text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Đề bài: Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù
Bài làm
Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát với văn chương “vô tiền Hán”, còn nhân cách thì “một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai” làm nguồn cảm hứng sang tạo nhân vật Huấn Cao. Họ Cao là một lãnh tụ nông dân chống triều Nguyễn năm 1854. Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng, nhân cách sang ngời và rất đỗI tài hoa.
Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài viết chữ của một nho sĩ đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu đến tấm long trong sang của một người biết quý trọng cái tài,
cái đẹp.
Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ. Chữ viết không chỉ là kí hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách của con người. Chữ của Huấn Cao “vuông lắm” cho thấy ông có khí phách hiên ngang, tung hoành bốn bể. Cái tài viết chữ của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời. Viên quản ngục đến “mất ăn mất ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được chữ của Huấn Cao, “một báu vật trên đời”. Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là chủ nhân của nó phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai, là kết tinh mọi tinh hoa, khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành. Chữ của Huấn Cao đẹp đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì. Ông là con người tài tâm vẹn toàn.
Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu. Ông theo học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng. Nhưng ông đã không trung quân mà còn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội “đại nghịch”, chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la; ông thương cho nhân dân vô tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn bạo thối nát. Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân “thấp cổ bé họng”.
Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường khác: con đường đấu tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công ông bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có tài “bẻ khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là một con người hiếm có trên đời.
Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi hành án. Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao vẫn giữ được khí phách hiên ngang,kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỵch một cái” và “lãnh đạm” khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính áp giải.
Dưới mắt ông, bọn kia chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu goong, ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dùng cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình. Thật đáng khâm phục!
Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm trong hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần gì thì ông trả lời: “Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi”.
Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là…” Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn bã” của xã hội.
“Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương”, bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý.
Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Húan Cao không nhữg vui vẻ nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng:
“Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các ngươi. Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”.
Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh. Ta không vì vàng bạc hay quyền uy mà ép cho chữ bao giờ”.
Hành động cho chữ viên quản ngụ chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, biết nâng niu những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình.
Quay cảnh “cho chữ” diễn ra thật lạ, quả là cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Kẻ tử từ “cổ đeo gông, chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại, Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người đọc. Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi, để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó, tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người.
Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người ca khuyên bảo con:
“Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”.
Theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được. Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng mà thôi.
Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi’ Huấn Cao, người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của cuộc đời này. Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh phúc cho mọi người ở mọi nơi.
Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm” và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự. Xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau. | Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù | 1,492 | |
Phân tích nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa
Nam Cao là người để lại nhiều tác phẩm quí giá và ý nghĩa sâu sắc cho người nền văn học Việt Nam,ông là người có vẻ ngoài lạnh lùng ít nói nhưng lại có đời sống nội tâm phong phú và một tấm lòng nhân hậu chan chứa tình thương. Nội tâm Nam Cao thường diễn ra xung đột gay gắt giữa cái tốt và cái xấu, giữa giả dối và chân thật, giữa tinh thần cao cả và dục vọng tầm thường. Một số tác phẩm mang tính chất tự truyện như Mua nhà, Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn… đã nói lên điều đó.
Đời thừa là một trong những sáng tác đặc sắc nhất của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945. Thông qua nhân vật Hộ, tác giả phản ánh chân thực tình cảnh cực khổ, tủi nhục, bế tắc của tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ nghèo trong xã hội cũ. Thông qua tác phẩm, tác giả Nam Cao tập trung thể hiện bi kịch tinh thần của họ, từ đó đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn.
Trong truyện ngắn, nhân vật Hộ là một nhà văn có ý thức sâu sắc về cuộc sống. Anh muốn nâng cao giá trị đời sống cá nhân bằng một sự nghiệp có ích cho xã hội và được xã hội công nhận. Nhưng đáng thương thay vì gánh nặng áo cơm hằng ngày cuốn anh vào những toan tính vụn vặt, tầm thường nên rốt cục anh chẳng làm được cái gì hữu ích cho đời. Anh đau khổ vì phải sống một đời thừa, bất lực nhìn những ước mơ, khát khao đẹp đẽ bị thực tế phũ phàng vùi dập.
Vì chính niềm say mê này, Họ có thể làm tất cả quan niệm về văn chương nghệ thuật của Hộ hết sức đúng đắn và tiến bộ. Anh đã từng phát biểu ý kiến trước bạn bè về giá trị của một tác phẩm văn chương đích thực: Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình.
Nhưng khổ thay cho Hộ, anh không thể biến ước mơ thành hiện thực vì những lo lắng liên miên về vật chất, những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí của đời sống cơm áo hằng ngày mà anh phải lo cho gia đình đã choán hết tâm trí, thời gian của Hộ. Trong đó cảnh vợ yếu, con đau, nhà cửa xác xơ, túng quẫn… Cái gì cũng cần đến đồng tiền, mà Hộ thì chỉ có thể kiếm tiền bằng ngòi bút. Chính cuộc sống thực tại đã khiến Hộ phải xô bồ và chìm vào nó, không còn kẽ hở cho những lí tưởng hoài bão mà từng mơ ước nữa. Cuộc sống nghèo túng, chạy ăn từng bữa bắt buộc Hộ phải viết những điều anh không muốn viết. Đó là thứ văn cẩu thả, dễ dãi, rẻ tiền mà anh gọi là văn chương quấy loãng để rồi hình dung ra lúc người đọc chửi mình mà xấu hổ đỏ mặt, tự rủa mình là đồ khốn nạn, bất lương. Hộ nói: Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.
Chưa hết, Hộ còn rơi vào một bi kịch thứ hai cũng không kém phần đau đớn.vốn dĩ Hộ coi tình thương là nguyên tắc sống cao nhất, sẵn sàng hi sinh tất cả cho tình thương nhưng tại phải sống tàn nhẫn, thô bạo với vợ con, chà đạp lên nguyên tắc sống do mình đặt ra. Đọc tới đây người đọc muốn tìm hiểu tại sao mà lại có tấn bi kịch này,và cả hai bi kịch của anh đều phản ánh một mâu thuẫn của xã hội: người có tài, có tâm muốn sống đẹp, sống tốt thì lại phải khốn khổ.
Anh quan niệm kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình. Bản chất anh là tốt. Vì thế anh đã cứu giúp Từ, một cô gái lỡ làng và cưới Từ làm vợ. Hộ đã cúi xuống nỗi đau khổ của Từ; thực hiện một hành vi như người ta làm việc nghĩa.
Những đắng cay của đời đã đẩy hộ tới con đường của những con người thô bạo quen hành xử với người khác đầy độc và không chút suy nghĩ.. Bế tắc, anh tìm đến rượu để giải sầu,mỗi lần tỉnh rượu, Họ lại ân hận, xót xa. Anh xin lỗi vợ trong tiếng khóc nghẹn ngào: Anh chỉ là một thằng khốn nạn!
Muốn thoát li khỏi cảnh sống này, Hộ chỉ còn một cách là rũ bỏ trách nhiệm đối với gia đình, thoát li vợ con để rảnh rang theo đuổi giấc mộng văn chương. Nhưng vốn nhân hậu, Hộ không thể chấp nhận sự tàn nhẫn. Không có tình thương, con người chỉ là một thứ quái vật: Hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường..
Qua nhân vật Hộ tác giả Nam Cao xoáy sâu vào bi kịch của người trí thức, văn nghệ sĩ nghèo, từ đó kín đáo kết án cái xã hội ngột ngạt, thối nát đã tước đoạt giá trị con người, không cho con người được sống đàng hoàng, tử tế theo đúng nghĩa của nó. Hộ chính là hiện thân của họ, suy nghĩ và cách ma Hộ làm cũng giống họ làm… Họ vốn có ý thức cao về quyền sống, về đạo lí, thì đó là bi kịch tinh thần đau đớn nhất. Ý nghĩa nhân sinh của truyện ngắn Đời thừa là như thế.
Nam Cao đã rất thành công trong thể hiện những giằng xé trong bi kịch của người trí thức lúc bấy giờ. Tác giả miêu tả tấn bi kịch của những người cầm bút trung thực. Qua nội dung tác phẩm, ông muốn nhấn mạnh vấn đề tài năng sáng tạo của nghệ sĩ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa | 1,056 | |
Phân tích nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời Thừa của Nam Cao.
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời Thừa của Nam Cao.
Trong làng văn học nước nhà trước cách mạng tháng tám, đã để lại biết bao cây bút với những tác phẩm để đời,nhưng trong số những cây bút đó nổi trội hơn cả đó là cây bút mang tên Nam Cao.Bằng ngòi bút đậm chất nhân văn, nhân đạo cao cả,ông đã viết lên tác phẩm “Đời Thừa”, khắc họa thành công những nhà tri thức đương thời.
Trong tác phẩm,Nam Cao đã khắc họa nhân vật Hộ nghèo nhưng anh lại có tình yêu văn chương tha thiết.Nhưng cuộc sống không cho phép sự nghiệp văn chương của Anh phát triển,mà anh đã phải giằng xé nội tâm giữa một bên là sự nghiệp văn chương và một bên là vợ trẻ con thơ.Đây cũng chính là tấn bi kịch của những nhà trí thức trước cách mạng tháng tám.
Hộ là một nhà văn có tinh thần trách nhiệm, anh mong muốn mang lại ánh sáng cho sự nghiệp văn chương của nước nhà,nhưng lại vì nỗi lo cơm áo gạo tiền mà anh không thể theo đuổi sự nghiệp văn chương của mình.Nhiều lần anh đã nghĩ tới việc từ bỏ những nỗi lo toan của cuộc sống đời thường để tiếp tục sự nghiệp văn chương nhưng anh không thể,nhưng anh không thể quay lưng lại với vợ con. Hộ muốn tỏa sáng với nghệ thuật nhưng cuộc sống đã ghì sát anh với những lo toan vụn vặt của cuộc sống.Chính vì thế nó đã khiến anh phải giằng xé nội tâm quyết liệt.
Trước hết “Đời Thừa” Nam Cao đã xây dựng nhân vật Hộ với tấn bi kịch về văn chương.Đối với anh nghệ thuật là tấ cả,là trên hết,nó quan trọng hơn tất những cái đời thường,kể cả đói rét cũng không có ý nghĩa gì đối với gã trẻ tuổi say mê nghệ thuật như Hộ.đối với Hộ cả đời anh chỉ ước mơ viết được một tác phẩm để đời,” làm mơ những tác phẩm ra cùng thời”.Khát khao của Hộ đó là anh phải giành được giải Nobel làm sáng danh rạng rỡ nước nhà.Đồng thời Hộ cũng có quan niệm văn chương rất đúng đắn,với anh sự cẩu thả trong văn chương thật là đê tiện.Đúng vậy “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo những khuôn mẫu cho sẵn “,mà “ văn chương cần khơi những nguồn chưa ai khơi,sáng tạo những gì chưa có”,quan niệm văn chương của anh thật đúng đắn và lớn lao.Thế nhưng ước mơ đó,khát khát đó nào có thực hiện được,cuộc sống đâu phải lúc nào cũng như mình mong muốn,nó nghiệt ngã và phũ phàng hơn nhiều,nhất là trong hoàn cảnh trước cách mạng tháng tám, cuộc sống quá khó khăn,gò bó không cho phép con người sống theo ý mình,nó khiến con người ta rơi vào tình trạng bế tắc,khốn cùng,khiến người ta phải lựa chọn giữa cái thực tế cuộc sống và ước mơ cho tương lai.Đối với Hộ cũng thế,anh đã phải lựa chọn giữa sự nghiệp văn chưa và vợ con đang chờ anh biết bao thứ phải lo.Trước cuộc sống như thế,anh đã viết những gì,anh đã phản bội lại lý tưởng và ước mơ của của mình,anh đã “cho in những cuốn văn viết vội”và”gợi những tình cảm rất nhẹ,rất nông trên một thứ văn quá ư bằng phẳng và dễ dãi’,để rồi lúc anh ngồi đọc lại thì chính anh cũng không thể tin nổi đó là do anh viết,”nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối,nghệ thuật là tiếng kêu đau khổ từ những kiếp lầm than”,nó không phải là ánh sáng xanh huyền ảo,cũng không phải là cái gì đó quá xa xôi,mà nó chính là thực tế của cuộc sống hàng ngày.Hộ không mơ mộng về công danh,anh chỉ mong viết được tác phẩm để đời thế nhưng anh lại không làm được,”vì cơm áo không đùa với khách thơ”(Xuân Diệu).Làm sao anh có thể viết được khi trong đầu anh toàn những toan tính từ những chi tiêu nhỏ nhặt nhất trong gia đình anh,anh chỉ có thể cho ra đời những tác phẩm “rẻ như bèo”.
Bi kịch giấc mộng văn chương đã quá đau khổ,đẩy anh vào hoàn cảnh phải làm ngược với lý tưởng của mình,tuy nhiên anh lại thuận với gia đình cuộc sống thực tế.Chính những tác phẩm viết vội vã,không có trách nhiệm đó đã nuôi sống vợ con anh và cả chính anh trước hoàn cảnh sắp chết đói của gia đình anh.Có lẽ đây được coi là lý do duy nhất để anh không bị xem là “Đời Thừa”,anh đã cưu mang từ một cô gái đáng thương bị tình nhân ruồng bỏ với đứa con trẻ thơ mới sinh xong,đó chẳng phải là người có tình yêu thương yêu,người có tấm lòng cao cả hay sao. Dám vứt bỏ cả sự nghiệp hoài bão của mình để gánh trên vai nỗi lo cơm áo gạo tiền,những thứ mà trước kia anh không bao giờ nghĩ tới.Thế nhưng cũng chính anh viết đi chính phần người còn lại của anh,anh đã tìm đến rượu,lúc nào anh cũng say trong men rượu rồi về anh lại chửi vợ,nhưng những lúc tỉnh anh lại hối hận khi nhìn thấy Từ.Chính cái xã hội bất công và tàn nhẫn lúc bấy giờ đã đẩy anh tới mức “khốn nạn” của cuộc sống,là nguồn gốc của mọi sự đau khổ.
Nam Cao đã khắc họa một nhà văn đã phải chịu bao nhiêu nỗi đau của cuộc sống,của sự giằng xé nội tâm.Giữa một bên là sự nghiệp văn chương mà anh từng mơ ước rất nhiều và một bên là Từ,một người vợ đảm đang,ngoan hiền mà anh đã cưu mang.Đây cũng chính là hình ảnh những nhà trí thức của nước ta lúc bây giờ.Qua đây Nam Cao ca ngợi tình yêu thương,bảo vệ cho những kiếp sống đáng thương,lâm than đã phải đứng lên đấu tranh cho hạnh phúc của mình.Nam Cao đã làm đúng tư tưởng “Văn học là nhân học”,ông đã tôn lên vẻ đẹp qua những tác phẩm để đời của mình,đồng thời thay họ đứng lên lên đấu tranh về quyền sống,ước mơ cao đẹp.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời Thừa của Nam Cao. | 1,075 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Hộ để làm rõ tính bi kịch tinh thần của trí thức trước Cách Mạng Tháng Tám
Bài làm
Hộ nghèo với tinh thần yêu nghệ thuật nồng nàn nhưng lại bị giằng xé nội tâm một cách đau đớn. Cùng giở lại những trang sách, nhìn lại những nhân vật Hộ đáng thương để hiểu hơn tấn bi kịch của anh và cũng chính tấn bi kịch tinh thần của trí thức trước Cách Mạng Tháng Tám. Nhà văn Hộ sống quằn quại, đau khổ trước sự nghiệp dở dang vì nỗi lo cơm áo gạo tiền. Anh mong muốn đem ánh sáng vào nghệ thuật bằng chính trái tim đầy nhiệt huyết nhưng cuối cùng phải sống trong bóng tối vô danh, một cuộc sống ê chề, thừa thải, chán ngấy.
Đã bao lần anh muốn bứt khỏi cuộc sống đời thường để cống hiến cho văn chương nhưng cũng bấy nhiêu lần anh thất bại cũng như đối với gia đình anh không thể quay lưng với vợ hiền con thơ. Tấn bi kịch nội tâm của Hộ cũng là những trí thức đương thời. Hộ muốn sống vì nghệ thuật, sống cho nghệ thuật nhưng chỉ vì những lo lắng về vật chất đã ghì sát đất khiến anh bị giằng xé đau đớn đến quyết liệt, hủy đi khát khao văn chương và tình yêu thương con người, thế nhưng anh vẫn cố gắng giữ lối sống, lẽ sống nhân đao của mình. Bi kịch của Hộ trước hết là bi kịch văn chương. Anh ôm ấp hoài bão về sự nghiệp, đối với anh “nghệ thuật là tất cả”. Anh khinh thường những tủn mủn về vật chất: “ đói rét không có nghĩa gì đối với gã trẻ tuổi say mê lý tưởng”. Anh luôn mơ ước về một tác phẩm để đời “phải làm mờ hết những tác phẩm cùng ra một thời”. Anh phải đạt được giải Nobel, làm sáng danh của anh, rạng rỡ nền văn học nước nhà. Đó là những ước mơ tươi đẹp, trong sáng, là hoài bão của anh, là khát vọng của anh. Anh quan niệm về văn chương rất đúng đắn. Với anh “sự cẩu thả trong văn chương thì thật đê tiện”, “văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo mẫu đưa cho”, và nó “đòi hỏi sự đào sâu, sáng tạo…”. Thế nhưng cuộc đời có bao giờ như người ta mong muốn, khát khao. Anh nhận xét về văn chương đúng lắm, sâu lắm thế nhưng anh đã viết những gì. Anh “cho in những cuốn văn viết vội vàng”,”gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông trến một thứ văn quá ư bằng phẳng, dễ dãi”. Cũng như trong Giăng sáng với nhà văn Điền, “nghệ thuật không là ánh trắng lừa dối, nghệ thuât là những tiếng kêu đau khổ từ những kiếp lầm than”, nó không là “ánh sáng xanh huyền ảo”. Hộ không mơ mộng về công danh, anh muốn viết những gì có giá trị để đời thế nhưng đã phản bội lương tâm nghể nghiệp của mình. “Cơm áo không đùa với khách thơ”( X.Diệu) Cuộc sống mà đủ lo cơm áo cũng đủ mệt, trong đầu anh toàn những tính toán, lo toan cho những chi tiêu hằng ngày thì làm sao sáng tạo được. Anh càng ước mơ cho một cuộc sống như thế thì càng rơi vào bi kịch tinh thần đau đớn. Ô! giá như anh không có những giấc mộng văn chương thì anh đâu đau khổ đến thế mà nếu như anh cứ được bay mãi với giấc mộng thì anh cũng không bị giằng xé đến thế này. Nhưng “đau đớn thay cho những kiếp sống muốn bao cao nhưng bị cơm áo ghì sát đất” (Sống mòn), “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” (Tản Đà) mà anh lại gánh cả gia đình trên vai thế này thỉ “bay” là sao được.
Bi kịch giấc mộng văn chương có phần đau khổ đẩy anh vào mộ đời thừa. Anh phải viết ngược lại với những gì mình mong muốn, thề nhưng dù là trái với đạo đức nghề nghiệp nhưng anh lại thuận với gia đình. Những cuốn văn viết vội vã đã nuôi sống vợ anh, con anh và chính anh khỏi chết đói. Đó là một chút ý nghĩa còn lại, một chút có ích của cuộc sống “Đời thừa”. Nguyên tắc về tình thương có lẽ là sợi dây níu giữ anh lại. Anh hy vọng vào sự ôm ấp lòng thương người có thể khiến anh không trở thành vô nghĩa. Anh thừa thải trong xã hội nhưng là nguồn sống của Từ, của gd. Anhcưu mang đời Từ, một người đàn bà bị phụ tìnhvới đứa con mới sinh. Có lẽ bởi cái lẽ sống “ kẻ mạnh là kẻ giúp kẻ khac trên đôi vai mình”, một lý tưởng sống cao đẹp. Thế nhưng chính bản thân anh cũng giết chết phần người nhất trong con người của anh. Anh nghĩ cạn quá khi xem chính gia đình là nguyên nhân cho cái bi kịch vỡ mộng sự nghiệp. Nào có phải thế đâu, Từ đảm đang, hiền thế cơ mà. Xã hội, chính xã hội “chó đểu” lúc bấy giờ là ngọn nguồn xuất phát bao đau khổ. Xã hội đã không đánh giá đúng tài năng và vì xã hội đã làm nghèo ngày càng nghèo, bị áo cơm ghì chặt đến nghẹt thở. Và rồi anh tìm đến rượu. Anh không say trong men rượu, men tình mà anh chết trong rượu. Rượu khiến anh trở thành vũ phu, vô học. Nó đáng đồng kẻ tốt người xấu, kẻ giàu, người nghèo. Rượu không giúp anh tìm thấy tình cảm như Chí Phèo mà nó hành hạ anh, đưa anh đến lối cùng. Bi kịch đau đớn nhất chính là anh đã vi phạm nguyên tắc tình thương cao cả do mình đặt ra. Đó thực sự là nỗi đau không gì sánh được. Trước bi kịch trong sự nghiệp, nhà văn Hộ cảm thấy ray rứt. Cũng như Chí Phèo gieo rắc tội lỗi của mình trong làng Vũ Đại, thầy giáo Thứ đưa vào đầu hs nhữg thứ chán nản thì Hộ đã gieo những tình cảm rất nông, rất nhẹ, đưa đến người đọc những bài viết mà người ta đọc rồi quên ngay sau lúc ấy. Ray rứt đau khổ vì không tròn với lương tâm nhưng trước bi kịch của gia đình trái tim anh vỡ vụn. Qúa đau khổ vì lẽ sống không còn. Hộ đi vào đường cùng. Nam Cao khắc họa nên Hộ một nhà văn chịu bao đau khổ bởi tấn bi kịch nội tâm qua đó cũng chính là tấn bi kịch của trí thức đương thời.Nhân vật Hộ đã thay Nam Cao bộc lộ tư tưởng nhân đạo mới mẻ, sâu sắchay cao hơn là cảm hứng nhân văn. Hộ đã bộc lộ nên những giá trị vật chất bên trong con người từ đó mà Nam Cao đã ca ngợi, yêu thương, bảo vệ cho những kiếp sống đáng thương và đấu tranh cho hạnh phúc của họ, để họ sống với lẽ sống nhân đạo của mình. Cũng có ý kiến cho rằng Hộ là Nam Cao nhưng với tôi không phải vậy. NC và Hộ không giống hoàn toàn. Thật sự NC từng chịu nỗi lo cơm áo như Hộ nhưng ông không phải “đỏ mặt”, “tức giận” vì những bài viết mang tên mình. Như Chí Phèo, Đời thừa, Đôi mắt,…
Nam Cao đã rất thành công. Đó là nơi mà tài năng nghệ thuât của ông nảy nở. NC đã bộc lộ gợi nên những tư tưởng nhân văn của mình một cách mới mẻ mà sâu sắc. cò thể nói NC đã làm đúng tưởng “văn học là nhân học”, ông đã tôn lên vẻ đẹp nhân bản qua những tác phẩm để đời của mình. Đồng thời nó cũng đậm chất nhân văn vì ông đã thay họ đứng lên đấu tranh để bảo vệ quyền sống, lẽ sống, khát vọng, ước mơ cao đẹp. đó là những nổi bật có giá trị của NC về mặt tư tưởng trong các tác phẩm nói chung và trong “Đời thừa” với nhân vật Hộ với bi kịch tinh thần nói riêng. Nếu Chí Phèo kết thúc với cảnh Thị Nở thoáng thấy cái lò gạch vắng kẻ lại qua, thì Đời thừa cũng không khá hơn mấy. Không ai biết được sẽ có một Chí Phèo con ra đờn hay không và cũng không ai biết được sau tiếng khóc, tiếng nấc của Hộ anh sẽ hạnh phúc trong cuộc sống của mình: Tất cả là bởi cái xã hội đương thời bóp chết cái ước mơ tốt đẹp của con người, những nhà văn không được viết theo ý của mình và họ muốn sống tốt cũng không được. Thật đau khổ vì họ biết tại sao mình khổ nhưng không thể thoát ra và Nam Cao đã giúp họ nói lên tất cả, vạch trần cái xã hội giết chết trí thức đương thời. “Tiếng hát đi từ trái tim lên miệng”. | Phân tích nhân vật Hộ để làm rõ tính bi kịch tinh thần của trí thức trước Cách Mạng Tháng Tám | 1,557 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
Bài làm
Đoạn truyện ngoài việc giới thiệu Lục Vân Tiên còn cho ta biết về Kiều Nguyệt Nga – một cô gái khuê các gặp bước hiểm nghèo, may được Lục Vân Tiên cứu thoát, ở đoạn trích này, tính cách của Kiều Nguyệt Nga được biểu hiện thông qua những lời giãi bày của nàng với Lục Vân Tiên:
Trước xe quân tử tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.
Chút tôi liễu yếu đào tơ.
Những chữ quân tử tạm ngồi đối lập với tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa, chút tôi… không chỉ nói lên thái độ mang ơn, chịu ơn mà còn bộc lộ rõ nét sự thùy mị, nết na của người con gái trước ân nghĩa là một đấng tu mi nam tử. Nhưng cao đẹp nhất là phẩm chất ân tình được bộc lộ sâu sắc trong nguyện vọng và cách trả ơn của Kiều Nguyệt Nga. Nàng muốn được đền ơn cho ân nhân của mình:
Hà Khê qua đó cũng gần,
Xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng.
Là một cô gái rất mực đằm thắm ân tình, Kiều Nguvệt Nga muốn được đền ơn một cách cụ thể, trả ơn một cách xứng đáng cho Lục Vân Tiên:
Gặp đây đương lúc giữa đàng,
Của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không.
Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.
Cách trả ơn của Kiều Nguyệt Nga ở đây không chỉ bộc lộ ở tấm lòng chân thành của người mang ơn, mà còn nói lên quan niệm trả ơn của nhân dân ta: không chỉ bằng lời cảm ơn suông, mà còn bằng vật chất cụ thể, bởi chỉ có như vậy mới chứng tỏ được tấm lòng chân thành của mình đối với ân nhân.
Suy cho cùng nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga chính là hai mặt của một cách sống. Một là làm ơn không cần người khác đền ơn. Hai là chịu ơn thì phải nhớ ơn. Đó cũng là tính cách sống có tính truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam chúng ta. Một cách sống cần được giữ gìn và phát huy. | Phân tích nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga | 376 | |
Phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ
Hướng dẫn
Bài tập làm văn phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam lớp 11 bao gồm dàn ý phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ hay nhất.
Dàn ý phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ
I. Mở bài
– Liên là nhân vật trong truyện của Thạch Lam
– Tâm trạng của nhân vật Liên là tâm trạng trung tâm của truyện
– Tính các và tâm hồn của nhân vật được thể hiện qua ánh mắt quan sát và những suy nghĩ khi sống tại một huyện nghèo
– Là một nhân vật được tạo dựng với nhân vật có tâm hồn đẹp tiềm ẩn
II. Chi tiết
1. Cô bé có tâm hồn nhạy cảm tinh tế nhân hậu của một đứa trẻ biết yêu thương.
a. Yêu thiên nhiên
– Cảnh ngày tàng:
+ Tiếng trống thu không
+ Tiếng ếch nhái kên ran ngoài đồng ruộng
+ Tiếng muỗi vo ve
+ Bầu trời hoàng hôn làm cô bé ưu tư hơn
– Không chỉ yêu cảnh vật, bằng tâm hồn mình Liên yêu luôn cảnh vật nơi đây.
– Quan sát cảnh phiên chợ tàn Liên cảm nhận được sự tiêu điều của vùng quê nghèo khí này
– Liên yêu mảnh đất này đến nổi thuộc luôn cả nùi cát bụi
– Liên tìm thấy ở vùng quê nghèo khó này có vẻ đẹp bình dị và đầy chất thơ
– Cảm nhận về cảnh đẹp buổi đêm rất trong trẻo
=> Tâm hồn của Liên luôn yêu thiên nhiên và có tình cảm đặc biệt với vùng đất nghèo này.
b. Thông cảm cho nổi khổ của con người tại vùng đất nghèo
– Liên yêu và cảm nhận được cuộc sống cơ cực của người dân quê
– Ngoài đồng cảm với những người nghèo khó Liên còn cảm nhận được sự bế tắc tù đọng trong cuộc sống của người dân.
– Cái nhìn của Liên thấm đượm tình yêu sâu xa
=> Một tâm hồn trẻ thơ trong sáng, giàu tình yêu
2. Một cô bé có ước mơ và hướng tới tương lai
a. Tâm hồn luôn hướng về ánh sáng
– Trong màn đêm em luôn tìm một ánh sáng từ một nơi xa
– Liên ngước lên trời tìm những vì sao sáng
– Liên còn tìm ánh sáng với những ngọn đèn
– Tâm hồn em như một mầm cây khỏe khoắn luôn hướng về nơi có ánh sáng
b. Hướng tới tương lai
– Liên cố thức đợi chuyến tàu để bán hàng, đó không phải là lí do, mà là em đợi tàu để được nhìn thấy một cộc sông náo động, một nguôn sáng rực r
– Con tàu như một cuộc sống khác, một thế giới khác
– Cô bé đón tàu với tất cả niềm hân hoan và vui sướng
III. Tổng kết
– Một tâm hồn ngây thơ trong sáng, yêu thiên nhiên, yêu con người
– Biết nhìn về tương lai và có mơ ước.
Bài văn mẫu phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ
Phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ – bài 1
Thạch Lam là một ngòi bút truyện ngắn được nhiều người yêu thích Không phải vì cốt truyện đặc biệt, vì tình tiết li kì, mà chủ yếu là do ông đã sáng tạo ra một lối truyện ngắn: loại truyện tâm tình. Sức hấp dẫn của truyện ngắn Thạch Lam là ở tâm trạng nhân vật. Có thể thấy điều đó qua tâm trạng cô bé Liên đêm đêm thức đợi xem chuyến tàu đi qua phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của ông.
Vì sao đêm nào cũng vậy, Liên (và em) đều cố thức để đợi xem chuyến tàu đi qua phố huyện? Tâm trạng thức đợi tàu của Liên như thế nào? Muốn hiểu được điều đó phải bắt đầu từ cuộc sống của em ở cái phố huyện này.
Đó là cuộc sống buồn tẻ, đơn điệu, tàn lụi và đáng thương nơi phố huyện trong thời khắc của một ngày tàn. Phiên chợ chiều đã vãn, phô bày tất cả cái nghèo nàn, cái tiêu điều xơ xác trong hình ảnh những đứa trẻ lom khom tìm kiếm, nhặt nhạnh trong rác rưởi, và tiếng trống thu không dội xuống phố huyện, từng tiếng, từng tiếng mòn mỏi, rời rạc, buồn thấm thìa… Rồi đêm tối bao phủ kín mít phố huyện, bủa vây những kiếp người sống lầm lũi tội nghiệp như những cái bóng: mẹ con chị Tí hàng nước, bác phở Siêu, gia đình bác xẩm với manh chiếu, chiếc chậu thau sắt và đứa bé bò lê la trên rác bẩn, một bà lão điên mua rượu uống cười sằng sặc… Đến mức cái ánh lửa từ thùng phở bác Siêu chỉ hắt ra một vầng sáng con con và ngọn đèn leo lét trên chõng hàng nước chị Tí cũng “chỉ chiếu sáng một vùng leo lét trên chõng hàng nước chị Tí cũng “chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ” – biểu tượng về những kiếp sống nhỏ nhoi leo lét, vô nghĩa giữa đêm tối mênh mông của cuộc đời. Hình ảnh ngọn đèn con của chị Tí cứ trở đi trở lại đến bảy lần trong mấy trang truyện ngắn như một ám ảnh không thôi về cuộc sống héo hắt, tội nghiệp nơi phố huyện nghèo nàn, tăm tối.
Chính giữa cảnh điêu tàn như vậy của phố huyện, Thạch Lam đã miêu tả tâm trạng khắc khoải chờ đợi chuyến tàu của Liên. Đó là cô bé đã từng có những ngày sống ở một nơi không đến nỗi nghèo khổ và tối tăm như thế. Với Liên, nơi ấy, Hà Nội luôn đọng lại một kỉ niệm xa xôi và mơ hồ nhưng bao giờ cũng êm đềm, đẹp đẽ rực rỡ ánh sáng và niềm vui. Ngày nào cũng giống hệt ngày nào, cuộc sống cứ lặp lại một cách đơn điệu, tẻ ngắt: sáng dậy mở cửa dọn hàng, bán hàng; chiều tối lại kiếm tiền, thu hàng – và đó là những món hàng nhỏ nhoi không hề thay đổi: một bao diêm, một cuộn chỉ, mấy bánh xà phòng… Chi tiết chiếc chõng tre cũ, sắp gãy được Thạch Lam đưa vào đây thật đầy ý nghĩa: cuộc sống của hai đứa trẻ lớn lên sao mà đã sớm già nua tàn tạ! Cái thế giới mà Liên và em gái đang sống, đang tiếp cận ngày này qua ngày khác chỉ có thế. Đâu là niềm vui biết lấy gì mà kì vọng?
Tâm trạng buồn chán của Liên đã dẫn đến khát vọng muốn thoát ra khỏi cuộc sống mà cô đang phải sống, dù chỉ để hi vọng vu vơ về một cái gì ở bên ngoài khác với cái thế giới ngưng đọng và tàn lụi này. Cô phải tìm đến một cuộc sống khác, dù cuộc sống ấy chỉ đi qua trong khoảnh khắc. Và cô đã tìm thấy nó trong hình ảnh đoàn tàu đi qua phố huyện mỗi đêm. Dù buồn ngủ ríu cả mắt, cô vẫn thức đợi tàu. Để được, trong chốc lát, thoát ra khỏi cuộc sống nhàm chán, đơn điệu hiện nay. Đoàn tàu là một nhu cầu bức thiết về tinh thần của cô, vì chuyến tàu là hình ảnh một thế giới khác đi qua cuộc đời cô, một thế giới giàu sang, nhộn nhịp, huyên náo và đầy ánh sáng. Trong cả một ngày dài buồn tẻ, đây là những giây phút bừng sáng và hạnh phúc của cô, dù là chỉ sống trong mơ ước tưởng tượng.
Bởi vậy, khi tàu đến thì tâm hồn Liên bị cuốn hút ngay vào đoàn tàu – đoạn này được Thạch Lam miêu tả sinh động và đẹp: “Liên phắt đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng”. Đoàn tàu đã đi qua nhưng tâm hồn Liên thi vẫn gửi hút theo nó mãi cho đến khi chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre. Đến lúc ấy, cô như sống trong mơ tưởng, trong sự tiếc nuối một cái gì đã qua nhưng dư vang của nó thì vẫn còn đọng lại rõ rệt trong tâm hồn mình: “Liên lặng theo mơ tưởng, Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn, đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng”. Trong tâm trạng cô bé có sự tương phản rõ rệt giữa hai cuộc sống: cuộc sống đẹp đẽ của ước mơ và cuộc sống nơi phố huyện.
Khắc họa thành công tâm trạng đợi tàu của bé Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ. Thạch Lam muốn nói với người đọc nhiều điều sâu sắc. Đó là cuộc sống buồn tẻ đáng thương của những đứa trẻ trong chế độ cũ, và suy rộng ra, là cuộc sống của những kiếp người nhỏ bé, vô danh, không bao giờ được biết đến ánh sáng và hạnh phúc, cuộc sống mãi mãi bị chôn vùi trong tăm tối, nghèo đói, buồn chán nơi phố huyện, và rộng ra, trên đất nước còn chìm đắm trong cảnh nô lệ đói nghèo. Những cuộc đời mới đáng thương sao, nhưng lại có những ước mơ bé nhỏ, tội nghiệp mà chân thành tha thiết và cảm động rất đáng trân trọng như ước mơ đợi tàu đêm đêm của cô bé Liên. Ước mơ đó đã lay tỉnh những tâm hồn uể oải, đang lụi tắt, đốt lên trong lòng họ ngọn lửa của lòng khao khát được sống trong cuộc sống có ý nghĩa hơn, khao khát thoát khỏi cuộc đời tăm tối đang muốn chôn vùi họ.
Phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ – bài 2
Thanh Lam là một trong những cây viết truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông là thành viên của nhóm tự lực văn đoàn nhưng ông mang một nét rất riêng so với các nhà văn trong nhóm. Văn của tự lực văn đoàn thường đượm một nổi buồn lãng mạn còn văn của Thạch Lam lại chất chứa những nổi buồn hiện thực. Nó như một thứ “Hương hoàng lan”, được cất từ những nổi đời. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” in trong tập “Nắng trong vườn” (1938), tác phẩm này tiêu biểu cho phong cách của Thanh Lam. Đó là kiểu truyện ngắn trữ tình đượm buồn. Nét phong cách này thể hiện sâu sắc ở khung cảnh phố huyện và tâm trạng đợi tàu của nhân vật Liên. Truyện ngắn của Thạch Lam là kiểu truyện ngắn trữ tình buồn hiện thực, không có cốt truyện, giàu cảm xúc, nhẹ nhàng và thấm thía như một bài thơ.
Bức tranh phố huyện được miêu tả theo trình tự thời gian, cảnh phố huyện lúc chiều xuống. Cảnh phố huyện lúc về đêm. Cảnh đợi tàu và cảnh phố huyện lúc có chuyến tàu khuya đi qua. Liên là một cô gái nhỏ vì cha mất việc, cả nhà phải chuyển từ Hà Nội về sống ở một phố huyện nghèo…Tuy còn nhỏ mà Liên đã tỏ ra đảm đang, thay mẹ trông coi một quán tạp hóa nhỏ để kiếm sống và Liên cũng rất chu đáo khi thay mẹ chăm sóc bé An. Đặc biệt Liên là một cô gái nhỏ dịu hiền, nhân hậu, đa cảm. Tâm trạng của Liên được khắc qua bốn cảnh ở phố huyện, như bốn nấc thang tâm lí: chiều muộn, đêm về, cảnh đợi tàu và chuyến tàu khuya. Bức tranh thiên nhiên trong phố huyện khi ngày tàn được hiện lên qua điểm nhìn nhạy cảm và tinh tế của Liên. Đó là “ Một buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran, ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng muỗi đã bắt đầu vo ve”. Trong bức tranh ấy có sự hòa trộn giữa hai hình ảnh: hình ảnh êm đềm lãng mạn và hình ảnh gợi sự nghèo khó, bần cùng. Phải chăng do cảnh chiều tàn mà gợi cho Liên nổi buồn: “Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngạp đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy long buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn.” Thật khó để phân định rành rọt nỗi buồn ngoại cảnh thấm vào tâm cảnh hay nổi buồn tâm cảnh lan tỏa ra, nhuốm vào ngoại cảnh. Ta chỉ thấy ở đây là một nổi buồn sâu sắc trong tâm trạng. Chỉ có sự cảm nhận tinh tế và nhạy cảm như Liên mới thấu hiểu nó. Liên tuy không lam lũ vất vả như những mảnh đời kia. Nhưng lại là số phận đáng thương nhất. Vì quá khứ tươi đẹp của hai chị em Liên đã thuộc về dĩ vãng. Hiện tại thì buồn tẻ, tăm tối, bế tắc. Đúng là cuộc sống phố huyện cứ đang tàn dần, lụi dần trong đói nghèo lam lũ quẩn quanh. Những tâm hồn mới lớn như chị em Liên, chứng kiến những cảnh đó không buồn sao được, nhưng nổi buồn cũng chỉ man mác đọng trong đôi mắt Liên “bóng tối ngập đầy dần” nó đang thấm dần vào tâm hôn Liên. Phố huyện như một sân khấu cuộc đời chỉ độc diễn một màn buồn tẻ, không có sự thay đổi của cả người lẫn cảnh. Đó là cuộc sống cứ “mốc lên, mòn đi, mục ra, rĩ ra” không lối thoát. Nó gợi liên tưởng bởi hình ảnh “chiếc ao đời phẳng lặng”.
Nhà văn không trực tiếp tả tâm trạng này của Liên, nhưng cảnh vật và cuộc sống qua cái nhìn của Liên đã khắc họa được tâm trạng đó. Sống trong hoàn cảnh như vậy, chị em Liên sao không khỏi chờ đợi một cái gì đó dù mơ hồ. Nổi buồn dường như thấm thía hơn. Nhưng không hi vọng thì làm sao sống nổi. Và chuyến tàu đêm đã thắp lên niềm hi vọng đó. Cảnh chuyến tàu khuya và tâm trạng buồn vui của Liên, trong cả chuỗi thời gian dài buồn tẻ, thì ánh sáng, tiếng còi tàu chính là niềm vui lớn của hai chị em. Hai đứa đêm nào cũng náo nức thức chờ tàu. Chúng không chờ tàu để bán hàng, đó là niềm vui tinh thần của hai chị em. Khi đoàn tàu đến Liên và An đứng cả dậy, hướng về phía con tàu, và khi nó đi rồi, “Liên vẫn lặng theo mơ tưởng”, con tàu đến rồi lại đi nhanh để lại trong hai đứa trẻ nổi buồn tiếc. Tàu đi rồi, phố huyện lại trở về với đêm tối và sự tĩnh lặng, càng nặng nề hơn. Niềm vui của hai đứa trẻ vừa lóe lên lại bị dập tắt như đám than bổng bùng lên cháy rực rồi lại lùi dần trong đêm. Nổi chờ đợi bắt đầu khắc khoải từ khi bóng chiều xuống, đêm về và phố huyện vào khuya. Hai đứa trẻ chờ đợi từng bước đi của thời gian, từng bước xích lại gần của chuyến tàu: tàu sắp đến, tàu vuột qua, tàu đi rồi chỉ còn lại ánh đèn ghi đỏ xa mãi rồi khuất sau rặng tre. Đêm tối lại bao bọc phố huyện.
Miêu tả khung cảnh phố huyện buồn, nghèo nàn, tẻ nhạt, bế tắc và tâm trạng của hai đứa trẻ đặc biệt là Liên một cách trực tiếp và gián tiếp. Qua hiện thực và hồi ức đan xen, miêu tả bằng một giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, giàu chất thơ, nhà văn bộc lộ niềm xót thương những kiếp người đói nghèo, cơ cực, sống quanh quẩn, bế tắc trong xã hội cũ.
Từ đó tác giả như muốn lay tỉnh những tâm hồn uể oải, đang lụi tàn. Muốn nhen lên trong họ ngọn lửa khát khao được sống một cuộc sống tươi đẹp, ý nghĩa hơn. Khát khao thoát khỏi cuộc đời tăm tối đang chôn vùi họ. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã thể hiện sâu sắc cái tài và cái tâm của Thạch Lam.
Phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ – bài 3
Thạch Lam là một nhà văn lãng mạn tiêu biểu của Tự Lực Văn Đoàn, thế nhưng ông lại có một lối đi riêng khiến văn chương của ông vừa tràn đầy vẻ đẹp lãng mạn mà vẫn đậm chất hiện thực. Truyện ngắn tiêu biểu Hai đứa trẻ của ông đã giúp người đọc không chỉ nhìn ra sự thực cuộc đời mà còn thấy được những giấc mơ lãng mạn của con người dù cho họ có bị bỏ rơi trong nghèo khổ. Và nhân vật trung tâm của câu chuyện đó là chị em Liên.
Vũ trụ nghệ thuật của Hai đứa trẻ là vũ trụ của bóng tối. Chọn cái “giờ khắc của ngày tàn” để khởi đầu trang truyện và đặt nhân vật của mình vào lòng đêm thăm thẳm, bí mật và ngập tràn bóng tối, nhà văn đã rất “hiện thực” trong việc miêu tả kiếp sống con người. Trên cái nền kiến trúc cơ bản: sáng và tối, Thạch Lam đã triển khai cuộc sống cho các nhân vật của mình, từ đó làm bật lên những điều bi thiết mà nhà văn muốn gửi gắm.
Khung cảnh Hai đứa trẻ xác xơ, tiêu điều và ngập đầy bóng tối. Thế giới nhân vật hiện hình hầu hết là những cuộc đời bóng tối: đám trẻ con nhếch nhác nhặt rác ở mặt chợ, mẹ con chị Tí với một gia tài nghèo nàn thảm hại, bác Xẩm mù chỉ biết bần bật mấy tiếng đàn trên chiếc chiếu rách với cái thau sắt trắng chờ tiền thưởng nằm trống trơ trước mặt, rồi bà cụ Thi hơi điên điên, bác phở Siêu gánh phở đi bán rong…
Có thể nói, nhịp thở của phố huyện trong Hai đứa trẻ phập phồng một sự sống tàn lụi, khuất lấp. Nó xào xạc, u tối và hiu quạnh. Trong cái ao tù ấy, theo dòng chảy thời gian, những con người có tên lẫn không tên cứ hiện ra như những vụn đời bé nhỏ âm thầm, yên lặng nhiều hơn là cử động, nếu cử động thì khẽ khàng, sè sẽ, chầm chậm, từ từ: gượng nhẹ, cúi nhìn, lặng ngước mắt lên, gượng nhẹ ngồi, khẽ quạt… Họ nghĩ nhiều hơn nói, nếu nói thì nhỏ nhẹ, chậm rãi, bâng quơ, vẩn vơ, ơ hờ,… hỏi cho có chuyện, và đáp cũng vì thế phẳng lặng, nhạt nhẽo, rời rạc. Họ hoạt động theo một nếp sinh hoạt có phần máy móc, quán tính, dọn hàng chờ đợi rồi dẹp hàng, gánh phở ra phố rồi kĩu kịt gánh trở về.
Dường như đối với họ, cuộc sống chẳng bao giờ đem lại một cơ may, vì thế họ không có những dằn vặt nội tâm, hay những giằng xé về món nợ áo cơm. Ở họ, an phận là lẽ sống. Cứ thế, họ sống lặng lẽ, bình tĩnh, nhẫn nhịn, một sự nhẫn nhịn bất đắc dĩ của kiếp người. Vì thế, mong ước của họ chỉ là nỗi khắc khoải mơ hồ, chập chờn và vu vơ. Phần lớn các nhân vật trong Hai đứa trẻ được Thạch Lam lược giản tối đa để chỉ còn lại tựa hồ như những cái bóng thầm trong một vũ trụ bóng tối rộng lớn vô cùng.
Thế nhưng, trong những cái bóng nhập nhòa của đời sống phố huyện ấy lại hiện diện chỉ một tâm hồn biết sống. Tâm hồn ấy là Liên. Liên vừa hòa vào khối người trong bóng tối, vừa tách ra như một điểm nhìn đầy ý thức của ”cái tôi”. Cô bé không chịu tự đánh mất mình trong một tổng thể nhạt nhòa dễ lẫn. Mở đầu tác phẩm, người đọc bắt gặp hình ảnh Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm vào tâm hồn ngây thơ của chị” và “chị thấy buồn man mác trước cái giờ khắc của “ngày tàn”.
Liên một cô bé – người lớn, nghĩa là Liên không còn hoàn toàn trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người lớn. Tác giả gọi Liên là “chị” vì cô bé như một trái cây chín sớm trước dòng chảy nghèo khó của kiếp người. Liên đã biết quan tâm săn sóc em bằng tình cảm trìu mến, dịu dàng như người mẹ. Liên lại đảm đang tảo tần thay mẹ quản lý cửa hàng tạp hóa như một người lớn. Liên chính là một cô bé có tâm hồn trẻ dại với những khao khát hồn nhiên, thơ ngây, bình dị nhưng đã sớm bước vào đời để kiếm kế sinh nhai. Liên chính là hiện thân của một kiếp sống nghèo khổ, an phận của con người tại một phồ huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
Thế nhưng, trong cái hun hút khuya đêm, trong bóng tối tĩnh lặng của đời mình, Liên đã nhìn vào lòng đêm mà khắc khoải nhận ra một thứ hào quang cao rộng, xa xôi hơn của kiếp người. Đôi mắt mở to của cô thiếu nữ không chịu ngủ yên. Cuộc sống diễn ra trước mắt người khác sẽ lặng lẽ như một thứ ao tù, nhưng tâm hồn tinh tế nhạy cảm của Liên đã tự thấy ở cõi lụi tàn ấy cả một sự sống xôn xao. Đằng sau dáng ngồi bất động và gương mặt ưu phiền của Liên là cả một ”cái tôi” đa cảm và trầm tư. Bên ngưỡng cửa của người lớn, Liên vừa cứ hồn nhiên vừa biết lo toan, Liên đã cảm nhận cái gì đó thật mơ mộng, bâng khuâng mà cô bé không đặt tên nỗi: “Liên không hiểu tại sao chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”.
Cho nên người đọc không lạ gì khi đôi mắt ngập buồn của Liên có thể vừa nhận ra sự giống nhau vừa nhận ra sự khác nhau trong các loại đèn: đèn nhà bác phở Mỹ, đèn Hoa kỳ leo lắt ở nhà ông Cửu, đèn dây sáng xanh ở hiệu khách, đèn ma trơi của tàu,… Thế giới còm cõi, đơn điệu với cô vì thế chẳng hề vô cảm. Tiễn một ngày tàn ở phố chợ hiu quạnh, từ cái mùi âm ẩm của xác lá và rác bốc lên hơi nóng của ngày lẫn mùi cát bụi, cô cũng nhận ra ở đấy có mùi riêng của đất quê hương, ở đấy có một cái gì rất đằm thắm, rất riêng tư. Cô còn nhận ra nỗi cô đơn muốn đồng cảm níu kéo gặp gỡ của những con người ”mặc dù đòn gánh đã xỏ sẵn vào quang rồi” nhưng cứ chưa rời nhau vì cố “đứng nói chuyện với nhau ít câu nữa”. Để lắng nghe và cảm thức được những điều ấy, rõ ràng tâm hồn cô bé Liên phải hết sức gắn bó âu yếm với mảnh đất này, một sự gắn bó chỉ ở một tâm hồn lãng mạn mới có.
Ở nhân vật Liên, chúng ta có cảm tưởng rằng, Liên cũng chỉ quẩn quanh trong cái ngõ cụt như bao kiếp phận khác. Vì có gì buồn bằng bóng tối, có gì đáng sợ hơn bóng tối, ấy thế mà giữa cái tối vây quanh hun hút, Liên không thấy buồn, nhất là “đêm tối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa”. Thực ra, tâm cảm của Liên đã quên bóng tối, cô để cho đôi mắt của mình bắt lấy mọi thứ ánh sáng, từ vệt đom đóm bay đến ngọn đèn con của chị Tí, từ những hột lửa của đoàn tàu bắn ra đến ”hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh”, nghĩa là từ mặt đất quá thiểu não, nặng nề, tâm hồn bay bổng đã lặng lẽ tách Liên ra khỏi cuộc đời tăm tối để sống những phút giây mơ ước hi vọng, dẫu đó chỉ là những giấc mơ hão huyền.
Hình ảnh đoàn tàu với Liên vì thế chất chứa một vẻ đẹp của ngày qua. Ở đó, lặng theo mơ tưởng, một thế giới hoài niệm nơi ký ức sâu đằm hiện lên ngân nga một dư vị ngọt ngào. Đó là một trang cổ tích ngày xưa bỏ quên ở Bờ Hồ, nơi hai chị em đã từng ”uống cốc nước lạnh xanh đỏ thần tiên”. Quá vãng đã trào lên muôn sắc hào quang, dù không rõ rệt nhưng vẫn hấp dẫn và quyến rũ mê hồn với những nhân vật lãng mạn. Vì vậy, ta hiểu vì sao Liên là nhân vật duy nhất trong phố huyện cố thức không phải chỉ để ”may ra còn có người mua” mà chỉ muốn được nhìn chuyến tàu. Đó là hạnh phúc duy nhất trong ngày, và phải chăng còn là mơ ước cả một đời ở con người. Vì thế con tàu trong mắt Liên đồ sộ lạ lẫm và đi với tốc độ phi thường, vừa tới đã vụt qua. Và cô bé đã xốn xang như uống lấy tiếng động của nó, sắc màu của nó. Thế nhưng, như một thứ trò chơi của số phận, con tàu mà Liên ngưỡng mộ khát khao đến rồi đi, trả lại cho cuộc đời thực cái bóng đêm cố hữu như số phận. Nó chỉ là một con sóng đột nhiên dội tới mặt nước bằng phẳng từ hãm của cuộc đời. Cái còn lại sau đó là môt bầu trời đầy sao, và Liên cũng như bao con người khuất lấp khác lại tiếp tục lầm lũi cẩn thận gài then cửa, vặn nhỏ ngọn đèn, khép lại cánh cửa thường nhật để gieo mình câm lặng trong bóng tối.
Nhưng ngày mai, ngày mai lại bắt đầu, và giấc mơ của Liên sẽ trở lại,… Trong mắt nhìn của Thạch Lam, nhân vật Liên là thế đấy, một nhân vật lãng mạn. Có thể nói, thiên truyện Hai đứa trẻ vừa là một bức tranh hiện thực độc đáo, vừa là một phát hiện lãng mạn đáng giá về con người. Nói như một nhà nghiên cứu, hai đứa trẻ vừa nhỏ nhoi như hạt bụi vô thường vừa là một chủ thể nhạy cảm biết nhận ra mối liên hệ với thời gian và vũ trụ, với cuộc sống và con người, luôn khát khao tự tìm kiếm lại mình trên mảnh đất đầy nỗi buồn và sự gian khó này. Chính điều này, dù chỉ với một kiếp sống mỏng manh cùng một đời văn ngắn ngủi nhưng chỉ vài trang văn ít ỏi đối thoại với đời, Thạch Lam là nhà văn gây nhiều vang vọng nhất trong sự suy tư về kiếp người.
Bằng một thứ ngôn ngữ đầy ám ảnh, ngân vang chất thơ, chất nhạc, Thạch Lam đã “phản ánh” được hiện thực những cuộc đời bé nhỏ như ”những chiếc đèn con”, nhưng tất cả tình thương của ông lại tụ hội nơi quầng sáng bé nhỏ của những tâm hồn biết đi tìm cái đẹp, niềm mơ ước, mang khát vọng được chia sẻ, được sống trong hạnh phúc ấy. Và nhờ thế khiến ông là thành viên duy nhất của Tự Lực văn đoàn đã ghi tên mình vào phía vĩnh cửu.
Phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ – bài 4
“Văn học là nhân học” ( M.Gorki). Trong văn học, do vậy, vẻ đẹp nhân bản của con người luôn luôn là một phương tiện thẩm mĩ mà ở đó chất thơ và chất hiện thực hoà quyện với nhau. Để làm rõ điều vừa nói, “hai đứa trẻ” của Thạch Lam sẽ là một dẫn chứng.
“Hai đứa trẻ” vừa là bức tranh hiện thực phố huyện nghèo, vừa như một bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn bâng khuâng dây dứt về đời sống con người.
Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo xơ xác và lại càng xơ xác, tiêu điều hơn từ cái nhìn của nhà văn. Đó là lúc hoàng hôn của một ngày tàn nơi miền quê “mặt trời đã lấp sau rặng tre, nhìn lên chỉ thấy khóm tre màu đen kịt trên nền trời phớt hồng” dàn nhạc của ếch nhái bắt đầu văng vẳng kêu ngòi đồng, thế cũng đủ làm thành cái buổi chiều êm như ru như bao chiều khác.
Như một mô típ nghệ thuật, cái phố huyện hẻo lánh lại hiện ra trong khung cảnh chợ vãn của buổi chiều chỉ còn lèo tèo vài ba người bán hàng đang thu dọn gánh, vài đứa trẻ đi thu lượm các thứ lặt vặt… Cái bức tranh ấy đã một lần hiện lên trong &ldquldquogió lạnh đầu mùa” nhưng sao nó vẫn nhuốm một nỗi buồn khó tả vào cái giờ khắc của ngày tàn trong “Hai đứa trẻ”.
Song bức trang phố huyện ấy không chỉ là cảnh vật mà là bức tranh cuộc sống của con người. Một hiện thực nơi miền quê hẻo lánh, một chút của chốn kinh thành được mang tới từ con tàu đêm đêm. Cuộc sống phố huyện có gì? Đó là hoạt động kiếm sống của những người mang trong mắt Liên dường như quá quen thuộc, mỗi người đã có một thói quen. Như bác phở Siêu. chị Tí, bố con nhà hát sẩm, cụ Thi điên và ngay cả Liên. Việc chủ yếu cũng chỉ là nghe tiếng trống thu không thì đóng cửa quán mà đợi chờ. Hiện thực không làm ta ngỡ ngàng đó là một phố huyện nghèo với những người cần cù lao động một cách lầm lũi đáng thương.
Nhưng tất cả những hiện thực như thế đều đặt trong con mắt quan sát chất chứa trong chấ văn lãng mạn.Thời gian đi vào cuộc sống của phố huyện “ rõ ràng” không vụt nhanh hoặc tan vào đêm tối. Thời gian cứ chậm rãi đi từng bước phát triển của nội tâm. Từ “tiếng trống thu không” đến một câu văn nhẹ nhàng: “Chiều, chiều rồi” cất lên trong lòng, rồi trời nhá nhem tối đến không gian đã khuya không còn những “tạp âm”, của ban ngày chỉ còn “vòm trời với ngàn ngôi sao xanh ganh nhau lấp lánh”. Mỗi thời điểm lại có một cái nhìn cảnh vật khác nhau nhưng đều có phần thi vị hoá nhờ những câu văn tươi mát, uyển chuyển.
Có buổi chiều nào êm như ru trong cách nhìn của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng? Chỉ có tâm hồn lãng mạn Thạch Lam mới có cái mượt mà đượm chất thơ như thế.
Sự tài tình chính là ở chổ nhà văn vừa hoà nhập hai tâm hồn quan sát là một. Hiểu là nhà văn quan sát cũng đúng mà hiểu cảnh vật diễn ra trong mắt của nhân vật Liên cũng chẳng sai. Ta thấy rõ điều đó qua cái giật mình của nhân vật. “Liên mãi ngồi quên mất! Bây giờ Liên vội vàng vào thắp đèn xếp những quả sơn đen lại”.
“Trời bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng gió mát”. Nhưng câu văn như vậy có rất nhiều và được dùng một cách chính xác đạt đến mẫu mực. Phải chăng cảm nhận ấy xuất phát từ tâm hồn nhà văn hay chính là từ tâm hồn của Liên khi phố huyện đã chìm trong im lìm của vắng lặng. Trong con mắt “Dõi theo những bóng người về muộn từ từ trong đêm”.
Nếu như đầu tối phố huyện còn được “trang hoàng” bằng những ánh đèn hắt ra từ những quán bên đường thì bây giờ chỉ còn là bóng đêm. Một vài tia sáng le lói từ kẻ cửa thành từng vệt. Con mắt thơ mộng đâu chỉ dừng ở những ánh sáng rất thực mà tìm đến cái mong manh của thứ đom đóm lập loè trong kẽ lá bàng lại càng gợi buồn khó tả. Ánh sáng hiếm hoi của thiên nhiên được nhà văn “ chớp” nhanh trong cái nhìn lãng mạn. Chất thơ chính là ở đó. Vừa có vài hiện thực vừa có sự bay bổng của người bút phác lên và đằm lại trên trang văn. Nhưng tất cả vẫn là cái thường nhật diễn ra trong cảnh sống vốn quẩn quanh lầm lũi.
Ánh đèn của chị Tí đủ soi một khoảnh nhỏ. Nếu quan sát từ xa, ta sẽ thấy một bức tranh khá hoàn chỉnh về mặt nghệ thuật với hai “gam màu” sáng tối. Khuôn mặt người phụ nữ chân quê chất phát đã trải qua một ngày bươn bải với cuộc sống để kiếm cái ăn, manh áo. Cuộc sống gia đình bận rộn tối tăm. Nhưng tối nào chị cũng góp một ánh đèn như thế. Tuy để làm thêm thu nhập, nhưng hình như họ chỉ bán cho lấy lệ.
Vậy thì cái gì đã làm cho họ ra đây? Phải chăng đó là nếp sống. Và phố huyện ban đêm là nơi để họ sống…Âm thanh của cuộc sống phát ra từ những lời đối thoại, những hoạt động của con người nơi đây. Mỗi người đều góp một thứ ánh sáng, một chút hương vị, âm thanh. Tất cả tạo nên một bức tranh phố nghèo.
Chẳng có một nét chấm phá nào trong bức tranh nhưng tất cả những con người có mặt đã làm nên tổng thể của cảnh vật cuộc sống.
Nếu như ở Nam Cao là những cảnh sống hiện thực khốn khổ với nước mắt của đói, miếng ăn và áp bức thì cuộc sống hiện thực trong văn Thạch Lam được “đo bằng” một đơn vị “lãng mạn” nhất định. Nét bút của ông đã phát hoạ một cách rất nhẹ nhàng uyển chuyển. Phố huyện nghèo và cũng có rất nhiều lý do để người dân phải lao vào cuộc bon chen giành dật sự sinh tồn. Nhưng ở đây là một không khí chan hoà thực sự, ấm áp tình người và mỗi người khi ra về chắc chắn vẫn giữ được sự ấm áp quen thân dù rất buồn.
Sự hài hoà giữa hiện thực và lãng mạn đã giúp Thạch Lam có được chất văn nhẹ nhàng thanh thoát, ẩn hiện nhân cách tuyệt vời của ông.
Trở lại với cảnh sinh hoạt ban đêm nơi phố huyện, chất lãng mạn không dừng lại ở cảnh bao quát mà đắm lại ở những trang viết về chị em Liên. Đây chính lả điểm nhà văn đã tập trung khắc hoạ. Liên gây ấn tượng bởi nội tâm sâu sắc, xuất phát từ một con người đa cảm. Khi màn đêm đã bắt đầu buông xuống cũng chính là lúc Liên thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. Cảm giác buồn ấy gợi lên từ cảnh phố huyện xơ xác buồn trong tiếng trống thu không vang vọng như hút hồn người. Bất giác, một cảnh tượng làm chị không khỏi chạnh niềm thương: đó là những chú bé nheo nhóc nhớn nhác giữa chợ đã vãng từ lâu để nhặt những mẫu que kem và những gì còn có ích cho chúng. Ấn tượng đầu tiên là Liên có một tấm lòng chẳng trẻ con chút nào. Tư thế của một người chị còn bé hơn thế nữa, nỗi lòng buồn báo hiệu một sự “trưởng thành” về tâm sinh lí.
Bức tranh phồ huyện nghèo hẻo lánh, ẩn khuất trong bóng tối hư vô của phố huyện. Cuộc sống phố huyện đã ăn sâu trong tâm trí Liên. Tưởng như nếu có thiếu một thứ gì của cảnh ngoài kìa, Liên đã thốt lên rồi. Nhưng tất cả vẫn thế, ngay cả tiếng cụ Thi đôi lúc làm cho Liên sợ. Nhưng cảm giác thân thuộc vẫn thấy cụ đáng yêu và đáng thương. Từng cảnh đời, cảnh sống của mỗi người lần lượt đi qua tâm hồn tưởng như non nớt của Liên.
Cuộc sống của từng người đã góp nên thành cuộc sống của cả một quần thể người dân quê nghèo khó. Từ những mảnh đời cũng giống như Liên cùng chung môi trường sống, ta thấy một điểm chung rất rõ, đó là sự quanh quẩn chật hẹp của môi trường xã hội. Ngày lại ngày vẫn chỉ là cái chợ tiêu điều, vài dãy hàng quán với những khoảnh đất trống “Lá đa lác đác trước lều” và những “con người ấy” mà thôi.
Nhưng ở Liên lại có một sự khác lạ mà trong số trên chẳng có ai. Một hành động tưởng như quái gở và vô nghĩa, đó là “đợi tàu”. Nếu mẹ Liên ở đó chắc không cho cô thức. Nhưng đó mới chính là chiều sâu của tác phẩm khi tác giả khắc hoạ hình ảnh Liên cùng em đợi tàu với một niềm háo hức rất trẻ con.
Và con tàu đã đến đúng như sự mong mỏi, đợi chờ, như một thoáng niềm vui cũng chợt tắt. Tàu hôm nay không đông khách, ánh sáng của toa tàu cũng kém đi. Điều đó càng làm lòng Liên có một mỗi buồn vô hình xâm lấn. Con tàu vô cảm lầm lũi mang đến niềm vui duy nhất nhưng lại chợt gợi thêm nỗi buồn khó tả. Tiếng rầm rầm của tàu đã lẩn khuất sau màn đêm dáy đặc, không gian của phố huyện thoáng giao động rồi lại trở về như xưa. Tâm trạng của Liên bây giờ chẳng biết nên vui hay nên buồn. Vui có lẽ đúng hơn vì hàng ngày chuyến tàu vẫn là niềm mong mỏi của chị. Có người nói “chờ đợi là một điều khủng khiếp”; song, không có gì để chờ đợi lại càng khủng khiếp hơn. Với Liên điều khủng khiếp chính là niềm vui mà chị có thể tự tạo cho mình. Chất lãng mạn ngay trong cảnh đợi tàu. Cảnh đợi tàu ở đây tuy có khác với cảnh đợi tàu trên sân ga nhưng lại vẫn chung một nỗi niềm mong mỏi. Điều đáng nói hơn là duy chỉ một cô bé Liên đợi. Cuộc sống bon chen đã không làm chị chìm trong cảnh đời lầm lũi, thầm lặng. Vượt xa hơn là một tâm hồn khát khao niềm vui của cuộc sống. Tuy cuộc sống buồn nhưng vẫn tạo được nhiềm vui để mình sống có ý nghĩa hơn trong cõi đời. quả thực, tâm hồn Liên là một bài thơ có cấu tứ khá hoàn chỉnh; nhưng đó là một sự thật hiển nhiên mà Thạch Lam đem lại. Cho đến nay, chị vẫn sống với một niềm vui của chuyến tàu đem lại. “Liên” là mảng màu chủ đạo tạo nên chất hiện thực và chất lãng mạn trong thiên truyện. tạo nên bằng một cuộc đời. tạo nên như là người dẫn chuyện.
Thành công của thạch Lam chính là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp lãng mạn với xu hướng hiện thực, nhân đạo. Tạo cho mỗi tác phẩm của ông một sức sống trường tồn cùng lòng người. Tình người của nhà văn với nhân vật đã đưa ý nghĩa truyện lên một tầng cao mới. Ai đó đã định nghĩa về thơ: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời còn là thơ nữa” thì truyện ngắn “Hai đứa trẻ” và nhiều thiên truyện khác nữa của thạch lam có đầy đủ những yếu tố mang phong vị của một bài thơ trữ tình đặc sắc mà lại “cuộc đời” thật nhiều sâu sắc.
Trên đây là bài tập làm văn phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình! | Phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ | 6,832 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, từ đó rút ra ý nghĩa nhân đạo của tác phẩm
Bài làm
Nam Cao là một nhà văn lớn của người nông dân Việt Nam, đặc biệt là người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông vẫn cảm nhận được những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn của họ trước bờ vực của cái đói, cái nghèo. Truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn là một tác phẩm như thế. Nhân vật chính của tác phẩm – nhân vật lão Hạc – dù có một hoàn cảnh bất hạnh, đau đớn nhưng lão vẫn giữ được tình yêu thương đối với những người thân yêu và đặc biệt là một lòng tự trọng cao cả. Qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện tư tưởng nhân đạo tiến bộ và sâu sắc.
Lão Hạc cũng như bao người nông dân Việt Nam khác phải đối mặt với cái nghèo, cái đói của cuộc sống cơ cực, tăm tối trước Cách mạng. Nhưng lão còn có những hoàn cảnh riêng vô cùng bất hạnh. Vợ lão chết sớm. Con trai lão phẫn chí vì nghèo không lấy được người mình yêu nên bỏ đi đồn điền cao su. Lão chỉ có con Vàng là kỷ vật của con để làm bạn. Vậy là cùng một lúc lão phải đối mặt với bao đau khổ: cái đói, sự cô đơn và tuổi già với ôm đau, bệnh tật. Rồi cuộc đời cực khổ, dồn lão đến mức hết đường sinh sống. Lão phải dứt ruột bán đi con chó Vàng mà lão yêu thương nhất. Lão bán con chó trong niềm khổ đau tột cùng: “Mặt co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên, cái miệng móm mém mếu như con nít”, “lão hu hu khóc”,…
Ban đầu là “luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai”, “khoai cũng hết, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc”. Rồi đến mức chẳng còn gì để ăn, để sống. Rồi điều gì đến sẽ phải đến. Không còn đường sinh sống, lão Hạc chỉ còn đường chết. Và đó là một cái chết thật đau đớn, thật tủi nhục: chết “nhờ” ăn bả chó tự tử…! Cái chết của
lão dữ dội vô cùng: lão sùi bọt mép, lão co giật phải hai người đàn ông lực lưỡng đè lên… Cái chết ấy khiến người đọc liên tưởng đến cái chết của con chó Vàng để rồi rùng mình nhận ra rằng cái chết của lão đâu khác gì cái chết của một con chó.
Đói nghèo như thế, khổ đau như thế nhưng lão không vì vậy mà tha hóa về nhân phẩm. Binh Tư đã tưởng lão xin bả chó để ăn trộm. Ông giáo cũng nghi ngờ lão. Nhưng không, Lão Hạc vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn dào dạt yêu thương đáng quý, đáng trọng của người nông dân và cả sự tự trọng cao đẹp của mình.
Lão yêu thương con rất mực. Văn học Việt Nam đã có những “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng,… ngợi ca tình phụ tử. Và trong đó cũng cần nhắc đến “Lão Hạc” của Nam Cao. Vì thương con, lão chấp nhận đối mặt với cô đơn, với tuổi già để con ra đi cho thỏa chí. Con đi rồi, lão dồn cả yêu thương vào con chó Vàng. Đừng nghĩ đơn giản rằng lão cưng chiều “cậu” Vàng vì đó là con chó khôn, chó đẹp. Điều quan trọng nhất khiến lão yêu quý con Vàng đến mức chia với nó từng cái ăn, cho nó ăn vào bát như người, rồi đến lúc nó chết lão quằn quại, đau đớn,… là bởi con chó là kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại. Nhìn con chó, lão tưởng như được thấy con mình.
Không chỉ vậy, lão thương con đến độ chấp nhận cái đói, rồi cả cái chết chứ không chịu bán đi mảnh vườn của con. Nếu lão bán mảnh vườn, ắt lão sẽ đủ ăn tiêu để vượt qua thời khốn khó. Nhưng lão lại lo khi con trai về không có đất sinh sống làm ăn. Vậy là lão đã nhận lấy cái chết rồi nhờ ông giáo giữ đất cho con. Chao ôi! Tình yêu thương con của lão thật cảm động biết mấy!
Yêu thương những người thân yêu ruột thịt, lão Hạc còn là một người sống đầy tự trọng trước cuộc đời nhiều cám dỗ và tội lỗi. Vào hoàn cảnh như lão, người ta đã có thể ăn trộm, ăn cắp hay thậm chí ăn bám vào người khác (như Binh Tư chẳng hạn, hay người đàn bà trong “Một bữa no” của Nam Caor..) nhưng lão Hạc thì không. Với sự giúp đỡ của ông giáo (mà cũng có gì đâu, đó chỉ là củ khoai, củ sắn) lão “từ chối gần như hách dịch" khiến ông giáo nhiều khi cũng chạnh lòng. Binh Tư ngỡ rằng lão xin bả để ăn trộm chó “lão cũng ra phết đấy chứ chẳng vừa đâu”. Đến lượt ông giáo cũng nghi ngờ: “"con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Nhưng cuối cùng tất cả đều ngỡ ngàng, sửng sốt trước cái chết đột ngột của lão. Hay còn cách khác: lão có thể bán quách mảnh vườn di. Nhưng lão lại nghĩ rằng đó là mảnh vườn của con lão. Và lão đã thà chết chứ không ăn của con!
Lòng tự trọng của lão Hạc rực sáng nhất ngay khi thân xác lão đau đớn nhất. Lão đã chọn cái chết, một cái chết khốc liệt để tâm hồn mình được trong sạch, được trọn vẹn tình nghĩa với tất thảy mọi người – kể cả với con chó Vàng tội nghiệp. Nhưng còn một chi tiết khác cũng cảm động vô cùng. Lão đã tính toán để ngay cả khi chết đi rồi cũng không làm phiền đến mọi người: lão đã gửi ông giáo mấy chục đồng bạc, định khi mình nằm xuống thì nhờ ông giáo lo liệu ma chay khỏi làm phiền hàng xóm! Hỡi ôi lão Hạc!
Xây dựng nhân vật lão Hạc, Nam Cao đã sử dụng nghệ thuật khắc họa nhân vật tài tình. Điều đó được thể hiện trong đoạn văn miêu tả bộ dạng, cử chỉ của lão Hạc khi kể cho ông giáo chuyện lừa bán cậu Vàng, trong đoạn miêu tả sự vật vã đau đớn dữ dội của lão Hạc trước lúc chết. Ngôn ngữ nhà văn sử dụng trong tác phẩm sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và hết sức gợi cảm.
Qua nhân vật lão Hạc, nhà văn đã thể hiện tinh thần nhân đạo tiến bộ sâu sắc.
Nam Cao đã đồng cảm đến tận cùng với cái nghèo, cái đói của người nông dân Việt Nam trong nạn đói 1945. Thời cuộc đã dồn họ đến đường cùng và lối thoát nhanh chóng nhất là cái chết nghiệt ngã.
Nhưng trên hết, nhà văn đã biết nâng niu trân trọng vẻ đẹp tâm hồn cao khiết của người nông dân ngay cả khi họ bước vào đường cùng. Không chỉ giàu tình yêu thương, người nông dân còn sống đầy tự trọng. Trong cái đói, tự trọng là thứ gì đó xa xỉ vô cùng. Vì miếng ăn, người ta có thể tàn nhẫn, dã man, thậm chí mất hết nhân tính. Nhưng đáng trọng thay lão Hạc, lão không chỉ giữ được tình thương tươi mát mà còn giữ được lòng tự trọng vàng đá của mình.
Và chính nhờ vẻ đẹp tươi sáng ấy của lão Hạc mà Nam Cao đã chiệm nghiệm: “Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn”. Chưa đáng buồn bởi còn có những con người cao quý như Lão Hạc. Viết câu văn ấy, nhà văn đã bày tỏ thái độ tin tưởng đối phẩm cách tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Điều ấy đáng quý vô cùng bởi trước Cách mạng, người nông dân bị coi rẻ như cỏ rác, thậm chí có nhà văn còn nhận định người nông dân “như những con lợn không tư tưởng”. Và bởi thế, tư tưởng của Nam Cao đáng ca ngợi biết bao!
Nhân vật lão Hạc của nhà văn Nam Cao là một nhân vật có nhiều đặc điểm đáng quý, đáng trân trọng. Từ lão Hạc, người nông dân Việt Nam có quyền tự hào về tâm hồn và phẩm cách của mình. Dựng lên nhân vật này, nhà văn Nam cao đã khẳng định một quan điểm giàu tính nhân đạo sâu sắc. | Phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, từ đó rút ra ý nghĩa nhân đạo của tác phẩm | 1,523 | |
Phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
Viết về đề tài nông dân trước cách mạng, Lão Hạc là một truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Nam Cao. Một truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc đời cô đơn bất hạnh và cái chết đau đớn của một lão nông nghèo khổ. Nhân vật Lão Hạc đã để lại trong lòng ta bao ám ảnh khi nghĩ về số phận con người, số phận người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ.
Lão Hạc, một con người nghèo khổ, bất hạnh. Ba sào vườn, một túp lều, một con chó vàng… đó là tài sản, vốn liếng của lão. Vợ chết đã lâu, cảnh gà trống nuôi con, lão lần hồi làm thuê Kiếm sống. Đứa con trai độc nhất không có trăm bạc để cưới vợ, cảm thấy nhục lắm đã phẫn chí đi phu đồn điền cao su Nam Kỳ, biền biệt năm, sáu năm chưa về. Tuổi già, sống cô quạnh, nỗi bất hạnh ngày thêm chồng chất. Lão Hạc chỉ còn biết làm bạn với con chó vàng. Lão bị ốm một trận kéo dài hơn hai tháng. Không một người thân bên cạnh đỡ đần, săn sóc cho một bát cháo, một chén thuốc! Tình cảnh ấy thật đáng thương! Tiếp theo một trận bão to, cây trái hoa màu trong vườn bị phá sạch sành sanh. Làng mất nghề sợi. Đàn bà con gái trong làng đi làm thuê rất nhiều, giành hết mọi việc. Sau trận ốm, lão Hạc yếu hẳn đi, chẳng ai thuê lão đi làm nữa. Thất nghiệp! Giá gạo mỗi ngày một cao. Lão và cậu Vàng, mỗi ngày ăn hết ba hào mà vẫn đói deo đói dắt. Bao nhiêu tiền bán hoa lợi trong vườn dành dụm được bấy lâu nay, lão đã chi tiêu gần hết trong trận ốm!
Lão xa ông giáo dần, xa chỗ dựa tinh thần của lão bấy lâu nay. Lão Hạc đã ăn bả chó để tự tử. Lão chết đau đớn, thê thảm: đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc, tru tréo, bọt mép sùi ra… vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết! Cái chết thật là dữ dội!
Số phận một con người, một kiếp người như lão Hạc thật đáng thương. Với chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, Nam Cao đã nói lên bao tình thương xót đối với những con người đau khổ, bế tắc phải tìm đến cái chết thê thảm. Chí Phèo tự sát bằng mũi dao. Lang Rận thắt cổ chết… Và Lão Hạc đã quyên sinh bằng cái bả chó! Lão Hạc đã từng hỏi ông giáo: … nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?:. Câu hỏi ấy đã thể hiện nỗi đau khổ tột cùng của một kiếp người!
Lão Hạc, một con người chất phác, hiền lành, nhân hậu. Lão rất yêu con. Biết con buồn vì không có tiền để cưới vợ, lão thương con lắm… Lão đau đớn khi con sắp đi làm phu đồn điền cao su. Lão chỉ biết khóc: Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta đã chụp rồi (…) Nó là người của người ta rồi, chứ đâu có còn là con tôi? Cao su đi dễ khó về (Ca dao). Con trai lão Hạc đã đi bằn bặt năm, sáu năm chưa về. Hoa lợi trong vườn, bán được bao nhiêu lão dành dụm cho con, hi vọng khi con trở về có chút vốn mà làm ăn. Lão tự bảo: Mảnh vườn là của con ta… Của mẹ nó tậu thì nó hưởng…. Đói khổ quá, nhưng lão Hạc đã giữ lại trọn vẹn ba sào vườn cho con. Lão đã tìm đến cái chết, thà chết chứ không chịu bán đi một sào. Tất cả vì con, một sự hi sinh thầm lặng cực kỳ to lớn.
Lão Hạc là một nông dân nghèo khổ mà trong sạch, giàu lòng tự trọng. Trong đói khổ cùng cực phải ăn củ chuối, củ ráy…, ông giáo mời lão ăn khoai, uống nước chè, lão cười hồn hậu và khất ông giáo cho để khi khác. Ông giáo ngấm ngầm giúp đỡ, lão từ chối: một cách gần như hách dịch. Bất đắc dĩ phải bán con chó; bán xong rồi, lão đau đớn, lương tâm dằn vặt: Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó. Ba sào vườn gửi lại nguyên vẹn cho con trai, như một lời nguyền đinh ninh: Cái vườn là của con ta (…). Của mẹ nó tậu thì nỏ hưởng. Trước khi chết, lão gửi lại ông giáo mảnh vườn cho con, và gửi lại 30 đồng bạc để lỡ có chết… gọi là của lão có tí chút…, vì lão không muốn làm phiền đến hàng xóm. Nam Cao đã tinh tế đưa nhân vật Binh Tư, một kẻ làm nghề ăn trộm ở phần cuối truyện, tạo nên một sự so sánh đặc sắc, làm nổi bật tấm lòng trong sạch, tự trọng của lão Hạc, một lão nông chân quê đáng trọng. | Phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao | 898 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao
Bài làm
Truyện Lão Hạc được miêu tả và kể lại bằng những tâm sự của nhân vật chính và xung quanh nhân vật chính. Đó là tâm sự của Lão Hạc về con chó, về người con trai của lão, về kiếp người, về cái chết, về mảnh vườn. Đó là tâm sự của ông giáo, của vợ ông giáo, của Binh Tư về thân phận lão Hạc. Có đoạn Nam Cao tả ngoại hình nhân vật bằng những từ tượng hình rất ấn tượng, đó cũng là một gương mặt mang nỗi đau của cõi lòng quặn thắt: (cười như mếu, mắt ầng ậng nước, mặt đột nhiên co dúm lại, những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra…). Đây là một tâm sự đau nhất của một tâm hồn trong trẻo, chân thật: "Thì ra tôi già bằng này tuổi rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó”. Sự xuất hiện của các nhân vật khác trong truyện đều không được miêu tả ngoại hình, mỗi người chỉ hiện diện bằng một tâm sự về lão Hạc và bằng một tâm sự của nhà văn về thân phận họ. Có tâm sự hoài nghi, miệt thị của Binh Tư “làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão hạc bởi vì lão lương thiện quá”. Có tâm sự của người con trai lão Hạc, rất thương cha nhưng phải bỏ làng ra đi và mang trong lòng một niềm u uất.
Nhân vật ông giáo trong truyện là một mạch tâm sự có biến động, từ “dửng dưng” đến “ái ngại” “muốn ôm choàng lấy lão mà oà lên khóc” đến kính trọng.
bàng hoàng: “Hỡi ôi lão Hạc… con người đáng kính ấy”. Sau cùng là thái độ vững tin thầm lặng, bền bỉ, sáng ngời vào nhân cách của lão Hạc. Lão Hạc kết thúc đời mình trong khung cảnh “nhốn nháo”, “chẳng ai hiểu” của dư luận, nhưng câu chuyện lại truyền đi một thông điệp cuối cùng, thông thiết, son sắt như một lời thề: “Lão Hạc ơi! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt… Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: “Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn”.
Cốt truyện lão Hạc thể hiện trực tiếp tấm lòng của nhà văn về con người, một quan niệm nghệ thuật đựơc thể hiện thành một mạch tâm sự rung động của các mạch tâm sự, để hiện ra một tâm thế của người nông dân.
Lão Hạc là chân dung của một tâm hồn lão nông Việt Nam “đáng kính”, nói theo ngôn ngữ của nhân vật ông giáo trong truyện. Phần đáng kính ấy là cõi lòng của lão, một khối tâm sự nhức nhối bởi sự vò xé, xô đẩy không nguôi giữa một bên là cảnh đời túng quẩn, với một bên là cõi lòng lão Hạc đôn hậu, trong sáng.
Cảm hứng nổi bật của Nam Cao trong truyện ngắn lão Hạc là khẳng định mãnh liệt về tình thương, niềm tin đối với con người. Lão Hạc tin vào đứa con của mình, lão tin vào con trai lão sẽ trở về.
Có lần lão nói một cách rất ấn tượng làm người nghe phải run lên: “Nếu kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người… kiêp người như kiếp tôi chẳng hạn!…” Lão hồn nhiên và trung thực, tự trọng, đến mức trong trẻo: “tôi già bằng này tuổi đầu rồi mà còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó”. Và ngay cả khi chết lão cũng tính toán kĩ bằng ý thức trung thực và tự trọng.
Đặc sắc của Nam Cao trong việc diễn đạt về người nông dân lao khổ là ở chỗ đó. Đây là một “dụng công” nghệ thuật của nhà văn. Con chó gắn với kỉ niệm đau buồn và dục vọng hạnh phúc của lão Hạc về đứa con, gắn với nỗi ân hận cao thượng về đức tính trung thực, về triết lý chua chát quanh kiếp người.
Truyện ngắn Lão Hạc, cao vút một niềm tin sâu sắc của Nam Cao vào con người. | Phân tích nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao | 742 | |
Đề bài: Lão Hạc (trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao) là một lão nông Việt Nam đảng kính bởi phẩm hạnh một con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực yêu con.
