text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến
Hướng dẫn
Phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến
Bài làm
Một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc, đó chính là bài thơ Tây Tiến. Đây là bài thơ tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Bài thơ mang bút pháp lãng mạn, nhưng cũng đầy phong độ hào hùng của một nhà thơ chiến sĩ cách mạng, được trích trong tập “ Mây đầu ô” của tác nhà thơ Quang Dũng.
Đọc Tây tiến, ta có thể thấy cảm hứng lãng mạn của bài thơ thể hiện ở cái tôi đầy cảm xúc của tác giả. Cái tôi phát huy cao độ trí tưởng tượng, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thương, tạo ấn tượng mạnh mẽ về sự hùng vĩ và tuyệt mỹ. Đây chính là cái tôi, cái tài hoa của Quang Dũng. Và đây cũng chính là dòng cảm hứng xuyên suốt bài thơ, đọng lại trong tâm trí người đọc những âm vang về con người và thiên nhiên Tây Bắc, một khung cảnh hiện lên thật trữ tình và nên thơ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường lát hoa về trong đêm hơi
Những câu thơ vang vọng, ngỡ như là tiếng nói, tiếng lòng, nỗi nhớ của tác giả với tình yêu canh cánh về mảnh đất ấy. Chỉ một chữ “ ơi” nhưng nặng tựa nghìn non, khiến cho câu thơ như đang chùng xuống. Sự hùng vĩ, nên thơ của núi rừng Tây Bắc hiện lên trong tâm trí qua từng câu chữ. Có lẽ thiên nhiên, đất trời nơi đây đã hòa quyện trong nỗi nhớ da diết của chính tác giả. Và bằng cảm hứng lãng mạn như vậy, nhà thơ Quang Dũng đã vẽ nên một bức tranh hùng tráng của vùng rừng núi Tây Bắc:
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Quang Dũng đã vẽ lên một bức tranh hùng tráng, hiểm trở và khúc khuỷu của vùng rừng núi Tây Bắc. Hai từ láy khúc khuỷu và thăm thẳm được tác giả đặt cạnh nhau, như một dụng ý nghệ thuật để tôn lên vẻ đẹp không nơi nào có được của vùng Tây Bắc. Không chỉ vậy, hình ảnh “ súng ngửi trời” rất có sức nặng trong đoạn thơ, vừa mang ý nghĩa lãng mạn, lại gợi lên sự hùng vĩ của thiên nhiên. Sự kết hợp vô cùng hoàn hảo. Giữa lúc chiến tranh ác liệt, nhưng tinh thần lãng mạn của những người chiến sĩ vẫn luôn tràn đầy sục sôi.
Hình ảnh trùng trùng điệp điệp, tuyệt đẹp của dòng thác chảy nơi sườn núi khiến người đọc lạc vào thế giới khác. Câu thơ như bị bẻ đôi thành hai mảnh, lắng đọng trong lòng người đọc sự bình yên, lãng mạn nhất. Những mệt mỏi, đau thương của người lính như tiêu tan đi mất khi nhìn cảnh thiên nhiên ở đằng xa.
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người.
Hai câu thơ cũng thể hiện sự hùng hồn, bi tráng của bài thơ. Tác giả dùng hai từ láy “ chiều chiều” và “ đêm đêm” để chỉ thời gian, gợi ra một không gian sâu lắng với âm thanh dữ tợn của núi rừng.
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi,.
Cuộc sống sinh hoạt của người dân nơi đây hiện lên như một bức tranh tuyệt đẹp, nên thơ và trữ tình.
Đêm trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
Ở đoạn thơ tiếp theo này, khung cảnh hùng tráng của bài thơ có lẽ đã nhường chỗ cho không gian nên thơ, tuyệt đẹp nơi đây. Không gian bỗng như sáng bừng lên với từ “ bừng”. Giữa cuộc sống khó khăn, vất vả, nhưng tình yêu của người dân miền núi dành cho những chiến sĩ lại vô cùng chân thực.
Quang Dũng đã phác họa vô cùng thành công bức tranh hùng tráng, trữ tình. Mặc dù con đường chiến đấu còn rất gian nan, nhưng những người chiến sĩ vẫn luôn giữ được sự yêu đời, lạc quan ở trong trái tim:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Bốn câu thơ tưởng đơn giản nhưng đã lột tả được tất thảy sự dũng cảm, hy sinh, cũng như tình yêu và tinh thần quyết tâm cống hiến cho nước nhà của người lính. Cho dù có khó khăn gian khổ đến thế nào, nhưng ở trong trái tim họ vẫn tràn đầy mộng mơ. Chiến tranh, chết chóc, đau thương, nhưng bức tranh hiện lên trong thơ Quang Dũng không hề đau đớn, bi lụy. Đây chính là tinh thần đáng quý của người lính cụ Hồ.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | Phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến | 868 | |
Đề bài: Phân tích cảm hứng về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Bài làm
Đoạn Đất Nước trích gần chọn chương V của trường ca Mặt đường khát Vọng, thể hiện khá tập trung những cảm nhận sâu sắc và có phần mới mẻ về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Nếu không đọc kĩ trọn vẹn trường ca Mặt đường khát vọng dễ nhầm tưởng rằng dường như chương V này không đề cập trực tiếp đến các vấn đề của thanh niên trí thức miền Nam, không nói đến hiện thực sôi động trong cuộc chiến đấu trong các thành thị miền Nam thời Mỹ Nguỵ, do đó nó không thật gắn bó chặt chẽ với toàn bộ tác phẩm. Song, thực ra chương này lại là hạt nhân quan trọng nhất của tác phẩm: Sự ý thức về đất nước, về nhân dân đã dẫn đến sự ý thức về trách nhiệm của thế hệ trẻ, cuộc chiến trạnh oanh liệt vì đất nước, vì nhân dân.
Trong văn học Việt Nam, đất nước vốn là một đề tài lớn. Điều đó có thể giải thích bằng đặc điểm quá trình lịch sử đấu tranh sinh tồn của dân lộc. Trải qua hàng ngàn năm phải liên tục chiến đấu gìn giữ đất nước, hơn ai hết, người Việt Nam luôn luôn gắn bó sâu nặng với đất nước, với đồng bào. Trong văn học viết thời phong kiến đã có những kiệt tác viết về đất nước như bài thơ Thần của Lí Thường Kiệt, Bài cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi. Từ sau Cách mạng Tháng Tám, để tài này thường xuyên suất hiện trong văn học: Nguyễn Đình Thi viết bài Đất nước nổi tiếng chủ yếu thời kì chống Pháp. Cùng thế hệ với Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh… đều có những tác phẩm thể hiện đề tài đất nước, ở đề tài này, các tác giả ghi nhận những thành công nhất định. Nhưng đoạn trích Đất Nước nói riêng, và trường ca Mặt đường khát vọng nói chung vẫn chiếm được cảm tình của người đọc bởi nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho đề tài này một số nội dung có phần mới mẻ và một cách phô diễn khá độc đáo, hấp dẫn, không giông bất kì cây bút nào đi trước.
Phân tích cảm hứng về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu thật bình dị. Dưới cách nhìn và cảm nhận của nhà thơ trẻ (khi viết trường ca này Nguyễn Khoa Điềm mới 28 tuổi, nhưng có học vấn cử nhân văn khoa), đất nước là những gì vô cùng gần gũi, binh dị, gắn bó thật sâu nặng với mỗi con người, mỗi gia đình. Đất nước hiện diện từng giây, từng phút trong cuộc sống thường nhật vừa là trừu tượng, song lại hết sức cụ thể đối với từng thành viên. Theo tác giả, đất nước không có gì xa lạ. Đất nước có trong những câu chuyện mà mỗi bà mẹ thường kể cho con nghe hay bắt đầu bằng câu "Ngày xửa ngày xưa…". Đất nước còn là tập quán lưu giữ từ ngàn đời nay, biểu hiện ở miếng trầu bà ta vẫn ăn, hay thói quen "bới tóc sau đầu" của mẹ. Đất nước còn là mối quan hệ thuỷ chung son sắt giữa người với người cùng sống trên dải đất Việt Nam này. Điều ấy, trước hết được chứng minh bằng quan hệ bền vững trước sau của mẹ với cha của vợ với chồng. Trong căn nhà đơn sơ, bao thế hệ người Việt Nam đã sinh con đẻ cái, cần mẫn, lam lũ sớm trưa không bao giờ thiếu mái rạ, cây tre. Trong nhà rất đỗi quen thân ấy, không thể thiếu cái kèo, cái cột… Đây cũng chính là đất nước!
Cái mới lạ, sức hấp dẫn ở đoạn thơ này chính là cách nói hết sức bình dị của nhà thơ. Điều này đã khơi dậy trong tiềm thức sâu xa của người đọc những kỉ niệm, những ấn lượng về một quê hương Việt Nam, con người Việi Nam quen thuộc gần gũi mà bất kì một người đọc nào cũng đã từng chứng kiến, khiến họ không khỏi bồi hồi xao xuyến nhận ra: Trong đất nước có một phần máu thịt của mình.
Tiếp tục mạch cảm hứng ở khổ đầu, đến khổ thơ tiếp theo, nhiều khi Nguyễn Khoa Điềm tách riêng hai yếu tố đất và nước. Đất nước chính là sự hợp thành hai yếu tố đất và nước. Nó luôn gần gũi với cuộc sống mỗi người:
Đất là nơi anh đến trường,
Nước là nơi em tắm,
Đất Nước là nơi ta hò hẹn,
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc
Nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi
Tiếp theo, nhà thơ cảm nhận đất nước qua độ dài vô tận của "thời gian đằng đẵng" lẫn độ dài vô tận của "không gian mênh mông". Và thời gian không chỉ dài mà điều quan trọng hơn là trên nền thời gian ấy đã có bao biến thiên lịch sử vừa chân thực vừa phảng phất chất huyền thoại. Đồng bào ta vẫn tự hào là con Rồng cháu Tiên, cha là Lạc Long Quân và mẹ là bà Âu Cơ. Như vậy thời gian chủ yếu được cảm nhận trong chiều sâu của lịch sử hình thành và phát triển của đất nước, của dân tộc. Không gian vừa là núi cao sông rộng, muôn trùng núi bạc, bát ngát biển khơi, lại vừa là nơi sinh sống của bao nhiêu người Việt Nam từ thế hệ này qua thế hệ khác:
Những ai đã khuất,
Những ai bây giờ,
Yêu nhau và sinh con đẻ cái,
Gánh vác phần người đi trước để lại,
Dặn dò con cháu mai sau,
Hàng năm ăn đâu nằm đâu,
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
Đất nước gắn bó thân thiết với mỗi con người, khi tuổi ấu thơ ("Đất là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm") cũng như khi ta lớn hơn bước vào đời ("Yêu nhau và sinh con đẻ cái")
Bởi vậy, như một tất yếu, mỗi thành viên phải có nghĩa vụ đối với đất nước này. Nhờ sự dắt dẫn ở phần trên, nhờ xúc cảm chân thành, lời nhắn nhủ có vẻ như là "hô khẩu hiệu" của tác giả, ở phần sau được người đọc chấp nhận một cách khá tự nhiên, rất ít có cảm giác sống sượng:
Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình.
Phải biết gắn bó và san sẻ,
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở.
Làm nên Đất Nước muôn đời…
Như vậy, đất nước được cảm nhận một cách khá phong phú, có sự kết hợp hài hoà trên nhiều lĩnh vực: những phong tục lâu đời, những truyền thống văn hoá, giữa không gian và thời gian, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái to lớn hùng vĩ với những sinh hoạt thường nhật của mỗi một con người. Nếu một số tác phẩm trước đây, đất nước được biểu hiện bằng một giọng điệu trang trọng, uy nghi, chủ yếu với những hình ảnh lớn lao, thì ở Mặt đường khát vọng đất nước được thể hiện bằng những hình ảnh gần gũi với một giọng thơ thiết tha lắng đọng, ý thơ được phát triển một cách khá tự do, tự nhiên: nhưng đoạn thơ vẫn đảm bảo được kết cấu hợp lí.
Điều đặc biệt đáng lưu ý là tác giả đã sử dụng một cách hết sức linh hoạt sáng tạo vốn hiểu biết phong phú về văn hoá dân gian. Chẳng hạn, muốn diễn đạt ý tưởng đất nước ta có từ lâu đời, tác giả cho người đọc liên tưởng đến kho tàng truyện cổ tích. Truyện cổ tích thường bắt đầu bằng lời kể Ngày xửa ngày xưa…. Tiếp đến nhà thơ giúp người đọc nhớ đến truyện Trầu cau bất hủ bằng câu: “ Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn". Và mấy ai không nghĩ đến truyền thuyết Thánh Gióng, khi đọc câu thơ "Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”. Còn câu "Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” chính là sự vận dụng tuyệt vời câu ca dao từng làm rung động con tim bao người Việt Nam:
Tay nâng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau.
cũng có lúc tác giả trích nguyên văn một số câu dân ca:
Con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc
Con cá ngư ông móng nước biển khơi…
Cho dù chỉ sử dụng ý trong ca dao trong các truyện dân gian, hay là trích nguyên văn, nhìn chung Nguyễn Khoa Điềm đều tạo nên được những câu thơ mới, những ý thơ mới. Những ý thơ này gắn bó một cách khá chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn, đang nói chuyện "ngày xửa ngày xưa"… nhà thơ chuyển đột ngột đến chuyện bây giờ (Đất là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm). Rồi từ đó, tác giả lại dẫn người đọc vào thế giới xa xưa với dân ca và truyền thuyết ( truyện Sự tích trăm trứng, dân ca xứ Huế…)
Cách diễn đạt ấy khá khêu gợi trí tưởng tượng người đọc. Các yếu tố văn hoá dân gian đã góp phần không nhỏ biểu hiện tư tưởng cốt lõi của tác phẩm Đất Nước của nhân dân. Đồng thời nó tạo được ở người đọc ấn tượng sâu sắc về một đất nước Việt Nam phong phú, sống động lạ thường, muôn màu muôn vẻ, trải dài theo không gian và thời gian, gần gũi thân thiết với từng con người Việt Nam.
Ngày nay đọc lại đoạn trích này, chúng ta càng thấy rõ phần nào những cống hiến của Nguyễn Khoa Điểm đối với sự phát triển của thơ ca thời chống Mĩ. Sự dồi dào trong xúc cảm và chiều sâu trí tuệ đã khiến cho đoạn thơ có chất chính luận trên đây ít bị cũ kĩ theo thời gian, có phần tránh được số phận của một số bài thơ cùng thời. | Phân tích cảm hứng về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm | 1,751 | |
Phân tích Cảm xúc mùa thu của Đỗ Phủ
Hướng dẫn
Phân tích Cảm xúc mùa thu của Đỗ Phủ
Mùa thu là một đề tài quen thuộc trong thi ca xưa và nay, được yêu thích và khai thác bởi nhiều tác giả nhưng đề tài về mùa thu vẫn mang tính độc đáo, mới lạ thu hút nhiều ngòi bút hướng về nó. Cũng viết về mùa thu, nhà thơ Đỗ Phủ có bài thơ Cảm xúc mùa thu, đây là bài thơ thấm đượm được cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ được khéo léo ẩn sau cảnh sắc mùa thu xao động lòng người.
Thông qua bài thơ Cảm xúc mùa thu, tác giả Đỗ Phủ đã gợi ra trước mắt người đọc một bức tranh mùa thu tuyệt đẹp, những hình ảnh, màu sắc mùa thu hiện lên chân thực sau từng câu chữ. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú đường luật, việc lựa chọn thể thơ này phù hợp với những dãi bày, tâm sự thầm kín của tác giả.
Có thể nói cảm xúc xuyên suốt bài thơ đó chính là nỗi buồn- đây là nỗi buồn của một người con yêu nước khi phải chứng kiến cảnh loạn lạc, rối ren của đất nước. Qua những cảm xúc ấy ta cũng thấy được một con người dạt dào yêu thương của một người dân yêu nước, cùng một trái tim đầy nhạy cảm của thi nhân.
“Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
(Dịch:
Lác đác rừng phong hạt móc sa
Ngàn non hiu hắt khí thu lòa)
Trong bốn câu thơ đầu tiên, tác giả Đỗ Phủ đã gợi ra trước mắt người đọc khung cảnh mùa thu, dường như nhà thơ đã đặt điểm nhìn từ trên cao, nhờ vậy mà có thể phóng tầm mắt để bao trọn được toàn bộ cảnh sắc ở dưới mặt đất. Mùa thu nhẹ nhàng nhưng có thể gợi lên trong tâm trạng của chúng ta nhiều nỗi niềm khó diễn tả, đó là nỗi buồn man mác, là sự luyến tiếc của con người. Hình ảnh sắc đỏ của rừng phong li biệt kết hợp cùng với cái lạnh lẽo của tuyết khiến cho bài thơ thấm đượm một nỗi buồng khôn nguôi.
Hình ảnh của núi Vu Sơn, Vu Giáp càng tô đậm hơn sự lạnh lẽo và nỗi đau của li biệt.
“Giang san ba lãnh kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vẫn tiếp địa âm
(Dịch:
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa)
Khung cảnh mùa thu được Đỗ Phủ gợi ra đó là khung cảnh mùa thu đầy hoang sơ, có phần tiêu điều nhưng nó lại gợi lên cảm xúc say mê trong lòng người đọc. Nếu như hai câu thơ đầu nhà thơ đã lựa chọn điểm nhìn từ trên cao xuống để bao quát toàn bộ cảnh vật thì ở hai câu thơ này lại được tập trung miêu tả làm cho cảnh sắc, khung cảnh mùa thu hiện ra trước mắt người đọc vừa hoành tráng lại vừa dữ dội.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm
(Dịch:
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà)
Hoa cúc là một hình ảnh gắn liền với mùa thu, vì vậy mà trong bức tranh mùa thu, sự xuất hiện của hoa cúc không phải điều quá mới lạ. Điều đáng nói ở đây là cảm xúc của nhà thơ trước hình ảnh ấy, mỗi lần nhìn hoa cúc nở thì nhà thơ lại rơi lệ xót xa, qua câu thơ cũng thể hiện được tâm trạng sầu muộn của người lữ khách xa quê. Hình ảnh con thuyền cũng thật đặc biệt, đó không chỉ là hình ảnh gợi nhắc về gia đình, quê hương mà đây là phương tiện duy nhất có chở nỗi niềm yêu thương của nhà thơ về quê hương của mình.
“Hàn ý xứ xứ thôi đao xích
Bạch Đê thành cao cấp mộ châm”
(Dịch:
Lạnh lùng giục kẻ tay dao tay thước
Thành Bạch chày vang bóng ác tà)
Trong hai câu thơ cuối, âm thanh tiếng chày đập vải đã mangg đến cho không khí nơi biên ải xa xôi một thoáng vui nhưng đó không đủ để có thể xua đi nỗi buồn trong tâm hồn của người thi nhân. | Phân tích Cảm xúc mùa thu của Đỗ Phủ | 719 | |
Phân tích cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù
Hướng dẫn
Bài tập làm văn phân tích cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân lớp 11 bao gồm dàn ý phân tích cảnh cho chữ và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích cảnh cho chữ hay nhất.
Dàn ý phân tích cảnh cho chữ
1. Mở bài
– Có thể nói chủ đề của truyện ngắn Chữ người tử tù và vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao đã được bộc lộ sáng ngời trong cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục, bởi đây không đơn thuần là cảnh cho chữ, mà “đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp, cái cao thượng đối với sự phàm tục, sự nhơ bẩn, của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ”.
2. Thân bài
Chính Nguyễn Tuân đã viết trong truyện, cảnh cho chữ là ”một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Vì sao vậy? Bình thường thì nói không có cảnh cho chữ đẹp đẽ và trang nghiêm trong chốn tù ngục tăm tối và nhơ bẩn này. Nhưng ở đây lại có, bởi vì ở đây có sự chiến thắng của “thiên lương” con người. Và nhà văn, với nghệ thuật đặc tả tài tình, với thủ pháp tương phản sắc sảo, đã dựng lên những cảnh tượng đối lập để nêu bật ý nghĩa sâu xa và thâm thúy của sự chiến thắng đó.
a. Sự chiến thắng của ảnh sảng đối với bóng tối.
– Cảnh cho chữ diễn ra vào lúc đêm khuya trong nhà ngục. Nhà ngục vốn đã tối tăm, lại vào đêm khuya khoắt, càng dày đặc bóng tối. Nhưng “trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ” và “lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo”. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân đã miêu tả đến hai lần cái “ánh sáng đỏ rực”, cái “lửa đóm cháy rừng rực” đã xua tan và đẩy lùi cái bóng tối dày đặc trong phòng giam. Nhấn mạnh đến cái ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu ấy, rõ ràng đó là dụng ý nghệ thuật của nhà văn.
Ở đây, không chỉ là sự đối lập của ánh sáng và bóng tối theo ý nghĩa sắc màu vật lí, mà sâu xa hơn và khái quát hơn, đây là sự đối lập mang ý nghĩa nhân sinh của con người: ánh sáng của lương trí, thiên lương và bóng tối của tàn bạo, độc ác. Ánh sáng của thiên lương đã xua tan và đẩy lùi bóng tốì của tàn bạo chính tại nơi tù ngục này. Ánh sáng ấy đã khai tâm, đã cảm hóa con người lầm đường trở về với cuộc sống lương thiện.
b. Sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng đối với sự phàm tục, sự nhơ bẩn
– Sự phàm tục, sự nhơ bẩn ở đây được biểu thị rất rõ trong cảnh “một buồng chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”; còn cái đẹp, cái cao thượng lại được nói đến sâu sắc trong hai chi tiết mang ý nghĩa tượng trưng: màu trắng tinh của phiến lụa óng và mùi thơm từ châu mực bốc lên – điều dường như không thể có trong chốn tù ngục. Màu trắng của phiến lụa tượng trưng cho sự tinh khiết còn mùi thơm của thoi mực là hương thơm của tình người, tình đời.
Sự đốì lập nói trên đã nêu bật sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng đối với sự phàm tục, sự nhơ bẩn. Tâm hồn Huấn Cao bát ngát đến chừrig nào khi ông nói về mùi thơm của mực: “Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?…”. Thế là, không có nhà ngục nào tồn tại nữa, chẳng còn bóng tối, cũng chẳng còn mạng nhện, phân chuột, phân gián nữa. Chỉ còn lại sự thơm tho của mực, sự tinh khiết của lụa – nó là sự thơm tho và tinh khiết của thiên lương con người.
c. Sự chiến thắng của tỉnh thần bất khuất trước thải độ cam chịu nô lệ
– Đây là sự phối hợp giữa những con người trong cảnh cho chữ, và ở đây, ta thấy có sự thay bậc đổi ngôi: người tù lại như người làm chủ (đường hoàng, hiên ngang, ung dung, thanh thản); còn bọn quản lí nhà ngục lại khúm núm, sợ hãi và xúc động trước những lời khuyên dạy của tù nhân (viên quản ngục “khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ”, thầy thơ lại “run run bưng chậu mực”).
– Sự chiến thắng của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ đã được khắc họa đậm nét trong cảnh cho chữ và những con người trong cảnh ấy. Không còn là cảnh cho chữ bình thường mà là một cảnh thọ giáo thiêng liêng giữa ngựời cho chữ và người nhận chữ. Lời khuyên dạy đĩnh đạc của Huấn Cao có khác gì một chúc thư về lẽ sống trước khi ông đi vào cõi bất tử. Và lời khuyên đầy tình người ấy đã có sức mạnh cảm hóa một tâm hồn bấy lâu vẫn cam chịu nô lệ, một con người lầm đường trở về với cuộc sống lương thiện. Câu nói nghẹn ngào trong nước mắt của viên quản ngục đã nêu bật sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện, của thiên lương con người: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
3. Kết bài
– Tóm tắt lại những sự chiến thắng trong cảnh cho chữ đã phân tích trên đây.
– Ý nghĩa nhân văn và giá trị nhân đạo gâu sắc của sự chiến thắng đó (lúc bấy giờ và bây giờ).
Bài văn mẫu phân tích cảnh cho chữ
Phân tích cảnh cho chữ – bài 1
Khi nhắc tới lối văn chương luôn khát khao hướng tới chân-thiện-mĩ, người ta thường nhắc tới Nguyễn Tuân – một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông được đánh giá là một trong những cây bút tài hoa nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Trong các sáng tác của Nguyễn Tuân, các nhân vật thường được miêu tả, nhìn nhận như một nghệ sĩ. Và tác phẩm “Chữ người tử tù” cũng được xây dựng bằng cách nhìn nhận như vậy. Bên cạnh đó, nhà văn đã khéo léo sáng tạo lên một tình huống truyện vô cùng độc đáo. Đó là cảnh cho chữ trong nhà giam là phần đặc sắc nhất của thiên truyện này “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.
Đoạn cho chữ nằm ở phần cuối tác phẩm ở vị trí này tình huống truyện được đẩy lên đến đỉnh điểm vì viên quản ngục bỗng nhận được công văn về việc xử tử những tên phản loạn, trong đó có Huấn Cao. Do vậy cảnh cho chữ có ý nghĩa cởi nút, giải tỏa những băn khoăn, chờ đợi nơi người đọc, từ đó toát lên những giá trị lớn lao của tác phẩm.
Sau khi nhận được công văn, viên quản ngục đã giãi bày tâm sự của mình với thầy thơ lại. Nghe xong truyện, thầy thơ lại đã chạy xuống buồng giam Huấn Cao để kể rõ nỗi lòng viên quản ngục. Và đêm hôm đó, trong một buồng tối chật hẹp với ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu, “ một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” đang diễn ra. Thông thường để sáng tạo nghệ thuật người ta thường tìm đến những nơi có không gian đẹp, thoáng đãng, yên tĩnh. Nhưng trong một không gian chứa đầy bóng tối, nhơ bẩn chốn ngục tù thì việc sáng tạo nghệ thuật vẫn xảy ra. Thời gian ở đây cũng gợi cho ta tình cảnh của người tử tù. Đây có lẽ là đêm cuối của người tử tù-người cho chữ và cũng chính là giờ phút cuối cùng của Huấn Cao. Và trong hoàn cảnh ấy thì “ một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng” vẫn ung dung, đĩnh đạc “dậm tô nét chữ trên tấm lụa trăng tinh”. Trong khi ấy, viên quản ngục và thầy thơ lại thì khúm lúm chuyển động.ở đây cho thấy dường như trật tự xã hội đang bị đảo lộn. Viên quản ngục đáng nhẽ phải hô hào, răn đe kẻ tù tội. Thế nhưng trong cảnh tượng này thì tù nhân lại trở thành người răn dạy, ban phát cái đẹp.
Đây quả thực là một cuộc gặp gỡ xưa nay chưa từng có giữa Huấn Cao người có tài viết chữ nhanh, đẹp và viên quản ngục, thầy thơ lại những người thích chơi chữ. Họ đã gặp nhau trong hoàn cảnh thật đặc biệt: một bên là kẻ phản nghịch phải lĩnh án tử hình( Huấn Cao) và một bên là những người thực thi pháp luật. Trên bình diện xã hội, họ ở hai phía đối lập nhau nhưng xét trên bình diện nghệ thuật họ lại là tri âm, tri kỉ của nhau. Vì thế mà thật là chua xót vì đây là lần đầu tiên nhưng cũng là lần cuối cùng ba con người ấy gặp nhau. Hơn thế nữa, họ gặp nhau với con người thật, ước muốn thật của mình. Trong đoạn văn, nhà văn đã sử dụng sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối làm câu chuyện cũng vận động theo sự vận động của ánh sáng và bóng tối. Cái hỗn độn, xô bồ của nhà giam với cái thanh khiết của nền lụa trắng và những nét chữ đẹp đẽ. Nhà văn đã làm nổi bật hình ảnh của Huấn Cao, tô đậm sự vươn lên thắng thế của ánh sáng so với bóng tối, cái đẹp so với cái xấu và cái thiện so với cái ác. Vào lúc ấy, từ một quan hệ đối nghịch kì lạ: ngọn lửa của chính nghĩa bùng cháy ở chốn ngục tù tối tăm, cái đẹp được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn… ở đây, Nguyễn Tuân đã nêu bật chủ đề của tác phẩm: Cái đẹp chiến thắng cái xấu xa, thiên lương chiến thắng tội ác. Đó là sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện đầy ấn tượng.
Sau khi cho chữ xong, Huấn Cao đã khuyên quản ngục từ bỏ chốn ngục tù nhơ bẩn: “đổi chỗ ở” để có thể tiếp tục sở nguyện cao ý. Muốn chơi chữ phải giữ được thiên lương. Trong môi trường của cái ác, cái đẹp khó có thể bền vững. Cái đẹp có thể nảy sinh từ chốn tối tăm, nhơ bẩn, từ môi trường của cái ác (cho chữ trong tù) nhưng không thể chung sống với cái ác. Nguyễn Tuân nhắc đến thú chơi chữ là môn nghệ thuật đòi hỏi sự cảm nhận không chỉ bằng thị giác mà còn cảm nhận bằng tâm hồn. Người ta thưởng thức chữ không mấy ai thấy, cảm nhận mùi thơm của mực. Hãy biết tìm trong mực trong chữ hương vị của thiên lương. Cái gốc của chữ chính là cái thiện và chơi chữ chính là thể hiện cách sống có văn hóa.
Trước lời khuyên của người tử tù, viên quản nguc xúc động “ vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng nghẹn ngào: Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Bằng sức mạnh của một nhân cách cao cả và tài năng xuất chúng, người tử tù đã hướng quản ngục đến một cuộc sống của cái thiện. Và trên con đường đến với cái chết Huấn Cao gieo mầm cuộc sống cho những người lầm đường. Trong khung cảnh đen tối của tù ngục, hình tượng Huấn Cao bỗng trở lên cao lớn là thường, vượt lên trên những cái dung tục thấp hèn của thế giới xung quanh. Đồng thời thể hiện một niềm tin vững chắc của con người: trong bất kì hoàn cảnh nào con người vẫn luôn khao khát hướng tới chân-thiện-mĩ.
Có ý kiến cho rằng: Nguyễn Tuân là nhà văn duy mĩ, tức là điều khiến ông quan tâm chỉ là cái đẹp, là nghệ thuật. Nhưng qua truyện ngắn “ Chữ người tử tù” mà đặc biệt là cảnh cho chữ ta càng thấy rằng nhận xét trên là hời hợt, thiếu chính xác. Đúng là trong truyện ngắn này, Nguyễn Tuân ca ngợi cái đẹp nhưng cái đẹp bao giờ cũng gắn với cái thiện, thiên lương con người. Quan điểm này đã bác bỏ định kiến về nghệ thuật trước cách mạng, Nguyễn Tuân là một nhà văn có tư tưởng duy mĩ, theo quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Bên cạnh đó, truyện còn ca ngời viên quản ngục và thầy thơ lại là những con người tuy sống trong môi trường độc ác xấu xa nhưng vẫn là những “thanh âm trong trẻo” biết hướng tới cái thiện. Qua đó còn thể hiện tấm lòng yêu nước, căm ghét bọn thống trị đương thời và thái độ trân trọng đối với những người có “thiên lương” trên cơ sở đạo lí truyền thống của nhà văn.
“Chữ người tử tù” là bài ca bi tráng, bất diệt về thiên lương, tài năng và nhân cách cao cả của con người. Hành động cho chữ của Huấn Cao, những dong chữ cuối cung của đời người có ý nghĩa truyền lại cái tài hoa trong sáng cho kẻ tri ân, tri kỉ hôm nay và mai sau. Nếu không có sự truyền lại này cái đẹp sẽ mai một. Đó cũng là tấm lòng muốn giữ gìn cái đẹp cho đời.
Bằng nhịp điệu chậm rãi, câu văn giàu hình ảnh gợi liên tưởng đến một đoạn phim quay chậm. Từng hình ảnh, từng động tác dần hiện lên dưới ngòi bút đậm chất điện ảnh của Nguyễn Tuân: một buồng tối chật hẹp…hình ảnh con người “ba cái đầu đang chăm chú trên một tấm lụa trắng tinh”, hình ảnh người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang viết chữ. Trình tự miêu tả cũng thể hiện tư tưởng một cách rõ nét: từ bóng tối đến ánh sáng, từ hôi hám nhơ bẩn đến cái đẹp. Ngôn ngữ, hình ảnh cổ kính cũng tạo không khí cho tác phẩm. Ngôn ngữ sử dụng nhiều từ hán việt để miêu tả đối tượng là thú chơi chữ. Tác giả đã “phục chế” cái cổ xưa bằng kĩ thuật hiện đại như bút pháp tả thực, phân tích tâm lí nhân vật ( văn học cổ nói chung không tả thực và phân tích tâm lí nhân vật)
Cảnh cho chữ trong “ Chữ người tử tù” đã kết tinh tài năng, sáng tạo và tư tưởng độc đáo của Nguyễn Tuân. Tác phẩm đã nói lên lòng ngưỡng vọng và tâm sự nuối tiếc đối với những con người có tài hoa, nghĩa khí và nhân cách cao thượng. Đan xen vào đó tác giả cũng kín đao bày tỏ cái đau xót chung cho cái đẹp chân chính, đích thực đang bị hủy hoại. Tác phẩm góp một tiếng nói đầy tính nhân bản: Dù cuộc đờicó đen tối vẫn còn có những tấm lòng tỏa sáng.
Phân tích cảnh cho chữ – bài 2
Nếu Xuân Diệu cả đời đi tìm một tình yêu đúng nghĩa thì Nguyễn Tuân lại dành cả đời mình để đi tìm cái đẹp. Ông tìm cái đẹp trong chính nét văn hoá cổ truyền của dân tộc: đó là chữ viết thư pháp. Tập truyện “Vang bóng một thời” đã thể hiện những hoài niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp ấy. Đặc biệt, trong tác phẩm “Chữ người tử tù” cái giá trị nghệ thuật cao quý truyền thống lại càng được tôn vinh và trân trọng. Truyện ngắn này tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám. Bật lên trong truyện là một cảnh tượng độc đáo “xưa nay chưa từng có”, thể hiện những giá trị lớn lao của tác phẩm: cảnh cho chữ.
Huấn Cao là một nguời tài hoa có tài viết chữ đẹp nhưng dám nổi dậy chống lại triều đình nên bị xem là một tên nghịch thần, bị bắt và bị kết án tử. Viên quản ngục vốn là một người say mê chữ đẹp. Hai con người gặp nhau trong một hoàn cảnh hết sức ngang trái: một bên là tử tù và một bên là quản ngục. Vốn hâm mộ tài viết chữ của Huấn Cao, Viên quản ngục đã tâm sự với thầy thơ lại và cùng thầy đến nhà giam bày tỏ nỗi lòng và xin Huấn Cao cho chữ. Huấn Cao vô cùng cảm mến tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” và thái độ chân thành của Viên quản ngục nên đã đồng ý cho chữ. Hoàn cảnh cho chữ được tác giả miêu tả một cách thật đặc biệt: “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã bày ra trong buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Đó là một đêm khuya vắng lặng chỉ có “tiếng mõ vọng canh”. Quang cảnh nhà tù, buồng giam dưới ngòi bút của nhà văn thật ảm đạm và nhơ bẩn. Không dừng lại ở đó, không gian ấy còn bị thu hẹp dần trở nên thật bé nhỏ, tù túng, chật hẹp. “Trong một không khí khói toả như cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên lân hồ. Khói bốc toả cay mắt”. Nhà tù lạnh lẽo, ẩm thấp bỗng dưng được sưởi ấm bằng “ánh sáng đỏ rực” của bó đuốc tẩm dầu. Nhà văn đã dùng thủ pháp tương phản để tạo ấn tượng về hoàn cảnh cho chữ. Nguyễn Tuân thật không hổ danh là một người nghệ sĩ tài hoa có con mắt tinh đời và tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy. Cảnh cho chữ diễn ra thật đẹp, chính lúc này, tài hoa mới thực sự toả sáng. “Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván”. Hình ảnh Huấn Cao hiện lên sao mà sắc sảo, tinh tế đến vậy? Người nghệ sĩ tài hoa không phải ở trong tư thế tự do mà phải mang vác nào gông, nào xiềng và đội cả án tử trên đầu. Một con người ngang tàng tung hoành trong xã hội dù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” vẫn say mê sáng tạo cái đẹp, bất kể ngày mai, khi trời sáng, cái chết đã cận kề. Huấn Cao dường như không phải đang viết mà là đang vẽ chữ, ông “dậm tô nét chữ” một cách ung dung, đĩnh đạc, không màng tất cả. Thông thường, sáng tạo nghệ thuật là một việc thanh cao cần được diễn ra ở những nơi trang trọng, thiêng liêng; nhưng không, lúc này đây, Huấn Cao lại đang viết chữ, cho chữ trong một căn buồng tối tăm, chật hẹp, nhơ nhớp. Thủ pháp tương phản lại một lần nữa được Nguyễn Tuân sử dụng một cách tài tình. Một bên là tử tù uy nghi, lồng lộng, một bên là quản ngục “khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…”. Những con người mâu thuẫn về giai cấp, lý tưởng lại bỗng dưng trở thành tri âm tri kỉ về tinh thần. Họ chụm đầu lại, cùng nhau say sưa sáng tạo cái đẹp và thưởng thức cái đẹp. Dường như giữa chốn ngục tù đầy rẫy những bạo tàn, bất công, phép tắc, kỉ cương đã bị đảo lộn, thế chủ động không còn nằm trong tay những kẻ uy quyền thống trị mà thuộc về người tử tù. Chính lúc này đây, cái đẹp đã thực sự toả ánh hào quang rực rỡ làm bừng sáng cả không gian. Thiên lương đang lấn dần, đẩy lùi bóng tối, vươn lên làm kim chỉ nam soi sáng cho những con người lầm đường, lạc bước. Huấn Cao từ tốn, chân thành: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người….Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái ghế này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Huấn Cao đã không còn giữ khoảng cách với Viên quản ngục, đã thực sự xem Viên quản ngục là tri âm tri kỉ nên mới có những lời khuyên dốc từ tận đáy lòng đến vậy. Không chỉ quan tâm, trân trọng thú chơi chữ thanh cao của Viên quản ngục mà Huấn Cao còn chú ý đến cả lọ mực mà Viên quản ngục đem đến. “Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?”. Câu nói nhẹ nhàng mà đầy tinh tế làm cái đẹp không chỉ có sắc mà còn có hương thơm ngát. Trong cái buồng giam chật hẹp, ẩm ướt, nhơ nhớp dường như chỉ còn lại mùi mực thơm tho – mùi của thiên lương trong sáng. Vẻ đẹp nhân cách của nhân vật Huấn Cao nói chung và lúc cho chữ nói riêng bỗng trở nên chói sáng, rực rỡ nhất trong cái đêm đen tối tăm, không lối thoát của xã hội.
Cảnh cho chữ đã khẳng định chiến thắng thuyết phục hoàn toàn của ánh sáng với bóng tối, của cái đẹp với cái xấu, cái cao thượng với cái tầm thường, của cái cao quý, thanh khiết với sự nhơ nhớp, bẩn thỉu, của cái thiện với cái ác. Đây thực sự là một bức tranh nghệ thuật sắc sảo nhằm tôn vinh cái đẹp, cái thiện và nhất là nhân cách cao cả của con người. Đúng như Dostoevsky từng phát biểu: “Cái đẹp đã lên ngôi thay thế cho cái xấu xa, thấp kém, cái đẹp nâng đỡ con người, cứu vớt con người”. Thông qua cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân còn thể hiện được tinh thần dân tộc, qua đó ý nhị bộc lộ một nỗi niềm yêu nước thầm kín. Tác giả như đau đớn cất lên khúc vãn ca cho một nét đẹp văn hoá truyền thống từng “Vang bóng một thời” bỗng lụi tàn bởi thời cuộc, bởi sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của một đại bộ phận người trong xã hội. Cái “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” đã trở thành nguồn cảm hứng mãnh liệt giúp Nguyễn Tuân vung tay múa chữ rất điệu nghệ. Ông thoả sức thể hiện tài năng ngôn ngữ của mình một cách sắc sảo, tuyệt đỉnh. Những lớp ngôn từ dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân thật đa dạng, phong phú tạo nên nét cổ kính, trang trọng cần và đủ, vừa sống động, vừa tinh tế. Mỗi con chữ đảm nhiệm một sức nặng riêng, có nhịp điệu riêng và giàu tính tạo hình, gợi cảm. Ngoài ra, nhà văn còn sử dụng rất thành công thủ pháp tương phản, đối lập. Bút pháp tả thực của tác giả cũng đạt đến một đỉnh cao nhất định. Cảnh cho chữ được tác giả miêu tả vừa ảm đạm, vừa hùng hồn khiến cả ba con người xuất hiện ở đó: Huấn Cao, Viên quản ngục, thầy thơ lại bỗng trở thành những hình tượng độc đáo, nổi bật. Tóm lại, cảnh cho chữ đã làm bật nồi được chủ đề của toàn bộ tác phẩm, khẳng định chân lý “cái đẹp cứu rỗi nhân loại” (Dostoevsky) và tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của tác giả. Bên cạnh đó, “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” còn cho thấy tài năng văn chương kiệt xuất của Nguyễn Tuân – một nhà văn có phong cách rất độc đáo, tài hoa và uyên bác. Đoạn văn thể hiện được vốn hiểu biết phong phú của ông về nét đẹp thư pháp – một nét đẹp văn hoá truyền thống dân tộc cần đựợc gìn giữ và duy trì.
Phân tích cảnh cho chữ – bài 3
Đoạn truyện ông Huấn Cao cho chữ là đoạn văn hay nhất trong truyện ngắn Chữ người tử tù. Bút pháp điêu luyện, sắc sảo khi dựng người, dựng cảnh, chi tiết nào cũng gợi cảm, gây ấn tượng.
Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám là một nhà văn duy mĩ. Ông yêu say đắm cái đẹp, ngợi ca cái đẹp, tôn thờ cái đẹp. Theo ông, mĩ (cái đẹp) là đỉnh cao của nhân cách con người. Ông săn lùng cái đẹp không tiếc công sức. Ông miêu tả cái đẹp bằng khi ngôn ngữ giàu có của riêng ông. Những nhân vật hiện lên trong tác phẩm của Nguyễn Tuân phải là hiện thân của cái đẹp. Đó là những con người tài hoa hoạt động trong những hoàn cảnh, môi trường đặc biệt, phi thường. Ông phát hiện, miêu tả cái đẹp bên ngoài và bên trong của nhân vật. Cái đẹp của ông bao gồm cái chân và thiện; ông lại còn kết hợp mĩ với dũng. Truyện ngắn Chữ người tử tù (1939) trong tập Vang bóng một thời là áng văn hay nhất, tiêu biểu nhất của Nguyễn Tuân. Giá trị tư tưởng và dụng công nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện chủ yếu trong đoạn văn tả một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, cảnh tượng một người tử tù cho chữ một viên cai ngục.
Ông Huấn Cao trong truyện Chữ người tử tù là một nho sĩ tài hoa của một đã qua nay chỉ còn vang bóng. Nguyễn Tuân đã dựa vào nguyên mẫu nhà nho giáo, một lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân là Cao Bá Quát, một con người hết sức tài hoa và dùng khí phi thường để sáng tạo ra nhân vật Huấn Cao (Cao là họ, Huấn là dạy). Cao Bá Quát trước khi trở thành lãnh tụ nông cùng là thầy giáo. Nguyễn Tuân đã dựa vào hai tính cách của nguyên mẫu xây dựng nhân vật Huấn Cao. Cao Bá Quát, người viết chữ đẹp nổi tiếng và khí phách lừng lẫy. Xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân vừa thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của ông lại vừa thỏa mãn tinh thần nổi loạn của ông đối với xả hội đen tối tàn bạo lúc bấy giờ.
Truyện có hai nhân vật chính, một là ông Huấn Cao có tài viết chữ đẹp, một nửa là viên quản ngục say mê chữ đẹp của ông Huấn, quyết tìm mọi cách để xin chữ treo trong nhà. Lão coi chữ của Huấn Cao như báu vật.
Họ đã gặp nhau trong tình huống oái ăm là nhà ngục. Người có tài viết chữ đẹp lại là một tên đại nghịch cầm đầu khởi nghĩa nông dân (triều đình gọi là nổi loạn, giặc) đang bị bắt giam chờ ngày thụ hình. Còn người mê chữ đẹp của ông Huấn Cao lại là một quản ngục đại diện cho cái trật tự xã hội ấy. Trên bình diện nghệ thuật họ là tri âm tri kỉ, trên bình diện xã hội họ ở hai vị tri đối lập. Tình huống của truyện có tính kịch. Từ tình huống đầy kịch tính ấy tính cách hai nhân vật được bộc lộ và tư tưởng chủ đề của truyện được thể hiện một cách sâu sắc.
Huấn Cao nói: Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thể mà ép mình viết câu đối bao giờ. Huấn Cao coi thường tiền bạc và uy quyền, nhưng Huấn Cao vui lòng cho chữ viên quản ngục vì con người sống giữa chốn bùn nhơ này, nơi người ta chỉ biết sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc lại có kẻ biết trọng người có nghĩa khí, biết tôn quý cái đẹp của chữ nghĩa ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Viên quản ngục cũng không dễ gì nhận được chữ của Huấn Cao. Hắn đã bị nghi ngờ, bị đuổi. Có lần hắn mon men vào ngục định làm quen và biệt đãi Huấn Cao để xin chữ thì lại bị Huấn Cao cự tuyệt: Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây. Về sau hiểu được tấm lòng của viên quản ngục, ông đã nói một lời sâu sắc và cảm động: thiếu chút nữa ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ.
Coi khinh cường quyền và tiền bạc, Huấn Cao chỉ trọng những tấm lòng biết quý cái đẹp, cái tài, có sở thích cao quý. Những con người ấy theo Huấn Cao là còn giữ được thiên lương. Ông khuyên viên quản ngục bỏ cái nghề nhơ bẩn của mình đi bởi ở đây khó giữ được thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi.
Huấn Cao còn đẹp ở khí phách. Ông là một người tử tù gần đến ngày tử hình vẫn giữ được tư thế hiên ngang, đúng là khí phách của một anh hùng Cao Bà Quát. Đêm hôm ấy, lúc trại giam Tính Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Tác giả cố ý miêu tả bằng cách tương phản giữa tính cách cao quý của Huấn Cao với cái dơ dáy, bẩn thỉu của nhà tù, một hình ảnh thu nhỏ của xã hội thời bấy giờ.
Vẻ đẹp rực rỡ của Huấn Cao hiện lên trong đêm viết chữ cho viên quản ngục. Chính trong tình tiết này, cái mĩ và cái dũng hòa hợp. Dưới ánh đuốc đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu, một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ trên phiến lụa óng. Hình ảnh người tử tù trở nên lồng lộng. Viên quản ngục và viên thơ lại trở nên nhỏ bé, bị động, khúm núm trước người tử tù.
Vì sao Nguyễn Tuân lại nói đây là một cảnh tượng xưa nay chưa tùng có?
Cảnh tượng này quả là lạ lùng, chưa từng có vì trò chơi chữ nghĩa thanh tao có phần đài các lại không diễn ra trong thư phòng, thư sảnh, mà lại diễn ra nơi ngục tối chật hẹp, bẩn thỉu, hôi hám. Cảnh tượng lạ lùng chưa từng thấy là hình ảnh tên tử tù cho chữ thì nổi bật lên uy nghi lộng lẫy, còn viên quản ngục và thơ lại, những kẻ đại diện cho xã hội đương thời thì lại khúm núm run rẩy.
Điều đó cho thấy rằng trong nhà tù tăm tối, hiện thân cho cái ác, cái tàn bạo đó, không phải cái ác, cái xấu đang thống trị mà chính cái đẹp, cái dũng, cái thiện, cái cao cả đang làm chủ. Với cảnh cho chữ này, cái nhà ngục tăm tối đã đổ sụp, bởi vì không còn kẻ phạm tội tử tù, không có quản ngục và thơ lại, chỉ có người nghệ sĩ tài hoa đang sáng tạo cái đẹp trước đôi mắt ngưỡng mộ sùng kính của những kẻ liên tài, tất cả đều thấm đẫm ánh sáng thuần khiết của cái đẹp, cái đẹp của thiên lương và khí phách. Cũng với cảnh này, người tử tù đang đi vào cõi bất tử. Sáng mai ông sẽ bị tử hình, nhưng những nét chữ vuông vắn, tươi đẹp hiện lên cái hoài bão tung hoành cả một đời của ông trên lụa bạch sẽ còn đó. Và nhất là lời khuyên của ông đối với tên quản ngục có thể coi là lời di huấn của ông về đạo lí làm người trong thời đại nhiễu nhương đó. Quan niệm của Nguyền Tuân là cái đẹp gắn liền với cái thiện. Người say mê cái đẹp trước hết phải là người có thiên lương. Cái đẹp của Nguyễn Tuân còn gắn với cái dũng. Hiện thân của cái đẹp là hình tượng Huấn Cao với khí phách lừng lẫy đã sáng rực cả trong đêm cho chữ trong nhà tù.
Bên cạnh hình tượng Huấn Cao lồng lộug, ta còn thấy một tấm lòng trong thiên hạ. Trong đêm cho chữ, hình ảnh viên quản ngục cũng cảm động. Đó là âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ. Cái tư thế khúm núm, giọng nói nghẹn ngào, cái cúi đầu xin bái lĩnh và cử chì run run bưng chậu mực không phải là sự quỵ lụy hèn hạ mà là thái độ chân thành khiến ta có cảm tình với con người đáng thương này.
Đoạn truyện ông Huấn Cao cho chữ là đoạn văn hay nhất trong truyện ngắn Chữ người tử tù. Bút pháp điêu luyện, sắc sảo khi dựng người, dựng cảnh, chi tiết nào cũng gợi cảm, gây ấn tượng. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân biến hóa, sáng tạo, có hồn, có nhịp điệu dư ba. Một không khí cổ kính trang nghiêm đầy xúc động, có phần bi tráng toát lên trong đoạn văn.
Chữ người tử tù không còn là chữ nữa, không chỉ là mĩ mà thôi, mà những nét chữ tươi tắn nó nói lên những bão tung hoành của một đời người. Đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối. Đấy là sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng, đối với sự phàm tục nhơ bẩn, cũng là sự chiến thắng của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ. Sự hòa hợp giữa mĩ và dũng trong hình tượng Huấn Cao là đỉnh cao nhân cách theo lí tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân, theo triết lí duy mĩ của Nguyễn Tuân.
Phân tích cảnh cho chữ – bài 4
Nguyễn Tuân là một trong năm tác gia lớn của nền văn học Việt Nam. Ông có đóng góp không nhỏ đối với nền văn học hiện đại. Suốt cả cuộc đời Nguyễn Tuân luôn khát khao đi tìm cái đẹp, cái tinh hoa của đất trời để sáng tạc nên những kiệt tác văn học độc đáo. Và tác phẩm “Chữ người tử tù” trích trong tập “Vang bóng một thời”của ông cũng chứa đụng những nết đẹp đó.
Từ xưa đến nay, chơi chữ được coi là một thú chơi tao nhã của những kẻ có học thức. Thú chơi chữ thể hiện được toàn bộ cái đẹp, cái tài năng và cả trí tuệ của người viết cũng như người thưởng thức. Cảnh cho chũ thường được diễn ra tại những nơi trang trọng, có đủ trăng hoa tuyết nguyệt để khơi nguồn cảm xúc. Rồi từ đó những nét chũ uyển chuyển mang trong nó cả cái hồn riêng được ra đời. Nhưng cũng những nét chữ uyển chuyển có hồn ấy, Nguyễn Tuân lại cho nó sinh ra trong một hoàn cảnh khác lạ, “một cảnh xưa nay hiếm”. Đó là cảnh cho chữ trong tác phẩm “Chữ ngươi tử tù” trích trong tập “Vang bóng một thời”.
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có đóng góp rất lớn cho nền văn học nước nhà đặc biệt là ở thể tùy bút. Nguyễn Tuân có nhiểu tác phẩm hay như: Một chuyến đi, Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi, sông Đà, Vang bóng môt thời,… Vang bóng một thời là một trong những tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Tuân, cũng là một trong những truyện ngắn hay nhất trong kho tàng văn học Việt Nam.
Truyện ngắn “Chữ người tử tù” ban đầu có tên là “dòng chữ cuối cùng”. Đây là tác phẩm kết tinh tài hoa của Nguyễn Tuân trước Cách Mạng và được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đánh giá là “một văn phẩm đạt gần tới sự hoàn thiện, toàn mĩ”. Nhân vất chính trong truyện ngắn này là Huấn Cao – một con người văn võ song toàn. Huấn Cao có tiếng là người có tài viết chữ Hán nhanh và đẹp. Ông không chỉ cái cái tài về nghệ thuật thư pháp mà còn có cái trí tuệ uyên bác. Từng nét chữ của ông ẩn chứa cả văn hóa, quan niệm về nhân thế. Người ta treo chữ ông trong nhà không chỉ để chiêm ngưỡng cái đẹp của bức thi họa, mà còn để ngẫm nghĩ những tư tưởng sâu sắc. Nhưng “tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo là một vật báu trên đời”. Không chủ có tài về nghệ thuật, ông Huấn còn là người có thiên lương. Tính ông chính trực, khẳng khái, không vì tiền bạc, quyền thế mà ép mình cho chữ bao giờ. Gặp hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm, khiến người đọc dễ dáng liên tưởng tới người thủ lĩnh tài ba văn vó phong toàn, người anh hùng dân tộc Cao Bá Quát. Được nhân dân ca tụng:
“Văn như Siêu Quát vô tiền Hán
Thi đảo Tùng Tuy thất thịnh Đường”.
Thật vậy, ngay lúc bước vào tù lao, vác trên vai cái gông lớn bằng gỗ lim, ông Huấn không những không mảy may run sợ trước lời quát nạt của tên lính áp giải mà vẫn lạnh lùng “thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái”. Lúc bị giam trong nhà lao, trước sự biệt nhỡn của viên quản nguc, ngày ngày đưa rượu thịt vào cho ông và các đồng chí, ông vẫn thản nhiên đón nhận và coi đó là “hứng sinh bình”, thậm chí ông còn coi khinh viên quản ngục, không muốn hắn bược vào buồng giam của ông thêm lần nào nữa.
Một con người có tài năng về nghệ thuật, có thiên lương cao đẹp, lại có khí phách ngang tàn và tính khoảnh như Huấn Cao tưởng chừng như sẽ không bao giờ chịu chấp nhận tặng chữ của mình cho viên quản ngục. Thế nhưng, khi hiểu ra nỗi lòng và sở thích cao quý của viên quản ngục, biết ông đã bất chấp cả tính mạng của mình vì thú vui cao quý, Huấn Cao đã thay đổi định kiến về một kẻ tiểu lại giữ tù như ông, ân hận vì thiếu chút nữa “đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” và quyết định tặng chữ cho ông. Chính lúc này, thiên lương của ông đã tự tỏa sáng, bên cạnh thứ ánh sáng đỏ rực của bó đuốc, tỏa sáng cả căn buồng giam chật hẹp ẩm thấp đầy phân rán phân chuột hôi hám. Trong chính cái đêm hôm ấy, cái đẹp đã lên ngôi. Từ một viên quản ngục hàng ngày khét tiếng tàn bạo giờ đây lại khúm núm. Một kẻ tử tù, “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” lại đĩnh đạc, làm chủ nơi ngục tù. Kẻ tử tù ấy dù bị giam hãm về thể xác nhưng nhân cách y lại tự do khác hẳn với kẻ tưởng chừng tự do nhưng lại bị trói buộc cả tâm hồn tại nơi ngục tù tăm tối, nơi cái ác ngự trị này. Nơi ngục tù tăm tối ấy, đêm nay lại diến ra “cảnh xưa nay chưa từng có”. Cảnh cho chữ – cho một vật báu trên đời lại được diễn ra tại nơi tối tăm chật hẹp. Cái ánh sáng của ngọn đuốc cháy đỏ rực xóa tan bóng đêm tăm tối. Mùi thơm từ chậu mức bốc lên xoa dịu đi mùi hôi tanh của căn phòng.
Trên tấm lụa bạch còn nguyên lần hồ, từng nét chữ vừa đẹp, vừa vuông của ông Huấn dần hiện ra. Vậy là cái đẹp có thể nảy sinh trên nền cái xấu, cái ác, cái tội lỗi nhưng không bao giờ sống chung với cái xấu, cái ác. Vì thế, sau khi cho chữ xong, Huấn Cao đã huyên viên quản ngục đổi nghề, đổi chỗ ở để giữ thiên lương cho lành vững, phải có thiên lương lành vững mới thưởng thức được cái đẹp. Cái thiên lương cao đẹp của ông Huấn cũng là sáng bừng cả thiên lương ẩn giấu của quản ngục. Hành động xin “bái lính” của y chính là sự chiến thắng của cái đẹp, sự thất bại tmar hại của cái xấu, cái ác. Cảnh cho chữ không diễn ra ở nơi có trăng hoa tuyết nguyêt mà lại ở trong căn buồng tăm tối chật hẹp. Nơi ngự trị của cái ác lại là nơi cái đẹp được “khai sinh”, thăng hoa. Toàn bộ bóng đêm tăm tối của ngục tù đã sụp đổ, chỉ còn lại vẻ đẹp thuần thiết của khí phách của thiên lương. Người tử tù dù ngày mai có phải chịu án tử hình nhưng kẻ ấy không chết mà sẽ đi vào cõi bất tử cùng với cái đẹp. Huấn Cao là hiện thân cho vẻ đẹp hoàn mĩ, con người ấy chỉ có thể chết về tinh thần, nhưng tử tưởng đẹp của ông Huấn và từng lờ dạy của ông sẽ còn lại với đời, sẽ theo viên quản ngục trong suốt cuộc đời còn lại.
Câu chuyện thành công không chỉ vì nó phê phán đúng thực trạng xã hội đương thời mà còn vì cái độc đáo khác lạ của tình huống truyện. Câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ giữa hai con người hoàn toàn khác nhau. Một người là viên quan quản ngục- một công cụ trấn át kẻ tù tội phục vụ cho triều đình, còn người kia là kẻ tử tù chống lại triều đình. Thế nhưng chính cái đẹp đã dẩy hai con người hoàn toàn khác biệt ấy trở thành tri kỉ. Họ là người nghệ sĩ, biết yêu và coi trọng cái đẹp. Cái độc đáo của truyện cũng nằm trong chính từng nhân vật. Huấn Cao – tên tử tù – lại là một nghệ sĩ sáng tạo ra cái đẹp. Viên quản ngục – công cụ trấn át tội phạm của triều đình- lại là con người có mong muốn thưởng thức cái đẹp. Cả câu chuyện mang vẻ cổ kính từ nhân vật, cảnh cho chữ cho đến ngôn ngữ câu văn. Chính nghệ thuật đối lập tương phản, kết hợp vời bút pháp tả thực và bút pháp lãng mạn đã đem đến thánh công cho tác phẩm. Không gian ẩm thấp nơi buồng giam, thời gian đêm tối bóng dáng con người trong đêm và ánh sáng bó đuốc như ánh sáng của thiên lương, của tài năng, khí phách. Màn đêm tăm tối của ngục từ – hiện thân cho cái ác- lại bị ánh sáng của tài năng, thiên lương làm sụp đổ. Không gian được miêu tả hẹp dần: từ căn phòng đến ánh sáng ngọn đuốc, tấm lục trắng tinh rồi đến từng con chữ vuông vắn.
Dường như, cảnh cho chữ và hình tựng nhân vật Huấn Cao đã giúp Nguyễn Tuân thể hiện thành công phong cách nghệ thuật của mình. Ông luôn hướng tới cái đẹp, cái phi thường lí tưởng, đã đẹp phải tuyệt mĩ, đã tài phải siêu phàm, nhưng cũng có cá tính độc đáo.
Câu truyện kết thúc nhưng dư âm về cái đẹp, cái khí phách hiên ngang và thiên lương cao quí của ông Huấn vẫn còn vương vấn. Người đọc có thể hình dung ra một viên quản ngục từ biệt nơi quan trường đầy thị phi mà trở về quê nhà. Ngày ngày, ông thư thả ngắm bức thi họa của ông Huần ban cho được treo ngay ngắn trong gian giữa ngôi nhà mà trong lòng vẫn khắc sâu lời khuyên răn của ông Huấn.
Phân tích cảnh cho chữ – bài 5
Nguyễn Tuân được sinh ra trong 1 gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn, thơ văn của ông luôn viết về cái đẹp, ông dành cả cuộc đời của mình để đi săn tìm cái đẹp. Ông có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm “ Chữ người tử tù “ được in trong tập “ Vang bóng một thời “ đánh dấu tài năng của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám và được coi như là 1 văn phẩm đạt gần đến độ hoàn mĩ. Ở cuối truyện, cảnh cho chữ là cảnh được tác giả tập trung miêu tả, tô đâm vẻ đẹp lãng mạn của người anh hùng Huấn Cao, qua đó khẳng định được sự chiến thắng của thiên lương, của ánh sáng trước bóng tối và cái xấu. Có thể nói, cảnh cho chữ là cảnh tượng đắt giá nhất, cảnh mà xưa này chưa từng có.
Truyện ngắn được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa 2 nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục, cả 2 đều là nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn, vượt lên hoàn cảnh, không chịu sự chi phối của hoàn cảnh. Huấn Cao là người nghệ sĩ tài hoa, với nghệ thuật viết thư pháp, nét chữ ông trở thành niềm khao khát của biết bao nhiêu con người có thú chơi chữ. Và quản ngục là 1 trong số đó, sở nguyện lớn nhất của quản ngục là có được đôi câu chữ của Huấn Cao treo trong nhà, Ở đây, người nghệ sĩ gặp kẻ tri âm trong 1 hoàn cảnh bất thường: Người có nét chữ huyền thoại kia lại là người tử tù, còn người có thú chơi chữ tao nhã kia lại là 1 viên quản ngục. Chuyện xin chữ tưởng như khó có thể xảy ra bởi cả cuộc đời ông mới chỉ cho chữ có 3 người. Liệu Huấn Cao có thể cho chữ cho kẻ tiểu lại như quan nhục chăng? Nhưng điều bất ngờ đã xảy ra, điều không thể đã trở thành có thể, chính nhờ sở thích cao quý, tấm lòng quý trọng người tài của quản ngục đã khiến Huấn Cao phải xúc động. Ông đã dành đêm cuối cùng của mình tại nhà giam tỉnh Sơn để cho chữ quản ngục, ông cho chữ không phải là dể phô trương tài năng mà là để tạ 1 tấm lòng
Cảnh ông Huấn cho chữ trong nhà giam được khắc họa bằng chi tiết gây ấn tượng, cảm hứng mãnh liệt trước cảnh tượng cho chữ xưa nay khó có đã khiến Nguyễn Tuân say sưa sáng tạo bằng các ngôn từ sắc xảo, bút pháp dựng người, dựng cảnh đạt tới độ điêu luyện. Cảnh cho chữ được diễn ra vào buổi đêm, đêm cuối cùng của ông Huân tại nhà ngục. Địa điểm cho chữ là ngay trong buồng giam chật hẹp với mạng nhện đầy tường, trên đất bừa bãi phân chuột phân gián Trong không khí trang nghiêm 3 nhân vật hiện lên trong 3 tư thế khác nhau: Huấn Cao thì cổ đeo gong,còn chân vướng xiềng nhưng vẫn ung dung vẽ dậm to từng nét chữ, viên quản ngục thì đang khúm núm cất những đồng tiền kẽm để đánh dấu từng ô chữ, còn thầy thơ lại thì đang run run bê lấy chậu mực. Tuy là khác nhau về tư thế, về địa vị về con người nhưng họ đều có điểm chung là biết thưởng thức và trân trọng cái đẹp Những nét chứ của con người chuẩn bị đi vào cõi chết mà không hề ngả nghiêng siêu vẹo mà “ vuông, tươi tắn nói lên hoài bão tung hoành của 1 đời con người “. Những nét chữ như phượng múa rồng bay thể hiện được tài năng của ông Huấn. Không chỉ vậy, với thái độ ung dung, tràn trề cảm hứng sáng tạo, ông còn tinh tế cảm nhận được mùi mực thơm ngát thể hiện được khí phách hiên ngang, không sợ cái chết của ông Huấn. Nếu không có tinh thần tự do, không có sức mạnh thì chắc chắn sẽ không có được phong độ ấy. Khi viết chữ xong, ông buồn bã đỡ quản ngục đứng thẳng dậy, ông buồn không phải vì ngày mai mình sẽ bị giải ra pháp trường mà ông buồn vì người như quản ngục lại phải…. Ông còn khuyên quản ngục thật chân thành hãy tìm về nhà quê mà ở, xong rồi hãy nghĩ tới chuyện chơi chữ, ở đây khó lòng giữ được thiên lương cho lành vững. Lời khuyên đặt ra yêu cầu đối với người thưởng thức: Phải có tâm hồn đẹp mới có thể cảm nhận được hết cái đẹp, phải có 1 môi trường tốt để cái đẹp được bảo vệ và giữ gìn. Như vậy, Huấn cao chuẩn bị đi vào cõi chết mà vẫn nghĩ tới sự sống của cái đẹp, cái đẹp không thể ở chung với cái xấu. Ông cho chữ quản ngục là để tạ 1 tấm lòng, để chia sẻ với 1 tri kỉ và để nâng đỡ 1 thiên lương
Có thể nói, cảnh cho chữ diễn ra nơi tù ngục nhưng cũng rất xúc động và thiêng liêng. Quản ngục nghe xong lời khuyên của ông Huấn, ông chắp tay nói 1 câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào “ Kẻ mê muội này xin bái lĩnh “. Qua thái độ kính cẩn của quản ngục, người đọc có thể thấy được thái độ trân trọng đặc biệt đối với người tài và cái đẹp, cái đẹp có khả năng cảm hóa con người, đưa những con người đang lầm đường lạc lối trở về con đường trong sáng. Trong đoạn văn tác giả sử dụng thành công thủ pháp đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa mùi thơm với mùi ô uế, bẩn thỉu, Ánh sáng ở đây không chỉ là ánh sáng của bó đuốc mà còn là ánh sáng của cái đẹp, mùi thơm ở đây không chỉ là mùi thơm của chậu mực mà còn là mùi thơm tỏa ra từ nhân cách con người. Bóng tối không thể che lấp được màu trắng của tấm vải, không thể che được ngọn đuốc đang cháy rừng rực và mùi mực tàu thơm ngát
Có thể khẳng định cảnh ông Huấn cho chữ là cảnh “ xưa nay chưa từng có “ vì hú chơi chữ là 1 thú chơi tao nhã thanh cao, người có tài viết chữ đẹp mà đạt tới trình độ viết thư pháo không có nhiều, người thưởng thức cũng phải là người có vốn văn hóa nhất định. Bình thường cảnh cho chữ thường được diễn ra nơi sảnh đường thoáng mát, thanh cao để người nghệ sĩ có thể thoải mái mà sáng tạo nhưng Huấn Cao lại cho chữ trong nhà ngục, nơi bóng tối ngự trị, nơi cái ác lên ngôi. Nhưng có lẽ, vì ánh sáng kia qua đẹp nên đã che lấp bóng tối, bóng tối ở đây càng làm tô đậm hơn nét đẹp của ánh sáng. Bình thường quản ngục là đại diện cho pháp luật ở chốn lao tù, là người của triều đình ở thế bề trên vậy mà trong cảnh này Huấn Cao lại ung dung trong tư thế làm chủ, kẻ có chức năng đi giáo dục người khác lại bị giáo dục lại. Như vậy, Nguyễn Tuân đã làm 1 cuộc đảo lộn trất tự xã hội để cho thấy, ở cảnh này, không con người tử tù, cũng không còn quản ngục, gong xiềng bị vô hiệu hóa, chỉ còn người nghệ sĩ đang sáng tạo cái đẹp và người thưởng thức, sủng kính cái đẹp
Qua truyện ngắn “ Chữ người tử tù “ người đọc có thể dễ dàng thấy được quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Tuân: cái đẹp gắn với cái thiện và cái tài phải đi liền với cái tâm. Cảnh cho chữ cũng khơi gợi cho con người phải biết trân trọng các giá trị của văn hóa truyền thống, phải biết giữ gìn các truyền thống đang bị mai một dần kia.
Trên đây là bài tập làm văn phân tích cảnh cho chữ, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình! | Phân tích cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù | 9,077 | |
Đề bài: Phân tích cảnh cho chữ trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Bài làm
Trong một không khí khói toả như cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lân hồ. Khói bốc tỏa cay mắt.
Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại khúm núm cắt những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…”.
Đoạn văn miêu tả đặc sắc đầy chất tạo hình và điện ảnh trên hẳn đã góp phần làm sáng tỏ thêm nhân định: Nguyễn Tuân là một trong những bậc thầy về ngôn ngữ dân tộc ; đồng thời cũng khẳng định thêm sự phong phú, chính xác về kiến thức lịch sử, văn hoá, xã hội…., năng lực quan sát lọc lõi và trí tưởng tượng mạnh mẽ và bay bổng của tác giả Vang bóng một thời. Đoạn văn miêu tả cảnh tượng người tử tù tặng thư pháp nơi ngục thất vừa thảm đạm vừa hào hùng khiến cho cả ba nhân vật Huấn Cao, quản ngục và thơ lại bỗng thăng hoa thành những hình tượng kì vĩ phi thường – Xây dựng được cốt cách phi phàm, những “con người khổng lồ” nhưng có khi phải lặn ngụp “dưới đáy” xã hội, đó cũng là một đặc trưng nổi bật của bút pháp lãng mạn chủ nghĩa nói chung. Đoạn văn chứa đầy mơ ước thiết tha của Nguyễn sở dĩ gọi thức tâm linh người đọc, cũng bởi cả ba nhân vật, tuy ở các vị trí xã hội xa cách nhau nhưng lại có khả năng bổ sung phẩm tính cho nhau ấy, đều là những mảnh hồn của tác giả say đắm hóa thân: tam vị nhân vật, nhất thế? Nguyễn Tuân. Bút pháp đoản thiên tiểu thuyết phong cách điêu khắc của Nguyễn dựng nên nhóm tượng đài Thiên lương – Tam vị nhất thể sáng láng này dường như muốn tạo tác một biểu hiện làm đối chứng với cái hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến tồi tệ hiên hữu trước mắt tác giả. Sự thực, cái xã hội nhãn tiền ấy đã được Nguyễn Tuân lịch sử hoá, “Sơn Hưng Tuyên” hóa qua bối cảnh câu chuyện ông Huấn cho chữ ; đó là một xã hội “hỗn loạn xô bồ” với những thế nhân “cặn bã”, những “lũ quay quắt” sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc: đối với kẻ sa cơ thất thế thì sẵn sàng hung hăng “phết cho mấy hèo bây giờ” – “Ở đây, khó giữ thiên lương”…Khi viết những dòng Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân đã và đang được nếm trải thấm thía cái mùi vị xã hội ấy – thạm chí, một sự nghiệm sinh khá kĩ lưỡng, tất nhiên chưa đến độ “cổ đeo gông, chân vướng xiềng lê bước dần tới nơi đoạn mệnh như ông Huấn, nhưng bất hạnh đến mức tù đày khổ nhục đắng cay (khoảng 1929 – 1930) thì cuang đã từng: “ những trái tim đó (của các tù nhân – V.T) thỉnh thoảng có lên tiếng nhưng một cách dữ dội và tàn ác. Những cuộc xô xát giữa tù và tù giữa bữa cơm mắm nhà nước phát, thường bắt đầu từ việc tranh giành một quả ớt. Quả ớt đỏ đã nhuộm đỏ những nắm cơm đỏ bị những vần tay vấy máu mân mê. Những bữa cơm cá thối trong một bầu không khí kinh khủng như vậy…” (Một chuyến đi). Có thể nói nguyên mẫu nhân vật Huấn Cao là ông giáo thụ Cao Bá Quát dạy học đát Sơn Tây bán sơn địa sỏi đá từ trăm năm trước ; nhưng nguyên mẫu của xã hội xứ Đoài thời ông Huấn (triều đại Thuận Trị, Tự Đức) thì lại chính là hoàn cảnh xã hội Việt Nam trước mắt người đang sáng tác Vang bóng một thời. Viết truyện ngắn Chữ người tử tù để “dĩ cổ vi kim” (lấy xưa nói nay) là một dụng ý khá rõ ràng của tác giả. Bấc đắc chí, bất mãn, phản kháng chế độ xã hội thực dân địa đang tiếp tục nuôi dưỡng quy luật đau thương: thân phận không phải là hệ quả của bản chất – tinh thần dân tộc sâu xa của nhà văn Nguyễn Tuân yêu nước thâm trầm chủ yếu là ở chỗ đó. Một biểu hiện nữa của tinh thần dân tộc trong Chữ người tử tù là thái độ luyến tiếc của một nhã thú văn hoá cổ truyền đang lụi tàn dần trong xã hội thời Tây: thưởng ngoạn thư pháp. Do chữ Nho là thứ văn tự tượng hình, rất nhiều chữ giống như tranh hiện đại chủ nghĩa (siêu thực, trừu tượng), nét bút lông lại rất mềm mại dễ dàng bộc lộ cá tính và nhân cách…; do đó viết chữ Nho không đơn thuần là thao tác kí hiệu hóa ngôn ngữ, mà nhiều khi trở nên một hành động nghệ thuật đích thực: sáng tạo thư pháp (thư pháp có khi đứng riêng một mình, có khi phối hợp cùng nghệ thuật tạo hình: xuất hiện trên tranh thuỷ mặc…). Người Việt Nam xưa sử dụng chữ Nho, hoà đồng cùng truyền thống văn hóa phương Đông đã say mê thư pháp, và cũng sản sinh được không ít những nét chữ vừa “Như Phượng múa rồng bay”, vừa phát tiết nhân phẩm. Một trong các danh sĩ Bắc Hàvề thư pháp chính là Cao Chu Thuần (1808 – 1855) với văn chương “vô tiên Hán” và nhân cách thì “Một đời chỉ cúi trước hoa mai” (Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”)… Xây dựng một nguc quan biết nung nấu sở nguyện: “Có được chữ ông Huấn mà treo, là có một vật báu trên đời”, lại biết giữ gìn đến cùng thái độ tôn kính rất mực trước thiên lương và thư pháp kiệt xuất của người tử tù: “Người tù viết xong một chữ, viên quan ngục lại vội khúm núm cắt những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng”…; Nguyễn Tuân như đã cất lên khúc vãn ca đối với một mảng văn hóa truyền thống mà đến thời của Nguyễn lại “vang bóng” (nhiều sinh hoạt văn hoá cổ truyền đáng quý khác cũng chung số phận). Giai điệu vãn ca ấy ngậm nghĩa oán hờn thế cục “Tây Tầu nhố nhăng” đã phạm tội đối với văn hoá Việt. Về nguyên nhân tinh thần gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với văn hóa dân tộc ngàn xưa, có thể tìm thấy ở nguồn gốc gia đình, cũng như ở ngay đời thường của Nguyễn – một con ngưòi tài hoa và am tường và đã sống chan hoà cùng folklore Việt (nghệ thuật sân khấu dân gian: chèo, tuồng ; nghệ thuật tạo hình dân gian ; dân ca: đào nương ca, trong đó có hát ca trù…).
Cuối cùng, tính dân tộc trong truyện ngắn Chữ người tử tù còn thể hiện ở sự trân trọng, Nguyễn Tuân đã học thuộc tiếng mẹ đẻ, trong đó có lớp từ cổ đã tạo hiệu quả lợi hại cho việc tái hiện một cách rất cụ thể – lịch sử, rất hội hoạ điêu khắc và điện ảnh… những cảnh và người gần trăm năm trước.
Tất nhiên, sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật không phải chỉ ở số lượng từ phong phú mà còn ở khả năng nhạy cảm về ngữ nghĩa của từ, ngữ điệu của câu…- Nhà văn Nguyễn Tuân có đầy đủ những điều kiện đó. Một ví dụ nhỏ: tác giả Chữ người tử tù đã dùng từ “ngấc”, nhưng sách phụ lục văn 12 đã in sai là: “Viên quan coi ngục ngóc đầu” ; “ngấc” và “ngóc” có phần gần gũi về ngữ âm nhưng ngữ nghĩa khá xa nhau, và về phương diện gây ngữ cảm thì càng rất khác nhau: ngóc đầu là dựng thẳng dậy, gây ngữ cảm đáng sợ (rắn ngóc đầu, bọn tội phạm ngóc đầu…), còn ngấc đầu là nhấc đầu nghiêng nghiêng, gây ngữ cảm tội nghiệp (đối với người mệt mỏi, ốm đau…). Các điều kiện thiết yếu đối với một con người cầm bút snág tác văn chương ấy, một phần do thiên bẩm mà Nguyễn có ; phần khác do công phu học hỏi nghiêm túc xuất phát từ cõi lòng gắn bó với cộng đồng. Theo nhà văn Vũ Bằng: “… không cứ thư gửi cho vợ, bất cứ cái gì viết ra giấy,in ra chữ, Tuân đều thận trọng, ít ra cũng là thận trọng hơn so vói những nhà văn, nhà thơ khác (…) Thực tôi chưa thấy bản thảo nào sạch sẽ và viết chữ kiểu cách, nắn nót như bản thảo của Nguyễn Tuân. Trong khi đa số anh em khác viết trên những tờ giấy nham nhở, cắt xén xô bô, tờ to tờ nhỏ khác nhau, bao giờ Tuân cũng viết lên những tờ giấy trắng thượng hạng, cắt xén rất đều, kềm kệp cẩn thận và không bao giờ quên đóng ở trên đầu một cái dấu xanh in một cánh buồm “Gió đã lên”, và thường đến cuối bài lại kí một chữ bay bướm và đóng một cái dấu son đỏ trên màu cánh sen. Sau này cũng có nhiều người cũng bắt chước lối chơi lập dị đó để bây giờ cái chuyện đó cũng hoá ra thường, nhưng nếu trí nhớ của tôi không lầm thì Tuân là nhà văn trẻ đầu tiên bắt chước các cụ in nhãn hiệu và đóng dấu vào bản thảo và sách vở. Đến cái chữ viết của anh cũng cầu kì. Anh viết như nhà nho viết câu đối chữ thả, uốn éo, lên xuống tỏ rõ thái độ tôn kính của Nguyễn Tuân đối với tiếng dân tộc ; đồng thời… than ôi! cũng chứng tỏ Nguyễn Tuân muốn noi gót, hoặc cũng muốn… xin chữ ông Huấn Cao!
Không phải ngẫu nhiên, mà chính cái tố chất tài, tình và đức của “nhà văn đặc biệt Việt Nam” Nguyễn Tuân đã hiệp đồng cùng nhau tạo Chữ người tủ tù – một trong những truyện ngắn “cổ điển” trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. | Phân tích cảnh cho chữ trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân | 1,795 | |
Phân tích cảnh cho chữ trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Huấn Cao
Hướng dẫn
Phân tích cảnh cho chữ trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Huấn Cao
Nguyễn Tuân – một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp đã để lại cho hậu thế những áng văn giá trị đầy ý nghĩa sâu xa về cái đẹp. Tác phẩm “Chữ người tử tù” chính là một điểm sáng chói về cái đẹp mà Nguyễn Tuân muốn truyền tải đến mọi người. Ở đó, ngoài nhân vật chính là Huấn Cao với tài chí hơn người còn có viên quan coi ngục đang ôm ấp tấm lòng trong sạch của mình ngay trong chốn lao tù nhơ bẩn. Và rồi, sau tất cả, đến cuối tác phẩm cái đẹp đã được bùng cháy, sáng rực rỡ giữa những gì tối tăm nhất, nhơ nhớp nhất của nhà tù, của cuộc đời sáng tối lẫn lộn. Có thể nói cảnh ấy là cao trào, là đỉnh điểm của cái đẹp được tuôn trào từ đầu ngòi bút của Nguyễn Tuân, từ tấm lòng chân thiện mỹ của một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp.
Đúng như cái tên “Chữ người tử tù”, tác phẩm đã lần lượt dẫn dắt người đọc đi qua những bước chân của hai con người tuy vị thế khác xa nhau hoàn toàn nhưng tấm lòng cùng hướng về một điểm sáng là cái đẹp, cái thiện, cái mỹ. Dù rằng ban đầu, người tử tù mang tên Huấn Cao và viên quan cai ngục đã có nhiều hiểu lầm, song sau khi cảm thấu được lòng nhau, ông Huấn đã xúc động và nhận ra tri âm ngay trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình. Và ông đồng ý cho chữ cai ngục – một sở nguyện vô cùng cao quý và trong sáng của ngục quan. Đến nỗi nếu không xin được chữ của Huấn Cao, cai ngục sẽ hối hận suốt đời. Nhưng thật may mắn và có lẽ cũng là quy luật về sự chiến thắng của cái đẹp, Huấn Cao đã dành đêm cuối cùng của mình để trao chữ cho cai ngục ngay trong nơi ngục tù tăm tối.
Hơn thế nữa, dù xiềng xích có trói buộc được thể xác của người tử tù kia, cái chết có thể an bài số phận của ông, nhưng cái đẹp và cái thiện mà ông để lại cho đời sẽ không bao giờ chết, sẽ mãi được thế hệ sau trân trọng và gìn giữ. Cái đẹp luôn là bất diệt dù cho mọi thứ có bị đảo lộn trong hoàn cảnh éo le: “Một người tù, cổ dẹp gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ tên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa ống. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực.” Mọi thứ đều được Nguyễn Tuân đảo lộn như để đề cao cái đẹp thêm một lần nữa. Bởi lúc này, người cho chữ là một tử tù chứ không phải một người thầy, còn người nắm quyền lại là cai ngục – kẻ cầm quyền trong lúc này. Nhưng mọi quyền lực, mọi ngăn trởi đều bị xóa bỏ. Giờ đây chỉ còn người cho chữ và người lãnh nhận chữ. Ngoại cảnh tối tăm, bẩn thỉu đến mấy cũng không thể làm lấn bẩn lên tấm lụa trắng tinh khôi đang được Huấn Cao viết lên từng nét chữ. Và mùi hôi thối ẩm mốc cũng không thể nào át được mùi mực thơm tho từ thoi mực.
Một lần nữa, trong cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân đã gửi gắm đến người đọc lời nhắn nhủ về cái đẹp, về sự bất diệt của cái đẹp. Cái đẹp không bao giờ chết, mà chỉ là đang âm thầm ẩn náu sau những gì ta nhìn thấy từ bên ngoài. Quyền lực hay bất cứ thứ gì cũng không thể nào ngăn cản cái đẹp sản sinh và phát triển. Cái đẹp là bất diệt, là vĩnh cửu. Cũng từ đó, nhà văn đã mượn lời của Huấn Cao truyền cho cai ngục để truyền tải tới người đọc một thông điệp sâu sắc về nguyên lý sống đẹp: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?… Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. | Phân tích cảnh cho chữ trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Huấn Cao | 857 | |
Phân tích cảnh cho chữ để thấy được nét đặc sắc về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tác phẩm Chữ người tử tù.
Bài làm
Nếu Xuân Diệu cả đời đi tìm một tình yêu đúng nghĩa thì Nguyễn Tuân lại dành cả đời mình để đi tìm cái đẹp. Ông tìm cái đẹp trong chính nét văn hoá cổ truyền của dân tộc: đó là chữ viết thư pháp. Tập truyện “Vang bóng một thời” đã thể hiện những hoài niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp ấy. Đặc biệt, trong tác phẩm “Chữ người tử tù” cái giá trị nghệ thuật cao quý truyền thống lại càng được tôn vinh và trân trọng. Truyện ngắn này tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám. Bật lên trong truyện là một cảnh tượng độc đáo “xưa nay chưa từng có”, thể hiện những giá trị lớn lao của tác phẩm: cảnh cho chữ.
Huấn Cao là một nguời tài hoa có tài viết chữ đẹp nhưng dám nổi dậy chống lại triều đình nên bị xem là một tên nghịch thần, bị bắt và bị kết án tử. Viên quản ngục vốn là một người say mê chữ đẹp. Hai con người gặp nhau trong một hoàn cảnh hết sức ngang trái: một bên là tử tù và một bên là quản ngục. Vốn hâm mộ tài viết chữ của Huấn Cao, Viên quản ngục đã tâm sự với thầy thơ lại và cùng thầy đến nhà giam bày tỏ nỗi lòng và xin Huấn Cao cho chữ. Huấn Cao vô cùng cảm mến tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” và thái độ chân thành của Viên quản ngục nên đã đồng ý cho chữ.
Hoàn cảnh cho chữ được tác giả miêu tả một cách thật đặc biệt: “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã bày ra trong buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Đó là một đêm khuya vắng lặng chỉ có “tiếng mõ vọng canh”. Quang cảnh nhà tù, buồng giam dưới ngòi bút của nhà văn thật ảm đạm và nhơ bẩn. Không dừng lại ở đó, không gian ấy còn bị thu hẹp dần trở nên thật bé nhỏ, tù túng, chật hẹp. “Trong một không khí khói toả như cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên lân hồ. Khói bốc toả cay mắt”. Nhà tù lạnh lẽo, ẩm thấp bỗng dưng được sưởi ấm bằng “ánh sáng đỏ rực” của bó đuốc tẩm dầu. Nhà văn đã dùng thủ pháp tương phản để tạo ấn tượng về hoàn cảnh cho chữ. Nguyễn Tuân thật không hổ danh là một người nghệ sĩ tài hoa có con mắt tinh đời và tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy.
Cảnh cho chữ diễn ra thật đẹp, chính lúc này, tài hoa mới thực sự toả sáng. “Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván”. Hình ảnh Huấn Cao hiện lên sao mà sắc sảo, tinh tế đến vậy? Người nghệ sĩ tài hoa không phải ở trong tư thế tự do mà phải mang vác nào gông, nào xiềng và đội cả án tử trên đầu. Một con người ngang tàng tung hoành trong xã hội dù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” vẫn say mê sáng tạo cái đẹp, bất kể ngày mai, khi trời sáng, cái chết đã cận kề. Huấn Cao dường như không phải đang viết mà là đang vẽ chữ, ông “dậm tô nét chữ” một cách ung dung, đĩnh đạc, không màng tất cả. Thông thường, sáng tạo nghệ thuật là một việc thanh cao cần được diễn ra ở những nơi trang trọng, thiêng liêng; nhưng không, lúc này đây, Huấn Cao lại đang viết chữ, cho chữ trong một căn buồng tối tăm, chật hẹp, nhơ nhớp. Thủ pháp tương phản lại một lần nữa được Nguyễn Tuân sử dụng một cách tài tình. Một bên là tử tù uy nghi, lồng lộng, một bên là quản ngục “khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…”. Những con người mâu thuẫn về giai cấp, lý tưởng lại bỗng dưng trở thành tri âm tri kỉ về tinh thần. Họ chụm đầu lại, cùng nhau say sưa sáng tạo cái đẹp và thưởng thức cái đẹp. Dường như giữa chốn ngục tù đầy rẫy những bạo tàn, bất công, phép tắc, kỉ cương đã bị đảo lộn, thế chủ động không còn nằm trong tay những kẻ uy quyền thống trị mà thuộc về người tử tù. Chính lúc này đây, cái đẹp đã thực sự toả ánh hào quang rực rỡ làm bừng sáng cả không gian. Thiên lương đang lấn dần, đẩy lùi bóng tối, vươn lên làm kim chỉ nam soi sáng cho những con người lầm đường, lạc bước. Huấn Cao từ tốn, chân thành: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người….Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái ghế này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Huấn Cao đã không còn giữ khoảng cách với Viên quản ngục, đã thực sự xem Viên quản ngục là tri âm tri kỉ nên mới có những lời khuyên dốc từ tận đáy lòng đến vậy. Không chỉ quan tâm, trân trọng thú chơi chữ thanh cao của Viên quản ngục mà Huấn Cao còn chú ý đến cả lọ mực mà Viên quản ngục đem đến. “Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?”. Câu nói nhẹ nhàng mà đầy tinh tế làm cái đẹp không chỉ có sắc mà còn có hương thơm ngát. Trong cái buồng giam chật hẹp, ẩm ướt, nhơ nhớp dường như chỉ còn lại mùi mực thơm tho – mùi của thiên lương trong sáng. Vẻ đẹp nhân cách của nhân vật Huấn Cao nói chung và lúc cho chữ nói riêng bỗng trở nên chói sáng, rực rỡ nhất trong cái đêm đen tối tăm, không lối thoát của xã hội.
Cái “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” đã trở thành nguồn cảm hứng mãnh liệt giúp Nguyễn Tuân vung tay múa chữ rất điệu nghệ. Ông thoả sức thể hiện tài năng ngôn ngữ của mình một cách sắc sảo, tuyệt đỉnh. Những lớp ngôn từ dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân thật đa dạng, phong phú tạo nên nét cổ kính, trang trọng cần và đủ, vừa sống động, vừa tinh tế. Mỗi con chữ đảm nhiệm một sức nặng riêng, có nhịp điệu riêng và giàu tính tạo hình, gợi cảm. Ngoài ra, nhà văn còn sử dụng rất thành công thủ pháp tương phản, đối lập. Bút pháp tả thực của tác giả cũng đạt đến một đỉnh cao nhất định. Cảnh cho chữ được tác giả miêu tả vừa ảm đạm, vừa hùng hồn khiến cả ba con người xuất hiện ở đó: Huấn Cao, Viên quản ngục, thầy thơ lại bỗng trở thành những hình tượng độc đáo, nổi bật. | Phân tích cảnh cho chữ để thấy được nét đặc sắc về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tác phẩm Chữ người tử tù. | 1,332 | |
Phân tích cảnh dân chài ra khơi trong bài thơ “Quê hương”- Tế Hanh
Hướng dẫn
Phân tích cảnh dân chài ra khơi trong bài thơ “Quê hương”- Tế Hanh
Tế Hanh là một nhà thơ nổi tiếng với những bài thơ hướng về chủ đề quê hương với “Những ngày nghỉ học”, “Lời con đường quê”. Trong đó, bài thơ gắn với chủ đề “quê hương” đã in dấu Tế Hanh trong lòng bạn đọc bởi hình ảnh người dân miền biển ra khơi.
Bài thơ được viết với bố cục chặt chẽ, tác giả dành hai câu đầu để giới thiệu chung về làng quê, sáu câu thơ sau đó là cảnh thuyền ra khơi đánh cá trong buổi sớm mai hồng, thành quả được diễn tả trong tám câu tiếp khi đoàn cá trở về và khép lại bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng bằng nỗi nhớ làng quê, miền biển.
Cảnh dân chài ra khơi được tập trung diễn đạt ngay sau khi tác giả giới thiệu chung về miền quê:
Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.
Câu đầu đoạn thơ nói về thời điểm đoàn thuyền đánh cá ra khơi: Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng- Đó là không gian buổi sáng, với thời tiết đẹp, trong lành, gió không dữ dội mà nhẹ nhàng đủ để song lướt dài trên mặt biển. giới thiệu như vậy cũng là sự hứa hẹn những điều an yên, tốt đẹp cho một chuyến đi xa.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Khi ra khơi chiếc thuyền với cái khoang còn trống rỗng. Hình ảnh con thuyền được tác giả so sánh với con “tuấn mã”, khỏe mạnh, kiên cường đầy sức lực, đang hăm hở lên đường. Tính từ “hăng” đã diễn đạt đầy đủ sự hăm hở đó. Cùng với động từ mạnh “phăng”, “vượt” đã khắc họa ấn tượng về sự dũng mãnh của con thuyền vượt song ra khơi. “Vượt trường giang” là cái vượt xa, vượt dài, cần có sức lực mạnh mẽ. Hai câu thơ Tế Hanh dùng biện pháp so sánh, những động từ mạnh đã vẽ lên hình ảnh con thuyền đầy khí thế khi ra khơi, đón biển bằng tất cả sức mạnh, sẵn sàng vượt lên trên thách thức của biển khơi. Hai câu thơ góp phần tạo nên không khí ra khơi cho người dân làng chài, và không nhắc nhiều đến hình ảnh người dân nhưng dường như con thuyền đã thay họ làm công việc đó.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió
Tế Hanh dành hai câu thơ để nói về hình ảnh cánh buồm. Vẫn sử dụng lối nói so sánh “ Cánh buồm” như “mảnh hồn làng” thông qua động từ “giương”, cánh buồm trở nên lớn lao, gần gũi với người miền biển, đây cũng là cách so sánh hết sức độc đáo của nhà thơ. “Cánh buồm” là sự vật cụ thể, hữu hình ví với “mảnh hồn làng”, trừu tượng, được cảm nhận bằng tâm tưởng, cánh buồm ra khơi hay người dân chài cũng đang vươn mình bằng tất cả sức mạnh của bản thân để: “rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.
Cả đoạn thơ thể hiện khí thế hăng say, mạnh mẽ, người ra khơi được hình ảnh chiếc thuyền và cánh buồm tương trợ nên mang niềm vui, niềm hãnh diện, cũng cố căng mình lên để thâu góp gió đủ sức đưa con thuyền ra khơi và mang thắng lợi trở về như mong muốn. | Phân tích cảnh dân chài ra khơi trong bài thơ “Quê hương”- Tế Hanh | 636 | |
Đề bài: Phân tích cảnh Ra-ma buộc tội Xi-ta
Dàn ý
I. Mở bài.
Đoạn “Ra-ma buộc tội” trích trong khúc ca thứ 6, chương 79 sử thi Ra- ma –ya – na. 78 chương trước kể lại dòng dõi, cuộc đời của Ra-ma, 13 năm đi đày và cuộc chiến tranh đánh thắng quỷ vương Ra-va-na để cứu nàng Xi-ta xinh đẹp. Lúc giải phóng đảo Lan-ka, Ra-ma cùng đoàn quân ca khúc khải hoàn thì hạn đi đày 13 năm gần kết thúc. Bỗng Ra-ma nổi cơn ghen tuông dữ dội. Trong chương 79, Ra-ma dùng những lời lẽ nặng nề, gay gắt buộc tội Xi-ta. nghi ngờ nàng về sự trong trắng, thúy chưng của nàng Xi-ta bước vào giàn lửa của thần An-hi để chứng minh tất cả… Ra-ma chia tay các chiến hữu. chàng cùng em trai và vợ dùng chiếc thiên xa bay về kinh đô Kô-sa-la..
Chương 79 khắc họa thêm một nét đẹp về con người thiện của đẳng cấp Kơxatrya (vương công, quý tộc, võ sĩ) và đức nghĩa trung hậu, đoan trang của người phụ nữ cao quý.
II. Phân tích.
1. Ra-ma ghen tuông.
– Khi Xi-ta đã khiêm nhường đứng trước Ra-ma, chàng nói với vợ một cách mỉa mai: “Hởi phu nhân cao quý”. Quan hệ vợ – chồng hầu như không còn nữa.
Cuộc giao tranh đã kết thúc, theo Ra-ma đó là nghĩa vụ và tài năng đã hoàn thành: “Ta đã gỡ cho nàng khỏi điều vu khống” – nghĩa là nàng bị Ra-va-na bắt cóc chứ không phải đi theo hắn, “cơn giận ta đã hả, và cơn ta đã trả thù kẻ lăng nhục ta”. Ra-ma đã sống vì một nguyên lí đạo đức của đẳng cấp Kơxatrya của mình: “kê nào bị quân thù lăng nhục mà không đem tài nghệ của mình ra để trả thù, là kẻ tầm thường”. Ra-ma cũng dành những lời tốt đẹp nhất để ca ngợi Ha-nu-man và Vi-phi-sa-na – hai chiến hữu tài ba, cao cả của mình.
Trước nhan sắc của Xi-ta: “khuôn mặt bông sen”, “những cuộn tóc cuộn sóng” và những giọt lệ của nàng, lòng Ra-ma “đau như cắt”, nghĩa là chàng vẫn say đắm Xi-ta. Nhưng danh dự là trên hết, là tất cả, bởi lẽ người anh hùng “sợ tai tiếng”. Phải kết thúc chiến tranh là vì nhân phẩm, là để “xóa bò vết ô nhục vi sợ uy tín và danh dự của dòng họ lừng lẫy tiếng tăm của mình”.
Ra-ma không thế “nhận nàng về”, “không ưng có nàng nữa” vì nàng đã lưu lại tại nhà một kẻ xa lạ, vì Ra-va-na với “đôi mắt tội lỗi… hau háu nhìn khắp người nàng” nghĩa là nàng thất thân với hắn, cho nên Ra-ma phải nghĩ đến “gia đình cao quý” đã sinh ra mình.
Tóm lại, Ra-ma vẫn còn yêu Xi-ta xinh đẹp nhưng vì danh dự, nhân phẩm của người anh hùng, của dòng họ cao quý mà chàng phải buộc tội Xi-ta, chấm dứt quan hệ vợ chồng với nàng: “Vậy ta nói cho nàng hay, nàng muốn đi đâu thì tùy nàng, ta không ưng có nàng nữa”. Ra-ma cảm thấy xấu hố bị xúc phạm; khi trông thấy Xi-ta thì “không chịu nổi”, “chẳng khác ánh sáng với người bị đau mắt”. Ra-ma ghen tuông buộc tội không phải vì mù quáng mà trái lại, ghen tuông và buộc tội vì nhân phẩm, danh dự, một nét tính cách của con người thiện của đẳng cấp Kơxatrya cao quý trong xã hội Ấn Độ thời đại cổ đại.
2. Nàng Xi-ta.
Xi-ta được miêu tả trong chiều sâu của bi kịch về tình yêu và danh dự.
– Nàng đau khổ vì bị oan, bị xúc phạm. Nàng ‘‘đau đớn nghẹn thở”. Nàng xấu hổ cho số kiếp của nàng”, nàng muốn chết ngay “muốn tự chôn vùi cả cái hình hài của mình”. Nàng vô cùng đau đớn trước những lời buộc tội của Ra-ma, nàng cảm thấy hình như muôn nghìn mũi tên “xuyên vào trái tim nàng". Nàng khóc, “nước mắt nàng đổ ra như suối”.
– Xi-ta đoan trang và bình tĩnh bác bỏ mọi lời buộc tội của Ra-ma. Nàng khẳng định: “Trái tim thiếp đây, thuộc về chàng”. Chàng chưa hiểu được thiếp qua tình yêu và tâm hồn thiếp. Chàng tự hào về dòng dõi cao quý thì thiếp có kém gì: “đất là mẹ của thiếp”. Nếu Ra-ma mỉa mai gọi Xi-ta là “phu nhân cao quý” thì Xi-ta cũng đàng hoàng đáp lại: “Hỡi đức vua” và trách “cớ sao hồi còn thanh niên chàng đã cưới thiếp?”.
– Xi-ta nhảy vào giàn hỏa thiêu là một cảnh vô cùng bi tráng. Ai đã từng mục kích điệu múa “Nàng Xi-ta”? Ra-ma “khủng khiếp như Thần chết!”. Các thánh thần tự hào nhìn Xi-ta nhảy vào lửa “chẳng khác nào một đồ cúng trong lễ tế sinh”. Đông đảo phụ nữ thì “chẳng khác nào một đồ củng trong lễ tế sinh”. Đông đảo phụ nữ thì “kêu khóc thảm thương”. Loài ma quỷ như Va-na-ra, Paksaxa cũng “kêu khóc vang trời”.
