text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Phân tích những bài ca dao hài hước Hướng dẫn Phân tích những bài ca dao hài hước Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao hài hước là một thể loại khá phổ biến, nó được sáng tác để mang tiếng cười giải trí sau những giờ lao động mệt mỏi hoặc có thể nhằm mục đích tự trào cho thân phận và cuộc sống nghèo khổ của những người nông dân. Những người nông dân đã tự mang cái nghèo của mình ra để trào phúng đầy hồn nhiên, hóm hỉnh, họ đã làm chủ được cuộc sống của mình, vui trong cái nghèo. Những bài ca dao hài hước đã thể hiện được một phần chân dung cuộc sống của những con người này. Bài ca dao đầu tiên là ca dao tự trào của một chàng trai nghèo đến tuổi lập gia đình, anh ta đã nói về những sính lễ bằng những tưởng tượng đầy hài hước: “Cưới nàng anh toan dẫn voi Nhưng sợ quốc cấm nên voi không vào Dẫn trâu, sợ họ máu hàn Dẫn bò, sợ hò nhà nàng co gân Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng ” Trong phong tục của người Việt xưa, cưới xin vốn là việc trọng đại của đời người nên thường được chuẩn bị mọi thứ chu đáo và tỉ mỉ. Tuy nhiên, theo dõi câu chuyện của nhân vật trữ tình trong bài ca dao ta lại thấy được những lễ vật thật khác với bình thường. Thực ra, đây là lời tự trào của những người nông dân nghèo. Qua bài ca dao này ta có thể thấy được sự lạc quan của những người nông dân với hoàn cảnh nghèo khó của mình.Nếu như lễ vật của chàng trai đưa ra là một con chuột béo thì lời đáp lại của cô gái cũng khiến người đọc, người nghe không khỏi bất ngờ, cô thách “một nhà khoai lang”: “Người ta thách lợn thách gà Nhà em thách cưới một nhà khoai lang Củ to thì để mời làng Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi! Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà” Cô gái dường như hiểu được hoàn cảnh nghèo khó của chàng trai và đưa ra lễ vật là một nhà khoai lang để phù hợp với gia cảnh của chàng trai. Qua những lời thách cưới và dẫn cưới ta có thể thấy được sự lạc quan của những người nông dân khi mang cái nghèo khổ của mình ra để tự trào. Nếu như bài ca dao đầu tiên, tiếng cười xuất phát từ sự trào phúng của các nhân vật trữ tình thì ở những bài ca dao sau, tiếng cười trào phúng lại là tiếng cười nhằm phê phán, đả kích đối với những thói hư, tật xấu của con người trong xã hội. Cách phê phán ở đây không nhằm mục đích triệt tiêu đối tượng mà chỉ là sự nhắc nhở đầy tế nhị, nhẹ nhàng của nhân dân. Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng” Thông qua nghệ thuật phóng đại, câu ca dao đã thể hiện sự phê phán đối với những người đàn ông nhu nhược, lười nhác, không chịu lao động. Bài ca dao cũng là lời nhắc nhở đối với những người đàn ông này là sao sống cho mạnh mẽ, cho đáng sức trai, không nên sống nhờ cậy vào người khác. “Chồng người đi ngược về xuôi Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo” Bài ca dao này lại hướng sự phê phán đến những người đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Là trụ cột của gia đình nhưng lại vô dụng, không làm nên việc gì, suốt ngày ở nhà cũng chỉ như con mèo ở trong xó bếp. “Lỗ mũi em mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho Đêm nằm thì ngáy o o… Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà Đi chợ thì hay ăn quà Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm” Đây lại là bài ca dao nhằm chế giễu loại phụ nữ vô duyên, đỏng đảnh, hay ăn ười làm. Tiếng cười của bài ca dao được các tác giả dân gian xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng đầy độc đáo. Đằng sau tiếng cười ấy, các tác giả dân gian vẫn thể hiện được thái độ châm biếm, đả kích. Như vậy, qua các bài ca dao hài hước ta có thể thấy được sự đa dạng trong các thể loại ca dao, cũng như mục đích của các bài ca dao hài hước ấy, không chỉ nhằm mục đích giải trí,mua vui mà còn nhằm phê phán những thói hư, tật xấu của xã hội.
Phân tích những bài ca dao hài hước
790
Phân tích những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa Hướng dẫn Phân tích những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa Trong kho tàng ca dao tục ngữ đồ sộ của nước ta, có một số lượng lớn những câu ca dao viết về đề tài than thân. Đây cũng là một trong những mảng đề tài hay nhất trong ca dao, thông thường những bài ca dao thường được mở đầu với cấu trúc “ Thân em…” hay “Em như…”. Nếu nhìn qua về hình thức các câu ca dao chúng ta có thể bị nhầm lẫn bởi chúng có cấu trúc khá giống nhau, nhưng đi sâu tìm hiểu chúng ta sẽ thấy được trong mỗi bài ca dao lại có một nội dung, một âm hưởng nghệ thuật độc đáo riêng. Bài ca dao đầu tiên là nỗi niềm, tâm sự của cô gái về số phận, tương lai hạnh phúc của mình: “Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” Trong câu ca dao là tâm sự của một cô gái đã đến tuổi xây dựng gia đình. Hình ảnh tấm lụa đào tượng trưng cho vẻ tươi trẻ, rực rõ thanh xuân của cô gái, qua câu ca dao ta cũng có thể thấy được cô gái cũng ý thức được giá trị của bản thân mình. Tuy nhiên, trong xã hội phong kiến xưa, những người phụ nữ không được tự do tìm hạnh phúc cho mình, chuyện cưới vợ gả chồng đều do cha mẹ quyết định theo quan niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” “Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Không tin bóc vỏ mà xem Ăn rồi mới biết rằng em ngọt bùi” Trong câu ca dao này, cô gái cũng có ý thức về những giá trị tốt đẹp của bản thân nhưng vì có bề ngoài không được xinh đẹp, hấp dẫn nên cô gái phải tự giới thiệu, tự hứa hẹn cho người khác thấy về phẩm chất tốt đẹp ấy của mình. Hình ảnh củ ấu gai thật độc đáo, nó có khả năng gợi cho người đọc nhiều liên tưởng độc đáo về người con gái đầy cá tính này. Trèo lên cây khế nửa ngày Ai làm chua xót lòng này khế ơi Mặt trăng sánh với mặt trời Sao hôm sánh với sao Mai chẳng rằng Mình ơi có nhớ ta chăng Ta như sao vượt chờ trăng giữa trời” Theo lời tâm sự của người con gái trong câu ca dao này ta có thể thấy cô gái ấy đã có người yêu, hai người xứng đôi vừa lứa như mặt trăng sánh với mặt trời. Tuy nhiên, cô gái vẫn khắc khoải khôn nguôi vì không biết tấm lòng thực sự của chàng trai dành cho mình có chân thành, có tha thiết như mình dành cho người ấy hay không. “Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt trên vai Đèn thương nhớ ai Mà đèn không tắt..” Trong ca dao, đề tài chủ yếu là về tình yêu đôi lứa, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những bài ca dao viết về tình yêu, bài ca dao dưới đây giọng điệu hài hước cùng những hình ảnh liên tưởng vô cùng độc đáo: “ Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi” Câu ca dao là lời của một cô gái với ước muốn đầy hài hước. Hình ảnh chiếc cầu dải yếm không thể tồn tại trong thực tế mà nó chỉ được xây dựng lên trong những tưởng tượng đầy độc đáo của cô gái. Lời ca dao hài hước, mang đến tiếng cười vui vẻ nhưng ẩn sâu trong câu ca dao ấy lại là khát khao tình yêu, khát khao hạnh phúc của cô gái trẻ khi đã đến tuổi hẹn hò. “Muối ba năm muối vẫn còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu nghìn ngày mới xa” Hình ảnh của gừng và muối không chỉ là hình ảnh mang ý nghĩa tả thực về những loại gia vị quen thuộc trong bữa ăn mà còn là hình ảnh biểu tượng cho tình nghĩa vợ chồng sâu nặng, thắm thiết. Câu thơ “ba vạn sáu nghìn ngày mới xa”thể hiện được niềm tin vào sự gắn kết của tình nghĩa vợ chồng. Như vậy, những bài ca dao than thân, tình nghĩa có rất nhiều những tâm trạng, tình càm khác nhau của nhân vật trữ tình, mỗi bài ca dao là một câu chuyện, một tâm sự.
Phân tích những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa
763
Phân tích Những ngôi sao xa xôi-Lê Minh Khuê Hướng dẫn Phân tích Những ngôi sao xa xôi-Lê Minh Khuê Mở bài: Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê viết năm 1971. Truyện kể về một tổ nữ trinh sát mặt đường tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Đó là ba cô gái rất trẻ: Phương Định, Nho và Thao. Họ ở cách xa đơn vị, dưới một cái hang ở chân cao điểm. Lê Minh Khuê đã rất thành công khi xây dựng hình ảnh ba nữ thanh niêm xung phong trẻ trung, gan dạ và dũng cảm, sống và chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn khốc liệt. Thân bài: Cũng như các nhà văn khác, Lê Minh Khuê luôn hướng ngòi bút vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhà văn luôn khao khát đi tìm, phát hiện và ca ngợi vẻ đẹp con người trong cuộc sống và chiến đấu của người lính. Lê Minh Khuê đặc biệt chú ý vào các nhân vật phụ nữ và luôn tìm cách miêu tả, khắc họa chân thực nhất đời sống vật chất và tinh thần của họ. Có lẽ, nhà văn nghĩ rằng, trong cuộc chiến đấu với kẻ thù, phụ nữ là người phải gánh chịu nhiều đau thương, mất mát và hi sinh nhiều nhất. Chuyện kể về ba nữ thanh niên trẻ tuổi từ thành phố xung phong đi chiến đấu. Hoàn cảnh sống và chiến đấu của ba cô gái vô cùng gian khổ và nguy hiểm. Vị trí chiến đấu trên một cao điểm, trọng điểm của tuyến đường Trường Sơn. Các cô sống cách xa đơn vị, dưới một cái hang ở chân cao điểm. Nhiệm vụ hàng ngày của họ là quan sát địch ném bom, đo khối lượng đất đá. Sau khi xác định vị trí những quả bom chưa nổ là làm cho chúng phải tiêu tan. Hàng ngày họ phải chạy trên cao điểm, đối mặt với cái chết trong từng giây phút. Họ sẵn sàng chịu trận khi máy bay địch đột ngột ập tới trút bom rồi tháo chạy. Bom rơi như rắc hạt, khiến mặt đất rung lên như cơn sốt. Khói lửa che lấp cửa hang, bầu trời. Công việc của họ đòi hỏi phải nhanh, chính xác, bình tĩnh và dũng cảm. Có lúc thần kinh căng thẳng đến lạnh gáy, toát mồ hôi nhưng mãi rồi cũng quen và trở thành công viêc thường ngày. “Đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay ầm ĩ xa dần. Thần kinh căng như dây chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp xung quanh có nhiều quả bom chưa nổ có thể bây giờ, có thể chốc nữa… Rồi khi xong việc, quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang”. Công việc của họ đầy khó khăn, nguy hiểm nhưng họ vẫn sống hồn nhiên, yêu đời. Những lúc rỗi họ thường hát, tâm hồn rất mơ mộng, yêu đời. Nhất là Phương Định – một cô gái trẻ Hà NooiH trẻ trung nhạy cảm. Họ gắn bó, yêu thương nhau mặc dù mỗi người một cá tính. Sau những phút phá bom căng thẳng, một cơn mưa đá vụt đến rồi vụt đi để lại trong lòng Phương Định bao hoài niệm, khát khao. Đọc những đoạn văn như thế này. Người ngoài cuộc vẫn còn thấy căng thẳng, hãi hùng. Chiến tranh đã lùi xa nhưng như vẫn thấy đâu đây tiếng bom nổ chói tai, nhức óc. Hình ảnh những quả bom đùn lên không trung những cột khói đen, nở bung như những cây nấm khổng lồ gieo cái chết thảm thương cho con người. Làm sao không thấy ớn lạnh mà ứa tràn nước mắt. Ta càng càm ghét chiến tranh, càng thấy cảm phục những cô gái trẻ. Họ dũng cảm, kiên cường, đạp bằng hiểm nguy vì ngày mai hòa bình của dân tộc. Những cô gái trẻ này đều có chung một phẩm chất anh hùng. Họ có tinh thần trách nhiệm cao đốì với nhiệm vụ, dũng cảm không sợ hi sinh, tình đồng đội gắn bó yêu thương. Họ sống giữa khói bom lửa đạn nhưng họ vẫn nhiều ước mơ. Họ sống bình thản và luôn thích làm đẹp cho mình, thích hát và nghe đài mỗi khi rảnh rỗi. Tiếng hát của họ trên cao điểm này thực sự là tiếng hát át tiếng bom. Hồn nhiên mà anh hùng. Chị Thao lớn tuổi hơn nên những ước mơ và dự định về tương lai cũng thiết thực hơn. Chị hát không hay nhưng rất chăm chép bài hát. Chị chép cả những lời bịa của Phương Định. Đôi lông mày lúc nào cũng tỉa nhỏ như cái tăm. Áo lót cái nào cũng thêu bằng chí màu. Chị có đặc điểm rất sợ máu và vắt. Hễ nhìn thấy là mặt chị tái mét. Song người tổ trưởng ấy lại rất bình thản. Chị hay thong thả nhai bích quy trước tiếng máy bay trinh sát rè rồ trộn lẫn tiếng gầm gào và tiếng giội bom của phản lực. Chị phá bom cương quyết, táo bạo đến đáng gờm. Phương Định cũng như Nho, hồn nhiên, mơ mộng và dũng cảm. Đấy là cô gái Hà Nội. Lúc rảnh rỗi để dành cho hát và ôm gối mộng mơ, hoặc nghĩ lung tung nhất là hay nhớ nhà. Nhưng tinh thần chiến đấu thì gan dạ, kiên cường chảng thua kém gì các chị em. Mỗi ngày, Phương Định phải phá tới năm quả bom, ít là ba. Mỗi lần phá là một cảm giác khác nhau. Khi phá bom, Phương Định rất căng thẳng, hồi hộp, tim đập bất thình lình. Nhưng cô đều vượt lên để chiến thắng những quả bom lì lợm, chứa trong mình thần chết khủng khiếp và hoàn thành nhiệm vụ một cách suất sắc. Phương Định là cô gái để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng ta. Phương Định, con gái Hà Nội “hai búi tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”. Đôi mắt Phương Định được các anh lái xe bảo là “có cái nhìn sao mà xa xăm”. Nhiều pháo thủ và lái xe hay “hỏi thăm” hoặc “viết những bức thư dài gửi đường dây” cho Phương Định. Cô có cách kiêu kì, làm “điệu” khi tiếp xúc với một anh bộ đội “nói giỏi” nào đấy. Nhưng trong suy nghĩ của cô thì “những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ”. Phương Định là một cô gái rất hồn nhiên yêu đời, giàu cá tính. Thuở nhỏ đã hay hát. Cô có thể ngồi lên thành cửa sổ căn phòng nhỏ bé nhà mình “hát say sưa ầm ĩ”. Bàn học lúc nào cũng “bày bừa bãi lên”, để đến nỗi bà mẹ phải “nguyền rủa”: “Con gái gì cái của mày. Lấy chồng rồi mà no đòn… No đòn…!”. Vì thế ngay từ lúc còn ở nhà, cô đã thề là “không lấy chồng”. Sống trong cảnh bom đạn ác liệt, cái chết kề bên, Phương Định lại càng hay hát. Những bài hành khúc, những điệu dân ca quan họ, bài ca Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô, bài dân ca Ý… Định còn biết bịa ra những lời hát, thế mà chị Thao vẫn “say mê” chép vào sổ tay. Phương Định hát trong những khoảnh khắc “im lặng”, máy bay trinh sát bay “rè rè”, cơn bão lửa sắp ụp xuống cao điểm. Phương Định hát để động viên Nho, chị Thao và động viên mình. Hát khi “máy bay rít, bom nổ; nổ trên cao điểm, cách cái hang này khoảng 300m”. Hát trong không khí ngột ngạt: “Khói len vào cửa hang bị che lấp”. Đúng là “tiếng hát át tiếng bom” của những người con gái trong tổ trinh sát mặt đường, những con người “khao khát làm nên những sự tích anh hùng”. Trong kháng chiến chống Mỹ, ở hai miền Nam, Bắc của Tổ quốc đã có hàng vạn, hàng triệu chàng trai lên đường ra trận với dũng khí và quyết tâm “đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào” để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tiền tuyến vẫy gọi, hàng ngàn hàng vạn cô gái mang chí khí Bà Trưng, Bà Triệu xung phong ra tiền tuyến. Con đường chiến lược Trường Sơn huyền thoại được làm nên bằng xương máu, mồ hôi và bao sự tích phi thường của những người con gái Việt Nam anh hùng. Hình ảnh ba nữ thanh niên xung phong gợi nhớ đến mười cô gái đã anh dũng hi sinh tại ngã ba Đồng Lộc. Họ mãi mãi còn in dấu trong tâm hồn Việt Nam về một thời đại chiến tranh ác liệt, đau thương mà anh hùng. Cuộc sống và chiến đấu vĩ đại ấy đã ghi lại một cách chân thực chiến tích thầm lặng của tổ trinh sát mặt đường. Trọng điểm đang chìm trong mưa bom bão lửa. Tiếng Phương Định lại cất lên: “Tôi, một quả bom trên đồi. Nho, hai quả dưới lòng đường. Chị Thao, một quả dưới chân cái hầm ba-ri-e cũ”. Cảnh tượng chiến trường trở nên “vắng lặng đến phát sợ”. Cảnh vật bị hủy diệt đáng sợ. Cây xơ xác, đất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung. Phương Định, dũng cảm và bình tĩnh tiến đến gần quả bom. Cô không còn sợ hãi nữa cứ “đàng hoàng mà bước tới”. Quả bom có 2 vòng tròn màu vàng nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Thần chết đang đợi chờ, vỏ quả bom nóng. Phương Định dùng lưỡi xẻng đào đất. Có lúc lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Có lúc Định “rùng mình” vì cảm thấy tại sao mình làm quá chậm thế! Nguy hiểm, căng thẳng không thể nào kể xiết. Chị Thao vấp ngã, vết sẹo bóng lên, mảnh dù bay trên lưng. Chị cười, “răng trắng, đôi mắt mở to…”. Nho bị thương. Bom nổ, hầm sập. Chị Thao và Định phải moi đất, bế Nho lên. Máu túa ra, ngấm vào đất. Chị Thao nghẹn ngào. Định rửa vết thương cho Nho, tiêm thuốc cho Nho, pha sữa cho Nho… Rồi chị Thao lại giục: “Hát đi, Phương Định, mày thích bài gì nhất, hát đi!”. Đó là cuộc sống chiến đấu thường nhật của họ. Phương Định cho biết: “Tôi có nghĩ đến cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể… Đoạn văn tả cảnh phá bom trên cao điểm là đoạn văn xuất sắc nhất trong truyên Những ngôi sao xa xôi. Lê Minh Khuê đã sử dụng bút pháp hiện thực nghiêm ngặt tái hiện lại cảnh phá bom vô cùng nguy hiểm, dựng nên một tượng đài về khí phách anh hùng lẫm liệt của tổ trinh sát mặt đường. Tổ trưởng Thao, Nho và Phương Định đã sáng ngời lên trong khói lửa bom đạn. Chiến công thầm lặng của họ bất tử với năm tháng và lòng người. Tổ quốc và nhân dân có bao giờ quên những nữ anh hùng Đồng Lộc, những nữ anh hùng trên con đường chiến lược Trường Sơn: “Đất nước mình nhân hậu Có nước trời xoa dịu vết thương đau Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Đêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng Những vì sao ngời chói, lung linh…” (Khoảng trời hố bom – Lâm Thị Mỹ Dạ) Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê đã làm sống lại trong lòng ta hình ảnh tuyệt đẹp và những chiến công phi thường của tổ trinh sát mặt đường của Phương Định, Nho, của chị Thao, của hàng ngàn, hàng vạn cô thanh niên xung phong thời chống Mĩ. Chiến công thầm lặng của Phương Định và đồng đội là bài ca anh hùng, là tiếng thét gọi tình yêu tổ quốc, tình yêu cuộc sống. Chiến tranh đã đi qua. Sau ba thập kỉ, đọc truyện “Những ngôi sao xa xôi” ta như được sống lại những năm tháng hào hùng của đất nước. Những ngôi sao sẽ mãi mãi tỏa sáng trên bầu trời. Đêm đêm ta ngước nhìn lên, mỗi ngôi sao sẽ nhắc nhở chúng phải bảo vệ bầu trời tự do mà biết bao thế hệ đã hi sinh giữ lấy nó.
Phân tích Những ngôi sao xa xôi-Lê Minh Khuê
2,106
Phân tích những nét chung trong cảm hứng về quê hương đất nước của các nhà thơ kháng chiến chống Pháp. Hướng dẫn Trong cuộc kháng chiến của dân tộc thơ văn có một ý nghĩa to lớn, góp phần làm nên thắng lợi của dân tộc. Mỗi nhà thơ có cái nhìn, và có cách nói riêng về cảm xúc của mình, nhưng đều có nét chung trong cảm hứng về quê hương đất nước. Những bài thơ nổi tiếng như Bên kia sông Đuống của Hoàng cầm, Việt Bắc của Tố Hữu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi đã thể hiện điều đó rất rõ. Thơ ca cổ điển thường mang đến cho người đọc những cảnh vật mĩ lệ, hoặc đơn sơ nhưng đẹp của nước non. Thơ văn trong kháng chiến chống Pháp cho người đọc sắc màu cụ thể và gắn bó chặt chẽ với đời sống của nhân dân. Trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi, quê hương đất nước hiện lên thật tươi đẹp, tràn đây sinh lực: Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa. Còn ở Sông Đuống thì thật lãng mạn nên thơ: Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì. hay: Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. Ngoài việc miêu tả những điều cụ về cảnh sắc thiên nhiên, đã có sự khái quát cao hơn, nhiều lúc thoát khỏi việc bị gán ghép cho những sắc thái tình cảm quá cá biệt. Nó hình như khách quan hơn, tạo nên một cái phông rất thích hợp, có màu sắc sử thi cho những vân đề to lớn được nó. Là những người công dân mới của một đất nước đã có chủ quyền, các nhà thơ kháng chiến luôn có ý thức làm chủ đối với đất nước. Ý thức đó không thấy xuất hiện trong Thơ mới dù các nhà thơ thuở đó cũng hết sức nặng lòng với quê hương. Điều này dĩ nhiên có nguyên nhân lịch sử. Khi viết về quê hương, nhiều lắm họ cũng chỉ nói được như Tế Hanh: “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới…”. “Làng tôi ở” chứ không phải là “làng tôi”, nghĩa là “làng tôi” lúc này mới chỉ được xác định như một mảnh đất từ đó mình sinh ra và lớn lên chứ chưa được xác định như một đối tượng sở hữu. Thơ kháng chiến đã khác Trước quê hương đất nước, từ sở hữu “của” xuất hiện rất nhiều lần, mang âm điệu khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát. Nguyễn Đình Thi đã hả hê sung sướng biết bao khi viết: Núi rừng đây là của chúng ta… Tố Hữu cũng lòng đầy phấn chấn khi nói: Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung. Từng câu từng chữ trong lời thơ đã khẳng định chủ quyền rõ rệt. Chủ quyền người Việt đối với đất nước Việt Nam đã hiển nhiên. Các nhà thơ chỉ cần nói “nước chúng ta”, “quê hương ta” cũng đủ để ý thức sở hữu gây được ấn tượng mạnh cho người đọc. Người ta thường nói thơ kháng chiến thắm đượm ý thức dân chủ chính một phần căn cứ vào điều đó. Điều đáng chú ý là khi thể hiện thứ tình cảm mới mẻ và lớn lao này trước đất nước, cái “tôi” của các nhà thơ cũng mang một tầm vóc mới, là cái tôi mang tính chất đại diện cho cả nhân dân. Bởi vậy, quê hương trong suy nghĩ của họ không còn bó hẹp nơi cái “làng tôi ở”, nơi những mảnh vườn, góc phố xinh xẻo hoặc đìu hiu mà mở rộng ra đến cả mọi vùng. Trong thơ kháng chiến xuất hiện nhiều địa danh và địa danh nào cũng vang vọng, cũng trở thành một phần máu thịt của nhà thơ: Những hội hè đình đám Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài… (Bên kia sông Đuống) Nỗi nhớ của các nhà thơ trùm lên cả mọi miền: Ai về ai có nhớ không? Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng, Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà. (Việt Bắc) Bên cạnh đó, trong những năm kháng chiến các sáng tác còn mang nặng cảm hứng lịch sử và hình ảnh quê hương đôi khi hiện lên với vẻ đẹp của truyền thống văn hóa lâu đời. Cảm hứng này làm cho hình tượng được mô tả có thêm chiều sâu. Sau niềm vui về nền độc lập, tự do của Tổ quốc, các nhà thơ thường đắm mình trong những suy tư về lịch sử. Đó là động lực, là lời nhắc nhở để chúng ta quyết tâm đấu tranh bảo vệ đất nước. Âm điệu của thơ cũng trở nên trầm lắng, bâng khuâng: Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rẩm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về. (Đất nước) Các nhà thơ trong thời kì kháng chiến chống Pháp đã có cái nhìn sâu thẳm về quê hương đất nước. Họ không chỉ vui với cái bề ngoài, không chỉ nhạy cảm với không gian “thơm ngát”, “bát ngát”, “mênh mông bốn mặt” trải rộng mà còn hết sức xúc động với cái bề sâu, với chiều thời gian thăm thẳm. Những câu thơ rất khái quát như vừa trích trên và hai Câu: Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng. chính đã được viết ra trong niềm tự hào ấy về lịch sử. Nhưng lịch sử và văn hóa có thể nào tồn tại tách rời nhau. Trong bài thơ khá dài Bên kia sông Đuống, Hoàng cầm muốn quan sát vẻ đẹp của quê hương ở phương diện văn hóa đó. Hàng loạt hình ảnh sinh động, cụ the được ve lên khiến ta được đắm mình trong một không khí đặc biệt trộn lẫn ảo và thực, xưa và nay, quá khứ và hiện tại để từ đó ta hiểu ra vì sao quê hương đất nước mình vẫn muôn đời tồn tại: Quê hương ta lúa nép tham nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp. Rồi các hình ảnh như “Những nàng môi cắn chỉ quết trầu”, “Những cô hàng xén răng đen”, “Những em sột soạt quần nâu”… tất cả đều là văn hóa, tất cả đều là quê hương. Đặt trong mạch suy cảm chung, những bức tranh phong tục như thế bỗng mang thêm nhiều ý nghĩa mới. Trong các bài Bên kia sông Đuống, Việt Bắc, Đất nước, cảm hứng về quê hương đất nước mang tính chất chính trị – xã hội rõ nét. Nó gắn liền với cảm hứng lịch sử nói trên. Hình ảnh quê hương đất nước ở đây không chỉ mang sắc thái muôn đời như trong Thơ mới mà còn là hình ảnh quê hương trong cảnh điêu tàn. Có hình ảnh quê hương quật khởi. Khi quê hương bị quân thù giày xéo, lòng nhà thơ đau đớn, căm giận. Càng say đắm với vẻ đẹp quê hương trong cảnh thanh bình, các nhà thơ càng xót xa với hiện tại: Xanh xanh bãi mía bờ dâu Ngô khoai biêng biếc Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay. Nhưng với “mối thù nặng vai”, cả quê hương đất nước này đã đứng dậy. Lòng các nhà thơ nao nức khi nghe vọng tiếng “Bộ đội bên sông đã trở về”. Họ đã thật sự xúc động trước “tiếng căm hờn” bật lên “từ gốc lúa bờ tre hồn hậu”, đã phấn chấn biết bao với hình ảnh “Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”. Cuộc kháng chiến đã lớn mạnh. Từ phòng ngự, cảm cự, ta đã chuyển sang thế phản công. Từ khắp miền đất nước đều có tin vui, tin chiến thắng: Tin vui chiến tháng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. (Việt Bắc) (Cùng với niềm vui về hình ảnh “Nước Việt. Nam từ máu lửa, Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, các nhà thơ bắt đầu mơ ước về tương lai, về “trời đất mới”, Họ nghĩ đến ngày: Em đi trẩy hội non sông Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh. (Bên kia sông Đuống) thậm chí, nghĩ xa hơn đến cả ngày đất nước thay da đổi thịt. Ngày mai, ấy là cả một trời hạnh phúc của đất nước này: Ngày mai rộn rã sơn khê Ngược xuôi tàu chạy bốn bề lưới giăng Than Phấn Mễ, thiếc Cao Bằng Phố phường như nấm như măng giữa trời. (Việt Bắc) Quả là nếu không gắn bó máu thịt với đất nước từ trong những ngày đau khổ, các nhà thơ khó lòng có được sự tưởng tượng bay bổng đến như thê. Trong cảm xúc và suy nghĩ của họ, quê hương và cách mạng không tách rời nhau (chính Tố Hữu từng gọi Việt Bắc là “quê hương cách mạng”). Đây cũng là một nét mới mà thơ ca kháng chiến đem đến cho xúc cảm truyền thống về quê hương, đất nước. Mỗi thời kì, các nhà thơ lại có những sáng tác khác nhau về quê hương đất nước mình. Trong cuộc kháng chiến của dân tộc, những người cầm bút cũng có vai trò quan trọng như những người cầm súng, và các tác phẩm thơ ca như là món ăn tinh thần, là động lực để toàn dân thêm yêu đất nước, và sẵn sàng hi sinh để bảo vệ đất nước. Các tác phẩm phân tích ở trên đã để lại giá trị về cả nội dung và nghệ thuật, tạo tiền đề cho những sáng tác có ý nghĩa sau này.
Phân tích những nét chung trong cảm hứng về quê hương đất nước của các nhà thơ kháng chiến chống Pháp.
1,649
Đề bài: Phân tích những nét chung và riêng ở các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít trong tác phẩm Rừng xà nu I. MỞ BÀI Mỗi nhà văn thường có một vùng đất riêng. Với Nguyễn Trung Thành đó là Tây Nguyên. Ta đã gặp một anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên thời chống Pháp, giờ đây ta lại đến với các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít trong Rừng xà nu thời chống Mĩ. Họ đều là những người con kiến cường bất khuất của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ nhưng mỗi người lại mang những nét riêng, những vẻ đẹp riêng khó quên. II. THÂN BÀI Rừng xà nu là câu chuyện làng Xô-man (Tây Nguyên) chống Mĩ. Truyện có nhiều nhân vật nhưng tiêu biểu nhất là ba nhân vật: Cụ Mết (già làng), Tnú (thanh niên) và Dít (phụ nữ). Đó là hai thế hệ già trẻ cùng tiếp nối nhau đứng lên đánh Mĩ. Truyện có hé mở cho người đọc thấy thế hệ thứ ba là thế hệ của bé Heng để hoàn thiện bức tranh Tây Nguyên chống Mĩ. Phân tích những nét chung và riêng ở các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít Ba nhân vật nói trên được nhà văn miêu tả sinh động, hấp dẫn, trở thành những ấn tượng lâu bền trong lòng người đọc, bởi vì, ở mức độ nhất định, họ đã được điển hình hóa, vừa mang nét chung của con người Tây Nguyên đánh Mĩ, lại mang nét riêng in đậm tính cách và phẩm chất của từng người cụ thể. 1. Nét chung Nét chung ở đây là phẩm chất anh hùng. Họ đều là những người con kiên cường bất khuất của Tây Nguyên, thể hiện ở những điểm sau đây: – Yêu buôn làng, yêu nước, căm thù giặc sâu sắc. – Quyết tâm đứng lên đánh giặc để bảo vệ buôn làng, bảo vệ đất nước. – Kiên cường, bất khuất, dũng cảm tạo nên khí thế đồng thời chống Mĩ (chọn những dẫn chứng thật tiêu biểu của ba nhân vật để chứng tỏ các nét chung đó). 2. Nét riêng Các nhận vật đều anh hùng, kiên cường, bất khuất, nhưng mỗi người lại anh hùng theo cách riêng, và sự kiên cường bất khuất cũng được biểu lộ khác nhau tùy theo tuổi tác, giới tính, cương vị xã hội và hoàn cảnh riêng của từng người. Tất cả đã làm nên đặc điểm riêng và vẻ đẹp riêng của từng nhân vật. a) Cụ Mết: Già làng, người chỉ huy, linh hồn của làng Xô-man chống Mĩ. Một cụ già khỏe mạnh quắc thước “ngực căng như một cây xà nu lớn”, hai tay rắn chắc như hai gọng kìm, tiếng nói ồ ồ vang vang. Cụ chỉ huy dân làng xông vào giết sạch bọn ác ôn trên sàn nhà rông, đốt lên ngọn lửa đồng khởi cháy sáng khắp rừng Xô-man với chân lí giản dị “chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”… “Cụ còn là niềm tin, người tổ chức, tập hợp dân làng đoàn kết chống giặc. Cái đêm cụ kể về cuộc đời của Tnú cho dân làng nghe bên ngọn lửa xà nu bập bùng vừa đầm ấm, vừa trang nghiêm, lại có gì linh thiêng như kể về một huyền thoại.Cụ chính là cây xà nu vững chãi nhất trong rừng xà nu Xô man. b) Tnú: Người con ưu tú của buôn làng đã ra đi đánh giặc để trả thù cho quê hương và cho bản thân. Nét tính cách chủ yếu là quyết liệt, mạnh mẽ, đặc trưng cho sự kiên cường bất khuất của con người Tây Nguyên sống giữa núi rừng hùng vĩ. Căm thù thì như lửa cháy ngùn ngụt (hai con mắt như hai cục than đỏ tay bóp nát trái vả lúc nào không biết), trả thù thì dứt khoát, lạnh lùng, trừng phạt đích đáng kẻ đã tra tấn mình (bóp chết kẻ thù bằng chính hai bàn tay cụt). Cuộc đời và vẻ đẹp riêng của nhân vật như được kết tụ lại trong hai bàn tay: bàn tay hận thù và bàn tay trả thù. Đó là hình ảnh “bàn tay Tnú" độc đáo và đầy ấn tượng của Nguyễn Trung Thành. c) Dít: Cô gái trẻ giàu nghị lực, bản lĩnh đã trưởng thành mau chóng trong phong trào chống Mĩ để trở thành người lãnh đạo cao nhất của đân làng Xô man: bí thư chi bộ và chính trị viên xã đội. Nét tính cách nổi bật là gan dạ (giặc bắn uy hiếp tinh thần, áo quần rách tả lơi mà vẫn bình thản như không) và kiên quyết rắn rỏi (kiểm tra giấy phép của Tnú rất kĩ) nhưng vẫn là người phụ nữ giàu tình cảm, cô giới tính (cảm thấy bùi ngùi khi Tnú lại phải đi ngay). III. KẾT BÀI Ba nhân vật được xây dựng sinh động, hấp dẫn, mang vẻ đẹp riêng của từng người. Ba vẻ đẹp ấy lại hòa vào nhau để làm nên vẻ đẹp chung của con người Tây Nguyên chống Mĩ. Hình ảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú lên đường đánh giặc ở cuối tác phẩm chính là sự kết tụ rất hài hòa ba vẻ đẹp ấy và lắng sâu vào lòng người đọc.
Phân tích những nét chung và riêng ở các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít trong tác phẩm Rừng xà nu
890
Đề bài: Phân tích những nét đặc sắc trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương Bài làm Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Câu hát xúc động về Bác vẫn vang lên trong lòng chúng ta không khỏi khiến ta bùi ngùi, xúc động. Bác đã đi xa để lại cho dân tộc cả một niềm tiếc nhớ và kính yêu vô hạn. Đã biết bao nhà thơ khắc hoạ thành công tình cảm vô hạn của chúng ta dành cho Bác. Trong đó không thể không nhắc đến bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương. Bài thơ không chỉ là nén hương thơm Viễn Phương thành kính dâng lên Bác Hồ kính yêu mà còn là khúc tâm tình sâu nặng mà nhà thơ thay mặt đồng bào miền Nam gửi đến Bác trong những ngày đầu độc lập. Ấn tượng đầu tiên là cách xưng hô rất thân thuộc, gần gũi của người con Nam Bộ với Bác: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Hai tiếng con – Bác vang lên xoá nhoà khoảng cách giữa lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh với một người lao động cần lao. Nó trở thành mối quan hệ máu thịt giữa cha và con, đặc biệt đứa con ấy lại là đứa con của miền Nam xa cách. Viễn Phương ra thăm Bác là trở về bên người cha yêu dấu, tìm lại niềm hạnh phúc ấm lòng sau bao năm tháng cách xa. Vẻ đẹp đầu tiên nhà thơ nhận ra là hàng tre bát ngát, tượng trưng cho ý chí và sức mạnh quật cường của dân tộc. Niềm xúc động đã cất lên thành lời: Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng. Hàng tre quanh lăng Bác phải chăng là biểu tượng của cây cỏ mang màu sắc quê hương về đây hội tụ? Tre là một loài cây luôn vươn cao, đứng thẳng, hiên ngang trong bão táp mưa sa. Vì thế tre mang nhiều đặc điểm giống như đức tính của người Việt Nam ta: cần cù, chịu khó, hiên ngang, luôn hướng về cội nguồn. Hàng tre lăng Bác tượng trưng cho thế đứng vững vàng của toàn dân tộc. Giọng thơ bồi hồi tha thiết mà rạo rực, tự hào, kiêu hãnh. Nét đặc sắc của bài thơ là nhà thơ đã vận dụng rất sáng tạo và đặc sắc nghệ thuật ẩn dụ, hoán dụ, tạo ra một loạt hình ảnh, hình tượng lớn lao, đẹp đẽ, sáng ngời: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Bác là mặt trời hay mặt trời là Bác? Có lẽ là cả hai. Người cùng như mặt trời vĩnh hằng và ấm áp. Người đem đến cho nhân loại tình yêu thương, lòng nhân ái và nền độc lập. Hình ảnh mặt trời làm sáng cả câu thơ. Bác là nguồn ánh sáng làm hồi sinh sự sống. Nhờ có Bác mà dân tộc Việt Nam đã rũ bùn đứng dậy sáng loà (Nguyễn Đình Thi), đất nước không còn cảnh: Con đói lả ôm lưng mẹ khóc Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi (Tố Hữu) Người người biết ơn Bác, đời đời ngợi ca Bác bằng những lời ca, ý thơ đẹp đẽ: Người rực rỡ một mặt trời cách mạng Còn đế quốc là loài dơi hốt hoảng. (Tố Hữu) Mặt trời lặn mặt trời mang theo nắng Bác ra đi để ánh sáng cho đời. (Phạm Tiến Duật) Cảm động sao những tấm lòng thành kính. Những tấm lòng như tấm lòng của Viễn Phương: Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân… Hình ảnh dòng người đi trong thương nhớ là một phát hiện rất mới, chứa đựng nhiều ý nghĩa và cảm xúc. Không gian nơi Bác nằm dường như là không gian của tình thương nỗi nhớ, không gian của tấm lòng thành kính, thiêng liêng. Và đây nữa, tràng hoa dâng Bác vừa là hình ảnh thực vừa mang nghĩa tượng trưng. Đó là tình đoàn kết, tương thân tương ái của nhân dân ta, giúp dân tộc đứng vững trong những cơn phong ba bão táp. Những người con hôm nay không chỉ dành cho vị cha già lòng biết ơn thành kính mà còn tự hào dâng lên Người những chiến công trong thời bình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mạch cảm xúc được phát triển theo từng bước đi của nhà thơ vào lăng viếng Bác. Nỗi xúc động đã thổn thức trong lòng người con từ khi hàng tre bên lăng còn xa xa, cho đến khi cùng dòng người bước tới rồi và nghẹn ngào khi được nhìn thấy Bác: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Với chúng ta Bác không bao giờ mất, Bác mãi trường tồn cùng sông núi. Bác nằm đó trong giấc ngủ bình yên, một giấc ngủ nhẹ nhàng, thanh thản. Một vẻ đẹp rất đỗi thanh cao đang toả sáng. Sự thanh cao đó phải chăng là một chân lí nhân cách của Người? Dù là trong thơ văn hay trong cuộc sống, giữa Bác và vầng trăng luôn có sự gặp gỡ, hoà hợp và đồng điệu. Viễn Phương cũng như những người con khác ước mơ được ra thăm Bác dù chỉ một lần. Hôm nay nỗi mong mỏi đã trở thành hiện thực nhưng sao nhà thơ lại thấy nhói đau: Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! Dẫu biết rằng Bác sống mãi trong tâm hồn dân tộc, sự nghiệp cách mạng và con đường cứu nước sẽ mãi là kim chỉ nam cho mọi hành động của dân tộc nhưng nhà thơ không thể nào kìm nén cảm xúc. Sự rung động đến nhói trong tim là một tình cảm chân thành của nhà thơ đối với Bác. Cố dồn nét niềm xúc động trong lòng nhưng nghĩ đến lúc phải rời xa dòng cảm xúc ấy vội trào ra, nức nở nghẹn ngào theo dòng nước mắt: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Giọng thơ bỗng trở nên gấp gáp, vội vàng thể hiện sự cuống quýt trong tâm tưởng người con nơi xa. Viễn Phương muốn làm tất cả những gì tốt đẹp nhất để dâng lên Người. Đó là ước nguyện được làm con chim nhỏ bé, ngày ngày bên Bác kính dâng lên những bản nhạc âm vang của tâm hồn – tiếng hót. Đó là ước nguyện được làm con chim nhỏ bé, ngày ngày bên Bác kính dâng lên những bản nhạc âm vang của tâm hồn – tiếng hót. Đó là ước nguyện làm đoá hoa bình dị lặng lẽ toả hương thơm ngát, tô điểm cho giấc ngủ của Người, vẫn chưa đủ, nhà thơ còn ước muốn là một cây tre trung hiếu gìn giữ và bảo vệ giấc ngủ bình yên nhẹ nhàng cho Bác. Điều đặc biệt là kết thúc đầu cuối tương ứng trong bài thơ. Hình ảnh cây tre mở đầu bài thơ và vẫn là hình ảnh cây tre ấy khép lại bài thơ tạo ra hình ảnh có giá trị đặc biệt. Phải chăng đằng sau bóng tre râm mát ấy là tấm lòng, là tâm hồn của cả dân tộc lặng lẽ và thành kính dâng lên Bác. Điệp ngữ muốn làm được sử dụng liên tiếp trong ba dòng thơ cuối cùng càng khẳng định ước muốn, sự tự nguyện của những con người muốn chăm lo cho giấc ngủ của Bác Hồ. Cũng có thể xem những điệp ngữ này là những nút nhấn cho thấy sự lưu luyến, bồi hồi, bối rối của nhà thơ. Làm sao có thể không xúc động khi trong lòng ta hình ảnh Bác Hồ vẫn luôn sáng soi rực rỡ và ấm nồng: Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta Ta bỗng lớn ở bên Người một chút. Bài thơ khép lại mà dư âm cảm xúc của nó còn trong tâm trí ta. Nhà thơ đã truyền cảm xúc vào lòng người đọc bao thế hệ với một ý nguyện chân thành. Chúng ta hôm nay được sống trong yên vui hoà bình, chúng ta cần phải ghi nhớ công lao to lớn của Bác và của nhân dân. Chúng ta hãy rèn luyện để xứng đáng với niềm tin của Bác, xứng đáng là một cây tre trung hiếu bên Bác.
