vào khổ hai với những câu thơ dài, âm điệu chậm như bước chân người thư thái dạo ngắm vườn xuân muốn tận hưởng giờ khắc huy hoàng ấy. Thi sĩ từ tốn chỉ cho người đọc những gì tinh hoa, tươi đẹp nhất của trần gian với một thái độ mến yêu, trân trọng” này đây”. Đọc thơ Xuân Diệu, ta thấy từng dòng chữ rất mới, những tư tưởng tiến bộ thoát ly hoàn toàn những khuôn sáo cổ điển, tuy say mà tỉnh, mộng nhưng thực. Cảnh sắc xuân như xô đẩy câu thơ, khuôn khổ thơ bị xê dịch như “một đống hỗn độn đẹp xô bồ vừa say dậy”(Bích Khê). Đó là điều khiến thơ của thi sĩ từng bước chứng tỏ sức sống mãnh liệt qua thời gian mặc dù người khen rất nhiều người chê cũng không ít. Tóm lại, đoạn thơ thể hiện một một khát vọng sống thiết tha mãnh liệt rất trần đời. Một hương vị lạ góp phần làm đa dạng sự mới mẻ trong phong trào thơ mới. Dù rằng thơ Xuân Diệu mang một phong cách rất Tây nhưng nhìn chung lầu thơ của ông được xây dựng trên mảnh đất thơ ca truyền thống. Sự tiếp thu những tư tưởng mới, biết hoà nhập nhưng không hoà tan là nét chung rất đáng ngợi ca khâm phục của Xuân Diệu nói riêng và các nhà thơ mới nói chung. Vì thế Xuân Diệu xứng đáng là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” Nguồn:
Phân tích bài thơ Vội Vàng
7,686
Đề bài: Phân tích bài thơ Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu Bài làm Phan Bội Châu (1867-1940), ôi cái tên đẹp một thời. “Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là một nhân vật vĩ đại” (Tôn Quang Phiệt). Phan Bội Cháu là linh hồn của các phong trào vận động giải phóng Tổ quôc khoảng 25 năm đầu thế kỉ XX. Tên tuổi ông gắn liền với các tổ chức yêu Iiước như Hội Duy Tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Tên tuổi Phan Bội Châu gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài vàn tế và vài ba vở tuồng chứa chan tình yêu nước. ‘‘Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng (Tố Hừu). Năm 1900, Phan Bội Châu đậu giải nguvên khoa thi Hương trường Nghệ Năm 1904 ông sáng lập ra Hội Duy Tân, một tố chức yêu nước. Năm 1905 ông dấy lên phong trào Đông du. Trước lúc lên đường Đông du, qua Trung Hoa, để cầu ngoại viện với bao hoài bão tung hoành, ông để lại đồng chí bài thơ “Xuất dương lưu biệt”. Có thể nói bài thơ này như một mốc son chói lọi trong sư nghiệp giải phóng dân tộc của nhà chí sĩ Phan Bội Châu. “Xuât dương lưu biệt” được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc ca biểu lộ tư thế, quyết tâm hăm hở, và những ý nghĩ cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước. Hai câu để là một tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sông cao cả: “Sinh vi nam tử yếu hi kì Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di” Tự hào mình là đấng nam nhi thì phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên “điều lạ” (yêu hi ki). Suy rộng ra, là không thể sống tầm thường. Không thế sống một cách thụ động cho trời đất (càn khôn) “tự chuyển đời” một cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ thể hiện một tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi, tự tin ở mức độ, tài năng của mình muốn làm nên sự nghiệp to lớn, xoay chuyến trời đất, như ông đã nói rõ trong một bài thơ khác: “Dang tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù”. Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạnh vô cùng sôi nổi của Phan Bội Châu, ta mới cảm nhận được cái khẩu khí anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại. Đấng nam nhi muốn làm nên “điều lạ” ở trên đời, từng nung nấu và tâm niệm theo một vần thơ cồ: “Mỗi phận bất vong duy trúc bạch, Lập thân tối hạ thị văn chương” (“Tùy viên thi thoại" – Viên Mai) (Bữa bữa nhừng mong ghi sử sách, Lập thân xoàng nhất ấy văn chương). Đấng nam nhi muốn là nên “điều lạ” ở trên đời ấy có một “bầu máu nóng" sôi sục: “Tôi được trời phú cho bầu máu nóng cũng không đến nỗi ít, lúc còn bé đọc sách của cha tôi, mỗi khi đèn những chỗ nói người xưa chịu thuế để thành dạo nhân, nước mắt lại đầm đìa nhỏ xuống ướt đẫm cả giấy…” (Ngục trung thư). Phần thực, ý thơ được mở rộng, tác giả tự khẳng định vai trò cùa minh trong xã hội và trong lịch sử: “Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy” “Ngã” là ta: “tu hữu ngã” nghĩa là phải có ta trong cuộc dời “một trăm năm ” (bách niên trung). Câu thơ khẳng định, biểu lộ niềm tự hào lớn lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan. “Thiên tải hậu” nghìn năm sau, là lịch sử của đát nước và dân tộc há lại không cố ai (để lại tên tuổi) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định đế làm nổi bật điều khẳng định. Đó là một ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Ỷ tưởng đẹp đẽ này là sự kế thừa những tư tưởng vĩ đại của các vĩ nhân trong lịch sử: "… Dâu cho trăm thân, này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta củng cam lòng”. ("Hịch tướng sĩ' – Trấn Quốc Tuấn). "… Nhân sinh tự cổ thày vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”. (Văn Thiên Tường) Lấy cái hữu hạn “bách niên” của một đời người đối với cái vô hạn “thiên tải" cùa lịch sử dân tộc. Phan Bội Châu đã tạo nên một giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng, biểu lộ một quyết tâm và khát vọng trong buổi lên đường. Vì thế, trên bước đường cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua muôn vàn thử thách và nguy hiểm, ông vẫn bất khuất, lạc quan: “Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiềm sợ gi đâu!” (“Cảm tác trong nhà ngục Quảng Đông") Phần luận, tác giả nói về sống và chết, nói về công danh. Đây là một ý tưởng rất mới khi ta soi vào lịch sử dân tộc những năm dài đen tối dưới ách thống trị cùa thực dân Pháp. Khi non sông đã chết, đã bị ngoại xâm chiếm, giày xéo thì thân phận dân ta chỉ là kiếp ngựa trâu, có sông cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Trong hoàn cảnh ấy có nâu sử xôi kinh, có chúi đầu vào con đường khoa cử cũng vô nghĩa. Sách vở của “thánh hiền” liệu còn có ích gì trong sự nghiệp cứu nước cứu nhà: “Non sông đã chết, sống thêm nhục, Hiền thánh còn đáu học cũng hoài”. Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước hết. Ông nói bằng tất cả nhiệt huyết và chân thành, ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lốì học cử tử, không thể đắm chìm trong vòng hư danh, mà phải hăm hở di tìm lí tưởng cao cả. Trong bài “Bài ca chúc tết thanh niên” viết vào dịp Tết nám 1927, Cụ thiết tha kêu gọi thanh niên: “Ai hữu chỉ từ nay xin gắng gỏi Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần Đừng ham chai, đừng ham mặc, đừng ham ăn Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…” Sống như thế là sống đẹp. Sống như thế mới mong làm nên “điều lạ' ở trên đời, mới tự khẳng định được: “Trong khoảng trăm năm cần có tớ”. Phần luận là sự kết tinh của một hồn thơ bay bổng đượm màu sắc lãng mạn: “Nguyện trục đường phong Đông hải khứ Thiên trùng bạch lãng nhát tề phi”. Thơ vân Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, cố vũ lòng yêu nước, khêu gợi lòng căm thù giặc. Thơ vãn Phan Bội Châu sở dĩ trở thành những bài ca ái quốc vì thấm đượm cảm xúc, sôi sục nhiệt huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng. Hai câu kết là một ví dụ hùng hồn: "Trường phong” (ngọn gió dài), “thiên trùng bạch lãng” (ngàn lớp sóng bạc), lã hai hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sĩ cách mạng được diễn tả qua các vị ngữ “nguyện trục” (mong đuổi theo) và “nhất tề phi” (cùng bay lên). Cái không gian mênh mông mà nhà chí sĩ mong vượt qua là “Đông hải”. Nếu hai thanh trắc cuối câu 7 (Đông hải khứ) làm cho ám điệu thắt lại, nỏn lại thì hai thanh bằng cuối câu 8 (nhất tề phi) lại làm cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng bổng trầm ấy cũng góp phần thề hiện quyết tâm mạnh mẽ lên đường cứu nước của Phan Bội Châu, ở đây nội lực, bản lĩnh chiến đâu và khẩu khí cùa người chiến sĩ có sự hòa hợp, gắn bó và thông nhất. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều Tiên sinh đả nói ở hai câu kết. “Xuất dương lưu biệt” là bài thơ tuyệt tác đầy tâm huyết. Bài thơ là tiếng nói tự hào của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước, thương dân, dám xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một giọng thơ đĩnh đạc hào hùng. Tráng lệ nhất là hai câu kết. Bài thơ thế hiện một cách sâu sắc nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại Phan Bội Châu.
Phân tích bài thơ Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu
1,470
Đề bài: Phân tích bài thơ Xúc cảnh của Nguyễn Đình Chiểu Bài làm Trong sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, phần thơ văn yêu nước chống Pháp đáng qúy hơn cả. Ở đây, Nguyễn Đình Chiểu trực tiếp bộc lộ trái tim mình. Đó là một trái tim vĩ đại. Trái tim ấy đầy ắp dòng máu yêu nước, thương nòi, kiên cường, bất khụất của dân tộc. Nó cũng một nhịp đập với trái tim đất nước suốt mấy mươi năm quân xâm lược thôn tín dần xứ sở chúng ta. Ở Nguyễn Đình Chiểu con người nghệ sĩ và con người chiến sĩ hài hòa với nhau. Viết văn là để chiến đấu. Chiến đấu hết lòng thì viết văn mới hay. Nguyễn Đình Chiểu đã sống vào lúc đất nước không còn sự nhất trí đồng lòng bảo vệ non sông với hào khí Đông A thời Trần, cũng không còn nữa những vị minh quân hay những bậc anh hùng áo vải, mà trí tuệ và tài năng như một khối thống nhất với ý chí toàn dân, để tạo nên những lần tốc chiến, ở trận Đống Đa hơn trăm năm về trước. Ông đã sống vào một thời kì bạo loạn nhất, trên khắp đất nước đâu đâu cũng diễn ra cảnh điêu linh. Nỗi đau thương nung nấu vì quê hương dân tộc và hoàn cảnh sông giữa lúc nhàân dân luồn sục sôi tranh đấu đã khiến ông từ một ông thầy giáo bị tật nguyền trở thành người chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận văn hóa, góp phẩn giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước của ông cha. Đọc thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, ta không chỉ thấy tiếng nói thiết tha của người rất mực thương dân yêu nước, mà còn phản ánh một tinh thần bất khuất hiên ngang, sẵn sàng sống chết với quân thù. Bài thơ Xúc cảnh phản ánh tình thế và tâm trạng của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu như đã nói trên. Hai câu thơ đầu, thể hiện cái băn khoăn, thao thức như đợi chờ một cái gì và đưa ra một hình ảnh ẩn dụ: Hoa cỏ trong mùa đông bị giá lạnh héo tàn chỉ mong có gió đông – tức gió xuân thổi từ phương đông về – cho ấm áp để tươi xanh lại: Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông! Và tiếp sang là một câu hỏi chua xót, đau lòng thể hiện mối hoài nghi: Chúa Xuân đâu hỡi có hay không? "Chúa Xuân”… phải chăng là cuộc sống yên lành là vận mệnh đất nước đang đứng trước hiểm họa xâm lăng có khả năng chống trả để tồn tại hay hông? Chưa mất hẳn niềm tin, nhưng hi vọng thì đã mỏng manh, bởi chúa “đâu hỡi, có hay không?”. Nhưng đến bốn câu tiếp: Mây giăng ải bắc trông tin nhạn Ngày xế non nam bặt tiếng hồng Bờ cõi xưa đà chia đất khác Nắng sương nay há đội trời chung! Rõ ràng, ở đây sự trông ngóng càng da diết thì lòng căm uất cũng dâng lên đến tột độ “há đội trời chung". Nhưng cái da diết thì đã rõ, nhưng còn căm uất với ai? Phải chăng, đó là cái triều đình mục nát, hèn yếu không dám khai chiến chống lại quân xâm lược. Với tư cách của một nhà Nho, sống có đạo lí, Nguyễn Đình Chiểu không cao giọng lên án, gay gắt với nhà vua, nhưng không phải không buộc tội kẻ đứng đầu trăm họ không làm tròn phận sự của mình để cho: Bờ cõi xưa đà chia đất khác. Chừng nào Thánh đế ân soi thấu Một trận mưa nhuần rửa núi sông Đó là lời cầu mong, vừa là nêu lên một trách nhiệm đối với triều đình là Thánh đế – một hành động rửa núi sông hết mùi tanh tưởi của quân thù. Bài thơ nêu cao một tấm lòng yêu nước, quan tâm tha thiết đến vận mệnh của dân tộc và cũng là lời thở than chua xót. Nếu ở Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc có cái hay làm xúc động lòng người bởi tiếng nói “dân dã” thì ở đây người đọc lại cảm nhận được cái hay của văn chương bác học. Lời thơ man mác, lắng đọng một nỗi đau vì đất vì nước.
Phân tích bài thơ Xúc cảnh của Nguyễn Đình Chiểu
728
Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Ánh trăng Đề bài: Nêu cảm nghĩ về khổ thơ cuối của bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy 1. Yêu cầu – Viết bài nghị luận về một khổ thơ trong một bài thơ. – Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là khổ thơ kết của bài thơ Ánh trăng của tác giả Nguyễn Duy. – Phân tích cảm nhận sấu sắc của nhà thơ đối với một hiện tượng của cuộc – Sống thông qua hình thức nghệ thuật của khổ thơ. – Bài viết có mối liên kết chặt chẽ, hợp lí giữa khổ kết với toàn bài thơ để làm rõ chủ đề tư tưởng của bài thơ. 2. Gợi ý – Đọc kĩ bài thơ nhất là khổ thơ kết (4 câu). – Tham khảo các tư liệu nghiên cứu phê bình về bài thớ, về nhà thơ, về thơ ca thời hậu chiến. – Chú ý đặc biệt đến hoàn cảnh sáng tác của bài thơ để thấy được ý tưởng sâu xa mà tác giả gửi gắm trong hình ảnh thơ đó. – Kết hợp khéo léo với biểu cảm. 3. Lập dàn ý a. Mở bài – Thơ ca hậu chiến dẫn đến cảm hứng chủ đạo. – Nguyễn Duy có cái nhìn chiêm nghiệm và sâu sắc về con người để nhắc nhở, cảnh tỉnh họ. b. Thân bài – Cảm nhận chung về hình ảnh ánh trăng trong toàn bài Hình ảnh gắn với những năm tháng gian khổ chiến đấu với quá khứ. Là người bạn tâm tình, chia sẻ với người lính trong chiến tranh, với con người trong quá khứ gian khó, vinh quang. Là sự lãng quên khi chiến tranh lùi xa, con người đến với những no đủ của thời bình. – Khổ thơ kết (4 câu) Chứa đựng ý nghĩa triết lý sâu sắc của toàn bài thờ (2 câu đầu). Đối lập: ánh trăng (quá khứ, cao thượng, thuỷ chung, nghĩa tình) >< con người (hiện tại, vô tình, quên lãng, lạnh nhạt) ; chú ý nghệ thuật nhân hoá, từ ngữ cứ tròn vành vạnh Xvô tình. Lời nhắc nhở tâm tình của nhà thơ. Tương phản: im phăng phắc với giật mình (cử chỉ của một tâm trạng day dứt, hối hận) (toà án lương tâm) c. Kết bài: Trân trọng, giữ gìn quá khứ để vững bước tới tương lai. 4. Bài làm minh họa Cuộc sống là những chuỗi biến chuyển và đổi thay mà con người không thể nào lường trước được. Đôi khi chúng ta bị cuốn theo dòng chảy bất tận của nó mà vội vã bỏ quên những giá trị, những nghĩa tình thuỷ chung cũng chưa xa trong quá khứ. Sau cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ vĩ đại của dân tộc – cuộc chiến mà biết bao nhiêu máu và nước mắt đã đổ xuống cho sự thống nhất của dân tộc, cuộc chiến mà trong nó hiển hiện bao nhiêu chiến công lẫy lừng, bao nhiêu tấm gương hi sinh anh dũng, chúng ta thật xót xa khi phải chứng kiến sự thờ ơ, lạnh nhạt của con người trước những năm tháng tưởng như không thể nào quên ấy. Văn học thời kì đó nhận thức rõ điều đó. Nhiều tác phẩm đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đầy ngỡ ngàng và chua xót đối với cái xã hội đang quẩn quanh trong nỗi lo cơm áo gạo tiền. Bài thơ Ảnh trăng của Nguyễn Duy là một trong số đó. Ngỡ không bao giờ quên Cái ương trăng tình nghĩa Nhưng cuộc đời không phải sự kéo dài thẳng tắp của ngày hôm nay, không phải bao giờ cũng đi theo dự tính của con người. Cái mà hôm qua ta nâng niu trân trọng bao nhiêu thì hôm nay rất có thể trở thành thừa thãi, vô nghĩa, xa lạ, lạnh lúng,… bấy nhiêu. Quá khứ dù đẹp đẽ đến đâu vẫn chỉ là quá khứ, Tần có thể bị che khuất bởi những lo toan, dự định với bao khát vọng ước mơ của đời sống thường ngày. Ớ đây tác giả đã kể lại câu chuyện đầy cay đắng của một vầng trăng bị lãng quên, bị lấn át bởi “ánh điện cửa gương”. Trong tâm trí con người, vầng trăng tri kỉ của những ngày chưa xa ấy, chua xót thay, giờ đây lại chỉ như “người dưng qua,đường”. Cái ngớ thân quen xưa nay trở nên âm thầm và xa lạ. Rồi ngay sau đó, nhà thơ đã tạo nên bước ngoặt của tác phẩm, khi để tình huống bất ngờ “đèn điện tắt” xảy ra. Lúc đó, con người đối diện với vầng trăng tròn trịa ân tình trong quá khứ, khiến họ chợt nhận ra vẻ đẹp và giá trị đích thực của những ngày xưa cũ ẩn sau sự dịu dàng, bao dung của ánh trăng. Trên cơ sở đó, tác giả đã viết nên khổ thơ cuối, khổ thơ chứa đầy ý nghĩa triêt lí sâu sắc của toàn bài thơ. Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho tơ giật mình. Vầng trăng vẫn còn đó, trọn vẹn và cao thượng đến lạ lụng. Mặc cho con người có thờ ơ, lạnh nhạt, nó vẫn toả sáng với bao vẻ đẹp tự nhiên, thanh bạch. Vầng trăng đó biểu tượng cho những ngày tháng gian khổ, thiếu thốn mà hào hùng, vinh quang thuở trước, cho tấm lòng của nhân dân yêu thương, chở che, đùm bọc cách mạng: Trăng cứ tròn vành vạnh Những giá trị đích thực của quá khứ, những ân tình thuỷ chung của một thời oanh liệt – dù đã lùi xa ẩn mờ vào dĩ vãng nhưng vẫn trường tồn cùng thời gian. Sự tròn đầy, viên mãn của vầng trăng đặt cạnh sự vô tình của con người càng làm tác giả thêm day dứt, hối hận trước tòa án lương tâm. Quả thật, chẳng có toà án nào xét xử sự lãng quên của con người, chỉ có lương tri ở sâu thẳm tâm hồn mới đánh thức trong chúng ta trách nhiệm với quá khứ. Sự cao thượng, vị tha của vầng trăng bất chấp ta vô tình, xa lạ – buộc nhà thơ phải suy nghĩ lại về chính mình. Bài thơ được sáng tác năm 1978, chỉ ba năm sau ngày toàn thắng của dân tộc. Tại sao chỉ ba năm với cuộc sống thị thành, với những bộn bề lo toan thường nhật lại có thể làm người ta lãng quên hơn mười ngàn ngày trong lửà đạn, thiếu thốn, trong ấm áp tình đồng đội, trong/vòng tay che chở của nhân dần? vẫn biết không có gì là mãi mãi trướe sức mạnh xói mòn của dòng chảy thời gian nhưng những điều đang diễn ra vẫn khiến nhà thơ phải ngỡ ngàng nhìn lại. Con người ta lãng quên nhanh quá! Còn vầng trăng vẫn nặng lòng sáng soi. Với biện pháp nhân hoá tinh tế: Ánh trăng im phăng phắc Ta đã thấy sự bao dung cao cả của vầng trăng quá khứ. Nó im lặng trước sự bội bạc vô tình của con người, cái im lặng dịu dàng, tha thứ nhưng lại như một lời trách cứ nghiêm khắc xoáy sâu vào tâm hồn nhà thơ. Thật lạ, chính sự im lặng ấy, tưởng như yếu ớt và lẻ lói ấy lại có sức mạnh khiến con người ta phải trầm ngâm xét lại mình. Họ chợt nhận ra giá trị của những điều mình đã bỏ quên – quá khứ của chính mình và một thời hào hùng oanh liệt của toàn dân tộc: Đủ cho ta giật mình Giọng thơ như một lời tâm tình, thủ thỉ đầy trải nghiệm, từ “giật mình” được tác giả sử dụng rất khéo léo, kết hợp với nhịp thơ liền mạch giàu sức biểu cảm làm toát lên ý nghĩa toàn bài thơ. Nó không chỉ thể hiện sự ân hận của con người mà còn gửi gắm bên trong nhiều điều nhà thơ muốn nói với cái xã hội đang quay cuồng quanh vòng xoáy của bao lo toan và mưu tính. Mục đích của nghệ thuật là tác động đến tâm hồn con người, làm thay đổi con người và xã hội theo hướng tốt đẹp hơn. Bài thơ Ánh trăng, với những đặc sắc riêng biệt về nghệ thuật và nội dung, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đó. Khổ thơ cuối bài là một chút “giật mình” của tác giả, hàm chứa trong đó bao nhiêu triết lí về cuộc sống và cả sự thức tỉnh đến toàn xã hội chúng ta! (Phan Tuấn Ngọc, lớp 9A1, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bài nghị luận về một khổ thơ khá thành công. Ngòi bút nghị luận vững vàng, chắc chắn. Tác phẩm văn học trích đã được phấn tích thấu đáo với tư duy rành mạch, ngòi bút giàu cảm xúc. Đáng khen cho Tuấn Ngọc, một bạn học sinh nam mà có những rung cảm nhẹ nhàng, sâu lắng về một đoạn trích thơ trữ tình, về một nhân vật trữ tình của bài thơ. Cái nhìn sâu sắc của bạn đã giúp cho người đọc hiểu được ý tưởng của Nguyễn Duy, và cũng thấm thìa lời nhắn nhủ chân tình của bài thơ. Người đọc tâm niệm lời Tuấn Ngọc khép lại ở cuối bài viết: “Mục đích của nghệ thuật là tác động đến tâm hồn con người, làm thay đổi con người và xã hội theo hướng tốt đẹp hơn” và “Khổ thơ cuối của bài là chút “giật mình” của tác giả nhưng hàm chứa trong đó bao nhiêu triết lí về cuộc sống và cả sự thức tỉnh đến toàn xã hội chúng ta”. Cũng hơi tiếc, nếu Tuấn Ngọc viết thêm về hoàn cảnh lịch sử, vai trò của thơ ca Việt Nam sau chiến tranh (hậu chiến) thì những cảm xúc và nhận định của bạn sẽ có cơ sở xác đáng hơn khi nghị luận. Chắc chắn hiệu quả thuyết phục sẽ cao hơn.
Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Ngữ Văn 9
1,686
Phân tích bài thơ Ánh trăng Hướng dẫn Sự thức tỉnh của người lính qua bài thơ Ánh trăng Mở bài: Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ quân đội trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân. Sau giải phóng, ông tiếp tực có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển nền văn học đương đại. Thơ Nguyễn Duy gần gũi với văn hóa dân gian, nhưng sâu sắc mà rất đỗi tài hoa. Những bài thơ của ông không cố gắng tìm kiếm những hình thức mới mà đi sâu vào cái nghĩa cái tình muôn đời của con người Việt Nam. Thơ Nguyễn Duy nhiều bài có cái ngang tàng nhưng vẫn trầm tĩnh. Nhiều bài thơ giàu chiêm nghiệm. Vì thế cứ ngấm vào người đọc. Trong cái đà ngấm ấy có lúc khiến người ta phải giật mình suy nghĩ. Bài thơ Ánh trăng được viết năm 1978, ba năm sau ngày giải phóng tại Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc những cảm nhận của nhà thơ về quá khứ nghĩa tình lối sống của con người trong hiện tại. Thân bài: Hình ảnh vầng trăng nghĩa tình, hồn hậu trong quá khứ: “Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với biển hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỷ Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa”. – Hồi nhỏ: Sống hòa mình trong thiên nhiên rộng lớn, cỏ đồng, có sông, có bể, có vầng trăng hiền hòa. Trăng hồn nhiên, trần trụi, vô tư và tươi đẹp. Trăng dâng tặng cho con người ánh sáng, ước vọng và những niềm mơ trường xa xôi. Vầng trăng gắn chặt với kí ức tuổi thơ, là ánh sáng nhiệm màu dẫn bước con người đến với cuộc đời. – Hồi chiến tranh: lúc ở rừng, vầng trăng cũng tìm đến bầu bạn cùng với người lính. Những đêm rừng dài đăng đẳng, không gian xa lạ và đơn điệu, vầng trăng chính là hình ảnh đẹp nhất gợi nhớ về quê hương và làm bùng lên khát khao hòa bình. Vầng trăng vẫn dõi theo con người đến mọi miền, vẫn cứ hồn nhiên, vô tư, tỏa sáng – Trăng muôn đời vẫn thế, bình dị và thủy chung với con người. Dù là lúc còn bé thơ, vui đùa trên ruộng hay khi trên chiến trường ác liệt. Trăng vẫn nghĩa tình, thủy chung. Tác giả ngỡ như sẽ không bao giờ như sẽ không bao giờ quên được cái vầng minhfg tình nghĩa ấy. Câu thơ giống như lời hứa đinh ninh, sâu sắc. Trăng là vẻ đẹp của đất nước bình dị, hiền hậu. Vầng trăng của thiên nhiên vĩnh hằng, tươi mát, thơ mộng. Vầng trăng không những trở thành người bạn tri kỉ, mà đã trở thành “vầng trăng tình nghĩa”. Trăng là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình. Kí ức tuổi thơ bàng bạc ánh trăng vàng phủ bóng trên khắp làng quê bình dị. Nó mãi mãi ám ảnh con người, nằm sâu trong trái tim như một phần của sự sống, được kết tinh bằng tình yêu cuộc sống, khát vọng hòa bình và ý chí vượt lên của con người. Hình ảnh vầng trăng trong hiện tại: “Từ hồi về thành phố quen ánh điện cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng”. – Hoàn cảnh thay đổi. Chiến tranh kết thúc, hòa bình mở ra, sự vất vả, hi sinh không còn nữa, đời sống vật chất lên ngôi, tình nghĩa hao mòn, con người bận rộn trong cuộc sống mưu sinh, thiếu hẳn giây phút hảnh thơi, lãng mạn để nhìn ngắm thiên nhiên, suy ngẫm và trân trọng. – Bởi thế, vầng trăng – biểu tượng của cái đẹp, cái vĩnh hằng, cái quá khứ nghĩa tình nhiều lần đi qua bầu trời nhưng đã không được được con người chú ý. Họ lạnh mặt làm ngơ như người đứng qua đường. Vầng trăng bây giờ đối với người lính năm xưa giờ chỉ là dĩ vãng, dĩ vãng nhạt nhòa của quãng thời gian xa xôi nào đó – Tình huống không có gì mới mẻ nhưng sự kiện lại có sức khơi gợi lớn khiến người đọc phải suy nghĩ. Vầng trăng dù trải qua bao thời gian vẫn không hề thay đổi, vẫn tròn trịa và sáng rực, đều đặn đi qua bầu trời từng đêm, chỉ có con người là vô tình vô nghĩa. Khi có cuộc sống vật chất tiện nghi, con người đã vội lãng quên người bạn chân tình, lãng quên ấy cái quá khứ nghèo khó, khổ đau nhưng đầy ấp áp nghĩa tình năm xưa. Bởi thế cái “rưng rưng” ấy chính là giọt nước mắt vừa mừng rỡ như gặp lại cố nhân, vừa là giọt nước mắt hồi tỉnh, hối hận trước sự vô tình của mình. Biên pháp so sánh: “Vầng trăng đi qua ngõ. Như người dưng qua đường” không khỏi khiến người đọc thấy ngậm ngùi. Đã biết bao lần ta cũng đã vô tình như thế. Đã biết bao lần ta cũng hững hờ, lạnh nhạt đối với quá khứ xa xôi, bỏ quên nguồn cội lao theo các giá trị cuộc sống hiện tại. Đã biết bao lần ta tự ngụy biện rằng hiện tại mới là cái quan trọng ta cần cố gắng, cần trân trọng mà phủ nhận quá khứ, lãng quên những tháng ngày khốn khó. Câu thơ của Nguyễn Duy khiến ta sực tỉnh như vừa thoát khỏi một cơn mê lầm và tìm lại chính mình trong giá trị đích thực của đời người. Suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng hiện tại: “Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình”. – Vầng trăng cứ tròn và tỏa sáng từ ngày xưa cho đến hôm nay còn con người thì khi đời sống thay đổ đã mau chóng lãng quên. – Con người là hình ảnh của đời sống hiện tại ích kỉ, vô tình?Con người là sự vô tình, giả dối trong hiện tại. – Dù thế vầng trăng vẫn im phăng phắc không hề oán giận. Đó cũng là sự nghiêm khắc nhắc nhở con người phải trở về, phải trân trọng và gìn giữ cái quá khứ ân nghĩa thủy chung một thời gắn bó. – Trăng còn là biểu tượng của đất nước, của lí tưởng cao đẹp mà con người phải gìn giữ. Con người là biểu tượng của sự suy thoái của đạo đức, nhân cách, nhân phẩm và lối sóng vô cảm, giả tạo. Cả bài thơ là lời nhắc nhở trong hiện tại không nên vì chạy theo vật chất mà đánh đổi cả lương tâm, cả quá khứ của mình. Cấu trúc song hành của hai câu thơ với nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Hai hình ảnh sóng đôi không thể tách rời cùng nâng đỡ nhau tỏa sáng. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”, đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc. Nó chứng minh rằng: tác phẩm vừa là kết tinh tâm hồn của người nghệ sĩ vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà người nghệ sĩ mang trong lòng. Kết bài: Bằng lời thơ chân tình, mộc mạc, Nguyễn Duy đã nhẹ nhàng đánh thức tâm hồn người đọc, nhắc nhở chúng ta sống đúng đắn. Trong cuộc sống hòa bình và tiện nghi phải biết bừng tỉnh lương tâm, trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.
Phân tích bài thơ Ánh trăng
1,396
Phân tích bài thơ Ông nghè tháng Tám của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Phân tích bài thơ Ông nghè tháng Tám của Nguyễn Khuyến Nhắc tới Nguyễn Khuyến là nhắc tới hình ảnh của một nhà thơ tiêu biểu cho làng cảnh Việt Nam, những câu từ trong thơ Nguyễn kHuyến mang tới cho người đoc người nghe những cảm giác của vùng thôn quê dân giã. Một trong số những bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Khuyến là “ông nghè tháng 8” hay bài thơ tiêu biểu với hình ảnh của hình ảnh tiến sĩ làm bắng giấy hết đỗi chân thực mà cũng mang tính châm biếm và hiện thực sâu sắc Một trong những ấn tượng ban đầu của bài thơ chính là nhắc tới hình ảnh của ông nghè là một trong những đồ chơi được sử dụng trong các dịp lễ hội. là đồ chơi của con trẻ nhưng cũng rất tinh tế và được làm một cách tỉ mỉ giống thật, tuy nhiên dù thật tới mức nào thì nó cũng chỉ là làm bằng giấy mà thôi. Và để mở đầu một cách bất ngờ nhà thơ đã viết: “Cũng cờ cũng biển cũng cân đai Cũng gọi ông nghè có kém ai” “Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng Nét son điểm rõ mặt văn khôi” Hình ảnh của ông nghè với cân đai với những mảnh giấy sơn son thiếp vàng khiến người ta gợi nhớ tới những hình ảnh của những nhà thi đỗ tiến sĩ được nhà vua trọng dụng và những người vinh hạnh được nhiều người trọng dụng. Tuy nhiên nhà thơ của chúng ta không dừng lại ở việc chỉ miêu tả những ông tiến sĩ này mà còn là khắc họa ẩn ý trong đó là những ông tiến sĩ giấy “ hữu danh vô thực” mặc dù mang danh là tiến sĩ là những người học rộng tài cao nhưng thưc chất lại là những người chỉ có một cái duy nhất đó chính là tờ giấy chứng nhận. màu sắc hay cái vẻ bề ngoài chỉ để bao bọc những cái dốt nát và điêu đứng ở bên trong. Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ Cái giá khoa danh ấy mới hời Lại tiếp tục với những câu thơ như ý chỉ miêu tả những ông nghè nhưng sao ý tứ lại có phần mỉa mai tới như thế. tiến sĩ – cái danh hiệu ất như là một thứ nhẹ nhàng không có chút trọng lượng gì cả và câu thơ “ cái giá khoa danh ấy mới hời” như để chứng minh rằng thi cử hay những thủ tục nay không còn ý nghĩa nhiều và khắt khe như trước nữa. Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi” Có lẽ hai câu thơ này là hai câu thơ trào phúng hay nhất và đặc sắc nhất của bài thơ. Những câu thơ với ý tứ rất chỉnh khiến cho người ta đọc có những cảm nhận rất thật về một xã hội một thời đại bây giờ. Và cái thời đại ấy người tài giỏi thì bị chèn ép không được trọng dụng còn những người có tiền có ô dù có những vai vế thì tiếp nối nhau vào giúp việc cho triều đình. Và đây cũng là lí do tại sao mà những người như Nguyễn Khuyến lại quyết định lui vê ở ẩn. trở lại với mạch của bài thơ, không thể phủ nhận rằng những người tiến sĩ như ông tiến sĩ giấy lại là những hình ảnh điển hình để miêu tả những con người ít học nhưng lại mua chức mua quyền để lấy làm hãnh diện nay lại ngang nhiên tới thế. Tưởng rằng đồ thật nhưng lại hóa ra chỉ là đồ chơi không có một chút thực lực hay một chút tài năng như thế nào cả Làm bài thơ vịnh về ông nghè tháng tám nhưng thực ra là làm về bài thơ để nói về một thực trạng đau buồn của đất nước, thời thế thay đổi người giỏi thì không được trọng dụng lui về ở ẩn, người ít học lại có tiền lại soán ngôi. Với lối nói hài hước dí dỏm người ta nhận ra một cái nhìn vừa hài hước lại vừa châm biếm mỉa mai của Nguyễn Khuyến.
Phân tích bài thơ Ông nghè tháng Tám của Nguyễn Khuyến
718
Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Ông Đồ Của Tác Giả Vũ Đình Liên Bài làm Tiết trời gần vào độ cuối đông. Ở các làng hoa Nhật Tân, Quảng Bá nhiều cành đào đã lấm tấm nụ. Những người trồng hoa đang tìm cách hãm cho đào ấp nụ lâu để chờ dịp Tết. Giữa việc làm ấy của người trồng hoa đào bây giờ với chuyện “vẫn ngồi đấy” kiên nhẫn của ông đồ già “muôn năm cũ” có gì giống nhau chăng? Vì kế mưu sinh, con người ta quá thừa kiên nhẫn. Nhưng ai mà chế ngự được thời gian, chiến thắng được quy luật vần xoay của tạo hóa. Muộn chút thôi, rồi đào nở. Gượng sức tàn, rồi ông đồ cũng phải rút lui vào hậu trường của xã hội. Vũ trụ và lịch sử cứ thản nhiên thực hiện cái quy luật sinh thành và đào thải khôn cùng. Nhưng lòng người không thể không xót xa, ngậm ngùi và chẳng thể dửng dưng khi đọc những hoài cổ tha thiết của Vũ Đình Liên qua Ông đồ. Vũ Đình Liên sinh năm 1913, là nhà thơ, nhà giáo từng giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội. Ông tham gia phong trào Thơ mới từ những ngày đầu, ông viết không nhiều nhưng Ông đồ là một trong những bài thơ nổi tiếng của Thơ mới. Viết bài Ông đồ, nhà thơ đã thể hiện niềm thương cảm chân thành đối với một lớp người tài – tình sinh bất phùng thời đang tàn tạ, đồng thời xót thương, tiếc nhớ những cảnh cũ người xưa… Thi phẩm có năm khổ thơ, mỗi khổ bốn câu, mỗi câu năm chữ thật xinh xắn. Hai khổ đầu miêu tả lại khung cảnh mùa xuân trước đây, khi ông đồ còn được tôn vinh: Lại thấy ông đồ già” Hoa đào và ông đồ đã thành hai hình ảnh sóng đôi trong không khí đông vui náo nức của ngày Tết qua cặp từ liên kết “mỗi năm-lại thấy”. Từ chỉ lượng không xác định “bao nhiêu” và từ láy “tấm tắc” vừa thể hiện sự tôn kính, trọng vọng ông đồ, vừa nói lên sự quan tâm, ưu ái chữ Nho của cộng đồng người Việt ngày xưa. Tuy nhiên, ở khổ ba bắt đầu có sự biến đổi. Ông đồ dần bị xa lánh. Từ “mỗi” điểm nhịp cho bước tiến thời gian – bước suy thoái của Nho đạo. Việc thư pháp bị thờ ơ là biểu hiện rõ ràng cho điều này. Đạo Khổng đã đến hồi mạt vận, từ bỏ quyền ngự trị trong nền văn hóa mới: Tây phương. Trước tình cảnh không thể cứu vãn nổi ấy, Vũ Đình Liên chỉ còn có thể xót thương cho số phận ông đồ. Nếu thay chữ “rồi” hoặc “sau” thì giọng thơ sẽ chỉ đơn thuần là lời tự sự. Chữ “nhưng” cùng với câu hỏi tu từ đã tạo nên sắc thái biểu cảm buồn đau sâu sắc, mênh mang. Và đặc biệt là hai câu tuyệt bút: “Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu” So với hình ảnh “mực tàu giấy đỏ” được phô bày ở khổ một, quả thật nét tương phản đã khắc họa sâu đậm và chân thực hơn rất nhiều nỗi sầu tủi. Thông qua giấy-mực-nghiên, những vật hết sức gắn bó với các nhà nho, tác giả đã vận dụng tài tình nghệ thuật nhân hóa để đặc tả cảm xúc ấy của thầy đồ già thất thế. “Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay” Chiếc lá lạc lõng và tiêu điều ấy, phải chăng chính là hình ảnh ông đồ cô đơn trong làn mưa lạnh lẽo thê lương? Vần thơ sao mà xót xa, đau đớn, buồn tủi vậy! Dáng điệu ấy của ông đồ giữa một không gian tiêu điều lạnh lẽo chính là cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn. Sinh ra, phát triển rồi suy thoái, đó là quy luật chung của tự nhiên. Thời gian tuần hoàn vĩnh cửu, còn ông đồ đã thực sự biến mất khỏi trần thế, trở thành những dĩ vãng xa xưa – hệ quả chung của một lớp người: “Thôi có ra gì cái chữ Nho Ông Nghè ông Cống cũng nằm co” (Tú Xương) Ông đã chết cùng với nền văn minh Khổng giáo suy tàn sau hơn hai nghìn năm tự trị. Ông là cái bi kịch về số phận cá nhân trong phút chuyển giao hai thời đại lịch sử văn hóa. Chỉ còn Vũ Đình Liên với niềm thảng thốt: “Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?” Với hai mươi câu thơ, tác giả đã xúc động biểu lộ bi kịch ông đồ tàn tạ, khái quát lên về một thời đại văn hóa cùng những triết lý nhân sinh, thế sự với tấm lòng chân thật, thấm đẫm chất nhân văn và niềm hoài cổ. Bài thơ vừa có phong vị Đường thi, vừa mang âm hưởng thơ hiện đại. Cổ điển ở đề tài, các mô típ lá vàng rơi, hoa đào, giấy đỏ, mực tàu, ở sự trầm lắng kín đáo của lời thơ. Hiện đại trong cách diễn đạt cảm xúc, xây dựng hình tượng ông đồ và cách kết cấu bài thơ theo dòng hoài niệm. Cảm xúc của tác giả không bộc lộ trực tiếp mà lan dần, thấm dần vào lòng người đọc qua rất nhiều khoảng trống gợi nhiều hơn là kể, tả dông dài. Ông đồ là sự thăng hoa của tài năng và tâm hồn Vũ Đình Liên. Tài năng đã giúp cảm xúc thể hiện những rung động tinh tế và sâu xa nhất. Cảm xúc lại chắp cánh cho tài năng bay cao và tỏa sáng. Nhưng lịch sử cũng để lại cho ông niềm xót thương cuối cùng: nhà thơ Vũ Đình Liên và tuyệt tác Ông đồ sẽ bất tử trong nền thi ca dân tộc, và hình ảnh ông đồ đã làm xao xuyến trong trái tim bao bạn đọc hơn nửa thế kỉ nay.
Phân Tích Bài Thơ Ông Đồ Của Tác Giả Vũ Đình Liên
1,019
Phân tích bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên văn lớp 8 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên văn lớp 8 Bây giờ thời thể biến thiên Nhà vua không lấy Trạng Nguyên nữa rồi Mực tàu, giấy bản là thôi Nước non đã hết những người áo xanh (Nguyễn Bính) Viết về thời thế biến thiên khiến những nhà nho cũ trở thành người sinh bất phùng thời, Vũ Đình Liên đã có một thi phẩm được coi là kiệt tác sinh ra từ hai nguồn thi cảm lòng thương người và tình hoài cổ. Đó là bài thơ Ông đồ mà linh hồn của bài thơ chính là hình ảnh ông đồ một di tích tiều tụy, đáng thương của một thời tàn. Trong xã hội xưa, ông đồ là người có đi học chữ Nho song không đỗ đạt, sống thanh bần giữa những người dân thường bằng nghề dạy học. Chữ nghĩa thánh hiền và nghề dạy học trong xã hội tôn sư trọng đạo được mọi người kính nể. Theo phong tục, ngày tết đến mọi nhà lại sắm câu đối hoặc một đôi chữ nho để trang hoàng nhà cửa, khi đó ông đồ lại có dịp trổ tài. Chính vì thế mỗi năm tết đến, xuân về, hình ảnh ông đồ cùng với nét chữ của ông trở thành một nét văn hóa không thể thiếu trong bức tranh xuân của mọi gia đình Việt nam. Bài thơ ngũ ngôn gồm có năm khổ thơ khắc họa trọn vẹn một chính thể nghệ thuật: hình ảnh ông đồ cùng thời gian. Lời thơ không cầu kỳ đẽo gọt, từng dòng, từng chữ thong thả, thầm lặng như hoa quỳnh nở, uốn cong xòe ra tỏa hương buồn. Mở đầu bài thơ là nhịp đời chảy trôi, miên viễn, tự nhiên, cứ thế mà trở thành điệu sống mỗi năm, lại thấy: Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ồng đổ già Bày mực tàu, giấy đỏ Bên phố đông người qua. Nhà thơ không nói tết đến, xuân về mà nói hoa đào nở bởi đó là tín hiệu của mùa xuân. Câu thơ chỉ kể chứ không tả nhưng người đọc vẫn hình dung sắc hoa đào tươi thắm, mênh mang tạo nên, phông nền của bức tranh xuân. Đất trời thiên nhiên như tái sinh từ một sắc hoa đào chúm chím, nở môi hồng. Tết đến, xuân về, đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa trong mỗi gia đình Việt Nam xưa: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh. Hình ảnh ông đồ già xuất hiện cùng với mực tàu, giấy đỏ, nơi phố đông người qua dường như không có gì lạ. Đến khổ thơ thứ hai, âm điệu câu thơ dường như sôi nổi hơn, giống như tiếng reo vui của nhà thơ, xốn xang, tự hào cho một mỹ tục được bảo tồn, tinh hoa được ngưỡng mộ, tài năng thư pháp được tôn vinh: Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài “Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay ” Ông đồ, hình tượng trung tâm của bức tranh xuân, linh hồn của không gian mùa xuân. Màu sắc ánh sáng của hoa đào, lòng ngưỡng mộ của bao nhiêu người đều hướng về ông. Quanh ông là bao nhiêu người thuê viết, tấm tắc ngợi khen tài. Câu thơ như tiếng reo trầm trồ, thích thú thán phục của bao nhiêu tức là rất nhiều người trước tài viết chữ của ông. Hai câu thơ: Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay. Có thể coi là hai câu thơ đẹp nhất, giàu giá trị tạo hình nhất để nói đến tài hoa của ông đồ. Chữ hoa đào ở khổ thơ thứ nhất đến đây đã nhường chỗ cho hoa tay đặc tả tài năng nghệ sĩ của ông đồ. Từ bàn tay của ông, nét chữ vuông vắn, tươi tắn như hoa mùa xuân thể hiện hoài bão của con người như nhảy nhót, múa lượn. Hai động từ múa và bay gắn liền với những gì được coi là linh thiêng trong tiềm thức của người xưa: phượng, rồng đã cho ta thấy rõ nét chữ phóng khoáng từ tay người như có phép tiên đang thêu dệt gấm hoa làm nên một nét đẹp văn hoá trong truyền thông của dân tộc. Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm; Mực đọng trong nghiến sầu. Từ nhưng đặt đầu câu thơ đầy tâm trạng. Chữ nhưng hàm chứa cái ngơ ngác, thẫn thờ đến sửng sốt vì một sự thật đau lòng, một tình thế đã bị đảo ngược: từ phố đông người qua giờ đã là mỗi năm mỗi vắng, đông giờ đã vắng. Những người quen thuộc ngày nào, mến mộ ông, giờ đã trở thành người xa lạ. Cụm từ mỗi năm mỗi vắng diễn tả một sự thật nhói buốt diễn ra từ từ, dần dần, đầu tiên là bao nhiêu người thuê viết, sau mỗi năm mỗi vắng để câu thơ thứ hai buông xuống là một câu hỏi tu từ như lời gọi da diết: Người thuê viết nay đâu?. Câu thơ giống như câu hỏi không lời đáp chìm vào trống vắng, lặng yên đến nao lòng. Câu thơ viết về thảm cảnh của ông đồ mà như chính niềm ngóng vọng day dứt của nhà thơ. Hai câu kết của khổ thơ thứ ba rơi xuống như tiếng nấc thầm: Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiến sầu. Như ở trên đã nói, giấy đỏ y nghiến mực là hành trang gắn liền với kẻ sĩ ngày xưa, để từ đó họ gửi gắm cái hoài bão của một đời người qua nét chữ tượng hình đó. Ông đồ cũng vậy, nhưng xót xa thay vì không có người thuê viết, nỗi buồn vắng khách của ông đồ đã chiếu lên nghiên mực, phủ mờ giấy đỏ khiến giấy đỏ buồn không thắm, còn mực không được chiếc bút lông chấm vào nên đọng lại như giọt lệ khóc. Buồn sầu vốn là tâm trạng của con người nhưng ở đây với thủ pháp nhân hóa, nhà thơ khiến cho giấy đỏ và nghiên mực cũng trĩu nặng nỗi buồn sầu của con người. Nỗi buồn sầu của con người đã thấm cả vào những vật vô tri. Hai thanh nặng mực, đọng kết hợp với thanh bằng sầu cuối câu thơ kéo âm diệu câu thơ chùng xuống, với nỗi sầu mênh mang, lan tỏa. Hai câu thơ cực tả nỗi buồn trĩu nặng của ông đồ, tủi hổ, bẽ bàng cho thân phận, cho chữ nghĩa thánh hiền đang bị lụi tàn dần đi trong xã hội. Nhưng cũng như đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, ông đồ vẫn ngồi đấy y tức là ông vẫn kiên gan, vẫn cố bám lấy sự sống, vẫn muốn có mặt với đời, đau xót thay, thực tế lại là: … Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trẽn giấy Ngoài giời mưa bụi bay. Người qua đường vẫn tấp nập nhưng chẳng ai đoái hoài gì đến ông, người đời đã lãng quên ông. Trước kia người ta xúm xít chen nhau để ngắm nghía nét chữ như phượng múa rồng bay và tấm tắc ngợi khen tài của ông, thì nay người ta dửng dưng lạnh nhạt, vô tình đi qua để rồi họ hồ hởi, vồ vập với thứ văn minh lạnh lùng kiểu đô thị hóa. Trước đây ông là trung tâm của sự chú ý, là niềm khát khao, ngưỡng vọng của mọi người nhưng giờ đây điều đó chỉ còn là hoài niệm. Ông đã trở thành người sinh bất phùng thời. Hình ảnh ông đã trở nên trơ trọi, lạc lõng, tội nghiệp biết bao! Ông vẫn lặng lẽ ngồi đấy mà trong ông đang là một tấn bi kịch, một sự sụp đổ. Trời đất cũng thảm đạm như lòng ông: Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay. Bức tranh xuân giờ đây sao u ám, thảm đạm, rũ buồn. Lá vàng rơi là tín hiệu của mùa thu mà ở đây lại đâm ngang như một vết cắt nhói lòng giữa trời xuân. Mùa xuân, nơi khởi đầu của sức sống, mà lại xuất hiện lá vàng rơi. Lá vàng rơi gợi sự tàn phai, rơi rụng, có gì đang để vỡ trong lòng ông. Phải chăng lá vàng rơi ấy báo hiệu cái chết của một thời, cái chết của một lớp người, cái chết của một mĩ tục đã lùi xa. Nhưng lá vàng rơi trên giấy, hiện thực thật đau lòng. Những tờ giấy đỏ của ông đồ cứ phơi ra đấy hứng lá vàng rơi, ông đồ cũng vẫn cứ ngồi đấy, chìm trong quên lãng. Ngoài trời mưa bụi bay ý câu thơ tả cảnh bình dị nhưng lại chứa chất nỗi niềm. Nơi ông đồ vẫn ngồi đấy và cả ngoài trời đâu đâu cũng thấm màu thê lương, não nuột. Hạt mưa xuân chỉ là mưa bụi lặng lẽ, không đủ làm ướt áo ai, cứ âm thầm, mênh mang. Chỉ là mưa bụi bay mà sao ảm đạm, lạnh lẽo. Mưa bay ngoài trời hay chính là mưa bay trong lòng người. Lá vàng rơi và mưa bụi bay có thể coi là hai nét vẽ tạo hình cực tả nỗi buồn trong lòng người không chỉ thấm vào giấy đỏ, nghiên mực mà còn lan toả khắp không gian, để bức tranh xuân hiện lên với đường nét mờ nhòa, hiu hắt. Thật đúng là: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Hai câu thơ của Vũ Đình Liên được coi là hai câu thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt bút, đó là kết quả của sự cộng hưởng cảm xúc, của nỗi thương người và tình hoài cổ. Bài thơ kết thúc, vẫn với giọng kể lặng thầm: Năm nay đào lại nở, Không thấy ông đồ xưa. Những người muôn năm cũ Hồn ờ đâu bây giờ? Có thể nổi đến khổ thơ cuối, niềm hoài cảm đã dâng đầy. Mỗi lời thơ bật ra như tiếng khóc thầm, day dứt. Mở đầu bài thơ là Mỗi năm hoa đào nở, kết thúc bài thơ là năm nay đào lại nở. Đây là kết cấu đầu cuối tương ứng, khá chặt chẽ, làm nổi lên niềm hoài cảm day dứt của nhà thơ; kết cấu ấy cũng như câu thơ năm nay đào lại nở gợi ta liên tưởng tới ý thơ của Thôi Hộ đời Đường: Khứ niên kim nhật thử môn trung Nhân diện đào hoa tương ánh hồng Nhân diện bất tri hà xứ khứ (Ngày này năm trước tại cửa này Mặt người và sắc thắm hoa đào ánh vào nhau Năm nay hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ Nhưng người chẳng thấy đâu) Phải chăng ý thơ của Thôi Hộ đã xuôi theo thời gian, trôi về thơ của Nguyễn Du (Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông) và neo đậu trong nỗi thương người và tình hoài cổ của Vũ Đình Liên để nở ra sắc hoa đào năm xưa và năm nay trong bài thơ này. Đào lại nở, cảnh vẫn như cũ nhưng người chẳng thấy đâu. Không thấy ông đồ xưa Năm nay đào lại nở, nhưng ông đồ đã trở thành ông đồ Xưa, thành người muôn năm cũ, không biết hồn ở đâu bây giờ. Tác giả không trực tiếp bày tỏ thái độ tình cảm mà chỉ bằng ngôn ngữ miêu tả, câu thơ năm chữ, ngắn, hình tượng thơ nổi lên với tất cả tâm tình xót thương vô hạn trước cái chết không gì cứu vãn nổi của một lớp người, một thời đại, một nền văn hiến đã mấy ngàn năm gắn bó với mảnh đất này. Trên dòng đời chảy trôi, hình ảnh ông đồ cứ mờ dần, mờ dần rồi mất hút trên con đường vô tận của thời gian, gợi nỗi hoài cảm đến day dứt. Hai câu kết của bài thơ giống như tiếng gọi hồn lay tỉnh lòng người đến bâng khuâng: Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ? Câu hỏi hướng về quá khứ xa xăm hay cất lên trong hiện tại, ngóng vọng về tương lai, là tất cả. Mối hoài cảm trào dâng nhà thơ muốn đi tìm những người muôn năm cũ tìm ông đồ, tìm lại một thời xa nay đã mất, muốn ngược dòng thời gian để tìm về nét đẹp xưa, níu giữ một nhã thú đang một đi không trở lại. Lời thơ là một câu hỏi nhưng cũng là lời tự vấn, hàm chứa cả một khoảng trời cảm xúc với bao nuối tiếc, xót xa. Tìm về những người muôn năm cũ nhưng biết hồn ở đâu bây giờ. Hồn là cách nói tinh tế. Ta có thể hiểu là linh hồn kiểu như Thác là thể phách, còn là tịnh anh, hồn cũng có thể hiểu là quốc hồn, quốc túy, là tinh hoa văn hóa của cha ông nhưng hồn ở đâu bây giờ. Ở đâu, hai chữ đầy dằn vặt, tiếc nuối. Hồn thiêng ấy bây giờ tìm đâu. Đến đây, ông đồ đã hòa nhập vào gia tài chung của nền văn hóa Việt, thuộc về những gì là quốc hồn, quốc túy của cha ông. Câu thơ cuối cất lên giống như tiếng gọi đàn thăm thẳm, lời chiêu hồn cho một lớp người, một thời đại đã dần đi vào quá vãng. Bài thơ với giọng kể, câu chữ, hình ảnh không tân kỳ trong khi thơ mới đang phá tung cái lề luật của thơ cũ y phá vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch nhưng Ông đồ vẫn được coi là kiệt tác, bởi đó là nét thăng hoa đẹp của hồn thơ Vũ Đình Liên, kết tinh từ lòng thương người và tình hoài cổ. Bài thơ giông như một nén tâm hương của Vũ Đình Liên về một lớp người, một thời đại đã đi qua, một giá trị văn hóa đang bị mai một. Thật hiển linh thay, khi tôi viết những dòng chữ này cùng với mưa bụi đón xuân những ngày giáp Tết, cành đào chúm chím nụ hồng bên thềm thế kỷ XXI thì nghệ thuật thư pháp đang được khôi phục lại. Bất ngờ tôi lại ngâm nga: Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay.
Phân tích bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên văn lớp 8
2,401
Đề bài: Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên Bài làm Trong những ngày Tết đến xuân về náo nức trên mọi nẻo đường, người yêu thơ lại khẽ lắng mình trong một nhịp thơ giản dị đầy nhân văn của nhà thơ Vũ Đình Liên: bài thơ "Ông đồ". Bài thơ ra đời khi ông đồ đã trở thành cái di tích của một thời tàn. Nho học đã bị thất sủng, người ta đua nhau chạy theo thời đại với chữ Pháp chữ Tây. Hai đoạn đầu bài thơ, tác giả giới thiệu những ngày huy hoàng của ông đồ: Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay. Những lời khen thật hào phóng, nhưng nghĩ kĩ đó chỉ là lời khen của những người ngoài giới bút nghiên. Đi viết câu đối thuê, bản thân việc ấy đã là nỗi lận đận, là bước thất thế của người theo nghiệp khoa bảng. Đỗ các thành quan nghè, quan thám, đỗ thấp thì cũng ông cử, ông tú, chứ ông đó là chưa đỗ đạt gì, công chưa thành, danh chưa toại, đành về quê dạy học, bốc thuốc, hay xem lí số ở nơi đô hội như có lần Tản Đà đã làm. Ngày tết, mài mực bán chữ ngoài vỉa hè chắc cũng là việc bất đắc dĩ của nho gia. Chữ thì cho chứ ai lại bán. Bán chữ là cái cực của kẻ sĩ ở mọi thời. Bà con yêu quý và cũng thán phục cái thú chữ mà bà con không biết, hay chỉ võ vẽ, nên mới khen lao đến vậy. Lời khen này không mang lại vinh quang cho ông đồ, có thể ông còn tủi nữa, nhưng nó an ủi ông nhiều, nó là cái tình của người đời vào hồi vận mạt của ông. Tác giả giới thiệu: cùng với hoa đào, mỗi năm mới có một lần chứ nhiều nhặn gì đâu, giấy đỏ mực tàu, chữ nghĩa thánh hiền bày trên hè phố. Đừng nghĩ đến chuyện khoa bảng, hãy nghĩ trên cương vị người bán, thì đây là hai đoạn thơ vui vì nó nói được sự đắt hàng, ông đồ còn sống được, có thể tồn tại trong cái xã hội đang biến động này. Nhưng cuộc đời đã không như thế mãi, cái ý thích của người ta cũng thay đổi theo thời cuộc. Lớp người mới lớn không có liên hệ gì để mà quyến luyến cái thứ chữ tượng hình kia. Cái tài viết chân, thảo, triện, lệ của ông đồ chữ tốt kia, họ không cần biết đến: Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu… Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay Ông đồ rơi vào tình cảnh một nghệ sĩ hết công chúng, một cô gái hết nhan sắc. Còn duyên kể đón người đưa, Hết duyên đi sớm về trưa một mình. Ông đồ vẫn ngồi đấy mà không ai hay. Cái hiện thực ngoài đời là thế và chỉ có thế, nó là sự ế hàng. Nhưng ở thơ, cùng với cái hiện thực ấy còn là nỗi lòng tác giả nên giấy đỏ như nhạt đi và nghiên mực hóa sầu tủi, Hay nhất là cộng hưởng vào nỗi sầu thảm này là cảnh mưa phùn gió bấc. Hiện thực trong thơ là hiện thực của nỗi lòng, nỗi lòng đang vui như những năm ông đồ "đắt khách" nào có thấy gió mưa. Gió thổi lá bay, lá vàng cuối mùa rơi trên mặt giấy, nó rơi và nằm tại đấy vì mặt giấy chưa được dùng ỉến, chẳng có nhu cầu gì phải nhặt cái lá ấy đi. Cái lá bất động trên cái chỗ không phải của nó cho thấy cả một dáng bó gối bất động của ông đồ rồi nhìn mưa bụi bay. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này tới đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên. Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trống của đoạn thơ trước khi vào bốn câu kết: Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ? Hãy trở lại câu thơ đầu bài Mỗi năm hoa đào nở để thấy quy luật cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn vẫn ngồi đấy, nhưng năm nay ông không còn kiên nhẫn được nữa: Không thấy ông đồ xưa. Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại, lũ người hiện đại chúng ta đã nhìn thấy sự cố sức của ông, đã thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ quay nhìn lại, mới biết ông đã bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người, của một nghề, mà là dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối. Hai câu thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc, về ngữ pháp câu thơ này rất lạ, nhưng không ai thấy cộm: Những người muôn năm cũ. Muôn năm, thật ra chỉ là vài ba năm, nhưng nói muôn năm mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử. Chữ muôn năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ của câu dưới càng gợi bâng khuâng luyến nhớ. Câu thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.
Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
1,150
Phân tích bài thơ Ông Đồ Hướng dẫn Khi những ngày Tết đến, trên ban thờ của mọi nhà đã có bánh chưng, có mâm ngũ quả, trong nhà đã có mai, đào, cúc, quất…dưới bếp đã sẵn rượu thịt, dưa hành, trước cổng nhà đã treo cây nêu,tràng pháo, mà vẫn chưa có câu đối đỏ nghĩa là cái Tết vẫn chưa đủ đầy. Chính vì vậy mà khắp các vỉa hè, rìa chợ xưa vẫn đông đúc các ông đồ ngồi viết chữ, hình ảnh ông đồ với áo the, khăn xếp cũng từ đó mà khắc ghi vào trong tâm khảm của hàng triệu người dân Việt Nam. Vũ Đình Liên cũng lớn lên qua những mùa xuân như thế, những cái Tết có bóng dáng của ông đồ và câu đối đỏ. Để rồi khi thời cuôc đổi thay, ông đồ xưa ấy đã dần thưa thớt, những thân phận ấy như mây trôi bèo dạt về đâu, nhà thơ mới có một niềm thương cảm sâu sắc cho thân phận ông đồ, cho một lớp người tàn tạ và sự tiếc nuối một truyền thống đẹp đẽ của dân tộc đã mai một theo năm tháng. Bài thơ “Ông đồ” chính là từ tính cảm đó của nhà thơ mà ra đời. Ngay từ đầu bài thơ, dòng suy tưởng, hoài niệm của tác giả về hình ảnh ông đồ già xưa đã xuất hiện: “Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua” Từ “Mỗi” cho ta thấy ông đồ chính là một hình ảnh vô cùng quen thuộc với người dân Việt Nam vào mỗi dịp tết đến xuân về. Mùa xuân đến, cùng với màu thắm của hoa đào, màu đỏ của giấy, màu đen nhánh của mực tàu và sự đông vui, náo nhiệt của ngày tết, đâu đó trên phố phường ở thành thị, hay bên ven đường, rìa chợ ở nông thôn sự có mặt của ông đồ là điều không thể thiếu. Trong bức tranh xuân ấy, ông đồ chỉ chiếm một góc nhỏ, nhưng trong chính bài thơ này thì ông đồ lại chính là trung tâm. Ta có thể cảm nhận được điều đó qua nhịp thơ nhẹ nhàng, lời thơ từ tốn nhưng chan chưa yêu thương của tác giả khi giới thiệu về ông đồ. Ở trong lòng nhà thơ, những ông đồ ấy tuy lặng lẽ mà hết mình, thể hiện tài năng của mình qua đầu ngọn bút, hòa vào cái không khí nhộn nhịp của ngày tết đến xuân về. Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay” Để viết câu đối, các ông đồ xưa sử dụng loại giấy đỏ rất mỏng manh, với giấy này chỉ cần một chút ẩm ướt là có thể phai màu. Thế mà trong câu thơ “Giấy đỏ buồn không thắm”, không thắm bởi lâu nay không được dùng đến nên phôi pha úa tàn theo năm tháng. Và loại mực được dùng là thứ mực đen thẫm, rước khi dùng thì ta phải mài mực rồi dùng bút lông họa lên những nét chữ. Nhưng nay “Mực đọng trong nghiên sầu” nghĩa là mực đã được mài từ lâu, đã sẵn sàng cho bàn tay tài hoa của ông đồ trổ tài, nhưng đợi chờ đến vô vọng. Giấy cũng biết “buồn”, mực cũng u “sầu”, bút pháp nhân hóa đã khiến cho giấy đỏ, mực tàu vốn vô tri, vô giác bỗng trở nên có hồn, có suy nghĩ như con người. Nỗi buồn đó của ông đồ không chỉ thấm vào những đồ dùng mưu sinh hằng ngày mà cảm xúc đó của ông còn lan ra khung cảnh thiên nhiên, cảnh vật khiến không gian trở nên thật đìu hiu, xót xa: “Ông đồ vẫn ngồi đó Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay” Ông đồ ở thời vàng son được yêu mến và kính trọng là bao nhiêu thì nay bị hờ hững, hiu quạnh bấy nhiêu, tuy thế ông vẫn kiên trì, cố gắng ngồi bên lề đường chờ mong sự cưu mang giúp đỡ của người đời. Thương thay, vẫn góc phố, vỉa hè ấy, vẫn giấy đỏ, mực tàu, vẫn khăn quấn, áo the…vẫn không gian ấy nhưng nào ai có hay để ý gì đến ông. Không một ánh mắt nào dừng lại, không một trái tim nào đồng cảm và chia sẻ vời ông. Chỉ còn lại ông đồ với chính những xúc cảm của mình: “Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay” Dưới ngòi bút tả cảnh ngụ tình của Vũ Đình Liên, khung cảnh thiên nhiên thật xót xa, đìu hiu trước tâm trạng nhân thời thế thái của ông đồ. Nhưng khi đọc hai câu thơ trên, sẽ có nhiều người đặt câu hỏi, tại sao, giữa mùa xuân mà lại có lá vàng rơi? Phải chăng hình ảnh lá vàng rơi gợi đến sự tàn phai, tàn lụi về một thời kỳ, một lớp người trong xã hội và một phong tục tập quán đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam là chơi câu đối đỏ ngày tết giờ cũng trở thành quá khứ. Hình ảnh ông đồ cũng giống như hình ảnh lá vàng rơi, ông đã gắng níu kéo cuộc đời thầm lặng của mình nhưng so với thời đại mới thì ông chỉ còn là chiếc lá úa tàn đang rơi rụng. Tất cả, ông đồ già, giấy đỏ và mực tàu đã dần lùi xa trong dĩ vãng. Mưa xuân mang lại sức sống tràn đầy cho vạn vật, vậy mà nỗi buồn âm thầm, tê tái từ câu thơ trước lan cả sang câu thơ sau, khiến cho mưa xuân cũng mang một u buồn, xót xa “Ngoài giời mưa bụi bay”. “Giời” chứ không phải là ‘trời’- đó phải chăng là cách nói dân gian của những người muôn năm cũ trong đó có ông đồ. Câu thơ như trải ra nỗi buồn sâu thẳm của ông đồ: dẫu chỉ là mưa bay, mưa bụi nhưng nó cũng đủ sức xóa sạch đi dấu vết của một lớp người. Trước cơn mua bụi nhạt nhòa ấy, ông đồ đang phải chấp nhận một sự thật – mình đã bị lãng quên trong thời cuộc này. Còn lại một người, tác giả – nhà thơ – Vũ Đình Liên vẫn lưu dấu hình ảnh của ông đồ trong tâm khảm. Tuy ông đồ đã không còn được người đời yêu mến, trong vọng nữa, nhưng nhà thơ vẫn luôn hoài niệm về một thời đã xa: “Năm nay đào lại nở Khi xưa, mỗi dịp tết đến xuân về, hoa đào nở ta thấy ông đồ ngồi bên lề đường và hòa mình vào sự đông vui náo nhiệt của phố phường. Nhưng nay cùng thời điểm đó thì ông đã không còn nữa, hình ảnh ồng đồ cũng dần tan biến vào dòng thời gian. Cảnh còn đó nhưng người thì đâu? Giờ đây hình ảnh ông đồ chỉ còn là cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn, ông đã bị người đời quên lãng, bỏ rơi ngoài một thi sĩ Vũ Đình Liên. Dòng đời cứ trôi dần và cuốn trôi cả cuộc sống thanh bình đẹp đẽ, giờ chỉ còn là nỗi trống trải, bâng khuâng để rồi nhà thơ cũng phải bật thành câu hỏi đầy cảm xúc: “Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?” Cuối bài thơ là một câu hỏi tu từ, câu hỏi đó như là lời tự vấn, ẩn khuất một sự ngậm ngùi, xót thương. Từ hình ảnh ông đồ nhà thơ liên tưởng đến hình ảnh những người muôn năm cũ và thi sĩ hỏi, hỏi 1 cách xót xa: hỏi trời, hỏi mây, hỏi cuộc sống, hỏi 1 thời đại, hỏi mà để cảm thông cho thân phận của ông đồ, của những người muôn năm cũ đã bị thời thế khước từ. Đến đây, tác giả dường như vỡ òa cái cảm xúc đã kết đọng lại từ lâu: đó làm nỗi đâu vì nhưng gì đã ở vào một thời hoàng kim giờ cũng chỉ còn lại sự thê lương, màu sắc nhạt phai, tê tái. Tấm lòng hoài thương về một thân phận, một lớp người, một phong tục, một thời đại dần lùi xa vào dĩ vãng đã được Vũ Đình Liên gửi gắm trong bài thơ ngũ ngôn ngắn gọn, nhẹ nhàng. Âm hưởng của bài thơ thổi vào lòng người đọc một niềm ưu tư, thương cảm mang mác, thiết tha. Qua bài thơ ta cũng nhận ra một hồn thơ Vũ Đình Liên giàu xúc cảm về thời thế, thấy được một con người nhân ái, luôn cảm thông sâu sắc và đặc biệt ân nghĩa thủy chung.
Phân tích bài thơ Ông Đồ
1,477
Phân tích bài thơ Đi Đường (tẩu lộ) của Hồ Chí Minh Hướng dẫn I. “Bác Hồ đó chiếc áo nâu giản dị Màu quê hương bền bỉ đậm đà Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta…”(Tô’Hữu) Biết mỗi hành động, đọc mỗi bài thơ của Bác, chúng ta như được thêm vốn sống, tăng thêm nghị lực, lòng kiên nhẫn để vượt qua mọi thử thách gian lao và tin tưởng vững chắc vào kết quả công việc của mình. Vào mùa thu 1942, từ Pác Bó, Bác Hồ qua Trung Quốc để tìm viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam, và bị chính quyền tỉnh Quảng Tây bấy giờ bắt giam. Suốt một năm sông trong ngục tù, Bác đã viết Nhật kí trong tù, 133 bài thơ được Bác viết bằng Hán văn về nhiều đề tài khác nhau với mục đích là để tự động viên mình, trong đó có bài Đi đường (Tẩu lộ). II. Bài thơ được viết bằng thể thất ngôn tứ tuyệt, nhà thơ Nam Trân dịch ra Việt ngữ bằng thể thơ lục bát. Cũng cần biết thêm là Bác thường mượn những hình ảnh dễ thấy trong cuộc sống làm đề tài để biểu đạt tư tưởng và tình cảm của mình. Ngay ở tựa bài Đi đường cũng đã chứng minh cho nhận xét ấy. Từ hình ảnh cụ thể và khái quát ấy, nhà thơ Hồ Chí Minh đã viết thành câu khai: Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan, Bản dịch của Nam Trân viết: Đi đường mới biết gian lao, Câu thơ nguyên tác có điệp ngữ “tẩu lộ” (đi đường) để nhấn mạnh, còn câu thơ tiếng Việt thì không. Thế nhưng từ “nan” (khó) trong nguyên tác được dịch bằng từ “gian lao” thì khá tuyệt bởi nó diễn đạt nỗi khó khăn, gian khổ đậm nét hơn. Từ hình ảnh cụ thể ây, người đọc hiểu rộng ra: mọi công việc, khi bắt tay vào hành động mới thấy những khó khăn đang chờ đợi. Trùng san chi ngoại hựu trùng san; Bản dịch viết: Núi cao rồi lại núi cao trập trùng; Nguyên tác sử dụng điệp ngữ “trùng san – nhiều lớp núi chồng lên nhau” nhấn mạnh về núi non để làm rõ nghĩa cho “tẩu lộ nan – đi đường khó” ở câu khai. Bản dịch tiếng Việt cũng sử dụng điệp ngữ “núi cao”, quan hệ từ “rồi lại”, và cả tính từ láy âm “trập trùng” để cụ thể hóa “gian lao” ở câu khai. Như thế thì câu thơ dịch khá hoàn chỉnh, kể cả chất thơ. Từ sự việc có thật là lúc ở tù nhà thơ bị giải đi từ nhà lao này sang nhà lao khác ở tỉnh Quảng Tây, một tỉnh có địa hình nhiều rừng núi nhà thơ muốn nhấn mạnh đến những khó khăn không bao giờ dứt trong đời sống của mỗi người. Đường đời bình thường đi đã mệt, đường giành lại độc lập tự do đã bị thực dân tước mất thì khó khăn và nguy hiểm khôn lường. Lịch sử Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập – tự do cho dân tộc từ thời dựng nước cho tới lúc nhà thơ bị bắt và làm bài thơ này đã chứng minh cụ thể cho sự khó khăn khôn lường ấy. Biết như thế để tự động viên mình trên đường đi. Lúc nào cũng lạc quan, lúc nào cũng cố gắng tiến bước để đạt được mục tiêu cuối cùng như hình ảnh trong hai câu chuyển và hợp trong nguyên tác: Vạn lí dư đồ cô’miện gian. Và bản dịch: Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Cả nguyên tác lẫn bản dịch đều dùng phép đảo ngữ để nhấn mạnh “trùng san – núi cao”. Khó khăn nào cũng cố gắng vượt qua, núi cao nào cũng leo tới đỉnh rồi lại tiếp bước. Càng vượt được nhiều núi cao, trong thực tế, càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trèo đèo, lội suối, vượt qua những vực sâu… nguy hiểm. Hiểu rộng ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, kể cả việc học hành, càng vượt qua nhiều khó khăn càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong giải quyết công việc. Lúc ấy ta sẽ vững tin khi đối diện với một khó khăn mới khác trên bước đường đời. Trong cuộc đời hoạt động, Bác đã đến nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người. Mỗi nơi, mỗi người đều giúp Bác thêm kiến thức, kinh nghiệm. Khi đã vượt qua tất cả những ngọn núi thấp để đến đỉnh ngọn cao nhất: vượt qua khó khăn lớn lao nhất thì… đạt đến thành công. Hình ảnh kỳ vĩ: con người với thân hình nhỏ bé đứng trên đỉnh cao của ngọn núi vĩ đại: một bức tranh thật hào hùng; thành công ấy thật vinh quang. Vượt qua khó khăn lớn nhất sẽ thấy rõ đường đời cái gì là trắc trở, cái gì là hạnh phúc, bình yên. Ngày trước, Nguyễn Bá Học cũng đã từng mượn hình ảnh đi đường để nhân mạnh vai trò nghị lực của con người rằng: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông…”. Rồi cụ Phan Bội Châu cũng đã từng nhắc nhở: Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, Anh hùng hào kiệt có hơn ai. Thi nay lại có thêm Hồ Chí Minh. III. Mang nội dung giáo dục tư tưởng chính trị nhưng không khô khan bởi biết mượn hình ảnh sự việc để bộc lộ tâm tư của mình. Đúng là thơ của một danh nhân văn hóa của cả thế giới. Thế hệ của Bác, đàn em của Bấc đã học tập tinh thần ấy trong hai cuộc chiến chông thực dân và đế quốc. Còn các thế hệ sau thì nhờ học bài thơ mà họ thấy đường đời khó để bình tĩnh chuẩn bị hành trang mà vượt quạ: tri thức là phương tiện để “lên đến tận cùng”, vượt nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu…
Phân tích bài thơ Đi Đường (Tẩu lộ) của Hồ Chí Minh
1,019
Phân tích bài thơ Đi đường (Tẩu lộ) trích trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh. Hướng dẫn Trước bài Đi đường là Tết song thập bị giải di Thiên Bảo cho nên dù bài thơ Đi dường có tư tưởng khái quầt rộng lớn thì cảm hứng cũng bắt nguồn từ sự việc cụ thề là Bác bị giải đi. Nhận thức sâu sắc của Người trong bài thơ này là kết tinh của một chặng đường đời và một chặng đường dài vô cùng gian truân trên con đường cách mạng của Bác. Bài thơ mở ra là được sự đồng tình của người đọc về nhận xét và suy nghĩ của người đi đường: Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng; Hai câu lục bát dịch thật là thanh thoát hai câu thất ngôn trong nguyên tác (khó có thể dịch hay hơn). Vậy mà cũng không thể sánh được với câu thơ nguyên tác. Câu đầu trong bản chữ Hán có haì chữ “tẩu lộ” (đi đường). Hình thức điệp ngữ đó tăng cường sự thuyết phục của triết lí: “Đi đường mới biết gian lao”. Câu thứ hai, hai chữ “núi cao” là dịch thoát hai chữ “trùng san”. Bác chưa dùng chữ “cao” ở đây, vì bản thân chữ “san” (núi) thấy được hết núi này đến lớp núi khác, gợi đến sự gian lao chồng chất, tầng tầng của người đi đường. Cái khổ của người đi đường là vượt qua núi (cao thấp gì cũng mệt) và càng khổ hơn nữa tưởng là được nghĩ ngơi thì lại thấy núi khác hiện ra trước mặt. Nếu người đi đường không có nghị lực, quyết tâm thì dễ nản lòng. Nếu hai câu thơ đầu, người đọc dễ đồng tình với nhận xét của người đi đường thì hai câu sau người đọc càng dễ đồng tình với niềm sung sướng của người đi đường: Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Trong nguyên tác, đến câu thơ thứ ba Bác mới dùng chữ “cao” và cũng chỉ có một chữ “cao” độc nhất của bài thơ. Bác không muốn cường điệu sự gian lao của người đi đường. Khi người đi đường đã vượt qua hết dãy núi này đến dãy núi khác mà lên đến đĩnh cao tận cùng thì không gian mở ra bao la, nước non bày ra trước mắt và người đi đường được hưởng niềm hạnh phúc lớn lao của người đến đỉnh cao là “thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Tính chất giáo dục sâu sắc của thơ Bác thể hiện một cách thâm trầm. Bác vừa cho thấy hết những gian lao trên đường đi, đế người đi đường sẵn sàng ý chí, nghị lực và quyết tâm, Bác lại vừa mở ra niềm hạnh phúc vô biên khi con người lên đến đỉnh cao tận cùng đế người đi đường có thêm sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, thử thách mà vượt đến mục đích cuối cùng.
Phân tích bài thơ Đi đường (Tẩu lộ) trích trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh.
512
Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh văn 8 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh văn 8 Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non (Nhật kí trong tù) Trong những ngày bị tù đày, Hồ Chí Minh bị áp giải qua nhiều nhà lao. Theo Trần Dân Tiên trong những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch thì Người bị giam giữ trong gần ba mươi nhà lao huyện và xã. Chuyện đi đường là việc xảy ra hằng ngày. Có chặng đường mà người đi thật dễ chịu trong khung cảnh chim ca rộn núi hương bay ngát rừng (Trên đường đi) nhưng phổ biến hơn là những chặng đường vất vả, đi đường giữa những ngày giá lạnh, đi đường núi non hiểm trở. Bài thơ Đi đường mở đầu cho hành trình bị áp giải: Đi đường mới biết gian lao Đây là kinh nghiệm của người đã nhiều lần lên đường, ra đi. Có đi đường mới có những kinh nghiệm về chuyện đi đường. Đây lại không phải là con đường bằng phẳng mà là một chặng đường núi non hiểm trở: Núi cao rồi lại núi cao trập trùng. Với Đi đường, tác giả hiểu rõ đường đời khó khăn. Đường đời đây cũng là con đường đấu tranh cách mạng và người chiến sĩ cách mạng là người đi đường, không mệt mỏi. Chấp nhận và vượt lên những khó khăn, người đi đường bao giờ cũng hướng tới đích: Giầy rách đường lầy chân lấm láp Vẫn còn dấn bước dặm đường xa Trong bài thơ Đi đường, những khó khăn thật chồng chất, càng ngày càng nhiều và nâng lên đến cao điểm. Câu thơ như một thử thách: Núi cao lên đến tận cùng Người chiến sĩ cách mạng đã vượt qua được thử thách và chiến thắng. Trên cao điểm thắng lợi, biết bao tình cảm vui mừng được biểu hiện. Mừng vui vì đã chiến thắng được khó khăn, vì Người đã làm tròn trách nhiệm được giao phó. Trên đỉnh cao, con người có những cảm xúc đặc biệt: Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non Có thể quan sát và bao quát nhiều phạm vi của đời sống. Đôi mắt không còn bị hạn chế trong tầm nhìn mà đã được mở rộng, thâu tóm được biết bao cảnh vật. Đi đường là một bài thơ hay có nhiều lớp nghĩa, nghĩa đen, nghĩa bóng. Bài thơ có ý nghĩa đúc kết về kinh nghiệm, kinh nghiệm đi đường, kinh nghiệm đầu tiên của chặng đường cách mạng. Trong mấy câu thơ đầu, thiên nhiên với những vùng núi non hiểm trở như che lấp con người. Nhưng rồi con người đã chủ động vượt qua thử thách và thở thành nhân vật trung tâm của bức tranh. Đường đời gian khổ, đường cách mạng và đầy chông gai, nhưng quyết tâm vượt khó và theo đuổi đến cùng thì rồi cũng có ngày đi tới thành công, giành được chiến thắng.
Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh văn 8
519
Đề bài: Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí minh. Bài làm Bài thơ Đi đường (Tẩu lộ) trích từ tập Nhật kí trong tù. Giống như một số bài có cùng chủ đề như Từ Long An đến Đồng Chính, Đi Nam Ninh, Giải đi sớm, Trên đường đi, Chiều tối ở bài thơ này, Bác cũng ghi lại những điều cảm nhận được trên đường đi, khác ở chỗ sự cảm nhận ấy đã được khái quát và nâng cao lên thành triết lí. Do đó, ngoài ý nghĩa hiện thực, bài thơ còn chứa đựng ý nghĩa tượng trưng thâm thúy. Bằng nét bút tài hoa của người nghệ sĩ, Bác đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và trên cái nền hoành tráng đó, nổi bật lên tư thế hiên ngang của người chiến sĩ với quyết tâm vượt khó và tinh thần lạc quan tin tưởng vào tương lai tươi sáng của cách mạng: Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan, Trùng san chi ngoại hựu trùng san; Trùng san đăng đáo cao phong hậu, Vạn lí dư đồ cố miện gian. Dịch ra thơ tiếng Việt: Đi đường mới biết gian lao, Núi cao rồi lại núi cao trập trùng; Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Nguyên tác bài thơ bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt (bảy chữ, bốn câu). Sự hàm súc, cô đọng của ngôn từ cùng niêm luật nghiêm ngặt của thơ Đường không bó buộc nổi tứ thơ phóng khoáng và cảm xúc dạt dào của thi nhân. Bản dịch ra tiếng Việt theo thể lục bát tuy có làm mềm đi đôi chút cái âm điệu rắn chắc, khỏe khoắn vốn có của nguyên tác nhưng vẫn thể hiện được nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của bài thơ. Câu mở đầu là nhận xét chung của Bác về chuyện đi đường: Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan (Đi đường mới biết gian lao) Câu thơ thứ hai cụ thể hóa những gian lao trên đường đi thành hình ảnh: Trùng san chi ngoại hựu trùng san (Núi cao rồi lại núi cao trập trùng) Giữa khung cảnh thiên nhiên chỉ toàn là núi cao nối tiếp núi cao, con người vốn nhỏ bé, yếu ớt lại càng thêm nhỏ bé, yếu ớt. Đường xa, dặm thẳm, vực sâu, dốc đứng… biết bao trở ngại, thách thức dễ làm cho con người chán nản, ngã lòng. Bởi vừa vượt qua mấy đỉnh núi cao, sức tinh thần, vật chất đã vơi, con người tưởng đã thoát nạn, ngờ đâu lại núi cao trập trùng chặn đứng trước mặt. Trong câu thơ chữ Hán có chữ hựu ác nghiệt, lời dịch nhân cái ác nghiệt ấy lên gấp đôi: Núi cao rồi lại núi cao trập trùng. Gian lao kể sao cho xiết! Cấu trúc khép kín ở câu thơ chữ Hán (Trùng san chi ngoại hựu trùng san), chuyển sang kết cấu trùng lặp tăng tiến, vế sau nặng trĩu thêm bởi từ trập trùng ở cuối, cấu trúc khép kín và trùng lặp tăng tiến ấy dường như đẩy con người vào cái thế bị hãm chặt giữa ba bề bốn bên là rừng núi, không thoát ra được, chỉ có kiệt sức, nhụt chí, buông xuôi. Trùng san đăng đáo cao phong hậu Vạn lí dư đồ cố miện gian. (Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.) Giữa vòng vây núi non trập trùng, chất ngất, hoang vu đó nổi lên điểm sáng, điểm động là con người với vẻ ngoài tuy nhỏ bé, yếu ớt nhưng bên trong lại là một nghị lực, sức mạnh phi thường. Câu thơ trước kết thúc bằng hình ảnh trùng san, câu thơ sau mở đầu cũng bằng hình ảnh ấy. Trong thơ dịch không liền như thế nhưng cũng lặp được núi cao… núi cao… Âm điệu ấy nâng con người lên cái thế tưởng như bình thường nhưng thực ra lại rất hào hùng. Đạp lên đỉnh núi cao này bước sang đỉnh núi cao kia như đi trên bậc thang, cứ thế từ tốn lên đến đỉnh cao chót vót. Câu thơ chữ Hán dừng lại ở âm thanh chắc nịch của chữ hậu, tạo nên âm hưởng rắn rỏi, mạnh mẽ. Câu thơ dịch có âm điệu dàn trải như tiếng thở phào sung sướng, nhẹ nhõm: Núi cao lên đến tận cùng. Đến đây thì mọi gian lao, vất vả đã khép lại; kết quả, phần thưởng xứng đáng mở ra. Lúc trước là mắt chạm vào vách núi cao thẳng đứng, chỉ toàn đá và cây; nay thì mắt nhìn bốn phương, đâu đâu cũng thấy muôn trùng nước non (vạn lí dư đổ). Leo lên đến tận cùng, đứng trên đỉnh núi cao nhất (cao phong), phóng tầm mắt ra xa, không những tầm nhìn mở rộng mà cả trí óc, tấm lòng, cuộc đời cũng mở rộng. Con người đã đến đích sau cuộc hành trình muôn vàn gian khổ. Âm hưởng câu thơ cuối ngân vang thể hiện niềm lạc quan vô hạn trước tương lai tươi đẹp. Cảnh muôn trùng nước non giờ đây đã thu gọn trong tầm mắt Bác. Bài thơ kết thúc ở niềm vui, niềm kiêu hãnh to lớn đó. Đi đường không phải chỉ có gian nan vì núi cao trập trùng mà còn có bao khó khăn nguy hiểm khác. Hình ảnh núi cao trập trùng tượng trưng cho vô vàn khó khăn, nguy hiểm mà con người thường gặp trong đời. Cho nên đường ở đây không phải là con đường đỉ trên mặt đất mà nó chính là đường đời, đường cách mạng. Liệu có mấy ai suốt đời chỉ toàn gặp thuận buồm xuôi gió, thẳng một lèo đến thắng lợi, thành công? Trở ngại, nguy nan là chuyện thường tình. Muốn vượt qua tất cả, con người phải có một ý chí kiên cường, nội lực phi thường cùng một niềm tin không gì lay chuyển nổi. Như vậy mới có thể đạt được chiến thắng vinh quang. Thắng gian lao nguy hiểm và cao hơn nữa là chiến thắng chính mình. Nếu con đường đó là con đường cách mạng thì chân lí tất yếu nêu trên lại càng sáng tỏ. Cuộc đời phấn đấu, hi sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương chói lọi. Trên con đường cách mạng đầy chông gai, sóng gió, với trí tuệ sáng suốt, ý chí và nghị lực tuyệt vời, Người đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam vượt qua mọi gian lao, thử thách để lên đến đỉnh cao vinh quang của thời đại. Từ chuyện đi đường tưởng như rất đỗi bình thường, người chiến sĩ cộng sản lão thành Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta một bài học nhân sinh thiết thực và bổ ích.
Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh
1,149
Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Đi Đường Ngữ Văn 8 Của Hồ Chí Minh Bài Làm M.Goóc-ki từng nói “Kì lạ thay con người!”. Con người đến với cuộc đời và khẳng định sự tồn tại của mình bằng chính ý chí, nghị lực và một trái tim bao la. Đường đời với biết bao thử thách chính là lửa thử vàng để vàng càng sáng. Trong tập thơ Nhật kí trong tù , ta luôn bắt gặp một con người như thế. Bài thơ Đi đường cũng giống như những bài thơ chuyển lao khác như: Đi Nam Ninh, Chiều tối, Giải đi sớm,… không chỉ diễn tả nỗi gian nan của người tù trên bước đường chuyển lao mà hơn hết thể hiện một thái độ mang tính chất triết lí trước những chặng đường đời đầy thử thách và phong thái của một con người có tầm vóc cao cả. Câu thơ đầu tiên Bác dành để nói về việc đi đường. Nhưng không phải là lời kêu than của một người đã trải qua biết bao chặng đường chuyển lao mà nó như một lời khẳng định, suy ngẫm bằng sự trải nghiệm thấm thía của chính người đi đường: “Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.” Câu thơ như một triết lí của con người từng trải. Có đi đường, có trải qua những khó khăn vất vả trên những chặng đường mới thấm thía được nỗi gian nan, mới biết gian khổ là gì. Bài học này không có gì là mới lạ nhưng phải bằng chính những thử thách, trải nghiệm của bản thân mới có sự nhận thức sâu sắc được như vậy. Câu thơ giản dị mà chứa đựng cả một chân lí hiển nhiên. “Trùng san chi ngoại hựu trùng san”. Điệp từ “trùng san” như mở ra trước mắt người đọc cả một con đường gập ghềnh những núi, càng nhấn mạnh sự trải dài như vô tận, không dứt hết lớp núi này đến lớp núi khác. Con đường đó dường như đối lập với sức người, vắt cạn sức lực của con người. Phải vượt qua con đường như thế mới có thể thấu hiểu được cái chân lí tưởng chừng như giản đơn: “Đi đường mới biết gian lao” mà Bác đã nói ở trong câu thơ đầu. Hai câu thơ tiếp theo làm người đọc sửng sốt. Nếu như hai câu thơ đầu là chân lí, thì hai câu thơ sau bỗng vút lên nhẹ nhàng: “Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non” “Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Câu thơ cuối là đỉnh điểm của cảm xúc. Có niềm vui khôn xiết của một con người đã vượt qua được bao khó khăn, khổ ải để có thể tận hưởng được cảnh nước non mây trời. Tưởng chừng như mọi khó khăn đều lùi xa, chỉ còn lại một con người làm chủ thiên nhiên, đất trời với phong thái ung dung, tự tại đầy lạc quan. Đến đây đất trời và con người như hòa làm một. Bài thơ vút lên trong một niềm cảm hứng lãng mạn. Bài thơ Đi đường– Tẩu lộ không chỉ là bức tranh về con đường chuyển lao đầy rẫy nhọc nhằn trở ngại, đó còn là bức tranh chân dung tinh thần tự họa Hồ Chí Minh. Từ bài thơ, người đọc có thể cảm nhận hình ảnh Bác vừa có thần thái ung dung, bình tĩnh của một bậc tiên phong đạo cốt vừa có nét kiên cường rắn rỏi, đầy lạc quan của một người chiến sĩ cách mạng. Và như thế, bài thơ Đi đường cùng với nhiều bài thơ khác trong tập thơ Nhật kí trong tù thực sự là một đoá hoa đáng trân trọng của văn học Việt Nam.
Phân Tích Bài Thơ Đi Đường Ngữ Văn 8 (Tẩu Lộ) Của Hồ Chí Minh
645
Phân tích bài thơ Đi đường Hướng dẫn 1.Bài thơ có kết cấu khá chuẩn về kiểu kết cấu của bài thơ tứ tuyệt Đường luật: bốn câu có trình tự: Câu 1: khai (mở ra) Câu 2: thừa (nâng cao, triển khai ý câu khai) Câu 3: chuyển (chuyển ý) Câu 4: hợp (tổng hợp) 2.Việc sử dụng các điệp ngừ trong bài thơ thế hiện khó khăn chồng chất, gian lao kế tiếp gian lao, khó khăn gian lao triền miên, dường như bất luận. Câu thơ chữ Hán hai lần lặp lại hai chừ trùng san (lớp núi) với chữ hựu (lại) ở giữa, đã làm nổi bật hình ảnh thơ và nhấn mạnh sự trùng điệp, núi tiếp núi, làm cho ý thơ sâu sắc hơn. Nỗi gian lao của người đi bộ đường núi trong cảnh bị trói là điều không nói ai cũng biết, nhưng không phải ai cũng cảm nhận một cách thấm thía. Chỉ có người nào đã từng trải qua, từng thể nghiệm thì mới thấu hiểu đầy đủ cái sự thực hiển nhiên đó. Câu thơ rất đơn sơ nhưng mang nặng suy nghĩ, cảm xúc và gợi ra ý nghĩa khái quát sâu xa, vượt xa ngoài chuyện đi bộ đường núi. 3.Niềm vui sướng của người đứng trên cao ngắm cảnh. Từ tư thế người tù bị đọa đày tới kiệt sức, tưởng như đã tuyệt vọng, người đi đường cực khổ ấy bỗng trở thành du khách ung dung ngắm phong cảnh. Câu thơ thứ tư diễn tả niềm vui sướng đặc biệt, bất ngờ, đó là phần thưởng quý giá cho người đã trèo qua bao dãy núi vô vàn gian lao. 4.Bài thơ “Đi đường” không thuộc loại thơ tức cảnh hoặc tự sự mà chủ yếu thiên về suy nghĩ, triết lí nhưng không phải triết lí lên giọng dạy đời mà như lời kể chuyện, tâm sự của chính Bác Hồ trong những ngày tù đày. Bốn câu thơ bình dị mà cô đọng, rất tiết kiệm ngôn từ, ý và lời chặt chẽ, lôgic, vừa tự nhiên, chân thực, vừa chứa đựng tư tưởng sâu xa.
Phân tích bài thơ Đi đường
352
Phân tích bài thơ đoàn thuyền đánh cá Hướng dẫn Tổng hợp những bìa viết phân tích bài thơ đoàn thuyền đánh cá được đánh giá hay, tuy dài nhưng rất sâu sắc và ý nghĩa được viết với một cái nhìn tổng quat sâu sắc dưới những ngòi bút tinh tế đầy cảm xúc qua nhiều góc nhìn khác nhau. Phân tích bài thơ đoàn thuyền đánh cá bài mẫu 1: Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc đầy thắng lợi, miền Bắc nước ta ngập tràn không khí mới, hăng hái và phấn khởi thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong không khí hân hoan ấy vào một lần đi thực tế ở Hòn Gai, nhà thơ Huy Cận đã sáng tác bài thơ Đoàn thuyền đánh cá, một trong những bài thơ hay nhất của thời kì này. Bài thơ đầy nét nồng hậu, khỏe khoắn, yêu đời, ca ngợi sự giàu đẹp của quê hương và vẻ đẹp của con người lao động mới, hăng hái sản xuất làm giàu cho đất nước. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được Huy Cận sáng tác năm 1958 trong một chuyến đi thực tế Hòn Gai, Quảng Ninh. Ông là nhà thơ dẫn đầu phong trào thơ mới với hai nguồn cảm hứng, tràn đầy niềm vui về cuộc sống mới trong thời kì miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cảm hứng về vẻ đẹp thiên nhiên và vũ trụ khiến cho bài thơ đẹp lông lẫy và lung linh như một bức tranh sơn mài. Bài thơ không là một khúc tráng ca của người lao động trên biển mà còn là lời ngợi ca sự giàu đẹp của biển trời Việt Nam ta. Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn trên biển vừa diễm lệ, huy hoàng vừa hùng vĩ và căng tràn sức sống: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa” Chỉ với hai câu thơ, không gian rộng lớn của vũ trụ đang đi vào trạng thái tĩnh hiện lên thật đẹp và vô cùng rõ nét. Hình ảnh mặt trời qua điểm nhìn tưởng tượng, ở rất xa mới nhìn được vùng biển phía Tây, nơi mặt trời đang lặn xuống được ví như “hòn lửa” rực rỡ gợi tả chân thực màu sắc của cảnh hoàng hôn tráng lệ trên biển. Biện pháp ẩn dụ, nhân hóa cùng với vần trắc “lửa-cửa” đã diễn tả nhịp đi của thời gian nhanh mạnh, “sập” lại, khép lại một ngày như những con người sau buổi lao động vất vả trở về nhà nghỉ ngơi, trả lại sự yên tĩnh cho không gian. Với những liên tưởng, so sánh đầy bất ngờ và thú vị, vũ trụ bao la như là một ngôi nhà lớn với cánh cửa là màn đêm huyền bí, sóng lượn là chiếc then cài. Thiên nhiên đang dần đi vào trạng thái tĩnh lặng. Trái với trạng thái tĩnh của thiên nhiên, những người con lao động mới bắt đầu làm việc, đoàn thuyền đánh cá bắt đầu ra khơi: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.” Câu thơ đã làm nổi bật khí thế lao động đầy hăng hái, tươi vui của những con người lao động “Tập làm chủ, tập làm người xây dựng/Dám vươn mình cai quản lại thiên nhiên!”. Hình ảnh hoán dụ “đoàn thuyền đánh cá” và phụ từ “lại” diễn tả nhịp điệu lao động quen thuộc, cho thấy công việc đã được diễn ra nhiều đêm như một vòng tuần hoàn, những hoạt động đã đi vào nề nếp, ổn định và những con người lao động đã làm chủ biển khơi. Đoàn thuyền dong buồm ra khơi hừng hực khí thế của cả một tập thể khi ngày sắp tàn, màn đêm bắt đầu buông xuống, cái tĩnh của thiên nhiên tương phản với cái động của con người. Vẻ đẹp ấy đã hiên lên thật rõ nét không chỉ bằng những hình ảnh tương phản mà còn bằng những nhạc điệu đối lập. Những vần trắc liên tiếp dùng để miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, những vần bằng khơi-khơi đã mở ra, ngân nga và kéo dài, làm bật lên hình ảnh những người ngư dân ra khơi. Chính sự đối lập ấy đã làm bật lên những nỗi khó khăn, nhọc nhằn của những ngư dân với công việc đánh cá về đêm. Tuy khó khăn, vất vả nhưng những con người ấy luôn lạc quan, cất cao câu hát, dong thuyền ra khơi. Chi tiết “câu hát căng buồm cùng gió khơi” đầy lãng mạn, được gợi lên bằng sự liên tưởng độc đáo như tiếng hát vang cao, vút xa cùng với gió căng cánh buồm đẩy những “con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi”. Những câu hát ấy là biểu hiện của niềm lạc quan, phấn khởi và nhiệt tình lao động của những con người đang làm chủ biển khơi, làm chủ cuộc đời mình: “Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muông luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!” Khúc hát khỏe khoắn đã thấy sự giàu có của biển cả nước Việt Nam ta đồng thời cho thấy niềm mong mỏi đánh bắt được nhiều cá của những ngư dân. Từ “bạc” là một định ngữ nghệ thuật, có ý nghĩa số lượng cá nhiều, phong phú, tạo nên sự giàu có, quý giá của biển. Vẻ đẹp lãng mạn của biển khơi hiện lên thật rõ nét với nhiều hình ảnh so sánh, nhân hóa nối tiếp nhau. Từng đoàn cá thu lao trên biển như “đoàn thoi” trong máy dệt, con thoi mang sợi tơ thì những đoàn cá mang ánh sáng lấp lánh dệt tấm thảm biển “muông luồng sáng”, từng đoàn cá vào lưới lại mang theo ánh sáng lung linh “dệt lưới”. “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!” thể hiện ước vọng đánh bắt được thật nhiều cá, đại từ “ta” vang lên thể hiện niềm tự hào,kiêu hãnh không còn đơn côi, không còn là cái tôi nhỏ bé của ngày trước mà là là cái tôi của một tập thể đầy sức mạnh trong thời kì mới. Nhịp thơ sôi nổi, hào hứng, ngân dài và vang xa như chính tâm trạng sảng khoái, hăng hái, say sưa và tình yêu nghề, yêu biển quê hương của những con người lao động mới. Niềm cảm hứng say sưa, bài ca lao động vẫn vang lên khỏe khoắn, ngợi ca cảnh đánh cá trên biển, dưới trời đầy trăng sao: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng” Giữa bức tranh trời mây lồng lộng, mênh mông biển cả, công việc đánh cà đầy cực nhọc hiện lên một cách đầy thi vị. Bằng nghệ thuật tưởng tượng lãng mạn, thiên nhiên như là những người bạn thân thiết, “gió” là người lái, “trăng” là cánh buồm làm cho công việc nhọc nhằn, vất vả trở nên thậy nhẹ nhàng và đầy chất thơ. Động từ “lướt” thể hiện độ nhanh, nhẹ của những con thuyền được lái gió và khí thế phơi phới của người dân chài. Cảnh thiên nhiên kì vĩ, lớn lao, phóng khoáng bởi con người sảng khoái, tự do, làm chủ bản thân mìnnh. Trong mối quan hệ giao hòa, thiên nhiên càng huy hoàng, lớn lao bao nhiêu thì càng tôn vẻ đẹp con người lên bấy nhiêu. Tầm vóc của họ vụt cao lên, sánh ngang với biển trời, vũ trụ, thực hiện công việc của mình bằng tất cả trí tuệ và năng lực: “Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng” Bên cạnh cái ung dung và say sưa của những người dân làng chài, ta vẫn cảm nhận được cái vất vả của họ. Công việc thật sự là một trận đánh được diễn tả bằng rất nhiều động từ mạnh, thể hiện tư thế làm chủ thiên nhiên, tư thế sẵn sàng lao động hết mình của những con người mới. Hằng đêm, họ phải vượt qua bao nhiêu dặm biển trong cảnh trời đêm, ra đậu ngoài khơi xa mới có thể đánh bắt được nhiều cá. Không chỉ thế họ còn phải “dò bụng biển” mới có thể tìm được các bãi cá, “dàn đan thế trận” để bủa lưới bắt cá. Chính nhờ sự am hiểu sâu sắc về nghề nghiệp và có niềm cảm thông sâu sắc với những người dân chài tác giả mới có thể vẽ nên bức tranh đầy hiện thực nhưng không kém phần lãng mạn ấy. Không chỉ tinh tế về cảm xúc thẩm mĩ mà còn phong phú về vốn sống, Huy Cận hiểu khá tường tận về công việc của những người đánh cá. Đoàn thuyền đã tìm thấy đúng bãi cá và lưới đã được buông xuống: “Cá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” Bằng nghệ thuật tưởng tượng lãng mạn, biển trời với bao nhiêu loài cá mang bao nhiêu màu sắc lung linh trở nên thật kì ảo dưới ánh trăng. Bằng biện pháp liệt kê và điệp từ “cá”, tác giả đã kể tên nhiều loài cá quý, thể hiện sự phong phú và đa dạng về chủng loại, bổ sung về chủng loại cá ở đoạn thơ tả đàn cá thu “dệt biển”. Hình ảnh cá song là một nét vẽ tài hoa, vẩy cá đen, hồng lấp lánh trên biển nước lấp loáng ánh trăng như những ngọn đuốc giữa biển đêm thăm thẳm. Cái “quẫy đuôi” làm cho bức tranh thật sinh động cùng với nghệ thuật phối sắc tài tình làm cho đoạn thơ đẹp như một bức tranh sơn mài vô cùng rực rỡ. Thiên nhiên được nhân hóa “thở”, cùng với cách gọi cá là “em” thể hiện tình yêu quê hương đất nước và tình yêu biển sâu nặng của tác giả. Tiếng hát của con người lao động lại cất cao phóng khoáng, bay bổng, chan chứa niềm tin yêu cuộc sống: “Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Chất lãng mạn bao trùm cả bức tranh lao động, cả đoàn thuyền đánh cá. Người dân chài cất tiếng hát tả lại công việc của mình với niềm yêu đời mãnh liệt, biến khó khăn thành niềm vui. Lời ca gọi cá vào đã làm tăng thêm phần thơ mộng của bức tranh sơn mài. Hình ảnh “gõ thuyền đã có nhịp trăng cao” là một hình ảnh vô cùng sáng tạo và giàu chất thơ, trăng in bóng xuống nước, sóng vỗ vào mạn thuyền “gõ nhịp” gọi cá vào. Những vần điệu độc đáo được dệtt nên bằng cái nhìn tươi tắn, lạc quan của tác giả đối với biển và con người thể hiện tình yêu lao động, khát khao chinh phục thiên nhiên và ước mơ làm giàu, làm đẹp cho đời của những con người lao động mới. Cảm xúc dâng trào, lời ca ngợi biển vang lên đầy tha thiết: Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.” Biển không chỉ đẹp mà biển còn rất giàu, nguồn tài nguyên biển phong phú, đa dạng mang lại hạnh phúc cho con người. Hình ảnh so sánh “như lòng mẹ” quen thuộc là lời ca ngợi biển cà, thể hiện niềm tự hào của những người dân làngchài đối với biển quê hương và ví biển nuôi sống con người như một người mẹ chăm sóc, nuông nấng bầy con. Giọng thơ tự nhiên, chân thành, ấm áp, chứa chan tình yêu thương và mang âm hưởng ca dao. Đêm sắp tàn, trời sắp sáng, những ngư dân yêu biển, yêu quê hương ra sức lao động: “Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Với nhịp thơ dồn dập, câu thơ đã diễn tả chân thực thái độ và nhịp lao động đầy khẩn trương của đoàn thuyền đánh cá. Hình ảnh "kéo xoăn tay" như tạc nên một bức tượng ngư dân đầy sức sống, dáng người nghiêng mình trụ vững, dồn tất cả sức mạnh vào đôi cánh tay cuồn cuộn kéo lưới căng, khỏe vô cùng đẹp đẽ. Hình ảnh “chùm cá nặng” gợi tả thành quả lao động bội thu, cho thấy lưới có rất nhiều cá, thỏa mong mỏi của ngư dân. Đồng thời hình ảnh ấy còn ẩn chứa bao niềm vui tươi, sung sướng của người ngư dân trước thành quả mà họ đã tốn bao công sức mới thu hoạch được và niềm say mê cống hiến, đóng góp những thành quả lao động của mình cho đất nước. Lưới cá nặng được kéo lên, những tia nắng sớn chiếu trên khoang cá đầy làm lấp lánh đủ các màu sắc: Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng Vẩy đuôi của những chú cá lấp lánh ánh bình minh rực rỡ. Những từ “bạc, vàng” tạo chocâu thơ mang màu sắc lấp lánh, một mặt diễn tả sự giàu có của biển cả, đồng thời cũng cho thấy thái độ tôn trọng của những người đánh cá với những thành quả lao động của mình. Đồng thời đó còn là niềm biết ơn của họ trước sự hào phóng, ưu ái của biển cả đối với con người. “Đón nắng hồng” biểu hiện trạng thái sảng khoái, phấn chấn của họ khi công việc thành công mỹ mãn. "Nắng hồng" không những khắc họa được vẻ đẹp tươi sáng của bầu trời mà còn thể hiện được lòng yêu đời, yêu thiên nhiên. Màu hồng của một ngày mới, một cuộc đời mới đang chào đón mọi người. Tiếng hát hân hoan vang lên trong nhịp sống đầy khẩn trương cho một ngày mới nắng lên: Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hàn muôn dặm phơi Bài thơ bắt đầu bằng cảnh hoàng hôn rực rỡ và kết thúc với một bình minh vô cùng tươi sáng. Bốn câu thơ miêu tả thật đẹp quang cảnh kì vĩ về cuộc chạy đua giữa đoàn thuyền đánh cá với mặt trời trên biển cả khắc họa thật đậm nét vẻ đẹp khỏe mạnh của những người đánh cá và vẻ đẹp hùng vĩ của biển trời, của thiên nhiên tổ quốc. Ý thơ phảng phất không khí thần thoại, anh hùng ca trong lao động. Mở đầu bài thơ là hình ảnh "mặt trời xuống", giờ là “mặt trời đôi biển" nhô lên giữa những sóng nước mênh mông.Không khí lao động cực kỳ phấn khởi bởi niềm vui chiến thắng, với thái độ nhiệt tình, yêu lao động khép lại bài thơ và thể hiện một tương lai tươi sáng hơn trong công cuộc xây dựng đất nước. Động từ “ chạy đua” cho thấy sức lực của họ vẫn dồi dào, khí thế lao động của họ vẫn mạnh mẽ. Họ chạy đua với thời gian, với mặt trời. Đặt trong sự tương ứng mới thấy sức mạnh của con người được miêu tả nổi bật hơn, câu thơ đã nâng cao tầm vóc của con người trước vũ trụ. Biện pháp thậm xưng kết hợp với nghệ thuận hoán dụ trong hình ảnh “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” đã vẽ nên cảnh bội thu cá và cuộc sống ấm no, ngập tràn hạnh phúc của người dâ vùng biển, bằng mồ hôi và sức lao động, họ đã viết nên bài ca cuộc sống. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là một khúc tráng ca lao động hào hùng. Bằng bút pháp lãng mạn, nhịp thơ khỏe với trí tưởng tượng mới mẻ, độc đáo, Huy Cận đã ca ngợi sự giàu đẹp của biển quê hương, và đặc biệt là hình ảnh người lao động được miêu tả với nhiều vẻ đẹp tráng lệ, khỏe khoắn. Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú độc đáo, mang âm hưỡng khỏe khoắn, hào hùng và lạc quan. Bài thơ “đoàn thuyền đánh cá” là một khúc ca vừa hào hứng, vừa phơi phới và khỏe khoắn, mạnh mẽ, kết hợp với sự vận động tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ khiến bài thơ bước khởi đầu trong cảm hứng mới về thiên nhiên đất nước và niềm tin ở cuộc sống mới đang sôi động. Bài thơ khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống. Phân tích bài thơ đoàn thuyền đánh cá bài mẫu 2: Huy Cận là 1 khuôn mặt tiêu biểu của phong trào thơ mới. Thơ ông trước cách mạng tháng 8, nhân vật trữ tình thường cô đơn nhỏ bé, lạc long, bơ vơ trong vũ trụ bao la, huyền bí khôn cùng. Chính cách mạng tháng 8 kì diệu và cuộc sống mới sau cách mạng đã đem tới cho nhà thơ một cái nhìn ấm áp tươi trẻ, tràn đầy niềm tin yêu vào cuộc sống, vào con người. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của ông là 1 minh chứng về điều đó. Bài thơ ra đời năm 1958, trong nguồn mạch cảm xúc biết bao yêu thương về 1 cuộc sống “ mỗi ngày lại sáng”. Đó vừa là 1 bức tranh đẹp đẽ, vừa là 1 khúc ca hào hung về những người đánh cá trên biển cả bao la của tổ quốc. Mỗi người dân làng chài thật phấn khởi, say mê với công việc của mình trong tư thế thực sự làm chủ biển trời, làm chủ cuộc đời mới Ngay mở đầu bài thơ, ta đã nghe thấy âm hưởng bài ca lao động ngân vang, khỏe khoắn cho đoàn thuyền ra khơi. Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn trên biển, vừa diễm lệ huy hoàng, vừa đầy sức sống: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa” Điểm nhìn của nhà thơ ở đây là điểm nhìn tưởng tượng, phải ở rất xa mới nhìn được vùng biển phía Tây, nơi mặt trời đang lặn xuống giống như 1 hòn lửa khổng lồ đang rực cháy. Đây là 1 liên tưởng so sánh thật bất ngờ, thú vị. Vũ trụ bao la, huyền bí như 1 cái nhà nhà khổng lồ mà đêm tối là cánh cửa sập xuống mà những con song chạy ngang trên biển là những then cài. Cảm quan vũ trụ của nhà thơ thật kì lạ, độc đáo, mở ra sự phong phú trong trí tưởng tượng của người đọc. Quang cảnh kết thúc thật kì vĩ, tráng lệ của 1 chu kì thiên nhiên ấy lại là sự mở đầu 1 ngày lao động mới của con người: “ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.” Từ “lại” cho thấy đây chỉ là sự tiếp diễn nhịp điệu lao động của người đánh cá, cảnh ra khơi khi hoàng hôn buông xuống đã diễn ra thường xuyên liên tục qua nhiều đêm. Trên hành trình ra biển ấy, cũng như mọi lần, tiếng hát của họ vút cao, vang xa trên song nước mênh mang. Ở đây, “ căng buồm” là thật ( vì gió thổi mạnh trên biển khơi), nhưng “câu hát” căng buồm lại là ảo. Tuy vậy, chính cái ảo ấy lại hiển hiện cái thực: đó là khí thế mạnh mẽ của người đánh cá khi ra khơi. Tiếng hát của họ là tiếng hát của những con người dám chinh phục biển khơi: “Hát rằng cá bạc biển Đông lặng, Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng. Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!” Biển cả thật đẹp và giàu có, thân thiết biết bao với con người. Từ “bạc” trong câu thơ thứ nhất là một định ngữ nghệ thuật, có ý nghĩa số lượng cá nhiều, phong phú, tạo nên sự giàu có, quý giá của biển. Hình ảnh so sánh được xây dựng trên 1 liên tưởng rất thực tế: “ Cá thu biển Đông như đoàn thoi”. Từ đó, chúng ta hiểu 2 câu thơ sau là những hình ảnh nhân hóa rất tinh tế. Trong sự tưởng tượng của những người đánh cá, cá bơi dưới biển là cá dệt biển và cá mắc vào lưới là cá dệt lưới. “ Đến dệt lưới ta …”, từ “ta“ vang lên đầy tự hào kiêu hãnh, không còn cái tôi nhỏ bé đơn côi như những ngày xưa nữa mà là một cái “ta” tập thể đầy sức mạnh Tiếp theo niềm cảm hứng say sưa, bài ca lao động vẫn vang lên khỏe khoắn, ngợi ca cảnh đánh cá trên biển, dưới trời trăng sao. Tác giả đã sáng tạo nên những hình ảnh tuyệt đẹp: “ Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng, Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lới vây giăng.” Tác giả đã sáng tạo khi sử dụng hình ảnh nói quá: đoàn thuyền đánh cá như đi trong sự vây bọc, nâng đỡ của thiên nhiên. Gió – người bạn thân thiết của con người – lái con thuyền ra khơi. Gió thổi phồng căng cánh buồm như vầng trăng khuyết, rồi mây cũng như cao hơn, thoáng đãng hơn,… Tất cả được nhìn từ cặp mắt của những người dân lao động đã dành được quyền làm chủ biển trời quê hương. Cảnh kì vĩ, lớn lao, phóng khoáng bởi con người sảng khoái, tự do. Trong mối quan hệ giao hòa, thiên nhiên càng huy hoàng, lớn lao bao nhiêu thì càng tôn vẻ đẹp con người lên bấy nhiêu. Tầm vóc của họ vụt cao lên, sánh ngang với biển trời vũ trụ, Động từ “ lướt” cho thấy đoàn thuyền chạy rất nhanh trên mặt biển, càng chứng tỏ khí thế phơi phới của người dân làng chài Không chỉ tinh tế về cảm xúc thẩm mĩ mà còn phong phú về vốn sống, bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” cho ta thấy Huy Cận hiểu khá tường tận về công việc của những người đánh cá. Đoàn thuyền đã tìm thấy đúng bãi cá và lưới đã được buông xuống: “ Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe. Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.” Đây là cảnh thực hay tưởng tượng? Ở đây, quả thật có sự pha trộn giữa thực tế và ảo mộng, làm cho biển đêm có 1 vẻ đẹp thật lãng mạn, huyền ảo. Những con cá song lấp lánh như những ngọn đuốc hồng giữa biển đêm thăm thẳm. Cái đuôi cá song quẫy chẳng khác gì mảnh trăng vàng lóe sáng trên mặt biển. Hình ảnh thật nên thơ với cách gọi cá là em, hiển hiện tình yêu thiên nhiên thật mãnh liệt Nhà thơ mở rộng hồn mình để đón nhận bao vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên, để cảm nhận nhịp thở của thiên nhiên qua những đợt song dâng lên hạ xuống đầy ánh sao. Biển và trời như đã hòa vào làm một và hình ảnh con người hiện lên đẹp đẽ biết bao giữa cái vũ trụ lung linh đấy. Một lần nữa, tiếng hát của họ lại cất lên giữa bao la biển trời: “ Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.” Tiếng hát hiển hiện niềm vui trong lao động của người dân chài. Đồng thời còn biểu hiện những mong muốn đánh bắt được nhiều cá của họ. Cảm xúc cùa họ thật bay bổng, phóng khoáng, chen chúc tình yêu đời. Họ lao động khẩn trương, luôn tay gõ nhịp dồn cá vào lưới. Với sự liên tưởng kì thú, một lần nữa, nhà thơ đã viết: “ Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”. Phải chăng ánh trăng tỏa lấp lánh trên mặt biển, sóng dâng đầy ánh trăng, vỗ vào mạn thuyền từng nhịp đã khiến nhà thơ miêu tả công việc của người đánh cá thú vị và đẹp như vậy. Đây thực sự là 1 bài ca lao động, vừa hào hung, vừa giàu chất thơ. Nhưng có lẽ, bài ca say đắm nhất là bài ca về sự giao hòa, siết bao thân thiết giữa con người và biển cả. “ Biển cho ta cá như lòng mẹ” Đây là 1 hình ảnh so sánh đẹp: lòng mẹ, nguồn tình cảm yêu thương đã nuôi dưỡng mỗi con người. Biển không chỉ đẹp, giàu có mà còn rất ân tình. Biển không chỉ nuôi dưỡng con người hôm nay và mai sau mà biển đã “ nuôi lớn đời ta từ buổi nào” Đêm sắp tàn và 1 ngày mới đang đến: “Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng. Vẩy bạc đuôi hồng lóe rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. “ Khổ thơ gợi hình dung về hình ảnh những người lao động làng chài thật khỏe khoắn. Chỉ 1 từ “ xoăn” mà gợi tả được những bắp tay săn chắc, vừa nói được cái hồ hởi, hăm hở của những người lao động mong muốn thấy được hiệu quả lao động của mình. Và lưới rất nhiều cá:” … chùm cá nặng” đúng với mong mỏi của dân chài. Câu thơ thứ 3 miêu tả thật đẹp hình ảnh con cá đang được kéo từ biển lên. Vẩy đuôi của chúng lấp lánh ánh bình minh rực rỡ. Những từ “bạc, vàng”, một mặt diễn tả sự giàu có của biển cả, đồng thời cũng cho thấy thái độ tôn trọng của những người đánh cá với những thành quả lao động của mình. Và dường như, đó còn là niềm biết ơn của họ trước sự hào phóng, ưu ái của biển cả đối với con người. Công việc kết thúc tốt đẹp, họ trở về trong trạng thái sảng khoái, phấn chấn. Nhưng có lẽ bài ca lao động ngân vang hào hung nhất, hay nhất ở khổ thơ cuối: diễn tả cảnh trở về của đoàn thuyền trong khung cảnh bình minh rực rỡ, tráng lệ: “Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.” Bốn câu thơ dựng lên 1 quang cảnh kì vĩ về cuộc chạy đua giữa đoàn thuyền đánh cá với mặt trời trên biển cả. Qua đó, thêm một lần nữa, Huy Cận khắc họa thật đậm nét vẻ đẹp khỏe mạnh của những người đánh cá và vẻ đẹp hùng vĩ của biển trời, của thiên nhiên tổ quốc. Ý thơ phảng phất không khí thần thoại, anh hùng ca trong lao động. Mở đầu là câu thơ lập lại gần nguyên văn câu thơ đầu trong khổ thơ thứ nhất: có cảm giác đây là điệp khúc trong 1 bài hát – bài hát ngợi ca niềm say mê lao động trên biển quê hương. Đây là lần thứ 3 tiếng hát vang lên, có khác chăng tiếng hát ở đây hiển hiện rõ hơn niềm vui – niềm vui chiến thắng của con người khi thu được kết quả rực rỡ sau 1 đêm lao động vất vả. Tiếng hát ấy vang lên say sưa hùng tráng trên đoàn thuyền băng băng rẽ sóng trở về. “ Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.” Hình ảnh hào hùng của đoàn thuyền là 1 hình ảnh nhân hóa mang tính chất thập xưng. Những người dân đánh cá làm việc suốt 1 đêm nhưng họ vẫn quyết tâm trở về khi trời sáng. Động từ “ chạy đua” cho thấy sức lực của họ vẫn dồi dào, khí thế lao động của họ vẫn mạnh mẽ. Họ chạy đua với thời gian, với mặt trời. Đặt trong sự tương ứng mới thấy sức mạnh của con người được miêu tả nổi bật hơn, câu thơ đã nâng cao tầm vóc của con người trước vũ trụ. Vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ của bình minh trên biển đã được miêu tả thật gợi cảm ở câu thơ thứ 3: “ Mặt trời đội biển nhô màu mới.” Câu thơ làm toàn cảnh thiên nhiên sáng lên với 1 màu mới: màu hồng cảu bình minh. Cái màu hồng rực rỡ đầy sức sống ấy chính là lời chào đón ân cần, thắm thiết của thiên nhiên với những người lao động cần cù, có nghị lực phi thường. Cái đẹp của cảnh bình minh ấy chính là ở câu cuối: “Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi” Câu thơ có thể gợi ra 2 hình ảnh trong liên tưởng của người đọc. Một là hình ảnh đoàn thuyền nối đuôi nhau trở về, chiếc nào cũng cá đầy khoang. Hàng triệu triệu mắt cá phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh, huy hoàng trên cả 1 vùng biển rộng. Hai là hàng triệu triệu gợn sóng cũng phản chiếu ánh bình minh rực rỡ giống như muôn ngày mắt cá trên muôn dặm khơi. Dù là hình ảnh nào, thì câu thơ cũng thể hiện 1 vẻ đẹp bao la hùng vĩ và sự giàu có, phong phú của biển cả, của thiên nhiên đất nước Phân tích bài thơ đoàn thuyền đánh cá bài mẫu 3: Với đôi mắt quan sát tinh tế, trí tưởng tượng phong phú, trái tim nhạy cảm và nghệ thuật điêu luyện, nhà thơ đã vẽ ra một khung cảnh lao động tuyệt đẹp. Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu không gian và thời gian đoàn thuyền đánh cá ra khơi: "Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa" Một bức tranh thiên nhiên đẹp, có cái thoáng rộng của không gian và thời gian của một ngày đang khép lại. Trong cái mênh mông ấy nổi bật lên hình ảnh mặt trời được ví như "hòn lửa" đỏ rực gợi tả màu sắc sinh động của buổi hoàng hôn trên biển đang chuyển về đêm. Bầu trời và mặt biển bao la như ngôi nhà vũ trụ trong khoảnh khắc đã phủ bóng tối mịt mùng, còn những con sóng như chiếc "then cài" của ngôi nhà vĩ đại ấy. Biện pháp nhân hóa "sóng đã cài then, đêm sập cửa" khiến thiên nhiên như những con người biết hoạt động, biết nghỉ ngơi. Cảm hứng vũ trụ, các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa đã tạo nên những vần thơ đẹp cho người đọc nhiều ấn tượng. Khi vũ trụ đi vào trang thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu hoạt động: "Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi" Không phải từng chiếc thuyền lẻ tẻ mà là cả 1 đoàn thyền, một sức mạnh mới của cuộc đời đổi thay đang bắt đầu căng buồm. Từ "lại" trong cụm từ "lại ra khơi" là sự khẳng định nhịp điệu lao động của người dan chài đã ổn định, đã đi vào nề nếp. Đoàn thuyền ra khơi với khí thế căng trào. Cảnh tượng ấy thể hiện qua nghệ thuật tương phản: giữa cảnh ngày tàn với đêm mở ra, giữa cái tĩnh (vũ trụ) và cái động (con người).Nhạc điệu cũng có sự đối lập: tả vũ trụ với những vần trắc liên tiếp (lửa-cửa) như khép lại, và những vần bằng (khơi-khơi) như mở ra, ngân nga kéo dài. Sự đối lập ấy giúp người đọc cảm nhận được nỗi vất vả của việc đánh cá về đêm. Công việc đánh cá ban đêmtrên bểin là công việc nặng nhọc, đầy bất trắc nhưng đoàn quân xông trân vẫn cất cao tiếng hát. Tiếng hát vút lên cùng với những cánh buồm lộng gió. "Câu hát căng buồm cùng gió khơi" Một chi tiết lãng mạn đầy sáng tạo được xây dựng bằng trí tưởng tượng, liên tưởng, khiến ta tưởng như tiếng hát hòa cùng gió mạnh thổi căng cánh cánh buồm đẩy thuyền rẽ sóng ra khơi. Cánh buồm no gió, no tiếng hát biểu hiện niềm lạc quan, phấn khởi, nhiệt tình Phân tích bài thơ đoàn thuyền đánh cá bài mẫu 4: I – Tìm hiểu chung: 1. Tác giả: -Huy Cận (1919-2005), tên đầy đủ là Cù Huy Cận,quê: tỉnh Hà Tĩnh. -Là nhà thơ nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập thơ Lửa thiêng(1940). -Là nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ hiện đại Việt Nam từ sau năm 1945: + Trước Cách mạng tháng Tám,thơ ông giàu chất triết lí, thấm thía bao nỗi buồn, tràn ngập cái sầu nhân thế. + Sau Cách mạng, thơ Huy Cận dạt dào niềm vui, là bài ca vui về cuộc đời, là bài thơ yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống. -1996,ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học-nghệ thuật. -Tác phẩm tiêu biểu:Lửa thiêng(1940);Vũ trụ ca(1942);Trời mỗi ngày lại sáng(1958);Đất nở hoa(1960);Bài thơ cuộc đời(1963);Hai bàn tay em(1967)… 2. Tác phẩm: a. Hoàn cảnh sáng tác: – Bài thơ được viết vào giữa năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu trước cuộc sống mới đang hình thành, đang thay da đổi thịt đã trở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ ca lúc bấy giờ. Nhiều nhà thơ đã đi tới các miền đất xa xôi của Tổ quốc để sống và để viết: miền núi, hải đảo, nhà máy, nông trường…Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi ấy, hồn thơ của ông mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới. – Bài “Đoàn thuyền đánh cá” được sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập thơ “Trời mỗi ngày lại sáng”(1958). b. Bố cục: 3 phần: Bài thơ có 7 khổ, được kết cấu theo sự vận động của thời gian và hành trình của một chuyến ra khơi đánh cá: – Hai khổ đầu: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn buông xuống. – Bốn khổ tiếp: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong một đêm trăng rất đẹp. – Khổi cuối: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về khi bình minh đã rạng ngời trên biển. c. Cảm hứng chủ đạo: – Bài thơ có hai nguồn cảm hứng lớn, song hành, hài hòa và trộn lẫn vào nhau. Đó là cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ và cảm hứng về con người lao động trong cuộc sống mới. Sự thống nhất của hai nguồn cảm hứng ấy được thể hiện qua kết cấu và hệ thống thi ảnh trong bài. Về kết cấu, thời gian của bài thơ là nhịp tuần hoàn của vũ trụ ( từ lúc hoàng hôn đến lúc bình minh) cũng là thời gian hoạt động của đoàn thuyền đánh cá ( từ lúc ra khơi đến khi trở về). Không gian của bài thơ là một không gian lớn lao, kỳ vĩ với trời,biển, trăng, sao, sóng, gió; cũng là không gian của cảnh lao động. d. Chủ đề tư tưởng: Thông qua việc miêu tả cảnh lao động đánh cá của người ngư dân vùng biển Hạ Long, bài thơ ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, sự giàu có của biển khơi; ngợi ca khí thế lao động hăng say, yêu đời của người lao động mới đã được giải phóng, đang làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời và đất nước: Tập làm chủ, tập làm người xây dựng Dám vươn mình cai quản lại thiên nhiên! … Yêu biết mấy, những con người đi tới Hai cánh tay như hai cánh bay lên Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ các loài sên! ( “Mùa thu mới” – Tố Hữu ). II – Đọc – hiểu văn bản: 1. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn buông xuống. ( Khúc hát ra khơi ): – Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then,đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.” Bốn câu thơ có kết cấu gọn gàng, cân đối như một bài tứ tuyệt: hai câu đầu tả cảnh, hai câu sau nói về con người. Cảnh và người tưởng như đối lập song lại hòa hợp, cảnh làm nền để cho hình ảnh con người nổi bật lên như tâm điểm của một bức tranh – bức tranh lao động khỏe khoắn, vui tươi tràn ngập âm thanh và rực rỡ sắc màu. + Hai câu thơ đầu tả cảnh hoàng hôn trên biển, cũng là thời điểm đoàn thuyền đánh cá ra khơi: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa”. _Nếu chỉ căn cứ vào thực tế sẽ thấy câu thơ có vẻ vô lí, bởi trên vịnh Hạ Long- ở hướng Đông, không thể thấy cảnh mặt trời xuống biển như thế, mà chỉ có thấy mặt trời mọc được thôi. Vậy thì ở đây, khi viết “Mặt trời xuống biển” tức là nhà thơ đã lấy điểm nhìn từ trên con thuyền đang ra khơi,giữa biển khơi nhìn về hướng Tây nơi bờ bãi. Lúc đó, xung quanh con thuyền chỉ là mênh mông sóng nước, mặt trời chỉ còn cách lặn xuống biển. Mặt trời xuống biển nhưng dường như không tàn lụi, không tắt. Nó như hòn lửa – một quả cầu lửa– đỏ rực, khổng lồ chìm vào đáy nước đại dương. Biển cả bao la như nồng ấm hẳn lên. -> Phép tu từ so sánh: mặt trời được ví với hòn lửa đem đến cho bức bức tranh hoàng hôn một vẻ đẹp rực rỡ, tráng lệ, và ấm áp chứ không hiu hắt, ảm đạm như trong thơ cổ. _ Phép nhân hóa, ẩn dụ “Sóng đã cài then đêm sập cửa” -> người đọc cảm nhận thiên nhiên, vũ trụ,biển cả như đi vào trạng thái tĩnh lặng, nghỉ ngơi, thư giãn. Vũ trụ giờ đây như một ngôi nhà khổng lồ. Những lượn sóng dài như chiếc then cài, còn màn đêm đang buông xuống là cánh cửa.-> Hình ảnh thơ cho thấy thiên nhiên vũ trụ bao la mà gần gũi với con người – biển cả hay đó cũng chính là ngôi nhà thân thuộc của mỗi ngư dân. Có thể nói, hai câu thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên và lòng yêu mến cuộc đời của nhà thơ Huy Cận. + Thiên nhiên vũ trụ là cái phông, cái nền cho con người xuất hiện: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi. _ Hình ảnh, nhạc điệu trong câu thơ diễn tả khí thế khỏe khoắn, phấn chấn của những người lao động: khẩn trương làm việc bất kể ngày đêm. _ Đoàn thuyền lại ra khơi, tuần tự, nhịp nhàng như cái nhịp sống không bao giờ ngừng nghỉ. Chữ “lại” trong câu thơ đã diễn tả điều đó, cho ta hiểu đây là công việc, là hoạt động hàng ngày, thường xuyên, trở thành một nếp sống quen thuộc của những người ngư dân vùng biển. _ “Câu hát căng buồm cùng gió khơi” là hình ảnh ẩn dụ mang tính chất khoa trương. Tiếng hát khỏe khoắn tiếp sức cho gió làm căng cánh buồm. Tiếng hát ấy, làm nổi bật khí thế hồ hởi của người lao động trong buổi xuất quân chinh phục biển cả… – Tiếng hát ấy còn thể hiện niềm mong ước của người đánh cá: mong ước một chuyến ra khơi đánh bắt được thật nhiều hải sản, nhiều cá tôm giữa sự giàu đẹp của biển khơi: “ Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng, Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng, Đến dệt lưới ta,đoàn cá ơi!” 2. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong một đêm trăng rất đẹp: – Cảm hứng lãng mạn giúp nhà thơ phát hiện vẻ đẹp của cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng với niềm vui phơi phới, khỏe khoắn khi con người làm chủ cuộc đời, làm chủ biển trời quê hương. – Cảnh đoàn thuyền lướt sóng ra khơi, từng luồng cá bủa lưới vây giăng mang vẻ đẹp vừa hoành tráng, vừa thơ mộng: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng” “Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng”. + Con thuyền vốn nhỏ bé trước biển trời bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ. Thuyền có gió làm bánh lái, có trăng làm cánh buồm, lướt giữa mây cao với biển bằng, giữa mây trời và sóng nước. + Chủ nhân con thuyền – những người lao động cũng trở nên lồng lộng giữa biển trời trong tư thế làm chủ. Hình ảnh con người đã hòa nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên vũ trụ. Không chỉ vậy, họ còn nổi bật ở vị trí trung tâm – ra tận khơi xa dò bụng biển, tìm luồng cá, dàn đan thế trận,bủa lưới vây giăng. -> Đoàn thuyền đánh cá băng băng lướt sóng, bủa vây điệp trùng. Công việc lao động trên biển như là một cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên. Người lao động làm việc với tất cả lòng dũng cảm, sự hăng say, trí tuệ nghề nghiệp, tâm hồn phơi phới. – Bức tranh lao động được điểm tô bằng vẻ đẹp của thiên nhiên. Cái nhìn của nhà thơ đối với biển và cá cũng có những sáng tạo bất ngờ,độc đáo: Cá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng. Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe Thủ pháp liệt kê kết hợp với sự phối sắc tài tình qua việc sử dụng các tính từ chỉ màu sắc “đen hồng”,”vàng chóe”… đã tạo nên một bức tranh sơn mài nhiều màu sắc, ánh sáng, lung linh huyền ảo như trong câu chuyện cổ tích nói về xứ sở thần tiên. Mỗi loài cá là một kiểu dáng, một màu sắc: “Cá nhụ cá chim cùng cá đé/Cá song lấp lánh đuốc đen hồng” làm nên sự giàu đẹp của biển cả quê hương. Như có một hội rước đuốc trong lòng biển đêm sâu thẳm. Mỗi khi: “Cái đuôi em quẫy”, trăng như vàng hơn, rực rỡ hơn, biển cả như sống động hẳn lên. Người xưa thường nói: “Thi trung hữu họa” – nghĩa là trong thơ có hình có ảnh. Quả đúng như thế, mỗi loài cá ở đây là bức kí họa thần tình. Chúng đâu chỉ là sản phẩm vô tri được đánh bắt bởi bàn tay con người. Với họ – những người ngư dân này – cá là bạn, là “em”, là niềm cảm hứng cho con người trong lao động, và cũng chính là đối tượng thẩm mĩ cho thi ca. + Cảnh đẹp không chỉ ở màu sắc, ánh sáng, mà còn ở âm thanh.Nhìn bầy cá bơi lội, nhà thơ lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rầm: "Đêm thở:sao lùa nước Hạ long" Bằng nghệ thuật ẩn dụ kết hợp nhân hóa, biển cả như một sinh thể sống động. Tiếng sóng vỗ dạt dào dâng cao hạ thấp là nhịp thở trong đêm của biển. Thế nhưng nhà thơ lại viết “Đêm thở:sao lùa nước Hạ Long”. Thật ra, là sóng biển đu đưa rì rào va đập vào mạn thuyền. Trăng, sao phản chiếu ánh sáng xuống nước biển, mỗi khi sóng vỗ nhịp tưởng như có bàn tay của sao trời đang “lùa nước Hạ Long”. Đó là sự độc đáo, mới lạ trong sáng tạo nghệ thuật. Có thể nói, bằng tâm hồn hết sức tinh tế, tác giả đã cảm nhận được hơi thở của thiên nhiên, vũ trụ. Chính không khí say sưa xây dựng đất nước của những năm đầu khôi phục và phát triển kinh tế là cơ sở hiện thực của những hình ảnh lãng mạn trên. – Bút pháp lãng mạn, trí tưởng tượng phong phú của tác giả đã sáng tạo nên những hình ảnh đẹp khiến công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên: Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Biển cho ta cá nhưl òng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. + “Gõ thuyền” là công việc thực của người đánh cá, nhưng cái độc đáo ở đây là vầng trăng được nhân hóa, tham gia lao động cùng con người. + Người dân chài hát bài ca gọi cá, bài ca về lòng biết ơn mẹ biển giàu có, nhân hậu. – Sao mờ, đêm tàn cũng là lúc người dân chài kéo lưới kịp trời sáng. Cảnh kéo lưới, bắt cá được miêu tả vừa chân thực, vừa đầy chất thơ với không khí khẩn trương, gấp gáp: Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. Có thể nói, cảnh lao động đánh cá trên biển như bức tranh sơn mài rực rỡ. Người kéo lưới là trung tâm của cảnh được khắc họa rất độc đáo với thân hình gân guốc, chắc khỏe cùng thành quả thu về “vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông”. Màu hồng của bình minh làm ấm sáng bức tranh lao động. Thiên nhiên và con người cùng nhịp nhàng trong sự vận hành của vũ trụ. 3. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về khi bình minh đã rạng ngời trên biển. ( Khúc hát trở về). – Đoàn thuyền đánh cá thắng lợi trở về trong bình minh rực rỡ, tráng lệ. – Câu đầu của khổ thơ lặp lại gần như nguyên vẹn câu cuối của khổ thứ nhất, chỉ thay có một từ ( từ “với”) đem đến kết cấu đầu – cuối tương ứng, tạo sự hài hòa cân đối. Cấu trúc lặp lại ấy trở thành điệp khúc ngân nga, nhấn mạnh niềm vui lao động làm giàu đẹp quê hương và khắc họa đậm nét vẻ đẹp khỏe khoắn cùng niềm vui phấn khởi của người ngư dân. – Phép tu từ nhân hóa: “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”cho thấy tư thế chủ động chinh phục biển trời, vũ trụ của người ngư dân. Đúng như lời bình của chính tác giả: “Bài thơ là cuộc chạy đua giữa con người với thiên nhiên và con người đã chiến thắng”. – Nếu khổ thơ đầu, mặt trời xuống biển báo hiệu hoàng hôn thì ở khổ cuối lại là mặt trời đội biển – là ngày mới bắt đầu – ngày mới với thành quả lao động bội thu và niềm tin yêu phấn chấn. – Câu thơ kết bài vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa khiến người đọc liên tưởng tới một tương lai tươi sáng, huy hoàng: “Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”. Ngày mới bắt đầu – thành quả lao động trải dài muôn dặm phơi – một cuộc đời mới đang sinh sôi, phát triển… III – Tổng kết: 1. Nội dung: Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống. 2. Nghệ thuật: Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo; có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng,lạc quan. Phân tích bài thơ đoàn thuyền đánh cá bài mẫu 5: Văn học Việt Nam 1945 – 1975 đã gắn bó mật thiết với vận mệnh đất nước, sáng tạo nên nhiều hình tượng cao đẹp về con người Việt Nam trong chiến đấu, sản xuất và sinh hoạt. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận là một trong số những tác phẩm viết về công cuộc đổi mới trong thời kì ấy. Đến với bài thơ, ta không chỉ được đắm mình trong những hình ảnh liên tưởng, tưởng tượng đẹp và tráng lệ mà còn cảm nhận được sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động cũng như niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước cuộc sống mới. Huy Cận tên khai sinh là Cù Huy Cận, là một trong những nhà thơ tiêu biểu của làng thơ hiện đại Việt Nam, đã nôi tiếng từ phong trào thơ mới với tập thơ “Lửa thiêng” (1940). Giữa năm 1958, trong không khí phấn khởi thi đua của toàn miền Bắc đang tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, Huy Cận có dịp đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” ra đời lúc đó và được in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958) của tác giả. Với thể thơ bảy chữ, bút pháp lãng mạn đan xen với hiện thực, tác phẩm đã đánh dấu sự nảy nở trở lại của hồn thơ Huy Cận trước đất nước, cuộc sống và những con người lao động mới. Bài thơ lấy thời điểm xuất phát khác với lệ thường – trong buổi hoàng hôn, khi những con thuyền đánh cá bắt đầu chuyến hành trình đêm: Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Hai câu thơ đã phác họa một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Cảnh biển vào đêm không hề nặng nề, tăm tối mà đẹp và tráng lệ trong một không gian rất thoáng, rất rộng. Trong cái mênh mông ấy nổi bật lên một vầng thái dương. Mặt trời đang lặn đã bớt đi cái chói chang, gay gắt nhưng vẫn đỏ rực như một “hòn lửa”, tỏa ánh sáng ấm áp ra cả một vùng biển. Phép so sánh “như hòn lửa” đã gợi tả ánh hoàng hôn lung linh, tráng lệ hắt ra từ một mặt trời đang trầm mình xuống biển khơi vô tận. Thực ra, vùng biển Hạ Long, Quảng Ninh – nơi ra đời bài thơ này – không thể thấy được cảnh mặt trời lặn mà chỉ có thể thấy điều đó ở vùng biển tây nam của đất nước. Như vậy cảm hứng của tác giả không chỉ gói gọn trong một vùng biển mà là cảm hứng chung và thống nhất về biển cả mênh mông trải dài theo Tổ quốc. Trong nguồn cảm hứng ấy, nhà thơ đã liên tưởng bóng tối đang buông dần từ trên cao xuống như cánh cửa ngăn cách giữa ngày và đêm, với then là những lượn sóng nhấp nhô như cài vào màn đêm. Những hình ảnh nhân hóa ấy đều theo hướng đưa thiên nhiên đất trời lại gần hơn với con người, tạo cảm giác vũ trụ bao la là một ngôi nhà khổng lồ. Ngôi nhà ấy có mặt trời là bếp lửa sưởi ấm, đêm là cửa và sóng là then – không khác gì ngôi nhà bình thường của con người. Và trong lúc ngôi nhà vũ trụ đang bước vào không gian yên tĩnh để nghỉ ngơi thì con người bắt đầu chuyến hành trình của mình: Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Nhà thơ trở lại với cách tả thực để cân bằng với những hình ảnh tưởng tượng trong hai câu thơ trên. Chữ “lại” ở đây đã gợi ra hai ý nghĩa. Nó cho biết “ra khơi” là công việc thường xuyên, quen thuộc tới mức thành thông lệ hằng đêm của đoàn thuyền. Bên cạnh đó, nó cũng gợi lên sự đối lập với hai câu thơ trên: giữa cảnh ngày dần tàn và đêm đang mở ra, giữa cái tĩnh của vũ trụ, của vạn vật đang chuẩn bị nghỉ ngơi, chìm vào giấc ngủ là cái động của những người ngư dân đang lên đường đi đánh cá đêm. Nghệ thuật tương phản ấy còn được thể hiện qua nhạc điệu đối nhau giữa những vần trắc “lửa” – “cửa” diễn tả nhịp đi của thời gian nhanh, mạnh như đóng lại, khép lại với những vần bằng “khơi” như mở ra, ngân nga, kéo dài. Huy Cận đã rất tài tình khi để người đọc cảm nhận được nỗi vất vả của việc đánh cá về đêm, để rồi cất lên một câu thơ đầy lạc quan: Câu hát căng buồm căng gió khơi. Nếu như câu thơ trước chỉ là một câu kể đơn thuần với chất hiện thực thì câu thơ sau lại tràn đầy chất nhạc và cảm hứng lãng mạn của thi sĩ. “Câu hát” ấy chính là khí thế ra khơi, sự hăng say lao động của những người ngư dân. Niềm vui vô hạn ấy như có một sức mạnh vật chất để hòa cùng với “gió khơi” để đẩy thuyền đi, như thể con người đang hòa cùng với thiên nhiên vậy. Chỉ một từ “căng” thôi là đủ để người đọc cảm nhận được khí thế của những người lao động lớn tới chừng nào, kì diệu đến mức nào. Trong ba hình ảnh “câu hát”, “buồm” và “gió khơi”, chỉ có cánh buồm là một sự vật cụ thể, còn gió khơi là một sức mạnh vô hình của thiên nhiên cũng như câu hát là một hình ảnh tượng trưng. Nhưng với sự liên tưởng, tưởng tượng của Huy Cận, những hình ảnh tưởng chừng rất quen thuộc ấy đã được gắn kết lại thành một chi tiết lãng mạn đầy sáng tạo mà cũng rất sống động. Ta thấy phảng phất trong đó chút gì rất giống với thơ Tế Hanh: “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng / Rướn thân trắng bao la thâu góp gió” (Quê hương). Trong cánh buồm no gió, no tiếng hát của Huy Cận còn có sự lạc quan, phấn khởi, còn có niềm hy vọng về một buổi đánh bắt bội thu của những người ngư dân. Hay sâu xa hơn, đó là tiếng lòng của thi sĩ trước chặng khởi đầu của cuộc sống lao động mới. Những hình ảnh so sánh, nhân hóa và liên tưởng đầy sáng tạo của ông đã mở đầu bài thơ bằng bức tranh về cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong niềm vui lao động hăng say, lạc quan. Trong khí thế sôi nổi và tràn đầy nhiệt huyết ấy, nổi bật lên cảnh lao động của đoàn thuyền giữa đất trời bao la: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé đã được cái nhìn đầy cảm hứng lãng mạn và tin tưởng vào người lao động của thi sĩ phóng lên thành con thuyền khổng lồ, hòa vào sự rộng lớn, mênh mông của vũ trụ. Những cặp từ sóng đôi “lái gió” – “buồm trăng”, “mây cao” – “biển bằng” đã vẽ nên bức tranh lồng lộng về biển đêm, mà trong đó chủ thể chính là chiếc thuyền, là con người. Điệp từ “với” ở giữa từng cặp đối ứng ấy càng nối rộng khoảng cách giữa hai tính từ “cao” và “bằng”, làm không gian như càng bao la hơn, mênh mông hơn. Ở đó, mặt biển đêm trong suốt như in cả bầu trời, và con thuyền đi trên biển như lướt giữa không trung. Chính con người đã hợp vào với thiên nhiên bát ngát, lấy gió làm lái, lấy trăng làm buồm. Sức tưởng tượng kì diệu của Huy Cận đã làm đẹp thêm hình ảnh con thuyền cũng như nâng tầm con người sánh ngang với tự nhiên. Những động từ “lái”, “lướt” gợi lên một vận tốc rất nhanh, rất mạnh mẽ mà vẫn nhẹ nhàng, thanh thoát như đang rong chơi. Tư thế ra khơi thoải mái đó chỉ có ở những con người vừa thoát ra khỏi vòng nô lệ, được làm chủ cuộc sống, làm chủ biển cả quê hương mình. Lại một lần nữa, ta nhớ tới những vần thơ của Tế Hanh: “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã / Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.” Nhưng trong lời thơ của Huy Cận ta còn cảm nhận được một sự lâng lâng, sảng khoái lạ thường. Như thể ta đang đứng trên chính chiếc thuyền ấy với những người ngư dân, để lả lướt cùng gió, vui chơi cùng trăng, bồng bềnh với mênh, phiêu lãng với trời… Nhưng đánh cá đâu phải là một chuyến du ngoạn thảnh thơi vô tư như vậy. Nó đòi hỏi tất cả trí tuệ, sức lực và kinh nghiệm nghề nghiệp: Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng Con người trong thơ Huy Cận không chỉ muốn hòa mình vào thiên nhiên, lao động cùng thiên nhiên mà còn muốn làm chủ thiên nhiên. Bên cạnh sự ung dung, lạc quan trong tâm hồn người ngư dân, người đọc vẫn cảm nhận được nỗi vất vả của họ. Sự vất vả, thậm chí có phần khô khan và rất đỗi bình thường ấy được miêu tả bằng bút pháp khoa trương trở nên kì vĩ, lớn lao như một cuộc chinh phục, một trận chiến thực sự. Với sự am hiểu sâu sắc về việc đánh bắt cá, Huy Cận đã biến việc thăm dò biển cả ngoài khơi xa để tìm ra bãi cá, bãi tôm thành “dò bụng biển”, đưa việc bủa lưới bắt cá thành “dàn đan thế trận lưới vây giăng” – những câu từ vừa đậm chất thực vừa mang hơi hướm lãng mạn. Trong cuộc chinh phục biển cả ấy, những người ngư dân là chiến sĩ, ngư cụ là vũ khí, còn mục tiêu không chỉ là một khoang thuyền đầy ắp cá tôm mà còn là cuộc sống lao động mới, là công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa đang hừng hực khí thế khắp miền Bắc lúc bấy giờ. Nhà thơ không chỉ hiểu mà còn có niềm cảm thông vô hạn với những người lao động và nỗi vất vả của họ. Nếu không thì làm sao ông có thể vẽ nên một bức tranh gây ấn tượng mạnh với người đọc với chất hiện thực và chất lãng mạn đan xen như thế được? Để từ đó, cảm hứng về thiên nhiên đất trời hòa nhập với cảm hứng về cuộc sống lao động để khắc họa nổi bật hình ảnh con người đang chinh phục thiên nhiên, làm chủ cuộc sống mới trong một không gian giàu chất trữ tình. Cảm hứng ấy tuôn tràn xuống khổ thơ kế tiếp, để bức tranh lao động được tô điểm thêm bằng vẻ đẹp của biển cả và những loài cá: Cá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Nhà thơ dẫn ta vào một thế giới huyền ảo của biển cả với bao sắc màu lung linh của các loài cá dưới ánh trăng. Dân gian có câu: “Chim thu nhụ đé” để nói đến bốn loài cá biển ngon nhất, vậy mà đã đến ba trong bốn loài cá ấy xuất hiện trong câu thơ của Huy Cận, đủ để thấy biển cả nước ta giàu có như thế nào. Nghệ thuật liệt kê kết hợp với điệp từ “cá” như khắc họa từng đường nét rõ ràng như một bức tranh sơn mài, giúp người đọc cảm nhận được sự phong phú của các loài cá cũng như vẻ đẹp của biển cả. Nơi đó, dường như tất cả ánh sáng, màu sắc đều là của cá và do cá tạo nên. Và trong những đường nét của bức tranh biển cả ấy, con cá song là một nét vẽ tài hoa. Cá song mình dài, thân dày, có nhiều vạch dọc thân hoặc các chấm tròn màu đen và hồng. Từ đó nhà thơ liên tưởng đến hình ảnh “lấp lánh đuốc đen hồng”. Lúc đầu, Huy Cận dùng từ “lốm đốm”, nhưng sau này ông sửa lại vì không muốn câu thơ bị lệ thuộc vào ấn tượng thị giác. Thật vậy, từ láy “lấp lánh” đã gây được nhiều ấn tượng xúc cảm mạnh mẽ. Nó gợi lên hình ảnh những con cá song như những ngọn đuốc đang soi trong lòng biển khơi một ánh sáng long lanh đến kì diệu. Những ngọn đuốc ấy đang đưa đường dẫn lối cho những người ngư dân đánh bắt được nhiều cá, hay là chúng chính là ngọn lửa của nghệ thuật đã soi rọi cả tấm lòng thi sĩ để ông viết nên những vần thơ hay như thế? Để từ đó, dựa trên câu thơ của Huy Cận, Chế Lan Viên đã viết: “Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về” (Cành phong lan bể). Nhưng ấn tượng mà Huy Cận để lại trong lòng người đọc đâu chỉ dừng lại ở đó: Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe Nhà thơ đã rất tinh trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Ông không dùng từ “vẫy” mà lại viết là “quẫy” để làm rõ nét từng hoạt động nhỏ của chú cá, khiến câu thơ thêm sinh động. Ông cũng không viết “lóe” mà lại dùng từ “chóe” để ánh sáng từ câu thơ tỏa ra thêm rạng rỡ và lung linh. Ánh trăng phản chiếu lấp loáng trên mặt biển, khiến từng cái quẫy của những chú cá cũng như làm ánh trăng ấy như vỡ tung ra, lóe sáng trong từng giọt nước. Chỉ là những hình ảnh từ sự quan sát bình thường nhưng trí tưởng tượng đã chấp cánh nối dài cho hiện thực trở nên kì ảo, làm giàu thêm cái đẹp vốn có của tự nhiên. Trong nét thực của muôn vàn loài cá trong câu thơ đầu tiên là vẻ đẹp lãng mạn mà nhà thơ đã khéo léo cảm nhận được. Chẳng vậy mà ông lại dùng một tiếng “em” thật thân thiết và gần gũi để gọi cá! Vốn biết rằng công việc của những người ngư dân là đánh bắt cá, tước đoạt chúng từ thiên nhiên, nhưng sao trong thơ Huy Cận ta lại thấy giữa con người và thiên nhiên cùng những sinh vật của nó một mối giao cảm kì lạ, gần như là thân thương, trìu mến. Họ cảm nhận được vẻ đẹp trong từng hơi thở của biển đêm: Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long Phải là một người có cảm nhận rất tinh tế mới cảm nhận được từng nhịp thở khẽ khàng của “đêm” như thế! Phép nhân hóa khiến “đêm” không còn chỉ là cánh cửa như ở khổ thơ đầu nữa mà đã trở thành một sinh vật của đại dương, một phần linh hồn của bức tranh. Nhịp thở của nó là tiếng gió, tiếng sóng rì rào không bao giờ ngừng nghỉ của biển. Những vì sao trên bầu trời phản chiếu xuống mặt biển cũng hòa cùng theo nhịp điệu ấy, gợi nên một hình ảnh liên tưởng thật thơ mộng. Là gió – nhịp thở của đêm, là sóng – nhịp nhấp nhô cao thấp như đang thở của biển, hay là “sao” đang hòa vào gió và sóng để lùa nước Hạ Long? Nhịp điệu hòa quyện đầy chất trữ tình ấy không chỉ “lùa nước Hạ Long” mà còn như lùa cả vẻ đẹp của bầu trời (“đêm”, “sao”) và lòng biển. Những động từ “thở”, “lùa” nghe thật nhẹ nhàng, trong đó nhịp điệu dịu êm của biển đối lập với nhịp nhanh và mạnh về người lao độn trong hai câu thơ cuối của khổ trước, tạo nên một hòa âm thật nên thơ. Huy Cận đã đưa cả vẻ đẹp của biển khơi vào lời thơ với bút pháp miêu tả vừa đầy màu sắc vừa như ngân nga một nhịp điệu trữ tình. Trong nhịp điệu đầy chất lãng mạn ấy, nổi bật lên cảnh lao động của con người: Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao “Câu hát” đã căng buồm đưa đoàn thuyền ra khơi, và bây giờ “bài ca” lại trở thành công cụ lao động để “gọi cá vào”. Nhà thơ không miêu tả trực tiếp việc đánh bắt cá mà chỉ nhấn mạnh vào “bài ca”, không chú ý vào sự vất vả của công việc mà tập trung vào vẻ đẹp, vào sự lãng mạn của nó. Trong đó, một lần nữa, con người với đại từ nhân xưng “ta” lại trở thành chủ thể của bức tranh. “Bài ca gọi cá vào” ấy không chỉ tượng trưng cho sự lạc quan, niềm hăng say lao động của người ngư dân mà nó còn biến lao động nặng nhọc thành niềm vui, giúp tìm ra được chất thơ mộng ngay trong cả một công việc tưởng chừng như bình thường nhất. Khi những người ngư dân thả lưới thường phải gõ vào mạn thuyền để xua cá vào lưới. Nhưng Huy Cận lại vận dụng thật xuất sắc những hình ảnh phản chiếu của bầu trời vào mặt biển để dệt nên những vần điệu thật độc đáo. Ông cảm nhận được rằng chính vầng trăng đang in bóng xuống mặt biển ấy đã hòa vào sóng nước biển khơi để vỗ vào thuyền, hòa nhịp cùng tiếng hát, vào nhịp gõ thuyền của những người ngư dân. Hợp âm ấy tạo thành một bản hòa ca của niềm vui lao động, một niềm vui say sưa và tràn đầy nhiệt huyết cùng niềm tự hào tới mức nó có thể khiến đoàn cá cũng bị cuốn theo nhịp điệu ngây ngất ấy mà đi vào lưới. Niềm tự hào ấy cũng chính là niềm vui của Tố Hữu trong “Bài ca xuân 61”: “Hỏi núi non đâu sắt đâu vàng / Hỏi biển khơi xa đâu luồng cá chạy”. Trong cái nhìn tươi tắn của Huy Cận, ta thấy lòng mình như cũng đang rộn ràng cất tiếng hòa cùng với sự lạc quan của nhà thơ, vào khí thế lao động hăng say của những người dân chài. Trong nguồn cảm xúc dâng trào ấy, nhà thơ không thể không cất lên lời ca ngợi và tri ân biển cả: Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Những người ngư dân đã lớn lên cùng biển, sống dựa vào biển, gắn bó cả cuộc đời với biển. Biển không chỉ đẹp bởi sự giàu có, phong phú tài nguyên mà còn bởi những lợi ích mà biển đem lại cho con người. Nhà thơ đã thấu hiểu và truyền tải điều đó vào những câu thơ đầy xúc cảm. Thay vì ví lòng mẹ với biển cả như ca dao, dân ca và biết bao nhà thơ, nhạc sĩ khác đã làm (“Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” hay “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”), ông đã so sánh biển như lòng mẹ. Biển khơi vốn rất khó lường với mưa bão, sóng gió dữ dội, ầm ĩ như lúc nào chực nhấn chìm con người. Thế nhưng với nhà thơ, con người sống nhờ biển như được sống trong vòng tay yêu thương của mẹ. Giọng thơ tự nhiên, tha thiết, chân thành mang âm hưởng ca dao đã cất lên tiếng hát tri âm, tri kỉ, tri ân của người ngư dân với người mẹ thiên nhiên vĩ đại đã yêu thương, ủ ấp, nuôi lớn người dân chài. Tiếng hát ấy hòa vào với tiếng hát chan chứa tình yêu đời ở hai câu thơ trên để từ đó cho người đọc thấu hiểu được vẻ đẹp từ trong tâm hồn của những con người gắn bó với biển sống lạc quan, có nghĩa có tình. Tiếng hát ấy không mang đến cho thơ Huy Cận một sức truyền cảm mãnh liệt mà còn như truyền lại biết bao thế hệ một bài ca ân tình hòa chung vào bài ca lao động. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” thật sự đã đánh dấu một sự đổi mới lớn trong thơ Huy Cận. Trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông được khơi nguồn cảm hứng chủ yếu từ vũ trụ, một vũ trụ mênh mông, rộng lớn mà trong đó con người là một thực thể nhỏ bé, cô đơn: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song / Thuyền về nước lại sầu trăm ngả / Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Cũng là trời, là nước, là thuyền nhưng vắng lặng và đậm chất buồn sầu thương cảm. Với “Đoàn thuyền đánh cá”, vũ trụ vẫn bao la nhưng lại thân thiết và gần gũi hơn với con người, và con người không còn lẻ loi, lọt thỏm giữa đất trời nữa mà đã trở thành người chủ của biển khơi, là bạn của trăng sao và vẫy vùng cùng mây gió. Cảm hứng lãng mạn hòa quyện với cảm hứng vũ trụ và con người ấy đã tạo nên nhiều liên tưởng, tưởng tượng bất ngờ và đẹp. Xuân Diệu cũng đã rất tinh khi phát hiện và nhận xét “bài thơ lặp lại năm lần chữ “hát” thực chất là một bài ca sảng khoái, phối hợp nhạc điệu với những động tác dồn dập”. Sự kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh ấy đã tạo nên một không khí rạo rực tươi vui tràn ngập bài thơ. Nhà thơ Tố Hữu từng viết rằng: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy.” Những hình ảnh đẹp và hùng vĩ trong bài thơ không chỉ vẽ nên một bức tranh, mà chính chúng đã mang trong mình hơi thở của vũ trụ bao la, của cuộc sống lao động miền Bắc thời kì ấy. Chúng vang xa. Bài thơ cũng chính là bài ca lao động rộn ràng, tươi vui và tràn đầy sức sống được hát lên từ cảm hứng lãng mạn cách mạng của tác giả, mở ra một con đường mới cho một hồn thơ mới nơi Huy Cận. Phân tích bài thơ đoàn thuyền đánh cá bài mẫu 6: Theo lối xuất xứ: Nhắc đến Huy Cận, người ta liên tưởng ngay đến nhà thơ của vũ trụ, của thiên nhiên. Thơ của ông trước Cách mạng tháng tám thướng thấm đẫm nỗi buồn. Sau những ngày hòa bình được lặp lại trên miền Bắc, cũng cảm hứng lãng mạn nhưng thơ của Huy Cận không xa rời với thực tế mà gắn liền với cuộc sống hiện thực. Cái nhìn của thi sĩ về thiên nhiên bỗng trở nên ấm áp và tràn đầy niềm tin yêu vào con người. “Đoàn thuyền đánh cá” được viết năm 1958 nhân chuyến đi thực tế ở Hồng Gai là một bằng chứng. Bài thơ đã khắc học cảnh tượng đoàn thuyền đánh cá làm việc cật lực trong đêm tối để từ đó tác giả kín đáo bộc lộ thái độ ngợi ca sự giàu đẹp của biển quê hương và vẻ đẹp của những người lao động mới. Chủ đề ấy đã được thể hiện khá rõ nét trong đoạn trích (trích dẫn đề) _ Theo lối so sánh: Yêu biết mấy những con người đi tới Hai cánh tay như hay cánh bay lên Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân lội bùn không sợ những loài sên (Tố Hữu) Đẹp thay, tự hào thay hình ảnh những con người mới đang làm chủ cuộc đời mình. Có thể nói khung cảnh miền Bắc đang cuộn chảy theo dòng thác xây dựng chủ nghĩa xã hội và hình ảnh những con người lao động mới là nguồn cảm hứng dạt dào trong những sáng tác được viết trong giai đoạn. Bên cạnh “Tiếng chổi tre” (Tố Hữu), “Ngói mới” (Xuân Diệu), “Anh chủ nhiệm” (Hoàng Trung Thông) … sẽ là thiếu sót lớn nếu chúng ta không nhắc đến “Đoàn thuyền đánh cá” của thi sĩ Huy Cận. Bài thơ đã khắc họa sự giàu đẹp của biển quê hương và cảnh tượng đoàn thuyền đánh cá làm việc cật lực trong đêm tối để từ đó tác giả kín đáo bộc lộ thái độ ca ngợi sự giàu đẹp của đất nước và con người Việt Nam trong thời kì mới. Chủ đề ấy được thể hiện khá rõ nét trong đoạn trích sau đây (trích dẫn đề) Hoặc: Huy Cận có lần tự họa về mình: Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm Nỗi nhớ thương không biết đã tàn chưa Hay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưa Cùng đất nước mà nặng buồn sông núi “Mai sau” – Huy Cận Đó là tâm trạng của một chàng Huy Cận khi còn là một gương mặt nổi bật của phong trào Thơ mới. Buồn nên chàng gửi nhớ gửi thương vào vũ trụ, đốt lên ngọn “Lửa thiêng” để giải vợi nỗi sầu. Sau một thời gian trăn trở kiếm tìm một lối đi cho thơ, Huy Cận đã bắt kịp nhịp điệu cuộc sống mới. Nhà thơ hăm hở đi thực tế để viết nên những khúc tráng ca về thời đại. “Đoàn thuyền đánh cá” viết năm 1958 nhân chuyến đi thực tế ở Quảng Ninh là một bằng chứng đánh dấu bước chuyển thực sự trong sự nghiệp sáng tạo thi ca của Huy Cận. Bài thơ là khúc hát khỏe khoắn, lãng mạn, hào hùng ca ngợi cuộc sống lao động đang đổi thịt thay da và hình cảnh những con người trong tư thế làm chủ bầu trời, làm chủ cuộc đời mới. Chủ để ấy được thể hiện khá rõ nét trong đoạn trích (trích dẫn đề) B/THÂN BÀI Mở đầu bài thơ là cảnh tượng hoàng hôn trên biển vừa diễm lệ, vừa hùng vĩ đầy sức sống: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Từ ngoài khơi xa nhìn vào đất liền, tác giả đã nhìn thấy được cảnh mặt trời xuống biển như một “hòn lửa” rực cháy được ủ trong lòng biển cả, tiếp tục làm ấm áp cả không gian. Vũ trụ bao la, huyền bí như cái nhà khổng lồ mà đêm tối là cánh cửa sập xuống, còn những con sóng chạy ngang trên biển là những “then” cài… Nghệ thuật so sánh và nhân hóa mà tác giả đã sử dụng ở đây thật mới lạ diễn tả cụ thể cảnh vũ trụ bắt đầu đi vào trạng thái nghỉ ngơi. Thanh trắc trong hai câu thơ đầu chiếm ưu thế cùng với những động từ mạnh “cài, sập” dễ khiến cho chúng ta nghĩ đến cảnh cập rập chuẩn bị đi nghỉ của thiên nhiên. Đấy lại là lúc mà những người ngư dân bắt đầu chuyến ra khơi: Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi Đây là sự ra đi đầy khí thế của một tập thể “đoàn thuyền”, không phải là một chiếc thuyền con hoặc vài ba chiếc thuyền lưa thưa rời rạc. Từ “lại” cho ta thấy đầy là sự tiếp diễn nhịp điệu lao động của họ, cảnh ra khơi khi hoàng hôn xuống như thế này đã diễn ra thường xuyên trong nhiều đêm, đó còn là sự khẳng định nhịp điệu lao động của dân chài đã ổn định, đi vào nề nếp trong hòa bình. Hình ảnh những cánh buồm căng lên vì no gió là chi tiết thực nhưng “câu hát căng buồm” thì rõ ràng là hư ảo. Những người ngư dân ra khơi trong tiếng hát. Tiếng hát của họ vang xa, vút cao trên sóng nước mênh mang. Tiếng hát chính là sự thể hiện niềm vui, phấn khởi, niềm lạc quan tươi trẻ của những người đánh cá. Chỉ một tiếng hát mà nói được bao điều về thân phận con người qua hai chế độ. Ở đây không còn nữa cái cảm nhận từ nghìn xưa về sự nhỏ bé, yếu đuối của con người trước biển cả bí ẩn, chứa đầy sức mạnh tàn phá, hủy diệt vô cùng dữ dội… Chính chi tiết lãng mạn độc đáo ấy lại biểu hiện khí thế mạnh mẽ của những con người trong lao động tập thể. Nếu như hai câu thơ đầu thanh trắc được sử dụng ưu thế thì ở hai câu sau thanh bằng được mở ra như ngân nga, kéo dài gợi cho ta nghĩ đến vẻ lâng lâng sảng khoái trong tâm hồn con người. Sự đối lập về hình ảnh và nhạc điệu giúp người đọc phần nào hiểu được nỗi vất vả, cực nhọc của công việc chài lưới về đêm. Vẫn nhịp điệu sôi nổi hào hứng, khổ thơ tiếp theo là nội dung lời hát thể hiện tâm tư người lao động cầu mong đi biển gặp nhiều may mắn và lời ca ngợi sự giàu có của biển cả: Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi! Chuyện làm ăn thường có nhiều may rủi. Ra khơi đánh cá, họ cầu mong biển lặng, sóng êm, gặp luồng cá, đánh bắt được nhiều. Niềm ước mong ấy phản ánh tấm lòng hồn hậu của ngư dân trải nhiều nắng, gió, bão tố trên biển. Tác giả đã ví đàn cá thu lưới nhanh trên biển “như đoàn thoi”, từ đó tác giả liên tưởng đến tấm vải dệt là biển. Một hình ảnh đẹp và khoáng đạt biết bao! Từng đoàn cá như những con thoi chạy ngang dọc trên tấm vải dệt là biển, tạo nên những luồng sáng lấp lánh giữa biển đêm. Cách diễn đạt của tác giả không khỏi gợi ta liên tưởng đến sự giàu có của biển khơi ẩn chứa trong câu ca lời hát của họ. Yêu vẻ đẹp giàu có của biển, những người dân mong muốn đánh bắt nhiều cá để phục vụ cho đất nước. “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!” câu nói như một lời kêu gọi “đoàn cá” vào lưới nhưng cũng đồng thời là lời của những người ngư dân gọi nhau thúc giục hãy nhanh tay lao động. Những hình ảnh “cá bạc, đoàn thoi, luồng sáng, dệt lưới” còn là những hình ảnh ẩn dụ rất sáng tạo đem đến cho người đọc bao liên tưởng thú vị về vẻ đẹp của thơ ca. Đại từ “ta” vang lên đầy tự hào kiêu hãnh, nó không còn là cái tôi nhỏ bé đơn côi như những ngày xưa nữa mà là cái “ta” tập thể đầy sức mạnh. Nhịp thơ đọc lên nghe sôi nổi, hào hứng, ngân dài, vang xa như chính tâm trạng sảng khoái, say sưa của những con người làm việc với tất cả trí tuệ và tình yêu lao động, yêu biển yêu nghề. Dường như đó chính là yếu tố tạo nên cái phơi phới của đoàn thuyền đang lướt đi giữa trùng khơi. Và cảnh đó được tác giả miêu tả trong bốn câu thơ tiếp theo: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng Trong cảnh đêm tối đang lan dần, chúng ta thấy đoàn thuyền vẫn lướt đi nhẹ nhàng với « ánh trăng” làm cánh buồm, gió làm bánh lái. Nếu ở khổ đầu ta bắt gặp ánh sáng của một buổi hoàng hôn thì giờ đây khi màn đêm buông xuống, ánh sáng được tỏa chiếu từ ánh trăng. Bút pháp lãng mạn với những yếu tố tưởng tượng bất ngờ tạo cho ta một ấn tượng sâu sắc về sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người. Hình ảnh “đoàn thuyền” hiện lên thật lớn lao ngang tầm với vũ trụ và chan hòa với trời nước bao la tuyệt đẹp. Công việc đánh bắt cá trở nên thơ mộng. Chúng ta như được cùng tác giả hòa nhập vào cái tâm trạng lâng lâng sảng khoái của những con người đang trong tư thế làm chủ vùng biển của đất nước. Chữ “lướt” đặc tả đoàn thuyền ra khơi với vận tốc nhanh, thiên nhiên cùng góp sức với con người trên con đường lao động và khám phá. Nhịp thơ đọc lên nghe hối hả, lôi cuốn. Nhưng rõ ràng đây không phải là một cuộc du ngoạn bằng thuyền trên sông nước mà đây là cuộc chiến đấu thực sự để giành lấy từ thiên nhiên những tài nguyên bằng tất cả sức lực, trí tuệ của con người. Những hình ảnh “dò bụng biển, dàn đan thế trận” như chứa đựng tất cả sự vất vả, hiểm nguy của những con người gắn bó cuộc đời mình với ngư trường với biển cả. Sự giàu đẹp của biển quê hương đã được thể hiện trước mắt: Cá nhụ, cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long Một loạt những hình ảnh liệt kê “cá nhụ, cá chim, cá song, cá đé” đã diễn tả sự phong phú giàu có của biển cả. Cảnh thiên nhiên về ban đêm của biển cả thật huyền ảo! Đó là cảnh đêm trăng trên biển lung linh lấp lánh ánh trăng vàng do sự quấy động của đàn cá. Cái đuôi cá quẫy được so sánh với ngọn đuốc rực cháy. Nghệ thuật phối sắc màu rất tài tình làm cho vần thơ đẹp như một bức tranh sơn mài rực rỡ. Đại từ “em” thể hiện sự trân trọng, yêu mến sản vật của quê hương, là sự gắn bó của con người với biển cả. Cảnh đep ban đêm còn được diễn tả bằng hình ảnh “sao lùa nước Hạ Long”. Sự tưởng tượng của tác giả thật phong phú và khá bất ngờ vì ánh sao in xuống nước, sóng đẩy vào mạn thuyền tạo nên cảnh “sao lùa nước” khiến cho chúng ta có cảm giác như “đêm” đang “thở”. Trong cái hơi thở ấy có âm thanh của sóng, gió mà còn có cả hơi thở từ lồng ngực căng khỏe của những người ngư dân. Hạ Long là một thắng cảnh bậc nhất của đất nước. Hạ Long một đêm trăng mang vẻ đẹp thần tiên. Huy Cận với bút pháp lãng mạn kết hợp với bút pháp nhân hóa đã tả cảnh đánh cá trên Hạ Long một đêm trăng bằng bao hình ảnh tuyệt vời. Thiết nghĩ phải có một tình yêu biển sâu nặng mới có thể viết lên những vần thơ tuyệt bút như vậy! ð Miêu tả cụ thể cảnh đánh bắt cá trên biển: Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào Bài hát vang lên văng buồm đưa thuyền ra khơi, bài hát lại vang lên trong lao động làm cho công việc bớt phần mệt nhọc. Ánh trăng in xuống nước, sóng nhịp nhàng xô bóng trăng dưới nước gõ vào mạn thuyền tạo thành hình ảnh muôn ngàn ánh vàng tan ra theo làn sóng mà thi sĩ ngỡ như nhịp trăng cao gõ cá. Bút pháp lãng mạn được vận dụng ở đây đã góp phần làm đẹp thêm công việc đánh cá trên biển cả. Ánh trăng hiền hòa dịu mát cứ trở đi trở lại trong bài thơ như luôn đứng về phía con người trong lao động làm bạn với con người. Hai tiếng “gọi cá” thân thương biết dường nào! Đại từ “ta” một lần nữa lại vang lên đầy tự hào kiêu hãnh. Với nghệ thuật so sánh lòng biển “như lòng mẹ” cùng với bút pháp nhân hóa: biển “nuôi lớn đời ta”, tác giả đã thành công trong việc bộc lộ cách cảm, cách nghĩ của người dân chài. Theo họ, biển là bà mẹ bao dung và hào phóng đang mở cả lòng ra để cho họ nhiều tấn cá. Cũng từ hai câu thơ này, ta phần nào hiểu thêm sự gắn bó thiêng liêng giữa biển cả với cuộc đời của họ. Âm điệu thơ ở đây không sôi nỏi, dứt khoát mạnh mẽ mà trầm lắng, ấm áp, ngọt ngào, da diết như làn điệu ca dao. Sau một đêm lao động vất vả, những ngư dân đang thực hiện các thao tác cuối cùng trước khi trở về đất liền: Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng… Gắn liền với ánh trăng là “sao”, hơn một lần bài thơ nói đến ánh sao. Ánh sao trên biển nhìn từ xa như sà xuống thấp, nhập vào lòng biển theo những con sóng. Giờ đây đêm đã tàn “sao mờ”, ánh sao đêm báo hiệu cho trời sắp sáng. Không gian và thời gian ấy như thôi thúc người lao động làm việc nhanh gấp cho “kịp trời sáng”. Đại từ “ta” cứ trở đi trở lại góp phần tạo nên một bức tranh tập thể. Hình ảnh “kéo xoăn tay” đã miêu tả động tác lao động vất vả, thái độ làm việc cật lực của những người ngư dân. Hình ảnh “chùm cá nặng” mang tính ẩn dụ thật độc đáo, trong hình ảnh đó chứa đựng biết bao niềm vui tươi, sảng khoái trước những thành quả mà họ đã tốn bao công sức mới thu hoạch được. Những “vẩy bạc đuôi vàng” của cá tô điểm cho cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, góp ánh sáng cho buổi rạng đông đồng thời cũng biểu hiện tâm hồn tạng rỡ hân hoan của con người của biển. Rạng đông đến không phải từ mặt trời mà từ thành quả lao động của con người. Một lần nữa khổ thơ cho thấy nghệ thuật sử dụng màu sắc của nhà thơ rất điêu luyện. Sắc cá dưới ánh trăng và sắc cá dưới ánh rạng đông đều được miêu tả thật tuyệt đẹp. Vẫn nhịp thơ nhanh gọn, tác giả đã khắc họa rõ những thao tác nhịp nhàng, thành thạo cuối cùng của một đêm lao động. Màu “nắng hồng” chính là vẻ đẹp của bầu trời hay đó là màu hồng của một ngày mới, một cuộc đời mới. Đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh đẹp trời, con người lại trở về trong tiếng hát, trong khung cảnh buồm căng gió lộng: Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi Tiếng hát hòa trong gió thổi đưa đoàn thuyền ra khơi đêm trước, tiếng hát hòa nhập cùng công việc của người ngư dân giờ đây lời hát ấy lại cùng đoàn thuyền đầy ấp cá hân hoan về bến. Vẫn chi tiết lãng mạn, hình ảnh sáng tạo, nhịp thơ khỏe đầy khí thế hào hùng, sảng khoái, tác giả miêu tả “đoàn thuyền” cũng chính là con người đang khẩn trương “chạy đua cùng mặt trời”, tranh chấp với thời gian để tạo ra thành quả lao động xây dựng cuộc sống mới. Khổ thơ cuối như một điệp khúc của bài ca lao động vang lên từ nhịp sống khẩn trương của những con người làm chủ đất nước. Nếu ra đi trong cảnh “mặt trời xuống biển như hòn lửa” hùng tráng thì giờ đây họ trở về trong cảnh “mặt trời đội biển nhô màu mới” cũng thật hùng vĩ. Hình ảnh “đội biển” cũng là một nét sáng tạo độc đáo. Hình ảnh “màu mới” của không gian cũng gợi cho ta nhiều liên tưởng. Cái “mới” đâu chỉ của thời gian mà cái mới trong cuộc đời lao động, lao động cho chính bản thân mình, cho tập thể, vì thế trong câu thơ niềm vui cứ dâng đầy. Phải chăng đây còn là màu mới của cuộc đời hồng tươi sắc thắm trên miền bắc không còn bóng quân xâm lượt? Thuyền về bến cảng trong buổi ban mai, ánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt cá khiến nhà thơ liên tưởng tới hàng ngàn mặt trời nhỏ xíu đang tỏa sáng niềm vui. Câu thơ không chỉ là bức tranh thu hoạch được mùa cá mà còn vẽ lên cả cảnh tượng cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân vùng biển. Bằng lao động và mồ hôi, họ đã viết lên bài ca cuộc đời. Đánh cá trong đêm, đối diện với thiên nhiên rộng lớn nhưng người lao động không bị rợn ngợp, không sợ hãi đó chính là nhờ rất nhiều ánh sáng. Đó là ánh sáng của thiên nhiên nhưng cũng là ánh sáng của lòng người, ánh sáng tỏa phát từ cuộc đời lao động vất vả nhưng tràn ngập niềm vui của con người lao động mới, đang làm chủ cuộc đời. Đó cũng là ánh sáng của thời đại mới. Đánh giá chung _ Về nội dung: các khổ thơ đã kết thúc, câu hát cũng không còn nhưng vương vấn trong tâm trí độc giả vẫn là hình ảnh vùng biển quê hương giàu đẹp và dáng vẻ những con người lao động hiên ngang, dũng cảm. Đọc bài thơ, ta tự hào hơn về một vùng biển VN giàu đẹp, con người VN dũng cảm, lạc quan trong xây dựng đất nước. _ Về nghệ thuật: Cảm hứng lãng mạn của nhà thơ kết hợp với hiện thực của thời kì đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc nước ta đã tạo nên một tứ thơ hay, độc đáo. “Đoàn thuyền đánh cá” đúng là một khúc tráng ca trên mặt biển của những con người lao động mới. _ Về tác giả: Nếu như trước cách mạng, thơ Huy Cận thấm đẫm nỗi buồn vào vũ trụ và lòng người qua ánh sáng leo lét, sầu buồn của “Lửa thiêng” Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng thì những bài thơ được viết sau những ngày mùa thu lịch sử lại mang âm điệu ngọt ngào, niềm vui say mê và phấn chấn của nhân dân lao động đang làm chủ cuộc đời với nhiều ánh sáng rực rỡ, ấm áp tình người, tình đời, ánh sáng của chế độ mới. Bởi thế có thể nói cảm quan vũ trụ đã có trong thơ Huy Cận trước cách mạng đến “Đoàn thuyền đánh cá” được tiếp nối và phát triển với những bước tiến mới. C/ KẾT BÀI Qua việc vận dụng âm điệu thơ sôi nổi, khỏe khoắn, hình ảnh thơ tráng lệ, ngôn ngữ độc đáo mới lạ ; cùng với bút pháp lãng mạn tài hoa, các khổ thơ trên đã giúp ta phần nào cảm nhận được nét đẹp vừa kì bí, vừa huy hoàng của biển cả và sức sống mãnh liệt của những con người lao động cùng với tâm trạng yêu đời, thái độ ngợi ca của thi sĩ đối với cuộc sống mới. Bài thơ đã truyền cho người đọc một niềm tin và sức sống mới, giúp ta thêm yêu những người lao động, những người cần cù, dũng cảm và tự hào hơn về quê hương mình. Hoặc: Chính nghệ thuật rất riêng của thi sĩ đã tạc vào lòng người đọc một ấn tượng không bao giờ phai nhòa. Đất nước ta hôm nay vẫn đang trên đà phát triển, mong ước được so sánh với các cường quốc năm châu, thiết nghĩ những bài tráng ca đề cao vẻ đẹp của con người lao động và tinh thần hăng say, nhiệt tình sản xuất luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu của bao người dân VN. Một lần nữa, xin cám ơn ông, ngòi bút tuyệt tài Huy Cận Hoặc: Bài thơ là một minh chứng cho sự đổi mới tâm hồn của nhà thơ Huy Cận. Biển giờ đây không còn là nơi để ông trút bỏ tâm sự nữa mà là nơi ông gửi gắm bao hy vọng vào một tương lai sáng đẹp của đất nước. Bài thơ đã khép lại nhưng ta vẫn như còn nghe thấy tiếng sóng biển và cả tiếng lòng của thi sĩ. Nguồn:
Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá
15,560
Đề bài: Phân tích bài thơ Đàn ghi- ta của Lor-ca của Thanh Thảo Dàn ý I. Mở bài – Thanh Thảo thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mĩ có thành tựu, có tiếng nói thơ riêng được công chúng chú ý, kể cả thơ viết về chiến tranh và thời hậu chiến. – Là một ngòi bút thơ luôn tìm tòi cái mới, nổ lực cách tân thơ Việt, ông khước từ lối biểu đại dễ dãi, tìm kiếm những cách biểu đạt mới và đề xuất một mĩ cảm hiện đại chơ thơ. Đàn ghi -ta của Lor- ca rất tiêu biểu cho nỗ lực cách tâm thơ Việt của Thanh Thảo, mặc dầu bài thơ còn khó hiểu vì ít nhiều muốn màu sắc tượng trưng và siêu thực mà ông học tập ở chính nhà thơ hiện đại Tây Ban Nha: Ga-xi-a Lor-ca. Phân tích bài thơ Đàn ghi- ta của Lor-ca II. Thân bài 1. Cảm hứng từ cái chết bi thảm của nhà thơ lớn Tây Ban Nha Bài thơ được gợi cảm hứng từ cái chết bi thảm của Lor-ca (1898 – 19361). Lor-ca là nhà thơ lớn Tây Ban Nha, một trong những tài năng sáng chói của văn học hiện đại Tây Ban Nha. Ông đã cơ ngợi, cổ vũ nhân dân trong cuộc đấu tranh với thế lực phản động, đòi quyền sống chính đáng với một nghệ thuật mới mẻ, gây ảnh hưởng xã hội to lớn trong nhân dân. Hoảng sợ trước điều đó, năm 1936, chế độ phản động cực quyền thâm phát xít đã bắt giam và bắn chết ông. Tên tuổi của Lor-ca trở thành một biểu tượng, là ngọn cờ tập hợp các nhà văn hóa Tây Ban Nha và trên thế giới chiến đấu chống chủ nghĩa phái xít bảo vệ văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại. Lor-ca có một câu thơ nổi liếng: Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn. Cái chết bi thảm ấy và cây đàn kỳ diệu này đã khơi nguồn cảm hứng cho Thanh Thảo viết bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca (bài thơ, như ta đã thấy, có đề từ là câu thơ của F.Glor-ca). 2.Hình tượng trung tâm xuyên suốt tác phẩm: tiếng đàn ghi-ta Nếu cái chết bi thảm cùa Lor-ca gây cảm xúc mạnh cho Thanh Thảo thì tiếng đàn ghi-ta của Lor-ca đã trở thành hình tượng trung tâm xuyên suốt bài thrt của ông. Bởi Lor-ca là một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, và cái biểu trưng cho người nghệ sĩ ấy không gì đúng hơn là chính tiếng đàn của Lor-ca tiếng đàn ghi ta truyền thông của dân tộc Tây Ban Nha (guitare espagnol). Tiếng đàn ghi- ta là gương mặt, là cuộc đời, là tài năng và phẩm chất nghệ sĩ của Lor-ca, in đậm dấu ấn riêng của người nghệ sĩ tài hoa và khí phách, nhưng cũng phảng phất hồn dân tộc Tây Ban Nha trong đó. Hình tượng tiếng đàn được Thanh Thảo xây dựng rất độc đáo, công phu và sáng lạo, tuy ít nhiều có nhuồm màu sắc tượng trưng và siêu thực mà ông học tập ở chính nhà thơ Ga-xi-a Lor-ca. Bài thơ được cấu trúc theo diễn biến của tiếng đàn, cũng là cuộc đời nhà thơ lớn Tây Ban Nha. – Khổ 1: Tiếng đàn du ca của người nghệ sĩ lang thang. – Khổ 2 và 3: Lor-ca bị điệu về bãi bắn, tiếng đàn ghi-la ròng ròng máu chảy. – Khổ 4: Tiếng đàn gợi thương cảm về cái chết thê thảm của nhà thơ chiến sĩ nhưng đó lại là tiếng đàn bất tử của người anh hùng trong lòng dân tộc và nhân loại. – Khổ 5: Sự siêu thoát của Lor-ca: “tiếng ghi-ta nâu” đã thành “chiếc ghi-ta màu bạc", thành con thuyền đưa Lor-ca sang ngang qua dòng sông sinh tử đến thế giới của vĩnh hằng. – Khổ 6: Sự tự giải thoát, sự lìa bỏ tất cả của Lor-ca, nhưng linh hồn bất tử “ ông vẫn ca hát, mãi mãi hát ca, và tiếng đàn ghi-ta kì diệu ấy vẫn vang lên thánh thót: li-la li-la li-la… 3. Cảm nhận về đoạn thơ Không ai chôn cất tiếng đàn Tiếng đàn như cỏ mọc hoang Giọt nước mắt vầng trăng Long lanh trong đáy giếng. Hình ảnh hoán dụ (không ai chồn cất tiếng đàn), hình ảnh so sánh tiếng đàn như cỏ mục hoang gợi thương cảm về cái chết thê thảm của nhà thơ chiến sĩ trong tay bọn phái xít khi đất nước còn chìm trong sự thống trị dã man của chúng. Đặc biệt hình ảnh giọt nước mắt vầng trăng là một hình tượng thơ siêu thực đa nghĩa bắt nguồn từ một sự việc thực: Kẻ thù sau khi bắn nhà thơ đã vứt xác ông xuống giếng để phi tang. Nếu sử dụng bút phát hiện thực thì chỉ diễn tả được đau thương và tội ác nhưng Thanh Thảo còn muôn nói nhiều hơn: tình thương, sự cao khiết, sự tỏa sáng. Nước mắt vầng trăng là nước mắt thương tiếng vầng trăng hay là nước mắt sáng đẹp và vĩnh cửu như vầng trăng những giọt nước mắt anh hùng, nhưng trong văn của Nguyễn Đình Chiểu (nước mắt anh hùng lau chẳng ráo) vầng trăng hay là sự hóa thân, sự thăng hoa của tâm nồn người liệt sĩ như Khoảng trời và hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng Những vì sao ngời chói lung linh). Giếng nước, nơi kẻ thù vứt xác anh, lại là nơi tia sáng long lanh tâm hồn anh như có vầng trăng soi vào. Sự dập vùi chuyển hóa thành sự thăng hoa, sự thê thảm chuyển hóa thành sự tôn vinh. Và đó là chiến thẳng, là sự bất tử của người anh hùng. III. Kết bài Khổ thơ đã hội tụ được cả cái chết bi thảm và tiếng đàn kì diệu của Lor- ca trong những hình tượng thơ sáng tạo cách tân để ca ngợi tiếng đàn bất tử của người nghệ sĩ Tây Ban Nha, để nói lên một chân lí: nghệ thuật của nhân dân trường tồn vĩnh cửu.
