text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Phân tích hình tượng người bà trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt Hướng dẫn Phân tích hình tượng người bà trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt Chỉ là một tiếng gà nhảy ổ giữa buổi trưa hè, một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm… mà biết bao tình nghĩa. Phải chăng những điều bình dị, giản đơn nhất lại chính là chìa khóa của tâm hồn, của những tình cảm thiết tha, chân thành mà không một giá trị tầm thường nào có thể đổi được. Nếu như Tiếng gà trưa đánh thức trong Xuân Quỳnh những kỉ niệm về bà cùng tình bà cháu cao đẹp thì Bếp lửa lại làm sống dậy trong lòng Bằng Việt cả một quá khứ đầy ắp kỉ niệm, từ đó khẳng định tình cảm thương nhớ khôn nguôi của cháu với bà. Theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình, ta cảm nhận được cái ánh sáng của bếp lửa, sự ấm áp kì diệu và thiêng liêng của tình bà cháu và đặc biệt ta được thấy chân dung đẹp đẽ, lung linh sắc màu cổ tích của người bà trong bài thơ. Bếp lửa là lời tâm sự của người cháu ở nơi xa nhớ về bà của mình với những kỉ niệm về tình bà cháu, thể hiện sự kính yêu, ngưỡng vọng và suy ngẫm sâu sắc về bà. Mạch cảm xúc của bài thơ rất tự nhiên, đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kì niệm nâng lên thành suy ngẫm: hình ảnh bếp lửa gợi về những năm tháng tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh người bà với bao nỗi vất vả và tình yêu thương, trìu mến dành cho cháu; từ kỉ niệm, người cháu đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu cuộc đời bà lẽ sống giản dị mà cao quý của bà và mong muốn gửi niềm nhớ thương sâu sắc về với bà. Bếp lửa với bao ấm áp đã trở thành hình ảnh khơi nguồn cho dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình – người cháu. Bếp lửa khơi gợi, nhen lên, lan tỏa và cháy mãi trong, dòng hồi tưởng về kí ức tuổi thơ, tỏa sáng chân dung của người bà: Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa Cụm từ “một bếp lửa” vang lên trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ. Giữa cái sương sớm buốt lạnh, bếp lửa hiện lên làm chủ không gian trở nên thật ấm áp. “Chờn vờn sương sớm” không chỉ gợi tả hình ảnh bếp lửa quen thuộc trong mỗi gia đình Việt Nam những sớm mai mà còn gợi lên hình ảnh bếp lửa chập chờn trong kí ức tuổi thơ. Từ “ấp iu” đã gợi tả đôi tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng rộng mở của bà. Các từ láy “chờn vờn”, “ấp iu” đã kết nối và diễn tả chính xác dòng cảm xúc được gợi lên từ hình ảnh bếp lửa. Từ sự khơi nguồn này, cả một quá khứ đầy ắp kỉ niệm đã thức dậy trong tâm tưởng và suy ngẫm của người cháu. Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay! Khổ thơ ngắt nhịp ngắn và không ổn định; càng về cuối đoạn, nhịp thơ càng chùng xuống như nhấn mạnh sự khó khăn, cơ cực mà hai bà cháu đã từng trải qua. Hồi từ hiện tại, những kỉ niệm đã đưa cậu bé năm nào về với quá, khứ cùng với những cảm giác rất thật “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”. Cái cay sè nơi sống mũi của hai mươi năm về trước lại bất ngờ ập đến. Phải chăng quá khứ trong cháu vẫn còn rất sâu đậm, vẹn nguyên và chẳng thể phai nhòa nên nó đã hiện, lên thật sống động. Có thể nói, tuổi thơ của cháu gắn liền với giai đoạn lịch sử đau thương mà oai hùng của dân tộc. Tuổi thơ ấy có cái gian khổ chung của thời kháng chiến chống Pháp. Trong hoàn cảnh “mẹ cùng cha bận công tác không về”, cháu đã sống trong tình yêu thương, sự đùm bọc, chở che, dạy dỗ của bà: Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Trong hoài niệm về tuổi thơ, hình ảnh bếp lửa gần gũi quen thuộc luôn gắn liền với hình ảnh người bà thân thương. Nhớ về bà là người cháu nhớ về bếp lửa, hình ảnh bà và bếp lửa luân gắn bó song hành. Nỗi nhớ da diết của người cháu với bà cũng chính là nỗi nhớ thương gia đình, quê hương, đất nước. Từ sự hồi tưởng về những kỉ niệm tuổi thơ, về bà và bếp lửa, người cháu đã suy ngẫm về cuộc đời, lẽ sống của bà. Trong hoài niệm tuổi thơ, hình ảnh bếp lửa gần gũi, quen thuộc luôn gắn liền với người bà tần tảo, chịu thương, chịu khó: Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm. Từ hình ảnh bếp lửa bình dị, quen thuộc, cháu nhận ra những điều kì lạ và thiêng liêng. Ngọn lửa từ bàn tay bà với bao tình yêu thương đã nuôi lớn cháu, nhóm dậy những tâm tình tuổi nhỏ. Không những vậy, bà còn là người phụ nữ giàu tình yêu thương, đức hi sinh. Bà là hình tượng sáng ngời của người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến. Bà lặng lẽ, âm thầm hi sinh cho Tổ quốc: Bố ở chiến khu, bố còn việc bố, Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên. Trong những năm tháng chiến tranh, cháu lớn lên, trưởng thành trong tình yêu thương, đức hi sinh cao cả, sự đùm bọc, che chở của người bà: Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng… Hình ảnh bếp lửa đã được nhà thơ liên tưởng thành ngọn lửa của tình yêu thương với ý nghĩa thật sâu sắc. Nếu bếp lửa là biểu hiện cuộc sống âm thầm, lặng lẽ của hai bà cháu thì ngọn lửa rộng hơn, nó là sức sống tình yêu, là niềm tin của bà trong cuộc sống của hai bà cháu. Cuộc đời bà “lận đận” mấy chục năm, bà lặng lẽ hi sinh cho cháu, cho mọi người: Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Điệp từ “nhóm” được lặp lại nhiều lần trong đoạn thơ đã khẳng định bà không chỉ là người nhóm lửa mà còn là người giữ lửa, truyền lửa, thắp lên trong người cháu ngọn lửa của tình yêu thương, của nghị lực, niềm tin, giúp cháu vững bước trên đường đời. Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đầy đủ về vật chất mà còn là người làm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp, thêm huyền ảo như trong truyện cổ tích. Người bà có trái tim nhân hậu, người bà kì diệu đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm hồn cháu để mai này cháu khôn lớn thành người. Ta có thể bắt gặp người bà như vậy trong Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh: Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng. Với người cháu, ngọn lửa ấy thật kì lạ, thiêng liêng: Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa! Trong cả bài thơ, mười lần xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà. Âm điệu những dòng thơ nhanh mạnh như tình cảm dâng trào của người cháu đối với bà. Hình ảnh bếp lửa thiêng liêng, kì lạ vì bếp lửa luôn hiện hữu, gắn bó, song hành cùng với hình ảnh người bà, gắn liền với những năm tháng tuổi thơ của cháu. Bà và bếp lửa đã nuôi lớn cháu, thắp sáng niềm tin và ước mơ, trở thành điểm tựa tinh thần của cháu. Câu thơ là lời thốt lên từ sâu thẳm tâm hồn người cháu, thể hiện lòng tự hào, biết ơn sâu sắc của cháu với bà cũng như với quê hương, đất nước. Nhẹ nhàng, giản dị mà sâu sắc, thấm thía, Bếp lửa đã thể hiện một cách xúc động hình ảnh người bà và tình bà cháu. Bếp lửa – ngọn lửa của bà cùng tình yêu thương và những phẩm chất tốt đẹp của bà đã soi rọi, nâng bước cháu trên con đường đời đầy khó khăn thử thách. Hình ảnh người bà chính là hình ảnh của quê hương, đất nước. Bài thơ thể hiện thành công tình cảm kính yêu, trân trọng, biết ơn bà cũng là lòng biết ơn đối với quê hương, đất nước biểu hiện cao đẹp của truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”. Bếp lửa khơi gợi cho người đọc những suy ngẫm về tình cảm gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam, để lại trong tâm hồn bạn đọc bao dư âm đẹp về tình bà cháu và chân dung người bà kính yêu.
Phân tích hình tượng người bà trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
1,596
Đề bài: Phân tích hình tượng người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Bài làm Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai. Đó là ý chí của những chiến sĩ Trường Sơn. Các anh hiện lên trên trang thơ thật dí dỏm, thật yêu đời. Khi gian khổ tưởng chừng không thể nào vượt qua được, khi cái chết tới gần. Vậy mà nụ cười lạc quan vẫn hiện hữu trên khuôn mặt các anh, nụ cười ấy rất ngang tàng và cũng đầy tinh nghịch. Nhắc tới họ, ta không thể quên người chiến sĩ lái xe không kính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Không biết nhà thơ dã bao nhiêu lần trực tiếp lái chiếc xe như thế mà ông lại viết ra được những dòng thơ hết sức chân thực và sống động đến vậy: Không kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Đó là lời giới thiệu của các anh, hết sức giản dị, rất thật. Trên chiếc xe không có kính đó người lính lái xe ở tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng khốc liệt. Bom giật bom rung họ vẫn vững tay lái, nhấn ga cho xe băng băng lao ra chiến trận. Chúng ta hãy lắng nghe các anh kết chuyện về mình với giọng điệu thật vui vẻ và hài hước: Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Ung dung được đảo lêu đầu câu để nhấn mạnh tư thế bình tĩnh, đường hoàng, hiên ngang, tự tin khi họ phải lái một chiếc xe không kính. Nhìn thẳng là nhìn vào gian khổ, hi sinh không run sợ, không né tránh bởi họ chiến đấu vì chính nghĩa. Lái xe không kính, là gặp phải khó khăn nhưng những khó khăn lại thật bất ngờ: Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái. Những câu thơ rất thực, thực đến từng chi tiết. Xe không có kính chắn gió lại chạy với tốc độ cao nên người lính lái xe phải đối mặt với bao nguy hiểm: gió xoa mắt đắng, con đường ngược lại chạy thẳng vào tim, sao trên trời, chim dưới đất bất ngờ như sa, như ùa, như rơi, rung, quăng, ném vào buồng lái. Những câu thơ chân thực, sống động, đầy ấn tượng như chính nhà thơ đang cầm vô lăng mà lái. Bao khó khăn thử thách nhưng người lính lái xe vẫn không run sợ, hoảng hốt. Trái lại, tư thế của các anh rất hiên ngang, ung dung tự tại, tinh thần của các anh vẫn vững vàng. Bởi các anh vẫn quyết tâm vượt qua gian khổ, để hoàn thành nhiệm vụ lớn lao. Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc tráng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa. Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Nhà thơ lại tiếp tực khắc họa những khó khăn, gian khổ của những người lính lái xe. Những câu thơ như những lời nói thường ngày, không gắn liền với những tiếng nói bỗ bã, đầy chất lính ngang tàng song cũng rất đáng yêu như bật lên từ tình cảm thực của những người lính lái xe. Khó khăn là thế, và vẫn chấp nhận là tất yếu: ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo nhưng cũng với thái độ rất thản nhiên: Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc …Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Sự bình thản của những người lính lái xe đến vô tư. Câu thơ cân đối, nhịp nhàng theo độ rung của bánh xe lăn, các thanh bằng, trắc phối hợp linh hoạt, giọng thơ pha chút ngang tàng thường thấy ở người lái xe. Hai khổ thơ làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính lái xe: dũng cảm, hiên ngang, phớt đời, bất chấp hiểm nguy trước biết bao thử thách. Họ đạp bằng gian khó tiến về phía trước với một quyết tâm: giải phóng miền Nam. Đúng là chiến tranh ác liệt có thể tàn phá những phương tiện kĩ thuật vật chất nhưng không thể đè bẹp được sức mạnh tinh thần của con người. Trái lại, aó chỉ càng làm nổi rõ thêm tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của họ mà thôi: Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi. Trong hoàn cảnh ác liệt, những người lính lái xe có cùng một mục đích, cùng chung lí tưởng nên ở họ đã hình thành nên tình cảm đồng chí, đồng đội tốt đẹp, ấm cúng như trong một gia đình: Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bút đĩa nghĩa là gia đình đấy Hình ảnh những chiếc xe từ trong bom rơi đã gợi lên ý nghĩa về người lính lái xe gan góc vượt qua gian nan thử thách. Khi gặp nhau tình cảm giao lưu cua họ thật là đặc biệt: …Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi để rồi: Lại đi, lại đi trời thêm xanh. Câu thơ có một cái gì đó thật lãng mạn và lạc quan: Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe không có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tỉm. Xe bị bom đạn Mĩ làm cho biến dạng đến trơ trụi: không kính, không đèn, không mui… nhưng đoàn xe vẫn cứ chạy vì một mục đích cao cả: vì miền Nam ruột thịt, vì thống nhất nước nhà. Thì ra mọi cội nguồn tạo ra sức mạnh của đoàn xe được tích tụ lại ở trái tim gan góc, kiên cường giàu bán lĩnh nhưng chan chứa tình yêu thương ở người cầm lái. Chính tình yêu Tổ quôc, tình thương đồng bào đã khích lệ, động viên người lính lái xe đạp bằng gian khó, lạc quan, bình tĩnh, nắm chắc vô lăng, nhìn thật đúng hướng để đưa đoàn xe tới đích. Khổ thơ cho ta thấy chân lí của cuộc đời: sức mạnh không chỉ là vũ khí, là vậ chất mà chính là con người. Con người mang trái tim nồng cháy, yêu thương, có ý chí kiên cường chiến đấu là con người chiến thắng: Chỉ cần trong xe có một trái tim. Câu thơ làm toả sáng hình tượng người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn, là linh hồn của cả bài thơ. Bài thơ đã khắc hoạ hình tượng người chiến sĩ lái xe thật đẹp, thật dí dỏm, thật lính. Đó là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ trong thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ – một thế hệ anh hùng, sống đẹp và giàu lí tưởng. Họ sẵn sáng làm bất cứ việc gì, đi bất cứ đâu mà Tổ quốc cần, trong gian khổ vẫn giữ vững một niềm tin, một niềm lạc quan tin tưởng vào chiến thắng. Đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh.
Phân tích hình tượng người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
1,262
Phân tích hình tượng Người lái đò Sông Đà Nguyễn Tuân Hướng dẫn Phân tích hình tượng Người lái đò Sông Đà Nguyễn Tuân Bài làm Mỗi khi nhắc đến những nhà văn viết tùy bút xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam chúng ta không thể không nhắc tới nhà văn Nguyễn Tuân. Vùng đất Tây Băc với những núi cao, thác ghềnh hiểm trở đã lôi cuốn ngòi bút của Nguyễn Tuân, để rồi năm 1960 ông xuất bản tập tùy bút Sông Đà trong đó có tùy bút Người lái đò sông Đà. Hình tượng nghệ thuật xuyên suốt tác phẩm là hình ảnh ông lái đò Lai Châu được nhà văn tiếp cận tài hoa – nghệ sĩ. Ông lái đò năm nay khoảng chừng bảy mươi tuổi, ông sinh ra và lớn lên ngay bên bờ sông Đà “quê ông ở ngay chỗ ngã tư sông sát tỉnh”. Ông có một ngoại hình đặc biệt, mang đậm dấu ấn nghề nghiệp: thân hình ông cao lớn “gọn quánh như chất sừng, chất mun”, “tay dài lêu nghêu như cái sào”, “chân lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như gò lại kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng” rồi “ giọng ông ào ào như tiếng nước thác”. Mọi thứ của ông giờ đây như đã hòa nhịp với con sông lúc hung hãn lúc lại dịu êm này, họ hòa vào nhau theo năm tháng, hòa vào nhau trong từng hơi thở nhịp nhàng, ăn ý một cách đến lạ lùng. Đối với ông lái đò thì sông Đà như một bản trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng. Ông “nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào trong lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”, “nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”, làm chủ được dòng sông. Đó là tư thế và sự hiểu biết của con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ hoàn cảnh. Ông hiểu về con sông cặn kẽ như hiểu chính bản thân mình vậy, có hiểu ông mới ngự trị, mới làm bạn được với nó. Thật đúng là “thứ vàng mười đã qua thử lửa” giống như cách mà nhà văn Nguyễn Tuân vẫn nói. Nếu ai đó nghĩ rằng chở đò là một nghề dễ dàng chỉ cần đến sức khỏe thì chắc hẳn người đó đã nhầm. Chở đò là một nghệ thuật đòi hỏi ở người lái đò sự thông minh, khôn khéo, trí dũng, tài ba. Cuộc chiến giữa ông lái đò và sông Đà là một cuộc chiến không cân sức. Bởi sông Đà có một lực lượng hùng hậu nào thì vách đá, nào thì những cái hút nước xoay tít sâu hun hút và cả những hàng chông đá nằm ngầm dưới lòng sông nữa. Ấy vậy mà ông lão chỉ có một mình “đơn phương độc mã” chiến đấu, vũ khí duy nhất có trong tay là cán chèo. Để chiến đấu với một Sông Đà quỷ quyệt trong việc bày binh bố trận thì ông lái đò càng phái nắm chắc tài chèo, giữ vững tinh thần và đặc biệt phải “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá” thì mới có thể thắng được trong trận đấu sinh tử này. Không một chút nghỉ tay, ông lái đò tiếp tục phá luôn vòng vây thứ hai của thác Sông Đà. Ở vòng thứ hai này, thác Sông Đà lại “tăng thêm nhiều cửa tử” để đánh lừa con thuyền. Vẫn chỉ có một cửa sinh. Nếu ở vòng thứ nhất, cửa sinh nằm “lập lờ phía tả ngạn”, thì ở vòng thứ hai này, cửa sinh lại “bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn”. Đó chính là khó khăn, thách thức đối với người lái đò. Nhưng ông lái đò đã “thuộc qui luật phục kích” của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Ông hiểu rằng cưỡi lên thác Sông Đà phải “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Cuộc chiến của ông lái đò ở vòng thứ hai đã bắt đầu. Nắm chặt cái bờm sóng đúng luồng, ông đò ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà “phóng nhanh vào cửa sinh” rồi “lái miết một đường chéo” về phía cửa đá ấy. Thấy con thuyền tiến vào, bốn năm bọn thủy quân bên bờ trái liền “xô ra” định níu con thuyền “lôi vào tập đoàn cửa tử” mà tiêu diệt. Nhưng ông lái đò vẫn “nhớ mặt” bọn này, đứa thì ông tránh mà “rảo bơi chèo lên”, đứa thì ông “đè sấn lên mà chặt đôi ra” để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền, chỉ còn vẳng tiếng reo hò của của sóng thác luồng sinh. Tuy vậy, bọn chúng vẫn “không ngớt khiêu khích”, dù cái thằng đá tướng đứng ở cửa vào đã “tiu nghỉu cái mặt xanh lè” vì bị thua cái thuyền du kích nhỏ bé. Ông lái đò quả thật là một chiến tướng nhưng cũng là một tay lái tài hoa. Mỗi đường chèo của ông đều là nghệ thuật làm đẹp cho đời và trong lao động. Sau chiến thắng ông lái đò lại trở về với cuộc sống đời thường bình dị. Ông cùng với nhà đò “đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh…, cũng chả thấy ai bàn thêm lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi”. Bởi lẽ với họ những trận chiến như vừa rồi đã trở thành một phần trong cuộc sống của họ, có gì mà phải bàn tán, phải suy ngẫm, tất cả đã trở thành máu thịt, là sợi dây kết nối và gắn bó họ với nơi này. Để viết về dòng Đà giang và ông lái đò một cách cặn kẽ và chi tiết đến vậy thì không phải ai cũng có thể viết được, phải yêu, phải hiểu và gắn bó lăm mới viết được kĩ đến vậy. Điều này như một minh chứng chân thực cho sự hi sinh vì nghệ thuật của tác giả Nguyên Tuân. Ông đã dành cả cuộc đời mình để đi tìm cái đẹp, cái thật trong con người và cuộc đời. Ông quan niệm rằng vẻ đẹp tài hoa của người nghệ sỹ không chỉ thể hiện trong lĩnh vực nghệ thuật mà nó còn được thể hiện trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống con người. Khi con người đạt đến trình đô điêu luyện trong công việc của mình thì khi đó vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ sẽ tỏa sáng. Bài tùy bút của tác giả Nguyễn Tuân đã đưa người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác một cách tự nhiên đến lạ kì. Hình ảnh gợi ra xuyên suốt bài tùy bút là hình ảnh ông lái dò gạo cội và dòng sông Đà giang hung hãn nhưng cũng đồng thời gửi vào tâm trí độc giả một liên tưởng về một ông lái đò Nguyên Tuân như một ông lái bậc thầy, ông lái con thuyền ngôn từ trên một dải sông văn chương không kém những thác ghềnh chông gai. Ông ta tạo nên một khúc khải hoàn ca về những con người lao động chân chính trong thời kì mới.
Phân tích hình tượng Người lái đò Sông Đà Nguyễn Tuân
1,258
Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tùy bút cùng tên của Nguyễn Tuân Hướng dẫn Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tùy bút cùng tên của Nguyễn Tuân Bài làm Các cụ nhà ta thường nói: sinh ư nghệ, tử ư nghệ. Câu nói ấy hoàn toàn đúng với ông lái đò ở sòng Đà. Hình như cái quan niệm ấy chưa bao giờ thay đổi trong suốt mấy chục nấm cầm lái của ông. Cho dù cái nghề kia chẳng dễ chịu chút nào. Người ta có thể bỏ mạng không phải vì không điêu luyện mà đơn giản hơn có thể chỉ là vì một lần sơ ý “lỡ tay đò”. Ông lái đò Lai Châu này “làm nghề chở đò dọc suốt sông Đà đã mười năm liền và thôi làm đò cũng đã đôi chục năm nay”. Khoảng thời gian mười năm là không nhiều nhưng nó đủ để người ta rèn giũa tay nghề. Nhưng ông đã “thôi làm đò đôi chục năm nay”. Chứng đó cũng là quá đủ để tay nghề của ông mai một. Ấy vậy mà trong lần “xuất quân” này, ông đò vẫn vững vàng tay lái lắm. Có vẻ như không phải ông đò lấy cái quan niệm “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” làm cái chân lý sống cho mình nhưng thực tế cuộc đời ông lại đang toát lên điều ấy. Phải chăng ông chính là “chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc” mà Nguyễn Tuân đang hào hứng đi tìm? Ông đò Lai Châu tuy không được Nguyễn Tuân tả kỹ nhưng nhìn thoáng qua, ai cũng bị ấn tượng ngay: “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tương, giọng ông ào ào như tiếng thác nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù”. Nguyễn Tuân tinh tế lắm! Ông đâu có tả ông đò “bạn ông” trong thực tế. Cái hình hài dáng vóc kia là cái hình hài dáng vóc của “con người sông nước”, “con người nghề nghiệp hóa”. Nó nhang nhác giống bất cứ ai sống ở trên sông và sinh nhai bằng “nghề sông nước”. Ông lái đò của Nguyễn Tuân chẳng biết tên là gì? Người ta gọi ông thân thuộc bằng cái tên “nghề nghiệp – địa danh”: Ông lái đò Lai Châu. Không chỉ vô danh, bạn đọc cũng chỉ biết mang máng “quê ông ở ngay chỗ ngã tư sông sát tỉnh”. Lại nữa, cũng chẳng ai biết ông nhà cửa thế nào? Con cái ra sao? Chẳng lẽ tất cả thông tin về ông đò lại chẳng có gì? Nhưng cũng chẳng cần! Bạn đọc có ai thắc mắc đâu. Và có thể lắm chứ, nếu như ở trên kia ông lái đò có ngoại hình “thuộc về sông nước” thì ở đây tất cả những “cái không” càng đủ căn cứ để mà khẳng định ông đò là “con người – nhân dân”. Đó là một dụng ý nghê thuật tinh tế của nhà văn Nguyễn. Ông muốn để tâm cái vẻ đẹp bền vững (chất vàng mười) của nhân dân qua những con người ưu tú. Ngoại hình ông đò không đẹp nhưng lúc “tác nghiệp” ông lại là một hình mẫu trên sông. Nguyễn Tuân lại một lần nữa không chịu tả ông đò trên suốt dọc hành trình. Tác giả chỉ chọn tả ông ở cái thời điểm vinh quang nhất của cuộc đời: Lúc ông chèo thuyền vượt thác trên sông. Mười năm chở đò dọc sông Đà, ông lái đò am hiểu con sông lắm. Nó dữ dội, hào hùng, nghiệt ngã ông đều biết cả. Và tất nhiên ông biết nó có lúc rất trữ tình. Thế nên ông dò cẩn trọng lắm. Một trong những nguyên tắc làm nghề của ông là phải “rất am hiểu dòng sông”. Thế nên gấp cuốn sách vào mà tưởng tượng, chúng ta vẫn như đang thấy ông đò vừa chèo mạnh vừa đọc tên vừa gợi ra bao đặc tính của dòng sông. Nhìn ông lái đò Lai Châu chéo thuyền vượt thác mà ta cứ ngỡ như ông đang chiến đấu với con sông. Mà chiến đấu thật, chiến đấu để giành lấy sự sống từ thiên nhiên hung dữ. Chẳng phải hàng ngàn đòi nay nhân dân ta vẫn phải bươn bả để sống, vẫn phải đấu tranh để giành lấy miếng cơm manh áo từ thiên nhiên hay từ sự hung bạo của ngoại bang sao? Đó là cái chân lý nhắc nhở con cháu ngàn đời được Nguyễn Tuân gửi vào hình ảnh ông lái đò lúc chèo thuyền vượt thác trên sông. Đấy ông đò Lai Châu và cuộc sống của ông là như vậy. Nói là cuộc sống cũng được hay nói là sự hy sinh thầm lặng cũng chẳng sai. Điều quan trọng đó là một cái nghề, là cuộc sống thường nhật của ông. Dữ dội nhưng vẫn không lúc nào nguôi cái ao ước hiền hòa. Ta sẽ thấy chẳng có gì lạ cả giữa cuộc sống lao động của ông đò với bao cuộc đời của những người dân khác đã, đang và sẽ từng sống trên mảnh đất bốn ngàn năm nay vẫn dữ dội nhưng rất bao dung này.
Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tùy bút cùng tên của Nguyễn Tuân
911
Đề bàip: Phân tích hình tượng Người lái đò sông Đà Bài làm Cái nhan đề Người lái đò sông Đà ùa vào ta một liên tưởng kép: Nguyễn Tuân xưng tụng ông lái đò tài hoa trí dũng trên dòng sông thiên nhiên bạo liệt, còn ngôn ngữ Nguyễn Tuân lại hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông lái bậc thầy con thuyền chữ trên một dải sông văn không kém thác ghềnh. Bài ca lao động và bài ca ngôn từ song hành trong một áng kí lạ. Thì chính Nguyễn Tuân đã hạ bút ngay từ khúc dạo đầu: “Chúng thuỷ giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu” (Mọi con sông đều chảy về đông, chỉ có sông Đà ngược bắc). Câu đề từ của Nguyễn Tuân vừa thâu tóm lấy cái thần sông Đà, vừa tóm luôn cái thần chữ của mình. Một mặt bắc lưu là sự cưỡng lại đông tẩu, cái riêng độc đáo là sự cưỡng lại sức xói mòn của cái chung nhàm cũ. Mặt khác, bắc lưu chỉ tồn tại trước đông tẩu, cái riêng độc đáo chỉ tồn tại trước cái chung khi nó đồng nghĩa với cái cao hơn sự khác lạ là cái sáng tạo (tức là cái độc đáo phải trở thành cái riêng mang giá trị). Phi giá trị, cái riêng hóa trò chơi duy mĩ. Đó là nguyên tắc của phép lạ hóa văn chương, để vừa chối bỏ sự nhàm lặp của cái chung, vừa hội nhập với cái chung mang giá trị văn chương bền vững. Còn nguyên tắc riêng của phép lạ hóa ngôn ngữ Nguyễn Tuân? Trong kho từ vị Việt, ngôn ngữ mang bản tính nguyên thủy của một vật liệu tĩnh, lạnh, khá ổn định. Tài năng nghệ sĩ là biết vung cây gậy thần biến nó thành chất liệu động và nóng, phập phồng sự sống. Nổi trội trong các tài năng, văn Nguyễn Tuân là thứ ngôn từ nóng giẫy sự sống. Có thể coi bài kí sông Đà này là cuộc thí nghiệm tâm đắc của ngôn ngữ nóng Nguyễn Tuân. Phân tích tùy bút Người lái đò Sông Đà Đầu tiên, sức nóng ngôn ngữ Nguyễn Tuân cũng tìm được một đối tượng “nóng”: sông Đà. Con sông độc lạ ấy thật thích hợp với một ngòi bút độc lạ. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân đã lay con sông vô tri thức dậy, tưới linh hồn vào nó, và ông khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đủ in luôn tính nết vào đó: “hung bạo và trữ tình”. Nếu chỉ có một vế, con sông sẽ lười nhác trong đơn giản. Tính cách sông Đà phải là một hệ thống những phẩm chất đối chọi nhau như nước với lửa, và phải từ những nghịch lí nghịch âm ấy, con sông mới có điều kiện phô bày hết vẻ phức tạp phong phú, đầy hấp dẫn của mình. Đầu tiên là con thác – tâm điểm dữ dội của sông Đà. Nước dữ, đã đành. Đá cũng dữ. Đúng ra là do đá dữ mà nước dữ. Vậy thì cần phải dựng đá dậy cho lộ bản chất của nó ra. Và Nguyễn Tuân hạ một so sánh đắc địa: “Một hòn (đá) ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến”. Trong công thức A = B của so sánh, cái độc lạ của Nguyễn Tuân chủ yếu tỏa sắc ở vế B. Trong câu văn trên, ông chêm động từ hất hàm vào B để mang đến cho nó một năng lượng sống, đủ khả năng truyền hồn vào đá vô tri, rọi một cái nhìn đậm tính điêu khắc vào thói du côn của thiên nhiên man dại. Nhưng gây cảm giác “chết người” nhất là cái hút nước. Nguyễn Tuân tả hình ảnh những cái thuyền bị dòng sông nuốt vào bụng, gợi cảm giác lạnh người: “Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”. Người ta nói văn Nguyễn Tuân là thứ văn ham cảm giác mạnh, có lẽ vì thế mà cái hút nước hiểm nguy kia trở thành một đam mê dưới ngòi bút của ông. Ông tiếp tục gây áp lực lên hệ thần kinh người đọc bằng cách bắt họ phải tự “chiêm nghiệm” cái cảm giác lạ lùng này: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà, – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre-plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đành phèn”. Hình ảnh những cái thuyền bị cái hút nước nuốt chửng, hình ảnh cái hút nước như một cái giếng xây bằng nước sông đang xoay tít… tạo nên ở người đọc một cảm giác hình hết sức mạnh mẽ. Họ bị đặt vào trong cuộc, và cảm thấy bối rối vì khó bứt thoát khỏi những ám ảnh đầy ma lực mà ngôn từ Nguyễn Tuân truyền tới họ. Và đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc là một sông Đà được nhìn như một hung thần, gây cảm giác hãi hùng về cuộc quyết đấu dữ dội giữa con người và thiên nhiên đã diễn ra nơi đây hàng bao thế kỉ. Cảm giác hình gắn với cảm giác âm nên ám ảnh của văn Nguyễn Tuân càng mạnh. Ở đây, người đọc lại hứng khởi nhận ra một đặc điểm khác của văn Nguyễn Tuân: những câu văn của ông thường liên kết trong một tính liên hoàn giàu giá trị thẩm mĩ, có khả năng thôi miên người đọc trong một chuỗi dây chuyền liên tưởng ngỡ như vô tận. Tả cái thác nước, Nguyễn Tuân viết: “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Đúng là một cảnh tượng man rợ như thời tiền sử. Để dò hết năng lượng thẩm mĩ của câu văn, liên tưởng của người đọc phải nối nhau trong cơ chế ba chặng: tiếng thác (rống) – tiếng trâu mộng (lồng lộn) – tiếng rừng lửa (gầm thét). Liên tưởng của Nguyễn Tuân rất lạ: âm thanh thác được động vật hóa thành tiếng gầm “trâu mộng”, nhưng cao tay nhất là lấy tháclửa (hỏa) gây một bất ngờ thẩm mĩ. Sức mạnh hoang dã của thiên nhiên qua miêu tả của Nguyễn Tuân, cứ như một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Nguyễn Tuân còn chạm bút tới cái hút nước một lần nữa: “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Hai chữ “ặc ặc” mô phỏng rất tài thứ âm thanh quái vật, khiến sông Đà như loài thủy quái bị bóp cổ đang quằn quại. (thủy) so sánh với Mặt thứ hai của sông Đà là trữ tình. Để lột tả đặc tính này của sông Đà, Nguyễn Tuân rất tâm đắc với những so sánh. Mỗi so sánh chứa đựng một góc nhìn độc đáo, đầy tính phát hiện của nhà văn trước đối tượng thẩm mĩ của mình. Sông Đà như loài thủy quái với những nanh vuốt nơi mặt ghềnh, hút nước và thạch trận dữ hiểm, được nhà văn ví như “kẻ thù số một” của con người. Song những so sánh đam mê nhất của Nguyễn Tuân là dành cho một Đà giang trữ tình: “Cái dây thừng ngoằn ngoèo” dưới chân người ngồi trên tàu bay nhìn xuống, cái “áng tóc trữ tình (…) ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”; rồi lại “như một cố nhân” trong nỗi niềm du khách, như “cái miếng sáng lóe lên” trong trò chiếu gương con trẻ, như “một bờ tiền sử”, như “một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”… Những so sánh biến hóa không trùng lặp, luôn gây men bằng những đột ngột, người đọc sửng sốt vì những so sánh lạ lẫm, gây đứt quãng liên tưởng, để rồi thán phục nhận ra không thể so sánh hay hơn, đúng hơn, và cứ thế bị thôi miên vào mê hồn trận của những so sánh ăm ắp tràn bờ… Vẻ đẹp ngôn ngữ Nguyễn Tuân không đơn thuần là thứ trời cho. Nhà văn phải lao động cật lực, trong đó có khổ công quan sát. Liệu đã mấy ai đủ công phu quan sát những biến đổi tinh vi đến thế của sông Đà, với mùa xuân thì “dòng xanh ngọc bích” mùa thu thì “lừ lừ chín đỏ”, giữa hai mùa ấy là cái “màu nắng tháng ba Đường thi”… Sông Đà giàu ám ảnh trở thành nỗi nhớ thật da diết của con người. Một sông Đà góc cạnh như thế ắt cần một đối tượng giao tiếp tương xứng cỡ ông lái đò. Hình như Nguyễn Tuân tô đậm sức hấp dẫn của sông Đà là để ngầm đề cao chính ông lái đó tài ba, nghệ sĩ này chăng. Để tiếp ông khách không vừa này, sông Đà “bày thạch trận trên sông” với một thế trận bài bản theo kiểu binh pháp Tôn Tử: nào là cửa tử, cửa sinh, đánh vu hồi, đánh du kích, đánh mai phục, đánh giáp lá cà… Sông Đà còn lắm mưu nhiều kế bày bao nhiêu mẹo lược và sự nham hiểm để sẵn sàng bóp chết con người. Ông lái đò thì nhỏ bé nhưng lại sừng sững hiện lên như một viên tướng trí dũng song toàn trước con thủy quái khổng lồ kia, với tư thế của kẻ đã nắm chắc “binh pháp của thần sông thần đá”. Để miêu ta cuộc giao tranh giữa người và thác dữ, Nguyễn Tuân có ngón chơi động từ độc đáo. Trong dăm trang kí, ông tốc tới ngót 300 động từ để đủ sức ganh tài cùng con nước cuồng nộ Đà giang và trí lực ông lái phi thường. Tần số động từ đậm đặc nhất là ở trường đoạn hỗn chiến giữa người và sông nước, khiến người đọc nghẹt thở. Cơn cuồng phong động từ xô lên cùng cơn thịnh nộ sông Đà: “rống lên, nhổm cả dậy, vồ lấy, đánh khuýp, reo hò, thúc, đội, túm, lật ngửa, bóp chặt… Phía ông lái, động từ cũng hợp sức tạo nên thế cưỡi hổ tung hoành: nắm chặt, ghì cương, bám chắc, phóng nhanh, lái miết, đè sấn, chặt đôi, phóng thẳng, chọc thủng… Hai hệ thống động từ đối chọi, tương phản gay gắt, nhưng đọc kĩ, vẫn thấy nổi lên thế chủ động, thế lấn lướt của ông lái đò. Hãy xem tiếp động từ phát huy sức mạnh như thế nào trong đoạn văn sau đây của Nguyễn Tuân: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghi cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn mày, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến…”. Quả là một bức tranh chiến trận hào hùng, ngôn ngữ Nguyễn Tuân hả hê tụng ca con người trong cuộc quyết đấu với thiên nhiên để giành sự sống. Văn Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp của sự tổng hòa văn hóa. Nàng văn của ông thật quảng giao đón du khách từ bốn phương trời kiến thức: lịch sử, địa lí, quân sự, võ thuật, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, âm nhạc… Những kiến thức liên ngành đa dạng ấy tạo bề dày uyên bác trong vốn tri thức của nhà văn, nâng cho đôi cánh tài hoa bay bổng. Có thể coi Nguyễn Tuân là người đã nắm vững “binh pháp của ngôn ngữ”. Với một ý thức ngôn từ mới mẻ, hiện đại, Nguyễn Tuân đã truyền hồn cho chữ, chữ truyền hồn cho dòng sông, và dòng sông truyền xúc cảm vào người đọc. Song luận gì về Nguyễn Tuân cũng chớ quên văn ông không chỉ là tòa lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn. Nhiều người từng than phiền văn Nguyễn Tuân cầu kì, rắc rối. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân tự nhận xét: “Ngôn ngữ của Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng. Đọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng. Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được” (Đôi tri kỉ gượng). Nay ngôn ngữ Nguyễn Tuân là ngôn ngữ của một công dân đầy trách nhiệm trước một nước Việt Nam mới. Ông lái Nguyễn Tuân đã chở con đò chữ không chỉ bằng bàn tay khéo dùng từ, đặt câu mà còn bằng tình yêu tha thiết thiên nhiên và con người lao động xây dựng cuộc đời. Xin chiêm ngưỡng tấm lòng thơ của nhà văn ẩn trong câu văn òa ập nỗi niễm này: “Nói chuyện với người lái đò, như càng lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông nước”.
Phân tích hình tượng Người lái đò sông Đà
2,462
Đề bài: Phân tích hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà Bài làm Thế giới nhân vật trên trang văn của Nguyễn Tuân thật đáng yêu vô cùng. Một cụ Kép, lông mày bạc, tóc bạc, râu bạc, thấp thoáng giữa vườn lan “nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự hoa thơm cỏ quý” (Hương Cuội). Một cụ Ấm thức dậy lúc mờ sáng, mang phong thái “một triết nhân ngồi tính bước đi của thời gian”. Trong ấm trà pha ngon, cụ đã “nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lí” (Chén trà sương). Một Huấn Cao tử tù chân vướng xiềng, cổ mang gông, vung bút viết lên tấm lụa bạch những chữ như rồng bay phượng múa, thể hiện “những cái hoài bão tung hoành của một đời con người” (Chữ người tử tù)… Và hình ảnh ông lái đò người Thái (Tây Bắc) có “tay lái ra hoa”. Đó là những con người cực kì tài hoa mang cốt cách nghệ sĩ. Phân tích tùy bút Người lái đò Sông Đà Trên thác đá đầy đủ tướng dữ quân tợn, những hút nước chết người, những yết hầu chật hẹp, lạnh lẽo và “sóng xô đá, đá xô gió” bỗng hiên ngang một người lái đò hùng dũng, oai phong như khắc như chạm. Bước vào cái tuổi 70, đầu tóc bạc trắng, thân hình ông lái đò vẫn đẹp như một pho tượng tạc bằng đá cẩm thạch. Nước da ánh lên chất sừng chất mun. Cánh tay rắn chắc trẻ tráng “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng”. Cặp mắt tinh anh, nhãn lực nhìn xa vời vợi. Trên ngực của ông nổi lên một số “củ nâu” thương tích trên “chiến trường Sông Đà” mà Nguyễn Tuân ngưỡng mộ gọi là “thứ Huân chương lao động siêu hạng”. Ông lái đò sông Đà này có “tay lái ra hoa” đã từng vượt qua bao trùng vây thạch trận, giao phong sinh tử với “lũ đá nơi ải nước”. Sau hơn mười năm chèo đò và chỉ huy một con thuyền có 6 mái chèo đã ngược xuôi sông Đà trăm chuyến, chở da trâu, xương hổ, chè, cánh kiến về xuôi, ông nắm vững từng con thác, cái ghềnh, nắm chắc binh pháp thần Sông, thần Đá. Không chỉ mang vẻ đẹp ngoại hình gắn với lao động sông nước, ở ông còn in đậm vẻ đẹp tâm hồn tính cách: Thứ nhất, thể hiện ở sự từng trải, giàu kinh nghiệm, có sự hiểu biết sâu sắc về luồng lạch trên sông Đà. Ông lái đò thể hiện sự hình thành “tính cách” của mình qua “trí nhớ ông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở. Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than chấm câu và những đọan xuống dòng ”.” Chính vì vậy “ông lái đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc qui luật phục kích của lũ đá”. Đó chính là hình ảnh của một con người gắn bó với lao động, yêu nghề sông nước, từng trải và giàu kinh nghiệm. Thứ hai, ở sự thông minh linh hoạt, dũng cảm như một viên tướng tài ba, như một nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác sông Đà. Cuộc sống của người lái đò sông Đà là một cuộc chiến đấu hằng ngày. Và ngày nào cũng phải giành những cái sống từ tay nhưng con thác. Vẻ đẹp này được ngòi bút NT thể hiện qua hình ảnh ông lái đò vượt thác: Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò là sự tài ba dũng mãnh của một vị thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm thủy chiến. Chất tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò là ở bản lĩnh chiến đấu và tinh thần dũng cảm phi thường. Cảnh vượt thác của ông lái đò đã thể hiện rõ vẻ đẹp và cốt cách ấy. Ở trùng vây thứ nhất, ông lái đò xung trận với khí thế nghênh chiến quyết thắng: “Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới”. Cảnh hỗn chiến ác liệt diễn ra. Những hòn đá “bệ vệ oai phong lẫm liệt” được nước thác “reo hò làm thanh viện” chúng liều mạng xông vào mà “đá trái” mà “ thúc gối vào bụng và hông thuyền… Có lúc chúng đội cả thuyền lên”. Nguy hiểm là vậy nhưng ông lái đò vẫn bình tĩnh “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng”. Ngay cả lúc bị con thủy quái này đánh miếng đòn hiểm nhất “bóp chặt lấy hạ bộ” đau điếng nhưng vị thuyền trưởng vẫn “ hai chân vẫn kẹp lấy cuống lái” dù mặt méo bệch vì đau đớn nhưng tiếng chỉ huy của ông vẫn sắc lạnh, tỉnh táo, đưa con thuyền thoát khỏi nguy hiểm. Thật là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có! Cao cường biết bao! Trùng vây thứ hai lại vô cùng hiểm trở, bố trí nhiều cửa tử hơn: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”. Ông lái đò bắt đầu cuộc tấn công bằng cách “nắm chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi” ông cho con thuyền “phóng nhanh vào cửa sinh mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy”. Bọn tướng đá, đứa thì “ông tránh mà rảo bơi chèo lên”, đứa thì bị “ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Cuối cùng ông thắng còn bọn đá tướng thất bại thảm hại đưa cái mặt “tiu nghỉu, xanh lè thất vọng”. Trùng vây thứ ba, bên phải bên trái đều là “luồng chết cả”. Đã vậy, còn bố trí “bọn đá hậu vệ” canh cửa hòng “bắt chết” cái thuyền. Ông lái đò mưu trí “phóng thẳng con thuyền”, “chọc thủng” trùng vây rồi “vút qua cổng đá cánh mở cánh khép”. Chiếc thuyền như một mũi tên tre “vút, vút” xuyên nhanh qua hơi nước. Thế là hết thác. Sông nước lại thanh bình. Qua đó, ta thấy ông lái đò oai phong lẫm liệt như một vị danh tướng, trí dũng song toàn, quyết đoán và quyết thắng. Đó là vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò được Nguyễn Tuân khám phá và ca ngợi. Những ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được tác giả sử dụng sáng tạo gợi lên cảm giác mãnh liệt đầy ấn tượng. Cảnh vượt thác là bài ca chiến trận hào hùng. Nguyễn Tuân đã tung ra một đội quân ngôn ngữ thật hùng hậu, đa dạng, biến ảo thần kì với liên tục những phép tu từ vô cùng sinh động: so sánh ngầm, nhân hóa, cường điệu … Câu chữ tuôn chảy ào ạt, điệp điệp trùng trùng tạo ra một bức tranh hòanh tráng. Nhà văn đã dụng tâm diễn tả cuộc chiến giữa ông lái đò với dòng sông theo hướng thọat đầu tưởng như không cân sức. Nhưng cuối cùng phần thắng đã thuộc về con người nhờ sự thông minh và dũng cảm. Cuộc vượt thác thật ngoạn mục, ông lái đò thực sự là một người nghệ sĩ tài hoa. Thứ ba, ở sự khiêm nhường, bình dị, phong thái ung dung mang cốt cách nghệ sĩ. Đối với người lái đò, hiểm nguy trên dòng sông cũng chính là một phần trong cuộc sống của ông. Khi vượt qua gian nguy, sóng nước lại tan xèo xèo trong trí nhớ “sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, và tòan bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh … Cũng chẳng thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua ”. Nhà văn như muốn nghỉ ngơi sau chặng đường dài cùng nhân vật của mình đua tranh tài trí với thiên nhiên hung dữ. Song qua giọng văn nhẹ nhàng, ta lại thấm thía thêm một vẻ đẹp của người lái đò. Đó là sự khiêm nhường, bình dị, ung dung bởi vì “ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ … ”. Cái phi thường đã trở thành bình thường. Phẩm chất chiến sĩ đã hòa quyện với phong thái tài tử, nghệ sĩ. Có thể nói Người lái đò sông Đà được miêu tả trong tác phẩm vừa có tư thế của một người lao động trí dũng, vừa có phong thái của một nghệ sĩ tài hoa. Hình tượng người lái đò thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân ở giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám: người lái đò dù là người lao động bình dị vẫn hiện lên với chất tài hoa, nghệ sĩ; để miêu tả vẻ đẹp của hình tượng, nhà văn sử dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau; ngôn ngữ sinh động, giàu hình ảnh… Qua hình tượng người lái đò, nhà văn tỏ thái độ yêu mến, tự hào và cảm phục trước những con người lao động bình dị vùng Tây Bắc, những con người mà nhàvăn gọi là “chất vàng mười” quí giá của Tổ quốc. Qua nhân vật người lái đò, Nguyễn Tuân cho rằng chủ nghĩa anh hùng đâu phải tìm kiếm đâu xa. Nó có trong cuộc sống tìm miếng cơm manh áo của nhân dân lao động. Những người bình dị có trí dũng tài ba họ có thể tạo hình tạc mẫu cho nghệ thuật.
Phân tích hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà
1,668
Đề bài: Phân tích hình tượng người lính qua một số bài thơ tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp Bài làm Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp trường kì gian khổ, thơ ca Việt Nam đã phát triển khá mạnh mẽ và thu được một số thành tựu đáng tự hào. Thơ kháng chiến phần nhiều viết về cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, trong đó miêu tả khá thành công hình ảnh người lính – nhân vật trung tâm của mộc kháng chiến. Dường như thơ ca đã cùng người lính ra trận, thơ ca góp phần động viên khích lệ họ vượt qua gian khổ chiến thắng kẻ thù. Sau cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, đội ngũ các nhà thơ Việi Nam xuất hiện một loạt cây bút trẻ. Bên cạnh những nhà thơ sáng tác trước Cách mạng, những thi sĩ của phong trào "Thơ mới", chúng ta thấy sự xuất hiện của Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Chính Hữu, Hồng Nguyên… Các nhà thơ này ít nhiều đều gián tiếp hoặc trực tiếp phục vụ trong quân đội. Họ có điều kiện thuận lợi để có thể viết đúng và viết hay về người lính. Phân tích hình tượng người lính qua một số bài thơ tiêu biểu Những năm đầu nhân dân ta cùng lên kháng chiến, như một lẽ tất nhiên, người lính – anh bộ đội được mọi người chú ý. Họ nhanh chóng trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến, trở thành niềm tin yêu và hi vọng của cả dân tộc. Tố Hữu đã nói hộ tình cảm của nhân dân đối với anh vệ quốc quân: Anh vệ quốc quân ơi Sau mà yêu anh thế! Sinh ra ở một đất nước nông nghiệp, họ vốn là những người nông dân mặc áo lính. Vì Tổ quốc, họ đành tạm biệt bến nước sân đình, nương dâu, bãi mía, ra đi chiến đâu. Ta hãy nghe lời tâm sự của hai chiến sĩ khi nói về quê hương mình: Quê hương anh nước mặn đồng chua, Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Họ ra đi, để lại nơi quê nhà người vợ trẻ một nắng hai sương, cày sầu cuốc bẫm, tích cực tăng gia sản xuất để phục vụ kháng chiến. Trần Hữu Thung đã khắc họa khá thành công hình ảnh anh vệ quốc quân nông dân qua trí nhớ của người vợ. Ngay buổi tòng quân rộn ràng tiếng trống, thấp thoáng bóng cờ, ngay phút tiễn đưa bịn rịn, anh vẫn không quên nhắc vợ: Ruộng mình quên cày xáo, Nên lúa chín không đều. Nhớ lấy để mùa sau, Nhà cố làm cho tốt. Cái chất nông dân thuần phác mới đáng quý làm sao, và chính nó sẽ tạo nét sức mạnh để anh vượt qua mọi khó khăn gian khổ chiến thắng kẻ thù. Bài thu Thăm lúa tuy không trực tiếp viết về anh bộ đội – người lính, nhưng người đọc vẫn cảm thấy hình ảnh đẹp đẽ gần gũi của anh trong tâm tưởng của người vợ, trong đồng lúa đang say hạt ở chốn quê nhà. Từ một dân tộc nô lệ, với giáo mác tầm vông, chúng ta vùng lên chọi lại xe tăng đại bác kè thù. Trong cuộc chiến đâu một mất một còn không cân sức này anh bộ đội đã là người trực tiếp chịu biết bao nhiêu hi sinh, gian khổ. Nửa thế kỉ sau, đọc lại những vần thơ dưới đây của Chính Hữu trong bài thơ Đồng chí, mấy ai trong chúng ta không cầm được nước mắt, không thán phục sức chịu đựng phi thường của những người nông dân mặc áo lính: Anh với anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai, Quần tôi có vài mảnh vá. Miệng còn cười buốt giá, Chân không giầy, Thương nhau tay nắm lấy bàn tay… Họ bao đêm ngủ ngoài rừng, trải lá cây làm chiếu, lấy manh áo làm chăn, lấy sức người chống chọi với thời tiết khắc nghiệt. (Đêm nay Bác không ngủ – Minh Huệ). Họ đã từng ở nơi rừng thiêng nước độc. Bởi vậy, không thể coi là cường điệu khi ta đọc những vần thơ viết về binh đoàn Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng. Sự thật ở binh đoàn này, rất nhiều chiến sĩ bị sốt rét, một viên kí ninh cũng không, đến nỗi nhiều người rụng hết tóc: Tây Tiến đoàn binh khônq mọc tóc Quân xanh màu lá giữ oai hùm. Trong số họ nhiều người đã vĩnh viễn nằm xuống ở nơi biên giới xa xôi, có tiếng gầm thét ghê người của sông Mã và có tiếng cọp trêu người (Tây Tiến – Quang Dũng), ở mức độ khác, Tố Hữu cũng đã từng nói đến cái gian khổ này của những người lính tham gia chiến dịch Điện Biên "năm mươi sáu ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non” trong bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên. Như vậy nói cho cùng, đâu có phải thơ ca viết về người lính trong kháng chiến chống Pháp chỉ nói về chiến công huy hoàng mà quên mất sự hi sinh mất mát của từng người chiến sĩ? Có điều, bởi ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, hình ảnh người lính trong thơ ca thời chống Pháp cũng chưa thể nói là đã được miêu tả một cách đầy đủ và toàn diện. Vượt lên trên mọi khó khăn gian khổ, người lính trong thơ ca thời chống Pháp có một tinh thần khắc phục khó khăn thật đáng quý. Nghe theo lời dạy của Bác kính yêu, nhân dân ta "ai có súng dùng súng" không có súng thì dùng cuốc xẻng, gậy gộc vùng lên chiến đấu. Những ngày đầu kháng chiến, với tinh thần sáng tạo, những nsười nông dân mặc áo lính đã: Lột sắt đường tàu Rèn thêm dao kiếm Áo vải chân không Đi lùng giặc đánh Hình ảnh của họ thật gần gũi với hình ảnh những người nghĩa quân Nam Bộ trong những ngày đầu quân Pháp đặt chân lên đất nước ta trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nổi tiếng của Nguyền Đình Chiểu. Trong những năm tháng gian lao ấy của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những anh vệ quốc quân đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, vào sinh ra tử có nhau. Tình đồng đội, tình đồng chí ngày thêm keo sơn gắn bó. Lúc thiếu thốn, khi ốm đau, tình đồng chí giúp cho họ thêm sức mạnh, "thương nhau tay nắm lấy bàn tay". Cảm động biết bao nhiêu mối quan hệ tốt đẹp của những người cùng chiến đâu vì lí tưởng giải phóng quê hương: Súng bên súng, đầu sát bên đầu. Đêm rét chung chăn thành đôi tri ki. Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu là một thành công nổi bật trong những bài thơ viết về người lính. Đời lính đâu có phải toàn có khói bom và thuốc súng. Với một tâm hồn rộng mở, trong sáng, người lính cũng có những phút giây, những kỉ niệm thật êm đẹp, thơ mộng. Giữa cảnh núi rừng mênh mông yên tĩnh ánh trăng vằng vặc, các anh phục kích chờ giặc tới, bỗng phát hiện ra "đầu súng trăng treo". Chỉ khi nào có tình yêu sâu sắc đối với quê hương đất nước, có tân hồn rộng mở mới thấy được vẻ đẹp nên thơ của đất trời, tạo vật. Trong đời lính còn có không ít những kỉ niệm làm ấm áp lòng người. Hồng Nguyên đã làm người đọc xúc động khi nhà thơ gợi lên được những sinh hoạt đời thường thật hồn nhiên của người lính từ việc: Kì hộ lưng nhau Ngang bờ cát trắng. Đến việc "Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa". Họ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, nên đương nhiên, giữa quân và dân có sự gắn bó sâu sắc. Có lẽ từ hiện thực đáng tự hào này mới có câu nói cửa miệng của mọi người "Quân với dân như cá với nước". Hoàng Trung Thông khắc hoạ thật sinh động không khí đầm ấm tươi vui của xóm nhỏ khi có đoàn chiến sĩ trở về: Các anh về mái ấm nhà vui, Tiếng hát câu cười rộn ràng xóm nhỏ. Các anh về tưng bừng trước ngõ, Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau. Mẹ già bịn rịn áo nâu, Vui đàn con ở rừng sâu mới về. Cùng với cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, càng ngày quân đội ta càng trưởng thành. Tố Hữu đã ghi lại được khí thế hào hùng của đoàn quân trên đường ra mặt trận vào những năm cuối của cuộc kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc: Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan. Núi rừng hiểm trở đã cùng người chiến sĩ đánh giặc. Lưng đèo dốc núi, ngọn suối, cửa rừng… đâu đâu trên đất nước Việt Nam ta cũng là tử địa của quân thù. Đằng sau người chiến sĩ chẳng những có nhân dân, có bà bầm, bà hủ. có người phụ nữ phá đường cản trở giao thông của giặc…, mà núi rừng cây cỏ cũng cùng các anh lập công. Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù Trong cuộc kháng chiến này, hình ảnh người lính đã hoà làm một với hình của dân tộc, cùa đất nước. Bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi khắc hoạ tàm vóc người lính ở ý nghĩa cao cả này: Ôm đất nước những người áo vải, Đã đứng lên thành những anh hùng. Để cho: Nước Việt Nam từ máu lửa, Rũ bùn đứng dậy sáng loà. Để đất nước có được tầm vóc cao đẹp ấy, biết bao chiến sĩ đã không ngần ngại gian khổ, hi sinh tạo nên chiến công chấn động địa cầu. Dưới đây là những hình ảnh chân thật của bộ đội ta ở chiến dịch Điện Biên Phủ mùa hè năm 1954: Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt, Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn. Những đồng chí thân chôn làm giá súng, Đầu bịt lỗ châu mai, Băng mình qua núi thép gai, Ào ào vũ bão… (Tố Hữu) Cái dữ dội của trận chiến đấu càng làm nổi rõ thêm hình ảnh lồng lộng của anh bộ đội Cụ Hồ. Ở anh kết tinh cao độ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Thơ chống Pháp đã xây dựng thành công hình ảnh người lính. Năm tháng trôi qua nhưng những bài thơ ưu tú viết về người lính trong giai đoạn lịch sử oanh liệt này vẫn còn sống mãi trong văn học Việt Nam. Hình ảnh người lính chiến đấu chống Pháp như một bằng chứng trong chặng đường đi lên phía trước của dân tộc ta.
Phân tích hình tượng người lính qua một số bài thơ tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp
1,838
Đề bài: Phân tích Hình tượng người lính trong đoạn thơ thứ ba của bài Tây Tiến Bài làm Quang Dũng đã dựng bức tượng đài về người lính vô danh trong khổ thơ thứ ba của bài thơ Tây Tiến. Ta có thể xem khổ thơ thứ ba này là những nét bút cuối cùng hoàn thiện bức tượng đài về chân dung người lính Tây Tiến hào hùng. Chân dung người lính hiện lên ở khổ thơ thứ 3 có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp tâm hồn, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất hy sinh anh dũng. Có thể nói cả bài thơ là một tượng đài đầy màu sắc bi tráng về một đoàn quân trên một nền cảnh khác thường. Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Chân dung đoàn binh Tây Tiến được chạm khắc bằng nét bút vừa hiện thực vừa lãng mạn. Các chi tiết như lấy từ đời sống hiện thực và khúc xạ qua tâm hồn thơ Quang Dũng để rồi sau đó hiện lên trên trang thơ đầy sức hấp dẫn. Dọc theo hành trình, vẻ đẹp hào hùng kiêu dũng cứ lấp lánh dần lên, đến khi ng¬ười lính Tây Tiến đối mặt với dịch bệnh, đối mặt với cái chết thì nó thật chói người, nét nào cũng sắc sảo lạ lùng và đầy lãng mạn: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Chữ dùng của Quang Dũng ở đây thật lạ. Nếu mở đầu đoạn thơ tác giả dùng từ “Đoàn quân” thì ở đây tác giả dùng “Đoàn binh”. Cũng đoàn quân ấy thôi nhưng khi dùng “Đoàn binh” thì gợi hình ảnh đoàn chiến binh có vũ khí, có khí thế xung trận át đi vẻ ốm yếu của bệnh tật. Ba chữ “không mọc tóc” là đảo thế bị động thành chủ động. Không còn đoàn quân bị sốt rét rừng lâm tiều tuỵ đi rụng hết cả tóc. Giọng điệu của câu thơ cứ y như là họ cố tình không mọc tóc vậy. Nghe ngang tàng kiêu bạc và thấy rõ sự bốc tếu rất lính tráng. Các chi tiết “không mọc tóc, quân xanh màu lá” diễn tả cái gian khổ khác thường của cuộc đời người lính trên một địa bàn hoạt động đặc biệt. Di chứng của những trận sốt rét rừng triền miên là “tóc không mọc” da xanh tái. Nhưng đối lập với ngoại hình tiều tụy ấy là sức mạnh phi thường tự bên trong phát ra từ tư thế “dữ oai hùm”. Với nghệ thuật tương phản chỉ 2 dòng thơ Quang Dũng làm nổi bật vẻ khác thường của đoàn quân Tây Tiến. Họ hiện lên như hình ảnh tráng sĩ trượng phu một thuở qua hai câu tiếp: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm “Mắt trừng” biểu thị sự dồn nén căm uất đến cao độ như có khả năng thiêu đốt quân thù qua ánh sáng của đôi mắt. Hình ảnh thơ làm nổi bật ý chí của đoàn binh Tây Tiến. ở đây người lính Tây Tiến được đề cập đến với tất cả thực trạng mệt mỏi, vất vả qua các từ “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”. Chính từ thực trạng này mà chân dung người lính sinh động chân thực. Thế nhưng vượt lên trên khó khăn thiếu thốn, tâm hồn ng¬ười lính vẫn cất cánh “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Câu thơ ánh lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến. Ban ngày “Mắt trừng gửi mộng” giấc mộng chinh phu hướng về phía trận mạc như¬ng khi bom đạn yên rồi giấc mộng ấy lại hướng về phía sau cũng là hướng về phía trước, phía tương lai hẹn ước. Một ngày về trong chiến thắng để nối lại giấc mơ xưa. ý chí thì mãnh liệt, tình cảm thì say đắm. Hai nét đẹp hài hòa trong tính cách của những chàng trai Tây Tiến. Quang Dũng đã dùng hình ảnh đối lập: một bên là nấm mồ, một bên là ý chí của những người chiến binh: Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gần lên khúc độc hành. “Mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng hoang lạnh. Những nấm mồ rải rác trên đường hành quân, nhưng không thể cản được ý chí quyết ra đi của người lính. Câu thơ sau chính là câu trả lời dứt khoát của những con người đứng cao hơn cái chết: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Chính tình yêu quê hương đất nước sâu nặng đã giúp người lính coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Khi cần họ sẵn sàng hy sinh cho nghĩa lớn một cách thanh thản bình yên như giấc ngủ quên. Câu thơ vang lên như một lời thề đúng là cái chết của bậc trượng phu: “áo bào thay chiếu anh về đất” Nếu như người tráng sĩ phong kiến thuở trước coi da ngựa bọc thây là lí tưởng thì anh bộ đội cụ Hồ ngày nay chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc một cách tự nhiên thầm lặng. Hình ảnh “áo bào” làm tăng không khí cổ kính trang trọng cho cái chết của người lính. Hai chữ “áo bào” lấy từ văn học cổ tái tạo vẻ đẹp của một tráng sĩ và nó làm mờ đi thực tại thiếu thốn gian khổ ở chiến trường. Nó cũng gợi được hào khí của chí trai “thời loạn sẵn sàng chết giữa sa trường lấy da ngựa bọc thây. Chữ “về” nói được thái độ nhẹ nhõm, ngạo nghễ của người tráng sĩ đi vào cái chết “Anh về đất” là hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng, người lính Tây Tiến trở về trong niềm chở che của đất mẹ quê hương, của đồng đội. Trở về với nơi đã sinh dưỡng ra mình. Trước những cái chết cao cả ở địa bàn xa xôi hẻo lánh sông Mã là nhân vật chứng kiến và tiễn đưa. Mở đầu bài thơ ta gặp ngay hình ảnh sông Mã, con sông ấy gắn liền với lịch sử đoàn quân Tây Tiến. Sông Mã chứng kiến mọi gian khổ, mọi chiến công và giờ đây lại chứng kiến sự hy sinh của người lính. Đoạn thơ kết thúc bằng khúc ca bi tráng của sông Mã. “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Dòng sông Mã là chứng nhân của một thời kỳ hào hùng, chứng kiến cái chết của người tráng sĩ, nó gầm lên khúc độc hành bi phẫn, làm rung động cả một chốn hoang sơ. Câu thơ có cái không khí chiến trận của bản anh hùng ca thời cổ. Câu thơ đề cập đến mất mát đau thương mà vẫn hùng tráng. Bốn câu kết: Bốn câu thơ kết thúc đ¬ược viết như¬ những dòng chữ ghi vào mộ chí. Những dòng sông ấy cũng chính là lời thề của các chiến sĩ vệ quốc quân. “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy” “Mùa xuân” có thể được dùng nhiều nghĩa: thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùa xuân 1947), mùa xuân của đất nước, mùa xuân (tuổi thanh xuân) của đời các chiến sĩ. Hình ảnh “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”, “chẳng về xuôi” bỏ mình trên đường hành quân “Hồn về Sầm Nứa”: chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn hợp đồng tác chiến với quân tình nguyện Lào chống thực dân Pháp, thực hiện lý tưởng đến cùng. Bởi vậy dù đã ngã xuống trên đường hành quân hồn (tinh thần của các anh) vẫn đi cùng với đồng đội, vẫn sống trong lòng đồng đội: Vang vọng âm hửơng văn tế của Nguyễn Đình Chiểu: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc.
Phân tích Hình tượng người lính trong đoạn thơ thứ ba của bài Tây Tiến
1,327
Phân tích hình tượng người lính tây Tiến trong đoạn 3 Hướng dẫn Phân tích hình tượng người lính tây Tiến trong đoạn 3 Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc tạc một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. Ở trong thơ Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian: “Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. “Tây Tiến” của Quang Dũng là dòng hồi ức vô cùng thương nhớ về những đồng đội của nhà thơ, những người đã từng sống, từng chiến đấu nhưng cũng có người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ yêu thương, nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên cương hay miền viễn xứ. Chính vì thế Quang Dũng không chỉ dừng lại cả một hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến trên những chặng đường hành quân gian khổ hy sinh mà “đời vẫn cứ tươi” như ở 14 dòng thơ đầu tiên. Và Quang Dũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân. Quang Dũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dân tộc. Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ: “Tây Tiến đoàn quân ….. khúc độc hành” Bức tượng đài người lính Tây Tiến trước hết được khắc họa lên từ những đường nét nhằm tô đậm cuộc sống gian khổ của họ. Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong đoàn quân mỏi trong câu: ” Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ” Hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của Quang Dũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể mọc được (chứ không phải họ cố tình cạo trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá ngụy trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tụy. Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ dũng mãnh như hổ báo, hùm beo. “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” Không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. Ở đây, nhà thơ không chỉ muốn nói rằng những người lính Tây Tiến như chúa sơn lâm, không phải muốn “động vật hoá” người lính Tây Tiến mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ: “Hoành sóc giang san cáp kỷ thu Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu” Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết “Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu Thể diện sài long xâm lược quân” Có thể nói Quang Dũng đã sử dụng một mô típ mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ mang âm vang của lịch sử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dân tộc. Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” Ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông A. Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi Quang Dũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tổ quốc, hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về Hà Nội. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ thuở mang gươm đi mở nước Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ. Nếu chỉ đọc từng câu thơ, chỉ phân tích từng hình ảnh riêng rẽ độc lập, người ta dễ cảm nhận một cách bi lụy về cái chết của người lính mà thơ ca kháng chiến thuở ấy rất ít khi nói đến. Bởi thơ ca kháng chiến phần lớn chỉ quan tâm đến cái hùng mà không quan tâm đến cái bi. Nhưng nếu đặt các hình ảnh, các câu thơ vào trong chỉnh thể của nó, ta sẽ hiểu Quang Dũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng. Có thể thấy câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” nếu tách riêng ra rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết, về nấm mồ của người lính Tây Tiến ở nơi “viễn xứ”. Từng chữ từng chữ dường như mỗi lúc một nhấn thêm nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ. Chẳng phải thế sao? Nói về những nấm mồ, lại là những nấm mồ “rải rác” dễ gợi sự hoang lạnh, lại là “rải rác” nơi “viễn xứ”, những nấm mồ ấy càng gợi sự cô đơn côi cút. Quang Dũng muốn nói tới nơi yên nghỉ của những người đồng đội: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Trong Chinh phụ ngâm: “Hồn tử sĩ gió về ù ù thổi Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn” Tuy nhiên với câu thơ thứ hai, ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải rác nơi biên cương đã trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của nhân dân, của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ của những người con anh dũng: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Đồng thời cũng chính câu thơ thứ 2 đã làm cho những nấm mồ rải rác kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng niệm, của Tổ quốc đối với người lính đã vì tiếng gọi của chiến trường mà hiến dâng tuổi xanh của mình. Trong thơ Quang Dũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh như vậy. Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ: “áo bào thay chiếu anh về đất” Bao nhiêu thương yêu của Quang Dũng trong một câu thơ như vậy về một đồng đội của mình. Ai bảo Quang Dũng không xót thương những người đồng đội của mình ra đi trong cách tiễn đưa ấy, cảnh tiễn đưa với bao thiếu thốn, khó khăn, cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó khăn nên tiễn đưa người chết không có cả một chiếc quan tài. “Ở đây không manh ván Chôn anh bằng tấm chăn Của đồng bào Cứa Ngàn Tặng tôi ngày sơ tán” Chỉ có điều câu thơ của Quang Dũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm, cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc chiếu cũng không có, chỉ có chính tấm áo của người lính. Dù hiểu theo cách nào thì cũng phải thấy Quang Dũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất nước, với núi sông. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích hình tượng người lính tây Tiến trong đoạn 3
1,853
Phân tích hình tượng người người nghệ sĩ trong bài văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Hướng dẫn Phân tích hình tượng người người nghệ sĩ trong bài văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một tác phẩm đỉnh cao sáng tác của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu, bởi nó biểu hiện cao độ nhất, sâu sắc nhất tư tưởng yêu nước, thương dân của ông. Với long cảm thương và khâm phục chân thành, nhà thơ đã xây dựng nên một tượng đài nghệ thuật bất hủ về người anh hùng nghĩa sĩ nông dân trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Có thể nói bài văn tế là khúc ca bi tráng ca ngợi người nghệ sĩ nông dân đã xả thân vì sự tồn vong của đất nước. Vẻ đẹp đầu tiên ở họ là tinh thần tự nguyện đánh giặc, vốn là những người dân cày quanh năm côi cút làm ăn, điều lo toan hằng ngày của họ là làm sao cho đủ ăn, đủ mặc, đừng đói khổ, rách rưới. Họ biết thân phận mình là mọn trong xã hội, ngoài sưu thuế phải nộp cho đủ, họ đâu dám nghĩ đến công to việc lớn. Quốc gia đại sự là của vua quan và triều đình. Vậy mà giờ đây, giặc lang sa tràn qua cướp nước, gieo rắc tanh hôi. Đã ba năm mà mặt mũi quan quân chẳng thấy ở đâu, có chăng nữa chỉ là lũ hèn nhát chạy dài. Cảnh tượng đó khiến họ không thể bưng tai, bịt mắt làm ngơ, long yêu nước hun đúc từ ngàn năm trong huyết quản sôi sục, họ tự nguyện đứng lên đánh giặc. Họa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ. Kẻ đâm ngang, người chém dọc,làm cho mã tà ma ní hồn kinh,….Quả là tuyệt vời! Ai đó đã dùng một cách nói rất đắt là hình tượng người nghĩa sĩ nông dân cực nhọc, nghèo khó đã hiện lên thành một hình ảnh anh hùng lồng lộng giữa chiến trường, làm chủ trận chiến, áp đảo tất cả. Lưỡi dao phay, ngọn tầm vong của họ đâm ngang, chém dọc, tung hoành, hiên ngang chiếm cả không gian trận địa, làm cho giặc hồn kinh, phách lạc. Tiếng hò, tiếng ó của họ át cả tiếng đại bác của tàu thiếc, tàu đồng. Rơm con cúi, lưỡi dao phay cũng đốt xong đồn giặc. Đoạn văn đầy những động từ, những cụm động từ miêu tả hành động mãnh liệt, hào khí bừng bừng…Trước những con người anh hùng đấy, quân giặc hung dữ với súng đạn nghênh ngang đều như co rúm lại, thấp bé, tồi tàn đến thảm hại. Có thể nói hình bóng người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc nổi lên trên nền trời rực lửa, sừng sững như một tượng đài kì vĩ. Và cảm xúc chủ đọa của bài văn tế này chính là cảm xúc bi tráng, lời văn rắn rỏi, âm điệu sôi sục, dồn dập. Nghệ thuật đối đã phát huy hiệu quả cao nhất của nó. Tất cả hợp thành một âm điệu chiến đấu hào hùng, phấn khích của một thiên anh hùng ca tuyệt diệu. Ngòi bút của tác giả hoàn toàn xứng đáng với hành động cao cả của người nghĩa sĩ nông dân, với những tư tưởng cực kỳ lớn lao mà tác giả đã phát hiện ra trong hành động tự nguyện giết giặc cứu nước của họ.
Phân tích hình tượng người người nghệ sĩ trong bài văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.
617
Đề bài: Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Bài làm Trong văn học, phải đến thế kỉ XIX khi Nguyễn Đình Chiểu – một nhà nho yêu nước dùng con mắt yêu thương và kính phục để viết nên “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” thì hình ảnh người nông dân mới thực sự xuất hiện. Đó là hình tượng đẹp, rất đỗi chân thực và đầy chất bi tráng, vừa hào hùng, vừa đau thương trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do của đất nước. Những người nông dân ấy, họ sinh ra đâu phải để làm chàng Gióng Phù Đổng, Lê Lợi, Quang Trung… Họ chỉ là những con người quanh năm khoác trên mình màu áo nâu của đất, bình dị và lam lũ. Nhưng họ xuất hiện trong khung cảnh bão táp của thời đại: Hỡi ôi! Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ Họ đâu đã quen nghi tiếng súng. Âm thanh ấy đã phá tan cuộc sống bình lặng của họ. Một cuộc sống từ sáng đến tối bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, một cuộc sống chật vật với những lo toan nghèo khó. Cái nghèo đã làm họ thật nhỏ bé suốt ngày “cui cút làm ăn”.. Chỉ một câu văn, cụ Đồ Chiểu đã vẽ nên vòng đời luẩn quẩn không lối thoát của người dân Việt, người “dân ấp dân lân” Nam Bộ, bắt đầu với cui cút, vật lộn làm ăn để cuối cùng vẫn kết thúc trong nghèo khó. Đằng sau luỹ tre làng ấy, họ biết sao được những “cung ngựa”, “trường nhung”.. trong cái nhìn của họ chỉ có “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Đến việc cuốc, việc cày, bừa, khiên đã quá quen thuộc thì giờ tập khiên, tập súng.. thật lạ lẫm. Những tưởng họ mãi cam chịu như thế. Nhưng không, khi quân xâm lược đã xâm chiếm đất nước, chúng đang giày xéo lên từng mảnh ruống, từng đám đất quê hương ruột thịt của họ. Giờ đây, trong những “lo toan” không chỉ có đói nghèo mà còn là những thấp thỏm, lo âu: “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa…” Thấy “mùi tinh chiên vấy vá” không thể chống mắt đứng nhìn, không thể ngồi yên mà đợi. Triều đình đã “bỏ rơi” họ, nhưng làm sao ngăn được tình yêu đất nước nồng nàn ở họ. Bọn xâm lăng kia đã cướp đi những gì máu thịt của họ, chúng phá vỡ giấc bình yêu nơi thôn quê, làm sao không căm cho được. Nỗi uất hận đển tột cùng ấy đã biến những con người nhỏ bé tầm thường thành chàng Gióng khổng lồ trong cổ tích. Khi Tổ quốc lầm than, họ không ngần ngại chung vai góp sức. Lòng yêu nước đã biến thành lòng căm thù giặc đến sôi sục: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan. Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắng đuổi hươu Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó” Lòng yêu Tổ quốc tha thiết xuất phát từ trái tim đã khiên họ trở nên đẹp đẽ, lấp lánh… Dòng máu Lạc Hồng cuộn chảy trong người cùng với cơn giận của lòng yêu nước mạnh hơn yếu hèn, mạnh hơn cái chết. Khát vọng đánh giặc, khát vọng chiến đấu, khát vọng bảo vệ mảnh đất quê hương đã thôi thúc họ, mặc việc “đợi tập rèn”, “ban võ nghệ”, “bày bố binh thư”, không màng tới trên mình chỉ có “một manh áo vải”. Các chàng Gióng của thế kỉ XIX đã đến, “đạp rào lướt tới”, coi giặc cũng như không. Hỡi ôi, “một manh áo vải”, “một ngọn tầm vông”, chỉ có “lưỡi dao phay”, “rơm con cúi”, liệu có thể thắng được “tàu chiến tàu đồng”,” đạn nhỏ đạn to”. Đó là bi kịch của nghĩa sĩ Cần Giuộc hay chăng là tấn bi kịch của thời kì nghiệt ngã ấy. Họ là nông dân nhưng lại làm kinh ngạc cả chiến trường. Phải chăng cũng vì lẽ đó mà bản hùng ca đã cất lên trong tiếng nấc lòng. Có thể trận mạc đã vĩnh viễn cướp đi cuộc sống của họ, nhưng tinh thần xả thân vì nghĩa đã bù đắp cho sự thiếu hụt về lực lường, chênh lệch với kẻ thù “Chi nhọc quan quản Gióng trống kì trống giục…. súng nổ” Hình tượng của người nghĩa sĩ áo vải được khắc nổi trên cảnh u ám khói bom ấy: những âm thanh vang động (hè trước, ó sau…) những động tác quyết liệt (đốt, chém…). Những người nghĩa sĩ áo vải đã trở thành đấng anh hùng của một thời kì đáng nhớ. Trong tư thế quật cường ấy, lấp lánh chân dung của những con người gánh trên vai vận mệnh của non sông. Họ biết rằng mình chỉ là vô danh trong dân tộc anh hùng nhưng điều cao cả nhất họ để lại là triết lí sống phù hợp đến muôn đời: “Thà thác mà đặng câu định khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn mà c chịu chữ đầu Tây ở với man di rất khổ” Tinh thần ấy, ý chí ấy vẫn chói lòa trong mỗi người dân Cần Giuộc. Sống để chịu nô lệ, tay sai của Tây thì thà một lần chiến đấu hết mình mà đem vinh quang cho dân tộc. “Ôi thôi thôi!” Một tiếng khóc đầy ai oán, tiếng khóc đến quặn lòng, tiếng khóc để tiễn biệt những người con Cần Giuộc mãi mãi nằm lại trên mảnh đất quê hương. Họ ngã xuống nới chiến trường khói lửa. Vẫn còn đó nghiệp nước chưa thành, thấp thoáng nơi đây bóng mẹ già với ngọn đèn le lói trong đêm “Đau đơn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều! Vợ yếu chạy tìm chống, cơn bóng xế dật dờ trứơc ngõ” Người tử sĩ đã về chốn thiên cổ để lại giữa trần gian mẹ già, vợ yếu, con thơ… Mai đây họ sẽ ra sao khi cái nghèo vẫn còn đeo đuổi, khi mà nợ nước trả chưa xong.. “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo thương vì hai chữ thiên dân, cây hương nghĩa sĩ thắp đèn thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ” Nguyễn Đình Chiểu đã bằng tấm lòng đồng cảm để nhìn thấy, nghe thấy và dựng nên một tượng đài hoành tráng mà mộc mạc, yêu thương. Xuyên suốt trong nền văn học nước nhà hình ảnh người nông dân đã được đề cập khá nhiều lần. Nhưng trước Đồ Chiều thì chưa một ai công khai vẽ lên và ngợi ca hình ảnh người anh hùng “chẳng qua là dân ấp dân lân mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Hơn thế nữa, việc thổi vào văn chương chất dân gian đã khiến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của cụ trở thành áng văn vừa hào hùng, bi tráng mà cũng rất gần gũi, giản dị. Cụ Đồ Chiểu chỉ là nhà thơ mù – “người hát rong của nhân dân”. Nhưng hình ảnh người nông dân khởi nghĩa trong bài văn tế đã cho ta cái nhìn về cả một thời đại. Tự hào thay những con người nhỏ bé nhưng vẫn hiên ngang trước thế lực bạo tàn. Tự hào thay những người dân, người lính, nghĩa sĩ vô danh trùng trùng điệp điệp ngã xuống để bảo vệ sự toàn vẹn cho non sống. Họ là bức tượng đài bất tử, lưu mãi tới muôn đời.
Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
1,293
Đề bài: Phân tích hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ qua Tự Tình II và Thương vợ Bài làm Đã từ lâu, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa đã xuất hiện nhiều qua những câu ca dao với những vẻ đẹp, hình tượng khác nhau. Nhưng ở họ đều có chung đức tính truyền thống đẹp đẽ mà dân tộc Việt Nam đã tích luỹ được qua hàng ngàn năm lao động và đấu tranh. Hình ảnh đó cũng được thể hiện rất tài tình qua hai bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương và Thương Vợ của Trần Tế Xương. Hình ảnh đầu tiên của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua hai bài thơ đó là hình tương người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau khổ, vất vả trong cuộc sống. Đó là hình ảnh bà Tú vất vả, gian truân kiếm sống, tất bật ngược xuôi “Quanh năm buôn bán ở mom sông”. Câu thơ đã nói lên một hoàn cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà. Ở đây, bà Tú làm việc vất vả suốt cả năm, không kể mưa nắng trên mom sông- cái doi đất nhô ra đầy nguy hiểm. Thấm thía nỗi vất vả, gian truân của vợ, Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cà trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương con tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian mà còn là rợn ngợp của thời gian. Hình ảnh thân cò như một sự sáng tạo: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” đưa từ lặn lội lên đầu câu, thay con cò bằng thân cò cũng làm tăng thêm nỗi vất vả, gian truân của bà Tú, càng khơi dậy cả nỗi đau thân phận sâu sắc, thấm thía hơn: “Eo sèo mặt nước buổi đò đông” Câu thơ gợi nên một sự chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ, sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng mà đó còn là sự chen lấn, xô đẩy chứa đầy bất trắc, nguy hiểm. Những câu thơ đã làm nổi rõ lên những vất vả, cực nhọc mà bà Tú và người phụ nữ Việt Nam xưa phải chịu đựng, trải qua. Còn với bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương thì đó là sự khổ đau vì không làm chủ được số phận của mình: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non.” Mở đầu là một âm thanh vang vọng, đầy hối hả: Trống canh dồn. Nhưng dù mãnh liệt đến mấy, tiếng trống cũng chỉ là âm thanh duy nhát trong đêm vắng, nếu không có nó thì đem khuya sẽ trở nên vô cùng vắng lặng. Cái động đã đươc sử dụng để tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm khuya. Nửa đêm là thời gian sum họp của vợ chồng, là thời điểm hạnh phúc lứa đôi, ấy vậy mà lại có người phụ nữ tĩnh dậy vào đúng thời khắc thiêng liêng ấy, hay vì cả đêm người phụ nữ đã không ngủ được vì thiếu vắng một điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi đau? Tiếng trống canh âm vang từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau, gọi đến một điều đáng sợ đôí với một người đàn bà vẫn còn thân đơn gối chiếc: đó là tuổi già. Tuổi già càng đến gần nghĩa là hi vọng càng tuột xa, mọi mong mỏi, khát khao càng trở nên vô vọng. Tiếng trống dồn dập cứ xoáy sâu vào tâm con người phụ nữ, nó âm vang trong tâm tưởng, âm vang trong suy nghĩ không tài nào dứt được. Dồn dập, hối hả, tiếng trống không chỉ bao trùm lên không gian mà còn lên cả thời gian nữa, và tự hỏi: đây có thật là tiếng trống hiện hữu trong thực tại hay phải chăng đó là tiếng trống cất lên từ tiếng lòng thổn thức của tác giả, tiếng trống ám ảnh về một bi kịch đang ngày càng đến gần hơn với bà: “Trơ cái hồng nhan với nước non” Khi thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập thì cũng là lúc “hồng nhan” ngày một trơ ra với đời. “Hồng nhan” chính là nhan sắc, gương mặt xinh đẹp của người phụ nữ. Đó là điều mà bất cứ người phụ nữ nào cũng hết sức tự hào, coi trọng, nâng niu. Nhưng từ “cái” gắn liền với “hồng nhan” như một hòn đá kéo nặng cả câu thơ xuống. “Hồng nhan” để làm gì khi nữa đêm phải tĩnh giấc trong cái trống trãi, lặng lẽo đến đắng cay? “Hồng nhan” để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cữu mà sẽ nhanh chóng vỡ tan theo từng nhịp trống dồn. Câu thơ như lời đay nghiến, mỉa mai chính bản thân mình, đáng thương cho những người phụ nữ đương thời bị đè nén, áp bức với những thủ tục phong kiến đến mức xơ xác, héo mòn cả một phận hồng nhan. Đó còn là nỗi đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi, không người yêu thương, thông cảm. “Chén rượi hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” Hai câu thơ vẽ nên một khung cảnh rất thật và cũng chứa chan bao nỗi niềm tác giả. Một người phụ nữ mà phải ngồi uống rượu một mình, cô đơn với đêm khuya, với vầng trăng lạnh. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng với người. Khi muốn quên sầu là lúc người ta ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi xung quanh không có ai để có thể chia sẽ nỗi niềm và ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong men rượu, một mình. Nhưng liệu chén rươu có thể làm quen đi bảo nỗi cô đơn, tủi nhục trong lòng hay Hồ Xuân Hương uống rượu mà như uống đi bao giọt sầu mà người uống chẳng đổ đi được khi mà có thể lặng lẽ, âm thầm nuốt vào cổ họng, để đau khổ cũng chẳng mất đi đâu mà trở lại chính trong tâm trí mình. Ở đây cảnh tình Xuân Hương được thể hiện chứa đựng bi kịch. Tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không được trọn vẹn.Trăng vốn là biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước mơ và hi vọng. Nhưng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương lại xót xa đến mức “khuyết chưa tròn”- một hạnh phúc không hề trọn vẹn, một cuộc đời còn dang dở, éo le với những trắc trở trong tình duyên. Hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng khuyết mà bà không thể biết trước ngày mai trăng sẽ khuyết tiếp hay tròn. Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong đó một nỗi cô đơn, trống vắng. Và bóng xế đi kèm với trăng lại gợi nên một nỗi niềm trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang mất đi. Trăng đã xế mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang mất đi mà tình duyên chuă được trọn vẹn. Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ vô cùng độc đáo và đặc sắc, miêu tả chính xác và vô cùng sinh động ngoại cảnh mà cũng bộ lộ được tâm cảnh, những suy nghĩ, tâm tư đang hiện hữu trong bà. Nhưng dù có vất vả, đau xót, chán chường đến mức nào, thì người phụ nữ Việt Nam xưa vẫn là những con người có những phẩm chất đẹp đẽ, không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn là ở tình yêu thương, lòng nhân hậu, một lòng, một dạ vì chồng, vì con: “Nuôi đủ năm con với một chồng” Câu thơ là gánh nặng gia đình đặt lên vai bà Tú, vất vả quanh năm chẳng nề hà như vậy là để nuôi cả nhà. Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà còn phải nuôi chồng. Năm con với một chồng là sáu người. Một phải gánh sáu, thế là nặng, phải gánh và gánh được, thế là đảm đang. Nhưng nuôi đủ vẫn hiểu là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. Vất vả quanh năm đến vậy mà cũng chỉ vừa đủ nuôi chồng, nuôi con, vậy mới thật là vất vả, đã gắng hết sức rồi. Vậy mới thật là đảm, nặng đến thế mà cũng gánh xong, khó thế mà cũng chu toàn. Câu thơ thể hiện sự vất vả, gian lao đức tính chịu thương, chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của bà Tú nói riêng và của người phụ nữ Việt Nam nói chung. Còn với Tự Tình II, dù đớn đau đến mức nào thì trong sâu thẳm trái tim bà, dù yếu ớt đến đâu cũng loé lên ánh lửa khát khao, hi vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống của mình: “Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.” Một hình tượng thiên nhiên dữ dội, đầy cựa động như tính cách buớng bỉnh, không chịu khuất phục điều gì của chính tác giả vậy. Ở đây, Hồ Xuân Hương, sự buồn tủi bao giờ cũng gợi nên những phản ứng tích cực, bà không buông xuôi, đầu hàng mà luôn cố gắng tìm cách thay đổi vận mệnh, cho dù những cố gắng đó mới chỉ dừng lại trong suy nghĩ. Hai câu thơ tưởng như chỉ miêu tả cảnh vật xung quanh, nhưng chính những đặc điểm cuả cảnh vật đó đã được dùng để bộc lộ tâm trạng của con người. Hàng loạt những động từ mạnh đầy sắc thái biểu cảm như xiên, đâm được đảo lên đầu câu. Những sinh vật bé nhỏ, hèn mọn, còn hèn mọn hơn cả “nội cỏ hoa hèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu. Nó phải mọc xiên, mà là “xiên ngang mặt đất”. Đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, nó phải “đâm toạc chân mây”. Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ trong hai câu dã làm nổi bật sự phẫn uất của thân phận đất đá, cỏ cây mà cũng là sự phẫn uất của tâm trạng. Chỉ những cảnh vật bình thường không có gì đặc biệt như rêu và đá, nhưng qua cách nhìn đấy bất mãn, ấm ức của tác giả, chúng trở nên vô cùng sống động. Cự động, nổi loạn, phá phách, muốn đập tan những gì gò bó đẻ dược tự do vùng vẫy giữa đất trời, thiên nhiên hoà hợp với con người, đặc điểm thiên nhiên cũng chính là nỗi niềm nhân vật. Và ta cũng thấy được tâm trạng của Hồ Xuân Hương phẫn uất trước những tục lệ phong kiến, cũng như những số phận hẩm hiu đang tàn nhẫn ra tay bóp chết hạnh phúc của bà; những uất hận ấy bị đè nén, gò ép trong lòng bà đến mức không chịu nổi chỉ chực vỡ oà ra, bà khao khát muốn đập tung tất cả, muốn đập đổ mọi thứ, muốn tự do biết nhường nào. Nhưng dù sao, bà cũng chỉ là một người phụ nữ phong kiến, một thân phận nữ nhi cô độc, dù phá phách, dù nổi loạn đến đâu thì cũng chỉ trong giới hạn ngôn từ. Bà không thể làm gì hơn được nữa………….. Mặc dù vậy, ta phải công nhận đay là một cách suy nghĩ vô cùng mới mẻ, một tư tưởng đi trứoc thời đại, một tính cách hoàn toàn khác biệt so với người phụ nữ lúc bấy giờ. Đó là một bản lĩnh, một cá tính Xuân Hương đáng trân trọng: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con” Ngán là chán ngán, là ngán ngẩm. Hồ Xuân Hương ngán lắm rồi nỗi đời éo le, bạc bẽo. Xuân đi rồi xuân lại, tạo hoá chơi một vòng luẩn quẩn. Từ xuân mang hai nghĩa, vừa là mùa xuân, vừa là tuổi xuân. Mùa xuân đi rồi, mùa xuân trở lại với thiên nhiên, với muôn nghìn hoa cỏ, lá cây, nhưng với con người tuổi xuân qua là không bao giờ trở lại. Hai từ “lại” trong cụm từ “xuân đi xuân lại lại” mang hai ý nghĩa khác nhau. Từ lại thứ nhất nghĩa là thêm lần nữa, từ lại thứ hai nghĩa là trở lại. Sự trở lại của mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Nghệ thuật tăng tiến làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: Mảnh tình-san sẻ-tí con con. Mảnh tình đã bé lại còn san sẻ ra thành ít ỏi, chỉ còn tí con con nên càng xót xa, tội nghiệp. Câu thơ được viết ra có thể là tâm trạng của người mang thân đi làm lẽ. Đau xót biết mấy, khi mảnh tình là một thứ được chia năm xẻ bảy, nhận dược duy nhất một mảnh tí con con. Hạnh phúc của bà chẳng những không trọn vẹn mà còn nhỏ bé, ít ỏi đến mức độ tội nghiệp. Tình duyên như thế có để làm gì, chỉ càng thêm tủi nhục, đắng cay. Cách dùng từ giản đơn mà vẫn vô cùng độc đáo đã cực tả nỗi niềm của tác giả. Hồ Xuân Hương ngang tàng, thách thức đầy nổi loạn trên là thế, nhưng cuối cùng tất cả vẫn chỉ chìm vào vô vọng trong sự bất lực tột cùng và chán chường, mệt mỏi. Những cố gắng vùng vẫy của bà chỉ là vô ích, bởi phận của bà vốn đã là một bi kịch và mãi mãi chỉ là bi kịch mà thôi. Có lẽ trong giờ phút ấy, bà đã muốn buông xuôi, muốn bỏ mặc cho tất cả số phận đưa đẩy, bà đã mất hết hi vọng………… “Giọt nước mắt em……….âm thầm buông rơi, đêm sầu đơn côi………..trong tim em ôm trọn một nỗi sàu bơ vơ…………….đành khóc vậy thôi…………… Liệu Hồ Xuân Hương có thể vượt qua tất cả để trở lại là một người phụ nữ yêu đời mạnh mẽ, không sợ gì cả như ngày nào? Đó vẫn là câu hỏi còn dở dang của người phụ nữ đem thân đi làm lẽ, phận người mà hạnh phúc không bao giờ trọn vẹn mà chỉ nhỏ nhoi như mảnh gương vỡ……… Câu thơ diễn đat sâu sắc đỉnh điểm, bi kịch của Hồ Xuân Hương và cũng là của người phụ nữ thời bấy giờ. Đó là những hiện thân cho những khổ đau của con người trong xã hội xưa, đồng thời là kết tinh của những đức tính tốt đẹp của ngưòi phụ nữ Việt Nam qua hàng thế kỉ. Trong cả hai bài thơ là hình tượng người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau đớn, tủi cực dưới chế độ phong kiến nhưng ở họ toát lên sự đấu tranh mạnh mẽ, vượt lên số phận để làn tốt bổn phận của một người phụ nữ trong gia đình, một người phụ nữ dám vượt lên trên đớn đau để tìm hạnh phúc mà mình hằng khao khát.
