text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu – Văn lớp 11 Hướng dẫn Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu – Văn lớp 11 Bài làm Nhà thơ Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới, thể hiện tình yêu đời, yêu người thiết tha, da diết. Những tình cảm tác giả đều gửi gắm qua những câu thơ của mình. Trong đó bài thơ “Vội vàng”của tác giả Xuân Diệu là một bài thơ thể hiện tinh thần ham sống tha thiết với cuộc sống. Những cảm xúc trong thơ Xuân Diệu luôn thể hiện những tinh thần đầy ắp yêu thương, dạt dào cảm xúc trữ tình, lãng mạn. Nó là một cảm xúc thể hiện khát khao yêu mãnh liệt của tác giả, muốn được níu kéo thời gian, những gì tinh túy tươi đẹp nhất của thiên nhiên và đời người đó chính là “Mùa xuân” Vội vàng là một bài thơ hay, thể hiện phong cách cá nhân độc đáo, sức sáng tạo của nhà thơ Xuân Diệu. Trong đó khổ thơ đầu tiên thể hiện sự vội vàng, tiếc nuối thời gian của nhà thơ một cách vô cùng mãnh liệt. Nó thể hiện tinh thần ham sống, say mê với thiên nhiên, muốn hòa mình với với đất trời, muốn phá vỡ những quy luật thiên nhiên thường thấy. Bài thơ “Vội vàng” viết về mùa xuân, một mùa xuân của tình yêu, của quê hương đất nước. Xuân Diệu đã tinh tế khi cảm nhận vẻ đẹp của mùa xuân theo cách riêng của mình, không giống với bất kỳ nhà thơ nào. Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của ong bướm này đây khúc tình si. Đọc những dòng thơ này ta đã thấy sự vội vàng, sự mê đắm của tác giả trong khung cảnh mùa xuân tươi đẹp. Ông vô cùng chân thành với cuộc sống này và muốn giữ nó mãi mãi, vì sợ thời gian trôi đi không chờ đợi ai bao giờ. Tác giả chỉ muốn giữ lại những gì đẹp đẽ ở lại vĩnh viễn với cuộc sống, mà thôi. Những suy nghĩ vừa trẻ con vừa nông nổi của tác giả khiến cho người đọc cảm thấy vô cùng thú vị. Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi Trong mỗi câu thơ từ ” tôi muốn”được lặp đi lặp lại thể hiện tâm trạng ước nguyện rất đỗi mãnh liệt của tác giả, khi muốn được hòa mình là một phần của thiên nhiên tươi đẹp, muốn giữ thiên nhiên cho riêng mình. Không muốn cho nó không bao giờ phai tàn đi. Xuân Diệu ước muốn trở thành vị chúa của muôn loài có quyền hành tối cao để tạo nên những đặc ân riêng cho cuộc đời. Muốn giữ lại những tia nắng long lanh lại sợ nó nhạt phai màu nắng. Muốn buộc nhốt lại những cơn gió để lưu giữ mùi hương hoa phảng phất đâu đây, cho mùi hương đó đừng bay đi xa, đừng tan biến. Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Chỉ với một đoạn thơ ngắn ngủi nhưng giàu sức gợi cảm tác giả Xuân Diệu đã diễn tả được thần thái của thiên nhiên vô cùng tươi đẹp khi mùa xuân về. Trong thơ Xuân Diệu mùa xuân luôn là mùa được ưu ái với những vần thơ vô cùng độc đáo thể hiện tình yêu của tác giả dành cho mùa xinh đẹp này. Những bông hoa thi nhau khoe sắc trong mùa xuân, khiến cho những con ong bướm, thi nhau lượn quanh tạo ra những tuần tháng mật vô cùng lý thú. Trong những câu thơ này tác giả sử dụng từ “này đây” vừa mang tính liệt kê, vừa mang tính nhấn mạnh làm nổi bật vẻ đẹp của mùa xuân muốn hòa đất trời cùng nhau khoe sắc. Với những câu thơ ngọt ngào tác giả Xuân Diệu đã vẽ lên một bức tranh mùa xuân sinh tươi, sống động cho riêng mình, thể hiện sự yêu thương, luyến tiếc của tác giả khi mùa xuân đang tới. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Xuân Diệu vô cùng trữ tình, êm ái, mọi câu chữ đều gợi lên một vẻ đẹp vô cùng kỳ lạ, khi kết hợp với giọng thơ nhanh, gấp gáp tạo cho người đọc một tâm trạng xuyến xao khó tả.
Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu – Văn lớp 11
783
Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu Hướng dẫn Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu Bài làm Xuân Diệu là nhà thơ say với tình, yêu đời, yêu người một cách tha thiết, mãnh liệt. Những tình cảm, của xúc trong thơ của Xuân Diệu luôn dạt dào và tràn đầy, lênh láng trên từng câu chữ. Bài thơ “VỘi vàng” đã bộc lộ cái tôi trữ tình độc đáo, đầy sức sáng tạo của thi sĩ Xuân Diệu. Đặc biệt khổ thơ đầu tiên đã bộc lộ rõ nét, mãnh liệt hơn cái tôi cá nhân đầy say mê và muốn được hòa mình vào đất trời, muốn được phá vỡ những quy luât của tự nhiên. “Vội vàng” được lấy cảm hứng từ vẻ đẹp của mùa xuân, của tình yêu và của lòng người. Xuân Diệu đã rất tinh tế khi nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên trong mùa xuân, nó khiến cho lòng người lâng lâng và không thể cưỡng lại nổi sức hút hút. Bởi vậy Xuân Diệu với say với cảnh, say với tình, đến nỗi muốn ôm hết cảnh và tình về mình Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của ong bướm này đây khúc tình si. Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi Từ ngữ “tôi muốn” được nhắc lại và đặt đầu mỗi câu thơ diễn tả tâm nguyện, nỗi khát khao được sống, được hòa mình với thiên nhiên, được thâu tóm hết những điều tốt đẹp nhất đang diễn ra ở ngoài kia. Dường như Xuân Diệu muốn đoạt đi quyền của tạo hóa. Vốn dĩ nắng, gió là những hiện tượng rất tự nhiên của tạo hóa; nhưng tác giả lại có ý định muốn “tắt nắng” và “buộc gió”. Đó là những việc rất khó khăn, mà thực ra là không thể nhưng Xuân Diệu vẫn muốn đến cháy bỏng. Động từ “tắt” và “buộc” càng khẳng định hơn nữa khát khao mãnh liệt ấy. Đây có thể xem là cái “tôi” độc đáo và đặc biệt của Xuân Diệu tạo cho người đọc một cảm giác rất riêng, rất mới. Ông muốn ôm hết xuân sắc của đời để sống, để yêu mãnh liệt hơn nữa. Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Một đoạn thơ giàu sức gợi hình, gợi cảm đã lột tả được linh hồn, thần thái của thiên nhiên khi mùa xuân về. Tác giả cứ ngỡ có một “thiên đường trên mặt đất” đang hiện ra trước mắt. Xuân Diệu đã liên tưởng mùa xuân đẹp và mê đắm như “tuần tháng mật” của những cặp đôi. Một sự liên tưởng tinh tế, đầy táo bạo khiến cho người đọc cảm phục thi sĩ. Điệp từ “này đây” đứng đầu câu vừa mang tính chất liệt kê, vừa mang tính chất khẳng định, nhận mạnh vừa như muốn sở hữu những vẻ đẹp đang tràn đầy ở ngoài kia. Sau mỗi từ “này đây” là một loạt những hình ảnh tươi đẹp hiện ra “hoa của đồng nội xanh rì”, “lá của cành tơ phơ phất”. Đó đều là những hình ảnh đặc trưng của mùa xuân, của những gì thanh khiết và tươi đẹp nhất. Tất cả những hình ảnh ấy khiến cho thi sĩ động lòng và muốn sở hữu. Đây có thể nói là khát khao, là ước muốn mãnh liệt nhất mà Xuân Diệu đang muốn sở hữu. Chỉ với khổ thơ đầu này, Xuân Diệu đã khiến người đọc mê đắm trước cảnh thiên nhiên hữu tình, thơ mộng, tuyệt vời của mùa xuân. Đó thực sự là những nét đẹp trong veo của mùa xuân.
Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu
674
Phân tích khổ thơ đầu Mùa xuân nho nhỏ Hướng dẫn “Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Thì đến dòng thơ hiện đại, nói đến đề tài mùa xuân, người yêu văn thơ nước nhà nhớ ngay đến “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải. Bài thơ này được xem như sợi dây nối tiếp mạch cảm xúc của mấy mươi năm về trước. Thanh Hải viết “Mùa xuân nho nhỏ” vào thời điểm sắp kề cận cát bụi”. Nhưng người đọc tìm thấy tình một tình yêu thiên nhiên đất trời mãnh liệt, luôn dâng trào ở trái tim tác giả. Ngay ở khổ thơ đầu bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” (viết vào tháng 11 năm 1980) đã toát lên được điều đó. “ Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời ” Khổ thơ với chỉ bốn câu thơ đã phác họa một bức tranh với âm thanh, màu sắc, với sức xuân hài hòa, sống động. Từ “mọc” được đặt ở đầu câu với lối đảo ngữ tinh tế tạo nên sự khỏe khoắn, tạo nên sức sống tiềm ẩn, tạo nên sự vươn lên trỗi dậy. Giữa dòng sông rộng lớn, không gian mênh mông, chỉ một bông hoa thôi, một bông hoa tím biếc cũng làm nên sức xuân, cũng làm nên ánh xuân lung linh sắc màu. Điểm nhăn của bức tranh xuân là gam màu thật hài hòa, dịu nhẹ, tươi tắn: màu xanh lam của nước sông Hương hài hòa cùng màu tím biếc của hoa, một màu tím thật giản dị, thủy chung mà cũng thật mộng mơ, quyến rũ. Đó cũng chính là màu đặc trưng của xứ Huế, một màu rất Huế. Bỗng đâu đó tiếng chim chiền chiện hót vang trời.Với những thán từ “gọi”, “ơi”, “chi” mang chất giọng ngọt ngào, đáng yêu và đậm chất xứ Huế mang nhiều màu sắc thái cảm xúc như một lời trách yêu. Khung cảnh mùa xuân có không gian cao rộng, màu sắc tươi thắm, âm thanh vang vọng. Hót vang trời, đó là thứ thanh âm bay bổng, đằm thắm, dịu dàng. Mùa xuân trong thơ Thanh Hải chẳng có mai vàng, đào thắm cũng chẳng có muôn sắc màu rực rỡ nhưng sao mà tất cả rộ lên sắc màu và âm thanh đều đang ở độ tràn đầy nhựa sống. Xúc cảm ngây ngất trước khung cảnh mùa xuân tươi đẹp của thiên nhiên, đất trời, lòng người mà say sưa, xốn xang, rộn ràng đến thế. “Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng Giọt long lanh là tên gọi chung của tác giả dành cho giọt sương, giọt mưa, giọt nắng, giọt mùa xuân hay giọt của âm thanh, giọt của hạnh phúc. Tiếng chim chiền chiện hót vang trời nhưng không tan biến vào không trung mà ngưng đọng lại thành từng giọt âm thanh như những giọt lưu ly trong vắt, lấp lóa, chói ngời. Với bút pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ thính giác đến thị giác và xúc giác “hứng” đó là sự trân trọng vẻ đẹp của thi nhân đối với vẻ đẹp của sự sống, của đất trời, của chim, đó cũng là sự đồng cảm của nhà thơ trước thiên nhiên, cuộc đời. Mùa xuân đẹp đến mức làm cho trái tim của một người gần đất xa trời phải bừng tỉnh hay chính sức sống mãnh liệt, niềm tin yêu cuộc sống và khát khao dâng hiến đến hơi thở của nhà thơ đã thổi vào trong từng câu chữ nhưng màu sắc và âm thanh của sự hồi sinh. Màu tím trong thơ Thanh Hải không trầm mà trở nên tươi, tiếng chim trong thơ Thanh Hải không quá rộn rã mà trong vắt, tròn đầy. Cho đến cuối hơi thở cuối cùng tác giả vẫn có thể cống hiến cho đời, cuộc đời ông cũng chính là một mùa xuân, “Một mùa xuân nho nhỏ, Lặng lẽ dâng cho đời”. Nguồn:
Phân tích khổ thơ đầu Mùa xuân nho nhỏ
677
Phân tích khổ thơ đầu tiên bài thơ Đây mùa thu tới của tác giả Xuân Diệu Hướng dẫn Phân tích khổ thơ đầu tiên bài thơ Đây mùa thu tới của tác giả Xuân Diệu BÀI LÀM Xuân Diệu được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” của văn học Việt Nam. Ông là nhà thơ tình viết hay nhất và nhiều nhất trong kho tàng thơ văn nước nhà. Với ngôn từ lãng mạn và nhịp điệu thơ đậm chất trữ tình, những tác phẩm của Xuân Diệu luôn lay động tâm hồn người đọc. Đối với ông, mùa thu cũng là nguồn cảm hứng bất tận, cảnh thu chứa đựng nhiều rung động bồi hồi, bởi lẽ “Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”. Đối với Xuân Diệu, mùa thu lúc nào cũng thật thơ mộng, khiến cho tâm hồn người thi sĩ như dây đàn đang rung lên xao xuyến. Và “Đây mùa thu tới” là cũng là một tuyệt phẩm về mùa thu của nhà thơ Xuân Diệu. Tác phẩm được trích trong tập “Thơ thơ”, xuất bản năm 1938, thể hiện bước chân của mùa thu làm xôn xao, rung động đất trời và lòng người. Mùa thu thường gợi buồn và cũng gợi tình. Có lẽ chính vì thế, Xuân Diệu cũng không thể làm ngơ trước vẻ đẹp rất riêng của thu. Cảm nhận đầu tiên của thi sĩ Xuân Diệu về mùa thu không phải là ở không gian mênh mang, bao la khiến con người trở nên nhỏ bé như “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” hay “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” của Nguyễn Khuyến. Ông cảm nhận mùa thu trước hết ở dáng liễu nhỏ bé ven hồ. Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”. Cả không gian “đìu hiu”, vắng vẻ và gợi cho người ta một nỗi buồn mang mác. Rặng liễu trầm mặc như chỉ biết “đứng chịu tang”, như một lẽ dĩ nhiên phải như vậy và chỉ có thể cam chịu, âm thầm đón nhận mà thôi. Lá liễu buông dài như tóc nàng góa phụ “buồn buông xuống”. Lá liễu ướt đẫm sương thu tưởng như “lệ ngàn hàng”. Nhành liễu đã được tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa, biến thành một người con gái yếu đuối, nhỏ bé với những tâm sự và cảm xúc riêng. Nàng “đứng chịu tang”, từ tóc liễu đến lệ liễu đều mang theo nỗi sầu man mác không biết ngỏ cùng ai. Chỉ một dáng liễu thôi cũng được Xuân Diệu miêu tả và cảm nhận đầy chất thơ, thổi vào đó hồn thu đầy hoài niệm. Bên cạnh đó, biện pháp láy âm cũng được thi sĩ Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên những vần thơ giàu nhạc điệu: “đìu hiu – chịu”, “tang – ngàn – hàng”, “buồn – buông – xuống”, như bước đi uyển chuyển, thướt tha, nhẹ nhàng của nàng thu. Đó là một điểm mới mà Xuân Diệu đã học tập được trong trường phái thơ tượng trưng Pháp thế kỉ XIX. Từ chỗ say mê ngắm “rặng liễu đìu hiu”, tâm hồn nhà thơ như khẽ reo lên khi nhận ra mùa thu đã đến. Cảm nhận đó được thể hiện qua hai câu thơ tiếp theo: Với áo mơ phai/dệt lá vàng”. Chắc hẳn điều đầu tiên mà người đọc cảm nhận được là nhịp thơ dồn dập, “mùa thu tới” được lặp lại trong câu cho thấy thu đã đến ngay trước hiên nhà, như tiếng reo hân hoan của thi sĩ trước mùa lãng mạn và tình nhất trong năm. Thu vừa tới, sắc màu cỏ cây vạn vật đều đổi thay, trở thành “mơ phai” nhẹ nhàng và có chút mơ hồ đầy quyến rũ. Từ “dệt” cũng được sử dụng tinh tế cho thấy bước đi mùa thu như có sức chuyển biến mạnh mẽ tới vạn vật, đi tới đâu là nơi đó trở nên huy hoàng, lộng lẫy hơn bội phần. Câu thơ “Với áo mơ phai dệt lá vàng” là một câu thơ thi vị, nói lên cái hồn thu vừa mơ màng, lơ đãng nhưng cũng rất tươi sáng và rực rỡ. Hai câu thơ đầu và cuối của khổ thơ đầu tiên trong “Đây mùa thu tới” của nhà thơ Xuân Diệu phản ảnh hai sắc thái của mùa thu trong cảm nhận của con người. Ban đầu, người ta sẽ thấy mùa thu thật buồn và ảm đạm qua nhịp thơ chậm rãi, âm điệu nhiều thanh bằng và hình ảnh rặng liễu. Nhưng rồi khi mùa thu thực sự tới, vạn vật như thay áo mới, đẹp thơ mộng và huy hoàng. Có thể nói, khổ thơ đầu của “Đây mùa thu tới” đã vẽ lên một bức tranh thu đượm buồn phủ lên cây cỏ và lòng người, nhưng không hề ảm đạm, thê lương mà trái lại, thu vẫn đẹp thơ mộng và làm lòng người khẽ reo vui mỗi khi mùa thu tới.
Phân tích khổ thơ đầu tiên bài thơ Đây mùa thu tới của tác giả Xuân Diệu
833
Phân tích khổ thơ đầu tiên của bài Bình ngô đại cáo để thấy tư tưởng yên dân, nhân nghĩa mà tác giả hướng đến Hướng dẫn Đề bài: Anh chị hãy Phân tích khổ thơ đầu tiên của bài Bình ngô đại cáođể thấy tư tưởng yên dân, nhân nghĩa mà tác giả hướng đến. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi, tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” và khổ thơ đầu tiên: Trong các tác phẩm của ông có bài “Đại cáo bình Ngô”, được coi là một áng “thiên cổ hùng văn” 2. Thân bài Tư tưởng nhân nghĩa, luận đề chính nghĩa của dân tộc ta: việc “nhân nghĩa” ở đây là “yên dân” và “trừ bạo” Khẳng định nền độc lập của dân tộc ta: Nguyễn Trãi đã bổ sung thêm những yếu tố cấu thành một quốc gia độc lập như: văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán, nhân tài 3. Kết bài Ý nghĩa của khổ thơ đầu tiên: đoạn thơ đã nêu được tư tưởng nhân nghĩa và nền độc lập của dân tộc Đại Việt II. Luyện tập Tác giả Nguyễn Trãi – Danh nhân văn hóa thế giới, ông không chỉ là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc và tài ba mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ bao gồm cả văn học chữ Hán và chữ Nôm. Trong các tác phẩm của ông có bài “Đại cáo bình Ngô”, được coi là một áng “thiên cổ hùng văn” và là “bản tuyên ngôn độc lập thứ hai” của dân tộc Việt Nam. Nổi bật trong tác phẩm là khổ thơ đầu tiên, đã thể hiện được tư tưởng nhân nghĩa chủ đạo của bài cáo. Mở đầu bài cáo, tác giả đã nêu lên luận đề chính nghĩa, tư tưởng nhân nghĩa. Đối với Nguyễn Trãi, ông cho rằng, việc “nhân nghĩa” ở đây là “yên dân” và “trừ bạo”. “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” Trước hết là phải lo cho dân, giúp dân có được cuộc sống yên ổn, ấm no và hạnh phúc, có như vậy đất nước mới ổn định và phát triển được. Đó là đạo lý lấy dân làm gốc, dân là tài sản và sức mạnh, sinh khí của quốc gia, dân tộc. Việc nhân nghĩa tiếp theo là “trừ bạo”, “bạo” ở đây chính là giặc Minh bạo tàn, bọn cầm thú bóc lột và đày đọa nhân dân, vùi dập nhân dân ta trong vực thẳm của sự đau khổ. Nếu không “yên dân” tất việc “trừ bạo” sẽ khó khăn, hai việc này cần tiến hành cùng lúc và thống nhất với nhau. Quan tâm tới việc ấm no của nhân dân cũng đồng nghĩa phải đánh đuổi kẻ thù của dân. Nguyễn Trãi đã nâng tư tưởng nhân nghĩa lên thành một lí tưởng xã hội, thành một chân lí, tác giả đã khẳng định được hạt nhân cơ bản, cốt lõi và giá trị nhất. Nhân nghĩa đó còn gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền đất nước và khẳng định chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập tự do của dân tộc: “Như nước Đại Việt ta từ trước… Song hào kiệt nước nào cũng có”. Để khẳng định chân lí này, ngoài hai yếu tố chủ quyền lãnh thổ và ý thức tự tôn dân tộc trong “Nam Quốc Sơn Hà” thì Nguyễn Trãi đã bổ sung thêm những yếu tố cấu thành một quốc gia độc lập như: văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán, nhân tài. Có thể khẳng định rằng nền văn hiến ngàn năm của mỗi một quốc gia không ai có thể nhầm lẫn được. Ngay cả những phong tục giữa Bắc và Nam cũng khác nhau, có những nét riêng không thể đồng hóa được. Hơn nữa các triều đại đã đi qua chính là điểu khẳng định chủ quyền đó. Cuối cùng là nhắc tới nhân tài, con người là yếu tố quan trọng để khẳng định và gìn giữ nền độc lập đó. Lời răn đe với những kẻ muốn thôn tính Đại Việt rằng dù thời thế có thay đổi nhưng hào kiệt và anh hùng đời nào cũng có. Có thể nhận thấy rằng, so với “bản tuyên ngôn đầu tiên” của Lý Thường Kiệt thì “bản tuyên ngôn thứ hai” này có phần đầy đủ, toàn diện và hay hơn về cả nội dung và tư tưởng. Tá giả đã so sánh với Trung Quốc, từ bờ cõi tới phong tục hai nước, rồi từ bốn triều đại cường thịnh của ta so với bốn triều đại của Trung Quốc, và nhân tài của ta thời nào cũng đó, chứng tỏ rằng ta chẳng hề thua kém chúng. Trong đoạn thơ, tác giả đã sử dụng nhiều từ ngữ khẳng định tính hiển nhiên vốn có về sự tồn tại và nền độc lập của Đại Việt: “từ trước”, “từ lâu”, “đã chia”, “cũng khác” đã làm tăng thêm tính thuyết phục cho những khẳng định trên. Phần cuối của khổ thơ chính là những chứng cứ rõ ràng nhất khẳng định nền độc lập của ta, đó là các cuộc chiến của ta với phương Bắc trong lịch sử chúng đều thất bại: “Lưu Cung tham công nên thất bại… Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã” Nguyễn Trãi đã tổng kết những chiến công oanh liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc của dân tộc ta. Cách liệt kê đó vừa chỉ ra được những chứng cứ một cách rõ ràng cụ thể và xác thực, lại thể hiện được sự chắc chắn, niềm tự hào và tự tôn dân tộc của nhân dân ta. Qua đây, người đọc cũng thấy được ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi đã vươn tới một tầm cao mới. Khẳng định: Đại Việt là một quốc gia độc lập, tự chủ, có nhân tài và tướng giỏi, không hề thua kém bất cứ quốc gia nào. Bất cứ kẻ nào có mưu đồ thôn tính và xâm lược nước ta đều phải nhận kết quả thảm bại. Chúng ta đấu tranh cho chính nghĩa và tiêu diệt tư tưởng phi nghĩa nên dù có thế nào phần thắng cũng về phía chính nghĩa. Với nghệ thuật biền ngẫu đặc sắc, đoạn thơ đã nêu được tư tưởng nhân nghĩa và nền độc lập của dân tộc Đại Việt. Khẳng định nhân dân ta có tinh thần nhân nghĩa và bảo vệ nền độc lập của riêng mình. Đoạn thơ giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của chủ quyền lãnh thổ và độc lập tự do, thêm khắc ghi lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc, bồi dưỡng lòng yêu nước và tự tôn dân tộc, quyết tâm xây dựng và bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước Việt Nam. Theo
Phân tích khổ thơ đầu tiên của bài Bình ngô đại cáo để thấy tư tưởng yên dân, nhân nghĩa mà tác giả hướng đến
1,163
Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu tiên trong bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh Bài làm “Sang thu” là một áng thơ xinh xắn dâng tặng Nàng Thu của một thi nhân – một thi nhân yêu quý mùa thu như bao thi nhân khác – Hữu Thỉnh. Bài thơ có khổ thơ mở đầu thật hay: “Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về". Những câu thơ mở đầu bài thơ giản dị đến bất ngờ: “Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se". “Bỗng” là bỗng nhiên, là bất ngờ, bất chợt. Đặt chữ “bỗng” ở đầu khổ thơ, đầu bài thơ để tất cả giác quan của ta được đánh động, phải giật mình mà chú ý đón nhận mọi biến đổi của đất trời. Biến đổi đầu tiên thu hút sự chú ý của nhà thơ là mùi hương nồng nàn của trái ổi chín thơm lừng. Ổi đã bắt đầu ủ mình để chín tự bao giờ và cũng lặng lẽ toả hương tự bao giờ nhưng vào khoảnh khắc này hương ổi mới đủ nồng nàn đánh thức giác quan của thi nhân. Hương thơm ấy rất mạnh, rất nồng nàn, ngào ngạt có vậy mới “phả vào trong gió se”. Ổi phải chín đến nhường nào, thơm ngon đến nhường nào hương thơm của nó mới đủ mạnh để tạo ra một sự lan toả như vậy trong không gian. Thứ hương thơm ấy lại lan toả trong làn gió se nhè nhẹ ren rét. “Gió se” là gió heo may, chúng đến với nhân gian vào mỗi dịp đầu thu làm tẽ tê, gai gai những cánh tay trần mềm mại. Trước Cách mạng, Xuân Diệu đã từng mang gió se đến cho người đọc với những thoáng rùng mình ớn lạnh: “Những luồng run rẩy rung rinh lá”. Nhưng câu thơ của Hữu Thình lai dắt mùa thu đến bên ta êm ái, dịu dàng biết bao. Viết về những làn sương mùa thu, nhà thợ cũng có cách viết thật duyên dáng: “Sương chùng chình qua ngõ”. “Chùng chình” là cố ý làm chậm lại. Thủ pháp nhân hoá đã biến sương thành những cô bé, cậu bé nghịch ngợm đung đưa náu mình trong ngõ xóm, chùng chình chẳng muốn tan đi. Làng quê yêu mến dìu bước chản thi nhân đi từ hương ổi đến gió se… Rồi khi lạc giữa làn mây sớm chùng chình thì nhà thơ không nén nổi niềm xúc động, ông khe khẽ thì thầm: “Hình như thu đã về”. Từ “hình như” diễn tả tâm trạng ngỡ ngàng băn khoăn rất tinh tế của nhà thơ khi ngỡ ngàng nhận ra “thu đã về”. Khổ thơ đầu tiên của bài thơ “Sang thu” đặc biệt dịu dàng tinh tế, nó diễn tả những biến đổi tinh vi của đất trời và lòng người trong thời khác giao mùa được chờ đợi rất nhiều trong năm: từ hạ chuyển sang thu. Khổ thơ đã góp phần quan trọng tạo nên bài thơ “Sang thu”, một áng thơ thu duyên dáng và tài tình trong thi đề mùa thu quen thuộc của văn học Việt Nam.\
Phân tích khổ thơ đầu tiên trong bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
537
Phân tích khổ thơ đầu trong bài Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Hướng dẫn Phân tích khổ thơ đầu trong bài Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Tình yêu là tình cảm đẹp đẽ, trong sáng nhất. Biết bao nhà thơ đã chìm đắm trong tình cảm đẹp đẽ đó. Nếu Xuân Diệu có “Yêu” nồng nhiệt và rạo rực thì Nguyễn Bính lại vô cùng giản dị, mộc mạc trong tình yêu với “Chân Quê”. Chẳng có ai lại không thổn thức, xót xa đầy tiếc nuối với một tình yêu câm nín trong “Đây thôn Vĩ Dạ”. Bài thơ của Hàn Mạc Tử đã chạm vào tâm hồn mỗi người một cách sâu sắc đến đau lòng. “Đây thôn Vĩ Dạ” được khơi nguồn từ một tấm bưu ảnh của Kim Cúc – mối tình đầu của tác giả. Cô gửi tấm bưu ảnh cho Hàn Mạc Tử khi ông chữa bệnh ở Quy Nhơn. Lúc này đây dù trong những năm tháng tuổi trẻ nhưng Hàn Mạc Tử lại vô cùng bất hạnh. Ông mắc bệnh nan y, sự sống đang dần rời bỏ bao ước mơ, tình cảm còn dang dở. Khi nhận được tấm bưu ảnh in hình dòng sông Hương thơ môngj đẹp đẽ đã ngay lập tức chạm vào hồn thơ của thi nhân. Cảnh vật thơ mộng xứ Huế, con người, những kỉ niệm thanh xuân tươi đẹp với mối tình đầu chưa từng ngỏ lời bỗng ùa về trỗi dậy trong tâm hồn người thi sĩ. Để rồi những vần thơ tươi đẹp nhưng cũng đầy xót xa tiếc nuối của một tình yêu man mác, đượm vẻ u buồn giữa thiên nhiên xứ Huế mộng mơ tạo nên hồn thơ Hàn Mạc Tử. Xứ Huế và thôn Vĩ hiện lên trong tâm tư nhà thơ thật đẹp và thơ mộng biết bao. Khung cảnh Vĩ Dạ dần hiện ra với bao cảnh sắc tuyệt tác của thiên nhiên: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Hình ảnh đầu tiên về xứ Huế hiện lên trong tâm trí nhà thơ là cái “ nắng mới” nắng bình minh thật tinh khiết và trong trẻo. Đó không phải là cái nắng chói chang rực rỡ của những buổi trưa hè cũng không phải là cái nắng lúc xế chiều hoàng hôn ảm đạm mà là ánh nắng đầu tiên của mặt trời ngày mới. Nắng ngả mình trên những hàng cau cao vút Ánh nắng tươi mát, dịu dàng không kém phần lộng lẫy chiếu rọi xuống hàng cau sau một đêm dài đẫm sương đêm, những tán cau xanh tươi mát mẻ càng trở nên rực rỡ, lung linh hơn khi được ánh nắng mới soi mình ngắm nghía. Bằng cách sử dụng điệp từ “nắng” tác giả đã gợi ra một vẻ đẹp vừa tinh khôi vừa lộng lẫy của ánh nắng sớm trên những hàng cau xứ Huế đủ để gợi ra một không gian rộng rãi, trong trẻo của khu vườn “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Được tắm mình trong ánh nắng mới tinh khôi mầu xanh của khu vườn như được nâng lên một tầm cao mới, không phải đơn thuần là một mầu xanh rì um tùm, rậm rạp cũng chẳng phải là mầu xanh thẫm, xanh ngắt của cây cỏ mà đó là mầu xanh “mướt” tạo ra từ sự hòa quyện nhịp nhàng đồng điệu giữa ánh nắng mới chiếu vào những hạt sương sớm cộng hưởng cùng mầu xanh của cây, của lá trăm loài nơi thôn Vĩ Tạo nên mầu xanh mướt mơn mởn đầy sức sống. Đó không còn là mầu xanh đơn thuần mà là mầu xanh trong sáng như những viên ngọc bích quý giá bao phủ khắp không gian cảnh vật. Hẳn phải nhớ phải yêu Vĩ Dạ lắm thì Hàn Mạc Tử mới có những vần thơ trong trẻo, nhịp nhàng về một Vĩ Dạ tuyệt đẹp và tinh khiết đến vậy. Thấp thoáng giữa khung cảnh thiên nhiên một gương mặt “ Chữ điền” dịu dàng, e ấp sau những tán lá trúc che ngang, thấp thoáng đầy hư hư, thực thực. Đó có thể là khuôn mặt của người con gái mà Mạc Tử từng yêu tha thiết nhưng chỉ còn là dĩ vãng. Hay cũng có thể đó chính là Hàn Mạc Tử vì quá nhớ quá yêu Vĩ Dạ đã mộng tưởng về lại nơi xưa để đắm mình trong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tình người nồng hậu của xứ Huế thân thương. Dù có hiểu như thế nào thì gương mặt chữ điền sau tán lá trúc che ngang chẳng hề lạc lõng mà lại càng làm đậm đà hơn, sắc nét hơn, hòa hợp hơn của vẻ đẹp thiên nhiên Vĩ Dạ và tấm chân tình chẳng phai tàn của Mạc Tử với người xưa chốn cũ.
Phân tích khổ thơ đầu trong bài Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
829
Phân tích khổ đầu và khổ cuối bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá Hướng dẫn Phân tích khổ đầu và khổ cuối bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá Bài làm Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một thế thống nhất, cảm xúc phát triển theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, từ lúc bắt đầu và kết thúc.Thời điểm khác với mọi hành động trên đất liền là từ khi mặt trời lặn đến lúc bình minh lên. Nếu bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi lao động tập thể và người lao động trên biển thì khổ thơ mở đầu là khúc hát ra khơi và khổ kết là khúc khải hoàn trở về sau một đêm hăng say lao động và thắng lợi trở về của người lao động. Mở đầu bài thơ là khúc hát lên đường của người lao động trên biển cả. “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi” Hai câu thơ mở đầu khái quát thời điểm xuất phát của đoàn thuyền đánh cá bằng hình ảnh đẹp tráng lệ. Nghệ thuật nhân hóa so sánh của thiên nhiên trên biển. Biển lúc hoàng hôn tưởng tượng như một ngôi nhà lớn có động tác như con người. ” Tắt lửa, cài then, sập cửa” màn đêm như tấm cửa sập xuống. Đóng lại một ngày nghỉ ngơi nhưng đó lại là lúc dân trài ra khơi cất tiếng hát căng buồm xuôi gió khơi. Cái khí thế bắt đầu của lao động thật hào hứng, phấn khởi của con người. Hình ảnh cánh buồm gió khơi và câu hát tạo ra khung cảnh vừa thực vừa lãng mạn, tâm tư con người gửi gắm trong câu hát: Phấn khởi, mê say với công việc hi vọng và tự hào về sự giàu đẹp của biển quê hương. Lúc ra khơi đầy hứng khởi và lúc trở về đầy tôm cá, khí thế niềm vui cồng lo hơn. “Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.” Nếu khổ đầu nói lên thời điểm xuất phát thì khổ cuối là thời điểm trở về. Điểm xuất phát lúc mặt trời xuống biển đỏ như hòn lửa thì lúc trở về bình minh mặt trời đội biển lên mang theo một màu mới khép kín một chu trình thời gian và cũng là hoàn thiện một chu trình làm việc của dân chài. Đoàn thuyền lúc này cá đầy khoang, gương buồm chạy đua cùng mặt trời, hình ảnh thật rực rỡ, tráng lệ, khúc hát trở về là khúc ca khải hoàn của người lao động, vẫn khí thế như lúc ra đi hồ hởi, phấn khở trong niềm vui chiến thắng. Khổ thơ sử dụng nhiều thư phát nghệ thuật ẩn dụ, hình ảnh đẹp tráng lệ tạo lên bức tranh trên biển đẹp hào hùng. Đặc biệt là tiếng hát ngân nga suốt bài thơ. Mỏ đầu và kết thúc đó là tiếng hát lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống của người lao động. Hai khổ thơ đầu và cuối được đánh giá đặc sắc nhất trong bài thơ có sự đối lập về hình ảnh thời gian, không gian và có thể coi là một chu trình khép kín hành trình của ngư dân lao động trên biển. Niềm vui khí thế phấn khởi không chỉ người lao động và đó cũng là niềm vui của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống lớn của thiên nhiên đất trời.
Phân tích khổ đầu và khổ cuối bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
615
Phân tích Kiều trong Chí khí anh hùng Hướng dẫn Phân tích Kiều trong Chí khí anh hùng Người ta mỗi khi nhắc tới Kiều đều bảo là hồng nhan bạc phận nhưng thực ra bên cạnh Kiều sẽ luôn có những trang hảo hán rat ay giúp đỡ vì lòng yêu mến nàng Kiều. Một trong số đó chính là Từ Hải một anh hung đầu đội trời chân đạp đất có công giúp Kiều báo ân báo oán, giúp Kiều có một gia đình mà không sợ đên sự đáng ghen của người khác. Thế nhưng Từ Hải cũng đến và ra đi vì sự nghiệp lớn để lại những nỗi buồn thương và mong muốn của Thúy Kiều. Có thể nói những chàng quân tử như Kim Trọng hay Thúc SInh Từ Hải đến với cuộc đời Kiều sau đó ra đi để lại cho Kiều biết bao nhiêu nỗi buồn. cuộc đời của Kiều vốn phải chịu nhiều đau khổ nhiều tủi nhục những người đàn ông của cuộc đời nàng cũng khiến cho nàng buồn phiền vì pahir chia li từ biệt quá nhiều. qua đoạn trích cũng phần nào hé mở tâm trạng của nàng Kiều khi phải chia tay với Từ Hải lên đường tìm nghiệp lớn. Chân dung của người anh hùng Từ Hải hiện lên thật oai phong lẫm liệt được chấm phá bởi những nét khỏe khoắn. đó là hình ảnh của một người anh hùng thứ thiệt, đầu đội trời chân đạp đất Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” Từ hải đang đà nồng ấm với nàng Kiều nhưng vì ý chí của người anh hùng, cái bản chất anh hùng trong Từ Hải bỗng trỗi dậy cho nên đã quyết chí phất áo ra đi. thời gian nửa năm không quá là dài những Từ Hải – một con người coi bốn bể là nhà thỏa sức tung hành thì lại không thể nào bó buộc mình trong căn nhà cùng với Thúy Kiều, chàng cũng yêu Kiều lắm nhưng người anh hùng vốn đã như thế không thể nào làm trái lại được. Nguyễn Du thật là tài tình và lột tả đúng bản chất anh hùng của Từ Hải qua từ “thoắt” và “ động Trước sự quyết định của Từ Hải khi quyết chí lên đường ra đi thì Thúy Kiều thấy buồn trong tâm thảm mình, nàng bất chấp biết bao khó khăn chông gia trước mắt để một lòng xin theo Từ Hải, nàng thật sự đã rất yêu từ Hải “Nàng rằng: Phận gái chữ tòng, Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi. ” Như vậy Thúy Kiều một mực đòi theo Từ Hải là vì tình yêu nhưng cũng là chọn cách giữ đúng tình nghĩa và cái đạo lí của nàng dành cho Từ Hải. bởi một điều rằng ngày xưa người ta thường có câu xuất giá tòng phu và ở đây Kiều cũng coi chàng Từ như một người chòng của mình, nên mong muốn thuận theo chữ tòng ấy mà muốn đi cùng chàng. Kiều vừa mới được hạnh phúc chưa lâu, thì phải rời xa hạnh phúc của mình, không có người đàn ông bên cạnh để bảo vệ san sẻ cho nàng nữa “Từ rằng: Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường. Làm cho rõ mặt phi tường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia. Bằng nay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu, Chầy chăng là một năm sau vội gì!” Khi nghe những lời Kiều giãi bày Từ Hải hỏi Kiều sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình, một người anh hùng mà nói ra đi chỉ có một mình với thanh gươm con ngựa mà thôi chứ không thể nào mà lại có thể mang theo người con gái được. Từ hải lại càng không để cho người mình yêu phải chịu cực khổ cùng mình trên dòng đời được. từ đó chàng nói lên nguyện vọng và ý chí của mình là khi nào mà chàng làm nên sự nghiệp thì khi đó chàng mới đón nàng về thành vợ thành chồng và hưởng vinh hoa phú quý. Bây giờ thêm chỉ thấy bận chứ không thể làm nên chuyện lớn được. cuối cùng thì Từ Hải cũng dứt áo dứt khoát ra đi “Quyết lời dứt áo ra đi, Gió đưa bằng tiện đã lìa dặm khơi. ” Trước những tình cảm và tình yêu thương mà Kiều dành cho Từ hải cho chúng ta thấy được cũng như bào nhiêu người phụ nữ khác thì Kiều vẫn mong muốn có một cuộc sống ấm no. Nhưng những gì nàng có thể làm được chỉ là nỗi buồn. Từ Hải dứt áo ra đi tìm chí lớn. Những tình cảm và hành động của Từ Hải cũng chỉ là muốn cho sau này cả hai có một cuộc sống vinh hoa và không muốn Kiều chịu chịu khổ nữa.
Phân tích Kiều trong Chí khí anh hùng
839
Đề bài: Phân tích lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn qua văn bản Hịch tướng sĩ Bài làm Trần Quốc Tuấn (1231 – 1300) – người đã được vua Trần giao cho thống lĩnh quân đội, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên thắng lợi vẻ vang. Người nổi tiếng là biết trọng kẻ sĩ thu phục nhân tài. Trần Quốc Tuấn là một người anh hùng dân tộc, nhà quân sự thiên tài, lòng yêu nước của ông nước thể hiện rõ qua văn bản "Hịch tướng sĩ", văn bản khích lệ tướng sĩ học tập cuốn "Binh thư yếu lược" do ông biên soạn. Trước sự lâm nguy của đất nước, lòng yêu nước thiết tha của vị chủ soái Trần Quốc Tuấn được thể hiện ở lòng căm thù sục sôi quân cướp nước. Ta hãy nghe ông kể tội ác của giặc: "Ngó thấy sự giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, vét của kho có hạn, thật khác nào đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai hoạ về sau!". Tác giả gọi giặc là "cú diều, dê chó, hổ đói" không chỉ vạch trần sự tham lam, độc ác mà còn vạch rõ dã tâm xâm lược của giặc; thể hiện sự khinh bỉ, căm ghét tột độ. Không chỉ kể tội ác của giặc mà Trần Quốc Tuấn còn bày tỏ nỗi đau xót trước nỗi nhục của quốc thể, nỗi đau đớn xót xa. Đó là biểu hiện của sự sẵn sàng xả thân để rửa nhục cho nước, để bảo vệ nền độc lập của dân tộc, khát vọng nước xả thân cho nước: "Chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng". Qua bài hịch, Trần Quốc Tuấn không chỉ thể hiện lòng căm thù sục sôi quân cướp nước mà còn thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng, quyết xả thân cho độc lập dân tộc. Ông vạch ra hai con đường chính – tà cũng là một con đường sống chết để thuyết phục tướng sĩ. Trần Quốc Tuấn biểu lộ một thái độ dứt khoát: hoặc là địch hoặc là ta, không có vị trí chông chênh cho những kẻ bàng quan trước thời cuộc. "Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay mà không chịu thua giặc. Nếu vậy rồi đây sau khi giặc đã dẹp yên, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa?", đó là lời động viên tới mức cao nhất ý chí và quyết tâm chiến đấu của mọi người. Tình yêu thương chân thành, tha thiết dành cho tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đều được xuất phát từ lòng nhân hậu từ lòng yêu nước. Với quân sĩ dưới quyền, Trần Quốc Tuấn luôn đối xử như với con mình, với những người quen: "Các ngươi cùng ta coi giữ binh quyển đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyển, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười". Đó là mối ân tình giữa chủ và tướng nhằm khích lệ ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với lẽ vui tôi cũng như tình cốt nhục. Chính tình yêu thương tướng sĩ chân thành tha thiết mà Trần Quốc Tuấn đã phê phán những biểu hiện sai, đồng thời chỉ ra cho tướng sĩ những hành động đúng nên theo, nên làm. Những hành động này đều xuất phát từ ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược. Đó là sự băn khoăn trước tình trạng tướng sĩ không biết lo lắng cho đất nước: không thấy lo, thấy thẹn khi nhà vua và đất nước bị kẻ thù làm nhục; chỉ biết vui thú tiêu khiển, lo làm giàu, ham săn bắn, thích rượu ngon, mê tiếng hát,… Nguy cơ thất bại rất lớn khi có giặc Mông Thái tràn sang: "cựa gà trống không thể đâm thùng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm, vườn nhiều, tấm thân quí nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu; việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều không mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ không đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bây giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!". Chính lòng yêu nước mà Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra cho tướng sĩ những hành động nên làm: "Nay ta bảo thật các ngươi: nên nhớ câu "đặt mồi lửa vào giữa đông củi là nguy cơ, nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" "làm run sợ, huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên". Bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta nói chung và Trần Quốc Tuấn nói riêng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Nó được thể hiện qua lòng căm thù giặc, ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược và những tình cảm dành cho tướng sĩ dưới trướng.
Phân tích lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn qua văn bản Hịch tướng sĩ
1,014
Phân tích lý do vì sao bài thơ Nam quốc sơn hà có thể ví như bản tuyên ngôn độ lập Hướng dẫn Bài thơ ‘Sông núi nước Nam’ của Lí Thường Kiệt gắn liền với chiến thắng Sông Cầu năm 1076 của quân dân Đại Việt đánh bại giặc Tống xàm lược. Hai câu thơ đầu khẳng định núi sông nước Nam là chủ quyền thiêng liêng của Đại Việt, là nơi ‘vua Nam ở’, đã được ghi rõ ở,sách Trời: Núi sông Nam Việt vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở’ Hai câu thơ 3, 4 thể hiện lòng căm thù hành động xâm lược phi nghĩa đầy tội ác của giặc Tống, cảnh cáo quân giặc nhất định sẽ bị nhân dân ta đánh bại. Nhà thơ đã nêu cao lòng yêu nước và sức mạnh Đại Việt quyết tâm chiến đấu bảo vệ sông núi nước Nam của dân tộc ta: ‘Giặc dữ cớ sao phạm đến đây, Chúng mày nhất định phải tan vỡ’ Tóm lại, bài thơ của Lí Thường Kiệt đã khẳng định chủ quyền của đất nước ta, nêu cao quyết tâm của nhân dân ta đánh thắng quân xâm lược để bảo vệ Tổ quốc thân yêu. Dó đó bài thơ ‘Sông núi nước Nam’ mang ý nghĩa lịch sử trọng đại như bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của Đại Việt.
Phân tích lý do vì sao bài thơ Nam quốc sơn hà có thể ví như bản tuyên ngôn độ lập
228
Đề bài: Phân tích lẽ sống trong bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu Bài làm Đọc những vần thơ, những bài thơ của Tố Hữu, chúng ta như cảm nhận được một tâm hồn thơ dạt dào cảm xúc, một trái tim nhân hậu, một tấm lòng trung trinh với Đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân và tình cảm gắn bó thân thiết keo sơn với đồng bào, đồng chí. “Dù ai thay ngựa giữa dòng Đời ta vẫn ngọn cờ hồng cứ đi Vẫn là ta đó những khi Đầu voi ra trận cứu nguy giống nòi Bao trùm lên toàn bộ sáng tác thơ của Tố Hữu là vì lý tưởng cách mạng, vì cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, vì lương tâm, chính nghĩa, công lý và lẽ phải trên đời.. Và một trong những giá trị tiêu biểu của thơ Tố Hữu là tính hướng thiện được biểu lộ vừa thầm kín, tinh tế, vừa sâu sắc, đậm đà qua 6 tập thơ nổi tiếng: Từ ấy, Việt Bắc, Ra trận, Gió lộng, Máu Bài thơ “Từ ấy” được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của ông. Có thể nói ” Từ ấy” là tiếng hát của người thanh niên yêu nước Việt Nam giác ngộ lí tưởng Mác Lê Nin trong ngày hội lớn của cách mạng: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim “Từ ấy” là một thời điểm lịch sử đã trực tiếp tác động đến cuộc đời nhà thơ khi được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng,Trong buổi ban đầu ấy, những người thanh niên như Tố Hữu dù có nhiệt huyết nhưng vấn chưa tìm được đường đi trong kiếp sống nô lệ, họ bị ngột thở dưới ách thống trị của thực dân phong kiến “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”.Chính trong hoàn cảnh đó lí tưởng cộng sản như nắng hạ, như mặt trời xua tan đi những u ám, buồn đau, quét sạch mây mù và đen tối hướng đến cho thanh niên một lẽ sống cao đẹp vì một tương lai tươi sáng của dân tộc. Người thanh niên học sinh Tố Hữu đã đón nhận lí tưởng ấy không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim, không chỉ bằng nhận thức lí trí mà xuất phát từ tình cảm: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Từ ấy đã làm cho tâm hồn Tố Hữu” bừng nắng hạ” đó là một luồng ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ của nắng vàng chứa chan hạnh phúc ấm no.Soi tỏ vào những bài thơ sau này ta mới thấy hết được niềm vui sướng của Tố Hữu trước ánh sáng huy hoàng của chân lí. Đời đen tối ta phải tìm ánh sáng Ta đi tới chỉ một đường cách mạng Và đó mới là bản chất của lí tưởng cộng sản đã làm người thanh niên 18 tuổi ấy say mê, ngây ngất trước một điều kì diệu: Mặt trời chân lí chói qua tim Mặt trời chân lí là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho lí tưởng của Đảng,của cách mạng, mặt trời của chủ nghĩa xã hội. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh sáng của mặt trời, sẵn sàng hành động cho lí tuởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã “chói” vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm, là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng, khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào. Lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại: Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim. Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng, của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại:”hồn” người đã trở thành “vườn hoa”, một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót.Ở đây hiện thưc và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm, cái sức sống cho câu thơ. Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người: Tôi buộc hồn tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi bên nhau thêm mạnh khối đời. “Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. “Buộc” là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam Để tình trang trải với trăm nơi Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, Tố Hữu còn biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: “Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống – Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng”., mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh: Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bấc cù bơ. Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người “than bụi, lầy bùn”là lực lượng tiếp nối của “vạn kiếp phôi pha”, là lực lượng ngày mai lớn mạnh của “vạn đầu em nhỏ”,để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng.Điệp từ “là” được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này. Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, “Từ ấy” đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng. Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng – tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần – tư tưởng của người cộng sản. Cả cuộc đời Tố Hữu đã hiến dâng cho tổ quốc, cho Đảng và nhân dân. Khi biết sắp phải đi xa, ông cũng chỉ nghĩ là về một nơi mà ta vẫn gọi là “cõi tạm”. Ông mong muốn tiếp tục được hiến dâng: Tạm biệt đời ta yêu quý nhất Còn mấy vần thơ, một nắm tro. Thơ gửi bạn đường. Tro bón đất Sống là cho. Chết cũng là cho. Bởi thế, con người, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và thi ca của Tố Hữu luôn sống mãi trong niềm tin yêu, kính trọng của Đảng và nhân dân..
Phân tích lẽ sống trong bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu
1,412
Phân tích màu sắc dân tộc trong bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính Hướng dẫn Phân tích màu sắc dân tộc trong bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính Nếu như Xuân Diệu tiếp thu những cái hay của nền văn học phương Tây hiện đại thì Nguyễn Bính lại trở về với những hơi thở của chốn đồng quê, của những cái gì gọi là truyền thống.Đặc biệt là ông mang cái truyền thống ấy vào trong sáng tác của mình, tiêu biểu đó là bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính,đó là bài thơ mang đậm hồn quê dân tộc. Bài thơ là lời giãi bày về nỗi nhớ mong của chàng trai thôn quê một cách chân thực. Chúng ta có thể nói tương tư là dành cho những người yêu thương nhau nhưng phải xa cách nhau khiến cho nỗi nhớ nhung cứ thế mà trào dâng mãnh liệt. Tâm trạng tương tư luôn mang một màu sắc đầy tính dân tộc sâu sắc. Trước hết màu sắc dân tộc được thể hiện trong hoàn cảnh, khung cảnh tương tư. Đến cái tương tư ấy cũng mang đầy màu sắc của dân tộc: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười mong một người Gió mưa là bệnh của giời Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” Màu sắc của dân tộc được hiện lên ở đây chính là hình ảnh về Thôn Đoài và Thôn Đông. Hình ảnh này biểu tượng cho những chốn làng quê mộc mạc giản dị mà nên thơ. Có thể nói rằng tình yêu của đôi trai gái ấy không diễn ra trên những cảnh trang hoàng của phố xá đông đúc mà là nơi bình yên của làng quê mộc mạc. Qua đó ta cũng có thể thấy được những màu sắc dân tộc được nhà thơ thể hiện hết sức triệt để: “Hai thôn chung lại một làng Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này? Ngày qua ngày lại qua ngày Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng Bảo rằng cách trở đò giang Không sang là chẳng đường sang đã đành Nhưng đây cách một đầu đình Có xa xôi mấy cho tình xa xôi? Tương tư thức mấy đêm rồi Biết cho ai, hỏi ai người biết cho? Bao giờ bến mới gặp đò Hình ảnh về những xóm làng cổ xưa như đang hiện lên trước mắt chúng ta, nó càng thấm thía vào chúng ta về màu sắc dân tộc. Gọi là hai thôn nhưng cơ sao không về chung một làng như một lời trách móc nhẹ nhàng tới người mà mình đang thương nhớ, qua đấy ta thấy được nó phảng phất hương vị của những câu ca dao,yêu thương thương tương tư là vậy nhưng không thể lộ liễu công khai được. Điệp ngữ “qua ngày” càng làm tăng lên sự nhớ nhung của người con trai đối với người con gái. Hình ảnh mang đậm những nét đẹp của chốn làng quê. Nét đẹp đó là mái đình, của những chuyến đò chở khách qua sông. Bến nước con đò không chỉ là hình ảnh mang đầy màu sắc của dân tộc mà nó trở thành biểu tượng cho tình yêu Hình ảnh cái đình làng kia gợi lên cho chúng ta biết bao nhiêu là vẻ đẹp của những cảnh làng quê dân tộc, ở đó không chỉ là không gian cho những sinh hoạt hằng ngày mà đó còn là nơi cho trai gái như sự nhớ nhung của chàng trai “hỏi ai người biết cho”. Và chính từ những nỗi nhớ đó của mình mà chàng khát khao được gặp nàng.Ở đây tác giả đã khéo léo trong cách vận dụng lối nói ước lệ ẩn dụ của ca dao xưa ( bến- đò, hoa khuê các- bướm giang hồ). “Nhà em có một giàn giầu Nhà anh có một hàng cau liên phòng Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” Hình ảnh trầu cau hiện lên với sự đơn độc, lẻ loi của cả hai bên, đồng thời còn thể hiện được cả ước nguyện cùng nên duyên tạo nên một đám cưới làng quê đằm thắm. Không chỉ ở nội dung mà đến cả nghệ thuật trong thơ của Nguyễn Bính cũng mang tới cho người độc một màu sắc dân tộc không thể nào quên. Với thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc, nó còn mang lại cho hồn thơ của Nguyễn Bính thật sâu sắc. Qua đó chúng ta có thể thấy được màu sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Bính nó giàu đẹp như thế nào. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích màu sắc dân tộc trong bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
762
Đề bài: Phân tích màu sắc Nam Bộ trong truyện Những đứa con trong gia đình của tác giả Nguyễn Thi Bài làm Truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi là khúc tráng ca của tuổi trẻ miền Nam anh hùng thời đánh Mĩ. Một trong những nét đặc sắc về nghệ thuật là Nguyễn Thi đã tạo nên màu sắc Nam Bộ, một dấu ấn tuyệt đẹp mà độc giả dễ dàng nhận thấy. Màu sắc Nam Bộ biểu hiện rõ nhất là ở cảnh vật được miêu tả, ở sự việc được nói đến, ở tính cách và ngôn ngữ nhân vật được khắc họa (má Tư Năng, chú Năm, chị Chiến, Việt..). Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Cảnh tượng chiến trường ở nơi nào, ở thời nào chẳng giống nhau, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Thi, chiến trường sau tiếng bom rền đạn réo lại có nét riêng, rất Nam Bộ. Giữa đồng không mông quạnh “một sự vắng lặng như từ trên trời lao xuống.. ”, “tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên” giữa đêm sâu thăm thẳm. Chính giữa không gian ấy, người chiến sĩ bị thương nặng, lạc đơn vị mới cảm thấy rõ nhất mình đang trở về kỉ niệm tuổi thơ, mình đang sống giữa quê hương (một nơi trên vùng đồng bằng Nam Bộ): “Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao trùm lẩy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vòm sông, cái mà Việt vẫn nghe các chị nói hồi ở nhà, Việt nằm thở dốc…". Ngôi nhà má Tư Năng cũng như hàng ngàn hàng vạn mái nhà của bà con khắp vùng Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Bến Tre… ở cạnh các vàm, các kênh, bao trùm bởi màu xanh của rặng bần, của khóm đước, mà người Bắc rất dễ nhận ra: “Nhà day cửa ra sông, trong đêm vui náo nức này, đom đóm từ ngoài rặng bần cũng kéo vào đẩy nhà. Chúng bay chớp chớp như dò trên nóc rồi sà xuống mặt Việt”. Màu sắc Nam Bộ được thể hiện ở những vật dụng, ở cái gia tài của má Tư Nàng để lại. Đó là “năm công ruộng hồi trước mấy chú cấp cho ba má”, là "hai công mía để dành làm đám giỗ ba má”, là những thứ làm ăn của nhà nông nghèo khó, lam lũ: nồi, lu, chén, đĩa, cuốc, vá, đèn soi mà chị em Việt sẽ gửi lại chú Nam, trước khi đi đánh giặc. Cảnh đêm tòng quân của tuổi trẻ vùng đồng bằng Nam Bộ vui như ngày hội, bà con cô bác cả xã kéo đến, “dàn sáng rực”, hai chị em Chiến và Việt tranh giành nhau, làm cho anh các bộ “đã cầm viết rồi lại dật xuống”, chú Năm phải “nheo mắt nhìn” đứng ra phân xử: “Hai đứa cháu tôi nó một lòng theo Đảng như vậy, tôi cũng mừng. Vậy xin trên cứ ghi tên cả hai. Việc lớn là tính theo việc lớn, còn việc thỏn mọn trong nhà tôi thu xếp khác xong”. Đó là tầm lòng, là ý nghĩ, là cách nói chất phác cùa bà con cô bác nơi miệt vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cảnh hỗn chiến giữa ta và giặc, cảnh tấn công như vũ bão của quân ta. qua sự lắng nghe, sự cảm nhận của Việt vừa hồi tỉnh sau cơn mê cũng mang nét rất riêng của Nam Bộ thời đánh Mĩ: “Việt góc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lãng của giặc. Đó là tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời đất hồi Đồng khởi”. Màu sắc Nam Bộ được thể hiện rõ nhất ở tính cách và ngôn ngữ của các nhân vật như má Tư Năng, chú Năm, của Chiến, Việt. Hình ảnh má Tư Năng dẫn đàn con đi đòi đầu ba, hình ảnh má Tư Năng hiên ngang, thách thức: “Vợ Tư Năng đây!” khi đứng trước mũi súng và lời hăm dọa của lũ giặc: “Vợ Tư Năng đâu?’'. Bọn lính bắn vọt qua đầu má, má đưa hai bàn tay to bản phủ lên đầu đàn con đang nép dưới chân. Má chèo xuồng, mà đi làm thuê, mà đi đấu tranh chính trị, má coi thường cái chết, vì má tin một cách mộc mạc, giản dị rằng “người chết có cái vui của người chết, nếu không, người ta sanh con ra làm gì?” Hình ảnh má Tư Năng làm ta nhớ đến câu nói: “Còn cái lai quần cùng đánh” của chị út Tịch trong Người mẹ cầm súng. Cái cuốn sổ ghi bao việc “thỏn mọn” trong gia đình bằng thứ chữ “lòng còng" Chuyện thím Năm, ông nội, bác Hai, tía của Việt… bị giặc giết như thế nào, các chiến tích của ông nội, của thằng Hai, của chị em Việt, chú đều ghi rõ. Cuốn sổ ấy là truyền thống cách mạng của gia đình má Tư Năng, cũng là của hàng vạn gia đình nông dân Nam Bộ trong suốt ba mươi năm trời đánh Pháp, đánh Mĩ. Nguyễn Thi có tài sử dụng một số chi tiết nghệ thuật bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, nâng lên tầm khái quát, tô đậm màu sắc Nam Bộ. Tiếng hò của chú Năm là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, độc đáo của Nguyễn Thi tạo dựng nên. Giọng hò của chú Năm “đục và tức như gà gáy". Đã nhiều lần chú cất giọng hò. Trước bữa cúng má Tư Năng, chị em Việt Chiến sắp lên đường ra trận, chú Năm cất giọng hò: “Câu hò nổi lên giữa ban ngày, bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng một vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngất lại như một lời thề dữ dội”. Chị Chiến giống má như đúc. Chiến cũng có hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng như má. Tiếng “cóc”, tiếng “nghen”, tiếng “ừ”, tiếng chân bước *bịch bịch " của Chiến có khác nào má, “in như má vậy”. Bàn việc thu xếp nhà cửa trước khi đi đánh giặc, nghe em nói, Chiến “hứ một cái “cóc" rồi trở mình. May mà chị không bẻ tay rồi đập vào bắp vế than mỏi” như má. Chiến đảm đang, sớm biết lo liệu, thường nhường nhịn em, chú Năm đã hết lời ca ngợi: “Không! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, nặng nề nước non”. Chiến có tư thế hiên ngang, quyết liệt như các o du kích vườn dừa Bến Tre: “Đã làm thân con gái ra đi thì tao chí có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à”. Việt là hình ảnh đẹp nhất, in đậm màu sắc Nam Bộ nhất trong truyện Những đứa con trong gia đình. Nụ cười “lỏn lẻn”, hai gò má “cũng mướt như da trái vú sữa", cái ná thun của tuổi thơ vẫn mang theo khi đi bộ đội, Việt rất giống ba, mỗi lần nghe tiếng ná thun của Việt, má Việt lại nói: “Đó, lại giống cái thằng cha nó rồi!”. Việt hồn nhiên, trong sáng hay tranh giành với chị, nhưng lại “giấu chị như giấu của riêng’’ trước đồng đội. Dũng cảm trong chiến đấu, không sợ giặc nhưng lại sợ “thằng chỏng thụt lười”, ‘‘con ma cụt đầu"… Mới hai tuổi quân dã lập công tiêu diệt một xe bọc thép Mĩ; bị trọng thương, lạc đơn vị, nằm giữa chiến trường, tuy chỉ còn một viên đạn đã lên nòng. Việt “vẫn sẵn sàng nổ súng", “Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”… Hình ảnh Việt theo má lên tới quận “đòi đầu ba", hình ảnh Việt trong đêm tòng quân, trong cảnh cùng chị gái khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm đã làm ta nhớ mãi, nhớ đứa con trai má Tư Năng, nhớ một chàng trai mới lớn vùng miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long thời chống Mĩ. Việt là hình bóng của quê hương; Việt là hiện thân trong câu hò của chú Năm: "… khi thì Việt biến thành tấm áo vá quàng hoặc con sông dài cá lội cùa chú, khi thì Việt biến thành người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ờ Tháp Mười”. Thời chống Mĩ, tuổi trẻ cả nước ta nung nấu một lời thề: “Ra đi chỉ một lời thề – Chưa giết hết giặc chưa về quê hương”. Việt và chị gái khi khiêng bàn thờ má đi gửi cũng đinh ninh một lời thề: “Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nào nước nhà độc lập, con lại đưa má về”. “Những đứa con trong gia đình'’ đã kết tinh nghệ thuật của ngòi bút Nguyễn Thi. Nghệ thuật kể chuyện, dựng cảnh, tạo hình, chọn chi tiết điển hình, phân tích tâm lí nhân vật, cá biệt hóa ngôn ngữ nhân vật… tất cả đều mang màu sắc và hương vị Nam Bộ. Màu sắc Nam Bộ tạo nên hồn cốt phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Thi trong Người mẹ cầm súng và Những đứa con trong gia đình. Sự thành công đó đã khẳng định vị thế được tôn vinh của Nguyễn Thi là "nhà văn của người nông dân Nam Bộ thời chống Mĩ”.
Phân tích màu sắc Nam Bộ trong truyện Những đứa con trong gia đình của tác giả Nguyễn Thi
1,681
Phân tích Mùa xuân nho nhỏ-Thanh Hải Hướng dẫn Mùa xuân nho nhỏ – một bức tranh mùa xuân trong trẻo, tươi vui Mở bài: Thanh Hải sinh ra và lớn lên trên đất cố đô Huế. Cuộc đấu tranh bền bỉ, anh dũng của nhân dân miền Nam, của nhân dân Thừa Thiên, là nguồn cảm hứng chủ yếu trong thơ Thanh Hải. Thơ ông bình dị, đôn hậu và chân thành như tính cách con người Huế. Bài thơ mùa xuân nho nhỏ thể hiện sâu sắc đặc điểm phong cách thơ ấy của ông. Thanh Hải viết Mùa xuân nho nhỏ khi trên giường bệnh, khoảng hai tháng trước khi ông mất. Bài thơ là lời tự bạch chân thành với những tâm niệm đầy tính nhân văn về đất nước và đời thơ; về tình yêu cuộc sống và cuộc chiến đấu kiên cường. Tất cả làm toát lên một vẻ đẹp tâm hồn lung linh hiếm có trong nền thơ Việt nam. Thân bài: Bài thơ nhanh chóng chinh phục người đọc trước hết bởi âm hưởng, ngân nga mà sâu lắng, bởi năng lượng cảm xúc dồi dào truyền tải và lan toả. Chính cái giọng điệu dịu ngọt, chan chứa tình yêu đời, yêu cuộc sống đã tạo nên giá trị nghệ thuật đặc sắc và góp phần làm nổi bật lên cấu tứ, hình ảnh, hình tượng và ngôn từ của bài thơ. Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân tươi xanh, rộng lớn của thiên nhiên đất nước: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng”. Không gian mùa xuân được gợi ra từ hình ảnh rất riêng, rất đậm chất Huế: “dòng sông xanh”, “bông hoa tím biếc”, “con chim chiền chiện hót vang trời”. Một mùa xuân dịu dàng tươi sáng bởi màu sắc, náo nức rộn ràng bởi âm thanh, và lồng lộng cao vời của không gian rộng lớn. Thiên nhiên tươi xanh căng tràn nhựa sống trong cuộc tuần hoàn mãnh liệt của đất trời. Sự hoà hợp giữa màu xanh của dòng sông và sắc tím của bông hoa tạo nên một cảm giác mát dịu đến mê li. Khung cảnh còn được gợi lên bởi âm thanh quen thuộc rộn ràng tươi vui của chim chiền chiện – loài chim thường xuất hiện vào mùa xuân và được xem là tín hiệu báo xuân. Tiếng hát vang trời của chiền chiện làm không khí mùa xuân trở nên náo nức lạ thường. Thủ pháp chấm phá đặc sắc của Thanh Hải khiến cho khổ thơ vừa gọn gàng, súc tích vừa gọi mở đến vô biên. Tiếng chim hồn nhiên, trong trẻo, vừa gắt gỏng vừa đắm say mà da diết phía bầu trời cao vút lại như kết đọng thành những giọt âm thanh rơi xuống hồn người, chạm vào cõi sâu lặng, khuấy lên bao nỗi niềm, dìu nhà thơ vào cõi mộng: “Tôi đưa tay tôi hứng” lấy như sợ nó sẽ vun vỡ khi chạm vào đất. Từ cảm hứng về thiên nhiên, Thanh Hải bất ngờ chuyển hướng. Thì ra, ông nói mùa xuân thiên nhiên chỉ là nguyên cớ để đi vào mùa xuân con người trong cuộc sống và chiến đấu: “Mùa xuân người cầm súng Lộc dắt đầy quanh lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ”. Hình ảnh con người hiện ra trong cảnh sắc mùa xuân thật vững vàng và cao đẹp. Họ là những người đại diện cho hai nhiệm vụ cơ bản của đất nước Việt Nam trong mùa xuân tươi đẹp, hạnh phúc mà không quên nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu. Hình ảnh “lộc dắt đầy quanh lưng” người cầm súng đứng canh giữa quê hương khẳng định lúc nào họ cũng trong tư thế sẵn sàng nhưng không quên mang theo bên mình mùa xuân đất nước, mang theo tình yêu quê hương. “Lộc trải dài nương mạ” là bài ca thi đua sản xuất tràn đầy niềm tin tưởng cho một mùa xuân bội thu, tất thắng. Thiên nhiên ban tặng lộc, con người vun tay ươm mầm. Tất cả hoà quyện trong sự phồn thực của mùa xuân, mang chứa khát vọng lớn lao muôn thuở về cuộc sống hòa bình, no ấm và hạnh phúc. Thanh Hải thật khéo léo khi hòa quyện giữa mùa xuân thiên nhiên trong mùa xuân của lòng người. Đọc xong khổ thơ, người đọc bỗng nhận thấy khắp đất trời đâu đâu cũng tràn đầy sức sống, tràn đầy niềm tin và hi vọng, những nụ cười rạng rỡ, tiếng nói cười thiết tha. Đâu ta cũng thấy sự hiền hòa dễ chịu, cảm thấy thân thương và gắn bó vô cùng. Đó cũng là tâm hồn của Thanh Hải đấy. Ông đang vui, ông đang yêu đời, ông đang tha thiết sống. Sự sống trong ông căng trào mãnh liệt đến nỗi vượt thoát ra bên ngoài, thấm đẫm không gian. Nhìn đâu ông cũng thấy những nguồn sống đang cuồn cuộn chảy: “Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao”. Bất ngờ, nhịp thơ chùng lại, trầm tư suy ngẫm về đất nước: “Ðất nước bốn nghìn năm Vất vả và gian lao Ðất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước”. Từ niềm tự hào về cuộc sống mới, nhà thơ bỗng nghĩ về đất nước trong bốn nghìn năm lịch sử đau thương, vất vả. Đó là một đất nước anh hùng, quật cường, bất khuất, dù trong bất cứ hoàn cnahr nào cũng tỏa sáng như những vì sao, cứ đi lên phía trước. Chỉ bằng vài lời ngắn gọn, Thanh Hải đã tạc nên dáng hình đất nước trong bốn nghìn năm lịch sử. Đó cũng là tư thế của dân tộc Việt Nam trong trận chiến đáu với kẻ thù. Lúc nào họ cũng hiên ngang, anh dũng và sự tàn bạo chưa giờ có thể khuất phục họ. Họ vẫn sống và chiến đấu. Họ vẫn kiên cường và tỏa sáng. Viết nên câu thơ, tuy có chút trầm ngâm song ta vẫn nhận rõ tiếng reo vui trong lòng tác giả. Cảm hứng ngợi ca và khí thế hào sảng của câu thơ đã xác định vị trí của nhà thơ trong cuộc hành quân vĩ đại của dân tộc. Đó là vị trí của một người lính trong đội ngũ tiên phong trên mặt trận chống kẻ thù. Niềm vinh dự, tự hào như chất men say thôi thúc thơ ông cất lên tiếng hát với sự dâng hiến tận cùng; lớn lao mà bình dị, rất đỗi khiêm nhường: “Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”. “Mùa xuân nho nhỏ” là “một tiếng chim”, là “một cành hoa”“lặng lẽ dâng cho đời” cái đẹp, cái ngọt ngào, cái hữu ích. Một sự hiến dâng “lặng lẽ”, không phô trương, hết sức thầm kín nhưng cao quý vô cùng. Phải chăng “một nốt trầm” cũng có thể làm “xao xuyến” muôn lòng, khi người nghệ sĩ “từ chân trời của một người” đi đến và hoà nhập với “chân trời của nhiều người”, lặng lẽ hiến dâng những gì đẹp nhất, dù “nho nhỏ” của mình vào cuộc đời chung. Bài thơ kết thúc trong niềm vui gắn kết giữa quê hương và đất nước, giữa cái riêng và cái chung trong sự hòa nhập nhất thể: “Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai, Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đất Huế…” Nhà thơ vẫn “xin” được hát mãi khúc ca “câu Nam ai Nam bình” bằng tất cả tình yêu, trái tim đầy nhiệt huyết. Tình yêu cuộc sống bắt nguồn từ những gì thân thuộc, gần gũi của quê hương. Nơi chôn nhau cắt rốn, nơi thắp lên những ước mơ, nơi đã cho Thanh Hải hiểu được ý nghĩa của cuộc đời. Có lẽ vì thế mà bài thơ chẳng những mang đậm chất trữ tình dịu dàng của xứ Huế mà như một khúc hát, một bản nhạc được cất lên từ tâm hồn rất “xuân” của nhà thơ. Kết bài: Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là tiếng lòng tha thiết, yêu mến và gắn bó với đất nước, với cuộc đời; thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước; góp một “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc. Với thể thơ năm chữ, cách gieo vần mềm mại, gần với các làn điệu dân ca khiến cho bài thơ giàu nhạc điệu, mang âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết như chính tâm hồn của đất và người xứ Huế.
Phân tích Mùa xuân nho nhỏ-Thanh Hải
1,469
Phân tích một bài ca dao mà em thích nhất Hướng dẫn Phân tích một bài ca dao mà em thích nhất Ca dao là tiếng nói ân tình thủy chung son sắt, là những bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp về đất nước về con người Việt Nam. Những câu ca dao viết về nông thôn thường rất hay và đó là những câu ca dao tả về một đêm trăng tát nước, về một đàn cò trắng bay trên cánh đồng,… Và trong đó có một bài ca dao nói vé cánh đồng lúa mà em rất thích đó là bài: Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, thấy mênh mông bát ngát Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông Thân em như chẽn lúa đòng đòng Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai. Bài ca dao chỉ có bốn câu nhưng đã để lại ấn tượng rất sâu đậm trong em, đọc bài ca dao trước mắt em như hiện lên một bức tranh tuyệt đẹp, cả cánh đồng như chiếc thảm màu xanh khổng lồ mượt mà, mềm mại trong gió và đâu đây mùi hương lúa thơm ngát. Có thể nói đó là một bức tranh tràn đầy sức sống, thân thuộc về cây lúa, bởi lúa là một loài cây quen thuộc, một biểu tượng của nông thôn Việt Nam gắn bó với người Việt Nam từ xưa cho đến nay. Lúa không chỉ là nguồn sống, là nguồn lương thực quý nuôi sống con người mà cây lúa còn có những vẻ đẹp rất riêng đó là sự mềm mại, thanh mảnh, uyển chuyển lại khỏe khoắn. Đất nước ta 80% là nông nghiệp nên những cánh đồng có khắp nơi và chính vì vậy nhà thơ Nguyễn Đình Thi nhìn thấy những cánh đồng lúa như biển lúa: Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Câu thơ là cảm xúc tha thiết, thân thương của nhà thơ trước vẻ đẹp của những cánh đồng lúa của chúng ta và nhà thơ khẳng định “đâu trời đẹp hơn”, vẻ đẹp của những cánh đồng đó dường như chỉ có ở Việt Nam. Vậy vẻ đẹp mà Nguyễn Đình Thi cảm nhận đó có lệ bắt đầu từ hình ảnh: Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, thấy mênh mông bát ngát Đứng hên tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông Một bức tranh chân thật sống động, đầy sức sống hiện ra trước mắt chúng ta, đó là một màu xanh bất tận choán hết cả tầm mắt của chúng ta. Câu thơ được viết dài như khắc họa rõ nét hơn những cánh đồng lúa bao la bát ngát mênh mông. Hai câu thơ được tạo nên bởi hai vế đối rất hoàn chỉnh và phép đảo ngữ càng gợi cho ta cảm giác mênh mông bất tận của lúa của màu xanh mướt. Và trong câu thơ, tác giả dân gian đã sử dụng từ ngữ rất giản dị, mộc mạc, dễ hiểu, những từ đó miêu tả cái dài rộng bất tận của đồng lúa là “mênh mông bát ngát, bát ngát mênh mông”. Câu thơ gợi cho ta cảm giác trù phú, có sản lượng lúa nhiều, từ “cũng” là một sự khẳng định về sự giàu có và trù phú của quê hương ta. Biển lúa ấy đang báo hiệu một mùa bội thu: Thân em như chẽn lúa đòng đòng Lúa đang lên đòng là giai đoạn lúa tốt tươi và sung sức nhất. Màu xanh đó không phải là màu vàng rực rỡ khi lúa đã chín nhưng cái màu xanh của lúa đang vào thời kì sung sức ấy lại gợi cho ta sự sống tràn trẻ báo hiệu mùa vàng sắp tới. Ở đây tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp so sánh để nói lên vẻ đẹp của những cây lúa đang thì con gái, chúng cũng mềm mại, dịu dàng, uyển chuyển như những cô gái thôn quê mới lớn dậy. Đó là một vẻ đẹp khỏe mạnh, tươi mới. Việc sử dụng biện pháp so sánh là biện pháp quen thuộc thường thấy trong ca dao xưa khiến cho câu ca dao trở nên sinh động hơn, thể hiện được rõ nét hơn vẻ đẹp của những sự vật cần miêu tả. Đồng thời đối với câu ca dao này còn giúp cho ta có cái nhìn chính xác hơn về những cô gái ở nông thôn Việt Nam. Hình ảnh cô gái ở câu thơ này được ví với chẽn lúa, một sự ví von, so sánh rất độc đáo bởi người ta thường ví các cô gái với những loài cây như liễu, như mai thế mà ở đây lại ví cô gái với lúa. Có lẽ tác giả dân gian đã tìm thấy vẻ đẹp của các cô gái thôn quê khác với các cô gái ở đô thị, nếu các cô gái ở đô thị mang vẻ đẹp đài các, kiêu sa thì các cô gái thôn quê lại mang vẻ đẹp chân chất, giản dị như những cây lúa, một vẻ đẹp cũng khiến cho người ta phải đắm say. Câu thơ cuối càng thể hiện rõ hơn vẻ đẹp nhẹ nhàng, uyển chuyển của của các cố gái miền thôn quê. Đọc câu thơ này chúng ta hình dung cánh đồng lúa đung đưa trong nắng sớm mai như những cô gái đang tung tăng vui đùa, đây là một hình ảnh thật đẹp và thật sinh động. Màu nắng hồng rực rỡ ấy như tôn thêm vẻ đẹp của các cô gái thốn quê duyên dáng, dịu dàng và rất đỗi bình dị. Như vậy chỉ bằng bốn câu thơ cùng vối lời lẽ giản dị, mộc mạc, tác giả dân gian đã cho ta thấy vỏ đẹp rực rỡ của thiên nhiên của con người việt Nam, đó là vẻ đẹp rực rỡ tràn đầy sức sống của những cánh đồng bát ngát và qua đó ta còn thấy vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của những cô gái thôn quê. Bằng biện pháp nghệ thuật so sánh, đối, bài ca dao là một trong những viên ngọc quý sáng lấp lánh và luôn gợi cho người đọc cảm giác tươi mới, đồng thời ta có thể khẳng định ngôn từ của chúng ta rất đẹp và rất trong sáng.