Phân tích những nét đặc sắc trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương
1,446
Đề bài: Phân tích những nét độc đáo trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Gợi ý Trong di sản văn học của Lỗ Tấn, Thuốc là truyện ngắn đặc biệt và luôn giữ một vị trí quan trọng, độc đáo trong cách thức kết cấu, tổ chức không gian, bố trí nhân vật và tái hiện nhân vật. Với kết cấu bốn phần, mạch lạc tạo ra cảm giác kết cấu khai – thừa – luận – kết hay khai – thừa – chuyển – hợp tương tự như kết cấu của một bài thơ cổ điển, được đánh số thứ tự từ I đến IV, câu chuyện mang tiêu đề vừa thực vừa biểu trưng – Thuốc – được chia thành hai không gian rất đặc trưng gắn với nhan đề tác phẩm: không gian quán trà nhà lão Hoa với ba phần và không gian nghĩa địa với phần còn lại mà độ dài không kém ba phần kia là bao. Phân tích tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Phần khai truyện, tương ứng với phần khai đề của một bài thơ cổ điển, được mở ra từ không gian thứ nhất bằng một buổi sáng sớm, chưa sáng hẳn song cũng đã chuyển sang một ngày mới với nội dung chính là mua thuốc. Đó là “một đêm thu gần về sáng, trăng lặn rồi, nhưng mặt trời chưa mọc”. Bóng tối bao trùm lên không gian ấy, trời không trăng cũng chẳng có sao nên “ngoài những giống đi ăn đêm, còn thì ngủ say cả”. Để xua đi cái bóng tối ấy, lão Hoa, chủ nhân của ngôi nhà vừa để ở vừa để bán hàng, đã “đánh diêm, thắp cái đèn nhầy nhụa những dầu là dầu” để tạo ra một thứ ánh sáng “trắng xanh sáng khắp hai gian quán trà”. Ánh sáng ấy không làm cho ngôi nhà ấm lên, hay sáng thêm mà chỉ làm cho nó chìm ngập sâu hơn vào bóng tối đang phủ dày xung quanh, khiến sự trầm lắng có chiều sâu và hoàn cảnh buồn bã thê thảm hơn. Ánh sáng ấy cũng mang tính chất khác thường. Đã thế sau khi thắp ngọn đèn lồng, lão Hoa lại “tắt ngọn đèn con”, tắt luôn thứ “ánh sáng trắng xanh” đầy vẻ ma quái, hăm dọa ấy. Cảm giác về bóng tối bao trùm lại hiện ra khi lão bước ra “ngoài đường, trời tối om và hết sức vắng”. Trong bóng tối ấy, lão đi vừa với tràn trề hi vọng, vừa nơm nớp lo cho gói bạc cồm cộm trong túi. Lão đi đến nơi sẽ có phương thuốc diệu kì chữa bệnh cho con lão, phương thuốc được truyền khẩu trong dân gian song không phải ai cũng biết, kể cả lão Hoa. Sự dịch chuyển thời gian được đánh dấu bằng: “Trời cũng sáng dần và đường cũng càng lâu càng rõ” và lão cũng đến được nơi lão cần đến: một ngã ba đường nơi có “một cửa hiệu còn đóng kín mít”. Tại đó, như một người lạc đường vào một xứ sở mới, lão “ngước đầu nhìn xung quanh” và “thấy bao nhiêu người kì dị hết sức, cứ hai ba người một, đi đi lại lại như những bóng ma. Nhưng nhìn kĩ thì lại chẳng lấy gì làm quái lạ nữa”. Đúng là lão đang rơi vào trạng thái trông gà hóa cuốc, thần hồn nát thần tính mà tất cả cũng chỉ vì phương thuốc mà nhà lão đang rất cần để chữa bệnh cho con. Thứ ánh sáng ở đây tạo cho lão cái nhìn ảo giác, vừa thực vừa hư mà cho dù không viết một lời bình nào nhưng tác giả cũng hé lộ cho ta thấy trạng thái tâm lí lưỡng phân của lão Hoa. Nếu có ai đó nhìn lão thì cũng nhìn bằng “ánh mắt cú vọ ngời lên, như người đói lâu ngày thấy cơm” hoặc nhìn lão với đôi mắt “sắc như hai lưỡi dao chọc thẳng vào lão”. Những cặp mắt ấy cùng với những cái nhìn kia gia tăng sức nặng cho phương thuốc “đặc biệt lắm”, đó là “một chiếc bánh bao nhuốm máu” mà lão nhìn rõ là “đỏ tươi, máu còn nhỏ từng giọt từng giọt”. Tác giả kể một cách tuần tự, không vội vã, như thể đang theo nhịp của từng giọt máu đang nhỏ xuống. Màu đỏ của máu tương phản với sắc phục màu đen của người bán bánh tạo ra ấn tượng hãi hùng, vừa huyền bí vừa mang sắc thái mỉa mai và đây là hai màu sắc đặc trưng mà lão Hoa nhận ra cũng như tác giả nhấn mạnh cho độc giả biết. Việc mua bán đã xong và lão đã có trong tay “cái gói bánh”, lão nâng niu nó như “nâng niu đứa con của gia đình mười đời độc đinh”. Có “gói bánh ấy” lão hoàn thành trách nhiệm làm cha, và lại cũng báo hiếu được cho tổ tiên, cứu cho dòng dõi nhà mình không dứt dòng tuyệt giống theo triết lí của đạo Khổng. Hình ảnh mặt trời lại xuất hiện: “Mặt trời đã mọc, chiếu sáng con đường lớn đi về nhà lão, và cũng chiếu sáng cái biển mục nát trên cái nhà bia ở ngã ba đường sau lưng lão, có đề bốn chữ thếp vàng đã nhạt màu Cổ… Đình Khẩu”. Tác giả dường như cố tình bỏ mất một chữ, song thực ra chỉ nhằm để chứng minh thêm rằng vầng dương đang chiếu sáng kia cũng chỉ là vầng dương yếu ớt, không đủ để soi rọi cả bốn chữ mà chỉ đủ chiếu sáng có ba. Số lượng nhân vật trong truyện có thể nói là nhiều, song hiện hình rõ rệt chỉ có bốn. Trước hết là vợ chồng lão Hoa chủ quán hiện ra chỉ với những động tác mà không có nét ngoại hình nào. Hai vợ chồng rất kiệm lời, thể hiện sự nhất trí nhưng đầy băn khoăn nghi ngại mà cả vợ lẫn chồng đều không dám nói ra. Vì thế khi cầm gói bạc để đi mua thuốc, tay lão Hoa cứ “run run”, và cả khi đưa tiền để lấy chiếc bánh bao đẫm máu người tay lão cũng “run run”, khi gặp người lạ thì lão “trố mắt lên”. Nhân vật Thuyên được giới thiệu bằng “một cơn ho” và lời dặn dò của lão Hoa mà không hiện ra cụ thể, song qua cách giới thiệu như vậy độc giả đã nắm bắt được lí do ra đi vào buổi tờ mờ sáng, khi còn chưa rõ mặt người, của lão Hoa với gói bạc dành dụm được từ lâu. Cơn ho còn là động lực thúc đẩy lão Hoa phải đi, vừa tạo ra sự thấp thỏm đợi chờ của bà Hoa. Một nhân vật khác được miêu tả qua bộ “áo quần đen ngòm”, song có khác hơn một chút là hắn có cặp “mắt sắc như hai lưỡi dao” với cử chỉ và cách nói dứt khoát: “Này! Tiền trao cháo múc, đưa đây!”. Nhân vật này hiện ra với cách thức của một kẻ đao phủ chuyên nghiệp, lọc lõi chuyên buôn máu người chết. Hắn cũng chẳng nói nhiều và cũng biết chẳng cần nói nhiều nhưng đã nói thì lời của hắn phải là mệnh lệnh. Số nhân vật khác hiện dưới dạng các đám đông “tụm năm tụm ba” mà không thể biết số lượng là bao. Ngoài ra, còn “mấy người lính” được phân biệt không phải qua tên người hay khuôn mặt mà qua dấu hiệu quần áo có đính “miếng vải tròn màu trắng ở vạt áo trước và vạt áo sau”. Đây là loại nhân vật được định danh bằng kí hiệu qui ước, song cũng thuộc loại nhân vật đám đông. Tất cả họp thành một cái chợ đặc biệt. Kẻ bán, bán loại thuốc “đặc biệt”, còn người mua tuy ngại ngùng song không thể không mua. Cái vô giá của mặt hàng ấy không phải ở chất liệu bánh mì làm nên chiếc bánh bao mà ở chỗ nó được tẩm máu phạm nhân chết chém. Người phải chết đã chết rồi nhưng phần cơ thể của họ, hiện hình qua những giọt máu đỏ tươi còn rỏ dài theo bước chân của kẻ bán, tạo nên một nghịch cảnh trớ trêu, đầy nước mắt. Số lượng người đến mua không đếm được song không phải là ít ỏi dưới mức bình thường, càng cho thấy rõ hơn nỗi đau của đám dân chúng cuồng tín mê muội mà tác giả ngầm gửi gắm trong câu chuyện. Con đường mà lão Hoa đi bắt đầu từ nhà lão và kết thúc tại ngã ba đường, nơi có “ngôi nhà còn đóng cửa kín mít” mà lão đã đứng chờ để mua phương thuốc thần diệu, nơi những người “tụm năm tụm ba lúc nãy” “dồn lại một chỗ”, “xô nhào tới như nước thủy triều”, “quây lại thành một nửa vòng tròn”. Con đường đưa lão trở về hiển nhiên cũng chính là con đường ấy, song điều khác biệt là đám người “tụm năm tụm ba” kia, đám người “quây thành nửa vòng tròn” kia đã biến mất từ lúc nào và thay vào đó chỉ là tấm bia có “cái biển mục nát”, bốn chữ chỉ còn ba. Sức gợi của mạch văn ở đây là rất lớn mà nếu chỉ đọc bàng bạc lướt qua thì chắc hẳn sẽ bỏ rơi những giá trị nhận thức cần thiết không chỉ để hiểu câu chuyện mà còn để hiểu thời đại mà câu chuyện đề cập tới nữa. Đám người biến mất tăm mất dạng ở ngã ba đường, lão Hoa cũng chỉ đến ngã ba đường rồi quay lại. Ngã ba đường nơi người ta bán bánh bao tẩm máu người, nơi người ta tận dụng cái chết để tạo thành thuốc “đặc biệt”, nơi nuôi dưỡng niềm tin mù quáng và cuồng tín. Ngã ba đường là nơi người ta phải chọn lựa, song sự chọn lựa của lão Hoa chỉ là quay về nhà với niềm tin vào chiếc bánh tẩm máu người mang sức mạnh thần bí. Ngã ba đường này vừa thực lại vừa hư, một ngã ba đường với cái nhà bia tưởng niệm với cái biển đề mục nát. Ngã ba đường kiểu này thường gắn với hình tượng con đường vốn tiêu biểu cho tài năng và trí tuệ của Lỗ Tấn. Phần thừa đề diễn ra ngay trong ngôi nhà – quán trà ấy mà ta có thể tóm gọn nội dung bằng cụm từ dùng thuốc. Ánh sáng cũng không sáng hơn cho dù có “ngọn lửa đỏ sẫm bốc lên” từ trong gian bếp, tuy nhiên với ánh sáng ấy cũng đủ để nhận ra “trên đĩa có vật gì tròn tròn, đen thui” qua màu đen của vỏ chiếc bánh bao bị “cháy sém” và “làn hơi trắng” bốc ra từ chiếc bánh bị bẻ làm đôi, tiếp đó là ruột bánh bằng “bột mì trắng”. Hành động diễn ra ở đây không nhiều nhưng đều được thể hiện một cách rất cẩn trọng, đầy xác tín. Hình ảnh “thằng Thuyên đang ngồi ăn cơm ở cái bàn dãy phía trong, mồ hôi trán nhỏ từng giọt to tướng, chiếc áo kép dính vào sống lưng, hai xương vai gồ lên thành chữ “bát” in nổi” trong mở đầu đoạn II với cách thức “Thuyên nghe tim mình đập mạnh không sao cầm nổi, đưa tay vuốt ngực” khi kết thúc phần II, gợi ra cảm giác mong manh, vô nghĩa của phương thuốc “đặc biệt lắm” mà lão Hoa mua về. Ngoài màu đen của vỏ chiếc bánh bị cháy sém và màu trắng của làn hơi bốc lên từ chiếc bánh bị bẻ đôi mà làn hơi đó cũng mang lại cảm giác rợn người là màu chủ đạo, ở đây còn xuất hiện mùi vị qua sự cảm nhận của nhân vật Năm Gù: “Thơm ghê quá”, song đó là “mùi thơm quái lạ tràn ngập cả quán trà”, mùi thơm tỏa ra từ chiếc bánh bao tẩm máu người được bọc lá sen để nướng. Cái “mùi thơm quái lạ” này càng tăng thêm ấn tượng cho phương thuốc đặc biệt, vừa tạo ra niềm tin cho vợ chồng lão Hoa vừa đe dọa cảm thức tâm linh của họ. Số lượng nhân vật ở đây cũng chỉ có bốn song vợ chồng lão Hoa chủ quán cũng chỉ được giới thiệu qua các động tác, cử chỉ là chủ yếu, ngoại trừ hình ảnh “bà Hoa từ trong bếp chạy ra, giương to đôi mắt, đôi môi run run”. Còn thằng Thuyên đứa con còn lại của một gia đình “mười đời độc đinh” được giới thiệu kĩ hơn. Trước hết là hình dáng với “hai xương vai gồ lên thành chữ “bát” in nổi” cho thấy căn bệnh của nó đã vô phương cứu chữa và vì thế sự tuyệt vọng của gia đình càng tăng hơn. Rồi các động tác ăn bánh của nó, ngoan ngoãn hiền lành, bảo ăn thì ăn, bảo uống thì uống, bảo nằm thì nằm, không hề hé răng nửa lời bởi nó chẳng còn đủ sức mà nói mà phô nữa, tới mức mới vừa nuốt khỏi cổ nó cũng quên tuốt luôn “mùi vị” của cái bánh mà nó vừa nhai nuốt, bởi lẽ nó cũng đã mất đi cảm giác ngon miệng, bởi bệnh đã trầm trọng lắm rồi. Cách hành động của Thuyên được thể hiện rõ nhất lúc hắn cầm chiếc bánh: “Thuyên cầm lấy vật đen thui, nhìn một lúc, có cảm giác rất lạ không biết thế nào mà nói, như đang cầm tính mệnh của chính mình trong tay”. Cái “lạ” trở thành cảm giác chung được mọi nhân vật nhận biết nhưng cả cha mẹ lẫn đứa con đều không nói cho nhau nửa lời về chuyện đó. Cái “lạ” dường như chứa đựng một điều gì đó bí ẩn, khác thường, mà tuy nhận ra cái khác thường ấy, khác thường bởi đó là chiếc bánh bao tẩm máu người, song cả lão Hoa lẫn bà Hoa đều có cảm giác như là vật thiêng cứu mạng. Cách trả lời duy nhất của thằng Thuyên là “ho”, là những “cơn ho”. Cho nên khi thấy đứa con ăn có vẻ ngon lành thì hai ông bà cứ “trố mắt lên” như thể đang đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác hoặc giả cũng có thể quá đỗi lo sợ vì đứa con đang ăn nhanh để mà chết chứ không phải để kéo dài cuộc sống thì cả hai đều không thể nói ra lời nên đành phải “trố mắt” mà nhìn vậy. Hình ảnh “lão Hoa đứng một bên, bà Hoa đứng một bên”, còn ở giữa là đứa con tạo ra cảm giác như thể hai người đó đang đứng hai bên chiếc quan tài trong một đám tang. Cảnh tượng đó thật hãi hùng song có tính biểu tượng rất lớn và kèm theo đó là nỗi đau tuyệt vọng, vừa của người đang sống mòn mỏi vô vọng lẫn của cả người đang chết dần một cách tuyệt vọng. Tác giả khi miêu tả hai ông bà này cũng chỉ đặc tả trạng thái bất bình thường của họ qua đôi mắt mà cụm từ được sử dụng nhiều nhất là “trố mắt lên”, còn khi phải hành động thì luôn “run run”. Bà Hoa “run run” sợ chồng không mua được thuốc, lão Hoa “run run” khi đón nhận chiếc bánh bao tẩm máu người từ tên đao phủ. Hoàn cảnh mà cả hai bị đặt vào thật hết sức thương tâm. Nhân vật thứ tư xuất hiện trong phần này là nhân vật có tên: “cậu Năm Gù”- cái tên này trước hết là một số thứ tự tạo ra ấn tượng về kiểu nhân vật vô danh, kiểu nhân vật mang kí hiệu qui ước, kèm theo đặc điểm nhân dạng qua biểu hiện tật nguyền của con người đó: nhân vật bị “gù”. Xét về bản chất, đây là loại nhân vật vô công rồi nghề, thể hiện ở chỗ: “cậu ta ngày nào cũng lê la ở cái quán này, thường đến sớm nhất mà cũng về muộn hơn ai hết”. Cái mà cậu ta cảm nhận được là mùi vị bốc ra từ gian bếp. Cái mùi đối với vợ chồng lão Hoa là “quái lạ” thì lại được nhân vật cảm nhận thành mùi cơm rang: “Thơm ghê nhỉ!”. Sự tật nguyền của cơ thể chưa đủ, tác giả cho nhân vật này tật nguyền luôn cả khứu giác. Con người này, bao giờ cũng đến sớm nhất và ra về muộn nhất, tại nơi mà một con bệnh đang hấp hối khiến cho không gian ngôi nhà – quán trà trở thành không gian đầy tử khí, nơi đó sự sống đang dần bị mất đi, cái chết đang lấn tới, bởi cái chết không chỉ hiện diện trong ngôi nhà – quán trà đó mà còn cả cái chết được mua, mang từ ngoài về. Nhưng những con người đó không chỉ chết dần về mặt thể xác mà điều quan trọng hơn là họ đang chết cả về tâm hồn lẫn trí tuệ. Không gian ngôi nhà – quán trà ấy tiếp tục được mở ra trong phần III – phần luận đề hay chuyển đề của câu chuyện, với số lượng người có vẻ tấp nập hơn, ồn ào hơn nhưng cũng buồn bã hơn. Nội dung câu chuyện được bàn ở đây là công dụng của thứ thuốc “đặc biệt” và nguồn gốc của thứ thuốc ấy. Ánh sáng cũng không sáng hơn, chỉ đủ để phân biệt màu huyền trên chiếc áo và chiếc thắt lưng của nhân vật Cả Khang. Ngoài cậu Năm Gù vốn đã ngồi sẵn từ lâu ở đấy, xuất hiện thêm một người có “râu hoa râm”- nhân vật không có tên mà chỉ được định danh bằng đặc điểm cơ thể – sẽ đóng vai người khơi mở ra câu chuyện được bàn ở đây. Nhân vật Cả Khang với cái tên mang vẻ quyền uy kẻ cả trong làng, thể hiện luân lí tôn ti thứ bậc của văn hóa Trung Hoa, được mọi người trong quán “cung kính”, được miêu tả qua trang phục áo “không cài khuy”, “xộc xệch”, vào quán chẳng thèm chào hỏi đã nói “oang oang” như thể trấn áp những người khác, với lối nói dồn dập chứa nhiều câu hỏi, với giọng điệu kể công, ban ơn. Nhân vật này còn được miêu tả bằng một đặc điểm nhân dạng đặc biệt “người mặt thịt ngang phè”, khi nói thì “những thớ thịt trên mặt nổi từng cục”và cách nói cũng khác thường, kẻ cả: “cứ giương cổ nói oang oang”. Nhân vật này bốn lần “cam đoan thế nào cũng khỏi” và một lần khẳng định như đinh đóng cột “nhất định sẽ khỏi thôi mà”. Bởi theo lão thì sự hiệu nghiệm của phương thuốc nằm ở chỗ nó còn “nóng hôi hổi”, “lấy về còn nóng hôi hổi” và “ăn cũng còn nóng hôi hổi”, kèm theo đó là một sự so sánh thẳng thừng, không úp mở “bánh bao tẩm máu người như thế, lao gì mà ăn chẳng khỏi”. Bí mật của phương thuốc “đặc biệt lắm” đã xuất đầu lộ diện. Thằng Thuyên, người trực tiếp sử dụng thứ thuốc ấy, không nói không rằng, chỉ lấy tiếng ho để minh họa. Nó phải “ho lên” để “phụ họa”, nó phải “hai tay ôm lấy ngực, ho lấy ho để”, nó phải “thừa dịp ho cố mạng”. Còn động tác của nó thì “bước chậm rãi”, người thì “mồ hôi ướt đầm, trên đầu hơi bốc phừng phừng”. Đặt hai nhân vật này trong quan hệ đối sánh thì công dụng của thứ thuốc “đặc biệt” nổi bật lên mà tác giả cũng chẳng cần thêm lời bình luận. Đồng thời cũng khu biệt được kiểu người Cả Khang. Điều này càng được khắc họa rõ hơn bằng chính lời của hắn, khi trả lời câu hỏi của người “râu hoa râm”. Nhân vật người có “râu hoa râm”, là đại diện cho một tầng lớp xã hội đông đảo hiện diện trong Thuốc và được đặt đối sánh với “anh chàng trạc hai mươi tuổi” để từ đó làm nổi bật khả năng nhận thức cũng như để minh chứng cho sự u mê lầm lạc của lớp người như thế. Cùng loại với nhân vật “râu hoa râm” này trước hết là ông bà Hoa, là lão Nghĩa “đề lao” “mắt đỏ như mắt cá chép” và hiển nhiên là cả lão Cả Khang. Nhân vật “râu hoa râm” tuy có nhận ra vẻ bất thường trên nét mặt lão Hoa, nhưng cũng không phân định được là ông ta có ốm thật hay không, lại còn đưa ra câu bình tán có vẻ thức thời nhưng lại không đúng đối tượng: “đánh cái đồ ấy, thương hại cái gì?” cho dù có biết “người bị chém hôm nay là người họ Hạ”. Đây là kiểu nhân vật u u mê mê, muốn hiểu không được hiểu, muốn biết không được biết, kiểu người tự mình mò mẫm tìm đường đi. Bởi thế dù nhân vật có đi tới khẳng định: “Lão Nghĩa mà đáng thương hại à?” thì vế tiếp theo của lời phát ngôn ấy: “Điên! Hắn điên thật rồi!” lại càng nhấn mạnh thêm tính chất thức tỉnh qua việc “vỡ nhẽ” của con người này. Cho dù được gọi kèm theo đại từ “bác” qua cửa miệng của bà Hoa song Cả Khang là kiểu người cơ hội, vụ lợi, chuyên rình mò kiếm chác từ cái chết của người khác, coi thường mạng sống của người khác: “Cái thằng nhãi con ấy không muốn sống nữa, thế thôi. Lần này tớ chẳng nước mẹ gì. Đến cái áo nó cởi ra, cũng lão Nghĩa, cái lão đề lao, mắt đỏ như mắt cá chép ấy, lấy mất”. Cái chết của Hạ Du dưới con mắt của lão Cả Khang thì đấy là một dịp may hiếm có mà “may nhất có thể nói là ông Hoa nhà này, thứ đến cụ Ba. Cụ ta được thưởng hai mươi lạng bạc trắng xóa, một mình bỏ túi tất, chẳng mất cho ai một đồng kẽm!”. Ba lần Cả Khang nhấn mạnh với ông Hoa và với những người đang có mặt ở đấy: “may phúc cho nhà ông”, “phúc nhà ông”, “thằng Thuyên nhà ông may phúc thật” mà tất cả đều dồn tụ vào chỗ “đấy là nhờ tôi biết tin sớm”. Quả là một tay săn lùng xác chết để kiếm lời điển hình của xã hội u mê và phần thưởng mà hắn được hai ông bà chủ quán ngoài sự “cảm ơn hết lời” của bà Hoa, thì bà còn bỏ thêm vào chén trà của hắn “một quả trám” như là một cách báo đáp ơn nghĩa theo cách của những người nghèo khổ. Hắn tán thưởng cách kiếm tiền nhanh chóng của cụ Ba: “Cụ Ba đến là khôn! Giá cụ ta không đem thằng cháu ra thú thì cả nhà mất đầu hết. Nay thì được bao nhiêu là bạc!”. Trong cách tán thưởng ấy còn thấy rõ sự tiếc rẻ của hắn vì hắn chẳng có một cơ hội nào tương tự. Hắn gọi Hạ Du bằng những từ ngữ ngạo mạn, khinh rẻ: “thằng quỉ sứ”, “thằng nhãi con”, là “giặc”, coi những người dưới tuổi hắn “chẳng ra cái thá gì hết”. Một mình Cả Khang “nói oang oang” độc chiếm diễn đàn của cử tọa nơi quán trà ấy. Hắn vừa là người phân giải, vừa là kẻ phán quyết phải trái theo cách của hắn hiểu và suy nghĩ hành động theo đúng cách nghĩ, cách hiểu ấy, nghĩa là phải đem những người có quan điểm: “thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của chúng ta”, những người bênh vực cho lẽ phải, nộp cho chính quyền để lấy về, để được thưởng, chí ít là “hai mươi lạng bạc trắng xóa”. Hắn thu lời bằng cách bán cả lương tâm và tình nghĩa và chính là hậu duệ đích thực của cụ Ba mà hắn thường nhắc đi nhắc lại với một vẻ vừa đề cao vừa ganh tị bởi hắn cũng chẳng hề thua kém. Hai lần hắn nói “thật đáng thương hại” và hai lần “đáng thương hại” tương hợp với bốn lần “cam đoan thế nào cũng khỏi” của hắn, cho thấy kiểu người lầm lạc đang càng ngày càng chìm sâu vào trong mê muội cuồng tín, song càng ngày càng gây ra tác hại lớn cho xã hội bởi lẽ hắn là “kẻ cả trong làng”. Câu nói “Lần này tớ chẳng nước mẹ gì” và “Nay thì được bao nhiêu là bạc!”cho thấy bản chất đích thực của hắn. Nhân vật cậu Năm Gù xuất hiện ra ở đây như là kiểu người vừa có vẻ a dua vừa có nhận thức nhất định. Đây là kiểu người ngoại lệ vì tật nguyền, trở thành vô công rồi nghề, bất lực trước mọi việc ở đời nhưng cũng đủ khả năng để nhận biết mọi thứ mà trước hết là sự ốm yếu của ông Hoa là bởi đứa con bệnh tật, nhận biết “lão Nghĩa là tay võ nghệ rất cừ”, và khi nghe xong câu chuyện Cả Khang kể thì gật gù: “Điên thật rồi”. Cách xưng hô của tác giả ở đây cũng thể hiện một sự trân trọng đối với con người tật nguyền nhưng có óc suy nghĩ và hiểu biết này. Ông gọi nhân vật này bằng “cậu”. Nhân vật “trạc hai mươi tuổi” không có danh tính, cũng không có đặc điểm ngoại hình nhưng lại là biểu tượng cho một cách nghĩ khác, cho một thế hệ khác. Anh ta không đơn giản chỉ nghe câu chuyện về cái chết của Hạ Du một chiều. Anh ta chỉ tán thưởng con người mà Cả Khang coi là “nhãi con”, là “giặc” ấy khi được biết người tử tù ấy “nằm trong tù rồi mà còn dám rủ lão đề lao làm giặc”. Anh ta cũng “vỡ nhẽ” khi được biết kẻ “đáng thương hại” chính là lão Nghĩa và cũng đi tới khẳng định điều đó là:“Điên thật”. Vấn đề tại sao khi nhắc tới câu nói của người tử tù coi lão Nghĩa là người “đáng thương hại” thì cả người có “râu hoa râm” lẫn cậu Năm Gù và anh chàng “trẻ tuổi” này đều nói là “điên”? Lão Nghĩa tuy chỉ xuất hiện qua lời kể của Cả Khang song lại rất tiêu biểu cho loại người công cụ trong xã hội ấy. Loại người này là công cụ sát nhân của các thế lực thống trị, chẳng biết phải trái, lại càng không biết đến công lí là gì. Loại người công cụ ấy có tác hại rất lớn, lại càng không thể giác ngộ, cũng không thể tự thức tỉnh. Loại người chìm đắm trong mê muội cuồng tín, lầm đường lạc lối ấy quả là “đáng thương hại” thật. Nhưng hướng tới loại đối tượng ấy để giác ngộ tuyên truyền mà người tử tù đã làm là không ổn. Huống hồ, cái áo mà người tử tù cởi ra lão cũng nhanh chóng “lấy mất”. “Điên” ở đây đồng nghĩa với việc không đúng hướng, không đúng đối tượng, do đó, dẫn tới sự “vỡ nhẽ” của nhiều người. Đây cũng chính là sự thức tỉnh của người có “râu hoa râm”, của cậu Năm Gù và của anh chàng “trạc tuổi hai mươi”. Họ đã có những suy nghĩ khác về cái chết của Hạ Du, về cái chết của con người mà máu của người đó được biến thành thứ thuốc “đặc biệt” chữa bệnh lao trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ. Họ đã nghĩ tới cái “đặc biệt” nhưng bất thường của loại thuốc đó. Và tuy không ai nói ra hay bàn tới công dụng của thứ thuốc mà Cả Khang mách bảo cho ông bà Hoa song họ đều tỏ ra nghi ngờ công dụng của nó và cũng thể hiện sự xót xa về cái chết của Hạ Du. Ánh sáng lương tri đã được thắp lại và cho dù không gian ngôi nhà – quán trà không sáng thêm nhưng nhiều con người có mặt ở đó đã bắt đầu sáng tâm sáng dạ. Công dụng của thứ thuốc “đặc biệt” và cái chết của Hạ Du được nối với nhau liền mạch và tạo ra một sự chuyển hóa mới về tâm tư, về nhận thức. Câu chuyện được trao đổi ở phần III này do đó, đóng vai trò phần luận đề, bàn bạc, mở rộng các ý nghĩa khác nhau, tạo ra sự chuyển hóa trong tiếp nhận như trong kết cấu của một bài thơ cổ điển. Vợ chồng lão Hoa, và thằng Thuyên, đứa con bệnh tật, niềm mong mỏi cuối cùng của gia đình “mười đời độc đinh”, đóng vai trò làm nền cho câu chuyện diễn ra trong ngôi nhà – quán trà của họ. Đây là các nhân vật tĩnh, nếu không nói là bất động trong bức tranh ấy, cho dù họ có “đi đi lại lại”, “xách chiếc ấm đồng lớn” để “pha trà”. Âm thanh phát ra từ họ là tiếng ho của thằng Thuyên. Ho, được hiểu, ngoài việc là biểu hiện của trạng thái bệnh tật, còn là một kiểu phát ngôn không thành lời, thành câu thành chữ song có âm thanh mà ta có thể liên hệ với tiếng ho của bà Elmire trong vở kịch Tartuffe của Molière, nhưng lại có sức mạnh đặc biệt, một mặt vừa mỉa mai những lời “cam đoan nhất định khỏi” của lão Cả Khang, mặt khác vừa phủ nhận công năng của loại thuốc “đặc biệt” đó. Tiếng ho của thằng Thuyên và giọng nói “oang oang” của Cả Khang cứ đan xen lẫn nhau, tạo thành một hòa âm đau đớn, vang lên từ không gian ngột ngạt đầy tử khí đó. Câu chuyện chỉ diễn ra trong chưa đầy một ngày, bắt đầu từ thời điểm tờ mờ sáng và kết thúc sau đó vài giờ, song lại hàm chứa những tầng ý nghĩa sâu xa, buộc người đọc phải nghiền ngẫm nghĩ suy về thuốc ở đây là gì? Có phải chỉ là thuốc chữa bệnh thể xác đơn thuần hay là thuốc cần để chữa trị căn bệnh tinh thần, chữa trị vấn đề nhận thức mà không chỉ có những người có “râu hoa râm” cậu Năm Gù hay anh chàng “trạc hai mươi tuổi” kể cả Hạ Du nữa cũng đang cần đến? Phần IV đóng vai trò phần kết hay phần hợp của câu chuyện và được thay bằng một không gian khác: không gian nghĩa địa. Nhân vật chính của bức tranh này là hai bà mẹ. Họ đều có điểm chung là có con bị chết trẻ, họ cùng đến nghĩa địa để viếng con. Những người con của họ đều được chôn tại “miếng đất dọc chân thành phía Tây vốn là đất công”. Điều khác biệt là những đứa con ấy được chôn ở hai phía của nghĩa địa được ngăn cách bằng “con đường mòn, nhỏ hẹp, cong queo” do “những người hay đi tắt giẫm mãi mà thành”. Con đường tạo ra bởi thói quen, bởi thành kiến ngự trị lâu ngày, thói quen ăn sâu thành nếp nghĩ trong đầu óc mọi người, bởi thế con đường này không chỉ để đi mà con đường này còn là con đường của thành kiến, được tạo ra bằng sự u mê, dẫn tới sự đối xử không bình thường, thành sự ngăn cách tự nhiên, bất khả kháng của những con người trong xã hội ấy. Đứa con của bà Hoa được chôn ở “phía tay phải” nơi dành cho “những người nghèo”, còn đứa con của bà Hạ thì chôn ở phía tay trái, nơi dành cho “những người chết chém hoặc chết tù”. Con đường trở thành ranh giới ước định giữa “dân” và “giặc”. Điểm nổi bật lên từ nghĩa địa này là “cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ” mà từ đó toát lên ý nghĩa biểu trưng là các nhà giàu, tức tầng lớp thống trị trong xã hội Trung Hoa thời đó, tồn tại trên sự hi sinh xương máu của “dân” và của “giặc”, “dân” bị bóc lột, bị bần cùng hóa mà chết dần chết mòn trong đói khổ, còn nếu chống đối thì bị qui là “giặc” và tất yếu là phải chết. Cả hai loại chết đều cùng vì khổ đau, vì bị áp bức nhưng lại bị phân biệt đối xử rõ ràng qua hai nửa của nghĩa địa được ngăn cách bằng con đường của thành kiến mê muội ấy. Điều đó thể hiện qua hình ảnh “bà kia ngập ngừng không dám bước tới nữa, sắc mặt xanh xao bỗng đỏ lên vì xấu hổ”, bởi lẽ phần mộ của con bà nằm bên phía dành cho người “chết tù hoặc chết chém” tuy “nấm mộ” của con bà “với nấm mộ của thằng Thuyên nằm cùng một hàng, chỉ cách con đường mòn ở giữa”. Việc vượt qua ranh giới định kiến ấy mang một ý nghĩa biểu tượng quan trọng song để có điều ấy thì phải có một biến cố. Đó là vòng hoa trên mộ Hạ Du, “một vòng hoa, hoa hồng hoa trắng xen lẫn nhau, nằm khoanh trên nấm mộ khum khum”. Vòng hoa ấy đã làm cho bà Hạ “tay chân hơi run lên, rồi loạng choạng lùi lại mấy bước, mắt trợn trừng ngơ ngác” mà nhìn thấy sự việc đó bà Hoa “cầm lòng không đậu” đã “bước sang bên kia đường mòn”. Như vậy động lực thúc đẩy bà Hoa vượt qua con đường ranh giới giữa những ngôi mộ của người chết nghèo với những ngôi mộ của người chết chém chính là tình thương. Có thể bà Hoa không biết chiếc bánh bao mà con bà đã ăn với hi vọng khỏi bệnh song điều đó không thành, đã được tẩm bằng máu của chính Hạ Du, nhưng nếu bà có biết sự thật đó thì, trước hết, bà đau nỗi đau đồng cảm, nỗi đau của những bà mẹ mất con, cho nên bà “sợ bà kia thương con quá” mà “phát điên”. Và rồi cũng như bà Hạ, bà Hoa ngạc nhiên: “Cả hai bà, mắt mờ từ lâu rồi, nhưng nhìn những cánh hoa trắng hoa hồng kia thì còn thấy rõ”. Để so sánh, “bà Hoa vội nhìn về phía mộ con mình và những nấm mộ khác xung quanh, chỉ thấy vài nụ hoa không sợ lạnh, bé tí, trắng trắng, xanh xanh”. Sự so sánh đó đã khiến bà ngạc nhiên và sự ngạc nhiên đó lại càng được tăng lên qua phát ngôn của bà Hạ: “Hoa không có gốc, không phải dưới đất mọc lên! Ai đã đến đây? Trẻ con không thể đến chơi. Bà con họ hàng nhất định là không ai đến rồi!… Thế này là thế nào? Rõ ràng vòng hoa ấy không phải ngẫu nhiên mà là vòng hoa có chủ và được đặt vào mộ Hạ Du một cách có chủ ý. Song ai là chủ nhân của vòng hoa ấy thì cả hai bà đều không biết được và bà Hạ chỉ luôn nghĩ đến nỗi oan khuất của con mình. Nỗi oan mà chính bà con họ hàng của bà đã gây ra và càng không ai dám đến đó nữa để khỏi phải liên lụy. Bà cũng chưa nghĩ được xa hơn đến những đồng đội, đồng chí của Hạ Du, tới những người cùng chí hướng với Hạ Du. “Hoa không nhiều lắm, xếp thành vòng tròn tròn, không lấy gì làm đẹp, nhưng cũng chỉnh tề”, trở thành biểu tượng của sự thống nhất ý chí, của sự đoàn kết, của một niềm tin mới được khơi dậy. Khác với đám người “tụm năm tụm ba” tại ngã ba đường trên kia mà cũng chỉ xếp được nửa vòng tròn thì ở đây vòng tròn đã rõ nét, đã liền khối, và cho dù chưa tròn lắm song cũng đã định hình. Tất cả khơi gợi trong tâm trí bà Hạ một điều gì đó, một cảm thức nào đó khó tả. Câu hỏi: “Thế là thế nào nhỉ?” cứ trăn đi trở lại trong lòng bà Hạ, song nó đã có định hướng bằng một hình tượng đầy biểu trưng khác, đó là hình ảnh con quạ. Có thể bà Hoa cũng không biết tên bà Hạ cũng như bà Hạ không biết tên bà Hoa. Sự gặp gỡ của họ chỉ là ngẫu nhiên vì tiết thanh minh, theo truyền thống văn hóa Trung Hoa, ai cũng đi tảo mộ, thăm mộ. Nhưng tác giả đã cố ý xếp đặt để cho họ gặp nhau vào thời điểm hợp lí đó và vào tiết thanh minh mùa xuân, cho dù lúc ấy “trời vừa rạng” thì hơi ấm tình người của họ kết hợp với vòng hoa bất ngờ trên mộ Hạ Du cũng sưởi ấm cho họ, khơi dậy cho họ một niềm tin vào một cái gì đó mới mẻ mà họ cũng chưa biết được. Không gian ở đây cũng rộng lớn hơn và tuy vẫn phảng phất màu sắc ảm đạm vì là nghĩa trang nhưng điều khác biệt là không gian này đã có thêm chiều cao vươn tới, nó không còn bị giới hạn và ngột ngạt như không gian ngôi nhà – quán trọ. Tính chất ảm đạm, thê lương của không gian nghĩa trang cũng được giảm bớt khi sự sống mới bắt đầu trở lại, khi con người đã nhận ra được con đường tất yếu mà họ phải đi, khi tình người được nối lại, khi khối đoàn kết dân tộc thống nhất được tạo ra. Con quạ là một hình ảnh đặc biệt và có ý nghĩa biểu trưng trong phần kết truyện. Khi đang cố nhìn ngó xung quanh để xem ai đã đến đặt vòng hoa lên mộ con bà thì bà Hạ chỉ nhìn thấy “một con quạ đen đậu trên cành khô trụi lá”. Tiếng khóc của bà Hạ cất lên sau đó là lời kết án, theo luật nhân quả báo ứng trong tâm thức của những người dân bình thường: “chúng nó giết con thì rồi chúng nó sẽ bị báo ứng thôi”. Con quạ trong văn hóa Trung Hoa có một ý nghĩa khác với quan niệm dân gian của Việt Nam. Ở Việt Nam, con quạ là kẻ tham ăn, vì thế nó đã phải mang bộ lông màu đen suốt đời, là biểu tượng của điềm dữ, thường gắn liền với những bất hạnh của con người. Con quạ vốn là loài chim phổ biến ở các nước xứ lạnh. Trong văn hóa Trung Hoa cũng như trong văn hóa Nhật Bản, con quạ là biểu tượng của “đức hiếu thảo”(1), cho nên lời cầu khẩn của bà Hạ: “Nếu hồn con quả thật đang ở đây nghe lời mẹ nói thì con ứng vào con quạ kia, đến đậu vào nấm mộ con cho mẹ xem, con ơi!” cũng cho thấy quan niệm văn hóa đặc biệt đó. Cho dù “con quạ vẫn đậu trên cành khô trụi lá, rụt cổ lại, im lìm như đúc bằng sắt” thì trong cảm thức bà Hạ vẫn sống dậy một niềm tin. Ngoài ra, người Hán xem quạ như một dấu hiệu thần kì để tái lập trật tự xã hội, người Nhật xem quạ là biểu tượng của tình cảm gia đình. Đối với người Trung Hoa, quạ là con chim của mặt trời, là hiện thân của mặt trời, là “kim ô” mà câu chuyện Hậu Nghệ bắn mặt trời luôn được truyền tụng đã cho thấy điều đó. Số là thượng đế phái mười con quạ mang ánh sáng từ cây dâu của mặt trời đi khắp bốn phương tám hướng, nhưng chúng thường tụ tập với nhau một chỗ khiến cho mặt đất nứt nẻ, bốc cháy. Hậu Nghệ đã bắn chết chín con, chỉ còn một con sợ quá trốn biệt sau phải nhờ con gà cất tiếng gáy để gọi về. Hình ảnh hai bà già cùng đi về, bên nhau, có thể sóng đôi hoặc kẻ sau người trước, song đều cùng về, tạo ra sự tiếp nối mà ghép tên của hai bà, Hoa và Hạ, thì sẽ có ngay tên gọi của Trung Hoa hùng mạnh, thống nhất và thái bình cổ xưa: đất nước Hoa Hạ. Họ cùng bước trên một con đường chung, con đường đó không có ngã ba nào. Kết hợp hình ảnh hai người cùng đi ấy với hình ảnh con quạ cất lên một tiếng kêu “rất to”, rồi “xòe đôi cánh, nhún mình” và “vút bay thẳng về phía chân trời xa”, “như một mũi tên” và gắn với kiểu thức tư duy của Trung Hoa coi quạ là mặt trời thì con quạ bay lên đồng nghĩa với mặt trời đã mọc, là dấu hiệu của một trật tự xã hội mới đã xuất hiện, thì ta sẽ thấy rõ hơn niềm tin của Lỗ Tấn vào tương lai, vào sự thức tỉnh của những người dân vốn trước đây mê muội, đã từng sử dụng bánh bao tẩm máu người để làm thuốc. Họ đã thức tỉnh, họ đã biết cùng sát cánh bên nhau. Con đường ngăn cách hai loại người chết trong cùng một nghĩa địa không còn là ranh giới ngăn cách hai bà mẹ nữa. Ranh giới ấy đã bị xóa nhòa. Vòng hoa trên mộ Hạ Du trở thành vòng hoa biểu trưng cho sự chiến thắng, của tình người vốn bị cuồng tín, mê muội chia cắt nay đã lại nối liền thành một khối thống nhất. Một sức mạnh mới đã hình thành. Phần IV mang lại cho độc giả những kết luận quan trọng mà tác giả gửi gắm và gợi mở một tương lai, thắp sáng và thức tỉnh mọi người, bằng sự hợp nhất những con người vốn bị chia rẽ. Câu chuyện nhẹ nhàng, không có xung đột gay cấn, song với cách thức tổ chức theo hệ thống khai – thừa – luận – kết, khai – thừa – chuyển – hợp, đã tạo thành một cốt truyện hoàn chỉnh, chặt chẽ, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, vừa đẹp về mặt kết cấu, tổ chức nghệ thuật, vừa chuyển tải được một nội dung mang tính cách mạng cao. Câu chuyện được tái hiện trong hai không gian khác nhau, mỗi không gian đều có những nét riêng, độc đáo, đều nhằm nhấn mạnh một khía cạnh riêng của chủ đề. Câu chuyện diễn ra trong hai không gian đều có khung thời gian được kể là một buổi sáng, tạo ra một kiểu trùng lặp nhằm nhấn mạnh sự thay đổi về nhận thức của con người. Điều khác biệt là buổi sáng của không gian thứ nhất thuộc về mùa thu, mùa của sự tàn tạ, héo hon, của sự buồn bã chia li, còn buổi sáng của không gian thứ hai gắn với mùa xuân, mùa của sự sống trỗi dậy, mùa của sự sinh sôi nảy nở, cho dù trong không gian thứ hai có hình ảnh cành cây khô trụi lá, nhưng “những cây dương liễu” đã “đâm ra được những mầm non bằng nửa hạt gạo”. Sự chuyển đổi các không gian theo mùa, do đó, cũng tạo ra ý tưởng về sự phát triển đi lên, tạo ra niềm tin và khơi dậy niềm lạc quan tin tưởng, tạo ra ấn tượng về sự thay đổi cuộc đời mang tính chất chu kì “bĩ cực thái lai” của truyền thống tâm thức Trung Hoa. Vì thế Thuốc vẫn luôn là một trong những sáng tạo nghệ thuật tài ba của nhà văn Lỗ Tấn. Thứ thuốc mà quần chúng nghèo khổ Trung Hoa cần có đã được chỉ ra. Đấy cũng là thứ thuốc mà độc giả thu nhận được qua thông điệp nghệ thuật của nhà văn.