Hãy phân tích nhân vật lão Hạc và phát biểu cảm nghĩ của em
Bài làm
Nói đến Nam Cao là phải nói đến Lăo Hạc. Tác phẩm này được coi là một truyện ngắn hiện thực xuâ’t sắc trong trào lưu hiện thực phê phán của thời kì 1930-1945. Truyện không những tố khố người nông dân trước tai trời ách đất, trước xã hội suy tàn mậ đáng chú ý hơn cả là đã nêu bật được hình ảnh một lão nông dáng kính với phẩm chất của một con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực yêu thương con, để lại trong lòng người đọc niềm xót xa, cảm thương và mến phục.
Điều đầu tiên phải nói đến là tấm lòng đôn hậu, rất mực yêu thương con của lảo Hạc. Vợ chết sớm, sống một mình trong cảnh gà trống nuôi con, lão yêu con hết mực. Khi người con đèn tuối trưởng thành, vì nhà nghèo nên làm lỡ duyên con, lão vô cùng ân hạn và cảm thấy như mình có lỗi. Trách nhiệm làm cha luôn thôi thúc giày vò lão, lảo tìm mọi cách đế làm yên lòng con. Nhưng người con vì phẫn uất đà bỏ nhà di dồn điền cao su, để mình lào thui thủ- ở nhà. Tình yêu con cùa lảo dược biểu hiện vừa trực tiếp, vừa gián tiếp. Trực tiếp qua tình cám ciia lão với anh con trai, gián tiếp qua tình cảm với con Vàng, ki vật duy nhất của con. Lào cho nó ăn vào cái bát như chó nhà giàu, mình ăn gì, nó ăn nấy. Lão nâng niu bế bồng nó như bà mẹ hiếm hoi chiều đứa con cầu tự. Nhừng lúc vui, buồn lào đều trò chuyện, tâm tình với nó, coi nó như người bạn tâm giao. Bao nhiêu tình cảm nhớ thương dứa con xa cách, lảo đều dồn cho nó. Không phải bất cứ người nào cũng có thế yêu thương súc vật như vậy. Vậy lão không đôn hậu, yêu con đó sao? Những mưa bão liên miên, hoa mầu trong vườn dều bị phá sạch, việc làm chẳng còn nếu cứ tiếp tục như vậy thì sõ ăn vào số tiền lão chắt chiu dành dụm cho con. Mà đặt lên bàn cân mà tính số suất ân của con chó cùng bằng lão, vậy tốn quá. Giừa sô tiền dành dụm cho con và con chó, người bạn tâm tình, lão chọn ai đây! Để đi đến quyết định, lão đã phải dằn vặt, đau khố, lảo đã suy nghĩ nhiều, nhiều lắm mới dùng cảm bán chó. Cuộc lựa chọn tàn khốc diễn ra trong nước mắt. Nhưng nô’u không bán, lào sẽ chết, và số tiền dành dụm cho con (ung chăng còn. Lão bán chó dâu phải đố ăn mà để lo cho tương’lai dứa con. Nét cao đẹp của lão trong sạch ngay thẳng như lảo. Ta không nhửng khâm phục mà còn nèn lấy đó làm tấm gương noi theo. Để trở thành người tốt như lào (lâu phải dề.
Khi xây dựng nhàn vật này, Nam Cao hẳn đã hướng nhân vật vào cái thiện, qua đó bộc lộ những phẩm chất cao đẹp của lão nói riêng và của những người nông dân ở nông thôn Viột Nam nói chung. Ở điểm này, Ngô Tất Tố cũng giống như Nam Cao với nhân vật chị Dậu. Những tác phẩm của Nam Cao xuất sắc hơn bởi nó đảm bảo được tính hiện thực của tác phấm. Chị Dậu cùng bị dồn vào những mâu thuẫn sâu sắc cần phải giải quyết nhưng lần nào, với trí thông minh và sắc sảo hiếm có của mình, chị cùng thoát ra được. Điều đó phần nào đã làm mất đi tính chân thực của truyện, ở đây Lão Hạc cũng đà đôn nước đường cùng, và cái chết ấy là kết cục tất yếu của hiện thực cuộc sống. Bởi vậy có thể nói rằng nhân vật lảo Hạc là một nhân vật xuất sắc trôn mọi phương diện.
Cái cao tay của Nam Cao là để cho nhân vật Lão Hạc hiệnn lên trong con mắt cùa rất nhiều người, dù loại người: vợ ông giáo, ông giáo, Binh Tư. Tất cả dều hiểu lầm lảo Hạc, coi lão thật ngớ ngần, dở hơi. Duy chỉ có ông giáo vì chịu cảm thông, tìm hiểu nên đã phát hiện dược vẽ đẹp ẩn chứa trong tâm hồn lão Hạc. Còn riêng em, trong con mắt em, lão Hạc hiện lôn là một người cha mẫu mực, một con người Việt Nam cao quý. | Phân tích nhân vật lão Hạc và phát biểu cảm nghĩ của em | 821 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Lục Vân Tiên qua cảnh đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga
Bài làm
Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ yêu nước Nam Bộ. Ông sống trong thời kì loạn lạc, xã hội rối ren, chế độ phong kiến Việt Nam suy tàn, bọn vua quan nhà Nguyễn thối nát. Xã hội đen tối, đau thương. Ngoài những thơ văn yêu nước, Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng với truyện thơ Truyện Lục Vân Tiên dài 2082 câu thơ lục bát.
Truyện thơ đề cao trung, hiếu, tiết, hạnh theo quan niệm đạo lí của nhân dân ta. Đạo làm tôi, đạo làm con, tình bằng hữu, nghĩa vợ chồng… được nhà thơ hết lời ca ngợi:
Trai thời trang hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga là hai nhân vật trung tâm của truyện thơ sáng ngời trung hiếu, tiết hạnh.
Đoạn thơ Lục Vân Tiên đánh cướp là một trong những đoạn thơ hay nhất của tác phẩm, tiêu biểu cho bút pháp tự sự của Nguyễn Đình Chiểu. Nhân vật Lục Vân Tiên được khắc họa thành mẫu người anh hùng lí tưởng tuyệt đẹp: giàu lòng thương người, dũng cảm và vị nghĩa cao cả.
Lòng thương người là đức hạnh tốt đẹp nhất của Lục Vân Tiên. Từ giã thầy, chàng xuống núi, hăm hở về kinh đô ứng thí. Lộ trình đầy gian nan. Giữa đường, Lục Vân Tiên bất ngờ gặp nhân dân dắt díu nhau chạy trốn, tiếng kêu khóc vang lên thảm thiết. Chàng đã ân cần hỏi han sự tình đầu đuôi và quyết ra tay đánh cướp để cứu dân lành thoát khỏi cảnh đau thương, nước sôi lửa bỏng:
Tôi xin ra sức anh hào,
Cứu người cho khỏi lao đao buổi này!
Căm giận lũ bất lương, Lục Vân Tiên sôi sục lên án hành động dã man của chúng. Chàng đã đứng về phía nhân dân, quyết bảo vệ dân:
Kêu rằng: "Bớ đảng hung đồ,
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”.
Đạo lí của nhân dân ta rất đẹp "Thương người như thể thương thân". Lục Vân Tiên đã hành động vì tình thương bao la ấy.
Tình thương người đã nâng cao chí khí và lòng dũng cảm cho người thư sinh họ Lục. Lũ cướp rất đông và đáng sợ, gươm giáo sáng ngời. Tướng cướp Phong Lai "mặt đỏ phừng phừng" đầy sát khí. Hắn dữ tợn và có sức khoẻ muôn người khôn địch! Giữa vòng vây của lũ cướp, không một tấc sắt trong tay, một mình với cành cây làm gậy, Lục Vân Tiên đã dũng cảm đánh cướp. Đột kích bên tả, xung phong bên hữu, chàng tung hoành giữa bọn cướp. Chúng bị đánh tơi bời. Bọn lâu la đã khiếp đảm quăng gươm giáo bỏ chạy tan tác. Tướng cướp Phong Lai bị tiêu diệt. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã so sánh Lục Vân Tiên đánh cướp với chiến công của hổ tướng Triệu Tử Long phá vòng vây Đương Dang thời Tam quốc để ca ngợi tinh thần quả cảm của người anh hùng vị nghĩa:
Vân Tiên tả đột hữu xông,
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đường chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng kịp tay
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
Giọng thơ hùng tráng vang lên diễn tả trận đánh cướp đầy kịch tính hấp dẫn.
Lục Vân Tiên là một anh hùng vị nghĩa cao đẹp.
Đánh tan lũ cướp sơn đài, Lục Vân Tiên đã giải thoát cho Kiều Nguyệt Nga và Kim Liên. Cuộc kì ngộ giữa người đẹp và trang anh hùng diễn ra cảm động và đầy tình người. Kiều Nguyệt Nga muốn mời chàng hiệp sĩ qua miền Hà Khê để cha nàng "báo đức thù công”.
Gẫm câu báo đức thù công
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.
Nhưng Vân Tiên "nghe nói liền cười". Một nụ cười rất tươi, biểu lộ một tâm hồn cao cả: vô tư, hào hiệp, khẳng khái. Chàng xem việc đánh cướp của mình là một hành động nhân nghĩa. Người tráng sĩ phải ra tay cứu nhân độ thế, diệt trừ cái ác, chở che bênh vực người lầm than, bị áp bức. Nếu thấy việc nghĩa mà không làm thì còn đâu đáng mặt anh hùng nữa?
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.
Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa nhân vật Lục Vân Tiên mang cốt cách tráng sĩ thời loạn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, trọng nghĩa khinh tài, sống và hành động theo phương châm: "Lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ". Vân Tiên cũng như người anh hùng Từ Hải trong Truyện Kiều.
Anh hùng tiếng đã gọi rằng
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!
Hình ảnh Vân Tiên đánh cướp được khắc hoạ thần tình, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ và cách ứng xử của chàng rất đẹp, mang phong thái người anh hùng, người tráng sĩ ngày xưa. Tuy nhiên hình tượng này rất chân thật vì lòng thương người, chí quả cảm, tinh thần vị nghĩa của Vân Tiên đậm đà màu sắc đạo lí nhân dân ta. Trên một trăm năm mươi năm qua, nhân vật Lục Vân Tiên được nhân dân yêu mến, hâm mộ. Tinh thần chiến đấu kiên cường của đồng hào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và đế quốc trong hơn thế kỉ qua đã làm cho ta cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp lí tưởng của người anh hùng Lục Vân Tiên. Tấm gương sáng chói ấy mãi mãi là một minh chứng hùng hồn về sức mạnh thẩm mĩ của thi ca, của truyện thơ Truyện Lục Vân Tiên mà nhà thơ Nguyễn Đinh Chiểu đã để lại cho đời. | Phân tích nhân vật Lục Vân Tiên qua cảnh đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga | 975 | |
Phân tích nhân vật Lục Vân Tiên qua đoạn trích Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Lục Vân Tiên qua đoạn trích Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga
Bài làm
Nếu như Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm bất hủ với ngôn ngữ Bác học thì truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình CHiểu là truyện nôm với lời lẽ mộc mạc. Truyện hiện lên hình ảnh Lục Vân Tiên đã dũng cảm cứu Kiều Nguyệt Nga mà không cần đền ơn. Tác phẩm dùng dạy đạo lý làm người, đề cao nhân nghĩa, lòng thương người và tinh thần nghĩa hiệp thể hiện khát vọng của nhà thơ cũng như của nhân dân, hướng tới lẽ công bằng và điều tốt đẹp trong cuộc đời.
Viết truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu giới thiệu hai bộ mặt hạng người trong xã hội. Kẻ gian manh hung ác, người nhân từ đức hạnh. Đại diện cho lớp người lành ngoài xã hội là chàng thư sinh Lục Vân Tiên. Sau khi nghe lời từ thầy dậy lên kinh để dự thi, giữa đường bỗng nghe tin bọn cướp Phong Lai đang hoành hành dân lương thiện. Chàng lập tức đến nơi xảy ra sự việc và thể hiện sự dũng cảm qua hành động lời nói:
Vân Tiên ghé lại bên đàng
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô.
Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ!
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.
Dẹp yên bọn cướp, hai cô gái đi đường thoát qua cơn hoạn nạn. Vân Tiên vội vàng ngăn cản sau lời lẽ nhẹ nhàng của cô gái:
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la.
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái ta là phận trai.
Lời lẽ của chàng rõ ràng từng tiếng vì ” Nàng là gái – ta là trai” trai gái gặp nhau giữa đường là điều cấm kị của ông cha ta xưa. ” Nam nữ thụ thụ bất thân”. Qua cơn sóng gió để nhớ công ơn người cứu nạn, cô gái ngỏ lời mời mọc ân cần. Nhưng chàng trai họ Lục Vân Tiên nghe nói liền cười ” Làm người thế ấy vẫn phi anh hùng”. Vân Tiên đáp lại lời mời gọi: Tiếng cười mang nhiều ý nghĩa nụ cười hồn nhiên bình dị của con người khoan dung độ lượng. Nụ cười tha thứ và khước từ sự đến ơn bởi trong kí ức của chàng, gặp người nương nạn cứu giúp không cần sự đến ơn chả nghĩa. Đó là hành động suy nghĩ của những người tài giỏi. | Phân tích nhân vật Lục Vân Tiên qua đoạn trích Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga | 440 | |
Phân tích nhân vật Lục Vân Tiên trong đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
Hướng dẫn
Hình tượng người anh hùng Lục Vân Tiên trong đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”
Mở bài:
“Sự đời thà khuất đôi trong thịt
Lòng đạo xin tròn một tấm gương”
(Nguyễn Đình Chiểu)
Sống trong xã hội đảo điên, loạn ly, tình người bạc bẽo, cuộc đời nhà chí sĩ Nguyễn Đình Chiểu dù gặp nhiều khổ đau, nghiệt ngã, vẫn suốt đời phấn đấu và thực hiện được lý tưởng nhân nghĩa mà ông hằng theo đuổi. Lý tưởng đó đã được tác giả kí thác trong tác phẩm “Lục Vân Tiên” – một truyện Nôm mang được nhân dân ta yêu thích trong bao năm qua.
Thân bài:
Tác phẩm là một thiên tự truyện độc đáo. Đọc tác phẩm,ta thấy có nhiều chi tiết gắn kết giữa cuộc đời đồ Chiểu và nhân vật Lục Vân Tiên hết sức sâu sắc. Nhưng Nguyễn Đình Chiểu không được như Lục Vân Tiên: nhờ phép màu mà làm sáng lại mắt để rồi sau đó lại tiếp tục đi thi đỗ Trạng nguyên, được vua cử đi dẹp giặc Ô Qua thắng lợi, đạt được danh vọng và cuộc sống hạnh phúc.
Những gì chưa làm được trong cuộc đời mình, Nguyễn Đình Chiểu kí thác vào nhân vật Lục Vân Tiên. Cho nên, Lục Vân Tiên cũng là nhân vật lí tưởng của Đồ Chiểu, là nơi nhà thơ gửi gắm ước mơ và khát vọng kinh bang tế thế, mang lại nhiều ddieuf hữu ích cho nhân đan trong cuộc đời của mình.
Xuất thân là một sĩ tử, Lục Vân Tiên không những phong nhã mà còn là người tài năng, rất có triển vọng khoa bảng.Chàng có đầy đủ những phẩm chất cao đẹp của một người quân tử mà xã hội phong kiến cần có. Vượt lên trên chuẩn mực ấy, Lục Vân Tiên còn là một đấng trượng phu hào hiệp, trượng nghĩa, khí chất phi thường.
Nghĩa khí anh hùng cao đẹp của Lục Vân Tiên được thể hiện nhất quán trong toàn bộ tác phẩm. Lần đầu tiên, phẩm chất áy được thẻ hiện mạnh mẽ trong làn Lục Vân Tiên đánh cướp cứu người.
Sau khi từ giã thầy học của mình, Lục Vân Tiên trở về viếng thăm cha mẹ để chuẩn bị lên kinh đô ứng thí. Tâm hồn người thanh niên ấy phơi phới niềm tin và ước vọng. Đột nhiên, giữa đường gặp người dân chạy loạn do bọn cướp gây nên. Chàng đã hỏi qua sự tình và hết sức bất bình, nguyện “Cứu người dân cho khởi lao đao đợt này”…
Việc thi cử trong xã hội phong kiến là một việc hệ trọng đối với kẻ sĩ. Bao năm đèn sách cũng chỉ để mong ngày được lên kinh ứng thí. Trong hoàn cảnh bất thường đó, người ta thường dễ né trách mọi nguy hiểm để giữ toàn tính mạng. Việc xảy ra giữa đường, những người dân chạy cướp kia đều không hề liên quan tới chàng. Thế nhưng Lục Vân Tiên đã không suy nghĩ theo kiểu thường tình đó, thấy người bị nạn chàng đã tìm cách cứu giúp bằng cách “bẻ cây” làm vũ khí và xông vào đánh bọn cướp:
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”.
Trước bon cướp hung bạo, lại có đầy dủ binh khí, sẵn sàng tướt đoạt mạng sống của người khác, Vân Tiên không hề run sợ. Chàng ghé lại bên đàng bẻ cây làm vũ khí chiến đấu. Tư thế chủ động, hiên ngang vô cùng hùng dũng. Trước hiểm nguy, lòng chàng vững như sắt đá, chỉ nghĩ đến việc cứu người, không màng đến bản thân. Đó là hành động nghĩa hiệp của một con người luôn sống vì mọi người, sống vì chính nghĩa. Tính cách nghĩa hiệp không chỉ thể hiện ở hành động mà còn đọng lại trong lời kết tội bọn cướp hung tàn:
“Kêu rằng: bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”.
Chàng coi bon cướp là kẻ hùng đồ, làm điều ngang ngược, trái với đạo lí. Hành động của chúng là vô nhân đạo, phi nghĩa lí, đáng bị trừng trị. Không hề vội vã, chàng dùng lời nói đẻ thức tỉnh lương tri, ngăn việc tàn ác, cho bọn cướp một cơ hội để thoát thân.
Đó là hành động của kẻ anh hùng, trước khi ra tay trừng phạt luôn cho kẻ ác một cơ hội để phục thiện. Hành động cao đẹp ấy xuất phát từ lòng yêu thương người dân lương thiện, vô tội và cũng vì họ mà chàng sẵn sàng bất chấp hiểm nguy, hào hiệp cản ngăn những hành động “hồ đồ hại dân” của lũ côn đồ hung bạo kia. Thế nhưng, bọn cướp vẫn ngông cuồng, cố chấp, quyết không buông bỏ.
Với người tài trí như Lục Vân Tiên, chàng nhận rất rõ mối nguy hai to lớn khi một mình đối đầu với bọn cướp hung bạo đông người. Chàng không hề nao núng. Trước khi lao vào cuộc chiến, Lục Vân Tiên tuyên bố lập trường chính nghĩa và quyết ra tay trừng trị bọn tham tàn. Hành động đánh cướp cứu người cho thấy Lục Vân Tiên không những là một sĩ tử biết chăm lo đèn sách mà còn là người võ nghệ cao cường, hết sức tin tưởng vào bản thân và khả năng chiến thắng bọn hung đồ.
Vân Tiên là một người có tài thao lược hơn người, tinh thần dũng cảm, can trường, gan dạ. Mặc dù chàng chỉ có một thân một mình, vũ khí là một cây gậy còn bộn cướp thì đông đảo: “Lâu la bốn phía bổ vây bịt bùng”, sẵn sàng gươm giáo và thật hung hãn.
Được sự cổ vũ lý tưởng nhân nghĩa và tài năng võ nghệ cao cường, Vân Tiên đã làm cho bọn lâu la phải “quăng gươm giáo”, tan tác tìm đường tháo chạy còn tên tướng cướp Phong Lai phải bỏ mạng. Chàng thư sinh họ Lục hoàn toàn làm chủ trên chiến trường như đi vào chỗ không người.
Lời thơ chân chất, mộc mạc song hồn thơ thì chan chứa dạt dào. Nó nêu bật một chân lý: kẻ bất nhân độc ác thì thảm bại, người anh hùng làm việc nghĩa tất yếu sẽ chiến thắng. Vân Tiên đã chiến thắng bởi sức mạnh của nhân nghĩa, của lẽ phải, sức mạnh của tình yêu thương và lòng dũng cảm kiên cường. Chàng chính là hiện thân của người anh hùng thượng võ, sẵn sàng cứu khốn phò nguy, dám bênh vực kẻ yếu, tiêu diệt mọi thế lực bạo tàn.
Tính cách của Lục Vân Tiên còn được bộc lộ qua việc giao tiếp với những nạn nhân vừa được chàng cứu sống. Cách cư xử của Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp bộc lộ tư cách con người chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài cũng rất từ tâm nhân hậu.Chàng đã ân cần thăm hỏi những người bị nạn và thật sự xúc động khi nghe Kiều Nguyệt Nga trần tình. Thấy hai cô gái còn chưa hết sợ hãi, Vân Tiên “động lòng” thương xót,ân cần hỏi han, an ủi họ. Đó chính là biểu hiện của tấm lòng nhân hậu của một con người vì chính nghĩa mà hành động, xem thường lợi danh:
“Vân Tiên nghe nói động lòng
Đáp rằng: Ta đã trừ dòng lâu la”
Không chỉ thực hiện được hai chữ “nghĩa, nhân” mà Vân Tiên còn biết giữ cho mình chữ “lễ” theo đúng quan niệm Nho gia xưa kia. Đó là hành vi đúng đắn của một người hào hiệp, quen sống vô tư, làm việc nghĩa theo bản lĩnh của mình. Một nụ cười tốt bụng, đôn hậu, rất đặc trưng cho người trai Nam Bộ nói như nhà thơ Xuân Diệu: “Cái cười đáng yêu, đáng kính sao! Một là cái cười của anh hùng quân tử, hai là cái cười của anh con trai, ba là cái cười của quần chúng rộng lượng đều ở trên môi Vân Tiên”.
Hơn nữa thấy nghĩa là phải ra tay đó là nghĩa vụ của kẻ làm trai, là thước đo phẩm chất của một người anh hùng theo quan niệm của Vân Tiên mà cũng chính là quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu và nhân dân ta: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”:
“Nhớ câu khiên ngãi bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.
Trong lời nói hào hiệp đó, ta nghe như tiếng Từ Hải (Truyện Kiều – Nguyễn Du) vang vang giữa đất trời lộng gió năm nào:
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”.
Cũng chính vì không tham danh lợi, không nghĩ đến sự đền đáp của Lục Vân Tiên khiến cho Kiều Nguyệt Nga càng thêm yêu kính và nguyện gắn kết hết cuộc đời.
Với một chiếc gậy bên đường mà một mình dám xông vào một lũ lâu la quen nghề gươm giáo. Việc làm ấy thật nguy hiểm mà vẫn thản nhiên như không. Đồng thời, chỉ đánh đổi bằng một nụ cười nhẹ nhàng, đáng yêu. Hành động, tâm tình, tư tưởng của Vân Tiên là bóng dáng cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu.
Đó còn là suy nghĩ và hành động vì nghĩa của cả tập thể những con người biết sống đẹp mà tác giã đã tái hiện trong tác phẩm: Một ông Ngư “Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn”. Một Hớn Minh nghĩa hiệp… Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu đã đưa vào trận “Cả một đạo quân bừng bừng khí thế quyên quyết vì chính nghĩa mà chiến đấu và chiến thắng”(Hoài Thanh).
Hành động nghĩa hiệp ấy thật đẹp. Nó không cao xa và khác biệt với hành động “Vá trời lấp bể” của một trang nam nhi theo quan niệm của Nguyễn Công Trứ… Lý tưởng sống của cụ Đồ Chiều rất gần với lý tưởng anh hùng của thời đại chúng ta…
Nguyễn Đình Chiểu đã không quá cầu kì trong vận dụng ngôn ngữ hay sử dụng các điển tích, điển cố cho thiên truyện này. Ngôn ngữ kể chuyện bình dị, mộc mạc gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày,đậm màu sắc Nam Bộ.Tuy là ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên, ít trau chuốt, uyển chuyển nhưng lại dễ đi sâu vào tâm hồn quần chúng nhân dân.
Qua việc vận dụng nghệ thuật xây dựng tính cách nhận vật theo thủ pháp quen thuộc của chuyện cổ dân gian, để cho nhân vật trực tiếp bộc lộ phẩm chất, tính cách bằng hành động cụ thể, hết sức tự nhiên, đoạn trích đã làm ngời lên nhân vật trung tâm của chuyện: một con người có bản tính nhân nghĩa hào hiệp giàu lòng thương người, hiện thân của cái thiện chống cái ác…
Đọc đoạn trích, ta càng hiểu hơn lý tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Đình Chiểu đã trọn đời dâng hiến, hiểu rõ hơn tài năng và tấm lòng một nhà thơ dù “đôi mắt đã lòa mà tấm lòng của ông vằng vặt như sao Bắc Đẩu”(Bảo Định Giang) | Phân tích nhân vật Lục Vân Tiên trong đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga | 1,885 | |
Phân tích nhân vật Mẹ Tơm của Tố Hữu văn học 12
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Mẹ Tơm của Tố Hữu văn học 12
Tố Hữu là một nhà thơ trữ tình chính luận luôn hướng đến cái ta chung, niềm vui lớn, khát vọng lớn. Trong cuộc đời thơ của mình Tố Hữu gắn từng chặng đường thơ với từng chặng đường cách mạng. Nói cách khác nhà thơ sáng tác thơ để nhìn lại những gì đã trải qua của cuộc đời mình và của lịch sử. Không chỉ có những sự kiện lịch sử thơ Tố Hữu còn có cả hình ảnh những người mẹ Việt Nam anh hùng. Những hình ảnh ấy xuất hiện một cách đều đặn trong thơ Tố Hữu. Mẹ Tơm là một trong những bà mẹ mà Tố Hữu đã dành vần thơ của mình để nói lên tình cảm và sự biết ơn đối với mẹ.
Bài thơ mẹ Tơm được nhà thơ sáng tác trong một chuyên đi về thăm lại người mẹ anh hùng ấy. Trong bài thơ dài ấy người mẹ Tơm hiện lên với những phẩm chất tốt đẹp. Mẹ đại diện cho những người mẹ Việt nam anh hùng. Nhà thơ đi về thăm quê hương nơi mẹ ở. Trong lòng vui sướng khi nghĩ gặp lại mẹ nhưng thời gian trôi đi và mẹ Tơm bây không còn nữa. Chỉ có cô gái ở ngoài mời người khách lạ vào ghé chân nghỉ ngơi. Nhà thơ giật mình vì nhà mình mà lại coi như khách lạ và nhà thơ chợt nhận ra thời gian trôi nhanh lắm rồi. Theo dòng hồi tưởng của nhà thơ hình ảnh người mẹ Tơm hiện lên với những vẻ đẹp anh hùng.
“Con đã về đây, ơi mẹ Tơm
Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy
Không sợ tù gông, chấp súng gươm”
Tác giả như vui sướng khi trong lòng nghĩ reo lên khi gặp người mẹ anh hùng ấy. Chính mẹ là người đã không sợ những đe dọa và ác độc của quân thù. Mẹ chỉ là một người phụ nữ chân yếu tay mềm thế nhưng trái tim mẹ được đúc bằng thép để cho mọi sự tàn ác kia chỉ như gió thoảng bên tai mà thôi. Mẹ vẫn dành những phần cơm cho chiến sĩ cán bộ Đảng mà không hề sợ súng gươm quân thù.
Không chỉ thế người mẹ anh hùng ấy còn là một người yêu thương những cán bộ Đảng như chính con ruột của mình, căm thù bọn Tây Nhật:
“Thương người cộng sản, căm Tây – Nhật
Buồng Mẹ – buồng tim – giấu chúng con
Đêm đêm chó sủa… Làng bên động?
Bóng Mẹ ngồi canh lẫn bóng cồn…”
Chính vì thương người cộng sản và căm thù bọn cướp nước cho nên người mẹ ấy mới giúp các chiến sĩ của ta. Mẹ Tơm lấy căn buồng của mình để giấu bộ đội, lấy trái tim mình để giấu họ trong niềm yêu thương. Trái tim mẹ mang một tình thương bao la rộng lớn lắm, tình thương ấy đã lấn át hết đi những nỗi sợ hãi của mẹ. Không những thế trong trái tim ấy tồn tại cả sự cảm thù quân giặc kia cho nên nỗi sợ hãi súng gươm không có chỗ để tồn tại nữa. Mẹ đã già thế nhưng để bảo vệ cho những đứa con chiến sĩ của mình mẹ đã không quản nhọc nhằn ngồi canh chừng cho các con yên tâm làm việc.
“Chợ xa, Mẹ gánh mớ rau xanh
Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh
Bãi cát vàng thau in bóng Mẹ
Chiều về… Hòn Nẹ… Biển reo quanh…”
Mẹ không chỉ gan dạ mà còn khéo léo và thông minh. Mẹ gánh mớ hàng rau ra chợ để thêm vào đó bó truyền đơn gọi đấu tranh. Bóng me in trên nền cát vàng phau thấy yêu thấy thương biết nhường nào. Gánh rau ra chợ nhưng cũng nằm trong mọi ánh mắt nhìn của quân giặc. Chính vì thế mà mẹ phải khéo léo thẩn trọng lắm mới không để bị lộ.
Khi chứng kiến cảnh những người con chiến sĩ của mình bị bắt thì mẹ đau xót vô cùng. Nhìn thấy máu đỏ pha cát lạnh mà mẹ ngồi trông nỗi đau vọng đến tận trời cao:
“Nhưng một đêm mưa, ướt bãi cồn
Lính về, lính trói cả hai con
Máu con đỏ cát đường thôn lạnh
Bóng mẹ ngồi trông, vọng nước non!”
Quay trở về với hiện tại người mẹ ấy đã đi thật rồi. Chỉ còn có một nắm cỏ với nắm đất mà thôi. Nhà thơ kể lại câu chuyện về người mẹ anh hùng đầy tình yêu thương và che chở. Thời gian trôi đi đã mang mẹ đi xa mất rồi. Người con năm xưa được mẹ cưu mang đến giờ này có thời gian về thăm mẹ thì mẹ Tơm đã không còn nữa. Nhà thơ đành thắp nén hương để chào mẹ hay cũng chính là cảm ơn mẹ. | Phân tích nhân vật Mẹ Tơm của Tố Hữu văn học 12 | 842 | |
Phân tích nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ
Bước vào thế giới văn chương ta bắt gặp không ít những mảnh đời bất hạnh, những mảnh đời được sinh ra làm người nhưng phải sống kiếp nô lệ, kiếp trâu kiếp ngựa cho bọn quan liêu, cường hào. Điển hình trong đó là Mị – một cô gái trẻ đẹp đầy khát vọng bước ra từ trang văn chân thực của Tô Hoài với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ in trong tập Truyện Tây Bắc. Tác phẩm là một trong những đứa con tinh thần quý báu của Tô Hoài trong hơn sáu thập kỷ lao động nghệ thuật. Ông là một nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại Việt Nam.
Mị được xây dựng lên từ những nỗi khổ tột cùng của người nông dân mà cụ thể ở đây là những người dân miền núi Tây Bắc khi phải sống dưới chế độ phong kiến áp bức, bóc lột tàn bạo, dã man. Xuyên suốt tác phẩm, Mị lúc tỉnh, lúc mê. Mị đang còn sống mà như đã chết.
Bản chất của Mị là một cô gái yêu tự do, yêu cuộc sống. Mị cũng có một tuổi trẻ màu hồng đầy khát vọng đẹp. Mị được rất nhiều người yêu mến. Đến nỗi, con trai đến đứng nhẵn cả mảnh đất ở đầu buồng Mị mỗi dịp xuân về. Thế nhưng, giữa lúc tuổi thanh xuân đang phơi phới thì cuộc đời Mị bước sang một bước ngoặt mới. Mị bị bắt về làm dâu nhà thống lý do bố mẹ Mị nợ tiền nhà hắn. Bố Mị vay lúc cưới mẹ Mị, mỗi năm phải trả lãi một nương ngô, đến khi mẹ Mị chết mà nợ vẫn chưa trả xong. Bố Mị thương con đứt ruột nhưng vẫn đành phải ngậm ngùi gả con cho nhà thống lý. Mặc dù Mị buồn lắm, đau khổ lắm những vì luật lệ của dân bản, Mị đã bị A Sử bắt về, nhà A Sử cũng đã trình ma theo phong tục rồi nên Mị không chống cự lại được. Chỉ có cái chết mới giải thoát được Mị khỏi cuộc hôn nhân này. Nhưng đau đớn thay, ngay cả cái chết Mị cũng không thể làm. Vì nếu Mị chết thì bố Mị lại phải trả nợ cho nhà thống lý, lúc đó, bố Mị còn khổ hơn bây giờ gấp trăm gấp nghìn lần. Rồi Mị lại đau khổ chấp nhận sống. Điều đó chứng tỏ Mị rất thương bố. Mị đã hi sinh cả tuổi thanh xuân, cả những ước mơ đẹp đẽ nhất của đời mình vì bố. Đáng lẽ ra, được sống là một niềm hạnh phúc, là sự thiêng liêng vô cùng, nhưng ở đây, sự sống với Mị lại là sự trả nợ, là đau khổ, là nước mắt. Mị đã khóc rõng rã suốt cả mấy tháng trời. Giọt nước mắt của sự buồn tủi, tiếc nuối, sự chấp nhận.
Thế rồi, những phút giây của tuổi thanh xuân cũng một lần sống lại trong Mị khi tiếng sáo ngày xuân ở đâu vọng lại. Lòng Mị lại thiết tha bồi hồi. “Mị ngồi nhẩm thầm theo bài hát của người đang thổi”. Những tưởng bao lâu nay con người và cả tâm hồn Mị đã chết rồi. Nhưng không, chỉ là nó tạm thời bị lãng quên bởi cuộc sống thực tế đầy rẫy tủi hờn, khổ đau. Mị nhớ lại những đêm tình mùa xuân.
“Ngày tết, Mị cũng uống riệu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát”. Có lẽ lúc này, Mị muốn say, muốn quên đi sự ê trề của cuộc sống thực tại. Say nhưng là để tỉnh, để được sống lại là chính mình. “Lòng Mị đang sống về những ngày trước”. Chứng tỏ, những niềm khát khao trong lòng Mị vẫn chưa bao giờ nguôi ngoai. Nhưng vì phải trả nợ nên Mị đành cam chịu. Rượu tan, Mị trở lại cuộc sống làm kiếp nô lệ ở nhà thống lý. “Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng”. Cái cảnh này đã quá quen thuộc, đã trở thành lối mòn với Mị đến nỗi Mị hành động như một phản xạ tự nhiên. Nhưng không hiểu vì riệu hay vì điều gì, Mị bỗng nhận ra mình còn trẻ lắm, Mị cũng muốn được đi chơi. Đang rạo rực là thế, nhưng nếu có nắm lá ngón trong tay, Mị sẽ ăn cho chết luôn chứ không buồn nhớ lại nữa. Có một điều ngang trái ở đây là chính lúc Mị ý thức được cuộc sống của mình, trái tim Mị sống lại với tiếng sáo, tiếng hát, với tuổi thanh xuân lại chính là lúc Mị muốn chết. Có lẽ chỉ có cái chết mới có thể cho Mị được sống! Sự thật cay đắng này càng tố cáo tội ác dã man của bọn cường hào, áp bức. Bọn chúng, chính bọn chúng đã cướp đi tuổi thanh xuân, đã dập tan bao ước mơ, bao khát vọng của Mị, của cả những người như Mị. Ngày qua ngày, tháng qua tháng, Mị chẳng biết là mình có còn tồn tại hay không nữa. Mị sống như cái xác không hồn với những công việc nhàm chán. Sự sống trong Mị vừa nhen nhóm trở về thì A Sử lại trói buộc Mị bằng sợi dây quen thuộc, sợi dây trói của sự thống trị, của tàn ác, bất nhân khiến “Mị đau dứt từng mảnh thịt”. Mị nhớ đến một người vợ cũng bị trói đến chết trong nhà A Sử, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết. Chứng tỏ, ở nhà A Sử, ở cái chế độ phong kiến này, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào, cái chết là một sự rất thường tình.
Tô Hoài đã xây dựng hình ảnh Mị rất thành công. Ông dành những dòng thương cảm nhất, xót xa nhất cho Mị. Mị là hiện thân của cả một tầng lớp nô lệ, nông dân thời bấy giờ. Sau bao khổ đau, tủi nhục, Mị đã tự mình vùng dậy. Sự bừng tỉnh của Mị cũng chính là sự hi vọng của bao người về một ngày mai tươi sáng. | Phân tích nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ | 1,092 | |
Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ để thấy được tư tưởng nhân đạo sâu sắc trong các nhân vật Tô Hoài
Vợ chồng A Phủ là một trong ba tác phẩm in trong tập “Truyện Tây Bắc” tác phẩm đoạt giải nhất giải thưởng hội văn nghệ Việt Nam (1954 – 1955). Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952). Trong chuyến đi này Tô Hoài đã được sống tám tháng với đồng bào dân tộc thiểu số từ khu du kích trên núi cao đến những bản làng giải phóng
Đặt vấn đề
Có lẽ Tô Hoài là nhà văn đã từng có sự gắn bó sâu sắc với đất và con người Tây Bắc, ông đã từng phải thốt lên rằng: “đất và người Tây Bắc đã để thương để nhớ trong tôi nhiều quá”. Chính bởi nỗi niềm đó, ông đã dành riêng một tập truyện viết về núi rừng Tây Bắc đó là tập “truyện Tây Bắc”. Vợ chồng A phủ là một trong những câu chuyện được rút trong tập đó. Có thể nói tình yêu thương Tây Bắc được Tô Hoài gửi trọn vẹn trong nhân vật Mị.
Phân tích
Trước khi về làm dâu
Mị được coi là một cô gái với khá nhiều đức tính tốt. Cô là một người con của núi rừng Tây bắc xinh đẹp, tài hoa, chăm chỉ, hiếu thảo và tự do, cô có tình yêu đẹp và niềm tin vào cuộc sống tương lai tươi sáng. Tuy nhiên, từ khi sinh ra cô cô đã phải gánh trong mình những món nợ, món nợ về cường quyền và món nợ về thân quyền đè nặng lên vai cô.
Có lẽ yêu tây bắc như nào thì Tô hoài gửi gắm tình yêu vào nhân vật Mị bất nhiều, ông đã mang bao yêu thương phủ lên đời Mị những ánh hào quang rực rỡ nhất của một người đàn bà. Mị xinh đẹp “ những đêm tình mùa xuân đến, trai đứng nhẵn cả bức vách đầu buồng Mị”.Mị có tài thổi sáo khiến “ biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị …. Mị sống trong những tháng ngày tươi đẹp của tuổi trăng tròn, tràn trề cơ hội được hưởng thụ tình yêu và hạnh phúc. Cô cũng đã có người yêu, một tình yêu đẹp với ngón tay đeo nhẫn và hiệu gỗ vách hẹn hò
Tuy nhiên, cuộc đời Mị không theo ý muốn của cô, cô không thể tự quyết định cuộc đời của mình được. Mị đã phải bước chân về nhà Thống lý Pá tra ép sống kiếp dâu con mà như thân phận nô tì để gạt nợ cho cha.
Vợ chồng A phủ của Tô hoài
Mới về làm dâu
Đang là một cô gái trẻ đẹp với bao khát vọng về cuộc sống hạnh phúc và tươi sáng nơi tương lai, Mị như chết đứng với số phận tại đây. Về nhà thống lý Pá tra làm dâu gạt nợ, Mị âm thầm chịu đựng nỗi đau “ có đến mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc”. Cô sẵn sàng quên hết đi tất cả để tìm đến cái chết khi ý thức được cuộc sống và tháng ngày sau này mình sẽ phải chịu đựng như thế nào, cuộc sống thật không đáng sống. Đã nhiều lần Mị có ý định như vậy, cô vào rừng hái nắm lá ngón, giấu vào trong tay áo và về quy lạy bố để chết. Nhưng bởi vì một chữ hiếu mà Mị không đành lòng nhìn bố mẹ mình chịu khổ cực. Mị đành từ bỏ ý định, cô ném nắm lá ngón xuống đất như ném đi khát vọng hạnh phúc của cuộc đời mình vậy. Mị đã coi việc làm dâu con trong nhà thống lý pá tra như làm kiếp trâu ngựa để trả nợ cho cha mẹ năm xưa.
Người ngoài không biết nhìn vào Mị nghĩ Mị được làm dâu trong nhà giàu có chắc cuộc sống hạnh phúc và sung sướng lắm. Tuy nhiên thực tế, thân xác và tinh thần của Mị luôn bị hành hạ. Thời gian và công việc đã làm tê liệt tinh thần của cô, hàng ngày vẫn là công việc đó, bên cạnh chuồng ngựa khiến tinh thần Mị bị tê liệt. Mị đã quen dần với cái khổ cực nơi đây.
Mấy năm sau bố Mị mất, giờ thì cô không còn nghĩ đến cái chết nữa “ở lâu trong cái khổ Mị cũng quen rồi”.
– Sức sống của Mị trỗi dậy: khi mùa xuân trời đất đến
– Diễn biến tâm lý, hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân
=>> Khát vọng sống, niềm khao khát hạnh phúc luôn tiềm ẩn trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật. Nó giống như ngọn lửa vẫn đang âm ỉ cháy dưới lớp tro tàn nguội lạnh và chỉ cần một làn gió mát lành thổi tới là có thể bùng cháy một cách mãnh liệt. Những tác động ngoại cảnh là không nhỏ nhưng sức mạnh tiềm tàng mới là điều quyết định sức sống của Mị.
– Cứu a phủ và cùng nhau chạy trốn: thương tình cho số phận của một người nghèo khổ cũng như mình, Mị cùng cứu a phủ chạy trốn.
– Diễn biến tâm trạng của Mị
+ dửng dưng thổi lửa hơ tay không quan tâm đến A phủ
+ Mị chạy theo Aphủ, hành động tự giải thoát khỏi sợi dây trói vô hình của thần quyền. Sự trỗi dậy của sức sống tiềm tàng làn này đã giúp Mị đập tan sức mạnh của thần quyền và cường quyền để tự giải.
Kết bài
Khác với hoàn cảnh trong đêm tình mùa xuân lần này Mị không chỉ có một mình đơn độc. Cả A Phủ và Mị đều là những người giàu sức sống, khi sức sống tiềm tàng trong mỗi cá nhân tỏa sáng và kết hợp với nhau sẽ tạo thành sức mạnh giải phóng cho người, khi sự đồng cảm giữa những người cùng cảnh ngộ kết hợp với ý thức phản kháng đấu tranh tạo thành sức mạnh đấu tranh giai cấp thì sức sống trong mỗi cá nhân sẽ được nhân lên bội phần tạo ra những kết quả bất ngờ mà tất yếu. Mấy câu cuối đoạn văn A Phủ nói: “Đi với tôi! và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi” như chấp chới như cánh chim bay mở đầu, như hối hả những dòng chảy tung phá, đời người đàn bà ở nợ cất mình khỏi nấm mồ tăm tối, đi từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui. | Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ | 1,141 | |
Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài-Văn lớp 12
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài-Văn lớp 12
Bài làm
Nhà văn Tô Hoài là một nhà văn đa tài, ông có thể viết nhiều tác phẩm cho mọi lứa tuổi khác nhau. Tuổi thơ của thiếu nhi Việt Nam chắc hẳn ai cũng nhớ tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký. Với lối viết dí dỏm tinh nghịch tác giả Tô Hoài đã đi sâu vào thế giới nội tâm của chú dế làm cho biết bao tâm hồn trẻ em xúc động.
Trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” nhà văn Tô Hoài đã viết lên câu chuyện tình yêu của hai con người hai mảnh đời được ghép lại đến với nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã, bị bóc lột đánh đập chẳng khác nào kiếp sống của con trâu con ngựa. Chính trong hoàn cảnh sống đó, hai số phận Mị và A Phủ đã tìm thấy tiếng nói chung, đã giải thoát cho nhau vào cùng nhau trốn chạy tìm chân trời hạnh phúc mới.
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ tuy trong tựa đề nhân vật A Phủ được nhắc tới như một nhân vật chính của cốt truyện, nhưng nếu như ai đã đọc tác phẩm này sẽ thấy Mị thật sự là một nhân vật quan trọng không thể thiếu của tác phẩm.
Tô Hoài đã vô cùng thành công khi xây dựng lên nhân vật Mị một cô gái xinh đẹp, có tài thổi sáo, thời chưa bị bắt về làm con dâu gán nợ cho nhà thống lý Pá Tra, Mị được rất nhiều trai bản trong làng yêu thích, đi theo. Nhưng Mị vẫn chưa ưng cái bụng ai cả.
Rồi một hôm Mị bị A Sử con trai của thống lý Pá Tra bắt về làm con dâu theo tục lệ của người dân tộc vùng Mị ở. Nhưng suốt ba ngày bị giam giữ ở nhà thống lý Mị cương quyết không ăn cơm, không uống một giọt nước nào, bởi cô biết nếu ăn cơm, uống nước nhà thống lý thì sẽ phải ở lại làm dâu con nhà thống lý.
Mị là người con có hiếu nên cô đã đồng ý làm vợ A Sử, quay trở về làm dâu nhà thống lý Pá Tra. Những ngày tiếp theo cuộc đời Mị phải sống trong tủi nhục đau đớn. Mị thường xuyên phải làm việc quần quần như con trâu con bò trong nhà chồng giàu có ấy.
Nhiều khi Mị nghĩ con trâu con ngựa còn sướng hơn Mị vì nó làm ban đêm còn được nghỉ ngơi ăn cỏ, còn đàn bà con gái trong nhà thống lý làm việc quanh năm suốt tháng, suốt ngày suốt đêm không được nghỉ tay.
Nhiều khi A Sử đi chơi về nhìn Mị ngứa mắt một việc gì đó lập tức trói Mị vào cái cột cạnh bếp và đánh Mị bỏ đói, bỏ khát Mị không hề thương xót người phụ nữ đầu ấp má kề với mình.
Có lần Mị buồn qua toan ăn lá ngón tự tử nhưng khi Mị cầm nắm lá ngón chạy về nhà gặp mẹ để nói lời chào từ biệt, thì mẹ cô ngăn cản bởi cô biết nếu mình chết đi thì gia đình nhà thống lý cũng không để cha mẹ cô được yên. Chính vì vậy, Mị lại quay trở về nhà người ta làm dâu, làm kẻ hầu người hạ trong nhà họ.
Cuộc sống cứ thế trôi đi, Mị ngày càng lầm lũi ít nói, cô như con rùa rúc đầu trong xó cửa, chỉ biết lầm lũi làm việc, không nói, không cười, sống một cuộc sống câm lặng qua ngày, chờ cho tới khi nào sức cùng lực kiệt và chết đi để được giải thoát.
Mị còn trẻ lắm, nhưng mặt lúc nào cũng buồn rười rượi, trên khuôn mặt xinh đẹp ấy chẳng khi nào có nổi một nụ cười. Cô ngồi trong xó bếp của nhà thống lý làm việc một cách âm thầm lặng lẽ, không quan tâm tới cuộc sống xung quanh mình.
Rồi mùa xuân năm đó, khi nghe tiếng kèn gọi bạn, trong người Mị cảm thấy có sự thay đổi. Mị nhớ ngày mình còn trẻ chưa bị bắt về làm dâu nhà thống lý, Mị cũng thường cùng các bạn đi chợ tình chơi, nhiều người phụ nữ có chồng con rồi vẫn đi chợ tình chơi đấy thôi. Mị lấy hũ rượu để trong nhà ra uống, uống vào hơn men mỗi lúc một ngấm nhiều hơn. Mị cảm thấy mình còn trẻ lắm, Mị muốn được đi chơi, Mị không muốn cứ sống cuộc đời lầm lũi như thế này mãi.
A Sử hôm đó đi chơi về nhìn thấy Mị uống rượu, cảm nhận được mầm mống của sự nổi loạn trong con người Mị nên nó đã đánh Mị bằng cái dây da thường thắt ở quần, rồi trói tay Mị vào chiếc cột nơi xó bếp Mị thường ngồi. Mị đứng đó với những vết thương trên người, hơi men vẫn chưa tan Mị muốn được đi chơi.
Trong gia đình nhà thống lý có một người con trai có hoàn cảnh gần như Mị đó là A Phủ. A Phủ là người đánh A Sử trọng thương do tranh chấp một cô gái ở chợ tình. Nhưng sau đó, gia đình thống lý nhờ thế lực của mình đã bắt trói A Phủ về làm nô lệ trừ nợ vì tội đánh A Sử trọng thương. A Phủ vốn không cha không mẹ, không người thân thiết, cuộc sống của anh lang thang, như con ngựa hoang vậy, nên khi anh bị gia đình thống lý xử ép làm nô lệ không có ai bênh vực anh.
Hôm đó, A Phủ đi chăn trâu cho nhà thống lý không may bị lạc mất một con trâu nên gia đình thống lý đánh đập anh rất dã man, rồi trói anh vào chiếc cột giữa nhà. Cùng một ngày hai con người bị đánh, bị trói, hoàn cảnh của họ thật sự đáng thương giống nhau. Họ đều chịu kiếp nô lệ, làm trâu làm ngựa cho thế lực giàu có trong bản.
Hành động tự cởi trói cho mình và giải thoát cho A Phủ của Mị thể hiện hành động vùng lên của người nông dân lao động, khi bị dồn tới bước đường cùng thì con giun xéo mãi cũng quằn họ phải tìm cách vùng lên, giải thoát chính mình.
Mị là một nhân vật có sức sống tiềm tàng mãnh liệt, dù sức sống ý chí chiến đấu ấy có những lúc đã tưởng như bị ngủ quên trong con người cô nhưng nó không bao giờ chết hẳn, mà như đống tro âm ỉ cháy chỉ cần một mồi lửa có thể trở thành một đám cháy lớn.
Chính những giọt nước mắt của A Phủ đã đánh thức trái tim và sự sống của Mị, khi Mị nhìn thấy những giọt nước mắt chảy trên gò má xám xịt của người con trai lực lưỡng khỏe mạnh, nhưng phải cam chịu kiếp sống trâu ngựa, làm nô lệ cho nhà giàu thì Mị thật sự không thể chịu đựng được nữa.
Mị cảm thấy A Phủ đáng thương như cô vậy, cảm thấy cha con nhà thống lý Pá Tra là lũ độc ác. Chính sự đồng cảm của Mị dành cho A Phủ đã giúp hai người tìm đến với nhau rồi tự giải thoát chính mình.
Họ cùng nhau cao chạy xa bay tới vùng đất tự do, có sự hoạt động của những người cộng sản ở đó họ tìm thấy lý tưởng sống đích thực của đời mình. | Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài-Văn lớp 12 | 1,312 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài
Bài làm
Mị – nhân vật trung tâm của câu chuyện “Vợ chồng A Phủ”. Mị là cô gái trẻ đẹp, con nhà lao động, có tấm lòng nhân hậu. Thế nhưng, số phận run rủi, nàng phải vào nhà Thống li PáTra làm vợ để trả món nợ hôn nhân từ đời cha mẹ nàng. Lẽ ra là cuộc đời sẽ tốt đẹp nhưng số phận không an bài như thế, nơi đây Mị bước sang một trang đời đầy tăm tối, tất cả như xô dạt về hướng lụi tàn, không gì cứu vãn được.
Phân tích tác phẩm vợ chồng A Phủ
Mị trở nên câm nín vô hồn, vô cảm. Mị khóa chặt lòng mình: không giao tiếp, không trông chờ, không hy vọng, không phản ứng, Mị “lùi lũi như con rùa trong xó cửa”. Ý nghĩa của cuộc sống chỉ còn lại đơn thuần là những ngày dài lê thê chưa chết. Cứ thế Mị giam cầm mình trong căn buồng tăm tối “kìn mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay..” và chi tiết ấy lặp lại đến mấy lần trong tác phẩm. Để rồi từ ô cửa ấy, Mị nhìn ra bên ngoài và thấy cái màu trăng trắng không biết là sương hay nắng, Mị mất cả ý niệm về không gian và thời gian, Mị không phân biệt được thời gian sáng và chiều, không biết mùa nào đã về, con chim nào đã bay qua dưới cửa sổ. Mị bị cuốn vào cái vòng xoáy công việc giặt đay, xe đay, bưng ngô và sau tết “lên núi hái thuốc phiện … đến mùa thì lên nương bẻ bắp… Bao giờ cũng thế, suốt năm như thế”. Ý thức làm người của Mị dần dần bị tê liệt. Độc ác hơn, gia cấp phong kiến ấy còn đánh đập, chà đạp lên nhân phẩm của Mị. Chúng dùng bóng ma thần quyền nhằm hù dọa, ức hiếp triệt tiêu cả niềm tin và sự phản kháng của Mị. Phần “Người” trong Mị cứ chết dần mòn theo ngày tháng, nhu cầu giao lưu với bên ngoài dường như bế tắc. Và Mị đã chọn cái chết như một con người còn hơn là sống như trâu ngựa. Nàng định dùng “nắm lá ngón” để kết liễu kiếp đọa đày của mình. Thế nhưng, vì sợ liên lụy đến cha mẹ. nàng “ném nắm lá ngón xuống đất” để tiếp tục sống dù trong đọa đày tủi nhục. Mị giống như Thuý Kiều hai trăm năm trước, lựa chọn của Mị thực chất là bán mình cứu cha. Đó là sự phản kháng dù tiêu cực nhưng hết sức quyết liệt: lấy cái chết để phủ nhận cuộc sống làm dâu gạt nợ.
Và rồi cơn gío lành đã đến và ngọn lửa ngọn lửa ham sống đã bùng lên lần thứ nhất trong câu chuyện này từ một “đêm tình mùa xuân”. Đêm tình mùa xuân ngân lên như một niềm thơ từ tiếng sáo dìu dặt gọi bạn tình nghe “thiết tha bồi hồi”, làm xao động trái tim và cõi lòng Mị. Vâng! Mùa xuân tình yêu đã đến. Tác động của nắng xuân, màu sắc biến ảo của hoa anh túc trên nương, của ánh trăng đêm hò hẹn, của tiếng khèn, tiếng sáo miên man gọi bạn tình, như nguồn nhiệt lượng thiêng liêng dội vào khoảng sâu thẳm tâm hồn Mị, sưởi ấm và làm tan chảy tảng băng lạnh lẽo trong lòng Mị. Cõi lòng Mị ấm dần lên, băng giá tan chảy và Mị hồi sinh. Những hạt mầm đầu tiên của cảm xúc bắt đầu nảy nở: “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi”. Nhận thức và nhu cầu được sống chảy lai láng trong tâm hồn Mị và rồi vẻ đẹp sặc sỡ của “những chiếc váy hoa phơi trên mõm đá xoè ra như cánh bướm” trong các làng Mèo đỏ lọt vào mắt nàng. Ấn tượng về chiếc váy hoa đã đánh thức như cầu làm đẹp của người thiếu phụ có gương mặt buồn này. “Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”. Đó là tiếng hát vang lên từ trong đáy sâu tâm hồn Mị – tiếng hát của thanh xuân mà không có một thế lực cường quyền, thần quyền nào có thể dập tắt được. Tiếng hát là sự kết tinh của nhhững khát vọng cao đẹp nhất, có lẽ nhiều khi nó còn đẹp hơn chính cả con người? Nhu cầu giao tiếp, giao cảm và nhu cầu sống trở về với Mị. Thực tại đắng cay như địa ngục trần gian nơi ô cửa sổ nhỏ trong nhà Thống lý Pá Tra với người chồng tồi tệ là A Sử; còn một thực tại khác êm ả như thiên đường tuổi trẻ dưới nắng xuân ngoài nương, dưới đêm trăng hò hẹn, dìu dặt, miên man trong tiếng sáo gọi bạn tình làm náo nức trái tim Mị. Quá khứ và thực tại đan chéo trong lòng, khiến nàng xúc động mạnh khiến nàng có ý tưởng kỳ lạ “Mị lén lấy hũ rượu, uống ừng ực từng bát”. thế nhưng có lẽ không phải Mị đang uống rượu, mà đang uống những đắng cay của đời mình. Quá khứ êm đềm trỗi dậy như dòng suối miên man chảy vào miền ký ức ngọt ngào của thời thanh xuân” Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Tín hiệu cuộc sống, niềm yêu đời, say đời trở lại đã đưa Mị tìm lại được ý niệm về thời gian, Mị sống với thời gian quá khứ và từ đó nàng nhận ra thới gian, không gian thực tại. “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”.
Thế đấy, ngay lúc thèm sống nhất, Mị lại muốn chết ngay. Mị chọn khoảnh khắc hạnh phúc nhất để chết, vì chết lúc ấy người ta dễ mang theo hạnh phúc và dễ bỏ khổ đau lại phía sau. Nhưng “tiếng sáo gọi bạn yêu lửng lơ ngoài đường” đã thôi thúc Mị “đến góc nhà, xắn một miếng mỡ. bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Người đọc đến chi tiết này đều xúc động vì căn buồng âm u, tăm tối lạnh lẽo bao nhiêu năm tháng giam hãm đời Mị bỗng chốc bừng sáng ánh đèn. Đóm sáng ấy thật ra là ánh lửa ấm áp được thắp lên từ “đêm tình mùa xuân”, được thắp lên từ cõi lòng tiềm tàng sức sống mãnh liệt của Mị. Hành động này thôi thúc hành động khác và Mị quyết định đi theo tiếng gọi của lòng mình: “Mị quấn lại tóc, với lấy cái váy hoa sửa soạn đi chơi tết”. Có thể nói hành động “sửa soạn” này như là một cuộc sửa soạn vượt ngục của một tù nhân không cam số kiếp tù đày. Thế nhưng ngọn lửa ham sống của Mị đã bị A Sử dập tắt một cách tàn bạo, Hắn thản nhiên lầm lì lấy dây, lấy thắt lưng của hắn và cả tóc Mị để trói Mị lại. Có lẽ A Sử đã hình dung được trong cái hành động muốn đi du xuân của Mị là cả một sự thách thức ghê gớm, môt sự bùng lên, một sự nổi loạn chống lại cái luật lệ hà khắc của gia đình hắn nói riêng và cả cái xã hội phong kiến miền cao nói chung. Mị đang bị trói và không hề phản ứng. Tô Hoài thật tinh tế và sâu sắc trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. Vì lúc này, nhân vật Mị đang ngây ngất trong thiện đường tuổi trẻ của dư âm đêm tình xuân. Bởi thế sợi dây trói tàn khốc của cuộc đời thực, chưa thể làm kinh động giấc mơ êm đềm của kẻ mộng du tội nghiệp. Đến khi vùng bước đi, Mị mới cảm nhận sự đau nhức và Mị mới bị ném trả lại với sự thực đắng cay, để rồi sáng mai Mị lại trở về với kiếp con rùa lầm lũi trong xó cửa nhà Thống lí. Đó là sự tàn bạo của xã hội phong kiến vùng cao trước Cách mạng. Cho đến một ngày A Phủ xuất hiện trước mặt cũng với thân phận tôi mọi, A Phủ vì đánh lại con quan nên làng phạt vạ, số phận lại vào nhà Thống lí Pá Tra và thân phận không hơn gì Mị. A Phủ để hổ vồ mất con bò và hậu quả hình phạt là bị trói đứng vào cây cột suốt mấy đêm liền, A Phủ xuất hiện trước mặt Mị với hình ảnh như thế. Đồng cảnh ngộ, cũng là người đi ở gạt nợ cho nhà Thống lí Pá Tra, A Phủ bị trói mấy đêm rồi, nhưng đêm nào cũng vậy, Mị đốt lửa sưởi, nhìn thấy A Phủ mà vẫn thản nhiên vô cảm: “nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi, Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, Mị chỉ biết còn ở với ngọn lửa”. Tâm hồn cô khép kín, dường như sức sống cứ mòn dần, cạn dần, nén lại và khô kiệt mất. Mị nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ: “1 dòng nước mắt lấp lánh bò xuống 2 hõm má đã xám đen lại”. Chính dòng nước mắt ấy đã làm rung chuyển cõi lòng tưởng như đã đóng băng từ lâu của Mị chợt bùng lên, vỡ ra. Mị nhớ lại và thương cho mình “ Mị cũng phải đứng thế kia, nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi đc”. Và ý thức phản kháng trong Mị trỗi dậy, vượt qua nỗi sợ hãi. Nàng muốn A Phủ phải được sống. Còn Mị nàng chấp nhận ở lại mà chết. Nỗi thương người dường như lớn hơn nỗi thương thân: “ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn bíêt đợi ngày mà rũ sương ở đây thôi … Người kia việc gì phải chết thế”. Thế rồi, Mị rón rén bước lại cắt dây trói cho A Phủ, hàng động ấy đã trở nên cái mốc quan trọng trong cuộc đời A Phủ và cũng chính cho Mị, “đi ngay..” Chỉ hai tiếng khô khốc lạnh lùng ấy đã mở ra một chân trời rộng lớn cho hai người.:A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy”. Lúc này, giữa ranh giới cái chết và sự sống, tự do và nô lệ, Mị cũng vụt chạy hổn hển gọi: “A Phủ cho tôi đi..” Một tình yêu nảy nở từ sự hy sinh và một tình yêu đáp lại từ sự đồng điệu của tâm hồn, của khát vọng sống. Một cuộc giải phóng đời mình tuy là tự phát nhưng thật sự đã diễn ra. A Phủ chợt hiểu: “Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình”. Và khúc hồi thanh của tình yêu vang lên: “Đi với tôi”, có thể nói Mị đã giải thoát cho A Phủ và tự giải phóng chính mình.
Đó là sự vượt ngục tất yếu để tìm đến tự do, cũng chính là nét độc đáo của ngòi bút Tô Hoài: ngòi bút của chủ nghĩa nhân đạo, từ Mị ta đồng cảm, xót thương cho thân phận đau khổ của người phụ nữ nghèo miền núi, ta tin vào sức phản kháng, vào khả năng tự giải phóng để được tự do và hạnh phúc của họ.Mị có một sức sống tiềm tàng mãnh liệt, sức sống đó được bộc lộ ngày một mãnh mẽ và có ý nghĩa tích cực hơn. Ban đầu Mị định dùng lá ngón tự tử- sức phản kháng dù tiêu cực nhưng mạnh mẽ, lần thứ hai khi xuân về, nghe tiếng sáo vọng, Mị muốn đi chơi xuân- hành động phản kháng theo tiếng gọi của hạnh phúc. Và lần cắt dây trói, đi theo A Phủ là đỉnh điểm của sức phản kháng trong Mị, cô vượt qua cả nỗi sợ hãi vốn tồn tại trong mình từ rất lâu để tìm đến tự do. | Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài | 2,088 | |
Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ
Nhắc đến Vợ chồng A Phủ là chúng ta liên tưởng ngay đến nhân vật Mị. Đây là nhân vật được nhà văn Tô Hoài khắc họa một cách đặc biệt với hình tượng rất riêng ở ngay đầu tác phẩm.
Nhân vật Mị xuất hiện trong sự đối lập, nghịch cảnh: con người đặt cạnh những vật vô tri vô giác: ” tảng đá trước cửa “, ” tàu ngựa ” đối lập sự đông vui, tấp nập, nhộn nhịp của nhà thống lí Pá Tra.
Mị là người nhà già giàu, nhiều nương, nhiều bạc,nhiều thuốc phiện nhất làng, lẽ ra phải vui, sung sướng nhưng lúc nào cũng vậy,dù quay sợi, dệt vải…lúc nào cũng cúi mặt buồn rười rượi.
Đặt Mị trong sự đối lập để giới thiệu thân phận: con dâu trừ nợ để tạo thủ pháp gây hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.
Mị xuất hiện với thân phận đau khổ, cực nhọc bởi vì đặt trong tình huống rất éo le. Bản thân Mị là người con gái xinh đẹp, tài giỏi, chăm chỉ, siêng năng, hiếu thảo, có đủ phẩm chất để xứng đáng có cuộc sống hạnh phúc.
Trở thành con dâu trừ nợ, ban đầu Mị phản kháng quyết liệt: có đến hàng mấy tháng đêm nào Mị cũng khóc,đỉnh điểm là Mị định tự tử. Sự phản kháng đó thể hiện lòng ham sống, khát vọng tự do,vì thương bố,Mị không đành lòng chết,ở lâu trong cái khổ Mị quen rồi. Mị tưởng mình là con trâu con ngựa, mỗi ngày Mị càng không nói ” lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa “.
Mị sống cuộc đời con người nhưng giống như một cỗ máy không hơn không kém, không có hi vọng không có hạnh phúc, không có cảm xúc vui,buồn, không có cả ý niệm về thời gian. Bản thân không còn biết đến đau khổ, tuy nhiên, ở Mị có sức sống tiềm tàng, khao khát cuộc sống, hạnh phúc vẫn âm ỉ, chỉ chờ dịp thổi bùng lên.
Chế độ phong kiến, tư tưởng” thần quyền ” có thể khiến cho con người bị tê liệt về tinh thần, bị đày đọa về thể xác, buông xuôi, phó mặc cho hoàn cảnh, trở thành một thứ công cụ lao động đặc biệt. Nếu như nhà văn miêu tả cái buồng của Mị ” nằm kín mít, có một cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào thông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng thì nhà văn lại bình luận: ” Mình nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra đến bao giờ chết thì thôi “.
A Sử trói được thân xác Mị nhưng không trói được tâm hồn, khát vọng Mị.
Ngay cả khi bị trói đứng ở cột nhà trong bóng tối, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi. Sự hồi sinh của Mị xuất hiện trong một tình huống bị kịch: khát vọng mãnh liệt và hiện thực phũ phàng.
Nhân vật Mị được Tô Hoài đi sâu để cảm nhận, phát hiện những nét đẹp, nét riêng trong đời sống nội tâm của nhân vật, và đây cũng là điểm gây ấn tượng đối với người đọc. Mị- không chỉ đẹp ở ngoại hình tính cách mà đẹp cả ở trong tâm hồn.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ | 587 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Mị và A Phủ giai đoạn ở Hồng Ngài trong Vợ chồng A Phủ để làm nổi bật giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm
Bài làm
Tây Bắc là tập truyện ngắn của Tô Hoài được nhận Giải thưởng của Hội Văn học – Nghệ thuật 1954 – 1955. Trong tập Tây Bắc. Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn đặc sắc hơn cả. Thông qua cuộc đời và số phận của Mị và A Phủ, nhà văn dựng lại quãng đời tăm tối, đau khổ của người dân miền núi trước Cách mạng, nêu cao khát vọng sống và vạch ra con đường giải phóng cho họ. Đó chính là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Phân tích tác phẩm vợ chồng A Phủ
Cuộc đời của Mị và A Phủ có hai giai đoạn gắn với hai cảnh đời sáng – tối đối chọi nhau. Giai đoạn đầu khi ở Hồng Ngài, Mị và A Phủ đều là nô lệ cho nhà thông lí Pá Tra. Đó là quãng đời tăm tối, bị đối xử như con trâu, con ngựa. Giai đoạn sau, khi ở Phiềng Sa là một cuộc sống khác hẳn, Mị và A Phủ đã đổi đời, đứng lên chiến đấu để bảo vệ mình, bảo vệ đất nước. Như vậy, khi phản ánh hiện thực, tác phẩm Vợ chồng A Phủ đã chọn hai đề tài chính: đề tài về cuộc sống bị áp bức, tủi nhục của người dân miền núi dưới chế độ nô lệ thực dân và cùng với nó là bộ mặt tàn bạo của bọn “thổ ti lang đạo; cuối cùng là đề tài về sự thức tỉnh cùa đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc vùng dậy chiến đấu để giải phóng và tự giải phóng.
Trước hết, Vợ chồng A Phủ là một bức tranh chân thực về số phận bi than của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức của bọn chúa đất phong kiến thực dân được phản ánh qua cuộc đời Mị và A Phủ.
Mị là một có gái trẻ đẹp, giàu lòng yêu đời, chăm chỉ và hiếu thảo. Mị đã từng được yêu và có những đêm tình mùa xuân hạnh phúc. Nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ mà Mị bị cướp về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Mị bị biến thành nông nô, bị chà đạp cả về nhân phẩm lẫn thể xác. Quãng đời sống trong nhà thống lí là một quảng đời đau thương, tăm tối. Ách áp bức nặng nề đã biến một cô gái hồn nhiên, đa cảm thành hiện thân của nhẫn nhục, cam chịu. Mị sống câm lặng lầm lũi, quanh năm vùi đầu vào những công việc khổ sai. Mị còn bị ràng buộc bởi mê tín thần quyền. Một khi đã đem ra “cúng trình ma” thì người đàn bà phải tuân theo sự trói buộc vô hình suốt cả một đời. Cho nên, biết khổ, biết nhục, biết mình bị đày đọa nhưng không dám phản kháng chống lại sự đày đọa khổ nhục ấy. Hơn nữa, những con người như Mị thật bé nhỏ trước thế lực tàn bạo của cường quyền.
Bị giam hãm trong “địa ngục trần gian'’ của nhà thống lí Pá Tra, Mị chết dần, chết mòn theo ngày tháng, Mị “lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”, “lũi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Bị cầm tù trong ngục thất tinh thần, Mị không còn nhớ đến cả tuổi của mình nữa, Mị đang bị tê liệt dần cả về cảm giác lẫn ý thức, tâm hồn, tình cảm. Cái ác của bọn thống trị là không những bóc lột, đày đọa con người về vật chất, thể xác mà còn giết chết dần ở con người những giá trị nhân bản tốt đẹp. Con người bị biến thành công cụ, thành những con vật chịu sự sai khiến.
Mị và A Phủ đều là nô lệ trong nhà thống lí. Nhưng con đường đến nhà thống lí thì mỗi người một kiểu. Mị vì món nợ truyền kiếp mà phải thành nô lệ còn A Phủ vốn không nợ nần gì nhà thống lí nhưng cũng không thoát được, vẫn rơi vào cảnh nô lệ.
A Phủ là mệt thanh niên nghèo suốt đời làm thuê, làm mướn. Cha mẹ chết trong một trận dịch đậu mùa. Chính cuộc sống cùng khổ ấy dã hun đúc ở A Phủ một sức sống mạnh mẽ, lòng ham chuộng tự do và một tính cách gan góc cùng năng lao động đáng quý. A Phủ là đứa con của núi rừng, hồn nhiên, trung thực. Chi vì dám đánh con quan mà bị bắt, bị đánh đập tàn nhẫn, bị phạt và trở thành nô lệ cho nhà thống lí. Cuộc đời A Phủ và cảnh xử kiện quái đản, lạ lùng đã mở ra một khía cạnh khác trong giá trị hiện thực của tác phẩm: xã hội phong kiến miền núi trước Cách mạng, chân lí, lẽ phải bao giờ thuộc về “con quan”, thuộc về kẻ giàu, kẻ mạnh; kẻ thống trị. Người nghèo kháng lại sự bất công thì bị đánh đập, bị tước quyền tự do, bị biến thành nô lê, không chỉ suốt đời mà đời con đời cháu cũng không thoát được. Hơn nữa, những hủ tục nặng nề ngàn đời là hiện thân ách áp bức kiểu trung cổ miền núi. Những hủ tục đó đã đẩy biết bao người nghèo vào thảm cảnh cùa sự cùng cực đói khổ. Những hủ tục ấy vừa tiếp tay vừa là công cụ cho bọn phong kiến thống trị đầy ải người dân, chà đạp lên nhân phẩm của họ. Việc A Phủ bị bắt làm nô lệ nhà thống lí Pá Tra càng tăng thêm sức tố cáo của tác phẩm.
Hết ngày này qua ngày khác, A Phủ phải làm việc cật lực, chăn dắt đàn bò, ngựa đông hàng mấy chục con. Chẳng may một con bò bị hổ ăn thịt, A Phủ bị trói đứng vào cột chờ chết. Trong tay bọn thống trị, tính mạng con người thật không bằng một con vật.
Cuộc đời nô lệ khổ đau của Mị và A Phủ là điển hình cho thân phận người nghèo miền núi dưới chế độ cũ. Bần cùng hóa con người, chà đạp lên nhân phẩm, đối xử với con người không bằng con vật, đó là bản chất của chế độ “thổ ti lang đạo”.
Giá trị hiện thực của tác phẩm còn thể hiện trong những nội dung miêu tả bộ mặt tàn bạo của bọn chúa đất phong kiến và bè lũ thực dân. Điều này được tác giả thể hiện sâu sắc qua hình ảnh cha con thống lí Pá Tra trong mối quan Mị và A Phủ.
Nhà Pá Tra giàu có. nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện. Hắn làm giàu bằng bóc lột sức lao động, bằng chế độ lao dịch, bằng cho vay lãi nặng bắt người ta làm nô lệ để trừ nợ. Cha con thông lí còn rất nhẫn tâm. Tô Hoài đã nhiều lần nói đến cảnh đánh người, trói người của Pá Tra và A Sử những chi tiết rất thực: “A Sử lầm lì trói đứng Mị vào cột nhà, tóc Mị xõa xuống, A Sử cuốn luôn tóc lên cột rồi y tắt đèn, đóng cửa lại”. Cái kĩ càng, rành rẽ trong từng động tác biểu hiện sự tàn ác đến thản nhiên cua A Sử. Mị phải thức suốt đêm xoa thuốc dấu cho A Sử, mỗi lần buồn ngủ quá thiếp đi, “A Sử bèn đạp chân vào mặt Mị”, thống lí Pá Tra thì quyết định trói A Phủ đến chết, mà trói như thế nào? A Phủ phải tự tay mang dây, chôn cọc cho thống lí quấn dây trói từ chân lên đầu. Không chỉ tàn ác thản nhiên, chúng còn phản dân, hại nước, chúng cấu kết với thực dân để làm giàu, đế bóc lột, áp bức người dân. Dưới thời phong kiến thưc dân, bọn lang đạo, chúa đất ở vùng cao mặc sức làm mưa, làm gió.
Phản ánh hiện thực khốn khổ của nhân dân Tây Bắc, Tô Hoài không tô vẽ, không nói quá sự thật. Tất cả đều được hiện lên như một bức tranh chân thực sống động. Tài năng và cũng là đóng góp của Tô Hoài là đã làm cho bức tranh hiện thực về miền núi cao Tây Bắc trở nên hết sức phong phú với những chi tiết sinh động về cuộc sống con người. Đó là nhờ Tô Hoài có một thời gian thực tế, cùng ăn cùng sống với nhân dân nên mới có được một vốn thực đáng quý như thế.
Khi viết về đồng bào Tây Bắc, ngòi bút Tô Hoài thể hiện một tinh thần nhân đạo rõ rệt. Nhà văn cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của những kiếp người ngựa như Mị và A Phủ, đứng về phía họ để phản ánh, đấu tranh. Nhưng sâu hơn cả là nhà văn đã phát hiện được những phẩm chất quý giá – đó là sức sống, là khát vọng tự do vẫn còn tiềm tàng trong đáy sâu tâm hồn của những con người nô lệ như Mị. Cái sức sống tiềm tàng ấy cùng với khát vọng mãnh liệt khi có cơ hội sẽ bùng lên. Cách nhìn của Tò Hoài trong tác phẩm hét sức nhân bản. Tác giả đã dồn bút lực tập trung khắc họa diễn biến tâm lí hồi sinh của Mị. Đó là vào một đêm tình mùa xuân, “Mị lén lấy hũ rượu uống ừng ực từng bát một”. Mị sống với quá khứ tuổi xuân của mình. “Trong đầu Mị rập rờn tiếng dìu Mị đi theo những cuộc chơi”. “Mị thấy phơi phới trở lại”. “Mị còn trẻ. Mị còn trẻ lắm, Mị muốn đi chơi”. Giữa lúc lòng ham sống trỗi dậy mãnh liệt nhất, A Sử đã phũ phàng dập tắt. Nhưng những giây phút trỗi dậy ấy có ý nghĩa thức tỉnh để dẫn tới hành động cắt dây trói cứu A Phủ ở đoạn sau đó.
Trước cảnh A Phủ bị trói, bắt gặp “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen", Mị thốt lên trong lòng: “Trời ơi! Nó bắt trói người ta đến chết. Chúng nó thật độc ác”. Giọt nước mắt tuyệt vọng của A Phủ đã đánh thức tỉnh tình thương trắc ẩn trong Mị, cùng với sự phản kháng âm ỉ đã dẫn Mị đến hành động táo bạo: cắt dây trói cứu A Phủ rồi sau đó, vùng chạy theo A Phủ. Đây là hành động cứu người và tự cứu mình của Mị.
Nhà văn đã rất thấu hiếu nỗi khổ cực của người dân miền núi, từ đó thấy được sự thức tỉnh, sự vùng dậy cùa họ, trước tiên là thoát khỏi dây trói của cường quyền và thần quyền. Rồi họ dừng lại ở Phiềng Sa, thành vợ chồng đi theo cách mạng.
Quá trình giác ngộ cách mạng của vợ chồng A Phủ tiêu biểu cho con đường đến với Đảng, đến với cách mạng của đồng bào các dân tộc ít người ở miền núi Tây Bắc. Tô Hoài khi tái hiện bức tranh hiện thực với những nét bản chất của nó, không thể không miêu tả quá trình vận động mang tính quy luật của cuộc sống. Đây cũng là giá trị nhân đạo sâu sắc và tiến bộ của Vợ chồng A Phủ. | Phân tích nhân vật Mị và A Phủ giai đoạn ở Hồng Ngài trong Vợ chồng A Phủ để làm nổi bật giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm | 1,979 | |
Phân tích nhân vật Mị để thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Mị để thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài
Bài làm
Điều thôi thúc Tô Hoài viết truyện Vợ Chồng A Phủ là món nợ tình cảm với đồng bào Tây Bắc. Sau khi cùng bộ đội vào giải phòng Tây Bắc (1952), nhà văn có thời gian dài sinh sống cùng với họ. Đồng cảm và thấu hiệu nỗi đau khổ tủi nhục của người lao động dưới ách thống trị của phong kiến thực dân, trân trọng những đức tính phẩm chất cao quý và vui mừng khi cách mạng đến với họ nên nhà văn kể về cuộc đời Mị và A Phủ với tình cảm đặc biệt. Vì thế, qua nhân vật Mị truyện vừa thể hiện giá trị hiện thực vừa thấm đẫm tinh thần nhân đạo.
Mở trang truyện là người đọc chứng kiến cảnh đời bi thương của nhân vật Mị: Lúc nào cũng thấy Mị ngồi quay sợi bên tảng đá cạnh tàu ngựa, lúc nào cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Nhà văn đã tả chân dung, tâm trạng để khắc họa số phận. Mị ngồi đấy mà cuộc đời như bị thắt chặt trong kiếp ngựa trâu và luôn mang trong lòng nỗi đau buồn thầm lặng dai dẳng, triền miên. Nỗi buồn đông cứng như tảng đá vô tri và đè nặng lên đôi vai, lên cuộc đời Mị. Tác giả đã thể hiện nỗi buồn của Mị với giọng văn ngậm ngùi và chiều sâu cảm thông, san sẻ.
Vì sao Mị lại xuất hiện đơn độc, lầm lũi giữa cảnh giàu sang tấp nập của nhà thống lí? Hỏi ra mới biết cô ấy không phải là con thống lí mà là đứa con dâu gạt nợ. Vì món nợ từ ngày cưới mà bố mẹ không trả nổi nên Mị bị bắt về nhà Pá Tra làm vợ A Sử để trừ nợ. Đây là thủ đoạn cho vay nặng lãi của bọn phong kiến thống trị, là cách bóc lột sức lao động của người nghèo và chúng đã hãm người nông dân trong sự lệ thuộc suốt đời. Chúng đã lợi dụng tập quán của người Mèo: đời cha không trả hết nợ thì đến đời con, đời cháu. Bắt Mị về là cha con Pá Tra liền cúng ma nhà nó. Vĩnh viễn Mị là người của nhà thống lí, là đứa ở trừ nợ suốt đời, là có thể chết rủ ở xó nhà này mà không thể hi vọng vào sự giải thoát. Pá Tra đã lợi dụng sự mê tín dị đoan của người Mèo để giam hãm Mị, để tăng sức mạnh và vươn xa hơn bàn tay tội ác. Bọn thống trị độc ác đã tước đi quyền sống tự do của Mị, cướp mất tình yêu, tuổi trẻ và hạnh phúc của Mị.
Hành tháng trời, đêm nào Mị cũng khóc. Thân thể của Mị như muốn tan theo dòng nước mắt đau buồn tủi nhục ấy. Mị đã nghĩ đến cái chết như là phương cách giải thoát. Nhưng vì bố mà Mị cam chịu kiếp sống đọa đày. Mị làm việc như cái máy, bị vắt kiệt sức ra để trừ nợ. Tác giả so sánh Mị khổ ơn con trâu con ngựa nhà thống lí. Mị như cái xác không hồn. Mị sống trong căn buồng kín mít không ánh sáng, chăng hương người, chỉ có cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Không gian ấy co biết đời Mị sẽ héo dần trong tăm tối, nô lệ, trong kiếp sống ngục tù. Không biết gì tế giới xung quanh mình, Mị dần dần tê dại về cảm giác và tê liệt về ý thức, khác gì một đóa hoa tàn. Nếu đem so sánh với đoạn đời tươi đẹp hồn nhiên khi còn ở nhà với bố mẹ thì hiện trạng kia gợi biết bao niềm xót thương trong lòng nhà văn và độc giả. Và chi tiết ấy cũng mang ý nghĩa tố cáo tội ác bọn thống trị đã vùi dập biết bao thân phận. Chúng đọa đày, áp chế mặt tinh thần đến mức làm tê liệt ý thức phản kháng.
Thể hiện mạng đời đau khổ tăm tối của Mị, tác phẩm đã khái quát hóa hiện thực đau khổ, tủi nhục bị bóc lột của người lao động miền núi, qua đó tố cáo tội ác bọn phong kiến thống trị. Đồng thời đành cho người lao động tình cảm nhân đạo cao quý: niềm đồng cảm sẻ chia, thương xót.
Giá trị nhân đạo của tác phẩm còn được thể hiện qua thái độ ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của Mị.
Khi còn ở nhà với bố mẹ, Mị sống rất hồn nhiên và vui vẻ. Nhưng khi nghe tin Pá Tra muốn bắt Mị về làm con dâu gạt nợ, Mị nói với bố: con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương, ngô trả nợ cho bố, bố đừng bán con cho bọn nhà giàu. Lời nói ấy chứng tỏ Mị là người giàu lòng tự trọng, có ý thức về nhân phẩm, danh dự và tự do. Tâm hồn Mị trong sáng, hồn nhiên, cao khiết như đóa hoa giữa gió núi mây ngàn. Khi bị bắt về nhà thống lí, sống trong cảnh trâu ngựa, đêm nào Mị cũng khóc và Mị uất ức vùng lên bằng cách hái lá ngón ăn để tự vẫn. Dù ý định không thành vì chữ hiếu nhưng hành vi ấy biểu hiện tính cách mạnh mẽ, tinh thần chống đối lại số phận. Đó chính là lúc sức sống tiềm tàng trong Mị đã trội dẫy. Từ bỏ ý định tự vẫn vì bố cho thấy Mị là cô con gái hiếu thảo và tràn đầy tinh thần hi sinh.
Vẻ đẹp của Mị còn được thể hiện qua lòng ham sống, khát vọng sống tự do, tâm hồn giàu sức sống. Kể từ ngày bố mất, Mị cũng không còn nghĩ đến cái chết, cô đã chôn vùi đời mình trong khổ đau, quên lãng. Thế nhưng lòng ham sống vẫn còn le lói. Đến khi mùa xuân về thì ngọn lửa ham sống chợt bừng lên. Tiếng sáo gọi bạn tình đêm xuân đã đánh thức tâm hồn Mị, lòng Mị cảm thấy bồi hồi xao xuyến, thiết tha muốn sống lại như những đêm xuân ngày xưa cũ. Mị ngồi nhẩm thầm hát theo tiếng sáo với những bản tình ca ngày trước. Mị lén lấy rượu uống, uống ừng ực từng bát, uống như nuốt hận, uống để quên đi những cay đắng, tủi nhục. Trong khi ấy, tiếng sáo ngoài đường, từ phía đời tự do cứ lửng lơ, mời gọi giục giã. Mị thấy lòng phơi phới trẻ lại. Mị muốn đi chơi. Sức sống bấy nay bị đè nén nay bật trào dậy thành khát vọng tự do mạnh mẽ. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn đầy sức sống và khát vọng sống tự do ấy bị hủy hoại bởi sự độc ác của A Sử.