Phân tích một bài ca dao mà em thích nhất
1,067
Phân tích một bài ca dao mà em yêu thích Hướng dẫn Phân tích một bài ca dao mà em yêu thích Ca dao vốn có một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần mỗi người. Nó dạy cho ta những bài học về kẽ sống nhưng không dài dòng lôi thôi mà rất ngắn ngọn, súc tích và ý nghĩa. Ngoài ra nó còn thể hiện được cái vẻ đẹp tâm hồn con người ẩn trong nó. Vậy vẻ đẹp tâm hồn là gì? Vẻ đẹptâm hồn hcinhs là vẻ đẹp phẩm chất, nhân cách đức tính con người. Một trong những phẩm chất ấy là lòng thương người được thể hiện qua câu ca dao sau: “Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Bầu và bí là hai loại cây vốn dĩ khác nhau, nhưng thường leo chung một giàn vì thế mà bầu và bí trở thành người bạn thân thiết với nhau. Cùng chung số phận, chung hoàn cảnh, bầu và bí đồng cảm với nhau nên bầu và bí đừng có xa nhau. Chớ vì hoa bí vàng, hoa bầu trắng, quả bí vàng, quả bầu xanh để mà ganh ghét, mà xa lánh nhau. Cũng như chúng ta là bạn nhau thì đừng vì ganh ghét mà xa lánh, mà làm mất đi sự quý giá của tình bạn. Bởi lẽ, bầu và bí cũng một họ. Mưa thuận gió hòa, bầu bí cùng xanh tốt. Nắng hạn, gió bão, bí rụng bầu lẽ nào lại xanh? Câu ca dao mượn chuyện bầu bí để nói chuyện về con người. Con người cũng giống như quả bầu, quả bí kia mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau, nhà giàu, nhà nghèo, nhưng chúng ta cùng sống chung một đất nước, cùng gọi nhau là đồng bào. Chúng ta cũng như giàn bầu giàn bí kia, cũng có anh em ruột thịt, lẽ nào chỉ vì một đặc tính, một sai lầm mà rời bỏ nhau. Xưa nay, khi đất nước có chiến tranh mọi người ai ai cũng đứng ậy khởi nghĩa cùng nhau ra chiến trận đánh đuổi quân xâm lược. Khi đất nước hòa bình mọi người lại cùng nhau xây dựng đất nước, cùng nhau sống hạnh phúc. Điều đó quan trọng biết bao khi chúng ta cùng sống trong một đất nước, cùng máu đỏ, da vàng cùng yêu thương nhau và gọi nhau là đồng bào. Như vậy, câu ca dao đã thể hiện được một phẩm chất đáng quý của con người tuy rằng không cùng một gia đình, nhưng vẫn hết lòng yêu thương nhau. Lòng yêu thương, sự đùm bọc lẫn nhau trong hoàn cảnh khó khăn, và lòng đoàn kết để qua khó khăn cùng xây dựng đất nước giàu mạnh. Nghê thuật nhân hóa bầu và bí làm chúng như có tâm hồn, biết yêu thương, biết cảm thông như con người. Cùng với cặp quan hệ từ “Tuy”…”nhưng”, bài ca dao là một lời khẳng định về lòng yêu thương, đùm bọc, tính đoàn kết giữa người với người. Bầu và bí tuy khác giống mà vẫn thương nhau cớ sao con người lại không yêu thương nhau được. Ngày nay, tất cả mọi người vẫn cố gắng gìn giữ truyền thống yêu thương, đùm bọc lẫn nhau “lá lành đùm lá rách”, thông cảm, sẻ chia, nỗi buồn khổ với những người có hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh. Rất nhieuf chương trình mang tính kêu gọi từ thiện và đã được các nhà hảo tâm giúp đỡ như chương trình: Cặp lá yêu thương, Lục lạc vàng… là một trong những điển hình về tình thương người của đất nước chúng ta. Là người may mắn sống trong một cuộc sống khá giả hơn, chúng ta cần phải biết cảm thông, giúp đỡ những con người bất hạnh hơn mình, biết yêu thương, trân trọng những gì mình có. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích một bài ca dao mà em yêu thích
661
Đề bài: Phân tích một bài thơ của Bác trong Nhật kí trong tù có tinh thần thép Bài làm Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn của dân tộc ta trong thế kỉ XX. Ngoài thơ tiếng Việt, Người còn để lại nhiều thơ chữ Hán, tiêu biểu nhất là lập "Nhật kí trong tù" – một tập thơ "trăm bài trăm ý đẹp". Bên cạnh những bài thơ chứa chan tình còn có những bài thơ sáng ngời chất thép. Nói về chất thép trong thơ Hồ Chí Minh, nhà văn Hoài Thanh có viết: "Khi Bác nói trong thơ có thép, ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép ở trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép, mới có tinh thần thép". Đó là một nhận xét tinh tế, thú vị. "Nhật kí trong tù" được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt, khi Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ (từ tháng,8-1942 đến tháng 9-1943). Trong bài "Cảm tưởng đọc Thiên gia thi", Bác nêu quan điểm của mình "Nay ở trong thơ nên có thép – Nhà thơ cũng phải biết xung phong". Vậy chất thép trong thơ là gì? Căn cứ vào nội dung thơ Bác, chúng ta hiểu chất thép chính là tinh thần chiến đấu, là tinh thần lạc quan, tin tưởng, là nghị lực lớn lao của người chiến sĩ trong cảnh tù đày. Có điều là chất thép trong thơ Bác có lúc được biểu hiện một cách trực tiếp, có lúc lại diễn tả một cách gián tiếp. Dù ở dạng thức biểu đạt nào, nhưng cách nổi của Bác đều thâm trầm, bình dị, thấm thía. "Nhật kí trong tù" có một số bài khẳng định dũng khí của người chiến sĩ: "Đề từ", "Bốn tháng rồi", "Nghe tiếng giã gạo"… "Thân thể ở trong lao Tinh thần ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần càng phải cao". (Đề từ) hoặc: "Kiên trì và nhẫn nại Không chịu lùi một phân Vật chất tuy đau khổ Không nao núng tinh thần" ( "Bốn tháng rồi”) Không cao đàm khoát luận. Là trang nhật kí, viết để đối thoại với mình, vần như mang tính "hướng nội", lòng tự nhủ lòng, tự an ủi động viên mình trong những tháng ngày "ác mộng’". "Tinh thần ở ngoài lao" "kiên trì và nhẫn nại", "không chịu lùi…", "không nao núng…", là chất thép, là ý chí kiên cường, là tinh thần bất khuất của người chiến sĩ vĩ đại. "Nhật kí trong tù" có rất nhiều bài thơ trữ tình không nói đến cách mạng, đến tinh thần chiến đấu, có nghĩa là không hề "nói chuyện thép" và "lên giọng thép", ấy thế nhưng "chất thép" lại ẩn chứa sau từng vần thơ, từng hình ảnh, từng câu chữ, hay đằng sau những nụ cười hóm hỉnh, hài hước hoặc mỉa mai. Trong tù, chân tay bị cùm trói, muỗi rệp, đói rét, "ghẻ lở mọc đầy thân", mà tù nhân vẫn thưởng thức vẻ đẹp của ánh trăng lọt qua cửa ngục, vẫn làm thơ, và "Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu". Đó là chất thép. Nhìn xiềng xích và dây trói quấn đầy mình lại ví: "Rồng cuốn vòng quanh chân với tay – Trông như quan võ quấn tua vai". Mỗi bước chân đi, tiếng xích sắt kêu loảng xoảng, bất chợt nảy ra so sánh thú vị: "Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung". Cái nhìn ấy, nụ cười hóm hỉnh ấy được hiện ra trong cảnh địa ngục trần gian thì chính đó là chất thép của một con người mà "uy vũ bất năng khuất". Có nhiều bài thơ ghi lại cảnh chuyển lao. Có hành trình "Năm mươi ba cây số một ngày – Áo mũ đầm mưa rách hết giày". Có cảnh bị giải đi "Hôm nay xiềng sắt thay dây trói". Có chặng đường khổ ải: "Gió sắc tựa gươm mài đá núi – Rét như dùi nhọn chích cành cây”. Đó là những gian khổ mà Bác đã nếm trải trên con đường lưu đày. Đó cũng là chất thép. Một nội lực ghê gớm, một bản lĩnh phi thường, một tinh thần bất khuất lạc quan mới có thể làm nên chất thép ấy. Chất thép trong "Nhật kí trong tù" có khi thể hiện trong cách nhìn của Bác đối với thiên nhiên, có lúc là niềm khoái cảm mà người tù cảm nhận được trong khoảnh khắc "tự do". Một tâm hồn chan hòa với thiên nhiên, luôn luôn làm chủ hoàn cảnh. Phong thái của người tù là cốt cách của một tao nhân mặc khách ung dung, tự tại: "Mặc dù bị trói chân tay, Chim cu rộn núi, hương bay ngát rừng. Vui say ai cấm ta đừng, Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu". (Đi đường) Thật là rõ ràng, bài thơ "Đi đường" không hề nói chuyện thép, "lên giọng thép" nhưng nó vẫn sáng ngời chất thép. Một làn gió mát, một mùi hương lạ, một tiếng chim rừng, một ánh trăng thu, một tia nắng sớm chiếu vào cửa ngục, một áng mây chiều, một lò than rực hồng nơi xóm núi, tiếng chuông chùa xa, tiếng sáo mục đồng… đều đem đến cho Bác nhiều xúc động. Thiên nhiên trong "Nhật kí trong tù" được Bác nói đến bằng những vần thơ đẹp mang phong vị Đường thi, biểu hiện một cách đa dạng và phong phú chất thép hàm chứa trong thơ. Chất thép ấy làm cho "Nhật kí trong tù" có sự kết hợp hài hòa giữa chất trữu tình và chất thép, giữa màu sắc cổ điển và tính chất hiện đại. Đúng như Hoàng Trung Thông đã viết: "Vần thơ của Bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình". Bài thơ "Vọng nguyệt" trong "Nhật kí trong tù" theo ý của nhiều độc giả là một trong những bài thơ có "tinh thần thép" mà không hề "nói chuyện thép", "lên giọng thép". Ngắm trăng "Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ; Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ". (Nam Trân dịch) Hai câu 1, 2 ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện, vốn là thi sĩ đang sống trong một nghịch cảnh: chân tay bị cùm trói, nằm trong ngục đầy muỗi rệp, bên ngoài cửa ngục là cảnh đêm thu rất đẹp. Người tù lấy làm liếc không có rượu ngon, hoa thơm để ngắm cảnh. Lòng Bác bối rối, xúc động vô cùng. Trăng, hoa, rượu là ba thú vui tao nhã của khách tài tử xưa nay. "Đêm nay" trong tù, Bác thiếu hẳn rượu và hoa để thưởng trăng. Nhưng lòng Bác vẫn dạt dào cảm xúc. Câu thơ nói lên nỗi niềm băn khoăn, bối rối của Bác: "Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ". Sự tự ý thức về cảnh ngộ ấy đã làm cho tư thế ngắm trăng của người tù một ý nghĩa sâu sắc hơn các cuộc ngắm trăng, thưởng trăng thường tình. Chẳng phải "Vọng nguyệt hoài viễn" hay "Xuân giang hoa nguyệt dạ". "Đăng sơn vọng nguyệt" v.v… như người xưa. Ở đây qua song sắt nhà tù, Bác ngắm vầng trăng đẹp. Người thả hồn mình theo mảnh trăng thu vời vợi. Ngắm trăng với tất cả tâm hồn và tâm thế "vượt ngục” đích thực. Song sắt nhà tù không thể nào giam hãm được tinh thần người tù có bản lĩnh phi thường như Bác: "Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ". Từ chốn tối tăm, chết chóc ngục tù, Bác hướng tới vầng trăng, hướng tới ánh sáng, làm đẹp tâm hồn mình. Song sắt nhà tù không thể nào ngăn cách được người tù và vầng trăng có nét mặt, có ánh mắt, có tâm tư. Cái nhìn của trăng là cái nhìn của tri âm, tri kỉ. Trăng được nhân hóa, từ viễn xứ lọt qua song sắt nhà tù đến thăm nhà thơ: "Nguyệt tòng ếwnỊi khích khán thi ị>ia". Trãng lặng lẽ ngắm nhà thơ mà ái ngại cam động. Cầu trúc câu thơ đăng đối, cân xứng hài hòa diễn tả cảnh "đôắì diện đùm tăm" giữa trăng với nhà ihứ: "Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tong song khích khan thi gia” Ta thấy: "nhân- nguyệt" rồi lại "nguyệt – thi gia" ở hai đầu câu thơ, còn cái song sắt nhà tù thì chắn lạnh ở giữa. Trăng và tù nhân nhìn nhau, tâm sự với nhau qua cái song sắt nhà ngục. Khoảnh khắc giao cảm giữa thiên nhiên và con người đem đến một sự biến đổi kì diệu: tù nhân trở thành thi gia. Lời thơ đẹp, hồn nhiên, ý vị. Đúng là ý tại ngôn ngoại "Vọng nguyệt" thể hiện một tư thế ngắm trăng rất đẹp và hiếm có xưa nay. Tư thế ấy là phong thái ung dung tự tại, tinh thần lạc quan yêu đời, là tình yêu tự do và yêu thiên nhiên của người chiến sĩ vĩ đại. "Vọng nguyệt" là một trong những bài thơ trăng tuyệt bút của nhà thơ Hồ Chí Minh. Bác không hề "nói đến thép", "lên giọng thép" mà vạn sáng ngời chất thép. Trong cảnh khổ ải tù đày, Bác vẫn thảnh thơi, ung dung ngắm trăng. Đó là nét vẽ làm rõ thêm nhân cách Hồ Chí Minh, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã ca ngợi: "Ngục tối trái tim cùng cháy lửa Xích xiềng không khóa nổi lời ca".
Phân tích một bài thơ của Bác trong Nhật kí trong tù có tinh thần thép
1,599
Phân tích Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh Hướng dẫn Phân tích Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh Hoài Thanh được đánh giá là một nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học xuất sắc nhất. Cuốn sách “một thời đại trong thi ca” là tiểu luận mở đầu cho cuốn Thi nhân Việt Nam,là một trong những công trình xuất sắc nhất trong sự nghiệp văn chương của tác giả. Nội dung của cuốn sách này đề cập đến rất nhiều vấn đề như nguồn gốc của thơ mới, cuộc tranh luận,so sánh giữa thơ mới- thơ cũ, vài nét về con đường phát triển Thơ mới, đặc điểm về hình thức thể loại và triển vọng trước mắt của Thơ mới; tinh thần cốt lõi của Thơ mới và hình ảnh cái tôi trong mỗi tác phẩm. Ở mỗi góc cạnh của vấn đề, tác giả lại có những nhận định với những khía cạnh rất riêng kèm theo những ý kiến sắc sảo và tinh tế. Mở đầu cho đoạn trích thì tác giả đưa ra để xác định cho thơ mới, và theo như Hoài Thanh thì muốn hiểu được thời đại thi ca thì phải có sự so sánh. Cách xác định của tác giả luôn mang tính khoa học bởi vì chỉ những câu hay mới được trở thành thước đo để tính giá trị sản phẩm mà thôi. Thứ hai, căn cứ vào tổng thể chứ không thể nhìn vào tiểu tiết. Nghĩa là phải dựa vào cái chung nhất. Thơ mới lại nghiêng về “cái tôi” và “ý thức cá nhân,“dựa trên đại thể tất cả tinh thần thời nay hay tinh thần của thơ mới gồm hai trong chữ “tôi”- ý thức cá nhân của mỗi người” và khi thơ mới xuất hiện nó mang một quan niệm chưa từng thấy ở xứ sở này “ đó là quan niệm cá nhân”. Thứ ba là biểu hiện và ý nghĩa của cái tôi. Đầu tiên là sự xuất hiện và tiếp nhận của cái “tôi”. Trước tiên khi cái tôi xuất hiện trên văn đàm thì còn có rất nhiều sự bỡ ngỡ. Nó giống như một kẻ lạc loài ở nơi đất khách bao nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu. Vì chúng ta đã quen nhìn cuộc sống trong mình có cái “ta”. Bây giờ, nó xuất hiện thì làm sao lại tránh khỏi sự bỡ ngỡ. Nhưng theo thời gian, chữ “tôi” đó dần dần được chấp nhận và đã làm cho nó đã mất dần đi vẻ bỡ ngỡ của ban đầu. Cách dẫn dắt và lập luận của tác giả càng trở nên chặt chẽ hơn khi đưa ra các ví dụ cụ thể, so sánh liên tưởng và nhất là dẫn ra những câu chuyện về Cao Bá Nha, của cô Phụ trên bến Cầm Dương có tính chất đòn bẩy để xác định nỗi thương không nơi nương tựa của những nhà thơ mới. Thế đấy, nỗi buồn của thơ mới được hiện lên như một bi kịch diễn ra ngấm ngầm. Bài tiểu luận có tính chặt chẽ, lập luận rất khoa học, lời văn của Hoài Thanh vừa sắc sảo, vừa rất tinh tế với giọng văn của người trong cuộc cùng những chia sẻ đúng như quan niệm thi nhân “ lấy hồn tôi để hiểu hồn người”. Đặc biệt những khái niệm đó vốn khô khan, qua những trình bày, giải thích của tác giả đã được chuyển thành những hình ảnh biểu cảm. Các câu văn được cân chỉnh, hợp lí với giọng văn cuốn hút người đọc. Chính điều này đã mang được tính nhạc cho bài văn. Cách dẫn dắt đoạn văn thật hợp lí, logic,ngôn ngữ đặc sắc, dung dị dễ hiểu mà vẫn súc tích là một trong những điều mà hiếm có bài phê bình nào có thể làm được. Đoạn trích đã đi sâu tập trung giải thích cho sự ra đời và phát triển của thơ mới. Qua đó, chúng ta cũng có thể nhìn thấy thái độ trân trọng cổ vũ của tác giả,cho thấy sự xuất hiện ý thức cá nhân trong thơ ca và tấm lòng của nhà thơ mới đối với toàn dân tộc ta
Phân tích Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh
717
Đề bài: Phân tích một tác phẩm văn học đã gợi cho anh (chị) những cảm nghĩ sâu sắc nhất, trước những vấn đề tu dưỡng và rèn luyện của tuổi trẻ hiện nay Bài làm Trong cuộc sống có biết bao điều ta nâng niu, quý trọng, yêu mến. Bạn rất yêu bức phù điêu tạc chân đung một vị thần công lý, còn người khác lại rung động bởi nét nhạc dịu dàng, thiết tha của Chopin, và người thứ ba lại yêu bức họa cánh rừng xào xạc của Levita. Nhưng có lẽ riêng tôi, cái mà tôi yêu nhất đó là những vần thơ tươi xanh, những vần thơ lửa cháy, trong những vần thơ ấy có cái cái màu đỏ ấy trong cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ Không hiểu sao tôi yêu cái “màu đỏ" ấy đến thế, cái màu đỏ chói chang, rực rỡ, cái màu đỏ đằm thắm, dịu dàng, cái màu đỏ “như cái màu đỏ ấy" trong Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ – nhà thơ quá cố. Trong cuộc sống có biết bao điều ta nâng niu, quý trọng, yêu mến. Bạn rất yêu bức phù điêu tạc chân đung một vị thần công lý, còn người khác lại rung động bởi nét nhạc dịu dàng, thiết tha của Chopin, và người thứ ba lại yêu bức họa cánh rừng xào xạc của Levita. Nhưng có lẽ riêng tôi, cái mà tôi yêu nhất đó là những vần thơ tươi xanh, những vần thơ lửa cháy, trong những vần thơ ấy có cái “cái màu đỏ ấy". Có thể lúc đầu đó chỉ là một tình yêu đầy cảm tính. Nhưng dần dần, cái cảm tính ấy mất đi, và nhường chỗ cho một cái gì đó cao quý lắm… mà chúng tôi không định nghĩa nổi. Tôi muốn các bạn cùng tôi yêu bài thơ ấy và màu đỏ ấy: CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ Tươi như cánh nhạn lai hồng Trưa một ngày sắp ngả sang đông Thu, bồng nắng vàng lên rực rỡ Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa Chồng của cô sắp sửa đi xa, Cùng đi với nhiều đồng chí nữa, Chiếc áo đỏ rực như than lửa Cháy không nguôi trước cảnh chia ly Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy, Không che được nước mắt cô đã chảy, Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời Chảy trên bình minh đang hé ỊỊÌữ lùn mõi Và rạng đông đã bừng trên nét mặt … Một rạng đông với màu hồng ngọc Cây si xanh gọi họ đến ngồi Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai Ngày mai sẽ là ngày sum họp Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp! Nắng vẫn còn ngời trên những lá si Và người chồng ấy đã ra đi… Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào “Khi Tổ Quốc cần, họ biết sống xa nhau ” Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp Một làng xa giữa đêm gió rét… Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi Như không hề có cuộc chia ly… Trong cuộc sống, chia ly là chuyện tất nhiên. Mỗi con người đã chứng kiến biết bao cuộc ra đi, và có người không trở về… Tôi cũng vậy, từ nhỏ tôi đã phải tiếp tục với những cuộc chia ly. Đầu tiên là trong lời ru của bà ôm tôi vào lòng, bà tôi nhẹ nhàng hát ru: “À ơi, cháu ngoan cháu ngủ với bà. Bố mày đi đánh giặc xa chưa về" – giọng ngâm trầm của hà nghe sao mà buồn, mà nhớ. Lên ba tuổi, tôi được chứng kiến một cuộc ra đi thực sự, không phải trong giấc ngủ chập chờn nữa: bà và mẹ tôi, nước mắt lưng tròng, tiễn đưa cha và các anh tôi lên đường ra mặt trận. Nhìn những giọt nước mắt long lanh trên mí mắt mẹ, tôi cảm thấy sợ, một nỗi sợ mơ hồ. Vì sao phải có những cuộc ra đi ấy? Nỗi sợ ấy lớn dần theo năm tháng. Thế rồi một hôm, tôi cũng không còn nhớ rõ, khi chị phát thanh viên vừa đọc xong bản tin chiến thắng trên chiến trường diệt Mỹ, tôi bỗng nghe ấm áp một giọng ngâm, một người nào đó đang ngâm bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ của nhà thơ Nguyễn Mỹ. Tôi lặng nghe và có một cái gì rất lạ đang xáo trộn trong tôi: Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ Tươi như cánh nhạn lai hồng Trưa một ngậy sắp ngả sang đông Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ. Cũng vẫn là khung cảnh của một cuộc chia ly, nhưng đâu còn cái màu ảm đạm, cái buồn tê tái của nỗi chia xa mà thỉnh thoảng ta vẫn gặp. Một cuộc chia ly mà lại có cánh nhạn bay, cánh nhạn “lai hồng”, và cái màu đỏ “chói ngời"trong nắng thu "vàng rực rỡ”, cả không gian như chói lên, những giọt nước mắt chia ly và giữa khung cảnh ấy con người hiện ra cũng tươi tắn, rực rỡ không kém gì cảnh vật: Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa Chồng của cô sắp sửa đi xa, Cùng đi với nhiều đồng chí nữa, Chiếc áo đỏ rực như than lửa Cháy không nguôi trước cảnh chia ly Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy, Không che được nước mắt cô đã chảy, Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi Và rạng đông đã bừng trên nét mặt… Một rạng đông với màu hồng ngọc Những câu thơ vang dội vào lòng ta, dồn dập, hình ảnh nọ nổi sắc màu kia, và tất cả ngời lên trong một hòa sắc tuyệt vời: sắc đỏ chói chang, màu xanh dịu dàng và chiếc nón trắng giản dị, rất Việt Nam. Đã có cuộc chia ly nặng nề, bàng bạc một nỗi buồn, day dứt nỗi đau khiến cho người thiếu phụ “bịn rịn vào chàng" và rồi những con người ấy “bước đi một bước thây thây lại dừng". Một cuộc chia ly như thế đọng lại trong lòng người ra đi và người ở lại những nỗi buồn tê tái, nó chỉ giục người đi hãy mau mau quay về, cho dù cái đích mà mình phải tới còn rất xa, cho dù nhiệm vụ được giao rất quan ưọng, có ý nghĩa. Đó là cảnh đi lính ngày xưa: vướng víu, buồn tủi, nặng trĩu lo âu trong lòng người đi, kẻ ở. Tế Hanh, khi còn là một chàng thanh niên tiểu tư sản trong xã hội cũ những năm trước Cách mạng, cũng đã viết về tâm trạng của một cuộc chia ly, mặc dù tác giả không phải là người trong cuộc: Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu Ngàn đời không đủ sức đi mau Có chi vướng víu trong hơi máy Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau (Những ngày nghỉ học – Tế Hanh) Đó là tâm trạng thường gặp trong những cuộc chia ly trước kia, nó nặng nề như những toa tàu “'nặng khổ đau", nó nghẹn ngào bịn rịn, cái tình quyến luyến đó dĩ nhiên phải có, nhưng đến mức như vậy, nó sẽ thành một nỗi đau canh cánh trong lòng người ra đi. Sự “lưu luyến" ấy có ích gì? Cái buồn ấy tê tái quá, bi sầu quá… khiến ta tưởng như đằng sau cái ngày hôm nay xa cách, tiễn biệt là chuỗi ngày vô vọng, bặt tin xa. Cái “ngày mai" tiếp nối cái “ngày hôm nay" của họ dường như bị đóng kín. Nhưng rồi đã đến lúc cuộc chia ly đã mang sắc màu lạc quan, đẹp đẽ, đã ánh lên sức mạnh của niềm tin. Đó là khung cảnh: Một buổi sáng mai Anh bước chân ra đi … Và người vợ, chị nông dân tiễn chồng đi tòng quân, đã hứa với chồng “Giải thi đua em giật". … Và người chồng ra đi dặn vợ: Ruộng mình quên cày xáo Nên lúa chín không đều Nhớ lấy để mùa sau Nhà cố làm cho tốt Khác với người chinh phụ xưa kia, chị nông dân trong Thăm lúa của Trần Hữu Thung đã biến những giọt nước mắt đau đớn thành nụ cười tin tưởng. Đôi lứa ấy nghĩ đến một ngày mai hạnh phúc, sum họp. Ngày mai ấy sẽ đến khi cái ngày mai của dân tộc đến với mỗi con người. Tình cảm của chị nông dân có cái gì đó ấm áp lắm, chưa nói ra thành lời, nhưng tất cả sự nồng cháy, thương yêu, tất cả tình yêu, nỗi nhớ hy vọng và tất cả những giọt nước mắt trong sáng lại được thể hiện một cách cao đẹp, mạnh mẽ hơn qua sắc đỏ của màu áo, trong cái yêu thương của vườn cây xanh, của Cuộc chia ly màu đỏ. Cũng vẫn là giọt nước mắt, nhưng nét mới về chất so với những giọt nước mắt của người chinh phụ xưa kia. Cũng vẫn là những giọt nước mắt, nhưng nó “long lanh nóng bỏng sáng ngời", nó lấp lánh ánh sáng của tình yêu cao thượng và một lẽ sống đẹp đẽ. Và rồi cái chất của nhà thơ, đồng nhất với nhân vật trữ tình, đã cất lên tiếng nói, tiếng nói tin yêu về một ngày mai: Ngày mai sẽ là ngày sum họp Đã kia sáng những tâm hồn cao đẹp! Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá Và người chồng ấy đã ra đi… Một tình yêu được nói đến với vườn hoa, với gốc cây si thì còn gì đẹp hơn. hợp lý hơn. Nhưng một cuộc chia ly lại được nói lên bằng tiếng nói về một ngày mai ấy, thì chỉ bây giờ đây ta mới gặp, mới cảm, mới hiểu. Tứ thơ như đọng lại với cái màu đỏ chói chang, cái màu đỏ của niềm tin và hy vọng, cái màu đỏ ấy cứ cháy lên trong lòng bạn, lòng những lứa đôi. Có những lứa đôi còn đang sống bình thản trong những vườn hoa, dưới những căn nhà khi họ đọc bài thơ này họ sẽ suy nghĩ, phải suy nghĩ, và có thể hạ sẽ tiến đến "cuộc chia ly màu đỏ" ấy. Có những lứa đôi đã xa nhau, khi đọc bài thơ này sẽ thêm tin và yêu "cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy", cái màu đỏ của chính họ, cái màu đỏ của những người khác. Bài thơ mở đầu với cái màu đỏ chói chang, rực rỡ, tiếp diễn với cái màu đỏ ấy, và cuối cùng cái màu đỏ ấy cắt nghĩa tất cả: Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp Một làng xa giữa đêm gió rét… Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi Như khônq hề có cuộc chia ly… Điều kỳ diệu và sâu sắc biết bao nhiêu “cáimàu đỏ ấy", nó như một vị thần hiển hiện, nói như một cái gì đó vĩnh cửu. Có lúc cái màu đỏ ấy hiện lên bằng sự gợi nhớ, gợi thương của bông hoa chuối, có lúc nó hiện lên lung linh trong ánh lửa hồng ấm áp, tỏa sáng trong đêm gió rét. Thế nghĩa là cái màu đỏ ấy luôn ở trong tim, luôn ngời trên khóe mắt, nó thúc giục, động viên, nó hiện lên trên “đầu súng trăng treo” mội đêm diệt địch. Cao quý biết bao cái màu đỏ ấy. Nó cắt nghĩa cả, đơn giản, logic, dễ hiểu. Làm sao có được khái niệm “chia ly” khi giữa hai đầu không gian phải là khoảng trống mà nóng bỏng, ấm áp sức nóng của ngọn lửa sum hợp. Cái khái niệm ấy tan biến đi “như không hề có cuộc chia ly". Yêu sao cái màu đỏ ấy và những con người ấy. Tôi biết trong cuộc chiến tranh thần thánh của chúng ta chống lên ác thù xâm lược đế quốc Mỹ, đã không trở về. Nhưng cái màu đỏ chói chang sắc nấng mà niềm tin ấy, mỗi con người đã giữ trong mình trọn vẹn. Tôi nhớ lại một câu thơ nói: “Anh đã cùng em yêu “cuộc chia ly màu đỏ" mà trong lòng trào lên một niềm xúc động, xen lẫn sự hổ thẹn”. Có những người đã dám xa nhau và đã yêu “cuộc chia ly màu đỏ”, có những người đã ngã xuống để bảo vệ sự thiêng liêng của sắc đỏ ấy, họ biết yêu thương nhau và yêu đất nước, vậy mà tôi, tôi lại sợ những cuộc chia ly như thế hoặc tương tự như thế?. Từ kỉ niệm của bản thân, tôi hiểu rằng cũng có bao người như tôi, cũns đã nghĩ và hiểu không đúng về những gì đang diễn ra xung quanh ta., và rồi hôm nào đó, cũng sẽ được một bài thơ tuyệt diệu như vậy cảm hóa, tôi không còn thấy sợ chia ly nữa. Tiếng còi tàu vang lên trong đêm khuya tĩnh mịch không còn gợi cho tôi một nỗi sợ, một nỗi buồn, tôi nghe trong đó tiếng reo vui của những trái tim đang về với trái tim, sự sống đang được trả về với sự sống, và tôi hiểu rằng sự ra đi của cha và các anh tôi có một ý nghĩa đặc biệt: nó làm nên con tàu trở về. Tôi tự hỏi: không biết đôi cánh nào của thơ ca đã bay đến cùng tôi, cùng các bạn, để đốt lên trong chúng ta ngọn lửa tôi yêu và gột rửa trong ta những vết hằn của thời gian? Tôi nhớ lại câu hỏi của Maiakovski: "Trên đời, có những vấn đề chỉ có thể giải quyết được bằng thơ". Phải chăng đôi cánh của thơ ca chính là dòng tình cảm chân thật, đằm thắm? Thơ ca mang những tâm trạng đến với những tâm trạng, thơ ca có khả năng bao quát sâu rộng không gian và thời gian, từ đó gợi mở trong lòng người những gì chưa có. Những cái đó sẽ rất lâu trong lòng ta, có những lúc nó sẽ bùng lên dữ dội, nó sẽ giúp cho ta hiểu và đánh giá chính ta và những con người xung quanh ta, từ đó sẽ tự ta cải tạo, sẽ nâng con người ta lên. Tôi nhớ mãi những lời thơ ấm áp, tin yêu, những lời thơ với những hình tượng thơ độc đáo, giàu tính thẩm mỹ này. “Cái màu đỏ” mà tác giả mượn trong bài thơ của mình là một trong số vô vàng hình tượng mà tác giả có thể mượn để nói lên một niềm tin, một tình yổu và sự sum họp. Nhưng đó là cái độc đáo nhất để diễn tả một cái gì đó ấm cúng, gợi lên niềm tin và một ngày mai: một ánh lửa hồng trên bếp, màu đỏ của sắc hoa trong vườn xuân. Và Nguyễn Mỹ đã chọn “Cúi màu đỏ ấy" – hình tượng thơ ấy là sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ của mình. Cũng như một lần Nguyễn Duy đã lấy “hơi ấm ổ rơm" để viết về tình người nồng thắm, một Hoàng Nhuận Cầm đã mượn tiếng kêu của chú ve kim để viết cái lạc quan, yêu đời của những người lính. Và tất cả, tất cả những hình tượng thơ đẹp đẽ, giàu tính điển hình ấy đi vào trong lòng người đọc một cách nhẹ nhàng, tinh tế mà thấm sâu hơn nhiều tiếng nói khác. Nói chung, khoa học là tiếng nói của lý trí, văn học là tiếng nói của tình cảm. Tinh cảm và lý trí phải kết hợp với nhau, gắn bó hữu cơ với nhau. Trái tim có rung động, khối óc mới được trong suốt nhuần nhuyễn. Ta hiểu vì sao mà bài thơ Cuộc chia ly màu để lại có tác dụng sâu sắc đến thế trong lòng người đọc. Ta cũng hiểu vì sao văn học nghệ thuật nói chung lại trở thành một “Cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống " (Secnusepxki), trở thành nguồn suối tắm mát tâm hồn quần chúng. Văn học có phải là một cái gì cao siêu, thần thánh đâu, văn học là hơi thở của biển, là làn gió thơm hương lúa, là gương mặt những người chung quanh ta và chính ta… Chúng ta đến với văn học từ khi chập chững biết đi, và văn học đã giúp ta đốt cháy thời gian để “khôn” là "lớn”. Đọc thơ, ta hiểu được cái đẹp của “cuộc chia ly màu đỏ”, đọc sách ta hiểu được một trái tim nhiệt thành và nghị lực sắt đá của Paven Corsaghin. Hiểu rồi, ta sẽ yêu, yêu cái đẹp của tự nhiên, xã hội, yêu tiếng cười trẻ thơ, yêu nhịp sống chảy cuồn cuộn trong lòng thời đại. “Hãy yêu! Hãy yêu! Và bảo vệ…” (Chế Lan Viên). Đó là tiếng nói và mệnh lệnh của mỗi trái tim con người. Tôi suy nghĩ nhiều về nhiệm vụ của những người cầm bút và nhiệm vụ của những người đọc những dòng chữ quý giá đó. Thay mặt cho hàng vạn, hàng triệu trái tim, người nghệ sĩ (và có thể là chiến sĩ) nhà thơ đã viết lên tâm sự của họ, nói tiếng nói của tâm hồn họ. Tôi suy nghĩ nhiều về tác động của bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ đối với các thời đại – các thế hệ thanh niên. Nhà thơ Nguyễn Mỹ – tác giả của bài thơ – đã ngã xuống, nhưng biết bao thế hệ thanh niên đã đọc và yêu thơ của anh. Và đến hôm nay, vân đề mà Nguyễn Mỹ đã đặt ra vẫn mang tính thời đại sâu sắc. Sự ra đi. Chiến tranh đã kết thúc nhưng đâu phải là những chuyến tàu ngược xuôi đã ngừng chuyển bánh. Đâu phải sự sum họp là vĩnh viễn. Không! Sông Đà “tóc dài tuôn như một áng tóc trữ tình" (Nguyễn Tuân) đang gọi ta, những miền quê ta chưa tới, ta chưa biết đang chờ ta. Tạm biệt mảnh đất quê hương, ta ra đi và tin lưởng: đâu cũng là nhà. Nghe Đảng gọi ra đi Mở những vùng quê mới Nhớ buổi ấy chia ly Quê cũ mà đi tới Có nỗi nhớ hàng tre Con sông đào trước ngõ Có nỗi nhớ xóm nhỏ Con đường nắng lim dim (Quê mới – Thanh Hải) Nhưng không phải bao giờ và ở đâu, sự ra đi cũng dễ dàng, thanh thản. Có những người không bứt mình ra khỏi hiện tại, có những người còn luyến tiếc một cái gì đó. Không, chúng ta không thể là những con người như thế. Hãy nhớ về “Cuộc chia ly màu đỏ" để mà yêu thêm, tin thêm vào con người và bản thân mình. Giữa những năm tháng khói lửa, "Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau”, thì chúng ta, giữa những năm tháng đẹp đẽ này, cũng sẽ biết sống xa nhau, sống vì nhau, sống cho nhau. Sống trên những mảnh đất của những con người biết yêu thương nhau và yêu đất nước, tôi cảm thấy có một cái gì đó lớn dần lên trong tôi, cái đó là gì, thật khó định nghĩa, nhưng tôi luôn luôn ước mơ về một ngày mai ấy, cái ngày mai mà có thể tôi sẽ ra đi, ra đi để làm người lao động chân chính, người kế tục xứng đáng, người chủ của những di sản lớn lao mà cha ông ta đã dành lại trong máu và nước mắt. Và có một lúc nào đó, khi tiếng còi rúc lên trong đêm khuya yên ả của một ngày lao động, một ngày sống có ý nghĩa trong cuộc sống có ý nghĩa của chúng ta, khi tiếng còi tàu báo hiệu một sự ra đi hay trở về vang lên, và trong tôi không còn cái sợ hãi, đau buồn rồi chia xa, thì tôi còn nhớ lại hôm nào xa, rất xa, tôi được đọc bài thơ ấy và đến bây giờ mới có được tâm trạng ấy. Hơn bao giờ hết tôi cảm thấy tha thiết cái hôm nay, rộn rã tiếng cười ấm áp những niềm vui và âm vang tiếng còi tàu rộn rã ngược xuôi, đưa trái tim về với trái tim, đưa sự sống trả về sự sống.
Phân tích một tác phẩm văn học đã gợi cho anh (chị) những cảm nghĩ sâu sắc nhất, trước những vấn đề tu dưỡng và rèn luyện của tuổi trẻ hiện nay
3,489
Đề bài: Phân tích ý nghĩa ẩn dụ của hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca Gợi ý Ngay ở khổ thơ đầu, người đọc đã được bước vào một không gian đậm chất Tây Ban Nha, với tiếng đàn ghi ta, niềm tự hào của Tây Ban Nha với hình ảnh áo choảng đỏ gắt – áo choàng khoác trên mình những võ sĩ đấu bò tót – một biểu tượng của Tây Ban Nha. Hình tượng tiếng đàn được xuất hiện được nhiều lần trong bài thơ: Tiếng đàn bọt nước, tiếng đàn ghi ta nâu, tiếng ghi ta đá xanh. Tiếng ghi ta tròn bọt, nước vỡ tan, tiếng ghi ta ròng ròng, tiếng đàn như cỏ mọc hoang. Tiếng đàn ghi ta ở đây được thể hiện với vô vàn cung bậc khác nhau. Khi là âm thanh vui tươi, khi là âm thanh chia cắt, tan vỡ, khi là âm thanh của cái chết, khi là giai điệu của tình yêu. Phân tích nghĩa ẩn dụ của hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca Tiếng đàn ghi ta là sự hài hoà của rất nhiều trạng thái cảm xúc. Trước hết đó là cảm xúc của Lor – ca. Cuộc đời Lor – ca như tiếng ghi ta, những âm thanh, cung bậc của nó khi réo rắt về niềm yêu đời thiết tha, khi hùng tráng, mạnh mẽ về những ngày tháng chiến đấu sôi nổi, khi trầm lặng, đau buồn về khoảnh khắc phải chia lìa sự sống. Những âm thanh ấy cũng là âm thanh biểu hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của tác giả. Tác giả đã sống cùng với khoảnh khắc cận kề cái chết của Lor – ca, niềm tiếc thương đau đớn, chua xót, sự ngưỡng mộ lôn vinh được đan kết hài hòa vào những cung bậc thanh ầm của tiếng đàn ghi ta. Tiếng ghi ta là ẩn dụ hay nó đúng hơn là bài ca về cuộc đời, số phận và cái chết của Lor – ca. Cuộc đời của con người ấy như liếng đàn ghi ta với thanh âm trong trẻo làm lay động lòng người.
Phân tích nghĩa ẩn dụ của hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca
365
Phân tích nghệ thuật bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn Hướng dẫn Để diễn đạt một nội dung vừa có tính cách thuyết phục, vừa có tính cách phê phán, tác giả đã lập luận rất chặt chẽ như chúng ta đã thấy ở phần kết cấu và bố cục – lời lẽ có tình, có lí, khi thì thiết tha, khi thì đanh thép, chuyển từ đầu đến cuối một cách lôgíc. Để phân rõ lẽ phải – trái, chính – tà, tác giả đi từ xa đến gần, từ vấn đề chung đến vấn đề cụ thể trước mất. Mở đầu, tác giả dẫn chứng trong sử sách đời xưa để nói khả năng của tướng sĩ đời nay, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Tác giả chuyển xuống phân tích nỗi giặc tàn ác như thế nào, nỗi mình thâm giao như thế nào, tiếp đó tác giả vạch ra hai viễn cảnh trái ngược nhau, rồi kết thúc bằng lời kêu gọi đanh thép; hoặc theo ta, hoặc theo giặc, hoặc là bạn, hoặc là thù, hoặc là danh thơm muôn thuở, hoặc là tiếng xấu nghìn thu. Phương pháp tương phản, đi đôi với lối văn biền ngẫu trong bài này thật là “đắc dụng”. Ở đây chẳng những ý từng đoạn đôi nhau, mà ý từng câu đối nhau, từng chữ đối nhau. Chúng ta đọc đến đâu là lẽ phải – trái nổi bật đến đấy; “Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn,, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức. Nghe nhạc Thái thường đãi yến ngụy sứ mà không biết căm…”, Tác giả lại biết phối hợp phương pháp điệp ngữ, điệp ý để làm tăng thêm tính thiết tha, tính bi tráng của câu văn. Để đập vào tư tưởng an hưởng thái bình trong tướng sĩ lúc đó, tác giả viết: hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc… hoặc…”. Tác giả nêu lên hình tượng cựa gà trống bên áo giáp, mẹo cờ bạc bên quân mưu. Sự vật có vẻ hài hước, nhưng ý nghĩa thật nghiêm trang. Bằng phương pháp tương phản kết hợp phương pháp so sánh, tác giả nêu ra hai viễn cảnh: Viễn cảnh u ám Viễn cảnh tươi đẹp Thái ấp của ta: Không Bổng lộc các ngươi: Mãi mãi vững còn + cũng mất bền + đời đời hưởng thụ Gia quyến của ta: Bị tan + Vợ con các ngươi: Yên ấm gối chăn + cũng khốn Bách niên giai lão Xã tắc tổ tông của ta: Bị Mồ mả cha mẹ các ngươi: Muôn đời giày xéo + bị quật lên tế lễ + Thờ cúng quanh năm Để làm tăng thêm tính quan trọng của vấn đề, tác giả nhắc lại ý nghĩa đối với quần chúng nhân dân lúc bấy giờ và sự thanh nghị của người đời sautrong sử sách. Sau đó tác giả đặt một mệnh đề nghi vấn nhưng lại rất khẳng định: Trong cảnh u ám: “Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi phỏng có được không?”. Trong cảnh huy hoàng: “Lúc bấy giờ, dẫu các người không muốn vui chơi phỏng có được không?”. Đây là một đoạn văn hùng biện tài tình, khích lệ cao độ lòng căm thù, chí phấn đấu. Nhà văn Đặng Thai Mai có nhận xét về đoạn văn này: “Văn thể đoạn này, lời lẽ một bài thuyết pháp. Đập từng chữ, dằn từng câu, Hưng Đạo Vương đánh mạnhvào tình cảm tu ố của bộ hạ, để cho họ biết chán, biết ghét, biết khinh bỉ cái đời hưởng thụ và vô ích của bọn tín đồ chủ nghĩa khoái lạc”. Đặc điểm bài văn này còn ở chỗ tác giả biết cấu tạo hình tượng sinh động, sử dụng lời văn thích đáng. Để nêu những hi sinh trong sử sách, tác giả nêu lên những hình tượng “đem mình chết thay”, “chìa lưng chịu giáo”, “nuốt than”, “chặt tay”… Đối với giặc, tác giả dùng những hình tượng “uốn lưỡi cú diều”, “đem thân dè chó”. Chỉ mấy chữ đó cũng nói lên bản chất của giặc là xảo huyệt và hèn hạ. Như vậy lòng căm thù mới đến độ: bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. Hình tượng “bêu đầu”, “làm rữa thịt” nói lên được cái uất hận trào lên của mọi người, của tướng sĩ và của chính bản thân Trần Quốc Tuấn… Những hình tượng “quên ăn”, “vỗ gối”, “ruột đau”, “nước mắt đầm đìa” chứa đựng một nội dung, một tấm lòng; cùng quân thù không đội trời chung. “Xả thịt lột da, uống máu quân thù” tám chữ nhưng chỉ một tấm lòng yêu nước, chí căm thù vào tim gan tướng sĩ, có tác dụng đánh bại tư tưởng an hưởng thái bình trong đầu óc tướng sĩ.
Phân tích nghệ thuật bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn
843
Phân tích nghệ thuật bài Hịch tướng sĩ – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Để diễn đạt một nội dung vừa có tính cách thuyết phục, vừa có tính cách phê phán, tác giả đã lập luận rất chặt chẽ như chúng ta đã thấy ở phần kết cấu và bố cục – lời lẽ có tình, có lí, khi thì thiết tha, khi thì đanh thép, chuyển từ đầu đến cuối một cách lôgíc. Để phân rõ lẽ phải – trái, chính – tà, tác giả đi từ xa đến gần, từ vấn đề chung đến vấn đề cụ thể trước mắt. Mở đầu, tác giả dẫn chứng trong sử sách đời xưa để nói khả năng của tướng sĩ đời nay, trong hoàn cảnh lức bấy giờ. Tác giả chuyển xuống phân tích nỗi giặc tàn ác như thế nào, nỗi mình thâm giao như thế nào, tiếp đó tác giả vạch ra hai viễn cảnh trái ngược nhau, rồi kết thúc bằng lời kêu gọi đanh thép; hoặc theo ta, hoặc theo giặc, hoặc là bạn, hoặc là thù, hoặc là danh thơm muôn thuở, hoặc là tiếng xấu nghìn thu. Phương pháp tương phản, đi đôi với lối văn biền ngẫu trong bài này thật là “đắc dụng”. Ở đây chẳng những ý từng đoạn đối nhau, mà ý từng câu đối nhau, từng chữ đối nhau. Chúng ta đọc đến đâu là lẽ phải – trái nổi bật đến đấy; “Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức. Nghe nhạc Thái thường đãi yến ngụy sứ mà không biết căm…”. Tác giả lại biết phối hợp phương pháp điệp ngữ, điệp ý để làm tăng thêm tính thiết tha, tính bi tráng của câu văn. Để đập vào tư tưởng an hưởng thái bình trong tướng sĩ lúc đó, tác giả viết: hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc… hoặc…”. Tác giả nêu lên hình tượng cựa gà trống bên áo giáp, mẹo cờ bạc bên quân mưu. Sự vật có vẻ hài hước, nhưng ý nghĩa thật nghiêm trang. Bằng phương pháp tương phản kết hợp phương pháp so sánh, tác giả nêu ra hai viễn cảnh: Để làm tăng thêm tính quan trọng của vấn đề, tác giả nhắc lại ý nghĩa đối với quần chúng nhân dân lúc bấy giờ và sự thanh nghị của người đời sau trong sử sách. Sau đó tác giả đặt một mệnh đề nghi vấn nhưng lại rất khẳng định: Trong cảnh u ám: “Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi phỏng có được không Trong cảnh huy hoàng: “Lúc bấy giờ, dẫu các người không muốn vui chơi phỏng có được không’?”. Đây là một đoạn văn hùng biện tài tình, khích lệ cao độ lòng căm thù, chí phấn đấu. Nhà văn Đặng Thai Mai có nhận xét về đoạn văn này: “Văn thể đoạn này, lời lẽ một bài thuyết pháp. Đập từng chữ, dằn từng câu, Hưng Đạo Vương đánh mạnh vào tình cảm tu ố của bộ hạ, để cho họ biết chán, biết ghét, biết khinh bỉ cái đời hưởng thụ và vô ích của bọn tín đồ chủ nghĩa khoái lạc”. Để làm nổi bật các hình tượng, tác giả chú ý sử dụng lời văn. Ngoài cách chọn chữ, chọn lời của tác giả rất thích đáng, để cách sử dụng tiếng đưa đẩy (hư từ) rất tài tình. Chẳng hạn: “…chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các người cũng mất…”. Những từ “chẳng những”, “mờ” được lặp lại nhiều lần, làm tăng vẻ thiết tha, bi tráng, hùng biện của bài văn. Có khi chỉ là một ý (như ở đoạn trên đả phá tư tưởng hưởng lạc…), nhưng tác giả hết sức chú ý diễn xuôi đảo ngược, nói đi nói lại, lời lẽ tình ý thấm từng giọt vào đường gân thớ thịt, vào kẽ tóc chân tơ… Trần Quốc Tuấn đã có một ưu điểm nổi bật: Bộc lộ lòng mình, lòng yêu non sống đất nước thắm thiết của mình, và từ đó lời nói tâm can của ông mới thấm lòng người, lòng tướng sĩ và khích lệ được lòng yêu nước của mọi người, của tướng sĩ. Giá trị thuyết phục của bài hịch chính là ở chỗ đã kết hợp ở mức độ cao hai yếu tố tình cảm và lí tính.
Phân tích nghệ thuật bài Hịch tướng sĩ – Đề và văn mẫu 8
773
Đề bài: Phân tích nghệ thuật của cách xưng hô Mình – Ta trong Việt Bắc Bài làm Ở bài thơ Việt Bắc, viết về một sự kiện mang tầm lịch sử nhưng Tố Hữu đã lựa chọn cách mở đầu bằng một cuộc đối đáp mang âm hưởng dân ca và cách xưng hô ta – mình ngọt ngào đằm thắm. Điều đặc biệt là cách tác giả sử dụng cặp từ ta – mình trong bài thơ không chỉ một lần mà nó trở thành một điệp khúc trở đi trở lại, luyến láy hết sức tài hoa. Đoạn đầu bài thơ là lời của người ở lại với người ra đi, thể hiện tình cảm của người dân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến trong buổi chia tay: Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn Chữ mình ở đây chỉ người ra đi, còn chữ ta để nói tới người ở lại. Tình cảm nhớ thương dồn nén sâu nặng trong chữ mình. Mỗi câu lục trong đoạn thơ chữ mình lặp lại hai lần cùng với nhiều thanh bằng làm nhịp thơ như trùng xuống, khắc khoải, da diết. Người ở lại đặt những câu hỏi tu từ vừa như nhắc nhở người ra đi hãy nhớ về Việt Bắc, vừa thể hiện tình cảm sâu sắc, mặn nồng. Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Bốn chữ nhớ trong 4 dòng thơ nhắc nhớ về 15 năm kháng chiến và khung cảnh Việt Bắc. Cặp từ xưng hô mình – ta đầy tình tứ như xoắn quyện lấy nhau, vì là lời của người ở lại nên nhắc tới mình thì nhiều, nhắc tới ta thì ít. Chữ ta chỉ được nhắc đến một lần như một sự khiêm tốn để cho những kỉ niệm ùa về trong giây phút chia tay. Trong ca dao Việt Nam, cặp từ xưng hô mình –ta cũng khá quen thuộc, là cách xưng hô của những đôi lứa yêu nhau. Nhắc đến cặp từ này, người ta thường nhắc đến nỗi nhớ, đến sự gắn bó thủy chung: Nước non một gánh chung tình Nhớ ai ai có nhớ mình chăng ai? Một đàn cò trắng bay quanh Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta Mình nhớ ta như cà nhớ muối Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng Mình về, mình nhớ ta chăng? Bao giờ cho hương bén hoa Cho đào bén túi, cho ta bén mình Thuyền không, đậu bến Giang Đình Ta không, ta quyết lấy mình làm đôi Trăm năm ước bạn chung tình Trên trời dưới đất, có mình có ta Những câu thơ lục bát của Tố Hữu vận dụng nhuần nhuyễn cách nói của ca dao, dân ca. Cũng có thể nói đó là một lối tập ca dao mà đọc lên âm điệu thật tha thiết, ngọt ngào. Chất giọng Huế, chất giọng trữ tình thương mến ấy có lẽ chỉ tìm thấy ở tác giả Việt Bắc. Đoạn thơ thứ hai của bài là lời đáp lại của người ra đi tạo nên sự cân xứng cho kết cấu đối đáp dân ca. Người ở lại nhớ nhung bao nhiêu thì người ra đi bâng khuâng, bồn chồn, lưu luyến bấy nhiêu: Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cần tay nhau biết nói gì hôm nay Chữ ta, chữ mình không xuất hiện nhưng thực ra đã hóa thân vào tiếng ai tha thiết bên cồn, vào hình ảnh áo chàm giản dị mà đầy nghĩa tình cách mạng. Có cả mình, cả ta ở cái cầm tay như một nốt lặng của tình cảm trong buổi phân ly. Ở đây, chỉ có thứ ngôn ngữ không lời của ánh mắt mới đủ sức chứa đựng nỗi niềm của người đi, kẻ ở. Sang đến đoạn ba và đoạn bốn cặp từ mình – ta được tác giả sử dụng hết sức tài hoa, luyến láy tạo nhạc tính cho đoạn thơ. Ở đoạn ba, cặp từ mình đi, mình về lặp đi lặp lại 6 lần trong 6 câu lục của đoạn thơ. Mình ở đây vẫn chỉ người ra đi.Và dù là mình đi hay mình về cũng chỉ chung một hành động. Đi là chia tay chiến khu, về là về miền xuôi thủ đô. Nét đặc sắc trong sự lặp lại của cụm từ này là không hề tạo ra sự nhàm chán cho người đọc bởi tiết tấu biến hóa: mình đi – mình về – mình về -mình đi: Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng nhật, thưở còn Việt Minh Và mỗi lần như vậy câu nào cũng gắn với từ nhớ. Người ở nhắc lại những kỉ niệm trong buổi đầu kháng chiến đầy khó khăn gian khổ mà sâu nặng ân tình. Tố Hữu cũng sử dụng triệt để thủ pháp đối trong những câu bát của đoạn thơ này tạo nhịp thơ vừa cân xứng hài hòa, vừa dễ đi vào lòng người. Kết thúc đoạn thơ là ba chữ mình trong một câu thơ độc đáo: Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa? Chữ mình ở đây vừa để chỉ người ra đi, vừa để nói tới người ở lại trong một sự hòa quyện khăng khít tuy hai mà một. Chữ nhớ trở thành một chiếc cầu nối giữa hai chữ mình càng làm tăng thêm sự da diết nhớ nhung trong tình cảm của người dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến. Ta đã gặp ở đâu đó trong ca dao những cuộc chia tay và biết bao nỗi nhớ của người đi, người về như vậy: Chàng về khuyên bạn nhất tâm Trăm năm chớ có ôm cần thuyền ai Chàng về giẫm cội cho bền Gió rung mặc gió, em không quên chàng Tình cảm thủy chung son sắt của đôi lứa yêu nhau từ câu ca dao có bao đời nay đã đi vào những vần thơ cách mạng của Tố Hữu sao mà tự nhiên và ngọt ngào đến vậy. Ta có cảm tưởng lời của người ở lại cứ ngân nga dài mãi như sợi dây vô hình vấn vít lấy người ra đi: trong lòng ta, giờ chỉ có mình, sao nỡ ra đi?… Không lặp lại cách nói ở đoạn ba, đến đoạn bốn cặp từ mình – ta đắp đổi cho nhau một cách linh hoạt ta với mình, mình với ta tạo thành 2 vế cân xứng: Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu Mình với ta như một đôi không thể tách rời, để rồi hòa lại làm một Mình đi, mình lại nhớ mình. Đó chính là câu trả lời cho câu hỏi Mình đi, mình có nhớ mình ở đoạn thơ trước. Có thể nói sự nhắc lại này tô đậm hơn nữa sự gắn bó không thể tách rời giữa ta và mình, giữa cán bộ kháng chiến và đồng bào Việt Bắc. Cuộc chia tay trở thành khúc hát đối đáp để bày tỏ tình cảm nhớ nhung, lưu luyến. Tình cảm ấy sẽ ở lại trong tim người dân Việt Bắc, và sẽ theo người cán bộ về xuôi. Nhưng dù đi đâu về đâu, tình cảm ấy không bao giờ vơi cạn. Bàn sâu hơn về chữ mình, ta cũng gặp khá nhiều trong ca dao: Bây giờ hỏi thiệt anh Ba Còn thương như cũ hay là hết thương? Ban ngày dãi nắng tối lại dầm sương Thân em lao khổ, mình có nhớ thương hỡi mình? Trầu không vôi ắt trầu lạt Cau không hạt ắt là cau già Mình không lấy ta ắt là mình thiệt Ta không lấy mình ta biết lấy ai? Cách sử dụng từ mình của Tố Hữu vừa học tập ca dao, vừa có sự sáng tạo mới mẻ. Ca dao cũng nhắc nhiều tới từ mình trong một câu, nhưng thường hàm ý chỉ một người. Còn với Việt Bắc, chỉ chữ mình thôi có cả ta và mình trong sự thống nhất. Qua bốn đoạn thơ đầu của bài thơ Việt Bắc, ta thấy cặp đại từ xưng hô ta –mình được tác giả sử dụng khá nhuần nhuyễn, thành thục, tài hoa, lặp lại nhưng không vô vị, luyến láy mà không nhàm chán, thống nhất mà rất linh hoạt. Thể thơ lục bát, phép điệp, phép đối hài hòa…Tất cả tạo nên một cuộc đối đáp đầy tâm trạng giữa người ở lại và người ra đi. Có thể nói đây là một minh chứng rõ nét cho chất trữ tình chính trị, chất dân tộc đậm đà của ngòi bút Tố Hữu. Trong những đoạn khác của bài Việt Bắc, cặp từ ta – mình vẫn được tác giả sử dụng một cách tài tình và khéo léo, tô đậm nghĩa tình của người dân Việt Bắc với cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ, khắc sâu nỗi nhớ của người cán bộ khi phải chia tay chiến khu, đồng thời dựng lại một thời kì kháng chiến gian khổ mà hào hùng ở chiến khu Việt Bắc: Ta đi, ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi… Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng… Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người… Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào… Mình về với Bác miền xuôi Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ người Nhớ ông cụ mắt sáng ngời Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường… Ta – mình là điệp khúc hay nhất, trữ tình nhất trong Việt Bắc – một khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến một thời.
Phân tích nghệ thuật của cách xưng hô Mình – Ta trong Việt Bắc
1,690
Phân tích nghệ thuật Hội thoại và đối thoại trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật Hội thoại và đối thoại trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Truyện Kiều được viết bằng thể thơ lục bát của Nguyễn Du đã từ lâu viết nên một câu chuyện vô cùng ý nghĩa. Những câu thơ trong Truyện Kiều đã mang tới cho độc giả những ý nghĩa và triết lí nhân văn sâu sắc. Truyện Kiều mang những nét sáng tạo và nghệ thuật độc đáo. Đó là sự kết hợp độc dáo của nghệ thuật dân gian cũng như nghệ thuật đối thoại và hội thoại đặc sắc khiến cho các nhân vật trong truyện kiều có cơ hội bộc lộ tính cách và bản chất một cách sắc nét. Truyện Kiều tập trung miêu tả và kể lại số phận của nàng Kiều. Nhưng bên cạnh những nhân vật hiền lành tốt bụng có chí khí thì cũng có những nhân vật đã đưa đẩy số phận của Kiều tới chỗ bi đát hơn. Bằng nghệ thuật xây dựng lên những cuộc hội thoại và đối thoại giữa các nhân vật với Kiều Nguyễn Du góp phần bộc lộ nét tính cách điển hình của từng nhân vật. Các cuộc hội thoại xuất hiện trong Truyện Kiều bao gồm đối thoại và độc thoại nội tâm của nhân vật Thúy Kiều. Và độc thoại nội tâm của Kiều khi quyết định bán mình chuộc cha đã được Nguyễn Du dành hai mươi câu thơ cho Kiều độc thoại. Qua đó chúng ta có thể thấy nàng Kiều đã phải chịu những khổ ải như thế nòa và tác giả cho người đọc thấy được những nỗi khổ của bản thân mình. Truyện Kiều có 73 cuộc thoại và 33 lần độc thoại nội tâm,Thúy Kiều có tới 76 lượt lời trong 45 cuộc thoại với 512 câu thơ và bên cạnh đó thì độc thoại nội tâm có tới 18 lần với 130 câu thơ. Trong đó có những lần đối thoại được thể hiện rõ nét như là cuộc đối thoại giữa nàng và Từ Hải khi Từ Hải quyết chí đi tìm nghĩa lớn của mình Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi Từ rằng: Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường. Làm cho rõ mặt phi tường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia. Hoặc cũng có thể là đoạn đối thoại giữa hai chị em Thúy Vân và Thúy Kiều khi Thúy Kiều nhờ em gái mình trả nghĩa cho Kim Trọng Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa Giữa đường đứt cánh tương tư Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em Trong tác phẩm TRuyện Kiều thì độc thoại nội tâm thể hiện rất rõ những nỗi buồn nỗi suy tư đau khổ của người con gái hồng nhan bạc mệnh ấy. Những lời mà nàng giấu trong đáy lòng mình tự suy nghĩ rồi nghiền ngẫm mà không muốn nói với bất cứ một ai Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu Buồn trông nội cỏ dầu dầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Lời nhân vật trong Truyện Kiều chiếm tới 1. 212 dòng thơ đối thoại và cả 211 dòng độc thoại nội tâm thì có tới 1. 423 dòng thơ trên 3. 254. Và khi nói đến hội thoại trong truyện Kiều thì ta không thể nào không nhắc đến đơn thoại như: Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha! Hoặc là trong đoạn: Hổ sinh ra phận thơ đào, Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong!” Trong TRuyện Kiều những câu chuyện và cách khai thác của Nguyễn Du về các nhân vật đặc Biêt là nhân vật trung tâm Thúy Kiều một cách sinh động. Lối thơ lục bát gắn liền với ngôn ngữ và nghệ thuật hội thoại cũng như đối thoại góp phần tạo dựng nên sự đa dạng và sâu sắc trong lòng độc giả. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích nghệ thuật Hội thoại và đối thoại trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
692
Phân tích nghệ thuật lập luận trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh. Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật lập luận trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh. Trong những trang sử thi hào hùng của dân tộc ta có những mốc son chói lọi được đánh dấu bằng những bản tuyên ngôn lịch sử. Thời nhà Trần với “Nam Quốc Sơn Hà” của Lí Thường Kiệt, nhà Lê với “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi và một lần nữa, lịch sử được gọi tên trong “Tuyên Ngôn Độc Lập” của Hồ Chí Minh. Ba bản tuyên ngôn này được coi là những áng thiên cổ hùng văn của dân tộc. Và vượt lên trên điều đó, chúng ta thấy được sức mạnh và tính thuyết phục mãnh liệt hơn cả của nghệ thuật lập luận làm cho Tuyên ngôn độc lập trở thành một bài văn chính luận mẫu mực. Nói đến văn chính luận là chúng ta nói đến một thể cổ văn thường được sử dụng trong những hoàn cảnh lịch sử trang trọng như ở bài chiếu, biểu, hịch, cáo, tuyên ngôn. Đây là thể văn có tổ chức chặt chẽ, kết cấu khúc triết và giá trị cơ bản của nó là tính thuyết phục. Tất cả những điều đó thể hiện ở cách lập luận rõ ràng, chặt chẽ, ở các lí lẽ sắc bén và những bằng chứng xác thực không thể chối cãi. Tất cả những phẩm chất này được thể hiện trọn vẹn trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh. Không chỉ là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử lớn lao, Tuyên ngôn độc lập còn đạt đến tính mẫu mực của văn bản chính luận bởi những quan điểm mà Người đưa ra có sức thuyết phục rất mạnh mẽ, thậm chí còn buộc người đọc, người nghe phải chấp nhận mà không thể chối cãi được. Ở văn bản này, Bác đã sử dụng ba luận điểm chính: Cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn, cơ sở thực tiễn với bản chất phi nghĩa của thực dân Pháp và sự trưởng thành của cách mạng Việt Nam và phần tuyên ngôn: chủ quyền tất yếu của dân tộc Việt Nam. Ở mỗi luận điểm, Người lại sử dụng những lí lẽ rất sắc bén, đanh thép, những dẫn chứng cụ thể, cho nên những quan điểm của Người dễ được chấp nhận. Chúng ta xét văn bản này cả trên kết cấu của một bài văn chính luận và kết cấu của một văn bản văn học thì Tuyên ngôn độc lập đều đạt đến sự hoàn chỉnh và mẫu mực. Xét trong một bài văn chính luận, cơ sở thực tiễn là luận điểm quan trọng nhất, đưa ra nguyên tắc, nguyên lí chung buộc người đọc, người nghe thừa nhận hoặc làm theo luận điểm mà người viết muốn nói ra. Nó cũng là tiền đề để tạo nên tính thuyết phục của một bài văn chính luận. Khi viết văn bản này, Bác hướng tới dân tộc, con người Việt Nam và nhân dân thế giới. Nhưng thế giới ở đây không phải là một khái niệm chung chung, trừu tượng mà chính là người Pháp và người Mĩ, vì các thế lực này đang có mưu đồ trở lại xâm lược Việt Nam. Đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai, chiến trường Đông Dương thuộc quyền giải giáp vũ khí của cả Anh, Pháp, Mĩ. Tuy nhiên, lúc này mâu thuẫn giữa Anh, Pháp, Mĩ với Liên Xô chắc chắn sẽ đi đến sự thỏa hiệp để thực dân Pháp có điều kiện thuận lợi nhất vào Đông Dương. Đồng thời Pháp lại tuyên bố với thế giới rằng chúng có công khai hóa Đông Dương nên việc trở lại Đông Dương là tất yếu lịch sử. Trước hoàn cảnh khó khăn này đã đặt ra thử thách cho Hồ Chí Minh khi viết Tuyên ngôn độc lập. Bản tuyên ngôn không những phải tuyên bố được độc lập cho dân tộc mà còn phải bác bỏ được luận điệu sai trái của Pháp, tranh thủ sự đồng tình của nhân loại tiến bộ. Tất cả các yêu cầu trên đều được giải quyết trong phần cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn. Việc sử dụng tuyên ngôn của Pháp, Mĩ để tuyên bố cho nền độc lập của nước ta, Bác đã tranh thủ sự ủng hộ của thế giới đối với các cường quốc lớn, đồng thời cũng kín đáo thể hiện sự ngang hàng của nền độc lập các nước, sánh ngang với Cách mạng tháng Tám của chúng ta với Cách mạng Dân chủ Tư sản của Pháp (1789) và cuộc giải phóng thuộc địa của Mĩ (1776). Nó gợi chúng ta nhớ lại niềm tự hào mà Nguyễn Trãi nói trong Bình Ngô Đại Cáo khi so sánh sự ngang hàng của Đại Việt với phong kiến phương Bắc: Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương” Đó là sự thật lịch sử bởi vì Cách mạng tháng Tám của chúng ta đã đồng thời giải quyết những nhiệm vụ mà cách mạng của Pháp và Mĩ từng làm được. Cùng một lúc, chúng ta đánh đổ cả ba thế lực: thực dân, phát xít và phong kiến, cho nên bản tuyên ngôn của chúng ta vừa là bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền. Không những thế, bản tuyên ngôn còn thể hiện sự cương quyết của Hồ Chí Minh. Đối với Pháp, Mĩ chúng đang có dã tâm trở lại xâm lược nước ta, Người đã rất cương quyết khi nhắc nhở chúng khi Người mượn bản tuyên ngôn của cha ông người Pháp, Mĩ. Đó là nghệ thuật quân sự “gậy ông đập lưng ông”. Vì cha ông người Pháp, Mĩ đã từng tuyên bố về nhân quyền và dân quyền trong bản tuyên ngôn của họ, nếu như chúng có ý định trở lại xâm lược Việt Nam tức là chúng đã làm vấy bẩn lên tinh hoa mà cha ông để lại trong lịch sử. Ở luận điểm một, Người đưa ra những tiền đề pháp lý của bản tuyên ngôn thì đến luận điểm thứ hai, Bác đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể, xác thực. Khác với phần cơ sở pháp lý đưa ra những tiền đề lí luận thì cơ sở thực tiễn lại sử dụng những dẫn chứng, luận điểm, luận cứ để chứng minh cho giá trị thuyết phục của lập luận đã được đưa ra ở phần cơ sở pháp lý. Xét theo yêu cầu của hoàn cảnh lịch sử, lúc này Pháp là kẻ thù số một và nguy hiểm nhất cho nên, trong phần cơ sở thực tế, chủ yếu Bác đối thoại với người Pháp, vạch trần bản chất xâm lược và luận điểm xảo trá của chúng. Người khẳng định Pháp không những không có công khai hóa mà chúng còn mang bản chất của kẻ xâm lược, phi nghĩa, tàn bạo khi ở Đông Dương. Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp nước ta. Chúng thống trị, xâm lược một cách toàn diện đất nước ta ở cả ba phương diện: chính trị, kinh tế và văn hóa. Từ những dẫn chứng cụ thể mà Bác đưa ra, ta đã thấy thực dân Pháp đã bộc lộ bản chất giả dối, mị dân của mình. Khai hóa chẳng qua chỉ là chiêu bài để chúng dễ bề xâm lược nước ta. Luận điểm thứ ba là phần có ý nghĩa, giá trị lớn lao hơn hết, là phần tuyên ngôn của bản tuyên ngôn, là kết quả tất yếu của cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn mà Hồ Chí Minh đưa ra. Bác đã rất cẩn trọng, khôn khéo và cương quyết để đi đến khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh tuyên bố thoát ly quan hệ với nước Pháp, xóa bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi của Pháp trên đất Đông Dương, đồng thời mở ra một con đường mới cho dân tộc ta. Bác cũng tuyên bố với người Pháp dân tộc ta kiên quyết chống lại mọi âm mưu xâm lược của chúng. Bác rất khéo léo khi tin tưởng và đòi hỏi thế giới phải công nhận quyền tự do, độc lập của đất nước ta. Người tuyên bố và khẳng định quyết tâm, ý chí của cả dân tộc Việt Nam. Từ những giá trị trên, chúng ta nhận thức sâu sắc ý nghĩa lớn lao của bản Tuyên ngôn độc lập trên phương diện lịch sử, văn hóa cũng như chính trị và hơn hết là sự khẳng định chủ quyền dân tộc. Từ cách lập luận vô cùng sắc sảo, thuyết phục, rõ ràng của Người, Tuyên ngôn độc lập xứng đáng là một áng văn chính luận mẫu mực, vô tiền khoáng hậu.
Phân tích nghệ thuật lập luận trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.
1,510
Đề bài: Phân tích nghệ thuật miêu tả nhân vật Mã Giám Sinh qua đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều Bài làm Người ta đã nói nhiều về tài miêu tả nhân vật của Nguyễn Du. Trong Truyện Kiều, dù là nhân vật chính diện hay phản diện đều rất sinh động. Chỉ bằng một vài nét chấm phá nhân vật của ông hiện ra trước mắt người đọc một cách cụ thể cả ngoại hình lẫn nội tâm. Đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều đã phần nào chứng minh tài năng miêu tả nhân vật của Nguyễn Du. Chân tướng tên buôn thịt bán người cứ lộ dần qua màn kịch ngắn này. Mã Giám Sinh xuất hiện với tư cách là một “ viễn khách". “ Viễn khách" là người khách từ phương xa đến. Ngay từ đầu người khách từ phương xa đến này đã có một chút đáng ngờ: Hỏi tên rằng: “ Mã Giám Sinh’’ Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần. Cách trả lời nhát gừng, cộc lốc ấy đã hé cho ta thấy người “viễn khách" này chẳng mấy lịch sự. Cách trả lời ấy hoàn toàn xa lạ với một người có học như y tự xưng: sinh viên trường Quốc Tử Giám. Ngay việc y chỉ nói họ mà không nói tên đã chứng tỏ y muốn che giấu tung tích của mình. Hỏi quê quán y cũng trả lời qua quýt cho xong chuyện. Chân tướng Mã Giám Sinh bộc lộ dần qua cách Nguyễn Du miêu tả ngoại hình của y: Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. “ Trạc ngoại tứ tuần” là đã ngoài bốn mươi tuổi. Thời bấy giờ là ở vào tuổi không còn trẻ nữa, thế mà y vẫn “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao". Tác giả cố ý làm nổi bật mâu thuẫn giữa tuổi tác và cách tỉa tót, chải chuốt, cách ăn diện quá mức của y. Những từ “nhẵn nhụi', “bảnh bao” không chỉ thể hiện được vẻ kệch cỡm của Mã Giám Sinh mà còn kín đáo bộc lộ thái độ châm biếm của Nguyễn Du. Cách ăn mặc “bảnh bao" của y càng chứng tỏ y chẳng phải là một sinh viên trường Quốc Tử Giám hào hoa phong nhã. Hình như y đang cố che đậy một điều gì, qua cách tỉa tót, chải chuốt và ăn diện quá mức ấy. Nhưng dù cố che đậy, bản chất vỏ bọc của y vẫn cứ lòi ra: Trước thầy sau tớ lao xao Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang. Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, “Trước thầy sau tớ” có vẻ rất đàng hoàng, trịnh trọng, nhưng sao lại “lao xao"? "Lao xao'' là ồn ào, lộn xộn mất trật tự. Cả tớ lẫn thầy đều chẳng giữ ý tứ khi vào nhà Vương ông. Vừa vào đến nơi Mã Giám Sinh đã “ngồi tót' ở “ghế trên" mội cách "sỗ sàng”. Động tác ngồi của y càng chứng tỏ y là kẻ vô học trịch thượng hợm hĩnh. Một người thực sự là sinh viên trường Quốc Tử Giám ít nhất phải thanh nhã như Kim Trọng, đi đứng, ăn nói từ tốn, lịch sự như Kim Trọng: Nẻo xa mới tỏ mặt người Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình. Mã Giám Sinh hoàn toàn ngược lại: y nói năng cộc lốc, ăn mặc kệch cỡm, đi đứng láo nháo, hợm hĩnh,… Tất cả đã cho ta hiểu con người của y. Nguyễn Du không dừng lại ở đó, ông còn tiếp tục lột trần chân tướng Mã Giám Sinh. Trước "nét buồn như cúc, điệu gầy như mai”của Kiều, y chẳng một chút động lòng trắc ẩn. Ngược lại y còn bắt Kiều làm thơ, gảy đàn để y “đắn đo cân sắc cân tài'. Sau đó y mặc cả. Y xem Kiều chi là món hàng không hơn không kém. Đầu tiên y còn làm bộ là người có chữ: Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều, Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường? Sau đó y lộ nguyên hình là một tên "buôn thịt bán người” sành sỏi: Cò kè bớt một thêm hai, Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm. Từ “đáng giá nghìn vàng” y “cò kè" thêm, bớt chỉ còn “bốn trăm". Nghĩa là chưa được một nửa… Điều đó chứng tỏ y rất thủ đoạn trong việc mua bán. Mã Giám Sinh đã nắm được tình thế của gia đình Vương ông, y đã tìm cách hạ giá hàng đến mức thấp nhất. Khi màn kịch khép lại cũng là lúc chiếc mặt nạ bị lột trần. Mã Giám Sinh chẳng cần trá hình là một sinh viên trường Quốc Tử Giám nữa. Y đã hoàn thành vai diễn cùa mình: Định ngày nạp thái vu quy, Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong! Tính cách con buôn lừa đảo, giả dối, xảo trá, kệch cỡm của Mã Giám Sinh được Nguyễn Du khắc họa khá cụ thể và sinh động. Tính cách đó được thể hiện chủ yếu qua việc miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ và hành động nhân vật. Bằng những từ ngữ chọn lọc có sức gợi, sức biểu cảm cao, Nguyễn Du vừa lột trần được bản chất xấu xa của tên buôn thịt bán người họ Mã vừa bộc lộ thái độ châm biếm khinh ghét của mình đối với hạng người bịp bợm, hợm hĩnh, thô lỗ ấy. Chỉ qua màn kịch ngắn này, chúng ta cũng hiểu phần nào tài năng miêu tả nhân vật của đại thi hào Nguyễn Du.