Phân tích bài thơ Đàn ghi- ta của Lor-ca
1,042
Đề bài: Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo Bài làm Lorca là nhà thơ như thế nào? Đàn ghi ta của ông có cái gì đặc biệt? Vầng trăng, yên ngựa, bước chân lang thang, tiếng hát nghêu ngao, bãi bắn, tấm áo choàng bê bết đỏ, giọt nước mắt vầng trăng trong đáy giếng, lá bùa cô gái di gan… là những cái gì đây? Đó có thể là những câu hỏi thầm vang lên trong tâm trí độc giả bình thường khi tiếp nhận bài thơ. Nếu không chịu bỏ cuộc trên hành trình giải mã văn bản này và quyết tìm tới những văn bản khác đã làm nền cho nó (theo sự chỉ dẫn của các câu thơ trong bài), độc giả sẽ thực sự được đền bù. Trước mắt chúng ta lúc đó sẽ là một thế giới thi ca chói loà của thiên tài Lorca, là bức tranh bi tráng về thân phận người nghệ sĩ trong một thời đại biến động như bão táp, là vẻ đẹp lung linh của nghệ thuật vượt lên trên mọi sự đe doạ của các thế lực bạo tàn, nguy hiểm. Từ những điều vừa thấy, nhìn ngược lại văn bản thơ đã tạo cơ hội mở rộng chân trời hiểu biết cho mình – bài Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo – ta sẽ nhận ra từ đây một sự cộng hưởng của những khát vọng sáng tạo, một khả năng nhập cảm sâu sắc vào thế giới nghệ thuật thơ Lorca, một suy nghiệm thâm trầm về nỗi đau và niềm hạnh phúc của những cuộc đời đã dâng hiến trọn vẹn cho cái đẹp. Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo Trong nửa đầu bài thơ, một không gian Tây Ban Nha đặc thù, nhất là không gian miền quê Andalucía yêu dấu của Lorca đã được gợi lên. Giữa không gian đó, nổi bật hình tượng người nghệ sĩ lãng du có tâm hồn phóng khoáng, tha thiết yêu người, yêu đời, nhưng nghịch lí thay, lại không ngừng đi theo một tiếng gọi huyền bí nào đó hướng về miền đơn độc: những tiếng đàn bọt nước Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt li-la li-la li-la đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn … tiếng ghi ta nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghi ta lá xanh biết mấy tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan Tại sao tác giả lại có thể gợi lên được những điều ấy? – Trước hết là nhờ “đàn ghi ta của Lorca”. Tất nhiên, ở đây ta không nói tới một cây đàn cụ thể, dù vẫn biết Lorca là nghệ sĩ trình tấu rất xuất sắc ghi ta và dương cầm. Đàn ghi ta ở đây chính là thơ Lorca, là bản mệnh của Lorca. Đọc thơ Lorca, ta thường bắt gặp hình tượng một chàng kị sĩ đi mải miết, vô định dưới vầng trăng khi đỏ, khi đen, khi rạng ngời, khi u tối, khi nồng nàn, khi buốt lạnh,… Ta cũng thường được ngập mình trong phong vị, hương sắc riêng không thể nào quên được của miền quê Granada thuộc xứ Andalucía, nơi ngày xưa từng được xem là “một trong những vương quốc đẹp nhất của châu Phi” do người Ả Rập dựng nên. Ở đó có những chàng hiệp sĩ đấu bò tót khoác trên mình tấm áo choàng đỏ, có những cô gái di gan nước da nâu gợi tình tràn trề sức sống, có những vườn cam, những rặng ô liu xanh một màu xanh huyền hoặc. Đặc biệt, ở đó luôn vang vọng tiếng đàn ghi ta – âm thanh nức nở, thở than làm vỡ toang cốc rượu bình minh, tựa tiếng hát của một con tim bị tử thương bởi năm đầu kiếm sắc, không gì có thể bắt nó im tiếng (ý thơ trong bài Đàn ghi ta)… Thanh Thảo quả đã nhập thần vào thế giới thơ Lorca để lẩy ra và đưa vào bài thơ của mình những biểu tượng ám ảnh bồn chồn vốn của chính thi hào Tây Ban Nha. Nhưng vấn đề không đơn giản chỉ là sự “trích dẫn”. Tất cả những biểu tượng kia đã được tổ chức lại xung quanh biểu tượng trung tâm là cây đàn, mà xét theo “nguồn gốc”, vốn cũng là một biểu tượng đặc biệt trong thơ Lorca – người mê dân ca, “chàng hát rong thời trung cổ”, “con sơn ca xứ Andalucía”. Cây đàn từ chỗ mang hàm nghĩa nói về một định hướng sáng tạo gắn thơ với dòng nhạc dân gian, rộng ra, nói về một tình yêu vô bờ và khắc khoải đối với quê hương, đến Thanh Thảo, nó đã nhập một với hình tượng Lorca, hay nói cách khác, nó đã trở thành hình tượng “song trùng” với hình tượng Lorca. Cây đàn cất lên tiếng lòng của Lorca trước cuộc sống, trước thời đại. Nó là tinh thần thơ Lorca, là linh hồn, và cao hơn cả là số phận của nhà thơ vĩ đại này. Bởi thế, trên những văn bản thơ trước đây của Lorca là một văn bản mới của nhà thơ Việt Nam muốn làm sống dậy hình tượng người con của một đất nước, một dân tộc yêu nghệ thuật, ưa chuộng cuộc sống tự do, phóng khoáng. Hơn thế nữa, tác giả muốn hợp nhất vào đây một “văn bản” khác của đời sống chính trị Tây Ban Nha mùa thu 1936 – cái “văn bản” đã kể với chúng ta về sự bạo ngược của bọn phát xít khi chúng bắt đầu ra tay tàn phá nền văn minh nhân loại và nhẫn tâm cắt đứt cuộc đời đang ở độ thanh xuân của nhà thơ được cả châu Âu yêu quý: Tây Ban Nha hát nghêu ngao bỗng kinh hoàng áo choàng bê bết đỏ Lorca bị điệu về bãi bắn chàng đi như người mộng du … tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy Ở trên, bài thơ của Thanh Thảo đã được (hay bị) trích theo lối cắt tỉa, phục vụ cho việc làm tường minh các ý thơ có trong đó. Trên thực tế, Đàn ghi ta của Lorca có một cấu trúc đầy ngẫu hứng, với sự tương tác, xô nhau, đan cài nhau của các văn bản (đã nói). Chính nhờ vậy, tiếng hát yêu đời của Lorca được Thanh Thảo gợi lại, càng trở nên tha thiết hơn giữa tan nát dập vùi và những ám ảnh tưởng phi lí luôn dày vò nhà thơ Tây Ban Nha bỗng trở thành sự tiên tri sáng suốt. Sáng tạo nghệ thuật của Thanh Thảo được bộc lộ rõ trên các giao điểm này. Những hình ảnh, biểu tượng vốn có trong thơ Lorca được làm mới để chuyên chở những cảm nhận về chính thơ Lorca và về thân phận các nhà thơ trong thời hoành hành của bạo lực. Câu thơ những tiếng đàn bọt nước ở đầu bài nếu được nối kết với các câu thơ khác là tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan và tiếng ghi ta ròng ròng – máu chảy, sẽ bộc lộ một tiềm năng ý nghĩa lớn hơn nhiều so với ý nghĩa dễ nhận thấy gắn liền với việc diễn tả âm thanh tuôn trào, sôi động của tiếng đàn. Tiếng đàn giống như tiếng kêu cứu của con người, của cái đẹp trong thời khắc bị đẩy tới chỗ tuyệt diệt. Không có gì khó hiểu khi dưới ngòi bút Thanh Thảo, tiếng đàn cũng có màu (nâu, xanh), có hình thù (tròn), có sinh mệnh (ròng ròng máu chảy), bởi tiếng đàn ở đây chính là sự cảm nhận của nhà thơ nay về tiếng đàn xưa. Theo đó, tiếng đàn không còn là tiếng đàn cụ thể nữa, nó là sự sống muôn màu hiện hình trong thơ Lorca và là sinh quyển văn hoá, sinh quyển chính trị – xã hội bao quanh cuộc đời, sự nghiệp Lorca. Rồi màu đỏ gắt của tấm áo choàng, không nghi ngờ gì, là sáng tạo của Thanh Thảo. Nó không đơn thuần là màu của một trang phục. Nó có khả năng ám gợi một điều kinh rợn sẽ được nói rõ ra trong khổ thơ sau: áo choàng bê bết đỏ ­– tức là tấm áo choàng đẫm máu của Lorca, của bao con người vốn chỉ biết hát nghêu ngao niềm yêu cuộc đời với trái tim hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng, khi bị điệu về bãi bắn một cách tàn nhẫn, phũ phàng, phi lí (câu thơ chàng đi như người mộng du có phần thể hiện sự phi lí không thể nào nhận thức nổi này). Cùng một cách nhìn như thế, độc giả sẽ thấy những thi liệu của thơ Lorca (mà truy nguyên, một phần không nhỏ vốn là thi liệu của những bài dân ca Andalucía) như hình ảnh người kị sĩ đi lang thang, yên ngựa, vầng trăng đã thực sự được tái sinh lần nữa trong một hình hài mới và gây được những ấn tượng mới. Các từ miền đơn độc, chếnh choáng, mỏi mòn gắn với chúng đã tạo ra một trường nghĩa chỉ sự mệt mỏi, bất lực, bồn chồn, thắc thỏm không yên của con người khi đối diện thực sự với cái bản chất phong phú vô tận của cuộc sống. Với kiểu tạo điểm nhấn ngôn từ của Thanh Thảo, ta hiểu rằng cảm giác đó không chỉ có ở Lorca. Nó là một hiện tượng có tính phổ quát, không của riêng ai, không của riêng thời nào, tất nhiên, chỉ được biểu hiện đậm nét và thực sự trở thành “vấn đề” trong thơ của những nhà thơ luôn thắc mắc về ý nghĩa của tồn tại. Gồm một chuỗi âm thanh mơ hồ khó giải thích, dòng thơ li-la li-la li-la xuất hiện hai lần trong thi phẩm một mặt có tác dụng làm nhòe đường viền ý nghĩa của từng hình ảnh, biểu tượng đã được ném ra chừng như lộn xộn, mặt khác, đảm nhiệm một phần chức năng liên kết chúng lại thành một chỉnh thể, nhằm biểu hiện tốt nhất cái nhìn nghệ thuật của tác giả và giải phóng bài thơ khỏi sự trói buộc của việc thuật, kể những chuyện đã xảy ra trong thực tế. Quả vậy, dù không có sự kiện nào của cuộc đời Lorca được kể lại một cách rành mạch, chi tiết, nhưng độc giả hiểu thơ không vì thế mà cho rằng thiếu. Cái người ta thấy đáng quan tâm lúc này nằm ở chỗ khác. Đó là sự tự bộc lộ của chủ thể sáng tạo khi ráo riết suy nghĩ về số phận đầy bất trắc của nghệ thuật và khả năng làm tan hoà những suy nghĩ ấy trong một thứ nhạc thơ tác động vào người tiếp nhận bằng hình thức ám gợi tượng trưng hơn là hình thức giãi bày, kể lể kiểu lãng mạn. Tất nhiên, chúng ta có quyền cắt nghĩa tại sao lại li la chứ không phải là cái gì khác. Hoa li la (tử đinh hương) với màu tím mê hoặc, nao lòng, từng là đối tượng thể hiện quen thuộc của nhiều thi phẩm và hoạ phẩm kiệt xuất trong văn học, nghệ thuật phương Tây chăng? Hay đó là âm thanh lời đệm (phần nhiều mang tính sáng tạo đột xuất) của phần diễn tấu một ca khúc, hoặc nữa là âm thanh mô phỏng tiếng ngân mê đắm của các nốt đàn ghi ta dưới tay người nghệ sĩ?… Tất cả những liên hệ ấy đều có cái lí của chúng! Ở nửa sau của bài thơ, tác giả suy tưởng về sức sống kì diệu của thơ Lorca nói riêng và về sự trường tồn của nghệ thuật chân chính nói chung, vốn được sáng tạo bằng chính trái tim nặng trĩu tình yêu cuộc sống của các nghệ sĩ: không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng long lanh đáy giếng đường chỉ tay đã đứt dòng sông rộng vô cùng Lorca bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc chàng ném lá bùa cô gái di gan vào xoáy nước chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt li-la li-la li-la… Câu thơ không ai chôn cất tiếng đàn có lẽ đã được bật ra trong tâm thức sáng tạo của Thanh Thảo khi ông nghĩ tới lời thỉnh cầu của Lorca trong bài Ghi nhớ – lời thỉnh cầu đã được dùng làm đề từ cho bài thơ Đàn ghi ta của Lorca. Không, ở đây không có thao tác đối lập sắc lẻm của lí trí mà nhiều thi sĩ ưa dùng trong các bài thơ “chân dung” hay “ai điệu”, nhằm làm nổi bật những tứ thơ “mới” mang tính chất “ăn theo”. Chỉ có sự đau đớn trước cái chết thảm khốc của một thi tài mãnh liệt, mà xác bị quăng xuống một giếng sâu (hay vực?) gần Granada. Dĩ nhiên, ý nguyện của Lorca – một ý nguyện thể hiện phẩm chất nghệ sĩ hoàn hảo của nhà thơ, nói lên sự gắn bó vô cùng sâu nặng của ông đối với nguồn mạch dân ca xứ sở – đã không được thực hiện. Nhưng nghĩ về điều đó, những liên tưởng dồn tới và ta bỗng vỡ ra một chân lí: không ai chôn cất tiếng đàn và dù muốn chôn cũng không được! Đây là tiếng đàn, một giá trị tinh thần, chứ không phải là một cây đàn vật thể. Tiếng đàn ấy trường cửu cùng tự nhiên và hơn thế, bản thân nó chính là tự nhiên. Nó vẫn không ngừng vươn lên, lan toả, ngay khi người nghệ sĩ sáng tạo ra nó đã chết. Dù thật sự thấm thía chân lí nói trên, tác giả vẫn không ngăn nổi lòng mình khi viết ra những câu thơ đau xót hết mực, thấm đượm một cảm giác xa vắng, bơ vơ, côi cút, như cảm giác của ta khi thấy cỏ mọc hoang đang hát bài ca vắng người giữa mang mang thiên địa. Không phải ngẫu nhiên mà trong ít nhất hai phương án ngôn từ có thể dùng, Thanh Thảo đã lựa chọn cách diễn đạt không ai chôn cất chứ không phải là không ai chôn được! Đến lượt độc giả, giọt nước mắt vầng trăng cứ mãi làm ta thao thức, dù nó long lanh trong im lặng, và hình như càng im lặng trong thăm thẳm đáy giếng, nó lại càng long lanh hơn bao giờ hết(1). Từ câu đường chỉ tay đã đứt đến cuối bài, nhịp điệu, tiết tấu của thi phẩm không còn gấp gáp và dồn bức nữa. Nó chậm rãi và lắng sâu. Điều này tuân theo đúng lô gích tái hiện và suy ngẫm (tạm quy về phạm trù “nội dung”) mà tác giả chọn lựa. Nhưng quan trọng hơn, nó tuân theo lô gích tồn tại của chính cuộc đời: tiếp liền cái chết là sự sinh thành, sau bộc phát, sôi trào là tĩnh lặng, trầm tư, nối theo sự mù loà, khủng hoảng (của xã hội loài người) là sự khôn ngoan, chín chắn… Trong muôn nghìn điều mà con người phải nghĩ lại khi đã “khôn dần lên”, sự hiện diện của nghệ thuật trong đời sống là một trong những điều khiến ta trăn trở nhiều nhất. Việc quy tội, kết tội cho một đối tượng cụ thể nào đó đã đối xử thô bạo với nghệ thuật không còn là chuyện thiết yếu nữa. Hãy lắng lòng để chiêm ngưỡng một sự siêu thoát, một sự hoá thân. Trên dòng sông của cuộc đời, của thời gian vĩnh cửu mà trong khoảnh khắc bừng tỉnh thoát khỏi mê lầm, ta tưởng thấy nó hiện hình cụ thể và dăng chiếu ngang trời, có bóng chàng nghệ sĩ Lorca đang bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc. Chàng đang vẫy chào nhân loại để đi vào cõi bất tử. Chiếc ghi ta, cũng là con thuyền thơ chở chàng, có ánh bạc biêng biếc, hư ảo một màu huyền thoại… Trên thực tế, cái chết của Lorca là cái chết tức tưởi do bọn phát xít Franco gây nên. Nhưng nhìn suốt chiều dài lịch sử, ta thấy Lorca không phải là trường hợp nghệ sĩ đầu tiên hay cuối cùng chịu kết cục bi thương bởi các thế lực thù địch với cái đẹp. Vậy phải chăng có thể xem những khổ nạn liên tục là một phần tất yếu trong định mệnh của họ? Hẳn Thanh Thảo đã nghĩ vậy khi viết tiếp những câu thơ thật gọn nghẽ, “nhẹ nhõm” và “mênh mang” (ta hãy chú ý tới điểm rơi cuối dòng thơ của các từ, cụm từ như đã đứt, vô cùng, sang ngang). Dù ai tiếc thương mặc lòng, đối với người nghệ sĩ như Lorca, khi đường chỉ tay đã đứt (đường chỉ tay như dấu ấn của số mệnh đóng lên cơ thể con người), chàng đã dứt khoát được giải thoát. Còn nuối làm chi lá bùa hộ mệnh được xem là vật tàng trữ những sức mạnh thần diệu mà cô gái di gan trao cho. Chàng, dứt khoát và mạnh mẽ, ném nó “chìm lỉm” (chữ của Hàn Mặc Tử) vào xoáy nước hư vô, như ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt – cái lặng yên của sự “đốn ngộ”, cái lặng yên sâu thẳm, anh minh, mà ở đó, lời nói đã tan đi trong chính nó. Chàng đã đoạt lấy thế chủ động trước cái chết của mình. Chàng đã thắng không chỉ lũ ác nhân mà còn thắng cả chính định mệnh và hư vô nữa. Từ điểm này nhìn lại, ta bỗng thấy câu thơ chàng đi như người mộng du ở phần trên có thêm tầng nghĩa mới. Bị lôi đến chỗ hành hình, Lorca vẫn sống như người trong cõi khác. Chàng đang bận tâm đuổi theo những ý nghĩ xa vời. Chàng đâu thèm chú ý tới máu lửa quanh mình lúc đó. Chàng đã không chấp nhận sự tồn tại của bạo lực. Chàng chết, nhưng kẻ bất lực lại chính là lũ giết người! Ở đây, có một cái gì gợi ta nhớ tới sự tuẫn nạn của Chúa Giê su trên núi Golgotha (núi Sọ). Lại thêm một “văn bản” nữa ẩn hiện tỏ mờ dưới văn bản thơ của Thanh Thảo(2)!… Trong đoạn thơ cuối bài vừa phân tích, người đọc càng nhìn thấy rõ hơn sự vững vàng của tác giả trong việc phối trí các hình ảnh, biểu tượng lấy từ nhiều “văn bản” khác nhau vào một tổng thể hài hoà. Tưởng không có gì chung giữa đường chỉ tay, lá bùa, xoáy nước và cả lặng yên nữa. Vậy mà, nhờ được “tắm” trong một “dung môi” cảm xúc có cường độ mạnh cùng sự suy tư có chiều sâu triết học, tất cả chúng trở nên ăn ý với nhau lạ lùng để cùng cất tiếng khẳng định ý nghĩa của những cuộc đời dâng hiến hoàn toàn cho nghệ thuật, cũng là cho một nhu cầu tinh thần vĩnh cửu của loài người. Là sản phẩm tinh tuý của những cuộc đời như thế, thơ ca làm sao có thể chết? Nó tồn tại như là hơi thở xao xuyến của đất trời. Nó gieo niềm tin và hi vọng. Nó khơi dậy khát khao hướng về cái đẹp. Nó thanh lọc tâm hồn để ta có được tâm thế sống an nhiên giữa cuộc đời không thôi xáo động, vĩnh viễn xáo động. Muốn mô tả nó ư? Chỉ có thể, như Thanh Thảo, sau một thoáng mặc tưởng, bật thốt lên: li-la li-la li-la… Để lòng mình ngân theo chuỗi âm thanh ấy, ta hiểu rằng trong cuộc tương tranh không ngừng và hết sức thú vị giữa những cách diễn tả “đặc hữu” của văn học và cách diễn tả mang tính chất ám gợi huyền hồ của âm nhạc, cuối cùng, ở bài thơ của Thanh Thảo, cách diễn tả của âm nhạc đã chiếm ưu thế. Điều này hiển nhiên là một sự lựa chọn có ý thức. Để nói về nỗi cô đơn, cái chết, sự lặng yên, “lời” vẫn thường gây vướng víu, gây nhiễu. Chỉ có nhạc với khả năng thoát khỏi dấu ấn vật chất của sự vật khi phản ánh nó, trong trường hợp này, là phương tiện thích hợp. Tất nhiên, Thanh Thảo không phải đang làm nhạc mà là làm thơ. Nói nhạc ở đây không có gì khác là nói tới cách thơ vận dụng phương thức của nhạc – cái phương thức ám thị, khước từ mô tả trực quan – để thấu nhập bề sâu, “bề xa” của sự vật. Từ lâu, các nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa đã hướng tới điều này. Dù không nhất thiết phải quy Đàn ghi ta của Lorca vào loại hình thơ nào, ta vẫn thấy nó đậm nét tượng trưng. Chẳng có gì lạ khi với bài thơ này, Thanh Thảo muốn thể hiện mối đồng cảm sâu sắc đối với Lorca –. cây đàn thơ lạ lùng trong nền thi ca nhân loại ở nửa đầu của thế kỉ XX đầy bi kịch.
Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo
3,608
Đề bài: Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca Bài làm Thanh Thảo thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng đã tạo được giọng điệu riêng ngay từ khi trình làng thi phẩm đầu tiên “Dấu chân qua trảng cỏ” rồi đến “Những người đi tới biển”, sau đó là “Khối vuông ru-bích” Ông luôn tìm tòi khám phá, sáng tạo tìm cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, đem đến một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằng thi ảnh và ngôn từ mới mẻ. Đàn ghita của Lorca là bài thơ tiêu biểu cho kiểu tư duy sáng tạo ấy. Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca Thanh Thảo mở đầu bài thơ bằng chính di nguyện của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Đây là một di nguyện vừa thiêng liêng vừa cao thượng. Anh không muốn suốt đời là cái bóng ngăn cản sự phát triển của những tài năng trẻ của đất nước mình. Đây chính là cái tâm của người nghệ sĩ lớn suốt đời hi sinh cho nghệ thuật và đấu tranh chống phát xít bạo tàn. Về một ý nghĩa khác Đàn ghita đã gắn với giây phút cuối cùng của cuộc đời Lor-ca. Cái chết của người nghệ sĩ ấy và những phẩm chất tài năng của anh đã bắt gặp hồn thơ Thanh Thảo làm nên thi phẩm tuyệt bút này. Bài thơ có lối diễn đạt không viết hoa đầu dòng tạo nên một sự liền mạch như một dòng chảy của cảm xúc không có điểm dừng. Sự tài hoa của Thanh Thảo còn làm ta liên tưởng bài thơ như một bản đàn ngân vang với âm thanh “li-la” mênh mang, dìu dặt vút cao chắp cánh đưa người nghệ sĩ bay vút lên trên tất cả bạo tàn và chết chóc. những tiếng đàn bọt nước Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt li-la, li-la, li-la đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chuếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn Những câu thơ mở đầu giàu sức gợi mang đến một trường liên tưởng về một đất nước đẹp tươi với tiếng ghi ta làm mê say lòng người, những vũ nữ Digan với làn da rám nắng và vũ khúc Flamenco cháy bỏng, những trận đấu bò rực lửa và danh dự của người kiếm sĩ và không thể thiếu những miền thảo nguyên bao la xanh bóng nắng. Giữa nắng và gió, giữa bao la thiên địa, Lorca hiện lên ngời sáng trong thơ. Sự chuyển đổi cảm giác từ thính giác sang thị giác tạo nên « tiếng đàn bọt nước » đầy biến ảo, khi tròn to, khi phập phồng thổn thức, khi vỡ ra tức tưởi như một « thiên bạc mệnh » có tính dự báo về những chông gai, trắc trở mà số phận người nghệ sỹ sẽ phải đón nhận ở phía trước. Và màu «áo choàng đỏ gắt» tiếp theo sau tiếng đàn bọt nước ấy chính là những trận đấu bò sinh tử. Nhưng đấu trường bò tót ngay trong sự chuyển gam của Thanh Thảo đã trở thành một đấu trường chính trị khổng lồ, ngột ngạt, căng thẳng, đẫm máu của Tây Ban Nha thời đó. Màu áo của kiếm sĩ « đỏ gắt » lên hay nền chính trị độc tài thân phát xít đang thiêu đốt tự do dân chủ và kiềm hãm sự phát triển của một nền nghệ thuật đang già cỗi. Đây là một trận chiến lớn giữa một bên là khát vọng dân chủ của nhân dân nói chung, của Lor-ca nói riêng với nền chính trị độc tài. Xét trong lĩnh vực nghệ thuật, đó là cuộc xung đột giữa khát vọng cách tân của nhà thơ với nền nghệ thuật già nua. Xét ở phương diện nào thì Lorca cũng là một chiến sĩ đơn độc đáng thương. Giữa lúc trận đấu đang căng thẳng thì bỗng vang lên âm thanh du dương, bổng trầm của tiếng đàn: li-la, li-la, li-la một thanh âm trong trẻo, thanh tao quyện hòa mùi hương hoa Lila dìu dịu, lan tỏa với những cánh hoa màu tím nồng nàn đầy sức sống giữa khung cảnh bạo tàn và chết chóc. Đấu trường khốc liệt nhường chỗ cho sự thăng hoa của nghệ thuật. Ai nói nghệ thuật không có sức mạnh. Không! Nghệ thuật chính là sức mạnh vô địch có thể hóa giải mọi hận thù. Và chàng nghệ sỹ của chúng ta đang thăng hoa trong bản hòa tấu Ghita đầy lãng mạn. Người đọc như đang dõi mắt theo từng bước chân lãng tử của người nghệ sỹ trên hành trình «lang thang về miền đơn độc» cùng với «vầng trăng – yên ngựa». Đây là một hệ thống thi ảnh thường bắt gặp trong thơ Lorca, chàng kị sỹ một mình trên lưng «con ngựa đen/ vầng trăng đỏ » với những bản đàn ghita phiêu bồng cùng giấc mơ tranh đấu. Trong thơ Thanh Thảo, Lorca hiện lên với dáng điệu «chuếnh choáng». Đây là một hình ảnh mang cái hồn say của người nghệ sỹ, không phải cái say tầm thường của những cốc rượu vang đỏ mà là say trong tranh đấu, say trong sáng tạo nghệ thuật. Nếu như chàng Đôn-ki-hô-tê trong trang văn của Xec-van-tec mải miết với giấc mơ hiệp sĩ thì Lorca mãi « mỏi mòn » trong hành trình chống lại tộc ác của bè lũ Phờ-răng-cô. Nhưng đáng thương thay, trong hành trình khát vọng ấy, Lorca là một nghệ sĩ cô đơn trong sáng tạo nghệ thuật và cô độc trong chiến đấu. Nhưng không vì thế « con họa mi của xứ Granada lại ngừng hót ». Chàng vẫn « Mãnh liệt như trăm ngàn sư tử/ Vững chắc như cẩm thạch » (Thơ Lorca) Càng chiến đấu, Lorca càng say mê, càng “hát nghêu ngao». Nhưng phũ phàng thay « đường chỉ tay đã đứt », định mệnh đã khiến chàng nghệ sĩ du ca của chúng ta phải dở dang hành trình khát vọng. Phát súng của bọn phát xít đã đánh hạ Lorca đáng thương. Thanh Thảo thốt lên sững sờ «bỗng kinh hoàng ». Như không tin vào mắt mình nữa. Cả dân tộc Tây Ban Nha bàng hoàng, cả thế giới nín lặng, bản giao hưởng chùng xuống rồi lại vút cao lên theo « máu anh phun như lửa đạn cầu vồng ». Thanh Thảo tạo dựng cái chết đầy bi phẫn của người anh hùng một cách tức tưởi bằng thủ pháp nghệ thuật đối lập. Đối lập giữa niềm tin, tình yêu và lạc quan, khát vọng « hát nghêu ngao » với sự thật phũ phàng « áo choàng bê bết đỏ ». Đó là màu máu của Lorca làm tấm áo choàng đỏ gắt càng thêm «bê bết đỏ». Đối với Lorca, anh luôn dự cảm về cái chết nhưng anh cũng không thể ngờ rằng cái chết lại đến với mình nhanh đến thế. Anh đã từng thốt lên «Tôi không muốn nhìn thấy máu! ». Nhưng máu đã đổ. Người kiếm sĩ muốn một cái chết vinh quang giữa đấu trường cùng với đôi kiếm sắc nhưng lại bị kẻ thù hành hình một cách lén lút bất minh. Nhưng Lorca chấp nhận như người cách mạng đã chấp nhận «Dấn thân vô là phải chịu tù đày/ Gươm kề cổ súng kề tai/ Là thân sống chỉ coi còn một nửa». Và vì chấp nhận, người anh hùng đã ung dung, bình thản ra giữa pháp trường «chàng đi như người mộng du». Mộng du là trạng thái của tâm hồn đã rời thể xác nhưng không có nghĩa là biến mất khỏi thể xác. Tâm hồn và tinh thần của Lorca đã gửi tất cả vào cuộc tranh đấu và vì thế bước chân mộng du đã hóa thành những bước chân anh hùng. Càng tiếc thương chàng nghệ sĩ bao nhiêu chúng ta lại càng căm phẫn tội ác bấy nhiêu. Và Lorca đã hi sinh nhưng những kẻ thất bại lại chính là bè lũ phát xít. Bởi chúng chỉ có thể hủy diệt được thân xác của Lorca nhưng không thể hủy diệt được sức sống của anh đang bung nở giữa bản hòa tấu trầm hùng mang âm hưởng của những tiếng Ghita nồng nàn vi diệu: tiếng ghi -ta nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghi -ta lá xanh biết mấy tiếng ghi -ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi -ta ròng ròng máu chảy Điệp khúc dồn dập qua nhịp thơ Thanh Thảo như đã lột tả được cái bàng hoàng căm phẫn trong bản ghi ta bi tráng! Tôi gọi đây là khúc biến tấu của tiếng đàn, nó thay màu chuyển gam rất lẹ, biến ảo không ngừng và đặc biệt luôn sinh sôi nảy nở, giọt này vỡ đi, giọt kia lại trào ra không dứt. Đó chính là sức sống! Thanh Thảo sử dụng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác mang đến sự linh hoạt khi miêu tả tiếng đàn. Màu nâu xuất hiện suy tư, trầm tĩnh đến lạ thường. Đó là màu nâu của cây đàn, màu nâu của đất đai, màu nâu của làn da rám nắng trên thân hình những vũ nữ Digan bốc lửa. Trước giây phút từ li, chàng đã ngước nhìn lên bầu trời xanh tha thiết ”bầu trời cô gái ấy”. Đó là bầu trời của khát vọng, bầu trời yêu thương nơi có bóng hình nàng Maria thủy chung. Đối lập với màu nâu trầm tĩnh là màu xanh của “tiếng ghita lá xanh biết mấy”. Màu xanh là sự hóa thân của Lorca và tiếng đàn vào thiên nhiên mang sức sống cỏ cây: màu xanh của những vườn cam, màu xanh của thảo nguyên và những rặng Oliu hay hàng bạch dương nơi Lorca đang yên nghỉ. Hai tiếng biết mấy nằm ở cuối câu vừa là sự tha thiết trong tình cảm của người nghệ sĩ Thanh Thảo vừa để tôn thêm vẻ đẹp của tuổi trẻ Lorca – vẻ đẹp của người chiến sĩ suốt đời hi sinh vì lí tưởng. Tiếng đàn không chỉ mang sắc màu biến tấu mà còn mang hình khối, đường nét như hình hài của sinh mệnh. Nó cũng tức tưởi vỡ òa, cũng biết nói tiếng nói của sự căm phẫn bạo tàn. Hay nói đúng hơn đó là tiếng kêu cứu của nghệ thuật khi bị đẩy đến bờ vực của sự tuyệt diệt. tiếng ghi -ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi -ta ròng ròng máu chảy Hai tiếng vỡ tan, vừa là sự vỡ ra của bọt nước vừa là sự phập phồng thổn thức của tiếng đàn. Nó đã cất lên lời ca tranh đấu lên án bè lũ phát xít đã hủy diệt cái tài, hủy diệt cái đẹp. Và vì thế bản ghita bi tráng đẩy đến độ cao trào của sự bi phẫn, nó ròng ròng máu chảy, nó uất nghẹn, tức tưởi đến bật máu thành từng dòng đau thương trong một bản đàn giao hưởng hào sảng. Nỗi đau của tiếng đàn cũng là nỗi đau của người nghệ sĩ khi khát vọng chưa thành. Ta cũng đã từng bắt gặp nỗi đau của người nghệ sĩ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du ”Một cung gió thảm mây sầu/ Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”. Nỗi đau của Kiều khi hầu đàn Hồ Tôn Hiến khiến cho dây đàn cũng nhỏ máu. Đó chính là sự đồng cảm giữa nghệ thuật và tâm hồn của người sinh ra nó. Thì ra nghệ thuật trong bản thể của nó cũng là một sinh mệnh. Với thủ pháp nghệ thuật so sánh và liên tưởng, Thanh Thảo đã làm sống dậy một không gian sinh tồn đầy sức sống mãnh liệt. không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng Không ai chôn cất tiếng đàn hay không ai có thể chôn cất được tiếng đàn? Có lẽ nên hiểu theo cách thứ hai. Thứ nhất bởi nó là di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm của tinh thần được kết tinh từ hương sắc cuộc đời của người nghệ sĩ nhân dân. Thứ hai bởi sức sống mãnh liệt và hoang dại của nó như loài cỏ mọc hoang không gì có thể ngăn nổi chúng. Đây chính là sự bất tử, sự vĩnh hằng của nghệ thuật. Dù Lorca hi sinh nhưng sản phẩm tinh thần mà ông để lại đó chính là tâm hồn mình, nghệ thuật của mình. Những bài ca tranh đấu của Lorca vẫn đồng hành cùng thời gian và đi cùng năm tháng thăng trầm của lịch sử và nó mãi mãi được hát vang trong lòng của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Không chỉ bất tử, tiếng đàn của chàng ca sĩ hát rong còn mang vẻ đẹp của giọt nước mắt vầng trăng. Một hình ảnh mang nhiều liên tưởng gợi nhiều thi vị. Phải chăng đó chính là vẻ đẹp của nghệ thuật được kết tinh từ những giọt mồ hôi, từ máu và nước mắt của sự lao động nghệ thuật chân chính qua bao thời gian công sức đã nhào nặn thành viên ngọc lấp lánh mang hình hài của giọt nước mắt vầng trăng tinh khiết. Hay đó chính là vẻ đẹp của cuộc đời Lorca đã hóa thân thành viên ngọc quý lung linh tỏa sáng giữa đời. Bất ngờ thay, nơi đáy giếng tối tăm và lạnh lẽo, nơi mà bọn phát xít ngỡ tưởng đã vùi lấp được linh hồn và thể xác của người công dân Lorca, lại là nơi tỏa sáng tâm hồn anh. Ở khổ cuối của bài thơ, Thanh Thảo đưa người đọc vào thế giới suy tư về sự giải thoát của Lorca: đường chỉ tay đã đứt dòng sông rộng vô cùng Lorca bơi sang ngang trên chiếc ghita màu bạc chàng ném lá bùa cô gái Digan vào xoáy nước chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt li-la, li-la, li-la Và cuối cùng chàng nghệ sĩ của chúng ta đã dừng bước giang hồ trước dòng sông của định mệnh khi đường chỉ tay đã đứt. Sinh mệnh chấm dứt. Chàng rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian để trở về cõi vĩnh hằng. Dòng sông vô hình dung là dòng sông cuộc đời, dòng sông của số phận và cũng là đường ranh giới ngăn cách giữa sự sống và cõi chết. Trên dòng sông ấy, Lorca đang bơi sang ngang cùng di vật đàn ghita. Màu bạc của cây đàn là sự biến ảo từ màu nâu trầm tĩnh sang xanh thiết tha hi vọng và cuối cùng là màu của sự hư ảo trong cõi siêu sinh. Lorca đang bơi trên con thuyền thi ca mà cây đàn chính là con thuyền bàng bạc chở tình yêu và nỗi nhớ của chàng đang trôi dần vào bến bờ bất tử. Chàng dứt khoát rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian ném lá bùa vào xoáy nước, ném trái tim vào cõi lặng yên. Xoáy nước là cuộc tranh đấu hay sự hiểm nguy trên dòng sông của định mệnh? Cõi lặng yên phải chăng là phút giây mà trái tim người nghệ sĩ ngừng đập? Có lẽ ta không cần phải lí giải về nó. Bởi Lorca đã về nơi an nghỉ cuối cùng. Chỉ còn vang vọng nơi đây âm vọng của tiếng đàn li-la, li-la, li-la như bản nhạc thiết tha, thấm đẫm hương thơm của loài hoa Lila đưa người nghệ sĩ – chiến sĩ về với cõi vĩnh hằng với bao niềm tiếc thương vô hạn. Tôi chợt nhớ tới bài thơ Ghi nhớ của anh: Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi cùng với cây đàn dưới lớp cát hàng bạch dương Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi giữa rặng cây cam và đám bạc hà. Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi, tôi xin các người đó, nơi một chiếc chong chóng gió. Có lẽ ở một nơi nào đó, chàng nghệ sĩ nhân dân đang được sống giữa những sự yên vui và đầy ánh nắng của tự do nơi đó không có bạo tàn và chết chóc. Bài thơ đã rất thành công khi tạo dựng một tượng đài Lorca bằng ngôn ngữ của thơ và âm nhạc. Với lối thơ không viết hoa đầu dòng, cảm xúc liền mạch, Thanh Thảo đã mang đến cho người đọc một mĩ cảm hiện đại giàu tính sáng tạo. Sự trộn lẫn giữa trường phái tượng trưng siêu thực và sức sáng tạo của Thanh Thảo đã cho ra đời một tuyệt bút đầy ngẫu hứng giàu chất nhạc. Trên hết là nhà thơ đã mang đến cho người đọc một tình yêu vô bờ bến đối với nhà thơ nhân dân chống phát xít bạo tàn. Bất kỳ một cuộc chiến nào cũng có người chiến thắng và kẻ bại trận nhưng những người biết hi sinh vì mọi người luôn luôn là người anh hùng với chiến thắng vĩ đại nhất. Gacxia Lorca là một người như thế.
Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca
2,890
Đề bài: Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới của thi sĩ Xuân Diệu Bài làm Xuân Diệu (1916-1985) là nhà thơ tình, viết hay nhất và nhiều nhất trong thời đại chúng ta. Thi sĩ đã để lại trên 400 bài thơ tình,; là nhà thơ "mới nhất trong những nhà thơ mới". Xuân Diệu cũng là thi sĩ của mùa thu. Với Xuân Diệu nếu "Tình không tuổi và xuân không ngày tháng" thì cảnh thu chứa đựng biết bao tình thu, bao rung động xôn xao, bởi lẽ "Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”. Trong hai tập thơ viết trước Cách mạng: "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió " có rất nhiều bài thơ nói đến sắc thu, hương thu, trăng thu, tình thu, thiếu nữ buổi thu về… Mùa thu thật đáng yêu, làm cho tâm hồn thi sĩ như dây đàn huyền diệu đang rung lên xao xuyến… "Đây mùa thu tới" là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Diệu, rút trong tập "Thơ thơ", xuất bản năm 1938. Thu đến, xôn xao rung động đất trời. Cảnh vật đẹp mà thoáng buồn man mác. Lòng thiếu nữ càng trở nên bâng khuâng buổi thu về. Cảm nhận đầu tiên của thi sĩ Xuân Diệu về mùa thu không phải là âm thanh tiếng chày đập vải, không phải là ấn tượng "Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng trì thu" mà là ở dáng liễu, rặng liễu ven hồ, hay bên đường: "Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng". Cả một không gian "đìu hiu", buồn và vắng vẻ. Rặng liễu trầm mặc như "đứng chịu tang". Lá liễu buông dài như tóc nàng cô phụ "buồn buông xuống". Lá liễu ướt đẫm sương thu tưởng như "lệ ngàn hàng". Liễu được nhân hóa "đứng chịu tang", từ tóc liễu đến lệ liễu đều mang theo bao nỗi buồn thấm thía. Một nét liễu, một dáng liễu được miêu tả và cảm nhận đầy chất thơ. Biện pháp láy âm được Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu: "đìu hiu – chịu", "tang – ngàn – hàng", "buồn – buông – xuống". Đó là một điểm mạnh, khá mới mẻ trong thi pháp mà Xuân Diệu đã học tập được trong trường phái thơ tượng trưng Pháp trong thế kỉ XIX. Say mê ngắm "rặng liễu đìu hiu… ", nhà thơ khẽ reo lên khi chợt nhận thấy thu đã đến. Cách ngắt nhịp 4/3 với điệp ngữ "mùa thu tới" đã diễn tả bước đi của mùa thu và niềm mong đợi thu về bấy lâu nay trong lòng thi sĩ: "Đây mùa thu tới/mùa thu tới Với áo mơ phai/dệt lá vàng". Một vần lưng thần tình: "tới – với", một chữ "dệt" tinh tế trong miêu tả và cảm nhận. Thu vừa tới, sắc màu cỏ cây vạn vật đều đổi thay, trở thành "mơ phai". Đó đây điểm tô một vài sắc vàng của lá, đúng là "dệt lá vàng". Câu thơ "Với áo mơ phai dệt lá vàng" là một câu thơ nhiều thi vị, nói lên cái hồn thu với sắc lá, gợi lên cảm giác thanh nhẹ, tươi sáng về mùa thu đáng yêu vô cùng. Có thể nói, khổ thơ đầu đã vẽ lên một bức tranh thu đẹp, thơ mộng, thấm một nỗi buồn từ cây cỏ đến lòng người, nhưng không ảm đạm, thê lương làm nặng trĩu lòng người. Mỗi ngày mỗi đêm đi qua. Thu đã về và thu dần dần trôi qua. Cảnh vật biến đổi. Hoa đã "rụng cành". Tác giả không nói "đôi ba…”, mà lại viết "hơn một" cách dùng số từ ấy cũng là một cách nói rất mới. Trong vườn, màu đỏ (từng chấm nhỏ) đang lấn dần, đã và đang "rũa màu xanh"! Cũng nói về sự biến đổi ấy, trong bài "Cảm thu, tiễn thu” thi sĩ Tản Đà viết: "Sắc đâu nhuộm ố quan hà Cỏ vùng cây đỏ bóng tà tà dương". Cây cối bắt đầu rụng lá trơ cành như đang "run rẩy", khẽ "rung rinh" trước những làn gió thu lành lạnh, se sắt. Khổ thơ thứ hai, chất thơ ấy là sự lay động xôn xao từ cảnh vật, từ hoa lá hơi may mà thấm vào hồn thi sĩ: "Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh. Những luồng run rẩy, rung rinh lá, Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh". Các từ láy: "run rẩy", "rung rinh”, "mỏng manh" là những nét vẽ thần diệu gợi tả cái run rẩy, cái rùng mình của cây lá buổi chiều thu. Nghệ thuật sử dụng các phụ âm, “r" (rụng, rũa, run rẩy, rung rinh) và phụ âm "m" (một, màu, mỏng manh) với dụng ý thẩm mĩ trong gợi tả và biểu cảm đặc sắc. Đó cũng là một nét mới trong thi pháp của Xuân Diệu. Khổ thơ thứ 3, thi liệu vừa hiện thực vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa vừa cách tân sáng tạo. Cũng có trăng nhưng là "nàng trăng tự ngẩn ngơ" trên bầu trời. Không nói là trăng non đầu tháng, không hỏi "Trăng bao nhiêu tuổi trăng già" mà lại nói là "nàng trăng". Một hình ảnh đẹp, thơ mộng tả vầng trăng thu. Cũng ó núi, có non, lúc ẩn lúc hiện, "khởi sự" nhô lên cuối chân trời xa, qua lớp sương thu mờ. Trăng và núi trong thơ Xuân Diệu chứa đựng cái hồn thu muôn thuở của xứ sở quê hương, gần gũi và thân thuộc từ bao đời nay được vẽ lên thật đẹp: "Thỉnh thoang nàng trăng tự ngẩn ngơ Non xa khởi sự nhạt sương mờ… " Hai tiếng "đã nghe", "đã vắng" gợi tả cái không gian bao la, vắng vẻ của những buổi chiều thu lành lạnh: "Đã nghe rét mướt luồn trong gió, Đã vắng người sang những chuyến đò” Cấu trúc câu thơ song hành và cách diễn tả cũng rất mới. Có chuyển đổi cảm giác giữa xúc giác và thính giác. Như vậy, sự cảm nhận của thi nhân về rét, về gió, về cái xa vắng không chỉ bằng giác quan mà còn bằng cả linh hồn nữa. Chữ "luồn" đã cụ thể hóa cái rét, cảm nhận được nó bằng trực giác. Rét mướt luồn trong gió thu hiu hắt chứ không phải là gió rét. Rõ ràng là chưa rét đậm, rét tê tái, đúng là cái rét, cái lành lạnh những chiều thu, những đêm tàn thu. Khổ cuối là một bức tranh thu tuyệt đẹp. Có vẻ đẹp của thiên nhiên, của mây trời, cánh chim. Có vẻ đẹp thiếu nữ. Cảnh đẹp, người đẹp mà thoáng buồn mơ hồ mênh mông. Mây và cánh chim gợi lên nỗi buồn đẹp chia li như "bèo dạt mây trôi" của tình ca! Thi sĩ đã lấy cái "động" của cánh chim bay, của áng mây chiều trôi để đặc tả cái êm đềm, yên tĩnh của cõi vật và lòng người: "Mây vẩn từng không chim bay đi, Khí trời u uất hận chia li"… Trong cái êm đềm, xa vắng ấy hiện lên hình ảnh thiếu nữ "ít nhiều" chưa xác định. Buồn tương tư, "buồn không nói". Một dáng điệu "tựa cửa nhìn xa", một tâm hồn "nghĩ ngợi gì" rất mơ hồ, xa xăm: "Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói, Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì" Là mùa xuân hay mùa thu, là mùa hè hay mùa đông, giữa thiên nhiên trăm sắc nghìn hương ấy, hình ảnh thiếu nữ đa tình, duyên dáng luôn luôn thấp thoáng qua những vần thơ của Xuân Diệu. Thi sĩ đa tình nên thiếu nữ cũng đa tình? "Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm Hây hây thục nữ mắt như thuyền". ("Nụ cười xuân" – Thơ thơ) Trong chùm thơ thu của Yên Đổ, tình thu buồn thấm thía cô đơn được thể hiện qua hình ảnh một ông lão, lúc đang "tựa gối ôm cần" trên một chiếc thuyền câu "bé tẻo teo" giữa chiếc ao thu "lạnh lẽo", lúc là một cụ già đang ngồi uống rượu ngà ngà say trong đêm sâu, có lúc lại là một nhà nho đang lặng ngắm cảnh thu, muốn cầm bút đề thơ mà phân vân, lưỡng lự… Còn trong thơ thu của Xuân Diệu là hình bóng một giai nhân trong tương tư, đang mộng tưởng. Đó cũng là một nét mới nói về mùa thu trong thơ Xuân Diệu. Có thể nói trạng thái buồn mơ hồ, buồn không rõ nguyên cớ là một nét tâm trạng rất điển hình của hồn thơ Xuân Diệu: "Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói… " Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn…". Đây mùa thu tới" là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Điệu. Bao nhiêu nét thu là bấy nhiêu nét vẽ tài hoa. Dáng thu, sắc thu, tình thu đều đẹp mà buồn, bao nên cái hồn thu mênh mang, xao xuyến. Đáng yêu nhất là hình ảnh thiếu nữ, một dáng thu yêu kiều mộng tưởng "Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì". Một trái tim đa tình, một ngòi bút tài hoa. Cách cảm và cách diễn tả rất mới, rất thơ. Đằng sau những sắc thu của đất trời, hoa lá, cây cỏ, của núi xa, của nàng trăng, của làn gió thu se lạnh,… là tiếng thu xôn xao, rung động trong tâm hồn thi sĩ tuổi đôi mươi và trong lòng thiếu nữ tuổi trăng tròn. Bài thơ cho ta nhiều ngẩn ngơ say cái hương sắc mùa thu xưa, mùa thu Hà Nội hơn nửa thế kỉ trước.
Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới của thi sĩ Xuân Diệu
1,616
Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới Hướng dẫn Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới Xuân Diệu ông hoàng của thơ tình yêu, chưa kể những bài thơ của ông đều mang những quan niệm rất mới về cuộc sống, tuổi trẻ và về tình yêu. Ông cũng được xem là thi sĩ của mùa thu, cũng chính vì cái lãng mạn, khoảnh khắc xao xuyến của thu mà những vần thơ của nhà thơ hồn hậu và có hồn biết bao nhiêu. Đây mùa thu tới là một trong số những sáng tác tiêu biểu của Xuân Diệu. Mùa thu đó hiện ra thật đáng yêu,làm cho tâm hồn thi sĩ như dây đàn rung lên những điệu nhạc xao xuyến lòng người. Rút từ tập “ Thơ Thơ”,sáng tác “Đây mùa thu tới” là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Diệu, xuất bản năm 1938. Thu đến, những chiếc lá rụng, gió hắt hiu làm xốn xang lòng người đặc biệt là một tâm hồn của một người thi sĩ,vốn đã có chút nhạy cảm với những thay đổi của đất trời dù là nhỏ nhất. Nhưng có lẽ hình ảnh mùa thu tới trong tác phẩm khiến cho người đọc cảm nhận một không khí tang thương bi ai,những hình ảnh không phải hoa lá, không phải gió đưa cần trúc, không phải mặt nước xanh biếc mà gắn với hình ảnh những cành liễu “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”. Không gian hiện ra với vẻ “đìu hiu”, buồn và vắng vẻ. Rặng liễu trầm mặc như “đứng chịu tang”. Lá liễu buông dài như tóc nàng cô phụ “buồn buông xuống”. Sương thu ướt đẫm trên những nhánh liễu khiến tác giả ngâm nga một câu khiến chúng trở nên có hồn. Những cành liễu giống như những cô giá thướt tha, nhưng mắt buồn đẫm lệ. Biện pháp láy âm được Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu: “đìu hiu – chịu”, “tang – ngàn – hàng”, “buồn – buông – xuống”. Đây tạo nên những nét thú vị của thơ Xuân Diệu những năm đầu thế kỉ 20. “Đây mùa thu tới mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng”. Cách hiệp vần lưng thần tình: “tới – với”, một chữ “dệt” tinh tế trong miêu tả và cảm nhận. Thu tới cũng chính muôn nơi được nhuộm bởi một màu vàng của cây đổi lá, nó được dệt một cách tỉ mỉ mang tới một vẻ đẹp không phải tự dưng mà có. “Với áo mơ phai dệt lá vàng” là một câu thơ thi vị biết bao, nói lên cái hồn thu với sắc lá, gợi lên cảm giác thanh nhẹ, tươi sáng về mùa thu đáng yêu vô cùng. Tuy nhiên mùa thu đó lại bắt đầu với một nỗi buồn ảm đạm hắt hiu Thu về cũng chính là lúc cảnh vật đổi khác, khoác lên mình những màu sắc rực rỡ. Thu đã về và thu dần trôi,thời gian trôi nhanh không tưởng. Cảnh vật một lúc một khác,hoa rơi, màu đỏ lấm chấm dần và rủa màu xanh. Cây cối cảnh vật bắt đầu rụng lá trơ cành như đang “run rẩy”, khẽ “rung rinh” trước những làn gió thu lành lạnh, se sắt. “Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh. Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”. ở khổ thơ này, tác giả sử dụng những từ láy như: “run rẩy”, “rung rinh”, “mỏng manh” là những nét vẽ thần diệu gợi tả cái run rẩy, cái rùng mình của cây lá buổi chiều thu. Đặc biệt hình ảnh sắc đỏ “ rủa “ màu xanh khiến cho câu thơ mang một nét đẹp nghệ thuật độc đáo. Màu xanh đó không mướt như ngọc mà từ từ từ lan rộng ra, và mọi thứ như ngấm chất thu vào đó. Thi liệu vừa hiện thực vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa vừa cách tân sáng tạo ở khổ thơ thứ 3 được sử dụng một cách triệt để: là “nàng trăng tự ngẩn ngơ” trên bầu trời. Một hình ảnh đẹp, thơ mộng tả vầng trăng thu. Hình ảnh núi nhấp nhô trong làn sương mờ cành làm nổi bật những hình ảnh của mùa thu. Trăng và núi trong thơ Xuân Diệu chứa đựng cái hồn thu muôn thuở của xứ sở quê hương, gần gũi và thân thuộc từ bao đời nay được vẽ lên thật đẹp: “Thỉnh thoang nàng trăng tự ngẩn ngơ Non xa khởi sự nhạt sương mờ… “ “Đã nghe rét mướt luồn trong gió, Đã vắng người sang những chuyến đò” Hai tiếng “đã nghe”, “đã vắng” gợi tả cái không gian bao la, vắng vẻ của những buổi chiều thu với không khí se se lạnh. Chúng ta thấy có chuyển đổi cảm giác giữa xúc giác và thính giác. Sự cảm nhận của thi nhân về rét, về gió, về cái xa vắng không chỉ bằng giác quan mà còn bằng cả linh hồn nữa. Như chính tác giả dang đứng giữa chiều gió thu, se se lạnh,chữ “luồn” đã cụ thể hóa cái rét, cảm nhận được nó bằng trực giác. “Mây vẩn từng không chim bay đi, Khí trời u uất hận chia li”… “Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói, Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì” Bao giờ trong thơ Xuân Diệu luôn xuất hiện hình bóng của giai nhân.Đây mùa thu tới cũng vậy, xuất hiện hình bóng một giai nhân trong tương tư, đang mộng tưởng. Đó cũng là một nét mới nói về mùa thu trong thơ Xuân Diệu. Bài thơ Đây mùa thu tới” lắng đọng trong độc giả những cảm xúc rất riêng, không những vậy cách cảm nhận của tác giả cũng rất mới mẻ. Mọi cảnh vật trong bài thơ mặc dù có thiên nhiên nhưng không thể thiếu được trong thơ Xuân Diệu là hình bóng giai nhân. Bao nhiêu nét thu là bấy nhiêu nét vẽ tài hoa. Dáng thu, sắc thu, tình thu đều đẹp đều hiện ra với nỗi buồn mênh mang không biết từ đâu đến. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới
1,034
Đề bài: Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Bài làm Hàn Mặc Tử – một trái tim, một tâm hồn lãng mạn dạt dào yêu thương đã bật lên những tiếng thơ, tiếng khóc của nghệ thuật trước cuộc đời. Những phút giây xót và sung sướng, những phút giây mà ông đã thả hồn mình vào tronq thơ, những giây phút ông đã chắc lọc, đã thăng hoa từ nỗi đau của tâm hồn mình để viết lên những bài thơ tuyệt bút. Và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đã được ra đời ngay trong những phút giây tuyệt diệu ấy. Ở bài thơ, cái tình mặn nồng trong sáng đã hòa quyện với thiên nhiên tươi đẹp, mối tình riêng đã ở trong mối tình chung hồn thơ vẫn đượm vẻ buồn đau. Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những bài thơ tình hay nhất của Hàn Mặc Tử. Một tình yêu thiết tha man mác, đượm vẻ u buồn ẩn hiện giữa khung cảnh thiên nhiên hoà vào lòng người, cái thực và mộng, huyền ảo và cụ thể hoà vào nhau. Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Mở bài đầu thơ là một lời trách móc nhẹ nhàng của nhân vật trữ tình. Sao anh không về chơi thôn Vĩ. Chỉ một câu hỏi thôi! Một câu hỏi của cô gái thôn Vĩ nhưng chan chứa bao yêu thương mong đợi. Câu thơ vừa có ý trách móc vừa có ý tiếc nuối của cô gái đối với người yêu vì đã bỏ qua được chiêm ngưỡng vẻ đẹp mặn mà, ấm áp tình quê của thôn Vĩ – vùng nông thôn ngoại ô xinh xắn thơ mộng, một phương diện của cảnh Huế. Chúng ta hãy chú ý quan sát, tận hưởng vẻ đẹp của thôn Vĩ: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Nét đặc sắc của thôn Vĩ – quê hương người con gái gợi mở ở câu đầu liên đây đã được tả rõ nét. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt tác rộng mở trước mắt người đọc. Hình ảnh nắng tưới lên trên ngọn cau tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Nắng mới là nắng sớm bắt đầu của một ngày, những hàng cau cao vút vươn mình đón lấy những lia nắng sớm kia, và tất cả tràn ngập ánh nắng và buổi bình minh. Cái nắng hàng cau nắng mới lên sao lại gợi một nỗi niềm làng quê hương đến thế. Câu thơ này bất chợt khiến ta nghĩ tới những câu thơ Tố Hữu trong bài thơ Xuân lòng. Nắng xuân tươi trên thân dừa xanh dịu Tàu cau non lấp loáng muôn gươm xanh Ánh nhởn nhơ đùa quả non trắng phếu Và chảy tan qua kẽ lá cành chanh. Nắng mới cũng còn có ý nghĩa là nắng của mùa xuân, mở đầu cho một năm mới nên bao giờ nó cũng bừng lên rực rõ nồng nàn. Đó là những tia nắng đầu tiên rọi xuống làng quê mà trước nó chiếu vào những vườn cau làm cho những hạt sương đêm đọng lại sáng lên, lấp lánh như những viên ngọc được dính vào chiếc choàng nhung xanh mịn: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Cái nhìn như chạm khẽ vào sắc màu của sự vật để rồi bật lên một sự ngạc nhiên đên thẫn thờ. Đến câu thơ này, ta bắt gặp cái nhìn của thi nhân đã hạ xuống thấp hơn và bao quát ở chiều rộng. Một khoảng xanh của vườn tược hiện ra, nhắm mắt lại ta cũng hình dung ra ngay cái màu xanh mượt mà, mỡ màng của vườn cây. Ta không chỉ cảm nhận ở đó màu xanh của vẻ đẹp mà nó còn tràn trề sức sống mơn mởn. Những tán lá cành cây được sương đêm gột rửa trở thành cành lá ngọc. Không phải xanh mượt, cũng không phải xanh mỡ màng mà chỉ có xanh như ngọc mới diễn tả được vẻ đẹp ngồn ngộn, sự sống của vườn tược. Một màu xanh cao quí, lấp lánh, trong trẻo làm cho vườn cây càng sáng bóng lên. Hình như cả vườn cây đều tắm trong luồng không khí đang còn run rẩy sự trinh bạch nguyên sơ chưa hề nhuốm bụi. Lăng kính không khí ấy làm hiện rõ hơn đường nét màu sắc của cảnh sắc mà mắt thường chúng ta bỏ qua. Nếu không có một tình yêu sâu nặng nồng nàn đối với Vĩ Dạ thì Hàn Mặc Tử không thể có được những vần thơ trong trẻo như vậy. Ai từng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, đặc biệt ở xứ Huế thì mới thấm thìa những vần thơ này: Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Trong vườn thôn Vĩ Dạ kia, nhành lá trúc và khuôn mặt chữ điền sao lại có mối liên quan bất ngờ mà đẹp thế: những chiếc lá trúc thanh mảnh, thon thả che ngang gương mặt chữ điền. Mặt chữ điền – khuôn mặt ấy càng hiện ra thấp thoáng sau lá trúc mơ màng, hư hư thực thực. Thôn Vĩ Dạ nằm cảnh ngay bờ sông Hương êm đềm. Vì thế mà từ cách tả cảnh làng quê ở khổ thơ đầu hé mở tình yêu, tác giả chuyển sang tả cảnh sông với niềm bâng khuâng, nỗi nhớ mong sầu muộn hư ảo nhưưong giấc mộng: Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? Gió và mây để gợi buồn vì nó trôi nổi, lang thang thì nay lại càng buồn hơn gió đi theo đường gió, mây đi theo đường mây, gió và mây xa nhau; không thể là bạn đồng hành, không thể gặp gỡ và sự xa cách của nhà thơ đối với người yêu có thể là vĩnh viễn. Phải chăng đây là cảm giác của nhà thơ trong xa cách nhớ thương, và đây cũng là mặc cảm của những con người xưa trong cuộc sống. Nỗi buồn về sự chia li, tiễn biệt đọng lại trong lòng người phảng phất buồn và mang một nỗi niềm xao xác. Chúng ta không còn thấy giọng tươi mát đầy sức sống ở đoạn trước nữa, chúng ta gặp lại Hàn Mặc Tử – một tâm hồn đau buồn, u uất: Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Dòng sông Hương hiện ra mới buồn làm sao với những bông hoa bắp màu xám tẻ nhạt, ảm đạm như màu khói. Với một tâm hồn mãnh liệt như Hàn Mặc Tr thì dòng sông trôi lững lờ của xứ Huế chỉ là dòng sông buồn thiu gợi cảm giác buồn lặng, quạnh quẽ. Hoa hắp cũng lay nhè nhẹ trong một nỗi buồn xa vắng. Sự thay đổi tâm trạng chính là thái độ của những người sông trong vòng đời tối lăm, bế tắc. Mặt nước sông Hương êm quá gợi đến những bế bờ xa vắng, những mảnh bèo trôi dạt lênh đênh của số kiếp người. Tâm trạng thoắt vui – thoắt buồn mà buồn thì nhiều hơn, ta đã gặp rất nhiều ở các nhà thơ lãng mạng khác sống cùng với thời Hàn Mặc Tử. Ý thơ thật buồn, được nối tiếp trong hai câu sau nhưng với cách diễn đạt, thật tuyệt diệu, thực đấy mà mộng đấy: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Cỏ chở trăng về kịp tối nay? Tất cả như tan loãng trong vầng trăng thân thuộc của Hàn Mặc Tử. Cảnh vật thiên nhiên tràn ngập ánh sáng, một ánh trăng vàng sáng loáng chiếu xuống dòng sông, làm cho cả dòng sông và những bãi bồi lung linh, huyền ảo. Cảnh nên thơ quá, thơ mộng quá! Và cũng đa tình quá! Dòng nước buồn thiu đã hoá thành dòng sông trăng lung linh, con thuyền khách đã trở thành thuyền trăng. Tác giả đã gửi gắm một tình yêu khát khao, nỗi ngóng trông, mong nhớ vào con thuyền trăng, vào cả dòng sông trăng. Thơ lồng trong ngôn ngữ thơ thật là tài tình, thật là đẹp với xứ Huế mộng mơ. Tác giả đã lướt bút viết nên những câu thơ nhẹ nhàng, sâu kín nhưng hàm chứa cả tình yêu bao la, nồng cháy đến vô cùng. Vầng trăng trong hai câu thơ này là vầng trăng nguyên vẹn của thi nhân trước mảnh tình yêu chưa bị phôi pha. Hàn Mặc Tử rất yêu trăng nhưng vầng trăng ở các hài thơ khác không giống thế này. Một ánh trăng gắt gao, kì quái, một ánh trăng khêu gởi, lả lơi: Gió tít tầng cao trăng ngã ngửa Vờ tan thành vũng đọng vàng kho. Hay: Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi. Trăng trở thành một khí quyển bao quanh mọi cảm giác, mọi suy nghĩ của Hàn Mặc Tử, hơn nữa nó còn lẫn vào thân xác ông. Nó là ông là trời đất, là người ta. Trăng biến thành vô lường trong thơ ông, khi hữu thể khi vô hình, khi mê hoặc khi kinh hoàng: Thuyền ai đậu đên sông trăng đó Có chở trăng về kịp tôi nay? Vầng trăng ở đây phải chăng là vầng trăng hạnh phúc và con thuyền không kịp trở về cho người trên bến đợi? Câu hỏi biểu lộ niềm lo lắng của một số phận không có tương lai. Hàn Mặc Tử hiểu căn bệnh của mình nên ông mặc cảm về thời gian cuộc đời ngắn ngủi, vầng trăng không về kịp và Hàn Mặc Tử cũng không đợi vầng trăng hạnh phúc đó nữa, một năm sau ông vĩnh biệt cuộc đời. Nhưng hiện tại, con người đang sống và đang tiếp tục giấc mơ: Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo trắng quá nhìn không ra; Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà? Trái tim khao khái yêu thương, những nỗi đau kỉ niệm tình yêu ấy, ông đã gửi tất cả vào những trang thơ. Và rồi tất cả như trôi trong những giấc mơ của ước ao, hi vọng. Màu áo trắng cũng là màu ánh nắng của Vĩ Dạ mà nhìn vào đó tác giả choáng ngợp, thấy ngây ngất trước sự trong trắng, thanh khiết, cao quý của người yêu. Hình như giữa những giai nhân áo trắng ấy với thi nhân có một khoảng cách nào đó khiến thi nhân không khỏi không nghi ngờ: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà? Câu thơ đã tả thực cảnh Huế – kinh thành sương khói. Trong màn sương khói đó con người như nhoà đi và có thể tình người cũng nhoà đi? Nhà thơ không tả cảnh mà tả tâm trạng mình, biết bao tình cảm trong câu thơ ấy. Những cô gái Huế kín đáo quá, ẩn hiện trong sương khói, trở nên xa vời quá, liệu khi họ yêu họ có đậm đà chăng? Tác giả đâu dám khẳng định về tình cảm của người con gái Huế, ông chỉ nói: Ai biết tình ai có đậm đà? Lời thơ như nhắc nhở, không phải bộc lộ một sự tuyệt vọng hay hy vọng, đó chỉ là sự thất vọng. Sự thất vọng của một trái tim khao khát yêu thương mà không bao giờ và mãi mãi không có tình yêu trọn vẹn. Bài thơ càng hay càng ngậm ngùi, nó đã khép lại nhưng lòng người vẫn thổn thức. Cả bài thơ được liên kết bởi từ ai mở đầu: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc; tiếp đến Thuyền ai đậu bến sông trăng đó; và kết thúc là Ai biết tình ai có đậm đà? Càng làm cho Đây thôn Vĩ Dạ sương khói hơn, huyền bí hơn. Đây thôn Vĩ Dạ là một bức tranh đẹp về cảnh người và người của miền đất nước qua tâm hồn giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghe thuật gợi liên tưởng, hoà quyện thiên nhiên với lòng người. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tử vẫn còn nguyên nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. Tình yêu trong giấc mơ. Cánh chim bay liệng tuy gợi lên một chút ấm cúng cho cảnh vật nhưng nhỏ bé, mông lung quá. Và nỗi buồn đến đây càng thêm da diết trong thương nhớ. Nó không chỉ đóng khung: cảnh sông nước ở trước mặt mà mở ra đến những chân trời của miền quê xa. Hai chữ dợn dợn của tôi thường bị sai thành dờn dợn, như thế chẳna có ý nghĩa gì. Trong bài thơ Tràng Giang có nhiều điệp ngữ như: điệp điệp, song song, dợn dợn. Mỗi từ điệp như thế đều có ý nghĩa riêng về nội dung cũng như nghệ thuật. Bài thơ thúc bằng nỗi nhớ quê hương da diết. Tôi nói khác ý thơ của Thôi Hiệu: Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai. Vì lúc đó (1939), tôi buồn hơn Thôi Hiệu đời nhà Đường. Tôi thường nói vui rằng cảnh trên sông nước có khói làm cho Thôi Hiệu buồn, nhớ quê, còn tôi thì không có khói sóng cũng da diết nhớ quê hương. Bài Tràng giang đã kết hợp được thơ xa truyền thống, những nét cổ điển của thơ Đường với những nét hiện đại. Những hình ảnh con thuyền xuôi mái, củi một cành khô, bèo về đâu hàng nối hàng mang tính chân thực của đời thường, không ước lệ. Và cũng có những hình ảnh mang vẻ đẹp tượng trưng. Tình yêu quê hương trong bài Tràng giang gợi lên và mở ra một tình yêu lớn lao hơn mỗi miền quê, mỗi cảnh vật. Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước.
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
2,336
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ dạ của tác giả Hàn Mặc Tử Hướng dẫn Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ dạ của tác giả Hàn Mặc Tử Bài làm: Hàn Mặc Tử – một trái tim, một tâm hồn lãng mạn dạt dào yêu thương đã bật lên những tiếng thơ, tiếng khóc của nghệ thuật trước cuộc đời. Những phút giây đau xót và sung sướng, những phút giây mà ông đã thả hồn mình vào trong thơ, những phút giây ông đã chắt lọc, đã thăng hoa từ nỗi đau của tâm hồn mình để viết lên những bài thơ tuyệt bút. Và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đã được ra đời ngay trong những phút giây tuyệt diệu ấy. Ở bài thơ, cái tình mặn nồng trong sáng đã hòa quyện với thiên nhiên tươi đẹp, mối tình riêng đã ở trong mối tình chung mà hồn thơ vẫn đượm vẻ buồn đau. Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những bài thơ tình hay nhất của Hàn Mặc Tử. Một tình yêu thiết tha man mác, đượm vẻ u buồn ẩn hiện giữa khung cảnh thiên nhiên hòa với lòng người, cái thực và mộng, huyền ảo và cụ thể hòa vào nhau. Mở đầu bài thơ là một lời trách móc nhẹ nhàng của nhân vật trữ tình: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Chỉ một câu hỏi thôi! Một câu hỏi của cô gái thôn Vĩ nhưng chan chứa bao yêu thương mong đợi. Câu thơ vừa có ý trách móc vừa có ý tiếc nuối của cô gái đối với người yêu vì đã bỏ qua không được chiêm ngưỡng vẻ đẹp mặn mà, ấm áp tình quê của thôn Vĩ – vùng nông thôn ngoại ô xinh xắn thơ mộng, một phương diện của cảnh Huế. Chúng ta hãy chú ý quan sát, tận hưởng vẻ đẹp của thôn Vĩ: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Nét đặc sắc của thôn Vĩ – quê hương người con gái gợi mở ở câu đầu tiên đến đây đã được tả rõ nét. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt tác rộng mở trước mắt người đọc. Hình ảnh nắng tưới lên trên ngọn cau tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Nắng mới là nắng sớm bắt đầu của một ngày, những hàng cau cao vút vươn mình đón lấy những tia nắng sớm kia, và tất cả tràn ngập ánh nắng vàng buổi bình minh. Cái “nắng hàng cau nắng mới lên” sao lại gợi một nỗi niềm làng mạc quê hương đến thế. Câu thơ này bất chợt khiến ta nghĩ tới những câu thơ của Tố Hữu trong bài Xuân lòng: Nắng xuân tưới trên thân dừa xanh dịu Tàu cau non lấp loáng muôn gươm xanh Ánh nhởn nhơ đùa quả non trắng phếu Và chảy tan qua kẻ lá cành chanh. Nắng mới cũng còn có ý nghĩa là nắng của mùa xuân, mở đầu cho một năm mới nên bao giờ nó cũng bừng lên rực rỡ nồng nàn. Đó là những tia nắng đầu tiên chiếu rọi xuống làng quê mà trước hết nó chiếu vào những vườn cau làm cho những hạt sương đêm đọng lại sáng lên, lấp lánh như những viên ngọc được đính vào chiếc áo choàng nhung xanh mịn: “Cái nhìn như chạm khẽ vào sắc màu của sự vật để rồi bật lên một sự ngạc nhiên đến thẩn thờ”. Đen câu thơ này, ta bắt gặp cái nhìn của thi nhân đã hạ xuống thấp hơn và bao quát ở chiều rộng. Một khoảng xanh của vườn tược hiện ra, nhắm mắt vào ta cũng hình dung ra ngay cái màu xanh mượt mà, mỡ màng của vườn cây. Ta không chỉ cảm nhận ở đó màu xanh của vẻ đẹp mà nó còn tràn trề sự sống mơn mởn. Những tán lá cành cây được sương đêm gội rửa trở thành cành vàng lá ngọc. Không phải xanh mượt, cũng không phải xanh mỡ màng mà chỉ có “xanh như ngọc” mới diễn tả được vẻ đẹp ngồn ngộn, sự sống của vườn tược. Một màu xanh cao quý, không một chút gợn, một màu xanh tỏa ánh tạo nên vẻ đẹp óng ánh, lấp lánh, trong trẻo làm cho vườn cây càng sáng bóng lên. Hình như cả vườn cây đều tắm trong luồng không khí đang còn run rẩy sự trinh bạch nguyên sơ chưa hề nhuốm bụi. Lăng kính không khí ấy làm hiện rõ hơn đường nét màu sắc của cảnh sắc mà mắt thường chúng ta bỏ qua. Neu không có một tình yêu sâu nặng nồng nàn đối với Vĩ Dạ thì Hàn Mặc Tử không thể có được những vần thơ trong trẻo như vậy. Ai đã từng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, đặc biệt là ở xứ Huế thì mới thấm thìa những vần thơ này: Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Trong vườn thôn Vĩ Dạ kia nhánh lá trúc và khuôn mặt chữ điền sao lại có mối liên quan bất ngờ mà đẹp thế: những chiếc lá trúc thanh mảnh, thon thả che ngang khuôn mặt chữ điền. “Mặt chữ điền” – khuôn mặt ấy chỉ hiện ra thấp thoáng sau lá trúc mơ màng, hư hư thực thực.Thôn Vĩ Dạ nằm cạnh ngay bờ sông Hương êm đềm. Vì thế mà từ cách tả cảnh làng quê ở khổ đầu đã hé mở tình yêu, tác gỉ chuyển sang tả cảnh sông, với niềm bâng khuâng, nỗi nhớ mong, sầu muộn hư ảo như trong giấc mộng: Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? Gió và mây đã gợi buồn vì nó trôi nổi, lang thang thì nay lại càng buồn hơn: gió đi theo đường của gió, mây đi theo đường của mây, gió và mây xa nhau; không thể là bạn đồng hành, không thể gặp gỡ và sự xa cách của nhà thơ với người yêu có thể là vĩnh viễn. Phải chăng đây là cảm quan của nhà thơ trong xa cách nhớ thương, và đây cũng là mặc cảm của những con người xưa trong cuộc sống. Nỗi buồn về sự chia li, giã biệt đọng lại trong lòng người phảng phất buồn và mang một nỗi niềm xao xác. Chúng ta không còn thấy giọng thơ tươi mát đầy sức sống như ở đoạn trước nữa, chúng ta gặp lại Hàn Mặc Tử – một tâm hồn đau buồn, u uất: Dòng nước buồn thiu, hoa bap lay. Dòng sông Hương hiện ra mới buồn làm sao với những bông hoa bắp màu xám tẻ nhạt, ảm đạm như màu khói. Với một tâm hồn mãnh liệt như Hàn Mặc Tử thì dòng sông trôi lửng lờ của xứ Huế chỉ là “dòng nước buồn thiu” gợi cảm giác buồn lặng, quạnh quẽ. Hoa bắp cũng lay nhè nhẹ trong một nỗi buồn xa vắng. Sự thay đổi tâm trạng chính là thái độ của những con người sống trong vòng đời tối tăm, bế tắc. Mặt nước sông Hương êm quá gợi đến những bến bờ xa vắng, những mảnh bèo trôi dạt lênh đênh của số kiếp con người. Tâm trạng thoắt vui – thoắt buồn mà buồn thì nhiều hơn, ta đã gặp rất nhiều ở các nhà thơ lãng mạn khác sống cùng thời với Hàn Mặc Tử. Ý thơ thật buồn, được nối tiếp trong hai câu sau nhưng với cách diễn đạt thật tuyệt diệu, thực đấy mà mộng đấy: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Cỏ chở trăng về kịp tối nay? Tất cả như tan loãng trong vầng trăng thân thuộc của Hàn Mặc Tử. Cảnh vật thiên nhiên tràn ngập ánh trăng, một ánh vàng sáng loáng chiếu xuống dòng sông, làm cho cả dòng sông và những bãi bồi lung linh, huyền ảo. Cảnh nên thơ quá, thơ mộng quá! Và cũng đa tình quá! “Dòng nước buồn thiu” đã hóa thành dòng sông trăng lung linh, con thuyền khách đã hóa thành thuyền trăng. Tác giả đã gửi gắm một tình yêu khát khao, nỗi ngóng trông, mong nhớ vào con thuyền trăng, vào cả dòng sông trăng. Ý thơ lồng trong ngôn ngữ thơ thật là tài hoa, thật là thơ đẹp với xứ Huế mộng mơ. Tác giả đã lướt bút viết nên những câu thơ nhẹ nhàng, sâu kín nhưng hàm chứa cả tình yêu bao la, nồng cháy đến vô cùng, vầng trăng trong hai câu thơ này là vầng trăng nguyên vẹn của thi nhân trước mảnh tình quê chưa bị phôi pha. Hàn Mặc Tử rất yêu trăng nhưng vầng trăng ở các bài thơ khác không giống thế này. Một ánh trăng gắt gao, kì quái, một ánh trăng khêu gợi, lả lơi: Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô. hay: Trăng nằm sóng soài trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi. “Trăng trở thành một khí quyển bao la mọi cảm giác, mọi suy nghĩ của Hàn Mặc Tử, hơn nữa nó còn lẫn vào thân xác ông”. Nó là ông, là trời đất, là người ta. Trăng biến hóa vô lường trong thơ ông, khi hữu thế khi vô hình, khi mê hoặc khi kinh hoàng. Trở lại với dòng sông trăng trong Đây thôn Vĩ Dạ. Ở đây sông là sông trăng nhưng thi nhân lại xót xa hỏi: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Cỏ chở trăng về kịp tối nay? Vầng trăng ở đây phải chăng là vầng trăng hạnh phúc và con thuyền không kịp chở trăng về cho người trên bến đợi? Câu hỏi biểu lộ niềm lo lắng của một số phận không có tương lai. Hàn Mặc Tử hiểu căn bệnh của mình nên ông mặc cảm về thời gian cuộc đời ngắn ngủi, vầng trăng không về kịp và Hàn Mặc Tử cũng không đợi được vầng trăng hạnh phúc đó nữa, một năm sau ông vĩnh biệt cuộc đời. Mơ khách đường xa, khách đường xa, Áo em trắng quá nhìn không ra; Ớ đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà? Trái tim khao khát yêu thương, nhưng nỗi đau kỉ niệm tình yêu ấy, ông đã gửi tất cả vào những trang thơ. Và rồi tất cả như trôi trong những giấc mơ ước ao, hi vọng. Màu áo trắng cũng là màu ánh nắng của Vĩ Dạ mà nhìn vào đó tác giả thấy choáng ngợp, thấy ngây ngất trước sự trong trắng, thanh khiết, cao quý của người yêu. Hình như giữa những giai nhân áo trắng ấy với thi nhân có một khoảng cách nào đó khiến thi nhân không khỏi không nghi ngờ: Ớ đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà? Câu thơ tả thực cảnh Huế, Huế – kinh thành sương khói. Trong màn sương khói đó có như nhòa đi và có thể tình người cũng nhòa đi? Nhà thơ không tả cảnh mà tả tâm trạng mình, biết bao tình cảm trong những câu thơ ấy. những cô gái Huế kín đáo quá, ẩn hiện trong sương khói, trở nên xa vời quá, liệu khi họ yêu, họ có đậm đà chăng? Tác giả đâu dám khẳng định về tình cảm của người con gái Huế, ông chỉ hỏi: Ai biết tình ai có đậm đà? Lời thơ như nhắc nhở, không phải bộc lộ một sự tuyệt vọng hay hi vọng, đó chỉ là sự thất vọng của một trái tim khao khát yêu thương mà không bao giờ và mãi mãi không có tình yêu trọn vẹn. Bài thơ càng hay càng ngậm ngùi, nó đã khép lại nhưng lòng người vẫn thẩn thức. Cả bài thơ được liên kết bởi từ “ai”, mở đầu: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”; tiếp đến “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó” và kết thúc: “Ai biết tình ai có đậm đà?” càng làm cho Đây thôn Vĩ Dạ sương khói hơn, huyền bí hơn. Đây thôn Vĩ Dạ là một bức tranh đẹp về cảnh và người của miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghệ thuật gợi liên tưởng, hòa quyện thiên nhiên với lòng người. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tử vẫn còn tươi nguyên, nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con người đau thương ấy có sức bay bổng lạ kì” nhưng nó cũng giản dị, trong sáng, tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Xin thành kính thắp một nén nhang trước một nghệ sĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời thổn thức vì tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình thành những đóa hoa thơ mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là Đây thôn Vĩ Dạ.