Phân tích những nét độc đáo trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
7,528
Phân tích những phẩm chất anh hùng của các thế hệ trong truyện ngắn Rừng xà nu Hướng dẫn Phân tích những phẩm chất anh hùng của các thế hệ trong truyện ngắn Rừng xà nu Nguyễn Trung Thành là bút danh của Nguyên Ngọc trong thời kỳ hoạt động ở miền Nam những năm chống Mỹ cúu nước. Là tác giả Đất nước đứng lên tác phẩm được giải nhất truyện ký 1954-1955, cuốn tiểu thuyết có giá trị về đề tài Tây Nguyền. Rừng xà nu được khai thác trực tiếp từ hiện thực đấu tranh cách mạng miền Nam trong thời kỳ đồng khởi và tiếp nối ở chặng đường phát triển sau của cách mạng. Tuy nhiên có nhân vật đã từng tham gia chiến đấu từ thời kỳ chống Pháp, như thế là các nhân vật trong Rừng xà nu được cấu tạo theo nhiều lớp, nhiều thế hệ. Các thế hệ này được biểu tượng bằng những thế hệ xà nu khác nhau trong rừng xà nu bạt ngàn tít tắp tận chân trời. Thế hệ già làng (tiêu biểu là cụ Mết); thế hệ thanh niên tiêu biểu là Tnú, Mai, Dít. Truyện còn hé mở cho người đọc thấy thế hệ thứ ba, thế hệ của những bé Heng để hoàn thiện bức tranh chiến tranh nhân dân, già trẻ “lớp cha trước lớp con sau…” mang đậm chất sử thi. Những nhân vật này đều mang trong mình phẩm chất anh hùng. Họ đều là những con người yêu dân, yêu nước bất khuất kiên trung, thủy chung với cách mạng thể hiện ở lòng yêu buôn làng, yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, quyết tâm đứng lên đánh giặc, kiên cường, bất khuất, dũng cảm tạo nên khí thế đồng khởi chống Mỹ. Điều đặc biệt tuy cùng mang phẩm chất anh hùng như trên nhưng mỗi người do tuổi tác, giới tính, cương vị khác nhau mà mỗi người có những cách biểu hiện khác nhau làm nên vẻ đẹp riêng, đặc điểm riêng thật đa dạng, sinh động và hấp dẫn. Qua hình ảnh cụ Mết đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp. Theo tác giả Nguyên Ngọc cho biết cụ cùng hoạt động một thời với anh hùng Núp và cả hai đều rất nổi tiếng ở hai vùng khác nhau của Tây Nguyên. Núp được phong tặng anh hùng. Cụ Mết, con người của hai thế hệ lại tiếp tục hướng dẫn chỉ huy con cháu tham gia vào cuộc đấu tranh chống bọn Mỹ Diệm. Cụ Mết, một già làng không mệt mỏi, luôn là người đứng đầu có tác phong trang trọng, đàng hoàng, có phong độ uy nghi đĩnh đạc và uy tín lớn trong dân làng. Cụ Mết trở thành người cha tinh thần, người truyền ngọn lửa khát vọng tự do, giải phóng và trở thành linh hồn của phong trào đồng khởi của dân làng Xô Man. Cụ Mết là một ông cụ khỏe mạnh quắc thước như bức tường đồng hun như “cây cổ thụ giữa buôn ngàn”, “ngực vổng cao như thân cây xà nu lực lưỡng”, tay rắn chắc như hai gọng kìm, tiếng nói trầm vang. Cụ chỉ huy dân làng xông vào giết sạch bọn ác ôn trong nhà Rông, đốt lên ngpn lửa đồng khởi rực sáng với chân lý thật giản dị mà sâu xa “nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo mác”. Cụ Mết còn là niềm tin, người tổ chức, tập hợp đoàn kết dân làng đánh giặc. Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích những phẩm chất anh hùng của các thế hệ trong truyện ngắn Rừng xà nu
599
Phân tích những phẩm chất phi thường của người anh hùng Quang Trung Nguyễn Huệ Hướng dẫn Những phẩm chất phi thường của người anh hùng Quang trung Nguyễn Huệ qua Hồi thứ 14 – Hoàng Lê nhất thống chí Mở bài: Có thể nói, Quang Trung Nguyễn Huệ là một nhà quân sự kiệt xuất. Không những thế, ông còn là một nhà ngoại giao tài ba, một nhà chính trị lỗi lạc bậc nhất từ xưa đến nay. Đọc hồi thứ 14- Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái chúng ta đều có ấn tượng sâu sắc trước hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ trong chiến công thần tốc đại phá 29 vạn quân Thanh vào mùa xuân năm Kỉ Dậu (1789). Các tác giả họ Ngô đã dành cho Quang Trung Nguyễn Huệ những trang viết đẹp đẽ hiếm có trong lịch sử. Thân bài: Hình ảnh người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ Trước khi miêu tả trực diện hình ảnh Nguyễn Huệ, tác giả đã gián tiếp nói về người anh hùng qua lời người cung nữ. Bọn tướng tá nhà Thanh vô cùng chủ quan, khinh địch khi sang nước ta. Chúng tiến quân chỉ lo cướp bóc, đình đám no say, tuyệt nhiên không phòng bị gì. Chúng nghĩ rằng nước ta nhỏ, muốn cướp nước ta dễ như đi vào chỗ không người. Chúng xem cuộc tiến quân lần này nhằm nhổ cỏ nước Nam. Vượt lên khỏi những đầu óc tăm tối và thiển cận ấy, người cung nhân đã đánh giá cao tài năng cầm quyền của anh hùng Nguyễn Huệ. Đó là phẩm chất “anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân” của Nguyễn Huệ. Lại khẳng định thêm, Nguyễn Huệ “ẩn hiện như quỷ thần”. Người đã từng “bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn”. Người anh hùng ấy “chỉ tay đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét”. Những nhận xét này của người cung nữ giống như những tin đồn trong nhân gian. Chỉ có điều, lời đồn này hoàn toàn chính xác. Tài năng quân sự của Nguyễn Huệ được thể hiện qua những trang văn hào hùng, mang tính sử thi hùng tráng. Bí quyết trong nghệ thuật cầm quân của Nguyễn Huệ được thể hiện rõ nhất trên hai phương diện. Đó là thần tốc và bất ngờ. Cho đến nay, người ta vẫn chưa hết ngạc nhiên vì sao Nguyễn Huệ lại có thể vượt qua quảng đường từ Phú Xuân đến Thăng Long một cách nhanh chóng thần kì đến như vậy. Đi đến đâu là diệt gọn quân địch tới đấy, không cho tên nào trốn thoát. Cũng không mảy may làm tổn hại gì đến nhân dân. Không hề lo chi đến việc bất trắc “nên khi nhìn thấy quân tây Sơn thì kinh ngạc”. Trước mắt chúng: “tướng ở trên trời xuống, quân ở dưới chui lên”. Quá bất ngờ chúng không còn khả năng chiến đấu dù quân số có rất đông. Mạnh thân ai nấy lo, chùng tìm cách thoát thân ra khỏi tình cảnh ngặt nghèo ấy. Trong chiến tranh, nắm được thế bất ngờ đã cầm chắc một nửa chiến thắng. Tướng quân họ Tôn vốn là người kiêu căng hợp hĩnh. Lại là người đã từng thao luyện trên chiến trường, chiến công cũng không ít. Chỉ vì tự phụ, khinh địch mà tự đưa mình vào tình thế nguy nan. Không những sự nghiệp sụp đổ mà còn gây họa đổ máu cho biết bao tướng sĩ. Đoàn quân chưa đánh đã bại ấy trên cuộc chạy trốn vô cùng thảm hại. Quân sĩ các doanh nghe tin, đều hoảng hồn, tác tác bỏ chạy. Chúng tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước. Đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy vào được nữa. Giọng văn miêu tả hả hê, sảng khoái vô cung. Chiến thắng của Quang Trung làm ta nhớ lại khi xưa Lê Lợi phá quân Minh. Kẻ thù thất thủ, nhận lãnh cái chết thê thảm, chuốc nhục đến ngàn năm sau: “Ninh Kiều máu cháy thành sông, tanh trôi vạn dặm, Tụy Đông thấy chất đầy nội, nhơ để ngàn năm”. Chiến trận đi qua, kẻ chết phơi thây, kẻ sống hoảng hồn tìm đường chạy trốn: “Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường, Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước ”. Một cảnh hoàng tàn chưa từng có khẳng định sự thất bại nhục nhã của kẻ thù cuồng bạo: “Suối Lãnh Châu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn nghào tiếng khóc Thành đan xá thây chất thành núi cỏ nội đầm đìa máu đen”. (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi) Tài năng lãnh đạo và cầm quân của Quang Trung Nguyễn Huệ: Quang Trung Nguyễn Huệ là một danh tướng trên chiến trường. Ông là người can đảm, tự tin, biết đánh giá TA và ĐỊCH một cách trung thực, khách quan và chính xác. Tự tin nhưng không khinh địch, không chủ quan và không kiêu ngạo Vua Quang Trung hiện ra trong “Hoàng Lê nhất thống chí” như là kết tinh của chính nghĩa và biểu tượng đẹp đẽ của truyền thống chống giặc ngoại xâm. Chính vị minh quân này, trước khi ra Bắc đại phá quân Thanh đã chỉ rõ: “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta. Người phương bắc không phải nòi nước ta, bụng ắt khác” Quang Trung – Nguyễn Huệ còn được thể hiện ở mưu lược tài tình. Đối với người tài, ông luôn biết trọng dụng. Đối với binh sĩ ông xử phạt công minh, thấu tình đạt lý. Cụ thể ở hai tướng Sở và Lân. Dù thất bại trở về mang gươm chịu tội nhưng Sở và Lân đã không bị xử phạt theo quân pháp. Chính Nguyễn Huệ là người đã nhìn thấu thời cuộc. Không xử nặng mà ngược lại, ông an ủi và ngợi khen họ đã biết lo xa. Thoái lui để làm cho kẻ định quen thói chủ quan kiêu ngạo. Ấy lại là kế hay. Trước hành động nhân nghĩa và tài trí ấy, Nguyễn Huệ đã được toàn quân kính phục. Muôn dân vì thế mà tin tưởng, ủng hộ nhiệt tình. Họ đã tấp nập đầu quân, cùng vị minh quân sáng suốt bảo vệ đất nước. Bởi thế chỉ trong mấy ngày quân Tây Sơn đã đông thêm hàng vạn. Nghĩa sĩ một lòng đoàn kết chiến đấu vì Tổ quốc. Quang Trung Nguyễn Huệ cũng là người trù tính kế hoạch một cách kĩ lưỡng. Ông có tài nhận định tình hình, biết nhìn xa trong rộng hết sức sâu sắc và chính xác. Khi đã tính toán xong xuôi, ông mạnh mẽ khẳng định: “Lần này ta ra thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn, chẳng qua mươi ngày, có thể đuổi được quân Thanh”. Có lẽ trong lịch sử từ xưa đến nay ít có ai lai dám định trước ngày chiến thắng như Quang Trung Nguyễn Huệ. Mà đó lại là chiến thắng trước một đội quân hùng hậu hơn mình hàng chục lần. Phải là một người có lòng tự tin phi thường thì Quang Trung mới khẳng định táo bạo đến vậy. Ông tin ở chính nghĩa, tin ở tướng sĩ. Ông tin ở chính bản thân mình mà liều thân đánh giặc cứu nước. Niềm tin của ông có sức lam tỏa mãnh liệt, khơi bừng niềm tin của các nghĩa sĩ hết lòng vì nước quên thân. Quang trung còn là một vị dũng tướng ngoan cường, lẫm liệt trong chiến trận. Đánh giặc và chiến thắng chúng, đó là mục đích của lần xuất quân này. Quang trung trực tiếp chỉ huy một cánh quân tiến công. Trong trận chiến người chỉ huy ấy luôn sông pha nơi hiểm yếu “cỡi voi đi đốc thúc quân lính”. Sau những trận chiến sinh tử, người dũng tướng ấy xuất hiện thật phi thường. Khuôn mặt đen sạm vì thuốc súng, áo bào bị rách vài chỗ. Tư thế uy nghi, khí phách lẫm liệt ấy khiến cho tướng sĩ càng thêm ngưỡng mộ và phấn khích. Tinh thần ấy đã được thể hiện rõ nét qua lời dụ hàng chân tình nhưng nghiêm khắc của ông đối với quân sĩ, quân lính. Nguyễn Huệ là chủ tướng biết khích lệ động viên họ trong quân sĩ. Với quân sĩ đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Vì thế nghĩa quân trên dưới một lòng quyết không phụ ân cao. Rõ ràng Nguyễn Huệ không những là nhà quân sư thiên tài. Không những thế, ông còn là nhà chính trị, nhà ngoại giao xuất chúng, có tầm nhìn xa rộng. Khi tiến đánh quân Thanh, ông cũng đã nghĩ đến mối quan hệ giữa nước ta và nhà Thanh. Ông trù tính trước mọi việc và nghĩ đến đối sách bang giao về sau. “Bị thua trận chúng ắt phải làm thẹn mà lo báo thù”. Điều khiến người anh hùng lo lắng nhất chính là việc binh đao không dứt, muôn dân phải sống khổ cực. Cách suy nghĩ thấu đáo, tính toán cẩn trọng, cái tâm trong sáng, chí khí cao vời của Nguyễn Huệ cho thấy người anh hung áo vải Tây Sơn hoàn toàn không phải là loại anh hùng thảo dã. Nguyễn Huệ thực sự là một thiên tài có lòng nhân nghĩa vĩ đại. Nhận định về Quang Trung Nguyễn Huệ, học giả Trần Trọng Kim viết: “Ông là ông vua anh dũng, lấy võ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học”. Kết bài: Quang Trung là hình ảnh sáng ngời, biểu tượng cho tinh thần và sức mạnh quật cường, cho ý chí độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh ấy mãi khắc ghi trong chúng ta niềm tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta và lòng biết ơn sâu sắc về người con ưu tú của cả dân tộc. Đóng vai người lính Tây Sơn kể lại cuộc hành quân thần tốc và những chiến công hiển hách của Quang Trung Nguyễn Huệ
Phân tích những phẩm chất phi thường của người anh hùng Quang Trung Nguyễn Huệ
1,739
Đề bài: Phân tích những từ ngữ, hình ảnh thể hiện cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh về những biến chuyển của trời đất lúc giao mùa trong bài Sang thu Bài làm Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là đẹp nhất của tự nhiên. Nó gieo vào lòng người những rung động nhịp nhàng khiến ta cũng như giao hoà, đồng điệu. Biết bao nhà thơ, nhà văn đã cảm nhận và ghi lại một cách rất tinh tế sự chuyển biến nhẹ nhàng mà rõ rệt đó. Khi chúng ta chưa hết ngờ ngàng bởi một Xuân Diệu bâng khuâng, tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì thì đã gặp một Hữu Thỉnh tinh tế, sâu sắc đến vô cùng. Bài Sang thu của thi sĩ Hữu Thỉnh là sự cảm nhận như thế. Bài thơ là sự chuyển động rất tinh tế của sự sống khi hạ dần qua và thu đang đến. Không như những nhà thơ khác cảm nhận mùa thu qua sắc vàng của hoa cúc, của lá ngô đồng hay qua tiếng lá khô xào xạc, Hữu Thỉnh đón nhận mùa thu bằng một hương vị đặc biệt – đó chính là hương ổi: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Giữa những âm thanh, màu sắc và hương vị đặc trưng của mùa thu đang lan toả, chỉ có hương ổi làm nhà thơ bất chợt xao lòng. Đó là một thứ hương vị không dễ dàng nhận ra. Bởi lẽ hương ổi không phải một hương thơm ngào ngạt, nồng nàn, mà nó thoảng đưa êm dịu trong gió đầu thu nhưng cũng đủ đánh thức xúc cảm trong lòng. Hữu Thỉnh gợi thật đúng, thật hay. Hương ổi không chỉ lan toả mà còn vận động rất mạnh trong không gian. Có lẽ đó là sức sống dạt dào mà mùa hạ muốn tặng cho mùa thu chăng? Màn sương thu hình như cũng muốn tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc đó mà chùng chình chưa muốn tan đi: Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Không gian có sự hoà hợp giữa hương ổi dịu dàng, gió thu nhẹ nhẹ và sương thu mơ màng tạo nên một ấn tượng đặc biệt mà ta khó lòng quên được. Chùng chinh là sự rung rinh, lay động của làn sương hay cũng chính là sự rung động trong tâm hồn nhà thơ Hữu Thỉnh? Có lẽ là cả hai. Vạn vật trong thời khắc chuyển mùa vì thế càng trở nên duyên dáng, nhịp nhàng. Cảm quan tinh tế của nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp rất riêng, rất duyên đó để rồi xao xuyến: Hình như thu đã về. Lời reo vui cũng thì thầm nhỏ nhẹ, bâng khuâng vang lên trong lòng Hữu Thỉnh như bước đi của mùa thu. Để dòng cảm xúc trôi theo thời gian, cảm nhận rõ hơn bước đi của sự sống, nhà thơ lại tiếp tục quan sát: Sông được lúc dềnh dàng Chim bat đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Nếu như khổ thơ thứ nhất, thu mới chỉ là sự đoán định (Hình như thu đã về) thì ở khổ thơ này nó đã trờ thành sự khẳng định. Đó là hình ảnh đám mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu. Mùa thu đã đến thật rồi! Thu không còn là sự mong đợi, đoán định. Thu hiển hiện trong cuộc sống, trên cỏ cây hoa lá và trong lòng người. Cũng như sương thu, dòng sông dường như cũng thong thả, chậm chạp hơn. Như hút vào lòng mình tất cả niềm sung sướng, thoả thuê của cuộc sống để dềnh lên những con nước mát lành. Mọi chuyển động có vẻ rất đều đều, rất nhẹ, riêng có cánh chim là vội vã cuống quýt. Sự vội vàng đó phải chăng cũng là sự vội vàng trong tâm hồn Hữu Thỉnh, muốn được mở rộng lòng mình đón nhận mọi rung động dù là nhỏ nhất? Điểm nhìn của nhà thơ như được nâng dần từ dòng sông, cánh chim đến bầu trời cao rộng: Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Lại một sự biến chuyển khác trong khoảnh khắc giao mùa khiến lòng ta rung động. Đó không phải là lớp lớp mây cao đùn núi bạc hay máy biếc về đâu bay gấp gấp mà lại là đám mây mùa hạ – vắt nửa mình sang thu. Có thể là một đám, hai đám hay nhiều hơn nữa nhưng có lẽ trong Sang thu mây không thể nào lớp lớp mây cao dược. Vì mùa thu mới bắt đầu chưa thể nhuốm đượm lên lớp lớp sự vật. Hình ảnh đám mây là một phát hiện rất mới lạ và độc đáo của Hữu Thỉnh. Bức tranh chuyển mùa vì thế càng trở nên sinh động, giàu sắc gợi cảm. Mỗi khổ thơ là một sự chuyển biến rất rõ của không gian. Bài thơ có tựa đề là Sang thu mà sao vẫn thấy phảng phất dấu hiệu mùa hè: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi. Dấu hiệu đó là nắng, mưa, sấm, nhưng đã là nắng, mưa, sấm cuối mùa. Ánh nắng chói chang ngày nào nay đã vơi dần cơn mưa trở nên mát mẻ, dễ chịu hơn nhiều. Hai câu thơ cuối cùng gợi cho ta nhiều suy nghĩ liên tưởng thú vị. Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi. Giọng thơ trầm hẳn xuống, câu thơ không đơn thuần chỉ là giọng kể, là sự cảm nhận mà còn là sự suy nghĩ chiêm nghiệm về đời người. Mùa thu của thiên nhiên hay mùa thu của mồi đời người? Nhìn cảnh vật biến chuyến khi thu mới bắt đầu, Hữu Thỉnh nghĩ đến cuộc đời khi đã đứng tuổi. Phải chăng mùa thu của đời người là sự khép lại những tháng ngày sôi nổi, với những bất thường của tuổi trẻ và mở ra một mùa mới, một không gian mới, yên tĩnh, trầm lắng hơn? Hai hình ảnh sấm và hàng cây đứng tuổi vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng cho thấy một Hữu Thỉnh rất đỗi tinh tế, nhạy bén trong cảm nhận và liên tưởng. Mùa thu thường không rạo rực, ấm áp như mùa xuân, không sôi động rộn ràng như mùa hạ, hay lạnh lẽo, thê lương như mùa đông. Thu đến rất nhẹ nhàng và đi rất lặng lẽ. Thu không đánh thức ta bằng những âm thanh vang động, màu sắc lộng lẫy, hương vị ngạt ngào mà reo vào lòng ta những thoáng xao động, mơ màng, gợi trong ta những suy nghĩ sâu xa về cuộc sống. Có lẽ vì thế mà thơ thu, trong đó có Sang thu của Hữu Thỉnh rất giàu ý nghĩa. Mùa thu và thi sĩ từ lâu đã có duyên nợ nhưng không phải thu nào cũng như nhau, ví như bài Sang thu vậy. Nhà thơ Hữu Thỉnh nắm bắt hồn thu ngay trong khoảnh khắc chuyển mùa. Đó là những chuyển biến rất tinh vi mà phải có một tâm hồn thật tinh tế mới cảm nhận được. Có thể ta chưa thấy được hết vẻ đẹp của mùa thu trong bài thơ và thấu hiểu những gì mà nhà thơ muốn nhắn gửi nhưng Sang thu đã cho ta thấy sự vận động của cuộc sống quanh ta mà bấy lâu nay ta không hề biết tới. Càng yêu thơ thu ta càng trân trọng và cảm phục tâm hồn thi sĩ của Hữu Thỉnh và biết yêu quý hơn cuộc sống này.
Phân tích những từ ngữ, hình ảnh thể hiện cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh về những biến chuyển của trời đất lúc giao mùa trong bài Sang thu
1,286
Phân tích những đặc sắc trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ Hướng dẫn làm bài Phân tích những đặc sắc trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ Bài thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn, mạch cảm xúc sôi nổi. Đây là đặc điểm tiêu biểu của bút pháp thơ lãng mạn và cũng chính là yếu tố cốt lõi chi phôi những yếu tố nghệ thuật khác của bài thơ. Lãng mạn là một trạng thái tâm hồn con người với đặc điểm nổi bật là giàu mộng tưởng, khát vọng và giàu cảm xúc. Tâm hồn lãng mạn ưa thích sự độc đáo, phi thường, ghét sự tầm thường, khuôn khổ, gò bó. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, những nhà thơ, nhà văn Việt Nam chán ghét thực tại cuộc sống xã hội đương thời, muốn thoát khỏi thực tại ấy bằng đời sống tâm hồn tràn đầy cảm xúc. Cảm xúc lãng mạn trong Nhớ rừng được nhà thơ thể hiện bằng cách mượn lời con hổ trong vườn bách thú. Bài thơ đã hướng về một thế giới mộng tưởng lớn lao, phi thường, tráng lệ bằng một cảm xúc mãnh liệt (cảnh đại ngàn hùng vĩ và hình ảnh chúa sơn lâm — khổ 2, 3 và 5). Thế giới này đối lập với thế giới thực tại (cảnh vườn bách thú: tầm thường và giả dối). Bài thơ diễn tả nỗi đau xót, uất ức của con hổ khi bị sa cơ, qua đó thể hiện nỗi chán ghét thực tại, sự khát khao tự do của chính tác giả. Bài thơ xây dựng thành công hình tượng con hổ bị nhôi trong vườn bách thú. Đây là hình tượng thể hiện thích hợp chủ đề bài thơ. Con hổ, chúa sơn lâm oai hùng bị giam trong cũi sắt là biểu tượng về người anh hùng khi sa cơ mang niềm u uất. Vườn bách thú là biểu tượng của thực tại tầm thường và giả dối. Cảnh núi rừng với vẻ đẹp tráng lệ của núi rừng, thiên nhiên rực rỡ huy hoàng là biểu tượng của thế giới tự do. Những hình ảnh biểu tượng trong bài thơ thích hợp cho việc thể hiện tâm sự của nhà thơ. Nghệ thuật đối lập, tương phản: cảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt (đoạn 1 và đoạn 4) và cảnh núi rừng hùng vĩ nơi con hổ ngự trị những ngày xưa (đoạn 2 và đoạn 3). Với việc thể hiện thành công hai cảnh tượng đối lập, bài thơ thể hiện thành công tâm sự của con hổ: chán ghét thực tại, khao khát tự do. Hình ảnh thơ giàu chất tạo hình: những hình ảnh khắc họa vẻ đẹp vừa oai phong lẫm liệt vừa uy nghi, dũng mạnh, vừa mềm mại, uyển chuyển của con hổ; những hình ảnh thể hiện cảnh sơn lâm hùng vĩ,… toát lên một vẻ đẹp tráng lệ, phi thường. Ngôn ngữ và nhạc điệu phong phú: tác giả sử dụng nhiều từ ngữ gây ấn tượng mạnh: oai linh, dữ dội, mắt thần khi đã quắc, uống ảnh trăng tan, chiều lènh láng máu,… Bài thơ tràn đầy nhạc tính, âm điệu dồi dào, cách ngắt nhịp linh hoạt (ngắn, dài khác nhau). Giọng diệu khi hào hùng, sôi nổi mà đĩnh đạc: Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa… Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi; khi than thở, nuối tiếc, xót xa; khi uất ức, bực dọc, khi say sưa, tha thiết, hùng tráng. Giọng điệu đó phù hợp với tâm trạng con hổ từ đỉnh cao huy hoàng của sự hồi tưởng quá khứ, sực tỉnh nhận thức về cảnh ngộ tù túng của hiện tại.
Phân tích những đặc sắc trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ
625
Đề bài: Phân tích nét tính cách tiêu biểu của nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu Bài làm Những năm tháng đánh Mĩ của con người Tây Nguyên đã khơi nguồn cho cảm hứng và những sáng tác thành công về vùng đất cao nguyên mang sức sống mãnh liệt này. Nguyễn Trung Thành với truyện ngắn Rừng xà nu là một trong số đó. Rừng xà nu chính là biểu tượng cho dân làng Xô man bất tử. Trong Rừng xà nu Xô man ấy ta bắt gặp một cây xà nu sống mãnh liệt hơn bất cứ cây xà nu nào khác – cây xà nu Tnú. Tnú – người con yêu, niềm tự hào của dân làng, gắn bó với cách mạng, dũng cảm tuyệt vời, căm thù giặc sâu sắc và cũng yêu bản lang như cơ thể mình. Phân tích nét tính cách tiêu biểu của nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu Trước hết Tnú rất gắn bó với cách mạng. Được cụ Mết, một già làng tiêu biểu cho những con người đấu tranh bất khuất của dân làng Xô-man chỉ bảo rằng “cán bộ là Đảng, Đảng còn núi nước này còn”, nên ngay từ lúc nhỏ, Tnú tham gia việc nuôi giấu cán bộ và hoàn thành xuất sắc công tác giao liên. Nhiều đêm Tnú phải ngủ lại trong rừng vì sợ lỡ giặc lùng ai dẫn cán bộ chạy. Tnú luôn nghe lời chỉ dạy của cán bộ. Được anh Quyết dạy chữ, Tnú khắc phục khó khăn, cố gắng học tập. Không có bảng, không có phấn, Tnú lấy nứa làm bảng và để ba ngày đường tới núi Ngọc Linh mang về một xà lét đầy đá trắng làm phấn. Khi Tnú tỏ ra chán nản vì mình tối dạ, học không nhớ được thì một lời động viên của anh Quyết “không học chữ làm sao làm được cán bộ giỏi”, đã truyền thêm sức mạnh tinh thần, giúp Tnú cố gắng hơn. Tnú vô cùng gan dạ, dũng cảm. Ngay từ ngày làm giao liên, Tnú không bao giờ chịu đi đường món, cứ xé rừng mà đi, lọt tất cả các vòng vây, qua sông Tnú không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang. Khi bị giặc bắt, Tnú can đảm chịu những đòn tra tấn, để sau khi vượt ngục, vẫn tiếp tục cùng cụ Mết lãnh đạo dân làng Xô-man mài giáo, mài rựa chống lại kẻ thù. Khi bản làng bị càn quét, vợ con Tnú bị giặc hành hạ giết chết một cách dã man, nhất là khi anh bị thằng Dục tẩm nhựa xà nu để đốt mười ngón tay thành mười ngọn đuốc. Tnú càng thấm thìa nỗi đau thương và căm thù, dần đần nhận thức sâu sắc về kẻ thù và quyết tâm hành động. Anh ra đi “lực lượng”, quyết tiêu diệt cho hết kẻ thù tàn ác, bởi lẽ “chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục cả. Ngoài ra, Tnú còn là người giàu tình cảm thương yêu. Anh tha thiết yêu bản làng. Sinh ra và lớn lên giữa núi rừng tây Nguyên hùng vĩ, giữa những con người mộc mạc, thuần hậu, Tnú thấy gắn bó thân thiết với cảnh và người của quê hương mình. Ba năm đi chiến đấu xa bản làng, khi trở về, Tnú vô cùng xúc động. Anh nhớ rõ từng hàng cây, con đường, từng dòng suối mát. Anh đau đớn khi gặp lại một thân cây to chắn ngang đường, nơi mà ngày xưa, Mai đã thổ lộ tình cảm yêu mến ngay khi anh mới ở tù về. Anh cũng bồi hồi khi nghe tiếng chày giã gạo của dân làng, tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà, và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xưa mà suốt đời anh vẫn nhớ. Anh yêu thương vợ con tha thiết. Chính vì yêu thương rất nhiều nên anh căm thù sâu sắc bọn giặc đã dùng cây sắt đánh chết vợ con anh. Anh cũng yêu thương mọi người. Làng Xô-man đã dành cho anh một tình cảm đặc biệt nồng hậu, thân thiết. Những cặp mắt tròn xoe, rồi những tiếng ré lên và những tiếng reo của mọi người đã thể hiện nỗi vui mừng đón Tnú về làng. Bắt nguồn từ tình yêu vợ con, dân làng sâu thẳm trong lòng, từ riêng chung, Tnú đã biến nó thành lòng yêu nước, căm thù giặc, dũng cảm đối với kẻ thù. Tnú chính là hình tượng tiêu biểu của những con người cao nguyên mang sức sống mãnh liệt và tình yêu nồng nàn.
Phân tích nét tính cách tiêu biểu của nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu
793
Phân tích nét tương đồng về giọng thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương Hướng dẫn Phân tích nét tương đồng về giọng thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương Bài làm Trần Tế Xương ( hay Tú Xương) và Nguyễn Khuyến là hai nhà thơ thuộc hai thời đại khác nhau, có những sự khác nhau rất nhiều về cuộc sống, công danh, Nguyễn Khyến là một đại quan trong triều đình nhà Nguyễn, mà Tú Xương thì lại là một người vô cùng lận đận về đường công danh. Tuy nhiên, họ là những nhà thơ có cùng cách nhìn, cùng tư tưởng, cùng sự đánh giá về cuộc sống và xã hội. Họ đều sử dụng những lời thơ sắc bén của mình để đả kích bản chất tàn ác, nham hiểm của thực dân, cũng như sự suy yếu, bất lực, nhu nhược của triều đại phong kiến đương thời, cũng như bày tỏ sự đau xót trước sự suy tàn của Nho học. Tư tưởng của họ, tấm lòng của họ, sẽ còn sống mãi, như những vần thơ của họ trong lòng người đọc hôm nay và mãi về sau. Điểm chung đầu tiên của họ là sự đau xót trước cảnh đất nước suy tàn, thực dân tàn ác khiến nhân dân lầm than, văn hóa phương Tây khiến cho nền Nho học nước nhà ngày càng lụi tàn. Nguyễn Khuyến đã làm quan hơn mười năm trong triều đình nhà Nguyễn, ông hiểu rất rõ tình hình triều chính cũng như tình hình đất nước khi đó. Chính quyền nhà Nguyễn khi ấy chỉ còn là một chính quyền tay sai, bù nhìn, chịu sự điều khiển của thực dân Pháp, tiếp tay giúp cho chúng đàn áp nhân dân, tàn phá đất nước mình. Nho học vốn thâm sâu. Nguyễn Khuyến mượn lời của người hát chèo để nói lên thực trạng khiến ông đau xót: Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề” ( Lời vợ người hát chèo) Cùng với thực trạng nước mất nhà tan, đó là sự suy tàn của Nho học, của những giá trị đạo đức. Xã hội bấy giờ thành một đống hổ lốn, không có tôn ti trật tự. Đồng tiền là thứ chi phối con người ta, khiến bao con người bán rẻ lương tâm, cũng như đẩy biết bao con người vào bước đường cùng. Con người ta dường như không quan tâm đến nỗi nhục mất nước, chỉ biết đến cái lợi mà lũ thực dân hứa hẹn mang lại, họ vui vẻ tham gia những trò chơi mà thực dân tổ chức. “Cậy sức cây đu nhiều chị nhún, Tham tiền cột mỡ lắm anh leo Khen ai khéo vẽ cho vui thế Vui thế bao nhiêu nhục mấy nhiêu!” ( Hội Tây) Tiếng cười sâu cay, lời đả kích nhẹ nhàng nhưng thấm thía, với mong muốn thức tỉnh những con người đang đắm chìm trong những thứ hão huyền mà bán rẻ lương tâm, bán rẻ những thứ giá trị đạo đức của toàn xã hội. Chán ngán trước xã hội đương thời, ông đồ Tam Nguyên Yên Đổ cũng tự lấy bản thân mình ra làm thứ “mua vui” “Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang, Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng. Cờ đương dở cuộc không còn nước, Bạc chửa thầu canh đã chạy làng. Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm mồi chén mãi tít cung thang. Nghĩ mình lại gớm cho mình nhị Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!”(Tự trào) Một cuộc đời công danh dở dang vì thời cuộc, một đất nước không còn nơi để những người yêu nước như nhà thơ thể hiện, tất cả đã khiến cho ông trở nên chán ngán. Ông nhận ra rằng dù có đỗ bao nhiêu khoa thi, có làm đến bao nhiêu chức quan, có tài giỏi đến mấy, mà tình trạng đất nước như hiện nay, thì cũng chỉ có thể bất lực xuôi tay, có trăn trở suy nghĩ thì cũng chỉ có thể trơ mắt nhìn. “Nhà kia lỗi đạo con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.” Mọi thứ đạo lí trong xã hội bị đảo lộn, con cái không còn kính trọng cha mẹ, người vợ không còn là người tam tòng tứ đức như xưa nữa. Cũng có những tiếng chửi bật ra trong giận dữ: “Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu, Trăm nghìn vạn mớ để vào đậu. Phen này ắt hẳn gà ăn bạc, Đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu. Lẳng lặng, mà nghe nó chúc sang, Đứa thời bán tước đứa mua quan, Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chùi vừa rao cũng đắt hàng. ( Năm mới chúc nhau) Cũng ở đây, Tú Xương đã nói lên cái thực trạng mua quan bán chức. Cũng phải thôi, trong cái thời đại mà đồng tiền là một thứ vạn năng, thì con người ta ai cũng muốn có một chức quan để vụ lợi cho bản thân mình. Bản thân Tú Xương là một người tài, vậy mà vô cùng lận đận trong việc thi cử, tám lần thi mà chẳng lần nào có thể vẻ vang. Vậy mà có những thứ công tử bột, chẳng biết gì ngoài chơi bời, nhưng nhờ tiền bạc của cha mẹ mà cũng có thể thi đỗ, được làm quan” Tú tài con Đô Mĩ Thi thế mà cũng thi, Ối khỉ ơi là khỉ!” Về vấn đề này, Nguyễn Khuyến cũng không thể kìm được tiếng chê bai của mình trong bài thơ Tiến sĩ giầy: “Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai, Cũng gọi ông nghè có kém ai. Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi. Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ, Cái giá khoa danh ấy mới hời. Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ, Tưởng rằng đồ thật hoá đồ chơi!” Chỉ là thứ đồ chơi, thứ vụ lợi cho riêng mình, chứ làm quan đâu có phải vì muốn đem tài ra giúp nước. Trước tình trạng đất nước rối ren, mọi giá trị trong xã hội bị đảo lộn, hai nhà thơ dùng những bài thơ của mình, để bày tỏ nỗi đau xót trước hoàn cảnh khó khăn của đất nước, đồng thời cũng là tiếng phê phán, châm biếm lũ thực dân và tay sai tàn ác, khiến cho nhân dân ta phải chịu biết bao lầm than, đau khổ. Những bài thơ cũng là tiếng lòng của những nhà Nho yêu nước, rất muốn giúp đất nước, giúp nhân dân nhưng cũng đành bất lực. Tư tưởng lớn của họ, nhân cách cao đẹp của họ sẽ còn được ghi nhớ mãi trong lòng thế hệ chúng ta và cả mai sau.
Phân tích nét tương đồng về giọng thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
1,101
Đề bài: Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong Chiếc thuyền ngoài xa Đề bài Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp”. Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu. Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong Chiếc thuyền ngoài xa Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành tráng của mảnh đất chiến trường xưa A So từng ghi dấu bao chiến công, cũng không phải là những con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử. Nhân vật Phùng trở về với mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ là phóng viên ảnh trở về ghi lại những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc sống lao động khoẻ khoắn tươi rói của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của màn sương buổi sáng bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh (!). Thế nhưng, những gì anh chứng kiến đã khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật gắn với cuộc sống của những người dân chài lam lũ: “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”. Từ cuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn khiến con người phải ngỡ ngàng. Một câu chuyện đơn giản nhưng đã chứa đựng những phát hiện mới mẻ hàm chứa quan niệm văn chương hướng về con người của Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nghĩ suy một cách xuôi chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng cách mạng sẽ đổi đời cho số phận người lao động, sẽ xoá tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ cho chúng ta: cách mạng không phải giải quyết bi kịch trong một sớm một chiều, con người vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, dung hoà với nó. Cách lý giải về con người của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứa những suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua những khổ đau để đối diện với hiện thực bao thách thức. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống, ngỡ như anh đã phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng người xem về cái đẹp có thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.”. Và những người dân vùng biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống lao động đầm ấm khoẻ khoắn, những con người gặp gỡ thật đáng yêu…Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của chiếc – thuyền – ngoài – xa. Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng quật thẳng tay vào người vợ không thương xót. Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình. Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”. Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quí tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đàng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh. Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản: người đàn ông kia dù cục súc nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần trong bữa ăn trên chiếcthuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả. Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến.Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái nhìn đa diện về số phận con người. Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không đi theo con đường mòn đó. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu. Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người vhà cuộc đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi). Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời. Bức thông điệp trong tác phẩm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía: “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương- Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu). Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia? Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”.Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người.
Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong Chiếc thuyền ngoài xa
2,238
Phân tích nét đặc sắc trong cảm nhận về thời gian và tuổi trẻ của Xuân Diệu Hướng dẫn Nét đặc sắc trong cảm nhận về thời gian và tuổi trẻ của Xuân Diệu Thời gian tuyến tính – thời gian trôi một đi không trở lại. Quan niệm của Xuân Diệu trong bài thơ khác với quan niệm thời gian của người xưa: thời gian lặp lại theo vòng tuần hoàn. Thời gian chỉ có một chiều, trôi là mất, không trở lại: Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Thời gian của đời người cũng thế: Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Tuổi xuân trôi qua không trở lại: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại! Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi, Thời gian gắn liền với màu sắc của vạn vật. Thời gian ấy chỉ có hai trạng thái: tươi đẹp và tàn phai. Quan niệm ấy cũng khác quan niệm thời gian ba thì: quá khứ, hiện tại và tương lai). Bước đi của thời gian nhanh hơn: Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Qua sự cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu, người đọc thấy được lòng yêu đời, yêu cuộc sống thiết tha của nhà thơ. Xuân Diệu luôn chạy đua với thời gian để tận hưởng niềm hạnh phúc, để sống có ý nghĩa: Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật. Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại! Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời; Tăng nhịp điệu sống, nhà thơ gọi là “vội vàng” và hối hả hối thúc mình: Tăng nhịp điệu sống để mỗi giây phút trôi qua đều được tận hưởng niềm hạnh phúc và sống có ý nghĩa: Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều; Bài thơ Vội vàng thể hiện một quan niệm thẩm mĩ mới của Xuân Diệu: Con người mới chính là chuẩn mực của cái đẹp, là kiểu mẫu của muôn loài. Quan niệm ấy hoàn toàn khác với quan niệm xưa, lấy thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp. Nhà thơ đã lấy vẻ đẹp của con người để miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên: Và đây ánh sáng chớp hàng mi Hay: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần Trong một bài thơ khác, ông có viết: Lá liễu dài như một nét mi. Quan niệm ấy khác với thơ xưa lấy thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp con người, vốn là nghệ thuật cốt lõi trong thơ cổ điển. Khi miêu tả vẻ đẹp Thúy Vân, Nguyễn Du viết: Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang (khuôn mặt rạng ngời đầy đặn như vầng trang sáng, hàng chân mày nở nang như bướm tằm) Thiên nhiên mới là cái đẹp chuẩn mực, cái đẹp của con người dựa trên điều chuẩn mực ấy mà so sánh. Xuân Diệu cũng có quan niệm nhân sinh hết sức mới mẻ. Ông cho rằng hạnh phúc đích thực ở giữa trần gian, ở ngay trong hiện tại. Khác với quan niệm xưa: đời là bể khổ, hạnh phúc ở kiếp sau, ở tương lai huyễn ảo, sinh kí tử quy. Hạnh phúc của con người là sống cao độ mỗi giây phút của tuổi xuân. Giữ vai trò thượng đế của thiên đường trên mặt đất là con người với tuổi trẻ, tình yêu. Cách nhìn mùa xuân như thiếu nữ tràn đấy sức sống: Của ong bướm này đây tuần tháng mật, Này đây hoa của đồng nội xanh rì, Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si, Và này đây ánh sáng chớp hàng mi. Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Hay lối sống cuồng nhiệt, say mê đến tột đỉnh: Sống toàn tâm, sống toàn trí, sống toàn hồn Sống toàn thân và thức nhọn giác quan Ý nghĩa nhân sinh trong quan niệm sống của Xuân Diệu cũng hết sức tích cực. Ông có ý thức về cái tôi cá nhân mãnh liệt. Vũ trụ tuần hoàn, còn tuổi xuân đã qua đi thì không trở lại. Ông sống là tận hưởng nhưng đồng thời phải tận hiến. Mỗi giây phút của cuộc đời trôi đi phải sống có ý nghĩa. Điều ấy cũng khác quan niệm sống thực dụng: chỉ biết đến cá nhân, ích kỉ, chỉ chạy theo sự thụ hưởng, nhất là thụ hưởng về vật chất). Nghệ thuật biểu hiện đặc sắc: Bài thơ Vội vàng thể hiện toàn bộ quan niệm của Xuân Diệu về cuộc đời và cách sống có ý nghĩa. Cấu tứ bài thơ chặt chẽ, kết hợp cảm xúc tự nhiên với luận lí. Ông lí lẽ vì sao phải “vội vàng” (phần đầu bài thơ). Tiếp đến giải thích “vội vàng” phải như thế nào (phần cuối bài thơ). Thủ pháp trùng điệp tạo nên sự mạnh mẽ, sôi nổi, cuốn hút được thể hiện qua cách điệp kiểu câu tài tình. Đoạn mở đầu: Điệp kiểu câu mở đầu “Tôi muốn … Cho…”, “Này đây… của…” Đoạn cuối: Điệp kiểu câu mở đầu “Ta muốn…” Điệp từ, điệp ngữ: “này đây” (đoạn đầu) “ta muốn”, “cho” (đoạn cuối). Sáng tạo hình ảnh cảm nhận bằng xúc giác (Những câu thơ: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”). Những đoạn thơ tiêu biểu: Đoạn mở đầu thể hiện quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ: từ “Tôi muốn tắt nắng đi” đến “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” Đoạn nói về sự cảm nhận thời gian và tuổi trẻ: từ “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua” đến “Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt” Đoạn cuối thể hiện quan niệm nhân sinh với niềm khát khao tận hưởng niềm hạnh phúc và sống có ý nghĩa: từ “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm” đến “Hời xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”
Phân tích nét đặc sắc trong cảm nhận về thời gian và tuổi trẻ của Xuân Diệu
1,030
Đề bài: Phân tích nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong hai bài thơ Qua đèo Ngang và Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan Bài làm Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ nổi tiếng trong thời kỳ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Bà sáng tác thơ rất ít nhưng hầu hết những tác phẩm của bà đều có giá trị to lớn. Đặc biệt qua hai bài thơ Qua đèo Ngang và Chiều hôm nhớ nhà, bà đã bộc lộ tài năng độc đáo của mình: sâu lắng, hoài cổ, buồn nhớ trong nỗi niềm tâm sự cùng với nghệ thuật đặc sắc "tức cảnh sinh tình" thật trang nhã, đầy hình tượng. Trước hết, điểm nổi bật trong thơ Bà Huyện Thanh Quan là nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình" với ngôn ngữ thật quý phái mà đượm buồn. Ở cả hai bài thơ, ta đều bắt gặp một quang cảnh buồn, hoang vắng, cô tịch. Đó là cảnh buổi hoàng hôn tím sẫm, cái khoảng không gian và thời gian buồn, gợi nhớ nhất trong một ngày. Cảnh đèo Ngang bóng xế tà tịch mịch, rồi cảnh trời bảng lảng bóng hoàng hôn. Nếu chứng kiến cảnh hoàng hôn ấy, có lẽ ai cũng có tâm trạng buồn, cảm nhận cái buồn chứ không riêng gì với nhà thơ nữ nhạy cảm như Bà Huyện Thanh Quan. Ở đây, sự vật lại quá vắng vẻ, hoang lạnh, cô đơn. Nếu ở Đèo Ngang, tác giả chỉ thấy: Cỏ cây chen đá, lá chen hoa thì ở cái buổi chiều hôm nhớ nhà ấy cũng vẫn hoang vắng đến lạnh lùng: Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Đó là âm thanh duy nhất gợi cho ta cảm giác rõ rệt về âm thanh. Ta nghe thấy tiếng ốc nhưng nó lại quá xa xôi: xa đưa, lúc nhặt lúc khoan nghe càng buồn tẻ. Cái âm thanh đó chỉ làm sâu thêm nỗi lạnh lẽo của bà Huyện. Ở cả hai bài thơ, ta cùng bà Huyện chỉ thấy, chỉ nghe được cái quang cảnh buồn vắng ấy, cái âm thanh mơ hồ ấy, gợi một nỗi u hoài mênh mang. Cả hai bài thơ đều có hình ảnh con người nhưng chỉ thoáng bóng thôi, và quang cảnh chỉ có thế. Đó là những người dân lao động nghèo, vất vả làm ăn, sinh hoạt của họ thật tẻ nhạt, thiếu sinh động: Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà (Qua đèo ngang) Và: Gác mái ngư ông về viễn phố Gò sững mục tử lại cô thôn (Chiều hôm nhớ nhà) Bà Huyện đã sử dụng biện pháp đảo ngữ ở mức cao nhất nhằm làm nổi bật bóng dáng con người trong cảnh, nhưng cảnh vẫn buồn, vẫn cô tịch, vẫn đìu hiu. Bởi vì buổi hoàng hôn là lúc mọi hoạt động của con người đã lắng xuống, không còn sôi động như mọi thời điểm khác. Vả lại, ở đây vắng vẻ quá, chỉ có tiều vài chú, chợ mấy nhà; ngư ông lại ở mãi tận "phố xa"… Vì thế Bà Huyện Thanh Quan không thể vui vẻ, không thể hững hờ trước cảnh được. Mà vì "tức cảnh" bà đã bộc lộ nỗi niềm mãnh liệt nhất và sâu kín nhất trong tâm hồn bà. Nhưng nỗi niềm tâm sự đó là gì? Đó là nỗi u hoài, nỗi nhớ sâu lắng ẩn trong tâm hồn bà. Bà nhớ về thời xa xưa, thời kỳ vàng son của chế độ phong kiến, thời kỳ mà bà cho là tốt đẹp. Bà luôn hoài cổ để chối bỏ thực tại và bày tỏ sự chán ghét thực tại. Đó là nỗi nhớ nước, nhớ nhà bà luôn giấu kín trong lòng. Trước cảnh vật quá phù hợp với tâm trạng mình, bà bộc lộ: Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỗi miệng cái gia gia (Qua đèo Ngang) Bước qua đèo Ngang, vào buổi chiều tịch mịch, bà nghe được tiếng chim quốc kêu và cảm nhận nó ứng với tâm trạng mình. Tâm trạng của người mất nước, luôn níu giữ những hoài niệm xưa? Tiếng cuốc kêu như cũng ứng với tiếng gọi tha thiết, mãnh liệt nhất trong tâm tư tình cảm của bà, tiếng gọi gửi về đất nước? Còn tiếng gia gia như gợi nhớ niềm thương gửi về cố hương xa xôi. Nhất là trước cảnh chiều tả gợi nhớ này. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn (Chiều hôm nhớ nhà) Chiều xế bóng, mặt trời sắp từ giã trời xanh, ngay cả những chú chim cũng mỏi cánh, bay về tổ, những người đi đường vội vã về nhà. Chí có Bà Huyện Thanh Quan nhớ lắm, thương lắm, muốn gặp lại cố hương nhưng đành bất lực, bởi vì: Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn (Chiều hôm nhớ nhà) Bà xa cách với quê hương quá, cũng như xa cách với thời đại ngày xưa. Thế nên khi dừng chân lại ngắm cảnh đèo Ngang, bà đã thổ lộ: Một mảnh tình riêng ta với ta Mảnh tình riêng đó chỉ riêng bà và cảnh biết thôi. Bà và cảnh tuy hai mà một bởi vì có chung một tâm trạng. Trước cảnh, bà bộc lộ được niềm tâm sự của mình, một tâm sự hoài cổ, đầy nuối tiếc, muốn níu giữ những kỷ niệm xa xưa. Chính nét đặc sắc đó về nội dung cũng như nghệ thuật "tức cảnh sinh tình" trong thơ bà đã nâng bà vượt lên, có một phong cách riêng, không thể lẫn vào đâu được với những Hồ Xuân Hương đầy trần tục mà rất Việt Nam, Nguyễn Du mang tư tưởng định mệnh… Tóm lại bà có một phong cách thơ rất đặc biệt. Qua hai tác phẩm Qua đèo Ngang và Chiều hôm nhớ nhà Bà Huyện Thanh Quan đã khẳng định tài hoa thơ phú của mình. Hai bài thơ chứa một niềm tâm sự hoài cổ, nuối tiếc thời xưa được thể hiện qua nghệ thuật miêu tả cảnh để bộc lộ tình của tác giả. Cả hai mặt nội dung và nghệ thuật hoà quyện vào nhau thật nhuần nhuyễn, điêu luyện, mang một sắc thái riêng biệt, đặc sắc. Điều đó đã giải thích vì sao tuy chỉ có một số ít tác phẩm để lại, bà vẫn được xếp vào hàng ngũ những nữ thi sĩ tài hoa nhất thời đại phong kiến, và cho đến nay, thơ bà vẫn lắng đọng mãi trong lòng người đọc.