Phân tích nghệ thuật miêu tả nhân vật Mã Giám Sinh qua đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều
932
Đề bài: Phân tích nghệ thuật miêu tả tương phản trong Hai đứa trẻ Bài làm Là một thành viên trụ cột trong bút nhóm tự lực văn đoàn, Thạch Lam đã tự khẳng định mình bằng một hướng đi riêng, đặc biệt là những tác phẩm viết về nông thôn, những người dan nghèo nơi phố huyện. Hai đứa trẻ rút trong tập nắng trong vườn là một truyện ngắn hay, thắm đẫm tinh thần nhân văn nhân đạo, tiêu biểu cho bút pháp nghẹ thuật miêu tả tương phản của ông. Giống như hầu hết các truỵên ngắn khác của Thạch Lam, Hai đứ trẻ là truyện không có chuyện. Câu chuyện như một bài thơ, cốt chuyện tình tiết, tâm trạng, biến cố đều nhẹ nhàng, dịu êm… Truyện là tâm trạng thao thức đợi tàu, là những cảm xú, những mảnh ghép cuộc sống, là cảnh vật xung quanh của hai đứa trẻ Liên và An. Truyện chỉ có vậy nhưng qua ngòi bút của Thạch Lam, những điều ấy trở nên sống động, làm cảm dộng lòng người. Thủ pháp nghệ thuật tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, giữa bầu trời và mặt đât, giữa quá khứ và hiện tại….. đã gọi nên nhiều suy nghĩ thấm thía, sâu xa về nhữung cảnh đời, những kiếp người nhỏ bé, sống vô danh vô nghĩa và héo mòn cùng những hi vọng mỏng manh và mơ hồ trong xã hội cũ. Con người luôn khao khát và luôn cần ánh sáng, thế nhưng với chuyển động của thời gian, chuyển động của trái đất quay quanh trục của nó, mặt trời chỉ có thể chiếu sáng cho chúng ta một nữa thời gian trong ngày. Bởi vậy, cái khoảnh khắc thao thức, cái sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối cùng xuất hiện, thời khắc chiều tà và đêm khuya bên cạnh nhau, tương phản nhau, cùng soi tỏ cho nhau. Ánh sáng và bóng tối đã xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện, ánh sáng yếu ớt của mặt trời “ như hòn than sắp tàn” và xen vào đó là những hình ảnh đầu tiên của bóng tối “ dãy tre làng trước mặt đen lại”. Nhưng ám ảnh và có sưa khơi gợi nhiều hơn cả là một không gian tối- sáng lúc phố huyện vào đêm: “ Liên ngồi lặng im bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dàn và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tam hồn ngây thơ của chị”. Trong sự đối lặp sáng- tối đó, bóng tối là gam màu chủ yếu. Bóng tối dày đăvj, mênh mang, bao bpcj khắp một vùng còn ánh sáng thì mờ nhạt, nhỏ nhoi, leo lét không đủ để xua đi bóng tối. Thạch Lam thường miêu tả bóng tối nhưng chỉ trong hai đứa trẻ, bóng tối mới đủ hình hài, cung bậc: “ đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối”, bóng người làm cong lung lay nóng dài, bóng bác phổ Siêu mênh mang ngã xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ”. Phố xá thì tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vài làng lại càng sậm đen ơn nữa. Đêm ở phố huyện tĩnh mịch và đầy bóng tối”. Trong cái thế giới ngập tràn bóng đêm, dưới một bầu trời thăm thẳm bao la đầy bí mật của phố huyện, ánh sáng lại quá yếu ớt, mà nhạt, nhỏ bé, leo lét. Ánh sáng của các cửa hiệu chỉ là những khe sáng, lọt ra ngoài, hắt xuống mặt đường gồ ghề khiến mặt đất dường như nhấp nhô hơn vì những hòn đá nhỏ vẫn còn một bên sáng một bên tối. Ánh đèn của bác phở Siêu chỉ là những chấm nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối. Ánh sáng ngọn đèn của chị em Liên thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa….. Có lẽ trong văn học xưa nay, ánh sáng cũng đã từng xuất hiện nhiều nhưng không mấy ai miêu tả ánh sáng là khe, là vệt, là chấm, là hột, là quầng…. Một cách riết róng như Thạch Lam. Đặc biệt là hình ảnh ngọn đèn chị Tí, một quầng sáng nhỏ nhoi, chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ, xuất hiện ảy lần trong tác phẩm, tạo nên sức ám ảnh và khơi gợi về cảnh đời, những kiếp sống nhỏ bé, lay lắt trong đêm đen, trong bóng tối cuộc đời. Điều Liên, An và những người dân nơi phố huyện mong chờ là thứ ánh sáng nơi bàn tay con người từ chuyến tàu cuối cùng của đêm “ các toa đèn sáng trưng, đồng và kền lấp lánh”…. Giữa đêm, thời điểm tưởng như bóng tối nặng nề, đông đặc nhất lại chính là thời điểm ánh sáng bừng lên rực rỡ, sáng loá cả không gian và tâm hồn con người. Bầu trời bao la và mặt đât cũng có sự đối lập. Mặt đất sau buổi chợ tàn chỉ còn lại rác rưởi, bụi bẩn và mùi của đât, là mặt đất bụi bặm, khổ đau, chứa đầy bóng tối. Còn bầu trời thì khắc, nó đỏ rực lúc chiều tà, là hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, là sự kì diệu, thuộc về ước mơ, khao khát, là những kỉ niệm của một thời nay chỉ còn là vang bóng. Ánh sáng và bầu trời thuộc về ước mơ, là để thắp lên, đợi chờ, khát khao. Bóng tối và mặt đất là cai thực tại, là cái hằng chiều, là bóng đêm con người phải sống, phải đối mặt. Với việc sử dụng nghệ thuật đối lập tương phản trong thiên truyện. Thạch Lam đã làm nổi bật lên cuộc sống buồn bã, tẻ nhạt, tối tăm của những con người nơi phố huyện đang héo mòn vì bóng tối. Qua đó Thạch lam đã bộc lộ rõ được tinh thần nhân đạo, trong niềm day dứt, dằn vặt, thể hiện cái tài và cái tâm của tác giả, tạo nên cả đẹp lãng nạn, nhẹ nhàng đầy thi vị cho tác phẩm.
Phân tích nghệ thuật miêu tả tương phản trong Hai đứa trẻ
1,051
Đề bài: Phân Tích Nghệ Thuật Trào Phúng Trong Bài Thuế Máu (Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp) Bài làm Những năm hai mươi của thế kỉ XX là thời kì các nước đế quốc thi nhau bành trướng, xâm lược, vơ vét của cải tài nguyên nhân lực của các thuộc địa. Cuộc sống của nhân dân nô lệ ở những nơi này vô cùng tủi nhục và cực khổ. Trong tình hình đó, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) đã nổ ra. Đó chính là cuộc xâu xé giữa các nước đế quốc đang giành giật ảnh hưởng quyền lợi. Cuộc xung đột ác liệt đó đẩy nhân dân lao động ở nhiều nước tư bản, người dân lao động nghèo khổ ở các xứ thuộc địa vào lò lửa chiến tranh thảm khốc. Đây chính là thời kì hoạt động sôi nổi của người thanh niên yêu nước, người chiến sĩ cộng sản kiên cường Nguyễn Ái Quốc. Trong thời kì này, Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm chính luận được Người viết bằng tiếng Pháp. Để hoàn thành tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc đã đọc rất nhiều tài liệu, tiếp xúc trao đổi với rất nhiều nhân chứng thể hiện qua tác phẩm rất nhiều con số cụ thể. Bản án chế độ thực dân Pháp có nội dung phong phú gồm 12 chương và phần phụ lục. Mười hai chương vừa nói, nửa chương viết về một chủ đề. Cả tác phẩm là một bản cáo trạng phong phú, đanh thép về các tội ác tày trời của thực dân về cuộc sống khốn cùng của người dân các xứ thuộc địa. Qua tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện lòng căm thù sâu sắc, mãnh liệt đối với những thế lực thống trị tàn bạo, tình yêu thương sâu xa, thắm thiết đốì với những kiếp người nô lệ bần khổ. Bản án chế độ thực dân Pháp còn chứng tỏ ý chí chiến đấu giành độc lập tự do cho các dân tộc thuộc địa của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tác phẩm này cũng thể hiện một nghệ thuật trào phúng đả kích sắc sảo đa dạng của Người. Thuế máu là chương mở đầu. Qua đây, tác giả đã vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa, các thủ đoạn tàn bạo của thực dân Pháp trong việc sử dụng người thuộc địa làm vật hi sinh cho quyền lợi của mình trong các cuộc chiến tranh thảm khóc đã nói. Thuế máu lên án một trong những tội ác ghê tởm nhất của thực dân đế quốc là lợi dụng xương máu của những con người nô lệ, bần khổ. Thuế máu là cách gọi của Nguyễn Ái Quốc. Tên chương vừa gợi lên số phận thảm thương của người dân thuộc địa, vừa bao hàm được lòng căm phẫn và thái độ mỉa mai đối với những tội ác ghê tởm của bọn thực dân. Trong thực tế không có thuế nào gọi là “thuế máu”. Thuế máu là cách đặt tên của tác giả nhằm phản ánh một thủ đoạn bóc lột tàn nhẫn của chế độ thực dân, ở các nước thuộc địa: biến người dân nơi đây thành vật hi sinh trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa. Các phần trong chương được bố cục theo một trình tự thời gian: Trước, trong và sau khi xảy ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Với cách bố cục này, bộ mặt giả nhân giả nghĩa trơ trẽn, bản chất tàn bạo của chính quyền thực dân Pháp xung quanh việc bóc lột thuế máu được phơi bày toàn diện, triệt để. Mặt khác, thân phận thảm thương của người dân ở các xứ thuộc địa cũng được miêu tả một cách cụ thể, sinh động. Đi sâu vào nội dung của từng phần, ngòi bút châm biếm đả kích của Nguyễn Ái Quốc càng sắc sảo, tài tình. Điều đó được thể hiện qua các phương diện: Hình ảnh sinh động, giàu sức biểu đạt vừa xác thực, vừa có tính châm biếm, mỉa mai; hệ thống từ ngữ mỉa mai, giễu cợt, châm biếm được sử dụng với mật độ dày đặc; giọng điệu trào phúng đặc sắc. Đầu tiên, về mặt hình ảnh. Các hình ảnh Nguyễn Ái Quốc đưa ra đều hết sức chân thực. Từ hình ảnh những người da đen bẩn thỉu, những người An-nam-mít bẩn thỉu chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn cửa những quan cai trị, đến những hình ảnh về cái chết thảm thương của những người lính thuộc địa trên các bãi chiến trường châu Âu xa xôi. Từ hình ảnh những người bị bắt lính, bị trói, bị xích, bị nhốt như nhốt súc vật đến hình ảnh những người lính sống sót sau chiến tranh trở về bị lột hết của cải, bị ngược đãi và xua đuổi… Tất cả đều là những thực tế đau thương đầy máu và nước mắt của người dân thuộc địa khốn khổ! Vì thế mà hình ảnh Nguyễn ái Quốc đưa ra không chỉ là những chứng cứ hùng hồn về tội ác của bọn thực dân mà còn là những lí lẽ không thể chối cãi. Sức mạnh của nghệ thuật chính luận Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ đó. Phân Tích Nghệ Thuật Trong Bài Thuế Máu (Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp) Không chỉ có tính xác thực cao, các hình ảnh trong tác phẩm còn đậm chất châm biếm trào phúng và thấm đẫm tình cảm xót xa của nhà văn. Nhiều hình ảnh ở chương Thuế máu, nhất là ở phần Chiến tranh và người bản xứ mang đậm cảm hứng mỉa mai, chua xót, cay đắng cho số phận thảm thương của người lính thuộc địa như: Trong lúc vượt biển, sau khi được mời chứng kiến cảnh kỳ diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái hoặc: Một số khác đã bỏ xác tại các miền hoang vu thơ mộng Ban-căng… Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát, hay hình ảnh người lính lấy máu mình tưới cho vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy, lấy xương mình chạm nên chiếc gậy của các ngài thống chế. Tất cả những hình ảnh đó đều có sự đối lập, đối lập giữa số phận thảm thương của người bản xứ với những vinh quang, hào nhoáng mà bọn thực dân có được sau khi bóc lột đến tận xương tủy thuế máu của người dân thuộc địa. Qua những hình ảnh này, Nguyễn Ái quốc đã đả kích sâu cay tội ác tàn nhẫn của thực dân Pháp khi chúng sẵn sàng hi sinh xương máu của những người dân vô tội để đạt được những điều mà chúng muốn, và có khi những điều đạt được ấy hoàn toàn vô ý nghĩa: tổ quốc của loài thủy quái, miền hoang vu thơ mộng, chiêc ậy của ngài thống chế… Tiếp đến, hệ thống từ ngữ mỉa mai, giễu cợt, châm biếm được sử dụng với mật độ dày đặc. Hàng loạt các từ ngữ được để trong dấu ngoặc kép thể hiện thái độ giễu nhại của nhà văn: ‘’An- nam- mít’’, “con yêu”, “bạn hiền”, “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”,… Tác giả sử dụng rất thành công nghệ thuật gậy ông đập lưng ông bằng cách nhắc lại những mĩ từ, danh hiệu hào nhoáng mà chính quyền thực dân khoác cho người lính thuộc địa để bóc trần bản chất lừa bịp vô liêm sỉ của chúng. Những từ con yêu, bạn hiền, quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do nghe sao mà mỉa mai! Rồi những từ “lấy máu mình tưới vòng nguyệt quế, lấy xương mà chạm nên những chiếc gậy nghe sao mà chua xót, đắng cay! Giọng văn của tác phẩm khi thì giễu cợt mỉa mai: (ấy thế mà, đùng một cái), khi thì chua xót, đắng cay chẳng phải người ta đã đưa họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập vô cớ đó sao? Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao?… Đặc biệt, Nguyễn Ái Quốc sử dụng rất thành công giọng điệu giễu nhại: Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ. Tác giả nhại lại lời của bọn thực dân nhằm mỉa mai, châm biếm cái gọi là Chế độ lính tình nguyện. Kết hợp giọng giễu nhại là cách đưa ra liên tiếp các câu hỏi tu từ ở cuối phần II dã có tác dụng phản bác mạnh mẽ. Lời văn Nguyễn Ái Quốc đập thẳng vào bộ mặt bịp bợm của bọn thực dân. Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bộ mặt giả dối cũng như bản chất tàn ác của bọn quan lại luôn coi mình là quan ‘’phụ mẫu” nhưng thực chất là những kẻ giết người không ghê tay. Đoạn trích Thuế máu nói riêng và văn bản Bản án của chế độ thực dân Pháp nói chung đã trở thành một đòn chí mạng đập tan luận điệu và thủ đoạn trơ trẽn, độc ác của thực dân Pháp. Bằng nghệ thuật trào phúng, châm biếm, sây cay, bản chất của bọn thực dân, hơn bao giờ hết được phơi bày một cách chân thực nhất. Qua dây, Nguyễn Ái Quốc bộc lộ niềm căm phẫn sâu sắc đối với bọn xâm lược và niềm cảm thông tột cùng với số phận đau thương của người dân nô lệ
Phân Tích Nghệ Thuật Trong Bài Thuế Máu (Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp)
1,695
Phân tích nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng thể hiện và chương Hạnh phúc của một tang gia trong tác phẩm Số đỏ Hướng dẫn Mở bài: “Số đỏ” là cuốn tiểu thuyết đặc sắc nhất của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Trong đó mỗi chương là một hài kịch chương XV “Hạnh phúc một tang gia” được đánh giá là một trong những màn hài kịch thành công nhất. Qua việc miêu tả đám tang của cụ Tổ, Vũ Trọng Phụng đã phơi bày cái bộ mặt xấu xa của trưởng giả, cái xã hội “khốn nạn”, “chó đểu” đương thời như cách nói của nhà văn. Thân bài: Tính chất trào phúng được thể hiện sâu sắc qua cái nhan đề đầy nghịch lí: “Hạnh phúc một tang gia”. Ở đây, Vũ Trọng Phụng đã khai thác sự mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung. Thông thường, cái chết bao giờ cũng gợi lên tâm trạng đau buồn, sầu não, xót thương. Nhưng trong trường hợp này lại khác: cái chết bất ngờ của cụ Tổ đã mang lại lợi ích và niềm vui lớn lao cho mỗi thành viên trong đám con cháu của người chết. Nhà có người chết mà lại vui, cảnh tang gia có bối rối thật như người ta thường nói nhưng đó là sự bối rối một cách sung sướng. Bối rối không phải tổ chức môt đám tang ma mà là để tổ chức một ngày hội, một đám rươc thì đúng hơn. Trong chương này, Vũ Trọng Phụng cũng đã xây dựng được những bức chân dung trào phúng rất đặc sắc. Mỗi nhân vật hiện lên là một niềm “hạnh phúc” trong cảnh tang gia bối rối. Cái chết của Cụ Tổ đã khiến cho mọi thành viên trong gia đình có tang cảm thấy “sung sướng và hạnh phúc” bởi họ nóng lòng chờ đợi cái giây phút này từ lâu. Điểm đặc sắc của nhà văn Vũ Trọng Phụng là ngoài việc thể hiện cái “hạnh phúc” chung của một tang gia; mỗi người trong gia đình lại có một “hạnh phúc” riêng, không ai giống ai. Chính thông qua sự miêu tả, cảm xúc tâm trạng mỗi người trước cái chết của cụ Tổ, nhà văn đã thể hiện rõ nét bản chất, tính cách của mỗi nhân vật. Hay nói cách khác, mỗi nhân vật trong gia đình cụ Cố Hồng lại có một đặc điểm, môt mâu thuẫn trào phóng riêng. Nhân vật cụ Cố Hồng là con trai của người chết. Ông ta có một sở thích quái gở đó là thích đóng vai cụ già yếu, mặc dù tuổi tác chưa phải là cao (Ông ta bắt mọi người phải gọi mình là cụ Cố; lúc nào cũng tỏ ra ốm yếu). Nhưng từ trước đến nay, cụ Cố Hồng mới chỉ diễn trò già yếu với đám con cháu trong nhà nay nhờ có đám tang của bố mình mà cụ có được cái may mắn, diễn trò già yếu trước con mắt của công chúng hàng nghì người. Mới nghĩ đến cảnh đám tang, ông đã thấy sướng run người. Cụ Cố Hồng đã nhắm nghiến lại để mơ màng cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy; vừa ho khạc, vừa khóc mếu máo để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: “Uí kìa, con dai lớn đã già thế kia kìa. Sự lố lăng được đẩy lên cao hơn nữa khi xuất hiện hình ảnh cô Tuyết, cháu nội cụ Cố. Người cháu gái hiếu thảo này luôn mong ông nội chết để có dịp diện những bộ quần áo tân trang, hở hang đầy khiêu gợi. Trong đám đông nhốn nháo ấy cô lúc nào cũng mong sẽ có dịp gặp được tình nhân Xuân tóc đỏ để có dịp thể hiện lòng hiếu thảo giả tạo của mình và mong Xuân thấu hiểu cô. Và để diễn cho thật giống vói tâm trạng ấy, cô Tuyết luôn giữ vẻ mặt buồn rầu rất “lãng mạn và hợp thời”. Nhưng cô buồn không phải vì cái chết của ông nội mà vì chưa thấy mặt Xuân tóc đỏ. Cậu Tú Tân, cháu nội người sắp chết, lại có một “niềm hân hoan” tuyệt vời khác. Cậu đã chuẩn bị cái máy ảnh từ lâu và luôn mong ngóng ông nội chết để có dịp sẵn sàng ghi lại những khoảnh khắc đau thương “tuyệt vời nhất”, mà ông nội vẫn chưa chịu chết, khiến cho cậu vô cùng bức bối muốn điên người lên. Và hôm nay chính là cơ hội để cậu phô diễn hết tài năng chụp hình của mình. Ông Phán mọc sừng, chồng cô Hoàng Hôn, và là cháu của người quá cố. Không phải ai khác mà chính ông ta là nguyên nhân gây ra cái chết của cụ Tổ. Ông Phán tỏ vẻ vui mừng hả hê trước việc vợ mình ngoại tình và lợi dụng để tống tiền nhà vợ. Không ngờ điều đó lại khiến cho cụ Tổ bị sốc mà chết. Chính ông ta cũng không ngờ rằng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến như thế. Cảnh đám tang đã được nhà văn Vũ Trọng Phụng miêu tả bằng bút pháp trào phúng bậc thầy. Cảnh đám tang được miêu tả hết sức trọng thể, phô trương, hình thức. Việc tổ chức đám tang rất hổ lốn theo kiểu Ta – Tàu – Tây (có kiệu bắt cổng, lợn quay đi lạng, có lốc cốc xoảng, có cái bu-dích,…) Những người đi dự đám tang luôn cố tạo ra vẻ buồn rầu, nghiêm trang cho phù hợp với phong cảnh, nhưng những câu chuyện của họ thì rất sôi nổi đời thường và và chẳng liên quan gì đến người chết. Người đi đưa đám mà trang phục của họ thì như đi hội; có đủ mọi thứ, nhưng chỉ thiếu một thứ duy nhất đó là tình cảm sót thương, đau đớn tiễn đưa người chết. Bản chất của nghệ thuật trào phúng là làm nổi bật sự mâu thuẫn, đối lập (giữa bản chất và hiện tượng, giữa hình thức và nội dung, giữa lời nói và việc làm). Chính thông qua sự đối lập ấy làm nổi bật lên tiếng cười mỉa mai, trào phúng, chế giễu. Nói cách khác, bằng nghệ thuật trào phúng, nhà văn giúp người đọc lật mặt trái của xã hội, làm rõ sự thối nát, bất công của xã hội, cũng như con người. Niềm vui và hạnh không chỉ biểu hiện trên gương mặt, dáng đi lời nói của mọi thành viên trong gia đình người chết mà còn lan tỏa ra những người xung quanh. Hai viên cảnh sát Min Đơ, Min Toa đang thất nghiệp thì được thuê giữ trật tự cho đám tang. Những bạn bè tai to mặt lớn của cụ Cố Hồng thì được kịp khoe khoang sự oai vệ, danh giá của mình: “ngực đầy những huy chương như Bắc đẩu bội tinh, Long bội tinh, Cao Môn Bội tinh, Vạn tượng bội tinh. Trên mép và cằm đều đủ râu ria…”. Những người dân hàng phố thì vui vẻ náo nức vì chỉ mấy khi được xem một đám ma to như thế: “theo cả lối Ta-Tàu-Tây, có kiêu bắt cống, lợn quay đi lạng cho đến cốc xoáng và bu dích và vòng hoa. Có đến 300 câu đối, vài ba trăm người đi đưa, lại có cậu Tú Tân chỉ huy những nhà tài tử chụp ảnh đang thi nhau như ở hội chợ”. Có thể nói, cảnh đám tang diễn ra hết sức long trọng, vui vẻ; nó giống như một đám rước ngày hội vậy. Những người đến chia buồn và đưa ma, ai cũng cố tạo ra vẻ mặt buồn rầu và nghiêm chỉnh cho phù hợp với khung cảnh nhưng những câu chuyện trò to nhỏ của họ mới đa dạng, phong phú, nhiều màu sắc làm sao. Người ta đến đây, nếu không phải để khoe những bộ ngực đầy huy chương và những bộ râu ria oai vệ thì cũng để thì thầm với nhau về chuyện vợ con, chuyện mới sắm Lodi áo, mới mua một cái tủ, … Còn bọn thanh niên đến đám tang để có dịp tán tỉnh nhau, cười tình với nhau, ghen tuông nhau,hẹn hò nhau: “bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma”. Ở chương “Hạnh phúc môt tang gia” Vũ Trọng Phụng cũng đã chọn lựa được những chi tiết trào phúng rất tiêu biểu và đặt sắc. Qua những chi tiết này, nhà văn đã thể hiện được bản chất, tính cách của nhân vật – đằng sau cái vẻ bề ngoài đau đớn, thương xót là một bộ mặt giả dối, xấu xa và bỉ ổi. Trong khi đó thì “bạn hữu của cậu rầm rộ nhảy lên những ngôi mã khác mà chụp để cho ảnh khỏi giống nhau. Chi tiết hai là ông Phán mọc sừng, cháu rể của người chết kẻ giả dối và vô liêm sỉ nhất trong gia đình này đã đau đớn, khóc lóc tưởng chừng như ngất đi khiến ai cũng để ý đến ông cháu rể quý hóa ấy”. Vậy mà giữa lúc đoàn người khóc lóc, ông ta vẫn không quên kín đáo món tiền 5 đồng vì đã có công gọi ông ta là “người chồng mọc sừng” để kết quả là cụ Tổ chết và có đám ma to tát hôm nay. Nghệ thuật trào phúng trong chương “Hạnh phúc một tang gia” còn được thể hiện ở ngôn ngữ và giọng điệu của nhà văn. Một thứ ngôn ngữ giọng điệu có vẻ nhẹ nhàng nhưng lại có sức công phá lớn. Điệp ngữ “đám cứ đi” giúp cho người đọc hình dung ra được đám tang rất đông, rất dài, rất trọng thể. Điệp ngữ ấy cũng góp phần làm nổi bật sự phô trương giả dối, và cả sự dửng dưng về tình của những người đi đưa tiễn. Kết bài: Nếu “Số đỏ” là cuốn tiểu thuyết thành công của Vũ Trọng Phụng thì chương “Hạnh phúc một tang gia” là môt trong những chương đặc sắc hơn cả. Ở chương này, nhà văn đã tạo nên được những mâu thuẫn trào phúng, những chân dung trào phúng, những hành vi trào phúng, thậm chí cả những câu nói, giọng điệu trào phúng. Điệp ngữ “đám cứ đi” được nhà văn nhắc đi nhắc lại nhiều lần; vừa làm nổi bật tính chất giả dối phô trương của đám tang vừa nhấn mạnh sự thản nhiên vô tình của những người đi đưa tiễn.
Phân tích nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng thể hiện và chương Hạnh phúc của một tang gia trong tác phẩm Số đỏ
1,787
Đề bài: Phân tích nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia Bài làm Nhắc đến Vũ Trọng Phụng, người ta không chỉ nhớ đến một “ông vua phóng sự đất Bắc" mà còn nhớ đến một cầy bút trào phúng độc đáo. Ông cồn có tài sở rường xây dựng kiểu nhân vật đám đông. Sự kết hợp tài tình giữa chất trào phúng và sở trường xây dựng nhân vật kiểu đám đông này đã đem đến cho ta một tác phẩm được coi là kiệt tác của văn xuôi Việt Nam trước 1945. Mỗi chương trong tác phẩm là một màn hài kịch và chương XV với tên gọi Hạnh phúc của một tang gia là một màn tiêu biểu. Chất trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia tạo bởi sự phát huy hiệu quả của hàng loạt các yếu tố trào phúng: mâu thuẫn trào phúng, những chân dung trào phúng. Những lời văn, giọng điệu trào phúng. Không có chỉ tiết nào không hướng tới mục đích bóc trần sự lố lăng trong tang gia tràn trề hạnh phúc này. Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số đỏ Để dàn dựng màn hài kịch, nhà văn trước hết đã phát hiện ra mâu thuẫn trào phúng. Mâu thuẫn trào phúng trong chương truyện này được gợi ra trước hết là cái tên của nó: Hạnh phúc của một tang gia. Tang gia và hạnh phúc là cặp từ ngữ đối nhau. Nói đến tang gia là nói đến một gia đình vừa có người thân mất. Theo quy luật tâm lí thông thường hẳn tang gia phải bao trùm cái không khí khi đau, sầu thương não nề bởi mỗi khi một ngọn nến đời tắt đi là để lại bao đau thương cho người sống. Vậy mà trong tang gia của một gia đình được xem là danh giá nhất Hà thành, trước cái chết của một người ông, người cha (cụ tổ) chẳng đứa con nào của cụ sầu não, tiếc thương cả. Trái lại, cái chết ấy như đã đem đến một nguồn hạnh phúc to lớn không nén nổi cứ tuôn ra, trào ra. Tang gia và hạnh phúc. Đó là chuyện lạ đời nhưng lại có thật. Vì sao cái chết của cụ tổ lại là hạnh phúc của cái tang gia đại bất hiếu này? Ấy là vì cụ tổ có một gia tài kếch xù. Bao ngày lũ con cháu hau háu trông đợi phần mình, cụ cố Hồng chưa có dịp tỏ ra sự rộng rãi và biết điều của mình đối với bầy con trai con gái, dâu, rể…. Họ từng muốn giết cụ bằng bài thuốc Thánh nhưng cụ vẫn chưa chịu chết. Bây giờ mơ ước trở thành sự thực lẽ nào họ không vui. Đúng như Vũ Trọng Phụng nhận xét: Tang gia ấy ai ai cũng vui vẻ cả hoặc cái chết làm cho nhiều người sung sướng lắm. Mâu thuẫn trào phúng không chỉ thể hiện ở tâm trạng mong cụ tổ chóng chết hay ở không khí chuẩn bị tang lễ mà còn thể hiện rõ nét ở hình thức tổ chức: đám tang. Có thể nói âm điệu bi thương lẽ ra phải có ở một đám tang đã bị thay thế bằng âm điệu náo nức phấn khởi. Nhà văn đã nêu lên một giả định có ý châm biếm chua chát: Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu. Quả là ở thời buổi nhố nhăng này người ta đã quen sống trong sự lừa dối, rất thích lừa dối và thật sự hài lòng khi bị lừa dối. Trong màn hài kịch này còn có một chi tiết đặc sắc nữa tô đậm mâu thuẫ: trào phúng đã nói. Đó là khi cụ tổ chết, người ta quan tâm việc mai táng cái xác chết ấy thì ít mà lo lắng bàn bạc việc chôn cái xác sống của cô Tuyết cùng cái tiếng hư hỏng của cô thì nhiều. Đám tang bị trì hoãn là vì thế. Người ta còn bận thu xếp cho êm ả chuyện cô tiểu thư bị hư hỏng, còn bận bịu tiếng xấu xa có thể làm tổn hại đến danh giá tang gia. Trong khi quan tâm tô đậm mâu thuẫn trào phúng, Vũ Trọng Phụng còn đồng thời vẽ lên nhiều bức chân dung trào phúng đặc sắc. Trước hết là cụ cố Hồng với câu nói cửa miệng: Biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Xưa nay cụ chỉ mới chỉ được diễn trò già yếu ở nhà, giờ cụ được ra mắt trước đám đông: Cụ cố Hồng đã nhắm nghiền mắt lại mơ màng đến lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: úi giời ơi, con trai lớn đã già đến thế kia kìa. Tuyết thì sung sướng được mặc bộ y phục Ngây thơ – cái áo dài voan với cái tráp trầu cau và thuốc lá mời khách, trên mặt lại hơi có một vẻbuồn lãng mạn rất đúng mốt. Còn ông Phán mọc sừng chân dung ông hiện lên cũng không kém phần nực cười. Ông là kẻ vớ bở nhờ cái chết của cụ Tổ. Có vẻ như nhờ thế mà ông bộc lộ niềm đau xót của mình một cách ồn ào hơn ai hết: Ông oặt người đi và khóc Hứt!….hứt… Nhưng mỉa mai thay khi ông Phán dúi vào tay Xuân tờ bạc năm đồng. Màn kịch của ông Phán đã bị lột trần. Đây cũng là dịp may hiếm có để tiệm may Âu hóa và ông Typn lăng xê những mốt thời trang, ban cho những ai có tang đương đau đớn những mốt mới tiệm ông, bởi thế đó cũng được coi là vì kẻ chết chút ít hạnh phúc ở đời. Cậu Tú Tân thì mừng quá, bởi cậu đang điên người lên vì đã sẵn sàng mấy cái máy ảnh mãi mà không được dùng đến. Còn Xuân Tóc Đỏ càng vênh váo vì nhờ hắn mà cụ Tổ lăn đùng ra chết. Hạnh phúc lan tràn cả ra ngoài gia đình, người chết làm bao người khác được thơm lây: Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa đang thất nghiệp bỗng được thuê giữ trật tự…. Bạn bè cụ cố Hồng có điều kiện khoe khoang sự oai vệ của mình… Một trong những nét đặc sắc của ngòi bút trào phúng Vũ Trọng Phụng là sự thể hiện nhân vật đám đông. Tác giả lùi ống kính thật xa quay toàn cảnh đám tang với điệp khúc đám cứ đi… Có khi tác giả lại quay cận cảnh để vạch trần bản chất nhố nhăng giả tạo của đám tang này. Vũ Trọng Phụng đã thể hiện ngôn ngữ trào phúng khi miêu tả một số kiểu râu ria của các cụ: Có cụ râu lún phún rầm rậm, có vị râu hung hung, lại có vị râu loăn xoăn… Các cụ ấy đã thực sự cảm đông vì làn da trắng nơi ngực và cánh tay cô Tuyết. Đến đưa ma cụ tổ phần đông là trai thanh gái lịch đất Hà thành ngàn năm văn hiến, đến với đám tang cốt để chim nhau, hò hẹn nhau…. nói với nhau đủ chuyện hàng ngày, từ chuyện mình đến chuyện người, nào là “con bé nhà ai kháu thế… cái thằng bạc tình bỏ mẹ… gớm cái ngực đầm quá đi mất"… Bởi vậy đám ma đông là thế, ồn ào náo nhiệt là thế. Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng còn hiện ra ở giọng địệu trong chương truyện. Nhà văn sử dụng giọng kể dửng dưng, giễu cợt, thậm chí bằng những lời ác khẩu. Luôn luôn có sự khập khiễng giữa sự vật được nói tới giọng điệu câu văn: Ông già hơn tám mươi tuổi phải chết một cách bình tĩnh. Bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng ruột chôn cho chóng cái xác chết cụ tổ. Điệp khúc: cứ đi tiếng khóc cũng nhại lại đầy sự châm biếm: Hứt!… Hứt!… Hứt!. Tất cả những thành công đó chỉ có được ở một cây bút trào phúng bậc thầy. Qua những trang văn của Vũ Trọng Phụng cả một xã hội nhố nhăng thị thành hiện lên chân thực sinh động. Nhà văn đã bóc trần bản chất xấu xa, thói lừa bịp rởm đời chạy theo lối sông đua đòi Tây hoá của hàng loạt người. Ngòi bút châm biếm của Vũ Trọng Phụng có sức mạnh ghê gớm bắt nguồn từ chính sự phẫn uất của ông trước xã hội thực dân phong kiến – xã hội mà ông gọi là chó đểu Qua việc miêu tả người, dựng cảnh, sử dụng các chi tiết nghệ thuật biếm họa, chân dung, ngôn ngữ hài hước, nét đặc biệt của cây bút trào phúng bậc thầy thể hiện rõ. Nó như một làn roi quất mạnh vào xã hội thượng lưu tiểu tư sản thành thị hết sức lố lăng, đồi bại, nổi bật là sự giả dối. Đám tang của cụ cổ là cuộc hành quân đi xuống mồ của xã hội chó đểu này. Đồng thời lại tôn vinh một cây bút trào phúng bậc thầy của văn học Việt Nam trước năm 1945 – Vũ Trọng Phụng.
Phân tích nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
1,603
Đề bài: Phân tích nghệ thuật trào phúng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng Bài làm Từ lâu nhiều người đã kể Số đỏ của Vũ Trọng Phụng vào hàng những tác phẩm xuất sắc nhất của thể loại trào phúng trong văn xuôi Việt Nam. Với Số đỏ, người đọc được cười từ đầu đến cuối, cười một cách hả hê. Nhưng cũng với Số đỏ người đọc phải phẫn uất mà kêu lên: Trời! Cái xã hội gì mà giả dối, bịp bợm đến thế, bất nhân, bạc ác đến thế! Đọc Số đỏ, người ta nghĩ, đây đúng là đất cho ngón võ sở trường của Vũ Trọng Phụng. Trong tác phẩm này, ngón võ ấy đã được sử dụng hết sức lợi hại trong một chương, chương XV, có nhan đề là "Hạnh phúc của một tang gia".Ngón võ ấy là ngón gì, ấy chính là nghệ thuật tạo mâu thuẫn. Thật ra không phải Vũ Trọng Phụng tạo ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn vốn tự có trong bản chất xã hội, và nhà văn họ Vũ với cái nhìn sắc như dao của mình, với cái tài của một “ông vua phóng sự” bẩm sinh đã nhận ra nó, chí nó ra, nâng nó lên cho cả toàn dân thiên hạ thấy để cười, để căm ghét và khinh bi nó. Cách đặt nhan đề chương sách của Vũ Trọng Phụng đã lạ lùng, đầy mâu thuẫn: Hạnh phúc của một tang gia. Tang gia mà cũng hạnh phúc à? Tang gia mà cũng có thể hạnh phúc được ư? cái chết của người thân gia đình có thể đem lại chò người ta hạnh phúc được sao? Nếu chỉ đọc nhan đề, người ta có thể nghĩ là nhà văn đã bịa ra một cách cách ác ý bằng sự kết hợp của hai khái niệm hoàn toàn đối lập ấy. Nhưng không, đó không phải là ác ý của nhà văn, đó là sự thật của đời sống, sự thật của xã hội mà nhà văn muốn mổ xẻ ra để mọi người nhìn thấy nó tận mắt. Mọi sự bắt đẩu từ cái chết của một ông già. Ông già ấy là cha, là ông của một gia đình đông đảo và đáng kính" của một xã hội “thượng lưu”. Cả cái gia đình ấy đã nhao lên “nhao lên mỗi người một cách". Nhưng nhao lên vì đau khổ, vì đau đớn, vì lo lắng… trưóc cái chết của người thân chăng? Không phải, chúng đã nhao lên vì…. hạnh phúc! “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sướng lắm'': Câu văn tưởng chừng như ngược đời kia của Vũ Trọng Phụng đã thâu tóm cả mội thứ “thế thái nhân tình". Nhận định ấy không hề là một sự bịa đặt cho vui của nhà văn. Sự thật rất rành rành cụ thể.Ông Phán mọc sừng sau cái chốt của ông nội vợ, bỗng thấy cái "sự mọc sừng" của mình tăng giá lên vài nghìn đồng. Cụ cố Hồng sung sướng “mơ màng đến cái-lúc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy vừa ho khạc, vừa khóc mếu" để được người ta ngợi khen "một cái đám ma như thể, một cái gậy như thế,…" Còn ông Văn Minh, cháu đích tôn, nhà cải cách xã hội? Ông ta sung sướng tột đỉnh bởi vì với cái chết của ộng nội, ông ta thấy rằng tờ di chúc đã được thực hiện, nghĩa là cái ao ưóc cho ông nội mình chết đi để được chia của đã trở thành sự thật. Bà Văn Minh sung sướng theo đúng cách của một phụ nữ tân thời, bà ta nhận ra từ cái chết của ông nội chồng một dịp may hiếm có để có thể mặc “trang phục tân thời'' đồ xô gai tân thời, “những sáng tạo mốt mới" của tiệm may Âu hoá! Tâm địa của lũ người kia tưởng đến thế là tởm và lố bịch. Nhưng chưa hết đến đây, Vũ Trọng Phụng còn đẩy lên một tầng nữa. Bởi bọn con cháu bất hiếu nhất trần đời đó còn muốn tỏ ra mình là kẻ cớ hiệu, có thảo cũng nhất trần đời nữa kia. Thế là dưới ngòi bút của nhà văn trào phúng, sự bịp bợm cao nhất, đáng phí nhổ nhất cũng bộc lộ ra. Những kẻ mong cho ông già mau chết đã tổ chức một đám ma thật to để bày tỏ lòng hiếu thảo, tiếc thương đối với người đã chết! Chính vì thế ngòi bút của Vũ Trọng Phụng tập trung sức mạnh như có thần trong phần thứ hai của chương sách – phần tả cảnh đám ma. Trước hết nhà văn tả cô Tuyết, một cô gái hư hỏng nhưng chỉ “hư hỏng một nửa, một thiếu nữ đang rất tiêu biểu cho xã hội “tân thời ngày ấy". Tuyết mặc bộ trang phục nửa kín nửa hở, với nét mặt đó, “vẻ buồn lãng mạn" vì nhớ nhân tình chứ không phải vì thương người chết) đã gây một hiệu quả lạ lùng. Các vị tai to mặt lớn đi đứa đám chỉ nhìn vào vẻ khêu gợi của Tuyết để mà cảm động, cứ như thực sự cảm động trước nỗi buồn tang tóc vậy. Đám ma to thật, to đến nước “có thể làm cho ngựời chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng,". Người ta đã lợi dụng đám ma đến mức cao nhất đế khoe giàu, khoe sang và để khoe lòng hiếu thạo giả vờ của mình. Nếu như mong muốn của tất cả đám con của người chết kia là trong đám ma này đưa sự giả dối, bịp bợm đồng thời là sự tàn nhẫn bất nhân, đểu già của mình lên đến mức hoàn toàn thì quả thực chúng đã đạt được một cách trọn vẹn, xuất sắc. Nhưng chưa hết. Dưới mắt Vũ Trọng Phụng, cái lũ người giả dối không chỉ bao gồm một nhóm nhỏ ấy. Chúng đông đáo lắm. Chúng là toàn xã hội vãn minh Âu hoá Bắt đầu là hai nhà đại diện cảnh -sát, nghĩa là đại diện của nhà nước, thầy Min Đơ và thầy Min Toa. Tặc giả đã nói lên vẻ mừng rỡ hí hửng của hai thầy khi được chủ nhà đám ma thuê làm người giữ trật tự. Lí do của sự mừng rỡ, duy nhất chi là vì họ đang không có việc gì để làm và đang “buồn như nhà buôn sắp vỡ” Thứ đến là các vị tai to mặt lớn, lớp'“hoa" của giới thượng lưu xã hội, mặt mũi sang trọng; người đeo đầy đủ các thứ “hội rinh". Trong đám ma này, sự cảm động của họ không phải là đã nhớ đến người đã khuất, cũng không phải vì tiếng kèn đưa ma não ruột bi ai, mà chỉ vì… được ngắm không mất tiền làn da trắng thập thò trong làn áo mỏng của cô Tuyết. Sự xuất hiện của hai tên đại bịp là Xuân Tóc Đỏ và sư ông Tăng Phú trong dịp này lại khiến người ta cảm động đến cực điểm. Vì sao? Vì với sáu chiếc xe kéo và những vòng hoa đồ sộ hại kẻ này đã làm cho đám ma thêm lọng trọng, to tát. Đến bà cụ cố Hồng, có lẽ là người lương thiện nhất trong cái gia đình vừa hư hỏng vừa đại bịp ấy, cũng cảm động đến hớt hải lên. Những người đi đưa đám thật đông đào. Bằng điệp khúc "Đám cứ đi…" được nhắc lại đến mấy lần, tác giả như muốn nói, đám ma thật là to, thật là đông, thiên hạ tha hồ mà chiêm ngưỡng để thấy rõ sự to tát của nó. Nhưng cứ thử tìm xem trong đám người đông đảo ấy có ai là ngưừi đang thực sự “đi đưa dám”, nghĩa là có chút tiếc thương đối với người chết mà họ đang đưa tiễn? Không có ai cả, tất cả mọi người, đàn ông cũng như đàn bà, già cũng như trẻ, tuy đang giữ một vẻ nghiêm chỉnh, nhưng đều đang nói một điều gì đó, nghĩ một điều gì đó không dính dáng đen người chết và đám ma cả. Trai thanh gái lịch thì chim nhau, bình phẩm, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhạu… nhưng tất cả đều “mang vẻ mặt buồn rầu của người đi đưa đám ma". Thật là nhẫn tâm, thật là vô liêm sỉ. Ta sẽ nghi như thế. Nhưng, với Vũ Trọng Phụng có nghe được những lời mà họ nói với nhau mới thấy sự vô liêm sỉ còn trơ tráo đến mức nào mà nhà văn đã đưa ra một số lời ấy. "Đám cứ đi…" có nghĩa là sự vô liêm sỉ ấy không hề khép lại, nó còn kéo dài. Đến lúc đám tang không “cứ đi” nữa mà dừng lại để hạ huyệt, Vũ Trọng Phụng còn hiến cho người đọc hai chi tiết đặc sắc, đẩy cảnh đưa đám này lên đến đỉnh điểm. Chi tiết thứ nhất là cảnh câu Tú Tân bắt bẻ từng người một làm những động tác, giữ những tư thế đau buồn để cho cậu ta… chụp ảnh. Chi tiết thứ hai là ông Phán mọc sừng, cái kẻ giả dối và vô liêm sỉ nhất trong cái gia đình này đã khóc đến tưởng chừng ngất đi. Tuy vậy, giữa lúc oằn người khóc lóc, chính ông ta đã giúi vào tay Xuân Tóc Đỏ món tiền năm đổng vì đã có công gọi ông ta là “người, chồng mọc sừng" (chính là cái công gián tiếp khiến cho ông già chết). Thật là những kịch sĩ thượng hạng của những tấn trò đời. Hai chi tiết ấy đóng lại một cách trọn vẹn và sắc sảo chương nói về sự giả dối của con người. Những điều Vũ Trọng Phụng viết trong trang sách là thật ư? Nhưng những điều ấy vô lí lắm mà và hình như đều có thật cả. Ngòi bút Vũ Trọng Phụng đúng là sắc như dao. Đằng sau những lời nói như đùa, những cảnh trào phúng cười ra nước mắt, sự thật của đời sống cứ hiện ra lồ lộ mà trên nó nổi lên hai điều lớn nhất: sự tàn nhẫn và sự dối trá.
Phân tích nghệ thuật trào phúng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
1,750
Phân tích nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia. Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia. Vũ Trọng Phụng (1912-1939) quê ở Hà Nội và được xem là một trong những người đi đầu trong nghệ thuật trào phúng. Điều mà ít tác giả thời bấy giờ có thể làm được. Nổi bật trong những tác phẩm của ông viết nên đó chính là “Xuân tóc đỏ” với đoạn trích cực kì xuất sắc “hạnh phúc của một tang gia”. Chỉ là một đoạn văn ngăn nhưng nghệ thuật trào phúng ở đây đã lên tới đỉnh cao tạo nên tiếng cười thoải máu,và cũng qua đoạn trích này chúng ta nhận thấy được những hàm ý sâu sắc của nhà văn. Nghệ thuật trào phúng là nghệ thuật gây tiếng cười khi có những mâu thuẫn đáng cười. Đó có thể là những mâu thuẫn về hình thức lẫn nội dung, có khi là cả một hiện thực được phơi rõ bản chất. Và nhiệm vụ của một nhà trào phúng đó là đẩy được nó lên cao trào để phê phán,lên án xã hội cũ nát thời bấy giờ. Mở đầu đoạn trích, ngay từ câu tiêu đề của tác phẩm chúng ta đã thấy được cái sự trái ngang ấy. Trong một đám tang đáng lẽ ra mọi người buồn bã và đau khổ thì họ lại vui vẻ trên sự đau buồn ấy, đấy chẳng phải là trái với lẽ thường tình sao?. Và cũng chính trong tác phẩm thì nhà văn đã tập trung xây dựng về hình ảnh nhân vật Xuân tóc đỏ bằng phương pháp hiện thực chủ nghĩa xã hội. Mở đầu cho tác phẩm là tiêu đề đoạn trích “hạnh phúc của một tang gia”. Tang gia ở đây là một đám tang của người thân trong gia đình bị mất đi, đáng lẽ ở những nơi như thế này phải thật sự buồn bã và đau thương khi người thân xa lìa cõi trần nhưng ở đây lại đối ngược. Mọi người lại hạnh phúc và sung sướng biết bao nhiêu. Như vậy, rõ ràng mọi thứ đều có sự mâu thuẫn hết sức. Qua mâu thuẫn này tác giả đã lên án,phê phán cả một xã hội chỉ biết chạy theo vật chất mà quên đi tình cảm giữa con người với con người. Và để chứng minh cho nhan đề “ hạnh phúc của một tang gia”, thì Vũ Trọng Phụng đã tập trung miêu tả về niềm vui của những người trong gia đình. Đã bao lần gia đình tưởng cụ cố Hồng mất đi mà mừng hụt nhưng giờ đây nhờ Xuân tóc đỏ mà điều ước đó đã trở thành sự thực cho nên ai nất đều vui mừng khôn xiết. Tác giả đã mở đâu bằng một câu rất sâu cay “ 3 hôm sau ông già chết thật”,chỉ vì tất cả mọi người đều mong nhận được khối tài sản kếch xù được chia. Đầu tiên chúng ta phải kể tới cụ cố Hồng. Cụ cố Hồng có niềm vui rất lạ: dù chỉ mới 50 tuổi nhưng chi thích được gọi là cụ cố và khi ai hỏi tới mình thì đều trả lời mỗi câu”Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Câu nói của ông con trai cả chỉ lặp đi lặp lại mỗi từ này tới 1772 lần, ông còn tập khóc trước gương cho tới ngày bố mình chết để cho thiên hạ phải khen rằng con trai lớn đã già thế kia kìa. Người tiếp theo mà chúng ta phải kể đến đó là vợ chồng Văn Minh và ông Typn. Ông Typn vui sướng vì nhân dịp cụ cố tổ chết thì được tung ra những mốt tang của mình. Vợ chồng Văn Mình coi ngày chết của cụ tổ giống như một sàn diễn để làm ăn cho nên nhân vật này cũng vô cùng sung sướng. Tiếp theo phải kể đến đó là cô Tuyết. Trước ngày cụ tổ chết, Tuyết bị lộ thông tin là hẹn trai ra nhà nghỉ. Cả gia đình đang lo tin bị bại lộ thì cụ cố chết trở thành cái bối rối của gia đình thành bối rối của một tang gia. Khuôn mặt Tuyết cứ ngây thơ,làm như buồn vô cùng. Cứ tưởng Tuyết đau buồn cho người quá cố nhưng thực ra cô đang buồn như sự hờn giận: Sao nhà mình có việc quan trọng như thế này mà người tình mãi chẳng thấy đến. Rõ ràng chúng ta thấy gia đình này ai cũng bối rối nhưng cái bối rối này thật sự đáng lên án, cái bối rối này không đơn thuần là một tang gia mà cái bối rối cả trong cách diễn, và cứ luôn nghĩ mình phải diễn như thế nào cho thật đạt. Và cũng không biết được khi cụ cố chết mình được bao nhiêu nhưng ông Phán mọc sừng lại thấy đôi sừng của mình thật đáng giá. Thế đấy, qua đó chúng ta càng thấy rõ được bản chất của con người trong một gia đình, tuy là ruột thịt nhưng lại đối với nhau không ra gì. Qua ngòi bút của tác mình,tác giả đã thể hiện được cái nhìn hết sức châm chọc đối với xã hội thời bấy giờ. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia.
895
Phân tích nghệ thuật trùng điệp trong ngôn ngữ xây dựng hình tượng Đam Săn Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật trùng điệp trong ngôn ngữ xây dựng hình tượng Đam Săn Văn học dân gian các dân tộc thiểu số ở nước ta từ lâu đã trở thành một bộ phận quan trọng trong di sản văn hóa tình thần của đại gia đình dân tộc Việt Nam. Nói đến vốn quý ấy, không thể không nhắc đến sử thi Tây Nguyên, đặc biệt là sử thi – khan Ê-đê, “một trong những phát hiện kì thú bậc nhất về văn học dân gian Việt Nam”. Trong số các tác phẩm hiện còn được lưu giữ, Bài ca chàng Đam Săn kết tinh giọt tâm hồn, hạt trí tuệ của con người nơi đây. Ở bài viết này, chúng tôi bước đầu tìm hiểu về Nghệ thuật trùng điệp trong ngôn ngữ xây dựng hình tượng Đam Săn. Trước đây, một số học giả phương Tậy như L. Xabachiê, G. Côđôminas đã nhìn nhận tác phẩm khan này từ quan điểm dân tộc, xã hội học thuần túy nên chỉ coi hiện tượng trùng điệp ở đó là “những tình tiết, những lời lẽ giống nhau và những sự trùng lặp tẻ ngắt” mà không đánh giá nó như một nghệ thuật đặc thù của thi pháp sử thi. Sau cách mạng tháng Tám, ở Việt Nam, Bài ca chàng Đam Săn ngày càng được nghiên cứu theo bề rộng và bề sâu liên ngành. Đã có không ít bài viết trên các báo, tạp chí, các chương mục trong giáo trình đại học, cao đẳng đến những chuyên luận công phu chỉ ra vẻ đẹp của ngôn ngữ sử thi – khan. Đáng chú ý nhất là nhận định của cố Giáo sư Võ Quang Nhơn trong Sử thi anh hùng Tây Nguyên: “Những điệp khúc đó được chắt lọc, cô đúc lại thành những khuôn mẫu tương đối bền vững”, “những khuôn mẫu đã định hình trong quá trình sáng tạo nghệ thuật sử thi”. Song nhìn chung, mọi ý kiến mới dừng lại ở mức đánh giá khái quát, có ý nghĩa định hướng, gọi mở cho bài viết này. Dựa vào đặc trưng thể loại, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ sử thi Bài ca chàng Đam Săn với tư cách là một thành tố ngữ văn dân gian trong chỉnh thể nguyên hợp của văn hóa dân gian. Nghệ thuật trùng điệp trong ngôn ngữ xây dựng hình tượng Đam Săn với các biểu hiện cụ thể như điệp từ, điệp ngữ, điệp khúc… Võ Quang Nhơn, Sử thi anh hùng Tây Nguyên, NXB Giáo dục, H., 1997, tr.92. được tìm hiểu qua lời kể sử thi về Đam Săn, lời các nhân vật khác nói về Đam Săn và lời của chính Đam Săn. Bài viết của chúng tôi chỉ bàn về đặc điểm, vai trò và giá trị thẩm mĩ của thủ pháp này. Chúng tôi tiến hành tìm hiểu văn bản Bài cứ chàng Đam Săn (Đào Tử Chí dịch, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997) và phân loại vấn đề theo một sô tiêu chí sau: 2. Theo điểm nhìn khi trùng điệp: lời người kể chuyện nói về Đam Săn (26 lần). 3. Theo hình thức trùng điệp: điệp từ (6 lần), điệp ngữ (47 lần), điệp khúc (9 lần). Căn cứ vào những số liệu trên, có thể đưa ra một số nhận xét chung về đặc điểm nghệ thuật trùng điệp ưong ngôn ngữ xây dựng hình tượng Đam Săn: Thứ nhất, nghệ thuật trùng điệp được sử dụng với tần số cao (62 lần), về hình thức, điệp từ, điệp ngữ, điệp khúc xuất hiện ở các câu, các đoạn, các chương riêng lẻ hay có khi liên tiếp trong từng đoạn, từng chương, về cách thức, các câu chữ khi được lặp lại hoàn toàn, lúc lại được diễn đạt theo nhiều kiểu khác nhau. Thứ hai, nghệ thuật trùng điệp sử dụng kết hợp hài hòa với nghệ thuật so sánh, nghệ thuật cường điệu… Thủ pháp so sánh trong ngôn ngữ trùng điệp vừa có vai trò khái quát hóa hiện thực, vừa làm cho hình tượng nhân vật hiện lên cụ thể, sống động. Thủ pháp cường điệu trong ngôn ngữ trùng điệp có tác dụng xây dựng những con người lí tưởng, phi tường để người Tây Nguyên được sống trong “sự huyền ảo có thực”, “niềm tin có thật về một quá khứ hào hùng đã qua”. Thứ ba, tỉ lệ giữa các chi tiết được trùng điệp không đều nhau. Chỉ chi tiết nào miêu tả đặc điểm tiêu biểu của Đam Săn mới được trùng điệp với tần số cao còn một số chi tiết khác chỉ được lặp lại vài ba lần để làm nền cho nhân vật xuất hiện. Đây cũng là một nét đặc sắc của tư duy Tây Nguyên. Sử thi chỉ xuất hiện ở “thế kỉ của những anh hùng”. Vì vậy, nhân vật trung tâm của thể loại này là mẫu người anh hùng lí tưởng của thời đại. Ở Bài ca chàng Đam Săn hình tượng người tù trưởng Đam Săn là kết tinh vẻ đẹp của bộ tộc Ê-đê trong buổi bình minh lịch sử cộng đồng. Nghệ thuật trùng điệp có vai trò quan trọng trong việc khắc họa sâu đậm, nổi bật, sống động từng đặc điểm, phẩm chất của chặng: từ ngoại hình đến sức mạnh, lí tưởng… Đồng thời, thủ pháp này cũng tạo nên những định ngữ nghệ thuật tiêu biểu khi xây dựng nhân vật trung tâm – “hình ảnh anh hùng mang tính chỉ định”. Sự thay đổi điểm nhìn khi trùng điệp các chi tiết làm cho hình tượng Đam Săn hiện lên toàn diện hơn: từ phương diện khách quan đến phương diện chủ quan. Quả thực, “người tù trưởng của các tù trưởng ấy đã thu hút tâm lực mãnh liệt của trí tuệ dân gian: “Người ta phục Đam Săn có tài, đánh tù trưởng nào cũng thắng. Người ta thích đi theo Đam Săn lên nói chuyện với trời, đi chơi cùng rừng núi, đi bắt Nữ thần Mặt Trời để làm vợ lẽ. Người ta ước mơ sống một cuộc đời thật giàu sang Đó là điểm chính làm người ta thích nghe chuyện Đam Săn, nghe mãi không thôi, nghe kể liền ba bốn lần không chán (Y Wang Mio Dun Du – Lời giới thiệu Bài ca chàng Đam Săn). Khi nổi Bài ca chàng Đam Săn tiêu biểu cho những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật sử thi thì thủ pháp trùng điệp được coi là một trong những yếu tố thi pháp thể loại đặc thù. Hệ thông điệp từ, điệp ngữ, điệp khúc không chỉ tạo nên dung lượng đồ sộ, kết cấu chương khúc cho tác phẩm mà còn thể hiện đậm nét tính trang trọng ở giọng điệu ngợi ca và sự trầm hùng của âm hưởng sử thi. Cách dỉễn đạt độc đáo ấy còn mang lại hiệu quả thẩm mĩ diệu kì về tính nhạc, chất thơ cho mỗi câu chữ, lời kể. Nó là sợi dây nôi kết các vế trong cùng một câu, các câu trong cùng đoạn, xóa nhòa khoảng cách giữa các điệp khúc ở mỗi chương. Tính trì hoãn sử thi cũng được tạo nên từ việc lặp đi lặp lại không hề vội vàng, không hề “cắt đúp” những chi tiết, thậm chí cả những khúc đoạn sự kiện. Vì thế, Bài ca chàng Đam Săn được Bùi Văn Nguyên đánh giá là tiêu biểu cho “một kiểu anh hùng ca Việt Nam”(2). Lịch sử văn học mỗi dân tộc xét đến cùng là lịch sử tâm hồn dân tộc ấy. Nói đến Hi Lạp, người ta không thể nhắc đến hai bộ sử thi vĩ đại nhất ođixê và tìm hiểu Ấn Độ cổ cũng phải bắt đầu từ Mahabharata và Ramayana. Cũng vậy, đến với Bài ca chăng Đam Săn, ta sẽ bắt gặp một vẻ đẹp mang màu sắc Ê-đê (Tây Nguyên) bởi lẽ anh hùng ca đích thực là sáng tác của mỗi dân tộc ở thời đại mà toàn thể cộng đồng “cảm nghĩ như một con người”. Qua các chi tiết trùng điệp trong tác phẩm, người đọc dần hé mở cánh cửa bước vào thế giới tâm hồn, tư duy thẩm mĩ Tây Nguyên ở cách cảm, cách nghĩ của con người nơi đây. Với họ, “miêu tả phải trùng điệp, phải lật đi lật lại một đối tượng miêu tả thì mới hay. Vì nó cho người nghe như được xem lại đủ mọi chiều, mọi thế của vật được miêu tả. Từ đó, nó thể hiện cảm hứng ngợi ca đậm chất Tây Nguyên,bằng cảm quan hiện thực hồn nhiên, ngây thơ, tươi sáng trên cơ sở quan hệ bình đẳng, dân chủ giữa những con người trong cùng một bộ tộc. Hơn nữa, cách thức điệp từ, điệp ngữ, điệp khúc linh hoạt, thú vị trong ngôn ngữ xây dựng hình tượng Đam Săn là kết tinh năng lực sáng tạo diệu kì của nghệ sĩ dân gian Tây Nguyên. Đó là vẻ đẹp của trí tưởng tượng bay bổng, lãng mạn và tài năng sử dụng ngôn từ độc đáo, hấp dẫn. Tất cả tạo nên giá trị “không thể nào bắt chước được” của các sử thi – khan Ê-đê nói chung và Bài ca chàng Đam Săn nói riêng. Chi tiết được trùng điệp Sô lần ở Đam Săn Số lần ở Xinh Nhã 1. Người anh hùng múa khiên 2 5 2. Người anh hùng hạ gục voi dữ 2 5 3. Người anh hùng khóc 2 6 4. Người anh hùng nghĩ lấy sức 5 2 Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn khám phá một số đặc điểm tiêu biểu của sử thi khan như kết cấu “đốt” theo quan hệ chiều ngang và công thức thời gian chu kì sự kiện. Thứ nhất, các chi tiết trùng điệp với tần số cao đã tạo nên “đốt – sự kiện” trong kết cấu của sử thi – khan. Thứ hai, các điệp từ, điệp ngữ, điệp khúc về thời gian khi xây dựng hình tượng Đam Săn đã trở thành công thức miêu tả đậm chất Tây Nguyên. Đó là chu kì thời vụ văn minh nông nghiệp cổ sơ. Vì vậy, đối với người Ê-đê, sự lặp lại ấy chính là nhịp điệu tuần hoàn của cuộc sống. Anh hùng ca không hoàn toàn là lịch sử nhưng là lịch sử được “nghệ thuật hóa” “sử thi hóa”. Nó không phải là quá khứ đã định hình, đóng khung một cách khô cứng mà luôn mở ra cánh cửa của một thế giới “gần cuộc sống thật nhưng phong phú hơn, phóng khoáng hơn, cao xa hơn” (Y Wang Dlo Dun Du). Cho nên, các sử thi – khan Tây Nguyên vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với con người thời đại hôm nay: “từ mặt trời lặn cho đến lúc mặt trời lên vẫn thấy người nghe ngồi nguyên một chỗ chăm chú yên lặng”. Bài viết của chúng tôi mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu thủ pháp trùng điệp về đặc điểm, vai trò, giá trị thẩm mĩ của nó trọng ngôn ngữ xây dựng hình tượng Đam Săn. Hi vọng rằng vẻ đẹp của áng sử thi này sẽ còn tiếp tục được khám phá trong nhiều bài viết nữa.
Phân tích nghệ thuật trùng điệp trong ngôn ngữ xây dựng hình tượng Đam Săn
1,932
Phân tích nghệ thuật tương phản trong tác phẩm Hai đứa trẻ Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật tương phản trong tác phẩm Hai đứa trẻ Bài làm Nhà văn Thạch Lam là một cây bút tài ba chuyên viết truyện ngắn và văn xuôi. Các tác phẩm của ông luôn mang một vẻ độc đáo riêng biệt, đó là những truyện ngắn có cốt truyện đơn giản hoặc thậm chí không có cốt truyện, nhưng luôn đọng lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ, hoài niệm. Tiêu biểu trong số đó chính là tác phẩm “Hai đứa trẻ”-một tác phẩm đặc trưng cho phong cách văn thơ của ông. Với nghệ thuật tương phản sâu sắc trên nhiều khía cạnh, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả được sinh động cuộc sống và niềm mơ ước của các nhân vật trong truyện. Nhân vật chính trong tác phẩm đó chính là hai chị em Liên và An, hai người sống ở một ở một phố huyện nghèo khi gia đình khó khăn phải lui về ở đấy. Khi mới vào tác phẩm, Thạch Lam đã dùng nghệ thuật tương phản để miêu tả rõ nét quang cảnh của buổi chiều tà nơi vùng quê, đó chính là sự đối lập của bóng tối và ánh sáng. Bóng tối cùng màn đêm dần buông xuống, nó bao trùm, ngự trị khắp mọi nơi, mọi ngõ nghách. Phố xá thì tối hết cả, con đường chỉ toàn là những rác rưởi, văng vẳng đâu đó là những tiếng ếch kêu, tiếng vo ve của muỗi. Tất cả mọi thứ làm cho khung cảnh trở nên ảm đảm, tẻ nhạt và vô vị, nó thấm vào sâu thẳm trong cả con người khiến con người ta buồn man mác. Trong gam màu tối chủ đạo ấy, vẫn hiện lên những hình ảnh le lói của những tia sáng yếu ớt. Đó chính là những tia nắng cuối cùng của buổi chiều ta đang tắt dần qua các ngọn núi, là ngọn đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kìa leo lắt trong nhà ông Cửu, hay đơn giản chỉ là tia sáng phát ra từ những cây nến nhỏ bé. tích nghệ thuật tương phản trong tác phẩm Hai đứa trẻ Quang cảnh tiếp theo thể hiện sự tương phản đó chính là sự đối lập giữa mặt đất và bầu trời. Bầu trời đẹp đẽ bao nhiêu, rực rỡ toàn sao bao nhiêu thì dưới đất lại bẩn thỉu, ngột ngạt bấy nhiêu. Thạch Lam đã miêu tả: “ trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía, một mùi âm ẩm bốc lên”, chả có điều gì thơm tho, đẹp đẽ ở đó cả. Những con người trên bề mặt đấy còn khiến ta động lòng, cảm thương hơn nhiều: “ Mấy đứa trẻ con nghèo ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh trẻ hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được các người bán hàng để lại”, hay hình ảnh đứa trẻ con nhà bác xẩm bò ra dường “ nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát” không khỏi khiến con người ta phải cảm thương cho những số phận đang vùi mình trong đêm tối ấy. Thạch Lam đã mượn hình ảnh đoàn tàu hàng ngày chạy qua nơi phố nghèo để nói lên rõ nhất những ước mơ của hai chị em cũng như toàn thể người dân lao động nghèo nơi đây. Đoàn tàu chính là sự hiện thân của ánh sáng, của những hoài niệm đẹp đẽ, ấm áp nơi Hà Thành “ các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường”, “ những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh”. Đoàn tàu ấy như mang một thế giới hoàn toàn khác đi ngang qua nơi này, một thế giới mà Liên ao ước và hoài niệm. Trong một thực tại tối tăm, nghèo đói, bế tắc, nhưng những con người nơi phố huyện vẫn luôn mơ đến những ước mơ xa xôi, mơ về một cuộc sống sung túc, tươi đẹp. Nhưng rồi, khi đoàn tàu đi qua, bóng tối lại bao trùm, màn đêm buông xuống, tất cả trở lại với thực tại tầm thường.
Phân tích nghệ thuật tương phản trong tác phẩm Hai đứa trẻ
724
Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích Bài Làm Đoạn trích Kiều ở lầu ngư bích là bức trang tâm trạng của Thúy kiều ở lầu ngư bích, đây là một trong những đoạn văn miêu trả tâm trạng thành công nhất của nhân vật Thúy Kiều. Tác giả Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình để thể hiện tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều. “Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” Đoạn trích có nhịp điệu nhẹ nhàng, miên mang nỗi buồn phảng phất từ lòng người lan truyền thấm vào cảnh vật, rồi từ cảnh vật rồi xoáy vào lòng người. Hầu như không dòng nào, câu nào, hình ảnh âm thanh nào trong đoạn trích không ít nhiều thể hiện tâm trạng nhân vật. Tâm trạng bẽ bàng, buồn nhớ, lo lắng… Khi kiều một mình trước lầu Ngư Bích. “Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia” Bốn câu thơ trên là bức tranh thiên nhiên quanh lầu và cũng là bức tranh tâm trạng. Hoàn cảnh của kiều lúc này rất bung lung, bi thảm. Kiều được Tú bà cho ra ở lầu ngư bích nhưng thực chất là giam lỏng nàng. Nàng trơ trọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng. Từ trên lầu cao Kiều ngóng vọng ra 4 phía bát ngát, dãy núi mờ xa những cồn cát vàng, trải dài chỉ có mảnh trăng gần ở chung. Những hình ảnh non xa, mà cũng có thể hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, hoang vắng, rộn ngợp không gian. Qua đó làm nổi bật hoàn cảnh tâm trạng bẽ bàng rộn nghợp của Kiều. Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” Sớm sớm nhìn mây, đêm đêm đối diện với ngọn đèn cảnh người cùng thao thức sẻ chia biết nói cùng ai một mình với vầng trăng, người bạn gần gũi thân thiết nhất, vầng trăng sáng đã gợi kiều nhớ về quá khứ: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trong mai chờ Bên trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Bơ vơ nơi góc bể chân trời vầng trăng, không chỉ là bạn mà còn là nguyên cớ gợi Kiều nhớ về Kim Trọng. Kiều sót sa, hình dùng kim trọng vẫn chưa biết tin nàng đã bán mình mà vẫn ngày đêm mong ngóng tin tức chờ đợi mỏi mòn, Nàng nhớ về kim trọng với tâm trạng đâu đớn, sót sa từ dằn vặt. Tấm son gột rửa bao giờ cho phai – nàng cho rằng mình bạc tình với kim trọng bội ước lời thề non hẹn biển, không giữ được lòng thủy chung. Bao nỗi dằn vặt, vò xé biết khi nào bao giờ mới nguôi ngoai, xóa mờ. “Xót người tựa cửa hôm mai Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ Sân Lai cách mấy nắng mưa Có khi gốc tử đã vừa người ôm” Tiếp đó kiều nhớ đến cha mẹ, nhớ tới thân kiều và sót. Nàng thương cha mẹ khi sáng khi chiều tựa cửa ngón tin con, trông mong sự đờ đẫn. Nàng sót xa lúc cha mẹ tuổi già sức yếu mà không tự tay chăm sóc và hiện thời ai người chông nom thành ngữ Quạt lồng ấp lạnh điển cố sơn lai, gốc tử đều nói lên tâm trạng thương nhớ, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng cảnh nơi quê hương tất cả đã đổi thay mà sự đổi thay lớn nhất cha mẹ mỗi ngày thêm già yếu. Cụm từ cảnh mây nắng mưa vừa nói lên được sức mạnh tàn phá của tự nhiên, nắng mưa đối với cảnh vật và con người nỗi day dứt không phụng dưỡng được cha mẹ lúc tuổi già sức yếu thể hiện tấm lòng hiếu thảo của nàng. Vậy trong cảnh ngộ ở lầu ngư bích kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng đã quên cảnh ngộ của bản thân mà nghĩ về người khác. Kiều là người tình thủy chung, người con hiếu thảo, người đáng kính trọng. Đoạn trích còn thể hiện nét đặc sắc độc đáo của nhà thơ khi thể hiện một cách khách quan. Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” Đây là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Thiên nhiên biểu đạt nội tâm nhân vật, tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này. Mỗi điệp ngữ “Buồn Trông “ lại diễn tả một khung cảnh, một nỗi buồn cảnh ngộ khác nhau. Nỗi buồn cứ trồng chất như sóng sô dập ngập lòng kiều. “Buồn trông cửa biển lúc chiều buông/ thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa” Phải chăng đó là hình bóng con người đơn độc lênh đênh vô địch trên dòng đời. Nàng thấy sợ hãi và càng nhớ về quê hương mái ấm gia đình da diết. “Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu“ Đây là câu thơ thể hiện đời Thúy Kiều, thân phận là chẳng khác nào cánh hoa dạt trôi, mưa dập gió vùi biết đi đâu về đâu trôi dạt nơi nào? “Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh” Buồn cho ngọn cỏ mà nghĩ tới thân phận cỏ cây hoa hèn, chân mây mặt đất, góc bể chân trời đâu chốn lương thân, tâm trạng này kiến kiều càng bi thương vô bờ. Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” Sóng gió ầm ầm, ào ạt quanh ghế ngồi, cảm giác như tai họa đang ập đến bên cô.Mỗi câu mỗi vẻ, cảnh vật tâm trạng nỗi buồn ngày một lớn, mỗi lúc càng thêm chồng chất. Tất cả dòn tụ thành cao trào hòa cùng tiếng sóng đang xô đẩy dồn dập vào cuộc sống Kiều. Kiều ở lầu Ngưng bích là một trong những đoạn trích miêu tả tâm trạng nhân vật kiều đặc sắc và thành công. Tác giả Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình thể hiện tâm trạng của kiều khi một mình cô đơn ở lầu Ngư Bích.
Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
1,126
Phân tích nghệ thuật tả cảnh tả người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật tả cảnh tả người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du BÀI LÀM Nguyễn Du là một đại thi hào lớn của dân tộc, ông có tài đặc biệt trong việc tả các nhân vật chính diện, ông dùng bút pháp ước lệ thường thấy trong thơ ca cổ điển, còn khi tả các nhân vật phản diện thì ông lại dùng bút pháp tả thực. Trong đoạn trích chị em Thúy Kiều, tác giả đã khai thác một cách triệt để về ưu thế của nghệ thuật ước lệ. Điều đó thể hiện được tình cảm yêu mến, trân trọng của ông đối với Thúy Kiều, Thúy Vân. Chúng ta có thể thấy Nguyễn Du đã dồn hêt mọi tâm huyết và tài năng của mình vào ngòi bút để giúp làm nổi bật thần thái trong chân dung của hai chị em: “Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Nhà thơ đã khéo léo khi lấy nét đẹp của thiên nhiên để so sánh với vẻ đẹp của con người, ở các nhà thơ khác nếu như tả theo lối này thì chung chung, mờ nhạt nhưng dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du thì lại biên hóa khôn lường và làm rõ được vẻ đẹp thực của nhân vật. Chúng ta có thể hình dung ra được vẻ đẹp, hình dáng của Thúy Kiểu, Thúy vân, yểu điệu (mai cốt cách), tâm hồn trong trắng như sương, như tuyết (tuyết tinh thần). Rõ ràng qua đó chúng ta còn nhận ra được đây là con của một gia đình gia giáo, được giáo dục tốt. Thúy Vân hiện lên với dáng dấp đài các, kiêu sa của một tiểu thư con nhà khá giả: Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”. Vân có gương mặt phúc hậu, nụ cười tươi cùng với tiếng nói thánh thót giống như tiếng ngọc rơi ở trên mâm vàng: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”. Da trắng còn hơn tuyết, tóc đen hơn cả mây. Có thể nói sắc đẹp của Thúy Vân đã đạt tới độ hoàn mỹ như báo trước một cuộc đời bình yên, viên mãn được sống trong giàu sang nhung lụa cũng không bị ai gen gét đố kị. Thế nhưng vẻ đẹp trang trọng đó lại khác với Thúy Vân, nó vẫn nằm trong khuôn khổ được người đời công nhận, thán phục và chiêm ngưỡng biết bao nhiêu. Nhưng nếu như đặt bên cạnh Thúy Kiều thì cái nhan sắc đó lại mờ nhạt tới bao nhiêu, nó chỉ còn tác dụng làm phông nền để giúp nổi bật vẻ đẹplộng lẫy và phá vỡ mọi khuôn mẫu: Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. Nguyễn Du đã khẳng định chắc chắn như thế và ông nhấn mạnh tới bản chất của cái đẹp từ bên trong tỏa ra bên ngoài: sắc sảo, mặn mà và sự đánh giá khái quát về tài sắc của Kiều còn hơn cả Vân. Khi tả Thúy Kiều, Nguyễn Du đã tập trung nhiều nhất là vào đôi mắt bởi chính đôi mắt là cửa sổ tâm hồn và cũng là điểm cuốn hút nhất ở trên gương mặt của nàng: Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. Vẫn là bắt gặp những hình ảnh ước lẹ nhưng không sáp mòn, ngược lại dường như không còn gì hợp hơn để tả đôi mắt long lanh đó giống như nước hồ thu, nét mày thanh tú không khác gì núi của màu xuân. Đôi mắt này nếu như ai thấy một lần chắc chắn sẽ không thể nào quên được. Kiều được miêu tả đẹp tới nỗi khiến cho hoa phải ghen, liễu phải hờn. Thúy Kiều đẹp đến mức không ai có thể so sánh nổi: “Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một tài đành họa hai”. Trong cách tả, Nguyễn Du đã hé lộ về một dự cảm bất an của cuộc đời Kiều, Kiều ắt sẽ bị người đời ghen và đày đọa. Ngoài sắc đẹp hiếm có thì Kiều còn là một cô gái đa tài: “Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm. Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”. Cũng theo Nguyễn Du: Chữ tài liền với chữ tai một vần. và đặc biệt trong đời ít ai có nhiều tài như Kiều. Những tài này đều cảm bảo trước cho Kiều một tương lai đầy sóng gió. Điều đáng lo ngại ấy luôn thấm đẫm trong từng nốt nhạc, từng câu chữ mà chính Kiều đã soạn riêng cho mình: “Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”. Qua những dòng thơ này ta có thể thấy được Nguyễn Du đã dành tình cảm yêu mến, trân trọng cho nhân vật chính của mình ở trong tác phẩm. Đó là sự hội tụ cao nhất về vẻ đẹp mặn mà từ hình thức cho tới trí tuệ. Trong đoạn trích cảnh ngày xuân, nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du cũng đã đạt tới trình độ điêu luyện. Nhắc tới mùa xuân là lại nhắc tới hình ảnh của con chim én chao liệng giống như đưa thoi giữa bầu trời trong xanh cao rộng: Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Nguyễn du đã nắm vững nghệ thuật hội họa, bức tranh được miêu tả có gần có xa, có cao có thấp, có động có tĩnh. Màu sắc vừa tương phản vừa hài hòa, đường nét thanh tú, uyển chuyển cùng với hình ảnh đẹp đẽ có khả năng gợi tả, cũng như sự gợi cảm cao. Chỉ bằng hai câu thơ lục bát mà đại thi hào đã thể hiện được thần tình sức sống mạnh mẽ của mùa xuân. Ánh thiều quang rực rỡ của ngày xuân nhanh chóng lụi tàn, nhường chỗ cho bóng tà dương: “Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”. Nếu ai đủ tinh tế thì sẽ nhận ra được bức tranh mùa xuân mà Nguyễn Du miêu tả không chỉ đơn thuần là cảnh thực mà còn là bức tranh tâm cảnh được nhìn qua đôi mắt và tâm trạng của Thúy Kiều. Lúc hội thưa người, nắng nhạt đi thì Thúy Kiều lại rơi vào trạng thái bâng khuâng khó tả. “Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”. Nguyễn Du tả cảnh ngụ tình, vui buồn còn tùy thuộc vào tâm trạng của con người.Du cho tả thực hay ước lệ thì Nguyễn Du vẫn giữ được nguyên tắc mà ông đã đúc kết được ở trong nhận định: “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” chính là như vậy.