Thế nhưng sức sống ấy lại bật dậy lần nữa trong hành động cứu A Phủ. A Phủ là đứa ở gạt nợ của nhà thống lí. Đi chăn bò, sơ ý để hổ ăn mất bò nên bị Pá Tra bắt trói đứng vào cột nhà và bỏ đói gần chết. Bỗng đêm khuya hôm ấy, Mị đang sưởi lửa thì ngọn lửa bếp bỗng bùng sáng lên. Nhờ đó mà Mị nhìn thấy dòng nước mắt tuyệt vọng của con người bất hạnh ấy. Vừa xót thương người cùng cảnh ngộ vừa căm thù thống lí Pá Tra nên Mị dám đứng dậy cắt dây trói cứu A Phủ. Khi A Phủ thoát rồi, Mị đứng lặng trong bóng tối và nỗi sợ hãi bị chết bỗng dưng ập về nên Mị đã vùng bỏ chạy theo A Phủ. Thế là ngẫu nhiên Mị được thôi thúc từ lòng ham sống, lòng khao khát tự do và biểu hiện tính cách ngoan cường. Hành động của Mị thật mạnh mẽ vì cô dám đứng lên chống đối lại số phận, chống lại thế lực bạo quyền và cả thế lực thần quyền: vì Mị đã hết sợ ma nhà thống lí rồi. Hành động giải phóng của Mị dù tự phát nhưng phù hợp với quy luật tình cảm, quy luật xã hội và thể hiện đúng quy luật phát triển của tính cách. Đó chính là lúc sức sống nội tại đã bùng lên một cách mạnh mẽ nên đã có một kết quả rực rỡ. Nó khép lại quãng đời nô lệ tăm tối ở Hồng Ngài, mở ra một cuộc đời tự do và ánh sáng ở Phiềng Sa. Hành động cứu người của Mị không chỉ thể hiện vẻ đẹp tính cách mạnh mẽ, khát vọng sống, lòng ham sống mà còn là biểu hiện của tình tương thân tương ái.
Mị không chỉ điển hình cho mảng đời tăm tối, nô lệ mà còn là hiện thân cho những phẩm chất cao đẹp của người lao động miền núi mà nhà văn ca ngợi: siêng năng, chăm chỉ trong lao động ; giàu tình nghĩa, đức hi sinh trong lối sống, quan hệ ; tâm hồn trong sáng, giàu sức sống, tiềm tàng khả năng phản kháng chống áp bức… Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất đặc sắc: đoạn tả Mị nghe tiếng sáo đêm xuân… Suy tính của Mị trước khi cắt dây trói cứu A Phủ… Thành công nghệ thuật này cũng biểu hiện niềm đồng cảm thương yêu nhân vật của nhà văn Tô Hoài.
Qua nhân vật Mị, Tô Hoài đã khái quát được hiện thực về cảnh đời đau khổ, tụi nhục của người lao động miền núi bởi tội ác của bọn phong kiến ôm chân thực dân. Truyện còn là bức tranh chân thực về nếp sống, phong tục tập quán vùng cao Tây Bắc. Truyện còn lay độn tình cảm người đọc bởi giá trị nhân đạo sâu sắc: niềm đồng cảm thương yêu kiếp người bất hạnh, trân trọng bao phẩm chất đáng quý của họ và kịch liệt lên án thói độc ác của bọn phong kiến thống trị.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | Phân tích nhân vật Mị để thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài | 1,782 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật mụ vợ trong truyện ông lão đánh cá và con cá vàng của Pus-kin
Bài làm
Ông lão đánh cá và con cá vàng của Pus-kin là một truyện cổ tích nổi tiếng của nước Nga và của thế giới. Đọc truyện, người đọc thấy yêu mến cá vàng, thương xót ông lão và vô cùng bất bình, căm giận mụ vợ. Có thể nói, nhân vật mụ vợ xứng đáng với sự chê trách của người đọc bởi mụ là một người tham lam và bội bạc.
Mụ ta trước hết là người hết sức tham lam. Chồng mụ vì thương xót cá vàng nên đã rộng lượng tha cho cá. Cảm tấm lòng ông lão, cá ban cho ông những điều ước. Như vậy là mụ vợ hoàn toàn không có công lao gì với cá. Mặc dù vậy, mụ đã liên tục đưa ra đòi hỏi, từ những đòi hỏi về vật chất ít giá trị: cái máng lợn, cái nhà; cho đến những đòi hỏi lớn về cả của cải và danh vọng: lâu đài, nhất phẩm phu nhân. Không thoả mãn với của cải và danh vọng, mụ đòi hỏi đến quyền lực tối cao: nữ hoàng. Lòng tham của mụ đi đến tột cùng khi mụ đòi được làm Long Vương, bắt cá vàng hầu hạ bên cạnh. Đó là một đòi hỏi quá đáng, vượt qua mọi giới hạn có thể chấp nhận trong đạo lí làm người.
Không chỉ tham lam, mụ vợ ông lão còn hết sức bội bạc. Với cá vàng, là "người dưng", mụ xử sự như vậy là đã vô cùng quá đáng. Vậy mà ngay cả với ông lão, người vừa là chồng vừa là ân nhân, mụ cũng đối xử không ra gì. Cùng với lòng tham vô độ, sự bội bạc của mụ càng ngày càng tăng. Khi ông lão trở về mà không đòi hỏi điều gì ở cá vàng, mụ mắng chồng là "đồ ngốc". Khi ông chỉ xin cái máng theo yêu cầu của mụ, mụ quát to, chửi chồng là "đồ ngu". Lần tiếp theo, mụ mắng như tát nước vào mặt" chồng. Rồi lần tiếp, mụ "nổi trận lôi đình, tát vào mặt ông lão"; được làm nữ hoàng, mụ đuổi thẳng ông lão ra ngoài. Và lần cuối, sau khi đã được làm "nhất phẩm phu nhân", mụ "nổi cơn thịnh nộ, sai người đi bắt ông lão đến" để ông đi tìm cá vàng, bắt nó phải chiều theo ý thích ngông cuồng của mụ.
Rõ ràng, lòng tham của mụ vợ càng tăng thì tình nghĩa vợ chồng càng suy giảm. Khi lòng tham lên đến đỉnh điểm, thậm chí mụ vợ còn muốn gạt hẳn ông lão ra ngoài để cá vàng trực tiếp hầu hạ mụ.
Kết cục, mụ đã bị cá vàng trừng trị vì cả hai tội tham lam và bội bạc, trong đó lòng tham đã làm mụ mù quáng, mất hết lương tri. Tuy nhiên, ở đây, tội bội bạc có ý nghĩa quyết định khiến lòng tham trở nên vô hạn độ và dẫn đến sự trừng trị đích đáng của cá vàng với mụ vợ.
Nhân vật mụ vợ ông lão đánh cá là hiện thân của sự tham lam và bội bạc tột cùng. Những kẻ như mụ phải trở lại cảnh máng lợn sứt, nhà tranh vách đất và bộ quần áo rách nát dường như vẫn còn chưa thoả đáng. Dẫu sao, kết thúc của tác phẩm đã gióng lên một lời nhắc nhở và cảnh tỉnh những ai còn đang mang trong mình những ước mơ ngông cuồng về tiền tài, danh vọng mà quên đi tình nghĩa con người. | Phân tích nhân vật mụ vợ trong truyện ông lão đánh cá và con cá vàng của Pus-kin | 624 | |
Phân tích nhân vật mụ vợ trong truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng của Puskin
Gợi ý
Ông lão đánh cá và con cá vàng của Pus-kin là một truyện cổ tích nổi tiếng của nước Nga và của thế giới. Đọc truyện, người đọc thấy yêu mến cá vàng, thương xót ông lão và vô cùng bất bình, căm giận mụ vợ. Có thể nói, nhân vật mụ vợ xứng đáng với sự chê trách của người đọc bởi mụ là một người tham lam và bội bạc.
Mụ ta trước hết là người hết sức tham lam. Chồng mù vì thương xót cá vàng nên đã rộng lượng tha cho cá. Cảm tấm lòng ông lão, cá ban cho ông những điều ước. Như vậy là mụ vợ hoàn toàn khôrg có công lao gì với cá. Mặc dù vậy, mụ đã liên tục đưa ra đòi hỏi, từ những đòi hỏi về vật chất ít giá trị: cái máng lợn, cái nhà; cho đến những đòi hỏi lớn về cả của cải và danh vọng: lâu đài, nhất phẩm phu nhân. Không thỏa mãn với của cải và danh vọng, mụ đòi hỏi đến quyền lực tối cao: nữ hoàng. Lòng tham của mụ đi đến tột cùng khi mụ đòi được làm Long Vương, bắt cá vàng hầu hạ bên cạnh. Đó là một đòi hỏi quá đáng, vượt qua mọi giới hạn có thể chấp nhận trong đạo lí làm người.
Không chỉ tham lam, mụ vợ ông lão còn hết sức bội bạc. Với cá vàng, là “người dưng”, mụ xử sự như vậy là đã vô cùng quá đáng. Vậy mà ngay cả với ông lão, người vừa là chồng vừa là ân nhân, mụ cũng đối xử không ra gì. Cùng với lòng tham vô độ, sự bội bạc của mụ càng ngày càng tăng. Khi ông lão trở về mà không đòi hỏi điều gì ở cá vàng, mụ mắng chồng là “đồ ngốc”. Khi ông chỉ xin cái máng theo yêu cầu của mụ, mụ quát to, chửi chồng là “đồ ngu”. Lần tiếp theo, mụ “mắng như tát nước vào mặt” chồng. Rồi lần tiếp, mụ “nổi trận lôi đình, tát vào mặt ông lão”; được làm nữ hoàng, mụ đuổi thẳng ông lão ra ngoài. Và lần cuối, sau khi đã được làm “nhất phẩm phu nhân”, mụ “nổi cơn thịnh nộ, sai người đi bắt ông lão đến để ông đi tìm cá vàng, bắt nó phải chiều theo ý thích ngông cuồng của mụ.
Rõ ràng, lòng tham của mụ vợ càng tăng thì tình nghĩa vợ chồng càng suy giảm. Khi lòng tham lên đến đỉnh điểm, thậm chí mụ vợ còn muốn gạt hẳn ông lão ra ngoài để cá vàng trực tiếp hầu hạ mụ.
Kết cục, mụ đã bị cá vàng trừng trị vì cả hai tội tham lam và bội bạc, trong đó lòng tham đã làm mụ mù quáng, mất hết lương tri. Tuy nhiên, ở đây, tội bội bạc có ý nghĩa quyết định khiến lòng tham trở nên vô hạn độ và dẫn đến sự trừng trị đích đáng của cá vàng với mụ vợ. | Phân tích nhân vật mụ vợ trong truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng của Puskin | 534 | |
Phân tích nhân vật Mỵ của vợ chông A Phủ
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Mỵ của vợ chông A Phủ
Tô Hoài là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực văn xuôi đương đại. Bằng tài năng của mình ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm đầy ý nghĩa. Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” in trong tập “Truyện Tây Bắc” được xem là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông. Ông đã khắc họa rất thành công nhân vật Mỵ với sức sống tiềm tàng, mãnh liệt dưới ách thống trị của cường quyền, thần quyền và hủ tục phong kiến.
Nhân vật Mỵ là một cô gái mang đầy đủ vẻ đẹp của cô gái vùng Tây Bắc. Cô xinh đẹp, đảm đang, và đặc biệt “ cô thổi lá hay như thổi sáo”. Nhưng trên đời lại có câu “hồng nhan bạc phận”, một cô gái như Mỵ lại phải trở thành món hàng vô tri vô giác để gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Trở thành “cô dâu gạt nợ” Mỵ phải sống như con trâu, con ngựa quanh năm trong nhà thống Lý. Mỵ nhiều lần muốn ăn lá ngón để tử tự nhưng vì chữ hiếu, vì cha nên Mỵ bỏ đi suy nghĩ áy.
Cùng cực, vất vả dần dần khiến cho Mỵ cam chịu đến mức thích nghi với nó. Mỵ quen khổ rồi, quen tới mức từ một cô gái xinh đẹp, hồn nhiên, đa cảm trở thành một người đàn bà lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi, ngồi quay sợi bên “tảng đá trước cửa”, “cạnh tàu ngựa” của nhà thống lý Pá Tra. Mỵ sống âm thầm, lặng lẽ, lúi húi như “con rùa nuôi trong xó cửa”.
Bao năm sống trong nhà thống lý Pá Tra, sống trong căn phòng kín, tối tăm chỉ có một cửa sổ nhỏ như bàn tay để nhìn ra bên ngoài nhưng thật mờ ảo. Đau khổ kéo dài khiến cho Mỵ quên mất mình, đánh mất ý chí đấu tranh. Mỵ chỉ biết mình là con trâu, con ngựa sống trong nhà thống Lý. Dường như mọi cảm xúc, khát khao đã bị dập tắt từ lâu. Kỳ diệu thay, trong lúc cuộc đời của Mỵ dần dần mất đi ánh sáng thì một ngọn lửa yêu đời mãnh liệt bổng vụt sáng lên trong tâm trí của Mỵ, khát khao sống tuôn chảy trong người Mỵ. Mùa xuân về, Mỵ lén uống rượu, say và cô hát, hát vì khát khao bản thân được yêu thương. Nhưng niềm vui ấy chỉ mới bắt đầu thì lại bị những trận đòn roi, rồi bị trói vào cột như khiến Mỵ chết đi thêm một lần nữa, một lần nữa cô lại trở về với hiện thực và đành phải đi phục vụ chồng như một con trâu, con ngựa.
Đó là kết quả tất yếu của việc bị dồn nén quá mức. Cắt dây trói cho A Phủ cũng là cắt đứt sợi dây trói của cường quyền, thần quyền lên con người Mỵ. Mỵ chạy theo A Phủ vì biết rằng ở lại Mỵ sẽ chết. Mỵ chạy theo tiếng gọi của tự do, của sức sống mãnh liệt. Đây chính là lúc cô tìm lại cuộc đời, tìm lại định nghĩa của cuộc sống tươi đẹp.
Qua việc miêu tả diễn biến tâm lí và sức sống tiềm tàng của nhân vật Mỵ trong hoàn cảnh đau thương. Nhà văn Tô Hoài muốn khẳng định rằng dù bạo lực đen tối, dù thần quyền, cường quyền có to lớn, mạnh mẽ như thế nào cũng không thể vùi dập khát khao sống của con người. Đồng thời, tác giả muốn nói lên rằng, hạnh phúc luôn nằm trong tay của mỗi người, chính bản thân chúng ta mới tạo nên được hạnh phúc cho chúng ta. Đây chính là giá trị nhân đạo của tác phẩm này. | Phân tích nhân vật Mỵ của vợ chông A Phủ | 671 | |
Phân tích nhân vật Mỵ để thấy được sức sống tiềm tàng của nhân vật này qua truyện Vợ chồng A Phủ
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Mỵ để thấy được sức sống tiềm tàng của nhân vật này qua truyện Vợ chồng A Phủ
Bài làm
Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn được rút từ tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, viết vào nằm 1953, ngay sau chuyến thâm nhập thực tế của tác giả. Truyện đã được tặng giải nhất của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955. Đây là truyện ngắn đặc sắc nhất của Tô Hoài nói riêng và của văn xuôi chống Pháp nói chung. Tác phẩm là một bức tranh chân thực về cuộc sống và thân phận khổ đau của dân nghèo miền núi dưới ách áp bức bóc lột của thế lực phong kiến thực dân; đồng thời là một bài ca về sức sống khát vọng, tự do của con người miền núi; là hình ảnh con đường giải phóng và cuộc đổi đời của họ. Tiêu biểu nhất cho những con người ấy là Mỵ, một nhân vật mang dấu ấn tài năng phân tích tâm lý, và tư tưởng nhân đạo vừa độc đáo vừa sâu sắc của nhà văn Tô Hoài.
Mở đầu tác phẩm tác giả Tô Hoài giới thiệu Mỵ là một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. “Lúc nào cũng vậy, dù thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi, hay cõng nước dưới khe suối lèn, cò ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Đó là hình tượng con người nò lệ bị chà đạp và tuyệt vọng. Nhưng Mỵ là ai? Con gái nhà thống Lý giàu có chăng? Hỏi ra mới biết Mỵ là con dâu nhà Pá Tra.
Mỵ vốn là một cò gái Mèo con nhà nghèo nhưng mang đủ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ miền núi, Mỵ là mội cô gái vừa đẹp người, đẹp nết; cần cù, đảm đang, hiếu thảo, ham sống, giàu lòng yêu đời, và rất mực tài hoa. Tiếng sáo của Mỵ đã có sức lôi cuốn hấp dẫn đặc biệt đối với biết bao chàng trai Mèo. Và cuộc sống, tuổi thanh xuân tương lai của Mỵ hứa hẹn biết bao điều tốt lành, tươi sáng. Và sự thực mùa xuân đến, Mỵ đã sống những giây phút tươi đẹp của tuổi trăng rằm, dù trong cảnh nghèo khó.
Nhưng tương lai sáng và tuổi trẻ với hạnh phúc và tình yêu đã không đến với cô gái nghèo khổ đó. Chỉ vì một món nợ truyền kiếp – ngày trước bố mẹ cưới nhau phải vay nhà thống lý Pá Tra và cho đến lúc già, mẹ cô chết, vẫn chưa trả được mà Mỵ phải đem thân làm con dâu trừ món nợ ấy – như một thứ “Tội tổ tông” của người nghèo cho nhà thống lý Pá Tra, một tên quan lại kiêm địa chủ tham lam xảo quyệt và tàn nhẫn của vùng Hồng Ngài. Kể từ khi về làm con dâu cho nhà thống lý, Mỵ phải sống những chuỗi ngày đau thương tủi nhục tăm tối. Danh nghĩa là con dâu nhà quan, nhưng thực chất Mỵ là một thứ nô lệ không công. Mỵ không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị đày đọa về tinh thần. Đã mấy tháng trời, đêm nào Mỵ cũng khóc. Cô gái tội nghiệp ấy đã có lúc định kết liễu cuộc đời mình bằng nắm lá ngón. Nhưng có chết thì món nợ vẫn còn. Bố Mỵ còn khổ hơn bây giờ bao nhiêu lần.
Thế là thương bố, Mỵ không thể chết, Mỵ liền ném nắm lá ngón như ném cái khát vọng được giải thoát cho riêng mình, và Mỵ đành trở về cuộc đời nô lệ để trả nợ cho bố. Dưới mấy tầng áp bức của cường quyền, thần quyền và hủ tục phong kiến miền núi, Mỵ phải sống kiếp sống như con vật, thậm chí không bằng con vật “Bây giờ thì Mỵ tưởng mình cũng là con trâu, tưởng mình là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi… Lúc nào Mỵ cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, nối tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa. mỗi tháng làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp… suốt năm, suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi đầu vào việc làm cả đêm cả ngày. Những ngày Tết, A Sử đi chơi, Mỵ còn bị trói đứng trong buồng tối… Thế mà liền đấy, vừa mới được cỏi trói thì cô phải đi hái thuốc lá về xoa bóp cho chồng. Nhỡ mệt thiếp đi thì A Sử lấy chân đạp thẳng vào mặt Mỵ. Thật không ở đâu mạng sống, nhân cách con người bị coi rẻ như vậy.
Nhưng phải chăng tâm hồn cô gái Mèo trẻ đẹp, tài hoa, giàu sức sống, yêu đời thuở nào giờ đây đã hoàn toàn nguội lạnh băng giá, cam chịu thân phận nô lệ và hoàn toàn tê liệt? Không! Ngòi bút giàu chất thơ và tinh thân nhân đạo của Tô Hoài không chỉ mô tả thấm thía cái mặt tối tăm ảm đạm của cuộc đời Mỵ mà còn tha thiết, hướng về phía sự sống và ánh sáng để khơi gợi nó lên. Nhà văn đã nhìn thấy được dưới đáy tâm hồn tưởng như tê liệt vì khổ đau cùa Mỵ vẫn còn le lói ánh sáng và hơi ấm của niềm ham sống, khát khao hạnh phúc và tự do. Niềm ham sống ấy tiềm ẩn dưới đáy tâm hồn, như ngọn lửa vẫn âm ỉ cháy dưới lớp tro nguội, chỉ cần có một làn gió thổi tới là có thể cháy bùng lên.
Mùa xuân về trên vùng núi cao Tây Bắc có ý nghĩa như “Một hoàn cảnh điển hình” làm gợi dậy ở con người và thiên nhiên sức sống tiềm tàng. Sự sống cảnh vật và con người như được mùa xuân khơi dậy làm cho bừng tỉnh. Và thời điểm để ngọn lửa ham sống trong lòng Mỵ bùng lên đã đến. Đấy là một “đêm tình mùa xuân”. Tiếng khèn, tiếng sáo của trai làng gọi bạn tình cứ tha thiết bồi hồi. Tai Mỵ văng vẳng tiếng sáo của trai làng gọi bạn tình cứ tha thiết bồi hồi. “Tai Mỵ vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng”. Với Mỵ, tiếng sáo là biểu tượng lôi cuốn nhất của mùa xuân của khát vọng tình yêu hạnh phúc. “Ngày trước, Mỵ thổi sáo giỏi. Mỵ uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê…” Cái nồng nàn của đêm xuân lại được tăng lên bởi bữa rượu ngày Tết, trong tiếng chiêng đánh ầm ĩ và những người lên đồng, người hát. “Ngày tết, Mỵ cũng uống rượu. Mỵ lén lấy hũ rượu cứ uống ừng ực từng bát, rồi say. Cách uống rượu của Mỵ như báo hiệu một hành động nổi loạn của nhân vật. Và chính trong trạng thái bị bị kích thích bởi men rượu bởi những âm thanh náo động của bữa cơm cúng ma trong nhà thống lý Pá Tra và tiếng gọi lôi cuốn của tiếng sáo gọi bạn tình, Mỵ đã vượt ra ngoài con người thể xác hiện tại để sống với con người tâm linh. Mỵ thoát khỏi tâm trạng thờ ơ nguội lanh bấy lâu nay của lòng mình.
Dấu hiệu đầu tiên là Mỵ sống lại với những kỷ niệm êm đẹp ngày trước, những ngày hạnh phúc êm đềm vô tư của tuổi trẻ với những bữa rượu bên bếp lửa ấm cúng, với những tiếng sáo dìu dặt của trai làng bao đêm theo Mỵ hết núi này đến núi khác.
Tiến thêm một bước nữa, Mỵ trở lại niềm vui sống trong chốc lát. Ở đây dường như Tô Hoài, đã hóa thân vào nhân vật để trần thuật, suy nghĩ, tạo nên thứ ngôn ngữ nửa trực tiếp rất hấp dẫn “Mỵ thấy phơi phới trở lại… Mỵ trẻ lắm, Mỵ vẫn còn trẻ. Mỵ muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cùng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mỵ không có lòng với nhau mà vẫn ở với nhau!”
Lòng ham sống của Mỵ trỗi dậy mãnh liệt không thể dập tắt nữa rồi! Ý nghĩ tiếp theo của Mỵ là “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay!”… Phản ứng ấy chứng tỏ Mỵ đã ý thức được hoàn cảnh đau khổ tủi nhục triền miên của đời mình hiện tại. Dường như Mỵ không muốn chấp nhận cuộc sống lầm than tủi nhục vô nghĩa như kiếp sống của một con vật nữa.
Trong khi đó, tiếng sáo gọi bạn tình, biểu tượng của sự sống, hạnh phúc, tình yêu, tự do bấy lâu nay Mỵ dường như đã quên rồi cứ ngân lên thôi thúc. Tiếng sáo, đó cũng là hiện thân tâm hồn Mỵ cứ theo sát từng bước diễn biến tâm trạng của cô. Nó chính là ngọn gió trực tiếp làm thổi bùng lên ngọn lửa ham sống trong lòng Mỵ.
Sức sống trỗi dậy của tâm hồn Mỵ như những đợt sóng ào ạt, đợt sau mạnh mẽ hơn đợt trước. Từ những sục sôi trong tâm trí, Mỵ đã đi đến hành động. “Mỵ đến góc nhà lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Có thể xem đây là một hành động thức tỉnh. Phải chăng Mỵ đà thắp lên một ngọn đèn soi vào cuộc sống của mình, để thoát ra khỏi những đêm dài triền miên tăm tối trong quá khứ?
Và hành động này thúc đẩy hành động khác tiếp theo như một phản ứng dây chuyền không thể nào ngăn lại dược nữa. Hình như khòng đếm xỉa gì đến những xiềng xích tàn bạo của nhà thống lý Pá Tra, Mỵ đã tự mình hành động như một người tự do, đi theo tiếng gọi của lòng mình. “Mỵ quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa” sửa soạn đi chơi ngày Tết. Giữa lúc lòng ham sống trỗi dậy một cách mãnh liệt nhất thì cũng là lúc Mỵ bị vùi dập một cách phũ phàng nhất. A Sử, chồng Mỵ bước vào thản nhiên trói đứng Mỵ vào cột nhà. Hành động trói vợ của A Sử thản nhiên đến lạnh lùng và tàn nhẫn như hành động thắt lưng, tắt đèn, khép cửa buồng. Suốt đêm bị trói ấy, Mỵ đã sống trong sự giằng xé mạnh mẽ giữa niềm khao khát sống, khát khao hạnh phúc cháy bỏng và thực tại khắc nghiệt lạnh lùng. “Như không biết mình đang bị trói, hơi rượu còn nồng nàn”, “Mỵ vẫn thả hồn lâng lâng theo tiếng sáo của tuổi trẻ và tình yêu: Em không yêu, quả pao rơi rồi! Em yêu người nào, em bắt pao nào”. Quên những đau đớn về thể xác, “Mỵ đã vùng bước đi”. Điều đó chứng tỏ sức sống tiềm tàng trong con người Mỵ dữ dội biết nhường nào.
Những phút trỗi dậy ấy có ỷ nghĩa thức tỉnh. Từ đây hình như Mỵ đã trở lại là mình. Thời gian trôi đi, rồi một đêm kia, Mỵ được chứng kiến cảnh A Phủ bị trói một cách thảm khốc. Lúc đầu, tâm hồn Mỵ như khép kín, câm lặng, không phản ứng gì. Nào phải đâu Mỵ là con người nhẫn tâm? Chỉ vì những hành động tôi ác trong nhà Pá Tra là chuyện xảy ra hàng ngày. Vả chăng Mỵ cũng chỉ là một nạn nhân bất lực mà thôi. Hơn nữa, Mỵ hình như lại rơi vào trạng thái gần như vô cảm.
Khi thấy A Phủ chạy rồi, khát vọng tự do, lòng ham sống đã bừng tỉnh trong Mỵ. Mỵ phải sống, “A Phủ cho tôi đi! ở đây thì chết mất!” Thế là “Mỵ vụt chạy… băng đi”. Giải thoát cho A Phủ, Mỵ cũng tự giải thoát luôn cho chính mình, cắt đứt những sợi dây vô hình đã cột chặt dời cô vào quăng đời tủi nhục trong nhà thống lý Pá Tra. Đây là một hành động tự phát, nhưng nó là kết quả phát triển tất yếu của cả một quá trình sức sống tiềm tàng trỗi dậy không ngừng trong tâm hồn Mỵ. Từ trong cái địa ngục giam cầm đầy đọa mình bao nhiêu năm trời, Mỵ đã vùng lên tìm lẽ sống, làm lại cuộc đời. Nhà văn Tô Hoài đã miêu tả quá trình diễn biến tâm lý và hành động của Mỵ rất tự nhiên và sinh động, vừa bất ngờ, vừa tất yếu, hợp quy luật cuộc sống. Vì vậy, có thể nói “Mỵ là một nhân vật thành công bậc nhất trong văn xuôi cách mạng đương đại Việt Nam” (Giáo sư Trần Đình Sử).
Vẻ đẹp rực rỡ, sức thu hút mạnh mẽ của nhân vật Mỵ đối với nguời đọc xưa nay chính là ở phẩm chất cao quý, đặc biệt là sức sống tiềm tàng ấy, Đọc Vợ chồng A Phủ mỗi độc giả chúng ta ai cũng nhớ, cũng thương, cũng quý một cô Mỵ trong đày đọa như vậy mà vẫn luôn luôn khát khao vươn lên cuộc sống hanh phúc, tự do, để càng yêu hơn một cô Mỵ du kích ở Phiềng Sa sau này. Trước Cách mạng, trong văn học hiện thực phê phán, Chị Dậu cũng là một nhân vật tuyệt đẹp và tiềm tàng sức sống mãnh liệt, Nguyền Tuân viết “Cả tác phẩm Tắt đèn là một đêm tối có những lúc bóng tối đen dày đặc quánh vón thành từng cục làm cho chị Dậu phải thì thào tiếng nói bóng ma”. Nhưng chị không đầu hàng bóng tối… Trái lại chị cứ lăn xả vào bóng tối mà phá ra. Cây lúa thêm ánh sáng thế nào thì Chị Dậu tuôn ra khỏi bóng tối mạnh như vậy. Vì thế Nguyễn Tuân đã khẳng định “Trên cảnh tối giời tối đất của đồng lúa ngày xưa thấy xuất hiện lên sừng sững một chân dung lạc quan. Đó là Chị Dậu”. Chân dung Chị Dậu thì lạc quan nhưng tiền đồ của chị lại tối đen như mực. Còn cô Mỵ của Tô Hoài là nhân vật của văn học cách mạng, nên tiền đồ của cô vô cùng tươi sáng. Cô đã được Đảng dìu dắt “từ thung lững đau thương ra cánh đồng vui”. | Phân tích nhân vật Mỵ để thấy được sức sống tiềm tàng của nhân vật này qua truyện Vợ chồng A Phủ | 2,532 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật người anh hùng Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây
Bài làm
Từ bao đời nay, người Ê-đê đã cùng quây quần bên bếp lửa, nghe không biết chán từ đêm này sang đêm khác khan Đăm Săn, bài ca về người tù trưởng anh hùng của dân tộc mình với những chiến công hiển hách trong xây dựng phát triển buôn làng và bảo vệ cộng đồng chống lại bao kẻ thù hung hãn. Trong những chiến công lẫy lừng ấy, ngất ngây lòng người vẫn là đoạn Chiến thắng Mtao Mxây, chứng tỏ tài năng, bản lĩnh, lòng dũng cảm phi thường và sức mạnh vô địch của Đăm Săn.
Sở dĩ xảy ra cuộc chiến này là do Mtao Mxây (tù trưởng sắt) đả cướp Hơ Nhị – vợ của Đăm Săn. Đối với người Ê-đê theo chế độ mẫu hệ, việc bị kẻ thù cướp mất vợ là một nỗi sỉ nhục của cả cộng đồng. Chiến thắng Mtao Mxây là lần thứ hai Đăm Săn phải chiến đấu với kẻ thù để giành lại người vợ, chứng tỏ sự hùng mạnh của Đăm Săn, Chàng phải đối mặt với kẻ thù hung bạo và cũng có sức mạnh phi thường không kém. Hàng loạt những hình ảnh so sánh trong đoạn trích cho thấy rõ sự tương phản giữa Đăm Săn với kẻ thù, làm nổi bật lên sự hào hùng của chàng và sự thảm hại của Mtao Mxây. Đó chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật đoạn trích này, tôn vinh vẻ đẹp người anh hùng Đăm Săn.
Phân tích nhân vật người anh hùng Đăm Săn
Vẻ đẹp Đăm Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của Mtao Mxây. Tù trưởng Sắt hung bạo dù kiêu căng ngạo mạn cũng luôn phải dè chừng sự hiện diện của chàng. Hình ảnh Đăm Săn cùng những bạn bè đồng minh của chàng hiện lên dưới mắt kẻ thù thật dũng mãnh với khố màu sặc sỡ, đầu đội khăn đẹp cùng khí thế hừng hực Gươm sáng như mặt trời. Thân mình ở trần như quả dưa, ở thế chờ sẵn như con sóc. Mắt sáng gấp đôi gấp ba mắt thường. Hình ảnh so sánh thật đặc trưng đã làm đậm nét phi thường của người anh hùng. Tư thế ấy lại gắn liền hành động thách thức chặt ống tre thành ba khúc, xô đổ hàng rào hàm chứa sức mạnh tuyệt luân của chàng. Khi giáp chiến cùng Đăm Săn, dù ngôn ngữ sử thi miêu tả Mtao Mxây cũng rất đẹp, rất dũng mãnh nhưng vẫn lộ ra sự khiếp nhược trước Đăm Săn. Lời nói của hắn với chàng lộ ra sự hèn nhát Ngươi không được đâm ta khi ta đang đi xuống đó, nghe. Đáp lại Đăm Săn đã bộc lộ sự khinh bỉ kẻ thù bằng tư thế đàng hoàng của mình: Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi xuống nhỉ? Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất, ta củng không thèm đâm nữa là.
Cuộc đối đầu của Đăm Săn với Mtao Mxây là cuộc đốì đầu giữa hai tù trưởng dũng mãnh. Phẩm chất anh hùng theo cách nhìn sử thi là ở sự chiến thắng bằng sức mạnh và sự can đảm. Cuộc đối đầu sinh tử ấy không có chỗ dung thân cho kẻ nào hèn nhát hơn. Trong tình cảm tôn vinh người anh hùng của buôn làng, mọi cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của Đăm Săn đều nổi bật, vượt trội hơn kẻ thù. Chúng ta cùng được chứng kiến màn thi tài mùa khiên thú vị: Mtao Mxây thể hiện rõ sự khoác lác khi lời nói của hắn được minh chứng bằng tiếng khiên kêu lộc cộc, lạch xạch như tiếng những quả mướp khô, còn Đăm Săn đã dập tắt nhuệ khí của hắn bằng sức mạnh phi thường trong màn múa khiên độc đáo. Ngôn ngữ sử thi khoa trương sức mạnh ấy ngang sức mạnh tự nhiên: Một bước nhảy, chàng vượt qua mấy đồi tranh. Một bước lùi, vượt qua mấy đồi mía. Tiếng gió khiển rít vù vù như dông bão, cây cối nhà cửa ở xung quanh củng nghiêng ngả. Lần múa khiên thứ hai của chàng còn ghê gớm hơn bởi dồn chứa sức mạnh trừng phạt Mtao Mxây. Sức mạnh Đăm Săn có được còn nhờ sự trợ lực của người vợ Hơ Nhị khi nàng ném trâu và thuốc cho chàng để sức lực tăng lên gấp bội.
Đăm Săn không hề đơn độc trong cuộc chiến vì danh dự này. Chính nghĩa thuộc về chàng khi các tù trưởng bạn hùng mạnh giúp chàng giành lại người vợ yêu quý. Đồng thời, chàng còn được sự trợ giúp của ông trời. Người anh hùng sử thi luôn có mối quan hệ với lực lượng siêu nhiên. Trời đã giúp chàng đánh rơi áo giáp của Mtao Mxây. Khi không còn áo sắt, hắn thật thảm hại và hèn nhát khi lần lượt chạy trốn vào chuồng heo, chuồng trâu, khi sắp chết lại buông ra những lời hèn nhát, ông Trời chỉ đóng vai trò hỗ trợ Đăm Săn, còn chính chàng mới là người kết liễu kẻ thù, đòi lại danh dự, cướp lại người vợ được trời tác thành. Giết Mtao Mxây, chính nghĩa thuộc về Đăm Săn. Chiến thắng được tôn vinh cùng với việc Đăm Săn được sở hữu tất cả tài sản, dân làng, tôi tớ của hắn. Quyền sở hữu này là đặc trưng gắn với thời kì chuyển từ công xã thị tộc sang chiếm hữu nô lệ, làm nên vinh quang của người anh hùng. Bởi thế hình ảnh trong sử thi được mô tả với quy mô hoành tráng: mọi người tình nguyện theo Đăm Sản đông như bầy hươu nai, lố nhố như đàn kiến cánh, như bầy kiến đen, như đàn mối trắng. Chàng thêm quyền uy, thêm nhiều chiêng núm, chiêng bằng – của cải trở thành biểu tượng sức mạnh tuyệt đối của người anh hùng.
Chính vì thế, để xứng đáng với chiến công cũng phải có một tiệc ăn mừng chiến thắng thật kì vĩ. Lời kêu gọi của Đăm Săn có sức mạnh hiệu triệu muôn người như một, bời chàng đem lại niềm vinh quang chiến thắng, đem lại sự bình yên cho bến nước buôn làng. Lễ cúng mừng chiến thắng hào phóng cũng là để tôn vinh xứng đáng: Hãy lay bảy chung rượu, bảy con trâu đực, bảy con heo thiến để cúng cho Đăm Săn này đã chiến thắng Mtao Mxây, để ta được như cây cổ thụ cao vút. Dấu ấn tâm linh sau chiến thắng cho thây Trời đứng về phía Đăm Săn. Không khí hội còn náo nức tưng bừng với chiêng trống vang lừng khiên vỡ cả sàn nhà, làm bay mái tranh lợp nhà, con khỉ con vượn mải nghe mà quên đi hái trái cây, những con voi và con tê giác củng phải lắng nghe mà quên cả cho con bú. Nổi bật giữa đám đông hoan hỉ ấy tất yếu phải là người anh hùng Đăm Săn – tù trưởng hùng mạnh ít ai sánh kịp. Ngay cả trong không khí yên bình của cộng đồng, vẻ đẹp ấy vẫnnổi bật từ ngoại hình đến hành động: mái tóc dài cuồn cuồn thả xuống một cái chiêng, uống rượu không bao giờ say, ăn uống không bao giờ thấy no. Hơn thế nữa, ngôn ngữ phóng đại của sử thi đã so sánh chàng ngang sức mạnh thần linh: Oai linh vang đến tận thần núi phía Đông, đến tận thần núi phía Tây. Hình ảnh Đăm Săn sau chiến công này được mô tả phóng đại và như một điệp khúc vang vọng niềm tự hào về người anh hùng tiêu biểu của cộng đồng: Và người ta bàn tán không cùng, rằng Đăm Săn quả thật là một tù trưởng dũng cảm, không bao giờ chịu lùi bước. Chàng ta mang chăn choàng trên vai, tay đeo vòng, cầm gươm chạm trỗ sắc bén. Đăm Săn hùng cường ngay từ trong lòng mẹ, vẻ đẹp ấy chỉ có thể xuất hiện trong sử thi anh hùng, chỉ có ngôn ngữ sử thi mới đem lại những vẻ đẹp độc đáo đến thế.
Đoạn trích đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đăm Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bến nước, lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Sử thi anh hùng Đăm Săn quả thật, đã hình thành ý thức và tình cảm cộng đồng vững bền của dân tộc Ê-đê, thành di sản quý báu của Tây Nguyên và dán tộc Việt Nam, đánh dấu thời đại sử thi rực rỡ với vẻ đẹp: một đi không trở lại. | Phân tích nhân vật người anh hùng Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây | 1,533 | |
Phân tích nhân vật người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Mở bài:
Người lái đò sông Đà trích từ tập tùy bút Sông Đà, in lần đầu năm 1960. Tác phẩm là kết quả của nhiều dịp Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958. Tác phẩm có sức sống lâu bền vì nó không đơn giản minh họa cho một chủ trương, chính sách mà bộc lộ những cảm xúc, suy ngẫm của nhà văn về cuộc sống, xã hội, con người; từ một thời mà nói đến được nhiều thời.
Với 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo, Tùy bút Sông Đà xứng đáng là một bản trường ca ca ngợi quê hương đất nước. Trong đó, Người lái đò Sông Đà là một trong những áng văn tiêu biểu nhất của tập Sông Đà, thể hiện những nét đặc sắc trong nghệ thuật tùy bút của Nguyễn Tuân.
Người lái đò trên dòng sông Đàlà nhân vật chính, được nhà văn khắc họa đậm nét mang đậm chất sử thi đồng thời là nhan vật chuyển tải ý đồ của nhà văn là phát hiện và ca ngợi chất vàng mười – “thứ vàng đã được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng.
Thân bài:
Ông vốn là người lao động rất bình thường, làm nghề chở đò tải hàng trên sông Đà – một công việc rất nguy hiểm, vất vả, một môi trường sống khắc nghiệt. Hằng ngày phải đối mặt với thiên nhiên hùng bạo, đấu tranh với nó để giành sự sống từ tay nó…
Chở đò trên sông Đà theo Nguyễn Tuân là một cuộc chiến đấu… Nguyễn Tuân đã khâm phục mà ghi lại một cuộc chiến đấu của ông đò trên chiến trường sông Đà để qua đó ngợi ca vẻ đẹp của người lao động trong cuộc sống chinh phục thiên nhiên.
Ông lái đò là người tinh thạo trong nghề nghiệp. Ông lão nắm vững qui luật khắc nghiệt của dòng thác sông Đà “nắm chắc quy luật của thần sông thần đá”. Ông thuộc lòng những đặc điểm địa hình của Sông Đà “nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào tất cả các luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”, Sông Đà “như một thiên anh hùng ca mà ông đò thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”.
Ông là người trí dũng tuyệt vời và tài hoa. Ông sẵn sàng đối mặt với thác dữ, chinh phục “cửa tử”, “cửa sinh”, vượt qua trận thuỷ chiến với đá chìm, đá nổi, với những trùng vi thạch trận và phòng tuyến đầy nguy hiểm. Ông lái đò vượt qua bằng những hành động táo bạo và chuẩn xác. Ông hiện lên như một vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm:
Trùng vi thứ nhất, ông lái đò được Nguyễn Tuân khắc họa đúng là một người lao động, người chở đò lão luyện từng trải. Ở trùng vi này, thần sông dàn ra năm cửa đá thì có đến bốn cửa tử, cửa sinh duy nhất nằm sát bờ trái và huy động hết sức mạnh của sóng thác đánh vỗ mặt con thuyền.
Với cánh tay cheo chắc chắn, chân bám chặt vào mạn thuyền lấy thế, nước phủ lên mặt, thúc vào mạn sườn, luồng sóng hung tợn “liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng và hông thuyền” nhằm làm ông phân tâm để mà nhấn chìm, phá nát con thuyền nhưng không thể làm ông nao lòng. Ông vẫn đứng sừng sững như bức tượng đồng đầy uy mãnh. Thậm chí chúng còn đánh đòn tỉa, đánh đòn âm… nhưng người lái đò bình tĩnh giữ chắc mái chèo giúp con thuyền “khỏi bị hất khỏi bờm sóng trận địa phóng thẳng vào mình”. Ngay cả lúc bị trúng đòn hiểm, mặt méo bệch đi nhưng ông vẫn tỉnh táo chỉ huy con thuyền trong chớp nhoáng lướt thuyền lướt đúng vào luồng sinh.
Trận chiến diễn ra ác liệt và cũng hết sức nhanh chóng. Con thuyền lao vào luồng nước rồi vụt qua lèn đá trôi tuột xuống bên dưới bình yên, mặc cho mặt nước hò reo khiêu khích.
Ở trùng vi thứ hai, ông lái đò giống như một vị tướng xả xung hữu đột, một người anh hùng trên mặt trận thủy chiến lắt lẻo hiểm nguy tướng dữ quân tợn. Ông đối đầu với kẻ thù bằng thái độ bình tĩnh, thông minh, nhanh nhẹn, dũng cảm, uy nghi,… Người lao động đã hiện lên trong tư thế một người anh hùng trí dũng trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên…
Vòng vây thứ 2 này, dòng sông đã thay đổi sơ đồ phục kích và cả chiến thuật, nhiều cửa tử hiện ra để đánh lừa con thuyền vào. Cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn, lệch cánh tay chèo nhằm làm khó ông lái. Nhưng ông đò đã “nắm chắc quy luật của thần sông thần đá” nên lập tức cũng thay đổi chiến thuật theo, nhận ra cạm bẫy của bọn thuỷ quân nơi cửa ải nước này. Lần này, ông không né tránh mà “đưa con thuyền cưỡi lên sóng thác”, “cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. “Nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo vào cửa đá ấy”.
Người lái đò tả xung, hữu đột như một chiến tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc có thừa lòng quả cảm đã đưa được con thuyền vượt qua tập đoàn cửa tử khiến cho những bộ mặt đá hung hăng dữ tợn phải xanh lè, thất vọng. Vị dũng tướng uy nghi đứng trên thuyền thách thức đoàn quân hung bạo đang gầm ghè, sôi sục. Ông cứ đưa tay lái, mạnh tay chống, bên trái, rồi bên phải, con thuyền chao đảo nhưng vẫn giữ được trận thế lúc khoan nhặt lúc lao nhanh cho kịp luông nước mở. Lòng sông âm u che giấu bí mặt nhưng đối với ông cứ rõ ràng trước mắt. Mỗi động tác đều hết sức chính xác đến cao độ. Cứ như ông chính là người làm chủ cuộc chiến này và đã nắm chắc phần thắng từ lúc mới bắt đầu vậy.
Ông đối đầu với ghềnh thác cuồng bạo bằng sự tự tin, ung dung nghệ sĩ, ông lái đò tay lái linh hoạt, khéo léo, tài hoa như một nghệ sĩ trên sông nước: “ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”, “Vút, vút…thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”.
Dưới bàn tay chèo lái điêu luyện của ông con thuyền đã hoá thành con tuấn mã hiểu ý chủ- khi thì khéo léo né tránh luồng sóng dữ, khi thì phóng thẳng vào cửa đá có ba tầng cổng “cánh mở, cánh khép”. Con thuyền như bay trong không gian, ông đò luôn nhìn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn; bình tĩnh và hùng dũng ngay cả lúc bị thương.
Sự thanh thoát lao như tên bay của con thuyền qua các cửa đá, chứng tỏ tài nghệ chở thạch trận ít cửa tử hơn nhưng bên phải bên trái đều là luồng chết cả, cửa sinh lại nằm giữa lòng sông và bọn đá hậu vệ canh giữ. Nhưng ông đò không hề bất ngờ trước mưu mô hiểm độc của bọn chúng, tiếp tục chỉ huy con thuyền vượt qua trùng vây thứ 3. Ông lái đò thật là lão luyện, đạt đến trình độ tay lái ra hoa, điêu luyện. Từ ngữ dùng thật bất ngờ, sáng tạo, nhiều biện pháp tu từ, những từ ngữ tạo hình. Qua ba trùng vi thạch trận, Nguyễn Tuân đã hoàn thiện chân dung một người lao động trí dũng và tài hoa.
Vẻ đẹp khiêm nhường sau cuộc chiến: Ông lái đò vừa tài hoa, trí dũng vừa bình dị khiêm nhường. Đó chính là chất “vàng mười” trong tâm hồn con người Tây Bắc mà Nguyễn Tuân đã dày công kiếm tìm.
Quả như nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét: “chỉ người ưa suy xét, đọc nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức”. Đây là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp, cái thật. Đọc Người lái đò sông Đà ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do một nhà văn tài năng. Lúc nào, văn Nguyễn Tuân cũng đầy nghịch lí, nhưng đó là cái cái nghịch lí dễ chịu và êm ái vô cùng. Người đọc liên tục bị thúc ép, bị khiêu khích, bị đưa vào những tình huống gây cấn, hồi hộp để rồi cuối cùng, khi đã vượt qua tất cả, nhà văn lại vỗ vai đồng hành trong nụ cười hài lòng.
Xét về cấu trúc bề mặt, tùy bút của Nguyễn Tuân nói chung và Người lái đò Sông Đà nói riêng có sự phóng túng với nhiều liên tưởng tạt ngang, tạt dọc- những liên tưởng đa chiều. Trong bài tùy bút này, nhà văn đã xây dựng hai nhân vật: Sông Đà và người lái đò Sông Đà. Có lúc nhà văn nói đến dòng sông hung bạo, khi lại nói về người lái đò vượt thác, lúc trở về miêu tả dòng sông trữ tình thơ mộng, khi trần thuật, khi miêu tả, lúc trữ tình để bộc lộ tài hoa của mình, để thấy được hết sự sinh động đa diện của các hình tượng.
Nhưng thực ra, tác phẩm có một mạch ngầm văn bản rất chặt chẽ, ẩn sâu trong lối diễn đạt của Nguyễn Tuân. Điều đó được bộc lộ rất rõ qua những câu thơ được nhà thơ mượn để làm lời đề từ cho tác phẩm. Trước hết, mượn câu thơ của nhà thơ Ba Lan Wladyslaw Broniewski: “đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng” sông làm câu thơ đề từ, Nguyễn Tuân muốn ca ngợi Sông Đà như một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa đã ban tặng cho con người. Và bài tùy bút này của ông cũng như một công trình nghệ thuật ngôn từ – một sáng tạo độc đáo tài hoa mà Nguyễn Tuân tặng lại cho đời.
Kết bài:
Nguyễn Quang Bích cũng đã từng ca ngợi dòng sông Đà ấy một cách kinh ngạc: “Chúng thủy giai đông tẩu. Đà giang độc Bắc lưu”. Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một con sông Đà khác, không phải là thiên nhiên vô tri, vô giác, mà là một sinh thể có hoạt động, có cá tính, có tâm trạng hẳn hoi và vô cùng phức tạp. Nó có hai nét tnhs cahcs cơ bản đối lập nhau như tác giả đã nói: vừa hung bạo vừa trữ tình. Trên nền cảnh kì vĩ ấy, Ông lái đò, hiệp sĩ của núi rừng Trường Sơn đã chinh phục con quái vật ấy một cách tài tình. Quả thật, mượn cái nền thiên nhiên ác liệt, Nguyễn Tuân cũng chỉ muốn ca ngợi sức lao động của con người trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, tìm lấy sự sống mà thôi. | Phân tích nhân vật người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân | 1,965 | |
Phân tích nhân vật người mẹ bé Hồng (Về đoạn trích Trong lòng mọ của Nguyên Hổng)
Hướng dẫn
Trái ngược với hình ảnh nhân vật bà cô là hình ảnh người mẹ (cũng là một phụ nữ) và nhân vật “tôi”, bé Hồng, một thiếu nhi. Cả hai đều rất đáng thông cảm và mến thương.
Trước hết chúng ta hãy ngắm nhìn và suy ngẫm về hình ảnh người mẹ. Không đợi con trai viết thư và chắc cũng chẳng cần cô em chồng nhờ người nhắn gọi về, mẹ của Hồng đã trở về nhà vào đúng “ngày giỗ đầu thầy tôi”, nghĩa là người phụ nữ ấy không quên tình nghĩa và trách nhiệm đô’i với con, với chồng và gia đình chồng. “Mẹ tôi về một mình đem rất nhiều quà bánh….Xe chạy chầm chậm. Mẹ tôi cầm nón vẫy tôi….Mẹ tôi vừa kéo tay tôi… xoa đầu tôi… Mợ đã về với các con rồi mà”. Tư thế ấy, những cử chỉ ấy và lời nói ấy mới đàng hoàng làm sao, đẹp đẽ làm sao. Đẹp hơn nữa là hình hài của mẹ, sự ân cần âu yếm mà mẹ dành cho con. Nhà văn đã dành những lời đẹp nhất miêu tả người mẹ: “….Mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và làn da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má….”. Trên quãng đường ngắn, ngồi xe tay bế đứa con trai bé bỏng côi cút, được ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình, người mẹ đã trẻ lại, tươi đẹp như thuở nào. Và người mẹ ấy dã truyền cho đứa con bao nhiêu là niềm vui, hạnh phúc, thật… êm dịu vô cùng, đúng như lời kể của nhà văn. Rõ ràng, hình ảnh và tấm lòng người mẹ ấy hoàn toàn không như những lời xúc xiểm, những ý nghĩ cay độc, thành kiến của bà cô.
Sau nhân vật bà cô, khắc họa chỉ bằng vài nét chấm phá giản dị nhân vật người mẹ như thế, phải chăng nhà văn muốn gợi cho người đọc sự đôi sánh về chân dung những người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ. Và cũng từ đó, nhà văn bày tỏ thái độ yêu ghét rõ ràng mà chủ yếu là nỗi đau và tình thương, thương những lầm lỡ của con người, thương kiếp người gặp nhiều gian truân, tủi cực. | Phân tích nhân vật người mẹ bé Hồng (Về đoạn trích Trong lòng mọ của Nguyên Hổng) | 426 | |
Phân tích nhân vật người mẹ trong tác phẩm Cổng trường mở ra của Lí Lan
Bài làm
Đối với mỗi một con người, mẹ luôn là người dìu dắt và dõi theo mỗi một bước đi trong hành trang cuộc đời, đặc biệt là đối với những dấu mốc quan trọng. Tác phẩm “Cổng trường mở ra” của tác giả Lí Lan đã khắc họa chân dung một người mẹ yêu thương, quan tâm và lo lắng cho con mình trong đêm trước khi đứa con đặt bước chân vào trường học.
Xét về hình thức bên ngoài, về cách xưng hô thì dường như người mẹ đang trực tiếp nói với đứa con nhưng thực tế, mẹ đang tự độc thoại nội tâm, nói với mình. Sự chuyển đổi từ đối thoại sang độc thoại đã đem lại một hiệu quả nghệ thuật trong việc dễ dàng để cho nhân vật bộc lộ những trạng thái cảm xúc một cách khách quan, chân thực, đồng thời thể hiện rõ tình yêu thương đối với đứa con của mình.
Tác phẩm đã khắc họa hai dòng tâm trạng trái ngược nhau dù đặt trong cùng một thời gian nghệ thuật. Vào đêm trước khi đứa con đặt những bước chân đầu tiên vào mái trường, con trẻ vốn vô tư, hồn nhiên nên chỉ háo hức chút ít và sau đó dễ dàng chìm sâu vào giấc ngủ “như uống một li sữa, ăn một cái kẹo”. Còn người mẹ thì vẫn thao thức, và qua dòng suy nghĩ và mạch cảm xúc, những nét đẹp trong tâm hồn người mẹ đã được khắc họa rõ nét.
Người mẹ thao thức không phải bởi vì lo lắng cho con. Ngược lại, mẹ là người luôn tin tưởng vào con mình. “Mẹ tin đứa con của mẹ lớn rồi. Mẹ tin vào sự chuẩn bị rất chu đáo cho con trước ngày khai trường”. Mẹ thao thức vì những kỉ niệm về ngày đầu tiên đi học của bản thân ùa về không thể kiểm soát. Người mẹ “muốn nhẹ nhàng, cẩn thận và tự nhiên ghi vào lòng con” những ấn tượng sâu sắc về ngày đầu tiên đi học cho thấy tình cảm yêu thương vĩ đại dành cho con mình. Ngày mai là ngày đi học đầu tiên của con nhưng mẹ lại nhớ về ngày đầu tiên đi học của mình và muốn ghi lại trong lòng con những cảm xúc đó cho thấy người mẹ thương con như yêu máu thịt và xem con cái là một phần cuộc sống quan trọng trong cuộc sống của mình.
Người mẹ còn thể hiện tình yêu thương thông qua lời động viên, khích lệ người con vững bước và tự tin khi đặt chân vào một thế giới mới: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu mở ra”. Đó là thế giới kì diệu của vô vàn những điều mới mẻ, những bài học lí thú, những kiến thức sâu sắc. Người mẹ mong con có thể vững bước trên con đường chinh phục tri thức vốn rộng lớn, bao la như biển đại dương sâu thẳm. Đó còn là thế giới của tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc của thầy cô, bạn bè. Người mẹ mong đứa con hãy hòa nhập và coi đó là mái nhà thứ hai của mình. | Phân tích nhân vật người mẹ trong tác phẩm Cổng trường mở ra của Lí Lan | 578 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật người vợ trong tác phẩm Vợ nhặt, từ đó làm nổi bật lên số phận của người dân Việt Nam trước Cách mạng
Bài làm
Ai nói chiến tranh là âm thanh dữ dội của bom đạn hay tiếng gào thét của dân đen vô tội? Không, nó im lặng. Vì khi đã chết, chúng ta không thể lên tiếng. Phát xít Nhật càn qua quê hương ta, đất Việt lầm than với hai triệu người con chết vất vưởng.
Nhưng chính trong tận cùng ta thấy đối cực, trong cái chết và màu đen, chúng ta thấy tình yêu và sắc sáng. Truyện “Vợ nhặt” là thế, một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của sự sống, sống với nhọc nhằng khổ ải, sống với cái nghèo đến tột độ về vật chất, nhưng chỉ cần hi vọng, một sự hi vọng trù phú và vững chãi. Họ, chúng ta, tất thảy sẽ vượt qua.
Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong Vợ nhặt
Tràng xấu, xấu là xấu trai, nhưng được cái tốt bụng và dễ gần. Xóm làng nghĩ Tràng không thể có vợ. Cũng đúng, với cái thời đói đến ăn cám hay ánh sáng vào đêm là thứ xa xỉ vậy người vừa nghèo vừa xấu thì ai dám gởi thân?
Xóm tản cư nheo nhóc và hoang tàn. Đông thì có đông nhưng xóm làng như vẻ không người, chỉ là những cái bóng nhếch nhác lê gót trên những con đường quanh co. Xác chết nhiều hơn thực thể di động. Bóng đen gần như chiếm lĩnh cả, mặt trời vẫn sáng đó, nhưng đôi mắt của dân chúng ở đây cứ tối sầm sầm lại.
Ấy vậy mà Tráng có vợ. Xóm làng bị đói quật mà biểu hiện rõ nhất là lũ trẻ. Sự hoạt bát bình thường thay cho cái im ỉm thụ động, chắc không ai dạy nhưng chúng biết bớt vận động là bớt bầu bạn với đói. Nhưng Tràng lấy vợ! Bản năng làm chúng tò mò. Chúng nhốn nháo cả một đoạn.
Đường dài quanh co, sự dài ấy như trêu chọc cái e thẹn ban đầu của đôi uyên ương. Nghĩ chữ uyên ương cũng không hợp trong hoàng cảnh này, khi người ta hay dùng chữ mĩ miều đó cho những đám cưới linh đình. Nay, trên con đường về nhà chồng với xác chết cạnh đường đủ gần để nhìn thấy sự phân hủy hoặc cứ văng vẳng bên tai tiếng khóc tang gia; thiết nghĩ ngày cưới cũng đáng nhớ thật.
Tình yêu luôn là trò phiêu lưu. Vì rằng chúng ta không biết sẽ gặp ai, hoặc chi chúng ta không biết sẽ đi về đâu và kết quả thế nào với sự chọn lựa đó. Tràng và vợ đã tham gia cuộc phiêu lưu đó. Tràng vẫn lo đau đáu về tương lai. Một miệng nuôi không xong, giờ gánh thêm chẳng phải hại lấy thân và cả người? Đến với nhau tốt đẹp thì đó là duyên lành, nhưng lôi nhau xuống cùng cực thì lại là nợ đời với nhau. Tràng lại nhớ về cái sự chẳng biết duyên hay nợ kia. Một câu hò cho quên khổ lao động, một cái đáp của tuổi trẻ thanh xuân, hai người quen nhau. Lại cộng hưởng giữa đói và sự tốt bụng, họ lại gần nhau hơn. Giờ quay lại với sự thật ngay trước mắt, Tràng có vợ và mẹ anh thì vẫn chưa về.
Sự xuất hiện của người mẹ là cái nhấn cho sự khổ của đôi bên. Qua người *** như tấm gương, ta nhìn thấy cả ba gương mặt đói hốc trong đấy. Và như mọi bà mẹ Việt Nam, bà đã khóc. Khóc vì thương, thương cho đứa con mình đã có vợ, thương cả đứa con dâu cũng cùng quẫn chẳng khác gì con mình. Khóc vì tủi, tủi cho cái phận nghèo không dễ có được một đám cưới đủ nghi thức hay gần hơn là đủ no, chỉ vài câu chào, vài ánh mắt nhìn thẳng nhau, vậy là họ thành gia đình. Và khóc với một chút nghi ngờ, phải chăng vì đến đường cùng, người ta mới gởi thân cho con trai nhà mình? Nước mắt tuông ra cho lời định nói đến. Bà chỉ chúc cho hai con sống bình yên bên nhau, còn tương lai là sự bấp bênh không muốn nghĩ.
Vợ Tràng, thành viên mới của gia đình, chắc cũng lo xốn xang trăm bề. Mà không, phải chắc chắn chứ. Phụ nữ Việt vốn giỏi lo toan; công, dung, ngôn, hạnh là vốn liến mà họ lận lưng khi về nhà chồng. Nhưng với cái quá mới thế này chị chưa thể chứng minh gì.
Rồi trời cũng tối. Chu kì vẫn thế. Sáng giăng mắt ra Tràng mới dậy. Đời hay nói mỗi ngày là một ngày mới, và điều đó ập ngay cho Tràng thấy. Nhà cửa gọn hơn, có cái gì đó ấm cúng hơn, chỉnh chu và cảm giác như đang và sẽ chuẩn bị cho tương lai.
Bữa cơm tới. Biết rằng đói thì luôn đói nhưng cơm thì vẫn phải theo bữa. Và họ, dùng từ cơm như thói quen, chứ đáng ra bữa ăn chỉ là cháo và cám. Trời đánh tránh bữa ăn, thằng Nhật thì không. Lại vang lên tiếng đòi thuế. Thuế, thuế, lại thuế!
Như vết thưởng mở miệng, mỗi ngày một bào mòn đến cùng kiệt sức khỏe. Thuế từng ngày là nỗi ám ảnh của dân đen, dân đói. Ruộng vẫn còn, nhưng chúng bắt trồng đay. Lúa vẫn có, nhưng là cho chúng nó. Dân ta chết, làm phân bón cánh đồng.
Tràng đờ ra. Cái đờ ra như sự nhu nhược không đề kháng. Cuộc sống của anh là sự chịu đựng và ám ảnh riết thành thói quen, anh qui đồng tương lai cho cái hiện tại khốn khổ này. Không riêng anh, mà có lẽ xóm làng này, không riêng xóm làng này, mà có lẽ cả một nước Việt này sự đờ ra kia như bao phủ tất thảy.
Việt Minh!
Hả!? Việt Minh! Tràng như sực tỉnh. Cái tên này nghe mang máng ở đâu. Anh đã từng sợ, vì anh không hiểu gì. Nhưng vợ nói, rồi phong phanh tin nghe đồn, sao anh thấy họ thân quen.
Tràng như bị cuốn vào dòng suy nghĩ đó, với quật khởi, với cờ đỏ. Họ chính là ta, ta hòa với họ. Việt Minh không xa lạ mà chính là bản thể này. Tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập. Nhưng! Không còn là tiếng trống hoang mang lo sợ, âm thanh như tức lồng ngực giờ là tiếng trống trận cho cả một tầng lớp bị chà đạp. Sống với niêm tin, họ sẽ sống!
Truyện kết lững lơ, với Tràng còn ngồi với bữa cơm dang dở. Nhưng cái dang dở kia là khởi đầu cho trường kì kháng chiến của một dân tộc, mà trong đó hình thành từ từng cá thể. Tràng, vợ Tràng và cả mẹ già, giờ tay sẽ cùng chung sức cho hành trình dài của triệu dân đất Việt. Pháo đài hòa bình và độc lập vững chãi trên từng viên gạch tin tưởng và hi vọng. | Phân tích nhân vật người vợ trong tác phẩm Vợ nhặt, từ đó làm nổi bật lên số phận của người dân Việt Nam trước Cách mạng | 1,222 | |
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là một trong nhưng nhà văn của quần chúng, ông luôn trăn trở về nghề và người. Vào năm 1972, giữa những lúc đang viết những niềm suy tư trăn trở đó thì nguyễn Minh Châu đã thay đổi cảm hứng từ sử thi trữ tình lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường. Sự thay đổi đó đã để lại một dấu ấn thực sự rõ nét trong các nhân vật nữ của ông, tiêu biểu là người đàn bà hàng chài trong truyện “chiếc thuyền ngoài xa”
Người đàn bà trong chiếc thuyền ngoài xa được Minh Châu miêu tả là người có sức chịu đựng vô bờ bến “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng vì kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”.
Đây chính là chi tiết đáng giá để nhấn mạnh tới sức cam chịu, bình thường lúc mệt mỏi người ta thường hay cái gắt, ấy thế mà người đàn bà đó vẫn cam chịu được những cơn cuồng nộ của chồng.
Khi biết mình phải chịu đòn thì người đàn bà có hành động thực sự ý nghĩa đó là đưa cánh tay lên định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống đưa cặp mắt nhìn xuống chân, quay lại phía con thuyền để xác nhận rằng không hề có đứa con nào ở đó. Chị còn là người có hiểu biết sâu sắc về lẽ đời, hiểu rõ về cả hoàn cảnh của mình, của đời. Chị hiểu nỗi khổ bế tắc của người chồng, đó là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh. Chị nói chồng chị vũ phu là do đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều, thuyền lại chật cho nên chị chấp nhận để chồng đánh ngày ba trận nhẹ có nặng có. Nỗi đau khổ lớn nhất của chị đó là để đàn con bị tổn thương và khi biết thằng Phác chứng kiến cảnh bố nó hành hạ mẹ nó thì lòng chị đau hơn cả những trận roi đòn.
Người đàn bà ấy còn là người giàu tình yêu thương. Chị yêu thương cảm thông cho lão chồng đã hành hạ chị suốt đời bởi vì chị biết chồng chị chỉ là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh. Chị còn là người chắt chịu những hạnh phúc nhỏ nhoi, có thể chấp nhận những đắng cay đó cho riêng minh để đàn con chị được ăn no, vợ chồng con cái hòa thuận. Chị còn là người giàu lòng tự trọng, chị có cách ứng xử cũng rất tự trọng: đó là xin lão chồng đưa lên bở mà đánh để các con không phải nhìn thấy, khi biết Phùng và con trai chứng kiến cảnh mình bị đánh thì chị vô cùng đau đớn, nhục nhã, xấu hổ. Thân thể bị chà đạp, nhân phẩm bị xúc phạm nhưng sau mỗi trận roi đòn chị lại đi thật thật nhanh để ra khỏi bãi xe tăng để đuổi kịp gã chồng. Đó là sự nhẫn nhục của người có tự trọng. Chính vẻ đẹp trong tâm hồn đó đã khiến cho Phùng và Đẩu nhận ra được nhiều điều: cuộc sống không đơn giản một chiều, không thể giải quyết vấn đề cuộc sống bằng lòng nhiệt tình, ý thức sách vở.
Với nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật đặc sắc, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được hình ảnh nhân vật người đàn bà với những đường nét thô kệch nhưng lại mang một vẻ đẹp rất thực, ẩn sâu và khuất lấp giữa những kiếp người nhọc nhằn, lam lũ. | Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu | 647 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa”
Bài làm
Nguyễn Minh Châu là tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam sau 1975. Ông thành công với nhiều tác phẩm như: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Chiếc thuyền ngoài xa…Nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc là tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.
Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài – người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh.
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa”
Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù..Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới..toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa”. Cảnh đẹp ấy khiến cho người nghệ sĩ dường như vừa “khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện”. Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ.
Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, Nguyễn Minh Châu đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà dường như đằng sau cách gọi phiếm định ấy đã hé mở một cuộc đời ngang trái, một số phận bị vùi dập giữa cuộc sống bộn bề lo toan.
Dường như cuộc sống chẳng có gì đáng nói nhưng trong chị lại chứa đựng nhiều điều kì diệu khiến người khác phải suy nghĩ. Người đàn bà trạc ngoài 40, hình dáng thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và gợi ấn tượng người đàn bà xấu xí, mệt mỏi dường như đang buồn ngủ. Và cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.
Qua câu chuyện ở tòa án huyện người đọc hiểu hơn sự bất hạnh trong cuộc đời chị. Dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu, tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ… Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ. Có mang với một anh hàng chài, đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,…
Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, với lời lẽ cay độc” Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trôn mà coi đó là một lẽ đương nhiên. Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con.
Người đàn bà đã nhẫn nhục, cam chịu. Chị không muốn đàn con phải nhìn thấy cảnh cha đánh mẹ. Chị xin chồng lên bờ mà đánh khi con lớn. Chị xót xa đau đớn khi phải chứng kiến cảnh thằng Phác đánh cha: “như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, và làm rỏ xuống những dòng nước mắt…’
Người đàn bà ấy là người sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời. Cái sự thâm trầm trong thấu hiểu lẽ đời dường như chị chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bên ngoài. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Khi được đề nghị giúp đỡ thì: “Xin các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu”; “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó”.
Chị ý thức được thiên chức của người phụ nữ:”Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn”. Trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Sự cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa, để chèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy các con: ” Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, không thể sống cho mình như trên đất được”. Chị ” phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”.
Có thấu hiểu được như vậy chúng ta mời hiểu hết tình cảm, tấm lòng của người đàn bà bất hạnh. Bởi nếu hiểu sự việc một cách đơn giản chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưng nhìn vấn đề một cách thấu suốt thì suy nghĩ và cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được. Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị.
Người đàn bà ấy còn là người giàu lòng vị tha. Chị thấu hiểu nguyên nhân vì sao chồng lại trở nên như thế. Chị hiểu được trước đây chồng vốn là anh con trai cục tính nhưng hiền lành, cũng nghĩ cho vợ con nhưng rồi cuộc sống mưu sinh khổ nhọc làm cho anh tha hóa. Có thể chúng ta không chấp nhận cho hành vi tội lỗi của ông nhưng chúng ta phần nào cảm thông cho ông.
Đặc biệt ở người đàn bà là chị cũng đã vẫn giữ trong tâm hồn mình ngọn lửa của hi vọng, của niềm tin để thắp lên hạnh phúc mỏng mạnh: Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi: “..vui nhất là lúc ngồi nhìn con tôi chúng nó được ăn no”; “ trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”.
Đằng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương đáng thương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thương con vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.
Gấp trang truyện lại người đọc còn mãi ám ảnh bởi những câu hỏi: Cuộc đời người đàn bà ấy rồi sẽ kết thúc ra sau? Những đứa con tội nghiệp của bà có được cuộc sống hạnh phúc? Đó là những vấn đề nhà văn vẫn chưa đưa ra lời giải đáp. Câu trả nằm trong cuộc sống, hành động của mỗi người chúng ta. Điều đó nói lên giá trị của tác phẩm và tầm vóc to lớn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. | Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” | 1,415 | |
Đề bài: Phân tích nét chính về nhân vật người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa
Dàn ý
Hình ảnh người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châurnrn- Vốn sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng người đàn bà hàng chài lại là một người có ngoại hình xấu xí. Những nét thô kệch ấy, trong lam lũ vất vả bởi những lo toan và mưu sinh thường nhật, khi đã ngoài 40, lại càng trở nên đậm nét.
Phân tích nhân vật người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa
– Sức chịu đựng và sự hi sinh thầm lặng của người đàn bà làng chài làm nhiều người ngỡ ngàng
+ Vừa ở dưới thuyền lến tới chiếc xe rà phá mìn, chị đã bị chồng rút chiếc thắt lưng quật tới tấp. Nghệ sĩ Phùng tưởng chị sẽ tránh né hoặc kêu la. Nhưng chị cam chịu, nhẫn nhục, không kêu rên, không chống trả và cũng không chạy trốn. Chị chấp nhận những đòn roi như một phần cuộc đời mình; chấp nhận như cuộc sông của một người đi biển đánh cá phải đươg đầu với sóng to, gió lớn vậy. Muốn tồn tại thì phải chấp nhận.
+ Tuy nhiên, người đàn bà ấy cũng rất tự trọng. Chỉ sau khi biết được hành dộng vũ phu của chồng bị thằng Phác và người khách lạ chứng kiến, chị mới thấy đau đớn- vừa đau đớn vừa xấu hổ, nhục nhã. Chắc chắn đây không chỉ là sự đau đớn về thể xác. GIọt nước mắt đau khổ của người đàn bà đã trào ra. Đó là giọt nước mắt nhọc nhằn và chịu đựng.. Chị không muốn bất cứ ai chứng kiến và thương xót, kể cả thằng Phác đứa con yêu của chị, và nhất là một người lạ. Thân thể bị chà đạp, nhân phẩm bị xúc phạm, nhưng người đàn bà ấy không hề bận tâm – một sự nhẫn nhục của người có nhân cách, có lòng tự trọng và thấu lẽ đời, có tình thương con vô bờ.
+ Khi ở tòa án huyện, chính người phụ nữ ấy đã đem đến cho phùng, Đẩu và người đọc những xúc cảm mới. ĐƯợc mời lên tòa án để giải quyết việc gia đình, lúc đầu chị rụt rè, tìm một góc dường chốn công đường kia để ngồi. CHị thấy sợ hãi khi đến một không gian lạ. Chị thật nhỏ bé, tội nghiệp ở chốn công đường kia. Cái thế ngồi là bị động, dù đã được Đẩu và phùng chia sẻ, cảm thông.
+ NMC đã dụng công nhấn mạnh vào sự đổi thay ngôn ngữ và tâm thế của người đàn bà hàng chài. Với chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng, lúc đầu chị thưa gửi, xưng con và có lúc van xin con lạy quý tòa. Khi đã lấy được tự tin, tâm thế đã thay đổi, người đàn bà đó đột ngột chuyển cách xưng hô: “chị cảm ơn các chú! Đây là lời chị nói thành thự, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn lam lũ, khó nhọc…” Một sự hoán đổi ngoạn mục.
+ Người đàn bà ấy chấp nhận đau khổ, coi nõi khổ là lẽ đương nhiên. CHị sống cho con chứ không phải cho mình. Nếu phụ nữ chấp nhận đàn ông uống rượu, thì chị cũng chấp nhận bị đánh, chỉ xin chồng đánh ở trên bờ, dừng để các con nhìn thấy.ĐÓ cũng là một cách ứng xử nhân bản.
+ Ở đây. Lẽ đời đã chiến thắng. Người lao động lam lũ, nghèo khổ không có uy quyền nhưng cái tâm của một người thương con, thấu hiểu lẽ đời cũng là một thứ quyền uy có sức công phá lớn. Nó đã làm chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng thức tỉnh và ngộ ra nhiều điều.
– Có thể nói, người đàn bà hàng chài là biểu tượng của tình mẫu tử. CHị quặn lòng vì thương con; chị đã cảm nhận và chấp nhận san sẻ nỗi đau với chồng, cảm thông và tha thứ cho chồng. VỚi chị, gia đình hạnh phúc là gia đình trọn vẹn các thành viên, cho dù có những tính cách sứt mẻ, chưa hoàn thiệ | Phân tích nhân vật người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa | 729 | |
Phân tích nhân vật người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa-Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Mở bài:
Chiếc thuyền ngoài xa được viết năm 1983 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua được 6 năm, đất nước trở lại với cuộc sống đời thường. Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa nhân sinh mà trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra. Tác phẩm nằm trong xu hướng nghệ thuật chung của văn học thời kỳ đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người đời thường.
Đặc biệt là thân phận người phụ nữ trong cuộc đời đầy sóng gió. Hình ảnh nhân vật người đàn bà cam chị, nhẫn nhịn trong tác phẩm không khỏi khiến ta ngậm ngùi.
Thân bài:
Trong truyện ngắn, tác giả chỉ gọi nhân vật này là “người đàn bà”, một cách phiếm định. Tuy không có tên cụ thể, một con người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác. Nhưng số phận con người ấy lại được tác giả tập trung thể hiện, được người đọc quan tâm nhất trong truyện ngắn này.
Nguyễn Minh Châu đã chú ý khắc họa đậm nết nhân vật người đàn bà hết sức chân thực. Nhà văn đã không hề tô vẽ hay cường điệu hóa nhân vật này. Trong xóm chài heo hút, người đàn bà từ từ hiện ra với có vẻ ngoài xâu xí, thô kệch bởi “vốn là đứa con gái xấu lại rỗ mặt sau một bận lên đậu mùa”. Đối với phụ nữ ngoại hình là cái quý giá. Thế nhưng, người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn này đâu có được cái nhan sắc “trời phú”. Chị ta xấu xí, khuôn mặt lỗ rỗ. Càng khó nhìn hơn khi chị ta bước sang cái tuổi trạc ngoài 40. Người đàn bà ấy gợi ấn tượng về một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ.
Đó là một người đàn bà cam chịu, nhẫn nhục. Dù người chồng tàn bạo “trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà. Lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két. Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ, đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Người đàn bà hàng chài đã không hề kêu một tiếng, không chống trả cũng không tìm cách chạy trốn.
Lúc ban đầu chứng kiến những cảnh như thế, Phùng vô cùng kinh ngạc. Phùng không hiểu vì sao người đàn bà ấy không hề chống cự hoặc là bỏ chạy. Mãi đến sau này, anh mới hiểu ra mọi điều. Người đàn bà không hề cam chịu một cách vô lí, không hề nông nổi một cách ngờ nghệch. Thực ra chị ta là người rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời.
Người phụ nữ này có một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ nhưng biết chắt chiu những hạnh phúc đời thường. Sống cam chịu và kín đáo, hiểu sâu sắc lẽ đời nhưng chị không để lộ điều đó ra bên ngoài. Đây là người phụ nữ có ngoại hình xấu xí, thô kệch nhưng tâm hồn đẹp đẽ, thấp thoáng bóng dáng của những người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu đức hi sinh và lòng vị tha.
Đó là một người đàn bà giàu lòng tự trọng. Dù bị chống đánh đến thế mà chị không hề khóc. Và khi biết Phác và người khách lạ nhìn thấy hành động vũ phu của chồng chị lại cảm thấy đau đớn. Vừa đau đớn, vừa vô cùng xấu hổ và nhục nhã. Lòng tự trọng của người đàn bà, người vợ, người mẹ khiến chị tủi hổ vô cùng. Những giọt nước mắt đau đớn chứa đựng biết bao sự nhọc nhằn chỉ thực sự rơi khi thấy đứa con yêu của mình chứng kiến cảnh tượng mình bị chồng đánh, chỉ thực sự rơi khi có người khách lạ chứng kiến.
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh con đông, mà cuộc sống trên mặt nước đầy nhọc nhằn bất trắc, nỗi lo cơm áo không lúc nào buông tha, liệu người đàn bà hàng chài có cách lựa chọn nào tốt hơn không? Đây là điều mà Phùng cũng như thẩm phán Đẩu không bao giờ nghĩ tới.
Cái nguyên do cho sự nhẫn nhục, cam chịu ấy với người đàn bà hàng chài chỉ đơn giản bởi trong cuộc sống mưu sinh đầy cam go, trên chiếc thuyền chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người đàn ông khỏe mạnh và biết nghề. Chỉ vì những đứa con của bà cần được sống và lớn lên: “Tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bên ngoài”.
Nếu nhìn từ góc độ đó thì sự cam chịu, nhẫn nhục của người mẹ thật đáng để chia sẻ cảm thông. Ẩn giấu trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam – nhân hậu, bao dung giàu lòng vị tha và đức hi sinh.
Khi được mời đến tào án để giải quyết việc gia đình chị rụt rè. Chị cố tìm một góc tường ở chốn công đường kia để ngồi. Đâu chỉ chị thấy sợ hãi khi đến một không gian lạ mà còn vì thấy xấu hổ, thấy ngượng ngập khi chuyện trong nhà giờ đem ra đến chốn đông người. lòng tự trọng không cho phép chị mạnh dạn hơn được.
Dù bị bạo hành đến mức cùng kiệt, thế nhưng người đàn bà lại sống rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời, hiểu chồng, thương con vô bờ bến, một người phụ nữ vị tha giàu đức hy sinh.
Tại phiên tòa, khác với vẻ sợ sệt lúc ban đầu, điệu bộ, ngôn ngữ và lời giải bày của người đàn bà đã làm cho cả Đẩu và Phùng hết sức ngạc nhiên. Người đàn bà hàng chài kia không hề giản đơn như Đẩu và Phùng nghĩ.
Từ đây, Phùng hiểu ra mọi lẽ. Thì ra, cái nghề chài lưới trên một chiếc thuyền vó bè lênh đênh không thể thiếu bàn tay và sức lực của người đàn ông. Người chồng dường như quyết định sự sinh tồn của cả nhà. Để duy trì sự tồn tại cho cả gia đình thì họ phải hợp sức lại mà làm quần quật để nuôi một đàn con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Tình cảnh của người đàn bà hàng chài kia cũng như của bao gia đình hàng chài khác, trừ phi chị nói “giá tôi đẻ ít đi hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rông hơn”.
Dường như, mọi lỗi lầm tạo nên nghịch cảnh này người đàn bà đều nhận về mình hết, coi nỗi khổ vận vào đời mình là lẽ đương nhiên. Nó giống như duyên trời đã định đoạt, không thể thoát khỏi. Chị chấp nhận thực tại phũ phàng như một quy luật. Bởi thế, chị không hề oán trách, không hề khóc than, chỉ một mình cam chịu, không muốn giải bày cùng ai. Chị sống cho con chứ không sống cho mình. Vì con mà không quản cực nhọc, đớn đau. Vì con mà không muốn cho chúng thấy mình bị bạo hành tàn nhẫn. Đó là một cách ứng xử rất nhân bản.
Những lời lẽ ấy của người đàn bà hàng chài được thốt lên từ một niềm tin đơn giản mà vững chắc vào cái thiên chức mà trời đã giao phó cho người đàn bà. Thức nhận được rằng, người đàn bà hàng chài kia rất biết tìm cho mình những niềm vui, hạnh phúc dẫu rất nhỏ nhoi trong cuộc sống đầy khó khăn.
Ở chị vững bền một niềm tin, một tình yêu và sự lạc quan vào cuộc sống. Hãy biết sống ngay khi cả cuộc đời không thể chịu được nữa. Nụ cười chợt ửng sáng lên trên khuôn mặt rỗ chằng chịt, chị nghĩ đến “trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ” và niềm vui “nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Hạnh phúc với người đàn bà hàng chài kia thật giản dị mà không kém phần sâu sắc. Thức nhận được nỗi đau, cũng như sự thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời người đàn bà kia không bao giờ để lộ ra bên ngoài cả.
Thái độ cam chịu, nhẫn nhục của người đàn bà gợi cho người đọc một nỗi xót xa thương cảm nhưng cũng không khỏi băn khoăn suy nghĩ: ‘‘Phải chăng bà ta bị đòn nhiều nên đến mức quen rồi, không còn biết đau nữa. Hay là bà ta tăm tối dốt nát đến mức không còn chút ý thức về quyền sống của mình? Hoặc đó là một sự lựa chọn bất dĩ nhưng đã được suy tính kĩ lưỡng, sáng suốt?” Không chỉ bị hành hạ về mặt thể xác mà người đàn bà hàng chài ấy còn bị dày vò, đau đớn về tinh thần.
Sự cam chịu của người đàn bà ấy cũng chính là sự cam chịu của biết bao người phụ nữ Việt Nam trong cảnh đời khác nghiệt. Ai cũng muốn có được hạnh phúc, được sống thỏa nguyện kiếp người. Nhưng cuộc đời không phải lúc nào cũng suôn sẻ, đôi khi bất trắc ập đến khiến ta bất ngờ đứng trong nghịch cảnh mà không hay. Sống vì con, hi sinh vì con là lựa chọn bản năng của người phụ nữ.
Phùng với tư cách là một người nghệ sĩ đã chứng kiến trọn vẹn nghịch cảnh của người đàn bà hàng chài. Anh đi từ sự ngỡ ngàng này đến sửng sốt khác trước việc mà Phùng chứng kiến. Anh phẫn nộ trước hành động vũ phu, tàn bạo của người chồng. Anh không khỏi ngạc nhiên trước thái độ nhẫn nhục, cam chịu của người vợ. Anh thấy boăn khoan trước những phản ứng trái chiều, khó hiểu của người đàn bà và cố đi tìm một câu trả lời.
Thế rồi, Phùng đã từng bước nhận ra những gì mà người đàn bà phải đối mặt (thiên nhiên hung dữ đầy sự bất trắc, cuộc sống khó khăn với cả đàn con hàng chục đứa…). Anh đã hiểu ra vì sao người đàn bà lại chọn cách ứng xử như vậy.
Phùng đã thực hiện một sự thức ngộ đầy ý nghĩa và cảm phục trước sự hi sinh lớn lao của người đàn bà (sống tất cả là vì con, cho con). Những phẩm chất tốt đẹp của người đàn bà nghèo khổ có ngoại hình thô kệch được phát hiện một cách đầy đủ không phải bởi tâm hồn của người nghệ sĩ mà bởi tâm hồn của một người luôn khát vọng tìm kiếm và tôn vinh vẻ đẹp đích thực ẩn giấu trong con người. Đôi khi vẻ đẹp ấy giấu mình quá kĩ, cần có những sự cố mới có thể phát hiện ra được.