Phân tích hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ qua Tự Tình II và Thương vợ
2,638
Phân tích hình tượng người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Hướng dẫn Phân tích hình tượng người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa 5 (100%) 1 đánh giá Bài làm Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn. Truyện ngắn này lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn in năm 1987. Trong tác phẩm, nhân vật người đàn bà hàng chài chính là tâm điểm trong câu chuyện của Phùng. Nhân vật này chủ yếu xuất hiện trong phát hiện thứ hai của Phùng về chiếc thuyền chài lưới và xuất hiện trong chính câu chuyện cuộc đời chị kể ở toà án huyện. Qua đó, cuộc đời, số phận, tính cách, cảnh ngộ của chị gây xúc động, trăn trở mạnh mẽ không chỉ với tác giả mà còn với người đọc. Người đàn bà có vẻ ngoài xấu xí, thô kệch và một: “vốn là đứa con gái xấu lại rỗ mặt sau một bận lên đậu mùa”. Người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn này đâu có được cái nhan sắc “trời phú”, chị ta xấu xí, khuôn mặt rỗ càng khó nhìn hơn khi chị ta bước sang cái tuổi trạc ngoài 40. Bên cạnh đó số phận kém may mắn: Trong câu chuyện về cuộc đời mình, chị đã nhận thức được rất rõ sự kém may mắn của mình: “cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai của một hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới”. Đồng thời, tác giả cũng khắc họa rõ nét về cuộc đời lam lũ, vất vả của người đàn bà làng chài. Tính cách: Một người đàn bà cam chịu, nhẫn nhục. Hành động và lời nói của người chồng:“trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ, đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Trước hành động rất tàn bạo của người chồng, người đàn bà hàng chài đã không hề kêu một tiếng, không chống trả cũng không tìm cách chạy trốn. tích hình tượng người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Người đàn bà ấy giàu lòng tự trọng. Chồng đánh như vậy, chị ta đâu có khóc. Nhưng chỉ sau khi biết được hành động vũ phu của chồng đã bị thằng Phác và người khách lạ (nghệ sĩ Phùng) phát hiện chị lại cảm thấy đau đớn, vừa đau đớn, vừa vô cùng xấu hổ và nhục nhã. Nhiều khi, sự đau đớn do đòn roi không thể làm con người ta bật khóc, điều này đúng trong trường hợp của người đàn bà hàng chài. Những giọt nước mắt đau đớn chứa đựng biết bao sự nhọc nhằn chỉ thực sự rơi khi thấy đứa con yêu của mình chứng kiến cảnh tượng mình bị chồng đánh, chỉ thực sự rơi khi có người khách lạ chứng kiến Nguyễn Minh Châu đã dụng công nhấn vào sự thay đổi ngôn ngữ và tâm thế của người đàn bà hàng chài. Ban đầu, khi gặp chánh án Đẩu, chị còn xưng “con” và có lúc đã van xin, “con lạy quý tòa”… “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Nhưng khi thấy Phùng xuất hiện, đang cúi gục lập tức người đàn bà hàng chài ngẩng lên, nhìn thẳng, “ chị cám ơn các chú…. Lòng cách chú tốt nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Vẻ bề ngoài khúm núm, sợ sệt, điệu bộ khác, ngôn ngữ khác đã làm cho cả Đẩu và Phùng hết sức ngạc nhiên. Người đàn bà hàng chài kia không hề giản đơn như Đẩu và Phùng nghĩ. Thì ra, cái nghề chài lưới trên một chiếc thuyền vó bè lênh đênhh không thể thiếu bàn tay và sức lực của người đàn ông. Để duy trì sự tồn tại cho cả gia đình thì họ phải hợp sức lại mà làm quần quật để nuôi một đàn con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Tình cảnh của người đàn bà hàng chài kia cũng như của bao gia đình hàng chài khác, trừ phi chị nói “giá tôi đẻ ít đi hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rông hơn” Trong câu chuyện kể về cuộc đời mình, người đàn bà hàng chài kia đã chấp nhận đau khổ, coi nỗi khổ vận vào đời mình như một lẽ đương nhiên. Chị sống cho con chứ không phải là sống cho mình. Nếu những phụ nữ trên các thuyền khác chấp nhận người đàn ông uống rượu thì chị cũng chấp nhận để chồng đánh chỉ xin chồng là đánh ở trên bờ, đừng để các con nhìn thấy. Đó là một cách ứng xử rất nhân bản. Ở đây, lẽ đời đã chiến thắng. Người lao động lam lũ, nghèo khổ không có uy quyền nhưng có cái tâm của một người thương con, thấu hiểu lẽ đời cũng là một thứ quyền uy có sức công phá lớn. Nó đã làm chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng thức nhận được nhiều điều. Thức nhận được, nỗi nhọc nhằn vất vả trong công việc làm ăn của cư dân vùng biển. Thức nhận được cuộc sống bấp bênh khiến họ phải chấp nhận không ít những nghịch cảnh, những ngang trái. Thức nhận được người đàn bà kia không hề chịu đòn roi một cách vô lí, cả Đầu và Phùng chua chát nhận ra rằng: trên thuyền cần có một người đàn ông… dù hắn man rợ, tàn bạo, cần có một người đàn ông để chèo chống khi biển phong ba bão táp. Thức nhận được ở người phụ nữ ấy chứa đựng mẫu tính sâu xa như một bản năng: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”, những lời lẽ ấy của người đàn bà hàng chài được thốt lên từ một niềm tin đơn giản mà vững chắc vào cái thiên chức mà trời đã giao phó cho người đàn bà. Thức nhận được rằng, người đàn bà hàng chài kia rất biết tìm cho mình những niềm vui, hạnh phúc dẫu rất nhỏ nhoi trong cuộc sống đầy khó khăn. Ở chị vững bền một niềm tin, một tình yêu và sự lạc quan vào cuộc sống. Hãy biết sống ngay khi cả cuộc đời không thể chịu được nữa, nụ cười chợt ửng sáng lên trên khuôn mặt rỗ chằng chịt chị nghĩ đến “trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ” và niềm vui “nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Hạnh phúc với người đàn bà hàng chài kia thật giản dị mà không kém phần sâu sắc. Thức nhận được nỗi đau, cũng như sự thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời người đàn bà kia không bao giờ để lộ ra bên ngoài cả Bằng biện pháp đồi lập giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại hình và tâm hồn, đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, đầy mâu thuẫn của con người, qua nhân vật người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về con người. Ông đã khai thác số phận cá nhân và thân phận con người đời thường, để phát hiện những nét đẹp trong những con người tầm thường, lam lũ. Cả đời, ông đã tâm niệm sáng tác văn học là đi tìm “hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người”. Bằng tài năng của một cây bút giàu bản lĩnh, qua cuộc đời của người đàn bà hàng chài, tác giả cũng đặt ra những vấn đề nhức nhối của cuộc sống: nạn bạo hành trong gia đình, sự nghèo đói, thất học, sự tha hóa về nhân cách… những ngang trái, nghịch lý của cuộc sống. Chính số phận của người đàn bà hàng chài như một hồi chuông lay tỉnh chúng ta hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Từ câu chuyện của người đàn bà, ta càng thấy rõ: không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống, không thể có cái nhìn một chiều, phiến diện với con người và cuộc sống. Đây cũng là nét mới trong văn xuôi sau năm 1975 mà Nguyễn Minh Châu chính là vị “khai quốc công thần của triều đại văn học mới”.
Phân tích hình tượng người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
1,586
Phân tích hình tượng người đàn bà làng chài trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Hướng dẫn Phân tích hình tượng người đàn bà làng chài trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Bài làm Mở bài: Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài – người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh cao thượng mà khiến khi gấp trang sách lại ta không thể nào quên. Thân bài: Để tạo nên hình tượng người đàn bà ấy nhà văn đã tạo ra tình huống truyện độc đáo và từ tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hé lộ số phận: Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”. Cảnh đẹp đến nỗi Phùng có cảm giác bối rối, trái tim như bị bóp thắt vào. Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ. Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, NMC đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì Chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: CHỊ LÀ NGƯỜI VÔ DANH. Chị là ai? + Trước đây Chị vốn là con của một gia đình khá giả nhưng số phận đã không may mắn với chị. Chị mắc bệnh đậu mùa. Di chứng để lại đó là Cái xấu, cái xấu xí thô kệch đã đeo đuổi chị như một định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ cho đến tận bây giờ. + Vì xấu xí không ai lấy nên chị trót có mang với một anh hàng chài nhà ở giữa phá vẫn hay đến nhà chị mua bả về đan lưới. Thế rồi thành vợ thành chồng. Chị xuống ở luôn dưới thuyền. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh: “có nhiều tháng biển động phải ăn cây xương rồng luộc chấm muối”. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,… + Vì túng quẫn, đói nghèo, thất học, lạc hậu. Lão chồng của chị từ một anh con trai “hiền lành nhưng cục tính” đã trở thành một kẻ vũ phu lỗ mãng. Hắn đã lấy phương pháp đánh vợ để giải tỏa những bế tắc cuộc sống. Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh 1 con thú, với lời lẽ cay độc” Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. “Mày” ở đây là vợ ông ta. “Chúng mày” là vợ con của ông ta. Họ là những đồng loại rất gần gũi với ông ta. Cay đắng thay cho số phận của chị. + Chị coi việc mình bị đánh đó như 1 phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Vì chị rất thấu hiểu lẽ đời. Chị hiểu cơ cực của cuộc sống mưu sinh trên biển không có người đàn ông. trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được!”. + Chị cũng hiểu và thông cảm cho chồng: chị thừa nhận chồng chị trước kia là anh con trai hiền lành nhưng cục tính, chẳng qua vì đói nghèo, thất học, túng quẫn lão chồng mới sinh ra vậy. Đây chính là sự hiểu đời, sự thông cảm và vị tha của chị. Chị không hề oán trách chồng mà ngược lại chị rất cảm thông và vị tha. Chị là người có đức hi sinh cao thượng. Không chỉ vậy, nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị. Tình mẫu tử của chị đã vút lên trên cái nền của 1 cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa. Vì thương con chị đã luôn miệng xin quý tòa đừng bắt con bỏ nó. Chị hiểu như thế nào là nỗi đau của những trẻ thơ sống trong cảnh bố mẹ ly dị. Chị không muốn nhìn cảnh các con thấy bộ mẹ chia tay. Cũng vì thương con chị đã yêu cầu lão đàn ông vũ phu mang chị lên bờ mà đánh vì sợ con nhìn thấy. Vì thương con mà chỉ đưa thằng Phác lên bờ để sống. Vì thương con mà chị đã đau đớn nhìn cảnh thằng Phác vì thương mẹ mà đã chống trả lại bố đẻ của mình. Trong đau khổ chị vẫn luôn chắt lọc những niềm vui ví như khi nhìn các con được ăn no, được nô đùa hay có lúc chị và chồng chị cũng có những giây phút đầm ấm, hòa thuận. Đằng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương mê muội, đáng thương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thương con vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh. Nghệ thuật: Sử dụng biện pháp đối lập (giữa hình thức và tâm hồn), đặt nhân vật trong tình huống nhận thức độc đáo, Nguyễn Minh Châu giúp người đọc khám phá “….ẩn dấu” trong “bể sâu tâm hồn” người đàn bà hàng chài. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích hình tượng người đàn bà làng chài trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
1,275
Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân Bài làm Làng quê chìm trong ko khí tang thương với tiếng quạ kêu quang quác, tiếng khóc hờ của những nhà có người chết đói và thân vận rẻ rúng của bao cảnh đời: người ta có thể nhặt được vợ giữa đường chợ chỉ với 4 bát bánh đúc và mấy câu đùa cợt…. Tạm gác lại cái cứu cánh nội dung ấy, lật giở lại tác phẩm và để lòng ta lắng lại với những dư vị của cảm xúc. Ta đã hiểu… Nếu như nói đến văn học là nói đến 1 phạm trù ko giới hạn của nghệ thuật, có khả năng gợi mở mọi chiều kích của các giác quan và trường liên tưởng, thì đây: với tác phẩm vợ nhặt này ta không chỉ biết đến 1 anh Tràng thô nhám, cục mịch mà có lúc ngượng nghịu, ngẩn ngơ như một đứa trẻ lớn hiền lành, 1 chị vợ “chao chát, chỏng lỏn” mà “hiền hậu, đúng mực”, ta còn biết đến 1 nhân vật nữa: một nv giữ cho câu chuyện “VN” có chiều sâu, mang lại cho tác phẩm sự mặn mà, đằm thắm. Đó là nhân vật bà cụ Tứ. Càng đọc, càng ngẫm nghĩ, ta càng cảm nhận sâu sắc hơn tấm lòng của người mẹ nông dân này. Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân Đến khoảng giữa câu chuyện, Kim Lân mới cho nhân vật Bà cụ Tứ xuất hiện như để hoàn chỉnh hơn ý niệm về một gia đình, trong mối quan hệ “mẹ chồng nàng dâu” với người “vợ nhặt”. Nhưng hẳn không chỉ thế. Hãy xem cách mà Kim Lân dẫn dắt chúng ta đến với nhân vật. Bắt đầu là cái dáng “lọng khọng đi vào ngõ, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng”…. Chao ôi! những câu giản dị nhường ấy mà chất chứa bao yêu thương trìu mến. Ta gặp lại cái dáng gầy gầy, còng còng vì sương gió cuộc đời của người bà quen thuộc. Từ “lọng khọng” đầy sáng tạo và có sức gợi hình, gợi tả tạc lại trong ta một dáng hình. Có phải không? Kim Lân đã gửi trọn tấm lòng kính yêu của mình để cảm thông cùng với những nỗi đau suốt một đời đã đè nặng lên đôi vai người mẹ. Vả chăng, với nhân vật bà lão, nhà văn còn có dịp nhìn việc lấy vợ của Tràng từ một góc độ khác, trong 1 tâm trạng khác. Tôi những muốn viết ngay về những diễn biến phức tạp trong tâm hồn người mẹ khi biết đứa con trai xấu xí, cục mịch của mình đã lấy được vợ lại giữa 1 hoàn cảnh đặc biệt éo le. Nhưng, 1 ấn tượng nữa về bà lão cứ hiển hiện trong tâm trí tôi – 1 ấn tượng dù chỉ thoáng gặp nhưng cũng thật khó quên. Tôi đã lần theo từng câu chữ của tác phẩm và tìm thấy những dòng tâm trạng này: “Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa, dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà nghĩ đến cuộc đời khổ cực dằng dặc của mình” Ta biết được người phụ nữ nông dân này có một số phận đầy bất hạnh. Cuộc đời bà là một chuỗi ngày khổ đau, tê tái. Bà đã vĩnh viễn mất đi người chồng và đứa con gái út yêu thương.. Dẫu biết thời gian có thể xoá nhoà đi tất cả nhưng vết thương lòng đâu dễ biến tan. Ta không gặp 1 cơn hấp hối trong đau đớn, cũng chẳng gặp những quằn quại quay quắt, ta chỉ gặp ở đó 1 con người của hiện tại với 1 cái thở dài đầy chiêm nghiệm đang nhìn trông về bờ quá khứ. Điều ấy lý giải vì sao con người già cả ấy lại quen đánh giá sự việc bằng kinh nghiệm và sự từng trải, bằng 1 nỗi lòng đầy ám ảnh của 1 quá vãng nặng trĩu những đắng cay. Ai đã từng nói rằng: “Văn chương là lịch sử tâm trạng của con người”. Nếu đúng như vậy thì Kim Lân quả là 1 nhà văn đích thực trên cái ý nghĩa ấy. Ngòi bút của ông đã thêm 1 lần chấm vào nghiên mực cuôc đời để khắc hoạ lại hình ảnh của nhân vật bà cụ Tứ với những diễn biến tâm trạng đầy tinh tế. Tưởng như, bà cụ Tứ bước từ căn nhà rúm ró, tồi tàn của mình đi vào trang truyện chứ ko hề do dụng công xây dựng của tác giả. Hình ảnh bà – hình ảnh của người mẹ nông dân Việt Nam 1945 hiện lên chân thực như nó vốn có qua những lời nói tưởng như ngớ ngẩn, lẩm cẩm mà xiết bao ân tình. Cuộc đời tuy có mất mát nhưng cũng không cướp đi của bà tất cả. Bà vẫn còn có anh Tràng – đứa con trai độc nhất để yêu thương chăm sóc. Làm mẹ, ai cũng mong cho con mình chóng khôn lớn, trưởng thành và yên bề gia thất. Rồi cái ngày hạnh phúc ấy cũng đã đến: cái ngày anh Tràng lấy vợ. Những tưởng niềm vui ánh lên rạng ngời trong trái tim già cỗi ấy, nhưng lòng người mẹ lại ngổn ngang bao tâm sự thầm kín. Dạo đầu của chuỗi tâm trạng ấy là 1 loạt những câu hỏi đầy vẻ ngạc nhiên, thắc mắc: “Người đàn bà nào lại đứng ở đầu giường con mình thế kia?” “ai thế nhỉ? sao lại chào mình bằng u?”. Phải, làm sao bà ngờ được lại có ngày hôm nay, khi mà giữa nhưng năm đói mòn đói mỏi, nhà lại nghèo mà con trai bà lại dẫn không về 1 người vợ. Mọi việc đến với bà quá nhanh. Chính bởi tình huống hết sức đặc biệt này của câu chuyện “vợ nhặt”, mọi diễn biến nội tại đã được đẩy lên đến cao trào, trở thành 1 sợi chỉ xuyên suốt làm cho mạch tp đi theo 1 chiều hướng rất logic của tâm lý nhân vật. Bà lão thực sự đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, tới mức: “không còn tin vào mắt, vào tai mình nữa”. “Bà lão nhấp nháy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn thì phải. Bà lão nhìn kĩ người đàn bà lần nữa, vẫn chưa nhận ra người nào. Bà quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu”. Tâm trạng cứ băn khoăn như thế cho đến khi mọi chuyện được vỡ lẽ thông qua lời xác nhận của con trai: “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ…” Lúc ấy tâm trạng của người mẹ lại bước sang 1 trang khác, hứa hẹn nhiều biến động hơn và tinh tế hơn. Kim Lân đã không tả thêm nữa những suy nghĩ, những căn vặn trong tâm não của nhân vật, hay những động thái tâm lý phức tạp khác, mà chỉ đơn giản là 1 cái “cúi đầu nín lặng”. Không chỉ là câu trần thuật, trong câu văn ngắn này còn rưng rưng tấm lòng hoà cảm đầy ân tình của Kim Lân. Bao nhiêu nỗi niềm chất chứa trong cái im lặng cúi đầu ấy. Cái im lặng tủi phận. Cái im lặng cam chịu. Cái im lặng xót xa. Bà thương thầm cho cái số kiếp của đứa con trai độc nhất. Vì người mẹ ấy giờ đây ý thức rõ hơn vợ chồng Tràng rất nhiều về cái nghịch cảnh quá éo le, nghiệt ngã của cuộc hôn nhân này. Chừng ấy năm sống trên đời mách bảo bà lão 1 điều rằng: mối duyên kiếp trớ trêu kia hình như không nên có. “Chao ôi! người ta dựng vơ gả chồng cho con là lúc gia đình ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này – còn mình thì…” Bao nhiêu ngập ngừng, tủi cực, chua xót dồn nén sau chữ “thì” vô vọng ấy. Bà xót xa vì không thể làm tròn bổn phận của người mẹ: ko lo nổi chuyện đại sự cho con. Giờ đây, giữa lúc người chết đói “như ngả rạ”, lại có người theo con trai mình về làm vợ. Người mẹ bị dồn vào cảnh túng quẫn, khó xử, không biết lấy gì cúng tổ tiên, trình làng khi con đã có vợ. Cái buồn, cái tủi lại chan đầy nước mắt, và bà đâm khóc vì thương con, thương dâu ko biết làm sao đây để vượt qua cơn khốn khó này: “Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rũ xuống 2 hàng nước mắt”, lý trí đã ko ngăn nổi tình cảm. Kim Lân như 1 nhà quay phim tài ba đầy cảm xúc lia ống kính máy quay của mình chớp lấy thần cảnh, thước phim từ cận cảnh làm hiện lên đôi mắt hằn dấu chân chim 1 đời vất vả của người mẹ già, và trên cái khoé mắt nứt nẻ theo thời gian ấy rạn ra 2 dòng nước mắt khô héo. Nước mắt của người già, mà như Nguyễn Khuyến xưa đã từng viết trong “Khóc Dương Khuê”: “Tuổi già hạt lê như sương Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan” Thời gian là kẻ khách quan và quá đỗi vô tình, nó đã mang đi tuổi thanh xuân của mẹ cùng bao lo toan, nhọc nhằn, vất vả đã vắt kiệt sức mẹ. Mẹ khó có thể khóc được nữa, bởi “nước mắt người già chảy ngược vào tim”. Khi mẹ khóc tức là mẹ đang đau lắm. Một người mẹ thương con như bà cụ Tứ ko đau sao được khi chứng kiến cảnh con mình lấy vợ trong 1 hiện thực và tương lai ảm đạm đến thế. Và bà đã lo lắng để rồi tự cật vấn: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống được qua cơn đói khát này không”. Đọc những dòng này, ta có cảm giác như trái tim người mẹ trong cái thân hình còm cõi đang rung lên đau đớn, xót xa như xát muối. Bà thương con, tủi phận để rồi lại thương dâu: Bà “đăm đăm nhìn người đàn bà” như để nhận mặt người đồng hành khốn cùng trong cuộc đời khổ nghèo. Người con dâu đứng đấy, tay “vân vê tà áo đã rách bợt”. Và cũng từ đó đã thức dậy trong bà lão bao ý nghĩ nhân đạo và một sự hàm ơn: “Ngườita có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà làm mẹ, bà đã chẳng lo được cho con…” Câu văn thật cảm động! Nó vừa nhoi nhói 1 tình cảm tủi hờn, ai oán cho số kiếp, vừa như cố nén cái cảm giác bất đắc dĩ trước 1 sự việc đã rồi, lại vừa rưng rưng, xao xuyến 1 niềm vui. Những lời độc thoại cứ như đợt sóng cuộn lên trong lòng người mẹ, vừa khắc khoải, dạt dào, vừa bao la, vỗ về đầy tình mẫu tử, hoà trong đó là là những rung cảm xót xa trong trái tim nhân đạo của Kim Lân. Ta cũng thấy tim ta thổn thức cùng với những trăn trở bình dị mà xiết bao ân tình. Đẹp biết bao 2 tiếng “mừng lòng” của bà lão nói với các con. Chữ “mừng” thật là đắc địa, có vẻ như ko đâu vào đâu của người già cả, nhưng lại lột tả đúng cái thần thái của 1 tấm lòng vị tha cao quý đang ngượng ngập, vụng về tìm cách giấu đi dòng nước mắt xót thương vì sợ phiền lòng cho chính người mình đang thương xót. “Có đèn đấy à? Ừ, thắp lên 1 tí cho sáng sủa…Dầu bây giờ đắt gớm lên mày ạ”. Người mẹ già như cố nuốt nước mắt vào trong, cố nén nỗi đau trong lòng để tình thương của mình an ủi các con. Nỗi lo sợ ngày mai mãi chỉ là 1 niềm riêng không chia sẻ. Bới trái tim người mẹ ấy hiền hậu nhân từ lắm. Chẳng muốn con buồn, chẳng muốn con đau, chỉ mong con hãy tận hưởng trọn vẹn cái hạnh phúc lứa đôi. Đến đây, ta càng thấm thía hơn 1 câu danh ngôn: “tình yêu thương của người mẹ dành cho con luôn âm thầm, lặng lẽ như mạch nước ngầm trong lành đi theo con suốt cuộc đời”. Suối nguồn của tình mẹ và những giọt nước mắt, giọt mồ hôi thật thiêng liêng và đáng quý vô cùng. Rồi có ai đã từng ví trong câu hát “tình mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”, thì đây, những giọt nước mắt buồn thương vẫn mặn mà, nồng ấm, vẫn âm vang nhịp đập thuỷ triều. Mẹ kêu con thắp đèn lên “cho sáng sủa” hay chính tình yêu bao la của mẹ đang toả sáng cho hạnh phúc của các con. Quên làm sao được cử chỉ ân cần mà xiết bao thương mến của mẹ với con dâu, ta tưởng như có cái vẫy tay đầy thân thương sau câu nói này: “con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Còn đâu là ranh giới giữa mẹ chồng – nàng dâu? Hay tình yêu thương đã xoá nhoà đi tất cả. Tình yêu ấy dâng lên nghẹn ngào khi bà cụ Tứ nói trong nước mắt: “kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo… lấy nhau lúc này u thương quá….”. “Lúc này” ở đây chính là thời điểm năm 1945 – cái mốc in dấu 1 nạn đói khủng khiếp đã đi vào lịch sử: “hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói” (Tuyên ngôn độc lập), câu nói ấy vẫn còn vang lên như 1 chứng tích tội ác của thực dan Pháp, ko khí quê hương “vẩn lên 1 mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”, “dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại như những bóng ma”. Ấy vậy mà, “như bèo gặp nước”, vợ chồng Tràng đã đến với nhau đánh cược cùng cuộc đời, cùng cái đói, cái khổ. Thử hỏi sao lòng người mẹ ko đau đáu. Bà chỉ biết khuyên vợ chồng Tràng thương yêu nhau, ăn ở hoà thuận để cùng vượt qua cơn bĩ cực này. Đó là nỗi lo, nỗi thương của người mẹ từng trải, hiểu đời có tấm lòng yêu con sâu thẳm… Trong cái mừng, cái tủi, cái lo, người đọc vẫn thấy được niềm vui, niềm tin thắp lên trong lòng bà cụ Tứ. Một niềm vui tội nghiệp ko sao cất cánh được khi bị “ghì sát đất” bởi những nỗi lo, nỗi buồn luôn trĩu nặng. Nhưng bà vẫn cố vui, cố nén tất cả mọi sầu muộn, héo hon vào trong bằng tất cả sức mạnh của tình mẹ, để gắng làm cho con vui, dâu vui. Hoá ra chính cái bà lão “gần đất xa trời” này lại là người nói đến hi vọng, đến ngày mai nhiều hơn tất cả. Đó là niềm ao ước thiết tha về 1 ngày mai sáng sủa hơn cho con của bà mẹ nghèo: “Rồi may ông giời cho khá….ai giàu ba họ, ai khó ba đời…” Một lời động viên con giản dị, mang đậm niềm tin tâm linh của 1 bà mẹ nông dân từng trải, nhưng cũng thật cần thiết, bởi đó chính là nguồn động lực giúp cho mẹ con bà đủ vững vàng để vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của cái đói, cái chết. Câu nói ấy chỉ có thể thốt lên từ 1 tấm lòng cao cả, tràn ngập tình thương. Nhưng ai dám bảo đó là 1 niềm tin, sự lạc quan khoẻ khoắn, bởi chính trong tâm trạng người mẹ ngay lúc này đây cũng đang bời bời những lo sợ cho cuộc sống của ngày mai. Chỉ có thể nói đó là 1 niềm tin bé nhỏ mà bất diệt, âm ỉ và dai dẳng tiếp thêm sức mạnh cho con trên sinh lộ cuộc đời. Và niềm tin đã chuyển hoá thành niềm vui. Bà vui trong công việc “sửa sang nhà cửa vườn tược”. Nó khiến bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, “cái mặt bủng beo, u ám của bà bỗng rạng rỡ hẳn lên”. Bà đã chủ động tạo nên niềm vui đó trong ngày đầu tiên gia đình đón chào 1 nàng dâu mới: bà dậy từ rất sớm, bà “xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa, giẫy những búi cỏ mọc nham nhở trong vườn”. Bởi bà hiểu rằng, bắt đầu từ hôm nay đã đánh dấu 1 bước ngoặt trong cuộc đời các con mình, chúng nó đã nên vợ nên chồng và bà cảm thấy mình phải vun vén cho hạnh phúc của các con. Buổi sáng hôm nay, bà đã đon đả lo chu tất, chuẩn bị bữa cơm đón dâu, nhưng “cái bữa cơm ngày đói thật thảm hại” lại chỉ là 1 bữa “tiệc” với món cháo loãng và món “chè khoán” đắng chát, nhưng bà vẫn cố tạo ra 1 không khí ấm cúng, vui vẻ để động viên, làm giảm bớt nỗi thất vọng cho các con. Dù cuộc sống này có khắc nghiệt, ngặt nghèo đến tàn bạo, đầy đoạ mẹ con bà, bà vẫn nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng sau này, chuyện nuôi đoi gà cho nó sinh sôi nảy nở thành đàn gà con… Người mẹ già ấy vẫn nghĩ đến cái sống, nghĩ đến ánh sáng của ngày mai ngay bên bờ vực thẳm của cái chết. Hình ảnh đàn gà sinh sôi trong bữa cơm ngày đói đã nói lên sức sống kì diệu của người lao động. Nhưng xúc động nhất là nồi chám cám mà bà đã cố tình giấu con trai, con dâu cho đến phút cuối cùng. Người đọc cười ra nước mắt trước sự hào hứng vui vẻ khi bà “lễ mễ bưng nồi cháo cám nghi ngút khói” lên nhà, tươi cười đon đả múc cho các con rồi mời mọc: “cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ ăn thử mà xem”. Nhưng ta biết, bên trong cái vẻ tươi tỉnh niềm nở ấy, lòng mẹ đang quặn thắt. Cái món mà bà cụ Tứ gọi là “chè khoán” ấy hoá ra lại là cám, gọi như vậy để cho các con bớt tủi thân, lời mời mọc của bà là lời động viên, an ủi. Bà muốn con được no đủ, hạnh phúc trong 1 việc làm mà bà cố gắng tạo nên dẫu biết rằng đó chỉ là ảo giác, sau đó thực tại sẽ lại trở về nguyên bản, bẽ bàng và chua chát. Dường như bà có ý xua tan đi không khí ảm đạm, cố che đậy, vùi đi thực cảnh thê lương. Nhưng thật tội nghiệp cho bà lão, tội nghiệp thay cho cái niềm vui bé nhỏ chới với giữa 1 bể bi luỵ, khi mà màu sắc của hiện tại phải được trả về đúng nghĩa của nó. “Bà ko dám để con dâu nhìn thấy bà khóc”. Một lần nữa, người mẹ lại nuốt đắng cay vào trong để cái hi vọng mong manh còn đủ sức soi đường con bước. Những giọt nữa mắt lại rơi. Những giọt nước mắt ám ảnh ấy…. Có thể, người đàn bà ấy chẳng còn sống, còn gần các con được lâu nữa. Nhưng bà sống trọn 1 đời vì các con, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình trong sự chăm lo, vun vén cho con, mơ ước cho con. Bằng tất cả sự nâng niu trân trọng, Kim Lân đã để trái tim đập cùng 1 nhịp đập với trái tim người mẹ nông dân. Viết về bà cụ Tứ, nhà văn thực sự đã trở thành “người nhân đạo đến tận xương tuỷ” – (Sê khôp) Nhà văn Tô Hoài có lần đã khẳng định: “Nhân vật là trụ cột của sáng tác, nhà văn trước tiên phải lo cho nhân vật của mình. Nhà văn nói bằng nhân vật, thông qua nhân vật, nhân vật là phương tiện để nhà văn thể hiện chủ đề và tinh thần tác phẩm”. Thì đây, nhân vật bà cụ Tứ đã cho ta hiểu bao điều về tình yêu thương vô bờ bến của người mẹ dành cho con. Bà chính là là linh hồn của tác phẩm, là hiện thân cho tình mẫu tử, là hình tượng tiêu biểu cho vẻ đẹp các bà mẹ Việt nam: rất nhân hậu, rất bao dung, giàu lòng nhân ái, thương con vô hạn, hết lòng vun đắp cho các con được hạnh phúc, khát khao sống, khát khao yêu thương và truyền được ngọn lửa sống ấy từ mình sang cho các con. Người mẹ già ấy phải chăng chính là ánh sáng của cả thiên truyện, lặng thầm đằng sau bóng tối bi thảm của những kiếp đời nghèo khổ. Ánh sáng ấy làm cho câu chuyện anh Tràng nhặt vợ trở nên thấm thía cảm động hơn, nâng truyện ngắn “Vợ nhặt” lên tầm cao, mang chiều sâu của 1 truyện ngắn “hiện thực – nhân bản”. Ta thấy cái nhìn đồng cảm xót thương của Kim Lân chứa chan, thấm đượm trong từng câu, từng chữ, từng chi tiết của bức tranh đời sống nạn đói năm Ất Dậu, đằng sau những giọt nước mắt, những lời độc thoại được chắt ra từ 1 tâm hồn cao đẹp. Và, có phải, thông qua hình tượng nhân vật bà cụ Tứ, Kim Lân còn muốn ngầm đi đến 1 lý giải nguyên nhân: vì sao thời ấy dù Tràng và biết bao người như Tràng phải chịu muôn vàn nỗi cực khổ, đè nén nhưng vẫn vượt lên và còn có khả năng nghĩ tới những điều như: “Việt Minh, lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới và đoàn người đi phá kho thóc”.
Phân tích hình tượng nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân
3,819
Phân tích hình tượng nhân vật Chiến và Việt để thấy được chủ nghĩa anh hùng cao đẹp trong sáng tác Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Hướng dẫn Phân tích hình tượng nhân vật Chiến và Việt để thấy được chủ nghĩa anh hùng cao đẹp trong sáng tác Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi 5 (100%) 1 đánh giá Bài làm Nguyễn Thi được mệnh danh là nhà văn của Nam Bộ thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Các tác phẩm của ông đều phản ánh chân thực cuộc sống của người dân Nam Bộ đồng thời ca ngợi những con người anh dũng chiến đấu, hi sinh vì tổ quốc. Tiêu biểu trong số đó chính là truyện ngắn “ Những đứa con trong gia đình”. Đó là một tác phẩm hay, xoay quanh hai nhân vật chính là Chiến và Việt. Chủ nghĩa anh hùng cao đẹp đã được Nguyễn Thi gửi gắm qua hai nhân vật này. Chiến và Việt là hai chị em thân thiết trong một gia đình có truyền thống làm cách mạng. Tác giả đã khéo léo xây dựng một tình huống truyện độc đáo đó chính là lúc Việt bị thương nặng, nằm tại chiến trường. Khi đó, cậu ta nằm trên ranh giới của sự sống và cái chết, thế nên những hồi tưởng và suy nghĩ của cậu ta khi ấy sẽ trở nên chân thực và sâu sắc nhất. Trước tiên, Việt hồi tưởng về người chị của mình,chị Chiến, người mà Việt rất yêu quý và kính trọng. Chiến là một cô gái mới lớn, có những lúc rất trẻ con như thích được người khác khen, thích tranh ông bắt ếch với em trai của mình. Nhưng có những lúc, Chiến lại tỏ ra mình là người chị đích thực biết quan tâm, lo lắng cho đứa em của mình. Trong đợt đăng kí đi bộ đội, Chiến vì thương em mình còn nhỏ nên đã đăng kí đi một mình,một mực để Việt ở nhà: “Tao lớn tao mới đi, mày còn nhỏ, ở nhà phụ làm với chú Năm, qua năm hãy đi”. tích hình tượng nhân vật Chiến và Việt để thấy được chủ nghĩa anh hùng cao đẹp trong sáng tác Những đứa con trong gia đình Có thể thấy ở Chiến không chỉ toát nên vẻ đảm đao, tháo vát mà còn cả sự gan dạ, dũng cảm đúng với hình ảnh phụ nữ Việt Nam thời kì kháng chiến. Chính câu thoại của Chiến với đứa em đã thể hiện rõ điều ấy “Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất…”. Có thể nói, Chiến chính là hình ảnh đại diện cho những người con gái miền Nam anh hùng, dũng cảm nhưng cũng rất giản dị, đảm đang. Vẻ đẹp của Việt còn được hiện lên qua trái tim nhân hậu, yêu thương gia đình và mọi người. Ở trên ranh giới giữa sự sống và cái chết nhưng Việt không hề run sợ, khóc lóc mà thay vào đó là hồi tưởng lại những kỉ niệm đẹp về mẹ và chị. Việt thương mẹ, thương chị, thương cả chú Năm, cả cuốn sổ cũng như tất cả những những gì thuộc về quê hương như mùi lúa gạo, câu hò, giọng hát. Cuối cùng, ta có thể thấy được một vẻ đẹp mà bất cứ người chiến sĩ anh hùng nào cũng có đó là tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất, không biết run sợ và căm thù giặc sâu sắc. Lòng căm thù ấy đã có từ khi Việt còn bé, khi cậu cùng mẹ xông vào đồn giặc đòi đầu cha. Cậu không hề biết run sợ hay e ngại súng ống cũng như bất kì tên giặc nào. Để rồi, lòng căm thù trong cậu lớn dần theo thời gian, thôi thúc cậu tham gia nhập ngũ khi chưa còn đủ tuổi. Lúc nào trong Việt cũng có ý nghĩ là phải trả thù cho cha mẹ, quê hương của mình. Mặc dù bị thương nặng nhưng Việt vẫn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, cậu đã lập nhiều chiến công từ việc giết giặc cho đến hạ cả một xe tăng bọc thép của địch. Ấy vậy mà Việt vẫn khiêm tốn, tự thấy những gì mình làm được vẫn chưa đủ lớn “muốn viết thư nhưng không biết viết sao. Việt cũng không muốn kể chiến công của mình vì tự thấy chưa thấm gì với thành tích của đơn vị và những ước mong của má”.
Phân tích hình tượng nhân vật Chiến và Việt để thấy được chủ nghĩa anh hùng cao đẹp trong sáng tác Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
776
Phân tích hình tượng nhân vật Chiến Hướng dẫn Phân tích hình tượng nhân vật Chiến Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn nghệ giải phóng miền Nam. Ông được mệnh danh là nhà văn của người dân Nam Bộ. Trong những tác phẩm của mình ông luôn dành bao tâm huyết để xây dựng họ thành những nhân vật văn học đáng nhớ và có cá tính. Những đứa con trong gia đình là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Thi rút trong tập truyện và kí (1978). Nhân vật trung tâm trong tác phẩm là Chiến và Việt. đặc biệt ở đây chúng ta đi tìm hiểu về những phẩm chất tính cách của nhân vật Việt, một chiến sĩ cộng sản anh hùng. Ngay từ nhỏ đã có một tư chất của một anh hùng nhưng cũng có phần trẻ con hồn nhiên của lứa tuổi. Có thể nói anh yêu nước là thế, căm thù giặc là thế nhưng ở cuộc sống bình thường Việt vẫn thể hiện tính cách hồn nhiên hợp lứa tuổi của mình. Trước hết Việt sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và lòng căm thù giặc. Ngay từ nhỏ Việt đã gắn bó với công việc đồng áng, gắn với người mẹ hay lam hay làm “ con mắt tìm việc, đôi chân dò được, lội khắp bưng này đến bưng khác”. Gia đình Việt rất giàu truyền thống cách mạng, truyền thống ấy được tạo bởi những chiến công vì nước vì dân. Truyền thống ấy còn được dệt bởi những mất mát đau thương mà kẻ thù gây ra: ông nội bị chánh tổng bắn chết, bà nội bị lính huyện đánh đập, ba Việt đi thăm dò tình hình cho ba Việt thì bị chết vì pháo của giặc, thím năm bị chúng bắn bể xuồng…Tất cả những điều đó được chú Năm ghi lại trong cuốn sổ gia đình, chú ghi chép tỉ mỉ đến từng chi tiết. những điều ghi trong đó không giống một cây hương gia phả mà là những đau thương cũng như chiến công hiển hách của gia đình. Chính vì xuất thân từ một gia đình như thế đã tác động rất nhiều đến phẩm chất anh hùng cũng như tinh thần yêu nước căm thù giặc của Việt. Đúng như chú Năm đã nói: “trăm sông đều đổ về biển, con sông của gia đình ta cũng dạt dào chảy về biển lớn” Việt lên đường đấu tranh thể hiện điều đó. Vẻ đẹp thứ nhất của Việt chính là vẻ đẹp của tính cách hồn nhiên trong sáng mà hóm hỉnh, luôn vô tư và hiếu động. cậu tuy đã mười tám tuổi nhưng vẫn giữ nguyên tính cách trẻ con ấy. Cậu tư trong gia đình ấy có nụ cười lỏn lẻn rất dễ thương. Cậu hiếu động và luôn tranh phần hơn với chị từ việc đi bắt ếch đến việc đi bộ đội trước. Trong khi chị trang nghiêm bàn chuyện gia đình thì Việt lăn kềnh ra ván cười khì rình chụp con đom đóm trong lòng bàn tay làm trò chơi. Việt vô tâm để phó mặc công việc nhà cho chị “ Tôi nói rồi chị tính sao thì tính mà tôi ừ hết”. Trong hành trang đi lính của mình Việt không quên mang theo chiếc ná thun vật bất li thân gắn bó với tuổi thơ của cậu. thậm chí cách yêu chị của Việt cũng rất trẻ con, Việt dấu chị như dấu của riêng, cậu sợ mất chị trước những lời chêu đùa tếu táo của đồng đội anh em. Bản thân luôn muốn dành phần hơn với chị nhưng thật tâm thì yêu thương tình cảm biết bao. Những lần ngất đi tỉnh lại ở trong rừng chính những tình cảm của gia đình và những kỉ niệm tuổi thơ đã giúp cậu vững vàng thoát khỏi cái chết. Cả khi cận kề cái chết nhưng Việt vẫn sợ con ma cụt đầu và thằng chỏng cụt lưỡi. Điều đó cho thấy Việt vãn còn rất trẻ con và yêu thương gia đình một cách đặc biệt Tiếp đến là phẩm chất tính cách của Việt, cậu cóphẩm chất của một người con yêu thương quý trọng những người trong gia đình mình lại vừa có phẩm chất bất khuất của người chiến sĩ cộng sản, luôn luôn gan góc. Có thể nói những phẩm chất ấy Việt được hưởng từ chính những người thân của mình. Tuổi nhỏ nhưng chí lớn, có lần Việt cùng chị Chiến đi theo du kích đánh tàu Mỹ một tên giặc đã bị chúng đạn của hai chị em. Và chiến công ấy đã được chú Năm ghi vào cuốn sổ gia đình. Việt dám xông thẳng vào đá cái thằng đã giết cha mình. Nếu không gan góc quả cảm thì sao Việt có thể lập nen chiến công ấy. Việt mặc cho sự ngăn cản của chị mà vẫn nhất quyết đăng kí tham gia đi bộ đội, trong đêm ghi tên đi tòng quân Việt đã đứng lên đầu tiên giơ tay đi đăng kí. Mục đích là để trả thù cho ba má, có thể nói Việt đã đi từ tình cảm yêu thương gia đình đến lí tưởng cao cả. Hành động xung phong đi đánh giặc không phải là tự phát mà đó là tinh thần tự giác ngộ cách mạng của tuổi trẻ miền Nam. Yêu thương gia đình cho nên kể cả khi đi đáng giặc Việt vẫn cảm thấy nhưu má luôn ở đâu đây quanh cậu, luôn dõi theo những việc cậu làm. Trước đêm đi tong quân Việt cùng chị khiêng bàn thờ ba má sang nhà chú Năm, đó là một chi tiết đẹp thể hiện truyền thống nhớ đến những người đã mất của nhân dân ta. trong thâm tâm Việt nghĩ: “ chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má chừng nào nước nhà độc lập chúng con lại rước ba má về”. Đến chú Năm cũng phải bất ngờ trước sự trưởng thành trước tuổi của Việt và chị Chiến. đức tính ấy được chú Năm khen ngợi cũng nhu động viên Việt lên đường: “ khôn việc nhà nó thu xếp được gọn, việc nước nó sẽ mở được rộng, gọn bề gia thất, đặng bề nước non”. Vào chiến trường trong trận đánh giáp là cà Việt dũng cảm dùng thư pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của địch. Bị trọng thương hai mắt đau nhức, toàn thân đổ máu, khô khốc vì đói nhưng Việt vẫn trong tư thế tấn công tiêu diệt giặc “ tao sẽ chờ mày, trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này chỉ có mình tao, nếu mày bắn tao thì tao cũng bắn được mày, nghe súng nổ của các anh tao sẽ chạy tới đâm mày, mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao mày chỉ là thằng chạy”. Biết bao nhiêu quyết tâm, biết bao nhiêu sự trừu mến với đồng đội, bao nhiêu sự khinh bỉ kẻ thù được thể hiện trong lời độc thoại ấy. Qua đây ta cũng thấy được những nét nghệ thuật đặc sắc của truyện. đó là nghệ thuật trần thuật, tình huống truyện đơn giản nhưng lại mang lại sức hấp dẫn cho người đọc. Điểm nhìn trần thuật được kể thơ dòng hồi tưởng đứt nối của nhân vật Việt- một anh chiến sĩ bị trọng thương nằm trên chiến trường. Đó là phương thức ngôi kể thứ ba, người kể chuyện dấu mình đi để nhường lại ngòi bút cho nhân vật trong truyện, lối trần thuật nửa trực tiếp. Cách trần thuật như thế mang lại màu sắc trữ tình đậm đà tự nhiên sống động vì chuyện được kể qua con mắt, tấm lòng, ngôn ngữ, giọng điệu của chính nhân vật trong tác phẩm. Với hình thức trần thuật ấy tạo điều kiện cho tác giả nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm của nhân vật để dẫn dắt câu chuyện. Câu chuyện được thuật lại đồng thời thể hiện tính cách của nhân vật. Do đó câu chuyện trở nên hấp dẫn sinh động hơn linh hoạt hơn vì không cần phụ thuộc vào trật tự logic của câu chuyện. Có thể xáo trộn thời gian, không gian chỉ cần thông qua những chi tiết hiện thực trên chiến trường mà gợi ra những dòng liên tưởng, hồi tưởng hết sức tự nhiên của nhân vật. Lần thứ hai Việt tỉnh dậy trời lất phất mưa, tiếng ếch kêu ran khiến Việt nhớ đến chuyện bắt ếch, chú Năm và cuốn sổ gia đình. Lần thứ bai tỉnh dậy, cậu nhận ra đó là ban ngày ngửi được mùi nắng và tiếng chim cu rừng quanh đây Việt nhớ đến cái ná thun và má của mình. Lần thứ tư Việt tỉnh dậy nghe thấy tiếng súng Việt sợ ma cụt đầu và nhớ về chuyện hai chị em đi lính. Cứ như thế câu chuyện của gia đình việt được tái hiện như một thước phim quay chậm mà sâu đậm trong tâm trí người đọc. Đặc biệt nhà văn còn xây dựng nhân vật mang đậm chất Nam Bộ. Người Nam Bộ vốn rất bộc trực, sôi nổi và kiên trung, bất khuất căm thù giặc sâu sắc.. tất cả những yếu tố đó hội tụ đầy đủ trong tác phẩm những đứa con trong gia đinh này. Như vậy có thể thấy được truyện ngắn những đứa con trong gia đình đã góp thêm một phẩm chất, một tích cách đặc biệt cá tính, ấn tượng nhưng cũng bất khuất kiên trung vào tấm gương những anh hùng chiến sĩ cộng sản. Đặc biệt là người dân Nam Bộ chống Mỹ và cụ thể ở đây là nhân vật Việt. Cậu có một trái tim nồng nàn yêu thương quê hương gia đình và xuất từ tình yêu thương ấy đi đến lí tưởng cao đẹp đó là giải phóng đất nước. đồng thời qua tác phẩm ta thấy rõ được tài năng xây dựng nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Thi. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích hình tượng nhân vật Chiến
1,732
Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao Hướng dẫn Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao Nguyễn Tuân là một nhà văn tài ba, không chỉ tài ba mà còn yêu cái đẹp, sống vì cái đẹp, và trên hết, ông tạo ra cái đẹp. Mỗi tác phẩm của ông đều ẩn chứa những cái đẹp riêng, có khi là phô trương, có khi lại sâu lắng đầy ý nghĩa sâu xa. Ví dụ như trong “Chữ người tử tù”, cái đẹp được ca ngợi ở đây không chỉ là tài viết chữ đẹp, cái thiên lương đẹp mà còn là cả một con người đẹp, đẹp từ trong tâm ra đến hành động, từng con chữ. Chữ người tử tù là tập truyện ngắn rút từ tập vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (1940). Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành công về tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm bộc lộ tập trung trong hình tượng nhân vật Huấn Cao. Có thể khẳng định rằng, nhân vật Huấn Cao là hình mẫu xuất chúng, là linh hồn, là nhân tố tạo nên sự thành công của tác phẩm “Chữ người tử tù”. Để làm rõ chất xuất chúng trong xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, chúng ta cùng phân tích nhân vật trên ba phương diện nổi bật: Huấn Cao- Anh Hùng; Huấn Cao- Nghệ sĩ tài hoa và Huấn Cao – Thiên lương trong sáng. Nguyễn Tuân xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao với tất cả những nét đẹp đáng quý nhất. Vẻ đẹp của Huấn Cao trước hết là vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài ba! Nếu ai đã từng đọc “Chữ người tử tù” chắc hẳn đều ít nhất một lần rung động, cảm phục, sùng kính trước vẻ đẹp của người anh hùng sa cơ lỡ vận mà hiên ngang, bất khuất, có tài, có tâm, mến mộ nghĩa khí. Đó là Huấn Cao. Ông là kết tinh, là hội tụ phẩm chất của một con người có nhân, dũng, trí; là tập hợp của tất cả những gì tinh khiết nhất, cao đẹp nhất. Nhờ đó, Huấn Cao trở thành một hình tượng thẩm mỹ, một nét đẹp trong cuộc sống đời thường, là một người có nhân cách vẹn toàn, vừa có tài văn, tài võ, vừa là người có nghĩa khí. Nhiều nhà phê bình lẫn độc giả cho rằng, hình tượng nhân vật Huấn Cao phảng phất bóng dáng của Cao Bá Quát. Người vĩ nhân đã từng sống một cuộc sống tung hoành ngang dọc, là người có tài,có đức, văn hay chữ đẹp, sống dưới thời Nguyễn, dám đứng lên chống lại bọn thực dân phong kiến, bọn cường quyền, đả kích xã hội PK thối nát, bỉ ổi. Trong “Chữ người tử tù” Huấn Cao cũng vậy. Ông bị gọi là kẻ cầm đầu quân phản loạn, ông học rộng hiểu nhiều, dám đứng lên chống lại cái sai, cái bất công; đả kích sự mục ruỗng thối nát của nhà Nguyễn, đấu tranh vì lợi ích của nhân dân. Phải chăng, Nguyễn Tuân đã mượn hình tượng nhân vật Huấn Cao để ca ngợi Cao Bá Quát? Và ngược lại, lấy nguyên mẫu từ Cao Bá Quát để khái quát lên một hình tượng Huấn Cao mà cái đẹp của tài hoa quyện với cái đẹp của khí phách, tuy chí không thành nhưng vẫn coi thường hiểm nguy gian khổ, coi khinh cái chết. Khí chất của Huấn Cao giống như ánh sáng mặt trời hiên ngang, rực rỡ tỏa sáng trên cái nền đen nhơ nhớp, tối tăm chốn ngục tù. Nói đến vẻ đẹp của hình tượng HC trước hết phải nhắc đến cái tài. Tài của Huấn Cao là tài viết chữ đẹp. Xét trong thị hiếu thẩm mỹ của người xưa từ Trung Quốc đến Việt Nam thì viết chữ đẹp là cả một nghệ thuật cao quý. Tâm có đẹp, hồn có thanh, có tài ba, trí thức mới viết ra được những con chữ đẹp. Viết chữ đẹp và chơi chữ đẹp là biểu hiện của con người có tri thức, một vẻ đẹp hoàn mỹ trong văn hoá truyền thống dân tộc. Nó như một sản phẩm nghệ thuật, như một vật báu mà con người khát khao, thèm muốn lẫn trân trọng, nâng niu. Chữ Huấn Cao viết là chữ Hán loại văn tự giàu tính tạo hình. Các nhà nho thuở xưa viết chữ để bộc lộ cái tâm, cái chí. Viết chữ thành một môn nghệ thuật gọi là thư pháp, có người viết chữ thì có người chơi chữ. Người ta treo chữ đẹp ở những nơi trang trọng trong nhà, xem đó như một thú chơi tao nhã. Một cái tài nữa nghe có vẻ rất không thống nhất với tài viết chữ đẹp đó là tài bẻ khóa vượt ngục. Người trí thức bàn tay hoa mỹ những tưởng chỉ để phát lên những nét rồng bay phượng múa, ai ngờ lại còn có thể bẻ khóa, ra vào tù ngục như chốn không người. Nếu như viết chữ đẹp thể hiện một con người trí thức, nho nhã, yêu cái đẹp thì tài bẻ khóa vượt ngục lại thể hiện một con người khát khao tự do, hoài bão tung hoành. Điều này rất hợp logic với tính cách của một con người luôn đấu tranh cho chính nghĩa, dũng cảm đứng lên chống lại triều đình Phong Kiến mục nát. Hai biệt tài của Huấn Cao tưởng rằng máu thuẫn nhưng lại thống nhất, bổ sung cho nhau; tất cả những tài năng đó làm thành một Huấn Cao có tầm lớn, đi vào lòng độc giả như một anh hùng, một trượng phu đã vượt lên tất cả cái bình thường nhỏ nhoi của cuộc đời để vẫy vùng để “chọc trời khuấy nước”. Nhưng anh hùng không gặp vận, người tài chẳng đúng thời! Giữa cái xã hội Phong Kiến còn đầy rẫy những chuyên chế, đàn áp, bất công ấy thì những người như Huấn Cao lại bị quy thành tội phạm, thậm chí là tội phản quốc phải gánh lấy cái án tử hình. Vẻ đẹp nổi bật thứ hai của Huấn Cao đó chính là khí phách hiên ngang, bất khuất của người anh hùng. Không chỉ văn võ song toàn, Huấn Cao còn là một người có khí phách, một người anh hùng dám làm dám chịu, không những không bị khuất phục trước quyền lực, bạo lực; mà còn không hề nao núng, sợ hãi khi đứng trước cái chết- kết cục tất yếu của tử tù phản quốc Huấn Cao xuất thân là nho sĩ, tầng lớp trí thức, học giả; thường khi những người như ông sẽ cống hiến tài mình phục vụ cho triều đình. Đặc biệt, thời phong kiến, tư tưởng quân chủ chuyên chế vẫn còn đè nặng. Làm việc cho triều đình là một cách báo quốc, đền dân; nhưng triều đình mục ruỗng, thối nát thì không đáng để ông phụng sự. Ông là người tài, không chỉ tài ở tài viết chữ, mà còn là người có cái nhìn thức thời, sáng suốt. Một nhân tài không sợ hãi trước cường quyền và bạo lực. Không chịu sống cảnh “cá chậu chim lồng”, “vào luồn ra cúi” nên ông đã tham gia khởi nghĩa cùng nông dân chống lại triều đình. Ông bị bắt và bị kết tội phản quốc chờ xử chém. Dù chí lớn không thành tư thế của Huấn Cao lúc nào cũng hiên ngang, bất khuất. Bị dẫn vào huyện ngục ông không chút run sợ trước những kẻ nắm giữ vận mệnh của mình. Chắc hẳn ai đã từng đọc “chữ người tử tù” đều không thể nào quên hình ảnh Huấn Cao thúc gông xuống thềm đá, chỉ một chi tiết ấy cũng làm toát lên khí chất kiên cường, có chút ngông lạnh của người anh hùng không màng cái chết. Hình ảnh đó thật đẹp, thật hào hùng khiến ta nhớ mãi không quên. Rõ ràng là một tử tù chỉ đợi ngày ra pháp trường vậy mà Huấn Cao vẫn luôn ung dung, đạo mạo, toát lên khí chất coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, trước sau không thay đổi. Điều đó thật đáng kính! Tuy nhiên, có lẽ vẻ đẹp đáng kính nhất ở Huấn Cao là vẻ đẹp của tâm hồn. Ông là người có “thiên lương” trong sáng, cao đẹp hiếm có, đáng trân trọng! Trong truyện Chữ người tử tù khái niệm “thiên lương” được Nguyễn Tuân sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau. Với quản ngục và thơ lại thì “thiên lương” là ý thức của ông trong việc sử dụng cái tài của mình. Huấn cao có tài viết chữ nhưng không phải ai ông cũng cho chữ. Ông không bao giờ ép mình cho chữ vì vàng ngọc hay quyền thế. Ông chỉ trân trọng những ai biết yêu quý cái đẹp, cái tài…Cho nên suốt đời Huấn Cao chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân. Lúc đầu, ông tỏ thái độ khinh bạc vì tưởng quản ngục có ý đồ đen tối gì khi thấy viên quan ấy biệt đãi mình. Rồi ông “cảm cái lòng biết ơn liên tài” của quản ngục và thơ lại, khi biết họ thành tâm xin chữ. Ông quyết không phụ tấm lòng của họ, nên mới diễn ra cảnh cho chữ trong tù được tác giả gọi là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Để làm nổi bật vẻ đẹp của Huấn Cao Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật vào một tình huống truyện độc đáo cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao với quản ngục và thơ lại. Đó là cuộc gặp gỡ của tử tù với viên quan cai ngục nhưng cũng là cuộc hội ngộ của những kẻ “liên tài tri kỉ”. Nguyễn Tuân thật tài tình khi miêu tả Huấn Cao để làm nổi bật sự chiến thắng của cái tài cái đẹp cái tâm và khí phách ngang tàng. Ông triệt để sử dụng sức mạnh của nguyên tắc tương phản, đối lập của bút pháp lãng mạn đối lập giữa ánh sáng và bóng tối giữa cái đẹp cái cao cả với cái phàm tục dơ bẩn. Có sự tương phản ở những chi tiết tạo hình được sử dụng để miêu tả không khí của cảnh cho chữ: bóng tối phòng giam, ánh sáng đỏ rực của bó đuốc, tấm lụa bạch còn nguyên… Có sự đối lập tương phản giữa sự cho chữ và hoàn cảnh cho chữ. Đó là sự đối lập giữa công việc tạo ra cái đẹp “nói lên hoài bão tung hoành của một đời người” với chốn ngục tù hôi hám, bẩn thỉu, nơi giam cầm cùm trói tự do. Sự sự đối lập phong thái của người cho chữ với tư của kẻ nhận chữ cũng góp phần không nhỏ vào việc khắc họa hình tượng nhân vật. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao
1,869
Phân tích hình tượng nhân vật Khách trong “Phú sông Bạch Đằng” (Trương Hán Siêu) Hướng dẫn Phân tích hình tượng nhân vật Khách trong “Phú sông Bạch Đằng” (Trương Hán Siêu) Bài làm “Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ. “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật “khách”: … “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời. Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”, ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,… Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha thiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình: Đâu mà chẳng biết”. Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướt bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà “Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời. “Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”. Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làm trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường. “Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng” Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng. Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác giả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo sông núi: “Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều, Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo” “Bát ngát sóng kình muôn dặm” Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu xanh bao la “Bát ngát sóng kình muôn dặm – Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”. Câu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết: “Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầm tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng giang –Dịch nghĩa ) Cảnh núi non, bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời: “ Bờ lau san sát Bến lách đìu hiu Sông chìm giáo gãy Gò đầy xương khô Bpờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình băm non lởm chởm – Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng” ( “Cửa Biển Bạch Đằng”). “ Buồn vì cảnh thảm Đứng lặng giờ lâu Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”. Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu” của “khách” đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ nguồn” “Mà nhục quân thù khôn rửa nổi” Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âm điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng oanh liệt của tổ tiên: “ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã, Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.
Phân tích hình tượng nhân vật Khách trong “Phú sông Bạch Đằng” (Trương Hán Siêu)
980
Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Thúc Sinh trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán Gợi ý Sau khi mắc lừa Sở Khanh, Thúy Kiều bị Tú Hà ép làm gái lầu xanh, ở đây Kiều đã gặp Thúc Sinh – là con rể của quan Thượng thư, một người phong tình quen thói bốc rời. Lúc đầu, Thúc Sinh chi trăng gió nhưng về sau lại trở thành đá vàng với nàng. Thúc Sinh đã chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh và lấy làm vợ lẽ. Mặc dù sau này có chuyện Kiều bị đánh ghen, bị làm nhục nhưng Thúc Sinh trong điều kiện có thể, nói với Hoạn Thư đưa Kiều ra Quan Âm Các để giữ chùa, chép kinh, thoát khỏi kiếp tôi đòi. Có thể ta chê trách Thúc Sinh nhưng dù sao chàng cũng là ân nhân của Kiều, là người đã giúp Kiều hoàn lương. Kiều là một người phụ nữ phúc hậu nên nàng không bao giờ có thể quên ơn chàng. Thúc Sinh được mời tới trong cảnh oai nghiêm của nơi Kiều xử án: Cho gươm mời đến Thúc lang, Mặt như chăm đổ mình đường dẽ run. Cảnh báo ân diễn ra, Kiều đã dùng một chữ mời rất trọng vọng. Trước cảnh gươm lớn giáo dài, chàng Thúc hoảng sợ đến mức mất cả thần sắc, mặt như chàm đổ, người run lên như đi không vững. Hình ảnh tội nghiệp này hoàn toàn phù hợp với tính cách có phần nhu nhược của chàng ta.
Phân tích hình tượng nhân vật Thúc Sinh trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán
256
Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán Bài làm Thúy Kiều báo ân – thể hiện lòng biết ơn và nghĩa tình sâu nặng: Qua những lời nói của Kiều, có thể thấy nàng rất trọng tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh dành cho nàng trong cơn hoạn nạn: Nàng rằng: nghĩa nặng nghìn non, Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không? Sâm Thương chảng vẹn chữ tòng, Tại ai há dám phụ lòng cố nhân? Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi cảnh đời ô nhục. Cùng với chàng Thúc, Kiều có những tháng ngày êm ấm trong cuộc sống gia đình mà nàng gọi đó là nghĩa nặng nghìn non. Kiều nói về nghĩa, về chữ tòng, đề cao đạo lí thủy chung. Thúc Sinh là người cũ, là cố nhân mà Kiều há dám phụ. Nàng khẳng định tình nghĩa của Thúc Sinh đối với mình khi xưa là vô cùng to lớn, sâu nặng: nghĩa nặng nghìn non… Kiều đã dùng một số từ ngữ như nghĩa, nghìn non, Sâm Thương, chữ tòng, người cũ, cố nhân cùng với giọng điệu ôn tồn, biểu lộ một tấm lòng trân trọng, biết ơn một người đàn ông đã từng yêu thương mình, cứu vớt mình. Trái tim của Kiều rất nhân hậu, cách ứng xử của nàng với Thúc Sinh là giàu ân nghĩa, thủy chung. Cái lễ vật chất mà Kiều báo ân cho Thúc Sinh cũng thật hậu, khẳng định cái nghĩa đối với cố nhân trong những năm tháng ở Lâm Tri là vô cùng sâu nặng: Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân, Vì gắn bó với Thúc Sinh mà đời Kiều thêm một lần khổ với thán phận làm lẽ đau đớn hơn một kẻ tôi đòi. Tuy nhiên, Kiều hiểu nỗi đau khổ của nàng không phải do Thúc Sinh gây ra mà thủ phạm là Hoạn Thư. Nàng cho rằng dù có gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân cũng chưa xứng với ơn nghĩa của Thúc Sinh. Thúy Kiều báo oán kiên quyết nhưng vẫn khoan dung, độ lượng: Bao năm tháng đã trôi qua nhưng lòng Kiều vẫn chưa nguôi. Vì thế giờ đã đổi thay: kẻ chịu đầy đọa giờ đã là quan tòa ngồi trong trướng giữa cảnh gươm lớn giáo dài: Vợ chàng quỷ quái tinh ma, Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau. Kiến bò miệng chén chưa lâu, Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa. Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều đã nói về Hoạn Thư, chứng tỏ vết thương lòng mà vị tiểu thư kia gây ra cho Kiều đang còn quá xót xa. Kiều đã có hai cách nói khác nhau: nói về ân thì trang trọng, ôn tồn; nói về oán thì nôm na, chì chiết. Nguyễn Du đã tạo ra hai giọng điệu, hai thứ ngôn ngữ trong một lượt lời của Thúy Kiều đã cho thấy ông rất tinh tế, sâu sắc khi thể hiện tâm lí nhân vật. Từ lần bị đánh ghen đêm ấy, đến nay đã trải qua bao năm tháng. Gặp lại Hoạn Thư lần này, trong tư thế của người chiến thắng ra tay báo oán, Kiều đã chào thưa bằng những lời mát mẻ: Thoắt trông nàng đã çhào thưa: “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây! Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan! Dễ dàng là thói hồng nhan, Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”. Hành động, lời nói của Kiều đều biểu thị thái độ mỉa mai đối với Hoạn Thư. Nàng vẫn dùng cách xưng hô như hồi còn làm hoa nô cho nhà họ Hoạn, vẫn một điều chào thưa, hai điều tiểu thư. Cách xưng hô này trong hoàn cảnh giữa Kiều và Hoạn Thư đã có sự thay đổi là một cách mỉa mai, quất mạnh vào danh gia họ Hoạn. Trong lời nói của Kiều có cá giọng đay nghiến khi câu thơ như dằn ra từng tiếng, khi từ ngữ được lặp lại, nhấn mạnh: dễ có, dễ dàng, mấy tay, mấy mặt, mấy gan, đời xưa, đời nay, càng cay nghiệt, càng oan trái,… Cách nói này hoàn toàn phù hợp với Hoạn Thư, phù hợp với con ngươi bề ngoài thơn thớt nói cười mà trong nham hiểm giết ngiiời không dao. Giọng điệu mỉa mai, đay nghiến của Kiều cho thấy nàng quyết trừng trị Hoạn Thư theo đúng quan niệm mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa. Từ thân phận con người bị áp bức, đau khổ, Thúy Kiều đã trở thành vị quan tòa cầm cán cân công lí. Đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán là sự phản ánh khát vọng ước mơ công lí chính nghĩa của thời đại Nguyễn Du. Nhưng sau khi nghe những lời gỡ tội cua Hoạn Thư vừa có lí vừa có tình thì Thúy Kiều đã tha riêng cho Hoạn Thư: Khen cho: “Thật đã nên rằng, Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời. Tha ra thì cũng may đời. Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen. Đã lòng tri quá thì nên: Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay. Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tường tượng của nhiều người. Vốn là người phụ nữ trung hậu, đã từng nếm trải bao cay đắng và ngang trái trong cuộc đời, vả lại Kiều cũng tự biết mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác. Tha tội cho Hoạn Thư, Thúy Kiều đã tỏ ra vô cùng cao thượng. Nguyễn Du đã sáng tạo ra những lời thoại biến hóa để nói lên chuyện báo ân báo oán, ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của Truyện Kiều.
Phân tích hình tượng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán
979
Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu Hướng dẫn Mở bài: Rừng xà nu là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyên Ngọc và cũng là một tác phẩm tiêu biểu cho đề tài văn học chống Mĩ trong văn học hiện đại. Viết truyện hanngắn năm 1965, Nguyễn Trung Thành muốn phản ảnh lòng yêu nước bất khuất và sức sống kiên cường của người dân Tây Nguyên. Đồng thời, ông cũng muốn khẳng định chân lý của thời đại: “Phải dùng bạo lực cách mạng để đánh đổ bạo lực phản cách mạng”, như lời của cụ Mết “chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo”. Rừng xà nu còn tiêu biểu của khuynh hướng lãng mạn và sử thi. Nhân vật trung tâm của truyện ngắn này là nhân vật Tnú – một nhân vật tiêu biểu cho Tây Nguyên bất khuất, một là nhân vật anh hùng trong cả một tập thể anh hùng ấy là buôn làng Xô Man và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Thông qua hình tượng nhân vật Tnú, Nguyễn Trung Thành đã thể hiện tư tưởng, chủ đề cũng như thành tựu nghệ thuật của truyện ngắn Rừng xà nu. Thân bài: Tnú là một nhân vật điển hình trong văn học, một nhân vật điển hình thường được nhà văn xây dựng trong một hoàn cảnh điển hình. Hoàn cảnh chính là môi trường để nhân vật bộc lộ cá tính của mình. Ở đây là buôn làng Xô Man trong những ngày đầu thử thách. Đọc câu chuyện này, người đọc ấn tượng đầu tiên ở nhân vật Tnú là đức tính trung thực, gan góc, dũng cảm. Tính cách của nhân vật Tnú phát triển nhất quán trong cuộc đời anh. Nó được bộc lộ ngay từ khi Tnú còn nhỏ, đi làm liên lạc, Tnú và Mai được anh Quyết dạy cho cái chữ, học chữ thua Mai, Tnú đã đập bảng, lấy đá ghì vào đầu mính đến chảy cả máu. Chi tiết này cho thấy Tnú là con người trung thực với chính lòng mình. Đặc biệt sự gan góc dũng cảm của anh được bộc lộ khi Tnú đối mặt với kẻ thù khi Tnú bị giặc bắt và tra tấn vô cùng dã man. Chúng đã hỏi Tnú “Cộng sản ở đâu?” liền với câu hỏi đó, Tnú chỉ tay vào bụng mình trả lời đầy khí phách “Cộng sản ở đây này!”. Chúng ta biết rằng, đằng sau câu trả lời ấy thì lưng anh đã dọc ngang vết chém của kẻ thù. Nhưng ấn tượng hơn cả ở, nhân vật này là đôi bàn tay của anh. Văn học thời kì kháng chiến chống Mĩ, khi xây dựng hình tượng anh hùng trong cả một tập thể anh hùng, các nhà văn thường bị ám ảnh bởi một số những chi tiết mang được phẩm chất của nhân vật ấy. Ai đã từng đọc tiểu thuyết Hòn đất của nhà văn Anh Đức. Dễ nhận thấy ở đó nhà văn đã mô tả rất sắc nét mái tóc của chị Sứ – mái tóc ấy như linh hồn của chị. Nguyễn Trung Thành lại bị ám ảnh bởi đôi bàn tay của Tnú, đôi bàn tay của anh là đôi bàn tay mang được tính cách nhân vật. Đôi bàn tay ấy khi chưa bị giặc tra tấn thì đó là đôi bàn tay tình nghĩa. Đôi bàn tay ấy đã từng lấy đá đập vào đầu mình, từng trừng phạt mình khi hịc cái chữ hay quên. Đôi bàn tay ấy đã từng làm cho Mai xúc động khi Tnú bỏ trốn khỏi ngục Kon Tum trở về, chị ra đón anh tận đầu làng, cầm đôi bàn tay của anh mà giàn giụa nước mắt. Đôi bàn tay ấy bị giặc tra tấn, tẩm nhựa xà nu đốt. Mười ngón tay ấy trở thành mười ngọn lửa, mười ngọn lửa ấy cộng hưởng lại với nhau để châm bùng lên ngọn lửa đồng khởi của nhân dân miền Nam chống lại cuộc chiến tranh đơn phương Mĩ. Điều đó chứng tỏ ngọn lửa ấy đã bước qua giới hạn không gian trở thành ngọn lửa căm thù hừng hực trong lòng anh, máu anh mặn chát cả đầu lưỡi anh, răng anh cắn nát môi anh, rồi trong hoàn cảnh đó, Tnú không hề hế răng kêu nửa lời, Tnú luôn tâm niệm lời dạy của Đảng, lời dạy của anh Quyết: “Người cộng sản không thèm kêu van”. Là một người luôn mang trong mình lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng nên Tnú luôn tin tưởng vững chắc vào sự thắng lợi của cách mạng. Tình yêu thương cũng như lòng căm giận của Tnú mang đậm tính cách của người Tây Nguyên. Hiện lên trong câu chuyện, Tnú là người sống rất nghĩa tình. Anh có lòng yêu thương sâu sắc đối với gia đình và quê hương của mình. Khi còn nhỏ, Tnú là người bạn tốt của Mai, khi trưởng thành anh là người yêu chung thủy của Mai rồi cũng là người chồng, người cha đầy trách nhiệm. Khi giặc đánh đập, tra tấn mẹ con Mai một cách dã man, Tnú đã xông vào cứu mà trong tay không hề có một thứ vũ khí nào. Động lực nào đã làm nên sức mạnh hùng thiêng ở Tnú để anh xông xào kẻ thù bất chấp mọi hiểm nguy? Sẽ là gì nếu không phải động lực ấy được khơi lên từ một trái tim rực lửa yêu thương cháy lửa căm thù. Tnú là một tấm gương để cụ Mết giáo dục cho thế hệ trẻ ở buôn làng Xô Man. Lòng căm thù giặc sâu sắc ở nhân vật Tnú được gợi lên mạnh mẽ sâu sắc bởi Tnú mang trong mình ba mối thù lớn đối với giặc. Đó là mối thù bản thân anh, mối thù gia đình anh và mối thù của buôn làng anh. Dọc lưng anh đều ngang dọc những dao chém của kẻ thù, mười đầu ngón tay bị giặc thiêu cháy một đốt, đó là mối thù cá nhân anh, đó là chứng tích của lòng căm thù giặc cao độ mà Tnú mang trong mình suốt đời. Vợ con anh bị giết một cách thảm khốc dưới cây gọng sắt của kẻ thù. Đó là mối thù gia đinh mà anh quyết không đội trời chung. Những người dân làng Xô Man bị kẻ thù giết hại, những cánh rừng xà nu bị đạn bom tàn phá, mảnh đất quê hương anh bị bom đạn cầy xới, băm vằm. Đó là mối thù của buôn làng mà suốt cuộc đời Tnú không bao giờ nguôi ngoai. Mang trong mình ba mốt thù lớn ấy với đôi bàn tay bị đốt ngón trỏ chỉ còn hai đốt, Tnú vẫn quyết tâm đi tìm giặc để trả thù. Với Tnú đã là thằng giặc thì thằng nào cũng là thằng Dục cả. Vì vậy, ở cuối câu chuyện với bàn tay cụt đốt, Tnú vẫn bóp chết tên chỉ huy ngay trong hầm cố thủ của hắn với một điều tâm niệm: “Đó là thằng Dục”. Chi tiết nghệ thuật này vừa thể hiện lòng yêu nước, căm thù giặc mang tính cách dân tộc, lại vừa khẳng định chân lí ác giả ác báo. Kẻ thù gây ra tội ác thì chúng phải chết bằng chính cái chứng tích đó. Dân làng Xô Man có biết bao nhiêu người, bao nhiêu số phận, gia đình phải gánh chịu đau thương của chiến tranh như Tnú. Đọc truyện ngắn chúng ta nhận thấy có những người bị kẻ thù tàn sát treo cổ trên cây và đầu làng thậm chí có những kẻ người bị kẻ thù chặt đầu, cột tóc trên đầu súng. Nhưng bi kịch của Tnú vẫn mang ý nghĩa điển hình, Tnú mang trong mình ba mối thù lớn sâu sắc với giặc, anh đã lao vào đánh giặc không hề tính toán không hề có vũ khí trong tay. Do vậy, Tnú thất bại nặng nề. Từ sự thật đó, Nguyễn Trung Thành đã đưa ra một chân lý của thời đại chống Mĩ: nếu chỉ có lòng căm thù giặc thôi chưa đủ, thời đại chống Mĩ phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt lực lượng phản cách mạng. Bi kịch của Tnú khi không có vũ khí trong tay đã thất bại đau đớn trước kẻ thù hung bạo. Nhìn rộng ra, nó cũng là bi kịch của những người dân làng Xô Man khi chưa giác ngộ chân lý của Đảng. Không phải ngẫu nhiên mà ngay phần đầu câu chuyện, Nguyễn Trung Thành đã viết về những đau thương trong chiến tranh. Cả cánh rừng xà nu không cây nào không bị thương tích. “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” đó là lời cụ Mết khi đã giác ngộ ánh sáng của Đảng. Tnú cường tráng khỏe mạnh, vững vàng như một cây xà nu lớn. Chính trong lòng ngực anh là một sức mạnh mênh mang hoang dại của núi rừng Tây Nguyên. Tnú có thừa gan góc đến bướng bỉnh, thừa lòng kiêu hãnh đến dư lòng tự ác. Mặc dù cái ác hiện hình bằng mũi dao, mũi súng hay ngọn lửa, Tnú vẫn không hề khuất phục trước kẻ thù. Với tất cả sức mạnh về thể chất và tinh thần, Tnú đột phá giữ vòng vây kẻ thù. Nhưng trong tay không vũ khí nên bản thân cũng không cứu được vợ con cũng như những người dân làng Xô Man. Vợ con anh bị giết một cách thảm khốc. Bản thân anh bị giặc đốt cháy mười đầu ngón tay lại chính bằng ngọn lửa cháy từ nhựa xà nu. Điều này muốn nói lên rằng khi Tnú tay không đánh giặc thì ngay thứ nhựa xà nu thân thiết – cái khói chất thơm ngào ngạt như đọng nắng quê hương đó cũng trở thành ngọn lửa thiêu cháy đôi bàn tay vẫn chăm vun trồng, che chở cho rừng xà nu. Bi kịch của Tnú cũng như bi kịch của những người dân làng Xô Man chỉ có thể giải thoát được khi họ đã “đồng khởi”, cầm vũ khí trong tay ào ạt xông lên chém gục kẻ thù. Dân làng Xô Man nói riêng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung, khi cầm vũ khí đồng khởi thì không những cứu được cuộc đời của Tnú mà còn cứu được cả các buôn làng. Là một nhân vật được Nguyễn Trung Thành mô tả vô cùng sống động, cuộc đời của Tnú lúc còn nhỏ cho tới khi trưởng thành đã có sự phát triển về ý thức cách mạng. Con đường giác ngộ cách mạng của Tnú đi từ tự phát cá nhân dần dần đến đấu tranh cách mạng khởi nghĩa, rồi khởi nghĩa vũ trang. Đó cũng là con đường đi của cả buôn làng Xô Man, của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Con đường đúng đắn đó là con đường nào khác. Tnú là thành tựu xuất sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Nguyên Trung Thanh khi xây dựng nhân vật Tnú, nhà văn đã kết hợp rất hài hòa giữa tính dân tộc và tính sử thi. Như đã nói, Tnú là một nhân vật điển hình, anh tiêu biểu cho con người Tây Nguyên, tiêu biểu cho người Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ. Chất Tây Nguyên đã thấm đẫm vào nhân vật này từ ngôn ngữ cho đến hành động. Ngôn ngữ của Tnú thường ngắn gọn mộc mạc. Đó là ngôn ngữ đối thoại, nói sâu sắc như dao chém đá, chắc như đinh đóng cột. Hành động của Tnú kiên cường và mạnh mẽ. Từ dáng đứng của Tnú kiên quyết và mạnh mẽ. Từ dáng đi của Tnú cũng có khí thế ào ạt như núi thác cao nguyên. Cuộc đời của Tnú được kể lại qua lời cụ Mết trong sinh hoạt cộng đồng. Nó mang được tính truyền thống của người Tây Nguyên. Thông qua lời kể từ một già bản, nó làm cho nhân vật Tnú mang đậm sắc con người anh hùng dân tộc. Tnú là một tấm gương để cụ Mết giáo dục lớp trẻ buôn làng Xô Man. Tnú chính là một nhân vật bước ra từ trong sử thi. Nhân vật ấy bao giờ cũng phải tiêu biểu cho sức mạnh của lí tưởng, sức mạnh của cộng động thường mang một vẻ đẹp kì vĩ. Tnú là một kiểu nhân vật sử thi bởi vì sức mạnh của Tnú chính là sức mạnh của Tây Nguyên bất khuất. Rực cháy trong huyết quản của anh là dòng máu anh hùng của người Tây Nguyên có từ thời Đam Săn, Xinh Nhã…. Khát vọng độc lập tự do của Tnú cũng chính là khát vọng tự do của đồng bào Tây Nguyên, dân tộc Việt Nam. Tnú có thể vững chãi như núi rừng Tây Nguyên. Trong sinh hoạt cùng với lời kể khan của đồng bào Tây Nguyên cho nên nội dung của câu chuyện này đã truyền tải được sự kiện lịch sử mang tính sử thi. Cần phải khẳng định tính sử thi trong văn học miền Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ là một đặc điểm nỗi bật và xuyên suốt qua nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn. Từ Hòn Đất của Anh Đức đến Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái cũng đều mang đậm tính sử thi. Cuộc đời bi tráng của Tnú hiện lên qua những lời kể khan bên bếp lửa bập bùng trong một đêm thiêng với giọng trầm hùng của một già bản càng làm tăng thêm chất sử thi của hình tượng nhân vật này. Đọc truyện ngắn Rừng xà nu ta có cảm giác nhân vật Tnú có phần nào giống anh hùng dũng sĩ trong các trường ca cổ Tây Nguyên. Kết bài: Phát triển nhân vật Tnú lại là hình ảnh anh hùng Núp trong tiểu thuyết Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyễn Trung Thành với bút danh Nguyên Ngọc. Ở đây, Nguyễn Trung Thành đã xây dựng thành công nhân vật Tnú – một hình tượng nhân vật điển hình cho Tây Nguyên bất khuất. Với tiểu thuyết Đất nước đứng lên và với truyện ngắn Rừng xà nu Nguyễn Trung Thành đã là một trong những nhà văn đầu tiên mở cánh cửa sáng tác vào mảnh đất Tây Nguyên và xây dựng trên đó những lâu đài văn học nguy nga, tráng lên. Cho tới nay Nguyên Ngọc – Nguyễn Trung Thành vẫn là bút danh viết về để tài Tây Nguyên xuất sắc nhất.
Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu
2,491
Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu – Nguyễn Thành Trung Hướng dẫn Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu – Nguyễn Thành Trung Nguyễn Trung Thành là gương mặt tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam, sinh ra ở Quảng Nam nhưng nhà văn lại có tình cảm sâu đậm với mảnh đất Tây Nguyên. Nếu kháng chiến chống Pháp ông đã từng có tiểu thuyết đất nước đứng lên viết về mảnh đất và con người Tây Nguyên anh hùng được trao giải nhất giải thưởng Văn học Việt Nam 1945-1955 thì thời kì kháng chiến chống Mỹ ông lại có truyện ngắn Rừng xà nu thể hiện một cách hào hùng chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Trong tác phẩm nhà văn thành công trong việc xây dựng một số hình tượng nghệ thuật trong đó hình tượng nhân vật Tnú là một biểu tượng đẹp đẽ, là một thành công nghệ thuật góp phần làm nổi bật chủ đề tư tưởng tác phẩm. Tnú là nhân vật chính của truyện ngắn. Vốn mồ côi cha mẹ từ nhỏ, Tnú lớn lên nhờ sự đùm bọc nuôi dưỡng của dân làng Xô Man có lẽ vì thế mà hơn ai hết ” Tnú gắn bó với dân làng và có những phẩm chất của dân làng “. Bản chất của Tnú: chân thật, tốt bụng. Đúng như lời cụ Mết nói ” đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta “. Ngay từ khi còn nhỏ Tnú đã thể hiện là một cậu bé gan góc, bướng bỉnh, rắn rỏi, mạnh mẽ. Những ngày ấy lành Xô Man bị kẻ thù khủng bố điên cuồng ” không bữa nào nó không đi lùng, không đêm nào chó của nó và súng của nó không sủa vang rừng “. Anh Xút bị giặc treo cổ lên cây vả đầu làng, bà Nhan bị chặt đầu cột tóc treo đầu súng vì đã vào rừng nuôi cán bộ nhưng những điều ấy không khiến cho Tnú sợ hãi. Tnú và Mai là hai đứa trẻ hăng hái nhất vẫn trốn ra rừng nuôi anh Quyết thậm chí đêm chúng còn ngủ lại rừng đề phòng giặc lùng còn có người dẫn cán bộ chạy. Được anh Quyết dạy học chữ, Tnú học thua Mai, nó tức đập vỡ bảng bỏ ra suối ngồi lấy đá đập lên đầu cho máu ròng ròng, làm liên lạc với anh Quyết, Tnú thường xé rừng mà đi, lựa chỗ thác mạnh mà bơi. Vượt lên trên mặt nước cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình. Khi rơi vào sự đột kích của giặc Tnú nuốt luôn lá thư vào bụng kiên quyết không khai, bọn giặc trói, đánh, tra khảo. Mỗi lần chúng hỏi Tnú lại đặt bàn tay lên ngực dõng dạc trả lời: ” Nó nằm ở đây “. Sau những lần như thế, tấm lưng nhỏ của Tnú lại vằn thêm những vết dao chém. Ba năm ở tù Tnú chịu đủ mọi đòn tra tấn nhưng không đau đớn bằng khi anh chứng kiến cảnh lũ ác ôn dùng gậy sắt đánh vợ và đứa con trai đánh ngã ngửa cho đến chết. Lòng căm thù khiến cho hai mắt của Tnú như hai ngọn lửa lớn, anh hét lên lao thẳng vào lũ lính bóp cổ thằng Dục, rồi dang rộng cánh tay như hai cánh lim che chở cho mẹ con Mai nhưng Tnú đã không cứu được vợ con vì anh chỉ có hai bàn tay trắng. Bản thân anh cũng bị bắt bị trói, bị cuốn giẻ tẩm dầu xà nu đốt cháy mười đầu ngón tay như mười ngọn đuốc, lửa cháy đến đâu cái đau cái nóng trên mười đầu ngón tay lan đến từng thớ thịt của cơ thể. Cả về thể xác lẫn tinh thần, nỗi đau của Tnú lên đến đỉnh điểm. Vợ chết con chết bi thảm mười đầu ngón tay của Tnú không ngón nào không mất một đốt, bao nhiêu đau thương, bao nhiêu uất hận nén thành lòng căm thù. Đôi bàn tay đầy thương tích của Tnú vẫn có thể cầm được súng, bóp được cò, giết được giặc, anh vào bộ đội giải phóng quyết trả thù cho vợ con, cho lũ làng, cho quê hương. Số phận và tính cách của nhân vật Tnú tiêu biểu cho người dân làng Xô Man với những phẩm chất đẹp đẽ của con người Tây Nguyên. Anh xứng đáng là một tấm gương cho cụ Mết giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Nhân vật Tnú là một hình tượng đẹp góp phần tô đẹp chủ đề và làm nên màu sắc sử thi cho truyện ngắn Rừng xà nu. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu – Nguyễn Thành Trung
827
Phân tích hình tượng nhân vật Tnú để làm sáng tỏ câu nói của cụ Mết: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”-Rừng xà nu Hướng dẫn Cách 1: Phân tích làm rõ những đặc điểm, phẩm chất của Tnú + Tình cảm gắn bó với quê hương, đất nước + Một lòng trong thành, gắn bó với Cách Mạng + Tình cảm gắn bó với nhân dân, người thân + Niềm tin vào chiến thắng Cách 2: Chia cuộc đời Tnú ra làm hai chặng + Trước khi cầm vũ khí (từ hồi Tnú còn nhỏ) + Sau khi cầm vũ khí đứng lên khởi nghĩa (khi trưởng thành) Mở bài: Nguyễn Trung Thành là nhà văn của núi rừng Tây Nguyên. Với tác phẩm “Đất nước đứng lên” trong kháng chiến chống Pháp, ông đã gây được một tiếng vang lớn và sau này trong kháng chiến chống Mỹ. Ông lại gặt hái thành công trên mảnh đất này với truyện ngắn mang dung lượng của một tiểu thuyết: Rừng xà nu. Truyện ngắn “Rừng xà nu” (1965) đăng lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ Quân giải miền Trung – Trung Bộ. Sau này được đưa vào tập “Truyện và kí trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc” (1969). Tác phẩm viết về người dân làng Xô Man anh dũng đã biết đứng lên đánh giặc để bảo vệ buôn làng tự giải phóng chính mình. Nhà văn đã tái hiện lại cả một chặng đường đầy gian khổ nhưng hết sức anh dũng, quật cường của họ. Điều này được thể hiện rất sâu sắc trong câu nói của cụ Mết: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Thân bài: Hình ảnh những khu Rừng Xà Nu đã mở đầu cho câu chuyện về những thế hệ người dân làng Xô Man. Cuộc đời và số phận của họ đã phản chiếu một chặng đường vừa đau thương đen tối, vừa hào hùng bất khuất của nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đã biết bao người hi sinh dưới sự thống trị tàn bạo của kẻ thù. Những con người thương núi, thương nước ấy đã biết vượt lên mọi đau thương để đứng lên giữ đất giữ làng. Trong số đó, nổi bật lên hình ảnh Tnú. Câu chuyện về cuộc đời của anh đã được tái hiện lại một cách chân thực, sinh động qua lời kể của làng bên bếp lửa nhà Ưng. Cách trần thuật này mang âm hưởng của một pho sử thi Tây Nguyên. Lời kể của cụ Mết về một con người mà như gợi ra số phận của cả một cộng đồng: “Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe. Ai có cái bụng thương núi thương nước, hãy lắng mà nghe mà nhớ”. Lời nhắn gửi của cụ Mết đã thể hiện chân lí của thời đại mà Nguyễn Trung Thành muốn gửi gấm vào trong tác phẩm. Câu chuyện về cuộc đời Tnú đã phản chiếu con đường đầy đau khổ và mất mát nhưng anh dũng, kiên cường của dân làng Xô Man tìm đến Cách Mạng để đứng lên cầm vũ khí tự giải phóng mình. Phân tích nhân vật Tnú qua hai chặng: Tnú hồi còn nhỏ • Ngay từ khi còn nhỏ, Tnú đã là đứa bé gan góc, bướng bỉnh (dám lấy đá đập vào đầu người khác, khi học chữ không sáng dạ bằng Mai,…) • Tnú thuộc lòng từng tản đá, con suối, gốc cây trong rừng. Cậu có thể nhắm mắt đi trong rừng mà không sợ bị lạc (điều này cũng thể hiện tình yêu sâu nặng của Tnú với quê hương) • Tnú được giác ngộ Cách Mạng từ rất sớm. Mặc dù còn bé, nhưng đã biết thay người già luồn rừng đưa thư cho cán bộ, tiếp tế lương thực cho Cách Mạng… • Khi bị giặc bắt và tra tấn dã man, nhưng Tnú vẫn không khai báo (còn chỉ vào bụng mình mà nói “Cách Mạng ở đây này”). Tnú trước khi đứng lên cầm vũ khí (Tnú hồi nhỏ) Tnú khi trưởng thành Nhìn lại chặng đường đời của Tnú, ta có thể dễ dàng thấy hiện lên hình ảnh một Tnú trước và sau khi đứng lên cầm vũ khí. Nhân vật Tnú là một nhân vật mang tính sử thi. Trước khi cầm vũ khí, ngay từ khi còn nhỏ Tnú đã là một cậu bé gan góc; dũng cảm. Anh sớm biểu lộ một tính cách táo bạo đầy mạnh mẽ. Từ nhỏ, Tnú thay người già làm liên lạc, nuôi giấu cán bộ. Tnú nhanh nhẹn luồn rừng đưa thư, vượt qua suối lũ một cách dũng cảm. Cậu thật sáng dạ khi biết rằng bọn Mỹ ngụy ít khi phục kích ở chỗ nước chảy mạnh. Người đọc cảm thấy một cái gì đó đáng yêu ở sự quan tâm học chữ, không chịu thua kém Mai ở Tnú. Cậu bé này dám lấy đá đập vào đầu mình khi học cái chữ không sáng dạ bằng Mai. Tnú khi đã trưởng thành: • Tnú đã thay anh Quyết lãnh đạo dân làng tiếp tục đấu tranh, đi theo con đường Cách Mạng • Tnú trong quan hệ với dân làng • Tnú trong quan hệ với gia đình • Thái độ của Tnú trước kẻ thù • Khi Tnú một mình, tay không xông ra cứu vợ con và bị giặc bắt. Chúng tẩm nhựa xà nu đốt 10 ngón tay. Ở đây, điều tác giả muốn nhấn mạnh: Mặc dù Tnú có lòng căm thù giặc sâu sắc, có ý chí quyết tâm cao nhưng chỉ với hai bàn tay không anh đã thất bại. • Chi tiết hai bàn tay của Tnú • Phân tích Tnú trong mối qua hệ tương tác với cây xà nu Khi thoát ngục Kon Tum trở về, Tnú đã trở thành một chàng trai cường tráng. Anh hiểu biết và được tôi luyện nhiều qua thử thách. Giờ đây, Tnú giống như một cây xà nu trưởng thành, vạm vỡ, căng đầy nhựa sống, ham ánh sáng. Theo lời anh Quyết ngày nào, Tnú sẽ thay anh làm cán bộ. Một lần nữa, anh đã đi ba ngày lên núi Ngọc Linh. Chuyến đi này không phải lấy đá để làm phấn mà là để mài giáo mác. Dân làng đang âm thầm chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. Cảnh tượng về cái chết đau thương trong đêm ấy cứ trở đi trở lại trong lời kể của già làng. Nó cũng liên tục dội về trong hồi ức đau đớn của Tnú. Tnú đã không cứu được vợ con. Còn anh cũng bị kẻ thù đốt cháy 10 đầu ngón tay: “Mỗi ngón chỉ còn hai đốt… không mọc lại được”. Nỗi đau thương này là minh chứng hùng hồn cho câu nói vừa bình dị, vừa sâu sắc của cụ Mết: “Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo”. Hình ảnh hai bàn tay của Tnú • Từ lúc nhỏ, hai bàn tay của Tnú đã biết cuốc nương phát rẫy, rồi biết luồn rừng đưa thư, tiếp tế cho cán bộ. • Hai bàn tay đã dám lấy đá đậm vào đầu mình khi học chữ không sáng dạ bằng Mai. • Lớn lên, hai bàn tay ấy đã biết nâng niu hạnh phúc của mình khi xé tấm áo để Mai làm địu cho đứa con. • Theo lời dặn của anh Quyết, Tnú đã lãnh đạo dân làng chuẩn bị khởi nghĩa (hai bàn tay mài vũ khí trong ánh đuốc xà nu) • Giặc đốt 10 đầu ngón tay của Tnú hòng dập tắt ý định phản kháng của dân làng Xô Man, buộc họ phải xuôi tay trong kiếp sống nô lệ. • Bằng những ngón tay bị cụt ngón, Tnú đã bắt kẻ thù phải đền tội. Nổi bật trong truyện ngắn Rừng Xà Nu là hình ảnh một Tnú sau khi cầm vũ khí. Đó là một hình ảnh thật đẹp và lớn lao biết bao. Giống như những anh hùng ngày nào trong các Khan (trường ca) vậy. Khi đốt cháy hai bàn tay của Tnú, kẻ thù muốn dập tắt ý chí kháng chiến, muốn tiêu diệt khát vọng chiến đấu của người dân Xô Man. Chúng muốn người dân nơi đây mãi mãi xuôi tay trong kiếp nô lệ thấp hèn dưới lưỡi gươm và nòng súng tàn bạo của chúng. Thế nhưng, Tnú và người dân Xô Man đã không cam chịu và bị khuất phục. Mà ngược lại, họ đứng lên phản kháng quyết liệt. Họ đã biết vượt lên đau thương cầm vũ khí tự giải phóng mình. Lửa đang thiêu cháy 10 đầu ngón tay của Tnú. Lửa đang bùng cháy trên 10 đầu ngón tay tẩm dầu xà nu. Nhưng Tnú không cảm thấy đau đớn. Anh chỉ thấy lửa cháy ở trong lòng. Ngọn lửa chiến đấu sẽ thiêu cháy kẻ thù. Một tiếng thét đầy căm hờn phẫn uất vang vọng cả núi rừng Xô Man. Nhà văn Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cái đêm nổi dậy ấy thật hào hùng, sôi động. “Tiếng chiêng nổi lên, đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn. Suốt đêm, nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động và lửa cháy khắp rừng”. Cái đêm nổi dậy ấy đâu chỉ là của dân làng Xô Man. Mà là cả sự lớn dậy phi thường của cả một cộng đồng dân tộc. Dường như trong đêm ấy đang sống lại cái không khí linh thiêng hào hùng của thiên sử thi Tây Nguyên. Đôi bàn tay bị đốt cháy của Tnú đã nhóm lên ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc của dân làng Xô Man. Nó còn soi sáng cuộc đời anh. Anh đã thay mặt dân làng Xô Man, lên đường kháng chiến. Anh đi tìm những thằng Dục tàn ác khác. Bởi lẽ, không phải ngẫu nhiên, tác giả lại để cho Tnú kể với dân làng mình về sự đối đầu của anh với kẻ thù sau này.Nhà văn đã cố tình tô đậm hình ảnh đôi bàn tay ấy. Đôi bàn tay có cả một lịch sử – một số phận. Nhân vật Tnú là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Anh được xây dựng bằng bút pháp lí tưởng hóa, giàu chất sử thi. Anh tiêu biểu cho số phận, phẩm chất và con đường đến với cách mạng của nhân dân Tây Nguyên thời chống Mĩ. Nhà văn có dụng ý khắc họa đôi bàn tay của Tnu để làm nổi bật số phận và tính cách nhân vật. Đôi bàn tay Tnú cũng có một cuộc đời riêng. Đó là bàn tay trung thực, tình nghĩa và căm thù. Khi giặc đốt mười đầu ngón tay, bàn tay Tnu thành chứng tích của tội ác và lòng hận thù. Hận thù đã biến đôi bàn tay Tnu thành bàn tay quả báo. Hình ảnh đôi bàn tay Tnu là một chi tiết nghệ thuật đầy sức ám ảnh. Kết bài: Rừng xà nu là truyện ngắn đậm chất sử thi. Truyện có lời văn trau chuốt, giàu hình ảnh. Tác phẩm tái hiện được vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng Tây Nguyên với những cánh rừng xà nu bạt ngàn. Những thế hệ người dân Tây Nguyên anh hùng, mạnh mẽ được tạc khắc chân thực và tinh tế vô cung. Đó là bức tranh hoành tráng trong hình ảnh, trong âm hưởng với lời văn đầy nhịp điệu, khi vang động, khi tha thiết trang nghiêm
Phân tích hình tượng nhân vật Tnú để làm sáng tỏ câu nói của cụ Mết_ “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”-Rừng xà nu
1,922
Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Tnú Bài làm Trước khi cầm vũ khí, ngày từ khi còn nhỏ Tnú đã là cậu bé gan góc, dũng cảm biểu lộ một tính cách táo bạo mạnh mẽ.Tnú thay người già làm liên lạc, nuôi giấu cán bộ, nhanh nhẹn luồn rừng đưa thư, vượt qua suối lũ một cách dũng cảm.Cậu thật sáng dạ khi biết rằng bọn Mĩ nguỵ ít khi phục kích ở chỗ nước chảy xiết. Nguời đọc cảm thấy một cái gì thật đáng yêu ở sự quan tâm học chữ không chịu thua kém ai của Tnú.Cậu bé này dám “cầm đá tự đập vào đầu máu chảy ròng ròng khi học cái chữ không thuộc” bằng Mai.Và đặc biệt sự gan dạ dũng cảm của Tnú khi bị giặc bắt, chú bé nhỏ tuổi này đã chỉ vào bụng mình và nói: “Cộng sản ở đây này”.Mặc cho những vết dao chém dọc ngang trên tấm lưng bé nhỏ, Tnú vẫn không khai báo, vẫn gan dạ kiên cường.Trước những trận đòn roi tra tấn dã man của kẻ thù, Tnú thật may mắn khi được học cái chữ và được giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Đây là nét hơn hẳn mà nhân vật A Phủ trong “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài chưa có. Phân tích hình tượng nhân vật Tnú Khi thoát ngục Kon tum trở về, Tnú đã là một chàng trai cường tráng, hiểu biết được tôi luyện qua nhiều thử thách.Giờ đây Tnú giống như một cây xà nu trưởng thành, vạm vỡ, căng đầy nhựa sống và ham ánh sáng.Theo lời dạy của anh Quyết ngày nào, Tnú thay anh làm cán bộ và một lần nữa anh đã đi ba ngày đường lên núi Ngọc Linh nhưng không phải là lấy đá để làm phấn mà là để mài giáo mác chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Không chỉ nhìn thấy rõ con đường để đi theo cách mạng, Tnú còn có một cuộc sống hạnh phúc với tình yêu của Mai, với đứa con mới chào đời.Nhưng quãng thời gian hạnh phúc ấy thật ngắn ngủi, giặc đã cầm súng kéo về, buôn làng còn chưa kịp cầm vũ khí. Tnú và thanh niên trong làng phải trốn vào rừng để rồi một mình Tnú lại xông ra mong che chở cho mẹ con Mai trước đòn roi của kẻ thù, nhưng cả hai đều không sống được.Cảnh tượng về cái chết đau thương trong đêm ấy cứ trở đi trở lại trong lời kể của già làng và dòng hồi ức đau đớn của anh.Không những không cứu được vợ con, Tnú còn bị kẻ thù đốt cháy mười đầu ngón tay “Mỗi ngón chỉ còn hai đốt….không mọc lại được”.Nỗi đau thương này là minh chứng hùng hồn cho câu nói vừa giản dị vừa sâu sắc của cụ Mết: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Đặc biệt là hình ảnh của Tnú sau khi cầm vũ khí chiến đấu thật đẹp và lớn lao biết bao.Hình ảnh Tnú hiện lên như những anh hùnh thời nào trong các khan, trong các trường ca Tây Nguyên.Khi đốt cháy hai bàn tay của Tnú, kẻ thù muốn dập tắt ý chí phản kháng, muốn tiêu diệt khát vọng chiến đấu của người dân Xô Man.Chúng muốn người dân nơi đây mãi mãi xuôi tay trong kiếp nô lệ thấp hèn dưới nòng súng tàn bạo của chúng.Nhưng Tnú và người dân làng Xô Man không cam chịu khuất phục, mà ngược lại họ đã phản kháng quyết liệt.Họ đã biết vượt lên đau thương để vùng lên cầm vũ khí tự giải phóng mình.Lửa đã thiêu cháy mười đầu ngón tay Tnú, lửa bùng cháy trên mười đầu ngón tay tẩm dầu xà nu.Nhưng Tnú không thấy đau đớn, anh chỉ thấy lửa cháy ở trong lòng- ngọn lửa chiến đấu sẽ thiêu cháy kẻ thù.Và một tiếng hét căm hờn, phẫn uất đã vang vọng khắp núi rừng Xô man, tiếng hét ấy như khơi dậy cao độ lòng căm thù giặc của cả buôn làng.Xác mười tên giặc đã chết nằm ngổn ngang trên mặt đất. Đêm ấy lửa cháy suốt trong bếp lửa nhà ưng.Nhà văn Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cái đêm nổi dậy ấy thật hào hùng, sôi động: “Tiếng chiêng nổi lên, đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn suốt đêm nghe cả rừng Xôman âo ào rung động và lửa cháy khắp rừng”.Cái đêm nổi dậy ấy đâu chỉ là của dân làng Xôman mà là sự lớn dậy phi thường của cả một cộng đồng, dân tộc.Dường như trong đêm ấy đang sống lại cái không khí linh thiêng hào hùng của những thiên sử thi Tây Nguyên”. Một điều không thể thiếu khi nhắc tới cuộc đời của Tnú đó chính là hình ảnh hai bàn tay của anh. Đôi bàn tay bị đốt cháy của Tnú đã nhóm lên ngọn lửa căm thù giặc sâu sắ của dân làng Xôman, nó còn soi sáng cuộc đời anh.Anh đã thay mặt người dân làng Xôman lên đường theo kháng chiến đi tìm những thằng Dục khác.Bởi lẽ không phải ngẫu nhiên tác giả lại để cho Tnú kể với dân làng mình sự đối đầu của anh với kẻ thù sau này: “Tôi nói: này tao có súng đây, tao có cả dao găm đây nhưng tao không giết mày súng, tao không đâm mày bằng dao nghe chưa Dục.Tao giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tao bóp cổ mày thôi”.Nhà văn đã cố tình tô đậm hình ảnh đôi bàn tay Tnú- đôi bàn tay có cả một lịch sử, một số phận. Lúc còn nhỏ, đôi bàn tay ấy kiên trì học từng nét chữ của anh Quyết, cần cù làm nương phát rẫy. Đôi bàn tay dám lấy đá đập vào đầu mình vì học cái chứ không thuộc.Và đôi bàn tay ấy dám chỉ vào bụng mình mà nói với quân giặc “Cộng sản ở đây này” khẳng định lòng trung thành với cách mạng.Lớn lên đôi bàn tay xúc động nắm lấy bàn tay người con gái anh yêu thương và cũng đôi bàn tay ấy xé tấm dồ làm địu cho đứa con thơ dại, bàn tay bíu chặt gốc cây vả khi chứng kiến vợ con bị giặc đáng đập bằng roi sắt, hai cánh tay rộng lớn ôm choàng lấy vợ con che chở, yêu thương…Lửa đốt cháy mười đầu ngón tay để rồi mãi mãi chỉ còn hai đốt không bao giờ mọc lại được…..cho nên Tnú muốn dung đôi bàn tay ấy để giết chết kẻ thù.Bao uất hận căm hờn đã dồn lên đôi bàn tay kia, nó đã trở thành biểu tượng cho ý chí bất khuất, cho sức sống mãnh liệt của Tnú và người dân làng Xôman.Kẻ thù tàn ác có thể đốt cháy đôi bàn tay nhưng không thể tiêu diệt được sức mạnh phi thường, tiềm ẩn trong con người họ. Đó là ý chí chiến đấu và khát vọng chiến thắng. Đó là một dân tộc kiên cường dũng cảm như những khu rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào bị thương mà vẫn xanh tươi bát ngát trải xa tít tắp tận chân trời. Xây dựng thành công nhân vật Tnú, nhà văn đã khắc hoạ được hình ảnh tiêu biểu của con người mang đậm dòng máu, tính cách của núi rừng Tây Nguyên.Và qua hình tượng Tnú, Nguyễn Trung Thành còn gợi ra được số phận và phẩm chất của cả cộng đồng trong cuộc chiến đấu bảo vệ buôn làng thân yêu. Đó là tình cảm gắn bó thiết tha sâu nặng với quê hương đất nước, với núi rừng Tây Nguyên, căm thù giặc sâu sắc, một lòng một dạ đi theo cách mạng, không ngại khó khăn, gian khổ, hi sinh, tin tưởng tuyệt đối vào sự thắng lợi của cách mạng.Có thể nói qua thiên truyện ngắn xuất sắc này của Nguyễn Trung Thành, người đọc càng thêm hiểu và thêm trân trọng con người Tây Nguyên với biết bao phẩm chất thật đẹp, thật cao quý. Họ cũng chính là hình ảnh đẹp đẽ, tiêu biểu cho con người Việt Nam thời chống Mĩ.
Phân tích hình tượng nhân vật Tnú
1,401
Phân tích hình tượng nhân vật Việt và Chiến Hướng dẫn Phân tích hình tượng nhân vật Việt và Chiến Tác phẩm“ Những đứa con trong gia đình” thuộc số những tác phẩm xuất sắc nhất của tác giả Nguyễn Thi. Với ngòi bút tinh tế và tài ba của mình, tác giả Nguyễn Thi đã góp phần làm nổi bật những tính cách của các nhân vật,là nghệ thuật nghệ thuật xây dựng các tính cách của nhân vật với cá tính đậm nét, đặc biệt là hai nhân vật: Việt và Chiến. Xuyên suốt tác phẩm: Những đứa con trong gia đình”, tác giả thường xuyên nói đến hình tượng dòng song lịch sử. Sự sử dụng khéo léo phép tu từ ẩn dụ mà Nguyễn Thi mượn lời của nhân vật chú Năm để nói về truyền thống lịch sử của gia đình vì mỗi gia đình của đất nước Việt Nam trong chiến tranh đều có truyền thống kiên cường, anh hung, dũng cảm. Những truyền thống này được truyền từ đời này sang đời khác dài như một dòng sông. Và chúng ta có thể thấy mỗi thế hệ anh hùng trong gia đình là một khác sông, mỗi gia đình là một tế bào của xã hội cho nên hàng trăm con sông truyền thống gia đình đều đổ về biển. “dòng sông lịch sử “ đó như xuyên suốt chảy mãi từ thế hệ này tới thế hệ khác từ lớp người đi trước đến lớp người đi sau. Chiến và Việt đây là những đứa con trong một gia đình nông dân miền Nam giàu truyền thống cách mạng. Từ nhỏ cả hai nhân vật Việt và Chiến đã đươc vun đúc lòng căm thù giặc, tình yêu thương và tự hào về truyền thống gia đình giàu lòng yêu quê hương đất nước, luôn khát khao đi đánh giặc đền nợ nước trả thù nhà và vì thế hai chị em có rất nhiều nét giống nhau. Đọc truyện chúng ta có thể chú ý tới chi tiết:Việt nói với anh cán bộ huyện: “ Tôi tên Việt anh cho tôi đi bộ đội’, chị Chiến cũng nói: “ Để em đi trước nó ở nhà…chú Năm thu xếp rồi hãy đi”. Lúc đó Việt đã khẳng định “ bộ chỉ mình chị biết đi trả thù hả?”. Cho đến khi cả hai chị em cùng được ghi tên tòng quân thì hai chị em đã cùng nhau khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm gửi, cả hai cùng có chung cảm xúc. Hai nhân vật Chiến và Việt là thế hệ tiếp nối và phát huy truyền thống lịch sử hào hùng của mỗi gia đình và dân tộc. Cả hai chị em đều có phẩm chất anh hùng gan góc, dũng cảm. Lúc nhỏ Chiến và Việt đã dám bắn tàu chiến Mỹ trên sông, giờ đây cả hai chị em đều luôn đối mặt với kẻ thù, lập được rất nhiều chiến công. Điều này còn được thể hiện ở câu thề khi Chiến ra đi thề với chú Năm chưa hết giặc thì chưa về và nói với Việt “ nếu giặc còn thì tao mất”, Việt cũng vậy khi nghe chị nói, Việt cũng nói rất hài hước lại giống lời thề “ chị có bị chặt đầu chờ chừng nào tôi bị”. Việt lại rất vô tư vô lo vô nghĩ,, lúc thì lăn ra ván cười khì khì, lúc thì là ngóc đầu lên dòm bàn thờ tin rằng là má đã về “ngồi ở đâu đó”, lúc lại bắt đom đóm để trong lòng bàn tay rồi “ngủ quên lúc nào không biết”. Là hai nhân vật trung tâm của truyện, Việt và Chiến góp phần vào biểu đạt tư tưởng cũng như những vẻ dẹp nổi bật là những nhân vật điển hình của những đứa con miền nam. Qua tác phẩm chúng ta lại một lần nữa khẳng định sự đa tài và sắc bén của tác giả để khắc họa tính cách và tâm lí của nhân vật. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích hình tượng nhân vật Việt và Chiến
684
Phân tích hình tượng nhân vật Xuân tóc đỏ Hướng dẫn Phân tích hình tượng nhân vật Xuân tóc đỏ Nếu như nhắc đến văn học viết về đề tài người nông dân, người ta không thể không nhắc đến Nam Cao, Ngô Tất Tố; nhắc đến thơ tình không thể không xướng tên Xuân Diệu; thì bàn về mảng hiện thực phê phán không thể nào lại không nghiêng mình trước tài năng của Vũ Trọng Phụng. Minh chứng đanh thép nhất cho cái tài trong nghệ thuật trào phúng phê phán của ông chính là tiểu thuyết “Số đỏ” với nhân vật Xuân tóc đỏ- một kẻ lưu manh gặp thời, dùng mọi mánh khóe để chen chân vào giới thượng lưu và cũng là nhân tố làm nên sự thành công cho “Số đỏ”. Xã hội thực dân phong kiến đến thời Vũ Trọng Phụng đã phơi bày đầy đủ bản chất xấu xa, thối nát của nó. Cuộc sống giả dối, bịp bợm với đủ trò cải cách, đó là môi trường thuận lợi cho “ký sinh trùng” Xuân Tóc Đỏ hoạt động. Xuân Tóc Đỏ đã phát triển trọn vẹn tính cách của nó: từ một tên lưu manh, đại bịp đã trở thành một “anh hùng cứu quốc”, một “vĩ nhân”. Để nhìn nhận chi tiết hơn quá trình từ lưu manh đầu đường trở thành “anh hùng cứu quốc” ấy, chúng ta cùng nhau soi chiếu vào cuộc đời của nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong được Vũ Trọng Phụng kể lại một cách đầy nghệ thuật và trào phúng. Xuân Tóc Đỏ là loại bụi đời trong môi trường thành thị. Vũ Trọng Phụng đã khắc họa tính cách nhân vật này với những nét rất đặc biệt, độc đáo. Thông qua Xuân Tóc Đỏ, Vũ Trọng Phụng cho thấy cái xã hội lúc bấy giờ là “tấn kịch thực sự của con người giữa những sự giả dối buồn cười”. Đó là một tên cơ hội, tiến được trong xã hội nhờ trò “gian trá bịp bợm”. Xuân Tóc Đỏ thực chất chỉ là một đứa lưu manh, vô học với lí lịch tối đen như mực: hắn là một đứa bé mồ côi, lên 9 tuổi được ông bác họ nuôi. Hắn cả gan nhìn trộm bác gái tắm và bị đuổi, trở thành “thằng Xuân lấy đầu hè, xó cửa làm nhà; lấy sấu các phố, cá hồ Hoàn Kiếm làm vui. Nó đã bán phá xa, bán nhật trình, bán cao đơn hoàn tán trên xe lửa, chạy rạp hát, và với ba nghề tiểu xảo khác nữa”. Cái tên Xuân Tóc Đỏ của hắn cũng xuất phát từ cái quá khứ không lấy gì làm vẻ vang ấy, vì vẻ bề ngoài của hắn dị hợm, khác người: “ ánh nắng mặt trời làm cho tóc nó đỏ như tóc Tây”. Đến Vũ Trọng Phụng cũng phải thốt lên lời nhận xét “cảnh ngộ đó tạo nên nó một đứa hoàn toàn vô giáo dục, nhưng tính nó quái lắm, thạo đời lắm”. Một kẻ vô sỉ như thế, nhưng, trong cái xã hội thực dân tư sản thời Vũ Trọng Phụng với đông đúc những me Tây, nhà giàu hãnh tiến, gái tân mất nết… Xuân Tóc Đỏ gặp số đỏ đến lạ kì. Phải nói rằng, cuộc đời Xuân Tóc Đỏ có nhiều lần trải qua khổ cực, nhiều lần “lên voi xuống chó”, nhưng ngẫm cho cùng, ta vẫn không thể tin được kẻ như hắn lại cứ gặp được hết may mắn này đến may mắn khác. Khởi đầu chuỗi ngày dài may mắn của đời Xuân Tóc Đỏ bắt nguồn từ cái thói hư khó bỏ của hắn, đó là thói dâm ô. Năm 9 tuổi đã từng bị đuổi ra khỏi nhà vì nhìn trộm bác gái tắm, phải đi ở nơi đầu đường xó chợ kiếm ăn, thế nhưng ngay sau khi len lỏi được vào một sân quần vợt của đám thượng lưu, sống dựa vào nghề đi nhặt bóng thuê, hắn lại tiếp tục ngựa quen đường cũ. Hắn dòm trộm một cô đầm thay váy và bị bắt quả tang. “Người ta nhốt hắn vắo bót lồi xềnh xệch ra sân mà tát, mà sỉ vả”. Những tưởng cuộc đời lẫn vận may của kẻ vô liêm sỉ đến đây kết thúc, nhưng không, số đỏ đã mỉm cười với hắn. Chính nhờ hành động dòm trộm bẩn thỉu ấy, Xuân Tóc Đỏ đã lọt vào mắt xanh của bà Phó Đoan – một me Tây góa chồng dâm đãng. Bà Phó Đoan bỏ tiền nộp phạt cho cảnh sát, bảo lãnh cho Xuân ra tù với mục đích biến hắn thành công cụ thỏa mãn thói dâm ô của bà. Ngày đầu đến nhà bà Phó Đoan, bước chân đầu tiên vào xã hội thượng lưu, Xuân Tóc Đỏ có chút ngờ nghệch, nhưng Xuân nhanh chóng thích nghi, thậm chí còn biết cách lợi dụng xã hội đó để tiến thân. Từ môi trường vô giáo dục, lang thang kiếm sống với nhiều nghề phức tạp, Xuân Tóc Đỏ trong một hoàn cảnh đặc biệt, được nhập vào môi trường của những kẻ giàu có, những con người đang ôm ấp mộng Âu hóa và cải cách xã hội như bà Phó Đoan, ông bà Văn Minh, ông TYPN. Mụ Phó Đoan thèm khát thể xác của Xuân Tóc Đỏ nên đã xin cho hắn ra tù và tạo điều kiện cho hắn gia nhập vào xã hội thượng lưu. Mụ giới thiệu hắn đến tiệm may Âu Hóa của Văn Minh. Hắn dốt nát, đến những chữ trên bảng chữ cái cũng không thuộc hết, trong tiệm Âu Hóa của Văn Minh, hắn chỉ biết học thuộc lòng như hắn đã từng học thuộc lòng những bài rao thuốc lậu trước đây. “Hở cánh tay và hở cổ là dậy thì”, “Hở đến nách và hở nửa vú là ngây thơ”. Hắn cũng nhớ lời của chủ: “Từ đi trở đi, xã hội văn minh hay dã man là trách nhiệm của anh!” Hắn đã rơi vào môi trường của các nhân vật toàn là quái thai của xã hội như mụ Phó Đoan dâm đãng được bằng “Tiết hạnh khả phong”, như ông bà Văn Minh, ông TYPN đang chạy theo phong trào Âu Hóa chơi bời hưởng lạc thời bấy giờ. Được trọng dụng, hắn bắt đầu nhúng tay vào công cuộc cải cách xã hội, lúc này mới thực sự hòa mình vào cái thế giới của những kẻ giàu sang, lắm của nhiều tiền mà thiếu đạo đức, thiếu văn hóa lẫn sự hiểu biết. Trở thành một phần của xã hội thượng lưu, đó là điều mà trước kia ngay cả trong mơ hắn cũng chưa từng dám nghĩ! Xuân- tên ma cà bông ngày xưa chuyên thổi loa quảng cáo thuốc lậu ngày nào, nhờ thế đã thuộc lòng được mớ kiến thức bập bõm, lộn xộn bỗng trở thành sinh viên trường thuốc, thành “ đốc tờ Xuân”. Hắn ngồi hóng chuyện giữa cụ cố Hồng, bà Phó Đoan, vợ chồng Văn Minh về bệnh tình của cụ tổ, hắn đem những điều này góp ý vào. Ngay sau đó, hắn thành sinh viên trường thuốc qua sự bịp bợm của Văn Minh đang tìm một thầy thuốc rởm để cụ tổ chết đi. Trước sự “thông thạo” về y học của Xuân, cả bà Phó Đoan và vợ chồng Văn Minh đều kinh hoàng, không hiểu duyên cớ vì đâu, cụ cố Hồng kính cẩn hỏi Xuân:” Bẩm ngài ngài làm gì mà giỏi về y lí như vậy ạ?”. Qủa là tài bịp bợm của Xuân đã thành thần, chẳng những khiến tất cả những nhân vật trong tiểu thuyết mà ngay đến cả người đọc, thậm chí tác giả cũng thốt lên kinh hãi! Kinh hãi ở chỗ số hắn quá đỏ! Hắn bịp quá tài! Tài đến mức ai ai cũng tin, mà có lẽ chính hắn cũng tự mình tin là vậy! Khi có được cái danh tri thức thượng lưu, được “nâng cấp” lên làm “đốc tờ Xuân”, hắn đã bước lên những bậc thang của danh vọng. Nếu trước đây sự vô sỉ, nịnh hót, dẫm đãng của hắn ở tiệm may Âu Hoa được các bà, các cô tôn lên là hòa hoa, phong nhã, học rộng, biết nhiều; thì giờ đây, sự ngu độn của hắn lại lần nữa được người ta cho là nhũn nhặn, khiêm tốn. Bà Phó Đoan xem nó là người có học thức. Ổng Phán Mọc Sừng cũng cho Xuân là người đứng đắn. Giữa lúc cụ bà, mẹ Văn Minh nguyền rủa Xuân Tóc Đỏ là đồ xỏ lá, đồ ba que, mặt chó chứ không phải mặt người thì cố Hồng phẫn nộ “Con Tuyết mà chửa với thằng Xuân thì thật phúc bảy mươi đời cho nhà này. Bà câm đi. Bà ngu lắm”. Một chi tiết nữa cũng cười ra nước mắt: cụ cố, ông nội của Văn Minh ngã bệnh. Cả gia đình cầu cứu đốc-tờ Xuân. Hắn được dịp trả thù vì cụ cố đã đòi nhổ vào mặt hắn khi hắn quan hệ bất chính với Tuyết. Hắn nói xẵng: “Thưa cụ, quả con vô học, nhặt banh quần, hạ lưu, không biết thuốc ạ!” rồi bỏ chạy. Mà đốc-tờ Xuân bỏ chạy thì các ông lang nổi danh khác bó tay, thế là cụ cố chết. Lúc hắn thành thật nhất thì người đời lại cho là giả dối. Vũ Trọng Phụng sâu sắc đến thâm cay! Người đời có câu “ếc chết tại miệng”, nhưng với Xuân Tóc Đỏ, hắn giàu, hắn phất cũng nhờ vào cái mồm miệng ấy. Nhờ tài bẻm mép của Xuân mà cửa hàng Âu hóa của vợ chồng Văn Minh phát đạt, nhờ tài chữa bệnh bằng thuốc “Thánh đền Bia” từ nước ao và rau dại mà cụ tổ khỏi bệnh, uy tín của Xuân được nâng cao, được mọi người tâng bốc. Lúc đầu, Xuân chỉ là công cụ của bọn lừa bịp, sau đó, Xuân trở thành kẻ đi lừa đi bịp. Khi người ta tôn sùng một kẻ vô học thì những ngôn ngữ vô học của kẻ vô học như: nước mẹ gì, mẹ kiếp…cũng nghiễm nhiên được bọn họ tôn sùng. Xuân Tóc Đỏ ngày càng lên tầm cao danh vọng, hắn kiêu ngạo, mọi người trở nên sợ hắn và lấy lòng hắn. Hắn được cô Tuyết – con gái cụ cố Hồng mang tiếng là hư hỏng với hắn mê như điếu đổ. Hắn có công gây ra cái chết của cụ tổ – cái chết mà lũ con cháu mong ngày mong đêm khi tố cáo tội ngoại tình của con gái cụ. Thậm chí, Vũ Trọng Phụng còn phải thốt lên rằng: “sự có mặt của Xuân trong lễ lang mà là danh giá và vinh dự cho đại gia đình con cháu bất hiếu này lắm lắm!” Xuân Tóc Đỏ là một nhân vật được xây dựng trong quá trình phát triển, tính cách của Xuân Tóc Đỏ được miêu tả trong quá trình vận động. Một mặt tính cách Xuân Tóc Đỏ gần như không đổi. Vốn được giáo dục, đào luyện trong nền văn hóa vỉa hè nên bản chất của Xuân vẫn giữ nguyên chất lưu manh của kẻ lang thang đầu đường xó chợ. Từ ngôn ngữ cho đến cử chỉ, hắn luôn luôn văng tục, không chịu học hành mà chỉ dùng thủ thuật bắt chước, che đậy, giả dối để đối phó trong mọi tình huống. Có thể nói, tính cách lưu manh xuyên suốt con người Xuân Tóc Đỏ từ khi là một cậu bé lang thang ở đầu đường xó chợ cho đến lúc trở thành “anh hùng cứu quốc”. Tuy nhiên, tính cách của Xuân cũng có những thay đổi nhất định. Y nhanh chóng thích hợp với hoàn cảnh mới và hoàn cảnh cũng làm cho y thay đổi. Khi còn là kẻ hạ lưu, hắn bộc lộ tính ti tiện, yếu đuối. Nhưng khi đã có vị trí trong xã hội, Xuân bắt đầu xem thường mọi người, “Xuân Tóc Đỏ càng kiêu ngạo làm bộ làm tịch bao nhiêu thì lại được thiên hạ kính trọng bấy nhiêu”, Xuân Tóc Đỏ có lúc như kết hợp giữa tính cách của một kẻ hạ lưu pha lẫn với lối sống thượng lưu, ngôn từ hạ đẳng lại xen với kiểu cách học đòi của bọn người thượng lưu. Ở cuối tác phẩm, tính khinh người của Xuân Tóc Đỏ càng lộ rõ và càng trở nên lố bịch. Hắn đã nói trước quần chúng: “Hỡi quần chúng, mi không hiểu gì, mi oán ta, ta vẫn yêu quý mi mặc lòng mi chẳng rõ lòng ta. Thôi giải tán đi”. Mọi người hô ”Xuân Tóc Đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế!”. Đọc “Số đỏ” ta càng thêm khâm phục bút pháp trào phúng bậc thầy của nhà văn hiện thực phê phán bậc thầy Vũ Trọng Phụng. Ông kể mà mà như vẽ, như bày trải ra trước mắt độc giả bức tranh hiện thực chân thật, sống động, tràn ngập tiếng cười. Nhưng đó là tiếng cuời trào phúng sâu cay, chua chát; cười đấy, mà cười ra nước mắt! Như ông từng nói rằng “các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời” Qủa thực, đây chính là sự thực ở đời, ở thời Vũ Trọng Phụng. ”Đây là cái bi của người chết, cái hài của xã hội, cái vô phúc của gia đình giàu sang lắm tiền nhiều của nhưng thiếu tình người”. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích hình tượng nhân vật Xuân tóc đỏ
2,322
Đề bài: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Anh (chị) cảm nhận gì về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng này? Bài làm “Sóng” được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, xuất bản năm 1968 của nữ nhà thơ tình nổi tiếng Xuân Quỳnh. Bài thơ nói về tâm trạng, tình yêu mãnh liệt của người con gái khi yêu. Hãy đến với bài thơ bằng nhạc điệu, bài thơ là âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung lên đồng điệu đồng nhịp với sóng biển. Rạo rực đến xôn xao, khát khao đến khắc khoải, có một hình tượng sóng được vẽ lên bằng âm điệu, một âm điệu dập dồn, chìm nổi, miên man như hơi thở chạy suốt cả bài. Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Sắc điệu trữ tình của bài thơ được gợi lên từ hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình xôn xao trong lòng người con gái đang yêu khi đứng trước biển ngắm nhìn những con sóng vô hồi, bất tận. Sóng là một hình tượng ẩn dụ, đó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của nữ sĩ, lúc thì hòa nhập, lúc sự phân thân của “em” – người con gái đang yêu một cách say đắm. Sóng đã khơi gợi một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, sôi nổi. Thông qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng của người con gái. Thật tự nhiên và thơ mộng, con sóng nhớ bờ nên ngày đêm sóng vỗ, sóng thao thức với thời gian và đại dương. Cũng giống như bên đợi thuyền, thuyền nhớ bến, lúc nào lòng người con gái cũng bồi hồi nhớ thương: “Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” “Còn thức” tức là lúc nào em cũng nhìn thấy rõ hình bóng anh, ánh mắt anh … Một tình yêu cuồng nhiệt, say mê. Con sóng khao khát được đến bờ để được vỗ về, ve vuốt: “Hôn thật khẽ thật êm Hôn êm đềm mãi mãi” (Xuân Diệu) Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình yêu với anh. Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được tới bờ, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi. “Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng nhỏ Con nào cũng tới bờ Dù muôn vời cách trở” Người con gái đã bày tỏ lòng mình một cách chân thành, say đắm, thắm thiết. Chân thật và thủy chung là đặc tính của tình yêu: “Dẫu xuôi về phương Bắc… Hướng về anh một phương”. Sóng đã bày tỏ nỗi lòng của người con gái, khát vọng được sống hết mình trong một tình yêu đẹp, sắt son thủy chung. Người ta thường nói xuôi vào Nam, ngược ra Bắc; nhưng ở đây, trong nỗi nhớ chất đầy nhà thơ lại dùng ngược lại. Từ đó nhà thơ đã nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, tình yêu là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn không có giới hạn. Cuối cùng sóng đã nói hộ nhà thơ nỗi khát vọng được sống trọn vẹn trong tình yêu. Tình yêu lứa đôi đẹp đẽ, nồng nàn như trăm ngàn con sóng nhỏ giữa đại dương mênh mông, muốn được hoà nhịp vào biển lớn của tình yêu cộng đồng: “Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” Cả bài thơ, nếu kể đến nhan đề, thì tác giả đã mười một lần nhắc đến từ “sóng”. Sóng vỗ như tâm tình xôn xao. Sóng cho ta nhiều ấn tượng về âm điệu của sóng, cũng như giọng điệu tâm tình, nhịp điệu của bài thơ. Thơ hồn nhiên, liền mạch về cảm xúc, trong sáng trong cách diễn đạt của tác giả. Sóng vỗ trên đại dương mênh mông cũng chính là sóng vỗ trong lòng người con gái. Từ hình tượng “sóng” Xuân Quỳnh cho ta thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Với tình yêu chân thành, thắm thiết, người phụ nữ muốn sống hết mình, sống trọn vẹn trong tình yêu đẹp. Yêu là nhớ ngày mong đêm, người phụ nữ khát khao được hòa nhập gần gũi trong tình yêu ấy. Họ yêu thật nồng nàn, say đắm, thủy chung. Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu. “Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được” Đọc xong bài thơ Sóng ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thủy chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, bà đã làm phong phú hơn cho nền thơ nước nhà.
Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
914
Đề bài: Phân tích hình tượng sóng và em trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Bài làm Xuân Quỳnh, như mọi người đều biết là nhà thơ của hạnh phúc đời thường. Thơ chị là tiếng lòng của một tâm hồn luôn luôn khao khát tình yêu, gắn bó hết mình với cuộc sống hàng ngày, trân trọng, nâng niu và chi chút cho hạnh phúc bình dị của đời thường. Trong các nhà thơ Việt Nam hiện đại Xuân Quỳnh là một trong số những người xứng đáng được gọi là nhà thơ của tình yêu. Chị viết nhiều, viết hay về tình yêu, trong đó Sóng là mội bài thơ đặc sắc. Đến Xuân Quỳnh, thơ Việt Nam hiện đại mới có được một tiếng nói bày tỏ trực tiếp những khát khao tình vừa hồn nhiên, chân thật, vừa mãnh liệt, sôi nổi của một trái tim người phụ nữ. Phân tích hình tượng sóng và em trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Tình yêu là một đề tài muôn thuở của thơ ca. Nhiều nhà thơ nổi tiếng đã viết về tình yêu bằng một cảm hứng mãnh liệt, in đậm dấu ấn tâm hồn, tư tưởng phong cách nghệ thuật của mình. Xuân Diệu trước đó đã mượn hình tượng biển nói về tình yêu, còn Xuân Quỳnh, chị đã mượn hình tượng sóng để diễn tả những cảm xúc, tâm trạng, những sắc thái tình cảm vừa phong phú, vừa phức tạp, thiết tha sôi nổi của một trái tim phụ nữ đang rạo rực, khát khao yêu đương. Cùng với hình tượng sóng, bài thơ này còn có một hình tượng nữa là em – cái tôi trữ tình của nhà thơ. Sóng là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hoá thân, phân thân của cái tôi trữ tình – một kiểu đặc biệt của cái tôi trữ tình nhập vai. Hai “nhân vật” trữ tình này (sóng và em) tuy hai mà một, có lúc phân đôi ra (để soi chiếu vào nhau, làm nổi bật sự tương đồng), có lúc lại hoà nhập vào nhau (để tạo nên sự âm vang, cộng hưởng). Hai hình tượng này đan cài, quấn quýt với nhau như hình với bóng, song song tồn tại từ đầu đến cuối bài thơ, soi sáng, bổ sung cho nhau nhằm diễn tả một cách mãnh liệt hơn sâu sắc và thâm thìa hơn khát vọng tình yêu đang cuồn cuộn trào dâng trong trái tim nữ thi sĩ. Hình tượng sóng là mộl tim tòi nghệ thuật độc đáo của Xuân Quỳnh. Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ. Đó là nhịp của những con sóng trên biển cả liên tiếp, triền miên, vô hồi vô hạn. Thể thơ năm chữ với những câu thơ không ngắt nhịp đã tạo nên nhịp điệu của những con sóng biển lúc dào dạt, sôi nổi, lúc sâu lắng, dịu êm chạy suốt bài thơ. Song âm điệu chung của bài thơ không đơn giản chỉ là âm điệu của những con sóng biển. Nó còn là âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập, khao khát tình yêu vô hạn, đang rung lên đồng điệu, hoà nhịp với sóng biển, hoà hợp đến mức không còn thấy đâu là nhịp điệu của sóng biển, đâu là nhịp điệu tâm hồn của thi sĩ. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình một trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, không chịu yên tĩnh mà đầy biến động, khao khát. Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã diễn tả vừa cụ thể vừa sinh động những trạng thái, tâm trạng, những cung bậc tình cảm khác nhau trong trái tim của người phụ nữ đang rạo rực yêu đương. Mỗi trạng thái tâm hồn cụ thể của người phụ nữ đang yêu đều có thể tìm thấy sự đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng. Mở đẩu bài thơ là trạng thái tâm lí đặc biệt của một tâm hồn đang khao khát yêu đương, đang tìm đến một tình yêu rộng lớn hơn. Xuân Quỳnh đã diễn tả thật cụ thể cái trạng thái khác thường, vừa phong phú vừa phức tạp trong một trái tim đang cồn cào khao khái tình yêu. Tính khí của người con gái đang yêu, cũng như sóng vậy thôi, vốn mang trong nó nhiều trạng thái đối cực: “Dữ dội và dịu êm, ồn ào và lặng lẽ”… Và cũng như sóng, trái tim người con gái đang yêu không chịu chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, luôn vươn tới cái lớn lao có thể đồng cảm, đồng điệu với mình: “Sông không hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể”. Có thể thấy, ngay trong khổ thơ đầu tiên này một nét mới mẻ trong quan niệm về tình yêu. Người con gái khao khát yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục, cam chịu nữa. Nếu “Sông không hiểu nổi mình" thì sóng dứt khoát bỏ nơi chật hẹp đó, “tìm ra tận bể", đến với cái cao rộng, bao dung. Thật là minh bạch và cũng thật là quyết liệt! Nỗi khát vọng tình yêu xôn xao, rạo rực trong trái tim con người trong quan niệm của Xuân Quỳnh, là khát vọng muôn đời của nhân loại mà mãnh liệt nhất là của tuổi trẻ. Nó cũng như sóng, mãi mãi trường tồn, vĩnh hằng với thời gian. Từ ngàn xưa, con người đã đến với tình yêu và mãi mãi cứ đến với tình yêu. Với con người, tình yêu bao giờ cũng là một khát vọng bồi hồi: Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ. Khi tình yêu đến, như một tâm lí tự nhiên và thường tình, người ta luôn có nhu cầu tự tìm hiểu và phân tích. Nhưng tình yêu là một hiện tượng tâm lí khác thường, đầy bí ẩn, không thể giải thích được bằng lí lẽ thông thường, làm sao có rẽ giải đáp được câu hỏi về khởi nguồn của tình yêu. Cái điều mà trước đó đã từng làm Xuân Diệu băn khoăn “ Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?” thì nay, một lần nữa lại được Xuân Quỳnh bộc bạch một cách hồn nhiên, thật dễ thương. Tình yêu cũng giống như sóng biển, như gió trời vậy thôi, làm sao mà hiểu hết được. Nó cũng tự nhiên, hồn nhiên như thiên nhiên, và cũng khó hiểu, nhiều bất ngờ như thiên nhiên: Sóng bắt đầu từ gió Giỏ bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau. Tình yêu thường cũng gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách. Nỗi nhớ của một trái tim đang yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật mãnh liệt. Một nỗi nhớ thường trực cả khi thức, cả khi ngủ, bao trùm lên cả không gian và thời gian. Một nỗi nhớ cồn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn, dào dạt như những đợt sóng biển triền miên, vô hồi, vô hạn. Nhịp thơ trong suối bài thơ này là nhịp sóng, nhưng rõ nhất, dào dạt, hăm hở, náo nức nhất, mãnh liệt nhất là ở đoạn thơ này: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên một nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được. Và, như trên đã nói, vẫn là hình tượng song hành của sóng và em bổ sung đắp đổi cho nhau nhằm diễn tả sâu sắc hơn. ám ảnh hơn tình yêu và nỗi nhớ cùng với lòng thuỷ chung vô hạn của một trái tim đang rạo rực yêu thương. Nỗi nhớ được diễn tả qua hình tượng con sóng nhớ bờ “ngày đêm không ngủ được” vẫn chưa đủ, chưa thoả, lại được thể hiện một lần nữa qua nỗi nhớ trực tiếp của nhà thơ: “Lòng em nhớ đến anh, Cả trong mơ còn thức”. Nổi nhớ tràn đầy lòng yêu của nữ thi sĩ. Nỗi nhớ thường trực mong mọi không gian và thời gian, khổ chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi trong tiềm thức, xâm nhập vào cả trong giấc mơ. Những đòi hỏi, khao khát yêu đương của người con gái được bộc lộ thật mãnh liệt nhưng cũng thật giản dị: sóng chỉ khao khát tới bờ cũng như em khao khái có anh! Tình yêu của người con gái ở đây vừa thiết tha, mãnh liệt, vừa trong sáng, giản dị, vừa thuỷ chung, duy nhất. Qua hình tượng sóng và em Xuân Quỳnh đã nói lên thật chân thành, táo bạo, không hề giấu giếm cái khát vọng tình yêu sôi nổi, mãnh liệt của mình – một phụ nữ, một điều thật hiếm thấy trong văn học Việt Nam. Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng năm 1967, khi mà chị đã từng nếm trải sự đổ vỡ trong tình yêu. Song, người phụ nữ hồn nhiên tha thiết yêu đời này vẫn còn ấp ủ biết bao hi vọng, vẫn phơi phới một niềm tin vào hạnh phúc trong tương lai. Vừa tự động viên, an ủi mình, chị vừa tin vào cái đích cuối cùng của một tình yêu lớn như con sóng nhất định sẽ “tới bờ”, “dù muôn vời cách trở”. Vì ý thức về thời gian chưa làm cho chị lo âu mà chỉ làm cho chị thêm tin tưởng Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa. Xuân Quỳnh vừa thổ lộ trực tiếp, vừa mượn hình tượng sóng để nói và suy nghĩ về tình yêu. Những ý nghĩ này có vẻ tự do, tản mạn nhưng từ trong chiều sâu của thi tứ vẫn có sự vận động nhất quán. Đó là cuộc hành trình, khởi đầu là từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la, rộng lớn, cuối càng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Sóng là một bài thơ tình yêu rất tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách thơ Xuân Quỳnh ở giai đoạn đầu. Một bài thơ vừa xinh xắn, duyên dáng, vừa mãnh liệt, sôi nổi, vừa hồn nhiên, trong sáng, vừa ý nhị, sâu xa. Sau này, khi đã nếm rải nhiều cay đắng trong tình yêu, giọng thơ Xuân Quỳnh không còn phơi phới bốc men say nữa, nhưng cái khát vọng tình yêu vẫn tồn lại mãi mãi trong trái tim tràn ngập yêu thương của chị.
Phân tích hình tượng sóng và em trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
1,827
Phân tích hình tượng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường Hướng dẫn Phân tích hình tượng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường Bài làm Từ lâu, xứ Huế nói chung và dòng sông Hương nói riêng đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của các nghệ sĩ. Huế không chỉ là một vùng văn hoá đặc sắc mà còn là xứ sở của thơ ca, nhạc, hoạ. Đến Huế, ta vừa được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một vùng thiên nhiên tuyệt mỹ mà tạo hoá đã dày công tạo dựng, vừa được đắm mình trong không khí trầm mặc mang dấu ấn lịch sử của những lăng tẩm, đền đài. Cũng như bao tâm hồn nghệ sĩ khác, Hoàng Phủ Ngọc Tường bị mê hoặc bởi sức hấp dẫn lạ kì của Huế, đặc biệt là dòng Hương giang. Bằng tình yêu và sự hiểu biết sâu sắc về văn hoá, địa lí, lịch sử của con sông thơ mộng này, nhà văn đã sáng tạo thành công một hình tượng đẹp, một bức “điêu khắc bằng ngôn từ” có tên: sông Hương. Tác phẩm hấp dẫn người đọc ngay từ cái tên gọi đầu tiên: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Sông Hương ở thượng lưu. Sông Hương – “bản trường ca của rừng già”. Thủy trình của Hương giang bắt đầu từ thượng lưu – nơi mà sông Hương, trong cảm nhận của nhà văn, giống như “bản trường ca của rừng già”. Thật vậy, ở nơi khởi nguồn của dòng chảy, gắn liền với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, con sông mang vẻ đẹp mạnh mẽ với sức mạnh nguyên sơ bản năng: “rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”. Những động từ mạnh, những cấu trúc giống nhau được điệp lại liên tiếp đã khiến cho con sông hiển hiện như một khúc ca dài bất tận của thiên nhiên. Nhưng trường ca đâu chỉ có sức mạnh mà trong bản chất của mình nó còn mang chứa yếu tố trữ tình bay bổng. Quả đúng thế, con sông Hương, sau những “rầm rộ”, “cuộn xoáy”, đã trở nên “dịu dàng”, đằm thắm có thể làm “say đắm” bất cứ chàng trai nào khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó“giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Sông Hương – “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Không phải là trường ca của “những người đi tới biển”, cũng không giống trường ca “mặt đường khát vọng” của tuổi trẻ đô thị miền Nam những đánh Mỹ, sông Hương là bản “trường ca của rừng già”. Vẻ nguyên sơ, hoang dã, thâm nghiêm của rừng già đã đem đến cho nó một vẻ đẹp mà trong suy cảm của nhà văn giống như một “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Những cô gái Bô-hê-miêng từ lâu vẫn được biết đến là những người thích sống lang thang, tự do và yêu ca hát. Đó là những thiếu nữ có vẻ đẹp man dại đầy quyến rũ. Ví sông Hương với những cô gái Di-gan, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc vào tâm trí người đọc một ấn tượng mạnh về vẻ đẹp hoang dại nhưng cũng rất thiếu nữ, rất tình tứ của con sông. Đó là vẻ đẹp tự nhiên, vẻ đẹp của “một tâm hồn tự do và trong sáng”. Sông Hương – “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”. Không chỉ giúp cho bạn đọc có thêm một góc nhìn, một sự hiểu biết về vẻ đẹp hùng vĩ, man dại nhưng cũng đầy chất thơ của sông Hương, nhà văn còn muốn đem đến một cái nhìn sâu hơn, muốn “ghi công” sông Hương như một “đấng sáng tạo” đã góp phần tạo nên, gìn giữ và bảo tồn văn hóa của một vùng thiên nhiên xứ sở. Lâu nay, ta mới chỉ nhìn sông Hương ở vẻ đẹp bên ngoài của nó mà hầu như không biết rằng con sông còn là một khởi nguồn, một sự bắt đầu của một không gian văn hóa – văn hóa Huế. Sẽ là không quá nếu ai đó cho rằng: không có sông Hương thì khó có thể có văn hóa Huế ngày nay. Bởi từng ngày từng giờ, sông Hương vươn mình chảy ra cửa Thuận thì cũng từng ngày từng giờ dòng sông đem đến, duy trì và bồi đắp “phù sa” cho cả một vùng văn hóa đã được hình thành ở trên và hai bên bờ sông. Ấy thế nhưng, “dòng sông hình như không muốn bộc lộ” cái công lao to lớn ấy. Nó đã âm thầm chảy và đã lặng lẽ cống hiến cho Huế nhiều thế kỉ qua. Đây chính là chiều sâu vẻ đẹp và “nhân cách” của dòng sông, là nét “tính cách” đáng trân trọng của Hương giang mà Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn khắc họa. Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế: Sau cái khởi nguồn ở vùng thượng lưu, sông Hương tiếp tục hành trình cam go, vất vả của mình để đến với Huế. Trước khi chảy vào lòng thành phố thân thương, nó cũng đã kịp để lại những dấu ấn riêng của mình. Sông Hương – người gái đẹp của cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại: Vẻ đẹp của sông Hương trước khi vào thành phố Huế là cái đẹp mềm mại của một người con gái đang phô khoe những đường cong tuyệt mĩ. Bằng nghệ thuật so sánh, nhà văn đã ví sông Hương như “người gái đẹp đang ngủ mơ màng thì được người bạn tình mong đợi đến đánh thức”. Với lối so sánh ấy, dòng chảy uốn lượn của con sông, những khúc quanh của nó hiện lên như những đường cong trên cơ thể của một người thiếu nữ đương thì xuân sắc: “Sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”. Về mặt địa lý, hành trình đến với “người tình mong đợi” của “người gái đẹp” này khá gian truân và nhiều thử thách khi nó phải vượt qua Hòn Chén, Ngọc Trản, Nguyệt Biều, Lương Quán. Nhưng chính trong quá trình ấy, con sông lại như có cơ hội phô khoe tất cả vẻ đẹp của mình – vẻ đẹp gợi cảm của người thiếu nữ đi ra từ “cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại”: “qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ xuôi dần về Huế. Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”. Có thể thấy, bằng một lối hành văn uyển chuyển, ngôn ngữ đa dạng và giàu hình ảnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã diễn tả một cách sinh động và hấp dẫn những khúc quanh, ngã rẽ của con sông. Mỗi đường đi nước bước của sông Hương gắn liền với những địa danh khác nhau của xứ Huế được nhà văn dành cho một cách diễn đạt riêng. Nhờ đó mà hành trình về xuôi của dòng sông không đơn điệu, nhàm chán mà trái lại nó luôn luôn biến hóa khiến người đọc đi từ ngạc nhiên, thú vị này đến bất ngờ, khoái cảm khác. Có những câu văn giàu chất họa đến mức cứ ngỡ như đường cọ của người họa sĩ đang đưa những nét vẽ về sông Hương trên bức tranh thiên nhiên xứ Huế (“vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán… vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc”). Lại có câu văn gợi một nét mơ hồ với nhiều liên tưởng và cảm xúc rất thích: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”. Thủ pháp nhân hóa và so sánh được sử dụng kết hợp với hệ thống ngôn từ giàu cảm xúc và hình ảnh cũng góp phần đáng kể vào việc khắc họa một dòng sông thơ mộng, trữ tình. Nó khiến cho cảm nhận về con sông như người con gái đẹp càng trở nên rõ nét và gợi cảm: sông Hương “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ” trước khi “xuôi dần về Huế”; sông Hương như con người biết tự làm mới mình, trang điểm cho mình đẹp hơn trước khi gặp người tình mà nó mong đợi: “vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm”; sông Hương như “tấm lụa” mềm mại trên cơ thể người thiếu nữ… Sông Hương – vẻ đẹp “trầm mặc”, “như triết lí, như cổ thi”: Đi giữa thiên nhiên, sông Hương cũng chuyển mình ngày đêm bên những lăng tẩm, thành quách của vua chúa thời Nguyễn. Con sông hiền hòa ở ngoại vi thành phố Huế, đến đây, như đang nép mình bên “giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch”. Chảy bên những di sản văn hóa ấy, con sông như bổng trở nên nghiêm trang hơn, nó như khoác lên mình tấm áo “trầm mặc” mang cái “triết lí cổ thi” của cổ nhân. Dòng sông hay chính là dòng chảy của lịch sử vẫn bền bỉ chảy qua năm tháng và đang vọng về trong ngày hôm nay. Trên hành trình của một con sông mềm mại như lụa, nhà văn đã “hướng ống kính máy quay” ra không gian xung quanh hai bên bờ sông. Hình ảnh thu được là không gian văn hóa Huế thể hiện ở cảnh sắc thiên nhiên và những lăng tẩm đền đài của vua chúa thời Nguyễn: “Sông Hương trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách… Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời Tây Nam thành phố: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Vậy là, sông Hương đi trong vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Huế và chính nó lại là tấm gương phản chiếu nét đẹp của cảnh quan đất trời hai bên bờ sông. Không có sông Hương, những ngọn đồi ở ngoại vi Huế vẫn có vẻ đẹp riêng nhưng vẻ đẹp ấy sẽ mất đi cái long lanh, cái đa sắc màu và không còn những “điểm cao đột khởi” xuất hiện như một điểm nhìn văn hoá, thưởng thức. Sông Hương chính là “trung tâm cảnh”, là linh hồn của thiên nhiên cảnh vật. Sông Hương giữa lòng thành phố Huế. Cuối cùng, sông Hương cũng đến nơi mà nó cần đến, cũng gặp được “thành phố tương lai” mà nó mong đợi: thành phố Huế. Có lẽ vì thế mà con sông “tươi vui hẳn lên”. Như đã tìm đúng đường đi, sông Hương cập bến thành phố thân yêu giữa những “thuyền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long” để rồi “giáp mặt thành phố ở cồn Giã Viên”. Đến đây, con sông giống như một cô gái đẹp e lệ, dịu dàng nghiêng mình “chào” Huế: “…sông Hương đã uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến”, “như một tiếng vang không nói ra của tình yêu”. Giống như sông Xen ở Pari, sông Đa- nuýp ở Bu- đa- pét, “sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình”. Sông Hương – “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Miêu tả dòng sông giữa lòng thành phố, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chọn kênh tiếp cận là âm nhạc. Ở góc độ này, sông Hương chính là “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Trong tiếng Anh, “slow” nghĩa là chậm và sông Hương như một giai điệu trữ tình chậm rãi chỉ dành riêng cho Huế mà thôi. Có thể thấy, nhà văn đã tinh tế khi nhìn ra một đặc trưng của Hương giang. So với các dòng sông khác ở Việt Nam và thế giới, lưu tốc của sông Hương không nhanh. Điều này đã được nhà văn lý giải từ đặc điểm địa lý: “những chi lưu ấy cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”. Để làm nổi bật hơn cái đặc trưng này, nhà văn đã liên tưởng, so sánh sông Hương với sông Nêva – con sông chảy băng băng lướt qua trước cung điện Pêtécbua cũ để ra bể Ban-tích. Lưu tốc của con sông này nhanh đến mức “không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với ngưòi bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo”. Sông Hương – “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”. Viết về sông Hương giữa lòng thành phố, Hoàng Phủ Ngọc Tường không quên một nét đẹp văn hoá đặc trưng gắn liền với dòng sông thơ mộng này. Đó là những đêm trình diễn âm nhạc cổ điển Huế trên dòng sông Hương. Ở góc nhìn âm nhạc này, tác giả gọi sông Hương là “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”. Ai đã từng có dịp đến Huế thưởng thức nền âm nhạc Huế, được xem các nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc trên sông vào những đêm khuya mới thấy hết vẻ đẹp của âm nhạc và màu sắc văn hoá đặc trưng ở nơi đây. Toàn bộ nền âm nhạc ấy, trong cảm nhận của tác giả, chỉ thực sự là chính nó khi “sinh thành trên mặt nước” của Hương Giang “trong một khoang thuyền nào đó, giữa những tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Ở đây có cái thú vị, cái sắc điệu riêng trong cách trình diễn âm nhạc của người Huế nhưng cũng có quy luật của nghệ thuật biểu diễn trên không gian sông nước. Trong Tì Bà hành, Bạch Cư Dị đã từng viết: “Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt Một vầng trăng trong vắt lòng sông Nguyễn Du cũng đã từng miêu tả tiếng đàn của Thúy Kiều: Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời” Dẫn ra câu chuyện về một ngưòi nghệ nhân già chơi đàn hết nửa thế kỉ khi nghe người con gái đọc câu thơ trên nhổm dậy vỗ đùi chỉ vào trang sách của Nguyễn Du mà thốt lên: “Tứ đại cảnh” (một điệu nhạc Huế), Hoàng Phủ Ngọc Tường đã một lần nữa khẳng định mối quan hệ gắn bó không thể tách rời giữa sông Hương và nền âm nhạc cổ điển Huế. Đây chính là văn hoá Huế nói chung và vẻ đẹp của Sông Hương nói riêng, vẻ đẹp hiếm thấy ở bất kì một dòng sông nào ở trong nước cũng như trên thế giới. Sông Hương – người tình dịu dàng và chung thủy. Khi dời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc. Tuy nhiên, do đặc điểm địa lý ở đất nước ta (hầu hết mọi dòng sông đều chảy về hướng đông để đổ ra biển) nên thủy trình của con sông đã phải thay đổi. Nó phải chuyển dòng sang hướng đông và như vậy sẽ lại đi qua một góc của thành phố Huế ở thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đó là đặc điểm địa lý tự nhiên của dòng sông. Nhưng trong con mắt của người nghệ sĩ tài hoa, khúc ngoặt ấy lại là biểu hiện của nỗi “vương vấn”, thậm chí có chút “lẳng lơ kín đáo” của người tình thủy chung và chí tình. Nhà văn tưởng tượng, hình dung sông Hương như nàng Kiều trở lại tìm Kim Trọng để nói một lời thề trước khi đi xa. Đây đúng là một phát hiện, một liên tưởng thú vị, độc đáo và đậm màu sắc văn chương của tác giả về dòng sông thân thương của xứ Huế. Hương giang vốn đã đẹp, nay lại càng đẹp hơn, trọn vẹn hơn trong cảm nhận của người đọc. Một vẻ đẹp hài hòa giữa hình dáng bên ngoài với phần tâm hồn, tâm linh sâu thẳm bên trong. tích hình tượng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường Qua những cảm nhận nêu trên về sông Hương, có thể nhận thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tiếp cận và miêu tả dòng sông từ nhiều không gian, thời gian khác nhau. Ở mỗi điểm nhìn, mỗi góc độ, nhà văn đều thể hiện một cảm nghĩ sâu sắc và khá mới mẻ về con sông đã trở thành biểu tượng của xứ Huế. Từ trong những cái nhìn ấy và qua giọng điệu của các đoạn văn, ta thấy bàng bạc một tình cảm yêu mến, gắn bó tha thiết, một niềm tự hào và một thái độ trân trọng, gìn giữ của nhà văn đối với những vẻ đẹp tự nhiên và đậm màu sắc văn hóa của dòng sông quê hương. Ở góc nhìn lịch sử, sông Hương gắn liền với những thế kỉ vinh quang của Đất Nước từ thuở còn là một dòng sông biên thùy xa xôi ở thời đại các vua Hùng. Trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, sông Hương được biết đến với tư cách là “dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Tiếp nối truyền thống đó, con sông “vẻ vang soi kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ” vào thế kỉ XVIII, “nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa”. Thế kỷ XX, sông Hương “đi vào thời đại của Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển” để rồi sau đó nó tiếp tục có mặt trong những năm tháng bi hùng nhất của lịch sử đất nước với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ ác liệt. Sông Hương – vẻ đẹp giản dị của một người con gái dịu dàng của đất nước. Điều làm nên vẻ đẹp đáng trân trọng và đáng mến của con sông là khi nghe lời gọi của Tổ quốc “nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công” nhưng khi “trở về với cuộc sống bình thường” sông Hương tự nguyện “làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Những đổi thay này của sông Hương ngỡ bất ngờ mà không hề bất ngờ bởi nó đã mang cái dáng dấp, cái vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua: Đạp quân thù xuống đất đen Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa (Nguyễn Đình Thi) Lịch sử – hùng tráng và đời thường – giản dị, sông Hương đã tự biết thích ứng với từng hoàn cảnh, không gian và thời gian khác nhau. Điều đó không chỉ khiến cho dòng sông luôn trở nên mới mẻ trong cảm nhận của con người mà còn có thêm những vẻ đẹp mới. Sông Hương – dòng sông thi ca. Với vẻ đẹp độc đáo và đa dạng, lại không bao giờ tự lặp lại mình nên sông Hương luôn có những vẻ đẹp mới, có khả năng khơi những nguồn cảm hứng mới cho các văn nghệ sĩ đặc biệt là các nhà thơ. Cao Bá Quát đã từng nhìn sông Hương mà thốt lên rằng: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”. Tản Đà thấy “dòng sông trắng, lá cây xanh”. Hàn Mặc Tử thì cảm nhận về sông Hương như dòng “sông trăng” lung linh, thơ mộng: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó. Có chở trăng về kịp tối nay”. Thu Bồn nhìn dòng nước lững lờ của sông Hương mà bâng khuâng: “Con sông dùng dằng con sông không chảy. Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. Và với Nguyễn Trọng Tạo, Hương giang lãng đãng một bầu khí quyển huyền thoại giúp nhà thơ thăng hoa những vần thơ mê đắm: “Con sông đám cưới Huyền Trân. Bỏ quên dải lụa phù vân trên nguồn. Hèn chi thơm thảo nỗi buồn. Niềm riêng nhuộm tím hoàng hôn đến giờ. Con sông nửa thực nửa mơ. Nửa mong Lí Bạch, nửa chờ Khuất Nguyên”. Bài kí mở đầu bằng một câu hỏi đầy trăn trở: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” nhưng phải gần đến kết thúc, đến những dòng cuối cùng của bài bút kí nhà văn mới đưa ra câu trả lời cho nó. Có nhiều cách để trả lời câu hỏi trên nhưng nhà văn đã chọn cho mình một “đáp án” đầy chất trữ tình: “Tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước của trăm loại hoa đổ xuống dòng sông để làn nước thơm tho mãi mãi”. Tuy nhiên, nếu đọc kĩ thì ta sẽ thấy câu hỏi ấy thực ra đã được trả lời ngay từ những dòng đầu tiên và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện cho đến dòng cuối cùng của bài kí. Nói cách khác, chính thiên nhiên hoang dại và trữ tình “đã đặt tên cho dòng sông”; chính lịch sử hào hùng và truyền thống văn hóa đậm bản sắc của xứ Huế “đã đặt tên cho dòng sông”; và chính con người với tình yêu thiết tha của mình dành cho con sông quê hương đã góp phần tạo nên “tên tuổi” của nó. Tóm lại, nếu xem sông Hương là một công trình nghệ thuật tuyệt tác mà tạo hoá đã dày công tạo dựng thì cũng có thể coi hình tượng sông Hương trong bài bút kí này là một tượng đài nghệ thuật diệu kỳ mà người nghệ sĩ ngôn từ đã dành tất cả tâm huyết và tinh huyết của mình để “chạm khắc”. Có thể nói, sông Hương đã được sinh ra một lần nữa trong tình yêu và sự tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tôi bỗng nhớ câu nói của một triết gia phương Tây: Mọi thứ trên đời đều sợ thời gian bởi thời gian sẽ phủ lớp bụi của mình lên vạn vật để làm mờ tất cả. Nhưng thời gian lại sợ những vĩ nhân bởi chỉ có các vĩ nhân là tồn tại vĩnh hằng. Dù biết rằng “mọi sự so sánh là khập khiễng”, tôi vẫn cứ nghĩ: con sông Hương thơ mộng của xứ Huế và đất nước Việt Nam, con sông Hương của văn học nghệ thuật trong bài ký xuất sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ trường tồn với thời gian, nhịp bước cùng năm tháng.
Phân tích hình tượng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
3,908
Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân Hướng dẫn Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân Bài làm Nhà văn Nguyễn Tuân là một con người vô cùng tài hoa, một bậc thầy về ngôn ngữ của văn học hiện đại Việt Nam. Ông thường viết những tác phẩm với cảm hứng là tình yêu tha thiết và cái “ ngông” của bản thân. Nhờ đó, tác phẩm “ Người lái đò sông Đà” nổi tiếng của ông cũng là một tùy bút được viết trong một chuyến đi thực tế của ông. Và con sông Đà được nhìn qua con mắt của người nghệ sĩ thật phong phú với nhiều góc độ khác nhau, đem lại ấn tượng sâu sắc đối với người đọc. Trong con mắt của Nguyễn Tuân, con sông Đà “ lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.” Sự tinh tế của Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét khi có thể nhận ra sự chuyển đổi của sông Đà. Và trong tác phẩm của Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện lên với hình ảnh là dòng sông hung bạo, ngỗ ngược không theo khuôn khổ. Sông Đà đẹp nhưng nguy hiểm với “ đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng giờ Ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia..” Có thể thấy, sông Đà qua ngòi bút của Nguyễn Tuân rất phức tạp, nguy hiểm. Cảm xúc của tác giả khi đi qua con sông này được diễn tả” ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng mà thứ mất vừa vụt tắt điện.” Sự tạo bạo nhưng cũng không kém phần tinh tế khi so sánh của tác giả. Có thể khẳng định, sông Đà rất đẹp nhưng lại rất nguy hiểm. Tiếp đến, người đọc cảm thấy như đang được đứng trước sông Đà hùng vĩ, khi Nguyễn Tuân miêu tả tiếng thác réo với những câu văn gay cấn, dồn dập, biểu lộ cảm xúc rõ rệt. Những câu văn rất biết cách khiến cho con người ta rung động bởi những con chữ được tác giả thổi hồn vào, thật tài tình biết bao. Không chỉ có thế, người muốn đi qua sông Đà thì phải đi qua ba trận chiến táo bạo và hiểm trở. Người đọc như đang được kéo vào vượt thác cùng người lái đò. Trận đầu tiên “ mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách…”. Trận tiếp theo “ tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua bên phía bờ hữu ngạn.” Trận cuối cùng có vẻ như ít cửa hơn, nhưng lại quyết liệt và mãnh liệt hơn. Sông Đà dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân không khác gì một con thủy quái hung dữ, khổng lồ đang tìm cách nuốt chửng người đi ngang qua đây bất cứ lúc nào. Trong con mắt người lái đò và có lẽ với chính tác giả, sông Đà cũng có những lúc buồn đến không ngờ, hồn nhiên như một nỗi niềm có tích xưa. Chỉ khi dành tình yêu tha thiết với mảnh đất nơi đây, với con sông này, người ta mới có cái nhìn tinh tế đến vậy. “ Người lái đò sông Đà” khiến cho người đọc cảm thấy ám ảnh khó quên về một con sông có vẻ đẹp hùng vĩ, hiểm trở nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Đó chính là sự tài hoa của Nguyễn Tuân khi vẽ nên một bức tranh sống động đến nhường ấy, để lại trong tâm trí người đọc biết bao cảm xúc khó gọi thành tên.
Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân
717
Phân tích hình tượng tiếng đàn và niêu cơm trong truyện cổ tích Thạch Sanh Hướng dẫn Đề bài: Tiếng đàn và niêu cơm là hai vật thần kì giúp Thạch Sanh hóa giải những thử thách và giành được hạnh phúc trọn đời bên công chúa. Em hãy phân tích hình tượng tiếng đàn và niêu cơm trong truyện cổ tích Thạch Sanh. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài Giới thiệu truyện, hình ảnh tiếng đàn và niêu cơm: Thạch Sanh câu chuyện li kì hấp dẫn lưu truyền trong dân gian, xuyên suốt câu chuyện nổi bật lên là hình ảnh tiếng đàn và nồi cơm niêu với biểu tượng của sự hóa giải, tình nhân nghĩa trong nhân gian. 2. Thân bài – Hình tượng tiếng đàn: Tiếng đàn hóa giải + Tiếng đàn là vật kỉ niệm của vua Thủy Tề, giúp Thạch Sanh nhiều lần giải oan khi bị bắt vào ngục, giúp công chúa cười nói vui vẻ, giúp Thạch Sanh đánh giặc + Tiếng đàn như lời nói công lí, nói sự thật, thấu tình đạt lí +Tiếng đàn giúp bản thân Thạch Sanh, giúp cho cả một dân tộc khi gặp khó khăn – Hình tượng nồi cơm niêu: Nồi cơm nhân nghĩa + Nồi cơm niêu: Giải tỏa nỗi lo của nhà vua, của cả dân tộc, khiến quân địch thán phục, ngậm ngùi lui quân + Là biểu tượng cho đức tính người con đất Việt, tinh thần nhân đạo sâu sắc trong nhân dân, chuộng hòa bình, ghét chiến tranh. 3. Kết bài Cảm nghĩ hình ảnh tiếng đàn và niêu cơm: Hai hình ảnh nhỏ bé, thân thuộc với người dân nhưng qua tài năng trí tuệ tâm hồn người Việt đã xây dựng lên câu chuyện vừa độc đáo vừa mang đậm tính nhân văn. II. Bài tham khảo Truyện cổ dân gian được lưu truyền từ đời này sang đời này sang đời khác bởi sự li kì hấp dẫn của nó. Thật vậy, Thạch Sanh một câu chuyện truyền thuyết ca ngợi chàng dũng sĩ diệt chằn tinh, diệt đại bàng, dùng tài năng của mình cứu người bị hại, câu chuyện cũng muốn lên án tố cáo những kẻ vong ân bội nghĩa, những kẻ cướp công người khác, xuyên suốt câu truyện nổi bật lên là hình ảnh tiếng đàn và nồi cơm niêu với biểu tượng của sự hóa giải, tình nhân nghĩa trong nhân gian. Tiếng đàn hóa giải đưa người đọc qua nhiều suy nghĩ, mỗi người một cách cảm nhận tiếng đàn theo cách riêng của mình, nhận được cây đàn tri kỉ từ vua Thủy Tề trở về với cuộc sống thực tại, tiếp tục với cuộc đời lam lũ mình, con người chân chất thật thà đó coi cây đàn như vật kỉ niệm mà chàng luôn giữ gìn mang theo bên mình, cũng từ đây mà tiếng đàn đã nhiều lần giúp Thạch Sanh giải oan. Khi bị bắt giam vào ngục tiếng đàn cất lên thật thánh thót, như lời ai oán của Thạch Sach khi những gì mình làm đều bị cướp công, tận sâu đáy lòng chàng chẳng muốn được đền đáp, bởi lòng nhân nghĩa của mình mà chàng ra tay cứu giúp nhưng tại sao chàng phải chịu sự tù đày khổ cực. Nhân danh công lí tiếng đàn thay lời muốn nói, tiếng vang bênh vực người có công, kẻ vụ lợi cướp công lao của người khác. Qua văn thơ tiếng đàn đanh thép vô cùng, như một vị quan tòa phân xử công bằng cho những gì mà Thạch Sanh đã làm và những gì mà Thạch Sanh không đáng phải chịu. Không chỉ có vậy, tiếng đàn giúp nàng công chúa trước đây chỉ im lặng thẫn thờ nay cười nói vui vẻ, tiếng đàn đưa chàng trai tới gặp nhà vua, từ đây mà những bi kịch mà chàng phải chịu đựng đều được hóa giải. Là tiếng đàn thần kì bởi nó cho thấy công lí luôn tồn tại, tiếng đàn biết nói, nói một cách thấu tình đạt lí, nói lên sự thật. Ngoài ra tiếng đàn còn giúp chàng trai đánh giặc, đại diện cho một quốc gia, một đất nước, một dân tộc đứng lên cất cao tiếng đàn như lời nói nhân nghĩa, căm thù chiến tranh, ưa chuộng hòa bình. Tiếng đàn giúp chàng hóa giải oan khuất của bản thân, rồi hóa giải khó khăn của cả một dân tộc, sự kì diệu đó là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng thành công truyện, ngoài tiếng đàn còn có hình ảnh nồi cơm niêu vô cùng đặc sắc. Nồi cơm niêu mang biểu tượng của sự nhân nghĩa, chiến thắng Thạch Sanh qua tiếng đàn chỉ là bước đầu, nồi cơm niêu đã giải tỏa được nỗi lo của nhà vua, của nhân dân khi dùng nồi cơm nhỏ bé vừa chiêu đãi quân địch vừa đưa ra bài toán không có lời giải khiến chúng bội phục ngậm ngùi rút quân về nước, nồi cơm niêu nhỏ bé mà sao kì lạ đến vậy, nồi cơm mà bất cứ gia đình nào trong thời đại đó cũng có thể có được, nhưng không đơn giản như vậy, ẩn sâu phía bên trong hình ảnh nồi cơm niêu là bản chất từ xa xưa của người dân đất Việt, những người mang trong mình tinh thần nhân đạo sâu sắc, sự nhân đạo thể hiện giữa người với người không kể ai, thể hiện trên cả những kẻ muốn cướp nước, trong lòng luôn thể hiện sự thân thiện, mong muốn hòa bình, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Hai hình ảnh nhỏ bé, thân thuộc với người dân nhưng qua tài năng trí tuệ tâm hồn người Việt đã xây dựng lên câu chuyện vừa độc đáo vừa mang đậm tính nhân văn, mang thông điệp vô cùng ý nghĩa lưu truyền trong nhân gian tới những thế hệ sau.