Hình ảnh Xi-ta đàng hoàng tự tin. Nàng “lượn quanh” Ra-ma như để chào vĩnh biệt. Nàng lạy chư thần cao quý thiêng liêng. Nàng cất lời nguyền với thần A-nhi: khẳng định mình bị oan, một phụ nữ trinh tiết bị coi như một kẻ gian dối; tự hào về lòng trong trắng thủy chung trong tình yêu; cúi xin Thần “bảo vệ con”, “phù hộ con”.
– Ta hãy nghe lời nguyện cầu của nàng Xi-ta: “Nếu con trước sau một lòng dạ với Ra-ma thì cúi xin Thần hãy tìm hét cách bảo vệ con. Ra-ma đã coi một phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối; nhưng nếu con trong trắng xin thần A-nhi phù hộ cho con”.
III. Kết luận.
Đọc sử thi Ra-rna-ya-na ta như thấy ngọn lửa sáng rực bừng ánh mặt trời, nàng Xi-ta lộng lẫy kiều diễm múa như bay theo ánh lửa, thần lửa A-nhi minh chứng và cứu sống nàng. Ra-ma dang đôi cánh tay đón Xi-ta, nước mắt chan hòa sung sướng, vừa ân hận, vừa tự hào. | Phân tích cảnh Ra-ma buộc tội Xi-ta | 1,033 | |
Phân tích cảnh đám ma gương mẫu trong Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
Hướng dẫn
Văn mẫu lớp 11
Phân tích cảnh đám ma gương mẫu trong Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng với bài văn mẫu hay nhất sẽ là tài liệu hỗ trợ để các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 11, đồng thời nắm bắt chi tiết cũng như hiểu rõ hơn về tác phẩm Số đỏ.
Đề bài: Phân tích cảnh đám ma gương mẫu trong truyện Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
Với đặc điểm là một tiểu thuyết hoạt kê, tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng đã miêu tả thật sống động bao nhiêu cảnh đời và con người mang tính hài hước, giễu cợt. Không chỉ một cuộc đời của nhân vật chính – Xuân Tóc Đỏ – đáng cười, mà hầu như tất cả các nhân vật, các tình huống, chi tiết truyện đều đáng cười, đáng phê phán.
Chương XV của tác phẩm với tiêu đề Hạnh phúc của một tang gia – miêu tả đám tang cụ cố tổ, giống như một chuỗi cười dài, một cuộc đưa tiễn tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả xã hội, cái xã hội tư sản thành thị Âu hóa rởm, văn minh rởm hết sức lố lăng, đồi bại đang hiện diện ở Việt Nam những năm 30 – 45 của thế kỉ XX. Mỗi tình huống truyện, mỗi nhân vật cứ tự nhiên làm bật ra tiếng cười. Tiếng cười mang nhiều sắc độ, liên tục không dứt. Nó kéo dài trong suốt thời gian đám tang, suốt cuộc hành trình đưa tiễn…
Đọc tên chương – Nguyên văn trong tác phẩm là: Hạnh phúc của một tang gia – một cái đám ma gương mẫu… chúng ta không khỏi bật cười bởi cách thông báo hóm hỉnh của nhà văn. Nội dung sự việc là một việc đau đớn, bất hạnh. Vậy mà tang gia lại có hạnh phúc! Việc tang là nghi lễ thiêng liêng, cần trang trọng, vậy mà ngôn từ dành cho cái việc đại hiếu của một gia đình như gia đình cụ cố Hồng lại hỗn độn, pha trộn tùy tiện chữ Hán, chữ Nôm, nào hạnh phúc, nào tang gia, nào văn minh, gương mẫu, cứ như chuyện đùa, chuyện vui vậy! Cái sự đùa vui ấy mở màn cho vở hài kịch mà trên sân khấu hiện thật rõ hai trạng huống nực cười: đám tang nhưng không phải là đám tang, nó là một đám…. rước. Có người nhưng không phải là con người mà là…. những hình nhân dị dạng, những quái vật.
Sau thời gian bối rối theo lẽ thường tình của một nhà có việc tang, khi ba người quan trọng nhất – ông cố Hồng, bà vợ và Văn Minh từ trên gác xuống dưới nhà cắt đặt mọi việc, thì cái gia đình có đại tang đó bừng lên một ngày hội. Lúc đưa đám thì cả bàn dân thiên hạ ở phố phường, ai cũng thấy đám ma được tổ chức linh đình, đủ kiểu cách, lễ nghi theo cả lối ta, Tây, Tàu. Đám ma đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy. Cả thành phố nhốn nháo… Kèn ta, kèn Tây, kèn Tàu lần lượt thay nhau mà rộn lên. Tiếng khóc của những người trong tang gia xen lẫn tiếng thì thầm về chuyện vợ con, nhà cửa, may áo, sắm tủ, hoặc những tiếng nói thì thào của bọn đàn ông bình phẩm sắc đẹp của các cô gái, than thở việc vợ béo, chồng gầy. Vậy đấy, trên cái sân khấu hài hước, người đọc thấy được một khung cảnh pha tạp, hỗn độn, đồ vật và con người hỗn độn, âm thanh và màu sắc hỗn độn, việc vĩnh biệt một con người là việc đùa vui, tiếng khóc của nhiều người cũng hỗn độn. Đám rước mà như ở hội chợ. Đám tang hay đám rước? Bởi vì, như tác giả kể: Đám cứ đi rồi lại đám cứ đi. Những lời văn bỡn cợt, lơ lửng, hóm hỉnh, chua chát. Và ông nhận xét: Thật đúng là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu.
Chất bi hài của cảnh khiến người đọc cười ra nước mắt. Chỉ có một tiếng khóc lớn nhất bật lên là của ông Phán mọc sừng, ông oặt người đi, khóc mãi không thôi và tiếng khóc của ông thật đặc biệt. Nhưng thực ra đó là tiếng khóc nhằm che giấu nụ cười nên không ra khóc mà cùng chẳng ra cười. Cuối cùng chỉ là những âm thanh méo mó: Hứt! Hứt! Hứt!… Ông thương cho người đã khuất chăng? Không phải! Ông đang đóng kịch trước mắt mọi người. Thực ra ông ta rất mừng vì cụ Tổ chết và ông được chia phần khá nhiều, kể cả cái giá của bộ sừng mà vợ ông đã cắm lên đầu ông. Miệng khóc, tay ông dúi nhanh vào tay Xuân Tóc Đỏ tờ bạc năm đồng gấp làm tư để trả công cho hắn đã gọi ông là Phán mọc sừng trước người nhà vợ. Và cũng nhờ đó mà ông có thêm được món tiền lớn. | Phân tích cảnh đám ma gương mẫu trong Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng | 906 | |
Phân tích diễn biến cốt truyện Làng của Kim Lân – Ngữ Văn 9
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến cốt truyện Làng của Kim Lân
Đề bài: Phân tích diễn biến cốt truyện Làng của Kim Lân.
1. Yêu cầu
– Phân tích biễu diễn cốt truyện.
– Cần làm rõ diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai được miêu tả qua cốt truyện đó.
– Qua phân tích thấy được tài năng kể chuyện của Kim Lân và cũng hiểu rõ vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam với làng, với nước trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
2. Gợi ý
– Đọc kĩ toàn tác phẩm, nắm vững cốt truyện, đặt câu hỏi nhận xét, đánh giá về nghệ thuật xây dựng cốt truyện của Kim Lân qua truyện ngắn Làng.
– Cần đặt câu hỏi làm rõ mối quan hệ giữa nhân vật ông Hai với cốt truyện: Diễn biến cốt truyện chính là diễn biến tâm trạng của ông Hai.
– Phân tích diễn biến tâm trạng của ông Hai.
– Đặt câu hỏi nhận xét nghệ thuật kể chuyện sinh động của Kim Lân.
– Chú ý kết hợp nghị luận với tự sự và miêu tả.
3. Lập dàn ý
a. Mở bài
– Giới thiệu tác phẩm Làng của Kim Lân.
– Xây dựng cốt truyện là yếu tố nghệ thuật góp phần chính vào thành công của truyện.
b. Thân bài
Cốt truyện của truyện ngắn Làng của Kim Lân gắn với tâm trạng ông Hai.
– Diễn biến cốt truyện:
– Tình yêu làng của ông Hai trước Cách mạng.
– Tình yêu làng của ông Hai sau Cách mạng.
+ Trước khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Ông yêu làng, tự hào về làng, hay khoe làng. Ông tin tưởng vào thắng lợi cuộc kháng chiến do Chính phủ và Cụ Hồ lãnh đạo.
+ Khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc vào những ngày sau đó. Tình yêu làng của ông bị đặt vào tình huống gay cấn, đầy thử thách.
+ Khi ông Hai biết sự thật: tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính, ông sung sướng báo tin làng ông không theo giặc, nhà mình bị giặc đốt nhẵn.
– Nghệ thuật dựng cốt truyện Làng
Sự phát triển của cốt truyện hợp lí: diễn tả được chính xác tâm lí người nông dân Việt Nam nhữlng ngày đầu chống Pháp.
Sự phát triển của cốt truyện cũng là sự phát triển tâm trạng nhân vạt chính (ông Hai) trong tình huống đặc biệt.
Cốt truyện được diễn tả sinh động thành câu chuyện có giá trị nghệ thuật bằng biện pháp độc thoại nội tâm, bằng đối thoại,… Ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đặc sắc.
Nhờ đó, truyện đã xây dựng được một nhân vật tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam những ngày đầu chống Pháp với tình yêu làng, yêu nước sâu sắc.
c. Kết bài
Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã thể hiện tài năng kể chuyện của Kim Lân.
Truyện cũng cho ta hiểu về tình yêu làng gắn với tình yêu nước cao cả của người nông dân Việt Nam.
4. Bài làm minh họa
Bài 1
Nói về những nhân vật có lòng yêu nước sâu sắc trong các tác phẩm vãn học, không thể không kể đến nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Chính cách tạo ra tình huống truyện độc đáo để bộc lộ tính cách nhân vật là yếu tố nghệ thuật góp phần vào thành công của truyện.
Đối với mỗi tác phẩm văn xuôi thì việc xây dựng cốt truyện luôn là cần thiết và qua đó nhân vật có thể bộc lộ tâm trạng, hành động của mình. Trong tác phẩm Làng, Kim Lân đã xây dựng được cốt truyện khá là hợp lí và đặc sắc. Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai gắn liền với diễn biến cốt truyện. Trước khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông rất yêu làng, luôn tự hào, thích khoe làng. Nhưng khi ông nghe tin làng Dầu theo giặc, ông như biến thành một con người khác ; thay vào tình yêu làng mạnh.mẽ, lòng tự hào về làng là sự chua xót đắng cay và tủi nhục. Cái tin thất thiệt làm đau xé lòng ông Hai. Cuối cùng, tâm trạng ông Hai trở lại vui vẻ bởi tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính. Ông kể về nhà ông bị đốt với niềm vui lổn, điều này trái với quy luật tâm lí thông thường nhưng lại hợp với lô-gíc tâm lí nhân vật ông Hai, hợp với mạch truyện. Thật là một sự kết hợp đột ngột và hay.
Nghệ thuật xây dựng cốt truyện Làng đặc sắc bởi sự phát triển của cốt truyện hợp lí, nó đã diễn tả được chính xác tâm lí người nông dân Việt Nam trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp và cụ thể ở đây là nhân vật ông Hai. Sự phát triển của cốt truyện cũng là sự phát triển tâm trạng của nhân vật chính – ông Hai trong tình huống đặc biệt. Hơn nữa cốt truyện được diễn tả rất sinh động, thành câu chuyện có giá trị nghệ thuật bằng những biện pháp nghệ thuật như độc thoại nội tâm và đối thoại,… với ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ của nhân vật rất đặc sắc. Có lẽ vì vậy mà truyện đã xây dựhg được một nhân vật tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong nhữhg ngày đầu chống thực dân Pháp với tình yêu làng,.yêu nước mạnh mẽ và sâu sắc.
Tất cả tâm tư, tình cảm của ông Hai đều hướng về làng, về đất nước. Đấy là điều mà ta nhận thấy rõ nhất qua diễn biến tâm trạng trong những tình huống khác nhau của câu chuyện. Trước khi nghe được cái tin “thất thiệt” làng Chợ Dầu theo giặc, ông Hai yêu làng biết bao ; ông luôn tự hào về làng và hay khoe khoang là làng mình giàu có. Nào là có nhà ngói san sát, sầm uất như trên tỉnh ; đường làng lát toàn bằng gạch đá xanh ; khi kháng chiến bùng nổ, cả làng Chợ Dầu tham gia rất tích cực, có phòng thông tin rất lớn. Ông là người rất yêu làng, vốn là người rất sôi nổi, tháo vát cho nên việc đi tản cư khiến ông tù túng bó buộc trong cảnh sống đơn điệu, tẻ nhạt và bưng bít. Ông nhớ cái làng của mình hơn, cái làng đã gắn bó một đời với ông, với những kỉ niệm vui buồn riêng. Ông luôn nghĩ về cái làng của mình, nghĩ đến những ngày tháng vui vẻ làm việc với anh em. Ông rất muốn về làng để được tham gia vào kháng chiến để cùng anh em làm việc nhưng giờ đầy những công việc ấy chỉ trong tưởng tượng. Niềm vui duy nhất của ông là ra phòng thông tin nghe ngóng. Cái nắng gay gắt lại làm ông vui: “Nắng này là bỏ mẹ chúng nó!”. Đúng vào lúc tâm trạng ông đang phấn khởi thì nhận được một tin sét đánh: cả làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Quá bất ngờ, ông Hai choáng váng, cái điều không bao giờ ngờ tới đã xảy ra. Ông vẫn chưa tin làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây, cố hỏi lại với hi vọng là tin đồn: “Liệu có thật không hở bác? Hay chỉ lại…”. Cái tin thất thiệt làm đau xé lòng ông: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi như đến không thở được.”. Bình thường ông vốn là người vui tính, hay chuyện, hay nói, vậy mà giờ đây ông như biến thành người khác. Bao nhiêu căm giận, chua xót, tủi nhục cứ chực ào ra trong ông. Làng không còn là những làng thôn ngõ xóm đẹp đẽ nữa mà là cái gì đó lớn lao hdn, là danh dự. Hiện giờ trong tâm trí ông chỉ còn hai chữ “Việt gian ; bán nước”. Nhìn lũ con ông càng tủi thân: “nước mắt ông lão cứ giàn ra”, “các con ông cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư….”. Một không khí căng thẳng bao trùm đè nặng gia đình ông. Suốt mấy ngày ông không dám ló mặt ra đường, trong lòng nóng như lửa đốt. Rồi đây người ta sẽ xua đuổi, sẽ căm hờn, ông và gia đình sẽ muôn đời chịu tiếng xấu, ông càng căng thẳng hơn khi bà chủ nhà báo tin người làng Chợ Dầu sẽ bị đuổi. Mâu thuẫn nội tâm bị đẩy đến tột cùng với sự đấu tranh khá tàn nhẫn trong con người ông. Có lúc ông muốn trở về làng nhưng lập tức phản đối ngạy: “Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Ông là người nông dân có tình yêu nước lớn lao. Quá đau buồn, ông nói chuyện với con nhưng thực ra là để giãi bày tâm sự của lòng mình. Tâm trạng ông Hai được thể hiện gián tiếp qua ngôn ngữ đối thoại với đứa con, nói với con nhưng chính là đang nói với mình. Mỗi lần nói ra đôi câu như thấy nỗi khổ trong lòng ông vơi đi bội phần. Ông Hai yêu làng, luôn hướng về làng dù xa cách và tấm lòng ông luôn thuỷ chung với Cụ Hồ, với kháng chiến.
Qua truyện ngắn Làng ta thấy được hình ảnh một người nông dân thuần phác, nhiệt thành, trong trái tim nhân hâu của ông luôn có làng quê đất nước. Tình cảm trung hậu và sâu sắc ấỵ chính là phẩm chất của người nông dân ở nhân vật ông Hai.
(Nguyễn Thanh Tâm, lớp 9M,Trường THCS Trứng Vương,
Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Nhận xét
Bạn đã làm rõ được sự phát triển cốt truyện Làng gắn liền với sự phát triển tâm lí của nhân vật chính – ông Hai. Tình yêu làng và tính hay khoe làng (một khía cạnh cụ thể của tình yêu làng) của ông Hai đã được bộc lộ và thử thách cao nhất qua tình huống “tin đồn”. Tình yêu làng của nhân vật cũng được phát triển. Trước Cách mạng, ông Hai tự hào và hay khoe làng mình giàu có. Sau Cách mạng, ông tự hào và khoe làng ông có phong trào kháng chiến. Và đạng khi ông hứng khởi nhất thì tin đồn làng ông là Việt gian. Bởi thế mà ông Hai đau khổ, dằn vặt. Cốt truyện Làng phát triển hợp lí, gắn liền với tình yêu làng của nhân vật chính. Khi tin đồn được cải chính, ông Hai vui sướng đến mức không nghĩ gì đến thiệt hại của gia đình mình, lại đi khoe làng với mọi người.
Tuy nhiên, đầy là một vấn đề khó viết, cho nên bạn mới chủ yếu là tóm tắt sự biến đổi tâm lí của nhân vật ông Hai.
Cần phải lưu ý về việc dùng từ chính xác. Ông Hai khi đi tản cư có cảm thấy cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt, nhưng không thể là bưng bít như bạn viết. Phải chăng đó là bức bối? Khoe khoang và khoe cũng có mức độ khác nhau đấy. Nếu nói khoe khoang là có hàm ý chê bai nhiều hơn, còn khoe thì chỉ là thích kể, thích nói về đối tượng nào đó mà thôi.
Bài 2
Kim Lân là một trong những nhà văn luôn hướng các tác phẩm của mình vào cuộc sống ở làng quê Việt Nam. Có người đã cho rằng chính từ những bức tranh
nông thôn bình dị ấy, ông đã tìm ra phong cách cho riêng mình và đã thể hiện tài năng sáng tạo của một cây bút văn xuôi xuất sắc trong văn học hiện đại Việt Nam. Những trang viết mộc mạc của ông đã gợi cho chúng ta biết bao điều sâu sắc, để ta thêm yêu mến, trân trọng những người dân lao động trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng là một điển hình như vậy. Có theo dõi diễn biến sự phát triển của cốt truyện hấp dẫn, đặc sắc này mới hiểu được vì sao người đọc yêu mến và khâm phục Kim Lân!
Ngay từ đầu, tình cảm của ông Hai đã được khắc hoạ khá đậm nét đó là tình yêu làng quê mang đậm tính truyền thống. Làng Chợ Dầu của ông Hai là nơi ông sinh ra và lớn lên, nơi ông đã gắn bó bằng một thứ tình cảm máu thịt. Ông đã từng tự nhủ lòng “mình sinh sống ở làng này từ tấm bé đến bây giờ. Ông cha cụ kị mình xưa kia cũng ở cái làng này bao nhiêu đời nay…”. Cho nên, ông không thể không yêu từng con đường đất nhổ, từng nếp nhà tranh đơn sơ, từng thửa ruộng, từng ngọn cỏ, cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay hay con đường làng lát toàn đá tảng… Ông tự hào và hãnh diện về làng mình ở vô cùng. Tình cảm đó trải qua nhiều biến cố lịch sử đã trở thành những thử thách của “lửa thử vàng”, tôi luyện phẩm chất con người.
Trước Cách mạng tháng Tám, vì yêu làng quê mình quá ông đâm biến thành người hay khoe. Nghe những lời giới thiệu đầy vẻ khoe khoang của ông khiến bà con bên ngoại “mắt tròn mắt dẹt” vì kinh ngạc, chúng ta thấy vừa buồn cười lại vừa đáng quý tấm lòng của ông. Ông cứ hồn nhiên coi làng mình là nhất ở trên đời này, dù rằng những thứ để khoe đâu có phải của riêng ông, đâu có đem lợi lại cho bà con dân làng ông…! Phải cho đến khi Cách mạng về, ý thức được người dân làng ông quá khổ vì bị áp bức nay được đổi đời, có cdm ăn áo mặc, không còn bị nô lệ… thì những phẩm chất đáng quý trước kia nay được thể hiện khác lạ hẳn. Ông vẫn thích kể chuyện làng, vẫn thích khoe một cách say sưa về làng mình.
Nhưng mỗi lời của ông lúc này chứa đầy sự giác ngộ về cách mạng, về ý thức giai cấp mà ông là người trực tiếp tham gia trong đó. Lúc này đây, lòng yêu quý làng quê của người nông dân làng Chợ Dầu đã trở thành một phẩm chất đáng quý, một tính cách đáng trân trọng của nhân vật.
Từng bước một, câu chuyện dẫn dắt chúng ta tới mảnh đất miền trung du, nơi ông Hai cùng bà con dân làng đã đến tản cư. Xa làng, tình cảm đối với quê nhà của người dân tản cư, rõ nhất là qua ông Hai, càng làm nổi bật sự phát triển của cốt truyện. Vì kháng chiến mà họ rời làng đi xa, nhưng có phút giây nào lòng họ không ngóng về quê hương. Nỗi nhớ cồn cào, da diết của họ đã chứa đựng trong câu ca xưa:
Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…
Đến nơi mới này cái bệnh “khoe làng” của ông Hai vẫn không thay đổi. Nó càng sâu sắc hơn để biến thành nét tính cách riêng biệt. Ngày bận rộn sản xuất thì thôi chứ chiều tối ông không sao chịu đựng nổi sự gặm nhấm của nỗi lòng, của tiếng rì rầm đếm tiền hàng của bà vợ. Hình như được chia sẻ đã trở thành nhu cầu bức thiết, làm vơi đi những tâm tư đang chất chứa trong lòng của ông lão vốn quen cởi mở, giãi bày. Ông lại sang hàng xóm khoe vẹ cái làng nhỏ như để vợi đi phần nào sự mong nhớ. Chỉ có lúc ấy ông mới trở nên có khí sắc, mới thực sự được sống với bao kỉ niệm đẹp đẽ, với niềm tự hào của một tình yêu làng tha thiết, nồng nàn nhất. Sự phát triển của câu chuyện khiến ta xúc động vô cùng trước tình cảm trong sáng, thuần khiết và hồn hậu của một người nông dân chân chất, ít học!
Như vậy, Cách mạng về, kháng chiến bùng nổ không chỉ đem lại sự đổi đời cho nhân vật mà nó còn tạo cơ hội để nhân vật bộc lộ tấm lòng và tình cảm của mình với quê hương, đất nước. Trước, cái sinh phần viên tổng đốc làng ông lúc nào cũng khiến ông hãnh diện. Tình yêu làng của ông lão nhà quê bây giờ đầy kiêu hãnh, vì làng Chợ Dầu không chỉ đẹp mà còn đánh giặc rất hăng. Có thế, ông với bà con dân làng mới phải đĩ tản cư để dân quân du kích làng ông còn chiến đấu với lũ đầu trâu mặt ngựa đó chứ! Phải chăng, khi phải rời quê đi tản cư, bao chuyện vui buồn của quá khứ và hiện tại cứ chất chứa tràn đầy và nồng ấm trong ông!
Cái tin thất thiệt làng Chợ Dầu thèo giặc và tin đó được cải chính sau này là những tình huống bất ngờ đầy kịch tính của truyện. Ngòi bút của Kim Lân đã đẩy cốt truyện phát triển đếri đỉnh điểm. Hai tình huống trên được đặt vào phần sau của truyện tựa như có một sức hút lạ kì, lôi cuốn người đọc theo dõi sự phát triển tính cách của một người đã yêu làng bằng cả trái tim mình. Hình ảnh “Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân” như nói lên được tấm lòng đầy nghĩa tình của ông với kháng chiến, với Cụ Hồ. Nỗi buồn khổ’VÌ tin làng phản bội như một nhát dao cứa vào tim ông, làm sụp đổ bao niềm kiêu hãnh về làng quê của mình. Ông thấy tủi hổ cho bản thân ông, cho gia đình ông, cho cái làng Chợ Dầu và cả dân làng nơi đó nữa. Nhà văn diễn tả tâm trạng của nhân vật chính này như một sự bất lực, tuyệt vọng. Và cũng chính lúc này, ông nhận ra vẻ đẹp của lòng yêu nước ẩn chứa trong tâm hồn những người khác nữa. Từ mụ chủ nhà xấu người xấu nết mà hễ cứ thấy mặt là ông lại ghét cay ghét đắng, hay người đàn bà tản cư ngồi cho con bú với câu chửi đổng bâng quơ và còn bao người dân khác nữa,… Tất cả họ đều sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, chia nhà chia cửa cho đồng bào của mình khi có hoạn nạn, khó khăn, nhất là khi có hoạ ngoại xâm. Nhưng cũng chính họ đã phản ứng quyết liệt trước sự phản bội và không nhân nhượng với bất cứ ai hèn nhát đầu hàng hay chỉ cần là dân của một làng đã đi theo giặc. Mong nhớ và chờ đợi từng ngày từng giờ được trở về làng vậy mà lòng ông thắt lại, và đã dứt khoát với chính mình: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Phải chăng, đến đây diễn biến của chuyện đã để cho tình yêu Tổ quốc rộng lớn thực sự vượt lên trên tình yêu làng xóm, quê hương vốn nhỏ bé trong trái tim nhân hậu, giàu tình cảm của ông Hai. Lời tâm sự của ông với cậu con trai út, nhất là những giọt nước mắt cứ trào ra, chảy dài trên khuôn mặt một người vất vả, đã sống qua mấy chế độ, từng trải cũng nhiều. Ông khóc như thế “để ngỏ lòng mình, minh oan lại cho mình”. Bản chất tốt đẹp của chế độ, ý nghĩa cao cả của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khiến cho tình cảm truyền thống của người nông dân có nhiều biến chuyển sâu sắc.
Toàn bộ tác phẩm đã nêu lên một ý nghĩa sâu sắc, đó là sự thay đổi lớn lao về nhận thức của người nông dân trong thời kì đầu kháng chiến chống thựe dân Pháp. Cốt truyện không phức tạp, dài dòng, ngược lại rất đơn giản, dễ hiểu nhưng đầy bất ngờ, lôi cuốn. Từ những việc tưởng như bình thường nhỏ bé nhờ sự phát triển hợp lí và tài tình của diễn biến cốt truyện mà chứa đựng bên trong những ý nghĩa hàm ẩn sâu sắc, lớn lao. Để cốt truyện phát triển song hành cùng diễn biến tâm lí nhân vật là một thành công trong phong cách sáng tác của nhà văn. Phải nói rằng, Kim Lân rất giỏi trong việc “đãi cát” để “lấy được vàng”.
Làng khép lại trong một dư âm nhẹ nhàng của sự hoà quyện giữa tình yêu làng quê với tình yêu đất nước của người nông dân nói riêng và người Việt Nam nói chung.
(Nguyễn Thuận Yến, lớp 9H1, Trường THCS TrƯng Vương,
Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Nhận xét
Thật ra cốt truyện của Làng khá đơn giản. Tất cả mọi diễn biến đều xoay quanh tình yêu làng của nhân vật ông Hai. Ông Hai yêu cái làng Chợ Dầu theo cách riêng của mình là khoe làng. Trước đây ông khoe làng ông giàu. Sau Cách mạng, ông khoe làng ông có tinh thần kháng chiến. Khi tin đồn thất thiệt đến tai ông, ông đau khổ, dằn vặt, xấu hổ vì làng Việt gian. Quyết thù làng theo giặc, nhưng ông vẫn khổ tâm. Đây là đỉnh điểm của câu chụyện. Đến khi tin đồn được cải chính, ông là người sung sướng nhất. Diễn biến tâm lí cua nhân vật chính gắn liền với các sự kiện trên. Phân tích diễn biến cốt truyện do đó gắn liền với diễn biến tâm lí của’ông Hai.
Người viết đã làm được điều này, nhưng cách diễn giải còn chìm vào sự phân tích nhân vật hơn là diễn biến cốt truyện. Người viết đã cố gắng diễn tả tâm lí của nhân vật. Nhưng say sưa cảm xúc, nên quên mất rằng cái làng Chợ Dầu của ông Hai không phải là cái làng được nói tới trong đoạn văn này: Ông dã từng tự nhủ lòng “mình sinh sống Ở làng này từ tấm bé đến bây giờ. Ông cha cụ kị mình xưa kia cũng sinh sống ở cái làng này đã từ bao nhiêu đòi nay. Cho nên, ông không thể không yêu từng con đường đất nhỏ, từng nếp nhà tranh đơn sơ, từng thửa ruộng, từng ngọn cỏ, cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay hay con đường làng lát toàn đá tảng… Không có đường đất nhỏ, chẳng có nếp nhà tranh đơn sơ (ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh), mà đường lát đá xanh chứ không phải là đá tảng. | Phân tích diễn biến cốt truyện Làng của Kim Lân – Ngữ Văn 9 | 3,874 | |
Phân tích diễn biến nội tâm nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)
Bài làm
Cuộc đời của chúng ta chính là những chuyến xe ngẫu nhiên, mỗi một chuyến xe sẽ là một cuộc trải nghiệm khác nhau về những hương vị của cuộc đời, về những đắng cay, ngọt bùi. Thế nhưng là may mắn hay bất hạnh lại không thể do chúng ta quyết định. Vậy nếu tràn đầy những niềm vui hay những đau thương không cách nào diễn tả thì sao? Khi đó văn học sẽ là nơi diễn tả những cảm xúc khó nói đó của chúng ta. Văn học là mặt hồ phản chiếu những mặt cảm xúc của con người từ trong hiện thực thông qua những diễn biến nội tâm của các hình tượng nhân vật. Và Tô Hoài là một trong những tác giả đã thành công khi khắc họa nội tâm nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” mà tiêu biểu là khi đêm tình mùa xuân đến.
Nội tâm nhân vật là toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên trong của nhân vật, là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lí.. của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nhân vật gặp phải trong cuộc đời. Và Tô Hoài là một trong những tác gia lớn nhất của thế kỉ hai mươi, là cây bút tên tuổi và đáng kính nể của nền văn học hiện đại Việt Nam khi ông đã cầm bút hơn nửa thế kỉ. Nhưng bất kì tác phẩm nào ông mang đến cho chúng ta đều có sự chất lượng. Mỗi khi nhắc đến Tô Hoài là chúng ta nhắc đến tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu kí” đã từng khiến tuổi thơ của mỗi cô cậu bé Việt Nam say mê. Bên cạnh đó, nói đến Tô Hoài ta cũng không thể không liên tưởng đến hình ảnh cô Mị xinh đẹp, trẻ trung làm nên nét đẹp tiêu biểu cho người phụ nữ vùng cao Tây Bắc trong“Vợ chồng A Phủ” . Tác phẩm không chỉ mang đến cho chúng ta những xúc động về một cuộc sống tủi nhục của người dân vùng cao dưới ách thống trị của chế độ nửa thực dân phong kiến mà còn mang đến sự xót xa, thổn thức trước những đắng cay mà người phụ nữ phải chịu đựng. Những đớn đau đó đã được Tô Hoài đã khắc họa rất sâu sắc qua chính nội tâm của nhân vật Mị mà cụ thể là khi đêm tình mùa xuân diễn ra.
Được làm dâu nhà giàu có ai mà không khát khao điều ấy? Nhưng Mị vốn dĩ chưa từng khao khát điều đó, ngược lại cô cầu xin bố “đừng bán con cho nhà giàu”, nợ thì để cô “làm nương ngô giả nợ thay cho bố” . Mị chính là một cô gái xinh đẹp, cả tính cách cũng đẹp như thế. Mà cuộc đời nào có dễ dàng với ai, A Sử lợi dụng đêm Tết năm ấy, lợi dụng đặc điểm “người yêu của Mị thường đeo nhẫn ở ngón tay ấy” mà bắt Mị mang về cúng trình ma nhà nó. Và từ đây chính là khởi đầu, khởi đầu cho những chuỗi bi thương và đau khổ trong cuộc đời Mị. “Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc” . Mị trốn về nhà, muốn tìm đến cái chết nhưng đến việc sinh tử của bản thân cũng không được lựa chọn, chỉ đành “ném nắm lá ngón xuống đất”, chỉ “đành trở lại nhà thống lí” . Tuổi thanh xuân vốn dĩ đẹp đẽ của một đời người con gái cứ thế bị chôn vùi. Dần theo năm tháng, Mị quên dần những nỗi đau thương, nhưng đó không phải là Mị đã bớt đi những niềm đau, chẳng qua“ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Mị chấp nhận cái thực tại đang giày vò mình, bởi lẽ “Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa” nhưng cũng không giống con trâu, con ngựa. Đến động vật“làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ” . Còn Mị, một thân phận đàn bà sống trong ngôi nhà tưởng chừng giàu có mà sung sướng, trái ngược lại, thân phận đàn bà ở ngôi nhà này “thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày” . Mị cũng chẳng còn khái niệm về thời gian, không gian. Bất kể lúc nào, chỉ cần khi bước vào căn buồng“Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay”, bất cứ“lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”, không biết là đêm hay là ngày. Mị đã mất đi những cảm xúc vốn có của mình, một cô Mị trẻ trung, xinh đẹp cứ thì mà chôn vùi, những bản chất tốt đẹp cũng cứ theo những nỗi đau dồn nén ấy mà nhạt nhòa dần đi, cất vào một góc khuất trong chính trái tim cô.
“Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu.”
Mùa xuân ở Hồng Ngài đầy màu sắc, âm thanh, nhưng đối với Mị đó đều là những điều trở nên xa lạ theo năm tháng. “Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết” . Thế nhưng điều xa lạ ấy cũng lại là một điều quen thuộc, gần gũi với Mị trong quá khứ. Phải chăng Mị đang nhớ lại một điều gì đó? Sau bao lâu khi “mỗi ngày Mị càng không nói”, lần đầu Mị nhẩm thầm bài hát dường như là một điều thân quen với chính bản thân cô. Và rồi những đêm tình mùa xuân đã tới, sau bữa cơm Tết cúng ma ở nhà thống lí Pá Tra, khi xung quanh Mị à những tiếng“chiêng đánh ầm ĩ”, “hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa”, Mị cũng uống rượu. “Mị lén lấy hũ rượu”, “cứ uống ực từng bát” . Tiếng “ực” đó nghe mà sao chua cay. Mị đang nuốt vào những ngụm rượu, hơi men hay đang nuốt vào lòng mình những đau thương, xót xa, tủi nhục bấy lâu. Uống cho say liệu rằng Mị có quên được những nỗi khổ của chính mình, những niềm đau đã qua, những đắng cay lúc này và một tương lai mờ mịt phía trước? Thế nhưng Tô Hoài đã chọn lựa “rượu” – một tác nhân rất hay để chúng ta có thể nhìn thấy những biến chuyển trong cảm xúc của Mị, trong lòng Mị đang đổi thay một điều gì đó. Thời điểm“mọi người nhảy đồng, người hát”, tuy rằng “Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn” nhưng trong lòng Mị, Mị “đang sống về ngày trước”. “Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng”, chẳng biết đấy là tiếng sáo từ đâu, có thể là từ thực tại lúc bấy giờ, ở ngoài kia có những người đang thổi sáo rủ nhau hò hẹn, đi chơi Tết, cũng có thể là từ quá khứ của Mị vọng lại. Mị bắt đầu nhớ, trong kí ức tươi đẹp trước, “Mị thổi sáo giỏi”. Mị đang sống lại là cô gái xinh đẹp ngày trước hay sao? Tô Hoài đã vẽ nên cho chúng ta một bức tranh thật hoàn mỹ ngay bên bếp lửa trong chính đêm mùa xuân này, “Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo”, “uốn chiếc lá trên môi”, Mị “thổi lá cũng hay như thổi sáo” . Bao nhiêu kỉ niệm đẹp tràn về trong tâm trí cô lúc này, có một ngọn lửa bùng cháy lên trong lòng cô. Ngọn lửa ấy làm cháy lên khát vọng ngày xưa, cháy lên những kí ức tươi đẹp. Mị nhớ lại đã từng “có biết bao người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị” . Mị nhớ lại“Mị trẻ lắm”, “Mị vẫn còn trẻ” . Khi “rượu đã tan từ lúc nào”, “người về”, “người đi chơi đã vãn cả”, Mị “trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trắng trắng”, bỗng dưng trong lòng Mị nhen nhóm lên những tia “vui sướng như những đêm Tết ngày trước”, Mị “thấy phơi phới trở lại”. Mị tạm bỏ quên đi những thực tại khổ đau, Mị quay về với quá khứ tươi đẹp ngày trước. Hồi tưởng về mùa xuân thời con gái trẻ trung, Tô Hoài đã tái hiện lại cho chúng ta từng giai đoạn sống dậy bản thân thật sự của Mị, từ trong những nghĩ suy, hành động. Nỗi nhớ về quá khứ, khát vọng về những điều tốt đẹp quá mãnh liệt, thực tại phũ phàng lại khiến mị đớn đau. Mị nhìn thấy ngoài kia, “bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết”, còn Mị với A Sử là sợi dây trói buộc phải ở với nhau chứ nào có lòng gì. Nghĩ đến, Mị chỉ thấy“nước mắt ứa ra”. Nghĩ đến, nếu có “nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa” . Một lần nữa Mị lại nghĩ đến cái chết. Nhưng tâm tư này của Mị lại khiến chúng ta mừng rỡ hơn vì Mị đang thật sự sống dậy chính bản thân mình ngày trước. Mị muốn chết vì Mị muốn sự giải thoát, là khát khao được sống là chính mình chứ không phải tiếp tục cuộc sống như ngục tù, như một người“vô hồn” . Khát vọng sống cháy bừng bên trong càng khiến cho Mị phẫn uất những thực tại phũ phàng, tủi nhục này. Mị càng nhớ về ngày trước, “tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường”, như thể âm thanh vọng từ quá khứ đang thôi thúc Mị quay trở lại là chính mình:
“Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi..”
Tiếng sáo văng vẳng, tiếng sáo thiết tha, tiếng sáo bồi hồi, nhiều lần vọng lại trong đầu Mị, tiếng sáo đang “rập rờn” . Cuối cùng Mị quyết định đến góc nhà, “lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng” . Hình như Mị cũng đang bỏ thêm vào cuộc đời mình thêm một tia hy vọng mới, đang bỏ thêm một chút chất đốt, đốt lên ngọn lửa khát khao về những điều tốt đẹp. “Mị muốn đi chơi”, Mị muốn trở lại với những cuộc chơi vui vẻ ngày ấy, trở lại với thanh xuân của mình. “Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách”, từng hành động được Tô Hoài miêu tả chậm rãi mà cụ thể, dứt khoát. Mặc cho A Sử hỏi, Mị cũng không nói lời nào. Mị “nổi loạn” . Mị sống lại là chính mình ngày xưa, không cam chịu cái số phận đọa đày nữa. Mị muốn đi chơi như cách mà Mị muốn giải thoát cho chính mình, Mị đang tìm một lối thoát để đi tìm lại những điều tốt đẹp từng có. Nhưng nào đâu dễ dàng như vậy khi A Sử phát hiện được sự khác biệt của Mị, nó“lấy làm lạ” rồi cũng mau chóng dập tắt khát khao của Mị, nó “trói đứng Mị vào cột nhà”, “tắt đèn” rồi đi ra ngoài với những cuộc chơi của bản thân nó. Nhưng trong khoảnh khắc đấy, khi bóng tối bao quanh, “Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói” . Mị vẫn chưa trở về thực tại lúc này, Mị vẫn còn chìm đắm trong men say, trong “hơi rượu nồng nàn”, trong “tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi” . Mãi đến khi Mị“vùng bước đi”, “tay chân đau không cựa được”, Mị mới lờ mờ nhận ra hoàn cảnh của mình lúc này, lúc mê lúc tỉnh, nhưng sâu trong niềm đau, Mị vẫn biết mình bây giờ “không bằng con ngựa” . Cứ như thế, đêm tình mùa xuân trôi qua trong nỗi đau bị dây trói thít lại, trong nỗi nhớ tha thiết nồng nàn, trong hơi rượu, tiếng sáo. Lần đầu “nổi loạn” của Mị đã được Tô Hoài tái diễn trọn vẹn như thế. Nhưng đó không phải là dấu chấm hết, đó là sự khởi đầu âm thầm. Ngọn lửa khát khao từ từ nhen nhóm và bùng cháy lên trong đêm đấy, dẫu bị A Sử dùng biện pháp độc ác, không nên đối xử với một người con gái thì Mị vẫn còn tia lửa về những khát khao trong lòng đang chờ đợi một ngày cháy thật sự mạnh mẽ hơn. Như một đợt sóng ngầm dâng lên rồi tràn ra, Mị đã trở về với chính mình ngày xưa dù chỉ trong chốc lát, từ cõi quên Mị trở về cõi nhớ, từ cõi mơ hồ Mị chợt tỉnh, Mị nhớ ra mình là ai, nhớ ra những kí ức của mình vốn đã bị cất giấu từ rất lâu. Mặc dù Tô Hoài mô tả rất ít những hành động nhưng từ đấy, kết hợp với tâm trạng, cảm xúc của Mị diễn biến từng lúc, không gian, thời gian, Tô Hoài đã dẫn dắt chúng ta đi theo biến chuyển trong nội tâm của nhân vật. Để từ đó chúng ta nhận ra có quá nhiều nỗi đau trong bản thân Mị nhưng cũng có rất nhiều khát khao đang chờ đợi cơ hội rực cháy. Để từ đó chúng ta nhận ra sự thành công của Tô Hoài khi miêu tả nội tâm nhân vật, mang đến cho độc giả một niềm tin rằng sẽ không điều gì đánh gục được Mị, cũng như không thế lực bạo tàn nào vùi dập được sức sống tiềm tàng của một con người, không một sợi dây nào trói buộc được những khát khao về một tương lai, một cuộc đời tươi sáng.
Nội tâm nhân vật thể hiện được nét riêng của nhân vật đó, thông qua mạch cảm xúc, suy tư trong nội tâm sẽ đào sâu hơn tâm hồn, tính cách, phẩm chất của hình tượng nhân vật. Mà không gì quý giá hơn một tâm hồn đẹp, không gì đáng giá hơn những khát khao, những phẩm chất vốn có của con người nhưng đôi khi những điều ấy ẩn giấu trong những góc khuất ít ai thấy. Và Tô Hoài là một trong những nhà văn thành công khi khai thác thế giới nội tâm nhân vật, Tô Hoài đã tìm đến thế giới đẹp đẽ bí ẩn đó để mang đến cho chúng ta thêm mở rộng về những vẻ đẹp mới – vẻ đẹp của con người vùng cao Tây Bắc và nổi bật là thông qua hình tượng Mị từ tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” . Tô Hoài đã thật sự thành công.
Vân Trang – CTV Văn học của | Phân tích diễn biến nội tâm nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) | 2,542 | |
Phân tích diễn biến tâm lí của Chí Phèo khi gặp thị Nở
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến tâm lí của Chí Phèo khi gặp thị Nở
5 (100%) 1 đánh giá
Bài làm
Giai đoạn trước Cách Mạng tháng Tám, nền văn học Việt Nam giống như một bầu trời đen tỏa đầy sao sáng, mỗi ngôi sao là một tác giả xuất chúng. Và một trong những ngôi sao không thể không nhắc đến trên bầu trời văn học ấy đó chính là nhà văn Nam Cao. Ông là một cây bút chuyên viết truyện ngắn, văn xuôi theo xu hướng phê phán, tập trung miêu tả cuộc sống nghèo khổ, tối tăm, thê thảm của người nông dân và trí thức nghèo. Các tác phẩm của ông mang rất nhiều giá trị nhân văn sâu sắc, tiêu biểu là truyện ngắn “ Chí Phèo” – một trong những tác phầm làm nên tên tuổi của ông. Câu chuyện chủ yếu nói đến nhân vật Chí Phèo, một số phận cùng cực, hẩm hiu, bị áp bức, chà đạp đến chết. Dẫu có hoàn cảnh khổ cực, cuộc sống bế tắc nhưng trong hắn vẫn toát lên một vẻ đẹp trong sáng, lương thiên như một ý kiến đã cho rằng: “ Chí Phèo là nhân vật có đầu óc sáng sủa nhất làng Vũ Đại”. Nhận xét này hoàn toàn đúng đắn, và chính diễn biến tâm lí của y khi gặp Thị Nở – người hắn thương đã thể hiện rõ nhất tính đúng đắn.
Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã miêu Chí Phèo với những ngữ từ cùng cực nhất: một kẻ đi tù mới về, nát rượu, vừa đi vừa chửi, chửi tất cả mọi người, cả làng Vũ Đại nhưng mảy may chả ai quan tâm. Bộ dạng thì chả khác gì một thằng “ săng đá”: “ cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”, nhìn bộ dạng ấy chẳng ai dám gần lại hắn. Rồi hắn lại tìm đến nhà Bá Kiến với mục đích ăn vạ, bị lí Cường mắng chửi, y quay ra đập cái chai vào cột cổng, nằm xuống khóc lóc, cầm vỏ chai rạch mặt rên rỉ, mọi người thấy vậy thi nhau kéo ra xem. Hắn cứ nằm đó một cách cứng đầu, hách dịch, chẳng ai dám lại gần, ấy vị mà khi cụ ông về, chỉ bằng vài lời dỗ ngon ngọt mà hắn lại trở nên dễ bảo, trở thành tay sai của bá Kiến “ càng ngày càng hung hãn, ngang ngược và triền mien say”. Những tưởng cuộc đời của Chí Phèo chỉ toàn là những tăm tối, đau khổ thì cuộc gặp gỡ Thị Nở đã khiến cuộc đời hắn thay đổi hoàn toàn.
Y gặp Thị Nở ở bên cạnh bờ sông, sau một bữa rượu say mèn, dưới ánh trăng sáng, hai người đã ăn nằm như “vợ chồng” với nhau. Mối tình giữa kẻ say rượu với người đàn bà xấu xỉ, dở hơi, ế chồng dần chớm nở. Chính sự quan tâm, ân cần của Thị Nở đã khiến Chí Phèo có những suy nghĩ khác về cuộc đời. Sáng hôm ấy, Chí Phéo tỉnh dậy, vẫn như mọi lần, miệng hắn đắng ngắt, lòng mơ hồ buồn nhưng lần này, y lại nghe được những âm thanh thanh bình dị, gần gũi, nhẹ nhàng của cuộc sống, tiếng chim hót ríu rít, tiếng nói cười của mọi người, tiếng anh thuyền gõ mái chèo đuổi cá… Những âm thanh ấy dội vang vào sâu thẳm tâm hồn của Chí, khơi dậy những vẻ đẹp nội sâu trong nội tâm, diễn biến tâm trạng của hắn bắt đầu có những diễn biến phức tạp. Hắn chiêm nghiệm lại cuộc đời mình, từ khi còn nhỏ, tuổi thơ của hắn đã toàn là những bất hạnh, cơ cực, khổ đau. Cho đến bây giờ, khi đã ngoài bốn mươi, cái tuổi bên kia của cuộc đời mà trong tay hắn vẫn chưa có gì, không gia đình, không vợ con, không nhà cửa, ruộng đất… Từ quá khứ đến hiện tại, Chí lại bắt đầu nghĩ đến tương lai, một tương lai ốm yếu, cô đơn, lạc lõng, lòng của hắn chứa đựng chỉ toàn là những nỗi buồn và tuyệt vọng. Một con người mà hàng ngày chỉ biết uống rượu, chửi rủa, làm toàn điều ác nay lại biết suy nghĩ đến tương lai của mình, cái “sáng sủa” trong đầu Chí dần được lộ diện.
Đến khi được Thi Nở chăm sóc, được ăn bát cháo hành thơm phức do chính tay thị làm thì tất cả những gì tốt đẹp nhất, lương thiện và sáng sủa nhất trong con người của Chí Phèo đã được thể hiện. Cảm xúc của Chí đi hết cung bậc này đến cung bậc khác, hắn ngạc nhiên, xúc động đến phát khóc, mắt hắn ươn ướt vì lần đầu tiên trong đời được người ta cho cái gì mà không phải dọa nạt, cướp bóc. Tất cả xuất phát từ sự tình nguyện và tình cảm mà Thị Nở dành cho hắn. Cầm bát cháo hành ăn một cách ngon lành, tự nhiên cảm xúc trong Chí lại lẫn lộn, vừa vui lại vừa buồn, xen kẽ là cái gì đó giống như là ăn năn. Khi mà giờ chẳng thể ác được nữa, con người hắn lại trở nên hiền lành, chất phác, “ hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ”. Một con người hàng ngày vốn hống hách, ngang ngược, nay vì một trận ốm lại thay đổi cả về sinh lí lẫn tâm lí, trở nên yếu đuối trước một người đàn bà.
Nhờ có Thị Nở mà lần đầu tiên trong đời Chí Phèo biết đến hương vị của một tình yêu đích thực, đó không phải sự run sợ, ép buộc bởi ham muốn xác thịt của bà Ba, mà tất cả đều xuất phát từ trong tim hai người, nhẹ nhàng và chân thành. Chàng ta thấy được cái duyên trong nụ cười của Thị Nở, chính tình cảm chân thành của thị mà đã cảm hóa được linh hồn trong một con “quỷ dữ” trở về. Chí Phèo giờ đây muốn trở thành một con người bình thường, muốn hòa nhập lại với xã hội ngoài kia, khao khát lương thiện trong con người ấy trỗi dậy một cách mạnh mẽ: “ Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, muốn làm hòa với mọi người biết bao”. Chí Phèo muốn làm lại cuộc đời mình, có một gia đình nhỏ, vợ chồng làm thuê kiếm sống, thoát khỏi tay của bá Kiến…tất cả những ước mơ tươi đẹp nhất của một con người thời đó hiện lên trong đầu của Chí, đúng như với nhận xét “ đầu óc chủa Chí Phèo sáng sủa nhất làng Vũ Đại”. Với bản chất liều lĩnh, hắn dám mơ và sẽ làm chống lại mọi thứ để có được những gì mơ ước.
Nam Cao đã thành công trong việc gây dựng một nhân vật Chí Phèo với nhiều khía cạnh khác nhau, ác thiện đủ cả. Nó giống như hiện thân của cả một thế hệ nông dân nghèo bị áp bức, bóc lột thời xưa. Qua đây, ta cũng thấy được nhận định ở trên về đầu óc sáng sủa Chí Phèo là hoàn toàn đúng đắn. | Phân tích diễn biến tâm lí của Chí Phèo khi gặp thị Nở | 1,256 | |
Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm xuân lúc đang ở nhà lí Pá Tra trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm xuân lúc đang ở nhà lí Pá Tra trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài
Vợ chồng A Phủ là một loại truyện ngắn xuất sắc nhất của Tô Hoài. Truyện kể về cuộc đời đầy biến cố của đôi vợ chồng trẻ người Mông là Mị và A Phủ, qua đó cho chúng ta thấy được chế độ thực dân, phong kiến cùng những hũ tục lạc hậu thời bấy giờ.
Đoạn văn miêu tả Mị cùng với những chi tiết đến chân thực, cảm động đã thể hiện được sức sống tiềm tàng, mãnh liệt cùng với khao khát một tình yêu cháy bỏng – Mị là người con gái xinh đẹp nhưng lại bất hạnh.
Mị mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cô ở với cha. Vì tính tình hiền lành đẹp người lại đẹp nết cho nên trai làng nhiều người để mắt tới, nhưng chỉ vì món nợ truyền đời của cha mẹ mà Mị bị bắt về làm con dâu trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Tuổi xuân của Mị đã bị A Sử,con trai nhà thống lý tước đoạn và giày vò.
Quãng đời Mị sống trong nhà thống lý là những quãng đời bị đọa đày, tủi nhục vô cùng. Với danh nghĩa là con dâu của một quan lớn nhưng cô không khác gì đầy tớ, nô lẹ trong nhà, con trâu có lúc còn được nghỉ ngơi còn cô thì không nhưng cô đã nhẫn nhịn và cam chịu. Lúc mới bị bắt về thì Mị Phản kháng quyết liệt, còn định ăn lá ngón tự tử nhưng nghĩ tới cha già rồi lại thôi, Mị không đành lòng chết. Đời Mị cứ như thế lặng lẽ trôi đi. Cô sống mà như đã chết, cuộc sống với cô giờ đây cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Trải qua những biến cố đau khổ, mọi cảm xúc trong cô dường như giờ đã chai lì nhưng khát vọng sống trong Mị chưa hoàn toàn lụi tắt.Trong Mị luôn tồn tại hai con người tưởng chừng đối lập: Con người bên ngoài lạnh lùng vô cảm và con người bên trong có sức sống âm thầm nhưng mãnh liệt.
Thời điểm sau đó, tác giả đã lấy khung cảnh mùa xuân làm nền cho diễn biến tâm trạng của Mị, chứng tỏ sức sống tiềm tàng trong Mị vẫn còn.
“ Mùa xuân, đất trời tưng bừng màu sắc, rộn rã âm thanh, rất gần gũi với quãng đời hồn nhiên, vui vẻ ngày trước của Mị: Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho. Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa. Ở Hồng Ngài người ta thành lệ cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong, không kể ngày, tháng nào. Ăn Tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới. Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió vã rét rất dữ dội. Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ… Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi “.
Chính sức sống của mùa xuân đã làm cho Mị hồi sinh, chợt lúc này trong Mị có nhiều cung bậc cảm xúc lẫn lộn vui sướng và đau khổ, tủi nhục đến mức muốn chết và khao khát sống. Những cảm xúc ấy đang trỗi dậy, cuộn xoáy, trào dâng trong lòng Mị.
Trong khi trai gái, lũ trẻ tập đánh Pao rồi thổi sao, thổi kèn…đặc biệt tiếng sáo gọi bạn tình từ đầu núi vọng lại làm cho Mị thiết tha bồi hồi và Mị nhẩm thầm theo bài hát quen thuộc mà ngày trước cô hay hát:
Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu.
Sau bao năm chịu đựng, câm lặng trong đau khổ thì có lẽ đây là lần đầu tiên người con gái chợt cất tiếng hát thầm.
Mị lén lấy hũ rượu uống ừng ực từng bát. Mị uống như uống đang nỗi tủi hận, đắng cay vào lòng, để quên đi nỗi khổ. Tuy nhiên hành động này lại chuyển biến tới một tâm lý đang diễn ra trong người con gái này.
Lúc đã ngấm men rượu, Mị thấy mình đang sống về ngày trước, tiếng sáo gọi bạn tình làm cho Mị rạo rực, của tuổi thanh xuân xăng tràn sức sống, Mị là một cô gái xinh đẹp đang uống rượu bên bép lửa và thổi sáo “Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Bao kỉ niệm đẹp thời con gái sống dậy trong lòng Mị: Mị thổi sáo giỏi… có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Hồi tưởng về mùa xuân tươi đẹp thời con gái, điều đó cho thấy con người thật của Mị đang hồi sinh “. Chứng tỏ khát vọng sống như ngọn lửa đang bùng cháy trong tâm hồn của người con gái này.
Diễn biến tâm trạng Mị rất phức tạp: Cô đang bị giằng xé bởi mâu thuẫn giữa thân phận tù túng của người con dâu gạt nợ và mong muốn được tự do đi chơi Tết của cô gái đang khao khát tự do và tình yêu.
Mãi mê chìm đắm trong quá khứ cho nên Mị đã quên đi hiện tại “ Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau, Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi Mị từ từ bước vào buồng. Tâm trạng Mị phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị nhận ra rằng mình vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi “.
Mị tự nhủ “ Bao nhiêu người có chồng mà vẫn đi chơi ngày Tết đấy thôi. A Sử với Mị không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau. Mị muốn ăn lá ngón cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Uất ức, nước mắt Mị ứa ra. Tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường “:
“ Anh ném pao, em không bắt,
Em không yêu, quả pao rơi rồi…”
Khi A Sử bất ngờ vào buồng để thay áo mới để đi rình bắt thêm con gái nhà người ta mang về làm vợ thì Mị lặng lẽ “ thản nhiên xắn thêm miếng mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng, quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa, rút thêm cái áo. A Sử nhìn Mị, Mị không thèm nói một lời “. Những điều này chứng tỏ Mị đang nổi loạn, Mị muốn thoát khỏi chốn này.
Những hành động khác thường của Mị đã bị A Sử trấn áp. Sau câu hỏi ngạc nhiên và giận giữ. Mày muốn đi chơi à?, lúc này A sử đã trói Mị bằng một thúng sợi đay, quấn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiên được đầu nữa. Không hề có một dòng nào miêu tả về thái độ phản kháng của Mị. Suốt từ đầu đến cuối, Mị chỉ im lặng câm nín. Tuy nhiên, A sử chỉ trói được thể xác chứ không thể trói được tâm hồn của cô, Mị vẫn đang say mê sống với những kỉ niệm tình yêu của mình.
Lúc này, Mị lại sống đan xen giữa thực tại và quá khứ. Càng nhớ tới kỉ niệm cũ, Mị càng xót xa, đau khổ, phẫn uất với thực tại phũ phàng của mình:Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu tỏa. Tiếng sáo. Tiếng chó sủa xa xa. Mị lúc mê, lúc tĩnh. Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ “.
Tuy cuộc trỗi dậy lần này của Mị không thành nhưng Mị không thể thoát khỏi địa ngục trần gian là cha con nhà thống lý nhưng Mị không còn là con ngựa,con rùa lùi lũi trong xó cửa nữa, Mị đã sống lại thời khắc của tuổi trẻ, tự do, mặc dù nó chưa làm thay đổi cuộc đời Mị nhưng nó sẽ tuôn trào mãnh liệt với bằng chứng là hành động Mị liều lĩnh cởi trói cứu A Phủ và cùng anh trốn khỏi Hồng Ngài.
ở đoạn văn này, tác giả miêu tả hành động của Mị không nhiều nhưng người đọc vẫn có thể cảm nhận được một sức sống tiềm tàng trong con người Mị. Từ không gian, thời gian cùng giọng kể, tác giã đã dẫn dắt người đọc đi theo tâm trạng ấy một cách chân thực nhất,
đoạn văn miêu tả tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân thấm đãm tính nhân văn, thể hiện một cách chân thật nhất và cảm động nhất về giá trị hiện thực cùng tinh thần nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A phủ.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm xuân lúc đang ở nhà lí Pá Tra trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài | 1,613 | |
Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Phương Định trong một lần phá bom
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Phương Định trong một lần phá bom
Bài Làm
Có những bài ca không bao giờ quên, cũng có những năm tháng chiến tranh không phai mờ trong tâm trí mỗi người. Văn học với sứ mệnh thiêng liêng, cao cả của nó,đã phản ánh thời kỳ chiến tranh với những hình tượng đẹp. “ Những ngôi sao xa xôi” là một trong số đó. Đọc “ Những ngôi sao xa xôi” ta ấn tượng nhất là khi nhà văn miêu tả tâm lý nhân vật phương định trong một lần phá bom.
Những ngôi sao xa xôi viết năm 1971 của nhà văn Lê Minh Khuê. Truyện đề cập tới hoàn cảnh sống và làm việc của ba cô gái thanh niên xung phong nơi chiến trường. Phá bom là công việc thường ngày. Bới thế, tác giả đã miêu tả tâm lý nhân vật Phương định phá bom rất chân thực.
Trước hết tâm lý nhân vật được thể hiện khi Phương Định đến gần quả bom” Vắng lặng đến phát sợ, cây còn lại xơ xác. Đất nóng, khối đen vật vờ từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa” Lê Minh Khuê sử dụng câu văn ngắn liệt kê để diễn tả không khí chiến tranh ác liệt, sợ hãi. Khung cảnh quanh cao điểm thật im lặng đến phát sợ như không còn sống. Khi ấy, Phương Định tuy có chút bận tâm nhưng cô quyết định sẽ đi khom. Cũng bởi các cao xạ không thích đi khom khi mà họ có thể thẳng lương mà đi. Lòng tự trọng đã khiến cô trở nên dũng cảm nơi chiến trường.
Bên cạnh đó, tâm lý Phương Định được miêu tả sinh động khi cô chờ bom nổ, Nấp sau tảng đá lớ là một căn hầm. Cô lo lắng” liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Nếu không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai” Trong giờ phút sinh tử ấy, điều cô quan tâm chính là công việc chừng không phải mạng sống của chính mình. Ý nghĩ đó đã thể hiện trọn vẹn được tinh thần trách nhiệm trong cô. Đã hai mươi phút trôi qua, đồng hồ chạy đè nặng lên những con số vĩnh cửu, lửa đang chạy vào trong ruột quả bom. Rồi bom cũng nổ, mùi thuốc bom buồn nôn. Những mảnh bom như xé trong không trung. Sau tiếng nổ đó là tiếng nổ của những quả bom mà đồng đội của cô châm ngòi và khi gặp chị Thao, Phương định nhận ra Nho đã bị thương.
Cùng với “ Những ngôi sao xa xôi” nữ nhà văn Lê Minh Khuê đã thành công ở nhiều phương diện không chỉ ở nội dung mà còn ở nghệ thuật. Bằng sự thăng hoa giữa tài năng và cảm hứng, ngòi bút hiện thực của người nghệ sĩ đã viết lên những câu văn ca ngợi hình tượng những nữ thanh niên xung phong mà tiêu biểu là trích đoạn khi Phương Định phá bom đã thể hiện được phẩm chất chung của họ. Câu văn ngắn ngọn, câu rút gọn đặc biệt được sử dụng tài tình. Đặc biệt là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật đặc sắc. Giọng văn linh hoạt, ngôi kể thứ nhất thuận lợi việc bộc lộ cảm xúc. Lê Minh Khuê viết ít về những đau thương mất mát với tác dụng động viên, quả thực tác giải góp vào đề tài một tác phẩm hay.
Gấp lại trang truyện Lê Minh Khuê cũng như trích đoạn hình ảnh Phương Định phá bom đã neo đậu trong tim ta ấn tượng đẹp. Từ đó, học sinh chúng ta có ý thức trách nhiệm với tổ quốc hơn như trong câu hát:
Mà phải hỏi ta đã làm gì cho cuộc sống hôm nay”
( Chế Lan Viên) | Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Phương Định trong một lần phá bom | 668 | |
Đề bài: Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm, tính cách của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng khi ông Sáu về thăm nhà trong tác phẩm Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.
Gợi ý
Phân tích diễn biến tâm lí và tinh cảm của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng khi ông Sáu về thăm nhà.
Thái độ và hành động của bé Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha:
Gặp cha sau tám năm xa cách trước sự vồ vập của cha, bé Thu tỏ ra ngờ vực và hoảng sợ con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn mình như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má”. Đó là cuộc gặp gỡ ngoài ý muốn của Thu bởi em chờ đợi một hình ánh khác hình ảnh người cha giống hệt tấm hình chụp chung với má.
Ba ngày phép của cha, Thu tỏ ra rất lạnh nhạt. Tình cảm của em đối với cha ngày càng xấu đi. Từ chỗ em chỉ gọi trống không với cha: “Vô ăn cơm”, “Cơm chín rồi!”. “Con nói rồi mà người ta không nghe”, hoặc “Cơm sôi rồi chắt nước giùm cái” đến chỗ em không chấp nhận sự chăm sóc của cha. Khi ông Sáu gắp một cái trứng cá bỏ vào bát cơm: “Nó liền lấy đũa xoi vào chén để rồi bất thần hất cái trứng cá ra, cơm văng tung tóe cả mâm” và cao hơn là nó đã bỏ đi: “Nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói, cố làm cho dậy lòi tói khua rổn rang, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông, nó sang nhà ngoại”.
Sự phản ứng của Thu càng ngày càng quyết liệt, từ chỗ ngấm ngầm đến chỗ rõ ràng, mạnh mẽ chứng tỏ đây là cô bé ngang ngạnh, bướng bỉnh. Sự ngang ngạnh của em hoàn toàn “có lí” và không đáng trách vì em đâu có biết vết sẹo trên mặt ba là do chiến tranh, em đâu có biết người đàn ông có “Vết thẹo dài bên má phải”, “đỏ ửng”, “giần giật, trông rất dễ sợ” kia lại là người mà em trông đợi bấy lâu. Sự phản ứng của em chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ, có tình yêu cha sâu sắc. Tình yêu ấy đã khắc ghi trong trái tim ngây thơ ấy kiêu hãnh nên em không chấp nhận người đàn ông có sẹo là cha.
Chi tiết vết sẹo là một chi tiết đắt giá. Nó có giá trị lớn trong việc xây dựng tình huống, bộc lộ tình cảm cha con đồng thời có giá trị tố cáo lớn. Chiến tranh đã làm con người bị biến dạng, chiến tranh đã làm cho con không nhận ra cha, chiến tranh len lỏi tàn phá từng gia đình, tàn phá, huỷ diệt mọi lĩnh vực để đến nỗi con không nhận ra cha.
Thái độ, hành động của Thu khi nhận ra cha:
Trong buổi sáng cuối cùng trước khi chia tay, thái độ của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn: Thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
Ba…a…a…ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “Ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “Ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó. “Nó nhảy thót lên ôm lấy cổ ba nó. Nó hôn tóc, hôn vai, hôn cổ, hôn cả vết thẹo dài bên má ba nó. Hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghe hai tay không giữ được ba nên nó dạng cả hai chân câu chặt lấv ba, đôi vai của nó run run” chi tiết sinh động đầy kịch tính diễn tả thành công sự bùng nổ mạnh mẽ, sự đột phá dữ dội của tình cám, bao nhiêu yêu thương mong đợi dồn nén giờ đây oà vỡ, những giọt nước mắt yêu thương xen lẫn sự hối hận và hành động ôm hôn ba của Thu.
Tính cách nhân vật bé Thu:
Tình cảm mạnh mẽ sâu sắc nhưng cũng rất dứt khoát, rạch ròi. Có nét cá tính cứng cỏi đến mức ương ngạnh nhưng vẫn là đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ.
Nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả.
Cách miêu tả diễn biến tâm lí thành công: Từ chỗ Thu ngạc nhiên hoảng sợ đến lạnh lùng, cuối cùng là sự bùng nổ những yêu thương do bị dồn nén. Thể hiện được điều đó chứng tỏ tác giả am hiểu tâm lí trẻ em, yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ. | Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm, tính cách của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng khi ông Sáu về thăm nhà trong tác phẩm Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng | 815 | |
Phân tích diễn biến tâm lý Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến tâm lý Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở
Tình yêu – một chủ đề quen thuộc nhưng không bao giờ cũ trong văn chương. Đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ lấy tình yêu làm cảm hứng sáng tác cho mình. Họ ca ngợi, họ tôn vinh tình yêu như những thiên thần có cánh. Nhưng Nam Cao lại khác, với tình yêu nghiệt ngã của Chí Phèo và Thị Nở trong tác phẩm “Chí Phèo” viết về người nông dân trong xã hội cũ, ông đã cho mọi người chứng kiến một tình yêu hoàn toàn mới. Ở đó hạnh phúc có, khổ đau cũng có. Nhưng trên hết, tình yêu ấy còn là thông điệp sâu sắc mà nhà văn muốn nhắm đến cả một giai cấp, một tầng lớp người trong xã hội. Tình yêu ấy, đẹp thật đẹp mà đau cũng thật đau khiến cho người trong cuộc là Chí Phèo đã vật lộn và cuối cùng đi đến cái chết. Nhưng ít nhất, trước khi chết, Chí Phèo cũng đã kịp hưởng thụ hương vị của tình yêu dù chỉ là trong những ngày ngắn ngủi.
Chí Phèo chỉ là một đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ được dân làng nuôi nấng. Lớn lên Chí làm người ở cho nhà Bá Kiến nhưng lại bị bà ba dâm đãng hãm hại khiến Bá Kiến ghen đẩy vào tù. Những năm tháng tù đày cùng với lòng thù hận đã khiến Chí từ một chàng thanh niên hiền lành tốt tính trở thành một con quỹ dữ khi trở về làng. Chí đắm mình trong những cơn say. Cho đến một ngày Chí gặp Thị, tình yêu sét đánh gắn kết hai con người với nhau. Nhưng trong lúc đang lâng đang hạnh phúc thì Thị nghe lời người bà cô rũ bỏ Chí khiến Chí một lần nữa rơi vào tuyệt vọng. Lòng hận thù trong Chí lại nổi lên và Chí quyết định giết chết Bá Kiến rồi tự kết liễu cuộc đời mình để được làm người lương thiện.
Những diễn biến trong cuộc đời Chí chẳng khác nào tấm bản đồ lúc lên lúc xuống. Và trong đó, những phút giây được ở cạnh Thị Nở chính là đoạn đường đẹp nhất, sáng nhất trong cả tấm bản đồ chằng chịt những nét đứt gãy khúc khuỷu, gập gềnh.
Cuộc gặp gỡ của Chí và Thị chỉ là sự tình cờ giữa hai con người mê muội. Chí lúc tỉnh lúc say, mà hầu như là chẳng tỉnh bao giờ. Còn thị cũng ngù ngờ, dở hơi. Đã thế, nhà văn lại ban cho ả một “nhan sắc” “kinh tởm” mà ông tóm gọn trong mấy từ “xấu ma chê quỷ hờn”. Ấy vậy mà khi gặp nhau, cái xấu ấy lại làm một cho một người đàn ông chết mê chết mệt. Có thể vì bản năng, vì dục vọng thể xác mà họ ngã vào nhau. Nhưng sau khi thỏa mãn, họ lại dành cho nhau những thứ tình cảm thật “lạ lùng”. Lạ đến mức người đàn bà dở hơi ấy đã xác định được đây chính là cuộc sống “vợ chồng”. “Hai từ vợ chồng nghe ngường ngượng nhưng mà thinh thích”. Đây đúng là tâm lý của kẻ mới yêu, đang yêu và đang hạnh phúc.
Nhưng rồi, hạnh phúc ấy chẳng được bao lâu, những dự định của Chí cũng vụt tắt khi Thị trở về nghe lời người bà cô rũ bỏ Chí. Chí một mình ở lại trong căn lều in dấu bao kỷ niệm về tình yêu của mình. Thất vọng, khổ đau và lòng thù hận lại nổi lên. Nhưng lần này, Chí tỉnh rồi, Chí không đi rạch mặt ăn vạ nữa. Chí đến thẳng nhà Bá Kiến để đòi lại quyền sống của mình. Sống nhưng lại là chết. Chết để giữ được bản chất lương thiện của bản thân. Chí giết Bá Kiến rồi cũng tự kết liễu cuộc đời mình. Phải đi đến quyết định ấy, hẳn là Chí đau khổ lắm. Nhưng với Chí lúc này, đó là cách duy nhất để không quay lại cuộc sống nghiệt ngã như trước kia nữa.
Như vậy, sau khi gặp Thị Nở, cuộc đời Chí đã liên tiếp xảy ra hai biến cố lớn. Một là tỉnh – tỉnh dậy sau những cơn say dài triền miên. Tỉnh để sống, để yêu và hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc ấy không được bao lâu thì biến cố thứ hai lại xảy đến khi thị trở mặt với Chí, khiến Chí tiếc nuối khôn nguôi. Trong cơn tuyệt vọng Chí giết Bá Kiến và kết liễu cuộc đời mình. Không phải vô tình mà Nam Cao lại dàn dựng nên những dòng tâm lý trắc ẩn cho Chí, mà trong đó là những thông điệp sâu xa mà ông muốn gửi gắm đến người đọc.
Thứ hai, nhà văn muốn đề cao nhân phẩm, phẩm chất của con người. Chí dù say, nhưng khi tỉnh hắn vẫn luôn mang một tâm hồn trong sáng với tấm lòng nhân hậu tinh khiết. Đặc biệt, là Thị Nở – bên trong người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn ấy lại chính là một tâm hồn cao cả. Suýt chút nữa Thị cũng đã bị vùi dập giống như Chí. Hai cong người cùng chung cảnh ngộ ngã vào nhau, cùng làm cho nhau tìm lại chính bản thân mình.
Thứ ba, Nam Cao đã đưa người đọc đến với một tầm cao mới của tình yêu. Đó là tình yêu không chỉ dừng lại ở xác thịt mà ở tình yêu còn là sự đồng điệu của hai tâm hồn. Yêu không vì vẻ bề ngoài, cũng không vì vật chất cao sang. Yêu chỉ vì yêu, vì trái tim. Nhưng dù yêu đến thế nào đi nữa, tình yêu cũng không thể vượt qua giới hạn của thực tế. Ở đây, thực tế của Chí Phèo – Thị Nở chính là những định kiến nghiệt ngã về một tên quỷ dữ đội lốt người mang tên Chí Phèo.
Thứ tư, là sự minh mẫn, sự thức tỉnh trong tình yêu. Tình yêu dù vui buồn hay hạnh phúc, nhưng thứ mà con người ta cần phải giữ vững là tinh thần, là trí óc. Ở đây, sau khi thức tỉnh, Chí vẫn giữ vững tình cảm của mình với thị. Ngay cả sau khi bị thị chối từ, Chí vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Chính vì thế Chí mới đi đến quyết định giết chết Bá Kiến rồi tự vẫn.
Như vậy, chỉ bằng một đoạn văn ngắn kể lại diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở, nhà văn đã gửi gắm những thông điệp có ý nghĩa sâu xa tới người đọc. Nam Cao không còn, và cuối tác phẩm Chí Phèo cũng chết nhưng những dòng xúc cảm của một con người lần đầu tiên tỉnh rượu đã đánh động tâm hồn mọi người tự ý thức mình, tự nâng niu, trân trọng những gì mình đang có trong cuộc sống cũng như trong tình yêu. | Phân tích diễn biến tâm lý Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở | 1,219 | |
Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật viên cai ngục trong đêm đợi tù trong bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật viên cai ngục trong đêm đợi tù trong bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Bài làm
Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, suốt đời tìm đi tìm cái đẹp. Ông có một vị trí quan trọng và đóng góp không nhỏ đối với văn học Việt Nam hiện đại: thúc đẩy thể tùy bút, bút ký văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao; làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học dân tộc; đem đến cho nền văn xuôi hiện đại một phong cách tài hoa và độc đáo. Trong những tác phẩm của ông luôn đề cao cái đẹp, đẹp một cách hoàn mỹ, đẹp từ sâu thẳm bên trong mỗi con người, mỗi sự việc. Điều ấy được thể hiện rất rõ qua truyện ngắn Chữ người tử tù với hai nhân vật chính là viên cai ngục và tử tù Huấn Cao. Xuyên suốt tác phẩm, dù có nhiều nghịch lý, song Nguyễn Tuân vẫn luôn để cái đẹp chiến thắng. Đôi khi, cái đẹp ẩn chứa bên trong cái vỏ ngoài tưởng chừng như xấu xa, ác độc. Bởi thế, Nguyễn Tuân đã khéo léo gửi gắm một tâm hồn trong sáng, lương thiện ẩn sâu trong nhân vật viên cai ngục đầy mánh khóe, dã tâm. Không những thế một mình ông cùng lúc phải đóng cả hai vai. Ban ngày là một tên cai ngục vô tình, gian sảo. Nhưng khi đêm về, ông lại là một “tấm lòng trong thiên hạ”. Nhất là khi ông băn khoăn, trăn trở thức trắng cả đêm đợi tử tù Huấn Cao.
Theo như lời dẫn dắt của tác giả, Huấn Cao là một người vừa có tài vừa có chí. Chẳng những thế ông còn có cái tài viết chữ rất vuông và rất đẹp, khiến cho cai ngục cũng cảm thấy mến mộ và nể trọng. Nhưng thật không may, người hùng ấy lại bị rơi vào cảnh tù đày, đợi đến ngày hành xử với mức án cao nhất là tử hình. Nhưng lẽ ra những điều ấy sẽ chẳng có nghĩa lý gì đối với một tên cai ngục đã làm cái “nghề” này lâu năm. Ngược lại, cai ngục còn băn khoăn, nghĩ suy suốt cả một đêm trước ngày Huấn Cao đến.
“Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương”. “Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân giời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu thanh âm phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị từ biệt vũ trũ”. Có lẽ lúc này cai ngục đang thầm tiếc thương cho thân phận bi tráng của người tử tù sắp đến. Ngôi sao kia chẳng phải ai khác mà chính là Huấn Cao. Trong lòng người tử tù tội nghiệp ấy, ông Huấn chính là một ngôi sao sáng với những tài năng hơn người và ý chí mạnh mẽ không chịu khuất phục trước đòn roi, trước cái chết. Ngôi sao chính vị ấy sắp từ vũ trụ khiến cho lòng “người ngồi đấy” không khỏi xót xa. Nhưng chính bản thân ông cũng không thể làm gì khác được khi mà mình chỉ là một tên cai ngục thấp hèn chốn lao tù dơ bẩn. Chính ông còn phải núp mình trong cái bình phong của một kẻ tàn ác, mánh khóe.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật viên cai ngục trong đêm đợi tù trong bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân | 639 | |
Phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Tô Hoài là một nhà văn xuất sắc luôn tỏa sáng trên nền trời văn học Việt Nam, ông đã để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm đặc sắc,trong đó có tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Tác phẩm nổi lên vói nhân vật Mị, một người con gái có sức sống tiềm tàng,Mị hiện lên trong trang văn ông đẹp một cách lạ thường, cô gái đó giống như đang tượng trưng cho vẻ đẹp và số phận của người con gái dân tộc. Và đặc biệt là ở trong tác phẩm thì chúng ta thấy được sự tài năng của nhà văn khi đã khắc họa được thành công về diễn biến tâm lí của nhân vật Mị.
Trước khi đến làm dâu nhà thống lí thì chúng ta được biết đến Mị là một người có nhan sắc đẹp và cô rất chăm chỉ, ngoan ngoãn. Vì nhà nghèo cho nên cha mẹ Mị đã vay nhà thống lí để có tiền trang trải cho cuộc sống này. MỊ xinh đẹp và hiền dịu qua ngòi bút của nhà văn là “ không biết bao nhiêu chàng trai đến đứng nhẵn vách đầu giường Mị”. Không những vậy Mị còn là người con gái đa tài, cô rất giỏi trong việc thổi sáo, chỉ cần một cái lá ở trên tay là cô đã thổi được nhiều bản nhạc hay.
Khi thống lí Pá Tra ngỏ ý muốn lấy Mị để gạt nợ cho cha mẹ nhưng Mị đã nhất quyết là sẽ làm nương để trả nợ chứ nhất quyết là không muốn về nhà thống lí đó. Qua đó thì ta có thể thấy được Mị là một người con gái có đầy đủ hết những nhan sắc và phẩm chất đáng quý. Đáng ra với tài năng đó của mình thì Mị được sống trong sự sung túc và hạnh phúc nhưng sự đời lại ngược lại. Trong một đêm tình mùa xuân thì Mị đã bị con trai nhà thống lí giả làm người yêu và bắt Mị về làm vợ, cô sống không bằng chết. Đó là cả một chuỗi cuộc đời khổ sở và câm lặng của cô.
Kiếp về làm dâu ở nhà thống lí đã mang đến cho Mị những nỗi bất hạnh, cô không lấy được người mình yêu thương,ngày đêm phải cùng chung chăn gối với một thằng vũ phu. Những ngày đầu tiên về nhà đó Mị còn nghĩ đến chuyện ăn lá ngón để tự tử nhưng vì thương cha cho nên cũng không đành lòng và gay cả khi cha cô chết đi thì cô cũng không nghĩ đến việc tự tử nữa. Mị cứ như thế sống hết ngày này qua ngày khác mà không nói một câu nào, cô chỉ biết làm công việc quen thuộc lặp đi lặp lại và có khi còn nghĩ mình không bằng con trâu con bò, bởi vì trâu bò còn có lúc được đứng gãi chân nhưng còn Mị thì làm hết việc này tới việc khác không hề nghỉ tay, cô phải làm việc tới tận khuya.
Mị còn sống trong một căn buồng mà căn buồng ấy chỉ giao tiếp với con người bằng một ô vuông bàn tay, nhiều khi cô nhìn ra phía bên ngoài ô cửa sổ mà không biết nắng mưa hay trời đất như thế nào, chỉ biết nó mờ nhạt. Chính cái buồng Mị đang sống giống như đang giam cầm cả tinh thần lẫn thể xác của cô vậy. Và cứ thế Mị lầm lũi như một con rùa ở trong xó cửa.
Thế nhưng nếu như bài viết về Mị,về cuộc đời của Mị chỉ dừng lại ở đây thì không có gì phải bận tâm cả, điều đáng nói là mọi người trông chờ ở sự phản kháng của Mị như thế nào. Đó chính là đêm tình mùa xuân đầu tiên ở trên đất Hồng Ngài trở nên tràn đầy sức sống. Ở trên mõm đã đó những chiếc váy hoa xòe ra giống như những con bướm. Lúc này Mị thấy tâm hồn mình như đang được hồi sinh. Những chàng trai và cô gái gọi nhau để chơi pao. Đâu đó còn có cả tiếng sáo gọi bạn tình. Tiếng sáo ấy làm cho nàng bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm của ngày xưa, cái kỉ niêm khi mà Mị đang còn được yêu đương tự do.
Rồi những cảnh tượng ở trong nhà thống lí khơi dậy trong lòng cô niềm yêu đời. Trong nhà họ ăn uống linh đình say sưa và khi mọi người đã say thì lúc đó Mị lấy bình rượi uống ực từng bát. Tưởng chừng lúc đó cô như đang uống chén đắng chén cay của cuộc đời. Rồi Mị lại mơ tưởng đến ngày xưa, tiếng sáo vẫn bồi hồi xúc động như vậy. Mị bước đến phòng mình thắp sáng giống như đang thắp sáng cuộc đời mình. Mị thấy mình còn đang trẻ và Mị muốn đi chơi, cô khẽ lấy cái váy rồi sửa sang lại nhưng không may đã bị a Phủ trói cô lại vào cột. Đến khi Mị cố bước đi mà không đi được thì mới biết mình bị trói và giờ đây chỉ có tiếng chân ngựa đạp vào vách, đây chính là thực tại đau khổ của cô. Thế là sức sống ở trong Mị đã trở lại nhưng đã bị a Sử làm cho dập tắt nhưng đó là điều báo hiệu cho sự phản kháng sau này của Mị.
Như vậy qua đây chúng ta có thể thấy được nhà văn Tô Hoài đã xây dựng thành công về nhân vật Mị với những diễn biến tâm lí vô cùng sâu sắc. Có những lúc vô cảm nhưng cũng có lúc cô tha thiết bồi hồi. Đó không chỉ hiện lên với cô gái Hmong mà còn tiêu biểu cho sự sống và quy luật để đi đến cách mạng của người dân.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài | 1,046 | |
Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân
Vợ nhặt là một trong những tác phẩm hay của văn học Việt Nam với đề tài cuộc sống người lao động trước Cách mạng. Xuất hiện trong truyện là ba nhân vật với những cơ cực, tủi hờn khác nhau, nhưng có lẽ đáng thương hơn cả vẫn là bà cụ Tứ. Trong truyện, nhà văn Kim Lân đã dừng lại miêu tả khá sâu sắc diễn biến tâm trạng nhân vật này khi bất ngờ đón nhận tin vui của cậu con trai.
“Thấy mẹ, Tràng reo lên như một đứa trẻ… có qua được cơn đói khát này không?”
Nếu được đọc Ngô Tất Tố, Nam Cao, chúng ta sẽ ít nhiều thấm thía cuộc sống cơ Cực của những người dân lao động. Bần cùng và bị bức bách đến mức tha hóa về nhân phẩm là bi kịch lớn nhất mà chính họ phải chịu đựng. Nhưng cũng có những con người trong cơ nhục vẫn “bản lĩnh” hay nói chính xác hơn là liều lĩnh chấp nhận thêm những khốn khổ, vì một lẽ rất đơn giản: tình yêu, tình người. Đó là ai? Là chị Dậu, là mẹ con anh cu Tràng…
Nếu như người dân Nhật không bao giờ cho phép mình quên sự thảm khốc khi Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki thì người Việt Nam lại không thể quên năm 1945 bởi nạn đói chua từng có trong lịch sử dân tộc. Cho đến giờ, người ta vẫn nhắc về nạn đói năm đó như nỗi kinh hoàng nhất. Trong Vợ nhặt, cái đói, cái chết xuất hiện như một nhân vật có mặt khắp nơi. Người sống “xanh xao như những bóng ma” và “người chết như ngả rạ”. Cõi sống lại như cõi chết, lúc nào cũng “vẩn lăn mùi am thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Có âm thanh đấy, nhưng không còn là tiếng cười đùa ríu ran của bầy trẻ mà là tiếng quạ “cứ gào lên từng hồi thê thiết” nghe thảm não. Ấy vậy mà khi tất cả mọi người đang quay quắt trong cái đói, đang từng giờ cưỡng lại thần Chết thì anh cu Tràng lại làm một việc động trời: Lấy vợ. Nhưng mọi sự đều có nguồn cơn của nó. Hàng xóm láng giềng không hiểu sự thể cho anh cu Tràng gàn dở, chỉ có bà cụ Tứ – người dứt ruột đẻ ra anh, người mà cuộc đời đã trải qua bao cay đắng là thấm thía hết cơ sự.
“Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà” là những việc trọng đại của mỗi con người, cần có sự tham mưu của cha mẹ, của bề trên. Thế nhưng sự kiện Tràng lấy vợ lại được thông báo một cách đột ngột khiến bà cụ Tứ ngạc nhiên khôn tả. Ban đầu chỉ là sự thắc mắc khi thằng con trai sốt sắng săn đón khác mọi ngày: “Bà cụ Tứ nhấp nháy hai con mắt nhìn Tràng, chậm chạp “Mà có việc gì thế vậy?”. Khi Tràng vẫn thong thả chưa trình bày câu chuyện, bà cụ “phấp phỏng bước theo con vào nhà”. Kim Lân đã rất tinh tế khi dùng hai chữ “phấp phỏng” để diễn tả sự lo lắng và nhẫn nại chờ đợi của bà lão.
Khi Tràng vẫn cố tình “trì hoãn” bí mật của mình, mời mẹ vào nhà ngồi “chĩnh chện”, bà cụ “lập cập” bước vào nhà. Đó là sự run rẩy của tuổi già hay là sự thấp thỏm, lo sợ phỏng đoán những điều bất trắc có thể xảy đến? Với người mẹ nghèo khổ này, còn có điều gì khủng khiếp hơn sẽ đến nữa dây? Hai chữ “lập cập” của Kim Lân làm dậy lên trong lòng người đọc sự thương cảm sâu sắc. Biết trước sự việc rồi nhưng độc giả vẫn hồi hộp chờ đợi phản ứng của bà cụ, vẫn nín thở xem bà cụ sẽ nói gì, làm gì?
Nhân vật của chúng ta vẫn không vỡ lẽ ra mọi chuyện khi cô dâu mới cất tiếng chào lần thứ hai. Và dường như sốt ruột trước sự chậm hiểu của bà cụ, nhà văn còn để cho Tràng chú thích: “Kìa nhà tôi nó chào u? Vậy mà bà cụ Tứ vẫn không thể hiểu được sự thể câu chuyện. Làm sao bà cụ hiểu được khi trong thâm tâm, chính bà cũng không tin con trai mình có thể lấy vợ. Anh cu Tràng vừa nghèo, vừa xấu, vừa cục mịch, làm sao lấy nổi vợ? Với lại trong cái tao đoạn này, có ai còn nghĩ đến chuyện cưới xin được? Nỗi bàn khoăn của bà cụ chỉ hết khi Tràng dõng dạc vắn tắt trình bày cơ sự. “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cài số cả…”. Và. thế là “bà lão cúi đầu nín lặng”. Không phải là “im lặng” mà là nín lặng – tức là im lặng, nín nhịn vì không thể nói được điều gì. Bà cụ Tứ đã hiểu hết mọi chuyện. Kim Lân tiếp tục đồng cảm với những suy tư của bà để thấu hiểu hơn bao giờ hết những tủi hờn, xót xa trong lòng bà cụ: “Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”. “Ai oán” vì sao? “Xót thương” vì sao? “Bao cơ sự’ ấy là gì? Bà thấm thía lắm chứ.
Những thổn thức trong lòng bà cụ chỉ Kim Lân mới hiểu, cảm thông và giải tỏa cho bạn đọc hiểu được. Thì ra suy nghĩ của bà cụ già không hề giản dị như chúng ta nghĩ. Cái nghèo đói không làm bà cụ dễ dãi chấp nhận cuộc sống buông tuồng. Bà cụ đang đau nỗi đau của người mẹ không thể lo nổi cho hạnh phúc của con mình. Lời văn: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn minh thì ” là lời tự trách, là tiếng khóc nức nở, nghẹn ngào của người mẹ nghèo khổ. “Tuổi già hạt lệ như sương”, nhưng trong “kẽ mắt kèm nhèm” của bà cụ Tứ “vẫn rỉ xuống hai dòng nước mắt”. Đó là những giọt nước mắt tủi phận cùng cực. Đó là những giọt nước mắt khóc cho chính sự khốn khó của mình. Nhưng đó cũng là những giọt nước mắt của lòng tự trọng, những giọt nước mắt giữ cho nhân cách của con người không sa xuống bờ vực của sự tha hóa. Người mẹ nghèo cũng chỉ còn những giọt nước mắt ấy làm chứng cho tình yêu tha thiết đối với các con.
Trong Vợ nhặt, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện ở nửa sau của câu chuyện. Với những tình tiết đã xảy ra phía trước, người đọc phỏng đoán bà cụ Tứ sẽ xuất hiện với bộ dạng cay nghiệt thường thấy ở các bà mẹ chồng nông thôn. Nhưng ngay cả Tràng cũng bất ngờ trước thái độ của mẹ mình. Sự nhũn nhặn trong cách cư xử, đặc biệt là chuỗi diễn biến tâm trạng nhân vật khẳng định nhân cách cao đẹp của nhân vật bà cụ Tứ. Trước mắt chúng ta là một người mẹ hết lòng thương con, là một bà cụ nghèo khó nhưng phúc hậu rất mực. Tất cả những điều đã trải qua trong lòng bà cụ đã được Kim Lân ghi lại một cách chân xác, xúc động.
Kim Lân là một trong những nhà văn có khả năng am hiểu tâm lí nhân vật sâu sắc. Dưới ngòi bút của ông, những nông nỗi sâu kín trong lòng người mẹ già được thể hiện chân thực, tinh tế, xúc động và ám ảnh. Nếu không có sự yêu thương, cảm thông, chia sẻ, nhà vàn không thể thể hiện thành công diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong đoạn văn ngắn như thế. Hậu thuẫn cho tấm lòng nhân đạo chắc chắn còn là bản lĩnh nghệ thuật của người cầm bút. Hình ảnh bà cụ Tứ cùng với hình ảnh chị Dậu, hình ảnh người vợ cam chịu tảo tần trong sáng tác của Nam Cao… đã làm nên sự bất tử cho hình tượng người phụ nữ Việt Nam. | Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân | 1,468 | |
Phân tích diễn biến tâm trạng chú bé Hồng trong Trong lòng mẹ
Hướng dẫn
-Giới thiệu hoàn cảnh của bé Hồng: cha mất sớm vì nghiện ngập, mẹ vì cùng túng phải tha hương cầu thực, chú bé ở lại một mình bên cạnh những người thân cay nghiệt.
-Tâm trạng của bé Hồng trong đoạn cuối đối thoại với người cô:
+ Nhớ lại những hình ảnh về người mẹ yêu thương: vẻ mặt rầu rầu và sự hiền từ của mẹ.
+ Đau đớn, xót xa trước những lời lẽ cay độc của người cô nói về mẹ mình. HS chú ý phân tích sự căm tức, phẫn uất dâng lên trong lòng bé Hồng ngày càng tăng tiến (lúc đầu cô’ kìm nén sau đó lòng căm tức lên tới đỉnh điểm: cổ họng tôi dã nghẹn ứ khóc không ra tiếng,…)
+ Yêu thương và bảo vệ người mẹ của mình trong ý nghĩ (Giá những cổ tục dã đầy đọa mẹ tôi…cho kì nát vụn mới thôi)
+ Nghệ thuật diễn tả tâm trạng: tương phản và đối lập, sự tăng tiến về cảm xúc diễn ra trong cuộc đối thoại.
-Tâm trạng của bé Hồng trong đoạn gặp mẹ và ở trong lòng mẹ:
+ Cảm giác sung sướng đến òa lên khóc rồi cứ thế nức nở khi được ngồi lên xe cùng mẹ (HS chú ý giọt nước mắt lần này thể hiện sự vui sướng – khác với giọt nước mắt khi đối thoại với người cô).
+ Cảm giác vui sướng lâng lâng, bé Hồng không mảy may nghĩ ngợi gì nữa (câu nói của người cô bị chìm đi).
+ Nghệ thuật diễn tả tâm trạng: lời văn giàu cảm xúc, thấm đẫm chất trữ tình, miêu tả cụ thể và tinh tế… | Phân tích diễn biến tâm trạng chú bé Hồng trong Trong lòng mẹ | 294 | |
Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của chàng trai qua bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
Bài làm
Nếu như ở Huy Cận, chúng ta nhận thấy được sự ảnh hưởng của thể thơ lục bát cổ điển thì Nguyễn Bính lại là đại diện cho thể thơ lục bát dân gian mà bài thơ “Tương tư” là một minh chứng tiêu biểu. Với những ngôn từ giản dị, hình ảnh mộc mạc, bài thơ đã tả được tâm trạng tương tư của chàng trai quê với những cung bậc cảm xúc, những diễn biến tâm lý đa dạng nhưng cũng vô cùng chân thành và bình dị.
“Tương tư”, một cảm xúc, một căn bệnh khó lòng mà tránh khỏi của những người đang yêu, đặc biệt là những buổi đầu, những khi mà tình yêu còn e ấp trên môi, chưa dám tỏ bày. “Tương tư” thường được hiểu là tâm trạng nhớ nhung, mong ngóng của đôi trai gái khi yêu, nhưng trong thực tế, diễn biến tâm trạng này chỉ xảy ra ở một phía mà cụ thể trong bài thơ này, đó là tâm trạng nhớ mong của chàng quê chất phác:
“Thôn Đòai ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người”.
Cũng như biết bao tâm hồn đã và đang tương tư khác, nỗi tương tư của chàng trai cũng được bắt đầu bằng sự mong nhớ. Nhưng kì lạ thay, tại sao ở đây lại là “thôn Đoài nhớ thôn Đông” mà không phải là ai đó nhớ một ai đó? Đơn giản bởi một lẽ, nỗi tương tư ấy đã thấm vào cả cảnh vật và lan toả khắp không gian, cũng như đại thi hào Nguyễn Du đã nhận xét: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Việc sử dụng hình ảnh hai thôn để diễn tả thay cho hai cá thể đang yêu của Nguyễn Bính quả thật rất tinh tế, nó có thể hiện được một cái gì đó đậm đà thắm thiết qua tiếng “nhớ” mà cũng có gì đó e ấp, thẹn thùng chưa dám nói ra. Thêm vào đó, điệp từ “một người” được ngăn cách bằng “chín nhớ mười mong” vừa như một nhịp cầu mà cũng vừa như tấm bình phong ngăn trở của mối tình đậm đà buổi sơ khai này vậy. Từ đó, tác giả đi đến một kết luận, một sự đúc kết sâu sắc:
“Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”
Đối với những ai đã, đang và mong muốn được dấn thân vào biển yêu thương ngọt ngào xen lẫn những khổ đau thì tương tư là căn bệnh không thể nào tránh khỏi. Nó làm cho những tâm hồn yêu đương phải mệt mỏi, dằn vặt nhưng cũng chính vì thế mà tình yêu trở nên nhiều màu sắc hơn.
Tâm trạng chàng trai quê không dừng lại ở sự nhớ mong mà từ sự nhớ mong đó, cảm xúc và diễn biến tâm lý của chàng trai được nâng lên một bậc khác đó là sự mong ngóng, đợi chờ, muốn nhìn thấy người mình yêu. Tâm trạng đó được bộc lộ rõ rang qua bốn câu thơ tiếp theo:
“Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”
Hai câu đầu cứ như có một ý gì đó tự hỏi mà cũng có một ý gì đó hờn trách nhẹ nhàng. Gấn thế cơ mà, nhưng sao “bên ấy” chẳng sang chơi “bên này”, để cho bên này phải đợi mong mỏi mòn, phải “ra ngẩn vào ngơ”, phải tương tư khổ sở thế này, “Bên ấy” có biết cho “bên này” chăng? Sao cứ còn hờ hững mãi? “Ngày qua ngày lại qua ngày”, thời gian cứ thế trôi kéo theo sự nhớ mong dai dẳng trong tâm hồn của “bên này”. Lâu lắm rồi, chờ đợi đã bao ngày rồi, đến nỗi “lá xanh” kia cũng đã “nhuộm” vàng rồi “bên ấy” à! Đối với những tâm hồn đang yêu đương cháy bỏng thì một ngày hay thậm chí một giờ một khắc không gặp người mình yêu cũng dài như mấy năm vậy. Sự vận động của thời gian được tác giả miêu tả bằng điệp ngữ “qua ngày” cùng tự “lại” ở đây đã cụ thể hóa thời gian, diễn tả được bước đi chậm chạp, nặng nề của thời gian dưới cái nhìn của một tâm trạng nóng lòng chờ đợi. Bên cạnh đó, bằng việc sử dụng hai sắc màu chủ đạo “xanh” và “vàng” cùng động từ “nhuộm” ở đây không chỉ diễn tả được sự vận động trong một quãng đường khá dài của thời gian mà còn cho thấy được tâm trạng héo mòn, khô úa vì đợi chờ của nhân vật trữ tình. Cái tâm trạng chờ mong, nóng lòng, bồn chồn đến “ra ngẩn vào ngơ” này cũng không hiếm gặp trong ca dao dân ca Việt Nam, ví như câu:
“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt”
Cái trạng thái vô hồn của chủ nhân chiếc khăn trong bài ca dao kia cũng tương tư như tâm trạng của chàng trai quê trong “tương tư” vậy. Một tâm trạng bồn chồn như ngồi trên đống lửa khi một ngày không có em, một ngày không được nhìn thấy em dù chỉ trong một tích tắc.
“Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành”
Em ơi, nếu như hai ta phải ngăn cách nhau bởi sông dài, biển rộng, đi lại khó khăn thì đành vậy thôi em à! Nhưng em ơi đây chỉ cách có “một đầu đình”, “có xa xôi mấy mà tình xa xôi”? Lúc bấy giờ, chúng ta có thể cảm nhận được mộ sự hờn trách nhẹ nhàng, cái lối hờn mát trách yêu của một tâm hồn nhớ mong cháy bỏng. Vì rằng đường xa khó khăn nên em không sang hay cái bụng của em không muốn sang. Phải chăng ở bên thôn Đông ấy em có tìm được một niềm vui nào đó to lớn hơn, tìm được một niềm vui nào đó to lớn hơn, tìm được một niềm hạnh phúc nào đó ấm áp hơn nên em đã quên mất một cây si, cây tương tư đang chờ em ở thôn Đòai mất rồi.
“Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho”
Cũng vì nhớ mong, ôm ấp hình bóng ai kia mà em ơi đã bao đêm anh thức trắng. Nhựng có mấy ai biết cho mối tình đơn phương này, có ai hiểu cho con tim nồng cháy nơi anh nên anh đành phải ôm trọn một mối tương tư tận sâu vào trong tâm khảm. Tâm trạng chàng trai lúc bấy giờ dường như có gì đó bối rối và hụt hẫng. Một ngày không gặp thì nhớ mong, hai ngày không gặp thì bồn chồn, lo lắng, ba ngày không gặp thì hờn mát, trách yêu, rồi nhiều nhiều ngày nữa không gặp thì nỗi tương tư giờ đây đã chuyển sang một cung bậc cảm xúc cao hơn, phức tạp hơn: đó là sự buồn bã, không ăn, không ngủ, biểu hiện của một tâm hồn bị nỗi nhớ mong dày vò, dằn vặt. Biết khi nào đây? Khi nào “bến mới gặp đò”, “hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau”. Đến đây, hệ thống những hình ảnh được tác giả sử dụng đã ngày một đa dạng và phong phú hơn cũng như tâm trạng chàng trai đang diễn biến ngày càng phức tạp và đa cung bậc hơn. Điểm lại tâm trạng ấy, ta có thể thấy rõ ràng một sự tăng tiến trong cảm xúc của nhân vật trữ tình: từ nhớ mong đến chờ đợi, bồn chồn rồi đến hờn trách và tự vấn bản thân để từ đó nâng lên một bậc nữa trong cảm xúc. Cũng là sự mong muốn nhưng đã không còn chỉ là nỗi mong muốn được gặp nhau mà giờ đây, chàng trai muốn được gắn kết, được giao hòa và được kết tóc se duyên cùng người “bên ấy” ở “thôn Đông”.
“Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng”.
Nhắc đến trầu cau, chúng ta nhớ ngay đến cái đám cưới cổ truyền của dân tộc, nhớ ngay đến một sự khăng khít, gắn bó của lứa đôi và nhớ ngay đến sự chung thủy, gắn kết của hai tâm hồn đang hòa nhập làm một. Cách xưng hô của chàng trai ở đây cũng đã thay đổi, không còn là “thôn Đòai”, “thôn Đông” hay “bên ấy”, “bên này”, cũng không còn là “bến” – “đò” hay “hoa” – “bướm” mà đã trở thành “anh” và “em”. Điều đó thể hiện một khát khao gắn kết mãnh liệt, muốn cùng người mình yêu thương sống trọn đời trọn kiếp để tạo nên một cái kết có hậu và đẹp đẽ của mối duyên quê, tình yêu chất phác, đậm đà.
Suốt bài thơ, chúng ta không khó để bắt gặp những hình ảnh đậm chất dân gian, đơn giản, mộc mạc mà có sức gợi tả, gợi cảm mạnh mẽ. Những hình ảnh ấy luôn song đôi với nhau: “thôn Đòai – thôn Đông”, “bến – đò”, “hoa – bướm”, “trầu – cau”,… và ngày càng tăng tiến trong việc thể hiện sự giao hòa, gắn kết với nhau phù hợp với việc miêu tả tâm trạng tương tư diễn biến phức tạp của chàng trai. Cũng qua những hình ảnh đó mà phong cách thơ của Nguyễn Bính cũng được bộc lộ và làm rõ, một phong cách thơ đậm “hồn quê” và thiết tha với những giá trị cổ truyền của dân tộc đang dần dần mai một lúc bấy giờ. Đọc “Tương tư”, chúng ta như đọc mộ bài ca dao dài vậy, cũng những hình ảnh quá đổi bình dị và thân quen, cùng lối viết giản dị và mộc mạc, cũng thể lục bát dân gian cô đọng mà giàu sức gợi tả. Tẩt cả hòa quyện vào nhau tạo nên một hồn thơ, một phong cách thơ rất Nguyễn Bính.
“Tương tư”, một thi phẩm xuất sắc có sức phổ cập rất lớn trong nhân dân. Bằng nét chung rất riêng và cũng là nét riêng rất chung của ngòi bút Nguyễn Bính, bài thơ đã thể hiện một cách chân thực, bình dị diễn biến của một tâm trạng tương tư: nhớ mong, bồn chồn, hờn giận, trách móc và khát khao giao hòa gắn kết. Từ đó bài thơ đã nâng lên, trở thành tinh hoa của văn học dân gian, thể hịên cái đẹp đẽ, đáng yêu của mối tình quê thắm thiết, bình dị. | Phân tích diễn biến tâm trạng của chàng trai qua bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính | 1,824 | |
Phân tích diễn biến tâm trạng của chú bé Hồng trong cuộc đối thoại với người cô
Hướng dẫn
Để hiểu diễn biến tâm trạng của chú bé Hồng thì cần phải hiểu tâm địa độc ác của nhân vật người cô. Trong cuộc đối thoại với đứa cháu này, người cô ngày càng cố tình mỉa mai, xúc phạm người mẹ bất hạnh, đáng thương của chú, cố tình khơi vào nỗi đau đớn và tình cảnh éo le của mẹ con chú bé. Bà ta càng ngày càng tỏ ra cay nghiệt, thâm hiểm, không muốn buông tha chú bé dù chú đã phẫn uất, nức nở, nước mắt ròng ròng…
Cần bám sát vào văn bản để lần lượt phân tích các phản ứng tâm lí, các cảm giác, tâm trạng của chú bé Hồng trong cuộc đối thoại. Tâm trạng đau đớn, uất ức của chú bé dâng lên đến cực điểm khi nghe người cô cứ tươi cười kể về tình cảnh tội nghiệp của mẹ mình. Nguyên Hồng đã bộc lộ lòng căm tức tột cùng ở những giây phút này bằng các chi tiết đầy ấn tượng. | Phân tích diễn biến tâm trạng của chú bé Hồng trong cuộc đối thoại với người cô | 191 | |
Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo trong buổi sáng ngày hôm sau khi gặp Thị Nở
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo trong buổi sáng ngày hôm sau khi gặp Thị Nở
5 (100%) 1 đánh giá
Bài làm
Xã hội thời phong kiến cùng cuộc sống của những người nông dân nghèo khổ thời xưa luôn là những đề tài được nhiều nhà văn lựa chọn và viết bài. Đó là một cuộc sống nghèo khổ, đói rét, bị áp bức bóc lột đến cùng cực trong một xã hội đầy những bất công. Một trong những hiện thân tiêu biểu nhất cho giai cấp nông dân thời bấy giờ đó chính là nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao. Một cuộc đời bất hạnh đầy tối tăm, nhục nhã nhưng lại ẩn chứa một tâm hồn đẹp đẽ và lương thiện. Đây chính là nét đẹp trong ngòi bút nghệ thuật của nhà văn Nam Cao, và điểu này được thể hiện rõ nhất qua diễn biến tâm lí của nhân vật Chí Phèo trong buổi sáng gặp Thị Nở, người con gái mà hắn yêu.
Chí Phèo vốn là một thanh niên hiền lành, mạnh mẽ, sức khỏe cường tráng. Hắn sinh ra ở một cái lò gạch cũ, không cha, không mẹ, không người thân thích. Cuộc đời làm thuê đẩy hắn hết từ gia đình này qua gia đình nọ, cho đến khi hắn trở thành kẻ ở trong gia đình nhà Bá Kiến thì mọi thứ đã thay đổi. Bị bà Ba lợi dụng, dụ dỗ làm những việc sai trái, rồi bị Bá Kiến ghen ghét, tìm mọi lí do đẩy vào tù, cuộc đời của Chí Phèo rẽ sang một trang mới. Hắn trở thành một kẻ lưu manh, mang một ngoại hình ghớm ghiếp khiến ai cũng phải xa lánh. Khi ra tù, Chí Phèo lại tìm đến nhà Bá Kiến, bị dụ dỗ bằng vài lời nịnh nọt ngon ngọt, Chí lại một lần nữa trở thành tay sai của Bá Kiến. Một con quỷ đội lốt người chìm trông cơn say triền miên, đi đến đâu cũng chửi rủa, đập phá, cướp bóc, làm toàn những điều ngang ngược, sai trái khiến mọi người dè bỉu, xa lánh. Những tưởng cuộc đời của Chí Phèo sẽ toàn là những tăm tối, trượt dài trên con đường tha hóa thì bằng lòng nhân đạo sâu sắc, Nam Cao đã dùng tình yêu để cho Chí Phèo cơ hội được cứu dỗi cuộ đời mình, làm một con người lương thiện bình thường. Cuộc gặp gỡ Thị Nở và diễn biến tâm lí của Chí Phèo sáng hôm sau là đoạn trích hay và đẹp nhất trong tác phẩm. Nó đã thể hiện được lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả và sức mạnh to lớn của tình yêu.
tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo trong buổi sáng ngày hôm sau khi gặp Thị Nở
Chí Phèo vốn là một con người bình dị như bao con người khác, hắn ta cũng có những ước mơ, hoài bão về mộ gia đình nho nhỏ và cuộc sống ấm no. Nhưng giờ đây, khi đã ở tuổi bốn mươi, bên kia sườn dốc của cuộc đời, hắn lại tự cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Hắn sợ một cuộc sống về già cô độc, không ai chăm sóc, lương tựa. Chí Phèo vẫn cứ ngồi đó thẩn thơ nghĩ về số phận của mình cho đến khi Thị Nở bưng bát cháo hành vào. Cảm xúc của Chí thay đổi hoàn toàn, từ ngạc nhiên sang xúc độc, ươn ướt nước mắt. Hắn cảm động vì lần đầu tiên trong đời được ai cho không cái gì, được người khác quan tâm, chăm sóc. Cầm bát cháo hành ăn ngon lành mà trong lòng hắn vừa buồn vừa vui, có chút gì đó ân hận nữa. Hắn ân hận vì sự ngang ngược, ương bướng của mình trước kia, khi mà giờ đây, chẳng con tí sức lực nào nữa, Chí lại muốn trở thành một con người bình thường, làm ăn lương thiện.
Vậy mà Thị Nở nhẫn tâm gạt bỏ tất cả, gạt bỏ hết những tình cảm mà Chí dành cho ả. Con người Chí lại chìm trong đau khổ, uất hận đến cùng cực. Hắn tìm đến rượu để quên hết tất cả, thậm chí còn có ý định giết cả Thị Nở để giải tỏa cơn uất hận trong lòng, thế nhưng càng uống hắn lại càng tỉnh. Trong sự rối loạn ấy, hắn đã tìm đến nhà Bá Kiến để trả thù, để giải thoát cho bản thân. Đến nơi hắn cãi nhau tay đôi với cụ ông rồi xông lên đâm nhiều phát vào người cụ khiến cụ chết tại chỗ, và rồi như để kết thúc tất cả, hắn đã chọn cách tự sát. Một cách giải thoát tiêu cực nhưng là duy nhất. Xã hội không cho hắn được lương thiện, được làm người, hắn hận tất cả, hắn không muốn sống nữa. | Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo trong buổi sáng ngày hôm sau khi gặp Thị Nở | 865 | |
Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ
Hướng dẫn
Mở bài:
Bà cụ Tứ là một nhân vật phụ xuất hiện ở cuối tác phẩm nhưng nếu thiếu nhân vật này, tác phẩm sẽ mất đi chiều sâu, sự đằm thắm của nó. Xây dựng nhân vật bà cụ Tứ, Kim Lân muốn hướng người đọc nhìn nhận việc lấy vợ của Tràng từ một góc độ khác.
Thân bài:
Cũng như dân làng xóm ngụ cư, khởi đầu tâm lý của bà là sự ngỡ ngàng, bà ngạc nhiên ngay từ sự đón tiếp khác thường của con trai: “ bà lão phấp phản theo con vào trong nhà”. Trạng thái ngỡ ngàng của bà cụ Tứ được diễn tả qua hàng loạt những câu hỏi nghi vấn: “ quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ý nhỉ? Người đàn bà nào đứng ngay đầu giường thằng con trai mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u… không phải con cái Đục mà? Ai thế nhỉ?
Sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên của bà cụ Tứ trước việc Tràng lấy vợ đã được nhà văn Kim Lân mỗi lúc một dâng cao. Đầu tiên là sự ngỡ ngàng. Tiếp theo là hàng loạt câu hỏi mà không có lời giải đáp. Bà không tin vào mắt mình: “bỗng dưng bà thấy mắt mình nhoèn đi thì phải”.bThậm chí khi Tràng giới thiệu đây là vợ của mình và cô gái chào bà bằng “U” thì bà cũng không tin vào tai mình nữa.
Bà cụ Tứ làm sao ngờ được giữa năm đói, nhà thì nghèo,mà con mình lại dẫn về một người vợ. Rồi khi đã hiểu mọi sự tình, bà lão “ cuối đầu nín lặng”. Mạch truyện lắng xuống thiết tha: “lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao cơ sự, vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp của con trai mình”. Kinh nghiệm, vốn sống của bà mách bảo rằng mối duyên kiếp trớ trêu kia không nên có: “ chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, còn mình thì,…”.
Đọc những dòng này thì, ta có cảm giác trái tim người mẹ nghèo đang rung lên xót xa. Bà cụ thương con tủi phận rồi thương con dâu: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…
Nổi xót xa, tủi hờn của bà cụ Tứ trước việc Tràng lấy vợ. Bà “cúi đầu nín lặng”. Bà nghĩ về người chồng đã quá cố, và nhớ lại cuộc đời dài dằng dặc với biết bao nổi vất vả khổ đau. Bà hiểu rõ sự đời, lẽ ra làm dăm mâm cơm mời hàng xóm, láng giềng, nhưng cảnh nhà mình nghèo đến như vậy làm sao lo nổi. Bà cảm thấy thương mình, thương con, thương cả con dâu về nhà chồng trong tình cảnh khốn khó.
Nhưng ở chính bà cụ Tứ, niềm tin, sự lạc quan lại được bộc lộ nhiều hơn cả: từ việc đan phên ngăn riêng chổ ở cho vợ chồng Tràng cho đến việc nuôi gà “rồi may ra ông trời cho khá”. Bà hào hứng lễ mẻ bưng ra “nồi cháo cám” mà bà nói vui là “nồi chè khoán”, rồi đen đả cười múc cho con, cảm thấy hạnh phúc khi khối nhà chẳng có cám mà ăn”. Bà dường như đang cố gắng xua đi không khí ảm đạm, cố gắng vượt lên hoàn cảnh bằng sự tươi tỉnh, động viên con và đó là ý nghĩa của đời bà: sống vì con, vun vén cho con, hi vọng vào thế hệ sau.
Kết bài:
Khắc họa hình ảnh bà cụ Tứ là một thành công nghệ thuật của Kim Lân trong truyện ngắn “Vợ nhặt”. Có lẽ ông đã thấu hiểu kiếp đời cơ cực và trách nhiệm cao cả của bậc làm cha làm mẹ phải nhen nhóm lên niềm hi vọng cho con cái trong cảnh khốn cùng. Càng đọc ta càng cảm thương và rơm rớm nước mắt khi hình dung bóng bà cụ lọ mọ trong buổi hoàng hôn đen tối mà chưa biết bao giờ mới tìm thấy được cuộc sống tốt hơn cho con trai và con dâu của bà. | Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ | 726 | |
Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ
Bài làm
Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo xơ xác và lại càng xơ xác, tiêu điều hơn từ cái nhìn của nhà văn. Đó là lúc hoàng hôn của một ngày tàn nơi miền quê “mặt trờI đã lấp sau rặng tre, nhìn lên chỉ thấy khóm tre màu đen kịt trên nền trờI phớt hồng” dàn nhạc của ếch nhái bắt đầu văng vẳng kêu ngòi đồng, thế cũng đủ làm thành cái buổI chiều êm như ru như bao chiều khác.
Như một mô típ nghệ thuật, cái phố huyện hẻo lánh lạI hiện ra trong khung cảnh chợ vãn của buổI chiều chỉ còn lèo tèo vài ba ngườI bán hàng đang thu dọn gánh, vài đứa trẻ đi thu lượm các thứ lặt vặt… Cái bức tranh ấy đã một lần hiện lên trong “gió lạnh đầu mùa” nhưng sao nó vẫn nhuốm một nỗI buồn khó tả vào cái giờ khắc của ngày tàn trong “Hai đứa trẻ”.
Song bức trang phố huyện ấy không chỉ là cảnh vật mà là bức tranh cuộc sống của con người. Một hiện thực nơi miền quê hẻo lánh, một chút của chốn kinh thành được mang tớI từ con tàu đêm đêm. Cuộc sống phố huyện có gì? Đó là hoạt động kiếm sống của những ngườI mang trong mắt Liên dường như quá quen thuộc, mỗI ngườI đã có một thói quen. Như bác phở Siêu. chị Tí, bố con nhà hát sẩm, cụ Thi điên và ngay cả Liên. Việc chủ yếu cũng chỉ là nghe tiếng trống thu không thì đóng cửa quán mà đợI chờ. Hiện thực không làmta ngỡ ngàng đó là một phố huyện nghèo vớI những ngườI cần cù lao động một cách lầm lũi đáng thương.
Nhưng tất cả những hiện thực như thế đều đặt trong con mắt quan sát chất chứa trong chấ văn lãng mạn.ThờI gian đi vào cuộc sống của phố huyện “ rõ ràng” không vụt nhanh hoặc tan vào đêm tối. ThờI gian cứ chậm rãi đi từng bước phát triển của nộI tâm. Từ “tiếng trống thu không” đến một câu văn nhẹ nhàng: “Chiều, chiều rồI” cất lên trong lòng, rồI trờI nhá nhem tốI đến không gian đã khuya không còn những “tạp âm”, của ban ngày chỉ còn “vòm trờI vớI ngàn ngôi sao xanh ganh nhau lấp lánh”. MỗI thờI điểm lạI có một cái nhìn cảnh vật khác nhau nhưng đều có phần thi vị hoá nhờ những câu văn tươi mát, uyển chuyển.
Có buổI chiều nào êm như ru trong cách nhìn của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng? Chỉ cón tâm hồn lãng mạn Thạch Lam mớI có cái mượt mà đượm chất thơ như thế.
Sự tài tình chính là ở chổ nhà văn vừa hoà nhập hai tâm hồn quan sát là một. HIểu là nhà văn quan sát cũng đúng mà hiểu cảnh vật diễn ra trong mắt của nhân vật Liên cũng chẳng sai. Ta thấy rõ điều đó qua cái giật mình của nhân vật. “Liên mãi ngồI quên mất! Bây giờ Liên vộI vàng vào thắp đèn xếp những quả sơn đen lạI”.
“TrờI bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng gió mát”. Nhưng câu văn như vậy có rất nhiều và được dùng một cách chính xác đạt đến mẫu mực. PhảI chăng cảm nhận ấy xuất phát từ tâm hồn nhà văn hay chính là từ tâm hồn của Liên khi phố huyện đã chìm trong im lìm của vắng lặng. Trong con mắt “Dõi theo những bóng ngườI về muộn từ từ trong đêm”.
Nếu như đầu tốI phố huyện còn được “trang hoàng” bằng những ánh đèn hắt ra từ những quán bên đường thì bây giờ chỉ còn là bóng đêm. Một vài tia sáng le lói từ kẻ cửa thành từng vệt. Con mắt thơ mộng đâu chỉ dừng ở những ánh sáng rất thực mà tìm đến cái mong manh của thứ đom đóm lập loè trong kẽ lá bàng lạI càng gợI buồn khó tả. Ánh sáng hiếm hoi của thiên nhiên được nhà văn “ chớp” nhanh trong cái nhìn lãng mạn. Chất thơ chính là ở đó. Vừa có vài hiện thực vừa có sự bay bổng của ngườI bút phác lên và đằm lạI trên trang văn. Nhưng tất cả vẫn là cái thường nhật diễn ra trong cảnh sống vốn quẩn quanh lầm lũi.
Ánh đèn của chị Tí đủsoi một khoảnh nhỏ. Nếu quan sát từ xa, ta sẽ thấy một bức tranh khá hoàn chỉnh về mặt nghệ thuật vớI hai “gam màu” sáng tối. Khuônmặt ngườI phụ nữ chân quê chất phát đã trảI qua một ngày bươn bảI vớI cuộc sống để kiếm cái ăn, manh áo. Cuộc sống gia đình bận rộn tốI tăm. Nhưng tốI nào chị cũng góp một ánh đèn như thế. Tuy để làm thêm thu nhập, nhưng hình như họ chỉ bán cho lấy lệ.
Vậy thì cái gì đã làm cho họ ra đây? PhảI chăng đó là nếp sống. Và phố huyện ban đêm là nơi để họ sống…Âm thanh của cuộc sống phát ra từ những lờI đốI thoạI, những hoạt động của con ngườI nơi đây. MỗI ngườI đều góp một thứ ánh sáng, một chút hương vị, âm thanh. Tất cả tạo nên một bức tranh phố nghèo.
Chẳng có một nét chấm phá nào trong bức tranh nhưng tất cả những con ngườI có mặt đã làm nên tổng thể củacảnh vật cuộc sống.
Nếu như ở Nam Cao là những cảnh sống hiện thực khốn khổ vớI nước mắt của đói, miếng ăn và áp bức thì cuộc sống hiện thực trong văn Thạch Lam được “đo bằng” một đơn vị “lãng mạn” nhất định. Nét bút của ông đã phát hoạ một cách rất nhẹ nhàng uyển chuyển. Phố huyện nghèo và cũng có rất nhiều lý do để ngườI dân phảI lao vào cuộc bon chen giành dật sự sinh tồn. Nhưng ở đây là một không khí chan hoà thực sự, ấm áp tình ngườI và mỗI ngườI khi ra về chắc chắn vẫn giữ được sự ấm áp quen thân dù rất buồn.
Sự hài hoà giữa hiện thực và lãng mạn đã giúp Thạch Lam có được chất văn nhẹ nhàng thanh thoát, ẩn hiện nhân cách tyệt vờI của ông.
Trở lạI vớI cảnh sinh hoạt ban đêm nơi phố huyện, chất lãng mạn không dừng lạI ở cảnh bao quát mà đắm lạI ở những trang viết về chị em Liên. Đây chính lả điểm nhà văn đã tập trung khắc hoạ. Liên gây ấn tượng bởI nộI tâm sâu sắc, xuất phát từ một con ngườI đa cảm. Khi màn đêm đã bắt đầu buông xuống cũng chính là lúc Liên thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. Cảm giác buồn ấy gợI lên từ cảnh phố huyện xơ xác buồn trong tiếng trống thu không vang vọng như hút hồn người. Bất giác, một cảnh tượng làm chị không khỏI chạnh niềm thương: đó là những chú bé nheo nhóc nhớn nhác giữa chợ đã vãng từ lâu để nhặt những mẫu que kem và những gì còn có ích cho chúng. Ấn tượng đầu tiên là Liên có một tấm lòng chẳng trẻ con chút nào. Tư thế của một ngườI chị còn bé hơn thế nữa, nỗI lòng buồn báo hiệu một sự “trưởng thành” về tâm sinh lí.
Bức tranh phồ huyện nghèo hẻo lánh, ẩn khuất trong bóng tốI hư vô của phố huyện. Cuộc sống phố huyện đã ăn sâu trong tâm trí Liên. Tưởng như nếu có thiếu một thứ gì của cảnh ngoài kìa, Liên đã thốt lên rồi. Nhưng tất cả vẫn thế, ngay cả tiếng cụ Thi đôi lúc làm cho Liên sợ. Nhưng cảm giác thân thuộc vẫn thấy cụ đáng yêu và đáng thương. Từng cảnh đờI, cảnh sống của mỗI ngườI lần lượt đi qua tâm hồn tưởng như non nớt của Liên.
Cuộc sống của từng ngườI đã góp nên thành cuộc sống của cả một quần thể ngườI dân quê nghèo khó. Từ những mảnh đờI cũng giống như Liên cùng chung môi trường sống, ta thấy một điểm chung rất rõ, đó là sự quanh quẩn chật hẹp của môi trường xã hội. Ngày lạI ngày vẫn chỉ là cái chợ tiêu điều, vài dãy hàng quán vớI những khoảnh đất trống “Lá đa lác đác trước lều” và những “con ngườI ấy” mà thôi.
Nhưng ở Liên lạI có một sự khác lạ mà trong số trên chẳng có ai. Một hành động tưởng như quái gở và vô nghĩa, đó là “đợI tàu”. Nếu mẹ Liên ở đó chắc không cho cô thức. Nhưng đó mớI chính là chiều sâu của tác phẩm khi tác giả khắc hoạ hình ảnh Liên cùng em đợI tàu vớI một niềm háo hức rất trẻ con.
Và con tàu đã đến đúng như sự mong mỏI, đợI chờ, như một thoáng niềm vui cũng chợt tắt. Tàu hôm nay không đông khách, ánh sáng của toa tàu cũng kém đi. Điều đó càng làm lòng Liên có một mỗI buồn vô hình xâm lấn. Con tàu vô cảm lầm lũi mang đến niềm vui duy nhất nhưng lạI chợt gợI thêm nỗI buồn khó tả. Tiếng rầm rầm của tàu đã lẩn khuất sau màn đêm dáy đặc, không gian của phố huyện thoáng giao động rồI lạI trở về như xưa. Tâm trạng của Liên bây giờ chẳng biết nên vui hay nên buồn. Vui có lẽ đúng hơn vì hàng ngày chuýên tàu vẫn là niềm mong mỏI của chị. Có ngườI nói “chờ đợI là một điều khủng khiếp”; song, không có gì để chờ đợI lạI càngkhủng khiếp hơn. VớI Liên điều khủng khiếp chính là niềm vui mà chị có thể tự tạo cho mình. Chất lãng mạn ngay trong cảnh đợI tàu. Cảnh đợI tàu ở đây tuy có khác vớI cảnh đợI tàu trên sân ga nhưng lạI vẫn chung một nỗI niềm mong mỏi. Điều đáng nói hơn là duy chỉ một cô bé Liên đợi. Cuộc sống bon chen đã không làm chị chìm trong cảnh đờI lầm lũi, thầm lặng. Vượt xa hơn là một tâm hồn khát khao niềm vui của cuộc sống. Tuy cuộc sống buồn nhưng vẫn tạo được nhiềm vui để mình sống có ý nghĩa hơn trong cõi đờI. quả thực, tâm hồn Liên là một bài thơ có cấu tứ khá hoàn chỉnh; nhưng đó là một sự thật hiển nhiên mà Thạch Lam đem lại. Cho đến nay, chị vẫn sống vớI một niềm vui của chuyến tàu đem lại. “Liên” là mảng màu chủ đạo tạo nên chất hiện thực và chất lãng mạn trong thiên truyện. tạo nên bằng một cuộc đời. tạo nên như là ngườI dẫn chuyện.
Thành công của thạch Lam chính là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp lãng mạn vớI xu hướng hiện thực, nhân đạo. Tạo cho mỗI tác phẩm của ông một sức sống trường tồn cùng lòng người. Tình ngườI của nhà văn vớI nhân vật đã đưa ý nghĩa truyện lên một tầng cao mới. Ai đó đã định nghĩa về thơ: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đờI còn là thơ nữa” thì truyện ngắn “Hai đứa trẻ” và nhiều thiên truyện khác nữa của thạch lam có đầy đủ những yếu tố mang phong vị của một bài thơ trữ tình đặc sắc mà lạI “cuộc đờI” thật nhiều sâu sắc. | Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ | 1,967 | |
Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Hướng dẫn
Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Đại thi hào Nguyễn Du đã từng thương xót khi nói về số phận người đàn bà và nhà thơ dành cho những số phận bất hạnh câu thơ thể hiện sự cảm thương ấy:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Thật vậy, không chỉ có Kiều mới có số phận đau khổ bạc mệnh như thế mà đến người đàn bà hàng chài, nhân vật Thị trong tác phẩm Vợ Nhặt cũng vậy. Tô Hoài cũng góp phần làm rõ số phận của những người phụ nữ trong xã hội cũ ấy bằng tác phẩm Vợ Chồng A Phủ. Và đặc biệt số phận và vẻ đẹp của người phụ nữ vùng cao hội tụ tất cả trong nhân vật Mị. Có lẽ trong tất cả những phẩm chất và số phận của nhân vật Mị người đọc ấn tượng nhất với sức sống tiềm tàng của cô trong đêm tình mùa xuân trên Hồng Ngài.
Trước hết là trước khi cô làm dâu nhà thống lý Pá Tra. Mị được biết đến với một nhan sắc đẹp và rất chăm chỉ. Cô là một cô gái nhà nghèo chính vì thế mà cha mẹ Mị đã phải vay nhà thống lý tiền để trang trải cuộc sống. Mị xinh đẹp hiền diu đến mức “ không biết bao nhiêu chàng trai đến đứng nhẵn vách đầu giường Mị”. Không những thế Mị còn là một người con gái đa tài nữa, cô thổi sáo rất giỏi và rất hay chỉ cần một cái lá trên tay thì cô có thể thổi được một ban nhạc hay rồi. xinh đẹp tài giỏi cô còn rất chăm chỉ, hiếu thảo và có lòng tự trọng. Khi thống lý ngỏ ý muốn lấy Mị về để gạt nợ cho cha me nhưng Mị nhất quyết xin cha rằng Mị không sẽ làm nương để trả nợ nhà thống lý chứ Mị không muốn về nhà thống lý. Qua đâ ta thấy Mị là một người con gái có đầy đủ tất cả những nhan sắc và phẩm chất. Đáng ra với tài năng và nhan sắc của mình Mị phải được sống trong cảnh vui vẻ hạnh phúc chứ nhưng sự thật thì ngược lại. Trong một đêm tình mùa xuân Mị đã bị A Sử con của thống lý đóng giả làm người yêu Mị gạt Mị bắt về cúng trình ma nhà nó. Để rồi từ đó Mị sống không bằng chết, Mị sống trong kiếp làm dâu gạt nợ nhà thống lý. Cuộc đời ấy của Mị là một chuỗi ngày khổ sở và căm lặng.
Tưởng rằng sức sống trong Mị đã lụi tàn đi nhưng những đêm tình mùa xuân đến mang lại sức sống tiềm tàng cho Mị. Có thể nói rằng chính những tác động đặc biệt là tiếng sáo thổi đã đánh thức trái tim nguội lạnh bấy lâu nay của Mị hồi sinh.
Cảnh sắc trên Hồng Ngài thay đổi rực rỡ sắc màu hơn, những chiếc váy xòe đã được phơi trên những mỏm đá như những con bướm sặc sỡ. Xuân về cảnh vật như đổi sắc tươi xinh khiến cho lòng ai đều không khỏi bâng khuâng xao xuyến.
Con người Hồng Ngài cũng tác động đến sức sống trong Mị. Những chàng trai cô gái Her Mông tết đến rủ nhau đi chơi quay, chơi pao trên những khoảng sân trống. có những lời bài hát khiến cho nhân vật xao xuyến “anh ném pao, em bắt pao nào, em yêu anh nào”. Tiếng sáo gọi bạn tình cất lên khiến cho Mị bổi hổi bồi hồi. Tất cả những yếu tố ấy đã tác động đến tâm hồn Mị.
Mị đến phòng mình khẽ xắn thêm mỡ để sáng đèn lên có thể nói chính hành động ấy đã thắp sáng lên cuộc đời cô. Dường như cô đã tỉnh dậy sau bao nhiêu năm tháng ngủ quên. Cô không còn là một con rùa lầm lũi trong xó cửa nửa. tết này cô đã uống rượu rồi. tiếng sáo vẫn vẳng lên thiết tha:
“Mày có con trai con gái
….
Tao không có con trai con gái
Tao đi tìm người yêu”
Mị quyết định lấy chiếc váy hoa trong vách để chuẩn bị đi chơi. Mị sửa sang lại đầu óc. Điều đó cho thấy sức sống niềm yêu đời trong Mị đã quay trở lại, nó mãnh liệt và thật là con người mà Mị từng có. Thế nhưng A Sử đã kịp thời biết được. hắn đi chơi về và chắc là để thay đồ rồi đi tiếp nhưng nhìn thấy Mị sửa sang hắn trói Mị lại cái cột ngay nhà. Tóc Mị dài xõa xuống hắn độc ác buộc luôn lên cái cột đó khiến cho Mị không sao cựa quạy được nữa. Thế rồi Mị vẫn mang tâm hồn mình đi theo tiếng sáo ấy. Nó vẫn bổi hổi bồi hồi Mị nhớ đến những kỉ niệm và chân Mị bước đi nhưng không thể nào bước nổi. Khi ấy Mị mới biết mình đang bị trói, tóc cô cũng buộc trên côt khiến cho cô không thể cúi được. Ngoài kia tiếng ngựa đạp vào chân vách nghe thật chua xót. Có thể nói nếu như tiếng sáo kia đánh thức sức sống trong Mị cho Mị nhớ lại những khoảnh khắc ngày xưa mình thường vẫn sống thì tiếng chân ngựa khiến cho mị thức tỉnh và đối mặt với thực tại đầy đau khổ. Và khi ấy Mị không còn nghĩ đến tiếng sáo kia nưa trong khi nó vẫn văng vẳng bên tai và vang trên khắp Hồng Ngài. | Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài | 992 | |
Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân
Bài làm
Với người nông dân Việt Nam, có lẽ không có thứ tình cảm nào tự nhiên hơn tình yêu đất nước. Tình yêu ấy nhẹ nhàng thấm vào máu thịt qua tình cảm dành cho người thân, làng xóm, quê hương. Nó tưởng như xa xôi nhưng lại thật gần gũi, giản dị. Thấu hiểu những điều đó, nhà văn Kim Lân đã có một thiên truyện thật hay viết về tình yêu quê hương đất nước của người nông dân: “Làng”. Diễn biến tâm trạng nhân vật chính của tác phẩm – nhân vật ông Hai là một thành công lớn của tác giả khi viết về đề tài tình yêu đất nước.
Tin làng Chợ Dầu theo giặc làm ông Hai khổ tâm là vì nó đã động chạm đến điều thiêng liêng, nhạy cảm nhất trong con người ông. Cái làng đối với người nông dân quan trọng lắm. Nó là ngôi nhà chung cho cộng đồng, họ mạc. Đời này qua đời khác, người nông dân gắn. bó với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là hiện thân cho đất nước đối với họ. Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai thuộc loại khố rách áo ôm”, từng bị "bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn kiếm ăn. Ba chìm bảy nổi mười mấy năm trời mới lại được trở về quê hương bản quán". Nên ông thấm thía lắm cái cảnh tha hương cầu thực, ông yêu cái làng của mình như đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ, tôn thờ mẹ, một tình yêu hồn nhiên như trẻ thơ. Cứ xem cái cách ông Hai náo nức, say mê khoe về làng mình thì sẽ thấy. Trước Cách mạng tháng Tám, ông khoe cái sinh phần cùa viên tổng đốc làng ông: "Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi.". Và mặc dù chẳng họ hàng gì nhưng ông cứ gọi viên tổng đốc là "cụ tôi" một cách rất hả hê! Sau Cách mạng, "người ta không còn thấy ông đả động gì đến cái lăng ấy nữa”, vì ông nhận thức được nó làm khổ mình, làm khổ mọi người, là kẻ thù của cả làng: "Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó. […] Cái chân ông đi tập tễnh cũng vì cái lăng ấy”. Bây giờ ông khoe làng ông khởi nghĩa, khoe “ông gia nhập phong trào từ hồi kì còn trong bóng tối”, rồi những buổi tập quân sự, khoe những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông,… Cũng vì yêu làng quá như thế mà ông nhất quyết không chịu rời làng đi tản cư. Đến khi buộc phải cùng gia đình đi tản cư ông buồn khổ lắm, sinh ra hay bực bội, “ít nói, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm”. Ở nơi tản cư, ông nhớ cái làng của ông, nhớ những ngày làm việc cùng với anh em, “Ô, sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra.[…] Trong lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên". Lúc này, niềm vui của ông chỉ là hàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe về cái làng Chợ Dầu của ông đánh Tây. Thế mà, đùng một cái ông nghe được cái tin làng Chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Càng yêu làng, hãnh diện, tự hào về làng bao nhiêu thì bây giờ ông Hai lại càng thấy đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu. Nhà văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, khả năng phân tích sắc sảo, tái hiện sinh động trạng thái tình cảm, hành động của con người khi miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai trong biến cố này.
Ông lão đang náo nức, "ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!" vì những tin kháng chiến thì biến cố bất ngờ xảy ra. Cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đã làm ông điếng người: "Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặng è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ […] giọng lạc hẳn đi”, “Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi” và nghĩ đến sự dè bỉu của bà chủ nhà. Ông lão như vừa bị mất một cái gì quý giá, thiêng liêng lắm. Những câu văn diễn tả tâm trạng thật xúc động: “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra… Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đây? Chúng nó cũng bị người ta ré rúng hắt hủi đây? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…”. Nỗi nhục nhã, mặc cảm phản bội hành hạ ông lão đến khổ sở. “Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước…”. Cả nhà ông Hai sống trong bầu không khí ảm đạm: “Gian nhà lặng đi, hiu hắt, ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn dầu lạc vờn trên nét mặt lo âu của bà lão. Tiếng thở của ba đứa trẻ chụm đầu vào nhau ngủ nhẹ nhàng nổi lên, nghe như tiếng thở của gian nhà.” Ông Hai ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp, bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề. Thậm chí ông không dám nhắc tới, phái gọi tên cái chuyện phản bội là “chuyện ấy”, ông tuyệt giao với tất cả mọi người, “không dám bước chân ra đến ngoài” vì xấu hổ. Và cái chuyện vợ chồng ông lo nhất cũng đã đến. Bà chủ nhà bóng gió đuổi gia đình ông, chỉ vì họ là người của làng theo Tây. Gia đình ông Hai ở vào tình thế căng thẳng. Ông Hai phải đối mặt với tình cảnh khó khăn nhất: “Thật là tuyệt đường sinh sống! […] đâu đâu có người Chợ Dầu người ta cũng đuối như đuổi hủi. Mà cho dẫu vì chính sách của Cụ Hồ người ta chẳng đuổi đi nữa, thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu".
Từ chỗ yêu tha thiết cái làng của mình, ông Hai đâm ra thù làng: "Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi, về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ…”. Và "nước mắt ông giàn ra". Ông lại nghĩ đến cảnh sống nô lệ tăm tối, lầm than trước kia. Bao nỗi niềm của ông không biết giãi bày cùng ai đành trút cả vào những lời trò chuyện cùng đứa con thơ dại:
Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con của ai?
Là con thầy mấy lại con u.
Thế nhà con ở đâu?
Nhà ta ở làng Chợ Dầu.
Thế con có thích về làng Chợ Dầu không?
Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:
Có.
Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu lại hỏi:
À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?
Thẳng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ
ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.
Những lời đáp của con trẻ cũng là tâm huyết, gan ruột của ông Hai, một người lấy danh dự của làng quê làm danh dự của chính mình, một người son sắt một lòng với kháng chiến, với Cụ Hồ. Những lời thốt ra từ miệng con trẻ như minh oan cho ông, chân thành và thiêng liêng như lời thề đinh ninh vang lên từ đáy lòng ông:
Anh em đồng chí biết cho bố con ông
Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai:
Nhà văn đã nhìn thấy những nét đáng trân trọng bên trong người nông dân chân lấm tay bùn. Nhân vật ông Hai hiện ra chân thực từ cái tính hay khoe làng, thích nói về làng bất kể người nghe có thích hay không; chân thực ở đặc điểm tâm lí vì cộng đồng, vui cái vui của làng, buồn cái buồn của làng và chân thực ở những diễn biến của trạng thái tâm lí hết sức đặc trưng của một người nông dân tủi nhục, đau đớn vì cái tin làng mình phản bội. Nếu như trong biến cố ấy tâm trạng của ông Hai đau đớn, tủi cực bao nhiêu thì khi vỡ lẽ ra rằng đó chỉ là tin đồn không đúng, làng Chợ Dầu của ông không hề theo giặc, sự vui sướng càng tưng bừng, hả hê bấy nhiêu, ông Hai như người vừa được hồi sinh. Một lần nữa, những thay đổi của trạng thái tâm lí lại được khắc hoạ sinh động, tài tình: "Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy…". Ông khoe khắp nơi: "Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn! […] Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả.”, Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn.[…] Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục đích cả!". Đáng lẽ ra ông phải buồn vì cái tin bị đốt nhà chứ? Nhưng ông đang tràn ngập trong niềm vui vì thoát khỏi cái ách "người làng Việt gian". Cái tin ấy xác nhận làng ông vẫn nhất quyết đứng về phía kháng chiến. Cái tin ấy khiến ông lại được sống như một người yêu nước, lại có thể tiếp tục sự khoe khoang đáng yêu của mình, …Mâu thuẫn mà vẫn hết sức hợp lí, điếm này cũng là sự sắc sảo, độc đáo cùa ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Kim Lân.
Người đọc sẽ không thể quên được một ông Hai quá yêu cái làng của mình như thế. Mặt khác, cũng như các nhân vật quần chúng (chị cho con bú loan tin làng Chợ Dầu theo giặc), bà chủ nhà. Cái khó quên ở nhân vật này còn là nét cá thể hoá rất đậm về ngôn ngữ. Lúc ông Hai nói thành lời hay khi ông nghĩ, người đọc vẫn nhận thấy rất rõ đặc điểm ngôn ngữ của vùng quê Bắc Bộ, của một làng Bắc Bộ: "Nắng này là bỏ mẹ chúng nó", "không đọc thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy", "Thì vườn", "có bao giờ dám đơn sai",… Đặc biệt là nhà văn cố ý thể hiện những từ ngữ dùng sai trong lúc quá hưng phấn của ông Hai. Những từ ngữ "sai sự mục đích cả" là dấu ấn ngôn ngữ của người nông dân ở thời điểm nhận thức đang chuyển biến, muốn nói cái mới nhưng từ ngữ chưa hiểu hết. Sự sinh động, chân thực, thú vị của câu chuyện phần nào cũng nhờ vào đặc điểm ngôn ngữ này.
Xây dựng thành công diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai là thành công lớn nhất của truyện ngắn “Làng”. Điều đó đã thể hiện được tài năng của nhà văn Kim Lân trong việc khám phá chiều sâu tâm lí nhân vật. Và hơn hết, điều đó đã xây dựng trong lòng độc giả một chân dung sống động, chân thực về một tấm lòng yêu quê hương, đất nước thiết tha cảm động của người nông dân Việt Nam chất phác, thật thà. | Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân | 2,065 | |
Phân tích diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mỵ (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) trong đêm cắt dây trói giải thoát cho A Phủ và giải thoát cho chính mình
Hướng dẫn
Mở bài:
Tô Hoài là một nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Ông có đóng góp to lớn cho nền văn học cách mạng ở nhiều lĩnh vực và nhiều giai đoạn nhau. Vợ chồng A Phủ là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Tô Hoài và của nền văn học kháng chiến chống Pháp viết về đề tài miền núi. Tô hoài đã rất thành công khi diễn tả tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cắt dây trói giải cứu cho A Phủ và giải thoát cho chính mình.
Thân bài:
Vợ chồng A Phủ đã miêu tả chân thực số phận đáng thương và nỗi khổ nhục của người lao động nghèo khổ Tây Bắc dưới ách thống trị của các thế lực thống trị phong kiến vùng cao. Đồng thời, tác phẩm cũng phát hiện và diễn tả sinh động vẻ đẹp tâm hồn, sức sồng tiềm tàng cùng quá trình thức tỉnh vươn ra ánh sáng tự do của một thế hệ người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.
Mỵ là nhân vật được chú ý khắc họa nhiều nhất trong Vợ chồng A Phủ. Nhân vật Mỵ thể hiện tập trung hơn cả nội dung của tác phẩm, vốn hiểu biết phong phú và tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Tô Hoài.
Mỵ vốn là một cô gái trẻ trung, xinh đẹp. Cô là đóa hoa ban rực sắc giữa xứ Hồng Ngài. Tuổi xuân phơi phới hứa hẹn một tương lai tươi sáng. Thế nhưng, khi bông hoa chớm nở, chưa trải qua những hạnh phúc ở đời thì bất trắc đã đến. Cha mẹ Mỵ thiếu nợ nhà thống lý Pá Tra khi còn tuổi trẻ. Cả đời ông bà làm lụng vất vả mà vẫn không trả hết được món nợ ấy. Thế nên thống lý Pá Tra cho bắt Mỵ (con gái ông bà) về làm vợ A Sử (con trai Pá Tra) để tiếp tục trả nợ.
Tai họa đột ngột ập đến khiến Mỵ sững sờ. Không thể chấp nhận được thực tại, Mỵ đã toan tự tử bằng nắm lá ngón. Nhưng vì thương cha già, nàng đành phải ngậm đắng nuốt cay về làm dâu nhà thống lý. Bao nhiêu mơ ước bỗng chốc tan tành như làn mây mỏng trên đỉnh núi cao. Tuổi trẻ tươi đẹp đầy khát khao của Mỵ bị số phận khắc nghiệt vùi dập tàn nhẫn.
Để phản kháng lại điều bất công ấy, Mỵ suốt ngày im lặng. Nàng câm lặng làm việc không biết ngày đêm. Mỵ không nói, không cười, cứ lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Cuộc đời tươi trẻ dường như đã tàn phai. Mỵ sống như người chết, vô hồn, vô cảm. Trái tim Mỵ lạnh lẽo trong nỗi thống khổ tận cùng.
Lần thứ nhất, sức sống sống ấy đã sống dậy trong My khi tiếng khèn của trai gái vọng về trên đỉnh núi của đêm mùa xuân. Trong hơi hơi rượu ngà ngà say, Mỵ nghe rất rõ âm thanh ngọt ngào của cuộc sống. Có cái gì đó đang trỗi dậy rất mịnh mẽ trong tâm hồn người đàn bà đầy khổ đau. Nó khiến Mỵ muốn đi chơi, muốn được thổi khèn lá và cất tiếng hát giữa rừng xanh.
Tuy sau đó, nàng bị đánh đập phủ phàng nhưng niềm khao khát sống đúng nghĩa cũng kịp định hình và lại tiếp tục được giấu kín trong thẳm sâu tâm hồn.
Lần thứ hai khi bắt gặp ánh mắt và giọt nước mắt của A Phủ trong đêm mùa đông năm ấy. Giọt nước mắt của con người đồng cảnh ngộ một lần nữa làm sống lại những rung động trong Mỵ.
Cuộc đời của A Phủ đến với nhà thống lý Pá Tra cũng chẳng khác gì Mỵ. Chỉ vì đánh A Sử bị thương trong một lần tranh chấp, A Phủ bị bắt làm người ở cho đến hết cuộc đời. Đó là điều vô lí nhưng với sức mạnh của nhà thống lý nó lại hết sức có lí. Sau đó, do mải mê đi săn, bất cẩn để một con bò bị hổ bắt mất, A Phủ bị nhà thống lý Pá Tra trói vào cây cột ở trước sân. Chúng bắt anh chịu đói, chịu khát cho đến khi nào A Sử cùng người nhà bắt được con hổ mới được tha.
Hai con người chất chứa trong lòng điều bất mãn tột cùng nhưng chưa có cơ hội thể hiện. Họ đã gặp nhau trong một tình thế trớ trêu. Đêm mùa đông nắm ấy, sau nhiều ngày bị trói dưới trời lạnh rét, bị đánh đập, bị bỏ đói, bỏ khát đến kiệt sức, A Phủ biết chắc mình sẽ chết. Anh nhìn thấy bếp lửa vẫn từng đêm cháy cho đến sáng biết có người đã thức bao đêm. Không biết là ai sau tấm phên ấy, anh luôn vào để cầu cứu, nước mắt không ngừng chảy.
Phía sau tấm phên, đối diện nơi A Phủ bị trói, Mỵ từng đêm đốt lửa vì không ngủ được. Nàng không hề quan tâm người bị trói ở ngoài kia là ai, vẫn còn sống hay đã chết bởi từ lâu tâm hồn nàng đã khô héo. Mặt khác, sự hành hạ và cái chết trong nhà thống lý cũng không có gì lạ lẫm. Cảnh đánh người, trói người vẫn diễn ra từng ngày ở chốn ngục tù ấy
Nhưng đêm nay, ánh lửa hiu hắt chiếu ra ngoài sân, nàng bất ngờ bắt gặp ánh mắt A Phủ và dòng nước mắt lăn trên đôi gò má teo tóp đã xám đen lại vì kiệt sức. Một ánh mắt tuyệt vọng, chất chứa lời van xin, cầu khẩn mong nhận lấy một sự hỗ trợ lóe lên trong ánh lửa khiến nàng giật mình.
Dòng nước mắt lăn trên má A phủ khiến Mỵ nhớ đến những lần mình bị A Sử trói, bị đánh đập, bị bỏ đói như thế. Nhớ lại cảnh ngộ của bản thân Mị vô cùng đau xót. Càng thương mình, Mỵ càng thương cho A Phủ.
Mỵ bồi hồi nhớ lại giọt nước mắt của mình năm xưa khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí và những lần bị hành hạ khủng khiếp. Giọt nước mắt bất lực không thể than khóc cùng ai. Giọt nước mắt khi nàng nghĩ về cái chết. Bất ngờ, nàng nghĩ A Phủ sẽ chết. Nàng hoang mang tột độ. Suy nghĩ A Phủ sẽ chết cứ má ảnh trong đầu óc Mỵ: “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Còn người kia việc gì phải chết thế”.
Lần đầu tiên trong cuộc đời, nàng nghĩ về cái chết của người khác. Tình thương và sự đồng cảm lớn lao đã khiến Mỵ quên đi bản thân, hướng đến người khác. Trong tâm hồn Mỵ bỗng thức dậy niềm đồng cảm, lòng yêu thương ở người phụ nữ từng chịu nhiều đắng cay bất hạnh này. Nó cuộn thắt như có một sức mạnh nào đó đang trỗi dậy và tìm lối bộc phát. Ngay lúc này đây, nàng tỉnh táo hơn lúc nào hết. Đó là một chuyển biến lớn trong nhân vật Mỵ. Tình thương đã chiến thắng nỗi sợ hãi. Trong phút chốc, nó thúc đẩy Mỵ đi đến một hành động thật táo bạo, cắt dây trói, giải thoát cho A Phủ.
Đó là một quyết định hết sức khó khăn. Sức mạnh của cường quyền và thần quyền lúc nào cũng bao phủ lên ý nghĩ và cuộc đời của con người miền núi. Nếu giải thoát cho A Phủ, nghĩa là Mỵ phải chịu tội thay anh, sẽ bị trói vào cái cọc ấy, bị đánh cho đến chết.
Và khi A Phủ được giải thoát khỏi vòng day, anh khụy gục xuống. Một khoảng thời gian rất ngắn nhưng cũng đủ để Mỵ suy nghĩ về sự sống. Mỵ khẽ khàng nói với A Phủ: “Chạy đi!”. A Phủ vụt chạy vào bóng tối, vừa chạy vừa lăn xuống dốc như thể bằng mọi cách phải nhanh chóng rời khỏi chỗ này. Nhìn thấy điều ấy, Mỵ sực mình tỉnh ngộ. Dù đã bị hành hạ cho đến gần chết thế mà khi được giải thoát, A Phủ đã mạnh mẽ tìm về sự sống còn mình sao lại chấp nhận cùm kẹp một cách dễ dàng.
A Phủ đang chạy. Anh đang bứt mình ra khỏi sức mạnh của nhà thống lý. Anh sẽ về nơi đâu chưa ai biết. Nhưng chắc chắn nơi đó sẽ tốt hơn nơi này. Mỵ sực tỉnh nhận ra con đường giải thoát cho mình. Nàng chạy ra theo A Phủ. Và khi đã bắt kịp, nàng nói trong giá rét: “A Phủ, cho tôi cho tôi đi với. Ở đây thì chết mất”. Hành động bột phát đã đưa cuộc đời Mỵ sang trang mới. Họ đã chạy khỏi Hồng Ngài, giác ngộ lý tưởng cách mạng và trở thành vợ chồng, xây dựng cuộc sống hạnh phúc.
Kết bài:
Ngòi bút Tô Hoài hồi hộp dõi theo từng bước Mỵ đi. Trong đêm tối, ông ngậm ngùi nhìn nhân vật của mình đau khổ mà bất lực. Cho đến khi Mỵ vụt chạy theo A Phủ, ông cũng hân hoan tột độ. Tô Hoài đã sống chân thành cùng nhân vật, không bao giờ ông bỏ rơi nhân vật của mình. Ông đã sớm giác ngộ lí tưởng cách và hướng nhân vật về nguồn sáng ấy. Đó cũng là một bước tiến vượt bậc trong lí tưởng nhà văn và của nền văn học kháng chiến. Nhân vật Mỵ là kết tinh cao độ của tình yêu thương con người và lí tưởng cách mạng vốn rất sâu sắc trong nhà văn. | Phân tích diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mỵ (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) trong đêm cắt dây trói giải thoát cho A Phủ và giải thoát cho chính mình | 1,710 | |
Đề bài: Phân tích giá trị biểu cảm của hai câu thơ trong đoạn văn bản ở tác phẩm Qua Đèo Ngang: Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Hướng dẫn
Bài thơ Qua Đèo Ngang được ra đời khi nhà thơ có việc đi qua Đèo Ngang. Trước cảnh đẹp hoang vu của chốn thiên nhiên nhà thơ đã sáng tác ra bài thơ này. Hai câu thơ mang lại giá trị biểu cảm trong toàn bộ bài thơ.
Nhà thơ đã vẽ nên cảnh vài chú tiều đang nhặt củi dưới chân núi và mấy nhà chợ vắng vẻ bên sông nhưng bằng nghệ thuật đảo ngữ đặc sắc, tác giả đã tạo nên hai câu thơ đầy sức gợi. Theo cách diễn đạt thông thường, hai câu thơ trên được viết là: Vài chú tiều lom khom dưới núi (hoặc: Vài chú tiều dưới núi lom khom), Mấy nhà chợ lác đác bên sông (hoặc: Mấy nhà chợ bên sông lác đác). Nhưng viết như vậy không tạo được ấn tượng bằng cách diễn đạt mà Bà Huyện Thanh Quan đã chọn. “Lom khom” là từ tượng hình gợi tư thế cúi người nhưng luôn luôn nhấp nhô chuyển động. Đó là động tác cúi nhặt củi của người tiều phu. Nó gợi lên hình ảnh đời sống lam lũ, vất vả suốt đời “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” của người lao động.
Từ “lác đác” cũng có sức gợi tinh tế như thế. Nó chỉ sự vắng vẻ, thưa thớt, bé nhỏ, thậm chí tiêu điều hoang vắng mà ở đây là mấy nhà chợ. Mà như ta biết, chợ búa là nơi thể hiện đời sống kinh tế của khu dân cư, chợ vắng vẻ nghĩa là nơi ấy nghèo đói, lam lũ lắm. Điều đặc biệt là hai từ tượng hình độc đáo ấy được đảo lên đầu câu thơ đã nhấn mạnh vào sự vất vả, lam lũ, đói nghèo của người dân vùng Đèo Ngang. Chẳng những thế, các từ chỉ lượng rất ít ỏi: “vài”, “mấy” nó nhắc đến sự vắng vẻ, tiêu điều của sự sống. Đã vậy, các từ chỉ lượng ấy bị tách riêng ra khỏi danh từ để các sự vật “tiều”, “chợ” đứng một mình chơ vơ giữa câu thơ càng tô đậm sự heo hút, vắng lặng của con người. | Phân tích giá trị biểu cảm của hai câu thơ trong đoạn văn bản ở tác phẩm Qua Đèo Ngang_ Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà. | 401 | |
Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực của Những đứa con trong gia đình
Bài làm
Nguyễn Thi là một nhà văn-chiến sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp sáng tác đã để lại nhiều bài học lớn cho cả một thế hệ nhà văn thời chống Mĩ. Ông đã hi sinh ở mặt trận Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Trong di sản viết về chiến tranh của ông, có tác phẩm đã hoàn chỉnh, có tác phẩm mới ở dạng phác thảo nhưng tất thảy đều ngồn ngộn chất sống và giàu tính thẩm mĩ chứng tỏ tác giả của nó là một tài năng văn học lớn.
Từng sống ở Nam Bộ trước cách mạng và sau này lại tham gia chiến đấu trên chiến trường ấy, Nguyễn Thi rất am hiểu con người và cảnh vật nơi này. Có thể nói ông là nhà văn của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long trong cuộc chiến tranh chống Mĩ ác liệt. Ông đã trút tâm huyết xây dựng họ thành những nhân vật văn học đáng nhớ đầy cá tính, có lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc, sống bộc trực, hồn nhiên, giàu tình nghĩa.
Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Những đứa con trong gia đình là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Thi rút từ tập Truyện và kí xuất bản năm 1978. Truyện kể về những đứa con trong một gia đình nông dân một lòng một dạ đi theo cách mạng và có những mối thù riêng với quân giặc. Chiến và Việt – hai chị em đồng thời là hai nhân vật chính của tác phẩm không còn cha mẹ. Cha bị địch giết hồi chín năm (kháng chiến chống Pháp), còn mẹ thì chết vì trúng đạn đại bác Mĩ. Họ lớn lên trong sự dìu dắt, đùm bọc của ông Năm (người chú ruột) và sau này là của đoàn thể, đồng đội (một gia đình mới thân thiết của hai chị em). Tuy nói chuyện một gia đình nhưng tác phẩm của Nguyễn Thi có khả năng ôm trùm hiện thực rộng lớn. Số phận của mấy chị em ở đây cũng như cảnh ngộ gia đình họ không phải chỉ có Ý nghĩa cá biệt. Có biết bao người, bao gia đình cũng phải gánh chịu những mất mát và đã vượt lên như thế trong cuộc chiến tranh khốc liệt này. Hình tượng cuốn sổ gia đình được nhắc tới mấy lần trong truyện có nghĩa nghệ thuật rất quan trọng. Nó hé lộ cho ta Ý đồ nghệ thuật của nhà văn muốn qua câu chuyện một gia đình để đề cập đến những vấn đề khái quát hơn. Lời của chú Năm trong truyện đã nói lên điều đó: “Chú thường ví chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó. Chú kể chuyện con sông nào ở nước ta cũng đẹp, cũng lắm nước bạc, nhiều phù sa, vườn ruộng mát mẻ cũng sinh ra từ đó, lòng tốt của con người cũng sinh ra từ đó. Trăm sông đổ về một biển, con sông của gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm, chị em Việt lớn lên rồi sẽ biết, rộng bằng cả nước ta và ra ngoài nước ta”. Thông thường, sự kháo quát nghệ thuật của Nguyễn Thi là như vậy. Nó luôn tự nhiên như đời sống do bắt mạch thực sự được vào cuộc sống.
Trên một Ý nghĩa khác, hình tượng cuốn sổ ngầm chứa chức năng lí giải chiều sâu hành động hiện tại của các nhân vật. Cuốn sổ ghi chép đủ những sự việc đáng nhớ xảy ra với gia đình lớn của chị em Việt-Chiến, từ chuyện người nào bị giặc giết chết vào ngày nào đến chuyện ai bị chúng nhục mạ ra sao. Đặc biết, cuốn sổ kể khá tỉ mỉ từng chiến công đánh giặc của các thành viên gia đình, trong đó có chiến công của Chiến và Việt theo du kích bắn tàu Mĩ trên sông Định Thủy. Cuốn sổ- ấy là lịch sử một gia đình, nó cho thấy truyền thống và sự tiếp nối. Nó là một hình thức giáo dục lòng tự hào về truyền thống mà chú Năm rất có Ý thức xây dựng cho thế hệ con cháu. Chú nói: “Chừng nào bây trọng trọng, tao giao cuốn sổ cho chị em bây”. Câu nói ấy cũng rất mực tự nhiên mà chứa đầy Ý nghĩa. Chính thế hệ mới sẽ là người viết tiếp những trang mới, vẻ vang cho truyền thống. Không thể nói mọi chiến công mà Chiến, Việt lập được lại không liên quan đến cuốn sổ gia đình này. Kể lại sự việc nhưng không bao giờ quên khám phá chiều sâu của nó chính là thuộc tính bản chất của ngòi bút Nguyễn Thi.
Nguyễn Thi rất có biệt tài dựng người, dựng cảnh. Vốn sống của ông phong phú khiến cho các chi tiết mà ông lẩy ra bao giờ cũng như giẫy trên trang sách, rất sinh động. Nhiều nhân vật chỉ xuất hiện thoáng qua trong truyện nhưng đã kịp để lại một ấn tượng khó quên, cả về hành động lẫn ngôn ngữ. Chú Năm của Chiến, Việt thật dễ nhớ với “giọng hò đã đục và tức như tiếng gà gáy”(“Chú hay kể sự tích của gia đình và cuối câu chuyện, thế nào chú cũng hò lên mấy câu”). Giọng hò của người đàn ông trung niên này tuy không hay nhưng chứa đựng mọt cái gì đó thật tha thiết khiến cho chị em Chiến, Việt tuy rất thấy buồn cười nhưng vẫn rất cảm động. Theo như lời kể trong tác phẩm, ông ít nói, nhưng những câu nói của ông được hai chị em nhân vật chính khắc ghi trong tâm khảm. Nó tương tự như những châm ngôn kết tinh của cả một đời từng trải sông nước, lăn lộn với ruộng vườn và chung thủy một dạ với cách mạng.
Bên cạnh nhân vật chú Năm, hình ảnh người má của hai chị em Chiến, Việt cũng hiện lên với những nét chạm khắc rạch ròi. Đó là người đàn bà xốc vác, gan dạ, giỏi thu xếp cả việc chung lẫn việc riêng. Nguyễn Thi đã chọn được nhiều chi tiết thật tài tình để xây dựng chân dung con người ấy. Nào là chuyện bà đi đấu tranh về bị cà nông giặc bắn đuổi theo, một trái rơi bịch trước mặt, không nổ, “bà đến dòm dòm rồi bỏ luôn vào rổ, cắp về”; nào là chuyện bà bế con, dắt con đi đòi đầu chồng từ ấp trong tới ấp ngoài, vượt qua sông về tới quận; nào là chuyện bà tần tảo sớm hôm làm lụng nuôi con, miệng nói, tay làm, chưa dứt câu dặn con mà chân đã “đẩy xuồng ra tuốt giữa sông”… Đặc biệt, chi tiết bà đối mặt với quân thù hai bàn tay to bản “phủ lên đầu đàn con đang nép dưới chân” hoặc “dùa đàn con lại đằng sau tránh đạn” đã cho ta hình dung đặc biệt rõ nét hình ảnh một người mẹ nơi Thành đồng Tổ quốc những năm đánh Mĩ.
Hai nhân vật được khắc họa rõ nét trong tác phẩm là Chiến và Việt. Chiến là chị. Theo lời chú Năm, cô “không khác mẹ một chút nào”. Ngay cả Việt cũng nhận thấy thế. Cô có đức tính kiên trì, chịu khó, chỉ nội một việc bỏ ăn để đánh vần cuốn sổ gia đình suốt từ trưa cho đến lúc trời chạng vạng đã đủ chứng tỏ điều đó. Cô cũng thừa hưởng ở mẹ đức tính han góc. Trong ngày tòng quân, cô nói với em: “Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái thì ra đi tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”. Ở cô, khả năng vun vén, thu xếp gia đình cũng thể hiện rất rõ. Trước khi cùng em đi bộ đọi, mọi chuyện nhà đã được cô xếp đặt đâu vào đó, tỉ mỉ chu đáo, “nói nghe thiệt gọn” khiến cho chú Năm cũng phải có chút sững sờ, “nhìn hai cháu thiệt lâu” rồi nói: “Khôn! Việc nhà nó thu gọn đươc thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non. Con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”. Câu nói của chú Năm thể hiện sự yên tâm của thế hệ trước đối với lớp người sau. Rõ ràng, họ đã trưởng thành, có thể gánh vác được những việc lớn của đất nước.
Khác với chị Chiến đã có dáng dấp của một người lớn thực thụ dù đôi lúc còn tranh giành với em, Việt cong giữ nguyên tính chất của một cậu bé. “Cậu Tư” này trong gia đình có điệu cười “lỏn lẻn” rất dễ thương. Cậu ta thường ngày vẫn hay tranh phần hơn với chị, từ chuyện bắt ếch đến chuyện đòi đi bộ đội trước chị. Cậu còn vô tâm vô tính, phó mặc chuyện nhà cho chị “Tôi nói chị tính sao cứ tính mà”. Trong khi chị bàn những việc phải làm ngày mai, Việt vẫn đùa nghịch “chụp một con đom đóm úp trong lòng bàn tay” và thú vị quan sát điệu bộ cử chỉ, cách nói năng “in hệt má” của chị. Vào bộ đội rồi, cậu ta “giấu chị như giấu của riêng vậy” vì sợ mất chị trước những lời gạ gẫm đùa tếu của anh em. Trong hành trang người lính của mình, ngoài cái võng, bộ quân phục, Việt còn mang theo cái ná thun-một vật bất lí thân từng gắn bó với Việt từ ngày cậu còn “để đầu trần, mình mẩy tèm lem sình đất từ chỗ móc mương lên, lội tắt trong vườn, đi tìm chim”. Tuy còn rất trẻ con như thế, Việt đã chiến đấu rất dũng cảm không thua kém ai. Việt đã dùng thủ pháo tiêu diệt được một chiếc xe bọc thép của địch. Bị thương, Việt quyết bò đi tìm đồng đội. Nghe tiếng xe, pháo của giặc, Việt nằm chờ với tâm niệm “Tao sẽ chờ mày! Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này chỉ còn có mình tao. Mày có bắn táo thì tao cũng bắn dược mày. Nghe súng nổ, các anh tao sẽ chạy tới đâm mày! Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao thì mày là thằng chạy”. Có bao nhiêu là sự coi thường, khinh bỉ kẻ thù thể hiện qua lời độc thoại ấy. Quả thực, Việt đã là một người lính chững chạc trong khi còn mang đayaf đủ nét thơ ngây, trong sáng, đáng yêu của một cậu bé vừa đến tuổi thành niên.
Nhìn chung, trong khi xây dựng nhân vật, Nguyễn Thi rất quan tâm đến việc cá thể hóa. Nhân vật nào cũng có những nét riêng, độc đáo, hiện lên mồn một trước mắt độc giả. Chú Năm nói khác mấ Việt, và Việt nói khác chị Chiến. Lời nói của ai thể hiện rõ tính cách người đó. Nhưng mặt khác, nhà văn cũng có Ý thức nhấn mạnh điểm giống nhau giữa họ. Chẳng thế mà ông nhiều lần qua lời chú Năm, qua lời Việt so sánh Chiến với người má của cô, và để người má ấy nói về Việt: “Đó, lại giống cái thằng cha nó rồi!”. Nói đến điểm giống nhau ở đây là nói đến nét bền vững trong truyền thống một gia đình giàu tinh thần cách mạng, có lòng căm thù giặc sâu sắc, sống rất mực tình nghĩa thủy chung. Đây chính là điểm nút sẽ giúp ta lí giải được sức mạnh tinh thần giúp các nhân vật vượt qua được thử thách lớn lao, gay gắt đến như vậy. Mở rộng ra, đấy cũng chính là điểm nút khiến mọi chi tiết, sự việc được miêu tả trong tác phẩm quy rụ lại thống nhất ở tinh thần chung là khẳng định những phẩm chất đẹp đẽ của người dân Nam Bộ trong chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Nhiều câu nói thốt ra từ miệng chú Năm hay từ miệng má Việt, vì vậy có tầm khái quát triết lí, mang âm vang triết lí của cả một dân tộc bất khuất, dù nó được biểu hiện ra trong một hình thức rất mực giản dị – giản dị đến bất ngờ như câu nói của má Việt: “Người chết có cái vui của người chết, nếu khong người ta sanh con ra làm gì?”. Ở đây, ta có thể nhận ra một đặc điểm trong sáng tác Nguyễn Thi: tính triết lí rất cao nhưng đấy là triết lí của chính cuộc đời- một cuộc đời được tái hiện sinh động qua những biểu hiện mang tính bản chất. Ta có thể chứng minh thêm cho điều vừa nói bằng chi tiết: hai chị em Chiến, Việt khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm: “Chị Chiến đứng ra giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên. Việt ghé vào một đầu. Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nào nước nhà độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước, chị Chiến khiêng lịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên, Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được vì nó đang đè nặng trên vai. Hai chị em khiêng má băng tắt qua dãy đất cày trước cửa, men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam, con đường hồi trước má vẫn đi để lội hết đồng này sang bưng khác”. Khó mà không dẫn hết ra đoạn văn đầy xúc động này. Nó đã nói lên hết sức cô đọng về cuộc chiến đấu của chúng ta: có yêu thương, có căm thù, có cái mất mát nhưng có cái vĩnh hằng, có cái quyết liệt nhưng cũng có sự thanh thản, có yếu tố hành động nhưng cũng có yếu tố tâm linh… Và mùi hoa cam, nó chỉ thoảng qua một lần mà thơm mãi. Trong văn Nguyễn Thi, mùi hương trữ tình này thường chỉ được dùng rất dè sẻn, nhưng chính vì vậy mà nó vô cùng quí, để lại trong lòng người đọc những cảm nghĩ sâu xa.
Một thành công nữa rất cơ bản của Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình là nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật. Ta đã thấy phần nào điều đó qua việc phân tích cái tài của ông khi lựa chọn các chi tiết đặc sắc làm nổi bật cá tính nhân vật ở trên. Cần đặc biệt lưu Ý rằng truyện ngắn này được tổ chức dựa trên dòng hồi ức của nhân vật Việt khi bị thương trên trận địa. Miêu tả tâm lí của người tỉnh táo đã khó mà ở đây lại là tâm lí của người luôn nằm trong trạng thái giữa mê và tỉnh, hiển nhiên nhiệm vụ nghệ thuật đặt ra càng khó bội phần. Nhưng nhà văn đã thể hiện một cách xuất sắc trạng thái “chập chờn cơn tỉnh cơn mê” đó của nahan vật. Bốn lần Việt tỉnh dậy trrn trận địa, mỗi lần Việt nhớ gì, nghĩ gì đều được nhà văn miêu tả rất cụ thể, tinh tế và chính xác. Thông thường, mạch hồi tưởng của nhân vật trong bước khởi đầuphụ thuộc rất nhiều vào yếu tố dẫn dụ của ngoại cảnh. Tác giả hiểu điều đó rất rõ. Tâm lí con người tuy phức tạp nhưng vẫn diễn biến một cách lô gic. Lần thứ hai Việt tỉnh dậy, nghe tiếng ếch nhái kêu dậy lên, Việt tự nhiên nhớ về những đêm đi soi ếch, nhớ “Khi đổ ếch vào thùng, chú Năm thế nào cũng sang”. Thế là hình ảnh chú Năm hiện lên với những câu hò và cuốn sổ gia đình cùng Ý nghĩa của nó. Lần thứ ba Việt tỉnh dậy, tiếng cu rừng nhắc Việt nhớ tới chiếc ná thun, rồi chiếc ná thun nhắc tới hành trang trong chiếc ba lô ngày nhập ngũ, ngày nhập ngũ là ngày má Việt vừa mất, thế là nỗi nhớ “chuyển vùng” sang hình ảnh của người má thân yêu. Việt tỉnh dậy lần thứ tư trong tiếng súng thôi thúc. Sự thôi thúc ấy khiến Việt liên hệ tới Ý nghĩ thôi thúc ngày đi bộ đội, liên hệ tới chuyện chị em giành nhau nhập ngũ trước, sau đó là chuyện mang bàn thờ má đi gửi bên nhà chú… Nhìn chung, nhà văn nắm rất chắc quy luật diễn biến tâm lí con người. Ông đã khéo léo tạo cho tác phẩm một hình thức kết cấu độc đáo tương đồng với kết cấu của những giấc mơ chập chờn, từ đó cứ mở rộng dần đối tượng được miêu tả và đi mỗi lúc một sau vào đời sống tâm hồn của nhân vật.
Trong khi làm sáng tỏ tâm lí nhân vật, nhà văn đã sử dụng một ngôn ngữ trần thuật đặc biệt phù hợp. Đấy là ngôn ngữ của chính nhân vật nói về mình và kể về người khác, mặc dù bề ngoài có vẻ là ngôn ngữ khách quan của người trần thuật. Điều đó thể hiện ngay ở cách xưng hô rất đỗi thân thương, gắn bó: “Việt” chứ không phải anh hay chú bé, “chị Chiến” chứ không phải cô, chị, “chú Năm” chứ không phải ông Năm, … Điều đó cũng thể hiện ở màu sắc địa phương của lời trần thuật: “Chú nói ít, nhưng đã nhậu vào ba hột là chú nói tới”, “Thím Năm vừa khóc vừa kể thôi là kể”, “hai bên giáp mặt, ba cười hề hề, nhưng má chẳng thèm dòm, hai mắt hứ một cái “cóc”, rồi đi thẳng” … Thật khó kể hết được những ví dụ sinh động như thế. Nhiều người từng biểu dương Nguyễn Thi rất thạo ngôn ngữ Nam bộ. Cần phải thấy rằng, cách sử dụng ngôn ngữ của ông ở đây trước hết có tác dụng làm nổi bật tâm lí những con người sống ở vùng đất ấy, sau nữa mới gọi dậy không khí của một vùng, một thời…
Những đứa con trong gia đình thể hiện khá rõ tài năng của Nguyễn Thi trên nhiều mặt: khả năng khái quát cao, khả năng dựng cảnh, dựng người và mô tả tâm lí sâu sắc, khả năng vận dụng ngôn ngữ Nam Bộ đầy linh hoạt, biến hóa và cả chất triết lí rất riêng toát lên từ chính hiện thực chứ không phải từ những lời trữ tình ngoại đề của tác giả. Tất nhiên, những phương diện tài năng ấy không biểu lộ riêng rẽ. Chúng hòa lẫn vào nhau hết sức tự nhiên đưa đến sức thuyết phục lớn cho tác phẩm, làm cho độc giả khi đọc tác phẩm không còn thấy đó là văn mà chỉ thấy đó là cuộc đời. | Phân tích giá trị hiện thực của Những đứa con trong gia đình | 3,322 | |
Phân tích giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Hướng dẫn
Phân tích giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
5 (100%) 1 đánh giá
Bài làm
Tô Hoài trước 1945 nổi tiếng với tiểu thuyết “Dế mèn phiêu lưu ký”. Đi theo Cách mạng rồi đi kháng chiến chống Pháp, Tô Hoài hoạt động ở vùng rừng núi Tây Bắc. Kết quả rực rỡ của chuyến đi thực tế dài ngày đó là tập “Truyện Tây Bắc” ra đời, được giải nhất giải thưởng Hội Văn Nghệ Việt Nam 1954-1955. “Vợ chồng A phủ” là tác phẩm hay nhất trong trong truyện “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài.
Truyện đã diễn tả quá trình giác ngộ và vùng dậy chống phong kiến và đế quốc của các dân tộc Tây Bắc dưới sự lãnh đạo vủa Đảng. “Vợ chồng A phủ” cũng là kết quả của một quá trình chuyển biến đến độ chín muồi của tư tưởng và tình cảm nhà văn. Tình cảm của tác giả đã quyện lẫn với tình cảm của dân tộc anh em một cách chan hòa tự nhiên, đó là tấm lòng biết ơn, thủy chung, tình nghĩa đối với các vùng du kích đã tiếp tế che chở cho cán bộ, bộ đội hoạt động ở vùng địch hậu Tây Bắc”.
“Vợ chồng A phủ” tố cáo sâu sắc tội ác của bọn phong kiến miền núi Tây Bắc đối với các dân tộc vùng cao. Tác phẩm đã nói lên một cách đau xót nỗi thống khổ bao đời của các dân tộc anh em ở Tây Bắc dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và bè lũ tay sai là quan lang, quan châu, phìa (Thái), tạo (Mường), thống lí (H’Mông).
Dưới chế độ thống trị tàn bạo man rợ của bọn thống lí, quan bang, những người đi ở trừ nợ như A Phủ, làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí như Mị là những “kiếp trâu ngựa”, khốn khổ, nhục nhã ê chề. Thật ra những kiếp người như Mị, như A Phủ là những kẻ nô lệ ở vùng cao. Bọn thống lí là một thứ “vua” ở vùng cao, chúng có quyền sinh quyền sát đối với người dân Tây Bắc.
tích giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Chúng có quyền bắt bớ, đánh đập, bắt làm nô lệ, gả bán, thậm chí có thể giết người một cách dã man (trong truyện có nhắc đến mộtngười con gái bị trói đứng rồi chết và A Phủ thì suýt chết). Chỉ trong một truyện ngắn mà tác giả đã mô tả được bức tranh toàn cảnh về giai cấp thống trị Tây Bắc, giá trị hiện thực của tác phẩm thật là sâu sắc. Mị là một cô gái đẹp (tả gián tiếp ví như những đêm tình mùa xuân, con trai đến đứng nhẵn đầu buồng Mị…), tài hoa (biết thổi khèn, thổi sáo, thổi lá cũng hay như thổi khèn) và giàu tình cảm. Vẻ đẹp của Mị gợi nhớ Kiều. Sinh ra trong một gia đình nghèo, Mị bị A Sử, con trai thống lí cướp về làm vợ để trừ nợ. Mị là vợ của A Sử nhưng thực ra chỉ là một người đầy tớ, một nô lệ của gia đình thống lí. Mị lặng lẽ như một con rùa trong xó cửa, quanh năm chỉ biết vùi đầu vào những công việc lao động nặng nhọc “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đén mùa thì đi nương bẻ bắp… Bao giờ cũng thế, suốt đời suốt năm như thế. “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào làm việc cả đêm,cả ngày”.”. Ngày tết, A Sử trói Mị trong buồng tối rồi rủ bạn đi chơi. Tô Hoài, qua nhân vật Mị còn phản ánh những tập tục man rợ của các dân tộc vùng cao. Người đàn bà khi bị cướp về trình ma thì vô hình người đàn bà (mà Mị là điển hình) đã trói cả đời mình vào nhà ấy.
Nếu chẳng may chồng chết thì người ấy phải làm vợ người khác trong nhà, có khi là một người anh chồng già lụ khụ, có khi là một người em chồng còn ở tuổi trẻ con, và nếu chồng lại chết, lại vẫn phải ở với một người đàn ông khác vẫn trong nhà ấy… Phải suốt đời ở trong nhà ấy. Mị chết dần chết mòn ở trong nhà của thống lí. Ngoài những lúc còng lưng làm việc như con trâu, con ngựa thì Mị lại bị nhốt trong cái buồng kín mít chỉ được nhìn ra ngoài qua một cái “lỗ vuông bàng bàn tay, lúc nào trông ra cũng thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. A Phủ là chàng trai H’Mông nghèo khỏe mạnh, chạy nhanh như ngựa, săn bò tót rất giỏi. Con gái trong bản rất thích A Phủ, “đứa nào lấy được A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà”. A Phủ cũng là một thanh niên yêu tự do. Ngày Tết, A Phủ rủ bạn đi chơi đánh pao, A Sử đến phá đám bị A Phủ đánh. Thống lí Pá tra bắt A Phủ đánh đập, hành hạ, phạt vạ một trăm đồng bạc trắng. A Phủ phải ở cho thống lí trừ nợ. Thế là trong nhà thống lí có thêm một con người bất hạnh nữa làm nô lệ. Mị thì làm tôi tớ trong nhà, còn A Phủ thì làm tôi tớ ngoài rừng. “Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”. A Phủ một mình ngoài rừng, trên núi cao đốt nương chăn bò, săn bò tót… Chẳng may một lần động rừng, hổ xuống ăn mất một con bò. Thống lí đã bắt A Phủ trói đứng suốt ngày đêm ngoài trời. Đó thể nói cha con thống lí Pá Tra và bọn tay chân như lí dịch, quan lang, xéo phải… là những điển hình cho giai cấp thống trị tàn bạo, man rợ của vùng cao Tây Bắc. Mị và A Phủ – Hai số phận bi thảm là hiện thân của thứ nô lệ của chế độ phong kiến man rợ ở Tây Bác. Nhưng Tô Hoài không dừng lại ở việc phản ánh bản chất tàn bạo, dã man của giai cấp thống trị Tây Bắc, nhà văn còn đi sâu vào bản chất của cuộc sống của dân tộc vùng cao, phản ánh sức sống mãnh liệt của các dân tộc Tây Bắc và sự vùng dậy chiến thắng của các dân tộc Tây Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhất chi hồng hạnh xuất tường lai”
(Du viên bất trị – Chơi vườn không được vào)
Mị và A Phủ đã đi mệt một tháng đường rừng. Họ đến Phiềng Sa và đã thành vợ chồng – Vợ chồng A phủ. Họ tự dựng nhà dựng cửa làm ăn sinh sống ở Phiềng Sa. Họ mơ ước có một gia đình hạnh phúc. Nhưng giặc Pháp lại tràn đến Phiềng Sa. Gia đình A Phủ bị cướp bóc. A Phủ bị giặc Pháp bắt hành hạ. Nhưng A Phủ vẫn chưa hiểu được vì sao anh lại bị giặc Pháp bắt, anh lại “thù cán bộ” vì thằng Tây bảo anh nuôi cán bộ nên mới bắt lợn của anh, đánh đập anh, cắt tóc anh. Được A Châu giác ngộ, Vợ chồng A phủ ffa tham gia đội du kích chống Pháp ở Phiềng Sa. Vợ chồng A phủ đã từ đấu tranh tự phát vươn lên tự giác. A Phu trở thành đội trưởng đội du kích Phiềng Sa. Mị đã giúp việc đắc lực cho A Phủ. Từ đấu tranh giải thoát áp bức phong kiến, đến tham gia kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng, đó cũng là hiện thực sâu sắc của quá trình phát triển các dân tộc Tây Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
“Vợ chồng A phủ” có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm đã phản ánh trung thực quá trình giác ngộ và vùng dậy của Mị và A Phủ, qua đó phản ánh được sự trưởng thành của các dan tộc Tây Bắc dưới ánh sáng của Đảng. Đồng thời tác phẩm cũng phản ánh được chính sách nhân đạo của Đảng đối với các dân tộc anh em là giải phóng người lao động bị áp bức, bóc lột, giải phóng mọi sức sống đang bị các thế lực thống trị kìm hãm, trói buộc. Chính vì có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc mà truyện “Vợ chồng A phủ” có sức hấp dẫn và có giá trị bền lâu. | Phân tích giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài | 1,515 | |
Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
Bài làm
Lê Hữu Trác xuất thân trong một gia đình quí tộc, giỏi binh thư,võ nghệ. Làm quan dưới thời chúa Trịnh được một thời gian,ông nhận thấy xã hội thối nát,cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất (1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già. Từ đó ông chuyên nghiên cứu y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy học truyền bá y đức, y lí,y thuật.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43(1782),Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh xem mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Sau đó một thời gian thì chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm. Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút.
Năm 1783 ông viết xong tập “Thượng kinh kí sự” bằng chữ Hán. Tập kí sự này là một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc giá, có giá trị sử liệu cao. Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” trong sách Ngữ văn 11-Nâng cao,tập 1(Nxb.Giáo dục,H,2007) thể hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác.
Như ta biết: kí là là tên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học. Kí viết về cuộc đời thực tại,viết về người thật,việc thật. Người viết kí miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh. Kí bao gồm nhiều thể văn như: bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí, …Trong số đó kí sự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc- câu chuyện có thật. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực,tinh tường của nhà văn trước sự việc.
Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo.
Mở đầu đoạn trích là một sự kiện cụ thể, chân thực. Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở cách ghi tỉ mỉ sự việc, thời gian.
Nhà văn kết hợp biện pháp kể khách quan với nghệ thuật gợi không khí nhằm làm nổi bật hành động khẩn trương,gấp gáp của nhân vật:
“ Mồng một tháng 2. Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở cửa. Thì ra một người đầy tớ quan Chánh đường….”.
Ở đây “trong việc có người”, người gắn chặt với cảnh,với môi trường hoạt động cụ thể. Câu văn của Lê Hữu Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên,không một chi tiết thừa.
Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa “truyền cảm” vừa truyền nhận thức.Người đọc có thể hình dung được rất rõ một cảnh huống đặc biệt đang xảy ra.
Lần theo mạch tự sự, người đọc có cảm giác hồi hộp lo âu rồi bất ngờ nhận ra một con người gần gũi, quen thuộc như cảm nhận của nhân vật “ Tôi” trong tác phẩm này.
Trước mắt ta: hình ảnh nhân vật tôi đã dừng bước với tâm trạng ngạc nhiên, thoáng một chút thất vọng. Nhịp kể đột ngột chậm lại để ghi người, ghi việc rõ nét hơn, đầy đủ hơn. Hai chữ “thì ra” vừa tạo ấn tượng về sự khám phá, vừa gọi ra được người thật,việc thật.
Nhân vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể. Trước hết anh ta xuất hiện qua giọng nói, qua cảm nhận về âm thanh, và rõ hơn ở hành động. Nhân vật “tôi”” xuất hiện với tư cách một người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật.
Vì thế ngay từ đầu truyện người đọc đãcó cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện hữu.
Khi kể việc, tả người Lê Hữu Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có sẵn,tác giả hướng tới khai thác chất liệu đời thường, đời tư. Chẳng hạn lời đối thoại của nhân vật người đầy tớ được thể hiện một cách tự nhiên, đúng với vị thế chức phận của hắn: “có thánh chỉ triệu cụ vào. Quan truyền mệnh hiện đang ở nhà cụ lớn con,con vâng mệnh chạy đến đây báo tin…”.
Lê Hữu Trác coi trọng việc kể lại có ngọn ngành. Nhà văn ưa sắp xếp sự việc cho đầy đủ mạch lạc có đầu có cuối, nên dường như cứ một đoạn hay một câu nói về hành động của tên đầy tớ lại tiếp đoạn tự thuật về hành động, cảm nhận của Lê Hữu Trác. “Nghe tiếng gõ cửa…..tôi chạy ra…”, “người đầy tớ nói…..tôi bèn”, “tên đầy tớ chạy…tôi bị xóc một mẻ,khổ không nói hết”. Mạch văn chặt chẽ nhờ sự thể hiện thành công cái lô gíc nhân quả của sự kiện, hành động.Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này đến sự việc khác.
Mở đầu đoạn trích cấu trúc câu văn ngắn gọn. Mỗi câu văn tương ứng với một tâm tình, một sự việc, hành động. Người đọc vừa đồng cảm với nỗi vất vả và hành động bất đắc dĩ của nhân vật tôi vừa đồng tình với Lê Hữu Trác ở thái độ mỉa mai châm biếm sự lộng quyền,tiếm lễ của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ.
Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi”.Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ.
Theo nhân vật “tôi” quanh cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ- không ở đâu sánh bằng: Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa với những hành lang quanh co nối tiếp nhau,ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác. Khuôn viên phủ chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh trí thiên nhiên kì lạ. Trong vườn, chim kêu ríu rít,danh hoa đua thắm,gió đưa thoang thoảng mùi hương. Bên trong là những Đại đường, gác tía với kiệu son, võng điều. Đồ dùng của chúa được son son thiếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống cũng đều là mâm vàng, chén bạc, của ngon vật lạ…. Đến nội cung của thế tử phải trải qua 6 lần trướng gấm. Nơi ở của thế tử rất sang trọng,có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm,xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…
Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung với điểm xuyết, chọn lọc được những chi tiết đắt, nói lên quyền uy tối thượng cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của gia đình chúa Trịnh Sâm. Giọng kể khách quan, trang nghiêm, đan xen với thái độ ngạc nhiên và hàm ý phê phán kín đáo chúa Trịnh.Nhà văn khéo kết hợp giữa văn xuôi và thơ ca. Bài thơ vịnh cảnh, tả việc của Lê Hữu Trác ý tứ sâu xa, lời thơ hóm hỉnh,ẩn giấu một nụ cười châm biếm, mỉa mai.
Lời nhận xét trong văn phẩm khá đa dạng: Trước tiên Lê Hữu Trác đánh giá khái quát vẻ đẹp. Tiếp theo nhận xét về cảnh giàu sang. Tiếp nữa nêu ấn tượng về cách bày trí, kiến trúc kiểu cách. Nhà văn dừng lại bình giá tỉ mỉ,sắc sảo các đồ dùng xa hoa từ nhà Đại đường đến Gác tía. Lời đánh giá nào của lê Hữu Trác cũng đích đáng,tinh tế và có chừng mực. Nói tác phẩm giàu chất trữ tình vì thế.
Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí thiên nhiên qua hình khối, dáng vẻ kích cỡ, tả khuôn viên chủ yếu qua những ấn tượng về hương thơm âm thanh, kể về mức độ xuất hiện của thị vệ, quân sĩ để nhấn mạnh vẻ trang nghiêm của nơi đây. Lê Hữu Trác đặc biệt ưa tả đường đi, lối vào phủ chúa. Ta có cảm tưởng đằng sau mỗi cánh cửa là một bức tranh.Đoạn trích gồm nhiều bức tranh với những mảnh màu tối sáng, nhạt đậm khác nhau, nối liền nhau.
Qua mấy lần cửa đầu tiên, trước mắt tác giả giống như một cảnh tiên huyền ảo, cây cối um tùm, hương hoa thơ mộng. Đi tiếp, cảnh giàu sang của phủ chúa được bày ra chân thật,đầy đủ hơn. Càng đi sâu vào trong, Lê Hữu Trác càng có dịp quan sát không gian nội thất, không gian cao rộng của lầu gác với các đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, nhất là được biết cái phong vị của nhà đại gia.
“Vào phủ chúa Trịnh” trở thành một quá trình tiếp cận sự thật đời sống xa hoa vương giả hơn là thăm bệnh,chữa bệnh. Thăm bệnh, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán tưởng chỉ như một cái cớ, một dịp may giúp người viết kí hoàn thiện bức tranh về cuộc sống thâm nghiêm, giàu sang đầy uy quyền.
Lê Hữu Trác tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt. Có đoạn sự việc được kể theo quan sát của nhân vật xưng tôi. Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả,giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”. Những đoạn nhân vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự cảm nhận tinh tế. Những đoạn kể tả, cho thấy nhân vật tôi bao quát được một không gian rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật hiện tượng.
Trong tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là một người hoà nhã kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp. Sự đối lập về vị thế so với các vị lương y của sáu cung hai viện,không khiến nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân cách và tài năng của nhân vật này. Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi bày hết sự thực ở phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài, ăn bám.
Các nhà nho xưa ít khi nói về mình. Nhưng trong đoạn trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái “Tôi”đóng một vai trò quan trọng. “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân người cầm bút. Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm. Bên cạnh tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ. Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí,người làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông mình,phải luôn giữ đức cho trong, giữ lòng cho sạch. Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống thanh đạm. Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo cứu đời với quan niệm: “Thiện tâm cốt ở cứu người. Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn”. | Phân tích giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh | 2,082 | |
Phân tích giá trị hiện thực sâu sắc trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Hướng dẫn
Phân tích giá trị hiện thực sâu sắc trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Không chỉ là một danh y lỗi lạc của đất nước thế kỉ XVIII và mãi mãi muôn đời sau, Lê Hữu Trác còn là một thi nhân, một văn nhân tài ba của nền văn học Việt Nam đến tác phẩm Thượng kinh kí sự của ông, thế kí văn học nước nhà mới thực sự ra đời. Thượng kinh ki sự là một tác phẩm kí độc đáo, mang giá trị hiện thực sâu sắc. Ta có thể cảm nhận giá trị ấy qua đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của tác phẩm.
Lê Hữu Trác sinh năm 1724, mất năm 1791, nghĩa là cuộc đời ông nằm trọn trong thời kì lịch sử nhiều biến động thăng trầm nhất của lịch sử nước nhà: thời kì các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh tranh giành quyền lực, nhân dân cực khổ trăm bề, khởi nghĩa nông dân bùng nổ dữ dội,… Đặc biệt, sự xa hoa, trụy lạc, chuyên quyền nơi phủ chúa Trịnh càng khiến bức tranh lịch sử vốn đã đẫm màu đau thương nay lại thêm phần tối đen, xám xịt.
Là một danh y tài năng nức tiếng xa gần, Hải Thượng Lãn Ông đã được mời vào cung chữa bệnh cho thế tử nơi phủ chúa Trinh – chữa thứ bệnh con nhà giàu, vì dư ăn thừa mặc mà mắc phải. Sự thực ấy đặt vào hoàn cảnh dân chúng lầm than cơ cực, bị bóc lột đến tận xương tủy chỉ khiến người ta thấy đau đớn, chua xót và bất bình. Nhân chuyến lên kinh – một lần mà nhớ mãi, và cảm thán mà Lãn Ông đã viết Thượng kinh kí sự ghi lại những điều tai nghe mắt thấy và những suy nghĩ cảm xúc của mình nơi sang nhất trời Nam.
Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh ghi lại ngày đầu Lê Hữu Trác được triệu vào phủ chúa. Qua miêu tả cảnh vật và cung cách sinh hoạt chốn quyền uy lừng lẫy, đoạn trích đã thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc.
Cảnh vật phủ chúa là điều đầu tiên tác giả cảm nhận được. Nó là dấu hiệu đầu tiên đánh dấu sự khác biệt nơi đế đô hoa lệ và chốn dân gian cát bụi. Vạn vật mới đẹp đẽ, xinh xắn, lộng lẫy làm sao! “Đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”. Nhưng đó không phải thứ cây cối hoang dại bụi bờ, không phải giống chim sâu, chim sẻ,… Đó đều là giống cỏ lạ chim quý “những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ”, tất thảy đều “thật là xinh đẹp”. Chưa hết. Thành quách nơi này mới thực lầu son gác tía. Kiểu cách xây dựng thật công phu “Mấy lần cửa” tiếp nhau, “những dây hành lang quanh co nối tiếp”. Nó tạo nên những phủ chúa cao rộng, lộng lẫy, nguy nga “cái nhà lớn thật là cao và rộng”, “sập sơn son thếp vàng. Cảnh vật ấy khiến tác giả không cầm lòng được phải ngợi ca:
Rèm châu hiên ngọc, bóng mai ánh vào
Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới,
Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen.
Đây thực là nơi “Cả trời Nam sang nhất là đây”!
Đáng lưu ý là ở tâm sự của tác giả: Ông từng là kẻ xuất thân cao quý, chốn phồn hoa đi lại cũng nhiều, “sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết”; vậy mà chốn phủ chúa này đã khiến ông phải choáng ngợp, trầm trồ “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường” Lê Hữu Trác tự thấy mình như kẻ “quê mùa” lần đầu đến nơi “cung cấm”, như chàng “ngư phủ” gặp chốn “đào nguyên”. Sự liên tưởng ấy thật đắt giá biết chừng nào. Điều đó phản ánh một sự thực lịch sử: trong cuộc tranh giành quyền lực lịch sử, nhà Trịnh đang giành thế thượng phong, uy quyền phủ chúa lấn át cả cung vua, trong khi phủ chúa lộng lẫy, xa hoa, cung vua chẳng khác nào một cái nhà lớn rỗng trong, tứ bề gió lùa hoang phế.
Còn nhớ trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ đã có lần ngậm ngùi “Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chôn dân gian, chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì”. Như vậy hỏi sao chốn đây không thơm lừng hoa thơm cỏ lạ cho được? Cảnh vật nơi này, bên cạnh vẻ đẹp của chốn non Bồng nước Nhược, nó còn phản ánh một sự thực là lòng tham vô đáy, sự ích kỉ hẹp hòi của phường quan chúa. Cũng trong Vũ trung tùy bút, một sự thực đất nước khi đó được phản ánh thật đau lòng. Nhân dân phải “chịu hại về việc binh đao đến mười tám năm”, nhiều nơi “ruộng đất hầu thành rừng rậm”. Tình cảnh ấy tất yếu dẫn đến thảm cảnh “Những người dân sống sót phải đi bóc vỏ cây, bắt chuột mà ăn”. Thậm chí, có bậc nho sinh trên đường đi ghé vào một hàng cơm, khi ăn thì thấy “trên mặt nước bát canh thịt nổi sao lên như hình bán nguyệt (…) thấy có con rận chết ở trên mặt bát mới biết là thịt người…”. Chao ôi! Vậy mà phủ chúa vẫn rộn ràng, bình yên như thế, có ai lắng nghe thấy tiếng khóc hờ của những oan hồn thảm khốc chốn dân gian?
Đồng điệu với cảnh vật chốn này nhưng thêm ngàn lần tương phản với đời sống nhân dân trăm họ là những con người nơi phủ chúa và cung cách sinh hoạt cầu kì, kiểu cách, xa hoa, bệnh hoạn của họ.
Không phải vô tình Lê Hữu Trác tả kĩ mọi sự việc mắt thấy tai nghe đến thế. Phải trách những sự ấy quá lạ lẫm, đặc biệt, nó khác với lẽ thường vốn có.
Tác phong làm việc của họ thật khó hiểu! Đi đón một danh y chữa trị cho bậc vua chúa, họ “gõ cửa rất gấp” “vừa nói vừa thở hổn hển” vào “buổi sáng tinh mơ”. Thời gian ấy, cách gọi cửa ấy khiến ta ngỡ tình trạng người bệnh đà nguy kịch lắm. Đó là chưa nhắc đến cách vội vã khi đi đường của họ “cáng chạy như ngựa lồng, tôi bị xóc một mẻ, khổ không nói hết”. Thân già, phận thấp, tác giả đành cam lòng chứ còn biết làm sao?!
Nhưng thật bất ngờ! Vào đến phủ chúa, ta không khỏi kinh ngạc. Những tưởng nó thê lương, đau đớn vì sắp mất đi một người thân (gọi, “mời” thầy thuốc vội vã đến thế kia mà?) nhưng không, vội và, “hổn hển” là ai kia, là lũ lính hầu, bọn “đầy tớ” “giữ cửa”, “vệ sĩ”,… chứ không phải bậc quan, bậc chúa. Trước khi vào hầu mạch cho thế tử, Hải Thượng Lãn Ông phải “đi qua mấy lần cửa”, qua “những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau”, rồi lại “qua mấy lần cửa” (có lẽ vì nhiều cửa quá không thê nhớ hết, đếm hết), đến điếm “Hậu mà quân túc trực”, tiếp tục “đến một cái cửa lớn” “qua dãy hành lang phía tây đến một cái nhà lớn thật cao và rộng”, lại “qua một cửa nữa, đến một cái lầu cao và rộng”,… Theo bước chân Quan Chánh đường ta tưởng như tác giả đang đi vào một mê cung chứ đâu phải nơi người ở. Chúng còn kiểu cách đến mức đặt tên cho mỗi nơi, mỗi chốn: nhà “Đại đường”, nhà “Quyển bồng”, “Gác tía”, riêng vì kiêng chữ “thuốc” nên Gác tía còn được gọi là “phòng trà”. Đi qua những nơi ấy nhưng vẫn chưa được gặp được người cần gặp. Phủ chúa cao rộng sâu và xa quá, có lè vì vậy mà tiếng khóc muôn dân không vang tới, nó chặn kín con đường họ Trịnh về với cái Nhân, cái Thiện của con người. Đến “phòng trà” mới biết còn “bảy, tám người” ngự y cũng đang túc trực. Vậy mới biết, cách sinh hoạt của phủ chúa cầu kì, rườm rà, câu nệ vô cùng. Chỉ vì một người mà làm khổ đến bao người. Từ một ông thầy thuốc “quèn” phải dậy từ tinh mơ, “chịu xóc một mẻ, khổ không nói hết”, phải đi bộ qua quãng đường lê thê những lính canh, lính kiểm đến những ngự y phải túc trực hàng ngày, hao tốn thì giờ nơi đây. Trong khi ấy dân gian vẫn rên xiết, khổ đau. Chưa hết, vượt một quãng đường khó khăn, dài dặc như vậy đến, chỉ vì quanh thế tử khi ấy có “Thánh thượng” cùng các phi tần đang ở xung quanh, họ lại phải quay trở lại điếm Hậu mã! Việc ăn uống nơi này xa hoa vô cùng “mâm vàng chén bạc, đồ ăn toàn của ngon vật lạ”. Thật cơm nhà giàu đổ cho chó để chốn dân gian người chết đói vô cùng!