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ dạ của tác giả Hàn Mặc Tử
2,186
Phân tích bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy Hướng dẫn Phân tích bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết: Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn Đúng vậy, ai cũng mang trong mình một quê hương và Nguyễn Duy cũng vậy. Cho dù đi đâu, làm gì, ông cũng không quên được quê hương của mình – quê hương Thanh Hóa, không quên tri ân người bà thân yêu của mình. Bài thơ Lò đèn đã được ra đời như vậy. Bài thơ Lò đèn được viết năm 1983, trong dịp nhà thơ trở về quê hương, sống với hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu. Cùng với Tre Việt Nam, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Ánh trăng… Đò Lèn là bài thơ được nhiều bạn đọc yêu thích bởi những xúc cảm yêu thương chân thành mà người viết đã phổ một cách tự nhiên trong đó. Bài thơ gồm sáu khổ. Hai khổ thơ đầu là những kí ức về tuổi thơ với những trò chơi ngày nhỏ. Hai khổ tiếp theo là nhận thức và cảm xúc của nhân vật trữ tình về những hi sinh thầm lặng của bà ngoại. Khổ thơ thứ năm là kí ức về một những ngày bom Mĩ đánh phá tan hoang nhà cửa, chùa chiền. Va khổ cuối cùng là tâm trạng bùi ngùi của nhân vật tôi khi bà ngoại không còn nữa. Xuyên suốt tác phẩm là tình yêu sâu nặng người cháu dành cho bà ngoại. Bài thơ bắt đầu bằng dòng hoài niệm, bằng những hồi ức về thuở xa xăm: Thuở nhỏ tôi ra Cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng Hai chữ “thuở nhỏ” mở đầu văn bản, được láy lại lần nữa ở khổ thứ hai không chỉ là dấu mốc thời gian mà như còn đong đầy nỗi ngậm ngùi. Chủ thể điểm nhìn trong bài thơ là nhân vật tôi – nhưng không phải là tôi của thuở nhỏ mà là tôi khi đã lớn khôn, trưởng thành. Đó là lí do những kỉ niệm ùa về rất nhiều nhưng tất cả chỉ được gọi tên vội vã: “câu cá”, “níu váy bà đi chợ”, “bắt chim sẻ”, “ăn trộm nhãn”, “chơi đền Cây Thị” “xem lễ Đền Sòng”. Những trò chơi của cậu bé nông thồn được liệt kê với mức độ dày đặc. Ngần ấy trò cho phép chúng ta hình dung về một chú nhóc tinh nghịch, hiếu động. Điều đáng nói là kỉ niệm của cậu không gắn với lũ bạn cùng tuổi mà luôn quấn quýt với bà ngoại. Bà ngoại tôi chỉ xuất hiện duy nhất trong hành động đến chợ Bình Lâm nhưng tưởng như bước chân bà luôn theo đỡ bao kỉ niệm của thằng cháu ngoại. Trẻ con – nhất là những bé trai – vẫn thích tha thẩn nơi vườn cây, ao cá nhưng điểm đến của nhân vật tôi lại là những đền chùa, chợ búa – nơi các bà cụ thường lui tới. Nguyễn Duy nhắc đến năm địa danh thì trong số đó có đến ba tên chùa, đền. Chùa Trần, đền Sòng, đền Cây Thị, bà đến cũng chính là những nơi cậu bé theo đi, tất nhiên không phải để thành tâm lễ Phật như bà mà để khám phá bao điều kì thú ở đó. Có thể ngày bé, nhân vật tôi chỉ mải miết với những trò nghịch ngợm của mình, thậm chí sẽ bị bà ngoại quở trách vì các hành động “bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật”, “ăn trộm nhãn chùa Trần”. Nhưng rồi tất cả những gì trầm tích trong kí ức lại là “mùi huệ trắng quyện khói trầm” và “điệu hát văn” cùng bóng dáng cô đồng trong chùa. Giờ thì ta hiểu tại sao tác giả không dừng lại miêu tả cụ thể một trò chơi nào. Mùi hương thanh khiết, trầm tịch chốn thâm nghiêm và điệu hát cô đồng khó hiểu là tất cả những gì choán đầy nỗi nhớ nhân vật trữ tình. Điều phảng phất, thậm chí không cố tình được trẻ thơ lưu lại trong trí nhớ lại có sức bám đọng mãnh liệt nhất khi kí ức dội về. Căn nguyên là đâu? Có phải vì thấp thoáng trong khói hương thơm ngát và điệu hát văn thuở xưa là bóng dáng bà ngoại yêu dấu của nhân vật tôi? Sang khổ thơ tiếp theo tứ thơ có sự biến đổi đột ngột. Không còn là các trò tinh nghịch thuở thiếu thời nữa mà là nỗi yêu thương không thể nén kìm: bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn Dòng hoài niệm không dừng lại ở những trò chơi thuở nhỏ mà được tiếp nối bằng hình ảnh bà ngoại lam lũ, tảo tần. “Tôi đâu biết” – không hẳn là lời sám hối nhưng đó là lời tự trách đầy tiếc nuối, xót xa của người cháu khi trưởng thành. Tất cả những gì khuất lấp trong tuổi thơ giờ đã được nhận thức sáng tỏ. vẫn là thao tác liệt kê nhưng không phải là trò chơi thuở nhỏ mà là bao vất vả, “cơ cực” của bà. Thực ra, mò cua, xúc tép, gánh chè… là những việc quen thuộc của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Nếu ai đã đọc những câu thơ của Trần Đăng Khoa, chắc sẽ thương lắm dáng bà, dáng mẹ giữa trưa tháng sáu: Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy Nếu ai đã đọc Bèn kia sông Đuống của Hoàng cầm, sẽ thấy có sự đồng điệu giữa Hoàng Cầm và Nguyễn Duy trong hình ảnh thơ: Mẹ già nua còm cỗi gánh hàng rong Dăm miếng cau khô Mấy lọ phẩm hồng Vài thép giấy đẫm hoen sương sớm Những “cơ cực” đó lẽ ra không nên có ở những người bà đã đi qua bao nhọc nhằn trong cuộc sống, không nên có ở lứa tuổi lẽ ra phải được thảnh thơi, vui vầy bên con cháu. Một lần nữa Nguyễn Duy cho các địa danh xuất hiện, nhưng đó không còn là những đền chùa linh thiêng. Ba Trọi, Đồng Quan, Quản Cháo, Đồng Giao là nơi in dấu chân bà ngoại tảo tần sớm hôm. Không gian nối tiếp không gian, mở -rộng, kéo dài hành trình lam lũ của bà đồng thời khơi sâu thêm nỗi xa xót trong lòng cháu. Từ láy “thập thững” đựng lên trước mắt người đọc dáng đi không vững chãi, thậm chí siêu vẹo của người mắt kém đang iphải mang gánh nặng trên vai. Cụm từ “những đèm lùm” vừa chỉ thời gian, vừa có giá trị mô tả không gian. Đêm là thời khắc muộn hơn tối. Cũng để chỉ cái lạnh nhưng Nguyễn Duy không viết “đêm lạnh”, “đêm rét” mà viết “đêm hàn”. Kết hợp từ khéo léo này mang lại hiệu quả nghệ thuật bất ngờ. Trong cái lạnh của đêm tối, ta còn cảm nhận được cả cái buốt giá của sương đêm. Những cơ cực của bóng dáng lầm lụi không được miêu tả chi tiết nhưng vẫn được gợi nên trong suy tưởng người đọc. Đó chẳng phải là những hi sinh âm thầm sao? Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư thực Giữa bà tôi và tiên phật thánh thần Cái năm đỏi củ dong riềng luộc sượng Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm Có lẽ đây là khổ thơ hay nhất trong bài. Hay bởi cách nói và xúc động bởi chiều sâu tình cảm. “Trong suốt là tính từ chỉ tính chất sự vật, hiện tượng được Nguyễn Duy đưa vào lời thơ, đảm nhiệm chức năng của động từ tình thái. Thật khó để gọi tên chính xác cảm xúc của nhân vật trữ tình. Chỉ có thể khẳng định một điều, trạng thái này gần gũi với phút đốn ngộ của các bậc tu hành nhà Phật. Hình ảnh bà được đặt trong thế đối sánh ngang hàng với tiên phật, thánh thần thể hiện lòng ngưỡng mộ, tôn sùng của nhân vật tôi. Phải thực sự thấm thía, trân trọng công ơn của bà, nhân vật trữ tình mới có được tình cảm sâu sắc, mãnh liệt đến vậy. Tình cảm đó được đặt trong thế đối lập giữa hai không gian: không gian trần tục và không gian tịnh độ. Cảm giác đói bị át đi bởi hương huệ trắng và hương trầm thanh khiết. Lần thứ hai hương thơm đó xuất hiện trong bài thơ. Nhưng lần này nó không được cảm nhận bằng khứu giác mà bằng thính giác. Cái tinh tế của ý thơ chính là ở chỗ này đây. Nếu chỉ là “cứ thoang thoảng” hay “cứ ngửi” thì hương huệ trắng và hương trầm chỉ là thứ hương của hiện tại. Đấy là chưa kể việc sử dụng từ “ngửi” sẽ làm mất đi ý vị tao nhã của hình ảnh thơ, của lời thơ. Phải là “nghe” thì mới thấy quá khứ vọng về, thì mới thấy sức ám ảnh của hương thơm quá khứ. Cảm thức về bà luôn gắn với sự thanh nhã, nhân hậu, đức độ. Bà như thần tiên, bà như cổ tích và bà luôn bất tử trong tâm thức cháu. Bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Len Chiến tranh với những đau thương mất mát đã đi vào thơ ca và trở thành chủ đề xuyên suốt một thời đại. Mỗi người bước vào chiến tranh và đi ra với những mất mát riêng. Với Nguyễn Duy, đau thương nhất là sự tan hoang, đổ nát của những chùa chiền và ngôi nhà bà ngoại. Nhà thơ đã lựa cách nói để kìm giữ những tổn thương tinh thần. Không khắc họa “kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang” như Hoàng Cầm, Nguyễn Duy chỉ nhẹ nhàng kể: “nhà bà tôi bay mất”, “đến Sòng bay”, “bay tuốt cả chùa chiền”. “Bay” thực chất là tan, là đổ nát đấy chứ. Nhưng “bay” cũng là gắn với cảm thức tiên Phật. Nơi bình yên không còn yên bình nữa. Cái khốc liệt của chiến tranh in dấu ấn cả vào trong đời sống của thần tiên, huống gì con người? Điểm kết của những kí ức là hình ảnh người bà “đi bán trứng ở ga Lèn mặc cho “bom Mĩ dội”, mặc cho “Thánh với Phật” đã phải rủ nhau đi. Vẫn là sự tảo tần để mưu sinh? Hay sẽ là bắt đầu cho một bất trắc không lường trước được, một mất mát khôn cùng? Ga Lèn là điểm kết của câu thơ nhưng lại được chọn làm nhan đề cho bài thơ, điều đó chứng tỏ địa danh này gắn với sự kiện quan trọng. Phải chăng, chính tại nơi đây, những ngày được gắn bó cùng người bà kính yêu của nhà thơ – nhân vật trữ tình cũng hết? Thời gian trôi bẵng đi, khi đã trưởng thành, đã nhận ra những hi sinh lớn lao của bà, đã ý thức được tình cảm, trách nhiệm của mình, cũng là lúc nhân vật trữ tình mất bà mãi mãi. Hai câu cuối không đặc sắc về tứ thơ nhưng gây xúc động trong lòng người đọc. “Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”- lời thơ nghe đầy xót xa, nuối tiếc. Đò Lèn là bài thơ không mới về chủ đề nhưng vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ cách diễn tả độc đáo, nhờ sự phô bày những yêu thương chân thành của người viết. “Thơ khởi sự từ tâm hồn, vượt lên trên bằng tầm nhìn và đọng lại nhờ tấm lòng của người viết”. Đò lèn của Nguyễn Duy đã đạt được cả ba điều ấy để làm nên một bài thơ thật hay, thật đẹp.
Phân tích bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy
2,069
Đề bài: Bình giảng bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Bài làm Nguyễn Khoa Điềm thuộc lớp thi sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Những năm 1970, 1971,… ông sống và hoạt động tại chiến trường Trị – Thiên; trường ca “Mặt đường khát vọng” được ông sáng tác vào thời gian ấy. Chương V “Đất Nước” trích trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. Phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Phần đầu 42 câu tác giả nhận diện Đất Nước có nguồn gốc lâu đời. Tục ăn trầu, cổ tích Trầu – Cau, truyền thuyết Thánh Gióng dùng gốc tre đánh đuổi giặc Ân mà “mẹ thường hay kể”: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”. Nhà thơ cảm nhận Đất Nước trong dòng chảy thời gian “đằng đẵng”, trên không gian địa lí “mênh mông”, qua sự tích “Trăm trứng” và giỗ Tổ Hương Vương. Nhà thơ bằng giọng tâm tình đã dẫn hồn ta ngược thời gian bốn nghìn năm trở về cội nguồn Đất Nước: “Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng (…) Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”. Tục “bới tóc xăm mình” của người Lạc Việt, câu ca dao “gừng cay muối mặn” nói về đạo vợ chồng, ngôn ngữ dân tộc hình thành, phát triển, nên “cái kèo, cái cột thành tên”, công việc cấy cày làm ăn “xay, giã, giần, sàng” được chỉ rõ. Cội nguồn “Đất Nước có từ ngày đó”. Đất Nước trong quá khứ mang vẻ đẹp kì diệu, huyền thoại: “Đất là nơi “con chim Phượng Hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá Ngư Ông móng nước biển khơi”. Đất Nước hiện tại gắn bó yêu thương với mọi người, “trong anh và em hôm nay – Đều có một phần Đất Nước”. Mai này Đất Nước nhiều “mơ mộng”. Yêu nước là nghĩa vụ thiêng liêng: “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa than cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời”. Phần thứ hai có 68 câu (Văn 12 chỉ trích học 47 câu) nói về tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”. Nhân Dân sáng tạo ra Đất Nước. Các danh lam thắng cảnh đều biểu tượng cho phẩm chất cao đẹp, “lối sống” của ông cha như tình nghĩa vợ chồng thủy chung, tình yêu lứa đôi thắm thiết, sức mạnh quật khởi, tinh thần đại đoàn kết của dân tộc, truyền thống hiếu học của Nhân Dân ta: “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại 99 con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương”. Núi Bút non Nghiên, vịnh Hạ Long, ông Đốc Ông Trang… đều do Nhân Dân ta “góp cho”, “cùng góp cho”, “góp tên” – mà Đất Nước đẹp tươi, hùng vĩ. “Bốn nghìn lớp người” đã đem mồ hôi, xương máu ra xây dựng và bảo vệ Đất Nước: “Khi có giặc người con trai ra trận – Người con gái trở về nuôi cái cùng con – Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”. Nhân Dân đã sáng tạo ra Đất Nước và làm chủ Đất Nước. Họ là những con người vô danh mà vĩ đại: “Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Nhân Dân là người sản xuất “giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng”. Nhân Dân đã sáng tạo ra ngôn ngữ “truyền giọng điệu của mình cho con tập nói”. Nhân Dân đã diệt thù trong giặc ngoài để giữ gìn Đất Nước, làm cho Đất Nước ngày thêm giàu đẹp: “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân Đất Nước của Nhân Dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Tóm lại, Nguyễn Khoa Điềm đã vận dụng sáng tạo tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục, ngôn ngữ để cảm nhận về nguồn gốc lâu đời của Đất Nước, khẳng định Nhân Dân vĩ đại đã sáng tạo ra Đất Nước và làm chủ Đất Nước. Chương “Đất Nước” chứa chan tình yêu và niềm tự hào dân tộc. Bình giảng đoạn thơ. Đoạn thơ 9 câu dưới đây trích trong phần đầu chương “Đất Nước” thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng” (1971) của Nguyễn Khoa Điềm: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi ……………………………………….. Đất Nước có từ ngày đó”. Đoạn thơ đã nói lên một cách dung dị mà thấm thía về cội nguồn sâu xa của Đất Nước. Giọng điệu thủ thỉ tâm tình, nhà thơ gợi lên một không khí trầm lắng như kể chuyện cổ tích, như dẫn hồn ta ngược thời gian trở về cội nguồn Đất Nước và dân tộc. Bốn chữ “ngày xửa ngày xưa” dùng rất khéo: “Khi ta lớn lớn Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể”. Chữ “có” trong “đã có rồi”, “Đất Nước có trong những cái…” đã làm cho ý thơ khẳng định, tỏa sáng niềm tin. Tục ăn trầu, truyện cổ tích Trầu – Cau gợi lên hình ảnh Đất Nước xa xưa, “Đất Nước bắt đầu”… Truyền thuyết Thánh Gióng cho biết sự vươn mình của dân tộc, đánh dấu sức mạnh quật khởi “Đất Nước lớn lên”. Câu thơ mở rộng đến 12, 13 chữ, với cách gieo vần lưng (đầu – trầu, ăn – dân) nên vẫn thanh thoát, giàu âm điệu: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”. Hai chữ “lớn lên” liên tưởng đến hình ảnh chú bé làng Gióng lên ba vươn vai thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt khi Đất Nước bị giặc Ân xâm lược. Rồi nhà thơ nói đến phong tục và đạo lí tốt đẹp lâu đời của nhân dân ta. Phong tục “búi tóc” của người Lạc Việt. Câu ca dao nói về đạo vợ chồng: “Tay bưng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” đã nhập hồn vào câu thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Chuyện “ngày xửa ngày xưa” nhưng vẫn hiện diện trên “tóc mẹ”, trong tình thương của “cha mẹ” bây giờ. “Đất Nước đã có rồi”, “Đất Nước có…”, “Đất Nước bắt đầu”, “Đất Nước lớn lên” và Đất Nước đang hiện diện quanh ta, gần gũi ta. Tiếp theo, nhà thơ lấy sự hình thành và phát triển ngôn ngữ dân tộc để nói về nguồn gốc lâu đời của Đất Nước. Mỗi vật dụng đều có một cái tên riêng: “Cái cột, cái kèo thành tên”. Nhân Dân ta có nghề trồng lúa nước lâu đời. Nghề trồng lúa nước tạo nên nền văn minh sông Hồng. Khi hạt gạo được sáng tạo nên bằng công sức “một nắng hai sương”, thì ngôn từ “xay, giã, giần, sàng” cũng xuất hiện. Tiếng Việt là của quý lâu đời của Đất Nước ta, Nhân Dân ta. Cách nói của Nguyễn Khoa Điềm thật ý vị: “Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó”. Lấp lánh trong đoạn thơ là hình ảnh Đất Nước thân yêu. Quá khứ của Đất Nước “ngày xửa ngày xưa” đồng hiện trong “miếng trầu bây giờ bà ăn”. Có Đất Nước anh hùng “biết trồng tre mà đánh giặc”. Có Đất Nước cần cù trong lao động sản xuất: “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Có nền văn hóa giàu bản sắc, nền văn hiến rực rỡ hội tụ qua thuần phong mĩ tục (tục ăn trầu, tục bới tóc), qua tục ngữ ca dao “gừng cay muối mặn”, qua cổ tích thần thoại, truyền thuyết. Đoạn thơ 9 câu, 85 chữ mà không hề có một từ Hán Việt nào. Ngôn từ bình dị, cách nói biểu cảm thân mật. Hiện diện trong đoạn thơ là: ta, dân mình, bà, cha, mẹ. Có miếng trầu, cây tre, tóc mẹ,… Có “gừng cay muối mặn”, cái kèo, cái cột, hạt gạo, v.v… Thật là thân thuộc và gần gũi, sâu xa và thấm thía, rung động. Tưởng tượng thì phong phú, liên tưởng thì bao la. Đoạn thơ đã “nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp” để ta yêu thêm Đất Nước và tự hào về Đất Nước. Cấu trúc đoạn thơ: “tổng – phân – hợp”; mở đầu là câu “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”, khép lại đoạn thơ là câu “Đất Nước có từ ngày đó”. Tính chính luận đã làm sáng đẹp chất trí tuệ kết hợp hài hòa với chất trữ tình đậm đà. Đoạn thơ mang vẻ đẹp độc đáo nói về cội nguồn Đất Nước thân yêu.
Phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
1,543
Phân tích bài thơ Đất nước-Nguyễn Khoa Điềm Hướng dẫn Mở bài: Đất nước là là phần thơ trích gần như trọn vẹn chương VI. của trường ca Mặt đường khát vọng. Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành ở chiến khu Thừa Thiên Huế cuối năm 1971 và đưa ra miền Bắc in lần đầu tiên (1974). Đây là một đoạn thơ trữ tình, chính luận đặc sắc tiêu biểu cho thơ Nguyễn Khoa Điềm và cho thế hệ trẻ những năm chống Mỹ cứu nước. Thân bài: Cốt lỗi của phần thơ này là tư tưởng đất nước của nhân dân. Tư tưởng ấy dường như quy tụ mọi cái nhìn của nhà thơ về địa lý, lịch sử, văn hóa, tính cách dân tộc. Đó cũng là sự thức tỉnh của thế hệ trẻ Việt Nam. Nói rộng là sự tự nhận thức của tuổi trẻ Việt Nam trong những năm chiến tranh để đi đến sự lựa chọn quyết định. Đó là đứng về phía nhân dân gánh vác trách nhiệm với dân tộc trong cuộc chiến tranh thiêng liêng để giải phóng và bảo vệ đất nước. Đất nước luôn là một chủ đề lớn trong thơ ca Việt Nam từ xưa đến nay. Đặc biệt là từ sau Cách mạng tháng tám, đất nước là chủ đề được khai thác nhiều và có nhiều bài thơ thành công viết về chủ đề này. Tuy nhiên, có những tác giả thiêng về cảm xúc trữ tình sâu lắng như bài thơ Đất nước ( Nguyễn Đình Thi), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Việt Bắc (Tố Hữu),… Nhưng cũng có những nhà thơ nghiêng về chất chính luận trí tuệ và tiêu biểu: Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm,… Phân tích đoạn thơ: Tư tưởng Đất nước của người dân đã được thể hiện xuyên suốt ở chương V trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm. Cái lí lẽ mà tác giả nêu lên nhằm thuyết phục người đọc thật giản dị và cũng thật sâu sắc. Không phải ai khác mà chính là nông dân – những người nhỏ bé vô danh đã làm nên đất nước, đã xây dựng và tạo nên những truyền thống căn hóa lịch sử hàng ngàn đời của dân tộc. Nhưng lí lẽ ấy nhà thơ không phát biểu một cách khô khan trừu tượng mà bằng những hình ảnh gợi cảm và một giọng thơ tha thiết trữ tình thông qua những câu thơ có sự kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ. Nguyễn Khoa Điềm đã đưa lại cho người đọc những nhận thức sâu sắc về đất nước, nhân dân. Tư tưởng ấy thức tỉnh trong mỗi người niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc. Đoạn thơ mang đậm tính chất trữ tình chính trị sâu sắc. Nếu thơ trữ tình trực tiếp biểu hiện cảm xúc trực tiếp về quê hương – đất nước, ca ngợi vẻ đẹp của quê hương nhằm đưa lại cho người đọc những cảm xúc sâu lắng về quê hương – đất nước thì thơ trữ tình – chính luận tập trung biểu hiện những suy nghĩ, cảm nhận, những chiêm nghiệm về đất nước, có tác động tới nhận thức của người đọc, giúp họ cảm nhận sâu sắc về đất nước, khơi gợi trách nhiệm của mình đối với quê hương đất nước. Đoạn trích “Đất nước” về kết cấu được chia làm hai phần. Phần 1 (Từ đầu … làm nên đất nước muôn đọc): Nguyễn Khoa Điềm nêu lên những suy nghĩ, cảm nhận của mình về đất nước bằng ngôn ngữ thơ ca. Phần hai (đoạn thơ còn lại): Tác giả hiện rõ tư tưởng “đất nước của nhân dân” và và nhân dân không chỉ làm nên đất nước mà còn là chủ nhân đất nước của mình. Phần 1: Đất nước trong không gian, thời gian và chiều dài lịch sử, văn hóa Phần một của đoạn thơ này có thể xem như là một định nghĩa của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước. Tất nhiên là nhà thơ định nghĩa theo một cách thức riêng của nhà thơ, của thơ ca và được phát biểu thông qua những hình tượng sinh động, cụ thể đầy gợi cảm. Đất nước với Nguyễn Khoa Điềm không phải là một khái niệm xa xôi, trừu tượng mà rất gần gũi, thân thiết, gắn bó sâu sắc với mỗi con người, mỗi gia đình. Đất nước hiện lên qua những câu chuyện kể của mẹ mà ta thường nghe lúc tuổi còn thơ. Câu chuyện thường bắt đầu bằng một câu mở đầu quen thuộc “ngày xửa, ngày xưa”. Đất nước còn là những trong phong tục tập quán được lưu giữ từ ngàn đời nay. Nó biểu hiện ở miếng trầu bà ta vẫn ăn hàng ngày. Hay thói quen “bới tóc sau đầu” của mẹ cho đến “hạt gạo một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Thậm chí ngay cả cái kèo cái cột trong nhà cũng góp phần làm nên đất nước: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rôi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa, ngày xưa… Mẹ thường hay kể Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên” Tất cả đều đó làm cho đất nước trở thành cái gần gũi, thân thiết trong cuộc sống hằng ngày của mỗi con người. Nhưng cái mới lạ, hấp dẫn của đoạn thơ này chính là cách nói hết sức bình dị và mới mẻ của nhà thơ. Điều này đã khơi dậy trong tiềm thức sâu xa của mỗi người đọc những kỉ niệm sâu nặng với quê hương đất nước. Cảm xúc chân thực khiến ta đọc lên không khỏi xúc động bồi hồi. Về không gian, đất nước là biển sâu, núi rộng, sông dài. Đất nước là không gian sinh tồn của biết bao thế hệ con người Việt Nam từ đời này qua đời khác. Tiếp tục mạch cảm hứng ở khổ thơ đầu, trong khổ thơ tiếp theo, Nguyến Khoa Điềm đã tách riêng hai yếu tố “đất – nước” để phân tích, lí giải. Đây không phải là hình thức chơi chữ mà là cách để nhà thơ hiểu sâu hơn, kĩ hơn về đất nước của mình. Với Nguyễn Khoa Điềm, “đất nước” chính là sự hợp thành của đất và nước. Nó luôn luôn gần gũi, gắn bó sâu nặng với cuộc sống của mỗi người về không gian địa lí. Đất nước không chỉ là núi sông, rừng bể gắn với lời ca thân thuộc “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc… con cá ngư ông máng nước biển khơi” mà còn là không gian gần gũi với cuộc sống mỗi người, nhất là tình yêu đôi lứa: “Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm trong nỗi nhớ thầm thì” Đồng thời đó cũng là không gian sinh tồn của cả cộng đồng bao thế hệ: “Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau” Về thời gian, đất nước được nhà thơ nhìn nhận theo suốt chiều dài lịch sử từ thuở Lạc Long Quân – Âu Cơ rồi thời vua Hùng dựng nước cho đến ngày nay. Đất nước được cảm nhận suốt chiều dài từ quá khứ nghìn xưa: “Đất là nơi chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng” Cho đến hiện tại hôm nay với những người không quên truyền thuyết Hùng Vương nên: “Hàng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cuối đầu nhớ ngày giỗ Tổ” Đất nước với Nguyễn Khoa Điềm không chỉ mở ra theo chiều rộng của không gian địa lý và chiều dài của không gian lịch sử mà còn được cảm nhận như là sự thống nhất của các phương diện văn hóa, truyền thống, phong tục. Đất nước kết tinh trong cái hằng ngày và cái vĩnh hằng đặc sắc của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Nó không phải là cái gì xa lạ mà ở ngay trong máu thịt cảu mỗi con người, đất nước có ở trong anh và em: “Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước” Ở đây, Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân và vận mệnh chung của cả cộng đồng dân tộc. Cũng chính vì vậy mà trách nhiệm, bổn phận đối với đất nước không phải là cái gì khác mà đó cũng chính là trách nhiệm của bản thân mình. Đoạn một của phần thơ kết thúc với lời nhắn nhủ thế hệ trẻ về trách nhiệm công dân, về tinh thần chiến đấu hi sinh cho sự sống muôn đời của đất nước: “Em ơi Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời”. Câu thơ mang tính chất chính luận nhưng người đọc không cảm thấy đó là những lời giáo huấn mà chỉ nghe vang lên thật chân thành tha thiết như lời nhà thơ tự nhủ, tự dặn mình. Phần 2: Đất nước của nhân dân Phần hai của đoạn thơ, Nguyễn Khoa Điềm tập trung làm nổi bật tư tưởng Đất nước của nhân dân và chính nhân dân là người sáng tạo ra Đất nước. Quan điểm này đã dẫn tới một cách nhìn mới mẻ có chiều sâu về địa lý, lịch sử văn hóa của Đất nước. Những cảnh đẹp của thiên nhiên trên khắp mọi miền của Đất nước qua sự cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm không còn là những cảnh đẹp của thiên nhiên thuần túy nữa mà nó gắn liền với cảnh ngộ, số phận của nhân dân, nó trở thành biểu tượng cho tâm hồn và lối sống của nhân dân. Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Góp ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương”. Rồi núi Bút, non Nghiêng, những con cóc, con gà ở Hạ Long, những địa danh ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điển ở Nam Bộ,… Tất cả đều gắn liền với đời sống nhân dân, chúng chỉ trở thành thắng cảnh khi có quan hệ mật thiết với cuộc sống và số phận của nhân dân. Khi được tiếp nhận và cảm thụ qua tâm hồn nhân dân, qua lịch sử của nhân dân, nếu không có những người vợ mòn mỏi chờ chồng qua những cuộc chiến tranh, các cuộc phân li cách biệt thì không thể có cảm nhận đầy đau đớn, xót xa về núi Vọng Phu cũng như nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì không thể có sự cảm nhận thật đẹp đẽ, hoàn hảo, hào hùng về vẻ đẹp hùng vĩ trùng điệp của núi đồi xung quanh đền Hùng,… * Phần hai, Nguyễn Khoa Điềm tập trung làm sáng tỏ tư tưởng “Đất nước của nhân dân”. Tư tưởng này đã được triển khai qua một loạt những ý sau: Không phải ai khác mà chính nhân dẫn đã mở mang, khai phá, sáng tạo, tạo dựng nên Đất nước này. Nhân dân không chỉ đổ mồ hôi, xương máu mà còn ghi lại dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất, lấy tên mình để đặt tên cho những vùng đất như: ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm,… Những thắng cảnh thiên nhiên của Đất Nước đều gắn liền với cuộc đời, số phận của nhân dân và nó trở thành những biểu tượng cho tâm hồn, lối sống của nhân dân như núi Vọng Phu,… Nhân dân không chỉ tạo ra của cải, vật chất cho xã hội mà còn sáng tạo ra những giá trị tinh thần, những truyền thống văn hóa,… lưu truyền từ đời này qua đời khác. Nhân dân cũng là những con người sẵn sàng đứng lên bảo vệ Đất Nước trước những hiểm họa của giặc xâm lăng. Khi nói đến lịch sử đất nước, Nguyễn Đình Khoa không nói đến những bậc vua chúa, những con người từng ghi danh trong sử sách mà nhấn mạnh đến những con người nhỏ bé vô danh: “Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Cảnh vật thiên nhiên qua sự cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm hiện lên như một phần tâm hồn máu thịt của nhân dân, chính nhân dân đã tạo dựng lên Đất nước này đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất từ những hình ảnh, những cảnh vật và hình tượng cụ thể. Nhà thơ nâng lên thành một kết luận mang tính khái quát sâu sắc: “Và ở đâu đó khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình,một ao ước,một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau 4000 năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.” Nhân dân cũng in bóng vào lịch sử xưa nay, lịch sử của một Đất nước thường được xác định bởi những chiến công, những sự kiện nổi bật, bởi sự thăng trầm của các thời đại, bởi tên tuổi của những nhân vật nổi tiếng, những anh hùng,… Còn với Nguyễn Khoa Điềm, lịch sử Đất nước được tạo dựng nên bởi muôn vàn những con người bình dị vô danh: “Có biết bao lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Chính nhân dân – những con người bình dị vô danh ấy đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ con cháu mọi giá trị tinh thần vật chất của Đất Nước, từ ngọn lửa, hạt lúa, tiếng nói, tên xã, tên làng cho đến những câu chuyện thần thoại, những câu tục ngữ, ca dao: “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”. Mạch cảm xúc suy nghĩ của nhà thơ cứ dồn dập tụ dần để cuối cùng dẫn đến cao trào, làm bật lên tư tưởng cốt lõi của cả đoạn thơ, vừa bất ngờ, vừa giản dị, vừa độc đáo: “Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân Đất nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi” Biết quí công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu” Trước hết, đáng chú ý là câu thơ: “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Ở câu thơ này, có hai vế song song đồng đẳng, là một cách định nghĩa về Đất nước thật giản dị mà cũng thật độc đáo bởi vì vẻ đẹp của tinh thần nhân dân đó là truyện thần thoại, truyện cổ tích, là ca dao, dân ca,… Ở đây trong cả kho tàng dân ca, tác giả chỉ chọn ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất trong tính cách truyền thống của nhân dân, đó là thật say đắm trong tình yêu cho nên biết “yêu em từ thuở trong nôi”: Em nằm em khóc anh ngồi anh ru” Rất quí trọng tình nghĩa cho nên biết “quý công cầm vàng những ngày lặn lội”: “Cầm vàng mà vội qua sông Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng” Những câu viết hết sức quyết liệt trong căm thù và chiến đấu cho nên “Biết trồng tre chờ ngày thành gậy – đi trả thù mà không sợ dài lâu”: “Thù này ắt hẳn còn lâu Trồng tre nên gậy gặp đâu đánh què” Tư tưởng “Đất Nước là của Nhân dân” được thể hiện không chỉ ở nôi dung, mà còn ở hình thức nghệ thuật: Nhân dân đã gây dựng nên Đất Nước bằng mồ hôi, xương máu của mình. Nhân dân cũng ghi lại dấu vết cuộc đời mình ở mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất. Nói cách khác, là những thắng cảnh của Đất Nước đều là biểu tượng cho cuộc đời, số phận của nhân dân. Nhân dân cũng tạo nên những giá trị tinh thần lưu truyền từ đời này qua khác. Không phải ai khác, chính nhân dân là những người không tiếc xương máu, sẵn sàng đứng lên bảo vệ đất nước trước hiểm họa xâm lăng. Hình thức nghệ thuật cũng làm sâu sắc thêm cảm nhận về đất nước. Ở đoạn thơ, tác giả đã sử dụng nhiều chất liệu văn hóa dân gian. Những hình ảnh thơ được lấy từ đời sống bình dị, quen thuộc. Tuy nhiên chất cổ điển và hiện đại luôn gắn bó, hòa quyện trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Tư tưởng Đất Nước của nhân dân đã được nảy nở từ rất lâu trong lịch sử dân tộc; nó được phát triển, nâng cao qua nhiều thế hệ từ Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đến Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu,… Với Nguyễn Trãi thì việc chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân… Đến Phan Bội Châu tư tưởng ấy được nâng cao hơn; mang ý nghĩa sâu sắc hơn “Dân là dân nước – nước là nước dân”. Nhưng phải đến thời đại của chúng ta, cuộc CMT8 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ đã đưa đến những nhận thức sâu sắc về nhân dân và tư tưởng yêu nước, mang tính dân chủ cao. Có thể nói qua những thử thách to lớn của nhân dân, những hi sinh lớn lao và phẩm chất cao cả của nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ đất nước. Tư tưởng ấy đã được tập trung và thấm thía trong tác phẩm của các nhà thơ trẻ thời kì chống Mỹ, Phạm Tuấn Duật, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, và đặc biệt là Nguyễn Khoa Điềm với “Trường ca Mặt đường khát vọng”. Kết luận: Trong chương V Đất Nước, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã vận dụng sáng tạo các chất liệu của ca dao, dân ca, những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết,… Nói rộng ra là vốn văn hóa dân gian, có khi nhà thơ lấy một phần của câu cao dao nhưng phần nhiều là sử dụng các hình ảnh, mô tiếp nghệ thuật của ca dao, cổ tích, truyền thuyết để tạo nên những câu thơ, ý thơ của mình. Chẳng hạn, để diễn đạt ý tưởng Đất Nước ta có từ lâu đời, tác giả gợi cho người đọc liên tưởng đến những câu chuyện cổ tích với câu mở đầu quen thuộc “Ngày xửa, ngày xưa”; tiếp đến nhà thơ gợi cho người đọc nhớ tới truyện “Trầu cau” bất hủ với câu “Đất nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn” và mấy ai không nghĩ tới truyền thuyết Thánh Gióng khi đọc câu thơ “Đất Nước lớn lên khi đàn bà trồng tre mà đáng giặc”. Có thể nói hầu như ở câu thơ nào, ý thơ nào, chúng ta cũng bắt gặp những chất liệu của văn hóa dân gian nhưng nó đã được tái tạo qua cách tư duy và liên tưởng mới mẻ. Chính vì vậy, khi đọc những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm chúng ta nhận thấy những hình ảnh độc đáo, mới lạ nhưng vẫn hết sức quen thuộc, gắn bó.
Phân tích bài thơ Đất nước-Nguyễn Khoa Điềm
3,311
Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh Hướng dẫn I. PHAN CHẦU TRINHtự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu là Hy Mã, người làng Tây Lộc, huyện Tuyên Phước, tỉnh Quảng Nam, sinh vào tháng tám năm Nhâm Tuất (1872). Thân phụ ông là Phan Văn Bình theo nghề võ và đã chiến đấu tích cực trong hàng ngũ cần Vương, thân mẫu là Lê Thị Chung, một người đàn bà đảm đang và có nhiều đức’ hạnh. Năm 1900, ông thi đậu cử nhân, năm 1901 ông thi đậu luôn Phó bảng và năm 1902 ông được nhậm chức Thừa biện Bộ Lễ tại triều đình Huế. Năm 1905, ông làm giấy từ quan rồi bắt đầu hoạt động chính trị cùng với các Ông Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can v.v… Ong bí mật sang Trung Hoa để nghiên cứu về quốc kế dân sinh và đã gặp Phan Bội Châu tại đây. Sau đó hai ông lại cùng sang Nhật. Ở đó chừng 10 tháng, Phan Châu Trinh trở về nước. Năm 1908, nhân có nhiều cuộc biểu tình chống thuế tại Trung Kì, thực dân Pháp liền buộc ông đã nhúng tay vào việc đó, bắt giam ông.cùng với Trần Quý Cáp. Sau đó chúng đày ông ra đảo Côn LÔ11. Bài thơ Đập đá ở Côn Lổnra đời trong hoàn cảnh ấy. II. Trước Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, đá số các văn gia thi sĩ, mỗi khi gặp những cảnh sa cơ, lỡ vận thường có ba thái độ: Hoặc là tin vào sự biến dịch: “bĩ cực thái lai” rồi ngồi yên thúc thủ chờ thời: Hẳn bền lòng chớ chút oan vưu Thời chí hỷ ngư long biến hóa. Thôi đã biết cùng thông là mệnh cả, Cũng đừng đem hình dịch lại cầu chỉ, Hơn nhau cũng một chữ “Thì ”! (Cuộc phong trần,Cao Bá Quát) Để rồi cuối cùng cố quên nỗi khổ não chứa chất trong tâm hồn bằng cách “uống rượu tiêu sầu”, hoặc nữa là lẩn tránh không dám nhìn vào thực tại và cuối cùng đắm mình trong thiên nhiên hoặc trong thế giới tưởng tượng để tìm lấy ởđó một nguồn an ủi bất tận như trường hợp của Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh v. v… Đêm đêm tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò. (T. T. Xương) Phan Châu Trinh thì khác hẳn. Là một nhà cách mạng lấy việc giải phóng dân tộc làm lẽ sống, nên trước những nỗi gian nan đau khổ, giữa cuộc đời tù đày cơ cực, ngày ngày phải xách búa đi đập đá – xa quê hương, xa đồng chí không một lời an ủi dịu hiền – mà ông vẫn khẳng khái, coi đó chỉ là một sự thử thách ý chí mình. Ông diễn tả lòng cương quyết phá núi: Xách búa đánh tan năm bảy đống Ra tay đập bể mấy trăm hòn… Nhưng thực ra công việc đập đá ở đây chỉ có một giá trị tượng trưng – nó tượng trưng cho những trở ngại ghê gớm trên bước đường lập chí của ông đó thôi. Bởi vậy, ông cương quyết phá núi thế nào thì đồng thời ông cũng cương quyết phá tan mọi trở ngại san bằng những chông gai cũng như thế. Ý chí quyết chiến và quyết thắng của ông đã làm cho ta chợt nhớ tới ý chí quyết chiến và quyết thắng của Nguyễn Công Trứqua những câu: Cũng có lúc mưa dồn, sóng vỗ Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong. Chí những toan xẻ núi, lấp sông, Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ. Do đó, ta có thể nói được rằng: đôi với ông, những sự đau khổ thất bại không phải là một động lực làm cùn nhụt ý chí chiến đấu, mà là hun đúc cho tinh thần chiến đấu thêm già dặn, đanh thép để thẳng tiến tới mục đích. Thực đúng với câu nói của một nhà cách mạng châu Âu trước kia: “Cái bước lùi của những chiến sĩ không phải là bước lùi đế thúc thủ mà là sửa soạn để nhảy được xa hơn”. Vì thế, ta không ngạc nhiên khi đọc hai câu kết luận của ông: “Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan nào sá sự con con”. Xem như vậy thì ta không khỏi thây: nội dung bài thơ “đập đá”trên đây đã trưng lên giá trị lành mạnh và một hướng “đi lên” rõ rệt. Nó xứng đáng là một bài thơ cách mạng của một con người cách mạng. Ngay trong câu phá đề và thừa đề, lối dùng chữ của tác giả đã đủ trác tuyệt rồi: “Làm trai đứng giữa đất Cồn Lôn Lừng lẫy làm cho lở núi non Mỗi chữ đặt vào đây đều bao hàm một hình ảnh sinh động và một sức sông sôi nổi. Ví dụ như tiếng “đứng”, tiếng ‘Hừng lẫy” đủ gợi cho ta trông thấy hình ảnh một trang nam nhi, đầu đội trời, chân đạp đất, đứng hiên ngang trước cảnh núi non biển rộng, coi thường sóng gào, gió thét quanh mình, nhất quyết lấp sông, phá núi để đạt tới cho bằng được mục đích cao cả của mình. Tiếng “đứng” ởđây có một giá trị gợi cảm đặc biệt, đặc biệt không kém gì tiếng “đứng”của Nguyễn Công Trứ trong câu: “Làm trai đứng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông”. – Nghệ thuật dùng chữ của tác giả không những chỉ có giá trị gợi hình và gợi cảm như vừa nói trên mà còn nằm ở trong cách dùng chữ đối chọi đến “nảy lửa” trong hai câu thực và hai câu luận nữa. Mà thực thế, còn có những tiếng nào đối chát với nhau bằng những tiếng. Xách búa đối với ra tay Đánh tan đối với đập bể Năm bảy đống đối với mấy trăm tròn đôi với mưa nắng đối với chi sởn đôi với dạ sắt son III. Bài thơ ghi dấu một chặng đường hoạt động chứ chưa khép lại đường đời của con người đầy khí phách hiên ngang. Sau hai năm bị đày, Phan Chu Trinh được “ân xá Vì nhận thấy tranh đâu tại nước sẽ có rất ít kết quả, nên năm 1911, ông đã theo toàn quyền Klobukowsky sang Pháp. Đi theo ông, có người con trai duy nhất là Phan Chu Dật. Ngày 24-12-1925, khi khi được tin ông Phan Bội Châu đã được toàn quyền Va-ren-ne ký giấy ân xá, ông định ra Huế gặp người bạn già để hàn huyên, tâm sự thì bị đau và mất ngày 24-3-1926. Toàn quốc thụ tang ông. Theo hướng dẫn đọc bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác. Với những bài thơ Đường luật học sinh có thề kẻ theo khung hình dưới để tìm hiểu nghệ thuật và nội dung trước khi phân tích. HP A Tên gọi Thơ Nghĩa thực Nghĩa suy diễn Nghệ thuật Đề Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn. Lừng lẫy làm cho lở núi non. – Chàng trai đứng giữa núi đầy đá. – Chàng trai ngạo nghễ, lẫm liệt đứng giữa bao cam go, thử thách. – Ngoa dụ được dùng ở câu 2. Thực Xách búa đánh tan năm bảy đông. Ra tay đập bể mấy trăm hòn. – Tư thế và kết quả của việc đập đá – Đã vượt qua bao nhiêu khổ cực, gian lao nhờ vào nghị lực – Phép đối và ngoa dụ Luận Tháng ngày bao quản thân sành sỏi. Mưa nắng càng bền dạ sắt son. Khổ cực không thể làm mềm lòng người có kinh nghiệm sống. Người dạn dày sương gió Với lòng trung kiên thì càng khó khăn càng vững chí. – Phép đối và từ tượng trứng, biểu hiện. Kết Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan chi kể việc con con. – Chuyện khổ cực chỉ là chuyện nhỏ đôi với người có chí lớn. – Người mu’ll cầu việc lớn thì ở tù chỉ là chuyện nhỏ. – Dùng điển tích bà Nữ Oa đội đá vá trời. dap da o con lon, soan bai dap da o con lon, phan tich bai tho dap da o con lon, cam nghi ve bai tho dap da o con lon
Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh
1,356
Đề bài: Phân tích bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh Bài làm Phan Châu Trinh là một trong những chí sĩ cách mạng nổi tiếng đầu thế kỷ XX. Bài thơ Đập đá ở Côn Lôn làm trong thời gian ông bị đày ở đảo Côn Lôn thể hiện khí phách quật cường, một bản lĩnh ngang tầm với dũng sĩ thần thoại. Nhà tù thực dân Côn Đảo là một địa ngục trần gian. Bọn thực dân dùng nơi này để đày đọa những con người yêu nước ưu tú hòng làm nhụt chí khí đấu tranh của họ. Trong đó, đập đá là một trong những công việc cực nhọc mà người đi đày phải làm. Phan Chu Trinh cũng ở trong số tù khổ sai ấy. Nhưng giữa nắng gió biển khơi khắc nghiệt, người tù Phan Chu Trinh đã dựng lên cả một tượng đài bằng thơ thể hiện một vẻ đẹp lẫm liệt, phong thái cứng cỏi ngang tàng của người anh hùng cứu nước. Bốn câu thơ đầu tác giả miêu tả cảnh tượng đập đá của người tù và cũng bằng những hình ảnh ấy mà khắc họa dáng vóc phi thường của người anh hùng đấng nam nhi: Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn Câu mở đầu, tác giả phác ra bối cảnh không gian, gợi mở âm hưởng hùng tráng bằng tư thế hiên ngang, sừng sững của phận "làm trai" đầu đội trời, chân đạp đất kiêu hùng. Dân gian từng có câu: "Làm trai cho đáng nên trai". Nguyễn Công Trứ thì viết: "Chí làm trai Nam, Bắc, Tây, Đông; Cho phí sức vẫy vùng trong bốn bể". Phan Bội Châu cũng đề cao chí hướng làm trai: " Đã sinh làm trai thì cũng phải khác đời"… Điều đó cho thấy quan niệm về chí trai, làm trai có mạch nguồn trong quan niệm nhân sinh truyền thông. Trong câu thơ của Phan Chu Trinh quan niệm ấy được khẳng định trong một bối cảnh cụ thể: "… đứng giữa đất Côn Lôn" là "đứng giữa" biển – trời – đất, thật kiêu hãnh, đường hoàng, đúng là tư thế của người làm chủ giang sơn. Ba câu thơ tiếp theo, qua những hình ảnh chân thực diễn tả công việc nặng nhọc (khai thác đá) tác giả đã khắc họa thành những hình ảnh biểu trưng cho tầm vóc sức mạnh dời non lấp bể, kinh thiên động địa của nhân vật trữ tình. Những hành động mạnh mẽ cho phép ta hình dung ra hình ảnh người dũng sĩ với sức vóc thần kỳ đang xung trận: "xách búa", "ra tay"; và "lừng lẫy" những chiến công "lở núi non", "đánh tan năm bảy đống", “đập bể mấy trăm hòn". Những từ ngữ cực tả sức mạnh dũng mãnh đã làm nổi bật hình tượng con người trong tư thế ngạo nghễ, lớn ngang tầm vũ trụ. Giữa không gian biển trời bao la sừng sững một tượng đài kết bằng những hình khối phi thường. Bốn câu cuối bộc lộ trực tiếp cảm xúc và suy nghĩ của người anh hùng: Tháng ngày bao quản thông sành sỏi, Mưa nắng càng bền dạ sắt son. Những kẻ vá trời khi lỡ bước, Gian nan chỉ kể việc con con! "Thân sành sỏi", "dạ sắt son" sẽ bền bỉ trụ lại được cùng "tháng ngày", mưa nắng". Thế đối lập ở câu 5-6 thể hiện sự kiên tâm, vững trí của nhà cách mạng dù trong bất kỳ hoàn cảnh khắc nghiệt nào. Tấm lòng thủy chung, son sắt "mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen" (Nguyễn Trãi) kia cũng là sự kế thừa truyền thống anh hùng bất khuất đã được khẳng định trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Vững vàng đến “trơ gan cùng tuế nguyệt", đến ngạo nghễ đã là đạo sống, phẩm cách của người chiến sĩ chẳng tiếc thân mình cho sự nghiệp chung. Phan Chu Trinh xuất thân nho học, ở những vần thơ này ta thấy bản lĩnh của nhà nho đã hòa thấm thuần thục với tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng. Trong bối cảnh đầy những gian nan, thử thách hồi đầu thế kỷ XX người chiến sĩ dám dấn thân vì giang sơn xã tắc cũng phải là những con người bất chấp hy sinh, nguy khó, biết quên thân mình. Có khi còn phải biết gồng mình lên, chiến thắng hoàn cảnh bằng ý chí. Cảm hứng lãng mạn hào hùng tiếp tục được đẩy lên đỉnh điểm ở hai câu thơ kết với hình ảnh thơ mang đậm chất sử thi. Hai chữ "vá trời" lấy từ tích Nữ Oa vá trời. Tầm vóc, sức mạnh ở đây đã được thi vị hóa đến mức thần kỳ, giống như bà Nữ Oa trong truyền thuyết đội đá vá trời. Hình ảnh "những kẻ vá trời" vừa thực vừa bay bổng, khoa trương. Thực ở mức liên hệ với hình ảnh những người tù lao động khổ sai đập đá, làm lở núi non đã được miêu tả ở 4 câu thơ đầu. Bay bổng, khoa trương ở lối ví với nhân vật trong thần tích. Hai câu thơ cuối này gợi tả sự đối lập giữa cái lớn lao, kỳ vĩ (vá trời) với thực tế gian nan chỉ là "việc con con". Sự đối lập ấy là kết quả của một ý chí sắt đá, niềm tin lớn vào sự nghiệp chính nghĩa, kẻ vá trời bằng sức mạnh đội đá vá trời có thể đè bẹp mọi trở ngại gian nan. Thực tế thì những khó khăn tác giả đang phải đương đầu không "con con" chút nào nhưng chỉ có bằng cách ấy, bằng ý chí quật cường tích tụ từ nguồn mạch dân tộc người chiến sĩ mới có thể tiếp tục được con đường dằng dặc chông gai trước mắt. Đó cũng là một cuộc chiến thắng chính mình. Đập đá ở Côn Lôn và Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông là hai bài thơ của hai nhà nho yêu nước tiêu biểu trong phong trào cách mạng những năm đầu thế kỷ XX. Qua đó chúng ta nhận ra cái mạch chảy dào dạt của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng trong truyền thống dân tộc Việt Nam. Rồi đây cái mạch nguồn ấy lại bừng lên thành những đợt sóng mãnh liệt và thể hiện trong văn học kháng chiến chống Mỹ, chống Pháp.
Phân tích bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh
1,093
Phân tích bài thơ Đập đá ở Côn Lôn – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Tương tự như bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu, bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Bài thơ đã thể hiện khí phách hiên ngang bất khuất của người chiến sĩ cách mạng trong chốn tù đày. Nhan đề bài thơ gợi lên cảnh lao động khổ sai của tác giả và các chiến sĩ yêu nước bị thực dân Pháp bắt giam và đày đọa ở Côn Đảo. Sau sự kiện chống thuế ở Trung Kì, năm 1908, Phan Châu Trinh và một số chiến sĩ bị thực dân Pháp bắt giam và đày ra Côn Đảo với án khổ sai chung thân. Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn, Lừng lẫy làm cho lở núi non. Xách búa đánh tan năm bảy đống, Ra tay đập bể mấy trăm hòn. Bốn câu thơ đầu vừa tả thực cảnh đập đá, vừa biểu lộ một tâm thế, một ý chí. Chí nam nhi, chí làm trai coi việc đứng giữa đất Côn Lôn, bị tù đày khổ sai là một thách thức nhưng không phải là thấp hèn mà là lừng lẫy, không những thế còn lừng lẫy làm cho lở núi non. Hai từ đứng giữa biểu thị một tư thế hiên ngang, bất khuất trước quân thù. Câu thơ thứ hai thể hiện chí khí kiên cường trước cảnh đày đọa của quân thù. Các động từ đánh tan, đập bể vừa tả thực sức mạnh đập đá, vừa thể hiện một quyết tâm, một ý chí căm thù giặc. Đó là quyết tâm phá tan cảnh ngục tù, lật đổ ách thống trị của bọn thực dân tàn bạo. Câu thứ ba và thứ tư đối nhau làm cho lời thơ thêm mạnh mẽ, các số từ trong câu đã tạo nên vẻ đa nghĩa cho bài thơ: Ra tay đập bể mấy trăm hòn. Hai câu năm và sáu đối nhau rất chỉnh. Tác giả lấy thời gian bị giam cầm (tháng ngày) đối với gian truân, thử thách (mưa nắng) lấy thân dày dạn phong trần (thân sành sỏi) đối với tinh thần sắt thép (dạ sắt son). Nghệ thuật đối làm hiện lên hình ảnh người chiến sĩ cách mạng có tâm hồn và khí phách cao đẹp. Thân sành sỏi và dạ sắt son là hai hình ảnh ẩn dụ thể hiện một cách hàm súc và hình tượng phẩm chất cao quý của tác giả: Tháng ngày bao quản thân sành sỏi, Mưa nắng càng bền dạ sắt son. Những kẻ vá trời khi lỡ bước, Gian nan chi kể việc con con! Các từ bao quản và chi sờn biểu thị một thái độ chấp nhận đương đầu với khó khăn thử thách, thái độ thách thức với cảnh ngục tù của quân thù. Hai câu kết thể hiện bản lĩnh phi thường của những người có chí lớn, mưu đồ đại sự (vá trời) mà không thành (lỡ bước). Hình ảnh những anh hùng thất thế mà vẫn hiên ngang đã được khắc họa một cách thú vị. Chuyện tù đày được xem là con con, không đáng kể. Hai câu cuối toát lên một phong thái ung dung tự tại, rất ngạo nghễ của người chí sĩ yêu nước: Những kẻ vá trời khi lỡ bước, Gian nan chi kể việc con con! Đập đá ở Côn Lôn là bài thơ tiêu biểu cho thơ ca viết trong ngục tù của các chiến sĩ yêu nước đầu thế kỉ XX. Bài thơ có giọng điệu đĩnh đạc, hào hùng; ngôn ngữ hàm súc, vừa bình dị, vừa cổ kính sang trọng. Tác giả đã lấy thơ để giãi bày cái tâm, cái chí của mình, sẵn sàng xả thân để cứu nước, sắt son thủy chung với sự nghiệp cứu nước, bất khuất hiên ngang trước cảnh tù đày. Đó chính là cái tâm, cái chí của Phan Châu Trinh thể hiện qua bài thơ Đập đá ở Côn Lôn.
Phân tích bài thơ Đập đá ở Côn Lôn – Đề và văn mẫu 8
680
Đề bài: Phân tích bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống của Hồ Xuân Hương Bài làm Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ phóng khoáng, thích thăm thú, du ngoan, cũng thường vung bút đề thơ. Đây là trường hợp hiếm có đối với một người phụ nữ trong xa hội phong kiến. Bài thơ đề nơi nào phải đúng với tình cảm, sự tích nơi đó, xem như cảm nghĩ về nơi được đề. Đề thơ là một phong tục của Trung Quốc xưa, đến đời Đường đã rất thịnh hành. Khách du sơn ngọan thủy, thăm thú thắng cảnh đền đài, hứng làm thơ, vung bút đề thơ để lưu bút tích và bày tỏ cảm xúc, chí khí của mình. Ta đã biết tương truyền bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Liệu để ở lầu Hoàng Hạc đã làm thơ tiên Lý Bạch bối rối. Hoặc Đề Đô thánh nam trang của Thôi Hộ đề trên cánh của một trang văn vắng bóng người dep. Ở nước ta, tục này cũng thịnh hành, trên nhiều hang động đẹp đều lưu bút tích thi nhân. Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ phóng khoáng, thích thăm thú, du ngoan, cũng thường vung bút đề thơ. Đây là trường hợp hiếm có đối với một người phụ nữ trong xa hội phong kiến. Bài thơ đề nơi nào phải đúng với tình cảm, sự tích nơi đó, xem như cảm nghĩ về nơi được đề. Sầm Nghi Đống là thái thú đất Diễn Châu, Trung Quốc, tùy tướng của Tôn Sĩ Nghị trong cuộc xâm lược Việt Nam năm 1789. Ông được giao giữ đồn Khương Thượng, Đống Đa. Khi bị quân Tây Sơn đánh, ông không chống cự được nên đã thắt cổ tự tử. Để giữ mối quan hệ bang giao hai nước, Quang Trung cho người Hoa lập miếu thờ Sầm Nghi Đống tại phía sau phố Hàng Buồm ngày nay. Theo sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, thì ghi chú có hơi khác: Đống được giao trấn thủ Ngọc Hồi, đồn Ngọc Hồi thất thủ, Đống tự tử. Về sau có đền thờ ở gò láng Ngọc Hồi. Nhân một dịp đi qua, Hồ Xuân Hương đã làm bài thơ này. Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương đã biểu thị một cái nhìn thiếu trân trọng đối với ngôi đền: Ghé mát trong ngang thấy bảng treo Kìa đền thái thú đứng cheo leo Những ai được lập đền, dù là quân giặc, đều được coi là thần, đề mọi người đến thắp hương cúng bái, cầu vọng. Nhưng Hồ Xuân Hương thì chỉ ghé mắt trông ngang. Ghé mắt, theo Từ điển Tiêng Việt, là nghiêng đầu và đưa mắt nhìn, chỉ thuần tuý là động tác, không hàm ý kính trọng. Ghé mắt trông ngang chớ không phải trông lên, đã thể hiện một thái độ bất kính đối với vị thần xâm lược thất bại. Đền Thái, thú đứng cheo leo hẳn là đền xây trên gò, và người ta không dễ trông ngang. Rõ ràng Hồ Xuân Hương cố tình chọn một cái nhìn coi thường đối với vị Thái thú ở nơi tha hương này. Chữ cheo leo là một từ đặc sắc, nó chỉ một thế đứng cao nhưng không có nơi bấu víu, dễ đổ ụp xuống. Chữ kìa cũng hàm ý bất kính, bởi nó kèm theo các động tác chỉ trỏ, mà đối với các nơi đền đài linh thiêng người đến viếng không được nói to, giơ tay chỉ trỏ như đối với đồ vật. Với hai câu thơ ấy, Hồ Xuân Hương đã tước bỏ hết tính chất thiêng liêng, cung kính của một ngôi đền. Hồ Xuân Hương không chỉ nhìn ngang chỉ trỏ trước một ngôi đền, bà lại còn tự ví mình, so sánh mình với người được thờ nữa: Ví đây đổi phận làm trai được Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu Cái ý nghĩa đổi phận làm trai đã thể hiện cái mặc cảm phụ nữ đối với nam giới trong xã hội phong kiến đã áp đặt vào ý thức nhà thơ. Nhưng mặt khác, nó cũng thế hiện nhu cầu đổi phận, không chịu an phận của bà. Cái cách bà tự xưng là đây để đổi lại với Sầm Nghi Đống là đấy, thì dù bà chưa đổi phận được, bà cũng đã rất coi thường vị nam nhi họ sầm. Câu kết há bấy nhiêu có thể nghĩ rằng Hồ Xuân Hương tự cho mình có thể làm gấp nhiều lần, so với sự nghiệp của sầm, song đúng hơn, nên biểu hiện một lời dè bỉu: sự nghiệp của ông có bấy nhiêu thôi ư, nó quá ít đối với một đấng nam nhi đấy! Bài thơ là một khái vọng được bình đẳng, khát vọng lập nên sự nghiệp anh hùng vẻ vang của một người phụ nữ. Thái độ "bất kính' của bà là một thách thức đối với ý thức trọng nam khinh nữ, thách thức với các "sự nghiệp anh hùng" của nam nhi, thách thức đối với thần linh. Bài thơ thể hiện mạnh mẽ nhu cầu giải phóng cá tính của con người, bất chấp các ước lệ ràng buộc của xã hội phong kiến.
Phân tích bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống của Hồ Xuân Hương
886
Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu văn mẫu 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu văn mẫu 9 Chính Hữu thuộc thế hệ nhà thơ chiến sĩ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Vừa cầm súng chiến đấu và cầm bút làm thơ, ông đã đóng góp cho nền văn học nước nhà nhiều thi phẩm đặc sắc về chiến tranh và người lính. Thơ Chính Hữu hàm súc, giàu tính tạo hình, giàu chất suy tưởng và có chất nhạc riêng độc đáo, khắc họa được tượng đài người lính sừng sững trên hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc. Bài thơ Đồng chí được viết đầu năm 1948, sau khi Chính Hữu vừa tham gia chiến dịch Việt Bắc vô cùng gian khổ, ác liệt. Chính hiện thực cuộc sống kháng chiến gian lao và sôi nổi đó đã mang lại cho ông những cảm xúc chân thành về vẻ đẹp bình dị của người lính trong chiến tranh cách mạng và giúp ông thể hiện thành công một tình cảm cao đẹp mang dấu ấn thời đại: tình đồng chí. Tình đồng chí là một tình cảm cao đẹp của những người cùng chung chí hướng, cùng chung lí tưởng. Thời nào cũng có tình đồng chí nhưng trước đây trong thơ ca trung đại, tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình bè bạn được khai thác nhiều hơn. Thời hiện đại, cùng với sự nghiệp; đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, một tình cảm được phát triển sâu rộng và được ngợi ca khẳng định nhiều nhất, ấy là tình đồng chí, đồng đội. Đây là tình cảm gắn bó thiêng liêng và bền chặt của những người cùng chung lí tưởng cách mạng, cùng sát cánh bên nhau chiến đấu cho sự nghiệp chung của dân tộc, của nhân dân. Tình đồng, chí được hình thành trên cơ sở tình cảm giai cấp, sự tương đồng về cảnh ngộ: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Với những hình ảnh cụ thể, mang ý nghĩa hoán dụ, nhà thơ đã giới thiệu nguồn gốc xuất thân của hai nhân vật trữ tình. Họ đều là những người nông dân nghèo từ các miền quê khác nhau, có mặt trên các nẻo đường kháng chiến. Cái tôi trữ tình của nhà thơ đã hóa thân thành người nông dân mặc áo lính để viết những lời thơ tâm tình tặng bạn. Chọn một tâm thế biểu hiện như vậy, Chính Hữu đã có được những lời thơ chân thành, giản dị của những người trong cuộc, thật thấm thía, sâu nặng. Quá trình nảy sinh và phát triển tình đồng chí được nhà thơ cắt nghĩa qua những hình ảnh của đời sống kháng chiến: Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Đồng chí! Anh và tôi, hai người ở xa nhau về không gian, không hẹn hò, không quen biết. Vậy nhân tố nào đã làm hai người xa lạ thành đôi tri kỉ và thành đồng chí của nhau? Nhà thơ Chính Hữu đã giúp người đọc nhìn thấy, cảm thấy và hiểu được sâu sắc cơ sở của tình đồng chí. “Súng bên súng” là cùng chung nhiệm vụ, cùng chung chiến hào, cùng sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu. “Đầu sát bên đầu” là cùng chung ý chí, là tâm đầu ý hợp, là cùng quyết tâm giải phóng Tổ quốc thân yêu. Gần gũi nhất là “đêm rét chung chăn” là cùng chung hơi ấm, cùng chung cảnh ngộ, là chia sẻ cùng nhau hơi ấm trong đêm. Tất cả những sự đồng cảnh, đồng cảm, đồng tình, đồng ý ấy đã biến hai người xa lạ thành đôi tri kỉ và hơn thế nữa là hai đồng chí của nhau. Từ Đồng chí đứng trọn một dòng thơ như một lời đúc kết, như là đáp số, là lời giải của sáu câu thơ trên. Tình đồng chí thật rộng lớn, thiêng liêng và võ cùng thân thiết, gần gũi, máu thịt. Trong cuộc sống chiến đấu, có mối tình nào nặng hơn tình đồng chí, đồng đội? Nếu sáu câu mở đầu đã cắt nghĩa cội nguồn, sự hình thành tình đồng chí thì mười câu thơ tiếp theo là biểu hiện cụ thể, cảm động của tình đồng chí trong hiện thực cuộc sống kháng chiến. Tình đồng chí ở đây cũng là tình đồng đội, tình cảm của những người cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù. Tình cảm đó trước hết thể hiện qua sự cảm thông chia sẻ những nỗi niềm về gia đình, quê hương:” Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lưng lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Đối với những người nông dân mặc áo lính, nỗi nhớ quê hương bao giờ cũng gắn liền với hình ảnh thân thuộc gần gũi như ruộng nương, nhà cửa. Khi bước vào cuộc sống chiến đấu, họ phải tạm gác tình nhà vì nghĩa lớn, tạm xa những gì thân thiết ở làng quê của mình, lòng sao khỏi xót xa. Nhưng họ biết chấp nhận, biết hi sinh và vượt lên hoàn cảnh: “Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. Lời thơ có vẻ ngang tàng nhưng vẫn có cái xót xa trước cái bất đắc dĩ của hoàn cảnh. Họ làm sao ở lại nơi tổ ấm khi quân thừ giày xéo đất nước quê hương. Họ đã nhất quyết ra đi nhưng lòng vẫn nặng tình nhà, vẫn lưu luyến với người thân, vẫn luôn nhớ “giếng nước”, “gốc đa” nơi quê nhà yêu dấu. Hiểu nhau, cảm thông chia sẻ cùng nhau những tâm tư về gia đình, quê những người đồng chí còn chia sẻ những gian khổ, khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống kháng chiến. Với bút pháp hiện thực và lời thơ bình dị, tác giả đã ghi lại những chi tiết sống động của hiện thực kháng chiến, những chi tiết tự nói lên những điều cảm động của tình đồng chí: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai. Quẩn tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Những người lính thời kháng chiến chống Pháp phải đương đầu với những trận sốt rét ác tính, không ít người bị căn bệnh ấy cướp đi sinh mệnh của mình. Nhà thơ Chính Hữu có kể lại thời gian gian khổ đó: “Phải nói là chiến dịch vô cùng gian khổ. Bản thân tôi cũng chỉ phong phanh trên người một bồ áo cánh, dầu không mũ, chân không giày. Đêm ngủ nhiều khi phải rải lá khô để nằm, không có chăn màn, ăn uống rất kham khổ vì đang trên đường hành quân truy kích địch. Tôi cũng phải có trách nhiệm chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử sĩ. Sau trận tôi ốm, tôi phải nằm lại điều trị. Đơn vị cử một đồng chí ở lại săn sóc tôi. Trong khi ốm nằm ở nhà sàn heo hút, tôi làm bài thơ Đồng chí (Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Giáo dục, tr.136). Những hình ảnh, chi tiết trong bài thơ này đều được lấy từ cuộc đời thật của Chính Hữu và đồng đội. Sự chân thực của những chi tiết, sự mộc mạc của những hình ảnh và cách thể hiện tình cảm thầm lặng, chân tình đã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ sâu sắc của bài thơ Đồng chí. Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Đây là những hình ảnh rất thực và đồng thời cũng rất lãng mạn. Giữa cảnh hoang vu, tĩnh mịch và lạnh lẽo của núi rừng đêm đông hiện lên hình ảnh thân thiết, gắn bó của những người chiến sĩ sát cánh bên nhau canh giữ đất trời. Điều kì diệu là trong khi “chờ giặc tới”, người chiến sĩ đã bất ngờ gặp gỡ vầng trăng. Nhà thơ Chính Hữu kể rằng: “Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng. Đi phục kích giặc trong đêm, trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật: khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật quyện với nhau tạo ra hình ảnh “đầu súng trăng treo” (Nhà văn nói về tác phẩm). Tính sáng tạo của hình ảnh này trước hết là sự liên kết thật bất ngờ. Vầng trăng là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca muôn đời nay. Nhưng vầng trăng ấy lơ lửng ở chân trời có lúc sà xuống treo vào đầu súng thì thật mới lạ thật bất ngờ, là một khám phá của nhà thơ Chính Hữu. Chữ treo ở cuối bài thơ quả thật là “nhãn tự” trong một “thần cú”: “Đầu súng trăng treo”. Treo là không bị buộc chặt, là lơ lửng, bay bổng lãng mạn. Treo cũng hợp với nhịp điệu 2/2 của câu thơ, cái nhịp đưa võng lơ lửng, chơi vơi trong mênh mông bát ngát của bầu trời. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” đã vượt lên ý nghĩa tả thực để trở thành một biểu tượng, một hình ảnh tượng trưng. Hình ảnh này gợi lên sự kết hợp giữa cái chân thực dữ dội của cuộc kháng chiến và sự bay bổng của tâm hồn người chiến sĩ, sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần chiến đấu và vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên. Sự kết hợp kì diệu giữa súng và trăng là một khám phá mới mẻ độc đáo, góp phần quan trọng tạo nên giá trị to lớn của bài thơ Đồng chí. Gần hai mươi năm sau, khi cho ra mắt một tập thơ dành trọn tâm huyết của cuộc đời cầm bút, Chính Hữu đã tâm đắc đặt tên tập thơ này là Đầu súng trăng treo (1966).
Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu văn mẫu 9
1,695
Phân tích bài thơ Đồng chí – Chính Hữu Hướng dẫn em có thể tham khảo bài này không ạ?nếu được gửi qua địa chỉ gmail giúp em với ạ.
Phân tích bài thơ Đồng chí – Chính Hữu
28
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du Hướng dẫn Tiểu Thanh là người con gái nhan sắc có tài văn thơ sống ở đời Minh. Tiểu Thanh là vợ lẽ của một người họ Phùng, bị vợ cả ghen ghét hành hạ nên chết yểu. Tiểu Thanh có một tập thơ để lại cũng bị vợ cả đốt chỉ còn sót lại một phần nhỏ. cần lưu ý cụm từ “song tiền” (trước cửa sổ) đứng trước làm định ngữ cho cụm từ “nhất chỉ thư” (một tờ sách) đế làm rõ vị trí tờ sách rời. Chữ “lụy” trong bài thơ là động từ tứ sứ, có nghĩa là làm vấn vương, xao xuyến. Chữ “cư” có nghĩa là gánh vác trong cụm từ “ngã tự cư “ có nghĩa tự chuốc lấy vào thân. Trong câu kết bài thơ có phần trạng ngữ “tam bách dư niên hậu”. Nguyên văn cả hai câu kết là: “Bất tri tam bách dư niên hậu – Thiên hạ hà nhân khấp Tô' Như?” có nghĩa là không biết sau hơn ba trăm năm, người nào sẽ khóc Tô' Như đây? Câu thơ đã làm rõ ý tứ người khóc là có, duy chỉ không biết là người nào cụ thể. Làm sao biết được việc và người chưa xảy ra nên tác giả dùng từ phủ định “bất tri”. Nguyễn Du lấy tên tự Tô' Như là có ý cho mình cũng là một trong sô' người tài hoa nhưng tủi phận. 3. Điểm qua vài nét về xuất xứ. Câu chữ cần được hiếu và ngay cả hàm ý trong tên tự Tô' Như để thấy tính chất tượng trưng của những hình ảnh cụ thể trong Đọc Tiểu Thanh kí. Khi đọc bài thơ cần phải biết khái quát hóa ý nghĩa biểu tượng của những hình ảnh cụ thể trong câu thơ sẽ nhận ra ý tưởng thơ gợi tả một quy luật phố biến mà khắc nghiệt con người phải gánh chịu. Đó là “sự tương đô' giữa sắc và mệnh”. Trong sắc đẹp của Tiểu Thanh còn có cả tài thơ nên luận đề của bài thơ cũng được hiểu liên khúc với “tài mệnh tương đố”, một chủ đề gần gũi sẽ được tô đậm hơn trong kiệt tác Truyện Kiều. Định hướng phân tích Đọc Tiểu Thanh kí theo suy nghĩ như vậy sẽ thấy rõ hơn chiều sâu tâm trạng trữ tình trong bài thơ. Chúng tôi gọi cách phân tích để hiểu bài thơ này là “phương pháp liên khúc”. Liên khúc chủ yếu tìm ra môi liên hệ nội tại trong cấu trúc nghệ thuật của bài thơ, đồng thời phải thấy tính chất tương liên, đồng cảm giữa nhà thơ Nguyễn Du với nhân vật Tiểu Thanh để làm nổi bật chủ đề “tài mệnh tương đố” như một biểu hiện của định mệnh làm khôn khổ bao nhiêu thê' hệ con người. 4. Đọc Tiểu Thanh kí được Nguyễn Du viết bằng chữ Hán theo thể Đường luật. Khi phân tích b?i thơ này nên làm thông mạch đề, thực, luận, kết của văn bản, vừa phải tìm ra ý tứ bỉ i thơ qua kết cấu ấy. Vườn hoa (hoa uyển) đã hàm ý sắc màu rực rỡ, biểu trưng vẻ đẹp thắm tươi, đầy sức sống. Bãi hoang đặc tả cái chết khô kiệt hoàn toàn chẳng còn chút dấu vết sự sông ngày qua. Đó là sự thay đổi nhanh chóng, rất cụ thể, nhỡn tiền mà con người không tưởng tượng nổi. Câu thơ dựng lên hai cảnh trái ngược nhưng được nhìn trên cùng trục thời gian mô tả, khiến cho chúng cùng đồng hiện làm tăng thêm tính chất đối lập giữa sắc đẹp dồi dào và sự sống quá ngắn ngủi. Câu thơ thứ hai là sự tiếp nối ý tứ đã gợi ra ở câu trên “Độc điếu song tiền nhất chỉ thư” nghĩa là một mình thương cho một tờ sách rơi vương trước cửa sổ. Cả cuốn sách đã mất mát gần hết chỉ còn lại một tờ và tồn tại lay lắt, vương vãi trong lãng quên. Rõ ra là cái phận sách chẳng ra gì! “Độc điếu” là một mình viếng thăm và thương cảm cho tờ sách chứa chan tình đời và tài năng của người đã tạo ra nó. Câu thơ biểu hiện sự thương cảm của một tấm lòng trước một tấm lòng. Chỉ riêng cụm từ “nhất chỉ thư “ (một tờ sách rơi) cũng đã tạo ra một cảnh đối lập giữa tài và mệnh, giữa tài cao và mệnh thấp. Vào bài, câu thơ tả vật nhưng vật làm rõ mối liên thông bên trong giữa tài hoa với mệnh bạc. Mọi sáng tạo của con người bằng tài năng của mình đều là mầm mống dẫn tới phiền lụy giữa những đua tranh, ghen ghét ở đời. Hai câu thực đã đi vào phân tích việc người, nói trực tiếp về tài sắc và mệnh bạc của con người. Cái phần ưu tú trội vượt lên của tài sắc là cái hiếm hoi không dễ có. Đó là cái thần khí của con người. Con người sinh ra từ cát bụi sẽ trở về cát bụi là lẽ thường tình. Nhưng chết đâu phải đã hết, cái thần thái tinh anh trong tài sắc là bất diệt. Người ta quý trọng nó nên càng thương xót khi nó bị vùi dập phũ phàng. Thái độ “biệt nhỡn liên tài” thật đáng trân trọng ở một tài danh như Nguyễn Du. Hai câu thực đã khái quát số phận con người tài hoa mà bạc phận. Dường như đó là định mệnh vây hãm con người: Rằng hồng nhan tự thuở xưa Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu. Những câu thơ tiếp theo vẫn là những liên khúc góp phần hoàn chỉnh tư tưởng chủ đề: Vãn chương vô mệnh (không mệnh sống) có gì phải đau lòng khi nó bị người đời hắt hủi? Vậy mà văn chương ở đây bị đốt chỉ còn sót lại một tờ vẫn làm đau xót lòng người. Hẳn phải là thứ văn chương “rỏ máu” để làm nên tuyệt bút. Tuyệt bút vì cái hồn người, tình đời được gửi vào văn chương ấy. Cả tài văn chương Tiểu Thanh và suy rộng ra tài hoa đã làm nảy sinh lòng đố’ kị, ghen ghét của người đời. Chính cái tài ấy là nguyên cớ của tai họa. Tài sắc là kết quả của bao nhiêu nỗ lực cá nhân nên “cậy tài” cũng là lẽ thông thường nhưng con người cũng lại phải biết: Có tài mà cậy chi tài Chữ tài liền với chữ tai một vần. Hai câu thực trong Đọc Tiểu Thanh kí mượn cuộc đời cụ thể để minh chứng cho hiện tượng “tài mệnh tương đố" và nguyên nhân dẫn tới tai họa ấy cũng do bởi chính con người tự chuốc vạ vào mình. Đây là việc của con người xuất phát từ lồng người, thói đời nên trời làm sao biết giúp cách nào! Con người phải tự trách mình, tự cứu mình trước đã. Cổ kim hận sự thiên nan vấn Phong vận kì oan ngã tự cư. Có phải đó là điều người đời đã biết mà vẫn không tránh được chăng? Hiện tượng “tài mệnh tương đổ* đã trở thành phổ biến, tất yếu. Vì vậy, Nguyễn Du đề cập tới nó trong những tác phẩm sau này như một hên khúc nhân sinh. Tài hoa là của hiếm, thương cho thân phận tài hoa là một biểu hiện của thái độ nhân ái. Đời oan khổ là thế, vậy cứu vớt thế nào đây? Nguyễn Du hé mở cho mọi thời, mọi người lối thoát để “giải nạn”. Nỗi oan uổng của tài sắc không phải là tự ông trời và hoàn toàn do định mệnh. Trời không can dự vào việc người mãi được thì hỏi làm sao? Phủ nhận “định mệnh” là để nuôi dưỡng niềm tin cho con người tự vạch ra con đường sống. Phải có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” hết mực mới đủ tâm trí nghĩ ra được lối thoát cho đời. Tài sắc do thiên phú nhưng bộc lộ tài sắc thế nào lại là chuyện của con người. Nguyễn Du nhắc nhở hậu thế về thói đời và cả những điểm yếu có trong con người tài sắc. Đó là những hướng mở để giải thoát “hận sự” và tự tu dưỡng mình. Nhà thơ không những thương yêu mà còn chỉ ra cách giải nạn cứu người. Đó mới là tình thương yêu bao la sâu sắc của con người có “con mắt nhìn thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” để nhấn mạnh vai trò nỗ lực chủ quan, định đoạt số phận mỗi người. Để tránh những điều oan khuất kia phải nhờ lương tâm trong sạch và đức tâm, tự trau dồi vẻ đẹp khiêm nhường, vị tha, bao dung và trân trọng tài năng người khác. Được thế cái đức cao cả hòa hợp với tài sắc trời cho sẽ tạo ra con người có vẻ đẹp hoàn thiện. Như vậy, lòng đố kị giữa con người sẽ giảm và sự ngưỡng mộ, trân trọng con người và những giá trị của con người sẽ tăng thêm. Mơ ước điều tốt đẹp cho con người, nhưng Nguyễn Du vẫn tỉnh táo trước hiện thực đắng cay do “tài mệnh tương đố'’ gây nên và sẽ còn tồn tại như một hiện tượng chông lại con người. “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. Người như Tiểu Thanh, như Nguyễn Du trong thiên hạ không phải không có. Ông tin thế và biết rằng: “Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy”. Sau hơn ba trăm năm sẽ có người nào đó lại khóc Tố Như như ông đã khóc Tiểu Thanh? Bức tranh liên khúc nhân sinh ấy sẽ đời kiếp tồn tại như một lời cảnh tỉnh con người. Từ cái đã qua được chứng kiến mà suy nghiệm ra cái sẽ xảy ra, cái sẽ tới, chứng tỏ Nguyễn Du chẳng những là kẻ đa tình mà con giàu trí tuệ và tri thức mới tạo ra được Đọc Tiểu Thanh kí. Nỗi đau khổ vì trí tuệ ấy đã thể hiện một phương diện tự soi sáng nhân tình rất tỉnh táo và hết sức bác học ở Nguyễn Du. Nguồn:
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du
1,759
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của đại thi hào Nguyễn Du Hướng dẫn Độc Tiểu Thanh kí là tiếng khóc xót thương cho số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh, đồng thời qua bài thơ tác giả Nguyễn Du cũng bộc lộ được những tâm sự về người nghệ sĩ và nghệ thuật. Anh chị hãy phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kíđể thấy hết được những giá trị to lớn về nội dung của tác phẩm này. I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí 1. Mở bài – Giới thiệu về bài thơ Mỗi nhà văn nhà thơ đều có nguồn cảm hứng riêng, đối với Nguyễn Trãi hình ảnh người phụ nữ đã tạo nên cảm hứng cho ông Độc tiểu Thanh kí tác phẩm về người con gái hồng nhan bạc phận, bày tỏ lòng thương xót với người con gái đó – Thân bài -Nguồn cảm hứng cho sáng tác của ông: Người con gái, số phận, cuộc đời, những tác phẩm cô để lại -Hai câu đề: Khung cảnh của nhà thơ với tiếng lòng của cô gái Tây Hồ: cảnh đẹp nhưng chôn giấu cảm xúc người con gái, đẹp nhưng nay đã hóa gò hoang Thời gian cô đơn: Dùng thơ ca bày tỏ nỗi lòng, hình ảnh mảnh giấy tàn, khung của sổ -Hai câu thực: Cảm giác buồn ngậm ngùi, nỗi niềm còn vương vấn Son phấn: Vật dụng với người con gái đẹp, dù đẹp không tránh khỏi số phận đau thương Văn chương: Để lại những bài còn dang dở, đã bị đốt Những thứ còn vương vấn tới tận bây giờ -Hai câu Luận: Cái nhìn về người con gái, số phận trong thời phong kiến Số phận đó không mình cô mang mà những người con gái trong thời đó đều có Là người con gái sẵn có hay xã hội đẩy họ vào điều đó. -Hai câu kết: Tư duy và câu hỏi của chính tác giả Câu hỏi ngậm ngùi xót thương, đồng cảm Nàng tiểu Thanh tới bây giờ còn được nhắc, đặt bản thân tác giả không biết có ai nhớ đến hay trở về với thiên thu. Nỗi lòng tác giả và người đọc 3. Kết bài Cảm nhận về bài thơ: Là tấm lòng của tác giả dành cho thân phận người con gái. II. Bài tham khảo Nhà văn nhà thơ luôn lấy cảm hứng từ thiên nhiên, những cảnh đẹp say đắm lòng người, lấy cảm hứng từ cuộc sống, những góc khuất trong xã hội, nhưng đối với Nguyễn Du thì khác hình ảnh người con gái đã đem lại cho ông nguồn cảm hứng vô tận để cho ra đời tác phẩm Độc Tiểu Thanh Kí, tác phẩm hay nhất của ông in trong tập Thanh hiên thi tập, tác phẩm kể về hình ảnh người con gái hồng nhan bạc phận, qua đó ông dùng sự uyển chuyển, hoa mĩ của câu thơ để bày tỏ lòng thương xót đối với người con gái đó. Nguồn cảm hứng đó Nguyễn Du chẳng biết là ngẫu nhiên hay định mệnh sắp đặt, từ một người con gái vì gia cảnh nghèo khó nên nàng được gả vào một gia đình giàu có để làm lẽ và kiếp làm lẽ của nàng chẳng mấy hạnh phúc khi bên cạnh nàng là cô vợ cả ghen tuông, vô lí, cô vợ đẩy nàng vào cuộc sống tách biệt trên núi Côn Sơn, thời gian cuộc sống đã cho ra đời vô vàn những tác phẩm do chính người con gái đó viết, rồi vì quá cô đơn, buồn bã nên nàng đã chết trong lúc còn rất trẻ, những sáng tác của nàng bị người vợ cả đem đốt gần hết, còn sót lại một số tác phẩm, và những tác phẩm đó đậu bến nơi Nguyễn Du, từ đây tình thương của con người với con người đặc biệt là người con gái phải chịu số phận xót xa ông đã cho ra đời những câu thơ lắng đọng vô cùng. Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn Câu chuyện xưa hiện lên từ khung cảnh cho đến nét ảm đạm trong chính khung cảnh đó được nhà thơ đưa vào ngắn gọn trong một câu thơ, Tây Hồ nơi mà nàng đã sống, nơi đã chôn vùi cảm xúc của người con gái còn lứa tuổi mộng mơ, người con gái đáng lẽ ra phải được sống một cuộc sống tràn đầy tình yêu, tự do bay nhảy tung tăng giữa đất trời, làm những công việc vì bản thân vì xã hội thì nay ngược lại hoàn toàn, người con gái bạc mệnh phải chôn vùi tất cả mọi thứ kể cả mạng sống của mình trên mảnh đất đó. Tây Hồ là nơi có cảnh đẹp say mê lòng người, cảnh đẹp đi vào nhiều bài thơ ca nhưng nay lại hóa gò hoang, một khung cảnh heo hút hiện ra bởi chính người con gái để lại tuổi thanh xuẩn của mình trên mảnh đất đó. Trong quãng thời gian cô đơn giữa đất trời nàng chỉ biết dùng những vần thơ để bày tỏ cảm xúc của mình, lâng lâng trong lồng ngực với biết bao nỗi niềm gửi vào mảnh giấy tàn bên khung cửa sổ, một số phần bị chà đạp như bao cô gái khác trong một xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mảnh giấy còn lưu lại linh hồn người con gái đó cho tới tận bây giờ Son phấn có thần chôn vẫn hận Người con gái đã mất nhưng những gì mà cô để lại còn vương vấn cho tới tận ngày nay, hình ảnh son phấn vật dụng không bao giờ dời xa những người con gái biết làm đẹp cho chính bản thân mình được hiện lên nghe thật xót xa, dù người con gái đó có xinh đẹp tới đâu cũng không tránh khỏi số kiếp đã định khi sống trong xã hội ngày đó, một xã hội chà đạp vùi dập lên thân phận người phụ nữ chân yêu tay mềm. Những thứ cô để lại nhìn thấy được là những tờ văn chương nay chỉ còn dang dở, và những thứ không thể cầm nắm mà chỉ có thể cảm nhận đó là số phận của cô, hai hình ảnh tuy khác nhau nhưng lại có sự liên kết bền chặt vô cùng, sự tồn tại từ rất lâu cho tới tận ngày nay. Không chỉ dừng ở đó tác giả còn bày tỏ lòng tiếc thương tài năng của người con gái Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi Cái án phong lưu khách tự mang Nỗi oan của nàng tiểu Thanh không chỉ mình cô gánh chịu mà những người tài sống trong thời đại của cô đều không thể tránh khỏi, điều này càng làm cho câu thơ mang một nỗi niềm tuyệt vọng, ai oán nặng nè. Người phụ nữ tài hoa từ xưa đến nay dường như đã mang trong mình một số kiếp nghiệt ngã mà không thể tách ra được hay chính xã hội không coi trọng người con gái đã đẩy họ vào những chua cay đó. Cuối cùng tác giả tự đặt câu hỏi cho bản thân mình để tất cả cùng được trả lời Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa Một câu hỏi ngậm ngùi chứa đầy nước mắt bên trong, một câu hỏi về nàng tiểu Thanh cách xa 300 năm vẫn khiến người đời nhớ thương, đồng cảm thay rồi lại tự hóa thân mình vào người con gái đấy để xem bản thân ông có được như thế hay không, có còn được người đời biết đến, có còn trường tồn với thời gian hay sẽ hóa thành cát bụi trở về với cõi thiên thu, câu hỏi nghe đơn giản nhưng lại khiến người đọc suy ngẫm, day dứt vô cùng. Bài thơ là một kiệt tác mà Nguyễn Du đã để lại cho đời, một bài thơ lưu giữ tấm lòng chân thành giữa con người với con người, đâu phải ai cũng có thể thấu hiểu được như ông, và nếu có thấu hiểu cũng đâu thể đưa ra những vần thơ hào nhoáng, sâu lắng đến vậy. Bài thơ thể hiện tấm lòng, tình cảm vượt mọi rào cản ranh giới để hòa vào cùng cảm nhận. Theo
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của đại thi hào Nguyễn Du
1,396
Phân tích bài thơ ‘Chiều hôm nhớ nhà’ của Bà Huyện Thanh Quan Hướng dẫn Ai đã từng đọc ‘Truyện Kiều’ chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn: ‘Song sa vò võ phương trời, Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng’. Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ ‘Chiều hôm nhớ nhà’ của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ thứ mười chín: Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn. Gác mái ngư ông về viễn phô’, Gõ sừng mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chôn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nổi hàn ôn? Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ ‘bảng lảng’ có giá trị tạo hình đặc sắc: ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức tranh một buổi chiều thấm buồn: ‘Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn’ Hai chữ ‘bảng lảng’ là nhãn tự – như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có lần viết: ‘Trời tây bảng lảng bóng vàng’(Truyện Kiều) Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh Quan. Đối với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao nói hết được? Nỗi buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc (tù và) cùng tiếng trống đồn ‘xa đưa vẳng’ lại. Chiều dài (tiếng ốc), chiều cao (tiếng trống đồn trên chòi cao) của không gian được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê thê, một niềm sầu thương tế tái. Câu thơ vừa có ánh sáng (bảng lảng) vừa có âm thanh (tiếng ốc, trống đồn) tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân dã: Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn’ Phần thực và luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được lựa chọn tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, khách… thế giới con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có ‘chim bay mỏi’… Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ (người thì có: ngư ông, mục tử; cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có: phong sương, mai liễu, cánh chim chiều…) nhưng với tài sáng tạo vô song: chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoà, một ngòi bút trang nhã. Vì thế cảnh vật trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi con người Việt Nam. Cảnh vật mang hồn người đậm đà bản sắc dân tộc. Chiều tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố với tâm trạng của một ‘ngư ông’ – ông chài nhàn hạ, thoải mái. Động từ ‘gác mái’ biểu đạt một tâm thế nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng danh lợi: ‘Gác mái, ngư ông về viễn phố’ Cùng lúc đó, lũ trẻ đưa trâu về chuồng, trở lại ‘cô thôn’. Cử chỉ ‘gõ sừng’ của mục đồng thật hồn nhiên, vô tư, yêu đời: Đó là hai nét vẽ về con người, hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã đáng yêu. Hai câu luận tiếp theo mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ. vơ của người lữ khách trên nẻo đường tha hương nghìn dặm. Trời sắp tối. Ngàn mai xào xạc trong ‘gió cuốn’-, gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp về rừng tìm tổ. Sương sa mù mịt dặm liễu. Và trên con đường sương gió ấy, lạnh lẽo ấy chỉ có một người lữ khách, một mình một bóng đang ‘bước dồn’ tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình ảnh ‘chim bay mỏ.i’ và ‘khách bước dồn’ là hai nét vẽ đăng đối, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa ‘gió cuốn’ và ‘sương sa’, đang sống trong khoảnh khắc sáu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất lạ: ‘Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu, sương sa khách bước dồn’ Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ rất thực miêu tả cảnh ngộ lẻ loi của kẻ tha hương hay đến thế! Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Câu bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp: ‘Kẻ chốn Chương Đài II người lữ thứ’. Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời Hán xa xưa. Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. ‘Chương Đài’ và ‘lữ thứ’ trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ què hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. ‘Ai’ là đại từ phiếm chỉ, nhưng ta có thể biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. ‘Hàn ôn’ là nóng lạnh; ‘nỗi hàn ôn’ là nỗi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết: Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?’ ‘Chiều hôm nhớ nhà’và ‘Qua Đèo Ngang’ hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào kinh nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí – thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt (bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố…) tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. ‘Chiều hôm nhớ nhà’ là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng…
Phân tích bài thơ ‘Chiều hôm nhớ nhà’ của Bà Huyện Thanh Quan
1,127
Phân tích bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ Hướng dẫn I. Mở bài: Cảnh khuya ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoà. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’ Bài thơ miêu tả cảnh khuya núi rừng một đêm trăng, nói lên những suy tư lo lắng của Bác Hồ đối với vận mệnh của dân tộc. II. Thân bài: 1.Hai câu đầu làm hiện lên trước mắt người đọc một bức tranh sơn thủy về cảnh suối rừng, trăng ngàn Việt Bắc. Nhà thơ thao thức lắng nghe tiếng suối chảy rì rầm, êm nhẹ và trong trẻo từ rừng sâu vong đến: ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa’ Suối là vẻ đẹp chốn lâm tuyền, vẻ đẹp rừng già Việt Bắc. Bác lấy tiếng suối so sánh với tiếng hát, là khúc nhạc rừng ví với tiếng hát xa, êm ái ngọt ngào của con người, làm cho cảnh khuya chiến khu trở nên gần gũi, mang hơi ấm cuộc đời. Câu thơ làm ta liên tưởng đến tiếng suối trong bài ‘Côn Sơn ca* của ức Trai hơn 600 năm về trước: ‘Côn Sơn suôi chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai…’ Hai hồn thơ trở nên gần gũi, thân thiết. Nguyễn Trãi đã về Côn Sơn ‘quê cũ’ để xa lánh bụi trần, danh lợi, lấy suối, đá, thông, trúc làm bầu bạn. Bác Hồ cũng đến chốn lâm tuyền Việt Bắc, xây dựng chiến khu đánh Pháp. Suối trở thành bài ca câu hát nâng*đỡ tâm hồn Bác trong những năm dài kháng chiến gian khổ. Câu thứ hai tả trăng ngàn: ‘Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa’ Hai vế tiểu đối gợi lên vẻ đẹp hài hòa của cảnh vật thiên nhiên. Trăng được nhân hóa, rất thơ mộng ‘lồng’ vào cổ thụ, bóng cổ thụ lại ‘lồng’ vào hoa. Cảnh thiên nhiên trở nên hữu tình, huyền ảo. Chữ ‘lồng’ được láy lại hai lần, chất thơ trữ tình mang hồn người, quyến rũ. Ánh trăng tãi khắp núi rừng, dát vàng xuống rừng cây, ‘lồng’ và trùm lên cổ thụ. Cảnh rừng có tầng cao, tầng thấp, có mảnh sáng mảnh mờ. Nét vẽ tinh tế, gam màu nhẹ và tươi mát, sự phối sắc tài tình, mĩ cảm, hấp dẫn. Câu thơ của Bác là sự kế thừa sáng tạo vần thơ cổ, ngòi bút của Bác Hồ rất sành điệu, cổ kính: ‘… Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng…’ (Chinh phụ ngâm) Hai câu thơ Bác đầy âm thanh nhạc điệu, trong thơ vừa có nhạc vừa có họa, rất thi vị, gợi cảm. Bác đã dành cho thiên nhiên, cây rừng, trăng ngàn những tình cảm thiết tha, nồng hậu. ‘Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’ Chưa ngủ vì thi nhân xúc động trước cảnh khuya ‘như vẽ’. Chưa ngủ thao thức, bổi hồi vì ‘lo nổi nước nhà’. Nước nhà đang bị giặc Pháp xâm lăng, con thuyền kháng chiến đang băng qua ghềnh thác thì vị ‘thuyền trưởng’ chưa thể ngủ ngon giấc được! Nguyên Trãi đã từng thao thức vì đại nghĩa: ‘Còn một tấc lòng âu việc nước, Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung’ (Quốc âm thi tập) Bác Hồ cũng thao thức ‘chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’ Cùng mang trong tâm hồn một tình yêu lớn đối với đất nước và nhân dân, thơ của Bác chứa chan tình yêu nước ‘ôm cả non sông, mọi kiếp người’ (Tố Hữu). Trong bài ‘Đi thuyền trên sông Đáy’, Bác cũng viết: ‘Lòng riêng riêng những bàn hoàn, Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng’ Tinh cảm đẹp đẽ ấy là điểu tâm niệm thường trực của Bác: ‘Một ngày mà Tổ quốc chưa được thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên’.Có thể nói, câu thơ ‘Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’bình dị, sáng tỏ như một chân lí, để lại ấn tượng sâu sắc vì nó ‘mênh mông bát ngát tình’. ‘Cảnh khuya’ -bài thơ tứ tuyệt tựa như một đóa hoa đậm đà hương sắc đã góp phần làm đẹp nền thơ ca kháng chiến. Câu thơ giàu hình tượng và truyền cảm. Cảnh và tình hòa hợp. Vừa cổ kính, vừa hiên đại. Tình yêu nước thiết tha, tình yêu thiên nhiên nồng hậu, lời thơ mĩ lệ, trong sáng là cốt cách, vẻ đẹp của bài thơ. Bác là nhà thơ lớn của dân tộc. Đọc thơ Bác, tình yêu của chúng ta đối với Bác gắn liền với tình yêu Tổ quốc.