Phân tích hình tượng tiếng đàn và niêu cơm trong truyện cổ tích Thạch Sanh
994
Đề bài: Phân tích hình tượng Tổ Quốc trong thơ ca sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 Dàn ý 1. Trước hết cần hiểu đúng khái niệm Tổ Quốc: “Đất nước, được bao đời xây dựng và để lại, trong quan hệ với những người dân có tình cảm gắn bó với nó” (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê). Nói cách khác, Tổ Quốc bao gồm đất nước (vị trí địa lí), con người và lịch sử dần tộc. (Tuy trong bài làm không nhất thiết phi giải ihích cặn kẽ khái niệm “Tổ Quốc”, nhưng phải tỏ ra hiểu chắc chắn khái niệm này; nếu hiểu không đầy đủ, bài làm sẽ khó tránh khỏi phiến diện). 2. Chọn được những bài thơ, ý thơ tiêu biểu viết về Tổ Quốc hoặc có phần viết về Tổ Quốc trong thơ ca sau Cách mạng tháng Tám (tức là thơ ca được viết từ khi Cách mạng thành công tới những năm 1983, mà trọng tâm là thơ ca trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ) để làm nổi bật hình tượng Tổ Quốc Việt Nam trong những tác phẩm này. Có thể trình bày ba ý chính sau đây: – Tổ Quốc tươi đẹp. – Tổ Quốc đau thương. – Tổ Quốc kiên cường, bất khuất đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng. 3. Lí giải được vì sao hình tượng Tổ Quốc xuất hiện nhiều trong thơ ca sau Cách mạng và nhất là cần lí giải vì sao hình tượng Tổ Quốc lại có những biểu hiện vừa nêu. Ở đây, phải biết vận dụng kiến thức về lí luận văn học (văn học là tấm gương phản ánh đời sông) và kiến thức lịch sử (đây là thời kì dân tộc Việt Nam liên tục phải chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc trước sự xâm lăng của ngoại bang; văn nghệ sĩ nhiều người đồng thời là chiến sĩ) để lí giải vấn đề. Ngoài cũng cần phải thấy được hình tượng Tổ Quốc đã có vị trí như thế nào trong và học, ý nghĩa của nó ra sao đối với hai cuộc chiến dấu và đối với ngày nay (những năm 80 của thế kỉ XX). Đề bài này trước hết đòi hỏi học sinh phải có trình độ khái quát, từ những bài thơ, ý thơ cụ thể rút ra được những nhận xét bao trùm, rồi phân tích, chứng minh, lí giải những nhận xét ấy. (Dĩ nhiên, có thể làm bài theo cách quy nạp hoặc diễn dịch) Bài làm Tổ Quốc là Bà Mẹ lớn nhất của chúng ta. Tổ Quốc cũng là đề tài lớn nhất trong thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung. Thơ ca của chúng ta từ hàng ngàn năm đã viết về Tổ Quốc, và hình tượng Tổ Quốc trong thơ ca từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay là sự kế thừa và phát triển có tính biện chứng của thơ ca truyền thống. Đất nước trong thơ ca sau Cách mạng tháng Tám đến nay là đất nước anh hung, anh hùng trong chiến đấu và trong sản xuất, dũng cảm vô song nhưng vẫn nhân ái thiết tha; đất nước tươi đẹp, hiên ngang đứng ở mũi nhọn của lịch sử. Có thể nói, chưa hao giờ trong thơ ca của chúng ta, hình tượng Tổ Quốc lại có những phẩm chất cao đẹp và mới mẻ như vậy. Hình tượng Tổ Quốc là tượng đài cao đẹp nhất, hùng vĩ nhất trong thơ ca Việt Nam, nó có cả chiều rộng của thời đại mới, của mấy chục năm đánh Pháp và đánh Mĩ, cả chiều sâu yêu nước cùng với yêu thơ ca cùa dân tộc, cả chiều cao của một đất nước từ trong vũng bùn nô lệ đã hiên ngang đứng dậy thắng quân thù, làm nên ngọn hải đăng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. “Thơ ca là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp”. Nói đến Tổ quốc trong thơ ca tức là nói đến đất nước và con người. Đất nước đã sản sinh ra con người, là nơi “chôn rau cắt rốn” của con người và chính những con người đó đã cầm súng, cầm cày để bảo vệ và xây dựng đất nước. Hai yếu tố này trong thơ luôn hoà quyện vào nhau, tác động tới nhau, hành động và suy nghĩ của con người làm nên sự trưởng thành của đất nước và tiếng gọi của đất nước chắp cánh cho hành động và suy nghĩ của những con người yêu nước đó. Hai hình ảnh này gắn bó hữu cơ với nhau và cấu thành một hình tượng chung: Tổ Quốc. Tổ Quốc, đó là nơi mỗi chúng ta cất tiếng khóc chào đời, nơi những kỉ niệm ngọt ngào êm đềm nhất in vào chúng ta qua những lời ru: Con cò bay lả bay la…Tổ Quốc, đó là mảnh đất cha ta nằm xuống cùng với đồng đội của mình, là Tháp Rùa rêu phong cổ kính, là Trường Sơn mây mù che phủ,… Ôi! Ai trong chúng ta chẳng đã có những kỉ niệm gắn bó không thể nào quên được đối với đất nước! Và Ai trong chúng ta chẳng đã từng lặng người đi khi đọc những câu thơ mà hình ảnh, vóc dáng của Tổ Quốc hiện ra thân thuộc đến nao lòng…. “Thơ là đồng điệu”, “là liếng nói tri âm” (Tố Hữu). “Thơ là tiếng gọi đàn…” (Xuân Diệu). Phải rồi, thơ là tiếng lòng, là ‘‘hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi” để con người tìm đến với con người, con người tìm đến với đất nước thân yêu của mình. Trong quá khứ, thơ ca của cha ông chúng ta buồn lắm, bởi vì cuộc đời, bởi vì Tổ Quốc Việt Nam ngày xưa đau khổ lắm: Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi. (Chế Lan Viên) Cũng có những phút mà Tổ Quốc gạt được nỗi buồn đó sang bên, đó là khi quân thù tới xâm lấn bờ cõi đất nước, hào hùng thay lúc Lí Thường Kiệt sang sảng đọc: Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Trần Hưng Đạo cùng nhân dân với hào khí viết Đại cáo Bình Ngô mà lòng tự hào Đại Việt lan tới từng con chữ….. Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, những áng “thiên cổ hùng văn” đó không làm ta quên được bao số phận đói nghèo sau luỹ tre xanh. Hình ảnh đất nước vất vả vẫn cứ day dứt chúng ta sau từng câu ca dao: Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non. (Ca dao) Đêm trước của Cách mạng tháng Tám, đất nước có hai triệu ngừơi chết đói Tám mươi năm dài nô lệ đã gây cho đất nước bao đau khổ. Cả dân tộc đang tìm đường, cả đất nước đang chuẩn bị vùng dậy. Cái gì sẽ tới đây, rồi tương lai? Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao? Nụ cười sẽ ra sao? ơi độc lập! (Người đi tìm hình của nước, Chê Lan Viên) Cách mạng tháng Tám bùng nổ đã làm thay đổi từ bộ mặt đến tâm hồn Tổ quốc. Đất nước đã độc lập tự do, hình ảnh nước Việt Nam hiện ra trong thơ Nguyễn Đình Thi mới oai hùng biết nhường nào: Súng nổ rung người giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng loà. (Đất nước) Thơ ca Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay đã tạo nên tượng đài tổ quốc với tất cả những phẩm chất cao đẹp: anh hùng vô song trong chiến đấu và sản xuất, dũng cảm tuyệt với mà nhân ái thiết tha, trải bao bão lửa mà vẫn xanh, hiên ngang đứng ở đỉnh cao của lịch sử mà vẫn khiêm tốn, giản dị, chan hoà. Kháng chiến chống Pháp, cả dân tộc đứng đậy, cả đất nước đánh giặc: Những ruộng vườn mọc lên luỹ thép Những xóm làng thành bể dầu sôi Quân giặc kinh hoàng trên đất chết Mỗi bước đi lạnh toát mồ hôi. (Nguyễn Đình Thi) Hình tượng đất nước được tập trung ca ngợi qua Việt Bắc, trung tâm của kháng chiến: Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền. (Việt Bắc, Tố Hữu) Đất nước bị tàn phá được khắc hoạ qua những chi tiết nhỏ nhặt tưởng như dễ bị qua nhưng lại đọng trong ta nhiều xúc động: Cha mẹ dìu nhau về nhận đất Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau. (Núi Đôi, Vũ Cao) Cuộc sống kháng chiến, con người kháng chiến được ghi lại nhiều trong thơ. Đó là anh Vệ quốc, bà bầm, bà bủ, chị con gái Bắc Giang, người dân quân… Và một hình ảnh rất đẹp nữa, kết tinh những phẩm chất của dân tộc: đó là Bác Hồ vĩ đại. Đó còn là những cảnh Ngày xuân mơ nở trắng rừng, Ve kêu rừng phách đổ vàng, những đồi cọ, những ngọn núi hết sức thân thuộc với kháng chiến… Nhìn chung, thơ ca trong kháng chiến chống Pháp phản ánh trung thực và khá xúc động hình ảnh Tổ quốc. Nhưng các nhà thơ chưa có được cái nhìn cao, rộng về Tổ Quốc. Do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do sự thay đổi, chuyển mình quá đột ngột của đất nước, các tác giả chưa đủ thời gian để nhìn nhận, chiêm ngưỡng đất nước một cách toàn diện, đầy đủ. Trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hình ảnh Tổ quốc được thể hiện như một con ngựa vừa chắc tay súng ở miền Nam, vừa cầm bứa, cầm cày xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc. Đất nước đã đổi thay, cảnh đổ nát của chiến tranh vẫn còn nhưng những tiếng ca vui, những sắc hồng của cuộc đời đã có rồi: Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non Yêu biết mấy, những con đường ca hát Qua công trường mới dựng mái nhà son! (Mùa thu mới, Tố Hữu) Cả miền Bắc như một công trường đang thi công rộn rã, ngói mới là một hinh ảnh độc đáo của Xuân Diệu để diễn tả những đổi thay to lớn đó: Ơi ngàn vạn ngói nói xôn xao Như đất ta vui bỗng vọt trào Ngói mới! ơi ngàn muôn sức lực Trải ra thành rọng, dựng thành cao! Nhưng quân thù đâu có để chúng ta yên, ta muốn viết những “dòng tươi xanh” nhưng cũng hãy cứ viết “những dòng thơ lửa cháy”. Giai đoạn chống Mĩ là thời kì mà hình ảnh Tổ quốc Việt Nam hiện lên đẹp nhất, cao quý nhất, toàn diện nhất trong thơ ca của chúng ta. Các nhà thơ đều có những sáng tác trực tiếp hoặc gián tiếp về đề tài Tổ quốc. Chế Lan Viên với Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?, Nam Hà với Ta là Việt Nam,… và đặc biệt là Tô Hữu với những bài thơ xuân, những bài thơ ra đời vào những thời điểm nóng bỏng của lịch sử đấu tranh. Cảm hứng bao trùm về đất nước là sự ngợi ca, khâm phục. Không ngợi ca khâm phục làm sao được khi một dân tộc bé nhỏ hơn nhiều lần đã dám đánh và đánh thắng kẻ thù? Tố Hữu viết: Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ Đất anh hùng của thế kỉ hai mươi. Chế Lan Viên đặt đất nước, đặt thời đại đang sống vào vị trí cao nhất trong lịch sử: Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn! (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?) Lê Anh Xuân, qua hình tượng người chiến sĩ giải phóng quân hi sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất, khái quái lên hình tượng dáng đứng Việt Nam, cái dáng đứng tạc vào thế kỉ mà trải qua hàng ngàn năm nay chúng ta mới có được. Từ dáng đứng của Anh trên đường băng Tân Sơn Nhất Tổ Quốc bay lên bát ngát mùa xuân. Cái khí phách, cái anh hùng của người Việt Nam có khi còn được thể y qua những hình ảnh rất đỗi nên thơ: Ao trường vẫn nở hoa sen Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu. (Trần Đăng Khoa) Sức mạnh Việt Nam được lí giải qua một em bé thôi, chiến tranh ác liệt là thế, chết chóc là thế nhưng em vẫn có một con mất trong trẻo vô cùng. Người chiến sĩ nằm hầm bí mật thì phát hiện ra sức mạnh Việt Nam qua hình ảnh người mẹ đào hầm và chăm sóc cho anh: Nơi hầm tốì là nơi sáng nhất Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam! (Bùi Minh Quốc) Tố Hữu khắc hoạ hình ảnh Tổ Quốc như một bà mẹ, bà mẹ rất đỗi thân thương của mỗi chúng ta: Việt Nam, ôi Tổ Quốc thương yêu! Trong khổ đau, Người đẹp hơn nhiều Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng Nhẫn nại nuôi con, suối đời im lặng… (Tố Hữu) Trước kia, Nguyễn Trãi viết Đại cáo bình Ngô cũng mới chỉ thấy được tầm vóc của chiến thắng qua việc non sông sạch bóng quân thù; nhưng giờ đây, các thơ của chúng ta đã thấy được cái lớn hơn, thấy được ý nghĩa quốc tế của chiến đấu ác liệt này: Ta vì ta, ba chục triệu người Cũng vì ba ngàn triệu trên đời. (Tố Hữu) Hình tượng Tổ Quốc được thể hiện như là nơi thử thách khốc liệt nhất của thời địa, “Việt Nam vàng của lòng người hôm nay”, Việt Nam trở thành nơi “thử vàng”, là bông sen thơm ngát giữa đầm: Chúng muốn đốt ta thành tro bụi Ta hoá vàng nhân phẩm, lương tâm Chúng muốn ta bán mình ô nhục Ta làm sen thơm ngát giữa đầm. (Tố Hữu) Việt Nam còn là đất nước của tình thương, của “non nước, thi văn, tư tưởng”. Nguyễn Đinh Thi ví Tổ Quốc như một con sông mạnh, trong, qua rất nhiều thác nghềnh, rất nhiều bão lửa, lại trở lại xanh trong với đôi bờ cỏ cây, hoa lá. Huy Cận ví Tổ Quốc như một dũng sĩ có tâm hồn của một văn nhân: Đứng vững chãi bốn ngàn năm sừng sững Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa. Trong và thực, sáng hai bờ suy tưởng Sống hiên ngang mả nhân ái, chan hoà. Tổ Quốc trong thời kì chống Mĩ còn được thể hiện qua hình ảnh Trường Sơn, con đường mòn Hồ Chí Minh và những binh đoàn xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Trường Sơn là nơi chúng ta đưa chủ nghĩa anh hùng cách mạng lên đỉnh cao lịch sử, nơi Tổ Quốc hiện ra đẹp đẽ, giản dị, hùng vĩ nhất: Trường Sơn mây núi lô xô Quân đi, sóng lượn nhấp ngô, bụi hồng… (Tố Hữu) Phải, chúng ta đã đi và chúng ta đã đến, Tổ Quốc trong ngày toàn thắng tuyệt vời: Ôi, buổi ưưa nay, tuyệt trần nắng đẹp Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta Chúng con đến, xanh ngời ánh thép Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa. (Tố Hữu) Đất nước thống nhất vẹn toàn, hình ảnh Tổ quốc hiện ra toàn bích từ mái xanh đầu nguồn Pắc Bó, tới gót chân hồng mũi Cà Mau. Tổ Quốc được thể hiện như một hình tượng đẹp đẽ nhất, cao quý nhất và có những phẩm chất mới mẻ, mang dấu ấn của thời đại, đó là thành công lớn của thơ ca Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám tới nay. Trong giai đoạn mới, chúng ta vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa bảo vệ Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa trên đất nước đã hoàn toàn thống nhất, Tổ Quốc vẫn là một mảng đề tài rất quan trọng. Chúng ta mơ ước có những bài thơ hay viết về Tổ Quốc, vừa cao đẹp, gần gũi, vừa giàu tính chiến đấu lại vừa hết sức thân tình, thâu tóm được những gì đã qua, nói về những ngày đang sống, vừa hướng chúng ta tới tương lai của Tổ Quốc,… Bởi vì, nói như Pauxtôpxki: “Niềm của nhà thơ chân chính là niềm vui của người mở đường vào cái đẹp, của người biết đi tới tương lai…”. Chúng ta có quyền hi vọng và chờ đợi ở các nhà thơ chúng ta.
Phân tích hình tượng Tổ Quốc trong thơ ca sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975
2,746
Phân tích hình ảnh bà Tú trong bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương Hướng dẫn Phân tích hình ảnh bà Tú trong bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương Viết về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, đã từng có rất nhiều những áng thơ văn nói lên nỗi khổ hạnh, buồn tủi của số phận nữ nhi bất hạnh, khổ đau. Nhà thơ Trần Tế Xương cũng vậy, người phụ nữ trong thơ ông không phải ai khác mà chính là người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh của mình. Với những tình cảm chân thành, mộc mạc, ông đã khắc họa lại hình ảnh bà Tú trong bài thơ “Thương vợ” một cách rất chân thực và giàu cảm xúc. Bà vừa là một người vợ đảm đang, giàu đức hi sinh, vừa là một người mẹ giàu lòng yêu thương. Mọi khó khăn, khổ cực trên cuộc đời này chẳng là gì so với người phụ nữ can đảm, chịu thương chịu khó ấy. “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông.” Hình ảnh một người phụ nữ tảo tần, vất vả ở mom sông – nơi ẩn chứa rất nhiều mối hiểm nguy, thậm chí có thể mất mạng bất cứ lúc nào – đã gợi lên bao cảm xúc cho người đọc. Trong thời buổi khó khăn, kiếm được đồng tiền rất cực khổ, nuôi được thân mình thôi đã là vất vả lắm rồi. Vậy mà bà Tú của Tế Xương còn phải “Nuôi đủ năm con với một chồng”. “Đủ” không những đủ ăn mà còn đủ mặc, dù không dư giả hay cao sang nhưng cũng không thiếu thứ gì. Mặt khác, hai vế của câu thơ “năm con với một chồng” giống như một chiếc đòn gánh vô hình nhưng rất dài đang đè nặng lên đôi vai gầy của người phụ nữ đáng thương. Nhưng bà không hề than vãn hay kêu ca nửa lời. Bà cam chịu, hi sinh bằng tất cả tấm lòng nhân ái và yêu thương của mình. Tế Xương đã tự ví bà với “thân cò” – một hình ảnh rất đẹp, rất nhân văn và quen thuộc khi nói về những người nông dân lam lũ, vất vả. Bà lặn lội khi quãng vắng, rồi lại “eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Trong hai câu thơ này, tác giả đã cố tình dùng phép đảo ngữ đẩy hai từ “lặn lội”, “eo sèo” lên đầu câu để nhấn mạnh thêm nữa sự vất vả, bon chen của bà Tú. Người phụ nữ ấy không những yêu chồng, thương còn mà còn rất sắc sảo, nhanh nhẹn. Vì thế bà mới có thể vững chân làm nghề buôn bán quanh năm được. Nhất là trong lúc khó khăn, ai ai cũng cố gắng hết mình để giành giật lấy từng đồng từng xu, bà Tú cũng vậy, bà cũng phải bon chen lắm, nỗ lực lắm mới có thể “nuôi đủ năm con với một chồng”, cộng thêm cả bản thân bà nữa bẩy người. Một mình bà nuôi cả bẩy miệng ăn. “Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không.” Duyên nợ long đong lận đận, kiếp sống khổ cực, nhọc nhằn nhưng xuyên suốt cả bài thơ, không có một từ nào nói lên sự than thở, kêu than của bà Tú. Người phụ nữ ấy có tấm lòng yêu thương quá lớn. Bà đã hi sinh tất cả cho chồng cho con, hi sinh cả tuổi thanh xuân đầy khát vọng của mình. Dù “năm nắng” hay “mười mưa” bà nào có “quản công”. Một mình bà sẵn sàng gánh vác cả gia đình. Cũng may, trong thời ấy, dù nhiều người phụ nữ khác cũng lam lũ, cũng vất vả nhưng chẳng mấy ai được chồng cảm thông và thương xót như Bà Tú. Chỉ tiếng rằng ngoài tình thương, Tế Xương cũng không thể làm gì giúp vợ được. Thế nên, ông mới tự nhận “Có chồng hờ hững cũng như không”. Bà không cần nói nhưng những việc bà làm đã khiến Tế Xương chồng bà phải khâm phục và nể trọng. Bà là đại diện cho những người phụ nữ truyền thống của Việt Nam với đức tính chịu thương chịu khó, hi sinh vất vả và giàu lòng yêu thương. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, do có quá nhiều thứ bon chen, chi phối, một số người đã không còn gìn giữ được những phẩm chất tốt đẹp, cao quý ấy nữa. Họ sống vì lợi danh, sống ganh đua, chua chát. Không ít kẻ đã trà đạp lên nhau, giẫm chân lên nhau mà sống. Ai cũng vì lợi ích riêng của bản thân mình mà quên đi mất những phẩm giá tốt đẹp vốn có của con người. Chưa kể đến có những bà lười biếng, thích ăn không ngồi rồi, thích hưởng thụ, thích sai khiến người khác phải phục tùng mọi ý muốn của mình. Không mấy ai còn phải vất vả như bà Tú nhưng cũng cũng chẳng có nhiều tấm lòng giàu tình yêu thương và vị tha như vậy nữa. Bài thơ đã khép lại với hình ảnh chân thực về người vợ tảo tần, giàu đức hi sinh. Bà là một tấm gương sáng cho những người phụ nữ hiện đại soi lại chính mình.
Phân tích hình ảnh bà Tú trong bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương
930
Đề bài: Phân tích hình ảnh Bác Hồ hiện lên qua bài thơ Ngắm trăng Bài làm Tháng 8-1942, Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam, nhưng khi đến gần thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địa phương ở đây bắt giữ, giải đi khắp gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đoạ hơn một năm trời. Thời gian này, Người đã viết Nhật kí trong tù bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Tập thơ thể hiện một tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng kiên cường và nghệ thuật thi ca đặc sắc. Bài thơ Ngắm trăng được trích trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. “Ngục trung vô tửu diệc vô hoa Đối thử lương tiêu nại nhược hà? Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia” Bài thơ được dịch là “Ngắm trăng”: “Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” Trong các các câu thơ dịch, câu thứ hai trong nguyên tác có nghĩa là “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?”. Câu thơ dịch dịch thành: Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ đã làm mất đi cái xốn xang, bối rối của nhân vật trữ tình (cũng là mất đi sự lãng mạn và nhạy cảm trước thiên nhiên trong tàm hồn của Bác). Hai cầu thơ cuối (bản dịch) cũng kém phần đăng đối hơn so với phiên âm. Hơn nữa từ nhòm và ngắm trong câu cuối là hai từ đồng nghĩa, khiến cho lời dịch không bảo đảm được sự cô đúc của ý tứ và thể thơ. Thường người ta ngắm trăng vào những lúc thảnh thơi, thư thái. Thế nhưng ở đây, Hồ Chí Minh lại ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt: ở trong tù. Khi Bác nói “Trong tù không rượu cũng không hoa” thì không có nghĩa là Bác đang than thở cũng không phải đó là một lời phê phán. Chỉ có thể nghĩ rằng, trước đêm trăng tuyệt đẹp ấy, Bác mong được thưởng trăng một cách trọn vẹn (và đúng là thật tiếc nếu không có rượu, có hoa). Chính việc nhớ đến rượu và hoa trong cảnh ngục tù này đã cho thấy, người tù không hề vướng bận gì về vật chất và những gian nan mà mình đang phải chịu. Người tù vẫn ung dung tự tại, vẫn thả hồn mình cùng với thiên nhiên. Hai câu cuối của bài thơ chữ Hán đối nhau rất chỉnh: Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, Nguyệt tòng song khích khán thi gia. Các từ chỉ người (nhân, thi gia) và các từ chỉ trăng (nguyệt) đặt ỏ hai đầu, ở giữa là cửa nhà tù (song). Thế nhưng, giữa người và trăng vẫn tìm được sự giao hoà với nhau. Cấu trúc đối này đã làm nổi bật tình cảm mảnh liệt giữa người và trăng, nổi bật sự gắn bó thân thiết của một mối quan hệ từ lâu đã trở thành tri kỉ (Bác với trăng). Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lên trong bài thơ nổi bật ở khía cạnh người chiến sĩ không chút bận tâm về gông cùm, đói rét,…Trước khó khăn, Bác vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Bài thơ còn thể hiện nổi bật tâm hồn nghệ sĩ của Bác Hồ, một tâm hồn luôn rộng mở với thiên nhiên. Cuộc ngắm trăng trong bài Vọng nguyệt có hoàn cảnh không giống như các cuộc ngắm trăng khác: bài thơ được Bác làm khi phải chịu cảnh tù đày. Và có thể nói, mỗi bài thơ Bác viết về trăng lại có những nét riêng: trăng đầy sức sống, đầy sức xuân trong Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu), trăng thi vị và tri kỉ trong Báo tiệp (Tin thắng trận),…Nói chung, ở tất cả những bài này, Bác đều đã cho người đọc thấy vẻ đẹp của một tâm hồn thi sĩ, luôn mở rộng lòng để giao hoà cùng với thiên nhiên.
Phân tích hình ảnh Bác Hồ hiện lên qua bài thơ Ngắm trăng
716
Đề bài: Phân Tích Hình Ảnh Bác Hồ Qua Bài Thơ Tức Cảnh Pắc Bó Bài làm Hồ Chí Minh – vị cha già kính yêu, nhà cách mạng, nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ vĩ đại của của dân tộc Việt Nam; Người cống hiến cả cuộc đời của mình cho quê hương đất nước, vị lãnh tụ đáng kính, nhưng một đời sống bần hàn, thanh bạch. Cốt cách của Người, không phải tìm ở đâu xa, mà được thể hiện ngay trong những bài thơ do Bác sáng tác. Trong thơ mình, Bác vừa là một thi sĩ có tâm hồn lãng mạn, bay bổng nhưng cũng là một chiến sĩ có tinh thần thép, đầy ung dung và lạc quan. Tức cảnh Pác Bó là bài thơ thể hiện rõ điều đó. Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu tìm đường cứu nước, tháng 2 – 1941, Nguyễn Ái Quốc đã bí mật trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người sống trong hang Pác Bó – một hang núi nhỏ sát biên giới Việt – Trung (Thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng). Điều kiện sinh hoạt ở đây rất gian khổ. Phải thường ăn cháo ngô, măng rừng thay cơm; bàn làm việc là một phiến đá bên bờ suối Lê-nin. Bài thơ Tức cảnh Pác Bó đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Tức cảnh Pác Bó là một bài thơ tứ tuyệt bình dị, tự nhiên: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Cuộc đời cách mạng thật là sang” Ba câu thơ đầu, Bác nhắc đến điều kiện ăn – ở – làm việc của mình. Vậy nơi thâm sơn cùng cốc ấy, Người ăn – ở và làm việc thế nào? Tình yêu thiên nhiên của Người được thể hiện trong nhiều bài thơ, ví dụ trong bài Ngắm trăng, Bác viết: “Trong tù không rượi cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;” Mặc dù ở trong ngục tù gian khổ, nhưng người vẫn không quên hướng ra ngoài kia, để thưởng trăng và khao khát cuộc thưởng trăng đủ đầy với rượi và hoa. Câu thơ thứ hai vẫn tiếp tục mạch cảm xúc đó, nhưng có thêm nét vui đùa: “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”. Lương thực, thực phẩm ở đây thật đầy đủ, đầy đủ tới mức dư thừa, luôn có sẵn. Có người hiểu ý câu thơ này là dù phải ăn cháo bẹ, rau măng rất khổ nhưng tinh thần vẫn sẵn sàng. Hiểu như vậy không sai về ngữ pháp nhưng không phù hợp với tinh thần chung, giọng điệu chung (đùa vui, thoải mái) của bài thơ, cũng tức là không phù hợp với mạch cảm xúc của tác giả. Điều kiện ăn – ở đã khó khăn, thế nên điều kiện làm việc của Người cũng khó khăn không kém: “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”. Vẫn là một bàn đá trong núi sâu, “chông chênh” như vận mệnh đất nước, nhưng trái ngược với hoàn cảnh đó là tinh thần của Bác vững như bàn thạch. Cách mạng Việt Nam lúc cao trào, lúc thoái trào nhưng xu hướng là đi lên và phát triển. Bác vẫn tin cách mạng Việt Nam sẽ thành công. Cho nên gánh trên vai trọng trách nặng nề mà Bác vẫn ung dung khẳng định: “Cuộc đời cách mạng thật là sang”. Một chữ “sang” như nhãn tự, tỏa sáng cả bài thơ, tỏa sáng cả những năm tháng sống trong rừng sâu, hang tối của nhà cách mạng! Một chữ “sang” đủ phủ nhận tất cả gian khổ, hiểm nguy, khẳng định tính cao quý của đời cách mạng bởi vì người cách mạng luôn lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp đó. Câu thơ cuối cùng khẳng định niềm tin mãnh liệt của người chiến sĩ cách mạng vào sự nghiệp cứu nước. Đối với Người, dù sự nghệp ấy, con đường ấy, có gặp biết bao gian lao, khổ cực đi chăng nữa, thì cuối cùng cũng sẽ thành công. Tức cảnh Pác Bó – một bài thơ tứ tuyệt nhẹ nhàng, giản dị, tự nhiên như hơi thở, như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Nhưng đằng sau nó chúng ta bắt gặp một một Hồ Chí Minh – là sự kết hợp hài hòa giữa con người thi sĩ và con người chiến sĩ. Hình ảnh đó luôn in đậm trong lòng độc giả và trở thành tấm gương sáng cho muôn đời noi theo.
Phân Tích Hình Ảnh Bác Hồ Qua Bài Thơ Tức Cảnh Pắc Bó
772
Phân tích hình ảnh bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích hình ảnh bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Truyện ngắn “Chí Phèo” là một kiệt tác của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại của nhà văn hiện thực và nhân đạo Nam Cao. Qua tác phẩm, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thê thảm, đầy bi thương của những kiếp sống lương thiện nhưng đói nghèo đã bị tha hóa cả về thể xác lẫn linh hồn. Tiêu biểu cho những kiếp người đó chính là nhân vật “Chí Phèo” và những bi kịch mà hắn phải chịu đựng, nếm trải trong chặng đường đời của mình. Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, người đọc dõi theo từng bước chân của Chí từ một người dân lương thiện bình thường cho đến khi trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại và cuối cùng là cái chết tuy bi thảm nhưng lại là cách giải thoát tốt nhất khỏi những bi kịch mà Chí đang phải chịu đựng. Người đọc không thể quên hình ảnh của Chí lúc mới ở tù ra với “cái đầu trọc lốc, răng cạo trắng hớn, mặt đen lại”, “cái ngực phanh ra đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm trùy trông gớm chết”. Để rồi từ đó, cuộc đời hắn chìm trong men rượu, trong cơn say hắn đã làm biết bao tội ác, hắn phá vỡ hạnh phúc của biết bao nhiêu gia đình, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người lương thiện. Bát cháo hành của Thị Nở tuy giản đơn, mộc mạc chỉ có một chút cháo trắng với hành nhưng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự hồi sinh thức tỉnh của Chí. Bát cháo được nấu lên bằng tình yêu thương chân thành, sự cảm thông, thấu hiểu của Thị Nở dành cho Chí, chính vì vậy mà nó có sức lay động mạnh mẽ bản chất lương thiện vốn đã bị vùi sâu trong tâm hồn Chí. Nếu như trước đây, hắn chỉ biết uống rượu, rạch mặt, ăn vạ, rồi gây nên biết bao nhiêu tội ác thì giờ đây sau khi ăn bát cháo hành của Thị Nở hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với Thị như với mẹ. Chưa bao giờ ta thấy hắn hiền như lúc này…Khi nhận được bát cháo hành từ tay Thị, Chí rất ngạc nhiên, hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình ươn ướt. Vậy là Chí đã khóc, một con người đã lấy đi biết bao nhiêu nước mắt của người khác vậy mà giờ đây chính hắn lại khóc. Hắn đã khóc, khóc vì đây là lần thứ nhất hắn được người ta cho, lại được cho bởi tay một người đàn bà. Trước đây, chỉ toàn là đi cướp giật của người khác, hắn thấy “xưa nay có thấy tự nhiên ai cho ai cái gì”. Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng, vừa vui vừa buồn và một cái gì nữa giống như là ăn năn, hối lỗi…Và đây cũng là lần đầu tiên Chí biết đến cái duyên của một người, đó là khi Thị Nở múc cháo “nhìn trộm hắn rồi lại cười toe toét. Trông Thị thế mà có duyên”. Nhìn Thị hắn nghĩ lại quá khứ khi mà hắn phải chăm sóc cho bà ba, phải làm những việc xấu xa hắn thấy nhục hơn là thích. Bát cháo hành của Thị Nở có sức mạnh thật kì diệu, nó đã làm cho một người như Chí phải suy nghĩ: “Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây thù?”. Tình yêu thương, sự đồng cảm của Thị Nở cùng bát cháo hành như một liều thuốc đã kéo Chí ra khỏi hàng loạt những bi kịch của cuộc đời, giúp Chí tìm lại được chính bản chất lương thiện của mình vốn từ lâu đã bị vùi lấp trong sâu thẳm tâm hồn Chí, nay bỗng được tái hiện như một tia sáng trong cuộc đời tăm tối của Chí Phèo.
Phân tích hình ảnh bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
702
Đề bài: Phân tích hình ảnh bãi cát và người đi trên bãi cát trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát để thấy được tâm trạng bi phẫn của Cao Bá Quát Bài làm Cao Bá Quát nổi tiếng trong lịch sử không chỉ bởi tài văn hay chữ đẹp hơn người. Đương thời và sau này tôn vinh, ngưỡng mộ ông còn bởi nhân cách cao khiết, khí phách hiên ngang, đặc biệt là tư tưởng tự do, phóng khoáng, hoài bão vượi lên trên những tù túng của thời đại để sống có ích, có nghĩa. Tuy nhiên, sống trong thời kì chế độ phong kiến đang khủng hoảng trầm trọng, Cao Bá Quát sớm phải mang nỗi bi phẫn của người trí thức ôm ấp nhiều lí tưởng lớn cao đẹp nhưng cuối cùng thất vọng và bế tắc trên con đường; mình đã lựa chọn. Bài ca ngắn đi trên bãi cát là khúc ca của nỗi niềm bi phẫn ấy. Để thể hiện tâm trạng cửa mình, tác giả đã xây dựng trong tác phẩm hai hình ảnh giàu ý nghĩa: hình ảnh hãi cát và hình ảnh người đi trên bãi cát. Hình linh bãi cát trong bài trước hết là hình ảnh có thực, nó gắn liền với hành trình vào kinh ứng thí của nhà thơ. Khi đi đọc dải đất miền Trung, Cao Bá Quát đi bao lần nhìn thấy khung cảnh những Cồn cát mênh mông trải dài trong nắng và gió Lào khắc nghiệt, bao lần thấm thìa nối nhọc nhằn khổ ái khi bước đi trên cát. Cảnh đó trở thành một ấn tượng đậm nét trong tâm trí nhà thơ và khi đi vào tác phẩm đã mang một ý nghĩa tượng trưng đặc sắc. Những bãi cát dài mênh mông, bãi cát này nối tiếp bãi bãi cát khác: Bãi cát dài bãi cát dài đường công danh mờ mịt nhọc nhằn của tác già và của bao trí thức dương thời. Con đường ấy kéo dài tường như vô tận với biết bao chông gai hiểm trở đang chờ dợi người lữ khách. Cùng với hình ảnh – bãi cát, hình ảnh đường ghê sợ ; phía bắc núi bắc, núi muôn trùng; phía nam núi Nam, sóng dạt dào là hình ảnh tượng trưng cho con đường đời không lối thoát đang mở ra trước mắt nhà thơ. Gắn liên với hình ảnh bãi cát là hình ảnh người đi trên bãi cát. Bãi cát dài mênh mông, vô tận, người lữ hành mải miết, cặm cụi đi trong mệt mỏi đau khổ. Đi một bước như lùi một bước Mặt trời đã lặn, chưa dừng được Lữ khách trên đường nước mắt rơi Thấm thía cái nhọc nhằn, gian truân, khổ ải của hành trình đi tìm công danh, đặc biệt ý thức về. cái vô nghĩa, phù phiếm của danh lợi, người lữ hành bắt đầu suy ngẫm về con đường mình đã lựa chọn. Không học được tiên ông phép ngủ Trèo non, lội suối,giận khôn vơi Xưa nay, phường danh lợi Tất tả trên đường đời Đầu gió hơi men thơm quán rượu Người say vô số, tỉnh bao người Nỗi băn khoăn càng lớn khi người đi đường nhận rõ thực tại trước mắt mình: … Đường bằng mờ mịt Đường ghê sợ còn nhiều đâu ít ….. Phiá bắc núi Bắc, núi muôn trùng Phía nam núi Nam, sóng dào dạt Nên đi tiếp-hành trình còn dang dở hay dừng lại, từ bỏ nó? Tính sao đây? Đi tiếp thì không đành mà dừng lại cũng không được. Nỗi trăn trở cùa nhà thơ đến đây rơi vào bế tắc. Khúc ca cùng đường đã cất lên trong nỗi bi phẫn của một con người đã không thể nào tìm thấy hướng đi như mong muốn giữa cuộc đời mờ mịt. Kết thúc bài thơ là một hình ảnh cũng là một câu hỏi chưa có lời giải đáp: Anh đứng làm chi trên bãi cát? Người lữ hành sau nhiều day dứt, trăn trờ cuổi cùng vẫn chưa thể có một bước đi dứt khoát nào, đành đứng chôn chân giữa sa mạc cuộc đời. Hình ảnh bãi cát và người đi trên bãi cát chính là hình ảnh của nhà thơ cũng như bao trí thức đương thời trong những năm tháng đen tối, mờ mịt của chế độ phong kiến. Dẫu có bế tắc, vô vọng song qua nỗi niềm bi phẫn ấy đã cho thấy dấu hiệu rõ nét của một sự thức tỉnh đáng quý của những kẻ sĩ đương thời trước con đường công danh truyền thống và trước hiện thực xã hội. Hình ảnh bãi cát và người di trên bãi cát là những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa xuất phát từ hiện thực thiên nhiên, hiện thực xã hội và hiện thực tâm trạng của Cao Bá Quát. Những hình ảnh đó không chí góp phần thể hiện những nỗi niềm tâm sự riêng của nhà thơ mà còn phản ánh cảnh ngộ con người một thời, nhiều thời nếu cùng cảnh ngộ. Trong bối cảnh tư tưởng phong kiến buổi mạt kì trùm bóng đen hắc ám của nó xuống tư tưởng con người, bài thơ Bài cơ ngân đi trên hãi cát của Cao Bá Quát thể hiện một sự vận động lớn lao trong tư tưởng nghệ thuật của thời đại.
Phân tích hình ảnh bãi cát và người đi trên bãi cát trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát để thấy được tâm trạng bi phẫn của Cao Bá Quát
896
Phân tích hình ảnh chị em Thúy Kiều trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều Hướng dẫn Phân tích hình ảnh chị em Thúy Kiều trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều Bài làm: Đến với đoạn trích Chị em Thúy Kiều, ta bắt gặp một tuyệt thế giai nhân, một cô gái tài sắc vẹn toàn lại có đức hạnh, đó là Thúy Kiều, vẻ đẹp của nàng càng trở nên lộng lẫy dưới ngòi bút của thiên tài Nguyễn Du. Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã miêu tả hai tuyệt thế giai nhân nhưng chỉ dùng vẻn vẹn có mười hai cặp câu 6-8. Dưới ngòi bút của ông, chị em Thúy Kiều như dần hiện lên: Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân. Người đọc chưa thấy rõ đây là hai ả tố nga. Chữ Hán tố là đẹp, nga là hằng nga, là mặt trăng. Có thể nói, đây là hai bông hoa mà sắc đẹp của họ đã đạt đến mức tuyệt vời: Mai mốt cách tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười Sự trọn vẹn thật hài hòa, từ tinh thần đến cốt cách. Đó là vẻ, đẹp thanh tú, mảnh mai như dáng cây mai, một vẻ đẹp cao quý. Đó là vẻ đẹp của tâm hồn trinh bạch, trong trắng như tuyết. Phải nói rằng việc Nguyễn Du lấy mai và tuyết làm chuẩn mực cái đẹp là một phát hiện đầy trân trọng về tâm hồn trong trắng, trinh bạch làm nổi bật cái thần của bức chân dung thiếu nữ. Chỉ bốn câu thơ ngắn ngửi, tác giả đã hé mở cho chúng ta biết vẻ đẹp của,hai thiếu nữ – Thúy Kiều, Thúy Vân. Mỗi người một vẻ đẹp mười phân vẹn mười. Và ta đã hình dung ra một phần chân dung của nàng Kiều. Đó là người con gái đẹp cả tâm hồn, phẩm chất lẫn vẻ đẹp tròn trịa tươi tắn bên ngoài. Không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp chung của chị em Kiều mà tác giả tiếp tục miêu tả tỉ mỉ vẻ đẹp của các nàng. Dưới ngòi bút của Nguyễn Du, Thúy Vân hiện lên là một cô gái toàn vẹn từ khuôn mặt, nét lông mày, màu da, mái tóc đến tiếng nói, nụ cười và cốt cách: Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Nếu như ở bốn câu đầu vẻ đẹp của chị em Kiều Vân mới được phác thảo đôi chút thì đến đây tác giả dã dành trọn bốn câu 6-8 để quay cận cảnh vẻ đẹp đó. Thúy Vân hiện ra với những đường nét thật tỉ mỉ qua bút pháp miêu tả ước lệ tượng trưng. Khuôn mặt Thúy Vân được ví như ánh trăng đêm rằm đầy đặn, phúc hậu. Lông mày nàng đậm như con ngài, nét người nở nang, miệng cười tươi thắm như hoa, tiếng nói trong và đẹp như ngọc. Tóc nàng đen, dài mượt mà như những áng mây lướt thướt trôi và da thì trắng hơn tuyết. Nét đẹp nào của nàng cũng hoàn hảo và được đem so với các thứ quý giá, cao đẹp trên đời, tưởng như nàng là kết tinh của các thứ cao đẹp, quý giá ấy. Thúy Vân hiện, lên là một cô gái độ tuổi trăng tròn tươi vui và tràn đầy sức sống. Không chỉ có vậy, Thúy Vân còn đẹp, một vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, một vẻ đẹp khiến người ta dễ dàng chấp nhận và ngưỡng mộ một cách êm đẹp. Có lẽ mây thua, tuyết nhường cũng là vì vậy. Trước vẻ đẹp của Thúy Vân, vẻ đẹp mà hoa cỏ thiên nhiên đều ban tặng cho nàng, ta tưởng rằng không một ai sánh nổi thì bất ngờ Thúy Kiều hiện ra tại càng sắc sảo mặn mà. Tại sao lại như thế? Cùng là một tuyệt thế giai nhân, là tố nga, cùng có mai cốt cách tuyết tinh thần mà cô em Thúy Vân lại được tác giả miêu tả trước cô chị là Thúy Kiều. Đây phải chăng là dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du? Nhà thơ muốn miêu tả Vân trước để làm tiền đề, tạo ra một điểm tựa của nghệ thuật đòn bẩy để làm nổi bật hơn tài sắc của Thúy Kiều, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Chính vì vậy, Nguyễn Du khống miêu tả cặn kẽ nữa mà chuyển sang nghệ thuật gợi: Kiều càng sắc sảo, mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn Bằng nghệ thuật so sánh Kiều càng… so bề… phần hơn, Nguyễn Du đã thật sự khẳng định được vẻ đẹp của Kiều là duy nhất, nó có thể làm lu mờ được những gì gọi là kết tinh của thiên nhiên như mai, như tuyết. Quả thực, ta có thể khẳng định rằng không có một họa sĩ tài ba nào có thể phác họa được chân dụng của nàng Kiều, Thử hỏi làm sao có thể vẽ lại hình ảnh một thiếu nữ mà đôi mắt của nàng lại trong xanh, huyền ảo như nước mùa thu. Đôi mắt nàng Kiều cũng vậy, nó thâm thẳm như phản chiếu tâm hồn sáng trong thanh cao của nàng. Nguyễn Du thật tài tình, chỉ một nét vẽ đôi mắt mà cả chân dung và vẽ đẹp của nàng Kiều đã được phác họa. Đặc biệt, đôi mắt ấy lại được ẩn dưới đôi lông mày tươi tắn như dáng núi mùa xuân, một đôi lông mày tràn trề sức sống. Chỉ chấm phá một vài đường nét nhưng cái thần của nhân vật vẫn hiện lên thật đầy đủ và rõ nét. Cũng lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để làm chuẩn mực cho vẻ đẹp nhân gian. Nhưng vẻ đẹp của Thúy Kiều và Thúy Vân không hề giống nhau mà mỗi người một vẻ. Không chỉ vậy, Nguyễn Du còn sử dụng điển tích điển cố rất thành công: Một hai nghiêng nước nghiêng thành. Sắc đẹp đó làm biết bao trang quân tử, các anh hùng hảo hán phải xiêu lòng, làm cho họ quên việc nước để rồi mất nước. Rõ ràng cái đẹp của Thúy Kiêu là cái đẹp viên mãn, ngoài vẻ đẹp đoan trang còn sắc sảo mặn mà. Đó là cái hơn người của Thúy Kiều. Và điều đó cũng chính là dự cảm cho một cuộc đời đầy giông bão của nàng. Nếu ở Thúy Vân thiên nhiên nhường vẻ đẹp cho nàng thì đến Thúy Kiều, thiên nhiên lại ghen ghét Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. Hoa là kết tinh của cái đẹp vì vậy người ta thường nói tươi như hoa hay đẹp như hoa, vậy mà đến hoa cũng phải ghen với sắc thắm của Kiều, Ngay cả liễu là biểu tượng của sự mềm mại, thướt tha, yểu điệu, tràn trề sức sống nhưng cũng phải hờn, phải dỗi trước cái xanh của Kiều. Cái thắm, cái xanh của nàng Kiều chính là yếu tố quan trọng để tạo nên vẻ đẹp có một không hai của nàng. Và ta băn khoăn bởi cái thắm kia là cái gì thắm? Đó là làn môi thắm đôi má thắm hay dáng người đằm thắm? Cái xanh kia cũng vậy. Đó là đôi mắt xanh, mái tóc xanh hay dáng người tràn căng sức sống của tuổi xuân xanh? Phải chăng tất cả đều đụng? Chỉ bằng hai chữ thắm, xanh mà vẻ đẹp của một tuyệt thế giai nhân càng tuyệt hơn nữa, đó là vẻ đẹp sắc nước huơng trời, có một không hai. Đến đây ta có thể khẳng định họa sĩ đã bất lực trước vẻ đẹp của nàng Kiều. Riêng Nguyễn Du – bằng ngòi bút sáng tạo và sự cảm nhận tinh tế, ông đã vẽ nên một Thúy Kiều với tất cả những gì đẹp nhất từ đôi mắt, làn da, tâm hồn… Qua việc miêu tả vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều ta đã thấy rõ tài năng của Nguyễn Du. Cũng là miêu tả chân dung hai cô thiếu nữ đến tuổi xuân xanh nhưng ngòi bút tinh luyện đó đã đưa ta đến với hai vẻ đẹp viên mãn, không ai giống ai. Tài tình hơn nữa, thông qua việc miêu tả vẻ đẹp con người, Nguyễn Du còn ngầm dự báo số phận, cuộc đời của nhân vật. Với Thúy Vân được thiên nhiên nhường vẻ đẹp cho, báo trước cuộc đời êm ả, bằng phẳng, hạnh phúc. Còn Thúy Kiều thì thiên nhiên ghen, hờn bởi sắc đẹp vượt trội đất trời ngầm dự báo cuộc đời mà sóng gió sẽ ập đến, bủa vây lấy con người mà tinh anh phát tiết ra ngoài. Trong khi miêu tả và khắc họa hình tượng nhân vật, Nguyễn Du đã dành những từ ngữ hết sức trang trọng, nào là trang- trọng, khác vời, đoan trang, sắc sảo mặn mà, tài sắc… ; đồng thời ông cồn lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp của hai nàng Kiều Vân. Mai cốt cách tuyết tinh thần hay Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang, Hoa cười ngọc thốt đoan trang hay Làn thu thủy nét xuân sơn. Điều đó cũng thấy để thể hiện tình cảm, sự ưu ái của ông đối với nhân vật. Thông minh vện sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm. Cung thương làu bậc ngụ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân. Kiều giỏi về âm luật trong thơ ca, giỏi đến mức lầu bậc tức là nàng thuộc lòng hiểu rất rõ niêm luật của thơ ca. Còn tài đàn, khi tiếng đàn của nàng cất lên thì ăn đứt bất cứ nghệ sĩ nào. Không chỉ có vậy mà, Kiều còn soạn nhạc, sang tác ra các bán nhạc rất hay… Quả thực nàng là một người toàn tài, toàn mĩ. Tuy cả hai chị em Kiều đều rất đẹp, đều là hai thiếu nữ đãng độ tưổi 16- 17, độ tuổi cài trâm kết tóc nhưng họ vẫn sống trong cảnh buồng thêu khuê các, không săn đón, vồ vập ai cả: Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê, Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Êm đềm chỉ tư thế đài các, chứ không phải vô cảm trước những rạo rực tuổi trẻ. Mặc ai cũng là một thái độ điềm nhiên, cao giá của người đẹp. Đây là cách ca ngợi kín đáo của nhà thơ. Chị em Thúy Kiều không chỉ đẹp về hình dáng mà tâm hồn, phẩm hạnh cũng rất thanh cao. Có thể nói Chị em Thúy Kiều là một trong số những đoạn trích hay nhất, đẹp nhất trong Truyện Kiều và được nhiều độc giá yêu thích. Bởi ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, nét vẽ cổ thần. Các biện pháp tu từ ẩn dụ, nhân hóa, so sánh được nhà thơ sử đụng một cách tài tình, tạo nên những vần thớ ước lệ mà trữ tình. Hàm ẩn sau bức chân dung mĩ nhân – Thúy Kiều là cả một tấm lòng yêu mến trân trọng nàng. Bằng ngòi bút thiên tài của mình, Nguyễn Du đã giúp chúng ta hiểu được một phần cuộc đời của chị em Thúy Kiều và dõi theo từng bước đi, từng bước gian truân của họ. Với thế giới ngôn ngữ phong phú, tinh tế, bằng một bút pháp điêu luyện, kết hợp với lòng thương yêu con người, nhất là người phụ nữ, Nguyễn Du vẽ lên bức chân dung vừa điển nhã, vừa có sức gợi cảm mãnh liệt của Thúy Vân và Thúy Kiều trong trích đoạn Chị em Thúy Kiều. Càng nâng niu, quý trọng truyện Kiều, chúng ta càng cảm phục tài năng và đức độ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Phải chăng vì thế má Truyện Kiều của Nguyễn Du mãi trường tồn: Thơ Người mãi sống cùng đất nước Dù có mai sau dù có bao giờ… (Thăm mộ cụ Nguyễn Du – Hoàng Trung Thông)
Phân tích hình ảnh chị em Thúy Kiều trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều
2,063
Đề bài: Phân tích hình ảnh con tàu trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam Bài làm Trước hết, hình tượng con tàu được nhà văn miêu tả nhằm thể hiện tình trạng tàn lụi của cuộc sống. Cuộc sống “đang cùn đi, gỉ đi” (Nam Cao) vốn là một chủ đề phổ biến trong văn chương trước cách mạng tháng Tám. Với mỗi nhà văn, chủ đề này sẽ được thể hiện theo từng cách khác nhau. Trong Hai đứa trẻ, hiện thực cuộc sống được nhà văn Thạch Lam quan sát qua tình huống con tàu về ga. Như đã biết, bối cảnh câu chuyện Hai đứa trẻ là khu phố huyện nghèo. Ở đây có đường sắt chạy qua, có sân ga để con tàu theo lịch trình hằng đêm về đón và trả khách. Con tàu vô hình trung đã trở thành một phần cuộc sống của khu phố huyện. Nó là niềm hy vọng của nhiều người trong cuộc mưu sinh. Bởi vậy, đêm đêm, mọi người vẫn thức để đợi con tàu về ga. Với chị em Liên, việc đợi tàu chủ yếu vì một lí do khác. Trong tác phẩm, hình tượng con tàu được miêu tả qua cái nhìn của chị em Liên. Nghệ thuật miêu tả của nhà văn theo lối từ xa đến gần. Khi con tàu sắp về đến sân ga, nó được nhận ra qua “ngọn lửa xanh biếc” và tiếng còi “trong đêm khuya kéo dài ra theo ngọn gió xa xôi”. Gần hơn, con tàu hiện ra với “một làn khói bừng sáng trắng”, với “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống lòng đường”. Mọi hình ảnh, âm thanh, ánh sáng… của đoàn tàu đều được hai chị em Liên quan sát kỹ lưỡng. An nói với Liên: “Tàu hôm nay không đông chị nhỉ”. Câu nói này chỉ ra hai hiện thực. Thứ nhất, chị em Liên vẫn hằng đêm thức đợi tàu. Thứ hai, so với trước, chuyến tàu hôm nay vắng khách hơn. Ở một hoàn cảnh khác, chuyện đông khách, vắng khách sẽ là chuyện bình thường. Nhưng trong trường hợp này, nhận xét của An có ý nghĩa khắc sâu chủ đề tư tưởng “cuộc sống đang tàn lụi” của nhà văn. Để thấy rõ điều này, cần phải đặt câu nói của An trong hệ thống những câu văn khác của tác phẩm. Chúng tôi muốn nói tới ba câu văn, đoạn văn sau: – “Hôm nay, ngày phiên mà bán hàng cũng chẳng ăn thua gì”. – “Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?”. – “Trước kia, ở sân ga, có mấy hàng cơm mở đón khách, đèn sáng cho đến nửa đêm. Nhưng bây giờ họ đóng cửa cả rồi, cũng im lặng tối đen như ngoài phố”. Câu thứ nhất là cảm nghĩ của Liên, câu thứ hai là lời chị Tý, còn đoạn trích dẫn thứ ba là miêu tả của nhà văn về những hàng quán ở sân ga. Suốt một ngày chợ phiên mà Liên bán hàng “chẳng ăn thua gì”. Khách hàng chị Tý không ra mua hàng đều đặn như mọi khi. Cảnh những hàng quán ở sân ga thật tàn tạ. Cái tấp nập “đèn sáng cho đến nửa đêm” giờ chỉ còn là dĩ vãng. Hiện thực trước mắt thật u buồn: những hàng cơm cửa đóng then cài, chìm nghỉm giữa bóng đêm dày nặng. Liên kết những hình ảnh, chi tiết nói trên, chúng ta nhận ra chủ ý nghệ thuật của Thạch Lam. Nhà văn không triết lý kiểu như Nam Cao mà để các hình thức nghệ thuật tự “lên tiếng”. Văn Thạch Lam nhẹ nhàng mà sâu sắc là vì vậy. Hình tượng con tàu ngoài ý nghĩa tả thực còn mang ý nghĩa biểu trưng. Tính chất biểu trưng của nó được xác nhận qua luồng ánh sáng rực rỡ. Trong cảm nhận của những tâm hồn thơ trẻ như Liên và An, ánh sáng con tàu gợi về một thế giới khác “vui vẻ và huyên náo” hơn. Nó đối lập với cái u buồn, thinh lặng của không gian phố huyện. “Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn, đối với Liên, khác hẳn các vầng sáng ngọn đèn của chị Tý và ánh lửa của bác Siêu”. Trên nền cảm nhận về sự đối lập của hai thứ ánh sáng đó, tâm hồn Liên nảy sinh những khát khao về sự đổi thay cuộc sống. Rõ ràng, những đứa trẻ như Liên, An đã mất đi cái hồn nhiên, trong trẻo của tuổi thơ. Thay vào đó là nỗi buồn, là sự tự cố gắng để hy vọng vào một ngày mai. Chuyện hai chị em cố thức để đợi tàu chính là vì cái lẽ ấy. Ta hiểu vì sao khi con tàu vừa rời khỏi sân ga, Liên lập tức “lặng theo mơ tưởng”. Tâm hồn Liên đang tìm về với thế giới của ánh sáng rực rỡ và âm thanh huyên náo. Khi viết câu văn “Liên lặng theo mơ tưởng”, Thạch Lam hình như cũng đang đau đáu về một sự đổi thay!
Phân tích hình ảnh con tàu trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam
872
Phân tích hình ảnh các dân tộc bị áp bức trong Bản án chế độ thựcdân Pháp Hướng dẫn Phong trào giải phóng dân tộc “đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử thế giới vào đầu thê kỉ XX”. Đặc biệt, chiến tranh đế quốc 1914 — 1918 và Hòa ước Véc-xai đáng sỉ nhục làm cho các dân tộc và các giai cấp bị áp bức trên toàn thế giới nhận định được rõ thêm bản chất của chủ nghĩa tư bản. Các nước đồng minh “chiến thắng”, một mặt tăng cường bóc lột giai cấp công nhân châu Âu, châu Mĩ, một mặt ra sức khai thác tàn nhẫn thuộc địa. Cách mạng tháng Mười chỉ ra con đường đấu tranh của nhân loại cần lao. “Phương Đông thức tỉnh” sẽ góp phần quan trọng đánh để chủ nghĩa đê quôc. Nhân dân các nước bị nô dịch nổi dậy giành độc lập, tự do, có nghĩa là từng bộ phận của chủ nghĩa đế quốc sẽ sụp đổ, bão táp cách mạng sẽ nổi lên ở châu Á, châu Phi, châu Mĩ La-tinh. Người anh hùng mới của thế kỉ XX ra đời một trách nhiệm lớn lao. Nó không thể vắng mặt trong văn học thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ tiên phong đã phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, dành trọn cuộc đời mình cho công cuộc cách mạng vĩ đại ấy. ơ đâu, bất cứ lúc nào, Bác cũng hướng tình cảm, ý chí, hoạt động vào đó. Bác “tin theo Lê-nin”, tán thành Đệ tam Quốc Tế. Học tập, nghiên cứu, vào sinh ra tử cũng vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức. Những phút xúc động nhất trong đời Bác, khi ở nước ngoài, thời trẻ, là những phút Bác nghĩ đến những dân tộc còn sống trong vòng nô lệ: khi Bác được tin ông Cúc (Cook) tuyệt thực và chết vì vấn đề độc lập của dân tộc mình, khi Bác thấy những người công nhân da đen bị nước biển cuốn đi. Những lần ấy, Bác đã khóc. Tâm hồn nghệ sĩ của Bác dễ rung cảm trước những cảnh hùng vĩ. Trần Dân Tiên kể rằng: trên tàu biển, anh Ba thích xem cảnh mặt trời mọc; những đêm trăng, anh đi đi lại lại trên tàu, “hầu như không ngủ”, và anh Ba “ngây người nhìn một hòn đảo ở Tê-nê-ríp-pho, miệng nhắc đi nhắc lại: — Bốn! Anh nhìn kìa! Đẹp quá, hùng vĩ quá! Trái tim ấy hiểu thấu và thương cảm sâu xa hàng trăm triệu người sống cuộc đời lầm than, khổ nhục. Trái tim ấy càng thấy rõ cái “hùng vĩ” của những người nô lệ, những người có tâm hồn trong sáng, thủy chung, kiên cường — những người có đầy đủ chí khí để làm cách mạng. “Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”. Hiểu rõ giai cấp công nhân, Bác Hồ biết tất cả nỗi khổ cực và sức mạnh của họ, những người duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Xuất thân từ một gia đình yêu nước, Bác thông cảm sâu sắc với nông dân. Hình ảnh người nông dân thuộc địa chiếm vai trò lớn trong tác phẩm Bản án… (…) Đề bạt người nông dân như một người bạn chiến đấu dũng cảm của giai cấp công nhân, đó là một sáng tạo trong văn học lúc bấy giờ. Qua hình tượng người nông dân trong tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ rằng vấn đề thuộc địa thực chất là vấn đề nông dân. Nói đến họ, lời văn Bản án…bao giờ cũng đầm ấm, thiết tha, Bác hiểu tấm lòng yêu quê hương đất nước của họ. Đàn cừu, mảnh vườn đối với họ là những gì thân thiết nhất: “Họ phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu”. Dù có sống sót, họ cũng chỉ lê “tấm thân tàn ma dại” trở về sống kiếp trâu ngựa dưới cái chế độ “không hề biết gì đến công lí và chính nghĩa”. Bọn thực dân kết án tử hình những người vô tội. Tiếng oán hờn thống thiết như thúc giục mọi người hãy thấm máu trên người, đứng dậy làm cách mạng, đánh đuổi bọn thực dân. Chương Những nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ chứa chan tình thương cảm xót xa của Bác. Không phải Bác chỉ thấy ở nhân dân lao động thuộc địa cuộc đời đầy oan khôc, Bác còn thấy họ là những người khảng khái, thương nước yêu nhà, và dũng cảm phản kháng cái chế độ thuộc địa bất lương ấy. Những người phụ nữ có chồng con, cha anh bị giam cầm, đã vượt mọi gian nguy đến thăm họ: “Tất cả cái đám người đã kiệt sức ấy mang theo đủ mọi thứ, nào nón, nào quần áo rách, cơm nắm., để lên đưa cho người bị can, là cha, là chồng”. Đó là những người nông dân “nổi lên chống tạp dịch”, là những người Lào bỏ nhà bỏ cửa trốn đi, không chịu đi phu cho giặc, là “những vụ biến động lừng danh năm 1908 và năm 1916” ở Việt Nam. Đặc biệt, trong chương XII, Nô lệ thức tỉnh, tác giả đã kết thúc tác phẩm bằng hình ảnh đầy hứa hẹn của Trường Đại học Phương Đông, trên đất nước Liên Xô, một “dấu hiệu của kỉ nguyên mới” của các dân tộc bị áp bức. Tóm lại, với Bản án… của Nguyễn Ái Quốc, một nhân vật tích cực đã ra đời trong văn học hiện đại: nhân vật đại diện cho các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa vùng dậy làm cách mạng, đại diện cho một lực lượng cách mạng hiện nay đang làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu và tan vỡ, và thúc đẩy quá trình diệt vong của nó; một nhân vật anh hùng mà giản dị, gian khổ mà trong sáng, kiên cường, bất khuất, một lòng thủy chung với cách mạng”.
Phân tích hình ảnh các dân tộc bị áp bức trong Bản án chế độ thựcdân Pháp
1,065
Phân tích hình ảnh các nhân vật trong truyện Vợ nhặt-Kim Lân Hướng dẫn Thành công của Kim Lân là xây dựng các nhân vật chân thực và độc đáo Mở bài: Kim Lân là nhà văn có cái tài năng đặc biệt. Ông không chọn những nhân vật hay đề tài lớn lao để viết. Ông thích viết về những gì nhỏ bé, đáng thương và tìm kếm trong đó những giá trị tốt đẹp để nâng niu, để trân trọng. Điều đó thể hiện rất rõ ràng trong việc xây dựng hình ảnh các nhân vật trong truyện ngắn “Vợ nhặt” – một truyện ngắn xuất sắc của ông trước 1945. Thân bài: Hình ảnh nhân vật Tràng Nhân vật Tràng từ trong cuộc sống bước vào trang văn của Kim Lân chân thực gần như không gọt giũa gì. Nhà văn giới thiệu anh là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê nuôi mẹ già. Cuộc sống người dân ngụ cư vừa tủi cực vừa khốn khó. Anh ở trong một căn nhà rách nát, tồi tàn. Anh thường bị mọi người trêu chọc và khinh rẻ. Đến trẻ con cũng lấy anh làm trò đùa. Vì anh là dân ngụ cư. Đó là một gốc tích không mấy sáng sủa. Nó gợi ra số phận trôi nổi, lận đận và gian truân của lớp người vì bần cùng quá phải tha hương cầu thực, tìm kiếm nguồn sống trong xã hội. Không những thế, Tràng lại có một ngoại hình rất thô kệch, xấu xí. Vai anh to bè ra. Cái lưng to rộng như lưng gấu. Dáng đi khom khom trong rất dị. Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười. Hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều. Hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn… Còn đầu của Tràng thì cạo trọc nhẵn, Ngay cả cái cuời cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệnh. Hành vi của hắn lại càng thêm bí ẩn. Mỗi buổi chiều về, hắn bước ngật ngưỡng trên con đuờng khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào bên trong bến. Tràng xuất hiện trước cuộc đời với những điều lạ lẫm. Rồi khi trở về, hắn lại chìm khuất trong bóng tối, trong cái nghèo cùng kiệt, trong góc khuất của riêng mình. Chỉ có mình hắn mới biết hắn là ai. Thế nhưng, nhà văn đã xâm nhập vào cuộc sống của nhân vật này. Ông từng bước làm hiện ra trước mắt người đọc cuộc sống và tính cách của nhân vật bí ẩn ấy. Cũng giống như bao nhiều người lao động hiền lương khác, Tràng là người khá vô tư và nông cạn. Hầu như anh không hề toan tính gì. Anh cũng không quá khổ tâm vè hoàn cảnh khốn khó của mình. Cuộc sống của anh cứ tiếp diễn từng ngày bình tâm và tin tưởng. Tràng lại là người thích chơi với trẻ con. Mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn dốc chợ đi xuống là ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên. Rồi chúng, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Ban đầu anh hơi khó chịu về những hành động ấy. Nhưng sau lâu dần anh lại thích bọn chúng. Chúng mang đến cho anh sự rộn ràng, thoải mái sau một ngày lao động cực nhọc. Chúng khiến anh quan tâm đến cái xóm ngụ cư vốn im lặng và lầm lũi trong đói nghèo. Anh với lũ trẻ con như anh em, bè bạn và cái xóm ngụ cư ấy mỗi chiều lại xôn xao lên được một chút. Cái tính vô tư cảu anh thể hiện rõ nhất ở việc anh lấy vợ. Là dân ngụ cư, anh đâu dám mong có ai đó thương và chịu làm vợ anh. Từ lâu anh đã không dám nghĩ đến điều đó. Lại trong lúc cái đói, cái chết tung hoành, luồn lách sâu trong cuộc sống. Nó nằm kề cận với con người đêm đêm, thủ thỉ những lời ghê rợn. Thế mà, khi người đàn bà chỏng lỏn kia buông lời trêu ghẹo, Tràng cũng đáp lời vui đùa. Ai ngờ, lời nói chơi lại thành thật. Trang hơi bất ngờ nhưng anh chậc lưỡi một cái và chấp nhận luôn. Thật là xưa nay chưa có ai quyết định việc lấy vợ nhanh chóng như Tràng. Sau khi người đàn bà theo Tràng về tới nhà, anh cũng có ý thức xác nhận vị trí của người đàn bà trong gia đình và bắt tay sắm sửa chuẩn bị cho cuộc sống mới. Lấy nhau chẳng phải vì tình, lại “nhặt vợ” một cách dễ dàng, nhưng không vì thế mà Tràng coi thường người vợ của mình. Anh tôn trọng vợ với tư cách là một con người thực sự chứ không phải là một cái gì đó mà anh vừa nhặt được. Và để thể hiện điều đó, anh sẵn sàng bỏ tiền mua dầu thắp sáng, mua một thứ lặt vặt cần thiết để làm mới cuộc sống. Tràng tỏ ra trân trọng và mừng rỡ, nâng niu cái hạnh phúc vừa chợt đến. Cảnh sống tăm tối trước mặt bị lu mờ, không đủ sức đe dọa con người nữa. Giờ đây, trong lòng hắn chỉ còn tình nghĩa gắn bó với người đàn bà trong một gia đình ấm áp. Trên đường cùng người đàn bà trở về, dường như có một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghò khổ ấy. Nó cứ ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng. Tựa hồ như có bàn tay vuốt ve nhẹ trên sống lưng. Chính nhờ người vợ nhặt ấy đã biến Tràng từ một người đàn ông vô tư trở thành một người sống có trách nhiệm. Anh ngoan ngoãn với mẹ hơn, tỏ ra gần gũi và hiếu thảo. Anh tránh gợi niềm tủi hờn ở người khác. Đối với vợ anh nhã nhặn, tôn trọng và rất chân tình. Anh thực sự đắm mìn trong cuộc sống mới, trong hạnh phúc mới. Buổi sớm hôm sau khi trở dậy, Tràng như vừa bước ra khỏi cơn mơ đẹp, trong người thấy êm ái lửng lơ lạ kì. Anh bắt đầu quan tâm đến cuộc sống xung quanh, quan tâm đến mọi người. Anh bắt đầu biết xác định vị trí của mình trong cuộc sống và không ngừng khát vọng đổi đời. Những biến cố xã hội lúc này tác động vào nhận thức và tâm hồn anh mãnh liệt. Anh thấy mọi người ầm ầm đi phá kho thóc của Nhật. Anh thấy đằng trước có lá cờ đỏ thắm. Tất cả những hình ảnh ấy làm cho anh thấy tiếc rẻ và háo hức ở trong lòng. Từ đây, anh bắt đầu gắn cuộc đời mình với mọi người, với cộng đồng. Từ đây, công việc và cuộc sống của mọi người cũng là công việc của anh. Anh thấy mình cần có trách nhiệm hơn. Tình cảm ấy âm thầm chuyển biến mạnh mẽ trong tâm hồn người nông dân cục mịch, thô kệch, hiền lành và làm nên sức mạnh đấu tranh của lớp người cùng khổ sau này. Cuộc đời của những người như Tràng nếu không có một sự thay đổi mang tính đột biến của cả xã hội sẽ sống mãi trong sự tăm tối, đói khát. Ở Tràng, tuy chưa có được sự thay đổi đó, nhưng cuộc sống đã bắt đầu hé mở cho anh một hướng đi. Đó là con đường đến với cách mạng một cách tự nhiên và tất yếu mà những người như Tràng sẽ đi và trong thực tế lịch sử, người nông dân Việt Nam đã đi. Hình ảnh nhân vật người “vợ nhặt” Sự gắn bó giữa tràng và người đàn bà quả thật đã đem lại nhiều sự thay đỏi lớn. Không chỉ có Tràng thay đổi mà chính vợ Tràng cũng thay đổi. Sau đêm tân hôn, Tràng nom thị hôm nay khác lắm. Rõ ràng thị là người đàn bà hiền hậu, đúng mực. Giờ đây ở thị không có vẻ gì là chao chát, chỏng lơn như mấy ngày trước. Thì ra chính cái đói nó che lấp mất bản tính tốt đẹp của con người. Cái đói làm tha hóa con người. Giờ đây, người phụ nữ ấy được yêu thương và tôn trọng. Chính điều đó làm cho thị trở về với đúng bản tính của người phụ nữ. Nó biến chị trở thành người vợ hiền hậu, thương yêu chồng và đúng mực. Người “Vợ nhặt” là hiện thân cho những đau khổ và tủi cực của người dân lao động nghèo trước Cách mạng. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Kim Lân đã không cho cô “Vợ nhặt” một danh tính, một tên gọi như bao con người khác. Mà đây là một dụng ý của nhà văn. Dụng ý của ông là cuộc đời, số phận nhân vật này như hòa lẫn với cuộc đời, số phận của bao người dân nghèo khổ khác lúc bấy giờ. Hình dáng bên ngoài của thị qua sự miêu tả của nhà văn bên ngoài thật thảm hại. Khuôn mặt gầy xọp hẳn đi vì đói, quần áo rách tả tơi,… Tình huống trớ trêu mà nhân vật người “vợ nhặt” phải trải qua. Chính cái đói, sự mấp mé với cái chết đã đẩy người phụ nữ vào tình huống trớ trêu. Đó là phải chấp nhận làm người “vợ nhặt” theo không Tràng mà không hề cưới xin ăn hỏi gì. Đây là chi tiết thể hiện rõ sự đen tối của xã hội và thân phận bèo bọt, sự rẻ rúng của con người. Cuộc sống khắc nghiệt đã góp phần làm biến đổi, tha hóa cô “vợ nhặt” đáng thương ấy. Đó không chỉ là sự thay đổi khốc liệt về hình thức. Chỉ sau mấy ngày không gặp mà thị gầy xọp lại đi. Đó còn một sự biến đổi ghê gớm về tâm tính. Bởi vì quá đói, thị đã không còn biết xấu hổ nữa. Được mời, thị đã ăn liền một mạch hết bốn bát bánh đúc. Lời nói thì chao chát, chỏng lỏn, không còn biết ngượng ngùng. Nhưng đằng sau cái vẻ bề ngoài rách rưới, ăn nói chao chát, chỏng lỏn ấy, Kim Lân vẫn nhận ra những phẩm chất tốt đẹp, ngời sáng. Về nhà Tràng, thị như thay đổi hẳn. Thị trở lại với bản tính một người phụ nữ. Thị cùng với bà cụ Tứ xăm xắn quét dọn nhà cửa, vườn tược. Hai ang nước vốn khô cong nay cũng đầy ấy nước. Không phải ai khác mà chính là cô “vợ nhặt” đã đem đến nhà Tràng một nguồn sinh khí mới, một sức sống mới. Điều đó khiến cho các thành viên trong gia đình điều thay đổi theo một hướng tích cực hơn. Cũng chính cô “vợ nhặt” đã mở cho mọi người một niềm hi vọng đổi thay. Qua câu chuyện hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng và những đoàn người đi phá kho thóc Nhật dự báo điều đó. Hình ảnh nhân vật bà cụ Tứ: Sự thay đổi này cũng được thể hiện ở cả nhân vật bà cụ Tứ – mẹ Tràng. Lúc đầu, bà ngỡ ngàng trước thái độ săn đón, vồn vã của Tràng. Ngạc nhiên trước việc có người đàn bà lạ trong nhà mình ( lại đứng ngay đầu giường thằng con trai mình thế kia,…). Rồi sau, vì thương con, bà không khỏi cảm thấy lo lắng, băn khoăn. Khóe mắt cứ cay cay như muốn khóc. Nhưng rồi sau đó, lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao cơ sự. Nó vừa ai oán, vừa xót thương. Ai oán cho số kiếp của mình. Lại thương xót cho con mình và cả người phụ nữ khốn khổ kia. Bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót: “người ta có đói thì người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ”. Bà cảm thấy tủi nhục cho gia cảnh nhà mình. Bà xót xa cho việc cưới vợ của Tràng không được diễn ra như ý muốn. Bà nhớ người chồng đã quá cố. Bà nhớ về cuộc đời dài dằng dặc, đầy những khổ đau của mình. Bà tủi hờn bởi nhà nghèo, không có nổi dăm mâm cơm mời làng xóm láng giềng. Thế nhưng, chỉ sau mấy ngày nỗi buồn bỗng dưng biến mất. Sự xuất hiện của người vợ nhặt kia đã làm thay đổi người mẹ cằn cõi ấy. Bà xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa. Cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rở hẳn lên. Bà lo lắng chuẩn bị bữa ăn đón nàng dâu mới cho chu đáo hơn trong hoàn cảnh có thể. Trong bữa ăn, bà toàn nói những chuyện vui vẻ, hạnh phúc về sau này. Bà cụ Tứ là một người nhân hậu, thương mình, thương người, thậm chí thương người còn hơn cả thương mình. Dẫu sao việc Tràng có vợ cũng làm cho bà vui hơn. Bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác hẳn hơn ngày thường. Cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Thế nhưng niềm vui của bà thật ngắn ngủi. Nó không sao cất cánh hẳn được. Nó cứ bị nỗi buồn, nỗi lo âu níu kéo xuống. Mùi khói đốt đóng rơm và tiếng hờ khóc người chết đói cứ vang lại. Tiếng trống thúc thuế lúc to lúc nhỏ như kéo mọi người trở về với hiện tại khắc nghiệt, phuc phàng. Có thể nói, trong hoàn cảnh đen tối, khốn cùng nhất cũng không thể làm mất đi ở người dân lao động tình thương. Lòng nhân hậu, đạo nghĩa làm người trong họ vẫn ấm nóng trong mọi hoàn cảnh. Họ vẫn thèm muốn tìm đến hơi ấm của hạnh phúc. Họ khát khao được gây dựng đời sống giữa lúc khó khăn. Dường như việc lấy vợ của Tràng đã thổi vào căn nhà u ám, nghèo nàn một luồng gió mới làm thay đổi tất cả. Các thành viên trong gia đình này vui vẻ thu xếp nhà cửa cho sạch sẽ, ngăn nắp hơn: “nhà cửa, sân vườn đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ. Hai cái áng nước vẫn cứ để khô cong nay đã đầy ăm ắp”. Họ nghĩ rằng: “thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn khắm khá hơn”. Có vợ, Tràng thấy phấn chấn trong lòng và cùng với niềm hạnh phúc là ý thức trách nhiệm đối với mọi người, với cuộc sống. Hắn thấy mình cần có trách nhiệm, bổn phận để chăm lo, vun vén cho cái gia đình này. Vợ Tràng cũng thấy mình phải cố gắn làm được nhiều điều tốt đẹp để đền đáp lại tấm lòng tốt của người đàn ông đang cưu mang che chở cho mình. Riêng bà mẹ của Tràng thì dường như lột xác, trở thành con người khác hẳn. Bà thấy mình khỏe ra, nhanh nhẹn hơn, thu xếp nhà cửa gọn gàng, sạch sẽ. Bà còn hào hứng vạch ra kế hoạch dự tính về công việc làm ăn cho con trai. Đầu tiên là nuôi gà, ngoảnh đi ngoảnh lại chẳng mấy mà có đàn gà. Bà tin tưởng vào sự đổi đời. Bà nói toàn chuyện vui, động viên, khích lệ đôi vợ chồng trẻ… Kết bài: Kim Lân đã khắc hoạ đầy đủ diện mạo, ngôn ngữ, hành động và tình cảm các nhân vật bằng ngòi bút sắc sảo, tinh tế vô cùng. Qua cuộc đời khốn khổ và tủi cực của các nhân vật, không những nhà văn phản ánh một mặt trận đen tối trong hiện thực xã hội trước năm 1945 cùng số phận của người dân nghèo mà còn phát hiện vẻ đẹp tâm hồn của họ. Kim Lân đã tiếp nối những trang viết giàu chất nhân bản về người lao động bình thường của những nhà văn trước đó như Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Nam Cao..
Phân tích hình ảnh các nhân vật trong truyện Vợ nhặt-Kim Lân
2,762
Phân tích hình ảnh của những que diêm trong truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen Bài làm Tác giả An-đéc-xen là nhà văn nổi tiếng người Đan Mạch trong thế kỉ XIX, ông là một nhà văn của mọi thời, mọi người và mọi nhà. Các tác phẩm của ông đặc biệt là những loạt truyện đều rất gần gũi và quen thuộc với trẻ em, trong đó có truyện “Cô bé bán diêm” đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đã có nhà phê bình văn học nói rằng: “Những que diêm bé nhỏ kia đã trở thành những que diêm hi vọng của tâm hồn trẻ thơ”, nhận định đó thật xác thực và đúng đắn. Trong đêm đông giá lạnh, tối tăm và đau khổ mà cô bé bán diêm phải chịu đựng, những que diêm bé nhỏ với ngọn lửa nhỏ nhoi ấy chính là những tia hi vọng, và ước mơ, khát khao của cô bé. Ngọn lửa diêm ấy đã xua tan đi cái lạnh lẽo của đêm đông, bừng sáng lên giữa không gian đen tối chỉ một ngọn lửa bé nhỏ thôi nhưng đã khiến cho em quên đi những cay đắng, bất hạnh, quên đi cái rét thấu xương, quên đi cái đói cồn cào để sống trong niềm vui, niềm mơ ước hạnh phúc với những điều ước ngọt ngào, đẹp đẽ và cao cả. Em đã bốn lần quẹt từng que diêm, tới lần thứ 5 em đã quẹt hết số diêm trong bao. Lần thứ nhất, chỉ vì quá lạnh mà em muốn có thể quẹt một que để sưởi ấm, em biết em quẹt que diêm như vậy sẽ làm hỏng cả bao diêm và em sẽ lại bị cha đánh, nhưng em đã bỏ qua sự sợ hãi đó, vì bây giờ đối với em em sợ lạnh và đói hơn cả. Thật bất ngờ khi que diêm thứ nhất bùng sáng lại hiện ra chính những mộng tưởng em đang ao ước, trước đôi mắt long lanh là một lò sưởi bằng sắt, rất ấm áp. Rồi que diêm vụt tắt, em lại mong ước sẽ có điều kì diệu thứ hai xảy ra và em quyết định quẹt que diêm thứ hai, trước mắt em là một bàn ăn thịnh soạn trải khăn trắng, có cả một con ngỗng quay đặt sẵn trên đĩa, đó là ước mơ về một bữa ăn no đủ và ngon miệng mà đã bấy lâu nay em không còn có được. Rồi ở lần thứ ba, em nhìn thấy cây thông noel hiện ra, không khí vui vẻ và ấm áp trong thời khắc giao thừa cũng đã đến với em, ngay trong đêm giao thừa ấy. Ngọn lửa diêm trong câu chuyện này đã trở nên có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện những mong ước bình dị mà đẹp đẽ của những đứa trẻ có số phận bất hạnh, đáng thương.
Phân tích hình ảnh của những que diêm trong truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen
496
Đề bài: Phân tích hình ảnh mùa thu trong 3 bài thơ Thu của Nguyễn Khuyến Bài làm Đối với các nhà thơ cận đại, kể cả các nhà Thơ Mới nữa thì mùa thu là mùa của cảm xúc, của thương nhớ. Trong làng thơ Việt Nam sau Nguyễn Khuyến, Tương Phố, Tản Đà, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu… đều có những bài thơ thu nổi tiếng. Tuy vậy, giữa Tam nguyên Yên Đổ và các nhà thơ mới đang có một khoảng cách. Thơ thu của Nguyễn Khuyến là thơ của làng cảnh Việt Nam đậm đà chân thực dù tác giả có gửi gắm vào trong thơ ít nhiều tâm sự. Thơ thu của các nhà Thơ Mới từ Giọt lệ thu (Tương Phố), Tiếng thu (Lưu Trọng Lư) đến Đây mùa thu tới (Xuân Diệu) chỉ mượn cảnh thu, sắc thu, màu thu, âm thanh mùa thu để gửi gắm tâm trạng đượm buồn hay lưu luyến bâng khuâng trước đất trời đã chuyển sang thu. Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến là hiện tượng độc đáo và là cống hiến xuất sắc của nhà thơ. Cả ba bài đều viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Mỗi bài là một phác thảo với nét bút của nền hội họa phương Đông, không rườm rà loè loẹt mà cũng không gò bó khuôn sáo. Nhà thơ – họa sĩ họ Nguyễn đã đưa chúng ta về một vùng chân quê quanh năm ngập nước của đất Hà Nam đầu thế kỷ này vào độ sang thu. Thu vịnh phác họa khái quát những đặc điểm nổi bật về mùa thu. Thu điếu dừng lại ở một không gian và thời gian cụ thể: trên một ao thu, vào một chiều thu, một ông già trên chiếc thuyền câu thả mồi đợi cá. Thu ẩm quan sát cảnh thu trong nhiều thời điểm khác nhau để thâu tóm những nét nên thơ nhất. Cảnh thu trong Thu vịnh đã được nhà thơ phác họa như thế nào? Phần lớn dung lượng bài thơ (6/8 câu) là thơ tả cảnh. Biên độ không gian và thời gian không hạn chế: một buổi sáng, một cảnh chiều, một đêm trăng đượm màu thu. Ta vẫn bắt gặp trời (c1-2), nước (c3), trăng (c4), hoa (c5) có điểm xuyết âm thanh vọng lại từ không trung cao vút nhưng điệu thơ, hồn thơ thì đã vượt khỏi khuôn sáo kiểu tứ thời, tứ thú, tứ quý… của nét bút thơ và họa cổ điển. Nét thu quán xuyến tất cả là bầu trời không ủ dột, quẩn quanh, tù túng mà cao vời vợi, cao ngất mấy tầng, cao hút tầm mắt… và thăm thảm màu xanh huyền diệu. Giữa thu bao la ấy, một khóm tre xa xa từ thôn vắng lả ngọn theo làn gió thu nhẹ nhàng uyển chuyển càng tô thêm sắc thu: Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu như làm sống động bầu trời vốn tĩnh lặng. Đối chiếu với trời thu là sông thu vào sáng tinh mơ, lúc màn đêm đã vén hay vào buổi chiều tà, lúc bóng ô vừa ngậm non đoài, thời điểm “long lanh đáy nước in trời”; nước biếc dội lên màu xanh thơ mộng tạo nên ảo ảnh màn khói mênh mông mà các nhà thơ cổ điểm thường gọi là “yên ba giang thượng” (khói sóng trên sông). Trời thu và nước thu. Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc (trời nước một màu) là như vậy. Sau thu thiên, thu thuỷ là thu nguyệt. Trăng thu sáng dịu trong trẻo tuyệt trần. Xưa nay trăng vốn là bạn của thi nhân. Trăng là kẻ đồng hành chè tiên, nước ghín, nguyệt đeo về (Nguyễn Trãi); Một trăng, một bóng một người hoá ba (Nguyễn Huy Tự). Trăng là người chứng giám: Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song (Nguyễn Du). Có khi trăng là kẻ thóc mách Gương Nga chênh chếch dòm song (Nguyễn Du). Nguyễn Khuyến không cài song để đón trăng và ngắm trăng chẳng biết trăng ở đây có đòi thơ Tam nguyên Yên Đổ như nó đã lọt qua cửa sổ đòi thơ Hồ Chí Minh: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ” – Nhật kí trong tù. Hẳn là chỉ có trăng thu mới thâm quen với con người đến thế! Bây giờ đến hoa thu. “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái”, ý nhà thơ muốn nói: Mấy chùm hoa trước giậu đã nở từ năm ngoái nay lại đã trổ bông chăng? Và hoa thu chỉ là hoa cúc, một trong bốn loài hoa quý (lan, sen, cúc, mai) chọn mùa thu để trổ hoa. Điểm xuyết cảnh thu là tiếng ngỗng trời từ từng trên không xa tít vọng lại. Âm thanh không líu lo nhưng con chim oanh học nói trong tiết xuân sang (Truyện Kiều) mà chỉ thoáng qua như nâng thêm tầm cao rộng rộng của không giang hẳn là đàn ngỗng bay nhanh về phương nam để tránh rét, tường bắt gặp trong kì thu muộn. “Nhân hứng” mà tác giả đã vẽ xong bức tranh thu. Say theo cảnh trí thơ mộng nhưng rồi chợt tỉnh. Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào – ông Đào Bành Trạch treo ấn từ quan từ hồi còn trẻ, trở về vui với cỏ hoa và non xanh nước biếc. Nguyễn Khuyến cũng đã vứt miếng đỉnh chung về ở ẩn tại quê nhà. Có lẽ danh nho Nguyễn Khuyến “thẹn với ông Đào” bởi ông từ cho là mình từ quan hơi muộn? Với Thu vịnh, chúng ta cảm thu bằng “nhân hứng” chung mà nhà thơ để lại; với Thu điếu chúng ta có một thú vui nhỏ mà cũng rất hấp dẫn. Nơi quê hương nhà thơ trước đây lắm ao, lắm vũng. Có lẽ không riêng gì Nguyễn Khuyến mà dân quê cả vùng nhất là các ông già, lúc rảnh rỗi thường lên thuyền nan ngồi thả mồi đợi cá, coi đó là một thú tiêu khiển chăng? Đối với cụ Tam nguyên mùa thu câu cá quả là một lạc thú. Ông đẩy thuyền xa bờ để được đắm mình trong thiên nhiên bao la trời nước một màu. Chỉ có câu kết nói đến chuyện thả câu, bài thơ chủ yếu ghi nhận những quan sát và cảm nhận của nhà thơ và cảnh vật đang diễn ra quanh mình. Ở đây mọi chi tiết đều được chắt lọc sao cho mỗi cảnh sắc chỉ cần điểm một nét, cộng hưởng thành màu sắc thu đích thực và độc đáo. Ông kết hợp tuyệt diệu hình ảnh và từ ngữ. Cả bức tranh có vẻ tĩnh lặng nhưng từng chi tiết thì động và gợi cảm. Ao thu lạnh lẽo nước trong veo: nước tinh kết và lạnh gây cảm giác khẽ rùng mình. Thuyền câu vốn đã nhỏ bé khi nhập vào không gian bao la càng trở nên bé xíu “bé tẻo teo”. Ngư ông dường như cảm thấy mình quá bé trước tạo hoá! Thuyền vừa xa bờ, cận cảnh dẫn đến một cảm giác thu mới: Phẳng lặng trong xanh vốn là đặc tính của mặt nước ao thu, hồ thu. Chỉ thế mà sau này Tản Đà viết: Trời xanh xanh, nước xanh xanh, khói lam xây thành: Màu biếc xao động khi gió thu khẽ khàng lướt qua. “Hơi gợn tí” nhưng cũng đủ mạnh để đưa chiếc lá già của cây cao gần bờ lìa cành “đưa vèo” xoay xoay giữa không gian theo chiều gió… Gió thu là như vậy. Bình giảng hai câu 3-4, Xuân Diệu đã viết: “Thật tài tình! Nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá, vèo, dễ tương xứng với cái mức độ gợn của sóng: “tí”. Tác giả Đây mùa thu tới quả thật đã phát hiện đầy đủ tài nghệ của Nguyễn Khuyến. Chắc là sau khi đã buông câu, nhà thơ mới có dịp ngẩng đầu nhìn trời và làng mạc vây quanh. Trời thăm thẳm một màu xanh, vài đám mây bạc lững lờ trôi như tôn thêm độ cao xa của không giang (Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt). Đường đi lối lại trong thôn viễn rặng trúc uống lượn vòng vèo không ồn ào náo nhiệt như những ngày mùa mà êm đềm u tịch. Nhà thơ “tựa gối ôm cần” chìm đắm vào cảnh vật tựa sống trong mơ… Câu kết thức Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Tiếng động của cá đớp mồi đã trả nhà thơ về cõi thực. Nguyễn Khuyến là ông ngư trên chiếc thuyền nan mỏng mảnh. Với Thu ẩm, nhà thơ Hà Nam đưa chúng ta về nhiều thời điểm khác nhau để cảm nhận vẻ đẹp mùa thu. Mở đầu bài thơ, tác giả nói về một ngôi nhà xuềnh xoàng ở tận sâu trong làng Và (Vị Hạ) nơi cụ Thượng quan hưu trí thường độc ẩm để tìm cách lãng quên thế sự; bởi vì người xưa đã nói: “Chỉ có rượu mới phá được thành sầu”. Từ “năm gian nhà cỏ” này ông nhập vào cảnh thu và quan sát những nét thu khi về chiều, vào đêm tối hay buổi trăng thu viên mãn. Thu ẩm thường diễn ra trong ngôi nhà này vào những thời điểm kể trên. Không có bóng dáng buổi mai hồng hay chính ngọ trong thơ thu. Phải chăng những thời điểm đó không hợp với tạng của nhà thơ? Hai buổi đêm và một buổi chiều lần lượt xuất hiện trong Thu ẩm. Một đêm không trăng dày đặc bóng tối trùm lấp đường ngõ, “lập loè” ánh sáng đom đóm vây bủa đường thôn (Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè). Một đêm khác trăng soi vằng vặc “bóng trăng vàng từ mặt nước ao loé ra, bốn chữ 1 gợi chất vàng [đang dàn trải] ba dấu sắc khứ thanh gợi ánh bắn đi từ loa gợi [vòng tròn lan toả]” (Xuân Diệu). Nguyễn Khuyến dùng thần bút để cực tả đêm thu. Một buổi chiều nhẹ thênh từ “nhà cỏ” hay từ bếp nhà ai toả ra làn khói lam chiều? Một nét thân thương và trìu mến biết bao! Và một buổi chiều khác không còn “tầng mây lơ lửng”, chỉ có da trời ửng màu biếc bao la vô hạn. Nét phác họa đặc thù này vốn là sở trường của Nguyễn Khuyến. Phần kết, tác giả đã gửi gắm ít nhiều tâm sự: “Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe… Độ năm ba chén đã say nhè”. Đâu phải vô cớ mà mắt lão Nguyễn “đỏ hoe”. Cũng không phải vô cớ mà lão uống ít say nhiều (say không tự chủ được sinh lè nhè). Ông uống rượu để tiêu sầu nhưng sầu đâu có dứt! Trong bộ ba thơ thu tuy tác giả không trực tiếp nói đến nhưng vẫn không sao che giấu nổi: Tâm sự nước non đầy vơi dường như chi phối cả cuộc đời và cảm hứng thơ văn của tác giả. Quý thay Nguyễn Khuyến! Ba bài thơ thu là những viên ngọc quý trong vườn thơ Việt Nam. Nó đậm đà màu sắc quê hương đất nước. Hình tượng và ngôn ngữ thơ đạt đến đỉnh cao của sự giản dụ mà đầy chất thơ. Từ nét bút tạo hình đến các thủ pháp nghệ thuật khác như sử dụng từ ngữ trau chuột, chính xác, đối ngẫu rất chỉnh, gieo vần phong phú độc đáo (kể cả tử vận). kết hợp nhạc điệu và âm thanh tinh tế… cả ba bài đều viết theo thể thơ Đường hoàn chỉnh nhưng người đọc không có cảm giấc đó là thể thơ ngoại lai. Nối gót nữ sĩ Hồ Xuân Hương và các nhà thơ Nôm lớp trước, Nguyễn Khuyến đã góp phần Việt hoá đến kì tài thể thơ nhập ngoại này. Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm xứng đáng được trao giải nhất trong toàn bộ thơ về làng cảnh Việt Nam.