Bên ngoài khung cảnh xinh đẹp rộn rã là thế nhưng nơi vua nằm chúa ở lại “tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả”. Không gian ấy giống như một cái hang, ẩn chứa nhiều khuất tất, lạ lùng. Thứ ánh sáng duy nhất tác giả thấy được là ánh sáng của nến sáp, từ đây ánh mặt trời không chiếu tới. Điều đó hàm một ý rất tinh: Mặt trời mang sự sống cho muôn loài nhưng rõ ràng kẻ trong này không được thần Dương ban ánh sáng, không được ban phúc lành, tất sẽ ốm đau bệnh hoạn. Điều đó được chứng minh ngay bởi dáng vẻ thân hình của thế tử “ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi (…) tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, tay chân gầy gò”. Tình cảnh ấy thật thảm thương. Đứa trẻ thiếu ăn thiếu mặc gầy gò ốm yếu đã đành, nay chỉ vì dư ăn dư mặc mà ốm yếu thì thật mỉa mai đau xót. Nhìn con người ấy mặc thế tử ấy hỏi sao đảm đương được việc triều chính, gánh sao cho được sơn hà? Lối sinh hoạt nơi phủ chúa xa hoa, nghi thức mà ám muội, bệnh hoạn quá mức.
Qua miêu tả đời sống nơi phủ chúa, Lè Hữu Trác hàm một ý phê phán nhẹ nhàng lối sống xa hoa, cầu kì nơi phủ chúa. Đặt đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung vào hoàn cảnh lịch sử ta mới thấy hết giá trị hiện thực của ngòi bút Hải Thượng Lãn Ông. Tác phẩm đã tố cáo sự ích kỉ, chuyên quyền của phủ chúa, đời sống nơi này chính là nguyên nhân gây nên mọi tai vạ đau thương cho đất nước.
Lê Hữu Trác bằng Thượng kinh ki sự đà chứng minh bản thân ông không chỉ là một người thầy thuốc có tài mà còn là một ngòi bút có tâm, có tấm lòng nhân ái, vì dân mà trách kẻ có tội. Thượng kinh kí sự đã ghi danh thêm tên tuổi một văn nhân có tài vào lịch sử văn học nước nhà.
Nguồn: Tài liệu văn học | Phân tích giá trị hiện thực sâu sắc trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác | 1,974 | |
Phân tích giá trị hiện thực trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
Hướng dẫn
Phân tích giá trị hiện thực trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
Hải thượng Lãn Ông không chỉ là một thầy thuốc nổi tiếng mà cong là một người có nhiều đóng góp cho nền văn chương của nước ta. Những sáng tác của ông phần nào phản ánh hiện thực sâu sắc trong đó có đoạn trích Vào phủ chúa trịnh tiêu biểu nhất cho điều này
Đoạn trích được viết ra khi ông được mời tới khám bệnh cho thái tử Trịnh Cán. Vượt qua bao nhiêu tầng lớp và cung cấm thì cuối cùng cũng được tận mắt chiêm ngưỡng những gì người đời bàn tán về sự giàu có và xa hoa trong phủ chúa trịnh
Chất hiện thực được phơi bày khi mà tác giả có cơ hội chứng kiến tận mắt từ ngoài vào trong. Trước hết đó chính là quang cảnh sang trọng xa hoa nơi đây với những cây quí của quí còn có những loài chim cũng quý nữa. Nào là danh hoa đua thắm nào là chim kêu véo von. Điều này chứng tỏ răng không phải một nơi nào cũng được trang hoàng như thế với tất cả mọi thứ đều vô cùng quí hiếm
Và càng vào sâu thì vẻ mĩ lệ lại hiện ra rõ hơn trước mắt ông và chính điều đó đã khiến ông suy nghĩ răng: Phải chăng chính vì tiện nghi quá cho nên thế tử kia mới mắc bệnh tật. có thể nói người ta thấy được những màu vàng chói lọi và những màu sắc ấy khiến cho con người ta không khỏi xuýt xoa và trầm trồ. Trong phủ chúa những vật đều được sơn son thiếp vàng. Đó là những cây cột ở đại đường cho đến những đũa chén, mâm ăn cơm, những vật dụng tưởng chừng nhỏ bé bình thường ấy cũng được mạ vàng. Chúng không phải được dùng để làm vật quý giá trưng bày mà chỉ là một vật dụng để ăn cơm. Tất cả mọi thứ đều được mạ vàng khiến cho người ta thảng thốt. và điều đó khiến ai môt lần vào đây cũng xem đây chính là thiên đường dừng chân của mình.
Giá trị hiện thực của tác phẩm này không những thế cung cách trong cung cũng phần nào thể hiện được. được vào trong phủ chúa là một điều vinh hạnh nhưng nói hơn thế thì mọi người muốn vào phủ chúa phải trải qua những cung cách khai báo rất phức tạp hay nói cách khác là vô cùng phức tạp. Và chúa Trịnh Sâm thì có biết bao nhiêu là cung tần mĩ nữ vây quanh mình để chờ được hầu hạ. vậy câu hỏi lớn được đặt ra chính là ở đâu mà chúa lại có thể xây dựng một cơ ngơi với toàn những thứ quí giá và những người phục dịch mình như vậy.
Lãn Ông là một ngự y dù đã rất già cũng phải vái lạy thái tử rồi mới được bắt mạch kê đơn. Nơi mà thái tử được khám bệnh cũng khá lộng lẫy, thái tử thì được che chở tấm thân gọi là ngọc ngà kia. Không chỉ có mỗi tác giả ở bên cạnh để chữa bệnh cho thái tử mà còn có những ngự y khác nữa
Từ những câu chữ và chứng kiến tận mắt của mình Hải Thượng Lãn Ông không phải vẽ ra một viễn cảnh không có thực mà là một thực tế ở nơi phủ chúa. Đây là một tác phẩm mang đậm giá trị hiện thực. sự giàu có cung cách nhà chúa và sự xa hoa của nhà chúa xuất phát từ mồ hôi nước mắt và còn có cả những xương máu của nhân dân lao động. | Phân tích giá trị hiện thực trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh | 647 | |
Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ
Bài làm
Đỗ Phủ là cây đại thụ của nền văn học cổ điển Trung Hoa, ông sống vào giai đoạn cực thịnh sau đó là suy vong của đời Đường, nên đã chứng kiến tận mắt chiến tranh liên miên, thiên tai địch hoạ, bao cảnh thương tâm, khổ cực của dân chúng dưới chế độ phong kiến đương thời. Tất cả những cảnh ngộ éo le ấy trong đó có bản thân nhà thơ đều được ghi lại đầy đủ và rõ nét trong hầu hết thơ của ông. Ngoài giá trị hiện thực lịch sử to lớn, còn thể hiện cái nhìn yêu thương đối với nhân dân lao động. Bài Bài ca nhà tranh bị gió thu phá đã phản ánh được điều này.
Bài thơ này được xếp vào những bài thơ hay nhất của ông. Vào những năm cuối đời sau khi đã nếm trải đủ những tủi cực, đắng cay của cuộc đời bôn ba thiên hạ. Ông trở về sống ở Thành Đô, gia cảnh của ông vẫn cực khổ bần hàn, nghèo túng. Được bạn bè giúp đỡ, ông đã có một căn nhà tranh bên cạnh Khe Cán Hoa phía Tây Thành Đô.
Căn nhà tranh ấy là đối tượng miêu tả trong sự chống đỡ, vật lộn với trận thu phong.
Tháng tám, thu cao, gió thét già,
Cuộn mất ba lớp tranh nhà ta
Tranh bay sang sông rải khắp bờ,
Mảnh cao treo tót ngọn rừng xa
Mảnh thấp quay lộn vào mương xa.
Đoạn thơ là bức tranh về một trận thu phong vào tháng tám Gió thét già. Qua cách kể của tác giả ta hình dung trận gió thu rất mạnh, trong phút chốc những tấm tranh kia bị lật tung bay khắp mọi nơi. Có mảnh tốc bay cao, bay thấp, bay xa, bay gần rải khắp bờ, treo tót ngọn cành cây, quay lộn vào mương… Thật là trớ trêu cho cảnh ngộ của ông già Đỗ Phủ, ngước mắt nhìn theo những tấm tranh bị gió cuốn mà lòng xót xa và bất lực. Vậy là thiên nhiên vô tình cũng chẳng buông tha cho người áo vải bao năm tháng bôn ba mưu sinh giờ đây mới có được ngôi nhà tranh trú mưa trú nắng.
Những năm đó loạn An Sử vẫn còn rất khốc liệt, đời sống nhân dân vô cùng cơ cực, li tán, chết đói đẫy rẫy. Nhà nhà, người người bị ném vào cuộc chiến tranh phi nghĩa. Có những gia đình mà đến hơn một nửa bị chết trong khói lửa sa trường.
Van rằng: có ba trai
Nghiệp thành đều đi thứ
Một đứa gửi thư nhắn
Hai đứa vừa chết trận
Đứa chết đành thôi rồi
Đứa còn đâu chắc chắn.
(Viên Lại ở Thạch Hào)
Có ba trai phải tòng quân, hai đứa chết trận, đứa còn biết sống chết ra sao. Rồi cả bà lão đã gần đất xa trời cũng phải ra chốn Hà Dương. Nghèo khổ, túng bấn cả con dâu không còn quần áo lành lặn. Hiện thực xã hội là như vậy. Một xã hội mà đảo điên, loạn li như vậy thì chắc chắn đạo đức suy đồi xuống cấp nghiêm trọng. Căn nhà đã bị gió thu phá sạch, lũ trẻ thôn Nam nghịch ngợm quá mức kéo nhau đến cướp tranh đi mất. Nhà thơ già yếu, chân chậm mắt kém làm sao đuổi được.
Môi khô, miệng cháy gào chẳng được
Quay về, chống gậy lòng ấm ức!
Cảnh ngộ cười ra nước mắt, chống gậy quay về ngôi nhà tuềnh toàng mà lòng đau đớn, xót xa. Những bước chân mỏi mệt, đắng cay và bất lực, tràn lên tận cuống họng mà không nói thành lời.
Trong lòng tác giả đang oán hận và trách móc, có chăng lũ trẻ tinh nghịch, đói nghèo thất học tràn lan. Lấy ai nuôi dạy chúng khi:
Ngoài biên máu chảy thành biển đỏ,
Mở cõi nhà Vua ý chưa bỏ…!
Hay:
… Cửa son rượu thịt ôi,
Ngoài đường, xương chết buốt!
Sự trớ trêu trong cảnh ngộ của Đỗ Phủ không chỉ là thu phong tốc mái căn nhà tranh mà về đêm thêm một tai hoạ mới. Mưa thu dầm dề, sùi sụt, dai dẳng kéo dài suốt đêm, kéo theo cái lạnh càng thêm lạnh. Nhà dột lung tung khác chi ở ngoài trời. Chăn, mền cũ, bị con quẫy đạp rách. Mãi chưa sáng… mưa mãi không tạnh… làm sao nhà thơ có thể ngủ được. Ông trằn trọc suốt đêm trong mệt nhọc, đói rét, lo lắng, buồn rầu, thương vợ, thương con.
Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê,
Đêm dài ướt át sao cho trót.
Đêm dài như dài thêm, ông già cũng chĩ đành cay đắng, ấm ức và bất lực ngồi đếm từng nhịp trống canh.
Ta thấy hiện lên trên khuôn mặt nhà thơ sự đau khổ, cay đắng. Một kẻ sĩ có học thức mà công danh thì lận đận, cuộc đời thì long đong, túng bấn khổ cực. Ông trách mình đã chẳng giúp gì cho vợ con và gia đình trong cảnh nghèo khổ ấy. Băn khoăn trăn trở hơn là kẻ sĩ mà chẳng giúp gì được cho đời, chiến tranh liên miên, dân chúng loạn lạc cực khổ. Càng nghĩ ông càng phê phán và lên án chiến tranh, lên án xã hội phong kiến gây bao cảnh đời vất vả như chính gia đình tác giả. Nỗi khổ về vật chất và tinh thần của Đỗ Phủ cũng là cái khổ chung của nhân dân lao động, của các nhà nho, trí thức thời đó. Sự khốn cùng của gia đình tác giả là chứng tích cho một thời kỳ lịch sử xã hội Trung Quốc hay đó chính là xã hội thời Đường thu nhỏ lại. Chỉ đơn thuần là nhà bị gió phá, mưa dột nghèo túng nhưng bài thơ có giá trị hiện thực to lớn, phản ánh nhiều mặt đang nóng bỏng của xã hội Trung Quốc lúc đó. Những nỗi đau của dân đen ông cũng đã từng chứng kiến nếm trải để rồi từ hiện thực của gia đình, xã hội, nhà thơ thể hiện khát vọng hoà bình, dân chúng ấm no:
Ước được nhà rộng muôn ngàn gian
Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan
Gió mưa chẳng núng, vững vàng như thạch bàn!
Than ôi! bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt
Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!
Cùng với giá trị hiện thực sâu sắc của bài thơ, khổ thơ cuối thể hiện sâu sắc khát vọng cao đẹp, ước mơ cao cả, vị tha. Nhà mình thì dột nát, sắp đổ đến nơi, biết bao giờ dựng lại được? Vậy mà ông luôn nghĩ tới tương lai, không hề nghĩ cho mình, gia đình, lại nghĩ đến ngôi nhà chung, to cao, rộng rãi, vững chắc muôn nghìn gian, bất chấp mưa nắng, vững như thạch bàn dành cho muôn nghìn dân đang đói rách, cơ cực bần hàn trú ngụ. Dù đau khổ chất chồng, nhưng không dập tắt được nhân tính, không làm mất được niềm tin, con người không bị hoàn cảnh đè bẹp mà ngạo nghễ vượt lên trên hoàn cảnh. Thương người là nhân, yêu người là ái. Lòng nhân ái của Đỗ Phủ thật cảm động và thiết thực cụ thể. Điều cao cả và đáng kính trọng hơn nữa là ở chỗ mơ ước ấy mang tinh thần vị tha tới mức xả thân vì người khác. Ông vui lòng chịu chết cóng, chết rét để có được ngôi nhà trong mơ ấy.
Thực tế xưa nay không có ngôi nhà rộng muôn ngàn gian như thế. Khổ thơ được sáng tạo bằng biện pháp tu từ so sánh và thậm xưng đế diễn tả ước mơ to lớn và cảm hứng lãng mạn dạt dào, làm sáng bừng lòng nhân ái bao la của một con người từng trải qua bao bất hạnh giữa thời loạn lạc. Vì vậy nhà thơ mong mỏi ai ai cũng được sống cuộc sống yên ấm hạnh phúc.
Dù đã qua đi hơn mười hai thế kỷ nhưng bài thơ này vẫn giữ được cho mình chỗ đứng trong trái tim mỗi chúng ta bởi vì giá trị hiện thực và tính nhân đạo bao la luôn toả sáng trong đó. | Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ | 1,414 | |
Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương
Hướng dẫn
Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương
Trong xã hội cũ, thân phận nữ nhi vẫn luôn ở mức dưới đáy của xã hội. Dù họ có tốt đẹp, có trong sáng đến mấy cũng không có quyền được sống tự do, được hưởng trọn vẹn niềm vui và hạnh phúc. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ đã bày tỏ những niềm xót xa, đồng cảm với thân phận bọt bèo, nổi trôi của người phụ nữ qua nhân vật Vũ Nương. Giá trị nhân đạo và hiện thực mà tác phẩm đã để lại trong lòng người đọc bao niềm xót thương và đồng cảm.
Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn đương thời có tấm lòng thương cảm sâu sắc với những người cùng khổ trong xã hội, đặc biệt là người phụ nữ. Vì thế, trong những áng văn của ông vẫn luôn nêu rõ giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo rất sâu sắc.
Đối với tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương cũng vậy, Nguyễn Dữ đã dựng nên hình ảnh một người thiếu phụ hoàn hảo mang tên Vũ Thị Thiết, thường gọi là Vũ Nương. Nàng vừa đẹp người lại đẹp nết. Trái tim nàng cũng khao khát một cuộc sống bình yên và hạnh phúc nhưng sự éo le và khổ hạnh vẫn luôn ập đến khi nàng sống dưới chế độ xã hội phong kiến đầy bất công. Số phận hẩm hiu và những ngang trái trong cuộc đời người thiếu phụ trẻ cũng là số phận chung của bao người phụ nữ đương thời trong xã hội ấy. Xây dựng nên nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã cho nàng hội tụ đầy đủ những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: hiền lành, ngoan ngoãn, công – dung – ngôn – hạnh đều đủ cả. Và rồi, Vũ Nương cũng bước vào cuộc sống làm vợ, làm dâu. Vốn tính thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp, nên dù Trương Sinh – chồng nàng có đa nghi đến mấy cũng không bao giờ nàng để gia đình phải thất hòa. Không những thế, khoảng thời gian Trương Sinh đi lính đánh giặc, Vũ Nương một mình ở nhà vừa chăm con nhỏ vừa đỡ đần mẹ chồng già yếu bệnh tật. Nàng vừa là mẹ mà cũng là cha, vừa là con dâu mà cũng là con trai an ủi mẹ già không khác gì mẹ ruột của mình. Khi bà ốm, Vũ Nương hết lòng chăm sóc, thuốc thang, cúng bái cầu xin thần phật nhưng bà vẫn không qua khỏi. Nàng lại hết lời thương xót, làm ma chay chu đáo cho mẹ.
Cái chết của Vũ Nương đã một lần nữa nói lên một cách chân thực về thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Họ luôn khát khao hạnh phúc, khát khao một tổ ấm gia đình nhưng khi sóng gió ập đến, họ không thể nào được làm chủ cuộc đời mình. Lúc ấy, chỉ có cái chết mới có thể giải thoát được họ khỏi những đau thương. Qua đó, Nguyễn Dữ đã gián tiếp tái hiện lại sự bất công của xã hội cũ đã đẩy người phụ nữ vào cái chết, chết oan ức, chết bi thương. | Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương | 587 | |
Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Sau phút chia li trích Chinh phụ ngâm khúc
Bài làm
Chinh phụ ngâm khúc là khúc ngâm của ngươi vợ có chồng ra trận. Từ việc diễn tả một cách xúc động và đầy cảm thông nỗi sầu chia li của người vợ trẻ, tác phẩm đã có một giá trị tư tưởng sâu sắc, thể hiện ở cả hai nội dung: tố cáo chiến tranh và tình cảm nhân đạo.
Từ thế kỉ XVI, giai cấp phong kiến thống trị đâ liên tiếp phát động nhiều cuộc chiến tranh để tranh giành, xâu xé quyền lợi. Các cuộc chiến tranh Nam- Bắc Triều rồi lại Trịnh – Nguyễn kéo dài hàng trăm năm gây ra không ít thảm cảnh. Biết bao cảnh chia li đầy máu và nước mắt vì chiến tranh loạn lạc. Đối với những cặp vợ chồng trẻ thì sự chia li càng trở nên đau xót. Cuộc sống vợ chồng đương độ mặn nồng mà đành phải dứt áo tiễn biệt nhau, hỏi còn gì chua xót hơn? Người chồng dấn thân vào chốn binh đao khói lửa đã bi thương lắm rồi, nhưng làm sao sánh được với nỗi sầu muộn buồn đau ngóng trông vô vọng của người vợ trẻ cô đơn vò võ nơi buồng the. Dường như trái tim nhạy cảm của người phụ nữ đã phần nào dự cảm được số phận bi thảm của người chồng ngay từ phút chia li tâm trạng thương đau của người vợ, chiến trận hiện ra thật thảm khốc:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phụ trăng dõi dõi theo
Chinh phu tử sĩ bao người
Nào ai mạc mặt, nào ai liệm hồn?.
Vì thế mà ngay sau phút chia li, cả một núi sầu đã đè nặng lên người vợ trẻ:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Hình bóng người chồng cứ xa dần, xa dần rồi mất hút vào không gian thăm thẳm, mênh mông, để rồi chỉ còn lại là tâm trạng sầu thương của người vợ trẻ. Bao nhiêu tình cảm âu yếm chỉ còn là hoài niệm. Bao nhiêu ước vọng về hạnh phúc lứa đôi trở thành vô vọng. Ai làm cho lứa đôi chia lìa? Ai làm cho cuộc sống của người vợ chỉ còn là một chuỗi sầu muộn, mòn mỏi ngóng trông đến hoá đá? Chiến tranh thật là tàn nhẫn! Nhà thơ không một lời phê phán chiến tranh, chỉ để người chinh phụ bày tỏ nỗi sầu chia li chất chồng, và dường như sự phẫn uất của tác giả cũng tăng dần theo nỗi sầu ấy. Giá trị tố cáo của đoạn thơ chính là ở đó.
Không chỉ có ý nghĩa tố cáo chiến tranh, Sau phút chia li còn là một đoạn thơ có giả trị nhân đạo sâu sắc. Bản thân ý nghĩa tố cáo đã là một khía cạnh của tinh thần nhân đạo. Song giá trị nhân đạo của đoạn thơ còn sâu sắc hơn nhiều. Tinh thần nhân bản ấy chính là sự đồng cảm sâu sắc, sự chia sẻ đầy tình người với nỗi sầu chia li và khát khao hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ. Dường như nhà thơ đã hoá thân thành người chinh phụ. Nếu không, làm sao có thể cảm nhận được trùng trùng lớp lớp sầu thương đang dâng lên trong lòng nàng và nhuộm màu sắc chia li lên cảnh vật:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiều Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt, một màu
Lòng chàng ỷ thiếp ai sầu hơn ai?
Đặt tác phẩm vào hoàn cảnh ra đời là đầu thế kỉ XVIII (Cái thời mà tư tưởng phong kiến Nam quyền chi phối đời sống tinh thần cả xã hội, ít ai quan tâm tới tâm trạng và nỗi lòng của người phụ nữ) mới thấy hết giá trị nhân bản của đoạn thơ.
Với những ý nghĩa như trên, Sau phút chia li trở thành đoạn thơ được nhiều người nhớ đến và yêu mến. | Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Sau phút chia li trích Chinh phụ ngâm khúc | 797 | |
Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Hướng dẫn
Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Trong nền văn học hiện thực nước ta ngoài những cái tên như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng…thì cái tên Nam Cao được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rất cao về những tác phẩm tố cáo hiện thực của nhà văn này. Với nhưng quan điểm tích cực về văn chương Nam Cao đã cho ra đời những tác phẩm “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Hẳn ai cũng biết đến tác phẩm nổi tiếng của ông đó chính là Chí Phèo, vẫn là một đề tài về người nông dân trong xã hội phong kiến thế nhưng Nam Cao không đi khám phá nhân vật về cuộc sống nghèo khooe phải bán chó bán con mà nhà văn nói về những số phận nông dân bị tước đoạt quyền làm người. Đặc biệt qua truyện ngắn này ta thấy được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Trước hết là giá trị hiện thực, vậy giá trị hiện thực là gì?. Có thể tạm định nghĩa là giá trị nói lên những bộ mặt hiện thực của cuộc sống mà từ đó khi nhìn vào đấy người ta biết rằng hiện thực nước ta lúc bấy giờ phải sống như thế nào. Chính vì thế nhà văn hiện thực Nam Cao đã xây dựng nhân vật Chí Phèo để từ một con số không tròn trĩnh để từ đó ta thấy được những bi kịch mà xã hội phong kiến thực dân đã gây nên cho một người dân lương thiện hiền lành.
Giá trị hiện thực trong truyện ngắn đó là phản ảnh quy luật ở nước ta thời Pháp thuộc, người dân lương thiện bị xã hội xô đẩy vào con đường cùng trở thành lưu manh hóa bần cùng hóa, thành một con quỷ dữ và không thể quay trở lại làm người được nữa. Tất cả những điều nói trên được thể hiện rõ qua cuộc đời đầy những đau thương bi kịch của nhân vật Chí Phèo.
Cách mở đầu câu chuyện của tác giả cũng góp phần thể hiện được hiện thực cuộc sống những năm ấy. Chí Phèo xuất hiện với dáng vẻ của một thằng say rượu vừa đi vừa chửi. Đó là cách mà hắn giao tiếp với mọi người xung quanh. Thế nhưng nào có ai tiếp chuyện Chí, họ không thèm chấp Chí Phèo khi chửi cả làng Vũ Đại.Cứ say là Chí chửi “bắt đầu hắn chửi trời, có hề gì trời có của riêng nhà nào, sau đó hắn chửi đời, đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai. Tức mình lên hắn chửi cả làng Vũ Đại nhưng làng Vũ Đại ai cũng nghĩ chắc nó chừa mình ra”. Cứ thế chỉ một thằng say rượu với ba con chó cũng làm inh ỏi cả làng nước lên rồi. Câu văn chua chát ấy giúp cho chúng ta thấy được Chí vốn là một con người nhưng lại được so ví đồng loại với ba con chó. Những điều Chí nói không ai thèm đáp lại. Người ta đâu coi Chí là con người.
Không những tuổi thơ thiếu tình thương cha mẹ đến khi lớn lên anh cũng vẫn không thoát khỏi bi kịch. Chí lớn lên thành một chàng trai khỏe mạnh hiền lành. Chí ở đợ cho nhà Bá Kiến thế nhưng bà ba nhà Bá Kiến lại cứ thích Chí đấm bóp cho. Khổ một nỗi là Bà cứ bắt bóp lên cao cao mãi. Chí chỉ thấy nhục chú chẳng thấy yêu thương gì. Thế rồi Bá Kiến phát hiện và đã đẩy anh chàng lương thiện vào nhà tù thưc dân. Thế là quãng cuộc đời nghèo khổ nhưng bình yên của Chí cứ thế mà kết thúc một cách nhanh chóng.
Chí đi tù ra cánh cửa của nhà tù thực dân đã nhuộm đen tâm hồn chí. Anh không còn là một chàng thanh niên khỏe mạnh lương thiện nữa mà trở thành một con quỷ dữ. Người dân cứ thấy anh ở đâu là tránh xa. Nam Cao đã thành công khi miêu tả ngoại hình Chí Phèo ở tù ra. Nào là cái răng trắng hếu, cái đầu cạo trọc lóc, cái mặt thì cong cong lên, hai mắt gườm. Trang phục mà Chí mặc trên người là chiếc quần nái đen và cái áo tây vàng.
Không những thế hình ảnh ông tướng cầm chùy còn được xăm ở cánh tay hắn. Vậy là hắn trông chẳng còn vẻ gì là một người lương thiện nữa rồi. Từ đây cuộc đời Chí trải dài trên những cơn say, ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, rạch mặt ăn vạ trong lúc say. Chí trở thành một tay sai đắc lực của Bá Kiến. Và kết cục thì Chí vẫn cứ không được làm người. cho đến khi chết thì cả làng Vũ Đai cũng không ai coi Chí là người cả. Đó phải chăng là bi kịch tinh thần đau đớn nhất mà một con người phải gánh chịu. Sống là kiếp con người mà cũng không được trọn kiếp con người.
Không chỉ nói lên quy luật người nông dân lương thiện bị tước quyền làm người nhà văn còn tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân phong kiến đã cướp đi quyền làm người của những người nông dân lương thiện. Xã hội ấy đã biến Chí thành một con quỷ dữ và tuyệt đối không cho Chí quay lại làm người. Chí chỉ còn có cái chết để kết thúc cuộc sống quỷ dữ ấy chứ không thể nào trở lại làm người được.
Ngoài giá trị hiện thực sâu sắc tác phẩm còn lấp lánh những giá trị nhân đạo cao cả. Giá trị nhân đao chính là cái nhìn hướng thiện của con người, nhìn vào những điểm tốt của con người, yêu thương con người và hướng cho họ đến một tương lai tươi sáng hơn.
Thứ nhất giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện qua sự đồng cảm của nhà văn dành cho nhân vật của mình. Nhà văn miêu tả Chí Phèo là một con quỷ dữ không một chút thương tiếc, Nam Cao nhìn nhận vấn đề và nói thật vấn đề thế nhưng không phải ông không thương nhân vật của mình. Nhà văn càng nói rõ cái tàn ác của Chí bao nhiêu thì càng thể hiện được tấm lòng thương cảm sâu sắc bấy nhiêu. Bởi vì tô đậm được cái xấu biểu hiện bên ngoài Chí là nhà văn tố cáo được xã hội tàn ác kia. Chính bởi đồng cảm với số phận ấy cho nên nhà văn mới dành nhiều tình cảm cho Chí đến thế. Nam Cao hiểu hết được những suy nghĩ của chí cả lúc say cho đến lúc tỉnh.
Thứ hai giá trị nhân đạo của tác phẩm là sự yêu thương con người. Nhà văn khẳng định chính tình yêu thương con người sẽ sưởi ấm và làm trỗi dậy bản chất tốt đẹp trong Chí. Có thể nói Thị Nở là một món quà mà nhà văn dành cho Chí. Cô ta là một người xấu ma chê quỷ hờn ế chồng, mả hủi thế nhưng lại có công thức tỉnh Chí. Tình yêu dù là bồng bột của Thị đã làm cho Chí kết thúc những tháng ngày say xỉn của mình. Đặc biệt là bát cháo hành của Thị Nở càng làm cho Chí ấm lòng và thấy thị giống như là mẹ mình vậy. Lần đầu tiên Chí khóc sau khi ra tù.
Chí Phèo trải qua biết bao thời gian đến nay vẫn là một tác phẩm được người đọc yêu thích. Nó không hấp dẫn bởi những lời hoa mĩ sáo rỗng, không cầu kì nhân vật mà chỉ với giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc Chí Phèo đã lôi cuốn biết bao nhiêu thế hệ bạn đọc. Quả thật nhà văn Nam Cao đã có công rất lớn trong việc phản ánh số phận người nông dân trong xã hội cũ. | Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao | 1,402 | |
Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Chí Phèo
Bài làm
Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945. Chí Phèo có lẽ là tác phẩm thành công hơn cả trong việc đem lại cho người đọc những ấn tượng mạnh mẽ, không thể quên về bức tranh đen tối ngột ngạt, bế tắc của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời thức tỉnh cái phần lương tri tốt đẹp nhất của con người, khơi dậy lòng căm ghét cái xã hội vạn ác đã chà đạp lên nhân phẩm con người, thương xót, cảm thông với những thân phận cùng đinh bị giày vò, tha hóa trong chế độ cũ.
Căm ghét xã hội thực dân phong kiến thối nát, phê phán mãnh liệt các thế lực thống trị xã hội, trên cơ sở cảm thông, yêu thương trân trọng con người, nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp, đó là cảm hứng chung của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 30-45. Tuy nhiên, trong tác phẩm Chí Phèo,Nam Cao đã khám phá hiện thực ấy bằng một cái nhìn riêng biệt. Nam Cao không trực tiếp miêu tả quá trình bần cùng, đói cơm, rách áo dù đó cũng là một hiện thực phổ biến. Nhà văn trăn trở, suy ngẫm nhiều hơn đến một hiện thực con người: con người không được là chính mình, thậm chí, không còn được là con người mà trở thành một con “quỉ dữ”, bởi âm mưu thâm độc và sự chà đạp của một guồng máy thống trị tàn bạo. Với một cái nhìn sắc bén, đầy tính nhân văn, bằng khả năng phân tích lý giải hiện thực hết sức tinh tế, bằng vốn sống dồi dào và trái tim nhân ái, nhà văn đã xây dựng nên một tác phẩm với những giá trị hiện thực và nhân đạo đặc sắc không thể tìm thấy ở các nhà văn đương thời.
Thật ra trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật chân chính nào, giá trị hiện thực bao giờ cũng đi liền với giá trị nhân đạo. Tác phẩm càng xuất sắc, những giá trị ấy càng thẩm thấu, thống nhất với nhau, khó tách rời. Chí Phèo của Nam Cao cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Bởi vì nội dung phản ánh (và tiếp nhận) – yêu thương, trân trọng hay căm ghét, khinh bỉ? Tách riêng ra hai giá trị là làm phá vỡ sự gắn liền hữu cơ của một chỉnh thể nghệ thuật vốn dĩ thống nhất.
Đọc xong tác phẩm Chí Phèo ta thấy gì? Mở đầu tác phẩm là cảnh Chí Phèo ngật ngưởng trên đường đi vừa chửi, từ trời đến người, tiếng chửi hằn học, cay độc và chua xót. Kết thúc là cảnh Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi. Bao trùm lên tất cả, tác phẩm ám ảnh ta một không khí ngột ngạt, bế tắc đến khủng khiếp, đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa của một làng quê Việt Nam trước Cách mạng, với bao cảnh cướp bóc, dọa nạt, giết chóc, ăn vạ, gây gổ… trong đó Chí Phèo hiện lên như một biếm họa tiêu biểu. Hãy nghe nhà văn miêu tả: “Bây giờ thì hắn trở thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay là ngoài bốn mươi. Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không còn phải là mặt người: nó là mặt một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?. Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành một con quỉ dữ của làng Vũ Đại mà không tự biết. Cuộc đời hắn không có ngày tháng bởi những cơn say triền miên. Hắn ăn trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận. Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ hắn có ở đời. Có lẽ
hắn cũng biết rằng hắn là quỉ dữ của làng Vũ Đại để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu nước mắt của bao nhiêu người lương thiện… Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua…”
Đoạn văn chất chứa bao nhiêu nỗi thống khổ của một thân phận đã không còn được cuộc sống của một con người. Những năng lực vốn có của một con người – năng lực cảm xúc, nhận thức – hầu như bị phá hủy, chỉ còn lại năng lực đâm chém, phá phách. Chí Phèo bị phá hủy nhân tính lẫn nhân hình như thế bởi đâu? Nhà văn không tập trung miêu tả dông dài quá trình tha hóa ấy. Ông thiên về lí giải phân tích cái cội nguồn sâu xa dẫn đến kết cục bi thảm của nó, chỉ bằng một số phác thảo đơn sơ về Bá Kiến, về nhà tù, về bà cô Thị Nở, về dư luận xã hội nói chung… Trong hàng loạt mối liên kết ấy, người đọc dễ dàng nhận ra: sở dĩ Chí Phèo (và không chỉ Chí Phèo mà cả những Năm Thọ, những Binh Chức – cả một tầng lớp được nhà văn cá thể hóa qua nhân vật Chí Phèo) từ một thanh niên lành như cục đất hoá thành con quỉ dữ là bởi vì Chí, ngay từ thuở lọt lòng đã thiếu hẳn tình ấp ủ yêu thương, và đặc biệt khi lớn lên, chỉ được đối xử bằng rẻ khinh, thô bạo và tàn nhẫn. Thủ phạm trực tiếp là Bá Kiến được nhà văn miêu tả là một con cáo già “khôn róc đời”, “ném đá giấu tay”, “già đời trong nghề đục khoét”, biết thế nào là “mềm nắn rắn buông”, “Hay ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hay đập bàn đập ghế đòi cho được 5 đồng, nhưng được rồi lại vứt trả lại 5 hào vì thương anh túng quá!”. Chính hắn đã lập mưu đẩy Chí Phèo vào chỗ tù tội oan uổng và sau đó sử dụng Chí Phèo như một tay sai đắc lực phục vụ cho lợi ích và mưu đồ đen tối của mình. Không có Bá Kiến thì không có Chí Phèo, nhưng Chí Phèo không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà thậm chí là phương tiện tối ưu để thống trị: “không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị mấy thằng đầu bò”. Chính Bá Kiến đã rút ra cái kết luận mà theo hắn rất chí lí ấy. Là một tội nhân, nham hiểm, nhẫn tâm, nhưng Bá Kiến lại hiện ra bề ngoài như một kẻ ôn hòa, xởi lởi, biết điều, khiến người đời phải nhìn bằng cặp mắt “kính cẩn”… Vì thế mà hắn đã lường gạt được bao nhiêu dân chất phác lương thiện. Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực của hắn; thật sự biến thành công cụ, phương tiện thống trị cho kẻ thù của mình mà không tự biết. Bá Kiến hiện ra trong tác phẩm Chí Phèo như một nhân vật điển hình, sống động và cá biệt, tiêu biểu cho một bộ phận của giai cấp thống trị, được miêu tả, khám phá dưới một ngòi bút bậc thầy. Cùng với hắn là Lý Cường, là chánh Tổng, là đội Tảo… Chính bọn chúng đem lại không khí ngột ngạt khó thở cho nông thôn Việt Nam thành cái thế “Quần ngư tranh thực” (bọn đàn anh chỉ là một đàn cá tranh mồi, chỉ trực rình rập tiêu diệt nhau). Chính chúng là thủ phạm gây ra bi kịch của những Chí Phèo… Số phận của Năm Thọ, Binh Chức, tuy chỉ được nhắc qua tác phẩm, nhưng cũng góp phần chỉ ra tính hệ thống và phổ biến của phương cách tha hóa người dân trong sự thống trị của chúng. Đằng sau những Bá Kiến, Lý Cường, Chánh Tổng… như một sự hỗ trợ gián tiếp nhưng tích cực là hệ thống nhà tù dã man, bẩn thỉu – cả một điều kiện môi trường bất hảo. Quá trình Chí Phèo ở tù không được miêu tả trực tiếp, chỉ biết rằng khi vào tù Chí Phèo là người hiền lành lương thiện. Ra khỏi tù, hắn trở về với cái vẻ hung đồ, cái thói du côn ương ngạnh học được từ đấy. Nhà văn chỉ nói có thế. Nhưng như thế với bạn đọc thông minh cũng đã quá đủ!
Bằng bút pháp độc đáo, tài hoa linh hoạt, giàu biến hóa, Nam Cao khi tả, khi kể theo một kết cấu tâm lý và mạch dẫn dắt của câu chuyện với một cách thức bề ngoài tưởng chừng như khách quan, lạnh lùng và tàn nhẫn, nhưng chất chứa bên trong biết bao nỗi niềm quằn quại, đau đớn trước thân phận đau đớn của kiếp người. Lồng vào bức tranh hiện thực trên kia là thái độ yêu ghét, là cách phân tích và đánh giá những vấn đề về hiện thực mà nhà văn đặt ra. Ngay việc lựa chọn một nhân vật cùng đinh thống khổ nhất của xã hội làm đối tượng miêu tả và gởi gắm biết bao thông cảm, suy tư thương xót… tự nó đã mang nội dung nhân đạo. Nhưng giá trị
nhân đạo của tác phẩm thể hiện tập trung nhất ở cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật bị tha hóa đến tận cùng. Nam Cao vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn dĩ, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỉ hờn”, kỳ diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị dập vùi, hất hủi. Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã nhận ra nguồn ánh sáng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe ra một tiếng chim vui vẻ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải… Những âm thanh ấy bao giờ chả có. Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn, trong cái phút tỉnh táo ấy, Chí Phèo như đã thấy tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc – cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau. Cũng may Thị Nở mang bát cháo hành tới. Nếu không, hắn đến khóc được mất trong tâm trạng như thế… Nhìn bát cháo bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến bâng khuâng: Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Ôi sao mà hắn hiền! “Hắn thèm lương thiện – Hắn khát khao làm hòa với mọi người”… Từ một con quỉ dữ, nhờ Thị Nở, đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí,… cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào!
Bằng chi tiết này, Nam Cao đã soi vào tác phẩm một ánh sáng nhân đạo thật đẹp đẽ – Nhà văn như muốn hòa vào nhân vật để cảm thông, chia sẻ những giây phút hạnh phúc thật hiếm hoi của Chí Phèo…
Nhưng, bi kịch và đau đớn thay, rốt cuộc thì ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí Phèo. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, khi bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa. Xã hội đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại. Những vết dọc ngang trên mặt, kết quả của bao nhiêu cơn say, bao nhiêu lần đâm chém, rạch mặt ăn vạ… đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời. Và, như Đỗ Kim Hồi nói, “một khi người được nếm trải chút ít hương vị làm người thì cái xúc cảm người sẽ không thể mất… Đấy là mối bi thảm tột cùng mà cách giải quyết chỉ có thể là cái chết”. (Tạp chí Văn học số 3-1990)
Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đạo, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết cấp bách: Hãy cứu lấy con người! Hãy yêu thương con người!
Đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao. Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm Chí Phèo bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời đại. | Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Chí Phèo | 2,358 | |
Để bài: Qua hai nhân vật Mị và A Phủ, nên lên giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Bài làm
Nếu như tác phẩm Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài mang một giọng hồn nhiên trong sáng thì tác phẩm Vợ chồng A Phủ của ông mang lại màu sắc dân tộc đậm đà, chất thơ chất trữ tình thấm đượm.
Qua tác phẩm, nhà văn đã dựng nên một bức tranh hiện thực của hai cuộc đời: Mị và A Phủ, những bức tranh đó cũng chứa chan một tấm lòng nhân đạo của Tô Hoài.
Phân tích tác phẩm vợ chồng A Phủ
Mị, một cô gái xinh đẹp trẻ trung, nhưng lại mang một kiếp sống nghèo của kẻ “thấp cổ bé họng”. Cha mẹ cô không thể trả nổi món nợ nhà thống lí thế là món nợ ấy truyền sang Mị. Tên thống lí tàn bạo ấy lại muốn bắt Mị làm con “dâu gạt nợ”. Mà quan đã muốn là trời muốn, cô Mị về làm dâu nhà quan mà trong lòng mang một mối uất ức không thể giãi bày. Tiếng làm dâu nhưng lại là một thứ nông nô không hơn không kém, cô mất tất cả quyền sống, quyền được xem là một con người. Ngày trước dẫu nghèo nhưng được tự do, yêu đời, giờ đây vẫn nghèo vẫn cực nhọc lại nhục nhã chịu kiếp sống nô lệ qua kiếp sống của Mị, nhà văn bộc lộ một tấm lòng thương người, chua xót cho số phận con người, và cũng qua đó Tô Hoài đã vạch trần cái bản chất bóc lột giai cấp. Người ta dùng cái thế lực và tiền bạc “cướp người đàn bà đem về trình ma”, thế là người đàn bà cũng bị cái “ma” vô hình trói cả cuộc đời trong nhà ấy. Nếu chẳng may chồng chết thì người ấy phải làm vợ người khác trong nhà, có khi là một người anh chồng già lụ khụ, có khi là một người em chồng còn ở tuổi trẻ con, và nếu chồng lại chết, lại phải ở với người đàn ông khác vẫn ở trong nhà ấy. … Phải suốt đời ở trong nhà ấy.
Mị đã khổ nhiều rồi, trong cái địa ngục trần gian ấy, lại càng khổ hơn khi phải chấp nhận mình là kiếp trâu kiếp ngựa. Cả những con người cứng rắn, có lẽ không khỏi động lòng khi đọc đến câu “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa”… Khổ mà đến “quen” rồi quả thật ý thức con người đã bị tê liệt, đã mất đi cái “yếu tố xã hội” để được xem là con người. Chuỗi ngày cực nhục đã cướp đi của Mị sức sống tài năng cướp đi những thất vọng tuổi trẻ những “lúc hồi hộp chờ đợi người yêu”. Lúc nào và bao giờ cũng thế, công việc cứ giăng trải ra trước mặt Mị, cứ những công việc quen thuộc làm đi làm lại “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp… Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế”. Khổ quá, cái khổ cứ chực bóp nát cuộc đời Mị, thế sao Mị không tự tử chết đi cho rồi? Không được bởi “Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ. Mị đành trở lại nhà thống lí”.
Cuộc sống trong cái địa ngục khủng khiếp đã bào mòn đi trái tim yêu đời của Mị, giờ đây nó đã trở nên trơ lì, chai sạn. Mị chỉ còn biết vùi đầu vào công việc “lùi lũi như một con rùa nuôi trong xó cửa”. Thế giới của Mị thu vào một “chiếc cửa sổ ô vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Ý thức đã hoàn toàn biến dạng, Mị nhìn ra cuộc đời bằng ô cửa sổ, mà lại chẳng biết gì ngoài ấy thì có phải Mị đã quên mình là con người! Rõ ràng Tô Hoài đã tuân thủ nguyên tắc biện chứng của chủ nghĩa hiện thực một cách nghiêm ngặt: hoàn cảnh đã tác động vào tính cách Mị. Vợ chồng A Phủ chính là một bản cáo trạng đanh thép kết án những bọn cường hào thống lí và Tô Hoài đã mở rộng tấm lòng mình để bao bọc, che chở, bênh vực cho những người phụ nữ miền núi chịu hai tầng bóc lột.
Bức tranh hiện thực được hoàn chỉnh hơn với sự xuất hiện của A Phủ, một chàng trai khỏe mạnh cường tráng, trung thực. Chỉ vì những cuộc ẩu đả thường tình mà A Phủ bị đưa ra xử kiện có phải là vô lí không? Nhưng vấn đề ở chỗ: Người đúng là con dân còn kẻ sai là con quan, hơn nữa, quan lại là người xử kiện. Như thế chẳng biết “công lí” có còn ngự trị nơi quan đường? Chỉ biết rằng A Phủ đang là một con chim xoãi cánh trong bầu trời tự do bỗng chốc bị nhốt trong lồng, bị trở thành nô lệ. Dường như cuộc đời A Phủ có lặp lại ít nhiều những biến thái của cuộc đời Mị. Đó là số phận chung cho những người miền núi thời bấy giờ.
Nhắc đến tác phẩm, người ta nhắc đến tính hiện thực và giá trị nhân đạo. Hiện thực mà chỉ bằng tố cáo phê phán thì còn khiếm khuyết, “nhân đạo” mà chỉ có yêu và ghét thì chưa phải là nhân đạo. Nhà văn cần phải hiểu nhân vật và tìm ra con đường tất yếu mà nhân vật phải đi. Tính cách nhân vật phát triển theo hoàn cảnh và được Tô Hoài phân tích theo con đường phát triển của tâm lí nhân vật. Thiết nghĩ đây mới là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo độc đáo của tác phẩm. Nhân cách Mị bị tha hóa trong cái địa ngục trần gian là hợp lí, sống cho ra người thì không sống được muốn chết cũng ko chết được. Có phải Mị đã ở cái trạng thái “sống dở chết dở”. Rồi Mị phải quen, phải chịu đựng, và trở nên chai lì như một cỗ máy. Liệu Mị có còn lối thoát? Nếu như có một hoàn cảnh đã làm tê liệt ý thức con người thì sẽ có một hoàn cảnh để vực dậy trong lòng họ một sức sống. Nghe như mơ hồ nhưng đó là sự thực. Dòng nước mắt của A Phủ chính là “hoàn cảnh” đã giúp Mị sống dậy. “Lúc ấy đã khuya.Trong nhà đã ngủ yên Mị trở dậy thổi lửa.Ngọn lửa bập bùng sáng lóe Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở.Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Mị bắt gặp dòng nước mắt ấy và nhớ về mình, Mị cũng phải trói đứng thế kia và Mị cũng khóc “nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được”. Dòng nước mắt là sự đồng cảm giữa hai con người. Dòng nước mắt của A Phủ đã làm bỏng rát vết thương trong lòng Mị. Tất cả thôi thúc Mị cởi trói cho A Phủ và cả hai người “lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”. Họ đến lập nghiệp ở Phiềng Sa. Thế rồi chẳng bao lâu sau, cái đồn Tây, lại lù lù xuất hiện, cha con thống lí lại vào ở đó. Trước mắt hai người chỉ còn một sự lựa chọn: trở về kiếp sống nô lệ hoặc chống kẻ thù. Cách mạng rồi sẽ đến với họ và họ sẽ trở thành người của cách mạng.
Muốn phân biệt giữa giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo là điều không phải dễ. Thực ra, cả hai hòa quyện vào nhau, đan xen vào nhau. Có ghét nhà văn mới tố cáo bọn thống lí Pá Tra, có thương cảm nhà văn mới viết được những câu văn đầy xúc động, có hiểu nhà văn mới đi sâu vào cuộc sống tâm lí con người. Và Tô Hoài có thong cảm với nhân vật lắm mới có thể xét đoán tinh tế cuộc sống tinh thần của Mị. Những ngày tháng đầu tiên ở nhà thống lí Mị cứ khóc có đến hàng tháng, thế rồi định ăn lá ngón để tự tử vì không chịu nhục. Nhưng vẫn cố sống, sống một cách gượng gạo vì chữ hiếu. Mị nghèo vật chất nhưng không nghèo tình thương, lòng Mị vẫn âm ỉ một khao khát sống khao khát được tự do. Nếu như nhà văn lạnh lùng theo chủ nghĩa hiện thực khách quan thì làm sao nhà văn nắm bắt được cái khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng vẫn “tồn tại đời đời” ấy. Rõ rang nhà văn Tô Hoài tuân theo chủ nghĩa hiện thực nhưng ông tin rằng hoàn cảnh dẫu có khắc nghịêt vẫn không thể vùi dập hoàn toàn nhân tính. Hoàn cảnh tác động tính cách nhưng không giết chết tính cách. | Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài | 1,582 | |
Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của vợ chồng A Phủ – Tô Hoài.
Hướng dẫn
Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của vợ chồng A Phủ – Tô Hoài.
Bài làm
Truyện Vợ chồng A Phủ được rút từ tập Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1953. Tập truyện này đã từng được giải nhất giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955. Vợ chồng A Phủ là một thành công xuất sắc của Tô Hoài sau cách mạng, là thành tựu của văn học kháng chiến chống Pháp đồng thời là tác phẩm tiêu biểu về đề tài miền núi. Truyện có kết cấu chặt chẽ, dẫn dắt tự nhiên hấp dẫn. Có được điều đó là nhờ cái nhìn hiện thực sắc sảo và chủ nghĩa nhân đạo của nhà văn.
Truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài đã phản ánh được một cách khá chân thực và sinh động bức tranh đời sống xã hội của dân tộc miền núi Tây Bắc trước ngày giải phóng Điện Biên. Đó là một thành công có ý nghĩa khai phá của nhà văn Tô Hoài về đề tài miền núi trong văn học Việt Nam hiện đại.
Dưới ngòi bút của nhà văn người đọc thấy được trong vùng giặc Pháp chiếm đóng thời bấy giờ vẫn tồn tại chế độ lang đạo Thổ Ty, một kiểu phong kiến ở miền núi còn khắc nghiệt tàn ác hơn nhiều so với chế độ phong kiến thực dân ở miền xuôi mà đã được các nhà văn hiện thực khác như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng mô tả chân thực trong các tác phẩm trước Cách mạng tháng Tám. Hiện thân của chế độ lang đạo Thổ Ty dã man ấy là cha con nhà thống lý Pá Tra. Bọn chúng đã lợi dụng và dùng cường quyền cùng hủ tục phong kiến miền núi để biến những người lao động thành nô lệ không công, lao động khổ sai như trâu ngựa để làm giàu cho chúng. Nhà thống lý Pá Tra đã bắt Mỵ về làm con dâu trừ nợ. Đã bao lần Mỵ định trốn về với bố nhưng vì đã bị trình con ma nhà thống lý nhận mặt nên đành phải cam chịu “chờ đến ngày mà rũ xương ở đây thôi”. Sau này A Phủ cũng bị buộc vay nợ nộp phạt và phải ở nợ đời đời, không mong gì thoát ra được. Để củng cố cho chính sách cai trị ấy, chúng dùng tư tưởng mê tín dị đoan tạo thành một thế lực vô hình trói buộc và hù doạ người dân lao động miền núi, làm cho họ sợ hãi, cam chịu trong vòng kìm kẹp. Cướp vợ về trình ma đã đành, cho vay cũng trình ma. Cảnh Pá Tra đốt hương khấn vái lầm rầm kêu con ma về nhận mặt người vay nợ tạo nên một cảnh tượng ma quái hãi hùng như địa ngục trần gian, nơi giam hãm những người dân vô tội.
Qua Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài cũng đã tố cáo một cách xử kiện vô lý quái gở của bọn thống lý và hình thức bóc lột phổ biến của chúng là cho vay nặng lãi để cột chặt người lao động vào số phận nô lệ, phụ thuộc vào bọn chủ. Chứng kiến cuộc xử kiện, chúng ta thấy người phát đơn kiện và đồng thời cùng là quan tòa. Và khi kết thúc phiên tòa, thì quan tòa xì một trăm đồng bạc hoặc xòe tiền phí tổn trên mặt tráp bắt người thua kiện sờ tay lên đồng tiền nhận mặt thay cho chữ ký vào bản án chung thân.
Vợ chồng A Phủ không chỉ vạch trần tội ác của bọn phong kiến miền núi mà còn phơi bày tội ác của bọn thực dân Pháp lâu nay đang chiếm đóng Tây Bắc. Bọn chúng đã tìm đến những bản làng xa xôi đốt phá nhà cửa, cướp nhà, cướp cửa và bắt nhân dân phải đi phục dịch cho chúng.
Vợ chồng A Phủ còn là bức tranh chân thực về cuộc sống đau thương bi thảm của người lao động miền núi. Dưới hai tầng áp bức của phong kiến và đế quốc thực dân, người lao động phải chịu đựng biết bao nỗi khổ đau. Cuộc đời của Mỵ và A Phủ trước khi bỏ trốn khỏi Hồng Ngài về Phiềng Sa trong lòng bàn tay cha con Pá Tra là tượng trưng cho nỗi khổ đó. Mỵ vốn là một cô gái đẹp mang trong mình biết bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp. Thế mà kể từ khi bước chân về làm con dâu trừ nợ, thực chất là nô lệ không công cho nhà thống lý, dưới mắt tầng áp bức cường quyền, thần quyền và hủ tục phong kiến miền núi, Mỵ phải sống một chuỗi ngày đau thương tăm tối tủi nhục. Mỵ không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị đầy đọa về tinh thần…
Sự xuất hiện của nhân vật chính A Phủ cũng bị bắt làm con ở trừ nợ đã làm hoàn chỉnh thêm bức tranh hiện thực và giá trị tố cáo của tác phẩm. A Phủ là một chàng trai khỏe mạnh, gan góc yêu chính nghĩa, vốn không nợ nần gì nhà thống lý Pá Tra, lại lao động giỏi, sống phóng khoáng tự do như con chim trời giữa núi rừng Tây Bắc, vậy mà cuối cùng cũng không thoát khỏi ách áp bức của bọn chúa đất phong kiến, phải rơi vào thân phận kẻ nô lệ suốt đời trong nhà thống lý Pá Tra. Chỉ vì dám đánh lại con quan là A Sử trong việc phá đám chơi ngày Tết mà A Phủ bị bắt về làm đứa ở gạt nợ, làm con trâu, con ngựa cho nhà thống lý. Cũng như Mỵ, những ngày sống ở nhà Pá Tra, A Phủ chịu biết bao sự dày đọa nhục hình cả thể xác lẫn tinh thần. A Phủ gần như tê liệt hết sức phản kháng. Anh đã từng phải ngồi im như tượng đá để chịu đòn và phải bất lực để cho những dòng nước mắt chảy trong những đêm bị trói đứng trong góc nhà, thần chết dường như đã vẽ những nét đen ngòm trên “hai hõm má xám đen lại” vì tuyệt vọng và đau khổ của A Phủ.
Giá trị nhân đạo là giá trị cơ bản của tác phẩm văn học chân chính. Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối vối nỗi đau của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ. Chủ nghĩa nhân đạo mới không chỉ yêu thương, đồng cảm với những nỗi khổ của con người mà còn hướng tới, nhằm giải phóng cho con người khỏi mọi xiềng xích áp bức khổ đau và tạo điều kiện cho họ trở thành những con người tự do, những con người tự chủ chiến đấu chống lại mọi thế lực bạo tàn để xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho mình. Hiểu giá trị nhân đạo như vậy, ta thấy trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ tư tưởng nhân đạo biểu hiện trước hết ở niềm cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh bị mất quyền sống của người lao động miền núi mà tiêu biểu là Mỵ và A Phủ.
Ngòi bút của Tô Hoài thấm nhuần tinh thần nhân đạo thể hiện ở việc đã khám phá ra những nét phẩm chất tốt đẹp của người lao động và đặt niềm tin, sự trân trọng đối với những khát vọng sống tốt đẹp của những con người bị đọa đầy đau khổ. Đó cũng là sự kế tiếp truyền thống nhân đạo của dân tộc và phát triển ở mức cao hơn.
Tác phẩm cũng chỉ ra con đường giải phóng thực sự của người lao động từ tự phát đến tự giác, từ tám tối đau thương vươn lên dưới ánh sáng của tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng, đó cũng là sự tỏa sáng của chủ nghĩa nhân đạo mới khác hẳn với chủ nghĩa nhân đạo thời phong kiến mà một số nhà văn nhà thơ xưa kia trong tác phẩm của mình đề cao quyền sống của con người, khát vọng tự do của con người nhưng chưa tìm ra con đường đi cho họ.
Qua truyện Vợ chồng A Phủ đã cho người đọc thấy được một cách chân thực, sinh động về cuộc sống và con người ở vùng cao Tổ quốc. Tác giả đã lên án những thế lực phong kiến miền núi, thế lực thực dân xâm lược; thông cảm sâu sắc với số phận của người nông dân miền núi đồng thời khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của họ. Và tác phẩm sống mãi với thời gian là nhờ có ngòi bút hiện thực sắc sảo và tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn khi viết về đồng bào Tây Bắc giàu tình nghĩa, thủy chung với cách mạng. | Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của vợ chồng A Phủ – Tô Hoài. | 1,557 | |
Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện Người con gái Nam Xương
Hướng dẫn
Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện Người con gái Nam Xương
Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất) là người huyện Trường Tân, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông là một học trò giỏi của Tuyết Giang Phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông sống ở thế kỷ thứ 16, khi mà nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, Lê – Mạc – Trịnh tranh quyền gây ra nội chiến kéo dài. Nguyễn Dữ học rộng tài cao, nhưng ông chỉ ra làm quan có một năm rồi lại quay về ở ẩn nuôi mẹ già. Truyền kì mạn lục chính là những ghi chép về những câu chuyện kỳ lạ được lưu truyền trong dân gian, nêu ra những nguồn gốc dựa vào những điển tích, điển cố, biến hóa từ truyện cũ thành truyện mới, nhưng ngày càng sáng tạo và hấp dẫn hơn. Nhân vật chính trong truyện là hình tượng người phụ nữ đức hạnh, khao khát cuộc sống hạnh phúc nhưng lại bị những lễ giáo khắc nghiệt đẩy vào những cảnh ngộ éo le. Câu chuyện làm nổi bật lên giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc thông qua từng chi tiết, nhân vật người phụ nữ lại càng làm cháy lên hình tượng người phụ nữ trong lòng mỗi người đọc.
Mở đầu câu chuyện, vẻ đẹp của Vũ Nương được hiện lên hết sức sinh động. Tác giả chỉ sử dụng một câu văn biền ngẫu đã làm nổi bật lên được vẻ đẹp của người con gái tên Vũ Nương, bằng một giọng văn nhịp nhàng, hài hòa, nhà văn đã giới thiệu được về tính cách và tư dung tốt đẹp tại vế thứ hai của câu. Ẩn đằng sau thái độ đó là thái độ trân trọng, lần đầu tiên trên văn học viết Việt Nam xuất hiện một người con gái bình dân trong vẻ đẹp bình thường, giản dị, hoàn thiện, hoàn mĩ. Đó là vẻ đẹp chuẩn mực trong xã hội phong kiến. Là hiện thân của một vẻ đẹp truyền thống, muôn đời, một hình tượng được xây dựng ngàn đời của người con gái Việt Nam. Cũng bởi vì chính hoàn cảnh con nhà nghèo lấy con nhà giàu mà tác giả đã xây dựng trường liên tưởng cho người đọc, nhà văn đã đặt nhân vật vào trong một hoàn cảnh éo le, khắc nhiệt nhất: “người chồng phải đi lính khi mới lấy vợ được bao lâu” để bắt nhân vật tự phát sáng những phẩm chất tốt đẹp.
Phẩm chất tốt đẹp ấy của người phụ nữ lần đầu được thể hiện thông qua buổi tiễn chồng. Qua câu nói muốn chồng được bình yên, không muốn chồng ra ngoài chiến trường đã thể hiện tâm hồn trong sáng, không muốn sống trong vinh hoa phú quý, ước mơ duy nhất của người phụ nữ ấy là có một cuộc sống hạnh phúc, bình dị như bao cặp vợ chồng trẻ khác được sum họp – đó là điều tất yếu trong mỗi con người.
Không chỉ với chồng, đối với mẹ chồng, Vũ Nương luôn sáng lên bởi sự chăm sóc chu đáo, tận tình, lấy lời khôn khéo khuyên lơn, lễ bái thành phật. Nàng chính là hiện thân cho một nàng dâu hiếu thảo, xóa tan mọi rào cản về mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu đã hình thành từ trước. Khi mẹ chồng chết thì hết lời ma chay thương xót, ma chay tế lễ như đối với cha mẹ đẻ của mình. Chính vì vậy, Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo, một người vợ hiền, vợ đảm trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
Vũ Nương thay chồng nuôi con, vừa là mẹ vừa là cha, quán xuyến toàn bộ việc nhà. Nàng là hiện thân của một người phụ nữ đảm đang, thân gái một mình nuôi con, rồi lại đau đáu hướng về phía nơi chiến trường xa, mong một ngày chồng sớm quay trở về, trở về với hạnh phúc của gia đình.
Hình ảnh chiếc bóng của người chồng chính là nút thắt cũng chính là nút mở cửa câu chuyện. Chỉ lấy cái cái bóng của chồng là điểm tựa, giúp mẹ con Vũ Nương có thể trông chờ – trông chờ vào một hình bóng ở trên tường. Vũ Nương luôn cảm giác sự tồn tại của cái bóng như chính sự hiện diện của người chồng của mình. Dù đau khổ hay mệt nhọc, lo toan, dù có như thế nào đi chăng nữa thì chồng vẫn luôn ở bên, và tình cảm của mình đối với chồng sẽ không bao giờ thuyên giảm. Không chỉ là thỏa nỗi nhớ của mình, Vũ Nương còn lấy cái bóng để thể hiện tình yêu đối với chính đứa con của mình, luôn muốn con mình có được tình yêu trọn vẹn, một cuộc sống có cha, có người cha luôn sẵn sàng ở bên con, thay chồng dìu dắt con, giúp con nên người.
Chi tiết cái bóng là một chi tiết đắt giá, đó là một chi tiết thắt nút, đưa câu chuyện lên đỉnh điểm, đẩy mâu thuẫn của câu truyện lên cao trào và cũng là chi tiết giải quyết mâu thuẫn của câu chuyện. Cái bóng hay chính là thế giới nội tâm của Vũ Thị Thiết. Thái độ của tác giả với nhân vật là một thái độ hết mực yêu thương, ca ngợi, sáng ngời lên vẻ đẹp cả nội tâm và vẻ ngoài của người phụ nữ Việt Nam muôn đời.
Bi kịch của người phụ nữ xứng đáng được hưởng hạnh phúc, tưởng chừng như hạnh phúc chỉ đến trong tâm tay lại vụt mắt ngay trước mắt khiến cho độc giả vỡ òa vì tức giận. Trương Sinh trở về không mang về một cuộc sống ấm êm, hạnh phúc cho Vũ Nương mà ngược lại, bi kịch lại bắt đầu khi Trương Sinh trở về. Trương Sinh đem về cho Vũ Nương cái sự đa nghi, nghen tuông và coi thường người vợ tần tảo của mình. Đó lại là cái nghịch lý mà tác giả muốn đặt ra cho câu chuyện. Khi trở về, mẹ đã mất, chỉ là một câu nói ngây dại của đứa bé chưa hiểu lẽ đời, tin lời một đứa trẻ hơn lời hàng xóm mà chính Trương Sinh đã gây ra cái kết thảm cho người vợ hiền của mình.
Tuy nhiên, cái nguyên nhân gây ra sự đa nghi của Trương Sinh không phải do bản thân mà chính mà sâu xa hơn là do chiến tranh khiến cho thái độ của Trương Sinh càng trở nên khắc nghiệt hơn: từ đánh đập, chửi mắng, đuổi đi thể hiện tính gia trưởng, trọng nam, khinh nữ, mà nguyên nhân sâu xa là do xã hội phong kiến trọng nam kinh nữ gây ra. Cái kết bi thảm cho người phụ nữ xứng đáng được hưởng hạnh phúc là phải dùng cái chết để có thể rửa oan cho chính mình, để khẳng định danh tiết cho chính bản thân mình. Cái lỗi Trương Sinh chính là sản phẩm của lễ giáo phong kiến.
Màn ảo ảnh làm hồi sinh cái chết của Vũ Nương chính là một trong những yếu tố hoang đường, kỳ ảo của chính Nguyễn Dữ. Vũ Nương đươck sống trong cung gấm, đền giao, không có bất công, chiến tranh, hay cái chết. Qua chi tiết đó, tác giả muốn nói lên ước mơ cao đẹp, về quyền được sống và hưởng hạnh phúc của con người, nơi mà con người không phải chịu những bất công. Nhưng tác giả lại thấy bất lực trước một thực trạng của xã hội phong kiến như hiện tại nên chỉ còn biết gửi gắm vào thế giới bên kia, nơi mà mọi thứ đều có thể trở nên hoàn hảo. Qua chi tiết thứ hai, tác giả muốn nói lên sự xuất hiện của Linh Phi đã làm cho cốt truyện chặt chẽ và cũng là cái cớ để nhân vật được giải oan. Qua đó, tác giả ước muốn về một xã hội công lý, không còn những áp bức, bất công, ở hiện gặp lành, làm ơn, đền ơn.
Vũ Nương từ chối không quay trở về dân gian là do nàng đã biết trước được, cuộc sống của trần gian là bất công, đau khổ, là tư tưởng trọng nam khinh nữ, nếu như nàng quay trở về mà không thể nào thay đổi được gì thì đến một ngày nào đó, chính nàng cũng sẽ lại đắm mình xuống dòng sông lạnh giá này.
Câu chuyện đã thể hiện một giá trị hiện thực sâu sắc với một xã hội phong kiến đương thời, suy tàn của con người chịu biết bao đau khổ bởi chiến tranh, phong kiến đã cướp đoạt đi mưu cầu hạnh phúc, chia cắt biết bao gia đình cùng với những lễ giáo phong kiến nghiệt ngã, khắt khe. Câu chuyện như một bức tranh hiện thực về cuộc sống con người, đặc biệt là người phụ nữ.
Không chỉ ánh lên giá trị hiện thực, tác phẩm còn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc đã nói lên tâm tư nguyện vọng của nhân dân luôn ước mơ một cuộc sống bình yên, giản dị và hạnh phúc. Tác giả đã phơi trải tiếng nói cảm thương, để cho muôn đời cảm thông với câu chuyện. Thông qua hình ảnh của Vũ Nương đã khẳng định những đức tính đẹp đẽ của người phụ nữ tần tảo nói riêng và của cả người phụ nữ Việt Nam nói chung. Hình ảnh của Vũ Nương chính là hiện thân cho chính hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện Người con gái Nam Xương | 1,673 | |
Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
Dàn ý
1. Mở bài
Là nhà vãn trung thành với chù nghĩa chân thực, cũng như các cây bút tả chân đương thời, Nam Cao quan tâm trước hết tới việc đi sâu thể hiện tình cảm khốn khổ của người nghèo bị áp bức, trong đó có tác phẩm Chí Phèo. Tác phẩm tượng đậm nét về bức tranh đời sống xã hội nông thôn. Đó là hệ thống trật tự của làng Vũ Đại: là ấn tượng về tình trạng khép kín của làng xã phong kiến. Đặc biệt nó đã phơi bày các mối quan hệ xã hội phức tạp của hiện thực đã miêu tả trung thực những quan hệ thực. Đồng thời là tình thương đối với những con người bị xã hội đẩy vào con đường tha hóa, bị hắt hủi… Đó chính là giá trị hiện thực và nhân đạo của Chí Phèo.
Nam Cao được coi là Nhà văn của nông dân trước hết vì có tác phẩm Chí Phèo Tác phẩm có phạm vi phản ánh hiện thực trải ra cả bề rộng không gian và bề dài thời gian. Làng Vũ Đại trong tác phẩm chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam đương thời.
Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo
Ngòi bút Nam Cao tỏ ra sắc sảo khi vạch ra mối quan hệ thực trong nội bộ bọn cường hào. Chẳng phải vì đất làng Vũ Đại có cái thế quần ngư tranh thực như lời ông thầy địa lí nói nên bọn cường hào chia năm bè bảy cánh đối nghịch nhau, mà do chúng là một đàn cá tranh mồi, mồi thì ngon đây, nhưng năm bè bảy mối. Ngoài mặt tử tế với nhau nhưng trong bụng muốn cho nhau lụn bại. Đây là hiện tượng có tính quy luật ở nông thôn, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội – ruồi muỗi phải chết oan uổng khi trâu bò húc nhau.
Dựng nên bức tranh xã hội ở nông thôn, trước hết Nam Cao tập trung làm nổi bật xung đột giai cấp giữa địa chủ cường hào với người nông dân bị áp bức – phản ánh hiện thực nông thôn trên bình diện mâu thuẫn giai cấp. Nó làm nên giá trị nhận thức và sức mạnh phê phán to lớn.
– Nam Cao đã xây dựng hình tượng điển hình về giai cấp thống trị ở nông thôn: Bá Kiến – lão cường hào cáo già với giọng quát rất sang, cái cười Tào Tháo cho thấy bản chất gian hùng, khôn róc đời. Và tư cách nhem nhuốc của cụ tiên chỉ thói ghen tuông. Bá Kiến nghiền ngẫm về nghề thông trị, rút ra phương châm: mềm nắn, rắn buông, bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu, thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân… Với chính sách: lấy thằng đầu bò trị thằng đầu bò, thu dụng những thằng bạt mạng, không sợ chết, không sợ đi tù.
– Nam Cao không đi vào nạn sưu thuế, tô tức, tham nhũng mà ở Chí Phèo Nam Cao đi vào phương diện: người nông dân bị xã hội tàn phá về tâm hồn hủy diệt về nhân cách, bị phủ nhận tư cách làm người. Nỗi thống khổ của Chí Phèo không phải ở chỗ cuộc đời Chí Phèo chỉ là số không: Không nhà cửa, không cha mẹ, không họ hàng thân thích, không tấc đất cắm dùi… mà chính ở chỗ Chí Phèo bị xã hội rạch nát bộ mặt, cướp đi linh hồn, bị loại khỏi xã loài người, sống kiếp quỷ dữ.
– Mở đầu tác phẩm là hình ảnh Chí Phèo ngật ngưỡng vừa đi vừa chủi. Nhưng đằng sau chân dung gã say rượu cái gì như là sự vật vã của một linh đau đớn, tuyệt vọng. Tiếng chửi của Chí Phèo không hẳn là bâng quơ. Tuy nhưng vẫn mơ hồ thấm thìa nỗi khổ của thân phận. Chí Phèo là điển hình một bộ phận cố nông bị đẩy vào con đường lưu manh hóa. Chí Phèo trước hết hiện tượng có tính quy luật của tình trạng áp bức bóc lột tàn bạo ở nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là hiện tượng những người nông dân bị đè nén thái quá đã chống trả lại để tồn tại bằng việc bán cả nhân phẩm đã trở thành lượng mù quáng dễ dàng bị bọn thống trị lợi dụng. Vì thế, Chí Phèo từ chỗ liều chết với bố con lão, chỉ cần lời nói và mấy hào chỉ trở thành tay say mới lão. Sức mạnh tố cáo to lớn của hình tượng Chí Phèo trước hết đã làm nổi hình tượng có tính quy luật diễn ra ở nông thôn – hiện tượng lưu manh hóa. Song ý nghĩa khái quát của hình tượng Chí Phèo còn ở cấp độ cao hơn: sự hủy diệt nhân tính trong xã hội độc ác, không cho con người được làm người.
b) Tác phẩm Chí Phèo không dừng ở đó mà với câu chuyện về mối tình Chí Thị, bằng giọng vẫn bông lơn, có lúc như chế giễu chuyện tình của hạng nửa người nửa ngợm thì đây vẫn là chuyện có nội dung nghiêm túc, chứa đựng tư tưởng nhân đạo mới mẻ.
– Giữa lúc cả làng Vũ Đại không chấp nhận giao tiếp, xem Chí như quỷ dữ thì một người đàn bà thuộc dòng giống mả hủi, xấu đến ma chê quỷ hờn lại có tấm lòng vàng, thấy Chí hiền lành, Thị Nở chính là chiếc cầu nối đưa Chí ở đáy sâu của tha hóa thức tỉnh bản chất người lao động. Bằng sự chăm sóc giản dị, tình yêu thương mộc mạc mà chân thành của người đàn bà khốn khổ đã khơi dậy linh hồn Chí Phèo. Chí nghe thấy những âm thanh cuộc sống thường ngày mà bây lâu nay vùi trong những cơn say nên Chí không biết đến. Nó vang động sâu xa trong lòng Chí, trở thành tiếng gọi cuộc sống khẩn thiết, làm Chí nhớ đến ước mơ ngày nhỏ ngày xưa. Có lẽ đây là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm Chí tỉnh táo để tự ý thức về thân phận. Để rồi nhận ra sự tác oai, tác quái của mình bấy lâu nay. Và mong muốn: giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?… Hay mình sang ở với tớ một nhà cho vui? Khi Thị Nở bê bát cháo hành đến hắn ngạc nhiên bởi đây là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Hắn nhận ra hương cháo hành – hương vị tình yêu thương chân thành, hạnh phúc giản dị mà có thật. Hắn thèm lương thiện, làm hòa với mọi người. Tình yêu của Thị Nở cũng sẽ hé ra cho hắn con đường trở lại tình yêu chân chính đã nhân đạo hóa con người. Chẳng phải tình yêu có phần thô lỗ của người đàn bà xấu xí đã gọi dậy linh hồn người trong con quỷ dữ đó sao?
Giá trị nhân đạo còn thể hiện ở tấn bi kịch tinh thần của Chí Phèo: bi kịch của con người bị từ chối không được làm người. Khi hiểu ra xã hội không công nhaanh mình, bà cô Thị Nở – định kiến xã hội đã không chấp nhân cho cháu bà đến với Chí. Chí vật vã đau đớn. Hắn càng uống càng tỉnh, hắn ôm mặt khóc rưng rức. Chí quằn quại, đau đớn vì tuyệt vọng, thấm thìa về tội ác kẻ thù. Chí Phèo trợn mắt chỉ tay vào Bá Kiến đòi quyền làm người, đòi lại bộ mặt người đã bị vằm nát. Kẻ thù bị đền tội, và sau đó Chí tự sát. Chí phải chết vì ý thức nhân phẩm đã trở về, không chấp nhận kiếp thú vật. Chí Phèo chết giữa ngưỡng cửa trở về cuộc sống. Chí chết quằn quại trong vũng máu, trong khao khát được làm người lương thiện. Ai cho tao lương thiện là lời nói đanh thép, phẫn nộ, làm người đọc sững sờ và day dứt. Đó vẫn là một câu hỏi lớn không lời đáp.
3. Kết bài
Chí Phèo của Nam Cao được đánh giá cao chính ở giá trị tố cáo. Thông qua số phận Chí Phèo, Nam Cao phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội Việt Nam lúc bây giờ thực trạng người nông dân bị đày đọa, đề nén và âm thầm chịu đựng nỗi tuyệt vọng, liều lĩnh phản ứng cực đoan. Nam Cao cũng bày tỏ niềm cảm thông, tình thương yêu đối với người nông dân bị đẩy vào con đường lưu manh hóa, phát hiện ràn chất tốt đẹp vốn có của họ. Song cũng như các nhà văn hiện thực đồng thời, chưa tìm được cho nhân vật của mình lối thoát. Sau này, bằng con đường cách nạng. Tô Hoài, Kim Lân đã tìm cho nhân vật mình một hướng đi riêng. | Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao | 1,558 | |
Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong Vợ nhặt
Bài làm
Nông thôn và nông dân vốn là đề tài quen thuộc của thể loại truyện ngắn tưf xưa và nay. Dù ta phân loại dòng văn học tiểu thuyết theo phương diện nào cũng không thể bỏ qua dòng tiểu thuyết về nông thôn.
Với đề tài đó, nhiều nhà văn đã trở nên nổi tiếng và học cũng đã cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị. Chẳng hạn trước Cách mạng tháng Tám có tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, rồi tác phẩm Con trâu của Trần Tiêu…Những tác phẩm này đã được viết với nội dung đơn giản nhưng mang tư tưởng khá sâu sắc. Trong số những nhà văn viết về nông thôn đó, có một người tuy viết sau và viết ít, nhưng khi tác phẩm vừa ra đời thì đã cho mọi người ưa thích và hoan nghênh. Đó chính là truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân. Với truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã viết rất chân thật và hết sức sắc sảo và để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc.
Thông thường một tác phẩm chỉ có thể đứng vững khi nhà văn có nội dung mới, cách nói mới. Tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân cũng vậy. Trước hết, mới qua cái tựa đề Vợ Nhặt thôi mà nó cũng đã mang lớp ý nghĩa, nó gây cho độc giả một sự chú ý hết sức đặc biệt trước khi thưởng thức tác phẩm. Bởi xưa nay trên thế gian người ta nói là nhặt được cái này, cái nọ chớ có ai nói là nhặt được vợ bao giờ. Vả lại, lấy vợ vốn là một trong ba vịêc khó nhất đời của người đàn ông: “tậu trâu, lấy vợ, làm nhà”. Bởi vì việc dựng vợ, dựng chồng phần nhiều được tổ chức thế này thế nọ, hết sức long trọng. Ấy vậy mà anh Tràng tự nhiên nhặt đựơc cô vợ thì quả thật là việc bất ngờ, lý thú. Và với cái nội dung đó thì chỉ có cái nhan đề Vợ nhặt mói nói đúng và sát với diễn biến câu chuyện mà thôi. Cũng với nhan đề độc đáo đó mà Kim Lân đã nói lên được thân phận con người lao động nông dân trong những năm bốn mươi lăm đói kém đến nỗi vợ mà người ta có thể nhặt được một cách dễ dàng như nhặt một cọng rơm, cọng cỏ vậy.
Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong Vợ nhặt
Một điều quan trọng hơn góp phần tạo nên sự thành công của tác phẩm đó chính là nghệ thuật dựng truyện. Đọc qua những trang truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân một sự tưởng tượng hết sức phong phú cứ gợi và diễn ra trong tâm trí của chúng ta. Một bức tranh nông dân trong những năm bị cái đói hoành hành của một phần tư đất nước, cứ như rõ mồn một. Nhân dân lao động bị đói, tiều tuỵ đáng thương cứ hiện lên trước mắt. Còn nỗi đau đớn nào hơn khi chứng kiến cái cảnh “ Cái đói đã tràn về” trẻ con vì đói khát mà “chúng ngồi ủ rũ không buồn nhúc nhích”. Trẻ em vì thế, người lớn phải trôi dạt nay đây mai đó. Một cọng rau cho đỡ đói cũng không, đâu tới hạt cơm hạt thóc… bởi thế nhữn góc tường, phố chợ người đói nằm “la liệt như ngã rạ” càng kinh tởm và đớn đâu khi có “cái mùi gây gây của xác người chết”.
Kim Lân đã dân truyện dựng cảnh hiện thực một cách độc đáo như vậy nhưng về phương diện khác cách xây dựng nhân vật và diễn biến tâm lý nhân vật lại càng độc đáo hơn. Nhân vật Tràng hiện lên qua trang văn với đầy đủ những gì chân thật nhất của người nông dân – người nông dân bị đói khát: “Chiếc áo vắt trên vai, dường như mỏi mệt, vật vã của buổi chiều đè nặng trên cái lưng to của hắn”. Ôi tiếng “hắn” cái tiếng xưng gọi mà ta đã quen thuọc ở Chí Phèo của Nam Cao nay lại hiện lên trước mắt: “Hắn ngồi khóc, khóc rồi chửi, hắn chửi ai? Hắn chửi đời, chửi giời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cả những thằng cha mẹ nào đẻ ra hắn….” Tiếng hắn vẻn vẹn vậy thôi, ghê tởm ư? Thù ghét ư? Khinh bạc ư?
Không! Cả hai nhà văn Kim Lân và Nam Cao đều gợi lên tiếng hắn với tất cả niềm đau xót, thương cảm,trân trọng. Ai đã một lần đọc Vợ nhặt,làm sao không xúc động và có thể quên đựơc một nhân vật – bà cụ Tứ – mẹ anh Tràng.
Không biết được chuyện con mình – Tràng – nhặt đựơc vợ mang về tâm trạng của cụ diễn biến thật phong phú, phức tạp. Trong những ngày tháng bị cái đói bất hạnh, bà thấu hiểu. Bà rất ý thức về việc dựng vơ, dựng chồng cho con mình “phải làm thế này, thế nọ”. Nhưng trời ơi “ cái khó bó cái khôn”. Con người ta có thấu hiểu cái lo lắng đến đâu thì cũng chỉ là con số không. Bởi vậy, cụ Tứ chỉ biết nghĩ “tủi thân, tủi phận” mà thôi. Bà thương con mình rồi thương con dâu. Cun nhìn người đaà bà lòng đầy thương xót. Hỡi ơi! Có ai thấu hiểu cho cụ không? Tình thương yêu, sự đồng cảm, chịu đựng hoàn cảnh không chỉ riêng ai – cái đói cái khát – đã khiến lòng cụ không nghĩ gì khác, lờn nói đầy xúc động của cụ “Chúng mày lấy nhau lúc này”…thương quá! Sao nó mặn mà, sâu đậm đến vậy.Hoàn cảnh đói khát đến chết người vậy mà nổi lên cái nền ấy một khối đầm ấm yêu thương làm sao, có lẽ truyền thống ngàn đời của dân tộc “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách” đựơc Kim Lân gửi gắm qua những trang văn xúc động này.
Việc Tràng đã có vợ vừa là niềm vui, vừa là nỗi lo của bà cụ Tứ. Có cha mẹ nào không sung sướng, hạnh phúc khi con cái của mình đủ lông đủ cánh trải qua thời niên thiếu nay trưởng thành đã có vợ có chồng….Còn lo là lo vì hoàn cảnh hiện tại từ trước đến giờ chỉ có hai mẹ con, nạn đói hoành hành vốn đã khó đủ ăn nay thêm một miệng ăn lại càng khó khăn vất vả thêm. Tuy vậy, niềm vui vẫn là phần nhiều “khuôn mặt bủng beo của bà rạng rỡ hẳn lên”, “bà cụ nói toàn chuyện vui, chuyện tương lai sau này”, bà cố giấu nỗi lo để cho con dâu được vui vẻ. Tuy vậy bà vẫn “nghẹn” lời. Bà vẫn tin tưởng ở con, ở tương lai rạng rỡ hơn. Một câu nói đầy tự tin cảu cụ “Tụi mày ráng bảo nahu mà làm ăn may ra trời cho khá hơn không…có ai giàu ba họ có ai khó ba đời đâu”. Quả là một sự tin tưởng hoàn toàn khách quan, có căn cứ, khó khăn rồi nhất định sung sướng, hạnh phúc. Nếu nói như Hồ Chí Minh trong Trời hửng thì cũng chẳng khác nào: Hết mưa là hửng nắng lên thôi, hết khổ là vui vốn lẽ đời. Vì thực tế là như vậy, hình ảnh lá cờ đỏ tung bay cùng với đám người cướp kho thóc ở cuối truyện cũng hiện lên trong tâm trí Tràng đã mở ra một số phận nhân vật một khung trời mới đi làm cách mạng với những thắng lợi vang dậy non sông như Cách mạng tháng Tám, Điện Biên Phủ sau này.
Với cách dựng truyện độc đáo, xây dựng nhân vật với sự chuyển biến tâm lí, tinh tế Kim Lân đã thành công đáng kể với truyện ngắn Vợ Nhặt. Có thể với nhân vật, tình tiết câu chuyện đi qua số phận nhân vật là sự mở đầu cho ý thức đấu truanh, giác ngộ cách mạng. Dù chỉ thông qua một vài câu nói đến “lá cờ đỏ’, “Việt Minh” nhưng Kim Lân đã thành công được và không để cho số phận nhân vật mình tối tăm bế tắc như chị Dậu – anh Pha như Chí Phèo, anh kép Tư Bền…trước đó.
Tóm lại, đồng cảm với Kim Lân, xót thương,c ảm thông cho những con người trong Vợ nhặt, ta hãy hát cùng Tố Hữu ca khúc vốn là truyền thống của dân tộc Việt Nam ngàn đời:
Có gì đen trên đời hơn thế
Người với người sống để yêu nhau.
Bài làm 2
Kim Lân đã có lần tâm sự “Ý nghĩa của truyện: trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, người nông dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để mà vui, để mà hi vọng” (Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học – NXB Tác phẩm mới, 1985)
Với một ý đồ như thế, Kim Lân chọn nạn đói khủng khiếp năm Ất DẬu làm bối cảnh cho truyện thì quả là đắc địa. Vợ nhặt trước hết là thiên truyện nói về cái đói. Chỉ mấy chữ “Cái đói tràn đến…” đủ gợi lên hoài niệm kinh hoàng cho người dân xứ Việt về một thảm hoạ lớn của dân tộc đã quét đi xấp xỉ gần một phần mười dân số trên đất nước ta. Đúng như chữ nghĩa Kim Lân, hiểm hoạ ấy “tràn đến”, tức là mạnh như thác dữ. Cách tả của nhà văn gây một ám ảnh thê lương qua hai loại hình ảnh: con người năm đói và không gian năm đói. Ông đặc tả chân dung người năm đói “khuôn mặt hốc hác u tối” nhưng đáng sợ nhất là có tới hai lần ông so sánh người với ma: “Những gia đình từ những vùng Nam Định, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Kiểu so sánh ấy thể hiện một cảm quan đặc biệt của Kim Lân về cái thời ghê rợn: đó là cái thời ranh giới giữa người và ma, cái sống và cái chết chỉ mong manh như sợi tóc. Cõi âm nhoà vào cõi dương, trần gian mất mé miệng vực của âm phủ. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, cái tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cung với “mùi gây gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê lương. Quả là cái đói lộ hết sức mạnh huỷ diệt cuộc sống đến mức kinh khủng. Trong một bối cảnh như thế, Kim Lân đặt vào đó một mối tình thì quả thật là táo bao. Cứ như thủ thuật “trêu tức” của điện ảnh, Kim Lân tạo ra một “xen” thật bi hài. Khi cái dạ dày còn chưa đựơc đầy đủ thì ngay cái sản phẩm tinh thần kì diệu nhất của loài người là tình yêu cũng làm sao tránh được sự méo mó. Chao ôi, toàn chuyện cười ra nước mắt: bốn bát bánh đúc ngày đoó mà làm nên một mối tình, nồi cám ngày đói đủ làm cỗ tân hôn…Ngòi bút khắc khổ của Kim Lân không né tránh mà săn đuổi hiện thực đến đáy, tạo cho thiên truyện một cái “phông” đặc biệt, nhàu nát, ảm đạm, tăm tối và phải nói là có phần nghiệt ngã.
Nhưng quan tâm chính của nhà văn không phải là dựng nên một bản cáo trạng trong Vợ
nhặt, mà dồn về phía khác, quan trọng hơn. Từ bóng tối của hoàn cảnh, Kim Lân muốn toả sáng một chất thơ đặc biệt của hồn người. Mảng tối của bức tranh hiện thực đau buồn là một phép đòn bẩy cho mảng sáng về tình người toả ra ánh hào quang đặc biệt của một chủ nghĩa nhân văn tha thiết cảm động.
Trong văn chương, người ta nhấn mạnh chữ tâm hơn chữ tài. Song nếu cái tài không đại đến một mức độ nào đó thì cái tâm kia làm sao bộc lộ ra được. Vợ nhặt cũng thế: tấm lòng tha thiết của Kim Lân sở dĩ lay động người đọc trước hết là nhờ tài dựng truyện và sau đó là tài dẫn truyện.
Tài dựng truyện ở đây là tài bạo nên tình huống truyện độc đáo. Ngay cái nhan đề Vợ
nhặt đã bao chứa một tình huống như thế. Trong một bài phóng vấn, Kim Lân đã hào hứng giải thích: “Nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết. Bóng tối của nó phủ xuống xóm làng. Trong hoàn cảnh ấy giá trị của một con người thật vô cùng rẻ rúng, ngươờ ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ mấy bát bánh đúc bán ngoài chợ – đúng là “nhặt đựoc vợ như tôi nói trong truyện “ (Báo văn nghệ số 19, ngày 8 -5- 1993 –tr5). Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt). Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: cái chủ thể của hành động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo xấu xí, dân ngụ cư đang thời đói khát mà đột nhiên lấy đựoc vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ. lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho xóm làng, bà cụ Tứ và chính bản thân Tràng nữa: “cho đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải như thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”.Tình huống tren gợi ra mọt trạng thái tinh tế của lòng người: trạng thán chông chênh khó nói
– cái gì cũng chập chờn, như có như không. Đây là niềm vui hay nỗi buồn? Nụ cười hay nước mắt?…Cái thế đặc biệt của tâm trạng này đã khiến ngòi bút truyện ngắn của Kim Lân mang dáng dấp của thơ ca.
Dựng truyện hay chưa đủ. Tài dựng truyện giống như tài của anh châm ngòi pháo. Có lửa đốt, châm đúng ngòi nhưng pháo có nhiều quả điếc thì vẫn cứ xịt như thường. Cho nên tài dựng truyện phải gắn với tài dẫn truyện nữa mới tạo sự sâu sắc, hấp dẫn. Tài dẫn truyện của Kim Lân thể hiện qua lối sử dụng ngôn ngữ nông dân đặc biệt thành công, qua lời văn áp sát vào tận cái lõi của đời thực khiến mỗi câu chữ như được “bứng” ra từ chính cái ngồn ngộn của cuộc sống. Song quan trọng nhất vẫn là ở bút pháp hiện thực tâm lý. Phải nói, tình huống truyện trên kia thật đắc địa cho Kim Lân trong việc khơi ra mạch chảy tâm lý cực kỳ tinh tế ở mỗi nhân vật. Rất đáng chú ý là hai trường hợp: bà cụ Tứ và Tràng. Đây là hai kiểu phản ứng tâm lý trước một tình thế như nhau, song không ai giống ai. Trước hết là Tràng, một thân phận thấp hèn nhưng lại là một chú rể có thể coi là hạnh phúc. Hạnh phúc đích thực bao giờ cũng gây một chấn động tâm lí lớn. Chấn động ở Tràng tạo một mạch tâm lí ba chặng. Khởi đầu là ngỡ ngàng. Hạnh phúc gây men ở Tràng thành cảm giác mới mẻ kì diệu. Cảm giác ấy hút lấy toàn bộ con người hắn: vừa lặn vào tâm linh (Trong người êm ái lửng lơ như người ở trong giấc mơ đi ra) vừa tỏa ra, vật chất hóa thành cảm giác da thịt (Một cái gì đó mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng). Với cây bút hiện thực, những đoạn văn như thế đã đạt đến “thần bút”, vì trạng thái người viết như nhập vào làm một với trạng thái nhân vật (còn gọi là năng lực “hóa thân” trong văn xuôi, năng lực “nhập thần” trong thơ ca). Rồi cái ngỡ ngàng hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu tình cụ thể. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi. Chẳng thế mà một người nổi tiếng như Tsecnưepxki từng mơ ước: “Tôi sẵn sàng đánh đổi cả sự nghiệp nếu biết rằng trong một căn phòng nhỏ ấm áp nào đó, có một người đàn bà đang ngóng đợi tôi về ăn bữa tối”. Chàng thanh niên nghèo hèn của Kim Lân đã thực sự đạt được một niềm vui như thế: “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng với vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn sung sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Một niềm vui thật cảm động, lẫn lộn cả hiện thực lẫn giấc mơ. Điều này thì anh Tràng của Kim Lân còn may mắn hơn Chí Phèo của Nam Cao: hạnh phúc đã nằm gọn tay Tràng, còn Thị Nở mới chấp chới tầm tay Chí Phèo thì đã bị cái xã hội đen tối cướp mất. Có một chi tiết rất đắt của Kim Lân: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”. So với cái dáng “ngật ngưỡng” mở đầu tác phẩm, hành động “xăm xăm” này của Tràng là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức. Chẳng thế mà Kim Lân đã thấy đủ điều kiện đặt vào dòng suy nghĩ của Tràng một ý thức bổn phận sâu sắc: “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng đã thực sự “phục sinh tâm hồn” – đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc. Cô Kiều xưa “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” thì táo bạo đấy mà vẫn cứ chênh vênh, đơn độc thế nào. Cái xăm xăm của Tràng mới thực khỏe, tự tin làm sao!
Bình luận truyện Vợ nhặt, không hiểu sao có một câu rất quan trọng của Kim Lân mà mọi người cứ bỏ qua. Đó là câu kết truyện: “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói lả và lá cờ đỏ bay phấp phới…”. Một câu kết như thế, chứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật sẽ sa vào lối kết cấu khép của văn học hiện thực phê phán. Sự bổ sung chi tiết này tạo ra một kết cấu mở khiến Vợ nhặt thực sự vượt qua phạm trù của văn học 1930 – 1945 để bước tới phạm trù của nền văn học mới. Nhờ thế, thiên truyện đã đóng lại mà một số phận mới vẫn tiếp tục được mở ra. Cái “lá cờ đỏ” kia như tín hiệu của một sự đổi đời. Nhân vật Tràng tiếp tục vận động về phía niềm tin, về phía cuộc sống. “Lá cờ đỏ” như gợi mở một sự thanh toán triệt để ở Tràng một số phận bế tắc kiểu anh Pha, chị Dậu, Chí Phèo… Chi tiết này không phải là một mơ ước viển vông, một ảo tưởng cổ tích mà có cơ sở chắn chắn từ trong hiện thực đời sống.
Quá trình tâm lí của cụ Tứ có phần còn phức tạp hơn nhân vật Tràng. Nếu ở đứa con trai,
niềm vui làm chủ, tâm lí phát triển theo chiều thẳng đứng phù hợp với một chàng rể trẻ tuổi đang tràn trề hạnh phúc thì ở bà mẹ, tâm lí vận động theo kiểu gấp khúc, hợp với những nỗi niềm trắc ẩn trong chiều sâu riêng của người già từng trải và nhân hậu.
Cũng như con trai, khởi đầu tâm lí ở bà cụ Tứ là ngỡ ngàng. Anh con trai ngỡ ngàng trước một cái dường như không hiểu được. Cái cô gái xuất hiện trong nhà bà phút đầu như một hiện tượng lạ. Trạng thái ngỡ ngàng của cụ Tứ được khơi sâu bởi hàng loạt những câu hỏi nghi vấn: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con trai mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục. Ai thế nhỉ? Rồi lại: “Ô hay, thế là thế nào nhỉ”. Trái tim người mẹ có con trai lớn vốn rất nhạy cảm về điều này, vậy tại sao Kim Lân lại để cho nhân vật người mẹ ngơ ngác lâu đến thế? Một chút quá đà, một chút “kịch” trong ngòi bút Kim Lân? Không, nhà văn của đồng nội vốn không quen tạo dáng. Đây là nỗi đau của người viết: Chính sự cùng quẩn của hoàn cảnh đã đánh mất ở người mẹ sự nhạy cảm đó.
Nếu ở Tràng, sự ngỡ ngàng đi thẳng tới niềm vui thì ở bà cụ Tứ, sự vận động tâm lí phức tạp hơn. Sau khi hiểu ra mọi chuyện, bà lão “cúi đầu im lặng”. Cái thương của bà mẹ nhân hậu mới bao dung làm sao: “Biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”. Trong chữ “chúng nó”, người mẹ đã đi từ lòng thương con trai sang con dâu. Trong chữ “cúi đầu”, bà mẹ tiếp nhận hạnh phúc của con bằng kinh nghiệm sống, bằng sự trả giá của một chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thức sâu sắc trước hoàn cảnh, khác hẳn anh con trai tiếp nhận hạnh phúc bằng một nhu cầu, bằng một ước mơ tinh thần phơi phới.
Rồi tình thương lại chìm vào nỗi lo, tạo thành một trạng thái tâm lí triền miên day dứt. Tác giả xoáy vào dòng ý nghĩ của bà mẹ: nghĩ đến bổn phận làm mẹ chưa tròn, nghĩ đến ông lão, đến con gái út, nghĩ đến nỗi khổ đời mình, nghĩ đến tương lai của con… để cuối cùng dồn tụ bao lo lắng, yêu thương trong một câu nói giản dị “Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”. Trên đống buồn lo, niềm vui của mẹ vẫn cố ánh lên: Cảm động thay, Kim Lân lại để cái ánh sáng kì diệu đó tỏa ra từ …nồi cháo cám. Hãy nghe người mẹ nói: “chè đây – bà lão múc ra một bát – Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”. Chữ “ngon” này cần phải cảm thụ một cách đặc biệt. Đó không phải là xúc cảm về vật chất (xúc cảm về vị cháo cám) mà là xúc cảm về tinh thần: ở người mẹ, niềm tin về hạnh phúc của con biến đắng chát thành ngọt ngào. Chọn hình ảnh nồi cháo cám, Kim Lân muốn chứng minh cho cái chất người: trong bất kì hoàn cảnh nào, tình nghĩa và hi vọng không thể bị tiêu diệt. Con người vẫn muốn sống cho ra sống, và cái chất người thể hiện ở cách sống tình nghĩa và hi vọng. Nhưng Kim Lân không phải là nhà văn lãng mạn. Niềm vui của cụ Tứ vẫn cứ là niềm vui tội nghiệp, bởi thực tại vẫn nghiệt ngã với nồi cháo cám “đắng cay và nghẹn bùi”.
Thành công của nhà văn là đã thấu hiểu và phân tích được những trạng thái khá tinh tế của con người trong hoàn cảnh đặc biệt. Và vượt lên hoàn cảnh vẫn là một vẻ đẹp tinh thần của những người nghèo khổ. Cái thế vượt hoàn cảnh ấy tạo nên nội dung nhân đạo độc đáo và cảm động của tác phẩm.
Thông điệp của Kim Lân là một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn. Trong tiểu thuyết nổi tiếng Thép đã tôi thế đấy, nhà văn Nga Nhicôlai Ôxtrôpxki đã để cho nhân vật Paven Coocsaghin ngẫm nghĩ: “Hãy biết sống cả những khi cuộc đời trở nên không thể chịu được nữa”. Vợ nhặt là bài ca về tình người ở những kẻ nghèo khổ, đã “biết sống” cho ra người ngay giữa thời túng đói quay quắt.
Thông điệp của Kim Lân đã được chuyển hóa thành một thiêng truyện ngắn xuất sắc với cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là bút pháp miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn. | Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong Vợ nhặt | 4,263 | |
Đề bài: Phân tích giá trị lịch sử và chất chính luận trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
Bài làm
Theo chiều dài bốn ngàn năm của lịch sử dân tộc có nhiều dấu mốc đáng ghi nhớ gắn với sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm. Một trong những mốc lơn ấy là sự kiện Cách mạng tháng 8.1945 thành công, nước Việt Nam được khai sinh. Để tuyên bố với nhân dân cả nước và thế giới biết nước Việt Nam từ nay độc lập, Hồ Chí Minh đã viết tuyên ngôn độc lập. Một văn kiện đặc biệt vừa tính văn học, vừa mang tính lịch sử.
Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở ra một kỉ nguyên mới Độc lập, Tư do Hà Nội tưng bừng màu đỏ, cả một vùng trời bát ngát cờ, đèn và hoa.