Phân tích nghệ thuật tả cảnh tả người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
1,174
Phân tích nghệ thuật tả người của Nguyễn Du qua đoạn trích Chị em Thúy Kiều mà em đã được học Hướng dẫn Từ một tác phẩm bình thường của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du, với thiên tài nghệ thuật của mình, đã tạo nên “Truyện Kiều” bất hủ, niềm tự hào của văn học Việt Nam. Trong những đặc sắc về nghệ thuật của Nguyễn Du, có nghệ thuật tả người. Đoạn Nguyễn Du tả tài sắc chị em Thúy Kiều có thể được coi là một đoạn thơ tiêu biểu của nghệ thuật ấy. Chỗ tài tình của Nguyễn Du là, khi ông tả người, tả vẻ ngoài của con người nhưng chính là ông tả bản chất con người với những đặc sắc bên trong của nó và dự báo cả số phận mai sau của họ. Tả chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du bắt đầu từ cái rất chung, giới thiệu những nét chung nhất của họ: Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân, Mai cốt cách, tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười. Cả hai chị em, Thúy Kiều và Thúy Vân đều đẹp, cái đẹp trọn vẹn của vẻ đẹp theo lí tưởng của xã hội và thời đại. Họ mang cái cốt cách thanh cao của cây mai và cái tinh thần trắng trong của tuyêt. Tuy thế, dẫu “mười phân vẹn mười”, cái đẹp của hai chị em vẫn là “mỗi người một vẻ”. Chính nhà thơ đã chuẩn bị miêu tả riêng, so sánh và phân biệt cho ra “mỗi người một vẻ” ấy. Nhà thơ bắt đầu từ Thúy Vân: Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mấy thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Qua đoạn trên, ta không thể biết được một cách tỉ mỉ, cụ thể về nhan sắc Thúy Vân nhưng ta lại biết được nhan sắc ấy thật tuyệt trần. Tất cả đều trọn vẹn, tất cả đều đạt tới mức cao nhất yêu cầu của xã hội về nhan sắc. Đó là một vẻ đẹp mà với những từ “trang trọng”, “đầy đặn”, “nở nang”, “đoan trang”, “mây thua”, “tuyết nhường”, luôn luôn tạo cho người xung quanh một tình cảm trân trọng, yêu mến, độ lượng. Đó là một vẻ đẹp dễ dàng được xa hội công nhận. Tả Thúy Vân chỉ bốn dòng thế là đủ, Nguyễn Du chuyển sang tả Thúy Kiều: Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn: Làm thu thuỷ, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một, tài đành họa hai. Hóa ra, khi tả Thúy Vân, Nguyễn Du đã bắt đầu tả Thúy Kiều, Thúy Vân trở thành điểm tựa để Nguyễn Du đặt đòn bẩy mà nâng Thúy Kiều lên chỗ tuyệt vời. Kiều có tất cả những gì Thúy Vân có nhưng ở mức độ sắc sảo hơn, mặn mà hơn. Tả Thúy Vân, nhà thơ chỉ nói đến sắc. Thúy Kiều thì “tài sắc”, và cả “tài” lẫn “sắc” đều “lại là phần hơn”. Tả Thúy Kiều, Nguyễn Du cũng dùng phương pháp ước lệ, với những thành ngữ quen thuộc “làn thu thuỷ” để chỉ đôi mắt, “nét xuân sơn” để chỉ đôi lông mày; tuy thế với nhưng từ ngữ “ghen”, “hờn” gắn cho tạo vật, nhà thơ đã cho thấy nhan sắc Thuý Kiều là nhan sắc độc đáo, kì lạ, vượt lên trên sự bình thường. Đó là nhan sắc hiếm có trên đời, như một của quý ít khi xuất hiện, thường được tôn sùng và cũng thường bị đố kị, lúc nào cũng gây ra sóng gió cho mình. Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một, tài dành họa hai. Đã giới thiệu tài sắc hơn đời của Thúy Kiều, đã tả sắc của nàng như thế, Nguyễn Du tiếp tục bằng việc tả tài của nàng: Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm, Cung thương, lầu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương, Khúc nhà tay tựa nên chương Một thiên “bạc mệnh” lại càng não nhân. Tài của Kiều là cái tài toàn diện của nghề phong lưu: cầm, kì, thi, họa, mà tài nào cũng ở mức tuyệt đỉnh, trọn vẹn. sắc đã hiếm có, tài lại hiếm có hơn. Thúy Kiều đúng là người hiếm ở đời. Người hiếm có như thế thì có thể gặp tột cùng hanh phúc, hoặc có thể tột cùng đau khổ. Mà Kiều thì chắc là sẽ đau khổ bởi vì “hoa ghen” với nàng, “liễu hờn” với nàng kia mà! Tả tài sắc Thúy Kiều, thật ra Nguyễn Du đã dự báo cho thân phận của nàng. Thúy Kiều và Thúy Vân đúng là “mười phân vẹn người” nhưng lại “mỗi người một vẻ”. Đảo lộn trình tự, nói về em trước rồi mới nói đến chị, Nguyễn Du đã tập trung vào nhân vật chính của tác phẩm. Không đi vào chi tiết, Nguyễn Du chỉ nói lên cái thần của nhân vật bằng những nét tiêu biểu nhất, đó chính là điều đặc sắc trong nghệ thuật tả người của Nguyễn Du. Nguồn:
Phân tích nghệ thuật tả người của Nguyễn Du qua đoạn trích Chị em Thúy Kiều mà em đã được học
873
Phân tích nghệ thuật tả người tả cảnh trong truyện Kiều của Nguyễn Du Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật tả người tả cảnh trong truyện Kiều của Nguyễn Du Có thể nói, dưới ngòi bứt của Nguyễn Du, bức vẽ về cùng một cảnh vật thiên nhiên hiện lên không hoàn toàn giống nhau. “Thiên nhiên trong Truyện Kiều cũng là một nhân vật – một nhân vật thường kín đáo, lặng lẽ nhưng không mấy khi không xuất hiện và luôn thấm đượm tình người. Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ Câu thơ thật đúng, thật hợp với tâm trạng nàng Kiều. Đặc biệt trong ngày tết thanh minh, khi ba chị em đang dừng trước nấm mộ vô chủ – Đạm Tiên: Nao nao dòng hước uốn quanh, Nhịp cầu nhó nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Sè sè nấm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Cũng trong ngày ấy, cũng là cái nơi có nhịp cầu và dòng nước chảy ấy, nhưng khi Kiều gặp Kim Trọng, lúc “khách đà lên ngựa, người còn ghé theo” thì cảnh quan thiên nhiên lại được miêu tả khác: Dưới cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha Trong lần thứ nhất, bức tranh phong cảnh được vẽ với những hình ảnh đều mang dáng dấp nhỏ nhoi, bó hẹp và phảng phất nỗi buồn của sự tàn lụi. Dòng nước “nao nao” là dòng nước không chảy róc rách, không réo rắt mà dường như nó đang buồn trước khung cảnh ảm đạm này. Còn nhịp cầu “nho nhỏ” thể hiện sự thu hẹp, cái bé nhỏ trong khoảng không rộng lớn. Một “nắm đất” “sè sè” bên đường thật cô đơn, thật lẻ loi, thật giá lạnh. Bởi không có được chăm sóc như những ngôi mộ khác. Nấm mộ thấp bé nằm chơ vơ bên lề đường, thật cô đơn và gợi nỗi sầu thương. Và ngay đến cả những đám cỏ con phải “rầu rầu”, cũng mang tâm trạng buồn bã, đau thương… Tất cả, từ dòng nước, nhịp cầu, nấm mồ đến ngọn cỏ… dường như đang chuẩn bị cho sự gặp gỡ một kiếp người bất hạnh. Và ngòi bút của Nguyễn Du cũng đã đồng cảm với nỗi lòng của người trong cảnh. Một nỗi buồn tê tái, ảm đạm đến lạ kì. Dường như tất cả mọi vật đều khép mình lại, đồng cảm vọng với nỗi lòng của nhân vật. Có thể nói đây là một bức tranh ám ảnh ghê gớm đến với cả người đọc. Nó chứa đụng những dự cảm chẳng lành. Nhưng đến bức tranh thứ hai thì lại khác. Vẫn là nhịp cầu và dòng sông ấy nhưng lại mang một vẻ gì thiết tha, lưu luyến. Bởi, ngay từ cái nhìn đầu tiên, ngay từ hình ảnh “Hải Kiều e lệ nép vào dưới hoa” đã làm cho Kim Trọng – một văn nhân tài tử “chập chờn cơn tỉnh cơn mê”… ”Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” đã được thi hào Nguyễn Du ghi lại một cách thần tình: Bóng tà như giục cơn buồn, Khách đà tên ngựa, người còn ghé theo. Rất tế nhị và thanh tao, cái giây phút rạo rực trong trái tim Kim Kiều cái lưu luyến, bịn rịn của một tình yêu đắm say chớm nở khiến Nguyễn Du viết nên những vần thơ tình tuyệt bút. Với bút pháp tả cảnh ngụ tình tác giả đã vẽ ra một không gian thật trong trẻo. Dường như tất cả mọi vật, từ chiếc cầu nhỏ xinh xinh, dòng nước trong veo lững lờ, cành liễu thướt tha trong bóng chiều nhạt… dường như cũng đang xao xuyến chứng kiến cho một mối tình đẹp vừa nảy nở. Cảnh vật đẹp và thơ mộng quá! Thiên nhiên như mang nặng tình người. Dòng nước trong veo chảy dưới cầu hay chính là mối tình đầu trong trẻo tinh khiết của Kim – Kiều? Mỗi cành liễu dài đang thướt tha bay trong làn gió nhẹ hay chính là lời chào của thiên nhiên gửi đến cho hai con người cho “người quốc sắc kẻ thiên tài”! Cả tâm cảnh và ngoại cảnh dường như hòa nhập với nhau tạo nên sự bâng khuâng, xao xuyến của Thúy Kiều và Kim Trọng. Dưới ngòi bút tinh tế, tài hoa của nhà thơ, hai bức tranh cùng vẽ về một cảnh vật đã hiện lên không hoàn toàn giống nhau. Một bức mang đầy u buồn, thê thảm, một bức lại chan chứa tình cảm thiết tha, lưu luyến. Điều đó càng chứng tỏ ngòi bút miêu tả của tác giả đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh tề.
Phân tích nghệ thuật tả người tả cảnh trong truyện Kiều của Nguyễn Du
788
Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Nếu như Quang Dũng nhớ nhung đoàn quân Tây Tiến của mình thì Nguyễn Đình Thi lại dựng lên một hình ảnh của những người dân Nam Bộ đấu tranh kiên cường trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngoài nội dung của bài văn thì các độc giả còn ấn tượng với nghệ thuật trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”. Tính nghệ thuật thứ nhất được nhắc tới đầu tiên trong truyện ngắn này đó là nghệ thuật trần thuật, tình huống truyện đơn giản nhưng lại mang tới một sức hấp dẫn cho người đọc. Điểm nhìn trần thuật được kể theo dòng hồi tưởng đứt nối của Việt – một chiến sĩ bị trọng thương theo phương thức kể thứ 3. Người kể chuyện dấu mình để nhường lại ngòi bút cho nhân vật trong truyện, lối kể nửa trần thuật nửa trực tiếp luôn thu hút người đọc, dẫn dắt tốt từ đầu tới cuối câu truyện. Với hình thức trần thuật này càng tạo điều kiện cho tác giả nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm của nhân vật để dẫn dắt câu chuyện đồng thời thể hiện rõ tính cách của nhân vật. Do đó làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn sinh động hơn. Đối với chị Chiến,chị nói không muốn Việt đăng ký đi vì sợ còn nhỏ không chịu đựng được những gian khổ mà chiến trường ác liệt đang bày ra sẵn, việc khó chị nhất định sẽ giành làm với em không muốn em mình phải chịu đựng gian khổ. Còn việt thì sao? khi nghe chị mình nói như thế chị cũng gàn đi và giơ tay đầu tiên. Đoạn hội thoại đã làm rõ nhất về tính cách của hai chị em như “ tao nói đợi năm sau thì mày đi” trong khi đó Việt lại nói “ Chị sợ chớ tôi đâu có sợ”. Không những thế, Việt đang còn trẻ con trong lời đối thoại với chị, khi nghe chị nói sắp xếp nhà cửa để chuẩn bị đi tòng thì Việt cứ tưởng những điều đó là do mẹ dặn trước khi mất. Tất cả đoạn đối thoại đều cho thấy được phẩm chất đáng khen của những đứa con trong gia đình đó. Họ có chút gì đó còn trẻ con nhưng lòng yêu quê hương đất nước thì không bao giờ tắt. Như vậy, chúng ta có thể thấy được truyện ngắn những đứa con trong gia đình đã phần nào góp thêm được phẩm chất, tính các đặc biệt, tinh thần bất khuất kiên trung của những anh hùng chiến sĩ cộng sản. Đặc biệt là người dân Nam Bộ chống Mỹ, cụ thể là nhân vật Việt, cậu là người có trái tim yêu quê hương gia đình, đất nước và xuất từ tình yêu thương ấy đi đến lí tưởng cao đẹp đó là giải phóng đất nước. đồng thời qua tác phẩm ta thấy rõ được tài năng xây dựng nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Thi. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
551
Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình Nguyễn Đình Thi là một nhà văn lớn luôn tỏa sáng trên nên trời văn học Việt Nam. Nếu như Quang Dũng nhớ nhung về đoàn quân Tây Tiến của mình thì Nguyễn Đình Thi cũng dựng lên những hình ảnh đẹp về người dân Nam Bộ đấu tranh chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khuất. Không những nội dung hấp dẫn mà chúng ta còn ấn tượng với nghệ thuật ở trong chính tác phẩm mà ông viết nên, đó chính là những đứa con trong gia đình. Một tác phẩm thành công không thể thiếu được nghệ thuật bởi vì vai trò của nghệ thuật chính là mang tới sự truyền đạt một cách hiệu quả nhất. Nó gây nên sự hấp dẫn đối với người đọc để cho người đọc có thể tiếp thu về tác phẩm một cách tốt nhất có thể, và đặc biệt là có thể hiểu hết được những tâm tư tình cảm cũng như về tư tưởng mà tác giả đang muốn truyền đạt. Trong tác phẩm những đứa con trong gia đình, nghệ thuật đầu tiên mà chúng ta phải nhắc tới đó chính là nghệ thuật trần thuật, tình huống truyện ở đây cũng rất đơn giản nhưng lại mang được sức hấp dẫn cho người đọc. Điểm nhìn trần thuật đã đươc kể bằng dòng hồi tưởng đứt nối của nhân vật Việt. Đó chính là ngôi kể thứ 3. Cách trần thuật như thế này mang lại một màu sắc trữ tình vừa đậm đà tự nhiên lại vừa sống động bởi vì chuyện này được kể qua con mắt của chính nhân vật ở trong tác phẩm này. Lần thứ hai khi Việt tỉnh dậy thì trời đang mưa lất phất, có cả tiếng của ếch kêu ran khiến cho Việt nhớ đến chuyện đi bắt ếch, nhớ về chú Năm và về cuốn sổ gia đình. Còn lần thứ 3 tỉnh dậy thì Việt đã nhận ra được đó là ban ngày, cậu ngửi được mùi của nắng và nghe thấy cả tiếng chim cu rừng quanh đâu đó và làm cho Việt nhớ đến má mình và chiếc ná thun. Lần thứ tư khi Việt tỉnh dậy thì cậu nghe thấy tiếng súng ở đâu đó, Việt lúc này lại thấy sợ cả con ma cụt đầu. Cứ như vậy mà câu chuyện của gia đình Việt đã được tái hiện lên giống như một thước phim quay chậm ở mãi trong lòng người đọc. Không dừng lại ở đây, nghệ thuật độc thoại và đối thoại nội tâm còn gây xúc động,hấp dẫn người đọc vô cùng. KHi chiến không muốn em trai mình đi đánh giặc vì sợ nó còn nhỏ không thể nào chịu được những khó khăn gian khổ ở trên chiến trường đang bày ra. Qua đó cho chúng ta thấy được đó là một người chị luôn hết mực yêu thương em mình. Còn Việt thì cũng vậy, ngày ghi tòng quân thì Việt nhất định giơ tay đầu tiên. Đặc biệt là nhà văn còn xây dựng cả nhân vật con người mang đậm chất Nam Bộ. Đó là những người rất đỗi bộc trực, sôi nổi, kiên cường và bất khuất làm sao. Tất cả những yếu tố đó đã hội tụ một cách đầy đủ nhất trong tác phẩm những đứa con trong gia đình. Thể hiện ở nhân vật Việt có bị thương như thế nào đi chăng nữa thì vẫn có thể cố nắm chắc tay súng của mình. Như vậy, qua đó chúng ta có thể thấy được truyện ngắn này góp phần tạo nên một tính cách và phẩm chất đặc biệt cá tính. Đặc biệt là nhân vật Việt có một tấm lòng yêu quê hương gia đình, và từ tình yêu thương ấy xuất phát tới lí tưởng cao đẹp hơn đó chính là chống giặc ngoại xâm để giải phóng cho đất nước. Đồng thời qua tác phẩm đó cho ta thấy rõ được tài năng xây dựng về nghệ thuật xây dựng của nhà văn Nguyễn Đình Thi.
Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình
720
Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa Một bông hoa đẹp không chỉ cần có màu sắc mà cần đến cả mùi hương, một bài hát hay không chỉ cần giai điệu đẹp mà còn cần đến lời hát ý nghĩa. Còn đối với một tác phẩm truyện ngắn ngoài những giá trị nhân đạo, hiện thực hay thẩm mỹ nghệ thuật thì đôi khi còn thành công và hấp dẫn người đọc bởi tình huống truyện độc đáo. Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm như thế. Truyện ngắn không chỉ thành công bởi ý nghĩa sâu sắc, nội dung phong phú hình tượng nghệ thuật mà còn thành công bởi tình huống truyện. Tình huống truyện là gì?. Bàn về tình huống truyện giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh có viết: “Tình huống truyện giống như một thứ nước rửa ảnh để làm nổi hình, nổi sắc nhân vật, nổi bật vấn đề tư tưởng của tác phẩm, sáng tạo tình huống trở thành nơi thử thách tài nghệ của nhà văn”. Có ba loại tình huống truyện đó là tình huống tâm lý, tình huống hành động, tình huống nhận thức. Trong đó chiếc thuyền ngoài xa thuốc loại tình huống truyện nhận thức. Cụ thể là nhận thức của nghệ sĩ Phùng khi chứng kiến cảnh đẹp trời cho sau đó lại là cảnh tượng đánh đập dã man. Câu chuyện được nhìn từ tự sự của Phùng cho nên trở nên gần gũi và khách quan hơn. Phùng là một nhiếp ảnh gia nổi tiếng và anh thích chụp những cảnh đẹpnghệ thuật. Vào năm ấy anh được cử đi công tác tại vùng biển để chụp bức ảnh thuyền và biển in vào trong bộ lịch năm ấy. Phùng đã đến vùng biển trong buổi sáng sớm tinh sương. Anh bắt gặp một cảnh tượng gần gũi mà như xa lạ, thực mà như mơ. Đó là cảnh tượng bầu trời đầy những sương giăng, ánh mặt trời hãy còn nhạt nhòa chưa lên nắng, một chiếc thuyền ngoài khơi xa in những nét lòa nhòa trong sương sớm. Phùng tưởng chừng đây là một cảnh trong tiên mờ ảo chứ không phải cảnh thật nữa. Nó giống một bức tranh mực tàu của họa sĩ thời cổ. Thế rồi Phùng chợt nhận ra nghệ thuật chính là đạo đức, ngắm nhìn cảnh biển anh cảm thấy lòng mình trong sạch tâm hồn như được thanh lọc vậy. Đây quả là một cảnh đắt hiếm có. Anh nhanh tay chụp lấy cảnh đẹp nghệ thuật ấy và yên trí rằng bộ lịch năm nay sẽ có cảnh đẹp mê li. Tình huống truyện được tạo nên từ nghịch cảnh giữa vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa với cái thật gần là sự ngang trái của trong gia đình thuyền chài, gánh nặng mưu dinh đè trĩu trên vai hai vợ chồng. Vì hoàn cảnh nên ông chồng trở nên vũ phu và đánh đập vợ con chứ thật ra ngày xưa ông là một anh cắt cỏ hiền lành chăm chỉ. Không những thế khi người đàn bà mặt giỗ kia mất bố mẹ lại ế chồng, ông đã dang tay che chở cho cuộc đời của bà ấy. Tuy nhiên cuộc sống đã làm cho ông thay đổi, chính vì nghèo khó mà lại lắm con cho nên ông đã trở thành một người hoàn toàn khác. Còn người đàn bà làng chài ấy, cũng vì số phận mà phải theo chồng lênh đênh trên biển. Vì các con bà nhẫn nhịn để cho ông chồng của mình đánh đập chỉ mong ông ta nguôi cơn giận để tiếp tục cùng nhau nuôi con. Đó là một sự hi sinh có ý nghĩa, bà đâu cam chịu một cách ngu ngốc chẳng qua bà vì các con của bà mà thôi. Còn đứa con kia cũng chính vì thương mẹ bảo vệ mẹ nên sẵn sàng cầm dao đâm vào người bố vũ phu. Sự thật nghiệt ngã ấy khiến cho Phùng không thể nào chấp nhận được vì thế cho nên anh quyết định nhờ đến sự giúp đỡ của chánh án Đẩu để giúp cho người đàn bà khốn khổ kia thoát khỏi cuộc sống đau khổ đó. Từ những nghịch lý ấy Nguyễn Minh Châu đã gửi cho bạn đọc một thông điệp về sự khám phá phát hiện mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Cái đẹp chính là sự hài hòa giữa chân thiện mỹ, bản thân cái đẹp chính là đạo đức. nghệ thuật phải gắn liền với đời sống, không thể rời xa cuộc sống này được. Đồng thời nhà văn mở ra cái nhìn khám phá về con người. Nhà văn đã khám phá sau vẻ xấu xí thô kệch của người đàn bà hàng chài là cả một sự hi sinh thầm lặng chịu đựng vì con cái. Có thể nói bà quả là một người mẹ điển hình cho những người mẹ Việt Nam. Nguyễn Minh Châu đã tìm thấy hạt ngọc ẩn dấu trong tâm hồn con người. qua đó nhà văn muốn nhắn nhủ ban đọc rằng đừng nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất, đừng vội đánh giá qua cái nhìn bề ngoài. Như vậy ta thấy tình huống truyện của tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa được nhà văn Nguyễn Minh Châu dày công xây dựng đã mang lại những hiệu quả lớn trong việc truyền tải ý nghĩa nội dung tác phẩm. Vẫn biết rằng văn học là một chỉnh thể thẩm mỹ hoàn chỉnh nhưng đôi khi vẫn cân lắm những tình huống truyện nhỏ bé để làm nên sức hấp dẫn và truyền tải ý nghĩa một cách sâu sắc của tác phẩm.
Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa
985
Đề bài: Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống truyện trong Chiếc Thuyền ngoài xa Bài làm I. Mở bài – Giới thiệu tác phẩm: HCST, nội dung – Giới thiệu vấn đề: “Chiếc thuyền ngoài xa” đã sáng tạo ra một tình huống nghịch lý, oái oăm, trớ trêu.. Bởi nhờ tình huống này mà tính tư tưởng của tác phẩm mới được thể hiện rõ. Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống truyện trong Chiếc thuyền ngoài xa II. Thân bài 1. Một là, nghịch lý giữa đời sống và nghệ thuật. Cả một tập thể nghệ sĩ nhiếp ảnh trong “dăm tháng” trời đã chụp được “hàng trăm bức ảnh đẹp, chụp công phu …”, được ông Trưởng phòng “là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến” đánh giá là “đẹp thì đẹp thực … và nhất là lại có hồn nữa. Đúng là những bức ảnh nghệ thuật”. Thế mà, cũng chính vì Trưởng phòng thông minh này lại “không thể chọn đủ cho mười hai tháng, vẫn đang còn thiếu một tờ”. Thì ra người nghệ sĩ dù có cố gắng bao nhiêu, nỗ lực bao nhiêu, đầu tư nhiều thời gian, bỏ ra nhiều tâm huyết và trí tuệ bao nhiêu cũng chưa thể đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống. Người nghệ sĩ không bao giờ được thoả mãn, phải luôn coi mục đích nghệ thuật luôn ở phía trước để phấn đấu. Đây có thể coi là thông điệp nghệ thuật thứ nhất của nhà văn. 2.Hai là, nghịch lý giữa cảnh đẹp của thiên nhiên thơ mộng trữ tình và di hoạ chiến tranh. – Cái bờ biển ấy, nó “thật là thơ mộng”, “thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu …”, thế nhưng lại có “những bãi xe tăng do bọn thiết giáp nguỵ vứt lại trên đường rút chạy hồi “tháng ba bảy nhăm” (bây giờ sau gần mười năm, đã bị hơi nước gặm mòn và làm cho sét gỉ)…”. Chi tiết này ít nhất cũng mang ba dụng ý nghệ thuật sau: + Thứ nhất, nó nhắc nhở người nghệ sĩ đừng bao giờ quên cái nghịch lý của đời sống. Nghệ thuật không chỉ ở cảnh đẹp thơ mộng mà còn ở cả cái hiện thực sần sù gai góc kia. + Thứ hai, để bạn đọc khỏi ngỡ ngàng nó như là một sự báo hiệu đưa dần bạn đọc vào chủ đề chính thể hiện ở những tình huống nghịch lý căng thẳng dữ dội hơn. + Thứ ba, nó nhắc khéo bạn đọc bối cảnh ra đời của câu chuyện là chưa xa một thời chiến tranh (chú ý một chi tiết nhỏ “sau gần mười năm”). Mà chiến tranh bao giờ cũng đi liền với sự mất mát, đau thương nên di hoạ, cả ở phương diện vật chất và phương diện tinh thần vẫn còn tồn tại dai dẳng. Do vậy, những điều gì xấu, phi nhân tính được đề cập ở phần sau của câu chuyện cũng không có gì lạ. 3.Ba là, nghịch lý giữa “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh” và cảnh con người lam lũ, vất vả, khổ đau. – Phải đến lần thứ năm Phùng mới được “một cảnh “đắt” trời cho”: “… Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào?”. – Phải có một bút lực mạnh mẽ, một sự am hiểu sâu sắc về hội hoạ, một sự nhạy cảm trước cái đẹp mới có thể viết nổi đoạn văn miêu tả “cái đẹp tuyệt đỉnh”, “toàn bích” này. Câu đầu là ước lệ, là cảm nhận chung “một bức tranh mực tàu …”. Các câu sau là những hình ảnh cụ thể với mũi thuyền trôi trong bầu sương mù, vài bóng người cả người lớn lẫn trẻ con, rồi những cái mắt lưới và tấm lưới … Cảnh thật huyền ảo (bầu sương mù trắng như sữa), tinh khôi, tinh khiết (màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào), vừa tĩnh tại (im phăng phắc), vừa sống động (hướng mặt vào bờ). Các tính từ láy loè nhoè, hồng hồng, phăng phắc, khum khum tăng cường thêm độ huyền ảo, như hư như thực. Các so sánh tinh tế trắng như sữa, im phăng phắc như tượng, y hệt cánh một con dơi làm đậm thêm chất tạo hình của bức tranh. Dường như ngôn từ bất lực trước cái đẹp, nhà hoạ sĩ buộc lòng phải đưa “cái tôi” chủ quan tham gia vào “quá trình thưởng thức”: “… đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào?” Làm cho bức tranh kia nhuốm thêm “sắc màu” tâm trạng. – Nhưng oái oăm thay, nghịch lý và trớ trêu thay, cảnh đẹp nhất, có hồn nhất lại là cảnh ẩn chứa những điều tệ hại nhất, xót xa nhất! + Đó là tiếng quát của gã ngư phủ: “Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”. + Đó là “một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ..”. + Đó là một gã đàn ông “mái tóc như tổ quạ … chân đi chữ bát …hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ…” + Chưa hết, tiếp theo là cảnh hành hung đánh đập, phi nhân tính rùng rợn: “Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay gắt, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa… chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két …” Khát vọng tìm đến cái đẹp để mong muốn làm cho con người đẹp lên là rất đáng quý nhưng người nghệ sĩ phải tỉnh táo để nhận ra cái thực tế phũ phàng của đời sống. Và đây cũng là lời cảnh tỉnh cho tất cả mọi người: hãy tỉnh táo trước cái đẹp. Bất cứ cái đẹp nào cũng rất có thể ẩn chứa những điều phức tạp đi ngược lại hạnh phúc của con người. Cái tình huống nghịch lý này trong Chiếc thuyền ngoài xa đã xua tan màn khói lãng mạn phủ lên hình ảnh tuyệt đẹp kia để làm trơ ra cái sự tàn nhẫn của đời thường. Người nghệ sĩ không chỉ nhận thấy cảnh đẹp lãng mạn bên ngoài kia mà còn phải nhìn thấy cả cảnh hành hạ man rợ của lão ngư phủ nọ. Đây là bài học, là trách nhiệm, cũng là lương tâm của nghệ thuật. – Nhà văn đã sử sụng nguyên tắc nghịch lý, đối lập trong xây dựng nhân vật: cái tốt cái xấu lẫn lộn, đan cài với nhau. + Người đàn bà xấu xí thô kệch ấy có vẻ bề ngoài thật quá nhẫn nhục, cam chịu “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng vẫn không chịu “chia tay” với gã chồng vũ phu tàn bạo. Bởi vì, như lời giãi bày gan ruột của người mẹ đáng thương ta mới thấy bà có một tấm lòng hi sinh vô bờ “ … đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa… Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình…”. + Còn gã đàn ông kia cũng không hẳn hoàn toàn xấu. Theo lời vợ lão thì đó “ là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập..”. Vẫn theo lời vợ lão thì là do lão “khổ quá” vì làm ăn nuôi con. Rồi đói, khi “ông trời làm biển động suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối… ”. Trước sau thì hắn vẫn là người lao động lương thiện, hơn nữa lại là lao động chính, kiếm sống bằng mồ hôi nước mắt của mình để nuôi mười mấy miệng ăn. Lão đánh vợ để giải toả những bức bối. Ta hãy để ý khi đánh vợ lão cũng đau đớn “Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn”. Lão cũng không phải là kẻ hiếu chiến, không phải là kẻ chỉ thích gây gổ đánh đấm người khác, bằng cớ là ngay Phùng cũng khẳng định “lão đánh tôi hoàn toàn vì mục đích tự vệ”. + Còn thằng Phác đứa trẻ sớm lam lũ lao động, hồn nhiên và rất thương mẹ… Bên cạnh những phẩm chất ấy trong nó cũng ẩn chứa một tính côn đồ nguy hiểm: sẵn sàng cầm dao đâm bố để cứu mẹ. Nó sớm đã có ý thức báo thù bằng cách lấy bạo lực để ngăn cản bạo lực. Như vậy, nhân vật trong Chiếc thuyền ngoài xa được cấu trúc với tất cả sự phức tạp của nó, không hẳn xấu cũng không hẳn là kẻ tốt. Xét đến cùng lão chồng vừa là thủ phạm gây ra cảnh đau đớn cho người vợ, cho con đẻ đồng thời cũng lại là nạn nhân của cuộc sống còn tăm tối khốn khổ. Người vợ cũng vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm, mà theo chính lời mụ thì là do “cái lỗi…là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá”. Thằng Phác cũng thế, vừa là nạn nhân của thói côn đồ lại vừa là thủ phạm kích động thói côn đồ và chính nó cũng sớm có tính côn đồ. Những nhân vật đó chưa mang chiều kích của nhân vật tính cách với những quá trình phát triển tâm lý nhưng nó đã làm tốt chức năng thể hiện chủ đề tác phẩm. III.Kết bài – Khái quát các ý chính – Nhận xét đánh giá về nghệ thuật xât dựng tình huống của NMC.
Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống truyện trong Chiếc Thuyền ngoài xa
1,825
Phân tích nghệ thuật đặc sắc của ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố trong Tức nước vỡ bờ Hướng dẫn Phân tích nghệ thuật đặc sắc của ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố trong Tức nước vỡ bờ Ngô Tất Tố là một cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Trong cuộc đời sáng tác văn chương của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm được coi là những kiệt tác nghệ thuật. Trong số ấy, tiểu thuyết Tắt đèn xứng đáng là một áng văn tiêu biểu cho tài năng và phong cách nghệ thuật của Ngô Tất Tố. Tắt đèn là một cuốn tiểu thuyết chỉ có vài trăm trang. Một dung lượng không nhiều nhưng vừa đủ để Ngô Tất Tố khái quát được xã hội nông thôn Việt Nam đương thời một cách tập trung, điển hình nhất. Giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết Tắt đèn, thiết nghĩ phải tốn khá nhiều giấy mực để bàn luận. Trong giới hạn của bài viết này, chúng ta hãy dừng lại ở việc tìm hiểu những nét đặc sắc của ngòi bút Ngô Tất Tố trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ. Đây là đoạn văn hay, rết tiêu biểu cho bút pháp tiểu thuyết của tác giả Tắt đèn. Nét nổi bật nhất và cũng là thành công nhất của Ngô Tất Tố chính là nghệ thuật khắc họa nhân vật. Chỉ với chưa đầy ba trang văn, Ngô Tất Tố đã xây dựng được hai nhân vật đạt đến mức điển hình bất hủ. Đó là cai lệ và chị Dậu. Cai lệ chỉ là một tên tay sai mạt hạng, không có tên riêng, nhưng lại được tác giả tập trung miêu tả nổi bật, trở thành một tính cách điển hình với đầy đủ những nét chung và riêng. Cai lệ là hình ảnh đại diện cho bọn tay sai nói riêng và đại diện cho cái chính quyền thực dân tàn bạo, bất nhân nói chung. Hắn phảng phất cái bóng dáng của tất cả những tên tay sai hung hãn ngoài đời cũng như các sáng tác hiện thực lúc bấy giờ. Những cai lệ là một tên tay sai không giống với bất cứ tên nào mà ta đã gặp. Hắn có những đặc điểm riêng không thể trộn lẫn, và được tô đậm. Đây là giọng quát thét hông hách (Thằng kia!, mày định nói cho cha mày nghe đấy à?); những lời xỏ xiên đểu cáng (Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à?); và những hành động hung hãn (Bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch, Tát vào mặt chị một cái đánh bốp, Sấn đến để chói anh Dậu, Nhảy vào cạnh anh Dậu…). Và đây, cái giọng khàn khàn vì hút nhiều xái cữ, cái thân hình lẻo khoẻo vì nghiện thuốc phiện, cái tư thế ngã chỏng quèo mà miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu,..Tất cả những chi tiết đó đã tạo nên một tên tay sai vừa trắng trơn, tàn ác, vừa đểu giả, đê tiện. Hình ảnh ấy đã để lại một ấn tượng đặc biệt trong lòng độc giả: vừa khinh bỉ ghê tởm, vừa căm ghét. Trong đoạn trích, chị Dậu là người có đời sống nội tâm khá phong phú. Ngòi bút Ngô Tất Tố đã lách sâu vào tâm hồn nhân vật để thể hiện nó một cách chân thực và biện chứng. Từ chỗ nhẫn nhục chịu đựng, tha thiết van xin, đến chỗ tức quá không thể chịu được, mà liều mạng cự lại; từ thái độ lễ phép, tôn trọng tên cai lệ đến sự ngỗ nghịch, đanh đá nghiến răng: Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem, rồi bất chấp thà ngồi tù xông vào đấu sức với hai tên tay sai… Tất cả vừa phù hợp với lôgíc khách quan của cuộc sống: Tức nước vỡ bờ, vừa phù hợp với tính cách chị Dậu. Cùng với thành công về phương diện xây dựng nhân vật, Ngô Tất Tố còn sử dụng ngòi bút miêu tả rất linh hoạt, sinh động. Chỉ một vài nét phác họa, nhà văn đã vẽ ra trước mắt người đọc những cảnh tượng sống động khiến họ có cảm giác như đang tận mắt chứng kiến nó. Đặc biệt trong đoạn văn miêu tả cảnh chị Dậu liều mạng cự lại hai tên tay sai. Dưới ngòi bút thần tình của Ngô Tất Tố, các hoạt động diễn ra dồn dập mà vẫn rất rõ nét: từ hành động của tên cai lệ (tát chị Dậu và nhảy vào anh Dậu) đến việc chị Dậu nghiến hai hàm răng rồi túm tóc tên cai lệ, ấn dúi ra cửa khiến hắn ngã chỏng quèo; từ việc tên người nhà lí trưởng sấn sổ bước đến giơ gậy chực đánh đến việc hai bên giằng co, vật nhau, rồi chị Dậu túm lấy tóc hắn lẳng cho một cái khiến tên này ngã nhào ra thềm… tất cả diễn ra mau lẹ như trong một pha gay cấn của một cuốn phim; vừa diễn tả được diễn biến truyện vừa thể hiện được tính cách, tâm lí nhân vật, và sức sống mạnh mẽ, tinh thần phản kháng tiềm tàng của chị Dậu. Có thể nói, Ngô Tất Tố có óc quan sát rất tinh tường.(Vũ Trọng Phụng) và miêu tả tuyệt khéo (Phan Ngọc). Một đặc sắc nghệ thuật nữa của đoạn trích là ngôn ngữ kể chuyện, miêu tả của tác giả và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. Trong ngôn ngữ kể chuyện và miêu tả, tác giả sử dụng rất nhiều từ ngữ vừa giàu sắc thái biểu cảm, vừa phù hợp với ti hân vật và các hoạt động. Điệu bộ của bá lão láng giềng thì lật đật; thằng Dần thì vục đầu vừa thổi vừa húp soàn soạt, anh Dậu thì uốn vai ngáp uể oải chống tay…, ngẩng đầu lên, run rẩy, lăn đùng; bọn tay sai ban đầu thì nhảy vào, sấn sổ, sau đó, đứa thì ngã chồng quèo đứa thì ngã nhào… Tất cả những ngôn từ ấy đều rất sống, rất có hồn. Bên cạnh đó, những khẩu ngữ của quần chúng nông dân như thầy em, nhà cháu được Ngô Tất Tố sử dụng rất hồn nhiên, nhuần nhuyễn, khiến cho câu văn giản dị mà đậm đà, mang hơi thở của đời sống. Những thành công và đặc sắc Ngô Tất Tố trong đoạn trích cũng là những thành công nghệ thuật của tác phẩm. Nghệ thuật ấy kết hợp với giá trị nội dung tư tưởng, đã đem lại sự hấp dẫn và sức sống lâu bền cho cuốn tiểu thuyết này.
Phân tích nghệ thuật đặc sắc của ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố trong Tức nước vỡ bờ
1,141
Phân tích nghịch lí trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa Hướng dẫn Phân tích nghịch lí trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu là người “mở đường tinh anh nhất” của nền văn học thời kì đổi mới. Truyện ngắn chiếc thuyền ngoài xa là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của ông. Truyện được sáng tác vào tháng 8-1983. Không những thế tác phẩm này còn đánh dấu sự chuyển thể từ cảm hứng lãng mạn sang cảm hứng thế sự của nhà văn. Nguyễn Minh Châu thời kì này đã đi vào tìm kiếm những hạt ngọc ẩn sau trong tâm hồn con người và khám phá những nghịch lí của cuộc sống. Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm thể hiện rõ nhất sự nghịch lí của cuộc đời mà Nguyễn Minh Châu đã khám phá và phát hiện ra. Nghịch lí thứ nhất là bức tranh toàn cảnh thuyền và biển trong buổi sáng tinh sương lúc xa và lúc gần bờ. Nói cách khác thì ở đây chính là sự nghịch lí trong chính nghệ thuật. Sự khám phá phát hiện ấy được thể hiện qua nhân vật nghệ sĩ Phùng. Anh là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng được giao đi công tác tại vùng biển để chụp khoảnh khắc thuyền và biển cho bộ lịch năm ấy. Và tại đây nghệ sĩ phùng đã được chứng kiến một cảnh đẹp trời cho. Thuyền và biển trong làn sương sớm giống như “một bức tranh mực tàu của họa sĩ thời cổ”. Anh chợt nhận ra một vẻ đẹp toàn bích mà lâu nay rất gần gũi với đời sống của chúng ta. Đúng là nghệ thuật sinh ra từ cuộc sống này. Mọi đường nét của bức ảnh ấy đều hài hòa nhẹ nhàng. Mũi thuyền in những nét lòa nhòa trong làn sương sớm ấy. Chứng kiến ấy Phùng thấy lòng mình trong trẻo thanh cao hơn. Anh thấy trái tim như có ai bót thắt lại. Qủa thật đối với một người nghệ sĩ khi chứng kiến được tác phẩm nghệ thuật đẹp của cuộc sống này thì sung sướng và hạnh phúc biết bao. Đó là giây phút trong ngần trong cuộc đời anh. Phùng nhận ra cái đẹp là đạo đức là chân thiện mỹ. Chiêm ngưỡng cảnh đẹp nhưng anh cũng không quên bấm máy để bắt kịp cái khoảnh khắc tươi đẹp của cuộc sống ấy. Phùng bất bình và không tin vào mắt mình khi thấy cảnh tượng ấy. Người đàn bà không hề phản ứng lại mà chỉ cam chịu cắn răng chịu đau cho ông chồng đánh. Một thằng bé cầm dao chạy đến như muốn lấy mạng cha mình. thế rồi bị cha tát cho một cái lăn quay ra nền cát. Ông ta bỏ đi để lại vợ và con mình trên bãi cát dài ấy. Người đàn bà nước mắt giàn giụa lắp đầy cả những nốt giỗ lỗ chổ trên mặt ôm thằng con vào lòng mà khóc. Cảnh tượng ấy nghịch lý hẳn so với bức tranh chân thiện mỹ kia. Tạo nên sự nghịch lý ấy Nguyễn Minh Châu muốn nói với chúng ta về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Mối quan hệ ấy khăng khít gắn bó với nhau, chính đời sống sinh ra nghệ thuật. Điều cơ bản là nghệ thuật kia phải gắn với đời sống và không được rời xa cuộc sống. Như thế mới gọi là nghệ thuật đích thực. Cuộc sống này cũng có nhiều sự nghịch lý đa đoan như thế nên chúng ta không thể nhìn một cách phiếm diện một chiều. Qua sự nghịch lý ấy ta thấy cuộc đấu tranh chống bạo lực gia đình tha hóa đạo đức còn gian nan hơn cả cuộc chiến tranh chống xâm lược. Trong khi đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội dân chủ công bằng thì ở đâu đó vẫn tồn tại những bạo lực gia đình. Đôi khi nhà nước không thể lo hết được những việc vụn vặt của từng gia đình. Sự nghịch lí trên nhà văn muốn gửi tới bạn đọc một thông điệp về cách nhìn nhận đánh giá một con người. Không nên nhìn theo dáng vẻ bề ngoài mà phải khám phá được điều tốt đẹp bên trong tâm hồn họ. Con người Việt nam luôn được đánh giá như những câu tục ngữ mà ông bà ta để lại. Đó là “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “đẹp nết hơn đẹp người”. Tóm lại nhà văn Nguyễn Minh Châu đã xây dựng thành công những nghịch trong tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa. Qua đó nhà văn muốn thể hiện tất cả những sự vật hiện tượng xung quanh cuộc sống của chúng ta đều tồn tại những mặt đối lập. Những mặt ấy bổ sung cho nhau. Thế nên chúng ta không nên nhìn sự vật hiện tượng hay con người một chiều, phiếm diện. Đối với cuộc sống phức tạp này cần có cái nhìn đa chiều để đánh giá đúng nhất về bản chất của sự vật hiện tượng con người đó.
Phân tích nghịch lí trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa
867
Đề bài: Phân tích nghịch lý trong Chiếc thuyền ngoài xa Bài làm “Chiếc thuyền ngoài xa” là nhan đề một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, được in trong tập Bến quê (1985), sau đó được đưa vào và dùng làm tên cho một tuyển tập -gồm 15 truyện- do nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1987. Thiên truyện được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học lớp 12 phổ thông- cả ban khoa học xã hội – nhân văn lẫn ban cơ bản. Truyện gồm 5 phần mở ra bao nghịch lí đời thường: một người trưởng phòng mẫn cán muốn có tờ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về thuyền và biển có sương giữa mùa tháng Bảy nhưng thực tế không thể tước bỏ được hình ảnh con người; người nghệ sĩ -Phùng- thu vào ống kính mình một cảnh thuyền và biển thật đẹp thì chính từ cảnh đó lại xuất hiện những cái thật xấu; một người đàn bà bị chồng hành hạ một cách vô lí nhưng không bao giờ muốn từ bỏ kẻ độc ác ấy; những người chiến sĩ nhiệt thành, dũng cảm đã từng chiến đấu giải phóng miền Nam khỏi nanh vuốt quân xâm lược Mĩ nhưng lại không thể làm thế nào để giải thoát cho một người đàn bà bất hạnh,v.v..Đấy là những minh chứng sinh động cho cách nhìn đa diện của Nguyễn Minh Châu, như chính ông từng khẳng định: “ Nhà văn không có quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phải phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử”. Phân tích nghịch lý trong Chiếc thuyền ngoài xa Phần mở truyện kể trọn vẹn sự cần thiết phải có bức ảnh. Nguyên- trưởng phòng- “là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến” yêu cầu tổ nhiếp ảnh “ Phải có một bộ sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật”. Suốt năm tháng làm việc khá thông đồng bén giọt, tổ nhiếp ảnh nghệ thuật đã mang về không biết cơ man nào là ảnh nhưng cũng chỉ có 11 bức được lọt vào cặp mắt xanh của viên trưởng phòng “ sâu sắc nước đời”. Một bức ảnh còn thiếu hụt oái oăm kia được trưởng phòng tin cẩn giao cho “tôi”(tên là Phùng – nhân vật người kể chuyện) phải săn tìm cho được. Mà là tấm ảnh chụp có “ sương biển” giữa mùa tháng bảy – cái tháng mà thông thường “chỉ có bão táp với biển động”. Thật là một vụ gieo trồng trái vụ vì thông thường“ Muốn lấy sương thì phải nghĩ đến từ tháng ba!”. Nhưng rồi “ khi nên trời cũng chiều người”, “ tôi” đã trở lại vùng biển chiến trường xưa, cách Hà Nội sáu trăm cây số” và vác máy nằm “phục kích” ở chính cái nơi mà “ dường như trong suốt dải bờ biển khắp cả nước, chỉ ở đây vào giữa tháng bảy là còn sương mù”. Đây cũng còn là quê của một đồng đội cũ của “ tôi”, giờ đang là Chánh án toàn án huyện. Thật là gồm đủ “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”. Và Phùng đã bỏ qua nhiều cảnh có “không khí vui nhộn hơi thô lỗ và thật hùng tráng” để chớp lấy cái khoảnh khắc “ đắt” trời cho”. Đó là cảnh đẹp như “ một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn và trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ…”. Nhà nghệ sĩ dạt dào một cảm hứng nghệ thuật, trải qua một khoảnh khắc yên-sĩ –phi –lí thuần tuyệt diệu: “ toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? (…). Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.”. Và tuyệt tác đã ra đời trong sự hưng phấn nghệ thuật tuyệt vời- “ cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”. Cần chú ý thành phần phụ chú “ do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại” trong lời kể chuyện. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, cảm nhận và chớp lấy cái đẹp tuyệt diệu hiện ra trong khoảnh khắc. Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền giữa biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận Mĩ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, thanh lọc trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cảnh vật. Đó là niềm hân hoan của người nghệ sĩ sau phát hiện thứ nhất. Một niềm hân hoan mãn nguyện. Như thế, xét riêng về công vụ, nhiệm vụ của ‘tôi” lúc này đã hoàn thành. ‘ Tôi” đã có cảnh thuyền và biển trong sương đúng như đặt hàng của trưởng phòng, mặc dù giữa mùa tháng bảy! Và ‘ tôi” đã có thể ung dung “ nhảy lên tàu hoả trở về”. Nếu khéo liên hệ một tí, ta dễ thấy nếu như nhân vật “ tôi” về ngay lúc đó khác nào cô Nguyệt ( trong Mảnh trăng cuối rừng) xuống xe ở cầu Đá Xanh. Tức là chỉ dừng lại ở chỗ được hưởng cái may mắn do cuộc đời đem lại cho mình. Phần đầu truyện như thế đủ cho người đọc biết xuất xứ của bức ảnh nghệ thuật đặc sắc trên cuốn lịch năm mới kia ra đời thế nào. Và nếu nghĩ sâu xa hơn thì cũng cần bấy nhiêu ấy cũng đủ cho bộ môn lí luận nghệ thuật khái quát về mối quan hệ giữa công phu lao động nghệ thuật của nghệ sĩ và thực tế cuộc sống, theo tinh thần mà Chế Lan Viên đã khái quát bằng thơ: “Bài thơ anh, anh làm một nửa thôi/ Còn một nửa để mùa thu làm hộ” Phần kết truyện cho biết người trưởng phòng rất hài lòng với bức ảnh và bức ảnh không chỉ sống cuộc đời một cuốn lịch năm mà “mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”. Theo dòng kể của ‘tôi” rõ ràng chiếc thuyền được chụp trong một cự li tương đối gần – “ một chiếc thuyền lưới vó…đang chèo thẳng vào trước mặt tôi”- nhà nghệ sĩ nhìn rõ cả “những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó”. Người thưởng thức bức ảnh thông thường chắc không ai không cảm nhận chiếc thuyền đang được chụp trong một cự li gần như thế. Thế nhưng vì sao tác giả lại đặt nhan đề truyện là “chiếc thuyền ngoài xa”? Nhan đề vốn cần cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản. Nếu như nhan đề chỉ đơn thuần phản ánh các đối tượng thì hẳn chiếc thuyền trong ảnh không phải là ngoài xa! Phải chăng nhan đề đó phản ánh cách nhìn của tác giả đối với đối tượng. Thật vậy, theo yêu cầu của trưởng phòng, bức ảnh phải săn tìm lần này “Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật” nhưng bức ảnh chụp được lại có ‘vài bóng người lớn lẫn trẻ con”. Như không sao vì dù có người thì người cũng chỉ “ngồi im phăng phắc như tượng”! Điều đáng nói là bức ảnh tĩnh vật như thế đã ghi nhận được cái gì? Truyện cho ta thấy đấy quả là một bức ảnh đẹp được chụp từ một cự li khá gần nhưng cái cách tiếp cận “ thực tế”, tiếp cận “ nguyên mẫu” như thế là cách tiếp cận từ xa! Vì sao vậy? Vì nhà nghệ sĩ chỉ thu được cái hình hài bên ngoài, cái thơ mộng bên ngoài của cảnh và người. Nói như vậy vì sau cái phát hiện thứ nhất đầy hạnh phúc đã nói ở trên, người nghệ sĩ nhiếp ảnh lại có phát hiện thứ hai. Nhưng phát hiện lần này không phải được ghi vào ống kính mà nó đã hằn sâu trong tâm thức người nghệ sĩ. Đó là cái nghịch lí, nó bất ngờ và trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống. Chỉ trước đó mấy phút, nghệ sĩ Phùng đã từng có cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình và anh cũng đã từng chiêm nghiệm “bản thân cái đẹp chính là đạo đức” vậy mà hoá ra đằng sau cái đẹp “ toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển kia chẳng phải là “đạo đức’ là chân lí của sự hoàn thiện vì ngay sau đó anh đã chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ ấy bước ra một người đàn bà xấu xí mệt mỏi và cam chịu, một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác, coi việc đánh vợ như một phương cách để giải thoát những uất ức khổ đau. Nghịch lí cuộc đời là ở chỗ ngay sau khi nhà nghệ sĩ “ săn tìm” được cái đẹp trong cảnh vật để sáng tạo ra cái đẹp nghệ thuật kia, thì anh ta đã phải chứng kiến một cảnh đời cay cực, ngang trái mà không một người bình thường nào có thể ngoảnh mặt làm ngơ, nói chi đến nghệ sĩ vốn được coi là những con người đa cảm, đa mang! Là nghệ sĩ và đã từng là một người lính, chứng kiến cảnh thằng con- tên Phác- vì thương mẹ mà đánh lại cha, khi thì bằng chính chiếc thắt lưng lính nguỵ mà người cha của nó dùng để đánh mẹ nó, khi thì định dùng cả “ám khí” là một con dao găm lận ‘trong cạp quần đùi”, nhân vật “ tôi” đã không khoanh tay ngồi nhìn vì “ bất luận trong hoàn cảnh nào, tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”. Và hậu quả của hành động can thiệp đầy nghĩa khí‘ giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha” ấy là việc Phùng đã bị thương vì người chồng kia chống trả quyết liệt để tự vệ. Vậy cái cảnh thơ mộng đẹp đẽ mà anh thu được vào ống kính Pratica và cái cái cảnh đời ngang trái mà trong tư cách cựu chiến binh anh đã chứng kiến và tham dự cái nào cận nhân tình hơn? Phùng cay đắng nhận thấy những cái ngang trái xấu xa, những bi kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là thứ thuốc rửa quái đản làm những thước phim huyền diệu mà anh dày công và may mắn chụp được bỗng hiện hình thật khủng khiếp ghê sợ. Do đó ảnh chụp chiếc thuyền thơ mộng kia chẳng phải là kết quả của lối tiếp cận hiện thực từ xa ư? Chiếc thuyền ngoài xa được chụp trong cự li gần là với ý nghĩa như vậy! Chưa hết, do dưỡng thương và nể bạn nên Phùng nán lại thêm mấy hôm ở mảnh đất ấy và chính lần này anh mới vỡ ra mọi lẽ. Chứng kiến buổi làm việc giữa Đẩu – người đồng đội cũ của mình giờ là Chánh án toàn án huyện- và người phụ nữ khốn khổ kia, Phùng mới hiểu ra rằng: Thì ra nếu chiếc thuyền chụp được thật đẹp đẽ và cái cảnh anh được chứng kiến rất tàn tệ kia là hai mặt đối lập nhưng thống nhất, như hai mặt của một tờ giấy trong cuộc đời gia đình nhà chài nọ. Vì sao người phụ nữ phải cam chịu một bề, không chống trả những trận “đòn chồng” và cũng không chịu li dị, hiểu theo nghĩa nào đó là không chịu “ giải phóng” mình. Cái lí do chị đưa ra đã khiến hai người cựu chiến binh tốt bụng – một là một nghệ sĩ, một được mệnh danh là một Bao công- đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Hãy nghe người đàn bà bất hạnh ấy tâm sự, lí giải: -“ Chị cảm ơn các chú! Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc…” – “ Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão ách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu. giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ…Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh” – “ Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông …Cũng có khi biển động sóng gió chứ?”. Chỉ qua lời giãi bày thật tình của người phụ nữ đáng thương đó, Phùng, Đẩu mới thấy rõ nguồn gốc mọi sự chịu đựng, hi sinh của bà là tình thương vô bờ đối với những đứa con “ đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới một chục đứa…phải sống cho con chứ không phải sống cho mình…”. Đến lúc này đây thì cả hai người đàn ông hiểu ra rằng mọi ý nghĩ theo kiểu yêu cầu người phụ nữ bỏ chồng là xong, lên bờ sống là xong đều là những ý nghĩ đơn giản, cạn cợt. Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc và trân trọng những hạnh phúc nhỏ nhoi: ‘ Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no” “trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận vui vẻ”. Cái vòng luẩn quẩn của những kiếp người cần lao quả thật đầy bất ngờ đối với Phùng, vốn đã trải qua mấy năm chiến đấu tại mảnh đất này, đã giải phóng mảnh đất này và hiện đang là nhà báo từng dong ruổi nhiều nơi! Và anh cũng kịp nhận ra rằng vì sao ông lão (cha người phụ nữ) làm nghề sơn tràng “ ở tận trên miền rừng A So” và thằng cháu ngoại lại hay xuất hiện ở miệt biển này và tại sao trong buổi sáng chia tay anh ông lão luôn “đặt hai con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền”. Vậy, với tất cả những điều ấy, “chiếc thuyền nghệ thuật” của anh đã nói được cái gì cận nhân tình chưa hay cũng chỉ là “ chiếc thuyền ngoài xa”? Nhan đề ấy phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng. Tóm lại, qua thiên truyện và cách đặt tên nhan đề, ta thấy nhân vật “ tôi” vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn với những gì ống kính của mình đã thu được. Đằng sau bức ảnh chiếc thuyền thơ mộng ấy còn là những cuộc đời, những con người lầm lụi, khốn khổ đến quẫn trí và giải toả cái quẫn trí ấy bằng những giải pháp hết sức kì quặc. Bức ảnh “thuyền và biển” kia đã nói được gì đâu. Và đó là cách để nhà văn Nguyễn Minh Châu bộc lộ thiên hướng muốn nắm bắt hiện thực ở bề sâu ẩn kín chứa đầy những nghịch lí, mâu thuẫn của đời sống hậu chiến tranh và đó cũng là đặc điểm nổi bật mới mẻ của phong cách Nguyễn Minh Châu, người tiên phong tinh tường và tài ba trên hành trình đổi mới văn học nước nhà. Có thể hiểu “ Con thuyền ngoài xa” là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống. Chính khát vọng muốn tìm đến cái đẹp, cái hài hoà, muốn làm cho con người hạnh phúc nhiều khi đã đưa người ta đến chỗ giản đơn hoá không nhận ra cái thực tế khắc nghiệt thì suy cho cùng cũng chỉ là một kiểu “ lướt nhẹ trên bề mặt cuộc sống” chứ đâu đã là thứ nghệ thuật “ là tiếng đau khổ…thoát ra từ những kiếp lầm than” ( Nam Cao- Trăng sáng). Từ đó, có thể phát hiện ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa: Khi con thuyền đối tượng của nghệ thuật được chiếm lĩnh từ xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, nhưng sự thực cuộc đời có lẽ phải được chiếm lĩnh ở cự li gần. Đừng vì nghệ thuật thuần tuý mà bỏ quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người biết yêu ghét, vui buồn trước cuộc đời, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người. Với ý nghĩa ấy, phần nào gợi ra những liên tưởng tương đồng với truyện “Trăng sáng” của nhà văn tiền bối Nam Cao. Hỏi có ai như chính tác giả của bức ảnh Chiếc thuyền ngoài xa” thấy được rằng “tuy là ảnh đen trắng, nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi lại thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hoà lẫn trong đám đông”. Phải chăng đó là “nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải” cho hạnh phúc con người của nhà văn lớn Nguyễn Minh Châu.
Phân tích nghịch lý trong Chiếc thuyền ngoài xa
3,267
Phân tích nguyên lí tảng băng trôi trong tác phẩm Ông già và biển cả Hướng dẫn Phân tích nguyên lí tảng băng trôi trong tác phẩm Ông già và biển cả Bài làm * Về hình tượng ông lão Xanchiagô trong cuộc chiến với đàn cá dữ: Xanchiagô trong cuộc chiến với đàn cá dữ xuất hiện ở phần cuối của tác phẩm, sau 3 ngày, 2 đêm vật lộn vối sóng gió và việc kìm giữ con cá kiếm đã làm cho ông lão mệt nhoài. Cuộc chiến lại diễn ra khi thời tiết khắc nghiệt, rất lạnh giá, vào lúc nửa đêm, khi ông lão đang buồn, thậm chí đã rơi vào tình thế vô vọng. Nhưng bằng sự nhạy bén của một ông già từng có nhiều kinh nghiệm nơi biển cả, ông lão đã huy động mọi giác quan vào cuộc chiến. Về thị giác: giữa đêm đen giá lạnh, ông lão không nhìn thấy đàn cá mập, chỉ nhìn thấy các vệt nước, ánh lân tinh.. Về thính giác lão cố thể phỏng đoán hoặc nghe thấy tiếng ràng bập, tiếng chày gãy. Về xúc giác: không trực tiếp tiếp xúc với đàn cá nhưng cảm nhận được chúng qua một dụng cụ trung gian. Qua đó, có thể khẳng định ông lão Xanchiagô là một con người bình thường mà cao cả, ngay cả lúc tưởng như đã kiệt sức và vô vọng vẫn chiến đấu đến cùng. Đó là biểu tượng về khát vọng vĩ đại của con người trong cuộc sống: không gục ngã, không đầu hàng số phận. Phần nổi của “tảng băng” trong câu chuyện này là: ông lão nhỏ bé, yếu ớt, lại đang vò vọng trước biến cả phải đương đầu với cả một đàn cá dữ khổng lồ. Kết quả, ông lão thất bại, thành quả lao động bị cướp sạch. Phần chìm của “tảng băng” là: Hành trình không mỏi mệt theo đuổi một khát vọng to lớn vượt ra ngoài giới hạn của con người. Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích nguyên lí tảng băng trôi trong tác phẩm Ông già và biển cả
332
Đề bài: Phân tích ngôn từ nghệ thuật trong bài thơ Đàn ghi ra của Lor-ca Dàn ý I. Mở bài: Giới thiệu về tác giả và tác phẩm Nhà thơ Thanh Thảo một nhà thơ luôn có những nỗ lực cách tân cho nền thơ ca hiện đại. Thơ ông là tiếng nói của những người tri thức nhiêu suy tư, trăn trở về cuộc sống, đặc biệt là cách cảm nhận cuộc sống theo chiều sâu – Bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca là một trong những sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong xúc cảm và ít nhiều mang màu sắc tượng trưng siêu thực. Lor – ca là một nhà cách tân nghệ thuật hiện đại. Tạo dựng hình ảnh Lor – ca,chuyển tải thông điệp tư tưởng – nghệ thuật của ông. Thanh Thảo đã sử dụng hệ thống ngôn từ nghệ thuật mới mẻ và hiện đại. Phân tích ngôn từ nghệ thuật trong bài thơ Đàn ghi ra của Lor-ca II. Thân bài Nghệ thuật ngôn từ thể hiện trong bài thơ Bài thơ như giai điệu của một bản nhạc, có phần nhạc đệm của đàn ghi ta: chuỗi luyến láy trong bài thơ làm nên những tiếng ngân vang, những chùm hợp âm vĩ thanh. – Ngôn ngữ sử dụng là ngôn ngữ tượng trưng: + Ngôn ngữ diễn là âm thanh theo lối tượng trưng, làm cho người đọc liên tục chuyển đổi cảm giác: âm thanh vỡ thành màu sắc (tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta nâu; tiếng ghi ta lá xanh), thành hình khối (tiếng đàn bọt nước; tiếng ghi ta bọt nước vỡ tan), thành những ảnh động (tiếng ghi la ròng ròng máu chảy….) – Những hình ảnh thơ mang màu sắc tượng trưng: giọt nước mất vầng trăng, ném lá bùa vào xoáy nước; ném trái tim mình vào lặng yên… + Những màu sắc gắn với cảm xúc vào suy tưởng: áo choàng đỏ gắt, áo choàng bê bết đỏ, chiếc ghi ta màu bạc… – Xây dựng ngôn ngữ giàu sắc thái tư từ: + Các hình ảnh so sánh: Chàng đi như người mộng du: tiếng đàn như cỏ mọc hoang + Các hình ảnh nhân hoá: vầng trăng chếch choáng; giọt nước mắt vầng trăng. + Các hình ảnh ẩn dụ: Đường chỉ tay đã đứt; Dòng sông rộng vô cùng III. Kết bài Đánh giá được ảnh hưởng của Lor – ca đối với Thanh Thảo trong phong cách sáng tác, thấy được sự tiếp thu sáng tạo, mới mẻ và những đóng góp của nhà thơ Thanh Thảo đối với thơ hiện đại Việt Nam qua tiếng đàn ghi – ta của Lor – ca.
Phân tích ngôn từ nghệ thuật trong bài thơ Đàn ghi ra của Lor-ca
454
Phân tích người anh hùng Quang Trung Nguyễn Huệ qua đoạn trích Quang Trung đại phá quân Thanh (hồi thứ 14, Hoàng Lê nhất thống chí) Hướng dẫn Good
Phân tích người anh hùng Quang Trung Nguyễn Huệ qua đoạn trích Quang Trung đại phá quân Thanh (hồi thứ 14, Hoàng Lê nhất thống chí)
27
Phân tích người mẹ trong Cổng trường mở ra của Lý Lan Bài làm “Cổng trường mà ra” là một bài bút kí ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong đêm chuẩn bị cho con trước ngày khai trường vào lớp Một. Không có sự kiện, không có cốt truyện nhưng văn bản này vẫn hấp dẩn chúng ta, bởi vì từng câu văn, từng dòng chữ dạt dào biết bao nỗi niềm tâm sự của một người mẹ rất mực thương yêu con, không nguôi nghĩ tới trách nhiệm của mình đối với những đứa con bé bỏng. Đứa con trong bài văn là một cậu bé chuẩn bị vào lớp Một. Còn chúng ta, những học sinh lớp Bảy, đã qua lớp Một từ lâu rồi, vậy mà khi đọc bài văn “cổng trường mở ra”, lòng ta vẫn rạo rực những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến, cứ như đang được một chiếc máy thời gian dẫn về những ngày ấu thơ đẹp đẽ… Đêm trước ngày khai trường, tâm trạng của người mẹ và đứa con rất khác nhau. Hình ảnh cậu học sinh lớp Một được miêu tả ở phần đầu bài văn thật ngây thơ, đáng yêu. Gương mặt cậu thanh thoát, tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thình Lheir.ì chúm lại như đang mút kẹo. Ngày mai khai trường, ngày mai được đi học. được vào lớp Một, vậy mà đêm nay cậu bé vẫn ngủ một cách thanh thản, bôi vì cáu dã được mẹ giúp chuẩn bị mọi việc, mọi thứ sẩn sàng. Cũng có niềm háo hức như ưước những chuyến đi xa, nhưng giờ đây trong lòng cậu bé không có mô: bận lâm nào khác ngoài chuyện ngày mai thức dậy cho kịp giờ. Như vậy. trong cái đêm trước ngày khai trường, tâm hồn đứa con, cậu học sinh lớp Một ảv thật là thanh thản, nhẹ nhàng, hồn nhiên, vô tư… Biết đâu, trong đêm nav. cậu bé sẽ mơ một giấc mơ đẹp, giấc mơ về gia đình hạnh phúc, về cuộc đời tươi sans. Đứa con, cậu học sinh lớp Một ấy và tất cả chúng ta, những học sinh tiểu học, trung học sơ sở… có được những giây phút thanh thản, vô tư để mơ những giấc mơ đẹp là nhờ đâu? Phải chăng, trước hết là nhờ tình thương yêu, sự chăm sóc dạy dỗ của người mẹ. Nhà văn Lý Lan, chắc cũng là một người mẹ, đã ghi lại biết bao suy nghĩ, tình cảm, tâm trạng của một người mẹ như thế trong đêm chuẩn bị cho con vào lớp Một. Mọi việc chuẩn bị đã xong, mẹ tự bảo mình cũng nên đi ngủ sớm. Nhưng lên giường năm, mẹ cứ “trằn trọc” mãi. Nhà văn đã dùng một từ láy đúng chỗ – trằn trọc. “Trằn trọc lù trở mình luôn, cố ngủ mà không ngủ được vì có nhiều điều phải lo nghĩ”. Người mẹ ấy đã lo nghĩ những điều gì? Trước hết, người mẹ tin ở con, tin ở mình. “Mẹ tin lù con sẽ không bỡ ngỡ… Mẹ tin đứa con của mẹ lân rồi. Mẹ tin vào sự chuẩn bị rất chu đáo cho con…”. Điệp ngữ “mẹ tin” được nhắc lại ba lần vang vọng trong tâm hồn người mẹ, chứng tỏ người mẹ đã yên lòng, không phải lo lắng gì về con, về mình. Nhưng, “vẫn không ngủ được”, vẫn “trằn trọc”. Bởi vì trong lòng người mẹ trào lên bao hồi tưởng đẹp đẽ, bao suy nghĩ lắng sâu. Do đó, sau những niềm tin, người mẹ nhớ lại những kỉ niệm xa xưa, ngày còn thơ ấu, ngày đầu tiên cắp sách đến trường. Bên tai người mẹ bỗng vang lên tiếng đọc bài trầm bổng: “Hùng năm, cứ vào cuối thu… Mẹ tỏi âu yếm nắm lấy tay tôi, dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. Trong đoạn văn này xuất hiện hai từ ghép đẳng lập thật đặc sắc. Từ “trầm bổng” tả âm thanh tiếng đọc bài khi thấp, khi cao, nhẹ nhàng, vang xa mãi không dứt. Từ “âu yếm” biểu hiện tình thương yêu, trìu mến, sự chăm sóc dịu dàng của người mẹ đôi với đứa con. Thế là từ một tiếng đọc bài trầm bổng, trong cuốn sách giáo khoa xưa, ùa dậy những ấn tượng khắc sâu mãi trong lòng người mẹ về cái ngày “hôm nay tôi đi học”. “Mẹ cồn nhớ sự nân nao, hồi hộp khi cùng bù ngoại đi tới gần ngôi trường vù nỗi chơi vơi hốt hoang khi cổng trường đóng lại, bà ngoại đứng ngoài cánh cổng như đứng bên ngoài cúi thế giới mà mẹ vừa bước vào”. Chỉ trong một thời khắc ngắn ngủi mở đầu cuộc đời cắp sách mà cô học trò nhỏ bé – tuổi thơ của người mẹ ngày nay – trải qua bao nhiêu tâm trạng. Nào là nôn nao, hồi hộp, nào là chơi vơi, hốt hoảng… Bên cạnh những từ ghép đẳng lập biểu hiện tâm trạng nhân vật, nhà văn đã dùng những từ ghép chính phụ để miêu tả sự vật và con người khá rõ nét như: bù ngoại, ngôi trường, cổng trường, cánh cổng. Ngôn ngữ văn chương và nội dung, ý nghĩa hài hòa với nhau khiến người đọc dễ hiểu và thích thú. Trở lại với tâm trạng của người mẹ trong bài văn, chúng ta hiểu rằng, người mẹ ấy nhớ những kỉ niệm xưa, không chỉ để được sông lại tuổi thơ đẹp đẽ của mình mà còn muôn “nhẹ nhàng cẩn thận và tự nhiên ghi vào lòng con. Để rồi bất cứ một ngày nào đó trong đời khi nhớ lại, lòng con lại rạo rực những cảm xúc bùng khuâng, xao xuyến”. Điều đó có nghĩa là người mẹ muốn truyền cho cậu học sinh lớp Một kia những cung bậc tâm trạng đẹp đẽ của cuộc đời, những người được cắp sách đến trường trong ngày đầu vào lớp Một… Sau những hồi tưởng và mong ước, người mẹ ấy mở rộng ý nghĩ, liên tưởng tới một nét văn hóa rất đẹp của nước Nhật. “Mẹ nghe nói ở Nhật, ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội… không có ưu tiên nào lớn hơn ưu tiên giáo dục thế hệ trẻ cho tương lai… Ai cũng biết rằng mỗi sai lầm trong giáo dục sẽ anh hưởng đến cả một thế hệ mai sau, và sai lầm một li có thế’ đưa thế hệ ấy đi chệch cả hùng dặm sau này…”. Nghĩ về chuyện của thế giới, để hiểu rõ và ghi nhớ trách nhiệm vinh quang và nặng nề của chính bản thân mình đổĩ với việc chăm lo, giáo dục con cái nói riêng và cả thế hệ trẻ của đất nước mình nói chung. Tấm lòng người mẹ ấy đẹp đẽ, cao cả biết bao. Ý tưởng này của nhà văn Lý Lan sâu sắc và nhân văn biết bao! Toàn bộ bài văn là tiếng nói nội tâm của nhân vật người mẹ. Người mẹ không trực tiếp nói với con hoặc với ai cả. Người mẹ nhìn con ngủ, như tâm sự với con, nhưng thực ra là đang nói với chính mình, đang tự ôn lại kỉ niệm của chính mình. Cách viết này làm nổi bật được tâm trạng, ý nghĩ, tình cảm của nhân vật, cũng chính là của tác giả. Nói khác đi đây là một kiểu văn chương trữ tình, có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ. Nhân vật người mẹ trong bài văn cứ thủ thỉ tâm tinh tự nói với mình, theo kiểu “một mình mình biết, một mình mình hay”. Nhà văn cũng vậy, không răn bảo ai bằng những lời khô cứng mà hóa thân vào nhân vật để tâm sự với bạn đọc, rất nhẹ nhàng, rất tinh tế mà vô cùng thấm thìa, lay mạnh ý nghĩ và tình cảm người đọc. Vậy đấy, đọc bài “Cống trường mở ra” trí tuệ và tâm hồn của những học sinh lớp Bảy chúng ta được mở rộng, hiểu biết và rung cảm biết bao điều quý giá. Chúng ta hiểu rằng: “Trong quãng đời đi học, hầu như ai cũng trải qua ngày khai trường đầu tiên”. Nhưng ít ai để ý xem trong đêm trước ngày khai trường, mẹ mình đã làm gì và nghĩ gì. Đọc bài văn này, ta hiểu và thấm thìa tấm lòng thương yêu, tình cảm sâu nặng của mẹ đối với ta và vai trò lớn của nhà trường đối với cuộc sống mỗi con người, cổng trường mở rộng bao nhiêu, tình mẹ dạt dào sâu nặng bấy nhiêu. Mẹ cha, gia đình, thầy cô, bạn bè, trường lớp luồn luôn hài hoà gắn bó với nhau, để đưa chúng ta vào một thế giới tuổi trẻ kì diệu, vô cùng đẹp đẽ, cao cả và… không ít những gian truân. Hãy can đảm lên, người lính nhỏ của đạo quân… sách vở là vũ khí, lớp học lù đơn vị, trận địa là hoàn cầu và chiến thắng là nền văn minh nhân loại…
Phân tích người mẹ trong Cổng trường mở ra
1,553
Phân tích người vợ nhặt trong truyện ngắn cùng tên Hướng dẫn Phân tích người vợ nhặt trong truyện ngắn cùng tên Người vợ nhặt là nhân vật có cùng tên với đoạn trích của Kim Lân, được viết trong bối cảnh nạn đói hoành hành khắp mọi nơi, người chết như ngả rạ. Nhưng nhen nhóm lên trong bối cảnh đầy u ám và buồn bã đó, thì lại nổi bật lên câu chuyện đẹp về tình yêu, về gia đình và về tương lai đầy hy vọng của những con người dân ngụ cư. Đi cùng với Tràng, bà cụ Tứ thì nhân vật thị trong vợ nhặt cũng để lại nhiều ấn tượng cho người đọc và đồng cảm sâu sắc từ phía độc giả. Câu chuyện lấy đi cảm xúc của nhiều người và dẫn dắt độc giả đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Tinh huống truyện tưởng chừng như vô lý lại xuất hiện một cách tự nhiên như chưa từng có sự bất hợp lí nếu đi ra ngoài đời thật. Câu chuyện Tràng nhặt được vợ, hay nói cách khác, vợ Tràng theo không Tràng về sau mấy lần gặp gỡ đã khiến cho câu chuyện thêm phần lí thú và tạo nên điểm nhấn cũng như giá trị nhân văn cho toàn tác phẩm. Người vợ nhặt xuất hiện trong đoạn trích cùng tên là một người phụ nữ bình thường và quen Tràng khi Tràng đẩy xe bò đi qua, hò mấy câu chơi cho đỡ mệt. Người phụ nữ đó trong thời kì đói kém loạn lạc, mấy lần gặp Tràng cũng vô cùng dạn dĩ và không tỏ ra mình là người sợ hệt hay xấu hổ. Thị gặp Tràng lần thứ hai thì đã trách vốn anh rồi ngồi vào bàn ăn một chập bốn bát bánh đúc. CÓ thể nói bây giờ điều mà thị có thể nghĩ đến là làm sao cho cái bụng của mình đừng cồn cào, cái đói khiến cho một người phụ nữ lẽ ra cần nhận thức rõ thân phận và con người của mình cũng vào ngồi ăn như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Người phụ nữ được đặt trong tình huống này dường như trở nên vô duyên giạn dĩ chẳng thể nghĩ ra điều gì khác là ăn và làm sao cho cái bụng không đói nữa. Cái đói đã khiến cho khuôn mặt thị gầy như lưỡi cày và ngực lép xẹp, khuôn mặt u tối hẳn ra, không phủ nhận rằng, cái đói đã khiến cho con người khác đi hẳn. Tràng gặp thị, nghe thị trách móc nhưng không nhận ra mãi sau lờ mờ mới nhận ra bởi vì Thị khác quá. Cũng vì cái đói cho nên người ta mới cảm nhận được rõ rệt rằng mọi lời nói đều có giá trị. Tràng giả vờ nói bâng quơ rằng thị có về với Tràng không ai ngờ thị theo thật. Thị phó mặc cuộc đời mình vào tay một người đàn ông xa lạ. Biết đâu trong cơn nguy khó, Tràng lại có thể cứu rỗi đời thị một lần nữa. Chuyện bây giờ là làm sao để qua cơn đói nghèo, để cứu lấy thân chứ không phải chuyện duyên số hay lập gia đình. Chuyện đó còn dài lắm còn tùy thuộc vào ông trời nữa, chuyện như thế ai mà tính trước được. Tưởng chừng Thị là một người phụ nữ táo bạo vô duyên nhưng thực chất cũng vô cùng e lệ và suy nghĩ như một người phụ nữ. Cắp thúng con theo Tràng về, nàng dâu mới cũng bẽn lẽn theo sau, khi bị trêu chọc cũng e thẹn như bao nàng dâu mới khác. Về đến nhà, khi được Tràng mời ngồi thị chỉ ngồi mớm ở giường, tay vân vê và bộ mặt lộ rõ vẽ đầy lo lắng. Chắc có lẽ thị nghĩ về cuộc sống mới của hai vợ chồng, rồi cuộc đời của thị sẽ đi đến đâu. Tóm lại xuất hiện trong tác phẩm của Kim Lân, người vợ nhặt hiện ra thật đáng thương khi rơi vào cảnh nghèo đói, không thể tự quyết định hạnh phúc của mình mà ngẫu nhiên trao trọn hạnh phúc của mình cho một người xa lạ rồi nhận lấy làm chồng. Tuy nhiên hình ảnh người vợ đó cũng ám chỉ cho những người phụ nữ điển hình trong xã hội cũ, dù hoàn cảnh nào cũng mạnh mẽ, bản lĩnh. Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích người vợ nhặt trong truyện ngắn cùng tên
760
Đề bài: Phân tích ngắn gọn cảnh Đương đầu với đàn cá dữ Bài làm Cái giá phải trả cho một chuyến ra khơi thật đáng tự hào. Bạn chài chắc sẽ không chế giễu lão về vận xúi quẩy nữa! Lão càng tự hào về “sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu!” Ở đời có lúc miếng ăn đã kề miệng vẫn còn bị kẻ khác giật mất! Trường hợp lão Xanchiagô mất con cá kiếm quả đúng như vậy. Trên đường giong cá về bến, lão chài lại gặp chuyện chẳng lành. Đàn cá mật đã thục mạng lao vào thuyền lão để đớp mồi. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” diễn ra vô cùng bi tráng. Lão chài bị bất ngờ, bị động hoàn toàn. Thế và lực quá chênh lệch. Cuộc chiến diễn ra giữa biển đêm. Lão chài chẳng khác nào một kẻ mù giữa vòng vây của đàn cá dữ! Chỉ có một cái chày làm vũ khí. Lão thân cô thế cô, lại bị kiệt sức sau 3 ngày 2 đêm đuổi bắt con cá kiếm mắc câu. Kẻ thù của lão chài là một đàn cá mập đông đảo, khát mồi và cực kỳ hung dữ. Cá lại được màn đêm, được sóng biển che giấu, bất ngờ xuất hiện. Đàn cá biến hóa, lão chài căng mắt nhìn chỉ thấy “những chiếc vi cá mật xẻ dọc ngang trên mặt biển và những đường lân tinh lấp lánh”. Những hàm răng cá mập táp mồi “sần sập”, lưng đàn cá dữ cuộn sóng làm cho “chiếc thuyền câu chòng chành”. Không chỉ con cá kiếm mà ngay cả lão chài cũng sẽ trở thành mồi ngon cho đàn cá dữ đói mồi! Hêminguây đặc tả lưng cá mập đội con thuyền câu đã vẽ nên một cảnh hãi hùng, đầy nguy hiểm! Phân tích ngắn gọn cảnh Đương đầu với đàn cá dữ Cuộc chiến đấu mỗi lúc một dữ dội. Người đọc có cảm giác là bao nhiêu cá mập ở vùng biển “Giếng Lớn” đã kéo tới bủa vây lấy chiếc thuyền câu. Lão già như bị màn đêm bịt mắt, “vụt nháo nhào lên những chiếc đầu” cá mập. Lão bị động “kháng cự một cách tuyệt vọng với một kẻ thù mà lão chỉ nghe bằng tai, bằng cảm giác “Thật bất ngờ cái chày – vũ khí chiến đấu – bị cá dữ ngoạm “giật phắt đi”. Lão Xanchiagô đâu phải là kẻ tầm thường, khoanh tay đầu hàng đàn cá mập! Thành quả lao động được làm nên bằng mồ hôi và máu, không thể nào để đàn cá dữ cướp đi. Nhanh nhẹn và dũng mãnh, lão tháo tay lái làm vũ khí chiến đấu. Cuộc chiến giữa người với đàn cá dữ ngày một trở nên dữ dội quyết liệt! Lão già lấy hết sức bình sinh, nắm chắc tay lái, thẳng cánh, vụt túi bụi ra bốn phía”. Lão chài bị đàn cá mập khép chặt vòng vây! Đàn cá dữ túm tụm lại đằng sau lái, con nọ tiếp con kia. Khi thì cả bầy một lượt, chúng đâm bổ vào xác con cá. Bầy cá dữ khát mồi không chịu rời chiếc thuyền câu “ngoạm xong một miếng quay ra rồi quay trở lại. Xác cá bị rỉa, bị đớp, bị ngoạm. Những mảnh thịt mà đàn cá mập đớp được” lấp lánh dưới nước! Con cá kiếm khổng lồ thế mà giờ đây chỉ còn một ít thịt dính vào đầu! Con cá cuối cùng xông đến đớp vào đầu cá. Có thể nói đây là một hiệp đấu ác liệt, cá và người đánh giáp lá cà. Lão chài dũng mãnh “hoa cái tay lái lên và quật đúng vào răng hàm cá mập”. Ông lão giáng trả như vũ bão “quật liên hồi hai bận, ba bận, mười bận!”. Bất thình lình chiếc tay lái gẫy rắc, lão dũng mảnh vẫn tiếp tục quật vào đầu cá… vụt nữa làm cho “con cá mập nhả con cá và oằn mình lăn xa”. Như người lính chiến ngoan cường trên chiến địa, đánh đến giọt máu cuối cùng, bắn đến viên đạn cuối cùng, hết đạn thì dùng lê tử chiến với giặc, lão chài Xanchiagô cũng vậy! Một mình đơn độc chống với đàn cá dữ giữa biển đêm, khi cái chày bị cá mập ngoạm mất, lão bình tĩnh và sáng suốt xử lý tháo ngay tay lái làm vũ khí. Càng đánh càng hăng, lão đã quật tới tấp vào đầu cá dữ, quật mạnh đến nỗi gãy cả mái chèo. Lão đã giáng cho con cá mập sau cùng một đòn chí mạng! Việc đánh bắt được con cá kiếm nặng 6, 7 tấn là một chiến công! Cuộc đấu với đàn cá dữ không cân sức, thịt con cá kiếm bị đàn cá mập ngoạm sạch, đớp sạch, nhưng lão vẫn còn giữ được bộ xương cá, giữ được con thuyền câu. Câu nói của lão: “Thuyền của mình vẫn tốt nguyên và chẳng sứt mẻ một tẹo nào, trừ chiếc tay lái ra không kể. Cái đó cũng dễ thay!” – điều đó cho thấy, tuy thất trận nhưng lão chài vẫn còn tiềm lực! Nhất định lão lại ra khơi. Giữ vững niềm tin sau chiến bại không phải ai cũng có ý chí ấy! Lúc quật vào đàn cá dữ, ông lão cảm thấy một mùi kì dị trong mồm: “vừa tanh như sắt, vừa ngòn ngọt”. Mùi kỳ dị ấy là máu và cũng là dư vị cay đắng của sự thất bại! Như một sự tổng kết sau trận đánh, lão Xanchiagô nhổ toẹt máu xuống biển và nói: “Cho chúng mày nuốt đi lũ cá mật kia. Nuốt đi để tưởng tượng là vừa giết chết được một con người”. Một cái nhổ toẹt đầy khinh bỉ. Một câu nói vừa giễu cợt vừa thách thức kẻ thù! Trong chiến bại mà lão chài vẫn ngạo nghễ! Đó là tâm thế và bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” được miêu tả rất sống động. Lão chài được đặt trong thế đối địch tương phản chênh lệch. Các chi tiết nghệ thuật được khắc họa và tái hiện chủ yếu bằng thính giác, cảm giác, xúc giác… trong biển đêm vô cùng ghê rợn và ác liệt! Người thì máu đầy mồm, cá thì lăn xả vào đớp mồi, bị quật nhừ tử. Lời đối thoại của Xanchiagô với đàn cá mập lúc thì thách thức khinh bỉ, lúc thì thừa nhận thất bại. Vốn liếng còn đó, lão chài rồi lại ra khơi. chỉ có một mình đơn phương độc mã đương đầu với đàn cá mập thế mà sau cuộc chiến, lão chài lại nói: Gió cũng là bạn tốt của ta… đôi khi cũng là bạn tốt… biển cả với những bạn hữu và kẻ thù của ta… “Gió làm căng cánh buồm. Biển có đàn cá dữ, nhưng cũng có cánh chim hiền lành, biển là nơi làm ăn của lão và các bạn chài. Cách nghĩ của lão chài mộc mạc, bình dị nhưng ham sống biết bao. Ở đời cái đáng sợ là không nhận diện được kẻ thù. Cái đáng sợ nữa không phải là sự thất bại mà là chưa biết tìm ra nguyên nhân thất bại. Ở đây, lão chài Xanchiagô tự nói với mình: “Ta thử nghĩ xem cái gì đã làm cho ta thất bại nhỉ? Không, không có cái gì cả. Ta đã đi xa quá! Đó là phần ngầm của “tảng băng trôi” mà Hêminguây muốn gửi gắm bạn đọc: Mọi khát vọng đều đẹp, đều đáng yêu. Khát vọng quá lớn, vượt xa khả năng hiện thực thì sẽ thất bại. Hình ảnh lão chài Xanchiagô trong cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” này cho ta bài học về sức mạnh, khí phách và niềm tin trong lao động và – cuộc sống.