Phân tích hình ảnh mùa thu trong 3 bài thơ Thu của Nguyễn Khuyến
2,007
Phân tích hình ảnh mùa xuân và tuổi trẻ trong Vội Vàng Hướng dẫn Phân tích hình ảnh mùa xuân và tuổi trẻ trong Vội Vàng Khi nhắc tới nhà thơ có lòng nhiệt huyết và tình yêu lớn dành cho tuổi trẻ cho tuổi xuân và cho tình yêu thi vị thì chúng ta không thể nào bỏ qua được Xuân DIệu. cùng với các sáng tác để đời của ông, Xuân Diệu như mang tới những trạng thái sống mới những lí tưởng và phong cách sống mới của con người của tuổi trẻ. Qua bài thơ Vội Vàng tác giả đã thể hiện tình yêu với mùa xuân tình yêu và tuổi trẻ một cách rất thành công. Với những hình ảnh và cặp đối rất vần, Xuân Diệu đã tạo ra điểm nhấn cho bài thơ. Mở đầu bài thơ tình yêu và sự tìm đến với nguồn sống được thể hiện qua 4 câu ngắn ngủi: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi” Những điệp từ “ tôi muốn” như thể hiện sự khát khao tới cháy bỏng của một cái tôi có phần tham lam muốn choán hết những thứ thuộc về thiên nhiên vĩnh hằng, và đôi khi những ước muốn như buộc gió lại tắt nắng đi hay những thứ ước muốn đó như thể hiện một cái tôi hơi ngông nhưng cái ngông đó càng chứng tỏ mọt tình yêu và một niềm ham sống với cuộc sống đầy tươi đẹp này. “Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì ……….. Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Những câu thơ bắt đầu với cụm từ “này đây” như để chỉ với mục đích giúp tác giả chỉ ra những cái tốt đẹp ở trên cuộc sống này. Không có gì đẹp hơn những bức tranh thiên nhiên mà mẹ thiên nhiên đã ban tặng. đó chính là món quà vô giá của tạo hóa. Những hình ảnh được nói tới được thi vị hóa mang một màu sắc tươi mới của mùa xuân. Qua đó một cách khéo léo tác giả đã gài vào những triết lí quan niệm sống cuả tuổi trẻ của mùa xuân. Chúng đều mang một vẻ đẹp tươi mơi. Tạo hóa với ong bướm chập chờn bên nhau, hoa cỏ đua nhau nở và đặc biệt hình ảnh “ cặp môi gần”- của tình yêu đôi lứa thật là một hình ảnh khiến cho chúng ta suy nghĩ và kéo chúng ta gần hơn với hồn thơ của xuân Diệu. một thứ rất thiêng liêng hồ hởi và tràn đầy khao khát. Và bước tiếp những mach cảm xúc về vẻ đẹp mùa xuân cung là lúc tác giả đứa ra những câu thơ với những tiếc nuối và một giọng điệu đầy chiêm nghiệm: Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”Mùa xuân của đất trời hay chính là khi tác giả muốn ám chỉ tới tuổi trẻ và mùa xuân của tuổi trẻ. Mọi thứ cũng tươi đẹp và tràn trề sức sống. tuy nhiên mùa xuân của đất trời là mùa xuân tới rồi đi nhưng nó vần tuần hoàn. Dù xuân qua đông tới thì qua hai mùa hạ và thu, xuân đất trời lại chớm nở. cho nên buồn thay tuổi trẻ chỉ như một cơn mưa rào chợt đến rồi không bao giờ quay lại. để cho những con người đã trải qua thì chỉ muốn đắm mình vào trong nó một lần nữa. Tôi tiếc cả đất trời cũng chính là tiêc cho tuổi xuân tuổi trẻ của mình và tiếc cho cả một đời người. những ý nghĩ ấy đã thôi thúc cho tác giả viết và khiến cho chũng ta phải nghĩ về từ “ vội vàng” vội vàng mà sống mà trải nghiệm bởi thời gian trôi qua sẽ mãi mãi không bao giờ quay lại nữa. Chúng đều mang những nghịch lí và sự chia phôi trong từng câu từ của bài thơ” Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt…. Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa… Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm, ” Chính vì biết trước qui luật của tạo hóa mà tác giả luôn hối thúc mình phải nhanh hơn nữa để chạy kịp với thời gian để sống và hưởng thụ và bắt lấy những hương vị tươi ngon nhất của cuộc sống mùa xuân tuổi trẻ “hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” vừa là câu kết của bài thơ nhưng cũng vừa là câu kết cho một tâm hồn ham sống tới cuồng nhiệt. xuân đó- ban tặng cho con người biết bao thứ tươi đẹp nhưng làm sao có thể chạm mà “ cắn” và cấu xé và đắm mình trong đó? Nguồn: Bài văn hay
Phân tích hình ảnh mùa xuân và tuổi trẻ trong Vội Vàng
880
Đề bài: Phân tích hình ảnh người cha trong bài Cha tôi trích Đặng Dịch Trai ngôn hành lục của Đặng Huy Trứ Bài làm Bài "Cha tôi" rút trong tác phẩm chữ Hán "Đặng Dịch Trai ngôn hành lục" của Đặng Huy Trứ (1825 – 1874). Qua hình ảnh người cha, tác giả nói lên những suy ngẫm về họa, phúc ở đời, nhất là trong chuyện học hành, thi cử. Có hai sự kiện chính được ghi lại. Sự kiện thứ nhất, năm 1843, Đặng Huy Trứ mới 18 tuổi, hai cha con cùng đi thi Hương. Người cha hỏng, người con đỗ cử nhân! Người cha khóc. Sự kiện thứ hai, năm 1848, Đặng Huy Trứ thi Hội đỗ tiến sĩ, được xếp thứ bảy. Nhưng vào thi Đình vì phạm huý, ông bị tước mất cả tiến sĩ và cử nhân. Đúng hôm đó (ngày 26 tháng 4) ông bác làm quan ngự y qua đời. Cha của Đặng Huy Trứ chỉ buồn về việc tang, còn chuyện con trai bị truất cả bằng tiến sĩ và cử nhân thì ông coi như không có chuyện gì đáng kể. Cha khóc không phải vì bản thân mình hỏng thi mà chính vì con thi đỗ. Năm ấy, Đặng Huy Trứ mới mười tám tuổi, lần đầu đi thi đã đỗ cử nhân. Khi nghe loa gọi, và khi con trai bái lĩnh mũ áo trở ra thì người cha "dựa vào cây hoài, nước mắt ướt áo". Mọi người lấy làm lạ hỏi: "Con đỗ cao là việc đáng mừng, sao cụ lại khóc như gặp việc chẳng lành vậy?". Cụ bộc bạch ước mơ của người cha. Cho con đi thi lần đầu là chỉ muốn cho con quen với tiếng trống trường thi; may mà đỗ tú tài thì ở nhà dạy trẻ cũng đủ miếng cơm manh áo, để khỏi phải đi phu phen, binh dịch, đâu dám có tham được dự yến vua ban. Ước mơ ấy thật là khiêm nhường, bình dị. Cụ nhắc lại câu nói của cổ nhân: "Thiếu niên đăng khoa nhất bất hành giũ" để nói lên nỗi lo của mình. Cụ nhắc lại bài học đường đời mà lo. Con còn nhỏ tuổi, mới một lần đi thi lại đỗ cử nhân. Đó là phúc, nhưng biết đâu trong cái phúc ấy lại chứa cái mầm họa. Vì cụ sợ con trai minh "kiêu căng, tự mãn, ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung, phúc đâu chẳng thấy, họa đã sẵn chờ". Cụ lo "thuyền nhỏ sao kham nổi trọng tải lớn" lo con trai mình "không báo đáp được nghĩa nặng ơn đày…" Phải từng trải việc đời, từng trải việc người mới có nỗi lo ấy. Bài học về bệnh tự kiêu, tự phụ, tự mãn của những thiếu niên sớm đỗ đạt, ít nhiều danh vọng, được cụ nêu lên thật vô cùng sâu sắc, thấm thía. Năm năm sau, vua Thiệu Trị mở ân khoa – khoa thi Hội mùa xuân Đinh Mùi (1847), cậu cử Đặng Huy Trứ, mới hai mươi ba tuổi lại vác lều chõng ứng thí. Mặc đầu đề thi rất khó, nhiều thí sinh bị hỏng. Riêng Đặng Huy Trứ làm đủ được các đề thi kinh nghĩa và "được bảy phân", tuy bài văn đối sách thì làm “không sát đề lắm", nhưng vẫn được xếp thứ bảy. Khi tin vui thi Hội báo về, người cha lại rớt nước mắt. Phải chăng vì linh tính ma cụ nói: "Bậc đỗ đại khoa ắt phải là người phúc phận lớn. Con tôi đức độ ra sao mà được như vậy, chỉ làm cho tôi lo lắng". Quả nhiên, vào thi Đình, Đặng Huy Trứ vì không phân biệt được từ đồng âm nên đã dùng hai chữ "phong đô" và bôn chữ "nha miêu chi hại" nên "liền bị truất tiến sĩ và cách cả bằng cử nhân khoa trước". Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí! Con trai bị đánh hỏng trong kì thi Đình. Người anh trai làm quan ngự y qua đời. Cả nhà ai cũng buồn, nhưng thần phụ Đặng Huy Trứ coi "như không có chuyện gì đáng kể, chỉ thở dài…". Điều đó cho thấy, cụ đã tiên cảm tiên liệu mọi sự việc có thể xảy ra, dự đoán, phòng xa mọi chuyện không hay, không tốt lành có thể sẽ gặp phải. Vì thế, khi con trai bị truất tiến sĩ, người cha mới tự chủ và bình tĩnh "coi như không có chuyện gì đáng kể". Ở đời những người biết phòng xa mới có thái độ trầm tĩnh đó, tinh thần tự chủ đó. Phúc, họa, may, rủi là chuyện thường xuyên xảy ra đối với mọi người. Chuyện "Thất mã Tái Ông" cũng như thái độ trầm tĩnh của cụ thân sinh Đặng Huy Trứ là bài học sâu sắc về cách sống. Người cha thở dài vì thương người anh trai qua đời; anh trai "ra đi là ra đi mãi mãi",… Người cha đã dành cho người con vừa "bị truất tiến sĩ” những lời dạy bảo sâu sắc: "… Khi người ta đầy đủ lắm thì trời gạt bớt đi cho bằng. Gia đình ta cực thịnh mãn rồi, việc Trứ gặp phải như vậy là phúc cho nhà ta mà cũng là cái may lớn cho bản thân Trứ. Song, sau cơn sấm sét, mưa móc lại có thể tưới nhuần. Trứ nếu cố gắng chịu khó học vẫn còn nhiều hi vọng”. Người cha an ủi và động viên con trai về việc bị tước cả khoa danh là "để rèn luyện cho con nên người. Con không được vì thế mà thoái chí". Người cha nhắc đến ông Phạm Văn Huy ở Thiên Lộc, ông Mai Anh Tuấn ở Thanh Hóa trước đây cũng đã từng bị cách cử nhân, nhưng về sau, một người đỗ hoàng giáp, một người đỗ thám hoa để khích lệ người con. Bài học về sự tu dưỡng phân đấu, nâng cao ý chí, nghị lực sau mỗi lần thất bại, có ý thức sửa chữa sai lầm mà vươn lên đã được người cha nhắc nhở người con thật vô cùng thấm thía: "Buổi sáng mất, buổi chiều lại thu về, hẳn là sau khi bị cách, các ông ấy đã nỗ lực tu tính, cho nên đã sảy chân ngã mà lại đứng lên được. Tài học, phẩm hạnh của con còn kém các ông ấy muôn lần. Người ta ai chẳng có lúc mắc sai lầm, quý là chỗ biết sửa chữa". "Cha tôi" là một bài kí hàm chứa tính triết lí và giáo huấn đặc sắc. Phải biết lo xa phòng xa. Không được kiêu căng, tự phụ, tự mãn. Phải biết nỗ lực phấn đấu vươn lên không ngừng. Phải dũng cảm đứng thẳng dậy sau mỗi lần vấp ngã… Phải biết thất bại là mẹ thành công; thua keo này bày keo khác, v.v… Đó là nội dung lời cha dạy con; là bài học làm người lúc nào cũng mới mẻ. Cuộc đời của Đặng Huy Trứ là một tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Mùa xuân năm Đinh Mùi, thi Hội và thi Đình, ông bị truất tiến sĩ và cách cả bằng cử nhân, nhưng chỉ mấy tháng sau vào mùa thu năm ấy ông lại hăm hở vác lều chõng đi thi Hương đua tài với thiên hạ. Đúng là "Trời sinh, trời chẳng phụ nào – Phong vân gặp hội anh hào ra tay" (Ca dao), Đặng Huy Trứ đỗ Giải nguyên. Gần ba mươi năm làm quan, dù ở cương vị nào, lĩnh vực nào ông đều để lại nhiều dấu ấn và thành tích tốt đẹp về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao,… về văn học, văn hóa tác phẩm của ông viết ra "chồng cao hơn đầu người", trong đó có đến 1252 bài thơ chữ Hán. Đọc bài "Cha tôi", ta càng thấy cuộc đời của tiên sinh thật gần gũi với mỗi chúng ta trên con đường học hành và tu dưỡng.
Phân tích hình ảnh người cha trong bài Cha tôi trích Đặng Dịch Trai ngôn hành lục của Đặng Huy Trứ
1,356
Đề bài: Phân tích hình ảnh người chiến sĩ cộng sản trong bài thơ Cảnh khuya Bài làm Mùa xuân năm 1941 Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Căn cứ địa Việt Bắc được chọn làm thủ đô kháng chiến. Trong chiến dịch Thu Đông 1947 ta thắng lớn trên chiến trường Việt Bắc. Cùng thời gian này Bác Hồ viết bài thơ Cảnh khuya. Bài thơ tả cảnh núi rừng Việt Bắc trong đêm trăng đẹp và thể hiện ý chí chiến đấu vì dân tộc của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Cảnh rừng Việt Bắc được mở ra bằng tiếng suối êm đềm trong mát rì rầm ngày đêm vọng đến. Trong đêm thanh vắng, tiếng suối nghe rõ lắm. Tiếng du dương huyền diệu được tác giả cảm nhận như tiếng hát xa. Đây chính là nét nghệ thuật “lấy động tả tĩnh”, chỉ có âm thanh của suối chảy trong đêm mọi vật chìm trong giấc ngủ, trong chiến trường máu lửa mà có tiếng suối chảy không đơn thuần là dòng chảy tự nhiên mà nó mang hơi ấm con người. Khi người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi lui về ở ẩn tại Côn Sơn cũng đã có những cảm nhận rất tinh tế: Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Tiếng suối nghe như tiếng đàn cầm, bản nhạc đưa hồn con người ta vào cõi mông lung. Cả hai nhà quân sự, chinh trị tuy thời gian sống khác nhau nhưng có những cảm nhận hết sức tinh tế về âm thanh của tiếng suối trong đêm khuya. Sau âm thanh của tiếng suối là ánh trăng chiến khu. ánh trăng bao phủ khắp không gian, ánh trăng lồng vào cổ thụ, như hoà quyện vào cảnh vật trần gian. Trăng được nhân hoá, được nhắc lại khiến bức tranh, cảnh đẹp đêm trăng lộng lẫy hơn, thơ mộng hơn. Gợi cho ta nhớ đến những câu thơ trong Chinh phụ ngâm Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông, Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng… Hai vế đối nhau trăng lồng cổ thụ /bóng lồng hoa tạo cho cảnh vật sự cân xứng hài hòa. Bức tranh đêm chiến khu thật đẹp đầy chất thơ. Thi sĩ với tâm hồn thanh cao đang tận hưởng những giây phút thần tiên của thiên nhiên. Người nghệ sĩ thổn thức lòng mình trước cảnh đẹp đêm trăng, say sưa ngây ngất: Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Chưa ngủ để ngắm trăng, chưa ngủ để lo nỗi nước nhà. Thơ xưa nói nhiều về trăng, các thi nhân thường tìm đến chốn lâm tuyền lánh đục, tránh cuộc đời bụi bặm bon chen nhưng Bác Hồ của chúng ta tìm nơi thiên nhiên để sống giữa thiên nhiên, đế hoạt động cách mạng – bởi Bác là chiến sĩ cộng sản: Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Cuộc đời cách mạng thật là sang (Tức cảnh Pác Bó) Sống giữa thiên nhiên bao la bát ngát, say đắm trong ánh trăng nhưng chính trong sự say đắm đó vẫn là đàm quân sự lãnh đạo con thuyền cách mạng của nước nhà. Trong bài thơ này có đầy đủ các yếu tố của một bài thơ cổ thi: có suối, có trăng… Nhưng trong cái cổ đó lại có cái chất hiện đại, chất thép người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Đêm trăng nơi chiến khu Việt Bắc thật là đẹp, ngồi ngắm trăng mà lòng tê tái trước nước nhà còn lầm than nô lệ, vì lẽ đó nên người: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Chất thép của người chiến sĩ cộng sản còn được thể hiện khá sâu sắc khi bị giam trong tù ngục: Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe của ngắm nhà thơ (Ngắm trăng) Người thi sĩ cũng không thể hững hờ trước cảnh đẹp đém nay, và như vậy ánh trăng đã chủ động tìm đến với thi nhân. Vầng trăng dường như biết được và ghi lại tâm trạng băn khoăn thao thức của thi nhân. Tâm trạng đó chính là nỗi nước nhà đang canh cánh bên lòng. Đêm nay nơi núi rừng chiến khu Việt Bắc, vẫn là ánh trăng ấy, ánh trăng vẫn vằng vặc trên bầu trời, những trăng có biết không trời Nam đang lầm than nô lệ muốn thảnh thơi mà thưởng ngoạn trọn vẹn cảnh đẹp đêm nay sao thể yên lòng. Trong lòng người thi sĩ ấy đang chất chứa bao nỗi niềm, nỗi niềm lo cho nước cho dân. Đây chính là chất “thép”, chất chiến sĩ mà Bác Hồ đã từng nhắc đến: Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong Vẻ đẹp người chiến sĩ cộng sản hiện lên trong bài thơ cảnh khuya thật đẹp, thật ngạo nghễ. Bác Hồ vừa có tâm hồn thi sĩ lại vừa có cốt cách của người chiến sĩ. Bác của chúng ta là như vậy, yêu thiên nhiên, chan hoà với thiên nhiên nhưng cũng yêu nước thương dân tha thiết. Bài thơ là bức tranh tràn ngập ánh trăng nơi núi rừng Việt Bắc – nơi ấy người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Phân tích hình ảnh người chiến sĩ cộng sản trong bài thơ Cảnh khuya
945
Đề bài: Phân tích hình ảnh người dân làng chài qua bài thơ Quê hương của Tế Hanh Bài làm Hình ảnh nổi bật trong bài thơ của Tế Hanh là hình ảnh làng chài với những sinh hoạt vô cùng thân thuộc, những người dân chài mạnh khoẻ, cường tráng và đương nhiên không thể thiếu hình ảnh những người dân chài bơi thuyền ra khơi và cảnh đón thuyền cá về bến – những hoạt động vốn được coi là biểu tượng của làng chài. Đoàn thuyền ra khơi trong một ngày thật đẹp: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng. Thời tiết đẹp không chỉ thiết thực với người dân chài (thời tiết có đẹp thì mới ra khơi được) mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của làng chài trong tình yêu và nỗi nhớ của nhà thơ. Sức lực tràn trề của những người trai làng như truyền vào con thuyền, tạo nên khung cảnh ấn tượng, rất mạnh mẽ và hoành tráng: Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Những con thuyền rẽ sóng băng băng và lời thơ cũng theo đó mà bay bổng trong không gian vô cùng rộng rãi, khoáng đạt. Mọi hình ảnh đều được nâng lên đến mức biểu tượng. Chiếc thuyền thì "hăng như con tấu mã", một từ "phăng" thật mạnh mẽ, dứt khoát đã đưa con thuyền "mạnh mẽ vượt trường giang”. Sau cảnh "khắp dân làng tấp nập đón ghe về" (gợi tả không khí sinh hoạt vô cùng thân thuộc của làng chài), những câu thơ đột ngột chùng xuống: Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Từ tả thực, những câu thơ lại dần nghiêng về sắc thái biểu tượng lắng sâu. Điều đó góp phần tạo cho bài thơ một cấu trúc hài hoà, cân đối. Bên trên là cảnh rẽ sóng vượt trùng dương thì đến đây là cảnh nghỉ ngơi. Cái tĩnh đi liền ngay sau cái động nhưng không tách biệt hoàn toàn. Có một sợi dây liên kết, một sự gắn bó rất mật thiết phía sau hình ành "làn da ngăm rám nắng" và "thân hình nồng thở vị xa xăm" của những người trai làng chài, bên cạnh đó còn phải kể đến chi tiết rất gợi cảm: chiếc thuyền đã trở về nghỉ ngơi trên bến nhưng vẫn "nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Từ "chất muối" cho đến hơi thở "vị xa xăm" đều gợi đến biển cả, đến những chuyển động vượt qua muôn ngàn sóng gió. Đó chính là khát vọng chinh phục đại dương rất mãnh liệt, đã ngấm sâu trong huyết quản của những người dân làng chài, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ai sinh ra ở vùng duyên hải hẳn chẳng lạ gì những cánh buồm. Thế nhưng những câu thơ của Tế Hanh vẫn có một cái gì đó là lạ và cuốn hút: Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Cánh buồm vô tri đã được người thi sĩ thổi vào một tâm hồn. Đó chính là cái hồn thiêng liêng (trong tâm khảm nhà thơ) của ngôi làng ấy. Nhà thơ đã lấy cái đặc trưng nhất (những cánh buồm) để mà gợi ra bao ước mơ khao khát về một cuốc sống no ấm, đủ đầy. Câu thơ sau thậm chí còn “có hồn” hơn. Thuyền không phải tự ra khơi mà đang “rướn” mình ra biển cả. Hình ảnh thơ đẹp và thi vị biết bao. Hai câu thơ dưới đây lại mang một hương vị khác – hương vị nồng mặn của biển khơi: Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Hai câu thơ là một bức tranh vẽ phác về hình ảnh dân chài. Đó là những con người dường như được sinh ra từ biển. Cuộc sống biển khơi dãi dầu mưa nắng làm cho làn da “ngăm rám” lại, trong cả “hơi thở” của thân hình cũng là hương vị xa xăm của biển. Hai câu thơ không phải chỉ là sự miêu tả đơn thuần mà nó là sự cảm nhận bằng cả một tâm hồn sâu sắc với quê hương. Trên đây là những hình ảnh sâu đậm, rõ nét nhất được tái hiện từ kí ức. Đến bốn câu thơ cuối, nhà thơ đã giãi bày trực tiếp tình cảm của mình với quê hương: Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ. Trong nỗi nhớ lại thấp thoáng màu nước xanh, cát bạc, cánh buồm.. và hẳn không thể thiếu con thuyền "rẽ sóng chạy ra khơi". Có thể thấy những hình ảnh ấy cứ trở đi trở lại, day dứt mãi trong tầm trí nhà thơ để rồi cuối cùng lại làm bật lên cảm xúc: Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Câu thơ được viết thật giản dị nhưng cũng thật gợi cảm, đủ nôn nao lòng người. Bởi nó có sức nặng ngay từ nỗi nhớ da diết và chân thành của tác giả đối với quê hương. Nét đặc sắc nghệ thuật nổi bật nhất của bài thơ này là sự sáng tạo các hình ảnh thơ. Bài thơ cho thấy một sự quan sát tinh tế, một sự cảm nhận và miêu tả sắc sảo. Hình ảnh thơ phong phú, vừa chân thực lại vừa bay bổng và lãng mạn khiến cho cả bài thơ rất có hồn và tràn đầy thi vị. Bài thơ sử dụng kết hợp phương thức miêu tả và biểu cảm. Nhưng yếu tố miêu tả chủ yếu nhằm phục vụ cho biểu cảm, trữ tình. Nhờ sự kết hợp này mà hình ảnh thơ vừa lột tả được chân thực, tinh tế cảnh vật và con người của cuộc sống miền biển vừa thể hiện sâu sắc những rung động của tâm hồn nhà thơ.
Phân tích hình ảnh người dân làng chài qua bài thơ Quê hương của Tế Hanh
1,018
Phân tích hình ảnh người lính Tây Tiến qua khổ thơ thứ ba trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Hướng dẫn Phân tích hình ảnh người lính Tây Tiến qua khổ thơ thứ ba trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Đất nước đã hòa bình độc lập nhưng hình ảnh về những lính anh hùng, can đảm đã nhuốm máu mình trên từng tấc đất vẫn mãi là những ký ức đẹp của cả dân tộc Việt Nam. Quang Dũng – một nhà thơ tinh tế lãng mạn, và cũng là một người lính đã có những vần thơ rất chân thực viết về những đồng đội của mình trong đoàn quân Tây Tiến: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Đoạn thơ được trích từ bài “Tây Tiến” của Quang Dũng với những từ ngữ giàu hình ảnh trong giọng điệu phóng khoáng, tự do, tự hào. Tác phẩm đã gây ấn tượng mạnh trong lòng độc giả bởi hình ảnh những người lính Tây Tiến đầy bi tráng. Như một lời khẳng định, Quang Dũng đã thẳng tay viết: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”. Không khó khăn gì để trả lời câu hỏi tại sao lại là “đoàn binh không mọc tóc”? Là tóc không mọc hay không thèm mọc? Cuộc sống giữa rừng sâu cùng với sự khó khăn thiếu thốn buộc các anh phải dãi dầu mưa nắng. Những côn sốt rét rừng đã khiến tóc các anh bị rụng, không thể mọc lại được, người gầy xanh xao. Nhưng nhà thơ Quang Dũng và cũng là người lính với tâm hồn lãng mạn, yêu đời đã biến sự thật ấy thành những điều rất tự nhiên, thậm chí là có phần hài hước, vui vẻ. Có lẽ lúc ấy tuổi các anh cũng chỉ tầm mười tám đôi mươi. Hoặc có anh bằng lứa tuổi của những bạn sinh đang đọc bài thơ này. Gác lại sách vở, gác lại những ước mơ còn dang dở, các anh đã rời ghế nhà trường để cầm súng chiến đấu cho Tổ quốc có ngày được độc lập tự do. Bước vào chiến trường, là bước vào ranh giới của sự sống và cái chết, nhưng không ai bảo ai, họ đều thấu hiểu điều đó và cùng chung một lòng quyết chiến đấu đến cùng. Những cơn sốt rét rừng đâu có là gì. Tóc rụng hay không mọc được cũng chẳng sao, các anh không thèm mọc tóc nữa. Cách nói này của Quang Dũng rất hài hước, rất đúng với khí thế của cả đoàn binh. Trên chiến trường, họ gan dạ với quả tim sắt đá, nhưng đêm về lại thổn thức nhớ người yêu. Ở bên kia biên giới, người yêu bé nhỏ của anh hẳn cũng đang ấp ủ những nỗi nhớ niềm thương và thầm mong ngày đoàn tụ để cùng anh tiếp tục những lời hẹn ước còn dở dang. Nhưng chiến tranh đâu có thể nói trước điều gì. Ai ngã xuống, ai quay về còn chưa rõ. Chỉ biết rằng, dẫu có chết các anh cũng “chẳng tiếc đời xanh”. Quang Dũng cũng đã bộc bạch rất chân thành: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Có lẽ chính vì điều này mà bài thơ đã một thời bị cấm phát hành vì cho rằng đã nói lên những mất mát hi sinh quá lớn của quân đội Việt Nam, khiến tinh thần người lính đi xuống. Nhưng sau cùng, bài thơ vẫn được đón nhận và trở thành một khúc hành quân đầy tự hào với hình ảnh những người lính đang rộn ràng bước chân. Họ lên thác xuống ghềnh, chèo đèo lội suối, vượt bao gian khó, có những lúc: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời” Bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu vất vả đều tan biến mỗi khi anh nghĩ đến ngày đất nước hòa bình thống nhất, ngày các em nhỏ được tung tăng đến trường và đôi lứa không còn phải chia ly mỗi người một ngả. Như vậy, người lính trong bài thơ đã được Quang Dũng thể hiện đậm chất bi tráng, vừa chân thực, vừa hài hước, vừa mang nhiều ý nghĩa cho thế hệ trẻ hôm nay, mai sau và mãi mãi noi theo. Những người lính ấy đã một lòng yêu nước, đồng tâm đồng lực đánh đuổi quân thù. Người ngã xuống, hòa máu mình vào đất, người bỏ lại một phần cơ thể trên chiến trường xa xôi… Mẹ mất con, vợ mất chồng… Những cuộc tình dang dở… Sau cùng, tất cả đã được đền đáp bằng ngày thống nhất toàn dân, ngày hòa bình độc lập trở lại trên đất Việt Nam. Và nếu có thể được hi sinh lần nữa, chắc chắn các anh cũng luôn sẵn lòng.
Phân tích hình ảnh người lính Tây Tiến qua khổ thơ thứ ba trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
858
Phân tích hình ảnh người lính Tây Tiến Hướng dẫn Phân tích hình ảnh người lính Tây Tiến Quang Dũng được xem như một tiếng thơ đầy tài hoa, phóng khoáng của dân tộc. Ông sáng tác thơ không nhiều nhưng có không ít các tác phẩm ghi lại dấu ấn trong tâm hồn người đọc. Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Quang Dũng được in trong tập “ Mây đầu ô” xuất bản năm 1968. Bài thơ được nuôi dưỡng và khơi nguồn cảm hứng từ “ nỗi nhớ” của chính tác giả. Tây Tiến là một hồi tưởng rất đẹp và sống động về hình tượng những người lính mang vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng giữa núi rừng miền Tây hoang sơ, kỳ vĩ và diễm lệ. Tây Tiến thể hiện sâu sắc, rõ nét phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Ngòi bút lãng mạn đầy tài hoa của tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên, núi rừng miền Tây hiểm trở, nơi đó là địa bàn hoạt động, chiến đấu của những chàng trai trẻ đất Hà thành. Chiến tranh có ai được gì hay chỉ mất? Chiến tranh đồng nghĩa với mất mát, hi sinh. Hiểu rất rõ điều đó, nhưng những người lính trẻ đang sống và chiến đấu trong thiếu thốn về vật chất, khó khăn, gian khổ vẫn luôn dũng cảm, lạc quan, yêu đời. Cũng như những người lính trong “ Đồng chí” của Chính Hữu hay “ Nhớ” của Hồng Nguyên, người lính Tây Tiến ra đi lên đường chiến đấu mang trong tim lời thề “ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Chỉ khác một điều ở xuất thân, họ không phải là những người nông dân cầm súng mà những chàng trai đang chiến đấu giữa núi rừng Tây Tiến đều còn rất trẻ. Năm ấy, Quang Dũng cũng trong đoàn quân Tây Tiến nên ông bắt gặp vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn giữa khốc liệt của chiến tranh. Người lính Tây Tiến phần đông là học sinh, sinh viên Hà Nội “ xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”. Họ mang trong mình lý tưởng của đảng, chút mộng mơ của thời cắp sách đến trường, sức mạnh của tuổi trẻ và chất con người Hà Nội thanh lịch, hào hoa đến với mảnh đất miền Tây bảo vệ biên giới Viêt- Lào. Núi rừng miền Tây hoang sơ và xa lạ đối với những người lính trẻ. Nơi đó có bao nhiêu bí ẩn, bao địa danh mới lạ đối với các chiến sỹ lần đầu đến với nơi chiến trường xa xôi. Nét đặc sắc của Tây Tiến là nói về chiến tranh mà trong thơ không một lần nhắc đến tiếng đạn, bom. Người lính Tây Tiến đối mặt với cái chết không đau đớn, bi thương mà rất giản dị, bình thường hoá: “ Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục trên sung mũ, bỏ quên đời” Người lính phải đối mặt với địa bàn hiểm trở, những cơn sốt rét rừng,bao mệt mỏi trên đường hành quân nhưng họ ra đi thật nhẹ nhàng “ bỏ quên đời” bỏ lại sau lưng những vất vả, khó khăn để trở về với đất mẹ. Cảm hứng lãng mạn, khiến ngòi bút Quang Dũng nhắc nhiều đến nỗi buồn, cái chết chỉ như một chất liệu thẩm mỹ tạo nên sự bi hùng. Núi rừng hoang vu, thiên nhiên khắc nghiệt, thung lũng mù sương cũng không vùi lấp nổi trái tim đầy mộng mơ, lãng mạn, tinh thần và sức trẻ lạc quan, yêu đời. “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” Cái nền thiên nhiên hùng vĩ, ấp áp và mềm mại cũng khiến tâm hồn những chàng trai trẻ gốc Hà Thành trở nên lâng lâng, bay bổng sau chặng đường hành quân mỏi mệt. Họ đắm mình trong những đêm liên hoan văn nghệ. Thả hồn theo tiếng nhạc và bóng hình của những cô gái quyến rũ, man dại, e ấp giữa hiểm trở núi rừng. Trái tim yêu đời, trẻ trung đầy mơ mộng vẫn luôn cháy bỏng khao khát bình yên. “ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá giữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng hoa biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm” Trong dòng hồi tưởng của tác giả hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên thật kỳ dị, trần trụi, khác thường. Thực tế nơi chiến trường gian khổ, thiếu thốn về vật chất, những cơn sốt rét rừng có thể cướp đi tính mạng người lính bất cứ lúc nào. Quang Dũng không giấu đi những khó khăn gian khổ nơi rừng thiêng nước độc đến nỗi “tóc không thể mọc, da xanh màu lá” mà phơi bày cho ta thấy thực tế khốc liệt của chiến tranh. Nhưng dưới cái nhìn của người nghệ sỹ tài hoa, lãng mạn, phơi bày thực tế không phải để hình ảnh người lính trở nên bi luỵ mà càng tôn lên sức mạnh phi thường “ giữ oai hùm” giữa thiếu thốn, khó khăn. Vì những người lính còn rất trẻ nên họ cũng đầy mơ mộng. Có người nói người lính mơ về “ dáng Kiều thơm” giữa chốn đạn bom khốc liệt là xa rời tinh thần chiến đấu. Nhưng thực ra người lính chiến đấu vì điều gì nếu không phải vì bảo vệ quê hương, cũng chính là bảo vệ những người họ yêu thương nhất: là làng xóm, là gia đình, là người yêu. Đoàn quân Tây Tiến oai hùng trên chặng đường hành quân, ra đi chiến đấu không hẹn ngày về nhưng sâu thẳm trái tim họ luôn mơ về Hà Nội, mơ về bóng dáng thân yêu. Đó có thể là một con đường, một dãy phố cũng có thể là một người con gái sẽ tiếp thêm sức mạnh, nghị lực cho người lính trên bước đường hành quân. Hà Nội là quê hương, là điểm tựa để người lính chiến đấu giữ vững biên giới. Bảo vệ quê hương cũng chính là bảo vệ những người thân yêu. Đời lính chiến rất lãng mạn, mộng mơ nhưng cũng đầy dũng cảm. Họ có những phút nhớ quê hương, nhớ người yêu và nó trở thành sức mạnh để người lính tiếp tục chiến đấu “ Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” ( Đất nước- Nguyễn Đình Thi) “ Ba năm rồi gửi lại quê hương Mái lều tranh Tiếng mõ đêm trường Luống cày đất đỏ Ít nhiều người vợ trẻ Mòn chân bên cối gạo canh khuya” “Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Quang Dũng hiện thực cái chết đến dữ dội và lãng mạn đến mộng mơ trước cảnh sắc say đắm lòng người. Những người lính trẻ mang theo tuổi xuân của mình đến nơi xứ xa và không ít người đã trở thành nấm “ mồ viễn xứ” rải rác nơi biên ải xa xôi. Người lính Tây Tiến ra đi “chẳng tiếc đời xanh” thì khi trở về với đất mẹ yêu thương cũng nhẹ nhàng, bình yên như thế. Còn gì cao đẹp hơn khi hi sinh thân mình cho tổ quốc, “anh về đất” hoá thân cho hình hài xứ sở. Chúng ta rơi nước mắt vì sự hi sinh anh dũng đó, nhưng các anh thì không. Hình ảnh “ áo bào thay chiếu” phảng phất đâu đây niềm tự hào khi hi sinh, cống hiến tuổi xuân cho tổ quốc. Tổ quốc ghi công những chàng trai trẻ thành liệt sỹ, chỉ còn lại tiếng gầm đơn độc của dòng sông Mã tiễn đưa khóc thương người anh hùng. Người lính Tây Tiến đẹp, một vẻ đẹp bi tráng và lãng mạn. Họ sống cao đẹp mà giản dị, cái chết tạo nên vinh quang của tuổi xanh, thầm lặng mà cao cả hiến dâng đời mình cho dân tộc. Phẩm chất người lính hiện lên qua hồi tưởng của Quang Dũng hào hùng, hào hoa và bi tráng. Nhà thơ nhìn thẳng vào những mất mát hi sinh để thể hiện vẻ đẹp bi tráng chứ không bi luỵ Tây Tiến đã trở thành tượng đài bất tử về người lính vô danh lãng mạn, kiêu hùng. Hồn của những người lính đã quyện và với đất, với cỏ cây để trở thành “ hồn thiêng sông núi”.
Phân tích hình ảnh người lính Tây Tiến
1,437
Phân tích hình ảnh người mẹ hiền trong bức thư “Mẹ tôi” được bố En-ri-cô nhắc đến Hướng dẫn Bố nhắc lại một kỉ niệm không bao giờ có thể quên là cách đày mấy năm, En-ri-cô bị ốm nặng, mẹ đã “thức suốt đêm”săn sóc con, “cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con”.Người mẹ lo âu, đau đớn “quằn quại vì nổi sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con”. Cổ ngữ có câu: “Mẫu tử tình thâm”.Tình mẹ thương con là mênh mông bao la. Mẹ có thể hi sinh tất cả vì con. “Đứa con là hạt máu cắt đôi của mẹ”(tục ngữ). 10 Con mà lại xúc phạm đến mẹ là vô đạo, vì “Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn”.Một năm so với một giờ đã có đứa con nào tính được, nghĩ đến? Người mẹ có quản gì vất vả, chịu khổ sở đói rét “điăn xin để nuôi con”.To lớn hơn, vĩ đại hơn là người mẹ “có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con”.Công cha nghĩa mẹ thật vô cùng sâu nặng: “Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông” hay “ơn cha nặng lắm ai ơi! Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang” (Ca dao) Cảm động nhất là khi bố chỉ cho con thấy nỗi bất hạnh “buồn thảm nhất” của một đời người là “ngày mà con mất mẹ”.Mồ côi mẹ là nỗi đau khổ nhất của tuổi thơ. Cho dù khi đã lớn khôn, trưởng thành, dũng cảm,… đứa con vẫn không bao giờ tìm lại được bóng dáng yêu thương của mẹ hiền. Một tiếng nói dịu hiền cùa mẹ. Một cử chỉ thân thương của mẹ “được mẹ dang tay ra đón vào lòng”.Nỗi -cô đơn của đứa con (dù lớn khôn, khỏe mạnh) không thể nào kể xiết, vì thiếu tình thương ấp ủ của mẹ hiền, “con sẽ vẫn tự thấy mình chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và không được chở che”.Lúc ấy, “con sẽ cay đắng…”, “con sẽ không thể sống thanh thản”, “con sẽ không một phút nào yên tĩnh”,vì lương tâm cắn rứt, con nhớ lại “những lúc đã làm cho mẹ đau lòng”, “đã làm cho mẹ buồn phiền”.Lúc ấy dù có “hối hận”,dù con có “cầu xin linh hồn mẹ tha thứ”thì cũng chỉ vô ích mà thôi, vì mẹ đã mất từ lâu rồi. Một nỗi đau ghê gớm là thời gian năm tháng sẽ không bao giờ làm nguôi quên những hình ảnh, những kỉ niệm vui, buồn về người mẹ hiển yêu quý, “lương tâm con sẽ không một phút nào yên tĩnh”.Và lúc ấy, “hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ sẽ làm tâm hồn con như bị khổ hình”. Qua bức thư của người bố gửi En-ri-cô, ta thấy lời giáo huấn không hề khô khan mà vô cùng xúc động, chứa chan tình phụ- tử, tình mẩu – tử.bố vừa giận vừa thương con; bố đã dạy con bài học về lòng hiếu thảo, biết kính trọng và biết ơn cha mẹ. Lòng mẹ bao la và mênh mông. Con không được vô lễ, không được vong ân bội nghĩa với mẹ cha. Chúng ta cảm thấy mình “lớn lên”cùng trang nhật ký của En-ri-cô. Tóm lại( bài “Mẹ tôi”là một bài ca tuyệt đẹp của “Những tấm lòng cao cả”. Đơ A-mi-xi đã để lại trong lòng ta hình ảnh cao đẹp thân thương của người mẹ hiền, đã giáo dục chúng ta bài học hiếu thảo của đạo làm con.
Phân tích hình ảnh người mẹ hiền trong bức thư “Mẹ tôi” được bố En-ri-cô nhắc đến
612
Phân tích hình ảnh người nông dân Việt Nam qua nhân vật Lão Hạc của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích hình ảnh người nông dân Việt Nam qua nhân vật Lão Hạc của Nam Cao Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Trong cuộc đời cầm bút ngắn ngủi của mình, ông đã kịp để lại cho dân tộc ta những sáng tác vô giá, những kiệt tác văn chương bất hủ mà truyện ngắn Lão Hạc là một tác phẩm tiêu biểu. Lão Hạc là một truyện ngắn viết về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Nhân vật chính của tác phẩm là lão Hạc, một con người mà cuộc đời đã nếm trải bao đắng cay, bất hạnh, một con người luôn tỏa rạng những phẩm chất cao đẹp. Cuộc đời lão Hạc là một chuỗi những đau khổ và bất hạnh, một kiếp đời chua chát và đắng cay! Góa vợ từ lúc còn trẻ, một mình lão gà trống nuôi con trong cảnh đói nghèo, lam lũ, những mong con khôn lớn trưởng thành làm chỗ nương tựa lúc ốm đau, khi tuổi già. Nhưng hạnh phúc nhỏ nhoi ấy đã không đến với lão. Vì không đủ tiền cưới vợ, anh con trai phẫn chí đăng tên làm phu đồn điền cao su. Cảnh chia ly của cha con. Lão Hạc không hẹn ngày sum họp. Lão Hạc đã mất vợ, nay lại mất con. Cảnh khổ vật chất hòa trong nỗi đau tinh thần thành dòng lệ chảy trong trái tim chờ đợi khắc khoải của người cha. Cuộc đời dường như vẫn chưa buông tha lão. Bất hạnh rồi bất hạnh dồn dập giáng xuống cuộc đời của một lão già khốn khổ. Kiệt sức vì lam lũ, lầm than, vì mòn mỏi đợi chờ, lão ôm nặng. Trận ốm hai tháng mười tám ngày đã ngốn sạch số tiền mà lão chắt chiu, gom góp, cướp đi luôn cả cái ước vọng nho nhỏ của người cha muốn dành dụm để cưới vợ cho con. Thật tội nghiệp cho lão Hạc! Lão Hạc sống nghèo khổ về vật chất nhưng rất giàu tình cảm. Tình yêu thương con nồng nàn sâu sắc của lão là câu truyện cảm động về tình cha con. Thương con sớm mồ côi mẹ lão Hạc không nỡ tục huyền. Nhìn con đau khổ vì không có đủ tiền cưới vợ, lão Hạc khổ tâm vô cùng. Lão thấy mình có lỗi với con và điều này làm cho lão day dứt mãi. Khi người con phẫn chí đăng tên làm phu đồn điền cao su, trái tim người cha thật sự tan nát. Nỗi thương nhớ mong chờ con thường trực trong lòng người cha biến thành sự khắc khoải ngóng trông: Thằng cháu nhà tôi dễ hơn một năm nay không có giấy má gì đấy ông giáo ạ. Ta đọc được trong câu nói ấy cái tình cảm ấm áp của người cha. Thương nhớ con, lão dồn tình cảm âu yếm vào cậu Vàng, kỉ vật của người con để lại. Cái tên cậu Vàng (tên lão Hạc đặt cho con chó) đă chứa đựng tất cả tình quý mến và thân thiết đối với một con vật. Hình ảnh lão Hạc: Miệng méo xệch, khóc hu hu, khi nghĩ rằng mình đánh lừa một con chó, là hiện thân của tấm lòng nhân ái cao cả. Cuộc đời lão Hạc thật bi thương. Nhưng giữa cuộc đời khốn khổ, lão Hạc vẫn ý thức được nhân phẩm của mình. Lòng tự trọng của một người cha không cho phép lão tiêu vào mảnh vườn do người mẹ để lại cho đứa con. Lòng tự trọng của một con người không cho phép lão nhận sự giúp đỡ của ông giáo mà lão biết cũng chẳng sướng gì hơn lão, càng không cho phép lão làm phiền lụy đến bà con lối xóm. Lão biết họ đã khốn khổ lắm rồi, lão không thể là gánh nặng cho họ. Ý thức được điều đó một cách sâu sắc, Lão Hạc đã nhịn ăn để dành tiền làm ma cho mình. Thật là một tấm lòng cao thượng và vị tha hiếm có! Ta nhận thấy ở lão Hạc một triết lí sống giản dị nhưng đẹp biết nhường nào. Dưới một chế độ xã hội đen tối, ngột ngạt, không ít người đã đánh mất nhân phẩm, tha hóa, biến chất. Ta dễ dàng tìm thấy họ trong một loạt các sáng tác của Nam Cao. Khác với họ, dù nghèo đến đâu, lão Hạc vẫn sống trong sạch và lương thiện. Chính nhân vật ông giáo đã nhận xét về lão: Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa gì lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Cùng kế sinh nhai, lão có thể chọn con đường theo Binh Tư. Nhưng lão Hạc không làm thế. Lão thà chết chứ không bán linh hồn mình cho quỷ dữ. Cuối cùng lão đã chọn cái chết để giữ trọn sự trong sạch và lương thiện trong tâm hồn mình. Một cách sống và xử thế thật đáng trân trọng, phù hợp với đạo lí: Chết trong hơn sống đục của nhân dân ta. Nhân vật lão Hạc là một hình tượng điển hình bất hủ về người nông dân lao động Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Cùng với nhân vật chị Dậu (trong tác phẩm Tát đèn của Ngô Tất Tố), nhân vật lão Hạc làm sáng ngời thêm những nét đẹp trong tâm hồn và phẩm chất của người nông dân lao dộng Việt Nam.
Phân tích hình ảnh người nông dân Việt Nam qua nhân vật Lão Hạc của Nam Cao
963
Phân tích hình ảnh người vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân Hướng dẫn Phân tích hình ảnh người vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân Khi nhắc đến tác giả Kim Lân ta như nhìn thấy được những mảnh đời cơ cực, những chiến sĩ, những người nông dân,…ông chính là một nhà văn xuất chúng của nền văn xuôi hiện đại được sinh ra trong thời kỳ trước và sau cách mạng tháng Tám. Trong đó không thể nào không nhắc đến tác phẩm truyện ngắn “Vợ Nhặt”, một câu chuyện chân thực, nó tái hiện vô cùng thành công cuộc sống ảm đạm, khủng khiếp của nạn đói Ất Dậu năm 1945 của đất nước ta. Một tác phẩm khiến ai đọc cũng phải rùng mình vì xót xa. Câu chuyện được mở đầu trên cái nền vô cùng tăm tối và đau thương. Kim Lân đã vẽ ra hình ảnh một nhân vật người phụ nữ- người “Vợ nhặt” nghèo đói, đầy bất hạnh nhưng lại toát lên một khát vọng sống vô cùng mãnh liệt. Và để sống, chị đã chấp nhận theo một người đàn ông cũng nghèo khổ về làm vợ giữa ngày đói mà không cần một cái lễ gì. Nhìn người phụ nữ, người vợ lúc đó, ta sẽ thấy một số không tròn trĩnh, không tên, không tuổi, không quê hương, không nghề nghiệp,…đang tha phương, nay đây mai đó không biết đi đến đâu. Cảnh ngộ xuất hiện một người vợ nhặt thật lạ nhưng cũng thật quen với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Kim Lân không đặt tên cho nhân vật người vợ nhặt, xuyên suốt cả tác phẩm, ông gọi cô là “thị” đây là một cách gọi phiếm định, dành cho tất cả những người phụ nữ đang trong hoàn cảnh này, một cảnh ngộ và số phận vô cùng đáng thương và tội nghiệp, họ đang bước đi từng bước nặng nhọc, chịu đựng để chống chọi với cơn đói khát. Thân xác người vợ nhặt hiện ra với thân hình gầy gò ốm yếu, ngực lép gầy, khuôn mặt lưỡi cày lúc đó xám xịt và quần áo thì rách rưới không đủ che đi tấm thân. Nhìn hình ảnh người vợ nhặt, ta như thấy rõ được nạn đói năm 45, nạn đói lịch sử cướp đi cuộc sống của biết bao người dân Việt Nam lúc bấy giờ. “Thị” được Kim Lân xây dựng với hai luồng tính cách khác nhau. Trước khi trở thành vợ của Tràng, thị là một người phụ nữ mạnh mẽ, táo bạo trong giao tiếp và chút gì đó liều lĩnh. Lần đầu tiên, khi Tràng gặp “thị”, thì chính thị là người chủ đậu làm quen, cũng chính thị đã chủ động đẩy xe bò giúp Tràng. Lúc đó, thị vui vẻ, thị “liếc đôi mắt cười tít” với Tràng. Đến lần gặp thứ hai, bất ngờ từ đâu thị “sầm sập chạy tới” trước mặt Tràng, miệng sưng sỉa lên nói, dáng đứng thì cong cớn. Đã vậy, thị còn chủ động đòi ăn, khi được Tràng mời ăn bánh đúc thị đã ăn một mặt hết bốn bát bánh đúc mà không ngẩng lên bao giờ. Ăn xong, thị lấy đũa quẹt miệng, khen ngon và tỏ ra hạnh phúc. Vì đói, thị không sợ mất thể diện “đòi ăn”, một khát khao mãnh liệt được sống. Cái đói như biến con người ta thành một người khác, biến đổi tính cách con người. Kim Lân chắc chắn phải thật sự cảm thông và xót xa trước cảnh ngộ đói nghèo đó của người lao động thì mới có thể lột tả được đúng tâm trạng của “thị” như vậy. Nhưng khi trở thành vợ Tràng, “thị” như trở thành một con người hoàn toàn khác, trở lại một người đàn bà hiền thục, lễ phép, đảm đang, biết e lệ, khép nép. Dễ dàng nhận ra điều đó qua dáng vẽ tội nghiệp cứ bẽn lẽn khi thị ở bên cạnh Tràng vào lúc trời chàng vạng sáng. Hình ảnh thị đi theo sau, chiếc nón rách cứ che nghiêng, như muốn che đi sự e thẹn, ngượng nghịu, đôi chân như không nghe lời, cứ bước díu từ chân nọ đến chân kia…nhìn cảnh đấy ta thấy thật tội nghiệp cho nàng dâu mới. Không xe hoa, cũng chẳng pháp cưới, những người xung quanh với khuôn mắt u tối hốc hác, xen vào đó là âm thanh của quạ, tiếng khóc tiễn người chết đầy tang thương,…Nhưng sáng sớm hôm sau, thị đã phần nào quen với cảnh có chồng, thị dâỵ sớm quét tước dọn dẹp căn nhà đơn sơ. Hình ảnh này như gợi lên một người vợ biết lo toan, vun vén cuộc sống gia đình. Một người vợ hiền lành, một cô dâu thảo. Bữa cơm đầu tiên bước về nhà chồng, bữa cơm của ngày đói, bữa cơm chỉ có cơm độn sắn, nhưng đối với thị lại ấm ấp, thơm ngọt. Thị kể cho mẹ chồng và chồng nghe câu chuyện người dân Bắc Giang cùng nhau đi phá kho thóc Nhật, ánh mắt ánh lên niềm hi vọng, và cũng nhờ vào đó mà tiếp thêm sức mạnh cũng niềm tin vào sự đổi mới trong tương lai cho hai mẹ con Tràng.
Phân tích hình ảnh người vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
901
Phân tích hình ảnh Người đi đường trong bài thơ Đi đường (trích Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh) Hướng dẫn Bài thơ “Đi đường” có tựa đề là một cụm từ, chỉ một hệ thống. Bài thơ, do vậy có một ý nghĩa riêng, ngoài việc diễn tả cảm xúc trước cảnh núi non điệp trùng, đất trời cao rộng, hùng vĩ, nó còn thể hiện tư thế chủ động của một nhà thơ – chiến sĩ. Bài thơ sáng tác theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, được dịch ra thể lục bát: “Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Mởđầu là một câu thơ giản dị gần như một lời nói thường: “Đi đường mới biết gian lao”. “Đi đường”, hai tiếng bình dị thế thôi nhưng chứa đựng biết bao ý nghĩa. Trước hết là nghĩa cụ thể của nó. Nói “đi đường” thực chất là bị giải đi đường, là đi đày. Bác tuy không kể, không tả, nhưng chúng ta, những người đọc thơ Bác hôm nay, không thể không đặt bài thơ trong khung cảnh Bác bị giải đi triền miên giữa cảnh đói rét thiếu thôn, giữa cảnh nắng đội mưa dầm, giày dép tả tơi, 53 cây số một ngày, tay bị trói, cổ mang vòng xích. Vậy mà, câu thơ nói đi nói lại dường như chỉ là một nhận xét, một đúc kết bình thường. Từ “mới biết” nghe nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng chất chứa ở bên trong biết bao sónggió cuộc đời, bao nhiêu suy nghĩ của người trong cuộc. Như thế, câu đầu trong bài “Đi đường” không chỉ là sự đúc kết trong một cuộc đi đường cụ thể, mà còn bao hàm một thái độ đánh giá, nhận thức được suy nghĩ trong suốt cả chặng đường dài trên bước đường đời nói chung, trên bước đường cách mạng nói riêng. Câu thơ do vậy vừa mang nội dung cụ thể, vừa mang nội dung khái quát. Câu thơ thứ hai: “Núi cao rồi Lại núi cao trập trùng”. Trước hết, đó là một câu thơ tả thực về cảnh những lớp núi điệp trùng mà Bác phải vượt qua. Có người cho đây là những hình ảnh cụ thể hóa các gian lao trong câu thơ đầu, cũng có thể là như thế. Nhưng như trên đã phân tích, câu đầu trong bài thơ không phải là một cảm hứng đầu mà là cảm hứng kết luận. Hơn nữa, âm hưởng của câu thơ gợi cho người đọc về cái gian lao thì ít mà mở ra một không gian bát ngát, điệp trùng, đẹp đẽ, hùng vĩ nhiều hơn. Chẳng thấy đâu đầy ải xích xiềng, chỉ thấy một trái tim tự do đang chiêm ngưỡng, đắm say thưởng ngoạn thiên nhiên của nhà nghệ sĩ. Điều này thật khó phân tích, lí giải bằng lí luận chữ nghĩa. Từ tâm hồn nó đến thẳng tâm hồn. Thưởng thức thơ Bác chẳng khác nào thưởng thức một bông hoa. Đọc thơ Người, thỉnh thoảng phải dừng lại, nghĩ suy để thưởng thức các sức ngân vang của tâm hồn, tỏa ra từ những lớp chữ nghĩa, màu sắc, âm thanh… bình dị, thanh khiết. “Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Cảnh núi non tiếp nối, không dứt, như vẽ ra trước mắt ta khung cảnh những lớp núi điệp trùng, hết lớp này đến lớp khác, trong đó con người, với tư cách là chủ thể của khung cảnh đang vượt lên những lớp núi chất chồng kia, đang đứng ở đỉnh cao ngất với niềm khoan khoái tự hào, thu vào tầm mắt cả một không gian khoáng đạt, cao rộng, cả khung cảnh gấm vóc hùng vĩ của đất nước, non sông.Câu thơ tả cảnh nhưng không giấu nổi một tiếng reo hạnh phúc ở bên trong, cái niềm hạnh phúc chân chính của một con người đã vượt qua bao chặng đường khổ ải, đã đi và đã đến đích, đang đứng ởđỉnh cao vời vợi. Trong khuôn khổ âm điệu, hình ảnh, vần luật của thơ ca cổ điển, khuôn phép, mực thước, ý thơ lại như có khuynh hướng muốn vượt ra ngoài, muốn vượt lên cái bình thường, để vươn tới cái tầm cao cả. Những câu thơ ấy mang vẻ đẹpcủa một thiên nhiên lớn và một tâm hồn lớn. Nó không chỉ diễn tả độ cao vời vợi của khung cảnh núi non cụ thể, nó còn diễn tả chiều cao của tầm nhìn, của ý chí, nghị lực, niềm tin, của lí tưởng cao cả, đẹp đẽ. Quả là khi đã có một lí tưởng cao cả, một bản lĩnh kiên cường, không có đỉnh cao nào mà con người không thể đạt tới. Và lúc bấy giờ còn người sẽ tìm thấy nguồn hạnh phúc vô biên. Cái kết luận ý nghĩa của bài thơ mang lại cho người đọc là như thế.
Phân tích hình ảnh Người đi đường trong bài thơ Đi đường (trích Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh)
846
Phân tích hình ảnh Người đi đường trong bài thơ Đi đường – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Bài thơ “Đi đường” có tựa đề là một cụm từ, chỉ một hệ thống. Bài thơ, do vậy có một ý nghĩa riêng, ngoài việc diễn tả cảm xúc trước cảnh núi non điệp trùng, đất trời cao rộng, hùng vĩ, nó còn thể hiện tư thế chủ động của một nhà thơ – chiến sĩ. Bài thơ sáng tác theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, được dịch ra thể lục bát: “Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Mở đầu là một câu thơ giản dị gần như một lời nói thường: “Đi đường mới biết gian lao”. “Đi đường”, hai tiếng bình dị thế thôi nhưng chứa đựng biết bao ý nghĩa. Trước hết là nghĩa cụ thể của nó. Nói “đi đường” thực chất là bị giải đi đường, là đi đày. Bác tuy không kể, không tả, nhưng chúng ta, những người đọc thơ Bác hôm nay, không thể không đặt bài thơ trong khung cảnh Bác bị giải đi triền miên giữa cảnh đói rét thiếu thốn, giữa cảnh nắng đội mưa dầm, giày dép tả tơi, 53 cây số một ngày, tay bị trói, cổ mang vòng xích. Vậy mà, câu thơ nói đi nói lại dường như chỉ là một nhận xét, một đúc kết bình thường. Từ “mới biết” nghe nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng chất chứa ở bên trong biết bao sóng gió cuộc đời, bao nhiêu suy nghĩ của người trong cuộc. Như thế, câu đầu trong bài “Đi đường” không chỉ là sự đúc kết trong một cuộc đi đường cụ thể, mà còn bao hàm một thái độ đánh giá, nhận thức được suy nghĩ trong suốt cả chặng đường dài trên bước đường đời nói chung, trên bước đường cách mạng nói riêng. Câu thơ do vậy vừa mang nội dung cụ thể, vừa mang nội dung khái quát. Câu thơ thứ hai: “Núi cao rồi lại núi cao trập trùng”. Trước hết, đó là một câu thơ tả thực về cảnh những lớp núi điệp trùng mà Bác phải vượt qua. Có người cho đây là những hình ảnh cụ thể hóa các gian lao trong câu thơ đầu, cũng có thể là như thế. Nhưng như trên đã phân tích, câu đầu trong bài thơ không phải là một cảm hứng đầu mà là cảm hứng kết luận. Hơn nữa, âm hưởng của câu thơ gợi cho người đọc về cái gian lao thì ít mà mở ra một không gian bát ngát, điệp trùng, đẹp đẽ, hùng vĩ nhiều hơn. Chẳng thấy đâu đầy ải xích xiềng, chỉ thấy một trái tim tự do đang chiêm ngưỡng, đắm say thưởng ngoạn thiên nhiên của nhà nghệ sĩ. Điều này thật khó phân tích, lí giải bằng lí luận chữ nghĩa. Từ tâm hồn nó đến thẳng tâm hồn. Thưởng thức thơ Bác chẳng khác nào thưởng thức một bông hoa. Đọc thơ Người, thỉnh thoảng phải dừng lại, nghĩ suy để thưởng thức các sức ngân vang của tâm hồn, tỏa ra từ những lớp chữ nghĩa, màu sắc, âm thanh… bình dị, thanh khiết. “Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Cảnh núi non tiếp nối, không dứt, như vẽ ra trước mắt ta khung cảnh những lớp núi điệp trùng, hết lớp này đến lớp khác, trong đó con người, với tư cách là chủ thể của khung cảnh đang vượt lên những lớp núi chất chồng kia, đang đứng ở đỉnh cao ngất với niềm khoan khoái tự hào, thu vào tầm mắt cả một không gian khoáng đạt, cao rộng, cả khung cảnh gấm vóc hùng vĩ của đất nước, non sông. Câu thơ tả cảnh nhưng không giấu nổi một tiếng reo hạnh phúc ở bên trong, cái niềm hạnh phúc chân chính của một con người đã vượt qua bao chặng đường khổ ải, đã đi và đã đến đích, đang đứng ở đỉnh cao vời vợi. Trong khuôn khổ âm điệu, hình ảnh, vần luật của thơ ca cổ điển, khuôn phép, mực thước, ý thơ lại như có khuynh hướng muốn vượt ra ngoài, muốn vượt lên cái bình thường, để vươn tới cái tầm cao cả. Những câu thơ ấy mang vẻ đẹp của một thiên nhiên lớn và một tâm hồn lớn. Nó không chỉ diễn tả độ cao vời vợi của khung cảnh núi non cụ thể, nó còn diễn tả chiều cao của tầm nhìn, của ý chí, nghị lực, niềm tin, của lí tưởng cao cả, đẹp đẽ. Quả là khi đã có một lí tưởng cao cả, một bản lĩnh kiên cường, không có đỉnh cao nào mà con người không thể đạt tới. Và lúc bấy giờ con người sẽ tìm thấy nguồn hạnh phúc vô biên. Cái kết luận ý nghĩa của bài thơ mang lại cho người đọc là như thế.
Phân tích hình ảnh Người đi đường trong bài thơ Đi đường – Đề và văn mẫu 8
849
Phân tích hình ảnh người đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu- Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích hình ảnh người đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu- Văn lớp 12 Bài làm Nguyễn Minh Châu là một nhà văn có phong cách sáng tác khá đặc biệt, trong mỗi tác phẩm của mình ông đều gửi gắm những triết lý sống. Những tác phẩm của ông luôn khiến người khác phải suy nghĩ rất nhiều. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm giàu sức gợi cảm gợi tả, xúc động lòng người. Hình ảnh người đàn bà làng chài nghèo khó để lại trong lòng người đọc những nỗi buồn, sự ám ảnh, trăn trở về cuộc sống trong thời kỳ đất nước đang thay đổi, đổi mới. Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa kể về cuộc đi thực tế của một nhà báo, phóng viên ảnh tên Phùng khi đến vùng biển tác nghiệp vùng biển. Và trong chuyến đi này nhân vật Phùng đã nhận ra nhiều sự thay đổi cuộc sống, nhiều góc khuất trong cuộc đời này. Hình ảnh người đàn bà ở làng chài với lối sống nhẫn nhịn, cam phận làm cho người đọc phải băn khoăn, xót xa. Hình ảnh người phụ nữ hiện lên trong tác phẩm này là một sự lam lũ, khắc khổ. Nguyễn Minh Châu đã phác họa chân dung người phụ nữ với những nét vẽ vô cùng tinh tế giàu sức gợi tả, là xúc động lòng người. Người phụ nữ này tầm ngoài tứ tuần. Chị ấn tượng với người đọc bởi sự vất vả, nhọc nhằn, khi cuộc sống không mang lại cho người phụ nữ những tiếng cười và sự yêu thương. Người phụ nữ ấy khoác trên người chiếc áo và bạc phếch, nửa thân dưới của chiếc áo thì ướt sũng bởi ngâm nước biển khi kéo lưới, đã gợi lên trong lòng người đọc sự xót xa, về thân phận người phụ nữ nông thôn nhọc nhằn, nhiều vất vả. Hình ảnh người phụ nữ xuất hiện trong bối cảnh không gian bao lao, mênh mông của trời biển, một cảnh đẹp nên thơ, tuyệt sắc. Nhưng đối lập với nó là hình ảnh con người vất vả lam lũ. Chị còn là người phụ nữ lộ ra những nét cam chịu nhẫn nhục khi có một người chồng vũ phu luôn nhìn chị bằng ánh mắt hằn học, kèm theo những lời mắng nhiếc, chửi bới, không thương tiếc. Trong đôi mắt chị như xuyên thấu vào lòng người đọc. Nó làm cho mọi người cảm thấy ám ánh. Đôi mắt của sự xót xa, ai oán và thể hiện một cuộc sống cam chịu nhẫn nhục nhưng cũng đầy tình yêu thương, tình mẫu tử thiêng liêng dành cho con mình. Trong cuộc hành trình đi tìm cái đẹp của mình anh chàng phóng viên, nhiếp ảnh Phùng đã cảm nhận được rằng chính người phụ nữ có thân phận bất hạnh này là điều tuyệt vời nhất trong cuộc sống này. Trong sự hoàn mỹ về hình ảnh chiếc thuyền đánh cá ngoài khơi xa. Người phụ nữ chính là linh hồn của bức ảnh. Chính vì lẽ đó, mà nó bị kiện ra tòa. Đứng trước tòa án nơi bảo vệ cho quyền lợi và công lý của những người yếu thế. Người phụ nữ ấy vẫn hiện lên vẻ cam chịu nhận nhịn từng có. Chị không hề muốn ly hôn hay phản kháng lại người chồng hung bạo của mình. Dù thường xuyên bị chồng đánh đập “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người phụ nữ ấy vẫn không hề hé răng nói nửa lời. Trước phiên tòa chị ngồi thu mình lại, khiến cho những người muốn bênh vực chị cảm thấy bực bội, phẫn nộ cảm thấy đó là sự ám ảnh khó quên trong tâm trí mình. Có thể do cuộc sống của chị từ trước tới nay đều là cuộc sống của sự chịu đựng, nhẫn nhịn, nên chị đã quen thuộc với nó. Ở lâu trong cái khổ người ta quen khổ rồi. Rồi khi phiên tòa xét xử hành động đánh cha của con trai chị thì chị không chịu đựng được nữa. Chị vái lạy quan tòa toát lên sự nhẫn nhịn, yếu đuối. Một người phụ nữ giàu sức hy sinh, giàu lòng thương con vô bờ bến. Chị cảm thấy vui nhất là khi nhìn các con được ăn no. Một lời nói thật chân thành xúc động, nó thể hiện tình mẫu tử bao la thiêng liêng của một người mẹ. Nó khiến cho người đọc cảm thấy tim mình thắt lại xót xa cho người vợ người mẹ hiền lương nhưng lại bị cuộc đời ngược đãi. Những đứa con của chị chính là động lực là niềm vui để chị tiếp tục chịu đựng cuộc sống khốn khổ đó. Chị chịu đựng người chồng không yêu thương mình. Người đàn bà đó chính là nét nghệ thuật trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Thông qua tác phẩm tác giả muốn gửi gắm thông điệp về những số phận người phụ nữ bất hạnh, nhưng giàu đức hy sinh trong cuộc sống. Đồng thời tác giả muốn phê phán thói gia trưởng, bạo lực gia đình, của nhiều đàn ông Việt Nam.
Phân tích hình ảnh người đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu- Văn lớp 12
898
Phân tích hình ảnh những người lính lái xe không kính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Hướng dẫn Hình ảnh những người lính lái xe không kính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Mở bài: Phạm Tiến Duật là một trong những tác giả tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Thơ Phạm Tiến Duật có giọng điệu ngang tàng, tinh nghịch mà sôi nổi tươi trẻ, đã tái hiện được hình ảnh người lính Trường Sơn và không khí của thời đánh Mĩ gian khổ ác liệt mà phơi phới niềm tin. Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách này. Tác giả sáng tạo một hình tượng độc đáo: những chiếc xe không kính. Qua đó làm nổi bật hình ảnh những người lính chiến sĩ lái xe ở chiến trường Trường Sơn: hiên ngang, dũng cảm, trẻ trung, sôi nổi. Thân bài: Hình ảnh những chiếc xe không kính được nhà thơ chú trọng khắc họa bằng bút pháp tả thực hết sức sinh động. Lý do khiến cho những chiếc xe không có kính là bởi “bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Hai câu thơ đầu rất gần với câu văn xuôi, có giọng thản nhiên, một loạt từ phủ định không có – không phải – không có để khẳng định về những chiếc xe có kính. Không những thế, chiến tranh ngày càng khốc liệt, những chiếc xe không kính bị hủy hoại nghiêm trọng hơn ở hình ành: “không có kính, rồi xe không có đèn”, “không có mui, thùng xe có xước,” Hình ảnh những chiếc xe không kính đã làm nổi rõ hình ảnh những chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn. Thiếu đi những điều kiện, phương tiện vật chất tối thiểu lại là một cơ hội để người lính lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao của họ. Đặc biệt là lòng dũng cảm, tinh thần bất chấp gian khổ khó khăn. Bên cạnh những chiếc xe không kính, hình ảnh những chiến sĩ lái xe hiện lên hiên ngang bất khuất trong tư thế ung dung, hiên ngang: “Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái” Đây là lời kể thay lời giới thiệu về đoàn xe. Ngôn ngữ mộc mạc, nhịp điệu khoan thai mà gợi tả rõ nét. Những chiếc xe kì lạ mà thật anh hùng đang vượt qua những chặng đường nguy hiểm có quân thù đánh ác liệt. Người chiến sĩ vừa nhấn ga cho xe lăng bánh ra trận, các anh vừa kể chuyện về mình, về đồng đội. Những câu thơ tả thực chính xác đến từng chi tiết. Không có kính chắn gió, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với biết bao khó khăn, nguy hiểm, nào là “gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rối sao, rồi cánh chim đột ngột, bất ngờ “như sa”, “như ùa” vào buồng lái – cảm giác về sự rơi rụng, va đập, quăng ném rất rõ ràng. Nếu không trải qua thực tế, có lẽ nhà thơ không viết nên những câu chữ sinh động, cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm được cảm giác chân thật như vậy. Đó là cảm giác, ấn tượng đầy căng thẳng, đầy thử thách. Song, người chiến sĩ không run sợ hoảng hốt. Trái lại, tư thế của các anh vẫn hiên ngang, tinh thần cảu các anh vẫn vững vàng “ung dung”, “nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng”. Những điệp từ “nhìn” “nhìn thấy” “thấy” cứ nhấn đi nhấn lại, biểu hiện sự tập trung cao độ của người lái. Trong khó khăn, các anh vẫn bình tĩnh, tự tin, nêu cao tinh thần trách nhiệm, quan tâm, gan góc đưa hàng ra tiền tuyến. Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút lăn bánh trên đường. Câu thơ có chỗ nhịp nhàng, trong sáng, như văng vẳng tiếng hát vút cao, vui vẻ. Thiên nhiên, vạn vật dường như cũng bay theo ra chiến trường. Tất cả điều này đã giúp người đọc cảm nhận được ở các anh nét hào hoa, kiêu bạc, lãng mạn và yêu đời của những người trẻ tuổi. Tất cảlà hiện thực nhưng qua cảm nhận của nhà thơ đã trở thành những hình ảnh lãng mạn. “Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngòai trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”. Vẫn cái âm điệu nhẹ nhàng, trong sáng ấy, 2 khổ thơ tiếp theo đã biểu hiện rõ nét tâm tư, tình cảm của người chiến sĩ. Nhà thơ miêu tả những khó khăn, thử thách ập tới cụ tể, trực tiếp “bụi phun tóc trăng” “mưa tuôn, mưa xối” – hậu quả tất yếu của những chiếc xe không có kính. Trước thử thách, người chiến sĩ vẫn không nao núng.Cách nói “ừ thì” gần với lời nói thường, nôm na mà cứng cỏi, toát lên một thái độ chấp nhận đương đầu với khó khăn. Hơn nữa, họ còn cười đùa, hứa hẹn quyết tâm vượt gian khó, hiểm nguy “chưa cần rửa”, “chưa cần thay”. Cấu trúc câu thơ vẫn cân đối, nhịp nhàng, như những bánh xe lăn trên đường. Thanh điệu phối hợp khá kinh hoạt: bằng – trắc: “phi phèo chăm điếu thuốc”, trắc bằng: “mặt lấm cười ha ha” và lại bằng – trắc “trăm cây số nữa”,. và cuối đoạn là câu thơ 7 tiếng với 6 thanh bằng “Mưa ngưng gió lùa vào khô mau thôi”gợi cảm giác nhẹ nhõm, ung dung, rất lạc quan, thanh thản. Tác giả đưa ra những hình ảnh hóm hỉnh: “phì phèo châm điếu thuốc” –“nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” và ý nghĩ táo tợn “Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa” làm cho câu thơ rộn rã, sôi động, thể hiện khí thế hối hả, hăng say, sôi nổi của đoàn xe trên đương đi tới. Trước mọi khó khăn, nguy hiểm, các anh vẫn “cười” rồi chẳng cần bận tâm, lo lắng, các anh sẵn sàng chấp nhận thử thách, gian lao như thể đó là điều tất yếu. Các anh lấy cái bất biến của lòng dũng cảm, của thái độ hiên ngang để thắng lại cái vạn biến của chiến trường sinh tử gian khổ, ác liệt. Đọc những câu thơ này giúp ta hiểu được phần nào cuộc sống của người lính ngoài chiến trường những năm tháng đánh Mỹ. Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạn ác liệt nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan, niêm vui sôi nổi, yêu đời Những chiếc xe từ trong bom rơi Ðã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Tình cảm gắn bó, chia ngọt, sẻ bùi khi hành quân, các anh động viên, chào hỏi nhau rất độc đáo. Không cầu kì, kiểu cách, chưa nghĩ đến sự quen biết hay xa lạ, các anh đều thấy đã thân quen từ lâu: “bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi”. Cái bắt tay thể hiện niềm tin, truyền cho nhau sức mạnh, bù đắp tinh thần cho những thiếu thốn về vật chất mà họ phải chịu đựng. Có sự gặp gỡ với ý thơ của Chính Hữu trong bài thơ “Đồng chí”: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” nhưng hồn nhiên hơn, trẻ trung hơn. Đó là quá trình trưởng thành của thơ ca, của quân đội Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Lúc dừng chân, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơi thật thoải mái, xuềnh xoàng, vui vẻ như anh em một nhà “chung bát đũa” “võng mắc chông chênh”. Nghỉ ngơi thoáng chốc, họ lại tiếp tục hành quân: “Lại đi, lại đi…”, tiếp tục nhiệm vụ trong niềm vui lớn. Chính tình đồng chí, đồng đội đã biến thành động lực giúp các anh vượt qua khó khăn, nguy hiểm, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu. Sức mạnh của người lính thời đại Hồ Chí Minh là vẻ đẹp kết hợp truyền thống và hiện đại, giữa tình cảm cá nhân và tình cảm lớn của dân tộc. Chưa lúc nào người lính nghĩ đến bản thân mình. Khi đất nước chưa đọc lập, nhân dân miền Nam còn đau thương dưới gót giày xâm lược của kẻ thù thì họ chưa yên được. Tình yêu thương thúc giục họ lên đường, cỏ vũ họ tiến bước. Dẫu bom rơi, đạn nổ, cái chết cận kề cũng không khiến họ rung sợ. Bởi ở người lính, lý tưởng sống vì nhân dân, vì đât nước giúp họ vượt lên trên tất cả, kể cả cái chết: Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim. Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, gần với lối sống nói thường, như văn xuôi. Nhạc điệu, hình ảnh, ngôn ngữ rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng, vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt với của người chiến sĩ vận tải. Bốn câu thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, rất bất ngờ, thú vị: 2 câu thơ đầu dồn dập những mất mát, khó khăn. Điệp ngữ “không có” nhắc lại 3 lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. Yêu thương, căm thù chính là động lực thôi thúc những người chiến sĩ lái xe khát khao giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Để ước mơ này trở thành hiện thực,chỉ có một cách duy nhất: vững vàng tay lái, cầm chắc vô lăng. Vì thế thử thách ngày càng tăng nhưng tốc độ và hướng đi không hề thay đổi. Đằng sau những ý nghĩa ấy, câu thơ còn muốn hướng con người về chân lý thời đại của chúng ta: sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là vũ khí mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Nhà thơ khai thác triệt để chất liệu của hiện thực đời sống kết hợp với từ thơ mới lạ tạo ấn tượng sâu đậm về hình ảnh người chiến sĩ lái xe kiên cường, tươi trẻ. Giọng thơ ngang tàn, có cả chất nghịch ngợm, rất phù hợp với những đối tượng miêu tả rất riêng của Phạm Tiến Duật. Chất thơ ở đây là từ những hình ảnh độc đáo, từ cảm hứng về vẻ hiên ngang, dũng cảm, sự sôi nổi trẻ trung của những người lính lái xe, từ ấn tượng cảm giác được miêu tả cụ thể, sống động và gợi cảm. Có thể coi câu thơ cuối là câu thơ hay nhất của bài thơ. Nó là nhãn tự, là con mắt thơ, bật sáng chủ đề, tỏa sáng vẻ đẹp hình tượng người lính lái xe thời chống Mỹ. Kết bài Cùng với “Lửa đèn”, “Trường Sơn Đông – Trướng Sơn Tây”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” có một sức sống mạnh mẽ. Chất thơ ấy tỏa ra từ thực tế chiến đấu, từ niềm vui sống của con người thời đại chống Mỹ. Ở Phạm Tiến Duật, ta thấy chất giọng rất trẻ, rất lính. Chất giọng ấy bắt nguồn từ sức trẻ, từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam mà chính là nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Đó cũng là giọng điệu chung của nền văn học thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước: Sẻ dọc trưỡng Sơn đi cứu nước mà lòng phơi phưới dậy tương lai.
Phân tích hình ảnh những người lính lái xe không kính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
2,068
Phân tích hình ảnh những tên thực dân trong Bản án chế độ thực dân Pháp Hướng dẫn Hình ảnh những tên thực dân trong Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quôc. Tác phẩm Bản án…Tã đời trong thời kì chủ nghĩa thực dân Pháp thực hiện âm mưu “khai thác triệt để” thuộc địa. Sau Đại chiến thứ nhất, bọn đế quốc Pháp phản bội mọi lời hứa hẹn tốt đẹp với nhân dân thuộc địa. Hơn nữa, chúng ra sức tăng cường toàn bộ chính sách bóc lột, đàn áp hết sức dã man, với những kế hoạch quy mô, những tổ chức có hệ thống về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá. Hầm mỏ, nhà máy đồn điền cao su tập trung hàng nghìn công nhân là những địa ngục trần gian. Thuế má nặng nề, phi lí, rượu cồn, thuốc phiện, giam hãm người nông dân trong cảnh bần cùng, đói rét. Bộ máy quan lại được củng cố, trở thành những công cụ đắc lực, bắt bớ những người yêu nước và bóc lột đến tận cùng cái khố rách của nhân dân thuộc địa. Chúng thi hành mọi chính sách thâm hiểm và trắng trợn chống lại nền văn hoá dân tộc. Nấp sau chiêu bài “bình đẳng, bác ái”, và nhiều khi không cần chiêu bài gì, chúng muốn biến dân tộc bị áp bức thành những dân tộc đời đời làm nô lệ. Để thực hiện những âm mưu ấy, chủ nghĩa đế quốc Pháp xuất khẩu những tên thực dân sang thuộc địa. Bọn này hùng hổ kéo từng đoàn, từng lũ sang thuộc địa để vơ vét, chém giết, dưới khẩu hiệu lừa bịp “khai hoá”. Dù che giấu dưới cái vẻ hào nhoáng nào, chúng vẫn để lộ nguyên hình là những con quỷ dữ. Đó là hình ảnh cụ thể nhất của chủ nghĩa đế quốc “ăn bám” và “thối nát”. Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc đã miêu tả quá trình tiêu vong của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn giãy chết của nó, qua hình tượng những tên thực dân dưới nhiều hình dáng. Tác phẩm mang tính đấu tranh mãnh liệt. Nó mở ra thời đại văn học chủ nghĩa chống thực dân. Trong tác phẩm, tác giả phê phán kịch liệt những “bài diễn thuyết” và “những cây bút đạo đức”, “những ngài chuyên nghề khoác lác” nói về thuộc địa. Chủ nghĩa thực dân đã đào tạo được hàng loạt bồi bút hạng bét chuyên nghề ca ngợi bọn thực dân “khai hoá”, ca ngợi việc chinh phục thuộc đĩa như “một sứ mệnh văn minh và nhân dạo”, phỉ báng, xuyên tạc những dân tộc bị áp bức chỉ là “giống người hèn hạ”. Đó là một thứ sản phẩm bẩn thỉu bậc nhất của chủ nghĩa đế quốc. Hằng trăm tác phẩm, nào hồi kí, nào thư, nào tiểu thuyết, nào lịch sử, đã nói lên những điều vô liêm sỉ ấy. Một bọn nhà văn như Claude Frane’re muốn xây dựng những “bản anh hùng ca” đẫm máu của chiến tranh xâm lược thuộc địa. Năm 1925, Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc đánh dấu bước ngoặt quyết định của văn học chủ nghĩa chống thực dân. “Văn học thuộc địa” bị một đòn đích đáng. Những ảo tưởng tiểu tư sản về “sự thâm nhập hoà bình và thân ái vào các nước thuộc địa bị tiêu tan. Bản án…y ạ ch cho mọi người thấy một thế giới hiện thực vô cùng tàn bạo. Từng bước, tác phẩm lật cái màn dối trá và hoa mĩ, phơi bày một cách bình tĩnh, khoa học, chính xác, những sự việc, những tài liệu chân thực của toàn bộ chế độ thực dân, lột trần cái bản chất thối tha của nó. Tất cả bọn thực dân gớm ghiếc, từ tên tổng trưởng thuộc địa, đến những tên Toàn quyền, Thống sứ, hay cai đoan, viên chức thực dân… lần lượt diễn trên sân khấu, đóng đủ mọi vai trò: khi là một con quỷ ghê tởm, khi là một thằng hề đáng khinh bỉ, khi là một đạo đức giả, một tên hung bạo, đứa côn đồ… Tóm lại, cái “tâm hồn thực dân” biểu hiện dưới con mắt nhân loại, cụ thể, chính xác, rất thực với bản chất của nó. Bản án chế độ thực dân Pháp là một tác phẩm mang tính khoa học chính xác, đanh thép, khách quan. Đấy là những tài liệu lấy trong hồ sơ của bọn thống trị, đó là những con số, những bản thống kê, những sự việc được báo chí tư bản thú nhận, tóm lại, những bằng chứng cụ thể, chỉ rõ tên tuổi bọn “khai hoá” đầu sỏ trong lịch sử nhục nhã của chế độ thực dân Pháp, với niên hiệu rành rọt, nơi chốn rõ ràng. Tác giả đã phân tích, tống hợp những tài liệu, rút ra những kết luận khái quát, tạo thành một “bản án” kết hợp hùng hồn và kịch liệt. Bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật, tác giả vẽ lên một bức tranh địa ngục đầy rẫy những cảnh bất nhân, bất nghĩa, những cảnh bất công phi 11, đầy phẫn nộ, những bức hoạ vẽ bằng máu và nước mắt của người dân mất nước. Những tên thực dân khát máu chỉ biết có đốt phá, chém giết, đầu độc, vơ vét. Gần suốt tác phẩm, ta nghe thấy những tiếng hò hét man rợ của chúng, tiếng roi vọt tàn nhẫn, tiếng bom đạn. Tác giả gọi những tên thực dân ấy là “bọn côn đồ”, “bọn gian phi”, “những tên bạo ngược”, “bọn chó má”, “quân ngu xuẩn và đểu cáng”, “được điểm trang bằng những huy chương mục nát: bác ái, bình đẳng”. Mở đầu tác phẩm là chương Thuế máu đầy uất hận: “Bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương”. Đôi với những thanh niên Xê-nê-gan không chịu đi lính thay cho bọn đế quốc, một tên thực dân Pháp bắt thân nhân họ ra hành hạ. Hắn bắt ông già, bà già, đàn bà có thai, con gái, đem lột trần truồng, hai tay trói ghì. Những nạn nhân ấy bị bắt chạy qua các thôn xã dưới đòn roi vọt. Nguyễn Ái Quốc kể tiếp: “Một người đàn bà cõng con trên lưng phải van xin mãi người ra mới cởi trói cho một tay để đỡ đứa bé. Trong khi chạy, hai cụ già ngã xuống, ngất đi vì đói lả; nhiều em gái bị khủng bố, đã bật hành kinh tuy chưa đến tuổi; một người đàn bà có mang bị truỵ thai, con chết ngay khi đẻ; một người đàn bà khác thì sinh đứa con mù mắt”. Chương mở đầu ấy mãnh liệt và khủng khiếp như hồi I vở kịch Hăm-lét, bóng vua cha xuất hiện giữa đêm khuya vô cùng giận dữ và kêu gọi báo thù. Năm 1924, trong bài báo Hành trình kiểu Lynnch, tác giả đã phản ánh một cảnh tượng vô cùng dã man của “nền văn minh Mỹ”. Một lần nữa, chúng ta thấy, ở Việt Nam, Bác là người đầu tiên lên án chủ nghĩa đế quốc Mỹ, cách đây ngót nửa thế kỉ. Bọn đế quốc Mỹ hằn thù một cách thú vật những người da đen vô tội. Chúng đặt ra lối “hành hình kiểu Lynch”: “Các bạn hãy tưởng tượng một đám đông cuồng dại. Quả đấm nhăm nhăm, mắt đỏ ngầu, miệng sùi bọt, la ó, chửi bới nguyền rủa”. Chúng trói người da den bị “hành hình” vào một gốc cây trong rừng, tưới dầu lửa vào người. Trước khi châm lửa, chúng bẻ dần từng chiếc răng của nạn nhân, rồi móc mắt, giật từng mớ tóc xoăn, lột theo những mảng da đẫm máu. Nguyễn Ái Quốc kể: “Người da đen không kêu được nữa: lưỡi đã sưng phồng lên vì một thanh sắt nung đỏ gí vào. Toàn thân người ấy quằn quại như một con rắn bị đánh dập nửa mình, dở sống, dở chết. Một nhát dao, thế là rụng một cái tai. Ái già! Nó mới đen làm sao! Thế là những mụ đàn bà cào cấu cho nát mặt người ấy ra”. Bản án chế độ thực dân Pháp không thiếu những cảnh dã man như thế: Một tàu biển cập bến; mấy chiếc xuồng bán hoa quả của người Việt Nam đến sát mạn tàu để bán hàng; bọn lính thực dân “hắt chơi một gàu nước sôi xuông lưng những người bán hàng khốn khổ”… “Một người Việt Nam bị giội nước sôi bỏng từ đầu đến chân, phát điên lên, muốn nhảy xuống biển. Cha của anh, quên cả nguy hiểm, bỏ tay chèo ra, ôm xôc lây anh, bắt anh nằm xuông thuyền. Cuộc vật lộn chớp nhoáng vừa chấm dứt thì gầu nước thứ hai giội xuống. Thế là chính người cha bị luộc đỏ chín. Ông già giãy giụa trong thuyền, da bị róc đi, tróc thịt đỏ rói, miệng gào rống lên”. Bọn thực dân ấy “bật cười, cho là rất ngộ nghĩnh”. Nguyễn Ai Quốc mô tả một thời kì lịch sử đẫm máu của chủ nghĩa tư bản. Đó là những tiếng chuông báo động cho nhân loại phải đứng dậy tiêu diệt cái chế độ vô nhân đạo ấy đi. Với Bản án… tác giả đã làm cho bọn thực dân “bắt buộc phải nhảy múa lên, khi nó nghe chính bản nhạc đó đã dạo lên”, như Mác nói. Trần Dân Tiên thì bình tĩnh kể rằng: “Chính vi vậy mà ông Nguyễn bị bọn thực dân thù ghét”.