Phân tích giá trị lịch sử và chất chính luận trong Tuyên ngôn độc lập
"Việt Nam độc lập muôn năm!" – Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng hoà làm một, vang dội núi sông, khi Hồ Chủ tịch vừa kết thúc bản tuyên ngônĐọc bản Tuyên ngôn độc lập đến nửa chừng Hồ Chủ tịch dừng lại và bỗng dưng hỏi: "Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?". Tức thì một tiếng "có" của triệu con người cùng đáp, vang dậy như sấm.
"Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy."
Có thể nói: Bản Tuyền ngôn độc lập thể hiện một cách hùng hồn. khát vọng ý chí và sức mạnh Việt Nam… Nó có một giá trị lịch sử vô cùng to lớn. Nó phản ánh một cách tập trung nhất, tiêu biểu nhất phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh.
Nếu như Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt mở đầu bằng một lời tuyên ngôn đanh thép: Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Bình Ngô đại cáo khẳng định một chân lí lịch sử: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” thì Tuyên ngôn độc lập lại mở đầu bằng cách trích dẫn hai câu nổi tiếng trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng trên thế giới.
Câu thứ nhất trích từ bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776:
Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Câu thứ hai rút ra từ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791:
Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".
Hồ Chí Minh không chỉ trích dẫn mà còn bình luận, suy rộng ra: "Tất cả các tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, Quyền sung sướng và quyền tự do”, và đi tới khẳng định: "Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Qua đó, ta thấy ý tưởng cao cả, sâu sắc của Hồ Chí Minh là từ sự xác nhận và đề cao một lý tưởng thời đại về tự do, bình đẳng, bác ái, về nhân quyền đi đến một yêu cầu, mội khát vọng cháy bỏng và vô cùng thiêng liêng của nhân dân Việt Nam là độc lập dân tộc. Và Độc lập – Tự do – hạnh phúc là mục tiêu chiến đấu của nhân dân ta, của Cách mạng Việt Nam sự lãnh đạo của Đảng và Chủ lịch Hồ Chí Minh.
Giọng văn từ trang nghiêm, trang trọng chuyển thành hùng hồn, căm giận khi Hồ Chủ tịch vạch trần và lên án tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta trong gần một thế kỉ qua. Bộ mặt của chúng vô cùng xảo quyệt và dã man "lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta". Tác giả đã điểm qua một cách khái quát và điển hình tội ác của thực dân Pháp trên các lĩnh vực về chính trị, kinh tế và những tội ác chống chất như núi. Đó là năm tội ác ghê tởm về chính trị và bốn tội ác cực kì dã man về kinh tế của chúng.
Năm tội ác lớn về chính trị là tước đoạt quyền tự do dân chủ; luật pháp dã man chia để trị; đàn áp và khủng bố; thi hành chính sách ngu dân; đầu độc bằng rượu cồn và thuốc phiện "để làm cho nòi giống ta suy nhược". Trong Bình Ngô đại cáoNguyễn Trãi đã nói về tội ác của quân cuồng Minh: "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn – Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ". Hớn 500 năm sau, trong Tuyên ngôn Độc lập, người anh hùng giải phóng dân lộc Hồ Chí Minh viết:
"Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu".
Đó là những bằng chứng không ai chối cãi đươc. Câu văn ngắn, đanh hùng hồn. Chữ chúng được nhắc lại nhiều lần đầy ám ảnh. Cách so sánh cụ thể mỉa mai (lập ra nhà tù nhiều hơn trường học). Cách dùng vị ngữ, trạng ngữ xác đáng (thẳng tay chém giết), cách dùng hình ảnh (bể máu) – tất cả tạo nên phong cách chính luận Hồ Chí Minh: súc tích, lập luận chật chẽ, đanh thép, lời lẽ hồn đầy sức thuyết phục.
Bốn tội ác về kinh tế của thực dân Pháp là bóc lột dân ta đến tận xương tủy khiến cho "dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều"; cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu; độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. v.v… Lên án chính sách sưu thuế vô nhân đạo của chúng, tác giả giận viết: "Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng". Hàng trăm thứ thuế vô lý ấy của thực dân Pháp đặt ra, nhân dân ta đã từng chịu đựng và ghê tởm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần bộ mặt hèn nhát và phản bội của thực Pháp. Mùa thu năm 1940, thực dân Pháp "quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta, rước Nhật”. Pháp và Nhật đã cấu kết với nhau, bóc lột dân ta thậm tệ, gây ra thảm họa năm ất Dậu, 1945: "Từ đó, dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ dân ta sống cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị, đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta đã bị chết đói!"
Sự hèn hạ, tàn ác của thực dân Pháp không thể nào kể xiết! Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp, quân Pháp bỏ chạy hoặc đầu hàng. Tác giả châm biếm lên án: "Chúng chẳng nhữne không "bảo hộ" được ta, trái lại trong năm năm chúng bán nước ta hai lần cho Nhật!". Thậm lệ và tàn nhẫn hơn nữa là trước khi rút chạy "chúng còn nhẫn lâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng".
Bằng cách lập luận chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một sự thật lịch sử. Từ năm 1940 trở đi, nước ta đã trở thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Để đạp tan luận điệu của Đờ Gôn và bọn thực dân phản động Pháp đang âm mưu tái chiếm Đông Dương, Hồ Chí Minh hùng hồn tuyên bố: "Sự thật nhân dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp".
Tuyên ngôn độc lập có giá trị lịch sử to lớn. Tác giả chỉ rõ một cụcd diện chính trị mới: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị". Từ nô lệ, nhân dân ta đã giành được độc lập: "Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập". Một chế độ mới, một nhà nước mới ra đời: "Dân ta đã đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập chế độ Dân chủ Cộng hoà".
Phần tiếp theo là lời tuyên bố sáng ngời chính nghĩa, thể hiện một quyết tâm Sắt thép, không một thế lực thù địch nào có thể lay chuyển nổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên lập trường dân tộc kêu gọi các nước Đồng minh công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam. Đồng thời mạnh mẽ tuyên bố: Thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Tác giả tự hào nêu cao truyền thống anh hùng bất khuất chống thực dân, chống phát xít dân tộc ta và khẳng định: "Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!".
Kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập là một lời tuyên bố mang ý nghĩa lịch sử như một lời thề thiêng liêng, thể hiện sâu sắc khát vọng độc lập, tự do của nhân dân ta, biểu thị quyết tâm và sức mạnh Việt Nam:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".
Tuyên ngôn độc lập đã thể hiện một cách cao đẹp và sáng tỏ phong cách chính luận của Hồ Chí Minh. Bác viết văn làm thơ là để phục vụ cách mạng. Trước lúc cầm bút, Người tự hỏi: Viết nhằm mục đích gì? Viết cho ai? Viết về vấn đề gì? Viết như thế nào? Đối tượng của Tuyên ngôn độc lập không chỉ nói với nhân dân Việt Nam mà còn để nói với thế giới, đặc biệt là nói với bọn đế quốc, thực dân đang âm mưu tái chiếm Việt Nam. Mọi lý lẽ, luận cứ đều tập trung hướng về những đối tượng ấy và khẳng định quyền độc lập, tự do của nhân dân la.
Những luận cứ được Hồ Chủ tịch nêu lên trong bản Tuyên ngân Độc lập là những bằng chứng không thể chối cãi được. Chỉ một lời vạch tội, một mũi tên mà hắn trúng hai đích: "Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học". Đó là chính sách đàn áp khủng bố và ngu dân cùa thực dân Pháp.
Lời viết ngắn gọn, hàm súc, đầy thuyết phục. Chỉ một câu 9 từ mà nêu bật một cục diện chính trị: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị". Cách dùng từ ngữ của Bác rất chính xác và gợi cảm. Văn chính luận, bản chất của nó là lý lẽ và cách lập luận. Thế nhưng có lúc xuất hiện những hình ảnh cực kỳ xúc động: "Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của chúng ta trong những bể máu". Cách dùng từ ngữ nhất là động từ, trạng ngữ vừa chính xác, vừa đanh thép: “thẳng tay chém giết…", "thoát ly hẳn…", "xoá bỏ hết…”, "xoá bỏ tất cả…". Văn phong của Bác rất nhuần nhị, uyển chuyển trong cách sử dụng điệp từ, điệp ngữ, cấu trúc cân xứng, trùng điệp, tăng cấp… tạo nên những câu văn đẹp, ý tưởng sâu sắc, đầy ấn tượng:
"Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc, đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!".
Hồ Chí Minh đã viết Tuyên ngôn độc lập vào hạ tuần tháng Tám năm 1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang – Hà Nội, ngay sau ngày Người từ chiến khu Việt Bắc về tới thủ đô (26/8/1945). Hồ Chí Minh đã có lần nói, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chỉ có lúc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập là những giờ phút sảng khoái nhất của Người.
Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn độc lập vừa có giá trị lịch sử to lớn, vừa mang những nét tiêu biểu cho văn chương chính luận của Hồ Chí Minh. Nó vừa kế thừa, phát huy được giá trị của lịch sử vừa mang tính thời đại sâu sắc. Tuyên ngôn độc lập sẽ còn mãi trong lịch sử dân tộc như một tờ khai sinh cho dân tộc Việt Nam, và cũng làm phong phú thêm kho làng văn học Việt Nam. | Phân tích giá trị lịch sử và chất chính luận trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh | 2,303 | |
Đề bài: Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đinh Chiểu
Bài làm
Giá trị nghệ thuật hết sức đặc sắc, làm cho bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trở thành bất tử là lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng được bức tượng đài về những người nông dân yêu nước, những người anh hùng vô danh “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”. Bức tượng được đắp xây băng nghệ thuật ngôn từ này có những đường nét về ngoại hình rất nổi, rất đặc thù của người nông dân nghèo mà đầy nghĩa khí không trộn lẫn vào ai khác được: Ngoài cật một manh áo vải. Vũ khí họ mang theo khi ra trận cũng là những công cụ thô sơ, lạc hậu: Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, có khi chỉ là một đoạn gậy gộc: trong tay cầm một ngọn tầm vông. Thế nhưng tinh thần chiến đấu của họ đã tỏa sáng lên bức tượng đài: Đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không. Xô cửa xông vào liều mình như chẳng có. Những đường nét ghi lại hành động chiến đấu của họ thật đẹp, thật khỏe, thật hào hừng.
Nét độc đáo tạo nên tinh thần ngoan cường hiếm có kể trên bắt nguồn từ phẩm chất cao cả của người nông dân mặc áo nghĩa quân. Trước khi trở thành nghĩa sĩ, dũng sĩ, họ chỉ là người dân cày chất phác, cần cù, giản dị. Họ có “đôi bàn tay vàng” trong nghề nông: Việc cuốc, việc cày, việc cấy tay vốn quen làm. Họ có đôi mắt hiền lành, ánh lên vẻ đẹp hòa bình của đời sống thường nhật: Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó. Nhưng đối với quân xâm lược lòng căm thù của họ thật sâu sắc: Mùi tinh chiến vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Tinh thần và lòng quyết tâm chiến đấu của họ rực rỡ hào quang của chân lí, chính nghĩa: Hai vầng nhật nguyệt chói lòa đâu dung lũ treo dê bán chó.
Những người nông dân anh hùng đã hi sinh trong trận đánh ngày 16-12- 1861 ờ Cần Giuộc sẽ mãi mãi là vô danh như hàng trăm, hàng ngàn người nông dân anh hùng khác đã hi sinh trong các cuộc khởi nghĩa kháng Pháp cuối thế ki XIX. Nhưng với bức tượng đài hào hùng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã làm cho họ trở thành bất tử. Họ sống mãi trong lâu đài văn chương, văn hóa của nhân dân.
Một giá trị nghệ thuật đặc sắc khác của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là nó thực sự trở thành khúc ai ca bi tráng biểu hiện tấm lòng ngưỡng mộ và tiếc thương của cả một dân tộc đốì với những người nông dân yêu nước, những nghĩa sĩ, những anh hùng vô danh này. Nguyễn Đình Chiểu đã viết những câu văn thật xúc động khi khóc thương họ.
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo.
Ngữ điệu câu văn đọc lên nghe như có tiếng khóc nức nở, tắc nghẹn. Lời khóc tắc nghẹn nên nó mất mát các từ, các tiếng. Đáng ra đầy đủ là phải: Nước mắt khóc người anh hùng lau chẳng hết được có nghĩa là khóc và nước mắt chảy mãi, chảy hoài…
Tiếc thương và ngưỡng mộ, Nguyễn Đình Chiểu muốn các nghĩa sĩ không chết. Ông vận dụng cả tiềm thức và tâm linh thể để sáng tạo nên những hình tượng có tính siêu hình, đặng nói cái lẽ vĩnh hằng, bất tử của những người nghĩa sĩ: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh.
Tiếng lòng của Nguyễn Đình Chiểu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng là tiếng lòng của cả một thời đại. Vua Tự Đức đã từng rung động với bài văn tế và cho in phổ biến nó trong các tỉnh ở đồng bào Nam Bộ. Miên Thẩm Tùng Thiện Vương và công chúa Mai Am, những người thuộc hoàng tộc triều Nguyễn cũng có câu thơ biểu hiện sự cộng hưởng, đồng sáng tạo với Nguyên Đình Chiểu:
Bồi hồi đọc mãi bản văn ai
Phách cứng văn hùng cảm động thay…
… Quốc ngữ một thiên truyền mãi mãi
Còn hơn xây cất mộ khô hài.
(Thơ của Mai Am công chúa)
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm bất hủ sẽ trường tồn với lịch sử Việt Nam, nhân dân Việt Nam. | Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đinh Chiểu | 793 | |
Phân tích giá trị nhân văn trong tác phẩm Hồn Trương Ba da Hàng thịt
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nhân văn trong tác phẩm Hồn Trương Ba da Hàng thịt
5 (100%) 1 đánh giá
Bài làm
Lưu Quang Vũ là một trong số ít nhà văn vừa có tài trong viết truyện vừa có tài trong các môn nghệ thuật khác như hội họa, làm thơ…và đặc biệt nhất đó chính viết kịch. Các tác phẩm kịch của ông luôn ẩn chứa những triết lí sâu sắc cùng ý nghĩa nhân văn cao cả. Nổi bật nhất trong các tác phẩm kịch của ông đó chính là vở “ Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Tác phẩm diễn tả cuộc xung đột nảy lửa giữa hồn và xác và được đẩy lên đỉnh điểm ở cảnh cuối.
Trước tiên, ta hiểu giá trị nhân văn của một tác phẩm đó chính là những nét đẹp trong tính cách của con người được bộc lộ qua các cuộc mẫu thuẫn: trong cái sáng có cái tối, trong cái tốt có cái xấu, con người luôn đấu tranh để hướng đến những giá trị tốt đẹp nhất. Nhân vật chính trong vở kịch này cũng vậy, đó chính là Trương Ba. Trương Ba là một người tốt bụng, sống một cuộc sống thanh tao và đặc biệt chơi cờ rất giỏi. Ông thường hay chơi cờ với Đế Thích và hai người trở thành bạn thân với nhau. Sau đó chẳng may Trương Ba mất đi, người vợ có đốt nhầm nén nhang mà trước đó Đế Thích đã cho Trương Ba để mỗi khi muốn chơi cờ hay có việc gì cần giúp thì Trương Ba đốt gọi tiên cờ lên. Vì thương bạn mình và muốn giữ lời hứa nên Đế Thích đã cho Trương Ba sống lại nhưng vì không tìm thấy xác Trương Ba nên đành ở tạm xác của anh hàng thịt mới mất bên hàng xóm. Một cuộc tranh cãi nảy nửa xảy ra giữa một tâm hồn thanh tao với một bộ xác thịt xù xì, kinh khủng.
Hình ảnh hồn Trương Ba ngồi một mình ôm đầu hồi lâu rồi đứng vụt dậy đã cho thấy sự chán nản, tuyệt vọng của linh hồn. Giờ đây Trương Ba như đã đánh mất bản thân mình, không còn đam mê những thú vui tao nhã, trí tuệ nữa mà thay vào đó là làm những việc mà trước kia ông cho là ghê tởm. Ông trở thành một con người thô lỗ, cục cằn và vụng về. Không thể chịu cảnh cứ sống trong cái xác này mãi được nên hồn Trương Ba đã liên tục mắng chửi phần xác, cho rằng chính cái xác đui mù này đã khiến tâm hồn của Trương Ba bị vấy bẩn. Linh hồn ấy phủ nhận tất cả những việc tiêu cực của mình làm, đổ tất cả mọi chuyện lên đầu của xác từ việc làm gãy diều của cu Tý cho đến việc vả con trai mình học máu mồm. Hồn biện minh cho mình rằng dù có sống trong một cái xác u mê, đui mù đi chăng nữa thì mình vẫn có mội đời sống thanh tao, trong sạch.
tích giá trị nhân văn trong tác phẩm Hồn Trương Ba da Hàng thịt
Như chẳng thể cãi lại nổi cái xác u mê, đui mù ấy, hồn Trương Ba quay lại với vợ cùng những người thân trong gia đình của mình. Người có lẽ không ưa chuyện hồn Trương Ba ở trong xác hàng thịt nhất sau Trương Ba đó chính là vợ ông ấy. Làm sao có thể chấp nhận được người chồng của mình nhưng mỗi tối lại quay sang ngủ với vợ ông hàng thịt. Người vợ buồn bã nhận ra rằng “ ông đâu còn là ông, đâu còn là Trương Ba làm vườn ngày xưa”, thế rồi bà chán nản, dứt áo đòi ra đi, với bà “ đi đâu cũng được còn hơn là như thế này”. Rồi đến đứa cháu gái cũng một mực không nhận đấy là ông nội mình, đứa cháu ấy khẳng định ông nội mình đã chết, ông nội mình không thể có một “ bàn tay giết lợn”, một “bàn chân to như cái xẻng” làm gãy tiệt cái chồi non, hay làm hỏng cái diều của cu Tý làm cho nó dù đang ốm vẫn khóc lóc đòi bắt đền. Chỉ có người con dâu là người hiểu biết, chín chắn nhất là hiểu được tâm trạng, nỗi khổ của bố chồng mình. Nhưng vậy mà chị vẫn không khỏi hoảng hốt, sợ hãi khi thấy bố chồng mình ngày càng thay đổi, biến chất, chị đã thốt lên rằng: “ …con sợ lắm bởi con cảm thấy đau đớn, thấy mỗi ngày thầy một đổi dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi…”. Tất cả các cuộc hội thoại của Trương ba với các thành viên trong gia đình mình đã khiến ông nhận ra hoàn cảnh trớ trêu của mình đã làm ảnh hưởng đến quá nhiều người khác. Ông tự cảm thấy xấu hổ, dằn vặt với bản thân của mình, muốn dứt hẳn ra khỏi cái xác này. | Phân tích giá trị nhân văn trong tác phẩm Hồn Trương Ba da Hàng thịt | 882 | |
Đề bài: Phân tích giá trị nhân văn trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Bài làm
Vợ chồng A Phủ là tác phẩm trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, được giải nhất tiểu thuyết, giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955. Vợ chồng A Phủ được sáng tác vào khoảng 1952-1953, là kết quả của cuộc thâm nhập đời sống vào các dân tộc Thái, Dao, Hmông, Mường trên các vùng cao Tây Bắc đất nước.
Trước và sau khi sáng tác truyện này, Tô Hoài đã và vẫn giữ một tình cảm sâu nặng với đồng bào miền núi. Ông từng sống chung với họ, ông học một ít tiếng Thái, Hmông để giao tiếp, từng đo tay kết làm anh em với một số người, từng nhận một người con Hmông làm con nuôi, từng là bạn thân của nhiều cán bộ lãnh đạo người miền núi [1]. Có thể nói Vợ chồng A Phủ cũng như các truyện khác trong Truyện Tây Bắc là kết tinh của vốn sống, vốn hiểu biết và nhất là tình yêu thương, lòng kính trọng của nhà văn đối với người dân miền núi Tây Bắc nước ta.
Phân tích tác phẩm vợ chồng A Phủ
Vợ chồng A Phủ và cả tập Truyện Tây Bắc có một vị trí chắc chắn trong văn học đương đại Việt Nam. Nó mở rộng đề tài văn học sang những vùng núi hẻo lánh chưa được nhà văn đào xới. Nó nhìn nhận con người miền núi với một tình cảm trân trọng, yêu thương, gần gũi. Và chủ yếu là truyện ngắn đã xây dựng được những hình tượng sống động làm người đọc nhớ mãi. Tác phẩm đã được nhà văn chuyển thể và dựng thành phim.
Bản thân truyện Vợ chồng A Phủ đã được viết đi viết lại mấy lần. Văn bản hiện nay là kết quả của lần viết thứ ba, khác nhiều so với lần đầu tiên. Tuy vậy tác giả vẫn thấy thành công chưa đều. “Phần sau truyện còn lỏng lẻo so với phần trước”. Phần sau là phần kể vợ chồng A Phủ sau khi đến Phiềng Sa, Tô Hoài vẫn mong được viết lại. Trong kịch phim Vợ chồng A Phủ ông đã viết hay hơn, được nhà văn Nguyễn Tuân khen. Nhưng câu chuyện viết lại không phải là chuyện dễ dàng. Trong tập Truyện ngắn Việt Nam 1945-1985 (Nxb Văn học, Hà Nội, 1985), khi tuyển truyện này, tác giả đã cắt bỏ phần sau và truyện kết thúc ở đoạn hai người đã bỏ xa Hồng Ngài tới Phiềng Sa. Câu “Hai người nhận là vợ chồng. Mà thật thì A Phủ và Mị đã thành vợ chồng” đã khép lại câu chuyện.
Chủ đề của truyện Vợ chồng A Phủ, theo lời Tô Hoài phát biểu vào năm 1960 là: “Nông dân các dân tộc Tây Bắc bao năm gian khổ chống đế quốc và bọn chúa đất. Cuộc đấu tranh giai cấp, riêng ở Tây Bắc, mang một sắc thái đặc biệt. Nhìn lướt qua nơi thế lực phong kiến còn đương kéo lùi đất nước lại hàng trăm năm trước”, nhưng “các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng. Họ đã thức tỉnh. Cán bộ của Đảng tới đâu thì các dân tộc đứng lên tới đấy, trước nhất là những người trẻ tuổi. Họ thật đẹp và yêu đời… còn một phút sống vẫn còn chờ đợi, vẫn mong, vẫn tin một ngày bình yên, yên vui của tình yêu và của đất nước”. Hơn 40 năm sau, khoảng năm 1994, Tô Hoài lại nhấn mạnh đến số phận đắng cay của người phụ nữ miền núi, ngoài việc lao động cực nhọc, còn bị mê tín, thần quyền cầm tù trong tinh thần. Nhưng tình yêu và tuổi trẻ đã chiến thắng tù ngục phong kiến và thần quyền. Cuộc kháng chiến của các dân tộc đã đưa học lên con đường chiến đấu bảo vệ hạnh phúc của chính họ. Tác giả đặc biệt lưu ý tới vẻ đẹp của tuổi trẻ và tình yêu của họ, vẻ đẹp của tâm hồn Mị trong giờ khắc cắt dây cứu thoát cho A Phủ và cho chính mình. Có thể coi đó là những gợi ý để đi sâu phân tích nội dung và nghệ thuật tác phẩm.
1. Những thân phận trâu ngựa nơi địa ngục trần gian
Mở đầu tác phẩm, tác giả giới thiệu ngay với người đọc hình ảnh của Mị, một cô gái, con dâu thống lí, mặt buồn rười rượi: “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi” – Đó là nét mặt muôn thuở của cô dâu trừ nợ, một sản phẩm của chế độ bóc lột nợ lãi miền núi.
Bố mẹ Mị vay tiền của thống lí để làm đám cưới, mỗi năm trả lãi một nương ngô. Mười mấy năm, bố mẹ đẻ ra Mị, Mị đã lớn, rồi mẹ Mị đã chết, bố Mị già yếu mà vẫn không trả hết nợ! Nhà thống lí bắt Mị về làm dâu gán nợ. Sau này A Phủ cũng bị buộc vay nợ nộp phạt và phải ở nợ. “Bao giờ có tiền thì cho về, chưa có tiền thì phải ở làm con trâu con ngựa” cho thống lí. Đời này, “đời con, đời cháu, bao giờ hết nợ thì thôi”. Như vậy là người ở nợ sẽ trở thành trâu ngựa đời đời, không mong gì thoát ra được!
Hai từ “trâu ngựa” trong miệng thống lí Pá Tra nói ra hoàn toàn không phải là nói theo nghĩa bóng, mà là theo nghĩa đen. Mị về làm dâu chỉ có vùi vào việc cả đêm lẫn ngày. Quanh năm suốt tháng, lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt… Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế.
Chồng Mị không xem Mị là người, “chẳng năm nào cho Mị đi chơi Tết”. Khi thấy Mị muốn đi chơi, A Sử liền bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xoã xuống, nó quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa. Trói xong vợ, A Sử thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi tắt đèn, khép cửa buồng lại. Hắn trói vợ cũng như thắt cái dây lưng, tắt đèn khép cửa, dửng dưng, lạnh lùng, không suy nghĩ, không xúc động! Đoạn sau, khi Mị bóp thuốc cho A Sử, mệt quá thiếp đi, A Sử tàn nhẫn “đạp chân vào mặt Mị”. Nhà Pá Tra đã có lần trói đứng một người con dâu cho đến chết. Đến lượt A Phủ cũng bị trói đứng như vậy! Có thể nói đó là một tục lệ đã mất hết nhân tính.
Củng cố cho tục lệ ấy là tư tưởng mê tín dị đoan. Cướp vợ về, trình ma, cho người vay nợ, cũng trình ma. Một thế lực vô hình trói buộc và hù doạ người dân lao động miền núi, làm cho họ sợ hãi, cam chịu, nằm im trong kìm kẹp. Cảnh tiếng nhạc sinh tiền cúng ma rập rờn, cảnh Pá Tra đốt hương lầm rầm khấn ma về nhận mặt người vay nợ vàng tăng thêm không khí khủng khiếp nơi miền núi âm u, ma thiêng nước độc. Tác giả đã khắc hoạ được sâu sắc cảnh địa ngục trần gian, nơi giam hãm những người dân lao động vô tội. Đó là một bản cáo trạng đối với chế độ phong kiến miền núi man rợ, cấu kết với thực dân Pháp. Theo Tô Hoài trong Cát bụi chân ai cho biết, từ năm 1918, người Mèo (Hmông) ở Đông Dương trực thuộc chính phủ Pháp mà đại diện là quan công sứ đầu tỉnh. Người Mèo đặt ra thống lí, thống soái cai trị tự quản. Đó là những chức quan đặt ra từ thời Pháp để kìm kẹp nhân dân. Không có cách mạng không thể giải phóng cho những con người vô tội ấy.
Bị cáo trong bản cáo trạng ấy là A Sử và Pá Tra – cha hắn. Cho vay nặng lãi, coi mạng người như cỏ rác, lợi dụng mê tín thần quyền, cấu kết với quan Tây, cha con Pá Tra là những kẻ hiện thân cho cái ác, cho thế lực phản động. Nhà văn khắc họa không nhiều, nhưng chỉ vài nét mà người đọc không quên được bộ mặt tàn nhẫn, mất hết tính người của chúng.
2. Nhân vật Mị:
Mị là nhân vật chính, nhân vật trung tâm của truyện Vợ chồng A Phủ. Mị là hiện thân cho tuổi trẻ miền núi bị vùi dập và đã vùng lên tự giải thoát cho mình. Mị là linh hồn của truyện Vợ chồng A Phủ.
Mở đầu tác phẩm, Tô Hoài giới thiệu Mị là một cô gái lúc nào, làm gì cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Đó là hình bóng của con người bị chà đạp và tuyệt vọng. Nhưng Mị là ai, những ai đứng ngoài hoặc làm khách của nhà thống lí thì không thể hiểu được. Phải là người nghèo ở Hồng Ngài, những người cùng số phận với Mị mới hiểu Mị.
Đời Mị trong tác phẩm có thể chia làm bốn đoạn: Đoạn trước khi làm dâu, đoạn mới về làm dâu, đoạn làm dâu đã quen và đoạn cứu A Phủ rồi bỏ trốn cùng A Phủ. Ta hãy phân tích nhân vật Mị theo bốn chặng đường đời đó.
a) Trước khi bị bắt về làm dâu trừ nợ, Mị là người con gái hạnh phúc. Cô yêu đời, thổi kèn lá cũng hay như thổi sáo. Cô đã trải qua những đêm tình mùa xuân say mê. “Trai đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị”. Mị lại có khát vọng tự do, muốn làm chủ đời mình. Khi nhà Pá Tra muốn lấy cô về trừ nợ, bố Mị chưa kịp có ý kiến gì, thì Mị đã nói ngay: “Con làm nương ngô trả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”.
b) Khi bị cướp về làm dâu, bị trình ma nhà thống lí, Mị đã đau đớn, uất ức. “Có đến mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc”. Cô không thể chấp nhận thân phận làm nô lệ cho nhà giàu. Cô hái lá ngón (thứ lá độc), hai mắt đỏ hoe, về chào bố để đi chết. Nhưng cô chết thì bố phải trả nợ, mà bố thì đã quá già yếu rồi. Cô không thể chết. “Mị chỉ bưng mặt khóc. Mị ném nắm lá ngón xuống đất”. Mị khóc cho đời mình, cho số phận mình. Mị ném nắm lá ngón như ném cái khát vọng được giải thoát cho riêng mình! Từ đây, Mị sẽ không nghĩ về mình nữa, cô chỉ sống làm trâu ngựa để trả nợ cho bố mà thôi!
c) Mấy năm sau, khi bố Mị chết, Mị cũng không nghĩ đến cái chết nữa, bởi vì “Mị quen cái khổ rồi”. “Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, con ngựa,… con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”. Mị không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau… mỗi năm, mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: “Tết xong thì hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa đi nương bẻ bắp, và dù hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước sợi”. Đời Mị chỉ còn là việc và việc nối tiếp nhau, con người Mị rút lại chỉ là cái công cụ, là con vật để sai khiến. Cha con Pá Tra cũng không coi Mị là người. A Sử không tết nào cho Mị đi chơi. Thấy Mị muốn đi chơi thì A Sử chẳng nói chẳng rằng đem một thúng sợi đay lại trói đứng cô vào cột, xong rồi khép cửa ra đi. Người nhà thấy Mị bị trói đứng cô vào cột, xong rồi khép cửa ra đi. Người nhà thấy Mị bị trói đứng như thế suốt đêm cũng không ai hỏi. Thế mà liền đấy, vừa mới được cởi trói thì cô phải đi hái lá thuốc về xoa bóp cho chồng, nhỡ mệt thiếp đi thì A Sử liền lấy chân đạp vào mặt Mị! Thật không ở đâu mạng sống con người, nhân cách con người bị coi rẻ đến như thế! Cũng không ở đâu con người lại tự coi rẻ mình một cách tuyệt vọng như thế! Mị cam chịu thân phận của con rùa nuôi trong xó cửa, chỉ biết ngồi trong cái buồng con kín mít trông ra cái cửa sổ vuông mờ mờ trăng trắng, “đến bao giờ chết thì thôi”.
Nhưng đó chỉ là một phần trong con người của Mị. Chỗ sâu sắc của tác giả, tấm lòng nhân đạo của tác giả không chỉ biểu hiện ở tình cảm xót thương Mị, ở việc tố cáo thói tục phi nhân tính của tầng lớp thống trị, mà còn thể hiện ở việc nhìn ra con người bên trong của Mị và đặt trọn niềm thương yêu vào đó.
Như trên đã nói Mị có một tuổi trẻ hạnh phúc, có một tính cách muốn làm chủ đời mình. Tính cách ấy không bao giờ chết, nó chỉ tạm thời bị nén xuống để khi có dịp lại bùng lên. Dịp ấy là một mùa xuân Tết đến, mấy năm sau, khi đầu núi có tiếng sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo thiết tha, bổi hổi, tự nhiên ngồi nhẩm thầm bài hát. Trong không khí đón tết của mọi người “Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát”. Cách uống rượu của Mị như báo hiệu một hành động nổi loạn chống lại thân phận mà chính Mị chưa ý thức rõ rệt. “Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng… nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước”. Cơn say đã giúp Mị quên đi tình cảnh hiện tại để sống với đêm tình ngày xưa. Thời gian ngày trước như hiện về. Mị đang sống với hai con người: con người thực tại, theo quán tính thì “đứng dậy”, “từ từ bước vào buồng”, “ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng”; con người tâm linh thì “đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước”.
Nhói lên trong tâm tư Mị một tình cảm thương xót mình: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ”, một tình cảm oán hờn: “Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”, rồi đột khởi, một tình cảm uất hận: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”. Thế là con người đích thực tâm linh trong Mị đã sống lại, hoà lẫn với con người thực tại, làm cho cô ở vào trạng thái mộng du, vừa sống trong không gian thực tại, vừa sống với thời gian quá khứ, chập chờn, bất định. Mị thêm mỡ vào đèn, quấn lại tóc, lấy cái váy hoa… như sống trong thực tại, nhưng thực ra thì Mị đang sống trong mơ. Cô không nghe A Sử hỏi, cô cũng “không biết mình đang bị trói”, tai vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi chơi. Chỉ khi vùng bước đi mà không được, tay chân đau không cựa được, cô mới thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Nhưng khuya, nghe tiếng chó sủa xa xa, cô lại quên ngay hiện tại, nín khóc và lại bồi hồi với cuộc sống trong mộng, lúc mơ, lúc tỉnh.
Đây là đoạn văn thật đẹp và thơ mộng. Nó chẳng những khắc họa được cái sức sống mãnh liệt không gì dập tắt được của tuổi trẻ mà còn làm sống lại không khí văn hoá ngày hội đẹp đẽ, đắm say của người dân tộc đã chuyển thành đời sống tâm hồn của nhân vật. Đồng thời đoạn văn cũng thấm đượm một niềm xót thương vô hạn cho số phận người con dâu trừ nợ, và nâng niu những giấc mơ tình tứ đẹp đẽ của một con người. Ngòi bút của tác giả quả đã thâm nhập sâu sắc vào những biến hóa. Ngòi bút của tác giả quả đã thâm nhập sâu sắc vào những biến hóa, đổi thay tinh vi của tình cảm nhân vật, biểu hiện một tấm lòng nhân đạo tha thiết, hiểu thấu những đường nét quanh co, bí ẩn của nó.
d) Đỉnh cao trong cuộc nổi loạn chống lại thân phận trâu ngựa của Mị là đoạn cô đứng lên giải thoát cho A Phủ và cho cả chính mình. Khi A Phủ đã mấy đêm bị trói đứng vào cây cột để chịu tội do hổ ăn mất bò thì trạng thái vô cảm của Mị đang lên đến mức cao nhất. Mị ít ngủ và có thói quen ngồi sưởi lửa đêm. Những khi ngọn lửa bùng lên, Mị thấy mắt A Phủ mở trừng trừng mới biết A Phủ còn sống. “Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi… Mị chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa”. Mị vô cảm với sinh mệnh của A Phủ và cả với chính mình!
Nhưng cái gì đã thức tỉnh lòng trắc ẩn của Mị? Một lần trở dậy, khi “ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Cái giọt nước mắt ấy đã làm Mị “chợt nhớ lại” việc Mị bị trói đứng năm trước, cũng nước mắt chảy như thế mà không lau được; Mị lại nhớ tới người đàn bà đã bị trói chết trong nhà này, và A Phủ thì chỉ đêm mai là chết thôi. Chỉ có trí nhớ bất chợt là làm Mị sống lại. Trí nhớ có sức sống riêng của nó, không phải muốn quên là quên được đâu. Tết năm trước đã thế, lần này trí nhớ lại loé lên một cách vô thức, và như một phản ứng dây chuyền nó nối lại ba số phận. Mị không còn sống với ngọn lửa nữa. Lửa vạc đi mà cô không thổi. Mị chìm vào tưởng tượng. Mị nghĩ mình có thể chết thay cho A Phủ. “Người kia việc gì mà phải chết thế”. Mị đứng lên lấy con dao nhỏ cắt dây trói cho A Phủ trong một ý thức chấp nhận hi sinh về mình, sẵn sàng thế mạng cho anh nếu bị bắt trói thế vào cột. Đó là giây phút tuyệt đẹp trong đời Mị. Cô trở thành con người cao cả, nên cô không còn cảm thấy sợ!
Hành động đó tuy không thể đoán trước, nhưng hoàn toàn không ngẫu nhiên chút nào. Mị đã từng nguyện làm rẫy trả nợ thay bố, đã từng chịu khổ để làm dâu trừ nợ cho bố, từng dám chết để được giải thoát cho mình, thì sao Mị lại không dám chết để cứu một người vô tội?
Nhưng tính cách Mị tuy có quy luật mà vẫn đầy bất ngờ. Vừa mới nghĩ đến việc có thể chết thay cho A Phủ, nhưng khi A Phủ vừa chạy đi, Mị đứng lặng trong bóng tối, lập tức “Mị cũng vụt chạy ra, băng đi, đuổi kịp A Phủ: A Phủ cho tôi đi. Ở đây thì chết mất!” Lôgic cũng rất chặt chẽ. Mị đã cứu sống A Phủ thì tại sao cô lại không tự cứu mình?! Nhà văn đã miêu tả quá trình diễn biến của nhân vật cực kì tự nhiên và sinh động, đầy ngẫu nhiên bất ngờ mà vẫn nằm trong quy luật tất yếu cua sự sống. Mấy giây trước đó, ai có thể nghĩ rằng Mị lại bỏ trốn? Thế mà cô đã vùng chạy theo A Phủ, và không thể khác được! Mị là một nhân vật thành công bậc nhất trong văn xuôi cách mạng đương đại Việt Nam. Một trong những bí quyết của nó là nhà văn đã khắc họa quá trình tâm lí đầy biến hoá, ngẫu nhiên, bất ngờ, mà vẫn nằm trong vòng tình lí của sự sống. Nhân vật trở nên có hình khối, đa diện, đầy mâu thuẫn, khi thì mặt này nổi lên, khi thì mặt kia nổi lên, nhưng lúc nào cũng là nhân vật ấy, chứ không phải là nhân vật khác lắp vào.
3. Nhân vật A Phủ:
Trong Vợ chồng A Phủ thì A Phủ là nhân vật phụ ở thời kì Hồng Ngài và sẽ trở thành nhân vật chính trong đoạn đời ở Phiềng Sa. Phần đầu truyện, nhà văn chủ yếu kể chuyện dưới góc nhìn và ý thức của Mị, sang phần sau ngòi bút nhà văn lại đưa đẩy chủ yếu theo góc nhìn của A Phủ.
A Phủ là đứa con mồ côi, nạn nhân của bệnh dịch và nạn đói làm chết người hàng loạt. Mới mười tuổi A Phủ đã bị bán xuống vùng người Thái, nhưng anh lại trốn để lưu lạc đến Hồng Ngài. Quanh năm chỉ làm thuê, A Phủ khỏe nhưng nghèo thì không thể lấy vợ. Có thể nói A Phủ là con người dưới đáy của xã hội miền núi. A Phủ bị đánh đập tàn nhẫn rồi bị biến thành đứa ở trừ nợ, rồi bị trói đứng chờ chết… đều chứng tỏ số phận trâu ngựa của người lao động nghèo vùng cao.
Nhưng A Phủ là một con người đẹp của núi rừng. A Phủ làm khỏe như trâu, chạy nhanh như ngựa, trở thành một niềm mơ ước của các cô gái. A Phủ cũng bị trói buộc bởi mê tín và thần quyền. Sau khi bị đánh đập tàn nhẫn suốt một ngày đêm, A Phủ lê gối đi làm thịt lợn, làm cỗ cho chức việc ăn vạ. Khi Pá Tra bắt A Phủ đóng cọc lấy dây để trói mình, A Phủ vẫn ngoan ngoãn vâng theo. Anh không hề nghĩ đến việc trốn chạy. Và biết chạy đâu cho thoát? Cái đẹp nhất ở A Phủ là tâm hồn phóng khoáng, hồn nhiên, yêu chính nghĩa, tự tin của tuổi trẻ mà cuộc sống nô lệ không thể huỷ diệt được. Chính cái sức sống ấy sau này sẽ đưa A Phủ đi theo cách mạng.
4. Nghệ thuật của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ:
– Trên đây đã nói qua nghệ thuật miêu tả quá trình tâm lí của nhân vật Mị. Đó là thành công tiêu biểu nhất của nhà văn.
– Tô Hoài cũng là cây bút sành tả cảnh. Cảnh vật của ông sống động, có hồn và đầy khêu gợi, góp phần biểu hiện đắc lực cho nhân vật. Chẳng hạn đoạn miêu tả mùa xuân:
“Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét dữ dội.
Nhưng trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá, xòe như con bướm sặc sỡ. Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà”. Ngôn ngữ tả màu sắc rất phong phú, độc đáo, không thấy có trong từ điển. Nhưng cái chính, nó gợi lên một không khí sống động, đổi thay từng lúc, làm nên cho sự trỗi dậy của tâm hồn Mị về sau.
– Đặc biệt ông sành dùng ngôn ngữ nửa trực tiếp. Lời của tác giả mà như nói lên gan ruột, vô thức của nhân vật, đã vẻ lên đủ loại cung bậc trong tình cảm Mị: lúc tự tin, lúc ai oán, lúc dằn dỗi, uất ức, lúc cả quyết…, chẳng hạn: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi…”. Lời văn như lời trầm ngâm, thổn thức của nhân vật.
– Các chi tiết được lựa chọn rất công phu, chúng được miêu tả như khêu gợi, đan cài, cái này gợi ra cái kia, một cách tự nhiên. Đáng chú ý là chi tiết tiếng sáo và chi tiết bếp lửa. Chúng vừa tạo không khí, vừa khêu gợi vào tâm tư nhân vật, vừa miêu tả môi trường. Chi tiết của Vợ chồng A Phủ giàu chất tạo hình của điện ảnh và giàu chất thơ. Đây đúng là một tác phẩm tiêu biểu cho thành tựu văn xuôi của văn học cách mạng. | Phân tích giá trị nhân văn trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ | 4,261 | |
Đề bài: Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao
Bài làm
Nam Cao là một nhà văn xuất sắc đầu thế kỷ XX của nước ta. Những tác phẩm của ông đều gắn liền với hình ảnh người nông dân chân lấm tay bùn, những người dân chân thành mộc mạc, nhưng bị dòng đời xô đẩy đến bước đường cùng không có lối thoát.
Truyện ngắn Lão Hạc là một tác phẩm hay trong đó Nam Cao đã vô cùng thành công khi dùng tấm lòng nhân hậu của mình để đồng cảm với số phận nhân vật của mình.
Trong tác phẩm Lão Hạc nhân vật của ông xuất hiện là một ông lão khắc khổ. Lão góa vợ từ rất sớm thằng con trai duy nhất bỏ đi làm ở đồn điền cao su. Một nơi nổi tiếng là khổ cực “cao su đi dễ khó về, khi đi trai tráng khi về bủng beo”.
Lão sống một mình cô đơn trong ngôi nhà rách nát trên mảnh vườn ông cha để lại. Lão không có ai bầu bạn, không có người thân nào ngoại trừ con chó Vàng. Nó vừa là người thân, vừa là người bạn tâm giao tri kỷ của lão.
Lão thương con chó Vàng vô cùng lão ăn gì thì nó ăn đấy. Lão yêu thương chăm sóc nó như con trai mình vậy. Lão thường tâm sự với nó về con trai mình. Trong từng lời tâm sự của lão đều chứa một nỗi lòng ấp ủ của người cha vô cùng thương con.
Những nhân vật khác trong tác phẩm Lão Hạc hầu hết cũng là người có tình nghĩa, giàu lòng thương. Tình phụ tử mà lão dành cho con trai là thứ tình cảm thiêng liêng, đặc biệt nhất đã làm nên tấm bi kịch của cuộc đời lão.
Khi gia đình Bá Kiến có âm mưu mua lại mảnh vườn của Lão Hạc để mở rộng vườn nhà mình. Nhưng lão kiên quyết không bán. Lão muốn để dành mảnh vườn cho con trai mình sau này lấy vợ có mảnh đất cắm rùi. Lão có chết đói cũng không bao giờ bán đi mảnh vườn đó.
Không mua được bọn chức tước quyền hành tìm cách ép lão, vu oan cho lão để bắt lão phải gán nợ mảnh đất đổi lấy mạng sống của mình. Người nông dân khốn khổ. Một người cha thương con vô bờ bến, lão thà chết chứ không thể làm mất mảnh đất, thứ tài sản duy nhất lão có thể để dành cho con trai mình.
Lão lựa chọn cái chết. Một quyết định cực kỳ nhân văn cao cả, nhưng cũng là kết thúc bị thảm khiến người đọc không thể ngừng rơi nước mắt.
Đến lúc chết lão cũng thể hiện sự chu đáo của mình khi nhất quyết không làm phiền hàng xóm.
Lão sang gặp ông giáo Thứ hàng xóm cũng là người có học thức hiểu biết và nhân hậu, người thân tình tâm giao của lão để gửi lại giấy tờ nhà. Một ít tiền lão chắt bóp dành dụm bao năm cho con trai lão lấy vợ.
Rồi còn một ít tiền khác lão dặn khi nào lão nằm xuống thì lấy tiền đó làm ma cho lão.Lão không muốn làm phiền hàng xóm, khi lão đã ra đi vì lão biết mọi người đều nghèo khổ khó khăn cả.
Tác giả Nam Cao đã vô cùng thành công khi khắc họa nhân vật lão hạc vô cùng đáng thương nhưng cũng vô cùng cao thượng thể hiện sự nhân văn nhân đạo của tác giả khi đồng cảm với số phận nhân vật của mình. | Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao | 617 | |
Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ Nhặt
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ Nhặt
Bài làm
“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay và xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân. Truyện có giá trị nhân và hiện thực sâu sắc làm lay động mọi trái tim người đọc. Thông qua tình huống “nhặt” đươc vợ thì tác giả đã cho tối thấy nhiều điều về cuộc sống khắc nghiệt và tối tăm của người lao động ở những năm 1945, và qua đó cũng thấy được khát vọng sống mãnh liệt cũng như là ý thức về nhân phẩm cao.
Giá trị nhân đạo chính là một trong những giá trị cơ bản của tác phẩm văn học, nó được tạo nên bởi niềm tin cảm thông một cách sâu sắc với nỗi đau của con người, luôn nâng niu và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn đó của họ.
Trước hết, qua tác phẩm chúng ta thấy được tác phẩm đã bộc lộc được niềm xót xa đối vối cuộc sống cực khổ của người dân nghèo trong nạn đối 1945, hơn nữa qua đó còn nhằm tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp. Bối cảnh chính diễn ra ở một xóm ngụ cư, nơi có cái đói đang hoành hành ở khắp nơi. Thứ đầu tiên bước vào câu chuyện đó là ánh sáng nhập nhòa chập choạng không sáng hẳn mà cũng không tối hẳn, trên con đường và ánh sáng đó leo lét hiện lên và bóng dáng người đi thì “xanh xám như những bóng ma”. Người sống thì nằm ngổn ngang khắp cả lều chợ còn người chết thì “cái thây nằm còng queo bên đường”. Quang cảnh được miêu tả thật rùng rợn đúng với cảnh đói chết chóc “bầy quạ cứ gào lên từng hồi thê thiết”, lâu lại văng vẳng cả tiếng thúc thuế rồi có cả không khí tang tóc ảm đạm “ “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.
Khi đưa vợ về, cuộc đời khốn cùng đến nỗi mua hai hào dầu cũng đã thấy hoang phí lắm rồi nhưng lại nghĩ rằng “vợ mới vợ miếc thì cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chẳng nhẽ chưa tối đã súc ngay vào”. Đây là một sự kiện lớn trong cuộc đời Tràng và đó là ngày tràng có vợ và nhà cũng cần phải sáng.
Tiếp theo nhân vật chúng ta muốn nhắc tới đó là người vợ nhặt. Thị chấp nhận bỏ qua mọi ý thức về danh dự để theo không Tràng về nhà. Chính hoàn cảnh lúc bấy giờ đã đẩy con người ta phải bỏ cả danh dự để tồ tại, mặt khác nó còn bộc lộ lên được lòng ham sống một cách mãnh liệt nhất của một con người ở đáy tận cùng của xã hội.
Bà cụ Tứ – một người đã sắp gần đất xa trời nhưng lại có hi vọng về tương lai tươi sáng nhiều nhất,từ việc “đan cái phên ngăn riêng chỗ của vợ chồng đứa con cho kín đáo”, đến việc “khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà”… “Mẹ chồng nàng dâu thu dọn cửa nhà, sáng hôm sau thị dậy từ sớm quét dọn nhà cửa cho ngăn nắp, gọn gàng” và hình như ai nấy cũng đều nghĩ rằng “thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”. Qua đó chúng ta có thể thấy được niềm hi vọng về cuộc đời của các nhân vật, về hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp với nó vấn vương ở trong tâm trí của Tràng.
Bà cụ Tứ là người có tấm lòng nhân hậu, yêu thương con mình hết mực và bà còn cảm thông cho tình cảnh của nàng dâu mà con mình mới “nhặt” được, “có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ”. Bà còn trăn trở về nghĩa vụ làm mẹ của mình đối với người con “trong mắt bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” nhưng bên cạnh đó bà cũng cố tạo nên niềm vui cho gia đình giữa cảnh đói nghèo này, người mẹ đó luôn sống vì con mình và luôn tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình trong sự chăm lo vun vén cho con cái.
Nổi bật nhất ở trong giá trị nhân đạo của tác phẩm đó là về niềm tin tưởng sâu sắc về con người lao động, vào bản năng sống và khát vọng sống mạnh mẽ của con người. Tình cảm nhân đạo của tác phẩm có nét mới hơn so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện thực trước cách mạng. | Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ Nhặt | 828 | |
Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
“vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân và của nhà văn học Việt Nam sau năm 1974. Truyện vợ nhặt có giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc. Thông qua tình huống “nhặt vợ” tác giả đã cho chúng ta thấy được nhiều điều về cuộc sống tối tăm của những người lao động trong nạn đói 1945 cũng như về khát vọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân phẩm rất cao ở họ.
Trước hết, tác phẩm đã bộc lộ được niềm xót xa đối với cuộc sống thê thảm của người dân nghèo trong nạn đói 1945. Qua đó, tố cáo về tội ác tày trời của thực dân pháp và phát xít Nhật đã gây nên nạn đói. Trong bối cảnh chính của truyện “vợ nhặt” diễn ra trong một xóm ngục ơ, ở đó cái đói đang hành hạ mọi người, cái đói như thấm vào cái nhìn của cảnh vật. Con đường từ trong xóm chợ vào bên trong bến thì “khẳng khiu”, cái thứ ánh sáng đầu tiên hắt vào truyện là thứ ánh sáng nhập nhoạng mù mờ, không ra ánh sáng mà cũng không ra tối hẳn của buổi chiều tà “chạng vạng” rồi hiện lên vật vờ ủ rủ những bóng người đói “xanh xám như những bóng ma”. Người sống hì nằm ngổn ngang ở lều thợ, trên ngọn cât thì hình ảnh bầy quạ kêu thảm thiết. văng vẳng bên tai là tiếng trống thúc thuế dồn dập, những đứa trẻ thì ngồi ở xó đường, không buồn nhúc nhích…một cuộc sống mấp mé bên bờ cái chết với cái không khí “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.
Tiếp đó là ý thức cố bám lấy sự sống rất mạnh mẽ ở người vợ nhặt. Thị đã chấp nhận bỏ qua ý thức danh dự để theo Tràng về nhà. NHư vậy, hoàn cảnh bi đát một mặt đẩy con người bỏ qua cả cái danh dự để tồn tại còn mặt khác thì nó làm bộc lộ lòng ham sống tới manh liệt của những ncon người ở dưới đáy xã hội như thị.
Tất cả mọi người đều có ý thức vun đắp cho cuộc sống mới và bà cụ Tứ cũng không ngoại lệ. khi cái tuổi gần đất xa trời bà lại là người thường nói tới hy vọng về ngày mai nhiều hơn tất cả: từ việc đan cái phên ngăn chỗ ở vợ chồng cho kín đáo rồi “ có tiền mua lấy đôi gà “… “Mẹ chồng nàng dâu thu dọn cửa nhà, sáng hôm sau thị dậy từ sớm quét dọn nhà cửa cho ngăn nắp, gọn gàng” hình như ai nấy đều nghĩ rằng “thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”. Qua tác phẩm này còn cho chúng ta thấy niềm hy vọng về một cuộc đổi đời của các nhân vật, và đã được thể hiện qua hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới vấn vương trong tâm trí Tràng.
Còn nói về người vợ Nhặt, lúc này đã có sự biến đổi về tính cách, trước khi về làm vợ Tràng, thi hiện lên với vẻ chao chát, chỏng lỏng. Trước câu hò của Tràng thì thị cong cớn nói “Điêu! Người thế mà điêu”… nhưng từ khi bắt đầu bước về làm vợ thì “ Thị đi theo Tràng với dáng điệu đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tang, nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt, khi về đến nhà thị chỉ dám ngồi mớm ở mép giường. Sáng hôm sau dậy từ sớm quét dọn nhà cửa…” còn về phần bà cụ Tứ thì bà luôn hết mực yêu thương cảm thông cho tình cảm của nàng dâu mới “có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ”, bà ân cần từ cách hành động với con dâu “con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Bà luôn trăn trở về nghĩa vụ làm mẹ của mình “chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi…còn mình thì”, trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt. Bà luôn cố tạo niềm vui cho gia đình giữa cảnh sống thê thảm. Người mẹ ấy luôn sống vì con vì cái và tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình trong hạnh phúc của con.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân | 811 | |
Đề bài: Phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Dàn ý
I. MỞ BÀI
Giới thiệu chung về truyện ngắn Vợ nhặt và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm
II. THÂN BÀI
1. Nạn đói khủng khiếp năm 1945
Trong truyện đã diễn tả với tất cả niềm xót thương thông cảm của tác giả về cảnh bi thảm của quần chúng lao động trong nạn đói khủng khiếp năm 1945.
Phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
a) Cái đói bao trùm khắp nơi và tràn đến cái xóm nghèo của dân ngụ cư
Những gia đình từ Nam Định, Thái Bình lũ lượt đội chiếu, dắt díu bồng bế nhau lên, xám lại như những bóng ma. Buổi sáng nào cũng có vài người chết còng queo bên đường, toả mùi gây gây của xác chết.
Toàn bộ câu truyện của Tràng diễn ra trên cái cảnh đói khổ và tang tóc ấy: Cảnh xóm ngụ cư vào buổi chiều Tràng đưa người vợ theo về; tiếng hờ khóc trong đêm, mùi đốt đống rấm.
b) Tình cảnh của gia đình Tràng
– Tràng: nghèo, không lấy nổi vợ.
– Vợ Tràng: Vì đói mà phải theo không về làm vợ, không có cưới cheo gì.
– Tình cảm xót xa của bữa cơm đón nàng dâu mới (nồi cháo loãng và bát cám).
2. Sự cưu mang, niềm hi vọng của người lao động nghèo khổ
Truyện đã làm sáng lên trên cái nền đen tối ảm đạm ấy sức sống, khát vọng: mái ấm gia đình và sự nương tựa, che chở cho nhau của những người lao động nghèo khổ, sáng lên niềm tin hy vọng của họ.
a) Tình huống Tràng có vợ, “nhặt” được vợ và ý nghĩa
– Thái độ của Tràng từ lúc chỉ coi là chuyện tầm phào đến lúc xem đó là truyện nghiêm chỉnh của đời mình (Dẫn và phân lích những lời nói, hàng động của Tràng khi mới gặp người đàn bà và trong cảnh đưa chị ta về nhà).
b) Ánh sáng của hơi ấm hạnh phúc gia đình giữa lúc nạn đói hoành hành
– Cảnh gia đình Tràng, căn nhà, mảnh vườn trong buổi sáng hôm sau.
– Sự biến đổi trong tâm trạng của Tràng, của người vợ nhặt.
– Ý nghĩa và thái độ của bà cụ Tứ, nỗi xót xa, thương cảm và niềm hy vọng cùa người mẹ
– Niềm hi vọng của họ về sự đổi thay số phận hướng về cuộc cách mạng
3. Giá trị nhân đạo của tác phẩm
– Một tư tưởng nhân đạo hướng về quần chúng lao động, khẳng định phẩm chất và sức sống bền bỉ của họ.
– Niềm tin của tác giả đặt vào những khát vọng bình dị mà chân chính những con người vẫn muốn sống, vẫn khát khao tình thương và sự gắn bó, việc nương tựa vào nhau đã cho họ niềm tin để sống.
– Chủ nghĩa nhân đạo của tác phẩm dựa trên sự am hiểu sâu sắc, gắn với đời sống người nông dân của Kim Lân. Tác giả không tô vẽ, lí tưởng các nhân vật của mình.
III. Kết bài
– Tóm tắt các ý chính trong hai đoạn A, B.
– Mở rộng đến thời đại ngày nay | Phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân | 550 | |
Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của o Hen-ri
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của o Hen-ri
Trong một xã hội nhiễu nhương, đồng tiền ngự trị trên tất cả, con người dường như sống chẳng còn tình người. Nhưng chính trong cuộc sống ấy lại có những con người tuy nghèo khổ mà biết thương yêu nhau, hi sinh vì nhau. Điều đó được nhà văn o Hen-ri phản ảnh lại một cách cảm động trong tác phẩm Chiếc lá cuối cùng. Nếu nói văn học là nhân học như Mác-xim Go-rơ-ki thì quả thật Chiếc lá cuối cùng đã để lại một cách kín đáo mong muốn của mình: con người ngày một sống tốt đẹp hơn. Đây chính là tác phẩm để lại trong em niềm xúc động sâu sắc nhất.
Trong truyện tác giả đã kể lại cuộc sông nghèo khổ của các họa sĩ Mỹ tại một khu nhỏ phía tây công viên Oa-sinh-tơn. Đó là hai nữ họa sĩ trẻ tuổi Xiu và Giôn-xi cùng với Bơ-men, một họa sĩ già suốt đời chưa bao giờ thành đạt. Họ sống rất vất vả và chật vật trong những gian buồng chật chội, sát mái, ăn uống thiếu thốn làm việc cật lực để kiếm tiền. Nhưng về mặt tinh thần, về đời sống tình cảm họ lại là những người có tình yêu thương sâu sắc đằm thắm.
Ở đây chúng ta cảm nhận được tình bạn vô cùng chân thành và cảm động. Đó là tấm tình trong sáng thuỷ chung của Xiu đôi với Giôn-xi. Hai người từ hai vùng đất rất xa nhau cùng tới Oa- sinh-tơn. Vì có cùng sở thích về nghệ thuật, về rau xà lách, về ống tay áo ngoài nên Xiu và Giôn-xi đã trở nên thân thiết nhau. Khi Giôn-xi bị ốm nặng, ta mới hiểu hết tình bạn thắm thiết của Xiu. Cô đã không bỏ rơi bạn, ngược lại Xiu còn làm việc hết sức mình để kiếm tiền nuôi bản thân và chạy chữa cho Giôn-xi. Cô đã trông nom, săn sóc từng li cho Giôn-xi, lúc nào Xiu cũng cố gắng động viên để Giôn-xi tin tưởng mình sẽ hết bệnh. Cô đã tìm mọi cách để gạt bỏ sự yếu đuối của bạn. Với những việc làm của Xiu, cô đã chứng tỏ cho ta thấy được một tình bạn thuỷ chung: Lúc vui buồn đều có nhau, lúc hoạn nạn lại không thể thiếu nhau, không thể bỏ rơi nhau. Xiu hoàn toàn không vụ lợi, không gợn một suy tính nhỏ nhen, Xiu chỉ có một ước nguyện duy nhất: Giôn-xi khỏi bệnh, tiếp tục ước mơ vẽ bức tranh về vịnh Na-plơ. Những người bạn như thế thật đáng quý, đáng trân trọng xiết bao!
Cảm động hơn, Chiếc lá cuối cùng còn là bài ca ca ngợi tấm lòng nhân đạo cao cả của bác Bơ-men. Bác là một họa sĩ già đã ngoài sáu mươi tuổi nhưng chưa thành đạt trên con đường nghệ thuật. Bác chỉ là người ở cùng nhà với hai nữ họa sĩ. Nhưng khi biết tin Giôn-xi bị bệnh, lại đang trong trạng thái tâm lí tuyệt vọng không muốn sống nữa, bác đã vô cùng bực tức, Bác la mắng Xiu và giận dữ kêu lên: Trên đời này có người nào lại ngớ ngẩn chết vì những chiếc lá rụng từ cái dây leo đáng nguyền rủa ấy hử? Bác vẫn chưa hề nghe thấy chuyện như vậy… Và cuối cùng bác đã tìm ra viên thần dược lấy lại niềm tin yêu cuộc sống cho Giôn-xi: Bức tranh vẽ chiếc lá cuối cùng. Đây là bức tranh đặc biệt nhất trong các bức tranh được vẽ trên thế giới. Nó được vẽ trong đêm đen, giữa mưa tuyết và giá lạnh, dưới ánh sáng một cái đèn bão. Người vẽ nó là một họa sĩ già bệnh tật ốm yếu đang trong cơn viêm phổi nặng. Người họa sĩ ấy đã bao nhiêu năm tháng qua ao ước vẽ được một kiệt tác. Nhưng sáu mươi năm đã qua, chưa bao giờ ông thành công, mãi mãi ông vẫn chỉ là bóng mờ của nghệ thuật. Thế mà hôm nay, với bức vẽ cuối cùng của ông, bức vẽ chiếc lá giữa đêm mưa lạnh rét mướt lại đưa ông tới đỉnh cao của nghệ thuật, được thừa nhận là kiệt tác. Bức vẽ chiếc lá ấy chính là sản phẩm của tấm lòng yêu thương sâu sắc con người của ông. Nó thể hiện một tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim nhân đạo đầy tình người bao la. Ở đầu ngọn bút không phải là màu vẽ mà là sự sống của ông, là máu của con tim, là sự tha thiết giành lại sự sống cho Giôn-xi từ tay thần chết. Đến lúc này nghệ thuật đã nhập vào với cuộc đời và phát huy hết sức mạnh kì diệu của nó. Chiếc lá không rụng. Giôn-xi đã trở lại với cuộc đời và Bơ-men đã trút hơi thở cuối cùng sau khi thành công kiệt tác ấy. Một hình ảnh làm rung động lòng người Có thể nói Bơ-men đã trao lại sự sống của mình cho Giôn-xi. Người họa sĩ già ấy đã nhường hơi thở cho tài năng trẻ tiếp tục sự nghiệp nghệ thuật của mình. Bác Bơ-men đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm kích chân thành.
Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã từng nói: Người yêu người sống để yêu nhau, Chiếc lá cuối cùng là truyện ngắn thể hiện được tình yêu thương ấy. Tác phẩm đã toát ra một mong muốn sâu sắc: con người ngày một sống tốt đẹp hơn. Đó là vấn đề mà những nghệ sĩ chân chính quan tâm nhất. Rõ ràng văn học đã đưa chúng ta đến cái thiện, cái đẹp, nó giúp ta bỏ đi cái xấu, cái hèn luôn ẩn chứa trong ta. | Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của o Hen-ri | 1,020 | |
Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ry
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ry
Với Chiếc lá cuối cùng của nhà văn Mỹ o Hen-ri chúng ta như được bước vào thế giới của một xã hội đương thời nhiễu nhương. Trong cái xã hội nghèo nàn ấy có những người nghệ sĩ nghèo chứa chan tình nhân đạo. Họ thương yêu nhau, hi sinh chính bản thân của mình vì nhau. Với bút pháp nghệ thuật điêu luyện nhà văn đã phản ánh một cách cảm động đồng thời đã để lại một giá trị nghệ thuật cao cả. Tác giả đã bộc lộ một cách kín đáo, một cuộc sống tốt đẹp.
Tác giả đã kể về họ: những người họa sĩ nghèo khổ ở phía tây công viên Oa-sinh-tơn. Hai nữ họa sĩ trẻ tuổi Xiu và Giôn-xi mang đầy năng khiếu và cụ Bơ-men đã già nhưng chưa thành đạt trên con đường nghệ thuật. Mặc dù họ sống chật vật, ăn uống thiếu thốn nhưng họ vẫn thương yêu nhau tha thiết. Một tình bạn chứa chan mà chân thành. Hai người đã gặp nhau rất tình cờ. Họ trùng sở thích nên kết bạn. Xiu và Giôn-xi đã chứng tỏ tình bạn cao cả cửa mình qua cơn ốm nặng của Giôn-xi. Giôn-xi phải cảm ơn Xiu rất nhiều, có thể là không trả hết. Xiu không bỏ rơi bạn trong họan nạn mà còn làm việc hết sức mình lấy tiền nuôi mình và chữa bệnh cho bạn. Cô gạt bỏ hết sự yếu đuối động viên Giôn- xi can đảm vượt qua mọi thử thách. Cô đã chia sẻ những nỗi buồn niềm vui với bạn. Họ đã có một tình cảm cao đẹp. Họ cảm thấy không thế thiếu tình cảm thiêng liêng đó. Xiu là một cô gái trong trắng, biết làm việc thiện không suy nghĩ nhỏ nhen hẹp hòi. Cô chỉ cầu mong điều lành đến với Giôn-xi, đó là khỏi bệnh và thực hiện ước muốn của mình để vẽ vịnh Na-Plơ. Chao ôi! Tình bạn quý giá biết bao. Cảm động hơn là tấm lòng nhân đạo của cụ Bơ- men. Cụ là hàng xóm với hai nữ nghệ sĩ. Khi nghe Xiu kể về tâm trạng tuyệt vọng của Giôn-Xi thì cụ vô cùng tức giận. Cụ mắng nhiếc Xiu và kêu lên: Trên đời này có người nào lại ngớ ngẩn chết vì những chiếc lá rụng từ cái dây leo đáng nguyền rủa ấy hử?. Cuối cùng cụ đã cứu sống được Giôn-xi, lấy lại niềm tin yêu của cuộc sống bằng Chiếc lá cuối cùng – một tác phẩm kiệt xuất của cụ. Nhưng chiếc lá đó chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi. Cụ đã vẽ nó vào cái đêm đen, giữa mưa tuyết và giá lạnh, dưới ánh sáng một cái đèn bão. Tác giả của bức tranh kiệt xuất ấy là người họa sĩ già bệnh tật. Bức vẽ cuối cùng của cụ đã đạt đỉnh cao trên con đường nghệ thuật mà trước kia cụ hằng mong ước. Và để tạo được tác phẩm kiệt xuất ấy cụ đã không ngần ngại đổi bằng chính cuộc sống của mình. Bức vẽ chiếc lá ấy chính là sản phẩm của tấm lòng thương yêu sâu sắc giữa con người với con người. Nó thể hiện một tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim nhân đạo đầy tình thương bao la. Dưới ngòi bút của o Hen-ri, con quỷ bệnh tật đang rình rập để hòng tước đoạt niềm tin vào cuộc sống ở Giôn-xi đã bị cụ Bơ-men già gầy guộc đánh bại. Cụ đã trả lại màu xanh cho chiếc lá úa vàng, màu hồng cho đôi má Giôn-xi bệnh tật, trả lại niềm tin, nghị lực cho những người yếu đuối. Đến lúc này nghệ thuật cần cho cuộc sống, hòa vào cuộc sống và phát huy hết sức mạnh kì diệu của nó. Chiếc lá cuối cùng không rụng, nó mãi mãi còn trên cái dây thường xuân. Giôn-xi đã trở lại với cuộc đời mà cụ Bơ- men ban cho. Cũng từ ấy cụ Bơ-men đã trút hơi thở cuối cùng sau khi thành công trên con đường nghệ thuật. Một hình ảnh làm rung động lòng người: Bơ-men đã trao sự sống của mình cho Giôn-xi. Người họa sĩ già ấy đã nhường hơi thở của mình cho tài năng trẻ tiếp tục sự nghiệp nghệ thuật của mình. Bơ-men đã phác họa nghệ thuật để sống mãi trong lòng người đọc. Cụ đã tạo cho màu xanh của chiếc lá thường xuân, tâm huyết của cụ.
Nó đã cứu sống cả mạng người. Chiếc lá cuối cùng trở thành niềm hy vọng của sự hồi sinh được dựng lên bằng tình bạn. Hai nhân vật Xiu và Bơ-men là hình ảnh tiêu biểu cho tình bạn bè, đồng loại. Họ luôn tỏa sáng trong tâm hồn người đọc. Trong sự nghèo khổ họ đã thương yêu nhau, đùm bọc lẫn nhau. Những hình ảnh, lòng thương ấy làm rung động lòng người. Những con người ấy chỉ mơ đến cuộc sống ấm no, đầy đủ nhưng chứa chan tình thương. Tình bạn bè cao đẹp trong sáng, lòng nhân ái bao la như trời xanh biển rộng. Qua đây tác giả o Hen-ri muốn gửi đến mọi người thông điệp về tình bạn tha thiết: con người phải biết thương yêu nhau, quan tâm lẫn nhau. Họ là những người bạn tốt không thể thiếu đối với chúng ta.
Tác phẩm đã toát lên một mong muốn khá giản dị nhưng sâu sắc: con người ngày một sống tốt đẹp hơn. Đó là ngụ ý sâu xa của nhà văn. Tố Hữu đã từng nói: người yêu người sống để yêu nhau. Không có con người, không có tình bạn thì cuộc sống chẳng có nghĩa. Những con người ấy, tình bạn ấy sẽ mãi là tấm gương để chúng ta học tập. | Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ry | 1,031 | |
Đề bài: Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
Bài làm
Nhắc đến Nam Cao là nhắc đến cây bút truyện ngắn hiện thực xuất sắc đẩu thế kỉ XX của văn học Việt Nam. Qua các tác phẩm viết về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945, Nam Cao đã bộc lộ một cái nhìn nhân đạo, đầy yêu thương, trân trọng về những người đồng bào lao khổ của mình. Tư tưởng ấy cũng được thể hiện sâu sắc qua truyện ngắn Lão Hạc.
Giá trị nhân đạo của tác phẩm trước hết được khẳng định qua tấm lòng đồng cảm của nhà văn đối với những số phận bất hạnh của các nhân vật trong tác phẩm. Những con người trong tác phẩm này đều là nạn nhân của xã hội phong kiến nửa thực dân. Họ phải gồng mình chống lại nạn đói, những hủ tục phong kiến,… Và mỗi người lại có những nỗi khổ riêng. Nhân vật chính, lão Hạc, là một người có hoàn cảnh vô cùng bi đát. Vợ mất sớm, đứa con trai duy nhất bỏ đi cao su. Một mình lão phải đối mặt với tuổi già, bệnh tật, cái đói và sự cô đơn. Nhà văn hay chính là nhân vật ông giáo trong tác phẩm đã không nén được những lời thương cảm: "luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai". Con trai lão Hạc cũng là một người đáng thương. Vì nhà nghèo, anh không lấy được người con gái mình yêu. Phẫn chí, anh bỏ làng đi cao su, cái đất cao su "đi dễ khó về", "khi đi trai tráng khi về bủng beo". Anh rời cha già luôn mấy năm, thiên truyện khép lại nhưng hình bóng anh người đọc cũng chưa được mục kích, câu hỏi về số phận của anh đành rơi vào câm lặng… Ông giáo, một nhân vật có uy tín ở làng, trong thời buổi ấy cũng túng thiếu dặt dẹo, đang sống cái đời "sống mòn", "rỉ ra, mốc lên”. Có thể nói, "Lão Hạc" đã thể hiện lòng thương, sự đồng cảm với tất thảy những lớp người bần cùng trong xã hội Việt Nam khi ấy.
Nhưng sống trong nghèo đói mà không bị cái bần hàn bài mòn nhân phẩm, đó là một đặc điểm đáng quý của người nông dân Việt Nam. Và một biểu hiện quan trọng khác của giá trị nhân đạo trong tác phẩm là nhà văn đã biết khám phá để nâng niu trân trọng và ngợi ca phẩm chất ngời sáng trong tâm hồn những người đồng bào lao khổ của mình.
Các nhân vật trong "Lão Hạc" hầu hết đều là những người giàu tình thương. Tình phụ tử ở nhân vật lão Hạc đặc biệt cảm động. Dù rất đau lòng nhưng lão chấp nhận nỗi cô đơn hờn tủi, đồng ý để con trai ra đi theo chí hướng của mình. Con đi rồi, lão chỉ còn con chó Vàng làm bạn. Lão Hạc yêu con chó Vàng đến độ gọi nó là "cậu" Vàng, ăn gì cũng cho nó ăn cùng, cho nó ăn ra bát như người… Có điều đó không đơn giản bởi lão là người yêu động vật. Hãy nghe lời tâm sự của lão với ông giáo: con chó ấy là của cháu nó để lại. Vậy là lão Hạc yêu con Vàng phần lớn bởi đó là kỉ vật duy nhất do con để lại. Lão đã dồn toàn bộ tình cha cho con chó ấy. Khi bán con Vàng, "lão khóc như con nít", "mắt ầng ậng nước"…. Không chỉ vậy, lão thậm chí còn chấp nhận cái chết để giữ đất cho con. Cái đói rượt lão gần đến đường cùng. Vẫn còn một lối nhỏ khác là bán mảnh vườn để lấy tiền ăn nhưng lão nghĩ rằng: đó là mảnh vườn của mẹ cháu để lại cho cháu… Và lão chọn cái chết chứ nhất quyết không bán đất của con. Con trai lão Hạc vì phẫn chí mà đi cao su nhưng trước khi đi vẫn để lại cho cha ba đồng bạc. Cả ông giáo, dẫu gia đình vẫn bữa đói bữa no nhưng luôn cố gắng giúp đỡ, cưu mang người hàng xóm bất hạnh…
Sống trong cái đói, cái nghèo nhưng không bị sự bần hàn làm cho quay quắt, hèn mọn, điều đáng quý nhất ở người nông dân Việt Nam trước Cách mạng là lòng tự trọng sáng ngời trong nhân phẩm. Lão Hạc thà nhịn đói chứ không chịu ăn không dù chỉ là củ khoai củ sắn của hàng xóm. Lão đã có thể bán vườn lấy tiền chống chọi với cái đói nhưng lão không làm vậy vì nhất quyết không ăn vào của con. Lão cũng có thể chọn con đường như Binh Tư đi đánh bả chó lấy cái ăn. Và lão không hề làm vậy. Con người ấy, đến lúc chết vẫn còn lo mình làm phiền hàng xóm nên dành dụm gửi gắm ông giáo tiền làm ma. Cảm động hơn cả là nỗi lòng quặn thắt của lão sau cái chết của con Vàng. Lão dằn vặt bởi nghĩ mình "đã đi lừa một con chó". Lão Hạc ơi! Ẩn bên trong cái hình hài gầy gò, già nua của lão là một tâm hồn cao thượng và đáng trân trọng biết bao nhiêu!
Đồng cảm với số phận của người lao động, đặc biệt là người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, đồng thời ngợi ca những phẩm chất cao quý của họ là những biểu hiện quan trọng của giá trị nhân đạo trong truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Cao. Viết về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, giọng văn Nam Cao lạnh lùng, bàng quan nhưng ẩn sâu trong đó là một tình thương sâu sắc và mãnh liệt. | Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao | 997 | |
Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
“vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay và xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân. Truyện có giá trị nhân và hiện thực sâu sắc làm lay động mọi trái tim người đọc. Thông qua tình huống “nhặt” đươc vợ thì tác giả đã cho tối thấy nhiều điều về cuộc sống khắc nghiệt và tối tăm của người lao động ở những năm 1945, và qua đó cũng thấy được khát vọng sống mãnh liệt cũng như là ý thức về nhân phẩm cao.
Giá trị nhân đạo chính là một trong những giá trị cơ bản của tác phẩm văn học, nó được tạo nên bởi niềm tin cảm thông một cách sâu sắc với nỗi đau của con người, luôn nâng niu và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn đó của họ.
Trước hết, qua tác phẩm chúng ta thấy được tác phẩm đã bộc lộc được niềm xót xa đối vối cuộc sống cực khổ của người dân nghèo trong nạn đối 1945, hơn nữa qua đó còn nhằm tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp. Bối cảnh chính diễn ra ở một xóm ngụ cư, nơi có cái đói đang hoành hành ở khắp nơi. Thứ đầu tiên bước vào câu chuyện đó là ánh sáng nhập nhòa chập choạng không sáng hẳn mà cũng không tối hẳn, trên con đường và ánh sáng đó leo lét hiện lên và bóng dáng người đi thì “xanh xám như những bóng ma”. Người sống thì nằm ngổn ngang khắp cả lều chợ còn người chết thì “cái thây nằm còng queo bên đường”. Quang cảnh được miêu tả thật rùng rợn đúng với cảnh đói chết chóc “bầy quạ cứ gào lên từng hồi thê thiết”, lâu lại văng vẳng cả tiếng thúc thuế rồi có cả không khí tang tóc ảm đạm “ “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.
Khi đưa vợ về, cuộc đời khốn cùng đến nỗi mua hai hào dầu cũng đã thấy hoang phí lắm rồi nhưng lại nghĩ rằng “vợ mới vợ miếc thì cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chẳng nhẽ chưa tối đã súc ngay vào”. Đây là một sự kiện lớn trong cuộc đời Tràng và đó là ngày tràng có vợ và nhà cũng cần phải sáng.
Tiếp theo nhân vật chúng ta muốn nhắc tới đó là người vợ nhặt. Thị chấp nhận bỏ qua mọi ý thức về danh dự để theo không Tràng về nhà. Chính hoàn cảnh lúc bấy giờ đã đẩy con người ta phải bỏ cả danh dự để tồ tại, mặt khác nó còn bộc lộ lên được lòng ham sống một cách mãnh liệt nhất của một con người ở đáy tận cùng của xã hội.
Bà cụ Tứ – một người đã sắp gần đất xa trời nhưng lại có hi vọng về tương lai tươi sáng nhiều nhất,từ việc “đan cái phên ngăn riêng chỗ của vợ chồng đứa con cho kín đáo”, đến việc “khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà”… “Mẹ chồng nàng dâu thu dọn cửa nhà, sáng hôm sau thị dậy từ sớm quét dọn nhà cửa cho ngăn nắp, gọn gàng” và hình như ai nấy cũng đều nghĩ rằng “thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”. Qua đó chúng ta có thể thấy được niềm hi vọng về cuộc đời của các nhân vật, về hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp với nó vấn vương ở trong tâm trí của Tràng.
Bà cụ Tứ là người có tấm lòng nhân hậu, yêu thương con mình hết mực và bà còn cảm thông cho tình cảnh của nàng dâu mà con mình mới “nhặt” được, “có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ”. Bà còn trăn trở về nghĩa vụ làm mẹ của mình đối với người con “trong mắt bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” nhưng bên cạnh đó bà cũng cố tạo nên niềm vui cho gia đình giữa cảnh đói nghèo này, người mẹ đó luôn sống vì con mình và luôn tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình trong sự chăm lo vun vén cho con cái.
Nổi bật nhất ở trong giá trị nhân đạo của tác phẩm đó là về niềm tin tưởng sâu sắc về con người lao động, vào bản năng sống và khát vọng sống mạnh mẽ của con người. Tình cảm nhân đạo của tác phẩm có nét mới hơn so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện thực trước cách mạng. | Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân | 833 | |
Đề bài: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ
Bài làm
Tinh thần nhân đạo đã trở thành linh hồn của nhiều tác phẩm văn học. Nội dung ấy được thể hiện dưới nhiều màu vẻ, hình thức. Trong văn học trung đại, một trong những biểu hiện của tinh thần nhân đạo là tấm lòng nhân ái đối với số phận mong manh, nhiều bất hạnh của người phụ nữ. Qua tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, nội dung đó được thể hiện qua tấm lòng trân trọng của tác giả đối với những vè đẹp dung dị, cao cả cửa người phụ nữ cũng như đồng cảm với những bất hạnh mà cuộc đời họ phải hứng chịu.
Người phụ nữ Việt Nam muôn đời nay được ngợi ca bởi vẻ đẹp dịu dàng, kín đáo và tâm hồn đôn hậu bao dung. Người phụ nữ hiện lên trong “Chuyện người con gái Nam Xương” cũng vậy. Nàng Vũ Nương đẹp nết đẹp người và là một con người đầy tự trọng.
Nàng có một “tư dung tốt đẹp" nức tiếng xa gần. Chẳng vậy mà Trương Sinh một người “con nhà hào phú” phải xin mẹ trăm lạng vàng rước nàng về làm vợ. Chẳng những vậy, nàng còn là người phụ nữ hiền hậu nết na, người vợ hiền, dâu thảo, người mẹ thương con.
Trong mối quan hệ vợ hằng ngày, biết chồng “có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.” Vũ Nương đã “giữ gìn khuôn phép, không từng lần nào vợ chồng phải đến nỗi thất hoà”.Hai vợ chổng chia li, Vũ Nương một lòng nghĩ đến sự an nguy của chồng “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. […] Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.”. Như vậy là nàng không hề nghĩ đến vinh hoa phú quý, chân thành với tình vợ chồng keo sơn. Xa chồng, Vũ Nương thuỷ chung, tấm lòng luôn tha thiết hướng về chồng: “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm. mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mày che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chăn trời không thế nào ngăn được".
Trương Sinh trở về, nghi cho Vũ Nương một cái oan thảm khốc; dùng những lời lẽ tàn nhẫn mà nhiếc móc nàng. Nhưng ngay cả khi ấy, Vũ Nương vẫn nói năng đúng mực, tha thiết bày tỏ nỗi niềm và ước mong vể cuộc sống gia đình hạnh phúc.
Trong mối quan hệ với mẹ chồng, nàng hết lòng chăm sóc mẹ chồng lúc ốm đau: “Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Khi mẹ chồng mất, nặng thương yêu, lo lắng chu toàn: “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”. Tấm lòng nàng dành cho mẹ chồng khiến bà cảm động để khi mất, những lời cuối cùng thiêng liêng của cuộc đời bà dành để chúc phúc cho con dâu. Xưa nay, trong dân gian vẫn lưu truyền câu nói “mẹ chồng con dâu” để chỉ mối quan hệ vốn không yên ấm giữa hai đối tượng này nhưng qua thái độ của người mẹ chồng đối với Vũ Nương người đọc thấu hiểu tấm lòng chân thành, sâu sắc đối với mẹ chồng của nàng.
Với con, Vũ Nương đã hết sức nuôi dạy, bảo ban, thương yêu và chiều chuộng con (để đến nỗi một trong những hành động vô tư của nàng đã trở thành nguyên nhân buộc nàng tự vẫn…).
Không chỉ vậy, với tư cách là một cá nhân trong xã hội, ở Vũ Nương còn nổi bật lên lòng tự trọng đầy cảm động. Bị chồng hiểu lầm, bị hàm oan tức tười, dẫu vẫn còn khao khát hạnh phúc trần gian nhưng Vũ Nương đã chọn cái chết để chứng minh phẩm tiết trong sạch của mình. Hành động này cho thấy lòng tự trọng, ý thức giữ gìn danh dự, tiết hạnh ở người phụ nữ đáng trân trọng này.
Ngợi ca vẻ đẹp của “người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã góp tiếng nói chung vào cảm hứng ngợi ca người phụ nữ đầy nhân văn của văn học trung đại. Bên cạnh Vũ Nương của Nguyễn Dữ ta còn có thể kể đến chị em Thúy Kiều, Thúy Vân của Nguyễn Du, người chinh phụ của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm,…
Nhưng trong xã hội phong kiến thời kì suy sụp, thối nát cái đẹp thường đi liền với nỗi bất hạnh và những tai họa khôn lường: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Khi ấy, văn học lại cất lên tiếng nói đồng cảm với những thân phận bị “gió dập sóng vùi” chẳng biết “tấp vào đâu”.
Nàng Vũ Nương của Nguyễn Dữ cũng phải hứng chịu nhiều bất hạnh. Trước hết, nàng có một cuộc hôn nhân không được lựa chọn. Với vẻ dẹp vốn có, đáng ra nàng phải được kén một tấm chồng đức tài tương xứng. Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời lại chỉ dành cho nàng một gả Trương Sinh. Đó là một kẻ vô học nhưng giàu có “con nhà hào phú” “xin mẹ trăm lạng vàng” lấy nàng về làm vợ. Người phụ nữ vẹn toàn này không có quyền lựa chọn cho mình một người chồng tương xứng. Cuộc hôn nhân cùa nàng do vàng bạc mở đường, đó như một cuộc trao đổi, mua bán đầy tính thương mại.
Về đến nhà chồng, Vũ Nương phải hết sức giữ gìn, lựa con người rất mực đa nghi của Trương Sinh: “đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Nhưng hạnh phúc phải do cả hai bên vợ chồng cùng đắp vun gìn giữ. Sau mấy năm dằng dặc mong ngóng chồng về, cái giá Vũ Nương nhận được thật quá chua xót.
Khi chồng đi lính, đêm đêm để con đỡ tủi và lòng mình đỡ nhớ, Vũ Nương chỉ bóng mình trên vách rồi bảo con đó là cha nó. Nhưng thiện ý của nàng đã bị hiểu lầm. Nghe con nói kể về người cha đêm đêm vẫn đến của nó, Trương Sinh với tính đa nghi sẵn có đã hiểu oan cho tấm lòng thủy chung của Vũ Nương. Chàng ta vội nghe lời con trẻ mà không suy xét đúng sai: “Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được". Rồi hồ đồ, độc đoán không đếm xia đến những lời thanh minh của vợ, đốì xử tệ bạc, vũ phu với Vũ Nương: “chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng nhiếc nàng, và đánh đuổi đi”.
Trước nỗi oan không gì giãi bày được (vì Trương Sinh không nói rõ nguyên cớ việc nổi giận của mình), cuộc đời Vũ Nương bế tắc: nếu sống thì phải mang cái tiếng phản chồng đầy ô nhục. Bởi vậy, dẫu vẫn còn khao khát vương vấn hạnh phúc trần gian, nàng đành chấp nhận cái chết trầm mình xuống Hoàng Giang.
Thân phận nhỏ nhoi, bèo bọt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến là vậy, họ không được làm chủ cuộc sông của mình, luôn luôn là kẻ bị động, hứng chịu những oan khiên, cay đắng. Số phận bất hạnh của Vũ Nuơng gợi đên bao phong ba bão táp đã đi qua cuộc đời của những Đạm Tiên, Thúy Kiều, Tiểu Thanh, người cung nữ, người chinh phụ,… trong văn học trung đại.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, tác phẩm của Nguyễn Dữ không tiến xa hơn câu chuyện dân gian là mấy. Nguyễn Dữ đã vô cùng trăn trở với số phận của người con gái đa đoan trong tác phẩm của mình. Tin tưởng và yêu mến nhân vật, nhà văn đã để nàng gửi mình chốn cung mây dưới nước của Linh Phi. Chốn ấy dẫu chẳng được sum vầy cùng con trẻ, người thân song vẫn là nơi biết trọng những tâm hồn trong đẹp. Vũ Nương trở về nhân gian trong ánh sáng lung linh kì ảo của ánh nến, mặt nước diệu kì.
"Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã góp một tiếng nói nhân ái, nhân đạo để đòi quyền được sống, được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến suy tàn. Chính cảm hứng nhân đạo trong tác phẩm đã giúp “Chuyện người con gái Nam Xương” của ông đi suốt những năm tháng lịch sử thăng trầm của dân tộc. | Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ | 1,523 | |
Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân.
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân.
Bài làm
Một tác phẩm nghệ thuật hay chính là một tác phẩm mà để lại trong lòng độc giả những giá trị nhân văn sâu sắc, về lẽ sống, về những trăn trở cuộc đời và bài học cho người sau. Như tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, đằng sau hiện thực nghèo khổ lại là cả một niềm khao khát được sống, được hạnh phúc trong gia đình của những con người bình thường. Kim Lân đã dùng ngòi bút của mình để nói lên khao khát ấy một cách chân thực và đi vào long người.
Kim Lân, một nhà văn của những con người nông thôn chân chất. Cùng với đề tài người nông dân nghèo khổ những năm tháng kháng chiến, nhưng con người trong văn của Kim Lân tuy thô sơ mà không hề có nét tuyềnh toàng vây bụa. Đề tài nông thôn trong thơ Kim Lân vẫn có nét gì sang và yêu đời. Vợ nhặt chính là một tác phẩm như vậy, giữa nạn đói năm 1945, tình người vẫn được thắp sáng. Tác phẩm được im trong tập Con chó xấu xí viết năm 1962.
Vợ nhặt lấy bối cảnh nạn đói năm 1945. Chính cái nạn đói năm đó, đã cướp đi sự sống của cả cái xóm ngụ cư, không khí ảm đạm, chết choc bao chum cả làng. Nạn đói năm đấy đã biến Tràng thay đổi tới tiều tụy. Trước là một gã Tràng ngờ nghệch, hay chêu đùa với trẻ con trong làng thì giờ đây trẻ con cũng chẳng thêm đùa nữa “ chúng nó ngồi ủ rũ dưới những xó đường không thèm nhúc nhích “. Còn Tràng “ đi những bước chân mệt mỏi, chiếc áo nâu Tràng vắt sang một bên, cái đầu trọc lóc nhẵn chúi về phía trước “. Không khí chết choc đang bao chum cả xóm ngụ cư vì nạn đói. Vậy mà giữ cái đó khổ đấy, Tràng đã có vợ. Tràng đã có vợ. Tràng đã nhặt được vợ ngay ngoài vợ ngay ngoài trợ mang về. Nhặt vợ mang về như nhặt một cành củi khô ngoài chợ. Nghe có vẻ vố lí nhưng đó lại là sự thật. Có thể nghĩ hành động của Tràng là làm liều, mà giữa cơn đói này, nuôi than mình còn khó, mà Tràng còn dắt vợ về. Đó chỉ là suy nghĩ của những người vô cảm. Đối với ngòi bút đượm tình của Kim Lân thì là cả niềm khao khát được sống, được sống tiếp qua cái nạn đói này, không thể chết như vậy được. Bốn bát bánh đúc mà Tràng hứa với Thị, không phải là nguyên nhân chính để thị theo Tràng về làm vợ, mà dường như Thị thấy trong Tràng một tương lai về một tổ ấm gia đình. Đây chính là hy vọng của người đàn bà đang suy sụp, khao khát được hạnh phúc, muốn được nâng đỡ bởi người đàn ông, và tình yêu có thể vượt qua sự chết chóc này. Còn Tràng thì khao khát được tổ ấm, điều mà mẹ anh không thể làm cho anh vì gia đình quá nghèo. Giờ đây anh đã làm được.
Một mơ ước, một khao khát về một cuộc sống bắt đầu hé mở trong cả hai người. Dắt Thị về “ Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tang nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn “ Trẻ con trong xóm thấy lạ ra chêu “ Chông vợ hài “. Tràng bật cười “ Bố ranh “. Niềm hạnh phúc khi có vợ nộ rõ trên khuôn mặt và nụ cười của Tràng. Cả xóm ngụ cư bao trùm vẻ tang thương chết chóc “ Dưới những gốc đa gốc gạo xù xì, bóng người đói dặt dờ đi lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài ngõ cứ gào lên từng hồi “. Trong không khí ấy, việc Tràng đưa thị về đã làm xóm ngụ cư xôn xao hơn. Thị không hề xấu hổ về việc được Tràng nhặt về, nàng e thẹn nép sau lưng chàng chẳng khác gì con gái lớn mới vể nhà chồng. Không hề thua kém các dòng văn lãng mạn, hình ảnh Tràng và Thị hiện lên như một câu chuyện tình đầy niềm hạnh phúc, sự rụt rè của vợ chồng mới. Kim Lân dung ngòi bút của mình bầy tỏ sự cảm thông sâu sắc với vợ chồng Tràng và Thị. Kim Lân nhìn họ như những con người bình thường, và họ có quyền được sống, được khao khát niềm hạnh phúc.
Vợ nhặt của Kim Lân quả là một tác phẩm hay đáng để cho chúng ta suy ngẫm về giá trị của cuộc sống này. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù nghèo khổ, túng bần nhất, thì có niềm tin, có khao khát hạnh phúc thì sẽ vượt qua được những hiện thực dù khốc nhiệt nhất trong cuộc sống. Vợ nhặt quả thực chứa đưng một giá trị nhân văn rất sâu sắc.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân. | 904 | |
Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt
Bài làm
Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí, xuất bản năm 1962 được coi là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Kim Lân. Tác phẩm viết về nạn đói khủng khiếp năm 1945, qua những trang văn sâu sắc và cảm động, Kim Lân bày tỏ, cảm thông sâu sắc với những số phận bất hạnh, từ đó làm nổi bật lên giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Tác phẩm Vợ nhặt viết về nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu, cái nạn đói đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người từ Quảng Trị ra đến Lạng Sơn. Cái đói tràn qua gương mặt của từng người, tràn vào không gian…. Nhà văn đã tái hiện lại một cách chân thực thời khắc lịch sử mà ranh giới của sự sống và cái chết thật mong manh như làn khói.
Cái đói làm méo mó nhân cách, khiến Thị chẳng cần nghĩ đến tự trọng, cứ sà xuống cắm đầu anh bánh đúc chẳng cần chuyện trò gì rồi cắp thúng theo một người đàn ông xa lạ về làm vợ. Vậy là việc cưới xin cứ như một trò đùa, bốn bát bánh đúc là anh Tràng đã có vợ, và một nồi cháo cám lại là cỗ tân hôn. Nhà văn đặt các nhân vật của mình vào sự nghiệt ngã ấy để làm tỏa sáng tình người, tình đời, tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn tha thiết, một sự thông cảm sâu sắc tới những con người bất hạnh.
Kim Lân cảm thương với nỗi niềm của bà cụ Tứ, nhà văn nghẹn ngào không nói hết. ông hòa cùng tâm trạng của bà cụ để buồn, lo, mừng vui lẫn lộn trước cơ sự đã rồi của con. Nhà văn đã nhìn thấy ở bà mẹ một tấm lòng vị tha, bao dung với đứa con dâu, không vì cái đói mà xua đuổi, hắt hủi thị mà suy nghĩ thấu tình đạt lí: Người ta có đói mới lấy đến con mình, mà con mình mới có vợ, bà mừng lòng cho các con nhưng vẫn không khỏi xót xa.
Ngòi bút Kim Lân luôn dí dỏm, vui tươi khi miêu tả nội tâm nhân vật. Hơn hai mươi lần nhà văn Kim Lân nhắc đến nụ cười của Tràng và khi đi bên thị, một người đàn bà gầy gò, quần áo rách như tổ đỉa anh không hề có một chút gì coi thường cô gái. Nhà văn đã gieo vào lòng người đọc niềm xúc động sâu xa về hạnh phúc con người. Không chỉ trân trọng khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mà ông còn mở ra cho họ niềm tin vào tương lai tươi sáng. Ông đã gửi gắm tình yêu cuộc sống, niềm tin vào ngày mai sẽ chiến thắng ở người mẹ.
Truyện Vợ nhặt mở đầu là buổi chiều chạng vạng, nhưng kết thúc bằng buổi sáng bình minh. Một kết thức chứa sức nặng nghệ thuật và nội dung tư tưởng tác phẩm, thoát ra khỏi kết cấu khép của văn học đương thời để bước tới phạm trù văn học cách mạng. Một kết thúc có cơ sở chắc chắc từ hiện thực đời sống mà nhà văn nhìn thấy để mở ra cho nhân vật của mình hướng đi. Đó cũng chính là tinh thần nhân đạo cao cả của nhà văn. Không chỉ thương cảm, chia sẻ nỗi khổ đau bất hạnh mà còn trân trọng, nâng đỡ họ vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống để vươn tới tương lai. | Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt | 628 | |
Phân tích giá trị nhân đạo trong Vợ chồng A Phủ-Tô Hoài
Hướng dẫn
Vợ chồng A Phủ là khát vọng đấu tranh giải phóng bản thân của con người bị áp bức
Mở bài:
Tác phẩm Vợ chồng A Phủ không những thành công nhờ sự phản ánh hiện thực cuộc sống một cách chân thực mà còn do truyện có giá trị nhân đạo sâu sắc sâu sắc. Có cảm thông với số phận đau khổ của con người, Tô Hoài mới viết lên những trang sách tố cáo mãnh liệt giai cấp thống trị, gây xúc động mạnh mẽ như thế. Nhà văn thực sự đau xót trước nỗi khổ của người dân nghèo, đặc biệt là phụ nữ vùng cao của trước Cách mạng. Người đàn bà đã làm “lễ trình ma” nhà chồng thì không bao giờ thoát khỏi nhà ấy được nữa mặc dù phải chịu đau đến mức nào.
Thân bài:
Đối với Mị, cô tưởng chừng như đã hóa đá, dường như mọi cảm xúc khát khao đã bị dập tắt từ lâu, nhưng nhà văn không để cho nhân vật của mình bị dồn đến bước đường cùng. Nhà văn Tô Hoài tâm sự: “điều kì diệu là dẫu trong cùng cực đến như thế nào, mọi thế lực của tội ác cũng không giết chết được sức sống con người”. Ông luôn trăn trở khát vọng sống, khát vọng tự do của con người.
Có lẽ ở con người Mị, sự buồn tủi cam chịu chỉ là vẻ bề ngoài còn ở đáy sau tâm hồn Mị, cô không chấp nhận cuộc sống khổ nhục hiện tại cho nên hành động ăn lá ngón tự tử vừa biểu hiện sự chán nản, tuyệt vọng, vừa cho thấy sự căm tức cao độ, sự phản kháng tất yếu của cô gái với cuộc sống ấy.
Ngay hành động uống rượu trong ngày Tết của Mị cũng có vẻ không bình thường: “Mị lén lấy hũ rượu, cứ ừng ực từng bát”. Cô uống rượu mà như nuốt hận vào trong lòng mình. Sức sống của con người nhiều khi đã phải tiềm ẩn trong cái tư thế đó. Sức sống mạnh mẽ còn biểu hiện khá rõ trong tâm trạng yêu đời của Mị trong đêm hội mùa xuân. Sự hồi tưởng ấy mạnh mẽ đến mức Mị đã quên đi cái thực tài dầy đau khổ, cô quấn lại tóc với cái váy hoa, chuẩn bị đi chơi.
Sức mạnh khiến Mị vượt qua nỗi sợ hãi cắt dây trói cho A Phủ xuất phát từ sự tự thương mình, nhận ra những điểm giống nhau giữa mình và A Phủ, cô đồng cảm chia sẻ với người cùng cảnh ngộ. Mị nhận ra bản chất độc ác của cha con nhà thống lí “chúng nó thật độc ác” và sự bất công phi lí của A Sử phải chết “người kia việc gì phải chết thế…!” Nhưng điều có ý nghĩa quyết định chính là lòng thương người của Mị, nó khiến Mị vượt qua được nỗi sợ hãi cha con Pá Tra và “con ma nhà thống lý” để cắt dây trói cho A Phủ.
Nhưng biểu hiện rõ nhất, cao nhất cho sức sống của Mị là hoạt động Mị cắt dây trói cho A Phủ rồi cả hai người cùng bỏ trốn khỏi Hồng Ngài. Mới đầu thấy A Phủ bị trói, cô thờ ơ vì trong nhà Pá Tra đã có quá nhiều cảnh ngang trái. Nhưng một đêm kia, qua ánh lửa bếp, Mị nhìn sang thấy “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ thì Mị chợt nghĩ “mình có lúc cũng phải trói đứng thế kia”.