Thái độ của Phùng đối với hoàn cảnh của người đàn bà cũng chính là thái độ, là mong muốn của biết bao người về một cuộc sống bình yên, được sống đúng nghĩa, được yêu thương và được khẳng định mình.
Kết thúc truyện ngắn, người đọc vẫn không biết người đàn bà hàng chài kia tên gì. Phải chăng là nhà văn đã sơ xuất? Không phải, đó chính là dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh kể rằng mỗi khi nắm thật kĩ bức ảnh mà mình chụp anh lại thấy người đàn bà hàng chài ấy bước ra từ bức ảnh “mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân rậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông….”. Nghĩa là người đàn bà ấy chỉ là một người trong đám đông của những con người lam lũ, nhọc nhằn, những con người lao khổ, đông đúc và vô danh.
Qua nhân vật người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu cũng khẳng định: sự lam lũ, vất vả, nhọc nhằn không làm mất đi ở người phụ nữ vùng biển nói riêng, người phụ nữ Việt Nam nói chung tấm lòng yêu thương, nhân hậu bao dung, vị tha. Và với người phụ nữ, gia đình hạnh phúc là gia đình trọn vẹn các thành viên cho dù đây đó vẫn có những tính cách chưa hoàn thiện. | Phân tích nhân vật người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa-Nguyễn Minh Châu | 2,142 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật người đàn bà trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Bài làm
Vẻ đẹp của cuộc sống, của mỗi con người cần phải được nhìn nhận và đánh giá trong mọi mối quan hệ phức tạp, đa chiều. Và cái đẹp, cái mà mỗi chúng ta đều mong muốn hướng tới để hoàn thiện nhân cách của chính mình đôi khi tiềm ẩn trong cái vẻ xù xì, gai góc mà không phải ai và lúc nào cũng có thể nhận ra được. Đó chính là vấn đề có ý nghĩa cơ bản được toát lên từ Chiếc thuyền ngoài xa – một tác phẩm tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong thời kì đổi mới. Vé đẹp của tác phẩm được toát lên từ nhiều yếu tố trong đó có nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc biệt là nhân vật người đàn bà, một nhân vật để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc.
Phân tích nhân vật người đàn bà trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
Chiếc thuyền ngoài xa được khai thác từ những tình huống mang ý nghĩa nghịch lí: một cảnh biển vào buổi sáng như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ nhưng ẩn trong đó lại là hình ảnh một gia đình thuyền chài đầy bi kịch; một người phụ nữ xấu xí, thô kệch bị chồng đánh đập, hắt hủi nhưng vẫn quyết gắn bó cả cuộc đời với kẻ vũ phu mà không một chút phàn nàn. Câu chuyện không nhiều nhân vật: một anh trưởng phòng, một họa sĩ – Phùng đã từng là chiến sĩ; một vị quan tòa cũng đã từng vào sinh ra tử đối với cái chết; một người chồng vũ phu, độc ác, một cậu bé yêu thương mẹ bằng một thứ tình yêu rất ngây thơ, trong sáng những cũng không ít đắng cay – thằng Phác… Mỗi nhân vật được hiện lên bằng những nét bút vẽ chân dung và tính cách khác nhau nhưng mỗi người là một số phận đang trôi trên dòng đời còn bao nỗi lo toan, nhọc nhằn. Trong số đó, nhân vật người đàn bà có lẽ là nhân vật để lại nhiều dư vị xót xa, cay đắng, cảm phục trong lòng người đọc.
Tác giả chỉ gọi nhân vật là người đàn bà một cách phiếm định. Có lẽ đây cũng là một dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Tuy không có tên tuổi cụ thể, những người vô danh như biết bao người vô danh trên tất cả tập trung va thể hiện đầy đủ nhất. Cách gọi tên nhân vật như thế vừa cụ thể nhưng lại vừa khái quát, vừa phiếm định nhưng lại vừa xác định.
Đó là một người đàn bà trạc ngoài 40 tuổi, cao lớn với những đường nét thô kệch mặt rỗ, “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái người và dường như đang buồn ngủ”. Những chi tiết miêu tả ngoại hình đầy ấn tượng ấy đả dựng lên trước mắt người đọc một người đàn bà với một cuộc đời đầy nhọc nhằn, lam lũ. nhẫn nhục như tất cả những người đàn bà ở vùng biển nơi mà con người ta luôn phải đối diện với hiểm nguy, cuộc sống luôn phải đặt trong vòng vây của sự đói khát, bấp bênh.
Cách miêu tả ngoại hình kết hợp với chi tiết: đưa tay lên có ý định gài hay sừa lại tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân”, và tiếng quát của người đàn ông: “Cứ ngồi nguyên đấy, động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”, như dự báo cho người đọc về một tính cách, một số phận đầy bất hạnh. Để rồi giữa khung cảnh đẹp như mơ vào một buổi sáng khi mà Phùng, người họa sĩ cho rằng, không còn nơi nào có thể đẹp hơn ấy, người đàn bà bị người đàn ông “dùng cái thắt lưng quật tới tấp”. Nhưng bà thầm lặng chịu đau đớn “với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy". Mà đâu phải cảnh đánh đập đó diễn ra trong khoảnh khắc, đó là cơm bữa “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” Ấy thế mà khi được Đẩu – vị chánh án huyện, khuyên nên bó người chồng vũ phu ấy, người đàn bà ấy “chắp tay vái lia lịa”, cầu xin “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Mà nguyên do lí giái điều đó lại vỏ cùng bất ngờ: “Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có một người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng đi làm ăn nuôi nấng một sáp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa”.
Như vậy, nhà văn đã có dụng ý tạo nên ấn tượng cho người đọc về hình ảnh Người đàn bà bằng thủ pháp đối lập giữa ngoại hình và nội tâm, giữa một số phận bất hạnh và tấm lòng nhân hậu, bao dung, thương con hơn tất cả mọi thứ trên đời. Vì thương con, người đàn bà ấy đã phải chấp nhận tất cả: sự đánh đập, sự đói khát, sự nhục nhã… Và cũng xuất phát từ tình thương con, người đàn bà ấy cho rằng: “Phải sống cho con chứ không phải sống cho mình”. Triết lí ấy giản dị mà sâu sắc. Nó được đúc kết, được rút ra từ chính cuộc đời nhọc nhằn, bất hạnh của một người mẹ mà tình thương con, nỗi đau, ngay cả đến sự thấu hiểu lẽ đời cũng không bao giờ để lộ ra ngoài. Đó là một sự cam chịu nhẫn nhục, nhưng cũng thật đáng để chia sẻ, cảm thông. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân, hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức hi sinh.
Lời giãi bày thật tình, giản dị nhưng sâu xa ấy ở tòa án huyện chính là câu chuyện về sự thật cuộc đời mà những người như Phùng, như Đẩu, chỉ giây phút ấy mới thực sự hiểu được nguyên do của những điều tưởng như vô li. Người đàn bà ấy đã giải quyết bi kịch đời mình một cách thật ngắn gọn, sâu sắc. Trong đau khổ triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được niềm vui cuộc sống: Vui nhất là khi nhìn thấy đàn con chúng tôi được ăn no”. "Ông trời sinh ra đàn bà là đế đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn”. Chính những lời giãi bày từ gan ruột người đàn bà ấy đã thức tỉnh trong Phùng một chân lí: không thể giản đơn, dễ dãi trong việc nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng của đời sống. Anh đã phát hiện ra bên trong người đàn bà thô kệch ấy là một trái tim
nhân hậu, một vẻ đẹp tâm hồn mà không phải ai cũng có thể nhận ra được. Vẻ đẹp ấy đối lập hoàn toàn với bức tranh cảnh biển vào buổi sáng, nhưng đó cũng là vẻ đẹp, mà không phái ai và lúc nào cũng khám phá cho hết được.
Vẻ đẹp của người đàn bà hấp dẫn người đọc chính là tình yêu con vô bờ bến, là những triết lí cuộc đời giản dị nhưng sâu sắc: “phải sống cho con chứ không phải sống cho mình”. Chính sự giải hóa những bi kịch cuộc đời mình một cách rõ ràng, dứt khoát ấy đã khiến câu chuyện và vị thế của các nhân vật thay đổi. Từ một người với tư cách là thẩm phán huyện, một người làm chứng, Phùng và Đẩu đã nhanh chóng trở thành người được nghe, được hiểu những lẽ đời mà trước đây, các anh chỉ nhìn thấy bằng cái nhìn một chiều, dễ dãi. Từ một người với tư cách là bị can, người đàn bà đã nhanh chóng trở thành quan tòa, một quan tòa công minh, luôn coi tình thương con và sự hi sinh là nguyên tắc sống của cuộc đời mình.
Khép những trang sách kể về cuộc đời một người đàn bà vô danh trên vùng biển, nhưng dư âm của câu chuyện vẫn cứ day dứt, ám ảnh người đọc. Làm thế nào để số phận những người đàn bà như trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa thoát khỏi tình trạng bi kịch trên? Có phải trong thời đại nào con người ta cũng cần phái có sự thương yêu, lòng thông cảm, phải có niềm tin vào cuộc đời? Đó cũng là những thông điệp mà nhà văn muốn gửi đến cho mỗi người đọc trước cuộc sống hôm nay. | Phân tích nhân vật người đàn bà trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu | 1,510 | |
Đề bài:: Phân tích nhân vật Phi- lip trong truyện ngắn Bố của Xi- mông của nhà văn Guy đờ Mô-pa-xăng
Bài làm
"Bố của Xi-mông” là một truyện ngắn hiện thực khá hay của Guy đờ Mô-pa- xãng. Truyện này nói lên nỗi đau khổ của em bé Xi-mông và mẹ em vì những thành kiến, thói tục cổ lỗ, khi Xi-mông không rõ bố em là ai và niềm sung sướng tràn ngập khi em được nhận chú Phi-líp làm bố. Đặc biệt, truyện đã đề cao tấm lòng nhân hậu của Phi-líp, người thợ rèn đáng quý mến.
Hành động nhận làm bố Xi-mông của chú bị một số người cười chê là khờ dại. Thật ra, đó là một việc làm nhân đạo, cao cả. Vì chính việc làm này đã mang lại nhiều sung sướng, hạnh phúc cho Xi-mông, cứu em thoát khỏi cái chết. Bởi lẽ, ngay từ những ngày đầu tiên học ở trường. Xi-mông đã bị đám bạn bè độc ác, vô ý thức đùa cợt, trêu chọc về việc em không có bố. Bị chế giễu, bị đánh đập, Xi-mông tức giận nên ném đá vào bọn chúng rồi bỏ đi ra bờ sông. Em đã khóc ròng và nghĩ đến việc nhảy xuống sông cho chết đuối. Em ngắm đàn cá bơi lội. em bắt con nhái chơi, nhưng cái ý định tự tử ấy cứ lởn vởn mãi. "’Em lại khóc, người em cứ run lên, em qùy xuống và đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ. Nhưng em không đọc hiết được bài kinh vì những cơn nức nở lại trở lại dồn dập, xốn xang, choán ngợp lấy em". Đang lúc đau khổ như thế thì Xi-mông gặp chú Phi-líp, biết được tình cảnh của em, chú ấy đã dẫn cm về nhà. Trước mặt mẹ Xi-mông, chú đã trả lời câu hỏi của em này: "Chú có muốn làm bố cháu không?”, bằng lời khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát: "Có chứ, chú có muốn". Thế là lần thứ nhất chú Phi-líp đã cứu Xi-mông ra khỏi cơn tuyệt vọng, giành em khỏi tay thần chết.
Tuy nhiên đối với chú Phi-líp, lúc đầu chú nghĩ đây là một việc làm nhất thời, cốt để an ủi cho Xi-mông trong phút giây thoát khỏi cơn tuyệt vọng. Nhưng sau đó, Xi-mông đến nói với chú tại lò rèn: “Bố Phi-líp này, lúc nãy thằng con bác Mi cốt bào con rằng bố không phải là bố của con hẳn hoi vì bố không phải là chồng của mẹ". Lúc này, không còn là nhất thời nữa rồi! Vấn đề đặt ra trước chú Phi-líp lúc này là một vấn đề nghiêm túc. Xi-mông lại có thể đứng trước tình thế tuyệt vọng một lần nữa, nếu như chú Phi-líp xem lời nói lần trước của mình là lời nói đùa. Chính các bác thợ rèn đồng nghiệp của chú Phi-líp, những vị thần khổng lồ ấy đã giúp chú vượt qua định kiến đối với mẹ Xi-mông. Chị ta lầm lỗi không phải do lỗi ở chị ta, để đi đến quyết định cuối cùng: ngỏ lời cầu hôn với người phụ nữ đáng thương mến này. Việc làm của chú Phi-líp đã mang lại cho Xi-mông hạnh phúc thật sự, cậu bé đã đủ nghị lực để tuyên bố với các bạn cùng lớp: “Bố tớ là Phi-lip Rêmi (bác thợ rèn) và bố tớ hứa sẽ kéo tai tất cả những đứa nào bắt nạt tớ".
Chú Phi-líp và các bác thợ rèn trong truyện ngắn này được Guy đờ Mô-pa-xăng miêu tả như các vị phúc thần. Chú đã giải thoát cho Xi-mông khỏi nỗi đau khổ của em và mang lại cho em hạnh phúc. Việc làm ấy cũng giúp cho mẹ Xi-mông thoát khỏi khổ đau do lầm lỡ. Chú Phi-líp và các bác thợ đã nói và làm theo tiếng gọi của lương tri, thoát khỏi những thành kiến hẹp hòi, cổ hủ. Việc làm của họ như là đại diện cho sự công bằng, cho lòng nhân ái, giúp cho các nhân vật bị đau khổ, bất hạnh thoát khỏi đau khổ và có hạnh phúc. Hình ảnh của họ thật đẹp. Thật hào hùng mà cũng nhân hậu xiết bao.
Có ý kiến cho rằng việc làm của chú Phi-líp: nhận làm bố của Xi-mông và làm chồng của mẹ em bé này thật là khờ dại. Không đúng. Phải nói đây là một việc làm nhân đạo, cao cả, xuất phát từ một tấm lòng yêu thương rộng lớn đồng cảm sâu sắc đối với cảnh ngộ đáng thương mến của Xi-mông và của mẹ em bé này. Chú đã khơi dậy trong lòng người đọc tình cảm quý mến đối với việc làm tốt đẹp, thấm đẫm tình người của một người lao động nhân hậu, cao cả. | Phân tích nhân vật Phi- lip trong truyện ngắn Bố của Xi- mông của nhà văn Guy đờ Mô-pa-xăng | 819 | |
Phân tích nhân vật Phùng trong bài Chiếc thuyền ngoài xa
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Phùng trong bài Chiếc thuyền ngoài xa
Nguyễn Minh Châu với tác phẩm tiêu biểu cho cả phong cách lẫn nghệ thuật là Chiếc thuyền ngoài xa”là thuộc trong số những nhà văn mở đường tài năng, tinh anh nhất cho văn học nước ta hiện nay. Quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật chuyển từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường đã được thể hiện rõ ở. “Chiếc thuyền ngoài xa”. Ở tác phẩm này ông thật sự thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật, ông đã xây dựng được các nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và Phùng là một nhân vật như thế.
Trong tác phẩm này, nhân vật Phùng là một người quý trọng và say mê nghề nghiệp nhiếp ảnh của mình, anh được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh thuyền và biển trong sương mù vào giữa tháng bảy để in trong bộ lịch năm sau. Chính vì muốn tìm tới những điều mới lạ và đẹp đẽ cho nên Phùng đã tìm về vùng ven biển miền Trung nơi chiến trường xưa.
Để có được những khoảnh khắc và bức hình ăn ý, Phùng đã bỏ ra thời gian là một tuần lễ suy nghĩ tìm kiếm, phục kích mới chụp được một bức ảnh ưng ý, một cảnh đắt trời cho.
Phùng còn là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, yêu tha thiết cái đẹp. Trước vẻ đẹp toàn bích của cảnh vật, tâm hồn người nghệ sĩ trở nên khó tả: “tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì đó bóp thắt vào…tôi tưởng như chính mình vừa tham gia vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Trong giờ phút thăng hoa cùng cái đẹp anh cảm nhận cái đẹp chính là đạo đức”. Là người yêu cái đẹp khi mà được chứng kiến được chạm vào vẻ đẹp ấy thì quả là một điều tuyệt vời khó có thể diễn tả nổi.
Là người từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người. Anh vẫn giữ quan điểm từ thời chiến tranh “cái xấu ắt là từ phía địch”, vì thế anh đã ngộ nhận “gã đàn ông vũ phu kia hẳn là từng đi lính ngụy”, rồi đặt ra một câu hỏi “ lão ta trước hồi 75 có đi lính ngụy không?”, Anh cho rằng hành động của anh là hành động của một người anh hùng “tôi nện hắn ta bằng tay không nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay của một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay của một người lính đã từng mười năm cầm súng”..
Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện đã giúp Phùng hiểu ra nhiều điều. Lúc đầu anh phẫn nộ sau đó lại cảm thông chua xót cho số phận của người đàn bà. Bỗng nhiên Phùng hiểu ra đằng sau vẻ đẹp lãng mạn của chiếc thuyền là sự thật đầy tăm tối, gai góc của cuộc đời. Cuộc sống luôn chứa đựng những mặt sần sùi không phải khi nào cũng là màu hồng. Người đàn ông độc ác kia cũng chỉ là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh, người đàn bà thô kệch, xấu xí đầy cam chịu ấy chính là người hiểu sâu sắc lẽ đời. Đồng thời ai cũng nhận ra mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, Nghệ thuật không thể tách rời cuộc sống mà phải chính là cuộc sống, gắn bó mật thiết với cuộc sống.
Đọc truyện ngắn, Phùng hiện ra cùng với những nét đẹp của một nghệ sĩ đam mê cái đẹp, yêu tha thiết sự công bằng. Qua câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện, anh nhận ra được nhiều điều về hiện thực cuộc sống và từ đó có những phát hiện mới mẻ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Cuộc đời và nghệ thuật có mối quan hệ gần gũi với nhau không tách rời nhau. | Phân tích nhân vật Phùng trong bài Chiếc thuyền ngoài xa | 722 | |
Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa
Hướng dẫn
Mở bài:
Nguyễn Minh Châu thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cùng với nhà văn Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu có những đống góp quan trọng đối với nền văn học kháng chiến chống Mỹ và nền văn học thời kì đầu đổi mới. “Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này” (Nguyễn khải).
Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Minh Châu. Đây là một tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đời tư, thế sự của Nguyễn Minh Châu sau 1975. Tác phẩm thuộc kiểu truyện luận đề và nhân vật Phùng là người phát biểu các luận đề ấy. Qua nhân vật Phùng và các nhân vật khác nhà văn đề cập đến tính trung thực của người nghệ sĩ, nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và hiện thực cũng như những vấn để phức tạp của cuộc sống, kể cả bi kịch số phận con người.
Thân bài:
Vốn là một người lính chiến đã từng vào sinh ra tử, Phùng căm ghét mọi sự áp bức bất công. Anh sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện và lẽ công bằng. Anh thực sự xúc động ngỡ ngàng trước trước vẻ đẹp mát mẻ tinh khôi của con thuyền và biển cả lúc bình minh. Đó là sự rung đông của người nghệ sĩ trước cái đẹp trên cuộc đời này và nó thúc đầy anh khao khát đi tìm.
Bắt gặp cuộc sống của một gia đình làng chài tưởng chừng như bình yên mà lại vô cùng khốc liệt khiến anh vô cùng sửng sốt. Một con người nhạy cảm như Phùng làm sao tránh khỏi nỗi tức giận khi phát hiện đằng sau cảnh đẹp của chiếc thuyền ngoài xa là sự bạo hành của cái xấu, cái ác. Mới đầu, chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ và người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng, Phùng hết sức “kinh ngạc”. Anh “há mồm ra mà nhìn”. Rồi như một phản xạ tự nhiên, anh “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy nhào tới”.
Hành động ấy đã nói lên được rất nhiều điều đáng để suy ngẫm. Thứ nhất, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa. Nó đang ở một khoảng cách đủ để tạo nên một vẻ đẹp huyền ảo. Nhưng sự thật cuộc đời thì lại ở rất gần. Thứ hai, đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời. Bởi lẽ, nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. “Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp hãy là một con biết yêu ghét vui buồn tức trước mọi lẽ đời thường tình, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người”(Trăng sáng – Nam Cao).
Nguyễn Minh Châu đã không có tạo nên những mảnh đời đối lập. Song, cứ tự nhiên, cuộc đời lại vẽ lên những bức tranh màu đầy ảm đạm. Cuộc sống của gia đình trên con thuyền chật hẹp cứ từng lớp, từng lớp được phơi bày trước mắt Phùng. Anh đi từ trạng thái này đến trạng thái khác, vừa hân hoan, vừa hết sức đau thương, vừa mãn nguyện vừa xung đột mãnh liệt.
Nam Cao cũng đã từng khắc họa hình ảnh người nghệ sĩ trong điểm nhìn nghệ thuật đầy xung đột. Điền là một nhà văn, nhà giáo nghèo. Mặc dù cuộc sống vất vả, khó khăn nhưng tâm hồn Điền lại đẫm thơ văn lãng mạn. Những đêm trăng sáng, Điền ngắm trăng và mơ mộng một cuộc sống khác, đối lập với cuộc sống hiện tại của Điền. “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp sống lầm than”(Trăng sáng – Nam Cao).
Đằng sau mỗi vẻ đẹp trắng lệ luôn ẩn giấu một nỗi đau nào đó của trần thế. Điều quan trọng là người nghệ sĩ có nhìn thấy hoặc dám nhìn thẳng vào nó để phản ảnh hay không. Đó là thử thách lớn đối với cả Điềm và Phùng khi họ bất ngờ bị đặt vào tình thế gây cấn để phản ngộ.
Điều mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng “ngộ” ra khi chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ một cách tàn bạo chính là tình người ẩn sâu trong trái tim đầy đau khổ của người đàn bà kia. Nếu quan sát từ “ngoài xa” thì khung cảnh con thuyền và mặt biển mờ sương thật đẹp, thật mơ mộng. Thậm chí nó đạt đến sự “toàn bích’’, hiếm khi được may mắn bắt gặp. Nhưng khi tới gần, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng mới nhận ra đằng sau khung cảnh đẹp ấy chứa bao nghịch cảnh đau lòng. Người chồng đánh vợ một cách tàn nhẫn. Đứa con trai thì cầm dao xong vào bố. Cuộc sống ấy đối vói người đàn bà chẳng khác gì địa ngục thế nhưng không thể rời bỏ được, ….
Kết bài:
Bài viết liên quan:
Phân tích nhân vật người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa-Nguyễn Minh Châu | Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa | 907 | |
Phân tích nhân vật Phùng trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Phùng trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất của văn học ta hiện nay Ông đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông.Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Phùng, một nghệ sĩ khao khát khám phá sáng tạo ra cái đẹp, người luôn lo lắng, trăn trở, suy tư về nhân cách và đời sống con người.
Truyện Chiếc thuyền ngoài xa in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn. Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987).
Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Phùng đi tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng đã chụp được một bức ảnh thật đẹp và toàn bích. Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp ấy lại bước xuống một đôi vợ chồng hàng chài, lão đàn ông thẳng tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình. Thằng Phác, con lão che chở người mẹ đáng thương. Ba hôm sau, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cô chị gái tước đoạt con dao găm mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Phùng xông ra buộc lão phải chấm dứt hành động độc ác. Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện. Ở đây, anh đã nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài với bao cảm thông và ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Anh hiểu:không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận mọi hiện tượng của cuộc đời.
Từ câu chuyện về một bức tranh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.
Trước hết là nhận thức của Phùng về cái đẹp của nghệ thuật. Phùng đang đứng trước cảnh biển sớm khi mặt trời mới thức dậy qua đám mây ánh hồng.Phùng bộc lộ rung động trước “ Một cảnh đắt trời cho” mà “ suốt đời cầm máy chưa bao giờ thấy”. Nó đẹp “ như bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” Cảnh đó được nhìn từ xa nên “ Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua đôi mắt của người nghệ sĩ.Anh khẳng định “ toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp,một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”.Phùng thực sự rung động “ Đứng trước nó tôi trở nên bối rối.Trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” và “ phát hiện ra khoảnh khắc trắng ngần của tâm hồn”. Phùng là một nghệ sĩ trên đường săn tìm cái đẹp.Anh thực sự biết quan sát lựa chọn cái đẹp của thiên nhiên,cảnh vật,con người.Sự rung động của người nghệ sĩ đã đến đúng lúc.Sự rung động thực sự khi đứng trước cái đẹp.Cái đẹp tự nhiên “ đắt giá”, “trời cho”,mới thực sự làm rung động lòng người. Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời. Phùng còn nhận ra trong suy nghĩ của mình “ chẳng biết ai đó lần đầu phát hiện ra bản thân cái đẹp là đạo đức”.Đó là cái đẹp phải kết hợp với cái tâm,cái tài kết hợp với cái thiện.
Nhận thức thứ 2 của Phùng là về bạo lực gia đình. Từ chiếc thuyền đẹp như mơ, Phùng thấy bước ra một đôi vợ chồng làng chài mệt mỏi, xấu xí, thô kệch.. “ Người đàn bà đứng lại, đưa cặp mắt nhìn xuống chân”. “ Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ,mặt đỏ gay,lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy, dùng cái thắt lưng quật tới tấp lên lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến vào nhau ken két.Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn “ Mày chết đi cho ông nhờ.Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. “ Người đàn bà có vẻ cam chịu nhẫn nhục không hề kêu một tiếng,không chống trả,cũng không tìm cách trốn chạy. Bạo lực trong gia đình thuyền chài ấy diễn ra thường xuyên “ Ba ngày một trận nhẹ,năm ngày một trận nặng”. Bạo lực gia đình là vấn đề tồn tại trong xã hội.Bước sang thế kỉ XXI chúng ta vẫn chưa dứt điểm được.ở đâu có bạo lực gia đình thì nạn nhân của nó là người vợ,người mẹ và những đứa con tội nghiệp.Bạo lực là dấu hiệu của sự đau khổ,rạn nứt của hạnh phúc gia đình.Nó làm tổn thương bao mối quan hệ của đời sống tình cảm con người.Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe dò phá mìn của mĩ trên bãi cát.Phải chăng cuộc chiến đấu giành độc lập tự do ta đã giải quyết được trọn vẹn,mang lại niềm vui cho mọi người. Nhưng sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra: Đói kém,bệnh tật,bạo lực gia đình …
Truyện Chiếc thuyền ngoài xa qua những phát hiện của Phùng về vẻ đẹp của thiên nhiên, về sự thật cay đắng, đầy bi kịch, nghèo khổ của những con người lao động bằng nghề chài lưới, đã bộc lộ những lo lắng, trăn trở của nhà văn về nhân cách, đời sống con người, bộc lộ lòng thương cảm, trắc ẩn, trân trọng những vẻ đẹp trong tâm hồn người dân lao động. Truyện đậm chất tự sự, triết lý, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật Phùng trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu | 1,238 | |
Đề bài: Anh (chị) hãy phân tích nhân vật Phùng trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa ” của Nguyễn Minh Châu
Bài làm
Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp” (Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người, T.C Văn học, 1993, số 3, tr.20).
Phân tích nhân vật Phùng trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu.
Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành tráng của mảnh đất chiến trường xưa A So từng ghi dấu bao chiến công, cũng không phải là những con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử. Nhân vật Phùng trở về với mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ là phóng viên ảnh trở về ghi lại những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc sống lao động khoẻ khoắn tươi rói của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của màn sương buổi sáng bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh (!). Thế nhưng, những gì anh chứng kiến đã khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật gắn với cuộc sống của những người dân chài lam lũ: “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”. Từ cuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn khiến con người phải ngỡ ngàng. Một câu chuyện đơn giản nhưng đã chứa đựng những phát hiện mới mẻ hàm chứa quan niệm văn chương hướng về con người của Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nghĩ suy một cách xuôi chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng cách mạng sẽ đổi đời cho số phận người lao động, sẽ xoá tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ cho chúng ta: cách mạng không phải giải quyết bi kịch trong một sớm một chiều, con người vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, dung hoà với nó. Cách lý giải về con người của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứa những suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua những khổ đau để đối diện với hiện thực bao thách thức.
Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống, ngỡ như anh đã phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng người xem về cái đẹp có thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.”. Và những người dân vùng biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống lao động đầm ấm khoẻ khoắn, những con người gặp gỡ thật đáng yêu…Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của chiếc – thuyền – ngoài – xa. Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng quật thẳng tay vào người vợ không thương xót. Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình. Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”. Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quí tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đàng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh. Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản: người đàn ông kia dù cục súc nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần trong bữa ăn trên chiếcthuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả. Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến.Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái nhìn đa diện về số phận con người.
Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không đi theo con đường mòn đó. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu. Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người vhà cuộc đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi). Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời. Bức thông điệp trong tác phẩm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía: “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương- Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu). Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia? Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”.Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người. | Phân tích nhân vật Phùng trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu | 2,275 | |
Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi
Bài làm
“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” chẳng phải tự nhiên mà câu nói trở nên ý nghĩa trong những cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương của dân tộc Việt Nam, xuyên suốt lịch sử chống quân xâm lược của nhân dân ta đã có những cô gái, những người phụ nữ mạnh mẽ kiên cường vô cùng, những người quên đi bản thân mình là phái yếu để xung phong ra chiến trường, và những hình ảnh đẹp đẽ đó đã được đi vào thơ ca như một đề tài không bao giờ tắt. Lê Minh Huê một nhà văn với tài năng khắc họa nhân vật đã xây dựng thành công hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong, tiêu biểu trong số đó là nhân vật Phương Định.
Toàn bộ câu chuyện hiện lên trước mắt người đọc là hình ảnh cô gái Phương Định, một người con gái của thành phố trẻ trung, đáng yêu, vô tư, hồn nhiên, một cô gái với mái tóc mềm mại, đôi mắt với ánh nhìn xa xăm, người con gái được những anh lính lái xe, pháo thủ quan tâm đặc biệt, người con gái tràn đầy sức sống của lứa tuổi đôi mươi, một lứa tuổi của sự mộng mơ, lứa tuổi đẹp nhất của đời người con gái, nhưng khi tổ quốc gọi tên, cô đã bỏ qua tất cả, hướng tới chiến trường, hướng tới những khó khăn mà đất nước ta đang hứng chịu, cùng góp sức mình vào cuộc chiến đó.
Cô gái thanh niên xung phong đó đã sống và trải qua những khó khăn cùng những người đồng đội của mình, những cái tên như Thao, Nho chẳng có ai mà quên được khi đã từng đọc qua câu chuyện này, những con người đó sống trên cao điểm, giữa một vùng trọng điểm của tuyến Trường Sơn, những cô gái dùng những giây phút hồn nhiên, thơ mộng của tuổi trẻ để trải qua những công việc vất vả, nguy hiểm, trải qua khói bụi, bom đạn hàng ngày, công việc của họ là đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm số bom chưa nổ, và cả phá bom khi cần thiết, một công việc mà nhắc đến cũng khiến bất cứ người đàn ông nào có phần nao núng, nhưng những cô gái vẫn cứ hiên ngang, vẫn dùng tấm thân nhỏ bé của mình đối diện với thần chết. Gian khổ, hi sinh càng tô đẹp hơn tinh thần yêu nước vốn có tồn tại trong mỗi con người Việt Nam, nét đẹp nhẹ nhàng không thể phủ nhận của những cô gái thanh niên xung phong.
Không chỉ dùng ở đó, cô gái mang tên Phương Định còn trải qua vô số những tình huống éo le vô cùng, những lúc đối mặt với quả bom sắt lạnh lùng chỉ chờ người con gái sơ suất để phát nổ, đối mặt với những tiếng va chạm của xẻng vào quả bom đến lạnh người… Nhưng rồi công việc chêu đùa thần chết đó cũng trở nên quen thuộc đối với cô, là công việc mà cô phải làm hàng ngày, không vì thế mà làm cô trở nên thay đổi, trong cô vẫn nhẹ nhàng, tràn ngập tình yêu thương với những người đồng đội của mình, cô luôn biết cách quan tâm, chăm sóc và thường hay lo lắng cho những người ở xung quanh, cô tận tình chăm sóc khi nho bị thương, điều đó làm nho khỏe mạnh rất nhanh, cô lo lắng dành tìm cảm của mình cho những người lính đang cầm súng trên chiến trường.
Tất cả những tính cách, tình cảm chân thật đó đã thể hiện sự thành công của tác giả, thành công trong xây dựng tâm lí nhân vật, với cách thể hiện mọi thứ theo ngôi thứ nhất tác giả đưa người đọc tới nội tâm của nhân vật chính, đi từ cảm xúc này tới cảm xúc khác, cảm nhận mọi thứ như được hòa mình vào không khí của truyện. Câu truyện tôn lên vẻ đẹp của những người con gái nói chung và ba cô gái trong truyện nói riêng, những người có tâm hồn lãng mạn, tính cách hồn nhiên nhưng không kém phần mạnh mẽ, như những ngôi sao tỏa sáng trên bầu trời giữa màn đêm bao phủ.
Tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” đã phần nào làm sống dậy hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, những con người đa tài, đa năng đặc biệt là qua nhân vật Phương Định với sức trẻ, sự yêu đời, vô tư hồn nhiên là yếu tố chính giúp cô vượt qua tất cả, một con người với phẩm chất tốt đẹp, tinh thần trách nhiệm cao với bản thân, với đất nước, tình đồng chí đồng đội bền chặt, là tấm gương sáng rất đáng học tập cho thế hệ trẻ ngày nay. | Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi | 845 | |
Phân tích nhân vật Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi”
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi”
Hướng dẫn
Viết về người lính và chiến tranh là nguồn cảm hứng của rất nhiều nhà thơ, nhà văn.Với Phạm Tiến Duật,ta được đến với sự trẻ trung,ngang tàng của các chiến sĩ Trường Sơn qua “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.Gặp “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ,ta lại bắt gặp những cô gái mở đường không tiếc thân mình “đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom”.Và đến với “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê ta lại không khỏi thán phục trước tinh thần dũng cảm, tình đồng đội nồng ấm, tâm hồn lạc quan trong sáng của ba nữ thanh niên xung phong mà đề lại ân tượng sâu sắc nhất trong em là Phương Định.
Phương Định cùng Nho và Thao – những cô gái thanh niên xung phong sống trên cao điểm mênh mông khói bụi Trường Sơn và bom đạn hủy diệt của kẻ thù.Công việc của chị và đồng đội trong tổ chinh sát mặt đường là “đo khối lượng đất đá lấp hố bom,đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom” để bảo vệ con đường cho những đoàn xe băng về phía trước,góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.Công việc của chị thật vinh quang nhưng cũng đầy hi sinh gian khổ.Song chính hoàn cảnh gian khó hiểm nguy ấy đã làm cho chúng ta cảm nhận được những phẩm chất đáng quý của chị.
Trong chị luôn thường trực tình đồng đội,đồng chí nồng ấm.Tấm long vị tha của chị luôn quan tâm tới đồng đội.Khi chị Nho và Thao ở trên cao điểm,phải ở nhà trực máy nhưng trong lòng Phương Đinh luôn lo lắng,sốt ruột,đứng ngồi không yên.Chị lo lắng đến mức chạy ra chạy vào lắng nghe cả tiếng súng hỗ trợ của các anh bộ đội pháo binh.sự lo lắng ấy khiến chị cáu với cả đội trưởng “Chinh sát chưa về”.Điều đó thể hiện lòng quan tâm,lo lắng của chị với đồng đội thật sâu sắc.Chị luôn trìu mến,yêu thương bạn bè,chẳng thế mà chị đã nhận xét về người đồng đội trẻ tuổiNho,chị phát hiện ra vẻ dễ thương của Nho “nhẹ,mát mẻ như một que kem trắng”,chị còn hiểu rất rõ sở thích của bạn,của đồng đội.Chị Thao thích ghi bài hát mặc dù chị hát toàn sai nhạc,chị ghi tới ba cuốn sổ dày bài hát,chị Thao còn thích tỉa đôi long mày nhỏ như que tăm,chị hiểu được sự cương quyết,tạo báo nhưng rất đáng gờm trong công việc cỉa chị Thao.Tuy vậy chị Thao rất sợ máu và vắt.Chị hiểu được ở Nho thích thuê thùa,trên ngực áo của Nho luôn có một bông hoa.Chị còn hiểu được tâm trạng của đồng đội như khi Nho bị thương,chị Thao thì cuống quýt lên còn Nho lại bình tĩnh,gan dạ.Phương ĐỊnhbăng bó,tiêm thuốc và pha sữa cho Nho.Tình cảm đồng đội,đồng chí là ngọn lửa sưởi ấm lòng,là niềm tin,là động lực,là nguồn động viên khích lệ các chị thêm vững lòng trên mặt trận đầy gian nguy này.Ngược lại,chị Phượng Đinhk cũng rất cần sự cổ vũ,động viên của đồng đội.Chị cảm thấy ấm lòng và tự tin hơn khi cảm thấy ánh mắt dõi theo,khích kệ của các anh chiến sĩ pháo binh.Chị được rất nhiều chiến sĩ cảm mến.Điều đó càng làm tình đồng đội,đồng chí trong chị thêm sâu đậm biết bao!
Qua nhân vât Phương Định,ta càng hiểu thêm về những vẻ đẹp đáng quý của những cô giá thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn nói riêng và thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy.Âm vang của những câu hát sau sẽ luôn vang vọng trong con người Việt Nam với lòng tự hào đầy trân trọng: “Cô gái mở đường ra đi cứu nước Tiếng hát ai vang vọng núi rừng…..” | Phân tích nhân vật Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi” | 679 | |
Phân tích nhân vật Quan phụ mẫu tong chuyện sống chết mặc bay
Hướng dẫn
I. MỞ BÀI
– Văn xuôi quốc ngữ buổi đầu đã có sự đóng góp của Phạm Duy Tốn. Truyện ngắn ‘Sống chết mặc bay’ của ông là một trong những thành tựu đột xuất của dòng văn học hiện thực thuở sơ khai. Tác giả viết truyện ngắn này vào tháng 7/1928, được đăng tải trên báo Nam Phong số 18, tháng 12.1918.
– Truyện kể chuyện một ‘quan phụ mẫu’ ung dung ăn chơi bài bạc trong cảnh vỡ đê, nhân dân trên một vùng rộng lớn chìm đắm trong thảm họa. Tác giả đã lên án thói vô trách nhiệm, bộ mặt vô nhân đạo của bọn quan lại trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
– Tên ‘quan phụ mẫu’ được miêu tả bằng những chi tiết rất hiện thực có giá trị tố cáo sâu sắc.
II. THÂN BÀI
– Sống sang trọng xa hoa:
+ Đi hộ đê mà mang theo ống thuốc bạc, đồng hồ vàng, dao chuôi ngà, ống vôi chạm… trông mà thích mắt.
+ Ăn của ngon vật lạ: yến hấp đường phèn.
– Sống nhàn nhã vương giả:
+ Trong lúc hàng trăm con người đội đất, vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy, trong mưa gió lướt thướt như chuột lột thì quan phụ mẫu ‘uy nghi, chễm chệ ngồi’ trong đình đèn thắp sáng choang.
+ Quan dựa gối xếp, có lính gãi chân, có lính quạt hầu, có tên chực hầu điếu đóm.
– Ăn chơi bài bạc, thản nhiên ung dung:
+ Đê sắp vỡ! ‘Mặc! Dân, chẳng dân thì chớ!’. Quan lớn ngài ăn, ngài đánh; người hầu, kẻ dạ, kẻ vâng!
+ Quan lớn ù thông, xơi yến, vuốt râu, rung đùi, mắt mải trông đĩa nọc.
– Sống chết mặc bay
+ Có người khẽ nói: ‘dễ có khi đê vỡ’, quan gắt: ‘mặc kệ!’.
+Có người nhà quê hốt hoảng chạy vào đình báo ‘đê vỡ mất rồi!’, ‘quan phụ mẫu’quát: ‘Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày!…’
+ Quan sai bọn lính đuổi người nhà quê ra khỏi đình, rồi vẫn thản nhiên đánh bài.
+ Quan vỗ tay xuống sập kêu to, tay xòe bài, miệng cười: ‘ủ! Thông tôm chi chi nẩy!… Điếu, mày!’.
– Quan sung sướng ù ván bài to khi đê đã vỡ: Cả một miền quê nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết: kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn… lênh đênh mạt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!
– Nghệ thuật tương phản đã vạch trần và lên án thói vô trách nhiệm, nhẫn tâm, vô nhân đạo của bọn quan lại, coi thường tính mạng và đời sống nhân dân, Chúng nó chỉ lo chơi bời bài bạc, ăn chơi hưởng lạc, còn nhân dân thì ‘sống chết mặc bay’.
– Một lối viết ngắn, sắc sảo. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong thế tương phản rất đặc sắc. Càu chuyện đầy kịch tính, thương tâm, giàu giá trị tố cáo hiện thực và tinh thần nhân đạo.
– Xây dựng thành công nhân vật ‘quan phụ mẫu’, mệnh danh là ‘cha mẹ dân’ mà coi tính mạng của dân như rơm rác, ‘sổng chết mặc bay!’. Tên ‘quan phụ mẫu’ khá điển hình cho sự thối nát của chế độ quan trường thời Pháp thuộc.
– Đâu chỉ tên ‘quan phụ mẩu’ thối nát! Hắn là một trong hàng ngàn hàng vạn bọn quan lại ngày xưa; hắn là sản phẩm, là công cụ đắc lực của chế độ thực dân nửa phong kiến thối nát. | Phân tích nhân vật Quan phụ mẫu tong chuyện Sống chết mặc bay | 618 | |
Phân tích nhân vật quan Thái y lệnh Phạm Bân trong truyện “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng”
Hướng dẫn
Những bài văn mẫu hay lớp 6
Văn mẫu lớp 6: Phân tích nhân vật quan Thái y lệnh Phạm Bân trong truyện “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng” gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.
Đề bài: Phân tích nhân vật quan Thái y lệnh Phạm Bân trong truyện “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng”
BÀI LÀM
Tác giả của ”Nam Ông mộng lục” là Hồ Nguyên Trừng, hiện còn 28 thiên, mỗi thiên là một truyện nói về việc cũ của quê hương đất nước mình, kí thác nỗi sầu xa xứ qua những hồi ức của người đang sống nơi đất khách quê người. Có một số thiên mang yếu tố li kì như những truyền kì, thần thoại. Có một số thiên gần như những “thi thoại” khá lí thú. Tất cả sự việc, cảnh vật và con người được tác giả nhớ đến là sự thấp thoáng một số nét về xã hội, lịch sử, văn hóa thời Lý – Trần.
Thiên thứ 8, nhan đề chữ Hán là “Y thiện dụng tâm” (Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng) kể chuyện Phạm Bân, một thầy thuốc giỏi, qua đó ca ngợi y đức, kín đáo biểu lộ niềm tự hào về ông cha, tổ tiên mình.
“Đứa ăn mày cũng trời sinh,
Bệnh còn cứu đặng, thuốc dành cho không”.
(Nguyễn Đình Chiểu)
Những năm đói kém dịch bệnh nổi lên, Phạm Bân còn “dựng thêm nhà” đón những kẻ “khốn cùng đói khát và bệnh tật đến ở”. Ông đã cứu chữa được hơn ngàn người. Nhà ông đã trở thành một bệnh viện làm phúc. Quan Thái y không làm giàu mà chỉ làm phúc. Y đức của ông tỏa sáng, cho nên “ngài được người đương thời trọng vọng”. Tác giả nêu lên một số sự việc rất điển hình để làm nổi bật “y thiện dụng tâm” của Phạm Bân với bao tự hào ngợi ca.
Truyện “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng” có một tình huống gay cấn, đầy xung đột giữa tâm đức và danh lợi, giữa cái sống và cái chết, giữa an và nguy. Qua đó, tính cách, nhân cách, bản lĩnh xử thế của người thầy thuốc được tỏ rõ. Cùng một lúc có hai bệnh nhân. Người đàn bà thì “nguy kịch máu chảy như xối, mặt mày xanh lét”. Còn bệnh thứ hai là bậc quý nhân trong cung đang “bi sốt”. Một bên là “người đến gõ cửa mời gấp”, một bên là “vương triệu đến khám”. Đã mấy ai dám trái lệnh vua? Phạm Bân đã có một cách ứng xử rất đẹp. Ông đã “đi ngay” đến cứu bệnh nhân khi “mệnh sống.. chỉ ở trong khoảnh khắc”, còn bệnh của quý nhân thì “không gấp”, sẽ đến vương phủ sau: “Tôi hãy cứu họ trước, lát nữa sẽ đến vương phủ”. Cứu mệnh sống cho con bệnh nguy kịch là trên hết, trước hết. Phạm Bân đã ứng xử như vậy, cho dù “phận làm tôi” không trọn vẹn, có thể nguy hiểm đến tính mệnh mình. Câu đối đáp của quan Thái y lệnh với quan Trung sứ đã thể hiện tầm vóc cao đẹp của một vị danh y. Trái lệnh vua là tội lớn: “Tôi có mắc tội, cũng không biết làm thế nào”. Thật là dũng cảm, giàu đức hi sinh. Có tâm đức, giàu y đức mới có sự lựa chọn vô cùng dũng cảm và đầy tình người, như ông nói: “Nếu người kia không được cứu, sẽ chết trong khoảnh khắc, chẳng biết trông vào đâu”. Ông nói lên niềm tin về sự anh minh của đức vua: “Tính mệnh của tiểu thần còn trông cậy vào chúa thượng may ra thoát”. Vì trái lệnh vua triệu, ông dũng cảm nhận: “Tội tôi xin chịu”. Qua đó, ta thấy Phạm Bân đã có “một tấm lòng”cao cả khi đứng trước sự lựa chọn giữa y đức và danh lợi, giữa mệnh sống bệnh nhân và sự nguy hiểm có thể chết đối với bản thân mình. Câu nói của Phạm Bân vừa có lí vừa có tình, rất nhân bản, tỏa sáng một nhân cách cao quý. Có phần thưởng nào to lớn hơn khi Phạm Bân được Trần Anh Vương ngợi khen: “Ngươi thật là bậc lương y chân chính, đã giỏi về nghề nghiệp lại có lòng nhân đức…”. | Phân tích nhân vật quan Thái y lệnh Phạm Bân trong truyện “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng” | 786 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Quang Trung trong đoạn trích Hoàng Lê nhất thống chí
Bài làm
Hoàng Lê nhất thống chí là văn bản viết về những sự kiện lịch sử, mà nhân vật chính tiêu biểu – anh hùng Quang Trung ( Nguyễn Huệ). Ông có một nét đẹp của vị anh hùng dân tộc trong chiến công đại phá quân thanh, với sự dũng mãnh, tài trí, tầm nhìn xa trông rộng thì Quang Trung quả là một hình ảnh đẹp trong lòng dân tộc Việt Nam.
Một con người có hành động mạnh mẽ và quyết đoán: từ đàu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là người hành động một cách xông xáo mạnh mẽ, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết. nghe tin giặc đã chiếm thành Thăng Long, mất cả một vùng đất đai roongjmaf ông không hề nao núng, “ định thân chinh cầm quân đi ngay”.
Rồi trong vòng chỉ một tháng, Nguyễn Huệ đã làm bao nhiêu việc lớn: “ tế cáo trời đất”, “lên ngôi hoàng đế”, “ đốc suất đại binh’’ ra Bắc gặp gỡ “người cống sĩ ở huyện La Sơn”, tuyển mộ quân lính và mở các cuộc duyệt binh lớn ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc và kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng.
Hơn thế nữa ông còn có một trí tuệ sáng suốt, nhạy bén:
Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa ta và địch. Đưa ra lời phủ dụ có thể coi như bài hịch ngắn mà ý tứ thật phong phú, sâu xa, có tác động kích thích lòng người yêu nước và truyền thống quật cường của đân tộc.
Sáng suốt nhạy bén trong việc xét đoán và dùng người, thể hiện qua cách xử tri với các tướng sĩ tại Tam Điệp, khi Sở và Lân mang gươm trên lưng chịu tội. ông rất hiểu sở trường sở đoản của các tướng sĩ, khen chê đều đúng người đúng việc,…
Cùng với ý trí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng Quang Trung đã làm lên trang lịch sử hào hùng cho dân tộc. chỉ mới khởi binh đánh giặc chưa dành lại được tấc đất nào, vậy mà mà Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột “ phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”, lại còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng nước lớn gấp 10 lần nước mình, để có thể dẹp chuyện binh đao, cho nước nhà yên ổn mà nuôi dưỡng lương thực.
Tài dùng binh như thần: cuộc hành binh thần tốc do vua Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc. ngày 25 tháng chạp bắt đầu xuất binh ở phú xuân( Huế), một tuần lễ sau đã ra tận Tam Điệp cách Huế 500km. vậy mà đến đêm 30 tháng chạp hành quân ra Bắc vừa đi vừa đánh giặc vậy mà ông hoạch định là mồng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức hai ngày. Hành quân xa và đầy gian khổ như vậy nhưng cờ nào đội ấy vẫn chỉnh tề, răm rắp nghe theo chỉ huy.
Hình ảnh Quang Trung lẫm liệt trong chiến trận: Hoàng đế Quang Trung thân chinh cầm quân đánh giặc không phải chỉ trên danh nghĩa. Ông là một tổng chỉ huy chiến dịch thật sự hoạch định phương lược tiến đánh, tổ chức quân sĩ, tự mình thống lĩnh mũi tên tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha trước hòn tên mũi đạn, bày mưu tính kế…
Đội quân của vua Quang Trung không phải là đội quân thiện chiến, lại vừa trải qua những ngày hành quân cấp tốc, không có thì giờ nghỉ ngơi, vậy mà dưới sự lãnh đạo tài tinhfcuar vị chỉ huy này đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù ( bắt sống hết quân do thám của địch ở phú Xuyên, giữ được bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín làng Hạ Hồi…) trận đánh Ngọc Hồi cho ta thấy rõ tài trí về chiến lược phong thái lẫm liệt của vua Quang Trung ( khói tỏa mù trời cách gang tấc không thấy gì mà chỉ nổi bật hinh ảnh của vua Quang Trung..có sách ghi chép lại áo bào đỏ của ông sạm đen khói súng..)
Từ những đoạn trích trên ta thấy hiện về trong lịch sử một nhân vật xuất chúng: lẫm liệt oai phong, văn võ song toàn đã ghi vào trang lịch sử vẻ vang của dân tộc, làm sáng ngời truyền thống dân tộc, ngàn đời sau vẫn nhắc tên người anh hùng áo vải Quang Trung. | Phân tích nhân vật Quang Trung trong đoạn trích Hoàng Lê nhất thống chí | 811 | |
Phân tích nhân vật Sơn trong truyện ‘Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam
Hướng dẫn
Trong truyện không thấy nói đến bố. Hay là Sơn mồ côi bố? Hay là bố Sơn đi làm ăn nơi xa? Sơn ở nhà với mẹ, với chị Lan, với vú già, với em nhỏ…
Sáng sớm ngủ dậy khi gió lạnh đầu mùa đã thổi về, trời trắng đục, gió vi vu, khóm lan trong chậu ‘rung động và hình như sắt lại vì rét’. Sơn cũng thấy lạnh, em kéo chăn lên đầu rồi cất tiếng gọi mẹ. Một chén nước nóng mẹ đưa cho em ‘ấp vào mặt, vào má cho ấm’, một chiếc áo dạ chỉ đỏ lẫn áo vệ sinh, ngoài lại phủ cái áo vải thâm, em mặc vào, đứng trên giường quay đi quay lại bốn lần để mẹ ngắm… Những chi tiết ấy cho biết Sơn còn bé nhỏ, ngây thơ, em rất được mẹ yêu. Không một tiếng khóc, một lời vòi vĩnh, Sơn đã cùng chị Lan đi chơi vì em biết lũ bạn con nhà nghèo xóm láng ‘đang đợi mình ở cuối chợ để đánh khăng, đánh đáo’. Gặp các bạn, khi chúng nó đến ngắm cái áo đẹp của Sơn, em cũng hồn nhiên ngây thơ như bất cứ đứa trẻ con nào, Sơn cũng ‘ưỡn ngực’ khoe áo mới: ‘Mẹ tôi còn hẹn mua cho tôi một chiếc áo nhiều tiền hơn nữa kia’. Đúng là tâm lí đáng yêu: ‘Già được bát canh, trẻ được manh áo mới’.
Sơn là một em bé sống với bạn bè rất có tình người.Trong lúc mấy đứa em
họ của Sơn thì ‘kiêu kì và khinh khỉnh’ với các bạn, trái lại Sơn và chị Lan rất chan hòa với chúng. Vì thế mới thấy chị em Sơn đến, chúng nó ‘lộ vẻ vui mừng’. Gặp bạn, buổi sớm trong gió lạnh đầu mùa, cái nhìn của Sơn đối với bạn jnhỏ, những thằng Cúc, thằng Xuân, con Tí, con Túc,… là cái nhìn yêu thương, cám thông với cảnh nghèo của bạn. Trời lạnh mà chúng nó vẫn ‘ăn mặc không khác ngày thường, vần những bộ quần áo nâu bạc đã rách vá nhiều chỗ’, và ‘môi chúng nó tím lại…’, chỗ áo quần rách ‘da thịt thâm đi’. Mỗi lần làn gió lạnh thổi qua, các bạn nhỏ của Sơn ‘lại run lên’ và ‘hai hàm răng đập vào nhau’. Biết quan tâm tới đồng loại, biết san sẻ, cảm thông với bạn bè chỉ có ở những trái tim nhân ái, những tấm lòng nhân hậu. Sơn đã chơi, đã sống với bạn bằng trái tim nhân ái, bằng tấm lòng nhân hậu như thế!
Sơn là một trong những gương mặt tuổi thơ trong truyện Thạch Lam rất đáng yêu, đáng mến. Thạch Lam đôn hậu, tinh tế nên văn ông mới đậm đà và cho ta nhiều nhã thú. Trong gió lạnh đầu mùa mà lòng Sơn ấm áp biết bao! | Phân tích nhân vật Sơn trong truyện ‘Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam | 500 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Thuý Kiều để làm nổi bật giá trị nhân đạo của Truyện Kiều
Bài làm
Tiếng nói nhân đạo ấy toát lên từ hình tượng nhân vật Thuý Kiều trong truyện Thuý Kiều. Thuý Kiều là hiện thân của nổi đau và bất hạnh. Nàng là một người con gái tài sắc, giàu tình cảm nhưng bị xã hội phong kiến vùi dập, đoạ đày.
Nhân vật Thuý Kiều là hiện thân những bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến trước đây. Đời Kiều là một tấm gương oan khổ. Số phận Kiều hội đủ những bi kịch của người phụ nữ. Tuy nhiên hai bi kịch lớn nhất ở Kiều là bi kịch tình yêu tan vỡ và bi kịch bị chà đạp nhân phẩm.
Tình yêu Kim Trọng- Thuý Kiều là một tình yêu lí tưởng với “Người quốc sắc,kẻ thiên tài”, nhưng cuối cùng “giữa đường đứt gánh tương tư”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Tình yêu tan vỡ và không bao giờ hàn gắn được-tuy “màn đoàn viên” có hậu về cơ bản cũng chỉ là “một cung gió thảm mưa sầu”.Hạnh phúc nàng toan được nắm trong tay thì cuộc đời cướp mất.
Kiều là người luôn có ý thức về nhân phẩm nhưng cuối cùng lại bị chà đạp về nhân phẩm. Nàng trở thành “món hàng” để kẻ buôn người họ Mã “cò kè bớt một thêm hai”. Rồi nàng phải thất thân với những kẻ như Mã Giám Sinh, phải “Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”- Nổi đau nhất của cuộc đời Kiều chính là: “Thân lươn bao quản lần đầu- chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”. Có nổi đau nào lớn hơn khi con người trọng nhân phẩm, luôn có ý thức về nhân phẩm mà cuối cùng phải tuyên bố từ bỏ nhân phẩm?
Đời Kiều không phải chỉ là một tấm bi kịch, mà là những chuổi dài những bi kịch nối tiếp nhau, mỗi lần nàng cố cất đầu ra khỏi bùn nhơ là một lần bị dúi xuống, bị đạp xuống sâu thêm một tầng nữa. Thuý Kiều là hiện thân của một vẻ đẹp nhan sắc, tài hoa. Sắc và tài của Kiều đã đạt tới mức lí tưởng. Thể hiện vẻ đẹp, tài năng của Kiều Ng.Du đã sử dụng bút pháp ước lệ của văn học cổ có phần lí tưởng hoá để trân trọng một vẽ đẹp. “ Một hai nghiêng nước nghiêng thành-sắc đành đồi một tài đành hoạ hai”.
Tâm hồn đẹp đẽ của người con gái họ Vương thể hiện ở tấm lòng vị tha, nhân hậu. Nàng hi sinh tình yêu để cứu gia đình, cha mẹ. Khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ tới cha mẹ với những tình cảm chân thực. Nàng tưởng tượng bóng dáng tội nghiệp “Tựa cửa hôm mai” của người sinh dưỡng Nàng. Kiều day dứt không nguôi vì một nổi là không được chăm sóc cha mẹ già: “Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ”. Thuý Kiều là người chí tình chí nghĩa “Ơn ai một chút chẳng quên”. Khi có điều kiện, nàng đã trả ơn, hậu tạ những người cưu mang mình, nhưng nàng vẫn thấy công ơn đó không gì có thể đền đáp nổi “Nghìn vàng gọi chút lễ thường-mà lòng phiếu mẫu mấy vàng cho cân”.
Thuý Kiều là hiện thân của nổi khát vọng tình yêu tự do, khát vọng hạnh phúc và khát vọng về quyền sống. Khát vọng tình yêu tự do đậm màu sắc lãng mạn được thể hiện qua mối quan hệ Thuý Kiều- Kim Trọng. Mới gặp chàng Kim lần đầu, hai bên chưa tiện nói với nhau một lời, mà mối tình không lời ấy đã như một chén rượu nồng, khiến người ta choáng váng đê mê:
“Tình trong như đã mặt ngoài còn e
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê…”
Yêu nhau nàng chủ động xây dựng tương lai với người yêu. Gót chân nàng thoăn thoắt đi sang nhà Kim Trọng, cái hình ảnh nàng “Xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình” Thật là nhiệt thành cho một mối tình đầu trong trắng. Ng.Du đã dành tất cả tài năng và tâm huyết để viết lên một bản tình ca say đắm có một khong hai trong lịch sử văn học Việt Nam.
Mối tình Kim-Kiều vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến bằng tình yêu tự do, chủ động của hai người. Khác với nhiều người phụ nữ xưa phải chịu sự sắp đặt của cha mẹ, Kiều chủ động đến với tình yêu theo tiếng gọi của trái tim. Kiều táo bạo, chủ động nhưng đồng thời cũng là người thuỷ chung nhất trong tình yêu.
Khát vọng về hạnh phúc, về quyền sống đã đưa Kiều trở thành đại diện cho con người bị áp bức vùng lên làm chủ số phận của mình trong tư thế chiến tháng, tư thế chính nghĩa:
“Nàng rằng: Lồng lộn trời cao
Hại nhân nhân hại sự nào tại ta”.
Ở đây, Thuý Kiều đẫ gặp gở bao nhiêu người phụ nữ bị áp bức khác vùng lên đòi quyền sống, đòi lẽ công bằng, trừng trị kẻ ác. “Cái thế giằng co giữa sự sống và sự chết ở trong Tấm Cám, Thạch Sanh, trong nhiều truyện nôm khuyết danh khác cũng như trong truyện Kiều, về căn bản nào có khác gì nhau, chỉ khác… Một bên nhiều khi con người mượn yếu tố thần linh phụ trợ, một bên đã vươn tới tư tưởng trị nhân dân và con người quyết định theo công lí của mình”- (Cao Huy Đỉnh)
Với nhân vật Thuý Kiều Nguyễn Du là nhà nhân đạo chủ nghĩa rất mực yêu thương rất mực đề cao con người, đề cao những khát vọng chân chính của con người- đặc biệt là thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy bất công, tàn bạo và lễ giáo phong kiến. | Phân tích nhân vật Thuý Kiều để làm nổi bật giá trị nhân đạo của Truyện Kiều | 1,003 | |
Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều
Bài làm
Tác phẩm “Truyện Kiều” là một tác phẩm bất hủ luôn gắn liền với tên tuổi của đại thi hào Nguyễn Du. Truyện tập trung xoay quanh cuộc đời sóng gió của Thúy Kiều – một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng bị những thế lực đen tối của xã hội phong kiến khiến cho nàng phải trải qua những đau thương vô cùng tận. Thế nhưng, trong đau khổ, ở Kiều vẫn ánh lên vẻ đẹp của một người con gái đẹp với phẩm hạnh cao quý của mình.
Ngay từ đầu tác phẩm, đại thi hào Nguyễn Du đã giành sự ưu ái rất lớn cho Thúy Kiều. Nàng có tài, có sắc, mà cả tài và sắc đều ở mức độ “mười phân vẹn mười”. Đáng lẽ, nàng sẽ có một cuộc sống vô cùng tốt đẹp bên cha mẹ và hai người em của mình. Thế nhưng, “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, tai họa bất ngờ ập đến với gia đình nàng. Là một người con hiếu thảo, không nỡ để cha và em mình bị vu oan, bị tra tấn, lại trước tình cảnh lũ quan lại mè nheo, quấy nhiễu để vòi tiền “ Có ba trăm lạng việc này mới xong”, nàng đã phải bán mình chuộc cha. Đây là một việc làm quá sức tưởng tượng đối với một người con gái lớn lên trong sự giáo dục đầy đủ, với phẩm hạnh thanh cao và cốt cách cao quý. Thế nhưng, Kiều đã vượt qua tất cả để có thể cứu gia đình của mình. Nàng nguyện hi sinh thân mình để đổi lấy an ổn cho mọi người. Nàng cũng đau đớn chặt đứt dây tình với Kim Trọng để có thể thực hiện lòng hiếu thảo của mình. Ngay cả khi cuộc đời bắt nàng trôi dạt khắp nơi “ Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, nhưng lúc nào nàng cũng không lo cho bản thân, mà chỉ nhớ đến gia đình, nhớ đến cha mẹ già mà nàng không thể chăm sóc. Kiều là một người con gái vô cùng hiếu thảo, nàng chấp nhận hi sinh thân mình, ngay cả khi xót thương cho mình, nàng cũng xót thương cho cha mẹ:
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!”
Nàng nghĩ đơn giản, chỉ là gả cho Mã Giám Sinh làm thiếp, ai ngờ bị hắn lừa bán nàng vào lầu xanh, xa xôi cách trở, không thể trở lại thăm gia đình. Mặc dù đã có hai em, nhưng phận làm con, nàng vẫn luôn đau đáu nhớ về cha mẹ, không biết cha mẹ có khỏe không. Nàng thương cả cho cha mẹ luôn nhớ thương về mình mà bặt vô âm tín.
Trong gia đình, Kiều là một người con hiếu thảo. Trong tình yêu, Kiều cũng là một người con gái vô cùng chung thủy. Thúy Kiều và Kim Trọng đã cùng nhau trao kỉ vật làm tin, cùng nhau thề nguyền dưới trăng. Vậy mà tai họa ập đến, Kiều tự tay cắt đứt dây tơ hồng vừa bén, thế nhưng nàng vẫn tự nghĩ mình là người khiến cho Kim Trọng đau lòng. Trong lúc phải bán mình chuộc cha, lẽ ra, nàng là người bi thương hơn ai hết, thế nhưng nàng chỉ nghĩ cho Kim Trọng mà không nghĩ đến bản thân. Không chỉ có thế, Kiều còn giao duyên cho em gái mình là Thúy Vân để chăm sóc Kim Trọng thay cho nàng. Nàng quyết tâm trở thành người con hiếu thảo, nhưng trái tim nàng vẫn như vỡ ra từng mảnh.
Trong mười lăm năm lưu lạc, Kiều là một người trọng tình trọng nghĩa. Điều này thể hiện rõ ràng nhất qua đoạn trích Kiều báo ân, báo oán. Trong cuộc đời nàng, có rất nhiều người giúp đỡ, cũng có vô số kẻ hãm hại nàng, nàng đều trả lại hết. Đối với những người có ơn với nàng: “Ngàn vàng gợi chút lễ thường/ Mà tỏng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân”. Nàng báo ơn, nhưng vẫn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của nàng, mà không vật chất nào có thể thay thế. Đối với những kẻ đã từng hãm hại nàng, nàng cũng không hề nương tay, khiến cho chúng phải “ Máu rơi thịt nát tan tành/ Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời”. Ngoại trừ Hoạn Thư với khả năng biện hộ khéo léo được Kiều tha cho, còn lại, tất cả lũ gian ác đều phải chịu trừng phạt.
“Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần, phải phong trần,
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao”
Vậy ra, tất cả đều do ông trời cả!
Thúy Kiều xứng đáng là một nhân vật điển hình cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng bị các thế lực đen tối hãm hại, xô đẩy, phải sống một cuộc đời cay đắng, tủi nhục. Nhưng ngay cả trong đau khổ, ở nàng vẫn ánh lên một nhân cách thanh cao, phẩm cách cao quý khiến cho bao người xót thương, kính trọng. | Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều | 891 | |
Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
Bài làm
Nguyễn Du – nhà thơ lớn của nước ta cuối thế kỉ XVIII, bằng tâm huyết và tài năng trác tuyệt của mình đã xây dựng thành công một hình tượng nhân vật bất hủ là Thúy Kiều – người con gái tài sắc vẹn toàn Thúy Kiều là người con chí hiếu, là người tình chung thủy, là người trọn nhân nghĩa và giàu đức hi sinh. Mặc dù cuộc đời nàng chìm ngập trong nỗi bất hạnh, đau thương, nhưng nàng vần cố gắng vươn lên và phẩm hạnh của nàng luôn tỏa sáng.
Trước hết, Kiều là một người con hiếu thảo. Trước tai họa bất ngờ của gia đình, cha bị vu oan, bị tra tấn dã man; nhà cửa bị lũ sai nha đầu trâu mặt ngựa cướp phá tan hoang, trái tim Kiều đau đớn như bị xé ra từng mảnh: Rường cao rứt ngược dẩy oan, Dẫu là đá cũng nát gan lọ người. Bị bọn quan lại tham nhũng đẩy vào thế cùng: Có ba trăm lạng việc này mới xong; không còn cách nào khác, Kiều đã đi đến quyết định hành động ngoài dự tính của mọi người, ngoài dự tính của chính bản thân nàng: bán mình chuộc cha. Cơ sở của hành động cao đẹp ấy chính là lòng hiếu thảo. Kiều đã gạt chữ tình sang một bên để đáp đền chữ hiếu, mặc dù mối tình đầu đời trong trắng, thiêng liêng với Kim Trọng được coi là lẽ sống của đời nàng.
Suốt mười lăm năm lưu lạc nơi đất khách quê người: Khi Vô Tích, khi Lâm Tri, Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương; lênh đênh chìm nổi: Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần, nhưng không lúc nào Kiều nguôi nhớ đến gia đình và cha mẹ.
Lúc ở lầu Ngưng Bích, xa nhà chưa bao lâu mà nàng tưởng như đã trải qua biết mấy nắng mưa. Nàng hình dung cha mẹ tựa cửa hôm mai, mỏi mòn trông đợi, mà mình thì xa xôi cách biệt, hỏi ai là người chăm sóc sớm tối?
Đến lúc buộc phải chấp nhận làm kĩ nữ ở lầu xanh, Kiều lại cùng thương cha nhớ mẹ. Nỗi nhớ ấy đã thấm đẫm trong nỗi thương thân khiến lời than thở của Kiều nghe muôn rơi nước mắt: Dặm nghìn nước thẳm non xa, Nghĩ đâu thân phận con ra thế này! Nàng đau khổ cho mình và cũng đau khổ cho cha mẹ. Lúc bán mình, nàng cứ nghĩ rằng mình chỉ đem thân làm thiếp, làm vợ lẽ người ta chứ đâu đến nỗi ô nhục như vậy!
Nàng ân hận bởi bổn phận làm con không vẹn. Dù rằng ở nhà đã có hai em, nhưng chăm sóc cha mẹ là bồn phận của người con gái lớn trong nhà. Tấm lòng hiếu thảo của một người con như thế quý biết bao, thương biết bao!
Bởi với Kim Trọng, Thúy Kiều là một người tình chung thủy. Tình yêu đầu đời của nàng thật trong sáng, mãnh liệt. Nó khiến nàng dám vượt qua những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến để đến với người yêu: Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình; cùng chàng Kim tình tự, trao nhau kỉ vật làm tin và thề nguyền gắn bó trăm năm:
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai mặt một lời song song.
Bỗng dưng sóng gió cuộc đời nổi lên dập dồn trong khoảnh khắc: gia biến, cướp ngày, quan tham, bán mình… Đến đêm, Kiều mới nghĩ đến bản thân: tình mình, tình người, cảnh mình, cảnh người. Nàng thức thâu đêm và khóc. Nghĩ tới sáng mai mình sẽ thuộc về tay kẻ khác, Kiều cảm thấy như chính mình là thủ phạm gây ra nỗi bất hạnh ghê gớm cho chàng Kim. Nàng tự trách: Vì ta khăng khít cho người dở dang. Không chỉ dở dang mà còn tan cửa nát nhà. Nghe qua tưởng như vô lí. Sao lại vì ta? Vì cả người nữa, vì người trước chứ! Nhưng Kiều cứ nghĩ như thế bởi Kiều chỉ nghĩ đến người yêu, thương người yêu, đau trước cái đau của người yêu. Còn mình, Kiều quên hết, nếu có nghĩ đến thì cũng cam chịu: Phận dầu, dầu vậy cũng dầu…
Không chỉ thương, chỉ đau mà Kiều còn lo lắng nữa. Duyên mình đã lở, còn cái dở dang của người yêu thì sao? Đắn đo, suy tính trước sau, nàng thấy chỉ có một cách có thể cứu vãn phần nào là Thuý Vân sẽ thay mình đền đáp tình chàng:
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tinh máu mủ thay lời nước non.
Duyên có thể trao, nhưng tình lâm sao trao được? Nó như một món nợ. Mà nợ tình thì làm sao trả được? Sau khi cậy em, lạy em! hình dung ra cả lúc ngậm cười chín suối biết ơn em, đến lúc trao các kỉ vật thiêng liêng, cầu chúc hạnh phúc cho em thì Kiều không còn tỉnh táo nữa. Nàng trở lại hoàn toàn bản chất con người mình, cảm nhận đầy đủ nỗi đau của mình và thốt lên thống thiết:
Ôi Kim lang, hời Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Từ đó, bão tố cuộc đời vùi dập nàng đến thảm thương: Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần. Bị dìm xuống tận bùn đen nhơ nhớp nhưng nàng vẫn không nguôi nhớ đến mối tình đầu, nhớ tới chàng Kim. Nhớ đêm: Vầng trăng vằng vặc giữa trời, nhớ lời thề son sắt nguyện ước ba sinh. Nhớ tình đã cũ nhưng nghĩa còn vương:
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
Sau mười lăm năm, gặp lại chàng Kim, hỏi còn niềm vui nào lớn hơn đối với Kiều?! Tái hợp, duyên cũ về với tình xưa là chuyện hiển nhiên, ấy vậy nhưng cũng bởi trân trọng tình mình, tình người mà Kiều đã: Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kì, từ chối tất cả mọi lời khuyên của chàng Kim và của gia đình.
Trước sau, Kiều vẫn chấp nhận thiệt thòi, hi sinh hạnh phúc của mình cho người khác. Lòng thủy chung, đức vị tha cao cả ấy của Kiều thật đáng ngợi ca muôn đời.
Trong gia đình và xã hội, Kiều đều tỏ ra là người trọng nhân, trọng nghĩa. Trên bước đường đời phiêu bạt, kẻ áp bức đọa đày nàng rất nhiều mà người xót thương, giúp đỡ cùng không ít, Kiều đều khắc cốt, ghi tâm. Đến lúc báo ân báo oán, Kiều trả ân trước, báo thù sau. Thường tình, người ta ghi sâu oán hơn ân nên trả oán trước trả ân. Nhưng Kiều là con người trung hậu, vị tha, nghĩ đến người nhiều hơn nghĩ đến mình nên nàng trọng ân hơn oán.
Thúc Sinh, mụ quản gia, Kiều Nhi, Giác Duyên… đều dược nàng đền ơn rất hậu và đánh giá rất cao hành động tốt đẹp của họ trước đây đối với nàng:
Ngàn vàng gợi chút lễ thường,
Mà tòng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân!
Việc báo ân của Kiều và tấm lòng nhân nghĩa của nàng dễ mấy ai sánh kịp. Người xưa nói: ơn ai một chút chẳng quên, Oán ai một chút ghi bên dạ này. Kiều cũng vậy, báo ân xong xuôi, nàng mới trả thù và hành động trả thù của nàng cũng thật quyết liệt, ghê gớm. Trừ Hoạn Thư được Kiều tha vì lẽ này lẽ khác, còn cả lũ Mã, Sở, Tú Bà… đều phải chịu cảnh Máu rơi thịt nát tan tành, Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời, đúng như lời thề thốt trước đây của chính chúng. Đó là hợp với lẽ trời: Cho hay muôn sự tại trời, Kẻ gieo gió ắt phải gặt bão. Kẻ gây ra tội ác ắt phải đền tội giữa thanh thiện bạch nhật. Đó là quy luật và cũng là chân lí cuộc đời.
Có lẽ cả Nguyễn Du lẫn người đọc không ai muốn người con gái tài sắc, đức hạnh nhường ấy phải chết trong sóng nước Tiền Dương. Cái kết thúc có hậu theo quan điểm nhân dân của tác giả đã dưa nàng trở về cõi sống, cho nàng đoàn tụ với người thân sau bao năm xa cách. Điều đó có làm giảm nhẹ đôi phần bi thương trong số phận nhân vật nhưng thật ra từ đây, Kiều tuy sống mà bóng dáng chỉ còn thấp thoáng sau màn khói sương hư ảo.
Đọc Truyện Kiều, chúng ta thấy tâm huyết của tác giả như máu chảy trên đầu ngọn bứt. Tác giả dành bao yêu thương, trân trọng, xót xa cho nhân vật chính của mình – người con gái tài hoa mà bạc mệnh.
Truyện Kiều là tiếng kêu. đứt ruột về thân phận con người – nhất là người phụ nữ trong xã hội phong kiến mà nhân cách bị chà đạp, vùi dập thảm thương. Thúy Kiều là cô gái có nghĩa có tình. Mặc dù rơi vào cảnh ngộ éo le, đau khố triền miên nhưng trong bối cảnh cuộc đời tăm tối ấy, phẩm giá Thúy Kiều vẫn thanh cao, rạng ngời. Có thế ví Thúy Kiều như một bông sen nở giữa đầm lầy. Phẩm hạnh quý giá ấy khiến cho hình tượng Thúy Kiều trở nên bất diệt. Nhân vật Thúy Kiều đã để lại cho chúng ta những bài học đạo lí thấm thía và bổ ích. Dó là giá trị nhân văn lớn lao của tác phẩm. | Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du | 1,640 | |
Phân tích nhân vật Thạch sanh trong truyện cổ tíchThạch Sanh – Văn mẫu lớp 6 tuyển chọn
Hướng dẫn
Đề bài: Thạch Sanh là nhân vật chính trong truyện cổ tích cùng quên, chàng để lại nhiều ấn tượng khó quên với người đọc nhờ tài năng và phẩm chất đáng quý. Em hãy phân tích nhân vật Thạch sanh trong truyện cổ tích “ Thạch Sanh”.
I. Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
Giới thiệu nhân vật Thạch Sanh: Thạch Sanh là nhân vật để lại nhiều ấn tượng khó quên với người đọc bởi những đức tính tốt đẹp.
2. Thân bài
-Xuất thân đặc biệt, là sự kết hợp của những điều bình thường và yếu tố phi thường.
-Là người chất phác, hiền lành, chăm chỉ, sẵn sàng xả thân vì người khác, khôn toan tính, vụ lợi.
-Là con người tài năng, quả cảm.
-Có tấm lòng nhân hậu, khoan dung.
-Yêu chuộng hòa bình.
-Nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo: xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập; kết hợp yếu tố bình thường và phi thường; sử dụng các chi tiết thần kì.
3. Kết bài
Cảm nghĩ về nhân vật Thạch Sanh: Thạch Sanh là một con người toàn mĩ cả về tài năng lẫn nhân cách. Thông qua nhân vật Thạch Sanh tác giả muốn gửi gắm niềm tin, ước mơ về chân lí cái thiện luôn luôn thắng cái ác.
II. Bài tham khảo
Truyện cổ tích “ Thạch Sanh” xoay quanh những biến cố, những thử thách trong cuộc đời mà Thạch Sanh phải đối mặt và vượt qua để tìm đến hạnh phúc. Nhân vật Thạch Sanh đã để lại những ấn tượng khó quên với người đọc bởi những đức tính tốt đẹp. Hình tượng chàng dũng sĩ Thạch Sanh đã thể hiện một cách thật trọn vẹn những quan niệm của nhân dân ta về việc cái thiện sẽ luôn luôn chiến thắng cái ác, ở hiền thì gặp lành.
Trước tiên, sự ra đời của Thạch Sanh rất kì lạ. Người mẹ mang thai vài năm nhưng mới sinh ra Thạch Sanh. Sau đó không bao lâu thì mẹ qua đời. Chàng sống một mình trong túp lều cũ dưới gốc đa, công việc hàng ngày là đốn củi kiếm sống. Sự ra đời của Thạch Sanh là sự kết hợp của những điều hết sức giản dị, bình thường với yếu tố kì lạ. Điều bình thường đó là chàng được sinh ra trong một gia đình với cha mẹ là những người là những người nông dân giống như bao người khác, hiền lành, chăm chỉ và tốt bụng.
Thạch Sanh mồ côi cha mẹ từ nhỏ, chàng là đại diện cho tầng lớp thấp bé, nghèo khổ trong xã hội. Chàng sống lủi thủi một mình, hàng ngày đi đốn củi kiếm sống – một công việc hết sức bình dị. Tất cả đã tạo nên một hình ảnh gần gũi với đời sống nhân dân. Nhưng đằng sau vẻ bình dị ấy là một xuất thân hết sức đặc biệt: vốn là một Thái tử xuống đầu thai trở thành người phàm. Mẹ chàng mang thai nhiều năm mới sinh ra chàng. Điều này như dự báo trước những việc phi thường mà Thạch Sanh sẽ làm được trong tương lai, đồng thời khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn thu hút người đọc hơn.
Thạch Sanh là một con người thật thà, chất phác, cần cù lao động và tinh thần dũng cảm. Để có được hạnh phúc, chàng đã phải trải qua bao gian truân, thử thách. Là một người mô côi cha mẹ từ nhỏ, thiếu thốn tình thân nên khi Lí Thông ngỏ lời kết tình huynh đệ, chàng chẳng mảy may suy nghĩ mà đồng ý luôn. Trên thực tế Lí Thông không có ý tốt gì, chỉ muốn lợi dụng chàng để thực hiện ý đồ của hắn, hắn là kẻ mưu mô, xảo quyệt. Hắn nhờ chàng đi canh miếu thờ nhưng thực chất là đẩy chàng đến cái chết. Vốn hiền lành lại tin người nên Thạch Sanh đồng ý giúp Lí Thông. Trong đêm ấy, Thạch Sanh không những không bị giết mà chàng còn đánh bại chằn tinh. Lí Thông lại lừa chàng về túp lều cũ để lĩnh thưởng. Không chỉ vậy, khi Thạch Sanh cứu công chúa, Lí Thông lại hãm hại khiến chàng bị chôn vùi dưới hang sâu. Tại đây, chàng được con trai của vua Thủy Tề tặng một cây đàn thần. Chằn tinh và đại bàng bị Thạch Sanh tiêu diệt, hồn của chúng quay về báo thù khiến chàng bị giam trong ngục tối. Nhờ có tiếng đàn thần chàng đã tự giải cứu được cho chính mình, lật tấy bộ mặt gian xảo, độc ác của mẹ con nhà Lí Thông và giúp công chúa lấy lại được tiếng nói. Những thử thách đến với chàng ngày một nhiều hơn và khó khăn hơn nhưng cũng đồng nghĩa với chiến công của chàng ngày một vĩ đại hơn. Tất cả những việc làm, những hành động ấy của Thạch Sanh đều cho thấy chàng là một con người hiền lành, chất phác, sẵn sàng xả thân vì người khác, không mưu toan, vụ lợi.
Không chỉ vậy, Thạch Sanh còn cho thấy mình là một con người hết sức tài năng và quả cảm. Trước những kẻ thù hung dữ như chằn tinh hay đại bàng, chàng chẳng hề nao núng, bình tĩnh dùng trí óc của mình để đánh bại chúng, giải cứu cho những người bị hại. Chàng cũng là người có tấm lòng nhân hậu, khoan dung. Dù biết mẹ con Lí Thông đã hãm hại mình rất nhiều lần, nhưng chàng vẫn tha thứ nhưng cuối cùng chúng cũng bị trời trừng phạt. Thạch Sanh chính là hiện thân của vẻ đẹp toàn mĩ, luôn đấu tranh chống lại cái ác để đem đến một cuộc sống tốt đẹp cho mọi người. Kết thúc truyện, Thạch Sanh nên duyên với công chúa, mẹ con Lí Thông bị trừng phạt thể hiện ước mơ về công lí của nhân dân.
Nhân vật Thạch Sanh còn là biểu tượng của tấm lòng nhân hậu cao cả, lòng yêu chuộng hòa bình của mọi người dân đất Việt. Điều này thể hiện rõ nét khi Thạch Sanh thu phục các nước chư hầu. Với tiếng đàn kì diệu được tạo nên bằng tài năng và cả tấm lòng, chàng đã khiến cho quân giặc “ bủn rủn chân tay, không còn nghĩ gì tới việc đánh nhau nữa”. Sau đó, chàng lại dùng niêu cơm thần để thiết đãi những kẻ thua trận. Chi tiết này vừa cho thấy tấm lòng nhân hậu, vị tha của Thạch Sanh, vừa thể hiện ước mong về cuộc sống đầy đủ no ấm của nhân dân ta.Ở Thạch Sanh hội tụ những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam: hiền lành, thật thà, dũng cảm, kiên cường, tấm lòng nhân hậu và yêu chuộng hòa bình.
Nhân vật Thạch Sanh được xây dựng qua một cốt truyện hấp dẫn với hai tuyến nhân vật đối lập mà Thạch Sanh là đại diện cho cái thiện. Sự kết hợp giữa yếu tố bình thường và phi thường tạo cho nhân vật một sức hút lớn vừa giản dị nhưng cũng đầy bất ngờ. Cùng với đó là sự giúp sức của các chi tiết thần kì làm câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn. Kết thúc là cái kết có hậu, khi mà Thạch Sanh kết duyên với công chúa, qua đó thể hiện một chân lí muôn đời ở hiền gặp lành, thiện luôn luôn thắng ác.