Phân tích hình ảnh những tên thực dân trong Bản án chế độ thực dân Pháp
1,659
Phân tích hình ảnh nồi cháo cám trong Vợ nhặt Hướng dẫn Phân tích hình ảnh nồi cháo cám trong Vợ nhặt “Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Kim Lân viết về nạn đói khủng khiếp năm 1945. Tác phẩm là sự xót thương cho những con người nghèo đói, khốn khổ, đồng thờiKim Lân cũng chĩa ngòi bút nhạy bén của mình vào bọn thực dân phong kiến tàn ác đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng, khiến họ sống lay lắt trong cảnh thảm hại, thê lương. Đến ngay cả một nồi cháo cám vị đắng xít cũng trở nên quý báu, sang trọng. Nhưng trên hết, nồi cháo ấy còn ẩn chứa bao ý nghĩa sâu sắc mà tác giả muốn gửi gắm từ sự đồng cảm, xót xa của mình. Câu chuyện là bức tranh chân thực về cái đói cái nghèo tàn tạ của xóm ngụ cư. Kim Lân đã dựng lên một khung cảnh thật buồn: ngã tư xóm chợ về chiều càng xơ xác, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi cứ gào lên từng hồi thê thiết. Vậy mà trong khung cảnh thê lương ấy, lại có hai con người dắt díu nhau về làm vợ, làm chồng của nhau khiến cả xóm ai nấy cũng ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng vì giữa cái đói như thế này, đến bản thân mình còn không biết có thể sống được đến đâu mà lại còn đèo bòng. Hai con người cùng chung một thân phận, chung một nỗi khổ, và chung một niềm hi vọng rằng ngày mai sẽ tươi sáng hơn hôm nay. Dẫu sao cuộc nhặt vợ thật tình cờ và ngẫu nhiên của cũng khiến cho những khuôn mặt hốc hác u tối của những người dân xóm ngụ cư bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy. Nồi cháo cám đắng chát. Nhưng lại là tình thương bao la của người mẹ dành cho con. Bà ngần ấy tuổi rồi, hẳn bà hiểu rõ hơn ai hết vị cháo cám như thế nào. Nhưng với tấm lòng người mẹ, giống như mẹ dỗ dành cho con ăn lúc bé thơ vậy, bà gạt đi những nỗi tủi hờn trong lòng và tự khen “ngon đáo để” để cho các con ăn. Thế mới thấu hiểu tấm lòng người mẹ thiêng liêng biết nhường nào. Mặt khác, nồi cháo cám trong bữa cơm chính là kết quả từ sự tàn ác nham hiểm của bọn thực dân, phong kiến. Chúng bắt nhân dân phải nhổ lúa trồng đay. Mà đay nào có thể ăn được. Chúng triệt đường sống của người dân lương thiện. Chúng không thẳng tay bắn chém từng người ngã xuống, cũng không thả bom cho cả làng chết một loạt trong phút chốc, mà chúng khiến cho nhân dân phải sống mà như chết, thậm chí sống còn khổ hơn chết. Họ sống lay sống lắt, họ chết dần chết mòn trong cái đói cái rét và cái khổ. Cơm không có để ăn, họ phải ăn cháo cám. Thậm chí có nhà còn không cả có cám mà ăn. Giờ đây, cháo cám lại trở thành một thứ xa xỉ và quý báu một cách lạ lùng. Lúc trước, bà cụ Tứ bào lẽ ra việc Tràng lấy vợ phải có dăm ba mâm cơm mới phải. Có lẽ, nồi cháo cám này chính là “cỗ” mừng con dâu mới. Nồi cháo cám dù đắng xít nhưng đã ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc, vừa phản ánh hiện thực đói khổ của người dân, vừa mang tình thương cao quý thiêng liêng của tấm lòng người mẹ, vừa tố cáo tội ác tàn bạo của bọn thực dân. Kim Lân đã rất thành công khi dựng lên tình huống nồi cháo cám ngon đáo để của bà cụ Tứ, để từ đó thể hiện nhiều ý nghĩa khiến người đọc không khỏi đồng cảm và xót xa.
Phân tích hình ảnh nồi cháo cám trong Vợ nhặt
729
Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu Hướng dẫn Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu BÀI LÀM Mạnh mẽ, sôi nổi và ồn ào, Xuân Diệu với làng thơ như có sẵn duyên với nghệ thuật, bất ngờ viết lên trang đời những dòng thơ ngọt ngào cảm xúc, mang theo chất men say của thế giới tâm hồn ăm ắp sự sống. Yêu thơ, yêu đến mãnh liệt, sống với thơ sống đến cuồng nhiệt, Xuân Diệu rộng mở vòng tay đón nhận tình yêu nồng ấm tha thiết bằng cặp mắt “xanh non” của mình. Thơ ông vì vậy đi vào lòng người tự nhiên với biết bao tâm trạng và tình cảm. Yêu đời, yêu người ấy là cốt cách của ông, viết về thiên nhiên ấy chính là nghệ thuật của người cầm bút. Cảnh sắc trong thơ ông có lúc mơn mởn sự sống nhưng nhiều khi lại trầm lắng và sâu sắc đến không ngờ. Ta đón nhận nơi ông một hồn thơ như vậy. Thiên nhiên – một thế giới nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu. Hoài Thanh đã từng nói: “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, mới từ cách nhìn, cách cảm, mới từ chiều sâu suy nghĩ đến cách diễn đạt bằng những hình tượng thơ, cũng như bao nhà văn, nhà thơ khác, những tác phẩm của ông gắn liền với hai nhân vật “thiên nhiên” và “con người”. Ông yêu con người và say đắm cùng thiên nhiên. Từ nỗi cô đơn vì tình yêu say đắm, đơn phương nơi thế giới loài người, ông tìm đến với thiên nhiên, mang đến cho nó một tâm hồn thời đại, một tiếng nói của nhà thơ và tâm sự của một người biết yêu. Xuân Diệu thường nôn nóng đón chờ ở thiên nhiên một tiếng nói cảm thông, an ủi, chan chứa yêu thương. Ta hiểu tâm trạng của ông đối với nhân tình thế thái nên ta tìm thấy trong những bài thơ ông viết về thiên nhiên một vẻ Đẹp và Buồn. Trong bốn bài Đây mùa thu tới, Vội vàng, Thơ duyên, Nguyệt Cầm tiêu biểu cho phong cách và thơ Xuân Diệu thì có ba bài viết về mùa thu. Vội vàng được tác giả lấy cảm hứng từ mùa xuân nhưng vẫn thoảng chút bâng khuâng của một tâm hồn đa sầu, đa cảm, đa tình và rất đa tài nữa. Xuân Diệu đã thổi vào những vần thơ về thiên nhiên tình cảm nồng nàn, sôi nổi, chính vì vậy nó đã trở thành nhân vật không thể thiếu, tràn trề, đầy sức sống, chứa chan cảm xúc đẹp và buồn một cách rất Xuân Diệu. Thiên nhiên trong thơ xưa thường có những hình ảnh ước lệ của thơ Đường “Tin sương hiu hắt hơi may” hay “Lác đác ngô đồng mấy lá bay”. Đến Xuân Diệu ông vẫn vận dụng vốn văn chương cổ truyền ấy nhưng đã có sự cách tân, sáng tạo. Tiêu biểu là bài Đây mùa thu tới: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng! Đây mùa thu tới, mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng” Đã bao giờ mùa thu Việt Nam được tả đẹp như thế. Ở Nguyễn Khuyến là những hình ảnh thơ thanh thoát, man mác một nỗi buồn thoảng qua bầu trời thu trong xanh: – “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao…” – “Nước biếc trông như tầng khói phủ” còn Xuân Diệu, ông nhìn mùa thu thật là, cái giá lạnh trong tâm hồn cô đơn đã thấm sâu vào từng hình ảnh “Rặng liễu đìu hiu” – Một hình ảnh ước lệ, hiu hắt và yếu ớt. Để rồi kéo theo hàng loạt những ẩn dụ, tượng trưng gây ấn tượng, cảm xúc mạnh mẽ: “Tóc buồn”, “lệ ngàn hàng”. Câu thơ như trầm xuống, buồn mà vẫn đẹp, những thanh bằng liền nhau, dàn trải và mênh mông. Nhưng rất đột ngột, mùa thu tới nghe rất hân hoan, như thỏa nguyện niềm ước mong bấy lâu. Cảm xúc ấy thường trực trong con người Xuân Diệu như chỉ chờ lúc để bật ra. Đó là một mong muốn, khát khao giao cảm đến kỳ lạ chỉ Xuân Diệu và mình Xuân Diệu mới có. Câu thơ tưởng như báo hiệu một điều gì mới nhưng bỗng chững lại, hạ xuống, và màu sắc thiên nhiên lại hiện ra: phai mà vẫn thắm, tàn mà như mới và vẫn đẹp “Với áo mơ phai dệt lá vàng”: “Áo mơ phai” sắc đất, sắc trời, sắc cây lá, màu của thời gian và tiếng gọi của lòng người, hòa hợp, đan kết bao trùm lên cảnh vật trong thế giới suy tư của nhà thơ. Hình ảnh thơ đẹp và sáng tạo nên đến không ngờ, nó có vẻ gần với những vần thơ đẹp trong Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử “trong làn nắng ửng, khói mơ tan” nhẹ nhàng, thanh lọc, lãng đãng như gần, như xa. Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh, Trăng thương, thương nhớ, hỡi trăng ngần” Trăng đẹp quá, đẹp lộng lẫy đến lạnh lùng, một cái lạnh da diết nhập vào năm từ “trăng” “nguyệt” không đủ sức chứa trong haị câu thơ, cái lạnh ấy lan tỏa vào đất trời, vào tâm hồn thi nhân đang mở rộng lồng mình. Điệp từ “trăng” xoáy sâu vào lòng người tạo nên một ấn tượng, một niềm cảm xúc mãnh liệt và da diết nhất. Trăng đẹp bởi trăng lạnh do tiếng đàn ngân nga, réo rắt. Trăng hiện ra và trăng in đậm: “Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh Linh lung bóng sáng bỗng rùng mình”. Bầu trời trong vắt, trong như thủy tinh, sáng như thủy tinh nhưng cái trong ấy chỉ làm tăng thêm cái lạnh, lạnh của đất trời nhưng lại gây u ám cho lòng người. “Bóng sáng bỗng rung mình” ở đây có từ chuyển đổi từ thị giác sang xúc giác, cái lạnh của thiên nhiên hay chính cái lạnh của tác giả khiến thi nhấn ớn lạnh, rùng mình, lại thêm “đàn ghê như nước lạnh”… Như làm nổi bật hai cái hoang vắng, hiu hắt, lạnh lẽo của thiên nhiên “dấu phẩy ngắt giữa nước và lạnh như một cái rùng mình giữa hai lần lạnh”. Cảm giác ngày một tăng lên, cái lạnh ngày một thấm sâu trong tâm hồn và trải rộng ra cùng đêm khuya lặng ngắt: “Bón bề ánh nhạc: biển pha lê; Chiếc đảo hồn tôi rợi bốn bề… Sương bạc làm thinh, khuya nín thở Nghe sầu âm nhạc đến sao khuê” Tất cả các hình ảnh “bốn bề, rợn bốn bề, làm thinh, nín thở…” đã tạo nên cái tĩnh cho cả khổ thơ nhưng lại khuấy động cảm xúc tưởng đã trầm lặng của nhà thơ. Hai từ “bốn bể” được đặt đầu câu thứ nhất và cuối câu thứ hai đã gói trọn tâm hồn tác giả trong ngoại cảnh làm tăng thêm nỗi cô đơn. Nhà thơ chơi vơi theo tiếng đàn, lơ lửng cùng ánh “nguyệt tỏ ngời”, vươn tới một thế giới không tưởng “sao Khuê”, thế giới của tâm linh đẹp, huyền ảo và cũng thật lạnh. Nguyệt cầm ngoài sự hòa hợp giữa trăng và tiếng đàn còn có tiếng nói chung của nhà thơ thiên nhiên – đêm thu. Cảnh giác lạnh, hình tượng đẹp, trong như “pha lê” đã theo suốt chiều dài câu chữ như một sự hòa hợp thú vị. Chỉ với mùa thu, vậy mà biết bao trạng thái tình cảm, đã làm trái tim tác giả rung động. Xuân Diệu nói bằng âm thanh, hình tượng của thiên nhiên và bằng cả tiếng lòng sôi nổi thương yêu tha thiết, mãnh liệt của mình. Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu, của tuổi trẻ. Thơ duyên ấy là cái mộng mơ trong sáng của một con mắt đang yêu: “Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên, Cây me ríu rít cặp chim chuyền Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền” Lời thơ đẹp trong là sự huyền diệu của vạn vật trong mối giao duyên (đất trời, đất – trời, cây – chim) và mối lương duyên đang hé nở trong lòng người. Màu xanh của lá, màu xanh của trời, màu xanh trong mắt thi nhân, màu xanh trong tâm hồn và suy nghĩ. Tất cả đã làm nên một ước vọng: Hồn thu. Nhưng thật bất ngờ, thoáng chút buồn thoảng qua đã khiến thiên nhiên buồn trở lại, xa vắng, cô liêu. “Con đường nho nhỏ, gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang, nắng trở chiều.” Thì ra không phải thiên nhiên mà do một tình cảm mới lạ lùng đang xâm chiếm tâm hồn. “Gió xiêu xiêu” khiến con đường cũng “xiêu xiêu” là bởi tâm hồn nhà thơ cũng “xiêu xiêu”. Chỉ trong hai câu thơ mà có tới ba từ láy, ba từ láy hoàn toàn “nho nhỏ”, “xiêu xiêu”, “lả lả”. Cái gì cũng nghiêng đi như chính tình cảm của nhân vật trữ tình đang xao xuyến, ngây ngất trong tình yêu. “Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy Lòng anh thôi đã cưới lòng em” Mở đầu bài thơ là”Chiều mộng hòa thơ” nhưng đến kết thúc đã đột ngột trở thành “chiều hôm ngơ ngẩn”. Phải chăng đó chính là tâm trạng, là nỗi lòng đang trắc trở băn khoăn, ngẩn ngơ của chính tác giả trước mùa thu? Bài thơ là sự thay đổi của tâm trạng trữ tình làm thiên nhiên cũng thay đổi. Đó chính là sự phức tạp trong cảm xúc của Xuân Diệu nhưng lại có sự nhất quán trong tư tưởng và cách biểu hiện. Thiên nhiên đẹp một cách dịu dàng trong mối giao hòa đầy chất thơ. Độc đáo và tài hoa, ấy là Xuân Diệu và hồn thơ Xuân Diệu. “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi” Xuân Diệu mang cảm hứng thời gian và ý thức cá nhân vào mùa xuân. Từ gốc độ cá nhân, tác giả nhìn sự biến thiên của sự vật. Điệp từ “ta muốn” thể hiện một ước vọng, một khát khao đến cháy bỏng, đến nao lòng. Mùa xuân tươi đẹp, mùa của tình yêu đã đến. “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si” Tác giả có quyền ao ước hạnh phúc. Mùa xuân đã ban phát niềm vui cho tất cả, và Xuân Diệu – nhà thơ của tình yêu ấy – yêu đến say mê cuồng nhiệt đã giao cảm với đất trời để thấy mình trong đó. Nhà thơ có cảm nghĩ thật đặc biệt: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” Với việc thu ảnh hưởng của văn học phương Tây trong cách dùng từ ngữ hình ảnh (này đây, này đây) với một tình yêu mãnh liệt luôn thường trực trong lòng, Xuân Diệu đã qua thiên nhiên nói lên tình yêu cuộc sống tha thiết đến vồ vập “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Đây là sự thăng hoa của ấn tượng cảm xúc nồng nàn và say mê. Tác giả yêu mùa xuân, mùa của tình yêu, như đã bao lần gán cho nó hình ảnh người phụ nữ: “Lá liễu dài như một nét mi Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Xuân Diệu luôn bộc lộ một cách trực diện những cảm nghĩ của mình. Điều đó khiến ông khác với các nhà thơ khác, nhất là các nhà thơ thời trước, khiến thơ ông thu hút và làm say mê biết bao tâm hồn. Vội vàng là bài thơ viết về mùa xuân, ở đó bùng lên một ngọn lửa sống nồng ấm mãnh liệt, gấp gáp và tươi vui, sống cho mình và cho mùa xuân của đất trời, của mọi người. Thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu có những nét đặc sắc, độc đáo. Mùa xuân cũng như mùa thu hay buổi giao mùa, thơ Xuân Diệu vẫn khắc họa đậm nét cá tính và tình yêu của ông. Thiên nhiên buồn hay vui, trầm lắng hay sôi nổi đều đi qua con mắt thẩm mĩ giao cảm mới mẻ của Xuân Diệu. Thơ ông là tiếng lòng ông, thiên nhiên là tâm sự khỏa lấp khoảng trống trong tâm hồn ông. Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu, thiên nhiên là hình thức biểu hiện của tình yêu đó, là nơi ông gửi gắm tâm trạng, những ý nghĩ khiến ông trăn trở. Khi ông thất vọng cô đơn, thiên nhiên lạnh lẽo trầm lắng, khi ông vội vã sống, vội vã yêu, thiên nhiên tươi sáng chan hòa. Tuy nhiên nếu như để tâm hồn mình cũng ngập chìm trong đó, ta sẽ thấy vương vấn man mác một nỗi buồn mới nhìn tưởng như là muôn thuở nhưng nhìn kĩ thì nó mang dấu ấn của một lớp người, của một thời đại đã qua có thể được sự cảm thông của nhiều thế hệ sau.
Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu
2,211
Đề bài: Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong truyện Kiều Bài làm Thiên nhiên vốn không phải là chủ đề riêng của Nguyễn Du mà nó là chủ đề chung của thi sĩ muôn đời. Nhưng thiên nhiên đi vào “Truyện Kiều”, đi vào tâm hồn đại thi hào Nguyễn Du lại có những nét rất riêng. Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du chỉ tạo cơ hội cho thiên nhiên xuất hiện khi cần tạo nền cảnh cho một cuộc gặp gỡ, hẹn hò hoặc khi bộc lộ giúp những cảm nhận tâm trạng của các nhân vật về thời gian, không gian, cảnh ngộ,… Trong tiết thanh minh trong sáng, khắp nơi nô nức đi tảo mộ, du xuân, thiên nhiên ùa vào lòng người với những nét màu thật sáng đẹp và dồi dào sức sống: “Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Một mùa xuân với màu xanh rợn ngợp của cỏ non, với một vài bông lê điểm xuyết. Chỉ với đôi nét chấm phá, qua ngòi bút tài hoa của nhà nghệ sĩ, cả một bức tranh xuân bừng sáng hiện lên. Trong cái không gian bát ngát màu xanh của cỏ mùa xuân, điểm vào một vài bông hoa lê trắng muốt, tinh khiết, đưa lòng người trong cảnh bay bay nhè nhẹ, lâng lâng. Cảnh như đang nâng nhẹ bước chân ba chị em Thuý Kiều: “Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” Cảnh ở đây thật thơ mộng và thắm đượm tình người. Một dòng nước, một nhịp cầu nho nhỏ cũng đủ gợi lên những nét thanh thanh của phong cảnh. Thiên nhiên càng trở nên hữu tình, thơ mộng khi Kiều chia tay với Kim Trọng: “Dưới cầu nước chảy trong veo, Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha” Nguyễn Du không cần giá vẽ nhưng đã dựng nên một bức tranh thiên nhiên thật đẹp và hài hoà. Dưới cầu là dòng nước êm đềm chảy, bên cầu là hình ảnh “tơ liễu bóng chiều thướt tha”. Cảnh vật gắn bó nhau, tôn nhau lên, chiếc cầu nhỏ như làm đẹp cho dòng nước và dòng nước làm cho chiếc cầu càng trở nên xinh xắn, đáng yêu hơn. Ở đây, Nguyễn Du có nói đến hình ảnh “bóng chiều”nhưng bóng chiều không gợi nỗi buồn mà đẹp một cách lạ thường. Phải chăng lúc này là lúc Kim Trọng chia tay với Thuý Kiều, tâm hồn Kiều hồn nhiên trong sáng nên cảnh cũng mang những nét hồn nhiên trong sáng của Kiều. Cảnh thiên nhiên thấm đượm hồn người, tình người, mang nỗi niềm của con người. Thiên nhiên còn trở thành nhân vật thứ ba chứng kiến buổi thề non hẹn biển giữa Kiều với chàng Kim: “Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai mặt một lời song song” “Vầng trăng vằng vặc giữa trời” kia như là một nhân chứng cho mối tình trong sáng, đẹp tươi của đôi trai tài, gái sắc. Trong “Truyện Kiều”, đã hơn bốn mươi lanà Nguyễn Du nhắc đến ánh trăng nhưng có lẽ ánh trăng trong đêm thề nguyền này đã đi vào tiềm thức, đã trở nên gắn bó nhất với Thuý Kiều. Trăng là người làm chứng cho mối tình của nàng với chàng Kim và cũng là người bạn gần gũi, gắn bó với nàng trong mọi hoàn cảnh: “Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân, Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung” Trước không gian rộng lớn, rợn ngợp của lầu Ngưng Bích, Kiều như một tấm thân bơ vơ, lạc lỏng. Nàng tìm đến với thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm bầu bạn. Dường như Nguyễn Du đã kéo vầng trăng từ xa vời vợi kia gần nàng Kiều hơn. Trăng như người bạn tri âm tri kỷ đang san sẻ cùng tâm trạng của nàng: “Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa” Một cánh buồm nhỏ bé trước mặt biển bao la trong cảnh hoàng hôn cũng đủ gợi gợi lên trong lòng người đọc thấm thía nỗi buồn của nàng Kiều. Đó là nỗi buồn lẻ loi, cô đơn, lạc lỏng bơ vơ nơi chân trời góc bể của người con gái không biết bấu víu vào đâu: “Buồn trông nội cỏ dầu dầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” Nếu trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã từng viết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” thì quả là không sai. Nỗi buồn trong Kiều thật mênh mang, rợn ngợp, một nỗi buồn khiến cho lòng người khô héo. “Nội cỏ” ở đây cũng “dầu dầu” cũng mang tâm sự nỗi lòng của Kiều. Đó là nỗi buồn vì cuộc đời đang bị xô đâỷ, vùi dập. Nỗi buồn đó cứ dấy lên mãi, ứ đọng mãi, khơi gợi nỗi niềm tủi nhục đau thương đến ứa nước mắt. Aâm thanh của tiếng sóng hay cũng chính là những tai hoạ, những khó khăn đang rình rập, có nguy cơ ập xuống đầu Kiều, choáng ngợp khắp tâm trí Kiều. Cảnh ở đây vừa mênh mang, rợn ngợp vừa mang tâm sự u hoài của lòng người. Có thể nói thiên nhiên luôn là hình ảnh thân gần, gắn bó với mỗi chúng ta, nó không chỉ là khung cảnh gần gũi trong cuộc sống đời thường mà đã đi vào văn học, cụ thể đi vào “Truyện Kiều”. Nguyễn Du đã mượn thiên nhiên làm nền cho truyện và cũng biến thiên nhiên thành một nhân vật, mang tâm sự, nỗi lòng của con người. Ngòi bút thơ của Nguyễn Du tài hoa, điêu luyện khi dựng lên hình ảnh thiên nhiên.Thiên nhiên mãi là hình ảnh, là nhân vật không thể thiếu trong “Truyện Kiều”. “Truyện Kiều” mãi mãi là viên ngọc quý, là cuốn sách gối đầu giường của mõi chúng ta. Nhà thơ Sông Lam, Núi Hồng đã ra đi, nhưng “Truyện Kiều” mãi mãi là dòng sông mát lành chảy qua tâm hồn chúng ta để lại một lớp phù sa màu mỡ. Trên lớp phù sa màu mỡ đó, ta luôn luôn gặp hình ảnh tươi đẹp, sống động, mang đậm tình người của thiên nhiên.
Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong truyện Kiều
1,056
Phân tích hình ảnh Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích hình ảnh Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao Đối với mỗi tác phẩm văn học sau khi học xong đều gửi tới người đọc bức thông điệp trong cuộc sống thông qua nhân vật.Như Lão Hạc và Chị Dậu là những người nông dân cùng số phận…Còn nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao đàng hoàng bước ra khỏi tác phẩm, ngang nhiên mang theo tên tuổi và sống mãi trong lòng bạn đọc. Một nhân vật nữ hội đủ ba phẩm chất: “Xấu xí, nghèo hèn, dở hơi”. Có vẻ như nhà văn Nam Cao đã quá bất công với nhân vật của mình, nhất là khi nhân vật đó là nữ giới, sinh ra đã được đời “ban tặng” cho một mĩ từ – “phái đẹp”. Phải chăng, Thị Nở là một khối tự nhiên không đẽo gọt, mang theo “ác cảm” của nhà văn khi sáng tạo? Là một người đàn bà thực sự xấu “ma chê quỷ hờn” đến thế? Nhưng Nam Cao đã làm rõ vẻ đẹp tiềm ẩn đằng sau con người xấu xí kia chính là người đàn bà đó chứ không phải ai khác đã “đánh thức” bản năng con người trong con quỷ dữ của làng Vũ Đại – là Chí Phèo. Điều gì ở Thị Nở đã giúp Thị làm được điều đó? “Chí Phèo” của Nam Cao là kiệt tác trong nền văn học hiện thực Việt Nam. Tác giả đã xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình là Chí Phèo. Qua nhân vật này ông gửi gắm khát vọng rất đỗi bình dị của con người nhưng lại đi vào bế tắc. Nếu Chí Phèo vừa đáng trách, vừa đáng thương thì Thị Nở lại là nhân vật để lại nhiều ám ảnh đối với người đọc. Chí Phèo vốn là đứa con hoang bị bỏ rơi khi vừa lọt lòng trong một lò gạch cũ. Được người ta nhặt về nuôi, lớn lên đi ở hết nhà này sang nhà khác. Năm 20 tuổi, hắn làm canh điền cho nhà Lí Kiến. Lí Kiến ghen với anh canh điền trẻ lại được bà ba kêu bóp chân xoa bụng…. Thế là một hôm, hắn bị giải lên huyện và phải đi tù.Sau bảy, tám năm biệt tích hắn trở về, bộ dạng khác hẳn ngày trước. Vừa về say khướt, cầm vỏ chai đến nhà Bá Kiến – bây giờ Lí Kiến đã là Bá Hộ, Nghị Viên, tiên chỉ làng Vũ Đại – chửi bới, rạch mặt ăn vạ. Lão Bá Kiến không róc đời đã xử nhũn với hắn. Với những kẻ cố cùng liều thân “trị không được thì dung”, “dùng thằng đầu bò trị những thằng đầu bò”. Thế chỉ là một bữa rượu, một đồng bạc, Chí Phèo hả hê ra về và trở thành “chỗ đày tớ tay chân” của lão để khi cần chỉ cho hắn năm hào uống rượu, là có thể sai nó đến tác hại bất cứ anh nào không nghe mình. Từ đó, Chí Phèo luôn say. “Hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm” và trở thành “con quỹ dữ của làng Vũ Đại để tác oai tác quái cho bao nhiêu dân làng”. Như đã nói ở trên, Thị Nở là một người dở hơi, nhưng nếu chỉ thế thôi thì chẳng còn gì để bàn, vấn đề là tiềm ẩn dưới đáy sâu tâm hồn của con người tưởng chừng như đang ở đáy cùng của xã hội ấy lại là một tấm lòng son, một tình thương nhân loại đáng quí mà những nhân vật khác trong truyện không có được… Bởi vậy, trong truyện, những hoàn cảnh gia thế, ngoại hình…. của Thị Nở chỉ là tiền đề để Nam Cao ca ngợi tình thương giữa người với người, ca ngợi tình yêu giữa người với người, và nhấn mạnh thêm bi kịch của Chí Phèo.Thị cũng như Chí Phèo, không được ai yêu thương.Có lẽ đây chính là dụng ý của Nam Cao khi để Chí Phèo và Thị Nở gặp nhau. Những kẻ cùng đường trong xã hội đến với nhau, yêu thương nhau, có thể chỉ trong phút chốc nhưng cũng gọi là có được tình yêu.Nhân vật thị nở được khắc họa qua đêm gặp Chí Phèo, qua chi tiết bát cháo hành, qua từng cử chỉ ân cần và lời hỏi thăm dành cho Chí. Có lẽ đây là đoạn văn thấm đẫm tình yêu, đoạn văn đẹp giữa những con người cùng cực, bế tắc trong xã hội. Thị Nở thương Chí Phèo, một tình thương xuất phát từ trái tim, lòng cảm thông sâu sắc, không vụ lợi, không cá nhân. Chỉ đơn giản đó là tình yêu. Chí Phèo – con quỷ làng Vũ Đại, nhưng hắn cũng là người, cũng cần được yêu thương. Hắn cần Thị, cả cuộc đời hắn cần thị như thế. “. Nhưng khi Thị Nở về xin ý kiến của bà cô Thị, bà gào lên: “Ai lại đi lấy thằng Chí Phèo”, “thằng chỉ có một nghề rạch mặt ăn vạ!”. Bị từ chối, Chí Phèo lại uống rượu và ôm mặt khóc rưng rức, rồi như mọi lần, lại xách dao ra đi, vừa đi vừa chửi.Cuối cùng, Chí Phèo đến nhà Bá Kiến, chỉ tay vào mặt lão: “Tao muốn làm người lương thiện (…) Ai cho tao lương thiện (…) Tao không thể làm người lương thiện nữa! (…) chỉ còn một cách…” và hắn rút dao đâm chết Bá Kiến, sau đó dùng dao đâm cổ tự sát… Nếu hai người họ được đến với nhau có lẽ kết thúc lại khiến người đọc vui hơn cùng nhân vật.Chí Phèo chết cuộc sống của Thị ra sao khi trái quả của tình yêu là cậu “Chí con” ra đời… Nam Cao đã để lại trong lòng người đọc nhiều ám ảnh về nhân vật Thị Nở. Là người có thể làm thay đổi Chí Phèo, cũng là người mang lại yêu thương nhỏ nhoi, ít ỏi cho Chí. Đây chính là giá trị nhân văn của truyện ngắn Chí Phèo
Phân tích hình ảnh Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
1,059
Đề bài: Phân tích hình ảnh viên Quan phụ mẫu trong truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn Bài làm Văn xuôi quốc ngữ buổi đầu đã có sự đóng góp của Phạm Duy Tốn. Truyện ngắn Sống chết mặc bay của ông là một trong những thành tựu của dòng văn học hiện thực thuở sơ khai. Truyện được viết vào tháng 7 – 1928, được đăng tải trên báo Nam Phong số 18 tháng 12 năm 1928. Khúc đê làng X, thuộc phủ X có hai, ba đoạn nước đã rỉ ra ngoài. Trong khi nước sông Nhị Hà cứ dâng lên cao, nên có nguy cơ vỡ đê. Bên ngoài trống dội lên từng hồi, hàng trăm người vật lộn với thiên nhiên từ chiều đến gần một giờ đêm để bảo vệ con đê. Trời thì cứ mưa tầm tã không ngớt, nước sông cứ cuồn cuộn dâng cao, sức người như đã kiệt, thế mà trong đình, đèn thắp sáng trưng, quan ngồi chễm chệ uy nghi. Quân lính đứng hầu cạnh nào gãi, nào quạt, nào điếu đóm…Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường để trong khay khảm khói nghi ngút. Quanh sập, có đủ mặt thầy đề, thầy đội, thầy thông nhì, chánh tổng sở tại. Tất cả đang tụ họp để vui chơi tổ tôm. Cảnh tượng này hoàn toàn đối lập với cảnh ngoài đê trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến ở trên đê. Rõ ràng qua hai cảnh được dựng lên ta thấy rằng đây là một viên quan vô trách nhiệm trước sự sống chết của hàng trăm con người. Hắn chỉ biết hưởng thụ sống sung sướng cho bản thân. Ngoài đê, dân chúng đang từng giờ từng phút đối mặt với nguy hiểm của nước lũ mạnh và vô cùng hung dữ. Người đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào kè, bì bõm dưới bùn lầy, mươi gió lướt thướt, ướt như chuột lột. Vậy mà Quan phụ mẫu hắn uy nghi, chễm chệ trong đình. Bát sách, thất văn… lúc mau, lúc khoan thật nhịp nhàng. Ngoài kia đàn sâu lũ kiến đang vùi mình dưới mưa cũng không bằng trong đình đang nước bài cao thấp. Quan như bị ma lực hút hồn vào một trăm hai mươi lá bài đen đỏ, mà quên đi tính mạng dân lành, thật đáng thương tâm. Quanh năm quan đâu có biết đến đời sống của dân chúng và công việc mình phụ trách, dưới cái ghế của quan có bao kẻ xu nịnh ôm chân vâng dạ. Thậm chí chúng còn tranh nhau phô bài để quan lớn rõ rằng: Mình vào được nhưng không dám cố ăn kìm. Rằng: mình có đôi mà không dám phỗng qua mặt. Thì ra chúng đã chìm nổi cho quan ù thông” (thắng liên tiếp 2 ván). Như vậy thì quan làm sao nhớ đến nhiệm vụ của mình được. Hơn nữa trong dinh thì cao, đèn thắp sáng quan làm sao mà dám xuống chỗ sùng sũng bùn lầy đêm tối kia. Cái bọn mà ta gọi là điếu đóm, lau nhau ấy đã rất khéo léo. Rồi lại ván bài tiếp, quan vừa xơi xong bát yến, vuốt râu rung đùi. Hắn chỉ chăm chăm nhìn vào đĩa đựng bài chờ bốc trúng quân bài để hắn hạ. Bỗng có người khẽ bảo dễ có khi đê vỡ, quan gắt “mặc kệ”. Bên ngoài tiếng người gào thét ầm ĩ, tiếng gà trâu kêu vang tứ phía, một người nhà quê ướt sùng hộc tốc chạy đến bẩm “đê vỡ mất rồi”. Và rồi như không cần suy nghĩ, quan gắt, thoái thác trách nhiệm “ông sẽ cách cổ, bỏ tù”… rồi lại tiếp tục ván bài đang dở. Quan lớn mặc kệ cho đê vỡ, dân chúng chạy loạn, những sinh linh bé nhỏ kia sẽ bị những cơn lũ cuốn đi. Nào là phụ mẫu chi dân, nào là lo cho dân, thương dân. Bộ mặt của bọn quan lại phong kiến hiện rõ hơn bao giờ hết. Quan có biết đâu sau ván bài ù là lúc nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, cửa nhà, dân chúng kẻ sống thì không có chỗ ở, kẻ chết thì mất xác… Than ôi! Dân còn biết trông cậy vào ai? Truyện ngắn làm ta liên tưởng đến “Đồng hào có ma” của Nguyễn Công Hoan. Con mẹ nuôi là kẻ mất trộm, lên trình quan việc mất trộm, nó không những không trình báo được việc mất trộm còn bị quan ngài Huyện Hinh ăn chặn đồng hào đôi sáng loáng bằng thủ đoạn cực kỳ bẩn thỉu. Con ma Huyện Hinh ăn những đồng tiền xương máu của dân một cách trắng trợn. Còn ở đây, vị quan phụ mẫu thương dân đã bỏ mặc đê vỡ và chối bỏ trách nhiệm. Sống chết mặc bay – tên của truyện ngắn đã thể hiện sâu sắc bộ mặt tên Quan phụ mẫu vô trách nhiệm với công việc cửa mình, mặc cho dân chúng đối mặt với cái chết còn hắn thì chỉ lo không ù được ván bài, ngài cứ sống chết mặc bay. Bằng nghệ thuật tương phản, tác giả vạch trần và lên án thói vô trách nhiệm, nhẫn tâm, vô nhân đạo của bọn quan lại, chúng coi thường tính mạng nhân dân. Chúng chỉ lo ăn chơi cờ bạc bóc lột dân đen đến tận xương tuỷ. Qua truyện ngắn này giúp ta cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người nông dân trong xã hội cũ. Đồng thời khiến ta càng thêm căm ghét và kinh tởm bọn quan lại bỉ ổi vô lương. Chúng là lũ sâu mọt, tham quan mà xã hội thời nào cũng phải thanh lọc. Truyện ngắn “Sống chết mặc bay” có giá trị hiện thực thời đại sâu sắc.
Phân tích hình ảnh viên Quan phụ mẫu trong truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn
995
Đề bài: Phân tích hình ảnh Ông Đồ trong bài thơ cùng tên của Vũ Đình Liên Bài làm Nhà thơ Vũ Đình Liên là một nhà thơ đầu tiên tiên phong cho phong trào thơ mới. Tác phẩm của Vũ Đình Liên có những tác phẩm có giá trị nghệ thuật vô cùng sâu sắc, để lại tiếng vang cho tới ngày nay. Bài thơ “Ông đồ” là một bài thơ thể hiện cho sự thành công của tác giả Vũ Đình Liên. Nội dung của bài thơ thể hiện sự hoài cổ của tác giả Vũ Đình Liên với một truyền thống tốt đẹp mang nét văn hóa riêng của dân tộc Việt Nam nhưng bị mai một dần. Bài thơ “Ông đồ” được tác giả Vũ Đình Liên sáng tác khi mà nền nho giáo ngày càng bị công chúng quên lãng, những tinh hoa xưa chỉ còn lại chút tro tàn. Ông đồ và chữ Nho cũng không còn tồn tại nhiều nữa. Trong hai khổ thơ đầu tiên tác giả Vũ Đình Liên đã nhắc lại thời kỳ hoàng kim của nho giáo khi mà chữ viết của các ông đồ luôn được trân trọng: Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay Trong hai khổ thơ này đã nói lên thời gian và địa điểm mà ông đồ thường làm việc. Đó chính là khi năm hết Tết đến vào dịp mùa xuân khi hoa đào nở rộ, ông đồ thường viết chữ cho những người dân hy vọng vào một năm mới, an khang, thịnh vượng, bình an, sức khỏe. Công việc viết chữ của ông đồ thường xuyên diễn ra trong những năm mà nho giáo phát triển mạnh mẽ nhất, nên năm nào cũng có những thầy đồ ngồi viết chữ, ở những nơi có đông người qua lại, nơi đông mà mọi người tới xin chữ một cách dễ dàng. Tác giả Vũ Đình Liên thể hiện nghệ thuật viết chữ của ông đồ như rồng bay phượng múa, thể hiện nghệ thuật so sánh vô cùng phóng khoáng, bay bổng của một con người có tài nghệ. Đồng thời thể hiện sự cao quý qua những lời khen ngợi của tác giả. Thông qua cách miêu tả cách sử dụng từ nghĩ cho thấy sự tôn trọng của tác giả với những người lưu giữ truyền thống văn hóa của dân tộc. Trong hai khổ thơ tiếp theo tác giả đã khắc họa một hình ảnh một bức tranh ông đồ thời kỳ lạc lõng, khi nho giáo thật sủng, dòng đời mà chữ Nho đã trở thành một quá khứ của thời kỳ hoàng kim, chỉ còn lại tàn tích. Người thuê viết nay đâu Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu Ông đồ vẫn ngồi đó Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay Câu thơ được nhắc lại thời gian và địa điểm thể hiện một mùa xuân nữa lại tới, cảnh vật hoa đào vẫn tươi thắm, nhưng chỉ có hình ảnh ông đồ già quen thuộc không thấy nữa. Những con người không quan tâm tới văn hóa nho giáo nữa. Người dân đã quên đi dần nét văn hóa quen thuộc, đáng trân trọng. Những câu thơ này thể hiện cảnh tàn lụi của một nét đẹp văn hóa nho giáo, với những tờ giấy đỏ buồn thắm, mực đọng trong “nghiêng sầu”, thể hiện sự hững hờ của người dân trong thời kỳ hiện đại. Thể hiện giấy và mực cũng có cảm xúc như con người, cũng cảm thấy buồn khi mình bị bỏ rơi và quên lãng theo dòng thời gian. Những câu thơ vô cùng xúc động thể hiện sự đa tài của tác giả Vũ Đình Liên. Trong khổ thơ cuối cùng tác giả Vũ Đình Liên đã dùng những từ ngữ thành kính trân trọng để bày tỏ nỗi lòng của tác giả với nét văn hóa truyền thống của dân tộc. Năm nay hoa đào nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ Mở đầu bài thơ tác giả Vũ Đình Liên đều viết mỗi năm hoa đào nở/Lại thấy ông đồ già. Trong khổ thơ kết thúc câu thơ có chút thay đổi nhưng kết cấu không hề thay đổi. Năm nay hoa đào nở/Không thấy ông đồ xưa khiến cho bài thơ kết cấu vô cùng thống nhất chặt chẽ. Trong câu thơ cuối thể hiện câu hỏi tu từ “Những người muôn năm cũ/ Hồn bây giờ ở đâu” thể hiện sự tiếc thương của tác giả với một nét đẹp văn hóa của dân tộc. Thông qua bài thơ “Ông đồ” tác giả đã khắc họa nhân vật ông đồ với nghệ thuật vô cùng tinh tế, thể hiện nỗi niềm xót xa của tác giả với một giá trị văn hóa của dân tộc. Thảo Nguyên
Phân tích hình ảnh Ông Đồ trong bài thơ cùng tên của Vũ Đình Liên
829
Phân tích hình ảnh ông đồ trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Hình ảnh ông đồ được khắc họa trong mốc thời gian mùa xuân, đều gắn liền với mực tàu, giấy đỏ nhưng ở hai cảnh ngộ khác nhau. Hình ảnh ông đồ ở thời vàng son: Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu, giấy đỏ Bên phố đông người quạ + Ông đồ là người thuộc tầng lớp trí thức Hán học trong xã hội xưa, ông là người dạy học (dạy chữ Nho). Ông được cả xã hội tôn vinh, là nhân vật trung tâm của đời sống văn hóa dân tộc khi nền Hán học và chữ Nho đang thịnh hành. Theo phong tục, khi Tết đến người ta tìm đến ông đồ để sắm câu đối hoặc chữ Nho trang trí nhà cửa và cầu mong những điều tốt lành. + Vào thời điểm hoa đào nở “lại thấy” ông đồ cùng mực tàu, giấy đỏ. Nhịp điệu thơ sôi nổi, náo nức diễn tả sự xuất hiện của ông đồ già vào mỗi dịp Tết đến, xuân về. Hình ảnh ông đồ trở nên quen thuộc, gần gũi với tất cả mọi người cũng như phong tục văn hóa xin chữ lâu đời của người Việt Nam. Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa, rồng baỵ Phân tích hình ảnh ông đồ + Như vậy, ông đồ là người được mọi người kính trọng, kính nể, là trung tâm chú ý của mọi người qua đường. Hình ảnh ông đồ ở thời tàn phai: Nhưng mỗi năm, mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầụ + Mỗi năm mỗi vắng – Người thuê viết nay đâu giọng thơ lắng xuống, điệp từ mỗi gợi sự xa vắng, thưa thớt dần – hình ảnh ông đồ xa vắng dần với mọi người và người yêu mến ông cũng thưa dần đi. Phép nhân hóa giấy đỏ buồn, mực sầu diễn tả hình ảnh giấy mực cũng thấm đẫm nỗi buồn thương, ảm đạm của chủ. Ông đồ vẫn ngồi đó, đường phố vẫn đông nhưng không ai biết đến sự có mặt của ông, cuộc đời đã khác, đã lãng quên ông. Hình ảnh ông lạc lõng, lẻ loi. Nỗi buồn, nỗi sầu của ông đồ như bao trùm cảnh vật xung quanh ông, thấm đẫm không gian đất trời. Giọng thơ lắng đọng, buồn thương man mác. + Như vậy, ông đồ không còn được coi trọng, vị thế của ông đã khác. Sự đối lập giữa hai hình ảnh ông đồ thời vàng son và thời tàn phai thể hiện sự tàn lụi của một nền học thuật, của một truyền thông văn hóa. Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi baỵ + Nền học thuật xưa coi trọng chữ Hán, người dân có truyền thống xin chữ cầu may vào những dịp đầu năm. Hoa đào nở – mực tàu – giấy đỏ cùng hình ảnh ông đồ già gợi không khí của văn hóa, không khí của cái đẹp. Thêm vào đó là hình ảnh đông vui, tấp nập của người qua đường tới thuê viết chữ, xem chữ, ngợi khen ông đồ. Nhưng truyền thống văn hóa tốt đẹp đó đang dần tàn lụi bởi mỗi năm mỗi vắng, những người thuê viết nay không còn tới. Bởi thế, vẫn là không khí văn hóa của cái đẹp (hoa đào nở – mực tàu – giấy đỏ – ông đồ) nhưng tất cả đã mang một sắc thái khác: giấy buồn, mực sầu, ông đồ ngồi bên đường mà không ai hay, quang cảnh xung quanh cũng gợi sự tàn lụi, buồn với những hình ảnh lá vàng, mưa bụi. Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ? + Khổ thơ cuối, hoa đào vẫn nở nhưng hình ảnh ông đồ đã biến mất gợi lên một nỗi buồn, một niềm trắc ẩn sâu xa cho những người đã trở thành cũ kĩ trước năm tháng và bị thời thế khước từ. Đó là sự biến mất không chỉ của một người (ông đồ) mà còn là cả một thế hệ (những người yêu và tôn thờ cái đẹp) trong xã hội đương thời.
Phân tích hình ảnh Ông Đồ trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
724
Phân tích hình ảnh đôi bàn tay của Tnú Hướng dẫn Phân tích hình ảnh đôi bàn tay của Tnú Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh năm 1932, quê ở Quảng Nam, Đà Nẵng. Có thể nói: Mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ với những tập tục văn hóa lâu đời, với truyền thống đấu tranh bất khuất đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào của nhà văn. Rừng xà nu là một trong số những tác phẩm tiêu biểu, là bản anh hùng ca mang đậm tính lịnh sử thi và cảm hứng lãng mạn về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên, của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh thần thánh chống đế quốc Mỹ. Nhân vật tiêu biểu nhất trong tác phẩm là T nú. Hình ảnh đôi bàn tay của Tnú mang đến những ấn tượng rất lớn trong lòng người đọc. Đặc biệt nó mang đậm ý đồ nghệ thuật mà tác giả muốn gửi gắm qua đó. Bằng ngòi bút khắc họa nhân vật tài tình và khuynh hướng sử thi làm chủ đạo, nhân vật T nú hiện ra với một góc nhìn vừa mới vừa đầy tính chất anh hùng của thời đại. Đây là một nhân vật anh hùng, là người con vinh quang của làng Xô Man đã được Nguyễn Trung Thành khắc họa bằng những đường nét độc đáo. Tính chất sử thi được thể hiện rõ nhất ở chỗ cuộc đời ngỡ như có số phận riêng nhưng thực ra T nú lại đại diện cho số phận và con đường đi lên của dân tộc. Bàn tay ấy khi còn lành lặn thì cùng Mai học chữ trong rừng. Cùng với thời gian trôi qua thì bàn tay ấy đã nhanh nhẹn cầm những thứ liên lạc vượt qua mọi gian nan và những vòng vây của giặc để mang đến cho những người cán bộ trong rừng.Mặc dù là một người khi còn nhỏ nhưng đã mang những phẩm chất anh hùng một bàn tay nhỏ nhắn như vậy mà có thể cầm biết bao nhiêu đồ như vậy, qủa thật rất đáng khen. Bàn tay ấy không chỉ vậy mà còn gan góc cầm đá đập vào đầu của T nú khi học ngu chữ. Khi đôi bàn tay ấy cầm phấn học bài nhưng khi không học được thì cũng chính bàn tay ấy đã đập đầu khiến cho máu chảy ròng ròng. Bàn tay làm nổi bật lên hình ảnh người anh hùng Tây nguyên. Bàn tay ấy còn mang một vẻ đẹp lớn đó là vẻ đẹp của sự gan dạ nữa: vạch rừng vượt thác để đem thư mật đến cho những người cộng sản. Và ngay cả khi bị bắt thì đôi bàn tay ấy cũng không ngần ngại mà chỉ thẳng vào bụng mà nói “cộng sản ở đây này”. Qua những lời lẽ của anh thì ta cũng thấy được Tnu’ là người gan góc tới như thế nào.Có thể nói vẻ đẹp của Tnú qua đôi bàn tay lại được hiện lên. Chi tiết đặc sắc nhất là khi bị bọn giặc bắt chúng bó giẻ vào bàn tay ấy tẩm nhựa xà nu mà đốt cháy tay Tnú. Mười đầu ngón tay bốc lên như mười ngọn đuốc. Nhưng anh không kêu thán một lời nào mà cắn răng chịu đựng,nó đẹp bởi vì nó chịu nhiều thương đau nhưng nó không bao giờ là bàn tay chết cả.Bàn tay ấy sau này vẫn cầm chắc tay súng và giết chết biết bao nhiêu quân giặc. Chi tiết đôi bàn tay trong “Rừng Xà Nu” là một chi tiết đặc sắc và mang nhiều giá trị về nội dung cũng như thành công về nghệ thuật của Nguyễn Trung Thành.cũng qua đôi bàn tay ấy,hình ảnh của một người anh hùng tây nguyên cũng dần hiện ra hiền lành và gan dạ rồi đến yêu thương.
Phân tích hình ảnh đôi bàn tay của Tnú
659
Đề bài: Phân tích hình ảnh Đường mòn và Vòng hoa trong Thuốc của Lỗ tấn Gợi ý Nghĩa địa người chết chém phía bên trái nghĩa địa người nghèo phía bên phải.Con đường mòn là biểu tượng cho một tập quán xấu đã trở thành thói quen. Là cái ranh giới tự nhiên để phân cách ngăn cách giữa những người chiến sĩ cách mạng như Hạ Du với quần chúng, như gia đình Hoa Thuyên, cả Khang,Năm Gù … Không chỉ sống họ mới cách biệt nhau mà cho đến khi chết họ cũng cách biệt nhau bởi con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo ấy c. Vòng hoa trên mộ Hạ Du – Cả hai bà mẹ cùng rất kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa: “hoa trắng hoa hồng nằm khoanh trên nấm mộ khum khum… + Việc làm của Hạ Du đã khiến mọi người phải suy nghĩ một cách nghiêm túc.Với vòng hoa, Lỗ Tấn đã bày tỏ sự trân trọng và tiếc thương đối với người chiến sĩ cách mạng tiên phong. Đồng thời cũng thể hiện sự traân trọng của ông với cuộc cách mạng Tân Hợi. Phân tích tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn + Rõ ràng vòng hoa trên nấm mộ Hạ Du như muốn khẳng định một chân lý lịch sử và cách mạng: Trong trạng thái mê muội, tê liệt của quần chúng thuở ấy, vẫn có người nhớ đến, tiếc thương ngưỡng mộ và quyết tâm noi gương người cách mạng tiên phong đã ngã xuống vì đại nghĩa. Vòng hoa thể hiện cho xu thế cách mạng, cho niềm lạc quan đối với tiền đồ cách mạng. Vòng hoa trong truyện “Thuốc” là một dự cảm về con đường bão táp, một tia lửa hôm nay sẽ báo hiệu một đám cháy ngày mai! + Vòng hoa trên mộ Hạ Du: Có thể xem vòng hoa là cực đối lập của “chiếc bánh bao tẩm máu”. Phủ định vị thuốc là bằng chiếc bánh bao tẩm máu, tác giả mơ ước tìm kiếm một vị thuốc mới- chữa được cả những bệnh tật về tinh thần cho toàn xã hội với điều kiện tiên quyết là mọi người phải giác ngộ cách mạng, phải hiểu rõ “ý nghĩa của sự hi sinh” của những người cách mạng. + Nhờ chi tiết vòng hoa trên mộ Hạ Du chủ đề tư tưởng tác phẩm mới được thể hiện trọn vẹn, nhờ đó mà không khí của truyện vốn rất u buồn tăm tối song điều mà tác giả đưa đến cho người đọc không phải là tư tưởng bi quan. d. Hình ảnh những nấm mộ như những chiếc bánh bao của người giàu trong ngày mừng thọ. Nghĩa địa này là nghĩa địa Cổ Hiên Ðình Khẩu – nơi chôn xác những người nghèo như cu Thuyên và những người hoạt động Cách mạng như Hạ Du. Tác giả đã so sánh ngôi mộ ở nghĩa địa Cổ Thiên Ðình Khẩu: như những chiếc bánh bao của người giàu trong ngày mừng thọ. Nghĩa thứ nhất đầy thương cảm: người chết nhiều ( chết vì lạc hậu u mê, tăm tối) Nghĩa thứ hai: Ðây là lối so sánh rất sâu rất đau, hàm chứa một ý nghĩa tố cáo rất gay gắt. Lối so sánh này cũng tạo nên một sự đối lập để làm nổi bật sự tham lam tàn ác của giai cấp thống trị. Những người nằm dưới những ngôi mộ này như cu Thuyên và Hạ Du đều là những người chết trẻ, chết non,chết yểu. Vậy mà mộ của họ lại được so sánh như như những chiếc bánh bao của những kẻ giàu có, sống lâu trong ngày mừng thọ. Một đằng là chết non, chết yểu, một đằng là mừng thọ sống cao tuổi.Ðó là sự đối lập hoàn toàn. Từ đó tác giả tố cáo tội ác của giai cấp thống trị: sống phè phỡn, sống sung sướng trên xương xương máu của những người nghèo và chiến sĩ cách mạng. Nghĩa thứ ba: Phê phán người dân TQ u mê về chính trị, không biết phân biệt đâu chính đâu tà. Họ đã để mộ Hạ Du chung với những kẻ chết chém vì ăn cướp. e. Thời gian nghệ thuật của truyện Tiến triển từ mùa thu Hạ Du bị hành hình đến mùa xuân trong tiết thanh minh năm sau lúc hai bà mẹ đi thăm mộ con.Cái chết của hai người con cũng như chiếc lá rời cành để tích nhựa cho một mùa xuân hi vọng… dự báo về một tương lai sáng sủa cho cách mạng Trung Hoa. Thời gian nghệ thuật trong truyện “Thuốc” vận động từ mùa thu đến mùa xuân, từ lúc tử tù bị chém, thằng Thuyên ho lao rồi chết đến tiết thanh minh, trên ngôi mộ Hạ Du có vòng hoa, một thằng Thuyên và những nấm mộ khác “lác đác vài nụ hoa bé tý, trăng trắng, xanh xanh”, trên cành dương liễu đã đâm ra “những mầm non bằng nửa hạt gạo”. Đó là mầm xanh của mùa xuân hy vọng, hứa hẹn một ngày mai ấm áp hơn.
Phân tích hình ảnh Đường mòn và Vòng hoa trong Thuốc của Lỗ tấn
873
Phân tích hình ảnh Đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu Hướng dẫn Phân tích hình ảnh Đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu Nhà thơ Chính Hữu là một nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến. Ông thường viết về những cuộc chiến tranh đầy nét chân thực, dữ dội mà không kém phần lãng mạn trong những vần thơ. “Đồng Chí” là một trong những bài thơ mà ông sáng tác trong thời kỳ đất nước ta kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” cuối bài thơ được miêu tả một cách tiêu qua qua những hình ảnh người lính được khắc hoạ đậm nét và đầy ấn tượng và sự khốc liệt của chiến tranh nhưng thơ ông vẫn giữ được sự mềm mại và trữ tình. Bài thơ “Đồng Chí” được bao trùm lên bởi hình ảnh người lính cụ hồ hiên ngang, bất khuất, vượt qua mưa gió bão bùng, sự gian khổ và khắc nghiệt của thời tiết để hướng về phía trước. Cuộc sống nhọc nhằn, thiếu thốn thế nhưng vẫn không thể đánh gục ý chí và tinh thần của những con người vì nước vì dân như vậy. Giữ rừng hoang vu sương muối bao quanh lấy. Hình ảnh “đầu súng trăng treo”như một nét chấm phá tuyệt đẹp. Nó hiện lên trong trang viết của Chính Hữu như một bức tranh: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Nếu như hai câu thơ trên tái hiện lại sự khắc nghiệt, gian khổ của địa hình và thời tiết thì câu thơ thứ ba duy nhất chỉ có ánh trăng và súng lại rất thơ mộng và lãng mạn. Có lẽ đây chính là dụng ý của tác giả khi viết bài thơ này. Không phải vô tình mà ba câu thơ này lại được sáng tác thành một khổ riêng mà đó có lẽ là dụng ý của tác giả muốn làm nổi bật hình ảnh “đầu súng trăng treo” ở cuối bài thơ. Trên cái nền ảm đạm, khắc nghiệt, nguy hiểm của thiên nhiên và cảnh chiến tranh nhưng người lính vẫn luôn kiên cường, bất khuất. Họ luôn tràn đầy tình yêu và lạc quan để tiến về phía trước đánh đuổi kẻ thù. Mặc dù hình ảnh “đầu súng trăng treo” gồm “súng” và “trăng”tưởng như đối lập nhau giữa cái lãng mạn chữ tình cái hiện thực khắc nghiệt nhưng trong thơ chính hữu nó lại trở nên mềm mại. Súng biểu tượng cho người chiến sĩ, trăng biểu tượng cho người thi sĩ. Trăng và súng không đối lập với nhau mà hoà quyện vào nhau tạo nên một khung cảnh tuyệt đẹp giữ rừng hoang sương muối rơi ướt vai người lính. Ánh trăng đã trở thành đề tài nổi bật cho những người chiến sĩ cách mạng xa quê hương xa những người thân để đi chiến đấu chính vì vậy những nỗi nhớ quê hương được thể hiện qua ánh trăng, những hình ảnh đó đã tạo nên sự gần gũi, hình ảnh quen thuộc trong mọi cách nghĩ và hình dung ra những hình ảnh mang ý nghĩa đặc biệt hơn. Hàng loạt các chi tiết đã mang lại ký ức đẹp và nó trở nên quen thuộc và gần gũi với con người hơn. Những người lính họ có tuổi đời còn rất trẻ, họ có lý tưởng sống và cống hiến cho đất nước nhưng họ cũng luôn ấm ủ trong mình những ước mơ bé nhỏ, một tình yêu bé nhỏ hay là bóng dáng một người con gái nào đó. Trong lòng họ vẫn luôn luôn giữ được sự lạc quan, tin tưởng và sự lãng mạn đáng trân trọng. Chiến tranh khắc nhiệt nhưng không để nó làm trái tim của những người lính bị chai lì mới thực sự là điều đáng quý. Bởi vậy, có thể thấy rằng hình ảnh “đầu súng trăng treo” dường như lan toả thứ ánh sáng dịu nhẹ của ánh trăng xuống cánh rừng lan vào lòng những người lính mát dịu và trong lành nhất. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” thực sự là một hình ảnh đầy dụng ý của tác giả. Người lính vẫn sẵn sàng canh gác bảo vệ tổ quốc, mũi súng luôn hướng lên trời mà tưởng chừng có thể chạm đến trăng. Một nét điểm xuyết tạo nên một bức tranh đối lập nhưng vô cùng hài hoà và tinh tế. Nhà thơ chính hữu đã thành công khi xây dựng hình ảnh “đầu súng trăng treo” đi sâu vào tâm trí người đọc.
Phân tích hình ảnh Đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu
784
Phân tích hình ảnh Đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng Chí Hướng dẫn Phân tích hình ảnh Đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng Chí Bài làm Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu là một trong những bài thơ hay viết về người chiến sĩ, trải qua hàng chục năm nhưng bài thơ vẫn luôn khắc sâu trong tâm trí mỗi người và đã trở thành bạn tâm tình của nhiều tầng lớp người cầm súng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đoạn kết của bài thơ thực đẹp, nó đã đi vào thơ ca chân dung của người chiến sĩ mộc mạc, đơn sơ: “Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo” Những câu thơ đều hiện lê nét chân thực tới nghiệt ngã và lãng mang tới bay bổng, cả hai cùng hòa quyện với nhau. Cảnh rừng hoang sương muối âm u, giá buốt dường như không còn đáng sợ đối với con người nữa, nó đã được đầy lùi ở phía sau nhường chỗ cho sự tự tin, mạnh mẽ,hình ảnh các đồng chí đứng cạnh sát cánh bên nhau ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Tình đồng chí thiêng liêng đã làm ấm lòng các chiến sĩ chốn biên cương, chắp cánh cho tâm hồn họ, tạo thêm nghị lực chiến đấu phí thường. Đêm khuya chờ giặc, đầu súng trắng treo như một tiếng reo vui chứa đựng biết bao ý nghĩa tốt đẹp. Hình ảnh đầu súng được tạo nên nhờ sự liên tưởng thông minh và vô cùng độc đáo. Hình ảnh đầu súng trăng treo đó chính là biểu tượng cao đẹp của tình đồng đội, đồng chí hết sức thiêng liêng. Nó thể hiện rõ nhất về tư thế chủ động, về tinh thần lạc quan tin tưởng vào chiến thắng, vào một tương lai tươi sáng của đất nước. Cao hơn nữa, đó còn là hình ảnh biểu tượng sóng đôi của dân tộc Việt Nam dũng cảm, hào hòa muôn thủa và đó cũng là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta từ bao đời nay, đó là đoàn kết, dũng cảm và có tinh thần sống lạc quan vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Phân tích hình ảnh Đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng Chí
375
Phân tích hình ảnh “Nồi cháo cám” trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân- Văn lớp 12 Bài làm Hướng dẫn Phân tích hình ảnh “Nồi cháo cám” trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân- Văn lớp 12 Bài làm Bài làm Nhà văn Kim Lân là một tác giả có phong cách giản dị, mộc mạc, khiến cho người đọc cảm động ám ảnh bởi trong mỗi tác phẩm ông đều gửi gắm nhiều tình cảm chất chứa. Hình ảnh nồi cháo cám trong tác phẩm Vợ nhặt là liều thuốc có sức rung động sâu xa, thể hiện sức sống mãnh liệt vượt qua bao thời gian. Truyện ngắn Vợ nhặt lấy bối cảnh nạn đói năm 1945 khi mà cả nước ta rơi cảnh lầm than, cơ cực, người chết như ngả rạ, trong bối cảnh lịch sử đó nhiều người dân đã thiệt mạng, những người sống thì sống cuộc đời cơ cực lay lắt. Hình ảnh nồi cháo cám khiến cho người đọc cảm thấy ám ảnh, về cuộc sống lay lắt, khổ cực của người nông dân dưới chế độ áp bức bóc lột một cổ nhiều tròng. Trong bối cảnh nạn đói hoành hành, Tràng một người con trai nghèo khó sống cảnh mẹ góa con côi, nhà nghèo, thân hình bên ngoài thô kệch, quai hàm bạnh ra, hai con mắt ti hí hấp háy, miệng lúc nào cũng tủm tỉm cười một mình. Nếu bình thường thì một người con trai như anh cu Tràng sẽ không bao giờ lấy được vợ, nhưng trong hoàn cảnh cả nước đói kém người chết đầy đường thì anh cu Tràng lại dễ dàng nhặt được vợ như nhặt một thứ gì đó rơi ngoài đường mang về nhà. Bà cụ Tứ mẹ anh cu Tràng được tác giả Kim Lân phác họa lên là một người phụ nữ hiền lành, nhân hậu bà sẵn sàng chấp nhận người con gái xa lạ làm con dâu mình “Có gặp thời buổi này thì người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có vợ” đó là những suy nghĩ chân thực cảm động của một người phụ nữ thương con. Sau đêm tân hôn, buổi sáng thức dậy anh cu Tràng thấy nhà cửa đã được quét dọn sạch sẽ, vợ anh ngồi đó là thật mà cứ ngỡ như là mơ. Bà cụ Tứ đon đả bưng bữa ăn sáng ra “Chè khoán đấy”. Nồi cháo cám hiện ra khiến cho mọi người đều cảm thấy đau xót nhưng tất cả đều điềm nhiên chấp nhận cái đói nghèo, mỗi người đều ăn uống vui vẻ như thể ngon lắm. Một bữa ăn toàn những sơn hào hải vị. Trong bữa ăn những con người đó mơ về một tương lai tốt đẹp hơn về chuyện làm vườn rồi mua đôi gà về nuôi, chuyện làng Sùng người ta không cần phải thu thuế, rồi người dân lao động phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo. Người mẹ nghèo khổ xót xa khi phải giấu các con nấu một nồi cháo cám tới gần bữa ăn mới đem ra, bà còn nói tránh đi “Chè khoán đây, ngon đáo để” làm sao có thể ngon với một loại thức ăn đắng ngắt. Trong bữa cơm bà vui vẻ kể nhiều chuyện vui để cho các con vui vẻ theo. Một người mẹ nhất mực thương con, quặn thắt lòng khi con trai cưới vợ trong hoàn cảnh khốn khó này. Hình ảnh nồi cháo cám mà Kim Lân đã miêu tả có sức sống vô cùng mãnh liệt ám ảnh người đọc, gợi lên những âm hưởng tha thiết thể hiện sự khát khao hạnh phúc của những con người trong bối cảnh lịch sử. Hình ảnh này thể hiện sự tài tình của Kim Lân trong ngòi bút của mình, thể hiện sự sâu sắc của tác giả, khi phác họa chi tiết, tình huống truyện.
Phân tích hình ảnh “Nồi cháo cám” trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân- Văn lớp 12 Bài làm
654
Phân tích Hạnh phúc của một tang gia Hướng dẫn Bài tập làm văn phân tích Hạnh phúc của một tang gia trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng bao gồm dàn ý phân tích Hạnh phúc của một tang gia và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích Hạnh phúc của một tang gia hay nhất. Dàn ý phân tích Hạnh phúc của một tang gia 1. Mở bài Không phải đơn thuần mà người ta gọi Vũ Trọng Phụng là bậc thầy của nghệ thuật trào phúng. Bằng việc lột tả từng nhân vật, từng cử chỉ, ngoại hình, hành động mà Vũ Trọng Phụng đã phô bày trước mắt người đọc cái bản chất lố lăng của tầng lớp tư sản thành thị thời Pháp thuộc. Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia là đoạn tiêu biểu trong tiểu thuyết Số Đỏ – một đóng góp lớn về cả nội dung và nghệ thuật trong nền văn học VN hiện đại. 2. Thân bài – Sơ lược về nội dung tiểu thuyết Số Đỏ và đoạn trích Hạnh phúc một tang gia – Nhân vật chính của cả thiên truyện là Xuân tóc đỏ, hắn vốn là một kẻ lưu manh, sống bằng nhiều nghề khác nhau như trèo sấu, bán thuốc dạo…Khi nhặt banh trong sân quần vợt, hắn được bà Phó – – Đoan để mắt vì bị cảnh sát bắt tội xem trộm cô đầm thay đồ. Xuân tóc đỏ được giới thiệu vào làm việc trong tiệm may Âu Hóa, từ đấy hắn tham gia cải cách xã hội. Nhờ những kinh nghiệm bán thuốc lậu, Xuân tóc đỏ trở thành sinh viên trường luật và được vợ chồng cậu Văn Minh giới thiệu chữa bệnh cho ông nội mình là cụ Cố Tổ. Vô tình hay hữu ý mà bài thuốc của hắn tiếp tay cho cái chết của người “đáng chết” và mở màn cho lớp diễn bi hài trong đoạn trích Hạnh phúc một tang gia. – Bản chất lố lăng, đồi bại của những nhân vật trong đoạn trích a. Chân dung những người mang danh thượng lưu đi đưa tang – Những ông bạn thân của cụ Cố Hồng đến dự đám tang với tất cả lòng thành kính dành cho những tấm huy chương của họ. Vũ Trọng Phụng còn đặc tả những bộ ria mép độc đáo ẩn chứa bản chất thật sự: râu dài hoặc ngắn, đen hoặc hun hun.. – Trai thanh, gái lịch bạn của vợ chồng Văn Minh và cô Tuyết thì mang đủ tâm trạng: ghen tức, soi mói, tị hiềm, tự hào…về những mẫu chuyện chẳng liên quan. – Thực chất sự cảm động trên gương mặt của những vị khách lớn tuổi ấu chỉ dừng lại sau làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết. – Những vị trai thanh, gái lịch thì ghen tuông nhau, cười tình nhau, hẹn hò nhau… – Họ thực chất chỉ xứng đáng được ca ngợi bằng những từ ngữ vô liêm sĩ, vô đạo đức, vô văn hóa, những cặn bã của xã hội thượng lưu. b. Chân dung những người trong gia đình có tang – Cụ cố Hồng: Với Cụ Cố Hồng, đám tang của bố mình là cơ hội để ông được khen ngợi, được chú ý bởi cái sự già và bộ trang phục uy nguy. – Ông Văn Minh: Điều ông ta boăn khoăn trong cái đám tang của ông nội mình là làm sao để thực thi cái di chúc kia đúng như ông mong đợi và càng sớm càng tốt => Ta thấy được một ông Văn Minh mang bộ mặt của kẻ tham lam vừa mưu mô lại vừa thô bỉ. – Cô Tuyết, bà Văn Minh, bà Phó Đoan: xem đám tang là dịp để trưng diện những mốt thời trang của tiệm Âu Hóa, đồng thời cũng cho thiên hạ họ được một phen sáng mắt vì đã coi thường sự trinh tuyết của cô. 3. Kết bài – Ngòi bút hiện thực trào phúng của Vũ Trọng Phụng đã khắc họa thành công những nhân vật tiêu biểu cho xã hội thượng lưu giả dối, bề ngoài đạo đức nhưng bên trong lại thối nát, bất hiếu, vô sỉ… – Cái lố lăng, đồi bại của đám tang là đại diện cho cái lố lăng, đồi bại của xã hội tư sản thời Pháp thuộc. Bài văn mẫu phân tích Hạnh phúc của một tang gia Phân tích Hạnh phúc của một tang gia – bài 1 Một trong số những tác phẩm văn học tiêu biểu cho xu hướng hiện thực đã phê phán kịch liệt cái xã hội tư sản thành thị trước Cách mạng tháng Tám 1945 là tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Với lốì văn châm biếm sắc sảo các chương trong “Số đỏ” đều là những màn hài kịch đầy thú vị, đặc biệt là chương XV “hạnh phúc của một tang gia”. Trước hết ta hãy quan sát xem những người trong tang quyến của cái gia đình danh giá và đám tang có một không hai ấy xem họ đang nghĩ gì, làm gì trước sự kiện mà bấy lâu họ mong chờ. Điều đầu tiên mà ta cảm nhận được là “ Tang gia có hạnh phúc”. Mâu thuẫn và nực cười phải không? Bởi lẽ, thông thường tang gia nào cũng buồn rầu, đau đớn trước cái chết của người thân. Trái lại mỗi người trong gia đình cụ cố Hồng đều vui mừng, cảm thấy có hạnh phúc khi cụ cố tổ vừa mất. Thử xem từng người vui ra sao nhé. Ông phán mọc sừng thấy hạnh phúc vì được thêm số tiền là vài nghìn đồng bù khoản bị vợ cắm sừng. Người con trai cả – Cụ cố Hồng nhắm mắt mơ màng đến cái lúc cụ mặc áo gai, lụ khụ chống gậy… để thiên hạ đều chi trỏ khen một cái đám ma như thê, một cái gậy như thế… Ông Văn Minh thì lại thích thú vì cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viễn vông nữa. Còn cậu Tú Tân sướng điên người vì có dịp thi thố tài chụp ảnh. Bà Văn Minh nôn nao chờ lăng xê kiểu đồ tang tân thời của hiệu may Âu hóa, cuối cùng được như ý. Cô Tuyết dịp khoe với thiên hạ cái cơ thể còn gợi cảm qua lần áo tang mỏng để nói rằng “chưa đến nỗi đánh mất chữ trinh”. Hạnh phúc cứ thế mà tuôn ra, trào ra khó dấu diếm. Sự hấp dẫn của đoạn trích còn ở những mâu thuẫn trào phúng cơ bản. Trước hết nó nằm ngay trong nhan đề của chương: “Hạnh phúc của một tang gia”. Mọi thành viên trong gia đình đều thấy đây là một dịp may đặc biệt để thỏa mãn ý muốn, thực hiện được ý đồ riêng tư của mình. Cho nên cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm… Bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thỏa thích… Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma, vân vân… Tuyệt nhiên không ai tỏ ra đau buồn thương tiếc người quá cố. Thiếu vắng loại tình cảm ấy, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Thật vậy, còn phũ phàng hơn là bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ tổ. Chính ông Văn Minh, cháu nội của người quá cố, còn thầm biết ơn Xuân Tóc Đỏ, tình cờ đã gây ra cái chết của cụ già đáng ghét. Tiếp theo là cảnh đám tang. Đập vào mắt người ta trước tiên là sự đua đòi lối sống văn minh rởm. Với nghệ thuật châm biếm sắc sảo, qua một số chi tiết chọn lọc, hình ảnh đám tang lộ rõ sự đua đòi lối sống văn minh rởm ấy. Đó là một đám ma to tát, long trọng, theo cả lối Ta, Tầu, Tây, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng, và bu đích và vòng hoa, có đến ba trăm câu đốì, vài ba trăm người đi đưa. Lại có cậu Tú Tân chỉ huy, những nhà tài tử chụp ảnh đã thi nhau như ở hội chợ. Đám ma ấy làm huyên náo cả thành phố bằng kèn Ta, kèn Tây, kèn Tầu lần lượt thay nhau mà rộn lên. Bằng màn trình diễn, quảng cáo đồ xô gai tân thời, cái mũ mân trắng viền đen mà nhân đó, Tuyết bèn mặc đồ Ngây thơ để cho thiên hạ phải biết rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh. Đám ma ấy còn làm huyên náo bằng việc có thể ban cho những ai có tang đương đau đớn vì kẻ chết cũng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời. Tuy nhiên nếu nhìn kĩ sự việc ta sẽ nhận ra ngay thực chất kì quặc, lố lăng của đám tang lạ đời đó. Những gì gọi là to tát, long trọng, danh giá của cái đám ma này chỉ là sự phô trương giả dối, sự rởm đời lố lăng, thể hiện tâm lí háo danh hết sức kì quặc, qua những hình thức nghi lễ đưa tang hổ lốn đến buồn cười. Và không thể cẩm lòng được, tác giả đã phải hạ một câu văn diễn đạt đầy đủ, trọn vẹn sự mỉa mai đến cực độ: “Thật là một đám ma to tát có thể làm người chết nằm trong quan tài cũng phải mím cười sung sướng, nếu không gật gù cúi đầu!…” Còn một thành phần vô cùng quan trọng nữa trong đám tang, góp phần làm nên sự to tát của nó, đó là những người đưa tang. Bọn họ là ai? Hãy thử nhé. Trước tiên là những ông bạn thân của cụ cố Hồng hình như đưa đám tang để khoe huân chương, huy chương, khoe những kiểu râu hoặc dài hoặc ngắn hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn. Các vị tai to mặt lớn cùa xã hội thượng lưu đó đều cảm động (…) khi trông thấy làn da thập thò trong làn áo voan trên cánh lay và ngực Tuyết… dù họ đang sát ngay với linh cữu. Rồi đến hàng trăm giai thanh gái lịch của Hà Thành văn vật đang Âu hóa với một nửa là phụ nữ, phần nhiều tân thời, bạn của cô Tuyết, bà Văn Minh, cô Hoàng Hôn, bà Phó Đoan, vân vân… đều mang vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma. Cả đám đông đưa tang đó vừa đi vừa chim chuột, soi mói, bình luận về cơ thể phụ nữ, nói với nhau những chuyện nhảm nhí trong đời sống đồi bại thường ngày của họ, đã biểu lộ mọi góc cạnh của cái vô văn hóa vô đạo đức của bọn người cặn bã của xã hội tư sản thành thị thời ấy. Tác giả tiếp tục sử dụng các yếu tố phóng đại về dạng cách lố bịch, tạo mâu thuẫn và gây cười một cách kín đáo và để ta thấy rõ họ giống như thật, họ ở đâu đó ngoài đời. Đồng thời phơi bầy một sự thật họ là bọn người mang cái danh hão thượng lưu, văn minh là bọn cặn bã của xã hội tư sản thành thị. Còn tác giả – kẻ làm phúc cho tang gia khi đã tạo ra cái chết mà con cháu đang trông chờ từng giây phút Xuân Tóc Đỏ? Xuất hiện giữa đám tang đang di chuyển, đã làm cho cảnh đưa đám thêm lố lăng. Hắn bộc lộ tính tinh quái, láu lỉnh bên cạnh tính đểu cáng và dâm đãng vốn có. Hắn biết tự quảng cáo đúng chỗ, xuất hiện đúng lúc, đáp ứng đúng ý thích của những người mà hắn cần lấy lòng như Tuyết, như cụ bà. Đến cảnh ông Phán dúi tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư, Xuân Tóc Đỏ vội nắm tay cho khỏi có người nom thấy trở thành đỉnh điểm của màn hài kịch đưa tang này. Sự giả dối, bịp bợm ở đây thật vô sỉ đến ghê tởm. Bằng ngòi bút trào phúng bậc thầy, Vũ Trọng Phụng đã vạch mặt bọn trưởng giả chạy theo đồng tiền, đua đòi lối sống văn minh rởm, bịp bợm, dâm đãng, đồi bại thời đó qua chương “Hạnh phúc của một tang gia”. Vũ Trọng Phụng xứng đáng là một nhà văn hiện thực hàng đầu trong nền văn xuôi trước Cách mạng tháng Tám 1945. Phân tích Hạnh phúc của một tang gia – bài 2 Mỗi khi nhắc tới Vũ Trọng Phụng người ta đều nhớ tới ông là “ông vua phóng sự của đất Bắc Kì”. Đúng vậy, ông có một công trình đồ sộ về phóng sự và tiểu thuyết, với các tác phẩm bất hủ như: Cạm Bẫy Người (1993), Giông tố(1936)…Nhưng có lẽ bạn đọc nhớ nhất đến tiểu thuyết “Số Đỏ” của ông. Với những sự thật xã hội bấy giờ được tác giả thêu dệt lại qua lăng kính của mình. Đặc biệt đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” đã nêu lên được những nét chủ đạo của câu chuyện và thấy được bút pháp trào phúng đặc sắc của Vũ Trọng Phụng. Trong đoạn trích này chủ yếu nói về cái chết và đám tang Cụ tổ được tái hiện lên như một màn hài kịch. Có rất nhiều tình tiết và các bộ mặt khác nhau trong đám ma điều này dẫn đến một đám ma đau thương trở thành một đám ma đáng cười xót xa. Chính cái chết của cụ tổ cho thấy đây là một cái chết vừa đáng cười vừa đáng khóc. Vì sao lại vậy? Khóc vì đạo đức của một bộ phận con người suy đồi đến cực độ, cha chết, ông chết mà “bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thỏa thích”. “Cái chết của ông già hơn 80 tuổi” đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Ai cũng nghĩ đến cái lợi cho mình, như vậy, đúng với cái nhan đề của đoạn trích tưởng như lố bịch của cuộc sống đời thường, nhưng không “Hạnh phúc của một tang gia” lại đúng khi cụ tổ mất. Những tiếng khóc, sự “báo hiếu” của con cháu thực chất là sự khoe giàu sang với thiên hạ. Bằng ngòi bút trào phúc, châm biếm, đả kích của tác giả, làm cho đoạn trích các nhân vật được hiện lên rất đáng cười, những tiếng cười ra nước mắt. Để thấy được hạnh phúc của gia đình khi cụ tổ mất tác giả đã đi vào từng nhân vật để thấy được họ đang xót thương đau buồn hay biến đám ma của cụ cố tổ vào mục đích của bản thân? Cụ cố Hồng – con trai cả của cụ tổ thì rất sung sướng vì cái chết của cha mình và cho đây là một cơ hội để tỏ ra già yếu khi lo cho cái chết của cha mình. Nhân vật này đã làm nổi bật được những sự lố lăng mà ngu dốt ham danh trong xã hội phong kiến. Bên cạnh cụ cố Hồng là Văn Minh và ông TYPN lại tỏ ra vui mừng khôn xiết trước cái chết của ông nội và đây cũng là một cơ hội để ông đưa nền văn minh Á-Âu vào quảng cáo ở đám tang. Thật đau lòng thay, một đám ma hay là mọt phiên chợ để con cái mang ra quảng cáo, kinh doanh. Hay chính bà văn Minh thì lại vui mừng vì đây là dịp để chưng diện đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng, viền đen. Đúng là sự vô ơn bạc nghĩa của những kẻ vô học thức. Trong đoạn trích tác giả còn nói về cô Tuyết, đến đám ma nhưng lại mặc bộ y phục gây thơ “Cái áo voan mỏng trong cooc-sê, hở cả nách cả vú” tưởng như tác giả tả hơi quá, nhưng không chỉ ở cách ăn mặc mà cô Tuyết này còn thể hiện ở cả tính cách, sự lẳng lơ, tưởng như vẻ mặt buồn vì đám tang, nhưng đây là nỗi buồn nhớ người tình. Hết đến cô Tuyết lại đến cậu Tú Tấn, vui mừng vì cái máy ảnh đã được đem ra sử dụng vì Cậu mua đã lâu mà không dùng, thật ngỗ nghịch khi đám ma mà lại giẫm lên các ngôi mộ để chụp ảnh, tạo kiểu như một nhà nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp. Hay chính ông Phán Mọc Sừng vui mừng vì cái sừng trên đầu mình được hưởng thêm tiền sau khi đám ma xong. Trong khi đó Xuân Tóc Đỏ thì danh tiếng lại càng nhiều hơn và càng được nhiều người tôn trọng vì đã có công trong cái chết của cụ Tổ. Không chỉ có những người nhà của cụ cố tổ sung sướng ra mặt mà còn những người ở ngoài cũng góp một phần vào niềm hạnh phúc của gia đình khi đang có tang. Là đám ma nhưng lại có kiệu bát cống, có lợn quay che lọng như thế khác nào một đám rước? Hay có cả kèn ta, kèn tây sự lố lăng của sự “âu hóa”. Hay tại chính đám ma này cũng là cơ hội cho những “nam thanh nữ tú” “chim cò” nhau. Thật đáng lên án thay. Qua việc thêu dệt lại các nhân vật bằng lăng kích của tác giả đã thể hiện rõ được sự lố bịch, tây-ta lẫn lộn của những học giả đòi làm sang. Bằng ngòi bút châm biếm trào phúng cay độc. Lúc thì phóng đại lúc thì biếm họa. Lúc tưởng như đáng đau buồn đau thương nhất nhưng lại là những niềm hạnh phúc được vỡ ào của những con cháu bất nhân, bất hiếu. Hay đáng lẽ là sự đau thương, đau buồn, thì lại là sự phô của, sự tình tứ nhau…Từ trang chủ, bọn con cháu, hay chính những người quan khách đến viếng đều là những vai hề. Không phải tự nhiên mà Vũ Trọng Phụng lại viết “Người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng nếu không gật gù cái đầu.” Đây là một chi tiết nhỏ nhưng cũng để cho người đọc thấy được giọng điệu mỉa mai của tác giả. Như vậy, qua đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” cho người đọc thấy hiện thực xã hội lúc đương thời, sự đáng cười nhưng cũng chính là sự đáng thương của một bộ phận con người trong xã hội lúc bấy giờ. Những tiếng cười ra nước mắt vì đạo đức con người bị suy thoái, sự ấu hóa tây ta lẫn lộn làm nên sự lố bịch. Từ đó, đáng lên án, phê phán gay gắt bộ phận này trong xã hội. Đồng thời, cũng qua đây cho ta thấy được sự tinh tế, đặc sắc trong việc lột tả hiện thực xã hội của Vũ Trọng Phụng bằng ngòi bút trào phúng sắc sảo. Phân tích Hạnh phúc của một tang gia – bài 3 Số đỏ là cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Tác phẩm đã phát huy cao độ tài năng châm biếm, đả kích sắc sảo của Vũ Trọng Phụng trước những thói xấu xa, giả dối của xã hội thực dân, phong kiến nửa đầu thế ki XX. Dưới ngòi bút kì tài của Vũ Trọng Phụng, chương nào, đoạn nào cũng thú vị, hấp dẫn như một màn hài kịch trọn vẹn. Đặc biệt gây ấn tượng là chương Hạnh phúc của một tang gia. Ý nghĩa châm biếm gửi cả trong cái tên của chương truyện. Một gia đình có tang, thậm chí đại tang ắt phải tiếc thương, sầu não đến chừng náo, ấy vậy mà lại hạnh phúc. Mới nghe có vẻ ngược đời nhưng trong hoàn cảnh cụ thể của gia đình này thì điều ấy lại chân thực, hợp lí. Ở đám tang cụ Tổ, mọi người đều vui như Tết: con cái, cháu chắt, họ hàng thân thích, người quen biết… ai cũng thấy đây là một dịp may hiếm có để thoả mãn một nguyện vọng, một ý đồ nào đó. Vũ Trọng Phụng vạch rõ chân tướng nhố nhăng, lố bịch của những hạng người mang danh là thượng lưu, quý phái, văn minh, tân tiến nhưng thực chất lại là những cặn bã, quái thai của cái xã hội dở Tây dở ta buổi ấy. Trong chương này, tác giả đã xây dựng thành công những tình huống điển hình để bộc lộ những tính cách đặc sắc. Trước hết, phải nói đến thái độ của những kẻ có quan hệ ruột rà với cụ Tổ. Cái chết của cụ chẳng làm cho đứa con, đứa cháu nào tiếc thương bởi đã từ lâu, họ mong cụ chết cho nhanh để chia gia tài. Thay vào sự tiếc thương, cái chết của cụ đã đem đến cho họ niềm vui to lớn không che giấu nổi – một “hạnh phúc”: Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm. Bọn con cháu vô tâm ai cũng vui sướng thoả thích… Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma… Tang gia ai cũng vui vẻ cả… Cậu tú Tân, chậu nội cụ Tổ hào hứng, phấn khởi thật sự vì cậu có dịp trổ tài sử dụng cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến. Vợ Văn Minh (cháu dâu) mừng rỡ vì sẽ được mặc đồ xô gai tân thời và đội cái mũ mấn trắng viền đen… để quảng cáo cho một kiểu đồ tang mới lạ của cửa hàng Âu hoá vừa mới chế ra. Còn người con trai cả của cụ Tổ thì sung sướng vì một lí do khác lớn hơn. Cụ cố Hồng mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ bình phẩm, ngợi khen: úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa. Văn Minh (cháu nội), đã từng du học tận bên Tây bao năm, về nước không có lấy một mảnh bằng, chỉ nhăm nhăm nghĩ tới chuyện chia gia tài thì thích thú ra mặt vì cái chúc thư kia đã vào thời kì thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa. Riêng người cháu rể (Phán mọc sừng) lại khấp khởi, sướng rơn trong bụng vì đã được bố vợ nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và con rể thêm một số tiền vài nghìn đồng. Chính ông không ngờ rằng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến thế! Không khí của đám ma là không khí của một ngày hội. Đây cũng chính là mâu thuẫn trào phúng gây cười ra nước mắt xuyên suốt hoạt cảnh này. Đám ma rất to, to chưa từng thấy ở đất Hà Thành xưa nay., Có đủ cả kiệu bát cống, lợn quay… đi lọng, vài ba trăm câu đối, bức trướng, vòng hoa phúng điếu, vài trăm người đưa đám nghiêm nghị, thành kính đi sát ngay sau linh cữu cụ Tổ, trong đủ thứ tiếng kèn huyên náo: kèn ta, kèn Tây, kèn Tàu, có cả âm thanh chói tai, rộn rã của lốc bốc xoảng và bu-dích… Đám ma cụ Tổ trở thành dịp may hiếm có để trưng bày và quảng cáo các mốt quần áo Âu hoá mới nhất của tiệm may vợ chồng Văn Minh – sản phẩm độc đáo của nhà thiết kế mĩ thuật Typn. Cô Tuyết cháu gái cụ Tổ với bộ y phục ngây thơ khá hở hang và nét mặt cố tạo ra một vẻ buồn lãng mạn, rất đúng mốt một nhà có đám, khiến cho bao nhiêu vị khách đàn ông khi trông thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết phải xúc động còn hơn nghe tiếng kèn… ai oán, não nùng. Bộ đồ tang đã được cách tân của vợ Văn Minh cũng làm cho mọi người phải xuýt xoa, trầm trồ… Ngoài những thân nhân của người quá cố phải nói đến đám bạn bè, quan khách của tang chủ, đi đưa đám không phải để chia buồn mà là cốt khoe ngực đầy những huy chương như: Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, Cao Mên bội tinh, Vạn Tượng bội tinh…. trên mép và cằm đều đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loàn quản…Đám phụ nữ quý phái, đám trai thanh gái lịch đang theo đuổi, học đòi phong trào Âu hoá, vừa đi đưa ma vừa cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau… Và mỉa mai thay, họ làm tất cả những chuyện ấy bằng vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma (!) Điều đó chứng tỏ họ hoàn toàn dửng dưng với người chết, tất cả đều thản nhiên, vui vẻ và dối trá. Người dân hai bên đường đổ xô ra xem đám ma như xem một sự lạ. Đám ma to đến nỗi những người trong tang gia cảm thấy hết sức sung sướng và hàng phố nhốn nháo cả lên khen đám ma to. Nhà văn lạnh lùng bình luận: Đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu. Thật là mỉa mai, chua chát! Đằng sau sự phô trương, cố làm ra vẻ long trọng, danh giá ấy là sự rởm đời đến mức lố lăng, là thói háo danh đến trơ trẽn của bọn người giàu sang, hãnh tiến và bao trùm lên tất cả là thói đạo đức giả, tự lừa mình và lừa người. Song song với việc mô tả hình thức đám ma với đủ các nghi thức trọng thể, Vũ Trọng Phụng không quên đi sâu thể hiện, phanh phui mặt trái của nó. Ngòi bút sắc sảo của nhà văn trưng lên liên tiếp những bức biếm hoạ trước mắt người đọc, để rồi giúp người đọc nhận ra rằng cái đám ma to tát ấy chỉ thiếu một cái duy nhất mà cũng quan trọng nhất của đám ma – đó là tình người. Thiếu lòng thương tiếc chân thành đối với người đã khuất thì tất cả những hình thức loè loẹt, om sòm kia đều trở thành vô nghĩa, thành trò cười cho thiên hạ. Những kẻ có mặt trong đám ma giống nhau ở chỗ đều giả dối và vô đạo đức. Xuân Tóc Đỏ xuất hiện, đẩy sự lố lăng, dị hợm của đám ma cụ Tổ lên tới đỉnh cao. Hắn chọn đúng lúc để có mặt, trước sự chú ý của mấy trăm con người và gây ấn tượng mạnh với hai vòng hoa đồ sộ, sáu chiếc xe kéo sang trọng và một đám sư, cùng loại sư của báo Gõ mõ. Điều này khiến cho bà cố Hồng càng thêm sung sướng: Ấy, giả không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi. Còn cô Tuyết, người yêu của Xuân Tóc Đỏ cũng phải cảm động mà liếc mắt đưa tình với hắn. Mấy chi tiết đặc tả cảnh hạ huyệt càng mỉa mai, trào phúng. Vũ Trọng Phụng tả nó như một vở kịch mà bận tay dàn dựng của đạo diễn quá ư lộ liễu, trắng trợn: cậu Tú Tân bắt từng người phải chống gậy, gục đầu, cong lưng, lau mắt… để cậu chụp ảnh, trong khi bạn hữu của cậu rầm rộ nhảy lên những ngôi mả khác mà chụp để cho ảnh khỏi giống nhau. Chất bi hài của cảnh khiến người đọc cười ra nước mắt. Chỉ có một tiếng khóc lớn nhất bật lên là của ông Phán mọc sừng: ông oặt người đi, khóc mãi không thôi và tiếng khóc của ông thật đặc biệt: Hức! Hức! Hức. Ông thương cho người đã khuất chăng? Không phải! Ông đang đóng kịch trước mặt mọi người. Thực ra, cụ Tổ chết ông ta rất mừng vì được chia phần khá nhiều, kể cả cái giá của bộ sừng mà cô vợ ông đã cắm lên đầu ông. Miệng khóc, tay ông Phán dúi nhanh vào tay Xuân Tóc Đỏ một cái giấy bạc năm đồng gấp làm tư… để trả công hắn đã gọi ông là Phán mọc sừng trước họ hàng nhà vợ, nhờ đó mà ông ta có thêm được một món tiền lớn. Qua chương Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng bộc lộ xuất sắc tài kể chuyện của mình. Bút pháp của Vũ Trọng Phụng giỏi ở chỗ phóng đại mà như không phóng đại, làm cho mọi việc đều như thật và hơn thật, ông chú ý đến các mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất, khai thác triệt để nhằm gây nên những tràng cười có ý nghĩa phê phán sâu sắc. Cảnh đám ma hiện ra như một màn hài kịch sinh động, một bức biếm hoạ khổng lồ và chi tiết về cái xã hội tự xưng là thượng lưu, sang trọng ở Hà Nội thời đó đang phơi bày tất cả cái bản chất lố lăng và đồi bại trước mắt mọi người. Trên đây là bài tập làm văn phân tích Hạnh phúc của một tang gia, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Phân tích Hạnh phúc của một tang gia
5,045
Phân tích Hịch Tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn. Hướng dẫn 1.Ngay sau khi nêu gương các anh hùng nghĩa sĩ đã xả thân vì đất nước trong những thời kì loạn lạc, tác giả đã viết những lời hết sức tâm huyết kể tội ác của giặc. Bằng cái nhìn sáng suốt, sâu rộng và cảnh giác của vị Tiết chế thống lĩnh, Trần Quốc Tuấn đã vạch trần tà tâm và bộ mặt tham lam, tàn bạo của quân xâm lược phương Bắc qua hình ảnh của những tên sứ giặc. 2.Đoạn văn nói về nỗi lòng, tâm trạng của Trần Quốc Tuấn trước tội ác của giặc được đánh giá là đoạn đặc sắc, hay nhất của bài hịch. Tác giả đã sử dụng những lời văn hết sức thống thiết, cách nói thậm xưng để diễn tả nỗi đau, sự uất hận của một vị tướng lĩnh phải chứng kiến cảnh quốc thế bị sỉ nhục, nhân dân bị chà đạp. Nỗi đau ấy luôn thường trực, kéo dài dằng dặc theo dòng chảy thời gian (ngày, nửa đêm…) thấu vào tận xương tủy: “như dao cắt, nước mắt đầm đìa”. Càng đau xót càng uất hận, căm thù lên đến tột đỉnh biến thành mong muốn mạnh mẽ: “xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù”. Tác giả đã sử dụng cách nói cụ thế đầy ấn tượng để biểu thị một thái độ kiên quyết không dung tha lũ giặc cướp nước. Câu văn chia thành nhiều vế đối nhau tạo cho giọng văn sự đanh thép, hùng hồn, mạnh mẽ. 3.Tác giả cũng chỉ ra một sự thật dù phũ phàng song rất hiển nhiên, tất yếu: Tiền không mua được đầu giặc, chó săn không đuổi được quân thù, rượu ngon không thế làm cho giặc say chết… Và người phải chịu hậu quả đau xót không chi là triều đình, là tướng lĩnh mà chính là bản thân người lính và những người thân yêu của họ. 4.Tác giả là một vị thống lĩnh, lại trong một văn bản chính luận, không thể tránh khỏi nhừng lời lẽ khẳng khái, nghiêm khắc phê phán khi nói về thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm của nhiều tướng sĩ trước vận mệnh đất nước “không biết lo, mà không biết thẹn, không biết tức…”. Nhiều lúc sắc thái đó còn được tăng lên thành nhừng lời khẳng định một chân lí duy nhất, không thể khác: “Nếu các ngươi… thì mới phải; nhược bằng khinh bỏ… tức là kẻ nghịch thù”. Đối với Trần Quốc Tuấn, đó cũng là tư tưởng chung của hệ ý thức phong kiến “ái quốc”, thống nhất với “trung quân”. Thiết nghĩ trung thành với một triều đại thân dân, có những vị tướng kiệt xuất, hết lòng vì giang sơn xã tắc thì cũng là thuận ý trời, hợp lòng dân. Như vậy, lời lẽ và thái độ của Trần Quốc Tuấn cũng là hết sức hợp lí. Nhưng có nhiều khi muốn bày tỏ sự ân tình hay khuyên răn thiệt hơn, tác giả lấy giọng gần gũi, chân tình của người cùng chung cảnh ngộ: “Các ngươi ở cùng ta…”, “lúc bấy giờ ta cùng các ngươi sẽ bị đau xót biết chừng nào…”, “chẳng những… mà”. Đặc biệt là đoạn văn miêu tả tâm trạng xót xa, uất hận đến tột cùng của vị thống lĩnh đã tạo cho bài hịch có sắc thái chân tình, gần gũi, thắm thiết. 5.Đế diễn đạt nội dung vừa có tính thuyết phục, vừa có tính cách phê phán, tác giả đã lập luận rất chặt chẽ như chúng ta đã thấy ở phần kết cấu và bố cục — lời lẽ có tình, có lí, khi thì thiết tha, khi thì đanh thép, chuyển từ đầu đến cuối một cách lô-gíc. Đế phân rõ lẽ phải trái, đường chính tà, tác giả đi từ xa đến gần, từ vấn đề chung đến vấn đề cụ thể trước mắt. Mở đầu, tác giả dẫn chứng trong sử sách đời xưa đế nói khả năng của tướng sĩ đời nay, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Tác giả chuyến xuống phân tích nỗi giặc tàn ác như thê nào, nỗi mình thâm giao như thế nào, tiếp đó tác giả vạch ra hai viễn cảnh trái ngược, rồi kết thúc bằng lời kêu gọi đanh thép; hoặc theo ta, hoặc theo giặc, hoặc là bạn, hoặc là thù, hoặc là danh thơm muôn thuở, hoặc là tên xấu nghìn thu. Phương pháp tương phản, đi đôi với lối văn biền ngẫu trong bài này thật là “đắc dụng”. Ở đây chẳng những ý từng đoạn đối nhau, mà ý từng câu đối nhau, từng chữ đối nhau. Chúng ta đọc đến đâu là lẽ phải, trái nối bật đến đấy: “Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quản giặc mà không biết tức. Nghe nhạc Thái thường đãi yến ngụy sứ mà không biết căm”… Rõ ràng chữ đạp nhau, đối nhau chan chát, ai là người không nhận rõ lẽ chính tà? Tác giả lại biết phối hợp phương pháp điệp ngữ, điệp ý để làm tăng thêm tính thiết tha, tính bi tráng của câu văn. Để đập vào tư tưởng an hưởng thái bình trong tướng sĩ lúc đó, tác giả viết: hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc… hoặc… Tác giả nêu lên hình tượng cựa gà trống bên áo giáp, mẹo cờ bạc bên quân mưu. Sự vật có vẻ hài hước, nhưng ý nghĩa thật nghiêm trang. Bằng phương pháp tương phản kết hợp với phương pháp so sánh, tác giả nêu ra 2 viễn cảnh: Gia quyến của ta + vợ con các ngươi Xã tắc tổ tông của ta + mồ mả cha mẹ các ngươi Viễn cảnh u ám Viễn cảnh huy hoàng -Không còn+ cũng mất -mãi mãi vững bền + đời đời hưởng thụ -bị tan+cũng khốn -yên ấm gối chăn”+bách niên giai lão -Bị giày xéo+bị quật lên -muôn đời tế lễ+ thờ cúng quanh năm Đế làm tăng thêm tính quan trọng của vấn đề, tác giả nhắc lại ý nghĩa đối với quần chúng nhân dân lúc bấy giờ và sự thanh nghị của người đời sau trong sử sách. Sau đó, tác giả đặt một mệnh đề nghi vấn nhưng lại rất khẳng định: Trong cảnh u ám “Lúc bấy giờ, dẫu các người muốn vui chơi phỏng có được không?” Trong cảnh huy hoàng: “Lúc bấy giờ, dẫu các người không muốn vui chơi phỏng có dược không?”. Đây là một đoạn văn hùng biện tài tình, khích lệ cao độ lòng căm thù, chí phấn đâu. Đặc điểm bài văn này còn ở chỗ tác giả biết cấu tạo hình tượng sinh động, sử dụng lời văn thích đáng. Để nêu những gương hi sinh trong sử sách, tác giả đã nêu những hình tượng “đem mình chết thay”, “chìa lưng chịu giáo”, “nuốt than”, “chặt tay” v.v… Đối với giặc, tác giả dùng những hình tượng “uốn lưỡi cú diều”, “đem thân dê chó”. Chỉ mấy chữ đó cũng nói lên được bản chất của giặc là xảo quyệt và hèn hạ. Giá trị thuyết phục của bài Hịch chính là ở chỗ đã kết hợp được ở mức độ cao 2 yếu tố tình cảm và lí tính.