Từ sự thương mình, Mị đồng cảm rồi xót thương cho cảnh ngộ của A Phủ. Đến lúc ấy, có lẽ ở Mị đã xuất hiện cái cảm giác hạnh phúc được hi sinh vì người khác và Mị đã cắt dây trói để cứu A Phủ.
Với hành động này, Mị đã vượt qua được nỗi sợ hãi đã ám ảnh cô suốt bao nhiêu năm (nỗi sợ “con ma nhà thống lý”). Cô cắt dây trói cho A Phủ, đồng thời cũng cắt bỏ sợi dây vô hình đã ràng buộc cuộc đời Mị bấy lâu nay.
Cũng với hành động này, cuộc đời Mị như bước sang một trang mới với nhiều hi vọng, tin tưởng. Hành động dũng cảm ấy của Mị biểu hiện vẻ đẹp rực rỡ của một tâm hồn cao cả và vị tha, đồng thời có ý nghĩa quyết định nhất đối với cuộc đời của hai người. Khi thấy A Phủ bỏ trốn đến với cuộc sống tự do thì Mị bừng tỉnh, Mị không muốn chết nữa, một niềm hi vọng và khao khát sống trổi dậy “rồi cô vụt chạy ra theo A Phủ”.
Điều đó cũng có nghĩa là cô tự giải thoát cho cuộc đời mình. Hai con con người cùng cảnh ngộ đã lẳng lặng dìu nhau xuống dốc núi, bỏ lại đằng sau một cuộc sống tù đầy tủi nhục. Từ trong cái chết, họ vùng dậy để tìm lẽ sống và làm lại cuộc đời.
Chạy trốn khỏi Hồng Ngài, Mị và A Phủ đến Phiềng Sa rồi được cán bộ A Châu giác ngộ Cách mạng. Ở đây, hai người mới thực sự được sống cuộc sống tự do, họ đã trở thành những người du kích dũng cảm, tự tin được đứng lên đánh lại kẻ áp bức mình trong tư cách mình là con người, ý thức ấy mới thực sự có ý nghĩa nhân đạo.
Nhìn nhận một cách tổng quát, giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ chồng A Phủ là đã cho thấy cuộc đời tủi nhục của những người dân nghèo miền núi trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Có thể nói, qui luật bần cùng hóa con người, chà đạp lên tự do, tình yêu, hạnh phúc và nhân phẩm của con người, là qui luật phổ biến ở cả miền núi lẫn miền xuôi. Cũng chính qui luật ấy đã dẫn tới một qui luật khác: có áp bức tất có đấu tranh, có những hành động dũng cảm chống lại hoàn cảnh khắc nghiệt để tồn tại và vươn lên.
Còn giá trị nhân đạo của tác phẩm là ở chỗ Tô Hoài đã nhân danh con người và vì quyền sống của con người mà tố cáo những thế lực đen tối đầy đọa họ. Hơn thế nữa, ông đã bày tỏ niềm xót thương và đồng cảm chân thành trước những cuộc đời đau khổ bất hạnh, đề cao phẩm chất tốt đẹp và khát vọng chân chính của những con người bị đầy đọa, vùi dập nhưng vẫn vương lên không để số phận chôn vùi. Có lẽ vì những giá trị đáng quí như thế nên truyện ngắn Vợ chồng A Phủ đã đứng vững được trước những thử thách của thời gian và vẫn được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích.
Đó là lối kể chuyện hết sức giản dị, không chạy theo những chi tiết li kì giật gân mà vẫn có sức hút mạnh mẽ. Thành công của truyện được thể hiện rõ nét nhất chính là nghệ thuật giới thiệu nhân vật, đặc biệt lá những trang viết diễn tả diễn biến tâm trạng và hành động của Mị (trong đêm tình mùa xuân hay đêm cô cắt dây trói cho A Phủ).
Những chi tiết trong truyện ngắn hết sức chọn lọc, tiêu biểu, đặc biệt là những chi tiết có tính biểu tượng cao. Chẳng hạn, căn buồng của Mị lúc nào cũng tối tăm; từ trong nhà nhìn ra không hề biết là sương hay là nắng; chi tiết về tiếng sáo được nhà văn nhắc đi nhắc lại năm lần,,mỗi lần nhắc lại gắn liền với sự phát triển và biến đổi trong tâm trí tính cách nhan vật Mị.
Kết bài:
Nhà văn Tô Hoài có một tình cảm gắn bó, đồng cảm thực sự với những người dân miền núi nghèo khổ trước Cách mạng. Bởi vậy, tác phẩm Vợ chồng A Phủ không chỉ có giá trị hiện thực cao mà còn thấm được giá trị nhân đạo sâu sắc. | Phân tích giá trị nhân đạo trong Vợ chồng A Phủ-Tô Hoài | 1,387 | |
Phân tích giá trị nhân đạo được thể hiện trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Bài làm
Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, Kim Lân là cây bút chuyên viết về truyện ngắn với mảng đề tài quen thuộc là cuộc sống nông thôn của người nông dân. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông thể hiện rõ điều này là tác phẩm “Vợ nhặt”. Trong tác phẩm này, Kim Lân đã thực sự đem vào tác phẩm của mình một khám phá mới, một điểm soi chiếu toàn tác phẩm khi viết về một đề tài không mới. Đó chính là vẻ đẹp của tình người, của niềm hi vọng khi đứng bên bờ vực cái chết. Và đó cũng chính là giá trị nhân đạo mà tác giả Kim Lân đã thể hiện thành công thông qua việc miêu tả tâm lí nhân vật và cách kết thúc truyện.
Cũng giống như những cây bút chuyên viết về đề tài người nông dân khác như Ngô Tất Tố, Nam Cao,…, nhà văn Kim Lân đã đưa vào tác phẩm của mình bức tranh xã hội Việt Nam trong nạn đói. Bởi vậy, “Vợ nhặt” trước hết là tác phẩm viết về nạn đói: “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Nguyên, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Kiểu so sánh ấy đã thể hiện một nhãn quan đặc biệt của Kim Lân về nạn đói năm 1945: sự sống và cái chết chỉ mong manh như sợi tóc và tưởng chừng như cái đói sẽ hủy diệt tất cả. Nhưng không! Trong bối cảnh chết chóc, nhà văn Kim Lân đã xây dựng tình huống truyện: anh cu Tràng nhặt được vợ chỉ với bát bánh đúc. Như vậy, mảng tối chết chóc u ám chỉ là phông nền và một phép đòn bẩy để làm nổi bật mảng sáng của tình người thông qua ba nhân vật: bà cụ Tứ, anh cu Tràng và người vợ nhặt. Chính ánh sáng của tình người, của niềm hi vọng vào tương lai đã làm nên giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn “Vợ nhặt”.
Thông điệp về nét đẹp nhân đạo trước hết thể hiện thông qua diễn biến tâm lí nhân vật bà cụ Tứ- người mẹ nông dân nghèo đến tội nghiệp. Xuất hiện giữa tác phẩm với dáng đi “lọng khọng”, “húng hắng ho”. Ngạc nhiên, bất ngờ là cảm giác đầu tiên khi bà cụ Tứ nhìn thấy người vợ nhặt. Là một người mẹ thương con, bà hiểu nhất định phải có chuyện gì bất thường xảy ra “Ô hay, thế là thế nào nhỉ?”. Cho tới lúc nghe Tràng giải thích “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ” thì bà nhanh chóng hiểu ra và “cúi đầu nín nặng”. Đằng sau cái cúi đầu ấy là dòng cảm xúc tuôn trào. Bà so sánh “người ta” với mình để tự trách bản thân mình và đồng thời cũng thương con trai mình, thương cho số kiếp nhặt vợ.
Bà cụ Tứ quả là một người mẹ thương con nhưng đồng thời trong tâm hồn bà, nét đẹp của tình người luôn hiện hữu. Ngay từ cái nhìn đầu tiên với người vợ nhặt, lòng bà đã “đầy thương xót”. Là một người phụ nữ nông dân nghèo, bà hiểu rõ những gì mà người vợ nhặt đã phải trải qua. Dù lòng đầy lo lắng nhưng bà vẫn chấp nhận dù hoàn cảnh vô cùng túng quẫn “con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Người phụ nữ ấy đã chọn điểm nhìn để chấp nhận người vợ nhặt không phải từ góc độ của một bà mẹ chồng mà xuất phát từ trái tim của một con người giàu lòng nhân ái.
Tình huống nhặt vợ trong cái đói khủng khiếp còn là phông nền để khám phá vẻ đẹp tình người của nhân vật Tràng. Cái đói đã tràn đến, vậy mà Tràng vẫn đèo bòng vợ con khi không biết cuộc đời phía trước của mình ra sao. Anh chấp nhận người vợ nhặt một cách tự nhiên thể hiện vẻ đẹp của lòng cưu mang đối với một con người đói khát hơn mình. Và khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức chăm sóc: “Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt rồi ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về”. Tràng đến với thị đầu tiên và trước hết là những sẻ chia của người nghèo trong cảnh hoạn nạn. Nhưng đằng sau điều đó là một khát vọng mãnh liệt hơn về hạnh phúc gia đình.
Ngòi bút nhân văn của Kim Lân được chắp thêm đôi cánh của sự lãng mạn khi miêu tả Tràng trong buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ: Thấy trong người: “êm ái, lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra và bỗng thấy “mình nên người. Tràng cũng nghĩ đến trách nhiệm của bản thân đối với vợ con sau này vì thế hắn cũng xăm xăm chạy ra giữa sân và muốn làm một điều gì đó để tu sửa căn nhà”. Phải chăng lúc này đây hắn đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và thấy được sự ấm áp của ngôi nhà mà hắn sinh sống bấy lâu nay “Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng”. Nguồn vui ấy như tia nắng, như ánh bình minh đem sinh khí đến cho cuộc sống đang ngập tràn sự chết chóc bởi cái đói đang tung lưới bủa vây.
Truyện ngắn Vợ nhặt là một tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Đó là vẻ đẹp của tình người, của niềm hi vọng vào tương lai, vào cuộc sống của những con người đang mấp mé trước miệng vực âm phủ. Đồng thời đó cũng là sự thương xót của tác giả đối với cuộc đời, số phận của những con người ấy. Tất cả những giá trị nhân đạo, nhân bản đó đã được nhà văn thể hiện thành công bằng ngòi bút viết văn già dặn, vững vàng thông qua việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, cách kể truyện hấp dẫn, miêu tả tâm lý khá tinh tế, xây dựng đối thoại khá sinh động. | Phân tích giá trị nhân đạo được thể hiện trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân | 1,110 | |
Phân tích giá trị nội dung trong bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nội dung trong bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến từng được Xuân Diệu mệnh danh là nhà thơ cùa làng cảnh Việt Nam. Thế nhưng ngoài những bài thơ tả cảnh (tiêu biểu là ba bài thơ thu) Nguyễn Khuyến còn có những bài thơ đậm đà tình nghĩa. Bài thơ “bạn đến chơi nhà” là một trong số những bài thơ như thế:
Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xơ.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta.
Bài thơ mở đề một cách rất tự nhiên, mộc mạc và giản dị đúng như phong cách của người thi sĩ:
Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Câu thơ là lời chào mời niềm nở thể hiện niềm vui mừng khôn xiết của những người bạn thân thiết lâu nay mới gặp gỡ nhau. Thế nhưng sự độc đáo của bài thơ lại ở những câu thơ kết tiếp. Những câu thơ liên tục dựng lên những tình huống hóm hỉnh, vui tươi.
Kết cấu đề thực luận của một bài Đường luật gần như bị phá vỡ thay vào đó là những câu thơ kể người kể việc. Bạn bè từ xa lâu nay mới đến thăm, chủ nhà rất mừng lòng. Nhà thơ muốn đem tất cả mọi thứ mình có để thiết đãi bạn. Và đúng là có nhiều thứ thật: có cá, có gà, có bầu, có mướp… thế nhưng những thứ ấy đều không thể đem ra dùng được. Bởi:
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Và:
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bâu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Những câu thơ vẽ ra tình huống quả là độc đáo. Tất cả dường như đều nằm ngoài thiện ý của nhà thơ. Thế là từ chuyện chọn thứ gì để mà tiếp bạn, tác giả đã dắt tay người bạn thân và cùng mời luôn người đọc đi thăm thú vườn cây ao cá, thăm thú cuộc sống thanh bạch, ấm áp, vươi tươi mà nhà thơ đang hưởng thụ.
Sự táo bạo của bài thơ còn tiếp tục mở ra trong câu thơ thứ bảy:
Đấu trò tiếp khách trầu không có
Phải chăng cái sự nghèo của Nguyễn Khuyến lại đến mức thế ư? Chắc là không phải thế! Nhà thơ chắc đã thi vị hóa cái nghèo của mình. Làm như thế nhà thơ muốn tách hẳn mình ra khỏi cuộc sống bon chen với bao nhiêu thứ bổng lộc mà thực dân Pháp đang muốn mang ra dụ dỗ. Và tất nhiên câu thơ này là bước đệm tuyệt vời cho sự bùng nổ ý tứ ở câu thơ thứ tám:
Bác đến chơi đây, ta với ta.
Vậy là tiếp bạn, nhà thơ chẳng có mâm cao cỗ đầy, chẳng có cao lương mĩ vị mà chỉ có một tấm lòng chân thành, giản dị, thiết tha.
Bài thơ của Nguyễn Khuyến là một bài thơ độc đáo về câu từ, sắc sảo trong việc sử dụng biện pháp liệt kê. Sự phá cách đầy sáng tạo của nhà thơ đã làm nên một bài thơ đặc sắc, đậm đà tình nghĩa. Nó vừa khẳng định tài năng vừa khẳng định nhân cách cao đẹp, lại vừa ngợi ca tình bạn thắm thiết, chân thành. | Phân tích giá trị nội dung trong bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến | 597 | |
Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
Hướng dẫn
Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
Người yêu thơ Hồ Xuân Hương ít ai không biết đến bài thơ “Bánh trôi nước”, một bài thơ tứ tuyệt giản dị mà ý tứ sâu xa. Bài thơ là lời ngợi ca trân trọng vẻ đẹp và phẩm chất trắng trong, son sắt của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời cũng cảm thông với số phận nổi chìm của họ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vần giữ tấm lòng son
Hồ Xuân Hương là một nhà thơ trữ tình mà phong cách mang một chút ngông nghênh táo bạo. Thơ của bà thường là lời ngợi ca, nâng đỡ và bảo vệ người phụ nữ – những người thường phải gánh chịu trăm ngàn cay cực trong xã hội ngày xưa. Bài thơ Bánh trôi nước này là một bài thơ như thế.
Bài thơ mở để bằng một câu thơ trong trẻo:
Thân em vừa trắng lụi vừa tròn
Xin chớ vội hiểu thân em là hai từ đùng để chỉ một người nào. Thân em ở đây là chỉ chiếc bánh trôi, một thứ bánh làm từ bột nếp, được nhào năn thành những viên tròn, có nhân đường phên ở giữa và thường được luộc chín bằng cách cho vào nồi nước đun sôi. Bột nếp màu rất trắng, khi làm bánh, chiếc bánh lại được nặn tròn vì thế mà câu thơ đầu này trước hết là một câu tả thực. Nó nói đến chất liệu và cách thức làm một chiếc bánh trôi.
Câu thơ thứ hai lại là một kinh nghiệm khác của người làm bánh. Đã là cách luộc những chiếc bánh trôi:
Bảy nổi ba chìm với nước non
Bánh được cho vào nồi nước-nóng hoặc nước đang sôi. Người luộc bánh phải chờ khi những chiếc bánh nổi thật trên mặt nước thì mới được coi là chín và mới vớt ra ngoài nước.
Hai câu thơ những tưởng chẳng mang ẩn ý gì. Thế nhưng đằng sau hai câu thơ ấy là phẩm chất và cả thân phận nổi chìm của những người phụ nữ ngày xưa. Chiếc bánh trắng trong với nhân đường son đỏ kia là phẩm chất, là cuộc đời của họ. Nó lênh đênh, nó nổi chìm giữa biển đời trong đục đa đoan. Hai câu thơ sau càng cụ thể hơn điều đó:
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
Chiếc bánh rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, còn người phụ nữ cũng đâu có tự quyết định được số phận của bản thân. Sống giữa cuộc đời, họ bị kèm nén giữa bao nhiêu ràng buộc. Ca dao cũng đã từng có nhiều câu như thế. Ví như:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vao tay ai
Thế nhưng dẫu có bị rắn nát, dẫu có phải lênh đênh trôi nổi “bảy nổi ba chìm” thì chiếc bánh kia vẫn giữ tấm lòng son đỏ. Và cũng thế, người phụ nữ cũng luôn son sắt thủy chung. | Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương | 544 | |
Phân tích Giá trị nội dung và nghệ thuật của văn học dân gian qua những chi tiết tiêu biểu của truyện dân gian
Hướng dẫn
Phân tích Giá trị nội dung và nghệ thuật của văn học dân gian qua những chi tiết tiêu biểu của truyện dân gian
Bao giờ bạn tin những ước mơ thời cổ tích, để rồi đêm đêm trằn trọc hóa chiêm bao? Có khi nào bạn xúc động đến trào nước mắt khi được đọc những tâm sự tế nhị kín đáo trong ca dao, dân ca? Riêng tôi, tôi đã có một vài lần như thế!
Nói đến nền văn học dân gian là nói đến truyện dân gian và ca dao, dân ca. Nó được xem như những viên ngọc sáng ngời trong kho tàng văn học dân gian. Tồn tại từ xưa đến nay và đời sau nữa truyện dân gian và ca dao, dân ca vẫn mãi mãi đi sâu vào lòng người, bởi vì nó chứa đựng những nội dung dân chủ và nhân đạo sâu sắc đồng thời nghệ thuật trong truyện dân gian và ca dao dân ca cũng đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật khiến mọi người đều ưa thích.
Từ kể ngày xưa truyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…
(Tố Hữu)
Rõ ràng, trong truyện Mị Châu – Trọng Thủy, Mị Châu là người đáng chê trách. Nàng đã để lộ bí mật quốc gia, tiếp tay cho kẻ thù phản bội lại đất nựớc. Cái chết của Mị Châu là chi tiết cần phải có trong truyện để cô đền tội với đất nước, nhưng xét ở góc độ khác: Mị Châu phản bội Tổ Quốc, mù quáng trong tình yêu là do đâu? Do lòng chung thủy! Cho đến lúc nguy khốn mà vẫn rắc lông ngỗng cho chồng đi tìm mình! Cảm động vì nỗi đó, nhân dân ta đã cho nàng được hóa thành ngọc trai, và khi đem ngọc trai về rửa ở nước giếng cổ Loa thành, nơi Trọng Thủy đã tự vẫn, thì viên ngọc trái lại sáng ngời như tấm lòng trong trắng và ngây thơ của Mị Châu.
Truyện dân gian thì như thế, còn trong ca dao, dân ca thì sao? Nhân dân ta đã “mượn” ca dao, dân ca để thổ lộ tâm sự thầm kín về tình yêu quê hương, đất nước, yêu lao động, đặc biệt là tình yêu đôi lứa. Đề tài tình yêu đôi lứa chiếm số lượng lớn trong kho tàng ca dao, dân ca thể hiện trong dân gian rất bình dị và dí dỏm, như chuyện viện cớ “Áo anh sứt chỉ đường tà ” chàng trai đã tỏ tình với cô gái thật khéo:
Khâu rồi anh sẽ trả công
Đến lúc lấy chồng, anh lại giúp cho
Giúp cho một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp cho đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau
Ý đồ của người con trai đã quá rõ ràng trong sự tuân thủ chấp hành tục lệ cưới xin. Vậy là người con trai tế nhị ngỏ lời cầu hôn trực tiếp với người con gái. Nhưng trong tình yêu có những chàng trai đã bộc bạch một cách thẳng thắn và táo bạo:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh cưới được nàng…
Đặc điểm trổi rõ nhất trong ca dao, dân ca của nhân dân ta là sự rất tế nhị, như trong cách bày tỏ tâm sự:
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con…
“Ai” đó là ai? Và “cò con” là ai? Phải chăng “Ai” kia là vua quan phong kiến, là chế độ xã hội? Và “cò con” đó là đứa bé thơ dại? Câu hỏi tu từ của cò mẹ phải chăng là niềm ai oán của người mẹ trước cảnh đói rách của con mình mà nói ám chỉ?
Ca dao, dân ca cũng miêu tả cả cảnh đất nước:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…
Từ cảnh buổi chiều thanh bình của đất nước vang vọng tiếng chuông chùa Trấn Vũ đến gà gáy sang canh báo hiệu đêm khuya sắp nhường bước cho ánh dương, sau đó tràn ngập không gian là ánh sáng lan tỏa phản chiếu làm cho mặt nước Hồ Tây sáng như gương. Đó là cái đẹp trực quan nhìn bằng mắt, đồng thời cũng là cái đẹp trữ tình của cảm nghĩ về non sông đất nước bằng nghệ thuật của ca dao, dân ca rất độc đáo với các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh …
Tóm lại, nền văn học dân gian nước ta phát triển cùng với lịch sử, đã đạt được những thành tựu cả về nội dung và nghệ thuật, mãi mãi sẽ là nguồn cảm hứng sáng tác của tác giả văn học dân gian. Chúng ta có nghĩa Vụ làm giàu đẹp hơn thêm để không phụ lòng người đi trước, làm phong phú kho tàng văn học dân gian của nước nhà đã, đang và sẽ còn mãi đọng ở trong lòng nhân dân Việt Nam ta. | Phân tích Giá trị nội dung và nghệ thuật của văn học dân gian qua những chi tiết tiêu biểu của truyện dân gian | 896 | |
Phân tích giá trị tình huống truyện trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
Hướng dẫn
Phân tích giá trị tình huống truyện trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
5 (100%) 1 đánh giá
Bài làm
Để một tác phẩm văn học trở nên thành công thì cần có rất nhiều yếu tố tác động vào như nội dung, nghệ thuật, cùng các giá trị nhân văn mà nó mang lại. Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là cách xây dựng tình huống truyện. Một truyện ngắn muốn hay, cuốn hút người đọc thì phải có được một cốt truyện hấp dẫn. Một trong số ít nhà văn được mệnh danh là bậc thầy trong xây dựng cốt truyện đó chính là Kim Lân. Các tác phẩm của ông đều có những nét riêng biệt, đặc sắc, nội bật trong số đó chính là tác phẩm “Vợ nhặt”. Truyện ngắn phản ánh sự thật về nạn đón những năm 1945 và cuộc sống nghèo khổ của nhân dân thời bấy giờ.
Truyện ngắn nói về nhân vật Tràng, một người dân ngụ cư nghèo khổ sống cùng mẹ. Nhà văn Kim Lân đã miêu tả Tràng như một sản phẩm vội vàng của tạo hóa “hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai quai hàm bạnh ra, cái mặt bặm lại lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn. Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước, cái lưng dài rộng như là lưng gấu lại thêm tật vừa đi vừa ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch”. Quả thực Tràng là một thanh niên rất xấu xí, chả ai thèm ngó ngàng. Chẳng những vậy, cái nghèo, cái đói luôn đeo bám, quẩn quanh hai mẹ con Tràng. Kim Lân đã dùng những từ ngữ chân thật để miểu tả cuộc sống và ngôi nhà mà Tràng đang ở “ những búi cỏ dại lổn nhổn”, “đống quần áo rách vắt khươm mươi niên trong một góc nhà”, “hai cái ang nước để khô cong trơ trọi dưới gốc cây ổi”…. Cuộc sống túng thiếu của hai mẹ con hiện lên thật giản dị, tội nghiệp, khiến người khác không khỏi cảm thấy sót thương cho hai số phận. Nhưng điều làm cho Tràng cảm thấy tủi nhục nhất đó chính là mang trong mình cái danh dân ngụ cư, bị dân làng khinh miệt, coi thường.
“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này
Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”
Những câu hò này không hẳn là có ý trêu ghẹo những cô gái ngồi bên đường, mà chủ yếu để giúp chàng ta quên đi những mệt mỏi, đói khát mà mình đang phải chịu. Ấy vậy mà chỉ bằng vài ba lời hát vu vơ mà khiến Tràng được một người con gái để ý và đi theo đẩy giúp. Tràng là ngưởi hiểu rõ hơn ai hết những gì mà mình hát ở trên không phải là sự thật, làm gì mà có gạo trắng mà ăn chứ nói gì đến giò chả. Để rồi đến khi gặp người con gái ấy lần thứ hai, Tràng đã rất đỗi ngạc nhiên trước sự thay đổi ngoại hình của Thị “Thị hôm nay rách quá, trên khuôn mặt lưỡi cày chỉ trơ lại hai con mắt”.
tích giá trị tình huống truyện trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
Quả thực Thị đã gầy đi rất nhiều, có lẽ vì đói, vì khát mà cơ thể con người Thị đã bị tàn phá nhanh đến như vậy. Thị chạy đến sưng sỉa trước mặt Tràng “Điêu! người thế mà điêu”, mới đầu hắn ta chẳng hiểu gì nhưng rồi một lúc cũng ngộ ra rồi mời Thị đi ăn “thích ăn gì thì ăn”. Thị ta chẳng ngại ngùng gì mà cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc, quả thực lúc này thị ta nhìn rất trơ trẽn. Người ngoài nhìn vào có người sẽ khinh bỉ, cho rằng thị ta đang vứt hết cả lòng tự trọng đi để ăn, nhưng cũng sẽ có những người xót thương, đồng cảm cho một con người đang phải chịu cơn đói hành hạ. Khi ấy, con người ta chẳng còn bận tâm đến danh dự, hay nhân phẩm gì nữa, ăn no mới là điều quan trọng trước hết. Đợi đến khi Thị ăn xong, Tràng có nói câu nửa vui nửa đùa rằng “ về với tớ thì khuôn hàng lên xe rồi cùng về”. Tưởng Thị sẽ cười chê mình, nào ngờ Thị về thật, về làm dâu nhà Tràng. Một đám cưới diễn ra.
Việc Tràng có vợ khiến rất nhiều người ngạc nhiên, cụ Tứ – mẹ Tràng cùng tất cả những người thôn ngụ cư “ người trong xóm lạ lắm: Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa. Người thì “cười lên rung rúc’. Người lại lo dùm cho anh ta Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ dài về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”. Người đời cười chê, chế nhạo thế nhưng chẳng làm hai vợ chồng Tràng cảm thấy tủi nhục, xấu hổ. Cho đến khi dẫn Thị về nhà, cả cụ Tứ lẫn Tràng đều không tin nhà mình có con dâu.
Đúng là một tình huống truyện rất lạ mà Kim Lân đã dựng nên. Nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào một tình huống éo le để làm nổi bật lên những giá trị nhân văn sâu sắc. Ông không chỉ muốn nói lên nét đẹp trong tính cách con người Việt Nam là dù có ở trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào,lúc nào cũng có thể đối mặt với cái chết nhưng họ vẫn yêu thương, quan tâm nhau mà ông còn muốn lên án chế độ thực dân độc ác đã khiến nhân dân ta trở nên nghèo đói, lầm than. | Phân tích giá trị tình huống truyện trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân | 1,026 | |
Phân tích giá trị và ý nghĩa văn bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Bản tuyên ngôn nêu nguyên lí chung về quyền bình đẳng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc (Cơ sở pháp lí của bản Tuyên ngôn):
Mở đầu, Hồ Chí Minh trích dẫn “Tuyên ngôn Độc lập” của Mĩ (1776) và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Cách mạng Pháp khẳng định quyền tự do bình đẳng của con người. Từ đó, Hồ Chí Minh suy rộng ra quyền bình đẳng tự do của các dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Việc trích dẫn trên có ý nghĩa:
+ Đề cao những giá trị của tư tưởng nhân loạ. Từ đó khẳng định lập trường chính nghĩa làm cơ sở pháp lí cho bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc.
+ Nâng cao vị thế bình đẳng giữa Việt Nam và các nước lớn trên thế giới.
+ Buộc tội Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp nước ta, làm trái với tinh thần tiến bộ của chính bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Cách mạng Pháp.
+ Đưa ra những lí lẽ thuyết phục để tạo tiền đề cho những lập luận ở phần tiếp theo, làm cơ sở cho cả hệ thống lập luận của bản tuyên ngôn.
+ Cách lập luận chặt chẽ, khéo léo, đầy sáng tạo. Đây cũng là một đóng góp to lớn về mặt tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
+ Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam (Cơ sở thực tế của bản Tuyên ngôn):
Tố cáo tội ác của thực dân Pháp:
+ Thực dân Pháp đã phản bội và chà đạp lên chính nguyên lí mà tổ tiên họ đã từng xây dựng: lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng, bác ái để mị dân và che giấu những hành động “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.
– Về chính trị:
+ Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
+ Chúng thi hành luật pháp dã man, lập ra 3 chế độ khác nhau ở 3 miền để ngăn cản dân ta đoàn kết.
+ Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học.
+ Chúng thẳng tay giết những người yêu nước của ta, tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bễ máu.
+ Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
+ Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm nòi giống ta suy nhược.
– Về kinh tế:
+ Chúng bóc lột dân ta đến xương tủy
+ Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
+ Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng nhập cảng.
+ Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí làm cho dân ta trở nên bần cùng.
+ Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên.
+ Chúng bóc lột công nhân ta vô cùng tàn nhẫn.
Kết quả:
+ Dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
+ Từ Bắc Kì đến Quảng Trị hơn hai triệu đồng bào ta chết đói.
Nghệ thuật liệt kê, điệp từ “chúng”, lời lẽ đanh thép, sử dụng nhiều cách nói tu từ ( so sánh, dùng đồng ngữ kép) _ vừa tăng cường sức mạnh tố cáo vừa thấy được tâm trạn câm phẩn, đau xót của tác giả.
Pháp kể công “bảo hộ”, bản Tuyên ngôn lên án tội bán nước ta hai lần cho Nhật, để phủ nhận vai trò bảo hộ của chúng. Bác dẫn ra 2 sự kiện phản bác:
+ “… Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xăm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh thì bọn thực dân Pháp quỳ gối, đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật…”.
+ “… Ngày 9 tháng 3 Nhật tước khi giới quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng…”, chúng chẳng bảo hộ được ta mà trái lại “ trong 5 năm chúng bán nước ta 2 lần cho Nhật”.
Cách nói giàu hình ảnh, sự kiện xác đáng, chi tiết, vạch trần sự giả dối, hèn nhát vô nhân đạo của thực dân Pháp.
+ Pháp không liên kết kháng Nhật, mà còn khủng bố Việt Minh, giêt tù chính trị Việt Nam: Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh kêu gọi người Pháp liên minh kháng Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại khẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa.
Lí lẽ xác đáng, bằng chứng xác thực, nhằm bác bỏ những luận điệu của thực dân Pháp muốn “hợp pháp hóa” việc chiếm lại nước ta.
Quá trình đấu tranh của nhân dân Việt Nam:
Bản tuyên ngôn khẳng định:
+ Nhân dân ta đã bển bỉ đấu tranh chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm; đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống Phát-xít mấy năm qua.
+ Nhân dân ta đã giành lại đất nước từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp: “ Sự thật là từ mùa thu 1940 nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải của Pháp…Sự thật là dân ta đã lấy lại nước VN từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”.
+ Chính nhân dân Việt Nam đã nổi dậy giành lại độc lập dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt minh, tự chủ tự cường trong việc giành độc lập cho dân tộc: “Dân tộc ta đã đánh đỗ các xiềng xích thực dân gần 100 năm để gầy dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta đã đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.
Bản Tuyên ngôn nhấn mạnh những thông điệp quan trọng:
+ Tuyên bố thoát ly khỏi quan hệ thực dân với Pháp, “Xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam…”.
+ Kêu gọi mọi người đoàn kết chống lại âm mưu xâm lược của thực dân Pháp: “ Toàn dân Việt Nam trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp…”.
Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập của toàn dân tộc:
Kết thúc bản Tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã khẳng định:
+ Độc lập, Tự do là quyền phải có của dân tộc Việt Nam và điều đó đã trở thành sự thật:
+ “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập…”.
+ Dân tộc Việt Nam quyết hy sinh tất cả giữ vững quyền độc lập, tự do đó của mình:
+ “… Toàn thể dân tộc Việt Nsm quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính mạng và cuản cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy.”.
Giá trị nghệ thuật của bản tuyền ngôn:
+ Lập luận chặt chẽ, vững vàng.
+ Lí lẽ đanh thép, sắc bén.
+ Bằng chứng có chọn lọc, đầy sức thuyết phục, xác thực, không thể chối cãi.
+ Ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm.
+ Giọng văn phong phú, linh hoạt.
Ý nghĩa của bản tuyên ngôn:
+ Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do ấy.
+ Kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập tự do.
+ Là áng văn chính luận mẫu mực. | Phân tích giá trị và ý nghĩa văn bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh | 1,333 | |
Đề bài: Phân tích giá trị về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài làm
Chiếc thuyền ngoài xa ra đời ba năm trước thời điếm 1986 – mốc mà bất cứ một nhà văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa nào cũng phải nhớ, như là năm khai sinh và tái sinh con đường nghệ thuật của mình, ít nhất là về tư thế cầm bút, họ được tự do.
Nguyễn Minh Châu được coi là vị khai quốc công thần của triều đại văn học đổi mới. Bắt đầu từ Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu tăng dần độ rung chấn vào cơ địa văn đàn đương thời, dự báo một cuộc bung trào dung nham đổi mới triệt để của văn học nghệ thuật những năm sau đó. Cuộc bung trào dung nham này như là một nhu cầu nội sinh, xuất phát từ chính bản thân văn học, mặt khác, từ chính những biến đổi lớn lao của đời sống xã hội. Nhà văn bắt buộc phải kiểm soát những nhu cầu ấy, rời xa nó tức là chuốc lấy cho mình con đường hẹp, mọi sáng tác chỉ như một phê liệu của nghệ thuật mà thôi.
Phân tích giá trị về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
Nguyễn Minh Châu ý thức rất rõ nhu cầu của nùnh và nhu cầu của văn học. Ông từ giã chính ông, truy đuổi những cách khám nghiệm đời sống dưới góc nhìn và phương tiện mới. Trong Bức tranh và Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, ít nhất, sự truy đuổi ấy đã đặt Nguyền Minh Châu trước một thử thách triết học: sự tự nhận thức. Nhận thức không chỉ diễn ra dưới công năng của tư duy lí trí, mà dường như còn phải diễn ra bằng những luồng xung của tiềm thức, của vùng sâu vùng sáng và vùng tối trong tâm hồn. Cơ mà, cũng phải thấy, đôi khi ông bất lực để lí giải, lí giải cho nhân vật và lí giải cho hiện thực. Nhân vật của ông vượt qua những giăng bẫy hiện thực mà ông chân thật dựng nên, rơi vào trạng thái “bất khả tri”. Sự tự nhận thức trở nên đau đớn, trở thành một vết thương sẵn sàng thức tỉnh. Ai nào biết được khuôn mặt trong bức tranh kia là khuôn mặt gì của thời đại, của thế hệ, của từng cá nhản; ai biết được người đàn bà tên Quì ấy mắc một chứng bệnh cá nhân hay của thế hệ, của thời đại…?. Không dễ dàng đưa ra kết luận, cũng như các nhân vật kia, không dễ dàng dập tắt ngọn lửa tự nhận thức trong mình, dập tắt đồng nghĩa với thiêu rụi sự sống.
Chiếc thuyền ngoài xa nằm trong mạch sáng tác đòi hỏi cả độc giả và nhà văn phải nhận thức lại hiện thực. Hiện thực bây giờ không đơn giản là một vết xước rớm máu trên cánh tay trắng đẹp của cô gái thanh niên xung phong kia mà có lẽ phải là vết xước trong tâm hồn. Ở đó, mỗi cá nhân là một chỉnh thể, một sở hữu của vết xước, bảo toàn và chưng cất nó khiến sự nhận thức mãi mãi không đưa ra một hệ số bằng lòng.
Câu chuyện bắt đầu từ việc Phùng, phóng viên ảnh, đi “săn” một tấm hình, chụp cảnh binh minh trên biển. Tấm hình kia phải là một tác phẩm nghệ thuật, dĩ nhiên, như anh nhận thức, cần tránh lặp lại, nhàm chán và quen thuộc, Phùng rời Hà Nội gần sáu trăm cây số, “phục” ở một bờ biển, nơi vẫn còn lưu dấu cuộc chiến tranh: đó là bãi chiến trường. Tâm thế Phùng là sẵn sàng chờ đợi, anh quen được Phác, một cậu bé thông minh ở vùng biển đó. Sau gần tuần lễ, anh chụp được khá nhiều tấm hình cảnh ngư dân đánh mẻ lưới cuối cùng lúc bình minh lên. Nhưng tấm hình để đời, kiệt tác mà anh hằng mong muốn thì chưa có. Nghệ thuật nhiếp ảnh, qua cách hành xử của Phùng, ít nhiều là thứ quà tặng của thiên nhiên.
Và rồi thì anh cũng có một cảnh trời cho: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh sáng mặt trôi chiếu vào. Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở liên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Những cảm xúc nghệ thuật mà Phùng đón nhận trước vẻ đẹp thiên nhiên quả làm cho ta cảm động. Nó là niềm hạnh phúc, nỗi sung sướng của kẻ luôn sẵn ý thức và trách nhiệm với con đẻ tinh thần mà mình hăng tâm nuôi dưỡng. Phùng rơi vào trạng thái “lên đồng”, một trạng thái cần có trước lúc sinh thành những cảm xúc sáng tạo: “Trong giây phút bối rối ấy, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn’’. Vào khoảnh khắc đó Phùng hoàn toàn thành tâm với nghệ thuật, nó vừa là cái toàn thiện, cái đạo đức, cái trong ngần, vừa là hạnh phúc.. Anh được nó nâng đỡ, ban tặng đồng thời sáng tạo nó, cảm nhận nó. Và trong chốc lát anh “bấm liên thanh một hồi hết một phần tư cuốn phim”. “Cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại” trong ống kính có lẽ là cái đẹp đạo đức của thiên nhiên. Thiên nhiên, ngay cả khi dữ dội nhất, tàn nhẫn nhất, người ta vẫn thu được khoảng khắc rất đẹp: núi lửa, tia chớp, sóng thần, bão cát… Thiên nhiên là bản thể tự nó. Cái gọi là “vẻ đẹp” kia chẳng qua là một chuỗi những thỏa thuận nằm ngoài nó, do con người tạo nên.
Nhưng câu chuyện đột nhiên chuyển sang một hướng khác, sau khoảnh khắc trời cho ấy, Phùng rơi vào một khoảnh khắc, một tình huống “hiện thực cuộc sống” ban cho. Chính từ lúc này, Phùng vấp phải một thách đố khác, có lẽ còn nghiệt ngã hơn cả sự sáng tạo nghệ thuật – thách đố lí giải, nhận thức hiện thực.
Trước cảnh tượng liền kề với khoảnh khắc nghệ thuật, Phùng kinh ngạc đến mức “trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới”. Phùng lao tới nơi người đàn ông “tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền, hàng lông mày cháy nắng rũ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ” đang dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà "cao lớn với những nét thô kệch”, “lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két”… Nhưng Phùng đã bị cản lại bởi “bóng một đứa con nít”, đó là Phác, con trai của cặp vợ chồng kia. Phác giật chiếc thắt lưng từ tay người đàn ông, lão “dang thẳng cánh tay cho thằng bé hai cái tát”. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Kết thúc cái cảnh tượng ấy, “bãi cát lại trở về với vẻ mênh mông và hoang sơ”, chỉ còn Phùng, cậu bé Phác và tiếng sóng ngoài khơi, tất cả chìm vào cõi im lặng…
Có lẽ, đó là một hiện chực "quái đản”. Một hiện thực hiển nhiên mà không thể lí giải. Người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng sự hành hạ của chồng. Người chồng đánh đặp vợ tàn nhẫn như một thói quen, vô cảm và bản năng. Những đứa con bất lực nhìn cảnh bạo lực diễn ra ở chính cha mẹ chúng. Tất cả đều im lặng, triền miên ở ngay nơi chiến tranh vừa đi qua. Tất cả đều diễn ra đằng sau cái vẻ đẹp đơn giản và toàn bích của thiên nhiên. Một hiện thực quái đản xâm lấn ngay sau phút giây hạnh phúc của người nghệ sĩ. Một nỗi đau và dìm nén nỗi đau, một bình yên và phá hoại bình yên, một dư chấn và một khoảng lặng cứ đan cài nhau giữa muôn trùng tiếng sóng biển. Và rồi, cũng như trong câu chuyện cổ quái đản, tất cả đều biến mất, tất cả cứ lặp lại…
Lần thứ hai chứng kiến, Phùng trở thành người hùng, anh đánh quật gã đàn ông vũ phu bằng cú đánh của người “không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh…”. Phùng nhân danh một người lính – những người đã đổ máu để giành lại bình yên cho đồng bào mình, chăng? Hay ở anh còn có một động cơ “đạo đức” của người nghệ sĩ – người biết thưởng thức và giữ gìn vẻ đẹp toàn thiện chứ không phải là toàn ác, tha hóa?
Phùng đã nhờ Đẩu, người bạn đồng ngũ nay là chánh án huyện phụ trách địa bàn, can thiệp vào trường hợp gia đình vợ chồng thuyền chài này. Những cú đánh của Phùng chỉ là phản ứng nhất thời, anh cần đến tiếng nói của một quan tòa. Nhưng rút cuộc, cả Đẩu và Phùng chỉ như những đứa trẻ, đi hết bất ngờ rồi phẫn nộ rồi im lặng trước lời thú tội, kế lể của người đàn bà: “Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú, Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Hóa ra, ở người đàn bà xấu xí và tội nghiệp này là cả một hiện thực “bất khá tri”. Bà nhẫn nhục chịu đựng sự hành hạ của chồng như chức phận mà mình có được, thỏa nguyện vì chức phận đó. Trong thâm tâm bà, những nỗi đau đớn mà mình gánh chịu xứng đáng như thế vì bởi bà… đẻ nhiều con quá. Điều đó đồng nghĩa với cái đói, cái nghèo khổ còn bám riết lấy gia đình này. Nhưng thực tế, cái đói, cái nghèo khổ đâu chỉ bởi bà đẻ nhiều, mà nó cùng là một thiên thức rất đàn bà thôi. Trong lời thú tội ngậm ngùi, chân thật và tê tái của bà, có những câu hỏi không dễ trả lời, những mâu thuẫn khó giải thích: để yêu thương và sống qua muôn nỗi khó khăn, cơ cực, đôi khi người ta phải chấp nhận sự tàn nhẫn, tha hóa, phi đạo đức.
Người chồng vốn dĩ hiền lành, nghĩa hiệp. Sự khốn cùng, mong manh của đời sống chài lưới đã biến ông ta thành vũ phu. Có phải là một Chí Phèo, một quỷ dữ bước ra từ cái làng hẻo lánh kia không? Tại sao, dưới cái xã hội mới này, nơi mà “giấc mơ đại tự sự” đã lan tỏa trong mọi không gian nhỏ hẹp của đời sống, vẫn có những mảnh đời đau đớn, tha hóa kia?
Hành động vũ phu hay là sự bế tắc, hay là sự giải thoát của những con người tội nghiệp. “Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…". Rõ ràng, đây là một cách giải thoát trong bế tắc, một giải thoát dầm nước mắt và đau đớn.
Cả Đẩu và Phùng đều thốt lên: ‘‘Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được”. Họ không thể hiểu tại sao hai con người nhỏ bé kia lại chấp nhận sống và yêu thương bằng kiểu lạ lùng như vậy. Dù lời kể cua người đàn bà phần nào giúp họ nhận ra những ẩn ức thẳm sâu nhưng họ vẫn dừng lại trên bờ vực của sự nhận thức hiện thực. Họ chưa thể nào dò thấu đáy sâu của nổi ẩn ức kia cũng như hiện thực đang diễn ra trước mặt họ.
Tình huống mà Phùng không lường trước trong chuyến đi này có phải là tình huống dựng của nhà văn? Nhà văn đặt nhân vật và độc giả vào một tình huống phải nhận thức. Nhưng nhân vật đã không lí giải được hiện thực, tiếng nói của quan tòa cũng trở nên lạc lõng. Họ chấp nhận nó bằng những thỏa thuận bên ngoài. Cơn bão biển khơi lại nổi lên, biển động, gia đình thuyền chài này rất có thể lại phải nhịn ăn, đói rách. Cái cảnh tượng thường tình kia, sẽ lại xảy ra “Con sói con” – cậu bé Phác, lại phải thủ một con dao trong mình để trấn áp người cha, trấn áp người đàn ông lầm lũi kia… Những dự cảm buồn như vết xước trở đi trở lại trong tâm hồn. Những tâm hồn đầy vùng tối.
Phùng đã có một tấm hình để đời, được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Nhưng ám ảnh về cảnh tượng đằng sau bức ảnh thì không thể xóa mờ. Đằng sau vẻ đẹp vĩnh hằng kia cũng là nỗi đau vĩnh viễn. Nghệ thuật đã che giấu, khỏa lấp cái tha hóa, phi đạo đức? Hay nghệ thuật “bất khả tri” trước hiện thực? Cũng như chiếc thuyền ngoài xa, nghệ thuật chỉ
có thể nắm bắt được cái bóng của nó, cái bóng của hiện thực, vẻ ngoài của nghệ thuật, đôi khi như màn sương làm “mờ hóa” khả năng tri nhận ở chúng ta. “Bất khá tri” trở thành niềm day dứt của người nghệ sĩ. Với người nghệ sĩ, thiên chức là ngưỡng vọng và sáng tạo một vẻ đẹp toàn thiện nhưng sẽ là kẻ tội đồ nếu vẻ đẹp ấy làm che khuất và quên đi những bất hạnh trong đời. Cái đẹp không chỉ là đạo đức, nó là sự phản tỉnh.
Cá nhân Phùng, Đẩu sẽ không đủ sức lí giải, chấm dứt bi kịch của gia đình thuyền chài kia. Họ chưa đủ làm ánh sáng để xua đi vùng tối trong tâm hồn những con người bé nhỏ, khổ đau. Trước vẻ đẹp của thiên nhiên, Phùng hoàn toàn thâu nhận. Trước số phận của người đàn bà, Phùng là người ngoài cuộc. Mâu thuẫn đó dường như đeo đẳng suốt hành trình sáng tạo của nghệ thuật.
Chiếc thuyền ngoài xa là một truyện ngắn giàu chất điện ảnh do có sự gia tăng của kiểu chi tiết – hình ảnh. Trường đoạn Phùng chứng kiến người chồng hành hung vợ là trường đoạn được kể bằng hình ảnh. Nó diễn ra dưới một cú quay toàn cảnh kéo dài. Kịch tính đến nghẹt thở, bất ngờ đến choáng váng. Yếu tố “động” của chi tiết được bao bọc trong sự yên tĩnh của cảnh, cảm giác máy quay không di chuyển. Lời thoại rút giảm tối đa, những hình ảnh khô khốc và bạo lực. Tiếng nghiến răng ken két của gã đàn ông vũ phu, tiếng thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà ngưng đọng giữa tiếng sóng biển. Thứ âm thanh dẫn dắt cảm xúc người đọc – người xem vào những mao mạch trí nhớ khác nhau, hoặc rát buốt hoặc tê cóng hoặc câm nín. Kết thúc trường đoạn, cảnh vật trở nên bình lặng, yên ả như chưa hề nhuốm sắc thái bạo lực khốc liệt. Một sự trả về hờ hững của thiên nhiên. Ống kính dừng lại ở một khoảnh khắc bình yên mà nhức buốt tâm can… Sử dụng yếu tố điện ảnh, Nguyễn Minh Châu tạo nên hiện thực gần như một cuốn phim tư liệu, chân thực và xúc động.
Là kiểu truyện ngắn mở ra tình huống nhận thức, Nguyễn Minh Châu còn sử dụng tính biểu tượng. Biểu tượng từ việc đặt tên nhân vật (Phùng – gặp gỡ, chứng kiến, ngụ ý người quan sát; Đẩu – vị phán quyết; Phác – sự thuần hậu, ngụ ý một phẩm chất của nghệ thuật; đứa con gái của vợ chồng thuyền chài – nàng tiên cá, ngụ ý vẻ đẹp bí ẩn mà cuộc sống ban tặng) đến biểu tượng trung tâm: chiếc thuyền ngoài xa. Chiếc thuyền ngoài xa hay là sự bất khả tri, kiểm soát và chứng kiến được? Chiếc thuvền ngoài xa mãi mài là một khát vọng tìm kiếm, với tới để níu giữ, để nhìn lại. Khi chiếc thuyền vẫn còn ở ngoài xa, những định giá và huyền tưởng về nó vẫn chỉ nằm trong một lớp sương mờ ảo mà thôi.
Năm 1983, khi Chiếc thuyền ngoài xa ra đời, đất nước vẫn chưa thoát khỏi dư chấn của chiến tranh, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, số phận cá nhân nằm im dưới lớp băng hà của “giấc mơ đại tự sự”. Với những dự cảm thời cuộc sắc bén và tài năng nghệ thuật của mình, Nguyễn Minh Châu đã giúp lớp băng hà kia có những vết nứt cần thiết, vết nứt để nhìn ra vùng tối, và có thể, đón nhận vùng sáng. | Phân tích giá trị về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu | 2,999 | |
Phân tích hai câu cuối của bài thơ Ngắm trăng
Hướng dẫn
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Ít ai thưởng trăng trong tư thế kì lạ này. Đọc kĩ nguyên tác chữ Hán để thấy rõ hơn vị trí của người, trăng và cái song sắt nhà tù:
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
Nhân – nguyệt, rồi nguyệt – thi gia ở hai đầu câu thơ, cái song sắt chắn ở giữa. Trong mối tương giao tri kỉ tri âm của con người và vầng trăng, cái song sắt hiện lên thật thô bạo nhưng bất lực. Chú ý: ở đầu câu, Bác dùng nhân tức người, người tù, để chỉ chủ thể, nhưng cuối câu thơ dưới, chủ thể lại là thi gia. Trước cuộc ngắm trăng, Bác là người tù, cuối cuộc ngắm trăng, người tù đã thành nhà thơ. Bác đã hoàn thành cuộc vượt ngục bằng hành động ngắm trăng, thân thể ở trong lao nhưng tinh thần đã ở ngoài lao!
Ngắm trăng nhưng lại phát hiện ra vẻ đẹp của cõi người. Người xưa ngắm trăng thấy trăng đẹp, trăng trong, lại buồn cho cõi đời cát bụi trầm luân. Lý Bạch nghĩ ngợi:
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương
Tản Đà ngao ngán nói với chị Hằng:
Trần thế nay em chán nữa rồi!
Hồ Chí Minh ngắm trăng rất giống người xưa trong niềm mê say cái đẹp thiên nhiên nhưng cũng khác người xưa trong sự phát hiện vẻ đẹp của cõi người. Với Bác, người ngắm trăng thì trăng cũng ngắm người, vẻ đẹp con người cũng đủ sức làm say vầng trăng. Đây không chỉ là cái hay của bút pháp mà còn là vẻ đẹp của một nhân sinh quan. | Phân tích hai câu cuối của bài thơ Ngắm trăng | 301 | |
Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương
Hướng dẫn
Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương
Hồi hương ngẫu thư là một trong số các bài thơ xuất sắc nhất của Hạ Tri Chương. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương giản dị, nhẹ nhàng mà sâu sắc của một trái tim nồng hậu thiết tha. Đọc bài thơ ít ai trong chúng ta không thấy xúc động bồi hồi, nhất là khi chúng ta cũng bất ngờ trước ý thơ cua hai câu thơ cuối:
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn: Khách tòng há xứ lai?
(Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi)
Hạ Tri Chương xa quê đã bao năm nay trở về như con ngựa già quay đầu về quê cũ. Bao năm bươn trải khiến mái tóc đã pha sương. Thế nhưng ngần ấy năm cũng là khoảng thời gian mà lúc nào trong lòng của kẻ ly hương cũng canh cánh một nỗi niềm gửi về quê cũ. Vì thế mà khi vừa mới đặt chân về đến quê hương lòng người lữ thứ xao động lắm. Mọi thứ giờ đã đổi thay và mình cũng đã già rồi thế nhưng tự đáy lòng mình, mình thấy mình vẫn đang gắn bó sâu sắc lắm với quê hương. Bao năm xa cách nơi chôn rau cắt rốn, mình vẫn tự hào vì giọng quê chẳng có chút đổi thay.
Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?
Về đến quê hương, vừa bước chân qua khỏi cổng làng, nhà thơ gặp một đám trẻ con, có lẽ nhỏ hơn cái ngày ra đi thủa trước. Đang xúc động bởi hình như đám trẻ gợi về cho mình bao kỷ niệm tuổi thơ. Thế nhưng càng nhìn lại càng thấy lạ. Mình cũng lạ và bọn trẻ lại càng thấy mình lạ lẫm hơn.
Tinh huống bất ngờ nảy sinh từ đó. Lũ trẻ “tương kiến bất tương thức” (nhìn mà khổng biết). Thế nên rất hồn nhiên, lũ trẻ cười hỏi một câu mà khiến nhà thơ cứ thế lặng câm và đau nhói. Thì ra mình đã quá già rồi. Bao năm xa quê dài đằng đặc khiến mình đã trở thành người lạ lẫm trên chính mảnh đất yêu thương. Bạn bè ngày xưa khống biết ai còn ai mất. Và cũng không biết trong ngôi làng nhỏ bé này còn ai nhớ đến khuôn mặt, còn ai nghĩ đến sự tồn tại của bản thân ta? Thế là từ một câu hỏi hồn nhiên ngây thơ của nhi đồng, nhà thơ cứ thế đuổi nhau bao câu hơi man mác, bâng khuâng và buồn đau da diết. | Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương | 468 | |
Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ ngắm trăng của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Đến câu thơ thứ ba ánh trăng mới xuất hiện trực tiếp trước mắt đắm say của người tù:
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
Cảnh thưởng trăng ở đây thật đặc biệt. Đặc biệt trong sự giản dị không có rượu có hoa. Đặc biệt bởi vị thế của người ngắm trăng không phải là người thanh nhàn, một tao nhân mặc khách mà là một người tù bị giam hãm, xiềng xích trong bốn bức tường với muôn nghìn khổ cực. Nhưng tâm hồn của người tù đó đã vượt thoát khỏi bốn bức tường của nhà lao để mở rộng chào đón chân thành và tha thiết người bạn đặc biệt của mình. Tất cả thu vào một hành động ngắm, nhòm kì lạ; nhìn nhau qua chấn song sắt của nhà tù. Hai câu thơ chữ Hán đã lột tả được đầy đủ cảnh thưởng trăng đặc biệt này:
“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia”.
Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ ngắm trăng của Hồ Chí Minh
Hai chữ đầu của hai câu thơ là hình ảnh người và trăng (Nhân — nguyệt, nguyệt — thi gia) và giữa hai vế của mỗi câu, giữa trăng và người tù là song sắt nhà giam tàn bạo. Hiện thực tàn bạo của nhà tù vẫn len lỏi vào cuộc sống tinh thần của người tù. Nó như muốn ngăn cách người tù và trăng. Tất cả làm cho cuộc sông trong tù và làm cho buổi thưởng trăng thật rõ ràng, sống động. Ớ đây, người tù đã một lần nữa vượt qua và chiến thắng được hiện thực tù đày. Người tù ấy đã quên đi cuộc sống lao khổ của chôn tù đày để tâm hồn vượt thoát, bay bổng, hòa vào với vẻ đẹp của ánh trăng. Động từ “hướng” không chỉ là cử động của một cái nhìn mà là sự thức dậy của cả một tâm hồn đầy say đắm. Hình như trăng đã hiểu tâm hồn người tù, hiểu được tình cảm chân thành của người tù nên cũng có một hành động đầy tình cảm:
“Nguyệt tòng song khích khán thi gia”.
Ánh trăng xuyên thấu nhà tù để nhìn lại, chia sẻ với người tù. Ánh trăng như ánh mắt, như gương mặt con người, có tâm hồn, có tình cảm và đầy sự đồng cảm. Trăng dâu chỉ còn là đốì tượng thiên nhiên, là vẻ đẹp chỉ để thưởng thức mà ở đây trăng đã trở thành kẻ tâm giao, tri kỉ của người tù. Hành động của trăng là hành động của những người bạn đã thấu hiểu tâm hồn của nhau. Trăng nhìn người, người nhìn trăng. Và phút giao cảm thiêng liêng ấy đã khiến mọi đau thương, gian khổ, tăm tối của cuộc sống ngục tù tan biến. Tâm hồn con người nhẹ nhõm, thăng hoa, khiến tù nhân thoắt biến thành thi nhân. Chữ “nhân” trong câu thơ thứ ba Bác dùng để chỉ người ngắm trăng, nhưng đến chữ cuối cùng của bài thơ, người ngắm trăng đã biến thành thi nhân. Có một điều kì lạ, bài thơ Ngắm trăng là một trong số ít những bài thơ Bác tự nhận mình là thi nhân. Cuộc sống trong tù là vô nhân đạo. Nhưng đằng sau đó, không đơn giản chỉ là một trái tim biết rung cảm trước cái đẹp vĩnh hằng của tạo hóa, mà còn là một tâm hồn mạnh mẽ, tràn ngập sức sống, dám vượt qua hiện thực trần trụi của nhà tù để giao hòa với thiên nhiên, đất trời. Nếu không phải là một tâm hồn nghệ sĩ, không phải là một bản lĩnh thép của một người chiến sĩ kiên cường thì Bác không thể vượt qua chính mình trong hoàn cảnh đó. | Phân tích hai câu thơ cuối bài thơ ngắm trăng của Hồ Chí Minh | 664 | |
Phân tích hai câu thơ đầu bài thơ Ngắm Trăng của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Ngắm trăng là đề tài quen thuộc của thi ca phương Đông. Đó là một thú vui tao nhã của các tao nhân mặc khách. Không biết tự bao giờ, trăng đã trở thành người bạn thơ, trở thành nguồn cảm hứng dồi dào cho tâm hồn nhiều xúc cảm. Nhưng người ta chỉ ngắm trăng trong những lúc thanh nhàn, tâm hồn thư thái. Vậy mà trong những tháng ngày bị giam cầm, mất tự do, Bác Hồ của chúng ta vẫn ngắm trăng và làm thơ. Tìm đến với trăng, Hồ Chí Minh tìm đến với vẻ đẹp vĩnh hằng của tạo hóa nhưng cũng là tìm đến với người bạn tri âm, đối ảnh của mình trong những tháng ngày gian khổ. Điều đó đã tạo nên một hoàn cảnh giao tiếp đặc biệt và một giọng thơ độc đáo cho thi phẩm.
Phân tích hai câu thơ đầu bài thơ Ngắm Trăng của Hồ Chí Minh
Câu thơ mở đầu đã mở ra một cảnh sống trong tù:
“Trong tù không rượu cũng không hoa”
Câu thơ mở ra một hiện thực trần trụi. Hai từ “không” xuất hiện như một sự khẳng định tuyệt đối sự vắng mặt của “rượu” và “hoa”. Giữa bao nhiêu thiếu thốn, đắng cay của kiếp sống trong tù vậy mà nhà thơ lại đưa ra sự thiếu thốn về “rượu” và “hoa” – những đối tượng phục vụ cho đời sống tinh thần, thuộc về những thú vui tao nhã. Đó có thể coi là những thứ xa xỉ của kiếp sống tù đày. Nhưng không phải ngẫu nhiên, nhà thơ đề cập đến rượu và hoa. Bởi tâm hồn nhà thơ đang hướng ra một thế giới khác. Thế giới đó đối lập với cuộc sống trong tù. Thế giới đó đang tràn ngập trong tâm hồn nhà thơ:
“Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ”
Câu thơ thứ hai chính là lí do của câu thơ thứ nhất, làm điểm tựa cho câu thơ đầu. Thì ra trước cảnh đẹp của buổi đêm làm Người nhớ tới rượu và hoa thấp thoáng một nỗi băn khoăn, đầy thơ mộng. Tất cả giúp người đọc nhận ra một người tù đặc biệt, với một tâm hồn thanh cao, khao khát hòa nhập với thiên nhiên, đất trời. Cụm từ “nại nhược hà” (làm thế nào bây giờ?) nghĩa là có cái lúng túng, băn khoăn của con người trước cảnh đẹp. Cảnh đẹp hiện ra trước mắt thi nhân trong khi bên mình chẳng có những thứ vốn thuộc thú vui thanh cao, tao nhã để cùng thưởng thức: đó là rượu và hoa. Một niềm băn khoăn rất nghệ sĩ đi bên cạnh cái trơ trụi, khắc nghiệt của nhà tù. Hai câu thơ đầu làm bộc lộ nên cái thiếu thốn của chốn lao tù nhưng câu thơ không hề có chút bi lụy. Một giọng điệu thơ hóm hỉnh, có chút bông đùa trong cách vào đề đầy bất ngờ:
“Trong tù không rượu cũng không hoa”
vẫn chưa có một từ ngữ cụ thể nào chỉ con người nhà thơ nhưng thi nhân đã hiện lên với một bản lĩnh vững vàng của một con người biết vượt lên trên những gian khổ của đời sông tù ngục để giữ nguyên vẹn một tâm hồn thanh tao, nhạy cảm, tinh tế, biết rung động trước mọi vẻ đẹp của đất trời. | Phân tích hai câu thơ đầu bài thơ Ngắm Trăng của Hồ Chí Minh | 583 | |
Phân tích hai câu thơ đầu bài thơ đây mùa thu tới của Xuân Diệu
Hướng dẫn
Phan tich hai cau tho dau bai tho day mua thu toi cua Xuan Dieu – Đề bài: Trong bài Đây mùa thu tới, Xuân Diệu dùng hình ảnh liễu để chỉ mùa thu có gì khác với thơ ca truyền thống? Sự sáng tạo đó đã đem lại hiệu quả nghệ thuật như thế nào cho bài thơ? Phân tích hai câu thơ đầu để làm sáng tỏ điều đó:
Rặng liều đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.
Bài làm:
Mùa thu là đề tài muôn thuở của thi ca. Thi nhân thường dùng những biểu tượng để nói về mùa thu:
Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu.
(Một lá ngô đồng rụng
Ai cũng biết thu về).
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết “Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô”, trong Thu điếu, Nguyễn Khuyến thấy “Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”, trong Tiếng thu, Lưu Trọng Lư nghe “Lá thu rơi xào xạc 1 Con nai vàng ngơ ngác – Đạp trên lá vàng khô”, còn trong Đây mùa thu tới, Xuân Diệu lại cảm nhận bước chân mùa thu vể qua hình ảnh một rặng liễu ven hồ:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.
Đó là răng liễu thu, rặng liễu tâm hồn 1 một biểu tượng thu mới mẻ trong thơ Xuân Diệu đã thành một ấn tượng không phai mờ trong lòng người đọc 70 năm qua.
Trong thơ ca truyền thống, người ta không dùng liễu để nói về mùa thu mà chỉ dùng các biểu tượng lá vàng (“Sân ngô cành bích đã chen lá vàng” – Kiều) hoặc hoa cúc, loại hoa đặc trưng của mùa thu:
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ
(Thu hứng, Đỗ Phủ bản dịch của Nguyễn Công Trứ)
Tóm lại, màu vàng được xem như dặc trưng của mùa thu, tín hiệu báo mùa thu dã vẻ: “Ô hay! Buồn vương cây ngô dồng / Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông …” (Bích Khê).
Khi về hội liễu Chương đài
Cành xuân đả bi cho người chuyên tay.
(Truyện Kiều)
Dường như không có nhà thơ cổ điển nào lại dùng liễu để chỉ mùa thu. Vậy mà nhà thơ lãng mạn (hiện đại) Xuân Diệu lại dùng chính hình ảnh này để nói về mùa thu, và không chỉ dùng theo lối tượng trưng mà theo cách tả thực thành một hình ảnh liễu – mùa – thu đầy ấn tượng và cứ sức ám ảnh dai dẳng trong lòng người:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.
Mừa thu những năm 30 của thế kỉ trước, Xuân Diệu đang ở Hà Nội trong tâm trạng một thanh niên mất nước và hẳn là những rặng liễu ven hồ đã đem đến cho thi nhân lãng mạn này một nỗi buồn tẽ tái thê lương. Nguyễn Du từng viết trong Truyện Kiều:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Rặng liễu mềm mại, thướt tha vốn đã gợi nét buồn, đi vào hồn thơ Xuân Diệu lại càng buồn hơn nữa. Không còn là rặng liễu thiên nhiên, nó đã trở thành rặng – liễu – tâm – hồn của nhà thơ. Dưới mắt ông, rặng liều đứng chịu tang thật buồn bã, mà mỗi giọt sương thu đọng trên lá liễu giống như những mái tóc buồn đang buông xuống hàng ngàn giọt lệ. Nỗi buồn thu đã vỡ ra thành tiếng khóc và đọng lại thành nước mắt. Nhà thơ đã hình tượng hóa rặng liễu thành những con người mang hồn người đầy sức ám ảnh. Một rặng liễu đứng chịu tang đang khóc trước mùa thu của đất nước, và đấy chính là tâm trạng của Xuân Diệu khi “mùa thu tới”. Phải thừa nhận đây là một hình ảnh đầy sáng tạo của thỉ nhân, khiến cho dưới ngòi bút thơ ông, liễu đã đi vào mùa thu với tư cách như là một biểu tượng. Một biểu tượng thật mới mẻ lần đầu tiên xuất hiện trong thơ thu bằng hình ảnh liễu, mà vẫn đứng được bằng ấn tượng mạnh mẻ, và không những thế, vẫn sống được lâu bền trong lòng độc giả yêu thơ qua hơn bảy thập kỉ từ những năm 30 của thế kỉ trước cho đến tận hôm nay, và chắc chắn nó còn đồng hành với chúng ta đi đến tương lai, Ta hỉểu, đó là sức mạnh của hình ảnh thơ, vừa độc đáo vừa sáng tạo đó còn là sức mạnh của âm điệu, nhịp điệu thơ để tạo ra một nhạc điệu, một giai điệu thơ Xuân Diệu trong câu thơ rất tài hoa này. Hãy đọc lại và lắng nghe:
Tóc buồn / buông xuống / lệ ngàn hàng.
Cũng là nhịp thơ 2 – 2 – 3 quen thuộc trong câu thơ 7 chữ của “thơ mới”, nhưng có phải nó có một nhạc điệu riêng trong đó, nhờ nghệ thuật láy âm tài tình của tác giả? Ba cặp láy âm: Âm iu (liêu – đìu – hiu – chịu), âm ang (tang – ngàn – hàng), âm uông ( buồn – buông – xuống) khiến cho các chữ thơ như quyện chặt vào nhau, đính vào nhau, và đặc biệt ba chữ âm ang (Âm mà) lại là thanh khống dấu và dấu huyền đứng ở cuối hai dòng thơ đã tạo nên một nhạc điệu buồn mênh mang lan tỏa mà thấm thía lắng sầu. Câu thơ không thể đọc nhanh mà phải đọc chậm theo một nhịp dàn trái từng chữ lên bổng xuống trầm du dương thú vị. Nhạc điệu câu thơ đã tôn thêm hình ảnh thơ, hỗ trợ đắc lực cho hình ảnh thơ, làm cho hỉnh ảnh thơ theo nhạc điệu mà quyện chặt vào lòng người, ngân nga mải trong trái tim độc giả. Đúng là hai câu thơ rất đặc trưng và rất tài hoa của Xuân Diệu, tiêu biểu cho “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”’ (Hoài Thanh).
Trong “ngôi nhà thơ thu” của dân tộc, bên cạnh nhừng câu thơ “long lanh đáy nước in trời” của Nguyễn Du, chùm thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến, cái ‘Tiếng thu” để đời của Lưu Trọng Lư, và sau này, những câu thơ trong sáng về mùa thu của Nguyễn Đình Thi,… rặng liễu thu buồn của Xuân Diệu đã gốp một nét thu độc đáo vào mùa thu đảt nước, làm giàu thêm những mùa thu dân tộc trong tâm hổn ta. | Phân tích hai câu thơ đầu bài thơ đây mùa thu tới của Xuân Diệu | 1,112 | |
Phân tích hai câu đầu của bài thơ Ngắm trăng
Hướng dẫn
Có nhiều mẩu chuyện cho biết Bác Hồ rất yêu thiên nhiên. Nghỉ chân trên đường công tác, Bác cũng chọn nơi có cảnh đẹp. Tìm chỗ dựng căn nhà sàn ở Việt Bắc hay chăm chút cây lá ở Phủ Chủ tịch, Bác Hồ đều thể hiện lòng yêu mến cái đẹp của trời đất. vầng trăng, cái ánh sáng cao khiết, huyền ảo từng làm mê hồn, mê đắm nhiều văn nhân nghệ sĩ mọi thời, đã được Bác Hồ đặc biệt yêu quý, coi như bầu bạn của tầm hồn, cảm hứng của thơ ca. Rải rác trong nhiều bài thơ, Bác đã ca ngợi trăng. Có bài thơ trăng, Bác viết trong tù, có bài viết khi làm Chủ tịch nước, địa vị thay đổi mà tình cảm của Bác vẫn như nhất.
Bài Ngắm trăng viết trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, giới thiệu một tư thế ngắm trăng độc đáo, biểu lộ một phong thái sống ung dung, chủ động ngay trong những cảnh ngộ ngặt nghèo. Bài thơ kết tinh cao độ phong thái sống của Hồ Chí Minh. Ớ đây, sự vượt ngục đã hoàn thành một cách thần kì, sự phấn đấu đã trở nên hài hòa, thư thái.
Trong tù không có rượu, cũng chẳng có hoa là sự bình thường, việc cố nhiên. Nhưng thấy cảnh đẹp mà bối rối (nại nhược hà) thì không phải là việc bình thường, dễ thấy. Tại sao lại bối rối? Trăng đẹp thì ngắm trăng. Thường người đời chỉ ngắm trăng khi lòng thư thái, thanh nhàn, dư dật về kinh tế, có rượu, có hoa. Khi ấy Bác đang ở trong tù, dư dật, nhàn nhã gì mà ngắm trăng? Chúng ta sống ngoài đời tự do mà cũng ít khi để ý đến vầng trăng tròn, khuyết trên đầu. Trong truyện ngắn Trăng sáng của Nam Cao, bà vợ nông dân của văn sĩ — nhà giáo khổ Điền đã gắt lên với chồng khi ông này gọi bà để khoe trăng sáng quá: Trăng sáng thì tắt đèn cho đỡ tốn hai xu dầu, chứ có gì mà phải gọi! | Phân tích hai câu đầu của bài thơ Ngắm trăng | 375 | |
Phân tích hai khổ cuối bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên
Hướng dẫn
Phân tích hai khổ cuối bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên
Vũ Đình Liên là một nhà thơ cũ trong phong trào thơ Mới, ông là một nhà thơ khá đặc biệt, người ta thường tìm thấy bút pháp của một nhà thơ, nhà văn qua các tác phẩm thì với ông chỉ có một tác phẩm để đời. “ Ông đồ” là sự xuất hiện không trở lại của một thơ trên thi đàn, và đây là những hình ảnh không hề lặp lại trong văn học:
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Bài thơ “Ông đồ” sáng tác năm 1936, đăng trên báo Tinh hoa. Tác giả Anh Ngọc trong bài viết “Hồn thơ thế kỷ” có nhận định: ấn tượng đầu tiên là bài thơ hoàn toàn mang dáng vẻ tự nhiên, không một dấu vết sắp xếp, bày đặt. Nó giống như một bức tranh, một đoạn phim ghi nhanh mà tác giả bất ngờ chớp được trên đường phố”. Bài thơ cũng như đang kể một câu chuyện về văn hóa xuất hiện rồi mất đi khi lòng yêu mến của con người thay đổi. Văn hóa phụ thuộc vào thị hiếu, khi nó không còn phù hợp thì sẽ bị đoà thải dần dần rồi cuối cùng chỉ còn lại chút kí ức, hay được ghi lại bởi trái tim nghệ sĩ như Vũ Đình Liên. Nếu như phần đầu bài thơ là sự phấn khởi, vui vẻ khi thấy: “Hoa tay thảo những nét/ Như phượng múa rồng bay”, để rồi không khí tấp nập hiện lên trên trang giấy của nhà thơ: “Bao nhiêu người thuê viết/ tấm tắc ngợi khen tài”. Một cao trào kết thúc bằng tâm thế trùng xuống hay lòng yêu văn hóa viết chữ Nho không còn: “giấy đỏ buồn không thấm/ Mực đọng trong nghiên sầu”. Nhà thơ đã dành những tình cảm xuất phát từ chính trái tim ông để tiếc thương cho một kiếp người, một thời đại, một nền văn hóa đã in dấu mấy nghìn năm đang chết từ từ rồi đến lúc không cứu vãn được nữa.
Hình ảnh “Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài đường mưa bụi bay” là những hình ảnh cuối cùng vương vấn cho nghề viết chữ của ông đồ, giấy, mực hiện tại không còn chút liên hệ nào với nhau, tất cả đang im lìm, mặc kệ sự đưa đẩy của không gian, thời cuộc, mặc kệ sự cô đơn, lạnh lẽo nơi ông đồ. “Mưa bụi bay” giống như hình ảnh của một con người đang cố bám lấy xã hội hiện đại nhưng rơi vào mỏng manh, chới với.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Đến nay đào lại nở như quy luật tàn lụi của nó, nhưng khác với đào nở vào Tết năm xưa, không còn ông đồ nào làm nên cái dáng vẻ ngày xuân ấy nữa, sự cô đơn đến thê thảm của ông cũng không hề xuất hiện, sự đào thải của con người đã vô tình đào thải một con người, một thời đại, một nền văn hóa. Từ “Không thấy” xuất hiện nhẹ nhàng nhưng lại mang sức nặng của sự mất mát. Con người ấy không xuất hiện đồng thời những vẻ đẹp văn hóa mà ông mang lại đã hoàn toàn bị mất đi. Tất cả chỉ còn lại bằng một câu hỏi xuất phát từ chính nỗi cảm, nỗi tiếc, nỗi xót xa, từ đáy lòng của một nghệ sĩ đã theo dõi sự đổi thay ấy: Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ? Câu hỏi biểu hiện sự níu kéo, chỉ có thị hiếu mới có thể níu kéo lại được văn hóa đẹp đẽ ấy, nhưng không tìm ra được sự trân trọng của họ trong thời điểm hiện tại, đồng thời tác giả cũng rơi vào trạng thái cô đơn, cô đơn trong nuối tiếc, cô đơn trong việc tìm lại văn hóa xưa… | Phân tích hai khổ cuối bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên | 714 | |
Phân tích hai khổ thơ cuối bài thơ Viếng lăng Bác – Viễn Phương
Hướng dẫn
Ý nghĩa hai khổ thơ cuối bài thơ Viếng lăng Bác
Mở bài:
Viễn phương là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam thời chống Mỹ cứu nước. Thơ Viễn Phương bình dị, đằm thắm mang đậm tính cahs Nam Bộ. Đến sau trong đề tài thơ về Bác do điều kiện, hoàn cảnh: là người con miền Nam, cầm súng ở ngoài tiền tuyến…nhà thơ Viễn Phương đã để lại bài thơ “Viếng lăng Bác” độc đáo, có sức cảm hóa sâu sắc bởi tình ý đẹp, bởi lời hay. Đặc biệt ở hai thơ cuối thể hiện sâu sắc và cảm động tinh thần kính yêu lãnh tụ và ý nguyện muốn được dâng hiến đời mình bồi đắp thêm cho vẻ đẹp của đất nước:
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”.
Thân bài:
Đã từ rất lâu, cũng như các chiến sĩ và đồng bào miền Nam xa xôi, Viễn Phương luôn khao khát được viếng thăm lăng Bác, được trở về với người cha già vĩ đại. Nhưng cuộc chiến kéo dài, kẻ thù còn ngoan cố nên đến sau ngày đất nước giải phóng, ông mới có dịp thực hiện ước nguyện ấy.
Tác giả đến với lăng Bác trong tâm trạng bùi ngùi, vừa cảm thương, tiếc nuối vì người đã ra đi mãi mãi vừa cảm thấy tự hào, thỏa nguyện vì đã được trở về với tinh thần vĩ đại của dân tộc, trở về với nguồn sức mạnh thiêng liêng. Bước vào trong lăng, khung cảnh và không khí như ngưng kết cả thời gian, không gian. Hình ảnh thơ đã diễn tả thật chính xác, tinh tế sự yên tĩnh, trang nghiêm cùng ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo của không gian trong lăng Bác:
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!”.
Khổ thơ được bắt đầu với việc tả thực hình ảnh của Bác. Đứng trước Bác, nhà thơ cảm nhận như Người đang ngủ giấc ngủ bình yên, thanh thản giữa vầng trăng sáng dịu hiền. Tất cả gợi nên một khung cảnh thiêng liêng, vô cùng thành kính. Sự tĩnh mịch đến phi thường, không âm thanh, chỉ có ánh sáng, đủ sức đưa con người đi vào tâm tưởng.
Cái ranh giới mỏng manh giữa sự hiện hữu và hư vô càng khiến cho không gian trở nên huyền ảo. Vầng trăng tỏa sáng lung linh quanh linh cữu của Người, cùng đồng hành với người trong thế giới siêu nhiên. Hình ảnh “vầng trăng sáng dịu hiền” gợi cho chúng ta nghĩ đến tâm hồn, cách sống cao đẹp, thanh cao, sáng trong của Bác
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”.
(Cảnh khuya – Hồ Chí Minh)
Hay những lúc trên chiến trường, việc quân khẩn cấp, trăng cũng tìm đến với Người mời gọi, rủ rê:
“Trăng vào cửa sổ đòi thơ
Việc quân đang bận xin chờ hôm sau”.
(Tin thắng trận – Hồ Chí Minh)
Ngay những lúc ngồi trong tù, trăng trở thành người bạn tâm tình, thấu hiểu và sẻ chia nỗi lòng của Bác:
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”
(Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh)
Rõ ràng dù trong bất kì hoàn cảnh nào, tình cảm Bác đối với vầng trăng vẫn luôn tha thiết. Và cũng chính ánh trăng đẹp cũng tăng thêm niềm tin, niềm lạc quan của Bác đối với nhiệm vụ cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc đầy cam go. Cho nên nghĩ về Bác, Viễn Phương hình dung những chiếc bóng đang tỏa sáng Bác như vầng trăng dịu hiền phủ chiếu, ấp ủ Bác chắc hẳn xuất phát tự hiện thực ấy.
Với niềm cảm xúc chất ngất, Viễn Phương lại liên tưởng Bác là: “trời xanh”. Trong toàn bài thơ “Viếng Lăng Bác”, đây lần thứ hai Viễn Phương đã vận dụng hình ảnh ẩn dụ ấy mới tài tình, mới chính xác. Bởi vì, trong thế giới tự nhiên bao la vô tận, “trời xanh” có khả năng bao trù vạn vật như muốn chở che, bảo vệ cho muôn vật, muôn loài. “Trời xanh” còn có công đem lại cho muôn loài ánh sáng và sức sống. Bác Hồ của chúng ta cũng vĩ đại như thế.
Cả cuộc đời Người, từ lúc còn là thanh niên trẻ cho đến khi da mồi tóc bạc, Bác hi sinh cả vì nền độc lập dân tộc Việt Nam thân yêu này. Biết bao năm bôn ba hải ngoại, biết bao lần gối tuyết nằm sương, bao phen bị giam cầm xiềng xích, Bác vẫn quyết định chịu đựng, vượt qua để ánh sáng cách mạng rọi soi khắp nhân dân, để đạp tan mọi gông cùm khổ ải cho non song Việt nam thống nhất mọi nhà. Cho nên việc nhà thơ ví Bác như “trời xanh” là thật đúng và mãi mãi đúng với dân tộc ta.
“Mà sao nghe nhói ở trong tim”
Như vậy mặc dù dòng cảm xúc, sự liên tưởng của Viễn Phương đang thật dạt dào, phong phú, đang say sưa ngất với niềm sung sướng, từ hào niềm tôn kính dâng trào khi được ở bên Bác, thỏa tấm lòng “Miền nam mong Bác nỗi mong cha”
Thì giờ đây nhà thơ không thể trách khỏi một sự thật đau lòng, một sự thật mà nhân dân cả nước Việt nam phải chịu đựng trong ngày 2/9/1969:
“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trơi tuôn mưa”
(Bác ơi! – Tố Hữu)
Cảm giác ấy bất chợt ập đến khiến nhà thơ nghe “nhói ở trong tim”. Động từ “nhói” mang đậm phong cách Nam bộ. Đặt trong giọng thơ đầy sót xa, thương nhớ nghe gần gũi, chân thật đã miêu tả thật rõ nét cảm xúc đau đớn tột cùng của tác giả khi đứng trước hiện thực đau lòng: Bác đã ra đi mãi mãi. Và ý thơ ấy của Viễn Phương đã giúp ta hình dung hình ảnh nhà thơ đang đứng thật trang nghiêm, cúi đầu kính cẩn tưởng niệm Bác đã giành cho dân tộc thân yêu này bằng tấm lòng yêu thương, kính phục, tri ân thiết tha, sau thẳm.
Thương yêu Bác thật nhiều mà gần gũi chẳng được bao nhiêu nên phút giây chia tay thật bùi ngùi lưu luyến. Nghĩ đến ngày mai về miền Nam xa Bác, xa Hà Nội, tình cảm của nhà thơ không kìm nén, ẩn giấu trong lòng mà được bộc lộ thể hiện ra ngoài:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre chung hiếu chốn này”.
Vẫn với cách diễn đạt đậm chất Nam Bộ “thương trào nước mắt” cùng điệp ngữ: “muốn làm” vận dụng như một điệp khúc, lại được dồn đặt lên đầu ba câu thơ liên tiếp, các câu thơ đã trở thành đỉnh cao của mạch cảm xúc, giúp ông giúp chọn mọi tâm tư tình cảm yêu thương, kính phục dành cho Bác. Đó là không chỉ là tâm trạng của tác giả mà còn là của muôn triệu trái tim khác. Được gần Bác dù chỉ trong giây phút nhưng không bao giờ ta muốn xa Bác bởi Người ấm áp quá, rộng lớn quá.
Chính vì yêu thương, kính phục, thấy xót xa, bịn rịn không nỡ rời đi, nhà thơ đã ước nguyện làm “con chim” yêu thương “hót quanh lăng”, muốn làm “đóa hoa tỏa hương” tỏa hương quanh lăng, muốn “làm cây tre” trung hiếu trọn đời yêu thương tôn kính vị cha già của nhân dân.
Nếu ở khổ thơ đầu là một hàng tre như những tầng lớp nhân dân đang vây quần bên Bác, cùng Bác sống, cùng Bác đấu tranh để gìn giữ cho nền hòa bình, độc lập của dân tộc thì khổ thơ cuối chỉ là “cây tre” biểu trưng cho nhà thơ, cho nhân cách nhà thơ, cho ý chí kiên trung, bất khuất của đân tộc.
Hình ảnh hàng tre quanh lăng Bác được lặp ở câu thơ cuối như mang thêm nghĩa mới, tạo ấn tượng sâu sắc, làm dòng cảm xúc được trọn vẹn. “Cây tre trung hiếu” là hình ảnh ẩn dụ thể hiện lòng kính yêu, sự trung thành vô hạn với Bác, nguyện mãi mãi đi theo con đường cách mạng mà Người đã đưa đường chỉ lối. Đó là lời hứa thủy chung của riêng nhà thơ và cũng là ý nguyện của đồng miền Nam, của mỗi chúng ta đối với Bác.
Ngày nay, yêu kính, nhớ ơn Bác, toàn dân, toàn Đảng ra sức bồi đắp, xây dựng, phát triển đất nước. Riêng học sinh chúng em luôn tâm niệm lời nhắn nhủ của Bác “Non song Việt nam có tươi đẹp hay các không, dân tộc việt nam có bước đến đài vinh quang sánh vai với cường quốc năm châu được hay không chính nhờ phần lớn công học tập của các cháu” mà cố gắng chăm ngoan ra sức học tập, rèn luyện tốt nhân cách đạo đức, mai sau góp công sức nhỏ bé của mình vào việc xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước, đền đáp phần nào công lao vĩ đại của Bác.
Kết bài:
Bằng những cảm xúc trào dâng, cách diễn đạt thật chân thật, tha thiết, với tư cái nhìn hình ảnh ẩn dụ đẹp đẽ, bài thơ “Viếng lăng Bác” nói chung các khổ thơ trên nói riêng và tình ác yêu thương, kính trọng của nhà thơ, cũng là của đồng bào cả nước đối với Bác.
Giọng điệu thơ phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc: vừa trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, đau xót, tự hào. Hình ảnh thơ có nhiều sáng tạo, kết hợp hình ảnh thực với hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng. Những hình ảnh ẩn dụ – biểu tượng vừa quen thuộc, vừa gần gũi với hình ảnh thực, vừa sâu sắc, có ý nghĩa khái quát và giá trị biểu cảm. | Phân tích hai khổ thơ cuối bài thơ Viếng lăng Bác – Viễn Phương | 1,765 | |
Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng Giang của Huy Cận- Văn lớp 11
Hướng dẫn
Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng Giang của Huy Cận- Văn lớp 11
Bài làm
Nhà thơ Huy Cận là một nhà thơ nổi tiếng với làng thơ mới, mỗi tác phẩm của ông đều gửi gắm những tâm trạng, nỗi buồn phiền, sầu muộn của mình trong đó.
Bài thơ Tràng Giang là một bài thơ tiêu biểu gắn liền với Huy Cận, thể hiện nỗi buồn của tác giả trước nhân tình thế thái, trước nỗi buồn nhân thế. Thể hiện tình cảm yêu quê hương, đất nước của tác giả.
Đặc biệt là hai câu thơ cuối thể hiện rõ nét tâm trạng phiền não, sầu muộn của tác giả Huy Cận với những nỗi sầu nhân thế.
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
Hình ảnh từng cụm bèo lững lờ trôi trên sông vô định không biết đời mình rồi sẽ đi đâu về đâu, trong bối cảnh không gian mênh mông sông nước trời biển bao la, thời gian là cảnh chiều tà, nhìn những đám bèo trôi vô định, không có phương hướng khiến cho tác giả cảm thấy nôn nao buồn. Một nỗi buồn nhân thế không biết tỏ bày cùng ai, chỉ có thể gửi gắm vào những câu thơ của riêng mình.
Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối lập giữa không gian và con người bé nhỏ, không gian càng mênh mông thì con người càng cảm thấy mình thật cô đơn bé nhỏ, lạc lõng biết bao nhiêu.
Khung cảnh thiên nhiên thể hiện như tâm trạng của nhà thơ Huy Cận lúc này đều gợi lên tâm trạng buồn. Giữa đất trời sông nước bao la không tìm được một người bạn tâm giao tri kỷ, không ai có thể hiểu nỗi lòng của tác giả, làm cho nỗi cô đơn cứ thế mà xô sóng ở trong lòng, con người cảm thấy mình thật bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện tại.
“ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.”
Cánh chim chiều nghiêng bóng trước hoàng hôn, một cánh chim nhỏ nhoi lẻ loi trên bầu trời bao la rộng lớn, thể hiện sự cô liêu khắc khoải. Cánh chim chiều chao nghiêng kia phải chăng chính là hiện thân của tác giả lúc này, đang cảm thấy trào dâng nghiêng ngả những cơn sóng lòng. Đang cảm thấy mình lẻ loi, cô đơn trước cuộc đời bao la rộng lớn.
Thiên nhiên trong khổ thơ này gợi lên cho người đọc cảm giác buồn thê lương, não lòng, đúng như câu thơ của Nguyễn Du viết trong tác phẩm Truyện Kiều rằng:
Tác giả Huy Cận đã vô cùng tinh tế khi đặt cánh chim đối lập cô đơn với không gian bao la rộng lớn, mênh mông của đất trời, vũ trụ…
“Lòng quê rờn rợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Trong hai câu thơ này thể hiện tâm trạng nhớ nhà nhớ quê hương của tác giả Huy Cận. Người xưa thường nhìn khói lam chiều gợi lên cảnh nhớ nhà, nhớ mùi khói bếp thơm ngai ngái để hướng tới quê hương, gia đình, hướng tới người thân thương nhất của mình.
Nhưng Huy Cận viết “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” thể hiện nỗi nhớ của ông là nỗi nhớ thường trực, nó luôn chứa đựng in sâu trong lòng tác giả, không cần phải có chất xúc tác là khói lam chiều mới nhớ.
Bài thơ “Tràng Giang” là một bài thơ vô cùng hay thể hiện bức tranh quê hương trong cảnh hoàng hôn vô cùng tươi đẹp, sinh động, với hình ảnh thân thuộc như cánh chim, mây trời, sông nước, rồi những cánh bèo trôi…
Tất cả đều gợi lên một bức tranh chiều tà vô cùng tinh tế, tươi đẹp nhưng thể hiện một nỗi sầu nhân thế vô cùng sâu sắc trong lòng tác giả. | Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng Giang của Huy Cận- Văn lớp 11 | 682 | |
Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng giang của Huy Cận
Hướng dẫn
Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng giang của Huy Cận
Bài làm
Trong số các nhà thơ mới trước Cách mạng, Huy Cận là một nhà thơ có chất thơ ảo não nhất. Thơ ông luôn chất chứa một nỗi sầu nhân thế. “Tràng Giang” là một bài thơ gắn liền với tên tuổi của Huy Cận với những nỗi niềm yêu nước thiết tha. Đặc biệt, nỗi niềm thương nhớ ấy càng được thể hiện rõ nét ở hai khổ thơ cuối trong bài:
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
….
Lòng quê rờn rợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Trước mắt người đọc hiện lên một khung cảnh hiu hắt:
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
Từng đám bèo cứ lặng lẽ nối tiếp nhau trôi theo dòng nước mà không biết trôi về đâu, tựa như dòng đời bơ vơ, vô định, cảm thấy mình bất lực và nhỏ bé. Ở đây có sự đối lập giữa những thứ đang có và những thứ không có. Chỉ có dòng nước mênh mông với những cánh bèo nối tiếp nhau trôi trong vô định, không có lấy một cây cầu dù chênh vênh, không có lấy một con đò dù nhỏ bé. Hai bên bờ sông mà như hai thế giới, không có một chút liên hệ nào, dù gần mà cũng thành xa xôi không thể với tới. Hai bên bờ chạy song song, cùng “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, ko chút thân mật, không chút giao hòa nào cả. Khung cảnh thiên nhiên ấy, cũng như tâm trạng của nhà thơ vậy. Giữa trời đất bao la nhưng không tìm được những tâm hồn đồng điệu với mình, không ai có thể hiểu mình. Nỗi cô đơn cứ thế chồng chất chất chồng, làm cho con người ta càng cảm thấy nhỏ bé giữa thiên nhiên, càng khao khát hơn sự đồng cảm, yêu thương.
“ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.”
Trong thơ của Huy Cận cũng có cánh chim và đám mây như trong một số bài thơ cổ nói về buổi chiều, tuy nhiên, hai hình ảnh này không có tác dụng hô ứng cho nhau như trong thơ cổ, mà chúng còn có ý nghĩa trái ngược nhau. Trong buổi chiều muộn, nhưng từng lớp, từng lớp mây trên cao kia vẫn chất chồng nên nhau, tạo thành những núi bạc, nổi bật trên nền trời xanh trong. Đây là một cảnh vật hùng vĩ biết bao! Đó không phải đám mây cô đơn lững lờ trơi giữa tầng không khi chiều về như trong thơ của Hồ Chí Minh. Mây ở đây chất chồng, ánh lên trong nắng chiều, làm cho cả bầu trời trở nên đẹp đẽ và rực rỡ. Giữa khung cảnh ấy, một cánh chim nhỏ nhoi xuất hiện. Cánh chim bay giữa những lớp mây cao đẹp đẽ, hùng vĩ như càng làm nổi bật lên cái nhỏ bé của nó. Nó đơn côi giữa trời đất bao la, tựa như tâm hồn nhà thơ bơ vơ giữa đất trời này.
Đặt cánh chim và những núi mây bạc ở thế đối lập, đã tô đậm thêm nỗi buồn trong lòng nhà thơ. Nỗi buồn như thấm đượm, lan tỏa trong khắp cả không gian:
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Tầm mắt trở lại trên dòng nước. Từng đợt sóng nước dập dềnh, nhẹ nhàng uốn lượn nhưng cũng tồn tại rất lâu, lan tỏa rất xa. Đó là hình ảnh miêu tả, nhưng cũng chính là tâm trạng của tác giả – một cảm giác cô đơn, buồn bã trải dài vô tận. Cả một không gian mênh mông vắng lặng, khiến cho nỗi buồn nhớ quê hương của nhà thơ càng trở nên rõ ràng. Buổi chiều là thời gian con người đoàn tụ với quê hương, cũng là khoảng thời gian buồn nhất trong ngày của những người con phải xa người thân, xa gia đình. Và quả thật, nỗi buồn ấy được nhà thơ khẳng định ở câu cuối:
“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Người xưa nhìn khói sóng trên dòng sông khi chiều tà mà cảm thấy nhớ nhà. Còn Huy Cận không cần thấy khói hoàng hôn nhưng trong lòng vẫn dâng lên một nỗi nhớ quê hương da diết. Đó như một thứ tình cảm thường trực vẫn luôn chất chứa trong lòng người con xa quê, mà không cần một tác động nào từ bên ngoài, vẫn thấy nhớ quê, thương quê.
Bài thơ là bức tranh quê hương đẹp đẽ, nên thơ với những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam như bờ sông, cánh bèo, củi khô, áng mây. Đó là tình yêu quê hương đất nước sâu nặng, đã thấm vào từng con chữ. Đồng thời trong đó cũng thể hiện khát khao tìm được sự đồng điệu trong thế giới bao la của một tâm hồn thi sĩ luôn băn khoăn một “nỗi sầu nhân thế”. | Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng giang của Huy Cận | 868 | |
Phân tích hai khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương
Hướng dẫn
Ý nghĩa hai khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác
Mở bài:
Viễn Phương là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam thời chống Mỹ. Ông sáng tác không nhiều song với các tập thơ: “Mắt sáng học trò”, “Nhớ lời di chúc”, “Như mấy mùa xuân”… ông đã để lại cho đời những tình cảm thiết tha đối với cuộc sống với quê hương, đất nước.
Viễn Phương cũng là người có may mắn được nhiều năm sống và làm việc gần gũi với Bác Hồ. Đặc biệt, đối với Bác Hồ kính yêu, nhà thơ đã có nhiều bài thơ thể hiện lòng luyến thương tiếc nhớ khâm phục tự hào về Bác Hồ mà bài “Viếng Lăng Bác” là một điển hình. Hai khổ thơ đầu thể hiện sâu sắc tình cảm ấy:
“Con ở miền Nam thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa xa đứng thẳng hàng.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân…”
Thân bài:
“Viếng Lăng Bác” được nhà thơ Viễn Phương sáng tác năm 1976 khi ông được vinh dự cùng đoàn đại biểu miền Nam ra thủ đô Hà Nội viếng lăng Bác sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất và lăng Bác vừa được hoàn thành. Bài thơ đã được hình bằng thể thơ tự do mang âm hưởng của thể thơ tám chữ với giọng điệu thơ tha thiết, lời thơ chân thành giàu cảm xúc. Bằng bút pháp nghệ thuật như thế, cả bài thơ nói chung, hai khổ thơ trên nói riêng đã góp phần ngợi ca công sức của Bác cùng niềm tôn kính, yêu thương, khâm phục, tự hào của nhà thơ đối với vị cha già dân tộc.
Mở đầu bài thơ Viễn Phương đã bày tỏ cảm xúc của mình qua lời tự giới thiệu như lời tâm tình nhẹ nhàng:
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”.
Đại từ nhân xưng “con”, “Bác” nghe sao ngọt ngào thân thương, gần gũi đến thế. Cách xưng hô này thật gần gũi, thật thân thiết, ấm áp tình thân thương mà vẫn rất mực thành kính, thiêng liêng. Đồng thời, cũng diễn tả tâm trạng xúc động của người con ra thăm cha sau bao nhiêu năm xa cách.
“Con” ở đây cũng là cả miền Nam, là tất cả tấm lòng của đồng bào Nam Bộ đang hướng về Bác, hướng về vị cha già kính yêu của dân tộc với một niềm xúc động lớn lao. Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng” một cách tinh tế. “Viếng” là đến chia buồn với thân nhân người chết, thành kính phân ưu cùng tang chủ. Còn “thăm” là gặp gỡ, trò chuyện với người đang sống, là cuộc hội ngộ được mong ngóng từ lâu ngày.
Đây là cách nói giảm, nói tránh nhằm làm giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát. Bác đã mãi mãi ra đi nhưng hình ảnh của Người vẫn còn mãi trong trái tim nhân dân miền Nam,trong lòng dân tộc. Đồng thời ý thơ còn gợi sự thân mật, gần gũi như đưa con phương xa về thăm cha, thăm người thân ruột thịt, thăm chỗ Bác nằm, thăm nơi Bác ở để thỏa lòng khát khao mong nhớ bấy lâu để tìm lại chính mình trong nỗi đau thương vô tận.
Với niềm sung sướng dâng trào, với niềm vui chất ngất Viễn Phương đã tập trung chiêm ngưỡng cảnh quan quanh lăng Bác:
“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
Bằng bút pháp tả thực, tác giả đã giúp ta hình dung một hiện thực trong màu sương trắng mờ ảo, cảnh quan quanh lăng Bác hiện ra thật lung linh mà cũng vô cùng thú vị. Màn sương trắng là dấu hiệu của cảnh trời hãy còn sớm tinh mơ. Ấy thế mà tác giả đã có mặt tự bao giờ! Điều đó chứng tỏ Viễn Phương đã rất mong mỏi và cũng rất háo hức khi được đến thăm lăng Bác dù chỉ qua việc viếng lăng.
Trong màn sương trắng, hình ảnh gây ấn tượng nhất đối với Viễn Phương là hàng tre. Từ “hàng tre” được điệp lại hai lần trong khổ thơ. Nhờ phép dùng điệp ngữ ấy, hàng tre hiện lên vẻ đẹp đẽ vô cùng. Nó đẹp trong sắc “xanh xanh” thật tươi thắm. Kết hợp phép nhân hóa vận dụng trong dòng thơ: “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” giúp hình ảnh hàng tre hiện lên càng thêm đẹp đẽ vô cùng.
Trước hết, hàng tre là hình ảnh thực hết sức thân thuộc và gần gũi của làng quê, đất nước Việt Nam. Hình ảnh hàng tre còn là một biểu tượng con người, dân tộc Việt Nam kiên trung bất khuất. Thành ngữ “bão táp mưa sa” nhằm chỉ những khó khăn thử thách của lịch sử dân tộc tộc. Dáng “đứng thẳng hàng” là tinh thần đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng vô cùng mạnh mẽ.
Từ hình ảnh hàng tre bát ngát trong sương quanh lăng Bác, nhà thơ đã suy nghĩ, liên tưởng và mở rộng khái quát thành một hình ảnh hàng tre mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong lớp lớp thời gian.