Phân tích nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong hai bài thơ Qua đèo Ngang và Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan
1,104
Đề bài: Phân tích nét đặc sắc về tầm khái quát nghệ thuật đồng hiện trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình Bài làm Nhà văn Nguyễn Thi tên thật là Nguyễn Hoàng Ca, người Nam Hà. Ông vào Nam từ năm 1945, gia nhập quân đội và viết văn dưới bút danh Nguyễn Ngọc Tấn. Tập kết ra Bắc năm 1954, năm 1962 ông trở lại miền Nam lần thứ hai, viết văn dưới bút danh Nguyễn Thi. Năm 1968, ông hi sinh tại Sài Gòn trong lúc ngòi bút còn đầy sung sức và nhiệt huyết. Là nhà văn chiến sĩ, Nguyễn Thi có nhiều đóng góp cho nền văn học cách mạng. Một trong những đóng góp đáng kể của ông về nghệ thuật là sự thể hiện thành công nghệ thuật đồng hiện ở truyện Những đứa con trong gia đình (1966). Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Theo nghĩa đen “đồng hiện” là “cùng thể hiện”. Trong truyện, đây chỉ là một thủ pháp nghệ thuật quen thuộc về kết cấu tác phẩm, một yếu tố thuộc về hình thức. Như ta đã biết, kết cấu là việc tổ. chức, sắp xếp các yếu tố nội dung trong văn bản tác phẩm để nó đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất. Thủ pháp đồng hiện góp một vai trò quan trọng trong công việc này. Nó là một trong những thủ pháp tạo ra được lối kết cấu độc đáo. Từ đó, cốt truyện, nhân vật, chủ đề được thể hiện, gây hiệu quả nghệ thuật tác động đến độc giả… Nét dộc đáo của nghệ thuật đồng hiện là cùng một lúc các sự kiện, các tình tiết, các nhân vật (hay các nét tính cách của nhân vật.) được thể hiện trong một thời gian, một không gian hay trong một mảnh thời gian và không gian khác nhau. Trong truyện Những đứa con trong gia đình nghệ thuật đồng hiện được thể hiện khá tinh tế. Dựa trên kết cấu lấv dòng suy tưởng làm nền. Nguyền Thi đồng thể hiện các sự kiện trong một thời điểm, các nhân vật (và các nét tính cách của nó) trong cả hai manh thời gian hiện tại và quá khứ đan xen nhau rất có hiệu quả. Trước hết xin nói về cách đồng hiện các sự kiện trong một thời điểm ở truyện Những đứa con trong gia đình. Sau cuộc giao tranh ác liệt giữa đơn vị của Việt và một chiến đoàn Mĩ, Việt bị thương nặng, ngất đi. Việt tinh dậy, trận địa vắng tanh, “trừ tiếng máy bay”. Chiến trường vẫn còn nguyên vẹn với những chiếc xe tăng, xe bọc thép cháy, những vỏ đạn tanh máu, xác lính Mĩ bốc mùi… “Việt cho mũi lê đi trước”, “Lên đạn”… sẵn sàng “phụ với các anh”, trận đánh được miêu tả hình như chưa kết thúc. Thời điểm để nhà văn chọn miêu tả thời gian trước và sau trận đánh hình như là thời điểm ở giữa thời gian này? Mặt khác, những chi tiết truyện, theo phân tích trên, không phải là đã kết thúc, cũng không phải là đang xảy ra. Nó là sự kiện đang xảy ra. đã xảy ra và được nhìn trong cái đã kết thúc, sắp kết thúc. Nói cho dễ hiểu hơn, người ta thay được trận đánh đã và sẽ xảy ra như thế nào ở một thời điểm ở trong đó. Nhìn vào những gì xảy ra ở thời điểm đó, người ta thấy tất cả. Bây giờ thì Việt đã ở quân y viện. Anh có thời gian trị vết thương, đồng thời cũng có cá thời gian để mà ôn lại, nhớ lại. Thành ra anh có thể thấy được cả mảng đời trong hiện tại của mình và có thế nhớ lại cả mảng đời của gia đình mình trong quá khứ. Anh như lần về quá khứ từ gần đến xa lắc. Thông qua dòng độc thoại diễn ra trong Việt ở các thời điểm nằm ở quân y viện kia bao nhiêu sự kiện vui buổn, bao nhiều số phận con người trong chiến tranh như cùng về một lúc. Lần lượt nhưng không theo một trình tự nào, Những đứa con trong gia đình giàu truyền thông cách mạng của anh được tái hiện ở những nét tính cách chung và riêng rẽ như họ đang ở trước mặt. Nhân vật trung tâm là Việt. Dù ở thời gian, không gian nào, nhân vật cũng được khắc họa song song hai nét tính cách cơ bản: chiến sĩ – trẻ thơ. Ở quân y viện “Hai mắt còn băng kín mít” dấu tích của người lính dũng cảm. Việt “với cây viết chì… mò mò viết thử". Anh không dám nhờ người khác viết thư cho chị. Anh sợ cái tiếng “cậu tư”. Sợ mất “chị ba” quyết chiến. Anh “giấu chị như giấu của riêng vậy”. Thật là ngây thơ! Cái ngây thơ đáng yêu của một anh lính trẻ, dũng cảm thật đấy mà cũng khờ khạo thật đấy trước cuộc đời. Ngay cả chuyện đùa vui của anh em theo lối tếu táo của lính anh cũng tưởng là chuyện thật! Trên chiến trường ngổn ngang xác giặc, Việt ngất đi rồi tỉnh lại nhiều lần dù đã kiệt sức, người lính trẻ ấy vẫn sẵn sàng chiến đấu tiếp nếu kẻ thù xuất hiện. Thế mà khi nghe “ếch nhái kêu dậy lên”, Việt bỗng trở thành chú bé con có “hai cái đòn soi, lóp ngóp đi” soi ếch cùng chị. “Chiến và Việt ai cũng giành phần nhiều là của mình ", em cũng không chịu nhường ai đi trước, chú Năm phải đứng ra “xịn trên cứ ghi tên cho cả hai”… Qua một vài điều đã nói trên, ta thấy thủ pháp nghệ thuật để thực hiện nghệ thuật đồng hiện trong khi khắc họa nhân vật Việt, chủ yếu dựa trên cơ sở của phép liên tường, phép bắc cầu từ sự kiện này sang sự kiện khác; từ chi tiết, nhân vật này sang chi tiết nhân vật kia… Trong sự liên kết đó, dòng hồi tưởng của nhân vật vẫn là sợi dây nối quan trọng nhất. Từ chi tiết anh em trong quân y viện gọi anh là “cậu tư”. Việt chợt nhớ tới chị Chiến, nhớ tới tiểu đội trưởng Tánh. Anh muốn viết thư cho chị nhưng khó có thể viết được vì hai mắt vẫn còn bị bâng kín. Thế là Việt nhớ lại lần chị bị trúng bom, nhớ lại trận đánh của chính mình. Việt nhớ lại trong trận đánh, anh đã ngất đi; tỉnh lại, bỗng nghe thấy tiếng ếch và cùng lúc đó, tuổi thơ, những ngày xa xưa uất hận cùng ùa về trong trí nhớ… Các tình tiết truyện diễn ra rất tự nhiên. Thủ pháp nghệ thuật này ta đã gặp ờ truyện: Đôi mắt của Nam Cao. Ớ đó, câu chuyện cũng diễn ra theo dòng hồi tưởng cùa nhân vật Độ. Khác chăng là Nam Cao để Độ xưng “tôi” và tự kể. Còn ở đây, Nguyễn Thi trực tiếp miêu tả diễn biến tâm trạng Việt. Ông vừa miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật vừa để cho tâm trạng ấy nói lên câu chuyện mình muốn kể. Có lẽ đây cũng là một lối kể chuyện độc đáo, sáng tạo. Vẫn bằng cách trên, theo dòng độc thoại của nhân vật Việt, tác giá lần lượt cho xuất hiện và đồng hiện các nhân vật Chiến, chú Năm, ba má Việt, Tánh. Cũng như Việt, Chiến tòng quân và chiến đấu trong một tiểu đội bộ đội nữ địa phương. Chị đã chiến đấu dũng cám. coi cái chết cũng chỉ như “chết giấc", 'như ta đang ngủ vậy". Chiến chỉ khác Việt ớ chỗ, là người chị cả trong gia đình nên sớm trường thành. Chị theo mẹ nuôi và dạy dỗ em, lo toan tính toán tất cả mọi việc trong nhà. Là người chị cả của gia đình, Chiến dứt khoát không nhường em là việc ghi tên để tòng quân. Nhớ và nghĩ về người chị, trong tâm tưởng của Việt như cố dừng lại ở những kỉ niệm đẹp. khó quên. Chu Năm cũng chỉ là một nhàn vật thoáng qua trong dòng tâm tướng, gợi lên từ một tiếng ếch trên chiến địa đã im tiếng súng.. Mỗi lần Việt và Chiến soi ếch về, chú đều “kiếm con trọng trọng đêm về nhậu”. Có hai đoạn văn đẹp như thơ là đoạn chú Nãm “nhậu vào ba hột là chú nói tới", hay “hò lên mấy câu”. Câu hò khiến chú xúc động “đôi mắt mở to, đọng nước. Đoạn văn khác kể về cuốn sổ gia đình chú ghi, giấu để sau này “giao… cho chị em bây”. Cuốn sổ lần về quá khứ. lẫn trong hiện tại, không theo năm tháng. Đó là chứng tích lịch sử được khơi dậv lại, chéo lại bởi cái nhìn, cái cảm, cái yêu, cái ghét cùa một tính cách Nam Bộ trọng nghĩa, bộc trực, sôi nổi, yêu đời. Ba và má Việt hiện về trong Việt như những kỉ niệm về lòng yêu thương và căm thù. Tình yêu của ba má, con đường của ba và tội ác cùa giặc khiến chị em Việt không thể không lên đường cứu nước. Những đoạn văn này Nguyền Thi như đồng cảm với nhân vật và viết nên bằng nước mắt. Đọc, thấy xúc động cùng nhân vật; đau nỗi đau cùng nhân vật… Hai nét chính yếu cùa Nghệ Thuật đồng hiện trong Những đứa con trong gia đình mà ta vừa phân tích trên, có nhiều tác dụng đối với truyện. Chính nó làm cho câu chuvện thảm khốc và hào hùng, đậm đà tình người… tưởng như chập chờn, dứt nối, rời rạc., liền lại trong mạch ngầm tâm tưởng khá chặt chẽ. Chặt, chẽ nhưng vẫn giữ được cái vẻ bề bộn của tầng tầng lớp lớp chi tiết trong cuộc sống thường vả trong chiến trận hồi chiến tranh. Các mảng sự kiện, những đoạn đời trong quá khứ và hiện tại như được cố tình đan chéo vào nhau, bổ sung cho nhau một cách hợp lí, làm cho tính cách nhân vật được khắc họa rõ nét và chủ đề truyện được bộc lộ khá nổi bật. Lối kết câu đặc biệt này buộc tác già phải đi đến tận cùng trong việc phân tích và diễn đạt diễn biến phức tạp nhưng tinh tế của tâm lí nhân vật. Nó cũng đòi hòi nhà văn phải nhập thân như người trong cuộc, am hiếu và đồng cảm với nhân vật. Tất cả những điều này, Nguyễn Thi đều vượt qua và thể hiện rất thành công. Nghệ thuật đồng hiện trong Những đứa con trong gia đình có tầm khái quát bởi những thủ pháp chính của lối kết cấu này hầu hết đã được Nguyễn Thi thể hiện thành công trong truyện. Thực ra lối kết cấu này không mới. Cái mới ớ đây là nó được thực hiện khá toàn diện và đạt được những đỉnh cao. Những đỉnh cao này ghi dấu những đóng góp quý báu của Nguyễn Thi trong nền vãn xuôi hiện đại Việt Nam, đặc biệt là bộ phận văn học viết về đề tài chiến tranh và cách mạng.
Phân tích nét đặc sắc về tầm khái quát nghệ thuật đồng hiện trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình
1,927
Phân tích nỗi cô đơn buồn tủi của người chinh phụ qua 8 câu thơ đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Hướng dẫn Nỗi cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm khúc – Đặng Trần Côn) Mở bài Chinh phụ ngâm là một trong những đỉnh cao của văn học Việt Nam thế kỉ XVIII do Đặng Trần Côn sáng tác bằng chữ Hán, Đoàn Thị Điểm diễn Nôm. Vào nửa đầu thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến đi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Các tập đoàn phong kiến phân tranh quyền lực, xâu xé lẫn nhau. Khắp nơi diễn ra giao tranh, khói lửa không ngừng khiến cho dân tình rơi vào cảnh khốn khổ cùng cực. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Cảm thương nỗi thống khổ của con người, Đặng Trần Côn rơi lẹ viết Chinh phụ ngâm khúc. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, tiêu biểu là tám câu thơ đầu thể hiện rõ nét tâm trạng cô đơn và khát khao đồng cảm của người chinh phụ trong thời gian chồng đi đánh trận, không rõ ngày trở về: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương. Thân bài Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Người chinh phụ đi đi lại lại ngoài hiên vắng “thầm gieo từng bước”. Nàng hết dạo ngoài hiên vắng rồi lại vào phòng, cuốn rèm lên rồi lại buông rèm xuống không biết bao nhiêu lần “rủ thác đòi phen”. Những hành động của người chinh phụ chứng tỏ nàng không tự chủ được bản thân vì nỗi sầu triền miên, da diết, không biết san sẻ cùng ai, chỉ một mình một biết một mình mình hay và cũng cho thấy người chinh phụ như đang chờ đợi một tin tốt lành từ người chồng nơi phương xa. Qua đó, ta cảm nhận được tâm trạng cô đơn, vò võ của người chinh phụ. Nàng càng mong ngóng tin tức của chồng mình bao nhiêu thì lại thất vọng bấy nhiêu vì “thước chẳng mách tin”. Trong đêm tối phong không gối chiếc, người chinh phụ khát khao một sự đồng cảm, sẻ chia nên đã tìm đến vật vô tri, vô giác. Nàng bày tỏ nỗi ưu tư với ngọn đèn nhưng rồi cũng vô ích. Cuối cùng, thấy mình và ngọn đèn có cùng cảnh ngộ, đó là nỗi cô đơn, buồn tủi hắt hiu: Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Trong im lặng dằng dặc, dưới ánh đèn thăm thẳm, người chinh phụ trẻ chỉ còn thầm lặng chuyện trò với ngọn đèn, với cái bóng của chính mình, làm cho cảnh làm thêm trống vắng, mênh mông, con người đơn chiếc, thiếu vắng hạnh phúc.Cả vũ trụ lặng im, lạnh lùng mặc nhiên cho nỗi buồn diễn biến. Lấy hình ảnh ngọn đèn diễn tả nỗi buồn không thấu của người phụ nữ trong đêm buồn vắng vốn rất quen thuộc. Ca dao có bài Chiếc khăn cugnx nhắc đến hình ảnh ấy, nỗi buồn ấy: Đèn thương nhớ ai Mà đèn không tắt Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên. Người thiếu phụ trong Chuyện người con gái Nam Xương cũng đã từng nhiều đêm vò võ bên ngọn đèn dầu ôm con chờ chồng. Ngọn đèn như là chứng nhân của nỗi sầu bất tận của lòng người. Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích cũng từng đêm thương nhớ bên ngọn đèn: Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. (Kiều ở lầu Ngưng Bích, Truyện Kiều – Nguyễn Du) Ngọn đèn và ánh trăng ấy, ánh sáng của niềm tin giờ đây lại cắt cứa vào trong lòng, gây ra những vết thương khủng khiếp đối với người chinh phụ. Càng chờ đợi, càng thấy bặt tăm. Càng nhơ nhung lại càng thêm đau khổ: Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương. Tám câu thơ đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là bức tranh tâm trạng sống động với các cung bậc cảm xúc của người chinh phụ: vừa cô đơn, vừa khát khao được đồng cảm, sẻ chia, được sống trong hạnh phúc lứa đôi. Kết bài Chinh phụ ngâm là tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân đạo và giá trị nhân văn cao cả. Tác phẩm là tiếng nói khao khát hạnh phúc, khao khát hòa bình của dân tộc trong thời đại nhất định. Chinh phụ ngâm góp phần vào cuộc đấu tranh cho quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người, đấu tranh chống lại chiến tranh phi nghĩa. Tám câu thơ đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đánh thức nỗi niềm cảm thương của con người trước nghịch cảnh đáng thương của người chinh phụ.
Phân tích nỗi cô đơn buồn tủi của người chinh phụ qua 8 câu thơ đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
896
Phân tích nỗi lòng của Tế Xương trong bài thơ Thương vợ Hướng dẫn Phân tích nỗi lòng của Tế Xương trong bài thơ Thương vợ “Thương vợ” – một trong những bài thơ chất chứa nồng nàn bao cảm xúc của một người chồng dành cho vợ mình giữa cuộc đời bao vất vả, lo toan. Người chồng ấy không phải ai khác mà chính là tác giả của bài thơ: Trần Tế Xương. Ông đã dành cho vợ mình những tình cảm rất chân thành qua lời thơ giản dị mà sâu sắc. Trần Tế Xương là một trong những nhà thơ trẻ với những tác phẩm đã trở thành bất tử. Sáng tác của ông gồm hai mảng: trào phúng và trữ tình, đều bắt nguồn từ tâm huyết của nhà thơ với dân, với nước, với đời. Thơ xưa viết về người vợ đã ít, mà viết về người vợ khi đang còn sống lại càng hiếm hoi hơn. Thơ Trần Tế Xương lại khác. Trong sáng tác của ông, có hẳn một đề tài về bà Tú gồm cả thơ, văn tế, câu đối. Bà Tú từng chịu nhiều vất vả gian truân trong cuộc đời, nhưng bà lại có niềm hạnh phúc là ngay lúc còn sống đã được đi vào thơ ông Tú với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng. “Thương vợ” là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú. Trong những câu thơ đầu, ông miêu tả rất chân thực về cuộc sống và gánh vác nặng nhọc của vợ mình: “Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông.” Nghề của bà là buôn bán, quanh năm ngày tháng lặn lội ở “mom sông” – nơi có nhiều hiểm nguy rình rập. Ông Tú ngày đêm bận bịu với đèn sách, với thơ ca, vậy mà vẫn để tâm đến công việc của vợ mình, khác hẳn với những người đàn ông khác trong chế độ nam quyền cùng thời. Ông là người có tri thức, lại thấu hiểu sự đời. Vì thế, ông hiểu hơn ai hết những nỗi vất lo toàn mà vợ mình đang gánh. Ông đã dành cho vợ những lời thơ rất giản dị với hình ảnh và từ ngữ chân thành, giàu cảm xúc. Ông hiểu rằng, vợ mình vất vả như vậy là vì phải “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Đủ là đủ ăn đủ mặc, đủ ấm, đủ không thiếu thứ gì. Ông tự đặt mình cân xứng với “năm con” để khắc họa thêm trọng trách lớn lao mà bà Tú đang đảm đương. Không phải ông hạ mình trước vợ, càng không phải ông thấp hèn, kém cỏi mà vì cái nghiệp văn chương của ông lúc bấy giờ không phải là thời thịnh nên không thể dựa vào đó mà lo toan cuộc mưu sinh cơm áo gạo tiền được. Trong lời thơ của ông còn thầm có sự biết ơn, trân trọng sâu sắc đến người vợ đảm đang, tảo tần, giàu hi sinh. Bởi thế, ông mới hiểu những ngày bà “lặn lội”, “eo sèo” trong cuộc bán buôn, bon chen đầy vất vả, ganh đua. Có người đặt ra câu hỏi, tại sao ông hiểu vợ mình vất vả như vậy mà lại không đứng lên làm giúp bà? Những vần thơ của ông có mang lại cơm áo gạo tiền cho bà đỡ vất vả? Ông hiểu biết, ông có tri thức sao lại để vợ mình phải vất vả vậy? Câu hỏi trái ngang thật khó trả lời. Bởi trong thời thế ấy, ông không thể bỏ cây bút mà lao vào làm lụng chân tay cùng bà được. Mình bà gánh vác cả năm con đã là một gánh nặng lắm rồi, lại thêm cả một ông chồng. Liệu rằng người phụ nữ ấy có gục ngã, có kêu than? “Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không.” Một lần nữa, Tế Xương dành cho vợ mình những lời thơ rất đáng trân trọng, nâng niu. Ông cảm mến và cảm thông với nỗi niềm vất vả của vợ, ông thấu hiểu sự cam chịu của bà. Càng biết ơn vợ bao nhiêu, ông lại càng oán than bản thân mình bấy nhiêu. Ông tự chửi mình “Có chồng hờ hững cũng như không”. Ông không làm được gì giúp bà ngoài tình thương yêu và lòng thương cảm sâu sắc. Có lẽ đối với bà Tú như vậy cũng đã là đủ lắm rồi. Bởi thân phận người phụ nữ xưa ai cũng khổ, cũng chìm nổi long đong, nhưng chẳng mấy ai được chồng thương và thấu hiểu như bà. Chỉ là do thời thế nên ông không giúp được gì cho vợ. Đúng như cái tên mà tác giả đã đặt cho bài thơ “thương vợ”, Tế Xương đã dành những tình cảm chân thành nhất dành cho vợ. Không giúp được vợ nhưng ông mong sao những tình cảm của mình sẽ làm bà vơi đi mệt mỏi sau bao ngày lặn lội vất vả mưu sinh.
Phân tích nỗi lòng của Tế Xương trong bài thơ Thương vợ
883
Đề bài: Phân tích nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Bài làm Bài thơ Việt Bắc là bài thơ được trích trong tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954) của Tố Hữu. Tên bài thơ đã trở thành tên chung của cả tập thơ vì bài thơ đã thể hiện được những tình cảm tiêu biểu cho cả tập thơ. Bài thơ đã bộc lộ những tình cảm thiết tha, mặn nồng, gắn bó, thủy chung, son sắt của Việt Bắc đối với người cán bộ về xuôi và ngược lại người cán bộ cách mạng về xuôi cũng bộc lộ những tình cảm ấy đối với Việt Bắc trong buổi chia li bằng sự khẳng định nỗi nhớ của mình đối với Việt Bắc. Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Mở đầu bài thơ, Việt Bắc đã hỏi người cán bộ cách mạng về xuôi: Mình về, mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Câu hỏi này của Việt Bắc có nghĩa là: Anh về anh có nhớ tôi không? Nhớ anh và tôi đã gắn bó thiết tha mặn nồng suốt mười lăm năm ở Việt Bắc không? Và sau đó là hàng loại câu hỏi của Việt Bắc cũng mang nội dung này: Mình đi có nhớ nhưng ngày Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son Mình về còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh Việt Bắc cứ sợ người cán bộ cách mạng về xuôi quên mình nên cứ gợi lại những hình ảnh ở Việt Bắc, với bao hình ảnh thân thương đậm đà tình nghĩa. Việt Bắc vừa bộc lộ yêu thương vừa khao khát được yêu thương, nên cứ hỏi: “Mình đi có nhớ…”, “mình về có nhớ… “Mình về còn nhớ…?”… Để trả lời cho những câu hỏi này của Việt Bắc, người cán bộ cách mạng về xuôi đã khẳng định với Việt Bắc một điều thật chắc chắn rằng sẽ không bao giờ quên Việt Bắc, vẫn trước sau như một. không bao giờ thay đổi: Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu “Ta” với “mình” gắn bó, xoắn xuýt, quyện chặt vào nhau làm nồng ấm cả một mối tình. Lòng người cán bộ cách mạng về xuôi đã chan chứa hao nhiêu tình cảm với Việt Bắc. Câu thơ “nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu" đã nói lên tất cả điều ấy. Để làm nổi bật nỗi nhớ da diết của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc nhà thơ đã sử dụng điệp từ "nhớ" lặp đi, lặp lại rất nhiều lần và đặc biệt là nhà thơ đã so sánh nỗi nhớ ấy như nỗi nhớ trong tình yêu “Nhớ gì như nhớ người yêu". Đây là một sự so sánh thật độc đáo của Tố Hữu, bởi trong muôn ngàn nỗi nhớ của con người trên cuộc đời, có lẽ nỗi nhớ trong tình yêu là nỗi nhớ ray rứt nhất quay quắt nhất. Ông cha ta ngày trước cũng đã bộc lộ khá độc đáo tâm trạng này: Đêm nằm lưng chẳng tới giường Trông trời mau sáng ra đường gặp em (Ca dao) Hay: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than (Ca dao) Cho nên, ở đây nhà thơ chỉ có mượn nỗi nhớ trong tình yêu mới nói hết được nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc. Hình ảnh cảnh vật ở Việt Bắc và con người Việt Bắc cứ sống dậy mãnh liệt trong tâm hồn kẻ ra đi. Nỗi nhớ Việt Bắc của người cán bộ cách mạng hiện lên trong từng màu sắc, từng hình ảnh của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Những hình ảnh này như hòa quyện vào nhau, cảnh Việt Bắc đẹp và con người Việt Bắc cũng đẹp. Cảnh vật Việt Bắc và con người Việt Bắc hiện lên trong nỗi nhớ của người cán bộ qua bốn mùa. Mùa nào cũng đẹp, cũng nên thơ, cũng sinh động và dạt dào sức sống: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em út hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung Hình ảnh Việt Bắc trong trí nhớ của người cán bộ về xuôi còn là một thiên nhiên hùng vĩ. Thiên nhiên ấy đã trở thành một nhân vật che chở cho bộ đội, đã vây lá quân thù, cùng nhân dân đánh giặc, trở thành một vùng chiến khu mênh mông: Nhớ khi giặc đến, giặc lùng Rừng cây, núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bội đội, rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng Càng nhớ Việt Bắc, người ra đi càng tự hào về Việt Bắc, bởi chính Việt Bắc là nơi ghi nhận những hình ảnh hào hùng của quân và dân ta trong thời kì kháng chiến chống Pháp: Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp diệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Việt Bắc còn là nơi ghi dấu, mở ra nhiều chiến công của quân và dân ta, đem lại bao niềm vui chiến thắng của dân tộc ta: Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng Người ra đi nhớ Việt Bắc cũng chính là nhớ nơi ghi dấu bao hoạt động của Trung ương Đảng và Chính phủ: Ai về ai có nhớ không Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang Nắng trưa rực rỡ sao vàng Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công Điều quân chiến dịch thu đông Nông thôn phát động giao thông mở đường Giữ đê phòng hạn thu lương Gửi dao miền ngược thêm trường các khu Người cán bộ cách mạng về xuôi nhớ Việt Bắc không những chỉ nhớ thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc mà còn nhớ những con người Việt Bắc chân chất, đậm đà tình nghĩa, cần cù trong lao động và rất thủy chung, son sắt. Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu cơn lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ Việt Bắc, người cán bộ về xuôi không thể nào quên hình ảnh của Bác Hồ trong những năm tháng Người sống nơi đây, bởi Người là ánh sáng, là niềm tin của cả dân tộc. Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa Tóm lại, nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi qua nghệ thuật diễn đạt của nhà thơ đó là một nỗi nhớ ray rứt, quay quắt như nỗi nhớ trong tình yêu, một nỗi nhớ có nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều góc độ khác nhau. Nỗi nhớ ấy là cả một tấm lòng yêu thương, gắn bó, thủy chung, son sắt của người cán bộ cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc. Mối quan hệ tình cảm thắm thiết này đã nói lên được những tình cảm cách mạng cao đẹp của con người Việt Nam.
Phân tích nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
1,309
Phân tích nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm. Hướng dẫn Phân tích nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm. Trong nền văn học xưa, những chủ đề về cuộc sống con người về nhân phẩm đức hạnh là những tác phẩm đóng góp cho nền văn chương nước nhà là một vật báu có giá trị, không những mang ý nghĩa nhân văn lớn lao mà còn mang lại cả những triết lí đúng đắn, những câu chuyện đời thường và những điều mà con người dễ dàng bỏ qua nhất. Trong đó, Chinh phụ ngâm khúc là một trong những tác phẩm nói về nỗi lòng của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến xa Những gì mà người phu nữ phải chịu đựng quả thật là khó mà nhiều người có thể làm được. cuộc đời vốn là thế và người phụ nữ lại càng khiến cho người ta vừa thương và vừa nể phục. HỌ có đức hi sinh cao cả, họ chịu đựng nỗi đau và thật kiên cường khi phải đối mặt với nỗi đau Lòng này gửi gió đông có tiện, Nghìn vàng xin gửi đến non Yên. Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. Những người phu nữ có chồng đi chinh chiến nơi biên cương xa xôi thường mang những nỗi thương nhớ vơi đầy, lòng ngóng trông nhưng cũng không hiểu không biết lieu rằng chồng có trở về bình an hay không. Người ở lại vì thế chỉ có thể đem tấm lòng thủy chung nhung nhớ của bản thân mình theo gió đông gửi đến cho chàng trai ấy. lòng thủy chung son sắt ấy hướng tới người yêu người chồng của mình nơi chiến trận làm sao có thể tới nơi nếu như không có gió đưa mây gửi lòng nàng đây Chính vì lẽ đó đôi mắt, tâm trí, tư tưởng, tình yêu của người phụ nữ ấy luôn nghĩ đến chồng của mình ở phương xa. tình yêu mà người phụ nữ dành cho người chồng của mình là mãi mãi không thay đổi, tình cảm đó vượt ra khỏi bien giới, vượt qua mọi khổ đau để chấp nhận. Sự nhớ nhung sầu muộn vượt qua tất cả khoảng cách địa lí biên giới, mọi núi non muôn trùng. Ngoại cảnh lại càng tác động tới con người. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ cũng là vì lẽ đó, tất cả những thứ đó là để bổ trợ phụ thêm cho tình cảnh nỗi buồn và nhớ thương người chồng ở noi chinh chiến “Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Giọt sương phủ, bụi chim gù, Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi. Vài tiếng đế, nguyệt soi trước ốc, Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên, Lá màn lay ngọn gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm, Hoa đãi nguyệt, nguyệt một tấm, Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông… Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau. ” Bức trang của người chinh phụ xoay quanh đó là những cảnh những màn giăng lối, mịt mù và bao phủ bởi một nỗi buồn thươn nhớ. Nỗi `nhớ nhung ấy không những làm cho cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng mà còn như nhấn mạng tâm trạng u sầu của người chinh phụ. Những cảnh vật vừa mang nỗi buồn của người phụ nữ vừa bật lên những vẻ đẹp của một người phụ nữ son sắc thủy chung. Những hình ảnh như liễu nguyệt lồng hoa những thứ ấy càng làm cho con người cảm thấy héo hắt và nhỏ bé trước vũ trụ. Nỗi buồn khiến cho người ta thu mình lại. những hình ảnh ấy thật tài tình khi mang những vẻ đẹp lòng thủy chung của người phụ nữ càng thêm sâu sắc. Người phụ nữ càng nổi bật sự kiên cường nhưng cũng yếu mềm, lại có những nét đẹp và tâm trạng đáng thông cảm Qua tác phẩm chúng ta thấy được những hình ảnh nhuốm màu tâm trạng của người con gái có chồng đi xa chiến trận nơi xa. ở đó những nỗi nhớ nhung của người con gái ấy không được biết bởi chàng trai nào đau cảm nhận được, bởi nơi cô đứng còn cách người chồng mình ngút ngàn. Qua tác phẩm phần nào tác giả cũng góp phần tố cáo chiến tranh vô nghĩa đã đẩy các cặp phải xa rời nhau khiến nhiều gia đình tan tác, tình cảnh thật éo le.
Phân tích nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm.
794
Đề bài: Phân tích nỗi sầu chia li của người vợ trong Sau phút chia li trích Chinh phụ ngâm khúc Bài làm Trong văn học Việt Nam, nỗi sầu chia li đã được nhiều tác giả quan tâm và phản ánh. Nguyễn Dữ có những dòng về sự ngóng trông của người vợ có chồng đi chinh chiến: Ngày qua tháng lại, thoát đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn ngoài vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không sao ngăn được. (Người con gái Nam Xương). Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã viết rất cảm động về sự chia tay đau buồn của đôi vợ chồng trẻ: Người lên ngựa, kẻ chia bào Dừng phong thu đã nhuốm màu quan san Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. (Truyện Kiều) Nhưng có lẽ, chưa có nỗi sầu nào bi thương bằng nỗi sầu chia li của người chinh phụ được diễn tả trong Chinh phụ ngâm khúc. Chinh phụ ngâm khúc là một sáng tác văn chương xuất hiện vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Cả khúc ngâm là nỗi sầu nhớ thương vời vợi của người vợ có chồng ra trận. Nỗi sầu ấy đậm đặc ngay từ sau phút chia li: Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh. Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại Bên Tiêu Tương thiếp hãy trông sang Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng. Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngất một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? Người chồng chia tay vợ lên đường chinh chiến (một cuộc chinh chiến vô nghĩa đối với họ), người vợ trở về một mình trong cô đơn, buồn tủi: Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn. Chao ôi, có sự chia tay nào xót thương hơn thế, có sự ngăn cách nào khắc nghiệt hơn thế. Cả một nỗi sầu chia li nặng nề đă phủ lên khí trời, sắc núi: Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh. Sự đoái trông của người vợ trẻ thật tội nghiệp. Nàng muốn níu giữ lại mà hình bóng người chồng cứ xa dần, để rồi chỉ còn lại là không gian xa thẳm. Giữa khung cảnh tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh, người vợ càng trở nên lẻ loi, cô quạnh. Sự chia li từ chỗ mới chỉ là cách ngăn, chẳng mấy chốc đã tăng lên nhanh chóng cả về không gian và. tâm trạng: Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng. Từ câu Chàng thì đi cõi xa- Thiếp thì về buồng cũ đến Chốn Hàm Dương-Bến Tiêu Tương rồi lại Khói Tiêu Tương – Cây Hàm Dương, thì sự ngăn cách đã lên đến mấy trùng, như mấy trùng nỗi nhớ thương sầu muộn trong lòng người chinh phụ. Đối với bất kì ai, khi người thân của mình phải đi vào chốn cõi xa mưa gió (chốn binh đao khói lửa, nơi chiến trận thảm khốc), cũng đều có tâm trạng buồn đau thương nhớ. Ở người chinh phụ, nỗi buồn đau sầu muộn ấy còn thêm bội phần bởi cái tình chồng vợ đương độ đằm thắm gắn bó thiết tha (còn ngoảnh lại – hãy trông sang). Gắn bó mà không được gắn bó, gắn bó mà phải chia li. Thực là oái oăm và nghịch chướng. Thực là thương tâm và đau xót bởi cái cảnh người thì tận chốn Hàm Dương, kẻ thì mãi Bến Tiêu Tương. Cái tên Hàm Dương – Tiêu Tương (dù là được dùng theo bút pháp ước lệ của văn chương cổ điển) vẫn còn là những địa danh để người vợ có ý niệm về độ xa cách, nhưng đến bốn câu thơ tiếp theo thì cả ý niệm ấy cũng không còn, sự xa cách đã đến cực độ: Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? Trong cảnh trời cao đất rộng, thăm thẳm mênh mông đến khôn cùng, nỗi sầu chia li của người vợ đã trở thành khối sầu, núi sầu chất chồng, đè nặng cả trái tim và tâm hồn nàng, để rồi sau đó sẽ theo nàng về chốn buồng cũ, đè nặng lên cuộc sống mòn mỏi ngóng trông đến hóa đá của nàng. Tình cảm vợ chồng và nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi của người vợ trẻ thật mãnh liệt, nó làm lay động tâm thức bao thế hệ bạn đọc. Chỉ có tấm lòng đầy ắp tình yêu thương của nhà thơ mới có thể chia sẻ và diễn tả một cách xúc động đến thế.
Phân tích nỗi sầu chia li của người vợ trong Sau phút chia li trích Chinh phụ ngâm khúc
841
Phân tích Nỗi sầu oán của người cung nữ trích Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phân tích Nỗi sầu oán của người cung nữ trích Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều- Văn lớp 10 Bài làm Những người con gái trong thời phong kiến luôn chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, khi họ sinh ra trong một xã hội trọng nam khinh nữ. Một chế độ đa thê, vua chúa, những người con gái chỉ là vật mua vui cho người con trai mà thôi. Chính vì vậy tác giả Nguyễn Gia Thiều đã viết lên bài thơ Cung oán ngâm, để thể hiện sự ai oán của những người con gái trẻ đẹp được vua sủng hạnh một thời gian rồi bị bỏ rơi không thương tiếc. Cuộc sống lạnh lẽo trong cung cấm, cô đơn lẻ loi khi sống đời cá chậu chim lồng không lối thoát. Đoạn trích “Nỗi sâu oán của người cung nữ” chính là đoạn thơ hay nhất của Cung oán ngâm. Nó đã lột tả được tâm trạng của người con gái khi tuổi xuân phơi phới nhưng lại phải chịu cảnh cô liêu, lẻ bóng trong lầu son gác tía. Những câu thơ thể hiện sự da diết, ai oán của người con gái khi có một thời được nhà vua nâng niu, yêu mến nhưng những ngày vui thật ngắn ngủi, giờ đây cô bị bỏ rơi không thương tiếc, như bông hoa bị ong bướm hút hết mùi hương, giờ chẳng có gì để chúng lưu luyến. Những con ong bướm đó đang vui vẻ bên bông hoa mới, khiến cô gái cảm thấy cay đắng bẽ bàng cho kiếp hồng nhan của mình. “Ngày sáu khắc, tin mong nhạn vắng, Đêm năm canh, tiếng lắng chuông rền. Lạnh lùng thay giấc cô miên, Mùi hương tĩnh mịch, bóng đèn thâm u ” Những câu thơ thể hiện sự cô liêu, của người con gái trong không gian của bốn bức tường lầu son, thời gian như dài đằng đẵng. Người cung nữ đã đếm từng nhịp của tiếng chuông thời gian trôi đi chậm chạp, mỗi giờ mỗi khắc như dài hơn khi người con gái đang mong tin nhạn. Tin vui từ nhà vua, sự mong chờ nhà vua tới thăm mình, nhớ tới mình dù chỉ một chốc lát thôi, khiến người con gái cảm thấy ngày tháng thật như dài hơn. “Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ, Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu. Một mình đứng tủi, ngồi sầu, Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa”. Trong những câu thơ này thể hiện sự khắc khoải trong chờ bóng người xưa trong nỗi buồn tới mức tuyệt vọng. Tâm trạng của người cung nữ như ngổn ngang trăm mối, cảm thấy nỗi sầu trong lòng mình càng lúc càng nhiều hơn bởi sự chờ mong không mang lại kết quả như mong muốn, mà càng lúc càng tuyệt vọng hơn. Sự buồn phiền trong lòng làm cho cô gái tủi phận, đứng cũng buồn, ngồi cũng buồn, nhìn phong cảnh xung quanh những bông hoa như héo tàn, theo thời gian, cảnh vật yên ắng tĩnh lặng khiến cho người cung nữ càng thêm hiu hắt. “Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải, Ngán trăm chiều, bước lại ngẩn ngơ”. Người cũng nữ cảm thấy xót xa thương cho thân phận của mình, khi xưa cô xinh đẹp biết bao người ước ao, ngưỡng mộ. Bản thân cô đã từng được nhà vua yêu mến sủng ái, nhưng nay thì sao khi nhan sắc tàn phai, người xưa quên lời hẹn ước, quên những phút ái ân mặn nồng để cô một mình vò võ ngày nhớ đêm mong quanh bốn bức tường. Nàng thương cho mình. Nhan sắc phai tàn. Tuổi xuân phai nhạt. Nàng cảm thấy bất hạnh và vô duyên: Để gầy bông thắm, để xơ nhị vàng” Trong câu thơ này, thể hiện sự ai oán, bẽ bàng của người cung nữ. Cô gái ví mình như một bông hoa đã hết hương sắc, còn người con trai cô yêu nhà vua như một con ong chỉ chuyên đi hút mật những bông hoa đẹp. Sau khi đã thỏa mãn rồi thì con ong đó lại đi tìm bông hoa khác để tiếp tục công việc hút mật của mình, bỏ lại bông hoa kia với sự bẽ bàng, ai oán… Câu thơ như những lời trách than, ai oán của người con gái với thói vô tâm phụ tình của người con trai. của nhà vua khi đã thỏa mãn lòng tham của mình, thì bỏ rơi không thương tiếc. Những câu thơ vô cùng thấm thía, thể hiện nỗi buồn rung động lòng người, thể hiện sự nhân văn cao cả của tác giả Nguyễn Gia Thiều khi nhìn thấy cảnh lẻ loi, cô đơn của người cung nữ một thời nổi tiếng. “Đêm năm canh lần nương vách quế, Cái buồn này ơi để giết nhau. Giết nhau chẳng cái lưu cầu, Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa!” Trong bốn bức vách kia chỉ có nỗi buồn bủa vây lấy người cung nữ. Một nỗi buồn thê lương, không lời nào tả hết. Nàng mong sao có thể chết đi cho nhẹ lòng còn hơn là bị giết chết dần chết mòn bởi nỗi sầu, nỗi cô đơn yên lặng của không gian tĩnh lặng này. Người con gái oán trách người xưa đã giết cô trong nỗi buồn, trong sự u sầu, chờ đợi đằng đẵng. Cái chết này còn đau đớn hơn nghìn lần khi bị ban rượu độc, hay một dải lụa trắng để tự kết liễu. Sự cô đơn, u sầu, này có thể làm con người ta chết chết đau đớn, dần mòn, tàn úa..theo thời gian. “Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ, Xe thế này có dở dang không? Đang tay muốn rứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra! ” Người cung nữ trách ông tơ, bà nguyệt đã xe duyên nhầm cho cuộc đời nàng để giờ đây cuộc sống của nàng bị dở dang, muốn rứt đứt sợi tơ hồng được xe duyên, muốn đạp bốn bức tường vô cảm kia để thoát ra ngoài sống kiếp tự do nhưng không được nữa. Bài thơ lên án tục tuyển cung nữ được diễn ra hàng năm để mang vào cung vua, giúp nhà vua tiêu khiển, mua vui. Tục lệ này đã làm cho nhiều cô gái đánh mất tự do tuổi thanh xuân của mình trong cung cấm. Sống đời cô đơn lẻ bóng, chết dần chết mòn trong lãnh cũng lạnh lẽo. Phần lớn những cung nữ này đều phải chôn vùi tuổi trẻ nhan sắc của mình một cách uổng phí, chờ khi già yếu, sắp chết thì được triều đình cho về quê hương an nghỉ tuổi già và chết. Nhưng họ đều sống cô quả, không có được phép lập gia đình hay kết hôn có cuộc sống hạnh phúc như người bình thường, đó chính là sự thiệt thòi của người cung nữ thời xưa. Bài thơ thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của tác giả Nguyễn Gia Thiều với những số phận những người con gái trẻ đẹp thời xưa bị ép vào cung làm cung nữ rồi chết dần chết mòn trong đó. Bài thơ thể hiện bút pháp nghệ thuật tinh tế đặc sắc của tác giả. Với thể thơ song thất lục bát tác giả đã phác họa bức tranh lạnh lẽo của người con gái khi bị thất sủng, chôn vùi tuổi xuân trong lồng son gác tía.