Phân tích ngắn gọn cảnh Đương đầu với đàn cá dữ
1,349
Phân tích ngắn gọn Đánh nhau với cối xay gió – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Gợi ý viết bài 1.Bố cục của đoạn trích Theo diễn biến của câu chuyện, đoạn trích có thể chia làm ba phần bao gồm trước, trong và sau trận đánh. 2. Chân dung của hai nhân vật chính – Về nguồn gốc, Đôn Ki-hô-tê là một nhà quý tộc nghèo, vì quá say mê giang hồ. Còn Xan-trô Pan-xa vốn là một nông dân cục mịch theo làm giám mã cho nhà quý tộc. – Về hình dáng nhân vật và vật cưỡi, nếu Đôn Ki-hô-tê gầy gò và cao lênh khênh, cưỡi con ngựa còm mà chàng gọi là chiến mã Rô-xi-na-tê thì Xan-trô Pan-xa béo lùn, cưỡi một con lừa. 3.Suy nghĩ, hành động và ngôn ngữ của hai nhân vật – Suy nghĩ và hành động của hai nhân vật khi gặp những chiếc cối xay gió: + Đôn Ki-hô-tê cho rằng những chiếc cối xay gió là những tên khổng lồ hung tợn, có những cánh tay dài, có cái tới gần hai dặm. +Xan-trô Pan-xa hiểu biết đúng đắn về sự vật, nói cho ông chủ biết đó là những cối xay gió và giải thích các bộ phận, cách vận hành: cái vật trông giống những cánh tay là cánh quạt, khi có gió chúng sẽ quay tròn làm chuyển cối đá bên trong. +Bất chấp lời can ngăn của Xan-trô Pan-xa, nhà hiệp sĩ chẳng buồn quan sát, thúc ngựa phi thẳng tới cối xay gió gần nhất… đâm mũi giáo vào chiếc cối đang có cánh quạt đang xoay để cuối cùng cả người lẫn ngựa ngã chổng kềnh ra đất. – Quan niệm của mỗi người trước nỗi nguy nan đau đớn: +Đôn Ki-hô-tê dù đã bị ngã như trời giáng, vẫn không kêu đau vì các hiệp sĩ giang hồ có bị thương cũng không được rên rỉ, dù có bị thủng ruột đi chăng nữa. + Xan-trô Pan-xa cho rằng khi bị đau phải được rên la, chỉ cần bị gai đâm là phải kêu đau ngay. – Việc ăn, việc ngủ: + Đôn Ki-hô-tê bắt chước các hiệp sĩ giang hồ, tỏ ra không quan tâm đến việc ăn, ngủ. Chàng thức cả đêm để nghĩ tới người yêu. Chàng cũng không ăn sáng vì nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi. +Trái lại, Xan-trô Pan-xa ăn uống thoải mái, rượu tu một hơi ngon lành và sau khi no say, làm một giấc đến sáng. -Cách ăn nói: + Ngôn ngữ của Đôn Ki-hô-tê đầy vẻ cao ngạo (quét sạch cái giống xấu ra khỏi trái đất), tiêm nhiễm giọng điệu kiếm hiệp (có ta là hiệp sĩ một thương một mã đọ sức với bọn ngươi đây… ta sẽ lập những chiến công phi thường), ra vẻ anh hùng (có bị thương cũng không được rên rỉ…). +Lời lẽ của Xan-trô Pan-xa tuy trang trọng, (xin ngài hãy coi chừng… nếu vậy tôi không dám có ý kiến) nhưng không kém phần trào lộng (trừ phi kẻ nào có đầu óc cũng quay cuồng như cái cối xay vậy). Bài văn nêu bật những nét tính cách tương phản giữa chàng hiệp sĩ và người giám mã. Suy nghĩ và hành động của Đôn Ki-hô-tê tuy điên rồ nhưng vẫn có điểm đáng mến là đã xả thân vì hành động rất thực tế và có lợi cho bản thân. Sự tương phản giữa tính cách hai nhân vật đã bổ sung nhau, làm cho bức tranh miêu tả vừa hài hước, vừa gây ấn tượng sâu sắc, thú vị cho người đọc. Tags:Văn 8
Phân tích ngắn gọn Đánh nhau với cối xay gió – Đề và văn mẫu 8
595
Đề bài: Phân tích ngọn lửa tình người thắp lên giữa đêm đen cuộc sống cảm nhận Vợ nhặt của Kim Lân Bài làm “Đó là những người cầm bút có biệt tài có thể chọn trong cái dòng xuôi chảy một khoảnh thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc với một vài sự diễn biến sơ sài và cũng bình thường thôi, nhưng bắt buộc con người ở vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phần tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi đó là khoảnh khắc chứa cả một đời người, một đời nhân loại…”. Mỗi lần đọc và giảng truyện ngắn Vợ nhặt, tôi lại nhớ tới ý kiến rất sâu sắc ấy của nhà văn quá cố Nguyễn Minh Châu. Quả vậy, cây bút truyện ngắn biệt tài Kim Lân đã chọn được một khoảnh khắc thời gian thật tiêu biểu để dựng nên tác phẩm, ấy là buổi chiều “nhá nhem” không chỉ vẩn lên mùi ẩm thôi, đi vào một đêm đen thỉnh thoảng vẳng ra tiếng hờ khóc tỉ tê, và tiến đến một buổi sớm mai mùa hè “sáng loá”. Câu chuyện như một mảnh vẹn nguyên cuộc sống được xắn ra, vật lên trên trang giây – cuộc sống của những lao động Việt Nam xanh xám, vật vờ, tối đen trong giờ phút lụi tàn của xã hội thực dân phong kiến, chuẩn bị cho Cách mạng tháng tám năm 1945. Viết về xã hội cũ, song nhà văn không miêu tả những bi kịch của kiếp người như những cây bút hiện thực thời kỳ ấy. Chọn thời điểm giáp ranh Cách mạng, cho tác phẩm ra đời năm 1962 trong tập truyện nổi tiếng Con chó xấu xí, tác giả Vợ nhặt cũng không dùng giọng văn ngắn mang âm hưởng sử thi ca ngợi. Ngòi bút Kim Lân hướng vào chuyện duyên kiếp, tình nghĩa của con người, toả hơi ấm từ tình người. Tình người – trước hết là ở những người lao động bé nhỏ, dưới đáy xã hội – đã được nhen nhóm, thắp sáng giữa đêm đen của cuộc sống. Phân tích ngọn lửa tình người thắp lên giữa đêm đen cuộc sống Chao ôi, cái đêm đen cuộc sống ở một xóm nghèo ven thành phố của những người ngụ cư mới khủng khiếp làm sao! Cái đói, cái chết hiện hình thành những rìu sắc, đường nét rõ rệt, ngay trước mắt con người: đường vào tối om, bóng người đói với những khuôn mặt xanh xám đi lại dật dờ như những bóng ma – Cái đói, cái chết cất lên trong “tiếng quạ gào từng hồi thê thiết trên mây cây gạo ngoài bãi chợ”, trong tiếng “hờ khóc tỉ tê” của những gia đình vừa chôn cất người thân. Rồi nó “vẩn thành mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”, “mùi đốt đống rấm – đốt những vật dụng của người vừa chết – bốc lên khét lẹt”. Trong tiến trình văn học Việt Nam, nhiều nhà thơ đã viết về nạn đói: Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tuỳ bút kể chuyện mùa màng thất bát, cả một vùng rộng lớn ở Thái Bình lúa ngô chết rục, chỉ thấy chồn, cáo chạy nhông, đào bới…Nguyễn Du trong Sở kiến hành tả cảnh một gia đình đói rách đi xin ăn… Và Thạch Lam, và Nguyễn Công Hoan, và Ngô Tất Tố… Song dường như chưa một ai đặc tả, cực tả rõ nét cái nạn đói năm ất Dậu – 1945 – ở một thời gian cụ thể, một không gian đậm đặc như Kim Lân đã làm. Trong truyện Đôi mắt, năm 1948 Nam Cao cũng từng dự cảm về “Cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, đọc Vợ nhặt của Kim Lân, chúng ta không chỉ nghe lời kể của nhà văn mà như phải trực tiếp sống giữa cái thời điểm, cái nơi chôn đói nghèo ất Dậu ấy, nhìn rõ cỏ cây, nhà cửa, bóng người, nghe rõ những tiếng quạ kêu, tiếng người khóc, ngửi thấy mùi gây, mùi khét. Chúng ta không chỉ “rùng mình”, còn khiếp sợ, còn xót thương, ngột ngạt, tưởng chừng không sống nổi. Văn chương hay chính đây đích thực cuộc đời đang hiện về? Từng màu sắc, từng âm thanh, từng mùi vị… Một cảnh điêu tàn, rữa nát. Cái chết lan tràn, bao phủ. Đêm đen buông xuống. Đời người, kiếp nhân sinh giống như một đống tro tàn, lạnh ngắt. Vậy mà giữa bóng đen, giữa khí lạnh cuộc đời, hai kiếp người – anh con trai mệt mỏi bởi những lo lắng chật vật hàng ngày và chị con gái tả tơi, gầy sọp, xám xịt – đã tình cờ gặp nhau, cưới nhau, cùng nhau nhen nhóm ngọn lửa… Bắt đầu là Tràng, rồi cô vợ. Họ được cả làng xóm dõi nhìn, cuối cùng được bà mẹ chấp nhận bằng một tấm lòng ngọt ngào, ấm áp. Họ sưởi ấm cho nhau, cùng thắp sáng ngọn lửa sự sống, ngọn lửa tình người. Lần theo từng dòng chữ từng đoạn văn trong Vợ nhặt, chúng la dễ dàng nhận ra ngòi bút tinh tế của nhà văn khi ông – như có chủ đích – đan xen những âm thanh thê thảm, đau xót và những tiếng nói, giọng cười vui vẻ tuế toá, đan xen những bóng đen, màu xám và những tia sáng, những ánh hồng. Câu chuyện được kể thật nhẹ nhàng, thấm thía, theo một trình tự thời gian ngắn gọn từ chiều tà, vào đêm tối, đến sáng hôm sau và cũng theo một trình tự của phép biện chứng tâm hồn, ánh sáng của niềm vui, hơi ấm của hạnh phúc gia đình, ngọn lửa tình người được nhen nhóm rồi thắp lên, để cuối cùng “sáng loá ” trong ánh nắng một rạng đông mùa hè ba kiếp người đói rách ngồi bên nhau chuyện trò, nghĩ đến những người phá kho thóc Nhật cứu đói, hướng lới Việt Minh, tới những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi, đằng trước có lá cờ đỏ to lắm, lá cờ đỏ bay phấp phới… 1. Nhen lửa Có thể nói cuộc gặp gỡ của đôi trai gái – anh cu Tràng và cô vợ – những phút đầu đúng là một câu chuyện tầm phào theo cách nghĩ của Tràng. Song, khi cả đôi anh chị cùng cất lời, đưa mắt thì… dường như lửa và rơm đã bắt đầu bén Chỉ vừa nghe anh cái tiếng "Muôn ăn cơm trắng với giò…”, chị đã “nhà: ơi”… rồi “liếc mắt cười tít". Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế! Rồi hắn toét miệng cười và cũng biết tình tứ lại chẳng kém gì cô em: “Này, hãy ngồi xuống ăn miếng giầu đã”. Ai dám chê cái anh chàng đẩy xe bò đầu trọc nhẵn, lưng to rộng như lưng gấu này không có duyên! Song, giữa cái thời bên bờ vực chết đói này, duyên hay tình, hay gì gì đi nữa trước hết phải là miếng ăn, là sự sống. Do đó sau khi biết đích xác chàng trai có tiền, rồi lại được ăn liền một lúc bốn bát bánh đúc hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, rồi ăn xong, thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở: Hà, ngon!… “Này, nói đùa chứ có về ở với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về…”. Nói thế, Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngỡ thị về thật. Câu chuyện ái tình của họ được Kim Lân miêu tả bằng một giọng văn tưng tửng, như bỡn cợt, đùa vui, song hoàn toàn không phải là bèo bọt trăng gió vu vơ. Nó nghiêm túc, càng về sau càng nghiêm túc. Giữa thời thóc cao, gạo kém, mỗi người chưa chắc đã nuôi nổi cái thân mình, họ nhặt được nhau, rồi đưa nhau về, sau cái chặc lưỡi liều lĩnh, song táo bạo như một lời thách đố đã diễn ra. Hai anh chị đi bên nhau đàng hoàng cứ hệt như chú rể đưa cô dâu về nhà chồng. Anh: nét mặt phởn phơ khác thường, tủm lỉm cười nụ và hai con mắt thì sáng lên lấp lánh. Chị: đầu hơi cúi, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất nửa mặt, rón rén e thẹn. Cả làng xóm như bừng dậy. Trẻ con hò reo, có đứa gào lên: “chông vợ hài”, người lớn bàn tán, hỏi han, phán đoán. Những khuôn mặt u tối hốc hác bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Tiếng cười, nói, tiếng mời gọi râm ran. Có một cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói tối tăm ấy của họ. Câu đố dường như dần dần được giải đáp, mặc cho làng khen chê, đàm tiếu, Tràng vẫn cứ vênh mặt lên tự đắc, lấy làm thích ý. Vì đến lúc này anh mới thực sự cảm nhận ý vị cuộc gặp gỡ tình cờ, cái ý định chớp nhoáng, táo bạo mà đúng đắn của mình. Đi bên người đàn bà ngượng nghịu trước lời khen của ai đó: ‘'khéo mà vợ anh cu Tràng thật, trông ta e thẹn hay đáo để”, Tràng như quên hết những cảnh sống tăm tối hàng ngày. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà… Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng. Đó là tình yêu? Là hạnh phúc tuổi trẻ? Là ánh sáng đổi đời? Có lẽ là tất đốì với hai kiếp người tối tăm, vờ vật, chắp nối lại cùng nhau để thành vợ, thành chồng. Cái giây phút quan trọng nhất của lời thách đố là lúc Tràng đi sát bên người con gái, ngầm nghĩ một lúc, rồi giơ cao cái chai con lên khoe: -Đầu tối thắp đây này… Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chẳng nhẽ chưa tối đã rúc ngay vào, hì hì…”. Tràng đã nói ra được cái ý nghĩa thô mộc mà thiêng liêng nhất: “Vợ mới, vợ miếc”. Cô gái cũng đáp lại được bằng " một lời nói suồng sã nhất: “khỉ gió”, và một cử chỉ cởi mở nhất “phái đánh đét vào lưnghắn”, khiến cho "hắn thích chí ngửa cổ cười khanh khách”. Vậy là, những e thẹn, những rụt rè, ngượng nghịu của ái tình trai gái đã được bước qua để tới ngưỡng cửa của quan hệ vợ chồng rồi. Chuẩn bị cho ngày vui đón vợ mới, anh chẳng có bạc vàng, rượu thịt cao sang gì, chỉ có cái chai con đựng ít dầu thắp để… “cho nó sáng sủa một tí chứ”! vậy mà em vẫn khen “sang nhỉ” rồi lại chuyên răn anh “hoang nó vừa vừa chứ”. Thật xót xa, mà cảm động, một cuộc rước dâu chỉ có hai người rách rưới, vêu vao đi bên nhau với một ít dầu thắp tối. Song cũng thật đàng hoàng, trịnh trọng, bởi vì họ tự đến với nhau, tin cậy, hoà hợp. “Đôi ta như lửa mới nhen, như trăng mới mọc, như đèn mới khêu”. Cái mối tình dân dã của anh Tràng và cô vợ nhặt ngẫm ra cũng có ánh sáng, có lửa ấm đấy chứ! 2. Thắp lửa Khi hai vợ chồng về tới nhà, giới thiệu vợ với mẹ, anh cu Tràng nói: “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái số cả…”. Giọng tuy ngập ngừng, song lời lẽ thật chững chạc. Mỗi chữ mỗi câu vừa ấm tình người vừa sâu nghĩa lý. “Nhà tôi làm bạn.. duyên… kiếp… cái số cả…”, ấy là những ngọn lửa Tràng thắp lên ừa để sưởi ấm, vừa để soi sáng cái đầu óc chậm chạp già nua của bà cụ Tứ. Với chính Tràng, ngọn lửa ấy cũng thắp sáng lên trong lòng một quyết tâm. Nói tới “duyên – kiếp” là chạm vào vùng thiêng liêng nhất trong mảnh đất của đôi gái, trai. “Duyên” là sự hấp dẫn, lôi cuốn gọi mời, là tình yêu giữa hai người. “Kiếp” là đời sống cơ cực cùng cảnh ngộ, cùng thuyền, cùng hội mà tạo hoá đẩy, trôi đến gần nhau, cảm thông với nhau, rồi chia sẻ và thương nhau. Từ câu chuyện “tầm phào” ở bên đường bữa nọ, rồi tới lúc đưa cô ả đi qua ngõ xóm lời bỡn cợt “vợ mới, vợ miếc”, giờ đây giữa mái ấm của căn nhà, trước mặt mẹ Tràng đã thực sự coi mối quan hệ giữa mình với người con gái như có tiền định có lương duyên do trời sắp xếp, do đời run rủi, ràng buộc. Có thể khi nói, Tràng chưa nghĩ được những điều sâu xa như vậy, song cái cách anh ta “tươi cười" mời mẹ “ngồi lên giường lên diếc chĩnh chện” rồi nhắc mẹ: “Nhà tôi nó chào u”, rồi bước lại gần… vừa giới thiệu cô gái trong tư cách “nhà tôi” vừa khẳng định “duyên số” hai người trong giọng điệu rành rẽ, đứng đắn, ai nghe chẳng cảm động, đồng tình. Vì vậy, bà cụ Tứ đã hiểu, hiểu việc con làm, hiểu ra, biết bao nhiêu cơ sự khác nữa. Bà mẹ nghèo khổ ấy vừa ai oán vừa xót thương cho đời mình, đời con. Bà thâm thía, tủi hờn về hoàn cảnh, về trách nhiệm mẹ trước việc trăm năm hạnh phúc của con cái., rồi bà cảm động đăm đăm nhìn cô gái, như chấp nhận, như hàm ơn: Người ta gặp bước khó khăn, đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có vợ… Bà nhắc lại ý con để nói với “nàng dâu mới”: ừ, thôi thì các con đã phải duyên, phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Con tin yêu mẹ. Mẹ già cũng tin yêu, tôn trọng dâu con. Mẹ chồng và nàng dâu mới trò chuyện thật cởi mở, thân tình. Bà mẹ dạy con: “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn”, phác ra một tương lai “rồi ra may mà ông giời cho khá…”. Rồi an ủi, động viên: “con ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân… cốt chúng mày hoà thuận là u mừng rồi. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…”. Đọng lại ở câu chuyện giữa hai kiếp người tuy khi nhau về tuổi tác mà thật giống nhau trong cảnh ngộ làm người là ở chỗ “thương”, ấy là tình người, lòng bao dung nhân hậu của những người mẹ, người phụ nữ Việt Nam. Nói được những lời gan ruột ấy, hẳn bà cụ Tứ vợi đi biết bao đau khổ, giải toả biết bao lo lắng, tủi nhục. Trái tim người mẹ như nghẹn lại. Nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng. Phải chăng lúc đó là nước mắt của niềm vui, của hạnh phúc nhỏ nhoi, hạnh phúc được chia sẻ giãi bày? Khi thấy con trai đánh diêm đối đèn, bà cụ vội vàng lau nước mắt, ngửng lên nói như reo: "Có đèn đây à? ừ thắp lên một tí cho sáng sủa…”. Một câu nói của nhân vật, một chi tiết thật đơn giản mà chứa đựng bao nhiêu ý nghĩa. Chắc hẳn đã lâu lắm rồi căn nhà lụp xụp rách rưới của hai mẹ con bà Tứ không có ánh đèn. Đêm buông xuống, bóng tối cũng ùa vào, che phủ. Chắc hẳn đã lâu lắm rồi, hai mẹ con sống lủi thủi, âm thầm, hết kiếm ăn ban ngày ở đầu đường góc chợ, đêm về nhà vật mình xuống vì mệt nhọc, chẳng cần đèn đóm, chuyện trò. Nay nhà có người mới:. con trai có vợ mới, mẹ già có nàng dâu mới, thắp đèn lên cho sáng sủa! Ngọn đèn, hay chính là ngọn lửa của tình người mà ánh sáng đã được nhen từ trong trái tim của mỗi con người? ở Tràng, đó là ánh áng từ sự ngẫu nhiên, tình cờ đến một quyết tâm, một khát vọng, ở người vợ nhặt, đó là ánh sáng của duyên kiếp, của cảnh ngộ, ngẫu nhiên mà như số trời ràng buộc, xe kết. Ở bà cụ đó là ánh sáng của tình thương, lòng bao dung, nhân hậu. Họ nhắc nhau thắp lửa để… đêm tối “sáng lên một tí”, để căn nhà toả ra hơi ấm, lòng người có thêm chút lửa để quyết sống, quyết vượt qua tao đoạn này – cái tao đoạn tăm tối đau thương nhất của đất nước bấy giờ. Có thể nói. nhà văn Kim Lân thắp vào giữa căn nhà bà cụ Tứ một ngọn lửa – dù chỉ là của ngọn đèn dầu, thứ của cải đắt đỏ bây giờ – đồng thời thắp trong lòng mình, lòng người đọc một niềm vui, niềm tin yêu, trân trọng trước bản lĩnh sống của con người – những con người trong tăm tối vẫn nhen nhóm và cố thắp sáng khát vọng hạnh phúc, khát vọng sống cho ra con người, nên người. 3. Ánh sáng chan hoà Nếu ở phần trước, các chi tiết, các sự việc của câu chuyện diễn biến trong sự lan xen bóng tối và ánh sáng, thì đến phần sau, nhà văn dựng một không gian nghệ thuật cả bề mặt và chiều sâu, đầy… ánh sáng, cả khung cảnh và nhân vật đều tắm trong ánh sáng, chan hoà ánh sáng, ánh sáng bừng lên như một chuyển động tự nhiên, vì nhà văn kể về buổi sáng hôm sau. Song ánh sáng ấy cũng đâu phải ngẫu nhiên. Nó biểu hiện một cảm hứng lạc quan, nó soi tỏ một ngày mới, một trang mới của tâm hồn, sự sống mỗi nhân vật, mỗi kiếp người. Nó cũng là kết quả đẹp đẽ của ngọn lửa tình người. Một buổi sớm mai đẹp đẽ xiết bao! Nắng mùa hè sáng loá. Nhà cửa, sân vườn được quét tước thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đìa được đem ra hong nắng. Hai cái ang nước vẫn để khô cong, nước đầy ăm ắp. Đống rác ngay lối đi đã được hót sạch… Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ Tràng đang quét sân, tiếng chổi kêu sàn sạt trên mặt đất… Tất cà như đang đổi thay, mới mẻ. Một nguồn sống mới, vui sướng, ngọt ngào của hạnh phúc gia đình trỗi dậy, tràn ngập trong lòng. Anh cảm thấy mình đã “nên người”, thấy thương yêu, gắn bó với căn nhà, với những người thân, ý thức về sự “nên người” khiến cho Tràng trưởng thành, đổi thay cả về tâm tính lẫn hành động. Anh thấy mình phải có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này. Anh xăm xắn chạy ra giữa sân, muốn làm một việc gì để góp phần tu sửa lại căn nhà. Người đàn bà – vợ nhặt của Tràng cũng đã đổi thay, khác hẳn. Rõ là một người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gập ở ngoài tỉnh. Rõ là người vợ biết chăm sóc chồng lam làm vun vén cho cái tổ ấm vừa xây dựng. Nhìn ở đâu cũng thấy có bàn tay chị. Nhà cửa, sân vườn sạch sẽ, áo quần giặt giũ, ang nước đầy, cái bếp ấm lửa. Nhà văn không miêu tả chi tiết mà chỉ phác qua một nét nhẹ nhàng bằng cảm nhận của Tràng – người chồng – hình ảnh người vợ vẫn hiện lên thật đáng yêu. Bà cụ Tứ chợt thấy con giai, nhẹ nhàng bảo nàng dâu: “Anh ấy dậy rồi đây. Con đi dọn cơm ăn chẳng muộn”. Vợ Tràng đáp: “Vâng”, rồi lẳng lặng đi vào trong bếp. Sự việc diễn ra thật đơn sơ mà thấm thìa làm sao! Mẹ chồng nàng dâu như đã sống với nhau, gắn bó thương yêu, kính trọng nhau, thông thuộc việc nhà như đã hàng chục năm rồi. Cái nền nếp, gia phong như đã được đắp xây bền vững từ lâu lắm rồi. Người đàn bà ấy, đối với Tràng không còn là của “nhặt" được nữa, mà thực sự đã là “vợ” rồi, là “nàng dâu” của mẹ anh rồi. Như vậy, chị ta cũng đã “nên người”, xứng đáng “con người”. Còn cụ Tứ – người mẹ nghèo khổ, chậm chạp, già yếu – cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường. Cái mặt bủng beo u ám rạng rỡ hẳn lên. Bà xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa, sai bảo, dạy dỗ con đâu, nhắc nhở, động viên con trai. Tâm hồn người mẹ chan hoà một nguồn sáng mới – nguồn sáng của niềm tin yêu, hi vọng. Ánh sáng của niềm tin yêu, hi vọng từ trong người mẹ, toả sang đôi vợ chồng mới. Vì thế bữa cơm thảm hại của ngày đói – có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo loãng – cả nhà vẫn vui vẻ ăn rất ngon lành. Bà lão bàn chuyện ngăn bếp nuôi gà. “Khi nào có tiền, ta mua lấy đôi gà. Này, ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem”. Một đôi gà thoáng trong tích tắc đã hoá “đàn gà”. Có một ông bụt, một bà tiên nào đã nhập vào lời bà cụ, hay chính bà cụ đang hoá thành tiên, bụt để đem đũa thần biến những khổ đau, tăm tối của cuộc đời mình, cuộc đời dâu, con thành niềm vui, ánh sáng? Nồi cám đắng chát nối sau hai lưng cháo loãng trong tay bà biến thành “cái này hay lắm cơ…”, thành “chè đây, chè khoán đây”. Hình ảnh bà cụ “lật đật chạy xuống bếp”, rồi “lễ mễ bưng ra một nồi khói bốc nghi ngút”, cùng cái cử chỉ “cầm môi khuấy khuây” múc từng bát cám và câu nói: “ngon đáo để… ngon đáo để…” được nhà văn đặc tả vừa như chân thực vừa như lãng mạn như trong một câu chuyện cổ tích vậy, cổ tích trong vẻ đẹp của hình tượng nhân vật, song vẫn hiện đại, chân thực trong những từ ngữ đời thường chắt lọc, nhất là những từ láy đặc sắc: lật đật, lễ mễ, nghi ngút, khuấy khuấy, ngon đáo để. Càng về cuối, câu chuyện càng giản dị, song vẫn bất ngờ, hấp dẫn, và thật cảm động. Ngọn lửa tình người, ngọn lửa sự sống, niềm khao khát hạnh phúc, ấm no sự gắng gượng vui sống, niềm hy vọng ngày mai cuộc sống tốt đẹp hơn… cứ nóng dần, lan toả trong từng chi liết truyện, từng câu, từng chữ. Cuối cùng, từ chuyện gia đình, chuyện nồi cháo cám đắng chát mà vẫn “ngon đáo để”, ba con người khôn khổ ấy cố quên đi những đắng chát trong túp lều nhỏ hẹp để lắng nghe tiếng vọng ở ngoài đời rộng lớn. Đó là tiếng trống thúc thuế, còn phá cả kho thóc Nhật, chia cho người nghèo đói… Từ lời kể của vợ, Tràng như bừng tỉnh. Anh nhớ tới cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sập, đằng trước có lá cờ đỏ to lắm, lá cờ của Việt Minh dân đoàn người đi phá kho thóc chia cho người đói. Khi vợ và mẹ đứng dậy, Tràng vẫn còn mơ màng nghĩ tới “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…”. Câu chuyện về những người nghèo đi phá kho thóc Nhật chia cho dân ở nơi này, nơi kia, hình ảnh lá cờ đỏ hai lần hiện lên trong tâm trí Tràng, phải chăng là một luồng sáng mới? Luồng khởi quang cách mạng đó, tuy ba con người nghèo khổ chưa nhận thức được rõ ràng song vẫn lung linh, chấp chới một dự cảm ấm lòng. Nó nuôi dưỡng niềm tin cuộc sống. Nó thắp sáng thêm ngọn lửa tình người, giục giã con người tiếp tục gắng gỏi vươn lên, xé tan màn đêm vây bủa để đi tới một buổi mai của khát vọng làm người, khát vọng hạnh phúc. Chi tiết cuối cùng “lá cờ đỏ bay phấp phới" như một vĩ thanh buông ngân từ tác phẩm một âm hưởng lạc quan. Cuộc đời chưa diễn ra,song ánh áng hồng một đời mới như đang ở ngay trước mặt, thắp trong người đọc một niềm vui để càng thêm yêu và tin ở con người, ở tình người. Đặt trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam, có người tiếc cho Vợ nhặt không chào đời cùng lúc với Tắt đèn, Chí Phèo, Bỉ vỏ, hoặc đúng dịp Cách mạng tháng Tám năm 1945. Chúng ta được biét, nhà vãn Kim Lân khởi thảo tác phẩm năm 1940, chắc đã thai nghén những nhân vật, những tình hướng chi tiếi truyện sớm hơn nữa. Trải qua hai cái mốc lớn của dân tộc: cuộc Cách mạng táng Tám năm 1945 và kháng chiến chống Pháp, qua sự trải nghiệm cuộc đời với độ lùi thời gian và độ chín của tư duy sáng tạo, nhà văn mới hoàn thiện và công bố tác phẩm. Do đó tác phẩm có dáng hình giống những áng văn hiện thực trước năm 1945, song âm hưởng khác hẳn. Nó không tăm tối, ngột ngạt đến bế tắc. Điều đặc sắc nhất ở ngòi bút Kim Lân là ông đã chọn được một khoảnh khắc của mỗi đời người, của cả dân tộc mà cuộc sống đẩy con người vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phần tâm can nhất, ẩn náu sâu kín nhất chứa đựng sức sống cả một đời người, một đời nhân loại. Tác phẩm Vợ nhặt vì thế, không chỉ có ý nghĩa của câu chuyện duyên kiếp mà còn thấm thía một lẽ sống ở đời. Trong những lúc cuộc đời tăm tối nhất, con người vẫn cố gắng thắp sáng ngọn lửa tình người, ngọn lửa khát khao hạnh phúc. Âm hưởng ngân nga trong từng dòng, từng đoạn là hiện thực và lãng mạn đan xen, tiếng khóc và tiếng cười đan xen, bóng tối và ánh sáng giành giật, để cuối cùng mở ra một ngày sáng loá, có ánh hồng của mặt trời, sắc đỏ của lá cờ Cách mạng. Cảm hứng nhân văn – tinh thương và niềm tin ở con người, trước hết với nhân dân lao động – của Vợ nhặt dường như đã mang nét mới của thời đại, vương lên trên chủ nghĩa nhân văn trong dòng văn học hiện thực trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Và điều đặc sắc nữa ở ngòi bút Kim Lân là giọng kể, những tình huống truyện trớ trêu mà giản dị, thô mộc mà hấp dẫn, là những từ ngữ dân gian mà giàu lính nghệ thuật, là những chi tiết hiện đại mà như trong cổ tích. Biết đâu, các nhà từ điển ngày mai sẽ đưa từ mới “Vợ nhặt" – sáng tạo riêng của Kim Lân – vào kho từ vựng văn chương hiện thực và nhân đạo Việt Nam. Và… biết đâu, sau này con cháu chúng ta sẽ đọc Vợ nhặt như đọc một truyện cổ tích – cổ tích về duyên kiếp những con người đói khổ có nồi cháo cám ăn mừng ngày nên vợ nên chồng, có bà mẹ nghèo hiền hậu như một bà tiên, có lá cờ đỏ báo hiệu giấc mơ sắp thành hiện thực.
Phân tích ngọn lửa tình người thắp lên giữa đêm đen cuộc sống cảm nhận Vợ nhặt của Kim Lân
4,750
Phân tích nhan đề Hồn trương ba da hàng thịt Hướng dẫn Phân tích nhan đề Hồn trương ba da hàng thịt Lưu Quang Vũ là một người vô cùng tài năng, những sáng tác của ông đã để lại cho hậu thế những bài học về cuộc sống về con người về mối quan hệ giữa người với người. Trong đó, Hồn Trương Ba da hàng thịt là tác phẩm kịch nổi tiếng. Chính nhan đề của kịch cũng tạo ra những hấp dẫn không tưởng cho độc giả. Ngoài ra nó còn gợi mở những ý nghĩa ẩn ý trong đó.Một nhan đề không chỉ tạo sức hấp dẫn khi khơi lên được sự tò mò nơi độc giả. khi nhận ra nhan đề của kịch ta có thể để ý một điều lạ mà có thể có thể thấy ngay đó là “ hồn ở một nơi” mà “ thể xác lại ở một nơi”. nó được xây dựng nhằm tạo ra nghệ thuật tương phản giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt, có ý nghĩa tương phản giữa thể xác bên ngoài và linh hồn bên trong. Chính vì vậy hồn Trương Ba và da hàng thịt chính là những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Hồn và thể xác vốn dĩ gắn liền với nhau, hòa hợp với nhau nhưng khi hồn một nơi xác một nơi thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đấy là một trong những điểm thắt nút mà chính ngay tại kịch, Lưu Quang Vũ đã giải quyết một cách thỏa đáng. Có thể thấy rằng da hàng thịt là biểu tượng cho vẻ bề ngoài thể xác con người thì hồn Trương Ba là biểu tượng cho tâm hồn, cho thế giới nội tâm sâu kín bên trong. Sự mâu mâu thuẫn giữa hình thức và bản chất trong một con người. Thông qua kịch thì nó còn nhằm thể hiện một ý nghĩa sâu xa,hồn Trương Ba còn là biểu tượng cho vẻ đẹp trong sáng thanh cao, còn da hàng thịt lại là biểu tượng cho cái xấu xa, cái dung tục tầm thường, cái bản chất thấp kém trong một con người. Một con người không thể sống trong vỏ bọc của một người khác.hơn nữa một tâm hồn thanh cao không thể sống không thể ẩn náu trong một thể xác dung tục. Sống như thế thì còn khổ hơn chết, thế thì thà chết còn thỏa. Nhan đề hồn Trương Ba da hàng thịt cũng như nội dung của truyện khiến người đọc nhận ra hình tượng nghệ thuật phản ánh một hiện thực cuộc sống con người khi bị rơi vào nghịch cảnh, phải sống giả tạo bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo, không được sống đích thực là chính mình. Không chỉ dừng lại đó nhan đề còn gửi gắm một ý nghĩa sâu sắc: Đó là sự cảnh tỉnh con người khi không làm chủ được hoàn cảnh, bản thân để cho lối sống dung tục tầm thường lấn át lối sống thanh cao trong sáng, để thể xác sai khiến linh hồn, để những ham muốn bản năng thấp kém làm cho nhân cách lệch lạc, khiến tâm hồn và thể xác không còn là một thể hài hòa thống nhất. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích nhan đề Hồn trương ba da hàng thịt
553
Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận Hướng dẫn Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận Bài làm Huy Cận là nhà thơi tiêu biểu của phong trào Thơ mới với hai phong cách sáng tác theo từng thời kì của lịch sử. Một giọng thơ u uất, sầu não trước cách mạng tháng Tám đối lập với giọng thơ sôi nổi, hào hùng sau cách mạng tháng Tám. Bài thơ “Tràng giang” tiêu biểu cho phong cách u uất, não nề của Huy Cận trước cách mạng tháng Tám với nhiều nỗi niềm, trăn trở. Đặc người người đọc ấn tượng với nhan đề và lời đề từ độc đáo. Nhan đề chính là cửa ngõ, là điểm xuất phát để người đọc có thể lần mò theo đó khám phá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Và bài thơ “Tràng giang” cũng vậy, ý nghĩa, nỗi niềm thầm kín được gửi trọn trong nhan đề vẻn vẹn hai từ “Tràng giang”. Mỗi nhan đề đều toát lên ý nghĩa riêng biệt làm nổi bật lên chủ đề, tư tưởng của tác phẩm đó. Một số nhan đề có tính chất gợi mở, một số nhan đề khằng định nội dung. Tuy nhiên, sáng tạo theo cách viết nào thì nó cũng bao hàm những dụng ý nghệ thuật riêng. Nhan đề của bài thơ có tên “Tràng giang” với vần “ang’ chủ đạo vừa có ý nghĩa gợi mở, vừa tạo nên sự u buồn dai dẳng và nặng nề, cứ triền miên trong tâm thức của tác giả. “Tràng giang” hay còn gọi là “trường giang” là một từ hán việt ý chỉ con sông dài. Nhưng tác giả lại lấy tên “Tràng giang” chứ không phải “Trường giang”. Bởi vốn dĩ “Trường giang” chỉ có ý nghĩa chỉ con sông dài đơn thuần như thế; nhưng ngược lại “Tràng giang” vừa nói con sông dài mênh mông, vừa nói lên tâm trạng, nỗi niềm của chính tác giả. Vần “ang” kéo dài ra như nỗi niềm của Huy Cận chưa bao giờ vơi khi đứng trước con sông Hồng rộng lớn mênh mông này. Và hình ảnh cụ thể của dòng “tràng giang” có lẽ là dòng sông Hồng. Sông Hồng là điểm nhấn khơi gợi cảm xúc của tác giả, đồng thời chồng chất những bế tắc không lối thoát cho những con người muốn đổi mới nhưng không tìm được con đường đi riêng cho chính mình. Như vậy nhan đề “Tràng giang” đã được làm sáng rõ, với ý nghĩa sâu xa như vậy. Phân tích nhan đề và lời đề từ của “Tràng Giang” – Huy Cận Còn về lời đề từ, không phải bài thơ nào cũng có. Thực ra lời đề từ chính là tiêu điểm thâu tóm nội dung của tác phẩm, nhưng nội dung này chỉ là ở bề chìm, yêu cầu người đọc cần phải đi sâu khai thác mới có thể khám phá ra điều này. Lời đề từ của bài “tràng giang” là “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, một câu thơ thốt lên nhưng đầy ẩn ý nội dung và nghệ thuật. Dường như âm điệu chủ đạo của lời đề từ là sự nhẹ nhàng, buồn man mác, buồn len lỏi vào tâm hồn của con người. Với biện pháp đảo trật tự cú pháp “bâng khuâng” lên đầu câu, Huy Cận đã khiến người đọc vướng vào những tâm sự không thể giãi bài, cũng như khó có thể nói ra cùng ai. Huy Cận muốn mở ra một không gian rộng lớn, mênh mông của dòng sông để đi sâu vào chiều dài, chiều sâu của lòng người. Hẳn đây là một dụng ý nghệ thuật tuyệt vời mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc khác nhau. Huy Cận đứng trước sông Hồng nhưng lại nhớ chính con sông này, có chăng là tâm sự đứng trước nhiều con đường, nhiều ngã rẽ nhưng lại không biết chọn con đường đi nào trọn vẹn nhất. Với nhan đề và lời đề từ đầy ý nghĩa như thế nào, bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận đã có sức ám ảnh lớn đối với người đọc.
Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận
714
Phân tích nhân vật A phủ trong tác phẩm Vợ chồng A phủ Hướng dẫn Phân tích nhân vật A phủ trong tác phẩm Vợ chồng A phủ Vợ chồng A Phủ được sáng tác năm 1952. Đây là truyện hay nhất in trong tập ” truyện Tây Bắc” của nhà văn Tô Hoài (1953) và đạt giải nhất của Hội văn hóa nghệ thuật 1954-1955. Nhà văn muốn làm hiển hiện lại cuộc sống cuộc đời của người dân tộc trung thực, chí tình quý trọng tình cảm cho dù gian nan đến đâu cũng mong đợi ngày mai tươi sáng, tiêu biểu là nhân vật A Phủ, đây là nhân vật được nhà văn xây dựng với hình tượng thật đặc biệt. A Phủ có số phận đặc biệt vì A Phủ mồ côi cả cha lẫn mẹ, không còn người thân thích,cả làng không mấy ai vượt qua được dịch bệnh đậu mùa: anh em, bố mẹ của A Phủ chết. A Phủ đã vượt qua được sự sàng lọc nghiệt ngã của tự nhiên, A Phủ khỏe,sống sót. Có người làng đói bụng đem bắt A Phủ đổi lấy thóc của người Thái dưới cánh đồng. tuy nhiên, mới 10 tuổi nhưng A Phủ rất ngang bướng, không chịu ở dưới cánh đồng thấp, trốn lên núi cao và lưu lạc đến Hồng Ngài làm thuê lần nữa cho nhà này, nhà khác, vượt qua vô vàn cơ cực, thử thách và A Phủ đã trưởng thành, trở thành một chàng trai khỏe mạnh, tháo vát, thông minh: ” Biết đúc lưỡi cày, đục cuốc lại cày giỏi và đi săn bò rất táo bạo. A Phủ khỏe, chạy nhanh như ngựa “. Vì vậy con gái có nhiều người con gái mê mẩn, có nhiều người đã nói: ” Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu. ” Tuy nhiên người ta cũng chỉ ao ước thế thôi vì A Phủ mồ côi, nghèo, không có ruộng, không có bạc, không có nhà, A Phủ không thể lấy nổi vợ vì A Phủ suốt ngày cày thuê cuốc mướn, tục lệ cưới xin phép rượu cũng to hơn phép làng. Cũng chính hoạt động đó, A Phủ đã phải trả giá đắt, trở thành thân phận kẻ ở trừ nợ vô cùng cực khổ. A Phủ quanh năm một thân một mình nào là phá nương, cuốc rừng, săn bò tót, bắt bò, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm bôn ba, rong ruổi ngoài gò,ngoài rừng; đang sức thanh niên A Phủ làm phăng phăng mọi việc, đang mùa đói, do mải mê bẫy nhím, để hổ ăn mất bò, A Phủ thản nhiên vác nửa con bò bị hổ ăn thịt dở về nói với thống lí: ” Tôi về lấy súng đi bắt con hổ “. Đó là tính cách đặc biệt của A Phủ: A Phủ cãi lại thống lí cũng rất điềm nhiên, không sợ cái uy của kẻ ác, cái uy của nhà giàu, con hổ hay thống lí thì cũng thế thôi. Đặc biệt, ngay cả việc A Phủ tự lấy cọc và dây mây, tự mình đóng cọc để người ta trói mình chết thế cho con vật vừa bị mất thì A Phủ cũng làm rất thản nhiên. Đó chính là thể hiện tính cách của A Phủ là một người mạnh mẽ, gan góc, không sợ cả cái chết. A Phủ được Mị cởi trói, đồng cảm, khát vọng tự do, khát vọng sống, đã thôi thúc A Phủ quật sức vùng lên để chạy, thoát khỏi nhà thống lí Pá Tra. Sau đó A Phủ đến Phiềng Sa được A Chân giác ngộ trở thành đội viên du kích đi theo cách mạng. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích nhân vật A phủ trong tác phẩm Vợ chồng A phủ
638
Phân tích nhân vật A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài -Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích nhân vật A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài -Văn lớp 12 Bài làm Tô Hoài là một nhà văn đa tài ông có khả năng viết lên những tác phẩm dành cho mọi lứa tuổi từ trẻ con tới người lớn. Như tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký đã gắn liền với tuổi thơ của bao nhiêu thế hệ Việt Nam. Mỗi tác phẩm của ông đều chứa đựng nhân sinh quan sâu sắc của ông. Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” được tác giả viết sau một chuyến đi thực tế lên Tây Bắc. Đây là một trong những tác phẩm phác họa đậm chất cuộc sống của những người nông dân, lao động bất hạnh trong xã hội phong kiến. Cuộc sống của người dân khi phải chịu cảnh nô lệ, sống kiếp người nhưng không bằng con trâu, con bò. Nhưng dù cuộc sống có khó khăn như thế nào thì những người nông dân lao động này vẫn khát khao sống, khát khao tự do, cởi bỏ trói buộc của đời mình. Nhân vật A Phủ là một trong hai nhân vật chính trong tác phẩm, lấy được cảm xúc của người đọc. Tô Hoài đã phác họa A Phủ là một người nông dân ngay thẳng, chất phác không chịu được những điều chướng tai gai mắt. Anh mồ côi cha mẹ từ nhỏ sống một mình nên bản năng sinh tồn rất cao. Năm A Phủ trưởng thành mười tám hai mươi tuổi gì đó người to khỏe mạnh như con trâu, sức vóc trai tráng vạm vỡ khiến nhiều cô gái trong làng bản mê A Phủ lắm, nếu cưới được A Phủ chẳng khác nào lấy được con trâu tốt. Mùa xuân năm đó, A Phủ theo bạn bè đi chợ tình, thổi tiêu tìm bạn, do A Phủ và A Sử con nhà thống lý Pá Tra cùng thích một cô gái nên đã xảy ra mâu thuẫn. A Phủ đánh cho A Sử một trận làm cho A Sử nằm bẹp như một con gián. Nhưng sau đó, A Sử về nhà kể với cha mẹ, gia đình thống lý vốn là một gia đình giàu có, có địa vị trong bản nên lão thống lý Pá Tra đã huy động người làm đi bắt A Phủ về sử tội. Nhờ thế lực, cộng người đông sức mạnh A Phủ đã bị người nhà thống lý bắt trói mang về đánh đập hết sức dã man. Chúng trói A Phủ vào một cái cột trong nhà bỏ anh đói khát, đánh anh tới mức thân tài ma dại, máu me đầy người, đầy mặt. Một hành động cậy quyền cậy thế hết sức man rợ của những kẻ có thế lực trong chế độ cũ. Sau đó, chúng bắt A Phủ làm trâu ngựa, nô lệ trong nhà đó để phạt vì tội dám đánh con trai lão là A Sử trọng thương. Mặc dù trong cuộc xô xát chính A Sử là người ra tay trước và tỏ ra không chơi đẹp mới làm cho A Phủ phải đánh hắn. Nhưng lẽ phải chỉ đứng về phía những người có tiền và có quyền lực. A Phủ phải chấp nhận cảnh làm trâu bò, nô lệ cho nhà thống lý Pá Tra. Hàng ngày Mị sống lầm lũi như con rùa rụt cổ, suốt ngày làm quần quật từ sáng tới tối không được nghỉ ngơi. Nhiều lúc Mị nghĩ con trâu con ngựa làm còn có lúc tối đến nó được nghỉ ngơi ăn cỏ. Còn Mị và nhiều người đàn bà khác trong ngôi nhà này làm suốt từ sáng tới tối không lúc nào ngơi tay. Cuộc sống tủi nhục cay đắng đã giết chết tâm hồn Mị. Mị tuy còn trẻ lắm cô cũng vô cùng xinh đẹp, tài giỏi thời chưa bị A Sử bắt về làm vợ, Mị có nhiều chàng trai thổi sáo đi theo lắm. Nhưng từ ngày về đây, tâm hồn Mị cằn cỗi, chết dần, chỉ còn thân xác vật vờ sống qua ngày mà thôi. Rồi một hôm vào lễ hội mùa xuân, tiếng khèn gọi bạn vang xa, Mị lấy hũ rượu ra uống, hơi men đã ngấm khiến cho Mị không còn biết sợ nữa. Cô cảm thấy mình còn rất trẻ, mình có quyền đi chơi, nhiều người phụ nữ trong bản có chồng mà vẫn được đi chợ tình có sao đâu, nên Mị sửa soạn định đi, A Sử nhìn thấy dấu hiệu khác lạ của Mị hắn liền dùng đòn roi dập tắt nhưng, ngọn lửa đang cháy trong lòng Mị. Hắn đánh Mị dã man rồi trói Mị vào chiếc cột cạnh bếp, sau đó hắn bỏ đi chơi. Mị đã ngấm hơi men, hơi men ngấm tới đâu khát khao sống tự do, hạnh phúc của Mị lớn tới đó, Mị nghe tiếng gọi bạn ngoài kia mà lòng rạo rực. Rồi cô quyết định cắt dây thừng cởi trói cho mình. Sau đó, cô cắt dây trói cho A Phủ hai người cùng trốn đi tới một vùng miền khác nơi có những chiến sĩ cách mạng, có lá cờ Việt Minh vẫy gọi. Nơi mà còn người lao động được sống kiếp con người không phải làm trâu, làm ngựa làm nô lệ cho những người có chức có quyền trong xã hội. Hai người họ đã kết thành một đôi cùng tìm thấy lý tưởng sống của riêng mình cùng đứng lên giải thoát cuộc đời của mình.
Phân tích nhân vật A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài -Văn lớp 12
945
Phân tích nhân vật A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài Hướng dẫn Đề bài: Phân tích nhân vật A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài Bài làm Tô Hoài là một nhà văn cách mạng tiêu biểu trong nền văn học hiện đại của nước ta. Trong các tác phẩm của ông hình ảnh người nông dân nghèo trong xã hội cũ được hiện lên vô cùng chân thật. Sự bất hạnh, bị bóc lột, bị chà đạp tước đoạt quyền làm người khiến cho những người nông dân này phải rơi vào đường cùng không lối thoát. Chính Tô Hoài đã cho họ sự hy vọng, hướng đi về một tương lai mới. Vợ chồng A Phủ là thành quả lao động của một chuyến đi vi hành lên vùng Tây Bắc của tổ quốc. Tại đây tác giả Tô Hoài đã nhìn thấy nhiều mảnh đời bất hạnh, những số phận bị chà đạp một cách nghiệt ngã. Cuộc sống một con người nhưng thực chất không khác nào kiếp sống của loài vật bị coi như tôi tớ, nô lệ cho chế độ cầm quyền. Trong cuộc sống khó khăn như vậy nhưng sức sống của người nông dân vẫn vùng lên mạnh mẽ. Họ khát khao có một cuộc sống tự do, được làm chủ chính cuộc đời mình. Nhân vật A Phủ là một điển hình tiêu biểu. A Phủ là một người có tính tình ngay thẳng, tốt tính, có sức khỏe của một chàng trai đang độ xuân xanh có thể “bẻ gãy sừng trâu” nhưng hoàn cảnh gia đình nghèo khó. Bố mẹ anh không may qua đời sớm bỏ anh lại một mình trải qua nhiều khó khăn, cơ cực, nhưng anh vẫn đi làm thuê làm mướn tự mình mưu sinh. A Phủ sống như cành cây, ngọn cỏ giữa rừng xanh,. Chính sự khó khăn, tuổi thơ bần hàn, nghèo khổ đã rèn luyện cho A Phủ có những đức tính vô cùng quý báu. Anh gan ra, gai góc, là một người có khí phách không một thế lực nào có thể trói được anh. Nhưng khổ nỗi gia cảnh A Phủ quá nghèo nàn, cha mẹ không có, không có tiền bạc ruộng nương, nhà cửa, trâu bò gì cả. Nếu anh lấy vợ thì làm sao mà nuôi nổi người ta, nên nhiều cô gái trong bản em ngại không dám tiến tới với A Phủ. Vì vậy, A Phủ vẫn phải sống kiếp cô độc, lẻ bóng một mình. Trong mùa xuân năm ấy, A Phủ đi chơi và có gây ra xích mích với A Sử con của một người có tiền và chức vị trong bản làng. Trong cuộc chiến đấu một đấu một. A Phủ hoàn toàn chiếm ưu thế bởi anh có sức khỏe, lại vô cùng nhanh nhẹn. A Sử bị A Phủ đánh cho rất nặng, khiến toàn thân đau nhừ. Người hắn thâm tím nhiều vết thương. Nhưng đây lại là hậu họa, là nguyên nhân tạo nên mối thù cho những kẻ có quyền thế tiền bạc với những người nông dân nghèo tay trắng. Nhà thống lý Pá Tra là một gia đình có chức tước có địa vị tiếng nói trong bản vô cùng ghê gớm. Chính vì vậy hắn đã tìm đủ mọi cách gọi quân gọi người tìm mọi thủ đoạn để bắt được A Phủ về trị tội. Bọn chúng coi A Phủ như là con vật chúng trói anh lại đánh đập dã man từ sáng tới tối. Gia đình nhà thống lý Pá Tra chính là hiện thân của giai cấp cầm quyền trong chế độ phong kiến. Một chế độ chuyên bóc lột người nông dân thấp cổ bé họng tới tận xương tủy. Bọn chúng đánh đập A Phủ dã man coi anh như con vật, nhìn A Phủ lúc đó thật đáng thương “A Phủ chỉ im lặng như tượng phật” sự im lặng thể hiện sự căm hận, sự khinh bỉ của anh với tầng lớp bóc lột. Nó làm một hành động ngấm ngầm của sự chống đối trong con người A Phủ. Rồi gia đình nhà thống lý bắt A Phủ làm nô lệ cho họ suốt đời vì tội dám mạo phạm đánh con trai họ là A Sử. Thực chất đó chỉ là cái cớ nguyên nhân sâu xa là họ thấy A Phủ khá to khỏe, mạnh như con trâu mộng có thể làm lợi rất nhiều cho kinh tế nhà họ. Nên thống lý mới tìm cách ép A Phủ phải làm tôi tới, nô bộc cho mình. Điều này thể hiện sự tàn nhẫn, áp bức bóc lột con người tới mức đường cùng. A Phủ đánh con trai họ nhưng nhà thống lý cũng đánh A Phủ rất nhiều vậy còn chưa hả dạ hay sao, mà bắt anh làm nô lệ. Hành động này thể hiện sự lộng quyền của bọn địa chủ cầm quyền trong xã hội phong kiến. Bọn chúng muốn làm gì thì làm không hề có pháp luật, vương pháp những người dân hiền lành thấp cổ bé họng thì chỉ như con vật, kêu trời trời không thấu, kêu đất đất không thưa. Những con người trong xã hội cũ bị chà đạp, bị tước quyền làm người rất nhiều. Ngay trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” không chỉ có nhân vật A Phủ bị tước đoạt quyền làm người, bị vùi xuống đáy xã hội, mà nhân vật Mị cũng là một nhân vật vô cùng đáng thương. Mị là cô gái xinh đẹp nết na, nhưng bị A Sử bắt trói về làm vợ, nhiều lần Mị định ăn lá ngón tự vẫn nhưng do thương cha mẹ, sợ cha mẹ gia đình mình sẽ bị gia đình thống lý Pá Tra kiếm cớ để hỏi tội, nên cô đành ngậm đắng nuốt cay sống kiếp con rùa trong gia đình nhà thống lý. Hai con người hai mảnh đời số phận giống nhau, chính sự giống nhau này đã đưa đẩy họ đến với nhau làm ra một cuộc cách mạng thay đổi cuộc đời mình. Một lần A Phủ thả trâu bò làm mất một con nên anh lại bị gia đình thống lý trói vào đánh đập. Mị thì do làm trái ý chồng, bị chồng A Sử trói vào đánh đập và không cho ăn. Hai con người với thân phận nô lệ bị cầm tù về thể xác và tâm hồn, đã nhìn thấy nhau trong cảnh hoạn nạn. Chính trong giây phút đó, họ chợt nhận ra mình cần phải mạnh mẽ, cần phải giải thoát cuộc đời của chính mình nên tác giả Tô Hoài đã vô cùng nhân văn khi để nhân vật Mỵ tự cởi trói cho mình và giải thoát A Phủ. Hai người đã dắt tay nhau cùng trốn đi. Họ đi theo tiếng gọi của Việt Minh đi tìm ánh sáng của chân lý, đi giải phóng cho chính mình thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than. Nhà văn Tô Hoài đã vô cùng xuất sắc khi xây dựng nhân vật A Phủ. A Phủ là sự điển hình của người nông dân trong xã hội cũ bị chà đạp, bị áp bức tới đường cùng nhưng dù như thế trong A Phủ vẫn luôn khao khát một cuộc sống mới, cuộc sống tự do làm chủ đời mình.
Phân tích nhân vật A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài
1,247
Phân tích nhân vật An Dương Vương Hướng dẫn Phân tích nhân vật An Dương Vương Có lẽ trong kho tàng văn học dân gian thì những câu chuyện cổ tích hay truyền thuyết là những giá trị lịch sử một thời mà cha ông ta gửi gắm và là suối nguồn mát lành nuôi dưỡng văn học viết sau này. Trong số ấy, thì truyền thuyết An Dương Vương-Mị Châu-Trọng Thủy là một trong những truyền thuyết tiêu biểu phản ánh bi kịch mất nước nhà tan và ý thức lịch sử của nhân dân, trong đó nhân vật An Dương Vương đã để lại nhiều bài học sâu sắc về việc dựng nước và giữ nước, cùng tấm lòng yêu nước thương dân và tầm nhìn xa trông rộng của một vị lãnh tụ. Trước hết, An Dương Vương hiện lên là một vị vua yêu nước, thương dân có tinh thần trách nhiệm với vận mệnh của xã tắc non sông. Sau khi lên ngôi vua, ngài lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần để mong xây thành được thuận lợi. Lo lắng cho an nguy của xã tắc, non sông mong muốn cho nhân dân được sống ấm no hạnh phúc nên ý thức muốn xây thành giữ nước chính là biểu hiện của một bậc thánh quân, một vị lãnh tụ có tầm nhìn xa trông rộng, điều này là điều mà các thế hệ trước chưa ai nghĩ tới. Hơn thế nữa, ông cũng tỏ ra là người biết trọng dụng người tài. Khi được một cụ gài báo tin sẽ có xứ Thánh Giang đến giúp đỡ việc xây thành, nhà vua đã dùng xe bằng vàng rước vào trong thành, kính cẩn tiếp đón. Những bậc hiền tài là nguyên khí quốc gia, biết quý trọng và trọng dụng người tài chính là biểu hiện của sự sáng suốt và biết xây dựng chính sách có ích cho sự cai trị và phát triển đất nước. Sau đó, được sự giúp đỡ của Rùa Vàng nhà vua cho người đúc nỏ thần gọi là nỏ “Linh quang Kim Quy thần cơ”. Không chỉ dừng lại ở đấy, tấm lòng của nhà vua còn thể hiện ở việc, sau khi Triệu Đà đem quân sang đánh thất bại bèn dùng kế cho Trọng Thủy làm rể để mật thám tin tức thì vua An Dương Vương cũng vui vẻ chấp nhận vì sự hòa hiếu bang giao của hai bên. Đó cũng chính là truyền thống ngàn đời của người dân ta đó là yêu chuộng hào bình, không muốn xảy ra chiến tranh, xung đột. Như vậy với những phẩm chất như yêu nước, thương dân, có tinh thần trách nghiệm cao với non sông và tầm nhìn xa trông rộng cùng tấm lòng bao dung, khoan hòa đấy cũng chính những phẩm chất mà cha ông ta gửi gắm vào những vị lãnh tụ vĩ đại. Qua hình tượng An Dương Vương, cha ông ta đã gửi gắm những thông điệp triết lí sâu sắc về việc dựng nước và giữ nước. Đồng Thời gửi gắm khát khao muốn xây dựng một đất nước độc lập, tự cường, hùng mạnh.
Phân tích nhân vật An Dương Vương
534
Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lăng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long Hướng dẫn Hình ảnh nhân vật anh thanh niên trong Lăng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long Mở bài: Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết truyện ngắn và kí. Truyện ngắn của Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng, tình cảm,thường pha chất kí và giàu chất thơ, thấm đẫm chất trữ tình. Văn ông thường ánh lên vẻ đẹp của con người nên có khả năng thanh lọc làm trong sáng tâm hồn, khiến chúng ta thêm yêu cuộc sống. Lặng lẽ Sa pA là kết quả sau chuyến đi thực tế lên Lào Cai của nhà văn. Qua câu hình ảnh nhân vật anh thanh niên, tác giả muốn giới thiệu với người đọc về một vùng đất lặng lẽ mà thơ mộng, ở đó có những con người được lao động thầm lặng, say mê hiến dâng tuổi trẻ và tình yêu của mình cho quê hương, đất nước. Thân bài: Nhẹ nhàng mà tinh tế, “Lặng Lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long đã để lại trong lòng nhường những cảm xúc riêng biệt, mới mẽ về vẻ đẹp con người lao động và những việc làm lặng thầm, cao cả của họ tường ngày. Vốn là nhà văn chuyên viết về truyện ngắn và ký, nhưng câu văn bàn bạc chất thơ trong tác phẩm của ông. Tuy mang đậm chất kí nhưng vẫn rất trong trẻo hồn nhiên. Xây dựng tình huống truyện hợp lí để truyện tự nhiên, khoáng đạt. Kết hợp giữa tự sự miêu tả, trữ tình và bình luận đã góp phần tạo nên những nét đặc sắc, riêng biệt nơi tác phẩm ông. Tác phẩm kể lại cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa anh thanh niên, ông họa sĩ già và cô kỹ sư trẻ qua lời giới thiệu cua bác lái xe. Trên chuyến xe khách lên Lào Cai, bác lái xe trò chuyện với cô kỹ sư trẻ và nhà học sĩ lão thành về anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn mà bác đã quen biết ba bốn năm nay.Sau đó là cuộc gặp gỡ giữa đoàn khách và anh thanh niên. Anh đã để lại ấn tượng sau sắc nơi ông họa sĩ và cô kỹ sư bỡi những suy nghĩ đúng đắn, niềm say mê nghề nghiệp và sự thầm lặng, khiêm tốn, biết hi sinh cho công việc xã hội, cho lợi ích chung của mọi người. Không trực tiếp xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện, anh thanh niên chỉ hiện ra chốc lát trong cuộc gập gỡ của các nhân vật, đủ để họ kịp ghi dấu một ấn tượng. Để rồi sau đó, anh lại khuất lấp trong mây mù bạt ngàn, khuất lấp vào trong cái lặng lẽ muôn thuở của Sa Pa. Qua công việc và cuộc sống của mình, nhân vật anh thanh niên giúp mọi người cảm nhận được “trong cái lặng yên của Sa Pa dưới những dinh thư cũ kỹ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên người ta đã nghĩ đến chuyện nghĩ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước”. Sống và làm việc một mình trên đỉnh yên sơn cao 2600 mét “bốn bề chỉ cây cỏ và mây mùa lạnh lẽo chàng trai hai mươi bãy tuổi với tầm vóc bé nhỏ nét mặc rạng rỡ” này phụ trách công việc khí tượng kim vật lý địa cầu. Hằng ngày, nhiệm vụ của anh là đo gió, đo mưa, rồi gửi số liệu ấy về trung tâm dự báo khí tượng ở thủ đô. Dựa vào đó, trung tâm sẽ báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản suất, phục vụ chiến đấu của nhân dân. Đó là công việc hằng ngày gian lao vất vả mà anh phải thực hiện. Nó đã thể hiện rõ nét phẩm chất tốt đẹp của anh thanh niên đối với công việc và cuộc sống xunh quanh. Bên cạnh đó, anh còn luôn ý thức đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa công việc. Anh luôn tự lực hoàn thành nhiệm vụ với tinh thần tự giác trách nhiệm cao. Bởi với người thanh niên ấy, “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi chứ sao gọi là một mình được”. Vả lại, công việc của anh còn “gắn liền với công việc của anh em dưới kia”. Chắc ai trong chúng ta cũng ao ước một cuộc đời tràn đầy ý nghĩa mà anh thanh niên đang sống. Đó là một cuộc đời vì niềm vui và hạnh phúc chung của mọi người. Anh luôn tự hào vì điều đó. Khó mà diễn tả được niền vui sướng sự súc động khi biết được mình đã làm công việc có ích, gop phần bắn hạ phản lực của quân địch: “Từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc”. Hạnh phúc ấy sao mà lặng thầm đến bình dị. Lặng thầm xây dựng và bảo vệ đất nước, dù chỉ là một phần bé nhỏ. Tình cảm của anh đôi với cuộc sống, đối với con người xung quanh hết sức nồng nhiệt. Tưởng chừng gần ấy năm sống nơi núi cao lạnh lẽo, trái tim anh đã phần nào chai sạn và vô cảm. Vậy mà, anh luôn lo lắng qua tâm đến người khác. Anh sốt sắng biếu vợ bác lái xe củ tam thất vừa đào được. Anh rối rít dẫn đoàn khách lên thăm nơi ở của mình. Khi đoàn khách ra về, anh còn biếu quà cho từng người. Yêu đời là biết sấp xếp tổ chức cuộc sống một cách ngăn nắp, chu đáo. Ngay từ lần đầu tiên anh đã làm cho ông họa sĩ và cô kỹ sư trẻ ngẩn người ngạc nhiên. Những tưởng “khách đến nhà bất ngờ chắc cu cậu chưa kiệp quét trước dọn dẹp, chưa kiệp gấp chăn”. Vậy mà, khác với những gì ông họa sĩ đã nghĩ, trước mắc giờ đây một vườn hoa rực rỡ với các loại đủ màu, đủ sắc. Không chỉ trồng hoa mà anh còn nuôi gà và đọc sách. Chi tiết anh thanh niên “mừng quýnh” lên trước những cuốn sách nhờ bác lái xe mua hộ khiến ta thêm phần quý mến anh Những trang sách còn đang dang dở kia đã đưa anh bay xa hơn, ra khỏi bốn bề núi cao, mây mù lạnh lẽo. Vị trí của anh với cuộc sống tinh thần phong phú đã được nâng lên trong con mắc bạn đọc. Đặc biệt hơn cả, anh chọn cách trò chuyện với sách mỗi khi cô đơn để phần nào vơi đi nổi buồn. Sống và làm việc ở điều kiện như thế, chẳng trách sao mà anh thanh niên lại bảo với cô họa sĩ là về cái cảm giác “thèm người”, thèm nghe truyện dưới xuôi lắm. Nhưng điều đáng yêu hơn ở chàng trai đó là hành động đẩy cây chặn đường xe chạy; là khi dỗi hờn, gan lì không “thèm” xuống gập bác lái xe. Công việc gian lao, vất vả là thế nhưng anh thanh niên lại rất khiêm tốn. Anh luôn xem những gì mình đông góp thật nhỏ bé, chẳng đáng là bao so với mọi người. Anh ca ngợi anh kỹ sư ở vườn rau- người giúp hàng vạn cây su hào toàn miền bắc được to hơn, ngọt hơn trước. Anh khâm phục người đồng chí nghiên cứu khoa học đang ngày đêm làm một cái bảng đồ sét riêng cho nước ta. Chính họ trở thành động lực để anh tiếp tục làm được nhiều điều lớn lao hơn nữa. Với lời kể tự nhiên cùng tình cảm yêu mến, trân trọng, những câu văn trau chuốt, đượm chất thơ, nhà văn Nguyễn Thành Long đã để lại cho người đọc dư vị sau lắng qua hình ảnh của anh thanh niên. Anh là tiêu biểu cho những con người lặng lẽ lao động, gắn bó với nhân dân và dốc hết sức mình vào công cuộc kiến thiết, xây dựng xã hội chủ nghĩa. Như Bác Hồ từng nói “muốn xây dựng một xã hội chue nghĩa cần có những con người chủ nghĩa xã hội”. Họ như những viên gạch – những viên gạch mang trong mình vẽ đẹp tâm hồn của một tri thức mới, thiết tha yêu cuộc sống, sẳn sàng hi sinh, quên mình vì lý tưởng phục vụ đất nước- góp phần tạo dụng lên bức tường xã hội chủ nghĩa vững chắc như ngày hôm nay. Có thể nói nhân vật anh thanh niên là một trong những nhân vật thành công nhất của Nguyễn Thành Long. Cốt truyện được xây dựng khá đơn giản nhưng hợp lí. Dù chỉ tập trung vào 30 phút gặp gỡ tình cờ ngắn ngủi, nhà văn đã nêu bật lên những nét đẹp đáng quý của anh thanh niên. Đó là tình yêu nghề thiết tha. Đó là tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Đó là tình cảm yêu quý mọi người, tính tình cởi mở, chân thành và hết sức khiêm tốn. Ngoài ra, nhà văn đã kết hợp tự sự với trữ tình, xen lẫn các đoạn bình luận của tác giả giúp người đọc thấu rõ hơn về hình tượng nhân vật và ý nghĩa câu chuyện. Qua đó, tác phẩm đã góp phần gửi gắm thông điệp của tác giả về niền vui và ý nghĩa của việc lao động tự giác của những mục đích chân chính nơi con người hãy biết sống vì đất nước. Kết bài: Câu chuyện khép lại nhưng trước mắt người đọc như vẫn còn hiển hiện dáng hình của anh thanh niên đang từ trên ngọn đồi đi nhanh xuống đón khách với nụ cười rạng rỡ. Dẫu Sa Pa có nhiều sương mù nhưng không thể nào che lấp được. Anh thanh niên là hình ảnh tiêu biểu cho những con người ở Sa Pa, là chân dung con người lao động mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lăng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
1,699
Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa Hướng dẫn Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa Bài Làm Nguyễn Thành Long là một cây bút chuyên viết truyện nắng và kí. Nét đặc sắc trong truyện ngắn của ông là luôn tạo hình tượng đẹp, ngôn ngữ tỏng trẻo, nhẹ nhàng, sáng tác của nhà thơ có nhiều đặc sắc. Nổi bật sáng tác của ông có thể nói đến là ” Lặng lẽ Sa Pa”. Truyện được viết năm 1970, với tên truyện ta thấy sa pa là một nơi yên lặng để có thể nghỉ ngơi nhưng cạnh vẻ bề ngoài đó chính là sự sôi nổi của tuổi trẻ, chính là anh thanh niên. Trước tiên tác giả giới thiệu cho người đọc một vùng đất đầy ấn tượng, vẻ đẹp của thiên nhiên Sa Pa đã làm nền cho con người Sa Pa những con người làm nghiên cứu khoa học trong lặng lẽ mà rất khẩn chương vì lợi ích đất nước, cuộc sống con người. Trong đó có anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu Anh Thanh niên được giới thiệu” người cô độc nhất thế gian” một mình làm việc trên đỉnh yên sơn coa 2600 mét, quanh năm suốt tháng bốn bề mây phủ giá lạnh, anh cô độc ” thèm người”, công việc mỗi ngày của anh “ đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây đo trấn động mặt đất”. Nhằm dự vào việc báo trước thời tiết hàng ngày phục vụ sản xuất và chiến đấu, công việc đòi hỏi tỉ mỉ, chính xác có tinh thần trách nghiệm cao. Vẻ đẹp, nết sống, tính cách biết tự làm đẹp cho cuộc sống. Tuy sống trong điều kiện thiếu thốn nhưng người thanh niên ấy vẫn ham mê công việc biết sắp xếp lo toàn cuộc sống riêng ngăn nắp. Anh tự biết làm cho cuộc sống của mình vui vẻ đầm ấm thơ mộng, ý nghĩa. Anh trồng hoa “ hoa dơn, hoa thược dược, vàng, tím, … vườn hoa khoe sắc rực rỡ hàng ngày như động viên tiếp sức làm cho tâm hồn mộng mơ, yêu cuộc sống”. Anh đọc sách, trò tuyện lấy sách làm bạn tri ân, tri kỉ. Anh nuôi gà anh lấy thêm thực phẩm tạo không khí gia đình vui tươi đầm ấm. Thế giới riêng của anh “ một gian nhà ba gian sạch sẽ với bàn ghế, sách vở… Có lẽ chính nối sống đẹp đẽ đó khiến anh quên đi hoàn cảnh cô độc, công việc khắc nghiệt để thấy yêu nghề yêu cuộc sống hơn. Qua bài Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long chúng ta cần phải biết quý trọng cuộc sống, yêu thương cuộc sống nhiều hơn nữa. Tác giả đã làm nổi bật nên một hình ảnh anh thanh niên chân thật, sống tình cảm và luôn khao khát có một cuộc sống tự do. Anh thanh niên là một trong những hình mẫu lý tưởng cho cuộc sống hiện nay để các bạn trẻ noi gương theo.
Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa
524
Đề bài: Phân tích nhân vật bà cô trong đoan trích Trong lòng mẹ – Nguyên Hồng để làm rõ ý kiến có những lời nói và hành động thể hiện bản chất tàn nhẫn, mất hết tình người đáng lên án Bài làm Nhân vật bé Hồng có một hoàn cảnh vô cùng bất hạnh. Cha mất, mẹ bỏ đi theo người khác nên bị gia đình chồng thù ghét, Hồng ở với họ hàng bên nội. Sau khi cha Hồng mất gần một năm, sắp đến ngày giỗ đầu của ông, mẹ ở Thanh Hóa vẫn chưa về. Người bà cô của Hồng gọi chú bé lại trò chuyện với một tâm địa xấu xa, độc ác. Bà ta vừa cười vừa hỏi Hồng. Đây không phải là sự lo lắng, nghiêm nghị, cũng không phải âu yếm. Cái cười này thể hiện một sự không thiện chí. Câu hỏi của mụ ta: có muốn vào Thanh Hoá thăm mợ mày không cũng chứa đựng ý nghĩa cay độc một sự giả dối. Nhận ra ý nghĩ cay độc của cô, Hồng cúi đầu không đáp. Nhưng sau đó, chú cười đáp lại: "không cháu không muốn vào, cuối năm thế nào mợ cháu cũng về". Thái độ đó chứng tỏ chú rất yêu thương và kính trọng mẹ, chú nhận ra được ý nghĩ cay độc của bà cô trong giọng nói và nét mặt khi cười rất kịch của bà cô. Em không thể để tình yêu thương và lòng kính mến mẹ bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến. Người bà cô "Giọng vẫn ngọt'', "sao không vào mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu!", "Hai con mắt long lanh của cô chằm chặp nhìn" vào Hồng rồi “Vỗ vai cười nói” “mày dại quá, vào bắt mẹ mày may vá sắm sửa cho và bế em bé chứ”. Giọng mụ ta bình thản nhưng mỉa mai. Cái nhìn của bà chứng tỏ bà cô rắp tâm muốn kéo đứa cháu đáng thương vào một trò chơi độc ác đã dàn tính sẵn. Cử chỉ vỗ vai, cười nói – thể hiện sự giả dối độc ác. Câu nói "mày dại quá…" không chỉ lộ rõ sự ác ý mà còn chuyển sang chiều hướng châm chọc, nhục mạ với một giọng điệu cay nghiệt, độc ác. Vẫn chưa chịu buông tha Hồng, bà cô tiếp tục kể về tình cảnh tội nghiệp của mẹ Hồng. Đó là sự vô cảm sắc lạnh đến ghê người. Chúng khiến tâm trạng của Hồng đau đớn, uất ức đến cực điếm. Cử chỉ đổi giọng, vỗ vai, nghiêm nghị của bà cô thực chất là sự thay đổi đấu pháp tấn công. Khi thấy cháu tức tưởi phẫn uất bà mới hạ giọng tỏ sự ngậm ngùi thương xót người đã mất. Khi đó, sự giả dối thâm hiểm trơ trẽn của bà cô đã phơi bày toàn bộ. Qua đoạn trích "Trong lòng mẹ" (Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng) người bà cô bộc lộ bản chất là một kẻ lạnh lùng, độc ác, thâm hiểm. Đây là hình ảnh mang ý nghĩa tố cáo hạng người sống tàn nhẫn, khô héo cả tình máu mủ ruột rà trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc đó. Nhân vật bà cô trong đoạn trích nói riêng và toàn bộ tác phẩm nói chung mang giá trị hiện thực sâu sắc. Nó ẩn chứa sức mạnh tố cáo hạng người giả dối, tàn nhẫn, mất hết sự trắc ẩn của tình người, tình máu mủ.. Đồng thời, nó cùng khẳng định tấm lòng đồng cảm, yêu thương của nhà văn đối với những số phận bất hạnh trong xã hội phong kiến nửa thực dân xưa.
Phân tích nhân vật bà cô trong đoan trích Trong lòng mẹ – Nguyên Hồng để làm rõ ý kiến có những lời nói và hành động thể hiện bản chất tàn nhẫn, mất hết tình người đáng lên án
629
Phân tích nhân vật bà cô trong đoạn trích Trong lòng mẹ Hướng dẫn Qua cuộc đối thoại giữa hai cô cháu ở phần thứ nhất của thân bài, nhân vật bà cô hiện lên là một người phụ nữ mang tâm địa độc ác. Mở đầu câu chuyện, bà cô gọi bé Hồng, cười hỏi: “Mày có muốn vào Thanh Hóa với mẹ mày không?”. Sao lại cười hỏi mà không phải là lo lắng hỏi, nghiêm trang hỏi, hoặc âu yếm hỏi,…? Nụ cười nửa miệng và câu hỏi thăm dò kia tưởng đã chạm tới nỗi nhớ và tình thương mẹ của chú bé khốn khổ. Nhưng không, chỉ trong giây lát, Hồng đã “nhận ra những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của cô tôi kia”. Điều đó nghĩa là bề ngoài, bà cô ra vẻ quan tâm đến tình cảm mẹ con của đứa cháu côi cút, thực chất bên trong bà ta chỉ gieo rắc vào đầu đứa trẻ nỗi hoài nghi, rồi ruồng rẫy người mẹ đang phải tha hương cầu thực. Sau khi nghe cháu đáp: “Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về”, một lời đáp cứng cỏi, đầy niềm tin đối với mẹ, thì bà cô hỏi luôn, giọng ngọt, kèm theo cái nhìn bằng đôi mắt long lanh, chằm chặp: “Sao lại không vào? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu!”. Nói câu này, bà cô như ngầm báo với Hồng rằng mẹ của chú bé đã thay lòng đổi dạ, không thương con, không gắn bó với gia đình như trước nữa. Khi thấy cháu im lặng, cúi đầu xuống đất, bà cô hẳn biết rằng lòng cháu đang thắt lại. Nhưng bà vẫn chưa tha, tiếp tục cười mà nói: “Mày… cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ”. Cái cử chỉ vỗ vai, cái nụ cười và lời nói ấy mới giả dối, độc ác làm sao! Điều này chứng tỏ bà ta cố ý lôi đứa cháu đáng thương vào một trò chơi cay độc của người lớn. Đến đây, bà cô không chỉ cay độc, mà còn châm chọc, nhục mạ cháu. Thật cay đắng biết bao khi niềm tin và tình mẫu tử bị người khác – lại chính là cô mình, người gắn bó với mình bằng tình máu mủ — cứ xăm xoi hành hạ. Nguyên Hồng đã kể lại vô cùng chân thực nỗi đau của đứa trẻ bị hành hạ bằng một giọng văn trĩu nặng tình đời: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ. Hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn”. Cái ý định nói xấu người mẹ, chia rẽ tình mẹ con của nhân vật bà cô, như vậy đã đến đích. Song cô ta vẫn chưa thỏa lòng. Cả đến khi chú bé phẫn uất, nức nở cười dài trong tiếng khóc, bà cô vẫn không mảy may xúc động. Bà ta như vô cảm, lạnh lùng và có phần thích thú trước nỗi đắng cay như bị xát muối trong lòng của đứa cháu. Bà ta cứ tươi cười kể các chuyện cho tôi nghe… Tình cảnh túng quẫn, hình ảnh gầy guộc rách rưới của người mẹ chú bé được bà cô miêu tả một cách tỉ mỉ với vẻ thích thú rõ rệt. Cho đến khi nhìn thấy đứa cháu nghẹn lời, khóc không ra tiếng, bà cô mới đổi giọng nghiêm nghị và vỗ vai an ủi cháu, tỏ một chút xót thương người anh trai vừa khuất, thương hại người chị dâu khổ sở, nói tới ngày giỗ anh, nói tới việc nhắn chị dâu về, nói tới cái sĩ diện của đứa cháu,…Vài lời vớt vát cuối cùng ấy tuy làm dịu đi đôi phần nỗi đau tình mẫu tử trong tâm hồn chú bé Hồng, nhưng không xóa nổi những nét bản chất trong tính cách nhân vật bà cô. Đó là một người phụ nữ lạnh lùng, độc ác, thâm hiểm. Khắc họa nhân vật một bà cô như thế, nhà văn Nguyên Hồng đã chân thành và mạnh dạn phê phán những người sống tàn nhẫn, khô héo cả tình máu mủ, ruột rà trong xã hội thực dân nửa phong kiến bấy giờ. Câu tục ngữ cổ xưa của cha ông ta “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng” dường như đã ứng nghiệm trong nhân vật bà cô ở đoạn trích này.
Phân tích nhân vật bà cô trong đoạn trích Trong lòng mẹ
802
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân Hướng dẫn Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân Vợ Nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân, đặc biệt ông rất tài tình trong việc xây dựng hình ảnh nhân vật, điển hình đó trong là nhân vật bà cụ Tứ xuất hiện ở gần cuối truyện. Kim Lân đã miêu tả một cách chân thật và cảm động về người mẹ nông dân nghèo khổ trong cái đói 1945, đồng thời mang tới cho người đọc một cái nhìn mới mẻ về lòng khát khao sự sống và cả hạnh phúc của những người nông dân nghèo khổ. Nếu như diên biến tâm trạng của Tràng và Vợ Tràng được nhà văn miêu tả theo một đường thẳng thoáng lo âu buồn tủi và đi ngay tới niềm vui bất tận thì bà cụ Tứ lại được nhà văn miêu tả với nhiều khúc tâm trạng đan xen lẫn nhau giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Bà cụ Tứ được đặt trong hoàn cảnh là con trai mình đột ngột có vợ. Tình huống này khiến cho bà vừa vui lại vừa buồn, vừa lo lắng lại vừa mang hy vọng. Đầu tiên là tâm trạng ngạc nhiên, ngỡ ngàng bật ra hàng loại các loại câu hỏi khi thấy người đàn bà lạ ở trong nhà mình: “người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào đứng ngay ở đầu giường con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?…”. Đọc những dòng này, ta luôn có cảm giác như trái tim người mẹ trong thân hình còm cõi đang rung lên vì đau đỡn, xót xa, bởi ít ra việc trọng đại cả đời cũng ra “làm được dăm ba mâm mới phải”, nhưng nhà mình nghèo quá cho nên điều đó chỉ nằm trong suy nghĩ không thể nào thực hiện được. Trước khát vọng sống, khát vọng về tình yêu hạnh phúc lứa đôi của con mình thì lòng bà lại dâng lên tâm trạng đồng cảm, trước hết là đồng cảm với người vợ nhặt “người ta có gặp lúc khó khăn đói khổ người ta mới lấy con mình”. Sau đó là sự đồng cảm với con trai “nhờ đói mà con mình mới có vợ được”, từ sự đồng cảm trái tim bà dâng trào tình yêu thương con trai, con dâu mãnh liệt “chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”. Vượt qua tất cả những lo lắng, hồi hộp, đau xót thì cuối cùng đó lại là niềm hạnh phúc tràn trề thể hiện qua câu nói đầy lòng vị tha nhân hậu “các con đã phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng”. Trong cái khoảnh khắc sung sướng đó, người mẹ không chỉ nghĩ tới hiện tại mà còn hướng tới tương lai ở phía trước – đó là một tương lai không phải cho bà mà là lo cho con cho cháu, bà truyền cho con về niềm lạc quan hy vọng “không ai khó ba đời” rồi đến hành động “xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa”, những dự định nào là ngăn buồng cho đôi trẻ, nào là mua đôi gà …ta đã phát hiện được ra rằng chính bà là người nói tới tương lai nhiều hơn cả. Đó không đơn thuần là tâm lý lạc quan của người lao động mà đó còn là niềm cao ước thiết tha về một ngày mai tươi sáng hơn. Chính niềm tin và sức sống của bà đã phần nào tiếp thêm sức mạnh giúp người mẹ lo được một bữa cơm ngày đói đón nàng dâu mới mặc dù nó rất thảm hại. Dù chỉ có một bát rau chuối thái rồi, cùng dúm muối ăn và nồi cháo cám nhưng đau đó vẫn thể hiện rõ về tấm chân tình của người mẹ, người mẹ ấy đã khiến bữa cháo thành bữa tiệc, khiến nồi cháo “chát xít, nghẹn bứ trong miệng mà ngon ngọt trong lòng”. Người đọc cười ra nước mắt trước sự hào hứng vui vẻ khi bà lão “lễ mễ” bưng nồi cháo cám “nghi ngút khói” lên nhà, đon đả tươi cười múc cho con và bảo: “Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem”. Qua hình tượng bà cụ tứ với biết bao tâm trạng đan xen trong tình huống “nhặt vợ” của con trai, Kim Lân đã khẳng định về tình cảm thiết tha với những tấm lòng của người mẹ, điều này khiến cho hình ảnh về bà cụ tứ trở nên chân thật và cảm động hơn bao giờ hết. Phải chăng chính người mẹ đó là ánh sáng xua tan mọi bóng tối bi thảm của kiếp đời nghèo khổ. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
826
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt Hướng dẫn Đề bài:Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt – văn lớp 12 Truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân lấy bối cảnh là nạn đói khủng khiếp năm 1945 để diễn tả được cái đói có sức nặng như thế nào, nhưng ngụ ý của tác giả chính là việc dựa trên nạn đói để lột tả tính cách “trong như ngọc sáng ngời” của những con người, những mảnh đời lầm thân. Nhân vật bà cụ Tứ là một hình tượng điển hình cho người đàn bà nghèo khổ đến cùng cực nhưng có tình yêu thương con đến vô bờ bến. Hẳn rằng người đọc sẽ không bao giờ quên những lời mà Kim Lân đã dành cho bà. Kim Lân rất khôn khéo khi lựa chọn thời điểm thích hợp để bà cụ Tứ xuất hiện, tại sao không phải là đầu câu chuyện mà lại ở giữa câu chuyện. Tác giả muốn gợi lên cái nghèo đói đến thê lương của xóm ngụ cư này, lấy nó làm nền, làm đòn bẩy để đi sâu vào phân tích diễn biến tâm lý, nội tâm của người đàn bà này.Bà Tứ xuất hiện từ khi Tràng đưa vợ về nhà, và diễn biến tâm lý của bà cụ thay đổi liên tục từ khi có một người đàn bà khác xuất hiện trong ngôi nhà của mình. Như những bà mẹ Việt Nam nghèo khổ khác trong thời kỳ cách mạng tháng tám, bà cụ Tứ hiện lên là một người mẹ nghèo, bị cái đói làm cho cùng cực, suy nghĩ quá nhiều. Bà cụ Tứ xuất hiện thật rõ nét qua lời kể tác giả “Từ ngoài rặng tre, bà lọng khọng đi vào. Tính bà vẫn thế, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng. Nhưng hôm nay khác, thấy mẹ, Tràng reo lên như một đứa trẻ và gọi ới vào trong nhà: U đã về đấy! Anh con trai lật đật chạy ra đón mẹ từ ngoài cổng và trách sao bà về muộn”. Một bà cụ dáng dấp đã không còn nhanh nhẹn, tháo vát nữa mà phải “lọng khọng” đi vào nhà gợi nên một thảm cảnh thê lương đến não lòng. Bà nghĩ đến cái cảnh người ta dựng vợ gả chồng cho con cái trong lúc ăn nên làm ra, đằng này con trai bà lấy vợ trong cảnh bần hàn, thiếu thốn đủ đường thế này. Bà thương mình bao nhiêu thì thương cho con gấp bội phần, bà cảm thấy tủi nhục khi không thể mang lại ấm no và hạnh phúc cho đứa con trai tội nghiệp. Bà thương cho người đàn bà héo hon kia cũng vì đói, vì không còn gì nên mới theo Tràng về làm vợ. Chao ôi những suy nghĩ của bà cụ Tứ thật khiến người ta đau lòng, não nề, khiến người ta xót thương nhưng chẳng biết cách nào có thể thương lấy bà, thương lấy những con người trong thời đại này. Hơn hết diễn biến tâm lý của bà cụ Tứ thay đổi rất đột ngột, nhưng sự thay đổi đó là tín hiệu đáng mừng chứng tỏ rằng bà đã chấp nhận người vợ “nhặt” của đứa con, cũng giống như việc chấp nhận sẽ gánh thêm cái khổ, cái đói, cái nghèo cùng với các con. Cái cách bà cụ Tứ dặn dò đôi vợ chồng trẻ thật khiến con người ta cảm phục “ Nhà ta nghèom liệu mà bảo nhau làm ăn. Khi anh Tràng bước dài ra sân, bà động viên nàng dâu: Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Rồi ra thì con cái chúng mày về sau.”. Sự ân tình, chu đáo của người mẹ nghèo khiến đôi vợ chồng trẻ cảm động, không biết nói gì hơn, bà đã chấp nhận “người vợ mới” của đứa con, chấp nhận cả cái đói nghèo mà gia đình bà mang. Bà ân tình với con dâu, nói cho con dâu yên lòng rằng nhà nghèo, nếu có thì làm dăm ba mâm nhưng nhà mình nghèo nên động viên con dâu có gắng. Chi tiết này đã cho thấy sự đồng cảm giữa một người phụ nữ nghèo với một người phụ nữ nghèo. Sự gắn kết này sẽ mang lại một hơi ấm và sức sống cho gia đình sau này. Hình ảnh “nôi cháo cám” sau đêm tân hôn của con mà người mẹ này mang đến thực sự khiến chúng ta cảm động đến rơi nước mắt. Nồi cháo cám ấy không còn nguyên giá trị thực như nó vẫn mang, nó là hiện thân của tình yêu thương con vô bờ bến, đức hi sinh lớn lao của người mẹ nghèo dành cho những đứa con. Nồi cháo cám là chi tiết cực kỳ đắt giá của câu chuyện, nhân phẩm và lòng vị tha, yêu thương của bà cụ Tứ cũng từ chi tiết này mà được nhân lên gấp bội, gấp vạn lần. Hẳn người đọc sẽ không bao giờ quên đi hình ảnh bà cụ Tứ gắn với nồi cháo cám ở cuối truyện, bà kể toàn chuyện vui cho các con nghe với hi vọng có một tương lai đỡ khổ, đỡ nhọc nhằn hơn. Một tình yêu đáng ngưỡng mộ trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Hiện thực dường như không thể đánh gục được tình yêu thương giữa con người với con người với nhau. Bằng bút pháp khắc họa diễn biến tâm lý sâu sắc, Kim Lân đã để lại trong lòng người đọc những dư âm khó phai về hình ảnh bà cụ Tứ nghèo đó nhưng vẫn ánh lên tình yêu thương đáng ngưỡng mộ. Bà cụ Tứ là hiện thân của những gì cao đẹp nhất của một con người, một nhân cách.
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt
1,002
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân- Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân- Văn lớp 12 Bài làm Nhà văn Kim Lân là một nhà văn của người nông dân Việt Nam, bởi các tác phẩm của ông đều gắn liền với số phận của những người dân quê lao động, những vùng miền trên khắp mọi miền tổ quốc. Tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân được viết trong hoàn cảnh lịch sử nước ta xảy ra nạn đói kinh điển, lấy đi tính mạng của hàng triệu người dân lương thiện nước ta năm 1945. Trong hoàn cảnh lịch sử đó, tác giả Kim Lân đã viết lên một truyện ngắn vô cùng độc đáo, giàu tính nhân văn sâu sắc. Nhân vật bà cụ Tứ là một người mẹ như bao người mẹ khác ở Việt Nam lúc đó, hiện lên vẻ mặt khắc khổ, tiều tụy bởi đói kém. Nhưng bà lại có tấm lòng bao dung, nhân hậu thương con vô bờ bến. Bà cụ Tứ xuất hiện từ khi Tràng nhặt được vợ và dẫn về nhà. Từ khoảnh khắc bà xuất hiện người đọc bắt đầu cảm thấy ấn tượng ngay với người phụ nữ nghèo nàn, khắc khổ nhưng lại có thái độ sống vô cùng tích cực, trái tim của bà ấm áp thể hiện sự nhân hậu của mình. Bà bước đi khấp khiễng bước thấp bước cao, hai con mắt nhấp nháy, kèm nhèm của một người đứng tuổi, gợi lên trong lòng người đọc những nét giản dị quen thuộc thường thấy ở những cụ già không được khỏe mạnh nữa. Giữa xóm ngụ cư nghèo đói xơ xác đó, người chết như ngả rạ, những đàn quạ từ đâu bay tới để ăn những xác người thối rữa, những tiếng kêu của chúng làm cho xóm ngụ cư càng thêm thê lương, hoang hoải trong buổi chiều tà ảm đạm, bầu trời dần nhạt nắng. Bà cụ Tứ xuất hiện trong bối cảnh đó, nhìn từ xa vào nhà bà thấy có người phụ nữ lạ đang ở trong nhà mình. Bà chợt nghĩ chắc mình già cả, lẩm cẩm nhìn gà hóa cuốc mà thôi. Nhưng khi bà bước gần tới nhà nhìn thấy anh cu Tràng con trai bà, đang ở cùng một người phụ nữ lại chào mình bằng u, thì bà biết mình không nhầm nữa. Bà thoáng chút suy nghĩ chợt chạnh lòng thương cho con trai. Người ta cưới vợ trong lúc ăn nên làm ra, còn mình thì … Nhưng rồi bà lại nghĩ có gặp hoàn cảnh đói kém như lúc này thì người ta mới lấy con mình, mà con mình mới có vợ. Nhưng chẳng sao bà cụ Tứ cảm thấy “Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời, biết đâu hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn nhờ giời thương cho ăn nên làm ra…”. Suy nghĩ của bà cụ Tứ thể hiện những tình cảm cao thượng của một con người có trái tim ấm áp nhân hậu. Bà thương con trai, con dâu mình giá như lúc tiền có bạc thì cũng làm vài mâm mời hàng xóm, họ hàng nhưng gặp lúc đói kém này lực bất tòng tâm, mà cũng chẳng ai trách mình. Trong lòng bà nhói lên những xót xa, chua chát. Bà cũng lo cho hai con lắm “Không biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua đận này không” khi xung quanh toàn là người chết đói, kiếp sống của những con người lay lắt, bị tù túng nô lệ, chèn ép một cổ hai tròng. Tuy nhiên, dù trong khó khăn thì bà vẫn hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn cho hai con. Buổi sáng bà dậy cùng con dâu lo bữa sáng quét lại nhà cửa cho gọn gàng khang trang hơn. Nhìn nồi cháo cám, tất cả đều nhói lên sự chua xót, nhưng rồi ai cũng điềm nhiên ăn, ngon lành như thể không có gì xảy ra. Nhân vật bà cụ Tứ dù chỉ xuất hiện vào cuối tác phẩm khi cu Tràng dẫn vợ về nhưng lại gợi cho người đọc rất nhiều cảm xúc về hình ảnh một người mẹ Việt Nam góa chồng rất sớm một mình nuôi con khôn lớn, gặp cảnh khó khăn nghèo khổ con trai lấy chồng lúc đói kém không lo được cho con tươm tất bà cảm thấy chạnh lòng thương cho con, xót xa cho thân phận người phụ nữ của con dâu. Một người mẹ chồng tuyệt vời, chân thành giản dị, lương thiện. Tác giả Kim Lân đã khắc họa thành công nhân vật bà cụ tứ bằng những chi tiết rất chân thực đời thường khiến người đọc rưng rưng thương cảm
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân- Văn lớp 12
812
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt Hướng dẫn Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt Truyện ngắn ” Vợ nhặt ” của nhà văn Kim Lân được viết trong khoảng thời gian xảy ra nạn đói khủng khiếp (1945),ông đã lấy chất liệu của cuộc sống để tái hiện hình ảnh thê thảm của nhân dân trong cảnh bần cùng. Qua đó khắc họa rõ nét các nhân vật. Đặc biệt nhân vật bà cụ Tứ. Bà cụ Tứ xuất hiện trong tác phẩm là hình ảnh một người mẹ già, nghèo với nhiều lo toan,tính toán để kiếm ăn qua ngày:Bà xuất hiện với dáng đi lọng khọng,vừa đi vừa lẩm nhẩm, tính toán. Nhưng là người mẹ nhân từ, hiền hậu. Tràng dẫn người “vợ nhặt” về giữa ngày đói khiến cho mẹ anh ban đầu hết sức ngạc nhiên,bất ngờ: Bà lão ngạc nhiên vì có người đàn bà nào lại đứng ngay ở đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Bà nghĩ mãi không phải con cái Đục, tự nhiên bà thấy mắt mình hình như nhoèn đi thì phải. Bà hết ngạc nhiên thì lại băn khoăn không biết người đàn bà kia là ai? Sao lại chào mình bằng u? Khi Tràng giải thích rõ với bà:” Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau…”. Nói đến đây thì bà hiểu, bà cúi đầu nín lặng, lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán,xót thương,ngậm ngùi,vừa lo lắng, xen lẫn cả mừng vui,nhưng có lẽ vui thì ít mà buồn tủi,xót xa,lo lắng thì nhiều. Bà nhìn người đàn bà một lần nữa. Bà là một người hiểu biết, có sự cảm thông,bao dung, độ lượng, bà hiểu con mình, bà hiểu hoàn cảnh của Thị. Bà biết rằng người ta có gặp bước khó khăn,đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, rồi thằng con mình mới có vợ được. Bà mừng vui vì bổn phận bà làm mẹ đã không lo nổi cho con,nay đã có được vợ nhưng bà cũng lo lắng không biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không? Bà tủi thân tủi phận vì người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc gia đình ăn nên làm ra những mong sinh con đẻ cái sau này còn mình thì… Bà không chỉ là người mẹ già, nghèo, hiểu con mà còn có tấm lòng nhân từ, cưu mang, đùm bọc, lấy niềm vui, hạnh phúc của con làm lẽ sống của mình. Bà sống vì con cái. Bà thổi lên ngọn lửa, niềm tin trong hoàn cảnh đói khát tăm tối ấy. Bà nói với người dâu mới:” Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng “. Chỉ mấy từ giản dị: ” u cũng mừng lòng ” làm cho Thị như được an ủi, Tràng thì thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Bà còn an ủi: ” Nhà ta thì nghèo con ạ “, rồi bà đưa ra triết lý:” Ai giàu ba họ, ai khó ba đời “. Điểm ấn tượng của người mẹ già này đối với người đọc là bà đã tạo ra một không khí vui vẻ cho gia đình. Bà thổi lên ngọn lửa ấm áp trong hoàn cảnh đói khát, tăm tối. Người ta thường nói: ” trẻ tương lai – già hoài niệm ” ” người mẹ già gần đất xa trời này khi có nàng dâu mới lại toàn nói chuyện vui vẻ, bàn tính chuyện làm ăn ngày mai: sửa nhà, nuôi gà,… Bà tạo ra một không khí vui vẻ như muốn làm át đi không khí thê thảm của nạn đói khủng khiếp; những tiếng khóc hờ hững của những gia đình có người chết. Bà tiếp thêm sức mạnh, niềm tin để con cái vượt qua nạn đó, hướng đến một ngày mai tươi đẹp. Đặc biệt là bữa cơm mời nàng dâu mới, thật đạm bạc chỉ có một nồi cháo loãng, ít rau chuối thái rối, mỗi người hai lưng đã hết nhẵn, nhưng bà vẫn vui vẻ đon đả mời hai con niêu cháo cám: ” chè khoán đây ngon đáo để cơ. ” Ngay cả khi Thị bưng bát cháo cám lên mắt tối sầm lại thì mẹ già ấy vẫn đon đả tươi cười: Cám đấy mày ạ! Hì. Đúng là một người mẹ đã thắp sáng niềm tin cho các con vượt qua đói khổ, đó cũng chính là tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Kim Lân là niềm tin là sự lạc quan yêu đời của người nông dân nói chung. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt
817
Phân tích nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo Hướng dẫn Nhân vật Bá Kiến là một thành công của nhà văn Nam Cao trong phản ánh bộ mặt tàn ác của xã hội thực dân phong kiến đương thời Mở bài: Ngô Tất Tố thành công với bức tranh hiện thực cùng khổ của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng còn Nam Cao lại khiến người ta nhớ khi viết về đề tài sự lưu manh của con người trong một thời đại tối tăm. Năm 1941, truyện ngắn Chí Phèo (lúc đầu có tên là Đôi lứa xứng đôi) ra đời là một lời cảnh tỉnh con người trước hiện thực tàn bạo của xã hội thực dân nửa phong kiến. Đó là một xã hội tàn nhẫn với lắm kẻ lưu manh, đểu giả và thâm sâu. Chúng sẵn sàng vùi dập hay hãm hại con người. Chúng cũng sẵn sàng tước đoạt ở ngươi khác quyền sống, sự sống. Nhân vật Bá Kiến là một điển hình sâu sắc cho loại con người ấy. Thân bài: Nếu nhân vật Nghị Quế nổi bậc ở cái tính ăn bẩn, keo kiệt và thô lỗ của hắn, nhân vật Nghị Hách đặc sắc ở cái nết dâm bậy, thì ở nhân vật Bá Kiến hội tụ đầy đủ mọi điều xấu xa, bỉ ổi ở trên đời. Có thể nói cái xằng bậy nào hắn ta cũng có. Hắn cũng có đủ bản lĩnh của một tên cáo già, gian hùng khét tiếng. Hắn chính là đại diện cao nhất của cái xã hội tàn bạo, bất nhân, cạn kiệt tình người. Đó là một xã hôi “quần ngư tranh thực” đầy ghê tởm. Ở đó, kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, từng người, từng người lũ lượt đánh mất bản chất lương thiện vốn có của mình chỉ vì miếng ăn. Bá Kiến là một nhân vật phản diện điển hình. Qua nhân vật Bá Kiến, mọi điều dơ bẩn của cái xã hội thối nát ấy được phơi bày rõ ràng, chân thực, sinh động và đầy xót xa. Có thể nói, cái trí xảo và gian tham của Bá Kiến cũng có dòng có dõi. Hắn xuất thân trong một gia đình đã từng bốn đời làm Lí trưởng. Bản thân hắn làm Lí trưởng rồi Chánh tổng. Cái xuất thân dòng dõi ấy, khiến Bá Kiến kế thừa mọi mánh khóe ở đời. Bằng đủ mọi mưu mô và thủ đoạn khôn khéo, hắn đã lần lượt leo lên đỉnh cao danh vọng. Từ tiên chỉ làng Vũ Đại hắn leo lên làm Bá hộ rồi Chánh hội kì hào, Huyện hào. Đến cả cái danh Bắc Kì nhân dân đại biểu hắn cũng chiếm lấy. Hắn khét tiếng đến cả trong hàng huyện. Đâu chỉ có dân lành mới sợ cái uy của cụ Bá, mà cả bọn lưu manh lẫn cường cào đối đối nghịch cũng dè chừng và kiên nể hắn ta lắm. Ở làng Vũ Đại, Bá Kiến quyền uy chẳng khác gì một tên chúa đất. Tuy không chú ý tô đậm nhân vật này nhưng Bá Kiến lại rất nổi bậc trong tác phẩm. Bằng một vài sự miểu tả của Nam Cao cũng đủ làm nhân vật này in đậm trong trí nhớ người đọc. Bá Kiến tuy là một nhân vật loại hình nhưng với những nét độc đáo, khiến nhân vật này rất ấn tượng, không thể nào quên. Trước hết, Bá Kiến là loại cường hào cáo già lọc lõi. Tên “chúa đất” nào chẳng tham lam, gian manh chuyên đi đè đầu cưỡi cổ nông dân. Nhưng tham lam kiểu Bá Kiến là một loại hiếm thấy. Nhà văn để cho Bá Kiến xuất hiện đầu tiên trước độc giả đúng lúc Chí Phèo say rượu, đến cổng nhà hắn để rạch mặt, kêu làng, ăn vạ. Vừa trong thấy Chí Phèo nằm trước cửa, không nhúc nhích như thể gần chất, Bá Kiến hiểu ngay cơ sự. Hắn thừa biết ý định của Chí Phèo khi gây ra hành động này. Với sự từng tải của một tên cáo già gian hùng, Bá Kiến biết rõ tác hại của đám đông nhốn nháo này. Với địa vị là Bá hộ, quyền uy thét ra lửa, không thể để Chí Phèo làm cho mất mặt. Bá Kiến đã mau chóng tìm được cách đối phó hữu hiệu. Trước hết, hắn xua đám đông ra về. Hắn biết rõ sự ồn ào của đám đông càng làm cho con thú kia thêm hung hăng. Chí Phèo cũng mượn đám đông để gây khó cho hắn. Bá Kiến ra lời quát tháo mọi người chẳng qua là kế trì hoãn, kéo dài thời gian để Chí Phèo vơi bớt cơn say rượu. Đối với hắn, cái loại ngang bướng như Chí Phèo đâu phải là chưa từng gặp. Hắn có nhiều kinh nghiệm trừng trị loại “đầu bò” như Chí lắm rồi. Mặt khác, trước đám đông, hắn không thể nói lời nhũng nhặn để dụ dỗ Chí Phèo được. Muốn dụ dỗ, ắt phải nhún nhường. Đường đường là một cụ bá hét ra lửa mà để đám dân đen chứng kiến cảnh ngọt nhạt với một thằng cùng đinh, thì còn ra cái thể thống gì? Với người nhà, hắn quát lấy lệ, đuổi họ vào nhà. Với người làng, hắn vạch rõ phận sự không liên quan để khiến họ về nhà: “cả các ồng, các bà nữa, về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại thế này?”. Dù rất hả hê và muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra nhưng họ cũng lảng dần đi vì nể sợ cái uy của cụ Bá. Đến khi “chỉ còn trơ lại Chí Phèo”, thì cái tài phỉnh dụ của Bá Kiến mới bộc lộ hết ra. Trước hết, cụ bắt đầu giở giọng đường mật, nịnh nọt, dỗ dành Chí Phèo. Lão nhúng nhường gọi Chí bằng anh rồi vồn vã mời Chí vào nhà uống nước. Sự xuống nước của lão già ranh ma ấy khiến cho cơn hung hăng của Chí phèo vơi đi cả nửa. Chí cũng ngạc nhiên lắm nhưng để xem chuyện gì đang xảy ra, Chí đã nghe theo lão. Bá Kiến đã chiến thắng ngay ở bước đầu tiên. Chỉ cần Chí Phèo ngheo theo lão việc này, thì tất sẽ nghe theo việc khác nữa. Không để Chí Phèo kịp nhận ra trò bịp ấy, lão lập tức tiến một bước thâm độc khác. Lão nhận mình có họ có hàng với Chí Phèo. Dĩ nhiên, Chí Phèo chẳng biết thật giả thế nào. Nhưng cũng thấy được đối đãi, trong lòng không giận nữa. Chỉ cần Chí Phèo ngồi lên ghế là Bá Kiến biết mình đã thắng. Để hoàn toàn khuất phục con quỷ ấy, Bá Kiến hô người giết gà, mua rượu thết đãi Chí Phèo như đối đãi với hàng thượng khách. Chí Phèo nhận rượu nghĩa là chấp nhận cái “tấm lòng” của Bá Kiến, nghĩa là không gây sự nữa. Cuối bữa rượu, Bá Kiến còn biếu Chí Phèo mấy đồng bạc để ru lòng gã lang thang này. Bá Kiến như đi vào suy nghĩ của người khác, thấu hiểu mọi điều và dự đoán chính xác mọi hành động. Cái lão già “khôn róc đời” ấy quả thật rất đáng sợ. Đặc biệt, Nam Cao đã để cho nhân vật Bá Kiến độc thoại nội tâm nhằm phơi bày những ý nghĩ tỉnh táo nhưng nham hiểm của hắn. Đó là những phương châm, thủ đoạn thống trị người nông dân rất khôn ngoan và hiệu quả mà Bá Kiến đã đúc rút từ bốn đời làm tổng lí. Với những kẻ lì lợm như Chí Phèo trị không được thì lão dùng. Cái kế của lão đó là “dùng những thằng đầu bò để trị những thằng đầu bò”. Kế sách ấy không những thâm độc, nham hiểm mà còn rất côn đồ. Với lão, sự đời không nên cố chấp. Không ăn được thì buông bỏ, hà tất cố đấm ăn xôi để mang họa vào thân. Lão luôn tâm niệm “bám thằng có tóc chứ không bám thằng trọc đầu”. Với triết lí “thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân”, “mềm nắn rắn buông” hết sức mềm dẻo, uyển chuyển và hợp lí Nhờ “biết mềm, biết cứng, biết thu dụng những thằng bạt mạng không sợ chết và không sợ đi tù” rất được việc trong chuyện đến “tác hại bất cứ anh nào không nghe mình”. Bá Kiến đã tập hợp được một phe cánh, bè đảng xung quanh mình. Thế lực và sức mạnh không ngừng được tăng cường, lấn át tất cả, làm cho bọn cường hào đối địch trong làng phải nể sợ, kiêng dè. Sự gian xảo của hắn được phơi bày trọn vẹn trong âm mưu hại người. Nếu ghét kẻ nào, lão ngám ngầm đẩy người ta xuống sông, đưa vào chốn tù tội hoặc khốn cùng. Nhưng rồi lão lại dắt tay họ lên để họ phải cảm ơn. Lão sẵn sàng dùng mọi cách để đòi được số tiền cần lấy, để rồi ném trả với luận điệu thương hại giả dối vì thương kẻ bần hàn cùng túng quá. Hắn diễn kịch cứ như thật. Vì thế mà nhận cho ra bộ mặt thật của tên cáo già Bá Kiến không phải là điều dễ dàng. Tất cả những thói lưu manh, côn đồ, đểu giả ấy được rèn luyện chỉ để bóc lột người khác mà thôi. Bá Kiến nổi tiếng hơn ở cái danh “già đời trong nghề đục khoét”. Để vơ vét được nhiều tiền của, lão đã vận dụng hết các ngón nghề điêu luyện, không trừ ngón nào. Với người nông dân hiền lành nhưng khốn khó, lão tha hồ bóp nặn trong những vụ thu thuế. Không cách này thì cách khác, người nông dân phải cật lực nộp đủ tiền thuế. Không có thì lão cho vay. Mà vay thì phải trả gấp năm gấp mười. Đối với “những thằng bạt mạng” hắn không ngừng thu nạp để giúp hắn dùng trong việc đòi nợ hay gây thanh thế cho hắn. Hắn luôn dùng đúng, người đúng việc. Bởi thế mà, không có cái nợ nào hắn không đòi được, không có kẻ thù nào mà hắn không làm cho điêu đứng, tán gia bại sản. Chí phèo đối với hắn như một con tốt thí mạng. Bằng tiền, hắn mua chuộc cả con người Chí. Hắn biến thù thành bạn. Những người bạn “đặc biệt” của hắn sớm hôm quanh quẩn quanh làng, hễ có việc là hắn sai bảo. Đặc tả nhân vật Bá Kiến là một trong những thành công nghệ thuật của Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo. Những loại cường hào như Bá Kiến trong xã hội là không hiếm. Sức mạnh đích thực nằm ở cái cách Nam Cao miêu tả, vừa rõ ràng vừa khinh bỉ tột độ. Cộng với lớp từ ngữ phong phú, chân thực giống như một chất tẩy rửa từng bước lột trần bộ mặt xấu xa, đê tiện, bỉ ổi và dâm ô của Ba Kiến. Nhân vật Bá Kiến vừa mang bản chất chung của giai cấp địa chủ cường hào, vừa có những nét riêng biệt sinh động không giống bất kì một tên địa chủ nào khác trong văn học. Điều đó giải thích vì sao hắn luôn được chúng ta nhắc đến khi cần ám chỉ một kẻ có quyền lực, gian hùng và nham hiểm. Hắn là cái nguyên nhân không chỉ dẫn đến cái bi kịch thảm khốc của cuộc đời Chí Phèo mà còn của biết bao con người lương thiện khác. Người đọc hả hê khi nhìn thấy Bá Kiến nằm giẫy chết trong vũng máu. Nhưng người đọc cũng lập tức lo âu và suy nghĩ. Bá Kiến này chết nhưng trong xã hội vẫn còn có biết bao Bá Kiến khác. Những kẻ đối địch bấy lâu của cá kiến chờ đợi cái chết của lão mà nhảy lên tiếp tục đè đầu, cưỡi cổ người nông dân. Kiếp sống lầm than không bao giờ dứt. Kết bài: Tác phẩm Chí Phèo mang giá trị nhân đạo sâu sắc, thể hiện tấm lòng yêu thương trân trọng của Nam Cao đối với những người khốn khổ; đồng thời là lời kết tội đanh thép xã hội thực dân – phong kiến đẩy con người vào bi kịch cùng cực, bế tắc, tuyệt vọng. Nhân vật Bá Kiến quả là một thành công ngoài dự định của nhà văn. Cách miêu tả nhân vật phản diện, cách điển hình hóa nhân vật, khác sâu đời sống nội tâm có lẽ Nam Cao là nhà văn thành công nhất
Phân tích nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo
2,145
Phân tích nhân vật bé Hồng qua đoạn Trong lòng mẹ, bày tỏ cảm xúc về những em nhỏ cùng cảnh ngộ – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Chú bé Hồng trong đoạn trích “Trong lòng mẹ” chính là nhà văn Nguyên Hồng thuở thiếu thời, phải chịu nhiều cay đắng trong cảnh nghèo khổ và mồ côi. Tập hồi kí “Những ngày thơ ấu” của ông rất xuất sắc. Đoạn trích dù chỉ phác qua một cảnh nhỏ, cũng cho ta thấy nỗi lòng đau khổ của bé Hồng trong những ngày xa mẹ và niềm sung sướng tột độ trong giây phút gặp lại mẹ – người mẹ yêu quý, đáng thương nhất của mình, bấy lâu chờ mong, khao khát. Bé Hồng yêu thương mẹ sâu sắc. Mặc dù gần một năm trời sống bơ vơ đói rách giữa thái độ ghẻ lạnh và nhất là lời lẽ cay nghiệt của người cô nói xấu mẹ mình, lòng yêu thương mẹ của Hồng không vì thế mà suy giảm. Ngược lại, bé càng thông cảm với mẹ hơn. Hồng đã rất sớm nhận ra cái bất công của cổ tục làm khổ nhục mẹ mình và xót xa mẹ đến “cổ họng nghẹn ứ” muốn “vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi” cái cổ tục ấy nếu như nó cụ thể như hòn đá, cục thủy tinh. Lòng thương yêu, kính trọng mẹ đã giúp Hồng trước sau nhận rõ ác ý của người cô cay nghiệt vẫn thấy mẹ mình phải được che chở, phải được sống đàng hoàng giữa cuộc đời. Trong lòng chú bé vẫn nguyên vẹn người mẹ rất đáng yêu, rất đẹp với “gương mặt vẫn tươi sáng, đôi mắt trong và nước da mịn… tươi đẹp như thuở còn sung túc”. Trong sâu thẳm cảm giác vẫn nguyên sự ấm áp “mơn man khắp da thịt”, “hơi quần áo, hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra thơm tho lạ thường”, sau bấy lâu xa vắng, giờ lại được nằm gọn trong lòng mẹ. Giây phút thiêng liêng đến xúc động! Chính vì rất yêu thương mẹ và trong lòng bao giờ cũng chỉ thấy có mẹ là gần gũi, thương xót mình nhất, nên bé Hồng luôn cảm thấy buồn tủi trong cảnh sống nhờ. Trước thái độ miệt thị của người cô, Hồng “im lặng”, “cúi đầu xuống đất, lòng thắt lại, khoé mắt cay cay”, có lúc “nước mắt tôi đã ròng ròng…” khi người cô cứ xiết mãi nỗi đau ấy. Ngay cả lúc bất ngờ gặp mẹ, nỗi mừng của Hồng cũng chất chứa cái tủi, khiến chú “òa lên khóc, rồi cứ thế nức nở” trong lòng mẹ. Một chuỗi ngày kìm nén yêu thương, tủi hờn cũng là chuỗi ngày Hồng khao khát muốn gặp mẹ. Nỗi khao khát ấy thể hiện rõ trong bước chạy “ríu cả chân lại” của chú bé. Nỗi khao khát ấy khiến chú bé hình dung đến sự tuyệt vọng ghê gớm của người đi giữa sa mạc gặp ảo ảnh dòng nước, nếu bị nhìn lầm dáng mẹ. Cảm giác ấm áp sung sướng tuyệt vời “đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt” khi được nằm trong lòng mẹ, cho ta thấy nỗi khao khát cụ thể, xúc động biết chừng nào. Phải như bé Hồng trong phút lăn vào lòng mẹ, “được bàn tay mẹ vuốt ve và gãi rôm ở sống lưng cho”, mới cảm thấy hết một nỗi “êm dịu vô cùng” mà chỉ mẹ mới có thể cho ta. Tags:Văn 8
Phân tích nhân vật bé Hồng qua đoạn Trong lòng mẹ, bày tỏ cảm xúc về những em nhỏ cùng cảnh ngộ – Đề và văn mẫu 8
610
Đề bài: Phân tích nhân vật bé Hồng (Về đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng). Hướng dẫn làm bài Bên cạnh nhân vật người mẹ mang nhiều nét đẹp, nhân vật chú bé Hồng hiện lên với biết bao suy nghĩ và cảm xúc, cũng thật là đẹp, đáng chia sẻ, đáng trân trọng. Qua nhân vật này, chúng ta không chỉ cảm nhận những cung bậc tâm trạng của một chú bé rất mực tin yêu mẹ mà còn hiểu cụ thể, sâu sắc nhũng nét đặc trưng của thể văn hồi kí, một thể văn đậm chất trữ tình. Chất trữ tình thống thiết của ngòi bút Nguyên Hồng thể hiện bằng lời kể của nhân vật “tôi” (tức bé Hồng) với những diễn biến tâm trạng theo trình tự thời gian trong hai mối quan hệ: quan hệ với bà cô và quan hệ với người mẹ, rất cụ thể. Phân tích nhân vật bé Hồng trong đoạn trích Trong Lòng Mẹ Khi nói chuyện với bà cô, bé Hồng chịu bao nhiêu đau đớn, uất ức, nhưng vẫn lòng tin yêu mẹ. Nghe lời nói thứ nhất của bà cô, lập tức trong kí ức chú bé sống dậy hình ảnh người mẹ ở nơi xa, cơ cực, vất vả. Từ cử chỉ “cúi đầu không đáp” đến lúc cười và đáp lại: “năm nay thế nào mợ cháu cũng về” là một phản ứng thông minh xuất phát từ sự nhạy cảm và lòng tin yêu mẹ của chú bé. Chú đã nhanh chóng nhận ra ý nghĩa cay độc của lời bà cô và cố gắng giữ vững tình thương yêu và lòng kính mến mẹ. Nhưng vì tuổi thơ non nớt, nên đến lời nói thứ hai, thứ ba của bà cô, lòng chú bé “càng thắt lại, khóe mắt đã cay cay”, rồi “nước mắt ròng ròng, rớt xuống hai bên mép, rồi chan hòa đầm đìa ở cằm, ở cổ….”. Nỗi đau, sự day dứt đã lên đến đỉnh cao. Trong tâm hồn non nớt ấy, diễn ra một mâu thuẫn: “Tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi để sinh nở một cách giấu giếm trốn tránh như một kẻ giết người lung túng với con dao vấy máu…”. Lời văn, nhất là hình ảnh so sánh thật dữ dội. Tình thương, niềm tin yêu và một chút ngờ vực đối với người mẹ như đang nổi bão, giằng xé trong lòng chú bé. Nhưng chú vẫn cố kìm nén để giữ vững tình yêu và niềm tin. Vì thế, bé Hồng đã “cười dài trong tiếng khóc” hỏi lại bà cô về cái tin sét đánh kia. Nỗi uất ức và đau đớn như chuyển sang trạng thái chai lì, bướng bỉnh. Khi nghe bà cô tươi cười kể lể tình cảnh khốn khổ của mẹ mình thì “cổ họng tôi đã nghẹn ứ, khóc không ra tiếng”. Và ý nghĩa táo tợn bất cần, đầy phẫn nộ đã trào sôi như cơn dông tố trong lòng chú bé: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Lại một câu văn biểu cảm và một hình ảnh so sánh đặc sắc nữa! Nguyên Hồng đã sử dụng các từ cắn, nhai, nghiến….nằm trong một trường nghĩa đặc tả tâm trạng uất ức, căm giận của nhân vật. Đến đây, tình thương và niềm tin đối với mẹ đã xui khiến người con hiếu đễ ấy suy nghĩ sâu hơn, xúc cảm rộng hơn. Từ cảnh ngộ riêng của người mẹ, từ những lời nói kích động của người cô, bé Hồng nghĩ tới những “cổ tục”, căm giận cái xã hội cũ kĩ đầy đố kị, thành kiến độc ác đối với những người phụ nữ gặp hoàn cảnh éo le. Từ câu chuyện riêng của đời mình, Nguyên Hồng đã truyền tới người đọc những nội dung mang ý nghĩa xã hội bằng những dòng văn giàu cảm xúc và có hình ảnh, rất ấn tượng. Qua cuộc đối thoại và những cung bậc cảm xúc của bé Hồng trước bà cô, chúng ta thông cảm với những nỗi đau thấm thìa, đồng thời rất trân trọng một bản lĩnh cứng cỏi, một tấm lòng thiết tha của người con rất mực thương và tin yêu mẹ. Nhờ tình thương và niềm tin ấy, đến khi gặp mẹ, bé Hồng đã nhận được niềm sung sướng, hạnh phúc lớn lao. Như trên ta đã biết, người mẹ của bé Hồng trở về đúng thời điểm quan trọng nhất, đã xua tan mọi đau đớn, dằn vặt trong tâm hồn chú bé. Mới chỉ thoáng thấy một bóng người giống mẹ, chú bé Hồng đã vội vã, bối rối, vừa chạy theo vừa gọi mẹ. Được ngồi lên xe cùng mẹ, chú bé “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở” khiến cho người mẹ cũng “sụt sùi theo”. Ba từ òa, nức nở, sụt sùi cùng trường nghĩa, nối nhau miêu tả các dạng thức đặc biệt của tiếng khóc, của những dòng lệ. Đây là âm thanh, là nước mắt của biết bao nỗi niềm, tâm trạng hai mẹ con: tủi hận, tự hào, bàng hoàng, sung sướng… Cảm giác sung sướng của đứa con khi được ngồi kề bên mẹ, được ôm ấp trong lòng mẹ cứ dâng lên từng giây, từng phút. Trước hết, chú được tận mắt nhìn thấy mẹ, “nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá… Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má…”. Có được một người mẹ như thế, chú bé nào chẳng vui sướng, tự hào, huống chi là bé Hồng, đứa trẻ côi cút từng mong gặp lại mẹ đến cháy lòng, cháy ruột, từng phải đấu tranh với người khác cố ý nói xấu mẹ mình, chia rẽ tình mẹ con. Tiếp sau, chú bé được mẹ ôm ấp “đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi….hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở d khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường…”. Chỉ một đoạn văn ngắn mà nhà văn sử dụng dồn đập bao nhiêu động từ, tính từ, nhất là những danh từ cùng trường nghĩa: gương mặt, đôi mắt, nước da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, da thịt, khuôn miệng miêu tả vô cùng sinh động niềm hạnh phúc lớn lao tưởng như tới đỉnh điểm của tình mẫu tử. Đây thực sự là những cảm giác “mơn man” ngây ngất, đắm say mà vô cùng êm dịu của quan hệ máu mủ, ruột thịt mà những đứa trẻ bất hạnh không dễ gì có được. Nhà văn đã dựng lại một bức tranh tràn ngập ánh sáng, đường nét rõ ràng, hài hòa, trong đó là những sắc màu tươi tắn, thoang thoảng hương thơm. Đó là một hình ảnh về một thế giới đang bừng nở, hồi sinh, một thế giới dịu dàng kỉ niệm, ăm ắp tình người. Sống trong thế giới đó, chú bé Hồng bồng bềnh trôi trong cảm giác sung sướng, rạo rực, ru mình trong tình mẹ dịu êm, tự hào, hãnh diện được đền đáp bởi tấm lòng người con hiếu thảo thương và tin yêu mẹ đến cháy lòng. Cái cảm giác mình đang bé lại – hay niềm khát khao được bé lại – để làm nũng mẹ, để hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng của mẹ cứ lâng lâng, tiếp nối khiến chú bé như đang sống trong mơ vậy. Mọi điều xấu xa, sai lệch mà bà cô gieo vào tâm hồn thơ dại của chú bé bay biến đi hết cả. Xung quanh, từ thế giới bên ngoài vào sâu trong tận cùng cõi tâm linh của chú bé và người mẹ dường như chỉ là niềm hạnh phúc giản dị mà thiêng liêng, hiện thực mà lãng mạn, đầy mộng mơ….
Phân tích nhân vật bé Hồng trong đoạn trích Trong Lòng Mẹ
1,387
Phân tích nhân vật cai lệ trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ Bài làm Trong xã hội phong kiến xưa, người dân nghèo là lớp người chịu đủ mọi áp bức bóc lột, khổ ải, mà những kẻ gây ra sự khổ đau ấy chính là những là những tên quan lại, tay sai từ lớn đến nhỏ. Trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” trích tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, nhân vật cai lệ, một tên tay sai đại diện cho tầng lớp bóc lột đã bộc lộ hết sự hèn hạ, đáng ghét của mình. Hình ảnh đầu tiên mà hắn xuất hiện là cùng với roi da, tay thước, dây thừng và “thét bằng giọng khàn khàn của người hút nhiều xái cũ”. Ấn tượng của người đọc về nhân vật này đầu tiên chính là một tên nghiện xái, thô lỗ và phách lối. Anh Dậu mới từ hôm qua về còn đang ốm nặng nằm liệt dường hắn cũng trông thấy mà còn thét lớn bắt anh nộp tiền hết sưu hết sức vô nhân đạo. Khi chị Dậu run run xin cho chồng, cai lệ lại càng phách lối vô cảm khi chị chưa nói hết câu đã trợn ngược hai mắt mà quát lớn bằng từ ngữ vô cùng tục tũi, xúc phạm: – Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà mở mồm xin khất! Ta có thể thấy cai lệ không phải chỉ là một tên thô lỗ, vô nhân đạo mà còn là tên tay sai tục tũi, vô văn hóa. Tuy cai lệ chỉ là một tên tay sai của lí trưởng nhưng cũng tính là một chức quan nhỏ, là đại diện của pháp luật, của nhà nước, vậy mà hắn xuất hiện với tất cả sự vô lương, vô văn hóa, thô lỗ,… và hắn còn là một con người tàn bạo khi hắn “bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi xấn xổ đến bắt anh Dậu”. Chị Dậu là phụ nữ, chân yếu tay mềm vậy mà hắn không nương tay đã đánh, còn tát vào mặt chị, còn xấn xổ trong tư thế bạo tàn đến để trói anh Dậu trong khi anh còn đang ốm liệt giường. Chân dung cai lệ hiện lên thật tàn bạo, xấu xa, độc ác y như một tên bạo chúa đáng ghê tởm. Nhưng nếu ở đoạn này, cai lệ làm cho ta thấy ghét thì ở đoạn sau, hắn còn làm cho ta thấy khinh bỉ vì sự đê hèn của mình. Khi hắn không niệm tình anh Dậu bị ốm vẫn nhảy vào cạnh anh để trói mang đi thì chị Dậu đã không thể nhịn được, nhìn chồng bị hành hạ, chị tức đến sôi máu, quyết không để cho cai lệ đem chồng chị đi. Chị nghiến hai hàm răng rồi “túm lấy cổ hắn ấn dúi ra cửa”. Những tưởng cai lệ- một tên đàn ông có chức có quyền sao có thể để một người phụ nữ chân yếu tay mềm dễ dàng khuất phục nhưng quả là “sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu”. Những từ ngữ như “lẻo khoẻo”, “ngã chỏng quèo” đã phần nào giúp ta hình dung về chân dung méo mó đê tiện của cai lệ trong trận đấu với chị Dậu. Cai lệ rõ ràng là một tên yếu đuối, chỉ dám phách lối nhờ quyền hạn để đàn áp người dân còn bên trong thực chất chẳng có gì. Đây cũng chính là chân dung méo mó của gần như tất cả những quan sai bóc lột nói chung. Tất cả chúng đều tàn bạo, vô lương, phác lối, vô văn hóa nhưng lại vô cùng hèn kém và đáng khinh khi. Bạo tàn, vô văn hóa, vô nhân tính là tất cả những từ ngữ có thể dùng để miêu tả tên cai lệ trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ”. Đọc đoạn trích người đọc không chỉ thấy tên này đáng ghét mà còn rất đáng khinh bỉ đồng thời hả hê biết bao khi hắn chịu sự chừng phạt từ phía chị Dậu.
Phân tích nhân vật cai lệ trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ
727
Đề bài: Phân tích nhân vật cai lệ trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố Bài làm Tác phẩm “Tắt đèn” với đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” thể hiện đỉnh cao của sự mâu thuẫn giai cấp, thể hiện rõ cách nhìn của những con người ở giai cấp khác nhau. Trước hết là cách nhìn của tác phẩm vào bọn tay sai, của thế độ phong kiến nửa thực dân. Nhân vật cai lệ là người đại diện cho tầng lớp người tay sai, tàn ác bất nhân, luôn chà đạp lên số phận của người nông dân, coi mạng người như cỏ rác. Chúng ra sức bóc lột người dân xô đẩy người nông dân tới cảnh đường cùng, không có lối thoát tới mức phải vùng lên đấu tranh “Tức nước vỡ bờ” Cai lệ thể hiện bản chất tàn ác, tàn nhẫn, bất nhân ấy thể hiện ở việc dồn người dân vào con đường khốn khổ, tới mức không lối thoát, bước tới đường cùng. Trích đoạn “Tức nước vỡ bờ” thể hiện kịch tính của đoạn trích vô cùng sâu sắc. Mở đầu đoạn trích chính là những tiếng trống thu thuế, bối cảnh chính là vào mùa thu thuế, khốn đốn của vợ chồng gia đình chị Dậu, gia đình nghèo khó, nhưng lại nợ xuất thuế thân của người hạng cùng đinh, nghèo khổ nhất làng, đông con, nghèo sơ nghèo xác. Anh Dậu sau những ngày bị trói ở đình làng vì thiếu tiền đóng thuế, người ốm chỉ còn da bọc xương, nhưng sau khi chị Dậu đóng được xuất sưu thuế thì anh Dậu được thả về. Chị Dậu vét hết gạo trong nhà nấu cho chồng một bát cháo loãng. Nhưng khi anh Dậu chỉ kịp cầm bát cháo lên thì tên lính cai lệ bước vào cùng với những đòn roi, định trói anh Dậu bắt đi, bởi nhà chị Dậu vẫn thiếu một xuất thuế của em trai anh Dậu đã chết hồi tháng giêng, nhưng vẫn phải đóng thuế. Sự tàn nhẫn của những tên cai trị còn thể hiện ở việc bọn chúng không chỉ ăn tiền bóc xương tủy của người sống mà còn ăn tiền của người chết. Cho nên, khi gia đình anh Dậu còn thiếu một suất sưu thuế của ông em chú, em trai anh Dậu đã mất rồi nhưng vẫn không chịu buông tha cho gia đình anh Dậu. Tên cai lệ có lính trang dưới quyền trong tay dù chưa làm quan nhưng hắn vẫn thể hiện mình người có chức tước bóc lột người dân. Đó chức tước của hắn vô cùng nhỏ bé nhưng khi là tay sai quan phủ huyện ngày xưa, nhưng vì dựa bóng quan nên chúng cũng tỏ ra hống hách, quyền uy. Cai lệ tuy là người của Lý Trưởng tuy hắn cho chút địa vị, sự tàn ác của hắn không ai sánh kịp, thể hiện sự bóc lột tàn nhẫn của người tầng lớp bóc lột. Tác giả Ngô Tất Tố đã khắc họa chân dung của cai lệ vô cùng sắc sảo. Tên cai lệ hung hăng, sai người nhà lý trưởng để tìm cách trói anh Dậu, mặc dù anh Dậu đang ốm, nhưng hắn vẫn thể hiện sự tàn nhẫn của mình trước số phận của một người nghèo khổ đáng thương. Hắn đùng dùng giật phắt cái thừng chạy sầm sập vào chỗ anh Dậu rồi hắn đánh cho chị Dậu mấy bịch thể hiện sự tàn nhẫn của mình. Rồi hắn tát vào mặt của chị mấy cái đánh “đốp” tố cáo chân dung của một tên cai lệ và nhà lý trong được khắc họa chi tiết, sâu sắc thể hiện qua điệu bộ hành vi, của tên cai lệ. Thông qua sự sắc, tinh tế của ngòi bút của Ngô Tất Tố chúng ta có thể thấy được, sự tinh tế của tác giả trước hoàn cảnh khó khăn của người nông dân. Những tên cai lệ làm gì có lòng thương người, có lòng trắc ẩn, đó chính là bản chất bất nhân của bọn tay sai của giặc. Tên cai lệ hung dữ và độc ác thô bạo như vậy, tác giả Ngô Tất Tố đã tạo tình huống kịch tính căng thẳng trước cuộc đấu đầu trước tên cai lệ và chị Dậu trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” Thông qua đoạn trích tác giả đã khắc họa chân dung của tên cai lệ bằng ngòi bút sắc sảo, tinh tế sâu sắc thể hiện bức tranh mâu thuẫn xã hội phong kiến. Thảo Nguyên
Phân tích nhân vật cai lệ trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố
767
Phân tích nhân vật chiến trong tác phẩm Những Đứa Con Trong Gia Đình Bài làm Nguyễn Thi là một nhà văn trưởng thành trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngòi bút của Nguyễn Thi thể hiện chân thực, giàu tình cảm, cùng với đó là ông đã tạc nên được bức chân dung lớn của người dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến oanh liệt thông qua nhiều tác phẩm. Đặc biệt không thể không nhắc đến Những Đứa Con Trong Gia Đình. Tác phẩm này thành công ở rất nhiều phương diện, nhưng lớn nhất có lẽ là thành công ở việc xây dựng nhân vật. Trong đó nhân vật Chiến hiện lên thật hay và hấp dẫn. Chiến cũng được nuôi dưỡng không chỉ từ dòng sữa của mẹ, giọt nước hạt gạo quê hương hay hương thơm của một miền đất quanh năm trĩu nặng những bông lúa, rồi miệt vườn. Chiến được sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và truyền thống anh hùng. Gia đình này có một mối thù sâu sắc với giặc Mỹ đó là ông nội bị lính tổng phòng bắn vào bụng, còn ba của Việt và Chiến làm cách mạng bị giặc bắt chặt đầu đem đi bêu ở khắp chợ trong chuyện. Thế rồi đến má cũng bị đại bác của giặc bắn chết. Và cho đến chú Năm bị mảnh đạn của thời Pháp thuộc vẫn còn găm trong người. Chưa hết, đến thím Năm cũng bị đại bác của Mĩ nguỵ giết hại. Chính vì mối thù này mà Chiến cũng như Việt đã xin đi đánh giặc để trả thì cho ba má, cho gia đình và cho cả quê hương. Phân tích nhân vật Chiến Chiến là một người biết lo toan mọi việc trong gia đình và cũng rất chăm chỉ mọi việc. Ngay cả việc học hành Chiến cũng chăm chỉ, điều này thể hiện ở việc Chiến có thể bỏ ăn để đánh vần cuốn sổ gia đình. Chị Chiến không chỉ “nói in như má” mà còn học được cách nói thật trọng trọng của chú Năm. Thế nhưng không thể phủ nhận được nếu như so với thế hệ mẹ thì người con gái ấy là khúc sông sau như cũng rộng hơn, chảy nhanh hơn, chảy xa hơn. Nhà văn Nguyễn Thi còn đặc tả đoạn chị em Chiến, Việt khiêng bàn thờ mẹ sang nhà chú là đoạn văn hay nhất, đoạn văn xúc động nhất tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”’. Có thể nhận thấy được cũng chính với chỗ hay nhất của đoạn văn hay nhất ấy có lẽ là cái không khí thiêng liêng mà dường như nó cũng đã hoán cải cả cảnh vật lẫn con người. Trên con đường đi vốn cũng đã rất quen thuộc bỗng thấy có thêm mùi hoa cam thoảng lại tự chân vườn. Việt lúc đó đã như khôn lớn hơn và hiểu được lòng mình, anh như thương chị Chiến đến lạ lùng. Chị Chiến với vóc dáng to khỏe vác bổng bàn thờ lên vai mà như sức nặng của thù nhà. Mối thù với giặc Mỹ như nặng vai biết bao nhiêu. Chính Chiến dường như cũng nhận ra được trách nhiệm của mình. Thông qua đây người đọc cũng sẽ cảm nhận thấy được rằng chính những đứa con trong gia đình giờ đây cũng đã đủ sức để bay xa hơn thế hệ đi trước. Thông qua nhân vật chị Chiến nhà văn Nguyễn Thi cũng đã ngợi ca được những người con gái dũng cảm của miền Nam Bộ. Họ luôn kiêng cường, chân thật cũng như có một lòng yêu nước đến sâu sắc. Nhân vật Chiến như một vẻ đẹp bất khuất, một vẻ đẹp đại diện không chỉ cho người phụ nữ Nam Bộ mà còn là tất cả những người phụ nữ Việt Nam anh hùng. Huệ Vũ
Phân tích nhân vật Chiến trong tác phẩm Những Đứa Con Trong Gia Đình
663
Phân tích nhân vật Chí Phèo lớp 11 Hướng dẫn Phân tích nhân vật Chí Phèo lớp 11 Bài làm Là một nhà văn ngắn liền với người nông dân Việt Nam những có lẽ tác phẩm để lại cho ông nhiều tiếng vang nhất phải kể đến tác phầm Chí Phèo, một nhân vật điển hành cho kiếp người khốn khổ la nạn nhân của xã hội cường hào ác bá lúc bấy giờ. Trong tác phẩm nhà văn cho nhân vật của mình bước ra với những bước đi ngật ngưỡng đầy nỗi đau và những ám ảnh khiến cho người đọc có rất nhiều băn khoăn về nhân vật. Cũng ra đời cùng thời với Chí phèo cũng có rất nhiều bài viết của những tác giả khác nhau viết về làng quê Việt Nam, viết về người nông dân, nhưng người nông dân của Nam Cao xuất hiện mang mọt vẻ sầu bi đầy khốn khổ thể hiện nỗi đau đớn của những tâm hồn, nhân cách bị xúc phạm, bị hủy diệt. Nhưng qua đó, ông cũng kín đáo bênh vực và khẳng định nhân phẩm của những con người cùng khổ. Chí Phèo là nhân vật thể hiện rõ nhất cái nhìn mới mẻ của Nam Cao về người nông dân trước Cách mạng. Về xuất thân của Chí Phèo vốn là một thanh niên hiền lành, lương thiện nhưng đã bị bọn cường hào ở làng Vũ Đại đẩy vào bước đường cùng. Là đứa con hoang bị bỏ rơi từ lúc mới lọt lòng, Chí được một bác phó cối không con đem về nuôi. Bác phó cối chết, Chí tứ cố vô thân, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà khác. Không cha không mẹ, không một tấc đất cắm dùi, Chí lớn lên như cây cỏ, chẳng được ai ban cho chút tình thương. Thời gian làm canh điền cho nhà lí Kiến, Chí được tiếng là hiền như đất. Dù nghèo khổ, không được giáo dục nhưng Chí vẫn biết đâu là phải trái, đúng sai, đâu là tình yêu và đâu là sự dâm đãng đáng khinh bỉ. Mỗi lần bị mụ vợ ba lí Kiến bắt bóp chân, Chí chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì. Cũng như bao nông dân nghèo khác, Chí từng mơ ước một cuộc sống gia đình đơn giản mà đầm ấm: Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Thế nhưng cái mầm thiện trong con người Chí sớm bị quật ngã tả tơi và không sao gượng dậy được. Có ai ngờ anh canh điền chất phác ấy đã thực sự bị tha hóa bởi sự ghen ghét, tù đày, để rồi biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Vì ghen tuông vô lối, cho con nhà Kiến đã nhẫn tâm đẩy Chí vào tù và nhà tù thực dân đã nhào nặn Chí thành một con người khác hẳn. Đây là nguyên nhân trực tiếp tạo nên bước ngoặt đau thương và bi kịch trong cuộc đời Chí. Nhưng nguyên nhân sâu xa chính là xã hội đương thời với những thế lực bạo tàn luôn tìm cách vùi dập những người nông dân thấp cổ bé họng như Chí. Chí bị đẩy vào con đường bần cùng hóa, lưu manh hóa là tất yếu. Với nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã phản ánh chân thực và sinh động bi kịch bị hủy diệt tâm hồn và nhân phẩm của những người nông dân nghèo khổ. Chí Phèo đã sa lầy trong vũng bùn của sự tha hóa: Có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dơ của làng Vũ Đại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn biết đâu hắn đã phá vỡ bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh. Và để rồi với một hình tượng khó thể để mọi người tiếp nhận và mọi người trong làng đã quay lưng lại với Chí, không ai cho Chí sự lương thiện, không ai giúp Chí quây trở lại làm anh Chí của người xưa, hiện lành tốt bụng biết phải trái đúng sai. Và chính cái sự tha hóa của Chí Phèo đã là tiếng nói phê phán tố cáo cái xã hội thối nát, biến những con người bần cùng của xã hội lại trở nên bần cùng thêm, khốn khổ thêm. Và tưởng chừng như Chí Phèo không thể nào thoát khỏi được cái nhìn ghẻ lạnh của mọi người nhưng may thay có một tấm lòng xuất hiện giúp anh tìm thấy được một phần thiên lương của mình hé mở cho anh một cuộc sống mới có niềm vui có niềm hạnh phúc. Và ở đây, nhà văn để cho nhân vật Thị Nở xuất hiện, dù là một người rất xấu, tính tình dở hơi, nhưng thiên lương lại hoàn toàn trong sáng chính vì vậy, Chí đã một lần may mắn được thức tỉnh và có mong muốn trở về làm người lương thiện. Hình ảnh bát cháo hành của Thị Nở đã giúp cứu dỗi một tâm hồn, giúp hắn nhận ra rằng cuộc đời hắn chưa bao giờ được ăn một bát cháu hành nồng ấm hương vị tình người đến vậy. Chỉ bằng một chi tiết cho nhân vật phụ tác động tới nhân vật chính mà cuộc đời của Chí phèo đã bước sang một ngưỡng cửa mới, và hắn đã có suy nghĩ đi đòi lại thiên lương của mình. Như vậy, qua nhân vật Chí phèo, cho ta thấy được ngòi bút sắc sảo của Nam sao khi tái hiện lại nhân vật của mình, bằng những hình ảnh bình dị bằng những câu từ hết sức mộc mạc chân thật của làng quê. Và qua đó, cũng thể hiện được mong muốn thoát khỏi những rằng buộc phong kiến, và cuộc chiến đòi lại công bằng cho tất cả mọi người. Với truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã đạt tới tầm cao của tư tưởng nhân đạo khi nhìn nhận và đánh giá người nông dân trước Cách mạng. Nhà văn không dừng ở hiện tượng bên ngoài mà đi sâu vào thể hiện bản chất bên trong của con người. Nam Cao cũng đã chứng tỏ bút lực già dặn của mình qua tài nghệ xây dựng hình tượng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Ý nghĩa xã hội của hình tượng Chí Phèo rất lớn và sức sống của nó cũng thật lâu dài. Và cũng chính từ đó, sẽ giúp cho những con người cũng bị đẩy vào thảm cảnh như Chí sẽ đứng dậy chống lại lật lại chế độ phong kiến góp phần xây dựng lên một xã hội công bằng hơn.
Phân tích nhân vật Chí Phèo lớp 11
1,156
Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Chí Phèo – một con quỷ dữ của làng Vũ Đại, một nhân vật điển hình trên những trang văn đầy ai oán, bi thương của nhà văn Nam Cao. Chính tấm lòng lương thiện và sự căm phẫn những kẻ cầm quyền trong xã hội phong kiến cũ tàn ác bất nhân của Nam Cao đã cho ra đời một Chí Phèo dữ tợn và hung hãn trong tác phẩm cùng tên của ông. Đây cũng chính là sản phẩm của những kẻ bất lương trong giai cấp thống trị, là nhân vật mà khi nhìn vào ta sẽ hiểu được thảm cảnh của xã hội cũ tha hóa và biến chất như thế nào. Như đã nói, Chí Phèo là đứa con tinh thần của Nam Cao. Ông đã nhào nặn nên nhân vật của mình từ lòng xót thương cho số phận cay đắng của những người nông dân lương thiện bị xã hội xô đẩy, chèn ép đến mức mất cả nhân tính. Họ không còn cách nào có thể đứng lên để làm lại cuộc đời. Chí cũng vậy, anh đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, và rồi lòng hướng thiện thức tỉnh cũng là khi Chí tự kết liễu cuộc đời mình khi mới ngoài bốn mươi tuổi. Một cuộc đời hơn bốn mươi năm, không cha không mẹ, không người thân thích. Lúc mới đẻ, Chí bị bỏ rơi ở một cái lò gạch cũ của làng Vũ Đại. Lớn lên, Chí đến ở cho nhà Bá Kiến. Nhưng bà vợ thứ ba lăng loàn của ông đã hại Chí phải vào tù. Cuộc sống tù đày đã làm Chí từ một người lương thiện, hiền lành, tử tế trở thành kẻ hung hãn, dữ tợn. Khi trở về, Chí lại rơi vào tay Bá Kiến, bị hắn nịnh bợ, cho uống rượu nên Chí đương nhiên trở thành tay sai cho hắn, chuyên đi đâm thuê, chém mướn, đòi nợ. Cả làng Vũ Đại không ai còn nhìn nhận Chí nữa. Bị xã hội ruồng rẫy, Chí càng trở nên bê tha và cô độc. Cả ngày lẫn đêm, không biết Chí tỉnh lúc nào, say lúc nào. Men rượu cứ thế lấp liếm tâm hồn Chí. Những nỗi oan thù hằn sâu trong tâm trí hắn. Vì thế, ngay khi lật giở trang văn đầu tiên của tác phẩm, ta đã thấy ngập tràn những tiếng chửi của Chí. “Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: Đời là tất cả những chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại”. Nhưng chẳng ai thèm đáp lại lời chửi của hắn. Bởi không một ai nhìn nhận Chí là người nữa. Nên dù Chí có chửi thế nào cũng chẳng có nghĩa lý gì. Nhìn cảnh tượng này, Chí thật đáng thương làm sao! Tiếng chửi tưởng chừng như vô nghĩa, như nước đổ lá khoai, không một ai đoái hoài. Nhưng Nam Cao cố tình dựng lên cảnh này để thấy rằng con người sống trong xã hội bị đàn áp quá mức ấy đã tha hóa, đã biến chất như thế nào. Tiếng chửi của Chí cũng là tiếng khóc lóc thảm thiết, tiếng gào thét trong tuyệt vọng. Khóc vì giờ đây con người của Chí đã bị biến thành con quỷ dữ. Nhưng làm quỷ dữ cũng không xong, vì chẳng ai sợ Chí cả. Họ chỉ khinh Chí thôi. Cuộc đời Chí là đầy rẫy những nỗi bất hạnh. Ngay từ khi sinh ra đã không có được sự nuôi nấng của cha mẹ, không được một giọt sữa, lớn lên không gia đình, phải đi ở thuê. Mà lại ở ngay trong nhà Bá Kiến – kẻ tàn ác, bất nhân vô cùng. Thế nên cũng quá dễ để hiểu tại sao Chí lại trở thành một kẻ nát rượu như bây giờ. Mãi cho đến khi gặp Thị Nở – một người đàn bà xấu xí, xấu đến ma chê quỷ hờn, xấu đến mức Nam Cao đã phải dành hết tất cả những gì xấu nhất dành cho thị. Cái mũi bạnh ra, cái môi như con đỉa xù… Là một người đàn bà, nhưng Nam Cao lại không hề dành cho thị một chút duyên dáng hay nữ tính nào. Đã thế, thị lại còn dở hơi, ngù ngờ. Và tất nhiên, thị ế chồng. Cuộc gặp gỡ đầy ngẫu nhiên của Chí và thị như một vận may cho cả hai người. Bởi Chí lần đầu tiên biết đến một người phụ nữ, còn thị cũng lần đầu tiên được một người đàn ông để ý. Mà không biết là Chí để ý thị hay là do men rượu còn nồng nàn, mê man nên Chí đã làm liều với thị. Hai người gặp nhau trong một đêm trăng thanh gió mát. Thị ra bờ sông nghỉ rồi ngủ quên, còn Chí trong men rượu ngà ngà đã va vào thị. Hai còn người cùng chung một tầng lớp, một đẳng cấp, một số phận đã lao vào nhau như tiếng sét ái tình. Sau đêm ấy, một biến cố lớn đã xảy ra làm thay đổi cuộc đời Chí. Chỉ tỉnh rượu. “Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài”. “Lòng mơ hồ buồn”. Lần đầu tiên, Chí thoát khỏi những cơn say. Lần đầu tiên Chí ý thức về cuộc sống xung quanh, về cuộc đời mình. Những cảnh vật quen thuộc khiến Chí thấy nao lòng, rung động. Tiếng mái chèo gõ cá, tiếng chim hót líu lo, tiếng mọi người đi chợ vải nói chuyện với nhau… Tất cả những thứ ấy hàng ngày vẫn diễn ra mà sao cho đến tận hôm nay Chí mới cảm nhận được. Lúc này, Chí trở nên hiền lành một cách lạ thường. Mà không, Chí đã từng rất hiền như thế. Chí cũng đã có một ước mơ thật trong sáng, thật đẹp: Có một gia đình nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm… Nhưng ước mơ ấy giờ đâu rồi? Một chàng trai hiền lành, tốt bụng nay đâu? Đây có phải là con người thực sự của Chí không? Những ngày đi ăn vạ, đi cướp giật do đâu mà có? Chí lại nghĩ về tuổi già, nghĩ về sự cô độc. Chí buồn. Chí sợ. Sợ rồi mai này khi không còn sức đi ăn vạ nữa, không thể làm liều được nữa, Chí sẽ sống ra sao? Liệu rằng có ai ở bên cạnh Chí không? Chí không sợ tuổi già, không sợ ốm đau bệnh tật, mà sợ mình sẽ cô đơn không người hỏi han trò chuyện. Chí chết. Chí đã tự giết chết một anh Chí say khướt, một kẻ đã tha hóa nhân cách, chuyên đi cướp giật, rạch mặt ăn vạ. Chết để con người ngày xưa hiền lành, tốt tính của Chí được sống lại. Chí chết, Bá Kiến chết nhưng sẽ còn nối tiếp Lý Cường, còn con của Chí có thể đang lớn dần trong bụng thị. Nhưng ít nhất, Nam Cao cũng đã mạnh tay giết chết kẻ đại diện của chế độ cầm quyền gian ác, tàn độc. Tác giả đã gửi gắm rất nhiều tư tưởng và thông điệp của mình qua hình ảnh của Chí Phèo. Một kẻ tha hóa đạo đức, bị xã hội ruồng rẫy. Nam Cao vừa xót thương vừa oán giận Chí. Nhưng sau cùng, ông cũng vẫn nêu cao bản chất lương thiện của Chí. Chí đã phải đối cả mạng sống của mình để mong tìm lại được chính mình. Chí chính là hiện thân cho những người nghèo khổ của xã hội, cũng là tiếng khóc gào thét của những kẻ đang đứng giữa ranh giới của hai bờ vực thiện – lương. Và Chí cần có nhiều sự thấu hiểu, sự giúp đỡ của xã hội, của nhân loại để được quay trở lại làm người.
Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
1,386
Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao. Hướng dẫn Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao. Khi nhận định về các tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Hoành Khung cho rằng: “Trong mảnh sáng tác về nông dân của Nam Cao, người đọc thường gặp những nhân vật xấu xí, thô lỗ cục cằn và những chuyện nhục nhã của họ. Chính vì thế mà một số người tỏ ra hoài nghi giá trị hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nam Cao, có biết đâu rằng, chính với đám nhân vật “có vấn để” đó mà cái nhìn hiện thực và quan điểm nhân đạo của nhà văn mới thể hiện rõ, đầy đủ nhất”. Và nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao là một nhân vật “có vấn đề” như thế, nhưng chính những lời văn mà tác giả viết về nhân vật này và những bi kịch mà y phải chịu đựng đã thể hiện được giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm mà Nam Cao muốn gửi gắm qua nhân vật này. Chí Phèo có một tuổi thơ thật bất hạnh: Ngay từ khi chào đời, Chí Phèo đã là một đứa con hoang, bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ và không biết cha mẹ mình là ai. Chí lớn lên nhờ sự đùm bọc, cưu mang của dân làng. Lớn lên Chí đi ở hết nhà này đến nhà nọ. Cứ như thế, Chí lớn lên bình yên giữa những người dân nghèo khổ nhưng hiền lành. Chí cũng có ước mơ riêng của mình, đó là có một gia đình nho nhỏ “chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải”. Đến năm hai mươi tuổi, Chí trở thành một chàng trai có vẻ đẹp toàn vẹn từ ngoại hình mạnh khỏe cho đến nội tâm hiền lành. Nhưng rồi Chí đi làm cho nhà Bá Kiến và cũng chỉ vì chuyện ghen tuông vớ vẩn Chí bị đẩy vào tù, sau bảy, tám năm biệt tích trở về làng giờ đây Chí Phèo đã hoàn toàn thay đổi từ ngoại hình cho đến tính cách. Ngoại hình của Chí thật đáng sợ: cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết. Ngoại hình ấy ẩn chứa một tính cách đã hoàn toàn thay đổi, không còn tính cách “lành như đất” nữa mà giờ đây hắn chuyên đi đập đầu, rạch mặt ăn vạ, hắn lấy rượu để bầu bạn với mình và rồi trong cơn say hắn đến nhà Bá Kiến để trả thù nhưng kết quả của cả hai lần là hắn đã bị Bá Kiến “ru ngủ” bằng rượu, thịt và tiền. Và rồi từ đó, Chí rơi vào trạng thái mất phương hướng, không biết ai là kẻ thù của cuộc đời mình và lại tiếp tiếp tục rơi vào cái bẫy mà Bá Kiến đã giăng sẵn, hắn vào tù vì Bá Kiến và rồi khi ra tù lại tiếp tục biến mình thành tay sai cho chính kẻ thù của mình, còn gì nhục nhã hơn là điều đó. Nhưng rồi người nông dân bị lưu manh hóa ấy cuối cùng cũng đã thức tỉnh. Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá ấy của Chí vẫn còn le lói một ánh sáng của lương tâm, lương thiện chỉ cần có cơ hội thôi là sẽ bừng sáng. Và Nam Cao đã cho Chí một cơ hội để ánh sáng ấy có dịp bừng lên, đó là cho Chí được gặp gỡ với Thị Nở. Chính cuộc gặp gỡ ấy, sự chăm sóc ân cần của Thị cùng bát cháo hành nóng hổi nghi ngút khói đã làm sống dậy bản chất lương thiện của Chí. Được Thị Nở chăm sóc, Chí Phèo rất ngạc nhiên vì xưa nay nào hắn có thấy ai tự cho ai cái gì, hắn phải dọa nạt hay cướp giật mới có. Lần đầu tiên khi tỉnh giấc, hắn bâng khuâng nghe tiếng chim hót, tiếng cười nói của những người đi chợ và cùng với đó là khát vọng được sống một cuộc sống khác, được hòa nhập cùng mọi người, họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện. Hắn tự đặt ra câu hỏi cho mình: hắn có thể làm bạn được sao lại chỉ gây thù? Thị Nở chính là người mà Chí đặt niềm tin vào, Chí tin Thị Nở sẽ là chiếc cầu nối giúp Chí trở về với cuộc sống đó. Và cuối cùng, bi kịch đã biến thành thảm kịch. Tột đỉnh của sự khổ đau đã biến thành tột đỉnh của sự căm thù, uất hận. Chí thấy kẻ thù trước mắt cướp đi tình yêu của hắn chính là bà cô Thị Nở nhưng trong sâu thẳm tâm hồn có lẽ hắn vẫn ý thức được ai mới chính là kẻ thù gây nên một chuỗi dài bi kịch của cuộc đời mình. Hắn xách dao đến nhà bà cô Thị Nở nhưng lại đi thẳng đến nhà Bá Kiến, Chí Phèo đã đâm chết Bá Kiến rồi tự kết liễu cuộc đời mình. Trong sự bế tắc đến tột cùng, Chí đã tự tìm ra lối thoát cho riêng mình, đó là cái chết, chết để kết thúc tất cả bi kịch của cuộc đời Chí.
Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao.
934
Đề bài: Phân tích nhân vật Chí Phèo để làm nổi bật bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao Bài làm Chí không chỉ đại diện cho nỗi khổ của người nông dân thời kì nước ta còn sống trong vòng nô lệ. Chí còn đại diện cho cái phần khùng điên khuất tối mà sinh ra trên cõi đời đày, ai cũng có thể, nếu không biết tự kiềm chế và nếu bị các thế lực hắc ám “nuôi dưỡng". Khi Chí Phèo: “Ngất ngưởng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gi gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cày ở một nước thuộc địa, bị cào xé, bị hủy hoại từ nhân tính đến nhân hình. Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa nhưng chị vẫn còn được là con người. Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình để trở thành con quỷ dữ”. (Nguyễn Đăng Mạnh). Trong muôn vàn nỗi khốn khổ tủi nhục mà Chí đã nếm trải, không thể không chú ý đến cái bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của y. Đó cũng là chủ đề xuỵên suốt tạo nên giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của tác phẩm Chí Phèo. “Bi kịch là tình cảm éo le đầy đau thương, bế tắc chưa có lối thoát mà con người phải chịu đựng” Hiểu theo nghĩa ấy, số phận Chí Phèo là một chuỗi dài bi kịch mà bi kịch sau bao giờ cũng đau đớn hơn bi kịch trước. Nhiều người khẳng định, Chí xuất hiện sau tiếng chửi, điều ấy đúng! Nhưng có lẽ chưa đủ. Nam Cao thường giới thiệu với người đọc ở giai đoạn quan trọng nhất của số phận nhân vật. Đọc những dòng đầu tiên của tác phẩm, độc giả thấy xuất hiện một nhân vật chưa nêu tên, dường như chỉ có một hành động, một cuộc độc thoại. Nhờ biện pháp nghệ thuật tăng cấp nhờ những câu văn ngắn, nhịp văn gấp tưởng chừng như các câu văn bị xé rách, bị cắt vụn mà người đọc có cảm giác được chứng kiến tận mắt sự quằn quại của Chí trong cơn đau bị cự tuyệt quyền làm người. Chí chửi trời (đấng tối cao của muôn loài), Chí chửi làng “cái cộng đồng gần gũi, thiêng liêng của con người”… Nhưng không ai lên tiếng cả. Người ta không lên tiếng vì người ta không công nhận Chí là người. Cả làng Vũ Đại không ai hiểu Chí, giá có một người để chửi nhau, có lẽ Chí còn đỡ khổ. Bởi vì người ta sống – dù là để chửi nhau cũng không thể chửi một mình. Chí chỉ còn biết chửi người đẻ ra y. Chửi người đẻ ra mình thì cũng là chửi chính bản thân. Tiếng chửi của Chí thể hiện sự vật vã. dẫu là vô ý thức, để tìm ra căn nguyên của đau khổ. Nhưng khốn khó thay. Chí càng bế tắc. Giá như ngày ấy ở láng Vũ Đại có một người lên tiếng cũng như sau đó, thị Nở “Không chỉ biết cho mà còn biết giữ”… giá như… giá như… chỉ cần một lần giá như xảy ra, chỉ cần một trong hàng nghìn người ở làng Vũ Đại coi Chí là người thì tấn bi kịch của đời Chí sẽ không có cơ hội xảy ra. Nhưng chuyện gì đã xảy ra thì nó đã xảy ra. Nam Cao ngược dòng thời gian trở lại với quá khứ dễ dẫn dắt người đọc, giúp họ thấu hiếu quá trình bị cự tuyệt quyền làm người từ thấp đến cao của Chí, đồng thời ông cũng chỉ rõ căn nguyên dẫn Chí đến tình trạng ấy. Chí là một “đứa con hoang”, “một anh đi thả ống lươn một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong cái váy đụp để bên một lò gạch bỏ không; anh ta rước lấy và mang cho một người đàn bà góa bụa”. Năm từ “một” tồn tại trong một câu văn dài, dường như đã báo trước cuộc đời cô độc triền miên của Chí. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, Chí đã bị người mẹ, người đời cự tuyệt quyền làm người. Chí trở thành kẻ không cha, không mẹ, cũng may cho đời Chí, có lẽ vì lớn lên cùng với những người lao động. Chí trở thành anh canh điền khỏe mạnh, biết tự trọng, “biết không thích những cái gì mà người ta khinh”. Anh khát khao có “một gia đinh nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”. Nhưng đời đã không dành cho Chí cái mà anh có thế với trong tầm tay. Một cơn ghen vu vơ của Bá Kiến đã đẩy Chí vào tù. Cái thế lực phong kiến cấu kết với nhà tù thực dân tước bỏ quyền tự do của Chí gần bảy – tám năm. Đây là lần thứ hai Chí bị cự tuyệt quyền làm người. Nhà tù đã biến Chi thành con người khác. “Hắn về lần này trông khác hẳn”. Quyền làm người của Chí đã bị cự tuyệt bởi nhà tù đã cướp đi của y một phần nhân hình. Ở tù ra trông hắn như một thằng “sững đá” (lính tẩy), đầu trọc lốc răng cạo trắng hớn, mặt đen lại rất “cơng cơng” – “câng câng” thì còn ra cái mặt người. “Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng, cái ngực phanh ra đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm trùy trông gớm chết” Đó là hình dạng của kẻ côn đồ, hung hãn chỉ biết gây gổ, đâm chém, về làng hôm trước, hôm sau. Chí đã uống rượu say nhè, điên cuồng lao vào trả thù Bá Kiến bằng cách ăn vạ, chửi đổng. Nếu như trả thù là cái quyền thông thường (oán thì trả oán, ân thì trả ân) thì Bá Kiến lại cũng đã khéo léo tước luôn quyền ấy của Chí. Không trả được thù, Chí lại từng bước trở thành tay sai cho kẻ thù, trở thành công cụ mù quáng của Bá Kiến. Hắn chỉ còn biết rạch mặt, ăn vạ để đòi tiền, để đâm chém những ai không cùng phe cánh với chính kẻ thù. Từ đó, hắn chìm trong cơn say, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say và đánh nhau trong cơn say, “Hắn đã phá tan bao nhiêu gia đình, đạp vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện". Cứ như thế đời hắn trượt dài. Nhìn vào mặt hắn, người ta không biết hắn bao nhiêu tuổi. Đời hắn đã xem như đời bỏ đi, nhân hình bị hủy hoại, nhân tính bị xói mòn. Cả làng Vũ Đại đều tránh mặt, mỗi lần hắn qua.. Ngay bản thân hắn cũng đã quên sự có mặt của hắn trên đời. Có thể nói, trước khi gặp Thị Nở, Chí đã bị cự tuyệt quyền làm người đến cao độ. Nhưng có lẽ hắn không nhận ra điều ấy hoặc nhận ra một cách vô thức, không tìm thấy lối thoát, Chí đành phải dấn thân vào cuộc đời say rượu chửi đổng, ăn vạ, đâm thuê, chém mướn. Người ta sẽ đỡ khổ, nếu không biết mình sống trong cái khổ. Người ta sẽ đỡ đau đớn khi bị tước quyền làm người mà không hề hay biết. Trước khi gặp thi Nở, Chí Phèo chưa nhận thức được tấn bi kịch của đời mình. Chí đâu có biết cốt cách người ta sản sinh ra hắn là tước đoạt dần quyền làm người của hắn. Đúng lúc Chí dấn thân đến chỗ tột cùng của sự tha hóa, đúng lúc người ta tưởng Chí sẽ triền miên trong cuộc đời một con quỷ dữ thì Nam Cao đã phát hiện trong chiều sâu tâm linh của nhân vật một đốm lứa nhỏ nhoi bừng sáng. Chí ao ước trở lại làm người lương thiện. Vai trò, vị trí của thị Nở trong tác phẩm là rất quan trọng. Con người “dở hơi, xấu ma chê quỷ hờn”, lại là nguồn sáng duy nhất còn lại ở làng Vũ Đại có thể chiếu sáng cõi đời tăm tối của Chí. Cơ thể đàn bà của thị không khơi gợi bản năng thú vật ở y. Tình thương của thị đã gợi dậy cái tính người mà lâu nay Chí đã đánh mất. Sau cuộc tình ngắn ngủi với thị Nở. Chí nghe được âm thanh của cuộc sống mà lâu nay hắn không để ý. Sau bao nhiêu năm, bây giờ hắn mới nghe thấy tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những âm thanh ấy gợi nhớ trong Chí những ước mơ rất người đã có từ thuở xa xưa. Lần đầu tiên Chí cảm thấy buồn, rồi hắn “sợ tuổi già, đói rét, ốm đau và cô độc – cô độc còn sợ hơn đói rét và ốm đau". Bát cháo hành của thị Nở đã đánh thức trong Chí những tình cảm lành mạnh. Ăn cháo mà hắn thấy mắt ươn ướt. Chỉ cần một sự thương yêu – dù là tình thương yêu của kẻ dở hơi, của một người con gái quá lứa lỡ thì, có dòng giống mả hủi, cũng đủ làm sống lại bản tính người đã chết. Sức cảm hóa của tình thương thật vô biên. Nam Cao đã thực sự hóa thân vào nhân vật để cảm thông, để chia sẻ những giây phúc hạnh phúc rất người của Chí. Thế là sau hơn hai mươi năm bị cự tuyệt quyền làm người. Chí Phèo đã tự tìm cho mình con đường trở lại làm người. Chí đã tạo ra chiếc cầu nối để làm hòa với thế giới người. Chiếc cầu nối ấy chính là thị Nở. Thị có thể sống chung với hắn thì làng Vũ Đại cũng có thể chấp nhận hắn. Nhưng bi kịch và đau đớn thay cho Chí. Thị Nở không thể gắn bó với Chí. Vì theo bà cô Thị, “đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao mà lại phải lấy một thằng không cha, không mẹ chỉ biết rạch mặt ăn vạ”. Thế là một chút hạnh phúc nhỏ nhoi Chí đã có ở trong tay một lần nữa lại bị ý thức xã hội tước đoạt. Thị Nở là chiếc cầu vồng sau cơn mưa, Chí đau đớn nghĩ ra rằng chẳng có chiếc cầu nào đưa Chí trở về với cuộc sống con người nữa. Xã hội với quan niệm tàn nhẫn đã cự tuyệt đến cao độ quyền được sống, được làm người của Chí. Không ai cho Chí làm người lương thiện, kể cả khi Chí đòi làm người lương thiện. Chí không thể xóa được những vết sẹo đã vạch lên trên mặt mình, Chí đau xót cảm thấy: “Không được nữa rồi chỉ còn cách này”, Chỉ còn cách chết trong, hơn sống đục. Chí đã nói những câu cuối cùng “đòi lương thiện” với Bá Kiến và cũng là tự nói với bản thân mình. Hành động giết Bá Kiến và tự sát của Chí cho người đọc thấy cuối cùng rồi Chí cũng trả được mối thù. Nhưng cái giá phải trả của Chí là quá đắt. Cái chết của Chí là lời tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội vô nhân, là lời kêu cứu khẩn thiết về quyền con người. Chí chết, mồm ngáp ngáp trong vũng máu, nhưng Chí không tuyệt tự. Sức sống, sức mở và giá trị điển hình của nhân vật này là vô biên. Chí không chỉ đại diện cho nỗi khổ của người nông dân thời kì nước ta còn sống trong vòng nô lệ. Chí còn đại diện cho cái phần khùng điên khuất tối mà sinh ra trên cõi đời đày, ai cũng có thể, nếu không biết tự kiềm chế và nếu bị các thế lực hắc ám “nuôi dưỡng". Bi kịch cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo do nhiều căn nguyên. Có căn nguyên từ xã hội cũng có căn nguyên từ bản thân Chí. Khi quyền con người còn bị xúc phạm thì bi kịch của đời Chí Phèo còn được nhắc đến như một nỗi đau của toàn nhân loại.
Phân tích nhân vật Chí Phèo để làm nổi bật bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao
2,132
Đề bài: Phân tích nhân vật Chí Phèo Bài làm Giả sử, bạn là một người trong làng Vũ Đại, lớn lên lúc “con quỷ Chí Phèo”về làng, thì lúc đó bạn cảm nhận sao về Chí Phèo? “Một con quỷ khát máu”, chuyên rạch mặt ăn vạ! Vậy mà “con quỷ” ấy lúc trước lại là một người hết sức lương thiện và đến khi sắp chết cũng lại còn muốn trở thành người lương thiện… Nhưng cái lương thiện ấy cũng chẳng được xã hội lúc bấy giờ dung túng. Khi Chí Phèo vẫn còn là một thanh niên phơi phới tuổi xuân thì lại bị Lí Kiến ghen tuông mà đẩy cho đi ở tù. Cũng chính bởi vì cái lí lịch “được nhặt” ở lò gạch cũ mà Chí Phèo “chẳng là gì” trong cái xã hội tàn bạo chỉ biết bốc lột, chèn ép những người nông dân bi thảm. Ở đây, Chí Phèo nói riêng,là đại diện cho tầng lớp nhân dân trước cách mạng: hiền lành, chân chất nhưng luôn bị xã hội khinh rẽ. Rồi đến khi Chí Phèo thật sự bị đẩy ra bên lề của xã hội, thậm chí gần như là ra bên ngoài xã hội, thì lúc đó hắn chẳng còn mang hình dáng của con người nữa. Trên mặt hắn đầy những vết vằn ngang vằn dọc do “rạch mặt ăn vạ”, trên cơ thể hắn không biết bao nhiêu là sẹo mà đếm.”Trông gớm chết!”…Nói đi cũng phải nói lại, chẳng khi không mà hắn lại tự biến mình thành con người như thế. Hắn bắt buộc phải làm như thế để có thể tiếp tục tồn tại được trong xã hội. Để có thể tiếp tục uống rượu say khước, chẳng biết ngày tỉnh và để tiếp tục chưởi bới. Mà tiếng chưởi của Chí Phèo cũng hay đấy chứ! Hắn chưởi trời, mà trời thì đâu có thể đáp lại lời hắn, rồi hắn lại chưởi người làng Vũ Đại, nhưng đáng tiếc thay ai cũng nghĩ rằng:”chắc hắn trừ mình ra”. Cuối cùng, hắn lôi “đứa nào đẻ ra hắn” mà chưởi. Không phải hắn chỉ chưởi cho sướng cái mồm mà thôi, mà hắn đang cay đắng nhìn lại đúng cái cuộc đời như trong lời chưởi của hắn. Chí Phèo tự chưởi rồi cũng tự nghe, đáp lại chỉ có những con chó sủa ầm lên mổi khi hắn đi qua.Vậy ra là hắn đang chưởi nhau với chó à! Suy ra cho cùng thì hắn cũng chỉ được xếp ngan hàng với mấy con chó. Xã hội thật sự đào thải hắn, không cho hắn dung thân và cũng không cho hắn có được cái cơ hội nào nữa cả. Bắt đầu từ đó, hắn tha hóa và dần mất hết tính người. Chỉ biết mỗi chuyện: uống rượu say, rạch mặt, ăn vạ, dọa nạt, đâm chém, xin tiền… Chính bởi những cái đó càng làm cho hắn cô độc hơn khi cơn say trong hắn cứ triền miên từ ngày nay qua tháng nọ. Trong người hắn chẳng còn máu, mà chỉ có rượu thôi, rượu chảy trong hắn và nuôi sống hắn! Thế nhưng, trong cuộc sống vẫn còn có những nốt trầm bỏng khác nhau.Cuộc sống của Chí Phèo có một bước ngoặc lớn khi Thị Nở xuất hiện. Cái hơi hám của tình yêu mang hắn về lại với xã hội loài người. Mang men rượu ra xa Chí Phèo. Và khiến hắn khao khát có được mái ấm gia đình, một cuộc sống bình thường như bao người khác và hơn hết, hắn muốn lại trở thành một con người lương thiện… Vậy mà cái xã hội tàn bạo, không nhân tính ấy đâu có cho hắn được toại nguyện.Chỉ một bát cháo hành của Thị Nở thôi thì đâu có đủ để cả xã hội chấp nhận hắn. Nhưng ít ra, bát cháo hành ấy cũng đã khơi gợi được “nhân tính” trong hắn. Ít ra hắn cũng biết rằng hắn cần phải sống lương thiện. Hắn đã thật sự ngạc nhiên rằng đó mới chính là điều bấy lâu nay hắn khao khát muốn đạt được, đó là khát khao hạnh phúc. Khát khao được sống như một con người bình thường. Khi mà những tiếng chim hót ngoài kia cứ ríu rít vang lên bên tai hắn, tiếng cười nói của những người đi chợ rôm rả bên ngoài túp lều của hắn, và “chao ôi là buồn” …hắn đang cố hình dung về những gì mà hắn đã từng rất mơ ước.Một người vơ dệt vải, một người chồng cày thuê cuốc mướn…Vậy mà, hắn giờ đã già rồi mà vẫn chưa thể nào đạt được những mơ ước nhỏ nhoi ấy.Hắn thấy hắn buồn vô cùng. Kể từ mấy chục năm nay, có bao giờ mà hắn có được những cảm xúc buồn vui thế này đâu! Có bao giờ mà hắn ngồi ngẫm nghĩ về cuộc đời của hắn! Và lần đâu tiên, hắn được một người đàn bà cho, Thị Nở mang bát cháo hành đến cho hắn giống như mang ánh sáng của cuộc đời đến làm xua đi cái đen tối mờ mịt luôn bao vây lấy hắn. Trong lúc ấy, hắn cảm thấy ăn năng và hối hân về những tội ác mà hắn đã gây ra.Bát cháo hành nóng ấy dường như có một uy lực ghê gớm. Nó khiến cho một “con quỷ khát máu” cũng phải thấy được lỗi lầm của mình và cũng gội rửa đi thú tính của hắn. Làm hắn cảm thấy mình có được hơi thở của con người, làm hắn cảm thấy cần một bàn tay của người ta chăm sóc hắn. Là tự nguyện chứ không phải do hắn giành giật mà có được nữa. Bát cháo hành và Thị Nở đã mở đường cho hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện. Nhưng mà nào có được đâu,ngược lại, xã hội ấy chẳng những đồi bại mà còn đầy những định kiến cho cuộc sống trở thành bi kịch và lâm vào ngõ cụt. Bà cô của Thị Nở đã ngăn cản đứa cháu của mình lấy một thằng “không cha,làm nghề rạch mặt ăn vạ”.Thế là Thị tức điên lên và tìm gặp Chí để xả hết những lời của bà cô vào mặt Chí. Rồi Thị ra về và Thị hoàn toàn không biết rằng những việc mình vừa làm đã tác động đến Chí thế nào. Chí Phèo quyết định “đâm chết” bà cô của Thị Nở, thế nhưng “Tao phải đâm chết nó” của Chí Phèo lại nhầm vào Bá Kiến.Chí Phèo đã chấm dứt tất cả bằng cách giết Bá Kiến và tự sát.Tại vì hắn đã nhận ra cái nguyên nhân sâu xa khiến cho con người hắn trở nên như ngày hôm nay. Hắn đã ý thức được về hình hài cũa mình. Với cái hình hài người chẳng ra người, vật chẳng ra vật thì làm sao hắn có thể trở thành người lương thiện được đây! Hắn lắc đầu:”Ai cho tao lương thiện…Tao không thể là người lương thiện nữa”.Ngay khi “con quỷ dữ” ấy tàn bạo nhất, lại chính là lúc cái bản chất tốt đẹp của hắn được phơi bày. Hắn đã chẳng còn được cơ hội nào nữa. Chỉ có cái chết mới giúp giải thoát hắn khỏi những bất công tàn ác đó. Cái chết của Chí Phèo không mang câu chuyện về nơi kết thúc mà ngược lại, dường như nó chỉ mới bắt đầu thôi. Khi Thị Nở bổng dưng nhìn thấy cái lò gạch cũ thì câu chuyện đã lại bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới. Vậy ra, trong cái xã hội thối nát ấy, con người chỉ quanh đi quẩn lại với cái vòng tròn vô định hướng ấy. Chí Phèo này chết rồi thì sẽ lại có một Chí Phèo con xuất hiện. Đến khi nào mới hết những con người khốn khổ bị dồn đến bước đường cùng, không còn một lối thoát nào nữa. Nhân vật Chí Phèo, từ một người nông dân hiền lành, rồi trở thành quỷ dữ, rồi lại muốn trở thành người hiền lành. Qua bao nhiêu là sự biến đổi, nhưng cái bản chất gốc gác của hắn thì vẫn tồn tại như chính con người hắn đã hiện hữu.
Phân tích nhân vật Chí Phèo
1,411
Phân tích nhân vật chú bé Hồng trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng Bài làm Viết về đề tài phụ nữ và trẻ em có lẽ nhà văn Nguyên Hồng là một tên tuổi đáng chú ý. Ông đã có nhiều tác phẩm viết về đề tài này, trong đó có hồi kí “ Những ngày thơ ấu”. Đặc biệt đoạn trích “ Trong lòng mẹ” đã làm nổi bật số phận cay đắng và tình cảm mãnh liệt của Hồng đối với mẹ của mình Nói đến hoàn cảnh của Hồng thì thật tội nghiệp. Hồng sinh ra vàlớn lên trong gia đình không mấy hạnh phúc. Khi cha mất thì mẹ Hồng đi tha hương cầu thực để lại Hồng ở lại trước sự ghẻ lạnh của hàng xóm. Dù hoàn cảnh của đứa cháu đáng thương như vậy nhưng bà cô cuả Hồng không hề yêu thương cậu. Mặc dù là cô ruột nhưng bà ta không hề thương Hồng mà luôn cố ý chia rẽ tình cảm mẹ con Hồng. Một lần, trong cuộc trò chuyện với bà cô, chú bé Hồng đã rất đau khổ khi người cô nói đến mẹ của mình. Hồng biết rằng sau lời nói tươi cười quan tâm đó người cô không hề có ý tốt nào cả. Khi cô hỏi Hồng có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ không? Hồng chỉ rớt nước mắt nhớ đến mẹ. Hồng nhớ đến gương mặt rầu rầu và sự hiền từ của mẹ. Biết được ý nghĩ xấu xa của cô mình Hồng đã trả lời: “ Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào Mợ cháu cũng về”. Khi cô người nói với giọng ngọt sớt: “ Mợ mày phát tài lắm có như dạo trước đâu” Lòng cậu thắt lại, khóe mắt cay cay. Hồng thương mẹ vất vả, lam lũ. Người cô nói tiếp” vào mà bắt mợ màu mua sắm quần áo cho và thăm “ em bé” chứ” Hai tiếng “ em bé” kéo dài khiến nước mắt Hồng chảy ròng ròng, cười dài trong tiếng khóc. Khi người cô tươi cười kể người mẹ đáng thương của mình thì cổ họng Hồng như nghẹn ứ lại khóc không ra tiếng. Cậu ước rằng giá như những cổ tục đang đày đọa mẹ cậu kia là những hòn đá hay mẩu thủy tinh thì cậu sẽ vồ ngay đến mà cắn, mà nhai mà nghiến, cho kì vụn nát. Trong cuộc trò chuyện này, ta thấy Hồng đã bộc lộ tình yêu thương mẹ, thương mẹ vất vả, nhớ về người mẹ đáng thương của mình. Tình cảm mãnh liệt của chú bé được biểu hiện cụ thể khi ngồi trong lòng mẹ. Đó là buổi tan học, thấy dáng dấp của người phụ nữ đang ngồi trên xích lô giống mẹ mình. Hồng đã chạy và đuổi theo mẹ gọi: “ Mợ ơi! Mợ ơi!..” Khuôn mặt Hồng lúc đó trán ướt đẫm mồ hôi, Hồng ríu cả chân lại nhảy lên và khóc nức nở. Lúc này, khi được ngồi trong lòng mẹ, Hồng đã sung sướng vô cùng ngắm kĩ gương mặt mẹ “ Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má”. Hồng cảm nhận được sự ấm áp mà bấy lâu nay cậu không thấy. Hồng sung sướng vô cùng và quên đi những lời nói cay độc của bà cô. Nguyên Hồng đã xây dựng hình tượng chú bé Hồng chịu những khổ đau tủi cực những xen lẫn với bao hạnh phúc khi ngồi trong lòng mẹ. Chúng ta cảm phục Hồng khi đã quên được những định kiến về mẹ của mình để hưởng được hạnh phúc chọn vẹn khi ngồi trong lòng mẹ.
Phân tích nhân vật chú bé Hồng trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng
639
Phân tích nhân vật chị Dậu qua tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố Hướng dẫn Phân tích nhân vật chị Dậu qua tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố Bài làm Nhà văn Ngô Tất Tố (1893 -1954), là một nhà văn tiêu biểu giai đoạn 1930- 1945 của dòng văn học hiện thực phê phán. Những tác phẩm của ông đều ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân trong giai đoạn đó, mặc dù sống trong giai đoạn khó khăn cùng cực những vẫn giữ trọn được những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Trong những tác phẩm của ông, nổi bật nhất phải kể đến Tắt đèn, một tác phẩm kinh điển lúc bấy giờ, ca ngợi giá trị, sức sống tiềm tàng, phẩm chất yêu thương chồng con của người phụ nữ Việt Nam. Người phụ nữ đó chính là Chị Dậu. Đây là nhân vật điển hình, tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ ở làng quê Việt Nam thời bấy giờ. Khi nói về chị Dậu của Tắt đèn, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận xét như sau:: “ Trên cái tối giời, tối đất của đồng lúa ngày xưa, hiện lên một cái chân dung lạc quan của chị Dậu.” Có thể thấy, chỉ bằng câu nói đầy sắc sảo của Nguyễn Tuân, người đọc đã có thể thấy được sự đen tối, bi ai của làng quê Việt Nam thời bấy giờ, cũng như chân dung chị Dậu hiện lên đầy lạc quan, một chân dung lạc quan giữa cái tối giời, tối đất của đồng lúa ngày ấy. Hoàn cảnh của chị Dậu hiện lên thật đáng thương. Chị Dậu sống ở làng Đông Xá, trong không khí ngột ngạt, căng thẳng của những ngày sưu thuế gay gắt nhất. Bọn cường hào, tay sai rầm rộ đi tróc sưu. Lý trưởng làng Đông Xá ra lệnh cho lũ tay chân: “Tha hồ đánh! Tha hồ trói! Thằng nào bướng bỉnh đánh chết vô tội vạ!”. Gia đình chị Dậu thuộc hàng nghèo khó “ nhất nhì trong hạng cùng đinh”. Anh Dậu vì tội thiếu sưu mà bị bọn cường hào “ bắt trói như trói chó để giết thịt!”. Ngay đến em trai anh Dậu, đã chết từ năm ngoái nhưng gia đình anh Dậu vẫn phải nộp thay vì “ Chết cũng không được trốn sưu nhà nước!” Chị Dậu trong hoàn cảnh đó đã phải bán gánh khoai, ổ chó mới đẻ, và đau đớn hơn là đứt ruột bán đi đứa con gái lên bảy tuổi cho vợ chồng Nghị Quế mới đủ tiền nộp suất sưu của chồng. Nhưng vì thiếu tiền suất sưu của chú em đã chết, anh Dậu vẫn bị trói ở sân đình. Trong khi anh Dậu đang bị ốm nặng mà vẫn bị trói suốt ngày suốt đêm, đến mức ngất xỉu đi tưởng như chết. Bọn cai lệ cường hào lại vác anh Dậu rũ rượi như cái xác trả về cho chị Dậu. Nhìn chồng đau đớn khổ sở, mọi nỗi đau đớn đè nặng lên tâm hồn của người đàn bà tội nghiệp ấy. Đọc đến đây, ta cũng cảm thấy đau xót cho xã hội, cho sự tối giời tối đất thời bấy giờ, như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “ Nửa đêm thuế thục trống dồn, Trong hoàn cảnh đau thương, đen tối như vậy, chúng ta vẫn thấy vẻ đẹp tâm hồn của Chị Dậu tỏa sáng. Điều đầu tiên nhìn thấy ở đây, đó chính là một người vợ, người mẹ giàu tình yêu thương. Trong cơn nguy kịch của Chồng, chị đã lay gọi và tim mọi cách cứu chữa cho chồng. Chị nấu cháo, an ủi chồng cố ăn lấy vài húp, chị xót xa vì chồng chị đã “ nhịn xuông từ sáng hôm qua tới giờ còn gì”. Hành động của người đàn bà trong lúc hoạn nạn dành cho chồng mình, chứa biết bao tình yêu thương. Và có lẽ chính tình yêu thương ấy, đã tiếp thêm sức mạnh cho chị, để chị dũng cảm đứng lên bảo vệ chồng, khi bọn cai lệ sầm sập tiên tiến vào bắt trói anh Dậu. Sau khi nhẫn nhịn, khẩn thiết van xin không được, chúng không những không buông tha mà còn mắng chửi chị thậm tệ. Khi tên cai lệ chạy sầm sập đến trói anh Dậu, nhìn thấy người chồng đang đau ốm của mình bị đe dọa, chị Dậu đã kiên quyết cự lại. Chị nói lý lẽ với bọn chúng: “ chồng tôi đau ốm, các ông không được phép hành hạ.” Lời nói của người phụ nữ tưởng chừng mềm yếu nhưng đanh thép, kiên quyết như một lời cảnh cáo. Chị nói đến cái lý, cái đạo đức tối thiểu của những con người bình thường với nhau. Nhưng bọn chúng vẫn không buông tha, chúng dám “ bịch vào ngực, tát đánh bốp vào mặt “ anh Dậu, chị đã nghiến hai hàm răng lại: “ mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem!” Rồi với quyết tâm bảo vệ người chồng yêu thương, với tất cả lòng dũng cảm và sức mạnh của người phụ nữ chịu thương chịu khó, chị đã đánh ngã nhào hai tên cai lệ độc ác, những kẻ “ hút nhiều xái cũ”. Đọc đến đây, có thể thấy chân dung chị Dậu lạc quan quá, đẹp quá. Chị dám đứng lên chống lại mọi thế lực tàn ác. Chị nói: “ Thà ngồi tù. Để cho chúng làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được…” Thật vậy, đọc xong Tắt đèn, ta có thể thấy đây là một tác phẩm rất sống động, giàu tính hiện thực và mang giá trị nhân văn sâu sắc. Nhân vật chị Dậu được miêu tả rất đỗi chân thực, sống động và có sức truyền cảm mạnh mẽ. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam lại một lần nữa hiện lên trong văn chương, là những con người giàu tình yêu thương, nhân ái nhưng cũng rất mạnh mẽ, sẵn sàng đấu tranh chống lại cái ác để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Phân tích nhân vật chị Dậu qua tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố
1,044
Phân tích nhân vật chị Dậu trong cảnh ” Tức nước vỡ bờ” Hướng dẫn Phân tích nhân vật chị Dậu trong cảnh ” Tức nước vỡ bờ” Bài làm Những người nông dân gặp nhiều đau khổ, bất hạnh nhưng vẫn vươn lên trong cuộc sống, giữ trọn những phẩm chất tốt đẹp, là hình ảnh ta dễ dàng nhận thấy trong những tác phẩm văn học giai đoạn trước cách mạng tháng Tám. Và khi đọc những tác phẩm ấy, người đọc chắc chắn không thể nào quên hình ảnh người phụ nữ nghèo khổ, sống trong cảnh khốn cùng nhưng vẫn hết lòng yêu thương chồng con và có một sức mạnh tiềm tàng mạnh mẽ. Người phụ nữ đó chính là chị Dậu trong Tắt đèn, hay rõ nét hơn ở tính cách của chị là trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ. Nhân vật chị Dậu có hoàn cảnh rất đáng thương. Nhà nghèo, lại nợ tiền sưu thuế, chị phải bán gánh khoai, ổ chó mới sinh và cả đứa con gái mới lên bảy tuổi cho vợ chồng Nghị Quế để có tiền nộp sưu thuế cho chồng. Vậy mà vẫn không xong, anh Dậu chồng chị vẫn bị bắt trói, đánh đập ở ngoài sân đình, vì còn thiếu suất sưu của chú em chồng đã mất từ năm ngoái. Đã chết cũng không được trốn sưu nhà nước nên vợ chồng chị Dậu vẫn phải nộp suất sưu ấy. Anh Dậu đã sẵn bệnh tật ốm đau, lại thêm bị trói cả ngày đêm ở sân đình nên người lả đi tưởng chết. Bọn tay chân cường hào thấy vậy, liền vác anh trở về nhà trả cho chị Dậu. Không chỉ thế, chị còn là một người cứng cỏi, dũng cảm, dám đứng lên chống lại bọn cường hào để bảo vệ cho người chồng mà chị thương yêu. Bọn cai lệ, tay chân của lý trưởng sầm sập xông đến, tay roi tay thước thét trói đánhh anh Dậu. Anh Dậu chưa kịp húp nổi miếng cháo, đã bị tiếng thét của chúng làm cho sợ ngã lăn đùng ra phản. Chúng chửi bới anh Dậu không ra gì, rồi trợn ngược mắt quát chị Dậu. Chị Dậu van xin hắn, xin khất nợ, xin chúng xem xét lại…Nhưng không, hắn lại càng lòng lồn lên, chạy đến chỗ anh Dậu để bắt trói ra đình. Thấy chị Dậu van xin, hắn bịch luôn vào ngực chị, rồi tát đánh bốp vào mặt chị. Hắn lao đến cạnh anh Dậu, định bắt trói anh. Đến lúc này chị không thể chịu được nữa, điều gì cũng có giới hạn. Để bảo vệ cho chồng, chị đã dũng cảm chống cự lại. Chị nghiến hai hàm răng thách thức chúng: Chị Dậu đã thay đổi thái độ một cách không thể ngờ. Đang hạ mình van xin, sợ sệt chúng, giờ chị đã vỗ ngực tự tin đe dọa lại chúng. Thậm chí, chị còn thẳng tay trừng trị hai tên cai lệ định xông tới trói chồng chị. Những kẻ hút nhiều sái cũ làm sao có đủ sức mạnh để chống lại người đàn bà lực điền quanh năm lam lũ. Chúng bị chị túm cổ, ấn dúi ra cửa, một tên bị chị túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra ngoài thềm. Chị chẳng còn gì để mà sợ nữa, thà ngồi tù, còn hơn để chúng làm tình làm tội. Chị đã cố gắng nhịn nhục, nhưng vì chúng càng được đà lấn tới, áp bức, bóc lột dã man, đe dọa tính mạng của chồng chị, nên chị đã dũng cảm vùng lên để chống trả lại chúng. Đúng như câu “ Con giun xéo mãi cũng quằn”, trong hoàn cảnh áp bức, con người sẽ phải vùng lên để đấu tranh. Thật vậy, chị Dậu trong “ Tức nước vỡ bờ “ được Nguyễn Tuân miêu tả rất sống động và chân thực. Người phụ nữ giàu tình yêu thương dành cho gia đình, chồng con, giàu đức hy sinh. Và trong bất cứ hoàn cảnh nào, chị cũng sẵn sàng đứng lên đấu tranh vì gia đình, vì người thân yêu của chị. Chị là một điển hình của tấm gương những người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa.
Phân tích nhân vật chị Dậu trong cảnh ” Tức nước vỡ bờ”
722
Phân tích nhân vật chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố Hướng dẫn Phân tích nhân vật chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố Ngô Tất Tố là nhà văn xuất sắc trong dòng văn học hiện thực phê phán,cũng là nhà văn xuất sắc của người dân quê Việt Nam. Ông viết về họ với sự thấu hiểu tận cùng những nỗi khổ đau,mất mát của cõi người trong xã hội phong kiến. Đồng thời ông cũng viết về họ với tất cả niềm yêu thương,trân trọng và gửi gắm hi vọng vào bản chất tốt đẹp không bị những khốn khổ của cuộc đời làm khuất lấp. Nhắc đến ông là ta nhớ đến tiểu thuyết “Tắt đèn”,nói đến “tắt đèn” là ta nghĩ đến thân phận chị Dậu. Đó là một người phụ nữ nông dân nghèo khổ,cần cù lao động,giàu tình thương chồng thương con,dũng cảm chống lại bọn cường hào. Nhà văn Ngô Tất Tố đã xây dựng nhân vật chị Dậu tiêu biểu cho cảnh ngộ khốn khổ và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945. Chị Dậu là một người phụ nữ nghèo khó,đau khổ. Một gia đình hai vợ chồng và ba đứa con thơ. Cày thuê cuốc mướn “đầu tắt mặt tối” quanh năm mà vẫn “cơm không đủ ăn,áo không đủ mặc”. Mấy gian nhà gianh như một túp lều,trống không. Sau hai cái tang mẹ chồng và đứa em chồng,gia đình chị Dậu đã trở thành “hạng cùng đinh”. Tai họa dồn dập. Giữa ngày mùa mà trong nhà không có một hạt gạo,mấy đứa con thơ chỉ biết ăn khoai,nhá rễ khoai. Hai suất sưu của chồng và đứa em chồng đã chết,cái “món nợ nhà nước” ấy là tai họa khủng khiếp nhất giáng xuống đầu gia đình chị Dậu. Vì cái tội thiếu sưu,mà anh Dậu đã bị lý trưởng làng Đông Xá “bắt trói như trói chó để giết thịt”. Chị Dậu là một tội đồ đáng thương. Xin nới lỏng dây trói cho chồng,chị liền bị tên cai lệ “đánh đấm túi bụi”. Xin khất sưu cho chồng thì bị tên cai lệ “tát đánh bốp” vào mặt và “bịch mấy bịch” vào ngực. Lúc thì bị bọn cường hào bắt trói giải huyện. Lúc thì bị vợ chồng Nghị Quế bắt bí,mua rẻ đứa con và ổ chó. Xin cái triện đóng vào tờ văn tự bán con mà chị Dậu phải cấy không công cho “cụ lí” một mẫu ruộng. Đau khổ nhất là chị Dậu phải “đứt ruột” bán đứa con gái đầu lòng lên bảy với giá một đồng bạc để nộp sưu cho chồng. Nhục nhã nhất là chị bị tri phủ Tư Ân và cụ cố Thượng xâm phạm đến phẩm giá,nhân phẩm. Có điều kì lạ là người đàn bà nhà quê này,tuy phải đổ nhiều nước mắt,nhiều tiếng thở dài…nhưng đã đứng vững trước bao thử thách,tai họa. Ngô Tất Tố bằng tấm lòng nhân đạo đã dành cho nhân vật chị Dậu bao tình thương xót và cảm thông chứa chan. “Tay bưng đĩa muối chén gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” Trước cảnh chồng bị bắt giam,bị đánh trói thập tử nhất sinh,chị Dậu chạy ngược chạy xuôi đi vay nợ,bòn mót bán gánh khoai,bán con,bán chó. Bán con dù đau đớn nhưng đó là một giải pháp tình thế để cứu chồng qua tai họa trước mắt. Tình thương chồng của chị Dậu gắn liền với tình thương con không thể nào kể xiết. Một củ khoai chị cũng nhịn,nhường lại cho con. Trước khi dẫn cái Tí sang nhà cụ Nghị,lòng chị tan nát,buồn rũ rượi,nghe các con kêu khóc mà chị “thổn thức”. Như một linh hồn đau khổ,tội lỗi,chị chùi nước mắt mà tự nói với lòng mình: “Thôi,phải tội với trời,mẹ chịu! Cảnh nhà đã thế,mẹ đành dứt tình với con!”. Chị Dậu vừa khóc,vừa van xin đứa con gái ngây thơ bị mẹ bán đi. Mỗi tiếng kêu là một nhát dao cắt lòng. Mỗi tiếng kêu là một giọt lệ. Nghe thật não nùng ai oán. Vì trong tai họa,chị tự biết hành động bán con của người mẹ là “phải tội với trời” nhưng đó là con đường cùng,vì không có tiền nộp sưu thì chồng chị “sẽ chết ở đình,chứ không sống được”. Qua đó,ta càng thấy rõ,trong bi kịch gia đình,trái tim đôn hậu và đức hi sinh của chị Dậu,của người vợ,người mẹ đã bừng sáng lên. Con giun xéo mãi cũng quằn,chị Dậu cũng vậy,bị áp bức dã man,tính mạng bị đe dọa,chị đã vùng lên đánh trả một cách dũng cảm. Chị Dậu,chồng con chị cũng như hàng triệu nông dân là nạn nhân của chế độ thực dân nửa phong kiến. Sưu thuế dã man,ách áp bức của bọn cường hào địa chủ đã tước đoạt quyền sống làm người của họ. Nhân vật chị Dậu là hiện thân cho bao phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ nông dân như đảm đang,đôn hậu,giàu tình thương chồng,thương con,dũng cảm chống áp bức. Bức chân dung chị Dậu đã tô đậm giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo trong tiểu thuyết “Tắt đèn” nói chung và đoạn trích “tức nước vỡ bờ” nói riêng. Ta càng cảm thấy “bản chất của nhân vật chị Dậu rất khỏe,cứ thấy lăn xả vào bóng tối mà phá ra” như Nguyễn Tuân đã nhận xét. Ông đã chỉ ra một quy luật tất yếu trong xã hội: Có áp bức có đấu tranh.
Phân tích nhân vật chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố
944
Đề bài: Phân tích nhân vật chị Dậu trong đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ Bài làm Ngô Tất Tố được đánh giá chính là nhà văn hiểu biết sâu sắc đời sống và tâm trạng của quần chúng. Nhà văn cũng lại có cái nhìn đúng đắn, bằng tấm lòng yêu thương đối với quần chúng rất nhiều. Nhân vật chị Dậu trong “Tắt đèn” là một người nghèo khổ cũng lại bị bị áp bức bóc lột tàn tệ. Có thể nói cuộc đời của chị quằn quại trong bùn lầy và bóng tối không lối thoát thế những lại bộc lộ được những phẩm chất cao quý cũng như thật đẹp đẽ. Hình ảnh chị Dậu trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” là một đoạn trích hay nói về tinh thần phản kháng của người nông dân khi bị áp bức. Nhà văn Ngô Tất Tố cũng đã xây dựng lên nhân vật chị Dậu là người hiền lành, thật thà và chị cũng là một người chăm chỉ làm ăn, thương chồng và cũng vô cùng thương con rất mực. Chị Dậu dường như cũng lại có thể tiêu biểu cho lớp phụ nữ nông dân Việt Nam đó là những phẩm chất đó chính là một sự cần cù lao động, chịu thương, chịu khó và chị cũng thật đáng được trân trọng biết bao nhiêu. Nhưng thật khó ai có thể tin được một người hiền lành, tốt bụng như chị Dậu cũng có lúc gồng mình lên để bảo vệ cho chồng mình. Hành động đó của chị mới dừng lại ở một sự tự phát, mang tính nhất thời thế nhưng cũng đã phần nào nói lên được ý chí của chị, của những người nông dân hiền lành thấp cổ bé họng. Khi người nhà lý trưởng cũng như những tên cai lệ đã mang anh Dậu từ ngoài đình về trông chẳng khác gì cái xác cả. Lúc đó chị Dậu cũng rón rén bưng một bát cháo lớn đến chỗ chồng năm và dịu dàng nói với anh Dậu là “Thầy hãy cố dậy húp một ít cháo cho đỡ xót ruột”. Người đọc nhận thấy được đây rõ ràng chị đã tận tụy, hết lòng chăm sóc chồng của mình. Phân tích nhân vật chị Dậu Thế rồi anh Dậu đang run rẩy và bê bát cháo lên thì bọn cai lệ và người nhà lí trưởng lại kéo đến. Trong tay bọn chúng đầy roi, tay thước để bắt anh Dậu đi. Chị Dậu cũng van xin chúng và cũng hạ thấp mình xuống xin cho anh Dậu gọi chúng là ông. Nhưng chúng cứ hung hăng vào bắt anh Dậu. Không chịu được nữa chị Dậu chủ động hơn, không thể chấp nhận được chị tự đặt minh trên kẻ thù và giành thế chủ động về mình với câu nói đầy thách thức “Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem”. Không những vậy thì chị nắm ngay gậy cùa hắn, túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm. Nhận xét về hành động của chị Dậu trong đoạn trích độc đáo “Tức nước vỡ bờ” chính là một sự phản kháng của chị Dậu. Đồng thời cũng chính là một biểu hiện tinh thần đấu tranh chống áp bức kiên cường. Cho dù mang tính cách tự phát, và có tính nhất thời thôi, thế nhưng vẫn thể hiện một tiềm lực tốt cùa giai cấp nông dân trong thời đại cũ. Khi mà những người nông dân này có sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân vùng lên đấu tranh với sức mạnh quật khời nhất chắc chắc họ sẽ giành được độc lập tự do cho nước nhà. Tóm lại, bằng tài năng của mình thì nhà văn Ngô Tất Tố đã xây dựng thành công nhân vật chị Dậu. Đó cũng chính là một hình tượng chân thực nhất và đẹp đẽ về người phụ nữ nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Minh Nguyệt
Phân tích nhân vật chị Dậu trong đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ
672
Đề bài: Phân tích nhân vật con hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ Bài làm Với nhân vật con hổ trong vườn thú được miêu tả như một tính cách dữ dội, lớn lao, đầy dằn vặt và khát vọng. Nhớ rừng ít nhiều đã hoà vào cái mạch đã từng đem lại cho thi ca biết bao nhiêu danh tác. Lẽ dĩ nhiên, không ai dám đặt con hổ của bài thơ bên cạnh những tầm cỡ như Prômêíê bị xiềng hay Hamlet hay Người tù xứ Capcadơ. Nhớ rừng mới chỉ là tiếng nói đớn đau của một kẻ đã mất hết niềm tin được tự do, mất hết ước mơ chiến thắng. Con hổ ở đây đã không thể làm được gì hơn là “nằm dài” trong cũi sắt, để “trông ngày tháng dần qua”, và nói về cái thuở oanh liệt vẫy vùng như những tháng ngày không bao giờ trở lại. Cũng không có trong nó cái khát khao tương truyền đã được người anh hùng Nguyễn Hữu cầu diễn tả trong những vần thơ lồng lộng ngợp say: Bay thẳng cánh, muôn trùng Tiêu, Hán Phá vòng vây, bạn với kim ô. Có lẽ sẽ không là khiên cưỡng: nếu nói rằng Nhớ rừng với hình tượng con hổ nằm dài ấy, đã tạo nên tư thế của những con người đã thôi nghĩ đến hành động, những con người mà nhiệt tình làm cách mạng, mà hoài bão muốn góp phần mình vào một sự đổi thay đã không còn. Thế nhưng, con hổ, hình tượng trung tâm của bài thơ, dù có chịu mất tự do, nhưng cũng không chịu mất đi niềm kiêu hãnh. Trong khổ đau, trong cảnh “tù hãm”, trong nỗi “nhục nhằn”, nó vẫn biết tự phân biệt mình với những kẻ đã đi hoàn toàn tầm thường đồng hoá đến cả tinh thần, ở đây, vấn đề không phải là xem xét “tác phong quần chúng” của con hổ, phê bình nó “không một chút ưu ái gì đối với những con vật như con gấu, con báo cùng số phận như nó và nằm sát ngay cạnh chuồng nó” như ai đó đã bàn. Ở đây, cũng như chim ở trong lồng, ở cả Prômêtê bị xiềng và Hamlet nữa, sự đối lập giữa hai hạng người, hai cách sống là cách thức nghệ thuật vẫn thường dùng để làm nổi bật lên cái kích thước cao cả và tô đậm thêm cảm hứng đầy tính bi kịch của một tâm hồn bị khổ đau chứ nhất quyết không chịu hạ mình trong bất hạnh. Thế Lữ, ít nhất là một lần trong một đời thơ, đã cố gắng xây dựng cho mình một hình tượng thơ như thế. Con hổ ở Nhớ rừng biết mình chiến bại nhưng vẫn chưa chịu làm tôi tớ cho sự “tầm thường, giả dối” của cảnh ngục tù. Nó bất lực, nhưng không hoàn toàn khuất phục và thoả hiệp. Nó vẫn “ghét những cảnh không đời nào thay đổi”, nghĩa là còn ước ao những sự đổi thay. Bị giam thân trong lồng sắt chật, nó vẫn tha thiết vươn tới những chân trời rộng rãi của thế gian với “giấc mộng càng to lớn”, và của thời gian với “niềm uất hận ngàn thâu”. Bài thơ, cho tới cùng, vẫn thể hiện một tinh thần, chối từ thực tại, dẫu mới chỉ là sự chối từ trong mộng tưởng mà thôi. Sự xung đột, chống đôi quyết liệt, thường xuyên, không thể dung hoà giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại vật với nội tâm, giữa thấp hèn với cao thượng chính là cơ sở để kết cấu nên toàn bộ bài thơ. Có cảm giác như nghe được từ Nhớ rừng một bản xônát bốn chương với sự luân chuyển, đan xen của hai nhạc đề tương phản, trong đó, chủ đề chính, chủ đề “nhớ rừng” bỗng đột ngột chuyển vút lên sau những nốt nhạc đã ngày càng chậm chạp, buồn nàn ở chương đầu, và cứ vang to mãi, dào dạt mãi, dâng mãi đến cao trào với tất cả niềm phấn hứng của tâm linh để rồi chợt tắt lặng đi nặng nề, uất nghẹn. Và cuối cùng trong sự quật khởi chủ đề chính lại quay trở lại không còn hùng tráng được như trên, những thiết tha, những nuối tiếc. Bài thơ kết thúc trong tiếng gọi tha thiết với rừng già của một kẻ biết mình đã sắp phải chấm dứt cuộc vượt tù trong tâm tưởng. Như thế bằng việc luôn luôn chuyển đổi tình cảm và giọng điệu thơ sang phía đối lập với nó, nhà thơ đã tìm đúng cái cách thức hữu hiệu để diễn tả hết các cung bậc cảm xúc của một tâm trạng cô đơn và đầy day dứt. Nhưng chưa hết, sự hướng tới những khát vọng mãnh liệt, cách chơi những tương phản mãnh liệt, nghĩa là một nét thi pháp lãng mạn chủ nghĩa, còn đựơc Thế Lữ sử dụng khá thành công trong phạm vi một đoạn, một chương. Chẳng hạn, hãy đọc hai câu thơ đầu tiên. Hãy xem xét một chút kĩ hơn đoạn thơ thứ hai, đoạn thơ hay nhất toàn bài, đoạn thơ mà với nó, tác giả – nói lên cách của A-đư Muytxê – đã đem lại cho ta cả một “bữa tiệc đời” của âm thanh, của đường nét và màu sắc. Ở đây tác giả phải thực hiện một nhiệm vụ cực khó khăn: “diễn tả cái quyền thế độc tôn của vị chúa sơn lâm trên cái nền của ảnh thiên nhiên hùng vĩ”. Phải miêu tả con hổ như thế nào một khi đã huy động vào bài thơ cả “tiếng gió gào ngàn” và “giọng nguồn hét núi”, cả “những đêm vắng bên bờ suối” tràn ngập “ánh trăng tan” và những cánh rừng chiều, trong buổi hoàng hôn, trông như “lênh láng máu”? Giải pháp mà tác giả đã tìm ra – dù tự giác hay không vẫn là đối lập, một sự đối lập có thể nói là lộng lẫy. Nhà thơ đã kể cho con hổ lấy sự trật tự, nhịp nhàng để chế ngự cảnh đại ngàn ghê ghớm nhưng hỗn độn, và chế ngự cái động của đât trời bằng cái tĩnh uy nghi của bản thân. Giữa lúc cảnh sơn lâm đang gào thét lên “khúc trường ca dữ dội”, con hổ “bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng”, và thêm nhiều dường như bởi đó mà âm thầm trở lại. Con hổ say, đứng uống ánh trăng và đợi chết mảnh mặt trời, con hổ lặng ngắm giang sơn khi bốn phương ngàn đang chuyển động, con hổ ngủ trong khi lao vật tưng bừng hợp tấu khúc bình minh. Trong sự đối lập ấy của các gam màu nghệ thuật, thiên nhiên hùng tráng đã trở thành cái nền để làm tôn lên hình dáng của một quyền uy tối thượng. Nhớ rừng được sáng tác vào những năm phong trào Thơ mới khai sinh, vì thế, thật là kì lạ trong những ngày uống nước ấy, nó đã đạt tới vẻ đẹp có lẽ đã có thể gọi là cổ điển. Từ tình cảm cho đến thể thơ, nó mang một sức sông, một vẻ phóng khoáng vẫy vùng mà “thơ cũ” không thể có, nhưng lại không hề có sự xộc xệch và thiếu cô đúc mà nhiều bài thơ mới buổi đầu tiên ấy đã mắc phải. Có những câu, từ nội dung ý nghĩa đến khuôn âm thanh điệu và sự ngắt nhịp của lời thư đều phô bày một giá trị tạo hình đặc sắc: “Lượn lấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng” Có thể dẫn Lơcôngtơ đư Lin chẳng hạn, để chứng minh Thế Lữ đã chịu ảnh hưởng của thơ phái Thi Sơn. Song lại khó có thể cho rằng những câu thơ như thế này, đặt trong bố cục chung của hai bài thơ, lại “giống như những bức ren bằng cẩm thạch… hơn là giống với những lời thơ sinh động của con người”, như M.Gorki đã nói về chính những nhà thơ Thi Sơn ấy. Cho nên, cũng có thể hiểu được vì sao Vũ Đình Liên lúc ấy lại nói bằng chỉ hai câu: Nào đâu những đêm vùng bên bờ suối Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan. “Cũng có sức mạnh như một tuyên ngôn (manifeste) để bênh vực cho Thơ mới”, về mặt ấy, Nhớ rừng chính là một trong những viên đá tảng đầu tiên và chắc chắn nhất của một nền thơ, mà vượt lên trên tất cả sự phức tạp của nó vẫn là một phần đóng góp không thể bác bỏ cho sự tiến lên của nghệ thuật thơ ca của nước ta. Là sự hoài vọng của một kẻ dẫu sao cũng đã thấy bất lực rồi vồ một “chôn thiên đường đã mất”. Nhớ rừng cũng chỉ nằm trong phạm trù của chủ nghĩa lãng mạn thông thường, mà cơ sở của nó, như Phaghê đã xác định lừ lâu, là “sự ghê tởm đối với thực tại và nguyện vọng mãnh liệt muôn thoát ra ngoài thực tại”. Song cũng có thể giải thích được hiện tượng nhiều chiến sĩ cách mạng lúc đó thích và thuộc bài thơ. Chính cái chất bi tráng đã làm cho Nhớ rừng khác với phần nhiều các bài thơ lãng mạn bấy giờ, kể cả thơ của chính Thế Lữ, dù sau này nhà thơ còn viết Tiếng hò bên sông, Con người C(t vẩn hay Giây phút chạnh lòng. Sự nổi loạn trong tâm tư con hổ đang “gặm một khối căm hờn trong cũi sắt” kia rất có thổ đã làm nặng nê thêm, để con người cảm ihíTy chán ghét thêm cái ách áp bức nặng nồ của một cuộc đồi đang cần phủ định. Và giấc mư Iráng lộ ây, gại ra một bôn sự hống hách, hão huyền, vẫn có khả năng làm hăng say thêm một tinh thần cách mạng, làm dậy thêm chất men của cái “khát vọng muốn trở nên lốt đẹp hơn hây giờ”, điều mà nhà văn cách mặng M.Gorki cho là duy nhất thiêng liêng.
Phân tích nhân vật con hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ
1,723
Đề bài: Đoạn trích Con có thương thầy u là đoạn trích để lại bao nước mắt trong lòng người đọc. Em hãy viết bài văn phân tích nhân vật cái Tí trong đoạn trích Con có thương thầy u trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố. Bài làm Vì “tội” chậm nộp tiền sưu nên anh Dậu bị bọn cường hào đánh đập, cùm trói và giam giữ ở ngoài đình làng. Chị Dậu không chạy đâu ra tiền đành theo lời chồng dặn, sang nhà Nghị Quế dạm bán cái Tí. Vốn tham lam và tàn nhẫn, vợ chồng tên địa chủ này hùa nhau dồn chị Dậu vào bước đường cùng để mua rẻ gần như cướp không đứa con và đàn chó của chị. Chị Dậu cầm tờ văn tự đã điểm chỉ ra đình làng Động Xá cho anh Dậu đang bị cùm ở đó kí, rồi xin lí trưởng đóng triện nhận thực, với điều kiện chị sẽ cấy không công cho lão một mẫu ruộng. Đoạn trích Con có thương thầy, thương u… thuộc chương X và chương XI, thuật lại cảnh chị Dậu về nhà nói cho cái Tí biết việc nó đã bị bán cho nhà “cụ Nghị”. Đây là đoạn văn miêu tả diễn biến tâm trạng của cái Tí trước và sau khi biết tin dữ đồng thời là những giây phút đau đớn vô hạn của người mẹ khốn khó. Toàn bộ chương X được dành cho cái Tí – đứa con đầu lòng ngoan ngoãn, hiếu thảo của chị Dậu. Hình ảnh cái Tí hiện lên thật sinh động dưới ngòi bút miêu tả tài tình của nhà văn. Nhân vật bé bỏng này đã thực sự chiếm được cảm tình và để lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. Mới lên bảy tuổi, cái Tí đã là chị của hai đứa em: thằng Dần và cái Tỉu. Con bé sớm nhận ra sự cùng quẫn của gia đình và lặng lẽ chia sẻ theo cách riêng của nó. Cái Tí là đứa trẻ sớm biết làm, biết nghĩ, sớm biết lo toan. Dường như nó đã hiểu ra rằng gia đình đang gặp một tai họa rất lớn, khó mà thoát được. Trái tim non nớt nhưng nhạy cảm giúp nó nhận ra nỗi buồn đau ẩn chứa trong vẻ mặt dàu dàu, trong ánh mắt, dáng đi và thái độ im lặng của mẹ. Mẹ đi vắng, cái Tí thay mẹ làm mọi việc trong nhà và chăm sóc các em. Chúng ta hãy nghe cái Tí kể với mẹ về sự vất vả và đảm đang của nó: Cô ả này hôm nay quấy lắm u ạ! u đi khỏi nhà, cô ta cứ ra rả khóc không dứt miệng. Dỗ thế nào cô ta cũng không nín cho. Đặt ngồi xuống phản, cô ta lại níu lấy con và cố đứng lên. Con vừa lẽo đẽo cắp cô ta ở sườn, lại vừa hì hục rửa khoai, tra nồi xin lửa dóm bếp. Cũi thì ướt chảy ướt chả, lì lụi mãi vẫn không cháy cho. Thế mà con cũng luộc được chín nồi khoai rồi đấy! u bảo con có ngoan không? Những lời lẽ, cử chỉ ngoan ngoãn, hiếu thảo của nó như những nhát dao vô tình cứa vào trái tim đang rớm máu của người mẹ. Thương biết mấy là cảnh cái tí cố chọn lấy những mẩu khoai to xếp đầy hai bát để phần thầy, phần u. Rồi nó ép mẹ ăn khoai bằng cái dáng bộ vui vẻ, nhẹ nhàng, nó đặt một bát lên chõng mời mẹ: u ăn khoai đi, để lấy sữa cho em nó bú. Từ sáng đến giờ, u chưa ăn gì, đói quá chịu làm sao được? Với tuổi lên bảy, cái Tí chưa thể hình dung ra được những gì đang chờ đợi nó và sẽ xảy ra với nó. Bởi thế, lúc thấy mẹ rơi nước mắt thì vẻ nghi ngại hiện ra sắc mặt con bé nhưng cũng chỉ đến mức băn khoăn: mẹ bị đánh đau hay là mẹ cố nhường phần cho các con khỏi đói. Khi nghe tin mình sẽ bị bán cho nhà Nghị Quế, cái Tí như cây non bật gốc trước cơn gió dữ. Nó giẫy nẩy giống như sét đánh bên tai, nó để củ khoai vào rổ rồi òa lên khóc: u bán con thật đấy ư? Con van u, con còn bé bỏng, u đừng đem bán con đi, tội nghiệp! u để con ở nhà chơi với em con. Còn lời nào thống thiết hơn thế nữa? Còn sự thật nào kinh hoàng hơn, ghê gớm hơn sự thật này? Cái Tí sẽ bị đem bán như bán con gà, con vịt, rổ khoai… Nó sẽ phải lìa bỏ cái tổ ấm dù là nghèo khó nhưng đầy tình thương yêu của gia đình để bước vào cuộc một sống xa lạ đáng sợ. Sau khi được mẹ cho biết là nếu không bán nó thì không có tiền nộp sưu và thầy nó sẽ bị trói ở ngoài đình cho đến chết thì cái Tí chừng cũng hiểu những nỗi đau lòng của mẹ, nó không khóc nữa. Cái Tí quyết định ra đi. Lau sạch nước mất, nó chạy đến chỗ cái Tĩu cúi đầu tận mặt con này, nó hôn mỗi má mấy cái… Rồi nó ôm lấy thằng Dần và cũng hôn luôn hai má thằng ấy. Cái Tí ân cần dặn dò hai đứa em trong khi mắt vẫn giàn giụa nước. Nhưng đến khi thấy thằng Dần níu áo khóc rầm rĩ thì cái Tí lại khóc tu tu rồi năn nỉ mẹ: – Con nhớ em quá Ị Hay là u hãy cho con ở nhà một đêm nay nữa, để con ngủ thêm với em, để con nói chuyện với em. Sáng mai con xin đi sớm. Chị Dậu lại phải van lạy nó rồi năn nĩ dỗ ngọt thằng Dần để cho cái Tí đi. Cảnh chia tay thật não lòng! Cái Tí với hai hàng nước mắt ròng ròng hôn hít các em một lượt nữa, rồi lủi thủi đội mê nón lên đầu và cắp gói áo vào nách. Nghệ thuật miêu tả sự việc, con người một cách chân thực và sắc sảo thể hiện tài năng của Ngô Tất Tố trong quá trình xây dựng tính cách nhân vật và tình huống truyện đầy mâu thuẫn, tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với người đọc. Chúng ta thực sự cảm thông với chị Dậu, người mẹ nghèo khổ phải đứt ruột bán đứa con ngoan ngoãn và hiếu thảo; người vợ vì thương chồng bị đày đọa đành dứt tình mẫu tử để cứu chồng. Chị buộc phải làm điều đó trong tâm trạng giằng xé và mặc cảm mình là người có tội. Đây là đoạn văn mà mỗi câu, mỗi chữ đều thấm đẫm nước mắt chua xót, đớn đau. Một câu hỏi lớn được nêu lên: Ai gây ra cảnh đau đớn này? Nguyên nhân nào khiến cái Tí phải lìa mẹ lìa cha, khiến vợ chồng chị Dậu nhà tan cửa nát? Chúng ta thấm thìa nỗi bất hạnh và khóc cùng mẹ con chị. Ngòi bút đầy cảm thông và nhân ái của Ngô Tất Tố đã động đến chỗ sâu thẳm của hồn người, khiến chúng ta đau cùng nỗi đau vô hạn của nhân vật trong tác phẩm. Càng thương cái Tí bao nhiêu, chúng ta càng căm giận xã hội thực dân phong kiến đầy áp bức bất công bấy nhiêu, bởi nó đã gây ra những bất hạnh ghê gớm cho con người. Nhà văn Ngô Tất Tố đã giúp chúng ta hiểu thêm về một thời khổ nhục của ông cha trước Cách mạng tháng Tám, từ đó càng thêm yêu quý, trân trọng cuộc sống ấm no, hạnh phúc hôm nay.