Nhắc tới hình ảnh hàng tre ta không thể quên đó là một loại vũ khí vốn gắn bó với truyền thống đánh giặc thật hào hùng của dân tộc Việt Nam thân yêu này. Hình ảnh Thánh Gióng nhổ cụm tre ngà đánh tan giậc Ân còn đọng lại trong kí ức dân tộc biết bao cảm xúc. Ngô Quyền dùng cọc tre tạo thành trận địa mai phục đánh chìm tàu thuyền quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm nào khiến cho kẻ thù đến trăm năm sau còn kinh hồn bạc vía.
Chỉ một khổ thơ ngắn thôi nhưng cũng đủ để thể hiện những cảm xúc chân thành, thiêng liêng của nhà thơ và cũng là của nhân dân đối với Bác kính yêu. Với cảm xúc dâng trào ấy, nhà thơ đã thả hồn liên tưởng tới hình ảnh vĩ đại khi bước đến gần lăng Bác:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân.”
Khổ thơ được bắt đầu bằng cụm từ chỉ thời gian: “ngày ngày” vận dụng như một điệp ngữ như muốn diễn tả hiện thực đang vận chuyển của thiên nhiên, vạn vật mà sự vận chuyển của mặt trời là một điển hình. Để diễn tả sự vận chuyển của mặt trời, Viễn Phương đã viết: “Mặt trời đi qua” và “thấy”. Hầu như Viễn Phương đã có chuyển tự nhiên chính là hoạt động “đi” của con người. Hiện thực ấy kết hợp với điệp ngữ “ngày ngày” như muốn trở thành một chúng nhân đang say sưa ngắm nhìn một đối nhân thật đẹp mà từ “thấy” đã góp phần khẳng định phép nhân hóa thật tài tình của nhà thơ đối với hình ảnh “mặt trời tự nhiên” ấy.
Hình ảnh “mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh thực. Đó là mặt trời thiên tạo, là nguồn sáng của vũ trụ, nó gợi ra sự kì vĩ, sự bất tử, vĩnh hằng. Mặt trời là nguồn cội của sự sống và ánh sáng. Hình ảnh “mặt trời trong lăng” còn là một ẩn dụ đầy sáng tạo và độc đáo. Đó là hình ảnh của Bác Hồ vĩ đại. Giống như “mặt trời”, Bác Hồ cũng là nguồn nánh sáng, nguồn sức mạnh.
Ở Bác Hồ là sự kết tinh của tình yêu thương ấm áp, là ý chí vượt khó, là tinh thần bất khuất, là niềm tin tất thắng. Bác đã cùng nhân dân vượt qua trăm ngàn gian khổ, hi sinh để đi tới chiến thắng quanh vinh, trọn vẹn. Ý thơ vừa góp phần đề cao tầm vóc vĩ đại của Bác, đồng thời cũng đã miêu tả được thái độ đầy tôn kính của nhà thơ đối với Bác
Nhà thơ Tố Hữu đã so sánh Bác như: “Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”. Cái nghĩa, cái nhân lớn lao của Bác đã tác động mạnh mẽ, sâu xa tới mỗi số phận con người.
“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân”.
“Tràng hoa” được kết từ dòng người đang tuần tự, trang nghiêm bước vào viếng lăng như đang dâng hương hoa lòng thơm ngát lên Bác kính yêu. Điệp ngữ “ngày ngày” cùng cấu trúc câu giống hình thức của câu thơ trước đã góp phần miêu tả thời gian cứ dần trôi qua còn dòng người cứ đến viếng lăng Bác không hết.
Hình ảnh ấy còn góp phần thể hiện tấm lòng yêu kính, biết ơn của muôn dân đối với Bác. Để rồi, cuối cùng bằng những hình ảnh hoán dụ: “bảy mươi chín mùa xuân”, Viễn Phương đã trân trọng ngợi ca cả cuộc đời Bác là một trường ca xuân đem lại cho đời, cho người niềm hạnh phúc ấm no. Hình ảnh hoán dụ ấy đồng thời cũng bày tỏ lòng tri ân của tác giả mà cũng là của tất cả mọi người đối với Bác.
Những dòng người bất tận đang ngày ngày vào lăng viếng Bác, nối kết nhau như những tràng hoa bất tận dâng lên Người. Những tràng hoa rực rỡ đó dưới ánh mặt trời của Bác đã trở thành những tràng hoa đẹp nhất dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân” – 79 năm cuộc đời của Người với sự thành kính và mến yêu vô hạn.
Tóm lại, bằng những cảm xúc dâng trào, cách diễn đạt thật chân thật, tha thiết với các hình ảnh ẩn dụ đẹp đẽ, bài thơ “Viếng lăng Bác” nói chung các khổ thơ, nói trên riêng là tình cảm yêu thương, kính trọng của nhà thơ, cũng là của đồng bào cả nước đối với Bác. Hình ảnh thơ có nhiều sáng tạo, kết hợp hình ảnh thực với hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng. Những hình ảnh ẩn dụ – biểu tượng vừa quen thuộc, vừa gần gũi với hình ảnh thực, vừa sâu sắc, có ý nghĩa khái quát và giá trị biểu cảm, tạo nên niềm đồng cảm sâu sắc trong lòng người đọc.
Kết bài:
Ngày nay, yêu kính, nhớ ơn Bác, toàn dân, toàn Đảng ra sức bồi đắp, xây dựng, phát triển đất nước. Riêng học sinh chúng em xin luôn tâm niệm lời nhắn nhủ của Bác “Non sông Việt Nam có tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính nhờ phần lớn ở công học tập của các cháu” mà cố gắng chăm ngoan ra sức học tập, rèn luyện tốt nhân cách đạo đức, mai sau góp công sức nhỏ bé của mình vào việc xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, đền đáp phần nào công lao vĩ đại của Bác. | Phân tích hai khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương | 1,947 | |
Phân tích hai khổ thơ đầu bài Từ ấy
Hướng dẫn
Phân tích hai khổ thơ đầu bài Từ ấy
Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làm Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên –Huế. Tố Hữu là một nhà thơ chiến sĩ, ông được nhiều độc giả biết tới với lối thơ độc đáo nhưng dễ đi vào lòng người và đặc biệt hơn thơ ông chứa đựng lí tưởng cách mạng cao cả. Thơ ông mang một tiếng nói trữ tình mới; cái tôi cá thể hòa đồng với mọi người, do vậy Tố Hữu đã có một phong cách thơ rõ rệt: phong cách trữ tình — chính trị.
Từ ấy là lỗi tâm nguyện của thanh niên yêu nước khi giác ngộ lí tưởng cộng sản. khi được soi rọi bởi lí tưởng,người thanh niên đã giác ngộ rõ con đường cách mạng cùng sự nghiệp giải phóng dân tộc vĩ đại. Niềm vui sướng và say mê mãnh liệt ấy đã được thể hiện rõ ràng trong khổ đầu bài thơ:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…
Có thể khi trước khi tới lí tưởng ví đại của Đảng cộng sản, đa số thanh niên Việt yêu nước đều chìm đắm trong tăm tối như một đêm đông kéo dài vô tận. Ngược lại, với những người ý thức được hoàn cảnh thực tại và khao khát được thay đổi số phận mình, họ lại cảm thấy vô cùng ngột ngạt và bí bách. Chính vì Tố Hữu là một trong những thanh niên như vậy, ông cảm thấy sự bất lực khi bản thân mình có tài sức mà không có cơ hội được đem nhiệt huyết hừng hực ấy sống mái với giặc. Thật may khi lí tưởng của Đảng đã đem đến ánh sáng cho cuộc đời Tố Hữu. Và chính khổ đầu của từ ấy đã diễn tả cảm xúc của người thanh niên đó.
Và rồi hình ảnh mà Tố Hữu so sánh lí tưởng cách mạng với hình tượng tuyệt đẹp: “mặt trời chân lí”. Aánh sáng mạnh mẽ, mãnh liệt nhất có lẽ chỉ có mặt trời mới tạo ra được, cũng ánh sáng như mặt trời, chân lí cách mạng, thứ ánh sáng đó đã chỉ đường đã dẫn dắt con người bế tắc đến tương lai tươi sáng. Cũng chính từ hình ảnh này chúng ta càng thêm ý thức được sự quyết định sống còn của lí tưởng cách mạng với con người làm cách mạng. Lí tưởng cách mạng cũng giống như mặt trời với muôn loài trên hành tinh vậy nó là vĩnh hằng. Nhưng cái hay không chỉ có bấy nhiêu, ảnh hưởng của “mặt trời chân lí” còn trực tiếp tác động đến tình cảm của nhà thơ: “chói qua tim”.
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”
Để diễn tả cảm xúc của mình, tác giả ngầm chỉ ý tâm hồn của tác giả cũng tràn đầy nhựa sống tràn đầy nhiệt huyết.Câu thơ thật bay bổng và lãng mạn, diễn đạt trọn vẹn niềm vui sướng tột độ của một thanh niên tràn đầy nhiệt huyết khi bắt gặp chân lí. Tố Hữu so sánh cái vô hình là “hồn tôi” với cái hữu hình “vườn hoa lá” làm cho câu chữ bay bổng hơn, lãng mạn hơn. “vườn hoa lá” của Tố Hữu được “mặt trời chân lí” làm cho “bừng” sáng đã ngập tràn sắc hương và âm thanh tươi mới của cuộc đời. Quả thật trong lòng có nắng, con mắt nhìn đâu cũng thấy sáng bừng… những từ ngữ hình ảnh thật giàu tính liên tưởng và có sức lay động mãnh liệt tới người đọc.
Chỉ với 4 câu thơ thôi mà nó giống như là tiếng hát dạo đầu thể hiện niềm vui sướng tột độ của người con đất Việt gặp được chân lí, tìm được con đường lí tưởng của đời mình. Và trong bối cảnh nước nhà bấy giờ, có một bộ phận thanh niên chán ngán xã hội đương thời, tù túng với cuộc sống thực tại mà không tìm được con đường đi đúng đắn từng bước từng bước hủy hoại bản thân cả về thể lực lẫn lí trí thì “Từ ấy” như một lời tuyên ngôn của bản thân Tố Hữu. Lờii tuyên ngôn này tác động sâu sắc đến tư tưởng và tình cảm của độc giả.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích hai khổ thơ đầu bài Từ ấy | 766 | |
Phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ Từ Ấy
Hướng dẫn
Phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ Từ Ấy
Bài làm
Tố Hữu- một nhà thơ tiêu biểu của phong trào thi ca cách mạng Việt Nam, mỗi tác phẩm của ông đều gắn liền với những chẳng đường lịch sử của dân tộc. Trong số các tác phẩm của ông không thể không nhắc đến bài thơ “Từ ấy”, tác phẩm thể hiện rõ được niềm sướng của một thanh niên tìm thấy lý tưởng cách mạng, thấy được sự gắn bó với người dân cần lao. Đặc biệt là ở hai khổ thơ đầu của bài thơ thể hiện rõ nhất được niềm vui, sự hạnh phúc đó.
Với nhan đề của bài thơ chỉ bằng hai từ ngắn gọn “ Từ ấy” – mốc thời gian không rõ, không biết bắt đầu từ khi nào, điều đó cho thấy niềm vui, niềm hạnh phúc của tác giả khi gặp được lý tưởng cách mạng, và chính niềm vui đó, khiến cho tác giả không nhớ được rõ mốc thời gian cụ thể của quá trình bắt gặp lý tưởng cách mạng đó.
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim”
Bằng một loạt các hình ảnh ẩn dụ để diễn ra niềm vui, niềm hạnh phúc của tác giả: “ bừng nắng hạ”, “ mặt trời chân lý”, “ chói qua tim”, được nhà thơ sử dụng hết sức tài tình, vừa chân thực, gần gũi nhưng vẫn diễn tả được hết tâm trạng của tác giả. Trong khi người thanh niên vẫn đang bị lạc trong “ bóng tối” chưa tìm được hướng đi, chân lý cách mạng cho mình thì bỗng gặp phải được ánh sang soi đường chỉ lối dẫn dắt đi đến một tương lai. “ Bừng nắng hạ”, nắng mùa hạ thường rất gay gắt, cái nắng chói chang, soi rọi cả những nơi tăm tối nhất. Và sự “ bừng nắng hạ” bắt nguồn từ “trong tôi” cho thấy được rằng niềm vui sướng hạnh phúc khi tìm thấy được ánh sáng, khi bắt gặp được tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường chỉ lối. Và tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh đó được tác giả mượn hình ảnh ẩn dụ là “ mặt trời chân lý”. Chỉ với hai câu thơ mở đầu bài thơ cũng đủ để diễn tả được hết những cảm xúc, niềm hân hoan của tác giả khi đón nhận tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh và cho người độc thấy được sự tài hoa trong việc sử dụng ngôn từ của Tố Hữu
“Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
Ở đây, Tố Hữu là ví “ hồn tôi” là một “ vườn hoa lá”, cho thấy được sự biến hóa tài tình của nhà thơ, làm cho tâm hồn trở thành một thể hữu hình có hình dáng, có hương thơm. Được trải lòng mình đón ánh nắng mặt trời trong mỗi buổi sớm bình minh, được tỏa hương thơm ngào ngạt thu hút chim chóc mọi nơi đến hòa vang tiếng hát. Tất cả trở thành một bức tranh sinh động đầy màu sắc, hương thơm và cả tiếng chim ca hát nô đùa, khiến cho người đọc thấy được sự yêu đời, thấy được sự lạc quan trong cuộc sống và niềm hạnh phúc.
Sau khi giác ngộ lý tưởng cách mạng thì người thanh niên lại hình thành cho mình một lý tưởng sống mới, một chân lý cuộc sống mới.
“Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải khắp muôn nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”
Trong khổ thơ này, nhà thơ đã “ tự nguyện” buộc lòng mình với mọi người, mọi người ở đây chính là hình ảnh ẩn dụ chung cho những người nông dân Việt Nam lam lũ cần cù chịu khó, để cùng nhau cố gắng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Và để cùng nhau xây dựng một “khối đời” thống nhất, vững chắc, thân thiết như ruột thịt không thể nào tách rời được. | Phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ Từ Ấy | 696 | |
Phân tích hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn minh Châu
Hướng dẫn
Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng
Để có tấm lịch nghệ thuật, Phùng tới vùng biển từng là chiến trường cũ của anh. Anh không quản nhọc nhằn kiếm tìm, tưởng đã chụp được một cảnh thật ưng ý. Tại vùng biển, anh đã phát hiện ra nghịch lí của cuộc đời.
Phát hiện thứ nhất: Cảnh một chiếc thuyền lưới vó ẩn hiện trong biển sớm mờ sương có pha chút màu hồng hồng do mặt trời chiếu vào… Đó là một cái “cảnh trời cho”. Như Phùng nhận xét, thật khó mà được trông thấy lại lần thứ hai. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Ánh sáng mở hồ, con thuyền trầm tư trên biển, không khí nhẹ nhàng, yên tĩnh thật khiến cho ai nhìn vào cũng thấy dễ chịu. Cảnh mang vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng và tuyệt mĩ. Cảnh đẹp giống như một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ.
Ngay lúc ấy, người nghệ sĩ thấy “trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Anh thấy như “vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Đó chính là niềm hạnh phúc tột cùng của khám phá và sáng tạo nghệ thuật. Thế nên, ngay lập tức,anh “gác máy lên bánh xích của chiếc xe tăng hỏng bấm “liên thanh” một hồi hết một phần tư cuốn phim, thu vào chiếc Pra-ti-ca cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”.
Phát hiện thứ hai
Phía sau cảnh đẹp ấy là một cảnh tượng phi thẩm mĩ. Mgười đàn bà xấu xí, mệt mỏi. Một gã đàn ông dữ dằn, độc ác, uất ức, khổ đau… với những hành động phi nhân tính.
Người chồng đánh vợ một cách thô bạo. Gã “chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà …”. Còn người đàn bà kia, vợ của gã thì “nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả cũng không tìm cách trốn chạy”.
Đứa con thương mẹ đánh lại cha. Nó “dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào khuôn ngực trần vạm vỡ, cháy nắng” của người cha. Sau phút giải cứu, nó “lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt…”.
Cảnh bạo hành dữ dội, một bi kịch đau lòng diễn ra trong tích tắc. Người đàn ông trở về thuyền. Người đàn bà cũng vội đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền. Tất cả lại trở nên yên tĩnh sau phút nó động kinh hoàng. Cái đẹp lại tiếp tục bao phủ len mọi thứ, lung linh, mơ hồ và yên tĩnh. Bãi cát lại trở về với vẻ mênh mông và hoang sơ. Giữa tiếng sóng ngoài khơi dội những tiếng kêu ồ ồ vào cõi im lặng.
Chứng kiến tất cả những điều ấy, người nghệ sĩ “kinh ngạc” tột cùng. Khi nhìn thấy gã đàn ông tàn bạo đấm vào người đàn bà, anh quyết liệt: “vứt máy ảnh xuống đất chạy nhào tới”. Anh tỏ ra giận dữ trước sự bạo hành của cái ác. Anh muốn can ngăn và chấm dứt. Thế nhưng, tự nó cũng đã chấm dứt dù anh có can thiệp vào hay không. Như trong câu chuyện cổ đầy quái đản, chiếc thuyền lưới vó đã biến mất sau đó. tất cả lại đi vào quy luật của nó. | Phân tích hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn minh Châu | 700 | |
Phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Hướng dẫn
Bài tập làm văn phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam lớp 11 bao gồm dàn ý phân tích Hai đứa trẻ và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích Hai đứa trẻ hay nhất.
Dàn ý phân tích Hai đứa trẻ
1. Mở bài
– Như một nhà nghiên cứu văn học nhận xét, đặc điểm chủ yếu trong các sáng tác của Thạch Lam là yếu tố hiện thực xen lẫn yếu tố lãng mạn toát lên tình cảm nhân ái sâu sắc. Tất cả thể hiện qua tiếng nói nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn của ông.
– Dẫn đề và chuyển mạch.
2. Thân bài
Thạch Lam viết nhiều về cuộc sống vất vả của dân nghèo phố huyện…
a. Cuộc sống vất vả, cơ cực, bế tắc của người dân nghèo ở phố huyện.
– Truyện mở đầu bằng những câu văn êm dịu, với những âm thanh và hình ảnh báo hiệu một ngày tàn: Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ… theo gió nhẹ đưa vào. Thì ra, cái rực rỡ huy hoàng của một ngày đã qua rồi, buổi chiều tà đang xuống.
Giờ này chợ cũng đã tan, cái đông vui không còn nữa, chỉ còn lại sự trống vắng, quạnh hiu: Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cùng mất. Cảnh ngày tàn gợi cho người đọc cái buồn của buổi chiều quê.
Bên cạnh cảnh ngày tàn và chợ tàn là những kiếp người tàn. Đó là cảnh đời tẻ nhạt ơ một phố huyện nhỏ vào lúc chiều tối. Nhân vật thì bé nhỏ, cử động lặng lẽ, nói năng ít lời, thấp giọng như hòa lẫn tiếng thở dài.
+ Mẹ con chị Tí hàng nước chả kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm.
+ Vợ chồng bác xẩm ngồi bên manh chiếu, góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng.
+ Thấp thoáng xa xa là những đứa trẻ nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ một thứ gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại…
+ Riêng chị em Liên, An cũng âm thầm, lặng lẽ trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, dù rằng ngày phiên mà bán hàng cũng chẳng ăn thua gì.
– Cảnh và người cứ chìm vào bóng tối lan rộng và đậm đặc: Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối. Chiếc chõng tre dưới gôc cây bàng với cái tối của quang cảnh phố chung quanh – Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa – Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ. Trong thế giới đầy bóng tối ấy, ánh sáng rất hiếm hoi và đơn độc. Các nhà đã đóng cửa im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng về phía huyện một chấm lửa khác nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi rồi lại hiện ra – thưa thớt từng hột ánh sáng lọt qua phên nứa. Các từ ngữ “khe” ánh sáng, “chấm” lửa, “hột” ánh sáng đối lập với bóng đêm tràn lan, như thể hiện tình cảm yêu thương của tác giả, giúp ông lắng nghe được khát vọng bé nhỏ của những kiếp người nhỏ bé.
Bằng năng lực quan sát tinh tế, với niềm cảm thương thấm thía, Thạch Lam đã làm người đọc xúc động khi miêu tả cuộc sống vất vả, cơ cực, bế tắc của những người dân nghèo ở một phố huyện buồn hiu, tăm tối.
b. Niềm thương cảm thấm thía
Niềm cảm thương thấm thía thể hiện sâu sắc qua nhân vật trung tâm của truyện Hai đứa trẻ. Đó là Liên.
– Đối với mấy đứa trẻ nghèo ở phố huyện, Liên trông thấy động lòng thương, nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó.
– Liên còn thương cảm chính mình. Liên buồn cho cảnh đời hiện tại. Đêm nào, hai chị em Liên cũng ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc cây bàng với cái tôi của quang cảnh phố chung quanh.
Nếu không hóa thân vào nhân vật, không có lòng thương cảm thấm thía, nhà văn khó có thể diễn đạt tâm tình nhân vật tinh tế như vậy. Cũng có thể đoạn truyện là một cảnh đời của chính nhà văn như trong hồi kí của chị ruột Thạch Lam: “… truyện em tôi tả hai chị em thức đợi chuyến tàu đêm qua rồi mới đi ngủ. Năm đó tôi mới chín tuổi, em tôi lên tám mà mẹ tôi đã giao cho chị em tôi coi hàng (…) Tối đến, hai chị em phải ngủ lại để trông hàng”. (Nguyễn Thị Thế).
– Càng buồn thấm thìa hơn khi Liên hồi tưởng quá khứ. Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chỉ được hưởng những thức quà ngon, lạ (….) được đi chơi bờ Hồ uống những cốc nước lạnh xanh đó (…) Hà Nội nhiều đen quá.
Truyện của Thạch Lam mở ra một thế giới thầm kín
a. Tiếng nói nội tâm của nhân vật
Vào truyện, nhân vật xuất hiện với những xúc cảm lãng mạn. Liên cảm thấy buồn man mác không chỉ do bức tranh nhân thế đầy cảm động, mà dường như còn có cảm giác mơ hồ về cảnh sắc thiên nhiên: “Chiều, chiều tối (…). Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khác của ngày tàn”.
Khi trời đã vào đêm, hai chị em như cảm nhận được cái vô biên của không gian: An và Liên lặng ngước mắt nhìn lên các vì sao vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ…
b. Cảm xúc tinh tế của nhân vật thể hiện một tình yêu quê hương đằm thắm, thiết tha.
Đó là những rung cảm về một chiều êm ả như ru với bao âm thanh, đường nét, sắc màu thân quen của quê hương thôn dã. Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương tây, đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời. Một buổi chiều quê văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào.
Đó là những ấn tượng khó phai mờ về cảnh quan ban đêm trên quê hương nước Việt: “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoáng qua gió mát (…). Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất hay lên vào những cảnh cây”.
Một thứ tình quê lan tỏa trên cảnh phố chợ buồn. Phiên chợ đã vãn từ lâu, trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía, nhưng nhà văn đã ghi lại những cảm nhận tinh tế, những liên tưởng sâu sắc, đầy cảm động: Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này.
Đúng như lời nhận xét của Hoài Thanh, thế giới nội tâm của nhân vật đã tạo cho truyện “một thứ nhân văn sống cảm nhiều hơn là suy nghĩ”.
c. Ước mơ thầm kín của nhân vật
– Cảnh chuyến tàu đêm qua phố huyện, hoạt động cuối cùng của đêm khuya, mang lại một thoáng rộn rã, làm cảnh phố huyện thay đổi. Bóng tối tạm nhường chỗ cho ánh đen sáng trưng. Ánh sáng, vẻ tươi vui, giàu sang, những hoạt động ồn ào vụt qua, chỉ để lại cho người dân phố huyện một chút dư âm, dư vị buồn.
– Khi hình ảnh đoàn tàu chỉ còn lại cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng thì ước mơ của Liên vẫn kéo dài, chập chờn chưa định hình hẳn. Ước mơ đó của hai chị em cũng như những người dân phố huyện là được thay đổi cuộc đời, được sống trong một cảnh đời khác tốt đẹp hơn.
3. Kết bài
– Những sáng tác của Thạch Lam, đặc biệt là truyện ngắn Hai đứa trẻ không hấp dẫn người đọc bằng những tính cách sắc nét của nhân vật, những tình huống li kì. Truyện đã lôi cuốn tả bằng những cảm xúc tinh tế của một tâm hồn dễ rung động, nhất là với tình cảm nhân ái thấm vào từng trang truyện.
– Thạch Lam từng quan niệm văn chương phải lành mạnh, nhân ái. Hai đứa trẻ qua đã đạt được mục đích cao đẹp đó của văn chương.
Bài văn mẫu phân tích Hai đứa trẻ
Phân tích Hai đứa trẻ – bài 1
Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, những người có cuộc sống vất vả, thầm lặng chịu đựng và giàu lòng hi sinh. Những nhân vật trong truyện mang dáng dấp của tâm hồn nhạy cảm của ông, cũng như điểm nhìn của tác giả. Hai đứa trẻ là một trong những tác phẩm tiêu biểu trong chùm truyện ngắn đặc sắc của ông, những hình ảnh chi tiết trong truyện giống như một dòng sông cuốn chúng ta vào đó, và cảm nhận được những gì đang xảy ra với câu chuyện của tác giả.mọi thứ diễn ra thật nhẹ nhàng mà cũng mãnh liệt xoáy sâu vào suy nghĩ và cách cảm nhận tác phẩm của từng độc giả
Nhà văn là những người nói hộ cho hiện thực cũng có khi họ thi vị hóa cho những gì đang xảy ra xung quanh họ, từ những điều đơn giản nhất cho tới những thứ mà con người ta hay nghĩ đến,văn thơ đóng một vai trò không thể thiếu. Với ngòi bút tài hoa giàu lòng trắc ẩn, tác phẩm Hai đứa trẻ ra đời mang ý nghĩa nhân văn. Những con người xuất hiện trong tác phẩm mang một cuộc sống cơ cực nghèo khổ, cái nghèo bám lấy họ và họ không có lối thoát. Họ mong muốn có một cuộc sống sung túc, tuy không giàu có những làm sao cho cuộc sống mưu sinh đỡ vất vả. Qua đây, Thạch Lam cho ta nhìn nhận những sự khó khăn vất vả mà những con người nơi đây đang phải chống chịu. Những chi tiết trong tác phẩm tuy là miêu tả về hiện thực nhưng lại không thiếu những chi tiết sống động,lãng mạn.
Mở đầu tác phẩm là hình ảnh chiều tà,hình ảnh xuất hiện trong hầu hết các tác phẩm, là chính khoảnh khắc mà khiến con người ta nhận ra nỗi buồn nhiều nhất. Những âm thanh quen thuộc, tiếng ếch nhái, tiếng muỗi vo ve, và khung cảnh xung quanh tác động đến tâm trạng của mỗi người.Cảnh mở đầu của tác phẩm chính là một buổi chiều tàn,bầu trời gồm những áng mây hồng, như được nhuộm một màu sắc đỏ đỏ mang một cảm giác ưu buồn và cô đơn. Thông qua sự miêu tả của một ngày tàn của Thạch Lam, thì phần nào cũng giúp người đọc nhận ra đây là một buổi chiều buồn bã và chán nản. Thời gian bắt đầu chuyển động dần tới đêm,nhưng hình ảnh chiều tàn và hình ảnh chợ chiều tàn hiện ra càng thể hiện sự nghèo khổ và hiu hắt ở nơi đây. Những con người cân mẫn, luôn mong muốn cuộc sống của họ đầy đủ hơn,cuộc sống thật vất vả và đầy khổ cực bươn chải. Hình ảnh những con người xuất hiện trong “ Hai đứa trẻ” tuy xuất hiện không nhiều nhưng mang một nét riêng biệt,nổi bật lên đó là hình ảnh của cô gái Liên, dù còn nhỏ nhưng tâm hồn và suy nghĩ của cô thực sự như là một thiếu nữ.
Cuộc sống ở đây chìm ngập trong bóng tối và tẻ nhạt, họ sống cùng sự buồn chán và tuyệt vọng,đối với họ, họ đang sống cuộc sống tạm,một cuộc sống tĩnh lặng và không biết ngày mai sẽ như thế nào. Sau khi chợ chiều tàn, mọi người đều đi về và tiếng ồn ào cũng mất, như dấu hiệu của sự tĩnh lặng của đêm tối bắt đầu. Những rác rưởi, vỏ bưởi và hình ảnh những đứa trẻ nhặt nhạnh những thứ còn sót lại chỉ là những thanh tre thanh nứa…
Đêm bắt đầu buông xuống, cuộc sống của một đêm ở phố huyện nghèo lại bắt đầu.Nhân vật Liên trong tác phẩm sửa soạn lại hàng trên chiếc chõng tre,mẹ con chị tí, sáng mò cua bắt ốc,tối lại mở thêm hàng nước để kiếm thêm thu nhập. Quán hàng phở cũng bắt đầu sửa soạn còn hai cha con nhà bác Sẩm thì chưa hát chưa kéo đàn vì vẫn chưa có khách nghe. Đứa con thì nhoài ra nghịch đất cát ở bên ngoài. Mọi thứ thật đơn điệu, không có một chút niềm vui của họ, chắc có lẽ họ nghĩ và hi vọng rằng, hàng quán đắt khách kiếm thêm được tiền quả là một niềm vui một niềm hạnh phúc và mang lại một cuộc sống no đủ hơn. Hình ảnh cụ Thi điên đắm chìm vào men rượu, bước đi lảo đảo, cụ sống một cuộc sống k còn tự chủ của bản thân, có hay chăng cụ tìm đến rượu để quên lãng đi tất cả đau khổ và chìm vào đó để tìm thú vui của mình.
Những con người nơi phố Huyện này, họ sống, sinh ra và lớn lên ở nơi đây. Đối với họ thì không khí im lặng, sự cô đơn và buồn chán. Nhưng với chị em Liên thì có lẽ vẫn chưa quen với sự tẻ nhạt buồn chán nơi đây,bởi hoàn cảnh đưa đẩy, bố của chị em Liên thất nghiệp phải về phố huyện để mưu sinh. Hai chị em phải nhận thức ra được điều này và làm quen dần với cuộc sống nơi đây.Hằng ngày chị em Liên và An, không những ai đứa trẻ này mà hầu hết tất cà những kiếp người nơi phố huyện điều trông chờ một thứ rất quan trọng vào môi buổi tối. Không gì khác, đó chính là thứ ánh sáng và âm thanh của đoàn tàu. Thứ ánh sáng ấy cũng một phần soi đến phố Huyện và giúp cho khu phố trở nên có ánh sáng thêm một chút, không những thế còn có những thứ âm thanh cười nói của những người hành khách trên tàu làm cho không khí im lặng của khi phố huyện có một chút thay đổi ngoài những ánh sáng tẻ nhạt và không đủ sáng như thường ngày. Những âm thanh trên đoàn tàu giúp cho chị em Liên và An gợi nhớ đến những tháng ngày ở Hà Nội,hai chị em được dẫn đi chơi,được sống một cuộc sống tươi đẹp ở chốn thành thị, ngươi đi qua lại tấp nập và được uống với những cốc nước xanh đỏ.
Ngoài ra, thứ ánh sáng và âm thanh của đoàn tàu ấy đã giúp cho những kiếp người nơi phố Huyện một phần nào đó thức tỉnh, họ dám mơ ước đến những cuộc sống ấm no và hạnh phúc, mong muốn một điều gì đó thật tốt đẹp và ý nghĩa hơn, muốn những gì mà họ khát khao và cháy bỏng bấy lai nay điều thành sự thật, chứ không phải là một thứ phù du mà chờ đợi mỏi mòn.
Phân tích Hai đứa trẻ – bài 2
Thạch Lam là nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam, ông có rất nhiều những tác phẩm hay, và đặc biệt nổi bật chúng ta thấy tác phẩm Hai Đứa Trẻ là một trong những tác phẩm có giá trị và đem lại cho độc giả nhiều cảm nhận sâu sắc và mới mẻ nhất.
Hai Đứa Trẻ là truyện ngăn hay của Thạch Lam trong tác phẩm nó đã miêu tả được bức tranh phố huyện khi chiều tà và hình ảnh đợi tàu của Hai Đứa Trẻ cũng để lại rất nhiều cảm xúc cho người đọc. Giá trị của tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc miêu tả sự vật sự việc, mà việc miêu tả nội tâm nhân vật cũng mang những giá trị vô cùng lớn lao và sâu sắc, hình ảnh của những đứa trẻ nghèo đang quay quắt với cái đói, những hình ảnh mang đậm giá trị và màu sắc hương vị cuộc sống, những tác phẩm để lại cái nhìn sâu sắc và mới mẻ dành cho người đọc, nó không chỉ để lại cho mỗi chúng ta nhiều cảm xúc sâu lắng mà để lại cho người đọc những nỗi nhớ mong và những cảm giác hồi hộp khi đón chờ những tia nắng sớm và niềm hy vọng đang chớm nở.
Trong tác phẩm hình ảnh những sự vật về chiều khi chợ vừa tan đã để lại cho chúng ta thấy cảm giác tiêu điều và xơ xác trong khung cảnh của khu phố huyện, tất cả đều diễn ra tấp lập, nhưng rất nhiều những số phận hẩm hiu đang bao quanh và bao trùm lên một bầu không khí chặt hẹp của cảnh phố huyện tiêu điều. Những hình ảnh đó thể hiện những điều rất đơn xơ và mộc mạc đây là cuộc sống, cuộc sống của những con người nghèo khổ, khi chợ vừa tan trong đó chỉ còn xuất hiện rác rưởi và những em bé có số phận bất hạnh đang đi nhặt từng những thứ còn lại trong buổi chợ, những hàng bán những người đi mò cua bắt óc, và vợ chồng nhà bác Sẩm cũng đi hát để lấy tiền nuôi sống chính bản thân. Trong cảnh đêm tối những mọi thứ nơi đây vẫn diễn ra, nhưng cảnh buồn rầu sơ xác của phiên chợ tan là để lại cho người đọc nhiều cảm xúc, đó là những hình ảnh thể hiện sự tiêu điều sơ xác của sự vật, tất cả nó đang bao trùm lên cuộc sống và đời sống riêng tư của họ.
Chợ đã tan chiều đã về núi, trên khoảng không gian đó vẫn xuất hiện những con người phải đi lao động để kiếm sống, những tiếng ếch kêu ran hay những tiếng côn trùng ngoài cánh đồng đang kêu da diết, và nó thể hiện một bức tranh có màu thi vị của cuộc sống, nhưng nồng ghép vào đó là những hình ảnh của một cảnh phố huyện nghèo, những con người quanh năm đầu tắt mặt tối, bươn trải để kiếm sống, họ cực khổ lam lũ cho cuộc sống đời thường, giá trị của nó đã mang cho chúng ta thấy đời sống cực khổ và vất vả của mỗi người, hình ảnh trên không chỉ để lại cho người đọc những cái nhìn sâu sắc mới mẻ về sự vật hiện tượng, mà nó còn bao trùm lên những giá trị và hương vị của cuộc sống những giá trị đó da diết và để lại nhiều cảm xúc cho người đọc.
Qua cái nhìn của chúng ta khi thấy hình ảnh một khu phố huyện nghèo đang tiêu điều xơ xác, khi cảnh đêm đang tràn xuống nhưng cuộc sống vẫn đang diễn ra tập nập thường thì vào tối gia đình sẽ là nơi tụ họp để trò chuyện và ăn với nhau những bữa cơm gia đình, nhưng ở nơi đây ban ngày họ bán mặt cho đất bán lưng cho trời, ban đêm họ cũng phải đi kiếm sống, từng những gánh hàng nhỏ trên vai giao bán, cuộc sống lam lũ và vất vả đang bủa vây trong con người của họ. Những hình ảnh mang đậm giá trị và sức sống mạnh mẽ nó đang ngập tràn và thể hiện được những cái nhìn sâu sắc và mới mẻ về cuộc đời của mỗi con người. Nơi đây cuộc sống vất vả họ phải bươn trải để kiếm sống, để lo cho cuộc sống, họ vất vả và gian nan vượt qua mọi điều mà cuộc sống này đặt ra. Hình ảnh những người nông dân nghèo khổ đang bươn trải để kiếm sống từng ngày.
Trong đó còn xuất hiện hình ảnh của hai đứa trẻ trong câu chuyện, đây là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Quá khứ hai đứa trẻ này sống ở vùng đô thị Hà Thành, nơi có những nước xanh đỏ, những đèn điện sáng rực rỡ, nhưng rồi cuộc sống đã đưa cho Liên và An trở về phố huyện này sinh sống, ở nơi đây hai đứa vẫn luôn luôn nhớ về quá khứ của mình, những nơi phồn hoa đô thị, nơi có cuộc sống tập nập diễn ra, người dân không phải chịu những cuộc sống tăm tối và đói khổ như thế này, chính những điều đó làm cho hai đứa trẻ luôn mong ước để trở về quá khứ, hình ảnh cuộc sống tươi đẹp nới phồn hoa đô thị đã diễn ra trong cuộc sống của hai chị em. Nơi đây cuộc sống của phố huyện nghèo này khác với cuộc sống trên đó, họ không được sống những cuộc sống hạnh phúc và những năm tháng tươi đẹp nữa, chính vì vậy những mong ước luôn được tồn tại trong tâm hồn hai đứa trẻ này.
Những hình ảnh đó không chỉ để lại những nỗi nhớ mà còn rất nhiều cảm xúc cho cuộc đời của chúng, những hình ảnh gợi tả nhiều cảm xúc thân thương và những tình cảm chân thành da diết nhất mà cuộc đời này dành cho chúng.
Tâm hồn nhỏ bé của chúng luôn mong ngóng có một tia sáng chiếu qua, nó làm dịu mát tâm hồn của những đứa trẻ thơ, một cuộc sống lam lũ vất vẻ nơi phố huyện tiêu điều luôn là một động lực để họ mong ngóng một điều gì tươi đẹp sẽ đến trong cuộc đời của họ, những tia sáng niềm tin mạnh mẽ vào cuộc sống đã làm cho cuộc đời của họ có giá trị và tươi đẹp hơn, những giá trị niềm tin mang sức sống mạnh mẽ và nó dịu mát trong cuộc đời của mỗi người, những hình ảnh của một cuộc sống nơi phồn hoa làm cho hai đứa trẻ này luôn nhớ đến, hình ảnh được bố mẹ dắt đi chơi nơi đô thị và được uống những thứ nước xanh đỏ, tất cả quá khứ đang bừa về trong tâm hồn của những đứa trẻ thơ.
Và chính điều đó làm cho tâm trạng luôn mong đợi có tia sáng chiếu qua đó là hình ảnh đoàn tàu sắp tới, nơi đây ánh sáng leo lắt, nhỏ hẹp, nó không đủ để làm bừng lên những tia hy vọng đang sinh tồn trong cuộc đời của hai đứa trẻ này, nhưng nó đủ để làm sức sống của chúng vang dội và có giá trị mạnh mẽ, cuộc sống của hai đứa trẻ đang có chút tia hy vọng, bởi khi đoàn tàu reo qua, hình ảnh Liên và An trong tâm trạng đợi àu gợi cho người đọc rất nhiều cảm xúc mạnh mẽ bởi nó mang đậm tâm trạng nội tâm của nhân vật, những hình ảnh mang giá trị to lớn và cốt lõi nhất dành đến cho mỗi con người. Hình ảnh trên không chỉ để lại những sức sống mãnh liệt mạnh mẽ mà nó còn để lại cho người đọc những cảm xúc riêng và có giá trị to lớn nhất.Những hình ảnh đó để lại những nỗi nhớ thương mạnh mẽ về quá khứ xưa.
An đã nhắc Liên khi có đoàn tàu thì gọi dạy xem chứng tỏ chúng đang mong ngóng có gì đó mới lạ làm thay đổi cuộc sống của họ. Khi đoàn tàu đi qua tất cả ánh sáng đã chiếu sáng cả một vùng của phố huyện nghèo này, nhưng nó đủ để cho hai chị em cảm thấy hạnh phúc, bởi những hình ảnh mang cho hai đứa trẻ này những chút hy vọng về cuộc sống tươi đẹp hơn sẽ đến.
Hình ảnh hai chị em trong truyện ngắn đã biểu lộ sâu sắc được tâm trạng đơi tàu của hai nhân vật này, và hình ảnh bức tranh phố huyện nghèo cũng được nhà văn miêu tả rất chân thực và sâu sắc.
Phân tích Hai đứa trẻ – bài 3
Thạch Lam là một trong những nhà văn tiêu biểu của làng văn học Việt Nam. Những sáng tác của ông không quá phô trương lòe loẹt mà thường miêu tả một cách chân thực đời sống của người nông dân, qua đó, lột tả nội tâm sâu sắc của nhân vật. Trong truyện Hai đứa trẻ, qua việc miêu tả cảnh phó huyện nghèo qua con mắt cả nhận của Liên, tác giả đã thể hiện nỗi xót thương của mình trước những số phần nghèo khổ đang tàn lụi dần.
Khung cảnh của phố huyện được tác giả miêu tả trong ba khoảng thời gian: buổi hoàng hôn, ban đêm và đêm khuya. Cảnh bao trùm lên toàn bộ các sự vật, sự việc, con người là bóng tối. Tuy vậy, vẫn lấp ló đủ mọi thứ ánh sáng. Trên cái nền sáng tối đó, tất cả như nhòe đi, lúc rõ, lúc khuất. Cũng bởi vậy, câu chuyện kể, tuy chỉ nói đến nhũng sự việc bình thường, những con người bé nhỏ… nhưng lại có sức gợi rất lớn. Nhà văn muốn nói tiếng nói về cuộc sống, cảm nhận và suy ngẫm về nó, trước hết đều bắt đầu từ những gì thân thuộc và gần gũi, sâu lắng nhất. Ta có thể lí giải điều này bằng thuở thơ ấu của Thạch Lam trôi qua ở phố huyện Cẩm Giàng êm đềm. Có lẽ, lúc viết Hai đứa trẻ, những kỉ niệm thân quen đã thành máu thịt hằn trong kí ức bừng thức dậy, xôn xao… trước một cảnh đời tương tự mà ông được chứng kiến. Vì vậy, truyện vừa thực, vừa lộ bày, vừa trữ tình, sâu lắng vọng ra từ kí ức và tâm khảm của văn nhân. Không nắm bắt được điều này, người ta dễ hiểu và đánh giá tác phẩm lệch lạc hoặc phiến diện.
Mở đầu câu truyện là hình ảnh của buổi chiều với những hình ảnh, âm thanh gợi nỗi buồn. Âm thanh “tiếng trống thu không… vang ra để gọi buổi chiều”. Màu đỏ của mặt trời là màu của “hòn than sắp tàn” hắt vào đám mây. Và dãy tre làng đã “đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”. Tả cảnh chăng? Đúng thế! Song nếu để ý một chút, ta có thể thấy cảnh vật ở đây không vô hồn và nhà văn không vô tình tả như thế. Thực ra thì chiều gọi tiếng trống, mặt trời lặn, và đêm bắt đầu buông. Nhà văn cố tình diễn tả cảnh vật theo ý muốn chủ quan, theo sở thích dùng lối tả gián tiếp sự vật của mình. Cảnh chiều quen thuộc muôn đời ai cũng biết, nhìn đều biết… giờ đây như đọng lại, hắt lên trên giấy, pha lẫn những thoáng nhìn, thoáng cảm của Thạch Lam.
Với cách miêu tả của Thạch Lam, người đọc có cảm giác buổi chiều trôi qua thật chậm, càng làm cho nỗi buồn của nhân vật được nhân lên gấp bội lần. Buồn trong câu “Chiều, chiều rồi…” vừa như một nhận xét vừa như một tiếng thở dài nhẹ. Chiều như cảm thấy được (êm như ru): chiều tĩnh lặng qua chi tiết “văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Tín hiệu quê được báo hiệu bằng những âm thanh vọng lên từ nơi tù đọng “muỗi đã bắt đầu vo ve”… Cái buồn thấm vào lòng khiến người ta “buồn man mác”… mà “không hiểu sao”.
Buổi chiều qua đi, nhường chỗ cho màn đêm buông xuống và cũng là lúc công việc về đêm bắt đầu. Khép lại phiên “chợ họp giữa phố vãn từ lâu”, khép lại trong việc chị em Liên “đếm lại những phong thuốc lào, xếp vào hòm những bánh xà phòng… lẩm nhẩm tính tiền…” hay trong bóng bà lão điên “lẫn vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng…”. Trước đó, sự mở ra bắt đầu bằng câu chuyện không ăn nhập của hai chị em Liên; rồi bao nhiêu là đèn thắp lên; mấy đứa trẻ “cúi lom khom trên mặt đất tìm tòi” để “nhặt nhạnh thanh nứa thanh tre hay bất cứ cái gì có thể dùng được của các người bán hàng để lại”, mẹ con chị Tí bắt đầu dọn cửa hàng nước không biết “để bán cho ai”…
Cái mở ra và cái khép lại xen cài vào nhau như tạo ra một cuộc sống mà ta cảm nhận được là luẩn quẩn, tù đọng và ngột ngạt. Chúng là đời thường, lặp đi lặp lại đến chán ngắt. Chúng là điều có thể đem ra để mà giải thích cho nỗi buồn “không hiểu sao” của Liên.
Ánh sáng nơi phố huyện này không như ánh sáng của những nơi ồn ã, náo nhiệt, thứ ánh sáng nơi đây chỉ còn lọt qua khe cửa, lũ trẻ “tụ tập ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ” vang trong đêm tĩnh. Hai đứa trẻ vẫn lặng lẽ hết nhìn trời sao rồi lại nhìn xuống mặt đất xung quanh… Những sinh hoạt trong phố huyện thu vào hoạt động của gánh phở bác Siêu “một thứ quà xa xỉ… hai chị em không bao giờ mua được”; thu vào câu chuyện chán nản do ế ẩm của hàng nước chị Tí; thu vào tiếng bật trong im lặng của tiếng đàn bầu bác Xẩm… Cái nghèo lộ khá rõ trong. đêm vắng. Chị em Liên mơ về “những cốc nước lạnh xanh đỏ” xa xưa, thằng con bác Xẩm “bò ra đất ngoài manh chiêu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường…”. Cái tù đọng và nghèo nàn hiện rõ đến mức Thạch Lam đang kể chuyện phải kêu lên một câu tưởng như không thể có ở một người viết truyện già dặn như ông vì ý đồ chủ quan quá rõ “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”!
Cành về khuya, cảnh vật nơi phố huyện càng trở nên tĩnh lặng hơn, bỗng xôn xao, náo động bởi chuyến tàu. Liên thức chủ yếu cũng chỉ vì chuyến tàu ấy. Chuyến tàu được báo hiệu bằng “ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma trơi” – đèn ghi. Ánh đèn khiến Liên phải thầm kêu lên “Đèn.ghi đã ra kia rồi”. Rồi tiếng còi, tiếng xe “rít mạnh vào ghi” trong tiếng reo của Liên, trong cái “dụi mắt cho tỉnh hẳn” của An. Chuyến tàu đến “như đã đem một thế giới khác đi qua”. Nó như một dấu hiệu của sự thay đổi trong ngày, thay đổi không khí tẻ ngắt đã ngự trị ở đây suốt từ lúc bắt đầu câu chuyện. Rồi chuyến tàu qua. Bác Siêu đã vào làng; chị Tí dọn đồ; vợ chồng bác Xẩm đã ngủ gục… “Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh”. Bóng tối lại phủ đầy… Lần này, cũng giống như hai lần trước, bóng tối phủ lên vạn vật. Có điều khác là ở những lần trước, dù bị bóng tối bao phủ, con người vẫn còn có thể cưỡng lại bằng các hoạt dộng, còn bây giờ, bóng tối đã chiến thắng, vùi bao số phận nghèo hèn trong nó, nuốt chửng đi.
Hình ảnh bóng tối cứ lặp đi lặp lại trong tác phẩm đã trở thành một hình ảnh mang ý nghĩa là một biểu tượng. Theo sự cố ý nhấn mạnh của Thạch Lam, hình ảnh biểu tượng này có ý nghĩa gợi lên là sự tăm tối, sự tù đọng, luẩn quẩn mà những con người nghèo khó khó có thể vượt qua nổi… Nếu hiểu như vậy thì hình ảnh ánh sáng – bao nhiêu là loại ánh sáng trong truyện – chính là niềm hi vọng khó có thể dập tắt ở những con người nói trên. Hi vọng vào đâu, hi vọng vào cái gì và vào ai, “Liên không hiểu” và cả tác giả cũng không hiểu. Bởi thế, dù truyện được nhiều người coi là Thạch Lam đã chơi ánh sáng trong những trang viết của mình; song đã là trò chơi, thì dù có muốn, những trang viết của ông vẫn tràn đầy bóng tối… Ngoài đời chưa có ánh sáng nên nỗi ước mong ánh sáng càng thiết tha thì khi nó bị bóng tối lấn lướt, khiến ta càng não lòng hơn. Truyện buồn là do nguyên nhân sâu xa này. Dĩ nhiên ta có thể coi đó là một nỗi buồn đẹp, nỗi buồn bắt nguồn từ lòng nhăn ái của nhà văn tràn ra, thấm vào lòng người đọc.
Trong cái phố huyện nghèo của Thạch Lam chỉ có mẹ con chị Tí bán nước, bác phở Siêu, bà cụ Thi, vợ chồng bác Xẩm và những đứa trẻ – trạc tuổi Liên và An và bé Hơn (con bác Xẩm), và nhân vật chính trong truyện là An và Liên.
Ở đầu và cuối truyện, Thạch Lam gọi nhân vật Liên là “chị”. Trong khoảng giữa nhà văn chỉ gọi là Liên. Từ “chị” biểu lộ một sắc thái tình cảm thương mến, một đánh giá: cô bé đã lớn – lớn trước tuổi. Liên mang dáng dấp muôn thuởcủa người phụ nữ Việt Nam suốt một đời tần tảo, chịu thương, chịu khó, lo toan gánh vác việc nhà cho dù đôi vai còn gầy yếu. Mẹ tin giao cho chìa khóa tráptiền đeo vào dây xà ích ở thắt lưng, đếm tiền, kiểm hàng trong gian tạp hóa nhỏ… Cô như già dặn hơn khi biết cảm thương cho kiếp người, những đứa trẻ lang thang… nhưng đủ kinh nghiệm để “không có tiền để mà cho”… Cô đủ biết món quà xa xỉ của bác Siêu “hai chị em không bao giờ mua được”.
Tuy nhà văn đã để Liên tự nhìn cuộc sống và có những cảm nhận về cuộc sống nghèo nàn, nhưng Liên và An vẫn là hai đứa trẻ thơ. Chất trẻ thơ ở hai sinh linh bé nhỏ này được nhà văn thể hiện qua hàng loạt cái nhìn, cái cảm non tơ, bỡ ngỡ, mới mẻ của họ đối với cuộc sống xung quanh.
Tưởng như đã quá quen thuộc cảnh phố huyện chiều, đêm, khuya. Tưởng như tất cả cứ lặp đi lặp lại, tù đọng, nhức buốt lặng thầm trong cảnh vật… Song, với Liên và An, hình như họ vẫn cố tìm ở đó, tìm ở cái đời thường cái mới, cái lạ. Họ cố tìm cái gì đó ở một chiều quê buồn, “ngồi yên nhìn ra phố” dõi theo các loại đèn ở các nhà đang bừng sáng, phát hiện ra được vẻ đẹp của “cát lấp lánh”, “đường mấp mô” vì “một bên sáng một bên tối”. Họ cố xúc cảm trước “mùi âm ẩm bốc lên”, “mùi cát bụi quen thuộc” và phát hiện ra rằng vẫn có những cái lạ. Cái lạ đó là “mùi riêng của đất”, mùi vị “của quê hương”. Hòa trộn hai nét tính cách “già”, “trẻ” hay “lớn”, “bé”, Thạch Lam cũng dùng như thủ pháp hòa trộn hiện thực và mơ mộng, sáng và tối… Nhân vật của ông không rõ nét về hình dáng nhưng thật sâu ở tâm hồn.
Hai đứa trẻ đã trở thành tác phẩm mang giá trị nghệ thuật sâu sắc. Câu văn của Thạch Lam thường mềm mại, uyển chuyển, giàu hình ảnh và nhạc điệu, gọn gàng, ít khi thừa câu chữ và rất sát sự thật, sự việc. Cảnh buổi chiều lan tỏa khắp nơi: trên chòi huyện nhỏ, trên trời, dưới lũy tre làng. Chiều gợi lên từ âm thanh (tiếng trống), từ “màu đỏ”, “hồng” của trời và mây, từ màu “đen lại” của lũy tre in trên nền trời đỏ… Chiều lãng đãng thấm vào vạn vật. Và không thể bỏ qua điều này: chiều thấm vào lòng người. Thành thử, cách nghe, cách nhìn có vẻ như chủ quan. Chữ “thu không” trong “tiếng trống thu không” Thạch Lam chuyển nghĩa thật tài tình. Vốn được hiểu như một danh từ chỉ một loại âm thanh báo hiệu thời khắc, chữ “thu không” ở đây biến theo nghĩa động từ, chỉ sự uể oải, buông lơi, lãng đãng và lan tỏa của tiếng trống khi chiều buông… Nếu tách từng câu riêng rẽ, ta thấy Thạch Lam tả rất sát sự thực các chi tiết của bức tranh chiều. Song chỉ cần gộp lại, người ta không những chỉ thấy bức tranh ấy mà còn cảm được dư vị của chất thơ mặn mà trong đó…
Các loại câu mang mục đích phát ngôn được Thạch Lam phân bố thật khéo léo. Các câu kể đều thiên về miêu tả, ít câu thuật. Bởi vậy, truyện vừa thật, vừa gợi. Gợi sự ngây thơ non trẻ của nhân vật, tác giả hay dùng những từ “tưởng là…”, “không hiểu”, “không biết”… khiến cho câu mông lung không rõ là phủ định hay khẳng định… Các câu đối thoại (phần nhiều là câu hỏi, câu cảm và một số câu cầu khiến) được nhà văn đặt “lầm” chức năng một cách cố ý. Sự cố ý ấy nhằm gợi sự rời rạc của những thông tin vốn ai cũng đã biết, giờ nhắc lên chỉ làm cho sự vật, sự việc thêm buồn mà thôi.Dưới dòng chảy của những câu văn như thế, ngầm chứa một kết cấu luẩn quẩn, xen cài, xuôi ngược, lẫn lộn nhưng lại hết sức mạch lạc. Mạch lạc theo dòng thời gian. Nhưng không khí và tâm trạng của cảnh và người thì luẩn quẩn, bóng tối và ánh sáng cài lẫn vào nhau tạo nên một vùng quê với những con người vừa thực, vừa mờ ảo; vừa tưởng như nắm bắt được, vừa thấy đã đọc mãi rồi mà vẫn như chưa hiểu hết…
Qua tác phẩm Hai đứa trẻ, cuộc sống của người lao động nơi phố huyện nghèo dần dần được hiện ra trong con mắt ngây thơ của Liên. Tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả nội tâm nhân vật một cách sâu sắc, từ việc khai thác nội tâm nhân vật, tác phẩm để thể hiện sự đồng cảm của tác giả với những người lao động nghèo khổ, sống trong cảnh túng quẩn mà không tìm ra được lối thoát cho mình. Đó cũng là giá trị nhân đạo mà tác phẩm để lại.
Phân tích Hai đứa trẻ – bài 4
Thạch Lam là cây bút nhẹ nhàng, sâu lắng trong nhóm Tự lực văn đoàn, một phong cách không thể lẫn lộn với bất cứ ai. Mỗi trang văn của ông là những lời thủ thỉ tâm tình cuốn hút người đọc. Đó là những câu chuyện không có cốt truyện được viết lên bởi chất liệu nhẹ nhàng, man mác, tiêu biểu là tác phẩm Hai đứa trẻ.
Sự tinh tế, nhẹ nhàng trong những câu văn làm nên nét độc đáo của Thạch Lam. Câu chuyện Hai đứa trẻ xoay quanh cuộc sống của Liên và An ở phố huyện nghèo với công việc lặp đi lặp lại hằng ngày. Qua Liên và An, nhà văn muốn gửi gắp đến bạn đọc thông điệp cuộc sống mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Ẩn hiện trong truyện ngắn là khung cảnh phố huyện nghèo. Mở đầu là tiếng trống thu không vang lên trong buổi chiều tà, khi cảnh vật và con người đang đắm mình vào không gian lơ đãng. Tại sao Thạch Lam chọn buổi chiều tà mùa thu để vẽ lên bức tranh phố huyện? Phải chăng mùa thu gợi buồn, gợi nhớ, gợi cho con người ta nhiều cảm xúc. Khu phố nghèo lúc ngày tàn gợi sự đìu hiu, tàn phai trước mắt người đọc, đó cũng chính là hiện thực xã hội thời bấy giờ ở nước ta, mọi thứ không có sức thu hút và dường như không thấy có sự sống, mọi thứ gần gũi nhưng phảng phất sự nghèo đói.
Trong con mắt của Liên và An, phố huyện hiện lên xơ xác, nghèo đói trước cảnh bãi chợ vắng vẻ, khi người về hết. Ống kính của Thạch Lam lia qua những rác rưởi khi chợ quê vãn người và miêu tả một mùi vị đặc trưng riêng khiến hai đứa trẻ tưởng là mùi riêng của đất, của vùng quê này. Cứ thế, phố huyện ám ảnh hai đứa trẻ, ám ảnh bạn đọc bởi những hình ảnh, màu sắc và hương vị như thế suốt bao năm qua.
Nhưng đứa trẻ nghèo khổ hiện ra trong khung cảnh tiêu điều, xác sơ thêm nhếch nhác. Chúng đi nhặt những thứ rơi vãi còn sót lại. Mẹ con chị Tí ngày mò cua bắt ống, tối tối xác điếu đóm dọn hàng, gia đình bác Xẩm ngồi bên manh chiếu rách với chiếc thau sắt trắng để trước mặt, bà cụ Thi điên uống rượu rồi cười khanh khách đi vào trong bóng tối… Từng ấy những kiếp sống lầm than, tàn tạ có cả chị em Liên. Trong con mắt của Liên, cuộc sống chìm trong màn đêm mênh mông không lối thoát, chỉ có ngon đèn của chị Tí, cái bếp lửa của bác Xiêu, rồi ngọn đèn hoa kỳ vặn nhỏ….
Phố huyện lúc chiều tà tựa nhưng khúc nhạc buồn điệp đi điệp lại chẳng biết bao giờ chấm dứt, đơn điệu và buồn tẻ. Liên và An làm sao có thể ý thức được sự buồn chán, bế tắc mà bọn trẻ đang phải sống cũng như những khát vọng mơ hồ của mình về cảnh tù đọng nơi đây. Nhưng với sự nhảy cảm, bé Liên cảm nhận được khát vọng tinh thần của chính mình, khát vọng thoát khỏi cảnh tối tăm, tù đọng mà tới một thế giới khác. Minh chứng cho khao khát này là hành động thực đợi chuyến tàu đêm đi qua. Con tàu đi ngang qua phố huyện như đem một thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳn với thế giới hai đứa trẻ đang sống, cũng là ánh sáng nhưng không phải là vầng sáng của ngọn đèn chị Tí hay ánh lửa của bác Siêu.
Thạch Lam không đi sâu miêu tả xung đột xã hội, ông là một nhà văn lãng mạn vì thế một bức tranh phố huyện nghèo, dung dị tới từng chi tiết. Một bức tranh làng quê Việt Nam mù xám với những người lao động nghèo khổ đang phải sống quanh quản trong tối tăm, bế tắc. Nhà văn đã bày tỏ niềm cảm thương chân thành tới những phần người ấy, muốn thay đổi cảnh nghèo khổ, tối tăm cho những con người ấy.
Phân tích Hai đứa trẻ – bài 5
Thạch Lam tên là Nguyễn Tường Lân (1910 – 1942) sinh tại Hà Nội, là em trai hai nhà văn Nhất Linh và Hoàng Đạo, đậu Tú tài I, viết vãn, làm báo, là một trong những thành viên sáng lập Tự Lực văn đoàn.
Tuy chỉ viết văn khoảng sáu năm, từ 1937 cho đến khi mất, Thạch Lam đã để lại một số truyện ngắn đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật một cách tinh tế bằng lời văn vừa giản dị, trong sáng, vừa sâu sắc, thăng trầm.
Những sáng tác của ông miêu tả nỗi vất vả của người nghèo trong Nhà mẹ Lê, nỗi tủi nhục của những người bất hạnh trong Tối ba mươi,
đặc biệt là những nét bình thường đôi khi nên thơ của đời sông trong Hai đứa trẻ, Đứa con đầu lòng.
Hai đứa trẻ được trích trong tập truyện ngắn Nắng trong vườn.
Bố cục của truyện có ba phần:
– “Tiếng trống thu không… trước cái giờ khắc của ngày tàn”: Hoàng hôn xuống tại một phố huyện buồn.
– “Em thắp đèn lên… những cảm giác mơ hồ không hiểu”: Cảnh sống của những kiếp đời nghèo và tâm tình của hai đứa trẻ.
– “Trông cầm canh ở huyện… tịch mịch và đầy bóng tối”: Chuyến tàu đêm đi qua và những ước vọng mơ hồ của hai đứa trẻ.
Hiện thực được phản ánh trong truyện:
Đó là cảnh đời tẻ nhạt ở một phố huyện nhỏ vào lúc chiều tôi. Nhân vật thì bé mọn, cử động lặng lẽ, nói năng ít lời, thấp giọng như hòa lẫn tiếng thỞ dài.
– Mẹ con chị Tí hàng nước chả kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tôi cho đến đêm.
– Vợ chồng bác xẩm ngồi bên manh chiếu, góp chuyện bằng mây tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng.
– Tháp thoáng xa xa là những đứa trẻ nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ một thứ gì đó có thế dùng được của các người bán hàng để lại…
– Riêng chị em Liên, An cũng âm thầm lặng lẽ trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, dù rằng ngày phiên mà bán hàng cũng chẳng ăn thua gì.
Bằng năng lực quan sát tinh tế, với tình cảm nhân ái sâu sắc, Thạch Lam đã làm người đọc xúc động khi miêu tả cuộc sống tôi tăm, tàn lụi ở một phô huyện buồn. Hiện thực cảnh đời này như tái hiện xã hội trì trệ tù hãm ở nước ta thời Pháp thuộc, được tác giả miêu tả bằng một giọng văn nhẹ nhàng, trầm tĩnh, có vẻ khách quan nhưng chứa chan tình cảm yêu thương con người và cảnh vật quê hương.
Tiêng nói nội tâm của nhân vật:
Bằng những chi tiết đời thường, những cảm xúc tinh tế của một tâm hồn dễ rung động, với giọng văn có sức gợi mở, khơi sâu cảm giác, tác giả đã diễn tả tiêng nói nội tâm của hai chị em Liên, An thật sắc nét
Vào chuyện, nhân vật xuất hiện với những xúc cảm lãng mạn. Liên cảm thấy buồn man mác không chỉ do bức tranh nhân thế đầy cảm động, mà dường như có cảm giác mơ hồ về cảnh sắc thiên nhiên: Chiều, chiều rồi (…) Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn.
Khi trời đã vào đêm, hai chị em như cảm nhận được cái vô biên của không gian: An và Liên lặng ngước mắt nhìn lên các vì sao (…). Vũ trụ thăm thẳm bao la đôi với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ…
Nếu không hóa thân vào nhân vật, không có tình cảm nhân ái sâu sắc, nhà văn khó có thể diễn đạt tâm tình của nhân vật một cách tinh tế như vậy.
Một tình yêu quê hương, đất nước toát lên từ những câu văn mềm mại, lời ván uyển chuyến, hình ảnh phong phú và vô cùng gợi cảm.
Những rung cảm về một chiều êm ả như ru với bao âm thanh, đường nét, màu sắc thân quen của quê hương thôn dã.
Tiếng trống thu không trên cái chòi của phố huyện nhỏ, từng tiếng một vang lên để gọi buổi chiều. Phương tây, đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời.
Những cảnh tượng khó phai mờ về cảnh quan ban đêm trôn quê hương đất Việt: Trời bắt đầu đêm, một đèm mùa hạ êm như nhung và thoảng gió mát.
Nhất là một tình cảm yêu mến quê hương nhẹ nhàng, đằm thắm: “Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”.
Một thoáng ước mơ:
Cảnh chuyến tàu đêm qua phố huyện, hoạt động cuối cùng của đêm khuya, mang lại một thoáng rộn rã, làm cảnh phố huyện thay đối. Bóng tối tạm nhường chỗ cho ánh đèn sáng trưng. Ánh sáng, vẻ tươi vui, giàu sang, những hoạt động ồn ào vụt qua, chỉ để lại cho người dân phố huyện một chút dư âm, dư vị buồn.
Khi đoàn tàu đã khuất vào bóng đêm, ước mơ của Liên vẫn kéo dài, chập chờn chưa định hình hẳn. Ước mơ đó của hai chị em, cũng như những người dân phố huyện, là được thay đổi cuộc đời, được sông trong một cảnh đời khác tốt đẹp hơn.
Tóm lại, những sáng tác của Thạch Lam, đặc biệt là truyện ngắn Hai đứa trẻ không hấp dẫn người đọc bằng những tính cách sắc nét của nhân vật, những tình huống li kì. Truyện đã lôi cuốn ta bằng những chi tiết của cuộc sống bình thường, những cảm xúc tinh tế của một tâm hồn dễ rung động, nhất là tình cảm nhân ái thâm vào từng trang truyện.
Thạch Lam từng quan niệm văn chương phải lành mạnh và tiến bộ. Truyện của ông đã đạt được mục đích cao đẹp đó.
Trên đây là bài tập làm văn phân tích Hai đứa trẻ, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình! | Phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam | 8,472 | |
Đề bài: Phân tích hoàn cảnh trớ trêu mà nhân vật Hồn Trương Ba đã rơi vào từ khi phải trú ngụ trong thân xác anh hàng thịt
Bài làm
Trương Ba đã thay đổi cả về tâm hồn và thể xác bởi ông phải sống trong một hoàn cảnh trớ trêu đầy bi kịch khi có sự chênh lệch giữa Hồn và Xác. Mâu thuẫn và xung đột gay gắt giữa sự thanh sạch cao khiết của tâm hồn với một thể xác thô lỗ, cộc cằn. Hồn Trương Ba không thể sống mãi trong cái cảnh bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được nên kết cục đã chọn lấy cái chết vĩnh viễn để giữ tâm hồn thanh sạch.
Trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người chúng ta luôn luôn phải có sự hài hòa giữa tâm hồn và thể xác. Nếu giữa tâm hồn và thể xác có một sự chênh lệch nào đó thì chúng ta không bao giờ được sống bình yên mà phải luôn luôn trăn trở đầy khổ đau và gặp toàn những bi kịch mà thôi. Điều đó đã được Lưu Quang Vũ thể hiện một cách sinh động và đầy nghệ thuật trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, nhất là khi Hồn Trương Ba trú ngụ trong thân xác của anh hàng thịt.
Phân tích hoàn cảnh trớ trêu mà nhân vật Hồn Trương Ba
Như chúng ta đã biết Hồn Trương Ba nguyên là một con người ngay thẳng, giàu lòng yêu thương vợ con, là một người làm vườn chăm chỉ và khéo léo, có tài đánh cờ, có tâm hồn thanh cao trong sáng. Nhưng từ khi Hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt mọi cái đều thay đổi. Hồn Trương Ba bây giờ không còn giống như trước nữa. Ông thay đổi cả ngoại hình lẫn tâm hồn, ông không còn là một người chồng mà bà vợ ông rất mực yêu thương, kính trọng. Vợ Trương Ba cảm thấy bực bội trước sự thờ ơ của Hồn Trương Ba trước những sự việc đang diễn ra xung quanh ông, như việc cu Tị bị ốm: “Ông bây giờ còn biết đến ai nữa! Cu Tị ốm thập tử nhất sinh từ đêm qua tới giờ bắt đầu mê man, mẹ nó khóc đỏ cả mắt…”. Vợ Trương Ba chán ngán chồng đến nỗi bà muốn bỏ ông mà đi: "Tôi nói thật đấy… Ông Trương Ba ạ, tôi đã nghĩ kỹ: có lẽ tôi phải đi..”. Đi đâu vợ Trương Ba cũng chưa biết, nhưng vì buồn quá, chán quá nên bà nói như nói lẫy: “Đi cấy thuê làm mướn ở đâu cũng được… đi biệt… Để ông được thảnh thơi… với cô vợ người hàng thịt… còn hơn là thế này…". Bà nói mà mắt cứ rưng rưng nước mắt.
Vợ Trương Ba vốn là người vợ rất yêu chồng, nhưng vì bây giờ Hồn Trương Ba đã biến đổi quá nhiều không còn giống như Hồn Trương Ba trước kia nữa: “Tôi biết, ông là người rất thương, yêu vợ con… Chỉ tại bây giờ (khóc). Ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa…”. Trước những lời thoại ấy của vợ khiến Hồn Trương Ba cảm thấy đau đớn, xót xa đến thảng thốt, bàng hoàng tự hỏi: “Sao lại đến nông nỗi này?” rồi “ngồi xuống, tay ôm đầu".
Ngay cả cái Gái đứa cháu nội mà Trương Ba hết mực yêu thương bây giờ cũng không thừa nhận ông: “Tôi không phải là cháu của ông”, “Ông nội tôi chết rồi. Nếu ông nội hiện về được, hồn ông nội tôi sẽ bóp cổ ông! Ông dám nhận ông là ông nội, dám đụng vào cây cối trong vườn cua ông nội tôi”. Khi Hồn Trương Ba nói với cái Gái: “Dù sao… Cháu… Sáng nào ông cũng ra cuốc xới chăm chút cây cối ngoài vườn, cháu không thấy sao: chỉ có ông nội cháu mới biết quý cây như thế…” thì cái Gái đã phản đối quyết liệt: “Quý cây! Hừ, tôi phải rình lúc này, cả nhà đi vắng hết để đến nói với ông: Từ nay ông không được động vào cây cối trong vườn ông tôi nữa! Ông mà biết quý cây hả? Sáng qua, tôi để ý lúc ông chiết cây cam, bàn tay giết lợn của ông làm gãy tiệt cái chồi non, chân ông to bè như cái xẻng, giẫm nát lên cả cây sâm quý mới ươm! Ông nội đời nào thô lỗ phũ phàng như vậy?". Cái Gái còn kết án Hồn Trương Ba chính là thủ phạm làm gãy cái diều của cu Tị: “Còn cái diều của cu Tị nữa, chiều hôm kia nó mang cái diều sang đây chơi, ông cầm lấy đòi chữa cho nó, thế là ông làm gãy cả nan, rách cả giấy, hỏng mất cái diều đẹp mà cu Tị rất quý!…”, “Cu Tị nó cũng rất ghét ông! Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”. Hồn Trương Ba còn gì đau đớn hơn khi đứa cháu mà ông rất mực yêu thương, bây giờ lại nói với ông những điều phũ phàng, đau đớn ấy, vì ông không còn là ông trước kia nữa.
Và ngay cả người con dâu, người mà rất hiểu, rất thương, rất thông cảm cho hoàn cảnh Hồn Trương Ba bây giờ, nhưng cũng không khỏi chua xót khi có lúc không nhận ra Hồn Trương Ba trước kia nữa, bởi Hồn Trương Ba đã mất đi cái tính hiền hậu, vui vẻ trước kia rồi: “Thầy bẩu con: Cái bên ngoài là không đúng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa… Con càng thương thầy, nhưng thầy ơi, làm sao, làm sao giữ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con xưa kia? Làm thế nào, thầy ơi”.
Như vậy từ khi Hồn Trương Ba nhập vào xác của anh hàng thịt thì Hồn Trương Ba không còn là Hồn Trương Ba trước kia nữa, Hồn Trương Ba đã sống trong những tấn bi kịch, ông rơi từ bi kịch này đến bi kịch khác, và những bi kịch ấy đã đi đến điểm đỉnh, giằng xé tầm hồn Hồn Trương Ba, đó là cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác với sự giễu cợt, tự đắc của Xác khiến Hồn Trương Ba càng khổ đau, càng cảm thấy bế tắc. Trong cuộc đối thoại này Xác đã đưa ra nhiều lí lẽ thật xác đáng để công kích lại những quan điểm thật trong sáng, cao đẹp của Hồn. Nếu Hồn tỏ ra chán ngán khi phải cư ngụ trong cái thân xác kềnh càng, thô lỗ và muốn “tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ là một chút!” thì Xác đã phản kháng một cách gay gắt: “Vô ích, cấi linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba”.
Khi Hồn bảo với Xác là “mày không thể biết nói! Mày không có tiếng nói, mà chỉ là xác thịt âm u, đui mù” thì Xác đã không hề chịu thua, ngược lại đã phản kháng quyết liệt luận điểm của Hồn: “Có đấy! Xác thịt có tiếng nói đấy! Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến. Chính vì âm u, đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm có khi át cả cái linh hồn cao khiết của ông đấy". Càng lúc Xác càng đẩy Hồn vào chân tường và Hồn chỉ còn phản kháng yếu ớt: “Ta… ta… đã bảo mày im đi!”, "Ta không muốn nghe mày nữa!”. Và cuối cùng Hồn như đuối lí trước lập luận của Xác: “Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác…”. Đây là cuộc đấu tranh thật gay gắt giữa Hồn và Xác. Cuộc đấu tranh gay gắt này đã đi đến đỉnh điểm của kịch tính là khi Hồn Trương Ba sắp ngã vào tay chị vợ anh hàng thịt. Hồn có nguy cơ bị thân xác lấn át, Hồn Trương Ba đã phải trải qua những cuộc đấu tranh gay gắt với chính thể xác mà nó trú ngụ. Cuối cùng, để giữ sự thanh sạch Hồn Trương Ba đã chấp nhận cái chết vĩnh viễn, khước từ cuộc sống không phải là mình. Đây chính là sự bộc lộ một triết lí sống sâu sắc của Lưu Quang Vũ: cuộc sống thật đáng quý, nhưng không phải sống như thế nào cũng được. Nếu sống vay mượn, sống chắp vá, không có sự hài hòa giữa vẻ đẹp tâm hồn và nhu cầu vật chất thì cuộc sống ấy là một bi kịch. Hay nói một cách khác, Lưu Quang Vũ muốn nói với chúng ta rằng: cuộc sống của mỗi con người chỉ thực sự hạnh phúc, chỉ có giá trị khi được sống đúng là mình, được sống tự nhiên trong một thể thống nhất. Tóm lại, từ khi Hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt thì Hồn Trương Ba đã thay đổi cả về tâm hồn và thể xác bởi ông phải sống trong một hoàn cảnh trớ trêu đầy bi kịch khi có sự chênh lệch giữa Hồn và Xác. Mâu thuẫn và xung đột gay gắt giữa sự thanh sạch cao khiết của tâm hồn với một thể xác thô lỗ, cộc cằn. Hồn Trương Ba không thể sống mãi trong cái cảnh bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được nên kết cục đã chọn lấy cái chết vĩnh viễn để giữ tâm hồn thanh sạch. Đó chính là tư tưởng là quan niệm sống đúng đắn của Lưu Quang Vũ và cũng là bài học sâu sắc cho chúng ta trong cuộc sống. | Phân tích hoàn cảnh trớ trêu mà nhân vật Hồn Trương Ba đã rơi vào từ khi phải trú ngụ trong thân xác anh hàng thịt | 1,726 | |
Phân tích hình tượng anh bộ đội miền nam trong thơ Tố Hữu.
Hướng dẫn
Phân tích hình tượng anh bộ đội miền nam trong thơ Tố Hữu.
Tố Hữu là một nhà thơ luôn gắn liền với những chặng đường cách mạng và cũng là một nhà thơ mang phong cách nghệ thuật chính trị trữ tình. Và ông luôn có một kho tàng viết về những chủ đề về quê hương đất nước, trong đó tiêu biểu có bài thơ mang đến hình tượng của anh bộ đội cụ hồ Miền Nam.
Trong thơ Tố Hữu thì những người chiến sĩ cách mạng Miền Nam luôn là những con người đẹp nhất bởi vì các anh là người đứng lên giải phóng cho đất nước khỏi những ách thống trị của bọn xâm lược.
“Vì độc lập, tự do, núi sông hùng vĩ
Vì thiêng liêng giá trị con người
Vì muôn đời hoa lá xanh tươi”
Lí tưởng của các anh hùng bộ đội cụ hồ được thừa kê từ ông cha ta để lại, lòng yêu thương đồng bào tổ quốc đã khiến cho các anh vững dạ hơn trên chiến trường. Các anh ra đi cũng là muốn cho đất nước được độc lập tự do, hạnh phúc, không những vậy còn giúp chúng ta đòi lại giá trị quyền làm người cho cả dân tộc. Có thể nói rằng các anh ấy đang mang trên mình cả sự nghiệp của non sông đất nước, tuy gian lao vất vả là thế nhưng các anh không hề lùi bước mà kiên quyết lên đường vì lí tưởng cao đẹp cứu nước.
Các anh ra đi mà không hề cảm thấy mình bị éo buộc, ngược lại còn thấy được niềm hạnh phúc vì sự cống hiên trong đó. Và vẻ đẹp hình tượng của các anh được thể hiện qua những dòng thơ tiếp theo:
Vui gì hơn làm người lính đi đầu
Trong đêm tối trái tim thành ngọn lửa”
Các anh đang ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với quê hương đất nước, chính vì vậy cho nên mới có câu: vui gì hơn khi làm người lính đi đầu,mang lại sự ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Cho dù gian nan vất vả phải thức trắng cả đêm thì các anh vẫn luôn cảm thấy được lòng mình đầy sự tự tôn của dân tộc.Chính vì thế mà đêm có tối tăm mịt mùng tới cỡ nào thì chính trái tim của các anh vẫn là ngọn lửa để soi đường.
Các anh còn hiểu được những việc làm của mình,làm cho ai và vì ai, tại sao phải làm như vậy, các anh chiến đấu không hề vô nghĩa hay trong sự ép buộc gì:
“Ta hiểu vì sao ta chiến đấu
Ta hiểu vì sao ta hiến máu”
Những người chiến sĩ ấy luôn mang trong mình sự kiên cường với phẩm chất tốt đẹp đó chính là vượt qua được mọi gian lao khó khăn,ngọn núi đã cao nhưng ý chí của họ còn cao hơn cả núi và cứ như thế nhà thơ càng tháu hiểu được những phẩm chất đó của các anh.
“…ngày đi vắt với sương
Ngô bung xôi nhạt, nước lưng bương
Đêm mưa rình giặc ta thao thức
Mùa lại qua mùa rét nhức sương”
Nhà thơ Tố Hữu đã đặc biệt ghi lại những vẻ đẹp cam chịu gian khổ vất vả của các anh và qua đó ta thấy được những phẩm chất cao đẹp của họ:
“Giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
Anh vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh thế”
Hay là có đoạn:
“hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa đạn
Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không lún
Đó là những câu thơ hay có gái trị nhất nói về sự cam chịu, sự gian khổ của các anh khi ở trên chiến trường. Có thể nói rằng chính những lí tưởng sáng ngời ấy đã dẫn dắt được các anh vượt qua mọi gian khó, mọi điều kiện thiếu thốn vất vả ở trên chiến trường.
Các anh bộ đội ấy còn hiện lên rất hào hùng kiên cường mạnh mẽ trong những cuộc hành quân dẫn đến thành công:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trung trùng
Ánh sao đầu mũ bạn cùng mũ nan”
Đặc biệt là hình ảnh anh bộ đội lúc đang cầm súng bắn hi sinh, tạo nên một hình ảnh bất diệt, nói lên sự căm thù của chúng ta đối với quân giặc và tố cáo tội ác của chúng:
Máu anh phun theo lửa đạn cầu vòng”
Tuy bị trúng đạn nhưng các anh không hề ngã xuống và vẫn giữ được sự hiên ngang bất khuất,làm nên một dáng đứng lịch sử. Tuy là chết nhưng các anh luôn bất tử trong lòng mọi người dân Việt Nam.
Cho dù bản thân mình phải chịu nhiều gian khó vất vả khổ cực, còn đánh đổi cả xương máu nhưng vẫn lo nghĩ cho người mẹ ở nhà với nỗi tái tê lòng mình:
“Con đi trăm núi ngàn khe
Chẳng bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”
Không những vậy còn có tình anh em đồng chí gắn bó keo sơn:
“Ôi! Cái vui đồng chí, đồng bào
Giữa ngày xuân, tiền tuyến xôn xao…
Phải bao máu thấm trong lòng đất
Mới ánh hồng lên sắc tự hào!
Tình bạn, thêm nồng qua lửa đạn
Đường xa, càng vững chí anh hùng”
Như vậy qua đây chúng ta có thể thấy được những phẩm chất đẹp đẽ và quý giá của anh bộ đội cụ hồ Miền Nam được thể hiện một cách sâu sắc qua những vần thơ. Với những câu thơ chất chứa đầy cảm xúc đó, vẻ đẹp và phẩm chất của anh được toát lên sáng ngời mãi mai sau và luôn làm gương cho các thế hệ noi theo.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích hình tượng anh bộ đội miền nam trong thơ Tố Hữu. | 999 | |
Đề bài: Phân tích hình ảnh bà cụ Tứ trong truvện ngắn Vợ nhặt
Bài làm
Không phải là nhân vật chính, lại xuất hiện ở phần cuối của tác phẩm nhưng bà cụ Tứ – mẹ của anh cu Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân đã góp phần làm cho tác phẩm sâu sắc hơn. Với tình huống anh cu Tràng “nhặt” được vợ trong những ngày đói deo dắt, Kim Lân muốn khắc hoạ số phận bi đát của người nông dân trước cách mạng tháng Tám, thể hiện sự cảm thông, sẻ chia trước khát khao hạnh phúc của những số phận khốn cùng ấy. Sau tình huống nhặt được vợ, anh cu Tràng, chị vợ và người mẹ đường như trở thành người khác. Và bà cụ Tứ người mẹ nghèo đã bộc lộ tấm lòng sâu sắc của một người mẹ suốt đời những buồn đau, lo lắng đã đè nặng lên cuộc đời bà. Bởi thế nhân vật phụ này đã tạo lên một phần không nhỏ giá trị nhân văn của tác phẩm.
Chân thật trong hình ảnh và chân thật trong từng chi tiết, Kim Lân dường như không kể mà dắt ta đến với bà cụ Tứ. Bắt đầu là cái dáng: “lọng khọng đi vào ngõ vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng”. Có biết bao nhiêu là thân thương, trìu mến. Ta gặp lại dáng hình gầy gầy, còng còng vì sương gió cuộc đời của người đàn bà quen thuộc. Từ “lọng khọng” đầy sáng tạo và giàu sức tạo hình. Cái lẩm cẩm, chậm chạp theo nổi “phấp phỏng” trước sự đón tiếp khác thường của ông “con giai”, bà bước vào trong nhà. Khi thấy một người đàn bà đứng ngay ở đầu giường con mình, bà hết sức ngạc nhiên.
Phân tích hình tượng bà cụ Tứ trong truvện ngắn Vợ nhặt
Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu óc già nua của bà. “Người đàn bà nào lại đứng ở đầu giường thằng con mình thế kia? Không phải cái đục mà. Ai ihế nhỉ? Sao lại chào mình bằng u?”. Phải, bà làm sao ngờ được giữa năm đói, nhà lại nghèo mà con bà lại dẫn không về một người vợ! Băn khoãn mãi khi hiểu ra, “bà lão cúi đầu nín lặng”, vừa “ai oán vừa sót thương cho số kiếp con mình”. Thương con để rồi tủi phận mình. “Chao ôi, người ta đựng vợ gả chồng cho con là trong lúc nhà ăn nên làm nổi, còn mình thì..”. Đọc những dòng này, ta có cảm giác như trái tim người mẹ trong cái thân hình còm cõi đang rung lên đau đớn, xót xa. Việc trọng đại trong đời con, lẽ ra “làm được dăm ba mâm cơm mới phải”, nhưng " nhà mình nghèo quá”, nên điều đó chỉ nằm trong suy nghĩ, không thực hiện được. Bà cụ thương con, tủi phận rồi lại thương dâu. “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được …” Vừa mừng tủi, vừa lo lắng, bà lo nỗi lo rất chính đáng của con người đã trải qua cuộc đời cực nhọc, đớn đau: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khái này không?”. Nén nổi lo trong lòng, bà cụ động viên con tin tưởng vào tương lại “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?…". Bà nói với con dâu bằng giọng của người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót; “…Năm nay thì đói to đây. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…” “ bà nghẹn lời không nói được nữa…”. Nhưng ta hiểu, người con dâu bà lúc này rất hiểu bà, thấy thân thiết gắn bó với bà, thực sự coi bà là mẹ. Và nghĩa là “ đám cưới ” đã xong. Chẳng lễ nghi, không đưa đón, tấm lòng chân thật, nhân hậu của người mẹ nghèo đã thay thế tất cả. Đến đây ta cứ liên tưởng tới mẹ chồng. Dần trong “một đám cưới”(Nam Cao). Người mẹ ấy “mở tài ăn nói”, nói rất nhiều, rất “ngọt ngào” để khoả lấp sự “không có nhiều liền”, làm “mát lòng mát ruột” cha Dần. Chao ôi, những người mẹ nông dân nghèo trước cách mạng là thế ư? Tình yêu thương con, ý thức trách nhiệm của người làm mẹ khiến họ cưới vợ cho con bằng tất cả những khả năng mình có thể, dẫu chỉ là lời nói…Nhưng nếu mẹ chồng Dần nói rất nhiều thì thì bà cụ Tứ lúc này chỉ nói rất ít. Bà khóc “Nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”. Những giọt nước mắt ấy đã nói lên tất cả tấm lòng chân thật của bà. Bà dành lời cho bữa cơm mừng con dâu ngày hôm sau – “toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này”, bà say sưa với các con những dự định cho tương lai…
Từ sự ngỡ ngàng đến thoáng im lặng, “hiểu ra biết bao cơ sự”, từ giọt nước mắt tủi phận nghèo, thương con dâu đến nổi lo lắng “không biết chúng có nuôi nhau sống nổi qua ihì đói không” đến niềm vui mừng, niềm tin vào tương lai…, tất cả đan xen, hiển hiện dưới ngòi bút Kim Lân. Tác giả đã đi sâu phân tích diễn biến tâm lí tinh tế của bà cụ Tứ, thể hiện một cách tài tình trong từng suy nghĩ, từng hành động, lời nói. Lỗi lo xa cho tương lai, lối nhìn người mà ngẫm đến mình, tủi phận mình hay duy tâm của người già: "…chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết làm thế nào mà lo cho hết được? ” tưởng đọc lên ta không thể không chắc chắn đó là lời của bà cụ Tứ. Quả là không thể lẫn đi đâu được cách nói, cách nghĩ vừa lẫn thẩn, vừa hồn hậu của người mẹ già nông thôn. Tác giả vừa hoá thân vào nhân vật để phân tích diễn biến tâm lý vừa khách quan ghi lại. Đặt nhân vật trong hoàn cảnh không gian, thời gian nhất định, Kim Lân đã diễn tả sâu sắc tâm trạng nhân vật. Bà cụ Tứ ngửi “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết thoảng vào khét lẹt” mà “nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út”, đến “cuộc đời cuộc đời cực khổ đằng dặc của mình” để rồi phấp phỏng lo lắng cho tương lai của con: “liệu chúng nó có hơn bố mẹ chúng nó trước kia không?”. Nghệ thuật “biện chứng pháp tâm hồn” đã thể hiện nhuần nhị trong từng biến thái tinh tế, phong phú của tâm lý người mẹ nghèo. Tác giả phải có sự thấu hiểu, trân trọng đặc biệt, phải có vốn sống phong phú đến mức độ nào mới có thể diễn tả một cách chân thực, tài tình đến vậy. Vợ nhặt không còn là những trang văn, đó là những trang đời – những trang đời thâm đẫm những giọt nước mắt tủi cực, xót xa, phấp phỏng nổi lo cho tương lai và rạng rỡ trong trái tim người mẹ nghèo. Chân thực mà cũng thật cảm động, hình ảnh bà cụ Tứ không chỉ giúp ta chứng kiến diễn biến tinh tế của tâm tư mà con rung cảm sâu sắc trước tâm, trước tấm chân tình tha thiết của người mẹ.
Đọc truyện, có lẽ không ai quên được cách giấu giếm đầy ngượng ngập, vụng về về những dòng nước mắt xót thương con của bà lão: “Có đèn đấy à? ừ thắp lên tí cho sáng sủa…Dầu bây giờ đắt gớm lên mày ạ…”. Bà đã cố nén sự xúc động của mình, đã cố nuốt những giọt nước mắt chát đắng xót xa vào trái tim vốn đã chát đắng xót xa vào trong trái tim vốn đã chát đắng của một đời tủi cực. Và khi ấy, trước đôi mắt nhoà lệ của người đọc, dòng “nước mắt cứ chảy ròng ròng” sau lời bộc bạch tâm tình với con dâu của bà lão lại hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết. Những giọt nước mắt trong suốt từ đôi mắt đục mờ. Những giọt nước mắt lấp lánh lòng vị tha cao quý của người mẹ. Những giọt nước mắt mặn mòi là muối của đất, là muối của trái tim yêu thương dạt dào như biển cả… Những giọt nước mắt lặn vào trong ấy đã hoá niềm vui chân thành trong xúc động “xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa”, trong tíu tít những dự định nào ngăn buồng cho đôi trẻ, nào mua đôi gà… Để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời” này lại là người nói đến tương lai nhiều hơn tất cả. Không đơn thuần chỉ là tâm lí lạc quan khỏe khoắn của người lao động, đó là cả niềm ao ước thiết tha về một ngày mai sáng sủa hơn cho con của người mẹ nghèo. Có thể bà chẳng còn sống mấy nữa. Nhưng bà sống vì con, tìm thấy ý nghĩa đời người trong sự chăm lo vun vén cho con. Và bởi vậy, những ước muốn, hy vọng đâu chỉ dành cho tuổi trẻ – nó trở nên đằm sâu, nồng thắm hơn trong tâm lòng của những người mẹ nghèo như bà cụ Tứ. Ai dám bảo bà mẹ lẩm cẩm, dớ dẩn? Ai dám cười những ước mong, dự định của bà? Cái gốc lạc quan, yêu thương không những không tàn héo đi mà ngược lại càng xanh tươi hơn trong mưa nắng cuộc đời. Tâm tính ấy làm ta xúc động, thấm thía bao điều… Tâm tính ấy khiến bữa cháo thành bữa tiệc, khiến nồi cháo “chát xít, nghẹn bứ trong miệng mà ngon ngọt trong lòng”. Người đọc cười ra nước mắt trước sự hào hứng, vui vẻ khi bà lão “lễ mễ” bưng nồi cháo cám “nghi ngút khói” lên nhà, đon đả tươi cười múc cho con mà bảo: “Cám đây mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem”. Phải, cái nồi cháo cám hèn hạ đành rồi, nhưng tấm lòng người mẹ quê ngẫm lại không đáng thương, đáng quý hay sao? Dường như bà cố gắng xua đi cái không khí ảm đạm, cố gắng vượt lên hoàn cảnh bằng sự tươi tỉnh động viên con. Bên trong cái vẻ tươi tỉnh ấy, ta biết lòng người mẹ đang thổn thức. Lòng người đọc cũng dâng lên bao xót xa… Tội nghiệp thay niềm vui của bà lão – cái niềm vui không cất cánh lên được. Bởi, vẫn còn đó bát cháo cám, vẫn còn đó tiếng trống thúc thuế dồn dập khiến niềm vui không thể trọn vẹn… “Bà không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc” còn người đọc thì nhìn thấy rõ những giọt nước mắt trong lòng bà, thấy rõ những giọt nước mắt của Kim Lân khi viết những dòng này. Bằng tất cả sự nâng niu, trân trọng, Kim Lân đã để trái tim đập cùng một nhịp với trái lim người mẹ nông dân nghèo…
Qua Vợ nhặt, Kim Lân đã xây dựng thành công hình ảnh người mẹ nghèo trong trận đói khủng khiếp 1945. Người mẹ nghèo tiền bạc nhưng giàu lòng yêu thương và hết mình vì con – người mẹ Việt Nam truyền thống. Đằng sau bà cụ Tứ, ta thấy thấp thoáng những Lão Hạc, chị Dậu, mẹ Dần… những người sống tận lòng cho những người thân yêu của họ. | Phân tích hình tượng bà cụ Tứ trong truvện ngắn Vợ nhặt | 2,004 | |
Phân tích hình tượng Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Phân tích hình tượng Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Một tác phẩm hay hấp dẫn và thành công không chỉ ở nội dung và hình thức mà còn là ở hình tượng của tác phẩm đó. Hình tượng có thể là con người và cũng có thể là vật, miễn sao sự vật con người ấy nói lên được ý nghĩa mà nhà văn muốn truyền tải tới bạn đọc. Nếu như Nguyễn Tuân lấy hình tượng con sông Đà để giới thiệu vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của nó thì Nguyễn Minh Châu lấy hình tượng chiếc thuyền ngoài xa để nói lên những dụng ý nghệ thuật của mình. Vậy dụng ý nghệ thuật của nhà văn qua hình tượng ấy là gì?.
Chiếc thuyền ngoài xa được Nguyễn Minh Châu sáng tác trong thời kì đổi mới của đất nước. Khi ấy xã hội đang trên đà phát triển, kinh tế phát triển theo xu hướng hàng hóa nhiều thành phần và hàn gắn vết thương chiến tranh đi lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước có nhiều cái mới tốt đẹp văn minh hơn nhưng đồng thời vẫn có những mảng tối mà nhà nước không thể đi sâu hết được. Cho nên với ý thức của một người nghệ sĩ Nguyễn Minh Châu không hổ danh là người mở đường tinh anh khi sáng tác thành công truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Trong truyện ngắn ấy ngoài những hình tượng người đàn bà hay người nghệ sĩ Phùng thì chúng ta đặc biệt ấn tượng với hình tượng chiếc thuyền ngoài xa.
Ngay từ nhan đề của tác phẩm đã là một ẩn ý nghệ thuật về hình tượng này. Chiếc thuyền ngoài xa theo nghĩa tả thực thì nó chính là không gian sinh sống của những cặp vợ chồng làng chài. Nó là những chiếc thuyền mưu sinh của con người đánh cá. Nói một cách khác đi thì đó chính là nhà của họ. Thế nhưng nếu như chỉ hiểu theo nghĩa tả thực kia thì chẳng có gì gọi là ẩn ý ở đây cả.
Như vậy hình tượng chiếc thuyền ngoài xa là một hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Nhà văn như khẳng định nguồn gốc của nghệ thuật chính là sinh ra từ cuộc sống này. Những điều bình dị hay những điều lớn lao của cuộc sống đều có thể trở thành nghệ thuật. Hình tượng chiếc thuyền ngoài xa mang nét nghệ thuật đẹp đến nổi người nghệ sĩ không thể thốt nên thành lời mà như có ai bóp thắt tim mình lại.
Đó là một nét của hình tượng chiếc thuyền ngoài xa, nếu chỉ dừng lại ở đó thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nhà văn Nguyễn Minh Châu tiếp tục cho chúng ta khám phá nghịch lý của cuộc đời qua hình tượng chiếc thuyền ấy.
Sau một bức tranh tuyệt mĩ ấy nơi có những con người chỉ ngòi im phăng phăc êm đềm hiền lành thế. Vậy mà khi chiếc thuyền ấy lại mang cả một sự thật ẩn dấu đằng sau. Đó là người chồng đánh người vợ của mình thậm tệ. Anh ta lấy một chiếc thắt lưng mỹ ngụy của mình để dáng đòn liên tục vào người vợ không hề thương tiếc hay đau xót gì. Bất chợt thằng con trai ở đâu lao tới, nó cầm một con dao và bất chấp chạy tới chỗ ông bố để đâm ông ta. Mũi dao ấy có thể lấy mạng ông bố. Người chồng ấy phũ phàng tát cho thằng con một cái ngã lộn nhào và sau đó trở về thuyền để mặc cho hai mẹ con ở lại trên bờ. Vậy là hình tượng chiếc thuyền kia đâu còn là hình ảnh nghệ thuật nữa nó lại quay trở lại là hình ảnh của cuộc sống hiện thực của những người dân chài nơi đây. Vẫn là con thuyền mưu sinh ngày đêm lênh đênh trên biển, vẫn là con thuyền với những con người ngồi im phắc thế nhưng đến khi vào bờ lại là một trận đánh tơi bời. Đến đây thì ai nghĩ rằng chiếc thuyền kia chỉ đẹp như thế.
Có thể nói nhà văn Nguyễn Minh Châu đã kế thừa quan niệm của nhà văn Nam cao “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không cần là ánh trăng lừa dối… Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than”. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu vẫn có cái mới lạ ở chỗ hình tượng chiếc thuyền kia quả thật là một nghê thuật đó chứ đâu có phải lừa dối đâu. Cái mà nhà văn muốn thể hiện đó chính là mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật, cái nhìn đa chiều vào sự vật hiện tượng. Ngay chính bản thân hiện tượng cũng có những nghịch lý mà ta phải nhìn nhận. | Phân tích hình tượng Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu | 848 | |
Đề bài: Phân tích hình tượng Chiếc thuyền ngoài xa
Bài làm
I. Mở bài
Không phải ngẫu nhiên mà có người cho rằng Nguyễn Minh Châu là nhà văn của những biểu tượng. Bởi lẽ, trong tác phẩm của mình, Nguyễn Minh Châu thường không trực tiếp phát biểu ra những suy nghĩ, quan điểm mà chỉ bộc lộ những suy nghĩ, cách nhìn về cuộc đời qua những biểu tượng, những hình tượng đa nghĩa.
Và có lẽ, hình tượng “chiếc thuyền ngoài xa” trong truyện ngắn cùng tên của ông cũng như vậy.
Phân tích hình tượng Chiếc thuyền ngoài xa
II. Thân bài
– Tên truyện ngắn là “Chiếc thuyền ngoài xa”, và quả thật, hình ảnh chiếc thuyền gần như xuất hiện xuyên suốt trong câu chuyện mà nhà văn mang đến cho người đọc. Bắt đầu từ yêu cầu của người trưởng phòng “lắm sáng kiến” đối với nhân vật xưng “tôi” – người nghệ sỹ nhiếp ảnh: “…Chúng ta sẽ mang đến cho mỗi gia đình một bộ sưu tập về thuyền và biển, không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật”. Tiếp đó là hình ảnh chiếc thuyền “mới đóng xong vẫn còn thơm mùi gỗ lẫn mùi dầu rái”, rồi tiếp theo nữa là “một nhóm chừng dăm bảy chiếc thuyền vó vừa tắt đèn” và cuối cùng tập trung vào “một chiếc thuyền lướt vó …đang chèo thẳng vào trước mặt tôi”. Đây chính là “Chiếc thuyền ngoài xa”.