Phân tích Nỗi sầu oán của người cung nữ trích Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều- Văn lớp 10
1,257
Đề bài: Phân tích Nỗi sầu oán của người cung nữ trích Cung oán ngâm Dàn ý 1. Mở bài: – Trong chế độ phong kiến ngày xưa, các bậc vua chúa phương Đống thường tự đặt ra cho minh cái quyển được đa thô ; ngoài hoàng hậu, cung phi ra cỏn có: Ba tràm mĩ nữ, sáu mươi cung tần… – Vi vậy, rất nhiều phụ nữ trẻ đẹp phải âm thầm chịu đựng tình cảnh bị bỏ rơi, bị lãng quên trong cung cấm. số phận bất hạnh của họ đã khiến cho văn nhân thi sĩ cảm thương mà viết ra một sô' tác phẩm, trong đõ Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều là tiêu biểu nhất. – Đoạn.trích Nỗi sầu oán của người cung nữ (từ câu 209 đến câu 244) diễn tả tâm trạng đau khổ của người cung nữ bị thất sủng ; phải sống cô đơn giữa bốn bức tường lạnh giá. Nàng xót xa cho tuổi thanh xuân trôi qua hoài phí và uất ức than thở về những bất công mà mình phải chịu đựng. Đấy là tiếng nói tố cáo sầu sác tội ác của vua chúa phong kiến thời ấy. 2. Thân bài: * Kết cấu đoạn trích gồm hai đoạn nhỏ: – Đoạn 1: Bốn khổ thơ đầu: cảnh cung cấm xa hoa tráng lệ đối lập với tinh cảnh lẻ loi, buồn tủi của cung nữ bị bỏ rơi, bị lãng quên. – Đoạn 2: Năm khổ thơ còn lại: cảnh sống đày đoạ kéo dài của người cung nữ với nỗi thất vọng nặng nể trong cảnh ngày đêm ngóng trông, chờ đợi nhà vua. * NỘI dung đoạn trích: + Cảnh cung cấm xa hoa, đạp đẽ đổi lập với tinh cảnh lẻ loi, buồn tủi đáng thương. – Tác giả chọn thời điểm là ban đồm để nhân vật dễ dàng bộc lộ tâm trạng. Bị nhà vua bỏ rơi trong cung quế, người cung nữ suốt năm canh đứng tủi ngồi sáu, khắc khoải chờ mong và tuyệt vọng: Trong cung quế âm thẩm chiếc bóng, Đêm năm canh trông ngóng lán lán. – Trong tinh cảnh đó, người cung nữ ý thức rất rõ vé thân phận bất hạnh của mình. Nàng đã bị giết chết khổng phải bằng gươm đao mà bằng chinh cuộc sống buồn bã và tuyệt vọng, bởi cảnh chiếu chăn lẻ loi, lạnh lẽo… Qua lời than trách của nàng, hình ảnh nhà vua hiện lên đúng lả một kẻ bạc tinh: Khoảnh làm chi bấy chúa xuân, Chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi… Người cung nữ bổi hổi, nuối tiếc khi nhớ lại những ngày đầu được vua sủng ái. Còn giờ đây, nàng đã thực sự bị quên lãng. – Sự tương phản giữa khung cảnh xa hoa tráng lệ nơi cung vàng điện ngọc với cuộc sống bất hạnh của các cung nữ càng làm cho hình ảnh của họ trở nên nhỏ bé đến tội nghiệp: Lầu đãi nguyệt / đứng ngồi dạ vũ, Gác thừa lương thúc / ngủ thu phong. Phòng tiêu / lạnh ngắt như đồng, Gương loan / bẻ nửa, dải đổng / xẻ đôi… – Những tiện nghi đầy đủ, đẹp trở nên trớ trêu. vô nghĩa khi ngươi cung nữ thêm sầu thêm tủi. – Những câu thơ tiếp theo miêu tả cuộc đày ải. kéo dài trọng cung cấm. Người cung nữ mong mòi sự có mặt của nhà vua đến mức gần như tuyệt vọng: Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm… Lầu Tẩn, chiểu nhạt vẻ thu, Gối loan tuyết đóng, chăn củ giá đông… + Cảnh sóng buồn tủi kéo dài và nỗi thất vọng nặng nể. – Nỗi sáu có lúc lên tới điểm đỉnh, biến tâm trạng người cung nữ thành u uất, nặng nề, bức bối gần phu nghạt thở: Lạnh lùng thay giấc cô-miên, Mùi hương tịch mịch bóng đòn ăm u… ■ Nỗi cỏ đơn khiến giấc ngủ của nàng trò.nỗn lạnh lẽo, đáng thương. Hương đót lên cho tiêu phòng ấm áp, thơm tho nhưng lại gợi cảm giác vắng, lặng, tịch mịch như một nấm mổ chôn vùi tuổi thanh xuân… – Đôm đêm, người cung nữ chỉ biết âm thầm sống với cái bóng của mình: Một mình đứng tủi ngồi sáu, Hết than với bóng lại rầu với hoa… Cả đoạn thơ khắc hoạ nổi bật hình dáng và tâm trạng cô độc, buồn tủi đến đớn đau, khắc khoải tức tối của người cung nữ trổ đạp mà bị coi như đã chết. – Trong nỗi buồn dai dẳng ấy chứa đựng cả sự uất ức, trách hờn, đay nghiến: Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải, Ngán trảm chiều bước lại ngẩn ngơ. Hoa này bướm nỡ thờ ơ, Dể gầy bông thắm để xơ nhuỵ vàng… ■ Hai câu thơ: Giết nhau chẳng cái lưu cầu, Giết nhau bằng cái u sấu, độc chưa! giống như tiếng nghiến ràng căm giận, lên án chế độ đa thô và tục tuyển cung tần mĩ nữ của vua chúa thời phong kiến, bởi nó chà đạp, tước đoạt quyển sống tự do, quyển được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ. – Sức sống dồi dào và khát vọng hạnh phúc càng mãnh liệt bao nhiêu thì nỗi oán hận càng chất ngất bấy nhiêu trong lòng người cung nữ. Tưởng chừng như tất cả sắp bùng nổ thành hành động phản kháng dữ dội: Tay nguyệt lảo chẳng xe thì chớ, Xe thổ này có dở dang không? Dang tay muốn dứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra – Chất trữ tinh trong đoạn trích được tạo ra từ hai cảm xúc trái ngược: cảm xúc buồn chán nặng nể đo bi giam hãm lâu ngày trong cảnh tù túng, nghạt thở với cảm xúc khát khao cháy bỏng hạnh phúc đời thường. Người cung nữ như đang cố vùng vẫy để thoát khỏi bi kịch của số phận nhưng nó như sợi dây oan nghiệt cứ thắt chặt lấy nồng. 3. Kết bài: Bằng ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật tài tinh, sắc sảo, kết hợp vơi khả năng sử dụng từ ngữ chuẩn xác, phong phú, tác giả đã thể hiện thành công tâm trạng phức tạp của người cung nữ. Sự đổng cảm chân thành của nhà thơ đã tạo nôn giọng điệu réo rắt, đầy sáu khổ oán hờn trong đoạn trích nói riêng và cả tác phẩm nói chung. – Nỗi sầu oán của người cung nữ đã cất lên tiếng nói tố cáo chế độ đa thô và tục tuyển cung tẩn mĩ nữ tàn bạo của vua chúa; đổng thời cũng phản ánh tấm lòng nhản đạo của tác giả trước những-số phận bất hạnh. Đoạn trích là tiếng nói thiết tha dòi quyền sống, quyển được hưởng hạnh phúc của phụ nữ trong chế độ phang kiến xưa kia. «1- BÀI LÀM Tập tuyển cung nữ là thực trạng tội ác của vua chúa phong kiến kéo dài hàng nghìn năm. Ngày xưa, các bậc vua chúa tự đặt ra cho minh quyền được có: Ba trăm mĩ nữ, sáu mươi cung tần. Hàng trăm thiếu nữ trẻ đẹp được tuyển vào cung. Người trúng tuyển phải ở “tiêu phòng" cho đến già, đoạn tuyệt với gia đình, làng xóm, không được liên lạc với mọi sinh hoạt của xã hội bôn ngoài, số phận bất hạnh của những người cung nữ đã làm động lòng nhiều nhà văn, nhà thơ nhất là dưới thời vua Lê, chúa Trịnh. Có một số tác phẩm viết về họ nhưng không tác phẩm nào có được tiếng nói tố cáo sâu sắc như Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiểu. Cung oán ngâm là khúc ca ai oán, uất hận của người cung nữ tài sắc lúc đầu được vua yêu chuộng, nhưng chẳng bao lâu đã bị bỏ rơi giữa tuổi thanh xuân. Nỗi hờn tủi cứ theo ngày tháng mà dâng lên tràn ngập tâm hồn, giày vò, day dứt nàng khôn nguôi, ở trong cung cấm, nàng xót thương cho thân phận minh và oán trách nhà vua phụ bạc. Qua khúc ngâm, tác giả phản ánh tâm trạng đau khổ của người cung nữ phải sống trong cảnh đợi chờ đến tuyệt vọng; đổng thời thể hiện quan niệm của mình trước cuộc đời bạc bẽo. phù du. Đoạn trích gồm 36 câu (từ câu 209 đến câu 244), diễn tả tâm trạng đau khổ của người cung nữ bị thất sủng. Nàng sống cô đơn giữa bốn bức tưởng lạnh giá, xót xa cho tuổi xuân trôi qua hoài phí và uất ức than thở về những bất công dành cho thân phận minh. Có thể chia đoạn trích làm hai đoạn nhỏ: Đoạn 1: Bón khổ thơ đẩu: cảnh cung cấm xa hoa tráng lệ và cuộc sống lẻ loi, buồn tủi của người cung nữ bị thất sủng. Đoạn 2: Năm khổ thơ tiếp theo: Cảnh sống đày đoạ kéo dài với nỗi thất vọng nặng nề mà người cung nữ phải gánh chịu. Mở đầu đoạn trích, hình ảnh cô đơn của người cung nữ hiện lên rất rõ nót: Trong cung quế ảm thầm chiếc bóng Đêm năm canh trồng ngóng lần lần Sự đối lập giữa khung cảnh xa hoa, tráng lệ với cuộc sống tối tăm u uất nơi cung cấm làm nổi bật bóng dáng nhỏ bé đến tội nghiệp. Nhà thơ đã chọn thời gian ban đêm để nhân vật trữ tinh dễ dàng bộc lộ tâm sự của mình. Bị nhà vua bỏ rơi trong toà nhà lộng lẫy, mênh mông, người cung nữ suốt năm canh đứng tủi ngồi sầu, khắc khoải trông ngóng lần lần và chờ mong vô vọng. Trong' tình cảnh ấy, nàng ý thức sâu sắc về thân phận éo le và nhận biết rất rõ kẻ đã gây ra nỗi bất hạnh cho đời minh. Nàng bị giết chết không phải bằng gươm sắc mà bằng cuộc sống giam hãm, tù túng và tuyệt vọng trong cảnh chăn gối lẻ loi, lạnh lẽo. Qua lời thở than oán trách của người cung nữ, hình ảnh nhà vua hiện lên đúng là một kẻ bạc tình: Khoảnh làm chi bấy chúa xuân! Chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi. Khoảnh có nghĩa là chơi khăm, chơi ác. Nỗi cô đơn giày vỏ, giằng xé tâm hổn người cung khiến nàng phải cất lên lời oán trách gay gắt. Nàng nhở lại những ngày đầu được vua sủng ái; còn giờ đây, nàng như bị nhấn chim trong sự hờ hững, lãng quên. Ở những khổ thơ tiếp theo, tác giả miêu tả khung cảnh xa hoa tráng lệ nơi cung cấm, đối lập với nỗi cô đơn đáng sợ của người cung nữ: Lầu đãi nguyệt / đứng ngồi dạ vũ, Gác tựa lương / thức ngủ thu phong. Phòng tiêu / lạnh ngắt như đồng, Gương loan / bẻ nửa, dải đổng / xẻ đôi. Nơi nàng sống thật đẹp đẽ và đáy đủ tiện nghi, nhưng tất cả đều trở nên vô nghĩa, trớ trêu, chỉ gợi thêm nỗi sầu, nỗi thảm trong lòng nàng mà thôi. Tiếp theo những câu thơ miêu tả nỗi thất vọng nặng nề của người cung nữ là lời thở than, là tiếng kêu đứt ruột. Dù buồn bã hay oán trách, không một cảm xúc nào của nàng ở mức độ bình thường mà tất cả đều gay gắt, mãnh liệt: Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm, Vẻ bâng khuâng hổn bướm vẩn vơ. Thâm khuê vắng ngắt nhu tờ, Của châu gió lọt, rèm ngà sương gieo. Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ. Dấu dương xa đám cỏ quanh co. Lầu Tẩn, chiều nhạt vẻ thu, Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông. Năm khổ thơ tiếp theo miêu tả cuộc đày ải kéo dài với những thất vọng nặng nề trong cảnh ngày ngóng đêm trông, đau đáu chờ đợi nhà vua của người cung nữ. Nỗi sầu có lúc lên dến điểm đỉnh, biến thành tâm trạng u uất, bức bối tưởng như nghẹt thở: Lạnh lùng thay giấc cô miên, Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u. Giấc ngủ cô đơn lạnh lùng đáng thương biết mấy! Nón hương đốt lên để cho không khí trong tiêu phòng ấm áp, thơm tho nhưng chỉ đem lại cho người cung nữ cảm giác vắng lặng, tịch mịch. Bóng đèn thắp lên cót để ánh sáng xua bớt bóng'đêm nhưng chỉ gây cho nàng cảm giác thâm u, tăm tối. Cảm giác tịch mịch, thâm u không phải dược tạo ra bởi mùi hương hay bóng đồn mà chính là từ nỗi buồn chán, tuyệt vọng của người cung nữ. Đêm nào nàng cũng chỉ sổng với cái bóng của minh: Tranh biếng ngắm trong đó tố nữ, Mặt buồn trông trên cửa nghiễm lâu. Một mình đứng tủi ngồi sầu, Đã than với nguyệt lại rầu với hoa! Đoạn thơ cứ nhắc đi nhắc lại cái bóng dáng cô độc, lủi thủi đáng thương của người cung nữ. Nỗi đau đớn, khắc khoải khiến nàng mệt mỏi, rã rời cả thể xác lẫn tâm hổn. Trong nỗi buồn dai dẳng ấy chứa đựng sự hờn trách, tức tói và uất hận: Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải, Ngán trâm chiểu, bước lại ngẩn ngơ. Hoa này bướm nỡ thờ 0, Để gầy bông thắm, đổ xơ nhuỵ vàng. Lời oán trách không nhẹ nhàng như của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm: Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ? mà đay nghiến và hằn học: Giết nhau chẳng cái lưu cầu, Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa! Cay đắng trước sự thật phũ phàng, người cung nữ đã phải buông lời chỉ chiết: Giết nhau bàng cái u sầu, độc chưa. Câu thơ vừa như một tiếng nghiến răng căm giận, vừa là lời tố cáo đanh thép sự tàn ác của chế độ da thê, chế độ cung tần mĩ nữ tàn bạo thời phong kiến bởi nó đã cướp đi quyền sống tự do, cướp đi hạnh phúc của bao nhiêu cô gái trẻ dẹp. Chúng không giết những người cung nữ bằng dao, bằng kiếm mà bằng cách để cho nỗi cô đơn huỷ hoại tâm hồn và cuộc sống của họ. Người xưa dùng thành ngữ Ễ' giết người không dao (lể chỉ những hành động giết người tinh vi nhất, tàn bạo nhất. Chính những thú ăn chơi trác táng cùng thói vô tinh đến tàn nhẫn của vua chúa phong kiến đã đẩy hàng ngàn người cung nữ tội nghiệp vào bi kịch "dở sống, dở chết” đó. ' Người phụ nữ trong xã hội xưa thường ít khi trực tiếp thể hiện lòng minh, nhưng nỗi đau xót và sự tủi hờn cao độ đã khiến người cung nữ phải thốt ra tâm sự sâu kín nhất, kể cả ý muốn bứt phá để thoát khỏi cảnh sống giam hãm: đoạ đày. Đang tuổi thanh xuân tràn đầy sức sống mà phải chờ đợi mỏi mòn trong tuyệt vọng nên người cung nữ uất ức cất lời than thở, oán trách. Từ lòng xót thương thực sự, tác giả đã đổng cảm và sẻ chia tâm sự đau đớn ấy. Sức sống dổi dào, khát khao hạnh phúc càng mãnh liệt bao nhiêu thì nỗi giận hờn và uất hận càng ngút cao bấy nhiêu trong lòng người cung nữ: Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ! Xe thế này có dở dang không? Dang tay muốn dứt tơ hổng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra! Chất trữ tinh trong đoạn trích được tạo nên từ hai cảm xúc trái ngược nhau. Một là cảm xúc buồn chán nặng nể do bị giam hãm lâu ngày trong cảnh tù túng ; hai là cảm xúc khao khát hạnh phúc đời thường không nguôi thôi thúc, ám ảnh. Nỗi chán nản đến mức tuyệt vọng và nỗi khao khát cháy bỏng cộng hưởng tạo thành những làn sóng trữ tinh dào dạt. Người cung nữ dường như đang cố vẫy vùng dể thoát khỏi nỗi cô đơn, nhưng nàng càng cô' gắng thì càng tuyệt vọng. Sợi dây oan nghiệt dã thắt chặt lấy thân phận của người cung nữ như một thứ định mệnh khó bể thoát khỏi. Bằng ngòi bút miêu tả tâm lí sắc sảo, điêu luyện kết hợp với cách lựa chọn từ ngữ giàu khả năng gợi tả, gợi cảm, tác giả đã thể hiện thành công tâm trạng phức tạp của người cung nữ. Sự đồng cảm chân thành của nhà thơ đã tạo nên giọng điệu réo rắt, sầu khổ oán hờn của đoạn trích nói riêng và cả tác phẩm Cung oán ngâm nói chung. Nỗi sầu oán của người cung nữ đã cất lên tiếng nói tố cáo chế độ đa thê, chế độ cung tần mĩ nữ tàn bạo của các vua chúa thời phong kiến. Đổng thời, đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của tác giả, người đã thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc với số phận oan nghiệt của những cô gái đầy khát vọng sống nhưng không may bị biến thành trò mua vui cho vua chúa và bất cứ lúc nào cũng có nguy cơ bị vứt bỏ, bị lãng quên trong cung cấm thâm u. Đoạn trích là tiếng nói tha thiết đòi quyển sống, đòi quyển được hạnh phúc của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến ngày xưa.
Phân tích Nỗi sầu oán của người cung nữ trích Cung oán ngâm
2,888
Đề bài: Phân tích Nỗi thương mình trích Truyện Kiều Bài làm Từ lúc gia đình gặp biến cố, phải bán mình chuộc cha, trao duyên lại cho em là Thúy Vân, Kiều đã trải qua 15 năm lưu lạc, trong 15 năm ấy, Kiều gặp phải bao sự lọc lừa nhưng lần Thúy Kiều bị lừa đau đớn nhất có lẽ là lần nàng bị Mã Giám Sinh lừa bán đến lầu xanh. Nó là bước ngoặt bẻ ngang cuộc đời Thúy Kiều rẽ sang một hướng khác. Rơi vào tay Tú Bà, Kiều rút dao định tự tử nhưng không thành. Ở lầu Ngưng Bích, Kiều lại mắc bẫy Sở Khanh, bị Tú Bà đánh đập tơi bời. Tiếp đó là những tháng ngày ê chề nhục nhã của nàng trong vai trò kĩ nữ – gái làng chơi, đem tấm thân trong ngọc trắng ngà của mình mua vui cho những kẻ lắm tiền háo sắc. Những ngày Thúy Kiều ở chốn lầu xanh là những ngày nàng vô cùng buồn tủi, tâm trạng rối bời như tơ vò nghĩ về thân phận, sự tủi nhục của kiếp hồng nhan.Đoạn trích có một kết cấu khá logic với diễn biến tâm trạng và trớ trêu của cuộc đòi đầy bất hạnh khi nghe những lời độc thoại nội tâm dầy đau đớn: “Khi tỉnh rượu …xuân là gì?” Đó cũng là thời điểm mở đầu cho những chuỗi tâm sự nối kết, ngỗn ngang. Kiều nghĩ đến thân phận mình để rồi “mình lại thương mình xót xa” Kiều xót xa cho chính bản thân mình. Với nàng, hiện tại như một giấc mơ cay đắng khi nàng sánh với quá khứ. Mở đầu đoạn trích Nỗi Thương Mình là tâm trạng đau buồn, tủi hổ đến ê chề của Thúy Kiều phải nếm trải trong chốn lầu xanh của mụ Tú Bà: “Biết bao bướm lả ong lơi, Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm. Dập dìu lá gió cành chim Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh” Bốn câu đầu của đoạn trích cho ta thấy rõ hình ảnh lối sống xô bồ, nhơ nhớp và thân phận bẽ bàng của người kĩ nữ ở chốn lầu xanh. Nguyễn Du đã miêu tả thật sống động bức tranh sinh hoạt ở chốn lầu xanh bằng bút pháp ước lệ tượng trưng. Trong chốn lầu xanh ấy Kiều phải tiếp khách mua vui cho “biết bao” người mà nàng không thể nào nhớ đươc hay là đếm được, bởi lẻ một điều rằng hằng ngày Kiêu tiếp khách làng chơi triền miên “suốt đêm, sớm đưa, tối tìm” những từ ngữ ấy đã cho ta thấy đươc sự nhộn nhịp của chốn lầu xanh, nơi mà Tú Bà ăn nên làm ra. Bằng những hình ảnh ẩn dụ: bướm lả ong lơi, cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm” và các điển tích điển cố: “lá gió cành chim”, “Tống Ngọc, Trường Khanh” – chỉ chung cho loại khách làng chơi phong lưu Nguyễn Du cho thấy tình cảnh của Thúy Kiều tuy sống trong cảnh lầu xanh tưởng như thanh tao, phong nhã nhưng thực chất đó chỉ là giả tạo, hằng ngày Kiều phải làm công việc nhơ nhuốc, tiếp đủ các loại khách đến mua vui. Điều này cho ta thấy rõ hơn về nỗi bất hạnh và tình cảnh trớ trêu của Thúy Kiều. Bút pháp ước lệ giúp Nguyễn Du không tránh né số phận thực tế của Kiều mà vẫn giữ được chân dung cao đẹp của nàng. Qua đó ta thấy được thái độ trân trọng, cảm thông của tác giả đối với nhân vật. Ông đã tái hiện cái hoàn cảnh của Thúy Kiều bằng những sự đối lập nghiệt ngã: một bên là nước mắt Thúy Kiều – một bên là những cơn say, trận cười triền miên. Do vậy ở bốn câu thơ đầu, mặc dù chưa được miêu tả trực tiếp, người đọc vẫn thấy Kiều đang bị cuốn đi trong một cơn lốc vô hình, bị buộc vào cảnh sống nhơ nhớp nơi nhà chứa. Hiện thực nghiệt ngã mà nhân vật phải trải qua, hé mở thân phận bẽ bàng của người kỹ nữ. Nguyễn Du đã mỹ lệ hóa cho cảnh sống ấy bằng một thứ ngôn ngữ ước lệ rất tài tình: ước lệ theo thành ngữ dân gian, ước lệ theo điển tích làm cho sự hồi tưởng kiếp sống đớn đau của Kiều trở nên tao nhã hơn. Bởi vì chỉ có hồi tưởng mới diễn tả hết sức sống chân thật của nội tâm nhân vật, mới thể hiện đúng nỗi đau, mới nổi bật được phẩm giá và sự chịu đựng giày vò đáng thương của nhân vật. Đằng sau những câu thơ ấy là tấm lòng cảm thông, trân trọng mà tác giả dành cho Thúy Kiều. Bốn câu thơ đầu đã đặt ra một tình thế của tâm trạng. Ở lầu xanh có nhiều kĩ nữ, họ có thể bình thản coi việc làm của mình rất đỗi bình thường, trớ trêu thay Kiều lại có một nhân phẩm quá đỗi cao đẹp, một tâm hồn trong trắng, một bông hoa từ cảnh sống “êm đềm trướng rủ màn che” bỗng nhiên bị ném vào bùn nhơ, hai câu tiếp nói về tâm trạng của Kiều trong những ngày tủi nhục, nỗi ê chề, sự ép buộc, đày đọa mà Kiều phải chịu đựng: “Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh Giật mình mình lại thương mình xót xa” Ở nơi lầu xanh đầy “cuộc say, trận cười” thì chỉ “khi tỉnh rượu lúc tàn canh” Kiều mới có một khoẳng khắc hiếm hoi để sống thực với chính mình và cũng là hoàn cảnh Kiều tỉnh táo nhất đối diện với con người mình. Thời gian và không gian thật vắng lặng như gợi lên nỗi niềm xót xa. Nhịp thơ có sự thay đổi giữa hai câu thơ trên từ nhịp 3/3 chuyển sang nhịp 2/4/2. Hai chữ “giật mình” kết hợp với cách ngắt nhịp ấy đã diễn tả sự biến đổi đột ngột trong tâm hồn Kiều. Nàng bàng hoàng đau xót trước thực tại phủ phàng và trơ trọi chỉ có một mình nàng tự xót xa, đau đớn cho chính số phận bi thương, đoạn trường của mình. Giật mình ko chỉ là hành động bên ngoài của nhân vật khi có một sự tác động đột ngột nào đó của môi trường bên ngoài. Đó là cái giật mình từ cảm xúc bên trong mà nếu ko có thì Kiều cũng giống như tất cả các kĩ nữ khác trong thanh lâu của Tú bà. Kiều giật mình vì nhận ra sự tàn phá thảm hại về thể xác và phẩm cách của mình ở chốn lầu xanh, sự cô đơn lẻ loi của mình và sự yếu đuối bất lực của mình trước bao nhiêu sự xấu xa, cạm bẫy đang bủa vây mình mà ko thể chống đỡ. Điệp từ “mình’’ lặp lại ba lần trong một câu thơ như tiếng nấc nghẹn ngào, tha thiết của Thúy Kiều ý thức được về phẩm giá, nhân cách, quyền sống bản thân đó cũng là ý thức cá nhân và quyền sống của con người trong lịch sử phong kiến mà Nguyễn Du muốn truyền tải đến người đọc. Đối với hai câu trên với nhịp thơ đầy nổi tủi nhục của Kiều thì những câu tiếp theo sau là những hồi ức dội về, hồi ức tươi sáng va đập thực tại tăm tối đọa đày: “Khi sao phong gấm rủ là Giờ sao tan tác như hoa giữa đường Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chương bấy thân” Một cô gái khuê các, tài sắc vẹn toàn, hiền lành đoan trang hết mực. Một cô gái nho gia bây giờ trở thành một cành hoa tan tác. Sự biến chuyển nhanh chóng đến mức chính Kiều cũng phải bàng hoàng, sửng sốt. Phép đối lập như một biện pháp nghệ thuật chủ yếu toàn đoạn trích và nhất là trong hai câu này càng tăng thêm giá trị biểu cảm. Nó tạo nên sự so sánh đối lập giữa hai quãng đời, hai thời gian, hai tình cảm. Cặp từ đối lập chỉ thời điểm: “Khi sao / giờ sao” tạo nên cảm giác đột ngột của sự thay đổi trong một khoảng thời gian không mấy cách biệt. Chính vì điều này đã làm vết thương của Kiều nhức nhối, đau đớn như đào sâu thêm vào nỗi xót xa, tê tái của Kiều. Quá khứ hiện về đối lập với thực tại một cách khốc liệt, Kiều hồi tưởng lại những tháng năm “êm đềm trướng rũ màn che” thì lập tức thực tại phũ phàng lại hiện lên rõ nét hơn gấp bội, từ “phong gấm” diễn tả một sự bình yên, êm đềm trong quá khứ đối lập gay gắt với từ “tan tác” trong câu thơ nói về hiện tại như cái thực trạng phũ phàng bao trùm vùi chôn quá khứ êm đẹp. Phép so sánh “như hoa giữa đường” càng làm nổi bật sự đối lập tuyệt đối giữa quá khứ và thực tại, giữa cá nhân và hoàn cảnh. Cụm từ “bướm chán ong chường” và “dày gió dạn sương” là nét sáng tạo về cách dùng từ của Nguyễn Du, nhấn mạnh có ý so sánh theo mức độ tăng tiến cho ta thấy sự vùi dập, chà đạp mà Kiều phải gánh chịu. Các câu hỏi tu từ ở đây đc ND sử dụng nhằm làm rõ hơn sự đau đớn, ê chề của Kiều trước thực tại phủ phàng, tàn nhẫn. Hai câu thơ day dứt một tiếng thở dài tuyệt vong của một cô gái vốn tài sắc hơn người, khát khao hạnh phúc nhưng bậy giờ đã chán ngán tất cả: “Mặc người mưa Sở mây Tần Những mình nào biết có xuân là gì?” Sống trong cảnh lầu xanh suốt ngày phải mua vui cho người khác hành hạ bản thân mình, lặp đi lặp lại hằng ngày ai cũng sẽ thấy chán chường muốn bỏ bê tất cả và Kiều cũng vậy. Sự đối lập giữa người – khách làng chơi (số nhiều) với chính mình – Kiều (số ít) như thể hiện tột cùng nỗi cô đơn của nàng. Từ ”xuân” ở đây ý chỉ niềm vui được hưởng hạnh phúc lứa đôi nhưng với Thúy Kiều sống làm vợ khắp người ta thì làm gì còn có mùa xuân, chỉ thấy trong đó là sự nhục nhã, lẻ loi, trơ trọi và cô đơn của cuộc đời người kĩ nữ mua vui. Từ ”mặc” ở đây lại chỉ sự bất lực, mặc cho mọi thứ muốn tới đâu thì tới, dằn vặt nặng nề đay nghiến của Thúy Kiều nhưng không làm sao khác được. “Đòi phen gió tựa hoa kề Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ Đòi phen nét vẽ câu thơ Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa Vui là vui gượng kẻo là Ai tri âm đó, mặn mà với ai.” Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp hiện lên, có đủ cả: phong – hoa – tuyết – nguyệt, cảnh đẹp bốn mùa hội tụ vào nơi đây, gió xuân vi vu thổi, hoa hạ đua nhau khoe sắc ngát hương, trăng thu sáng vằng vặc, tuyết đông phủ kín cả lầu tất cả đều rất thực, rất sinh động như vẽ nên bức tranh đầy màu sắc, âm thanh của lầu xanh và trong đó có đủ những thú vui của con người: cầm – kì – thi – họa càng tô điểm cho bức tranh ấy thêm phần nhộn nhịp, sống động hơn bao giờ hết. Nhưng nêu lên những cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, tao nhã, nên thơ ấy lại như một sự giễu cợt, mỉa mai, chua chát. Vì dù ngụy trang khéo đến mấy, cũng không thể che đậy nổi cái bản chất nhơ nhớp, bẩn thỉu bên trong của chốn “buôn thịt bán người”. Đoạn thơ vì thế đồng thời hướng vào tâm trạng Kiều: Kiều luôn phải tách mình thành hai nửa: một con người bề ngoài vui gượng, giả tạo và một con người thực, sống để xót xa mỗi lúc canh tàn. Cảnh không thể vui vì lòng người nặng trĩu nỗi tê tái.. Khi gió tựa hoa kề, khi cung cầm thi họa, lúc nào nỗi đau cũng dâng đầy và nghẹn ứ trong lòng nàng. Ý thức về nhân phẩm một khi trỗi dậy là lại bị giày xéo, khiến nàng không nguôi bẽ bàng, nhục nhã về thân phận. Hai từ “đòi phen” được lặp lại trong tám câu thơ càng thể hiện rõ hơn đó là một nỗi đau thường trực, chưa lúc nào thôi dằn vặt Kiều. Nỗi sầu của Kiều lan tỏa sang cảnh vật: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Bằng sự thông cảm lạ lùng, và bằng tài năng kì diệu, Nguyễn Du đã viết nên hai câu thơ hay nhất giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình. Từ một trường hợp cụ thể, thơ Nguyễn Du đã vươn tới tầm phổ quát, trở thành chân lí của mọi thời. Có thể nói hai câu thơ là đỉnh điểm của đoạn trích vì nó gột tả được sâu sắc hơn bao giờ hết nội tâm của nhân vật từ đó lan tỏa sang cảnh vật một cách thật tự nhiên và hợp lí. Nỗi buồn của Thúy Kiều cứ dâng lên, như sóng cồn triền miên không bao giờ dứt, nó cứ khuấy động bên trong sâu thẳm con người Kiều để rồi đến một lúc nào đó, tức nước vỡ bờ, nó dâng lên cuồn cuộn đánh động vào nỗi lòng, cảm xúc của Thúy Kiều, khiến cho mọi vật qua cái nhìn của nàng đều trở nên u buồn, tăm tối, nhuộm màu tang thương. “Vui là vui gượng kẻo là Ai tri âm đó mặn mà với ai?” Hai câu thơ cuối là nỗi lòng của Thúy Kiều được Nguyễn Du thể hiện một cách tinh tế, độc đáo mà tâm sự này, tâm trạng này, Kiều của Thanh Tâm tài nhân không hề có được. Từ “vui gượng” nói lên tất cả sự lạc lõng, cô độc cũng là sự mâu thuẫn, bế tắc không lối thoát của Kiều trước hoàn cảnh. Sống trong cảnh nhơ nhớp, phải tiếp khách làng chơi, trải qua những cơn say, trận cười quanh năm suốt tháng, phải lả lơi… là điều bất đắc dĩ, Kiều không bao giờ muốn thậm chí không bao giờ có thể tưởng tượng được cuộc đời mình lại bi kịch như thế. Giữa chốn lầu xanh mà đồng tiền lên ngôi, có bao kẻ đến rồi đi, cái còn lại sau cùng với Kiều chỉ là sự rã rời, đau đớn cả về thể xác và tâm hồn thì làm gì có ai là tri kỉ, có ai để “mặn mà” nhưng trong sâu thẳm cõi lòng, Kiều vẫn luôn mong ngóng một tấm lòng, một người hiểu mình. Một lần nữa ngôn ngữ nửa trực tiếp lại khiến cho câu thơ có những lớp nghĩa sâu sắc kết hợp câu hỏi tu từ đầy sót xa cay đắng cho thấy phẩm chất tốt đẹp của Thúy Kiều giàu lòng tự trọng, coi trọng phẩm giá và muốn sống một cuộc sống bình yên, trong sạch. Đoạn trích thể hiện khá hoàn chỉnh số phận, tính cách của Thúy Kiều. Thể hiện tập trung tư tưởng nhân văn của tác giả: cảm thương trước bi kịch của Kiều, khẳng định nhân cách đẹp đẽ của nàng và khẳng định sự ý thức về nhân phẩm và sự ý thức cá nhân.Thể hiện nỗi thương mình của Thúy Kiều, Nguyễn Du cũng thể hiện được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật với ngôn ngữ nửa trực tiếp, lời tác giả và nhân vật như hòa vào nhau tạo nên sự đồng cảm giữa tác giả-nhân vật- người đọc.
Phân tích Nỗi thương mình trích Truyện Kiều
2,697
Phân tích nỗi đau khổ của những em thơ trong bi kịch gia đình khi bố mẹ bỏ nhau Hướng dẫn Suốt đêm, hai anh em đều khóc. Thủy “nức nở, tức tưởi”-, em khóc nhiều nên hai bờ mi đã “sưng mọng lên”, cặp mắt đen trở nên “buồn thăm thẳm”.Thành phải “cắn chặt môi để khỏi bật lên tiếng khóc to”, nước mắt “tuôn ra như suối, ướt đẫm cả gối và hai cánh tay áo”. Buổi sáng sớm, hai anh em đi ra vườn. Thủy “lặng lẽ” đặt tay lên vai anh trai. Thành đã kéo em ngồi xuống và “khẽ vuốt lên mái tóc em”. Cuộc chia tay sắp diễn ra; cả hai anh em đều vô cùng đau khổ và cảm thấy cô đơn trước tai họa nặng nề đang “giáng xuống” đầu… Bố đi đâu mãi không về. Đã mấy ngày rồi Thủy không được gặp bố. Chỉ còn vài tiếng nửa là em phải theo mẹ về quê ngoại. Em buồn, nước mắt ứa ra “xịu mặt xuống” nói trong đau đớn: “Sao bốmãi không về nhỉ”. Như vậy là em không được chào bố trước khi đi. Bố mẹ bỏ nhau, biết bao giờ em “được gặp lại bố?”. Tuổi thơ Thủy mất mát quá nhiều, quá lớn! Cảnh Thủy trở lại lần cuối thăm trường lớp, chào từ biệt cô giáo và bạn học lớp 4B là một cảnh buồn tê tái. Thủy cô đơn “đứng nép vào một gốc cây trước lớp”. Thủy “cắn chặt môi im lặng, mắt lại đăm đăm nhìn khắp sân trường…”. Thủy đau khổ “bật lên khóc thút thít”. Cô giáo “sửng sốt” khi Thủy bước vào lớp. Cô “ôm chặt lấy em” và nói: “Cô thương em lắm”. Cả lớp “sững sở”, có tiếng khóc “thút thít”-, một số bạn thân bỏ chỗ ngồi chạy lên “nắm chặt lấy tay” Thủy khi nghe cô giáo thông báo cảnh ngộ thương tâm của em. Cô giáo “tái mặt”, cất tiếng than “Trời ơi ỉ”, rồi “nước mắt giàn giụa”. Cả lớp 4B “khóc mối lúc một to hơn” khi nghe Thủy nói: “… Em không được đi học nữa. Nhà bà ngoại em ở xa trường học lắm. Mẹ em bảo sẽ sắm cho em một thúng hoa quả để ra chợ ngồi bán”. Cha mẹ bỏ nhau, anh em li tán, con cái, đứa thì phải xa bố, đứa thì phải xa mẹ. Đối với Thủy, em còn có nỗi đau buồn nào to lớn hơn? Em phải bỏ học giữa trang đời tuổi thơ. Thủy khóc, bạn học khóc, cô giáo khóc. Những dòng nước mắt ấy đã thể hiện một cách sâu sắc, chân thực, cảm động về nỗi đau buồn của em thơ trước cảnh gia đình tan vỡ, bố mẹ bỏ nhau. Giây phút cuối cùng cuộc chia tay của Thành và Thủy diễn ra thật xúc động. Thủy “hôn gấp gáp” lên mặt con Vệ Sĩ và “thì thào” với nó. Thủy “khóc nấc lên”, nắm tay anh trai, dặn dò… Thành cũng “khóc nấc lên”. Người mẹ “vuốt tóc” đứa con trai… Thủy trèo lên xe, rồi bỗng “lại tụt xuống” đật con Em Nhỏ cạnh con Vệ Si, căn dặn anh trai là “không bao giờ để chúng nó ngồi cách xa nhau”… Hai con búp bê đã không phải “chia tay” nhau, nhưng hai anh em Thành và Thủy thì mỗi người ở một phương trời xa cách. Thành nằm ngủ đã có con Vệ Sĩ gác, nhưng khi đá bóng, áo bị rách, ai vá cho? Nhìn “cái bóng nhỏ liêu xiêu” của em gái trèo lên xe, rồi chiếc xe phóng đi mất hút, Thành “mếu máo” và “đứng như chôn chân xuống đất”… Đó là tâm trạng của một em bé như mất hồn, cô đơn và bơ vơ không xiết kể. Nỗi đau khổ của Thủy và Thành trước bi kịch gia đình được Khánh Hoài thể hiện qua nhiều chi tiết, tình tiết xúc động, trang văn chứa chan tình nhân đạo.