Thạch Sanh là một con người toàn mĩ cả về nhân cách lẫn tài năng. Thông qua hình tượng nhân vật Thạch Sanh, các tác giả dân gian muốn gửi gắm niềm tin về đạo lí, công bằng trong xã hội, về chân lí bất di bất dịch ở hiền gặp lành, qua đó cũng thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta. | Phân tích nhân vật Thạch sanh trong truyện cổ tíchThạch Sanh – Văn mẫu lớp 6 tuyển chọn | 1,351 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Thị Nở trong Chí Phèo của Nam Cao
Bài làm
Nhân vật Thị Nở ngay từ đầu là một biểu hiện nguyên khối của con người tự nhiên, thuộc về tự nhiên, chứ không hề sắm vai con người xã hội. Thị xấu ma chê quỷ hờn ư? Trong biết bao nhiêu thành phẩm của tạo hóa có phải thứ nào cũng đẹp cả đâu! Đã là giới tự nhiên thì vừa có cái hoàn toàn đẹp, có cái hoàn toàn xấu, lại có cái vừa đẹp vừa xấu. Thị Nở xấu xí như thể một bộ phận của tự nhiên xấu xí, là chuyện có thực. Hơn nữa, thị ăn ngủ, yếm áo, nghĩ ngợi… lúc nào cũng cứ “vô tâm” như không vậy, thì đó chẳng phải là đặc tính hồn nhiên bậc nhất của tự nhiên đó sao! Cho nên trước sau, toàn bộ con người Thị Nở hiện diện với tư cách là cả một khối tự nhiên thô mộc. Mà đã là tự nhiên thì dù thế nào đi nữa, tự nó có vị trí, quyền năng riêng của nó. Nam Cao đã xây dựng chân dung Thị Nở dưới sự chỉ đạo của luồng ánh sáng tư tưởng này (cũng xin lưu ý điều đang nói ở đây hoàn toàn khác với thứ chủ nghĩa tự nhiên, cái mà Nam Cao đã từng bị mang tiếng).
Thì đây, sau lần “ăn nằm” với Chí, tức là sau cái hành động tạo hóa đầy màu nhiệm này, cả Thị Nở lẫn Chí đều được thay đổi. Thị Nở đã hoàn toàn chìm đắm trong cơn đam mê tột cùng của bản năng thiên tạo. Thị đã quên hết thảy mọi ràng buộc của đời sống thường nhật, quên bà cô, quên bặt cả những định kiến tầng tầng lớp lớp của cái xã hội làng Vũ Đại. Khi mà cả làng Vũ Đại quay lưng với Chí, thì chỉ duy nhất mình thị đến với Chí một cách hồn nhiên hết mực. Thế là cái thiên chức (sự chăm lo), thiên lương (tình thương, lòng tốt), những gì gọi là năng lực đàn bà trong thị bỗng động đậy, đòi được thể hiện. Nhưng khác với thị, trong khi hưởng thụ Chí lại là người không hẳn vô tư. Trong con người anh ta cũng bắt đầu xuất hiện ý thức sở hữu duy nhất, triệt để đối với thị, một ý thức về tình yêu của giống người: vừa dâng hiến vừa đòi hỏi. Chính vì thế mà Chí đã nghĩ xa xôi đến một tổ ấm, thứ hạnh phúc bình dị theo kiểu con người. Chí đã khóc khi ăn bát cháo hành, tức là đã khóc vì cái hạnh phúc lần đầu tiên được hưởng thụ theo cung cách của một tổ ấm. Vì không thể vô tư được nên khi phải chờ đợi Thị Nở, Chí Phèo đã sốt ruột, tức tối. Trong khi đó, cuối cùng thị đã đến để trút giận, rồi “ngoay ngoáy cái mông đít” ra về cũng theo một cách vô tâm nhất, không mảy may băn khoăn tiếc nuối, không tính toán xem lợi hại thế nào, bỏ lại Chí trong nỗi đau phụ bạc (theo cách nghĩ của Chí). Vậy là, cái khối tự nhiên vô tâm Thị Nở kia va đụng vào con người xã hội Chí Phèo vụ lợi này thành ra ắt phải đổ vỡ. Quan hệ Thị Nở – Chí Phèo đến đây đã trở thành hạt nổ quyết định bắn vào quả nổ lớn tiếp theo – tấn kịch ắt phải bùng nổ, đẫm máu, vỡ nát (như đã thấy ở phần cuối truyện). Đây là một quan hệ có tính cách khai sáng. Nhờ đó mà cái đầu mụ mị và đầy thù địch của Chí bỗng thay đổi hẳn. Chí Phèo bắt đầu thấy “thèm lương thiện, muốn làm hòa với mọi người biết bao”. Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Không còn nghi ngờ gì nữa, thị đã can dự sâu sắc vào cuộc đời Chí, đánh thức toàn bộ tâm hồn Chí, làm cho đời sống tâm hồn của hắn rung lên từng nếp xếp bấy nay nằm ngủ. Thị Nở đã mang quyền lực của thiên tạo – chiếc đũa thần yêu thương gõ vào cái hộp tối đen đầy bất trắc ấy, thổi vào đó những đốm lửa nhân văn ấm áp, và trên thực tế đã kéo được Chí ra khỏi cõi rồ dại ấy rồi. Đi theo tiếng gọi cảm động của tình yêu, Chí đã bước những bước chập chững, non nớt về với cõi người. Tội đồ bất đắc dĩ mang về nước chúa phục thiện. Ai ngờ, ngoắt một cái, Chí lại nốc rượu, lại xách dao đi… Thế là cả một công trình do thị tạo dựng bỗng chốc đổ vỡ tan tành. Tại thị cả, người chỉ biết cho, chứ không biết giữ mà, khổ thế!
Xét toàn bộ hành trạng của Chí có hai sự kiện mang tính bước ngoặt: lần một – đi ở tù, lần hai – tình yêu với Thị Nở. Sự kiện lần một không được miêu tả mà chỉ nhắc đến như một dữ kiện. Tác giả chỉ chú tâm khai thác triệt để sự kiện lần hai, và trên thực tế số trang dành cho nó chiếm hơn một phần ba truyện. Nói như thế để thấy rằng sự có mặt của Thị Nở trong cuộc đời Chí (tuy mới chỉ vẻn vẹn có năm ngày sau chót) thực sự có nghĩa lý và quan trọng đến ngần nào. Giả dụ vắng bóng Thị Nở, thì nhân vật Chí Phèo chả có gì đáng nói đáng bàn lắm.
Vậy thì, với tư cách là một khối tự nhiên thô mộc, khiếm khuyết về hình thể, Thị Nở đã bảo toàn trong mình những phẩm chất “nhân chi sơ, tính bản thiện” của giống người: thiên lương, thiên chức, thiên năng – lớp bản chất nằm ở bề sâu khuất chưa bị tha hóa. Cho nên Thị Nở đã thoát ra khỏi cái lốt bọc xấu xí ấy để trở thành một người đàn bà đáng trọng. Thế mới biết Nam Cao thương nhân vật của mình biết mấy!
Thử đặt lại vấn đề: tại sao Nam Cao cứ phải để cho Thị Nở xấu xí và ngẩn ngơ như thế? Có thể để cho thị xấu vừa thôi, hoặc không xấu tí nào cũng được chứ sao? Thậm chí thị có thể là một người hoàn toàn lành lặn cả diện mạo lẫn tâm hồn?
Thi pháp truyện truyền thống khi xây dựng nhân vật bao giờ cũng tuân theo nguyên tắc đồng nhất giữa các mặt của một tính cách: ngoại hình và phẩm hạnh, ngôn ngữ và tính nết, hành động và suy nghĩ… Cô Tấm đã đẹp là đẹp hết từ trong ra ngoài. Chị Dậu của Ngô Tất Tố cũng vậy. Quan phụ mẫu trong Bước đường cùng (của Nguyễn Công Hoan) khi diện mạo, cử chỉ, điệu bộ, lời nói đã xấu xa thì phẩm cách cũng không ra gì… Nhưng đến Nam Cao, ông tiến hành ngược hẳn, và phong phú hơn nhiều: có thể bề ngoài xấu nhưng tâm hồn đẹp (mụ Lợi trong Lang Rận), hoặc tâm địa xấu xa nhưng lại được che đậy bởi mã ngoài khá đẹp (Kha trong Truyện tình, vợ của Phúc trong Điếu văn…), hoặc chỉ nội một phương diện tâm hồn thôi cũng vừa có đẹp, vừa có xấu (Điền, Hộ, Thứ – các nhân vật trí thức)… Ông đã nhận thức con người với tất cả tính chất phức tạp không cùng của nó, và mô tả chúng theo nguyên tắc không đồng nhất. Thị Nở thuộc loại đầu tiên – loại nhân vật là một khối không thống nhất giữa các mặt của một tính cách. Nam Cao đã triệt để đi theo nguyên tắc này.
Thêm nữa, nếu để ý ta thấy Nam Cao đã không chỉ nhận thức thực tại qua và chỉ qua những nhân vật mang ý nghĩa điển hình xã hội với tư cách là đại diện tiêu biểu của một chủng loại người, mà còn cả ở những hiện tượng riêng lẻ, dị biệt (nhiều khi oái oăm, trái khoáy) của cuộc đời. Những thứ ấy không phải là nhiều, nhưng rõ ràng đã có, từng có. Chúng được thể hiện ở cấp độ chi tiết, hình ảnh, tình huống truyện… và cao hơn là cấp độ nhân vật. Kiểu thân phận Lão Hạc, Bá Kiến, Thứ, Điền… có nhiều trong thực tại, chứ còn Lang Rận, Mụ Lợi, Trương Rự, thì chỉ là cá biệt, không tiêu biểu. Thị Nở cũng là một mảnh vụn dị biệt và đơn nhất của dòng đời. Nam Cao là người không ngại, và nhiều khi tỏ ra đầy nhiệt hứng sục sạo vào những chỗ lồi lõm, nham nhở của cõi người.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, nhân vật Thị Nở phải nói là hiện tượng đột xuất. Truyện cổ Việt Nam không có một hình ảnh đàn bà nào như Thị Nở. Nhìn rộng ra, trong ca dao đôi khi bằng cách ngoa ngôn, dân gian cũng đã có lần chê bai những ngừoi đàn bà thuần xấu xí: “Con gái Sơn Tây yếm thủng tày dần”, hoặc vừa xấu xí vừa đoảng tính: “Lỗ mũi mười tám gánh lông…”. Ta còn có thể tìm thấy thêm những câu tục ngữ ca dao khác “kể xấu” về người đàn bà nữa. Vậy thì, một người lớn lên từ mái tre xóm rạ, sành ngôn ngữ bùn đất quê kiểng như Nam Cao không thể không biết đến những bài ca “ngoa ngoắt” kiểu ấy.
Đến đây, câu hỏi trên kia có phần sáng tỏ. Rõ ràng, Nam Cao có chủ định, có quan niệm hẳn hoi khi xây dựng nhân vật của mình. Ông đã nhất quán từ đầu đến cuối để cho nhân vật Thị Nở của mình thậm xấu như vậy.
Hiểu được đúng và trả lại ý nghĩa cùng kích thước có tầm khái quát cho hình tượng nhân vật Thị Nở, một lần nữa tác phẩm Chí Phèo sẽ sống dậy với nhiều tầng nghĩa thú vị… | Phân tích nhân vật Thị Nở trong Chí Phèo của Nam Cao | 1,722 | |
Phân tích nhân vật Thị Nở trong Chí Phèo
Hướng dẫn
Chính Thị Nở đã chiếu một tia sáng vào cuộc đời Chí Phèo trước khi hắn rơi vào bóng tối mãi mãi
Mở bài:
Năm 1941, tác phẩm Chí Phèo (lúc đầu có tên là Đôi lứa xứng đôi) ra đời, đánh dấu một móc son chói lọi trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao. Tác phẩn phản ánh chân thực bộ mặt tàn bạo, bất nhân của xã hội phong kiến đương thời và cuộc sống khốn cùng của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Họ khao khát vươn lên tìm lấy nguồn sống nhưng bị cuộc đời vùi dập cho đến mất cả nhân tính và tìm đến cái chết trong cơn tuyệt vọng.
Tác phẩm Chí Phèo thực sự đã gây nên một “cơn địa chấn” dữ dội trong nền văn học hiện thực Việt Nam thế kỉ 20. Bên cạnh Chí Phèo, một kẻ lưu manh khốn cùng, nhân vật Thị Nở cũng được nhà văn quan tâm biểu hiện khá sâu sắc. Có thể nói, nhân vật Thị Nở chính là niềm tin cuối cùng của con người vào cơ hội được thức tỉnh để rồi chìm đắm trong u mê mãi mãi.
Thân bài:
Nhân vật Thị Nở xuất hiện khá muộn trong tác phẩm. Thị Nở đến nhẹ nhàng như một cơn gió nhưng gây được những biến đổi to lớn đối với nhân vật Chí Phèo. Có thể nói, thị chính là tác nhân phục thiện trong nhân vật dữ dằn này. Thị xuất hiện tình cờ, để rồi mang linh hồn của Chí Phèo ra đi mãi mãi. Nhà văn cũng chẳng chuẩn bị cho Thị Nở xuất hiện. Ông cứ làm như tình cờ. Thị được phát hiện trong cơn say, được tìm thấy trong niềm u uẩn của con người.
Cuộc gặp gỡ của hai con người dưới đáy xã hội bất ngờ, khá đặc biệt. Lúc đầu chỉ là chuyện bản năng của một gã đàn ông say rượu. Nhưng về sau đã khơi lên ở Chí Phèo những cảm xúc rất người, từ đó khao khát hoàn lương. Cứ tưởng Chí sẽ mãi sống kiếp thú vật rồi chết bờ chết bụi ở cái xó nào đấy không ai biết tới. Nhưng không! Bằng tài năng và con tim của mình, Nam Cao đã để cho Chí trở về với kiếp người một cách tự nhiên.
Tình cờ một đêm trăng, Chí Phèo lần vô nhà Tư Lãng, tên hoạn lợn kiêm nghề thầy cúng, để uống rượu. Hai người uống hết cả ba chai rượu, Chí Phèo lảo đảo ra về. Hắn nhìn thấy Thị Nở đang ngủ say bên buội chuối, dưới ánh trăng sáng vằng vặc. Cái dáng nằm mất nết cùng da thịt lộ liễu của Thị Nở khiến Chí không thể cầm lòng được. Hắn nhảy vào ôm chầm lấy Thị như con thú vồ lấy con mồi. Mặc cho Thị kêu la. Thị la đã to, hắn la còn to hơn. Cả cái làng Vũ Đại đã quá quen với tiếng la hét và gào thét của hắn rồi, chẳng mấy ai quan tâm.
Đêm ấy, Chí Phèo đã ăn nằm với Thị Nở. Chí đến với thị hoàn toàn bằng bản năng. Nhưng Nam Cao đã không dừng lại ở đó khi đã kì công sắp đặt tình huống ấy. Ông tiếp tục đẩy câu chuyện đi vào gây cấn, đầy bất ngờ.
Thị Nở bị Chí Phèo cưỡng bức nhưng thị không giận. Có lẽ, đối với người phụ nữ xấu xí đến ma chê quỷ hờn, tính tình tưng tửng ấy thì đây phải chăng là một phần thưởng của tạo hóa? Chỉ có Chí Phèo, một kẻ điên cuồng, lại trong cơn say, trong bóng tối, mới phát hiện cái chất đàn bà của thị chăng?
Sau cái đêm đáng nhớ ấy, Chí Phèo đã bị cảm. Nam Cao đã thật tinh tế khi để cho Chí Phèo bị cảm. Là cái cơ thể hắn bị cảm hay cái tinh thần của hắn đã cảm được tính người? Rõ ràng, buổi sớm hôm ấy, hắn đã nghe được tiếng gió thổi, tiếng người chài gõ vào mạn thuyền. Âm thanh cuộc sống rộn ràng bên tai hắn. Âm thanh ấy vẫn từng ngày vọng đến nhưng trước đây hắn nào nghe thấy.
Sau bát cháo hành của Thị Nở, tình yêu cuộc sống của hắn đã sống dậy. Hắn yêu cuộc đời và yêu con người hơn. Mùi thơm phưng phức của bát cháo hành khiến hắn bâng khuâng nhớ lại một thời trai trẻ. Hắn muốn cùng thị làm thành một cặp rất xứng đôi.
Chí Phèo khao khát làm người lương thiện. Hắn muốn làm người lương thiện như trước đây hắn đã có. Hắn muốn làm hòa với mọi người. Có thể hắn muốn xin lỗi mọi người và bước vào cuộc sống của mọi người một cách hiền lành và chân thật. Chí Phèo mong đợi được thu nhận lại xã hội “bằng phẳng, thản thiện của những người lương thiện”. Và thị Nở sẽ mở đường cho hắn, là cầu nối để hắn trở lại với đời.
Thị Nở đã mở cửa cho Chí Phèo bước vào với cuộc đời. Đối với hắn, đây là điều hoàn toàn bất ngờ nhưng hắn rất hào hứng.
Sự thức tỉnh của Chí Phèo trước cuộc đời được Nam Cao miêu tả chi tiết. Sau bao năm không còn ý thức được bản thân, giờ đây Chí thấy lòng bâng khuâng, mơ hồ buồn. Chí tỉnh táo lắng nghe tiếng âm thanh bình thường của cuộc sống, tiếng chim hót, tiếng anh thuyền chài khua mái chèo đuổi cá, tiếng người nói chuyện … Những âm thanh này có sức vang động sâu xa trong lòng Chí. Tiếng đời đang dội vang thiết tha trong tâm hồn một con quỷ.
Lần đầu tiên, Chí nhìn lại cuộc đời mình. Những mơ ước từ xa xưa “hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ: chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải, chúng bỏ một con lợn nuôi làm vốn tiếng” vọng tiếng về làm cho thực tại càng đáng buồn hơn. Vì “hắn chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ”. Hắn cảm thấy buồn, lo sợ khi nghĩ đến tuổi già, sự cô độc, đói rét, ốm đau. Một trận ốm làm biến đổi cả sinh lý lẫn tâm lý. Lần đầu tiên Chí thoát khỏi cơn say, đối diện với chính mình và nhận ra tình trạng bi đát của bản thân.
Có thể thấy, Thị Nở đã đánh thức cả phần thể xác và linh hồn của Chí Phèo. Thị Nở đã khơi nguồn sự sống và làm bùng lên khát vọng sống của Chí Phèo. Thị Nở, bằng tình yêu đã phá bỏ cái nhà tù tăm tối đã giam hãm linh hồn Chí Phèo trong bao năm. Tình yêu của Thị Nở đã hàn gắn những vết thương lòng, làm vơi bớt thù hận và vực dậy niềm tin con người, niềm tin cuộc sống trong chí phèo.
Thị Nở đã làm được điều phi thường mà người khác không làm được. Đó là dám ở gần và chấp nhận Chí Phèo trong cuộc đời mình. Bát cháo hành của Thị Nở như một liều tiên được đánh thức bản tính con người trong trái tim một con quỹ dữ và mong muốn chấm dứt đoạn đời thú vật. Bát cháo hành không phải là bát cháo bình thường, mà trong đó hàm chứa cả tình yêu thương chân thành của thị dành cho hắn.
Thị làm điều ấy một cách tự nhiên, không hề miễn cưỡng. Có lẽ Thị là người không tính toán. Trong sâu thẳm tâm hồn người đàn bà ấy là niềm cảm thông sâu sắc đối với con người khốn cùng. Thị cũng khao khát có một gia đình, một mái ấm, một nơi nương tựa. Nhưng cái thế gian bạc bẽo ấy có ai thèm để ý đến thị. Chí Phèo đã ăn nằm với thị chứng tỏ Chí đã không chê. Thì thôi, nồi nào úp vung nấy, thói đời đã thế rồi, chấp nhận cũng là lẽ thường.
Tưởng chừng như Thị Nở đã hoàn toàn tin tưởng vào quyết định của mình. Tưởng rằng đôi lứa xứng đôi, hai tâm hồn sẽ cùng nhau đi về hạnh phúc. Nào ngờ, đến hôm thứ sáu, thị nghĩ bụng: hãy dừng yêu để hỏi cô thị đã. Một ý nghĩ ngu ngơ nhưng hoàn toàn có lí. Thì ra, dù đã bất chấp dư luận để “yêu” nhưng Thị Nở vẫn không vượt qua được đạo lí ở đời. Thị không muốn vượt mặt bà cô để liều lĩnh yêu Chí Phèo. Thị Nở cũng không ngờ bà cô lại cản trở, kịch liệt phản đối thị.
Bị bà cô mắng xối xả, bực quá, thị ton ton chạy sang lều trút tất cả giận dữ lên mặt nhân ngãi. Chí Phèo ngẩn mặt ra không hiểu gì. Rồi hắn chạy theo Thị Nở. Hắn muốn tường tận mọi điều để níu kéo tình yêu. Hắn muốn làm người lương thiện và đây là cơ hội duy nhất. Nhưng lại bị nhân tình giúi cho một cái ngã lăn khoèo xuống đất đau quá. Lòng hắn cũng đau quá. Tình yêu chưa kịp đơm hoa kết trái mà đã bị phủ nhận. Hắn toan đập đầu ăn vạ nhưng hắn chưa thật say nên không thể làm thế.
Trong bi kịch tinh thần của Chí Phèo sau đó, hình ảnh bát cháo hành liên tục lặp lại nhiều lần. Trong cơn đau đớn bị cự tuyệt, Chí nhớ đến mùi bát cháo hành thoảng thoảng, nồng nàn. Chí cũng nhớ đến Thị Nở, nhớ đến năm ngày hạnh phúc bên thị. Hắn cay đắng nhận ra thị thực sự muốn bỏ hắn. Hắn không còn cơ hội để sống tốt hơn. Chắc chắn Thị Nở sẽ rời xa hắn. Quá đau đớn, hắn lại đi uống. Chỉ có rượu mới giúp hắn quên hết sự đời. Nhưng rượu cũng đã làm con quỷ trong hắn sống dậy. hắn muốn chửi mắng. Hắn muốn đi đâm chém. Hắn muốn đi trả thù.
Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về với xã hội loài người. Cái chết chứng tỏ niềm khao khát sống lương thiện còn cao hơn cả tính mạng. Cái chết của Chì Phèo chính là bằng chứng đanh thép và chân thực tố cáo xã hội vô nhân đạo, đểu cán đẩy những người lương thiện như y vào con đường tội lỗi. Để rồi cuối cùng phải lấy cái chết như một sự giải thoát.
Có thể nói, Thị Nở là một phát hiện lớn nhất của Nam Cao. Từ phía dân làng, Thị Nở đến với Chí Phèo. Từ xã hội loài người với những ràng buộc khắt khe, thị dũng cảm đến với Chí. Nhưng vì định kiến ác ôn mà thị phải từ chối Chí để trở về với dân làng. Kẻ rút cây cầu trở lại làm người của Chí không phải là bà cô thị, chính thị, hay dân làng Vũ Đại. Chính những định kiến đầy tàn nhẫn của xã hội thực dân phong kiến đương thời đã gây nên điều tàn nhẫn ấy. Đó là một xã hội vô cảm, mất nhân tính. Đó là một xã hội tàn bạo đã không cho con người phục thiện, hoàn lương khi họ đã trót lầm lổi, tước đi ở họ quyền sống, quyền làm người.
Thị Nở là niềm tin cuối cùng về lòng tốt và sự đồng cảm của con người trước những cảnh đời bất hạnh. Xã hội dù khô héo tình người nhưng nhân tính trong Chí Phèo, trong Thị Nở vẫn chưa vơi cạn. Chí khóc khi được ăn cháo hành của thị Nở chính là minh chứng sinh động cho bản chất lương thiện trỗi dậy của y. Chí trở lại lương thiện bằng nước mắt.
Kết bài:
Tình thương của Thị Nở đã giúp bản tính thiện lương của Chí hiện hình. Chính Thị Nở cũng là phát hiện lớn nhất về Chí Phèo. Thị chính là sợi dây liên kết, là chiếc cầu nối giữa chí với cuộc đời. Thị là xứ giả dẫn Chí về với mọi người. Thị dở hơi, thị đần độn, thị là lỗi làm của tạo hóa nhưng thị có cái mà cả một xã hội lạnh lùng kia không có. Đó chính là tình thương. Đó chính là sự chấp nhận. Đó chính là sự cảm thông thánh thiện mà trong những kẻ bình thường kia không có được.
Tình thương của Thị Nở đánh thức lương tâm Chí Phèo. Tình yêu thương của người đàn bà ấy đã chiếu một tia sáng vào cuộc đời Chí Phèo, để Chí Phèo sống đúng nghĩa một kiếp người, dù chỉ có năm ngày ngắn ngủi như một giấc mơ, trước khi Chí mãi mãi rơi vào bóng tối vô tận. | Phân tích nhân vật Thị Nở trong Chí Phèo | 2,184 | |
Phân tích nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Bài làm:
Khi xây dựng nhân vật Thị Nở, nhà văn Nam Cao thẳng cánh hạ bút những dòng này: “Người ta không ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo, cái ngẩn ngơ của mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy”. Nghèo, xấu, ngẩn ngơ như ba mặt của một lô cốt hình tam giác chóp, nơi tác giả đã nhốt chặt nhân vật Thị Nở của mình vào trong đó. Nhưng có thật thị chỉ có ba điều ấy không? Nhà văn Nam Cao đã xử lý như thế nào trong quá trình triển khai “dự án thiết kế ban đầu” này?
Tôi cho rằng nhân vật Thị Nở ngay từ đầu là một biểu hiện nguyên khối của con người tự nhiên, thuộc về tự nhiên, chứ không hề sắm vai con người xã hội. Thị xấu ma chê quỷ hờn ư? Trong biết bao nhiêu thành phẩm của tạo hóa có phải thứ nào cũng đẹp cả đâu! Đã là giới tự nhiên thì vừa có cái hoàn toàn đẹp, có cái hoàn toàn xấu, lại có cái vừa đẹp vừa xấu. Thị Nở xấu xí như thể một bộ phận của tự nhiên xấu xí, là chuyện có thực. Hơn nữa, thị ăn ngủ, yếm áo, nghĩ ngợi… lúc nào cũng cứ “vô tâm” như không vậy, thì đó chẳng phải là đặc tính hồn nhiên bậc nhất của tự nhiên đó sao! Cho nên trước sau, toàn bộ con người Thị Nở hiện diện với tư cách là cả một khối tự nhiên thô mộc. Mà đã là tự nhiên thì dù thế nào đi nữa, tự nó có vị trí, quyền năng riêng của nó. Nam Cao đã xây dựng chân dung Thị Nở dưới sự chỉ đạo của luồng ánh sáng tư tưởng này (cũng xin lưu ý điều đang nói ở đây hoàn toàn khác với thứ chủ nghĩa tự nhiên, cái mà Nam Cao đã từng bị mang tiếng).
Thì đây, sau lần “ăn nằm” với Chí, tức là sau cái hành động tạo hóa đầy màu nhiệm này, cả Thị Nở lẫn Chí đều được thay đổi. Thị Nở đã hoàn toàn chìm đắm trong cơn đam mê tột cùng của bản năng thiên tạo. Thị đã quên hết thảy mọi ràng buộc của đời sống thường nhật, quên bà cô, quên bặt cả những định kiến tầng tầng lớp lớp của cái xã hội làng Vũ Đại. Khi mà cả làng Vũ Đại quay lưng với Chí, thì chỉ duy nhất mình thị đến với Chí một cách hồn nhiên hết mực. Thế là cái thiên chức (sự chăm lo), thiên lương (tình thương, lòng tốt), những gì gọi là năng lực đàn bà trong thị bỗng động đậy, đòi được thể hiện. Nhưng khác với thị, trong khi hưởng thụ Chí lại là người không hẳn vô tư. Trong con người anh ta cũng bắt đầu xuất hiện ý thức sở hữu duy nhất, triệt để đối với thị, một ý thức về tình yêu của giống người: vừa dâng hiến vừa đòi hỏi. Chính vì thế mà Chí đã nghĩ xa xôi đến một tổ ấm, thứ hạnh phúc bình dị theo kiểu con người. Chí đã khóc khi ăn bát cháo hành, tức là đã khóc vì cái hạnh phúc lần đầu tiên được hưởng thụ theo cung cách của một tổ ấm. Vì không thể vô tư được nên khi phải chờ đợi Thị Nở, Chí Phèo đã sốt ruột, tức tối. Trong khi đó, cuối cùng thị đã đến để trút giận, rồi “ngoay ngoáy cái mông đít” ra về cũng theo một cách vô tâm nhất, không mảy may băn khoăn tiếc nuối, không tính toán xem lợi hại thế nào, bỏ lại Chí trong nỗi đau phụ bạc (theo cách nghĩ của Chí). Vậy là, cái khối tự nhiên vô tâm Thị Nở kia va đụng vào con người xã hội Chí Phèo vụ lợi này thành ra ắt phải đổ vỡ. Quan hệ Thị Nở – Chí Phèo đến đây đã trở thành hạt nổ quyết định bắn vào quả nổ lớn tiếp theo – tấn kịch ắt phải bùng nổ, đẫm máu, vỡ nát (như đã thấy ở phần cuối truyện). Đây là một quan hệ có tính cách khai sáng. Nhờ đó mà cái đầu mụ mị và đầy thù địch của Chí bỗng thay đổi hẳn. Chí Phèo bắt đầu thấy “thèm lương thiện, muốn làm hòa với mọi người biết bao”. Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Không còn nghi ngờ gì nữa, thị đã can dự sâu sắc vào cuộc đời Chí, đánh thức toàn bộ tâm hồn Chí, làm cho đời sống tâm hồn của hắn rung lên từng nếp xếp bấy nay nằm ngủ. Thị Nở đã mang quyền lực của thiên tạo – chiếc đũa thần yêu thương gõ vào cái hộp tối đen đầy bất trắc ấy, thổi vào đó những đốm lửa nhân văn ấm áp, và trên thực tế đã kéo được Chí ra khỏi cõi rồ dại ấy rồi. Đi theo tiếng gọi cảm động của tình yêu, Chí đã bước những bước chập chững, non nớt về với cõi người. Tội đồ bất đắc dĩ mang về nước chúa phục thiện. Ai ngờ, ngoắt một cái, Chí lại nốc rượu, lại xách dao đi… Thế là cả một công trình do thị tạo dựng bỗng chốc đổ vỡ tan tành. Tại thị cả, người chỉ biết cho, chứ không biết giữ mà, khổ thế!
Xét toàn bộ hành trạng của Chí có hai sự kiện mang tính bước ngoặt: lần một – đi ở tù, lần hai – tình yêu với Thị Nở. Sự kiện lần một không được miêu tả mà chỉ nhắc đến như một dữ kiện. Tác giả chỉ chú tâm khai thác triệt để sự kiện lần hai, và trên thực tế số trang dành cho nó chiếm hơn một phần ba truyện. Nói như thế để thấy rằng sự có mặt của Thị Nở trong cuộc đời Chí (tuy mới chỉ vẻn vẹn có năm ngày sau chót) thực sự có nghĩa lý và quan trọng đến ngần nào. Giả dụ vắng bóng Thị Nở, thì nhân vật Chí Phèo chả có gì đáng nói đáng bàn lắm.
Vậy thì, với tư cách là một khối tự nhiên thô mộc, khiếm khuyết về hình thể, Thị Nở đã bảo toàn trong mình những phẩm chất “nhân chi sơ, tính bản thiện” của giống người: thiên lương, thiên chức, thiên năng – lớp bản chất nằm ở bề sâu khuất chưa bị tha hóa. Cho nên Thị Nở đã thoát ra khỏi cái lốt bọc xấu xí ấy để trở thành một người đàn bà đáng trọng. Thế mới biết Nam Cao thương nhân vật của mình biết mấy!
Thử đặt lại vấn đề: tại sao Nam Cao cứ phải để cho Thị Nở xấu xí và ngẩn ngơ như thế? Có thể để cho thị xấu vừa thôi, hoặc không xấu tí nào cũng được chứ sao? Thậm chí thị có thể là một người hoàn toàn lành lặn cả diện mạo lẫn tâm hồn?
Thêm nữa, nếu để ý ta thấy Nam Cao đã không chỉ nhận thức thực tại qua và chỉ qua những nhân vật mang ý nghĩa điển hình xã hội với tư cách là đại diện tiêu biểu của một chủng loại người, mà còn cả ở những hiện tượng riêng lẻ, dị biệt (nhiều khi oái oăm, trái khoáy) của cuộc đời. Những thứ ấy không phải là nhiều, nhưng rõ ràng đã có, từng có. Chúng được thể hiện ở cấp độ chi tiết, hình ảnh, tình huống truyện… và cao hơn là cấp độ nhân vật. Kiểu thân phận Lão Hạc, Bá Kiến, Thứ, Điền… có nhiều trong thực tại, chứ còn Lang Rận, Mụ Lợi, Trương Rự, thì chỉ là cá biệt, không tiêu biểu. Thị Nở cũng là một mảnh vụn dị biệt và đơn nhất của dòng đời. Nam Cao là người không ngại, và nhiều khi tỏ ra đầy nhiệt hứng sục sạo vào những chỗ lồi lõm, nham nhở của cõi người.
Đến đây, câu hỏi trên kia có phần sáng tỏ. Rõ ràng, Nam Cao có chủ định, có quan niệm hẳn hoi khi xây dựng nhân vật của mình. Ông đã nhất quán từ đầu đến cuối để cho nhân vật Thị Nở của mình thậm xấu như vậy.
Hiểu được đúng và trả lại ý nghĩa cùng kích thước có tầm khái quát cho hình tượng nhân vật Thị Nở, một lần nữa tác phẩm Chí Phèo sẽ sống dậy với nhiều tầng nghĩa thú vị… | Phân tích nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao | 1,483 | |
Phân tích nhân vật thị trong truyện ngắn Vợ nhặt
Bài viết văn của bạn Thu Minh đến từ Hải Dương gửi đến ban biên tập website.
Bài làm
Kim Lân là nhà văn có nhiều trang viết gắn liền với cuộc sống của người nông dân Bắc bộ Việt Nam. Ông có nhiều tác phẩm viết về con người và mảnh đất này như: Làng, vợ nhặt, con chó xấu xí. Truyện ngắn “vợ nhặt” là tác phẩm suất sắc của Kim Lân,tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về nạn đói khủng khiếp năm 1945, vừa là bài ca ca ngợi về vẻ đẹp tình người và khát vọng sống, niềm tin vào tương lai của người lao động nghèo. Nhân vật thị là một nhân vật điển hình trong số những nạn nhân của nạn đói đó.
Tác phẩm “vợ nhặt” có tiền thân là tiểu thuyết “xóm ngụ cư” được viết ngay sau Cách mạng Tháng tám nhưng còn dang dở và thất lạc bản thảo. Hòa bình lập lại (1954) Kim Lân dựa vào một phần của cốt truyện cũ viết nên truyện ngắn “vợ nhặt” và in trong tập “con chó xấu xí”(1962). Tác phẩm có nhiều nhân vật nhưng nhân vật người vợ nhặt mang lại nhiều thương cảm nhất cho người đọc, nhân vật này được xây dựng dựa trên sự đối lập giữa hình thức bên ngoài và phẩm chất bên trong, giữa trước và sau khi về làm vợ Tràng.
Phân tích nhân vật thị trong truyện ngắn Vợ nhặt
Đi suốt chặng đường dài của tác phẩm, đúng là người vợ nhặt là “người phụ nữ nghèo, cùng đường và liều lĩnh”. Thị là một trong số vô vàn những nạn nhân của nạn đói năm 1945. Dưới ngòi bút của Kim Lân, thị không có cái tên để gọi, không có nguồn gốc sinh thành, không quê hương bản xứ, mọi thứ về thị chỉ là một con số không tròn trĩnh. Không phải là nhà văn không thể đặt tên cho thị, mà bởi vì thị là cánh bèo nổi trôi trong nạn đói, là người đàn bà vô danh. Từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật này chỉ được gọi là “thị”, “người đàn bà”, “người vợ nhặt”, nhưng chính nhân vật này để lại cho người đọc những ấn tượng sâu sắc, đã làm nên tiếng vang cho truyện ngắn “vợ nhặt”.
Khi anh cu Tràng đùa: “này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”, thị không trả lời mà lặng lẽ theo Tràng về. Hành động theo chàng của thị xuất phát từ lòng khao khát sự sống, khi đã cận kề cái chết đàn bà này không hề buông xuôi sự sống mà trái lại, thị vượt lên trên hoàn cảnh để xây dựng mái ấm gia đình. Tinh thần lạc quan, yêu sự sống của thị chính là một phẩm chất rất đáng quý, giống như nhà văn Kim Lân đã từng nói “khi viết về con người năm đói, người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ về cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hy vọng tin tưởng vào tương lai”.
Trên đường về nhà Tràng, trước cái nhìn săm soi, trước những lời bông đùa chòng ghẹo của người dân ngụ cư. Nếu như chàng sung sướng, tự mãn, cái mặt vênh lên tự đắc thì người đàn bà lại cảm thấy xấu hổ, thiếu tự tin, lchân nọ díu vào chân kia, cái nón rách trên khuôn mặt”. Kim Lân rất tinh tế khi miêu tả nét tâm lý, tính cách này của thị. Ông như nhìn thấy cả nỗi tủi nhục của kiếp người, thấy cả trong bước chân liêu xiêu bước díu vào nhau kia là cả tủi hờn, xấu hổ.
Về đến nhà Tràng, nhìn thấy ngôi nhà “vắng teo, đứng dúm dó trên mảnh đất, mọc lổn nhổn những bụi cỏ dại”, thị nén một tiếng thở dài. Đây là tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng nhưng cũng là sự chấp nhận. Trong tiếng thở dài đó vừa có sự lo lắng cho tương lai, vừa có những lo toan và trách nhiệm của thị về gia đình của nhà chồng. Thị không tìm thấy ở Tràng một chút gì gọi là nương tựa về vật chất nhưng Tràng chính là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất cho thị vào lúc này. Đến lúc này người đọc chợt nhận ra bên trong cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” thị lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan và giao lòng tự trọng. Vào trong nhà thị e thẹn, dè dặt ngồi mớm vào mép giường, thị lễ phép chào hỏi bà cụ Tứ đến hai lần, thị thể hiện mình là một nàng dâu hiếu thảo, lễ phép với mẹ chồng.
Sáng hôm sau thị dậy rất sớm, cùng mẹ chồng dọn dẹp, sắp xếp lại nhà cửa. Ngôi nhà của bà cụ Tứ giờ đây như được hồi sinh: Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà “hiền hậu, đúng mực”, không còn vẻ “chao chát, chỏng lỏn” như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh nữa. Lúc nay, Tràng cảm thấy vợ mình đã thật sự thay đổi. Chính sức mạnh của tình yêu đã cảm hoá và làm thay đổi con người của thị.
Xây dựng tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, dựng đối thoại sinh động , Kim Lân đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật người vợ nhặt. Thông qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao đẹp, con người dù sống trong hoàn cảnh khốn cùng vẫn luôn hướng về phía trước và không bao giờ mất đi niềm tin vào sự sống. Thông qua nhân vật này, nhà văn còn gián tiếp tố cáo bộ mặt thối nát của bọn thực dân và phong kiến đã đẩy người dân vào cảnh khốn cùng, hủy hoại tương lai của biết bao nhiêu con người.
Qua truyện ngắn, ta thấy được tình cảnh thê thảm của người dân nước ta trong nạn đói năm 1945, đồng thời ta còn thấy được bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khao khát tổ ấm gia đình và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau | Phân tích nhân vật thị trong truyện ngắn Vợ nhặt | 1,124 | |
Phân tích nhân vật Tnu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành ngữ văn 12
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Tnu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành ngữ văn 12
Nguyễn Trung thành là nhà văn lớn trên mảnh đất Tây Nguyên với những cánh rừng đại ngàn. Một trong những tác phẩm nổi bật nhất của ông có lẽ phải kể đến đó là “rừng xà nu”, tác phẩm kể về câu chuyện người dân làng Xô Man kiên cường bất khuất ở trong chiến tranh xâm lược.
Rừng xà nu được viết vào năm 1965 khi mà đế quốc Mỹ bắt đầu ồ ạt tiến vào miền Nam nước ta. Câu chuyện là lời kể và cũng chính là dòng hồi tưởng của nhân vật có tên là Tnú. Truyện của một đời người được kể trong vòng một đêm đã trở thành lịch sử của cả dân tộc. Cuộc đời của Tnú chính là cuộc đời của dân làng nơi đó, từ đau thương mà vùng lên để đấu tranh và dần trưởng thành. Tác giả đã xây dựng thành công được nhân vật Tnú, tiêu biểu cho những anh hùng tây nguyên chiến đấu anh dũng bảo vệ buôn làng và đất nước yêu thương.
Tnu được xem là một nhân vật trung tâm xuyên suốt cả tác phẩm. Nguyễn Trung Thành đã rất khéo léo khi xây dựng nhssn vật này với những đặc điểm và tính cách riêng mang những dáng dấp của Tây Nguyên. Với màu sắc sử thi bi tráng và hài hùng, tác giả đã rất xuất sắc khi vẽ ra trước mặt chúng ta- những người đọc về một hình ảnh kiên cường và bất khuất hơn bao giờ hết. Truyện ngắn “rừng xà nu” mang một màu sắc sử thi từ cách tác giả xây dựng nhân vật. Câu chuyện về một đời người, một mảnh đất được kể gói gọn trong một đêm. Và đây cũng chính là thành công của Nguyễn Trung Thành.
Lúc còn nhỏ qua lời kể thì Tnu là một đứa trẻ mồi côi, lớn lên trong sự yêu thương và bao bọc của dân làng. Tnú là đứa con của dân làng Xô Man, của núi rừng tây nguyên. Ngay từ khi còn nhỏ thì Tnú đã được cán bộ Quyết dạy dỗ trở thành những cán bộ cách mạnh giỏi. Không phụ lòng mong mỏi của cán bộ cho nên Tnú đã hội tụ và bộc lộ những phẩm chất của một anh hùng nhỏ tuổi và cán bộ cách mạng trong tương lai.
Khi đi liên lạc thì Tnú không chọn những con đường mòn hay bằng phẳng mà chọn đi qua những con đường có nước chảy xiết và gai góc nhằm lọt qua hết những vòng vây của giặc. Còn nhỏ những Tnú gan góc một cách lạ thường và có một ý chí sắt đá không ai có thể sánh bằng. Có một lần không may Tnú đã bị giặc bắt và Tnú nuốt ngay thư vào bụng để giữ an toàn cho các cán bộ còn lại. Sau đó Tnú bị chém đầy rẫy những vết dao ở trên người vì dám lớn tiếng bảo bọn chúng “ cộng sản ở đây này
Tuy là gan góc và gan dạ là vậy nhưng Tnú lại học chữ rất chậm, học trước thì quên sau, học o thì quên a. Tnú tức quá có khi đập bể cả cái bảng rồi bỏ ra bờ suốt lấy đá đập đầu cho tới khi đầu bị chảy máu nhằm trừng phạt mình. Tnú một lòng quyết tâm học lấy cái chữ bởi vì cán bộ quyết đã nói: “ Phải học giỏi mới làm được án bộ giỏi”. Những tính chất kiên cường này của Tnú như là việc báo hiệu trước cho chúng ta sẽ có một cán bộ giỏi giang và kiên trung.
Ba năm sau khi Tnú vượt ngục trở về ngôi làng của mình thì anh đã trưởng thành như một cây xà nu to lớn cường tráng có bộ ngực rộng và hai cánh tay thì chắc như lim. Tnú mang một vẻ đẹp riêng của con người Tây Nguyên, và giờ đây anh đã có thể lãnh đạo dân làng Xô Man đi đánh giặc. Tnú lấy Mai, một cô bé cùng học chữ với anh thủa nào và hạnh phúc trọn vẹn khi đứa con được sinh ra giống anh như đúc, đó chính là đoạn đời hạnh phúc nhất nhưng cũng bi thương nhất của Tnú.
Lần này nghe tin Tnú trở về cùng dân làng đứng lên khởi nghĩa nhưng chúng chưa làm sao để có thể bắt được Tnú, chúng lập kế hoạch bắt mẹ con Mai tra tấn cho tới khi chết, đứng ở sau gốc cây chứng kiến cảnh vợ con mình bị tra tấn thì lòng căm thù trong anh sục sôi. Mặc dù cho cụ Mết ngăn cản nhưng Tnú vẫn xông lên cứu mẹ con Mai nhưng lại không cứu được, mẹ con Mai vẫn chết còn Tnú thì bị bắt và bị chúng tra tấn một cách dã man. Chúng tẩm xăng ở mười đầu ngón tay của Tnú rồi đốt cho cháy rực như mười ngọn đuốc. Tuy là vậy nhưng mà Tnú không hề kêu rên lấy nửa một lời.
Trong cái đêm bị bắt đó Trong đêm bị giặc bắt Tnú không chỉ mất mười đầu ngón tay, không chỉ bị hành hạ nỗi đau thể xác mà anh còn vĩnh viễn mất mẹ con Mai. Nỗi đau tinh thần không bao giờ liền sẹo được. sức chịu đựng vì đau đớn, lòng căm thù sục sôi vì mất vợ con tất cả được dồn nén trong một tiếng lớn. Tiếng thét của Tnú vang dội trong đêm ấy vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn giục dã cộng đồng Xô man đứng lên quật khởi. Đêm đau thương của Tnú cũng là đêm “ rừng Xô man ao ào rung động”. có thể nói ngọn lửa căm thù từ đôi tay Tnú đã châm ngòi cho cuộc nổi dậy của dân làng Xô man. Cuộc đời Tnú cũng là những trang sử của dân làng Xô man từ đau thương mất mát họ đã vùng lên chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Khi họ nhận ra chân lý thì cũng là lúc họ nhận tức được trách nhiệm cảu mình đối với sự tồn vong của quê hương đất nước.
Đôi bàn tay của Tnú đã góp phần làm nổi bật nên tính cách và số phận của anh. Đôi bàn tay ấy cũng đã có một cuộc đời, khi nó còn lành lặn thì tập cầm phấn để học chữ, biết lấy đá đập vào đầu mỗi khi học không vào, đôi bàn tay ấy từng chỉ vào bụng mà nói với giặc là “ cộng sản đây này”, rồi đôi bàn tay ấy còn hẹn hò cầm tay Mai và cứu mẹ con Mai khi bị bọn chúng bắt đi và cũng chính trong cái đêm ấy đôi bàn tay bị giặc đốt cháy thành ngọn lửa ở trên mười đầu ngón tay.
Thời gian rồi cũng làm mờ đi những vết sẹo ở trên tay anh nhưng còn nỗi đau mất mát vợ con thì vẫn còn in hằn đó. Ngày trở về, đôi bàn tay đó cùng dân làng đứng lên để giết giặc, và trong cuộc chiến đấu thì cũng bàn tay cụt cả mười ngón kia đã bóp chể tên chỉ huy đồn giặc.
Có thể nói cuộc đời Tnú cũng là những trang sử của dân làng xô man, từ đau thương họ đã đứng lên đấu tranh và chiến thắng được cả kẻ thù, và khi họ nhận ra được chân lí đó thì cũng là lúc họ nhận được trách nhiệm của mình đối với sự tồn vong của đất nước.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật Tnu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành ngữ văn 12 | 1,330 | |
Phân tích nhân vật Tnú qua truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Tnú qua truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Đọc truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, sáng tác năm 1965 rút từ tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc – Điều để lại ấn tượng khó quên trong tâm hồn độc giả không chỉ là hình tượng cây xà nu giàu sức sống, ham ánh sáng, thân cây thẳng tắp vươn lên bầu trời đón lấy nắng vàng tỏa chất nhựa thơm mỡ màng… mà còn là hình ảnh những con người Tây Nguyên bất khuất, kiên trung, thủy chung, trong sáng, giàu tình nghĩa, trọn đời gắn bó với cách mạng và quyết không đội trời chung với kẻ thù Mỹ – Ngụy như cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, anh Xút, bà Nhan… Nổi bật nhất trong số đó là Tnú, một hình tượng vừa kết tinh được phẩm chất tốt đẹp của người Tây Nguyên, Vừa được tác giả viết với bút pháp mang đậm mầu sắc sử thi.
Vào một đêm ngoài rừng mưa rì rào như gió nhẹ, dưới ánh lửa xà nu bập bùng, tất cả dân làng Xô Man già trẻ gái trai đã nghe cụ Mết, một già làng có thân hình vạm vỡ quắc thước, mắt sáng xếch ngược, râu dài ngang ngực kể về cuộc đời đầy bi hùng của Tnú.
Tnú hiện lên dưới ngòi bút của nhà văn là người có lòng yêu nước thương dân, trung thành với cách mạng, gan góc, táo bạo… Tnú là người con của dân làng Xô Man, cha mẹ mất sớm và được dân làng cưu mang, nuôi dưỡng. Cũng như người dân làng “có cái bụng thương núi, thương nước”, Tnú đã sớm có lòng yêu thương nhân dân, làng xóm. Từ tấm lòng này, Tnú đã mở rộng thành tình yêu gắn bó trung thành thủy chung sâu nặng với cách mạng, cán bộ cách mạng. Bởi ngay từ khi còn là một cậu bé, Tnú được cụ Mết, người gìn giữ và truyền ngọn lửa cách mạng từ thế hệ này sang thế hệ khác cho hay: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn nước non này còn”. Vì vậy ngay từ chặng đầu của cuộc đời, Tnú đã xuất hiện với tư cách của người anh hùng Tây Nguyên thời chống Mỹ. Dù còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra gan góc táo bạo, đầy quả cảm như Kim Đồng, Lê Văn Tám, Vừ A Dính… Bất chấp sự vây lùng khủng bố dã man của kẻ thù: chặt đầu những người đi nuôi cán bộ rồi đầu anh Xút, bà Nhan đang bị chúng treo lủng lẳng đầu bản xóm, Tnú đã cùng với Mai vẫn xung phong gương mẫu vào rừng bảo vệ nuôi dưỡng anh Quyết, một cán bộ trung kiên của Đảng. Đây là một công việc vô cùng khó khăn và đầy hiểm nguy. Vốn là con người nhanh trí, táo bạo thích mạo hiểm, Tnú không vượt qua suối những nơi nước cạn dễ đi mà thường băng qua những con thác hiểm như cưỡi lên lưng con cá kình. Có lần vừa vượt qua thác, chuẩn bị bước lên bờ thì hai họng súng đen ngòm đã chĩa vào tai lạnh ngắt của Tnú. Địch tra tấn hỏi “Cộng sản ở đâu?” Tnú đã không ngần ngại đặt tay lên bụng: “ở đây này!”. Và lưng Tnú lại hằn lên những vết dao chém ngang dọc của kẻ thù. Đúng Tnú là con người rất giàu phẩm chất thủy chung, trung thành với cách mạng mà bất khuất hiên ngang trước kẻ thù “Uy vũ không thể khuất phục”.
Tnú còn có một tình yêu đẹp: trong sáng, thủy chung… Tnú lớn lên đã trở thành một chàng trai kết tinh được những phẩm chất cao đẹp của người dân Xô Man. Anh là thần tượng, là niềm ngưỡng mộ của nhiều cô gái làng. Trong số đó có Mai, người bạn từ thuở thiếu thời, một cô gái dịu dàng xinh đẹp, có đôi mắt đen long lanh chất chứa biết bao tình yêu thương mà đầy kiên nghị, cứng rắn. Mối tình của họ rất thơ mộng và trưởng thành qua năm tháng đầy thử thách khốc liệt của chiến tranh. Rồi họ trở thành vợ chồng. Đứa con trai kháu khỉnh vừa đầy tháng là hoa trái đầu mùa của mối tình thơ mộng và thủy chung ấy. Hạnh phúc gia đình lứa đôi của Tnú đang đẹp như trăng rằm lung linh tỏa sáng cả núi rừng Tây Nguyên.
Càng yêu nước thương dân bao nhiêu thì Tnú càng căm thù giặc bấy nhiêu. Kẻ thù tàn bạo dã man đã phá vỡ tổ ấm hạnh phúc của Tnú một cách không hề tiếc thương. Chúng đã giết vợ con anh bằng cây gậy sắt, hòng uy hiếp tinh thần cách mạng của Tnú, người cầm đầu, linh hồn của cuộc nổi dậy và nhân dân làng Xô Man. Đoạn văn diễn tả sự bất lực của Tnú trước cái chết của vợ con thật bi thương tràn đầy xúc cảm và ấn tượng “Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy…. bụng anh có lửa đốt Chỗ hai con mắt “Anh bây giờ là hai cục lửa lộn”. Căm thù đau nhói trong tim và bừng cháy trong hai con mắt – một chi tiết thật dữ dội – đã đột nhiên biến thành tiếng thét của Tnú. Tiếng thét ấy trở thành ngòi nổ làm bùng cháy cả khối thuốc nổ căm hờn của dân Xô Man. Trong phút chốc họ đã: “Chém! chém hết!”, xác 10 tên giặc nằm ngổn ngang quanh đống lửa.
Cuộc đời bi tráng của Tnú đã làm sáng tỏ một chân lý giản dị mà sâu xa của cuộc sống được cụ Mết truyền dạy cho con cháu: “Tnú không cứu được vợ, được con… nhớ không… Tao cũng chỉ có hai bàn tay không… nhớ lấy, ghi lấy… sau này, tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Đó là chân lý của cách mạng được nảy sinh từ mảnh đất Tây Nguyên thấm máu và nước mắt. Đó là một chân lý thật nghiệt ngã nhưng tất yếu: Phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân.
Vượt qua bi kịch cá nhân Tnú đã cầm vũ khí tham gia giải phóng quân. Tnú cũng như cả dân làng Xô Man vùng dậy cầm lấy giáo mác… làm vũ khí chống lại súng đạn tối tân tàn bạo của Mỹ – Ngụy. Và chặng đường cầm vũ khí của Tnú được nối tiếp bằng việc “đi lực lượng”. Tnú đã vượt qua mọi đau thương và bi kịch cá nhân, tham gia lực lượng giải phóng quân để quét sạch tất cả những thằng Dục, kẻ thù không đội trời chung vói vợ con anh — còn tồn tại trên đất nước Việt Nam này. Khi đã trở thành chiến sĩ giải phóng quân, Tnú là một cán bộ có tinh thần kỷ luật cao: tuy nhớ quê hương gia đình, nhưng phải được cấp trên cho phép mới về và cũng chỉ về đúng một đêm như quy định trong giấy phép.
Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú vừa có ý nghĩa cụ thể, cá thể, vì có ý nghĩa điển hình tiêu biểu của người anh hùng đại diện cho số phận và con đường đi của các dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu tranh giải phóng. Nhân vật Tnú còn có cái gì đó phảng phất như những anh hùng trong các trường ca Đăm Săn…
Nguồn: Tài liệu văn học | Phân tích nhân vật Tnú qua truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành | 1,337 | |
Phân tích nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành
Bài làm
Nhà văn Nguyễn Trung Thành như một người con của mảnh đất Tây Nguyên với những cánh rừng đại ngàn. Một trong những tác phẩm nổi bật nhất phải kể đến là truyện ngắn “Rùng xà nu”, tác phẩm là câu chuyện về dân làng Xô Man trong kháng chiến chống Mĩ. Nhân vật Tnú hiện lên, đại diện cho lớp người Xô Man kiên cường, bất khuất trước chiến tranh xâm lược.
Tnú từ nhỏ đã mồ côi, thiếu thốn tình cảm của cha mẹ. Nhưng bù lại, Tnú được dân làng bao bọc, chăm sóc. Bởi vậy mà Tnú sớm có lòng yêu thương nhân dân, làng xóm: “có cái bụng thương núi, thương nước”. Từ khi còn là một cậu bé, Tnú được cụ Mết truyền dạy: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn nước non này còn”. Bởi thế, cậu bé con ngày nào luon ý thức được lí tưởng sống của buôn làng, luôn tin tưởng đi theo con đường Cách mạng. Vì vậy dù còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra là một người chiến sĩ nhí gan góc táo bạo, đầy quả cảm. Bất chấp sự vây lùng khủng bố dã man của kẻ thù,, Tnú đã cùng với Mai xung phong vào rừng bảo vệ anh Quyết – một cán bộ trung kiên của Đảng. Tnú có cái đầu sáng lạ lùng trong việc tìm đường rừng để đưa thư cho anh Quyết. Có lần vượt qua thác, chuẩn bị lên bờ thì họng súng đen ngòm đã chĩa vào gáy lạnh ngắt. Tnú kịp nuốt lá thư của anh Quyết vào bụng bảo đảm bí mật. Tnú bị giặc giam cầm ở ngục tù với biết bao đòn roi, thương tích. Địch tra tấn hỏi “Cộng sản ở đâu?” Tnú đã không ngần ngại đặt tay lên bụng và nói: “Cộng Sản ở đây này!”.Và lưng Tnú lại hằn lên những vết dao chém ngang dọc của kẻ thù. Công việc khó khăn và đầy nguy hiểm là vậy nhưng Tnú đã làm rất tốt để dân làng Xô man mãi tự hào ” Năm năm chưa hề có cán bộ bị giặc bắt hoặc bị giết ở trong rừng”. Trong việc học, Tnú còn là một người nghiêm khắc với bản thân, có ý chí, nỗ lực, quyết tâm không ngừng nghỉ. Khi học chữ thua Mai, Tnú đã tự trừng phạt cái tội hay quên của mình: “cầm hòn đá tự đập vào đầu mình máu chảy ròng ròng”. Tnú thực sự đã mang trong mình những tố chất cần có để mai này trở thành một người chiến sĩ Cộng Sản trung kiên, anh dũng.
Ba năm sau, Tnú vượt ngục trở về trực tiếp lãnh đạo dân làng Xô man đánh giặc. Mai – người bạn từ thuở thiếu thời – nay đã là vợ của Tnú và đứa con là kết quả của mối tình đẹp ấy. Song kẻ thù tàn bạo đã dập tan ami ấm bé nhỏ của Tnú. Chúng đã giết vợ con Tnú. Tnú trước cái chết của vợ con hoàn toàn trở nên bất lực: “Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy… bụng anh có lửa đốt. Chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”. Căm thù, Tnú nhảy vào giữa đám lính, hai cánh tay như cánh gỗ lim của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Nhưng không còn kịp nữa! Tnú bị bắt. Trước cái chết cận kề, Tnú không hề run sợ mà anh cảm thấy mình thật bình thản vì giờ gia đình anh đã không còn. Duy còn một điều làm Tnú day dứt và băn khoăn nhất chính là làng Xô man của mình. Ai sẽ cùng dân làng đánh đuổi quân giặc? Ai sẽ cùng dân làng đi theo lí tưởng của cụ Hô? Tnú hoàn toàn không nghĩ đến mình nữa. Giặc dùng giẻ tẩm nhựa xà nu để đốt mười đầu ngón tay của Tnú. Đó là bàn tay của trung thực, tình nghĩa, từng cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho; từng đặt lên bụng mình mà nói: “Cộng sản ở đây này”. Bàn tay ấy cũng đã từng được Mai nắm chặt mà khóc bằng những giọt nước mắt nóng bỏng yêu thương đồng cảm, lúc Tnú vượt ngục trở về… Giặc đã đốt mười đầu ngón tay Tnú để thiêu rụi ý chí đấu tranh của dân làng Xô man. Nhưng ngọn lửa đấu tranh của dân làng Xô man lại bùng cháy. Tnú không kêu van khi bị lửa thiêu ngón tay, mà Tnú đã thét lên một tiếng “Giết”. Người Xô Man nhất nhất đồng loạt vùng dậy giết giặc. Đó là sự nổi dậy đồng khởi làm rung chuyển núi rừng, bàn tay trở thành chứng tích của tội ác và lòng hận thù mà Tnú mang theo suốt cả cuộc đời. Lòng hận thù ấy đã biến bàn tay Tnú thành ngọn đuốc châm bùng lên ngọc lửa nổi dậy của dân làng Xôman. Bàn tay chỉ còn hai đốt mỗi ngón vẫn cầm giáo, cầm súng để Tnú lên đường rửa hận. Và cuối cùng với chính bàn tay ấy, Tnú đã xiết vào cổ họng tất cả những thằng Dục tàn ác hơn cả dã thú. Từ đây, Tnú đã vượt qua mọi đau thương và bi kịch cá nhân, tham gia lực lượng giải phóng quân để quét sạch tất cả những thằng Dục, kẻ thù không đội trời chung với vợ con anh – còn tồn tại trên mảnh đất quê hương. Khi đã trở thành chiến sĩ giải phóng quân, Tnú là một cán bộ có tinh thần kỷ luật cao: tuy nhớ quê hương gia đình, nhưng phải cấp trên cho phép mới về đúng một đêm như quy định trong giấy phép. | Phân tích nhân vật Tnú trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành | 1,010 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Tnú, một dũng sĩ phi thường của làng Xô Man thời kháng chiến chống Mĩ
Bài làm
Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một kiệt tác văn chương thời chống Mĩ in đậm khuynh hướng sử thi hào hùng. Trong thế trận chiến tranh nhân dân thần kì của làng Xô Man, nhân vật Tnú mang tầm vóc một dũng sĩ phi thường đã để lại trong lòng ta nhiều rung cảm và ngường mộ.
Phân tích nhân vật Tnú
Có thể nói, nhân vật trung tâm cua truyện Rừng xà nu là Tnú. Trong nhà ưng, xung quanh bếp lửa hồng, một đêm mưa có mặt đông đủ lũ làng, cụ Mết đặt bàn tay chắc nịch lên vai Tnú giới thiệu: “… nó đi giải phóng quân đánh giặc, nay nó về thăm làng một đêm… Nó là người Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ nhưng “bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Tnú vốn là một chú bé giàu cá tính. Ở trong rừng học chữ với anh Quyết, nó học không bằng Mai…, nó nổi nóng “đập bể cái bảng nứa…", bỏ ra ngồi ngoài suối suốt ngày, rồi nó cầm một hòn đá “tự đập vào đầu. cháy máu ròng ròng ". Chữ thì Tnú hay quên, nhưng đi rừng, đi đường núi thì “đầu nó sáng lạ lùng". Giặc vây ráp, phục kích, Tnú trèo lên cây cao nhìn khắp mọi phía, “xẻ rừng mà đi, lọt tất cả các vòng vây”. Vượt sông vượt suối, Tnú lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, nó “cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình”, và Tnú biết, “qua chỗ nước êm thẳng Mĩ – Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ!”. Khi chẳng may sa vào tay giặc, họng súng của thằng giặc phục kích “chĩa vào tai lạnh ngắt”, Tnú đã nhanh trí “nuốt luôn cái thư” của anh Quyết gửi về huyện trong một ngọn lá dong. Lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của bọn giặc, nhưng Tnú vẫn bất khuất hiên ngang. Ba năm bị tù trong ngục Kon Tum. Tnú đã vượt ngục trở về. Tnú đã đọc thư tuyệt mệnh của anh Quyết gửi dân làng Xô Man trước lúc anh tử thương. Anh Quyết đã dặn? “Tnú phải học chữ giỏi, thay tui làm cán bộ”. Lần thứ hai, Tnú lại lên núi Ngọc Linh, không phải đi lấy đá trắng về làm phân như ba năm trước, mà là đi lấy một gùi đá mài. Làng Xô Man đã chuẩn bị khởi nghĩa: phát rẫy trồng pom-chu xanh cả núi rừng, đêm đêm cả làng thức, mài giáo mác. Tnú đã trở thành chỉ huy đội du kích, làm cho thằng Dục ác ôn lồng lên, gầm lên. “Con cọp đó không giết sớm, nó làm loạn rừng núi này rồi!”. Vợ con anh đã bị giặc bắt, tra tấn dã man cho đến chết. Tnú cùng đội du kích rút vào trong rừng, anh đã nghiến răng ‘bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay”. Đôi mắt của anh trở thành “hai cục máu lớn”. Thương xót và căm thù tột độ, Tnú không kìm nổi lòng mình nữa, với hai bàn tay không, anh đã nhảy xổ vào lũ giặc mong cứu được vợ con. Tnú là một con người gang thép. Lũ giặc đã trói anh bằng dây rừng, dùng giẻ tẩm nhựa xà nu đốt cháy mười đầu ngón tay Tnú. Ngọn lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu mặn chát ở đầu lưỡi “cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi? Cháy, không, Tnú sẽ không kêu? Không?”. Ngọn lửa xà nu và độ nóng của nó đã soi sáng lòng trung thành vô hạn, đã tôi luyện khí phách lẫm liệt cùa Tnú lên tầm vóc phi thường vĩ đại? Khi Tnú thét lên một tiếng dữ dội cũng là lúc tiếng chân “rầm rập” quanh nhà ưng, nhiều tiếng thét dữ dội hơn… Nhà ưng ào ào chuyển động. Tiếng hô của cụ Mết vang lên “Chém! Chém hết!". Và lửa đã cháy khắp rừng…
Mẹ con Mai đã bị giặc giết. Lưng Tnú đầy vết dao của giặc chém. Mười ngón tay của anh, ngón nào cũng bị thằng Dục đốt,cháy mất một đốt. Bà Nhan, anh Xút, anh Quyết.. nhừng người thân yêu của anh đã bị giặc giết, vết thương lành, Tnú đi tìm cách mạng, đi Giải phóng quân để tìm diệt những thằng Dục ác ôn, đứa thì ờ trong đốn, đứa thì ngoan cố chui xuống hầm ngầm.
Tnú còn có một tâm hồn đẹp, chất phác, trong sáng. Tâm hồn anh vẫn ôm ấp hình bóng quê hương. Sau ba năm đi Giải phóng quân đánh giặc về thăm làng một đêm, cái gốc cây bên đường gợi lên trong lòng anh một kỉ niệm về Mai, “kỉ niệm đó cắt vào lòng anh một nhát dao nửa”. Tnú yêu làng, yêu những hố chông, những giàn thò sắc lạnh cùa làng anh, yêu con nước mát lạnh… Anh nhớ nhất làng, nhớ day dứt lòng anh suốt, ba năm chính là “tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xa xưa, của Mai cùa Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe thấy tiếng chày ấy rồi.. ”.
Tnú mang tầm vóc như một dũng sĩ trong sử thi. Lòng trung thành, khí phách anh hung, tinh thần lẫm liệt bất khuất của Tnu làm chúng ta ngưỡng mộ; tâm hồn chất phác, trong sang, thủy chung của anh đã làm cho chúng ta xúc động, yêu thương, Nguyễn Trung Thành xây dựng nhân vật Tnu bằng tất cả sự chắt lọc tâm hồn, tưởng như ông không viết, ông không tả… mà hình như, ông là một nghệ sĩ đúc tượng Tnu, một anh hung thời đại bằng một chất liệu siêu kim loại!…
Rừng xà nu là một truyện ngắn thấm đấm màu sắc sử thi, huyền thoại. Hình thức kể chuyện qua nhân vật cụ Mết già làng gợi lên không khí thiêng liêng cổ truyền. Mái nhà ưng là nơi tụ hội của dân làng Xô Man, cũng là nơi để họ trừng trị lũ ác ôn khát máu, lũ tay sai Mĩ – Diệm. Rừng động, lửa cháy, tiếng cồng âm vang, đại bác giặc, cây xà nu đổ ào ào như một trận bão, tiếng mài giáo mác… Tất cả thật hào hung, bi tráng. Rừng xà nu đã nêu cao một nhân lí cách mạng: “Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa, nhớ lấy. Sau này tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm sung, mình phải cầm giáo!”. Qua chủ đề ấy, cây xà nu, Tnu là những người dân làng Xô Man hiện lên mang tầm vóc dung sĩ, tiêu biểu cho chủ nghĩn anh hung trong thời đại Hồ Chí Minh. | Phân tích nhân vật Tnú, một dũng sĩ phi thường của làng Xô Man thời kháng chiến chống Mĩ | 1,188 | |
Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt
Hướng dẫn
Đề bài:Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt – Văn mẫu lớp 12
Bài làm
Kim Lân là nhà văn lão làng trong nền văn học hiện thực Việt Nam. Ngòi bút của ông hướng đến những mảnh đời bất hạnh, làng quê Việt Nam, những người nông dân chân chất mộc mạc, nghèo đói nhưng tràn đầy tình yêu. Truyện ngắn “Vợ nhặt” là một trong những kiệt tác tái hiện lại chân thực nhất hình ảnh người nông dân sống trong nạn đói năm 1945. Đặc biệt tác giả đã khắc họa thành công diễn biến tâm lý của nhân vật chính: anh cu Tràng.
Truyện ngắn “Vợ nhặt” lấy bối cảnh là nạn đói thê thảm, người chết như ngả rạ tại một xóm ngụ cư tiêu điều xác xơ. Nhan đề của tác phẩm đã làm toát lên tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm, nhan đề cũng chính là tình huống truyện độc đáo, đặc săc làm đòn bẩy đề tác giả có thể vẽ lên được tâm lý của từng nhân vật. Thành công của Kim Lân chính là việc khắc họa được những phẩm chất cao quý bên trong những con người nông dân nghèo đói, bần cùng.
Tràng là nhân vật chính xuyên suốt tác phẩm, Kim Lân đã mượn hình ảnh anh cu Tràng để lột tả lên được diễn biến tâm lý của nhân vật từ chuyển biến này đến chuyển biến khác. Tràng là người đàn ông nghèo khổ, rách rưới, sống với mẹ già. Tràng xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm bằng vài nét chấm phá của tác giả “hắn bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào trong bến. Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai còn mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của bắn lúc nào cũng nhấp nhính những ý nghĩ thú vị…”. Chỉ với những chi tiết đó, Kim Lân đã khéo léo vẽ lên một hình tượng anh nông dân nghèo, cô quạnh giữa không gian xóm ngụ cư tiêu điều. Anh cu Tràng dường như khiến người đọc liên tưởng đến nhân vật Chí Phèo của Nam Cao khi xuất hiện ở đầu tác phẩm với điệu bộ “Hắn vừa đi vừa chửi, hắn chửi trời, chửi đất, chửi cái đứa nào đẻ ra hắn…”. Người nông dân trong xã hội phong kiến đều có chung một số phận, chung một điều kiện sống, nhưng họ khác nhau ở cách nghĩ, cách lựa chọn làm người.
Có thể nói rằng tình huống truyện này cực kỳ đắt giá, làm đòn bẩy để Kim Lân có thể qua đó bộc lộ, lột tả được hết tính cách và nhân phẩm của người đàn ông nghèo vừa nhặt được vợ này.
Đặc biệt hơn nữa diễn biến tâm lí nhân vật Tràng thay đổi từ khi “nhặt” được vợ, lúc đó hắn không nghĩ gì hơn ngoài việc nghĩ đến người đàn bà đi bên cạnh “Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chè, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mắt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”. Những rung động và cảm xúc rất đời thực của một người đàn ông. Hắn trở nên hiền lành và đáng mến, không phải tình yêu có thể con người ta vui vẻ, có khi chỉ là chút tình nghĩa cỏn con cũng khiến cho bản thân thay đổi theo hướng tích cực.
Đặc biệt trong đoạn thoại Tràng trò chuyện với mẹ, người ta nhận ra kẻ nông dân bân hàn, nghèo đói này lại có một trái tim và tấm lòng sáng, vẹn tròn, dung dị như vậy. Anh vừa xót thương cho thân phận người đàn bà xa lạ nghèo khổ ấy, nhưng duyên số đưa đẩy hai người đến với nhau nên hắn đón nhận như một điều trời ban.
Thế là hắn có vợ rồi, đến buổi sáng hôm sau hắn vẫn cảm thấy minh như đang ở trong mơ “Trong người êm ái lơ lửng như vừa ở trong giấc mơ đi ra. Hắn vẫn chưa tin việc mình có vợ. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ…”. Một cuộc sống mới đã đến với hắn trong niềm vui lạ và phấn khởi. Hắn chấp nhận cuộc sống khốn khó cùng vợ vượt qua tất cả.
Bằng bút pháp tả thực cùng cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, tái hiện diễn biến tâm lý nhân vật một cách cụ thể sắc nét nhất. Kim Lân đã vẽ lên hình ảnh một người nông dân nghèo đói, bần hàn nhưng có cái tâm sáng, giàu tình yêu thương. | Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt | 850 | |
Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân
Vợ Nhặt là một tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Kim Lân, tác phẩm xuất sắc cho văn học Việt Nam được sáng tác năm 1945 giữa nạn đói khủng khiếp, thể hiện nội dung nhân đạo sâu sắc trong từng câu văn,hình ảnh, chi tiết của tác phẩm. Qua đó, người đọc ấn tượng với nhân vật Tràng, từ ngoại hình tính cách, gia cảnh, đến việc quan trọng nhất đời người là lấy vợ.
Truyện xoay quanh tình huống anh Tràng nhặt được vợ trong hoàn cảnh đói khát. Ở nhân vật này, nhà văn đã miêu tả với nhiều chi tiết nói về ngoại hình, tính cách, gia cảnh nhưng gần như tạo hóa không cho anh ta một điểm đáng tự hào nào cả: người thô kệch, lưng rộng như lưng gấu, đầu trọc, nhà nghèo, dân ngụ cư, nghèo kiết xã,thô. Điểm ấn tượng nhất về bề ngoài là sự ngờ nghệch có cái tật vừa đi, vừa nói, vừa cười tủm tỉm một mình. Hơn nữa, Tràng sống với mẹ, nghèo đến nỗi cái nhà hắn ở ” rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại ” mẹ góa con côi. Tuy nhiên ở Tràng cũng có điểm đáng quý: vui vẻ, dễ gần, tốt bụng đối với lũ trẻ con trong xóm vẫn xúm lại trêu đùa. Anh ta không bao giờ dám nghĩ đến chuyện mình có thể lấy nổi vợ; tức là anh ta đã ế vợ và không có khả năng lấy được vợ. Hơn nữa đang trong thời điểm tất cả mọi người đều rơi vào nạn đói thê thảm. Thế mà anh ta lại nhặt được vợ một cách rất dễ dàng ngay giữa đường, giữa chợ chỉ qua vài câu nói tầm phơ tầm phào. Đã có người theo không về làm vợ, điều đó thật bất ngờ nhưng là niềm vui, hạnh phúc tột đỉnh trong cuộc đời của Tràng. Hoàn cảnh nạn đói ghê gớm, bản thân Tràng lại rất nghèo, không biết mình có nuôi nổi mình không cho nên sau lời nói đùa cho vui, Tràng cảm thấy ” chợn”, sợ đèo bòng. Tuy nhiên anh ta lấy vợ bằng một cái tặc lưỡi: ” chậc,kệ! “. Cái tặc lưỡi vừa thể hiện sự buông xuôi cho số phận, vừa thể hiện cái liều lĩnh của một kẻ không biết sợ là gì. Đồng thời cũng thể hiện niềm khao khát của một kẻ lần đầu tiên có niềm vui hạnh phúc.
Tràng dẫn vợ về trong niềm vui khác lạ,: ” Mặt hắn có vẻ gì phớn phở khác thường, hắn tủm tỉm cười nụ một mình, hai mắt thì sáng lên lấp lánh “. Lần đầu tiên có được niềm vui trong cuộc đời cho nên Tràng quên hết những cảnh sống tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói đang đe dọa trước mắt cũng không sợ những ngày tháng đói khổ, ghê sợ ở phía trước…Có cái gì đó mới mẻ, lạ lắm chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy. Đó là cảm giác sung sướng, hạnh phúc của người đàn ông được biết thế nào là hạnh phúc.: ” Tràng thích lắm, từ cha mẹ sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế. ” Tràng nói đùa…ai ngờ Thị về thật “. Đúng là dẫu có cực khổ, cùng quẫn đến đâu, dẫu đói khát đến mấy người ta cũng luôn luôn khao khát hạnh phúc và chỉ nghĩ đến nó thôi đã thấy nó lấn lướt tất cả nỗi sợ hãi, kể cả lưỡi hái tử thần. Chính vì thế dù bết rằng ” Thóc gạo này đến cái thân mình còn không biết mình có nuôi nổi không nhưng hắn vẫn chậc kệ đưa Thị về làm vợ.
Khi Thị về nhà hắn, hắn mới thực sự thấy lo, tâm trạng bỗng thiếu tự tin, bối rối như một đứa trẻ. Tràng nóng lòng, sốt ruột, mong mẹ về, khi mẹ về hắn mừng rỡ như đứa trẻ lật đật chạy ra đón. Lúc này tâm trạng của Tràng phức tạp, đan xen rất nhiều cảm xúc: vừa mừng lại vừa lo. Sau phút bối rối khi biết mẹ đã đồng ý. Như vậy, Tràng đã thay đổi hẳn khi Thị theo về làm vợ.
Như vậy, niềm vui, hạnh phúc làm cho con người ta thay đổi, sự cưu mang, đùm bọc, yêu thương nhau làm cho con người cảm nhận cuộc đời trở nên có ý nghĩa, trở nên tốt đẹp hơn và dẫu cùng đường thì con người ta vẫn luôn yêu đời, nhân hậu, có trách nhiệm hơn, sống tốt hơn trong niềm hạnh phúc
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân | 825 | |
Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ Nhặt
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ Nhặt
Bài làm:
Tràng là nhân vật chính trong Vợ nhặt. Câu chuyện ở đây là câu chuyện của chính anh. Đề yêu cầu phân tích nhân vật, có nghĩa là phân tích toàn diện một con người tron văn học, từ lai lịch, diện mạo cho đến ngôn ngữ, hành động, tâm trạng… Tuy nhiện, anh Tràng là một người lao động rất bình thường, thân phận thấp kém nên khác với bà cụ Tứ, anh ít có những suy nghĩ bên trong. Khi phân tích, tập trung vào mấy điểm:
1.Lai lịch, ngoại hình:
– Tràng là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê, nuôi mẹ già. Dân cư ngụ là nhưng người vốn từ nơi khác đến. Vì thế, dân cư ngụ không có ruộng đất, những thứ vô cùng quan trọng đối với người nôn dân thời xưa. Đã vậy, họ còn bị phân biệt đối xử, thường phải ở nơi bìa làng, hoặc ở chỗ hẻo lánh. Nhà cửa của anh ta, cái được gọi là nhà” thì luôn vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Hơn nữa, vì là dân ngụ cư, Tràng bị coi khinh, chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về.
– Tràng có ngoại hình xấu xí, thô kệch. Mỗi buổi chiều về, hắn bước ngật ngưỡng trên con đuờng khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào bên trong bến. Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn… Còn đầu của Tràng thì cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cuời cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệnh.
2.Tính cách:
– Tràng là người vô tư, nông cạn.
+ Tràng là người hầu như không biết tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình. Anh ta thích chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy. Mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn dốc chợ đi xuống là ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên. Rồi chúng, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa k**, đứa lôi chân không cho đi. Khi ấy, Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Anh với lũ trẻ con như anh em, bè bạn và cái xóm ngụ cư ấy mỗi chiều lại xôn xao lên được một chút.
– Tràng là người đàn ông nhân hậu phóng khoáng.
+ Thật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ. Thấy người đàn bà đói, anh cho ăn. Khi thấy thị quyết theo mình thì Tràng vui vẻ chấp nhận. Tràng lấy vợ trước hết vì lòng thương đối với một con người đói khát hơn mình.
+ Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức chăm sóc: Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê… Anh còn mua 2 hào dầu thắp để vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí.
+ Lấy nhau chẳng phải vì tình, lại nhặt vợ” một cách dễ dàng, nhưng không vì thế mà Tràng coi thường người vợ của mình. Anh muốn làm cho người ấy được vui (khoe mua dầu về thắp sáng), có lúc muốn thân mật nhưng không dám suồng sã. Tràng trân trọng, nâng niu hạnh phúc mà mình có được: Trong lúc Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghò khổ ấy, nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt ve nhẹ trên sống lưng.
+ Anh ngoan ngoãn với mẹ, tránh gợi niềm tủi hờn ở người khác. Đặc biệt, đối với Tràng, có vợ là bước sang một quãng đời khác: Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như người vừa trong mơ đi ra.
+ Từ một anh phu xe cục mịch, chỉ biết việc trước mắt, sống vô tư, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay. Trong ý nghĩ cua anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm keo nhau đi trên đê Sốp để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ to lắm. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới… Tràng đã mở đầu cho câu chuyện Vợ nhặt bằng những bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào buổi chiều chạng vạng mặt người và cũng chính anh đã kết thúc câu chuyện ấy vào buổi sớm mai với một hình ảnh mới lạ về đoàn người nghèo đói vùng lên dưới bóng lá cờ đỏ bay phất phới.
3.Số phận:
– Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám. Khi chưa có nạn đói thì nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ (con trai lão Hạc trong tác phẩm cùng tên Nam Cao cũng vì nghèo không lấy vợ, phẫn chí mà bỏ đi làm mộ phu), trong nạn đói lại lấy vợ, niềm hạnh phúc đan xen với bất hạnh.
4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn
– Kim Lân đã khắc hoạ nhân vật Tràng với đầy đủ diện mạo, ngôn ngữ, hành động, đặc biệt là diễn biến tâm trạng của Tràng bằng ngòi bút sắc sảo. Anh chàng phu xe cục mịch nhưng có một đời sống tâm lý sống động, khi hãnh diện cái mặt vênh vênh tự đắc với mình bởi vừa mới nhặt được vợ, lúc lật đật chạy theo người đàn bà, như người xấu hổ chạy trốn, hay lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia, cũng có khi lòng quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, chie còn tình nghĩa. Anh thô kệch nhưng không sỗ sàng, trái lại biết ngượng ngiụ, biết sợ, nhất là biết lo nghĩ cho cuộc sống về sau.
– Qua nhận vật Tràng, không những nhà văn phản ánh một mặt trận đen tối trong hiện thực xã hội trước năm 1945 cùng số phận của người dân nghèo mà còn phát hiện vẻ đẹp tâm hồn cua họ. Kim Lân đã tiếp nối những trang viết giàu chất nhân bản về người lao động bình thường của những nhà văn trước đó như Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Nam Cao… | Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ Nhặt | 1,280 | |
Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân
Viết về người nông dân không phải là đề tài mới hay hiếm gặp mà nó nhiều nhan nhản. Cái cốt của một tác phẩm có thành công với đề tài này hay không là do sức hấp dẫn của những cây bút. Nếu như Nam Cao thành công khi khắc họa thành công nhân vật Chí Phèo nhằm nói lên sự tha hóa bần cùng của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến thì Kim Lân cũng khắc họa thành công người nông dân tên Tràng trong truyện ngắn Vợ Nhặt của ông. Vẫn là đề tài nông dân ấy nhưng Kim Lân đã khơi được cái chưa ai khơi là thân phận rẻ rúng bị coi như rơm rác của con người. Đặc biệt một lần nữa qua nhân vật Tràng nhà văn lại khẳng định những nét đẹp trong tâm hồn của người nông dân Việt Nam.
Đọc truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân ta không thể nào quên nhân vật anh Tràng này. Anh chính là hiện thân cho những người đàn ông nông dân có những phẩm chất tốt đẹp.
Hoàn cảnh sống của Tràng là sống trong một xóm ngụ cư, đó là tập thể những con người sống không định cư một chỗ mà chỉ sống cho qua ngày. Đặc biệt họ là những người ở nơi khác dạt đến chứ không phải người dân chính gốc ở đây. Hoàn cảnh sống của Tràng là sống trong nạn đói năm 1945. Gia đình chỉ còn mẹ già là bà cụ Tứ, em gái thì đi lấy chồng còn cha thì đã mất. Hai mẹ con nương tựa vào nhau để mà sống sót qua nạn đói này. Tràng thì làm nghề kéo xe bò thuê nên cũng chưa đến mức phải chết đói. Sáng nào Tràng đi làm cũng chứng kiến biết bao nhiêu là xác người chết, rồi những người sống thì lại bồng bế dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma. Không khí vẩn lên những mùi hôi thối tanh tủa của xác người. Tràng làm, ăn, ngủ trong tiếng quạ kêu trên những gốc đa và tiếng người khóc khi nhà có người chết đói. Tóm lại Tràng sinh ra trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của đất nước.
Với tất cả hoàn cảnh gia đình và ngoại hình như thế thì nguy cơ ế vợ của Tràng là rất cao.Ai lại đi lấy một người xâu xí thô kệch đến thế đã vậy lại còn là dân ngụ cư nữa. Ở đây người ta khinh những người dân ngụ cư lắm. Thế mà trong nạn đói ấy, Tràng lại lấy được vợ hay nói như trong văn bản thì là Tràng nhặt vợ về. Ô hóa ra con người trong nạn đói cứ như rơm rác hay mớ rau ngoại chợ có thể lựa mà nhặt mang về nhà.
Điều thứ ba ta thấy ở nhân vật này đó chính là nét đẹp về tâm hồn. Hoàn cảnh có khó khăn, ngoại hình có xấu xí nhưng lại có một tấm lòng vàng.