– Hình ảnh “Chiếc thuyền ngoài xa” được nhà văn khắc hoạ rất ấn tượng: “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu trời sương mù trắng như sữa pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”. Hình ảnh đó mang một “vẻ đẹp thực sự đơn giản và toàn bích” – vẻ đẹp của “một bức tranh bằng mực Tàu của một danh hoạ thời cổ”, và tất cả vẻ đẹp đó đã được nhà nghệ sỹ nhiếp ảnh của chúng ta thu vào một tấm ảnh mà nó “được treo ở rất nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”.
– Hình ảnh “Chiếc thuyền ngoài xa” giờ đã hoá thân thành một tác phẩm nghệ thuật để mọi người nhìn ngắm, chiêm ngưỡng với tất cả những vẻ đẹp về màu sắc, đường nét, bố cục…và khi thưởng thức bức ảnh đó, những người sành nghệ thuật thể có cái cảm giác “trở nên bối rối”, cảm thấy “trái tim như có cái gì bóp thắt vào” và “khám phá thấy cái chân lý của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”…như cái cảm giác mà “tôi” đã từng có.
– Song, dù có là người sành nghệ thuật đến đâu, cũng không ai khám phá ra được: Đó là những con nguời, những cuộc đời, những số phận đầy trớ trêu, nghịch lý đã, đang và sẽ còn tiếp tục sống quay quắt bên trong chiếc thuyền ấy. Một người vợ nhẫn nhục cam chịu một cách tự nguyện những trận đòn thịnh nộ của anh chồng với “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” chỉ vì chiếc thuyền ấy, gia đình ấy (với trên dưới mười con người) cần có ông ta chèo chống lúc phong ba; Một đứa con trai yêu mẹ đến nỗi định giết cả bố mình… Cái sự thật bên trong ấy chỉ được người thợ chụp ảnh nhận ra khi “chiếc thuyền đâm thẳng vào chỗ tôi đứng”, Tức là ở một khoảng cách gần, rất gần!
– Với chi tiết này, câu chuyện dường như đã mở ra hai hình ảnh, hai thế giới khác hẳn: Chiếc – thuyền – ngoài – xa mang lại vẻ đẹp hoàn mỹ cho một tấm ảnh, còn chiếc thuyền khi đến gần lại làm vỡ ra một hiện thực nghiệt ngã đến xót xa của số phận con người.
Vậy nên, có thể nói hình tượng “Chiếc thuyền ngoài xa” đích thực là một ẩn dụ nghệ thuật hoàn toàn có dụng ý của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Giải mã hình tượng ẩn dụ đó, người đọc sẽ nhận ra một thông điệp mà nhà văn truyền đi, rằng cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.
– Chính vì thế, cho dù chỉ là một bức ảnh “hoàn toàn thế giới tĩnh vật”(hay nói đúng hơn là vẫn có con người nhưng đó chỉ là “những bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng”) nhưng nhà nghệ sỹ nhiếp ảnh của chúng ta – cũng là người đã trực tiếp nhận ra những số phận ẩn tàng bên trong nó – bao giờ cũng như thấy “một người đàn bà bước ra ” sau mỗi lần suy tư, ngắm nhìn thành quả nghệ thuật mà mình tạo ra nhờ cái giây phút “trời cho” ấy.
III. Kết bài
– Trước Nguyễn Minh Châu, nhà văn Nam Cao từng quan niệm “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không cần là ánh trăng lừa dối… Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than”(Trăng sáng). Là người đi sau, Nguyễn Minh Châu không lặp lại quan niệm đó, vì hình ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” mang vẻ đẹp nghệ thuật thực sự chứ không hề là “ánh trăng lừa dối”. Điều mà nhà văn muốn người đọc lưu tâm là cần phải có cái nhìn đa chiều, phổ quát mới có thể cảm nhận hết cái gai góc, phức tạp của cuộc đời này, bởi như ông đã nói “con người thì đa đoan, cuộc đời thì đa sự”.
– Nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng từng phát biểu “Sáng tác văn học là quá trình đi tìm hạt ngọc ẩn sâu bên trong tâm hồn con người”. Thông điệp phát đi từ hình tượng “chiếc thuyền ngoài xa” trong truyên ngắn cùng tên của ông chính là sự bổ sung hết sức thuyết phục cho quan niệm đó. | Phân tích hình tượng Chiếc thuyền ngoài xa | 1,098 | |
Phân tích hình tượng Con cò trong ca dao Việt Nam
Hướng dẫn
Phân tích hình tượng Con cò trong ca dao Việt Nam
Con cò bay lả, bay la…, Con cò bay bổng, bay cao. Những câu ca dao bắt đầu bằng con cò đã đi vào tâm hồn con người Việt Nam từ bao đời nay. Con cò thật là gần gũi thân quen với người nông dân.
Nó trở thành hình tượng đẹp trong ca dao. Và mỗi khi nhắc đến con cò với những phẩm chất của nó gợi ta liên tưởng đến hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam chịu thương chịu khó, tận tụy suốt đời vì chồng vì con.
Người nông dân Việt Nam rất gần gũi và gắn bó với con cò. Họ đã từng xem cò như là bạn. Nhìn đàn cò trắng bay bổng trên cánh đồng bát ngát lòng người cảm thấy phơi phới lạ thường, quên hết nỗi nhọc nhằn sau một ngày làm việc. Dáng cò mảnh khảnh, thân cò gầy gầy, bộ lông cò trắng muốt. Cò mang một vẻ đẹp thanh thoát làm sao! Nhìn cò đứng bên bờ ruộng rỉa lông, cò chao liệng trên bầu trời lộng gió ta chợt liên tưởng đến dáng vẻ của người phụ nữ. Cũng cái mảnh dẻ ấy, cũng cái thân gầy gầy ấy, ta bắt gặp ở người phụ nữ nông dân Việt Nam, người mẹ, người vợ của nông thôn ngày xưa nét dịu hiền đằm thắm, thanh thoát nhẹ nhàng như thế đấy!
Cái cò bay bổng bay cao
Bay qua cửa phủ, bay vào Đồng Đăng.
Thật đẹp làm sao, qua lời ca dao ta mường tượng ra dáng vẻ của cò mang bóng dáng người phụ nữ Việt Nam đáng yêu!
Nét nổi bật đáng quý ở con cò là đức tính chịu thương, chịu khó, chăm chỉ, cần cù: Thân cò rất vất vả, lặn lội quanh năm kiếm sống.
Trời mưa quả dưa vẹo vọ
Con ốc nằm co
Con tôm đánh đáo
Con cò kiếm ăn
Đọc lời ca dao ta lại càng thấm thía. Bài ca dao không chỉ nói lên hình ảnh của người nông dân cần cù chịu đựng gian khổ mà còn thể hiện rõ nỗi khổ nhọc của những người mẹ Việt Nam suốt đời tần tảo. Vì đàn con thơ, mẹ phải đem thân cò kiếm ăn trong mưa bão. Mẹ không thể ngơi nghỉ một ngày nào. Cuộc sống cơ hàn vất vả có bà mẹ nào đành lòng để con đói rét lầm than. Nên mặc cho con ốc nằm co, con tôm đánh đáo thì con cò vẫn phải kiếm ăn.
Cái cò là cái cò con
Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà
Ta càng cảm nhận được rõ hơn cuộc sống khó khăn thiếu thốn ấy. Sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công thôi nát, người phụ nữ cũng như thân cò nhỏ bé phải đương đầu với bao nỗi đắng cay. Thật tội nghiệp làm sao!
Nước non lận đận một mình
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay
Bài ca dao không hẳn nói về người phụ nữ mà là nói lên số phận, nỗi chua xót tủi nhục của người nông dân nghèo thời ấy. Nhưng cái hình ảnh thân cò lên thác xuống ghềnh kia vẫn gợi lên trong ta hình ảnh của người phụ nữ bởi cái lận đận một mình y bởi cái thân cò đáng thương ấy! Nỗi khổ nhục kia lại được nâng cao hơn trong cảnh chiến tranh chết chóc. Chiến tranh đã đem lại bao mất mát cho con người. Bao cảnh tang thương chia cắt: Con xa cha, vợ xa chồng. Chiến tranh đã đem lại nỗi đau thương, khốn khố cho người phụ nữ, thân cò lại phải lận đận lao đao.
Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Ở đây hình ảnh con cò lại được đem tượng trưng cho người phụ nữ. Người vợ lại phải lặn lội thân cò, gánh gạo đưa chồng trong tiếng khóc nỉ non ai oán. Nhưng rồi họ vẫn cam chịu, vẫn phải chấp nhận sự hi sinh. Một thân một mình vất vả nuôi mẹ, nuôi con cho chồng ra chiến trận. Nếu không có một tấm lòng yêu thương tha thiết, đức tính cần cù, nhẫn nhục hi sinh thì làm sao những người phụ nữ bé nhỏ yếu đuối kia lại có thể đem thân cò của mình mà gánh vác hết mọi nỗi vất vả gian lao.
Sống trong xã hội tối tăm đầy cạm bẫy, người phụ nữ bé nhỏ cũng như con cò phải đương đầu với biết bao trở ngại. Nhưng dù cuộc sống có tối tăm thế nào, dù phải gặp hoàn cảnh trái ngang hiểm nghèo đến đâu thì tâm hồn của người phụ nữ vẫn sáng trong, vẫn luôn tinh khiết như con cò trong lời ca dao:
Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con
Từ hình ảnh con cò lặn lội dưới sông tìm kiếm miếng ăn cho đàn cò con bé bỏng, nhân dân ta đã so sánh ngầm với sự tần tảo đảm đang của người phụ nữ. Đọc đến bài ca dao trước mắt ta như hiện lên hình ảnh những người vợ, người mẹ phải tất tả giữa dòng đời ngược xuôi để lo cho cuộc sống gia đình với đàn con nheo nhóc, kiếm ăn ban ngày không đủ cò phải đi kiếm ăn cả ban đêm. Vì tối trời, cò đậu phải cành mềm cho nên gặp nạn lộn cổ xuống ao. Người mẹ đã gặp nguy hiểm, đã sa chân vào cạm bẫy. Đứng trước hiểm nguy như ngàn cân treo sợi tóc, cái chết đã kề bên, người mẹ ấy chợt nghĩ đến đàn con của mình
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con
Ta thấy được phẩm chất đáng quý ở người phụ nữ hiện lên trong bài ca. Xin được chết trong vì sợ phải đau lòng cò con. Tấm lòng ấy thật cao quý làm sao! Trước cái chết vẫn nghĩ đến phẩm giá trong sạch của mình. Một tấm lòng kiên định bất khuất tiềm ẩn tự bao đời nay đã được lưu truyền trong huyết quản của người phụ nữ. Người mẹ ấy không muốn đàn con phải xấu hể tủi nhục vì mẹ nó. Bà mẹ nghèo vất vả không có gì để lại cho con. Có lẽ chỉ có tấm lòng trong sạch thanh cao, là gia tài quý nhất để cho đàn con sau này luôn tự hào về mẹ nó mà sống tốt đẹp hơn. Bài ca dao thật sự làm xúc động lòng người.
Những lời ca dao ngọt ngào ấy cứ thấm vào lòng mỗi chúng ta. Ta yêu sao những lời ca tiếng hát cùng hình ảnh con cò chịu thương, chịu khó ấy. Càng đọc, càng thấm ta càng thấu hiểu hơn nỗi khó khăn nhọc nhằn của mẹ mình. Người đã vất vả cả đời vì chồng con không một lời than oán. Mẹ ta đang lặn lội thân cò để cho ta được ăn ngon mặc đẹp. Còn thân mẹ, mẹ có kể gì đâu. Ta chợt nhớ đến câu thơ của Tú Xương:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông | Phân tích hình tượng Con cò trong ca dao Việt Nam | 1,258 | |
Phân tích hình tượng con sông Đà Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Tính cách hung bạo và trữ tình của con sông Đà
Mở bài:
Nguyễn Tuân là nhà văn đi nhiều, thích khám phá, say mê những vùng đất mới. Chính vì vậy mà thiên nhiên Tây Bắc nói chung và con sông Đà nói riêng đã có một sức hấp dẫn, cuốn hút Nguyễn Tuân đến vậy. Nguyễn Tuân cũng lại là người thích cảm giác mạnh, và chán ghét những gì bình thường, tẻ nhạt, đơn điệu. Chính vì thế, hình tượng con sông Đà với hai nét tính cách trái ngược nhau: vừa thơ mộng trữ tình lại vừa dữ dội hiểm trở đã trở thành đối tượng mà ông hướng tới.
Thân bài:
Miêu tả thiên nhiên Tây Bắc, Nguyễn Tuân đã đưa lại cho người đọc những trang viết thật hấp dẫn. Cảnh Tây Bắc đẹp tuyệt vời với núi sông diễm lệ, những thung lũng lúa chín vàng và biết bao thứ hoa đủ các màu sắc,… Nhưng nhà văn dành nhiều số trang và bút lực hơn cả để miêu tả con sông Đà – con sông như hội tụ tất cả những nét đặc trong tiêu biểu nhất của Tây Bắc.
Qua ngòi bút tài hoa và uyên bác của Nguyễn Tuân, sông Đà không còn là dòng sông vô tri – vô giác mà đã hiện lên như một sinh thể sống có cá tính, có tính riêng biệt, độc đáo như một con người vậy.
Viết về sông Đà, Nguyễn Tuân đã chọn lại đề từ ngắn gọn, cảm xúc nhưng bao hàm cái thần thái nổi bật của Nguyễn Tuân
“Chung thủy giai đông tẩu
Đà giang dọc Bắc lưu”
(Nguyễn Quang Bích)
Mọi con sông đều chảy về Đông, riêng con sông Đà chảy về hướng Bắc. Qua hướng chảy độc đáo của sông Đà, Nguyễn Tuân như muốn đối lập con sông Đà với mọi con sông khác. Ở đây, cái độc đáo trong phong cách nghệ thuật của nhà văn đã bắt gặp cái độc đáo và say mê con sông Đà. Xưa nay, nhà văn Nguyễn Tuân không ưa gì những nhạt nhèo, bằng phẳng, yên ổn mà thường say mê tính cách phi thường, những tính chất cảm giác mãnh liệt. Bởi vì vậy, cái hung bạo, cái khắc nghiệt của sông Đà thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của nhà văn.
* Tính cách hung bạo của sông Đà
Sông Đà có đến mấy chục con thác hiểm trở. Trong đó những thác “độc dữ và nham hiểm” đã gây nên biết bao tai họa cho con người. Sự nguy hiểm của con sông Đà còn được thể hiện ở những hút nước, xoáy nước giữa lòng sông, như lúc nào cũng sẵn sàng “đòi nợ xuýt” những người lái đò đi ngang qua đấy. Trên sông Đà cũng có những tảng đá phục sẵn như vậy. Trùng vây thạch trận bày trận đồ bát quái để ngăn chặn những người lái đò. Chỉ cần một phút giây lóa mắt hay lỡ tay đều phải trả giá bằng sinh mạng của chính mình.
Sông Đà qua ngòi bút miêu tả của Nguyễn Tuân có lúc hiện lên như một con ngựa bất kham, có lúc giống như một loài thủy quái khổng lồ, hung ác nham hiểm và độc địa.
Thể hiện tính chất hung bạo của sông Đà, Nguyễn Tuân đã liệt kê ra hàng loạt con thác từ thượng nguồn đến hạ lưu. Trong đó có những con thác vô cùng “độc dữ, nham hiểm”. Cái nhìn của Nguyễn Tuân còn bao quát được cả phong cảnh hùng vĩ của thiên nhiên đồi núi ven sông. Đó là cảnh “đá bờ sông dựng thành vách”. Mặt sông lúc ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Có chỗ vách đá thành chẹt lấy lòng sông Đà như một yết hầu. Chỉ qua một hình ảnh so sánh, Nguyễn Tuân đã giúp người đọc hình dung ra vách đá dựng đứng hùng vĩ suốt dòng sông Đà.
Nhà văn Nguyễn Tuân cũng chú ý đến cái sôi sục dữ dội, đầy những đe dọa bất trắc khôn lường của sông Đà – nơi có những ngọn sông “hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn, luồn gió gầm ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào phóng được qua đây”. Có đoạn “có những hút nước giống như cái giếng…. nước ặc ặc lên như vừa rớt dầu sôi vào”.Không thuyền nào dám men gần cái hút nước ấy.
Nhà văn còn hình dung ra cảnh anh bạn quay phim táo tợn mang cái máy quay ngồi vào cái thuyền thúng trên vành theo hút nước xoáy xuống tận đáy sông rồi quay ngược lên để truyền cho người đọc cái cảm giác mới mẻ, lạ lẫm, chân thực. Qua đây, chúng ta thấy Nguyễn Tuân muốn khám phá cái hiểm trở dữ dội của sông Đà từ góc độ kể từ việc sử dụng những kĩ thuật mới mẻ của hội họa, điện ảnh,…
Sau khi đưa ống kính bao quát toàn cảnh sông Đà từ ngược tới xuôi, nhà văn mới tập trung ống kính đặc tả một con thác cụ thể, tiêu biểu. Qua con thác ấy có thể tái hiện được vẻ dữ dằn, hung bạo của hàng trăm con thác sông Đà. Con thác này được miêu tả từ xa tới gần, từ âm thanh tới hình ảnh. Đó chỉ có thể là cái nhìn của một người lái đò trên sông đang ngày một tiến gần hơn tới con thác dữ. Chính bằng cảm nhận của một người đi thuyền trên sông đang từng giờ, từng phút đối mặt với cái chết mà vẻ dữ dội, hung bạo của sông Đà được hiện lên nổi bật hơn, thấm thía hơn và cũng dữ dội hơn.
Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, con sông Đà thật dữ dằn, đáng sợ. Cái đáng sợ của con sông Đà không phải chỉ ở những con thác hiểm trở hung dữ mà còn ở cái quang cảnh hùng vĩ, huyền bí và hoang sơ của dòng sông, chảy giữa điệp trùng núi rừng Tây Bắc. Từ xa, âm thanh của tiếng thác dữ của đá “réo gầm mãi lại, réo to mãi lên”, lúc thì như “van xin khiêu khích”, thế rồi nó “rống lên như 1000 con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa đang nổ lửa”.
Hình ảnh so sánh độc đáo này đã làm cho âm thanh của thác dữ vừa ghê gớm vừa có phần cũng quẫn tuyệt vọng. Thiên nhiên đã phô bày tất cả sức mạnh của mình ra để đe dọa con người. Khi con thuyền đến gần hơn, thác dữ hiện lên với những hình ảnh thị giác “sóng bọt trắng xóa cả một chân trời đá”. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn “mai phục… để vồ lấy thuyền”. Từ mặt nước đến sóng, đá đều mang tâm tính của con người, đều biết hành động, tính toán một cách chủ động theo những suy nghĩ, những mưu mô nham hiểm.
Nguyễn Tuân nhìn nhận từ nhiều góc độ: về lịch sử, địa lý, địa chất,…. Điều này thể hiện vốn tri thức phong phú và uyên bác của nhà văn. Con sông cũng được nhà văn miêu tả lúc thì bao quát, lúc thì cận cảnh, lúc thì bay trên cao nhìn xuống. Lúc lại với cái nhìn của người đi thuyền đang phải đối mặt với cái chết. Nguyễn Tuân còn cảm nhận sông Đà bằng cái nhìn quân sự. Có bao nhiêu tri thức ngôn ngữ về chiến trận, nhà văn đều khoe cả ra để chạy đua cùng cái phong phú, đa dạng của thạch trận mà tạo hóa đã bày sẵn. Con thác dữ này hiện lên với bọn “đá tướng, đá quân” hung bạo, đông đảo đối lập với con thuyền nhỏ bé.
Tác giả còn nhận thấy cả những pháo đài, hàng tiền vệ, hậu vệ, cửa tử, cửa sinh, những vòng vây trùng điệp mà sông Đà giăng ra. Dòng sông cũng chủ động tấn công con thuyền và người lái đò: “mặt nước hò la vang dậy”, “bẻ gãy cán chèo võ khí”, “thúc gối vào bụng, vào hông thuyền”, “đội cả thuyền lên” và còn đánh tơi miếng đòn hiểm độc nhất.
Sông Đà quả thật hiện lên trong chân dung kẻ thù số một của con người. Nguyễn Tuân cũng dùng nhiều hình ảnh so sánh để diễn tả cái dữ dội, nham hiểm của sông Đà “cưỡi lên thác sông Đà phải cưỡi đến cùng”. Có thể nói qua ngòi bút miêu tả của Nguyễn Tuân, con sông Đà lúc thì giống như con ngựa bất kham. Lúc thì lại hiện lên như một loài thủy quái khủng lồ, hung ác, nham hiểm, độc địa mà con người khó lòng chinh phục.
Sông Đà không chỉ hung bạo, dữ dội trong hiện tại mà nó đã trở thành bản tính đặc trưng cho dòng sông từ suốt thuở xa xưa. Đó là con sông “hàng năm vào đời đời kiếp kiếp vẫn làm mình làm mẩy…. người lái đò sông Đà”. Sự dữ dội khắc nghiệt, hung bạo của sông Đà từng in đậm tính cách của mình trong truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh.
Cái nhìn của Nguyễn Tuân khiến sông Đà không chỉ hiện lên trong không gian địa lý mà còn cả ở trong chiều sâu của lịch sử lẫn truyền thuyết dân gian. Nhờ vậy mà bản chất của dòng sông trở nên cụ thể, chính xác hơn. Đặc biệt, để làm nỗi bật tính cách hung bạo của con sông Đà, nhà văn đã tạo ra một cuộc chiến đấu sinh tử giữa người lái đò với con thác hiểm trở. Đây là những trang viết hấp dẫn, đầy kịch tính và bộc lộ rõ nét nhất những đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
* Vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của sông Đà
Sông Đà qua cái nhìn của Nguyễn Tuân giống như mái tóc của một cô thiếu nữ kiều diễm mà “đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc”. Với con mắt của một họa sĩ, Nguyễn Tuân đã miêu tả nước sông Đà thật chính xác với những gam màu thật táo bạo. Lúc thì có màu “xanh ngọc bích”. Lúc lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”. Cảnh sắc hai bên bờ sông Đà trông cũng thật đẹp, thật hấp dẫn. Có lúc “hoang dại như một bờ tiền sử”. Có lúc lại “hồn nhiên như một bờ cổ tích”. Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà được gợi lên từ nhịp điệu câu văn chậm rãi, từ những hình ảnh, liên tưởng gợi cảm tinh tế chất thơ. Đặc biệt là cái tình của Nguyễn Tuân ẩn chứa trong đó.
Nếu cái hung bạo của sông Đà được khám phá bằng con mắt của người đi thuyền trên sông thì vẻ đẹp dịu dàng thơ mộng trữ tình của nó được cảm nhận trước hết bằng cách nhìn của một người từ trên máy bay nhìn xuống. Cái nhìn toàn cảnh từ trên cao khiến Nguyễn Tuân thấy sông Đà không chỉ giống như cái dây thừng ngoằn ngèo dưới chân mà còn mang một vẻ đẹp đôn hậu nữ tính. Người đọc không khỏi xúc động, ngỡ ngàng, say mê với những đoạn sông lặng lờ êm ả chảy giữa hai bờ với những cảnh sắc thật nên thơ như màu sắc đường đi. Có chỗ bờ sông lại mang vẻ hoang dại như một bờ tiền sử và hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích.
Vốn kiến thức phong phú, sự tưởng tượng bay bổng của nhà văn được thả sức tung hoành để tạo nên những câu văn duyên dáng, gợi cảm và hết sức mượt mà. Quan sát từ xa, nhà văn hình dung con sông Đà giống như mái tóc của một cô thiếu nữ kiều diễm: “con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình; đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc. Bung nở hoa ban, hoa gạo tháng 2 và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt hương xuân”.
Nhà văn Nguyễn Tuân cũng đã nhận ra những sắc màu khác nhau của con sông Đà, nước sông biến đổi theo từng mùa trong năm. Mỗi mùa lại có vẻ đẹp, sức hấp dẫn riêng: “mùa xuân dòng sông có màu xanh ngọc bích, còn mỗi độ thu về thì nước sông lại từ từ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”. Màu xanh của sông Đà trong trẻo, lấp lánh ánh sáng khác màu xanh của các dòng sông khác. Dòng sông Đà có lẽ cũng là dòng sông duy nhất biết đỏ mặt mỗi độ thu về. Chính màu đỏ này cùng với màu đỏ của máu cán bộ trung kiên pha loãng, màu đỏ của nhiệt tình cống hiến cho chủ nghĩa xã hội ở Tây Bắc. Nguyễn Tuân đã gọi sông Đà đỏ và cách gọi sông Đà đen của thực dân Pháp.
Có những lúc nét trữ tình thơ mộng của sông Đà được cảm nhận qua cái nhìn của một người đi rừng lâu ngày bỗng nhiên gặp lại dòng sông. Trong cái nhìn này, một ánh nắng loang loáng hắt lên một ánh nắng tháng ba Đường thi:
“Yên hoa tam nguyệt hạ Dương Châu”
(Lý Bạch)
Câu văn của ông lúc thì hối hả gấp gáp để diễn tả niềm cảm xúc đang dâng trào. Lúc thì chậm rãi như tãi ra để diển tả cái vẻ đẹp vắng lặng rất mêm thơ của dòng sông: “cảnh vật ven sông ở đây lặng tờ hình như đời Lí, Trần, Lê quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”.
Nguyễn Tuân khám phá cái hung bạo, dữ dội của sông Đà qua những con thác độc dữ nơi thượng nguồn thì lại nhận ra vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của sông Đà qua một khúc sông phía hạ lưu vẫn là cái nhìn của một người đi thuyền trên sông.
Những cố gắng của con người cũng giúp sông Đà có thêm vẻ đẹp thơ mộng trữ tình. Hình ảnh những con thuyền đuôi én thắt hình dây cổ điển cùng với tiếng hát của những cô lái đò chở gạo qua sông. Tiếng hát từ trên bờ gửi xuống, từ dưới thuyền gửi lên hòa quyện ngân nga suốt dọc sông. Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Tuân học tập nhà thơ Ba Lan khi cảm thán thốt lên: “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”
Nguyễn Tuân còn truy tìm được cả cội nguồn quê hương. Đó lá chiều dài biết được nơi sông Đà nhập quốc tịch Việt Nam. Nguyễn Tuân đã cảm nhận và thể hiện sông Đà như một sinh thể sống, có tên tuổi, cuộc đời, tính cách, quan hệ,… Nhà văn miêu tả sông Đà nhiều góc độ như địa lý, lịch sử, thơ ca, quân sự,… Ông còn sử dụng nhiều thành tựu của nhiều nhành nghệ thuật khác như: hội họa, điêu khắc, điện ảnh,… để xây dựng hình tượng sông Đà.
Nguyễn Tuân đã coi sông Đà như một vẻ đẹp tiêu biểu cho “chất vàng mười” của thiên nhiên Tây Bắc, đồng thời qua đó thể hiện suy ngẫm có tầm triết học về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người.
* Những đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân khi miêu tả sông Đà
Nguyễn Tuân là một nhà văn uyên bác đọc nhiều, biết rộng. Qua việc miêu tả con sông Đà, ông đã đưa lại cho người đọc một vốn tri thức rất phong phú như một lịch sử, địa lí, địa chất,…
Nguyễn Tuân cũng sử dụng nhiều mặt mạnh của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để làm tăng thêm khả năng biểu hiện của văn chương. Chẳng hạn ông đã sử dụng những phương pháp quay cận cảnh trong điện ảnh để miêu tả con sông Đà; hay cách sử dụng gam màu trong hội họa,…
Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân không chỉ sử dụng thị giác, thính giác mà còn vận dụng các giác quan khác nữa như xúc giác để tạo nên nhiều trang viết cảm nhận thật sự sâu sắc, tinh tế,…
Câu văn của Nguyễn Tuân cũng biến hóa rất linh hoạt. Có lúc nhà văn sử dụng câu văn ngắn với tiết tấu nhanh, đầy kịch tính nhưng cũng có khi câu văn được kéo dài ra mang đậm chất trầm tư, mơ mộng. Ngôn ngữ của Nguyễn Tuân cũng hết sức giàu có và phong phú, cách dùng từ của ông rất đắt, rất bạo: miêu tả cuộc quyết chiến của ông lái đò và sông Đà. Nguyễn Tuân đã sử dụng nhiều ngôn ngữ của võ thuật tạo nên những trang viết hấp dẫn đầy kịch tính. Ông thực sự là nghệ sĩ của ngôn từ.
Kết bài:
Với việc phối hợp linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, với việc sử dụng lối hành văn đầy biến hóa độc đáo và giàu sức gợi tả, với việc vận dụng tri thức tổng hợp của những loại hình nghệ thuật khác nhau, Nguyễn Tuân đã miêu tả, bộc lộ cảm xúc và xây dựng thành công hình tuợng dòng sông Đà trong hai sắc thái hung bạo và trữ tình. Nguyễn Tuân đã thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của mình trong những trang viết tài hoa uyên bác của mình khi miêu tả dòng sông. | Phân tích hình tượng con sông Đà Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân | 2,980 | |
Đề bài: Phân tích hình tượng con Sông Đà trong bài tùy bút Người lái đò Sông Đà
Bài làm
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về đến Đất Nước mình thì bắt đầu lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…
(Đất Nưởc- Nguyễn Khoa Điểm)
Tổ quốc ta có trăm núi nghìn sông hùng vĩ. Có biết bao vần thơ đẹp viết về sông núi quê hương. Đoạn thơ trên đây gợi lên trong lòng ta tình yêu sông núi. Trong đó có Đà Giang, mà người xưa đã ngợi ca:
Chúng thủy giai đông tầu,
Đà Giang độc bắc lưu.
Sông Đà ngày nay đã cho nhân dân ta nguồn thủy điện to lớn, đã đem ánh sáng đến mọi miền đất nước thân yêu gần xa. Cách đây gần năm mươi năm (1960), nhà văn Nguyễn Tuân đã viết tác phẩm Sông Đà ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên tráng lệ kì thú, con người Tây Bắc có bao phẩm chất cao quý, đáng yêu. Bài tùy bút Người lái đò Sông Đà là một trong số 15 bài của tác phẩm Sông Đà, là một “tờ hoa”, “trang hoa" đích thực. Nó đã thể hiện một cách tuyệt đẹp phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: uyên bác, tài hoa, độc đáo. Bên cạnh hình ảnh ông lái đò là hình tượng con sông Đà được Nguyễn Tuân nói đến với tất cả tình yêu sông núi quê hương.
Phân tích tùy bút Người lái đò Sông Đà
Sông Đà hùng vĩ, vừa hung dữ, vừa thơ mộng. Nguyễn Tuân coi Sông Đà như một “cố nhân”, một cố nhân “chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẩn tính và gỏng thác lủ ngay đấy”.
Sông Đà hung bạo lắm thác nhiều ghềnh: “Đường lên Mường Lễ bao xa – bảy cái thác, trăm ba cái ghềnh” (Ca dao). Nguyễn Tuân như một nhà thám hiểm – du lịch đi xa biết nhiều, đến sơn cùng thủy tận cho ta biết Ly Tiên và Bả Biên Giang là hai cái tên xa xưa của Đà Giang. Ông kể cho ta biết rằng trăm con thác dữ, những cái tên là lạ hay hay: thác Em, thác Giăng, Mỏ Tôm, Mỏ Năng, Suối Hoa, Hót Gió, Hát Loóng, thác Tiếu… Nhà văn cho biết từ thác Tiếu trở xuống, sông Đà êm ả, bình yên, vì thế đồng bào Thái mới có tục ngữ: “Qua thác Tiếu trải chiếu mà nằm”.
Ở phía trên trung lưu sông Đà. đôi bờ vách đá dựng thành cao vút. Lòng sông đúng ngọ mới có ánh mặt trời, có đoạn lòng sông bị “chẹt” như cái yết hầu. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Tiếng ghềnh thác sông Đà nghe thật ghê rợn. Ở ghềnh Hát Loóng “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuồn luồng gió gùn ghè suốt năm…”. Những cái hút nước ở Tà Mường Vát, nước kêu “ặc ặc” như rót dầu sôi vào, hút nước xoáy tít đáy, phía trên lừ lừ những cánh quạ đàn. Tiếng thác rống nghe càng sợ. Nghe “như là oán trách…, như là van xin..; như là khiêu khích, giọng gằn mà chè nhạo”. Tiếng thác rống như tiếng rống của một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vẩu, rừng tre nứa nổ lửa! Tả thác ghềnh sông Đà, ngòi bút của Nguyễn Tuân rất biến hóa, giàu óc tưởng tượng. Lúc thì ông sử dụng kĩ thuật điện ảnh, âm nhạc, hội họa, lúc thì ông sáng tạo nên những nhân hóa, những so sánh, liên tướng rất “đắt” để miêu tả, tái hiện và cảm nhận tính chất hung dữ của thác, ghềnh Đà Giang. Nguyễn Tuân ví sông Đà như một kẻ có “diện mạo vù tâm địa” nham hiểm, xảo quyệt, độc ác đã bày ra bao trùng vi “tliạch trận”, dày đặc “cửa tử”, la liệt ‘‘boong ke chìm vào pháo đài đá nổi”, những ông tướng đá trấn giữ “oai phong lẫm liệt” có bộ mặt “xanh lè” đáng sợ, sẵn sàng “bẻ gãy cán chèo”, “bắt chết” những chiếc thuyền đi qua. Nguyễn Tuân tả cảnh ông lái đò giao tranh với thần sông, thần đá, qua ba trùng vi thạch trận nơi “cửa ủi nước”, đã cực tả tính hung dữ của sông Đà, đem đến cho ta nhiều cảm giác mạnh.
Đọc tùy bút Người lái đò Sông Đà, ta biết thêm vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của con sông miền Tây Bắc này. Dáng hình sông Đà mềm mại xinh đẹp được Nguyễn Tuân ví với “một áng tóc mun dài ngàn ngàn vạn vạn sải”, hoặc “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung Inở hoa ban hoa gạo tháng hai”. Một cách so sánh tài hoa, phong tình như Nước sông Đà thay đổi bốn mùa, nhưng đẹp nhất là mùa xuân và mùa thu: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích (…); Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đi như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”.
Sông Đà đâu chỉ nhiều thác ghềnh mà còn có những quãng, những không gian, những cảnh sắc đầy thơ mộng. Phía trên trung lưu, cảnh sông Đà “lặng lờ”; hình như từ đời Lí, đời Trần, đời Lê “quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi”. Có những cảnh hoang vu, hoang sơ ki lạ: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Câu văn xuôi của Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp cổ kính hoa lệ như hai vế song quan trong một bài phú lưu thủy kiệt tác. Có lúc ông dùng bút pháp chấm phá “điểm nhấn" để làm nổi bật những nét đẹp thiên nhiên hữu tình của con sông Đà xa lạ mà mến thương. Là màu xanh của những nương ngô xuân đầu mùa. Là những đồi giang đầy “nõn búp”. Là những con hươu rừng “thơ ngộ” ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương. Là đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sô “bụng trắng như bạc rơi thoi”. Là chuồn chuồn bươm bướm ở bờ bãi sông đem lại cho người đi rừng niềm vui “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Là cảnh sông Đà cuối trung lưu êm đềm
'lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi”, hoặc "con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi”…
Có nhà phê bình văn học đã nhận xét tùy bút Sông Đà là loại “tùy bút – bút kí". Đọc tùy bút Người lái đò Sông Dà, ta tiếp nhận được bao kiến thức mới lạ về địa lí, lịch sử, văn hóa, phong tục về một xứ sở, một dòng sông, về cảnh và người Tây Bắc… chỉ nói về thơ ca, ta thấy được một Nguyễn Tuân rất
sành điệu, tài hoa và uyên bác. Hai câu thơ “đề từ” mà ít người biết được xuất xứ ca ngợi vẻ đẹp nên thơ cua sông nước, vẻ đẹp độc đáo của Đà Giang: “Đẹp thay tiếng hát trên dòng sông”, và “Chúng thủy giai đông tẩu – Đà Giang bác lưu”. Cũng như con sông Trường Giang bên Trung Quốc, con sông Đà của ta cũng mang vẻ đẹp “Đường thi” như một câu thơ tuyệt bút của Lí Bạch hơn 1.300 năm về trước:
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Lúc thì Nguyễn Tuân nhắc lại câu ca nói về chuyện thần Sông, thần Núi tranh giành người đẹp như dẫn hồn ta trở về huyền thoại: “Núi cao sông hãy còn dài – Năm năm báo oán đời đời đánh ghen”. Thi sĩ Tản Đà với Nguyễn Tuân là đôi bạn vong niên. Ta bắt gặp hai câu thơ Tản Đà trong bài tùy bút, thật là thú vị
Dái sông Đà bọt nước lênh bênh
Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình.
Qua đó ta càng cảm thấy, tình sông núi cũng là tình tri âm tri kì.
Nói về truyền thông yêu nước anh hùng của đồng bào Tây Bắc “xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng”, nhà văn đã không quên chọn hai câu thơ của Nguyễn Quang Bích – bậc sĩ phu kiên cường chống Pháp cuối thế ki XIX – để đưa vào bài kí:
Lòng trung không nỡ bỏ Tây Châu Giữ lấy Thao Đà dải thượng lưu.
Trang văn của Nguyễn Tuân có lúc tưởng như hội tụ tinh hoa văn hóa cổ kim Đông Tây. Tâm hồn người đọc như được nâng lên một tầm cao nhân văn, trí tuệ được khơi dậy, trở nên bừng sáng và giàu có. Người lái đò Sông Đà đúng là một giai phẩm mà Nguyễn Tuân đã góp vào, làm đẹp thêm vườn hoa nghệ thuật Việt Nam.
Ai đã từng đọc Vang bóng mệt thời chắc cảm nhận được cái sắc sảo, lịch lãm, tài hoa của Nguyễn Tuân khi ông nói về thư pháp, về uống trà, chơi đèn trung thu của những nhà nho thuở trước. Mà lòng thêm thư thái tự hào về bản sắc tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam được kết tinh trong tâm hồn dân tộc qua hàng nghìn năm.Đọc tùy bút Người lái đò sông Đà, ta vui thú thấy Nguyễn Tuân đã “để thơ vào sông nước”. Ông đã khám phá sự vật – con sông Đà – ở phương diện văn nghệ thuật, đã miêu tả, nhận diện con người – ông lái đò – ở phương diện thi hoa, nghệ sĩ. Tả cảnh thì biến hóa trong bốn mùa, trong mọi thời gian. Nóivề thác ghềnh thì đa thanh, phức điệu, bằng tất cả cảm giác tinh tế, bao liên tưởng đầy thi vị, với bao cảm giác mạnh đầy màu sắc và góc cạnh với một kho từ ngữ giàu có, sáng tạo. Văn của Nguyễn Tuân đứng là những giọt, mật của con ong yêu hoa, cần mần và sáng tạo, đem thơm thảo cho đời. Câu văn xuôi rất đẹp, lúc thì vang vọng âm ba của thác ghềnh, lúc thì mênh mang dư vị của hương nguồn hoa núi.
Đọc Người lái đò sông Đà ta yêu thêm con người Việt Nam cần cù, dũng cảm, ta tự hào về núi sông Tổ quốc nguy nga, tráng lệ. Sông Đà quả là quà tặng của thiên nhiên, là hồn thiêng đất Việt. | Phân tích hình tượng con Sông Đà trong bài tùy bút Người lái đò Sông Đà | 1,784 | |
Phân tích hình tượng con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Phân tích hình tượng con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Bài làm:
Nguyễn Tuân (1910-1987) là một nhà văn có lòng yêu nước thiết tha, niềm say mê vẻ đẹp thiên nhiên sông núi. Ông còn là nghệ sĩ tài hoa, lịch lãm, uyên bác, rất thích mô tả những cái gì dữ dội, mãnh liệt hoặc đẹp một cách tuyệt vời bằng những câu văn vừa cổ kính vừa mới mẻ, giàu màu sắc tạo hình và nhìn sự vật theo quan điểm thẩm mĩ, văn hoá. Nét phong cách nghệ thuật ấy của ông trong văn xuôi sau Cách mạng có lẽ được bộc lộ rõ nét và hấp dẫn nhất qua bài tuỳ bút nổi tiếng Người lái đò sông Đà. Qua con mắt nhìn của một nghệ sĩ tài hoa với những giác quan tinh tế, trong cuộc vượt thác sông Đà này, Nguyễn Tuân đã làm hiện lên trước mắt người đọc bức tranh vô cùng ấn tượng về thiên nhiên Tây Bắc vừa tươi đẹp, giàu có vừa bạo liệt, hùng vĩ qua hình ảnh con sông Đà.
Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, con sông Đà không phải là thiên nhiên vô tri vô giác mà là một sinh thể sống động, một nhân vật đầy sức sống và có tính cách hẳn hoi. Đó là sự kết hợp vừa lạ lùng mà thật ấn tượng: vừa hung bạo dữ dằn vừa trữ tình thơ mộng. Lúc hung bạo nó như kẻ thù số một của con người, lúc trữ tình nó lại đầy chất thơ và thân thiết với con người như một cố nhân xa cách thì nhớ nhung lưu luyến. Cho nên hai câu thơ đề từ có thể được xem là đã thâu tóm được hình tượng sông Đà “Đẹp vậy thay tiếng hát trên sông” và “Chúng thuỷ giai đông tẩu – Đà giang bắc lưu”.
I. Tính cách hung bạo – bạo chúa:
Trước hết tác giả giới thiệu lai lịch của con sông Đà “Nó khai sinh ở huyện Cảnh Đông – Vân Nam – Trung Quốc lấy tên là Ly Tiên, đi qua một vùng núi ác, rồi đến nửa đường thì xâm nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thì chan hoà vào sông Hồng.” Sau đó bằng những trang viết sinh động, bằng câu văn độc đáo gợi cảm, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ được hình ảnh con sông Đà mới dữ dằn, hung bạo làm sao!
2. Hung bạo ở cái dữ dằn của gió. “Lại như quãng mặt ghềnh hát loóng dài hàng cây số”gió phối hợp với nước với đá với sóng tạo nên những cơn xoáy thật kinh hãi: “Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn từng luồng gió gùn ghè suốt năm lúc nào cũng đòi nợ xuýt (nợ không có cũng đòi) bất cứ người lái đò nào tóm được qua đây.”
3. Hung bạo hơn nữa là ở những cái hút nước giống như những cái giếng bê tông người ta thả xuống để chuẩn bị làm móng cầu: Trên những cái hút nước ấy cũng đang quay lừ lừ những cánh quạt đàn” Nước ở đó “cứ ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Con sông Đà không khác gì một loài hung thủ đi đến đâu là gieo rắc tử khí đến đó. Cho nên không một chiếc thuyền nào dám men gần đến cái hút nước ấy. Bề gỡ nghênh ngang qua đây như có vẻ thách thức kiêu ngạo, vô ý lại bị cái hút nước đó lôi tuột xuống. Thuyền “Trồng ngay cây chuối ngược, rồi vụt biến đi bị dìm dưới lòng sông đến mười phút sau, mới thấy tan xác ở khuỷu sông phía dưới”. Cách so sánh ví von, mô tả của Nguyễn Tuân gây cảm giác rất mạnh làm cho người đọc như nghe thấy nhìn thấy được tận mắt cái hung dữ của sông Đà mà thót tim lại.
4. Nhưng con sông Đà hung bạo nhất và ở mấy chục con thác đá tạo thành các thạch thuỷ tr vô cùng hiểm trở với biết bao cửa tử. Con sông Đà đã trở thành một loài thuỷ quái vừa hung ác vừa nham hiểm, khi còn ở xa đã lắng nghe được tiếng nước thác khi cán trách, khi van xin, khi khiêu khích khi chế nhạo. Lúc tới gần “thì mặt sông rung lên như tuốc bin thuỷ điện”. Lòng sông thì trắng xoá làm bật nổi những tảng đá dàn bầy thế trận, tảng nào hòn nào trông cũng ngỗ nghịch và như những vị tướng “Có vị trông oai phong lẫm liệt; có vị như đang hất hàm bắt cái thuyền phải xưng tên, xưng tuổi tuổi trước khi giao chiến”. “Có vị lại lùi một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Những tri thức về quân sự, về võ thuật, thể dục, thể thao, điện ảnh của tác giả được dịp ném ra để diễn tả sự độc ác, xảo quyệt hết sức nguy hiểm của con thác. Khi thì nó mai phục để đột nhiên nhổm cả dậy vồ lấy con thuyền nơi khúc sông ngoặt; khi thì nó lại tỏ ra sơ hở để dụ con thuyền vào rồi bất ngờ quay lại đánh quật vu hồi. Khi đã giáp lá cà thì nó đâm thẳng vào hông ông lái đò, bẻ gãy cán chèo, rồi đá trái thúc gối vào bụng, dở đủ đòn âm, đòn tỉa, rồi túm lấy thắt lưng đòi lật ngửa bụng ông lái đò giữa sóng nước. Nó vừa đánh vừa reo hò la hét vang động cả một vùng sông nước hoang vu “như tiếng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa “Khi con thuyền du kích chọc thủng được tuyến 2, thì nhiệm vụ của các boang ke chìm, pháo đài nổi ở tuyến 3 phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên. Cuối cùng “cái thằng tướng đá đứng chặn ở cửa ra vào đã tiu ngỉu cái mặt xanh lè thất vọng”.
1. Qua cách mô tả đặc sắc của Nguyễn Tuân, con sông Đà có hai nét tính cách dường như đối lập nhưng rất thống nhất: vừa hung bạo vừa trữ tình như thể là mĩ nhân vậy. Nguyễn Tuân đã nhìn con sông Đà bằng con mắt thẩm mĩ văn hóa để phát hiện ra những vẻ đẹp và sắc màu đa dạng của con sông Đà chảy dọc suốt miền Tây Bắc này. ở những quãng yên tĩnh thì sông Đà quả thật rất thơ mộng “ Như một mĩ nhân kiều diễm tuôn dài áng tóc trữ tình mà đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo”.
2. Nguyễn Tuân cũng đã nhận ra những sắc màu khác nhau của sông Đà theo từng mùa mang vẻ đẹp riêng. Qua làn mây mùa xuân, sông Đà xanh màu ngọc bích. Qua ánh nắng mùa thu sông Đà lừ lừ chín đỏ như mặt người bầm đi vì rượu bữa.
3. Nguyễn Tuân cũng đã dùng những hình ảnh dịu dàng, trong sáng nhất để tả sông Đà nên ông đã khám phá ra những chất thơ phong phú, đa dạng của nó: Khi thì nó hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích; khi thì nó mang chất thơ cổ điển Đường thi; khi lại mang chất thơ tươi trẻ “Vui như nắng giòn tan sau kì mưa dầm”. Có khi lại ẩn chứa chất thơ tình tứ “Sông Đà bọt nước lênh bênh, bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của Tản Đà – gửi người tình nhân chưa quen biết). Dưới con mắt của tác giả Vang bóng một thời, cảnh ven sông Đà ở đây lặng tờ cổ xưa như chảy từ đời Lý, đời Trần đến nay. Và giữa cái không khí phẳng phất màu tiền sử ấy, “thỉnh thoảng có đàn cá dầm xanh, anh vũ quẫy vọt lên bụng trắng như bạc rơi thoi”. Tiếng cá đập nước sông làm cho đàn hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khói áng cỏ và tai lắng nghe một tiếng còi sương, một âm thanh vẳng đưa trong tưởng tượng, gợi lên một không khí thật tĩnh lặng hoang vắng nhưng chứa chan thi vị. Đắm mình trong vẻ đẹp trữ tình trong vẻ đẹp của sông Đà, Nguyễn Tuân nhiều lúc “muốn đề thơ lên sông nước”. | Phân tích hình tượng con sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân | 1,460 | |
Đề bài: Phân tích hình tượng cây Xà nu trong Rừng xà nu
Bài làm
“Rừng xà nu” là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Trung Thành và của văn học thời chống Mĩ. Trong tác phẩm, với hình tượng cây xà nu, Nguyễn Trung Thành đã làm nổi rõ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, một đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975. Khuynh hướng này đã chi phối sự sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn trong giai đoạn văn học này.
Đọc “Rừng xà nu” những nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai… tạo nên ấn tượng sâu sắc nơi độc giả. Nổi bật hình ảnh cây xà nu được lặp đi lặp lại gần hai mươi lần một hình tượng đặc sắc bao trùm toàn bộ thiên truyện ngắn này. Hình tượng ấy đã tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi và lãng mạn cho câu chuyện về làng Xô-man bất khuất, kiên cường. Qua tác phẩm, cây xà nu, rừng xà nu đã được Nguyễn Trung Thành miêu tả thật cụ thể, thật chi tiết với ngôn ngữ giàu chất thơ, bằng những “lời văn có cánh” trong một cảm xúc thật say mê và mãnh liệt. Cây xà nu trong truyện xuất hiện rất nhiều lần và dường như rất quen thuộc với con người nơi núi rừng Tây Nguyên, nó tham dự vào tất cả những sinh hoạt, những tâm tình, những buồn vui của người dân nơi đây trong cuộc chiến đấu chống Mĩ thật anh dũng của họ.
Phân tích hình tượng cây Xà nu trong Rừng xà nu
Tác phẩm “Rừng xà nu” là một bản anh hùng ca về cuộc đời anh dũng, đau thương, bất khuất của Tnú cũng như của tất cả dân làng Xô-man. Câu chuyện ấy được kể trên nền tảng chính của hình tượng cây xà nu – một hình tượng hàm chứa rất nhiều ý nghĩa tượng trưng và khái quát. Những cây xà nu, rừng xà nu như những con người, những tâm hồn sống, vừa là nhân chứng, vừa tham gia bản anh hùng ca, cũng vừa chịu đựng mọi vất vả, đau thương dưới tầm đạn kẻ thù. Nhưng bất chấp tất cả, rừng xà nu vẫn tràn đầy sức sống, vẫn vươn mình lên cường tráng vượt lên mọi thương đau. Cây xà nu là một hình ảnh mang tính chất tượng trưng cho khát vọng tự do, khát vọng giải phóng, cho phẩm chất anh hùng và sức sống tiềm tàng mãnh liệt của dân làng Xô-man.
Mở đầu câu chuyện là hình ảnh “cả rừng xà nu hàng vạn cây” và kết thúc vẫn là “những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”. Hình ảnh ấy như một nét nhạc trầm hùng, một bản đàn dạo, là cái “phông” cho cả một câu chuyện khiến thiên truyện càng mang đậm tính sử thi và lãng mạn hơn. Rừng cây xà nu được xem như là biểu tượng cho con người Xô-man. Với hình ảnh nhân hóa, Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cây xà nu như những con người, chúng cũng có “vết thương”, biết “ham ánh sáng” và “ưỡn tấm ngực lớn ra
che chở cho làng”. Cây xà nu còn là một hình ảnh so sánh với con người “ngực căng bằng cây xà nu”. Rừng xà nu năm tháng đứng dưới tầm đại bác kẻ thù chịu đựng biết bao tàn phá, cũng như những đau thương mà dân làng phải gánh chịu trước ách kìm kẹp của giặc. “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”. “Cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình nhựa ứa ra, tràn trề”… rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. Hình ảnh đó gợi lên lòng căm thù và kết tụ một ý chí phản kháng.
Nhưng hơn hết vẫn là sức sống mãnh liệt đầy sức trẻ của rừng xà nu bạt ngàn. “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, “có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắc như những mũi lê” “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng”. Thế mới biết sức trẻ của cây xà nu mãnh liệt đến dường nào! Sức trẻ ấy còn mang tính tượng trưng cho thế hệ trẻ của làng Xô-man. Đó là những Mai, Dít, Tnú, Heng, những con người luôn gắn bó với cách mạng, bất khuất từ tuổi thơ, lớn lên trong lửa đạn, trưởng thành trong đau thương và sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì tự do của dân tộc.
Bên cạnh đó, sức sống bất khuất kiên cường của cây xà nu còn được tạo bởi hàng vạn cây ở những đồi xà nu nối tiếp nhau tới chân trời ở tấm ngực lớn của rừng ưỡn ra che chở cho làng. Đó là những cây xà nu thật vững chắc, xanh tốt đã vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum suê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây đã ngã”, một cây ngã xuống tức thì bốn năm cây con lại mọc lên cứ thế trở thành cả một rừng cây xà nu nối tiếp đến chân trời. Những cây xà nu, rừng xà nu ấy là hình ảnh của dân làng Xô-man kiên cường chống giặc, bất chấp mọi hi sinh, một lòng đi theo Đảng, đi theo kháng chiến hết thế hệ này đến thế hệ khác. Đó là những cụ Mết, anh Xút, Tnú, Mai, Dít, anh Brơi… mà tiêu biểu là hình ảnh cụ Mết. Nhà văn đã ví cụ “như một cây xà nu lớn”. Hơn ai hết, cụ là người hiểu rất rõ sự gắn bó của cây xà nu và mảnh đất đang sống, hiểu được sức mạnh tiềm tàng bất khuất của rừng xà nu cũng như của dân làng Xô-man. Chính cụ Mết đã nói với Tnú “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “cây mẹ chết cây con lại mọc lên”.
Cây xà nu còn là người chứng kiến sự giác ngộ, sự hi sinh thầm lặng, lòng dũng cảm và ý chí quật khởi của dân làng Xô-man. “Đứng trên đồi cây xà nu gần con nước lớn, cả vùng Xô-man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng”. Ánh lửa xà nu soi sáng lời căn dặn của anh Quyết: “Người còn sống phải chuẩn bị dao, mác, vụ, rựa, tên, ná… Sẽ có ngày dùng tới”. Lửa xà nu thử thách ý chí cũng như lòng can đảm của Tnú: “Không có gì đượm bằng nhựa cây xà nu… Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc… máu anh mặn chát ở đầu lưỡi…”
Giọng điệu sử thi của “Rừng xà nu” bắt đầu từ câu chuyện kể của cụ Mết dưới ánh lửa xà nu, một câu chuyện phảng phất phong vị anh hùng ca. Và cây xà nu không chỉ gắn với quá khứ, hiện tại anh hùng mà còn gắn bó với mọi sinh hoạt, phong tục và đời sống văn hóa của người Xô-man, của các dân tộc Tây Nguyên.
Hình tượng cây xà nu thật sự là một sáng tạo nghệ thuật đáng kể của Nguyễn Trung Thành. Nhà văn đã lựa chọn hình ảnh cây xà nu và đem lại cho nó những ý nghĩa mới những lớp ý nghĩa rất khác nhau qua cách viết vừa gợi vừa tả của tác giả. Qua hình tượng này người đọc không chỉ thấy rõ sức sống kiên cường, mãnh liệt của dân làng Xô-man, của con người Tây Nguyên nói riêng mà còn là của dân tộc Việt Nam nói chung trong những tháng năm chống Mĩ. | Phân tích hình tượng cây Xà nu trong Rừng xà nu | 1,356 | |
Đề bài: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xa nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Bài làm
Hình tượng rừng xà nu đem đến cho ta nhiều liên tưởng sâu sắc về thế trận nhân dân, về người người lớp lớp, về sự hy sinh và đóng góp xương máu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong kháng chiến.
Nguyễn Trung Thành là bút danh của nhà văn Nguyên Ngọc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Truyện Rừng xà nu của ông viết vào năm 1965, là một truyện ngắn xuất sắc. Truyện kể về cuộc “đồng khởi" của dân làng Xô Man ở Tây Nguyên. Cụ Mết, một già làng, một thủ lĩnh quân sự đã lãnh đạo dân làng Xô Man mài giáo, mác, vụ, rựa… quật khởi đứng lên đánh lũ ác ôn, tay sai của đế quốc Mỹ để giải phóng buôn làng và núi rừng thiêng liêng. Họ đã chiến đấu vì sự sống còn, vì chân lí cách mạng ngời chói: “Khi giặc đă cầm súng thì nhân dân phải cầm giáo!”.
Phân tích truyện ngắn Rừng xa nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Ngoài những nhân vật cho ta nhiều ấn tượng như cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, bé Heng, anh Quyết… thì hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn được tác giả khắc họa và ca ngợi như một dũng sĩ oai hùng.
Ngày ấy, cách mạng miền Nam đang trải qua những năm dài đen tối, đầy thử thách khó khăn. Lũ giặc kéo tới, lùng sục, phục kích, không đêm nào chó và súng của chúng không sủa vang cả rừng. Buôn làng bị bao vây, dân làng bị kèm kẹp và khủng bố dã man. Đầu rơi máu chảy, tang tóc và đau thương: giặc treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng; chúng giết bà Nhan, chặt đầu cột tóc treo đầu súng! Cùng chung số phận, chung chịu đau thương với dân làng Xô Man là rừng xà nu nằm trong tầm đại bác của giặc. Chúng bắn ngày, bắn đêm, bắn vào sáng sớm và xế chiều, hoặc lúc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Tang tóc bao trùm Rừng xà nu. Hàng vạn cây “không cây nào không bị thương”. Đạn giặc chặt đứt ngang thân mình, "cây xà nu đổ ào ào như một trận bão”nhựa cậy đọng lại, tụ lại “bầm lại đen và đặc quệt lại thành từng cục máu lớn”. Rừng xà nu chịu bao tổn thất nặng nề như con người. Biết bao cây con trúng đạn giặc, vết thương "cứ loét mãi ra" sau năm, mười hôm thì cây chết!
Gần hai mươi lần, nhà văn nói đến rừng xà nu, đồi xà nu, cây xà nu, cành xà nu, ngọn và lá xà nu, nhựa xà nu, khói và lửa xà nu… Mồi lần xuất hiện, cây xà nu mang một dáng vẻ kỳ lạ, tất cả đều mang ý nghĩa “tượng trưng cho khí phách anh hùng và sức sống mãnh liệt của dân làng Xô Man, của núi rừng Tây Nguyên kiên cường bất khuất!”
Người Strá đã hiện ngang trong lửa đạn, người trước ngã, người sau tiến lên. Rừng xà nu cũng vậy, cạnh cây bị bắn ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, sinh sôi nảy nở “ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời". Nếu như cây Kơ nia có bóng cây tỏa rợp nương rẫy và lòng người, thủy chung tình nghĩa, rễ cây “uống nước nguồn miền Bắc" nên có một sức sống tiềm tàng, thì cây xà nu là một loại cây “ham ánh sáng mặt trời", hương cây nhựa cây "bay ra thơm mỡ màng”. Ba lần Nguyễn Trung Thành tạo nên những hình ảnh so sánh độc đáo, kỳ vĩ ca ngợi tầm vóc cây xà nu: lúc thì ngọn cây như một mũi tên lao thẳng lên bầu trời, lúc thì những cây con xà nu mới nhú khỏi mặt đất “ nhọn hoắt như những mũi lê", lúc thì rừng xà nu “ưỡn tấm lưng trần của mình ra che chở cho làng”. Rõ ràng hình tượng cây xà nu mang tầm vóc và khí phách của một dũng sĩ đích thực trong máu lửa.
Có lúc Rừng xà nu được miêu tả dưới cặp mắt của Tnú trong hai thời điểm chiều và sáng, lúc anh về thăm làng và lúc anh lại ra đi. Sau ba năm trời anh đi "lực lượng”, đi tìm những thằng Dục ác ôn để trả thù, anh về thăm quê, thăm lũ làng, gặp lại rừng xà nu như gặp lại người bạn chiến đấu, anh bồi hồi tự hào và say mê ngắm nhìn: “Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời". Và buổi sáng anh lên đường, cùng cụ Mết và Dít còn có rừng xà nu trùng điệp tiễn anh với bao trìu mến và lưu luyến. Anh đã mang theo hình bóng quê hương để ra đi với một sức mạnh mới.
Hình tượng rừng xà nu đem đến cho ta nhiều liên tưởng sâu sắc về thế trận nhân dân, về người người lớp lớp, về sự hy sinh và đóng góp xương máu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong kháng chiến. Chính vì thế mà trong lúc gặp lại Tnú, cụ Mtl đã hào hùng khẳng định với tất cả niềm kiêu hãnh và thách thức. “Mày có đi qua chỗ rừng xà nu gần con nước lớn không? Nó vẫn sống đấy, không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc tên. Đố nó giết hết rừng xà nu này".
Nét đặc sắc của truyện ngắn Rừng xà nu là nghệ thuật tả cảnh, tả người rất độc đáo. Rừng xà nu không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, không chỉ là cảnh tượng chiến trường hùng tráng mà còn là biểu tượng cho chí khí anh hùng của đồng bào Tây Nguyên, của nhân dân miền Nam anh hùng. Cụ Mết chẳng khác nào dũng sĩ trong sử thi “Bài ca Đăm Săn"'. Là một già làng sáu mươi tuổi, quắc thước, râu dài tới ngực, mắt sáng, vết sẹo của chiến tích sáng bóng, cụ Mết ở trần “ngực căng như một cây xà nu lớn”.
Nói đến hình tượng cây xà nu không thể không nói tới ngọn lửa xà nu. Tác giả đã tạo nên ba nét vẽ về ngọn lửa xà nu, gợi ra một không khí huyền thoại thiêng liêng. Dưới ngọn lửa xà nu, Tnú đã đọc thư “tuyệt mệnh" của anh Quyết gửi dân làng Xô Man trứơc lúc anh hy sinh. Lần thứ hai, hình ảnh ngọn lửa xà nu rực cháy trên mười ngón táy Tnú, đó là ngọn lửa uất hận, căm thù “máu kêu trả máu, đầu van trả dần” (Tố Hữu). Lần thứ ba, ánh lửa đuốc xà nu bừng sáng đỏ rực, lấp loáng ánh giáo mác, với tiếng hô: “Chém hết!" của cụ Mết, đã soi tỏ xác mười tên giặc, trong đó có thằng Dục ác ôn, nằm sóng soài trên vũng máu trong nhà ưng. Cây xà nu đã chia ngọt sẻ bùi với đồng bào Xô-man trong những năm dài đánh Mỹ và lũ tay sai bán nước!
Nếu như bài thơ Thu Bồn lấy cánh chim Chơ rao, một nhà thơ khuyết danh đã lấy cây Kii nia làm hiểu tượng cho lòng dân và sức mạnh quật khởi cùa nú rừng Tây Nguyên hùng vĩ thì nhà văn Nguyễn Trung Thành đã thành công khắc họa vẻ đẹp tráng lệ của rừng xù nu để nói lên khí phách anh hùng của dân làng Xô-man, của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam. Hơi hướng Tây Nguyên, màu sắc thần kỳ, không khí ihiêng liêng, phong vị những sinh hoạt truyền thống của núi rừng và con người Tây Nguyên được thể hiện một cách hào hùng qua hình tượng “Rừng xà nu” là vậy.
Truyện Rừng xà nu là một thành công lớn tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam viết về đề tài chiến tranh, cảnh vật và con người được chiếu sáng dưới ngọn lửa thiêng liêng thần kỳ. Nó đã giúp người đọc sống lại một thời kỳ lịch sử vô cùng đau thương và oanh liệt của dân tộc. | Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xa nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành | 1,447 | |
Đề bài: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Dàn ý
I. MỞ BÀI
Rừng xà nu truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành tiêu biểu cho “khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn” của văn học Việt Nam thời kì 1945 – 1975. Chủ đề của tác phẩm được bộc lộ sâu sắc do ý nghĩa khái quát và giàu chất lãng mãn, tạo hình của hình tượng cây xà nu.
II. THÂN BÀI
Nguyễn Trung Thành đã chọn một loại cây rất gần gũi với đời sống của đồng bào Tây Nguyên để tượng trưng cho sức sống mãnh liệt và phẩm chất anh hùng của dân làng Xô Man, nhân dân Tây Nguyên trong công cuộc chống Mỹ cứu nước.
Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu
a) Cách tả cảnh“rừng xà nu” và "cây xà nu”
+ Trong truyện, Nguyễn Trung Thành gần 20 lần nói đến rừng xà nu ở nhiều góc độ khác nhau: cây xà nu, nhựa xà nu, ngọn xà nu, đồi xà nu, khói xà nu, lửa xà nu, dầu xà nu, v.v… và khái quát, bao trùm là rừng xà nu.
+ Cây xà nu sinh sôi nảy nở nhanh mạnh bạt ngàn: “sinh sôi nảy nở khỏe… ham ánh sáng mặt trời”, trải dài ra “đến hết tầm mắt… nối tiếp tới chân trời”.
+ Cây xà nu có sức sống mãnh liệt: “cạnh một cây mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn như mũi tên lao thẳng lên trời”, “có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”, “ đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng”.
+ Chất sử thi của truyện ngắn được tạo bởi hình tượng xây xà nu. Nó được khai thác từ nhiều góc độ, lặp đi lặp lại nhiều lần: đồi xà nu (4 lần), rừng xà nu(5 lần) với “hàng vạn cây” “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng
b) Rừng xù nu biểu tượng cho con người – dân làng Xô Man nói riêng, đồng bào Tây Nguyên nói chung
+ Hình tượng cây xà nu đẹp như hình tượng thơ, tượng trưng cho thế hệ trẻ của làng Xô Man bất khuât, gắn bó với cách mạng như Mai, Dít, Tnú, v.v…
+ Hình ảnh cụ Mết – tiêu biểu cho sức sống quật khởi của làng Xô người nuôi giữ ngọn lửa khát vọng tự do, gắn bó với Đảng, với cách mạng cũng được ví “như một cây xà nu lớn”.
+ “Cả rừng Xô Man ào ào rung động và lửa cháy khắp rừng…” là hình ảnh đồng khởi” mãnh liệt của dân làng Xô Man.
+ Rừng cây xà nu và con người làng Xô Man tuy hai mà một, mang ý nghĩa biểu tượng rất cao đẹp và sâu sắc.
III. KẾT BÀI
Hình tượng cây xà nu là một sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Trung Thành. Nhà văn đã lựa chọn hành ảnh cây xà nu và đem lại cho nó những ý nghĩa mới, đã miêu tả nó đậm nét, đầy ấn tượng – từ đó mà chủ đề của tác phẩm đã được bộc lộ rõ rệt và sâu sắc. | Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành | 559 | |
Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà Nu
Hướng dẫn
Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà Nu
Bài làm
Hình tượng rừng xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành tiêu biểu cho của cuộc sống đau thương nhưng rất kiên cường, bất khuất của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rừng Xà Nu là hình ảnh gắn bó máu thịt với ông, ông yêu mếN và viết về nó như biểu tượng của cuộc sống đau thương, phẩm chất kiên cường, bất khuất của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên mà cụ thể là làng Xô Man.
Hình tượng rừng xà nu được nhà văn sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật để chạm khắc từ hình khối, màu sắc tới hương vị để cây xà nu nổi bật lên trong đau thương của chiến tranh. Cây xà nu cũng nối nhau chạy tít tắp phủ kín câu chuyện. Đây chính là kết cấu đầu cuối hô ứng, có ý nghĩa cụ thể gợi lên đặc trưng của miền đất Tây Nguyên, biểu tượng cho cuộc sống đau thương nhưng kiên cường bất khuất của con người nơi đây. Cây xà nu được Nguyễn Trung Thành miêu tả bằng những câu văn thật đẹp, dường như ông đã dành cả bút lực cho loài cây yêu quý này. Một loài cây khao khát sống và vươn lên bầu trời rộng lớn.
Một loài cây có sức sống dẻo dai, bền bỉ và mãnh liệt gây ấn tượng sâu đậm đọng lại trong lòng người đọc về hình tượng rừng xà nu không thể nào hủy diệt được dù đạn bác kẻ thù gây ra bao nỗi đau thương. Bởi cây này ngã xuống, cây kia đứng lên lao thẳng lên bầu trời để đón lấy ánh nắng.
Hình tượng rừng xà nu cũng như dân làng Xô Man đang phải sống dưới hầm đại bác của giặc Mỹ. Dù bị đàn áp khiến cho mình đầy thương tích và chết chóc nhưng họ vẫn đứng lên bảo vệ quê hương, đất nước bền bỉ, kiên cường như rừng xà nu. Nguyễn Trung Thành đã dùng hết bút lực của mình để ca ngợi vẻ đẹp hiên ngang của thiên nhiên và con người Tây Nguyên.
Cây xà nu gắn bó với đời sống của người dân nơi đây. Nó không chỉ là nhân chứng lịch sử mà còn tham gia vào cuộc chiến chống Mỹ và các sự kiện của trọng của dân làng. Đuốc xà nu soi sáng đường đi và sáng trong nhà ưng khi tập hợp dân làng, ngọn lửa xà nu giữ ấm cho mỗi ngôi nhà, gỗ xà nu làm bảng cho các trẻ em học bài. Hình tượng về rừng xà nu như người đàn ông, người cha khổng lồ che cho bầy con. Ấn tượng về cây xà nu như một khúc ca xanh, ngân nga trong lòng người đọc về một sức sống man dại mãnh liệt.
Hình ảnh rừng xà nu cuối tác phẩm hùng tráng và thơ mộng như phẩm chất và tinh thần quật khởi của đồng bào Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh chống đế quốc xâm lược. | Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà Nu | 547 | |
Phân tích hình tượng cây xà nu trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn lớp 12
Hướng dẫn
Phân tích hình tượng cây xà nu trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn lớp 12
Bài làm
Mảnh đất Tây Nguyên vốn là mảnh đất hùng vĩ, với những con người nổi tiếng gan dạ, anh hùng, nồng nàn tình yêu quê hương đất nước, chống giặc ngoại xâm, nuôi giấu bộ đội, các chiến sĩ cách mạng. Mảnh đất này đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho rất nhiều nhà văn nhà thơ, mang lại nhiều tác phẩm hay cho nền văn học Việt Nam
Truyện ngắn “Rừng xà nu” của tác giả Nguyễn Trung Thành là một kiệt tác xây dựng thành công hình tượng cánh rừng xà nu kiên cường gai góc, trong bọm đạn, giống như những con người dân làng Xô Man anh dũng, hiên ngang trước kẻ thù.
Đọc tác phẩm Rừng xà nu người đọc cảm nhận được những nhân vật như cụ Mết, T Nú, Mai, bé Heng là những con người đại diện cho các thế hệ dân làng Xô Man kiên cường anh dũng, làm nên tính sử thi, anh hùng cho truyện ngắn.
Chính hình tượng rừng xà nu đã tạo nên vẻ đẹp anh hùng, bi tráng, đậm chất sử thi lãng mạn cho câu chuyện về dân làng Xô Man bất khuất, thủy chung trong kháng chiến.
Hình tượng cánh rừng xà nu là hình tượng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc, qua hình tượng này người đọc cảm nhận được sức sống kiên cường, dẻo dai của cánh rừng xà nu, cũng nhưng những con người của vùng núi rừng Tây Nguyên kham khổ nhưng dẻo dai này. Không phải là vô tình khi tác giả đã miêu tả rất chi tiết, cụ thể hình ảnh cánh rừng xà nu trong bon đạn, giàu chất thơ, lãng mạn trữ tình như vậy.
Cuộc đời anh chàng T Nú là một người anh hùng đại diện tiêu biểu cho dân làng Xô Man. T Nú cũng như một cây xà nu trưởng thành kiên cường đang tràn đầy nhiệt huyết sinh lực vậy.
Mỗi biến động của cuộc đời mình T Nú đều gắn liền với cây xà nu. Ngay cả lúc bị giặc bắt rồi chúng tẩm nhựa xà nu vào tay anh châm lửa đốt. Hai bàn tay T Nú sáng rực như hai ngọn đuốc thì hình ảnh cây xà nu cũng vẫn gắn liền với nhân vật này.
Bất chấp tất cả, bất chấp mưa bom, đạn nổ của giặc cánh rừng xà nu vẫn hiên ngang, kiên cường xanh tốt, vẫn tồn tại vượt thời gian. Cây to ngã xuống thì cây con lại mọc lên tầng tầng, lớp lớp xanh bạt ngàn mê mải. Như hình ảnh dân làng Xô Man kiên cường thủy chung, khi người này mất đi sẽ có người khác thay thế họ cùng nhau đứng dậy để chống lại kẻ thù.
Hình tượng cây xà nu hiện lên trong tác phẩm đạn chất hùng ca, bi tráng thể hiện một câu chuyện mang tính sử thi, với hình ảnh hàng vạn cây xà nu hiên ngang, sinh sôi nảy nở, dù mưa gió, bom đạn vẫn ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng. Cánh rừng xà nu nhìn tới hết tầm mắt cũng không thấy gì ngoài những đồi xà nu chạy nối tiếp nhau tới tận chân trời.
Khi người này hy sinh thì người khác lại thay thế, mãi mãi không bao giờ hết. Chính tinh thần quả cảm đó mà dân tộc Việt Nam chúng ta đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác, giải phóng Miền Nam thống nhất nước nhà.
Cây xà nu gắn bó thân thiết với cuộc sống của những người dân làng Xô Man. Cây xà nu không chỉ xuất hiện ở đoạn đầu và cuối tác phẩm mà xuất hiện rải rác trong suốt truyện ngắn.
Xà nu không chỉ là một cây bình thường mà còn có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân làng. Chính ngọn lửa của cây xà nu đã nhóm lên trong lòng người dân những ngọn đuốc yêu nước sáng bừng không bao giờ tắt.
Trong những câu chuyện mà cụ Mết thường kể cho con cháu nghe thể hiện tính anh hùng ca, dưới ánh lửa của cây xà nu cụ Mết thường ngồi bên bếp lửa kể cho thế hệ trẻ, nghe những thành tích anh dũng, những câu chuyện về tinh thần anh dũng quả cảm của những người con dân làng Xô Man.
Hình ảnh cây xà nu kiên cường là màu sắc chủ đạo cho toàn tác phẩm. Cây xà nu chính là biểu tượng của niềm tin hy vọng của sự sống trong tác phẩm này. Đó chính là một sự độc đáo trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Trung Thành, chính sự sáng tạo này của tác giả đã mang lại sức sống mới cho cây xà nu, mang lại sự thành công cho tác phẩm
Thông qua tác phẩm thể hiện tinh thần yêu nước của người dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. | Phân tích hình tượng cây xà nu trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn lớp 12 | 875 | |
Đề bài: Phân tích hình tượng cây xà nu trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành
Bài làm
Gió thổi qua cánh rừng xào xạc. Bao giờ cũng vậy, gió thổi làm tâm hồn ta thêm trong sáng và tươi mát hơn. Gió lại thổi qua cánh “rừng xà nu” đau thương, quả cảm của Nguyễn Trung Thành. Gió ơi, gió hãy thổi nữa đi để hồn ta cảm nhận thêm sâu sắc, hình tượng cây xà nu trong khói lửa của một cuộc chiến tranh.
Xà nu, tùng, bách hay phi lao? Đã có biết bao thi sĩ mượn hình ảnh của cây này để biểu đạt lòng mình. Ta như vừa thoát khỏi thế giới bồng bềnh êm dịu và mình ta còn bám đầy “phấn thông vàng” của Xuân Diệu. Cây thông độ lượng đêm Giáng sinh có ông già Nôen phát quà bánh cho em nhỏ dưới ánh sáng lung linh. Và giờ đây ta lại gặp hình tượng cây xà nu.
Phân tích truyện ngắn Rừng xa nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Xà nu! Cái tên thân thuộc gắn với dân làng Xô man tự bao đời. Và cũng không biết từ bao giờ ai đã trồng và đặt tên đó là cây xà nu để chúng thành bãi, thành rừng đến hôm nay. Xà nu! Cái tên ấy dường như có cùng với sự xuất hiện dân làng Xô man bởi vì xà nu và người dân là một, xà nu là một biểu tượng cho dân làng chốn rừng núi Tây Nguyên này. Quả thật như vậy, gần hai mươi lăm lần nhà văn nhắc đến “xà nu” bằng thứ ngôn ngữ giàu chất thơ và cảm xúc say mê mãnh liệt. Xà nu biết căm giận, biết quật khởi và khát khao mãnh liệt cuộc sống di truyền cho con cháu mai sau. Cả một thiên truyện dài đều có cây xà nu. Xà nu mọc thành rừng, xà nu làm đuốc soi đường cho Dít giã gạo, xà nu làm lửa thổi cơm cho dân làng và nó cũng làm cháy sáng mười đầu ngón tay của Tnú. Xà nu đi vào cuộc sống chân chất đời thường và lao vào cuộc chiến đấu một mất một còn của dân tộc. Xà nu là nhân chứng của bản anh hùng ca hào hùng quật khởi của một thời đại đầy bão tố khốc liệt trong chiến tranh giải phóng dân tộc, chống Mĩ ngụy của nhân dân Tây Nguyên và đồng bào miền Nam.
Xà nu là biểu tượng của dân Xô man hứng chịu bao hậu quả tàn khốc mà chiến tranh gây ra. Mỗi một người mất đi là thêm một cây xà nu gục ngã. Cây to, cây nhỏ và vô số cây lấm tấm những vết đạn như dân làng từ trẻ đến già không thể không bị ảnh hưởng chiến tranh, cơn lốc quái ác ấy cứ xoắn xít và vây lấy từng số phận con người. Xà nu gục ngã hay Mai chết do bị đánh đập vào kì sinh nở? Xà nu gãy hay anh Quyết hi sinh vì bom đạn kẻ thù! Và còn biết bao đồng chí anh em khác đã hi sinh trong cuộc chiến này. Mai chết hay xà nu xanh sớm vội lìa đời? Máu chị hay nhựa xà nu đã ứa ra từng cục quyện bầm tím lại? Máu ứa ra kèm theo những điều linh thiêng quan trọng. Máu ứa ra như một di hận mà dân làng phải trả thù cho mẹ con Mai. Từng giọt, từng giọt rỉ ra như kim đâm muối xát vào lòng người dân Xô man thôi thúc họ cầm súng cầm mác mà diệt giặc.
Xà nu vốn che chở cho dân làng thế mà dầu xà nu biến thành ngọn lửa hủy diệt mười ngón tay của Tnú. Ngọn lửa tai quái ấy phải chăng bọn thằng Dục – bọn tay sai “rước voi về giày mả tổ” phản bội lại lợi ích của nhân dân, phản bội lại tác dụng có ích của xà nu? Xà nu không phải là dầu nhập cảng cũng như bọn thằng Dục từ đời ông cha nhà nó vẫn ở cái xứ nầy…kẻ thù nguy hiểm muốn giấu bàn tay tội ác nên nó âm mưu “dùng người Việt trị người Việt” cũng như nhựa xà nu đốt đỏ mười ngón tay Tnú. Vậy là đối với dân làng Xô man, cây xà nu phần lớn là gắn bó trong cuộc tử sinh với cuộc đời của họ. Nhưng trong cả rừng xà nu như thế cũng có những cây bị lợi dụng để hủy diệt anh em mình? Phải chăng lũ lính man rợ là thứ nhựa xà nu nung ruột nung gan Tnú khi nó phừng phừng trên mười đầu ngón tay anh? … Cũng có thể hiểu nhựa xà nu bốc lửa ấy là biểu tượng cho lòng căm hận. Tội ác trời không dung, đất không tha của lũ thằng Dục đã bị mười ngọn lửa ấy cảnh cáo. Chúng là kẻ thắp lửa để hủy diệt. Nhưng xà nu đã thành mười bó đuốc có tác dụng chỉ lối soi đường, kêu gọi lòng người đánh thức lí trí con người, bắt người Xô man nhận thức ngay ra chân lí. “Chúng nó cầm súng mình phải cầm mác”. Có lẽ ý sau nhất quán với hình tượng cây xà nu hơn.
Mặc dù bị vùi dập bởi đạn đại bác nhưng không vì thế mà cây xà nu nhụt chí, nó vẫn vươn lên và hướng về ánh sáng, về phía trước. Đó chính là khát vọng sống mãnh liệt của người dân ở làng Xô man. “Cạnh một cây gục ngã đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Xà nu đã gần kề với cái chết nhưng vẫn cố gắng vùng dậy giành sự sống. Chỉ có những tấm lòng nhiệt tình muốn sống mới có được điều ấy. Thật đáng trân trọng làm sao hình ảnh quên mình vì dân làng, quên nỗi đau riêng mình để bảo vệ người khác “Những vết thương của chúng chóng lành như một thân thể cường tráng” và rồi “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng”.
Bom đạn giặc có thể diệt được một hai cây xà nu chứ không thể nào làm lay chuyển cả rừng xà nu thay nhau mọc ấy. Giặc có thể giết dã man Mai, anh Quyết chứ chúng không thể giết được lòng căm hận ngùn ngụt của dân làng truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Làm sao chúng có thể ngăn chặn lòng căm thù của những Dít, Tnú, bé Heng… nối tiếp các bậc tiền bối khi xưa? Xà nu bị thay đổi đó nhưng vẫn đứng gượng dậy lên da non để sống. Tnú mất mười đốt ngón tay nhưng bàn tay anh vẫn còn và hẳn nhiên anh vẫn còn cầm súng được để tiêu diệt kẻ thù. Tnú mất mười đốt ngón tay nhưng bàn tay anh vẫn còn và hẳn nhiên anh vẫn còn cầm súng được để tiêu diệt kẻ thù. Tnú bị trói đó nhưng đôi mắt anh như có lửa thiêu đốt mọi tâm đồ đen tối của kẻ thù. Lòng căm hận, nỗi xót xa chạy giần giật trong anh như nhựa xà nu bốc cháy. Nó gan góc bền vững dù đạn đại bác xả vào vẫn không làm rung chuyền… xà nu bị thương nhưng vẫn giữ hình ảnh tuyệt đẹp “vết thương đọng lại lóng lánh nắng hè” phải chăng những con người Xô man đến chết vẫn giữ được bản chất anh hùng của họ? Đầu tác phẩm là hình ảnh cây xà nu và cuối tác phẩm vẫn là hình ảnh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy tới chân trời. Không phải ngẫu nhiên có sự trùng hợp kì lạ đó có lẽ nhà văn muốn nói: Không một sức mạnh tàn bạo nào hủy diệt được con người vùng Xô man này. Chính vì lẽ đó mà cụ Mết – người đại diện cho dân làng Xô man đã nói với mọi người “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”. Đó phải chăng là lời khẳng định đầy tự hào về sức mạnh tiềm tàng của chính dân làng mình? Câu chuyện mang đậm tính sử thi thần thoại. Bếp lửa hồng bên ngôi nhà sàn rộng bừng bừng tỏa lửa soi sáng những khuôn mặt người Xô man cùng giọng kể trầm trầm của cụ Mết đưa ta về với thế giới huyền hoặc xa xưa, thế giới cuả trận quyết đấu mà dân làng Xô man đã chiến thắng. Ánh sáng mười ngón tay Tnú bị đốt như có ma lực thúc đẩy mọi người hành động. Bên bếp lửa xà nu ta cũng nghe kể được một chuyện tình đẹp, thật sáng trong nhưng cũng thật là thương tâm cảm động giữa Mai và Tnú… Cụ Mết có lẽ là cây xà nu đại thụ. Cụ là sợi dây nối giữa xa xưa và hiện đại, là pho sử sống của làng Xô man. Cụ chính là linh hồn, là vị tướng chỉ huy tài tình của dân làng, phải chăng cây xà nu ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho dân làng” chính là hình ảnh cụ Mết – vị già làng đáng kính. Trải bao bao sóng dập gió vùi nhưng cây đại thụ ấy ngày càng chắc chắn hơn, rễ cây bám sâu vào từng thớ đất buôn làng….
Như đã nói ở trên, cây xà nu như một chứng nhân lịch sử. Ánh lửa xà nu soi sáng và dường như chính nó là động lực tăng thêm sức mạnh lời anh Quyết dặn “Người còn sống phải chuẩn bị dao, rựa… sẽ có ngày dùng tới”. Ngọn lửa xà nu cũng đã soi sáng, minh chứng tấm lòng trung thành của Tnú: “Tnú sẽ không kêu thanm anh Quyết ơi! Cháy! Không! Tnú sẽ không kêu…” Nhưng có lẽ linh thiêng nhứt vẫn là ngọn lửa xà nu chứng kiến mười tên giặc phơi thây trước sân nhà: “đống lửa xà nu giữa nhà vẫn đỏ” và lửa xà nu vẫn âm ỉ cháy khắp rừng.
Cùng với Đất nước đứng lên, Rừng xà nu đã biểu hiện sinh động cuộc chiến đấu của người dân vùng núi rừng Tây Nguyên. Cám ơn nhà văn Nguyễn Trung Thành, người đã góp phần xây dựng mối quan hệ tốt đẹp anh em miền xuôi ngược trong cuộc kháng chiến cứu nước. Quả thật, đọc tác phẩm của anh xong tôi thấy cả một trang sử vàng “đau thương nhưng anh dũng” của làng Xô man, của Tây Nguyên quật khởi và cả gương mặt của miền Nam trong thời lửa đạn chống Mĩ – ngụy, có những nỗi đau ghê gớm nhưng vẫn sáng ngời nhân phẩm, ý chí tiêu diệt kẻ thù. Rừng xà nu vẫn cứ sinh sôi chạy mãi tít tắp chân trời, nó bất chấp đạn bom và vì thế nó cứ ưỡn tấm ngực lớn che chở cho dân làng lao động chiến đấu và dám đối đầu với những hoàn cảnh khốc liệt nhất.
Bài làm 2
Truyện ngắn “Rừng xà nu” là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Trung Thành viết về những con người anh hùng, bất khuất của Tây Nguyên trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Đọc truyện ngắn “Rừng xà nu” cái ấn tượng để lại sâu đậm trong lòng người đọc chính là nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng cây xà nu.
Trước hết cây xà nu hiện lên trong tác phẩm với ý nghĩa tả thực. Nhà văn đã lựa chọn một loại cây thuộc họ thông, mọc nhiều ở Tây Nguyên có nhựa thơm và gỗ quý để đưa vào tác phẩm của mình. Tác giả miêu tả cây Xà nu ngay ở đầu tác phẩm giúp người đọc ấn tượng ngay từ đầu về vùng đất Tây Nguyên xa lạ, một xứ sở đẹp tươi. Từ chỗ tả thực, rất tự nhiên, cây Xà nu trở thành một biểu tượng. Cây Xà nu trở thành đại diện cho dân làng Xô man và cả Tây Nguyên, do vậy mỗi đặc điểm của cây Xà nu, mỗi sự việc xảy ra với rừng Xà nu đều có thể hiểu theo nghĩa ẩn dụ, tượng trưng.
Nét độc đáo và đặc sắc trong cách miêu tả của Nguyễn Trung Thành là cảnh người luôn soi bóng hòa quyện với nhau tới mức nhìn cảnh ta nghĩ tới người và ngược lại. hình ảnh cây Xà nu với nhiều dáng vẻ đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật về núi rừng trong tư thế hùng vĩ, vững trãi muôn đời. Nó nói lên sức sống bền vững, quật khởi của con người Tây Nguyên bất khuất. Xà nu có quan hệ mật thiết với đời sống hàng ngày của người dân làng Xô man. Xà nu có mặt trong suốt câu chuyện về Tnú và làng Xô man của anh. Ngọn lửa Xà nu cháy ấm áp trong bếp mỗi gia đình. Đống lửa Xà nu rừng rực trong nhà Ưng tập trung dân làng nghe cụ Mết kể chuyện. Khói Xà nu làm đen tấm bản cho Tnú va Mai tập viết… Xà nu cũng tham gia vào những sự kiện quan trọng của làng Xô man. Ngọn đuốc Xà nu trong tay cụ Mết soi đường cho dân làng vào rừng lấy vũ khí. Dân làng Xô man mài giáo mắc dưới ánh sáng của đuốc Xà nu và trong đêm dân làng nổi dậy, lửa Xà nu sáng rực soi xác 10 tên lính giặc nằm ngổn ngang. Xà nu gắn bó và thân thiết như không thể thiếu được trong cuộc sống của dân làng.
Xà nu là biểu tượng về đời sống và phẩm chất của con người làng Xô man. Rừng Xà nu cũng như làng Xôman chịu nhiều đau thương bởi sự tàn phá ác liệt của kẻ thù. Đạn đại bác rót thành lệ mỗi ngày sát thương biết bao cây Xà nu “Cả rừng Xà nu hàng vạn cây, không cây nào không bị thương” giống như thân thể những con người đầy thương tích. Có những cây bị chặt đứt ngang thân minh, đau đớn như cái chết của anh Xút, bà Nhan, của Mai và đứa con vừa đầy một tháng tuổi. Có những cây bị thương, nhựa cây ứa ra tràn trề, chỗ bị thương bầm lại “đen và đặc quyện như máu” giống như nỗi uất hận chôn chặt trong lòng Tnú, trong lòng người Xô man đợi ngày trả thù. Đau thương thế nhưng Xà nu lại có sức sống thật mãnh liệt không gì dập tắt nổi. Nó hào hùng ngay cả trong đơn đau. Đạn đại bác của kẻ thù khoong giết nổi rừng Xà nu. Dưới làn mưa đạn của kẻ thù “Xà nu đổ ào ào như một trận bão”. Nhưng cạnh một cây mới ngã gục, 4-5 cây con mọc lên, nhọn hoắt hình mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Đó là hình ảnh người dân làng Xô man nối tiếp nhau trưởng thành và chiến đấu.
Xà nu là biểu tượng của người dân Tây Nguyên cũng như những con người mang vẻ đẹp của Xà Nu. Cụ Mết tiêu biểu cho ngọn lửa quật khởi của dân làng. Cụ nuôi giữ ngọn lửa cháy khát vọng và tự do và lòng trung thành với cách mạng.. Cụ Mết như cây cổ thụ to lớn, vững trãi “ưỡn tấm ngực của mình che chở cho dân làng”. Tnú như cây Xà nu đã trưởng thành. Từ một cậu bé liên lạc Tnú trở thành cán bộ lãnh đạo dân làng Xô man. Kẻ thù đã bắt được Tnú, dùng giẻ có tẩm nhựa Xà nu đốt 10 ngón tay Tnú. Bàn tay anh mỗi ngón chỉ còn 2 đốt, “nhưng ngón tay còn 2 đốt cũng bắn súng được”. Tnú vẫn vững vàng như cây Xà nu với sức sống bất diệt.
“Không gì mạnh bằng cây Xà nu đất mình”. Không gì mạnh bằng sức sống bất diệt của dân làng Xô man. Mai ngã xuống thì đã có Dít lên thay thế “chị bí thư kiêm chính trị viên xã đội” còn vững vàng hơn cả chị gái mình. Khi bằng tuổi Heng. Tnú chỉ làm liên lạc. Cậu bé Heng bây giờ, vai khoác súng trường tự hào dẫn Tnú đi qua những “ác chiến điểm” đang sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù.. Hình tượng chất thơ mang vẻ đẹp chất thơ hoành tráng. Tác giả đã viết những câu văn đẹp, nồng nàn, rực rỡ để tạo hình, tạo hương, tạo ánh sáng và sức sống cho rừng Xà nu. Xà nu được chạm khắc lộng lẫy như một bức tranh tráng lệ. “Những cây Xà nu phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng”. Thứ ánh sáng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng thẩng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra thơm mỡ màng”.
Cuối tác phẩm, hình ảnh rừng Xà nu lại được miêu tả như một điệp khúc. Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi Xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời”. Hình ảnh đẹp và đầy chất thơ tráng lệ, nó như một điệp khúc trong bản nhạc trầm hùng ngợi ca sức sống mãnh liệt và bất diệt của con người Tây Nguyên. Hình tượng cây Xà nu là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Trung Thành. Hình tượng đo cho chúng ta thấy sức sống không gì dập tắt nổi của người dân Tây Nguyên. Từ đó chúng ta cũng hiểu con người VIệt Nam đã kiêu hãnh, bền bỉ như thế nào trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. | Phân tích hình tượng cây xà nu trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành | 3,028 | |
Đề bài: Phân tích hình tượng Hoạn Thư trong đoạn trích Kiều báo ân báo oán
Bài làm
Trước lời nói, thái độ của Kiều, lúc đầu Hoạn Thư cũng hồn lạc, phách xiêu nhưng vẫn kịp liệu điều kêu ca. Đây quả là con người khôn ngoan, giảo hoạt.
Trước hết Hoạn Thư dựa vào tâm lí thường tình của người phụ nữ để gỡ tội:
Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tinh.
Lí lẽ này đã xóa đi sự đối lập giữa Kiều và Hoạn Thư, đưa Kiều từ vị thế đối lập trở thành người đồng cảnh, cùng chung chút phận đàn bà. Nếu Hoạn Thư có tội thì cũng là do tâm lí chung cùa nữ giới:
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Đã là phụ nữ thì không mấy ai dễ dàng chấp nhận chia sẻ chồng mình cho người khác và Hoạn Thư cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Từ tội nhân, Hoạn Thư đã biện bạch để mình trở thành nạn nhân của chế độ đa thê.
Tiếp đến nàng ta kể công với Kiều:
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Hoạn Thư đã khéo léo gợi lại chút ân tình ngày xưa: một là đã cho Kiều xuống Quan Âm Các giữ chùa chép kinh, không bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, đã bỏ qua không đuổi theo. Cách nói này rất khéo, chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong cuộc mới biết. Nghĩ cho là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho.
Cuối cùng Hoạn Thư nhận tất cả lỗi về mình, chỉ còn biết trông cậy vào tấm lòng khoan dung, độ lượng lớn rộng như trời biển của Kiều:
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.
Tuy chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư luôn kính yêu Thúy Kiều. Hoạn Thư tự nhận tội gây việc chông gai và xin Thúy Kiều rộng lượng. Qua các lí lẽ gỡ tội, có thể thấy Hoạn Thư là người sâu sắc nước đời đến quỷ quái tinh ma. | Phân tích hình tượng Hoạn Thư trong đoạn trích Kiều báo ân báo oán | 373 | |
Phân tích hình tượng Lorca trong bài thơ Đàn ghita của lorca
Hướng dẫn
Phân tích hình tượng Lorca trong bài thơ Đàn ghita của lorca
Bài làm
Lorca một thiên tài của đất nước Tây Ban Nha nhưng lại mang số phận không may mắn. Một con người vì đất nước Tây Ban Nha, muốn cách tân cho nền nghệ thuật già nua của đất nước. Nhưng đã bị bọn độc tài Phát xít Prăng cơ bắt giết. Số phận Lorca được Thanh Thảo thể hiện qua bài thơ ” Đàn ghi ta lorca”, âm thanh tiếng đàn như số phận Lor ca.
Qua âm thanh tiếng đàn đấy, có người đã cho rằng ” Tiếng đàn là thân phận của Lorca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói chung, trong một thực tại mà cái ác cai trị”.
Cũng có ý kiến cho rằng ” Tiếng đàn là vẻ đẹp tâm hồn, là sức sống và cũng là nghệ thuật bất tử của Lorca”.
Theo em, cả hai ý kiến trên đều đúng.
Lorca, một con người tài năng nhưng sống trong một đất nước đang có nhiều biến động về chính trị.
” Những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha, áo choàng đỏ gắt”.
Màu đỏ của áo choàng làm ta nhớ tới những trận đấu bò tót đặc trưng cho một nét văn hóa đất nước Tây Ban Nha, cũng làm ta nghĩ tới tình hình chính trị phức tạp đất nước Tây Ban Nha rối ren, phức tạp. Màu đỏ cũng là màu máu. Lorca là một nghệ sĩ đánh đàn ghi ta tự do, một người đơn độc với vầng trăng, với yên ngựa.
Lorca đi khắp nơi, đánh những bản nhạc, những tiếng đàn ” Li la li la li la”. Đang lúc thảnh thơi này, bỗng bất ngờ Lorca bị bắt.
áo choàng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
Chàng đi như người mộng du”.
Lorca bị bắt, bị xử bắn, nhưng lorca không sợ cái chết, chàng không bất ngờ. Lorca không quan tâm việc mình phải chết. Dù lor ca chết, tiếng đàn, tượng trưng tài năng của chàng vẫn còn mãi.
” Tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta dòng dòng máu chảy”.
Tiếng đàn tại đây chính là tài năng của Lorca, cũng là thân phận nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác cai trị.” Tiếng ghi ta nâu” làm ta nhớ tới vỏ cây đàn ghi ta, cây đàn đã theo Lorca suốt cả cuộc đời. Cây đàn chính là biểu tượng đất nước Tây Ban Nha. Đây chính là tình yêu quê hương đất nước của mỗi con người. ” Bầu trời cô gái ấy” làm ta nhớ tới người con gái của Lorca. Ngoài màu nâu là màu ” xanh” mà xanh của lá, như màu của hi vọng. Làm ta nhớ tới khát vọng cách tân nền nghệ thuật đã già nua của đất nước Tây Ban Nha, nhưng chưa thành của Lorca. Lorca muốn thế hệ sau mình sẽ có những cách tân nghệ thuật, làm tiếp những việc mà chính chàng chưa làm được. Dù Lorca đã chết, nhưng tiếng đàn vẫn còn, nó tượng trưng cho sự bất tử của Lorca, nó tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn. ” Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan”. Tiếng ghi ta được ví như bọt nước. Bọt nước lúc ẩn, lúc hiện rất khó mất, nó đang biểu hiện cho tài năng Lorca không bao giờ mất đi, dù giờ đây Lorca đã chết, một sự thật không thể thay đổi được ” tiếng ghi ta dòng dòng máu chảy”. Cái chết thảm khốc của Lorca. Tài năng, cái đẹp của nghệ thuật vì trong hoàn cảnh đất nước rối ren mà bị vùi lấp, không thể phát triển được. Tiếng đàn như trở thành một sinh thể sống, có máu và nước mắt. Làm người đọc, người nghe đồng cảm với thân phận Lorca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại cái ác cai trị.
Tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng”
Qua câu thơ làm ta nhớ tới tâm nguyện của Lorca khi còn sống ” Khi tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn”. Vậy mà không ai chôn cất tiếng đàn theo như tâm nguyện của Lorca. Không phải là mọi người không muốn làm theo tâm nguyện của Lorca mà không ai hiểu tâm nguyện chàng.
Mọi người ngưỡng mộ tài năng của Lorca, không ai muốn vượt qua Lorca. Từ đó, tài năng và Lorca như bất tử, như cỏ mọc hoang. Cỏ mọc hoang – vừa thể hiện sự dang dở sự nghiệp và những dự định chưa thực hiện của Lorca. Lorca bị bắt, bị giết, bị ném xuống giếng. ” Giọt nước mắt vầng trăng” – đau xót cái chết của Lorca. Lorca vẫn bất tử, tài năng vẫn bất tử, dưới đấy giếng long lanh.
Thanh Thảo đã xuất sắc thể hiện được tiếng đàn của Lorca, tiếng đàn đấy không chỉ là tiếng đàn đơn giản mà ẩn chứa trong đó còn là tâm hồn, sự sống, sự bất diệt của một con người. Tiếng đàn còn mang theo niềm mong ước của Lorca về một sự cách tân nghệ thuật.
Tiếng đàn xuất hiện hầu khắp trong tác phẩm. Lúc nhẹ nhàng, khi mãnh liệt, khi đâu thương. Để đến cuối tác phẩm ta lại thấy xuất hiện tiếng đàn ” Li la li la li la”. Như nhắc nhở cho chúng ta rằng Lorca, tâm hồn Lorca đã đi theo tiếng đàn. Để diễn tả âm thanh tiếng đàn lorca, Thanh Thảo sử dụng tài tình nghệ thuật chuyển đổi cảm giác từ màu sắc ” nâu, xanh” đến hình khố sự vật, dường như không liên quan. Đây chính là cái tài của Thanh Thảo, làm lên sự thành công của tác phẩm. | Phân tích hình tượng Lorca trong bài thơ Đàn ghita của lorca | 1,001 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.