Phân tích nhân vật cái Tí trong đoạn trích Con có thương thầy u
1,327
Đề bài: Phân tích nhân vật cô bé bán diêm trong truyện ngắn cùng tên của An- Đéc-Xen Bài làm Tác phẩm “Cô bé bán diêm” của An- Đéc- Xen là một tác phẩm vô cùng sâu sắc thể hiện cái nhìn nhân sinh vô cùng nhân văn của tác giả An- Đéc-Xen một con người luôn gắn liền với những đứa trẻ trên toàn thế giới. Câu chuyện gợi lên một thế giới mà trong đó những đứa trẻ phải chịu cuộc sống lam lũ, lầm than, chịu nghèo khổ cơ cực, mà không ai đoái thương, giúp đỡ, dẫn tới cái chết thương tâm của cô bé tội nghiệp đó. Cô bé bán diêm khốn khổ của chúng ta đã chịu những tổn thương về thể chất cũng như tinh thần một cách nặng nề. Trong cuộc sống không có gì buồn bã, tủi hổ hơn việc bị bỏ rơi, bơ vơ lạc lõng trước cuộc đời này. Truyện ngắn “Cô bé bán diêm” của nhà văn An- Đéc- Xen đã gợi lên trong lòng người đọc những xót xa nghẹn ngào trước những cảnh đời lầm than cơ nhỡ. Câu chuyện xoay quanh đêm cuối năm, vào đêm giao thừa giây phút thiêng liêng của một năm. Khi mà năm mới sắp bước sang và năm cũ qua đi mang theo những hy vọng mới cho con người về những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Trong bão tuyết, mưa gió, trong cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông. Có một cô bé bán diêm vô cùng tội nghiệp. Cô bé ấy đi chân không dưới nền tuyết lạnh giá, đầu không có mũ, chiếc áo khoác mỏng manh. Em đi trong mưa tuyết, những cơn gió thổi qua rét run cầm cập. Em luôn miệng mời những người qua đường mua cho mình những bao diêm nhỏ. Nhưng không có ai đoái thương, mua giúp em một bao diêm nhỏ. Từ sáng tới giờ em cũng chưa được bố thí cho mẩu bánh mì hay vài đồng tiền lẻ nào, bụng em cồn cào vì đói, hai bàn tay lạnh cóng, tê cứng. Hai hình ảnh vô cùng đối lập khiến cho câu chuyện càng thêm bi kịch. Nếu trước đây An- Đéc- Xen đã từng viết rất nhiều câu chuyện cổ tích hay dành cho các bạn nhỏ. Trong những câu chuyện cổ tích đều kết thúc vô cùng có hậu, người hiền lành sẽ gặp may mắn, kẻ độc ác gian ngoan sẽ phải trả giá. Nhưng trong câu chuyện này dường như tác giả An-Đéc- Xen muốn khai thác một khía cạnh khác của xã hội, một khía cạnh hiện thực đáng phê phán đó chính là sự vô tâm của con người trước nỗi đau của đồng loại. Sự hờ hững của người lớn với những mảnh đời bất hạnh éo le như cô bé bán diêm. Cảnh ngộ của cô bé bán diêm trong đêm cuối năm khiến cho trái tim người đọc thắt lại vì đau đớn. Trong khi mọi người, mọi nhà đều hưởng niềm vui quây quần hạnh phúc bên nhau thì em bé bán diêm tội nghiệp của chúng ta phải chịu đói chịu rét ngoài kia trong đêm giao thừa. Đường đêm càng lúc càng vắng người bởi chẳng ai muốn ra đường vào giờ này. Nếu có phải đi thì tất cả đều rất vội vàng mau mau chóng chóng để trở về nhà, nên chẳng ai quan tâm tới em bé khốn khổ của chúng ta. Cô bé bán diêm ngồi thu mình vào trong khe nhỏ của hai ngôi nhà. Cô bé nghĩ mình thử bật một que diêm sưởi ấm đôi tay đang lạnh cóng. Khi ánh sáng que diêm vút lên cô bé của chúng ta nhìn thấy một bàn đầy thức ăn, có đủ các món ngon chưa từng thấy. Với cái bụng trống rỗng vì đói, thì việc cô bé đáng thương của chúng ta mơ một bữa ăn nó là điều vô cùng dễ hiểu. Rồi khi que diêm vụt tắt trả cô bé lại với khoảng đường tối tăm, những cơn gió tuyết thổi qua mặt. Cô bé lại quẹt que diêm thứ hai lên, trong lần này cô nhìn thấy một cái lò sưởi, ánh sáng và hơi nóng của nó làm em vô cùng thích thú vì ấm áp. Nó sưởi ấm cơ thể và tâm hồn đang buốt lạnh của em. Rồi que diêm thứ ba được quẹt, em nhìn thấy một cây thông nô-en lung linh trên đó có treo rất nhiều món quà to nhỏ khác nhau, rồi có cả đèn xanh đỏ nhấp nháy vô cùng đẹp mắt. Cô bé quẹt que diêm thứ tư trong lần này cô bé của chúng ta nhìn thấy người yêu thương duy nhất của mình. Đó chính là bà ngoại của em. Bà là người luôn thương em, nhường phần ăn của mình cho em, sưởi ấm tâm hồn cô đơn của em. Nhưng từ năm ngoái bà đã qua đời bỏ lại em với ông bố độc tài, suốt ngày chỉ biết say rượu rồi đánh đập em. Mỗi que diêm đều thể hiện một mong muốn ước mơ của cô bé bán diêm tội nghiệp. Ánh sáng của que diêm đã sưởi ấm tâm hồn em. Nó mang lại cho em những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ngắn ngủi rồi vụt tan biến. Sáng hôm sau, ngày đầu tiên của năm mới người ta nhìn thấy xác một đứa bé lang thang nằm trong khe tường của hai ngôi nhà. Trên môi cô bé vẫn nở nụ cười mãn nguyện. Cho dù tác giả An- Đéc- Xen đã cho cô bé bán diêm của chúng ta một cái chết vô cùng nhẹ nhàng mãn nguyện, nhưng đâu đó chúng ta vẫn cảm nhận được sự tàn nhẫn của con người đối với nhau. Chính sự tàn nhẫn của người xung quanh, sự lãnh cảm của mọi người mà em bé của chúng ta đã phải rời khỏi trần gian tìm nơi nương náu ở miền cực lạc nào đó. Hình ảnh cô bé bán diêm để lại cho chúng ta rất nhiều suy nghĩ về những số phận bất hạnh trong cuộc sống. Thảo Nguyên
Phân tích nhân vật cô bé bán diêm trong truyện ngắn cùng tên của An- Đéc-Xen
1,034
Phân tích nhân vật cô Hiền trong Một người Hà Nội của Nguyễn Khải Hướng dẫn Phân tích nhân vật cô Hiền trong Một người Hà Nội của Nguyễn Khải Nếu như Nguyễn Minh Châu viết về số phận của người phụ nữ ở trong chiếc thuyền ngoài xa ở trong thời kì đổi mới thì Nguyễn Khải cũng đã góp phần vào việc xây dựng hình tượng của người phụ nữ trong thời kì đổi mới với nhân vật là Cô Hiền ở trong Một người Hà Nội. Nhân vật cô hiền đã được ví như “hạt bụi vàng” của Hà Nội. Cô Hiền là người đại diện cho phẩm chất và những nét đẹp của người phụ nữ thức thời nhưng cô vãn mang một nét đẹp truyền thống không lạc vào đâu được. Và những nét đẹp ấy đã được tác giả thể hiện rất rõ trong tác phẩm của Nguyễn Khải.Vẻ đẹp mà hầu như mọi người phụ nữ ngày nay đều đáng phải học tập và noi theo, cái đáng để cho chúng ta học tập đó chính là truyền thống nhưng vẫn mang một nét hiện đại riêng vốn có. Nói cách khác nữa thì đó chính là sự hội nhập mà không bị hòa tan, đó chính là nét đẹp đáng quý của cô. Tác giả không hề dùng một từ ngữ nào để chỉ về vóc dáng ngoại hình của cô nhưng lại đi sâu để khai thác về chiều sâu tâm hồn của cô. Đã có khi người ta, kể cả bạn bè cũng ngờ vực cô và nói “Trông bà như tư sản mà không bị học tập cũng lạ nhỉ?” thì cô lại nhẹ nhàng mà trả lời lại bạn bè của mình rằng “Các bà không biết nhưng nhà nước lại rất biết”. Một câu trả lời đầy sự thông minh. Trước đây cô một anh bếp và một chị vú. Chị ấy trông coi cho con của cô từ suốt 26 năm và cô xem anh bếp và cô vú như người trong một nhà và đối xử rất tốt với họ cho nên sau này mặc dù cho tới khi họ đều về quê nhưng hai vợ chồng này vẫn qua lại như tình thân “ngày giỗ ông chú và ngày Tết đều đem gạo, đậu xanh, miến và rượu, toàn của nhà làm cả, lên biếu cô và các em”. Cô thực sự là một người vợ đảm đang, cho dù nền kinh tế đang ở trong nền kinh tế khó khăn nhưng mà cô vẫn có thể nuôi sống được tốt gia đình của mình. Đó chính là một vẻ đẹp đảm đang vốn có của người Việt Nam nói chung và người phụ nữ Hà Nội nói riêng. Không chỉ có thế cô còn lo toan mọi việc bằng sự chăm chỉ, giỏi giang của mình Công việc của cô Hiền làm là cô làm cho một cửa hàng hoa giấy, làm những lẵng hoa được đan bằng tre rất đẹp. Những sản phẩm mà cô làm ra rất đắt nhưng lại chịu thuế rất là nhẹ không mang tiếng tư sản. Cô thực sự là một người rất khôn ngoan, biết sống hợp lí, ứng xử theo thời thế của từng người. Đó phải là con người chính chắn. Qua đó cho thấy cô là người có đầu óc rất thực tế. Đặc biệt hơn nữa là cô rất biết giữ lấy lời nói của mình, đối với những người thân thiết thì cô ăn nói thô tục còn với những người quý phái thì phải luôn tế nhị. Qua đây chúng ta có thể thấy được rằng,qua những lời văn của Nguyễn Khải thì ông xây dựng lên thật đẹp. Đó là người phụ nữ không chỉ là biết lo việc nhà mà còn giỏi,đảm đang cả việc xã hội. Thật xứng danh là hạt bụi vàng trong lòng Hà Nội. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích nhân vật cô Hiền trong Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
653
Đề bài: Phân tích nhân vật cô Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải Bài làm Truyện Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải, in trong tập truyện cùng tên, xuất bản năm 1990, thời kì đổi mới của nền văn học Việt Nam. Cô Hiền là nhân vật chính của truyện. Qua nhân vật cô Hiền, tác giả phát hiện ra bao vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn, tính cách con người Hà Nội, tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam trước bao biến động, thăng trầm và phát triển của đất nước. Nhân vật “tôi” giới thiệu về cô Hiền, nói lên về những suy nghĩ và tình cảm quý mến đối với cô Hiền — “Chị em đôi con dì ruột với mẹ già tôi”. Tác giả không nói về ngoại hình của cô Hiền mà chỉ kể, chỉ giới thiệu về ngôn ngữ, cách sống, cách ứng xử của cô Hiền trong các quan hệ gia đình chồng con, với người thân, với bạn bè, với thời cuộc. Phân tích truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải Khi đứa cháu, anh bộ đội Cụ Hồ thân mặt và tò mò hỏi cô về thành phần giai cấp, về chuyện “tại sao cô không phải học tập cải tạo…” thì cô cười rất tươi: “Tại sao chưa đủ tiêu chuẩn”, và thản nhiên nói: “Tao có bộ mặt rất tư sản, một cách sống rất tư sản, nhưng lại không bóc lột ai cả thỉ làm sao thành tư sản được”. Khi nhiều bè bạn ngờ vực: “Trông bà như tư sản mà không bị học tập cũng lạ nhỉ?”, thì cô nhẹ nhàng trả lời: “Các bà không biết nhưng nhà nước lại rất biết”. Đúug là cô khôn hơn các bà bạn, và “thức thời’’ hơn ông chồng. Trước đây, nhà cô cùng thuê một anh bếp và một chị vú. Chị vú trông coi con cho cô từ năm 19 tuổi đến năm 45 tuổi. Trong suốt 26 năm trời đó, cô coi anh bếp cô vú “tình nghĩa như người trong họ”, đối xử rất tử tế, nên sau này khi đã về quê, đã làm chủ nghiệm hợp tác xã, hai vợ chồng vẫn qua lại thân tình, “ngày giỗ ông chú và ngày Tết đều đem gạo, đậu xanh, miến và rượu, toàn cùa nhà làm cả, lên biếu cô và các em”. Chuyện làm ăn cũng cho thấy cô “khôn hơn" các bà bạn và “thức thời hơn” ông chồng. Chồng cô dạy học, nhờ viết sách mà có được một ít tiền nên tậu được hai dinh cơ, một nhà đang ở và một nhà ở Hàng Bún cho thuê. Tháng 10 năm 1954. Hà Nội được giải phóng thì năm 1956, cô bán ngôi nhà ở Hàng Bún cho một người bạn mới ở kháng chiến về. Chỉ một năm sau, cái thời “cải tạo…". một cán bộ tới hỏi về nhà cửa, nhắc tới ngôi nhà ở Hàng Bún, cô Hiền trả lời rất lịch thiệp: “Xin mời anh tời ngôi nhà anh vừa nói, hỏi thẳng chủ nhà xem họ trả lời ra sao. Nếu còn thắc mắc xin mời anh trở lại”. Khi ông chồng không được phép mở trường tư thục muốn mua một máy in nhỏ để kinh doanh, cô Hiền đã hỏi chồng: “Ông có đứng máy được không? Ông có sắp chữ được không?”. Ông muốn làm một ông chủ dưới chế độ này à?”, ông chồng “tính vốn nhát, rút lui ngay” trước những câu hỏi rất thức thời của người vợ. Cô Hiền cũng kinh doanh, cũng buôn bán, cũng có cửa hàng cửa hiệu. Nhưng cô chỉ bán một thứ hoa giấy. Các loại hoa giấy, lẵng hoa đan bằng tre… rất đẹp, do tự tay cô làm ra, bán rất đắt, nhưng “chịu thuế rất nhẹ”, chẳng mang tiếng tư sản, tiểu chủ gì cả giữa cái thời “cải tạo và đấu tranh giai cấp.. Cô Hiền thật khôn ngoan, cô biết sống hợp lí, ứng xử theo thời thế. Phải là con người chín chắn và từng trải mới có cách sống, cách làm ăn như thế, có “đầu óc rất thực tế” như thế. Cô Hiền rất mẫn cảm, sắc sảo và tế nhị. Nghe con kêu ầm lên: “Mẹ ơi! Đồng chí Khải đến!” thì cô ca mặt gắt lẽn: “Phải gọi là anh Khải, hiểu chưa”. Khi thấy người chồng nắm tay đứa cháu, hỏi hồn nhiên: “Tại sao chủ nhật trước đồng chí không ra chơi, cả nhà chờ cơm mãi”, thì cô “thở dài, quay người đi”. Khi đứa cháu hỏi về dân tình, thời thế, cô trả lời: “Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ?”. Khi nghe chị vú kể lại cho cả nhà nghe có anh cán bộ bám theo “xui”, cô Hiền bình luận: “Cách mạng gì toàn để ý những chuyện lặt vặt”. “Cô Hiền bên ngoại, chị Đại bên nội” là những phụ nữ Hà thành giỏi giang, giàu bản lỉnh, tất cả mọi việc đều được các bà ấy “tính toán trước cả”, và luôn luôn “tính đúng”. Các bà ấy “không có lòng tự ái, sự ganh đua, thói thời thượng chen vô”. Các bà ấy “không có sự lãng mạn hay mộng mơ vớ vẫn. Đã tính là làm, đã làm là không thèm đế ý đến những đàm tiếu của thiên hạ”. Đó là lời nhận xét cùa người cháu – đồng chí Khải. Cô Hiền tuyên bô thẳng thừng với đứa cháu: “Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ”. Vốn là gái Hà Nội, con nhà giàu sang, nhưng gần ba chục tuổi cô mới đi lấy chồng. Không lấy một ông quan nào hết. Chẳng hứa hẹn gì với đám nghệ sĩ văn nhân. Cô chỉ chọn một ông giáo cấp Tiểu học hiền lành kết bạn trăm năm, để làm vợ, làm mẹ, “khiến cả Hà Nội kinh ngạc”. Sau khi sinh đứa con thứ năm, cô nói với chồng: “Từ nay là chấm dứt chuyện sinh đẻ, bốn mươi tuổi rồi, nếu ông và tôi sống đến sáu chục tuổi thì con út đã hai mươi, có thể tự lập được khỏi phải sống bám và các anh chị". Cô Hiền đặc biệt coi trọng vai trò người phụ nữ gia đình: người vợ không chỉ là nội trợ mà là “nội tướng”. Cô phê bình người cháu – đồng chí Khải: “Mày bắt nạt vợ mày quá, không để nó tự quyết định bất cứ việc gì, vậy là hỏng". Người đàn bà không là “nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chẳng ra sao”. Là người mẹ, có săn sóc và quan tâm dạy bảo các con phải “biết tự trọng, biết xấu hổ", nghĩa là biết giữ lấy nhân cách. Ngay từ khi các con còn nhỏ, ngồi vào bàn ăn, cô thường chú ý “sửa cách ngồi, cách cầm bát đũa, cách múc canh, cả cách nói chuyện trong bữa ăn”. Cô khuyên con cháu: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện, buông tuồng”. Gia huấn ca tương truyền là của Nguyễn Trãi có đoạn: Khi còn bé tại gia hầu hạ, Dưới hai thân vâng dạ theo lời. Khi đi, khi đứng, khi ngồi, Vào trong khuôn phép, ra ngoài đoan trang… Phải chăng cô Hiền đã dạy con cháu cách sống theo nền nếp của người xưa? Cô đã nói rõ với người cháu về “nghĩa vụ” của người mẹ là dạy con cái: “biết, tự trọng, biết xấu hổ, còn sau này muốn ra sao là tùy”. Giữa thời chống Mĩ, cô Hiền đã thể hiện tình mẹ con và ý thức công dân rất rõ. Năm 1965, Hà Nội có đợt tuyển quân vào chiến đấu trong Nam, đợt đầu được tuyển chọn rất kĩ càng, có khoảng 660 người, “là những chàng trai ưu tú của Hà Nội”. Dũng là con đầu của cô Hiền vừa tốt nghiệp trung học, tình nguyện xin đi đánh Mĩ lần ấy. Khi đứa cháu hỏi: “Cô bằng lòng cho em đi chiến đấu chứ?” Cô trả lời: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Suốt ba năm trời, cô không hề nhận được một tin tức gì của đứa con đã ra di. Nhưng khi đứa em kể làm đơn đi đánh Mĩ, cô đã trả lời khi người cháu hỏi: “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”. Giữa thời khói lửa, cô Hiền đã dạy con như vậy đó về lòng tự trọng, về nghĩa vụ của người thanh niên. Cô cũng đã tỏ rõ lòng yêu nước, tâm thế của một người mẹ, một người phụ nữ Hà Nội giữa cộng đồng: “Tao cùng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ thì có hay hớm gì". Cô Hiền đã may mắn hơn hơn bà mẹ của Tuất, may mắn hơn hàng ngàn, hàng vạn bà mẹ khác. Tháng 12 năm 1975, Dũng, con trai cô đã trở về. Cô ngạc nhiên hỏi: “Anh muốn mua gì?” khi người con đeo ba lô bước vào đến giữa nhà. Người con của cô gầy ốm quá, da đen quá, râu ria cũng nhiều quá chả có dấu vết gì là một chàng trai Hà Nội, nên người mẹ sao kịp nhận ra được. Ngày thường, có Hiền, các bạn của cô Hiền.. ăn mặc bình dân, “áo bông ngắn, quần thâm, đi dép, đi guốc, vuông khăn len tơi tớp buộc cổ hay bịt đầu. Nhưng trong bữa tiệc liên hoan mừng đứa con trai đi đánh giặc bình yên trở về, các vị khách – các cựu công dân Hà Nội, ăn mặc thật, sang trọng. Các ông thì áo ba-đờ-xuy, bộ đồ, thắt cà vạt; các bà tuy tóc đã bạc, hoặc nửa xanh nửa bạc, nhưng khoác “áo nhung, áo dạ, đeo ngọc đeo dây đi lại uyển chuyển”', còn cô Hiền xuất hiện “như diên viên sân khấu, lược giắt trâm cài hoa hột lấp lánh…”. Cô nói với đứa cháu về cách sống: khi sống giữa những người bình dân, “tất cả đều có quyền ăn nói thô tục”, nhưng song trước những người quý phái “mình phải xứ sự ra sao?”. Đó là cách ứng xử của cô Hiền, của những bè bạn của cô, của người Hà Nội. Đúng như cô Hiền đã thổ lộ: “Xã hội nào củng có giai tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị…”. Cái chuẩn đó là mọi tinh túy, mọi cái tốt đẹp của lối sống, cách sống, của văn hóa, đạo đức, của văn minh tiến bộ. Đó là cách sống của cô Hiền. Phần cuối, nhân vật “tôi" đã kể chuyện từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội đến thăm có Hiền sau nhiều năm đã trôi qua. Có biết, bao thay đổi. Ông chú đã mất, các em đã có gia đình riêng, cô đã già yếu, đã ngoài bảy mươi tuổi. Nhưng “cô vẫn là người của hôm nay, thuần túy Hà Nội, không pha trộn”. Người cháu nói về phòng khách của gia đình của cô Hiền với bộ xa lông gụ “cái khánh”, cái sập gụ chân quỳ chạm rất đẹp, với bao đồ gia bảo cổ, quý giá khác. Hình ảnh cô Hiền – một bà lão đang lau đánh cái bát thủy tiên men đỏ khi ngoài trời rét, mưa rây lả lướt mà đứa cháu “thấy tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái tết Hà Nội”. Cô Hiền đã nâng niu trân trọng những gi tốt đẹp của văn hóa Thăng Long. Hình ảnh cô Hiền làm cho đứa cháu lan man nghĩ cách sống, cái tâm lí sống ồ ạt, xô bồ của đám người vừa thoát cái chết cái khổ “đã dễ gì có được sự bình tĩnh để thưởng thức vẻ đẹp trang trọng của một dò hoa thủy tiên”. Cô Hiền nhắc lại: “Nhiều người nới Hà Nội đã sống lại”. Người cháu kể lại một số hiện tượng chưa đẹp, chưa vui mà mình phải chứng kiến “không mấy vui vẻ…” giữa thủ đô. Cô Hiền than thở về tuổi già hay nghĩ ngợi mọi chuyện một cách duy tâm. “y hệt một bà già nhà quê”. Cô kể chuyện về gió bão làm cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn đổ nghiêng, tán đè lên hậu cung… lúc đầu cô nghĩ đó là “sự dời đổi, điềm xấu là sự ra đi của một thời”. Nhưng cây si không bị chết, bị bổ ra làm củi mà rồi nó lại được cứu sống, sau một tháng, lại trổ ra lá non. Cô Hiền suy ngầm: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được”. Người cháu cảm phục, khẽ thốt lên ở trong lòng: “Bà già giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng lượng quá". Cô Hiền là “một hạt bụi vàng”, nhỏ bé, nhưng rất đẹp. Tâm hồn cô, tính cách cùa cô cùng với bao người khác là biểu tượng tuyệt đẹp cho vẻ đẹp thanh lịch trong sáng và phẩm chất cao quý của con người Hà Nội. Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An. Ca dao Tình cảm của đứa cháu, của nhân vật “tôi” cũng như của mỗi chúng ta là “thật tiếc" khi một người như cô Hiền phải chết đi, “một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ”. Chúng ta hi vọng và ước mong vẻ đẹp thanh lịch, cốt cách của người Tràng An “Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những áng vàng!”. Những suy ngẫm của cô Hiền, của người cháu ở phần cuối truyện Một người Hà Nội làm cho giọng kể thấm đượm chất trữ tình triết lí. Vẻ đẹp thanh lịch, nếp sống văn hóa của con người kinh kì được thể hiện đầy ấn tượng qua nhân vật cô Hiền; ta cảm thấy bức chân dung nghệ thuật ấy được Nguyễn Khải phủ bằng những lớp áng vàng chói sáng. Năm 2010, đồng bào cả nước ta tưng bừng kỉ niệm một nghìn năm Thăng Long (1910-2010). Nhân vật cô Hiền, một hạt bụi vàng, trong tập Một người Hà Nội của Nguyễn Khải đã và đang tỏa sáng tâm hồn mỗi chúng ta.
Phân tích nhân vật cô Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải
2,490
Đề bài: Phân tích nhân vật cậu bé Hồng trong đoạn trích “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng Bài làm Nhân vật chú bé Hồng trong trích đoạn “Trong lòng mẹ” chính là cuộc đời và cảm xúc thật của nhà văn Nguyên Hồng thủa thiếu thời. Cuộc đời tác giả chịu nhiều thiệt thòi cay đắng, khi phải sống thiếu tình thương của cha mẹ. Tất cả những điều đó được tác giả viết lại trong tập hồi ký Thời thơ ấu vô cùng chân thực, xúc động. Trích đoạn “Trong lòng mẹ” chỉ là một trích đoạn ngắn trong cả một cuốn hồi ký dài nhưng lại nói lên tính cách cũng như nội tâm của nhân vật bé Hồng một cách vô cùng sâu sắc. Bé Hồng là một em bé ngoan có lòng hiếu thảo. Chú bé Hồng thương yêu mẹ mình vô bờ bến dù gần một năm trời em phải sống giữa sự ghẻ lạnh của nhà nội sau khi cha mất, mẹ em không chịu được sự dày vò chỉ trích từ nhà chồng nên bỏ về quê ngoại ở Thanh Hóa. Bỏ lại mình chú bé Hồng cho bà cô nuôi dưỡng. Ngày ngày bà cô của bé Hồng thường xuyên dùng những lời lẽ vô cùng ác nghiệt, hà khắc để miệt thị mẹ của bé Hồng nhằm bôi nhọ danh dự và chia cắt tình mẫu tử thiêng liêng. Nhưng trong lòng bé Hồng luôn thương mẹ của mình, không vì những lời nói của bà cô mà hận mẹ. Chính tình yêu thương yêu mến kính trọng mẹ của mình đã giúp bé Hồng trước sau nhận rõ được những điều ác ý từ bà cô cay độc ấy. Em thấy mẹ mình cần được che chở, yêu thương phải được sống hiên ngang, đàng hoàng trong cuộc đời này. Trong lòng chú bé Hồng lúc nào cũng vẹn nguyên hình ảnh một người mẹ đáng yêu, đáng kính trọng với gương mặt vẫn tươi sáng đôi mắt, và nước da sáng hồng như lúc gia đình em còn quây quần đoàn tụ bên nhau, còn sung túc. Chính vì thương yêu mẹ mình rất nhiều nên trong lòng bé Hồng chưa bao giờ muốn xa mẹ, em thấy chỉ có mẹ là người gần gũi thương yêu em nhất. Chỉ có mẹ là thương em thật lòng, chính vì vậy bé hồng luôn cảm thấy buồn tủi cô đơn khi phải sống nhờ nhà bà cô của mình. Trước thái độ miệt thị của bà cô mình, bé Hồng luôn im lặng mặt cúi xuống đất trong lòng thì đau đớn thắt lại, khóe mắt cay cay, có lúc thì nước mắt em chảy dài, có khi nức nở òa khóc, thể hiện sự phẫn uất trước những lời cay nghiệt mà bà cô em nó về mẹ. Nó là thái độ thể hiện tình cảm yêu thương mẹ của em.Tình cờ được gặp mẹ, bé Hồng vô cùng vui mừng, hớn hở, chứa đựng cả sự tủi hổ, khiến chú bé òa khóc, nức nở. Trong suốt một thời gian dài, chú bé Hồng đã nén đau thương sống những ngày tủi hờn, nén khát khao ước muốn gặp mẹ để sống lầm lũi, dấu đi những cảm xúc thật của mình. Nên khi nhìn thấy mẹ, chạy theo chiếc xe kéo có người phụ nữ giống mẹ mình hai chân em ríu lại. Nỗi khát khao mãnh liệt ấy khiến chú bé Hồng hình dung tới sự tuyệt vọng của một người đang đi giữa sa mạc khát cháy cổ họng và nhìn thấy ảo ảnh là nước. Nhưng khi biết đó chính là mẹ mình, được gục đầu vào trong lòng mẹ mà khóc cho thỏa thích cảm giác ấm áp sung sướng đó thật tuyệt vời nó mơn man khắp da thịt của chú bé. Nó thể hiện khát khao ước mơ chính đáng xúc động của một đứa trẻ khi được ở trong lòng mẹ. Mỗi chúng ta ai sinh ra cũng có một người mẹ của mình, được sống trong sự yêu thương chăm sóc của cha mẹ chính là điều hạnh phúc vô bờ bến. Chính vì vậy, mà khi đọc trích đoạn “Trong lòng mẹ” cảm nhận được sự thiệt thòi mà tác giả Nguyên Hồng đã phải chịu khiến cho nhiều bạn đọc phải rưng rưng xúc động. Dù họ có thể được những người thân trong gia đình, họ hàng cưu mang nuôi dưỡng nhưng tất cả sẽ không thể nào sánh được tình cảm ruột thịt, máu mủ thân thiết giữa cha mẹ với con cái. Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng gắn bó không gì có thể thay thế được. Hình ảnh và những suy nghĩ sâu kín trong nội tâm của nhân vật bé Hồng khiến cho người đọc vô cùng xúc động, khiến cho những người có mẹ cảm thấy trân trọng những tình cảm mà cha mẹ đang dành cho mình thật là quý báu, lớn lao. Thảo Nguyên
Phân tích nhân vật cậu bé Hồng trong đoạn trích “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng
833
Phân tích nhân vật cậu Vàng trong truyện ngắn Lão Hạc của Năm Cao Hướng dẫn Phân tích nhân vật cậu Vàng trong truyện ngắn Lão Hạc của Năm Cao Không có con chó Vàng có lẽ truyện Lão Hạc không thể nào sâu lắng và cảm động đến thế. Dùng con vật như một đối sánh để khắc họa chân dung con người không còn là một thủ pháp nghệ thuật xa lạ nữa. Trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm Nam Cao, con chó đã thực sự là một tình tiết nghệ thuật đắt giá. Ở đây, con chó không chỉ sắm một vai truyện. Cậu Vàng còn như một phần của lão Hạc. Liệu có thể hình dung đầy đủ về lão Hạc, nếu thiếu đi con chó ấy? Rõ ràng, Nam Cao đã xây dựng song song hai hình ảnh anh trí thức và người nông dân. Ông giáo vô cùng quý những cuốn sách của mình. Nhưng với ông giáo, sách chỉ là một kỷ vật về thời gian đầy mơ ước. Con chó Vàng của lão Hạc thì biết bao ý nghĩa. Nó là một tài sản (lão lẩm nhẩm quy ra tiền), một vật nuôi (định bụng lúc cưới thằng con sẽ thịt), nó còn là kỷ vật của đứa con trai, một mối dây liên lạc lạ lùng giữa lão và đứa con trai vắng mặt. Song, phát hiện sâu sắc đến kỳ lạ của ngòi bút Nam Cao ở đây, vẫn là tư cách thứ tư của nó: một thành viên trong gia đình lão Hạc. Có một đứa con độc nhất thì đã bỏ lão mà đi. Sống cô quạnh trong tuổi già trống trơ, lạnh lẽo, lão có một nhu cầu rất tự nhiên: được làm cha, làm ông nội. Có bao nhiều tình cảm chất chứa trong lòng, lão dồn hết vào con chó. Lão coi nó như một đứa con, rồi chăm chút cưu mang như một đứa cháu nội bé bỏng, côi cút: bắt rận, lão tắm, lão trò chuyện âu yếm. Lão gọi là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Lão mắng yêu, lão cung nựng, dấu dí. Cứ thế, ranh giới của sự phân đẳng người – vật (chủ sở hữu và vật bị chiếm hữu) đã bị xoá nhòa từ bao giờ. Dường như vật nuôi đã được người hóa. Con chó không chỉ làm hiện lên nguyên vẹn tình người tự nhiên sâu thẳm trong lão Hạc. Đằng sau đó, Nam Cao còn kín đáo ký thác một triết lý đau buồn về thân phận trớ trêu của con người trên mặt đất này.
Phân tích nhân vật cậu Vàng trong truyện ngắn Lão Hạc của Năm Cao
443
Phân tích nhân vật cụ Mết trong “Rừng xà nu”- Nguyễn Trung Thành Hướng dẫn Phân tích nhân vật cụ Mết trong “Rừng xà nu”- Nguyễn Trung Thành Bài làm. Mỗi mảnh đất trong cuộc kháng chiến của dân tộc đều gắn liền với hình ảnh riêng của mỗi nhà văn. Nếu như nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với mảnh đất miền Nam ruột thịt, thì Tây Nguyên là nơi ghi dấu nhiều kỉ niệm, nhiều hình ảnh đẹp trong ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Tiêu biểu cho các sáng tác đó là tác phẩm Rừng xà nu (1965) được in trong tập trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, tác phẩm là sự ghi dấu về hiện thực của nhân dân đồng bào Tây Nguyên anh dũng chiến đấu chống đế quốc Mĩ, cuộc chiến không chỉ là của riêng thế hệ trẻ dân làng Xô-man Tnu, Rít, Mai, bét Heeng… Mà còn là sự lãnh đạo của người đứng đầu làng là Cụ Mết. Một hình tượng của cây xà nu đại thụ – môt biểu tượng chung cho sức mạnh và sự bền bỉ trong chiến tranh và là biểu tượng linh hồn riêng của làng Xô-man. Cụ Mết không xuất hiện ở ngay đầu tác phẩm nhưng sự xuất hiệ của cụ qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành cũng thực sự để lại những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc. “Một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một kìm sắt… Ông cụ vẫn quắc thứơc như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng!.. ngực căng như một cây xà nu lớn…” Nhà văn đã tập chung miêu tả ngoại hình từ ngay những dòng văn đâu tiên nói về cụ. Qua đó cụ Mết hiện lên với môt thân hình khỏe mạnh, hùng tráng; bộ râu dài tới ngực mà vẫn đen bóng cho thấy cụ mang dáng dấp đúng của một người già làng; đôi mắt sáng xếch ngược hiện lên một con người có trí tuệ tinh nhanh và uy cường. Với chút miêu tả đó nhà văn cũng đã phần nào chứng tỏ được Cụ Mết là sức mạnh của núi rừng Tây Nguyên. Nhưng không chỉ dừng lại đó nhà văn còn miêu tả về giọng nói của cụ Mết với một giọng nói “ồ ồ, dội vang trong lồng ngực” không chỉ minh chứng cho sức ngân vang của cụ mà còn khẳng định sự lãnh đạo và chỉ huy được đám đông làng Xô-man. Cách nói của cụ như ra lệnh; không bao giờ cụ khen tốt hay giỏi nếu vừa ý thì nói “Được!”. Mệnh lệnh chiến đấu phát ra chắc nịch đó được thể hiện trong đêm T-nú bị giặc đốt mười ngón tay, “Chém! Chém hết!” của cụ như tiếng sấm bên tai không chỉ thúc giục tinh thần trong mỗi người sông lên cứu T-nú, mà còn phần nào đã khiến cho bọn thằng Dục bị đòn bất ngờ và có phầm khiếp sợ. Nhưng giọng nói cụ Mết cũng thật đầm ấm, trang nghiêm, linh thiêng như một huyền thoại – đó là khi cụ Mết kể về câu truyện của T-nú cho dân làng Xô-man. Mọi người vây quanh đống lửa trong không gian của nhà ưng và nghe cụ kể về T-nú với “tiếng nói rất trầm”. Qua đó, bạn đọc có thể thấy cụ Mết hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh dân tộc của các đồng bào vùng Tây Nguyên, là niềm tự hào của cộng đồng dân làng Xô-Man. Giọng nói của cụ như là tiếng của cuội nguồn,của núi rừng, của lịch sử, lời nói của cụ là sấm truyền sử thi, đó còn như những phán quyết của lịch sử, là sức mạnh hào hùng của thời đại. Trong mối quan hệ với Đảng và Cách mạng cụ Mết càng là sợi dây gắn kết dân làng với lí tưởng, chỉ dãn của Đảng, bởi cụ luôn có niềm tin sâu sắc vào những đường lối của Đảng, tinh thần này càng được giáo dục một cách nghiêm khắc cho đám đông làng xô-man để khắc cốt ghi tâm. Đã có lần cụ từng khẳng định niềm tin ấy: “ Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước nfy còn.” Nhưng quan trọng hơn là cụ Mết đã đưa chân lí đó vào thực tiến của cuộc đấu tranh chống bọn đế quốc Mĩ bằng những chân lí thật giản dị: “Nhớ lấy, ghi lấy. sau này tao chết rồi, bay còn sống kể lại cho con cháu: Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo!…” Nhờ vào ý thức luôn giáo dục truyền thống vẻ vang của làng cho các thế hệ tiếp cận đó mà dân làng xô-man giữ được truyền thống kiên cường bất khuất khả năng giữ bí mật tuyệt đối, để làng Xô-man mãi tự hào khi trong suốt 5 năm kháng chiến chưa có cán bộ nào bị giặc bắt hay bị giết trong cánh rừng xà nu này. Nhưng để hiểu vì sao cụ Mết lại có miền tin sâu sắc vào Đảng thì đó chính là nhờ vào sự am hiểu tường tận và giành giot đường lối kháng chiến. Không chỉ là phương châm kháng chiến lấy bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng ( chúng nó đã cầm sung, mình phải cầm giáo). Mà Đặc biệt hơn cụ còn am hiểu về cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc: “ đánh thằng MĨ phải đánh lâu dài”. Ngoài ra, qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trung Thành ta còn thấy được tính kỉ luật cao trong con người cụ Mết qua cách chỉ huy dân làng khi trốn vào rừng lánh giặc chờ đợi thời cơ tiến hành khởi nghĩa: “thế là bắt đàu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa. ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông”. Chính vì thế, cụ Mết được hà văn miêu tả với hình tượng một cây xà nu đại thụ trong rừng xà nu, luôn là bong lớn cho dân làng Xô-man chống bọn đế quốc Mĩ, góp phần vào sự thành công của cuộc cách mạng trong cr nước. Cụ mết không phải là nhân vật chính trong ngòi bút của nhà văn nhưng qua tác phẩm ta cũng thấy được vai trò to lớn của cụ Mết trong việc tô thắm hình tượng nhân vật T-nú với lối kể chuyện lồng trong chuyện qua chuyện 1 đêm” của làng Xô-man. Hình ảnh cụ Mết khiên t liên tưởng tới nhân vật chú năm trong tác phẩm “những đữa con trong gia đình” 2 con người ở 2 vùng miền nhưng trong cùng một thời đại, là thế hệ đi trước, là lịch sử, là người giữ lửa và truyền ngọn lửa cho các thế hệ trẻ là tih thần của dân tộc góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cả nước vào một ngày giải phóng hoàn toàn đất nước, dân tộc được tự do.
Phân tích nhân vật cụ Mết trong “Rừng xà nu”- Nguyễn Trung Thành
1,234
Đề bài: Phân tích nhân vật dì ghẻ trong truyện cổ tích Tấm Cám Bài làm Trong kho tàng truyện cổ tích thì truyện Tấm Cám luôn là một câu chuyện có sức sống vô cùng bền bỉ qua thời gian gắn liền với nhiều thế hệ thiếu nhi cuản ước ta. Trong đó cuộc chiến đấu giữa cái thiện và cái ác luôn là cuộc chiến không có hồi kết. Trong đó cái thiện luôn luôn thắng cái ác. Trong truyện cổ tích Tấm Cám, nhân vật đại diện cho cái thiện chính là Tấm, còn nhân vật đại diện cho cái ác chính là mẹ con nhà Cám. Trong đó, nhân vật cực kỳ dã tâm độc ác đó chính là bà dì ghẻ. Bà ta lợi dụng việc Tấm không còn cha mẹ ở bên cạnh suốt ngày hành hạ Tấm con riêng của chồng mình, mụ ta chỉ cưng chiều thương yêu con gái ruột của mình còn con của chồng thì bỏ mặc, hành hạ suốt ngày coi như nô lệ trong gia đình không hơn không kém. Nhân vật mụ dì ghẻ đã làm cho hình ảnh của các bà mẹ kế trên đời này bị xấu xí bởi mụ ta, cứ nói tới mẹ kế, kế mẫu, dì ghẻ là người đọc, người nghe luôn nghĩ tới hình ảnh mụ dì ghẻ độc ác trong Tấm Cám. Bà dì ghẻ này là ngọn nguồn của mọi bất hạnh trong cuộc đời cô gái ngoan ngoãn, hiền lương hiếu thảo là Tấm. Bà ta luôn tìm cách hành hạ Tấm từ việc nhỏ tới việc lớn. Những việc nhỏ như không cho Tấm đi chơi lễ hội, tìm cách hành hạ Tấm bằng việc cho một đấu gạo và một đấu thóc lẫn nhau rồi bắt Tấm ngồi nhặt gạo ra gạo, thóc ra thóc mới cho đi chơi lễ hội. Cô Tấm hiền lành ngoan ngoãn chỉ biết khóc trước những bất hạnh của cuộc đời mình mà thôi. Nhưng rất may mắn là trong thế giới thần tiên cổ tích thì người hiền lành sẽ gặp may mắn, sẽ có thế lực tiên bụt giúp đỡ biến hung hóa cát, biến những điều không thể thành có thể. Dì ghẻ của Tấn đối sử với Tấm không công bằng nhưng chưa bao Tấm tỏ ra ghét bỏ, hay có thái độ chống đối lại bà ta. Thực chất bà dì ghẻ trong truyện cổ tích Tấm Cám chính là đại diện của tầng lớp bóc lột thời xưa, đại diện cho những người có chức quyền trong chế độ phong kiến luôn tìm cách hãm hại, bóc lột công sức lao động của người nông dân nghèo khổ. Còn cô gái Tấm hiền lành hiếu thảo ngoan ngoãn kia là hình ảnh của người nông dân lao động, chất phác, hiền lành thật thà, nhẫn nhịn và cam chịu phục tùng vô điều kiện. Nhưng rồi may mắn đã tới với Tấm khi cô trở thành vợ vua thành hoàng hậu đương vị ngôi cao vời vợi bao nhiều người mong muốn mà không đạt được. Hạnh phúc đôi khi thật bất ngờ, nhưng chính bà dì ghẻ độc ác đó, đã âm mưu giết Tấm rồi cho Cám con gái ruột của mình vào cung làm vợ nhà vua theo kiểu tình chị duyên em. Khi bị chết oan khuất như vậy Tấm mới hiểu ra rằng hiền lành thật thà với cái ác sẽ khiến nó hại tới mình. Chính lúc này tư tưởng vùng lên của cô mới trỗi dậy mạnh mẽ Tấm đã hóa thân thành chim vàng anh bay vào cung để gần với nhà vua. Mụ dì ghẻ thấy nhà vua yêu quý chim vàng anh lợi dụng lúc nhà vua đi xa ở nhà giết chim vàng anh ăn thịt. Hồn tấm biến thành hai cây xoan đào, vua thương mang võng ra nằm ở đây. Mụ dì ghẻ tìm cách chặt hai cây xoan đào làm khung cửi cho Cám con gái mình dệt vải, nhưng mỗi lần ngồi vào dệt vải Cám nghe được những âm thanh sợ hãi mụ dì ghẻ xui con đốt khung cửi. Hồn Tấm biến thành cây thị, sau nhiều thăng trầm khổ nạn của kiếp người Tấm gặp lại nhà vua hai vợ chồng mừng lắm. Con mụ dì ghẻ thì đã phải trả giá cho tội ác của mình. Thể hiện chân lý ngàn đời rằng cái thiện luôn chiến thắng cái ác, mụ dì ghẻ là nhân vật đại diện cho cái ác. Mụ rất thông minh, đa mưu túc kế nhưng có dã tâm lớn và sảo quyệt không từ thủ đoạn nào để đạt được mục đích. Chính vì vậy, mụ dì ghẻ chết là điều mà mụ dì ghẻ phải trả giá cho tội ác của mình.
Phân tích nhân vật dì ghẻ trong truyện cổ tích Tấm Cám
801
Đề bài: Phân tích nhân vật Dế Mèn trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài Bài làm Dế Mèn phiêu lưu ki là tác phẩm đặc sắc và nổi tiếng nhất của nhà văn Tô Hoài viết về loài vật, dành cho lứa tuổi thiếu nhi (truyện đồng thoại). Trong truyện, Dế Mèn là nhân vật chính đã trải qua những cuộc phiêu lưu lí thú, đầy mạo hiểm. Sự trải nghiệm cuộc đời của Dế Mèn, những bài học mà Dế Mèn rút ra qua bao nhiêu hiểm nguy sóng gió chính là hành trang để Mèn bước vào đời và trỏ thành một chàng Dế cao thượng. Chính vì thế, có thể nói rằng cuộc đời của Dế Mèn là một bài học lớn – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Từ những ngày đầu, Dế Mèn được mẹ cho ra ở riêng, sống độc lập đế sau này ra đời khỏi bỡ ngỡ, Dế Mèn đã thấy được cuộc sống phức tạp như thế nào! Những suy nghĩ đầu tiên của chú là ý thức được rằng khổ quá, những kể yếu đuối vật lộn cật lực mà cũng không sống nổi. Thế nhưng một sự kiện đau lòng xảy ra và là một bài học lớn cho Dế Mèn. Đó là cái chết của Dế Choắt. Lần đầu tiên trong đời, Dế Mèn gây ra tội lỗi. Chỉ vì sự trêu chọc của chú với chị Cốc mà Dế Choắt chết oan. Những lời nói cuối cùng của Dế Choắt ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy đã là bài học đường đời đầu tiên mà Dế Mèn không thể nào quên. Nó ám ảnh Dế Mèn suốt đời về thói hung hăng, không biết suy nghĩ của tuổi trẻ. Những giọt nước mắt hối hận của Dế Mèn cũng là sự thức tĩnh lương tâm trên chặng đường vào đời của Mèn. Rồi sự sôi nổi, bồng bột của Mèn tưởng có thế làm lu mờ biến cố đầu tiên ấy. Nhưng cuộc phiêu lưu bất đắc dĩ của Dế Mèn khi bị bọn trẻ bắt làm đồ chơi với sự xuất hiện của anh Xén Tóc đã làm cho Mèn thêm một bài học nữa. Dế Mèn đã biến mình thành một thứ trò chơi cho bọn trẻ con mà không hề hay biết. Mèn rất tự hào và kiêu hãnh ở vị trí của một con dế cụ bách chiến bách thắng, nông cạn và không biết suy nghĩ. Dế Mèn đã trở nên nhỏ bé, ích kỷ và tàn nhẫn. Nó thẳng tay đánh cả những con dế nhỏ bé, yếu đuối để đổi lấy những lời khen ngợi làm Mèn phổng mũi. Thế rồi! Theọ quy luật của cuộc đời, những kẻ hay cậy sức đi áp bức kẻ khác thì sẽ có kẻ mạnh hơn trị lại. Dế Mèn đã được anh Xén Tóc thức tình. Hai cái râu cụt là bài học đích đáng cho Mèn. Dế Mèn đã hiểu ra, nhận thức được lỗi lầm của mình và quyết tâm sửa chữa. Cuộc đời này tuy không thuận lợi, dễ dàng nhưng cũng đã đem đến cho Dế Mèn bao nhiêu là bài học. Mèn nhận thấy cần phải đi nhiều hon nữa: Đời trai mà không biết bay nhảy, không biết đi đó đi đây thì cuộc sổng nhạt nhẽo lắm. Trốn thoát, trở về quê, Dế Mèn trở thành một chàng trai đứng đắn, làm nhiều việc nghĩa, trừng trị những kẻ hay bắt nạt chị Nhà Trò yếu ớt. Sau bao lần lầm lỗi, với việc làm nhân nghĩa, Dế Mèn đã lớn lên rất nhiều và nhận ra ích lợi của việc “đi” trong cuộc đời. Cuộc phiêu lưu lần- thứ hai của Dế Mèn mà chú mong mỏi đã xảy ra, đem lại bao bài học, bao nhiêu tri thức mới mẻ thú vị trong cuộc đời. Đúng là càng đi, tầm mắt của Dế Mèn càng được mở rộng. Những cuộc phiêu lưu dũng cảm đã náng Mèn lớn lên, dần dần hoàn thiện tính cách tốt đẹp của một thanh niên. Nhưng trong cuộc sống không ít những kẻ thiển cận theo kiểu “ếch ngồi đáy giếng”. Đó là người anh trai của Dế Mèn sống cuộc đời vô nghĩa, nhàm chán, “đớn hèn” và ốm yếu. Người anh cả tuy khoẻ mạnh, khá giả nhưng chỉ quanh quẩn bắt nạt những kẻ khác. Đó cũng chính là bài học của sự “không đi”. Ngạo mạn, khinh bỉ những kẻ không muốn mở mang trí óc, Dế Mèn lại ra đi. Lần này ra đi, Dế Mèn lại có thêm người bạn đồng hành là Dê, Trũi. Trũi tính tình cũng thẳng thắn và hay đi đây đó. Trải bao sóng gió Mèn đã “lớn lên” thực sự, nhất là sau mười ngày lênh đênh trên nước, không ăn. Mười ngày đáng nhớ đem đến cho Mèn ý thức yêu mến cuộc sống, tinh thần vươn lên để chống trọi khó khăn đôi khi tưởng không chịu nối ở đời. Dế Mèn hiểu được sức mạnh của tình bạn, của lòng kiên trì, và niềm lạc quan tin tưởng. Cuộc phiêu lưu của Dế Mèn còn đánh dấu những giây phút thiêng liêng của tình bạn. Dế Mèn bằng tất cả sức mình, cứu Trũi thoát khỏi cái chết, điều mà trước đây, Mèn đã không thể làm được với Dế Choắt. Chính cuộc đời này, chính cuộc hành trình trên đường đời đã rèn luyện để Mèn có một trái tim cao thượng. Hành động anh hùng, lòng nhân ái nơi Mèn là ở sự phát triển nhân cách cao nhất sau những chuyến đi ấy. Những trang cảm động nhất của Tô Hoài là những trang miêu tả tâm trạng Dế Mèn thương nhớ Trũi. Với tình cảm chân thành và lòng tin tưởng vào cuộc sống, Mèn đã chiến thắng. Sau bao chặn đường chông gai vất vả, Mèn và Trũi lại được gặp nhau. Sự hoàn thiện tính cách của Trũi cũng được hoàn thiện sau chuyên đi này. Trũi không còn bồng bột nữa, đã trở thành “người” chín chắn sau chuyên phiêu lưu thứ hai. Tất cả Dế Mèn, Dế Trũi, Xén Tóc đã trở thành những “người” có tâm hồn đầy nhân ái, tấm lòng cao thượng và trái tim dũng cảm. Dế Mèn đã rút ra được nhiều bài học thấm thìa qua bao nhiêu “ngày đàng”. Mèn và các bạn đã lớn lên cả về thể xác và tâm hồn. Cuộc phiêu lưu thứ ba là sự nối tiếp của tính cách ham học hỏi hiểu biết của Dế Mèn, với mục đích cao quí hơn đó là làm “sứ giả hoà bình”. Câu tục ngữ Đi một ngày đàng, học một sàng khôn đã được chứng minh thật sống động qua Dế Mèn phiêu lưu kí mà tập trung cao độ ở nhân vật Dế Mèn. Dế Mèn là một nhân vật văn học quen thuộc, thân yêu của các em thiếu nhi. Qua những cuộc phiêu lưu của Dế Mèn, ta nhận ra rằng: trường đại học chân chính nhất để rèn luyện con người chính là cuộc đời. Trải qua những cuộc phiêu lưu mạo hiếm với đường đời đã giúp Dế Mèn thực sự trở thành một chàng dế “bình thường” chứ không “tầm thường” với trái tim “nhân ái, cao thượng”. Đó cũng chính là con đường mà mỗi chúng ta đã và sẽ đi.
Phân tích nhân vật Dế Mèn trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài
1,272
Đề bài: Phân tích nhân vật em bé Xi- mông qua đoạn trích trong truyện ngắn Bố của Xi- mông của nhà văn Mô- pa- xăng Bài làm Với hàng chục tiểu thuyết, khoảng 300 truyện ngắn, tên tuổi Mô-pa-xăng, nhà văn vĩ đại Pháp cuối thế kỷ XIX trở thành bất tử. Cuộc đời nhà văn là những trang buôn. Có lẽ vì thế nên ông mới viết về thân phận con ngựời với nhiều cảm thương thân thiết thế? Truyện ngắn "Bố của Xi-mông” kể về nỗi tủi nhục của một em bé "không có bố" với bao tình yêu thương, chứa chan tinh thần nhân đạo. Bé Xi-mông và mẹ em – chị Blang-sốt thật đáng thương; cuộc đời hai mẹ con để lại trọng lòng độc giả nhiều thương cảm. Xi-mông là đứa con ngoài giá thú. Mẹ em là “một cô gái đẹp nhất vùng" đã bị lầm lỡ tình yêu… Hai mẹ con sống âm thầm trong một ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng hết sức sạch sẽ. Người đàn bà này tên là Blăng-sốt "cao lớn, xanh xao" phải lao động cực nhọc để nuôi con trước cái nhìn ghẻ lạnh của người đời. Tuổi thơ của Xi-mông là những chuỗi ngày cô đơn trong ngôi nhà nhỏ, lạnh lẽo. Em thiếu tình thương và sự chăm sóc của bố. Trường học cũng không phải là cái nôi hạnh phúc của em. Tám tuổi, em mới được đến trường. Lớp học là nơi hội tụ của những đứa trẻ thô lỗ, cục cằn; cái ác cái xấu sớm ngự trị trong tâm hồn chúng. Xi-mông đau khổ, cay đắng bị lũ trẻ dùng những lời "ác độc" nhất, những tiếng cười khả ố nhất, giễu cợt nhất đã dồn em đến chân tường. Xi-mông phải tự vệ và đã bị lũ trẻ "'quỷ quái" hành hạ suốt ngày này qua ngày khác. Người đọc đã hơn một thế kỷ nay không khỏi buồn phiền xót xa khi nghĩ về em Xi-mông bị bạn học cùng lớp làm cho đau đớn tả thể xác lẫn tâm hồn. Bị bọn trẻ xua đuổi, bị đánh tơi tá, bé Xi-mông đau khổ, bế tắc hoàn toàn. Em không thể sống trong tủi nhục vì "không có bố”. Dòng sông, nơi em sẽ đến tự tử có thể xoa dịu nỗi đau khổ và cô đơn của em? Một đứa bé 8 tuổi cảm thấy không thể sống trong nỗi đau khổ, nỗi nhục, phải nhảy xuống sông tự tử, thì bi kịch về thân phận con người đã lên đến cực điểm. Tình tiết này rất cảm động và điển hình cho nỗi gian khổ cô đơn của những em bé trên cõi đời vì một lí do nào đó mà “không có bố". Xi-mông với bãi cỏ xanh, với chú nhái cạnh dòng sông được miêu ta đầy chất thơ. Thiên nhiên rất đẹp. Trời ấm. Ánh nắng êm đềm sưởi nóng cỏ. Nước lấp lánh như gương. Bãi cỏ xanh như chiếc nôi xoa dịu nỗi đau khổ cô đơn của em. Xi-mông ngắm dòng sông, em rất thèm được nằm ngủ trên bãi cỏ dưới nắng ấm. Con nhái màu xanh “giương tròn con mắt có vành vàng” hình như đã níu giữ chân em trước tư thần? Xi-mông được sống hồn nhiên trước cảnh sắc thiên nhiên. Nhưng nỗi đau về thân phận quá lớn. Đây là hình ảnh Xi-mông: “Người em rung lên, em quỳ xuống em đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ". Em khóc nức nở. Em “chi khóc mà thôi". Em chẳng nhìn thấy gì nữa. Em đi dần đến tuyệt vọng. Mô-pa-xăng đã miêu tả tâm lí bé Xi-mông với tất cả tình thương xót. Ông chỉ cho mọi người thấy rằng, dù thiên nhiên có đẹp đến đâu, ngoại cảnh có đẹp đến đâu con người vẫn bất hạnh, khó sống nổi trong cảnh ngộ cô đơn và thiếu tình thương, nhất là những đứa bé "không có bố”. Một tình huống bất ngờ đã xảy đến. Chú thợ rèn "cao lớn, rau tóc đen quăn… nhân hậu” đã đến với Xi-mông. Chú đã “lau khô" đôi măt đẫm lệ của em. Chú đã an ủi em với tình thương của một con người “có phép lạ”: Thôi nào, nguôi đi nào, cháu bé, rồi đi với chú về nhà mẹ. Người ta sẽ cho cháu… một ông bố". Một câu nói giản dị sẽ xoa dịu nỗi cô đơn cho bé Xi-mông, và cả cho mẹ em là Blăng-sôì. Cảnh bé Xi-mông bất ngờ gặp chú thợ rèn bên bờ sông là cảnh rất cảm động. Em bé thơ ngây được sống, và người ta sẽ cho em "một ông bố". Đọan đối thoạt giữa chú thợ rèn và bé Xi-mông thấm đẫm tình cảm nhân đạo. Nước mắt khô dần trên má em; em đã được chú thợ rèn dắt tay trả về với mẹ. Tính cách bé Xi-mông được khắc hoạ đậm nét khi em gặp lại mẹ. Em hỏi chú thợ rèn: "Chú có muốn làm bố cháu không?". Khi được chú thợ rèn nhắc bổng lên, hôn vào má em và nói: "Có chứ, chú có muốn" thì tâm hồn em “hoàn toàn khuây khỏa” và em đã khắc cái lên Phi-lip vào lòng, với niềm tự hào "có bố". Câu nói của Xi-mông như một lời nguyền hẹn ước: "Chú Phi-líp, chú là bố cháu đấy nhé!". Có bố đó là niềm hạnh phúc của mỗi em bé trên cõi đời. Có bố là có nơi nương tựa. “Con có cha như nhà có nóc" (Tục ngữ). Có bố tức là có quyền làm người. Có bố, tuổi thơ mới thực sự được sống hạnh phúc. Xi-mông đã hãnh diện tuyên bố với lũ bạn "như ném một hòn đá": “Bố tao ấy, bố tao là Phi-lip". Em đã có bố. Em cảm thấy mình đã lớn lên! Đó là niềm vui và hạnh phúc tuổi thơ! Đọc truyện "Bố của Xi-mông", ai mà không xúc động? Mô-pa-xăng đã từng nếm bao cay đắng về thân phận mồ côi từ độ lên mười, nên ông đã dành cho bé Xi- mông và chị Blăng-sốt bao cảm thông về tình thương san sẻ. Tình cảm nhân đạo dào dạt trang văn của ông. Cái hay của đoạn văn là ở bút pháp tinh tế lấy cảnh để tả tình, là ở nghệ thuật đối thoại, là ở tình huống chú thợ rèn gặp bé Xi-mông ở bờ sông, chú thợ rèn gặp chị Blăng-sốt. “Không có bố thì đau khổ!", "Có bố thì hạnh phúc". Như một chân lý giản dị, giàu nhân bản. Bé Xi-mông thật đáng thương và đáng yêu!
Phân tích nhân vật em bé Xi- mông qua đoạn trích trong truyện ngắn Bố của Xi- mông của nhà văn Mô- pa- xăng
1,116
Đề bài: Phân tích nhân vật Giôn xi trong truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen ri Bài làm Truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen ri là một truyện ngắn vô cùng thành công thể hiện tinh thần nhân văn cao của tác giả với những số phận nghèo khổ trong cuộc sống. Nhân vật Giôn xi là một người gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Cô là một sinh viên trường mỹ thuật, hoàn cảnh vô cùng khó khăn, sống cùng với người bạn của mình là Xiu. Một lần Giôn xi không may bị mưa, nên vướng bệnh phong hàn. Giôn xi thật ra chỉ là một người mắc bệnh viêm phổi, đáng lý ra sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như được chạy chữa thuốc thang. Nhưng do gia cảnh khó khăn, nên không có tiền chạy chữa thuốc men, bệnh tình ngày một nặng hơn. Giôn xi tuyệt vọng thường ngồi bên chiếc giường gần cửa số đếm những chiếc lá rơi. Giôn xi thường nghĩ nếu một ngày chiếc lá cuối cùng rơi mất thì cô cũng chết. Sự tuyệt vọng của Giôn xi đã tới tận cùng nên cô mới tin vào một điều vô lý như vậy, nương tựa tinh thần của mình vào những chiếc lá. Nhà văn On Hen ri đã gửi gắm tấm lòng nhân đạo của mình vào nhân vật Giôn xi. Trong tác phẩm Chiếc lá cuối cùng là một tác phẩm vô cùng xuất sắc. Giôn xi và Xiu là người bạn cùng học một trường cùng thuê một phòng trọ. Từ này Giôn xi bị ốm Xiu đã chăm sóc bạn của mình vô cùng tốt. Nhưng Giôn xi đã mất đi tinh thần, mất hết đi tinh thần chống chọi lại với sự sống. Nàng đã mất hết nghị lực chống chọi với cuộc sống, chỉ còn chờ đợi cái chết đến với mình, phó mặc sự sống của đời mình vào những chiếc lá, không gian trở nên vô cùng nhỏ bé, sự vật quá tĩnh lặng, trong đôi mắt, là sự tuyệt vọng, không có chút dấu hiệu nào của sự sống. Chính thể trạng tinh thần, nghị lực yếu đuối, làm cho Giôn xi có những suy nghĩ lạ lùng, phó mặc thân mình cho những chiếc lá bị quan tuyệt vọng. Giôn xi luôn có cảm giác cái chết đang đến thật gần. Bệnh của Giôn xi ngày càng nặng cô ít hy vọng sống lại được. Giôn xi bị ám ảnh bởi những chiếc lá đang lìa cành. Một ngày chỉ còn lại duy nhất một chiếc lá trên cành Giôn xi nghĩ rằng chỉ qua đêm nay thôi thì chiếc lá cuối cùng sẽ rụng mất và cô cũng như chiếc lá kia sẽ phải chết. Nhưng chiếc kia vẫn tồn tại theo thời gian, rồi một ngày Giôn xi đã khỏi bệnh, chiếc lá tầm xuân vẫn còn đó. Theo thời gian Giôn xi đã khỏe lại. Một ngày cô có thể tới bên cạnh chiếc lá, cô nhìn chiếc lá dũng cảm đó một lần thật kỹ thì biết rằng đó chính là một bức tranh. Sau khi, tìm hiểu Giôn xi biết được là bức tranh chiếc lá cuối cùng chính là do ông lão Bơ Men và ông ấy đã đứng suốt một đêm giữa mưa tuyết để vẽ bức tranh thành công, ngày hôm sau ông cụ Bơ Men khốn khổ đó đã qua đời. Nhưng sự hy sinh đó của ông không hề uổng phí bởi tác phẩm là ông Bơ Men vẽ đã mang lại niềm tin, sự hồi sinh cho Giôn xi khiến cô có sức mạnh chiến thắng bệnh tật. Nghệ thuật chân chính mang lại sự hồi sinh, cho con người đó chính là chân lý mà tác phẩm chiếc lá cuối cùng mang tới cho người đọc, thể hiện sự nhân văn nhân đạo của tác giả O Hen ri.
Phân tích nhân vật Giôn xi trong truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen ri
655
Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn đôi mắt Hướng dẫn Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn đôi mắt Nam Cao được biết tới là nhà văn có nhiều trăn trở với cuộc sống với đời,và ông là một ngòi bút đầy tài năng.những tác phẩm ông để lại đều chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trong đó truyện ngắn “ đôi mắt” (1948) được Nam Cao đặt ra vấn đề cách nhìn của nhà văn trong sáng tác nghệ thuật ở thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Và tác phẩm này được xem là “Tuyên ngôn nghệ thuật” của nhiều nhả văn ở thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó chắc hẳn cũng để lại nhiều thành công cho nhà văn và cho văn học Việt Nam Trong “ Đôi mắt” Hoàng là một nhà văn đàn anh trong giới các nhà văn nhà thơ ở Hà nội, và Hoàng luôn có thái độ ghen ghen đố kị với các đòng nghiệp của mình, khi bị giặc chiếm thì Hoàng tản cư, về miền quê, nhưng anh không xê dịch về tư tưởng. Dù là chạy giặc mà Hoàng mang theo cả lối sống quý phái ở Hà Nội. Còn Độ thì hoàn toàn ngược lại, Độ gần như kinh ngạc khi gặp lại Hoàng, với những cử chỉ rất tự nhiên “Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả bởi vì người khí to béo quá, vừa bước vừa bơi cánh tay kềnh kệnh ra hai bên..bộ áo ngủ màu xanh nhạt, phủ một cái áo len trắng nó nịt người anh đến nỗi không còn thở được”thêm một sự thay đổi nhỏ là “một cái vành móng ngựa ria, như một cái bàn chải nhỏ”. Hoàng vừa xuất hiện ta đã thấy đó là nhà văn xa lạ với làng quê kháng chiến. Khi mà cách mạng tháng Tám bùng nổ, Hoàng là nhà văn nhà thơ nhưng lại đứng ngoài cuộc, Hoàng ghét những nhà văn tham gia phong trào cách mạng. Còn đối với Độ lúc đó tuy là nhà văn đàn em, nhưng đã tỏ thái độ khinh bỉ những hành vi đê tiện của Hoàng. Qua đó Độ cho rằng cách nhìn của Hoàng cũ kĩ, lạc hậu. Lẽ ra Hoàng phải chung tay góp sức chứ không phải là người đứng ngoài cuộc như thế. Còn khi nói về Đôi mắt Hoàng, đôi mắt đó sắc sảo ở khía cạnh phát hiện những cái ngố của người dân quê. Nhưng Độ đã phê phán cái nhìn lệch lạc của Hoàng sâu sắc. “Anh ta chỉ thấy cái ngố bề ngoài trong hành động nói năng như một con vẹt của người thanh niên khi đọc thuộc lòng bài “ ba giai đoạn” của cuộc kháng chiến mà không thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong. Qua những câu nói này Nam Cao ngầm đưa ra triết lí rất thấm thía: “ Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản”… Hoàng cũng có những cái nhìn về nhân dân và theo anh thì Hoàng nói với Độ: họ toàn chỉ là những người ngu độn, lỗ mãng, ích kỉ, tham lam và bần tiện cả. Hoàng hoài nghi khả năng đánh Tây của họ: “Tôi thấy có nhiều ông tự vệ hay cả vệ quốc quân nữa táy máy nghịch súng hay lựu đạn làm chết người như bỡn”. Hoàng còn hoài nghi khả năng lãnh đạo chính quyền của họ: “Nhưng tai hại là người ta lại cứ muốn cho họ làm uỷ ban nọ, uỷ ban kia, thế mới chết người ta chứ! “Từ trước tới nay, tôi chỉ toàn ở Hà Nọi, thành thử chỉ biết những người nhà quê qua những truyện ngắn của anh. Và để minh chứng cho mình thì Hoàng đưa ra những dẫn chứng cụ thể, như cái thằng chủ tịch uỷ ban khu phố tôi ở Hà Nội, lúc chưa đánh nhau,nó là một anh hàng cháo lòng. Bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh, chứ biết nó làm uỷ ban thế nào mà bắt nó làm uỷ ban? Ông chủ tịch làng này, xem giấy của nhà tôi, thấy đề Nguyễn Thục Hiền, cứ nhất định bảo là giấy mượn của đàn ông.theo ông ấy thì đàn bà ai cũng phải là thị này, thị nọ. Hoàng chỉ biết đứng ngoài mà châm chọc khinh bỉ chứ không muốn hiểu và tìm hiểu. Chính vì thế Nam Cao đã cho rằng phải có đôi mắt của tình thương mới nhìn thấy được bản chất tốt đẹp của con người. Và bản thân Hoàng chỉ còn một chút niềm tin thì niềm tin ấy lại rơi vào chủ nghĩa cá nhân. “Ấy đấy, tôi bi lắm..nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ vì tôi tin vào Ông Cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiên nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia, mới xứng tài…”. Đây là một căn bệnh mà không nên có ở một bậc đàn anh trong văn giới. Vì không có sự gắn bó lòng nhiệt tình với biến cố dân tộc cho nên Hoàng không tìm thấy cảm hứng sáng tác cho mình. Anh ta mong sẽ viết một cái gì đó ghi lại cái thời này theo kiểu “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Hoàng không thể tìm thấy nhân vật của mình bởi anh quá xa lạ với hiện thực bấy giờ. Nhưng Hoàng là một nhân vật tư tưởng nhưng không khô cứng mà vô cùng sống động có sức khái quát nhưng cũng có cá tính sâu sắc. Bằng những nét vẽ của mình Tác giả đã kết hợp miêu tả ngoại hình với nội tâm và đặt nhân vật trong mối quan tương quan với Độ và với vợ. Là một nhân vật đặc sắc và đóng vai trò là nhân vật chính trong tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao, Hoàng bộc lộ nhữngnét chung của tầng lớp trí thức lúc bấy giờ trước những biến cố lớn của lịch sử và kháng chiến như sống xa rời nhân dân,hoài nghi khả năng cách mạng của quần chúng. Nhưng bên cạnh đó thì Hoàng cũng là một nhân vật có tính độc đáo được biểu hiện ở ngoại hình, ở ngôn ngữ, cử chỉ, sở thích, ở mộng văn chương. Nam Cao đã rất thành công để xâu dựng một nhân vật điển hình trong “ Đôi mắt” và qua nhân Hoàng trong tác phẩm thì nó càng khiến độc giả nghiệm ra một điều rằng,một triết lí mà Nam Ca tôn thờ: Phải có đôi mắt của tình thương mới thấy được bản chất tốt đẹp của con người. Và phải có một con mắt tinh tường biết phân tích biết thay đổi trước thời cuộc. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn đôi mắt
1,177
Đề bài: Phân tích Nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Bài làm Nguyễn Tuân nổi tiếng là một nhà văn tài hoa, giàu cá tính. Ông đã niệm và theo đuổi suốt đời quan niệm “…mà thầy rằng yêu đẹp có nghĩa là quyết tâm bảo vệ đến cùng những gì mình đã nhận là đẹp". Và trong rât nhiều cái đẹp mà ông cảm khái, theo đuổi ấy ta thấy có cái đẹp ngời sáng giữa cảnh lao tù tăm tối, cái đẹp của lụa trắng tinh bay những nét mực, cái đẹp từ sâu thẳm lòng người. Cái đẹp toát ra từ người tử tù Huân Cao và Chữ người tử tù Trong tác phẩm, Huân Cao là một con người tự ưọng, sống hiên ngang bất khuất, không có sức mạnh quyền thế, bạc vàng có thể khuất phục ông. Những con người chọc trời khuấy nước, đếm trên đầu ngón tay, người ta cũng chẳng còn biết nữa… Một con người khẳng khái như vậy còn sợ gì cường quyền hay tham gì tiền bạc? Phân tích Nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Là người chọc trời khuấy nước, riêng một giang sơn không chịu được triều đình phong kiến ngày càng suy thoái, mục rỗng, Huấn Cao chống lại triều đình ấy. Bị gọi là giặc nhưng là vì nghĩa lớn, vì lí tưởng lớn nên điều đó có hề gì. Đến khi bị bắt giam, sắp lên đoạn đầu đài vẫn coi thường: Đến cái chết cũng chẳng sợ nữa…. Huân Cao có những suy nghĩ, hành vi thật phóng khoáng ông vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong hứng bình sinh, dù đang bị cầm tù. Dưới con mắt Huấn Cao, bọn cầm quyền chỉ là một lũ tiểu nhân thị oai, nên ông luôn tỏ ra khinh bỉ chúng, dù ở giữa cảnh tàn nhẫn, lừa lọc giữa một đống cặn bã. Sau khi viên quản ngục khép nép hỏi ông có cần gì nữa không, ông trả lời như tát vào đối phương: Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ cần một điều, là ngươi đừng đặt chân vào đây”. Đó là cái khí phách, cái tư thế hiên ngang lồng lộng dù khi đang giữa cái nền xám xịt của ngục tù. Là con người chọc trời khuấy nước, hiên ngang bất khuất, không sợ bất cứ cái gì nhưng Huân Cao lại trọng cái bản chất tốt đẹp của con người. Trong phần người sâu thẳm mà đôi khi vì hoàn cảnh, người ta phái giấu kín, việc ông cho chữ và lời khuyên bảo cuối cùng đối với viên quản ngục thể hiện cái tâm của Huân Cao. Lời ấy là tiếng lòng, là tâm huyết của ông: “Tôi bảo thực đấy, thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở đã… ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi”. Ông yêu cái đẹp và cảm thông với người biết yêu cái đẹp. Huấn Cao hiểu được tấm lòng quản ngục thì sẵn sàng cho chữ, bởi ông cảm là cảm cái bản chất thiên lương. Huấn Cao là người tài hoa rất mực, bên cạnh cầm kì, thi, họa, ông còn có tài viết đẹp, chữ của ông nức cả một vùng, chữ ông đẹp lắm, vuông lắm. Cái tài hoa ấy chỉ dành riêng cho người tri kỉ: Ồng biết cái tài của mình và không vì nó mà ai ông cũng sẵn sàng cho: “Đời ra cũng mới viết có bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn của ta thôi”. Và lần cho chữ cuối cùng của đời ông là một ngoại lệ, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã xảy ra bởi vì cảm với tấm lòng, cho chữ có thể nói là một đoạn rất hay thể hiện tài năng của Nguyễn Tuân miêu tả, dựng cảnh và thể hiện tài năng của nhân vật Huấn Cao. Cái cao đẹp đối lập với dơ bẩn. Chơi chữ đẹp, viết chữ đẹp là một nét đẹp cao, trang trọng thường diễn ra trong cảnh thanh khiết của thiên nhiên và người. Song ở đây là cả một sự đối lập. Tuy nhiên, đối lập mà không có gì mâu thuẫn cả. Lấn át tất cả cái dơ dáy hôi hám của tù ngục, ánh sáng của đuốc, mùi thơm của mực, màu trắng của lụa, đã tỏa sáng lung linh. Tất cả thể hiện nghĩa sâu sắc: cái đẹp có thể sản sinh từ nơi tội ác ngự trị, giữa mảnh đất chết bởi một người cũng sắp chết (một tử tù). Lời khuyên của Huân Cao cho cái đẹp không thể còng sống với cái ác được. Nhân vật Huấn Cao như nhiều nhân vật chính diện khác trong Vang bóng một thời nhất thiết là con người tài hoa. Ở Huân Cao, bên cạnh tài hoa, có vẻ khí phách của một người có trách nhiệm đối với thời cuộc. Đó là nét độc của Huân Cao so với nhân vật khác trong Vang bóng một thời. Ngôn ngữ văn xuôi điêu luyện, nghệ thuật miêu tả tinh nhạy của Nguyễn Tuân đã toát lên không khí một thời đã qua. Nhân vật Huân Cao, con người khí phách tài hoa có trách nhiệm cao đốì với đất nước. Nó cũng là sự giải bày nỗi.. khát khao theo đuổi một lí tưởng cao cả của người thanh niên Nguyễn Tuân khi bước chân vào đời. (Trương Chính).
Phân tích Nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
943
Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù-Nguyễn Tuân Hướng dẫn Huấn Cao trong Chữ người tử tù là một mơ ước của nhà văn Nguyễn Tuân Mở bài: Nguyễn Tuân là một trong những tác giả có đóng góp lớn nhất đối với sự phát triển của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Có thể nói, Nguyễn Tuân đã khám phá ra một vẻ đẹp có sức quyến rũ mạnh mẽ của tiếng Việt vốn tiềm ẩn trong đời sống thường ngày. Ông lại có cái thú tiềm kiếm vẻ đẹp xưa cũ và khoát lên cho nó bộ áo mới, có sức mạnh làm lay động lòng người. Chữ người tử tù là tác phẩm đặc sắc thể hiện rõ phong cách ấy của ông. Nhân vật Huấn Cao là một thành công rực rỡ của Nguyễn Tuân Thân bài: Người đọc Việt Nam không lạ gì với tác phẩm Chử người tử tù của Nguyễn Tuân. Bởi nó quá đẹp, quá xuất sắc. Một tác phẩm được trau chuốt bởi tình yêu cái đẹp, tình yêu sự sống và sự cảm phục trước tấm lòng cao cả của con người, Chữ người tử tù đứng giữa nền văn học thế kỉ 20 như một tuyệt phẩm quyến rũ đến ngất ngây. Vũ Ngọc Phan nhận xét đó là “một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ”. Tác phẩm lựa chọn một bối cảnh chứa đựng nhiều xung đột dữ dội. Đó là thời đại của các nhà Nho cuối mùa. Họ vốn tài hoa nhưng không gặp thời. Giữa buổi Tây – Tàu nhố nhăng, đạo học bị phỉ báng, lễ nghi xuống cấp, những con người này, mặc dù buông xuôi bất lực nhưng vẫn mâu thuẫn sâu sắc với xã hội đương thời. Dù đã thấy rõ sự vận động tất yếu của thời đại nhưng ở họ vẫn khát khao gìn giữ những giá trị tốt đẹp. Họ không chạy theo vòng danh lợi mà vẫn cố giữ “thiên lương” và sự trong sạch của tâm hồn. Sự xung đột dữ dội giữa cái mới và cái cũ, giữa cái thanh cao và cái phàm tục, giữa cái bất biến và cái thường biến đã đẩy họ vào tình thế sống còn, gây cấn. Họ dùng hết sức lực cuối cùng để chống lại, quyết không khuất phục. Trong số những con người tài hoa ấy, nổi bật lên hình tượng ông Huấn Cao trong Chữ người tử tù. Huấn Cao là một con người tài hoa, xuất chúng. Không chỉ có tài mà, ông còn có cái tâm trong sáng. Mặc dù chí lớn không thành những tư thế vẫn hiên ngang, bất khuất. Huấn Cao là một nhân vật rất thành công của Nguyễn Tuân. Có lẽ, trong các nhân vật trong trang văn của Nguyễn tuân, Huấn Cao là nhân vật được ông để tâm nhiều nhất. Một mặt, khí phách của Huấn Cao có nhiểu tương đồng với ông: tài hoa và ngạo mạn. Mặt khác, tính cách của Huấn Cao cũng là niềm khát khao mà ông mong có được. Từ cuộc trò chuyện của viên quản ngục và thầy thơ lại, tính cách của Huấn Cao cũng được hiện rõ. Trước hết, Huấn Cao là một con người tài hoa xuất chúng. Ông nổi tiếng khắp thiên hạ là người viết chữ đẹp. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Ông lại có tài “viết chữ rất nhanh và rất đẹp”. Cái đẹp của chữ thánh hiền dưới bàn tay tài hoa của ông trở thành một nghệ thuật trác việt. Có được chữ Huấn Cao mà treo là có một báu vật trên đời. Tài năng ấy được viên quản ngục thấu cảm một cách sâu sắc, vừa trân trọng vừa hối tiếc. Trân trọng bởi đó làm một người hiếm có ở trên đời. Hối hận vì, ngôi sao ấy sắp phải ra đi. Tình yêu cái đẹp khiến cho viên quản ngục cảm thấy đau lòng. Trong khi, chính ông lại đang có trong tay Huấn Cao. Bằng quyền lực, ông có thể cưỡng ép Huấn Cao cho chữ, cách mà nhiều kẻ hèn kém khác đã làm. Nhưng viên quản ngục cũng nhìn rõ Huấn Cao không phải là người có thể dùng quyền lực hay nhục hình mà khuất phục được. Không chỉ tài hoa, Huấn Cao còn là người có võ nghệ cao cường. Ông có thể bẻ khóa vượt ngục một cách dễ dàng. Nhà tù đối với ông là nơi ra vào dễ như đến chỗ không người. Đó thực sự là một nỗi lo lắng của viên quản ngục khi nhận được lệnh tiếp quản Huấn Cao. Hội tụ đủ tài năng, Huấn cao lại còn là người khí phách hiên ngang, luôn biết giữ đạo nghĩa, khí tiết, không khuất phục trước uy quyền bạo lực. Bởi bất mãn với triều đình phong kiến thối nát mà chiêu binh khởi nghĩa. Tuy thất bại, trở thành tử tù nhưng rất ung dung, bình thản. Đối với Huấn Cao, cái chết nhẹ như lông hồng. Người anh hùng vì đại nghĩa chỉ sợ sự nghiệp không thành, nào màng đến bản thân sống chết. Nhà tù phong kiến và chiếc gông tàn bạo kia có thể giam cầm được thân thể Huấn Cao nhưng không thể nào giam giữ nổi cái chí lớn của ông. Bởi thế, mỗi bước chân của Huấn Cao đều toát lên niềm kiêu hãnh khiến cho mọi cái nhìn đều phải khiếp sợ. Đến thái độ đầy cao ngạo, khi trả lời quản ngục, người đại diện cho chính quyền phong kiến, cũng hết sức khinh bạc:“Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Huấn Cao không chấp nhận bất cứ một lòng thương hèn yếu nào. Ông không cần lòng thương hại của người khác. Ông không cần nhận lấy một ân huệ bỉ ổi nào. Ông khinh thị tất cả. Trong bước đườngcùng này, ông dũng cảm bước đến cái chết với tư thé lẫm liệt, uy nghi. Ông không muốn để cám dỗ đời thường làm mất đi cái cao cả của bậc anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất. Đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là cái trò tiểu nhân oái thị này. Huấn Cao ung dung, bình thản đón nhận, chờ đợi cái chết. Ông thản nhiên nhận rượu thịt, coi đó như việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh lúc chưa bị giam cầm. Rượu để làm tâm hồn thêm say men khí tiết. Cơm để an lòng, đủ sức mà lẫm liệt đi vào vĩnh hằng thiên thu. Mọi sự dơ bẩn của nhà tù và cuộc đời giờ đây đối với Huấn Cao như phù du cõi người. Sự đời nhân gian như gió thổi mây bay, đến rồi đi, không lưu luyến gì. Ông đã thực sự rũ bỏ lòng mình, rũ bỏ cái tầm thường, chỉ giữ lại cái tinh túy của linh hồn và bước tới. Vượt lên trên tất cả, Huấn Cao là người có thiên lương trong sáng, nhân cách cao đẹp. Ông không tham quyền hám lợi mà bán rẻ giá trị của bản thân mình. Ông không vì vàng ngọc hay quyền thế mà bắt mình phải viết câu đối bao giờ. Đó là cái mà viên quản ngục và thầy thơ lại cảm nhận được. Ông thực sự có tài. Ông có thể dùng nó để mưu lợi hoặc giải thoát mình. Không chỉ giữ gìn, quý trọng thiên lương của mình, Huấn Cao còn chân thành khuyến thiện con người. Không chỉ cho chữ, Huấn Cao còn cho quản ngục những lời khuyên hết sức chân thành và ý nghĩa. Huấn Cao khuyên quản ngục thoát khỏi cái nghề đao thương bất luận này đã rồi mới nghĩ đến việc chơi chữ. Chốn ngục tù tăm tối, luật pháp bất minh thé này khó mà giữ được thiên lương. Lời khuyên ấy cũng là lời ông muốn gửi đến cuộc đời đó thôi. Đôi khi giữa đời và đạo có nhiều điểm không tương khớp với nhau. Thôi thì chọn lấy một hướng đi tốt đẹp, tuy nghèo mà sống một cuộc đời thanh cao. Đó cũng là lựa chọn của những con người biết trọng bản thân, trọng cái đẹp và đạo lí ở đời. Kết bài: Huấn Cao quả thật là một nhân vật toát lên một vẻ đẹp khá toàn diện. Ông vừa là một con người rất mực tài hoa vừa là một con người hiên ngang khí phách, sống với một mục đích, lý tưởng cao đẹp bất chấp cả uy quyền và bạo lực. Ông luôn luôn đặt chữ “tâm” trên chữ “tài” và có quan niệm thống nhất giữa cái đẹp và cái thiện. Cái đẹp và cái thiện phải luôn luôn đi đôi với nhau, gắn bó mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau được. Huấn Cao quả là một nhân vật thật lý tưởng, đại diện cho thiên lương cao cả, bất biến của con người.
Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù-Nguyễn Tuân
1,524
Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Hướng dẫn Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Huấn Cao – một vị anh hùng lý tưởng đứng hiên ngang bất khuất giữa trang văn đầy nghệ thuật và lãng mạn của nhà văn Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Chữ người tử tù”. Người anh hùng ấy đến giây phút sắp kề đao vào cổ vẫn luôn thể hiện ý chí anh dũng và tấm lòng trong sạch của mình, quyết hi sinh chứ không bao giờ chịu khuất phục dưới chân kẻ thù. Và cũng thật đáng khâm phục cho ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân đã để lại cho đời một nhân vật lý tưởng với những vẻ đẹp kiêu hãnh, tự hào rất đáng để thế hệ sau noi theo. Huấn Cao là một người đầu đội trời, chân đạp đất. Ông luôn đi theo tiếng gọi của chân lý, của những người nông dân nghèo khổ để cùng họ đứng lên đấu tranh quyết dành lại bằng được quyền sống và quyền tự do của chính bản thân mình. Nhưng không may, ông đã rơi vào tay chính quyền và bị chúng kết án tử hình. Trong tác phẩm, ông không xuất hiện là một vị tướng đang cầm đao đánh giặc, hay đang chống lại bọn cường quyền ác độc mà lại xuất hiện với vị thế là một tử tù đang chờ ngày thi hành án. Tình thế éo leo ấy sẽ chẳng có gì đáng nói nếu ông cũng chỉ là một trong những kẻ tử tù bình thường khác. Nhưng cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông vẫn hiên ngang, vẫn ung dung bình thản. Ông không sợ đầu rơi máu chảy, lại càng không sợ đòn roi sẽ như mưa trút xuống thân mình. Ý chí kiên cường, anh dũng trong ông chưa bao giờ nguôi dù là đứng trước cái chết. Ngay từ cái lý do khiến ông bị kết án tử hình cũng đã đủ thấy rằng đây là một người anh hùng chiến đấu vì chính nghĩa, vì nhân dân. Ta không nhìn thấy Huấn Cao cầm đao giết giặc nhưng lại nhìn thấy ở ông những hành động đanh thép hẳn là chỉ dành cho kẻ thù: “Huấn Cao lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái”. Giờ đây dù đang trong thân phận là kẻ tử tù, ông có thể sẽ bị đánh đòn, bị hành hạ bất cứ khi nào nhưng mọi thứ đều chẳng làm ông nao núng. Khí phách anh hùng trong Huấn Cao chưa bao giờ bị vơi nhạt. Ông từng giết chết bao nhiêu kẻ thù, từng làm náo động cả chính quyền, hà cớ gì ông lại sợ một tên lính quèn thấp hèn nhỏ bé kia? Cái chết ngay trước mắt ông cũng chẳng hề lo sợ, huống chi chỉ là mấy đòn roi cỏn con. Thật là một người tù có khí phách của một vị anh hùng thực thụ. Một anh hùng đầy khí phách vừa anh dũng kiên cường, vừa đậm chất nghệ sĩ tài hoa, vậy mà lại rơi vào tay của kẻ địch. Thật đáng tiếc. Nhưng cũng chính từ hoàn cảnh éo le ấy, ta lại hiểu thêm một vẻ đẹp cao quý nữa từ vị anh hùng này. Đó là một tâm hồn trong sáng, lương thiện và luôn trân trọng, đề cao cái đẹp. Với tính cách của mình, ông không sợ trời, chẳng sợ đất nhưng lại sợ “phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Với thân phận là một tử tù, dưới quyền của bọn quan lại và tay sai thấp hèn kia, bọn chúng chẳng có gì ngoài những đòn roi có thể trút xuống ông những trận mưa roi bất cứ lúc nào, nhưng ông chẳng hề lay chuyển, lo sợ. Nhất là khi được viên quan coi ngục biệt đãi, ông cũng chỉ coi đó cái hứng bình sinh thường ngày. Thậm chí, khi được cai ngục mở lời dành cho những quyền lợi đặc biệt, ông đã thẳng thắn chối từ với vẻ khinh bạc, coi thường: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Ngay trong lời nói của Huấn Cao đã thể hiện đầy sự sỉ nhục, kiêu ngạo. Nhưng ông đâu biết rằng người đang đứng trước mắt mình không phải là một tên cai ngục lố bịch với những mánh khóe man rợ, gian sảo như mọi người thường thấy. Mãi cho tới khi thấu hiểu được tấm lòng biệt nhỡn liên tài của cai ngục, Huấn Cao mới bàng hoàng xúc động “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Đến giây phút này, Huấn Cao mới cảm thấu được mọi chuyện. Ông đã thẳng thắn với lòng mình và nhận lời cho chữ quản ngục ngay. “Chữ thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi”. Ông rất trân trọng nghệ thuật, trân trọng cái đẹp. Ông chẳng vì tiền tài hay lợi lộc mà đem cái tài của mình ra bán cho ai. Khí chất này khiến mọi người cảm phục và nể trọng ông hơn. Nguyễn Tuân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng lý tưởng Huấn Cao với những vẻ đẹp cao quý của một người anh hùng vừa tài ba vừa lãng mạn. Tâm hồn ông như một vị thần đầy tính lương thiện, tốt đẹp cho hậu thế noi theo.
Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
1,019