Phân tích bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ
774
Phân tích bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan Hướng dẫn …Bà được vua Minh Mệnh với vào Kinh đô Phú Xuân làm nữ quan ‘Cung trung giáo tập’. Chồng là Lưu Nghi làm tri huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình, nên người đời trân trọng gọi nữ sĩ là Bà Huyện Thanh Quan. Bà chỉ còn để lại sáu bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật: ‘Qua Đèo Ngang’, ‘Chiều hôm nhớ nhà’, ‘Thăng Long thành hoài cổ’, ‘Chùa Trấn Bắc’, ‘Chơi Đài Khán Xuân Trấn Võ’, ‘Tức cảnh chiều thu’… Thơ của bà hay nói đến hoàng hôn, man mác buồn, giọng điệu du dương, ngôn ngữ trang nhã, hồn thơ đẹp, điêu luyện. Trên đường vào Phú Xuân… bước tới Đèo Ngang lúc chiều tà, cảm xúc dâng trào lòng người. Bà Huyện Thanh Quan sáng tác bài ‘Qua Đèo Ngang’. Bài thơ tả cảnh Đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nổi buồn cô đơn, nỗi nhớ nhàcủa người lữ khách – nữ sĩ. Lần đầu nữ sĩ ‘bước tới Đèo Ngang’, đứng dưới chân con deo ‘đệ nhất hùng quan’ này, địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng Bình, vào thời điểm ‘bóng xế tà’, lúc mặt trời đã nằm ngang sườn núi, ánh mặt trời đã ‘tà’, đã nghiêng, đã chênh chênh. Trời sắp tối. Âm ‘tà’ cũng gợi buồn thấm thía. Câu 2, tả cảnh sắc: cỏ cây, lá, hoà… đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ ‘chen’, vần lưng: ‘đá’ – ‘lá’, vần chân: ‘tà’ – ‘hoà’, thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự ngạc nhiên và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước: ‘Cỏ cây chen đá, lá chen hoà’ Chỉ có hoa rừng, hoa dại, hoa sim, hoa mua. cỏ cây, hoa lá phải ‘chen’ với đá mới tồn tại được. Cảnh vật hoang sơ, hoang dại đến nao lòng. Nữ sĩ sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Âm điệu thơ trầm bổng du dương, đọc lên nghe rất thú vị: ‘Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà’ Điểm nhìn đã thay đổi: đứng cao nhìn xuống dưới và nhìn xa. Thế giới con người là tiều phu, nhưng chỉ có ‘tiều vài chú’. Hoạt động ‘lom khom’ vất vả đang gánh củi xuống núi. Một nét vẽ ước lệ trong thơ cổ (ngư, tiều, canh, mục) nhưng rất thần tình, tinh tế trong cảm nhận. Mấy nhà chợ bên sông thưa thớt, lác đác. Chỉ mấy cái lều chợ miền núi, sở dĩ nữ sĩ gọi ‘chợ mấy nhà’ để gieo vần mà thôi: ‘tà’ – ‘hoà’ – ‘nhà’. Cũng là cảnh hoang vắng, heo hút, buồn hoang sơ nơi con đèo xa xôi lúc bóng xế tà. ‘Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia’ Nghe tiếng chim rừng mà ‘nhớ nước đau lòng’, mà ‘thương nhà mỏi miệng’nỗi buồn thấm thía vào chín tầng sâu cõi lòng, tỏa rộng trong không gian từ con đèo tới miền quê thân thương, sắc điệu trữ tình dào dạt, thiết tha, trầm lắng. Lữ khách là một phụ nữ nên nỗi ‘nhớ nước’, nhớ Kinh- kỳ Thăng Long, nhớ nhà, nhớ chồng con, nhớ làng Nghi Tàm thân thuộc không thể nào kể xiết! Bốn chữ ‘dừng chân đứng lại’ thể hiện một nỗi niềm xúc đọng đến bồn chồn. Một cái nhìn mênh mang: ‘Trời non nước’-, nhìn xa, nhìn gần, nhìn sâu, nhìn 4 phía… rồi nữ sĩ thấy vô cùng buồn đau, như tan nát cả tâm hồn, chỉ còn lại 97 ‘một mảnh tình riêng’.Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của vũ trụ, của ‘trời non nước’ tương phản với cái nhỏ bé của ‘mảnh tình riêng’ của ‘ta với ta’ đã cực tả nỗi buồn cô đơn xa vắng của người lữ khách khi đứng trên đỉnh Đèo Ngang lúc ngày tàn. Đó là tâm trạng nhớ quê, nhớ nhà, buồn mà đẹp: ‘Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta’ ‘Qua Đèo Ngang’là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật tuyệt bút. Thế giới thiên nhiên kì thú của Đèo Ngang như hiển hiện qua dòng thơ. Cảnh sắc hữu tình thấm một nỗi buồn man mác. Giọng thơ du dương, réo rắt. Phép đối và đảo ngữ có giá trị thẩm mĩ trong nét vẽ tạo hình đầy khám phá. Cảm hứng thiên nhiên trữ tình chan hòa với tình yêu quê hương đất nước đậm đà qua một hồn thơ trang nhã. Bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ là tiếng nói của một người mà trở thành khúc tâm tình của muôn triệu người, nó là bài thơ một thời mà mãi mãi, bài thơ Non Nước. Phân tích bài thơ: ‘Qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan (bài 2). Bài thơ tả cảnh buổi chiều trên Đèo Ngang. Đèo Ngang trước con mắt lữ khách khi vừa đặt chân tới: ‘Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà’ Thiên nhiên như ùa đến trong tầm mắt tác giả. Cảnh tươi tắn, ưa nhìn, những sinh vật và đất đá nương tựa, xen lẫn nhau cũng có vẻ đông đúc: ‘Cỏ cây chen đá, lá chen hoà’ Nhưng sau sự cảm nhận đầu tiên ấy, tác giả đã có thì giờ buông tầm mắt ra xa, tìm đến thế giới con người. Lẽ ra thiên nhiên có thêm con người phải sinh động, đẹp đẽ hơn nhưng ở đây sự điểm xuyết của mắt nhìn là người hái củi thưa thớt, mấy quán chợ lơ thơ chỉ khiến cho cảnh vật thêm hiu hắt: ‘Lom khom dưới núi, tiêu vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà’ Bà Thanh Quan đã nhìn bao quát toàn cảnh, bà còn cảm nhận về Đèo Ngang qua thính giác: tiếng chim cuốc, tiếng chim đa đa vọng đến, rơi vào vắng vẻ, tĩnh mịch của buổi chiều trên Đèo. Khung cảnh thiên nhiên ấy, hoàn cảnh lữ thứ ấy khiến cho tiếng chim gợi liên tưởng đến những từ đồng âm biểu hiện những ý nghĩa, những vần để hết sức sâu sắc và lớn lao: ‘nhớ nước’ và ‘thương nhà’. ‘Thương nhà’thì đã rõ. Bà Huyện Thanh Quan có một thời được triệu vào Huế làm chức Cung trung giáo tập. Bà vốn người Nghi Tàm, Hà Nội (Bài thơ này có thể làm trong dịp vào cung đó). Một người phụ nữ phải rời nhà đi xa như thế, dù là đi làm quan, cũng ngổn ngang biết bao nỗi niềm. Cái tiếng chim đa đa tha thiết khêu gợi biết bao. Nhưng còn cái tiếng khắc khoải của những con chim cuốc? Nhiều người cho rằng đó là tâm sự ‘hoài Lê’ của tác giả. Điều đó không lấy gì làm chắc, bởi lẽ thời bà sống và làm quan, đất nước đã chuyển sang nhà Nguyễn đến thập kỉ thứ ba thứ tư rồi. Có điều, như các triều đại phong kiến khác, nhà Nguyễn bấy giờ đã bộc lộ những mặt tiêu cực, những chỗ yếu kém và cả những tội ác, là một nhà thơ nhạy cảm, Bà Huyện Thanh Quan hẳn có nhiều điều buồn phiền, bất như ý về hiện thực xã hội. Cái nỗi ‘đau lòng’ khi ‘nhớ nước’ có lẽ chính là như thế, chính là sự nghĩ về hiện tình đất nước đương thời. ‘Dừng chân đứng lại: trời, non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta’ ‘Qua Đèo Ngang’trước tiên là bài thơ tả cảnh. Cảnh vật hiện ra phong phú dần theo bước chân người đi. Có cảnh sắc: cỏ cây, hoà, lá, đá, tiều phu bên sườn núi, chợ bên sông, nhà; có âm thanh: tiếng cuốc cuốc, gia gia khắc khoải, dồn dập. Và khi lên đến đỉnh Đèo thì nhà thơ đã nhìn được một cách tổng quát, toàn thể: ‘trời, non, nước’. Cái mênh mông vô cùng và hùng vĩ ấy của thiên nhiên đã làm nhà thơ sững lại: ‘dừng chân đứng lại’. Nhưng tả cảnh chỉ là một phần nhỏ ý nghĩa của bài thơ. Chính là bài thơ đã miêu tả rất rõ diễn biến tình cảm của tác giả khi qua con Đèo Ngang này. Từ cảm nhận ban đầu, tình cảm của tác giả sâu lắng dần; qua sự tiếp nhận của mắt, của tai, những nỗi niềm tâm sự mỗi lúc một dồn nén để rồi nó chất chứa, đọng thành một nỗi buồn, nỗi cô đơn không thể cùng ai chia sẻ. Hình ảnh một con người, lại là một người đàn bà, đứng sững giữa cảnh trời, nước, non cao, trong ánh chiều tà đơn độc biết bao! Ở đây cósự tương phản giữa không gian mênh mông hùng vĩ và con người lẻ loi đơn độc. Sự tương phản ấy đã tạc vào cái vô cùng vô tận của không gian và thời gian tâm trạng cô đơn, nỗi buồn vô hạn và cả bóng hình nữ sĩ. ‘Qua Đèo Ngang’là một bài thơ hay và sẽ bất tử với thời gian. Có lẽ đến khi nào con đường Bắc Nam còn qua Đèo Ngang thì những người qua đây nhiều người còn nhớ đến nữ sĩ và như còn mường tượng ra bức tượng bà đứng cao trội lên trong bóng chiều trên đỉnh Đèo.
Phân tích bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan
1,562
Phân tích bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng” của Trần Nhân Tông. Hướng dẫn Trong một số bài thơ chữ Hán của Trần Nhân Tông để lại có hai bài viết về Thiên Trường, mảnh đất ‘phát nghiệp đế vương’ của nhà Trần: ‘Hạnh Thiên Trường hành cung’ và ‘Thiên Trường văn vọng’. Thiên Trường là một trong 12 lộ thời Trần, thuộc Sơn Nam; nay thuộc ngoại thành Nam Định. Thiên Trường vốn là Thái ấp của vua chúa nhà Trần, ở đây xưa kia có nhiều cung điện nguy nga tráng lệ. ‘Thiên Trường văn vọng’được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng). Bài thơ gợi tả cảnh xóm thôn, đồng quê vùng Thiên Trường qua cái nhìn và cảm xúc của Trần Nhân Tông. Cảm xúc lắng đọng, cái nhìn man mác bâng khuâng ôm trùm cảnh vật: ‘Thôn hậu, thôn tiền, đạm tư yên, Bán vô, bán hữu, tịch dương biên. Mục đồng địch lí ngưu quy tận, Bạch lộ song song phi hạ điền’ Hơn 60 năm về trước, cụ Ngô Tất Tố đã dịch rất hay bài thơ này. 1. Hai câu thơ đầu gợi tả cảnh làng quê vùng Thiên Trường trong ánh chiều tàn. Bốn chữ ‘thôn hậu thôn tiền’ và ‘bán vô bán hữu’ liên kết đôi, tạo nên sự cân xứng hài hòa về ngôn ngữ đã gợi lên cảnh xóm thôn nối tiếp gần xa, đông đúc, trù phú. Trong bóng chiều nhạt nhòa^xóm thôn ‘trước xóm sau thôn’ phủ mờ khói nhạt, càng trở nên mơ màng, mênh mang. Khói của sương chiểu. Khói lam chiều vấn vương, nhẹ bay trên những mái nhà gianh sau lũy tre làng. Chỉ bằng ba nét vẽ rất chọn lọc, lối tả ít mà gợi nhiều của thi pháp cổ, thi sĩ đã làm hiện lên một không gian nghệ thuật về cảnh sắc làng quê một buổi chiều tàn phủ mờ sương khói và ánh tà dương rất yên bình, êm đềm, nên thơ. Nét vẽ thanh nhẹ. Cảnh vật bao la, tĩnh lặng. Ngoại cảnh và tâm cảnh đồng hiện. Tưởng như thi sĩ đang thả hồn mình vào cảnh vật, lặng ngắm thôn xóm quê hương gần xa không chán. So sánh ‘đạm tự yên’ (mờ nhạt như khói) là một hình tượng đầy thi vị. Cả một hồn quê man mác gợi cảm: Bánvớ, bán hữu tịch dương biên’ (Trước xóm sau thôn tựa khói lồng, Bóng chiều man mác có dường không) 2. Hai câu cuối là cảnh sắc đồng quê rất dân dã, bình dị, thân thuộc mà đáng yêu. Trên những nẻo đường quê, đàn trâu nối đuôi nhau về thôn. Có âm thanh tiếng sáo mục đồng cất lên, âm thanh réo rắt, hồn nhiên, thanh bình của làng quê ta xưa nay. Có từng đôi, từng đôi cò trắng bay liệng, nối tiếp nhau hạ xuống đồng. Nhà thơ không nói đến màu xanh và hương lúa mà người đọc vẫn cảm nhận được. Ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ đầy âm thanh và màu sắc, thanh tao và dào dạt sức sống. Bút pháp điểm nhãn,lấy động để tả tĩnh của tác giả được thể hiện một cách nhiều ấn tượng về bức tranh đồng quê này: ‘Mục đồng địch lí ngưu quy tận, Bạch lộ song song phi hạ điền’ (Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng) Tinh quê và hồn quê chan hòa, dào dạt. Thiên Trường thuở ấy, đường sá rầm rập ngựa xe, có biết bao cung điện của vua chúa, tôn thất nhà Trần, nhưng Trần Nhân Tông không nói đến lầu son gác tía, bệ ngọc ngai vàng tráng lệ nguy nga, mà chỉ nói đến cảnh sắc thiên nhiên, cảnh vật đồng quê. Điểu đó cho thấy tâm hồn thi sĩ giàu tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Tính bình dị, dán dã, hồn nhiên là cốt cách, là hồn thơ của ông vua anh hùng – thi sĩ này. Cảm nhận ấy càng rõ khi ta đọc bài thơ ‘Hạnh Thiên Trường hành cung’ (Ngự chơi hành cung Thiên Trường): Mười mấy châu tiên ấy một châu. Trăm tiếng đàn chim, đàn nhạc hát, Nghìn hàng đám quýt, đám quân hầu. Trăng vô sự chiếu người vô sự, Nước có thu lồng trời có thu. Vừa bốn bể trong, vừa bụi lặng, Độ xưa so với độ này thua’ (Bản dịch của ‘Hoàng Việt thi tuyển’) Cảnh buổi chiều được nói đến trong bài ‘Hạnh Thiên Trường hành cung’ là cảnh chiều thu, đó là điều ai cũng rõ. Trong bài ‘Thiên Trường văn vọng’ là cảnh chiều xuân hay chiều thu? Rất khó xác định. Ta chỉ cảm nhận được đó là một buổi chiều êm đềm,’xóm thôn phủ mờ sương khói tà dương. Không gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện cho ta khẳng định: Trần Nhân Tông viết ‘Thiên Trường văn vọng’ sau năm 1288, khi giặc Nguyên – Mông đã bị nhân dân ta đánh bại, nước Đại Việt thanh bình, yên vui. Bài tứ tuyệt ‘Thiên Trường văn vọng’ là một bức tranh quê đậm nhạt, mờ sáng, rất đẹp và tràn đầy sức sống. Một bút pháp nghệ thuật cổ điển tài hoa. Một tâm hồn thanh cao, yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, yêu đồng quê xứ sở đã được thể hiện bằng một số hình tượng đậm đà, ấm áp qua những nét vẽ tinh tế, gợi hình, gợi cảm, giàu liên tưởng. Kì diệu thay, bài thơ đã vượt qua một hành trình trên bảy trăm năm, đọc lên, nó vẫn cho ta nhiều thú vị. Ta vẫn cảm thấy cánh cò trắng được nói đến trong bài thơ vẫn còn bay trong ráng chiều đồng quê, và còn chấp chới trong hồn ta. Thơ đích thực là thế!
Phân tích bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng” của Trần Nhân Tông.
966
Phân tích bài thơ ‘Tĩnh dạ tứ’ của Lí Bạch Hướng dẫn . Tĩnh dạ tứ Lí Bạch (701 – 762) Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương. Dịch nghĩa. Anh trăng sáng đầu giường, Ngỡ là sương mặt đất Ngẩng đầu ngắm trăng sáng, Cúi đầu nhớ quê hương. Dịch thơ. Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh . Lí Bạch (701 – 762) Đẩu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương. … ‘Xa ngắm thác núi Lư’, ‘Đường đi khó’, ‘cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’là những bài thơ tuyệt tác của Lí Bạch cho thấy một hồn thơ tuyệt đẹp. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là nỗi buồn nhớ cố hương sâu lắng của Lí Bạch. Đây là bản dịch thơ: ‘Đầu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ Cố hương’ Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, vẻn vẹn có 20 chữ nhưng đã tạo nên một bức tranh thủy mặc về cảnh mộng đêm trăng gợi lên vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân với bút pháp lãng mạn thần tình. Đêm về khuya càng trở nên thanh tĩnh. Không gian bốn bệ vắng lặng. Không một tiếng gió thổi, một tiếng côn trùng kêu. Cũng chẳng có một tiếng chuông chùa ngân buông. Nhà thơ chợt tỉnh giấc thấy mình nằm dưới trăng: Cả một không gian ngập tràn ánh trăng. Ánh sáng rọi vào đầu giường. Hình như trâng đã đánh thức thi nhân dậy. Thật cảm động, trăng đến khơi gợi một nguồn thơ và trăng là chất liệu tạo nên vần thơ dào dạt. Ánh trăng sáng quá, tải khắp không gian, bao phủ khắp mặt đất. Câu thơ thứ hai biểu hiện một trạng thái ngỡ ngàng của thi nhân vừa tỉnh giấc vừa nhìn trăng. Tràng đẹp và thơ mộng. Đêm đã sang canh, êm đềm thanh tĩnh. Chỉ có trăng và 128 nhà thơ. Thế rồi, Thi tiên Lí Bạch ‘ngẩng đầu’ ngắm trăng. Trăng với thi nhân như đôi bạn tri âm gặp nhau, nhìn nhau cảm động không nói lên lời. Cả ba câu thơ đầu đều tả ánh trăng trong đêm thanh tĩnh với tâm trạng ngỡ ngàng và bồi hồi của thi nhân. Câu 1 và 3 tả trăng bằng trực giác, câu 2 tả trâng bằng cảm giác. Một không gian nghệ thuật vừa thực vừa mộng, huyền ảo lung linh: ‘Đầu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng’ Lúc bấy giờ, Lí Bạch đang sống nơi đất khách quê người. Giữa đêm khuya thanh tĩnh chỉ có trăng và thi nhân. Ba câu thơ đầu gợi tả một tâm trạng: nỗi buồn cô đơn của khách li hương. Hai câu thơ 3 và 4 được cấu trúc theo phép đối: ‘Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Hai tư thế: ‘ngẩng đầu’ và ‘cúi đầu’-, hai tâm trạng: ‘nhìn’ và ‘nhớ’-, hai đối tượng làm xúc động và trĩu lòng kẻ xa quê: ‘trăng sáng’ và ‘cố hương’. Hai hình ảnh ‘trăng sáng’ và ‘cố hương’ đi sóng nhau biểu hiện một tâm hồn giàu tình yêu thiên nhiên, một tấm lòng yêu quê hương thiết tha sâu nặng. ‘Cốhương’ là quê cũ thân yêu; ‘nhớ cố hương’ là nhớ tới gia đình, nhớ tới người thân thương ruột thịt, nhớ tới thời thơ ấu với bao mộng tưởng và kỉ niệm đẹp, nhớ lại những thăng trầm một đời người… Ta từng biết, Lí Bạch quê ở Ba Thục, thuở nho thường leo len núi Nga – Mi để ngắm trăng và múa kiếm. Lớn lên, ông mang theo bầu rượu, túi thơ và thanh kiếm hiệp khách đi chu du mọi phía chân trời góc bể, chan hòa với gió trăng và tình bằng hữu… Vì thế, ánh trăng ‘đêm nay’ là ánh trăng gợi nhớ, gợi sầu, vấn vương một hoài niệm, làm sống dậy bao bâng khuâng của một hồn thơ và một tình quê man mác. ‘Ánh trăng’và ‘cố hương’ gắn bó với nhau trong mạch cảm hứng trữ tình, hòa quyện thành một liên tưởng thấm thía, cảm động, nâng cánh cho hồn thơ bay lên. Trăng lênh láng tràn ngập. Cảm xúc thơ dâng lên dào dạt. Có thể nói ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là một bài thơ trâng tuyệt bút. Lí Bạch rất tinh tế đã lấy ngoại cảnh ‘ánh trăng’ miền đất lạ để biểu hiện tâm tình: nổi buồn nhớ cố hương.
Phân tích bài thơ ‘Tĩnh dạ tứ’ của Lí Bạch
756
Phân tích bài thơ ‘Đi thuyền trên sông Đáy” của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Đi thuyền trên sông Đáy Hổ Chí Minh Dòng sông lặng ngắt như tờ, Sao đưa thuyền chạy thuyền chờ trăng theo. Bôn bề phong cảnh vắng teo, Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan. Lòng riêng riêng những bàn hoàn, Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng. Thuyền về, trời dã rạng đông, Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi. Mùa thu năm 1949 Thế là cuộc kháng chiến chống Pháp đã được bốn năm. Mùa thu năm 1949, Bác Hồ lại làm thơ ghi lại một chuyến công tác đáng nhớ. Nhan đề bài thơ đã nói rõ: ‘Đi thuyền trên sông Đáy’. Nhìn lên bản đồ Tổ quốc, ta thấy có tên hai con sông Đáy: sông Đáy ở Hà Tây và sông Đáy ở Tuyên Quang. Sông Đáy trong bài thơ có lẽ là sông Đáy ở Tuyên Quang trên chiến khu Việt Bắc. Bài thơ gồm có tám câu thơ lục bát, vừa tả cảnh con thuyền chạy giữa một vùng sông nước trăng sao, vừa nói lên suy nghĩ khôi phục đất nước và niềm tin tưởng đẹp tươi của Bác vào một ngày mai thắng trận. Bốn câu thơ đầu tả cảnh đẹp của dòng sông Đáy, dòng sông chiến khu. Sông ‘lặng ngắt như tờ’, phong cảnh về khuya thêm ‘vắng teo’. Chỉ nghe tiếng ‘cót két’, tiếng chèo thuyền. Bút pháp nghệ thuật lấy động để tả tĩnh rất đặc sắc. Hình ảnh con thuyền, vầng trăng và ngàn sao hiện lên rất đẹp, một vẻ đẹp hữu tình thơ mộng. Con thuyền và trăng sao được nhân hóa có tâm hồn, có chuyển động. Trăng sao vằng vặc sáng. Dòng sông xanh phẳng lặng. Trăng sao chiếu xuống in bóng trên lòng sông. Phía trước, phía sau, xung quanh con thuyền đều có trăng sao. Có lúc tưởng như ‘sao đưa thuyền chạy’, có lúc lại cảm thấy ‘thuyền chờ trăng theo’. Vừa thực vừa mộng ảo. Phải có tình yêu thiên nhiên, phải có tâm hồn thi sĩ mới viết được những vần thơ đẹp như vậy: ‘Dòng sông lặng ngắt như tờ, Sao đưa thuyền chạy thuyền chờ trăng theo. Bốn bề phong cảnh vắng teo, Chỉ nghe cốt két tiếng chèo thuyền nan’ Đoạn thơ gợi lên không khí tĩnh mịch huyền ảo như dẫn hồn ta trôi vào thế giới cổ tích. Nhà thơ ngồi trong con thuyền lặng ngắm cảnh sông nước trăng sao mà bàn hoàn, mà xao động, mà vương vấn cả tâm hồn. Nhiệm vụ phục quốc là sự lo lắng, là nỗi bàn hoàn khôn nguôi: ‘Lòng riêng riêng những bàn hoàn, Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng’ Bác đã vận dụng hình thức tập Kiều để diễn tả một tình cảm đẹp: lo lắng đánh giặc để cứu dân. Hai câu kết nói về cảnh rạng đông trên chiến khu: ‘Thuyền về, trời đã rạng đông, Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi’ Con thuyền và cảnh rạng đông mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Con thuyền kháng chiến vượt phong ba bão táp trở về bến trong rạng đông tráng lệ. Cảnh màu hồng đẹp tươi bao la đất trời tượng trưng cho ngày chiến thắng, đất nước bước vào một kỉ nguyên mới: độc lập, hòa bình. Hai câu kết có hình tượng đẹp, thể hiện tinh thần lạc quan của nhà thơ về một ngày mai thắng trận. Thơ là tâm hồn, tiếng lòng của thi sĩ. Bài thơ ‘Đi thuyền trên sông Đáy’ là tâm hồn, tiếng lòng của nhà thơ Hồ Chí Minh: rất lạc quan yêu đời, tin tưởng, chan hòa với thiên nhiên, nặng lòng vì Tổ quốc.
Phân tích bài thơ ‘Đi thuyền trên sông Đáy” của Hồ Chí Minh
606
Phân tích bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ Bài làm 1 Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một ông quan lớn văn võ toàn tài dưới triều Nguyễn. Nhắc đến ông người ta nhớ đến công lao khai khẩn đất hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Người ta cũng không quên một nhà thơ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự đất nước, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội mà mình đang sống. Nếu như Chí anh hùng tràn đầy khí phách của người tuổi trẻ, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ. Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, nhà thơ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm – một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra không phải để đọc mà để ngâm nga, hát xướng. Người thể hiện có thể theo đà cảm xúc mà luyến láy cho phù hợp. Bài thơ vì vậy mà đầy âm sắc, nhạc điệu. Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có đến năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca. Đây là cái dáng vẻ của một tinh thần ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên thiên hạ. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài. Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình: Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này không có việc gì không phải là phận sự của ta – Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán – Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông…/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên… Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhàng như mặt sông mùa xuân. Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo mà cũng thật kiêu ngạo khác đời. Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng không hề né tránh. Ngay cả cách đưa biệt hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống ai. Hi Văn – chữ Hán có nghĩa là nhà văn hiếm. Tự gọi mình một cách trang trọng là ông và nhận mình như vậy thì chỉ có ông. Nguvễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, không chịu ép mình vào cái ta chung của cộng đồng, xã hội. (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả tầng lớp phong kiến). Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử để viết như vậy. Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại không nhiều. Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đau đớn xót xa đến tuyệt vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như. Gần nhất có cách xưng danh khắng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi – Mời trầu), hay Nguyễn Du (Thiên hạ ai người khóc Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí). Các nhà văn ấy vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn bóng gió, chung chung. Điển viên dạo chiếc xe bò cái Sẵn chiếc mo che miệng thế gian Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười… Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời: Được mất dương dương người tái thượng Khen che phơi phới ngọn đông phong Khi cơ, khi tửu, khi cắc khi tùng Không phật, không tiên, không vướng tục Như trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, bẩn thỉu, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan không có, có gai chông (Vịnh cây vông). Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ không rơi vào tình thế bi quan bế tắc hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này. Mục đích sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước: Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung Hay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu: Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ Không quân thần phụ tử đếch nên người. Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng phẳng nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng đến cùng cực. Ông không muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ tham quan vô lại. Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến có ngạo nghễ nhưng không ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, thể hiện quan niệm sống của nhà thơ. Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như bản chất con người ông. Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài thơ hay được nhiều người nhắc đến với sự tán thưởng thích thú. Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi bản lĩnh vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này. Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn chương đương đại, đưa yếu tố cá nhân, cái tôi cần được giãi bày vào trực tiếp trong văn chương. Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX có những bước chuyến mình vượt bậc, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố cá nhân, cho văn chương Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại thế giới nói chung. Bài làm 2 Từ xa xưa đến nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính nhà thơ. Không những thế, qua thơ người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong độ của mỗi thi nhân. Ai đó đã nói: Văn là người. Điều đó thật đúng với những nhà văn, nhà thơ lớn. Ở họ văn với người là một, con người trong văn chương và con người ngoài đời tuy không hẳn đồng nhất, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng ta có thể hình dung rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa. Bao trùm lên toàn bộ bài ca là hình tượng một con người “ngất ngưởng”. Nhưng đó không phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, mà lài cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy tự tin và đầy bản lĩnh. Con người ấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường mà là một lối sống độc đáo, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Chẳng thế mà ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không phải nhận sự của ông “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, kiêu hãnh và một ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm của chính mình. Không phải ngẫu nhiên mà khi đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tói “Chí nam nhi”, “Chí làm trai”, “Chí tang bồng”, “Phận sự làm trai”, “Nợ nam nhi”, “Nợ tang bồng”… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, kiêu hãnh ấy lại được thể hiện bằng một giọng diệu “ngất ngưởng”, “ngang tàng”. Cứ xem cách xưng hô ở câu thơ thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là “Ông Hi Văn”, tự giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như “đã vào lồng”, ta cũng đủ thấy rõ thái độ người viết vừa như trang nghiêm lại vừa như “u mua”, hài hước. Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải chỉ lúc làm quan đương chức “Khi Thủ khoa, khi Tham tá, khii Tổng đốc Đông”. Hoặc: “Lúc Bình Tây, cờ Đại tướng; có khi về Phủ doãn Thừa Thiên” mà sau khi về hưu, không làm quan nữa, thái độ ấy càng thêm đậm nét, tính cách “ngất ngưởng” càng thêm ổn định. Phải chăng khi đã thoát ra khỏi chốn quan trường, khi đã “tháo cũi, sổ lồng”, không chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở nên “ngất ngưởng”. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: Người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và thung dung trong tư thế: “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gói tiên theo đủng đỉnh một đôi dì Bụt cũng bật cười ông ngất ngưởng” Không chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn thể hiện rất rõ trong quan niệm được mất và sự lạc quan, bình thản trước cuộc đời: Khen chề phơi phới ngọn đông phong”. Cũng giống như chuyện ông già biên ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế không có gì phải vội vàng hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện bình thường, có gì mà phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy “quảng gánh lo đi mà vui sống” (Lâm Ngữ Đường). “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng Không Phật, không Tiên, không vương tục”. Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ nghi và nhiều luật lệ hết sức chặt chẽ, hà khắc, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, “ngông nghênh” kiểu Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thách thức, một sự “chòng ghẹo” cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống ấy của ông được bắt nguồn từ một bản lĩnh và một ý thức muốn khẳng định cái cá nhân độc đáo của mình. Dường như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi cá nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống ấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế mà ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán đến đời Tống của Trung Hoa: “Chẳng Thái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú”. Chẳng thế mà ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: “Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn sơ chung”. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kỳ mà nhà Nguyễn mới thống nhất đất nước, chấm dứt nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử ấy là cơ sở tinh thần cho cả một tầng lớp nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, cố gắng vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự nhủ: “Đã sinh ra ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông” Ông tâm niệm và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông. Kết thúc bài ca, Nguyễn Công Trứ viết: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”. Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa như khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thìa; vừa như là lời tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời… Đúng như câu thơ và cả bài thơ cũng “ngất ngưởng” như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyễn Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách ấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân ngày nay.
Phân tích bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ
2,296
Đề bài: Phân tích bài thơ “Bạn tới chơi nhà” của Nguyễn Khuyến Bài làm Nguyễn Khuyến là một nhà thơ tiêu biểu của nền thi ca thời kỳ cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Ông có rất nhiều bài thơ hay để lại nhiều ấn tượng sâu sắc với người đọc. Bài thơ “Bác đến chơi nhà” thể hiện tình cảm mộc mạc của tác giả dành cho bạn mình, một tình cảm không vì vật chất mà xuất phát từ tình cảm thân thiết của hai bên. Dù bác tới chơi nhà không có gì tiếp đãi bác tử tế, thì tình bạn của hai người vẫn thân thiết, keo sơn gắn bó vì họ thật sự hiểu tấm lòng chân thành của nhau. Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra hoa, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có Bác đến chơi đây ta với ta Bài thơ đã làm cho người đọc cảm nhận được tấm chân tình của tác giả với người bạn thân tri kỷ của mình. Ca ngợi tình bạn là thứ không vì những vật chất tầm thường mà bị mất đi sự cao quý, chân thành. Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Câu thơ đầu tiên thể hiện sự vồn vã thân mật của một tác giả khi gặp lại bạn thân của mình, rất lâu không tới chơi, có thể vì bận bịu công việc hoặc do đường xá xa xôi nên không ghé thăm nhau thường xuyên được. Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có. Những câu thơ đầu của bài thơ khiến cho người đọc có cảm giác tác giả cảm thấy hụt hẫng, buồn phiền, lo lắng vì lâu lắm mới có khách quý ghé thăm mà nhà chẳng có gì đãi khách. Phân tích bài thơ Bạn tới chơi nhà của Nguyễn Khuyến Đến những thứ vốn là sẵn có của nhà nông như rau cải, bầu bí mọc trong vườn lúc nào chẳng có để ăn. Nhưng nhà tác giả cũng chẳng có, tiếp khách mà miếng trầu cũng không thật đáng tiếc. Những lời thơ thể hiện sự phân trần giải thích cho những thiếu thốn, thiếu sót của mình trong việc tiếp khách quý mà chẳng có gì đáng giá. Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ thì sẽ cảm thấy đây chỉ cách nói vui vẻ, bông đùa cường điệu hóa của tác giả Nguyễn Khuyến muốn trêu đùa bạn của mình. Thông qua những lời trần tình của tác giả ta cũng cảm nhận được sự giản dị mộc mạc của làng quê Việt Nam thời xưa. Với nhịp thơ đều đặn ngắt nhịp nhẹ nhàng thể hiện cho lời thủ thỉ nhẹ nhàng kèm theo những nụ cười hóm hỉnh, trêu đùa của tác giả. Đối lập với tất cả những cái không có ấy chính là tấm lòng, tấm chân tình của tác giả dành cho bạn mình Câu thơ cuối cùng của bài thơ thể hiện rõ nét tình cảm chân thành của tác giả dành cho bạn mình. Nó là thứ tình bạn cao quý quan hệ bạn bè xây dựng trên nền tảng của tình cảm vững chắc không vì những vật chất tầm thường mà bị phai nhạt hay biến mất. Trong bài thơ của bà Huyện Thanh Quan có câu thơ “Một mảnh tình riêng ta với ta” thể hiện cho nỗi buồn sự cô đơn của tác giả khi chỉ có một mình đối diện với chính mình với nỗi cô đơn trong lòng. Còn trong bài thơ “Khách đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến “Bác đến chơi đây ta với ta” thì hoàn toàn trái ngược ta với ta thể hiện tuy hai người nhưng lại là một bởi họ rất thân thiết, hiểu nhau vô cùng, thể hiện niềm vui sự hòa quyện, hòa hợp của hai người bạn tri kỷ. Bài thơ thể hiện sự thành công của tác giả trong việc sáng tác thơ trào phúng. Ngôn ngữ được sử dụng một cách vô cùng tinh tế đặc sắc, thể hiện sự tài hoa của tác giả trong việc sử dụng từ ngữ Nhịp thơ của tác giả phối vô cùng nhẹ nhàng, tinh tế, thể hiện sự thanh thoát, tự nhiên không gượng ép làm cho bài thơ vô cùng hấp dẫn người đọc bởi ngôn ngữ linh hoạt, lời tâm sự thủ thỉ của tác giả. Đông Thảo
Phân tích bài thơ “Bạn tới chơi nhà” của Nguyễn Khuyến
775
Phân tích bài thơ “Chiều xuân” của Anh Thơ Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Chiều xuân” của Anh Thơ Bài làm Nhắc đến nhà thơ Anh Thơ người độc giả lại nhớ về hình ảnh một nữ thi sĩ tiêu biểu của phong trào thơ Việt Nam hiện đại. Tuổi thơ êm đềm đã từng gắn liền với đồng ruộng cánh cò quê hương sớm chiều mưa hay nắng, chính điều này là nền tảng khơi nguồn cho dòng suối cảm xúc thơ trong bà với phong cách thơ bình dị mà sâu sắc qua từng câu chữ, qua bao hình ảnh của cảnh sắc nông thôn quê hương nhẹ nhàng được gợi tả một cách khéo léo.Càng ấn tượng hơn khi bà đến với thơ ca như con đường giải thoát khỏi cuộc đời tù túng, buồn tẻ và tự khẳng định giá trị người phụ nữ trong xã hội đương thời.Tập thơ “bức tranh quê” đầu tiên ra đời chan chứa những gì mộc mạc và dung dị, đặc biệt qua bài thơ “chiều xuân”, một bức tranh về cảnh mây trời tắt nắng trong sắc xuân tươi đẹp. Những cơn mưa xuân đặc trưng nơi miền Bắc là những cơn mưa bụi li ti rơi nhẹ tắm mát cho chồi non ngọn cỏ thêm xanh tươi, mưa xuất hiện trong dòng thơ đầu tiên rất đỗi lặng lẽ trên bến đò vắng, cảnh vật thoáng buồn và chút tĩnh lặng, se thêm cái lạnh của tâm hồn bằng sự trống trải: “Mưa bụi êm êm trên bến vắng, Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi” Từng giọt mưa mãi rơi hững hờ và “êm êm” trước mắt nhà thơ. Từ láy gợi tả hình ảnh những giọt mưa rơi nhẹ điểm xuyết cho khung cảnh, không ồn ào vồn vã hay nặng hạt mà có chút gì như chầm chậm theo từng khoảnh khắc thời gian.Bến sông thì thưa khách đi đò chiều, vắng mênh mông, không gian rộng hơn và sự trống trải lan tỏa vào tâm hồn.Con đò nhỏ sau một ngày làm việc chở khách ngược xuôi trên dòng sông quê hương bây giờ nằm đấy và lắng vào phút giây nghỉ ngơi, mạn đò lung lay theo sóng nhỏ, vô tình trôi bềnh bồng theo nước sông. Như thế đấy ta có cảm giác nhịp mưa rơi nhịp sóng vỗ nhẹ nhịp đò trôi hòa theo nhau tạo nên bức tranh giản dị nhưng sâu lắng bao cảm xúc. Ánh mắt nhà thơ chuyển hướng và cũng bắt gặp sự yên tĩnh đang bao trùm: Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời” Quán tranh được nhà thơ nhân hóa qua động từ “đứng”. Không chỉ là “đứng” mà là “đứng im lìm” và “trong vắng lặng”, từ láy nối tiếp động từ như nhân thêm sự trống vắng không chỉ riêng bến sông gây hiệu ứng mạnh trong khổ thơ.Nơi quán tranh này là trung tâm của hoang vắng và xơ xác khi ngày sắp kết thúc. Hoa tím rụng “tơi bời” vào những phút cuối của ngày dài. Dường như không chỉ con người mệt mỏi mà vạn vật cũng rã rời, trút bỏ tàn dư cuối cùng.Thời gian thì cứ mỗi phút trôi qua mang theo sự rộn ràng hối hả của ban ngày và thay thế là chiếc áo khá buồn tẻ vì cô đơn và vắng lặng khắp nơi.Khổ thơ thứ hai hiện lên bằng những hình ảnh được thu gọn vào tầm mắt nhà thơ: “Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ, Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ” Đường đê rộng đôi bờ chạy dài và mơn mởn bao ngọn cỏ xanh tươi, màu sắc của câu thơ chính là màu “biếc” của cỏ. Ngòi bút nhà thơ tạo những nét chấm phá màu sắc khá đẹp, cảnh thoáng buồn của khổ một bây giờ như được dung hòa lại bằng chính màu sắc của sự sống dù chỉ là ngọn cỏ. Đến đây không gian bớt đi màu tàn phai nhường chỗ cho màu biếc rạng rỡ, cái tĩnh lặng cũng tan dần theo tiếng vỗ cánh của đàn chim sáo đen đang sà xuống.Chúng vô tư như những đứa trẻ nghịch trên đồng qua cách miêu tả tinh tế “mổ vu vơ”. Không phải “mổ vu vơ” mà thực ra chúng đang mổ những con mồi bé nhỏ nhưng trong mắt nhà thơ hình ảnh đó khá là dễ thương và mang cảm giác thanh bình hạnh phúc vì cuộc sống tự do và khoáng đạt. Không dừng lại bấy nhiêu đó, hình ảnh tiếp theo mang lại cho độc giả cái nhìn hơi ngỡ ngàng vì những điều bình dị mà không bao nhiêu người cảm nhận được: Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa” Gió lướt qua thổi mát khung cảnh và không ít lần làm nghiêng nghiêng cánh bướm, khả năng dùng từ láy khá là phong phú “rập rờn”,nhà thơ miêu tả cái cách chú bướm nhỏ muốn bay nhưng không sao vựơt qua sức ép của cơn gió nên đôi cánh kia cứ mãi chao đi chao lại theo làn gió thổi. Động từ “trôi” càng tô đậm thêm hình ảnh cánh bướm nhỏ bị cơn gió kia hững hờ mang đi. Từng đợt gió đến rồi đi và tiếp tục thổi cho cánh bướm mãi “rập rờn” chao nghiêng.Thấp hơn cánh bướm là những chú trâu bò đang từ tốn nhai cỏ non một cách “thong thả”, chậm rãi như tận hưởng hạnh phúc.Mưa vẫn còn rơi và vương hạt mưa lên ngọn cỏ cho ta cảm giác trâu bò đang thưởng thức chính “mưa”. Nhịp thơ không nhanh mà theo nhịp hoạt động của muôn vật. Đây là khoảng thời gian mọi thứ trở nên lắng đọng và chầm chậm trôi xua đi mỏi mệt dần tan biến.Đến khổ thơ cuối cùng của bài thơ, không gian mở rộng khắp phía và làm hoàn chỉnh bức tranh “chiều xuân” thơ mộng của thi sĩ Anh thơ: “Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng, Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra, Làm giật mình một cô nàng yếm thắm Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.” Nghệ thuật sử dụng từ ngữ, khéo léo dùng ngòi bút của mình vẽ nên những hình ảnh bình dị nhưng thật ấm áp và chan chứa vẻ đẹp cuộc sống, bên cạnh đó theo dòng thơ mạch cảm xúc của người đọc được dâng lên và nhờ đó ta cảm nhận sâu nhất tình cảm cảm xúc của nhà thơ, đây chính là thành công khẳng định giá trị của bài thơ. Đôi lúc nhịp thơ chầm chậm nhẹ nhàng sâu lắng đôi lúc lại mang đến cảm giác rộn ràng và vui vẻ, cả bài thơ như bài nhạc muôn giai điệu phong phú làm rung động trái tim suy nghĩ của người đọc bài thơ. Tấm lòng yêu thơ ca và yêu những gì thân thuộc giản dị của quê hương cùng tài năng là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên thành công của bài thơ “Chiều xuân”.
Phân tích bài thơ “Chiều xuân” của Anh Thơ
1,177
Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi Bài làm Nguyễn Trãi ( 1380- 1442) tên hiệu là Ức Trai. Ông không chỉ là một nhà chính trị tài ba mà còn là một nhà thơ nổi tiếng với rất nhiều tác phẩm đặc sắc, để lại ấn tượng trong lòng người đọc. Cuộc đời của ông là những tháng ngày cống hiến cho dân tộc, cho đất nước. Đến cuối đời ông cáo quan lui về quê ở ẩn. Tại đây, ông đã cho ra đời rất nhiều tác phẩm xuất sắc, bộc lộ được tâm trạng cũng như những nỗi niềm trăn trở của ông. Trong số đó, bài thơ “ Cảnh ngày hè” được ông sáng tác để miêu tả khung cảnh ngày hè ở vùng quê thanh bình nơi ông sinh sống, nhưng cũng là nơi diễn tả những nỗi niềm thầm kín chưa được giãi bày của ông sau khi lui về ở ẩn. Cuộc đời ông gắn liền với những thăng trầm của đất nước, nên khi về ở ẩn, cuộc sống vô cùng thanh bình, yên ả, câu thơ mở đầu bài thơ đã cho thấy điều đó: Rồi hóng mát thuở ngày trường. Cuộc sống của Nguyễn Trãi ở chốn quê nhà thật bình dị, thanh bình. Giờ đây, ông đã có thể rời xa chốn quan trường nhiều thị phi, đã có thể thoải mái, hòa mình với thiên nhiên, con người và làm những đều mình thích. Khung cảnh ông không nói rõ, nhưng đọc câu thơ người ta có thể cảm nhận được đây là vào một ngày hè. Thoáng qua câu thơ, người đọc có cảm giác ông không vướng bận, thảnh thơi hóng mát nhưng không, có lẽ trong lòng ông vẫn còn nhiều tâm sự chưa được giãi bày cùng ai. Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương. Bức tranh Nguyễn trãi vẽ nên về ngày hè thật đẹp và nhiều màu sắc. Thiên nhiên như hòa vào nhau, tạo nên hơi thở mùa hè tràn ngập sức sống. Những cây hòe lục, cây thạch lựu, cây hồng cùng nhau khoe sắc, gợi lên cho người đọc một không gian tràn ngập màu sắc đẹp đẽ, sống động của mùa hè. Cuộc sống yên bình, đẹp đẽ đến nhường này có lẽ không ai là không muốn hướng đến. Cảnh sắc này dường như cũng là đặc trưng của mùa hè nơi vùng quê phương Bắc. Vậy nhưng đằng sau bức tranh rực rỡ đó, lại có cả một tấm chân tình, tình yêu bao la của Nguyễn Trãi dành cho quê hương, cho đất nước mà ông đã hy sinh cả đời mình để dựng xây: Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. Nguyễn Trãi đã cố tình đảo trật tự ngữ pháp, từ láy “ lao xao” được ông đảo lên đầu câu thay vì đặt ở vế sau, đem lại cho người đọc cảm giác về sự tấp nập, vui vẻ của phiên chợ nơi làng quê thanh bình. Chợ còn họp đông cũng đồng nghĩa với việc đất nước ấm no, hạnh phúc. Còn nếu ko họp nữa thì cũng đồng nghĩa với việc đất nước lâm nguy. Có thể thấy, dù cho đã rời xa chốn quan trường, nhưng Nguyễn Trãi vẫn luôn lo lắng cho an nguy của đất nước. Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương. Nguyễn Trãi đã rất tài tình khi mượn điển tích thời vua Nghêu, vua Thuấn, dân tộc luôn luôn sống trong thái bình. Vua Thuấn có khúc đàn “ Nam Phong” mà mỗi khi cất lên sẽ khiến cho người nghe có một cảm giác êm ấm, thanh thản. Chính vì lẽ đó, ông mới mượn tiếng đàn này để cầu nguyện cho nhân dân, đất nước luôn được ấm no và hạnh phúc. Ước vọng của ông cũng là ước vọng của tất cả những người con yêu nước, yêu dân, thật đáng quý và đáng trân trọng biết bao. Thật vậy, Nguyễn Trãi đẽ vẽ nên một bức tranh ngày hè sống động, rực rỡ, tràn ngập màu sắc và sức sống. Trong đó cũng không quên gửi gắm tình yêu, ước vọng dành cho quê hương, đất nước, khiến cho người đọc cảm thấy xúc động và trân trọng Nguyễn Trãi thêm rất nhiều. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi
751
Phân tích bài thơ “Ghét chuột” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Ghét chuột” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là nhà triết học vĩ đại, là một trong số những tác gia lớn của Việt Nam thế kỉ XVI, học rộng tài cao, một vị quan thanh liêm, nhưng không ham danh lợi, ông như một cây đại thụ tỏa bóng mát cả một thời đại. Ông sống trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, nội chiến liên miên kéo dài, nhân dân đắm chìm trong nghèo khổ, mất mát, sống trong cảnh lơm lớp lo sợ, nhưng ông thì vẫn không thay đổi nhân cách của ông mãi vẫn vững như núi, trở thành một ông thầy đầy vĩ đại, không những thế ông còn là một nhà thơ tài giỏi, để lại rất nhiều kiệt tác cho đời. Ông được phong tước Trích Tuyền Hầu rồi thăng tới Trình Quốc Công, mà dân gian quen gọi là Trạng Trình. Ông được người đời coi trọng, được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử, là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XVI. Người đời coi ông là nhà tiên tri số một trong lịch sử nước nhà đồng thời lưu truyền nhiều câu sấm kí được cho là bắt nguồn từ ông và gọi chung là “Sấm Trạng Trình”. Ông có những bài thơ đã trở thành kiệt tác, đi vào lòng người, các bài thơ nói về tình yêu đất nước, thương dân, tình yêu thiên nhiên và nhiều đề tài khác. Tiêu biểu trong số đề tài đó có một bài thơ mà tác giả đứng về phía nhân dân lầm than, cực khổ và khinh bỉ bọn quan lại giam lam, độc ác trong xã hội phong kiến thối nát, đó là bài “Ghét chuột”. Ấm no đều muốn được Ôi! Xưa bậc thánh nhân Dạy dân trồng ngũ cốc Cha mẹ được phụng thờ Vợ con được săn sóc Chuột lớn sao bất nhân? Gậm khoét thật thảm độc Đồng ruộng trơ rơm khô Kho đụn kiệt gạo thóc Sao dám khinh mạng dân? Phá hoại thật tàn khốc Rình mò dưới lỗ hang Thần dân đều căm tức! Quấy nhiễu mất lòng người Tất bị người xé xác Thây phơi khắp thị thành Thịt quạ diều rỉa bóc Khiến cho lớp dân tàn Cùng an hường hạnh phúc. (Bạch Vân am thi tập- Ngô Lập Chi dịch) Bài thơ này được viết bằng chữ Hán, theo thể ngũ ngôn trường thiên, rút trong tập “Bạch Vân am thi tập” của Trạng Trình đã được Ngô Lập Chi dịch theo đúng nguyên điệu. Ở đoạn đầu bài thơ, ngôn ngữ trang trọng, thiên về việc giáo huấn, phản ánh tư tưởng thương dân “lấy dân làm gốc”. Con người phải được dạy dỗ, sống vì một lí tưởng cao đẹp: Ôi! Xưa bậc thánh nhân …. Vợ con được săn sóc. Nhà thơ ngụ ý nhắc nhở mọi người cần phải sống lương thiện, không được làm điều ác, sống trái với ý muốn của bản thân. Niềm khát khao của mọi người đó là được sống trong lo ấm. Qua sáu câu thơ đầu, cho thấy tâm hồn và cốt cách cao cả của thi nhân, tư tưởng “lấy dân làm gốc” được tác giả nhắc đến, thể hiện qua sáu câu thơ này. Mười câu thơ tiếp theo nói về “lũ chuột” bất nhân, nghệ thuật trào phúng được vận dụng sắc sảo đã vẽ lên bộ mặt gớm ghiếc của lũ chuột bốn chân và bầy chuột hai chân trong xã hội mục nát thời bấy giờ. Lũ chuột là ẩn dụ cho những bọn quan tham, ăn hối lộ, cướp bóc tiền bạc của dân. Chúng là lũ bất nhân, phá hoại mùa màng, gặm khoét lương thực, làm cho ruộng đồng xác xơ, kho đụn kiệt gạo thóc. Tội ác tày trời, chúng là những người phá hoại đất nước làm cho đất nước ngày càng kiệt quệ, chế độ phong kiến thối nát: Gặm khoét thậm thảm độc Đồng ruộng trơ rơm khô Kho đụng kiệt gạo thóc. Vậy là hết đường sinh sống, nhân dân còn gì nữa để phụng dưỡng cha mẹ, để chăm sóc vợ con? Nhà thơ giận dữ hỏi tội chúng lũ bất lương, tàn ác: “Chuột lớn sao bất nhân?”, “Sao dám khinh mạng dân”. Trạng Trình đã từng dâng sớ xin chém đầu hết lũ quan tham, hại nước. Người đọc thấy được sự căm giận và khinh bỉ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với bọn quan tham, vô lại. Tiếp đến: “Khó nhọc nông phu than Đói gầy nông phụ khóc” Lũ “chuột lớn” đã gieo rắc bao tai họa khủng khiếp cho nhân dân, hai câu thơ được viết theo thủ pháp “bình đối” gợi ra trước mắt người đọc cuộc sống bi thảm, thạm bại của người dân thời đó. Tiếng than khóc của nhân dân vang dội khắp đất trời, bằng cả tấm lòng nhân đạo bao la, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau thay cho nỗi đau của nhân dân. Trong những vần thơ là hình ảnh ghê tởm của “lũ chuột bốn chân” và “bầy chuột hai chân”- lũ quan lại. Nhắc tới chuột là nhắc tới hang ổ của chúng, nhắc tới là nhắc tới thái độ của nhân dân, nhà thơ đã viết: “Rình mò dưới lỗ hang, Thần dân đều căm tức” Lũ chuột ra sức đục khoét dân lành, chúng vơ vét của cải của nhân dân, nhưng không ai dám lên tiếng. Tác giả phê phán, lên án và chỉ ra nguyên nhân sâu xa gây ra mọi tội ác trong xã hội cũ. Bài thơ tố cáo hiện thực xã hội càng trở lên có giá trị mạnh mẽ hơn. Quấy nhiễu mất lòng người Tất bị người xé xác Thây phơi khắp thị thành Thịt quạ diều rỉa bóc Khiến cho lớp dân tàn Cùng an hưởng hạnh phúc. Bài thơ “Ghét chuột” là một trong những bài thơ hay xuất sắc, đi vào lòng người mặc dù bài thơ này ra đời cách đây đã rất, rất lâu nhưng khi đọc người đọc vẫn có những cảm xúc khác nhau về bài thơ này, đồng cảm với những người nông dân cực khổ và căm ghét bọn quan lại hại nước hại dân.
Phân tích bài thơ “Ghét chuột” của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1,038
Phân tích bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu- Văn lớp 10 Bài làm Nhà thơ Thôi Hiệu là một người có tính lãng mạn trữ tình, thơ ông thường toát lên phong cách phóng khoáng, dứt khoát tao nhã, thể hiện phong cách riêng. Thôi Hiệu có nhiều bài thơ hay để lại nhiều ấn tượng khó phai trong lòng người đọc. Trong đó, bài thơ Hoàng Hạc lâu là bài thơ tiêu biểu thể hiện cho phong cách và tên tuổi của Thôi Hiệu. Bài thơ cũng là đỉnh cao của nghệ thuật thơ đường. Trong bài thơ tác giả Thôi Hiệu thể hiện bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, nỗi buồn của tác giả khi đứng trước lầu Hoàng Hạc gợi nhớ cho tác giả nhớ tới một huyền thoại bất tử thời xa xưa. Nó gợi lên trong lòng tác giả những suy nghĩ tiếc nuối một thời vàng son của nơi đây. Lầu Hoàng Hạc là một nơi gắn liền với di tích lịch sử nổi tiếng của Trung Quốc về huyền thoại Phí Văn Vi khi bà hóa thành tiên. Trước một bức tranh thiên nhiên cảnh đẹp nhân gian hiếm thấy tác giả đã gợi nhớ về khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ xưa kia. Hạc vàng ai cưỡi đi đâu, Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ. (Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.) Trong những câu thơ này ta thấy hình ảnh lầu Hoàng Hạc đứng một mình bơ vơ lạc lõng trước không gian mênh mông bao la, không một bóng người xuất hiện. Chính sự đơn độc đó là cho tác giả cảm giác được nỗi buồn hiu hắt, man mác trong lòng. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tỉa, không du du. (Hạc vàng một khi đã bay đi, không trở lại nữa, Mây trắng nghìn năm lởn vởn hoài.) Hình ảnh chim Hạc gắn liền với những khung cảnh thần tiên, vua chúa thời xưa. Hạc vàng giờ bay mất lên trời không biết khi nào mới có dịp trở lại nơi xưa khiến cho mọi việc trở nên huyền ảo, hư hư thực thực vừa thơ mộng, vừa thần tiên là xót xa lòng người. Mọi thứ hiện lên trong trí nhớ, tiềm thức của tác giả thể hiện sự ngậm ngùi thương tiếc của nhà thơ Thôi Hiệu. Nhà thơ đắm chìm hoài cổ trong không gian tĩnh mịch, tưởng nhớ về nơi xưa. Một nơi đã từng là lầu son gác tía. Nhưng hiện tại chỉ còn là nỗi hoang vu, trống trải, thể hiện sự cô đơn lạnh lẽo của nơi này, khiến cho tác giả cảm thấy có chút xót xa cay đắng, ngậm ngùi trước hoàn cảnh thực tại của nơi đây. Hạc vàng đã bay đi lên trời thành tiên chỉ còn trơ lại lầu Hoàng Hạc bơ vơ, cô đơn lạnh lẽo. Tác giả Thôi Hiệu đã vô cùng tinh tế khi vẽ lên một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, phong cảnh hoang sơ nhưng sơn thủy hữu tình thể hiện sự quan sát tinh tế, phong cách, độc đáo của tác giả. Trong những câu thơ tiếp theo tác giả Thôi Hiệu thể hiện tình cảm nhớ quê hương da diết, sâu sắc. Hình ảnh trên sông với những lớp khói hư thực càng làm cho tâm hồn tác giả cảm giác như buồn hơn, mênh mang hơn, da diết nhớ: Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai. (Nhật mộ hương quan hà xứ thị, Yên ba giang thượng sử nhân sầu. Trong mỗi câu thơ nỗi nhớ quê hương gợi lên tha thiết cùng với tâm tâm trạng cô đơn, lạc lõng trước cảnh núi non hùng vĩ làm cho bài thơ càng trở nên da diết, gây day dứt trong lòng người đọc, về một bức tranh thiên nhiên đẹp nhưng vô cùng buồn ảm đạm.
Phân tích bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu- Văn lớp 10
664
Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ Đề bài: Chép lại và phân tích khổ thơ đầu bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải 1. Yêu cầu – Thuộc lòng và chép lại chính xác khổ đầu (6 dòng) trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải. – Viết bài văn nghị luận về một khổ thơ trong bài thơ. – Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là khổ đẩu của bài thơ. – Phân tích, cảm nhận về cái hay, cái đẹp của nội dung và hình. – Những điều cảm nhận, phân tích phải đặt trong tương quan với cả bài và làm nổi rõ tư tưởng chủ đề của bài thơ 2. Gợi ý – Đọc kĩ cả bài thơ, đặc biệt là khổ đầu. – Tham khảo các bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về bài thơ. – Những cảm nhận mùa xuân thể hiện qua các giác quan nào? Sự tinh tế và mới lạ trong cách cảm nhận và thể hiện là gì? – Hiểu thế nào về “giọt long lanh rơi”? Sự trân trọng của tác giả với tín hiệu mùa xuân. – Kết hợp nghị luận với biểu cảm. 3. Lập dàn ý (dàn ý sơ lược) a. Mở bài: Thanh Hải và hoàn cảnh sáng tác bài thơ Mùa xuân nho nhỏ. b. Thân bài – Cảm nhận về mùa xuân của tác giả. – Phân tích vai trò các giác quan (thị giác, thính giác, xúc giác). – Vẻ đẹp của việc đảo trật tự cú pháp: mọc… bông hoa tím biếc. – Sự trân trọng của tác giả với mùa xuân: hứng giọt long lanh. c. Kết bài: Nhấn mạnh vẻ đẹp của khổ thơ trong vẻ đẹp của toàn bài: mùa xuân của đất trời và mùa xuân dâng hiến của mỗi con người. 4. Bài làm minh họa Thanh Hải đến với chúng ta trong một niềm cảm mến sâu xa. Ông đã tặng lại chúng ta một mùa xuân thấm đượm lòng người trước lúc đi xa. Và cũng chính ông đã nuôi dưỡng được trong trái tim mỗi người chúng ta một mùa xuân tươi đẹp và rạo rực hương sắc của thiên nhiên, tâm tình con người. Điều đó thể hiện rõ ngay từ khổ đầu của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải thể hiện cảm xúc của tác giả về mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân đất nước, mùa xuân con người của xứ Huế, Việt Nam. Ớ khổ thơ đầu bài thơ, chỉ bằng một vài nét “phác thảo”, nhà thơ Thanh Hải đã vẽ ra một khung cảnh mùa xuân thiên nhiên tuyệt đẹp, trong trẻo. Không gian mùa xuân ấy mở ra cả chiều ngang theo dòng sông, cả chiều cao theo cánh chim chiền chiện. Tác giả sử dụng hai gam màu: xanh, tím, trộn lẫn hài hoà chúng với nhau thành một sắc màu rất Huế. Tác giả dùng hai hình ảnh: chim chiền chiện và hoa tím tạo thành một quang cảnh đậm chất miền Trung. Cứ thế, nhà thơ Thanh Hải khắc hoạ trước mắt chúng ta một mùa xuân yên bình, thanh tĩnh, trong sáng của xứ Huế. Trong câu thơ đầu, tác giả còn sử dụng phép đảo cấu trúc câu, đặt động từ “mọc” lên trước làm cho không gian như lan toả sức sống căng trào của dòng sông. Sự sinh sôi, nảy nở của “bông hoa tím biếc” đã được nhấn mạnh một cách khéo léo. Bức tranh với những sắc màu trang nhã, đậm đà và sâu lắng. Đường nét, màu sắc hoà vào trong sự dịu dàng, duyên dáng của xứ Huế mộng mơ. Không những thiên nhiên cho chúng ta cảm nhận về thị giác, mà còn gợi lên cả âm thanh ngọt ngào đó là tiếng hót trong trẻo tươi vui của loài chim chiền chiện. Thán từ “ơi” cho chúng ta thấy sự bất ngờ, ngạc nhiên, vui thú của tác giả khi nghe tiếng chim hót. Phần đặc sắc nhất của khổ thơ nằm ở hai câu thơ cuối: Từng giọt long lanh Tôi đưa tay tôi hứng. Câu “Từng giọt long lanh rơi” gợi ra nhiều cách hiểu khác nhau. “Giọt” ở đây, phải chăng chính là những hạt sương, hạt mưa xuân rơi dưới ánh nắng mặt trời ấm áp, trở nên long lanh, lấp lánh. Hay đó là chuỗi hạt được cô đọng lại từ tiếng hót tuyệt diệu của những chú chim chiền chiện? Nếu hiểu theo nghĩa thứ hai, ta có thể nhận ra tác giả đã sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, giúp chúng ta chạm được âm thanh cao vút của mùa xuân, chứ chẳng phải là nghe thấy nó. Cách hiểu này hơi cầu kì, tinh tế hơn cách nhìn trước. Nhưng hiểu theo cách nào cũng rất hay, rất đẹp. Không chỉ có chúng ta mà tác giả cũng rất muốn “hứng được dòng âm thanh tinh tuý của đất trời” đó. Đại từ “tôi” được lặp lại hai lần cho thấy tác giả trân trọng những giọt này hay mùa xuân Việt Nam như thế nào: Tôi đưa tay tôi hứng. Tình cảm của tác giả dành cho mùa xuân là tình cảm yêu quý, trân trọng thiên nhiên cuộc sống. Thanh Hải đã vĩnh viễn đi xa nhưng bài thơ của ông vẫn làm nên mùa xuân trong lòng mỗi chúng ta. Bất chấp thời gian, lao động và cống hiến của con người sẽ chính là mùa xuân bất diệt của dân tộc, của đất nước. Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bạn đã biết cách làm bài văn nghị luận về một khổ thơ. Bạn đã phân tích hình ảnh, âm thanh và vẻ đẹp của câu thơ dùng biện pháp đảo trật tự cú pháp. Với một khổ thơ ngắn để bắt đầu một bài thơ thì bài viết của bạn là vừa phải.
Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải – Ngữ Văn 9
1,026
Phân tích bài thơ “Mồng hai Tết viếng cô Ký” của Tú Xương Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Mồng hai Tết viếng cô Ký” của Tú Xương BÀI LÀM Là một nhân chứng của lịch sử Việt Nam trong giai đoạn đất nước chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến. Trần Tế Xương chấp nhận cảnh “Chạy ăn từng cảnh toát mồ hôi”, dù ông có đậm dọa “Chẳng sang Tàu, tớ cũng sang Tây”, nhưng cho đến khi nhắm mắt ông vẫn chỉ sống thanh bạch, nhờ một tay người vợ xoay xở. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” Chính vì thế Tú Xương càng bật ra tiếng thơ hài hước đến mức cay độc khi phải chứng kiến những cảnh chướng tai gai mắt trong xã hội, mà “cố Kí” là một đối tượng có sức gợi cảm nên thơ. Có lẽ khi cô Kí còn sống, Tú Xương đã ngán ngẩm lắm rồi khi nghĩ đến nhân tình thế thái. Nhưng vì sau khi cô Kí chết, ông mới có thơ về cô. Và chăng khi người nằm xuống, chấm dứt một cuộc đời, nhưng lại để lại một câu chuyện hay hay? Có thể đem ra trình làng! Phan tich mung 2 Tet vieng co ky cua Tu Xuong Cho nên tác giả làm như ngạc nhiên mà thật ra là để mở đầu câu chuyện một cách ngộ nghĩnh: “Cô Kí sao mà đã chết ngay, Ô hay! Giời chẳng nể ông Tây…” Như vậy, ở hai câu đầu, ta đã thấy lộ ra ba nhân vật: “Cô Kí- ông Tây” và bóng dáng mờ nhạt của thầy Kí, đằng sau tên “cô Kí”. Những từ rất Nôm — thường thấy trong bút pháp thơ Đường luật của Tú Xương: “Ô hay… mà sao…” Thoáng nghe, ta thấy Tú Xương là một người hàng xóm thật dồi dào tình làng nghĩa “hàng phố”. Ông tiếc thương cô Ký với tất cả tấm lòng và oán trách ông trời: sao chẳng “nể ông Tây”. Như vậy, người đã chết nhưng “chưa hết chuyện”. Đọc qua lời thơ, ta nghe như tác giả kêu lên, có thể “diễn Nôm” hai câu thơ này như sau: “Ôi, cô Kí ơi! Sao cô đi đâu? Vội vã thế?” Sao cô không sống nữa với thầy Kí và ông Tây? Sao cô “đi sớrn thế?”. Và khi đọc lại… càng đọc… ta càng thấy những lời gay gắt, nêu hiểu cái nghĩa sâu kín của lời thơ: “Sao cô Kí lại lìa đời thanh thản dễ dàng thế?” Cô làm nên bao nhiêu chuyện, sao không ở lại mà thụ hưởng hậu quả…? Với cách hiểu đó ta thấy tác giả mở đầu câu chuyện về cái chết của cô Kí bằng sự trách cứ bâng quơ, nếu không muốn nói là ỡm ờ: Nhịp thơ 2/5 phá cách để diễn tả một lời than thật Việt Nam để gởi gắm với ẩn ý rằng: “Đáng đời ông lắm! Ông có là ông Tây, là viên Cẩm thì giời củng không tha cô gái – già nhân ngãi, non vợ chồng này!” Thật là một giọng thơ tài tình “ý tại ngôn ngoại”. Chua chát hơn, tác giả dùng lời nói ngược để mỉa mai cô Kí trong từ “gái tơ” – một từ để chỉ cô gái ngây thơ trong trắng- Đã thế, gái tơ mà lại “đi lấy làm hai họ”. Câu thơ tuy lắt léo nhưng không đến nỗi khó hiểu. Nghĩa là cô Kí làm vợ bé của thầy Kí – thế đã là một chuyện để tác giả kết án: “đua nhau lấy các thầy”. Ớ đây cô Kí lại làm vợ – làm dâu hai họ: “họ nhà thầy Kí, họ ông Tây”. Nghệ thuật bình đối được sử dụng thật đắt: “Gái tơ đi lấy làm hai họ Năm mới vừa sang được một ngày…” Năm mới ư? Năm mới có điều gì trong thơ Tú Xương ở lúc này ngoài việc “Gái tơ đi lấy làm hai họ”? Một sự đối lập – một thứ “quái thai” của xã hội đương thời! Cái năm mới này nghe ra còn cay đắng hơn, ngán ngẩm hơn cả cái năm mới mà nhà thơ Vị Xuyên ngồi mà nghe về thiên hạ: “Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau” Bằng giọng thơ tài tình của tác giả, người nông cạn có thể hiểu rằng nhà thơ đang nức nở: “Cô Kí ơi, đang mùa xuân rộn rã, hưởng xuân mới được một ngày… sao cô đã ra đi” Và tiếp theo nỗi tiếc của tác giả là cái “sự thương” của ông chồng và “nước mắt” của hàng phố: “Hàng phố khóc bằng câu đối đỏ Ông chồng thương đến cái xe tay” Ồ! Hóa ra… Cô Kí nằm xuống hàng phố khó bằng những câu đối đỏ chói, rực rỡ để đón chào xuân? Và ông chồng… chồng cô thương cô ư? Không! Không phải thương cô… mà. “Thương đến cái xe tay”. Như vậy là khi “người bạn trăm năm” của ông ta nằm xuống, ông chỉ còn nỗi niềm thương oán là: cửa hàng bán xe tây của ông từ nay chẳng còn ai đi lại giao thiệp với ông Cẩm nữa. Ông mở cửa hiệu xe tay, làm cai cu li xa, do ông Cẩm kiểm soát, đánh thuế và điều hành loại xe này. Không rõ tên cúng cơm của cô Kí là gì. Hàng phố gọi là cô Kí, kể ra gọi như vậy tiện đủ mọi đường… Cô Kí lấy ông Kí vì cửa hiệu xe tay. Chiếc xe tay là hình ảnh của một thời kì kinh tế Việt Nam chuyển mình từ xã hội phong kiến quá ư lạc hậu qua xã hội nửa phong kiến, nửa thực dân. Cái xã hội “mới” này cần phương tiện đi lại cách tân hơn là “bỏ người trong võng” khiêng đi. Nó cần cho nhiều “thầy”, nhiều “cậu ấm, cô chiêu”… từ nay, cô Kí vĩnh viễn ra đi, làm sao cửa hàng phát đạt, hưng thịnh, để ông thu hốt “trăm nghìn vạn mớ”, để “cho gà ăn bạc” nữa? Còn ông chồng… Xưa nay, người ta dùng bao nhiêu từ hoa mỹ để nói đến tình nghĩa tào khang – nào là “hương lửa ba sinh” – nào là “trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” (Nguyễn Du) nhưng… khi cô Kí nằm xuống, ông chỉ “thương đến cái xe tay”. Vì cô Kí mất rồi, cửa hiệu lấy đâu ra những đặc ân hậu hỉ của ông Tây? Chính lúc này, không phải là lúc ông thương – mà là lo – “thương” ở đây là lo. Vì lúc này đây, ông biết trước cái vầng hào quang “bảo hộ” sẽ tắt, và những cái xe tay của ông rồi sẽ ế ẩm bởi bị chèn ép. Qua hai cặp thực và luận, tác giả đã vận dụng nghệ thuật đối để phơi bày một câu chuyện trái tai gai mắt xoay quanh ba nhân vật sống thức bây giờ. Tất cả đều éo le, ngược ngạo… câu chuyện được khép lại với những chi tiết đối lập khá hay ho: Một cô Kí có hai chồng, một tin buồn giữa ngày vui, hàng xóm “khóc” trong tâm trạng rộn ràng đón xuân, người “thương” lại không ngừng cho người chết – mà thương cho những cái xe tay… vô tri vô giác… (vô tri vô giác nhưng nó là tiền). Nghệ thuật đối trong thơ đã nhấn mạnh những éo le, những cảnh ngược đời, có thật xuất hiện nhan nhản trước mắt tác giả – khi đồng bạc trắng trùm lên, thay đổi mọi cương thường đạo lí. Cố Kí lấy thầy Kí – vì tiền. Thầy Kí để cô Kí đi với ông Tây cũng vì tiền. Vì tiền, chồng không cần vợ chung thủy, vợ chẳng cần giữ đoan chính…! Nếu ở hai phần thực – luận, lời phê phán mỉa mai cay đắng còn ẩn hiện trong các các hình ảnh đối lập thì ở hai câu kết, tác giả như một lời kêu to kèm theo cái chép miệng, cái lắc đầu của ông Tú Vị Xuyên: Mà vẫn đua nhau lấy các thầy…” Không, nếu gọi hai câu kết là một lời than cũng chưa đúng hẳn, nó chỉ mới là một nửa, là một lời nói chưa hết ý – vì đọc đến đây, ta sẽ tự hỏi: Tác giả trách ai đây? Phê phán, kết tội ai đây? Các “cô con gái” gớm ghê hay các thầy đáng gớm ghê, nên họ đua nhau – đồng nghĩa với chen lấn xô đẩy nhau vào cảnh “đua nhau lấy các thầy” thật là một lời mỉa mai, ngán ngẩm, những cũng có vị đắng trên môi. Ôi, nếu trước kia Hồ Xuân Hương rất sợ cái cảnh: “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”. Đến mức phải chém cha cái số, cái kiếp ấy, thì lúc này các cô không còn sợ gì hết do đồng tiền vừa có sức mạnh “vạn năng” vừa có sức quyến rũ ghê gớm! Âu cũng là một bước trượt dài về đạo lí sống của xã hội đương thời mà Tú Xương vừa phê phán lại vừa chua xót ngậm ngùi. Kết thúc bài thơ, ta thấy Tú Xương không chỉ luôn luôn là một người trào phúng sâu cay, nhưng bên cạnh cái sâu cay ấy cũng còn một chút xót xa, một lời khuyên nhủ nhiều thiện ý. Đối tượng mà ông tấn công cũng không nương tay, vạch trần sự bạc bẽo mà không nhượng bộ là “thầy Kí”. Trước cái chết của vợ, hắn còn lộ rõ sự bất nghĩa, hám tiền. Đối với ông Tây thì sao? Tác giả nhắc đến ông Tây một lần duy nhất trong câu hai: “Ô hay! Giời chẳng nể ông Tây” như muốn nói với dân An Nam cũng còn có người nể ông, sợ ông, nhưng trời “thì chẳng nể ông đâu”. Tóm lại, bài thơ mang một chủ đề rất bình thường; phúng điếu một người hàng xóm – thế mà, trong bài thơ ấy, ta thấy rõ thái độ tố cáo phê phán của tác giả với ba hạng người trong xã hội bấy giờ. Một ông Tây làm cò mít xe, chuyên đánh thuế, trông coi xe tay (một thứ xe kéo), một ông Kí lục cai xe, và một “cô Kí” kiêm me Tây… và ba nhân vật ấy xoay quanh nhau một chiếc xe tay… Tức xoay quanh những đồng tiền. Nụ cười của Tú Xương trước một đám ma đã trầm ngâm sâu lắng hơn là nụ cười ồn ào: “Ôi khí ơi là khí” Nhưng vẫn là nụ cười đả kích, không khoan nhượng những gì “chướng tai gai mắt”.