Không những thế khi ăn xong thị lại còn không ngần ngại đi theo Tràng. Thị muốn về nhà cũng Tràng, thế là Tràng có vợ. Tràng phân vân bởi thời buổi này đến thân mình còn chưa lo xong lại còn đèo bòng. Nhưng nhìn thấy Thị chẳng có chỗ nào để đi nữa thì Tràng không nỡ bỏ người đàn bà ấy giữa đường. Đó chẳng phải là tấm lòng vàng hay sao. Con người ta dù có gặp khó khăn thế nhưng vẫn dang tay cứu vớt lấy cuộc đời của những con người còn khó khăn hơn mình. Sau cái tặc lưỡi của Tràng là biết bao nhiêu khó khăn phía trước phải đương đầu.
Không những thế Tràng còn là một người đàn ông trưởng thành và có trách nhiệm khi sau một đêm có vợ. Trong buổi sáng thức dậy Tràng vẫn còn mơ màng không tin là mình đã có vợ rồi. Nhìn thấy cảnh tượng mẹ chồng nàng dâu dọn dẹp lại căn nhà và chuẩn bị cho một bữa ăn đón con dâu mới. Tràng thấy trong lòng mình khoan khoái, thành cần có trách nhiệm với gia đình nhỏ của mình. Đặc biệt trong bữa cơm đầu tiên trong đầu Tràng phấp phới về hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng cùng những người cướp kho thóc Nhật đi trên đê bột đã thể hiện quy luật tìm đến cách mạng của người nông dân.
Nhà văn Kim Lân quả thật đã khai thác khám phá được những vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Trong khó khăn khốn khổ như thế nông dân ta vẫn phát huy truyền thống lá lánh đùm lá rách. Tràng đại diện cho những người thanh niên nghèo xấu xí nhưng lại giàu tình thương người và sẵn sàng cưu mang những kiếp người khốn khổ hơn mình. Đồng thời nhà văn còn phát hiện được quy luật tìm đến cách mạng của những người nông dân. | Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân | 872 | |
Phân tích nhân vật Trương Sinh – Chuyện người con gái Nam Xương
Hướng dẫn
Tính cách nhân vật Trương Sinh trong Chuyện người con gái Nam Xương phản ánh sinh động bản chất của xã hội phong kiến đương thời
“Chuyện người con gái Nam Xương” là truyền thứ 16 trong tập Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Truyện có nguồn gốc từ một truyện cổ tích Việt Nam có tên là “Vợ chàng Trương”. So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, “Chuyện người con gái Nam Xương” phức tạp hơn về tình tiết và sâu sắc hơn về cảm hứng nhân văn.
Nhân vật Trương Sinh được nhắc đến trong truyện như một nhân vật chức năng, có vai trò làm nổi bậc tình huống truyện, khắc sâu hơn tấn bi kịch cuộc đời của nhân vật Vũ Nương.
Mở đầu câu chuyện, Trương Sinh được giới thiệu là con nhà nhà khá giả (hào phú) nhưng thất học, lại có tính hay đa nghi. Trương Sinh chỉ còn có mẹ già. Điều kiện vốn sung túc nhưng Trương lại là người lười biếng học tập, không có khát vọng công danh, sớm đã không màn đến việc đèn sách. Tính cách hay đa nghi, cộng với sự kiêu căng, thất học khiến cho Trương Sinh thường có những hành động hồ đồ, thiếu tình yêu thương.
Vì yêu mến dung hạnh của Vũ Nương, Trương Sinh đã xin mẹ đem trăm lượng vàng cưới nàng về làm vợ. Nhưng đối với vợ, Trương Sinh lại hay phòng ngừa quá mức. Dù Vũ Nương đã hết sức giữ gìn khuôn phép, vợ chồng chưa bao giờ thất hòa nhưng lại luôn thấy tù túng trong một gia đình thiếu lòng tin tưởng. Có ngờ đâu, chính sự đã nghi của Trương Sinh lại gây ra mối tai họa lớn.
Chính vì thiếu lòng tin tưởng vợ cho nên khi giặc giữ bị phá, chàng trở về, nghe câu nói ngây thơ của con trẻ, lòng ghen tuông của chàng trỗi dậy lấn át cả tình thương khiến chàng hành động mù quáng. Trương Sinh đã đem lời mắng nhiếc, đánh đập Vũ Nương thậm tệ khiến nàng vô cùng đau đớn. Những lời thô bỉ, tệ hại trên đời chàng đều trút lên đầu vợ cho thỏa nỗi hoài nghi và cơn giận dữ bấy lâu, không cần quan tâm đến lời giãi bày, biện minh của vợ.
Trương Sinh còn là một con người hết sức cố chấp, bảo thủ. Nếu đã tin tưởng điều gì thì chàng khó lòng mà thay đổi. Khi Vũ Nương van nài muốn hiểu rõ nguồn cơn sự việc, chàng đã không nói. Bởi Trương Sinh tin tưởng chắc chắc vào điều mình nghĩ là sự thật và sợ nói ra Vũ Nương sẽ tìm lời mà thoái thác, phủ lấp sự việc.
Bao năm chàng ra trận, sự việc diễn tiến đã đủ sâu sắc, nó lại nằm ngoài sự kiểm soát của chàng cho nên Trương Sinh quyết không nói ra sự tình. Hành động ích kỉ, đê tiện ấy của chàng đã đẩy Vũ Nương đến sự tuyệt vọng, khiến nàng phải lấy cái chết để chấm dứt nỗi ô nhục trong nỗi dày vò ghê gớm.
Cho đến một hôm khi ôm con trong nỗi cô đơn quạnh quẽ, cũng từ câu nói ngây thơ của con trẻ, Trương Sinh hiểu ra mối oan tình của vợ, nhưng việc đã trót qua rồi, Trương Sinh cũng lẳng lặng quên đi. Tuy có chút lòng cảm thương, ân hận nhưng sĩ diện quá lớn khiến chàng mặc nhiên để sự việc đó đi qua. Dường như đối với Trương Sinh, chàng có quyền làm điều đó, bắt vợ phải phục vụ ý nghĩ của mình, kể cả những ý nghĩ ngu xuẩn nhất. Chàng cho mình có quyền sỉ nhục, lăng mạ hay định đoạt sinh mệnh của người khác.
Đó là tính cách của một con người gia trưởng, ích kỉ, hèn hạ và vô tình, vô nghĩa. Khi chàng lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang, Vũ Nương hiện về nhưng nàng không trở lại với trần thế nữa bởi vì Trương Sinh vì thiết tha sám hối mà lập đàn giải oan cho nàng nhưng lòng chàng vẫn chưa giải trừ được oan nghiệp, tính hồ nghi vẫn còn, lòng hẹp hoài, ích kỉ vẫn lớn, dẫu có trở về trước sau gì nàng cũng sẽ vướng vào một oan nghiệp khác mà thôi. Thế gian đã không có nơi để những người tận tụy, thủy chung và đức hạnh như nàng dung thân nữa rồi. | Phân tích nhân vật Trương Sinh – Chuyện người con gái Nam Xương | 773 | |
Phân tích nhân vật Trương Sinh
Hướng dẫn
Nhân vật Trương Sinh trong Chuyện người con gái Nam Xương
Mở bài:
Chuyện người con gái Nam Xương trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là một trong những thiên truyện xuất sắc nhất trong giai đoạn văn học thế kỉ XVI – XVII, được xem là “thiên cổ kì văn” xưa nay hiếm có. Nhân vật Trương Sinh tuy không được tác giả kì công trau chuốt nhưng chỉ bằng vài nét phác thảo đơn giản đã khiến nhân vật này nổi bậc, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Thân bài:
Trước tiên, có thể nói, trong truyện cổ tích, nhân vật Trương Sinh là một loại nhân vật chức năng. Nhà văn xây dựng nhân vật này nhằm phát triển nội dung câu chuyện. Qua nhân vật chức năng thể hiện những tthoong điệp mà nhà văn muốn gửi đến người đọc. Những hành động, lời nói của nhân vật chức năng chỉ nhằm làm nổi bậc nhân vật trung tâm của truyện.
Trong Chuyện người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ đã hết sức chú ý đến chức năng này. Ông đã phát triển nhân vật chức năng này thành một nhân vật chính có vai trò quyết định đến sự phát triển của truyện. Tuy nhiên, những đặc điểm cơ bản của nhân vật chức năng vẫn hiện hữu một cách đầy đủ trong nhân vật Trương Sinh.
Hệ thống nhân vật trong thiên truyện hết sức hạn chế. Có thể kể đến nhân vật chính là Vũ Nương rồi đến nhân vật trương Sinh, nhân vật bé Đản, người mẹ Trương Sinh và nhân vật đám đông (hàng xóm). Tất cả các nhân vật đều xoay quanh tình huống truyện được xây dựng gây cấn, đầy kịch tính.
Trong thiên truyện, Trương Sinh đóng vai trò là người tạo dựng nên thảm kịch đối với người vợ Vũ Nương từ tình huống ngộ nhận sự việc một cách mù quáng. Từ lời nói hồn nhiên của con trai, Trương Sinh đã thiếu suy nghĩ nên tự mình hình dung Vũ Nương, vợ chàng, đã không giữ gìn khí tiết, gian díu với người ngoài trong thời gian chàng đi lính. Chính từ suy nghĩ sai lầm ban đầu ấy đã dẫn đến hàng loạt hành động vô tâm, tàn bạo của chàng đối với Vũ Nương. Từ đó khiến nàng phải tìm đến cái chết.
Trương Sinh – một kẻ vô học, bất tài, không có khát vọng công danh:
Trong xã hội phong kiến, vị trí của người đàn ông vốn rất được đề cao. Bên cạnh đó, trách nhiệm của họ đối với bản thân, gia đình và đất nước cũng được cũng hết sức lớn lao. Người làm trai trong xã hội xưa luôn có khát vọng tìm kiếm công danh. Họ luôn khát khao làm những điều lớn lao, xứng đáng là bậc anh hùng lưu danh hậu thế. Có thể nói khát vọng công danh là một lý tưởng sáng ngời mà bất cứ người làm trai nào cũng suốt đời theo đuổi. Đó cũng là chuẩn mực để xã hội đánh giá về một người đàn ông trong xã hội. Nói như Nguyễn Công Trứ: “không công danh thà nát với cỏ cây” là muốn khẳng định cái mục đích cao thượng ấy.
Ở nhân vật Trương Sinh, chàng không hề có khát vọng công danh, sự nghiệp. Chàng dễ dàng chấp nhận sống cuộc đời bình thường theo kiểu nữ nhi thường tình. Là con nhà hào phú, chàng có điều kiện để học hành thành tài hơn hẳn người khác. Đó cũng là điều mà cha mẹ chàng luôn mong ước. Thế nhưng, chàng ham chơi hơn ham học, thích an nhàn hơn sống cuộc đời mãnh liệt vẻ vang. Tiếng đời tuy không gièm pha nhưng lòng kính trọng cũng không có. Đó cũng là nỗi buồn của mẹ chàng dù bà đã không nói ra. Bởi thế, hình ảnh Trương Sinh bị lẫn khuất trong hệ thống các nhân vật nam trong văn học, không hề có tiếng tâm gì.
Trương Sinh – một người con bất hiếu:
Cha trương Sinh sớm qua đời. Một mình chàng ngày đêm chăm lo phụng dưỡng mẹ già. Đó là nghĩa cử hiếu thảo. Trương Sinh cũng đã ý thức lấy người vợ hiền thảo. Lại sinh được con trai nói dõi tông đường, gìn giữ cho muôn đời sau. Đó là người con có hiếu, có trách nhiệm với gia tộc. Thế nhưng, chữ hiếu của chàng đã không thể thực hiện trọn vẹn. Vì biên cương giặc dã mà chàng phải ra trận, chưa định ngày về. Trong khi mẹ già ngày càng yếu sức, rất cần được phụng dưỡng, kề cận. Khi chàng chưa kịp trở về thì người mẹ đã nhắm mắt xuôi tay.
Có lẽ, chi tiết này, tác giả xây dựng để đi đến tình huống hiểu nhầm vợ của Trường Sinh. Đồng thời qua đó bộ lộ đức tính hiếu thảo, tận tâm tận tình của nhân vật Vũ Nương. Thế nhưng điều đó vô tình biến Trương Sinh thành đứa con bất hiếu.
Trong truyền thống Việt Nam ta, khi cha mẹ qua đời mà không được nhìn thấy mặt con, linh hồn sẽ không được siêu thoát. Người con nào không thể về gặp mặt cha mẹ lần cuối cùng cũng phải mang tội bất hiếu. Khi trở về, hay tin mẹ đã mất, Trương Sinh vô cùng đau buồn. Chàng đau buồn vì mẹ già đã không thể gắng gượng đợi ngày chàng về. Chàng cũng buồn vì mình chưa làm trọn đạo hiếu với mẹ.
Vốn yêu mến đức hạnh của Vũ Nương, Trương Sinh xin mẹ trăm lạng bạc cưới nàng về làm vợ. Đó là một lựa chọn đúng đắn và đầy trách nhiệm. Tưởng chừng chàng sẽ hài lòng và hết mực yêu thương vợ mình.
Thế nhưng, người đọc hết sức bất ngờ khi nhìn thấy cuộc sống gia đình sau đó. Vũ Nương rất thấu hiểu tính chồng hay ghen nên luôn cẩn trọng. Nàng ứng xử chừng mực, biết giữ gìn khuôn phép, vợ chồng chưa lúc nào dẫn đến bất hòa. Bởi thế mà nàng luôn trong căng thẳng bởi cái tính đa nghi và hay ghen của Trương Sinh. Lại thêm chàng là người độc đoán, hành động hồ đồ, không hề tin tưởng ở vợ. Không ít lần chàng lần gây tổn thương đối với vợ.
Áp lực ấy cứ tồn tại âm ỉ như ngọn lửa tàn ác. Chỉ cận một lí do nhỏ cũng có thể bùng cháy lớn. Lúc ở nhà, trương Sinh đã ghen tuông như vậy. Khi ngoài mặt trận, lòng ghen còn lớn hơn.
Vũ Nương tuy con nhà nghèo khó, chưa gây dựng được điều gì lớn lao cho nhà Trương Sinh nhưng nàng đã sinh hạ được người con trai giúp Trương Sinh có người nối dõi. Lại thêm những ngày Trương Sinh đi lính, nàng một mình nuôi con nhỏ, phụng dưỡng mẹ chàng hết sức chu đáo. Khi mẹ mất, nàng lo ma chay tế lễ hết sức vẹn toàn. Nghĩa cử đó khiến ai ai cũng cảm phục. Công ơn ấy đến hết cuộc đời, Trương Sinh cũng không thể đền đáp nổi. Thế mà, chỉ vì ghen tuông mù quáng mà chàng đã quên đi tất cả, sẵn sàng phụ bạc, ruồng bỏ người vợ hiền đức ấy.
Cái chết của Vũ Nương là cái chết đầy oan ức. Nhưng đấy có thể lại là điều Trương Sinh và xã hội phong kiến mong muốn. Bởi người phụ nữ trong xã hội xưa là lớp người nhỏ bé, không có danh phận. Cuộc đời và số phận của họ phụ thuộc nhiều vào người đàn ông. Mặt khác, tội lỗi gian tình bị coi là một trong những trọng tội và là điều sỉ nhục bậc nhất của con người. Trương Sinh vì thế mà khó chấp nhận Vũ Nương tiếp tục sống trong gia đình. Cái chết đến với nàng như một điều tất yếu vậy.
Tuy tác giả không đề cập đến vấn đề này nhưng người đọc cũng nhận rõ suy nghĩ của chàng. Thế nên, khi Vũ Nương trầm mình xuống dòng sông, chàng có đi tìm vớt xác nàng nhưng không hề khóc thương hay hối hận. Vũ Nương chết oan khuất, chàng cũng không hề cầu siêu cho linh hồn nàng. Khi biết rõ sự tình vợ mình bị nghi oan, chàng cũng không hề hối lỗi, cũng không hề truy niệm công đức của nàng để linh hồn nàng nơi chín suối được yên nghỉ.
Khi Vũ Nương trở về trên chiếc thuyền hoa mờ ảo, nói lời chia biệt, Trương Sinh đã không tha thiết mong nàng tha thứ và trở về cùng chàng và con. Vũ Nương trở về để chàng có cơ hội bù đắp cho những thiệt thòi mà nàng đã gánh chịu. Nàng trở về để Trương Sinh sữa chữa lỗi lầm của mình. Nàng trở về để con chàng có mẹ, được lớn lên trong vòng tay mẹ. Cái sĩ diện người đàn ông cùng với bản tính cố chấp khiến Trương Sinh hững hờ. Chàng chỉ van gọi nhưng không hề thành khẩn, thiết tha.
Vũ Nương đã không trở về. Bởi nàng tự biết, xã hội phong kiến đã không còn nơi nào để nàng dung thân nữa rồi. Chi tiết ấy là lời khẳng định mạnh mẽ Trương Sinh quả thực là một người ích kỉ, cạn tình bạc nghĩa đến tận cùng.
Hậu thuẫn phía sau nhân vật Trương Sinh là cả xã hội phong kiến nam quyền tàn bạo, bất nhân đã tàn nhẫn chà đạp lên nhân cách, nhân phẩm, tước đoạt quyền sống, quyền làm người của người phụ nữ. Mọi hành động của Trương Sinh đều xuất phát từ những lí do được cho là hợp lí theo lễ giáo của xã hội ấy dù nó mang đến tai họa và thảm kịch cho người khác. Thế nên, Trương Sinh đã hết sức bình tĩnh. Một sự bình tĩnh đến tàn ác.
Kết bài:
Dù nhân vật này không được tác giả chú trọng xây dựng nhưng lại có sức biểu đạt sâu sắc. Đó cũng là dụng ý của ông. Cái xã hội phong kiến mục ruỗng cùng với những quy định khắc khe của nó ấy dù không nổi bậc nhưng lại có sức ảnh hưởng âm thầm ghê gớm. Nó giống như một sợi dây vô hình siết chặt và quyết định vận mệnh con người. | Phân tích nhân vật Trương Sinh | 1,771 | |
Phân tích nhân vật trữ tình trong bài thơ Tự Tình
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật trữ tình trong bài thơ Tự Tình
Hồ Xuân Hương là một trong những nữ thi sĩ suất sắc của Việt Nam, số lượng tác phẩm bà để lại khá nhiều, và phong cách sáng tác thơ chủ yếu của Hồ Xuân Hương chính là tả cảnh ngụ tình. Bà còn được biết đến với hình ảnh của một nữ nhà thơ viết nhiều về thân phận người phụ nữ, là người dũng cảm đề cao vẻ đẹp, sự hi sinh và đức hạnh của người phụ nữ, đồng thời lên tiếng bên vực cho họ và phê phán lên án gay gắt chế độ xã hội cũ. Tự tình là một trong những bài thơ hay, chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc của chính tác giả và cũng là của người phụ nữ nói chung.
Bài thơ tự tình mở đầu với 2 câu thơ vừa tả cảnh nhưng cũng tả hình ảnh của một ngươi phụ nữ- hay có thể gọi là hồng nhan.Nhưng tiếc thay, hồng nhan đó lại roi vào hoàn cảnh- cô đơn trống vắng, giữa đêm khuya u tịch.
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non”
Những cơn sóng cảm xúc đang cuộn xoáy trong lòng khiến nữ sĩ suy tư trăn trở, thao thức thâu đêm. Tiếng trống cầm canh lâu lâu lại điểm, báo thời gian đang trôi qua. Bước chân của đêm tối mới nặng nề càng làm in sâu nỗi đau đời âm ỉ, dai dẳng thiêu đốt tâm can nữ sĩ bấy lâu nay bật thốt thành lời chua chát, đắng cay. Hổng nhan là gương mặt đẹp, thường được dùng để chỉ phụ nữ nói chung và những người con gái đẹp nói riêng. Là một người phụ nữ có nhan sắc, nhưng lại được miêu tả “ trơ với nước non. Trước cuộc đời rộng lớn, người phụ nữ đó nhận ra thân phận của mình lẻ loi đơn chiếc, và âm thanh của trống cầm canh lại càng điểm thêm một nỗi buồn, trống vắng khó tả. Người phụ nữ ấy đã tìm đến rượu để giải sầu:
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Những tưởng như nỗi bất hạnh đã khiến tâm hồn hoá thành gỗ đá nhưng không phải. Trái tim còn đập nên ý thức vẫn còn, nữ sĩ đành say cho quên vậy.Mỗi khi có chuyện gì đó sầu muộn, người xưa thường tìm đến trăng đến rượu để ngỏ cùng bầu tâm sự. Chỉ muốn uống thật say, hương rượu thật nồng để quên đi tất cả, nhưng nghịch lí thay, chén rượu đưa lên mũi, hương nồng vào mũi nhưng người muốn say nhưng tâm và suy nghĩ vẫn đang rất tĩnh. Không có nỗi buồn nào biến mất ở đây,mà càng làm hiện hữu rõ nỗi lòng của người phụ nữ lúc này. Hình ảnh vầng trăng xuất hiện nhưng khuyết chưa tròn. Phải chăng, ngụ ý cho thân phận cho hạnh phúc của chính tác giả. Là người tài giỏi nhưng duyên phận hẩm hiu.chưa một lần trọn ven. Tuổi xuân dần đi qua mà hạnh phúc vẫn chưa tới bến đỗ.
Tĩnh thì đau khổ nhưng mình vẫn còn được là mình không đến nỗi tuyệt vọng. Lời dạy của trời đất sâu kín mà rành rành trước mắt, ngụ ở ngay trong rêu đá. Hình ảnh rêu được đưa ra đây nhưng mang nhưng dụ ý sâu xa của tác giả Hồ Xuân Hương, rêu là loài mỏng manh nhỏ bé nhưng lại có sức sống vô cùng mạnh mẽ, không dừng lại đó, ở bất cứ một điều kiện nào thì nó vẫn có thể tươi tốt,dù là điều kiện sống như thế nào đi chăng nữa. Hình ảnh rêu từng đám đâm xuyên ngang mặt đất gợi ra cho chúng ta những liên tưởng mạnh mẽ về sự phản kháng mạnh mẽ cũng như sự chống đối của nó với thứ có thể mạnh hơn nó. Hình ảnh đá cũng vậy, đối lập với sự nhỏ bé của những viên đá với sự rộng lớn của trời đất, nó lại càng làm nổi bật sức mạnh của những viên đá, quả thực nó không tầm thường một tí nào. Sự đồng điệu của người và thiên nhiên, luôn đối mặt với khó khăn thách thức nhưng chưa bao giờ đi đến thành công. Kiếp làm vợ lẽ, dù cố thoát ra nhưng vẫn không được. Cho nên mới có 2 câu cuối:
Mảnh tình san sẻ tí con con”
Thiên nhiên thuận theo đất trời, xuân đi rồi xuân lại tới, nhưng con người lại khác, với người phụ nữ tuổi xuân trôi đi nhưng chẳng bao giờ quay lại thêm một lần nào nữa. Lại càng đáng buồn hơn cho nhưng số phận hẩm hưu, chờ mong cả tuổi xuân, chờ có một niềm hạnh phúc trọng vẹn nhưng nào đâu có được. Trước sự lẻ loi,chán chường mà Hồ Xuân Hương đã sử dụng” ngán” phần nào nói lên được nỗi lòng của thi sĩ bây giờ. Mảnh tình đã bé lại còn phải san sẻ, chia nhỏ ra. Không được hưởng một tình yêu một hạnh phúc trọn vẹn, tới khi tìm đến với hạnh phúc lại phải san se, thật quả là đáng thương. Qua đây cũng ngầm ẩn ý về những số phận của người phụ nữ,chịu cảnh thê thiếp, dưới chế độ cũ không được coi trọng và không có quyền lên tiếng
Tự tình là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách cũng như tư tưởng của HỒ Xuân Hương đặc biệt là những vấn đề xoay quanh người phụ nữ. Bài thơ trĩu nặng một nỗi buồn nhưng không hể bi lụy bởi nổi bật lên trên hết là cốt cách cứng cỏi, tâm hổn nhạy cảm và mạnh mẽ đã giúp nữ sĩ vượt qua bao bất hạnh của cuộc đời. Bài thơ vừa là tiếng lòng riêng của nữ sĩ, vừa lồ tiếng lòng chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến thuở ấy Qua đây chúng ta cũng thấy được một HồXuân Hương vừa yếu mềm nhưng cũng thật ngang tàng mạnh mẽ khi dám bộc lộ những suy nghĩ của chính mình.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật trữ tình trong bài thơ Tự Tình | 1,062 | |
Phân tích nhân vật trữ tình trong bài “Khi con tu hú” của Tố Hữu
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật trữ tình trong bài “Khi con tu hú” của Tố Hữu
Khi mới là một thanh niên 19 tuổi đời, đang sôi nổi hoạt động cách mạng tại thành phố Huế thì Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt giam vào nhà lao Thừa Phủ. Tại đây, tác giả có dịp “nghỉ dân” và sáng tác thơ ca. Những bài thơ trong tù được in trong tập “từ ấy”. Bài thơ “Khi con tu hú” là bài thơ lục bát rút trong tập thơ này đã vẽ nên một bức tranh mùa hè và hơn hết mọi hình ảnh vẫn là nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Bắt đầu là “Khi con tú hú gọi bầy”, mang đến cho người tù sự liên tưởng về không gian bên ngoài với “Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần” với “ Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào”, với trời xanh và “Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”… Một bức tranh sinh động đầy sức sống, đầy màu sắc, âm thanh vang lên từ chính tâm hồn đang khao khát tự do, muốn hòa mình cùng thiên nhiên, trời đất của tác giả. Người đang bị giam cầm trong xà lim Thừa Phủ ấy. Đó cũng là cảnh đẩy người tù đến tâm trạng:
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi
Khi con tu hú ngoài trời cứ kêu.
Có thể nói âm thanh của tiếng chim tu hú là mối dây duy nhất lúc này đưa người đang mang thân tù tội về với cuộc đời, mỗi âm thanh là một tín hiệu về cuộc sống và cũng chở những suy tư của nhà thơ: yêu đời nhưng bị tách đời, muốn hòa mình vào cuộc đời nhưng lại bị ngăn cách hữu hình với song sắt nhà tù.
Nghe tiếng chim tu hú, thấy “hè dậy bên lòng”, không phải là “tôi” mà là “ta”- là cảm xúc chung của bất cứ người thanh niên cộng sản nào khi phải chịu đựng cảnh tù tội. Tiếng “ta” ấy cũng gợi một sự ngột ngạt, bức bí riêng. Gian phòng chật chội đã đành, con người lại đang mất tự do trong khi bên ngoài nô nức vì mùa hè đang đến. Nghe thấy tiếng gọi của mùa hè, mà phẫn uất “chân muốn đạp tan phòng”, sự bực bội, u uất càng thể hiện rõ hơn trong tiếng kêu đầy căm hận: “Ngột làm sao chết uất thôi”. Câu thơ thâu vào những ngột ngạt, khó chịu của cảnh tù, những bức bối chỉ có thể phá tan bằng việc được ra khỏi chốn lao tù ấy. Nhưng tác giả đã thực sự bất lực bởi những cách ngăn. Người thanh niên không được giải thoát ấy mang trong mình tâm trạng “chết uất thôi”- là cái chết, cái uất ức trong gan ruột vì mất tự do. Hơn bao giờ hết, tác giả muốn đạp tung ngục tù để trở về với anh em đồng chí, tiếp tục đem sức lực, tài trí của mình ra cống hiến cho cách mạng
Bài thơ viết theo thể thơ lục bát dân tộc nhưng diễn đạt một đề tài mới, thể hiện sâu sắc lòng yêu nước, yêu cuộc sống tự do, chiến đấu, khao khát tự do cháy bỏng của người chiến sĩ trong cảnh tù đày. Hoàn cảnh ấy nhắc ta nhớ đến những tâm sự có lần tá giả đã nhắc trong bài thơ “Tâm tư trong tù”:
Cô đơn thay là cảnh thân tù
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức… | Phân tích nhân vật trữ tình trong bài “Khi con tu hú” của Tố Hữu | 623 | |
Phân tích nhân vật tư tưởng Phùng và Đẩu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật tư tưởng Phùng và Đẩu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
5 (100%) 1 đánh giá
Bài làm
Nguyễn Minh Châu –người mở đường tinh anh và tài năng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.Những tác phẩm của ông để lại dấu ấn sâu sắc với người đọc: “Mảnh trăng cuối rừng”, “Bức tranh” và đặc biệt là tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”viết vào những năm đầu thời kì đổi mới.
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người:một cách nhìn đa dạng nhiều chiều,phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Đồng thời tác phẩm in đậm phong cách tự sự-triết lí của Nguyễn Minh Châu: với cách khắc họa nhân vật,xây dựng cốt truyện độc đáo và sáng tạo. Trong đó, nhân vật Phùng là một hình tượng điển hình về quan điểm về nghệ thuật cũng như cuộc sống sâu sắc của một người nghệ sĩ.
Nhân vật Phùng thể hiện quan niệm về nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu: Phùng là người yêu nghề, có trách nhiệm với nghề. Anh đã phục kích mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm anh mới chụp được bức ảnh ưng ý. Phùng không đơn giản, qua loa với công việc mà anh luôn hết lòng vì công việc.
Đồng thời, Phùng là một nghệ sĩ tài năng: Anh đã phát hiện bức tranh thiên nhiên giàu giá trị nghệ thuật. Trước mặt Phùng là một khung cảnh thiên nhiên như “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”. “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”. “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”. Khung cảnh được nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới giữa hai chiếc gọng vó giống hệt “cánh một con dơi”, đẹp từ đường nét đến ánh sáng.
Phùng là người nghệ sĩ săn tìm cái đẹp. Anh thực sự biết quan sát bằng đôi mắt tinh tường, “nhà nghề” để lựa chọn cái đẹp hài hoà giữa thiên nhiên, cảnh vật, con người – vẻ đẹp mà cả đời bấm máy anh chỉ gặp một lần.
Phùng là người nghệ sĩ thật sự rung cảm trước cái đẹp. Cái đẹp đã làm Phùng xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn mình. Anh liên tưởng tới câu nói của ai đó “ bản thân cái đẹp chính là đạo đức”. Và tưởng chính mình vừa khám phá “cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.
Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc khi khám phá và sáng tạo, khi cảm nhận cái đẹp hài hoà, lãng mạn giữa thiên nhiên và cuộc đời. Trong hình ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” giữa biển trời mờ sương, Phùng đã cảm nhận cái đẹp toàn bích và thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên trong trẻo, tinh khôi. Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời.
Nhân vật Phùng thể hiện quan niệm về nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu: Qua việc khám phá bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” của Phùng, tác giả muốn đề ra một quan niệm về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính bao giờ cũng bắt nguồn từ cuộc sống và phục vụ cho cuộc sống; người nghệ sĩ phải có tài năng, có sự lao động miệt mài và phải có sự xúc động trước cái đẹp thì mới sáng tạo được những tác phẩm có giá trị.
Nhân vật Phùng thể hiện cách nhìn về cuộc sống của nhà văn Nguyễn Minh Châu: Phùng là người có tấm lòng nhân hậu: Chưa thoả thuê ngắm bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” thì ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào nơi Phùng đứng.
Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến: từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, đánh vợ như một phương cách để giải tỏa những uất ức, khổ đau… Đây là hình ảnh đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển. Nó hiện ra bất ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.
Chứng kiến cảnh ấy, Phùng đã “kinh ngạc đến mức (…) há mồm ra mà nhìn” rồi sau đó thì “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy nhào tới”. Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thằng Phác (con lão đàn ông) đã kịp tới để che chở cho người mẹ.
Đến lần thứ hai, bản chất người lính ở người nghệ sĩ được thể hiện. Anh xông ra buộc lão đàn ông phải chấm dứt hành động độc ác … Hành động của Phùng cho thấy anh không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác.
Hoá ra đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lí của sự toàn thiện” mà nó là những ngang trái, xấu xa, những bi kịch còn tồn tại trong cuộc sống.
Phùng luôn ý thức để hoàn thiện nhân cách:Tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa”, cảnh người đàn ông đáng vợ và khi lắng nghe câu chuyện của người đàn bà ở toà án (vì tình thương con, vì ý thức phải sống cho con, vì mong nuôi con cho đến khi khôn lớn mà chị chấp nhận gánh lấy cái khổ), Phùng nhận thức rất nhiều điều qua các cảnh ấy.
Phùng đã hiểu về người đàn bà hàng chài kia: Ẩn bên trong sự xấu xí, nhẫn nhục là vẻ đẹp tình mẫu tử đầy vị tha, là khát khao hạnh phúc bình dị đời thường của người phụ nữ còn đói nghèo, lạc hậu.
Nỗi trăn trở của Phùng trong nhiều năm dài về hình ảnh người đàn bà hàng chài cứ hiện ra sau mỗi lần anh ngắm bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” chính là quá trình tự ý thức của Phùng để hoàn thiện nhân cách của mình.
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: Mỗi người trong cõi đời,nhất là người nghệ sĩ, không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người. Cần một cách nhìn đa dạng nhiều chiều,phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Đồng thời tác phẩm in đậm phong cách tự sự-triết lí của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
Có thể khẳng định: Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống,dũng cảm thể hiện những góc khuất của cuộc đời ngay trong chế độ xã hội tốt đẹp của chúng ta. Đúng như lời của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nói: “Nhà văn không có quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử” | Phân tích nhân vật tư tưởng Phùng và Đẩu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa | 1,283 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Từ Hải qua đoạn thơ Kiều gặp Từ Hải trích trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du
Bài làm
Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải là ba nhân vật đã gắn bó với số phận và đời sống tình cảm của Thúy Kiều. Mối tình Kim – Kiều là mối tình đầu tuyệt đẹp giữa “Người quốc sắc, kẻ thiên tài", đã nặng tình thề nguyền “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương". Mối tình giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều là quan hệ “Trước còn trăng gió sau ra đá vàng”. Từ Hải với Thúy Kiều đã gắn bó với nhau bằng mối tình tri kỷ giữa "trai anh hùng, gái thuyền quyên". Những nhân vật ấy đã được thi hào Nguyễn Du thể hiện một cách tuyệt đẹp, làm cho cảm hứng nhân văn lung linh tỏa sáng trên những trang thơ Truyện Kiều.
Đọc đoạn thơ Kiều gặp Từ Hải qua nghệ thuật tả người của một ngòi bút thiên tài, qua nhân vật Từ Hải ta cảm nhận được ước mơ về tự do và công lý trong xã hội phong kiến.
Lúc bấy giờ Kiều đang sống ở Châu Thai trong tay Bạc Bà, Bạc Hạnh:
Thoắt buôn về, thoắt bán đi,
Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi!
Trong cảnh ngộ ấy, “khách biên đình", nơi biên ải xa xôi đã đến với Kiều. Đó là một đêm mùa thu “ gió mát, trăng thanh". Hai chữ “bỗng đâu" nói lên sự bất ngờ, đột ngột:
Lần thâu gió mát, trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi.
Không phải là một văn nhân với tiếng “nhạc vàng”, với "cỏ pha màu áo nhuộm non da trời". Cũng không phải là người “trăm nghìn đổ một trận cười như không". Mà là “một đấng anh hùng" có cốt cách phi thường:
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Những ẩn dụ, những số đo ấy tuy mang tính chất ước lệ tượng trưng của thi pháp cổ, nhưng với cách ngắt nhịp 2/2/2 ở câu lục và 4/4 ở câu bát, giọng thơ trở nên mạnh mễ đầy ấn tượng về một tướng mạo phi phàm, uy nghi. “Khách biên đình" có võ nghệ cao cường vô địch, có trí dũng “lược thao gồm tài". Đó là một anh hùng xuất chúng:
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Lai lịch bí mật của “khách" được hé lộ dần về họ, tên, quê quán, về chí khí “giang hồ" của một khách cung kiếm, sống một cuộc đời tự do:
Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ, tên Hải vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thói vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Nguyễn Du đã sử dụng một số từ Hán Việt như: “đấng anh hào", “côn quyền", “lược thao", “giang hồ", “vẫy vùng” để khắc họa tính cách anh hùng và khát vọng tự do của nhân vật Từ Hải. Các phụ âm “đ” trong các từ ngữ như: “đường đường”, “đấng", “đội trời, đạp đất", “ở đời", “Việt Đông", làm cho giọng thơ vang lên hùng hồn, mạnh mẽ. Sau này khi Từ công đã chết, Thúc Sinh còn nhắc lại đầy ngưỡng mộ:
“Đại vương tên Hải họ Từ,
Đánh quen trăm trận, sức dư muôn người.
… vẫy vùng trong bấy nhiêu niên,
Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng,
Đại quân đồn đóng cõi đông…"
Có thể nói, Nguyễn Du đã dùng những từ ngữ, hình ảnh tráng lệ nhất, giọng thơ hùng tráng nhất, để ca ngợi cốt cách phi thường, thói giang hồ tự do, chí khí anh hùng của Từ Hải.
Từ Hải còn là một anh hùng rất đa tình. Buổi gặp gỡ đầu tiên có thiếp danh trang trọng, nhiều tâm đắc tương tri: “cùng liếc… cùng ưa". Người đẹp đã làm cho đấng anh hào phải xiêu lòng. Cũng là khoảnh khắc “ban đầu lưu luyến" của lứa đôi:
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
Cuộc đối thoại tại “lầu hồng" giữa anh hùng và giai nhân đã làm nổi bật thêm những nét đẹp trong tâm hồn Từ Hải. Đến “lầu hồng" gặp Kiều, Từ Hải không phải vì tình “trăng gió” mà là “tâm phúc lương cờ", đi tìm “tri kỷ". Vì vậy khi nghe người đẹp nói lên niềm hy vọng "Tấn Dương được thấy mây rồng có phen”, nghe Kiều gửi gắm sự trông cậy chở che: “Rộng thương cỏ nội hoa hèn – Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau" thì Từ Hải “gật đầu” sung sướng:
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung nghìn tứ, cũng là có nhau.
Đó là một lời hứa như dao chém đá của trang anh hùng nghĩa hiệp. Chẳng cần dùng mưu kế như Thúc Sinh “rước về hãy tụm dấu nàng một nơi”, Từ Hải đã chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, thái độ xử lý rất đàng hoàng: “Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn”. Con người “giang hồ quen thói vẫy vùng", từng “đánh quen trăm trận" ấy lại có một tình yêu rất lãng mạn, Từ Hải là ân nhân của Kiều đã làm thay đổi số phận của một gái thanh lâu:
Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng
Qua đoạn thơ Kiều gặp Từ Hải, ta càng thấy rõ nghệ thuật tả người của Nguyễn Du rất đặc sắc, độc đáo. Thi hào đã dành những câu chữ hay nhất, trang trọng nhất để khắc họa tính cách anh hùng phi thường, khát vọng tự do và chất đa tình lãng mạn của nhân vật Từ Hải. Từ giọng điệu đến ngôn từ đều trang trọng, cổ kính: nhân vật lung linh màu sắc huyền thoại sử thi.
Nhân vật Từ Hải tựa như một ánh hào quang chiếu qua một quãng đời ngắn ngủi của Thúy Kiều, nhưng đã để lại trong lòng người bao ấn tượng tốt đẹp. Chân dung anh hùng Từ Hải là một phương diện tuyệt đẹp về cảm hứng nhân văn của Truyện Kiều. | Phân tích nhân vật Từ Hải qua đoạn thơ Kiều gặp Từ Hải trích trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du | 1,018 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Từ Hải qua đoạn thơ Kiều gặp Từ Hải trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Bài làm
Đoạn thơ dài 48 câu trích trong Truyện Kiều từ câu 2165 đến câu 2212. Ở đây đã cắt đi 12 câu (2183 – 2194) chỉ còn lại 36 câu.
Trốn khỏi tay Hoạn Thư, Kiều lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh. Lần thứ hai Kiều bị đẩy vào chốn thanh lâu. Ít lâu sau Kiều may mắn gặp Từ Hải. “ Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng” Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, cưới nàng làm vợ.
Đoạn thơ ghi lại cuộc tri ngộ và tình duyên giữa Kiều với Từ Hải đầy màu sắc lãng mạn, ca ngợi Từ Hải, một anh hùng phi thường, một tài tử đa tình và hào hiệp.
1.Từ Hải, một anh hùng đích thực:
Một tung tích bí mật: “khách biên đình", nơi biên ải xa xôi…, đến găp Kiều giữa mùa trăng đẹp "gió mát trăng thanh”. “Bỗng đâu” bất ngờ, ngạc nhiên, với Kiều, đây không phải là một khách làng chơi tầm thường.
Tướng mạo Từ Hải phi thường. Năm nét vẽ ẩn dụ với những số đo hoành tráng đầy ấn tượng:
Râu hùm, hàm én, mày ngài
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Võ nghệ xuất chúng, có tài thao lược, Từ Hải là một anh hùng đích thực:
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Lúc đầu chỉ giới thiệu ‘ákhách biên đình", giới thiệu tướng mạo, tài thao lược, côn quyền, câu thứ 7 trở đi mới nói đến họ, tên, lai lịch. Lối viết vừa “kín" vừa kích thích trí tò mò người đọc, hơn nữa là để nêu bật tính chất bí ẩn phi thường, xuất chúng của anh hùng Từ Hải: ngang tàng, bất khuất, tung hoành, khát vọng tự do, coi thường công danh vào luồn cúi:
Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ, tên Hải, vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thói vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Từ Hải là người anh hùng lý tưởng mang khát vọng tự do, một trong ba nhân vật rất đẹp, thể hiện cảm ứng nhân văn trong Truyện Kiều: Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải.
2. Từ Hải, một tài tử đa tình:
Chỉ mới nghe tiếng nàng Kiều, thế mà “ Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hung”. "Xiêu” nghĩa là say đắm; say mê vì sắc, vì tài, vì tình, vì “má đào", vì "mắt xanh''…
Buổi sơ kiến, chỉ một cái “ liếc” thôi mà đã “ưa”, đã “bén duyên rồi":
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
Cũng là phút đầu gặp gỡ, nhưng mỗi lần có một sắc thái biểu cảm khác nhau. Kiều gặp Kim Trọng: “ Tình trong như đã, mặt ngoài còn e". Kiều gặp Từ Hải: "Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa”. Đó là những vần thơ thú vị diễn tả men say tình ái và chất phong tình, đa tình của Kiều với Kim Trọng, Kiều với Từ Hải.
Từ Hải đến lầu xanh gặp Thúy Kiều không phải tình “trăng gió” mà là “ tâm phúc tương cờ ”, tìm người "tri kỷ". Vì vậy khi nghe Kiều nói lên niềm hi vọng “ Tấn Dương thấy được mây rồng có phen", Kiều gửi gắm sự trông cậy sự chở che "Rộng thương cỏ nội, hoa hèn / Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau” Hải “gật đầu" sung sướng. Từ Hải khẳng định: Kiều là tri kỷ, gắn bó với nhau, giàu sang phú quý cũng không quên nhau. Đó là mối tình lãng mạn:
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.
Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh rất đàng hoàng “Tiền trăm lại ng; ngăuyên ngân phát hòan ". Từ Hải đã cưới Kiều làm vợ, con người "giang hồ quen thói vẫy vùng này đã "sửa chốn thanh nhàn" sống trong mái ấm hạnh phúc lứa đôi “ Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên”.
Từ Hải là một anh hùng rất đa tình. Kiều như được cởi lốt thanh lâu trở thành một gái thuyền quyên. Cuộc tình duyên giữa Kiều với Từ Hải mang đậm màu sắc lãng mạn. Thật đẹp đôi:
Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
Đoạn thơ, từ giọng điệu đến ngôn từ đều trang trọng, cổ kính. Từ Hải lấy Kiều làm vợ, bên cạnh tính cách anh hùng có thêm chất đa tình. Với Kiều, cuộc tình duyên này là một sự đổi đời; hạnh phúc gắn liền với tự do, vĩnh viễn thoát thân phận gái lầu xanh, trở thành một mệnh phụ phu nhân, có dịp báo ân, báo oán.
Nguyễn Du trân trọng mối tình của “trai anh hùng, gái thuyền quyên" đã dành những lời tốt đẹp nhất nói về Từ Hải. Đoạn thơ thấm nhuần tinh thần nhân đạo và có không ít câu thơ tuyệt hay, người đọc nhớ mãi. | Phân tích nhân vật Từ Hải qua đoạn thơ Kiều gặp Từ Hải trích Truyện Kiều của Nguyễn Du | 845 | |
Phân tích nhân vật Từ Hải trong chí khí anh hùng
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Từ Hải trong chí khí anh hùng
Nguyễn Du là một thi gia, với tác phẩm nối tiếng “ truyện Kiều” được người đọc biết đến nhiều với thể thơ lục bát đậm đà bản sắc dân tộc. Trong “ truyện Kiều” tất nhiên người ta sẽ chú trọng vào nhân vật thúy kiều và cuộc đời xoay quanh nhân vật này. Tuy nhiên còn có một nhân vật khác nữa cũng góp phần làm thay đổi cuộc đời của Kiều đó chính là Từ Hải
Từ Hải trong truyện Kiều thì có lẽ không chỉ là một người đàn ông có công cứu vớt cuộc đời người con gái tài năng nhưng bạc mệnh mà còn nói lên, xây dựng lên những người có tầm vóc và ý chí, anh hùng trong thời đại ngày xưa. Từ Hải mang những phẩm chất anh hùng, mang chí lớn, mang vẻ đẹp cả ngoại hình tầm vóc lẫn tâm hồn
Vẻ đẹp ngoại hình được Nguyễn Du miêu tả với hình tượng người anh hùng trong xã hội lúc bấy giờ: dáng hình “ Vai năm thước rộng, thân mười thước cao”. Tầm vóc cơ thể của anh sánh ngang với tầm vóc của Từ Hải được ví với tầm vóc của trụ hay sao, chúng ta có thể thấy được con người anh hùng thời xưa có tầm vóc ngang tàn, hoành tráng đến thế nào.
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao. ”
Những nét đó là vẽ nên khuôn mặt phương phi của Từ Hải, người anh hùng đó mang những vẻ đẹp của một người anh hùng thời xưa, mặt phải thật dữ tợn và có chí khí.
Từ Hải còn được miêu ta khi mang những phẩm chất anh hùng đáng ngưỡng mộ. Mà được thêt hiện qua tình thương dành cho người má đào, mắt xanh, ở đây kiều và Từ Hải là một cặp như thế. Chàng Từ Hải không chê thân phận của Thúy Kiều mà chỉ cần biết rằng mến mộ tài sắc của Kiều cũng như tấm lòng Kiều:
“Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi”
Ngoài là một người anh hùng trượng hiệp, dù có tơ hồng hay mang vẻ đẹp lẫm liệt của người anh hùng thì cho tới khi miêu tả Từ Hải, những nét vẽ của Từ hải được vẽ ra hiện lên là một anh hùng có ý chí kiên cường của một người anh hùng.
“Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương”
Từ Hải là ở bốn phương kia chứ không phải là ởmột chốn nào cụ thể. Từ Hải chung sống với Kiều được nửa năm thì quyết tâm dứt áo ra đi. chí khí của một người anh hùng đã thúc giục chàng lên đường. và còn một lí do nữa là Từ Hải muốn Kiều có một cuộc sống hạnh phúc hơn cho nên dứt áo ra đi cũng là một lí do
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật Từ Hải trong chí khí anh hùng | 524 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Từ trong truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao
Gợi ý
Nhân vật Từ.
– Ngoại hình: Nam Cao rất ít tả ngoại hình của nhân vật Từ. Phần cuối truyện, chỉ có một vài nét vẽ tác giả tả Từ một người đàn bà bạc mệnh. Da mặt xanh nhợt, môi nhợt nhạt, mi mắt hơi tim tím, mắt có quần, má hơi hóp lại… Cái bàn tay lủng củng rặt những xương, cổ tay mỏng mảnh. Làn da mỏng, xanh trong, xanh lọc… Đó là hình ảnh một thiếu phụ, nhiều lo lắng, thiếu thốn về mặt vật chất. Vẻ đẹp thời con gái đã tàn phai.
Phân tích nhân vật Từ trong truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao
– Lỡ làng vì bị tình phụ. Cảnh Từ ôm con sau ngày đẻ, nhịn đói, mẹ già bị mù, cả mẹ lẫn con chỉ có một cách là khóc cho đến khi nào bao nhiêu thịt để chảy ra thành nước mắt hết, để rồi cùng chết cả.
– Từ là hội tụ bao đức tính tốt đẹp của người vợ yêu chồng, người mẹ thương con. Dịu dàng, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh. Từ hiểu rằng Hộ khổ là vì Từ. Từ chén nước đến cử chỉ lời nói, chị đã dành cho hộ bao tình thương yêu. Bị Hộ say rượu hắt hủi, đánh đuổi, nhưng Từ vẫn yêu chồng, không thể ôm con bỏ đi được, vì ngoài tình yêu, Hộ còn là ân nhân của chị. Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình của một con chó đối với người nuôi.
– Phần cuối truyện, Từ ôm lấy cổ chồng nói: "… Không!… Anh chỉ là một người khổ sở… chính vì em mà anh khổ…”. Nàng ru con qua dòng nước mắt… cho thấy Từ là một người bạc mệnh, nhưng bản tính rất dịu dàng, giàu đức hi sinh.
– Nam Cao với trái tim nhân đạo đã miêu tả sâu sắc tâm hồn nhân hậu của Từ, cảm thông với nỗi đau của Từ, của bao người phụ nữ bạc mệnh và đau khổ trong xã hội cũ. Tiếng ru con của Từ là tiếng thương, là nỗi đau buồn về cuộc đời bi kịch của người phụ nữ: sống trong tình yêu mà ít có hạnh phúc! | Phân tích nhân vật Từ trong truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao | 394 | |
Phân tích nhân vật Từ trong truyện ngắn Đời thừa
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Từ trong truyện ngắn Đời thừa
Nam Cam là một tài năng của văn học Việt Nam, với tài năng của mình, Nam Cao đã để lại nhiều tác phẩm để đời và tầm vóc của nó vẫn còn cho tới bây giờ. Đặc biệt ông rất tài tình trong miêu tả nhân vật. Những đứa con tinh thần của ông là những người có số phận éo le và thường phải đối mặt với bi kịch của cuộc sống của số phận. Một trong số đó là tác phẩm “ đừi thừa” với các nhân vật Hộ, Từ.. Bằng tài năng của mình ông đã khắc họa hình ảnh một người phụ nữ điển hình của xã hội lúc bấy giờ – Từ
Trong tác phẩm Từ là vợ của Hộ, và cô được Nam Cao miêu tả không phải tập trung vào ngoại hình duy chỉ cuối truyện, chỉ có một vài nét vẽ tác giả tả Từ một người đàn bà bạc mệnh. Lúc này nhân vật Từ hiện ra với da mặt xanh nhợt, môi nhợt nhạt, mi mắt hơi tim tím, mắt có quần, má hơi hóp lại… Cái bàn tay lủng củng rặt những xương, cổ tay mỏng mảnh. Làn da mỏng, xanh trong, xanh lọc… Hình ảnh này gợi tới hình ảnh của một thiếu phụ, nhiều lo lắng, thiếu thốn về mặt vật chất. Vẻ đẹp thời con gái đã tàn phai. Bởi chính cuộc sống lo toan bởi những lo lắng và nghèo khổ cho nên tuổi xuân của người con gái đó cũng chóng phai tàn.
Từ là một người phụ nữ mà ở cô hội tụ bao đức tính tốt đẹp của người vợ yêu chồng, người mẹ thương con. Cô còn là một người dịu dàng, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh. Và cũng chính Từ hiểu rằng Hộ khổ là vì Từ cho nên Từ chén nước đến cử chỉ lời nói, chị đã dành cho hộ bao tình thương yêu. Khi Hộ say rượu hắt hủi, đánh đuổi, nhưng Từ vẫn yêu chồng, không thể ôm con bỏ đi được, vì ngoài tình yêu, Hộ còn là ân nhân của chị. Đó mà thứ tình cảm vượt ra tình yêu, Từ yêu chồng bằng một thứ tình yêu rất gần với tình của một con chó đối với người nuôi.Ở phần cuối truyện, Từ ôm lấy cổ chồng nói: “… Không!… Anh chỉ là một người khổ sở… chính vì em mà anh khổ…”. Nàng ru con qua dòng nước mắt… cho thấy Từ là một người bạc mệnh, nhưng bản tính rất dịu dàng, giàu đức hi sinh. Qua những lời nói chua xót đó, Từ vẫn chứng tỏ cô là người phụ nữ giàu đức hi sinh và hết lòng vì chồng vì con.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật Từ trong truyện ngắn Đời thừa | 486 | |
Phân tích nhân vật T’ nú trong truyện ngắn “Rừng xà nu”- Văn lớp 12
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật T’ nú trong truyện ngắn “Rừng xà nu”- Văn lớp 12
Bài làm
Tác giả Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong thời kỳ đất nước ta đang trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nam Bắc chia đôi, miền Bắc bước vào con đường xã hội chủ nghĩa, còn miền Nam vẫn trong chế độ của Mỹ -Diệm.
Tây Nguyên là mảnh đất chịu người thương vong mất mát, những người dân vùng này thường chịu nhiều thiệt thòi trong kháng chiến. Chính vì vậy, mà những con người nơi đây thường có sức sống mãnh liệt, tinh thần yêu nước nồng nàn, quyết tâm đánh tan bè lũ cướp nước với tinh thần quả cảm nhất.
Trong truyện ngắn “Rừng xà nu” tác giả Nguyễn Trung Thành đã khắc họa thành công nhân vật T Nú là biểu tượng của người con anh hùng, kiên cường, bất khuất của rừng núi Tây Nguyên.
Nhân vật T Nú được xem là nhân vật trung tâm quan trọng của tác phẩm, cũng như hình ảnh cây xà nu của núi rừng đại ngàn Tây Nguyên, càng bị vùi dập, chà đạp thì nó lại càng vươn cao kiên cường.
Tác giả Nguyễn Trung Thành đã khôn khéo tinh tế khi xây dựng nhân vật, T Nú là người có tinh thần kiên cường, từ nhỏ đã được cụ Mết nuôi dưỡng, được cụ dạy cho cách sống như những cây xà nu, dù khó khăn, càng thể hiện tinh thần sống vững vàng, không lùi bước.
T Nú khi sinh ra đã sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ do một trận càn quét của giặc, anh được cụ Mết một người già làng trong bản, cùng những người dân nuôi dưỡng. T Nú và Mai khá thân nhau từ thủa nhỏ, thường đưa bộ đội, các chiến chiến cách mạng qua rừng bằng con đường bí mật.
Khi được anh Quyết một chiến sĩ cách mạng dạy cho viết chữ Mai học chữ nhanh hơn, còn T Nú thì gặp nhiều khó khăn trong việc nhớ chữ, để nhắc mình không được quên T Nú đã lấy hòn đá đập vào tay mình tới chảy máu.
Hành động này thể hiện sự quyết tâm, của T Nú trong những việc anh muốn làm, thì anh sẽ cố gắng làm bằng được dù có khó khăn tới thế nào. Khi lớn lên, T Nú và Mai kết hôn và có một con trai đầu lòng là thành quả tình yêu của hai người.
Nhưng khi T Nú đi hoạt động cách mạng Mai ở nhà bị bọn thằng Dục tay sai của giặc tới nhà bắt hai mẹ con đi tra tấn. T Nú nghe tin chạy về nhà nhưng khi tới nơi anh định lao vào cứu hai mẹ con Mai thì có một bàn tay nắm lấy ai lại đó chính là cụ Mết.
Hai bàn tay của T Nú cháy rực như ngọn đuốc nhưng anh không kêu nửa lời, sự đau đớn về thể xác không là gì so với nỗi đau tâm hồn của anh.
Lúc này, cụ Mết lãnh đạo nhân dân làng Xô Man gươm giáo xông lên, cụ Mết đã đâm chết thằng Dục bán nước rồi cởi trói cho T Nú, bàn tay T Nú bị đốt mất mười đầu ngón tay, nhưng cụ Mết bảo anh không có ngón tay vẫn cầm súng đánh giặc được. Thể hiện quyết tâm của những người dân vùng Tây Nguyên hùng vĩ. Sự kiên cường, bất khuất của họ trong ý chí chiến đấu quyết tâm giải phóng quê hương.
Hình ảnh đôi bàn tay T Nú cháy rực như ngọn đuốc khiến cho người đọc không khỏi bị ám ảnh, một hình ảnh bi hùng thể hiện sự kiên cường gan góc của con người trí dũng trong đấu tranh chống Mỹ cứu nước. Chính nhờ có những con người như T Nú mà cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thống nhất nước nhà của dân tộc ta mới thành công.
Nhân vật T Nú được tác giả Nguyễn Trung Thành xây dựng bên cạnh hình ảnh cây xà nu của núi rừng xanh tươi bạt ngàn, thể hiện sự kiên cường, sức sống mãnh liệt dẻo dai của T Nú và cánh rừng xà nu. Nó chính là điểm nổi bật tương đồng của người dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ.
Bằng nghệ thuật chân thực, giàu tính chất sử thi, tác giả Nguyễn Trung Thành đã phác họa thành công bức tượng đài bi tráng, hùng vĩ về nhân vật T Nú kiên cường, bất khuất, anh hùng quả cảm, đây cũng chính là sự thành công của tác giả và tác phẩm. | Phân tích nhân vật T’ nú trong truyện ngắn “Rừng xà nu”- Văn lớp 12 | 804 | |
Phân tích nhân vật viên cai ngục trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật viên cai ngục trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Bởi thế, những tác phẩm của ông vẫn luôn thể hiện những điều Chân – Thiện – Mĩ như một chân lí sống của cuộc đời. “Chữ người tử tù” chính là một trong những tác phẩm như thế. Trong đó nhân vật viên cai ngục – tuy thân phận nhỏ bé, thấp hèn nhưng lại là người bảo vệ cái đẹp được vẹn nguyên đến cùng ngay trong chốn lao tù dơ bẩn, nhem nhuốc cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Tác phẩm chỉ xoay quanh cuộc gặp gỡ giữa cai ngục và Huấn Cao – một vị anh hùng gan dạ, can đảm luôn sẵn sàng chống lại chế độ phong kiến độc quyền, tàn ác. Trong bối cảnh là một người tử tù, Huấn Cao có thể bị cai ngục – kẻ ngự trị chốn lao tù – đánh đập, hành hạ bất cứ lúc nào, nhưng mọi chuyện đã diễn ra hoàn toàn ngược lại. Bởi người cai ngục ấy không phải là một kẻ dã tâm như những người cai ngục khác.
Tâm hồn ông chính là một “âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản đàn nhạc mà nhạc luật đều hỗn độn xô bồ” đúng như Huấn Cao đã nhận xét. Khi vừa mới nghe tin Huấn Cao sắp đến trại nơi ông cai quản, viên cai ngục đã ngay lập tức nhận ra đây là “cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”. Chứng tỏ rằng ông là một người luôn quan tâm đến cái đẹp, cái tài chứ không phải là người chỉ biết đến những đòn roi, những mánh khóe để sử dụng cho tù nhân. Chỉ như vậy thôi cũng đủ thấy đây là một người có tâm hồn thiện lương. Nhưng giữa chốn lao tù, giữa những kẻ cầm quyền tàn ác với chế độ độc quyền xảo trá, cai ngục đã phải rất thận trọng và kín đáo dấu mình dưới cái bình phong là một tên cai ngục thô bạo. Thế nên, ông đã phải vội vàng gạt đi ngay khi thầy thơ lại có ý nói đến Huấn Cao: “Tôi thấy những người có tài như thế mà đi làm giắc thì đáng buồn lắm. Dạ bẩm, giả thử tôi là đao phủ, phải chém những người như vậy, tôi nghĩa mà thấy tiêng tiếc”. “Ngục quan băn khoăn rồi ngồi bóp thái dương”. Hẳn là trong đầu ông vẫn còn đang nghĩ suy về những lời lẽ vừa rồi của thầy thơ lại. Nhưng ông không dám bộc bạch hết lòng mình với ai.
Phải chăng, trong cái vỏ bọc của một ngục quan, ông đang phải gánh chịu những trái ngang, những bi kịch đầy nghiệt ngã? Ai có thể sống vui vẻ, thoải mái khi không được là chính mình? Ông yêu cái đẹp, ông ngưỡng mộ Huấn Cao không chỉ bởi tài viết chữ nhanh và đẹp, mà còn bởi đây là một vị anh hùng luôn sẵn sàng chiến đấu vì chính nghĩa, sẵn sàng hi sinh cả bản thân mình để bảo vệ cho quyền lợi của nhân dân chứ không chịu khuất phục những kẻo bạo tàn, gian ác. Nghĩ vậy, có lẽ cai ngục lại cúi đầu nhìn lại bản thân mình sao mà thấp hèn thế, phải sống trong cái vỏ bọc không phải là chính mình. Ông cũng yêu cái đẹp, cũng muốn bảo vệ người tốt, nhưng tại sao ông lại chịu sống với cảnh sống như bây giờ? Đây chính là một bi kịch thật đáng đau buồn khi không được sống là đúng bản thân mình. Nguyễn Tuân đã có những dòng văn hết sức nhẹ nhàng và đầy cảm thông dành cho nhân vật của mình: “Người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy giờ chỉ còn lại là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo, và êm nhẹ”. Như vậy, cùng một lúc, cai ngục phải đóng cả hai vai trong một cuộc đời. Ban ngày, ông là một ngục quan đầy uy quyền, có thể ra tay đánh đập bất kỳ kẻ tù nhân nào với mọi mánh khóe, chiêu trò. Nhưng đêm về, ông trở lại với đúng con người của mình, hiền dịu, thiện lương như “mặt nước ao xuân”. Qua đó, nhà văn cũng đã thể hiện cách nhìn nhận cái đẹp của mình không phải qua vẻ bề ngoài, mà đẹp là sự cảm nhận từ bên trong sâu thẳm tâm hồn. Giữa những câu văn đang tư lự bên người cai ngục, Nguyễn Tuân lại dành những lời ủi an cho cai ngục: “Ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điền tốt thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Cái thuần khiết mà tác giả muốn nói đến ở đây chính là viên cai ngục tội nghiệp. Không biết vì lý do gì mà ông phải sống trong cái vỏ bọc lạnh lùng, thô bạo này nhưng dù có thế nào đi nữa, tâm hồn ông vẫn là “một âm thanh trong trẻo” đáng được nâng niu, trân trọng.
Không những thế, ông còn là một người say mê cái đẹp, trọng người tài và khiêm tốn, lễ phép. Qua cách đối xử của ông với Huấn Cao, nhà văn đã khai thác một cách triệt để những điều thâm túy về cái đẹp. Rằng không phải cứ nhìn thấy tận mắt mới biết là đẹp. Có những điều rất đẹp nhưng lại ẩn chứa sau cái vỏ thô bạo bề ngoài. Giống như viên cai ngục, dù hằng ngày ông vẫn dùng những đòn roi, những mánh khóe để chừng trị tù nhân nhưng đối với Huấn Cao, ông lại đối xử một cách rất đặc biệt. “Trái với phong tục nhận tù hàng ngày, hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt rất hiền lành. Lòng kiêng nể, tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã rõ quá rồi”. Đến lúc này, cai ngục đã phần nào bộc lộ bản chất lương thiện và sự ngưỡng mộ, say mê cái đẹp của mình. Bởi thế, ông đã gạt đi lời nhắc nhở của mấy tên lính về những mánh khóe hành hạ thường ngày khiến bọn lính ngạc nhiên và khó hiểu. Ông âm thầm lặng lẽ sai người thơ lại mang rượu đến cho Huấn Cao trước mỗi giờ ăn của bữa cơm tù. “Rồi đến một hôm, quản ngục mở khóa cửa buồng kín, khép nép hỏi ông Huấn: Đối với những người như ngài, phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là một người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho. Sợ đến tai lính tráng họ biết, thì phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất”. Lời lẽ lễ phép ấy của cai ngục thật khác với vẻ thô bạo hàng ngày. Lúc này, ông không còn là một viên cai ngục đầy uy quyền trước tù nhân nữa. Ông hiểu Huấn Cao là một người tài giỏi, có nghĩa khí, còn mình chỉ là một tên quan lại cai ngục, một kẻ đáng ghét chẳng có nghĩa khí gì. Ông tự nhận thấy vị trí của mình và Huấn Cao khác nhau một trời một vực. Ông thấy mình như một kẻ thấp hèn đang đứng trước vị anh hùng đầy ý chí. Ý thức rõ về bản thân nên ông vẫn vui lòng chấp thuận khi tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của mình bị từ chối một cách thẳng thắn: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Lời khước từ đầy hắt hủi và có phần sỉ nhục ấy của Huấn Cao rất có thể sẽ mang đến những trận đòn roi thậm chí là chảnh chết chém nhưng viên cai ngục này lại không phải là một người như Huấn Cao nghĩ. “Y chỉ lễ phép lui ra với một câu: Xin lĩnh ý”. Có lẽ ngục quan hiểu rằng thân phận mình quá thấp hèn, không đáng để được đứng trước mặt Huấn Cao – một vị anh hùng đầy bản lĩnh và khí phách. “Và từ hôm ấy, cơm rượu lại vẫn đưa đến đều đều và có phần hậu hơn trước nữa; duy chỉ có y là không để chân vao buồng giam ông Huần. Ông Huấn càng ngạc nhiên nữa: năm bạn đồng chí của ông cũng đều được biệt đãi như thế cả”. Như vậy, tấm lòng của ngục quan đã quá tỏ tường. Ông không chỉ mê cái đẹp, cái tài viết chữ của Huấn Cao mà hơn thế, ông còn khâm phục và ngưỡng mộ chí khí anh hùng trong mỗi người tử tù sắp đến giờ phải hành hình. Thái độ hắt hủi của Huấn Cao dành cho ông cũng chính là sự khinh bạc của ông đối với cái nghề mà mình đang làm. Thế nên, ông không hề lấy làm oán thù gì với ông Huấn. “Y cũng thừa hiều những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiệu lại giữ tù”.
Cho đến khi ông Huấn thấu hiểu tấm lòng ấy, vào đêm cuối cùng, ông đã đồng ý cho chữ ngục quan. Sự chân thật của y đã làm cho vị anh Hùng cảm động: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Đến giờ phút này, giá trị của ngục quan cũng đã được công nhận. Và ông rất xứng đáng được nhận chữ từ Huấn Cao. “Đêm hôm ấy lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Mặc dù vậy, cảnh cho chữ vẫn diễn ra một cách vẹn toàn. Người cho chữ là tử tù, còn người nhận chữ là viên cai ngục mà hàng ngày mọi người vẫn nhìn thấy qua cái vỏ bọc thô bạo với những mánh khóe hành hạ, đánh đập tù nhân. “Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vối khúm núm cấ những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng”. Có thể thấy ông nâng niu và trân trọng cái đẹp vô cùng. Dù sống trong nơi nhơ bẩn, và dù bàn tay ông cũng đã lấm đầy tội ác nhưng tấm lòng vẫn luôn trong trẻo và thanh cao. Bi kịch của cuộc đời ông khiến cho một vị anh hùng cảm động. “Ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo: Ở đây lẫn lộn. Ta khuyền thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?… Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nuốc mất cái đời lương thiện đi”. Trong lời nói của Huấn Cao chứa đầy hàm ý. Ông cũng chỉ rõ nơi ngục tù tăm tối này không phải là nơi treo lên một bức tranh đẹp như vậy, cũng giống như tâm hồn trong sáng của ông không nên thuộc về nơi này.
Như vậy, Nguyễn Tuân đã xây dựng rất thành công nhân vật cai ngục với hai phiên bản trái ngược nhau. Một là cái vỏ bề ngoài đầy gian ác qua những mánh khóe hành hạ tù nhân. Hai là tấm lòng thiện lương trong trẻo, thanh tao và cao quý. Hơn hết, tấm lòng ấy luôn được nâng niu, gìn giữ dù cảnh sống có xô bồ, ngang trái. Qua đó thể hiện những quan niệm đúng đắn của tác giả về cái đẹp, đồng thời bộc lộ thầm kín lòng yêu nước một cách mãnh liệt và mạnh mẽ. | Phân tích nhân vật viên cai ngục trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân | 2,231 | |
Phân tích nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù
Hướng dẫn
Bài tập làm văn phân tích nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân lớp 11 bao gồm dàn ý phân tích nhân vật viên quản ngục và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích nhân vật viên quản ngục hay nhất.
Dàn ý phân tích nhân vật viên quản ngục
1. Mở bài
– Giới thiệu tập truyện ngắn Vang bóng một thời.
– Giới thiệu truyện ngắn “Chữ người tử tù”.
– Giới thiệu nhân vật Quản ngục- vẻ đẹp của một thanh âm trong trẻo.
2. Thân bài
– Giới thiệu qua về tác phẩm, nhân vật.
– Giới thiệu tình huống truyện làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật.
a. Quản Ngục- một thanh âm trong trẻo, con người bị đặt nhầm chỗ.
– Cách xuất hiện:
+ Quản Ngục được giới thiệu ngay ở phần đầu tác phẩm trong cuộc trò chuyện với thầy thơ lại. Cái tên HC xuất hiện trong phiến trát khiến Quản Ngục ngờ ngợ, ông hỏi thầy thơ lại về HC với thái độ quan tâm, mến mộ một cách kín đáo.
” Chỉ một chi tiết nhưng cũng đủ để người đọc có những ấn tượng đầu tiên về nhân vật. Sự quan tâm đặc biệt dành cho HC và nhất là cái tài viết chữ “nhanh và đẹp” của kẻ tử tù như một sự chuẩn bị trước của nhà văn để gây ấn tượng về nhân vật.
– Từ cách giới thiệu ban đầu đó, nhà văn đã giúp ta hiểu rõ hơn về nhân vật này. Trong đêm đầu tiên hình ảnh Quản Ngục được khắc hoạ với dáng ngồi tư lự “khuôn mặt băn khoăn ngồi bóp thái dương…”. Có lẽ trong lòng viên quản ngục có một tâm sự kín đáo. Quản Ngục băn khoăn bởi sự xuất hiện của HC trong nhà ngục cũng có nghĩa là một kẻ tài hoa sắp phải chịu án tử hình. Một nỗi tiếc nuối mơ hồ trước một ngôi sao chính vị sắp từ biệt vũ trụ. Một khao khát thầm kín “Có ông HC trong tay…chữ”.
– Chỉ đến khi nghĩ là sẽ đối đãi để Huấn Cao đỡ cực trong những ngày còn lại khuôn mặt Quản Ngục mới giãn ra “như mặt nước ao …”.
” Quản Ngục là một con người kín đáo, điềm tĩnh và ẩn chứa một nỗi niềm khó nói.
– Sống nơi nhà ngục tăm tối ở chỗ người ta thường đối xử với nhau bằng lừa lọc, tàn nhẫn thế mà Quản Ngục lại là một “tính cách dịu dàng…”, lại biết đọc “vỡ nghĩa sách thánh hiền từ ngày còn bé”. Quản Ngục thực sự là một kẻ bị đặt nhầm chỗ “một thanh âm …”.
b. Sự xuất hiện của Huấn Cao trong nhà ngục tỉnh Sơn là điều kiện để làm nổi bật bản chất tốt đẹp của con người này mà bấy lâu nay hoàn cảnh làm cho khuất lấp
– Cái đáng quý nhất ở Quản Ngục chính là sự nâng niu trân trọng cái đẹp và tấm lòng biệt nhỡn liên tài:
+ Sự nâng niu trân trọng cái đẹp: Huấn Cao xuất hiện đã làm thức dậy niềm khao khát bấy lâu của Quản Ngục là “được treo ở nhà riêng một đôi câu đối” do chính tay Huấn Cao viết. Khao khát có được chữ của Huấn Cao khiến Quản Ngục dám làm những điều có thể nguy hại tới tính mạng.
” Sở nguyện cao quý của Quản Ngục giúp ta hiểu hơn con người Quản Ngục. Con người biết qúy trọng nâng niu cái đẹp hẳn không phải là một người xấu.
+ Tấm lòng biệt nhỡn liên tài:
• Nói về kẻ tử tù với một thái độ kính trọng không che giấu “Tôi nghe …rất đẹp đó không?”
• Cảm thấy tiếc nuối khi biết Huấn Cao sắp phải từ giữ cõi đời: “Bấy nhiêu …vũ trụ”.
• Dũng cảm biệt đãi Huấn Cao để Huấn Cao đỡ khổ hơn trong những ngày cuối cùng còn lại ngay cả khi bị Huấn Cao coi thường, khinh bỉ.
” Đọc CNTT không chỉ thấy thái độ không biết sợ của Huấn Cao đẹp mà thái độ biết sợ của Quản Ngục cũng đẹp không kém. Thái độ không biết sợ của Huấn Cao là cái đẹp của khí phách anh hùng. Thái độ biết sợ của Quản Ngục là cái đẹp của thiên lương trong sáng.
c. Sự gặp gỡ của viên Quản Ngục với Huấn Cao chính là sự gặp gỡ của những nhân cách cao đẹp khiến cho cảnh cho chữ càng giàu ý nghĩa
– Cảnh cho chữ lại diễn ra trong một nơi nhà ngục “đêm hôm đó trong trại giam tỉnh Sơn, ở một không gian chật hẹp, ẩm tối: “tường đầy mạng nhện…”. Nhưng giữa không gian chật hẹp đó với bút pháp tương phản nhà văn đã gây ấn tượng cho người đọc với hình ảnh tráng lệ, nổi lên giữa không gian tăm tối là bó đuốc tẩm dầu …là tấm lụa trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ…và mùi thơm của chậu mực. Ánh sáng từ ngọn đuốc, ngọn lửa như xua đi khung cảnh tăm tối ảm đạm chốn lao tù.
– Những nét vẽ như khắc như chạm đã vẽ lên một hình ảnh hào hùng “Một người tù…” cạnh đó là thầy thơ lại và Quản Ngục. Sự khúm núm, run run không phải là biểu hiện của sự hèn nhát mà là thái độ ngưỡng vọng trước cái đẹp, cái tài.
– Động tác của họ ăn ý nhịp nhàng “Huấn Cao…” thể hiện sự thấu hiểu tận đáy lòng.
” Không còn nhà ngục, không còn kẻ tử tù, không còn viên quan coi ngục nắm quyền sinh quyền sát trong tay, chỉ còn lại những dòng chữ tươi tắn.
– Những lời khuyên chân thành và thái độ ân cần của Huấn Cao đã làm cho Quản Ngục bừng tỉnh, vái lạy người tù. Có cái vái lạy làm cho con người ta trở nên thấp hèn, nhưng cũng có cái vái lẫy khiến tầm vóc con người lớn lao hơn. Và cái vái lạy của Quản Ngục trước Huấn Cao là một cái vái lạy tôn cao nhân cách. Đó là cái vái lạy trước cái đẹp.
“Quan niệm nghệ thuật của nhà văn: trong mỗi con người đều có một người nghệ sĩ, đều ẩn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài. Không phải ai cũng xấu hết, bên cạnh phần ác quỷ vẫn có “thiên lương”.
Cái đẹp tồn tại cả trong môi trường của cái ác, cái xấu, nhưng không vì thế mà nó lụi tàn mà nó càng mạnh mẽ và bền bỉ như hoa sen giữa đầm lầy.
d. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
– Đặt nhân vật vào tình huống giàu kịch tính.
– Thủ pháp tương phản đối lập.
– Vốn văn hoá cổ và ngôn ngữ điêu luyện tạp nên sự hấp dẫn và net riêng cho nhân vật.
3. Kết bài
– Đáng giá thành công của tác phẩm, tài năng của nhà văn.
– Vẻ đẹp, ý nghĩa của hình tượng nhân vật.
Bài văn mẫu phân tích nhân vật viên quản ngục
Phân tích nhân vật viên quản ngục – bài 1
Khi tiếp cận và nghiên cứu tác phẩm “Chữ người tử tù” người đọc thường dành sự quan tâm đặc biệt đến nhân vật Huấn Cao – bức tượng đài trung tâm của tác phẩm mà quên mất rằng có một nhân vật góp phần không nhỏ làm nên giá trị độc đáo của thiên truyện ngắn này, đó chính là nhân vật viên quản ngục.
Hai chữ quản ngục đã phần nào gợi lên đầy đủ nghề nghiệp về nhân vật đó là nghề cai tù, nghề đại diện cho quyền lực phong kiến, đối lập với những con người tài hoa, khí phách như Huấn Cao, đối lập với cái đẹp. Nghề nghiệp ấy cũng gợi lên một môi trường của gông cùm, xiềng xích, tội ác. Nhân vật hàng ngày phải chứng kiến bao điều tàn nhẫn, lọc lừa ăn đời ở kiếp với bọn tiểu nhân tử tốt. Cảnh sống ấy dễ làm cho con người bị chai sạn, dễ bị đẩy vào bùn nhơ của tội lỗi nhưng ở quản ngục vẫn giữ được nhân cách tâm hồn. Cách ví von của Nguyễn Tuân thể hiện sự nhìn nhận khám phá đề cao con người mang vẻ đẹp thiên lương nghệ sĩ, đó là một thanh âm trong trẻo chen giữa vào bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ, là cái cao khiết giữa một đống cạn bã.
Để làm nổi bật thanh âm trong trẻo, cái cao khiết và đống cạn bã, nhà văn Nguyễn Tuân đã đi vào thể hiện nhân vật quan ngục là con người bị ném vào môi trường cạn bã nhưng vẫn giữ được thiên lương.
Điều đó bộc lộ qua thái độ và cách ứng xử của viên quản ngục đối với sáu người tử tù đặc biệt là đối với Huấn Cao. Khi nhận được phiến trác, quản ngục hỏi thầy thơ lại: “Tôi nghe ngờ ngợ… Huấn Cao… hay là cái người mà cả tỉnh Sơn Tây vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh rất đẹp đấy không?” Câu hỏi là sự thăm dò kín đáo, thận trọng nhưng cũng chính là bộc lộ sự ngưỡng mộ, khâm phục, kính nể của quản ngục đối với tài hoa, danh tiếng và khí phách của Huấn Cao.
Khi biết mình nắm trong tay sinh mệnh của Huấn Cao, quản ngục đã phải trải qua một cuộc đấu tranh tư tưởng. Ông ngồi đó với khuôn mặt tư lự và suy nghĩ. Quản ngục hiểu rằng, ông là người hành pháp phải làm việc theo bổn phận và chức trách mà chính quyền giao cho. Ông băn khoăn, trăn trở không biết phải đối xử với Huấn Cao như thế nào. Bởi đó là một con người mà từ lâu quản ngục đã mến mộ. Nguyễn Tuân đã dành những trang văn trang trọng, lên thơ miêu tả khung cảnh đêm tối khi quản ngục suy ngẫm: “Tiếng trống thu không… ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”.
Để tô đậm nhân cách quản ngục, Nguyễn Tuân đã miêu tả thái độ khác thường của quản ngục khi tiếp đón sáu người tử tù. Quản ngục tiếp đón bằng cặp mắt hiền lành và kính nể. Cái nhìn ấy, tấm lòng ấy đã ẩn chứa một thái độ biệt nhỡn liên tài. Chính thái độ kiêng nể của quản ngục cho bon lính lấy làm lạ nhắc quản ngục: “Xin thầy để tâm cho…”, quản ngục đã trả lời với bọn lính: “việc quan ta đã có phép nước, các chú chớ nhiều lời”. Như vậy, Nguyễn Tuân đã khai thác yếu tố tương phản, đối lập giữa một bên là bọn lính áp giải hung hăng, với một bên là ánh mắt hiền lành của viên quản ngục để làm nổi bật: quản ngục tuy là đai diện cho quyền lực phong kiến nhưng ông không phải là hung đồ với bàn tay vấy máu, ngược lại sống giữa bùn nhơ nhưng không bị hoen ố, vấy bẩn mà thực sự là cái cao khiết giữa một đống cạn bã.
Ở nhân vật viên quản ngục, nhà văn không chỉ thể hiện vẻ đẹp nhân cách mà còn khám phá và thể hiện vẻ đẹp của một con người có tâm hồn của một người nghệ sĩ.
Theo cách giới thiệu của nhà văn, viên quản ngục là một nhà nho, biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền và có một khát vọng cháy lòng là xin được con chữ Huấn Cao, coi đó là vật báu. Nghĩa là đằng sau cái con người công cụ của bộ máy trấn áp quyền lực phong kiến, nhân vật viên quản ngục còn là một con người có tâm hồn nghệ sĩ, trân trọng cái đẹp, thưởng thức cái đẹp.
Khi biết Huấn Cao trở thành người tù nơi trại giam của mình, viên quản ngục khổ tâm nhất đó là có được Huấn Cao ở trong tay mà không làm thế nào để tiếp cận được Huấn Cao. Khi quản ngục tỏ ý biệt đãi Huấn Cao và Huấn Cao đã thể hiện thái độ khinh bạc nhưng quản ngục không hề trả thù ngược lại ông còn “xin lĩnh ý” rất từ tốn và khiêm nhường. Có lẽ, ông đã tự ý thức được khoảng cách xa vời giữa người tử tù Huấn Cao với mình và ông hiểu được cái đẹp phải tự nguyện chứ không phải là cưỡng bức bằng những mánh khoé tầm thường.
Cảnh xin chữ là nơi kết đọng vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ của quản ngục. Khi Huấn Cao viết xong một chữ “viên quản ngục lại vội khúm núm”, sự khúm núm ấy không phải là nỗi sợ sệt tầm thường mà là cảm kích tột cùng trước một nhân cách lớn, tài năng lớn. Khi nghe những lời khuyên chân thành của Huấn Cao, quản ngục đã cảm động “vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào, kẻ mê muội này xin bãi lĩnh”. Đây không phải là cái cúi đầu đớn hèn, nhục nhã mà cái cúi đầu này khiến quản ngục trở nên lớn lao, cao cả bởi cúi đầu trước cái đẹp thì đó cũng là hành động đẹp. Phải chăng cái cúi đầu ấy như cái cúi đầu của Cao Chu Thần thuở nào: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Bên cạnh cái cúi lậy cao cả đó là giọt nước mắt của tâm hồn nghệ sĩ biết yêu, biết trân trọng đến xót xa ngậm ngùi, nuối tiếc cho cái đẹp.
Hình tượng viên quản ngục dẫu chỉ là một nhân vật phụ, là sự hoà quyện giữa nhân cách cao đẹp và tâm hồn người nghệ sĩ. Có thể ví, cuộc đời của viên quản ngục giống như một bông sen vươn dậy từ bùn lầy. Một đời cầm bút Nguyễn Tuân trong hành trình đi tìm cái đẹp và ông luôn cảm kích, ngợi ca những con người tài hoa nghệ sĩ trong bất cứ nghề gì và hình tượng viên quản ngục là một nhân vật như thế.
Phân tích nhân vật viên quản ngục – bài 2
Một nền văn học lớn là một nền văn học có nhiều phong cách, một nhà văn lớn là một nhà văn xây dựng cho mình một phong cách riêng độc đáo. Nguyễn Tuân là một nhà văn như thế. Phong cách nghệ thuật nổi bật của ông chính là tài hoa uyên bác và là một người suốt đời đi tìm cái đẹp. Chính bởi phong cách ấy mà những tác phẩm của ông mang đậm sự tài hoa uyên bác. Đặc biệt là chữ người tử tù, trong tác phẩm ấy ngoài nhân vật Huấn Cao ta cũng không thể nào không nhắc đến nhân vật Viên quản ngục. Dưới ngòi bút tài hoa uyên bác, một bậc phù thủy ngôn ngữ chẻ sợi tóc làm tư nhân vật ấy hiện lên cũng thật đáng chú ý.