Phân tích nỗi đau khổ của những em thơ trong bi kịch gia đình khi bố mẹ bỏ nhau
674
Phân tích nội dung nghệ thuật thể hiện của đoạn trích Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải Hướng dẫn Đoạn trích gồm 36 câu thơ thể song thất lục bát. Đây là đoạn trích trong tập “Bút Quan hoài” sáng tác vào năm 1926. Tác giả đã mượn đề tài có thật trong lịch sử là Nguyễn Phi Khanh – cha của Nguyễn Trãi – bị quân Minh bắt đưa về Trung Quốc. Cuộc chia tay đẫm lệ giữa hai cha con ở “Chốn ải Bắc” – một địa phận thuộc tỉnh Lạng Sơn của nước ta giáp với Trung Quốc. Đoạn trích có thể chia làm 3 phần: Phần đầu:Có 8 câu, tác giả gợi nên cảnh chia li ở nơi biên giới. Cảnh chia tay giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Trãi diễn ra rất ảm đạm, thê lương! Cha đã già phải đem “chút thân tàn lần bước dặm, khơi”, còn con thì ở lại với non nước trong cảnh “cõi trời Nam gió thổi đìu hiu”. “Trông con tầm tã châu rơi Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên”. Trần Tuấn Khải đã mượn lời nhân vật lịch sử nói lên nỗi đau “nước mất nhà tan”. Dĩ nhiên trong hai câu thơ trên còn gửi gắm vào đó một niềm tin bởi vì có niềm tin mới khuyên bảo. Phần thứ hai: gồm 20 câu, tác giả gợi lại qua lời người cha về dòng giống Lạc Hồng, về lịch sử trường tồn mấy ngàn năm của dân tộc, như một thiên định: “Giời Nam riêng một cõi này Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì?”. Lời dặn của người cha như bừng bừng căm giận. Giọng nói trở nên khắc cốt ghi tâm những tội ác tày trời của quân xâm lược Minh. Trên mảnh đất tuy có lúc suy thịnh đổi thay nhưng vẫn có những Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì”- Rõ ràng người cha đã kích động lòng tự hào, tự tôn dân tộc để người con cầm lấy bút mà ghi tội ác của giặc: “Bốn phương khói lửa bừng bừng Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông! Nơi đô thị thành tung quách vỡ Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con Làm cho xiêu tán hao mòn…”. Hãy cầm lấy gươm để thanh toán nỗi căm uất: “Khói Hùng Lĩnh, như xây khói uất Sông Hồng Giang nhường vật cợn sầu Con ơi! Càng nói càng đau Lấy ai tế độ đàn sau đó mà!”. Lời dặn dò đẫm lệ, nức nở trong đau thương nhưng đã khơi dậy ý chí chiến đấu, quyết tâm giữ lấy giang sơn. Phần thứ ba:gồm 8 câu, tác giả đã để cho người cha than thở, nhưng chủ yếu là nói lên niềm tin tha thiết thấm sâu vào trái tim khối óc người con: “Giang san gánh vác sau này cậy con”. “Hai chữ nước nhà” là bài thơ hay, rất gợi cảm. Ý nghĩa sâu xa của nó còn là kích động lòng căm thù với bọn xâm lược Pháp, nói lên khát vọng tự do của nhân dân Việt Nam. Ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ rất trong sáng giản dị, nhưng nhà thơ đã dùng những cặp câu thơ thất ngôn đối nhau và sử dụng những hình ảnh nhân hóa rất đậm nét. Vì vậy, ở Á Nam Trần Tuấn Khải có một bút pháp nghệ thuật có vẻ dân dã nhưng rất độc đáo. Vì vậy ngay từ thời Pháp thuộc, bài thơ đã làm cho lòng người phải xúc động không ngớt. Cảm nhận về đoạn thơ Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải Bài làm Những năm 20 của thế kỉ trước, những bài thơ hát theo làn điệu dân ca, những bài thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn… được truyền bá sâu rộng trong dân gian. Những gương anh hùng được Trần Tuấn Khải nói đến có giá trị khích lệ tinh thần yêu nước, nói lên nỗi đau nhục nô lệ lầm than, bày tỏ khát vọng độc lập tự do không bao giờ nguôi. Đoạn trích bài thơ “hai chữ nước nhà” gồm có 36 câu thơ song thất lục bát được Trần Tuấn Khải sáng tác vào năm 1926, in trong tập “Bút quan hoài”. Trong lời đề từ, nhà thơ nói rõ cảm hứng của mình là “nghĩtới lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu”. Qua đó,ta cảm nhận được “Hai chữ nước nhà” là bài thơ mượn đề tài lịch sử để thể hiện cảm hứng yêu nước, kích thích lòng yêu nước cho quốc dân đồng bào khi đang làm thân trâu ngựa cho thực dân Pháp. Lời đề từ đưa chúng ta trở về những năm tháng đau thương của đất nước và dân tộc. Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, dìm đất nước ta vào trong máu lửa, chúng ta bắt cha con ông Hồ Quý Li và một số đại thần, trong đó có Nguyễn Phi Khanh giải về Tàu. Có thể nói bài thơ là lời cha dặn con về “Hai chữ nước nhà”, về mối thù nhà nợ nước. Trong phần đầu tiên của đoạn trích, tác giả đã gợi lên cảnh đất nước đau thương dưới ách thống trị của giặc Minh tàn bạo. Những hình ảnh nhân hóa rất gợi: “mây sâu ảm đạm”, “gió thảm đìu hiu” “hổ thét chim kêu”… Cảnh vật núi sông như mang nỗi đau con người. Cả một không gian rộng lớn từ “chôn ải Bắc” đến “chốn ải Nam’’ và “khắp bốn bể” đều thấm máu và nước mắt của hàng triệu con người: “Chốn ải Bắc, mây sầu ảm đạm, Cõi trời Nam, gió thảm đìu hiu Bốn bể hổ thét chim kêu…”. Trước thảm cảnh “vong quốc”, người cha già trên con đường đi đày càng ngổn ngang nỗi niềm. Các chữ, các hình ảnh như: “bất bình”, “hạt máu nóng thấm quanh hồn nước”, “tầm tã châu rơi” đã nói lên một cách cảm động “di hận” của người anh hùng thất thế, một bi kịch lịch sử của cha con Phi Khanh và Nguyễn Trãi. Câu thơ như thấm đầy lệ, giọng thơ thiết tha não nùng: “Trông con tầm tã châu rơi Con ơi! Con nhớ lấy lời cha khuyên” Nguyễn Trãi có câu thơ chữ Hán “Anh hùng di hận kỉ thiên niên”, nghĩa là người anh hùng để lại mối hận đến nghìn năm. Phần đầu bài “hai chữ nước nhà”, Trần Tuấn Khải đã nói lên thật xúc động nỗi đau nước mất nhà tan, nỗi “di hận” của người anh hùng thất thế Nguyễn Phi Khanh. Phần thứ hai là những lời thống thiết cha dặn con. Nhớ “hai chữ nước nhà” là nhớ về dòng giống Hồng Lạc, là nhớ về lịch sử trường tồn “mấy ngàn năm” của dân tộc, là nhớ giang sơn “giời Nam riêng một cõi này”, là nhớ đến bao “anh hùng hiệp nữ” nhưHai Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn… Nhớ “Hai chữ nước nhà” là để nâng cao lòng tự tôn, tự hào dân tộc: “Giời Nam riêng một cõi này Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì!” Giọng thơ trở nên bừng bừng căm giận khi cha dặn con hãy khắc cốt ghi tâm những tội ác tày trời của quân “cuồng Minh”: “Bốn phương khói lửa bừng bừng. Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông Nơi đô thị thành tung quách vỡ Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con, Làm cho xiêu tán hao mòn Khói Hùng Lĩnh như xây khói uất Sông Hồng Giang nhường vật cơn sầu. Những từ ngữ hình ảnh “khói lửa bừng bừng”, “xương rừng máu sông”, “thành tung quách vỡ”, “đất khóc giời than”, “xây khối nát”, “vật cơn sầu”… tuy mang tính ước lệ, nhưng trong văn cảnh vẫn có sức truyền cảm mạnh mẽ vì đã gợi lên bao nỗi nhục mất nước, lòng căm thù đối với quân xâm lược. Đặc biệt đoạn thơ của Trần Tuấn Khải đã đem đến liên tưởng cho người đọc về “BìnhNgô đại cáo”đoạn nói về tội ác giặc Minh tàn bạo: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kể, Gây binh, kết oán, trải hai mươi năm Bại nhân nghĩa nát cả đất trời Nặng thuế khóa sạch không đầm núi…”. Người cha bị cùm trói, bị giải sang Tàu, nhìn cơ đồ giang san mà đau đớn như xé tâm can. Càng đau đớn, ông càng lo lắng cho vận mệnh của đất nước, tương lai của giống nòi. Câu cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ cất lên vô cùng thống thiết: “Con ơi! Càng nói càng đau Lấy ai tế độ đần sau đó mà?”. Vần thơ như chứa đầy lệ, có lời than, có tiếng nức nở. Lời cha dặn con cũng là lời non nước. Tám câu cuối trong phần cuối bài thơ vừa nói lên bi kịch của người cha: “tuổi già sức yếu”, “sơ cơ đành chịu bó tay”… vừa trông cậy vào con để trả thù, rửa hận nước: “Giang san gánh vác sau này cậy con”… Cha thiết tha dặn con lần cuối: “Vì nước” hãy “nhớ tổ tông”, hãy đem máu đào mà hi sinh chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Đó là “hai chữ nước nhà” đó là những lời huyết lệ: “Con nên nhớ tổ tông khitrước Đã từng phen vì nước gian lao Bắc Nam bờ cõi phân mao Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây…”. “Hai chữ nước nhà” là một bài thơ hay và cảm động. Nói lên một cách hàm súc cô đọng nỗi đau, nỗi nhục mất nước của dân tộc ta trong thế kỉ XV và căm thù đối với giặc Minh cướp nước. Sâu xa hơn, bài thơ đã khích lệ lòng yêunước của đồng bào, khêu gợi khát vọng độc lập tự do của dân tộc khi đang làm thân trâu ngựa cho thực dân Pháp. “Hai chữ nước nhà” vừa là lời cha dặn con, vừa là lời Tổ quốc kêu gọi. Từ ngôn ngữ, hình ảnh đến giọng thơ, vần thơ, từ những cặp câu thất ngôn đối nhau đến những hình ảnh nhân hóa, tượng trưng ước lệ đều cho thấy một bút pháp nghệ thuật rất già dặn, giàu bản sắc của Á Nam. Trong thời Pháp thuộc, bài thơ “Hai chữ nước nhà” đã làm lay động hàng triệu con người. Ngày nay, nó vẫn làm ta xúc động. Bài làm của học sinh Lưu Hương Giang Em hãy viết bài văn nêu tâm sự yêu nước của nhà thơ Trần Tuấn Khải trong Hai chữ nước nhà. Bài làm Trên văn đàn hợp pháp ba mươi năm đầu thế kỉ XX, Á Nam Trần Tuấn Khải là một tên tuổi để lại nhiều dấu ấn sâu đậm. Thơ Trần Tuấn Khải đã rung vào dấy đàn yếu nước thương nòi của mọi lòng người (Xuân Diệu). Là một hồn thơ yêu nước lưu hành công khai, hợp pháp, nên nội dung yêu nước trong thơ ông thường được biểu hiện một cách riêng biệt để có thể lọt qua vòng kiểm duyệt khắt khe của chính quyền thực dân lúc bấy giờ. Mượn đề tài lịch sử để kí thác tâm sự yêu nước là một cách thức biểu hiện hữu hiệu và là một thành công lớn của Trần Tuấn Khải. Trong đó có thể xem: Hai chữ nước nhà là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ ấy. Hai chữ nước nhà là bài thơ mở đầu cho tập Bút quan hoài I (xuất bản năm 1924). Bài thơ lấy đề tài lịch sử thời quân Minh xâm lược nước ta. Nhà thơ đã mượn lời của người cha là Nguyễn Phi Khanh dặn dò con là Nguyễn Trãi để gửi gắm nỗi lòng của mình. Bài thơ mở đầu bằng một cuộc chia li đầy máu và nước mắt: Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm, Cõi giời Nam gió thảm đìu hiu, Bốn bề hổ thét chim kêu, Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình. Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước. Chút thân tàn lần bước dặm khơi, Trông con tầm tã châu rơi, Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên. Nhà thơ đã chọn một bối cảnh không gian thật đặc biệt để làm nền cho cuộc chia li của hai cha con. Đó là chốn Ải Bắc heo hút, ảm đạm. Ải Bắc là một địa danh có sức gợi cảm lớn, và đối với cuộc ra đi không ngày trở lại của ông Nguyễn Phi Khanh thì đây là điểm cuối cùng để rồi chia biệt vĩnh viễn đối với Tổ quốc, với quê hương: Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm, Cõi giời Nam gió thảm đìu hiu, Bốn bề hổ thét chim kêu, Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình Và cảnh vật tang tóc, thê lương càng tô đậm thêm nỗi buồn đau trong lòng người hóa thành máu và lệ chia li: Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, Chút thân tàn lần bước dặm khơi. Trông con tầm tã châu rơi, Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên. Nước đã mất, nhà đã tan, hai cha con trở thành một kẻ vong quốc. Hơn nữa, tình cảnh của ông Nguyễn Phi Khanh là tình cảnh của một tù binh đang phải chịu cảnh lưu đày biệt xứ. Hình ảnh người cha già với chút thân tàn đang lê bước tới chốn lưu đày khiến người con rất đỗi đau lòng. Nguyễn Trãi những muốn đi theo để phụng dưỡng cha già cho tròn đạo hiếu. Nhưng thù nhà, nợ nước chất chồng, làm sao ông Nguyễn Phi Khanh có thể để con báo hiếu. Đối với người cha, nỗi đau mất nước đè nặng tâm hồn ông như: hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, khiến ông không thể nghĩ đến tình riêng. Người cha ngậm ngùi gạt nước mắt chia li, dằn lòng khuyên con quay trở lại tìm cách diệt thù báo quốc. Cảnh nước mất nhà tan, cha con li biệt thật đau đớn, xót xa. Bao trùm lên nỗi đau thương ấy là tình nhà nghĩa nước thiết tha, sâu đậm khiến người đọc không thể không bồi hồi, xúc động. Trong hoàn cảnh cha con chia lìa, lời khuyên của người cha trở thành lời trăn trối thiêng liêng và xúc động. Trong lời trăn trối đầy máu và nước mắt của người cha, hiện tình đất nước hiện ra đầy đau thương tang tóc: Bốn phương khói lửa bừng bừng, Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông! Nơi đô thị thành tung quách vỡ, Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con, Làm cho xiêu tán hao mòn Thảm cảnh ấy gắn liền với tội ác của giặc thù, của bọn lòng lang, dạ sói: Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu. Thảm cảnh của đất nước và tội ác của quân giặc khiến người cha tột cùng đau đớn và căm uất: Thảm vong quốc kể sao xiết kể, Trồng cơ đồ nhường xé tâm can, Ngậm ngùi đất khốc giời than, Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này! Khói Nùng Lĩnh như xây khôi uất, Sông Hồng Giang nhường vật cơn sầu, Con ơi! Càng nói càng đau, Lấy ai tế độ đàn sau đó mà? Vượt lên trên sô phận của cá nhân là số phận của một dân tộc, một quốc gia. Vì thế nỗi đau của ông Nguyễn Phi Khanh đã trở thành nỗi đau lớn lao, cao cả: nỗi đau non nước; một nỗi đau thấu cả đất trời: Ngậm ngùi đất khóc giời than. Gắn bài thơ với hoàn cảnh ra đời của nó là bối cảnh đầu thế kỉ XX, thì những người dân Việt Nam lúc này cũng chỉ là những kẻ vong quốc đang chịu cảnh lầm than cơ cực. Nỗi đau mất nước của người xưa cũng là nỗi đau thương của cả dân tộc ta đầu thế kỉ XX. Lời thơ Trần Tuấn Khải đã tác động đến sâu thẳm trái tim yêu nước thương nòi của người dân đất Việt. Trở lại với đoạn thơ và tâm sự của ông Nguyễn Phi Khanh, ta nhận thấy hình như trong tiếng nấc xót xa cho tình cảnh đau thương của đất nước, có cả sự ngậm ngùi chua xót của một người cảm thấy mình có lỗi với nước, với dân: Cha xót phận tuổi già sức yếu Lỡ sa cơ đành chịu bó tay Nên ông càng thêm tha thiết mong mỏi con trai có thể thay mình mà phục thù, báo quốc, rửa được mối hận cho cha già: Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Có lẽ, đây cũng là lời tâm huyết cuối cùng của người cha! Càng đọc kĩ đoạn thơ, ta càng xúc động sâu sắc trước tâm sự yêu nước mãnh liệt của người cha, cũng là tâm sự yêu nước mãnh liệt của nhà thơ. Và ta càng hiểu vì sao thơ Trần Tuấn Khải lại nhận được sự đón chào nồng nhiệt của công chúng độc giả, nhất là tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ. Phân tích bài thơ Hai chữ nước nhà của Á Nam Trần Tuấn Khải. Bài phân tích tác phẩm của một học sinh lớp 8 trường THCS Tam Thanh – Yên Sơn – Tuyên Quang. Bài làm Trần Tuấn Khải (1895 – 1983), bút hiệu Á Nam quê ở làng Quang Xán, xã Mĩ Hà, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định. Là một nhà Nho tiến bộ, ông thường mượn đề tài lịch sử hoặc những biểu tượng nghệ thuật bóng gió để kín đáo bộc lộ nỗi đau mất nước, thái độ căm giận bọn cướp nước cùng bè lũ tay sai và bày tỏ khát vọng độc lập, tự do của mình, đồng thời động viên, khích lệ tinh thần yêu nước của đồng bào. Thơ Trần Tuấn Khải được truyền tụng rộng rãi trong giai đoạn đầu thế kỉ XX, nổi tiếng nhất là những bài hát theo làn điệu dân ca như Gánh nước đêm, Anh đi anh nhớ, Hai chữ nước nhà được viết dưới hình thức thơ lục bát và song thất lục bát. Hai chữ nước nhà là bài thơ mở đầu tập Bút quan hoài I, quyển thứ nhất, sáng tác vào năm 1924. Mượn đề tài lịch sử thời quân Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Phi Khanh, một viên quan tài giỏi của triều đình phong kiến đương thời bị giặc bắt đem sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi định đi theo để chăm sóc cha nhưng tới biên giới phía Bắc, Nguyễn Phi Khanh đã khuyên con nên quay về để mưu tính việc trả thù nhà, đền nợ nước. Đoạn trích trong sách giáo khoa gồm 36 câu là phần mỗ đầu của bài thơ dài 101 câu, nội dung kể lại cuộc chia tay đầy ý nghĩa của cha con Nguyễn Trãi đã được ghi vào lịch sử chống ngoại xâm đau thương và oanh liệt của dân tộc. Trong cảnh ngộ đau thương, Nguyễn Phi Khanh gạt lệ khuyên con trai bao điều hữu ích. Đất nước thịnh suy là lẽ thường tình. Làm trai phải biết nuốt hận, chờ thời cơ để trả nợ nước, báo thù nhà. Người cha già lực bất tòng tâm, đành gửi trọn niềm tin vào con trai, mong con nối chí lớn của mình, tiếp tục sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng đất nước. Đoạn trích có thể chia làm ba phần: Phần 1: Từ đầu… đến lời cha khuyên: Tâm trạng đau đớn của người cha trong cảnh ngộ éo le; Phần 2: Tiếp theo… đến sau đó mà: Hiện tình đất nước trong cảnh đau thương, tang tóc. Phần còn lại: Sự bất lực của người cha và lời trao gửi tâm huyết dành cho con. Tại sao tác giả lại lấy Hai chữ nước nhà làm tựa đề của bài thơ? Tựa đề đó gắn với tư tưởng chung của bài thơ như thế nào? Nước và nhà vốn là hai khái niệm, nhưng trong hoàn cảnh riêng của hai cha con Nguyễn Trãi thời xưa (thế kỉ XV) và hoàn cảnh chung của đất nước ta vào những năm đầu thế kỉ XX thì hai khái niệm đó lại có mối liên quan không thể tách rời. Nước mất thì nhà tan. Thù nhà chỉ có thể trả được khi thù nước đã rửa. Bởi thế Nguyễn Phi Khanh muốn nhắc nhở con là hãy lấy nước làm nhà, lấy cái nghĩa với nước thay cho chữ hiếu với cha, như thế là vẹn cả đôi đường. Sức truyền cảm mạnh mẽ của bài thơ toát lên từ nội dung yêu nước. Tác giả đã tái hiện khá đầy đủ khung cảnh buổi chia li và tâm trạng đau thương, khắc khoải cua hai cha con Nguyễn trãi. Điều đó giống như “gảy đúng vào dây đàn yêu nước thương nòi của mọi lòng người”. (Xuân Diệu). Có thể coi những lời khuyên của Nguyễn Phi Khanh trong bối cảnh nước mất, nhà tan là lời trăn trối của cha với con trong giờ vĩnh biệt. Các câu cảm thán đã tạo nên âm hưởng lâm li, thống thiết. Thể thơ song thất lục bát rất phù hợp với việc diễn tả tâm trạng nặng trĩu buồn thương của nhân vật. Nội dung bài thơ không chỉ đơn thuần mang tính chất hoài cổ mà nó chất chứa tâm sự phẫn uất, đau thương của tác giả trước tình cảnh nước mất, nhà tan trong hiện tại. Vì vậy, nó làm rung động lòng người và được truyền tụng rộng rãi, đặc biệt là trong tầng lớp trí thức, thanh niên và học sinh yêu nước. Đốn câu thơ đầu là khung cảnh cuộc chia li: Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm, Cõi giời Nam gió thảm đìu hiu. Bốn bề hổ thét chim kêu, Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình. Cuộc chia tay giữa hai cha con diễn ra ở biên ải phía Bắc vốn là nơi ảm đạm, heo hút, bốn bề rừng núi trập trùng, mây sâu, gió thảm, hổ thốt, chim kêu… Đối với cuộc ra đi không có ngày trở lại của Nguyễn Phi Khanh thì đây tựa điểm dừng chân cuối cùng để rồi vĩnh viễn xa lìa Tổ quốc, quê hương và những người ruột thịt. Tấm trạng đau đớn của kẻ bị lưu đày biệt xứ đã phủ lên cảnh vật một màu tang tóc, thê lương và ngược lại, cảnh vật ấy càng như giục Cơn sầu trong lòng người vốn nặng tình non nước. Tình cảm yêu nước của tác giả đã biến những hình ảnh ước lệ và từ ngữ sáo mòn trong thơ cổ điển thành chân thực và cảm động. Dường như tác giả được trực tiếp chứng kiến cuộc chia tay đau đớn ấy và hóa thân vào cả kẻ ở lẫn người đi để thấu hiểu, đồng cảm với tâm trạng nhân vật, từ đó viết nên những dòng thơ máu hòa nước mắt: Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, Chút thân tàn lần bước dặm khơi, Trông con tầm tã châu rơi, Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên. Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định, Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay. Giời Nam riêng một cõi này, Anh hùng hiệp hữ xưa nay kém gì Hoàn cảnh của cha con Nguyễn Trãi thật éo le: cha bị giặc bắt giải sang Tàu, không mong ngày trở lại; con muốn đi theo để phụng dưỡng cha già cho trọn đạo hiếu, nhưng cha dằn lòng khuyên con trở lại để mưu tính việc đền nợ nước, trả thù nhà. Đối với cả hai cha con, nghĩa nước, tình nhà đều thiêng liêng sâu đậm. Trước cảnh nước mất, nhà tan, cha con li biệt, nỗi đau đớn xót xa trong lòng họ càng tăng lên gấp bội. Nguyễn Phi Khanh khuyên con những điều tâm huyết. Trước hết, ông nhắc nhở con về dòng giống cao quý của dân tộc Việt: Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định. Sau đó phân tích cho con hiểu về quy luật của lịch sử là các triều đại phong kiến ắt phải trải qua các giai đoạn hưng thịnh và suy vong nhưng gương anh hùng, hiệp nữ cứu nước thì xưa nay không hiếm và không kém gì những gương sáng trong lịch sử phong kiến phương Bắc. Để bảo vệ đất nước, người phụ nữ còn làm nghĩa hiệp, huống chi các bậc nam nhi?! Nguyễn Phi Khanh lấy bốn chữ Giang sơn làm trọng để giải thích cho Nguyễn Trãi – người con mà ông yêu quý và tin tưởng nhất. Trong hoàn cảnh và tâm trạng như thế, lời khuyên của người cha có ý nghĩa như một lời trăng trối. Nó thiêng liêng, xúc động vô cùng, khiến người con phải khắc cốt ghi xương. Tác giả hóa thân vào Nguyễn Phi Khanh, người bị biệt xứ lưu đày, tâm tư trĩu nặng nỗi lo đời để miêu tả tình hình bi thảm của đất nước và lên án tội ác trời không dung đất không tha của quân xâm lược: Thân vận nước gặp khi biến đổi, Để quân Minh thừa hội xâm lăng, Bốn phương khói lửa bừng bừng, Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông! Nơi đô thị thành tung quách vỡ, Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con, Làm cho xiêu tán hao mòn, Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu! Những câu thơ này xoáy mạnh vào nỗi nhục mất nước trong tâm can người đọc đương thời. Giặc Pháp bây giờ nào có khác chi giặc Minh thuở ấy, cũng đang gây ra bao cảnh đau thương tang tóc trên đất nước ta. Xen giữa những dòng tâm tư đắng cay, chua xót là những lời cảm thán ngậm ngùi, bi thương: Thảm vong quốc kể sao xiết kể, Trông cơ đồ nhường xé tâm can, Ngậm ngùi đất khóc giời than, Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này! Những động từ, tính từ có sức gợi cảm cao như: kể sao xiết kể, xé tâm can, thương tâm, lầm than đã phản ánh mức độ bi thảm của thực trạng mất nước lúc bấy giờ. Gây xúc động nhất là hình ảnh: Ngậm ngùi đất khóc giời than, quả là “tình cảnh cảm sầu, kể sao cho xiết” đúng như nhận định của nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Tâm sự đau đớn của Nguyễn Phi Khanh được thể hiện trong bài thơ là nỗi đau lớn lao, vượt lên số phận cá nhân, trở thành nỗi đau non nước. Mỗi lời nhắn nhủ con là một tiếng than, tiếng nấc nghẹn ngào, cay đắng. Giọng thơ bi phẫn vốn là sở trường của Trần Tuấn Khải rất phù hợp với việc diễn tả tâm trạng khắc khoải, buồn thương của nhần vật Nguyễn Phi Khanh. Do đó bài thơ có sức lay động lòng người, nhất là đối với những tâm hồn đồng điệu đương thời. Trong những giây phút cuối cùng được sống bên con, Nguyễn Phi Khanh đã đặt ra cho Nguyễn Trãi một câu hỏi lớn, cũng là nỗi niềm băn khoăn không lúc nào nguôi trong lòng ông: Khói Nùng Lĩnh như xây khối uất, Sông Hồng Giang nhường vật cơn sầu, Con ơi! Càng nói càng đau, Lấy ai tế độ đàn sau đó mà? Tác già mượn hình ảnh khói núi Nùng, sóng sông Nhị (sông Hồng còn gọi là Nhị Hà) biểu tượng của kinh đô nước Đại Việt để thể hiện mức độ căm giận quân xâm lược của mình, cơ nghiệp lớn lao vững chắc của ông cha, tổ tiên gây dựng tự bao đời, nay con cháu há lại để rơi vào tay giặc dữ? Nói đến tình cảnh “lực bất tòng tâm” của Nguyễn Phi Khanh, ngòi bút tác giả như đẫm nước mắt: Cha xót phận tuổi già sức yếu, Lỡ sa cơ đành chịu bó tay, Thân lươn bao quản vũng lầy, Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Con nên nhớ tổ tông khi trước, Đã từng phen vì nước gian lao. Bắc Nam bờ cõi phân mao, Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây… Tất cả những lời nói trên của Nguyễn Phi Khanh đều là lời gan ruột, tâm huyết trao lại cho con. Gánh nặng sơn hà, xã tắc đã uỷ thác cho thế hệ sau với tất cả niềm tin tưởng và hi vọng. Lời khuyên của cha kích thích, hun đúc chí nam nhi của con, động viên con hãy tỏ ra xứng đáng với sự nghiệp oanh liệt của tổ tông đã bao phen vì nước. Hai chữ nước nhà là bài thơ nổi tiếng của Á Nam Trần Tuấn Khải. Tác giả tái hiện cuộc chia tay giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi trong bối cảnh nước mất nhà tan để thông qua đó bộc lộ cảm xúc của mình, đồng thời khích lệ lòng yêu nước, ý chí cứu nước của đồng bào ta. Tình cảm sâu đậm, mãnh liệt đối với nước nhà của tác giả đã tạo nên sức sống lâu dài cho bài thơ. Nhà thơ Xuân Diệu nhận xét rất đúng: “Hai chữ nước nhà được xem là bài thơ hay nhất đã tổng hợp các mô típ văn thơ yêu nước của Á Nam, từ giọng bi tráng đến giọng mỉa mai, từ chất căm hờn đến lời mắng mỏ, từ sự dỗi tức nguyền rủa bọn Việt gian chết tiệt đến nỗi đau thương ôm lấy bà mẹ giang san”. Đề 1. Em hãy trình bày hoàn cảnh ra đời của bài thơ Hai chữ nước nhà. Đề 2. Trình bày bố” cục của đoạn trích Hai chữ nước nhà. Đề 3. Ý nghĩa sâu xa của bài thơ Hai chữ nước nhà là khơi dậy lòng căm thù với bọn xâm lược Pháp, nói lên khát vọng tự do của nhân dân Việt Nam. Qua bài thơ, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Phân tích nội dung nghệ thuật thể hiện của đoạn trích Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải
4,953
Phân tích nội dung nghệ thuật đoạn trích Hai chữ nước nhà – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Đoạn trích gồm 36 câu thơ thể song thất lục bát. Đây là đoạn trích trong tập “Bút Quan hoài” sáng tác vào năm 1926. Tác giả đã mượn đề tài có thật trong lịch sử là Nguyễn Phi Khanh – cha của Nguyễn Trãi – bị quân Minh bắt đưa về Trung Quốc. Cuộc chia tay đẫm lệ giữa hai cha con ở “Chốn ải Bắc” – một địa phận thuộc tỉnh Lạng Sơn của nước ta giáp với Trung Quốc. Đoạn trích có thể chia làm 3 phần: Phần đầu: Có 8 câu, tác giả gợi nên cảnh chia li ở nơi biên giới. Cảnh chia tay giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Trãi diễn ra rất ảm đạm, thê lương! Cha đã già phải đem “chút thân tàn lần bước dặm khơi”, còn con thì ở lại với non nước trong cảnh “cõi trời Nam gió thổi đìu hiu”. “Trông con tầm tã châu rơi Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên”. Trần Tuấn Khải đã mượn lời nhân vật lịch sử nói lên nỗi đau “nước mất nhà tan”. Dĩ nhiên trong hai câu thơ trên còn gửi gắm vào đó một niềm tin bởi vì có niềm tin mới khuyên bảo. Phần thứ hai: gồm 20 câu, tác giả gợi lại qua lời người cha về dòng giống Lạc Hồng, về lịch sử trường tồn mấy ngàn năm của dân tộc, như một thiên định: Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì?”. Lời dặn của người cha như bừng bừng căm giận. Giọng nói trở nên khắc cốt ghi tâm những tội ác tày trời của quân xâm lược Minh. Trên mảnh đất tuy có lúc suy thịnh đổi thay nhưng vẫn có những “Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì”- Rõ ràng người cha đã kích động lòng tự hào, tự tôn dân tộc để người con cầm lấy bút mà ghi tội ác của giặc: “Bốn phương khói lửa bừng bừng Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông! Nơi đô thị thành tung quách vỡ Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con Làm cho xiêu tán hao mòn…”. Hãy cầm lấy gươm để thanh toán nỗi căm uất: “Khói Hùng Lĩnh, như xây khói uất Sông Hồng Giang nhường vật cơn sầu Con ơi! Càng nói càng đau Lấy ai tế độ đàn sau đó mà!”. Lời dặn dò đẫm lệ, nức nở trong đau thương nhưng đã khơi dậy ý chí chiến đấu, quyết tâm giữ lấy giang sơn. Phần thứ ba: gồm 8 câu, tác giả đã để cho người cha than thở, nhưng chủ yếu là nói lên niềm tin tha thiết thấm sâu vào trái tim khôi óc người con: “Giang san gánh vác sau này cậy con”. “Hai chữ nước nhà” là bài thơ hay, rất gợi cảm. Ý nghĩa sâu xa của nó còn là kích động lòng căm thù với bọn xâm lược Pháp, nói lên khát vọng tự do của nhân dân Việt Nam. Tags:Văn 8
Phân tích nội dung nghệ thuật đoạn trích Hai chữ nước nhà – Đề và văn mẫu 8
501
Phân tích nội dung nghị luận trong văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Hồ Chí Minh. Hướng dẫn Câu tiêu đề của văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta đã nói lên chủ đề cần bình luận trong văn bản của Bác Hồ. Câu văn đầu tiên: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước” đã nói lên nội dung bài viết. Những câu văn xuất hiện tiếp theo vừa khẳng định sức mạnh to lớn của tinh thần yêu nước vừa giữ chức năng định hướng, giới hạn phạm vi vấn đề được khai triển ở phần sau. Bài văn có bố cục hết sức hợp lí và chặt chẽ, trình bày ba vấn đề chính của lòng yêu nước. Phần thứ nhất nói về tinh thần yêu nước của nhân dân ta trở thành truyền thống quý báu và đó chính là sức mạnh to lớn trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược. Phần thứ hai chứng minh tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong lịch sử chống ngoại xâm và trong cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp. Phần kết bài nêu ra nhiệm vụ phải phát huy tinh thần yêu nước của nhân dân ta mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Để chứng minh cho nhận định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thông quý báu của ta”, Hồ Chí Minh đã dẫn chứng những biểu hiện của tinh thần yêu nước trong lịch sử cũng như trong cuộc chiến hiện tại. Trong phần nội dung, tác giả dẫn chứng về những việc làm cụ thể của mọi tầng lớp, mọi người trong xã hội. Tác giả sử dụng phương pháp diễn dịch để trình bày vấn đề, đi từ những nhận xét bao quát đến dẫn chứng cụ thể. Tác giả đã sử dụng rất hiệu quả thủ pháp liệt kê và lặp cấu trúc trong việc chứng minh tinh thần yêu nước của nhân dân. Đặc biệt là kết cấu “từ – đến” càng làm tăng hiệu quả nghị luận. Trong bài văn, Bác đã sáu lần sử dụng kết cấu “từ – đến” để chứng minh dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đoạn cuối bài văn, tác giả lấy yếu tốtrừu tượng, vô hình để so sánh với cái cụ thể, hữu hình nhằm giúp cho người đọc thấy được hai trạng thái của lòng yêu nước đó là trong lúc bình thường và trong lúc có chiến tranh: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm”. Lúc bình thường thì tinh thần yêu nước được cất trong hòm, nhưng khi đất nước bị lâm nguy thì tinh thần ấy lại sôi sục và bùng lên mạnh mẽ. Cuối cùng Bác cho rằng bổn phận của những người làm cách mạng là “làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. Bằng một hệ thống lập luận chặt chẽ, lí luận sắc bén, cùng với việc sử dụng hiệu quả các thủ pháp nghệ thuật so sánh, liệt kê, Hồ Chí Minh đã khẳng định và chứng minh một cách thuyết phục về tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Phân tích bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài làm Sau chiến thắng Biên giới và Trung du, Đại hội Đảng lần thứ II đã diễn ra tại chiến khu Việt Bắc vào tháng 2/1951. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày trước Đại hội Đảng Báo cáo chính trị. Văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là một phần nhỏ trong bài báo cáo chính trị ấy. Văn bản này được xem như một kiểu mẫu về văn chứng minh, tiêu biểu cho phong cách chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ngắn gọn, súc tích, cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ hùng hồn, dẫn chứng (lịch sử, xã hội) vừa cụ thể vừa khái quát. 1. Mở đầu văn bản tác giả khẳng định và nêu rõ vấn đề phải chứng minh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước”. Hai câu tiếp theo làm nổi bật luận đề. Lòng yêu nước của dân ta rất nồng nàn, là “một truyền thống quý báu” và có sức mạnh “vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Hồ Chủ tịch đã so sánh lòng yêu nước của nhân dân ta bằng hình ảnh “làn sóng”. Các từ ngữ: “sôi nổi”, “kết thành”, “vô cùng mạnh mẽ, to lớn”, “lướt qua”, “nhấn chìm tất cả” – đã ca ngợi và khẳng định sức mạnh lòng nồng nàn yêu nước của dân ta trong trường kì lịch sử: “từ xưa đến nay”, trong tình thế hiểm nghèo: “khi Tổ quốc bị xâm lăng”. 2. Phần thứ hai văn bản, tác giả nêu lên hàng loạt dẫn chứng lịch sử và xã hội để chứng minh, làm sáng tỏ lòng nồng nàn yêu nước của dân ta. Về quá khứ là những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Thủ pháp liệt kê hàng loạt dẫn chứng; các dẫn chứng vừa khái quát, vừa điển hình mở ra trường liên tưởng về bao trang sử hào hùng chông xâm lăng của dân tộc trong tâm hồn người đọc. Các từ ngữ: “Chúng ta có quyền tự hào…”, “chúng ta phải ghi nhớ” đã làm rõ cảm xúc khi nêu dẫn chứng. Cảm xúc dào dạt, lí lẽ hùng hồn, lập luận đanh thép, đó là văn phong của Bác Hồ: “Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”. Từ lịch sử quá khứ, Hồ Chủ tịch nêu nhiều dẫn chứng để chứng minh lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân ta trong hiện tại, trong cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp xâm lược. Có câu chuyển ý, chuyển đoạn rất khéo: “Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước”. Các dẫn chứng được sắp xếp và trình bày qua 3 câu văn dài, có kết cấu liệt kê, trùng điệp: “từ… đến..”. Cách viết ấy đã làm sáng tỏ lòng nồng nàn yêu nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc và nhiệt tình tham gia kháng chiến của nhân dân ta là vô tận. – Các lứa tuổi: “từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ”. – Đồng bào khắp mọi nơi: “từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng bị tạm chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi…”. Bác Hồ khẳng định đồng bào ta “ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước và ghét giặc”. – Tiền tuyến và hậu phương: “từ những chiến sĩ ngoài mặt trận… đến những công chức ở hậu phương…, từ những phụ nữ… đến các bà mẹ chiến sĩ…”. Lòng nồng nàn yêu nước được biểu hiện một cách phong phú, đa dạng muôn màu muôn vẻ: hoặc “chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc”, hoặc “nhịn ăn để ủng hộ bộ đội”, hoặc “khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải”, hoặc “săn sóc, yêu thương bộ đội như con đẻ của mình”. – Các giới đồng bào, các tầng lớp xã hội: “từ những nam nữ công nhân và nông dân… cho đến những đồng bào điền chủ..”, hoặc là “thi đua tăng gia sản xuất.”, hoặc là “quyên ruộng đất cho Chính phủ”. Câu kết đoạn, Bác Hồ bình luận, khẳng định một cách hùng hồn mạnh mẽ: “Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước”. Các dẫn chứng vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa điển hình, vừa toàn diện, đầy sức thuyết phục. 3. Phần cuối văn bản, Hồ Chủ tịch ví lòng yêu nước “như các thức của quý” và nêu lên những biểu hiện của lòng yêu nước, hoặc “trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy”, hoặc “cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm". Bác nêu lên nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân là phải “ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. Tóm lại, Hồ Chủ tịch đã khẳng định và ca ngợi lòng nồng nàn yêu nước và tinh thần bất khuất anh hùng, ý chí chống xâm lăng là một truyền thông quý báu của dân tộc ta. Bài văn đã bồi dưỡng lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc cho mỗi chúng ta. Chúng ta học tập nghệ thuật chứng minh của Bác: cách nêu vấn đề, cách chọn dẫn chứng và trình bày dẫn chứng, lí lẽ và cảm xúc liên kết hài hòa, đầy thuyết phục. LUYỆN TẬP Đề 1. Tinh thần yêu nước của nhân dân ta được Hồ Chí Minh đánh giá như thế nào trong văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Đề 2. Nhận xét về bố cục trong văn bản văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Nguồn:
Phân tích nội dung nghị luận trong văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Hồ Chí Minh.
1,656
Đề bài: Phân tích nội dung và nghệ thuật thể hiện của đoạn trích Hai chữ nước nhà của Ả Nam Trần Tuấn Khải Bài làm Đoạn trích gồm 36 câu thơ thể song thất lục bát. Tác giả đã mượn đề tài có thật trong lịch sử là Nguyễn Phi Khanh cha của Nguyền Trãi bị quân Minh bắt đưa về Trung Quốc. Cuộc chia tay đẫm lệ giữa hai cha con ở “Chốn ải Bắc” – Một địa phận thuộc tỉnh Lạng Sơn của nước ta giáp với Trung Quốc. Đoạn trích có thể chia làm ba phần: Phần đầu: Có 8 câu tác giả gợi lên cảnh chia li ở nơi biên giới. Cảnh chia tay giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Trãi diễn ra rất ảm đạm, thê lương! Cha đã già phải đem “chút thân tàn lần bước dặm khơi” còn con thì ở lại với non nước trong cảnh “cõi trời Nam gió thổi đìu hiu”. Trong thảm cảnh ấy lòng người cha uất hận bất bình dặn lại con: Trông con tầm tã châu rơi, Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên. Trần Tuấn Khải đã mượn lời nhân vật lịch sử nói lên nỗi đau “nước mất nhà tan. Dĩ nhiên irong hai câu thơ trên còn gửi gắm vào đó một niềm tin bởi vì có niềm tin mới khuyên bảo. Phần thứ hai: gồm 20 câu tác giả gợi lại qua lời người cha về giòng giống Lạc Hồng, về lịch sử trường tồn mấy ngàn năm của dân tộc, như một thiên định: Ging Nam riêng một cõi này, Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì! Lời đặn của người cha như bừng bừng căm giận. Giọng nói trở nên khắc cốt ghi tâm những tội ác tày trời của quân xầm lược Minh. Trên mảnh đất tuy có lúc suy thịnh đổi thay nhưng vẫn có những “Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì!” Rõ ràng người cha đã kích động lòng tự hào, tự tôn dân tộc để người con cầm lấy bút mà ghi tội ác của giặc: Bốn phương khói lửa bừng bừng, Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông! Nơi đô thị thành tung quách vỡ, Chốn nhân gian bồ vợ lìa con, Làm cho xiêu tán hao mòn… Và hãy cầm lấy gươm để thanh toán nỗi đau căm uất: Khói Nùng Lĩnh như xây khói uất, Sông Hồng Giang nhường vật cơn sầu, Can ơi! Càng nói càng đau, Lấy ai tế độ đùn sau đó mà còn Lời dặn dò, khuyên nhà thơ đẫm lệ, nức nở trong đau thương nhưng đã khơi dậy ý chí chiến đấu, quyết tâm giữ lấy giang sơn. Phần thứ ba: gồm 8 câu, tác giả đã để lại cho người cha than thở, nhưng chủ yếu là nói lên niềm tin thiết tha thấm sâu vào trái tim khối óc người con: Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Hai chữ nước nhà là bài thơ hay, rất gợi cảm. Ý nghĩa sâu xa của nó còn là kích động lòng căm thù với bọn xâm lược Pháp, nói lên khát vọng tự do của nhân dân Việt Nam. Ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ rất trong sáng giản dị, nhưng nhà thơ đã dùng những cặp câu thơ thất ngôn đối nhau và sử dụng những hình ảnh nhân hoá rất đậm nét. Vì vậy em thấy ở Á Nam Trần Tuấn Khải một bút pháp nghệ thuật có vỏ dân dã nhưng rất độc đáo. Vì vậy ngay từ thời Pháp thuộc bài thơ đã làm cho lòng người phải xúc động không nguôi.
Phân tích nội dung và nghệ thuật thể hiện của đoạn trích Hai chữ nước nhà của Ả Nam Trần Tuấn Khải
593
Phân tích phần cuối đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm Hướng dẫn Phân tích phần cuối đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm Phần cuối đoạn trích “Đất nước” trong sách giáo khoa 12 là đỉnh cao của tư tưởng “Đất nước của nhân dân”. Nhà thơ bày tỏ quan điểm về đất nước qua mỗi thời đại. Dù ở thời đại nào thì các nhà tư tưởng vẫn nhìn thấy vai trò, sức mạnh to lớn của nhân dân đối với đất nước. Nhân dân gánh trên đôi vai mình đất nước đi đến suốt cuộc trường chinh cũng như những công cuộc khai khẩn đất hoang, mở mang bờ cõi. Khi dân tộc trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thì tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” được ý thức rõ ràng hơn trong các tác phẩm. Nếu như ở phần trước, nhà thơ lí giải đất nước có từ bao giờ, đất nước là gì, ở đâu thì phần này, nhà thơ lí giải ai làm ra đất nước. Xuyên suốt mạch cảm xúc chương Đất nước là tư tưởng Đất nước của nhân dân. Tư tưởng ấy được triển khai trên những bình diện: địa lý, lịch sử, văn hóa, truyền thống, tinh thần dân tộc thú vị, độc đáo. Nguyễn Khoa Điềm có những phát hiện độc đáo về những cảnh quan kì thú của non sông gấm vóc: đá Vọng Phu, hòn Trống Mái, núi Bút, non Nghiên…. Không chỉ là tặng vật của thiên nhiên tạo hóa mà đã gắn với cuộc sống con người, với văn hóa, lịch sử dân tộc qua những áng ca dao, cổ tích, qua những cuộc vệ quốc vĩ đại của nhân dân. Nét đặc sắc là cái nhìn của nhà thơ thấm sâu ý thức về nhân dân. Sự hóa thân của nhân dân vào Đất nước: những người vợ chờ chồng như đá Vọng Phu, cặp vợ chồng yêu nhau như hòn Trống Mái, những cái tên đất tên làng như Ông Đốc, Bà Đen…thật bình dị nhưng họ là những người làm nên Đất nước. Nhà thơ không cảm nhận những cảnh quan kì thú đơn thuần là thắng cảnh thiên nhiên mà trong đó là chiều sâu số phận, cảnh ngộ, công lao của mỗi người đã đóng góp, hóa thân vào Đất nước. Đất nước thâm sâu tâm hồn, máu thịt của nhân dân. Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa mộc mạc, dân dã vừa đẹp lấp lánh những chất liệu văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian thấm vào ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng trong đoạn thơ, để hình tượng nhân dân hiện diện khắp nơi trong lối sống, ao ước, khát vọng, trong suốt dọc dài đất nước hơn 4000 năm lịch sử. Đoạn thơ là sự dồn nén, hội tụ đỉnh cao của cảm xúc trữ tình – Đất nước của Nhân dân – Đất nước của ca dao, thần thoại. Nguyễn Khoa Điềm hướng người đọc nhìn về chiều sâu quá khứ bốn ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước của nhân dân. Họ sống và chết, giản dị và bình tâm, họ đã trở thành anh hùng, không ai nhớ mặt đặt tên chỉ đơn giản là những người chiến sĩ vô danh nhưng họ là những người bất tử, hóa thân cho dáng hình xứ sở.
Phân tích phần cuối đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm
565
Đề bài: Phân tích phần kết của đọan trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền. Từ đó nêu nhận xét về nghệ thuật lãng mạn Bài làm Một không khí thiêng liêng được thể hiện qua sự im lặng gần như tuyệt đối của không gian căn phòng nơi Phăng tin chết. Đồng thời sự thiêng liêng đó cũng được thể hiện qua các hành vi của Giăng Van-giăng trong tư thế ngồi, nét mặt, dáng điệu. Ngay cả Gia-ve cũng không dám làm gì khi đó và bà xơ Xem- pli-xơ cũng chỉ là chứng nhân bất động. Mọi hoạt động lúc đó gắn liền với Giăng Van-giăng, song cũng không ồn ào mà hết sức lặng Ịẽ, ngay cả khi nói với người đã chết thì âm thanh ở đây cũng chỉ đủ mức cho hai người nghe, cũng chỉ là thì thầm. Đây là một kiểu không gian đặc trưng khác thường mà nghệ thuật lãng mạn thường quan tâm khai thác và xây dựng. Trước hết, cái đẹp phi thường được thể hiện qua lời kể của nhà văn: Các câu hỏi liên tiếp được đưa ra đầy nghi vấn, càng không hề có chút gì mỉa mai. Các câu hỏi đó đều được giải đáp bằng chi tiết bà xơ Xem-pli-xơ, người độc nhất chứng kiến ấy, là người đã trông thấy một nụ cười không sao tả được hiện trên đôi môi nhợt nhạt. Có thể coi đây là một thực tế vô lí. Song, tác giả đã nhấn mạnh là bà xơ Xem- pli-xơ không bao giờ biết nói dối, bà chỉ nói sự thật, sự thật của mắt thấy tai nghe. Đọc câu văn có những ảo tưởng cảm động, có thể là những sự thực cao cả, ta thấy đưa ra cách lí giải hợp lí ở đây cần chú ý là không chỉ có nụ cười trên môi mà còn có cả nụ cười trong đôi mắt xa xăm, đầy ngỡ ngàng của Phăng-tin nữa. Tất nhiên đây là đôi mắt của người đã chết, song trong không gian thiêng liêng ấy, qua cách nhìn của bà xơ, cái ảo tưởng này có thể giải thích được. Tiếp đó là các hành vi mà Giăng Van-giăng thực hiện với người đã khuất. Các động tác sửa soạn lại tư thế cuối cùng cho Phăng-tin của Giăng Van-giăng. So sánh các động tác ấy với động tác của người mẹ chăm con, người đọc hiểu thêm tình người sâu sắc của ông. Các động tác của Giăng Van-giăng chậm rãi, không gấp gáp mà tuần tự để đi tới động tác cuối cùng: Rồi ông vuốt mắt cho chị. Điều gì đã xảy ra?“Lúc ấy gương mặt Phăng-tin như sáng rỡ lên một cách lạ thường. Đây cũng là biểu hiện độc đáo của nghệ thuật lãng mạn, hướng tới cái khác thương, phi thường trong hoàn cảnh khác thường. Động tác Giăng Van-giăng quỳ xuống trước bàn tay buông thõng ngoài giường của Phăng-tin cũng rất đặc biệt: Giăng Van-giăng quỳ trước bàn tay người phụ nữ vốn đã phải làm cái nghề bán thân nuôi miệng ấy ta thấy sự khác biệt giữa hai cách nhìn về con người này: một của Giăng Van-giăng, một của Gia-ve. Và từ đó ta thấy rõ tình cảm nhân đạo, tình người bao la của tác giả. Các động tác ở đây cũng nhẹ nhàng, tình cảm và tuần tự. Động tác cuối cùng của Giăng Van-giăng là đặt vào bàn tay ấy một nụ hôn. Đọc câu văn sau đây, ta hiểu thêm quan niệm của tác giả về cái chết: Chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại. Đây cũng là một cách nhìn lãng mạn, không giống như quan niệm bình thường, thể hiện niềm tin bất diệt vào thế giới cái thiện. Cái thiện bao giờ cũng gắn với ánh sáng, cái ác bao giờ cũng gắn với bóng tối.