Phân tích bài thơ “Mồng hai Tết viếng cô Ký” của Tú Xương
1,776
Phân tích bài thơ “Mới ra tù tập leo núi” của Hồ Chí Minh- Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Mới ra tù tập leo núi” của Hồ Chí Minh- Văn lớp 12 Bài làm Hồ Chí Minh là một nhà chính trị, một nhà cách mạng lẫy lừng của dân tộc ta. Người là một anh hùng cứu quốc được toàn thể nhân dân Việt Nam tôn trọng, bên cạnh đó người còn là một nhà văn, nhà thơ để lại nhiều tác phẩm tên tuổi. Bài thơ “Mới ra tù tập leo núi” nằm trong tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh ghi lại những tâm sự, nỗi niềm của Bác trong những ngày bị bắt giam ở nhà tù của Tưởng Giới Thạch. Tập thơ Nhật ký trong tù của tác giả thể hiện tinh thần kiên định, yêu nước, kiên cường với con đường cách mạng giải phóng dân tộc của tác giả. Bài thơ Mới ra tù tập leo núi thể hiện sự kiên cường của tác giả, khi muốn khôi phục thể trọng nhanh nhất để hòa nhập cuộc sống, bởi những tháng ngày bị gông cùm xiềng xích. “Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân, Giang tâm như kính tịnh vô trần; Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh, Dao vọng Nam thiên, ức cố nhân”. Bài dịch: “Núi ấp ôm mây, mây ấp núi Lòng sông gương sáng bụi không mờ Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa” Trong bài thơ này hai câu đầu tiên tác giả ghi lại cảnh núi non trùng điệp. Núi mây được nhân cách hóa giống như con người có tình cảm, che chở, ôm ấp nhau tạo nên sự quấn quýt, quây quần bao bọc cho nhau, thể hiện tình cảm gắn bó thắm thiết keo sơn. Lòng sông gương sáng bụi không mờ. Hình ảnh mặt sông trong vắt như gương, nhìn vào trong đó cảm thấy trong suốt không vướng bụi mờ thể hiện cho tình cảm cả tác giả. Tấm lòng thủy chung son sắc với quê hương đất nước của tác giả không có gì vướng bụi, phai mờ. Câu thơ cũng gợi tả lên một hình ảnh bức tranh thiên nhiên có mây, núi, gió sông thể hiện một sự nguyên thủy, hoang sơ, hữu tình chưa từng thấy. Trong tâm trạng tự do, khi được thả ra khỏi nhà tù, tác giả Hồ Chí Minh cảm thấy tâm hồn thật bay bổng lãng mạn khi được về lại với chính mình, tay chân không còn bị gông cùm xiềng xích bởi những sợ xích, không còn tiếng leng keng của mỗi bước chân nặng nề. Bồi hồi dạo bức Tây Phong Lĩnh Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa Nếu như hai câu đầu tác giả thể hiện bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, cảnh thiên nhiên với núi non, sông nước vô cùng nên thơ trữ tình. Lòng sông sáng tựa một tấm gương như tấm lòng của người cách mạng dù trong gian lao tù tội, vẫn không thay đổi ý chí kiên cường. Thì hai câu thơ tiếp theo, tâm trạng nhớ cố hương, nhớ những người đồng chí, đồng đội càng làm cho tác giả càng nhớ quê nhà nhiều hơn. Hồ Chí Minh với con đường cách mạng, thể hiện phong thái ung dung, kiên cường của mình. Thông qua bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước sâu sắc nhất, mãnh liệt sâu sắc của Hồ Chí Minh. Ngôn ngữ bài thơ thể hiện cách chân thành, tấm lòng chung thủy sắc son của tác giả với con đường cách mạng với sự nghiệp giải phóng quê hương của nước nhà
Phân tích bài thơ “Mới ra tù tập leo núi” của Hồ Chí Minh- Văn lớp 12
611
Phân tích bài thơ “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương Bài làm Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Mương mới quệt rồi Có phải duyên nhau thì thắm lại, Đừng xanh như lá bạc như vôi. Người ta thường nói: văn là người. Chân lý ấy được minh họa đầy đủ và sâu sắc ở nhà thơ Hồ Xuân Hương. Đây là một cá tính độc đáo, một phong cách đặc biệt khác thường. Con người này làm thơ để ném ra cá tính ấy, phong cách ấy như một thách thúc đối với trật tự đẳng cấp nghìn đời mà kẻ ăn trên ngồi trốc là những “hiền nhân quân tử”, những vua và chúa, còn những người bị đặt dưới cùng là những người đàn bà thuộc tầng lớp bình dân. Không, đối với Hồ Xuân Hương không có trật tự trên dưới nào hết, ai cũng như ai, dù là nam hay nữ, dù là những người ‘tai to mặt lớn mũ áo xêng xang hay những bố cu mẹ đĩ, đều có quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc, được người đời coi trọng nhờ đạo đức và tài năng của mình. Tất nhiên cá tính ấy không phải ngẫu nhiên mà có. Đấy là tiếng vang dội của cả một cao trào nông dân khởi nghĩa thế kỷ XVII, XVIII trên lỉnh vực ý thức thẩm mỹ thời đại. Những điều kiện lịch sử thời Hồ Xuân Hương không cho phép đất nước chuyển sang một thời kỳ mới. Vậy là tính cách thì lớn nhưng khuôn khổ xã hội thì vẫn chật hẹp. Không khuất phục, không đầu hàng, Hồ Xuân Hương tuyên chiến với một thứ khuôn phép, chuẩn mực cửa xã hội đẳng cấp phong kiến đã trở thành trái tự nhiên, phi đạo lý, bằng những vần thơ ngang ngược, oái oăm, bằng cái tôi ngông nghênh kiêu ngạo của mình: “Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ – Lại đây cho chị dạy làm thơ – “Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo – Kia đền Thái thú đứng treo leo – Ví đây đối phận làm trai được – Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”.v.v… Tuy nhiên, nếu Hồ Xuân Hương là tiếng nói đanh thép, dõng dạc của phong trào quần chúng hùng mạnh, quyết liệt nhất thì đồng thời cũng là sự thể hiện nỗi ấm ách, bực bội không giải toả được của lịch sử một dân tộc tuy khủng hoảng sâu sắc nhưng chưa tìm ra lối thoát. Cái ấm ách lịch sử ấy, ở bậc kỳ nữ này, lại bắt gặp, như là một định mệnh, cái ấm ách bực bội của một số phận cá nhân. Có người đàn bà nào tài hoa đến thế, giàu sức sống đến thế, khát khao tự do và tình yêu chân thật đến thế lại bị đày ải vào một cuộc đời éo le, bất hạnh đến thế: con vợ lẽ, hai lần lấy lẽ, hai lần goá chồng. Ta hiểu vì sao, đọc thơ Hồ Xuân Hương, thấy một tâm trạng đầy mâu thuẫn phức tạp: một tiếng cười ngang tàng thoải mái kéo theo những giọt nước mắt và tiếng thở dài…, một bản lĩnh dám một mình chọi lại với cả một xã hội đầy thành kiến hủ bại thâm căn cố đế, thậm chí thách thức với cả vũ trụ càn khôn. (Nín đi kẻo thẹn với non sông)… lại đồng thời là một tâm sự cô đơn, chồng chênh, chơi vơi, lênh đênh, có những lúc muốn nhắm mắt xuôi tay (Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến -Dong lèo thây kẻ rắp xuôi dòng…) một tấm lòng son tươi rói trẻ trung, đầy ắp xuân tình, xuân sắc, lại đi liền với biết bao cay đắng tủi hờn của cuộc đời đàn bà đầy những ngang trái, dang dở, bẽ bàng… Mời trầu cũng như nhiều bài thơ khác của Hồ Xuân Hương thuộc thể tuyệt cú cổ điển. Đấy là một thể Đường luật thi, một thứ văn chương bác học. Nhưng đọc Mời trầu không ai có ý nghĩ đây là bài thơ Đường du nhập từ Trung Quốc vào qua những nhà trí thức Hán học. Có một cái gì thật là nôm na dân dã ở lời thơ hết sức bình dị và ở giọng điệu mộc mạc đến suồng sã: Này của Xuân Hương đã quệt rồi. Có thể diễn xuôi ra như thế này: Này nói cho mà biết, miếng trầu của Xuân Hương chỉ xoàng xỉnh thế thôi, nhưng là của Xuân Hương,’ chính tay Xuân Hương quệt vôi têm ra đó. Nó xoàng xĩnh thế thôi nhưng gói ghém trong đó cả cái tình của Xuân Hương đấy. Người ta nói Xuân Hương đã bình dân hoá, dân gian hoá thơ Đường là như thế. Bản thân tục mời trầu cũng là một nghi lễ rất dân gian và hình ảnh quả cau nho nhỏ thì rất đỗi quen thuộc trong ca dao dân ca. Thơ Xuân Hương, về phương diện này, dường như xuất phát từ một nguồn mạch với những “quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân…”, hay “mời anh xơi miếng trầu này – Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng…” của những câu hát dân gian. Ta gọi thế là chất dân gian, một vẻ đẹp riêng của thơ Xuân Hương. Chất trẻ trung, tươi tắn lại là một vẻ đẹp khác của bài thơ: hãy để ý đến màu sắc trong bài thơ. Thơ Đường thường thiên về tính trừu tượng khái quát, ít khi miêu tả chi tiết cụ thể. Do đó thơ Đường cũng ít dùng đến những màu sắc cụ thể đập mạnh vào cảm giác người đọc. Thơ Đường thiên về trí tuệ nên thường chỉ gợi liên tưởng chứ ít miêu tả trực tiếp. Vì thế cảnh sắc trong thơ Đường cũng trừu tượng. Đọc thơ Đường ta thường bắt gặp những thu sắc thu phong, những xuân sắc, xuân sơn, một thứ màu sắc bàng bạc trong không gian, trên tạo vật, thế thôi. Tất nhiên những màu sắc như thế không phải chỉ là màu sắc tự nhiên mà còn là tấm lòng của tác giả. Ở bài Mời trầu, có một cái gì trẻ trung tươi tắn trong hoà sắc ba màu: xanh, trắng, đỏ. Cần lưu ý: màu xanh là màu tươi của lá trầu, màu trắng là màu trắng tinh của vôi trên lá xanh, còn màu đỏ là màu đỏ thắm tạo nên bởi hai chất liệu trắng và xanh hoà quyện vào nhau. Kể ra, tự nhiên cũng có lắm cái kì diệu, xanh trắng mà lại tạo thành đỏ. Trong quan hệ nam nữ cái kì diệu ấy chỉ có thể là cái tình, cái duyên, là tấm lòng chân thật với nhau mà thôi: Có phải duyên nhau thì thấm lại Câu thơ cũng đở thắm như tấm lòng nhà thơ vậy. Nhưng thơ Xuân Hương là thế: không bao giờ muốn che giấu đi một cá linh ngang tàng: ở địa vị người đàn bà trong xã hội cũ, lại là chuyện mời trầu người ta, lẽ ra thì phải mềm mỏng, dịu dàng và phải bèn lẽn một chút, Xuân Hương không thế, cái tôi dỏng dạc xưng tên: Này của Xuân Hương đã quệt rồi. Trong thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa phát triển, cái tôi cá nhân, bản thân nó không được xem là một giá trị đáng coi trọng. Hồi ấy, trong phép xã giao, thái độ của người có lễ giáo là phải biết giấu cái tôi của mình đi, hoặc phải hạ nó xuống đến mức thấp nhất (chẳng hạn: kẻ ngu này trộm nghĩ…), là người đàn bà, phép tắc ấy lại càng phải coi trọng hơn nữa. Vậy mà nhà thơ nữ của chúng ta lại dõng dạc: Này của Xuân Hương. Rõ ràng là một sự thách thức táo bạo trước dư luận xã hội. Đã thế lại còn đóng dấu ấn cá nhân vào miếng trầu đưa cho người một cách rất ít mềm mỏng: Này của Xuân Hương đã quệt rồi. Quệt cũng như têm thôi (têm trầu), nhưng quệt tỏ ra suồng sã hơn, bướng bỉnh và ngang ngược hơn, không muốn khiêm tốn một chút nào. Có phải duyên nhau thì thắm lại. Nhau tuy có giọng thân mật đấy nhưng hoàn toàn bình đẳng. Đến câu tiếp theo không còn là giọng mời chào nữa, mà là một lời mắng hẳn hoi. Mời ăn trầu mà cứ như mắng người ta, dù là mắng yêu đi nữa, thì cũng chỉ có ở Xuân Hương thôi: “đừng xanh như lá bạc như vôi!” Tuy nhiên lời thơ ngẫm cho kĩ, không chỉ thể hiện cá tính ngang tàng của Xuân Hương…. Biết bao trải nghiệm cay đắng trong đời tình ái của mình và của nhiều phụ nữ trong xã hội cũ đã gửi vào trong lời thơ ấy. Ở cái thời phong kiến trọng nam khinh nữ, cái thời mà trai thì tha hồ mà năm thê bảy thiếp, nhưng gái chính chuyên chỉ có một chồng ấy, tìm ra được tình yêu chân thật thuỷ chung ở bọn đàn ông thật khó vậy thay. Xuân Hương biết vậy, nên tiếp liền theo lời mời trầu là một ý răn đe: có yêu thì yêu cho chân thật để tính chuyện lâu dài, đừng giở cái trò cợt bướm trêu hoa, giữa đường quất ngựa truy phong như cái thằng Sở Khanh tráo trở kia thì không xong đâu. Nhưng éo le thay là cái chuyện tình. Bản lĩnh đặc biệt của Hồ Xuân Hương khiến nữ sĩ có thể làm chủ được trong mọi tình huống. Có tài, có đức, có trí, có dũng thì CÒn sợ gì nữa. Trong mọi mối quan hệ của đời sống, dường như Hồ Xuân Hương không chịu khuất phục một ai, cho dù là vua chúa, là anh hùng, là quan văn, quan võ, là các bậc hiển nhân quân tử hay những đấng thần phật thiêng liêng…. Nhưng tình yêu bản thân nó là một sự lệ thuộc. Tình yêu là sự tự nguyện lệ thuộc vào một đối tượng nào đó và cảm thấy hạnh phúc trong chính sự lệ thuộc ấy. Nhưng mọi bi kịch của tình yêu cũng đều bất nguồn từ đấy. Trong quan hệ lệ thuộc một cách tự nguyện này, người phụ nữ thường phải chịu thiệt thòi. Tình trạng ấy ở trong xã hội phong kiến, dĩ nhiên lại càng dễ hiểu lắm. Nhưng biết làm sao được, khi mà người đàn bà có một trái tim sôi nổi, khát khao yêu và được yêu như nữ sĩ họ Hồ. Cho nên đọc kỹ, lắng kỹ từng câu thơ Mòi trầu mà xem, có phải đằng sau cái đanh đá, đáo để, vẫn còn một tấm lòng khát khao tha thiết và một giọng khiêm tốn nhún nhường (Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi – Nàỵ của Xuân Hương đã quệt rồi) và không phải không có một cái gì như là xót xa cay đắng mà nhà thơ không hoàn toàn che giấu nổi (có phải duyên nhau thì thắm lại — Đừng xanh như lá bạc như vôi). Con người ấy trong lĩnh vực tình yêu và hạnh phúc đã không thể làm chủ được số phận của mình. Ấy là một tấm lòng son nổi lên giữa dòng đời đen bạc.
Phân tích bài thơ “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương
1,921
Phân tích bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ Đề bài: Phân tích đoạn thơ từ “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối” đến “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu” trong bài thơ Nhớ rừng, của Thế Lữ. 1. Yêu cầu – Viết bài văn nghị luận về một khổ thơ trong bài thơ. – Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là khổ thơ “tứ bình” (bốn cảnh) trong bài thơ Nhớ rừng của tác giả Thế Lữ. – Cần phân tích cảm nhận về cái hay, cái đẹp của nội dung và hình thức khổ thơ. – Những điều cảm nhận, phân tích phải đặt trong tương quan với cả bài và làm nổi rõ tư tưởng chủ đề của cả bài. 2. Gợi ý – Đọc kĩ cả bài thơ, nhất là khổ thơ cần phân tích, cảm nhận. – Tham khảo các bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về bài thơ. – Những cảm nhận bốn cảnh (đêm vàng, bình minh, mUct, chiều) của con Hổ được thể hiện như thế nào? Sự tinh tế và mới lạ trọng cách cảm nhận và thể hiện là gì? Điều đó khắc hoạ vai trò của con hổ tự do trên vương quốc riêng của nó như thế nào? – Cần kết hợp nghị luận với miêu tả, biểu cảm. 3. Lập dàn ý (dàn ý sơ lược) a. Mở bài: Thế Lữ, ngôi sao đột hiện và bài thơ Nhớ rừng. b. Thân bài – Cảm nhận về đêm vàng của con hổ. – Vẻ đẹp của cảnh mưa chuyển bốn phương ngàn và vị vua của vương quốc lặng ngắm giang san đổi mới. – Cảm nhận về bình minh của con hổ. – Chiều lênh láng máu và tầm vóc vũ trụ của chúa sơn lâm. – Suy nghĩ về sự tiếc nuối và uất hận của con hổ. c. Kết bài: Nhấn mạnh vẻ đẹp của đoạn thơ trong vẻ đẹp của toàn bài: con hổ căm ghét sự tù túng của hiện tại, nhớ khôn nguôi quá khứ oanh liệt, huy hoàng. 4. Bài làm minh họa Thế Lữ đã được biết đến với vai trò như “người đặt viên gạch đầu tiên cho phong trào Thơ mới”. Thơ ông như một luồng gió lạ, khiến người ta biết say mê cái đẹp của cuộc sống, biết hi vọng vào cái sáng lạn của cuộc đời. Thế mới biết hết cái uy phong của một “viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ” lẫm liệt biết chừng nào! Cái uy phong của “ngôi sao mới” ấy đã được thể hiện rõ trong bài thơ Nhớ rừng – một thi phẩm nổi tiếng của ông. Nếu hồn thơ Thế Lữ là “cây đàn muồn điệu” thì Nhớ rừng chính là điệu thơ nổi bật nhất của ông. Giọng điệu bao trùm thi phẩm là sự bi tráng, là “khúc trường ca dữ dội” nói lên bi kịch của cả một thời đại. Bài thơ dựng lên hai khoảng không gian, đối lập: sự hùng vĩ của thiên nhiên và sự chật hẹp, tù túng của vườn bách thú nơi con hổ đang sống. Nét bút lãng mạn của Thế Lữ đã nâng sự đối lập đầy tính bi kịch đó lên để tạo ra âm hưởng hào sảng, kì vĩ cho bài thơ, nổi bật là hình ảnh bộ tranh tứ bình tinh xảo và độc đáo. Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan. Một “đêm vàng” bên bờ suối, hình ảnh ẩn dụ ở đây thật lộng lẫy và huyền ảo. Nhà thơ không nói “đêm trăng” mà lại nói là “đêm vàng” khiến cho cảnh vật bỗng trở nên huy hoàng, rực rỡ hơn bao giờ hết. Ánh trăng chiếu xuống khu rừng làm cho mọi vật như lung linh và nhuộm một sắc màu vàng óng lấp lánh. Tưởng như trên thế gian này có bao nhiêu vàng bạc, trời hút lên rồi trút hết xuống khu rừng. “Uống ánh trăng tan” cũng là một hình ảnh ẩn dụ đẹp. Ánh trăng chiếu xuống mặt nước, mặt nước lung linh in hình bóng trăng và ánh trăng dường như tan ra trong dòng nước, nó loãng ra, trải dài trên mặt nước mênh mông, bát ngát, lấp lánh, kì ảo. Con hổ uống nước suối mà như uống ánh trăng tròng cơn say mồi. Hình ảnh này đã gợi cho ta nhớ đến câu ca dao cổ: Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi? Thế Lữ đã thổi hồn thi sĩ vào trái tim con mãnh chúa, nếu không như thế thì làm gì có “đêm vàng”, làm gì có “uống ánh trăng tan”. Thiên nhiên đẹp và quyến rũ quá làm cho giá trị của buổi đêm hôm ấy dường như tăng lên gấp bội phần, càng làm cho vị chúa tể thêm mơ màng, say sưa trong giấc mộng. Tiếp theo là bức tranh về cơn mưa rừng. Con hổ – với sự trầm mặc của một nhà hiền triết, lặng im ngắm nhìn “giang sơn” mà hổ là bá chủ. Những giọt mưa dội xuống làm tươi mát cả khu rừng, cả rừng núi như thay đổi với một sức sống mới dạt dào, tràn trề hơn bao giờ hết. Có một cái gì đó rất trong trẻo, tinh khôi hiện lên trong hình ảnh thơ này. Con thú giờ đã không chỉ còn là một thi sĩ nữa mà còn có cái nhìn của một triết gia, một nhà thông thái. Bức tranh này mang vẻ đẹp của sự nhẹ nhàng, thanh khiết và tinh tế đến kì lạ. Cùng với bức tranh thứ nhất, nó đã giúp ta hiểu được sự muôn hình muôn vẻ của thiên nhiên hằng lưu dấu vết trong tâm hồn con hổ. Từ vai trò của vị đế vương mà giang sơn là cả núi rừng mênh mông và thăm thẳm. Buổi bình minh ở chốn hoang dã tươi rói sắc màu và thánh thót, du dương âm thanh của muôn thú trong con mắt của vị chúa sơn lâm. Trên ngai vàng ngự trị, hổ ta từ từ thưởng thức cái thú vui tiệc rượu của mệt đấng “quân vương” với cảnh bình minh cây xanh làm màn che trướng rủ, chim chóc trong rừng là những cung nữ chuyên phục vụ chúa sơn lâm bằng những điệu múa uyển chuyển và tiếng ca réo rắt đến vui tai của mình. Tất cả lại từ từ đưa vị chúa tể vào giấc ngủ êm ái và dịu ngọt. Nền tranh rạng rỡ bởi màu sắc của ánh bình minh, bởi hương rừng ngan ngát cỏ hoa và tiếng ca thánh thót, ngân nga của chim chóc và muông thú trong rừng. Mỗi vẻ đẹp ở đây đều thấm đẫm hơi thở của tự do làm cho bậc “quân vương” say đắm, mê mẩn đến ngẩn ngơ! Những nỗi nhớ hiện lên dồn đập như trong một cuốn phim. Liên tiếp những “nào đâu”, “đâu những”,… khiến cho nỗi nhớ “ngày xưa” thật da diết và khắc khoải. Trong không gian hùng vĩ và nên thơ đầy “bóng cả cây giả”, thì hổ mơ mộng như một thi sĩ, trầm tư như một hiền nhân, quyền uy như một đế vương và quyết đoán như một vị chúa tể. Cái ngày xưa ấy đã qua và sẽ không bao giờ có thể trở lại được nữa. Những gì là vinh quang tột đỉnh sẽ chẳng có ý nghĩa khi không có tự do. Sau những hình ảnh khọáng đạt trên là một nỗi buồn sâu nặng, đau đớn. Sự tuyệt vọng của con hổ đặc quánh và đắng chát ở câu thơ: Nhớ rừng không chỉ có sức hấp dẫn của một thi phẩm, mà nó còn có vẻ đẹp quyến rũ của một kiệt tác hội hoạ hay là giai điệu diệu kì của đàn ca! Lời thơ biến hoá một cách tự nhiên. Giọng điệu thơ cháy bỏng nỗi nuối tiếc, về quá khứ thì giọng thơ hùng tráng dữ dội, quay về với thực tại thì giọng thơ lại trở nên buồn tẻ, ngao ngán! Điều đó kết tụ thành nỗi thống thiết, tuyệt vọng ở câu thơ cuối cùng: Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi! Trong một đoạn trích thơ, Nhớ rừng đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình, nó như một bản tuyên ngôn giành quyền sống của Thơ mới. Khép trang sách lại, tâm trí ta như vương vấn với những vẻ đẹp của thiên nhiên với khát vọng tự do cháy bỏng. Phải chăng khi viết bài thơ này, tác giả không chỉ muốn thể hiện hoàn cảnh trớ trêu của con hổ mà còn muốn nói lên nỗi khao khát tự do mãnh liệt, nỗi chán ghét cảnh sống tù túng, tầm thường, giả dối và lòng yêu nước thầm kín của người dân Việt Nam lúc bấy giờ? Khát vọng cao cả ấy vẫn mãnh liệt đến mức đủ sức chinh phục và ngân vọng mãi trong trái tim người đọc mọi thời. (Nguyễn Hoàng Lan, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bài viết có nhiều cảm xúc, phát hiện mới mẻ. Bạn đã vào đề khá tự nhiên và phân tích các bức tranh trong bộ tứ bình có sức lôi cuốn. Đoạn viết về bức tranh hoàng hôn nơi rừng chiều khá nhuần nhị. Mặc dầu còn có thể thấy những nét mang hơi hướng, dáng dấp của Tiến sĩ Chu Văn Sơn, nhưng sự “học tập” của bạn khá thành công. Có thể tin được ở nhận định cô đọng và chín chắn: Trong không gian hùng vĩ ưà nên thơ đầy “bóng cả cây già”, thì hổ mơ mộng như một thi sĩ, trầm tư như một hiền nhân, quyền uy như một đế vương và quyết đoán như một vị chúa tể. Cái ngày xưa ấy đã qua và sẽ không bao giờ có thể trở lại được nữa. Những gì là vinh quang tột đỉnh sẽ chẳng có ý nghĩa khi không có tự do. Sau những hình ảnh khoáng đạt trên ìà một nỗi buồn sâu nặng, đau đớn. Sự tuyệt ưọng của con hổ đặc quánh và đắng chát ở câu thơ: Than ôi! Thời oanh Hệt nay còn đâu? Nhưng khái quát như thế này thì lại non và chưa đúng, kể cả cách diễn đạt: Trong một đoạn trích thơ, “Nhớ rừng” đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình, nó như một bản tuyên ngôn giành quyền sống của Thơ mới.
Phân tích bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ – Ngữ Văn 9
1,780
Phân tích bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ Bài làm Thế Lữ (1907-1989), bút hiệu này là lấy từ tên thật Thứ Lễ nói trại lại, ẩn ý chỉ là “Quán trọ thế nhân”. Ông viết bài thơ theo cảm xúc về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Tường Tam, …thật mãnh liệt to lớn đầy hoài bão, nhưng không bắt nắm đượccơ hội hay thời cơ, để rồi trở thành con hổ bị nhốt vào chuồng thú “làm trò lạ mắt, thứđồ chơi.” Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt, Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua. Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ, Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi. Thái độ của con hổ bị giam là một sự tha hóa lãng mạn cho chính nó, khi bốnbức tường vây nhục nhã, không thoát, chỉ còn một chỗ nương ẩn là nhớ về một thuở“hồng hoang”, nơi đó ẩn hiện vóc dáng “hùm thiêng” cái thời mà: Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc. Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật đều im hơi. Ta biết ta chúa tể muôn của loài Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi. “Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng…/ nhưng: …Giữa chốn thảo hoa,không tên không tuổi”, sao mà cô đơn lạnh lùng, khi mà quyền uy đạt đến điểm caonhất, Thì chính nó trở thành “Đỉnh gió hú”, chỉ còn lại mình ta “không tên khôngtuổi”, đã làm cho vạn vật bị tan biến…Thì chính lúc ta quay về với chốn trơ vơ cùng tận.Cùng thời, Xuân Diệu cũng có những vần thơ lưu đậm dấu vết như trong bàithơ “Hi Mã Lạp Sơn”, chỉ ra cái bi kịch, khi tưởng mình trên đỉnh cao, thì chính là lúcta “rơi ngoài”, hiện tượng này ai trải qua đều thấy: Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất … Ta bỏ đời, mà đời cũng bỏ ta Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thế tuyệt! Cái thi vị ẩn dụ nằm trong “thơ mới” là để chỉ ra cái tính bó rọ của “thơ cổ”,như đời người của một thời đoạn trong đó sự tác động tính người chỉ là sự “có đến thìphải có đi”, cố níu kéo thì nó bị vây hãm như con hổ kia, rồi sẽ bị nhận chìm…, quantrọng ở đó nếu không biết nắm bắt sẽ không tồn tại, như thơ mới/thơ cũ tranh luận…,của nền thi ca Việt trước 1945, có những cằn cựa làm nền cho sáng tạo tiến bộ quanhững thời kỳ hạn định, mà con người tác động như một lữ khách trong cuộc hànhtrình trường kỳ “không thủy không chung!?” nhưng nối liền, trong một tiến trình phóng tới, không có thắng bại mà sự kế thừa của giai đoạn dồn nén năng lực của cái trước đẩy ùa cho cái sau: Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới? Sự biến động liên hồi của thế quang, con hổ của Thế Lữ nhớ lại giang sơn xưa như một hoài niệm và đâu đây vang vọng của “một thời vang bóng” đã phủ trùm màn đêm “ Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” rồi đây theo luật tuần hoàn di dịch cũng phải đi qua!….Dùng một con vật hoang dã để nói về cuộc đời của con người là điều không hềdễ dàng gì. Trong cái bối cảnh xã hội đầy biến đổi, chỉ có những nghệ sĩ là có nhữngcảm nhận tinh tế bậc nhất, mà chúng được thể hiện đầy đủ trong thơ văn, ca từ. ThếLữ đã tạo một cảm giác bất ngờ, khi đọc lên những vần thơ “Nhớ Rừng”, mà trong đó,chú cọp ngông nghênh đang bị nhốt …Rõ ràng là lời của một chú hổ được nhân hóa kể lại: Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt, Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua. Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ, Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm, Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi. Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi, Với cặp báo chuồng bên vô tư lự. Trong cổ chú có một “cục” – rất to lớn – cục tức trong họng. Cái cục tức đó trấnáp cả cái tâm của chú hổ. Để rồi chú nằm dài, chẳng biết làm việc gì để “nhìn thờigian trôi”. Một kẻ tù đày lại còn tâm trạng để “khinh rẻ” lũ người “ngạo mạn”? Chúhổ cảm thấy mình rất vĩ đại, không bao giờ chịu ngang hàng với “bọn gấu, bọn báo”trong khi bị tù hãm. Trong thế giới con người, chúng đều là những loài vật rừng,không hề có sự so sánh khác biệt đến thế. Nhưng ta không biết được, từ sâu thẳmlòng, chúng đã biết mình là một phần không thể không có của vũ trụ. Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa. Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già, Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi, Với khi thét khúc trường ca dữ dội, Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc. Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật đều im hơi, Ta biết ta chúa tể của muôn loài Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi. Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn, Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng. Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu? Chú nhớ, nhớ đến tất cả những gì chú thống trị, là cả một giang sơn rộng lớn.Tất cả đều là những biểu tượng của một vị chú tể muôn loài. Tù đày, biết làm chi đây? Lúc trước tự do, ta đây có thể làm tất cả những điều mình thích, bất kì kẻ nào cũngphải phục tùng. Một chút tinh tế pha vào lời văn: “uống trăng tan”. Quả thực, ảnh trăng vàng chiếu bóng xuống nước, đến nỗi chú hổ “lỡ” uống vào. Không hiểu đó làsự chinh phục to tát, hay là sự ngây ngô của chú hổ chúa tể? Một lời than ai oán, “thời oanh liệt nay còn đâu”. Rõ ràng là chú còn rất nhiều hoài bão cần thực hiện, nhưng chỉmột gian tù đã làm chú khổ sở mọi bề … Sống những cảnh không đời nào thay đổi, Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối: Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng; Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng Len dưới nách những mô gò thấp kém; Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm, Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu Của chốn ngàn năm cao cả âm u. Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ! Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị. Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa Nơi ta không còn được thấy bao giờ Có biết chăng trong những ngày ngao ngán, Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn Để hồn ta phảng phất được gần ngươi, Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi! Trong lòng của chú, một nỗi niềm nữa lại cất lên. Đó là lời mơ mộng của mộtchú cọp, hay đúng hơn là một vị chúa tể. Chú cất tiếng gọi giang sơn của mình, nhưngchú biết những điều mà chú tơ tưởng sẽ không bao giờ hiện thực hóa được. Chỉ còncách tự bản thân cảm nhận được cái hồn của giang sơn, để tự mình cai quản. Để ấp ủ bao ước vọng …Một con người thực thụ, phải chăng? Dù trong cảnh tù đày, nhưng hãy biết hi sinh và làm gì đó trong khoảng thời gian này, để cuộc sống thêm ý nghĩa, không nhạt màu đi
Phân tích bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ
1,352
Phân tích bài thơ “Quy hứng” của Nguyễn Trung Ngạn Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Quy hứng” của Nguyễn Trung Ngạn Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) tên hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Ông nổi tiếng là thần đồng: năm mười hai tuổi ông thi đỗ Thái học sinh, năm mười sáu tuổi thi đỗ Hoàng giáp. Ông làm quan trải bốn triều vua Trần, Nguyễn Trung Ngạn có công lớn về quân sự, chính trị, ngoại giao. Năm 134, vua Trần Dụ Tông cử ông cùng Trương Hán Siêu biên soạn bộ “Hoàng triều đại điển” và “Hình thư” để ban hành. Ông là một người có tình cảm sâu đậm với quê hương đất nước, cả cuộc đời đã gắn bó và có những cảm xúc đặc biệt với nơi mình sinh ra. Nhưng có một thời gian ông phải đi sứ sang Trung Quốc và ông đã sáng tác ra bài thơ “Quy hứng” được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Bài thơ thể hiện nỗi nhớ nhà, quê hương khi ở nơi xứ người. Bài thơ này ông viết về một khung cảnh thiên nhiên làng quê, với những hình ảnh rất gần gũi và quen thuộc với làng quê thanh bình Việt Nam. Hình ảnh xuất hiện trong bài là: dâu tằm, những bông lúa chín, cua đồng,… Những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc ấy lại làm ta liên tưởng tới: Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Tình yêu đó hết sức bình dị, xuất phát từ mỗi con người, nhất là khi đang ở nơi đất khách thì nỗi nhớ quê lại dâng lên thật xao xuyến. Khi đi sứ sang Trung Quốc nơi tác giả ở là những chốn phồn hoa đô hộ lấy đâu ra những thứ gần gũi như ở quê hương của tác giả vậy mà qua bài “Quy hứng” ta lại có thể thấy được những hình ảnh đó hiện lên chân thực giống như tác giả ở trước những ảnh vật đó vậy. Phiên âm: “Lão tang diệc lạc tàng phương tận Tảo đạo hoa hương giải chính phì Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo Giang Nam tuy lạc bất như quy.” Dịch thơ: “Dâu già lá rụng tằm vừa chín Lúa sớm đơm bông cua béo ghê Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt Dầu vui đất khách chẳng bằng về.” Ngay ở phần mở đầu bài thơ đã xuất hiện những hình ảnh rất đỗi giản dị, mộc mạc mà làm cho tác giả nhớ đến nỗi, dù đang ở nơi đất khách nhưng vẫn tả rất chuẩn xác: “Dâu già lá rụng tằm vừa chín Lúa sớm đơm bông cua béo ghê” Những hình ảnh như “dâu, tằm, lúa” đó là những thứ không thể thiếu được ở mỗi làng quê Việt Nam. Nương dâu xanh mướt, những cánh đồng lúa bạt ngàn, những chú cua đồng ở mương, ở ruộng nếu bắt về nấu ăn sẽ rất ngon, vì là mùa này rất nhiều chất dinh dưỡng nên cua rất béo, mấy món ăn của nơi làng quê chỉ giản dị vài món nhưng mỗi bữa cơm thì gia đình quây quần rất vui vẻ hạnh phúc. Chỉ nghĩ về những thứ mộc mạc đó thôi cũng làm tâm hồn nhà thơ tan chảy, ông làm ngay bài thơ này để gửi gắm vào trong đó những tâm tư tình cảm của mình vào bài thơ. Ông đang ở một nơi xa hoa, toàn được ăn những của ngon vật lạ, có biết bao nhiêu thú vui, ấy vậy mà ông vẫn muốn được trở về nhà. Tình yêu quê hương đất nước, nỗi nhớ quê nhà đã được bật lên thành tiếng ở hai câu cuối cùng: Dầu vui đất khách chẳng bằng về” Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối dành cho hai câu thơ cuối này để làm nổi bật sự khác nhau giữa quê hương và nơi đất khách. Đầu tiên ông nhắc về quê hương: “Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt” mặc dù nghèo như quê nhà của ông vẫn là tốt nhất. Câu tiếp theo ông đã nói về tâm trạng ông lúc này đó là ông muốn trở về nhà, dù rằng nơi đất khách phồn hoa, náo nhiệt, có nhiều cuộc vui nhưng về nhà vẫn là tốt nhất. Ngụ ý của tác giả đâu chỉ có thế, tác giả còn muốn thể hiện niềm tự hào, tự tôn, còn thể hiện tấm lòng son sắt của ông với quê hương. Những hình ảnh giản dị của quê hương hiện lên làm cho ông vơi bớt, nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương. Qua bài “Quy hứng” (Hứng trở về) ta thấy được cảm xúc qua bài là tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào dân tộc của tác giả Nguyễn Trung Ngạn. Ông vẽ lên một bài thơ với khung cảnh thiên nhiên gần gũi và quen thuộc vơi quê hương đất nước, khi đọc bài thơ người đọc cũng cảm thấy hình ảnh giản dị của quê hương như hiện lên. Bài thơ này giúp thế hệ trẻ chúng ta thức tỉnh hãy phấn đấu hơn nữa vì quê hương của chúng ta, giúp quê hương đất nước ngày càng phát triển. Dù đi đâu cũng luôn tự hào về quê hương.
Phân tích bài thơ “Quy hứng” của Nguyễn Trung Ngạn
886
Phân tích bài thơ “Sang thu” – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Sang thu Đề bài: Phân tích khổ thở đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh. 1. Yêu cầu – Viết bài văn nghị luận về một khổ thơ trong bài thơ. – Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là khổ đầu của bài thơ Sang thu của tác giả Hữu Thỉnh. – Cần phân tích cảm nhận về cái hay, cái đẹp của nội dung và hình thức khổ thơ. – Những điều cảm nhận, phân tích phải đặt trong tương quan với cả bài và làm nổi rõ tư tưởng chủ đề của cả bài. 2. Gợi ý – Cần đọc kĩ cả bài thơ, nhất là khổ đầu. – Cần đọc các bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về bài thơ, kể cả một số bài viết của các bạn trong tập Những bài làm văn chọn lọc lớp 9 (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1998). – Những cảm nhận về mùa thu thể hiện qua các giác quan nào? Sự tinh tế và mới lạ trong cách cảm nhận và thể hiện là gì? – Cần kết hợp nghị luận với biểu cảm. 3. Lâp dàn ý (dàn ý sơ lược) a.Mở bài: Thơ về mùa thu và bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh. b. Thân bài – Cảm nhận mùa thu của tác giả. – Phân tích vai trò các giác quan (khứu giác, xúc giác, thị giác). – Vẻ đẹp của các từ ngữ hương ổi, phả, gió se, chùng chình, hình như. – Suy nghĩ về mùa thu thiên nhiên thời khắc giao mùa. c. Kết bài: Nhấn mạnh vẻ đẹp của khổ thơ trong vẻ đẹp của toàn bài: mùa thu của đất trời và mùa thu trong hồn người. Bài 1 Xuân, hạ, thu, đông – bốn mùa trôi qua đã trở thành đề tài quen thuộc cho biết bao tác phẩm văn thơ và cũng là nguồn thi cảm vô tận của nhiều thi nhân. Đặc biệt là mùa thu với những nét buồn man mác, với nắng vàng và hương thơm dịu dàng cùng gió, cùng hoa… Chúng ta đã gặp thu trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, trong Thu của Chế Lan Viên hay Chiều thu của Thái Can,… Nhưng Hữu Thỉnh lại đem đến cho bạn đọc một nét riêng biệt của mùa thu, đó là thời khắc giao hoà của cuối hạ với đầu thu. Bài thơ Sang thu của ông đã gợi lên một cảm xúc bồi hồi, bâng khuâng của những rung động ngọt ngào và tinh tế. Đọc thơ mà ta thấy quen đến kì lạ. Những hình ảnh không hề cao sang mà vẫn gần gũi. Những cảm xúc hình như ta đã có, đã bắt gặp ở đầu rồi. Y như khi ta đột ngột nhận ra cái gì mà rất lâu mình không nhớ, không để ý tới. Có phải đó là khi thiên nhiên chuyển mình, là khi thời gian nhẹ nhàng bước những bước khẽ khàng, kín đáo: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. Tác giả dùng từ “bỗng” thật khéo, câu thơ không kéo dài mà trở nên đầy thú vị, bất ngờ. Nó như cái giật mình nhẹ, lôi ta ra khỏi những công việc thường ngày. Đọc câu thơ khiến ta nhớ đến một đoạn văn mà nhà văn nào đó đã viết: “Ngày và đêm theo nhau qua đi trên trái đất này” giữa bao mối lo và công việc, giữa bao nỗi buồn và niềm vui “Chúng ta quên đi rất nhiều điều mà lẽ ra không được quên”. Thế thì chính cái giật mình ấy đã kéo ta ra khỏi sự quên lãng bấy lâu nay, để lại hoà mình với thiên nhiên, thấy được từng vẻ đẹp li ti nhất của nó. Mà “chợt” cũng như một phát hiện thật mới mẻ, một tiếng kêu vang thích thú, một khoảnh khắc nhanh chóng qua đi mà để lại biết bao cảm xúc. Kìa! Mùa hạ đã sắp qua, hình như mùa thu đã đến! – Trái tim nhà thơ sau khoảnh khắc ấy đã tự nhủ thầm như vậy. Tác giả đã cảm thấy gì đầu tiên? Giống như tiếng tu hú đã đánh thức nỗi khao khát tự do trong bài thơ của Tố Hữu, thì chính hương thơm của ổi chín đã tác động mạnh mẽ tới tâm hồn nhà thơ Hữu Thỉnh: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se. Đọc câu thơ mà ta biết mùa hè chưa qua hẳn. Bởi hình ảnh những chùm ổi chín vàng ruộm, trĩu cành dưới cái nắng gay gắt đã trở thành hình ảnh của mùa hạ. Nhưng qua câu thơ, ta biết mùa thu đã về. Mùa thu đặt những bước chân nhẹ nhàng, buông mình về theo những cơn gió se – thứ gió khô và lạnh đặc trưng của khí thu. Và hương ổi cũng hết sức đặc biệt, nó không “thoảng”, không “bay”, không nhẹ dịu như ổi khi vừa chín mà đậm đặc, mà ngào ngạt thơm nồng. Đó là hương thơm của ổi cuối mùa. Hương thơm ngọt ngào ấy mạnh đến mức có thể “phả” vào từng cơn gió, đánh thức khứu giác của cả những người vốn vô cảm với thiên nhiên. Khi Hữu Thỉnh cảm được cái lạ lùng ấy của hương ổi bằng khứu giác và cảm nhận được bằng da thịt (xúc giác) cơn gió thu đủ làm ông vừa bối rối lại vừa vui mừng. Có lẽ, ông còn nghi ngờ, sợ rằng mình nói ra thì cái cảm giác ấy sẽ bay mất, sẽ tan biến mất. Câu thơ thứ ba như khẳng định mùa thu về rõ ràng hơn: Sương chùng chình qua ngõ. Lần này thu được nhìn bằng mắt qua cái vẻ dùng dằng nửa đi nửa ở của sương thu. Từ “chùng chình” thật đặc biệt. Nó là từ láy của thanh bằng, tạo nên một cảm giác êm ả, dịu dàng. Nhà thơ đã nhân hoá màn sương để nó trở nên có hồn, sống động bởi từ láy chỉ hành động lưỡng lự, lưu luyến trong động thái của con người. Sương như muốn ở lại để ngắm nhìn khoảnh khắc giao mùa. Điểm thú vị là với từ “chùng chình” sương thu trở nên gợi tả vô cùng. Đọc thơ ta lại nhớ đến đoạn văn Pau-tốp-xki viết trong Một mình với mùa thu về “mơ-ga”. Đó là một làn khói lam nhàn nhạt bao phủ trên mặt sông Ô-ka. Nó “khi thì sẫm màu tụ lại, khi thì bàng bạc tan ra” ; “Khi ấy qua màn sương nhẹ nhàng mỏng như tấm kính mờ mờ, ẩn hiện bóng dáng hàng liễu rủ bên sông, những bãi chăn thả cằn khô và những cánh đồng mơn mởn màu xanh”. Chúng ta như cảm được sương ở giữa hai mùa tụ lại thành từng đám mây trong suốt màu bạc “chùng chình” chắn cả con ngõ nhỏ chứ không tan loãng vào không gian. Bỗng / nhận ra hương ổi Phả / vào trong gió se. Sương / chùng chình qua ngõ Cái nhịp điệu vội vàng ấy cứ như nhịp điệu của mùa hạ, khi mọi thứ đắm chìm trong cái nắng rực rỡ, khi cây trái vội vàng ra hoa, ra quả. Và đó cũng là nhịp điệu của những cái giật mình liên tiếp. Cái cảm giác bất ngờ còn chưa đi hẳn. Nhưng đến câu cuối cùng, nhịp ngắt 2/3 lại trở nên dàn trải, nhẹ nhàng như khoảnh khắc mùa thu, như một niềm vui mơ hồ mà mãnh liệt, hoặc như một nụ cười kín đáo: Hình như thu đã về. Không khẳng định, mà chỉ “hình như”. Bởi thu đến nhẹ quá, mơ hồ quá. Tác giả thấy thu, nhưng vẫn còn bâng khuâng lo ngại. Trong lòng tác giả như có một băn khoăn, da diết như một câu hỏi: “Thu đã về rồi đấy” hay là “Không, thu chưa về đâu!”. Trong tâm tư tác giả vẫn còn cái nắng chói của mùa hè nhưng lại có cảm giác phảng phất, như một cánh bướm nhẹ chạm vào tà áo mỏng manh của tiết thu? Chính niềm vui bối rối, bâng khuâng, lúc khẳng đình, lúc nghi ngờ đã làm nên cái duyên dáng của Sang thu. Dù chỉ là một khổ thơ đầu, nhưng cái rung cảm tinh tế trong tâm hồn Hữu Thỉnh với thiên nhiên khiến độc giả càng thêm yêu mùa thu, càng thêm yêu bài thơ. Nó làm ta chợt nhớ tới câu thơ của Trần Đăng Khoa: Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng. Nhờ tâm hồn nhạy cảm và tình yêu thiên nhiên tha thiết nhà thơ đã cho ta thấy được những bước đi nhẹ nhàng, duyên dáng của thời gian. Sự chuyển tiếp lúc rất mềm mại, uyển chuyển lúc lại như tinh nghịch, vui đùa. Và một bài thơ đầy cảm xúc, đầy rung cảm ra đời từ chính cảm nhận ấy… (Lưu Hoài An, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bài viết chặt chẽ, giàu cảm xúc. cảm nhận thơ khá tinh tế, cộng với ngôn ngữ diễn đạt giàu chất thơ đã dẫn người đọc vào những vẻ đẹp của cảm xúc, ngôn ngữ, hình ảnh thơ độc đáo của khổ thơ đầu bài Sang thu. Bạn đã cố gắng cắt nghĩa nhịp của đoạn thơ này: Bỗng / nhận ra hương ổi Phả / vào trong gió se. Sương / chùng chình qua ngõ Cái nhịp điệu vội uàng ấy cứ như nhịp điệu của mùa hạ, khi mọi thứ đắm chìm trong cái nắng rực rở, khi cây trái vội vàng ra hoa, ra quả. Và đó cũng là nhịp điệu của những cái giật mình liên tiếp. Cái cảm giác bất ngờ còn chưa đi hẳn. Nhưng đến câu cuối cùng, nhịp ngắt 2/3 lại trở lên dàn trải, nhẹ nhàng như khoảnh khắc mùa thu, như một niềm vui mơ hồ mà mãnh liệt, hoặc như một nụ cười kín đáo: Hình như thu đã về. Không khẳng định, mà chỉ “hình như”. Bởi thu đến nhẹ quá, mơ hồ quá. Việc liên hệ với thơ Trần Đăng Khoa, Tố Hữu, văn Pau-tốp-xki giàu chất thơ đúng chỗ đã tăng thêm giá trị của bài viết. Tuy nhiên, sự liên hệ với thơ Trần Đăng Khoa lại chưa thật thích hợp. Tuy vậy đây vẫn là một bài viết tốt, giàu chất thơ. Bài 2 Thiên nhiên đi vào thi ca đã từ lâu và trong bốn mùa, có lẽ thu được chú ý hơn cả. Phải chăng bởi nó gợi ra nỗi buồn nhẹ nhàng, kín đáo với nhiều dư âm khó gọi thành tên? Hình như cảnh trong thơ càng trầm buồn lại càng thi vị, tha thiết. Nói đến thu ta vẫn nhắc đến Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu, Nguyễn Bính – những ngòi bút xuất sắc của thi ca Việt Nam. Ớ đó, thu hiện lên bằng những vẻ đẹp muôn hình, muôn sắc, muôn thanh âm của thiên nhiên. Nhưng với người yêu thơ và yêu mùa thu hẳn sẽ ngạc nhiên, bất ngờ lắm khi thu tới với họ qua Sang thu của Hữu Thỉnh. Mà khổ thơ thứ nhất chính là khúc nhạc dạo đầu cho bản hoà ca tràn đầy cảm xúc này. Dòng xúc cảm tự nhiên đến, đầy bất ngờ, vì thế ngay ở đầu câu, tác giả đã đặt vào đó từ “bỗng”. Đột ngột, mùi hương “phả” mạnh mẽ, nên lại thấy vị thơm mát, ngọt ngào? Hai câu thơ như thoáng chút bâng khuâng, xao xuyến. Mạch cảm xúc tiếp tục tràn xuống câu sau với sự đón nhận của thị giác: Sương chùng chình qua ngõ Giữa bầu trời quang đãng, trong xanh, tác giả chợt bắt gặp một màn sương mờ ảo. Mỏng manh thôi nhưng cũng là nét gì đó báo hiệu thu sắp về. Sương đi qua, “chùng chình” như cố ý chậm lại. Nó đang đón chờ ai hay đang luyến tiếc điều gì? Có lẽ đó là sự luyến tiếc, bịn rịn, không muốn rời xa, khi hạ sắp sửa bước đi, nhường chỗ lại cho thu với những màn sương sớm, với những cơn gió heo may, diu mát. Cái cảm giác mơ hồ, hư hư thực thực ấy đã gợi nên một thời điểm nhạy cảm, rất khó xác định: Hình như thu đã về. Hạ vẫn còn đó nhưng trong không gian phải chăng mùa thu đang về? Trước những tín hiệu của thiên nhiên, của đất trời, làm cho lòng người băn khoăn, rạo rực những tình cảm khó tả. Rõ ràng là thu đấy mà cũng chẳng phải đâu! Mọi thứ cứ chuyển động không ngừng, có cái gì gấp gáp, mãnh liệt nhưng cũng có cái gì đó chậm rãi, nhẹ nhàng. Khung cảnh hiện lên vừa đậm nét, vừa mơ hồ. Vì thế, thu đến với tác giả trong một sự cảm nhận rụt rè, kín đáo. Một làn gió nhẹ thoảng qua đưa theo cùng thứ hương vị cỏ cây hay một màn sương êm ái, khẽ lướt đi cũng vương vấn lại sợi dây cảm xúc rung lên thứ nhạc điệu kì diệu mà chỉ có những tâm hồn nhạy cảm, những trái tim biết rung động trước thiên nhiên mới có. Khổ thơ mang cái man mác buồn lắng nhưng ngọt ngào thi vị của mùa thu. Từ đây cũng cho thấy con người của thi ca đến với thiên nhiên bằng sự khám phá từng nét nhỏ nhất, tinh xảo nhất của vũ trụ bao la. cảm nhận mùa thu của Hữu Thỉnh không có lá rụng, không phải một màu vàng úa héo của không gian mà được tiếp nhận bằng những bước chuyển mình của trời đất. Rất mới lạ và độc đáo. Đó cũng là cái hay tạo nên sự riêng biệt cho Sang thu mà ngay ở bốn câu đầu ta đã thấy. Thành công của khổ thơ này bên cạnh việc tả cảnh còn là bởi sự cảm nhận tinh tế về một thứ trừu tường như thời gian. Và hai mươi chữ cô đọng, súc tích đã tạo nên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp – đẹp từ chính những bước đi lặng lẽ, thầm thì của nó hay đẹp ở tâm hồn của thi nhân. (Nguyễn Thuận Yến, lớp 9H1, Trường THCS Trưng Vương, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bài làm đạt được yêu cầu của bài nghị luận về một khổ thơ. Người viết bằng một giọng văn nhẹ nhàng, đĩềrn đạm, có phần tinh tế đã chỉ ra cách cảm mùa thu bằng các giác quan khác nhau của nhà thơ. Bạn đã cảm nhận đúng và lí giải được sự gửi gắm tình cảm của tác giả qua những hình ảnh thơ được vỗ bằng ngôn từ. Nhận xét của bạn là một nhận xét sắc sảo, chứng tỏ người viết đã cảm nhận bài thơ trong sự so sánh đúng đắn: Cảm nhận mùa thu của Hữu Thỉnh không có lá rụng, không phải một màu vàng úa héo của không gian mà được tiếp nhận bằng những bước chuyển mình của trời đất. Rất mới lạ và độc đáo. Đó cũng là cái hay tạo nên sự riêng biệt cho “Sang thu” mà ngay ở bốn câu đầu ta đã thấy. Thành công của khổ thơ này bên cạnh việc tả cảnh còn là sự cảm nhận tinh tế về một thứ trừu tượng như thời gian. Và hai mươi chữ cô đọng, súc tích đã tạo nên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp – đẹp từ chính những bước đi lặng lẽ, thầm thì của nó hay đẹp ở tâm hồn của thi nhân. Bài 3 Sang thu là một trong những tác phẩm thành công của nhà thơ Hữu Thỉnh, thể hiện những rung cảm trữ tình của nhà thơ trước thời điểm giao mùa. Trong đó, khổ thơ đầu của bài đã khắc hoạ rõ nét sự bất ngờ, ngỡ ngàng của tác giả khi nhận ra mùa thu đã về: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se. “Gió se” khiến ta liên tưởng tới một cơn gió nhẹ; khô và hơi lạnh – một cảm giác rất thu. Từ “phả” vừa cho thấy sự hoà quyện hài hoà của mùi hương vào làn gió, vừa tạo cảm giác rõ ràng, chắc chắn về những tín hiệu của mùa thu đang về. Sự thoảng qua mà rõ ràng trong nhận thức của tác giả về mùa thu đã được thể hiện rất thành công. Qua đó, tác giả vừa thể hiện được một số đặc trưng của mùa thu như hương ổi đang vào độ chín, là gió se lạnh, vừa khắc hoạ được phần nào nét đẹp nhẹ nhàng mà tinh tế của mùa thu. Vẻ đẹp của thiên nhiên độ giao mùa đã được thể hiện rõ hơn trong câu thơ thứ ba, nếu như ở hai câu thơ đầu, tác giả sử dụng khứa giác và xúc giác để nói lên những dấu hiệu của mùa thu thì ở đây, một lần nữa ta thấy được sự cảm nhận sâu sắc hoàn hảo của nhà thơ bằng những hình ảnh tiếp thu từ thị giác: Sương chùng chình qua ngõ Vào mỗi buổi sớm mùa thu, ta có thể thấy cảnh vật luôn bị sương trắng bao phủ, đến khi gặp ánh mặt trời chúng mới dần tan đi, tựa như một tấm màn mỏng trùm lên thiên nhiên đang dần được kéo lên. Bằng việc sử dụng từ láy “chùng chình” và phép nhân hoá thành công, tác giả đã cho ta hình dung như màn sương kì ảo ấy còn chậm rãi lướt đi, còn ngập ngừng chưa muốn ra đi. Phải chăng nó đang ngỡ ngàng, say mê ngắm nhìn quang cảnh thiên nhiên giao thoa tuyệt đẹp, hay còn gì khác để vương vấn, quyến luyến, tiếc nuối, không muốn rời xa? Như vậy, chỉ bằng một câu thơ ngắn gọn, nhà thơ đã thể hiện rất đặc sắc, sinh động quang cảnh mùa thu vừa mang nét thơ mộng, huỵển ảo lại vừa nồng nàn cảm xúc trữ tình. Trước những vẻ đẹp kì diệu của mùa thu, nhà thơ đã bộc lộ rất rõ những cảm xúc của mình. Qua những cảm nhận tinh tế của tác giả, bằng nhiều giác quan khác nhau, ta có thể hiểu nhà thơ là một con người có tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu mùa thu, yêu làng quê, vì quả thật không yêu quý, không trân trọng thì tác giả không nói lên được những cảm nhận đẹp đến thế. Ngày ở câu thơ đầu, từ “bỗng” đã cho thấy tâm trạng bất ngờ, ngạc nhiên của tác giả khi chợt nhận ra tín hiệu mùa thu đang về. Từ cái bất ngờ ấy, ta nhận thấy xen lẫn vào những cảm xúc ngạc nhiên đó có phần nào sự bâng khuâng, luyến tiếc. Điều này càng được đúc kết bằng câu hỏi tu từ ở cuối khổ thơ: Hình như thu đã về? Câu thơ ngắn mà lắng đọng, đan xen nhiều cảm xúc, vừa thực vừa mơ hồ không rõ ràng. Có lẽ ở đây, sự luyến tiếc của tác giả xuất phát từ sự liên tưởng về hình ảnh mùa thu. Cuộc đời con người cũng trôi theo dòng chảy củạ thời gian trong thiên nhiên. Ngỡ hạ còn chưa qua mà thu đã tới rồi, giống như con người chợt nhận ra mình đã bước vào tuổi “sang thu”, lòng không khoi bất ngờ hay lưu luyến. Khổ thơ khép lại mở ra trong lòng người đọc bao cảm xúc, liên tưởng. Qua những hình ảnh, hương vị quen thuộc, gần gũi đặc tưng của mùa thu, cùng với ngòi bút đặc sắc và những cảm nhận tinh tế, nhà thơ Hữu Thỉnh đã thể hiện thành công vẻ đẹp thiên nhiên độ giao mùa cùng những cảm xúc trữ tình của chính tác giả. (Khúc Mai Thương, lớp 9A1, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Một bài viết chắc tay. Bạn đã có những nhận xét có tính chất khám phá về các mùa so với mùa thu: Với các mùa khác trong năm, ta đều có thể nhận thấy rất rõ những tín hiệu chuyển mùa. Mùa xuân đến với những cơn mưa nhè nhẹ và những lộc non mơn mởn trên cành cây. Hè về mang theo những cơn mưa rào bất chợt, những tia nắng vàng rực rỡ và tiếng ve kêu râm ran. Đông tới cùng những cơn gió buốt lạnh từ phương Bắc kéo về trải trên khắp các nẻo đường. Khác biệt hẳn với các mùa trong năm, thu sang một cách nhẹ nhàng, âm thầm, dịu dàng, rất khó nhận biết được. Người viết đã đặc biệt chú ý đến tính chất giao mùa và cắt nghĩa những xúc cảm của tác giả một cách tinh tế và hợp lí. Những từ ngữ phả, gió se, chùng chình, hình như đã được cảm nhận và phân tích khá thuyết phục.
Phân tích bài thơ “Sang thu” – Ngữ Văn 9
3,554
Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh Hướng dẫn Đề bài: Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh – văn amaux lớp 12 Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh – bài số 1 Xuân Quỳnh là một nhà thơ nữ nổi tiếng của nền văn học hiện đại nước ta. Tuy bà hưởng thọ không nhiều do tai nạn quá đột ngột nhưng những tác phẩm bà để lại vẫn để lại những tiếng vang lớn, có sức lay động lòng người. Trong thơ Xuân Quỳnh đề tài tình yêu luôn chiếm đa số. Tình yêu trong thơ của thi sĩ Xuân Quỳnh mang nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, khi thì dịu dàng, e ấp, nhưng có lúc lại vô cùng mãnh liệt, dữ dội. Khi thì thật gần nhưng nhiều lúc cũng thật xa xôi, mang tới cho người đọc nhiều tâm trạng bồi hồi xao xuyến khác nhau. Bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh là một bài thơ vô cùng độc đáo thể hiện tâm trạng của một người con gái đang yêu. Những hờn giận vu vơ, tủi hờn, ghen tuông rất phụ nữ, được tác giả Xuân Quỳnh gửi hồn trong thơ khiến khiến người đọc, người nghe thổn thức theo từng câu thơ của bà. “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể” Người con gái khi yêu thường có nhiều tâm trạng cảm xúc khác nhau, lúc nắng, lúc mưa vô cùng thất thường như thời tiết vậy. Có thể đang vui, đang tràn đầy yêu thương, nhưng lúc sau lại sầu muộn, ưu phiền vu vơ như trời đang nắng bỗng nổi cơn mưa bóng mây. Chính vì sự bất chợt vui, bất chợt buồn đó, cũng giống như những con sóng kia, khi thì “dữ dội” muốn cuốn trôi mọi thứ ra biển cả mênh mông, muốn nhấn chìm tất cả, khi thì “dịu êm” hiền hòa như lòng mẹ, e ấp như những bông hoa chớm nở, những con sóng hiền lành khẽ ru mình theo từng làn gió đùa mơn man. Với những câu thơ tự nhiên giản dị nhưng nhiều lôi cuốn, sức hút với người đọc bởi nó đánh đúng vào tâm trạng của một người con gái đang yêu, trái tim đang vui buồn theo những cảm xúc của người mình yêu. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được” Khi yêu con người thường gắn liền với nỗi nhớ nhung, nỗi nhớ trong tình dường như dài hơn, sâu hơn nỗi nhớ thường trực trong lòng người con gái. Tác giả đã vô cùng tinh tế khi sử dụng hình ảnh con sóng giữa đại dương mênh mông, bao la để miêu tả sự nhớ nhung khắc khoải của người con gái khi xa cách người mình yêu. Tình yêu làm con người có những trạng thái tâm lý bất thường, không thể giải thích, bởi tình yêu là thứ vô hình khó định tính, định vị lý giải. Luôn ẩn chứa những câu hỏi mà không ai có thể giải thích, trả lời cho thật rõ ràng,. Trong tình yêu người đang yêu thương hay có tâm trạng bất an, hoài nghi về người mình yêu. Tác giả Xuân Quỳnh cũng cũng thế, tác giả không thể biết tường tận ngọn nguồn của tình yêu, bởi nó không hề tuân thủ theo một quy luật tự nhiên nào cả. Nó phát triển theo bản năng của mỗi con người. “Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Khi nào ta yêu nhau Em cũng không biết nữa” Trong tình yêu nỗi nhớ nhung, sự hoài nghi luôn tồn tại đan xen nhau, càng yêu thì người ta lại càng hoài nghi về mọi việc và có cảm giác sợ mất mát, sợ đánh mất đi người mình yêu. Chính sự lo lắng bất an này làm cho trái tim người đang yêu trở nên loạn nhịp, không tuân theo một quy tắc nào cả, là cho cuộc sống của người đang yêu trở nên khác thường, làm nhiều việc khác người không giống ai. “Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Nhớ về anh một phương” Tình yêu là điều duy nhất tồn tại trong tâm hồn người con gái đang yêu. Dù người con gái đó có đi đâu, ở đâu trái tim họ vẫn luôn chỉ hướng về người đàn ông mà họ yêu. Nó thể hiện sự mãnh liệt, tha thiết nhưng cũng thể hiện sự thủy chung, giản dị, trong sáng của người con gái dành cho người đàn ông của mình Dù cuộc sống có nhiều khó khăn, cách trở nhưng Xuân Quỳnh luôn hướng tới tình yêu, khát khao đến bến bờ của tình yêu, muốn được ở bên người mình yêu. Tình yêu của Xuân Quỳnh “Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫn rộng Mây vẫn bay về xa” Trong cuộc đời dài rộng này, tương lai làm một điều mà con người không thể nào tiên đoán được. Nhưng, tác giả Xuân Quỳnh vẫn luôn có niềm tin vào tình yêu của mình, vào sự lựa chọn con đường mà mình đang đi và sẽ đi. Hình ảnh con sóng là hình ảnh ẩn dụ vô cùng tinh tế và độc đáo khiến cho người đọc có nhiều liên tưởng chân thực, nhưng rất sâu sắc về người con gái đang yêu nhưng nhớ mong, chờ đợi những hơn ghen, giận dỗi trong lòng người con gái được người đọc cảm nhận và thấu hiểu. Tác giả Xuân Quỳnh đã thổi và tâm hồn người đọc những cảm xúc thật giản dị, nhưng cũng vô cùng mãnh liệt về tình yêu của mình. Bài thơ “Sóng” đã trở thành một tuyệt phẩm vô cùng hay của tác giả về đề tài tình yêu. Nó trở thành dấu ấn riêng khó phai khi nhớ về thơ của Xuân Quỳnh. Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh – bài số 2 Tình yêu là đề tài muôn thửa của văn học, nghệ thuật; là nguồn cảm hứng bất tận của người nghệ sĩ thiết tha với đời, với người. Cỏ thể nói rằng từ khi có con người thì đã có tình yêu và con người còn tồn tại thì tình yêu còn bất diệt. Lịch sử thơ ca nhân loại từ xưa đến nay đã có biết bao bài thơ tình nổi tiếng khắp Đông, Tây ca ngợi tình yêu của con người và đã từng làm xúc động biết bao trái tim của nhiều thế hệ. Ở Việt Nam chúng ta, những năm tháng chống Mỹ cứu nước, tuy phạm vi thơ ca chủ yếu mở rộng về phía tình cảm lớn như tình yêu Tổ quốc, đất nước, nhân dân, cách mạng nhưng thơ ca vẫn dành một khoảng nhất định cho tình cảm riêng tư. Nhiều bài thơ ca ngợi tình yêu nam nữ ra đời trong thời kỳ này còn mãi làm xúc động trái tin bao thế hệ sau này. “Sóng” của Xuân Quỳnh – một nhà thơ nữ tài hoa – là một bài thơ như thế. Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh Bài thơ là bản tình ca tuyệt đẹp. Cảm xúc chủ đạo của toàn bài là một nỗi niềm yêu thương tha thiết, là những đợt sóng tình cảm xôn xao, trào dâng mãnh liệt như chính nhan đề của bài thơ. Sóng là một hình tượng ẩn dụ giàu sức gợi tả và biểu cảm. Xuân Quỳnh đã tìm gặp ở hình ảnh Sóng một biểu tượng để diễn đạt những cảm xúc phong phú, đa dạng của tình yêu. Đó là những cảm xúc nhiều cung bậc, nhiều sắc thái vừa đối lập vừa thống nhất, hài hòa: Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể. Tình yêu có những niềm bí ẩn, khó hiểu luôn luôn thúc giục con người khám phá. Vì vậy tình yêu trong Xuân Quỳnh là một niềm khát vọng vươn tới khôn cùng: Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ. Tâm hồn nhà thơ có lúc bâng khuâng, xao xuyến: Sóng bắt đầu từ gió Gió Bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào trong yêu nhau. Những câu hỏi rất vu vơ đã diễn tả rất chính xác tâm trạng của người đang yêu. Tác giả đã thể hiện rất tài tình, nắm bắt được một trạng thái tâm hồn, chân thực và điển hình cho tâm trạng của những ngời yêu nhau. Đó là một tâm trạng rất khó diễn đạt: một nỗi niềm bâng khuâng, xao xuyến rất nhẹ, rất mơ hồ trong trái tim. “Em cũng không biết nữa. Khi nào ta yêu nhau”. Lời tự bạch chân tình, vừa tự nhiên vừa bất ngờ. Lời thơ chuyển từ ý nói về thiên nhiên (sóng, gió) đến ý thổ lộ tình người khá bất ngờ mà vẫn rất tự nhiên. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh gắn liền với nỗi nhớ; niềm thương sâu sắc, cồn cào, mãnh liệt: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi cơn sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được. Sự tài tình của nhờ thơ là đã tìm được một ẩn dụ rất khéo léo, phù hợp với tâm trạng, diễn tả chính xác nỗi nhớ cồn cào da diết. Đó là nỗi nhớ mênh mông trải rộng trong không gian, trải dài theo thời gian. Từ hình ảnh ẩn dụ (sóng), lời thơ chuyển mạch rất tự nhiên để bộc lộ tâm trạng con người: Lòng em nhớ đến anh Cả trông mơ còn thức. Thật là một tâm hồn sôi nổi, nồng nàn, một nỗi nhớ da diết, không một phút nào dừng, không một lúc nào nguôi. Khổ thơ với hai câu đứng độc lập trong toàn bài chính là một cách kết cấu đầy dụng ý các tác giả nhằm làm nổi bật tình yêu mãnh liệt của mình. Những cặp từ sóng đôi, tương ứng bên nhau: Sóng-bờ, ngày-đêm, trên-dưới, mơ-ngủ, em-anh, tạo một âm hưởng hài hòa, một nhịp điệu đong đưa như sóng. Nỗi nhớ trở thành một tình cảm thường trực trong tâm hồn nhà thơ Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương. Chừng như nhà thơ có cảm tưởng không thể nào nói hết tâm tình của mình nên cứ láy đi láy lại điệp khúc: “Dẫu xuôi về… Dẫu ngược về…” như một sự khẳng định, một lời thề chung thủy, ghi lòng tạc dạ. Tình yêu trong Sóng là một tình yêu mãnh liệt, là động lực thúc đẩy con người đủ sức vươn lên, vượt qua những trắc trở, những gian nguy: Ở ngoài kia đại dương Trăm nghìn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở. Tình yêu quả là một sức mạnh vô hình dám thách thức với tất cả mọi ngăn cách của cuộc đời, những bất hạnh của số phận. Ý thức được sự hữu hạn của đời người, của tuổi xuân, Xuân Quỳnh khao khát mạnh liệt của một tình yêu vĩnh hằng: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Đề ngàn năm còn vỗ. “Làm sao được tan ra”, lời thơ chứa đựng một niềm ao ước cháy bỏng, da diết. Một khát vọng mãnh liệt thốt lên thành lời vửa đằm thắm vừa sôi nổi. Hình ảnh trong thơ đầy sáng tạo. Tình yêu được ví như biển lớn mênh mông. Tâm hồn xao động mãnh liệt thành trăm con sóng cảm xúc vỗ miên man, bất tận. Những từ “biển lớn”, “ngàn năm” diễn tả những khái niệm không gian, thời gian rộng lớn, vô cùng đã thể hiện khát vọng vừa nồng nàn, thiết tha vừa cao cả, thiết tha. Sự chuyển hóa liên tục giữa hai hình tượng: “Sóng” và “em” làm cho mạch càm xúc càng thêm trữ tình. Tình yêu trong Sóng của Xuân Quỳnh khác với tình yêu trong Biển của Xuân Diệu. Xuân Diệu cũng dùng hình tượng sóng làm ẩn dụ để diễn tả tình yêu. Nhưng sóng – tình yêu trong thơ Xuân Diệu quá vồ vập “Đến tan cả đất trời. Anh mơi thôi dào dạt”. Hoặc “Cũng có khi ào ạt, Như nghiền nát bờ em”. Ngược lại sống – tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh tuy cũng không kém phần sôi nổi, mãnh liệt nhưng vẫn đằm thắm, nhân hậu. Xuân Quỳnh đã tìm được một cách nói riêng để bộc lộ tình yêu, những dung động của lòng mình với một giọng thơ kể lể, tâm tình vừa êm ái, nhẹ nhàng vừa thiết tha. Âm hưởng, nhịp điệu bài thơ ngân nga do sự phối âm, phối vần tài tình như những con sóng cứ nối nhau không dứt. Sự hiệp vần – cước vận và yêu vận xen kẽ nhau – tạo ra bài thơ giàu nhạc tình. (vần xen kẽ giữa các câu: lẽ – bể – thế – trẻ…, vần liền nhau: trẻ – bể, phương – dương, bờ – trở). Sự hiệp vần và phối thanh nhịp nhàng, hài hòa này nhằm diễn tả những cơn sóng của thiên nhiên và lòng người cứ trải dài triền miên, vô tận. Bài thơ vì thế có cả âm vang của sóng, gió thiên nhiên và sóng của tâm hồn. Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh là một bài thơ hay, mãi mãi còn âm vang trong lòng người đọc. Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh – bài số 3 Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời kì chống Mỹ cứu nước. Thơ của nữ sĩ dễ đi vào lòng người với vẻ đẹp giản dị mà đằm thắm. Trong đó, “Sóng” là thi phẩm nổi bật của đời thơ Xuân Quỳnh. Trong bài thơ có hai hình tượng trung tâm đó là hình tượng sóng và em. Sóng trước hết là một sự vật thiên nhiên, nhưng hình ảnh này không chỉ mang nghĩa thực mà còn mang ý nghĩa biểu tượng. Đó không chỉ là sóng biển mà còn là sóng tình yêu trong biển khơi tâm hồn người phụ nữ. Tác giả mượn sóng để nói lên những cung bậc cảm xúc trong lòng người con gái đang yêu. Hình tượng “em” là sự hóa thân của cái tôi Xuân Quỳnh. Nữ sĩ đã trải lòng mình trên những trang thơ, giãi bày những cảm xúc, suy tư trong tình yêu.Sóng và em vừa song song tồn tại vừa soi chiếu lẫn nhau và có lúc lại hòa nhập vào làm một. Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh Đoạn thơ “Dữ dội và dịu êm….Khi nào ta yêu nhau”. Đây là những câu thơ đầu trong bài thơ “Sóng” mà thi sĩ đã khắc họa hình tượng sóng và hình tượng em để nói lên những tiếng lòng của nhà thơ. Hai câu thơ đầu tác giả nêu lên những trạng thái cảm xúc đối lập của sóng: lúc thì dữ dội, mạnh mẽ xô bờ khi thì chảy trôi lững lờ, dịu êm. Đó cũng là những cảm xúc của người con gái khi yêu. Trong tình yêu, lúc thì người con gái cuồng nhiệt, đắm say nhưng cũng có khi e ấp, dè dặt. Những trạng thái đó mâu thuẫn nhưng lại thống nhất với nhau. Hai câu thơ trên được tổ chức theo phép đối tạo nên một cấu trúc cân xứn, hài hòa, làm nổi bật các thuộc tính đa dạng mà nhát quán của sóng.tác giả đặt những tính từ “dịu êm”, “lặng lẽ” ở cuối câu thơ vì đây là con sóng nữ tính. “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể” Phép nhân hóa đã thổi hồn vào sóng để biến nó trở thành một con người. Sóng không chấp nhận giwois hạn chật chọi, khi không được sông hiểu, khi không tìm thấy được sự đồng điệu, nó tìm ra đại dương mênh mông. Trong tình yêu, người phụ nữ cũng không chấp nhận những gì tầm thường, chật hẹp mà thường hướng tới những điều cao cả, lớn lao, thường muốn vươn đến những khát vọng bvoo bờ. Trong đoạn thơ tiếp theo,tác giả thông qua quy luật của sóng để nói về quy luật của tình yêu. “Ôi con sóng ngày xưa…Bồi hồi trong nhực trẻ”. Con sóng đã vỗ bờ từ ngàn xưa cho đến bây giờ và mãi mãi về sau này. Đó là quy luật bất biến của tự nhiên. Tình yêu cũng vậy, trước đây, hiện nay và mãi mãi về sau nó vẫn khơi lên những khát khao bồi hồi, rạo rực. Chừng nào còn con người trên cõi thế gian thì chừng ấy tình yêu còn tồn tại như món quà kì diệu mà thượng đế ban tặng cho nhân loại. Nhân vật trữ tình đứng trước biển khơi với những nghĩ suy sâu lắng: “Trước muôn trùng sóng bể … Từ nơi nào sóng lên” Người con gái đang nghĩ về bản thân mình, nghĩ về người thương và cũng suy tư về sóng biển. Nhân vật trữ tình đang ở trong niềm khao khát lí giải nguồn gốc của sóng cũng như nguồn gốc của tình yêu. “Sóng bắt đầu từ gió …Khi nào ta yêu nhau” “Em” đã không phải truy tìm được căn nguyên của sóng cũng như nguồn gốc của tình yêu. Tình yêu diệu kì, bí ẩn như thế giới tự nhiên. Nó là những rung động của con tim có những khi lí trí không thể can thiệp và cũng chẳng giải thích được. Tình yêu vốn luôn là một câu hỏi, một ẩn số khó tìm thấy đáp án rõ ràng. Tác giả ucnxg phải thốt lên thổ lộ rằng” em cũng không biết nữa.Khi nào ta yêu nhau”. Chính cái không biết ấy lại là một bằng chứng cho tình yêu chân thật, đắm say, không toan tính, người phụ nữ chỉ đi theo sự dẫn dắt của tâm hồn. Đoạn thơ trên đã khắc họa lại hình tượng sinh động hình tượng sóng và hình tượng em. Qua hình tượng sóng tác giả muốn nói lên quy luật bất diệt tình yêu. Đoạn thơ trên rất thành công với thể tho 5 chữ. Các câu thơ ngũ ngôn nối tiếp nhau như những con song miên man, dạt dào ngoài đại dương. Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh – bài số 5 Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại. Người yêu thơ mệnh danh chị là “Nữ hoàng của thi ca tình yêu”. Thơ của chị là tiếng nói nhân hậu, thủy chung, giàu trực cảm và da diết khát vọng hạnh phúc đời thường. Sóng là bài thơ được làm năm 1967 nhân chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền. Bài thơ sau đó được in trong tập Hoa dọc chiến hào. Sóng là bài thơ tiêu biểu nhất cho phong cách thơ tình yêu của Xuân Quỳnh. Sóng là một hình tượng động, bất biến cũng như “tình yêu muôn thuở / Có bao giờ đứng yên”. Vì vậy cho nên sóng được các nhà thơ chọn làm thi liệu để biểu tượng cho tình yêu. Nếu Xuân Diệu mượn sóng để biểu tượng cho tình yêu của anh “Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em/ Hôn thật khẽ thật êm/ Hôn êm đềm mãi mãi/ Đã hôn rồi hôn lại/ Cho đến nát cả trời/ Anh mới thôi dào dạt”. Thì Xuân Quỳnh lại mượn sóng là biểu tượng cho những cung bậc tình cảm của người phụ nữ trong tình yêu nhiều khao khát và biến động. Hai hình tượng sóng và em luôn đi đôi sánh cặp với nhau. Sóng là em mà em cũng là sóng. Sóng và em hòa quyện vào nhau, có lúc khiến ta không nhận ra đâu là em đâu là sóng nhưng có lúc lại tách ra, soi chiếu vào nhau, tôn lên những vẻ đẹp vừa đa dạng lại vừa phong phú. Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ. Thể thơ năm chữ có tác dụng tạo ra những nhịp điệu của sóng. Cả bài thơ là một đại dương, mỗi khổ thơ là một con sóng lớn, mỗi câu thơ là một con sóng nhỏ. Tất cả đã tạo nên một âm hưởng mênh mang, dào dạt của những con sóng lòng nhiều cung bậc: Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Hai câu thơ đầu với nghệ thuật đối: Dữ dội – dịu êm; Ồn ào – lặng lẽ đã làm hiện lên vẻ đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực. Những lúc biển động, bão tố phong ba thì biển dữ dội ồn ào còn những giây phút sóng gió đi qua biển lại hiền hòa trở về dịu êm lặng lẽ. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát “Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên”. Đúng như vậy, tình yêu của người con gái nào bao giờ yên định bởi có lúc họ yêu rất dữ dội, yêu mãnh liệt hết mình với những nhớ nhung “cả trong mơ còn thức”, đôi khi ghen tuông giận hờn vô cớ: Nếu phải cách xa nhau Biển chỉ còn sóng gió Nếu phải cách xa anh Em chỉ còn bão tố (Thuyền và Biển) Nhưng cũng có lúc người con gái lại thu mình trở về với chất nữ tính đáng yêu, họ lặng lẽ, dịu êm ngắm soi mình và lặng im chiêm nghiệm: Có những tình yêu không thể nói bằng lời Chỉ hiểu nhau qua từng ánh mắt Nhưng đó là tình yêu bền vững nhất Bởi thứ ồn ào là thứ dễ lãng quên (Đinh Thu Hiền) Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn thiếu nữ đang trong độ tuổi hai mươi, tiếng nói của một trái tim chân thành và đam mê, luôn rực cháy chất trẻ trung mãnh liệt, khao khát được sống hết mình và yêu hết mình. Vì thế cho nên: Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Ba hình ảnh sông, sóng, bể như là những chi tiết bổ sung cho nhau: sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mang thăm thẳm. Mạch sóng mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao. Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình. Sóng không cam chịu một cuộc sống đời sông chật hẹp, tù túng nên nó làm cuộc hành trình ra biển khơi bao la để thỏa sức vẫy vùng. Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng vậy, tình yêu của người phụ nữ cũng không thể đứng yên trong một tình yêu nhỏ hẹp mà phải vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hẹp tầm thường để được sống với những tình yêu cao cả, rộng lớn, bao dung. Đây là một quan niệm tình yêu tiến bộ và mạnh mẽ của người phụ nữ thời đại. Có thấy ngày xưa quan niệm tình yêu cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” để rồi bao cô gái đã phải cất lên lời than van ai oán: Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân Hoặc: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai Từ đó ta mới thấy hết được cái mới mẻ trong quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh: Người phụ nữ chủ động tìm đến với tình yêu để được sống với chính mình. Tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, nó làm bồi hồi, xao xuyến rung động trái tim của lứa đôi, của con trai con gái, của em và anh. Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ Từ “Ôi!” cảm thán như tiếng lòng thốt lên từ nỗi thổn thức của trái tim yêu. Nghệ thuật đối lập “ngày xưa” – “ngày sau” càng làm tôn thêm nét đáng yêu của sóng. Sóng là thế muôn đời vẫn thế vẫn dữ dội ồn ào vẫn dịu êm lặng lẽ như tình yêu tuổi trẻ có bao giờ đứng yên. Bởi tình yêu tuổi trẻ luôn khát vọng luôn khát khao và mơ ước. Nó làm ta bồi hồi khát khao và nhung nhớ bởi “Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào” hay “Bắt chim bướm thả vào vườn tình ái” (Xuân Diệu). Tình yêu làm điên đảo tuổi trẻ với những nhớ nhung giận hờn, những cồn cào da diết như lời thơ Xuân Quỳnh đã từng viết “Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau rạn vỡ/ Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu mong nhớ”. Có yêu nhau mới thấy được cồn cào của vị nhớ, mùi ái ân, mới thấy được thế nào là bồi hồi ngực trẻ. Tình yêu là sóng, là gió. Và qua sóng, gió ấy, nhà thơ đã nói lên thật dễ thương cái nhu cầu tự nhận thức, tự phân tích, lí giải, nhưng lại không thể cắt nghĩa nổi của tình yêu. Tình yêu cũng như sóng biển, gió trời vậy thôi, nó tự nhiên, hồn nhiên như thiên nhiên và cũng khó hiểu, nhiều bất ngờ như thiên nhiên: Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau Người phụ nữ băn khoăn về khởi nguồn của tình yêu và bộc bạch một cách hồn nhiên, chân thành sự bất lực không lý giải được câu hỏi muôn đời ấy trong tình yêu: “Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau”. Đây là một cách cắt nghĩa về tình yêu rất Xuân Quỳnh, một cách cắt nghĩa rất nữ tính, rất trực cảm. Lí giải được ngọn nguồn của sóng thì dễ bởi « Sóng bắt đầu từ gió » nhưng để hiểu « Gió bắt đầu từ đâu » thì thi nhân lại ấp úng « Em cũng không biết nữa ». Cũng như tình yêu của anh và em nó đến rất bất ngờ và tự nhiên bởi « Tình yêu đến trong đời không báo động ». Câu thơ « Em cũng không biết nữa » như một cái lắc đầu nhè nhẹ, bâng khuâng và phân vân. Đến câu hỏi « Khi nào ta yêu nhau » thì đúng là nữ sĩ đang bâng khuâng và băn khoăn. Kì lạ quá, diệu kì quá, em và anh yêu nhau bao giờ nhỉ? Câu hỏi này muôn đời không ai lí giải nổi nhất là những bạn trẻ đang yêu và đắm say trong men tình ái. Tình yêu là vậy, khó lí giải, khó định nghĩa. Xuân Diệu – ông hoàng của thi ca tình yêu cũng đã từng băn khoăn khi định nghĩa về tình yêu « Đố ai định nghĩa được tình yêu/ Có khó gì đâu một buổi chiều/Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu ». Chính vì không thể lí giải rõ ngọn ngành nên tình yêu vì thế mà trở nên đẹp và là cái đích để cho muôn người đi tìm và khám phá. Tình yêu không có tuổi cũng như « xuân không ngày tháng ». Tình yêu là một ẩn số giữa hai thế giới tâm hồn chứa đầy bí mật. Dù tin tưởng chung một đời một mộng Anh là anh mà em vẫn là em Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật Những tâm hồn bí mật ấy luôn khao khát giao hòa, khao khát khám phá nhưng lại không lý giải nổi tình yêu. Bởi tình yêu là bài toán chưa có lời giải đáp, tình yêu như bài thơ chưa có hồi kết. Vì thế tình yêu luôn đẹp, luôn mới và hấp dẫn. Có lẽ vì thế mà thi sĩ đã lắc đầu « Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau ». Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ – một trong những gam màu chủ đạo của tình yêu. Bao kẻ nhớ người mình yêu mà đảo điên: Trời còn có bữa sao quên mọc Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em (Xuân Diệu) Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than (Ca dao) Còn Xuân Quỳnh thì: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Những con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của tâm hồn thi sĩ và cũng là của muôn kiếp “má hồng”. Bài thơ “Sóng” ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu. Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc. Sóng và nhân vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm, những tâm tư. Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu. Sáu câu thơ trải dài như nỗi thao thức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước” Hai câu thơ với hình thức lặp cấu trúc quyện hòa cùng nghệ thuật đối “dưới lòng sâu – trên mặt nước” tạo nên sự điệp trùng của những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau. Có con sóng gầm gào trên mặt đại dương nhưng cũng có con sóng cuộn trào trong lòng biển cả. Con sóng ngầm còn mãnh liệt hơn cả con sóng trên mặt nước. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Lúc lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫn mãi ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt. Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì: Ngày đêm không ngủ được” Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, có khi nào thôi ngừng hành trình đến với bờ dù muôn vời cách trở. Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo “không ngủ được”. Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời vẫn khát khao tìm về bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thức một nỗi niềm. Vì nhớ bờ “bởi hôn mãi ngàn năm không thỏa/ Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi”. Nên con sóng đã hành trình vượt qua không gian bao la và thời gian xa thẳm. Nó bất chấp cả thời gian “ngày đêm không ngủ được” để quyết tâm hướng vào bờ cho thỏa nỗi niềm mong nhớ. Và nếu sóng nhớ bờ thì em nhớ anh. Đó âu cũng là quy luật của tình yêu. Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Xuân Quỳnh dùng chữ “lòng” rất tinh tế. Lòng là nơi sâu kín nhất của tâm hồn con người. Nơi bí mật thẳm sâu của tình yêu và nỗi nhớ. Khi Xuân Quỳnh nói “lòng em nhớ” nghĩa là chị đã phơi bày tất cả gan ruột của mình để dốc hết yêu thương mà gửi về người mình yêu. Nỗi nhớ không chỉ có mặt trong thời gian được ý thức mà còn gắn với tiềm thức – thời gian trong mơ. Vị ngọt ngào mê đắm của tình yêu lan tỏa trong cách nói nghịch lý “cả trong mơ còn thức”. Câu thơ “cả trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật. Nó làm đảo lộn nhịp sống bởi “tình yêu luôn làm cho con người khó thức ngủ theo giấc giờ điều độ”. Nỗi nhớ không chỉ làm lòng em “bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa như ngồi trong than” nó còn làm cho em nhớ nhung, thao thức ngay cả trong giấc ngủ. Có thể nói, với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật nhất của thi ca hiện đại Việt Nam. Sóng và em đan quyện vào nhau. Em lặng đi để sóng trào lên. Nhưng sóng cũng là em, sóng trào lên mang theo lớp lớp tâm tình của em: “Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam” Thế giới của Anh và Em không giới hạn chiều dài Bắc – Nam, không khoanh vùng địa bàn mà nơi nào cũng có nỗi nhớ thường trực của tình yêu vĩnh viễn. Xuân Quỳnh đã tiếp nhận nỗi nhớ ấy bằng tất cả sự nhạy cảm của lứa tuổi đôi mươi và khẳng định cho một cái tôi của con người luôn vững tin ở tình yêu. Từ xưa đến nay người ta vẫn thường nói “Xuôi Nam, ngược Bắc” giờ đây Xuân Quỳnh lại nói “Xuôi Bắc, ngược Nam” là cách nói ngược. Phải chăng tình yêu đã làm cho con người bị đảo lộn phương hướng? Nhưng có một phương mà em không thể nào lẫn lộn, không thể nào nguôi nhớ đó là phương anh: “Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương” Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” về phương anh: Chỉ riêng điều được sống cùng anh Niềm mơ ước trong em là lớn nhất Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực Giây phút nào tim đập chẳng vì anh Thế mới biết tình yêu của chị nồng nàn, mãnh liệt thế nào. Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đã là “hệ qui chiếu” của đời em. Từ đó nhà thơ đã nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, tình yêu là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn không có giới hạn. Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm tình cảm của chị: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em Là máu thịt, đời thường ai chẳng có Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng. Đó cũng là trực cảm của tình yêu. “Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào cũng tới bờ Dù muôn vời cách trở” Ba từ “Ở ngoài kia” như cánh tay Xuân Quỳnh mềm mại đang chỉ tay về khơi xa nơi trăm ngàn con sóng ngày đêm không không biết mỏi đang vượt qua giới hạn không gian thăm thẳm muôn vời cách trở để hướng vào bờ ôm ấp nỗi yêu thương. Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình yêu với anh. Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được tới bờ như tìm về nguồn cội yêu thương, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi. Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi băn khoăn của chị. Những từ “tuy dài thế – vẫn đi qua – dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ít nhiều nỗi âu lo. Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả như áng mây kia như năm tháng kia. Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trong tình yêu; đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến vói bến bờ hạnh phúc. Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đằng đẵng và đám mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa. Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu. Yêu thương mãnh liệt nhưng cao thượng, vị tha. Nhân vật trữ tình khao khát hòa tình yêu con sóng nhỏ của mình vào biển lớn tình yêu – tình yêu bao la, rộng lớn – để sống hết mình trong tình yêu, để tình yêu riêng hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Cuộc đời là biển lớn tình yêu, kết tinh vị mặn ân tình, được tạo nên và hòa lẫn cùng trăm con sóng nhỏ. Trong quan niệm của nhà thơ, số phận cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng. Sóng không phải là biểu tượng của một cái tôi ngạo nghễ và cô đơn như thơ lãng mạn. Khát vọng lớn nhưng trong cách nói Xuân Quỳnh lại rất khiêm nhường: trăm con sóng nhỏ như là sự tổng hòa những vẻ đẹp khác nhau để tạo thành biển lớn. Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để một đời vỗ muôn điệu yêu thương “Người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu).. Phải chăng đó là khát vọng muốn bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh? Vâng! Đó không chỉ là tinh thần của con người thời đại chống Mỹ mà còn là âm vang của một tấm lòng luôn tha thiết với sự sống, với tình yêu. Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu. Tóm lại, bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà.
Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh
6,734
Phân tích bài thơ “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến Bài làm Thu ẩm có nghĩa là mùa thu uống rượu (Âm: uống, uống rượu). Nó có nghĩa là một trong bài thơ Nôm về mùa thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến: Thu điếu (Mùa thu câu cá) Thu vịnh (mùa thu làm thơ) và Thu ẩm. Cũng có nhiều bài thơ khác về mùa thu bằng chữ Hán, ba bài này đều in đậm hai nét tiêu biểu cho tâm hồn thơ của tác giả: đó là dáng thu, hồn thu của đồng bằng Bắc bộ thời xưa và thắm đượm vào cảnh vật là tâm tư của nhà thơ trước cảnh tình đất nước thời gian ông từ quan về sống ở quê nhà. Tất nhiên, ở mỗi bài là dáng thu riêng và những nét tâm tình riêng. Dáng thu trong Thu vịnh là cái gì cao thăm thẳm xa vời, quen mà hóa lạ. Trời thu thì xanh ngắt những mấy từng; cây tre thu lại chỉ còn một cần trúc; khói phủ thành từng trên mặt nước; song cửa đê mặc ánh trăng vào; hoa năm nay giấu vào hoa năm ngoái, tiếng ngỗng vang trong mơ hồ… Hồn thu như lắng chìm vào bên trong, ấn chứa ở chiều sâu. Dáng thu, hồn thu trong Thu điếu là cái gì cũng như thu mình cho nhỏ bé, cho lặng im: Chiếc thuyền câu bé tẻo teo, mặt ao chỉ gọn tí, mảnh lá vàng rơi vèo không thành tiếng, cá quẫy chỉ động nhẹ dưới chăn bèo. Tất cả cùng mọi vật khác đều như im lìm trong một không khí lặng yên, tĩnh mịch của một sự đợi, đợi chờ tưởng như ông câu cũng hóa đá trong tư thế tựa gối ôm cần. Tâm tư cụ Tam Nguyên ngụ trong cái lắng chìm vào bên trong, cái đợi chờ mỏi mòn trong yên lặng như thế. Cảnh vật vẫn là cảnh vật ở hai bài thơ kia: Từ nhà từ vườn nhìn ra đồng, cái ao, rặng tre, hàng dậu, lối xóm quanh co, hun hút, trời xanh trên đầu khói phủ mặt nước, bóng trăng trong ao. Khác một chút là ở hai bài thơ trên kia, Nguyễn Khuyến là nhà thơ, là ông câu cá, còn ở đây ông khề khà ly rượu. Nhưng cũng chính từ cái khác ấy mà cảnh vật dường như biến dạng, đầy bất ngờ mà thú vị. Hai câu đề: Ba gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe Nhà tranh mà gọi là nhà cỏ thì giá trị đã hạ một bậc nhưng chữ nghĩa khác nhau chưa mấy. Nhưng thấp le te đã rõ là thấp và chẳng còn lành lặn, mái tranh đã rách nát, xác xơ đổi dạng. Tiếp theo: Ngõ tối và đêm sâu là cảnh bình thường nhưng lại có ánh lửa đom đóm lập lòe làm cho ngõ tối và đêm sâu lúc tối, lúc sáng thành ra cũng biến dạng. Hai câu thực cũng vậy: Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làm áo lóng lánh bónq trăng loe. Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Cảnh trời và cảnh mình. Trời cũng như mình đều do ai đó làm cho biến đổi: Trời thì ai nhuộm mà xanh ngắt, mắt mình không vầy mà cũng đỏ hoe? Người nghiên cứu bảo cụ Tam nguyên đau mắt, có lần mắt đỏ như máu, hay là do rượu say? Say rượu cũng thường đỏ mắt. Chữ “ai” lấp lửng một mối hoài nghi, nghe lửng lơ nhưng chắc không phải vô ý. Bỗng dưng lại lấy một thế lực nào đó bên ngoài tác động vào trời, nhuộm cả da trời, rồi bỗng dưng mắt mình “đỏ hoe nước mắt”. Đây cũng là nét tâm tư của nhà thơ? Nó cùng một mạch cảm thương như hoa năm nay mà nhìn ra hoa năm ngoái, và tiếng ngỗng bay qua trời mình mà nghĩ mà ngỡ là ngỗng nước nào. Tâm tư nhà thơ không ngoài nét buồn đau trước cánh nước mất, lũ giặc lũ gian giày xéo mà mình thì bất lực, bứt rứt không nguôi. Cuối cùng là tửu tượng cũng chẳng còn bình thường: Rượu tiếng rằng hay chả mấy nên chỉ dăm ba chén đã say nhè. Nhìn chung tại sao lại có sự biến hình đổi dạng này? Do rượu chăng? Sao nhìn vật một hóa thành hai, ba, hoặc nhòa nhạt tất cả. Dáng hình biến đổi, màu sắc, đường nét nổi lên nhòe ra chập lại, lảo đảo như say. Thế là nhà thơ một mình đối diện với bầu rượu trong đêm thu này. Sau dăm ba chén, tâm tư đã nhòa ra, thẩm thấu vào cảnh vật, khiến cho dáng thu, hồn thu đều cùng biến dạng, lảo đảo, say nhè. Cái hay, cái tài của bài thơ Thu Ẩm này là ở đó. Nhà thơ say vì nỗi buồn trước vận nước và bứt rứt khôn nguôi trong lòng. Mượn vài chén rượu cho khuây nhưng uống vào lại thấy nỗi niềm ấy hiện ra rõ rệt hơn, làm lảo đảo cả cảnh vật đêm thu. Có lúc không rượu mà tâm trạng chừng vui hơn, cụ Tam nguyên đã tự cười mình và cũng thấy người mình như say: Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say kia mà!
Phân tích bài thơ “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến
907
Phân tích bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương BÀI LÀM Trước đây hơn nửa thế kỉ, năm 1935, cụ Trần Thanh Mại, một trong những người đầu tiên nghiên cứu, giới thiệu thơ Trần Tế Xương, từng nhận xét: “Đối với ông Trần Tế Xương, tư tưởng ở trong óc ra thế nào được dùng ngay thể ấy, lanh lẹ, tươi tắn, không trau chuốt, không gọt đẽo, không dụng công. Hơi văn đi như một luồng nước chảy xuôi dòng, êm khỏe, mau…”. Đến nay, lớp con cháụ chúng ta, đọc thơ ông Tú, không ai không nhận rõ vị ngọt ngào của luồng nước ngôn từ xuôi chảy khỏe, êm, mau lẹ và nặng ân tình ấy. Tiêu biểu nhất là bài thơ Thương vợ. Thơ Đường đấy, cũng đề thực luận kết, thất ngôn bát cú. Nhưng không một chút khệnh khạng, chỉnh tề, mũ cáo áo dài đạo mạo, mà gần gũi thân thương như lời nói hằng ngày. Tên gốc của bài thơ là “Tặng bà Tú”. Chồng tặng vợ, thì rõ ràng là không thể cao giọng, sáo rỗng rồi. Nhưng cũng không được phép quá xuề xòa, thô thiển. Vì tình yêu, lòng quý trọng. Cũng vì mình là một trí thức, một nhà thơ, ông Tú chọn đúng giọng điệu, tìm về cội nguồn của dân tộc, khơi mạch và lắng lọc thêm. Vì thế, nét dẹp nhất, vị ngọt ngào nhất của bài thơ là ở những hình ảnh, thành ngữ, những lời lẽ dân gian mộc mạc, được nâng lên tầm bác học, tầm thi hào. Người xưa từng hát: Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non Tú Xương viết: Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con, với một chồng Mới nhìn ngỡ hai bức chân dung của hai chị em ruột, giống nhau như đúc. Cũng cảnh sông nước, cũng chiếc đòn gánh trên vai, cũng thân cò hôm sớm nuôi chồng… Nhưng người chị ca dao bước đi sao thảm hại, vừa đi, vừa khóc, vừa khóc vừa kể lể, than vãn. Còn người em, bà Tú Xương khác hẳn. Khác từ thời gian, đến nơi chốn, công việc. “Quanh năm… mom sông”. Không phải “bờ sông”, “ven sông”. Bờ sông, ven sông dù sao cũng dài rộng và ít nhiều phẳng phiu. Còn “mom sông”, nơi bà Tú kiếm ăn, thì thật nhỏ nhoi, chênh vênh, nguy hiểm, đất có thể lở, nước có thể tràn lên bất cứ lúc nào. Khác đến cái bộ dạng con người. Ca dao kể xuôi: “Con cò lặn lội”. Tú Xương đảo lại: “Lặn lội thân cò”. Những bước đi chật chưỡng, bì bõm, thụt lầy trong bùn nước sớm nắng chiều mưa, nhìn thấy trước rồi con người hiện sau. Nỗi gian lao cơ cực nhân lên bội phần. Lại nữa, ca dao nói: “Con cò”, hoặc “cái cò”, vẽ một hình ảnh cụ thể. Ông Tú đối thành “Thân cò”, nghĩa khát quát hơn, vừa hàm ý so sánh vừa gợi liên tưởng rộng dài về những cuộc đời vất vả, những kiếp người bị đọa đày, rất đáng cảm thông. “Thương thay thân phận con rùa, lên đình đội hạc xuống chùa đội bia” (ca dao). “Thân lươn bao quản lấm đầu” (Truyện Kiều)… Và hình ảnh chuyến đò nữa. Cha ông xưa dặn dò: “Con ơi nhớ lấy câu này, sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”. Vậy mà, bá Tú vẫn phải qua sông trên những con đò như thế. Và hơn thế, chắc hẳn nhiều lần bà đã phải lời nọ, tiếng kia, giằng co, chen lấn, rồi mới được xuống đò. Vì vậy, ông Tú đối từ “đầy” thành “đông”, kết hợp với mấy từ tượng hình, tượng thanh, tạo nên câu thơ có hình có giọng: “Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Rõ là chuyến đò chở nhiều người, vừa quá tải, vừa hỗn độn, chòng chành rất đáng sợ. Đi một mình phải “lặn lội khi quãng vắng”, đến chồ nhiều người thì “eo sèo đò đông…”. Chỗ nào, lúc nào bà Tú cũng gặp nhiều hiểm nguy và trăm ngàn cay đắng. Chỉ đảo nhẹ một cấu trúc câu, thay một vài chữ trong kho tàng tiếng nói dân gian, nhà thơ đất Vị Hoàng đã sáng tạo được một hình tượng thẩm mĩ tuyệt vời chân thực, giản dị, tự nhiên, thấm đẫm chất dân tộc, rất gần gũi, sống mãi trong không gian và thời gian. Trần Tế Xương tạc riêng hình ảnh vợ mình. Khi nhìn ngắm, chúng ta thấy rung rinh, ẩn hiện biết bao hình hài, dường nét chung của vạn triệu bà mẹ, người chị Việt Nam ngày ấy cũng như bây giờ. Những bà mẹ, người chị gian nan, vất vả hơn nhiều những “con cò, con vạc” thuở xưa và cũng bản lĩnh chu đáo, đủ đầy nhân hậu chẳng kém gì người xưa. Bước chân hiện thực của lời thơ luôn gắn bó với mạch trữ tình. Tình cảm của nhân vật, tình cảm của nhà thơ, khởi từ dòng đầu, càng đi càng thấm thìa. Tấm lòng của bà Tú với chồng, với con mỗi ngày thêm sâu nặng. Lời thơ ông Tú cũng mỗi lúc càng thêm tha thiết. Ông giới thiệu bà “Nuôi đủ năm con với một chồng”, ở ngay phần mở đầu, tiếp sau ông nói giùm bà những nỗi niềm, tâm trạng: Một duyên, hai nợ âu dành phận Năm nắng mười mưa dám quản công Tiếng Việt ta có những từ ghép thật hay, biểu hiện thật đẹp đẽ quan hệ người với người: Yêu mến, nhớ thương, tình nghĩa, duyên nợ, v.v… Từ lời nói hằng ngày, bà con cất lên thành câu hát: “Một yêu tóc bỏ đuôi gà… hai yêu, ba yêu. Hỡi ai, trăm mến, ngàn thương…” Học tập cách nói ấy, Tú Xương sáng tạo chữ “duyên nợ” thành “một duyên, hai nợ”, vừa miêu tả tình nghĩa vợ chồng, vừa cảm thông với những khổ cực mà chính mình, đức ông chồng hư đốn đã gieo xuống cuộc đời người vợ đáng thương, đáng trọng. “Duyên”, bà chỉ được “một”, mà “nợ” bà chịu gấp hai, ba. Vậy mà bà vẫn chấp nhận. Ba chữ “âu đành phận” có cái gì như chua chát của cuộc đời người phụ nữ, song cũng có cái gì ngọt dịu, đáng yêu của tình cảm người vợ thảo hiền. Tình nghĩa bà Tú thực đã lay động ngòi bút, giọng điệu nhà thơ. Ông kể tiếp: “Năm nắng, mười mưa…” chứ không phải “một nắng, hai sương” trong thành ngữ. Như thế, khi đã làm vợ, rồi làm mẹ, bà Trần Tế Xương đã vượt lên trên những tình cảm thông thường để gánh vác thiên chức lớn lao của nữ giới. Đó là nghĩa vụ, là nhân cách, cũng là quyết tâm, ước nguyện hạnh phúc cao cả. Tài thơ của ông Tú và tấm lòng người vợ thân yêu đã đồng vọng cái tài và cái tình của bà chúa thơ nôm xưa: “Chồn bước hay đâu khéo hẹn hò, Duyên chi hay bởi nợ chi ru”. Thế đấy, vợ chồng thi sĩ Thành Nam yêu nhau bằng chữ Duyên – tình cảm, rồi sống với nhau bằng chữ nợ – cuộc đời. Duyên một, nợ hai ba… Tất cả đều vì cái tình, cái nghĩa con người mà gắng sức vượt qua “năm, mười” mưa nắng, mưa nắng của cuộc đời, mưa nắng của cái tính ngang ngược, đành hanh mà không ít lần ông Tú đã gây ra, làm khổ bà Tú. Vì thế, chắc có lần bà đã bẳn gắt: Có chồng hờ hững cũng như không! Vẫn cách nói dân gian, nghĩ sao nói vậy, đến đây không nuột nà ý nhị nữa, mà có phần thô nháp, xù xì. Song nghe vẫn lọt tai, không làm cho nhau phật ý. Bởi vì, bước đi trữ tình của nhà thơ đã tới đích. Tình cảm yêu thương, trân trọng, bao dung đã đến độ chín muồi. Ngôn ngữ thơ chuyển sang dòng trào lộng, hóm hỉnh, để đùa vui, để chòng ghẹo nhau, nhích lại gần nhau hơn. “Cha mẹ thói đời…” Nghĩa hiển ngôn là lời bà Tú trách chồng, trách thiên hạ, nhưng là trách yêu, những tiếng hờn dỗi có duyên thầm. Nghĩa hàm ẩn — đây mới là nghĩa thực – là tiếng lòng của nhà thơ ăn năn, tự thẹn, xấu hổ vì… mình đã nhiều lần có lỗi với người vợ yêu. Cả tình thơ, lẫn lời thơ rất dân tộc, rất Tú Xương, bất ngờ và thú vị. Cụ Trần Thanh Mại kế rằng: “Khi nghe ông Tú đọc hết hai câu cuối, bà Tú khẽ đưa mắt, nguýt yêu ông, cười tình, tỏ ý khiêm tốn, không nhận công lao. Trong đôi mắt bà, thoắt sáng lên niềm tự hào, tự đắc chính đáng. Có lẽ đây là cái giây phút người đàn bà vất vả, cực nhọc suốt cuộc đời thấy hạnh phúc nhất, sung sướng nhất… Nhà nghiên cứu văn học kết luận: “Bà Tú không phải chỉ là một người đàn bà. Bà còn là một vị thiên thần trời sai xuống, không phải để giúp ông Vị Xuyên trên bước đường danh lợi, mà để cho nước Việt Nam một nhà đại thi hào”.
Phân tích bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương
1,580
Phân tích bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương Bài làm Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, có lẽ là nhà thơ trào phúng đặc sắc nhất trong nền văn học của nước nhà. Thơ trào lộng, châm biếm, đả kích của Tú Xương sở dĩ được nhiều người yêu thích vì có tính chất trữ tình (trong tiếng cười có nước mắt). Dòng trữ tình trong thơ Tú Xương đôi khi được tách ra thành những bài thơ trữ tình thuần khiết, thấm thía. Hai kiệt tác “Sông Lấp” và “Thương vợ” tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình của Tú Xương. Bài thơ sau đây là bài “Thương vợ” của Tú Xương: “Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vẵng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không!” Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan trường “ậm ọc” lúc bấy giờ. Mà đậu được cái tú tài thì rồi cũng làm “quan tại gia” thôi. Hồi đó phải đậu cử nhân mới được bổ tri huyện. Thế là bà Tú gần như phải nuôi chồng suốt đời. Ông Tú chỉ còn biết đem tài hoa của mình mà ghi công cho bà Tú: “Quanh năm buôn bán ở mom sống, Nuôi đủ năm con với một chồng”. “Nuôi đủ năm con với một chồng” Câu thơ chỉ mấy con số khô khốc thế vậy mà tế toái lắm đó! “Nuôi đủ năm con” là vì con, phải nuôi, nên đếm ra để mà nuôi. Nhưng còn chồng thì một chồng chứ mấy chồng, cớ sao lại cũng phải đếm ra “một chồng”? Là vì chồng cũng phải nuôi, mà bà Tú với cái gánh trên vai nuôi năm đứa con đã là vất vả, lại thêm một ông Tú trong nhà nữa thì gánh nặng gấp đôi. Thời đó mà nuôi một ông Tú, lại là Tú Xương nữa thì nhiêu khê lắm. Nhưng bà Tú được an ủi là vì ông Tú, cái con người tưởng như chỉ biết bông đùa, cười cợt đó lại để tâm đến từng bước chân của bà trên đường lặn lội buôn bán: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông” Có thể nói lòng thương vợ của nhà thơ dào dạt lên trong hai câu thơ này. Hình ảnh lặn lội thân cò được tác giả mô phỏng theo một biểu tượng trong thi ca dân gian để nói về người phụ nữ lao động: “Con cò lặn lội bờ sông Gánh tạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ để nhấn mạnh sự vất vả của bà Tú, thì từ “eo sèo” gợi lên âm thanh hỗn tạp (tiếng kì kèo mặc cả, tiếng cãi cọ tranh giành) của “buổi đò đông”. Hai tình huống đối lập thật hay: “vắng” và “đông”. Người phụ nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là khổ. Mà đến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ! Nghĩa là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình thương thấm thía, cảm động. “Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công” Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ”. Nhà thơ Tú Xương đã chỉ từ ghép “duyên nợ” thành hai từ đơn: “duyên – nợ”. “Duyên” thì thiêng liêng rồi vì đã có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà Nguyệt), còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề. “Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động trong tâm trí của bà Tú. “Một duyên hai nợ âu đành phận” là bà Tú đã thuận theo lòng trời và thuận theo lòng người (tấm lòng của chính bà!). Nói gọn lại là bà Tú đã chấp nhận! Và chấp nhận cuộc hôn nhân duyên nợ này, bà chấp nhận một ông đồ nho ngông “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”, bà chấp nhận vị quan “ăn lương vợ” nên bà đâu “dám quản công”: “Năm nắng mười mưa dám quản công” Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Ta đã thấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề (Nuôi đủ năm con với một chồng). Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết. “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không!” Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề. “Cha mẹ thói đời…” thì đã thành lời xỉ vả mình. Thật ra là một cách ông Tú nhún mình để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương đâu phải là người “ăn ở bạc”. Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ bạc tình, bạc nghĩa thì không. Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thì thật là con người đáng kính. Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa. Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú giành cho bà Tú, ông chỉ nhận về cho mình một chữ “không”. Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với bà Tú vì trên đất nước gian lao và vất vả này có hàng triệu người như bà Tú, nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử
Phân tích bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương
1,068
Phân tích bài thơ “Thề non nước” của Tản Đà Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Thề non nước” của Tản Đà Bài làm Trong nền văn học Việt Nam, có một thi nhân đặc biệt, chiếm vị trí cũng đặc biệt trên thi đàn. Đó là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Đặc biệt bởi tài sử dụng ngôn ngữ của ông mà có người đã khâm phục như một nhà ảo thuật ngôn ngữ. Đặc biệt bởi vì ông là “chiếc gạch nối giữa thơ cũ và thơ mới” (Hoài Thanh). Sinh thời, ông viết nhiều tác phẩm hay, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là bài thơ “Thề non nước”. Bài thơ có gì đặc biệt lại cùng tác giả rạng danh trên thi đàn Việt Nam đến như vậy? Ta hãy xem: Nước non nặng một lời thề Nước đi, đi mãi không về cùng non. Hình ảnh một cuộc chia ly hiện ra buồn bã qua một câu thơ như một lời thở dài nặng trĩu. “Nước non” gợi lên hình ảnh về một bức tranh sơn thủy, có núi sông. “Nước non” ở câu trên đi cạnh nhau như một đôi bạn quấn quýt, và trọng tâm của câu đặt vào chữ “nặng” càng làm rõ cái sắt đá của lời thề. Tưởng chừng như không gì chia cách được nước non. Ấy thế mà: Nước đi, đi mãi không về cùng non. “Nước, non” bị tách ra hai đầu câu thơ, như cùng tồn tại ở hai cực, tách biệt và xa cách làm sao. Nước đi như một tất yếu khách quan của qui luật vận động. Còn non đứng lại, chỉ biết chờ mong. Từ “đi” được lấy và được ngăn cách, tạo cảm giác về một sự day dứt khắc khoải khôn nguôi. Non khắc khoải điều gì? Nhớ lời nguyện nước thề non Nước đi chưa lại non còn đứng không. Lời “nguyện nước thề non” thiết tha là thế, sâu nặng là thế, ấy mà non – nước vẫn cách chia. Một lần nữa, non – nước lại đứng ở hai vế câu đối lập: Vẫn gợi hình ảnh hai thế giới tách biệt, vẫn gợi sự chia li cách trở. Thế nên: Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày Sương mai một nắm hao gầy Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương Trời tây ngả bóng tà dương Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha. Hình ảnh của non hiện ra ở đây cụ thể hơn, như một người con gái. Những “dòng lệ sương mai, tóc mây, vẻ ngọc nét vàng” đầy ước lệ chẳng đã nói lên điều đó sao? Người con gái nhưng buồn. Một lần nữa cái phong vị chia ly lại thấm đều trên từng câu chữ, lại khắc đậm thêm trong ta một nỗi u tình sâu kín. Nhạc thơ hầu hết là thanh bằng, tạo âm điệu trầm buồn da diết. Tứ thơ chất chứa nỗi cô đơn: Sương mai một nắm hao gầy Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương. Điều gì cũng chỉ có một! Một mái tóc mây, một dáng vẻ hao gầy, một mình non đứng cô đơn. Thế nhưng, nỗi sầu thì cứ tuôn ra đầy vơi, nỗi buồn như muốn trào ra từng lời nói, câu thơ ẩn ngầm một sự đối lập xót xa. Tất cả chỉ vì nước đã ra đi, đi xa lắm. Nhưng nước thì làm sao không chảy cho được, cũng như người trai sao yên vị một chỗ cho đành. Nước đi theo lẽ tự nhiên như người trai phải ra đi vì đất nước. Nhưng sao người con gái lại thảm sầu đến thế! Phải chăng thời buổi nhiễu nhương đã bức lìa câu thề non – nước, tách rời hai thực thể vốn dĩ phải gần nhau. Lời thơ hiển hiện mà ý từ cứ ẩn ngầm. Ta bắt gặp trong khung cảnh một câu chuyện tình quen thuộc bóng dáng một xã hội loạn li mà tác giả không đề cập tới. Tuy thế, ý tứ và hình ảnh cứ như bật dậy khỏi trang giấy, đây vào lòng người đọc một cách sống động lạ thường. Có vẻ như bức tranh “Thề non nước” sẽ nhuốm một màu sắc bi quan u tối, nếu như không có những câu thơ: Non cao tuổi vẫn chưa già Non thời nhớ nước, nước mà quên non Dù cho sông cạn đá mòn Còn non, còn nước hãy còn thề xưa. Non cao đã biết hay chưa Nước đi ra bể lại mưa về nguồn. Nước non hội ngộ còn luôn Bảo cho non chớ có buồn làm chi. Nếu như ở đoạn thơ trên, sự ra đi “nước” là một qui luật tự nhiên thì ở đoạn này, viễn cảnh về sự trở lại của “nước” cũng tuân theo một qui luật tự nhiên bất di bất dịch. Có thể nó đoạn thơ này là lời an ủi thiết tha, chân thành của “nước” dành cho “non”. Dù cho sông cạn đá mòn Còn non, còn nước hãy còn thề xưa. Lời thề vàng đá ngày nao vẫn còn đó, sâu nặng trong mỗi người. Cho nên đáp lại sự chung thủy đợi chờ của non là sự sắt son của nước. Non cao đã biết hay chưa Nước đi ra bể lại mưa về nguồn Nước non hội ngộ còn luôn Bảo cho non chớ có buồn làm chi. Cặp từ “non, nước” được liên tiếp lặp lại ở những vị trí khác nhau, ngày càng gần lại, ban đầu còn cách biệt câu trên câu dưới, còn song đôi nhưng chưa gặp gỡ thì sau đã đi liền nhau như tái hợp, sum vầy. Ta thấy từ trong mỗi câu thơ lóe lên những tia hi vọng tươi sáng, hợp thành một niềm tin chắc chắn vào một ngày sum họp gần kề. Tản Đà đã rất hữu ý khi sắp xếp từng câu chữ. Đoạn thơ như một lời an ủi nhiệm màu thổi vào lòng non ngọn lửa hồng ấm áp của niềm tin và sự lạc quan. Nước non tuy xa cách, nước tuy đi khuất nhưng có một ngày quay về với non: Như một người con trai đạt thành sự nghiệp qui cố hương với tấm lòng thanh thản tươi vui. Tầng nghĩa thức ba của cặp từ “non – nước” hiện ra ngay ở đây hàm ý về tấm lòng Tản Đà đối với non nước, quê hương. Nếu như ở một đoạn thơ đầu, ông bộc lộ nỗi buồn chán cho cảnh đất nước qua giọng thơ sầu não thì ở đoạn này, một nhịp thơ khoan thai mà âm điệu vui vẻ lại vẽ nên một Tản Đà khác hẳn, một Tản Đà ngập tràn hi vọng một ngày mai tươi sáng, một tương lai tốt đẹp cho nước nhà. Nước kia dù hãy còn đi Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui Nghìn năm giao ước kết đôi. Non non nước nước không nguôi lời thề. Màu xanh tươi tắn và khỏe khoắn của ngàn dâu tượng trưng cho một khởi đầu tốt đẹp sau những thay đổi tang thương. Từng lời từng chữ cứ quyện vào nhau, đan kết lại trong một nỗi hân hoan dào dạt. Ta như thấy được nét mặt vui mừng của người chinh phụ khi đón chồng về, như cảm nhận được niềm vui ngân lên trong những thanh âm trong trẻo của hai câu thơ cuối. Bức tranh “Thề nước non” mang một hình ảnh cụ thể của một bức tranh sơn thủy nhưng lại mang nét trừu tượng của một bức tranh phức tạp. Cái hay của bài thơ là ở ngôn ngữ nghệ thuật ngôn ngữ điêu luyện của Tản Đà, cũng là ở tấm lòng ưu ái của ông với đất nước. Bài thơ mang một giá trị cao là vì thế. Nó là một trong vài dấu son cuối cùng của thơ cổ, chuyển tiếp sang thời kì thơ mới hiện đại.
Phân tích bài thơ “Thề non nước” của Tản Đà
1,303
Phân tích bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” (Hồ Chí Minh) Hướng dẫn 1.Hoàn cảnh ra đời của bài thơ: Tháng 2-1941, sau ba mươi năm bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác Hồ về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người sống và làm việc trong hoàn cảnh hết sức gian khổ: ở hang Pác Bó, một hang núi nhỏ sát biên giới Việt – Trung (thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), thường phải ăn cháo ngô, măng rừng thay cơm, bàn làm việc là một phiến đá bên bờ con suối cạnh hang. 2.Thể thơ: -Bài thơ Tức cảnh Pác Bó thuộc thê thơ Đường luật thất ngôn tứ tuyệt. -Một số bài thơ có cùng thể thơ này: •Vọng Lu Sơn bộc bô (Xa ngắm thác núi Lư) – Lí Bạch. •Hồi hương ngẫu thư (Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê) – Hạ Tri Chương. •Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) – Lí Thường Kiệt. •Thiên Trường văn vọng (Buổi chiều đứng ơ phủ Thiên Trường trông ra) – Trần Nhân Tông. 3.Giọng điệu của bài thơ – Tâm trạng của Bác Hồ khi ở Pác Bó -Câu thơ đầu có giọng điệu thoải mái, cho thấy Bác Hồ sống thật ung dung, hòa với nhịp sống núi rừng: Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Câu thơ ngắt nhịp 4/3, tạo thành hai vế sóng đôi, gợi cảm giác về sự nhịp nhàng, nề nếp: sáng ra, tối vào… Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng Câu thơ thứ nhất nói về việc ở, câu thứ hai về ăn, câu thứ ba về làm việc, cả ba câu thơ đều tả sinh hoạt của tác giả ở Pác Bó, toát lên cảm giác thích thú, bằng lòng. -Trong câu thơ thứ ba, hình tượng người chiến sĩ nổi bật, đặc tả bằng những nét đậm, khỏe, đầy ấn tượng: Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Chông chênh là từ láy miêu tả duy nhất của bài thơ, tạo hình và gợi cảm. Ba chữ lịch sử Đảng toàn vần trắc, toát lên cái khỏe khoắn, mạnh mẽ. Trung tâm của bức tranh Pác Bó là hình tượng người chiến sĩ được khắc họa vừa chân thực, sinh động, lại vừa mang một tầm vóc lớn lao, một tư thế uy nghi, lồng lộng, giống như một bức tượng đài về vị lãnh tụ cách mạng. Bác Hồ đang dịch lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô – đồng thời, chính là đang xoay chuyến lịch sử Việt Nam nơi “đầu nguồn”… Cuộc đời cách mạng thật là sang Cuộc sống ấy quả “thật là sang”. Chừ sang ở đây chẳng những xem như là “nhãn tự” của câu thơ, còn tỏa sáng tinh thần của toàn bài thơ. 4.“Thú lâm tuyền” của Bác: – Thú lâm tuyền là niềm yêu thích thiên nhiên, mang nét đẹp có tính truyền thống của kẻ sĩ phương Đông. Bao bậc ấn sĩ, sau khi trả xong nợ nam nhi, hoặc lúc chán ngán danh lợi phù hoa, đã tìm đến chốn lâm tuyền đế vui với thiên nhiên, bảo toàn khí tiết hoặc di dưỡng tinh thần như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi… Đối với Hồ Chí Minh, trong con người chiến sĩ cách mạng vẫn có một khách lâm tuyền. Có điều, cuộc đời cách mạng chỉ cho phép Bác hưởng thú lâm tuyền trong hoàn cảnh đầy gian khổ khi còn hoạt động bí mật ở Pác Bó và trong kháng chiến chống Pháp. Hơn nữa, dù yêu mến thiên nhiên, Bác vẫn đặt nhiệm vụ cách mạng lên hàng đầu.
Phân tích bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” (Hồ Chí Minh)
592
Phân tích bài thơ “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị Bài thơ, là một bản đàn sầu thương, làm say mê đắm đuối lòng người, khi nghe ở trong tiếng đàn như thêm vào đó cả sự giận dữ. Tác giả Bạch Cư Dị (772-846), biểu tự Lạc Thiên, hiệu Hương Sơn cư sĩ, là nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng thời Đường. Ông là một trong số những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc, dường như chỉ xếp sau Lí Bạch và Đỗ Phủ. Ông là một trong những người có chủ trương đổi mới thơ ca cùng với Nguyên Chẩn, Trương Tịch, Vương Kiến, ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống và phản ánh các hiện thực trong xã hội và chống lại những thứ văn chương chỉ là hình thức. Thơ của ông được lan truyền đi khắp dân gian và còn lan sang cả Nhật Bản và các nước khác, cho thấy thơ ông có ảnh hưởng rất lớn. Thơ của ông mang đậm tính hiện thực, phản ánh rõ rệt xã hội thời đó, kết hợp với hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Nhưng thơ của ông lại thấm nhuần tư tưởng nhân đạo, nhân văn. Ông rất hòa đồng cùng với dân chúng, không coi rằng làm quan mà cao quý hơn người, ông chủ trương thơ ca phải viết để dân chúng hiểu được. Những tác phẩm của ông để lại khoảng trên 2800 bài thơ. Những tác phẩm lớn nhất của ông phải kể đến: “Trường hận ca”, “Tần trung ngâm”, “Dữ nguyên cửu thư”, và “Tỳ bà hành”. Tỳ bà hành là một trong số những tác phẩm lớn và hay nhất của Bạch Cư Dị. Nói về sự cảm thông của ông đối với những thân gái chịu bao tập tục hủ bại và cảnh nghèo túng mặc dù sắc đẹp thì chẳng thua ai. Bài hành còn nói về tiếng đàn tì bà của một giai nhân bạc mệnh trên bến Tầm Dương một đêm trăng thu. Năm 816, Bạch Cư Dị bị giáng chức xuống làm quan Tư Mã, quân Cửu Giang, vào một đêm trăng thu đẹp mà trong lòng không vui, ông nghe thấy tiếng đàn tì bà của người ca nữ và kể về cuộc đời nhiều bất hạnh của nàng, tác giả cảm cảnh “Cùng một lứa bên trời lận đận” đã khóc sướt mướt trong bữa tiệc hoa sau khi ca nữ ngừng gảy đàn. Hình ảnh nào trong bài cũng thần tình, câu thơ nào cũng đẹp, cũng “thanh tao”. “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, Quạnh hơi thu, lau lách dìu hiu, Người xuống ngựa, khách dừng chèo, Chén Quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc, ti” Khách và chủ đang bâng khuâng “ngại khi chia rẽ” lòng khao khát được nghe một tiếng sáo, tiếng đàn “nhớ chiều trúc, ti” thì tiếng đàn tì bà vọng lại. Dòng sông trở nên mênh mông, vầng trăng thu sáng như sáng hơn. Một hình ảnh đậm chất thơ: “Nước mênh mông đượm vẻ gương trong”. Trước đây đã có một thi nhân thích thú và khen câu thơ này là “tuyệt cú tiếng đàn tì bà mới huyền diệu làm sao, đã làm cho chủ khuây khỏa, khách lại dùng dằng”. Như là tiễn đưa giữa đôi bạn tri âm tri kỉ lại là sự mở đầu cho cuộc gặp gỡ vô cùng cảm động giữa một giai nhân và kia là một tài tử. Tiếp sau cuộc tiễn đưa là gặp kĩ nữ và nghe nàng đánh đàn. Khi gặp nàng đó là giây phút bỡ ngỡ của thi nhân. Giữa đất trời sông nước trăng thu ấy, không hẹn mà nên cuộc gặp gỡ giữa thi nhân và kĩ nữ qua khúc đàn kia diễn ra vô cùng cảm động. Thi nhân “rời thuyền” ghé thăm cất tiếng hỏi: “sẽ ai đàn tá?” kĩ nữ “dừng dây tơ nấn ná làm thinh”. Câu thơ trữ tình mang đậm màu sắc đầy xúc động. Thi nhân ân cần mời mọc, người kĩ nữ tần ngần, chín mười phần bỡ ngỡ. Sự xuất hiện của mỹ nhân được tả: “Tay ôm đàn che nửa mặt hoa Vặn đàn mấy tiếng dạo qua, Dầu chưa nên khúc tình đà thoáng hay” Mỹ nữ xuất hiện trong phút đầu gặp mặt chưa ai biết rõ thân phận của nàng như thế nào, nhưng qua dáng vẻ bỡ ngỡ, ngựng ngùng, tiếng đàn tơ của khúc dạo đàn, ta có thể đoán được một sự bất thường của người kỹ nữ mà tác giả gặp đêm nay. Tiếng dạo đàn là sự u uất và cả những nỗi buồn chất chứa chỉ có thể nghe qua tiếng đàn. Nhưng mấy ai đã có trình độ nghe qua tiếng đàn mà hiểu lòng người vì vậy nhà thơ quả là một tài tử sành điệu cầm kì thi họa mới có cái tai Chung Tử Kì ấy: “Nghe não ruột mấy dây buồn bực, Dường than niềm tấm tức bấy lâu Mày chau tay gảy khúc sầu Giãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.” Cảm xúc như nén chặt bên trong con người ấy, người tài sắc bạc mệnh được giãi bày qua âm sắc, giai điệu tì bà với bao “buồn bực”, “tấm tức”, “nghe não ruột” như khóc than. Ở câu thơ “ mày chau tay gảy khúc đàn” đó chính là một tâm trạng đầy bi kịch. Thành tựu nổi bật nhất trong bài thơ “Tỳ bà hành” đó là nghệ thuật miêu tả tiếng đàn. Trong bữa tiệc hoa trên bến Tẩm Dương, thính giác của kĩ nữ là một tài tử văn nhân rất sành âm ca, đặc biệt hơn nữa là có một cuộc đời, một nỗi niềm cay đắng, đã trải qua biết bao thăng trầm, nổi trôi giống người kĩ nữ kia. Ở lần thứ nhất, khúc tiền tấu được tả từ xa, mơ hồ trong khói sương Tầm Dương. Lần tiếp, tiếng đàn được miêu tả trong mỏi cung bậc, giai điệu, cảm xúc và nỗi niềm của hai tâm hồn đa tài, đa sầu. Ngón tay kĩ nữ “buông bắt” lướt trên phím đàn, hai khúc nhạc cung đình Nghê Thường, Lục Yêu vang lên. Câu thơ gơi cho người đọc thấy, người đang đàn dường như không phải là một kĩ nữ mà là một nghệ nhân đàn hiếm thấy: “Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt, Trước Nghê Thường san thoắt Lục Yêu” Tiếp theo là mười bốn câu thơ, Bạch Cư Dị sử dụng một chuỗi các ẩn dụ so sánh để ca ngợi âm sắc của giai điệu tiếng đàn tì bà của ca nữ. “Dây to nhường đổ mưa rào, Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng” Tiếng đàn không trầm lắng mà lúc cao lúc thấp, lúc trầm lúc bổng, trong vắt như hạt châu nảy trên mâm ngọc, như tiếng chim oanh ríu rít lời ca: “Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy”, “mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt câu”, “trong hoa oanh ríu rít nhau”… Tiếng tì bà lại tiếp tục như “nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh” thì bỗng dưng “ngừng đứt”. Kĩ nữ diễn tấu “dấu lặng trong bản đàn một cách thổn tình. Người dự tiệc ngồi nghe đàn đều ngẩn ngơ trước sự huyền diệu của suối âm thanh qua ngón diễn tấu tài năng của người kĩ nữ. Nhưng tiếp đến thì ta lại thấy tiếng đàn như sầu thương, như giận dữ, nhưng làm say mê lòng người. Bốn ẩn dụ cuối, là biến tấu của giai điệu tì bà như nước tuôn trào ra khỏi bình bạc vỡ, rầm rập như đoàn kị binh xung trận, như tiếng đao khua trên chiến địa, như tiếng xé lụa vang lên,.. Hình ảnh nào cũng thật đẹp và thanh tao. Ngôn ngữ trong bài tràn ngập âm thanh: “Bình lạc vỡ tuôn đầy dòng nước, Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao Cung đàn trọn khúc thanh tao Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây” Trong suối âm thanh tì bà, ngoại cảnh như ru hồn trong mộng tưởng, say đắm, bang khuâng, tất cả đều “lặng ngắt” lắng nghe âm thanh của đàn tì bà. Khung cảnh hiện lên qua một nét vẽ đậm chất thơ. Dòng sông mênh mang hơn, ánh trăng như sáng hơn,con thuyền như đắm chìm vào trong giấc mộng đêm thu: “Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt Một vầng trăng trong vắt dòng sông.” Qua bản dịch thơ của Phan Huy Vịnh ta thấy được bài “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị thật hay và hấp dẫn. Ta đắm chìm vào tiếng nhạc qua những vần thơ réo rắt, trầm bổng. Giữa kĩ nữ và người thi nhân dường như là tri kỉ. Bao nhiêu âm thanh là bấy nhiêu sự giãi bày cuộc đời đắng cay và u hoài.
Phân tích bài thơ “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị
1,488
Phân tích bài thơ “Vịnh khoa thi hương” của Trần Tế Xương Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Vịnh khoa thi hương” của Trần Tế Xương Bài làm Tú Xương là một nhà thơ được sinh ra và lớn lên trong giai đoạn có thể nói là bi thương nhất của đất nước – nước ta bị Pháp tấn công và thống trị. Trước cảnh đất nước bị tù đày ấy, thơ của ông là một bức tranh hiện thực vừa bày tỏ sự đau xót của một người con nước Nam, đồng thời cũng tố cáo tội ác đen tối của bọn thực dân. Và “Vịnh khoa thi hương” cũng là một tác phẩm như thế. Mở đầu bài thơ là hai câu thơ giới thiệu kì thi Hương năm ấy: “Nhà nước ba năm mở một khoa Trường Nam thi lẫn với trường Hà” Kì thi này được tổ chức một cách bình thường, cứ ba năm một lần. Nhưng điều bất thường của nó là, các thí sinh của trường Hà Nội cũng bị dồn về trường Nam Định để thi. Chỉ một từ “lẫn”, tác giả đã khéo léo nói lên tình trạng hồn loạn, bát nháo, tạp nham của khoa thi Hương năm ấy. Và đúng là, việc thi cử ấy tạp nham thật: “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm ọe quan trường miệng thét loa.” Từ “lôi thôi” được đặt lên đầu câu, nhấn mạnh vẻ lếch thếch, không gọn gàng của các vị “sĩ tử”. Bình thường, những người đi thi đều là những người đọc sách, những người luôn gọn gàng, chỉn chu. Vậy mà nay, thí sinh đi thi với vẻ xốc xếch, với lọ chai lỉnh kỉnh, không còn cái vẻ tao nhã của người đọc sách. Chỉ một đối tượng, nhưng cũng đủ để chỉ sự xuống cấp của toàn xã hội. Thí sinh không còn vẻ nho nhã trí thức thì những vị giám khảo cũng không còn vẻ nghiêm túc, đáng kính như trước nữa, chỉ còn cái dáng “thét loa” như ngoài chợ, mà nói thì cũng “ậm ọe” chẳng thành câu. Một lần nữa, tính từ miêu tả “ậm ọe” lại được cho lên đầu câu giống như từ “lôi thôi” ở trên để làm nổi bật lên sự bất tài của đám quan trông trường thi. Chúng chỉ là những kẻ vênh váo, dựa hơi, chẳng có tài năng cũng chẳng có thực quyền. Trước mắt người đọc hiện lên hình ảnh của một trường thi nhốn nháo, quan trông thi thì luôn miệng hống hách, quát tháo, sĩ tử đi thi thì lôi thôi, lếch thếch, xiêu vẹo lều chõng lọ giấy đi thi. Thật là đáng buồn và đáng cười thay! Trong cái nhốn nháo, tạp nham ấy, hai nhân vật “quan trọng” xuất hiện một cách hoành tráng: “Lọng cắm rợp trời quan sứ đến Váy lê quét đất mụ đầm ra” Theo như lịch sử, kì thi năm Đinh Dậu 1897 có vợ chồng toàn quyền Pháp và vợ chồng tôn công sứ Nam Định đến dự. Đang trong không khí trường thi căng thẳng, vậy mà quan sứ và vợ vẫn được đón tiếp một cách long trọng, “lọng cắm rợp trời”, mưa không đến mặt, nắng không đến đầu. Kẻ xâm lược được đón tiếp một cách tốt nhất, đặt lên một vị trí cao nhất cho thấy một thực trạng đau lòng nước ta thời bấy giờ – một xã hội mà thực dân nắm quyền và xã hội phong kiến chỉ làm bù nhìn. Ở đây, Tú Xương dùng từ vô cùng đắt. Gọi “quan sứ” một cách quan trọng, nhưng lại gọi vợ chúng là “mụ đầm”. “Mụ” là một từ để chỉ người đàn bà không ra gì, là cách gọi thô tục. Tú Xương “chửi” một cách vô cùng sắc bén. Vừa châm biếm, nhưng đó cũng vừa là nỗi đau xót, căm hận của một con người phải chứng kiến cảnh nước mất nhà tan. Trước cảnh nhốn nháo, biến chất ấy, nhà thơ đã phải thốt lên rằng: “Nhân tài đất Bắc nào ai đó, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.” Hai câu thơ vừa là lời tự vấn bản thân, cũng là tự vấn những người đồng cảnh ngộ. Có mấy người còn nghĩ đến nỗi nhục của cảnh nước mất nhà tan, mà cùng nhau đứng lên hành động? Có bao nhiêu người vẫn đang mù quáng tin vào nhà nước, tin vào chính quyền mà không chịu nhìn vào thực tế?
Phân tích bài thơ “Vịnh khoa thi hương” của Trần Tế Xương
746
Phân tích bài thơ “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu Bài làm Phan Bội Châu (1867 – 1940) là cái tên đẹp một thời. Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là linh hồn của các phong trào vận động giải phóng Tổ quốc khoảng 25 năm đầu thế kỷ XX. Tên tuổi ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội…Tên tuổi Phan Bội Châu còn gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài văn tế và vài ba vở tuồng chứa chan tinh thần yêu nước. Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng (Tố Hữu). Năm 1900, Phan Bội Châu đậu giải nguyên khoa thi Hương Trường Nghệ. Năm 1904, ông sáng lập ra Hội Duy Tân, một tổ chức yêu nước. Năm 1905, ông dấy lên phong trào Đông Du. Trước lúc lên đường Đông Du, qua Trung Hoa, Nhật Bản để cầu ngoại viện với bao hoài bão tung hoành, ông đã để lại cho các đồng chí bài thơ Xuất dương lưu biệt. Có thể nói, bài thơ này như một mốc son chói lọi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và thơ văn Phan Bội Châu. Xuất dương lưu biệt được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc tráng ca biểu lộ tư thế, quyết tâm hăm hở, và những ý nghĩ cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước. Hai câu đề tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả: Sinh nam tử yếu hi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển đi. Tự hào mình là đấng nam nhi thì phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên điều lạ (tử yếu hi kì). Suy rộng ra, là không thể sống tầm thường, không thể sống một cách thụ động để cho trời đất (càn khôn) tự chuyển dời một cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ thể hiện một tư thế, một tâm thế rất đẹp về chí nam nhi, tự tin ở đức độ, tài năng của mình, muốn làm nên sự nghiệp to lớn, xoay chuyển đất trời, như ông đã nói trong một bài thơ khác: Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạng vô cùng sôi nổi của Phan Bội Châu ta mới cảm nhận được cái khẩu khí anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại. Đấng nam nhi muồn làm nên điều lạ ở trên đời, từng nung nấu và tâm niệm như trong một vần thơ cổ: Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, Lập thân tối hạ thị văn chương. (Tùy biên thi thoại – Viên Mai) (Bữa bữa những mong ghi sử sách, Lập thân xoáng nhất ấy văn chương) Đấng nam nhi muốn làm nên điều lạ ở trên đời ấy có một bầu máu nóng sôi sục: Tôi được trời phú cho bầu máu nóng cũng không đến nỗi ít, lúc còn bé đọc sách của cha tôi, mỗi khi đến những chỗ nói người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt dầm đìa rỏ xuống ướt đẫm cả giấy…(Ngục trung thư) Phần thực ý thơ được mở rộng, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử: Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy. Ngã là ta; tu hữu ngã nghĩa là phải có ta trong cuộc đời một trăm năm (bách niên trung). Câu thơ khẳng định biểu lộ niềm tự hào lớn lao của kẻ sĩ yêu nước trong cảnh nước mất nhà tan. Thiên tải hậu là nghìn năm sau, là lịch sử của đất nước và dân tộc há lại không có ai (để lại tên tuổi) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi bật điều khẳng định. Đó là ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Ý tưởng đẹp này là sự kế thừa những tư tưởng vĩ đại của các vĩ nhân trong lịch sử: -…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội có, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng (Trần Quốc Tuấn). – Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh (Văn Thiên Tường) Lấy cái hữu hạn bách niên của một đời người đối với cái vô hạn thiên tải của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu đã tạo nên một giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng biểu lộ quyết tâm và khát vọng trong buổi lên đường. Vì thế, trên bước đường cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua muôn vàn thử thách và nguy hiểm, ông vẫn bất khuất, lạc quan: Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu! (Cảm tác trong nhà ngục Quảng Đông) Phần luận, tác giả nói về sự sống và cái chết, nói về đường công danh. Đây là một ý tưởng rất mới khi ta soi vào lịch sử dân tộc những năm dài đen tối dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Khi non sông đã chết, đã bị ngoại bang xâm chiếm, giày xéo thì thân phận dân ta chỉ là kiếp trâu ngựa, có sống cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Trong hoàn cảnh ấy có nấu sử sôi kinh, có chúi đầu vào còn đường kinh sử cũng vô nghĩa. Sách vở của Thánh hiền liệu có ích gì trong sự nghiệp cứu nước cứu nhà: Non sông đã chết sống thêm nhục, Thánh hiền còn đâu học cũng hoài Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết. Ông nói bằng tất cả nhiệt huyết và chân thành. Ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lối học cử tử, không thể đắm chìm trong vòng hư danh, mà phải hăm hở đi tìm lí tưởng cao cả. Trong Bài ca chúc tết thanh niên viết vào dịp Tết năm 1927, cụ thiết tha kêu gọi thanh niên: Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn Dụng gan óc lên đánh tan sắt lửa Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ… Sống như thế nào là sống đẹp. Sống như thế mới mong làm nên điều lạ ở trên đời, mới tự khẳng định được: Trong khoảng trăm năm cần có tớ. Nguyên trục trường phong Đông hải khứ, Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, cổ vũ lòng yêu nước, kêu gọi lòng căm thù giặc. Thơ văn Phan Bội Châu sở dĩ trở thành những bài ca ái quốc vì thấm đượm cảm xúc, sục sôi nhiệt huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng. Hai câu kết này là một ví dụ: Trường phong – ngọn gió dài, Thiêu trùng bạch lãng – ngàn lớp sóng bạc, là hai hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sỹ cách mạng được diễn tả qua các vị ngữ: Nguyện trục (mong theo đuổi) và nhất tề phi (cùng bay lên). Cái không gian mênh mông mà nhà chí sĩ mong vượt qua là Đông hải. Nếu hai thanh trắc cuối câu 7 (Đông Hải khứ) làm cho âm điệu thắt lại, nén lại thì hai thanh bằng cuối câu 8 (nhất tề phi) lại làm cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng trầm bổng ấy cũng góp phần thể hiện quyết tâm mạnh mẽ lên đường cứu nước cùa Phan Bội Châu. Ở đây nội lực, bản lĩnh chiến đấu và khẩu khí cùa người chiến sĩ có sự hòa hợp, gắn bó và thống nhất. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều tiên sinh đã nói ở hai câu kết. Xuất dương lưu biệt là bai thơ tuyệt tác đầy tâm huyết. Bài thơ là tiếng nói tự hào của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước thương dân, dám xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một giọng thơ đĩnh đạc hào hùng, tráng lệ nhất là ở hai câu kết. Bài thơ thể hiện một cách sâu sắc nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại Phan Bội Châu.
Phân tích bài thơ “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu
1,453
Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy – văn lớp 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy – văn lớp 9 Bài làm Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Năm 1966 ông gia nhập quân đội vào binh chủng thông tin, tham gia chiến đầu ở nhiều chiến trường, Bài thơ “Ánh trăng” ra đời năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ như một lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao của tác giả khi còn ở ngoài chiến trận gắn bó sâu sắc với thiên nhiên, trời đất. Bài thơ là mạch cảm xúc kéo dài từ quá khứ đến hiện tại. Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh quen thuộc, thân thương của người dân Việt Nam nói chung và tác giả nói riêng. “Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với biển hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ” Đoạn thơ như một lời tự sự hoài niệm về quá khứ của tác giả đã gắn bó với trăng như thế nào, đã là người bạn thân thiết bên nhau những tháng ngày tuổi thơ cho tới kháng chiến như thế nào? Cuộc sống tự hòa quyện mình vào với thiên nhiên, với đất trời, một cuộc sống yên bình mà cũng không kém phần xáo động bởi những thứ xung quanh. Chiến tranh đã qua, một cuộc chiến kesod dài mấy ngàn năm lịch sử, phải sống trong rừng, sống quanh núi, ánh trăng vốn trở thành người bạn tri kỉ với tác giả. Hàng đêm có trăng, cũng không buồn nơi rừng sâu núi hiểm. Hồi nhỏ và hồi chiến tranh, tác giả đã đưa người đọc từ từ cảm nhận theo dấu mốc thời gian luân chạy luôn hồi, ánh trăng đã từng là bạn hiền, là người bạn cùng vui chơi hồi còn nhỏ và từng vào sinh ra tử hồi còn chiến tranh. hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa” Trăng đẹp và giản dị vô cùng, một vẻ đẹp thuần túy mà không cần trang điểm, không cần gợi tạo màu sắc, trăng đẹp một cách hồn nhiên và vô tư như thế. Vầng trăng ấy trong chiến tranh, vầng trăng ấy hồi còn nhỏ cứ ngỡ sẽ không bao giờ quên, nhưng không phải. “Từ hồi về thành phố quen ánh điện cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường.” Cuộc sống chốn phù du hoa lệ bởi ánh đèn điện dường như đã che lấp mất ánh sáng bao trùm của ánh trăng. Những ngôi nhà cao tầng mọc san sát, bao nhiêu thứ của cuộc sống hiện đại khiến con người ta dễ dàng quên đi những gì của quá khứ đã từng là thân thuộc. Dễ quên đi những lời hứa sẽ mãi là “ánh trăng tình nghĩa”, là sự chở che nhau trong cuộc đời nhưng tất cả lại bị lãng quên như một đóa hoa phù du có nở sẽ có tàn. Giọng thơ trong khổ thơ này như chúng xuống, như nghẹn lại, một niềm cảm xúc khó diễn tả làm cho nỗi niềm của con người với ánh trăng mang một chút gì đó là cảm xúc của sự hối lỗi, là những cảm xúc còn vẹn nguyên như những ngày đầu. “Thình lình đèn điện tắt vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn” Đoạn thơ cho ta dòng cảm xúc đột ngột. Một cảm xúc khó diễn tả tành lời cứ như ta đã lâu không gặp lại người cũ, hay chính là cảm giác tự trách móc bản thân khi đã vội vã quên đi người bạn tri kỉ với mình. Những động từ mạnh đã gợi tả sức mãnh liệt trong dòng cảm xúc của tác giả “thình lình”, “bật tung”, “đột ngột” chính là sự thay đổi trạng thái cảm xúc của con người trong bóng tối bất ngờ của thành phố khi đèn chiếu sáng bị tắt. Phải chăng với những thứ xa hoa của phố thị cùng với bận rộn của công việc trong những ngày hòa bình của đất nước ta đã quên mất đi những gì là đẹp đẽ, là thuần túy là tri kỉ đã bên ta trong suốt chặng đường khó khăn gian khổ. Vầng trăng tròn một cách “đột ngột” chính là khi tác giả bật cửa sổ và đối diện với ánh trăng của mình. Trăng có khi nào đang khuyết lại tròn “đột ngột”, trăng vẫn tròn như thế, vẫn tròn trịa như những kỉ niệm vẫn vẹn nguyên chỉ có con người là thay đổi, là không nhận ra hay vô tình quên đi mất những kí ức đẹp của mình với ánh trăng. “Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng” Mặt đối mặt đã cho tác giả có cảm nhận rung rung về những kỉ niệm chạy dài tỏng kí ức, những kỉ niệm đẹp đẽ nhất, thuần túy nhất giữ chính tác giả với ánh trăng. Một vòng tròn ký ức về đồng, bể, biển, rừng khiến tác giả chạnh lòng yếu đuối, một cảm giác xót xa đến tủi hờn khi vô tình quên mất ánh trăng. kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình” Phải rồi, trăng vẫn cứ tròn, trăng vẫn cứ im lặng mà chẳng một lời trách móc với con người. Trăng vẫn hiền lành và dịu dàng như thế, nhưng con người lại cứ quên trăng đi, để lúc đối mặt với trăng phải giật mình về những điều hối lỗi đó. Một phép đối lập song song đủ khiến cho lương tâm của con người thức tỉnh và ngộ ra nhiều điều. Dù cuộc sống có thay đổi, ánh trăng vẫn thế, vẫn bao dung, vẫn rộng lượng với con người. Khổ thơ cuối đã gieo vào lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả và thức tỉnh những người đang dần lãng quên đi quá khứ. Với giọng điệu tâm tình, tự nhiên mà giàu hình ảnh mang tính biểu cảm, Ánh trăng của Nguyễn Duy như tự nhắc nhở những năm tháng gian lao của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất trời và sự hiền hậu. Bài thơ như một lời nhắc nhở con người phải biết sống có tình có nghĩa, phải biết yêu thương và quý trọng nhau, phải biết chia sẻ ngọt bùi, và không được quên đi quá khứ.
Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy – văn lớp 9
1,084
Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy Hướng dẫn Đề bài: Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy. Bài làm Nguyễn Duy là nhà thơ trường thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những sáng tác của ông đi vào lòng người đọc bởi sự nhẹ nhàng, gần gũi, mộc mạc của ngôn ngữ qua bài thơ “Hơi ấm ổ rơm”, “Tre Việt Nam”. Bài thơ “Ánh trăng” được rút ra từ tập thơ cùng tên, sáng tác năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh đã khiến người đọc có cách nhìn nhận chân thực và sâu sắc hơn về cuộc sống, về quá khứ qua hình ảnh trung tâm “ánh trăng”. Ánh trăng là hình ảnh xuyên suốt 4 khổ thơ, xâu chuỗi các dòng hoài niệm và suy nghĩ của một đời người về hiện tại và quá khứ. Có thể nói Nguyễn Duy đã rất tinh tế để xây dựng thành công hình tượng “vô tri vô giác” nhưng có sức mạnh đánh thức và lay động trái tim. Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh ánh trăng thân thuộc, gần gũi, gắn với những kỉ niệm đẹp gắn bó với tuổi thơ, với năm tháng chiến tranh ác liệt: Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ. Có thể nói hình ảnh “ánh trăng” đã thành biểu tượng xuyên suốt tuổi thơ của tác giả, gắn bó với những kỉ niệm khó quên. Ánh trăng tinh khiết, dịu nhẹ lan tỏa từ cánh đồng mênh mông, từ dòng sông bến nước – nơi nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi chúng ta. Đến những năm tháng “hồi chiến tranh ở rừng” gian khổ, vất vả, ánh trăng từ kí ức tuổi thơ ấy đã thành “tri kỉ”, thành người bạn đồng hành, người bạn tâm tình đáng mến, thủy chung, son sắt. Có thể nói Nguyễn Duy đã rất khéo, rất tinh tế khi nhân hóa ánh trăng thành một người bạn tri kỉ của những anh bộ đội cụ hồ. Sự gắn bó quấn quýt, tình cảm chân thành và trong sáng giữa anh bộ đội và anh trăng thật đáng ngưỡng mộ. Trần trụi giữa thiên nhiên Hồn nhiên như cây cỏ Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa Dù là ở đâu thì “ánh trăng” vẫn vẹn nguyên, gần gũi, phóng khoáng khiến cho tác giả có cảm giác “không bao giờ quên”, nhưng đó chỉ là “ngỡ” thôi. Vầng trăng tình nghĩa, chung thủy luôn là hình nhắc nhắc nhở tác giả không được phép quên đi. Nhưng chính từ “ngỡ” ấy chính là dấu hiệu cho một sự rạn nứt, quên lãng ở khổ thơ tiếp theo Từ hồi về thành phố Quen đèn điện của gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường Cuộc sống đô thị phồn hoa với đèn điện, cửa gương, với tiện nghi đầy đủ đã khiến cho tác giả quên mất đi người bạn tri kỉ ngày xưa đó. Ở hai câu thơ sau của khổ thơ này, giọng thơ chùng xuống khiến người đọc nghèn nghẹn. Và đặc biệt cách dùng từ “người dưng” đã gợi lên cảm giác xót xa đến tột độ. Từng là bạn tri kỉ, từng là “người” ngỡ như không quên, nhưng giờ đây tác giả vô tâm, vô tình, hờ hững xem như kẻ qua đường, không hơn không kém. Phép so sánh đấy đã khiến cho tứ thơ xoáy sâu vào lòng người nhiều nuối tiếc, day dứt, xót xa cho một sự thay đổi. Thình lình đèn điện tắt Phòng buyn-đinh tối om, Vội bật tung cửa sổ, Đột ngột vầng trăng tròn. Đến khổ thơ này thì tứ thơ đã đột ngột thay đổi, có lẽ chính bản thân tác giả thay đổi lớn nên mới dẫn đến sự thay đổi bất ngờ của tứ thơ như thế này. Sau chiến tranh, tác giả trở về với cuộc sống thường ngày, bận rộn với thực tại và có thể đã “quên mất” quá khứ, quên mất người bạn tri kỉ ngày xưa đó. Chính cuộc sống đủ đầy hiện tại với đèn điện sáng trưng, ánh trăng trở nên mờ nhạt. Đến khi “đèn điện tắt” tác giả mới giật mình, thảng thốt nhận ra căn phòng tối om và nhận ra lương tâm mình đã thay đổi. Từ “thình lình” được tác giả dùng một cách độc đáo, có thể nói đây chính là “sự không vững” trong tâm hồn, một sự chuyển biến bất ngờ, nhanh chóng khiến mọi thứ trở nên không vững. Cửa sổ “bật tung”, có một điều khiến tác giả cảm thấy hổ thẹn “đột ngột vầng trăng tròn”. Câu thơ này có ý thơ rất lạ, nói đúng hơn là từ ngữ rất lạ, vầng trăng không thể “đột ngột” tròn được, bởi vốn dĩ từ xưa đến nay nó vẫn tròn như thế, chỉ có con người vô tâm mới không nhận ra điều đó. Đối diện với ánh trăng, tác giả nhận ra “có cái gì rưng rưng”, là ánh trăng rưng rưng hay là lòng người rưng rưng, có lẽ là cả hai. Một sự hội ngộ bất ngờ và đầy day dứt của tác giả. Ánh trăng vẫn vẹn nguyên, vẫn tròn đầy và thủy chung như xưa, chỉ có con người đổi thay. Đến khổ thơ cuối, tứ thơ trở nên sắc nhọn: Vầng trăng tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật minh Một phép đối lập song song đủ khiến cho lương tâm của con người được thức tỉnh và ngộ ra nhiều điều. Cách dùng từ “vành vạnh”, “phăng phắc” đủ để người đọc nhận ra sự nghiêm khắc của ánh trăng khiến cho con người “giật minh”, thức tỉnh. Dù cuộc sống đổi thay, con người thay đổi, ánh trăng vẫn thế, bao dung và rộng lượng. Khổ thơ cuối đã gieo vào lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả và thức tỉnh những người đang dần lãng quên đi quá khứ. Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy với tứ thơ lạ, độc đáo, cách viết mới mẻ, hấp dẫn, từ ngữ “độc” và hơn hết là tình cảm của tác giả đã để lại trong lòng người đọc nhiều bài học sâu sắc nhất.
Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy
1,044
Phân tích bài thơ “Đàn ghi-ta của Lorca” (Thanh Thảo) Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Đàn ghi-ta của Lorca” (Thanh Thảo) Thanh Thảo thuộc thế hệ nhà thơ chống Mĩ có thành tựu, có tiếng nói thơ riêng được công chúng chú ý. Là một ngòi bút luôn tìm tòi cái mới, nỗ lực cách tân thơ Việt, ông khước từ lối biểu đạt dễ dãi, tìm kiếm những cách biểu đạt mới và đề xuất một mĩ cảm hiện đại cho bài thơ. “Đàn ghi-ta của Lorca” rất tiêu biểu cho nỗ lực cách tân thơ Việt của Thanh Thảo, mặc dù bài thơ còn khó hiểu vì ít nhiều nhuốm màu sắc tượng trưng và siêu thực mà ông học tập ở chính nhà thơ hiện đại Tây Ban Nha – Lorca. Bài thơ viết về cái chết của Fê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lor-ca (1898 – 1936), thi sĩ, nhạc sĩ, nhà biên kịch thiên tài người Tây Ban Nha. Dòng máu nóng bỏng nhiệt tình thôi thúc nhà thơ cất cao tiếng đàn, tiếng hát, lời thơ để ca ngợi tự do bất diệt, phản đối bản chất tàn bạo, xấu xa của bè lũ phát xít Phơ-răng-cô. Ông đã bị chúng sát hại ngày 19-8-1936, khi ông mới 38 tuổi. Cả đất nước Tây Ban Nha khóc thương ông, một nhà thơ – chiến sĩ của tự do. Cái chết của Lor-ca là sự kiện gây chấn động dư luận không những ở Tây Ban Nha mà còn trên toàn thế giới, không chỉ lúc bấy giờ mà còn âm vang tới nhiều năm sau. Thanh Thảo vô cùng khâm phục và yêu mến khí phách cũng như tài năng của Lor-ca nên đã dành tâm huyết để viết nên bài thơ giống như dựng một tượng đài sừng sững về Lor-ca trong tâm tưởng những người mến mộ ông qua một hình ảnh quen thuộc mà độc đáo: cây đàn ghi ta. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng Lor-ca và biểu tượng nghệ thuật Lor-ca trong mạch cảm xúc và suy tư đa chiều, vừa sâu sắc, vừa mãnh liệt của tác giả. Hình tượng Gar-xi-a Lor-ca trong bài thơ có thể được cảm nhận ở nhiều cấp độ, nhiều khía cạnh khác nhau nhưng khái quát lại có thể thấy một số nét chính: Đó là một nghệ sĩ tự do và cô đơn. Tuy bị giết chết bởi thế lực phát xít tàn ác nhưng tâm hồn Lor-ca bất diệt. Bài thơ làm sống lại huyền thoại về một con người, một nghệ sĩ, một chiến sĩ của đất nước có truyền thông âm nhạc, thi ca và những vũ điệu rực lửa. Câu nói nổi tiếng: Khi tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn của Lor-ca được lấy làm đề từ của bài thơ giống như một “chìa khóa” ngầm hướng người đọc tới sự hiểu biết đúng đắn thông điệp của bài thơ. Trong nhận thức của một người đọc bình thường, câu nói này hiển nhiên bộc lộ tình yêu say đắm của Lor-ca với nghệ thuật. Nhưng không chỉ có vậy, nó còn là tình yêu tha thiết của người nghệ sĩ với xứ sở của mình. Mở đầu bài thơ là tiếng đàn rộn rã đầy hứng khởi tượng trưng cho tâm hồn sôi nổi, mạnh mẽ, yêu đời của Lor-ca nói riêng và của dân tộc Tây Ban Nha nói chung. Hình ảnh Lor-ca – một nghệ sĩ tự do và đơn độc – được giới thiệu bằng những nét chấm phá gây ấn tượng mạnh mẽ: Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt li-la li-la li-la đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn Màu áo choàng đỏ gắt nhắc tới một nét độc đáo trong đời sống văn hóa của người dân Tây Ban Nha vừa giúp chúng ta hình dung khá cụ thể về Lor-ca, vừa gợi hồi tưởng đến trò chơi đấu bò tót mạo hiểm, dũng mãnh có sức cuốn hút rất lớn với đông đảo dân chúng Tây Ban Nha và du khách quốc tế. Các chàng đấu sĩ nổi bật giữa đấu trường với chiếc áo choàng đỏ thắm trên vai và mảnh vải đỏ trong tay. Đơn độc với thanh kiếm hoặc mũi lao, chàng đấu sĩ bằng sự sáng suốt, khéo léo và lòng dũng cảm sẽ hạ gục chú bò tót to lớn, hung dữ trong một hiệp đấu ngắn ngủi trước sự chứng kiến của hàng vạn khán giả trên sân. Nhưng ở đây không, phải là đấu trường với cuộc đấu giữa võ sĩ với bò tót mà là một đấu trường đặc biệt với cuộc đấu dai dẳng, bền bỉ mà không kém phần ác liệt giữa khát vọng dân chủ của công dân Lor-ca với nền chính trị độc tài phát xít Phơ-răng-cô. Ở khổ thơ thứ hai và thứ ba, tác giả diễn tả cái chết đột ngột của Lor-ca bằng các chỉ tiết đặc biệt gây ám ảnh sâu sắc trong lòng người đọc. Từ sự sống bừng bừng đột ngột chuyển sang cái chết bi thảm chỉ trong khoảnh khắc, một khoảnh khắc nghiệt ngã, kinh hoàng: Tây Ban Nha hát nghêu ngao bỗng kinh hoàng áo choàng bê bết đỏ Lor-ca bị điệu về bãi bắn chàng đi như người mộng du tiếng ghi ta nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghi ta lá xanh biết mấy tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy Có thể nói Thanh Thảo đã thực sự hóa thân vào nhân vật trữ tình để cảm nhận thấm thía nỗi đau đớn vô biên và thể hiện điều đó bằng ngôn ngữ của trái tim, của ngòi bút như rướm máu. Thủ pháp nghệ thuật chủ đạo trong đoạn thơ này là cách sử dụng điệp từ, điệp ngữ, nhân hóa, ẩn dụ, tượng trưng đa nghĩa và đối lập được tác giả khai thác triệt để nhằm thể hiện bi kịch của Lor-ca. Đoạn thơ đã làm nổi bật sự đối lập giữa khát vọng tự do của người nghệ sĩ với bạo lực tàn ác của bọn phát xít, giữa tiếng hát yêu đời với hiện thực phũ phàng đẫm máu. Cái chết đến với Lor-ca hoàn toàn bất ngờ. Người nghệ sĩ ấy tuy luôn bị ám ảnh bởi cái chết nhưng không hề nghĩ là nó lại đến sớm như thế và đến vào lúc không ngờ nhất. Tiếng hát tượng trưng cho sự sống bỗng nhiên tắt lịm trước cái chết khủng khiếp hiện diện qua hình ảnh gây ấn tượng rùng rợn: áo choàng bê bết đỏ. Dòng máu sôi sục khát vọng tự do của Lor-ca đã tuôn đổ trên mảnh đất mà ông yêu quý. Hình ảnh này chứa đựng ý nghĩa tố cáo tội ác dã man của bè lũ phát xít Phơ-răng-cô đối với nhân dân Tây Ban Nha yêu chuộng tự do, hòa bình, công lí. Sự kiện thảm khốc ấy tạo ra những cú sốc dây chuyền được tác giả diễn tả theo lối ẩn dụ tượng trưng với sự chuyển đổi cảm giác liên tục khá mới mẻ, táo bạo, qua những âm thanh vỡ ra thành màu sắc, hình khối, thành dòng máu chảy, góp phần nêu bật ý nghĩa tiếng đàn ghi ta ở những cung bậc khác nhau, hoàn cảnh khác nhau. Mỗi so sánh là một ẩn dụ về cái đẹp, về tình yêu, về nỗi đau, về cái chết: tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh biết mấy, tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan, tiếng ghi ta ròng ròng – máu chảy. Niềm tin vào sự bất tử của tiếng đàn Lor-ca còn biểu hiện tập trung ở những khổ thơ cuối. Sự khâm phục chân thành và lòng tiếc thương vô hạn của nhà thơ Thanh Thảo đối với Lor-ca là cơ sở vững chắc của niềm tin mãnh liệt ấy. Tình cảm đau xót thể hiện qua những câu thơ có âm điệu ngắt quãng giống như tiếng khóc nghẹn ngào, thổn thức: không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng đường chỉ tay đã đứt dòng sông rộng vô cùng Lor-ca bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc chàng ném lá bùa cô gái Di-gan vào xoáy nước chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt li-la li-la li-la… Ở đoạn thơ này, Thanh Thảo vẫn tiếp tục sử dụng các biện pháp so sánh và ẩn dụ tượng trưng để khắc đậm niềm tin. Cùng với ý không ai chôn cất tiếng đàn, hình ảnh đường chỉ tay là ẩn dụ về số phận, về định mệnh nghiệt ngã, ít nhiều nhắc nhớ đến chi tiết Gar-xi-a Lor-ca bị bọn phát xít thủ tiêu và ném xác xuống giếng. Các hình ảnh tượng trưng như giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng, dòng sông, lá bùa, chiếc ghi ta màu bạc,… đều được sáng tạo theo lối thơ tượng trưng ám chỉ cõi chết, nơi siêu thoát. Các hành động ném lá bùa, ném trái tim mình cũng có ý nghĩa tượng trưng cho sự giã từ vĩnh viễn, một sự lựa chọn của Lor-ca. Câu thơ: không ai chôn cất tiếng đàn – tiếng đàn như cỏ mọc hoang… chứa đựng nhiều tầng nghĩa. Tiếng đàn tượng trưng cho nghệ thuật của Lor-ca, cho tình yêu tự do và yêu con người mà ông suốt đời theo đuổi. Đấy là cái đẹp không bạo lực nào có thể hủy diệt nổi. Nó sẽ sống mãi, truyền lan mãi, giản dị mà kiên cường như cỏ dại. Đây cũng là nỗi xót thương trước cái chết bi thảm của một thiên tài; trước hành trình cách tân nghệ thuật dang dở không chỉ với bản thân Lor-ca mà còn với nền văn chương Tây Ban Nha. Nghệ thuật bỗng thành thứ cỏ mọc hoang?! Nhưng ý thơ đâu chỉ dừng lại ở đó. Dường như còn có cả tâm trạng của người nghệ sĩ đọng lại thành những hình ảnh đẹp và buồn: giọt nước mắt vầng trăng – long lanh trong đáy giếng,… như giọt nước mắt khóc thương người nghệ sĩ chân chính của nhân dân. Câu thơ gợi những suy tư, liên tưởng đa chiều trong lòng người đọc. Các hành động ném lá bùa vào xoáy nước, ném trái tim mình vào cõi lặng yên bất chợt đều mang nghĩa tượng trưng cho sự giã từ và giải thoát, chia tay thực sự với những ràng buộc và hệ lụy trần gian… Cây đàn ghi ta quen thuộc gắn bó với Lor-ca như hình với bóng giờ đây đã trở thành con thuyền đưa linh hồn ông sang thế giới bên kia, một thế giới an lạc vĩnh hằng không có chiến tranh, không còn đổ máu. Cuộc đời, số phận của Lor-ca đã kết thúc nhưng tiếng đàn của ông vẫn ngân nga, vang vọng mãi: li-la li-la li-la. Đàn ghi ta của Lor-ca là bài thơ dồi dào nhạc tính, được sáng tạo với chủ ý tô đậm hình tượng Gar-xi-a Lor-ca – nghệ sĩ hát rong vĩ đại – người đã dùng tiếng đàn ghi ta để giãi bày nỗi đau buồn và khát vọng yêu thương của nhân dân mình. Có thể nhận ra nhạc tính của bài thơ từ vần và nhịp, các thủ pháp láy từ, điệp từ, sự kết hợp ngẫu hứng giữa các từ ngữ tạo nên những giai điệu mang tính chất âm nhạc. Những từ mô phỏng âm thanh qua các nốt đàn ghi ta. Giai điệu bài thơ mang dáng dấp một bản nhạc không lời. Tiếng đàn tượng trưng cho nghệ thuật, cho tình yêu tự do, tình yêu con người của Lor-ca, tượng trưng cho Cái Đẹp của đời. Bạo lực phát xít giết chết Lor-ca nhưng không thể nào giết chốt tiếng đàn du dương, réo rắt của ông đã gieo vào lòng người dân Tây Ban Nha những hạt giống tự do và khát vọng. Cái Đẹp là bất tử. Lor-ca được coi là thần tượng bởi lòng yêu tự do, yêu con người, bởi khí phách kiên cường không khuất phục trước những thế lực bạo tàn. Tâm hồn trong sáng và tài năng hiếm có khiến tên tuổi Lor-ca sống mãi trong tâm hồn người dân Tây Ban Nha. Nhắc tới Lor-ca, những người yêu mến ông nhớ ngay đến câu nói nổi tiếng bộc lộ tính cách của một nghệ sĩ chân chính: Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn. Nhà thơ Thanh Thảo đã viết về Lor-ca bằng rung động mãnh liệt của cảm xúc, bằng tấm lòng “liên tài” rất đáng trân trọng. Những sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ chứng tỏ tâm huyết và khát vọng đổi mới thơ ca của tác giả, góp phần làm cho khả năng thể hiện của ngôn ngữ tiếng Việt thêm tinh tế, phong phú và đa dạng.
Phân tích bài thơ “Đàn ghi-ta của Lorca” (Thanh Thảo)
2,173
Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử Bài làm Hàn Mặc Tử là một trong những cây bút xuất sắc của dòng văn học thơ ca lãng mạn. Thơ của ông mang nhiều sắc thái khác nhau, có những vẫn thơ thấm đẫm nước mắt, nhưng cũng có những vần thơ vô cùng trong trẻo, tinh khiết. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ hay nhất của Hàn Mặc Tử về chủ đề tình yêu. Bài thơ được sáng tác khi ông đã mắc bệnh nặng, vì thế mang một vẻ đượm buồn sâu sắc. Mở đầu bài thơ là câu hỏi: “ Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Thôn Vĩ Dạ nằm bên bờ sông Hương thơ mộng, đã đi vào trong rất nhiều bài thơ, bài văn. Câu thơ là một câu hỏi, như một lời trách nhẹ nhàng, nhưng cũng có thể coi là một lời mời về thăm thôn Vĩ để thưởng thức những cảnh sắc tươi đẹp nơi đây. Và quả thật, những câu thơ tiếp theo là những câu thơ nói về cảnh vật thôn Vĩ: “ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Hàng cau là một điểm đặc trưng của các thôn xóm Việt Nam, bởi nhân dân ta đã có tập tục ăn trầu từ ngàn đời nay. Cây cau cũng gắn với rất nhiều câu chuyện về tình yêu đôi lứa mà ông cha ta đã kể từ ngàn đời nay. Không chỉ có thế, hàng cau trong thơ Hàn Mặc Tử còn có thêm cả ánh nắng mới lên biểu sớm, hay chính là biểu tượng của sức sống của niềm vui, của tuổi trẻ và tình yêu. Giữa khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, đầy sức sống, đã có bóng dáng con người xuất hiện, khiến cho cảnh càng trở nên sinh động hơn. Trúc là biểu trưng cho người quân tử, lại che ngang khuôn mặt chữ điền của ai đó, có thể là người khách đến thăm thôn Vĩ chăng? Thật là hai hình ảnh thật đẹp, hài hòa, làm cho khung cảnh thêm vài phần thi vị. Đến những câu thơ tiếp theo, cảnh vật càng ngày càng mở rộng ra, thấy gió, thấy mây, thấy dòng nước sông Hương lững lờ: “Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay” Hai câu thơ tả cảnh thiên nhiên, nhưng cũng chứa đựng trong đó nỗi buồn của con người, khiến cho cảnh vật cũng trở nên hiu hắt. Thường thì gió thổi mây bay, mây với gió thường đi với nhau, nhưng ở đây gió với gió, mây với mây lại tách riêng ra, mỗi vật một hướng. Dòng nước cũng buồn hiu hắt với những bông hoa bắp nhẹ nhàng lay động ở hai bên bờ.Đây là cảnh tả thực ở thôn Vĩ, cảnh vật đều thơ mộng, nhẹ nhàng chuyển động, nhưng nhà thơ cũng lồng vào trong đó tâm trạng của mình, một nỗi buồn man mác vì nuối tiếc, không thể về gặp người trong mộng. “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chờ trăng về kịp tối nay?” Vầng trăng là biểu tượng của cái đẹp, của thanh bình, của hạnh phúc. Thế nhưng, nhà thơ lại hỏi một cách day dứt, liệu ai đó có kịp chở trăng về? Là hỏi ai, hay hỏi chính mình. Câu hỏi bày tỏ một nỗi niềm hoang mang, mặc cảm của nhà thơ, về sự lỡ dở, muộn màng, vô phận với tình yêu. Dòng thời gian trong bài thơ trôi thật nhanh. Vừa buổi sáng với khu vườn mướt xanh như ngọc, thoắt cái lại đến tối bên bến trăng, bến mơ. “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra” Vì nhớ mong da diết, nên vị khách đường xa đi cả vào trong giấc mơ của Hàn Mặc Tử. Hình ảnh trong mơ vừa gần lại vừa xa, vừa thân thiết nhưng lại xa không cách nào với tới. Màu áo trắng là màu đặc trưng của áo dài – đồng phục quen thuộc của nữ sinh Huế. Mối tình chưa lời ước hẹn của nhà thơ với người con gái trong trắng, tinh khôi vẫn đau đáu trong tim ông chẳng bao giờ phai nhạt. “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Giữa mênh mông khói sương mờ ảo, hay cũng chính là giữa dòng đời nhiều hư ảo, liệu trong tâm trí đối phương còn nhớ đến hình bóng của mình hay không? Câu hỏi cuối như hỏi “ai”, nhưng cũng là tự vấn chính mình. Chỉ có lòng dạ này ghi tạc, chứ cuộc sống ngắn ngủi, khiến ông phải nuối tiếc quá nhiều về mối tình còn dang dở. Đau đớn thay! Tình yêu trong thơ Hàn Mặc Tử, đẹp, nhưng buồn quá! “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp về cảnh thôn Vĩ bên bờ sông Hương thơ mộng. Trong khi mắc căn bệnh hiểm nghèo, nhưng không vì thế mà trong bài thơ thấm đượm một nỗi tuyệt vọng sâu sắc. Ta chỉ thấy đâu đó sự nuối tiếc đối với sự sống ngắn ngủi, với cuộc đời dang dở mà thôi. Ta càng thấy khâm phục hơn, một nhân cách cao đẹp, dù trong khó khăn nhưng vẫn dùng những câu chữ chau chuốt nhất, những tình cảm đẹp nhất để gửi đến người thương của mình.
Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
921
Phân tích bài thơ “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi) Hướng dẫn Phân tích bài thơ “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi) Nguyễn Đình Thi là nhà thơ có nhiều đóng gió to lớn cho sự nghiệp phát triển của đất nước, ông là nhà thơ yêu nước và đã hình dung ra một đất nước anh hùng trong thơ ca của mình để từ đó nhân dân ta có những sáng tác hào hùng về những quãng thời gian đó, tự hào và nổi bật lên đó là bài thơ “Đất nước”. Thơ của Nguyễn Đình Thi dạt dào tình cảm và đó là những tình cảm về tình yêu quê hương đất nước, đất nước trong thơ ca của ông là một đất nước chịu nhiều đau thương nay biết vươn lên đấu tranh để tạo nên những khoảng thời gian sáng lòa trong giây phút hào hùng của dân tộc, thơ của ông mang những cung bậc cảm xúc riêng và nó thấm đẫm tư tưởng và những niềm tự hào sâu sắc, đất nước nó là một chủ đề mà biết bao nhưng thi sĩ đã sáng tác nhưng đối với thơ ca của Nguyễn Đình Thi nó lại có những điểm độc đáo và riêng biệt, bài thơ này là những suy nghĩ và trăn trở về một đất nước, từ đó tác giả đã có những cảm xúc dạt dào và nó sâu lắng trong tâm hồn của tác giả, ông đang hình dung lại những hình ảnh về một đất nước sâu lắng từ xưa đến nay, hình ảnh đó đã vang dội và làm sáng lòa lên một đất nước hào hùng nhưng phải chịu nhiều đau thương, những nỗi niềm đó đã được thể hiện một cách sâu sắc và thầm kín: Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Một nỗi nhớ nghẹn ngào trong thơ ca của tác giả khi ông thể hiện những hình ảnh đó thật sinh động và mang những cũng bậc cảm xúc riêng, đó là những hình ảnh đất nước đã biết vươn lên từ những đau thương của chiến tranh để có những giây phút lắng đọng trong tâm hồn của con người tác giả đang hình dung lại hàng loạt những hình ảnh đó để nói lên những cảm xúc ngọt ngào trong tâm hồn của mình, những hình ảnh về màu thu Hà Nội đã được tác giả thể hiện một cách sinh động và vô cùng hấp dẫn, hình ảnh hương cốm và những làn gió thu ngào ngạt đủ để cho tác giả nhớ thương tới vùng quê hương của mình, những con phố dài lê thê cùng với hương cốm bay ngào ngạt trong những khoảng không gian của mùa thu đã làm cho tác giả đang nhớ mong về thời gian của mình, tác giả dường như đang gợi nhớ lại những kỉ niệm mà trong đó có những hình ảnh gợi tả cảm giác và những nỗi nhớ mong sâu lắng. Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha! Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Tác giả không muốn ra đi khỏi vùng đất yêu thương này trong tâm hồn của tác giả đã thấm đượm những cảm xúc khó quên nó mang đậm màu sắc và những hình ảnh của quê hương đủ để cho tác giả không ngừng nguôi nhớ về những quãng thời gian ở đây, nó đã mang đậm trong tâm hồn của tác giả bởi những hình ảnh quen thuộc và cũng đậm đà bản sắc của một vùng quê đang tha thiết yêu thương, và mang đậm tình yêu và nỗi nhớ về một miền quê tha thiết, tác giả đã thể hiện những điều đó qua những cung bậc tình yêu ngọt ngào của mình đối với miền đất cổ kính này. Khi đi về một miền đất mới tác giả cũng không ngừng nguôi nhớ về màu thu Hà Nội nhưng đó chỉ còn là trong kí ức những từ ngữ mà tác giả thể hiện nó thật khác, mùa thu ở Việt Bắc và mùa thu Hà Nội đã có những khác nhau và tác giả đã nói về những nỗi khác nhau đó, mùa thu ở Việt bắc không còn mùi hương cốm bay ngào ngạt nữa mà nay chỉ còn thấy đồi núi và rừng cây, cánh đồng và dòng sông: Những buổi ngày xưa vọng nói về! Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu. Từ những năm đau thương chiến đấu Ðã ngời lên nét mặt quê hương. Trong một miền đất mới đã thể hiện được những cảm xúc của tác giả chuyển lên vùng đất này tác giả đang sâu lắng trong tâm hồn những hoài niệm và tình cảm đó đã thắm thiết qua từng trang sách của ông, tình yêu thương về một miền mất mới đã làm cho chúng ta có những cảm xúc đặc biệt và vùng đất này là một vùng đất đã thấm đậm những cảm xúc mới một niềm tin về một đất nước anh hùng đã được thể hiện sâu động trong từng tác phẩm, những cung bậc khác nó cũng thể hiện được chi tiết và cảm xúc mà tác giả muốn thể hiện, những cánh đồng bát ngát, những rừng cây bạt ngàn và cả một tâm hồn hứa sẽ hy sinh để bảo vệ cho đất nước của chúng ta, mỗi hình ảnh là một niềm tin bất tận về những đau đớn trong hoàn cảnh của đất nước, niềm tin yêu đó đã tạo nên những điều ngọt ngào và sâu lắng hơn trong tim mỗi người, vùng chiến đấu mới có rất nhiều những gian nan và nguy hiểm nhưng chúng ta cần cố gắng và anh dũng để bảo vệ nền độc lập của dân tộc, những phấn đấu mạnh mẽ đó tạo nên cho chúng ta những hoài niệm cổ và nó mang đậm dấu ấn sâu sắc, những niềm tin yêu và những điều bất tận trong tâm hồn của mỗi nhà thơ: Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng Ôm đất nước những người áo vải Ðã đứng lên thành những anh hùng. Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh Trán cháy rực nghĩ trời đất mới Lòng ta bát ngát ánh bình minh. Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng lòa. Đất nước ta đã trải qua những thời kì đau thương và giờ đây khi những người anh hùng của đất nước đã đứng lên chúng ta có quyền tự hào và có những âm điệu khác thể hiện được những nỗi nhớ thương đó, hình ảnh về một đất nước anh hùng về một đất nước mến thương đã thể hiện được trong tim của tác giả, tác giả đã hình dung và dùng lời thơ sắc đá của mình để nói về một đất nước anh hùng và trải qua những điều thật đau thương nhưng không chịu gục ngã, chúng ta vẫn chiến đấu kiên cường để bảo vệ một đất nước mến thương với những gian nan mà chúng ta đã trải qua chúng ta có thể tự hào về một dân tộc mình, một dân tộc đã kiên trì và bền bỉ để vươn lên nó làm cho chúng ta đủ để tự hào về truyền thống quý báu của dân tộc, những nỗi niềm mà tác giả thể hiện nó đã mang đậm dấu ấn và những nét đặc sắc trong tâm hồn của tác giả không chỉ hôm nay nó ảnh hưởng tới con người và còn những ngày tiếp theo nữa. Đất nước ta xuất phát từ những lòng yêu nước và khi trải qua những đau thương đó dân tộc ta luôn tự hào khi có những người anh hùng và một đất nước đã đứng lên sau bao tổn thương mạnh mẽ về cả mặt thể xác và tinh thần, niềm tự hào đó là vô bờ bến, trong khoảng không gian rộng lớn của trời đất bao la chúng ta ngày càng yêu mến quê hương của mình hơn khi đất nước đã rũ bùn đứng dậy sáng lòa trước những chông gai và những thử thách. “Đất nước” trong thơ của Nguyễn Đình Thi đã mang đậm những dấu ấn sâu sắc và chiếm một vị trí trang trọng đáng kể trong dòng thơ ca cách mạng Việt Nam. Bài thơ giàu hình ảnh gợi cảm, sinh động có tính khái quát cao này đã tạo nên một tượng đài hùng vĩ bằng thơ về tổ quốc Việt Nam, vì độc lập tự do của mình đã vượt qua dặm đường máu lửa trường kì gian khổ nhưng anh dũng và tất thắng.