Phân tích Hịch Tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn.
1,254
Đề bài: Phân tích hồi IV vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng để làm nổi bật tính chất bi tráng của nó Bài làm Chủ đề cách mạng in đậm trong kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng. Xung đột kịch thể hiện tập trung trong hồi IV đã dựng nên một hình tượng bi tráng về người phụ nữ dân tộc Tày, tiêu biểu cho hàng nghìn, hàng vạn quần chúng được giác ngộ trong đấu tranh, trong mất mát đau thương đã đứng hẳn về phía cách mạng. Ta có thể lấy câu nói này của Thơm để làm nhan đề cho hồi IV kịch Bắc Sơn: “Tôi chết thì chết, chứ tôi không báo hai ông đâu". Sự việc diễn ra, xung đột kịch nổ ra tại nhà vợ chồng Ngọc, có đủ bốn nhân vật: Ngọc, Thơm, Thái, Cửu. Ngọc dẫn Tây truy đuổi sắp bắt được hai cán bộ cách mạng là anh Cửu và giáo Thái. Bị dồn nguy kịch, Cửu dẫn Thái chạy trốn vào nhà anh Điếc người quen, ai ngờ đó là nhà Ngọc mới tậu được. cửu rút súng toan bắn Thơm vì anh cho rằng: "Vợ Việt gian thì cũng tù Việt gian”. Nhưng Thái đã giữ tay lại và bảo: “đừng bắn", vì anh tin rằng Thơm mang "dòng máu cụ Phương", đó là dòng máu yêu nước, cách mạng. Khi tiếng chó sủa râm ran, tiếng người chạy rầm rập, Cửu vừa thất vọng vừa hối hận, lo lắng thì Thơm đã nói như thề: “Chết nỗi, hai ông bị chúng nó đuổi phải không? Làm thế nào bây giờ?… Tôi không bảo hai ông đâu. Tôi chết thì chết, chứ tôi không bảo hai ông đâu”. Ngọc dẫn Tây đi khám nhà bà Lục, nhà bác Chui. Tiếng chân đi, tiếng gậy lộc cộc càng gần. Thái và Cửu định chạy ra thì Thơm đã ngăn lại, đẩy hai cán bộ vào buồng và nói: "Có lối thông ra ngoài đấy, khép cửa buồng lại’’. Tình huống này đầy kịch tính, căng thẳng, hồi hộp. Vợ Việt gian đã che giấu, bảo vệ cán bộ cách mạng. Thơm đã đứng hẳn về phía cách mạng. Đó là sự thật thể hiện tấm lòng của nhân dân đối với cách mạng. Bình diện thứ hai là xung đột giữa Thơm và Ngọc. Ngọc mỗi ngày một lộ nguyên hình một con chó săn đắc lực cho bọn Tây. Đêm nào hắn cũng đi suốt đêm, tay cầm đèn bấm và gậy gộc để lùng bắt cán bộ. Lời đồn đến tai Thơm: “anh thằng Sáng dắt Tây vào đánh Vũ Lăng”. Ngọc có nhiều tiền. Hắn mơ cái hàm cửu phẩm. Hắn tự than thân: "Chỉ mình là đen, không có danh phận gì, lép vế trong làng quá!”. Ông Thái, đối với Thơm, là một người rất tốt: “bỏ cả cửa nhà đi làm cách mạng”, “cả vùng này, có ai ghét ông ấy đâu!”. Trái lại, lúc thì Ngọc bịa đặt vu khống ông Thái là: “mật thám cho Tây đấy ", lúc thì lại bảo, anh Cửu và ông Thái là "hai cái thằng tướng cướp… Bắt được hai thằng ấy thì cũng được vài ngàn đồng”… Hắn đi suốt đêm, hắn đi lùng sục bắt ông Thái, bắt anh Cửu nộp cho Tây là để được thưởng nhiều tiền mà mua nhà, mà tậu mấy mẫu ruộng nữa, mà chạy cái hàm cửu phẩm, mà ăn khao một chuyến "thế mới thích”! Trong lúc ông Thái, anh cửu đang trốn trong buồng nhà Thơm thì ở dưới chân cầu thang lại có lí trưởng, bọn tay sai, bọn lính Tây đang lùng sục, đang chờ Ngọc. Ngọc đi đi về về. Hắn cứ ngồi nán lại mải nói với Thơm đủ chuyện, hắn đếm tiền, hay tính toán, hắn cười, ngắm vợ. Có lúc nó thốt lên: “Chắc là nó còn ở đấy,… nhất định là nó còn ở đấy!…”. Thơm nhìn trộm chồng, vô cùng sốt ruột nhưng chị đã khéo dấu kín tâm trạng lo lắng của mình. Thơm ăn nói nhẹ nhàng, tình cảm lúc thì nhắc chồng: “Mai thì ở nhà mù ngũ cho nó lại.sức”, lúc thì giục giã: “Thế nào có đi không?”. Lúc Ngọc nghe tiếng quan gọi, chạy ra khỏi nhà thì Thơm thở dài, khoan khoái nhìn theo phía Ngọc ra, mỉm cười, thầm nghĩ: "May thế!”. Đúng là Thơm đóng kịch giỏi, đã qua mắt được tên Việt gian, mà tên Việt gian ấy lại là chồng mình. Nguyễn Huy Tưởng đã thể hiện một tính cách tinh tế tâm trạng nhân vật Thơm đầy tính kịch – tính kịch của một lâm trạng bi kịch. Nhân vật Thơm là một hình tượng bi tráng về người phụ nữ Tây hơn 60 năm về trước. Vượt qua mọi cảnh ngộ đau thương, Thơm đã đến với cách mạng, sẵn sàng xả thân vì cách mạng. Tinh thần của các chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đời đời bất tử. Hình tượng nhân vật Thơm trong kịch Bắc sơn vô cùng chói lọi, một thành công đặc sắc của Nguyễn Huy Tưởng khi viết về cách mạng và người phụ nữ Việt Nam. Cũng Cần nhắc lại, nghe lại lời của Thơm vạch mặt Ngọc trước khi chị bị tên Việt gian này bắn: … “Thôi, đến lúc này tôi cũng chẳng cần úp mở làm gì nữa. Tôi biết anh lắm rồi. Tôi biết anh từ khi em tôi chết, chú tôi chết, từ hôm mé tôi dở người. Anh giấu ai, chứ giấu tôi thế nào được? Ba tháng nay, tôi ăn chung, ở chung với anh, tôi khổ sở biết là chừng nào! Anh giết chú tôi, anh giết em tôi, anh làm tan cửa nát nhà tôi, anh làm hại bao nhiêu người, anh tưởng tôi không biết nhục ù? Vợ một thằng chó săn! (…) Tôi đố anh phá nổi quân du kích, tôi thách thằng Tây phú nổi quân du kích! Mà mắt ra: Nó sai như con chó, nó khinh như con chó, mù không biết đời ù?… Các ông đồng chí đâu! Bắt lấy nó! Nó đây rồi! Bắt cả tôi nữa, mà báo thù cho các đồng chí Bắc Sơn. Nó đây rồi, đừng thương nó!”.
Phân tích hồi IV vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng để làm nổi bật tính chất bi tráng của nó
1,055
Phân tích hồi thứ 14 trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Thì Nhậm Hướng dẫn Mà nay áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước biết bao công trình. Hai câu thơ trích trong Ai tư vãn của công chúa Ngọc Hân khóc chồng không phải là cái nhìn của tác giả Hoàng Lê nhất thống chí. Đoạn trích ở hồi thứ mười bốn này, đã tái hiện hình tượng Nguyễn Huệ nhưng bằng một nhãn quan khác, một thiện cảm khác, thiện cảm hướng về nhà Lê. Hình tượng nhân vật này thuộc một vùng không gian nghệ thuật, vùng ý thức tư tưởng ngược chiều. Tính chất phi chính thống của Nguyễn Huệ không nằm trong ý định ngợi ca, nhưng từng chữ, từng dòng miêu tả thì chân dung người anh hùng áo vải đã từ từ sừng sững dược hiện lên. Khi bức tượng đài hoàn thiện thì chính nhà văn cũng không khỏi bất ngờ, đó là điều hiếm thấy trong văn học nước nhà. Hồi thứ mười bốn bắt đầu bằng cái việc hèn hạ của Lê Chiêu Thống "Cõng rắn cắn gà nhà". Tôn Sĩ Nghị cùng hai chục vạn quân Thanh kéo sang chính là để thực hiện cái ý đồ trái quy luật lịch sử là phản dân hại nước của vua Lê, nhằm hai mục đích khác nhau, về danh nghĩa, chi viện cho một nước nhỏ, với tư cách là một nước lớn (nước của Thiên tử hay một nước lân bang?). Còn trên thực chất, ở chúng có một cái gì đó rất khó hiểu. "Cứ xem lời lẽ trong bài hịch thì những điều họ bắt mình phải đương lấy rất là nặng nề, còn họ thì chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để doạ dẫm mà thôi". Vì sao mà Tôn Sĩ Nghị lại không ra tay? Thái độ "án binh bất động" này hoàn toàn không giống sự khẩn trương đến gấp gáp lúc kéo quân sang. Từ cửa ải hướng thẳng tới Thăng Long, đại binh của Tôn tổng đốc đã từng hăng hái tiến lên với tốc độ ngày đi đêm nghỉ, xuyên rừng vượt núi. Nay, tới kinh thành, giặc còn chưa tiếp cận được, họ đã vội dừng lại là cớ làm sao? Sự không thực lòng của Tôn Sĩ Nghị trong sự nghiệp phù Lê đã được tiên đoán của người cung nhân ấy: "Họ chẳng qua chỉ là người khách, chuyến này sang cũng cốt xem sự thể khó hay dễ để liệu bề tiến lui mà thôi". Đối phương của Nguyễn Huệ do vậy không hẳn là bọn bán nước mà là lũ cướp nước. Bọn bán nước thì đê hèn nhưng không có lực lượng. Còn bọn cướp nước thì không chỉ tướng mạnh quân đông mà tham vọng tâm địa cũng không the coi thường. Trong chiến tranh, thắng lợi bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh. Vì vậy cái mạnh của Nguyền Huệ, ớ người cầm quân được soi từ nhiều phía. Chi một cái nhìn của neười cung nhân cũ từ phủ Trường Yên cũng rõ: "Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết". Cái nhìn đó hẳn không sai. Nguyền Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm lộng hành, lấn át ngôi vua bị Nguyễn Huệ trừng trị đã dành. Nhưng trừng trị theo cái kiểu "bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn" thì trong lịch sử những nhân vật xuất chúng của nước chúng ta chưa thấy lần nào. Bới tính hiệu quả, tính tức thời của hành dộng chỉ như một chớp mắt, một cái trở bàn tay. Uy của Nguyễn Huệ tựa hổ sấm sét, đến nỗi "Không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt". Chân dung ấy quả thật như huyền thoại, một ánh sao băng nhưng hoàn toàn không cô lập. Ở đó có mạch nguồn, có độ sâu cội rễ. Nguyễn Huệ đã làm những việc cha ông từng làm trước hiểm hoạ xâm lăng là "không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo". Nguyễn Huệ đứng lên trong hoàn cảnh ấy, cái tâm, cái trí cùa Nguyễn Huệ là cái tâm, cái trí của tiền nhân. Ngọn cờ đạo lí đã dẫn dường cho cuộc xuất quân thần tốc, và cái tâm, cái tự của trăm họ bấy giờ làm cho con dường ấy rộng ra. Sự thấu hiểu, lắng nghe của Nguyễn Huệ một cách thành thực và khiêm tốn cũng đủ điều chỉnh cho cơn bão căm hờn tạm thời nén xuống. Nhận được tin cấp báo của Nguyễn Văn Thuyết từ Tam Điệp chạy trạm vào Phú Xuân, Bắc Bình Vương giận lắm định thân chinh cầm quân lập tức di ngay. Nghe lời can ngăn của các tướng sĩ dưới quyền, ông chấp nhận "lòng tôn phò của mọi người" làm nghi thức lên ngôi hoàng đế. Khi tới Tam Điệp, Sở, Lân mang gươm đến xin chịu tội vì đúng là họ có tội. Người chủ tướng (cũng là vua mới) không phải không hiểu tội danh lớn nhất trong binh pháp phải xử lí như thế nào. Đúng ra thì "quân thua chém tướng", đó là luật. Nhưng không có luật lệ nào trái được nhân tâm. Lòng Sở, Lán không phải thế, hơn nữa đó là mưu lược của Ngô Thì Nhậm. Lẽ ra bị trừng phạt, nhưng cuối cùng lại được ngợi khen. Cách hiểu người và dùng người đến mức tri kỉ, tri âm như thế không phải là người cầm quân nào cũng có dược. Đâu phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huệ trong việc tập hợp, tổ chức lực lượng lại làm được cái việc Lê Lợi trước đó đã từng làm "Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới" (Bình Ngô đợi cáo). Tướng của Nguyễn Huệ là Hám Hổ Hầu đi kén lính ở Nghệ An theo quy định cứ ba trai tráng (ba suất đinh) thì lấy một người. Thế mà chẳng mấy chốc đã được "hơn một vạn quân tinh nhuệ". Niềm tin của vua Quang Trung là dựa vào cơ sở lòng dân ấy. Không biết là ông nói với mọi người hay nói với chính mình trong lần gặp Sở, Lân ở Tam Điệp: "Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược liến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày có thể đuổi được người Thanh". Có được cái tâm, cái trí, kẻ thao lược phải có quyền mưu, mà linh hồn của quyền mưu là cái dũng. Như ta biết: quyết tâm của Tôn Sĩ Nghị là vào tới sào huyệt của Nguyễn Huệ ở Phú Xuân với mục tiêu "Bọn giặc ấy nhất dịnh lần lượt bị bát sống, không một tên nào lọt lưới" và tự đắc hợm minh "người Nam Hà sẽ đến mà xem". Còn Nguyễn Huệ chỉ một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Tôn Sĩ Nghị vào Nam, Nguyễn Huệ ra Bắc, hai cuộc hành tiến trái chiều nhưng đều lấy thời điểm ngày hạ cây nêu làm mốc. Riêng vởi Nguyễn Huệ trước một trận chiến dường như không cân sức (kẻ thù đông hơn gấp bội) thế mà dám hẹn với các tướng của minh "đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng". Điều đó thể hiện rõ lòng quyết tâm chiến thắng kẻ thù xâm lược của Nguyễn Huệ. Quả thật, theo dõi cuộc hành quân của Nguyễn Huệ từ Tam Điệp trở ra, người đọc mới hiểu thế nào là thần tốc về lực lượng, quân của Nguyễn Huệ chia làm năm đạo, có cả thuỷ bộ, nhưng bộ binh là chính. Phương tiện hành quân không nói đến lừa ngựa, chỉ có một số voi, trong đó có thớt voi vua Quang Trung cưỡi. Vậy thì đại quân chủ yếu là chạy bộ, không chỉ từ Tam Điệp mà trước đó từ Nghệ An, khi nhà vua hạ lệnh tiến quân "Các quân đéu nghiêm chỉnh,đội ngũ mà đi". Vậy "đi" đây là đi bộ. Họ vừa đi vừa đánh. Thế mà đêm 30 tháng Chạp Mậu Thân (1788) còn ở Tam Điệp, mồng 3 tháng Giêng năm Kỉ Dậu (1789) đã tới Hà Hồi, vượt qua hai con sông Gián Khẩu và Thanh Quyết. Hơn một trăm cây số, mà họ chỉ hành quân trong ba ngày. Giữ nguyên tốc độ ấy, mờ sáng ngày mồng 5, đại quân đã đến đồn Ngọc Hồi, vượt qua sự kháng cự không phải là không đáng kể của đồn này dưới sự chỉ huy của tên Thái thú Điển Châu Sầm Nghi Đống, cùng ngày hôm ấy, đại quân đã tiến đến Thăng Long. Điều có thực mà như không có thực, đúng như lời dặn của vua Quang Trung: "Các ngươi nhớ lấy, đừng cho là ta nói khoác!". Hlnh như trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc Viột Nam, có hai câu nói gần giống nhau khi nhận định về sự thắng bại, hơn thua. Ấy là câu trả lời vua Trần của Trần Hưng Đạo "năm nay thế trận giặc nhàn" và lời dặn trên đây của Nguyễn Huệ. Cùng với cuộc hành quân thần tốc có một không hai trong lịch sử chiến tranh, cách đánh của vua Quang Trung biến hoá như thần, không một thứ sách vở nào có được. Đó là cách đánh bao vây, chia cắt địch, tạo yếu tố bất ngờ. Đối phương rơi vào một thế cờ bày sẵn không kịp trở tay. Vì sao khi tới sông Thanh Quyết, toán do thám của quân Thanh bỏ chạy, Quang Trung đã cho truy đuổi đến cùng? Thực ra số quân địch ấy không có gì dáng kể. Điều quan trọng với Quang Trung là những trận đánh lớn tiếp theo, Tôn Sĩ Nghị không thể chủ động đề phòng. Đảm bảo được yếu tố bất ngờ nghĩa là đảm bảo dược một nửa thắng lợi. Do vậy ở đồn Hà Hồi, mãi tới khi Quang Trung bắc loa truyền gọi, quân lính trong đồn lúc ấy mới biết. Vì bị động, bị bất ngờ "ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng, lương thực khí giới đều bị quân Nam lấy hết". Nói cho cùng, thắng bại trong chiến tranh phụ thuộc vào hai yếu tố: thể và lực. "Lực" liên quan đến "thế" và "thế" đại quân Tây Sơn có thể tạo ra "lực". Quang Trung đã tận dụng và phát huy hai yếu tố trung tâm then chốt ấy. Bất ngờ là một khía cạnh của thế. Ở đây có bất ngờ về thời gian và địa điểm tấn công. Còn có sự bất ngờ về cách đánh. Kẻ địch cho dù có biết thời điểm tấn công – nhưng không biết cách đánh của đối phương, cũng rất khó đề phòng. Vì vậy, đồn Hà Hồi chiến thắng nhanh chóng, dễ dàng. Không cần bắn một mũi tôn nào mà kẻ thù tự đem minh chịu trói. Cái đó còn nhờ vào mưu. Phải có một quyền mưu đạt tới mức nghệ thuật mới có thể vừa chiến thắng vẻ vang vừa bảo toàn lực lượng. Nhưng tới đồn Ngọc Hồi, cửa ngõ của kinh thành Thăng Long thì cách đánh ở Hà Hồi không thể ứng dụng được nữa. Muốn áp đáo đối phương ngay từ phút đầu thì phải cần đến một phương sách khác, để vô hiệu hoá lực lượng phản công của địch. Quang Trung đã dùng rơm và ván, nghĩa là một thứ khiên, mộc đơn giản mà thật sáng tạo tài tình tạo ra lá chắn để đại quân vẫn với đội hình ấy dàn chữ "nhất" tiến lên. Diệu kế ấy làm cho các mũi tên quân giặc bắn ra "chẳng trúng người nào cả". Quân giặc phải dùng đến ống phun khói tung hoả mù để làm cho quân Nam rối loạn thì bỗng chốc gió lại đổi hướng, quân Thanh tự hại mình, khốn đốn không phương chống đỡ. Uất ức vì tướng giỏi, quân đống, ý chí và mưu lược có thừa mà phải tự trói tay nộp mạng, Sầm Nghi Đống thắt cổ chết là chuyện đương nhiên. Điều Nguyễn Trãi tổng kết trong Bình Ngô đại cáo "Đánh một trận sạch không kình ngạc – Đánh hai trận tan tác chim muông" đã được Quang Trung kế thừa ở thời đại ông. Đê đạt tới tính triệt để, tính tuyệt đối, vừa tiêu diệt toàn bộ lực lượng đối phương vừa bẻ gãy hoàn toàn ý chí của chúng, nhất là ở vào địa bàn trọng yếu như đồn Ngọc Hồi, Quang Trung đã phối hợp tấn công phía trước với hai cánh như thế của hai gọng kìm. Lực lượng của địch khộng nhỏ bé như ở Hà Hồi, nhưng cảm thấy bất lực giữa một "thiên la địa võng" bao vây. Quân ứng chiến đại bại đã đành, quân rút chạy càng vô cùng hoảng loạn. Chạy về phía đê Yên Duyên thì đã thấy quân của Quang Trung gióng trống mở cờ, tắt sang đường Vịnh Kiều chạy trốn thì quân voi của Quang Trung từ Đại Áng kéo sang chặn lối. Còn cái chết nào nhục nhã hơn đối với chúng là ở vào cái thế cùng đường và hoảng loạn bội phần ấy phải trốn cả xuống Đầm Mực đành để cho "quân Tây Sơn lùa voi cho giày đạp, chết đến hàng vạn người". Giữ cho mình cái thểvầ lực ấy, đại binh của Tây Sơn kéo thẳng vào thành Thăng Long. Điều thú vị là các trận đánh của Quang Trung ngày một quy mô lớn rộng hơn như cơn bão xoáy tăng dần cường độ, vượt qua mọi cánh cửa vòng ngoài tiến vào đại bản doanh mà tuyệt nhiên không gặp một vật cản nào đáng kể. Những vật cản ấy dù là Sầm Nghi Đống hay Tôn Sĩ Nghị, dù là Hà Hồi, Ngọc Hồi, hay cả Thăng Long, quân xâm lược đều ở vào một tình thế không mấy khác nhau: sợ hãi, cuống cuồng, bất lực. Sầm Nghi Đống tự tử đã đành, Tôn Sĩ Nghị không thể trở tay một khi đã "sợ mất mật". Thế là "ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp" cắm đầu nhắm hướng Bắc mà chạy. Chi tiết có thực này tuy chỉ là một chi tiết nhỏ nhưng ý nghĩa của nó lại rất lớn. Cht mới ít ngày trước đó hai chục vạn quân Thanh hùng hổ từ phương Bắc kéo sang định làm cỏ nước Nam, hợm hĩnh là thế, nay một mảnh giáp cũng không còn, nói gì đến bọn bán nước cầu vinh Lê Chiêu Thống. Tư cách tiện nhân hèn hạ của y dược đặc tả trong nhiều trường hợp, như những giọt nước mắt tiễn đưa Tôn Sĩ Nghị ở biên cương phía Bắc của vua Lê thực thảm hại mà cũng nực cười. Như thế là bức phác thảo về nhân vật Quang Trung đó vừa hoàn tất với những đường nét cuối cùng. Bức tượng đài có một không hai trong lịch sử văn học nước nhà cứ sừng sững hiện lên dưới bầu trời trong veo còn sặc mùi thuốc đạn của kinh thành. Trong khải hoàn môn của người thắng cuộc, vua Quang Trung là biểu tượng đầy ý nghĩa cho những gì thuộc về dân tộc. Đó là đạo lí Việt Nam, tài trí Việt Nam, sức mạnh Việt Nam. Phải chăng hình tượng đó ít nhiều sống lại trong giấc mơ của Nguyễn Du khi biến đổi một kẻ anh hùng thảo dã trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thành một anh hùng tái thế – Từ Hải trong Truyện Kiều? Trở lại điểm nhìn của tác giả Hoàng Lê nhất thống chí, nhìn tổng quát thì dó là một cái nhìn khách quan. Hình tượng nhân vật Quang Trung do đó như có một thứ ánh sáng soi vào. Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn những yếu tố duy tâm nằm ngoài nhận thức vé quy luật lịch sử, về dời sống con người. Chẳng hạn như không ít lần khi tường thuật sự kiện hay ý nghĩ của nhân vật, nhà văn đã nói đến cơ trời. Cơ trời chính là thiên lí, là mệnh mà con người không cưỡng nổi. Kể trận chiến ở Ngọc Hồi, kẻ chủ động dùng hoả hổ là quân Thanh. Cách phản công này không phải là không có tác dụng vì kẻ chủ mưu có được một thứ vỏ bọc của sự tàng hình. Nhưng đột ngột thay, trong chốc lát trời trở gió. Đó là một biểu hiện của cơ trời. Rồi khi Quang Trung kéo quân vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị không hề hay biết. "Nào hay cuộc vui chưa tàn, cơ trời đã đổi". Đã là "thiên lí", người hợp với nó là đại nghĩa, còn ngược lại là Tôn Sĩ Nghị, Lê Chiêu Thống, thất bại là lẽ đương nhiên. Chính Lê Chiêu Thống dã thú nhận sự khoanh tay bất lực trước cái cơ trời, mệnh trời ấy khi y nói với Tôn Sĩ Nghị lúc chia tay "Cô không có tài, chẳng giữ nổi xã tắc. Đội ơn tướng quân vâng lệnh chỉ của hoàng đế sang cứu viện, nào ngờ lòng trời không giúp nước nhỏ, nay ngài lại bỏ mà đi. Kính chúc tướng quân về triều được hai chữ "vạn phúc". Song, ngay trong cái yếu tố duy tâm này không hẳn chỉ mang ý nghĩa tiêu cực. Cái tích cực lên ngôi mới thay cũ, nắng thay mưa. Khách quan, điều ấy hợp với lòng người. Sự tiến bộ rất đáng ghi nhận ở đây chính là điểm đó, ở cái chỗ mà cuộc sống đã đem lại cho tác phẩm văn chương những chân lí nghệ thuật mới nằm ngoài định kiến hoặc sự áp đặt của bất kì ai.
Phân tích hồi thứ 14 trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Thì Nhậm
3,054
Đề bài: Phân tích Hồi thứ mười bốn rút trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái Bài làm Hòang Lê nhất thông chi là cuốn lịch sử chương hồi của một số tác giả trong Ngô gia văn phái. Tác phẩm đã khái quát một giai đoạn lịch sử với bao biến cố dữ dội đẫm máu từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa đến khi Gia Long chiếm Bắc Hà (1868 – 1802) như: loạn kiêu binh, triều Lê Trịnh sụp đổ, Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn… Sự sụp đổ không thể cưỡng nổi của triều đại Lê Trịnh và khí thế sấm sét của phong trào nông dân Tây Sơn là hai nội dung lớn được phản ánh qua Hoàng Lê nhất thống chí. Đặc biệt Hồi thứ mười bốn đã thể hiện một cách hào hùng sức mạnh quật khởi của dân tộc trước thù trong giặc ngoài và khắc họa hình tượng Nguyễn Huệ, người anh hùng dân tộc đã làm nên chiến công Đống Đa bất tử. Ta như được sống lại những giờ phút lịch sử nghiêm trang và hào hùng của dân tộc vào cuối năm Mậu Thân (1788), đầu năm Kỉ Dậu (1789) khi Lê Chiêu Thống đã rước 29 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu, kéo sang xâm lược nước ta. Tác giả Hoàng Lê nhất thông chí mở đầu hồi mười bốn đã viết: Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận, Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài. Vị cứu tinh của dân tộc thuở ấy là Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải đất Tây Sơn. Ngày 22 tháng 11 năm Mậu Thân, Tôn Sĩ Nghị chiếm Thăng Long. Tướng Ngô Văn Sở lui binh về án ngữ tại Tam Điệp. Ngày 24, Nguyễn Huệ được tin cấp báo, và ngày 25 lên ngôi hoàng đế "tế cáo trời đất cùng các thần sông, thần núi", lấy niên hiệu là Quang Trung, Nguyễn Huệ đốc xuất đại binh ra Bắc. Ngày 29 đến Nghệ An tuyển thêm một vạn quân tinh nhuệ. Nguyễn Huệ tổ chức duyệt binh truyền hịch đánh quân Thanh, vạch trần âm mưu xâm lược của bọn chúng "mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện…; kêu gọi tướng sĩ "đồng tâm, hiệp lực, để dựng nên công đức”. Nhà vua chia quân làm 5 doanh (tiền, hậu, tả, hữu, trung quân) rồi thần tốc ra Tam Điệp hội quân với cánh quân Ngô Văn Sở. Quang Trung chia đại quân làm 5 đạo, cho quân ăn tết Nguyên đán trước, "bảo kín" với các tướng soái đến tối 30 thần tốc đánh quân Thanh, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long "mở tiệc ăn mừng". Qua đó, ta thấy rõ Quang Trung có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, sáng suốt, giàu mưu lược, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng lũ xâm lăng. Các sự kiện như lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân, tuyển quân và truyền hịch ở Nghệ An, cho quân sĩ ăn Tết Nguyên đán trước; đặc biệt, nhà vua đã lạo nên yếu tố bất ngờ, đánh quân Thanh vào đúng dịp tết khi chúng "chỉ chăm chú vào việc vến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc' đã thể hiện tinh thần quyết đoán của một thiên tài quân sự khi Tổ quốc lâm nguy. Tác giả mượn lời người cung nhân cũ để làm nổi bật tính cách anh hùng phi thường của Nguyễn Huệ khi trận Ngọc Hồi chưa xảy ra: "Không biết rằng, Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh vù có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sấm sét". Nguyễn Huệ là một anh hùng có tài điều binh khiển tướng, trù hoạch quân mưu như thần. Ra quân đánh thắng như chẻ tre. Bất sống toàn bộ toán quân Thanh đi do thám tại Phú Xuyên, dùng mưu gọi loa, vây kín làng Hà Hồi, quân Thanh "rụng rời sự hãi" phải đầu hàng. Dùng kì mưu kết ba tấm ván thành một bức bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức; mỗi bức có 20 dũng sĩ, lưng dắt dao ngắn dàn thành trận chữ "nhất" xông thẳng vào đồn Ngọc Hồi. Súng quân Thanh bắn ra đều vô hiệu. Vua Quang Trung cưỡi voi đốc chiến. Sáng mồng 5, đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt, Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử, hàng vạn giặc bị giết "thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại". Vua đã đặt phục binh tại đê Yên Duyên và Đại Áng, hợp vây quân Thanh tại Quỳnh Đô, giặc trốn xuống đầm Mực bị quân Tây Sơn "lùa voi cho giày đạp, chết đến hàng vạn người". Thừa thắng, vua Quang Trung tiến vào giải phóng kinh thành Thăng Long đúng trưa mồng 5 tháng giêng năm Kỉ Dậu, trước kế hoạch 2 ngày. Có tài thao lược vô song, có tin vào sức mạnh chiến đấu và tinh thần yêu nước của tướng sĩ, của nhân dân ta mới có niềm tin tất thắng ấy. Chiến thắng Đông Đa 1789 đã làm cho tên tuổi người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ sáng ngời mãi ngàn thu. Các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí đã từng ăn lộc của nhà Lê, vốn có cảm tình với vua Lê nhưng trước họa xâm lăng và chiến công Đống Đa oanh liệt, họ đã đứng trên lập trường dân tộc, đã viết nên những trang văn đẹp nhất, dựng lên một tượng đài kì vĩ,tráng lệ về người anh hùng Nguyễn Huệ. Chỉ mấy năm sau, trong bài Ai tư vãn khóc vua Quang Trung qua đời, Ngọc Hân công chúa đã viết: Mà nay áo vải cờ đào, Giúp dân dựng nước xiết bao công trình. Đó là hình tượng người anh hùng Quang Trung trong văn học mà ta cảm nhận được với bao ngưỡng mộ. Bằng biện pháp nghệ thuật tượng phản đối lập, các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí đã miêu tả và nêu bật sự thảm bại của quân Thanh xâm lược và số phận nhục nhã, bi đát của bọn vua quan phản nước hại dân. Chỉ huy 29 vạn quân Thanh sang xâm lược nước ta là Tôn Sĩ Nghị. Sau khi chiếm được Thăng Long "không mất một mũi tên, như vào chỗ không người" hắn vô cùng "kiêu căng buông tuồng". Bon tướng tá chỉ biết "chơi bời tiệc tùng, không hè đề ý gì đến việc quân". Chúng huênh hoang tuyên bố là đầu xuân sẽ kéo quân thẳng đến sào huyệt của Tây Sơn để "bắt sống không một tên nào lọt lưới!". Thế nhưng, trước sức tiến công như vũ bão của Nguyễn Huệ, bao đồn giặc bị đánh tơi bời. Đồn Hà Hồi phải đầu hàng. Đồn Ngọc Hồi bị đập nát, Sầm Nghi Đống phải tự tử. Hàng vạn giặc phải bỏ mạng ở đầm Mực, Tôn Sĩ Nghị "sợ mất mật, ngựa không kịp chói yên, người không kịp mặc giáp… nhằm hướng Bác mà chạy". Quân tướng "hoảng hồn, tan tác bỏ chạy". Chúng tranh nhau chạy, xô đẩy nhau rơi xuống sông, cầu phao đứt, hàng vạn giặc bị rơi xuống nước mà chết, đến nỗi nước sông Nhị Hà bị tắc nghẽn. Bọn sống sót chạy tháo thân về nước! Bọn Việt gian bán nước cầu vinh như Lê Chiêu Thống, Lê Quýnh, Trịnh Hiến trên đường tháo chạy trở thành lũ ăn cướp. Chúng bạt vía kinh hồn chạy đến Nghi Tàm, "thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá, vội cướp lấy rồi chèo sang bờ bắc". Tại cửa ải, Lê Chiêu Thống và bọn cận thần "than thở, oán giận chảy nước mắt" trông thật bi đát, nhục nhã. Còn Tôn Sĩ Nghị "cũng lấy làm xấu hổ". Chết nhưng nết không chừa! Lê Chiêu Thống hứa “xin sang hầu tướng quân", nghĩa là tiếp tục rước voi về giày mả tổ! Còn Tôn Sĩ Nghị vẫn khoác lác: “ Nguyễn Quang Trung chưa diệt,việc này còn chưa thôi!". Có thể nói, hình ảnh lũ xâm lược và bọn bán nước được miêu tả bằng nhiều chi tiết châm biếm, thể hiện một thái độ khinh bỉ sâu sắc. Đọc Hồi thứ mười bốn (Hoàng Lê nhất thống chí) ta càng thấu rõ tim đen quân xâm lược phương Bắc, âm mưu của thiên triều, và bộ mặt dơ bẩn của bọn Việt gian bán nước. Ta càng thêm tự hào về truyền thống yêu nước, anh hùng của dân tộc ta, vô cùng kính phục và biết ơn Nguyễn Huệ, nhà quânsự thiên tài của Đại Việt. Nghệ thuật kể chuyện, bút pháp miêu tả nhân vật lịch sử (Nguyễn Huệ, Lê Chiêu Thống, Tôn Sĩ Nghị) rất chân thực và sinh động tạo nên những trang văn hào hùng tuyệt đẹp vừa giàu giá trị văn chương, vừa mang tính lịch sử sâu sắc.
Phân tích Hồi thứ mười bốn rút trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái
1,574
Phân tích Hồn Trương Ba da hàng thịt-Lưu Quang Vũ Hướng dẫn Hồn Trương Ba da hàng thịt, cuộc đấu tranh giữa nhân tính và thần tính Mở bài: Lưu Quang Vũ được coi là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu, một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nên văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Các vở kịch của ông mang đậm dấu ấn hiện thực cuộc sống, phản ánh chân thực và sinh động các vấn đề của thời đại. Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch gây tiếng vang nhất của Lưu Quang Vũ. Từ cốt truyện dân gian, nhà văn xây dựng một vở kịch hiện đại chứa đựng nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng và triết lí nhân sinh sâu sắc Thân bài: Vị trí của lớp kịch: Lớp kịch này là phần của cảnh 7, cảnh cuối cùng của vở kịch. Hồn Trương Ba bị đẩy vào tình huống rắc rối éo le, gay gắt. Ba tháng “ngụ cư” trong xác lạ, phải trải qua những cuộc đấu tranh gay gắt với chính thể xác mà mình được trú ngụ – thể xác đầy ham muốn bản năng của anh hàng thịt. Đây là khi cuộc đối đầu giữa Hồn và Xác lên đến cao trào; Hồn có nguy cơ bị lấn át. Nỗi đau khổ dằn vặt trong nhân vật Hồn Trương Ba phát triển đỉnh điểm để từ đó đi đến quyết định cuối cùng. Lớp kịch kể về chuyện mượn hồn đổi xác của Trương Ba và anh hàng thịt. Trương Ba là một người làm vườn và giỏi đánh cờ đã bị Nam Tào bắt chết nhầm. Vì muốn sửa sai, nên Nam Tào và Đế Thích cho Hồn Trương Ba sống lại và nhập vào xác hàng thịt mới chết. Trú nhờ trong xác anh hàng thịt, Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái: lý tưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cũng cảm thấy xa lạ,… mà bản thân Trương Ba thì đau khổ vì phải sống trái tự nhiên và giả tạo. Đặc biệt thân xác hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn không phải chính bản thân ông. Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và sự phiền toái do mượn thân xác của kẻ khác, Trương Ba quyết định trả lại xác cho hàng thịt và chấp nhận cái chết. Bi kịch của hồn Trương Ba khi thoát ra khỏi thể xác: Nỗi đau khổ day dứt của một nhân vật khi tâm hồn thanh cao phải sống nhờ và xác anh hàng thịt thô thiển, hơn thế nữa Hồn Trương Ba có nguy cơ bị thân xác lấn át. Nó phải trải qua những cuộc đấu tranh gây gắt với thể xác đầy ham muốn bản năng của anh hàng thịt. Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác với sự giễu cợt, tự đắc của Xác khiến Hồn càng khổ đau, cảm thấy bế tắc. Từ khi phải trú ngụ trong thân xác anh hàng thịt, nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên đáng sợ, xa lạ trong mắt người thân. Hồn Trương Ba bây giờ đâu còn là người làm vườn chăm chỉ, nhân hậu hết lòng yêu thương vợ con như trước kia. Ông cũng chẳng quan tân gì đến chuyện của bà con hàng xóm. Ngay cả người thông cảm cho tình cảnh của Hồn Trương Ba là chị con dâu cũng xót xa, ngỡ ngàng bởi không còn được thấy hình ảnh con người “hiền hậu, vui vẻ tốt lành như thầy của chúng con xưa kia”. Tất cả những người thân yêu của Hồn Trương Ba đều nhận ra cái nghịch cảnh trớ trêu. Sau tất cả những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng cách nói riêng, giọng nói riêng của mình đã khiến Hồn Trương Ba cảm thấy không thể chịu nổi. Nỗi cay đắng với chính bản thân mình cứ lớn dần… lớn dần, muốn đứt tung, muốn vọt trào. Thái độ cư xử của những người thân trong gia đình khiến Hồn Trương Ba càng đau khổ tuyệt vọng, đi đến quyết định giải thoát. Hồn Trương Ba cảm thấy không thể sống “bên trong một đằng bên ngoài một nẻo” muốn tách ra khỏi thân xác kềnh càng thô lỗ. Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật này đã tự ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu đầy tính chất bi hài của mình khi hồn và xác ngày càng vênh lệch. Quyết định dứt khoát xin tiên Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết hẳn chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa của nhân vật Hồn Trương Ba là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa, quyết định này cần phải đưa ra kịp thời vì cu Tị vừa mới chết. Hồn Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào xác cu Tị để sống và thấy rõ “bao nhiêu sự rắc rối” vô lí lại tiếp tục xảy ra. Nhận thức tỉnh táo ấy cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến Hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát. Qua quyết định này, chúng ta càng thấy Trương Ba là con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt đó là con người có ý thức được ý nghĩa của cuộc sống, khát khao được cuộc sống đúng với mình. Nghệ thuật thể hiện Lưu Quang Vũ đã xây dựng tình huống kịch hết sức căng thẳng, trớ trêu. Hành động của nhân vật phù hợp với hình ảnh, tính cách thể hiện được sự phát triển của tình huống kịch. Ngôn ngữ nhân vật sinh động gắn liền với tâm trạng, tình cảnh cụ thể đặc biệt những lời thoại của nhân vật Hồn Trương Ba với Đế Thích vừa hướng ngoại lại vừa hướng nội. Cùng với diễn tả những hành động bên ngoài, tác giả còn rất thành công khi phản ánh thế giới tinh thần của nhân vật. Sống là để khẳng định là chính mình. Sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện. Kết luận Có người nói rằng: “Lương tâm là tiếng nói của tinh thần, tham vọng là tiếng nói của thể xác”. Qua việc khắc hoạ bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba đã thể hiện một ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người. Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ đồng thời đã khẳng định khao khát hoàn thiện nhân cách, đâu tranh chống lại sự tha hoá trong mỗi con người.Trích đoạn kịch cũng khẳng định sự sắc sảo và thành công vượt trội về nghệ thuật của nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ.
Phân tích Hồn Trương Ba da hàng thịt-Lưu Quang Vũ
1,253
Phân tích Khi con tu hú để chứng tỏ đang trong tù nhưng lòng yêu cuộc sống và khát khao tự do luôn cháy bỏng trong lòng người chiến sĩ – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm “Khi con tu hú” là bài thơ Tố Hữu làm khi ông bị giam trong nhà lao Thừa Phủ (Huế) năm 1939. Trong khoảng thời gian bị bắt giam từ tháng 4/1939 cho đến tháng 3/1942, Tố Hữu đã làm rất nhiều thơ in trong phần Xiềng của tập thơ Từ ấy. Đây là một bài thơ nói lên cảm giác mất tự do, ngột ngạt của nhà cách mạng trẻ tuổi. Bài thơ gồm hai phần. Phần đầu (sáu dòng) nói về niềm khao khát tự do. Phần hai (bôn dòng) thể hiện khát vọng hành động, tháo cũi sổ lồng. Ý thơ bắt đầu từ tiếng chim tu hú, như nhan đề bài thơ đã nêu lên: Khi con tu hú. Đó là tu hú kêu, tiếng kêu vang suốt cả bài thơ, ra ngoài bài thơ, vang mãi. Tu hú kêu báo hiệu mùa hè. Người bị giam trong tù, khép kín giữa bốn bức tường kín mít. Chỉ còn có âm thanh là mối liên hệ với bên ngoài: chỉ có tiếng chim, tiếng chuông, tiếng bước chân, tiếng rao đêm… là báo hiệu cuộc sống bên ngoài. Tự nhiên, âm thanh bên ngoài trở thành biểu tượng của cuộc sống tự do. Cả bài thơ xây dựng trên hình ảnh âm thanh đó. Khi con tu hú gọi bầy Lúa chim đang chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không… Khung cảnh và chi tiết đúng là của đồng nội vào vụ tháng năm, tháng sáu: lúa chín, trái chín, tiếng ve, ngô vàng, nắng tươi, trời cao, sáo diều bay lượn. Nhà thơ chứng tỏ một tâm hồn thơ đầy ắp ấn tượng về thôn dã. Nhưng hồn thơ còn chứa đựng một điều kì diệu. Ấy là sự liên tưởng tạo thành một phản ứng dây chuyền. Tiếng chim gọi bầy, gọi lúa đang chín và trái cây đang ngọt dần, biết bao là hương vị. Rồi thì bóng râm và dậy tiếng ve ngân – một vầng âm thanh xao xuyến ngập tràn thính giác. Bắp vàng và nắng đào đầy sân gợi lên ánh sáng chan hòa và màu sắc rực rỡ. Cuối cùng âm thanh gợi ra một không gian cao rộng tự do: Đây là đỉnh điểm của sự tưởng tượng. Tâm hồn nhà thơ như cùng đang bay lượn, nhào lộn trong không gian cao rộng ấy. Khó có thể hình dung đây là cảnh tượng có thật được nhìn bằng mắt, bởi tác giả đang ở trong tù. Đây chỉ có thể là tấm ảnh mở ra trong một tiếng chim: Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Nhà thơ thì thầm với mùa hè, đây cũng là một hình ảnh mới. Mùa hè của tự do, của nồng nàn, của đam mê. Tiếng kêu của chim tu hú đến đây trở thành tiếng gọi của tự do. Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu! Hai câu kết đã thể hiện niềm khát khao tự do đến cháy bỏng, đến đỉnh điểm. Sự tương phản của cảnh trời tự do và nhà tù giam hãm đã thôi thúc thêm niềm uất hận, muốn phá tan nhà tù. Con chim cứ kêu nghĩa là tiếng gọi tự do không bao giờ thôi, nghĩa là ý chí vượt ngục luôn luôn thường trực. Bài thơ kết thúc với một sự nung nấu ý chí hành động, một tâm trạng nhức nhối, bồn chồn, một tâm sự không thể ngồi yên, khoanh tay. Điều thú vị là Tố Hữu đã kết thúc chuỗi ngày tù ngục của mình bằng hành động vượt ngục. Con chim cách mạng ấy đã cất cánh tung bay. Tags:Văn 8
Phân tích Khi con tu hú để chứng tỏ đang trong tù nhưng lòng yêu cuộc sống và khát khao tự do luôn cháy bỏng trong lòng người chiến sĩ – Đề và văn mẫu 8
673
Đề bài: Phân tích khung cảnh thôn Vĩ Dạ được thể hiện qua bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử Bài làm Nói đến Huế, ta lại nhớ về thôn Vĩ Dạ, địa danh đã khơi nguồn cho thơ Hàn Mạc Tử. “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ “Thuần túy Huế, tinh khiết Huế” đã bộc lộ rất rõ cuộc sống con người, cảnh vật của một xứ Huế đẹp và thơ mộng. Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Một thôn Vĩ Dạ với những cảnh sắc rất xinh đẹp, hấp dẫn, nên thơ, cái ảo và cái thực xen kẽ nhau trong từng hình tượng, ở đây hiện ra những gì bình dị quen thuộc của quê hương, ánh nắng hồng sớm mai và sắc xanh của lá tạo một sự hài hòa rất độc đáo cho bức tranh cảnh. Hình anh so sánh “xanh như ngọc” mang tác dụng biểu cảm sâu sắc, gợi nên những hình ảnh khác nhau về thôn Vĩ Dạ. Những ngôi nhà ở Vĩ Dạ thường được xây cất, bài trí hài hòa với vườn cây, trong một cấu trúc thẩm mĩ khéo léo giữa nhà và vườn. Có lẽ cảnh đẹp ấy đã tạo thành chất liệu cho ấn tượng về thôn Vĩ đẹp và nên thơ. Nhưng Vĩ Dạ hiện lên không chỉ đẹp ở cảnh, mà còn ở con người: khuôn mặt chữ điền ấy đã là sự biểu thị cho những gì chân chất, phúc hậu của con người xứ Huế. Hàn Mạc Tử chắc đã phải hiểu xứ Huế đến mức nào và nặng tình với nơi ấy đến làm sao mới thể hiện được sự gắn bó hài hòa giữa cảnh và người đến như vậy, nhưng đồng thời cũng làm hiện lên được tính cách kín đáo, e ấp của người dân nơi đây. Thật thú vị khi trong thơ Hàn, hai danh giới giữa thế giới ảo và thực đã bị xóa nhòa đi: Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn, thiu hoa bắp lay. Câu thơ duy nhất gợi nhớ đến nhịp điệu cuộc sống Huế. Cái buồn nhè nhẹ, mênh mang mênh mang cứ thấm dần vào tận đáy lòng ai và cái nét “trầm tư chẳng nơi nào có được” ấy chính là cái cũng rất đặc trưng cho Huế. Thế rồi ta không còn nhận ra được đâu là thực và đâu là ảo nữa. Vừa mới nắng đấy, bây giờ ánh trăng đã tràn đấy: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? Một dòng sông thực, một con đò thực, một bến đò thực đã chuyển hóa thành dòng sông thơ. con thuyền thơ và bến đò thơ. Những câu thơ như vậy thật không thể phân tích, bình luận một cảch thực thà vì e rằng làm tan mất con thuyền chở trăng trên sông trăng về với bến trăng. Hàn Mặc Tử đã gửi gắm tình yêu, nỗi ngóng đợi trông chờ tình yêu vào con thuyền trăng trên bến sông trăng – một ý thơ độc đáo và tài hoa. Tình yêu ở đây nhẹ nhàng, kín đáo làm sao. Cảnh chiều xứ Huế hiện lên trong những câu thợ cuối cùng với hình ảnh con người xứ Huế đã bị sương khói đẩy ra xa hơn, như mơ như thực, như mờ như hiện. Thiếu nữ với tà áo trắng trong phất phảng sương khói ấy trở thành cái gi đó xa vời, khó với tới, cái tình người có ở đây không mãnh liệt, nồng cháy bao nhiêu thì lại càng thi vị bấy nhiêu. Đây thôn Vĩ Dạ là một trong số ít những bài thơ của Hàn Mạc Tử viết về Huế với tình cảm trong sáng và sâu nặng đến như vậy. Bài thơ thể hiện được những nét đẹp của người và cảnh xứ Huế vào những thời khắc khác nhau. Tình người và tình đời hòa quyện với thiên nhiên tạo nên một nét độc đáo đầy cảm xúc về con người thôn Vĩ Dạ của Huế mộng mơ và nên thơ.
Phân tích khung cảnh thôn Vĩ Dạ được thể hiện qua bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử
701
Phân tích khuynh hướng sử thi trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình Hướng dẫn Phân tích khuynh hướng sử thi trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình Bài làm Cuộc kháng chiến chống Mĩ đã đi qua, để lại cho dân tộc Việt Nam biết bao hy sinh, mất mát. Đối với nền văn học nước nhà, đây là thời đại của các tác phẩm văn xuôi và thơ ca mang đậm màu sắc sử thi. Nào ai có thể quên hình ảnh về người lính, về tinh thần đấu tranh và bản lĩnh kiên cường của dân tộc ta qua những vần thơ của Tố Hữu. Nhiều bản trường ca oai hùng của Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Hữu Thỉnh cũng góp phần làm nên mảng thi ca sử thi Việt Nam. Trong thể loại văn xuôi ta không thể không nhắc tới hai tác giả lớn là Nguyễn Thi. Với ngòi bút và phong cách hiện đại tạo nên những trang sử thi hào hùng cho dân tộc. Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi) là tác phẩm tiêu biểu xuất sắc, hai bức tranh về dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Ở đó ta thấy được lòng yêu nước, yêu gia đình, trung thành với Cách Mạng của nhân dân ta từ miền xuôi, những người con của Nam Bộ. Trong cùng bối cảnh lịch sử, “Những đứa con trong gia đình” không chỉ là câu chuyện viết về một gia đình, một bản làng mà là câu chuyện chung của Tổ quốc. Màu sắc sử thi trong hai tác phẩm đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Khuynh hướng sử thi rất phổ biến trong văn học giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ. Đó là một khuynh hướng trong sáng tác nghệ thuật thiên về việc phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và mang tính toàn dân. Nhân vật trung tâm trong những tác phẩm viết theo khuynh hướng sử thi thường là những con người đại diện cho giai cấp, cho dân tộc với những phẩm chất cao cả, kết tinh những gì cao đẹp nhất của cộng đồng. Và khi khẳng định, ngợi ca những anh hùng, những kì tích sáng chói, người cầm bút không nhân danh cá nhân mà nhân danh dân tộc, nhân danh cộng đồng. Đặc biệt trong nền văn học kháng chiến chống Mĩ, khuynh hướng sử thi là lối viết phổ biến và mang nhiều màu sắc phong phú. Đọc tác phẩm mang khuynh hướng sử thi trong giai đoạn này, ta thường thấy một nhiệt huyết sục sôi, một tinh thần đấu tranh ngoan cường của nhân vật mà họ đã trở thành biểu tượng cho tất cả con người yêu nước Việt Nam. Trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, khuynh hướng sử thi thể hiện trước hết là ở đề tài sáng tác. “Những đứa con trong gia đình” là câu chuyện khác về một gia đình Nam Bộ giàu truyền thống Cách Mạng. Giống như vùng Tây Nguyên, Nam Bộ cũng là nơi diễn ra cuộc chiến chống Mĩ ác liệt. Câu chuyện xoay quanh các thành viên trong một gia đình có truyền thống yêu nước, căm thù giặc. Từ đời bố mẹ chết dưới bom đạn của Mĩ cho tới đời con cháu quyết chí ra đi trả thù nước, thù nhà. Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Việt và Chiến. Họ là hai người con trong gia đình. Họ được sinh ra trong bối cảnh đất nước lọan lạc, trãi qua một tuổi thơ khó khăn, chứng kiến bố rồi cả mẹ đều bị giặc giết. Mối thù sâu sắc đã được hun đúc từ thuở ấu thơ nên khi trưởng thành hai chị em quyết ra đi đánh giặc. Một câu chuyện như thế là rất bình thường vào giai đoạn ấy. Chiến tranh đi đôi với mất mát về con người. Không chỉ gia đình của hai chị em Việt-Chiến mà có rất nhiều gia đình Việt Nam khác cũng có người thân bị chết vì bom đạn. Không phải chỉ có Việt và Chiến mang trong lòng mối thù giặc Mĩ mà tất cả những người con khác, ai từng chứng kiến sự tàn ác của chúng gây ra cho gia đình, cho dân tộc mình đều biết căm thù. Gia đình bé nhỏ của hai chị em là một đại diện cho tất cả các gia đình Việt Nam thời bấy giờ. Qua Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi đã vẽ nên một bức tranh chân thật về cuộc kháng chiến chống Mĩ và số phận của những người con trong gia đình Cách Mạng. Câu chuyện tuy riêng mà mang một tinh thần chung. Chính điều này đã mang tới màu sắc sử thi cho tác phẩm. tích khuynh hướng sử thi trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình Từ ngày mẹ mất, cô đã thay mẹ quán xuyến gia đình, chăm sóc hai em. Nỗi bật ở chị chính là sự đảm đang, tháo vát, tính gan góc, dũng cảm. Điều đó thể hiện rõ qua cách thức Chiến thu xếp chuyện nhà cửa trước khi lên đường đánh giặc. Từ những vật dụng trong nhà cho tới thằng Út em, bàn thờ ba má và căn nhà, Chiến đều tính toán đâu ra đấy. Chính chú Năm đã nhận xét về chị: “Khôn! Việc nhà nó thu gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non.” Chiến lớn lên đã thừa hưởng nhiều tính cách từ người mẹ nhất là ở cái đảm đang. Nghe chị tính toán chuyện nhà, Việt đã nhiều lần phải thốt lên “nghe in như má vậy”. Bên cạnh sự đảm đang, Chiến còn là cô gái kiên trung, gan góc, dũng cảm. Chị đã quyết tâm ra đi đánh giặc, không quản nguy hiểm khó khăn. “Đã là thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!” Hình ảnh cô gái trẻ với một ý chí đánh giặc “thà chết không lui” trở thành hình tượng chung cho biết bao người con gái khác trong thời kháng chiến chống Mĩ. Chiến cũng như các cô gái trẻ Nho, Thao, Phương Định bước ra từ truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. Họ là các cô gái mở đường, cũng như Chiến, là những bông hoa dũng cảm kiên cường trên chiến trường ác liệt. Chiến xứng đáng với danh hiệu một nữ anh hùng Cách Mạng mà chúng ta phải kính trọng và ngưỡng mộ. Chợt nhớ tới một thiếu nữ vừa tròn mười tám đôi mươi mà nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã biến cô thành một thiên thần anh hùng bất khuất trước nòng súng của giặc: Người con gái trẻ măng Giặc đem ra bãi bắn Đi giữa hai hàng lính Vẫn ung dung mỉm cười Ngắt một đóa hoa tươi Chị cài lên mái tóc Đầu ngẩng cao bất khuất Ngay trong phút hy sinh Bây giờ dưới gốc dương Chị nằm nghe biển hát Đẹp làm sao những cô gái Việt Nam, những nữ anh hùng Việt Nam. Họ thật xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ trao tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” Cùng với người chị anh hùng, Việt cũng là một thiếu niên anh hùng. Cậu mang theo những nét cá tính riêng nhưng cũng như chị, Việt có một lòng căm thù giặc sâu sắc và một ý chí chiến đấu không ngừng nghỉ. Là một chàng trai vừa mới lớn, anh vẩn còn rất hồn nhiên vô tư, trẻ con. Mọi việc lớn bé trong nhà, Việt đều để chị Chiến lo liệu. Lúc bàn tính chuyện nàh, Việt “lăn khềnh ra ván cười khì khì” rồi “ngủ quên lúc nào không biết”. Đi đánh giặc, anh còn mang theo cái ná thun và lại rất sợ ma. Việt lúc nào cũng háo thắng, muốn giành phần hơn với chị. Một cậu trai trẻ con như thế nhưng không ngờ lại là một người dủng cảm, kiên trung. Dù còn trẻ nhưng anh đã lập được chiến công, một mình diệt được xe bọc thép của địch. Trong một trận đánh lớn, Việt bị thương phải nằm lại chiến trường. Giữa hoàn cảnh bấp bênh, cận kề lằn ranh sống chết mà anh vẩn giữ được chí ý chiến đấu không mỏi mệt. Việt đã gắn sức bò đi khi nghe tiếng súng đạn và bom nổ hụp hùm, anh chỉ có một suy nghỉ duy nhất: “Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẳn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút”. Việt chiến đấu quên bản thân, mặc kệ thân thể đầy thương tích anh cũng muốn tiếp tục đứng lên, chiến đấu với đồng đội. Anh “tuy đã kiệt sức không bò đi được nữa, nhưng một ngón tay Việt vẫn còn nhúc nhích được đặt ở cò súng, đạn đã lên nòng”. Một chàng trai anh dũng kiên cường như thế làm người đọc phải khâm phục cùng ngưỡng mộ. Việt là một nhân vật anh hùng, mang trong mình kết tinh của lòng dũng cảm, ý chí bất khuất của nhiều thanh niên khác. Hình tượng anh dũng, hào hùng của Việt và Chiến đã góp phần làm nên sắc màu sử thi cho tác phẩm. “Có những phút làm nên lịch sử Có cái chết hóa thành bất tử Có những lời hơn mọi bài ca Có con người như chân lý sinh ra.” (Hãy nhớ lấy lời tôi-Tố Hữu) Tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi bên cạnh việc xây dựng hình tượng nhân vật chính còn chú trọng xây dựng mối quan hệ giữa cá nhân với quần chúng. Việt và Chiến là những đại diện tiêu biểu cho anh hùng Cách mạng, nhưng để có được thành công, họ đều cần tới sự hợp tác giúp đỡ của người thân, dân làng và đồng đội. Việt và Chiến cũng là một thành phần tiêu biểu trong đơn vị của mình. Cả hai lớn lên dưới sự dìu đắt từ người chú ruột để có được một lòng căm thù giặc sâu sắc. Tiếp theo đó là sự bao bọc, giúp đỡ từ đoàn thể, đồng đội. Họ ra đi và hội ngộ cùng biết bao thanh niên anh hùng khác. Đội trưởng Tánh đặc biệt thân thiệt với Việt. Việt cũng đã học hỏi nhiều điều từ anh như lời chú Năm căn dặn: “kì này là ra chân rời mặt biển, xa nhà thì ráng học chúng học bạn”. Việt và Chiến cùng với những người đồng đội tình thâm như ruột thịt sẵn sàng chiến đấu và hy sinh. Sức mạnh tạo ra từ tình đoàn kết và to lớn vĩ đại nhất. Ngày xưa ông bà ta đã dạy con cháu: “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Hình tượng cuốn sổ gia đình được nhắc tới nhiều lần trong truyện có ý nghĩa nghệ thuật rất quan trọng. Nó hé lộ cho ta thấy ý đồ nghệ thuật của nhà văn muốn qua câu chuyện một gia đình mà đề cập những vấn đề khái quát hơn. H ình tượng cuốn sổ ngầm chứa chức năng lí giải chiều sâu hành động hiện tại của các nhân vật. Cuốn sổ ghi chép đủ những sự việc đáng nhớ xảy ra với gia đình lớn của chị em Chiến – Việt, từ chuyện người nào bị giặc giết vào ngày nào đến chuyện ai bị chúng nhục mạ ra sao. Đặc biệt, cuốn sổ kể khá tỉ mỉ từng chiến công đánh giặc của các thành viên gia đình, trong đó có chiến công của Chiến và Việt theo du kích bắn tàu Mĩ trên sông Định Thuỷ. Cuốn sổ – ấy là lịch sử một gia đình, nó cho thấy truyền thống và sự tiếp nối. Nó là một hình thức giáo dục lòng tự hào về truyền thống mà chú Năm rất có ý thức xây dựng cho thế hệ con cháu. Tính sử thi trong hai tác phẩm còn được thể hiện rõ qua ngôn ngữ kể chuyện đầy hào hùng và mạnh mẽ, dứt khoát. Nguyễn Thi cũng ưu ái miêu tả hai nhân vật Việt Chiến thành những anh hùng lý tưởng qua các lời thoại sục sôi ý chí của nhân vật. Ta đặt biệt ấn tượng với câu đó dứt khoát, đầy nhuệ khí của Chiến: “Đã là thân con gái ra đi thì tao chỉ nói một câu; Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!” Hình ảnh cô gái trẻ cũng mang vẻ đẹp rắn rỏi, mạnh mẽ. Khi chuẩn bị khiêng bàn thờ về nhà chú Năm, chị chiến “xoắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân hình to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên”. Với Việt, Nguyễn Thi đã miêu tả bằng những tư thế hiên ngang và anh dũng nhất. Cho dù bị thương, anh vẫn sục sôi một tinh thần hiến đấu, “tuy đã kiệt sức không bò đi được nữa, nhưng một ngón tay Việt vẫn còn nhúc nhích được đặt ở cò súng, đạn đã lên nòng”. Việt luôn torng tư thế sẵng đối đầu với giặc Mĩ. Do thế mà khi anh Tánh và đồng đội đi tìm “suýt nữa họ đã ăn đạn của “cậu Tư””. Cuộc chiến cam go với kẻ thù được Nguyễn Thi mô tả qua những âm thanh mà nhân vật Việt nghe thấy. “Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi”, rồi cả “tiếng hùm hụp… chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy”… Qua những âm thanh của trận đánh, Nguyễn Thi đã khiến người đcọ hình dung ra tính ác liệt, và sự chiến đấu hùng dũng của nhân dân ta. Phương thức miêu tả và cách sử dụng từ ngữ mạnh mẽ, dứt khoát đã góp phần làm tăng chất sử thi cho hai tác phẩm. Thể loại văn xuôi sử thi đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền văn học nước nhà giai đoạn chống Pháp, chống Mĩ. Các án văn sử thi góp phần làm đa dạng phong thú kho tàng văn học Việt Nam, trở thành những tài liệu, minh chứng cho một chặng dường lịch sử khó khăn mà hào hùng của đất nước ta. Các tác phẩm sử thi đã đến với người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ giai đoạn kháng chiến, trở thành món ăn tinh thần và ánh sáng lý tưởng dẫn lối cho họ đi tới Cách Mạng và chiến đấu vì Tổ quốc. Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi là hai án sử thi xuất sắc. Tác phẩm tái hiện lại sống động cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống giặc ngoại xâm, nói lên tinh thần yêu nước căm thù giặc và tấm lòng anh dũng kiên trung của thế hệ trẻ đối với Đảng và Cách Mạng. Truyện ngắn đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc và xứng đáng là đại diện tiêu biểu cho văn học cứu quốc Việt Nam.
Phân tích khuynh hướng sử thi trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình
2,614
Đề bài: Phân tích Khóc Dương Khuê để cho thấy đây là khoảnh khắc tình bạn quân tử của Nguyễn Khuyến Bài làm Tình bạn được xếp hạng thứ năm trên thang giá trị Ngũ luân. Không tình bạn nhân loại khó phát triển bình thường được. Tình bạn quân tử tập hợp chứ không hề hùa. Không đòi hỏi kết chặt như tình vợ chồng, bạn đời mà chấp nhận sự đứt nối, vơi đầy qua năm tháng. Tính bất nhất ấy thường dễ gây tan vỡ nhưng cũng có khi làm tình hạn đậm đà thêm ra: Quy luật tâm lí ấy cũng tương đương quy luật vật lí: Chỗ nối lại thường bền chắc hơn chỗ chỗ chưa đứt, số đo giữa vơi với đầy luôn lớn hơn giữa đầy với… chưa vơi! Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến ra đời trong trường hợp như thế, và do đó đạt độ đậm đà tha thiết hiếm có. Mối kết giao giữa hai người từng bị sờn đi, vơi đi một thời gian dài, nếu Nguyễn Khuyến không giữ đạo “thẳng thắn và tha thứ” của người quân tử, hẳn tình bạn giữa hai người khó lòng hàn gắn và Khóc Dương Khuê khó phô hết chân tình. Họ là bạn đồng niên (cùng đỗ khoa thi Hương 1864). Với người quân tử, bạn đồng niên là “chuẩn” nhất, bởi phương châm của họ là “không kết bạn kẽ không bằng mình, thậm chí còn cầu toàn một chiều đến vô nghiệm, kết bạn phải, hơn mình, như mình thì không bằng không kết. Nói tắt một lời thì trong kết bạn, quân tử nặng lí trí hơn tình cảm, nhưng chính nhờ vậy mà vẫn “hòa hợp dù không đồng lòng. Tình trạng ấy thực đã xảy ra giữa giao tình Nguyễn Khuyến và Dương Khuê. Khi kinh thành thất thủ (1883), Nguyễn Khuyến nhất quyết lui về ẩn dật cho đúng đạo “lúc đạt thì làm tốt cho cả thiên hạ, lúc cùng thì làm tốt cho riêng mình. Trái lại, Dương Khuê giữ đạo quân tử theo cách khác: "quân tử làm quan là làm điều nghĩa” “ mà thời điểm ấy mới cần đến điều nghĩa biết bao! Vả chăng Á thánh đã dạy "Lúc thường giữ cho đúng lề lối, lúc biến linh động theo tình hình. Thế nên Dương không lui về như Nguyễn mà nấn ná thêm sáu đời vua đầy rối ren, không cơn biến nào sánh kịp. Rồi khi Nguyễn phải “dằn tâm” làm “Ông phỗng đá” để “giữ thân” trong lớp vô gia sư bất đắc dĩ ở dinh Kinh lược Bắc Kì thì Dương đường đường là quan Tham Tá của Nha Kinh lược ấy (ông Tham tá nọ hẳn kha mẫn cán nên sau đó mới thăng Tổng đốc Nam Định – Nam Bình rồi về hưu với hàm Binh bộ Thượng thư)1"'. Ai cũng biết rằng đối với phe hợp tác (Lê Hoan, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Hữu Độ v.v…) Nguyễn Khuyến thường có lời lẽ ác cảm (cả khi họ đã qua đời). Tuy nhiên thánh nhân cũng dạy; “Nước quá trong không cá – xét nét quá không bạn” vì thế Nguyễn Khuyến đã châm chước cho Dương Khuê những khoảnh khắc tình bạn quân tử mà một trong những khoảnh khắc ấy đạt đến cao trào là 38 câu Khóc Dương Khuê. Nỗi đau mất mát của ông bật lên thống thiết. Bác Dương thôi đã thói rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta (câu 1-2) Tiếng kêu thảng thốt ấy thật là đầy ắp chân tình. Ông đã quên mình để xót xa tột cùng cho số phận bạn. Người đọc không thể không nhận ra nỗi niềm ấy. Thế nhưng ở bài chữ Hán (bộ phận thơ văn chủ yếu mỗi nhà nho) thì câu đầu là “Dĩ hĩ Dương đại niên” (Thôi rồi bác Dương ơi). Hai chữ “Dĩ hĩ” ở đầu câu ngụ ý tiếc vì “mất người tri kỉ“ hơn tiếc vì ‘‘người tri kỉ mất”. Nếu không trả lại bản gốc chữ Hán, ta dễ nhầm rất nhiều “ý ngầm” của ông Tam Nguyên ngay trong bản Nôm. Tiếp theo là 12 câu nhắc những kỉ niệm chung của hai người: Nhớ tử thuở… điển phần trước sau (câu 3-14) Hai mươi năm (1864-1883) giao du tương đắc ấy lull lại bao kỉ niệm êm đềm! Chính những năm tháng đậm đà tình nghĩa ấy cộng với độ lượng quân tử nơi Nguyễn Khuyến mới đủ sức hàn gắn những sứt mẻ hiển nhiên khi mà Dương không đồng chí hướng với Nguyễn để giữ cái "Đạo chưa cùng” như hàng trăm nho sĩ khác, kẻ lui về ẩn dật, kẻ bỏ đi kháng chiến. Sự không bằng lòng của Nguyễn “bọc nhung" trong bốn câu: Buổi dương cửu… thì thôi mới là (câu 15-18). Lời thơ nghe tưởng như kể lễ thật tâm đắc tình họ “tuy hai mà một”, ai ngờ lại là lời chỉ trích không khoan nhượng, bấm đúng vào “yếu huyệt” của ke sĩ; đạo xuất xử của người quân tử. Lời trách nhẹ nhàng như có mà như không, tất cả chỉ găm chặt vào hai tiếng mới là! Nếu không rõ hành trạng của mỗi người, ta rất dễ “mắc lỡm” lối nói lấp lửng ấy; tuy cùng gặp buổi mạt vận của đạo Thánh (dương cửu) nhưng Nguyễn nhận ra để “biết thôi” còn Dương thì… chưa chịu biết! Nguyễn có bổn phận vạch ra điều ấy vì “trách cho tốt ra là cái đạo bạn bè. Tâm lí người đời thì “nghĩa tử là nghĩa tận” nhưng với người quân tử đấy mới là lúc người ta “tính sổ” nhau thật thẳng thắn vồ “tăm tiếng” lẫn về “tai tiếng” đế còn răn đời; Bởi vì "đậy áo quan công luận mới xác định” (có lẽ vì thế mà tập quán A Đông trọng ngày chết trơn trọng ngày sinh như Au Tây chăng?) Lời thơ giải thích cho việc ngại đi lại là vì tuổi tác: Muốn đi lại tuổi già thêm nhác Trước ba năm gặp bác một lần (câu 19-20) Trước ba năm, ấy là lúc Nguyễn 65, Dương 61. Liệu có đúng là cả hai đã “già”, đã “nhác đi lại” không? Đừng quên rằng với hàm trí sĩ một Tham tri như Nguyên, một Thượng thư như Dương, khái niệm “để lại” của họ chỉ giới hạn trong việc bước xuống thuyền hay ngồi lên cáng, vây quanh tiểu đồng, là học trò, là giai nhân, là… một th trọng khoa bảng, danh vọng. Tôi nghĩ rằng hai Liếng mới ở câu 18 thực sự “chịu trách nhiệm” việc nhác “đi lại” của họ chứ không phải hai tiếng tuổi già ở câu 19, bằng cớ là ở bản chữ Hán, tuổi già hoàn toàn… ngoại phạm: Vãng lai bất xác đác”. (Qua lại không… thật đặng). Cách đặt câu đến lạ! Nếu dùng trong bài thi, chắc gì ông đỗ Tam Nguyên nhưng trong Khóc Dương Khuê thì đừng thế nghe mới xứng Tam Nguyên! Có lẽ họ “nhắc đi lại” vì còn lí do khách quan nữa: cả hai đều ngại gảy ghi ngờ cho dư luận lẫn thực dân, trừ lẩn gặp nhau hồi ba năm trước rất có khả năng là chuyện bất khả kháng: đám tang vợ Nguyễn Khuyến. Và như vậy, câu “Trước ba năm gặp bác một lần” độ nhấn tất phải năm vào chữ một, đó là trường hợp "bất qui tắc” của “Qua lại không… thật đặng”. Dù sao thì chuyện cũng thật buồn. Người bạn duy nhất còn lại131, thật ra chỉ còn… phân nửa tình bằng hữu“1 chợt cũng qua đời nốt! Nguyễn Khuyên cảm thấy bơ vơ thật sự, bàng hoàng thật tình, ông như góa bụa thêm lần nữa, cái chết vốn gợi lòng trắc ẩn, mà “lòng trắc ẩn lù đầu mối của đức nhân, đức Nhân đem lại là nền tảng của Ngũ thường người quân tử nào thảng thấm nhuần điều đó. Thế nên những ray rứt của ông (câu 19-28) rất “cận nhân tình”. Mất Dương Khuê, liệu trên đời có còn ai hiểu NguyễnKhuyến? Quản Trọng khóc Bảo Thúc Khổng Minh khóc Chu Du cũng đều bởi lẽ ấy: “Quen biết đầy thiên hạ, hiếu lóng chảng má người”. Việc Nguyễn Khuyến chẳng còn thiết gì rượu, thơ, giao (câu 29-34) là chuyện hoàn toàn dễ thông cảm. Bút mực Tam Nguyên nhân vậy mà có dịp cống hiến cho đời những vần thơ thấm tình bằng hữu. Ở bốn câu kệt, thái độ quân tử của Nguyễn Khuyến mới thật rạch ròi, sòng phẳng đến lạ lùng (theo góc nhìn của chúng ta). Bác chẳng ở… hai hàng chứa chan (câu 35-38). Ông ấy thế là chết thật rồi. Tôi chí nhớ (những kỉ niệm cũ) chứ không thương, không khóc. Y sờ sờ là thế nhưng ma lực của lời lẽ bản Nôm cứ lôi người đọc theo lòng tha thứ hơn là tỉnh táo nhận ra đạo thẳng thắn của tác giả. Cái tài ông Tam Nguyên thật đáng nể. Haxy thử phân tích một câu: Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương Chữ tuy vốn phủ nhận nhất thời cái ý đi kề sau nó (ví dụ: tuy giàu nhưng bủn xỉn, tuy nghèo mà xài sang…). Vậy là ông “nhác khóc”, có chung lí do với “nhắc đi lại” Thẳng thắn đến thế thật quá đáng! Như suy lòng ta để phê phán lòng quân tử lại quá đáng hơn. Vậy Khóc Dương Khuê đích thực là khoảnh khác tình bạn quân tử. Tình bạn ở họ vốn chuẩn mực, lí trí. Họ “nhanh nhạy trong công việc mà thận trọng trong lời cân nhắc giữa hai bản Hán và Nôm, ta thấy Khóc Dương Khuê là đem lòng tha thứ làm dịu đi dạo thẳng thắn quá căng ở nguyên tác. Ít ai chịu nhận ra ý đồ ấy vì người đời quen nghĩ rằng khóc là việc của tình cảm đơn thuần, quân tử, Tam nguyên gì cũng thế thôi, Nguyễn Khuyến vận dụng đúng đắn “đạo thẳng thắn và tha thứ“ của người quan tử vào cả hai bài nhưng điều thú vị là ông dành thẳng thắn cho nguyên tác, dành tha thứ cho bản Nôm. Rốt cuộc, quân tử vẫn đủ chất quân tử mà không làm chạnh lòng những “phi quân tử”. Không độc đáo được thế thì tài Tam nguyên còn kể làm gì! Cũng nên biết thêm rằng trong nguyên tác. Nguyễn Khuyến xưng mành là dư chứ không xưng ngã. Xưng dư nghe lãnh đạm hơn, có thể phiếm xưng với cả người không quen biết (Kiểu Chu Hi mở đầu bài tựa Kinh Thi: “Hoặc hữu vấn ư dư viết”. Nếu ai đó hỏi Ta rằng…). Cũng trong nguyên tác, Nguyên gọi Dương vỏn vẹn hai lần bằng chữ Quân thích đáng, phải chăng (để nhắc quãng ngày thân thiết), còn bảy lần xưng hô tiếp theo (các câu 17, 23, 24, 25, 28, 35, 36) ông đều gọi bằng công là cách thường dùng ở ngôi thứ ba và chỉ dùng xưng hô trực tiếp khi cố tránh vẻ mặn mà. Trong bản Nôm, Nguyễn Khuyến dịch thành “bác” cho cả quân lẫn công, thế là ông “quân tử thêm phen nửa”, vẻ lạnh nhạt của ông đã che chắn khéo léo, cảnh “hòa nhi bất " căng ít bị nhận ra càng hay. Chính vì thế mà Khóc Dương Khuê càng thưc thụ là khoảnh khắc tình bạn quân tử. Cái kiểu “giận thì giận nià thương thì thương” ấy thật chẳng nhất quán, chăng đồng bộ chút nào, nhưng phải thế mới cân bằng giữa lí trí với tình cảm. Với chúng ta, điều ấy nghe rất chướng nhưng đạo quan tử thà đành phải thế. Chồ đặc sắc của Khóc Dương Khuê là nó làm vừa lòng cả hai phía cảm thụ: phía thích nghĩ răng Nguyễn nẫu cả lòng vì thương bạn lẫn phía nhận ra rằng ng thực sự chẳng thương bạn mà chỉ không kìm nổi xúc động vì “chút nghĩa”. Chính khả nâng hai chiều ấy mới làm đậm dấu ấn Tam Nguyên. Cái lối người đọc vốn là thú sở trường của Nguyễn Khuyến (nhất là trong lĩnh lạc câu đối). Cũng đừng quên rằng đâỵ là bài thơ tự sự riêng tư chứ không phải nét để chia buồn, để truy điệu theo kiểu thù tạc đời thường. Rất có thể tang gia họ Dương vào thời điểm ấy chưa mấy ai biết đến. Cuối cùng, nếu có ai đó nghĩ rằng “bảo là khóc nhưng cuối cùng nhác khóc thì thà đừng khóc”. Nghĩ như thế là dựa lập trường “phi quán tử” để phủ nhận tính cách quân tử của Nguyễn Khuyến cũng như trong cuộc đời và đánh mất đi của cõi đời một kiệt tác về Tình Bạn vậy.