Phân tích phần kết của đọan trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền
657
Đề bài: Phân tích phần tuyên ngôn trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Chí Minh Dàn ý I. MỞ BÀI – Giới thiệu kết cấu bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh – Nhân mạnh "phần tuyên ngôn" và hai yêu cầu của đề bài. II. THÂN BÀI Ý nghĩa sâu sắc của phần tuyên ngôn a) Ý nghĩa lịch sử của Tuyên ngôn độc lập rất sâu sắc và tiến bộ – Đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. – Đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Như vậy là cùng một lúc, cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết cả hai nhiệm vụ: độc lập cho dân tộc và dân chủ cho nhân dân để đưa nước Việt Nam sang một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội( Bình Ngô đại cáo xưa kia, do lịch sử, chỉ mới giải quyết được độc lập dân lộc). Phân tích phần tuyên ngôn trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Chí Minh b) Nội dung tuyên ngôn đầy đủ, toàn diện, chặt chẽ, dứt khoát Tuyên bố thoát li và xoá bỏ mọi ràng buộc với Pháp (về quan hệ, hiệp ước, đặc quyền) – Tuyên bố với thế giới về độc lập và tự do của nước Việt Nam và dân tộc Nam trên cả ba phương điện: Có quyền hưởng tự đo và độc lập. Sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Quyết giữ vững quyền tự do và độc lập ấy. 2. Lập luận chặt chẽ, giọng văn hùng biện đầy sức thuyết phục a)Lập luận chặc chẽ – Lời tổng kết tình hình trong một câu ngắn gọn, hàm súc: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị ” – Nêu ý nghĩa lịch sử của Tuyên ngôn độc lập bằng hai câu gọn, rõ. – Tuyên bố với Pháp: "thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam (về chứ không phải với), xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất Việt Nam" (chữ đùng chính xác và dứt khoát). – Tranh thủ các nước Đồng minh ( tin rằng…, quyết không thể không) công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. – Khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam một cách mạnh mẽ bằng những điệp ngữ được láy đi láy lại ("Một dân tộc đã gan góc…, dân tộc: phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!") Những điều trên đây là tiền đề về lí luận đồng thời cũng là để tạo không khí đưa bài văn đến cao trào, đến lời luyên bố cuối cùng, lời tuyên bố trịnh trọng với thế giới về ba phương diện của một nước Việt Nam tự do, độc lập. b) Giọng văn hùng biện Phần lập luận trên đây cũng cho ta thây giọng văn hùng biện qua cách dùng từ, qua điệp ngữ, qua lời văn trang trọng và giọng văn đanh thép, dứt khoát khẳng định. III. KẾT BÀI Tất cả các điểm trên đã làm nên sức thuyết phục mạnh mẽ của "phần tuyên ngôn" trong bản Tuyên ngôn-độc lập lịch sử này. Đó là do tài nghệ của tác giả nhưng nguồn gốc sâu xa lại chính là ở tấm lòng yêu nước nồng nàn, tha thiết và ý chí độc lập tự do đã trở thành máu thịt, tâm hồn của người Việt.
Phân tích phần tuyên ngôn trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Chí Minh
598
Đề bài: Phân tích phẩm chất cao đẹp của nhân vật Khương Linh Tá qua trích đoạn Dũng khí của Linh Tá trong tuồng Sơn Hậu của Đào Tấn Bài làm Trong số những vở tuồng của Đào Tấn sáng tác hoặc nhuận sắc, vở tuồng “ Sơn Hậu" là một kiệt tác nghệ thuật mang tính chất bi hùng hấp dẫn. Cấu trúc "Sơn Hậu" vô cùng hoành tráng với hàng chục vai diễn, với bao tình huống, tình cảnh đầy máu và nước mắt, được diễn ra trong nhiều đêm liền từng gây xúc động nhiều thế hệ khán giả. Hình tượng các trung thần nghĩa sĩ như Đổng Kim Lân,Khương Linh Tá,… là những ngọn lửa rực cháy sáng giữa đêm dày đen tối mãi mãi bừng sáng hồn người. Đoạn trích "Dũng khí của Linh Tá" chỉ là một màn tuồng ngắn trong vở tuồng "Sơn Hậu". Lòng trung nghĩa, chí quả cảm, đức hi sinh của Khương Linh Tá, tình bạn chiến đấu keo sơn thắm thiết giữa Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân được khắc hoạ sắc nét, đầy sinh động. Màn tuồng này được tái hiện lại hai cảnh: cuộc chiến đấu giữa Khương Linh Tá với ba anh em Ôn Đình; sau khi bị tử thương, Linh Tá tự xách đầu mình, tay cầm ngọn kiếm chạy theo Kim Lân và thứ phi vượt qua vòng vây của bè lũ phản nghịch. Phân tích phẩm chất cao đẹp của nhân vật Khương Linh Tá Đổng Kim Lân đưa hai mẹ con thứ phi chạy trốn. Với quyết tâm diệt cỏ thì nhổ cả rễ, Tạ Thiên Lăng sai ba người em là Ôn Đình, Lôi Phong, Lôi Nhược mang quân hùng tướng mạnh truy kích. Kim Lân gặp phải một tình thế cực kì hiểm nghèo. Giữa lúc đó, Khương Linh Tá xuất hiện, cầm ngang lưỡi gươm cùng đoàn kị mã xuất trận để cản hậu, để bảo vệ hai mẹ con thứ phi. Linh Tá gặp ba anh em Ôn Đình, và cho biết mình đã lĩnh ấn tiên phong đem quân "đoạt lộ" với quyết tâm: "Chém Kim Lân lấy quách đem về; Bắt Phàn thị lập công báo hiệu". Lôi Phong và Ôn Đình đòi xem thánh chiếu thì Linh Tá bảo "chiếu chưa kịp viết" rồi hỏi lại: "Có thánh chiếu, có nhưng mà không – Vậy chứ tam vị đi đó cá chiếu hay không? " Kết thúc cuộc đấu trí gay go, Linh Tá hùng hồn tuyên bố, nêu cao lòng trung nghĩa quyết tâm diệt trừ "Tạ thị gian tà" lũ phản thần bất nghĩa: "Mỗ dốc gánh Tề triều tôn xã; Min lăm trừ Tạ thị gian tà. Tận kì trung vốn có một ta; Thủ kì nghĩa chém đầu ba gã". Mỗ, min, gã… là lời ăn tiếng nói đời thường dân dã. Tôn xã, gian tà, tận kì trung, thủ kì nghĩa… là ngôn từ Hán Việt trang trọng. Sự kết hợp đó là một nét riêng của ngôn ngữ nhân vật trong vở tuồng "Sơn Hậu", tạo nên cốt cách, phong cách vừa bình dị vừa cổ điển. Ôn Đình xua quân tướng xông vào quyết "chém đầu" kẻ đã dám "bẻ nạng chống trời". Hai bên đánh nhau dữ dội. Giữa vòng vây, gươm của Linh Tá thấm đầy máu. Áo giáp và bờm ngựa nhuộm máu đỏ tươi. Tiếng người thét, tiếng gươm giáo khua vang, tiếng ngựa hí,… vang trời dậy đất. Rồi Ôn Đình chém rơi đầu Linh Tá. Linh Tá tay xách đầu mình, tay vung gươm chém giặc, phi ngựa chạy. Có được mục kích vở tuồng "Sơn Hậu" đang diễn ra trên sân khấu thì khán giả mới cảm nhận được cảnh tượng bi hùng. Văn bản tuồng chỉ "nói" với ta một phần nhỏ mà thôi. Khi nhìn thấy Linh Tá "xách đầu ruổi chạy" như tên bay, Ôn Đình "sởn gáy" ghê sợ và hắn cảm thấy đó là một chuyện "dị thường" xưa nay. Bị tử thương giữa trận tiền, tư thế lẫm liệt hiên ngang của Linh Tá còn làm cho kẻ tử thù phải khiếp sợ: "Chém Linh Tá đầu rơi khỏi cổ; Y xách đầu ruổi chạy dường tên. Xem bỗng thấy dờn dờn; Hòa mình đều sởn gáy. Luận như đấng ấy Kim cổ dị thường” Có thế nói cảnh Linh Tá "xách đầu ruổi chạy" là một cảnh bi tráng nhất trong vở tuồng "Sơn Hậu" được tác giả sáng tạo nên đã làm nổi bật khí phách anh hùng của đấng trượng phu phi thường, của bậc trung thần dám xả thân vì đại nghĩa. Sau khi chém rơi đầu Linh Tá, Ôn Đình xua quân đuổi theo Kim Lân và thứ phi quyết thực hiện mưu ma chước quỷ. Linh Tá, Kim Lân, thứ phi nối tiếp nhau cất lời than, cùng thổ lộ nỗi niềm. Tình bạn chiến đấu vào sinh ra tử có nhau, nguy khốn có nhau như ngọn lửa bất diệt toả sáng tâm hồn, trái tim nhân vật. Tự xách đầu mình chạy theo "hiền hữu" Đổng Kim Lân, Linh Tá tiếc cho mình bị sa cơ, than cho sự nghiệp người anh hùng cớ sao lại bị đất dày hãm hại (địa hậu hà hại ngã?). Dù phải "xa chơi dị lộ", nhưng Linh Tá vẫn không quên nhắc nhở, cậy nhờ người bạn chiến đấu: "Cậy anh phò hoàng tử thứ phi Khá gắng sức phù Tề, diệt Tạ” Đó là lời trăng trối của nghĩa sĩ. Đó là lời tâm huyết của những anh hùng thời loạn cùng chung lí tưởng trung quân, cùng đồng sinh đồng tử! Ngã xuống trên chiến địa mà vẫn "không nguôi lời thề": tận trung và quyết chiến "phù Tề, diệt Tạ". Trong cơn bi thương và nguy kịch, Kim Lân vô cùng thương xót Linh Tá. Nhìn đầu bạn đầy máu rơi xuống đất, mà lòng đau khôn xiết kể. Biết ngày nào mới gặp lại nhau? Gan ruột đau đớn như cắt ra từng khúc, lòng tái tê buồn đau, lệ đầm đìa tuôn chảy: "Thống thiết cát can li đoạn đoạn; Sầu đê mê lệ sái uông uông!" Giọng văn lâm li thống thiết. Trong tiếng than có lời nguyền. Ngôn ngữ các vai tuồng biến hoá. Các điệu hát như giá ban, than, tán, nói, nam – của các nhân vật được thể hiện biến hoá làm nổi bật lòng xót thương, nỗi buồn đau, tình ngưỡng mộ vô cùng sâu sắc. Linh Tá đã hi sinh nhưng tinh thần người nghĩa sĩ còn sáng mãi: "Vị quốc gia chi đại nghĩa – Hoài cơ nghiệp tận kì trung". Một tấm da ngựa bọc thây bạn, một nấm mồ liệt sĩ ven đường, ngoái đầu nhìn lại, Kim Lân "cúi đầu… dời chân", tự hào về Linh Tá, nguyện noi gương mà nuôi chí phục thù: "Lợi bất cầu, gắng câu nghĩa khí; Sánh bách tùng, là chí trượng phu". Sự hi sinh lẫm liệt của Linh Tá làm cho thứ phi vừa đau đớn vừa quyết tâm nuôi dưỡng và giữ vững ý chí chiến đâu sắt son: "Vận nghèo hè cả rúng xiêu – Vạc nghiêng đỡ vạc, thành xiêu bồi thành". Có một đạo diễn đã nói: "Có được xem diễn tuồng mới thấy được cái hay của tuồng, nếu chỉ đọc tuồng thì mới gặp anh hùng trong mộng. Vai diễn, phục sức, hoá trang, đạo cụ, âm nhạc, ánh sáng, phông màn,… tất cả đều góp phần làm nên vẻ đẹp cổ điển, hoành tráng, bi tráng của các vở tuồng pho như "Sơn Hậu", “Tam nữ đồ vương ", "Trầm hương các", "Đào Phi Phụng", "Quan Công phá quan", v.v… của Đào Tấn sáng tạo nên và để lại cho nghệ thuật sân khấu dân tộc. Nhiều câu hát bằng chữ Hán trong vở tuồng "Sơn Hậu" không dễ hiểu đối với nhiều người. Qua màn tuồng này, cốt cách anh hùng phi thường, lòng trung nghĩa sắt son, tình bạn chiến đấu vào sinh ra tử có nhau… của Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân mãi mãi như ánh sao băng rực sáng giữa đêm dày thời loạn. Họ là những anh hùng tận trung vì đại nghĩa được người đời ngưỡng mộ, như Đào Tấn viết: "Lao xao sóng vỗ ngọn tùng, Gian nan là nợ anh hùng phải vay”.
Phân tích phẩm chất cao đẹp của nhân vật Khương Linh Tá qua trích đoạn Dũng khí của Linh Tá trong tuồng Sơn Hậu của Đào Tấn
1,373
Phân tích quan điểm của Nguyễn Khoa Điềm về bài thơ Đất nước Hướng dẫn Phân tích quan điểm của Nguyễn Khoa Điềm về bài thơ Đất nước Bài làm Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới trong thời kì kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta. Các tác phẩm của ông luôn chứa đựng những tâm tư, suy nghĩ của một tri thức trẻ cũng như ca ngợi vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam. Tiêu biểu trong số đó chính là trích đoạn “ Đất Nước” nằm trong tác phẩm “ Mặt đường khát vọng” được viết năm 1971. Có một lần trong bài trả lời phỏng vấn Nguyễn Khoa Điềm đã từng nói: “ Tôi cố gắng thể hiện hình ảnh Đất nước gần gũi, giản dị. Đó là cách để đi vào lòng người, cũng là cách nhà thơ đi con đường riêng của mình không lặp lại người khác.” Quả thật, qua đoạn trích Đất nước, ta đã thấy rõ được quan điểm của ông. Mở đầu đoạn trích tác giả đã giới thiệu và giải thích quá trình hình thành đất nước bằng những ngôn từ giản dị, gần gũi nhất: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa”… mẹ thường hay kể. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó… Bằng những từ ngữ thân thuộc, bình dị, Nguyễn Khoa Điềm đã gợi lên được một hình ảnh đất nước thân thương, giản dị. Đó không phải là khái niệm gì đó xa xôi, trìu tượng mà nó xuất phát chính từ những đồ dùng, vật dụng hay thói quen của dân tộc ta từ xưa đến nay. Đất nước được hình thành như một lẽ tự nhiên và tất yếu, từ khi sinh ra nó đã có, và cứ thế mà phát triền từ thời kì này qua thời kì khác. Tác giả không dùng những mốc thời gian, sự kiện lịch sử để nói lên quá trình đất nước được gây dựng mà thay vào đó là qua lời ru của mẹ “ngày xửa ngày xưa”. Đó là cách giới thiệu vừa gần gũi lại vừa dễ hiểu đối với bất kì, kể cả đối với những đứa trẻ. Xuyên suốt các giai đoạn lịch sử, đất nước luôn gắn liền với những thói quen, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đó chính là miếng trầu bà ăn, búi tóc mẹ bới hay trồng tre đánh giặc. Cha mẹ, ông bà ta chung sống với nhau ân trọng nghĩa tình, cùng nhau xây dựng, bảo vệ quê hương khỏi moi kẻ thù muốn xâm lăng. Đến đoạn thơ tiếp theo, tác giả đã cho ta thấy được hình ảnh đất nước trong tình cảm con người, tình yêu đôi lứa với nhau: Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất nước là nơi ta hò hẹn Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Hình ảnh đất nước không chỉ hiện lên trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mà nó còn trở nên đẹp đẽ trong mắt của những con người đang yêu nhau. Họ là những thanh niên tuổi đôi mươi, tràn trề sức sống và luôn ấp ủ những hoài bão. Tác giả đã cắt nghĩa hai từ “đất” và “nước” để cho ta thấy rõ hơn sự thiêng liêng của đất nước trong mỗi con người. Đó không phải là nơi nào đó quá xa xôi, kì vĩ mà là những nơi mà cả anh và em hàng ngày vẫn hay đến “ nơi anh đến trường”, “ nơi em tắm”, “nơi ta hẹn hò”. Đây có thể coi là một hình ảnh thể hiện sự tinh tế, độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, hai từ “ Đất nước” bị cắt ra làm đôi nhưng vẫn trọn vẹn và gắn kết với nhau. “Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Đoạn trích này giống như một lời dặn dò mà tác giả muốn nhắn nhủ tới những thế hệ trẻ đi sau. Đó chính là phải biết tiếp nối bước chân cha anh đi trước, gây dựng mà phát triển đất nước. Để có được một cuộc sống bình yên như ngày hôm nay, rất nhiều người con, người lính của tổ quốc đã phải ngã xuống, chính vì vậy mà những người đang sống bây giờ phải có trách nhiệm “ sinh con đẻ cái”, gánh vác những phần mà người trước để lại. tích quan điểm của Nguyễn Khoa Điềm về bài thơ Đất nước Ta có thể thấy được sự độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm trong việc xây dựng một hình ảnh đất nước thân thuộc gần gũi đó chính là dựa trên chất liệu dân gian kết hợp với hiện tại. Ở trên, ông dùng những phong tục tập quán, những truyền thống tốt đẹp để nói về Đất nước, ở dưới, ông lại gắn Đất nước trong trách nhiệm của những người trẻ. Ông không bao giờ quên công lao của những người đi trước và luôn dặn dò thế hệ sau phát tiếp tục cố gắng, phát triển Đất nước: Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra đất nước” Điều độc đáo, khác biệt của Nguyễn Khoa Điềm so với những nhà thơ khác nói về đất nước đó chính là giọng văn chính luận kết hợp với những câu thơ trữ tình lắng đọng. Ẩn sau những câu thơ cảm xúc là những vốn sống, văn hóa là những chân lí chẳng thể nào sai: “Đất nước này là đất nước của nhân dân Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.” Hai câu thơ tuy ngắn nhưng đã thể hiện được nét tinh tế, nét riêng của Nguyễn Khoa Điểm, đó chính là kết hợp giữa những giá trị dân gian và những giá trị thực tại: đất nước của nhân dân và đất nước của ca dao thần thoại. Hai trường phát định nghĩa khác nhau nhưng tựu chung lại vẫn cho thấy được một hình ảnh đất nước gắn kết, thân thương. Qua đoạn trích “ Đất nước”, ta đã thấy được ý kiến của Nguyễn Khoa Điềm là hoàn toàn chính xác và tinh tế. Ông đã thể hiện được một hình ảnh đất nước mới lạ nhưng cũng rất thân thương, quen thuộc.
Phân tích quan điểm của Nguyễn Khoa Điềm về bài thơ Đất nước
1,138
Phân tích quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Phân tích quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng, là nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Người không chỉ là một người chiến sĩ trên mặt trận quân sự mà còn là một chiến sĩ trên mặt trận văn chương. Minh chứng cho điều này là Người đã để lại một kho tàng văn học đồ sộ với số lượng tác phẩm khổng lồ. Người viết văn, làm thơ trước hết và chủ yếu do nhận thấy văn chương là vũ khí sắc bén chống quân thù và là phương tiện thuận lợi để tuyên truyền cách mạng. Nhưng cũng có lúc,trước cảnh thiên nhiên vẻ đẹp con người, những vần thơ lại được viết ra với mục đích giãi bày và cho thỏa lòng yêu con người yêu thiên nhiên. Trước hết, nhiệm vụ và lí tưởng cách mạng là một trong những mục đích sáng tác lớn nhất trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh. Cho nên trước khi đặt bút, Bác thường đặt ra những câu hỏi: Viết để làm gì? Viết cho ai? Viết như thế nào? Mỗi bài viết của Bác đều nhằm phục vụ một mục đích cụ thể, một đối tượng cụ thể, vì thế mà văn phong của Bác vô cùng linh hoạt và đa dạng.những tác phẩm viết ra đều mang một ý nghĩa vô cùng to lớn có nội dung và mục đích rõ ràng. Trải qua nhiều biến cố và thay đổi của cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác, tùy thuộc vào hoàn cảnh mà những tác phẩm do người viết ra cũng có những thay đổi nhằm phù hợp với tư tưởng hình thức và phong cách viết. Bác đã luôn luôn thay đổi cho phù hợp. Điều đó tạo nên đặc điểm phong phú, đa dạng trong sự nghiệp văn học của Bác. Văn chính luận là phong cách chính của Hồ Chí Minh. Bác đó là các tác phẩm với những vấn đề Bác nói đến không ngoài nội dung tuyên truyền cách mạng, giáo dục tiêu biểu như: Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn Độc lập, Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến… với lối lập luận sắc bén, dẫn chứng cụ thể,các tác phẩm có sức thuyết phục sâu sắc. Không chỉ dừng lại đó, chúng ta phải nhắc đến thơ chiếm một số lượng khá lớn. Bác làm thơ bằng chữ Hán, chữ quốc ngữ và nhiều thể loại khác nhau (tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, song thất lục bát.. trong đó “Nhật ký trong tù “là cuốn nhật ký viết bằng chữ Hán, dưới dạng thơ, ghi lại cụ thể diễn biến của mười bốn tháng Bác sống trong ngục tù của chính quyền quân phiệt Tưởng Giới Thạch từ năm 1942 đến 1943. Nó vừa là một tài liệu lịch sử vô giá, đồng thời là một tác phẩm văn chương lớn, nội dung toát lên vẻ đẹp lạ thường của một tâm hồn đại trí, đại nhân, đại dũng. Chính vì vậy mỗi khi nhắc tới Nhật Kí trong tù người ta vẫn có một cái nhìn đa chiều về chế độ, đời sống và tư tưởng của người. Thêm vào đó,trong quá trình hoạt động cách mạng, Người cũng sáng tác nhiều bài ca dưới hình thức văn vần để giác ngộ quần chúng: Bài ca binh lính, Bài ca sợi chỉ, Bài ca đoàn kết… Bác viết thật dễ hiểu, dễ nhớ để quần chúng có trình độ thấp dễ tiếp thu. Và người đã từng phê phán cách viết cầu kì, sính dùng chữ hoặc dài dòng “dây cà ra dây muống” không phù hợp với quần chúng nhân dân. Bằng chính hiểu biết của mình Người đã từng bước làm thay đổi cái nhìn về văn chương. Bước vào thời kì Kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp gian khổ, ác liệt là thế; Người lại phải gánh vác trách nhiệm cứu dân, cứu nước; song không vì vậy mà Người quên văn chương. Người sáng tác những bài thơ vừa có tính hiện thực sâu sắc vừa đậm đà chất lãng mạn cách mạng: Cảnh khuya, cảnh rừng Việt Bắc, Tức cảnh Pác Bó, Đi thuyền trên sông Đáy, Rằm tháng Giêng, Tin thắng trận, Lên núi, Tặng cụ Bùi… với nội dung chủ yếu là ca ngợi kháng chiến, qua đó Người thể hiện niềm tin tưởng sâu xa vào thắng lợi tất yếu của kháng chiến, ca ngợi nghĩa tình thủy chung, gắn bó giữa quần chúng và cách mạng, đồng thời vẽ nên những bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp: Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền. (Rằm tháng Giêng) Qua các tác phẩm và câu thơ,Người muốn khẳng định một cách kín đáo: không có thơ ở ngoài cuộc sống của toàn dân tộc và hiện thực hào hùng của kháng chiến là nguồn thi hứng không bao giờ vơi cạn đối với các nhà thơ: Trăng vào cửa sổ đòi thơ, Việc quân đang bận, xin chờ hôm sau. Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu, Ấy tin thắng trận Liên khu báo về. (Tin thắng trận) Hay bên cạnh đó cũng có những câu thơ miêu tả cảnh sinh hoạt kháng chiến: Xem sách chim rừng vào cửa đậu Phê văn hoa núi ghé nghiên soi Tin vui thắng trận dồn chân ngựa Nhớ cụ, thơ xuân tặng một bài. (Tặng cụ Bùi) Mặc dù văn chương là một phần không thể thiếu khi nhắc tới Hồ Chí Minh và những sáng tác của Người đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm và ý nghĩa sâu sắc. Người làm văn chương trước hết là để phục vụ cách mạng, nhưng khi sáng tác Bác rất say mê và nghiêm túc, cho nên Người đã vô tình để lại trong kho tàng văn học Việt Nam những tác phẩm có giá trị lớn lao về nội dung và nghệ thuật lẫn hình thức thể hiện. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh
1,030
Đề bài; Phân tích quan điểm yêu của Xuân Diệu qua Vội vàng Bài làm Trước khi vào tìm hiểu bài thơ này, ta hãy điểm qua một số nét trong quan niệm yêu đương của Xuân Diệu – một chàng trai trẻ, hiền hậu và say mê Tóc như mây vướng trên đài trán thơ ngây, miệng cười rộng nở như tấm lòng hăm hở, hối ha và tham lam nữa trong ái ân! Thời ấy, trong những lạc thú sống trên đời, Xuân Diệu chọn tình yêu là đề tài, là nguồn cảm hứng vô tận để sáng tác. Quả thật, anh có duyên nợ với thơ tình, đó là con người của trời đất, người đã nhận kiếp trước mình đã yêu, cả kiếp này ngọn lửa yêu ấy vẫn bất diệt: Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi Lúc chưa sinh vơ vẩn giữa luân hồi… Nhận thấy kiếp phù sinh của con người như bóng câu, như sương đầu núi, thoáng hiện ra rồi mất đi, Xuân Diệu giải thích: Sương với bóng không nghĩa gì tỏ rõ Xin đừng cười, đời có nghĩa gì đâu? Thi nhân nhận thấy không thể có liều thuốc trường sinh như mơ ước của Tần Thủy Hoàng thuở trước nên tự thú: Nhưng nghĩ lại sống vẫn hơn là chết Gần hay xa, yêu mến ngọt ngào thay? Do đó: Làm sao sống được mà không yêu Không nhớ, không thương một kẻ nào? Bởi vậy, lời yêu đương ít khi vắng bóng trong thơ Xuân Diệu: có người mang triết lí sống của chim én bay lượn trên trời xanh để kiếm ăn, con bướm vàng (chuyền hoa để hút nhụy) mà chỉ trích, nhưng Xuân Diệu cười đáp: Thôi thi dậy nói cùng nhau cho thỏa Ai có thương thì tôi cũng cảm ơn Ai có ghét tôi cũng cười khuây khỏa! Và cứ thế, nhà thơ sợ bước đi của thời gian tuy từ từ và đều đặn nhưng không bao giờ dừng lại. Nó dẫm đạp lên tất cả uy quyền bạo lực, tiền tài danh vọng, không từ ai. Bởi vậy nhà thơ tuy còn rất trẻ đã sớm “giục giã“, “vội vàng" trong yêu đương Nhà thơ muốn tắt nắng đi, bắt thiên nhiên dừng lại để mọi sinh vật đều tận hưởng: Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa… Cái tháng giêng, đầu năm ngon lành “như một cặp môi gần" nhưng vẫn đáng sợ, vì ngay từ trong tâm tưởng đã có những suy tư về cái lô gich thời gian đi theo quy luật của nó, cho nên: Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng lại mới hoài xuân. Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nglĩa là tôi cũng mất… Như thế là đã rõ tại sao phải sống, yêu vội vàng" và lại phải trở lại cái buồn cố hữu sợ sự chuyên hóa tự nhiên và sợ cảnh chia phôi: Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt. Con gió xinh thì thào trong lá biếc. Phải chăng hờn nỗi phải bay đi? Cuối cùng, nhà thơ miên man, rung cảm cuộc sống yêu đương trong nghệ thuật một cách tham lam, hối hả, làm thế nào để ôm, riết, say, thâu cho thật nhiều những gì đang thèm muốn. Ta muốn ôm… Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn, Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều… Nghĩa là làm thế nào cho cuộc đời “chuếnh choáng mùi thơm, cho đã dầy ánh sáng, cho no nê thanh sắc của thời tươi”. Sung sướng, choáng ngợp với những cái đó nhà thơ thét lên vì thích thú, sung sướng: Hỡi xuân hồng… Nhưng có người hỏi tại sao đi theo Vũ Đình Liên – một người thao thức, luyến tiếc một hồn thơ cũ mỗi ngày bị tước đoạt, mòn mỏi trong bài Ông đồ tiêu biểu nhất. Phải chăng Xuân Diệu muốn lôi kéo Vũ Đình Liên khỏi cái ngậm ngùi ngán ngẩm trong sự giao cảm của hai linh hồn thơ “cũ và mới’’ như hai dòng điện gặp nhau xoẹt lửa; gây nên tiếng nổ tuy không ghê gớm như sấm động, mưa dông nhưng cũng ồn ào xao động.
Phân tích quan điểm yêu của Xuân Diệu qua Vội vàng
709
Đề bài: Nhận xét gì về quyết định dứt khoát của nhân vật Hồn Trương Ba với Đế Thích cho cu Tị được sống lại và mình được chết hẳn, chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ Bài làm Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, Lưu Quang Vũ đã thể hiện nổi nỗi đau khổ, day dứt ngày càng lên cao đến mức không chịu được của nhân vật Trương Ba từ khi hồn Trương Ba nhập vào xác của anh hàng thịt. Hồn Trương Ba luôn bị day dứt, dằn vặt đau khổ bởi bị mâu thuẫn gay gắt giữa cái thân xác phàm phu tục tử bên ngoài với tâm hồn thanh sạch, cao đẹp bên trong, chính vì vậy mà Hồn Trương Ba có một quyết định dứt khoát là xin tiên Đế Thích cho cu Tị được sống lại và mình được chết hẳn, chứ không nhập hồn vào thân xác ai nữa. Phân tích quyết định dứt khoát của nhân vật Hồn Trương Ba Quyết định dứt khoát xin tiên Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết hẳn chứ không nhập vào thân xác ai nữa của nhân vật Hồn Trương Ba là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lí. Tính hợp lí của quyết định này của Hồn Trương Ba được Lưu Quang Vũ trình bày một cách chặt chẽ, theo đúng diễn biến tâm lí của Hồn Trương Ba. Ngay từ lúc Hồn Trương Ba được tiên Đế Thích cho nhập vào xác của anh hàng thịt, Hồn Trương Ba đã phải khổ đau, trăn trở và ngày càng thấm thía nỗi đau xót, trớ trêu khi lâm vào một tấm bi kịch “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”. Hồn Trương Ba không thể chịu đựng được nữa trong cảnh sống như thế, mà chỉ muốn được sống thực sự là mình “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn…” và đã phản kháng lại tiên Đế Thích “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khúc, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết”. Tính hợp lí trong quyết định của Hồn Trương Ba càng được thể hiện rõ, dứt khoát ngay sau cái chết của cu Tị. Hồn Trương Ba dứt khoát không để tiên Đế Thích cho nhập hồn mình vào xác của cu Tị, mà chọn cái chết để hồn được thanh thản và xin cho cu Tị được sống, vì Hồn Trương Ba rất yêu mến cu Tị bởi cu Tị là đứa bé "ngoan lắm, khôn lắm". Hơn nữa, Hồn Trương Ba khi thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào xác cu Tị để sống thì Hồn Trương Ba thấy rõ “bao nhiêu sự rắc rối”: “Nhập vào cu Tị… Tôi, một ông già gần sáu mươi, cu Tị còn chưa bắt đầu cuộc đời, còn đang tuổi ăn, tuổi lớn, chạy nhảy vô tư… Bao nhiêu sự rắc rối. Bà vợ tôi, các con tôi sẽ nghĩ ngợi, xử sự thế nào, khi chồng mình, bố mình mang thân một thằng bé lên mười”. Càng nghĩ, Hồn Trương Ba càng thấy oái oăm rắc rối hơn. Trẻ con phải ra trẻ con, người lớn phải ra người lớn, thằng cu Tị bỗng thành ông nội, con bé đời nào chịu. Tôi đã lường trước thấy bao sự không ổn, ông Đế Thích ạ”. Nhận thức tỉnh táo ấy cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến nhân vật Hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát là để cho cu Tị được sống, còn mình nhận lấy cái chết để được thanh thản. Cái chết của cu Tị có ý nghĩa đẩy nhanh diễn biến kịch đi đến chỗ nút kịch được mở. Qua quyết định dứt khoát này, ta càng thấy Trương Ba là một con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt, Trương Ba là một con người nhận thức được thế nào là một cuộc sống đích thực, có ý nghĩa.