Phân tích bài thơ “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi)
1,546
Phân tích bài Thương vợ vủa Trần Tế Xương Hướng dẫn Phân tích bài Thương vợ vủa Trần Tế Xương Người ta vẫn nói: phụ nữ hơn nhau ở tấm chồng. Nhưng chồng có rất nhiều kiểu chồng, yêu thương vợ cũng có, phũ phàng với vợ cũng không ít kẻ,… Thật khó để chọn được một người chồng vừa thấu hiểu vừa yêu thương mình thực sự. Và Trần Tế Xương đã là một người chồng như thế. Chỉ tiếc rằng, những gì ông dành cho vợ không phải là vật chất xa hoa để vợ được hưởng thụ an nhàn, mà chỉ là những vần thơ dạt dào cảm xúc với tấm lòng chân thật, đầy yêu thương. Có lẽ, trong xã hội ấy, xã hội của nam quyền và phong kiến, thật hiếm có người chồng nào lại thương vợ như ông. Tất cả những tình cảm nồng nàn, thiết tha, ông dồn hết vào trang giấy trắng và viết lên bài thơ “Thương vợ” với những vần thơ rất đằm thắm mà chân thực. Yêu vợ, thương vợ và thấu hiểu vợ. Ông hiểu những nỗi khó khăn vất vả mà vợ mình phải chịu đựng: “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò nơi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông” Hình ảnh bà Tú hiện lên trong thơ ông là một người vợ, một người phụ nữ đảm đang, tháo vát và tảo tần sớm hôm với công việc “buôn bán ở mom sông”. Vẫn biết nơi đó hiểm nguy luôn rình rập, nếu sơ suất một chút thôi bà cũng có thể mất đi cả tính mạng của mình nhưng bà vẫn làm, làm quanh năm suốt tháng. Bởi cùng một lúc, trên đôi vai gầy của bà phải gánh vác cả hai gánh nặng “nuôi đủ năm con với một chồng”. Ta không thể có khái niệm thế nào là đủ trong khi nhu cầu của con người luôn là vô tận. Nhưng trong cái xã hội nghèo nàn và phong kiến ấy, tự nuôi được bản thân mình thôi đã là vất vả lắm rồi, nay bà không những nuôi cả chồng cả con mà lại còn “nuôi đủ”. “Đủ” nghĩa là không thiếu thốn, không rách rưới, không đói khát hay thèm thuồng thứ gì. Theo một nghĩa khác sâu xa hơn, “đủ” ở đây còn có nghĩa là cuộc sống ấm no, đủ đầy và hạnh phúc. Bà không phải trụ cột gia đình nhưng đã thay cái trụ cột ấy để gánh vác hoàn toàn mọi việc trong nhà. Vừa lo kiếm sống mưu sinh, vừa lo giữ lửa hạnh phúc ấm êm cho chồng, cho con. “Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công.” Ông bà đến với nhau vì duyên thì ít mà vì nợ thì nhiều. Phải chăng đó là số phận, là ý trời? Dù có là gì đi chăng nữa, người phụ nữ ấy cũng vẫn là một người vợ đảm đang, giàu đức hi sinh và nhẫn nại. Dẫu “năm nắng mười mưa”, dẫu bão bùng ngập trời ngập đất, vì cuộc sống mưu sinh, vì chồng vì con, bà vẫn chẳng “quản công”, vẫn âm thầm chịu đựng bao vất vả lo toan. Tế Xương không nói gì về cuộc sống vợ chồng nhưng qua cách ông kể về vợ mình cũng đủ cho ta hiểu gia đình ông sống rất đầm ấm, thuận hòa. Bởi ông có một người vợ rất giàu đức hi sinh, và bà cũng có một người chồng rất thấu hiểu mình. Hơn nữa, cuộc sống lúc nào cũng đủ đầy, không dư giả nhưng cũng chẳng thiếu thốn thứ gì. “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không.” Tế Xương tự cảm nhận được sự hờ hững của bản thân đã làm cho bà Tú phải khổ. Ông đã thay bà lên tiếng oán than. Ông trách “thói đời” và cũng trách cả mình nữa. Chửi thói đời vì hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ là thời phong kiến, lạc hậu, trọng nam khinh nữ. Chế độ ấy đã đẩy những người phụ nữ đáng thương như bà Tú vào cuộc sống cơ cực, lam lũ, vất vả. Mặt khác, cái xã hội ấy cũng đã không trọng dụng một nhà nho như ông khiến ông là trụ cột gia đình mà không làm được gì giúp vợ con, ngược lại còn phải để vợ nuôi. Chửi chính mình vì ông tự cảm thấy mình không giúp được gì cho vợ. Có chồng như mình, bà không những không được đỡ đần mà còn khổ cực hơn. Nhưng trong lời chửi ấy còn có cả sự tủi hổ, buồn đau với thế thời. Ông tự nhận thấy bản thân mình có lỗi với bà Tú nhưng ông lại là một nhà nho – cái nghề chỉ được cái danh mà không chút vật chất tiền tài, thế nên chính ông cũng không thể làm gì giúp bà được. Những gì ông dành cho bà là tình cảm, là sự xót thương. Có lẽ như vậy cũng đã là quá đủ cho một người phụ nữ lam lũ và vất vả.
Phân tích bài Thương vợ vủa Trần Tế Xương
874
Phân tích bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hướng dẫn I. DÀN Ý 1.Mở bài: – Bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trích trong văn kiện Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Đại hội lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam họp tại Việc Bắc, tháng 2 năm 1951. – Nội dung khẳng định lòng yêu nước là một truyền thống quý báu lâu đời của dân tộc Việt Nam và được thể hiện rõ ràng nhất, rực rỡ nhất qua các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. 2. Thân bài: * Truyền thống yêu nước của dân ta: + Trong chiến đấuchống xâm lăng: – Nhân dân ta sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền độc lập tự do thiêng liêng của Tổ quốc. Truyền thống yêu nước tốt đẹp đã có tự ngàn xưa. (Dẫn chứng chứng minh: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…). – Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn gay go, ác liệt (1951), điều đó càng cần đến tinh thần xả thân vì nước của mọi tầng lớp nhân dân. – Lòng yêu nước là mạch nguồn không bao giờ vơi cạn trong lòng dân tộc. Đồng bào ngày nay rất xứng đáng với gương sáng yêu nước của tổ tiên. – Trong hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp, lòng yêu nước được thể hiện qua những hành động cụ thể hằng ngày để bảo vệ sự tồn tại của quốc gia, dân tộc. * Khẳng định giá trị cao quý tuyệt vời của tinh thần yêu nước: – Dù trong mỗi hoàn cảnh, lòng yêu nước có những biểu hiện khác nhau nhưng tinh thần yêu nước bao giờ cũng có giá trị thiêng liêng. – Nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ là phải ra sức tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, “làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. 3. Kết bài: – Bài văn nghị luận sắc sảo, nhiệt thành, có sức thuyết phục, cổvũ và động viên rất lớn đối với đồng bào trong kháng chiến chống Pháp. – Tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất là cơ sở vững chắc bảo đảm thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lăng và sự nghiệp dựng xây đất nước ngày càng giàu mạnh. II.BÀI LÀM Bài “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” là đoạn trích trong văn kiện Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Đại hội lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam họp tại Việt Bắc tháng 2 năm 1951, trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Tuy chỉ là đoạn trích nhưng bài văn vẫn có đầyđủ tính chất đặc trưng và cấu trúc của một văn bản nghị luận chứng minh với ba phần rõ rệt như sau: Mở bài: Từ dầu đến lũ cướp nước: Tinh thần yêu nước là một truyền thống quý báu của nhân dân ta. Đó là sức mạnh to lớn trong các cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Thân bài: Tiếp theo đến lòng nồng nàn yêu nước: Chứng minh những biểu hiện cụ thể của tinh thần yêu nước trong lịch sử chống ngoại xâm và trong cuộc kháng chiến hiện tại. Kết bài: Phần còn lại: Nhiệm vụ của Đảng là động viên, khích lệ tinh thàn yêu nước của nhân dân ta ngày càng phát huy mạnh mẽ đểcuộc kháng chiến chống Pháp đi tới thành công. Bốcục như trên cho thấy sự hợp lí và chặt chẽ trong phương pháp lập luận. Nghệ thuật nổi bật nhất của bài văn là cách lựa chọn và trình bày dẫn chứng. Phần mở bài nêu lên vấn đề được đưa ra nghị luận: “Dân ta có lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta… nó nhấn chìm tất cả lũbán nước và lũ cướp nước”. Trong cuộc sống chiến đấu, trong xây dựng biểu hiện của lòng yêu nước rất phong phú và đa dạng, ởbài viết này, tác giả nhấn mạnh đến lòng yêu nước ở các cuộc chống ngoại xâm bởi nó được bộc lộ mạnh mẽ nhất, cụ thể nhất. Đặc điểm lịch sử của đất nước ta là luôn phải đương đầu với giặc ngoại xâm nên rất cầnđến lòng yêu nước và tinh thần xả thân vì nước. Trên thực tế, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, đòi hỏi phải phát huy cao độ tinh thần thi đua yêu nước của toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiệt liệt biểu dương những gương sáng về lòng yêu nước. Để khẳng định sức mạnh vĩ đại của lòng yêu nước, tác giả đã mượn một hình ảnh hoành tráng có tính chất tượng trưng đểso sánh:… “lòng yêu nước kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Lòng yêu nước được nhắc lại nhiều lần (bằng đại từ thay thế nó), kết hợp với các động từ có khả năng gợi cảm lớn như: kết thành, lướt qua, nhấn chìm… làm nổi bật sức mạnh không gì ngăn cản nối của lòng yêu nước. Âm hưởng hào hùng của câu văn làm rung động trái tim muôn người. Cảm xúc sôi nổi, nhiệt thành, khâm phục và rất đỗi tự hào của Chủ tịch Hồ Chí Minh bộc lộ rõ trong từng câu, từng chữ. Ở phần thân bài, đề chứng minh cho nhận định trên, tác giả đã đưa ra những chứng cứ hùng hồn trong lịch sử giữ nước và trong thực tếcuộc kháng chiến chống Pháp đểchứng minh. Đó là những tấm gương yêu nước sáng soi muôn đời của các vị anh hùng dân tộc nổi tiếng: “Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy làtiêu biểu của một dân tộc anh hùng”. Bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là bốn ngàn năm kế thừa và phát huyliên tục truyền thống yêu nước. Lòng yêu nước như một mạch ngầm thiêng liêng không bao giờ vơi cạn trong dòng máu mỗi người dán đất Việt. Giờ đây, nó được biểu hiện thành những hành động thiết thực. Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổtiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc. Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày đề bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc đểgiúp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyền đất ruộng cho Chính phủ.Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng điều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước. Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến. Bác đã phân tích rõ hai trạng thái của tinh thần yêu nước là tiềm tàng, kín đáo và sôi nổi, mãnh liệt. Bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, bố cục rõ ràng và hệ thống dẫn chứng chân thực, bài văn có sức thuyết phục rất lớn. Nhiều thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng như so sánh, liệt kê, lặp cấu trúc câu và hàng loạt dộng từ có khả năng gợi cảm cao… làm cho câu văn trở nên nhịp nhàng, cân đối, khỏe khoắn. Do vậy, âm hưởng bài văn hào hùng như âm hưởng của một lời hịch kêu gọi, khích lệ toàn dân đoàn kết một lòng đánh đuổi xâm lăng, bảo vệ chủ quyền độc lập thiêng liêng của Tổquốc. Bài văn đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong lòng mỗi người dân. Truyền thống anh dũng, bất khuất là cơ sở vũng chắc bảo đám cho cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến tháng lợi cuối cùng. Ngày nay, bài văn trên vẫn còn nóng bỏng tính thời sự, có tác dụng động viên nhân dân Việt Nam vững bước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước thân yêu.
Phân tích bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
1,618
Phân tích bài Trao duyên Hướng dẫn Bài tập làm văn phân tích bài Trao duyên của Nguyễn Du lớp 10 bao gồm dàn ý phân tích bài Trao duyên và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích bài Trao duyên hay nhất. Dàn ý phân tích bài Trao duyên 1. Mở bài – Giới thiệu vài nét đặc sắc về tác giả tác phẩm, đoạn trích – Dẫn dắt về nhân vật Thúy Kiều và em gái Thúy Vân hai người con gái có tài sắc nghiêng nước nghiêng thành là nhân vật chính trong trích đoạn Trao duyên. 2. Thân bài – Đoạn 1: Thúy Kiều nhờ em là Thúy vân thay mình trả ân nghĩa cho Kim Trọng “Cậy em em có chịu lời … Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa” + Một nỗi đau đến xé lòng khi đành phải hy sinh tình yêu của mình, hy sinh chính hạnh phúc cá nhân để cứu lấy cha, cứu lấy gia đình cho trọn chữ hiếu. -> Minh chứng được tính cách, phẩm giá của Thúy Kiều là người đặt chữ hiếu lên hết + Cách xưng hô, dùng từ khác thường (cậy, chịu lời, lạy, thưa…) có ý nghĩa một phần là nhờ vả một phần nài ép Thúy Kiều coi đó là việc Thúy Vân cần làm “tình chị duyên em” -> Tuy rằng trong lòng rất đau xót nhưng Thúy Kiều vẫn mạnh mẽ quyết đoán. + Mối tình của Thúy Kiều với chàng Kim tuy rất mặn nồng, thắm thiết nhưng lại mong manh, nhanh tan vỡ. + Mâu thuẫn giữa hành động >< lời nói, lí trí >< tình cảm của Thúy Kiều trong cảnh trao duyên cho Thúy Vân. Lời trao duyên, trao kỉ vật nửa muốn trao, nửa muốn níu gữ. – Đoạn 2: Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên (Mai sau dù có bao giờ…thiếp đã phụ chàng từ đây) + Cuộc độc thoại nội tâm đầy đau đớn, Thúy Kiều hướng một lòng về tình yêu thương mong nhớ người mình yêu + Mức độ của nỗi đau cao hơn,xót xa hơn khi Kiều chuyển sang tự nói với bản thân mình, từ đau đớn chuyển thành tiếng khóc, khóc cho mình, khóc cho mối tình đẹp phải chia li. -> Nổi bật vẻ đẹp nhân cách hy sinh đến quên mình, quên hạnh phúc cho nghĩa cử cao đẹp của Thúy Kiều 3. Kết bài – Đoạn trích nói lên được số phận bất hạnh của nàng Kiều về tình yêu, không được hưởng tình yêu chọn vẹn. – Tính hiện thực, nhân đạo của Nguyễn Du sử dụng trong đoạn trích “Nỗi thương mình” – Nghệ thuật miêu tả nội tâm, khám phá nội tâm nhân vât đặc sắc Bài văn mẫu phân tích bài Trao duyên Phân tích bài Trao duyên – bài 1 Trong suốt chiều dài lịch sử văn học, có rất nhiều những thành tựu văn học rực rỡ thời kì trung đại của những nhà tác giả lớn như: Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Đóng góp vào trong dòng chảy văn học ấy ta không thể không nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du. Ông không những là một nhân cách lớn mà đồng thời còn là một nhà văn, nhà thơ vĩ đại. Những sáng tác của Nguyễn Du bao gồm cả sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm nhưng tiêu biểu nhất là tác phẩm Đoạn trường tân thanh hay còn được biết nhiều hơn dưới tên Truyện Kiều. Đoạn trích Trao duyên là một trong những đoạn trích tiêu biểu thể hiện được tài năng cũng như tử tưởng nhân đạo của tác giả. Truyện Kiều của Nguyễn Du được viết bằng chữ Nôm dựa trên cốt truyên có sẵn của Thanh Tâm Tài Nhân là Kim Vân Kiều truyện. Thế nhưng, điều đáng nói là bằng sự sáng tạo của người nghệ sĩ, Nguyễn Du đã biến một cốt truyện bình thường trở thành một kiệt tác. Nếu như Kim Vân Kiều truyện là một câu chuyện “tình khổ” thì Truyện Kiều của Nguyễn Du lại là một khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, nới lên những điều trông thấy trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động. Đoạn trích nằm ở câu thơ 723 đến câu 756, trong phần gia biến và lưu lạc. Đây cũng chính là mở đầu cho nỗi đau khổ dằng dặc của Kiều trong suốt 15 năm lưu lạc. Sau khi tạm chia tay Kiều, Kim Trọng trở về quê để chịu tang chú. Thế nhưng trong thời gian đó, gia đình của Kiều có biến, cha và em bị bắt. Là người con có hiếu, Thúy Kiều đã quyết định bán mình để chuộc cha và cũng vì thế mà nằng không thể giữ trọn lời thề thủy chung với Kim Trọng. Kiều một mình chịu đựng nỗi đau: Một mình nàng ngọn đèn khuya Áo đầm giọt lệ, tóc se mái đầu. Kiều ngổn ngang bao nỗi băn khoăn, trăn trở và cuối cùng nàng quyết định nhờ em mình là Thúy Vân chắp mối tơ duyên với Kim Trọng mặc dù vô cùng đau khổ và dằn vặt: Hở môi ra cũng thẹn thùng Để lòng lại phụ tấm lòng với ai. Vượt lên trên tất cả, Kiều đã quyết định trao duyên cho em cùng muôn vàn đau khổ, rơi vào mối mâu thuẫn: lí trí bắt buộc phải trao nhưng tình cảm lại không thể. Trao duyên còn là đứng trước nỗi đau của một bi kịch kép: tình yêu tan vỡ và bi kịch của một cuộc đời lầm than. Tất cả xảy ra khi Kiều còn đang ở độ tuổi rất trẻ vì vậy, Nguyễn Du đã viết nên đoạn trích bằng tất cả niềm cảm thông, thấu hiểu và thương xót của mình. Thúy Kiều mở lời nhờ cậy em một cách vừa từ tốn, trang trọng nhưng cũng vô cùng khéo léo, tinh tế và sắc sảo: Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa Giữa đường đứt gánh tương tư Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em. Từ “em” được nhắc đi nhắc lại hai lần, đi liền với từ “cậy”, “chịu” và cử chỉ kì lạ: “ngồi lên”, “lạy”, “thưa” khiến cho lời nhờ cậy trở nên tha thiết, đưa Thúy Vân đến với không gian trang trọng, thiêng liêng của buổi trao duyên. Trong lời mình, Thúy Kiều đã dùng chữ “cậy” thay cho chữ “nhờ” khiến cho lời lẽ trở nên tha thiết và có sức nặng đồng thời thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của nàng dành cho em. Kiều muốn Vân biết rằng em chính là chỗ bấu víu, trông cậy duy nhất của chị. Đồng thời, Kiều cũng hiểu rằng việc Vân nhận lời giúp mình cũng là một sự san sẻ. Cũng chính vì thế, thay bằng lối giao tiếp thông thường, Kiều quỳ xuống lạy em như lạy một ân nhân cứu mạng của cuộc đời mình. Ngay từ những lời đầu tiên, với từng lời nói và cử chỉ ta thấy được tấm lòng tha thiết của Kiều nhưng vô cùng sắc sảo, mặn mà. Sau đó Kiều đã tâm sự với Thúy Vân về mối tình của mình với Kim Trọng: Kể từ khi gặp chàng Kim Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề Kiều nói rõ cho em sự dang dở của mình trong mối tình với Kim Trọng. Câu thơ đã sử dụng cách nói tượng trưng thể hiện sự đau khổ của Thúy Kiều về mối tình đầu dang dở với chàng Kim. Kiều còn gọi mối tình của mình với Kim Trọng là “mối tơ thừa” bởi nàng hiểu với mình, mối tình ấy là tất cả thế nhưng đối với Thúy Vân thì đó lại là điều trói buộc, trái ngang. Kiều không muốn Thúy Vân phải bận lòng, băn khoăn quá nhiều. Nàng cũng muốn tùy em xử trí: “mặc em”. Lời nói của Kiều tưởng như vô cùng dứt khoát và mạnh mẽ thế nhưng, bên trong đó là một nỗi đau đến đứt ruột bởi mối tình của Thúy Kiều với Kim Trọng là mối tình đầu sâu đậm không dễ nguôi ngoai. Kiều đã kể lại cho em về buổi gặp gỡ, thề nguyền đính ước với chàng Kim. Thúy Kiều gọi Kim Trọng một cách rất trân trọng cùng với sự nối tiếp của các hình ảnh: “quạt ước”, “chén thề” gợi về những kỉ niệm giữa hai người. Qua đó Kiều muốn khẳng định một cách chắc chắn với Thúy Vân rằng mối tình của mình với Kim Trọng là mối tình sâu sắc chứ không phải trăng gió vật vờ. Đồng thời khi hồi tưởng lại mối tình xưa, Thúy Kiều thể hiện tình cảm tha thiết và đầy nuối tiếc mà tất cả hiện lên như vừa mới hôm qua. Kiều còn nói với em về cảnh ngộ hiện tại của mình: Sự đâu sóng gió bất kì, Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai. Nàng muốn Vân hiểu những bất hạnh bất ngờ ập tới khiến cho Kiều vô củng rối bời, Kiều muốn em hiểu rằng mình đang làm tròn chữ hiếu và mong em giúp mình làm trọn chữ tình. Qua đó ta còn thấy một Thúy Kiều muốn sống khao khát sống trọn tình vẹn nghĩa nhưng cuộc đời đầy đau khổ bất hạnh lại không cho phép nàng. Không những thế, Kiều còn nói đến hoàn cảnh hiện tại của Vân để rồi cất lời nhờ em: Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ thay lời nước non. Kiều nhắc đến tình máu mủ để nói việc mình nhờ cậy em cũng là hợp với đạo lí. Kiều cũng nói đến lời nước non để chứng minh rằng tình cảm của mình với Kim Trọng là tình cảm thiên liêng rất xứng đáng với em. Kiều cũng nói với em những lời rất tội nghiệp để thuyết phục hoàn toàn Thúy Vân: Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây. Dù có ở thế giới khác đi chăng nữa thì Kiều cũng cảm thấy mãn nguyện khi đã trao duyên được cho em. Nhưng mặt khác, hai chữ “thơm lây” khiến cho Kiều trở thành một người ngoài cuộc bởi hạnh phúc bây giờ đã trao lại cho Thúy Vân. Qua đây ta cũng thấy được thân phận và số phận của Kiều khi thốt ra những lời như thế. Nếu như không có sóng gió bất ngờ xảy ra thì Kiều đã được hưởng những hạnh phúc ấy và bởi vậy, lời nói của Kiều có gì đó thật xót xa, hạnh phúc mới chớm nở thì đã tàn. Sau khi mở lời nhờ cậy em, Kiều đã trao lại cho em những kỉ vật đính ước và tha thiết tâm sự với em: Chiếc vành với bức tờ mây Duyên này thì giữ, vật này của chung. Dù em nên vợ nên chồng Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên. Mất người còn chút của tin, Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa. Thúy Kiều trao lại cho em những kỉ vật là chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền. Đó là những tín vật của tình yêu gợi lại mối tình đầu. Nhìn thấy những kỉ vật Kiều như được sống lại với kỉ niệm tình yêu của mình. Trong hoàn cảnh hiện tại khi Kim Trọng đang ở nơi xa thì những kỉ vật ấy là chỗ bấu víu duy nhất của Thúy Kiều nên không dễ dàng gì để trao lại cho em. Cũng vì thế là Kiều thốt lên những lời đầy lạ lùng: “Duyên này thì giữ vật này của chung”. Chính sự không rõ ràng trong hai từ “của chung” ấy đã thể hiện sự lúng túng là ngập ngừng của Thúy Kiều, cho thấy tâm trạng của nàng khi trao lại kỉ vật cho em: lí trí mách bảo phải trao nhưng tình cảm thì lại không thể. Trao lại kỉ vật cho em những tâm hồn Kiều không thể nguôi ngoai: Mai sau dù có bao giờ Đốt lò hương ấy, so tơ phím này, Trông ra ngọn cỏ lá cây Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Hồn còn mang nặng lời thề Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai. Dạ đài cách mặt khuất lời Rưới xin chén nước cho người thác oan. Kiều tự nhận mình là người mệnh bạc, coi mình như đã chết. Những hình ảnh trong câu thơ gợi ra một Thúy Kiều đang ở trong một thế giới khác, không thể trở lại hòa nhập với cuộc sống và số phận của nàng vô cùng mong manh. Ngay cả khi ở thế giới bên kia kia thì Kiều cũng thể thanh thản mà còn nặng lòng với tình duyên, cuộc sống và nàng coi mình là người thác oan, nỗi đau tức tưởi nhưng đồng thời cũng vô cùng bất lực. Trong tận cùng đau khổ, Kiều hướng về Kim Trọng với những tâm sự tha thiết: Bây giờ trâm gãy gương tan, Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân. Trăm nghìn gửi lạy tình quân Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi! Phận sao phận bạc như vôi Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây. Thúy Kiều tâm sự với chàng Kim nhưng Kim Trọng đang ở phương xa và thực chất đây là những lời độc thoại, thể hiện sự tự ý thức sâu sắc của Thúy Kiều về nỗi đau thân phận mình. “Gương gãy”, “trâm tan” là những hình ảnh diễn tả một cách cảm động và xót xa về bi kịch của Thúy Kiều. Đằng sau đó ta thấy một Thúy Kiều nặng tình nặng nghĩ với chàng Kim. Đi liền với nỗi đau về tình yêu còn là nỗi đau về thân phận bạc bẽo. Thành ngữ “bạc như vôi” như có gì đó oán trách, đi liền vói nó là tâm trạng gần như bất lực “Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng.” Kết thúc đoạn thơ, Thúy Kiều cất lên tiếng gọi Kim Trọng tha thiết khiến cho lời than như một tiếng nấc được thốt ra nghẹn ngào. Trong lời than ấy, Kiều đã gọi Kim Trọng là Kim lang, coi Kim Trọng giống như chồng của mình. Điều này tưởng như phi lí bởi Kiều đã trao duyên cho em nhưng lại rẩ có lí bởi Kiều đã thể hiện tình cảm chân thật của mình mà quên đi tất cả mọi thứ xung quanh. Nàng mắc phải một mặc cảm là mình đã phụ tình Kim Trọng. Người đau khổ nhất lúc này đó chính là Thúy Kiều nhưng nàng đã quên đi những đau khổ ấy để chỉ nghĩ về Kim Trọng. Thúy Kiều không chỉ nặng tình mà còn nặng nghĩa. Những câu thơ cuối là những câu cảm thán khiến cho đoạn thơ như những tiếng than đứt ruột. Bi kịch, đau khổ và cả tình yêu nồng nàn của Thúy Kiều được đẩy lên đến đỉnh điểm, qua đó bộc lộ được những nét đẹp trong tâm hồn của nàng. Đoạn trích Trao duyên đã khái quát lên bi kịch đau khổ của Thúy Kiều đó là bi kịch về tình yêu tan vỡ và bi kịch cuộc đời mỏng manh. Qua đó tác giả đã làm bật lên được vẻ đẹp của Thúy Kiều: thủy chung da diết nhưng cũng sắc sảo mặn mà. Nguyễn Du đã một lần nữa khẳng định được tài năng miêu tả tâm lí nhân vật vô cùng sống động, chân thực và phong phú. Nguyễn Du như hóa thân vào nhân vật để nhân vật tự thốt lên từ tận đáy lòng. Qua đoạn trích, nội tâm nhân vật Thúy Kiều được khám phá một cách toàn diện. Tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát kết hợp với ngôn ngữ uyển chuyển, mềm mại, tinh tế để có thể miêu tả được những rung động, đau khổ trong lòng nhân vật. Đằng sau tất cả những điều đó là một tấm lòng nhân hậu, tinh thần nhân đạo và con mắt nhìn thấu sáu cõi của Nguyễn Du. Phân tích bài Trao duyên – bài 2 Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc mới hiểu được, “Trao duyên”, ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn thơ không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều. Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao duyên thật sống động. “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng “để lòng thị phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em: “Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Giữa đường đứt gánh tương tư, Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em” Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “cậy”, tuyệt vời chính xác. Từ “cậy” hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm một cử chỉ thiêng liêng là “lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào! Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe: “Kể từ khi gặp chàng Kim Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề Sự đâu sóng gió bất kì Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai” Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện kể nguyền hẹn ước với Kim Trọng. Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà đối với cái trí bình thường của Thúy Vân không bao giờ biết được: “Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai” Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội. Hiếu – tình là hai giá trị tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều đã cay đắng lựa chọn chữ “hiếu”. Mà chỉ có ba điều tồn tại: “Đức tin, hi vọng và tình yêu, tình yêu vĩ đại hơn cả”. Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng thấm thía với nỗi đau của nàng Kiều. Cho nên hy sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng. “Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ thay lời nước non Chị dù thịt nát xương mòn Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây” Hai chị em đều “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy mà nàng nói “ngày xuân em hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng là vì lo cho Kim Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật là một cô gái có đức hi sinh lớn lao. Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỷ vật giữa nàng và chàng Kim: “Chiếc thoa với bức tờ mây Duyên này thì giữ, vật này của chung” Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỷ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện ra đó, cho nên Thúy Kiều trao “chiếc thoa với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì, nàng trao duyên, trao cả những kỷ vật tình yêu cho em. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người. Thúy Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỷ vật và còn dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này: “Mai sau dù có bao giờ, Đốt lò hương ấy, so tờ phím này. Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Hồn còn mang nặng lời thề, Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.” Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng, cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ngọn cỏ lá cây”, với “hiu hiu gió…” Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ. Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt mình là Thúy Vân mà than khóc với Kim Trọng: “Trăm nghìn gửi lạy tình quân, Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi Phận sao phận bạc như vôi! Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.” Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách mình là “phận bạc”, là “hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết thảy chúng ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã “phụ chàng”. Chính tâm lý mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu trời: “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!” Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” trong thiên “Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong truyện của Thanh Tâm Tải Nhân là một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật tuyệt vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư, hồn nhiên (cũng đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn là một kho bí mật trong công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn Thúy Kiều thì lại càng đau đớn hơn. Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lý, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn “trao duyên”, chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên Đường Chủ nhân là khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo? Phân tích bài Trao duyên – bài 3 Con người khi đứng trước sự lựa chọn của bên nghĩa bên tình thì rất khó lựa chọn. Tuy nhiên thì công đức sinh thành bao giờ cũng cao cả vậy cho nên nếu là một người con hiếu thảo yêu thương cha mẹ của mình thì dẫu cho tình yêu kia có đẹp đến mấy thì vẫn quyết định chọn chữ nghĩa để trả ơn bố mẹ. kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã chọn chữ “nghĩa” lớn lao ấy. Thế nhưng nàng vẫn muốn vù đắp cho tình cảm kia của mình. Vì thế nàng quyết định trao duyên cho em gái là Thúy Vân. Đoạn trích trao duyên thể hiện được tất cả những tâm trạng của Thúy Kiều khi trao duyên của mình cho nàng Thúy Vân. Duyên là một thứ để cho con người ta gặp gỡ, để mà yêu nhau và nếu có phận thì sẽ có thể bên nhau đến trọn đời. Và đặc biệt cái duyên cái nợ là do ông tơ bà nguyệt se tơ kết tóc nối duyên. Thế nhưng ở đây Thúy Kiều đã như đoạt lấy cái quyền hành ấy mà để nối duyên của mình cho em. Nàng có duyên với chàng Kim Trọng nhưng lại không có phận vì thế cho nên nàng muốn nối duyên cho em. Vì trong thâm tâm nàng đó như một cái để nàng đền đáp những ân tình của chàng Kim mà chàng đã trao cho nàng. Trao duyên đi lòng nàng không khỏi đau xót vì tình yêu duy nhất và đầu tiên của nàng đã không thành. Phải chăng tình đầu là dang dở. Với hai câu thơ đầu ta thấy được những hành động của Thúy kiều thật khác bình thường. Nàng như đang hạ thấp bản thân mình để cầu xin em, trao duyên nhưng cũng là cầu xin em giúp chị và chấp nhận: “Cậy em em có chịu lời. Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa” Là một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế nhưng ở đây Kiều trao duyên hay chính là đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm chân tình với Kim Trọng. Những từ “cậy”, “ngồi lên”, “lạy”, “thưa” là những từ để chỉ thái độ kính trọng của người dưới đối với người trên thế mà ở đây bị xáo trộn. Thúy Kiều là chị nhưng lại phải lạy em cậy nhờ. Cái “cậy” kia mang ý nghĩa ép buộc Thúy Vân phải làm nhiều hơn là nhờ. Nói là nhờ thì lại rất bình thường nhưng nói là cậy thì cái nhờ vả kia lại nặng hơn gấp bội. Dùng ngôn ngữ như thế tác giả có ý muốn nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều. Nàng thành khẩn giống như cầu xin em mình để đền đáp tình cảm cho chàng Kim. Nàng cậy nhờ rồi nàng nói lên những lời tâm tư tình cảm của bản thân mình. Đó là những tâm sự tận sâu trong đáy lòng của nàng: “Giữa đường đứt gánh tương tư Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em Kể từ khi gặp chàng Kim Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề Sự đâu sóng gió bất kì, Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai. ” Nàng như thể hiên được cái nỗi đau xót của bản thân mình khi tình duyên lỡ dở. Chính vì chữ hiếu mà nàng hi sinh chữ tình phụ chàng Kim. Và có lẽ thế nàng vừa đau xót cho thân mình vừa đau đớn cho cuộc tình dang dở. Chàng Kim ấy vẫn đang chịu tang nơi quê nhà không hề hay biết những chuyện nơi đây. Nàng chỉ mong Vân có thể nối duyên bù đắp những gì của mình vẫn còn dang dở. Chính vì thế mà Kiều mong Vân chấp nhận sự cậy nhờ của mình mà chắp mối tơ loan với chàng Kim Trọng. Sự ngậm ngùi ấy được phát ra từ những câu thơ trên. Dù cho là chị em nữa nhưng phải gượng ép trao đi thứ mình không muốn trao và thứ mà người ta không muốn nhận thì chẳng khác nào mất đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết là Thúy Kiều cậy nhờ mình chứ nào đâu hiểu hết được “ Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Vốn dĩ chữ tình và chữ hiếu không thể đặt lên bàn mà cân cho được. Thúy Kiều vịn vào tình cảnh của gia đình hiện tại và thêm nữa là tình máu mủ ruột già. Điều đó càng làm cho Thúy Vân có muốn từ chối cũng không thể nào từ chối được: “Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ thay lời nước non Chị dù thịt nát xương mòn Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!” Rõ ràng cả hai chị em cùng đến tuổi xuân xanh đang tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân, tuổi biết yêu thương lấy một người nào đó. Vậy mà Kiều lại nói là tuổi xuân của Thúy Vân còn dài trong khi mình thì nào có khác đâu. Nói như thế để cho thấy Kiều như đã xác định được con đường mà nàng sắp phải đặt chân đến, không yên bình như những ngày tháng trước đây nữa mà sóng gió có thể mang cô đi bất cứ lúc nào. Kiều mong vân xót tình chị em máu mủ ruột già mà hãy chấp nhận lời thay chi làm trọn lời hẹn thề với chàng Kim. Nếu được như thế thì ngay cả khi những sóng gió kia bủa vây lấy nàng cướp nàng đi khỏi thế gian này. Mặc cho sang thế giới bên kia không còn nguyên vẹn thì Kiều cũng cảm thấy thơm lây cái sự hi sinh của em gái cho mình. Khi đã trao duyên xong nàng như cảm thấy được những tâm trạng đang bủa vây đến nàng. Nàng đã hoàn thành xong cái đền đáp ơn nghĩa với Kim Trọng nhưng lòng lại thấy buồn vì vừa trao đi, mất đi một tình yêu đầu êm đềm dịu ngọt. Hơn nữa tình yêu ấy mới bắt đầu: “Chiếc vành với bức tờ mây Duyên này thì giữ vật này của chung Dù em nên vợ nên chồng Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên Mất người còn chút của tin Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa” Chiếc vành với tờ mây kia chính là những kỉ vật tình yêu của hai người. họ đã cùng nhau thề nguyền sống chết, họ đã có với nhau những ngày tháng hạnh phúc những niềm vui tràn ngập vậy mà giờ đây cái xã hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu mà hi sinh chữ tình. Nàng chỉ mong mai này khi chàng Kim và em của nàng có thành duyên vợ chồng rồi thì mong họ hãy nhớ đến nàng. Những kỉ vật tình yêu của nàng với chàng Kim chỉ mong tham lam giữ thành của chung của ba người. Dẫu đã trao cho Thúy Vân những kỉ vật ấy nhưng nàng vẫn luyến tiếc và mong rằng nó sẽ là của chung. Nguyễn Du không đặt những kỉ vật ấy vào trong cùng một câu thơ mà lại chia ra thành mấy câu thơ. Có lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn của nàng Kiều khi phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái mình. Nàng như cố níu giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình phải đưa cho Vân những kỉ vật ấy nếu không thì sẽ không thể nào mà đền đáp tấm ân tình của chàng Kim trọng được. Có thể nói qua những câu thơ trên tâm trang của thúy Kiều được hiện thật sự rất rõ nét. Đó chính là tâm trạng mong muốn trở lại những ngày tháng trước đây. Đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình yêu ấy. Kiều đau đớn như nghĩ đến cái chết, có lẽ là nàng tưởng tượng ra cảnh mai này Kim và vân sống hạnh phúc mà nàng phải chứng kiến cảnh yêu thương của họ thì nàng sống không bằng chết. Hay từ khi xác định bán thân nàng đã quyết định chọn cái chết để kết thúc cuộc đời này. Tuy vậy nàng vẫn mong rằng: “Mai sau dù có bao giờ Đốt lò hương ấy so tơ phím này Trông ra ngọn cỏ lá cây Thấy hiu hiu gió thì hay chị về Hồn còn mang nặng lời thề Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai Dạ đài cách mặt khuất lời Rảy xin chén nước cho người thác oan” Sự bất công của xã hội và sự mất đi tình yêu của Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật sự đau oan khuất mà cứ vấn vương trên cõi trần không thể siêu thoát. Mai sau nếu thấy hiu hiu gió thì có thể cảm nhận là nàng đang về. Cơn gió kia thể hiện sự vương vấn cõi trần này của nàng. Lời thề với chàng Kim thì dẫu cho Kiều có nát thân liễu yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho chàng Kim. Khi ấy chỉ mong kim và Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan là Thúy Kiều. Có thể nói cuộc sống của con người ai mà chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi trong họ thật sự cảm thấy rất đau khổ không thể nào có thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám nghĩ đến. kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con dường mà nàng sắp đi khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc nào. Như vậy qua đây ta thấy được những tâm tư của nàng Thúy kiều. Tình đầu là thứ tình cảm thiêng liêng đẹp đẽ nhất, duyên phận vốn trớ trêu với con người. Chính vì thế chữ tình kia không trọn cho phận má đào. Cô không muốn chàng Kim đợi chờ mình mà mong rằng Thúy Vân em cô sẽ giúp cho anh có một cuộc sống hạnh phúc. Dẫu biết vậy nhưng nàng không khỏi đau khổ khi trao duyên. Phân tích 12 câu đầu bài Trao duyên Nguyễn Du, một đại thi hào của dân tộc Việt Nam, ông sinh năm 1766 mất năm 1820, tên chữ là Tố Như. Quê ông ở Hà Tĩnh, ông được sinh ra trông một gia đình phong kiến quý tộc. Sống trong giai đoạn đồng tiền làm băng hoài đạo đức, đầy biến động, Nguyễn Du chứng kiến được rất nhiều cảnh đời bất công, cũng như sự thối nát của xã hội bấy giờ. Và ông có sự cảm thông sâu sắc đối với người phụ nữ bất hạnh. Nguyễn Du đã viết ra nhiều tác phẩm văn học để nói thay cho tấm lòng đầy ai oán, cho số phận bạc mệnh đáng thương của người phụ nữ. Trong đó có bài “Trao Duyên”, là một bài thơ trong tuyệt tác “Truyện Kiều”, một bài thơ bi cảm được thể hiện qua từng câu, từng chữ, nó mang đến một nổi xúc động khôn nguôi cho người đọc. “Trao Duyên” nói về một bi kịch dan dở trong tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng. Bài thơ đã khắc họa một nổi đau mà khó ai có thể thấu hiểu cua Thúy Kiều, qua bài thơ chúng ta cũng thấy được một giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện một niệm khát khao có được hạnh phúc của con người. Nổi bật nhất trong bài thơ Trao Duyên chính là đoạn thơ: “Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Giữa đường đứt gánh tương tư, Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em. Kể từ khi gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề. Sự đâu sòng gió bất kỳ, Hiều tình khôn lẽ hai bề vẹn hai? Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ, thay lời nước non. Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.” Đọc nhan đề bài thơ là Trao Duyên nhưng tại sao mở đầu bài thơ lại khiến khó hiểu như vậy. “Cậy em, em có chịu lời”, đây giống như một lời nhờ cậy, một lời gửi duyên phận của mình cho người khác, nhờ họ thay mình tiếp tục một mỗi duyên dang dở. Nguyễn Du đã sử dụng từ “cậy” để cho chúng ta thấy rằng, Thúy Kiều đã nhờ bằng tất cả niềm hi vọng và tin tưởng, đồng thời dùng tự “chịu” để thể hiện cho việc phải đồng ý, phải bắt buộc nhận lời, không thể từ chối.Qua đó có thể thấy được tình yêu sâu sắc, chân thành của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng. Và càng thấy cái nghĩa cái tình của của Thúy Kiều và Kim Trọng nó lớn biết nhường nào. Em ơi, ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Câu thơ như xé tâm can người con gái. Vừa cảm thấy có lỗi với người em gái, vừa cảm thấy xót xa cho số phận của mình. Kiều đã dùng lễ nghi lạy trước thưa sau, thay đổi ngôi của hai người để ràng buộc Thúy Vân. Để cái tình của mình trao lại cho em. Sau đó, Thúy Kiều bắt đầu giải bày lí do cho những hành động trước đó. “ Giữa đường đứt gánh tương tư/ Keo loan chấp nối tơ thừa mặc em”. Câu thơ là sự giải bày cho em biết là cuộc tình của chị bây giờ đành dang dở “đứt gánh tương tư”. Cuộc tình của Kiều vừa mới chớm nở nhưng không thể đơm hoa kết trái bởi sóng gió đang ập đến. Kiều đau khổ, sót xa nhưng không thể làm khác được, đành trao lại mối duyên này cho em. Nàng đã mượn điển tích “keo loan” để nói lên ý định muốn Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Nàng cảm thấy có lỗi, cảm thấy ray rứt vô cùng đối với em, vì cảm thấy như mình ép duyên, buộc em phải nhận, nhưng vẫn giao phó “ tơ thừa” để “mặc” Thúy Vân quyết định. Trên đây là bài tập làm văn phân tích bài Trao duyên, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Phân tích bài Trao duyên
6,549
Phân tích bài Tre Xanh Việt Nam Hướng dẫn Phân tích bài Tre Xanh Việt Nam Bài làm Nhắc đến hình ảnh làng quê đất nước chúng ta thì không thể thiếu được những hình ảnh về những cây tre cao vút mọc thành từng khóm bên nhau và trong thơ Nguyễn Duy cũng vậy,bài thơ Tre Việt Nam mang tới cho chúng ta một ý nghĩa sâu sắc về nhân dân ta,đó không chỉ là bài thơ viết đơn thuần về cây tre mà còn thể hiện được những phẩm chất đẹp của con người Việt Nam chúng ta. Nhà thơ Nguyễn Duy bắt đầu bài thơ với hai từ tre xanh và tiếp đến đó là câu hỏi tre có từ bao giờ: “Tre xanh Xanh tự bao giờ? Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh” Hai tiếng tre xanh gợi lên cho bất cứ những người con Việt Nam nào cũng không khỏi bag khuâng xao xuyến chạnh lòng mà nhớ tới. Nhà thơ hỏi tre xanh có từ bao giờ, nghĩa là từ khi sinh ra nhà thơ cũng đã thấy những rặng tre mọc san sát bên nhau, chứng tỏ cây tre có từ đời xa xưa. Cách mở đầu đi vào bằng hình ảnh cây tre này đã tạo nên sự hấp dẫn cho người đọc bởi vì tre xanh đối với người dân Việt Nam thì đó là loài cây thể hiện cho sự đấu tranh bền bỉ và lâu dài. Cho tới ngày nay thì cây tre vẫn đi vào huyền thoại như câu chuyện về thánh gióng đánh giặc,cây tre trăm đốt…Tóm lại là cây tre xuất hiện từ lúc con người nhận ra vẻ đẹp của nó. Đến với những câu thơ mộc mạc tiếp theo thì chúng ta thấy được vẻ đẹp của tre xanh và qua những vẻ đẹp tiềm tàng đó chúng ta thấy được phẩm chất cao quý tốt đẹp của con người Việt Nam chúng ta. “Thân gầy guộc, lá mong manh Mà sao nên lũy nên thành tre ơi? Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu” Cây tre Việt Nam hiện lên với một thân hình mong manh cứ đung đưa trước gió. Những câu từ ấy khiến cho chúng ta liên tưởng tới những khóm tre có thân gầy guộc lại đứng thẳng trước bão tố,trước những cơn gió. Thế nhưng cây tre vẫn đứng thẳng hàng thành từng lũy cho dù bờ đất đai khô cằn,trên nền đất đá vôi bạc màu thì vẫn xanh tốt. Qua đây ta lại thấy được phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam,con người Việt nam tuy là nhỏ bé nhưng lại ngay thẳng thật thà giống như cây tre và cho dù sống ở đâu và ở môi trường nào thì cũng vẫn có thể sống tốt, sống ngay thẳng như những cây tre kia. Những con người Việt Nam luôn sống đoàn kết như những khóm tre kia. Thứ hai, cây tre Việt Nam luôn có sức sống mãnh liệt, con người Việt Nam cũng vậy: “Có gì đâu, có gì đâu Mỡ màu ít chắt dồn lâu hóa nhiều Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm” Đất đá kia bạc màu không dưỡng chất nhưng tre vẫn xanh tươi và rễ luôn bám sâu chắc vào đất để tìm kiếm nguồn dinh dưỡng cho mình, và vẫn luôn xanh tốt.Tre vươn mình đu đưa trong ngọn gió,cứ như thế tre luôn vươn mình trên nền trời xanh mướt, tạo một màu sắc bình yên vốn có của đất nước ta. Thứ ba đó là vẻ đẹp được tạo nên những khóm tre sát bên nhau,bao bọc lấy nhau trước những bão táp,sóng gió của đất trời: “Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm Thương nhau tre không ở riêng Lũy thành từ đó mà nên hỡi người Chẳng may thân gãy cành rơi Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường Lưng trần phơi nắng phơi sương Có manh áo cộc tre nhường cho con” Tre ở đây cũng được nhân hóa giống như con người vậy, nó cũng có tay,có tình cảm như chúng ta vậy. Những cây tre ôm lấy nhau vượt qua mọi sóng gió của cuộc đời thể hiện sự đùm bọc đoàn kết lẫn nhau,tre không chịu đứng một mình mà hình thành theo từng khóm chụm lại. Người ta bảo tre già măng mọc là vậy,khi chúng gãy đi thì vẫn còn cái gốc cho măng mọc, để tiếp tục sinh tồn và phát triển. Hình ảnh tre được ẩn dụ thành manh áo cộc để nhường nhịn cho đàn con của mình. Cây tre giống như một người mẹ hiền hòa yêu thương đàn con vậy. Ở khổ thơ cuối cùng nhà thơ miêu tả hình ảnh măng non như biểu tượng cho những thế hệ thiếu niên nhi đồng: “Măng non là búp măng non Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre Năm qua đi, tháng qua đi Tre già măng mọc có gì lạ đâu Mai sau, Mai sau, Mai sau… Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh” Đây được xem là sự truyền nối của tre già măng mọc cũng như sự sinh tồn của con người Việt Nam, những búp măng non được ví như những đứa trẻ thơ lớn lên. Điệp từ mai sau kết hợp với từ “xanh”ở câu cuối thể hiện hình ảnh của đất nước luôn mang một màu xanh tươi, và con người Việt Nam với những thế hệ thanh thiếu niên của nhi đồng lớn lên cũng mang hình dáng của ông bà tổ tiên và cho đến mai sau phẩm chất của con người Việt Nam vẫn như vậy. Qua bài thơ này chúng ta thấy được không chỉ nói đến tre xanh mà tác giả còn muốn nói lên được phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam chúng ta.
Phân tích bài Tre Xanh Việt Nam
1,005
Phân tích bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Hướng dẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã coi nhân loại tương lai "như búp trên cành". Cái nhìn giàu chất thơ ấy, một lần nữa đã được hiện thực hoá trong văn kiện Tuyên bố thế giới vê sự sống còn, quyền được bảo vệ vù phút triển của trẻ em. Về dạng phong cách, đây là một bài văn chính luận. Ra đời ngày 30-9-1990, nó mang tính hiện đại trên nhiều mặt. Ví dụ vể kết cấu văn bản, thay thế cho ba phần truyền thống của thể loại là đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết thúc vấn để bằng một hệ thống những để mục theo thứ tự 1,2, 3, 4… Một số đề mục có tên gọi chung: từ dề mục 3 đến đề mục 7 là "sự thách thức", từ đề mục 8 đến 9 là "cơ hội", từ đề mục 10 trở đi là "nhiệm vụ"… về cách lập luận, bản Tuyên bố không sử dụng lí lẽ. Thay vào đó là phép so sánh và cơ sở của sự so sánh lại là các con số, những giá trị tương đương, vé ngôn từ, "Tuyên bố" là tiếng nói của nhiều nước, do không phân biệt màu da, tiếng nói, ngôn từ chủ yếu là hàm chứa khái niệm và ý tưởng, một thứ ngôn từ trung tính (ít sắc thái biểu cảm) là thích hợp không chí đối với người nói mà cả đối với người nghe. Để phân tích văn bản, điều trước hết cần nắm lại kết cấu ba phần khái quát được trình bày theo hệ thống sau đây: 1.Quan điếm chung về đặc điểm của trẻ em, về quyền lợi của trẻ em -Về đặc điểm của trẻ em. Điểu này được diễn đạt rất hàm súc. Nếu ba mệnh đề: "trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc" là ớ trạng thái tĩnh thì "hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng" lại ở trạng thái vận động, là biểu thị tính xu hướng, những khả năng. Nhìn nhận trẻ em như thế là nhìn nhận một sự vật trên đà phát triển, trước khi hình thành những cá tính riêng, những phẩm chất, những năng lực riêng. -Về quyền lợi của trẻ em. Để có được một tương lai tốt nhất cho sự hình thành và phát triển, các em phải được sống trong một bầu không khí trong lành của sự "hoà hợp và tượng trợ", nghĩa là mảnh đất tốt tươi của sự vun trồng. Chỉ có trong trường hợp đó, các em mới có thể "được mở rộng tầm nhìn, thu nhận thêm những kinh nghiệm mới". Vì quan điểm chung, nhận thức chung về đặc điểm và quyền lợi trẻ em không nằm trong tiêu đề (nhưng thực chất là có tiêu đề) thật là giản dị. Vì chân lí bao giờ cũng thường giản dị. Nhưng ý nghĩa của nó lại hết sức lớn lao. Không chỉ là điểm xuất phát của văn bản, nó còn là cái đích cuối cùng, bản thân nó là một cuộc đấu tranh gay gắt, lâu dài, lớn lao trên phạm vi toàn cầu không chỉ trong một, hai thế hệ. 2.Những khó khăn và thuận lợi Từ quan điểm chung về đặc điểm của quyền lợi trẻ em như trên, văn bản đối mặt với những vấn đề thực tế trong chặng đường đầu của cuộc phấn đấu không mệt mỏi: chặng đường của nhân loại hiện nay. Đây là một chặng đường đầy "thách thức". Nguy cơ biến ước mơ tốt đẹp (phần đầu) thành ảo tưởng hiện ra rất rõ. "Tuy nhiên, thực tế cuộc sống thời thơ ấu của nhiều trẻ em lại không, như vậy". Lập luận bắt đầu được mở ra bằng phép tương phản có sức thu hút người nghe ở những luận cứ chứng minh giống như một bản cáo trạng, báo động một nguy cơ. Nguyên nhân thì có đến hai nhưng hậu quả chí có một. Nguyên nhân thứ nhất thuộc về chiến tranh, nghĩa là trái với điểu kiện "hoà hợp", còn nguyên nhân thứ hai thuộc về sự dói nghco, nghĩa là không có cơ hội được "tương trợ" (ở phần dầu). Phần trình bày những nguyên nhân này, tuy về giọng điệu, về ngôn từ nói chung là trung tính, nhưng do việc sắp đặt các từ có dụng ý nên nhiều đoạn nhiều câu vẫn toát lên sắc thái căm phẫn và xót xa. Trẻ em bị săn đuổi từ nhiều phía, từ chiến tranh, bạo lực, nạn phân biệt chủng tộc, chế độ a-pác-thai, v.v. Trẻ em bị vứt ra ngoài lề của một xã hội không công bằng và vô cùng độc ác. Văn miêu tả ở đây thật xúc động: "Có những cháu trở thành người tị nạn, sống tha hương do bị cưỡng bức phải từ bỏ gia đình, cội rễ. Có những cháu khác lại chịu cảnh tàn tật hoặc trở thành nạn nhân của sự lãng quên, ruồng bỏ, đối xử tàn nhẫn và bóc lột…". Còn nguyên nhân về nạn đói nghèo, cùng với cái nhìn khái quát là những nốt nhấn làm cho người đọc không thể dửng dưng: "Ở nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là những nước kém phát triển nhất" phải chịu hai gánh nặng trên lưng, một là thuộc về sự đói nghèo truyền kiếp của cha ông (trong nước), còn một thuộc về "những tác động nặng nề của nợ nước ngoài". Giọng văn phóng sự này đã bóc trần sự thật đắng cay, tủi nhục của dân các nước đó nói chung, của trẻ em nói riêng đến mức không còn tướng tượng nổi. Hậu quả của hai nguyên nhân trên là "Mỗi ngày có tới 40 000 trẻ em chết" với đủ các lí do. Đọc đến đây ta liên tưởng đến câu văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn Độc lập: "Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói". Hai văn bản tuy gắn với hai hoàn cảnh khác nhau, nhưng sự xót thương vẫn chỉ là một. Và vấn đề giải phóng con người đối với nhân loại luôn là vấn đề bức xúc và phải đặt ra dưới bất kì hình thức nào, vì lí do nhân đạo, nhân văn của nó. Tuy nhiên, tình hình không chỉ một chiều, cái chiểu tối tăm của bi kịch kiếp người. Chính con người đã mở ra những "cơ hội", những tín hiệu lạc quan. Cơ hội ấy là sự thống nhất tư tưởng, nhận thức và tinh thần để có được một "Công ước về quyển trẻ em" trên toàn thế giới. Văn bản quan trọng này đối với trẻ em là kết quả của sự "liên kết" cả "phương tiện" và "kiến thức" của loài người, kết quả của "sự hợp tác và đoàn kết quốc tế". Chúng ta đã và đang đẩy lùi hai nguyên nhân dẫn đến nguy cơ: chiến tranh và chậm phát triển, về chiến tranh tức là về cỗ máy ăn thịt người lớn nhất và nhanh nhất, chúng ta đã tạo ra một bầu "không khí chính trị" cởi mở hơn, đối thoại thay cho đối đầu, ước mơ "giải trừ quân bị" vẫn đang tiếp tục được theo đuổi, v.v. Chúng ta đã tiến bộ một bước trong việc "bảo vệ môi trường", sự công bằng hơn "về xã hội và kinh tế". Chỉ có điểu sự cải thiện tình hình tuy là đáng kể, nó làm cho sự gay gắt và căng thẳng có được giảm đi, nhưng những thách thức và nguy cơ vẫn còn nguyên đó. 3.Vì sự sống còn, phát triển của trẻ em, vì tương lai của toàn nhân loại, nhiệm vụ của chúng ta còn rất nặng nề. Là một văn bản nghị luận, toàn bộ phần "Nhiệm vụ" là sự ứng chiếu, rà soát so với mục tiêu (phần 1), chúng ta đã chặn đứng được nguy cơ (phần 2) đến mức độ nào? Sự liên kết tự nó tạo rá mối liên hộ kết dính cho cả bài văn. Chẳng hạn như vấn đề suy dinh dưỡng ở trẻ em nêu lên trong đề mục 6 (phần 2) được xem như nhiệm vụ hàng đầu ở phần 3 (để mục 10) nói về nhiệm vụ: "Tăng cường sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng của trẻ em là trách nhiệm hàng đầu, đồng thời cũng là một nhiệm vụ mà các giải pháp đã nằm trong tầm tay của chúng ta". Các trẻ em tàn tật được nêu trong đề mục 4 (phần 2), được trở lại trong để mục 11 ở phần 3 "Trẻ em bị tàn tạt và trẻ em có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khàn cần phải được quan tâm châm sóc nhiều hơn và được hỗ trợ mạnh mẽ hơn", về những trẻ em "bị cưỡng bức phải từ bỏ gia đình, cội rễ" ở đề mục 4, được trở lại ở đề mục 15 "Cần tạo cho trẻ em cơ hội tìm biết được nguồn gốc lai lịch của mình", v.v. Như vậy, nội dung mà phần "Nhiệm vụ" nêu ra không phải là chủ quan, duy ý chí, mà ngược lại nó rất cụ thể, thiết thực. Chương trình hành động này là hoàn toàn có cơ sở trong thực tế và có tính khả thi. Bản Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em, không chỉ mang tính chất "Tuyên bố". Cuộc đấu tranh cho thế hệ tương lai của nhân loại đã khởi động, và nó chỉ mới bắt đầu. Đó là "Tuyên bố" về cuộc đấu tranh vừa trước mát và lâu dài của toàn nhân loại. Một văn bản nghị luận chứa đựng bao nhiêu tư tưởng lớn, bao nhiêu khát vọng đẹp đẽ của con người, cả ý chí dấu tranh không mệt mỏi cho mục tiêu đã định được diễn đạt khá rành mạch, rõ ràng với một kết cấu hợp lí, phù hợp với quy luật tư duy cần được đón nhận tự giác như một mệnh lệnh từ trái tim mình. Đó là kết quả bài văn đạt tới.
Phân tích bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em
1,758
Phân tích bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Hướng dẫn Phân tích bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Không có một nỗi đau nào bằng nỗi đau vợ xa chồng, con xa cha,mẹ già xa tiễn con ra mặt trận. Những nỗi đau, nỗi khổ tâm ấy như tức tưởi dâng trào,lúc lại nghẹn ngào khó tả, đặc biệt là cảnh người phụ nữ phải chứng kiến cảnh tiễn chồng ra chiến trận, không biết có được gặp lại nữa hay không. Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Đặng Trần Côn cùng với những vần thơ dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm viết về đề tài này. Mở đầu bài Chinh phụ ngâm là bốn câu thơ lục bát, khiến độc giả phải ngẫm nghĩ. Đó là nỗi buồn man mác, âu lo phiền muộn của người phụ nữ khi ngày đêm trông mong tin chồng ở vùng chiến trận. Cảnh vật như càng điểm thêm sự lẻ loi đơn chiếc và cái không gian u tịch hắt hiu. Ngọn đèn kia vẫn chiếu sáng hàng đêm, có hay chăng người ở đây mà hồn ở phương nào, mong ngóng đợi chờ từng ngày. Câu hỏi tu từ ở cuối như một lời tự vấn, bỏ ngõ chẳng bao giờ có câu trả lời. “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen Ngoài rèm thước chẳng báo tin Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” “Khắc giờ đằng đẵng như niên Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa Không chỉ dừng lại đó, những câu thơ tiếp theo còn làm rõ nét thêm sự cô đơn, trống vắng hay cả sự vô vọng mà không biết điều gì sẽ xảy ra. Mọi thứ cứ lặp đi lặp lại hàng ngày như thế, nhưng có biết đâu, trang điểm kia cho ai nhìn, gảy đàn cho ai nghe, đốt hương cho ai thưởng thức.mọi thứ trở nên gượng gạo “ Gượng đốt, gượng soi, gượng gảy”. để rồi cuối cùng “ dây uyên kinh đứt phím loan ngại ngùng. Ở những câu thơ tiếp theo, người chinh phụ chỉ biết gửi nỗi nhớ, khắc khoải nỗi lòng qua gió, nhưng nỗi lòng của nàng đâu biết sâu bao nhiêu, tựa như mây cao biển rộng, nỗi niềm ấy trùng trùng điệp điệp, liệu gió có thấu, có mang tới người chồng ở chiến trận? Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun” Không mượn hình ảnh của gió, không nhắc tới những gì đang diễn ra xung quanh, không còn mượn lời để nói tình cảnh của mình bây giờ, không biết rồi sẽ đi đâu về đâu, người xưa bao giờ cho gặp lại. Để đến cuối cùng, nàng thốt lên” nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”. Nỗi nhớ ấy được miêu tả với 2 từ “ đau đáu” nghĩa là chưa bao giờ nó dứt trong lòng nàng. Cùng với đó, cảnh buồn người buồn theo hay người buồn nên nhìn đâu cũng thấy một nỗi buồn vô tận. Qua bài thơ “ chinh phụ ngâm khúc” đã thể hiện tình cảm thiết tha, da diết của người vợ dành cho người chồng đi chinh chiến. Với ngòi bút tinh tế và giàu lòng trắc ẩn, tác giả cũng ngợi ca tình yêu thủy chung của vợ chồng, đồng thời lên án gay gắt chiến tranh phi nghĩa thời phong kiến. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng gây ấn tượng trong lòng độc giả dù trải qua bao thế hệ với tư tưởng, niềm khát khao mãnh liệt được sống và yêu thương, bảo vệ hạnh phúc gia đình. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
621
Phân tích bài Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão Hướng dẫn Phân tích bài Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão Trong lịch sử Việt Nam, triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm xây dựng và giữ nước của dân tộc ta. Trải qua muôn vàn khó khăn của cuộc chiến tranh xâm lược: ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên-Mông, đánh và thắng nhà Trần đã được ghi vào kho tàng sử vàng Đại Việt những chiến công oanh liệt như Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng,.. Khí thế nhà Trần được gọi là “Hào khí Đông A”- là một trong những thời đại hào hùng nhất trong lịch sử Việt Nam. Không chỉ có thế thơ văn nhà Trần còn được coi là thời có những tác phẩm đồ sộ nhất, mang tiếng nói của những người anh hùng- thi sĩ dạt dào cảm hứng yêu nước mãnh liệt có tác phẩm nổi tiếng như “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu, “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão,… là những tác phẩm dạt dào tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào dân tộc. Phạm Ngũ Lão là một vị tướng tài giỏi thời nhà Trần, được vua tin dùng, gả con gái cho. Ông đi chinh chiến chưa lần nào thất bại. Ông (1255-1320) quê ở tỉnh Hưng Yên, ông chỉ là một người có tầng lớp xuất thân bình thường. Ông là người có tài, không chỉ giỏi về việc triều chính mà ông còn sáng tác nhiều bài thơ hay, những tiếc là chỉ còn lại hai bài thơ lưu truyền đến ngày nay đó là: “Thuật Hoài” (Tỏ lòng) và “Văn thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại vương”. Bài thơ Tỏ lòng thể hiện niềm tự hào con người, đất nước và nó đến chí làm trai, khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ Quốc bị xâm lăng. Bài thơ này cũng chính là nỗi niềm mà ông muốn nhắc nhở chính mình. Phiên âm: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu” Dịch thơ: “Múa giáo non sông trải mấy thu Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” Đầu tiên tác giả miêu tả tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang của con người thật dũng mãnh: “hoành sóc” (cầm ngang ngọn giáo). Câu thơ “hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ miêu tả hình tượng hùng vĩ, tráng lệ mang tầm vóc không gian và vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử: “kháp kỉ thu”. Không gian mở ra theo chiều rộng của núi sông, mở lên theo chiều cao đến tận sao Ngưu thăm thẳm, thời gian không phải ngắn mà cũng vừa chẵn mấy thu rồi người tráng sĩ vẫn đứng hiên ngang, không lay chuyển, ý chí vẫn cứ hiên ngang đứng vững để bảo vệ chủ quyền của đất nước. Đội quân Sát Thát ra trận với khí thế áp đảo quân thù, đánh trăm trận trăm thắng, ra trận với sức mạnh phi thường, nhanh như báo, mạnh như hổ. Không một thế lực nào, kẻ thù nào ngăn cản được bước như tiến của đội quân thời Trần. “Khí thôn Ngưu” có thể hiểu theo hai nghĩa đó là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu làm sao Ngưu át, làm lu mờ sao Ngưu trên tận bầu trời hoặc có thể hiểu theo nghĩa ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu. Hình ảnh này con làm ta liên tưởng tới tác phẩm Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu cũng có câu: “Thuyền bè muôn đội Tinh kỳ phấp phới Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…” Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mớ lớn lao đó là khát khao lập chiến công ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! Trần Quốc Toản có câu “Phá cường địch, báo hoàng ân” hay Thái sư Trần Thủ Độ cũng nói: “Đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo”… Như chúng ta đã thấy đó là trung quân ái quốc, đó là những con người với những trách nhiệm đè nặng trên vai, họ là những người vánh gách sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ tự hào về con người và đất nước của họ, họ tự hào về những chiến công hiển hách của con người thời đại đã làm nên. “Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu” (Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu) Chí ở đây chính là chí làm trai, là một nam nhi việc làm quan trọng nhất đó là công danh, sự nghiệp, phải là một người giúp ích được cho nước, cho dân. Quan niệm lí tưởng làm nam nhi thời phong kiến đã được rất nhiều nhà thơ thời này nói đến như trong bài “Chí làm trai” của Nguyễn Công Trứ cũng nhắc tới: “Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông” Công danh được coi như là một món nợ đời mà nam nhi cần phải trả. Khi trả xong nợ công danh thì mới hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với đất nước mà mới không cảm thấy hổ thẹn mới đời. Nhưng Phạm Ngũ Lão một người tài giỏi như vậy, ông đã cống hiến không biết bao nhiêu chiến tích hiển hách, khi ông điều binh ra trận thì không có trận nào thua. Ấy vậy mà ở câu cuối: “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” ý ở đây đó là ông vẫn cảm thấy thẹn khi nhắc đến Vũ Hầu- Gia Cát Lượng một vị tướng thời Hán có tài mưu lược, trừ giặc, cứu nước. Câu thơ này cho chúng ta thấy, Phạm Ngũ Lão có khát vọng là lập được công danh sánh ngang với Gia Cát Lượng. Ngay ở đầu đề của bài thơ đã thấy được ý nguyện trong lòng của tác giả bài thơ có nhan đề chữ Hán là “Thuật hoài”: thì thuật là kể lại, bày tỏ, còn hoài là nỗi lòng. Dịch sang là “Tỏ lòng” nghĩa là bà tỏ nỗi lòng của mình và bày tỏ khát vọng hoài bão lớn lao của tác giả. Cái “thẹn” của tác giả vừa có giá trị nhân cách, vừa cao cả lớn lao. Ông muốn sống xứng với thời đại anh hùng của mình, thời đại được coi là một trong những thời đại hào hùng nhất của lịch sử nước ta. Bài thơ còn giúp chúng ta nhận ra một bài học nhân sinh sâu sắc, thế hệ trẻ hiện nay cần đặt ra câu hỏi đã làm gì cho đất nước? Thế hệ trẻ hiện nay cần phải cố gắng thật nhiều, học tập tốt để tiếp thu khoa học công nghệ giúp cho đất nước đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cần có lối sống tích cực để xây dựng lối sống lành mạnh, tích cực để đất nước ngày càng giàu mạnh văn minh hơn.
Phân tích bài Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão
1,218
Phân tích bài Tựa Trích diễm thi tập Hướng dẫn Phân tích bài Tựa Trích diễm thi tập Bài làm Để sáng tạo nên một tác phẩm có dấu ấn trong lòng người đọc là cả một sự cố gắng rất nhiều của các tác giả. Thế nhưng dấu ấn đó không chỉ dành cho những tác giả sáng tác ra tác phẩm đó mà phải kể đến những tác giả mà được người đọc đón nhận với tác phẩm sưu tầm biên soạn lại các tác phẩm của người khác. Trong đó phải kể đến Hoàng Đức Lương với tác phẩm Trích diễm thi tập.Không đơn giản là việc cóp của người ta lại để làm nên một quyển sách mà công việc ấy mang ý nghĩa lớn lao đó là gìn giữ những tinh hoa văn hóa thơ ca để giữ gìn nền văn hiến dân tộc. Bài Tựa Trích diễm thi tập do tác giả Hoàng Đức Lương tự viết cho công trình sưu tầm những bài thơ có giá trị từ thời Trần đến thời Lê của mình. Đây là tuyển tập thơ gồm 6 quyển, ra đời sớm nhất ở nước ta và đã được khắc ván in thành sách dưới thời Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông trị vì. Qua bài Tựa, tác giả nói rõ về quá trình tuyển chọn những bài thơ hay và thể hiện niềm tự hào, sự trân trọng và ý thức bảo tồn di sản văn học dân tộc của bản thân. Bài Tựa được chia làm hai đoạn với hai nội dung nổi bật. Đoạn 1 nói về những nguyên nhân thơ ca không được lưu truyền rộng rãi, đoạn 2 thì nói về lí do tác giả biên soạn sách, thuật lại quá trình hoàn thành cuốn Trích diễm thi tập, giới thiệu sơ lược nội dung và kết cấu của cuốn sách. Ở đoạn 1 tác giả đưa ra nguyên nhân thơ ca không được lưu truyền rộng rãi. Điều này giúp cho mọi hình thành những tư tưởng đế giúp thơ ca có chỗ đứng trong lòng độc giả và không bị mai một. Tác giả đưa ra 4 nguyên nhân chủ quan và 2 nguyên nhân khách quan để giải thích cho việc này. Nguyên nhân chủ quan đầu tiên là do chí có thi sĩ nhà thơ mới hiểu được cái đẹp trong thơ ca. Đối với những người bình thường họ thấy thơ ca thật xa lạ và khó hiểu, thơ ca là những gì rất cao sang và họ chỉ là những người ngày ngày cặm cụi với việc bươn trải với cuộc sống nên quen với những từ ngữ bình dị thân thuộc nên họ không hiểu được những từ ngữ trong thơ ca và vì không hiểu thì sao họ có thể yêu,có thể thích thơ ca được. Đây chính là nguyên nhân quan trọng nhất khiến thơ ca không được lưu truyền rộng rãi. Nguyên nhân thứ 3 là do có người quan tâm và yêu thích thơ ca nhưng không đủ năng lực và tâm huyết để theo đuổi niềm đam mê của mình đến cùng. Điều này cho thấy muốn giúp cho những người yêu thơ ca quyết tâm theo đuổi thơ ca đến cùng thì thời thế lúc đó phải tạo điều kiện tốt để cho những người đó không phải bận tâm nhiều đến cuộc sống, chú tâm và thưởng thức cái tinh hoa kết lại trong thơ ca. Nguyên nhân thứ 4 là do triều đình chưa quan tâm đến thơ ca. Lúc này triều đình chỉ lo là làm sao để nhân dân đủ ăn đủ uống chứ chưa đề cao đến cuộc sống tinh thần của người dân. Ngoài những nguyên nhân chủ quan còn có những nguyên nhân khách quan như: thời gian làm hủy hoại sách vở và binh lửa (chiến tranh, hỏa hoạn,…) làm tiêu hủy thư tịch.Chúng ta không thể nào biết được những sức hủy diệt của chiến tranh không chỉ là chết người mà nó còn mang đi cả những thơ ca nữa. Thời gian làm cho thơ ca bị mai một đi không còn ai nhớ đến bài thơ đó nữa. Tiếp đến Hoàng Đức Lượng bày tỏ những khó khăn trong việc sưu tầm biên soạn lại thơ ca của ông cha.Nhưng với ông động lực lớn nhất giúp ông vượt qua khó khăn và niềm tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ và phát huy truyền thống của dân tộc. Qua bài Tựa Trích diễm thi tập đã góp phần làm cho nền nghệ thuật dân tộc có thêm những hương vị mới cho đọc giả. Tác phẩm đã nêu cao tinh thần giữ gìn, phát huy nét đẹp và dân tộc và nó cũng là một lời tâm sự thủ thỉ của tác giả đến với bạn đọc rằng: hãy trân trọng và phát huy thơ ca, vì thơ ca là một phần của cuộc sống!
Phân tích bài Tựa Trích diễm thi tập
826
Phân tích bài Viếng lăng bác của Viễn phương Hướng dẫn Phân tích bài Viếng lăng bác của Viễn phương Sau khi hai miền Nam Bắc thống nhất trở lại, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm trời, tác giả lại được ra thăm lăng Bác. Cái tình cảm suốt bao nhiêu năm ròng thương nhớ lại ùa về, đó không chỉ là thái độ yêu kính mà đây còn là lòng biết ơn vô hạn đối với vị Cha già của dân tộc. Cũng bởi vì tình cảm thiêng liêng đó mà nhà thơ Viễn Phương đã sáng tác ra bài “Viếng Lăng Bác” như là một tiếng lòng của mình mong muốn gửi gắm đến Bác. Bài thơ được viết theo thể thơ 8 tiếng với âm hưởng rất ngọt ngào, tràn đầy tình yêu thương và gắn với giai điệu của ca dao dân ca. Giọng điệu của bài thơ như một lời tâm tình gần gũi khi mà tác giả sử dụng cách xưng hô “con” với “Bác” – đó không phải là lời trò chuyện của một vị lãnh tụ đối với người dân mà như một lời tâm tình của một người cha đối với một người con lâu ngày không gặp lại, một mối quan hệ ruột thịt, thân thiết. Nhan đề của bài thơ gợi lên cho người đọc một thái độ thành kính của nhà thơ đối với Bác. Dù đây là lần đầu tiên nhà thơ được gặp Bác, dù chỉ là một “cuộc gặp gỡ ngắn ngủi” nhưng mà nhà thơ đã gửi gắm vào đó không biết bao nhiêu là tình cảm yêu thương mà gắn bó. Bởi vậy mà câu mở đầu đoạn thơ cũng đầy xúc động: “Con ở miền Nam ra thăm Lăng Bác” Đó như là một sự giới thiệu của tác giả. Lời giới thiệu về mình: “con ở miền Nam” – chỉ với 4 tiếng thơ mà nghẹn ngào, đầy xúc động. Khoảng cách 30 năm chia cắt dằng dặc giữa hai miền Bắc – Nam đã khiến cho miền Nam yêu thương, miền Nam anh hùng chưa thể nối lại với hòa bình với miền Bắc. Nhưng nỗi đau ấy là do ai, do ai mà đến bây giờ, khi đất nước ta thống nhất con mới có cơ hội ra thăm Bác? Đó, không chính ai khác, những kẻ đã gây ra nỗi đâu thương này chính là thực dân Pháp hung tàn hay đế quốc Mỹ tàn bạo. Để giờ đây sau 30 năm dài chia cắt, những đứa con miền Nam lại có cơ hội ra thăm cha, nỗi đâu đấy cứ xoáy vào tim, không thể nói lên lời. “Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi hàng tre, xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa xa đứng thẳng hàng” Bước những bước trên con đường đến viếng thăm lăng Bác. Hình ảnh những hàng tre xanh mướt lại được hiện lên vào buổi sớm, hình ảnh tre hiện lên thật hoàn mỹ, thật huyền ảo. Nhưng đó đâu phải hai hàng tre bình thường mà trong con mắt của nhà thơ, hai hàng tre đó hiện lên thật lung linh, đa nghĩa. “Bát ngát” – chỉ với một từ bát ngát mà ý tứ của nhà thơ như được thể hiện rõ ràng hơn rất nhiều. Tre luôn là biểu tượng của con người Việt Nam, cho nhân dân Việt Nam. Đã từ bao đời nay, tre luôn “giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà trang, giữ đồng lúa chín” khi đất nước ta bị giặc xâm lăng, tre lại ở đó, kiên cường và bất khuất. Cũng bởi vậy mà bây giờ, tre cũng đang lặng lẽ bảo vệ cho giấc ngủ của Bác – một giấc ngủ ngàn thu. “Ôi hàng tre, xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” Từ láy “xanh xanh” như một từ láy nhằm biểu hiện sức sống mãnh liệt của loài cây này trước mọi khó khăn, gian khổ. Tre còn biểu tượng cho những khó khăn, những gian khổ mà đất nước ta, nhân dân ta phải hứng chịu, nhưng với bản lĩnh, với tinh thần quật cường của nhân dân ta, thì không một ý chí, một thế lực nào có thể làm xoay chuyển được nhân dân ta, con người Việt Nam ta. Hai hàng tre xanh vẫn lặng lẽ nằm bên cạnh lăng Bác như Bác đang nằm giữa tình yêu của quê hương, của đất nước, của tình cảm nồng nàn mà gắn bó keo sơn của dân tộc ta. Như Bác vẫn đang sống mãi với quê hương, với đất nước, với nhân dân Việt Nam. “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” Nếu như khổ 1 thì nhịp thơ càng nhịp nhàng, trầm bổng, thổn thức bao nhiêu thì đến khổ thơ 2, lại là một nhịp điệu thơ khác. Có câu thơ dài 9 tiếng, đã diễn những bước chân chầm chậm, nối dài mãi của những người con đi vào lăng viếng Bác – đó là một sự thành kính không chỉ của nhà thơ mà còn hòa chung vào cả dòng người. Để từ đó, nhà thơ có một phát hiện lý thú, ngay cả đến thiên nhiên với một sức mạnh không thể khống chế được cũng phải ngưỡng mộ Bác – một con người vĩ đại của đất nước Việt Nam. Tác giả sử dụng hình ảnh mặt trời như để ví đến Bác. Có một mặt trời của thiên nhiên và cũng có một mặt trời của trong lăng – mặt trời đó chính là hiện thân cho Bác, ánh mặt trời đỏ đó sẽ chiếu sáng đến tất cả những người Việt Nam để nhân dân ta sẽ thoát khỏi những lầm than, những đau khổ để ánh mặt trời đó sẽ soi rọi đưa nhân dân ta đi lên theo con đường Cách Mạng mà Người đã lựa chọn. Nếu như hai câu đầu thì nói về những công lao, những hình ảnh ẩn dụ thì hai câu cuối lại là tình yêu thương của con dân Việt Nam dâng lên Bác. 79 mùa hoa hay chính là 79 năm Bác đã tận tụy hết lòng với nhân dân, với con người Việt Nam để giờ đây Bác được yên nghỉ sau những năm tháng vất vả, khó khăn. Đứng trước sự vĩ đại, to lớn của Bác, ta cũng vô thức bị dòng thơ cuốn và trong lăng lúc nào không hay: “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vãn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim” Một cảm xúc khó tả được trào dâng trong lòng tác giả khi đứng trước linh cữu của Bác, vừa thương yêu, vừa xót xa, tiếc nuối. Thể thơ 7 chữ như được đong đầy: “Con vẫn biết trời xanh là mãi mãi, nhưng sao vẫn nghe nhói ở trong tim?” Câu thơ ngắn, rộng mà trầm lắng, lại thổn thức, nghẹn ngào trong tim – đó là những giọt nước mắt nghẹn ngào, bồi hổi khi viếng Bác. Hình ảnh tả Bác là hình ảnh tả thực: Bác đang nằm trong quan tài, trong một giấc ngủ bình yên, phải chăng đây là lần đầu tiên sau 79 năm, Bác mới có một giấc ngủ bình yên nhất trong cuộc đời của Người. Nếu hai câu thơ đầu là diễn tả hình ảnh thực thì đến hai câu thơ cuối lại mang ý nghĩa ẩn dụ: trời xanh chính là Bác – dù biết Bác đã ra đi mãi mãi nhưng những hình ảnh về Bác vẫn sẽ sáng mãi ở trong tim mỗi con người Việt Nam. Nhưng sao đến giờ chúng ta vẫn không chấp nhận được sự thật rằng Bác đã ra đi mãi mãi. Đó là nỗi đâu buốt từ tận sâu trong tim, tình cảm của một đứa con với một người Cha đã ra đi mãi mãi. Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này” Cho đến bây giờ, thì những giọt nước mắt không thể kiềm chế được nữa, đó chính là những giọt nước mắt vỡ òa trên khuôn mặt của tác giả. Lời tâm sự đó, những giọt nước mắt đó là những giọt nước mắt của một người đàn ông, của một nhà thơ và hơn thế nữa đó còn là những giọt nước mắt của một người chiến sĩ. Tất cả những hình ảnh đó đã tạo nên những câu thơ cầu khiến đầy sức gợi. Điệp từ “muốn làm” như một hình ảnh gợi lên ước vọng của nhà thơ. Những ước vọng đó của nhà thơ đều là những hình ảnh bình dị, khiêm nhường mà cháy bỏng khi muốn hóa thân thành con chim, thành đóa hoa và thành cây tre để có thể được mãi ở bên cạnh Bác, bảo vệ cho giấc ngủ của Bác. Bước chân đi mà lòng lại không thể muốn – đây là khổ thơ tạo nên sự xúc động nghẹn ngào của tác giả. Khép lại bài thơ mà từ ngữ như vẫn còn vang vọng đâu đây. Đây được coi là một trong những bài thơ hay nhất không chỉ đối với tác giả mà còn đối với những người dân của đất nước Việt Nam. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài Viếng lăng bác của Viễn phương
1,587
Đề bài: Phân Tích Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác Của Phan Bội Châu Bài làm Trong số những chiến sĩ cách mạng kiên cường ba mươi năm đầu thế kỉ hai mươi, ta không thể không nhắc đến Phan Bội Châu, người mà theo như Hoài Thanh là có “một tấm lòng yêu nước thiết tha,sôi nổi…từ tuổi ấu thơ cho đến ngày tắt thở”. Vì tình yêu ấy ông đã “từ giã bạn bè ra đi,bỏ vợ,bỏ con ra đi” để làm cách mạng. Và trên chặng đường ấy,có lúc ông gặp cảnh tù đày. Nhưng với ông,tù đày chỉ là chốn nghỉ chân trong chốc lát. Bởi thế năm 1913,khi bị bắt giam tại Quảng Đông (Trung Quốc),ông đã viết bài thơ “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác”. Cho đến ngày nay, tác phẩm vẫn còn giữ nguyên được giá trị của nó. Phan Bội Châu xuất thân Nho học song lại là người có tinh thần tiên tiến,bắt nhịp với thời đại mới. Cái chí khí “giàu sang không thể làm cho mê đắm, nghèo khó không thể làm cho thay lòng đổi dạ,uy vũ không thể làm cho khuất phục” của một nho gia đã biến thành bản lĩnh vững vàng, thành cốt cách anh hùng trước cơn tai biến nguy nan của một chí sĩ cách mạng. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Phan Bội Châu chịu không ít gian khổ,cay đắng. Khi thì bị trục xuất khỏi Nhật, lúc bị truy lùng săn đuổi ở Xiêm La và nay là cảnh lao tù trong nhà ngục của bọn quân phiệt Quảng Đông. Đối với cụ Phan,bước chân vào nhà tù đồng nghĩa với việc cận kề cái chết. Bởi trước đó, chính quyền thực dân Pháp đã kết án tử hình cụ. Tuy nhiên,bài thơ không hề có chút bi quan,tuyệt vọng,mà ngược lại, bao trùm lên đó là một âm hưởng hào hùng. Âm hưởng ấy được tạo nên bởi cảm xúc trữ tình cách mạng mãnh liệt. Trước hết,chúng ta hãy cùng nhau đọc lại bài thơ để cảm nhận được cái hào khí của một bậc anh hùng hào kiệt: “Vẫn là hào kiệt,vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Đã khách không nhà trong bốn biển, Lại người có tội giữa năm châu. Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, Thân ấy vẫn còn,còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu” Tám câu thất ngôn bát cú Đường luật giản dị,tự nhiên mà hàm chứa thật nhiều ý nghĩa. Càng đọc bài thơ, ta càng cảm phục tư thế lẫm liệt của người cách mạng lúc sa cơ lỡ bước lâm vào cảnh tù ngục hiểm nghèo. Bài thơ mở đầu bằng hai câu thơ với khẩu khí rất ngang tàng,ngạo nghễ: “Vẫn là hào kiệt,vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì hãy ở tù”. Ta nghe như trong câu thơ có tiếng cười của một con người coi thường mọi gông cùm,xiềng xích,coi nhà tù của bọn đế quốc chỉ là nơi tạm nghỉ,tạm dừng chân trên con đường cách mạng của mình. Với tư thế của một con người không bị trói buộc bởi gông cùm,ở cụ Phan toát lên một phong thái ung dung,thanh thản,đường hoàng,tự tin. Phong thái ấy chỉ có thể có ở những con người biết làm chủ hoàn cảnh. Con người ấy có quyền ngẩng cao đầu kiêu hãnh tự khẳng định mình: “Vẫn là hào kiệt,vẫn phong lưu”. Sau gần mười năm bôn ba hải ngoại,tìm đường cứu nước (1905-1913),Phan Bội Châu lúc hoạt động ở Nhật,lúc sang Thái Lan, lúc ở Trung Quốc. Bốn tiếng “thì hãy ở tù” vừa là chấp nhận cảnh ngộ tù đày, vừa là một sự thách đố, thể hiện một thái độ rất bình tĩnh,rất chủ động trước tai ương, hoạn nạn. Hai câu đề biểu thị cốt cách kẻ sĩ anh hùng. Từ giọng ngang tàng, ngạo nghễ ở hai câu đề,bài thơ chuyển sang giọng trầm ở hai câu thực. Mạch cảm xúc trữ tình có pha chút chua xót,cay đắng: “Đã khách không nhà trong bốn biển Lại người có tội giữa năm châu”. Hai câu thực nói về cuộc đời người chí sĩ cách mạng: phải xa gia đình,quê hương đất nước,bôn ba hải ngoại,phải nếm trải mọi thử thách gian truân,chịu cảnh tù tội. Câu thơ giúp ta hình dung ra cuộc đời bôn ba chiến đấu đầy sóng gió, hiểm nguy mà cụ Phan từng nếm trải. Nhưng tại sao lại là “khách không nhà trong bốn biển”? Mười năm trời lênh đênh lưu lạc thì làm gì có nhà. Vả lại nước đã mất thì nhà cũng tan. Tình cảnh của nhà cách mạng yêu nước quả thật là một bi kịch lớn,khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi. Một người yêu nước sâu sắc và mạnh mẽ như cụ Phan, thương xót đồng bào hơn cả bản thân mà bỗng trở thành người có tội,bị săn đuổi,truy lùng và kết án tử hình. Đối với bọn đế quốc thực dân,những ai yêu nước,muốn cứu nước,cứu dân tộc đều bị coi là “có tội”. Cái “tội” đó chúng không chỉ gán riêng cho cụ Phan mà còn có bao nhà cách mạng khác như Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc…cũng bị lâm vào hoàn cảnh này. Đọc hai câu thơ, ta bỗng thấy tầm vóc của nhà tù yêu nước trở nên lớn lao,phi thường. Như vậy,đằng sau bi kịch riêng của những chí sĩ cách mạng là bi kịch của cả dân tộc, là tình cảnh thương tâm của cả một đất nước. Nỗi đau của cụ Phan không còn là nỗi đau riêng mà trở thành nỗi đau lớn lao của cả dân tộc. “Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế Mở miệng cười tan cuộc oán thù”. Hai câu thơ đối nhau,ngôn ngữ trang trọng diễn tả một chí khí hiên ngang,một chí lớn phi thường của người anh hùng muốn làm nên sự nghiệp vĩ đại. “Bủa tay”,”ôm chặt” nói lên một tư thế hào hùng,một quyết tâm không gì lay chuyển nổi,một lý tưởng sáng ngời: giúp đời cứu nước! “Cuộc oán thù” là cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước. Hai chữ “cười tan” thể hiện một ý chí,nung nấu căm thù. Giọng thơ hào hùng. Thủ pháp nghệ thuật được sử dụng đặc sắc: hình ảnh kì vĩ,các động từ gợi tả mạnh mẽ (ôm chặt,cười tan) đã dựng lên hình ảnh một đấng nam nhi,một trang anh hùng,một bậc trượng phu hào kiệt dù bị giam trong tù ngục nhưng vẫn lạc quan,bất khuất. Hai câu luận đã bày tỏ được khát vọng mãnh liệt mà cụ Phan từng ôm ấp: khát vọng kinh bang tế thế. Hình ảnh thơ có tính chất lãng mạn kiểu anh hùng ca khiến nhân vật trữ tình dường như không còn là con người thật,con người nhỏ bé bình thường trong vũ trụ nữa mà vụt lớn lên,từ tầm vóc đến năng lực đều trở nên hết sức lớn lao. “Thân ấy vẫn còn,còn sự nghiệp Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu”. Đang bị gông cùm trong tù ngục nguy hiểm,nay mai phải bước ra pháp trường,”bao nhiêu nguy hiểm” máu chảy đầu rơi,thịt nát xương tan nhưng với cụ Phan thì “sợ gì đâu”. Trước vòng nguy hiểm cụ vẫn hiên ngang,thách thức, vẫn bất khuất,kiên cường. Một lần nữa ta cảm nhận được tư thế hiên ngang của con người đứng cao hơn cái chết. Lời thơ dõng dạc,dứt khoát như chính ý chí gang thép của người tù cách mạng. Kẻ thù có thể giam cầm,đọa đày, sát hại những người yêu nước nhưng niềm tin sắt son và ý chí chiến đấu của họ thì chúng không bao giờ khuất phục được. Phan Bội Châu đã thể hiện một tâm thế “uy vũ bất năng khuất” của nhà cách mạng chân chính. Cả bài thơ toát lên một tinh thần bất khuất,một tư thế vững vàng của một bậc trượng phu trong cơn sóng gió. Truyền thống yêu nước,chí khí anh hùng của dân tộc đang tiếp tục mạch chảy bất tận trong tâm huyết chí sĩ Phan Bội Châu. Hình ảnh người anh hùng đã tạc vào lịch sử như một minh chứng cho tinh thần yêu nước,xả thân vì lý tưởng chính nghĩa. Bài thơ khép lại mà âm hưởng hào hùng của nó như còn ngân vang mãi trong lòng độc giả. Càng đọc bài thơ,ta càng xúc động bởi nguồn cảm xúc trữ tình mãnh liệt của tác giả đã truyền sang ta. “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” mãi là viên ngọc quý trong thơ văn Phan Bội Châu nói riêng và là một khúc tráng ca anh hùng của nền thơ văn yêu nước cách mạng Việt Nam.
Phân Tích Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác Của Phan Bội Châu
1,467