Chữ người tử tù là một trong những truyện trong tập vang bóng một thời của nhà văn Nguyễn tuân. Tập truyện viết về những thói quen xưa cũ nay chỉ còn vang bóng mà thôi. Trong đó chữ người tử tù kể về một cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ giữa nhân vật viên quản ngục và Huấn Cao. Không gian gặp gỡ là nhà tù nơi ngự trị của bóng tối và là kẻ thù của cái đẹp. Thời gian là những ngày cuối cùng của tử tù Huấn Cao. Ta thấy được cái tình huống éo le ấy nhưng còn thấy được sự éo le hơn trong chính thân phận của họ. Viên quản ngục là đạo diện cho triều đình còn Huấn Cao thì lại chống lại triều đình. Những trên bình diện nghệ thuật thì họ không còn là kẻ thù của nhau nữa. Huấn Cao viết chữ đẹp còn viên quản ngục thì lại yêu thích say đắm cái đẹp. Chính vì thế mà trên bình diện nghệ thuật họ là những người tri kỉ. Và đồng thời xuất phát từ tình huống truyện ấy ta cảm nhận được vẻ đẹp của viên quản ngục như những nốt nhạc thanh thót thanh cao trong một bản nhạc xô bồ.
Viên quản ngục là một người có sở thích sở nguyện cao quý. Đó chính là thích chữ đẹp của Huấn Cao. Nếu như sở thích của những viên quan tầm thường là vàng bạc hư danh, quyền quý an nhàn thì viên quản ngục trong tác phẩm này thì lại hoàn toàn ngược lại. Ông là một người có những sở thích và sở nguyện cao quý. Ông có tầm nhìn xa trông rộng và tâm tưởng thì hoàn toàn thoát khỏi những cám dỗ của vật chất cũng như những bóng tối của ngục tù. Ông làm quan những không hề hống hách mà chỉ biết làm tròn nhiệm vụ của bản thân mình. Ông giống như một âm thanh trong trẻo trong bản nhạc xô bồ ấy. Sở nguyện của ông là một ngày kia có một bức tranh chữ của Huấn Cao viết mà treo trong nhà thì quả thật là nhất. Cái sở nguyện yêu chuộng những giá trị văn hóa truyền thống ấy cho thấy được cái tâm hồn trong trẻo của ông. Mặc dù làm một tên quan cai ngục nhưng ông không đánh mất đi cái sự lương thiện trong bản thân mình. Ông không hề phụ thuộc vào triều đình. Khi biết Huấn Cao đến thì ông đã tìm mọi cách để xin chữ của ông dẫu biết rằng một khi bại lộ ra thì ông sẽ có thể mất đầu. Ta cảm nhận được ở con người ông những giá trị tôn vinh cái đẹp, tâm hồn ông không bị nhà ngục kia vấy đen. Trong cái nơi chỉ có sự đánh đập trả thù tra tấn đến dã man ấy mà tâm hồn ông vẫn sáng lấp lánh như một viên ngọc quý trong đêm. Kể cả khi việc xin chữ ấy gặp khó khăn khi Huấn Cao không hiểu được nỗi lòng của ông nhưng ông vẫn giữ niềm hi vọng và sở nguyện cao quý ấy. Có biết đến viên quản ngục chúng ta mới có thể hiểu hết được con người chúng ta. Nhiều khi cái chức vụ hay thân phận kia không quyết định đến lối sống và tâm hồn của họ.
Không chỉ là một người yêu chuộng cái đẹp và có sở nguyện cao quý mà viên quản ngục còn là một người rất biết trân trọng những con người tài giỏi như Huấn Cao nữa. Khi có phiến tráp báo rằng tên tội phạm nguy hiểm của triều đình sẽ được đưa đến đây trong vài ngày sau đó mới mang ra xử trảm thì viên quản ngục đã tỏ ra rất vui mừng khi gặp được người mà mình nể phục. những đồng thời ông cũng thấy tiếc cho con người tài giỏi ấy mà lại phải chuốc lấy cái chết. Được biết Huấn Cao có tài bẻ khóa vượt ngục nhưng viên quản ngục không mấy quan tâm về điều đó mà cái ông quan tâm là làm sao có thể tiếp cận được con người anh hùng ấy để xin chữ mà thôi. Ông trân trọng Huấn Cao thiết đãi Huấn Cao và những người bạn của Huấn Cao thịt rượu hàng ngày. Điều đó thể hiện sự trân trọng những con người tài giỏi của viên quản ngục. Thế rồi ông lần la hỏi Huấn Cao có cần gì thì cứ nói viên quản ngục sẽ thiết đãi. Mặc dù ở đó viên quản ngục là chủ nhưng khi muốn xin chữ và trân trọng người tài cho nên viên quản ngục hạ mình xuống xưng hô như một người bề dưới. Khi Huấn Cao quát mắng ông thì ông cảm thấy buồn nhưng ông không trách vì ông nghĩ rằng những kẻ chuyên trọc trời khuấy nước chỉ quen ngồi trên đầu người ta thôi.
Không những thế những hành động ấy của viên quan coi ngục chính là thể hiện sự trân trọng và đề cao những giá trị văn hóa của ông. Thái độ trân trọng nghệ thuật thư pháp chính là trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Trong nhà tù ấy bóng tối không nhuốm đen tâm hồn của viên quản ngục. Sức mạnh của cái đẹp làm cho tâm hồn của viên quản ngục vẫn thiên lương trong sáng lắm. Chính vì thế mà ông nhất định phải xin bằng được chữ của Huấn Cao. Khi Huấn Cao quyết định cho chữ viên quản ngục cảm thấy rất vui, ông như nhận ra nhiều điều, nhận thấy cả cái cách chọn nghề sai của mình nữa. Ông thể hiện thái độ kính trọng trước những lời dặn dò cuối cùng của một người tử tù. Viên quan ấy hứa rằng sau khi nhận được chữ của Huấn Cao thì sẽ trở về quê sống đê giữ cái thiên lương trong sáng của bản thân mình. Hai dòng nước mắt của ông khẽ rơi như thể hiện sự hối hận của mình. Qua đó ta thấy được viên quản ngục đúng là một người có thiên lương trong sáng trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mà quên đi cả sự an toàn của bản thân.
Một lần nữa ta phải trầm trộ tài năng uyên bác của Nguyễn Tuân. Ông không những xây dựng được một nhân vật chính chuẩn mực mà đến một nhân vật phụ như viên quản ngục cũng để lại rất nhiều giá trị con người. Vẻ đẹp trong con người viên quản ngục cũng sáng lấp lánh. Cánh cửa nhà tù không thể nào cướp đi cái thiên lương trong sáng cùng sở nguyện cao quý của ông. Chuyện kết thúc cũng là lúc viên quản ngục tay nải về quê sống với thiên lương trong sáng của mình.
Phân tích nhân vật viên quản ngục – bài 3
Nguyễn Tuân với những trang anh hùng dũng liệt hiện lên dưới một 1 lớp ngôn ngữ dân tộc thuần khiết và chuẩn mực, luôn cố gắng hết sức mình để làm sống dậy một thời quá khứ rực rỡ. Và dường như cảm thấy mình không đủ sức. Nguyễn Tuân kéo cả những nhân vật của mình theo khuynh hướng ấy. Đó là trường hợp của viên quản ngục trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” (trong tập Vang bóng một thời).
Quản ngục: không phải là một anh hùng cao đẹp như Huấn Cao, lại càng không mang dáng vóc, tính cách của một tên đao phủ khát máu (Bữa rượu máu). Con người đó là một hình ảnh trung gian giữa cái đẹp và cái không đẹp. Dưới ngòi bút tài hoa của một bậc thầy về ngôn ngữ, hình ảnh trung gian ấy cũng mập mờ, không có ranh giới rõ rệt.
Thoạt nhiên, viên quản ngục có vẻ như là một con người cam chịu, yên phận và cũng chẳng có gì khác những kẻ cùng địa vị đương thời: “Chuyện triều đình quốc gia chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời”. Cái khuôn khổ phong kiến, cái “phép nước” đã khiến quản ngục quen với việc nhận tù, giao tù, với “những mánh khóe hành hạ thường lệ”. Những lúc ấy, viên quản ngục cứ lạnh lùng như một cỏ may, ngoan ngoãn như một tên nô lệ trung thành với vai trò của mình.
Nhưng có ai ngờ, bên trong con người đó vẫn luôn tồn tại một mầm sống tươi xanh của cái đẹp. Cái mầm ấy bị đè bẹp nhưng vần khắc khoải sống như chờ đợi một lúc nào đó được vươn lên. Rồi thời điểm đó cũng đến. Huấn Cao, con người văn võ song toàn xuất hiện với “cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”. Quản ngục bắt đầu rơi vào một tâm trạng hết sức khó xử. Một sự đấu tranh âm thầm trở thành nét tiêu biểu cho quản ngục suốt truyện mà cũng chính là biểu hiện tiêu biểu cho quản ngục suốt truyện mà cùng chính là biểu hiện tiêu biểu cho tính “hướng nội” mỗi chúng ta thường bắt gặp trong tác phầm của Nguyễn Tuân.
Cuối cùng thì niềm đam mê cái đẹp cũng đã chiến thắng. Tuy cái chiến thắng đó chưa phải là tuyệt đối nhưng vẫn đủ biến viên quản ngục thành một con người khác. “Bấy nhiêu âm thanh phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”, “Ngôi sao chính trị” dĩ nhiên là ám chỉ Huấn Cao. Còn “thanh âm phức tạp” ngầm chỉ ai? Con người ấy chính là quản ngục. Quản ngục muốn nâng niu cái đẹp nhưng lại sợ. Vì thế nên Nguyễn Tuân đã để cho nhân vật này hóa thân thành một cái gì đó vô hình, hư ảo. Chi tiết đó vừa bộc lộ nét mạnh của Vang bóng một thời lãng mạn và khao khát đánh thức cái đẹp, vừa để lộ thấp thoáng điểm yếu và sự yếu đuối của Nguyễn Tuân trong cái nhìn hoài vọng xa xôi. Nó khiến Nguyễn Tuân như tránh né, đem ông trời ra mà trách: ‘‘Ông trời nhiều khi chơi ác đem đày ải những cái thuần khiết giữa một đống cặn bã”.
Cũng từ ý niệm ấy, quản ngục nghĩ mình “chọn nhầm nghề mất rồi”, Nguyễn Tuân đi tìm cái đẹp và đã tìm ra cái đẹp long lanh, mong manh giữa một vùng trời đen tối.
Việc miễn những mánh khóe hành hạ, biệt đãi những người tử tù, rồi bạo dạn xin chữ, một cách khéo léo từng chút từng chút gắn thêm nét đẹp vào con người quản ngục bởi vì: “Biết người tài, không phải là kẻ xấu”. Mặc dù vậy khi đã biệt đãi, đã toan tính cách xin chữ, quản ngục vẫn còn sợ, vẫn dặn viên thơ lại nói với Huấn Cao: “Miễn là ngài giữ kín cho”. Một chi tiết nhỏ nhưng chắc là không thể thiếu. Một chi tiết vừa lãng mạn vừa hiện thực. Mến cái tài của Huấn Cao nhưng sợ “phép vua”. Phải tinh tế lắm. Nguyễn Tuân mới phát hiện ra điều đó. Phải tài hoa lắm Nguyễn Tuân mới thể hiện được điều đó. Nếu không viết về nỗi sợ ngấm ngầm thì là không thật, mà Nguyễn Tuân lại là con người luôn vươn tới cái đẹp, cái thật. Nếu viết quá nhiều thì sẽ làm ngắt quãng mạch chuyển biến đang cuồn cuộn, sôi sục trong nhân vật hình tượng.
Mến cái tài của Huấn Cao, khát khao “có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời”, đến lúc này, quản ngục dường như không còn là quản ngục mà là hóa thân của Nguyễn Tuân với nhịp tim và hơi thở dành trọn cho sự nâng niu cái đẹp. “Một buổi chiều lạnh, viên quản ngực tái nhặt người đi sau khi tiếp đọc công văn”. Không còn là thương tiếc, xót xa mà đã đạt đến đỉnh điểm của niềm đau xót, thẫn thờ. Việc nhận công văn, quản ngục biết trước nhưng vẫn thấy đột ngột, hụt hẫng. Thiên lương vừa sóng dậy trong một con người đã thúc giục quản ngục hành động. Một. hành động trái ngược với những gì quản ngục nói: “Ta biết rồi, việc quan ta đã có phép trước”.
Tình yêu cái đẹp đến đam mê đã đánh thức khí phách tiềm tàng nằm im suốt bao nhiêu năm.
Trong cảnh cho chữ hùng vĩ, có một chi tiết đáng nhớ: “Người tù viết xong một chữ viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền xèng đánh dấu ô chữ đặt lên phiến lục ông”, “khúm núm” không phải chỉ vì nịnh bợ mà là vì cảm phục. Khi sự cảm phục lên đến đỉnh điểm cũng là lúc kết thúc truyện. “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Một nghệ thuật tài hoa, kết thúc truyện ở cao trào. Chính nghệ thuật độc đáo đó đã nêu bật cái đẹp toàn diện, toàn mĩ và rất đặc sắc của cả người xin chữ và người cho chữ.
Dọc theo suốt chiều dài của truyện, nhân vật quản ngục luôn tồn tại với một ý nghĩa nhất định. Quản ngục không chỉ là một hình tượng độc đáo mà còn là nhân vật hội đủ những đặc điểm chung nhất của Vang bóng một thời, của quan niệm và phong cách Nguyễn Tuân: lãng mạn mà vẫn hiện thực, là tiếng nói của thiên lương, của tinh thần dân tộc, là biểu hiện của sự “yêu mến và than tiếc những cái đã qua và có sức làm sống lại một thời xưa cũ”.
Trên đây là bài tập làm văn phân tích nhân vật viên quản ngục, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình! | Phân tích nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù | 4,936 | |
Phân tích nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình
Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn nghệ giải phóng miền Nam. Ông được mệnh danh là nhà văn của người dân Nam Bộ. Trong những tác phẩm của mình ông luôn dành bao tâm huyết để xây dựng họ thành những nhân vật văn học đáng nhớ và có cá tính.
Những đứa con trong gia đình là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Thi rút trong tập truyện và kí (1978). Nhân vật trung tâm trong tác phẩm là Chiến và Việt. đặc biệt ở đây chúng ta đi tìm hiểu về những phẩm chất tính cách của nhân vật Việt, một chiến sĩ cộng sản anh hùng. Ngay từ nhỏ đã có một tư chất của một anh hùng nhưng cũng có phần trẻ con hồn nhiên của lứa tuổi. Có thể nói anh yêu nước là thế, căm thù giặc là thế nhưng ở cuộc sống bình thường Việt vẫn thể hiện tính cách hồn nhiên hợp lứa tuổi của mình.
Trước hết Việt sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và lòng căm thù giặc. Ngay từ nhỏ Việt đã gắn bó với công việc đồng áng, gắn với người mẹ hay lam hay làm “ con mắt tìm việc, đôi chân dò được, lội khắp bưng này đến bưng khác”. Gia đình Việt rất giàu truyền thống cách mạng, truyền thống ấy được tạo bởi những chiến công vì nước vì dân. Truyền thống ấy còn được dệt bởi những mất mát đau thương mà kẻ thù gây ra: ông nội bị chánh tổng bắn chết, bà nội bị lính huyện đánh đập, ba Việt đi thăm dò tình hình cho ba Việt thì bị chết vì pháo của giặc, thím năm bị chúng bắn bể xuồng…Tất cả những điều đó được chú Năm ghi lại trong cuốn sổ gia đình, chú ghi chép tỉ mỉ đến từng chi tiết. những điều ghi trong đó không giống một cây hương gia phả mà là những đau thương cũng như chiến công hiển hách của gia đình. Chính vì xuất thân từ một gia đình như thế đã tác động rất nhiều đến phẩm chất anh hùng cũng như tinh thần yêu nước căm thù giặc của Việt. Đúng như chú Năm đã nói: “trăm sông đều đổ về biển, con sông của gia đình ta cũng dạt dào chảy về biển lớn” Việt lên đường đấu tranh thể hiện điều đó.
Vẻ đẹp thứ nhất của Việt chính là vẻ đẹp của tính cách hồn nhiên trong sáng mà hóm hỉnh, luôn vô tư và hiếu động. cậu tuy đã mười tám tuổi nhưng vẫn giữ nguyên tính cách trẻ con ấy. Cậu tư trong gia đình ấy có nụ cười lỏn lẻn rất dễ thương. Cậu hiếu động và luôn tranh phần hơn với chị từ việc đi bắt ếch đến việc đi bộ đội trước. Trong khi chị trang nghiêm bàn chuyện gia đình thì Việt lăn kềnh ra ván cười khì rình chụp con đom đóm trong lòng bàn tay làm trò chơi. Việt vô tâm để phó mặc công việc nhà cho chị “ Tôi nói rồi chị tính sao thì tính mà tôi ừ hết”. Trong hành trang đi lính của mình Việt không quên mang theo chiếc ná thun vật bất li thân gắn bó với tuổi thơ của cậu. thậm chí cách yêu chị của Việt cũng rất trẻ con, Việt dấu chị như dấu của riêng, cậu sợ mất chị trước những lời trêu đùa tếu táo của đồng đội anh em. Bản thân luôn muốn dành phần hơn với chị nhưng thật tâm thì yêu thương tình cảm biết bao. Những lần ngất đi tỉnh lại ở trong rừng chính những tình cảm của gia đình và những kỉ niệm tuổi thơ đã giúp cậu vững vàng thoát khỏi cái chết. Cả khi cận kề cái chết nhưng Việt vẫn sợ con ma cụt đầu và thằng Chỏng cụt lưỡi. Điều đó cho thấy Việt vẫn còn rất trẻ con và yêu thương gia đình một cách đặc biệt
Tiếp đến là phẩm chất tính cách của Việt, cậu có phẩm chất của một người con yêu thương quý trọng những người trong gia đình mình lại vừa có phẩm chất bất khuất của người chiến sĩ cộng sản, luôn luôn gan góc. Có thể nói những phẩm chất ấy Việt được hưởng từ chính những người thân của mình. Tuổi nhỏ nhưng chí lớn, có lần Việt cùng chị Chiến đi theo du kích đánh tàu Mỹ một tên giặc đã bị trúng đạn của hai chị em. Và chiến công ấy đã được chú Năm ghi vào cuốn sổ gia đình. Việt dám xông thẳng vào đá cái thằng đã giết cha mình. Nếu không gan góc quả cảm thì sao Việt có thể lập nên chiến công ấy. Việt mặc cho sự ngăn cản của chị mà vẫn nhất quyết đăng kí tham gia đi bộ đội, trong đêm ghi tên đi tòng quân Việt đã đứng lên đầu tiên giơ tay đi đăng kí. Mục đích là để trả thù cho ba má, có thể nói Việt đã đi từ tình cảm yêu thương gia đình đến lí tưởng cao cả. Hành động xung phong đi đánh giặc không phải là tự phát mà đó là tinh thần tự giác ngộ cách mạng của tuổi trẻ miền Nam. Yêu thương gia đình cho nên kể cả khi đi đánh giặc Việt vẫn cảm thấy như má luôn ở đâu đây quanh cậu, luôn dõi theo những việc cậu làm. Trước đêm đi tòng quân Việt cùng chị khiêng bàn thờ ba má sang nhà chú Năm, đó là một chi tiết đẹp thể hiện truyền thống nhớ đến những người đã mất của nhân dân ta. trong thâm tâm Việt nghĩ: “ chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má chừng nào nước nhà độc lập chúng con lại rước ba má về”. Đến chú Năm cũng phải bất ngờ trước sự trưởng thành trước tuổi của Việt và chị Chiến. đức tính ấy được chú Năm khen ngợi cũng nhưđộng viên Việt lên đường: “ khôn việc nhà nó thu xếp được gọn, việc nước nó sẽ mở được rộng, gọn bề gia thất, đặng bề nước non”. Vào chiến trường trong trận đánh giáp là cà Việt dũng cảm dùng thư pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của địch. Bị trọng thương hai mắt đau nhức, toàn thân đổ máu, khô khốc vì đói nhưng Việt vẫn trong tư thế tấn công tiêu diệt giặc “ tao sẽ chờ mày, trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này chỉ có mình tao, nếu mày bắn tao thì tao cũng bắn được mày, nghe súng nổ của các anh tao sẽ chạy tới đâm mày, mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao mày chỉ là thằng chạy”. Biết bao nhiêu quyết tâm, biết bao nhiêu sự trừu mến với đồng đội, bao nhiêu sự khinh bỉ kẻ thù được thể hiện trong lời độc thoại ấy.
Qua đây ta cũng thấy được những nét nghệ thuật đặc sắc của truyện. đó là nghệ thuật trần thuật, tình huống truyện đơn giản nhưng lại mang lại sức hấp dẫn cho người đọc. Điểm nhìn trần thuật được kể thơ dòng hồi tưởng đứt nối của nhân vật Việt- một anh chiến sĩ bị trọng thương nằm trên chiến trường. Đó là phương thức ngôi kể thứ ba, người kể chuyện dấu mình đi để nhường lại ngòi bút cho nhân vật trong truyện, lối trần thuật nửa trực tiếp. Cách trần thuật như thế mang lại màu sắc trữ tình đậm đà tự nhiên sống động vì chuyện được kể qua con mắt, tấm lòng, ngôn ngữ, giọng điệu của chính nhân vật trong tác phẩm. Với hình thức trần thuật ấy tạo điều kiện cho tác giả nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm của nhân vật để dẫn dắt câu chuyện. Câu chuyện được thuật lại đồng thời thể hiện tính cách của nhân vật. Do đó câu chuyện trở nên hấp dẫn sinh động hơn linh hoạt hơn vì không cần phụ thuộc vào trật tự logic của câu chuyện. Có thể xáo trộn thời gian, không gian chỉ cần thông qua những chi tiết hiện thực trên chiến trường mà gợi ra những dòng liên tưởng, hồi tưởng hết sức tự nhiên của nhân vật. Lần thứ hai Việt tỉnh dậy trời lất phất mưa, tiếng ếch kêu ran khiến Việt nhớ đến chuyện bắt ếch, chú Năm và cuốn sổ gia đình. Lần thứ ba tỉnh dậy, cậu nhận ra đó là ban ngày ngửi được mùi nắng và tiếng chim cu rừng quanh đây Việt nhớ đến cái ná thun và má của mình. Lần thứ tư Việt tỉnh dậy nghe thấy tiếng súng Việt sợ ma cụt đầu và nhớ về chuyện hai chị em đi lính. Cứ như thế câu chuyện của gia đình việt được tái hiện như một thước phim quay chậm mà sâu đậm trong tâm trí người đọc.
Đặc biệt nhà văn còn xây dựng nhân vật mang đậm chất Nam Bộ. Người Nam Bộ vốn rất bộc trực, sôi nổi và kiên trung, bất khuất căm thù giặc sâu sắc.. tất cả những yếu tố đó hội tụ đầy đủ trong tác phẩm những đứa con trong gia đình này.
Như vậy có thể thấy được truyện ngắn những đứa con trong gia đình đã góp thêm một phẩm chất, một tích cách đặc biệt cá tính, ấn tượng nhưng cũng bất khuất kiên trung vào tấm gương những anh hùng chiến sĩ cộng sản. Đặc biệt là người dân Nam Bộ chống Mỹ và cụ thể ở đây là nhân vật Việt. Cậu có một trái tim nồng nàn yêu thương quê hương gia đình và xuất từ tình yêu thương ấy đi đến lí tưởng cao đẹp đó là giải phóng đất nước. đồng thời qua tác phẩm ta thấy rõ được tài năng xây dựng nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Thi.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình | 1,742 | |
Phân tích nhân vật Việt trong tác phẩm Những Đứa Con Trong Gia Đình
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Việt trong tác phẩm Những Đứa Con Trong Gia Đình
Bài làm
Nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi cho thấy phẩm chất của những đứa con trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, yêu cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì quê hương, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đây được coi là truyện ngắn đặc sắc được nhà văn viết trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước.
Nguyên Thi được biết đến là nhà văn của nông dân Nam Bộ với những nhân vật của ông tiêu biểu cho những người nông dân Nam Bộ bộc trực, giàu lòng nhân ái, yêu cách mạng và sẵn sàng xả thân vì quê hương, vì độc lập tự do của dân tộc. Đó là những con người mang trong mình lòng căm thù giặc sâu sắc, sự gan góc, dũng cảm giàu nghĩa tình, thủy chung với cách mạng. Tuy nhiên, mỗi nhân vật trong gia đình truyền thống với những nét riêng biệt chạm vào cảm xúc của độc giả. Nổi bật lên là nhân vật Việt.
Trong tác phẩm, nhà văn đã dành sự ưu ái trao ngòi bút cho Việt qua các dòng hồi ức, để Việt viết về mình bằng ngôn ngữ, giọng điệu riêng để người đọc hình dung cụ thể, sinh động qua cách kể của cậu con trai mới lớn còn đầy sự hồn nhiên, vô tư,nhưng cũng là một chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, kiên cường.
Nguyễn Thi đã cố ý tô đậm nét kế thừa của chị Chiến, chị mang vóc dáng và tính cách của mẹ. Chị của Việt, có ngoại hình khỏe khoắn, sinh ra để chống chọi và gánh vác, ở người phụ nữ này có phẩm chất được thừa hưởng từ mẹ, tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh từng “vượt sông, vượt biển”, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.
Rồi khi tìm lại được đồng đội thì khóc như con nít. Nhưng khi ra chiến trường, Việt lại trở thành một chàng trai chững chạc, một người lính dũng cảm, gan góc, kiên cường. Phẩm chất ấy chính là dòng máu của truyền thống gia đình đang tuôn chảy trong con người Việt.
Ngay khi còn nhỏ, Việt đã dám sông thẳng vào tên giặc vừa giết cha mình mà đá rồi lớn lên nằng nặc đòi đi cầm súng trả thù cho ba má rồi trở thành chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, dùng thủ pháo tiêu diệt xe bọc thép của giặc.
Đặc biệt, Nguyễn Thi tập trung vào cảnh Việt bị trọng thương, nằm lại chiến trường hoang vắng, mắt không còn thấy gì mà chỉ còn những cảm giác. Việt nằm trong tư thế chờ giặc, ngón tay trỏ cùng để nơi cò súng và đạn đã lên nòng khi người vẫn đói khát, kiệt sức….
Nguyễn Thi đã khắc họa tính cách nhân vật Việt vừa cụ thể vừa sống động, tiêu biểu cho tấm lòng thương yêu, gắn bó sâu sắc của người dân Nam Bộ với gia đình, với quê hương đất nước. Tất cả đã tạo nên sức mạnh tình thân to lớn của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. | Phân tích nhân vật Việt trong tác phẩm Những Đứa Con Trong Gia Đình | 570 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình
Bài làm
Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê hương, trung thành với cách mạng.
Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt. Chiến đấu giữa bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ yêu thương và căm thù: chị Chiến, má, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng.
Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương, những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ thế hệ đi trước, chú Năm và má, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và má được khắc hoạ với những nét riêng độc đáo.
Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm. Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước.Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu. Nét đặc biệt độc đáo ở người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình. Cuốn sổ ghi đầy đủ những chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông. Đoócòn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”. Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước.
Má của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng má đã vượt lên đau thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước đôi mắt của người vượt sông vượt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, má là hiện thân của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm, tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy sinh, đổi mạng sống vì cách mạng.
Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước, tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha má, cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị chặt đầu, má bị trái cà nông quân thù sát hại. Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương, sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình! Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong xã ghi tên tòng quân cũng rất đông. Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng.
Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị em. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống má, gan góc, chăm chỉ, đảm đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những lần cãi vã thì chị cũng nhường em. Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra chín chắn hơn Việt. Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành, nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính. Lúc nào Chiến cũng có cái gương nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị Chiến giống in như má, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị.
Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ má qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước vẹn toàn, lời động viên của chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ.
Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá. Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động. Bản tính hồn nhiên của một cậu bé mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn bó với người thân và sau này là tình cảm chan hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà.
Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa con trong gia đình cách mạng. Đồng thời còn phát hiện sâu sắc về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi theo. | Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình | 1,934 | |
Phân tích nhân vật vua Quang Trung trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí
Hướng dẫn
–Quang Trung là một vị hoàng đế có trí tuệ sáng suốt.
+ Sáng suốt trong việc lên ngôi vua: Trong tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc, Nguyễn Huệ quyết định lên ngôi hoàng đế rồi lập tức lên đường ra Bắc tiêu diệt quân Thanh và lũ bán nước.
+ Sáng suốt trong việc nhận định tình hình ta và địch: Trong lời dụ quân sĩ trước khi lên đường Quang Trung đã nói: “Từ đời Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta… Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam làm quận huyện… Lần này ta thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày, có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạn, thì ta có sợ gì chúng”.
+ Sáng suốt trong việc xét đoán bề mình: “Các ngươi đã biết nhín nhịn để tránh mũi nhọn của chún, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy rất là đúng”.
+ Sáng suốt trong tầm nhìn xa. Giặc còn đang ở Thăng Long, Bắc Hà còn nằm trong tay kẻ thù vậy mà Quang Trung đã tín: “Chẳng qua mươi ngày nữa ta sẽ đuổi được người Thanh”. Đối với Quang Trung, việc đuổi giặc ngoại xâm không khó nhưng cái khó là “dẹp yên việc binh đao” sau chiến tranh. Ông giao cho Ngô Thì Nhậm.
– Quang Trung là một vị tướng có tài thao lược hơn người:
Chớp thời cơ, tổ chức một chiến dịch thần tốc có một không hai trong lịch sử.
+ Khẩn trương lên đường, tuyển quân trên đường đi, tổ chức hành quân thần tốc. Ta sẽ không thể hiểu thế nào là thần tốc nếu không theo dõi cuộc hành quân từ Tam Điệp ra Thăng Long. Đêm 30 tháng chạp còn ở Tam Tiệp vậy mà trưa ngày mùng 5 tháng 1 quân Quang Trung đã ở giữa kinh thành Thăng Long. Đoạn đường dài hơn 100 cây số, phải vượt qua nhiều con sông, tấn công nhiều đồn địch. Đi bằng ấy đường đất, làm bằng ấy công việc, không phải Quang Trung thì không ai làm được.
+ Chọn tướng chỉ huy, chia quân, bố trí phối hợp giữa các cánh quân.
+ Tổ chức cách đánh của mũi quân xung yếu do chính ông chỉ huy một cách kỳ tài. Ông cho dùng những tấm gỗ bện rơm bên ngoài, cứ mười người khiêng một bức “lưng dắt dao ngắn, hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn trận chữ nhất là tiến, vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc”.
-Quang Trung là một vĩ lãnh tụ có khí phách lẫm liệt.
+ Trong lịch sử phong kiến Việt Nam có nhiều vị vua thân chinh cầm quân đánh giặc, song nắm toàm quyền chỉ huy, đốc thúc chiến dịch, đương đầu với hòn tên mũi đạn thì chỉ có Quang Trung. Hình ảnh của Quang Trung hiện lên trong chiến trận ở đồi Ngọc Hồi vào sáng sơm ngày mung 5 mới lẫm liệt, hào hùng làm sao!
+ Chỉ huy một chiến dịch vĩ đại như vậy mà ôn vẫn ung dung tỉnh táo, lời nói sang sảng. Hình ảnh Quang Trung cưỡi voi “Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…” là một hình ảnh tuyệt đẹp. | Phân tích nhân vật vua Quang Trung trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí | 690 | |
Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ
Mở bài:
Nguyễn Du đã từng than thở trước cuộc đời rằng:
“Đớn đau thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Đem lời thơ ấy vào cuộc đời của nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ ta càng thương hơn cuộc đời và số phận hẩm hiu của kiếp người phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công, tàn bạo. Nàng là một phụ nữ đảm đang, hiếu nghĩa, chung thủy, son sắc đến thế mà hạnh phúc đối với nàng chỉ hư ảo, bấp bênh, vô định như chiếc bóng nhập nhoạng ở trên tường.
Thân bài:
Đọc chuyện ta thấy Vũ Nương đúng thực là một người phụ nữ mẫu mực mà xã hội phong kiến cần có với những phẩm chất đáng quý. Nàng không chỉ “thùy mị nết na” mà còn có “tư dung tốt đẹp” hơn người. Trong đạo vợ chồng, nàng hết sức khôn khéo; lúc nào cũng chú trọng “giữ gìn khuôn phép”, “không từng lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”.
Với hai phẩm chất quan trọng nhất của người phụ nữ, nàng cũng đủ hi vọng có một cuộc sống hạnh phúc. Thế nhưng, hạnh phúc đến với nàng thật mong manh, ngắn ngủi, nó chỉ đến với nàng một lần đó là những giây phút ban đầu.
Qua lời tống biệt chồng ra trận, ta thấy Vũ Nương dịu dàng, thiết tha với hạnh phúc, không hư danh và giàu lòng vị tha. Nàng nghĩ đến những khó nhọc, gian nguy của chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi, hiu quạnh của mình: “Chàng đi chuyến nay, thiếp chẳng mong theo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”…
Trong những năm tháng chồng ngoài nơi chiến địa, người thiếu phu ấy đã một mình nuôi dạy con thơ; phụng dưỡng mẹ chồng; ngày đêm giữ gìn tiết hạnh hầu vun đắp, dưỡng nuôi cái nguồn hạnh phúc mà nàng đang mong đợi. Đối với mẹ chồngVũ Nương giữ vẹn đạo làm con dâu thảo, hết lòng săm sóc lo thuốc thang khi mẹ ốm đau và cả việc ma chay tế lễ khi mẹ chồng mất…
Nhà văn đã tỏ ra già dặn đã để cho chính người mẹ chồng ấy nhận xét về tấm lòng thơm thảo của nàng trước khi bà cụ qua đời. Trong đôi mắt của bà mẹ chồng, nàng là người có “lòng lành”. Sự đảm đang, hiếu nghĩa ấy cũng biểu hiện phần nào “tấm lòng son” của nàng đối với Trương Sinh. Có thể nói đạo làm con, làm vợ, làm mẹ – Tất cả đều được Vũ Nương thực hiện trọn vẹn…
Chỉ vì thương con thiếu nơi nương tựa, nàng chỉ lên chiếc bóng của mình trên tường và nói đó là cha lại có thể gây nên sự hoài nghi của chồng, khiến trương Sinh phát động lòng ghen, sỉ nhục và đánh đập nàng thận tệ. Sự ngu muội và hồ đồ của Trương Sinh chính là nguyên nhân dẫn đến bi kịch thảm khốc, tước đoạt nhân phẩm và sinh mệnh của người thiếu phụ một lòng trung trinh.
Giờ đây, Vũ Nương không chỉ ngậm đắng nuốt cay chịu đựng những ngọn đòn roi và những lời miệt thị, đuổi xua mà còn phải mang nỗi oan uất lớn nhất đối với người phụ nữa là thất tiết.
Bão tố oan khiên dây dất đã đồn đẩy nàng vào kết cục bi thảm nhất là phải chọn lấy cái chết ở bến Hoàng giang để tỏ lòng trinh bạch, minh chứng nỗi oan tình: “Kẻ bạc phận này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ…”. Đó là tiếng khóc ai oán của một Vũ Nương hay cũng chính là tiếng kêu chung của những kiếp má hồng mệnh bạc. Đó cũng là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, nắm quyền độc đoán lúc bấy giờ…
Câu chuyện có thể được khép lại nơi đây thế nhưng tác giả lại thêm vào chi tiết Vũ Nương ở dưới thủy cung hầu tô đẹp hơn tính cách cao đẹp của Vũ Nương đồng thời còn gián tiếp đồng cảm và thương yêu của tác giả trước số phận của con người. Dù đã chết, người thiếu phụ ấy vẫn muốn sống lại với đời để giãi bày oan khuất; vẫn còn tình xưa nghĩa cũ; vẫn còn vọng tới quê hương xưa khác nào “Ngựa hồ gấm gió bấc, chim Việt đậu cành Nam”. Tấm lòng son sắt thủy chung của nàng thật đáng quý trọng.
Cũng chính là lớp màn kì ảo lung linh ấy đã làm tăng thêm bi kịch trong tâm hồn nàng. Dù nỗi oan ấy đã được thần linh chứng giám và sống trong vòng tây ân đức của Linh Phi, thế nhưng nàng vẫn cảm thấy day dứt và dày vò, đau khổ, tủi thẹn vì nỗi oan thất tiết vẫn còn đó, chưa được thấu cảm nơi trần thế.
Trước hết, do nàng đã cảm nhận được ân đức của Linh Phi “đã thề sống chết cũng không bỏ”. Điều đó, đã cho ta thấy được thiếu phụ ấy là một người sống có trước có sau, trọn nghĩa, trọn tình. Nhưng có lẽ, nguyên căn sau xa là do cuộc sống nhân gian kia thiếu hẳn sự công bình. Cái dương gian kia chỉ đem đến cho nàng những tháng ngày chờ đợi mỏi mòn, vò võ cô đơn và những nồi khổ đau, bất hạnh.
Dù người chồng vẫn chưa cạn tình người, đã thấu nỗi oan của vợ, cất lời gọi thảm thiết nhưng nàng cũng chỉ đa tạ và đớn đau trở lại với cuộc sống Thủy cung có nghĩa là nàng đã chấp nhận khước từ thiên chức cao quý nhất của người phụ nữ đó là được làm vợ, làm mẹ.
Có thể nói, tài năng và tấm lòng của nhà văn dường như đã được kí thác cả vào nhân vật trung tâm của tác phẩm. Đọc thiên truyện, ta thấy Vũ Nương được tác giả Nguễn Dữ khắc họa bằng ngòi bút đầy trân trọng và cảm thông sâu sắc. Nàng đúng là mẫu người lý tưởng theo quan niệm xã hội lúc bấy giờ.
Thế mà sự mất mát nỗi đau của nàng quá lớn: người mẹ đáng thương nhất mãi mãi phải rời xa đứa con thơ dại, người vợ hiền đức mãi mãi xa lìa người chồng mà nàng đã nguyện với lòng suốt đời thủy chung, gắn bó. Bao nhiêu cố gắng của người đàn bà bất hạnh hầu giữ gìn lấy hạnh phúc đều vô vọng, hạnh phúc đã tuốt khỏi đời nàng.
Ai trong chúng ta không khỏi xốn xang, nhức nhối khi nghe vọng lại lời thề nguyền thống thiết của nàng trước trời cao song thẳm! Thiết nghĩ nếu thiếu đi chứ “tâm” trên từng trang sách thì câu chuyện về nguời thiếu phụ của Nguyễn Dữ có thể làm day dứt, xốn xang với người đọc đến thế không?
Truyện còn có sức lôi cuốn đọc giả bằng cách viết tài hoa của tác giả. Nguyễn Dữ đặc biệt chú ý đến cách khắc họa nội tâm nhân vật qua đó tính cách nhân vật được thể hiện một cách rõ nét. Chẳng hạn, ở trường đoạn người chồng bắt đầu ngờ vực lòng chung thủy của vợ và lòng ghen tuông trỗi dậy cho đến khi Vũ Nương gieo mình xuống sông thì chuyện cổ tích “Vợ chàng Trương” chỉ có vài dòng. Còn trong truyện ngắn của Nguyễn Dữ thì đã phát triển thành cao trào, xung đột trong nội tâm được khắc họa khá tinh tế qua ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm…
Cách xây dựng tình huống gây cấn, thắt nút, gỡ nút đầy kịch tính, bất ngờ làm cho nỗi oan nổi bậc lên với tất cả sự bi thảm của nó. Trước hết, phải nói đến cách thắt nút bằng yếu tố bất ngờ. Tác giả đã khéo cân nhắc, chọn lọc câu nói phản ánh đúng cách thắt nút bằng sự ngây thơ đứa trẻ. Chỉ một câu nói ngây dại của một đứa trẻ thơ mà bão tố đã nổi dậy trong gia đình mà phút giây đoàn viên chưa thỏa.
Câu nói ấy đã tạo nên trăm điều nghi kị trong đầu óc của một người chồng vừa mới từ xa trở về mà lại đa nghi và thiếu trí tuệ. Ngay cả người đọc chúng ta cũng cảm thấy bàng hoảng sửng sốt. Cách gỡ nút cũng thật tài tình, tự nhiên bởi vì tìm ra sự thật lại chính là người chồng đa nghi, thiếu trí tuệ, nói ra sự thật lại chính là đứa con ngây dại…
Mặc dầu truyện còn phản phất không khí thần linh, sử dụng văn biểu ngẫu nhưng với cách bố cục chặt chẽ, truyện tạo tình huống bất ngờ, đầy lý thú. Tác phẩm đã làm sống dậy hình ảnh “người đàn bà hôm qua” với nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng cuộc đời thật cay nghiệt, oan trái,…
Kết bài:
Chuyện người con gái Nam Xương là một bài ca ca ngợi phẩm phất tốt đẹp vốn có và bền vững của người phụ nữ Việt Nam. Tấm lòng và nỗi oan của người thiếu phụ đã làm rơi nước mắt người Việt Nam trong suốt mấy trăm năm qua chính là thế, khơi động trong ta sự cảm thương, trân trọng và tôn quý những con người phụ nữ tốt đẹp mà được nhận được hạnh phúc xứng đáng. | Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ | 1,657 | |
Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Người con gái Nam Xương
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Người con gái Nam Xương
Truyện Người con gái Nam Sương là câu chuyện về số phận oan nghiệt của một người phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh dưới chế độ phong kiến, chỉ vì một lời nói ngây thơ của con trẻ mà bị nghi ngờ, bị xỉ nhục,bị đẩy đến bước đường cùng, phải kết liễu cuộc đời mình để giãi tỏ tấm lòng trong sạch. Đó là số phậm, hình ảnh của Vũ Nương một nhân vật chịu nhiều oan nghiệt.
Nguyễn Dữ đã thật tài tình khi xây dựng hình ảnh người phụ nữ mà cụ thể ở đây là Vũ Nương,ông đã đặt nhân vật vào tình huống khác nhau để thể hiện rõ được phẩm chất của người phụ nữ thương chồng, yêu con, hiếu thỏa với cha mẹ chồng đồng thời cũng hết mực thủy chung son sắc.
Trong cuộc sống vợ chồng bình thường, nàng đã giữ gìn khuân phép, không khi nào vợ chồng phải để đến thất hòa mặc dù Trương Sinh là người chồng tình hay ghen tuông đối với vợ thì vòng ngừa quá mức.
Thật là một cảnh làm cho mọi người phải xúc động, khi Vũ Nương tiễn chồng đi lính. Thông thường thì khi chồng đi lính nhiều người mong chồng có được công danh gì mang về để vinh hiển trở về, còn đối với Vũ Nương thi lại không chông mong vinh hiển mà chỉ cầu chồng được binh yên trở về; nàng òn cảm thông với những vất vả, gian lao mà chồng mình sẽ phải chịu đựng; nàng nói đến nỗi nhớ nhung khắc khoải của mình, bằng những lời rất ân cần; đằm thắm tình cảm.
Dài theo măm tháng “ bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi” tác giả đã dùng hình ảnh ước lệ tựng trưng, mượm cảnh vật thiên nhiên để diễn tả sự trôi chảy của thời gian. Nàng còn là người con dâu hiếu thảo, người mẹ hiền, một mình vừa nuôi con nhỏ, vừa tận tụy chăm sóc mẹ chồng đau ôm, nàng lo thuốc thang, cầu khấn phật trời, và lúc nào cũng ân cần, dịu dàng, lấy lừi ngon ý ngọt khéo léo khuyên mẹ gắng dưỡng sức để chờ Trương Sinh quay trở về, vì thế cho nên trước khi mẹ chồng nhắm mắt bà đã nói với Vũ Nương rằng Vũ Nương là người con dâu tốt khi Trương Sinh về sẽ không phụ lòng tốt của nàng. Rồi nàng cũng hết sức thương sót mẹ và lo ma chay tế lễ như lo cho cha mẹ ruột của mình.
Tưởng rằng khi Trương sinh về thì Vũ nương được sống ngập tràn trong niềm vui và hạnh phúc và nàng cũng chia sẻ bớt gánh nặng cuộc sống cho chồng ai ngờ nàng bị một nỗi oan không tài nào thanh minh nổi, mặc dù nàng đã hết lời phân trần tấm long son sắc thủy chung của mình cho chồng hiểu như: nàng nói đến thân phận mình nghèo được nương nhờ nơi giầu có..,tình nghĩa vợ chồng bao năm và khẳng định tấm lòng thủy chung trong trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Như vậy đã chứng tỏ nàng đã hết sức cưu vãn, mong hàn gắn cái hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.
Sau nữa nàng nói lên nỗi đau đớn, thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối sử bất công, không có quyền được tự bảo vệ, ngay cả khi có họ hàng, anh em đến nói giúp. Hạnh phúc gia đình niềm khát khao của cả cuộc đời nàng đã tan vỡ như bong bong. Tất cả những nỗi đau khổ chờ chồng trước đây không còn có thể làm lại được nữa.
Thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã đến độ không thể nào cứu vãn được, Vũ Nương dành phải mượn dòng nước quê hương để giải nỗi oan cho mình. Những lời than trước khi vĩnh viễn cuộc đời đầy đau khổ của mình nhưng cũng đầy luyến tiếc, như một lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và tiết sạch giá trong của nàng. Ở đoạn truyện này, tình tiết được sắp xếp đầy kịch tính, Vũ Nương bị đẩy đến bước đường cùng, nàng đã mất tất cả, đành phải chấp nhận số phận sau mọi cố gắng không thành. Hành động tự trẫm mình của nàng là một hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự, có nỗi tuyệt vọng đắng cay, nhưng cũng có sự chỉ đạo của li trí. Đây không phải là hành động bột phát trong cơn nóng giận.
Vũ nương đúng là một người phụ nữ xinh đẹp nết na thùy mị, hiền thục,lại đảm đang tháo phát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một lòng một dạ chung thủy với chồng, hết long vun đắp cho hạnh phúc gia đình. Một con người như thế đáng ra phải được hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phải chết một cách oan uổng, đau đớn. vậy nguyên nhân nào dẫn tới kết quả đáng buồn ấy.
Bi kịch của Vũ Nương là lời tố cáo cái xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm thương cảm của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ. người phụ nữ bất hạnh ở đây không những không được bênh vực, che trở mà còn bị đối sử một cách bất công, vô lí, chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ miệng còn hơi sữa và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông mà phải kết liễu đời mình..
Nguồn Edufly | Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Người con gái Nam Xương | 990 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ và nói lên cảm nghĩ của em
Bài làm
“Chuyện người con gái Nam Xương” rút trong tác phẩm “Truyền kì mạn lục”, áng văn xuôi viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ trong thế kỉ 16. Một kiệt tác văn chương cổ được ca ngợi là “thiên cổ kì bút”.
Truyện kể lại môt câu chuyện truyền kì có nhiều yếu tố hoang đường lưu truyền trong dân gian về bi kịch gia đình ở Nam Xương có dòng sông Hoàng Giang vào cuối thế kỉ 14, đầu thế kỉ 15, một thời loạn lạc, đầy biến động.
Nhân vật Vũ Nương là người con gái bạc mệnh đáng thương đó có bao phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu cho đức hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Tên của nàng là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, thuộc phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam ngày nay. Xuất thân trong một gia đình “kẻ khó”, nhưng Vũ Nương vừa có nhan sắc vừa có đức hạnh: “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm có tư dung tốt đẹp”. Nàng là một cô gái danh giá nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là một người phụ nữ thông minh, đôn hậu, biết chồng có tính “đa nghi”, nàng đã “giữ gìn khuôn phép” không để xảy ra cảnh vợ chồng phải “thất hòa”, sống giũa thời loạn lạc Trương Sinh phải tòng quân đi chinh chiến ở biên ải xa xôi. Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy chúc chồng “được hai chữ bình yên”: nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê cũ… Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng đã coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời. Những năm tháng xa cách, Vũ Nương thương nhớ chồng khôn xiết kể: “… mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”.
Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay:
… “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…”
(Chinh phụ ngâm)
Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung thương nhớ đợi chờ chồng của nàng.
Vũ Nương là một phụ nữ đảm đang, giàu tình thương. Chồng ra trận mới được một tuần thì nàng sinh ra một đứa cọn trai đặt tên là Đản. Mẹ chồng già yếu, ốm đau, nàng “hết sức thuốc thang”, “ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Vừa phụng dưỡng mẹ già, vừa chăm sóc nuôi dạy con thơ. Lúc mẹ chồng qua đời, nàng đã “hết lời thương xót”, việc ma chay tế lễ được lo liệu, tổ chức rất chu đáo “như đối với cha mẹ đẻ mình”. Qua đó, ta thấy trong Vũ Nương cùng xuất hiện 3 con người tốt đẹp: nàng dâu hiếu thảo, người vợ đảm đang thủy chung, người mẹ hiền đôn hậu. Đó là hình ảnh người phụ nữ lí tưởng trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Qua năm sau, “việc quân kết thúc, Trương Sinh từ miền xa chinh chiến trở về. Thế nhưng, Vũ Nương không được hưởng hạnh phúc trong cảnh vợ chồng sum họp. Chỉ vì chuyện chiếc bóng qua miệng đứa con thơ mới tập nói, mà Trượng Sinh đinh ninh là vợ hư, đã “máng nhiếc” và “đánh đuổi đi”. Vốn là một kẻ vô học lại hồ đồ vũ phu. Trương Sinh đã bỏ ngoài tai mọi lời “bày tỏ” của vợ, mọi sự “biện bạch” của họ hàng làng xóm. Vũ Nương đã bị chồng đẩy vào bi kịch, bị vu oan là người vợ “mất nết hư ân”. Vũ Nương phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử để tỏ rõ là người phụ nữ “đoan trang giữ tiết, minh bạch gìn lòng”, mãi mãi soi tỏ với dời “vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin là cỏ Ngu Mĩ”. Bi kịch Vũ Nương là bi kịch gia đình từ chuyện chồng con, nhưng nguyên nhân sâu xa là do chiến tranh loạn lạc đã gây nên. Chỉ một thời gian ngắn, sau khi Vũ Nương tự tử, một đêm khuya dưới ngọn đèn, chợt đứa con nói rằng: “Cha Đản lại đến kia kìa!”. Lúc bấy giờ Trương Sinh “mới tỉnh ngộ thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã rồi. Người đọc xưa nay cũng chỉ biết thở dài, cùng Nguyễn Dữ xót thương cho người con gái Nam Xương và bao phụ nữ bạc mệnh khác trong cõi đời. Vũ Nương tự tử, nàng cũng chẳng oán chồng con “rày xin chén nước cho người thác oan” (Truyện Kiều).
Phần cuối truyện đậm đặc tính chất hoang đường. Nào là Phan Lang nằm mộng thấy người con gái áo xanh đến kêu xin tha mạng. Phan Lang được biếu một con rùa mai xanh nhưng không giết thịt mà đem thả con rùa xuống sông. Nào là Phan Lang bị chết đuối, xác giạt vào động rùa ở hải đảo. Linh Phi vợ vua biển Nam Hải lấy khăn dấu mà lau, thuốc thần mà đổ. Phan Lang sống lại. Linh Phi mở tiệc ở gác Triêu Dương để thết đãi Phan Lang, ân nhân cứu sống mình ngày xưa. Tình tiết Phan Lang gặp Vũ Nương tại bữa tiệc của Linh Phi. Vũ Nương khóc khi nghe Phan Lang nhắc lại nhà cửa, phần mộ của tiền nhân. Tình tiết Vũ Nương gửi Phan Lang chiếc hoa tai vàng và dặn chồng lập đàn tràng ở bến Hoàng Giang. Hình ảnh Vũ Nương ngồi kiệu hoa, phía sau có năm mươi chiếc xe cờ tán võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện… là những chi tiết hoang đường, nhưng đã tô đậm nỗi đau của người phụ nữ bạc mệnh… yên phận hẩm hiu, và có giá trị tố cáo lễ giáo phong kiến vô nhân đạo. Câu nói của ma Vũ Nương giữa dòng sông vọng vào: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” đã làm cho giá trị nhân đạo của truyện thêm phần bi thiết. Nỗi ân tình của Vũ Nương đã được minh oan và giải tỏa? nhưng âm – dương đã đôi đường cách trở, nàng chẳng thể trở lại dương gian, chẳng bao giờ còn được làm vợ, làm mẹ nữa. Bé Đản mãi mãi là đứa con mồ côi mẹ.
Tóm lại, Vũ Nương là một người con gái dung hạnh mà bạc mệnh. Nguyễn Dữ đã kể lại cuộc đời oan khổ của nàng với bao tình xót thương sâu sắc. Tuy mang yếu tố hoang đường, nhung áng văn “Chuyện người con gái Nam Xương” giàu giá trị nhân đạo. Nhân vật Vũ Nương là một điển hình cho bi kịch của người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Người đọc càng thêm xúc động khi nhớ lại vần thơ của vua Lê Thánh Tông trong bài “Lại bài viếng Vũ Thị”:
… “Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng…” | Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ và nói lên cảm nghĩ của em | 1,274 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ và nói lên cảm nghĩ của em.
Bài làm
Chuyện người con gái Nam Xương rút trong tác phẩm Truyền kì mạn lục, áng văn xuối viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ trong thế kỉ XVI, một kiệt tác văn chương cổ được ca ngợi là ậ,thiên cổ kì hút”.
Truyện kể lại một câu chuyện truyền kì có nhiều yếu tố hoang đường lưu truyền trong dân gian vể bi kịch gia dinh ở Nam Xương có dòng sông Hoàng Giang vào cuối thế ki XIV, dầu thế kỉ XV, một thời loạn lạc, dầy biến động.
Nhân vật Vũ Nương là người con gái bạc mộnh đáng thương đó, có bao phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu cho dức hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa.
1. Tên của nàng là Vũ Thị Thiết, quê ờ Nam Xương, thuộc phù Lí Nhãn, tinh Hà Nam ngày nay. Xuất thân trong một gia đình “ké klió”, nhimg Vũ Nương vừa có nhan sắc vừa có đức hạnh:’7ứi/i dã tliùy mị, nết na, lại thém cỏ tư dung tốt đẹp”. Nàng là một cò gái danh giá nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến 17 (hing hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Trong dạo vợ chổng, Vũ Nương là một người phụ nữ thông minh, đôn hậu, biết chổng có tính “đa nghi”, nàng đã “giữgìn khuôn phép” không để xảy ra cành vợ chổng phải “thất hoà”.
Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương
Sống giữa thời loạn lạc, Trương Sinh phải tòng quân đi chinh chiến ờ biẻn ải xa xôi. Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nương dã rót chén rượu dầy chúc chổng “được hai chữ bình yên”-, nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trờ về quê cũ… Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng dã coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi còng danh phù phiếm ở đời. Những năm tháng xa cách, Vũ Nương thương nhớ chổng khôn xiết kể: “… mồi khi thấy bướm lượn dầy vườn, mây che kin núi, tlù nồi buồn góc bể chán trời không thể nào ngăn dược”.
… Nhớ chàng dằng dằng dường lên bằng trời
Trời thăm thẩm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…
(Chinh phụ ngâm)
Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ cùa Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thuỳ chung thương nhớ đợi chờ chổng của nàng.
Vũ Nương là một phụ nữ đảm đang, giàu tình thương. Chổng ra trận mới được một tuần thì nàng sinh ra một đứa con trai dặt tên là Đàn. Mẹ chổng già yếu, ốm đau, nàng “hết sức thuốc thang”, “ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Vừa phụng dưỡng mẹ già, vừa chăm sóc nuôi dạy con thơ. Lúc mẹ chổng qua dời, nàng dã “hết lời thương xót”, việc ma chay tế lẻ dược lo liệu, tổ chức rất chu đáo “như đối với cha mẹ đe’ mình”. Qua đó, ta thấy trong Vũ Nương cùng xuất hiện 3 con người tốt dẹp: nàng dâu hiếu thảo, ngưòi vợ dảm đang thuỷ chung, người mẹ hiển đôn hậu. Đó là hình ảnh người phụ nữ lí tường trong xã hội phong kiến ngày xưa.
2. Qua năm sau, “việc quản kết thúc”, Trương Sinh từ miền xa chinh chiến trờ vé. Thế nhưng, Vũ Nương không dược hường hạnh phúc trong cảnh vợ chổng sum họp. Chỉ vì chuyện chiếc bóng qua miệng dứa con thơ mới tập nói, mà Trương Sinh “đinh ninh là vợ hư”, đã “mắng nhiếc” và “đánh đuổi di”. Vốn là một kẻ vô học lại hồ đổ vũ phu, Trương Sinh dã bỏ ngoài tai mọi lời “bày tò” cùa vợ, mọi sự “biện bạch” cùa họ hảng làng xóm. Vũ Nương dã bị chồng đẩy vào bi kịch, bị vu oan là người vợ “mất nết hư thân”. Vũ Nương phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự từ để tỏ rõ lả người phụ nữ “đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng”, mãi mãi soi tỏ với đời “vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin là cò Ngu mĩ”. Bi kịch Vũ Nương là bi kịch gia đình từ chuyện chổng con, nhưng nguyên nhân sâu xa là do chiến tranh loạn lạc dã gẫy nên. Chi một thời gian ngăn, sau khi Vũ Nương tự tử, một dêm khuya dưới ngọn đèn, chợt dứa con nói rằng: “Cha Dàn lại đến kia kìa!”. Lúc bấy giờ Trương Sinh “mới tinh ngộ thấu nổi oan cùa vợ, nliưng việc trót đã qua rồi!”. Người đọc xưa nay cũng chì biết thờ dài, cùng Nguyễn Dữ xót thương cho người con gái Nam Xương và bao phụ nữ bạc mệnh khác trong cõi đời. Vũ Nương tự từ, nàng cũng chẳng cần chồng con “rày xin chén nước cho người thác oan” (Truyện Kiều).
… Chứng quả dã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chẳng lọ mấy dàn tràng | Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương | 870 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Xi-mông trong “Bố của Xi-mông” của Mô-pa-xăng
Bài làm
Nhà văn Mô-pa-xăng là một nhà văn đại tài của nền văn học nước Pháp. Ông đã để lại một khối lượng sản phẩm khổng lồ tạo nên tên tuổi của mình. Với mỗi tác phẩm ông đều thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo, sự đồng cảm của mình với nhân vật có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống.
Truyện ngắn “Bố của Xi-mông” làm một truyện ngắn hay vô cùng sâu sắc nói về em bé do hoàn cảnh nên không có bố. Em chỉ là đứa con ngoài giá thú của một người đàn ông đã có vợ và một cô gái nhẹ dạ cả tin, để rồi lỡ làng cả một đời.
Nhân vật cậu bé Xi-mông được ra đời trong hoàn cảnh nước pháp phong kiến cổ đại, nên những cái nhìn của người dân về người phụ nữ không có chồng mà chửa, những đứa con hoang, không có cha là một điều gì đó vô cùng xấu xa. Những con người đó thường bị khinh rẻ miệt thị, sống cuộc đời côi cút, cô đơn, lạc loài.
Cậu bé Xi-mông và mẹ của em một cô gái có tuổi xuân nhan sắc những trót yêu lầm người đàn ông có vợ, nên hoàn cảnh lỡ làng, vô cùng đáng thương.
Chị Blăng mẹ của Xi-mông thường phải làm rất nhiều nghề khác nhau để có thể nuôi nấng cậu bé Xi-mông lớn khôn, và để cho em được tới trường đi học bằng chúng bằng bạn. Bởi mẹ em cứ nghĩ trường học là nơi sẽ cho em niềm vui, sẽ cho em những người bạn, em được sống đúng lứa tuổi ngây thơ của mình, không phải chịu những lời miệt thị của người đời.
Năm Tám tuổi, Xi-mông tới trường những mong nơi này cho em hạnh phúc, chấp cánh cho cậu bé đáng thương những ước mơ. Nhưng chính trường học lại là địa ngục của cuộc đời em. Ở trường học em thường xuyên bị một nhóm bạn thô lỗ, cục cằn, không hiểu chuyện đánh đập, sỉ nhục, và nói em là đồ không cha.
Những câu nói của mấy cậu bạn cùng trường như là mũi dao đâm vào trái tim cô độc của cậu bé Xi-mông tội nghiệp. Bọn chúng còn xé rách áo của em, dồn đuổi đánh em. Rồi có lần Xi-mông chống cự lại bọn chúng đã hành hạ em suốt ngày này qua ngày khác vì thái độ dám chống cự đó.
Cậu bé tội nghiệp của chúng ta, Xi- mông thật đáng thương biết bao, xã hội rất thiếu công bằng thiếu tình thương khi cho Xi-mông một cuộc sống qua đau đớn cả về thể xác lẫn âm hồn. Bị các bạn độc ác xua đuổi đánh đập, khiến cho Xi-mông cảm thấy cuộc đời mình hoàn toàn bế tắc. Em muốn tìm tới cái chết, em đã khóc rất nhiều, nước mắt rớt xuống cổ, xuống áo của em ướt đẫm.
Suy nghĩ mình phải chết cứ ám ảnh trong tâm trí của cậu bé Xi-mông tội nghiệp, bởi em cảm thấy chết đi có lẽ sung sướng hơn là sống đau khổ bị ghẻ lạnh, xa lánh, xua đuổi vì không có bố như thế này.
Xi- mông đã tới một bãi cỏ xanh rất đẹp bên cạnh đó là một dòng sông, dù cảnh vật thiên nhiên vô cùng tươi đẹp nhưng nỗi đau trong lòng Xi-mông quá lớn nên em không muốn quan tâm tới những điều xung quanh. Mà em chỉ muốn chết mà thôi.
Khi Xi-mông tìm tới bãi cỏ xanh cạnh một dòng sông nhỏ nên thơ trữ tình, em nhìn thấy những chú ếch xanh dương mắt nhìn em, ánh nắng vàng sưởi lên những đám cỏ vô cùng tươi đẹp. Cảnh vật rất nên thơ xoa dịu nỗi cô đơn của em ít nhiều nhưng em vẫn vô cùng buồn vì mình không có bố.
Chính trong lúc tuyệt vọng nhất của cuộc đời, Xi-mông đã cầu nguyện em ước rằng trời cao sẽ cho em một người bố. Chính trong giây phút Xi-mông định tìm tới cái chết thì em lại gặp được một việc vô cùng kỳ diệu.
Một tình huống truyện độc đáo bất ngờ đã xảy ra. Một người thợ rèn cao lớn nhân hậu tên là Phi líp đã tới an ủi, vỗ về nỗi đau của Xi-mông. Khi nhìn thấy Xi-mông khuôn mặt giàn dụa nước mắt người đàn ông đã hỏi chuyện em. Rồi biết em định đi tìm cái chết vì em không có bố.
Xi-mông ngây thơ hỏi chú thợ rèn “Chú có muốn làm bố cháu không?”Chú thợ rèn nhấc bổng Xi-mông lên trời và thơm và má em một cái thật hiền hậu ấm áp tình yêu thương rồi trả lời “Có chứ, chú có muốn” Trong giây phút ấy tâm hồn của cậu bé Xi-mông bất hạnh đã tràn ngập hạnh phúc, em cảm thấy được tình cảm ấm áp của một người cha, sự tự hào của việc có bố.
Ngày hôm sau, Xi-mông dẫn tay chú Phi-lip tới trường và em tự hào nói với đám bạn hay chọc ghẹo, đuổi đánh em rằng “Đây là bố tao, bố tao tên là Phi-lip”. Một câu nói chứa đựng sự tự hào hãnh diện của một cậu bé luôn khao khát tình thương của một người cha.
Đọc truyện “Bố của Xi-mông” cho chúng ta những cảm xúc vô cùng xúc động, Mô-pa-xăng thật sự là nhà văn có tâm hồn vô cùng nhạy cảm tinh tế thì mới có thể viết được một truyện ngắn hay và đặc sắc đi sâu vào lòng người đọc tới như vậy.
Thông qua truyện ngắn cho chúng ta thấy một chân lý có bố là điều vô cùng hạnh phúc. Một gia đình thì nên có đầy đủ cả cha lẫn mẹ có như vậy trẻ con mới được trưởng thành một cách vững chắc, hạnh phúc trọn vẹn.
Đông Thảo | Phân tích nhân vật Xi-mông trong “Bố của Xi-mông” của Mô-pa-xăng | 1,009 | |
Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
Trong nền văn học hiện thực những năm 1930 – 1945 Vũ Trọng Phụng là một cái tên mà ai cũng biết đến. Với tài năng văn chương của mình nhà văn đã phơi bày những mặt xấu xa của xã hội thời bấy giờ. Xã hội ấy nhà văn gọi là xã hội chó đểu.Và có lẽ tác phẩm Số Đỏ đặc biệt là đoạn trích hạnh phúc của một tang gia là tác phẩm thể hiện rõ nhất những mặt xấu của xã hội ấy. Trong đoạn trích chúng ta không thể nào quên nhân vật chính là Xuân Tóc Đỏ. Số phận cuộc đời và những tính cách của anh chàng này đã làm nổi bật lên xã hội “tây tàu nhố nhăng”.
Trước hết là cuộc đời của Xuân. Hắn ta là một chàng thanh niên không cha không mẹ sống vật vờ nay đây mai đó “Thằng Xuân lấy đầu hè, xó cửa làm nhà, lấy sấu các phố, cá hồ Hoàn Kiếm làm cơm. Nó đã bán phá xa, bán nhật trình, làm chạy hiệu rạp hát, bán cao đan hoàn tán trên xe lửa, và với ba nghề tiểu xảo khác nữa. Ánh nắng mặt trời làm cho tóc nó đỏ như tóc Tây. Cảnh ngộ đó tạo nó nên một đứa hoàn toàn vô giáo dục tuy nó tinh quái lắm, thao đời lắm”. Cái tên Xuân Tóc đỏ có lẽ là do hắn phơi nắng nhiều nên tóc chuyển sang màu đỏ như thế. hắn chẳng có một tài sản nào cả. Hắn không giàu không thông minh nhưng chính cái xã hội tây tàu nhố nhăng khiến cho hắn lại được trở thành người để cho người ta phải khâm phục ngưỡng mộ. Chính cái xã hội ấy đã làm cho hắn trở nên vô giáo dục và ti tiện đến như thế. Nhưng đồng thời cũng chính xã hội ấy biến hắn gặp gỡ những người giàu và số hắn cứ thế mà phất lên như diều gặp gió. Trong sự thiếu thốn không cha không mẹ đáng nhẽ ra phải sống khổ cực lay lắt lắm thế nhưng Xuân lại hoàn toàn có một cuộc sống vui vẻ và được mọi người kính trọng. Phải chăng sự ngược đời ấy nhà văn cố tình tạo ra để tố cáo xã hội mà ông gọi là chó đểu.
Và sau đó Xuân được về làm cho tiệm may Âu Hoa thật, ban đầu ai cũng khinh miệt hắn thế nhưng càng về sau thì lại tranh giành hắn. Chẳng là hắn tinh danh nên cũng biết ăn biết nói để lấy lòng người. Nói đúng hơn là hắn nịnh nọt và tâng bốc. Mà trong cái xã hội ấy những con người chạy theo Âu Hóa lại càng thích được khen và việc làm của mình là đang giúp cho xã hội tiên tiến hiện đại hơn. Xuân được cử đi làm vận đông viên ban quần vợt đánh giao hữu với nước ngoài. Xuân được lệnh phải thua để giữ hòa bình giữa hai nước. Và sự hi sinh của Xuân ấy đã khiến cho cả nước khen ngợi là một anh hùng hi sinh vì đất nước. Xuân có công giữ gìn nền hòa bình cho cả đất nước này. Thế là cuộc đời Xuân cứ thế mà lên như diều gặp gió. Không những thế hắn cũng còn lưu manh giả danh trí thức khám chữa cho cụ cố tổ, Hắn bốc phét khiến cho người ta tưởng rằng hắn có tài lắm. Và hắn lại được thêm cái danh đốc tờ Xuân.
Trong đoạn trích ta còn thấy được cái “công” làm cho người cần chết phải chết. điều đó làm cho người ta càng thêm yêu thêm quý Xuân đặc biệt là nhà văn Minh. Xã hội thượng lưu đã giúp hắn có cơ hội được nhìn bằng một con mắt khác. Hắn vô học lưu manh như thế nhưng chính cái lưu manh vô học ấy lại giúp họ có thể thực hiện sự Âu hóa của mình. Không chỉ thế, Xuân còn khiến cho những người đàn bà thích hắn, đặc biệt là cô Tuyết. Một cô tiểu thư và hay mơ mộng. Tuyết ngóng xuân tóc đỏ trong đám tang của cụ cố tổ. Trong đám tang ấy Xuân xuất hiện dưới sự chú ý của mọi người. Xuân còn có vai trò đỡ lấy ông Phán mọc sừng khi ông ta giả vờ ngã xuống.
Nói tóm lại thì cuộc đời Xuân tưởng sẽ khốn khổ đến hết đời nhưng với sự vô học tinh danh cùng xã hội tây tàu ấy khiến cho anh trở thành một người được người ta kính trọng mỗi khi nhìn thấy. Đó chính là cái hiện thực mà nhà văn muốn nói tới qua nhân vật Xuân Tóc Đỏ. Thường thì các nhà văn thường xây dựng nhân vật của mình là người tốt. Ví như Chí Phèo của Nam Cao là một con quỷ dữ lưu manh như thế nhưng thực chất đó chỉ là kết quả ảnh hưởng của xã hội còn bản chất trong con người Chí vẫn là một anh nông dân lương thiện. Còn Vũ Trọng Phụng ở đây lại xây dựng một nhân vật quá xấu, quá vô lại để làm gì?. Cốt là để làm nổi bật cái mà nhà văn muốn tố cáo đó chính là xã hội bấy giờ.
Không những thế Xuân còn là một kẻ rất cơ hội. Hắn có thể làm mọi việc có lợi cho hắn. Tức là cứ có tiền là hắn làm. Dù đôi khi công việc mà hắn làm cho bọn thương lưu kia là bị lợi dụng nhưng chính sư lợi dụng ấy lại khiến cho hắn được vinh danh. Hắn sẵn sàng làm cho một người tức chết để nhận lấy năm trăm đồng bạc. Qua đó ta thấy Xuân quả thật là một người không có lương tâm. Sống trong hoàn cảnh ấy hắn vẫn cùng có khả năng thay đổi con người mình cho phù hợp với hoàn cảnh.
Qua đây ta thấy nhà văn Vũ Trọng Phụng đã dùng ngòi bút tố cáo sâu sắc chân thực của mình để làm nổi bật lên cuộc đời và tính cách cảu nhân vật Xuân Tóc Đỏ. Đồng thời qua nhân vật ấy tác giả một lần nữa thể hiện sự phi lý và nhố nhăng của xã hội “chó đểu” ấy. Có lẽ chính thành công trong hình tượng nhân vật nay đã khiến cho tác phẩm của ông trở thành một tác phẩm hay và có giá trị. | Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng | 1,145 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Bài làm
Nhắc đến Nam Cao người ta nhớ ngay đến Chí Phèo. Nhắc đến Ngô Tất Tố người ta không thể nào quên Chị Dậu. Còn Vũ Trọng Phụng lại ghi dấu trong lòng người đọc với Xuân Tóc Đỏ – Nhân vật chính trong tiểu thuyết số đỏ, một kẻ cơ hội bò dần vào giới thượng lưu bằng nhiều mánh khóe mà bất cứ một con người bình thường nào cũng không nghĩ ra được. Có thể nói Xuân Tóc Đỏ làm nên thành công cho số đỏ.
Cái tên Xuân Tóc Đỏ gắn liền với nguồn gốc xuất thân và quãng đời chẳng lấy gì làm đẹp đẽ của hắn. Sinh ra thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội, mồ côi cả cha lẫn mẹ. Xuân đi ở cho nhà bác họ, nhưng mới chín, mười tuổi, Xuân đã có hành động bỉ ổi, bị bác đánh và đuổi đi. Không nhà, không cửa, không người thân thích, hắn sống lang thang bằng đủ mọi nghề của một kẻ ma cà bông: Thằng Xuân lấy đầu hè xó chợ làm nhà, lây sấu ở các phố, lấy cá ở Hồ Hoàn Kiếm làm cơm. Nó bán phá xa, bán nhật trình, chạy cờ rạp hát… Cảnh ngộ đó tạo cho nó lên một đứa hoàn toàn vô giáo dục, tuy nó tinh quái lắm, thạo đời lăm. Thế nhưng, trong cái xã hội thực dân tư sản thời Vũ Trọng Phụng với đông đúc những me Tây, nhà giàu hãnh tiến, gái tân mất nết… Xuân Tóc Đỏ gặp số đỏ đến lạ kì.
Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số đỏ
Khởi đầu chuỗi ngày dài may mắn của đời Xuân Tóc Đỏ bắt nguồn từ một hành động chẳng lấy gì làm tốt đẹp. Hắn dòm trộm một cô đầm thay váy và bị bắt quả tang. Người ta nhốt hắn vắo bót lồi xềnh xệch ra sân mà tát, mà sỉ vả. Nhưng số đỏ đã mỉm cười với hắn. Nhờ hành động dòm trộm ấy, Xuân Tóc Đỏ đã lọt vào mắt xanh của bà Phó Đoan – một me Tây góa chồng dâm đãng. Bà Phó Đoan bỏ tiền nộp phạt cho cảnh sát, bảo lãnh cho Xuân ra tù với mục đích biến hắn thành công cụ thỏa mãn thói dâm ô của bà. Ngày đầu đến nhà bà Phó Đoan, bước chân đầu tiên vào xã hội thượng lưu, Xuân Tóc Đỏ có chút ngờ nghệch, nhưng Xuân nhanh chóng thích nghi, nhập vào xã hội đó để tiến thân.
Xuân sau khi được bà Phó Đoan cứu khỏi cảnh tù tội, được bà giới thiệu với tiệm may Âu hóa của vợ chồng Văn Minh – một thành viên của xã hội thượng lưu. Bước vào đây, Xuân đã gặp được nhiều sự may mắn ngẫu nhiên. Hắn bập bõm học những mốt y phục: Ngây thơ, Lời hứa, Chờ một phút… rồi nhờ vào cái tài lẻo mép của hắn, hắn được những kẻ thượng lưu dốt nát đánh giá rất cao Xuân bắt đầu tham dự vào cải cách xã hội, hắn thực sự đi vào cái thế giới giàu sang, điều mà trước đó, Xuân Tóc Đỏ mơ cũng không thấy nổi.
Lúc đầu do đột ngột bị ném vào cái xã hội thượng lưu, quá xa lạ với môi trường sống quen thuộc, Xuân hoàn toàn bị động trước cái số đỏ của mình nên hoặc không khai thác được, hoặc bỏ lỡ dịp may bày sẵn như lần đầu đến nhà bà Phó Đoan. Rồi sau đó, Xuân vốn tinh quái và thạo đời, Xuân nhanh chóng hiểu ra rằng cái xã hội sang trọng mà hắn lọt vào được cũng như cái xã hội lem luốc của hắn bề ngoài tuy khác nhau nhưng cùng chung một bản chất, dâm ô, đểu cáng, hám danh, bịp bợp. Và khi đã hiểu Xuân quyết định dành cho mình một vị trí trong xã hội đó. Hắn đã thực sự thành công.
Ở tiệm may Âu hóa vài ngày, Xuân đã được mụ Phó Đoan khen là được việc ở đâu vui vẻ đây, thịnh vượng đấy. Văn Minh vợ cũng khen hết lời: Hắn thông minh lắm! Mới vào đây có vài ngày mà khách khứa xem ý ai cũng mến. Còn Văn Minh chồng thì ôn tồn nhận xét “được cái hắn cũng mồm mép nhanh nhẩu”. Các bà, các cô thì thích hắn vì hắn khéo nịnh, khéo hót, có người khen Xuân là phong nhã, hiểu biết nhiều. Nhưng Xuân thực chất là một tên láu cá, xảo quyệt. Hắn dĩ sử dụng tất cả những gì thu lượm được trong cõi đời lăn lóc dưới đáy xã hội đế tiến thân. Đó là một sự trào phúng đặc sắc của nhà văn. Với Xuân, hắn chỉ có tính thông minh, kiểu con vẹt và triết lí của một cái đầu rỗng tuếch!
Xuân, tên ma cà bông ngày xưa chuyên thổi loa quảng cáo thuốc lậu ngày nào, nhờ thế đã thuộc lòng được mớ kiến thức bập bõm, lộn xộn bỗng trở thành sinh viên trường thuốc, đốc tờ Xuân. Ngồi hóng chuyện giữa cụ cố Hồng, bà Phó Đoan, vợ chồng Văn Minh về bệnh tình của cụ tổ, hắn đem những điều này góp ý vào. Ngay sau đó, hắn thành sinh viên trường thuốc qua sự bịp bợm cửa Văn Minh đang tìm một thầy thuốc rởm để cụ tổ chết đi. Trước sự “thông thạo” về y lí của Xuân, cả bà Phó Đoan và vợ chồng Văn Minh đều kinh hoàng, không hiểu duyên cớ vì đâu, cụ cố Hồng kính cẩn hỏi Xuân: Bẩm ngài ngài làm gì mà giỏi về y lí như vậy ạ?
Xuân đã bước lên những bậc thang của danh vọng, sự ngu độn của nó được người ta cho là nhũn nhặn, khiêm tốn. Bà Phó Đoan xem nó là người có học thức. Ổng Phán Mọc Sừng cũng cho Xuân là người đứng đắn. Nhờ tài bẻm mép của Xuân mà cửa hàng Âu hóa của vợ chồng Văn Minh phát đạt, nhờ tài chữa bệnh bằng thuốc Thánh đền Bia (thực ra là nước ao và rau dại) mà cụ tổ khỏi bệnh, Uy tín của Xuân được nâng cao, được mọi người tâng bốc. Lúc đầu, Xuân chỉ là công cụ của bọn lừa bịp, sau đó, Xuân trở thành kẻ đi lừa đi bịp. Những ngôn ngữ của kẻ vô học: nước mẹ gì, mẹ kiếp… được bọn kia tôn sùng. Xuân Tóc Đỏ ngày càng lên tầm cao danh vọng, hắn kiêu ngạo, mọi người trở nên sợ hắn và lấy lòng hắn. Hắn được cô Tuyết – con gái cụ cố Hồng mang tiếng là hư hỏng với hắn mê như điếu đổ. Hắn gây ra cái chết của cụ tổ – cái chết mà lũ con cháu mong ngày mong đêm khi tố cáo tội ngoại tình của con gái cụ. Sự có mặt của Xuân trong lễ lang mà là danh giá và vinh dự cho đại gia đình con cháu bất hiếu này lắm lắm!
Tiểu thuyết Số đỏ kết thúc khi Xuân đã leo lên nấc thang cuối cùng của danh vọng Xuân – vĩ nhân; anh hùng cứu quốc đang diễn thuyết trước đông đảo quần chúng, gọi quần chúng là mi. Bằng hành động bịp bợm của nước Xiêm để tránh họa chiến tranh. Trong cái xã hội tư sản nhố nhăng đó, kẻ vô học như Xuân được biểu dương, tán tụng đến không ngờ.
Xây dựng nhân vật điển hình Xuân Tóc Đỏ, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện một tài năng trào phúng bậc thầy. Có thể xem mỗi chương trong số đỏ là một màm kịch mà các xung đột diễn ra đầy kịch tính. Trong xã hội đó, kẻ vô học đào luyện trong nền văn hóa vỉa hè trở thành anh hùng cứu quốc, vĩ nhân, quả là sự châm biếm sâu cay. Qua nhân vật này, tác giả thể hiện sự tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội đương thời – xã hội tư sản đầy rẫy thói dâm ô, bịp bợm vô liêm sỉ mà Xuân Tóc Đỏ là một điển hình.
Hình tượng nhân vật Xuân Tóc Đỏ là một sáng tạo độc đáo của Vũ Trọng Phụng. Giữa những nhân vật về người nông dân quen thuộc như: Chị Dậu, Chí Phèo… những tên địa chủ như: Bá Kiến, Nghị Quế,… Xuân Tóc Đỏ quà là độc nhất vô nhị trong văn học hiện thực trào phúng trước Cách mạng tháng Tám. | Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng | 1,468 | |
Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong truyện ngắn Số Phận Con Người của nhà văn Sô-lô-khốp
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong truyện ngắn Số Phận Con Người của nhà văn Sô-lô-khốp
Bài làm
Chiến tranh mang tới cho con người biết bao nhiêu là sự đua thương và mất mát, nó còn cướp đi sinh mạng của những người thân yêu ở ngay cạnh chúng ta. Và sau khi chiến tranh qua đi thì nhiều người chẳng còn ai thân thích nữa hoặc là còn nhưng mà rất ít. Chính điều đó đã có rất nhiều tác phẩm viết để phản về đời sống hiện thực của xã hội, tiêu biểu trong đó chúng ta phải kể đến đó là “số phận con người” của nhà văn Sô-Lô-khốp. Trong truyện này nổi bật nhất là Xô-cô-lốp với những đức tính đáng được tôn trọng.
Nhà văn đã dựng lên nhân vật của mình với những phẩm chất cao quý mà nổi bật nhất đó là sự kiên cường, đại diện cho con người Nga lúc đó. Có thể nói cuộc đời của anh gắn với những dấu mốc thăng trầm của lịch sử hào hùng nhân dân Nga.
Viết sự thật về cuộc chiến tranh, nhà văn không hề né tránh mà còn dùng ngòi bút của mình để khắc tạc nên những nỗi đau mà chiến tranh đã để lại, đó là nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần của người lính. Tuy nhiên không vì lẽ đó mà ông viết bằng giọng cay nghiệt hay là sắc lạnh mà ông dùng những lời lẽ thực tế để cho bạn thấy được những đau đớn người lính, mà tiêu biểu ở đây là Cô-lô- xốp phải chịu đựng. Những hậu quả của cuộc chiến tranh cứ thế mà được phơi bày không cần tới sự phóng đại hay nghệ thuật gì mà qua những lời giản dị mộc mạc. Vì vốn dĩ những đau thương và mất mát đó xuất phát từ thực tại. Có thể thấy được phẩm chất của nhân vật Xô-cô-lốp tiêu biểu cho phẩm chất của những con người Nga. | Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong truyện ngắn Số Phận Con Người của nhà văn Sô-lô-khốp | 353 | |
Đề bài: Nhân vật Xôcôlốp trong Số phận con người
Bài làm
Hêminguây (1899-1960) văn hào Mỹ, được giải thưởng Nôbel về văn chương năm 1954 đã từng viết: “Tôi rất thích văn học Nga… Trong các nhà văn hiện đại tôi thích Sôlôkhốp”. Là nhà văn Xô Viết được giải thưởng Nobel về văn học năm 1965, Sôlôkhốp được ca ngợi là “một trong những nhà văn xuôi lớn nhất thế kỷ 20”.
“Đất vỡ hoang”, “Sông Đông êm đềm”,… và “Số phận con người” đã đem đến vinh quang cho Sôlôkhốp. Truyện “Số phận con người” xuất hiện trên báo “Sự thật” vào cuối năm 1956. Hình ảnh nhà văn Xôcôlốp để lại trong lòng ta bao ám ảnh về số phận con người đầy bất hạnh thương đau. Qua số phận nhân vật này, ta cảm nhận sâu sắc nhiệt tình tố cáo thảm họa chiến tranh, mô tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó; biểu dương khí phách anh hùng của người lính Xô viết, khám phá chiều sâu tính cách Nga bình dị, nhân ái – được thể hiện bằng một bút phát nghệ thuật điêu luyện, độc đáo của nhà văn Sôlôkhốp.
Phân tích nhân vật Xôcôlốp trong Số phận con người
Đọc “Số phận con người” ta vô cùng xúc động trước trang đời đầy nước mắt và máu của nhân vật Xôcôlốp. Năm 1941, phát xít Đức bất ngờ tấn công Liên Xô. Cùng với hàng triệu người Xô viết cầm vũ khí đứng lên, Xôcôlốp ra trận. Anh nếm trải những gian truận, thất bại buổi đầu của Liên Xô. Hai lần bị thương vào chân và tay. Rồi anh bị giặc bắt, bị đày đọa suốt hai năm trong nhiều trại tập trung. Sống bằng xúp lõng bõng, bánh mì lẫn mạt cưa. Áo quần xơ xác, lao động khổ sai, người tù ra bọc xương. Hàng trăm tù binh bỏ mạng. Tù binh Nga bị bọn phát xít đánh bằng thanh sắt, thanh gỗ, thanh củi, đánh bằng báng súng, đấm bằng tay, đạp bằng chân vô cùng dã man. Bọn chỉ huy trại đấm vào mặt, vào mũi tù binh cho hộc máu ra; chúng gọi đó là trò “phòng bệnh cúm”. Chúng “sáng tạo” ra mọi cách cực kỳ man rợ để đánh đập bắn giết tù binh. Đêm và ngày, lúc lao động khổ sai và lúc bị nhốt sau hàng rào dây thép gai, Xôcôlốp cũng như các tù binh khác bị cái chết bủa vây, bị tử thần rình rập.