Phân tích Khóc Dương Khuê để cho thấy đây là khoảnh khắc tình bạn quân tử của Nguyễn Khuyến
2,156
Phân tích khổ 2 bài Khi con tu hú của Tố Hữu Ta nghe hè dậy trong lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu! Phân tích 6 câu thơ đầu bài thơ khi con tu hú của Tố Hữu Bài làm Bài thơ có thể chia làm hai đoạn. Đoạn một gần như tả cảnh (nói gần như vì đó là một bức tranh gián tiếp) còn đoạn hai bộc lộ tâm tình, ít ra là trên nhừng dấu hiệu hình thức của lời thơ: Ta nghe hè dậy trong lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu! Phân tích khổ 2 bài khi con tu hú của Tố Hữu Trong phần phân tích đoạn một, chúng ta có nêu một hiện tượng: quy luật dây chuyền, cảnh này gọi là cảnh khác. Trên cấp độ lớn hơn, xét cả kết cấu bài thơ thì đoạn hai chính là do tác động dây chuyền của một đoạn một. Dấu hiệu của tác động dây chuyền này là từ hè (“Ta nghe hè dậy trong lòng”). Không có cái mùa hè tốt tươi, bay lượn ấy thì có lẽ cái phòng giam vẫn cứ chỉ là phòng giam, một thứ phòng giam không tạo ra phản cảm. Bởi biết đâu người chiến sĩ sẽ phải chung sống với nó suốt đời? Ta mới hiểu tác động dây chuyền, sự đánh thức một tiềm năng cảm nghĩ ở nhà thơ mạnh mẽ đến chừng nào. Đạp tan phòng là mạnh mẽ, còn hề ôi như một tiếng kêu thương cảm xót xa. Cấu trúc của câu tám này về tiết tấu cũng khá đặc biệt. Thông thường nó được phổ vào hai vế tương đương 4/4. Còn ở đây là 6/2. Nhịp 6 ấy cứ như một uất hận xung thiên, còn nhịp 2, sau khi sức mạnh tưởng chừng lớn lao không gì ngăn cản được đụng phải bức tường hiện hữu khô khan và lạnh lẽo, nó trở nên một tiếng kêu thương, một tiếng thở dài cay đắng. Ây là cuộc đụng đầu giữa ý chí chủ quan và hoàn cảnh khách quan của người thua cuộc. Nhưng thua cuộc chỉ là nhất thời, tạm thời. Cuộc vật lộn trong tâm trí của nhà thơ vẫn còn tiếp diễn. Không những dai dẳng, cường độ của nó không giảm đi mà còn tăng lên. Biết làm thế nào chiến thắng được hoàn cảnh, chiến thắng được bản thân khi lực lượng giao tranh không hề ngang sức. Nhịp thơ 3/3 ở câu “Ngột làm sao, chết uất thôi” diễn tả sự giằng co. Nhưng nó lại nghiêng về phía chủ thể nhà tù. Chính vì vậy ý thơ đã được nâng cấp nhưng vẫn bế tắc. Thế là, tiếng gọi của tự do thì vẫn tự do lên tiếng một cách vô tư, còn con người khao khát nó vẫn bị mất tự do, vẫn đang bị cầm tù. Cặp thơ lục bát song đôi cuối cùng mới như một niềm khắc khoải, bởi xung đột tinh thần ở nhà thơ đã đạt đến mức cao trào. Một cái gì đó sẽ phải xảy ra nhằm giải thoát một hoàn cảnh không thể dung hòa giữa nhà thơ với cảnh đời tù ngục. Tiếng chim tu hú, tiếng gọi của tự do ấm áp làm sao, mà cũng nóng bỏng làm sao. Nó đang cháy lên một nỗi niềm khao khát. Từ tiếng gọi mùa đến tiếng kêu thúc giục con người hành động, bài thơ vận hành theo hướng đi từ bóng tối tù ngục đến ánh sáng của tự do.
Phân tích khổ 2 bài Khi con tu hú của Tố Hữu
621
Phân tích khổ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên Hướng dẫn Phân tích khổ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên BÀI LÀM Còn gì sung sướng hơn khi đứa con sau bao ngày xa cách được trở về trong lòng mẹ yêu thương. Với Chế Lan Viên, người mẹ ấy dù không phải “hòn máu cắt” nhưng tình nghĩa vẫn luôn đong đầy, sâu nặng. Và người mẹ ấy cũng không phải chỉ có một người, mà là toàn bộ nhân dân miền Tây Bắc – những con người cùng bào sinh ra tử, cùng dìu nhau qua ngưỡng cửa tử thần trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Tình yêu và nỗi nhớ da diết đã được Chế Lan Viên gửi trọn trong những vần thơ mang tên “Tiếng hát con tàu”. Con tàu chở đi bao yêu thương và khát vọng của người chiến sĩ đến với Tây Bắc. Tuy xa rồi, nhưng lòng ông vẫn luôn hướng về nơi ấy. Cho đến ngày gặp lại, tình cảm càng thêm thắm thiết mặn nồng: “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa” Bốn câu thơ ngắn gọn tưởng chừng như nằm bất động trên trang giấy nhưng lại ẩn chứa cả một trái tim đang dạt dào cảm xúc. Niềm vui khôn xiết, lớn lao khi “con” được về gặp lại “Mẹ yêu thương”. Mẹ là nhân dân, là những con người đã chẳng tiếc thân mình cống hiến tất cả cho cách mạng. Họ nhường cơm, sẻ áo cho bộ đội, tiếp sức cho các anh xông pha vào mặt trận. Như Tố Hữu cũng đã từng kể: Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” (Việt Bắc – Tố Hữu) Có chi đâu ngoài những món ăn dân giã trong ngày thiếu thốn. Nhưng càng thiếu thốn, nghĩa tình lại càng đong đầy, nặng sâu. Đến củ sắn lùi, hay bát cơm họ cũng nhường nhịn, san sẻ cho nhau. Không bạc tiền cao sang nhưng giàu tình cảm. Và chính những điều giản dị, thuần khiết ấy đã khiến cho Chế Lan Viên nhớ mãi không quên những con người chân chất của bản làng Tây Bắc. Được gặp lại mọi người, niềm vui khôn xiết không thể nào diễn tả được. Nhà thơ đã mượn những hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên quanh mình: nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa. Đây đều là những thứ vốn dĩ được sinh ra để gắn bó với nhau, làm điều kiện cho nhau phát triển và tồn tại. Nếu nai không có suối, nai khó mà sinh tồn được. Và nếu không có tiết trời ấm áp của tháng giêng, tháng hai, sẽ chẳng có những đám cỏ xanh mướt mơn mởn. Cũng như những cánh chim én kia, đâu phải mùa nào chúng cũng có thể bay lượn trên bầu trời xanh ngắt. Một loạt những hình ảnh so sánh được nhà thơ đưa ra một cách dồn dập, hối hả. Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Chưa dừng lại ở đó, những vần thơ tiếp tục làm lòng người rung động khi Chế Lan Viên nhắc đến hình ảnh “đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa”. Còn gì sung sướng hơn khi đang đói mà được thưởng thức bầu sữa mẹ ngon lành, dịu ngọt. Nếu thiếu sữa, hẳn là đứa bé sẽ tội nghiệp lắm. Thế nên khi được gặp mẹ, niềm vui sướng dâng trào biết bao nhiêu! Như “Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”. Điều duy nhất mà một đứa trẻ thơ luôn cần có đó chính là mẹ. Vì thế, khi lấy tình mẫu tử để nói lên tình cảm của mình, chứng tỏ tình cảm ấy rất thiêng liêng và lớn lao vô cùng. Tác giả luôn nâng, niu, trân trọng và gìn giữ tất cả những gì mà ông và nhân dân Tây Bắc đã cùng gắn bó, cùng trải qua. Giản dị và chân thành, mộc mạc và chất phác, tình cảm của Chế Lan Viên dành cho nhân dân Tây Bắc cũng chính là tình cảm của những người con yêu nước khác dành cho đất nước này. Họ vẫn còn sống mãi trong trái tim của thế hệ sau, trường tồn cùng đất nước.
Phân tích khổ 5 bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
743
Phân tích khổ 5 bài Tiếng hát con tàu Hướng dẫn Phân tích khổ 5 bài Tiếng hát con tàu Nhà thơ Chế Lan Viên với những gắn bó và cảm xúc dạt dào đã sáng tác ra bài thơ tiêu biểu “Tiếng hát con tàu”. Ra đời vào những năm đất nước đang hồ hởi xây dựng xã hội chủ nghĩa, tiếng hát con tàu là tiếng thơ, là giai điệu cổ vũ những con người Việt Nam không quản ngại khó khăn gian khổ lên đường đến với những miền đất xa xôi của tổ quốc với mong muốn có cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc. Đặc biệt trong bài thơ đoạn thơ nổi bật của bài thơ chính là Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Có thể đánh giá đây là đoạn thơ hay chứa đựng nhiều ý nghĩa và cũng là làm nổi bật nghệ thuật trong thơ của Chế Lan Viên.Khổ thơ hàm chứa một tiền giả định, giữa nhân vật trữ tình và nhân dân vốn đã có một mối quan hệ nhất định. Phải là những người đã gặp nhau đã sống cùng nhau thì mới có thể diễn tả như vậy. Đặc biệt trong câu “Con gặp lai nhân dân…” Khi nhắc tới đại từ xưng hô “Con” với nhân dân đã xác định được tính chất, mức độ của mối quan hệ đó. Nếu đã xưng là con với nhân dân thì quả thật rất gần gũi có một quan hệ khăng khít, máu thịt. Họ đã từng có những ngày tháng gắn bó yêu thương, đã từng chia ngọt sẻ bùi. Trong khổ thơ của Chế Lan Viên gợi nhắc những câu thơ ân tình thủy chung của nhà thơ Thành công của việc sử dụng đại từ xưng hô này đã khiến cho mối quan hệ ngày một kéo sát lại khơi gợi dậy trong tình cảm của người đọc những hình ảnh, những, ấn tượng của một con người đi xa lâu ngày được gặp lai những người đã sinh ra mình nuôi nấng, chăm sóc mình trong mái nhà thân thuộc. Nhà thơ Chế Lan Viên đã đánh thức dậy trong tiềm thức, trong tình cảm của người đọc biết bao tình cảm ấm áp, gần gũi. Tiếp tục với mạch cảm xúc như vậy, ở những câu thơ sau, để thể hiện tình cảm yêu thương, gắn bó với nhân dân, nhà thơ đã sử dụng một loạt hình ảnh so sánh thật độc đáo, nhưng cũng thật bình dị và thân thuộc. Cỏ đón giêng hai Chim én gặp mùa Trẻ thơ đói lòng gặp sữa. Nôi ngừng gặp cánh tay đưa Tháng Giêng hai là thời điểm mà với tiết trời ấm áp của mùa xuân mang lại sức sống, sự đâm chồi nảy lộc cho cây cỏ; và hình ảnh của trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng gặp cánh tay đưa, tất cả đã góp phần hội tụ một ý nghĩa, sự kịp thời sự đúng lúc đúng chỗ, đó là sự gắn bó không thể chia tách, sự hòa hợp tuyệt đối giữa nhân vật trữ tình và nhân dân.qua những hình ảnh đó biểu hiện một sắc thái tình cảm khác, đó là lòng biết ơn, sự trân trọng của nhân vật trữ tình đối với nhân dân. Dù chỉ là một khổ thơ ngắn thôi nhưng chất chứa bao nhiêu tình cảm và điều gửi gắm. Nó còn góp phần bộc lộ những nét độc đáo trong phong cách thơ của Chế Lan Viên. Cùng với những khổ thơ khác, khổ thơ này đã góp phần thể hiện, nâng niu và vun đắp những tình cảm đẹp. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích khổ 5 bài Tiếng hát con tàu
635
Phân tích khổ 6 bài thơ Việt Bắc Hướng dẫn Phân tích khổ 6 bài thơ Việt Bắc Người ta thường nói lúc gian nan hoạn nạn mới thấu hiểu lòng nhau. Đúng vậy, những lúc khó khăn cùng cực người ta mới thấy được tình nghĩa dành cho nhau đáng quý biết nhường nào. Trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu đã có những vần thơ đầy nghĩa tình như thế: “Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô. Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” Những vần thơ như tiếng hát được cất lên từ nỗi nhớ, niềm thương của tác giả, của những người lính miền xuôi nay đã hoàn thành nhiệm vụ cứu nước khỏi bàn tay tàn ác của bọn giặc ngoại xâm, họ chia tay những người dân thật thà chất phác nơi núi rừng Việt Bắc. Những con người đã gắn bó với nhau trong suốt “mười lăm năm” “thiết tha mặn nồng”. Trong đoạn thơ này, Tố Hữu đã kể lại những kỷ niệm thân thương khi còn ở chiến khu của dân và quân miền núi. Họ cùng nhau trải qua biết bao gian nan khổ cực. Nhưng càng vất vả bao nhiêu, càng thiếu thốn bao nhiêu họ càng trân trọng nhau, giúp đỡ san sẻ lẫn nhau bấy nhiêu. Dù có đắng cay hay ngọt bùi, một khi đã là “mình” là “ta” thì không còn khoảng cách gì nữa. Thay vào đó là tình nghĩa trước sau như một, là sự san sé từ củ sắn lùi, từ bát cơm vơi, từ chiếc chăn sui.Từng chi tiết được tác giả nâng niu, trân trọng vô cùng. Rất giản dị, rất đơn sơ nhưng đậm đà tình nghĩa chân thành, mộc mạc. Họ không cần biết ai được sinh ra từ đâu, hoàn cảnh gia đình như thế nào,… chỉ biết rằng họ đã gặp nhau trong cùng một ý chí chiến đấu, cùng một khát vọng tự do và lòng căm thù quân giặc. Chỉ bấy nhiêu thôi là quá đủ để họ sẻ chia cho nhau từ những thứ nhỏ nhất, giản dị nhất. Trong hoàn cảnh thiếu thốn ấy, lẽ ra khi có được bát cơm hay củ sắn, hẳn là họ sẽ mừng lắm nhưng dù thế nào đi nữa, họ vẫn nhớ đến nhau, vẫn cùng nhau san sẻ chứ không ăn một mình. Đây chính là phẩm chất cao quý của con người Việt Nam nói chung và người dân miền núi nói riêng. Bởi vậy, họ rất xứng đáng được làm “mình” làm “ta” với nhau, tuy hai mà một. Chỉ tiếc rằng, đến giây phút nay, “mình” và “ta” phải chia tay nhau trong sự quyến luyến xúc động khiến cho lòng người nhớ nhớ thương thương. Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô Nhớ sao lớp học I tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều suối xa…” Những nỗi nhớ nối tiếp nhau, chen lấn nhau trong tâm trí người ra đi. Nỗi nhớ ấy đã khắc họa nên một bức tranh chân thực và sinh động của cảnh sinh hoạt bình dị nơi núi rừng Tây Bắc. Ở nơi đó, mỗi người là một sự nỗ lực, cố gắng hết mình để hậu thuẫn cho chiến trường, cho đoàn quân đang ngày đêm đánh giặc. Vì thế, dù có nắng cháy lưng, người mẹ vẫn địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô. Không trực tiếp cầm súng chiến đấu nhưng có lẽ nếu thiếu những người mẹ như thế này thì quân ta khó lòng mà đủ sức đánh giặc. Mẹ không đổ máu nhưng những giọt mồ hôi mẹ đổ xuống cũng cao quý biết nhường nào. Đêm đến, nhân dân lại cùng nhau học chữ để cố gắng phấn đấu thoát khỏi cảnh mù chữ, tiến đến xây dựng nền văn minh cho nước nhà… Dù phải trải qua bao gian lao khổ cực, những con người nơi đây vẫn luôn lạc quan, yêu đời, luôn dành hết cả sức mình và tâm trí mình cho kháng chiến, cho đất nước. Bởi thế, giữa cuộc chiến đấu đầy gam go quyết liệt, vẫn thấp thoáng những hình ảnh rất đỗi bình yên khiến lòng người không khỏi nhớ nhung: Chày đêm nện cối đều xuối xa…” Hình ảnh những chiếc cối xay gạo chạy bằng sức nước bên suối cứ nện đều đều gợi lên một khung cảnh rất thanh bình, như chưa hề có sự xuất hiện của chiến tranh. Nếu như không có chiến tranh, có lẽ cuộc sống sẽ còn bình yên hơn thế khi không có những cuộc chia ly, không có những mất mát đau thương khi người anh hùng phải ngã xuống bỏ lại mình nơi chiến trường xa xôi. Bằng thể thơ lục bát và cách sử dụng từ ngữ thân quen, giản dị, nhịp thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, nhà thơ đã vừa thể hiện tấm lòng của mình, của những người ra đi, vừa khắc họa lại khung cảnh của núi rừng Tây Bắc trong thời kỳ kháng chiến. Ở nơi ấy, có tình nghĩa đậm đà, có những phút giây rộn rã tiếng cười và có cả những khoảnh khắc rất bình yên. Chế Lan Viên cũng đã từng viết: “Khi ta đến chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” (Trích – Tiếng hát con tàu) Ở đây, Tố Hữu cũng vậy, trong giây phút chia xa đầy xao xuyến, xúc động làm sao ta không nhớ đến những ngày gian khó bên nhau. Và có lẽ, càng thiếu thốn bao nhiêu, tình nghĩa lại càng đong đầy bấy nhiêu. “Ta” với “mình”, “mình” với “ta” dù có cách xa cũng không bao giờ quên những tháng ngày đã gắn bó cùng nhau. Tình cảm ấy không chỉ đơn thuần là sự giúp đỡ nhau lúc khó khăn mà còn là tình yêu đất nước, là tình đoàn kết của cả một dân tộc khi bị giặc ngoại xâm.
Phân tích khổ 6 bài thơ Việt Bắc
1,074
Đề bài: Phân tích khổ ba bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương Bài làm Khổ thơ thứ ba là những cảm xúc của tác giả khi vào trong lăng, đứng trước di hài Bác. Bao tình cảm ấp ủ bấy lâu, nên khi bắt gặp bóng dáng thân yêu của Bác là trào dâng thổn thức. Hình ảnh Bác nằm trong lăng được diễn tả rất xúc động qua hai câu thơ: Bác nằm trong lăng giấc ngứ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Câu thơ gợi được sự yên tĩnh, trang nghiêm, ánh sáng dịu nhẹ trong lành và hình ảnh đẹp đẽ của Bác. Bằng tình cảm, nhà thơ thấy Bác như đang ngủ trong giấc ngủ bình yên giữa thiên nhiên đẹp và thơ mộng, Bác vẫn ở cùng ta, như nhà thơ Hải Như đã viết: Suốt cuộc đời Bác có ngủ ngon đâu Nay Bác ngủ chúng con canh giấc ngủ (Chúng cháu canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi) “Vầng trăng sáng dịu hiền” là ánh sáng của tình thương mến, nâng niu, vầng trăng ấy như ru Bác ngủ. Giấc ngủ của Bác là giấc ngủ trong tình thương yêu. Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh cũng đã viết: Trong lăng Bác vừa chợp nghỉ Như sau mỗi việc làm. Trăng ơi trăng biết thế Nên trăng bước nhẹ nhàng. (Trăng lên) Hình ảnh vầng trăng dịu hiền cũng gợi nghĩ đến tâm hồn cao đẹp, sáng trong của Bác và những vần thơ tràn ngập ánh trăng của Người. Đến đây, cảm xúc ngưỡng mộ như lắng xuống nhường chỗ cho nỗi xót đau không thể kìm nén: Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! “Trời xanh” cũng như “mặt trời”, “vầng trăng” là những hình ảnh của vũ trụ kì vĩ, vĩnh hằng, là ẩn dụ sâu xa gợi suy ngẫm về cái cao cả, vĩ đại, bất diệt, trường tồn ở Bác. Bác vẫn còn mãi với non sông đất nước, như trời xanh còn mãi (Bác sống như trời đất của ta Tố Hữu). Người đã hóa thân vào thiên nhiên, đất nước, dân tộc. Sự nghiệp của Người là bất tử. Dù vẫn tin như vậy, nhưng tình cảm xót thương không chấp nhận sự mất mát thực tế, trái tim vẫn đau nhói khi nghĩ rằng Bác không còn nữa. Nỗi đau xót được biểu hiện cụ thể, trực tiếp: "Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Đó là nỗi đau vô hạn, là lòng thương xót rất thật, không lí do nào khuây khỏa được. Đó là tình cảm của đứa con về muộn bên di hài người cha.
Phân tích khổ ba bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương
435
Đề bài: Phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương Bài làm Mặt trời lên cao dần và hình ảnh mặt trời lại gợi trong tác giả những liên tưởng mới: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Mặt trời thiên nhiên theo quy luật của nó, vận hành trong vũ trụ, ngày ngày đi qua trên lăng và thấy một mặt trời khác trong lăng rất đỏ. Mặt trời trong lăng là ẩn dụ chỉ Bác Hồ. Mặt trời thiên nhiên thì đem lại ánh sáng, ban ngày, sự sống: Còn mặt trời Bác cũng là ánh sáng soi đường, đem lại cuộc sống hạnh phúc ấm no. Chi tiết đặc tả “rất đỏ” gợi trái tim đầy nhiệt huyết vì Tố quốc, vì nhân dân, trái tim yêu thương vô hạn của Bác. Mặt trời Bác mãi tỏa sáng, tỏa ấm, tỏa thắm cho đời. Màu đỏ ấy làm ấm lại cả khung cảnh thương đau. Nhiều người đã ví Bác như mặt trời (Người rực rỡ một mặt trời cách mạng Tố Hữu), đặt mặt trời Bác sóng đôi và trường tồn cùng mặt trời thiên nhiên là sáng tạo riêng của Viễn Phương. Cách nói đó vừa ngợi ca sự vĩ đại, bất tử của Bác vừa thể hiện sự tôn kính, ngưỡng mộ, biết ơn đối với Bác. Hình ảnh dòng người xếp hàng vào lăng viếng Bác cũng gợi bao xúc động trong lòng nhà thơ: Ngày ngày dòng người đỉ trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân. Điệp ngữ “ngày ngày” vừa gợi ấn tượng về cõi trường sinh vĩnh viễn, vừa gợi tấm lòng nhân dân không nguôi nhớ Bác. Hình ảnh “dòng người đi trong thương nhớ” vừa thực vừa ảo. Nỗi nhớ thương vốn chỉ có trong lòng người nhưng ở đây nó bao trùm lên cả thời gian, không gian. Và mỗi người với lòng nhớ thương là một đóa hoa kết nên “tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” cuộc đời Bác một cuộc đời đã dâng cho đời bao hoa trái. Dòng người được tác giả ví như “tràng hoa” là một ẩn dụ độc đáo mà thích hợp. Dòng người vào viếng Bác đi thành vòng tròn dễ gợi liên tưởng đến tràng hoa. Nếu “vòng hoa” thì là viếng người đã khuất. Ở đây là “tràng hoa” để dâng “bảy mươi chín mùa xuân”. Bác không thể mất trong ý nghĩ, tình cảm của nhà thơ cũng như mỗi chúng ta. Lòng nhớ thương và những gì đẹp nhất ở mỗi người dâng lên Bác quả đúng là hoa của đời. Tràng hoa người ở đây hơn hẳn mọi tràng hoa của tự nhiên, nó được kết nên từ lòng ngưỡng mộ, thành kính, nhớ thương Bác. Nhịp thơ đoạn này chậm rãi, trải dài 8, 9 tiếng một dòng thơ, lặp lại từ ngữ, cấu trúc câu vừa diễn tả không khí thiêng liêng, thành kính trong lăng, vừa gợi bước đi chầm chậm của dòng người vào viếng Bác và lòng thành kính, thiết tha của nhân dân với Bác.
Phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương
527
Phân tích khổ thơ 3 trong bài mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải Hướng dẫn Bn viết sai thơ rồi. Phải là “cứ đi lên phía trc” chứ ko phải “vững vàng lên phía trc” Còn lại thì hay lắm. Cảm ơn bn
Phân tích khổ thơ 3 trong bài mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải
41
Phân tích khổ thơ cuối của bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy Hướng dẫn Phân tích khổ thơ cuối của bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy Trong thi ca xưa, hình ảnh vầng trăng thường gắn liền với những mộng mơ, qua đó thể hiện được sự tinh tế và nhạy cảm trong tâm hồn của người nghệ sĩ. Viết về ánh trăng- mảng đề tài tưởng như quá quen thuộc ấy, nhà thơ Nguyễn Duy không những không bị chìm khuất trong những cái bóng quá lớn của tác phẩm thành công trước đó mà lại thể hiện được những sáng tạo nghệ thuật độc đáo rất Nguyễn Duy. Không chỉ thể hiện được những cái mộng mơ thường thấy mà thông qua hình ảnh của ánh trăng nhà thơ đã gửi gắm được những tâm sự, cảm xúc thầm kín, bởi ánh trăng trong thơ ông đã trở thành biểu tượng của những kí ức đã qua, của những kỉ niệm khó quên trong cuộc đời. Tư tưởng, nội dung này được thể hiện chi tiết thông qua khổ thơ cuối của bài thơ Ánh trăng. Hình ảnh vầng trăng là hình ảnh xuyên suốt bài thơ, tuy dung lượng bài thơ tương đối ngắn nhưng qua đó người đọc vẫn cảm nhận được những tình cảm, cảm xúc chân thành nhất của nhà thơ Nguyễn Duy với chính những kí ức đã qua của mình. Bẳng sự liên tưởng đầy độc đáo, Nguyễn Duy đã nói về những kí ức của một thời gian khổ nhưng đầy hào hùng thông qua hình ảnh ánh trăng, đặc biệt qua khổ thơ cuối thì tác giả đã thể hiện được trọn vẹn những tình cảm, sự day dứt đau đớn vì trong một lúc nào đó đã chót quên đi những tình nghĩa của một thời đã xa: Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình” Trong dòng tâm sự của tác giả Nguyễn Duy ta có thể thấy được, vầng trăng ở đây không đơn thuần chỉ là một hiện tượng của tự nhiên mà nó trở thành một sinh thể có sự sống, có cảm xúc, đó là biểu tượng cho những tình nghĩa, cho những dòng chảy của quá khứ. Vầng trăng đã trở thành một người bạn thân thiết, một người tri kỉ vì nó gắn bó với những kí ức của tuổi thơ, cùng nhà thơ vào chiến trường. Những kí ức, tình nghĩa đó quá sâu lặng mà nhà thơ ngỡ không thể nào quên. Nhưng khi đất nước đã được giải phóng, trở về với cuộc sống mới, chìm đắm vào guồng quay bất tận của cuộc sống mà nhà thơ đã quên đi những kí ức, quên đi người bạn tri kỉ ấy. Ta có thể thấy, khổ cuối của bài thơ đã dồn nén biết bao nhiêu nỗi niềm, tâm sự. Hình ảnh vầng trăng im phăng phắc thể hiện được sự tình nghĩa, thủy chung của ánh trăng, ánh trăng vẫn trong trẻo vô ngần như thế chỉ có con người là đổi khác. Nhà thơ đã thể hiện được sự tự trách nghiêm khắc với bản thân vì sự vô tình, đổi khác của mình. Ánh trăng không đổi khác, không cất lời trách móc nhưng vẫn khiến cho thi nhân phải giật kình. Đây không phải sự giật mình trong trạng thái khi chịu một sự tác động từ bên ngoài vào cơ thể một cách bất ngờ mà là sự giật mình trọng tâm thức của nhà thơ, chính sự im lặng của vầng trăng đã làm cho bao kỉ niệm kí ức sống dậy mạnh mẽ, và nhận ra rằng mình đã từng lãng quên nên “giật mình” ở đây là sự hốt hoảng, sự tự trách trong chính tâm hồn của nhà thơ. Nếu đọc thơ Nguyễn Duy ta có thể được một hồn thơ chân chất gần gũi mà mộc mạc, lớn lên trong hoàn cảnh nghèo khó ở vùng đất Thanh Hóa, tác giả luôn có những day dứt, băn khoăn về cuộc sống lam lũ, nghèo khổ của con người quê mình, do vậy mà có thể nói Nguyễn Duy rất trân trọng những tình nghĩa, những kí ức gian khó của một thời đã qua. Khổ thơ cuối của bài thơ không chỉ khép lại bài thơ mà nó còn mang ý nghĩa triết lí sâu sắc: Trong chúng ta ai cũng sẽ có những lúc lãng quên đi những kí ức tốt đpẹp của quá khứ. Do vậy, nếu như không nhận ra kịp thời, không có những cái giật mình thức tỉnh thì biết đâu đấy chúng ta cũng xe đánh mất chính mình. Cả bài thơ như thấm đượm hình ảnh ánh trăng trong trẻo, thủy chung. Cũng mượn ánh trăng để nói lên tâm trạng của mình, nhà thơ Lí Bạch cũng từng viết: Đê đầu tư cố hương” Nếu hình ảnh vầng trăng mang đến những ấm áp để sưởi ấp tâm hồn của người lữ khách xa quê thì ánh trăng trong thơ của NGuyễn Duy lại là ánh trăng của kí ức, của tình nghĩa. Ánh trăng ấy không chỉ là một người tri kỉ vẫn luôn dõi theo nhà thơ mà đó còn là ánh trăng thức tỉnh con người tình nghĩa sâu nặng bên trong nhà thơ. Bài thơ Ánh trăng không chỉ là tâm sự riêng của nhà thơ Nguyễn Duy, mà đây còn là bài thơ giúp cho người đọc tự soi chiếu được chính mình. Cuộc sống của con người luôn chảy trôi vô tình, đừng vì quá đắm mình trong cuộc sống thực tại mà lãng quên đi những kí ức đã qua, đó là những kí ức mà chúng ta đã từng trải qua, nó góp phần làm nên con người của thực tại, vì vậy hãy trân trọng để nó luôn sống động trong tâm hồn của mỗi chúng ta.
Phân tích khổ thơ cuối của bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy
986
Phân tích khổ thơ thứ 3 trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử Hướng dẫn Phân tích khổ thơ thứ 3 trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử Hàn Mạc Tử – thi nhân của những mối tình “khuấy” mãi không thành khối ông yêu nhiều nhưng chỉ nhận lại sự đắng cay bẽ bàng trong những cuộc tình. Cuộc đời ông niềm vui thì ítt mà chỉ có sự cô đơn đau buồn. Mọi nỗi niềm tâm tư Hàn Mạc Tử đều gửi vào trong thơ. Thơ ông quằn quại trong đớn đau, thấm đẫm nước mắt và có phần điên loạn. Giữa những vần thơ ma quái, kỳ dị ấy vẫn có những lời thơ thật trong sáng tinh khôi đó chính là kiệt tác “ đây thôn Vĩ Dạ”. Đặc biệt là khổ thơ cuối ánh lên niềm khát khao tình đời, tình người của thi nhân mạnh mẽ nhất nhưng cũng thật xót xa. Nếu khổ thơ đầu mở ra khung cảnh thiên nhiên trong trẻo đẹp say đắm lòng người của Vĩ Dạ tắm mình trong ánh nắng sớm buổi ban mai. Tiếp đến khổ thơ thứ hai là cảnh sông nước mây trời trong đêm trăng huyền ảo trên dòng Hương Giang hư hư thực thực với những mặc cảm đớn đau, nuối tiếc tột cùng của thi nhân khi sắp phải xa lìa cõi đời. Để những sông trăng, thuyền trăng đã đưa Hàn Mạc Tử vào cõi mơ đầy huyền ảo ở khổ thơ cuối. Đây cũng là khổ thơ thấm đẫm tình người, khao khát được sống của nhà thơ. Bị cuộc đời tuyệt giao, bỏ rơi nhưng Hàn Mạc Tử không quay lưng với đời ông càng thiết tha với đời nhiều hơn. Thực tại quá đớn đau nghiệt ngã thi nhân đành tìm niềm an ủi trong cõi mộng. Bao trùm khổ thơ thứ ba là một màu sắc hư vô. Thật thật giả giả khó lòng phân tách đâu là thực đậu là mơTình yêu với con người và thiên nhiên xứ Huế sâu đậm, ám ảnh nhà thơ đến những giây phút cuối đời. Nhưng căn bệnh hiểm nghèo, quái ác đôi khi làm nhà thơ như không còn tỉnh táo, không phân biệt được đâu là hiện thực đâu là giấc mơ: “Mơ khách đường xa, khách đường xa”, nhà thơ đang chìm trong cõi mộng, trong trạng thái vô thức “mơ”. Điệp ngữ “khách đường xa” đực lặp lại hai lần, lần sau bỏ đi chữ “mơ” khiến cho câu thơ như ẩn chứa hai tâm trạng, hai cung bậc cảm xúc khác nhau: lần đầu là khát vọng, lần sau là thực tại. Khát vọng là mơ về khách đừơng xa, mơ một lần được gặp lại người xưa, cảnh cũ nhưng hiện thực càng mơ, càng mong, càng khát khao lại càng xa, xa mãi đến vô vọng, không thể còn một lần nào gặp gỡ. “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, “ở đây” có thể là không gian hiện thực nơi xứ Huế vốn nhiều nắng, nhiều mưa, nơi sương khói hư ảo cũng có thể lại là chính không gian tâm tưởng, không gian nơi tác giả đang đắm chìm trong đau thương, tuyệt vọng đến cùng cực để rồi thốt lên một câu hỏi chỉ để hỏi, chẳng có câu trả lời “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Một câu hỏi tu từ chứa đựng bất an, hoài nghi về tình người của con người xứ Huế. Liệu sau quãng thời gian xa cách, liệu với căn bệnh hiểm nghèo người xứ Huế vẫn thương yêu, trìu mến hay là đã lãng quên mình, xa lánh, ruồng rẫy thi nhân. Câu thơ cuối cũng chính là câu trả lời cho câu thơ: “ Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Nhà thơ ao ước được trở về nơi xưa được gặp lại cố nhân nhưng: “cảnh xưa còn đó, lòng người đổi thay”. Câu thơ khép lại bài thơ trong nỗi hoài nghi tuyệt vọng nhưng vẫn thấy ở đó là niềm khát khao của thi nhân với tình người, với trần thế chẳng thể nào lụi tàn. Với những hình ảnh thơ độc đáo, đẹp, gợi cảm, ngôn ngữ giàu tâm trạng, âm điệu, nhịp thơ trong sáng, thiết tha kết hợp với nghệ thuật nhân hóa, so sánh những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, Hàm Mặc Tử đã phác họa ra một khung cảnh thiên nhiên và con người xứ Huế đầy sức sống, một bức tranh toàn bích hòa quyện giữa cõi thực va cõi ảo, giữa tâm tưởng và ước mong qua đó bộc lộ tình yêu mãnh liệt của thi nhân với thiên nhiên, với con người cùng niềm ham sống, khát khao sống đến mãnh liệt của nhà thơ. Sáng tác bài thơ trong hoàn cảnh cái chết cận kề.Song cái ta bắt gặp vẫn là tình yêu, niềm gắn bó tha thiết với thiên nhiên, con người và sự sống. Càng làm ta đồng cảm, mến phúc trước nghị lực sống phi thường vượt lên trên hoàn cảnh nghiệt ngã của bao nhiêu phũ phàng, ruồng rẫy để sống, để cống hiến. “Tôi xin hứa hẹn với mọi người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”.
Phân tích khổ thơ thứ 3 trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử
911
Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu Hướng dẫn Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu Bài Làm Tố Hữu là một trong những cây bút tài năng trưởng thành trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông đã đóng góp vào nền thơ ca nước nhà rất nhiều tác phẩm xuất sắc. Việt Bắc là một trong những sáng tác được coi là đỉnh cao trong thơ Tố Hữu. Bao trùm lên toàn bài thơ là nỗi nhớ, sự lưu luyến giữa chiến sĩ cán bộ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội và nhân dân Việt Bắc. Bên cạnh đó, hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp hùng vĩ cùng con người chăm chỉ, đôn hậu nơi đây cũng được khắc họa thật đẹp trong bài thơ, đặc biệt là trong khổ thơ thứ sáu: “Ta về, mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.” Mở đầu đoạn thơ lại là một câu hỏi tu từ khéo léo thể hiện nỗi nhớ của người đi, kẻ ở: “Ta về, mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người” Câu thơ với thể thơ lục bát cùng cách xưng hô “ta-mình” nghe mới thật thân thương làm sao. Nhịp thơ nhịp nhàng, ngôn ngữ dung dị làm người đọc liên tưởng tới lối đối đáp thân tình trong ca dao, dân ca Việt Nam xưa “Ta về mình có nhớ ta – Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Không biết kẻ ở có nhớ người đi không, nhưng người đi thì sẽ nhớ “những hoa cùng người”. Nhà thơ đã khéo léo nhắc tới “hoa” bởi “hoa” là đặc trưng của vùng núi Việt Bắc tươi đẹp, với mỗi mùa trong năm lại là một mùa hoa để nhớ để thương. Cả câu thơ mang ý nghĩa nỗi nhớ khôn nguôi, sự tiếc nuối khi phải rời xa của người về xuôi với cả thiên nhiên và con người Việt Bắc. “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.” Những tưởng mùa đông nơi rừng thiêng nước độc u ám và lãnh lẽo lắm, nhưng với Việt Bắc trong thơ Tố Hữu thì khác, vẫn rất đẹp đẽ vô cùng. Với cách diễn tả màu “xanh” của “rừng” đối lập với màu “đỏ tươi” của “hoa chuối”, bài thơ đã đưa chúng ta đến với một bức tranh bạt ngàn một màu xanh bất tận của rừng già. Nổi bật trên cái nền xanh ngút ngàn ấy là những bông “hoa chuối đỏ tươi” điểm tô thêm sức sống căng tràn của thiên nhiên nơi đây. Và thấp thoáng trong bức tranh nên thơ ấy lại là hình ảnh con người đang hăng say lao động. Với cách miêu tả nắng chiếu làm ánh lên trên chiếc dao gài bên thắt lưng cùng việc dung động từ “ánh”, câu thơ càng làm toát lên được vẻ đẹp siêng năng của những người lao động nơi đây. Tiếp tục với bức tranh thiên nhiên và con người Việt Bắc, nhà thơ như một người hướng dẫn viên du lịch đưa chúng ta đến với vùng đất thơ mộng ấy vào mùa xuân đầy sắc trắng của hoa mơ: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” Mùa xuân Việt Bắc dường như cũng đẹp không kém gì mùa đông. Hình ảnh “mơ nở trắng rừng” cho người đọc cảm giác như thiên nhiên bừng tỉnh sau mùa đông để khoác lên mình một sắc trắng ngút ngàn, như một cô gái khoác lên mình chiếc áo mới tinh khôi vậy. Bên cạnh cái đẹp trong màu trắng hoa mơ của rừng núi lại tiếp tục là con người đang cần mẫn từng ngày “đan nón chuốt từng sợi giang”. Động từ “chuốt” giữa câu thơ đã nhấn mạnh được sự tỉ mỉ, khéo léo và cẩn thận trong công việc của người dân Việt Bắc. Bức tranh thiên nhiên và con người hiện lên thật sống động khiến cho người đọc hình dung như mình đang đứng trên chính mảnh ngập đầy sắc trắng của rừng mơ, bên những ngôi nhà sàn người dân đang say mê làm việc, chuốt từng sợi giang nhanh thoăn thoắt. Làm sao mà người đi không nhớ cho được một vùng đất tuyệt vời đến thế. “Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình.” Tố Hữu thật khéo léo và tinh tế khi đưa vào trang thơ của mình tiếng “ve kêu” cùng sắc “vàng” của “rừng phách”. Mùa hè nơi đây không chỉ có màu sắc mà còn có cả âm thanh thật sống động. Tiếng ve kêu giữa mùa hè dường như tạo nên một bản nhạc tuyệt vời của rừng già. Động từ “đổ” trong câu thơ khiến cho người đọc có cảm giác như tiếng ve kêu tới đâu, rừng phách đổ vàng đến đó, một sắc vàng ngút ngàn rực rỡ. Cảnh vật nên thơ là vậy, con người hiện lên trong bức tranh thơ Tố Hữu cũng hữu tình không kém. Giữa rừng phách đổ vàng đầy lôi cuốn ấy, hình ảnh cô em gái hái măng một mình lại tiếp tục thể hiện sự chăm chỉ, gần gũi của con người Việt Bắc, khiến cho bức tranh thiên nhiên càng trở nên đầy sức sống hơn. Bốn mùa có xuân hạ thu đông, sẽ thật là thiếu xót nếu như bức tranh thiên nhiên và con người Việt Bắc trong thơ Tố Hữu thiếu đi sự yên bình, sâu lắng của mùa thu: “Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.” Nếu Việt Bắc bước vào trang thơ với hình ảnh núi rừng vào ban ngày của mùa đông, mùa xuân, mùa hạ, thì mùa thu lại mang một nét riêng vào ban đêm. Hình ảnh trăng đã từng xuất hiện rất nhiều trong thơ ca kim cổ thì nay lại được bước vào thơ Tố Hữu khi miêu tả mùa thu Việt Bắc. Hình ảnh “trăng rọi hòa bình” mang đến cho núi rừng một không gian êm đềm, bình yên. Từ “rọi” khiến cho người đọc có cảm giác dường như ánh trăng sáng lung linh len lỏi qua từng tán lá cây, chiếu xuống bên dưới thật êm ả. Giữa bức tranh tĩnh lặng ấy lại vọng từ phía xa nào đó “tiếng hát ân tình thủy chung”. Đại từ “ai” trong câu thơ còn chỉ ai khác nữa nếu không phải là con người chân thành, đôn hậu của núi rừng nơi đây. Cụm tính từ “ân tình thủy chung” trong câu thơ nói về tiếng hát nhưng cũng chính là nói về đồng bào Việt Bắc – những con người hiền lành, chất phác, chăm chỉ và một lòng thủy chung với bộ đội, với cách mạng Việt Nam. Bức tranh thu với tiếng hát của con người vừa tình mà lại động, khiến cho người đọc có một cảm giác ấm áp vô cùng. Gấp trang sách lại mà hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ và con người bình dị, nghĩa tình của Việt Bắc vẫn hiện lên trong tâm trí người đọc. Qua đó, đoạn thơ cũng thể hiện nỗi nhớ, tình cảm chứa chan của nhân vật trữ tình với mảnh đất Việt Bắc thân thương. Bài thơ nói chung cũng như đoạn thơ nói riêng sẽ mãi là một khúc ca thời chiến đẹp đẽ trong nền thơ ca Việt Nam. Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu
1,314
Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc Hướng dẫn Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc Bài làm Khổ 6 bài thơ Việt Bắc là bức tranh thiên nhiên đẹp trong nỗi nhớ nhà thơ, đoạn thơ cũng là sự hòa quyện thắm thiết giữa cảnh và người, là ấn tượng khó phai mờ về con người Việt Bắc cần cù lao động, thủy chung: “Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Nhà thơ Tố Hữu nhớ về Việt Bắc đã cưu mang, nuôi dưỡng chiến sĩ cách mạng, che chở cho các cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Việt Bắc cũng là mảnh đất mộng mơ với những gam màu tươi sáng về cảnh và người hòa quyện thắm thiết. Kết cấu của đoạn thơ vẫn theo hình thức đối đáp của hai nhân vật trữ tình ta – mình tưởng như riêng tư nhưng lại là vấn đề lớn trong đạo lý dân tộc. Mình – ta là thủ pháp độc đáo, tài hoa của nhà thơ, và cũng là sự phân đôi thống nhất của nhân vật trữ tình. Thiên nhiên Việt Bắc trong khổ 6 như một bức tranh thơ mộng với đầy đủ bốn mùa và mỗi mùa có vẻ đẹp riêng. Mùa đông với hoa chuối đỏ tươi nổi bật trên nền xanh bát ngát của núi rừng. Hoa mơ trắng nở đầy trong mùa xuân. Tiếng ve như bản nhạc hực lên sáng vàng rừng phách mùa hạ. Mù thu với ánh trăng sáng êm dịu trong hòa bình… Cách nhà thơ diễn tả độc đáo, nửa hư nửa thực gợi vẻ đẹp rất riêng của thiên nhiên Việt Bắc. Bức tranh thiên nhiên được miêu tả đặc biệt trải rộng bốn mùa, cả ngày và đêm, cả màu sắc và âm thanh sống động của cuộc sống. Thiên nhiên Việt Bắc trong khổ thơ này hiện ra như bức tranh tứ bình của hội họa phương Đông mà mùa nào cũng đẹp, vừa cổ điển vừa hiện đại. Con người Việt Bắc trong thơ Tố Hữu là những con người cần cù, chất phác, thủy chung với cách mạng, với khác chiến thật đáng trân trọng và khắc ghi. Cảnh và người rất thực, rất đặc trưng hòa quyện, tô điểm cho nhau làm bức tranh thiên nhiên trở nên gần gũi và ấm áp. Trong nỗi nhớ của người ra đi, sâu sắc và đậm đà nhất là kỷ niệm về con người Việt Bắc cần cù, nghĩa tình thủy chung; là nỗi nhớ tri ân mang tính nhân văn cao cả. Khổ 6 bài thơ nằm trong tổng thể chung của bài thơ Việt Bắc, mang âm hưởng trữ tình vang vọng khúc ca ngọt ngào của tình đồng bào, của tình yêu quê hương, đất nước và con người Việt Nam nằm trong cảm xúc chung của bao người được nhà thơ nói lên cảm xúc. Đó chính là đạo lý uống nước nhớ nguồn cao đẹp của dân tộc ta bao đời nay.
Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc
556
Đề bài: Phân tích khổ thơ thứ ba trong bài thơ tây tiến của Quang Dũng Bài làm Có thể nói, nếu chọn năm tác giả tiêu biểu cùa giai đoạn văn học này, có thể không có Quang Dũng nhưng nếu chọn năm bài thơ tiêu biểu, nhất định Tây Tiến phải được nhắc tên, đứng ở hàng danh dự. Đọc Tây Tiến, chúng ta sống lại một thời lửa cháy cùng đoàn quân lừng tiếng đã đi vào lịch sử, và chúng ta có thể quên một số câu thơ trong bài, nhưng không thê quên được hình ảnh đoàn quân ấy: Tây Tiến đoàn quăn không mọc tóc Quăn xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành! Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Nếu như ở những đoạn thơ đầu, hình ảnh đoàn quân mới hiện lên qua nét vẽ gián tiếp – nói đến gian khổ, hi sinh và địa bàn hoạt động – thì ở đây, đoàn quân ấy đã hiện lên với những nét vẽ cụ thể, gân guốc, rạch ròi. Đã thành khuôn sáo khi đề cập đến sự can trường của các chiến binh. Ở đây, ta tưởng như gặp một môtíp như thế: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùmg Nhưng, trước hết, đây là những câu thơ tả thực – thực một cách trần trụi: chiến sĩ Tây Tiến hồi ấy hoạt động ở những vùng núi rừng hiểm trở, ma thiêng nước độc, chết trận thì ít mà chết vì bệnh tật thì nhiều, có những con suối rửa chân rụng lông, gội đầu rụng tóc. “Quân xanh” ở đây có thể hiểu là xanh màu áo, xanh lá ngụy trang và xanh làn da vì thiếu máu. Những hình ảnh rất thực đó, vào bài thơ, với giọng điệu và cách diễn tả lãng mạn của Quang Dũng đã như mang nghĩa tượng trưng, rất có khí phách. Mười bốn chữ thơ mà chạm khắc vào lịch sử hình ảnh một đoàn quân phi thường, độc đáo, có một không hai trong cuộc đời cũng như trong thơ ca. Đoàn quân của một thuở “xếp bút nghiêng lên đường chinh chiến” của các chàng trai Hà Nội kiêu hùng hào hoa. Vì vậy, khó khăn, gian khố là thế, nhưng các chiến binh Tây Tiến vẫn không nguôi, vơi đi nhừng tình cảm lãng mạn: Mát trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. “Mộng” và “mơ” cùa người lính được gửi về hai phương trời: biên cương, nơi còn đầy bóng giặc – mộng giết giặc lập công, và Hà Nội, quê hương yêu dấu – mơ những bóng dáng thân yêu. “Dáng kiều thơm”, ấy là vầng sáng lung linh trong kí ức, “tố cáo” nét đa tình của người lính. Nhưng với các chiến sĩ Tây Tiến, nỗi nhớ ấy là sự cân bằng, thư thái trong tâm hồn sau mỗi chặng hành binh vất vả, chứ không phải để thối chí nản lòng. Vậy mà một thời, câu thơ “đẹp một cách lãng mạn” này đã khiến cho tác giả của nó và chính bài thơ phải “trải bao gió dập, sóng dồi”. Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi – xưa nay đi chiến trận, mấy ai trở về, các chiến sĩ Tây Tiến cũng không khỏi tránh phải những mất mát, hi sinh. Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Sau những câu thơ rắn rỏi, đẹp đẽ, đến đây, âm điệu câu thơ chợt trầm và trùng xuống để độc giả thấy rõ hơn bản chất của sự việc. Dường như đây là một cảnh phim được cố ý quay chậm. Còn gì thiêng liêng và cao cả hơn sự hi sinh, chấp nhận gian khổ của người lính. Trên đường hành quân người chiến sĩ Tây Tiến gặp biết bao ngôi mồ viễn xứ của những kẻ chết xa quê. Nhưng các chiến sĩ ta nhìn thấy với đôi mắt bình thản, bởi họ đã chấp nhận điều đó. Một trong những động cơ thôi thúc họ lên đường là hình ảnh người anh hùng da ngựa bọc thây mà họ tiếp nhận được trong văn chương sách vở. Một niềm đam mê trong sáng pha chút lãng mạn. Hai câu thơ cuối tiếp tục âm hưởng bi tráng, tô đậm thêm sự mất mát hi sinh nhưng đó lại là một cái chết cao đẹp – cái chết bất tử của người lính Tây Tiến. Áo bào thay chiếu anh về đất. Sông Mã gầm lên khúc độc hành Hai câu mới đọc qua tưởng như chỉ làm nhiệm vụ miêu tả, thông báo bình thường nhưng sức gợi thật lớn. Đâu đây vẫn như còn thấy những giọt nước mắt đọng sau hàng chữ. Hai câu thơ rắn rỏi mà cảm khái, thương cảm thật sâu xa. Làm sao có thể dửng dưng trước cánh “anh về đất”? “Anh về đất” là hóa thân cho dáng hình xứ sở, thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình. Tiêng gầm của sông Mã về xuôi như loạt đại bác rền vang, vĩnh biệt những người con yêu của giống nòi. Trước đây, khi nhắc đến những dòng thơ này, người ta chỉ thấy những biểu hiện nào là “mộng rớt”, “buồn rơi”… nhưng thời gian đã khiến chúng ta nhìn đúng hơn vào bản chất, có thời đại ấy mới có văn chương ấy. Tây Tiến là bài thơ, là tấc lòng của những người chiến binh Tây Tiến. Bài thơ có nhạc, họa; bên cạnh cái bi là cái hùng, bên cạnh mất mát, đau thương là anh hùng. Nửa thế kỉ đã qua, bài thơ ngày một thêm sáng giá và đoạn thơ khắc họa đoàn quân Tây Tiến đã trở thành một hoài niệm khó quên của một thời kì lịch sử hào hùng trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
Phân tích khổ thơ thứ ba trong bài thơ tây tiến của Quang Dũng
1,019
Phân tích khổ thơ thứ hai trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Hướng dẫn Phân tích khổ thơ thứ hai trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, quân xanh màu lá giữ oai hùm…” những người lính Tây Tiến đã một thời làm nên chiến thắng vẻ vang cho dân tộc. Những người lính đã ra đi mà “chẳng tiếc đời xanh”. Họ đã đi qua bao gian khó vất vả của chiến trường rồi gửi mình lại nơi đất lạ xa xôi. Ấy thế mà tâm hồn lãng mạn của đời trẻ vẫn luôn rực cháy trong các anh. Quang Dũng – một nhà thơ và cũng là một người lính trẻ trong đoàn quân Tây Tiến đã khắc họa lại những phút giây tươi trẻ ấy bằng những vần thơ đầy hào hứng: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Có thể nói đây là khổ thơ đẹp nhất, bình yên nhất, lãng mạn nhất trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Bên cạnh hình ảnh người lính đầy bi tráng với những vất vả gian lao, vẫn có những cảnh vui chơi hào hứng đầy khí thế. Nếu như ngoài chiến trường kia, các anh cầm súng chiến đấu quyết liệt với kẻ thù thì ở đây, tạm gác lại súng đạn, cả lính và dân cùng hòa nhập với nhau làm một trong hội đuốc hoa của doanh trại. Giờ đây, lửa đã rực cháy, ngọn lửa của ý chí, của niềm tin quyết chiến quyết thắng, của một ngày mai tươi sáng hòa bình lại về trên đất Việt ta. Những cô gái miền núi e ấp, duyên dáng đẹp xinh trong chiếc yếm truyền thống của dân tộc mình. Họ cùng nhau nhảy múa, trao cho nhau những nụ cười những ánh mắt đầy hi vọng. Ở đó, còn có tình dân quân thắm thiết, gắn bó chặt chẽ. Dù chưa một lần gặp mặt nhưng trong lòng chung một niềm tin chung một ý chí, họ hậu thuẫn lẫn nhau, cùng tương trợ giúp đỡ nhau bằng tất cả những gì mình có thể làm. Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp dân và quân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mặt khác, trong cuộc chiến này, nước ta còn được quân đội và nhân dân của nước Lào giúp đỡ và ủng hộ nhiệt tình. Thế nên, Quang Dũng đã viêt: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” “Xây hồn thơ” – cách dùng từ rất tinh tế và lãng mạn. Hẳn lúc này ông đang nhớ lắm những kỉ niệm một thời chinh chiến của mình. Nhớ “hồn lau nẻo bến bờ”, nhớ “dáng người trên độc mộc” với “dòng nước lũ hoa đong đưa”. Những nỗi nhớ của nhà thơ đã được cụ thể hóa bằng hình ảnh thật giản dị, chân phương.
Phân tích khổ thơ thứ hai trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
526
Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Tây Tiến Bài làm ”Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…” Cảnh ấy cũng là tình. Cũng là sương, là hoa, là mây, là mưa – những chi tiết thường gặp trong thơ cổ – nhưng còn đượm thêm không khí trầm hùng của thời đại được diễn tả bằng những từ ngữ, thanh điệu khi đọc lên ta cảm thấy ngang tàng. Hình ảnh của một đoàn quân mỏi đi trong cái khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, giữa cái bồng bềnh sương khói chơi vơi được tác giả phác hoạ bằng những nét chấm phá tài tình. Con mắt thơ không dừng lại ở trong không gian rừng núi mà còn mở ra một không gian – tâm trạng của một hồn thơ chiến sĩ. Phảng phất một chút Lý Bạch trước Hoàng Hà – ngút ngát chí tang bồng của người trai thời loạn. Trong gian nan của người chiến sĩ Tây Tiến, ta vẫn gặp chút hóm hỉnh ở hình ảnh súng ngửi trời. Chạm mặt với thực tế khắc nghiệt – song chất hào hoa lãng tử không mất đi mà lại càng được tô đậm thêm, chân thật sống động trong những câu thơ đượm tình quê, tình đồng đội, tình quân dân. Một hiện thực về người lính Tây Tiến – anh Bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu chiến đấu gian khổ. Đó là cơn mưa gợi nỗi nhớ nhà sâu thẳm, là sợi khói cơm thơm quyện chặt tình người, một bóng hình đong đưa làm xao xuyến những trái tim trai trẻ… Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Bài thơ có nói đến hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng cảm xúc hào hùng của lớp người “ra đi bảo tồn sông núi” đã lấn át cái bi luỵ buồn thương. Đoàn binh Tây Tiến trong thơ Quang Dũng như một sự kết tụ của tráng khí muôn đời, pha chút lãng mạn kiểu Kinh Kha “một đi không trở lại”. Phải chăng với tinh thần “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng” mà toàn bài thơ mặc dù có nói đến chết chóc nhưng giọng điệu rất bình thản: anh về đất? Phải chăng khi xác định chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, người chiến sĩ đã nhận ra mục đích của cuộc chiến đấu còn lớn hơn gấp vạn lần những gian khổ, hy sinh? Bài thơ không cường điệu hoá cảm xúc dẫu trong âm điệu gân guốc, khoẻ khoắn của toàn bài có những từ ngữ mang hơi hướng cổ điển như xiêm áo, dữ oai hùm, mồ viễn xứ, áo bào, khúc độc hành và cách diễn đạt tưởng chừng lạ lẫm tràn ngập không khí lãng mạn. Nếu chỉ chăm chăm đi tìm chất thép trong bài thơ theo quan điểm xã hội học thiển cận thì chẳng khác nào cầm dao đâm vào cái đẹp. Cái đẹp của bài thơ viết ra từ lửa máu đã làm rung lên những cảm xúc đồng điệu của bao thế hệ. Nhà thơ Trần Lê Vân, người bạn thân, đã từng sống nhiều năm, từng in thơ chung với Quang Dũng viết về hòan cảnh Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây Tiến như sau: “Đòan quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đòan 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), anh viết bài tho Tây Tiến.” Muốn hiểu được bài thơ Tây Tiến, truớc hết cần phải có những hiểu biết về đoàn quân Tây Tiến cùng với địa bàn hoạt động của nó. Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào-Việt, đánh tiêu hao địch ở Thượng Lào để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Thuợng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hóa. Những nơi này, lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, núi cao, sông sâu, rừng dày, có nhiều thú dữ. Những người lính Tây Tiến phần đong là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên. Sinh hoạt của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn vì đánh trận, tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và hòan cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn. Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yếu tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ. Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người Tây Bắc càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẳn sàng xả thân, hy sinh tất cả cho lý tưởng chung của cộng đồng, của tòan dân tộc. Tây Tiến không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ. Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian: Sông Mã xa rồi Tay Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhó chơi vơi Sài Khao sương lấp đòan quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi. Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nỗi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày,…liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Khổ thơ này là một bằng chứng “thi trung hữu họa”. Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hòanh tráng diễn tả sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây Bắc, địa bàn họat dộng của đòan quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ đẩy giá trị tạo hình khúc khủyu, thăm thẳm. cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật chính xác sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đồi Tây Bắc. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính trèo lên những ngọn núi cao tưởng chừng như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, dổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Nếu như câu thứ ba là nhìn lên và nhìn xuống thì câu thứ tư là nhìn ngang. Có thể hình dung cảnh nhữngngười lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mây núi thấy thấp thóang những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi. Bốn câu thơ này phối hợp với nhau tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại. Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại, như xoa mát cả khổ thơ. Cái vẻ hoang dại dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác. No’ không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người: Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Vậy là, cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ và hiểm trở qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ,….Những tên đất lạ Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, những hình ảnh giàu trí tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáo của núi rừng Tây Bắc. Đọan thơ được kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn lai. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuan bị tư thế cho người đọc bước sang đọan thơ thứ hai.
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Tây Tiến
1,851
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm Hướng dẫn Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm Bao giờ cảnh chia ly của để lại cho người ra đi với người ở lại một nỗi buồn man mác lưu luyến. Tống biệt hành là một bài thơ như thế là cảnh chia tay đầy da diết lưu luyến giữa kẻ ở và người ra đi. Cũng như bao bài thơ khác, khổ thơ đầu của bài thơ đã nhuốm màu tâm trạng của chia tay. Người viết không trực tiếp nói ra nỗi buồn đó như thế nào, những thứ xung quanh đã làm nỗi bật điều đó, đó là hình ảnh không gian màu sắc và cả một bầu tâm trạng bao trùm cả khổ thơ. Đưa người, ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bóng chiều không thắm, không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Cảnh chia lu được diên tả khi một người tiễn một người sang sông, một người đứng chờ ngong bóng người kia đi khuất hẳn. người đi sang sông người đi để cho người ở lại “ có tiếng song” ở trong lòng cứ từng đợt trào dâng Nghĩa tình tâm trạng buồn não nề bao trùm lấy cả cảnh Đưa người, ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Câu hỏi tu từ như câu hỏi trong lòng người đưa tiến mãi không có câu trả lời. cứ tự hỏi rồi lại vấn vương khắc khoải từng đợt, cứ như là tình cảm và cảm xúc dâng lên từng đợt biết hỏi ai? Hai câu thơ tiếp theo cũng không kém phần tâm trạng: Bóng chiều không thắm, không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Cảnh tiễn đưa không bao giờ là một sáng mai bình minh không bao giờ là một cảnh vui tuwoi mà luôn luôn nhuốm màu tâm trạng. hình ảnh đó được thể hiện qua cảnh đưa tiễn vào một buổi chiều tà mọi thứ bắt đầu chùng xuống và thay thế vào đó là thứ ánh sáng nhàn nhạt cuối ngày. Đôi mắt trong kia hay là đôi mắt mang đầy bóng hoàng hôn nhưng lại trở được hai tâm trạng của kẻ ở người đi. Con người ra đi nhưng lại mang một nỗi vấn vương lo lắng về những người thân trong gia đình của mình. Dẫu sao thì cái chí khí vẫn thôi thúc người lên đường. Con người đó dẫu cho không ngoảnh đầu lại nhưng vẫn cảm nhận được nỗi buồn. Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng? Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Như một cách vô thức “ từ sao “ kia như muốn hỏi lại chính bản thân mình, một sự nghi hoặc một sự giằng xé trong tâm hồn người ở lại. người ra đi để lại cho người ở lại những con sóng của lòng đau đớn vì biệt li, thương nhớ cứ dâng trào lên đến cực điểm. Chỉ mới là khổ thơ đầu nhưng những gì tác giả gợi ra khiến cho cảm xúc toàn bài thơ được gợi mở, những thứ mà chúng ta cảm nhận được là tình cảm chân thành giữa hai con người khiến cho người đi hay người ở cũng đều bộn bề tâm trạng Nguồn: Bài văn hay
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm
553
Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Từ ấy của Tố Hữu Bài làm Viết về lí tưởng cách mạng, bài thơ "Từ ấy" của Tố Hữu đã trở thành câu ca, tiếng hát của hàng triệu con người hơn nửa thế kỉ nay. Giọng thơ sôi nổi, say mê, trẻ trung và yêu đời tiêu biểu cho hồn thơ Tố Hữu. “Từ ấy" là tiếng hát của người thanh niên cộng sản thể hiện một tình yêu lớn: yêu lí tưởng cách mạng và yêu giai cấp cần lao. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn, gồm có 3 khổ thơ mỗi khổ 4 câu. Đây là khổ đầu ca ngợi lí tưởng và nói lên tình yêu lí tưởng cách mạng: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim… Nhà thơ là đứa con của "Huế đẹp và thơ". Ông sinh ra và lớn lên trong đêm trường nô lệ "Nước mất nhà tan, đời khổ thế!". Trưởng thành trong phong trào yêu nước của thanh niên học sinh, nhà thơ nhiệt thành đi tìm đường cứu nước: "Con lớn lên con tìm Cách mạng". Và trong đêm dày nô lệ, nhà thơ cảm thấy tâm hồn "bừng nắng hạ" kể từ ấy: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim". "Từ ấy" là thời điểm (1938) nhà thơ được giác ngộ cách mạng, bắt gặp lí tưởng cộng sản chủ nghĩa. "Mặt trời chân lí" là hình ảnh ẩn dụ về lí tưởng cách mạng, về chủ nghĩa Mác – Lênin. Chữ "chói" (chói qua tim) nghĩa là chói lọi, soi vào, chiếu vào. Ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin vô cùng chói lọi đã chiếu vào, soi vào trái tim – tâm hồn yêu nước của nhà thơ trẻ. Bóng tối đêm dày nô lệ như bị xua tan, người chiến sĩ cách mạng cảm thấy cuộc đời mình, con đường mình hướng tới “bừng nắng hạ". Đây là hai câu thơ đẹp nhất của Tố Hữu viết về lí tưởng cách mạng. Ngôn từ (bừng, chói), hình ảnh (mặt trời chân lí) rất hay, rất sáng tạo. Lúc nào đọc, ta vẫn cảm thấy mới mẻ, vần thơ tràn ngập ánh sáng và niềm tin. Hai câu thờ 3, 4 tiếp theo nói về "hồn tôi" từ thuở ấy, từ khi "bừng nắng hạ": "Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim". Nhà thơ sử dụng một so sánh đặc biệt: "Hồn tôi là một vườn hoa lá"… Ngôi vườn ấy xanh màu xanh của lá, rực rỡ của sắc hoa, "rất đậm hương" ngào ngạt. Ngôi vườn đẹp tươi ấy "rộn tiếng chim" hót nghe rất vui. Các từ gợi tả: "đậm", "rộn" thể hiện sức sống và vẻ đẹp của vườn hoa lá, của "hồn tôi" từ khi có chủ nghĩa Mác – Lênin, có "Mặt trời chân lí chói qua tim". Hai câu thơ nói lên tác dụng kì diệu của lí tưởng cách mạng qua một không gian nghệ thuật kì diệu nên thơ. Tố Hữu yêu nước, yêu chủ nghĩa Mác – Lênin mới có cách nói hay, rất hình tượng về lí tưởng cách mạng. "Mặt trời chân lí" và "vườn hoa lá…" là hai hình tượng rất đẹp, rất thơ. Các từ ngữ: "từ ấy", "bừng". "chói", "đậm", "rộn" – được chọn lọc tinh tế làm cho vần thơ cất cánh trong tâm hồn chúng ta.
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
587
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Đây Mùa Thu Tới Hướng dẫn Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Đây Mùa Thu Tới Bài làm Xuân Diệu được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” của văn học Việt Nam. Ông là nhà thơ tình viết hay nhất và nhiều nhất trong kho tàng thơ văn nước nhà. Với ngôn từ lãng mạn và nhịp điệu thơ đậm chất trữ tình, những tác phẩm của Xuân Diệu luôn lay động tâm hồn người đọc. Đối với ông, mùa thu cũng là nguồn cảm hứng bất tận, cảnh thu chứa đựng nhiều rung động bồi hồi, bởi lẽ “Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”. Đối với Xuân Diệu, mùa thu lúc nào cũng thật thơ mộng, khiến cho tâm hồn người thi sĩ như dây đàn đang rung lên xao xuyến. Và “Đây mùa thu tới” là cũng là một tuyệt phẩm về mùa thu của nhà thơ Xuân Diệu. Tác phẩm được trích trong tập “Thơ thơ”, xuất bản năm 1938, thể hiện bước chân của mùa thu làm xôn xao, rung động đất trời và lòng người. Mùa thu thường gợi buồn và cũng gợi tình. Có lẽ chính vì thế, Xuân Diệu cũng không thể làm ngơ trước vẻ đẹp rất riêng của thu. Cảm nhận đầu tiên của thi sĩ Xuân Diệu về mùa thu không phải là ở không gian mênh mang, bao la khiến con người trở nên nhỏ bé như “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” hay “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” của Nguyễn Khuyến. Ông cảm nhận mùa thu trước hết ở dáng liễu nhỏ bé ven hồ. Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”. Cả không gian “đìu hiu”, vắng vẻ và gợi cho người ta một nỗi buồn mang mác. Rặng liễu trầm mặc như chỉ biết “đứng chịu tang”, như một lẽ dĩ nhiên phải như vậy và chỉ có thể cam chịu, âm thầm đón nhận mà thôi. Lá liễu buông dài như tóc nàng góa phụ “buồn buông xuống”. Lá liễu ướt đẫm sương thu tưởng như “lệ ngàn hàng”. Nhành liễu đã được tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa, biến thành một người con gái yếu đuối, nhỏ bé với những tâm sự và cảm xúc riêng. Nàng “đứng chịu tang”, từ tóc liễu đến lệ liễu đều mang theo nỗi sầu man mác không biết ngỏ cùng ai. Chỉ một dáng liễu thôi cũng được Xuân Diệu miêu tả và cảm nhận đầy chất thơ, thổi vào đó hồn thu đầy hoài niệm. Bên cạnh đó, biện pháp láy âm cũng được thi sĩ Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên những vần thơ giàu nhạc điệu: “đìu hiu – chịu”, “tang – ngàn – hàng”, “buồn – buông – xuống”, như bước đi uyển chuyển, thướt tha, nhẹ nhàng của nàng thu. Đó là một điểm mới mà Xuân Diệu đã học tập được trong trường phái thơ tượng trưng Pháp thế kỉ XIX. Từ chỗ say mê ngắm “rặng liễu đìu hiu”, tâm hồn nhà thơ như khẽ reo lên khi nhận ra mùa thu đã đến. Cảm nhận đó được thể hiện qua hai câu thơ tiếp theo: Với áo mơ phai/dệt lá vàng”. Chắc hẳn điều đầu tiên mà người đọc cảm nhận được là nhịp thơ dồn dập, “mùa thu tới” được lặp lại trong câu cho thấy thu đã đến ngay trước hiên nhà, như tiếng reo hân hoan của thi sĩ trước mùa lãng mạn và tình nhất trong năm. Thu vừa tới, sắc màu cỏ cây vạn vật đều đổi thay, trở thành “mơ phai” nhẹ nhàng và có chút mơ hồ đầy quyến rũ. Từ “dệt” cũng được sử dụng tinh tế cho thấy bước đi mùa thu như có sức chuyển biến mạnh mẽ tới vạn vật, đi tới đâu là nơi đó trở nên huy hoàng, lộng lẫy hơn bội phần. Câu thơ “Với áo mơ phai dệt lá vàng” là một câu thơ thi vị, nói lên cái hồn thu vừa mơ màng, lơ đãng nhưng cũng rất tươi sáng và rực rỡ. Hai câu thơ đầu và cuối của khổ thơ đầu tiên trong “Đây mùa thu tới” của nhà thơ Xuân Diệu phản ảnh hai sắc thái của mùa thu trong cảm nhận của con người. Ban đầu, người ta sẽ thấy mùa thu thật buồn và ảm đạm qua nhịp thơ chậm rãi, âm điệu nhiều thanh bằng và hình ảnh rặng liễu. Nhưng rồi khi mùa thu thực sự tới, vạn vật như thay áo mới, đẹp thơ mộng và huy hoàng. Có thể nói, khổ thơ đầu của “Đây mùa thu tới” đã vẽ lên một bức tranh thu đượm buồn phủ lên cây cỏ và lòng người, nhưng không hề ảm đạm, thê lương mà trái lại, thu vẫn đẹp thơ mộng và làm lòng người khẽ reo vui mỗi khi mùa thu tới.
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Đây Mùa Thu Tới
821
Phân tích khổ thơ đầu bài Đây Thôn Vĩ Dạ Hướng dẫn Phân tích khổ thơ đầu bài Đây Thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc Tử là nhà thơ có tâm hồn nhạy cảm, những sáng tác của ông được sáng tác và đi vào lòng người cũng một cách rất tự nhiên sâu lắng, để lại nhiều suy ngẫm cho độc giả. Một trong những bài thơ như thế chính là bài thơ “ Đây thôn vĩ dạ”, bài thơ nhắc tới miền quê xứ Huế thơ mộng, với vẻ đẹp vừa giản dị vừa yêu kiều như chính người con gái mà tác giả đang thầm thương trộm nhớ. Không những thế, bài thơ còn nói lên niềm khát khao, tình yêu quê và sự gắn bó thiết tha của thi sĩ. Không giống với các bài thơ khác,mở đầu bài thơ “ đây thôn Vĩ Dạ” lại không phải là một câu miêu tả hay câu cảm thán, mà là câu hỏi tu từ:” Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Cảm hứng của bài thơ được khơi nguồn từ bức thư của Hoàng Thị Kim Cúc, viết cho Hàn Mặc Tử, những lời thơ khiến cảm xúc của tác giả ùa về, lại khơi gợi ra những nỗi nhớ về một miền thơ mộng hữu tình. Mở đầu chỉ với 4 câu thơ ngắn ngủi thôi, nhưng cảm xúc lay động tới độc giả là không hề nhỏ: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Lại nói về câu hỏi tu từ ở câu đầu của bài thơ, mở đầu một câu hỏi đã lạ, lại mở đầu với câu hỏi mà không có người trả lời,khiến mạch cảm xúc của bài thơ trở nên bâng khuâng khó tả. Tuy không ở gần, không được một lần về thăm Vĩ Dạ, nhưng bằng với nỗi nhớ diết da đã đưa Hàn Mặc Tử về với quê hương. Câu hỏi tu từ như một lời trách móc,hờn dỗi của một cô gái như thủ thỉ rằng, sao lâu rồi mà tác giả không về thăm quê lấy một lần. Câu hỏi vốn đưa ra không phải để trả lời, mà gợi ra cảm giác bâng khuâng, khó tả. Nó giống như một lời mời gọi, vừa như là một lời giới thiệu mà cũng là sự tiếc nuối của chính tác giả lâu không về thăm thôn Vĩ. “ Sao anh không về chơi thôn Vĩ” như một lời tự vẫn, tự trách móc mình. Khung cảnh Vĩ Dạ dần hiện ra với bao nhiêu cảnh, vừa có nắng vừa màu sắc rực rỡ, lại vừa có hình ảnh của những cành trúc đung đưa trước ngõ nhà ai. Cái tài cái độc đáo của tác giả là gợi ra sự tưởng tượng mới lạ cho chính người đọc: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Không trực tiếp ở Vĩ Dạ, nhưng với nỗi niềm nhớ Vĩ Dạ tha thiết khiến tác giả có thể tưởng tương ra cảnh chính mình đang đặt bước chân về với quê hương thân yêu. Mỗi câu thơ như dẫn ra một vẻ đẹp của nơi đây, không những thế, ngôn từ dùng để miêu tả khung cảnh, không chỉ đẹp mà còn có tính gợi. Mọi thứ như đều hoà hợp và ánh lên một vẻ đẹp thanh tú, thuần khiết. Hình ảnh hàng cau gợi ra những vẻ đẹp thanh thoát, cao vút và vươn lên đón ánh nắng sớm mai. Len lỏi vào đó là những tia nắng bình minh vừa rực rỡ lại vừa dịu dàng, như trải lên cho Vĩ Dạ một vẻ thân thiện lại đầy sự mời mọc. Nắng ở đây càng trở nên đẹp hơn, kì lạ hơn khi tác giả khoác cho nó với ngôn từ “ nắng mới lên thật tinh khiết mà cũng thật trong trẻo,không một chút gợn của một ngày dài đã trải qua Tác giả như dẫn dắt người đọc đi sâu hơn vào khung cảnh của thôn Vĩ, và với biện pháp so sánh, những vườn tược nơi đây đã trở thành những thứ mà dưới con mắt của một người nghệ sĩ được hóa thành chốn hữu tình:” vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. dường như cây cối ở thôn Vĩ quanh năm tốt tưới, từ “ mướt” được sử dụng ở đây quả thật không quá chút nào, xanh mướt, mơn mởn và đầy sức sống. Nhịp thơ uyển chuyển kết hợp với từ ngữ mang tính tượng hình cao, cảnh vật nơi đây như càng thêm huyền bí,đẹp đẽ, vừa có màu của nắng mới lên, vừa có màu xanh mướt của những khu vườn, mọi thứ đều tươi mới, đầy nhựa sống. Câu cuối của khổ 1 gợi ra nhiều suy nghĩ và liên tưởng nhất:” Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Phải chăng là hình ảnh lá trúc đang sà xuống những khu vườn vuông vắn tươi đẹp của xứ huế, hay những cành trúc đang buông mình trước cửa của những ngôi nhà xứ Huế. Đâu đấy lại gợi ra vẻ e ấp của cô gái Huế với khuôn mặt phúc hậu, gợi ra vẻ đẹp duyên dáng mà cũng kín đáo. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích khổ thơ đầu bài Đây Thôn Vĩ Dạ
885
Phân tích khổ thơ đầu bài “Tống biệt hành’ của Thâm Tâm- Văn lớp 11 Hướng dẫn Phân tích khổ thơ đầu bài “Tống biệt hành’ của Thâm Tâm- Văn lớp 11 Bài làm Thâm Tâm là một nhà thơ có phong cách thơ độc đáo. Ông sáng tác không quá nhiều những mỗi tác phẩm đều để lại những dấu ấn riêng trong lòng người đọc. Bài thơ “Tống biệt hành” là một bài thơ vô cùng đặc sắc tạo nên tên tuổi của Thâm Tâm để lại dấu ấn khó phai trong lòng người đọc. Nó trở thành những kỷ niệm khó quên với bất kỳ người nào đã đọc qua tác phẩm này. Bài thơ thể hiện tâm trạng chia ly, những cảm xúc bồi hồi xao xuyến trước giờ phút chia xa. Tác giả đã vô cùng tinh tế khi sử dụng những nghệ thuật tu từ vô cùng sắc sảo làm nên cái hay, lạ trong bài thơ. Trong đó, khổ thơ đầu tiên là khổ thơ mang lại nhiều cảm xúc, lắng đọng nhất trong lòng người đọc. Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Chỉ với bốn câu thơ nhưng tác giả vẽ lên sự tinh tế tài hoa, nghệ thuật chơi chữ, với những câu hỏi tu từ tinh tế của tác giả đã chinh phục trái tim người đọc. Cuộc chia ly này cũng có thể không phải là cuộc chia ly của hai người yêu nhau, mà chỉ là cuộc chia ly của người bạn thân, tri kỷ. Một cuộc chia ly không cần nói nên lời chỉ cần nhìn vào mắt nhau là hiểu thấu nỗi lòng nhau. Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Tâm trạng của tác giả được thể hiện vô cùng tinh tế sâu sắc qua những câu thơ nhiều ẩn ý của mình “sao nghe có tiếng sóng ở trong lòng”. Một câu hỏi tu từ thể hiện sự bâng khuâng, tâm hồn đang dậy sóng của tác giả khi đưa tiễn một người tri kỷ, đi xa. Cảm xúc nghẹn ngào, tựa như tiếng sóng xô bờ vỡ òa từng cảm xúc khó tả, bâng khuâng, xao xuyến. Nỗi buồn nghẹn ứ trong lòng như những con sóng đang cuồn cuộn dâng trào trong lòng những người sắp phải chia xa. Một cuộc chia ly không phải là cuộc chia ly của người yêu, người thân, mà là cuộc chia ly của hai người bạn. Hai người tri kỷ tâm giao nhưng lại thể hiện những tình cảm gắn bó, thân thiết vô cùng sâu sắc. Những con sóng lòng cuộn trào dâng lên những cảm xúc mãnh liệt, khó tả trong tâm trạng của tác giả, trước giờ phút chia ly. Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Cuộc chia ly diễn ra ở một bến sông, nơi có những con đò chuyên chở người đi, nơi chứng kiến nhiều cuộc chia ly, cách trở. Giữa không gian mênh mông, thời gian vào lúc xế chiều, khi hoàng hôn buông xuống ánh nắng đang dần tắt đi khiến cho con người ta cảm thấy có một nỗi buồn day dứt, mơn man mãi trong lòng. Chính không gian và thời gian cũng đã làm cho câu thơ trở nên trầm buồn, gợi cảm giác mênh mang trước giờ ly biệt, tiễn đưa kẻ ở người đi. Ở đây tác giả đã lựa chọn thời điểm ‘chiều’ để diễn tả nỗi nhớ, đây chính là sự lựa chọn khéo léo và tinh tế. Bởi buổi chiều thường gợi cảm giác buồn mênh mang và buồn man mác, thời điểm thường khiến cho trái tim con người dễ yếu lòng hơn. Trong đôi mắt người đi và người ở lại dường như đong đầy nỗi buồn, thể hiện sự long lanh như có những ngấn lệ trong đôi mắt kia, tựa như ngàn vì sao đêm soi sáng trong đêm đen tối.
Phân tích khổ thơ đầu bài “Tống biệt hành’ của Thâm Tâm- Văn lớp 11
667
Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu Hướng dẫn Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu Tố Hữu là nhà thơ lớn của Việt Nam ở đầu thế kỷ XX, là cánh chim đầu đàn, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng, ông làm thơ để tuyên truyền, cổ vũ cho cách mạng, con đường thơ ca của ông song hành cùng với con đường cách mạng của Việt Nam, của dân tộc. Sự gắn bó ấy đem đến cho thơ ông một vẻ đẹp độc đáo như đóa hoa lớn rực rỡ. “Từ ấy” nằm trong tập thơ cùng tên, được sản xuất trong vòng 10 năm từ 1936 đến 1946. Khổ thơ đầu của tác phẩm thể hiện niềm vui sướng và hạnh phúc vô bờ bến của tác giả khi bắt gặp lý tưởng, lẽ sống của đời mình, khi ông còn băn khoăn giữa lẽ sống của đời, cảm thấy chán cuộc sống này thì cũng là lúc Tố Hữu bắt gặp lý tưởng cộng sản, lý tưởng của đời mình. Câu thơ đầu tiên được bắt đầu bằng cụm từ “từ ấy” thể hiện sự đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời của nhà thơ. Đây là thời điểm tác giả giác ngộ lý tưởng cách mạng, bắt gặp lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được giác ngộ vào năm 1938 ông vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng khi tròn 18 tuổi, Đảng là tập thể bao gồm những thanh niên ưu tú nhất của cả nước, nguyện hy sinh và phấn đấu vì sự nghiệp của đất nước và nhân dân. “ Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim” Bài thơ “từ ấy” thuộc phần “máu lửa” của tập thơ cùng tên, phần thơ ra đời trong không khí đầy sục sôi, đấu tranh giành độc lập, tự do của các dân tộc, nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lúc này nhà thơ cũng không hoạt động phong trào học sinh, sinh viên ở Huế. Bài thơ ra đời vào tháng 7 năm 1938 ghi lại những tâm tư, tình cảm của nhà thơ khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đây là việc vô cùng thiêng liêng, sự kiện trọng đại của nhà thơ, đã mang đến cho Tố Hữu niềm xúc động mạnh mẽ. Trong niềm xúc động lơn lao, nhà thơ đã có nhận thức sâu sắc về vẻ đẹp của lý tưởng Đảng, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời chỉ cho dân tộc con đường sống, đã có bao lời ca tiếng hat ca ngợi Đảng vinh quang, nhưng cách ca ngợi Đảng của Tố Hữu thật đặc sắc. Dòng thơ thứ hai sử dụng nhiều âm điệu ở âm vực cao, phấn chấn như một tiếng reo, tiếp tục ca ngợi vẻ đẹp lý tưởng cách mạng, không chỉ là nguồn sáng chói mà là nguồn sống lớn lao, lý tưởng sống đúng đắn, cao cả. Khái niệm lý tưởng cách mạng một khái niệm chính trị trừu tượng đã được nhà thơ cụ thể hóa bằng hình ảnh ẩn dụ rất đỗi trữ tình. “Mặt trời chân lý”, tiếp nối động từ “bừng” và từ “chói” ở câu hai để khẳng định lý tưởng cách mạng như nắng hạ chói lòa, như mặt trời vĩ đai, bất diệt đã tác động sâu sắc vào lý trí, tình cảm và thấm nhuần vào con tim, khối óc của nhà thơ và nhân dân những con người cần lao trong đêm trường nô lệ được ánh sáng cách mạng soi rọi, chỉ đường dẫn lối đến với hạnh phúc, ấm no, tương lai tươi sáng. Với cách diễn đạt vừa gợi hình vừa gợi cảm, tôn vinh lý tưởng cộng sản, giúp cho bao nhiêu người được sáng mắt, sáng lòng. Khẳng định bản chất cao đẹp của lý tưởng ấy là giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, thống khổ, chỉ cho họ con đường sống ý nghĩa nhất. “Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đạm hương và rộn tiếng chim” Với phép so sánh độc đáo, đầy thi vị nhà thơ đã làm cho thế giới tinh thần, hồn thơ tươi trẻ tràn đầy nhiệt huyết, yêu đời, yêu cuộc sống “ hồn tôi là một vườn hoa lá” từ hình tượng vô hình thành hữu hình. Ánh sáng chói lọi của lý tưởng, nguồn sống mãnh liệt của mặt trời cách mạng tác động vào tâm hồn nhà thơ, tạo ra sự biến đổi sâu sắc. Trước khi bắt gặp lý tưởng cách mạng, người thanh niên trí thức trẻ này sống một cách buồn bã, ảm đạm, lụi tàn như mảnh vườn trong mùa đông giá lạnh nhưng sau khi được gặp và giác ngộ được lý tưởng cách mạng cuộc sống lẫn tâm hồn của nhà thơ như môt mảnh hồn thơ đầy hương sắc giữa mùa xuân, mang đến nguồn sinh lực dồi dào cho biết bao tâm hồn trẻ trung, nhiệt huyết. Cuộc sống của họ có lý tưởng thật âm sắc, đượm hương. Nhịp thơ sôi nổi cùng với hai tính từ “đậm”, “rộn” được dung thật thẩm mỹ, đặc biệt với lối vắt dòng đặc sắc, hai câu thơ của Tố Hữu diễn tả chân thực, tinh tế bao cảm xúc dâng trào, niềm vui, niềm hạnh phúc vô hạn trong buổi đầu gặp gỡ lý tưởng. Có thể nói mặt trời chân lý đã xua tan những bóng đêm u ám, mở ra một tương lai tươi sáng, vẫy gọi bao tâm hồn hăm hở bước vào đời với tất cả niềm tin yêu, hy vong. Với nhà thơ đâu phải chuyện của nhận thức, của lý trí mà còn là chuyện của tình cảm, trái tim nên có sức sống cuốn hút khiến cho những thanh niên trí thức trẻ như Tố Hữu khiến cho tất cả dân tộc Việt Nam nguyện suốt đời theo Đảng.
Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu
1,021