Sau 5 năm chiến tranh, hơn 20 triệu người Xô viết bị chết, hàng ngàn thành phố, hàng vạn làng mạc bị bom đạn phát xít biến thành tro tàn. Gia đình Xôcôlốp gánh chịu bao mất mát đau thương. Vợ và 2 con gái bị giặc ném bom giết hại. Con trai – đại uý pháo binh Anatôli, niềm tự hào cuối cũng đã ngã xuống trong ngày chiến thắng bởi viên đạn bắn lén của một tên thiện xạ phát xít! Thế là hết! Nỗi đau khủng khiếp làm cho Xôcôlốp “như người mất hồn”. Chiến tranh kết thúc, được giải ngũ nhưng anh không muốn về lại Vôrônegiơ quê hương vì đâu còn gia đình nữa. Bé Vania cũng là hiện thân cho thảm họa chiến tranh. Cha “chết ở mặt trận”. “Mẹ bị bom chết trên tàu hỏa khi mẹ con cháu đang đi tàu”. Bé cũng không biết, không nhớ từ đâu đến. Bà con thân thuộc “không có ai cả”. Và chỉ biết “bạ đau ngủ đó”, “ai cho gì thì ăn nấy!” Áo quần em “rách bươm xơ mướp”, “đầu tóc rối bù”; “mặt mũi thì bê bết nước dưa hấu, lem luốc bụi bặm, bẩn như ma lem”…
Hình ảnh bé Vania cũng như cuộc đời Xôcôlốp được tác giả miêu tả một cách chân thật cảm động thể hiện nhiệt tình tố cáo thảm họa chiến tranh, mô tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó. Cái giá của chiến thắng mà mọi dân tộc cũng như nhân dân Liên Xô trong thế chiến 2 phải trả là cực kỳ khủng khiếp. Chỉ còn lại một phần ba số binh sĩ ra trận trở về, trong số đó, nhiều người trên mình mang đầy thương tật. Sức khỏe sa sút, cạn kiệt. Chiến tranh đã đi qua, nhưng một năm sau Xôcôlốp cảm thấy quả tim mình, “đã rệu rã lắm rồi”, nhiều khi “tự nhiên nó nhói lên, thắt lại, và giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi”. Nhưng cái đau khổ nhất do bão tố chiến tranh đem đến cho con người không chỉ là mất mát, tang thương, điêu tàn… mà còn là những vết thương lòng rỉ máu, những ám ảnh kinh hoàng còn mãi trong ký ức, cứ xiết chặt lấy tâm hồn người lính thời hậu chiến. Bé Vania vốn hoạt bát có lúc lại “lặng thinh, tư lự” có lúc lại “thở dài”. Cái áo bành tô da của bố ngày nào cứ riết lấy tâm hồn của em như một ám ảnh không nguôi! Còn Xôcôlốp thì nỗi đau như vô tận “không ở lâu mãi một chỗ được”, nỗi buồn không bao giờ nguôi, “hai bố con cứ cuốc bộ khắp nước Nga”… Hầu như đêm nào anh cũng chiêm bao thấy những người thân bị giặc giết “gặp lại vợ con sau hàng rào dây thép gai”…, “ban ngày trấn tĩnh được, không hở ta một tiếng thở dài, một lời than vãn nhưng ban đêm thì gối ướt đầm nước mắt…”. Xôcôlốp và bé Vania trở thành “côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ…”
Nhân vật Xôcôlốp là một con người Nga chân chính, tiêu biểu cho khí phách anh hùng của người lính Xô viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Vốn là một nông dân rồi làm thợ, một lái xe. Một gia đình ổn định, êm ấm: một vợ và ba con. Anh đã ra trận như hàng triệu công dân với ý thức “Tổ quốc hay là chết!” Hai lần bị thương vào chân và tay; vết thương lành, anh lại cầm súng đánh giặc rồi bị bắt làm tù binh. Lao động khổ sai trong mưa, nắng, tuyết; bị đánh bằng báng súng, bằng thanh sắt, bằng gộc. Áo quần tả tơi, bánh mì lẫn mạt cưa, lưng bát xúp lõng bõng. Anh đã đứng vững trước mọi thử thách ác liệt. Kiên quyết trừ khử tên phản bội đốn mạt! Hiên ngang trước mũi súng tên hung thần Muynle, chỉ huy trại tập trung. Với đôi mắt bình thản, anh nhìn thẳng vào họng súng lục tên phát xít. Tự kìm chế sự đói khát khi đứng trước bàn tiệc của lũ giặc. Đàng hoàng uống rượu, không chỉ uống một cốc mà còn uống nữa để mừng cái chết của mình kinh ngạc khâm phục nói:
“Mày là một thằng lính Nga chân chính. Tao cũng là lính và tao trọng những địch thủ có khí tiết. Tao sẽ không bắn mày nữa”. Tầm vóc của Xôcôlốp, của người lính Nga trong máu lửa được miêu tả một cách chân thực, hào hùng làm cho truyện “Số phận con người” mang vẻ đẹp một “tiểu anh hùng ca”.
Qua nhân vật Xôlôlốp, tác giả đã khám phá chiều sâu tính cách Nga bình dị và nhân ái. Sau chiến tranh anh vẫn nhớ hoài cái giây phút từ biệt vợ con để ra trận, anh đẩy Irina ra khi chị cứ níu lấy anh, không thả… Bình dị trước biến cố trọng đại khi lịch sử đưa số phận anh lên “điểm tựa” thử thách! Lửa chiến tranh đã tắt hơn một năm rồi, mà lòng Xôcôlốp mãi không nguôi đau. Anh đã tìm đến rượu, “uống một ly rượu lử người”, anh đã “quá say mê cái món nguy hại ấy!”
Đang sống âm thầm trong bị kịch, anh tưởng không có lối thoát. Nhưng rồi tình cảm người cha, – tình thương đồng loại đã thức dậy, làm cho vết thương lòng rỉ máu bấy nay, như được mọc lên một lớp da non. Gặp bé Vania “đầu tóc rối bù”, “rách bươm xơ mướp”, sống bơ vơ nơi hiệu giải khát, bạ đâu ngủ đó… ai cho gì thì ăn mấy”, nhất là khi nhìn thấy cặp mắt của em “như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm”, Xôcôlốp thấy “thích nó” và “nhớ nó”, cố cho xe chạy nhanh để được về “gặp nó”. Anh đã quyết định: “Không thể để cho mình với nó chìm nghỉm riêng rẽ được! Mình sẽ nhận nó làm con!” Một quyết định đầy nhân ái. Anh đã cứu bé Vania, và anh đã tự cứu mình! Như có một phép thần biến cải: “Ngay lúc đó tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhõm và bừng sáng lên!” Câu nói khẽ của Xôcôlốp: “Là bố của con” khi nghe bé Vania nghẹn ngào hỏi: “Thế chú là ai?” tưởng là bình dị nhưng đầy nước mắt, chứa đựng cả một biển tình thương mênh mông! Trước những cái hôn vào má, vào môi, vào trán, trước những cử chỉ “yêu thương bố…” của bé Vania Xôcôlốp vô cùng xúc động: “Mắt tôi thì mờ đi, cả người cũng run lên, hai bàn tay lẩy bẩy…”
Xôcôlốp đã nhận bé Vania làm con. Anh đã tắm rửa, đưa bé đi cắt tóc, may áo quần mới, săn sóc em. Hai linh hồn đau khổ tựa vào nhau làm cho nỗi mất mát, đau thương sau chiến tranh được dịu lại. Giấc ngủ được yên lành hơn: “Lần đầu tiên, sau nhiều năm tôi được ngủ một giấc yên lành. Còn bé Vania thì rúc vào nách bố nuôi “như con chim sẻ dưới mái rạ, ngáy khe khẽ…” Hạnh phúc là san sẻ. Xôcôlốp lòng vui không lời nào tả xiết, đêm đêm thức dậy đánh diêm ngắm nhìn bé Vania ngủ ngon lành. Đời anh đã có một sự đổi thay kì diệu: “Trái tim đã suy kiệt, đã bị chai sạn vì đau khổ, nay trở nên êm dịu hơn. Vết thương lòng đâu dễ nguôi? Vì thế mà Xôcôlốp phải cõng đứa con nuôi bé bỏng đi khắp nước Nga. Chỉ đến một lúc nào đó, bé Vania lớn lên vào học một trường ổn định thì Xôcôlốp “mới có thể ở yên một chỗ”. Anh đang chịu đựng và vượt qua số phận bằng tình thương của người bố đối với đứa con.
Cuộc gặp bất chợt với “hai con người côi cút” và câu chuyện đau lòng của họ đã để lại trong lòng tác giả bao nỗi buồn thấm thía, nhưng ông vẫn tin vào dũng khí và lòng nhân ái của người Nga, vẫn tin vào tương lai, cho dù bão tố chiến tranh có thổi bạt họ tới những miền xa lạ. “Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước? Thiết nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên cường, sẽ đứng vững được và sống bên cạnh bố, chú bé kia một khi lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường, nếu như Tổ quốc kêu gọi”.
Truyện “Số phận con người” có kết cấu “truyện lồng trong truyện” đã tô đậm những đau khổ, những phẩm chất cao đẹp của nhân vật Xôcôlốp, khắc họa đậm nét tính cách và tâm hồn Nga, đem đến cho người đọc nhiều xúc động thấm thía về số phận con người trong chiến tranh và thời hậu chiến.
Với những chi tiết, tình tiết rất sống, rất điển hình và chân thực, tác giả đã mô tả mặt thật của chiến tranh, ca ngợi người lao động bình thường trong cuộc đời, anh binh nhì trong máu lửa, người cha trong cuộc sống phức tạp, nhiều khó khăn thời kỳ sau chiến tranh. Qua nhân vật Xôcôlốp, người đọc cảm nhận được những ý tưởng sâu sắc mà Sôlôkhốp gửi gắm qua kiệt tác này: Với lòng dũng cảm mà con người vượt qua những thử thách chiến tranh; với lòng nhân ái có thể làm dịu bớt nỗi đau mà chiến tranh gieo rắc, để lại. Đoạn trữ tình ngoại đề làm cho cảm hứng nhân đạo thêm lung linh chói sáng.
Nhân dân Việt Nam vừa trải qua 30 năm chiến tranh. Hình ảnh Xôcôlốp rất gần gũi với mỗi chúng ta. Nhân vật này rất sống, rất đáng thương nhưng vô cùng cao đẹp xứng đáng được mọi người yêu mến, cảm phục. | Phân tích nhân vật Xôcôlốp trong Số phận con người | 2,128 | |
Phân tích nhân vật ông giáo trong truyện ngắn Lão Hạc
Bài làm
Trở đi trở lại trong sáng tác của nhà văn Nam Cao là hình ảnh người nông dân và người trí thức. Họ là nơi để nhà văn kí thác những quan điểm về nghệ thuật và cuộc đời, nơi nhà văn bộc lộ tâm sự của mình. Người trí thức trong sáng tác của ông là những nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh sống đầy nghiệt ngã. Những kiếp đời mòn mỏi, sống mòn, sống thừa, bị áo cơm ghì sát đất. Đau khổ hơn, họ lại là người trí thức – người luôn ý thức được những nỗi khổ đau của mình trước cuộc đời. Nhân vật ông giáo trong truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao là một con người như vậy.
Ông giáo trong truyện ngắn Lão Hạc được nhà văn giao cho rất nhiều trọng trách. Nhân vật này đứng thứ hai sau nhân vật lão Hạc, vừa như người chứng kiến vừa như người tham gia vào câu chuyện của nhân vật chính, vừa đóng vai trò dẫn dắt câu chuyện vừa trực tiếp bày tỏ thái độ, tình cảm, tâm trạng của bản thân. Đó cũng là chỗ gần gũi và khác cách kể chuyện trong tiểu thuyết – tự truyện Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng.
Ông giáo cũng là một con người có hoàn cảnh sông đầy những khó khăn. Tuổi trẻ ông đã từng đi nhiều nơi, vào tận Sài Gòn với những niềm tin và bao khát khao cao đẹp. Một con người như thế rồi cũng bị ném trả lại vùng nông thôn nghèo khổ, nơi hi vọng bị diệt trừ và 11 tưởng chi là một giấc mộng mãi không thành. Những cuốn sách mà ông đã nâng niu quý trọng “mỗi lần mở một quyển ra, chưa kịp đọc dòng nào, tôi đã thấy bừng lên trong lòng tôi như một rạng đông cái hình ảnh tuổi hai mươi trong trẻo, biết yêu và biết ghét…”, rồi cũng phải tự tay minh bán di vì con ốm, vì đã cùng đường đất sinh nhai. Đọc những trang văn của Nam Cao, mặc dù nhà văn không hề miêu tả kĩ cuộc sống của ông giáo nơi quê nhà nhưng tôi cứ có cảm giác một nỗi buồn man mác bao phủ lên cảnh sống của ông.
Cũng giống như biết bao nhân vật người trí thức trong sáng tác của Nam Cao, họ đều là những con người đáng thương. Nếu là một người nông dân bình thường thì cái đói, cái nghèo có lẽ là nỗi khổ duy nhất và lớn nhất. Nhưng với những người trí thức của Nam Cao, họ còn phải gánh trên vai cả nỗi khổ về tinh thần. Những con người có học thức ấy luôn bị dày vò, luôn phải trăn trở trong nghĩ suy. Đi hết câu chuyện, ta nhận ra ông giáo là người luôn phải chứng kiến nỗi đau của người khác. Nhìn xung quanh cuộc sống mình không có lấy một niềm vui, một ánh sáng của sự sống. Cuộc đời bi thương, bất hạnh của gia đình lão Hạc, cách nghĩ của chính vợ ông… khiến ông đau xót thốt lên: “Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Là người giàu lòng yêu thương nhưng ông cũng bất lực trước hoàn cảnh của người khác. Lão Hạc luôn bên ông, luôn chia sẻ với ông tâm sự những suy ngẫm về cuộc đời nhưng rồi, ông giáo có giữ nổi lão Hạc ở lại cõi đời này đâu. Kết thúc, lão vẫn chết một cách thê thảm, đáng thương. Vợ ông giáo có cái nhìn lệch lạc về lão Hạc nhưng ông cũng chỉ ngậm ngùi “bởi thị khổ quá rồi, có bao giờ thị nhìn thấy nỗi khổ của người khác đâu”. Ta thấy ông giáo là một nhân vật vừa đáng thương vừa đáng trọng.
Những triết lí ông rút ra về nỗi buồn trước cuộc đời và con người đã tạo cho ông một tiếng nói riêng trong truyện. “Chao ôi, đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cô” mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngô”c, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi,… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”. Ông giáo không chỉ tỏ ra rất hiểu vì sao mà vợ ông lại không chịu giúp lão Hạc và cảm thông với những nỗi khổ của thị. Ông giáo chỉ buồn mà không nỡ giận và còn nhắc nhở mình phải cố tìm hiểu họ, đồng cảm với họ. Mặt khác ông còn buồn vì thấy lão Hạc gần như làm ngơ trước sự giúp đỡ của ông làm cho hai người dần xa nhau. Nhưng khi biết lão Hạc xin bả chó của Binh Tư, nghe câu nói đầy mỉa mai của y dành cho lão Hạc thì ông còn buồn hơn. Ông cảm thấy thất vọng trước sự thay đổi cách sống do không chịu đựng được đói khổ, “túng ăn vụng, đói làm càn” của một người vốn có bản tính trong sạch, giàu lòng tự trọng như lão Hạc. Ông giáo buồn vì bản năng đã chiến thắng nhân tính mất rồi! Nhưng sau cái chết bất ngờ và bi thảm của lão, tâm trạng của ông lại biến chuyển, có thêm những suy nghĩ khác. Trước hết ông thấy cuộc đời không thật đáng buồn vì có những cái chết mang tinh thần hi sinh đầy cao đẹp như của lão Hạc. Cái chết cho thấy nhân tính đã chiến thắng, lòng tự trọng vẫn giữ chân con người trước bờ vực của sự tha hóa. Ông giáo ngỡ ngàng nhận thấy: “nhưng cuộc đời lại đáng buồn theo một nghĩa khác” là ở chỗ, những người tốt như lão Hạc, đáng thương, đáng thông cảm như thế nhưng cuối cùng vẫn có hoàn cảnh bế tắc, hoàn toàn vô vọng, vẫn phải tìm đến cái chết như là cứu cánh duy nhất, như là sự giải thoát tự nguyện và bất đắc dĩ. Và càng đáng buồn hơn vi không phải ai cũng hiểu hết ý nghĩa cái chết của lão. Tâm trạng của ông giáo chứa chan một tình yêu thương và lòng nhân ái sâu sắc nhưng cũng thâm trầm với giọng điệu buồn và bi quan. Chỉ còn đó một chút niềm an ủi với vong linh người vừa chết kia là ông giáo cô’ gắng giữ trọn lời hứa, giữ trọn mảnh vườn để có dịp gặp và trao tận tay người con trai lão Hạc.
Xây dựng nhân vật ông giáo, Nam Cao như muốn tặng cho lão Hạc một người bạn để an ủi, chia sẻ nhưng cũng với nhân vật này, nhà văn muốn bày tỏ quan điểm, suy ngẫm về kiếp người và cuộc đời. Ta như bắt gặp hình bóng của Nam Cao trong ông giáo. Những nét tương đồng của nhân vật này và nhà văn như một lời tâm sự chân thành mà tác giả gửi vào trang viết. Văn là người. Một trái tim ấm nóng tình nhân đạo, lòng yêu thương với con người cứ bùng lên mãnh liệt trong trang viết của Nam Cao. Có thể không thể thay đổi cuộc đời của những người trí thức trong sáng tác của mình nhưng ta vẫn tin rằng dù cuộc đời có nghiệt ngã đến đâu thì họ vẫn giữ được những nét nhân cách đáng trọng của mình. | Phân tích nhân vật ông giáo trong truyện ngắn Lão Hạc | 1,286 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật ông giáo trong “Lão Hạc” của Nam Cao
Bài làm
Truyện ngắn “Lão Hạc của nhà văn Nam Cao chính là một tác phẩm tiêu biểu cho con đường sáng tác nghệ thuật văn chương của Nam Cao. Truyện ngắn thể hiện tình cảnh vô cùng đáng thương của những người nông dân khốn khổ vào giai cấp tri thức nghèo trước những năm cách mạng tháng Tám thành công.
Những con người nghèo đói, bị xã hội xô đẩy tới đường cùng chính là nguyên nhân gây ra những kết cục bi thảm của số phận những con người khốn khổ này.
Nhưng dù có nghèo khổ thì nhân phẩm, đức hạnh của người nông dân, những người tri thức nghèo khổ vẫn giữ được tấm lòng thanh bạch, tâm hồn thanh cao đáng trân trọng của họ.
Nhân vật chính trong truyện ngắn “Lão Hạc” chính là ông lão. Nhưng bên cạnh đó có những nhân vật thứ chính cũng không kém phần quan trọng. Đó chính là thầy giáo, một người hàng xóm tốt bụng, có học thức, nhân cách, đang xoay vần trong cuộc sống với nhiều bi kịch của cuộc sống cơm áo gạo tiền, và bi kịch của toàn xã hội, của kiếp sống nô lệ lầm than.
Nhân vật thể hiện một tuyên ngôn văn chương của nhà văn Nam Cao về sự sống, về những số phận của con người đau khổ. Nhân vật ông giáo là người có phẩm chất, nhân cách là người có cái nhìn thấu tình đạt lý, có tư tưởng nhân văn.
Mặt khác, ông Giáo cũng chính là nhân chứng sống về cuộc đời số phận Lão Hạc, ông Giáo là người có chữ là người đáng kính trọng, nên hễ có việc gì quan trọng lão Hạc đều qua tâm sự với ông Giáo tìm lời khuyên.
Khi lão Bá Kiến âm mưu cướp không mảnh vườn của lão Hạc, lão đã sang tâm sự với ông Giáo ngay lập tức, để mong tìm lời khuyên thấu tình đạt lý.
Trước sức ép của cuộc sống của giai cấp thống trị, cường hào ác bá, mà lão Hạc quyết định tìm tới cái chết. Trước khi chết lão đã bán đi con chó của mình con Vàng người bạn thân thiết mà lão coi như là con trai mình.
Người luôn đồng hành lắng nghe câu chuyện của lão Hạc chính là nhân vật thầy Giáo. Lúc đầu thầy giáo “Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậc nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc.”
Tuy nhiên, trước khi chết lão Hạc đã sang thăm thầy Giáo nhờ giữ hộ giấy tờ nhà đất, và một ít tiền mà lão đã dành dụm được từ rất lâu. Sự đồng cảm của thầy Giáo khiến cho lão Hạc hoàn toàn tin tưởng trao trọn cơ ngơi của mình cho người hàng xóm tốt bụng này.
Ông lão đã vô cùng đau đớn mà nói ra rằng “ Chao ôi, đối với những người quanh ta nếu ta không cố mà hiểu họ thì chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi…toàn những cớ để ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương”.
Những lời của ông Giáo chính là nội dung tư tưởng nghệ thuật, giá trị nhân đạo của Nam Cao được thể hiện trong tác phẩm Lão Hạc.
Nhân vật ông Giáo chính là hình ảnh đại diện cho tư tưởng, cái nhìn nhân sinh quan của tác giả với những cảnh đời bất hạnh của người nông dân xung quanh mình. Nó thể hiện tấm lòng bao dung, nhân văn, nhân đạo của tác giả với những mảnh đời bất hạnh khốn khổ cùng đinh trong xã hội.
Thảo Nguyên | Phân tích nhân vật ông giáo trong “Lão Hạc” của Nam Cao | 649 | |
Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện Làng của Kim Lân
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện Làng của Kim Lân
Bài làm
Nhà văn Kim Lân thuộc thế hệ các nhà văn thành danh từ trước cách mạng tháng 8- 1945, với rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Ông gắn bó với thôn quê, hiểu người nông dân, và tha thiế muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân. Truyện ngắn Làng của ông ra đời vào năm 1948, là một tác phẩm đặc sắc về chủ đề tình yêu quê hương đất nước của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông Hai, nhân vật chính của tác phẩm chính là một người nông dân yêu nước như thế, với tính cách nồng hậu, chất phác.
“Làng” lấy bối cảnh là cuộc tản cư trong kháng chiến của nhân dân. Ông Hai là người dân làng Chợ Dầu, ông cùng gia đình đã phải tản cư đến một nơi khác để phục vụ cho kháng chiến. Và khi sinh sống tại nơi đây, ông đã luôn trăn trở, suy nghĩ về Làng thân yêu của mình với biết bao tình cảm. Ông Hai yêu làng của mình đến nỗi đi đâu, gặp ai ông cũng khoe về làng của mình với nhà ngói san sát, sầm uất, đường lát toàn đá xanh, với phòng thông tin sáng sủa rộng rãi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre…Ông tự hào nghĩ rằng, làng của mình hơn hẳn các làng khác, mỗi khi có khách đến chơi, ông đều bắt họ xem “ sinh phần” của viên tổng đốc.
Ông dõi theo tin tức kháng chiến, bình luận náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “ Cứ thế chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm.”
Ông rất nhớ làng, nỗi nhớ dày vò khiến ông sinh ra bực bội, muốn quay về làng để tham gia kháng chiến cùng anh em. Qua ông Hai có thể thấy, tình yêu làng của người nông dân gắn liền với yêu nước, dù bất cứ đâu cũng muốn tham gia kháng chiến để bảo vệ quê hương. Thế rồi khi nghe tin làng theo giặc, ông cảm thấy thật sự đau xót: cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân, lặng đi tưởng như không thở được. Nghe người ta chì chiết, ông đau đớn cúi gằm mặt xuống mà đi.
Về nhà nhìn các con, ông càng cảm thấy tủi hổ vì nghĩ chúng “ cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi”. Ông tức giận những người ở làng, nhưng cũng không dám tin họ lại đổ đốn ra thế. Thế rồi cái tâm lý “ không có lửa sao có khói” lại bắt ông phải tin. Từ nay ông không dám bước ra ngoài nữa, không dám nhìn mặt ai. Ông sợ cái thái độ khinh bỉ của bà chủ, muốn đuổi gia đình ông đi vì làng ông theo tây, và đâu đâu có người làng Chợ Dầu, người ta cũng đuổi như đuổi hủi. Gia đình ông bế tắc. Ông muốn quay về làng, nhưng lại gạt đi. Về làm gì nữa, về làng đó tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Ông căm thù những đứa làm Việt gian. Lòng yêu ghét của ông thể hiện hết sức rõ rệt, dứt khoát.
Và rồi niềm vui sướng hả hê của ông cũng đến, khi ông biết tin chính xác làng chợ Dầu không theo tây. Nét mặt ông vui tươi rạng rỡ hẳn lên. Ông thân mật, cởi mở với con cái. Ông đi khắp nơi khoe với mọi người rằng làng mình vẫn theo kháng chiến. Khoe rằng làng mình, cùng ngôi nhà của mình đã bị Tây đốt nhẵn. Dù thế nhưng vẫn rất vui, rất tự hào.
Có thể thấy, qua nhân vật ông Hai, tác giả đã cho ta hiểu thêm về lòng yêu nước của người nông dân ở làng quê Việt nam trong kháng chiến. Dù có chuyện gì xảy ra và trong hoàn cảnh nào, tình yêu, niềm khát khao cống hiến cho đất nước của người nông dân vẫn không hề thay đổi. | Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện Làng của Kim Lân | 728 | |
Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng
Hướng dẫn
Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng
Bài làm
Kim Lân là nhà văn có vốn sống vô cùng phong phú và sâu sắc về nông thôn Việt Nam.Các sáng tác của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân. Văn bản “Làng” đươc sáng tác vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,với nhân vật chính là ông Hai,một lão nông hiền lành,yêu làng,yêu nước và gắn bó với kháng chiến.
Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình.Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình, hào hứng.Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng,theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu.Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách. Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật.Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc.Từ phòng thông tin ra,đang phấn chấn,náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư,nghe nhắc đến tên làng,ông Hai quay phắt lại,lắp bắp hỏi,hy vọng được nghe những tin tốt lành,nào ngờ biết tin dữ:“Cả làng Việt gian theo Tây ”.Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng, đau đớn:“Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại,da mặt tê rân rân,ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được,một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ.Ông cất tiếng hỏi,giọng lạc hẳn đi ”nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật.Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư,ông tìm cách lảng về.Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái:“cha mẹ tiên sư nhà chúng nó,đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương,cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”.Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”,nhìn đàn con nước mắt ông cứ giàn ra “ chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”.Ông căm thù những kẻ theo Tây,phản bội làng,ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này ”.Niềm tin,nỗi ngờ giằng xé trong ông.Ông kiểm điểm lại từng người trong óc, thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm cái điều nhục nhã ấy ”.Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm,người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”.Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu,“chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”,lúc nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý,đang bàn tán đến cái chuyện làng mình.Nỗi ám ảnh,day dứt,nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông.Ông đau đớn,tủi hổ như chính ông là người có lỗi…
Tình thế của ông càng trở nên bế tắc,tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian.Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy,ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến,bỏ Cụ Hồ ”,là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”. Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu,niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt.Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát:“Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”.Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương.Bởì thế mà ông càng xót xa,đau đớn… Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy,ông chỉ còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ.Nói với con mà thực ra là đang trút nỗi lòng mình.Ông hỏi con những điều đã biết trước câu trả lời:“Thế nhà con ở đâu?”,“thế con ủng hộ ai?”…Lời đứa con vang lên trong ông thiêng liêng mà giản dị:“Nhà ta ở làng Chợ Dầu”,“ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!”…Những điều ấy ông đã biết,vẫn muốn cùng con khắc cốt ghi tâm.Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông, tấm lòng bố con ông là như thế đấy,có bao giờ dám đơn sai,chết thì chết có bao giờ dám đơn sai ”.Những suy nghĩ của ông như những lời nguyện thề son sắt.Ông xúc động,nước mắt “chảy ròng ròng trên hai má”.Tấm lòng của ông với làng,với nước thật sâu nặng,thiêng liêng.Dẫu cả làng Việt gian thì ông vẫn một lòng trung thành với kháng chiến,với Cụ Hồ …
Cách miêu tả chân thực,sinh động,ngôn ngữ đối thoại,độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng,tự nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn căng thẳng,dồn đẩy, bức bối đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công của câu chuyện, đồng thời còn thể hiện sự am hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà văn với người nông dân và công cuộc kháng chiến của đất nước. | Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng | 955 | |
Phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng-Kim Lân
Hướng dẫn
Nhân vật ông Hai – một phát hiện mới của Kim Lân
Mở bài:
Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Vốn am hiểu và gắn bó sâu sắc cuộc sống nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về đề tài sinh hoạt ở làng quê và cảnh ngộ của người nông dân. Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào những đề tài độc đáo như tái hiện sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê, qua đó góp phần biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân. Một số truyện đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Làng là một truyện ngắn đặc sắc, thể hiện sâu sắc ngòi bút nghệ thuật Kim Lân. Nhân vattj ông Hai thể hiện sau sắc tình cảm của nhà văn đối với Cách mạng, đối với đất nước.
Thân bài:
Trong nền văn học Việt Nam thế kỉ 20, Kim Lân là nhà văn ít viết. Ông viết rất cẩn thận. Bởi thế tác phẩm nào của ông cũng đạt đến độ sâu sắc, được người đọc đón nhận nồng nhiệt.
Làng được viết và đăng báo trên tạp chí Văn nghệ năm 1948 – giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong thời kì này thì người dân nghe theo chính sách của chính phủ: kêu gọi nhân dân ta tản cư, những người dân ở vùng địch tạm chiếm đi lên vùng chiến khu để chúng ta cùng kháng chiến lâu dài.
Ông Hai – Một lão nông hiền lành, chấc phát:
Ông Hai là một lão nông chất phác, hiền lành. Ông rất yêu làng Chợ Dầu và luôn khoe với mọi người về ngôi làng vừa to vừa đẹp lại có tinh thần kháng chiến thật đáng tự hào của mình. Thực hiện lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến, ông buộc phải cùng gia đình tản cư. Khi xa quê, ông Hai nhớ da diết về cái làng của mình. Hằng ngày, ông vẫn thường kể cho mọi người nghe về làng Chợ Dầu.
Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây làm Việt gian, ông bàng hoàng, sững sờ, vô cùng đau khổ và tủi nhục… Suốt ngày, ông chỉ quanh quẩn trong nhà không dám đi đâu. Ông tâm sự với đứa con để vơi nhẹ nỗi lòng. Khi được tin cái chính, ông Hai vui sướng và đi khoe với mọi người về cái tin chính đó một cách hồ hởi, phấn khởi.
Tình huống truyện độc đáo bộc lộ rõ tính cách nhân vật ông Hai:
Kim Lân đã đặt nhân vật trong một tình huống gây cấn để nhân vật có cơ hội đấu tranh và lựa chọn. Dù rất yêu làng của mình nhưng ông Hai đã đứng về phía Cách mạng, ủng hộ kháng chiến khi hay làng Chợ Dầu theo Tây. Xét về mặt hiện thực, chi tiết này rất hợp lí bởi tình yêu làng đích thực có ở ông hai chính là yêu cái truyền thống tốt đẹp, cái tinh thần bất khuất và hăng hái của người Chợ Dầu. Giờ tinh thần ấy không còn thì ông không yêu nữa.
Xét về mặt nghệ thuật nó tạo nên một nút thắt cho câu chuyện; gây ra mâu thuẫn giằng xé tâm lí ông lão đáng thương và đáng trọng ấy; tạo ra điều kiện để thể hiện tâm trạng và phẩm chất, tính cách của nhân vật thêm chân thực và sâu sắc; góp phần giải quyết chủ đề tác phẩm: phản ánh và ca ngợi tình yêu làng, yêu nước chân thành, giản dị của người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.Sự phát triển của câu chuyện sẽ bám theo cái tình huống oái oăm này.
Tình yêu làng sâu sắc của ông Hai:
Trước hết, phải nói đến tình cảm gắn bó với làng xóm quê hương của ông. Ông Hai là người có tính hay khoe làng, ông nói chuyện về làng quê của ông “say mê và náo nức một cách lạ thường”. Ông có thể ngồi hàng giờ để nói về chuyện làng của mình, để khoe về phong cảnh của làng.
Từ cái “phòng tuyên truyền sáng sủa”, “chòi phát thanh” cho đến cả “con đường làng toàn lát đá xanh”, tất cả đều làm cho ông cảm thấy hãnh diện. Chính vì thế, khi ông bắt đắc dĩ rời xa làng, ông Hai luôn hướng về làng yêu dấu. Niềm vui, nỗi buồn trong lòng ông gắn liền với cái tên làng Chợ Dầu, nơi ông đã sinh ra và lớn lên.
Thật đúng thế, bởi lẽ quê hương chính là nguồn cội dưỡng nuôi tâm hồn:
“Khi chúng ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”.
(Tiếng hát con tàu-Chế Lan Viên)
Ở nơi tản cư, không lúc nào ông không nhớ về làng. Ông hay khoe về làng của mình. Ăn ngủ ông cũng nghĩ về làng, đi đâu ông cũng nhớ về làng da diết. Đối với ông, làng là quan trọng nhất. Ông thường sang nhà Bác Thứ trò chuyện và nói về làng của mình. Bác Thứ đã nghe ông Hai kể nhiều chuyện về làng Chợ Dầu và lần nào cũng với một mức cường điệu khác nhau.
Nhưng suy cho cùng đó cũng chỉ là những lời nói vô hại, chỉ là sự tự hào và hãnh diện về làng của mình của một con người yêu quê hương mà thôi. Lắm lúc nghĩ vẩn vơ, ông lại chợt nhớ đến những ngày cùng làm việc với anh em và khao khát được quay trở về làng và cùng mọi người đấp ụ, xẻ hào, khuân đá. Nỗi mong chờ ấy cứ dằn vặt và trào dâng trong lòng ông. Có thể nói rằng làng chợ Dầu từ lâu đã trở thành hình ảnh thường trực trong tái tim ông, là máu thịt của ông.
Ở ông Hai tình yêu làng hòa quyện thắm thiết trong tình yêu nước:
Dõi theo tác phẩm, ta còn thấy ở ông Hai tình yêu làng thống nhất, hòa quyện với tình cảm yêu mến, thủy chung đối với Cách mạnh, đối với đất nước. Ông thường theo dõi tin tức kháng chiến ở phòng thông tin. Ông vui sướng khi nghe tin chiến thắng của cách mạng, hả hê trước sự thất bại của giặc. Ônh khâm phục những người theo cách mạng: “toàn những người tài giỏi cả”, “chỗ này giết được năm Pháp với hai Việt gian, chỗ kia phá đổ một xe tăng và một xe díp”. Từ đó, ta cũng thấy được vì yêu làng mà ông yêu luôn cuộc kháng chiến mà mình tham gia.
Nhưng rồi đùng lúc ấy, cái tin sét đánh từ người đàn bà đi tản cư đến với ông. Tin dữ không phải là làng Chợ Dầu đẹp đẽ ấy bị đốt trụi hay nhà cửa, mồ mà tổ tiên của ông bị mất mà là “cả làng chúng nó theo Tây làm Việt gian”. Ông vô cùng sửng sốt, bàng hoàng, nửa tin nửa ngờ.
Cái tin ấy như “sét đánh ngang tai”, “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt ông tê rân rân, ông lặng đi tưởng như không thể thở được”. Ông đau xót và tủi nhục trước cái tin dữ về làng. Chẳng lẽ làng Chợ Dầu mà ông yêu quý lại phản bội Tổ quốc hay sao? Nỗi đau khổ ấy dần dần đã trở thành nỗi ám ảnh trong ông làm cho ông không sao yên lòng.
Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ tới tương lai. Chúng ta đã không tìm thấy được nữa một ông Hai hoạt bát, vui vẻ hàng ngày mà thay vào đó là một ông Hai suốt ngày chỉ biết ru rú trong nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài. Nếu không yêu làng thì ông Hai cũng không đau khổ và bị dằn vặt như thế. Nỗi dằn vặt ấy đã trở thành thước đo tình cảm của ông. Đau với nỗi đau của làng, nhục với nỗi nhục của làng.
Khái niệm làng trong ông đâu chỉ còn là ngôi làng Chợ Dầu với mái đình, lũy tre mà là lẽ sống, là một phần của Tổ Quốc thân yêu. Phải! Ông đang nghĩ đến đất nước, đến Cách mạng, đến cuộc kháng chiến của dân tộc. Ông đã tự dằn vặt mình: “Làng thì yêu thật…” nhưng quyền lợi của Tổ Quốc phải được đặt lên trên hết. Ông quyết định (một sự khẳng định không phải dễ dàng): “… làng theo Tây mất rồi thì phải thù”.
Thế nên ông khẳng định không về làng vì về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Tình yêu nước trong ông gần như đang phải trải qua một sự thử thách lớn: hy sinh làng để được yêu Tổ quốc, trung thành với Cách mạng. Như vậy, tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đồng.
Nỗi lòng, ông không biết tỏ cùng ai, ông trò chuyện với đứa con trai út mà như một lời trần tình, lời minh oan cho chính mình vậy: Làng Chợ Dầu là nơi chôn nhau cắt rốn của ông, ông không thể xa lìa nhưng ông vẫn một lòng ủng hộ Cách mạng, ủng hộ cụ Hồ.
Khi tin dữ về làng được cải chính thì niềm vui, sự sung sướng của ông không thể kể hết được. Ông vui lắm, mừng lắm. Ông đi khoe với mọi người về cái điều mới nghe tưởng chừng như phi lý (khoe sự mất mát, sự thiêu rụi, rằng nhà ông bị đốt nhẵn) những cũng rất hữu lý. Bởi làng ông, nhà ông bị giặc đốt, chứng tỏ làng ông không theo Tây. Đơn giản chỉ có thể nhưng bình dị và chân chất là cách biều hiện tình cảm của ông Hai, một tình cảm chân thành đến xúc động.
Yêu làng, yêu nước, hai tình cảm ấy đã hòa làm một trong ông Hai. Hay nói khác đi, tình yêu làng chính là cơ sở hình thành tình yêu nước trong ông. Có thể nói, với bản chất hiền lành, chất phác, tha thiết gắn bó với làng quê, với cách mạng, ông Hai nhân vật tiêu biểu cho người nông dân thời kháng chiến chống Pháp, những con người bình dị mà tâm hồn cao quý vô cùng.
Nhà văn Kim Lân đã thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật: chân chất và cảm động, thể hiện qua những hình thức ngôn ngữ đậm sắc thái nông thôn Việt Nam, kết hợp với ngôn ngữ độc thoại, đối thoại và độc thoại nội tâm khiến nhân vật hiện lên thật sống động. Nhà văn còn khéo léo đặt nhân vật trong tình huống thử thách đặt biệt, khiến tâm hồn nhân vật càng có chiều sâu và sức thuyết phục.
Kết bài:
Ông Hai là hình ảnh đẹp của những người nông dân bình thường nhưng mang trong mình hai tình cảm thiêng liêng nhất: tình yêu làng tha thiết và tình yêu nước nồng nàn. Điều đó chứng minh rằng lòng yêu nước không phải là tình cảm trừu tượng mà chính là bắt nguồn từ những cảnh vật cụ thể. Tình yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở thành tình yêu Tổ quốc. Ông Hai trở thành một nhân vật tiêu biểu cho những người nông dân Việt Nam cần cù, chân chất, luôn cháy bỏng tình yêu đất nước, quê hương.
Nhân vật ông Hai đã để lại nhiều tình cảm đẹp trong lòng người đọc: sự yêu mến, lòng trân trọng và sự cảm phục. Những chuyển biến tình cảm của ông Hai cũng chính là chuyển biến tình cảm của người nông dân Việt Nam trong thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, họ từ lập trường trung lập rồi đứng hẳn về phía Cách mạng, góp sức cùng cách mạng làm nên những chiến thắng vĩ đại. | Phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng-Kim Lân | 2,086 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật ông Ngư trong đoạn thơ LụcVân Tiên gặp nạn
Bài làm
Đoạn thơ "Lục Vân Tiên gặp nạn” một lần nữa cho thấy tư tưởng nhân nghĩa tỏa sáng “Truyện Lục Vân Tiên" và thể hiện niềm tin của nhà thơ mù đất Đồng Nai đối với nhân dân giữa thời loạn lạc.
Nhân vật ông Ngư được nói đến trong đoạn thơ thật đẹp, tiêu biểu cho đạo lí của nhân dân ta “Thương người như thế thương thân". Nguyễn Đình Chiểu đã dành cho ông Ngư một tình cảm nồng hậu biết bao!
Trịnh Hâm là mội kẻ độc ác, thâm hiểm, đố kị tài năng. Hắn đã lừa Vân Tiên lên thuyền (khi chàng đã mù) rồi đẩy xuống sông cho chết. Giữa "đêm khuya lặng lẽ như tờ", hắn đã "ra tay” đẩy Vân Tiên xuống nước, thế nhưng hắn còn xảo quyệt, đạo đức giả cất "tiếng kêu trời". Đối lập với kẻ độc ác ấy, những người cùng đi thuyền đã đau đớn kêu thương:
‘Trong thuyền ai nấy kêu la,
Đều thương họ Lục, xót xa tấm lòng".
Thái độ, tình cảm ấy biểu thị tình thương người của nhân dân ta như ca dao đã truyền lại: “Thấy người hoạn nạn thì thương…".
Trời đất cũng không thể phụ một con người tốt đẹp như Vân Tiên. Giao long là một loài thủy quái cũng đã đến cứu người bị nạn:
"Vân Tiên mình lụy giữa dòng,
Giao long dìu đỡ vào trong bãi rày".
Sự xuất hiện của giao long trong cảnh Vân Tiên gặp nạn tuy có tạo nên màu sắc huyền thoại của truyện thơ, nhưng đã làm nổi bật một sự thật cay đắng ở đời, đó đây có lúc con người còn ác độc hơn cả loài lang sói. Trong tình huống ấy, ông Ngư đã xuất hiện. Người bị nạn đã gặp được người nhân đức:
"Vừa may trời đã sáng ngày,
Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ”
Bốn chữ "vớt ngay lên bờ" thể hiện một tinh thần hối hả, khẩn trương, kịp thời cứu người chết đuối. Cả một gia đình xúm vào cứu chữa, săn sóc người bị nạn. Con thì "vầy lửa", đốt lửa lên, sưởi ấm người chết đuối. Hai vợ chồng, người thì "hơ bụng dạ", người thì "hơ mặt mày" cho Vân Tiên:
"Hối con vầy lửa một giờ,
Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày".
"Hối" nghĩa là hối hả, giục giã; cách nói biểu cảm dân dã của người nông dân Nam Bộ. Trong văn cảnh, nó thể hiện sự lo lắng cho tính mệnh người bị nạn, hiểu lộ tình thương người bao la của ông Ngư.
Vân Tiên hồi tỉnh, Ngư ông đã ân cần "hỏi han", hết lời an ủi, chia sẻ nỗi đau buồn với người gặp nạn. Mặc dù nhà nghèo, nhưng ông Ngư đã chân tình mời Vân Tiên, một người mù lòa, đau khổ ở lại với gia đình ông, để được chăm sóc nuôi nấng:
“Ngư rằng: người ở cùng ta,
Hôm mai hẩm hút, với già cho vui”.
Ở đời, có “một lời nói một đọi máu" (đọi: bát). Có "một câu nói một gói bạc". Câu nói của Ngư ông là một tấm lòng vàng, chan chứa tình nhân dạo.
Cuộc đời Ngư ông là cuộc đời của một con người “lánh đục tìm trong" xa lánh con đường danh lợi, coi trọng tình người, phấn đấu cho lí tưởng nhân nghĩa cao cả:
"Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ,
Dốc lòng nhân nghĩa, há chờ trả ơn.
Nước trong rửa ruột sạch trơn,
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây”.
Vân Tiên đánh cướp cứu dân, cứu Kiều Nguyệt Nga với ý thức: "Làm ơn há để trông người trả ơn". Ngư ông cũng vậy: "Dốc lòng nhân nghĩa, há chờ trả ơn". Những tấm lòng cao cả ấy đã gặp nhau, họ đã nêu cao tình nhân ái. Và đó cũng là cái lẽ đời: "ở hiền thì lại gặp hiền" như một nhà thơ đã nói.
Ngư ông ngoài tình nhân ái mênh mông còn có một tâm hồn thanh cao. Ông đã chan hòa, gắn bó với thiên nhiên. Sông dài biển rộng, trời cao là môi trường thảnh thơi, vui thú của ông. Suốt đêm ngày, năm tháng, ông đã lấy doi, vịnh, chích, đầm, lấy bầu trời, lấy Hàn Giang làm nơi vẫy vùng, tìm nguồn vui sống. Ông đã lấy gió và trăng, con thuyền và dòng sông làm bầu bạn. Ông đã lấy công việc chài lưới để sống cuộc đời thanh bạch. Ngư ông là một con người tự do, thoát vòng danh lợi, thích nhàn.
Câu thơ vang lên như một tuyên ngôn đẹp về lẽ sống của một nhà nho, một kẻ sĩ chân chính đang sống giữa thời loạn lạc:
"Rày roi, mai vịnh vui vầy,
Ngày kia hứng gió, đêm nầy chơi trắng.
(…) Thuyền nan một chiếc ở đời,
Tắm mưa chải gió trong vời Hàn Giang".
Đây là những câu thơ hay nhất, đậm đà nhất trong “Truyện Lục Vân Tiên". Giọng thơ nhẹ nhàng, êm ái. Cảm hứng thiên nhiên trữ tình dào dạt tạo nên sắc điệu thẩm mĩ sáng giá, biểu hiện một cách tuyệt đẹp tâm hồn trong sáng, thanh cao và phong thái ung dung của Ngư ông.
Cũng như ông Quán, ông Tiều, lão Bà, Tiểu Đồng, nhân vật Ngư ông trong đoạn thơ này vừa là người lao động chất phác, nhân hậu, vừa là hình ảnh một nho sĩ bình dân coi thường danh lợi, giàu lòng nhân nghĩa, yêu tự do và thanh cao. Sống giữa thời loạn lạc, nhân vật Ngư ông cũng là nhân vật lí tưởng phát ngôn lẽ sống và tư tưởng nhân nghĩa của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Đẹp vậy thay một con người:
"Kinh luân đã sẵn trong tay,
Thung dung dưới thế, vui say trong trời". | Phân tích nhân vật ông Ngư trong đoạn thơ LụcVân Tiên gặp nạn | 974 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Đôn Ki-hô-tê trong trích đoạn “Đánh nhau với cối xay gió” trong Đôn Ki-hô-tê của Xéc-van-tex.
Bài làm
Nhà văn Xéc-van-tex là một nhà văn nổi tiếng của đất nước Tây Ban Nha xinh đẹp. Tác giả đã viết lên nhiều tác phẩm văn học lừng lẫy gây được tiếng vang lớn trong diễn đàn văn học quốc tế, có nhiều kiệt tác được độc giả quốc thế nhớ mãi.
Điển hình là cuốn tiểu thuyết Đôn Ki- hô-tê là cuốn tiểu thuyết mà hầu hết các trẻ em trên thế giới đều biết và đón nhận vô cùng háo hức, bởi nó đã khiến người đọc cảm thấy vô cùng thích thú, tạo ra những tiếng cười châm biếm nhưng có ý nghĩa sâu sắc riêng.
Trong đó đoạn trích “Đôn Ki-hô- tê đánh nhau với cối xay gió” được trích trong tiểu thuyết này thể hiện tài năng thiên bẩm của Xéc-van-tex trong việc xây dựng hình tượng nhân vật Đôn Ki-hô- tê vô cùng bất hủ. Cùng với nhân vật Xan- chô-Pan-xa hai cặp nhân vật này đối lập tương phản với nhau về mọi mặt.
Bức tranh chân dung về cặp đôi hoàn hảo này được tác giả Xéc-van-tex tái hiện lại vô cùng rõ nét về hình dáng bên ngoài, hành động, suy nghĩ và ước một, cả cách nhìn nhân sinh quan về cuộc sống vô cùng viển vông khác người cũng được tác giả khắc họa chi tiết rõ nét.
Anh chàng Đôn Ki – hô- tê này thường khoác lên mình trang phục như những người hiệp sĩ thời trung cổ, anh ta thường cưỡi một con người cũng rất gầy bên hông con ngựa thường đeo một thanh gươm cổ đã cũ kỹ cùng chiếc khiên, cũ rỉ rét lâu ngày.
Anh chàng Đôn Ki-hô-tê này đọc nhiều truyện tiểu thuyết kiếm hiệp nên nhiễm cách sống của các nhân vật trong truyện thường ảo tưởng mình là nhân vật chính. Mình cũng là hiệp sĩ đi khắp nơi chiến đấu với quái vật, với kẻ thù.
Trong đoạn trích Đôn Ki-hô-tê đánh nhau với cối sau gió thể hiện việc điên rồ của một người hoang tưởng, khi hắn tưởng tượng những chiếc cối xay gió kia là con quái vật khổng lồ cần phải tiêu diệt.
Đôn Ki-hô-tê thường mơ mộng rằng hắn có thể quét sạch những gì xấu xa ra khỏi trái đất và đánh cho những tên khổng lồ một trận sống mái tơi tả. Một hình tượng do một chàng trai ngốc nghếch tưởng tượng ra, bởi hắn quá mê tiểu thuyết kiếm hiệp và luôn ảo tưởng mình sẽ là một hiệp sĩ cứu nhân độ thế.
Sau cuộc giao chiến ngu ngốc ngớ ngẩn của Đôn Ki-hô-tê và cối xay gió kết quả là chiêc của hắn bị gãy làm đôi, người và ngựa bị văng ra xa. Nhưng Đôn Ki-hô-tê đau đớn không nhúc nhích được con con ngựa tội nghiệp của nhân vật này cũng thảm không kém nó bị chủ nhân mình làm toạc nửa vai toàn thân đau đớn.
Đôn Ki-hô-tê cũng là người vô cùng chung thủy hắn thích một cô gái có vẻ ngoài thô kệch, to béo xấu xí là Đuyn-xi-nê-a dù không được người con gái này đáp lại nhưng lúc nào hắn cũng cầu nguyện cho nàng được cứu giúp mỗi khi nguy hiểm, mong cho nàng ta bình yên hạnh phúc.
Nhân vật Đôn Ki-hô-tê là người ngốc nghếch mắc bệnh hoang tưởng có chút dở hơi ngớ ngẩn nhưng lại là một nhân vật có nội tâm trong sáng lương thiện, có lòng dũng cảm và có một tình yêu chung thủy.
Ngược lại với nhân vật Đôn Ki-hô-tê chính là nhân vật Xan-chô- Pan- xa là một gã nông dân lùn béo, hắn thường cưỡi con lừa làm cho hắn càng lùn, và trông buồn cười hơn bao giờ hết. Hắn rất thực tế và có chút ranh mãnh trong người. Hắn biết Đôn Ki-hô-tê ngớ ngẩn nên hắn thường lợi dụng chàng đi với chàng bởi chàng là quý tộc. Hắn mong muốn Đôn Ki-hô- tê có thể giúp đỡ mình có một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Nhà văn Xéc-van-tex đã xây dựng hai nhân vật hoàn hảo nếu ghép Đôn Ki-hô-tê và Xan- chô-Pan-xa lại thì chúng ta được một con người hoàn thiện vừa có sự lương thiện tốt đẹp, hoài bão, anh dũng, vừa có sự thực tế, ranh mãnh biết tiến thoái tới lui đúng lúc.
Qua tác phẩm của mình nhà văn Xéc-van-tex muốn gửi gắm tới người đọc rằng không ai trên đời này hoàn hảo cả.
Đông Thảo | Phân tích nhân vật Đôn Ki-hô-tê trong trích đoạn “Đánh nhau với cối xay gió” trong Đôn Ki-hô-tê của Xéc-van-tex. | 776 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Đôn Ki-hô-tê trước khi đánh nhau với cối xay gió trong đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – Xéc-van-téc
Bài làm
"Đôn Ki-hô-tê" là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Xéc-van-téc và của nền văn học Tây Ban Nha. Đoạn trích "Đánh nhau với cối xay gió" là đoạn trích tiêu biểu góp phần làm nổi bật tính cách nhân vật chính: nhân vật Đôn Ki-hô-tê, một con người có lí tưởng tốt đẹp nhưng vì mê muội bởi những tác phẩm tiểu thuyết kiếm hiệp lỗi thời nên hành động mê muội, đáng cười.
Trên đường đi thực hiện những ý định viển vông, hai thầy trò phát hiện thấy ba bốn chục chiếc cối xay gió giữa đồng. Đôn Ki-hô-tê tưởng tượng đó là những tên khổng lồ, và quyết giao chiến. Bỗng lúc đó gió nổi lên, cối xay gió bắt đầu chuyển động và Đôn Ki-hô-tê càng hăng máu xông vào. Giáo gãy, ngựa và người văng ra, Đôn Ki-hô-tê bị đau như trời giáng. Kết cục, hai thầy trò đi về phía cảng La-pi-xê, vì Đôn Ki-hô-tê nghĩ: "con đường này có lắm người qua lại chẳng thể nào không gặp nhiều chuyện phiêu lưu khác nhau".
Đoạn trích này làm hiện lên rất rõ tính cách của Đô Ki-hô-tê. Sự mê muội do đọc quá nhiều sách kiếm hiệp đã khiến người hiệp sĩ tưởng những chiếc cối xay gió là bọn khổng lồ gian ác, sau đó lại tưởng là phép thuật của pháp sư Phơ-re-xtôn. Vì thế mà, không một chút ngần ngại, lão hiệp sĩ đã lao vào để tiêu trừ cái lũ gian ác ấy. Ước mơ và khát vọng của người hiệp sĩ không phải là không tốt đẹp và dũng cảm nếu đối thủ là quân gian ác thực sự, nhưng nó lại là hành động thật nực cười bởi đối thủ của anh ta lại là… những chiếc cối xay gió. Tính cách của Đôn Ki-hô-tê còn được thể hiện rõ ờ đoạn tiếp theo: lão bị trọng thương những không hề rên rỉ (lão cần phải chứng tỏ mình là một hiệp sĩ giang hồ); lão cũng không quan tâm đến chuyện ăn, chuyện ngủ bởi lão còn đang mơ đến… "tình nương”.
Tuy có nhiều khía cạnh tốt đẹp nhưng vì ngấm quá nhiều truyện kiếp hiệp nên Đôn Ki-hô-tê trở thành một nhân vật nực cười, vừa đáng trách lại vừa đáng thương. | Phân tích nhân vật Đôn Ki-hô-tê trước khi đánh nhau với cối xay gió trong đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – Xéc-van-téc | 413 | |
Phân tích nhân vật Đăm Săn trong đoạn trích Chiến Thắng Mtao –Mxây
Bài làm
Người Ê-đê với những nét văn hóa vô cùng đặc sắc, họ vẫn cứ cùng nhau ngồi bên bếp lửa, cùng nhau quây quần để nghe sử thi Đăm Săn – một bài ca ca ngợi về người tù trưởng anh hùng của dân tộc mình. Dân tộc có biết bao nhiêu chiến công hiển hách. Sử thi Đăm Săm cũng chính là một bài ca để ca ngợi được những chiến công thật lừng lẫy khiến ai ai phải nể phục. Trong đoạn trích “Chiến thắng Mtao – Mxây” đã chứng tỏ tài năng, bản lĩnh thêm với đó còn chính là lòng dũng cảm phi thường và sức mạnh vô địch của người tù trưởng Đăm Săn.
Có thể nói rằng sở dĩ xảy ra cuộc chiến này là do Mtao Mxây – tù trưởng sắt đã cướp Hơ Nhị là vợ của Đăm Săn. Thế nhưng đối với người Ê-đê còn theo chế độ mẫu hệ thì chính việc bị kẻ thù cướp mất vợ lại chính là một nỗi sỉ nhục của cả cộng đồng. Chính với chiến thắng Mtao Mxây là lần thứ hai Đăm Săn phải chiến đấu với kẻ thù để có thể giành lại người vợ, chứng tỏ sự hùng mạnh của Đăm Săn. Khi đó thì chính chàng cũng phải đối mặt với kẻ thù hung bạo và cũng có sức mạnh phi thường không kém. Thêm với đó là hàng loạt những hình ảnh so sánh trong đoạn trích cho thấy rõ sự tương phản giữa nhân vật Đăm Săn với kẻ thù. Tất cả dường như cũng đã lại làm nổi bật lên sự hào hùng của chàng và thêm với đó là một sự thảm hại của Mtao Mxây. Qủa thực đó cũng chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật đoạn trích này, luôn luôn tôn vinh vẻ đẹp người anh hùng Đăm Săn.
Phân tích nhân vật Đăm Săn
Có thể thấy được muộc đối đầu của Đăm Săn với Mtao Mxây là cuộc đối đầu giữa hai tù trưởng dũng mãnh. Thế rồi cũng chính với phẩm chất anh hùng theo cách nhìn sử thi là ở sự chiến thắng bằng một sức mạnh và sự can đảm. Thực sự một cuộc đối đầu sinh tử ấy không phân thắng bại. Không khó để có thể nhận thấy được tình cảm tôn vinh người anh hùng của buôn làng, thì cứ mọi cử chỉ, ngôn ngữ cùng với đó là những hành động của Đăm Săn cũng cứ đều nổi bật, vượt trội hơn kẻ thù. Thế rồi độc giả cũng được chứng kiến màn thi tài mùa khiên thú vị. Thông qua đây thì Mtao Mxây dường như đã được thể hiện rõ sự khoác lác khi lời nói của hắn được minh chứng đó chính bằng tiếng khiên kêu lộc cộc, lạch xạch như tiếng những quả mướp khô. Ngược lại thì Đăm Săn như cũng đã dập tắt nhuệ khí của hắn bằng sức mạnh phi thường ở trong chính màn múa khiên độc đáo. Thêm với đó thì chính thứ ngôn ngữ sử thi khoa trương sức mạnh ấy cũng sánh ngang sức mạnh tự nhiên. Thế rồi cũng một bước nhảy, chàng vượt qua mấy đồi tranh, lại thêm với đó một bước lùi, vượt qua mấy đồi mía. Khi đó chính tiếng gió khiển rít vù vù như giông bão, thế rồi cây cối nhà cửa ở xung quanh củng nghiêng ngả. Cứ mỗi lần múa khiên thứ hai của chính chàng còn ghê gớm hơn bởi dồn chứa sức mạnh trừng phạt Mtao Mxây. Thêm với đó thì sức mạnh Đăm Săn cũng lại có được còn nhờ sự trợ lực của người vợ Hơ Nhị khi nàng ném trâu và thuốc cho chàng để sức lực tăng lên gấp bội khiến ai cũng ghê sợ.
Minh Vũ | Phân tích nhân vật Đăm Săn trong đoạn trích Chiến Thắng Mtao –Mxây | 659 | |
Phân tích nhận vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Hướng dẫn
Phân tích nhận vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Nếu sử sách là những trang vàng ghi danh những vị anh hùng đã can đảm hi sinh để đổi lấy hòa bình cho Tổ quốc, thì văn học lại là nơi cho ta khám phá thêm cuộc sống, về tâm hồn thanh cao, trong sáng của những vị anh hùng ấy. “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là một trong những tác phẩm như thế. Ở đó, ta bắt gặp người anh hùng Tây Nguyên mang tên Tnú với tấm lòng yêu nước nồng nàn thiết tha. Chính tình yêu của tác giả đã truyền thêm lửa cho nhân vật của ông vượt qua bao đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần để gìn giữ lòng thủy chung với đất nước. Tác phẩm mang đậm chất Tây Nguyên, và Tnú chính là một vị anh hùng đại diện cho những con người yêu nước ở nơi đây.
Nhà văn Nguyễn Trung Thành đã để cho núi rừng Tây Nguyên nuôi lớn Tnú và trưởng thành bên cạnh những con người cách mạng như Mai, anh Quyết, cụ Mết. Họ đùm bọc lẫn nhau. Đặc biệt là cụ Mết, chính cụ đã giác ngộ lý tưởng cách mạng cho Tnú ngay từ khi còn nhỏ. Chưa cầm được súng, Tnú giữ vai trò là chú bé liên lạc, vượt qua bao nơi rừng thiêng nước độc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hình ảnh ấy lại khiến người đọc liên tưởng đến hình ảnh “Chú bé loắt choắt” mang tên Lượm của nhà thơ Tố Hữu. Cả hai đều dũng cảm và gan góc dù tuổi còn thiếu niên. Dù khi học chữ, Tnú hay quên nhưng “đi đường núi thì đầu nó sáng lạ lùng. Nó liên lạc cho anh quyết từ xã về huyện. Không bao giờ nó đi đường mòn. Giạc vây các ngả đường, nó leo len một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi, lọt tất cả các vòng vây. Qua sông nó khôgn thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như một con cái kình”. Hình ảnh Tnú lúc này thật đẹp và đậm chất “lính” – một người lính quả cảm, anh dũng, đáng yêu. Chính tình yêu đất nước và lòng căm thù giặc đã dẫn đường chỉ lối cho Tnú vượt qua mọi gian nan để nối hai đầu liên lạc cho anh Quyết. Nếu không có Tnú, anh Quyết và các chiến sĩ khác cũng khó lòng mà lên kế hoạch chiến đấu được. Ở con người của Tnú còn có một phẩm chất rất đáng ngợi khen là luôn luôn đặt tình yêu đất nước lên trên cả mạng sống của mình. Bởi thế, có lần bị giặc bắt, Tnú đã vội vã nuốt trọn cái thư. Khi bị bắt, dù có bị tra tấn dã man đến thế nào, Tnú cũng nhất quyết không chịu khai ra những manh mối của chiến sĩ. Con người ấy tuy nhỏ bé nhưng tinh thần yêu nước thật lớn lao. Dù đau đớn đến thế nào, Tnú cũng chịu đựng.
Ở Tnú ta thấy rất rõ một tâm hồn trong sáng, một con người bộc trực, thẳng thắn và can đảm, quả quyết. Đặc biệt là khi cụ Mết kể lại cảnh mẹ con Mai bị giết ngay trước mắt Tnú. Nỗi thù sâu nặng này Tnú sẽ chẳng bao giờ quên. Bọn giặc đến lùng cả làng Xô Man. Chúng bắt Dít, rồi bắt mẹ con Mai. Đứa con đầu lòng tội nghiệp của Tnú, dù chưa được đầy tháng bọn chúng cũng không tha. Thằng bé vẫn ngủ say trên lưng mẹ. Bọn giặc tàn ác bắt đầu tra tấn mẹ con Mai. Chúng cầm gậy sắt nhằm vào đứa bé mà đánh. Dù Mai đã kịp đỡ đòn cho con nhưng rồi cái gì đến vẫn cứ đến. Thân đàn bà yếu đuối dù lòng dạ sắt đá đến mấy cũng không thể chống lại được cả lũ giặc bạo tàn kia. Chúng dội lên Mai cả một trận mưa sắt. “Không nghe thấy tiếng thét của Mai nứa. Chỉ nghe đứa bé khóc ré lên một tiếng rồi im bặt. Chỉ còn tiếng cây sắt nện xuống hừ hự”. Chứng kiến cảnh vợ con mình nằm đó bị kẻ khác đánh đập, sát hại, ai là người có thể cầm lòng được? Hơn nữa, Tnú lại là người yêu vợ, thương con hết mực. Ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn. Anh chạy đến cứu vợ con nhưng đã quá muộn vì con anh đã không còn một hơi thở. Đau đớn và uất hận, hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai.
Tnú không cứu được vợ con. Thậm chí còn bị bắt. Hoàn cảnh của Tnú lúc ấy thật khó có thể trách anh được. Bởi người bị hành hạ trước mắt anh kia là vợ, là đứa con ruột thịt còn đỏ hỏn của anh. Làm sao anh đứng nhìn vợ con mình chết trong tay bọn giặc mà không đứng lên cứu giúp? Dẫu biết rằng, có xông vào thì anh cũng không thể thắng được chúng vì một mình anh với hai bàn tay không làm sao thắng được một lũ giặc đang lăm lăm trong tay nào súng, nào giáo, nào gậy sắt… Bọn chúng đã đánh một đòn tâm lý rất mạnh vào Tnú khiến anh phải lộ diện. Đây cũng chính là bài học sâu sắc và đầy triết lý được rút ra từ biến cố của Tnú. Càng trong lúc bí bách, cùng quẫn lại càng phải bình tĩnh và sáng suốt.
Tnú bị bắt. Đúng như ý muốn của lũ giặc kia. Nhưng người anh hùng ấy vẫn không hề khuất phục. Trong đêm tối, anh suy nghĩ về cuộc cách mạng của dân tộc: “Ai sẽ làm cán bộ? Đến khi có lệnh Đảng cho đánh, ai sẽ làm cán bộ lãnh đạo dân làng Xô Man đánh giặc?”. Anh nghĩ mình sắp chết. Nhưng không, bọn chúng còn hành hạ anh đau đớn hơn cả cái chết. Chúng quấn dẻ đã tẩm dầu xà nu lên mười đầu ngón tay Tnú. Chính thằng Dục cầm lửa châm vào tay Tnú. Dầu xà nu bắt lửa cháy ngùn ngụt. Tnú không kêu lên một tiếng nào. Anh trợn mắt nhìn thằng Dục. “Mười ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc”. Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng. Không cần miêu tả, người đọc cũng cảm nhận được sự đau đớn đến chừng nào khi bị đốt sống mười ngón tay như thế. Chạm tay phải lửa còn đau huống chi cả đám lửa rực cháy trên từng ngón, từng ngón mà không sao chống cự lại được. Nhưng ngọn lửa ấy đâu có là gì so với ngọn lửa lớn đang bùng cháy trong lòng người anh hùng cách mạng kia. “Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên. Anh Quyết nói: Người cộng sản không thèm kêu van… Tnú không thèm kêi, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. Ngọn lửa hung tàn của bọn giặc cháy đến đâu thì ngọn lửa hận thù trong lòng Tnú lại bùng cháy đến đó. Sự căm thù dồn nén rồi phát lên thành tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Tiếng “Giết!”. Bọn thằng Dục và tay sai đi cùng hắn đã bị thanh niên trong làng giết chết bằng những cây rựa mài bằng đá Tnú mang từ đỉnh núi Ngọc Linh về… Tnú được cứu sống. Ngọn lửa trên tay anh được dập tắt. Lúc trước, vì chỉ có hai bàn tay không và một thân một mình nên Tnú không thể nào cứu được vợ con. Còn lúc này, nhờ có những cây rựa tuy chỉ là vũ khí thô sơ nhưng ít nhất khi mọi người cùng nhau hợp sức, những tên “ăn thịt người” kia cũng đã bị đánh bại. Đây không những là bài học sâu sắc cho Tnú mà còn là một kinh nghiệm quý báu cho cả cuộc đấu tranh lớn của dân tộc. Muốn giết được giặc, chỉ có ý chí thôi chưa đủ được. Ý chí ấy phải được phát huy đúng lúc, đúng chỗ, phải có sự bàn bạc, có chiến lược, có sự đoàn kết của đông đảo mọi người.
Tnú xứng đáng là một vị anh hùng đời đời được nhớ ơn. Thế hệ trẻ hôm nay được sống trong hòa bình độc lập là nhờ có những con người can đảm và giàu đức hinh sinh như anh. Tất cả hãy cùng nhau gìn giữ đất nước, cùng đoàn kết gắn bó sát cánh bên nhau để Tổ Quốc ngày một giàu mạnh hơn, văn minh hơn. | Phân tích nhận vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành | 1,594 | |
Phân tích nhận xét của nhà thơ Hoàng Trung Thông: Vần thơ của Bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình
Hướng dẫn
Phân tích nhận xét của nhà thơ Hoàng Trung Thông: Vần thơ của Bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.
Bằng những bài thơ mà em đã được học, được đọc trong tập thơ em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Thơ Bác khi thì cứng cỏi kiên cường, lúc lại vút cao lên âm điệu tha thiết, ngọt ngào của tình yêu. Tập thơ Nhật ký trong tù đã làm xúc động lòng người với giá trị tuyệt vời của nó. Chính vì vậy, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết:
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.
Điều phải nói đến đầu tiên là thơ Bác chính là động lực giúp Bác vượt qua mọi gian khó trong cảnh tù đày. Để giữ vững ý chí sắt son của người cộng sản: vượt lên trên cảnh lao tù, Bác chẳng hề kêu ca, phàn nàn mà dùng thời gian đó để làm thơ răn mình:
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Chất thép trong thơ như đã được tôi luyện già dặn, ánh lên phẩm chất kiên cường cho nên nhà tù chỉ giam được thể xác chứ không giam được tinh thần của người chiến sĩ cộng sản:
Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao.
Với nghị lực phi thường ấy, tâm hồn thi sĩ của người tù – chiến sĩ rõ ràng là đã tự cởi bỏ xiềng xích, để chọn cho mình một chỗ đứng ở một vị trí cao nhất:
Núi cao lên đến tận cùng
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non
(Đi đường)
Xiềng xích, dây trói, nhà tù…, dường như chẳng có gì làm cho trái tim người run sợ. Người luôn nở nụ cười dí dỏm, thách thức mọi gông cùm, vượt lên mọi nỗi đau của thể xác để tấm lòng vẫn luôn ngời sáng ung dung:
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung.
Tuy bị tình nghi là gián điệp Mà như khanh tướng vẻ ung dung,
(Đi Nam Ninh)
Cả chân tay Bác bị xiềng xích, mỗi bước đi là mỗi bước kéo lê nặng nề, loảng xoảng mà Bác lại ví như là tiếng ngọc rung, cùm gông đeo trên cổ mà người tù vẫn ung dung như khanh tướng, thật không còn hình ảnh nào độc đáo hơn để thể hiện ý chí không lay chuyển của mình.
Phong thái ung dung còn được thể hiện tiếp ở tinh thần vượt qua khổ sở, vất vả nhưng Bác vẫn có cảm giác vững vàng, đàng hoàng để ngắm nhìn cảnh đẹp ở hai bên đường trong tư thế bị treo ngược:
Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình.
Làng xóm bên sông đông đúc thế,
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.
(Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh)
Sống trong tù, chịu đựng mọi sự hành hạ, nhưng Bác Hồ luôn coi đó là dịp gian nan rèn luyện mình cũng ví như hạt gạo phải đem vào giã chịu bao đau đớn nhưng rồi sẽ trắng tựa bông:
Gạo đem vào giã bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông,
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.
(Nghe tiếng giã gạo)
Đọc Nhật ký trong tù, không những ta cảm phục tinh thần thép của người chiến sĩ cộng sản mà còn xúc động bởi tấm lòng mênh mồng bát ngát tình của Bác với cảnh với người, với đất nước thân yêu. Trong tù, biết bao đêm thu Người không ngủ được bởi tấm lòng đau đáu nhớ về Tổ quốc, nơi xa xôi nghìn dặm với nỗi buồn như vạn mối tơ vấn vương cả trong giấc mộng:
Nghìn năm bâng khuâng hồn nước cũ
Ở tù năm trọn thân vô tội
Hóa lệ thành thơ tả nỗi này.
Ai mà không xúc động khi đọc những vần thơ chứa chan tình yêu nước này? Tình yêu thiên nhiên trong Bác cũng rất đáng trân trọng. Thiên nhiên trở thành người bạn tri kỷ, gắn bó với nhà thơ, làm tâm hồn Người dịu mát và thanh thản:
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
(Ngắm trăng)
Rõ ràng tâm hồn của Bác đã vượt qua song sắt nhà tù để tâm sự cùng thiên nhiên tươi đẹp bên ngoài. Thân thể ở sau song sắt mà tâm hồn lại vút lên bầu trời bao la, hòa với không gian lấp lánh ánh trăng.
Và cảnh gian nan trên đường đi không thể làm chết đi tình yêu thiên nhiên, của Bác. Bác vẫn hòa đồng cùng vạn vật với một trái tim nhạy cảm và chan chứa tình:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
(Chiều tối)
Mệt mỏi, gian lao, Bác vẫn cảm nhận dược những nét vô cùng nhỏ bé, tinh tế của trời chiều. Tâm hồn, trái tim Bác như vẫn cùng cánh chim bé nhỏ bay bổng trên bầu trời, cùng chòm mây nhẹ nhàng trôi lơ lửng. Chẳng hề có một lời than thở, Chỉ thấy tình yêu chứa chan cùng thơ Bác vút lên. Còn đây nữa, suốt ngày trên đường đi, mặc dầu bị trói chân tay, thơ Bác vẫn rộn tiếng chim và ngát hương cỏ cây, hóa lá:
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng.
(Trên đường đi)
Yêu thiên nhiên, Người càng yêu đời tha thiết. Mặc dù phải chịu đựng bao nỗi hà khắc vô nhân đạo của nhà tù Tưởng Giới Thạch nhưng dưới đôi mắt tình đời ấm áp, tâm hồn Người vẫn bay theo tiếng sáo của em bé chăn trâu về nơi xóm ấm trẻ dắt trâu về tiếng sáo reo. Người vẫn thấy được cuộc đời xiết bao đằng yêu trong ánh lửa của lò than hồng… Phải yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời thì tim Bác mới chứa chan niềm yêu thương đồng cảm với những người cùng cảnh khổ, nỗi nhớ nhà, nhở quê hương tha thiết khi nghe một tiếng sáo:
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu.
Muôn dặm quan hà khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
(Người bạn tù thổi sáo)
Tình thương mênh mông của Người còn đi xa hơn tiếng sáo buồn của người tù để liên tưởng đến cuộc sống đợi chờ khắc khoải của người vợ bạn, ngày ngày lên lầu ngóng chồng từ muôn dặm xa, và người như òa khóc theo em bé vừa nửa tuổi đã bị bắt đi tù đầy thay cha:
Oa! Oa! Oa!…
Cha trốn không đi lính nước nhà,
Phải theo mẹ đến ở nhà pha.
(Cháu bé trong nhà lao Tân Dương)
Trái tim mênh mông của Bác vô bờ bến. Không chỉ ôm ấp mọi kiếp người (Tố Hữu) mà Bác vẫn không quên cả những vật nhỏ bé tầm thường đã gắn bó với mình:
Giận kề bất lương gây cách biệt
Hai ta dàng dặc nỗi buồn thương.
(Bài thơ về chiếc gậy).
Ôi! Tình yêu thương trong tấm lòng Bác mênh mông quá! Không có bút nào diễn tả nổi.
Nhật ký trong tù của Bác đã chắp cánh cho tâm hồn em bay xa hơn với ý chí sắt đá và tình thương bao la. Hình ảnh Bác trang thơ cũng chính là con người Bác ở đời thường đã thực sư là tấm gương sáng để mỗi chúng ta tự soi lại chính bản thân mình trong cuộc sống còn bề bộn này. Nhật ký trong tù quả là một tác phẩm có ý nghĩa và giá trị to lớn cho ngày nay và mãi mãi về sau. | Phân tích nhận xét của nhà thơ Hoàng Trung Thông_ Vần thơ của Bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình | 1,295 | |
Phân tích những bi kịch của nhân vật viên cai ngục trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Phân tích những bi kịch của nhân vật viên cai ngục trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Được sinh ra làm người là một món quà quý giá, thiêng liêng của tự nhiên. Thế nhưng, nếu sống mà không được làm chính bản thân mình lại là một bi kịch đớn đau vô cùng. Nguyễn Tuân – một nhà văn lớn của dân tộc đã đóng góp không ít những tác phẩm để đời của mình vào nền văn học nước nhà – đã dựng nên một cuộc đời cai ngục đầy bi kịch như thế. Buồn tủi, dằn vặt và khổ đau. Cai ngục là một trong hai nhân vật chính trong tác phẩm Chữ người tử tù với nhiều ý nghĩa thâm túy, sâu xa về cái đẹp mà Nguyễn Tuân muốn gửi gắm đến người đọc, người nghe. Trong đó, những bi kịch về cuộc đời của viên cai ngục cũng chính là một điểm nhấn chiếm nhiều cảm xúc của nhà văn.
Ngục quan một chức vụ nhỏ trong hệ thống cai trị của chế độ phong kiến cũ, có nhiệm vụ cai quản tù nhân. Đặc điểm nổi bật của người này là ác độc, nhẫn tâm và vô tình. Có thể nói, hắn là vua trong ngục. Có thể đánh đập bất kỳ ai khiến kẻ tù nhân nào cũng sợ và ghét hắn. Nhưng ở đây, viên cai ngục của Nguyễn Tuân lại là một con người hoàn toàn khác. Mặc dù “trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lọc lừa” nhưng “tính cách của viên quan coi ngục này” vẫn “là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”. Cũng chính vì vậy mà ông phải lần lượt trải qua những bi kịch đớn đau trong cuộc đời mình.
Bi kịch đầu tiên chính là việc phải dấu mình trong chiếc bình phong với vẻ ngoài lạnh lùng, nhẫn tâm của một tên cai ngục đúng nghĩa. Ngay từ có lệnh truyền tử tù Huấn Cao sắp đến, ngục quan dù trong lòng đã rất mừng rỡ nhưng vẻ ngoài vẫn thầm kín dò la qua thầy thơ lại: “Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chứ rất nhanh và rất đẹp đó không?” Việc đầu tiên mà cai ngục để ý đến không phải là về xuất thân, tội trạng của tử tù mà lại là “cái tài” của họ. Ngay điều này đã cho thấy tâm hồn yêu cái đẹp, trọng người tài của ngục quan. Nhưng đáng tiếc là ông lại phải dấu kín những điều ấy trong một bức bình phong kín đáo. Ông phủ nhận ngay “Không, tôi nghe tên quen quen và thấy nhiều người nhắc nhỏm đến cái danh đó luôn, thì tôi cũng hỏi thế thôi”. Nhưng mặt khác, ông lại lộ diện ngay ý định của mình khi bảo thầy thơ lại quét dọn cái buồng trong cùng để “có việc dùng đến”. Ông chống chế rằng “Thầy liệu cái buồng giam đó có cầm giữ nổi một tên tù co tiếng là nguy hiểm không?”. Có lẽ lúc này tâm tư của ngục quan vừa hồi hộp vừa bối rối nên lúc thì kín đáo, lúc lại tỏ tường. Hồi hộp vì “thần tượng” của mình sắp đến, và bối rối vì không biết phải làm thế nào để đối đãi với “thần tượng”. Nhưng biết rằng chốn lao tù là chốn hiểm nguy nên ông vẫn cố dấu lòng mình bên trong cái vẻ bề ngoài vô tâm vô ưu. Thực chất trong lòng ông đang ngổn ngang biết bao nhiêu dòng suy nghĩ. Đếm ấy, ông trằn trọc băn khoăn không thể nào ngủ được. “Nơi góc chiếu án thư cũ đã nhợt màu vàng son, một cây đèn đế leo lét rọi vào một khuôn mặt nghĩ ngợi. Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương”. “Một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân giời không định”. “Bấy nhiêu thanh ấm phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”. Những hình ảnh đậm chất lãng mạn mà nhà văn đã dùng ở đây đều thể hiện những tâm tư, tình cảm mến mộ của ngục quan đối với “một ngôi sao chính vị” – Huấn Cao sắp phải rời bỏ cuộc đời này. Xót xa, tiếc nuối nhưng ngục quan cũng chẳng thể làm gì được để giải thoát cho người anh hùng kia vì kiếp mình quá bé nhỏ, thấp hèn. Như vậy, cùng một lúc, ngục quan phải đóng cả hai vai. Và điều đáng nói là hai vai ấy hoàn toàn trái ngược nhau. Ban ngày ông là một tên cai ngục đáng ghét, nhưng khi đêm về lại là một con người chân thành, chất phác, yêu cái đẹp, cái tài. Sẽ rất khó chịu và khổ đau khi cứ phải che đi bản chất thiện lương của mình. Nhưng nếu không làm vậy, ông cũng chẳng thể nào tồn tại được ở chốn đầy hiểm nguy này.
Bi kịch thứ hai là có được thứ mình muốn trong tay rồi nhưng lại không thể nào chạm tay vào được. Ông khao khát có được chữ của ông Huấn treo trong nhà. Thì giờ đây Huấn Cao đã ở ngay trong ngục tù này, dưới sự quản lý của ông, ông muốn làm gì cũng được. Nhưng tấm lòng lương thiện và trọng người tài, trọng cái đẹp của ông không cho phép bản thân ông làm như vậy. Ông coi chữ ông Huấn là một “vật báu” chứ không đơn thuần chỉ là một của quý giá. Với quan niệm nét chữ nét người, Huấn Cao hẳn là một người vừa tài giỏi, vừa đức độ mới có cái tài “viết chữ nhanh và đẹp”. Như vậy, không chỉ ngục quan mà bất kỳ ai yêu cái đẹp cũng đều mong muốn có được chữ của Huấn Cao treo trong nhà. Điều may mắn của viên cai ngục là ngay trong lúc này, Huấn Cao đang ở trong tay ông với vị trí là một tử tù. Ông có thể tra tấn, ép buộc Huấn Cao viết chữ cho mình theo đúng cách mà các cai ngục khác vẫn thường làm khi muốn chiếm đooạt thứ gì đó. Nhưng ngục quan của Nguyễn Tuân không phải là một người như vậy. Ông hiểu rằng cái đẹp chỉ có giá trị khi được xuất phát từ cái tâm. Hơn nữa, chơi chữ là một thú vui tao nhã nhưng lại cao quý vô cùng. Không thể nào chiếm đoạt thứ thiêng liêng ấy bằng lòng ích kỷ và nhẫn tâm. Làm vậy đâu còn gì giá trị của cái đẹp nữa. Điều này khiến cho ngục quan càng băn khoăn, trăn trở. Đến nỗi ông sẽ hối hận cả đời nếu không xin được chữ của Huấn Cao. Cơ hội ngay trước mắt rồi mà không thể nào chạm tay vào được. Cái cảm giác ấy khiến con người ta khó chịu, bức bối vô cùng. Nhưng ngục quan lại không hề tỏ ra như vậy. Hàng ngày ông vẫn biệt đãi Huấn Cao và năm vị tù nhân kia. Thậm chí, ông còn hạ mình kính cẩn, lễ phép với tù nhân, điều mà mọi khi ông vẫn hay làm là tra tấn, hạch sách và quát tháo. Dù đã biệt đãi rất hậu hĩnh nhưng ngục quan vẫn chẳng được Huấn Cao để tâm đến. Ngay bên trong khung sắt kia chính là người mà ngục quan hằng ngưỡng mộ, kính trọng, nay ở trong tay mình rồi mà ông không thể nào chạm vào được. Một bị kịch thật trớ trêu và éo le.
Và rồi, sau tất cả những bi kịch ấy, ngục quan cũng đã nhận lại được điều mình hằng khát khao. Đúng là trời không phụ lòng người. Cũng như người hùng Huấn Cao không bội bạc với người hiền khi cảm thấu tấm lòng chân thật của ngục quan. Ông đồng ý cho chữ. Dù cảnh ấy diễn ra ngay trong nơi tối tăm, nhơ bẩn nhưng sau cùng, cái đẹp vẫn bừng sáng như ngọn đuốc rực rỡ giữa đêm.
Bấy nhiêu lời lẽ, bấy nhiêu câu văn, và bấy nhiêu bi kịch mà ngục quan phải trải qua đều là những thủ pháp nghệ thuật của nhà văn. Ông muốn hướng mọi người đến cái đẹp hoàn hảo. Cái đẹp gắn liền với cái tâm. Tâm đẹp thì mọi thứ khác khi xuất phát từ tâm mới đẹp. | Phân tích những bi kịch của nhân vật viên cai ngục trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân | 1,490 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.