Phân tích quyết định dứt khoát của nhân vật Hồn Trương Ba với Đế Thích cho cu Tị được sống lại và mình được chết hẳn
715
Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo Hướng dẫn Bài tập làm văn phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo bao gồm dàn ý phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo hay nhất. Dàn ý phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo I.Tìm hiểu chung 1.Tác phẩm Nam cao đặt tên cho tác phẩm này là Cái lò gạch cũ, 1941 đổI lạI là Đôi lứa xứng đôi, 1945 sửa lạI là Chí Phèo, in trong tập Luống cày. 2.Tóm tắt * Sống lương thiện, nghèo khổ: Ngày khi chào đờI, Chí Phèo bị bỏ rơi trong một cái lò gạch cũ. Được dân làng nuôi, Chí Phèo lớn lên như một loài cây dạI, tuổI thơ hết đi ở nhà này lạI đi ở cho nhà nọ, tuổI thanh niên ra sức làm thân trâu ngựa cho nhà lí Kiến. Vì một chuyện ngờ ghen vớ vẫn lí Kiến đã nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù. * Bị tha hoá: Sau bảy, tám năm biệt tích, Chí Phèo trở về làng, hoàn toàn biến đổI nhân hình lẫn nhân tính, làm tay sai của bá Kiến và trở thành con quỷ của làng Vũ Đại. Anh sống triền miên trong những cơn say, không ý thức được hành động tàn ác của chính mình: Chí Phèo đã bị biến chất, tha hoá hoàn toàn. * Rơi vào bi kịch và vùng lên để thoát khỏI bi kịch: Cho nên khi Chí Phèo gặp thị Nở trong một cơn ốm và anh được thị Nở chăm sóc. Tình cảm chân thật của Thị Nở đã khơi dậy ý thức và lương tâm của Chí Phèo. Anh nghĩ rằng thị Nở cảm thông được vớI mình thì ngườI khác cũng có thể chấp nhận mình, nên mong được làm hoà vớI mọI người. Bản chất tốt đẹp của ngườI lao động trong Chí Phèo vốn tiềm tàng, nay có cơ hộI tỉnh thức, anh muốn làm ngườI lương thiện. * Chí Phèo lạI rơi vào bế tắc và thảm kịch xảy ra: Chí Phèo tha thiết muốn trở về vớI mọI ngườI, nhưng tất cả làng Vũ ĐạI đều sợ hãi và xa lánh anh. Thị Nở lạI “cắt đứt” vớI Chí Phèo. Anh lạI rơi vào tình thế hoàn toàn tuyệt vọng và bỗng nhận ra kẻ đã cướp quyền làm ngườI của mình là bá Kiến. Thảm kịch xảy ra: anh đâm chết bá Kiến rồI tự sát. 3.Chủ đề Khám phá số phận bi thảm của ngườI nông dân nghèo bị tha hoá trong xã hộI cũ và thể hiện tinh thần nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc. II.Phân tích 1.Lưu ý * Tha hoá: là biến đổI thành cái khác. Trong truyện Chí Phèo, tình trạng con ngườI bị tha hoá có thể hiểu ở hai phương diện. Một là không được sống như bản chất ngườI của mình: Chí Phèo vốn là một nông dân lương thiện mà phảI sống như một con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Hai là những sản phẩm do mình tạo ra lạI trở thành xa lạ, thậm chí thù địch vớI chính mình: những ngườI nông dân như Chí Phèo đã xây dựng nên làng Vũ ĐạI cần lao và lương thiện, nhưng cái làng ấy không chấp nhận Chí Phèo quay về, thậm chí còn thù ghét và sợ hãi anh (khi Chí Phèo chết, cả làng cảm thấy mừng rở). * Bi kịch: ở đây chỉ con ngườI rơi vào một tình huống bi thảm, không lốI thoát, nhưng ngườI ta chỉ cảm thấy tình huống đó khi ý thức được. Chí Phèo tuy bị tha hoá từ lâu, nhưng trước khi gặp thị Nở, anh sống triền miên trong những cơn say và chưa thấy mình khổ, nghĩa là chưa thật sự có bi kịch nộI tâm. Cho đến lúc bị ốm, gặp thị Nở, Chí Phèo tỉnh ra, mớI ý thức được tình trạng tha hoá của mình và bi kịch bắt đầu diễn ra trong đờI sống nộI tâm của anh. 2. Phân tích cụ thể a.Giá trị tố cáo hiện thực – nhât vật bá Kiến * Trong truyện Chí Phèo, Nam Cao có phân tích các quan hệ xã hộI nông thôn miền Bắc nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945. Quan hệ đó gồm hai mâu thuẫn: o Mâu thuẫn thường xuyên trong nộI bộ bọn cường hào, địa chủ thống trị. Bọn chúng như một đàn cá tranh mồi. MồI thì ngon và bè nào cũng muốn ăn, do đó, chúng luôn luôn rình cơ hộI để trị nhau, muốn cho nhau lụn bạI để cườI lên đầu lên cổ nhau. Mâu thuẫn khá phổ biến, gay gắt ngày có liên quan đến số phận những binh Chức, Năm Thọ, đặc biệt là Chí Phèo. o Mâu thuẫn giai cấp đốI kháng giữa bọn địa chủ cường hào thống trị vớI ngườI nông dân lao động bị áp bức bóc lột được tác giả tập trung thể hiện một cách sâu sắc. * Nhân vật tiêu biểu cho gia cấp thống trị là bá Kiến được Nam Cao vạch trần bộ mặt tàn ác, xấu xa của hắn. Đây là một tên cường hào cáo già trong “nghề” thống trị dân đen, được khắc hoạ qua những chi tiết ngoạI hình thật độc đáo, từ giọng quát rất sang, lốI nói ngọt nhạt đến cái cườI Tào Tháo. Bằng cách để nhân vật độc thoạI, tự phơi ra những tính toán, thủ đoạn, âm mưu thâm độc trong việc đàn áp, thống trị tầng lớp nông dân, tác giả đã lột trần bản chất gian hùng của bá Kiến: mềm nắn rắn buông, sợ kẻ cố cùng liều thân, bám thằng có tóc, một ngườI khôn ngoan thì chỉ bóp đến nửa chừng, ngấm ngầm đẩy ngườI ta xuống sông, nhưng rồI lạI dắt nó lên để nó đền ơn… Bản chất gian hùng ấy của bá Kiến tập trung đầy đủ trong cái cách đốI xử của hắn vớI Chí Phèo. b.Giá trị nhân đạo – nhân vật Chí Phèo * Trước hết, Chí Phèo là một sản phẩm của tình trạng áp bức bóc lột ở nông thôn nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945. Đó là hiện tượng ngườI lao động lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh dần dần bị tha hoá. Vì hờn ghen vớ vẫn. Lí Kiến đẩy anh canh điền vào nhà tù. Nhà tù thực dân đã tiếp tay lão cường hào thâm độc để giết anh chết phần “ngườI” trong con ngườI Chí Phèo, biến Chí thành Phèo, biến ngườI nông dân lương thiện thành quỷ dữ. Chi tiết kết thúc tác phẩm đầy ngụ ý, biết đâu lạI chẳng có một “Chí Phèo con” bước từ cái lò gạch cũ vào đờI để “nốI nghiệp bố” Hiện tượng Chí Phèo chưa thể hết khi xã hộI tàn bạo vẫn không cho con ngườI được sống hiền lành, tử tế, vẫn còn những ngườI dân lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh, tộI lỗi. Sức mạnh phê phán, ý nghĩa điển hình của hình tượng Chí Phèo chính là vạch ra được cái quy luật tàn bạo, bi thảm này trong cái xã hộI tốI tăm của nông thôn nước ta thờI đó. * Nam Cao đã cho thấy tất ca nỗI thống khổ ghê gớm của nhân vật Chí Phèo. NỗI thống khổ đó không phảI là không nhà không cửa, không cha không mẹ, không họ hàng thân thích… mà chính là Chí Phèo bị xã hộI vằm nát cả một mặt ngườI, cướp đi linh hồn ngườI, phảI sống kiếp sống tốI tăm của con vật lạ. Đó chính là nỗI thống khổ của cá thể sinh ra là ngườI nhưng lạI không được làm ngườI và bị xã hộI từ chốI, xua đuổI. Tình trạng bi thảm này được tác giả minh chứng trong đoạn mở đầu giớI thiệu một chân dung, một tính cách “hấp dẫn”, vừa hé cho thấy một số phận bi đát. Dù say rượu đến điên khùng, Chí Phèo vẫn như cảm nhận thấm thía “nông nỗI” khốn khổ của thân phận mình. Anh chửI trờI, chửI đờI rồI chuyển sang chửI tất cả làng Vũ ĐạI, cuốI cùng anh chửI thằng cha con mẹ nào đẻ ra cái thằng Chí Phèo. Không ai chửI lạI anh vì rất đơn giãn là không ai coi anh như con người. * Nam Cao có vài cái nhìn đầy chiều sâu nhân đạo khi đi vào nộI tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của những con ngườI khốn khổ. Chí Phèo đến vớI thị Nở trong một đêm trăng say rượu. Như điều kì diệu là thị Nở không phảI chỉ khơi dậy bản năng ở gã đàn ông say, mà lòng yêu thương mộc mạc chân thành, sự chăm sóc giản dị của ngườI đàn bà khốn khổ ấy đã làm thức tỉnh Chí Phèo. Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá thậm chí bị huỷ hoạI của Chí Phèo, phần bản chất lương thiện ngày thường bị lấp đi vẫn le lói một ánh sáng lương tri, sẽ bừng sáng lên lúc gặp cơ hội. Lúc được thị Nở chăm sóc, Chí Phèo thật sự ngạc nhiên vì xưa nay, nào có thấy ai tự nhiên cho cái gì, mà hắn phãi doạ nạt hay là giật cướp mớI có được. Lần đầu tiên khi tỉnh giấc, anh bâng khuâng nghe tiếng chim hót (…) tiếng cườI nói của những ngườI đi chợ, thì niềm ao ước có một gia đình nho nhỏ trỗI dậy trong lòng anh. Nam Cao viết: “… hắn có thể tìm bạn được, sao lạI chỉ gây kẻ thù? (…) Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà vớI mọI ngườI biết bao!” * Còn thị Nở, một ngườI phụ nữ bị ngườI làng xa lánh như tránh một con vật nào rất tởm, khi được yêu thương thì tình yêu làm cho có duyên, chị biết lườm, biết thẹn thùng, tiếng “vợ chồng” thấy ngường ngượng mà thinh thích. Nam Cao tự hỏI: “Đó vẫn là điều mong muốn âm thầm của con ngườI khốn nạn ấy chăng?” * VớI một tình cảm nhân đạo sâu sắc, Nam Cao đã phát hiện phần sâu kín đang âm ỉ cháy trong tâm hồn của kẻ bị tha hoá là Chí Phèo, của kẻ u mê là thị Nở: họ luôn tha thiết mong được thương yêu. được cảm thông và được sống hoà nhập vớI mọI người. * Nhưng con đường trở lạI làm ngườI lương thiện vừa mở ra trước mắt Chí Phèo bị chặn đứng lại. Bà cô của thị Nở dứt hoát không cho cháu bà đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lạI đi lấy thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ra ăn vạ. Bà ta cũng giống như mọI ngườI, quen coi Chí Phèo là “ con quỷ dữ” từ lâu rồi. Thế là Chí Phèo bị rơi vào một bi kịch tâm hồn đau đớn, bi kịch của con ngườI không được nhận làm người. Ngay trong phút giây tuyệt vọng đó, anh xách dao đến nhà Bá Kiến, không chỉ vì say mà chủ yếu vì lòng căm thù vẫn âm ỉ lâu nay trong đầu óc u tốI của anh giờ đây đã bừng lên. Những lờI lẽ cuốI cùng của Chí Phèo bộc lộ tất cả bi kịch nộI tâm đau đớn đó: “Tao muốn làm ngườI lương thiện (…) Không đựơc! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là ngườI lương thiện được nữa. Biết không!”. Sau khi đâm chết Bá Kiến, Chí Phèo chỉ còn một cách là tự sát. Thế là trước đây, để bám lấy sự sống, Chí Phèo đã từ bỏ nhân phẩm, bán linh hồn cho quỷ; giờ đây ý thức về nhân phẩm thức dậy, linh hồn đã trở về, Chí Phèo lạI phảI tự huỷ diệ cuộc sống của mình. c.Giá trị nghệ thuật Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc, thể hiện nghệ thuật viết truyện độc đáo cùa Nam Cao. * Trước hết là cách xây dựng nhân vật điển hình. Bá Kiến, Chí Phèo vừa tiêu biểu cho những loạI ngườI có bề dầy trong xã hộI, vừa là những cá tính độc đáo và có sức sống mạnh mẽ. Tâm lí nhân vật được miêu tả thật tinh tế sắc sảo, tác giả có khả năng đi sâu vào nộI tâm để diễn tả những diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật. * Cách dẫn dắt tình tiết toàn truyện thật linh hoạt, không theo trật tự thờI gian mà vẫn rành mạch, chặt chẽ, lôi cuốn: cảnh Chí Phèo trở về làng, lai lịch Chí Phèo, cảnh Chí Phèo gây sự, nằm vạ ở nhà Bá Kiến, từ tên cường hào bá Kiến dẫn tớI các tên sừng sỏ khác ở làng Vũ ĐạI, rồI Chí Phèo biến thành tay chân đắc lực cho Bá Kiến, bị tha hoá… * Ngôn ngữ thật tự nhiên sống động, khẩu ngữ được sử dụng nhuần nhị, mang hơi thở của đờI sống. Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ tác giả, có khi vừa là ngôn ngữ nhân vật. * Giọng văn biến hoá, không đơn điệu. tác giả như nhập vai vào từng nhân vật, chuyển từ vai này sang vai khác một cách linh hoạt, tự nhiên. III. Kết luận – Tác phẩm Chí Phèo mang giá trị nhân đạo sâu sắc, thể hiện tấm lòng yêu thương, trân trọng của Nam Cao đốI vớI những ngườI khốn khổ. – Chí Phèo còn là tiếng kêu cứu thiết tha của những ngướI bất hạnh. Hãy bảo vệ và đấu tranh cho quyền được làm ngườI của những con ngườI kương thiện. Họ phảI được sống và sống hạnh phúc, không còn những thế lực đen tốI của xã hộI đẩy họ vào chổ cùng khốn, bế tắc, đầy bi kịch xót xa… Bài văn mẫu phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo – bài 1 Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Bản chất của Chí Phèo là một con người lương thiện, luôn khao khát được sống như một người bình thường, muốn sống lương thiện nhưng lại bị xã hội lúc bấy giờ biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Bi kịch này bắt đầu diễn ra trong nội tâm Chí Phèo khi hắn gặp Thị Nở với “bát cháo hành”. Chính tình yêu Chí Phèo – Thị Nở đã đánh thức con người lương thiện của hắn. Hay nói cách khác chính sự xuất hiện của Thị đã cứu Chí Phèo thoát khỏi tấn bi kịch đó dù chỉ là trong phút chốc. Chí Phèo là kiệt tác của Nam Cao. Trên cơ sở người thật, việc thật ở quê mình, tác giả đã hư cấu, sang tạo nên bức tranh hiện thực sống động về xã hội nông thôn Việt Nam trước CMT8 với tất cả sự tăm tối, ngột ngạt cùng bao nhiêu bi kịch đau đớn, kinh hoàng… Dù có được đặt tên là Cái lò gạch cũ, Đôi lứa xứng đôi hay Chí Phèo thì tác phẩm ấy vẫn được nhận ra bởi giá trị hiện thực và nhân đạo vô cùng to lớn của nó. Nhân vật chính Chí Phèo là đại diện điển hình cho bi kịch của những người nôn dân bị tha hoá trong xã hội cũ. Nhưng những cảnh ngộ cùng quẫn, bi đát trong cái xã hội ấy đã không thể làm cho những người dân quê khốn khổ như Chí Phèo mất đi niềm khao khát được sống tốt đẹp và lương thiện. Trong con người họ lúc nào cũng luôn âm ỉ một sự phản khánh vô cùng mạnh mẻ. Một chút về Chí Phèo, ta có thể thấy hắn là một đưa con rơi, ra đời trong cái lò gạch cũ, lớn lên bằng tình thương bố thí của những người nghèo. Khi lớn lên làm canh điền trong nhà Bá Kiến lại bị vợ ba Bá Kiến gọi lên “bóp chân”; Bá Kiến sanh long ghen tuông nên đưa đi tù. Thời gian sau, Chí Phèo lại trở thành “con quỷ dữ của làng “Vũ Đại” tác oai tác quái dân lành. Chí Phèo chìm trong cơn say, chỉ có một lần hắn tỉnh thật sự vào một buối sáng (đã được Thị Nở đánh thức). Nhưng rồi tình yêu bị đổ vỡ. Bế tắc, đi tìm lương thiện, hắn giết Bá Kiến rồi tự giết mình. Chí Phèo chết nhưng chưa hết truyện. Thị Nở “nhìn nhanh xuống bụng” và “và thoáng hiện ra cái lò gạch cũ”. Một “Chí Phèo con” sắp ra đời. Cách sắp xếp khá tinh tế độc đáo. Cứ mỗi lần Chí Phèo ngoi lên thì lại bị cuộc đời này đè xuống. Khiến người đọc phải theo dõi liên tục không thể rời được. Hay cho Nam Cao khi xây dựng được một chiều diễn biến tâm lý nhân vật thật xuất sắc. Ta có thể nhận thấy dễ dàng nhất ở đoạn Chí Phèo mở mắt thì trời đã sang… Một lần hắn tỉnh. Những thanh sắc cuộc sống “mặt trời chắc đã cao”, “tiếng chim ríu rít” lại hiện lên mặc dù hắn đang ở trong cái lều ẩm thấp. Lần đầu tiên hắn tỉnh, và cũng là lần đầu tiên hắn có những rung động với trước cuộc sống. Hắn nghe “tiếng cười nói của những người đi chợ”, “nghe tiếng thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”. – Rồi những kỉ niệm xưa lại hiện về. Có lần hắn ước ao “một gia đình nho nhỏ. Chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải…mặc dù chỉ là mơ hồ. – Từ đấy hắn cảm thấy buồn cô độc. + Cái diễn biến tâm lí của một con quỷ đang hướng về lương thiện. Trong truyện ngắn Chí Phèo, quá trình bị cự tuyệt quyền làm người thật ra đã bắt đầu từ lâu, diễn ra đồng thời với quá trình bị tha hoá. Tiếng chửi ngay từ đầu tác phẩm đã thể hiện điều đó.Chí cất lên tiếng chửi trời, chửi đời, chửi làng xóm, tất cả mọi người – những kẻ không chửi lại, cả những kẻ đã đẻ ra hắn. Tiếng chửi ấy như là tiếng hát để được giải thoát, vu vơ, ngân ngơ của một thằng say. Vậy mà nó thật trừu tượng mà cụ thể, xa đến gần, có thứ tự và vô cùng văn vẻ. Tiếng chửi là khao khát được giao tiếp với đời dù là hình thức giao tiếp hạ đẳng nhất. Nhưng nó lại không được ai đáp lại cả. Nhưng phải từ khi gặp Thị Nở, tức là từ khi Chí Phèo thức tỉnh, bi kịch mới thật sự bắt đầu. Chí Phèo ngạc nhiên, xúc động khi Thị Nở bê bát cháo hành sang cho Chí Phèo. Hương vị cháo hành là hương vị của tình yêu chân thành, hạnh phúc giản dị mà to lớn. Rồi liên tiếp, Chí Phèo đều cảm thấy hơi cháo hành thoang thoảng trong mũi. Lần đầu là khi Thị từ chối, hắn nghĩ ngợi một tí, rồi hình như hiểu, hiểu mình đã có quá nhiều tội lỗi, ngẩn người ra để tự hổi làm sao để trở lại làm một con người bình thường?! Lần thứ hai là lần quyết định hành động, hắn uống thật nhiều rượu nhưng càng uống lại càng tình, tình ra lại buồn, lúc đó hơi cháo hành lại thoang thoảng xuất hiện, đó là ý nghĩa biểu trưng, hắn lại nghĩ đến Thị, phân vân giữa việc làm người và một con quỹ, đó chính là ước mơ lương thiện, làm một con người như mọi người! Rồi đến lúc gặp mặt Bá Kiên, những hành động đó mới là tư thế làm người cuối cùng trước khi chết của Chí Phèo. Một Chí Phèo tỉnh đã giết chết 1 Chí Phèo say. Chí Phèo bằng xương, bằng thịt đã chết nhưng còn lại trong lọng người đọc là Chí Phèo đòi quyền sống, đang dõng dạc đòi làm người lương thiện. Như vậy, khi ý thức nhân phẩm đã trở về, Chí Phèo không bằng lòng sống như trước nữa. Và Chí Phèo chết trong bi kịch đau đớn, chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống. Đây không thể là hành động lưu manh mà là sự vùng lên tuyệt vọng của người nông dân khi thức tỉnh cuộc sống. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp phong kiến thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp diễn… Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo – bài 2 Trong những năm 40 của thế kỉ, cuộc sống của nhân dân ta rất khó khăn, bị bóc lột khổ cực, hay chính họ là những nô lệ cho tầng lớp quan lại, bí bách không lối thoát. Trước hiện thực ấy, đã có rất nhiều nhà văn đứng lên bênh vực cho lẽ phải, phê phán hiện thực bằng ngòi bút của mình. Trong các tác giả đó, phải kể đến Nam Cao, ông nổi bật với những trang viết khai phá sâu sắc bi kịch của những kiếp người khổ đau trong bóng tối của xã hội. Chí Phèo là một trong những tác phẩm được coi là kiệt tác của ông về tài năng cũng như trong phong cách nghệ thuật. Truyện ngắn Chí phèo đã được Nam Cao tái hiện lại hình ảnh nông thôn của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ (trước Cách mạng tháng Tám). Đó là một xã hội được đặc trưng bởi một bên là bộ mặt của Bá Kiến, Lí Cường, Đội Tảo…là một đội ngũ cường hào, đại chủ thống trị, bóc lột sức lao động của nhân dân, nhưng cũng chính trong nội bộ này cũng có sự mâu thuẫn. Bọn chúng như một đàn cá tranh mồi. Mồi thì ngon mà bè nào cũng muốn ăn, do đó, chúng luôn rình cơ hội để thống trị lẫn nhau, muốn cho nhau lụi bại để cưỡi đầu cưỡi cổ lên nhau. Mâu thuẫn khá phổ biến, gay gắt, có liên quan đến những số phận Binh Chức, Năm Thọ và đặc biệt là Chí Phèo. Tầng lớp thứ hai là những người như Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức họ lại hợp thành một nhóm riêng. Họ là những người dân thường, những người lao động nghèo, nhưng đã bị manh hóa, bị mua chuộc và trở thành tay sai cho bọn địa chủ thống trị, những tên cường hào, lí dịch và gây nên không biết bao nhiêu tội vạ cho những người lương thiện. Dưới ngòi bút của Nam Cao, bức tranh xã hội hiện lên đầy kịch tính, chất chứa những xung đột bùng nổ. Tác giả đã xây dựng hình tượng Chí Phèo là người điển hình cho những người bị tha hóa. Tha hóa tức là biến đổi thành cái khác. Khi con người bị tha hóa thường xấu xa đi so với bản chất lương thiện của họ. Chí Phèo, bị tha hóa ở hai phương diện. Chí Phèo vốn là một người có bản chất hiền lành, là người nông dân lương thiện mà phải sống như một con quỷ dữ ở làng Vũ Đại. Không chỉ thế, những người dân làng Vũ Đại trở nên xa lánh Chí, không chấp nhận cho Chí quay về làm “người”. Thậm chí mọi người còn sợ hãi, đáng thương hơn là khi Chí chết cả làng không ai thương tiếc mà lại vui mừng. Thông qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã trực tiếp nêu lên vấn đề con người bị tha hóa, bị vong thân, mất nhân tính, nhân cách vì bị áp bức, bóc lột, đói khổ, cùng cực. tác giả đã mổ xẻ vấn đề trong cuộc sống, ý thức về quyền sống, quyền làm người, ý thức nhân cách, nhân phẩm ngay ở những con người bị cộng đồng khinh bỉ, gạt sang bên lề của xã hội. Nhưng người đọc cũng có thể thấy được, truyện Chí Phèo còn giúp người đọc có cơ sở để chia sẻ những dằn vặt, đau khổ của con người khi không được làm người, chỉ mong ước có được cuộc sống bình thường, tiếng kêu không ai đáp “Ai cho tôi lương thiện” của Chí như thức tỉnh về số phận của mình, nhưng tiếng kêu của anh đã không ai chấp nhận. Chính sự ý thức được bản thân mình bị tha hóa, muốn quay về làm người lương thiện nhưng không ai chấp nhận hắn, đã dẫn đến bi kịch tiếp nối trong cuộc đời hắn. Chí Phèo tuy đã bị tha hóa từ lâu, nhưng trước khi gặp Nở, hắn sống triền miên trong men rượu và chưa thấy mình khổ, tức là chưa thực sự có bi kịch nội tâm. Cho đến lúc bị ốm, Chí gặp Nở, một người phụ nữ xấu đến “ma chê quỷ hờn” đã giúp hắn thức tỉnh ra được tình trạng tha hóa của mình và bắt đầu diễn ra trong đời sống nội tâm của Chí. Chí Phèo đã ý thức được kẻ gây ra cuộc đời đau khổ, biến hắn thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại chính là Bá Kiến, nhân vật tiêu biểu cho giai cấp thống trị. Bá Kiến đã được Nam Cao vạch trần bộ mặt xấu xa, tàn ác của hắn. Đây là một tên cáo già cường hào trong “nghề” thống trị dân đen. Trông thì có vẻ cao sang, ăn nói hiểu đời, hiểu người, giúp đỡ những người khó khăn trong lúc hoạn nạn. Nhưng chính hắn lại đẩy những người tốt như Chí đến con đường tội ác, bản chất của hắn thật ghê tởm. Vì thế, Chí đã đến để đòi lại công bằng với Bá Kiến trong những cơn say, nhưng lại là lúc tỉnh nhất trong đời của Chí. Nhưng vì quá nhỏ bé trước thế lực thống trị độc ác nên khiến Chí đau khổ lại nối tiếp đau khổ. Đau khổ tột cùng hơn khi Chí muốn có một gia đình với Thị Nở. Mấy ngày ở với Thị Nở hắn mới biết đến cái cảm giác ấm áp của gia đình, biết vui, biết buồn, biết mơ ước, biết ăn năn…Như vậy, Chí không phải là người máu lạnh. Nhưng vốn là người “dở hơi” không có lập trường nên Thị Nở cũng đã cự tuyệt Chí. Và con đường cuối cùng của hắn là đến tìm giết Bá Kiến sau đó tự sát. Một cái kết đau thương cho những con người không lối thoát trong cuộc sống. Kết thúc câu chuyện, không chỉ dừng ở đấy, tuy Bá Kiến chết nhưng vẫn còn con cái, các thế lực cường hào lại tiếp tục bóc lột dân đen, còn Thị nhìn xuống cái bụng của mình và cái lò gạch bỏ hoang. Người dân hiểu rằng “Tre già măng mọc”. Và như vậy, cái chết của Chí và Bá Kiến tố cáo lên thực cảnh xã hội nhưng chưa giải quyết được thực cảnh ấy. Nam Cao là người có sự thông cảm, sẻ chia sâu sắc với nông dân mới hiểu được và khắc họa lên bức tranh xã hội như vậy. Tác giả đã xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo không chỉ là người đại diện cho tầng lớp bị tha hóa, mà đó còn là tiếng kêu cứu thiết tha của những con người bất hạnh. Hãy bảo vệ và đấu tranh để bảo vệ quyền lợi, quyền sống, quyền làm người của họ. Qua đây, ta có thể thấy được giá trị nhân đạo sâu sắc được thể hiện trong truyện ngắn Chí Phèo. Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo – bài 3 Nam Cao là nhà văn lớn, có những đóng góp quan trọng cho văn học dân tộc. Nếu chọn ra ba tác giả văn xuôi nổi tiếng nhất thế kỉ XX của người Việt thì chắc chắn không thể vắng ông- nhà văn của những trí thức, những nông dân nghèo khổ, khốn cùng. Và nếu phải chọn ra ba kiệt tác của Nam Cao thì không thể không có “Chí Phèo”. Trong một số câu chữ không quá nhiều, nhà văn đã chuyển tải được những thông điệp có ý nghĩa rất lớn với con người. Còn Lưu Quang Vũ lại được xem như một nhà soạn kịch tài năng nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là tác giả của gần 50 vở kịch trong đó có những vở gây chấn động dư luận như “Lời thề thứ 9”, “Tôi và chúng ta”, “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”… Kịch của Lưu Quang Vũ đã phản ánh được những vấn đề bức thiết của thời đại, đồng thời mang tính triết lí sâu sắc. Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ tuy ra đời trong những hoàn cảnh xã hội – lịch sử khác nhau nhưng tất thảy đều đề cập đến những bi kịch của con người, trong đó có bi kịch tha hóa. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về bi kịch. Thông thường, người ta cho rằng bi kịch là trạng thái đau khổ về tinh thần khi con người đứng trước những mâu thuẫn không thể hóa giải, khi mong muốn khát vọng và thực tiễn hoàn toàn trái ngược… Còn “tha hóa” theo nhiều nhà nghiên cứu, vốn có xuất xứ từ trong triết học của Hê-ghen.Giờ đây, nó đã biến đổi về nghĩa rất nhiều so với ban đầu. Tha hóa được hiểu là đánh mất giá trị, bản chất thông thường vốn có. Chúng ta vẫn quen dùng hai chữ ấy để chỉ những gì thuộc về con người và các hoạt động của con người, liên quan đến chủ thể con người, theo hướng chẳng tốt đẹp gì. Do những nguyên nhân khác nhau, cả Chí Phèo và Trương Ba, hai nhân vật trung tâm trong hai tác phẩm đều rơi vào bi kịch tha hóa đau đớn. Trong tác phẩm “Chí Phèo”, khác với các nhà văn hiện thực phê phán đương thời Nam Cao không đi sâu miêu tả quá trình đói cơm, rách áo bần cùng khốn khổ của người nông dân, mặc dù trong thực tế, đó cũng là một hiện thực phổ biến.Nhà văn trăn trở băn khoăn suy ngẫm nhiều hơn về một hiện thực còn thảm khốc hơn cả đói rét bần cùng. Đó là sự tha hóa… Tác phẩm được mở đầu bằng tiếng chửi ngoa ngoắt, thách thức của Chí. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi làng Vũ Đại, chửi những ai không chửi nhau với hắn và cuối cùng chửi người đã sinh ra hắn.Đây là tiếng chửi của một tên say rượu, một tiếng chửi vô thức. Nhưng đôi khi trong vô thức, con người lại thể hiện chính mình nhiều hơn khi tỉnh.Qua tiếng chửi của Chí Phèo, người đọc cảm thấy như đang đối diện với một con “người- vật” quái gở, đang ở tận cùng của khổ đau, đang trút lên cuôc đời tiếng nói hằn học, phẫn uất, đầy đau khổ của mình.Cũng qua tiếng chửi của Chí, người đọc nhận ra ba thái độ khác nhau: thái độ hằn học, thù địch đau khổ của Chí, thái độ khinh miệt dửng dưng của người đời, thái độ phẫn uất thương cảm của tác giả.Tiếng nói nhân ái của nhà văn đã đánh thức tấm lòng người đọc. Qua cách dẫn dắt của người kể chuyện, người đọc hiểu rằng trước kia Chí vốn hiền lành lương thiện, tự trọng.Hắn đã từng mơ ước được sống bằng hai bàn tay lao động của mình với “một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải..”. Làm canh điền cho lí Kiến bị bà ba lợi dụng xúc phạm Chí cảm thấy rất nhục.Chỉ sau khi ở tù về, hắn mới hóa thành một kẻ khác hẳn “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn…”.Cái mặt hắn cũng trở nên dị biệt “không trẻ cũng không già, nó không còn phải là mặt người,nó là mặt một con vật lạ..”. Sau khi ở tù về, hắn đã trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.Những cơn say triền miên đã cướp đi ngày tháng của hắn “Hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu chửi bới rạch mặt ăn vạ trong lúc say..”. Trong cơn say, hắn đã phá nát bao cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện.Chí Phèo đã trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.Nhưng hắn chưa bao giờ nhận ra sự thật nghiệt ngã ấy. Thậm chí còn tự đắc “Anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”.Sự tha hóa hằn in trong bộ dạng trong ngôn ngữ trong hành động và cả trong những ngộ nhận của nhân vật về mình. Chí đã rơi vào tình trạng đáng lo ngại mà không biết. Bị đối xử tàn bạo Chí đã phản kháng bằng sự bạo tàn. Đó là sự “phẫn nộ tối tăm” như Lênin đã từng nói. Trong “Chí Phèo”, Nam Cao đã chỉ ra rằng, Chí Phèo không phải một ngoại lệ. Bên cạnh hắn còn có Binh Chức, Năm Thọ… Đó là kết quả tất yếu của một lô-gic: một khi đã có Bá Kiến, Lí Cường, Đội Tảo… thì tất sẽ có Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức…Đó không chỉ là sản phẩm của sự thống trị mà còn là một phương tiện thống trị “Không có những thằng đầu bò thì lấy ai trị những thằng đầu bò”.Xã hội không chỉ đẻ ra Chí Phèo mà còn tiếp tục nuôi dưỡng Chí Phèo, biến những con người như Chí Phèo thành công cụ thống trị xã hội. Cũng như Chí Phèo, Trương Ba trước đây là con người hoàn toàn khác. Trương Ba là người nông dân chăm chỉ, khéo léo,yêu thương vợ con, chiều quý các cháu, tốt bụng với hàng xóm láng giềng, yêu cây cỏ…Từ khi sống trong xác anh hàng thịt,Trương Ba trở nên vụng về, thô tục, thô bạo, vô tình…Trương Ba thích bán thịt, ham uống rượu, những nước cờ không còn phóng khoáng mà tủn mủn, vô hồn…Trương Ba đã bị xác hàng thịt điều khiển, chi phối. Nếu Chí Phèo tha hóa mà không biết mình tha hóa, thì Trương Ba lại nhận thấy rất rõ tình trạng khốn khổ của mình. Cho dù không muốn thừa nhận, cho dù muốn bám víu vào trò chơi tâm hồn thì Trương Ba vẫn không thể phủ nhận sự thật là ông đang đánh mất mình “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta a, mày đã tìm đủ mọi cách để lấn át ta”. Cuộc đối thoại thẳng thắn giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt đã đã diễn tả khá sâu sắc nỗi hoang mang hoài nghi, sự bất lực của con người. Mọi lí lẽ của Trương Ba không thể lung lay thứ lập luận lấm láp bụi trần nhưng hùng hồn thuyết phục của xác hàng thịt “Hai ta đã hòa vào nhau làm một rồi”. Dù khinh bỉ xác hàng thịt, Trương Ba vẫn phải quay trở lại xác hàng thịt. Sự thay đổi của hồn Trương Ba trong thời gian trú ngụ ở xác hàng thịt càng ngày càng rõ nét. Lưu Quang Vũ đã khéo léo mượn lời các nhân vật khác- những người thân trong gia đình Trương Ba để chỉ ra điều ấy.Hồn Trương Ba bây giờ đâu còn là người làm vườn chăm chỉ, hết lòng yêu thương vợ con như trước. Ông cũng chẳng quan tâm dến chuyện của bà con làng xóm. Hồn Trương Ba thô lỗ phũ phàng không còn nhẹ nhàng khéo léo khi chữa diều, chăm sóc cây cối như trước nữa. Ngày cả chị con dâu người thông cảm cho tình cảnh của hồn Trương Ba, cũng xót xa ngỡ ngàng bởi không thấy hình ảnh con người “hiền hậu, vui vẻ tốt lành” của Trương Ba trước đây. Những lời thoại sau đó của hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức sâu sắc, thấm thía về tình cảnh trở trêu của mình:“Ông chĩ nghĩ đơn giản là cho tôi sống nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết”. Nỗi khốn khổ của Trương Ba và Chí Phèo đều do kẻ thống trị gây nên. Bá Kiến nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù 7,8 năm. Tiếp thu sự giáo dục của nhà tù thực dân Chí Phèo đã trở thành kẻ côn đồ hung hãn. Hắn vùng lên liều mạng để trả thù. Nhưng hắn đã gặp kẻ thống trị nham hiểm, xảo quyệt và bị biến thành công cụ cho kẻ thù của mình. Ông Trương Ba hiền hậu tử tế, tốt bụng còn đang rất khỏe mạnh,mặc dầu chưa tận số đã phải chết thay cho một tên bạc ác bất nhân, lừa thầy phản bạn, dối trá tham tàn bởi cung cách làm việc luộm thuộm, thiếu trách nhiệm, muốn xong việc nhanh của Nam Tào. Nếu cứ để Trương Ba chết đi thì tác phẩm chỉ là tiếng nói tố cáo sự cẩu thả vô trách nhiệm của Nam Tào. Nhưng Đế Thích đã sữa chữa sai lầm của Nam Tào bằng cách để cho hồn Trương Ba sống lại trong thân xác hàng thịt. Không chỉ Nam Tào mà Đế Thích cũng mắc phải sai lầm. Đâu phải cứ làm điều tốt cho người khác là mang lại hạnh phúc cho họ.Ở địa vị cao, mà không thận trọng với những quyết định của mình, con người dễ gây ra những sai lầm không thể sửa chữa. Bi kịch tha hóa của hồn Trương Ba có nguyên nhân trực tiếp từ sự tắc trách, quan liêu của quan nhà trời. Nhưng còn nguyên nhân gián tiếp? Ấy là định kiến của con người về xác hàng thịt. Đối với những người thân của Trương Ba và ngay cả Trương Ba, xác hàng thịt là hiện thân cho những gì tầm thường phàm tục nhất. Song đó lại là những nhu cầu thiết thực cho mọi sự sống: được ăn, được mặc, được thỏa mãn những nhục cảm cá nhân… Phủ nhận những nhu cầu ấy là phủ nhậnphần bản năng trong mỗi người. Vậy thì đâu chỉ có Trương Ba bất hạnh. Xác hàng thịt cũng thật đáng thương! Chí Phèo tha hóa đã gây ra bao thảm cảnh cho dân làng. Còn hồn Trương Ba đã trở thành tâm điểm của sự rối ren. Không chỉ riêng hồn Trương Ba hay gia đình ông khốn đốn mà còn bao gia đình khác, bao nhiêu cuộc sống khác chao đảo, chịu hệ lụy. Lỗi lầm bắt đầu từ tiên thánh, những kẻ nắm vận mệnh con người và sau đó con người với sự vô sỉ, thỏa hiệp cùng cái xấu đã đẩy tất cả dến chỗ rối ren hơn. Tái hiện sống động và rõ nét bi kịch tha hóa của Chí Phèo, Nam Cao đã bộc lộ một cái nhìn hiện thực sắc sảo đồng thời nói lên sự gắn bó đồng cảm thấu hiểu sâu sắc cuộc sống của người nông dân. Ông đã đem đến cho những trang viết của mình sức mạnh của sự khám phá phát hiện. Trước Nam Cao, các nhà văn hiện thực chỉ mới chú ý tới tình trạng bần cùng hóa. Trước Nam Cao, Nguyên Hồng mới chỉ phản ánh và miêu tả loại nhân vật lưu manh thành thị. Hiện tượng tha hóa, lưu manh ở nông thôn với những đặc điểm riêng, với ý nghĩa quan trọng của nó lần đầu tiên được Nam Cao quan tâm và miêu tả tập trung, rõ nét. Ông đã đem đến cho văn học hiện thực 1930-1945 một điển hình về người nông dân, phơi bày bản chất của nông thôn đen tối trước Cách mạng. Với Lưu Quang Vũ, sự tha hóa của hồn Trương Ba cũng là một hiện thực nhức nhối trong xã hội. Con người “muốn nuôi sống xác thân/ Đem làm thịt linh hồn” (Chế Lan Viên). Nhưng bi kịch của Trương Ba còn gợi ra những suy tư về mối quan hệ giữa hồn và xác, giữa ý thức và bản năng…Có ai là toàn vẹn hoàn hảo không? Những đòi hỏi của thân xác có phải tội lỗi đáng ghê tởm không? Vở kịch do vậy vừa có ý nghĩa xã hội vừa mang tính triết lí sâu xa. Những điều mà hai nhà văn muốn nói qua tấn bi kịch tha hóa không chỉ có thế. Người đọc có thể sẽ nhớ đến một ý kiến rất sâu sắc của Nguyễn Minh Châu: Có một số khá đông con người bây giờ đang sống trong một cái thế rất chông chênh giữa một câu nói lịch sử và một câu nói gắt bẳn (…). Và trong từng con người luôn luôn có tiếng gọi thì thầm “Đừng nói thế, đừng làm thế!” Rồi lại một lời thúc giục khác: “Cứ nói bừa đi! Cứ làm bừa đi!”. Nam Cao, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Minh Châu đã rung chuông thức tỉnh mỗi con người chúng ta. Bởi nhiều khi chúng ta vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm nhưng ít khi chúng ta thành quan tòa của chính mình. Trong một cơn say, Tự Lãng đã hỏi Chí Phèo: “Con người ta đứng lên bằng cái gì”. Lời giải đáp tùy thuộc vào bản lĩnh và hoàn cảnh của mỗi con người. Có điều, ngã xuống ở đâu thì nên đứng lên ở đó!. Trên đây là bài tập làm văn phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo
7,151
Phân tích Rừng xà nu-Nguyễn Trung Thành Hướng dẫn Mở bài: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Trung Thành là một trong những cây bút gắn bó thủy chung với đề tài miền núi, với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, ông đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết “Đất nước đứng lên”. Tác phẩm sau đó đạt giải Nhất của Hội văn nghệ Việt Nam (1954-1955). Tác phẩm đánh dấu thành tựu đầu tiên của văn học Việt Nam trên đề tài mới mẻ này. Trong không khí hào hùng của thời đại kháng chiến Mỹ, Nguyễn Thành Trung lại sáng tác tác phẩm “Rừng Xà nu” (1966). Truyện ngắn này cũng chiếm một địa vị danh dự trong nền văn học Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Phân tích Rừng xà nu Thân bài: Truyện ngắn Rừng Xà Nu lấy bối cảnh núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ trong những năm 1955-1959. Đó là thời kì đầy đau thương và anh dũng quật cường của nhân dân miền Nam. Truyện mở đầu bằng cảnh nhân vật Tnú sau 3 năm đi bộ đội giải phóng mới có dịp về thăm quê hương của mình, làng Xô Man giữa núi rừng Tây Nguyên trùng điệp. Trong đêm dân làng đón Tnú, cụ Mết – già làng để kể lại cho lớp con cháu nghe một trong những trang sử bi hùng của quê hương bằng câu chuyện gắn liến với cuộc đời Tnú. Trước kia, Xô Man là một làng căn cứ Cách Mạng vững chắc. Ngay cả những năm tháng đen tối nhất, làng vẫn nuôi giấu cán bộ hoạt động. Từ lúc còn nhỏ, Tnú và Mai đã được gần gũi cán bộ Quyết. Hai người được học chữ, được giác ngộ. Lớn lên, họ nên vợ chồng. Tnú trở thành một cán bộ Cách Mạng, lãnh đạo dân làng đi tiếp con đường mà anh Quyết đã chỉ ra. Tin làng Xô Man chuẩn bị giáo mác khởi nghĩa đã đến tai lũ giặc. Chúng cho một tiểu đội lính do thằng Dục chỉ huy về làng Xô Man đàn áp dân làng. Để dụ Tnú ra, bọn giặc bắt Mai và đứa con nhỏ ra hành hạ. Không nén nỗi căm thù, Tnú đã xông ra nhưng anh không cứu nổi vợ con mình và bị bắt. Giặc tẩm nhựa cây xà nu, đốt 10 đầu ngón tay của Tnú nhưng anh vẫn không khai báo. Cụ già Mết đã chỉ huy trai làng vào rừng lấy vũ khí, chém chết cả tiểu đội lính giặc để cứu Tnú. Ngay trong đêm đó, làng Xô Man náo nức chuẩn bị khởi nghĩa. Sau đó Tnú lên đường gia nhập lực lượng giải phóng. Truyện kết thúc với cảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú trở lại đơn vị. Trước mắt ba người là những đồi cây xà nu nối tiếp nhau, chạy mãi tới chân trời. Tư tưởng, chủ đề truyện ngắn Rừng Xà Nu Thông qua câu chuyện đau thương của gia đình Tnú, qua con đường thức tỉnh đấu tranh đi đến với cách mạng của dân làng Xô Man, tác giả đã phản ánh chân thực một hiện thực nóng bỏng của Cách Mạng miền Nam trong những năm đen tối. Nguyễn Thành Trung đã làm sáng tỏ quy luật tức nước ắc phải vỡ bờ, có áp bức tất có đấu tranh. Cái chân lí đơn giản mà chắc nịch ấy đã được thể hiện qua lời nói của cụ Mết: “Nhớ lấy, ghi lấy,… Sau này tau chết rồi bay phải truyền lại cho con cháu. Chúng nó đã đã cầm súng thì mình phải cầm giáo”. Để bảo vệ quyền sống, quyền tự do, để chống lại kẻ thù, không có con đường nào khác, phải vùng lên, phải sử dụng bạo lực Cách Mạng. “Rừng xà nu” là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Trung Thành và của văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về đề tài chiến tranh Cách Mạng nói chung, về vùng đất Tây Nguyên với những con người kiên trung bất khuất nói riêng. Tác phẩm vừa giàu chất hiện thực vừa đậm đà chất trữ tình lãng mạn. Đặc biệt, hình tượng cây xà nu được nhắc tới nhiều lần trong truyện ngắn và là hình ảnh tượng trưng cho phẩm chất, cho sức sống mảnh liệt của dân làng Xô Man và các dân tộc Tây Nguyên. Bên cạnh các nhân vật như Tnú, cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng, nhà văn Nguyễn Trung Thành còn xây dựng thành công một hình tượng để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Đó chính là cây xà nu. Hình tượng cây xà nu được thể hiện nổi bật và xuyên suốt trong truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành. Ở phần mở đầu và kết thúc truyện, chúng ta đều bắt gặp hình ảnh kì vĩ ấy. Những cánh rừng xà nu bạt ngàn, “đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp nhau tới tận chân trời”. Câu này được nhắn lại ở đoạn cuối như một điệp khúc lấy lại để nhấn mạnh, gây ấn tượng đậm nét trong phần kết thúc truyện. Những cây xà nu không chỉ có mặt ở phần mở đầu và kết thúc truyện mà nó còn xuất hiện diện trong suốt câu chuyện kể về Tnú và làng Xô Man của anh. Không phải ngẫu nhiên mà trong truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành, hình ảnh được tác giả nhắc đi nhắc lại tới 20 lần. Nó gắn bó với cuộc sống sinh hoạt của dân làng Xô Man bao đời nay. Ngọn lửa xà nu trong bếp mỗi gia đình, trong đống lửa ở nhà Ưng tập hợp dân làng. Ngọn đuốc xà nu cháy sáng soi những đoàn rừng đêm. Khói nhựa cây xà nu làm tấm bảng đen cho anh Quyết dạy Tnú và Mai học chữ,… Cây xà nu cũng gắn liền với những sự kiện quan trọng trong đời sống của dân làng Xô Man. Nó giống như một nhân chứng lịch sử, đã chứng kiến bao thăng trầm, bao nổi khổ vui của dân làng Xô Man. Ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết, và tất cả vào rừng lấy giáo mác đã giấu kĩ để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Đêm đêm dân làng Xô Man thức trong ánh đuốc xà nu mài vũ khí. Đêm đồng khởi của làng cũng bừng bừng trong ánh đuốc xà nu,… Phân tích hình tượng cây xà nu Cây xà nu là loại cây quen thuộc, gắn bó với cuộc sống người dân Tây Nguyên. Cây xà nu cũng đã chứng kiến bao sự kiện nổi bật trong cuộc sống của dân làng Xô Man. Trong tác phẩm này, hình tượng cây xà nu mang một biểu tượng ý nghĩa xâu sắc. Nó tượng trưng cho cuộc sống, những phẩm chất,tính cách của dân làng Xô Man. Mỗi một đặc tính tự nhiên của cây xà nu được nhà văn miêu tả tương ứng với một đặc điểm, phẩm chất của người dân Tây Nguyên. Sự miêu tả về cây xà nu ở đây luôn được nhà văn đặt trong sự ứng chiếu, so sánh với con người, gợi ra biểu tượng về đời sống, số phận, phẩm chất của con người. Đồng thời ngược lại, nhiều chỗ miêu tả con người cũng được nhà văn miêu tả tương quan so sánh với cây xà nu. Chẳng hạn, miêu tả cụ Mết thì: “ngực căng như một cây xà nu lớn”; còn vết trên lưng Tnú do lũ giặc tra tấn gây nên nhà văn miêu tả “ứa một giọt máu đậm từ sáng đến chiều thì đặc quện lại tím thẩm như nhựa xà nu”. Thủ pháp so sánh ấy trong miêu tả tạo nên một sự hòa nhập tương ứng giữa con người và thiên nhiên trong một chất thơ hào hùng và tráng lệ. • Sức sống mãnh liệt của cây xà nu: Cây xà nu ham ánh sáng và khí trời. Ngọn cây lúc nào cũng vươn thẳng lên cao như mũi tên lao lên bầu trời để đón lấy ánh nắng. Cây xà nu phải chịu nhiều đau thương, hủy diệt từ những trận mưa đại bác từ đồn địch đánh vào, nhiều cây gục ngã, nhựa ứa ra tràn trề. Cây xà nu có một sức sống thật mãnh liệt. Bên cạnh cây to vừa ngã xuống, đã có bốn, năm cây con đã mọc lên • Hình tượng cây xà nu gắn với người dân Xô Man: Cũng như người dân Xô Man phóng khoáng, yêu tự do và luôn hướng ánh sáng của lý tưởng Cách Mạng. Cũng như người dân Xô Man phải chịu nhiều đau thương mất mát trước họng súng, lửa gươm của kẻ thù. Cũng như người dân Xô Man hết lớp này đến lớp khác kế tiếp nhau đứng lên đánh giặc: anh Quyết hi sinh đã có Mai thay thế, Mai ngã xuống thì có em gái là Dít thay thế. Cây xà nu là một cây ham ánh sáng và khí trời, ngọn xanh rờn thì nhằm mũi tên lao thẳng. “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”. Đó cũng là biểu tượng cho con người Tây Nguyên phóng khoáng, yêu tự do, luôn hướng kí tưởng Cách Mạng. Trong bất kì hoàn cảnh nào họ cũng mạnh mẽ vượt lên đau thương. Người dân Xô Man tiếp nhận ánh sáng Cách Mạng một cách khát khao tự nhiên, giống như cây xà nu tiếp lấy ánh sáng mặt trời vậy. Nhưng cây xà nu có một sức sống thật mãnh liệt. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên và bom đạn của kẻ thù đổ xuống cũng không sao hủy diệt nổi “trong rừng ít có loại sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Và cứ thế, lớp cây non vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã. Cũng như các thế hệ làng Xô Man, lớp này tiếp lớp khác đứng lên, kế tiếp nhau chiến đấu cho đến thắng lợi hoàn toàn. Anh Quyết hi sinh đã có Tnú và Mai thay thế. Mai ngã xuống giữa lúc tuổi trẻ tràn đầy sức sống thì em gái là Dít lớn lên đến không ngờ, trở thành một bí thư chi bộ kim chính trị viên xã bộ. Rồi bé Heng – lớp đàn em của Dít cũng đã kịp lớn lên tiếp tục cuộc chiến đấu của thế hệ cha anh. Hình tượng cây xà nu không chỉ góp phần làm rõ nổi tư tưởng chủ đề truyện ngắn mà nó còn tác động đến bút pháp nghệ thuật của nhà văn, góp phần làm đậm chất lãng mạn, chất sử thi của tác phẩm Hình tượng cây xà nu còn gắn liền với bút pháp nghệ thuật và giọng điệu của tác phẩm. Chất sử thi của truyện ngắn này sẽ không thể trở thành giọng điệu chính của tác phẩm nếu thiếu đi hình tượng cây xà nu. Hình tương được khai thác nhiều góc độ, được lặp đi lặp lại nhiều lần. Và ngay cả cái chất Tây Nguyên, phong vị của những sinh hoạt truyền thống của Tây Nguyên được nhân lên rất nhiều lần nhờ hình ảnh những cây xà nu. Kết bài: Hình ảnh cây xà nu thật sự là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Trung Thành. Với hình tượng này, tác giả đã tạo nên một không khí riêng cho tác phẩm; gợi nên rõ nét hình ảnh Tây Nguyên và con người Tây Nguyên. Nhà văn đã lựa chọn hình ảnh cây xà nu – một loài cây phổ biến quen thuộc ở Tây Nguyên và đem lại cho nó những ý nghĩa mới mẻ và phong phú. Mặt khác, hình tượng cây xà nu còn góp phần làm nổi rõ tư tưởng, chủ đề của truyện ngắn. Điều đó giải thích vì sao nhà văn Nguyễn Trung Thành lại lấy hình ảnh Rừng Xà Nu làm nhan đề cho truyện ngắn của mình. * Dạng đề tham khảo: 1. Gỉai thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Rừng Xà Nu 2. Tóm tắt nội dung truyện ngắn Rừng Xà Nu 3. Phân tích hình tượng nhân vật Tnú.
Phân tích Rừng xà nu-Nguyễn Trung Thành
2,092
Đề bài: Phân tích sức hấp dẫn và thuyết phục trong bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bài làm Trong văn học Việt Nam, ít có tác phẩm nào hàm chứạ nhiều giá trị như Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong rất nhiều giá trị đó, người ta nhắc nhiều đến giá trị sử học và văn học. Nhìn từ những góc độ khác nhau, hai giá trị này hoà quyện, xuyên thấm. Trên cơ sờ thực tiễn và lập luận chặt chẽ đã tạo nên sức hấp dẫn, sức thuyết phục cho văn bản. Phân tích sức hấp dẫn và thuyết phục trong bản Tuyên ngôn độc lập Tuyên ngôn độc lập là một tác phẩm chính luận. Văn chính luận thuyêt phục người ta bằng những lí lẽ, nếu đánh địch thì cũng đánh địch bằng những li lẽ. Sức mạnh của nó là ờ những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không ai chối cãi được. Văn chính luận nếu có dùng đến hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm cho sự thuyết phục bằng lí lẽ mà thôi. Chúng ta sẽ nói đến cái hay, cái tài của Tuyên ngôn độc lập theo quan niệm đó. Bản Tuyên ngôn độc lập viết cho ai? Câu hỏi đặt ra có vẻ như thừa, bởi vì lời giải đáp đã có sẵn trong văn bản: "Hỡi đồng bào cả nước!… Chúng tôi (…) trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng. Như vậy là Bác viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới chứ còn cho ai nữa. Còn viết để làm gì, thì viết để Tuyên ngôn độc lập chứ còn có mục đích nào khác? Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi trong hai bản Tuyên ngôn độc lập và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền từng làm vẻ vang cho truyên thống tư tưởng và văn hoá của những dân tộc ấy. Cách nói, cách viết như thế là vừa khéo léo, vừa kiên quyết. Khéo léo vì nó tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ. Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam. Ngoài ra mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại của hai nước lớn như thế, thì cũng có nghĩa là ba cuộc cách mạng ngang băng nhau, ba nên độc lập ngang bằng nhau, ba bản tuyên ngôn ngang bằng nhau. Một cách kín đáo hơn, bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh dường như muốn gợi lại niềm tự hào của tác giả bài Bình Ngô đại cáo ngày xưa, khi mờ đầụ tác phẩm bằng hai vế cân xứng như để đặt ngang hàng triều Đinh, Lê, Lí, Trần của Nam quốc với Hán, Đường, Tống, Nguyên của Bắc quốc. Nhưng để đối thoại với bọn đế quốc xâm lược lúc bấy giờ, vấn đề hàng đầu là vấn đề độc lập dân tộc. Điều đó giải thích vì sao bản Tuyên ngôn độc lập đã mờ đầu như thế: "Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới, sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Ý kiến "suy rộng ra" ấy quả là một đóng góp đầy ý nghĩa của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Một nhà văn hoá nước ngoài đã viết: "Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ờ chỗ Người đã phát triền qụyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình". (Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới – NXB Sự thật. H 1979). Vậy thì có thể xenn cái luận điểm "suy rộng ra” kia là phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX? Những kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đe doạ nền độc lập củạ dân tộc khi bản Tuyên ngôn ra đời là bọn xâm lược Pháp. Đẩy lùi nguy cơ ấy phải là cuộc chiến đấu vũ trang lâu dài của toàn dân. Nhưng cuộc chiến đấu ấy rất cần đến sự đồng tình và ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Muốn vậy phải xác lập sơ sở pháp lí của cuộc kháng chiến, phải nêu cao chính nghĩa của ta và đập tan luận điệu xảo trá của bọn thực dân muốn "hợp pháp hoá" cuộc xâm lược củạ chúng trước dư luận quốc tế. Bản Tuyên ngôn đã giải quyết được yêu cầu ấy bằng một hệ thống lập luận hết sức chặt chẽ và đanh thép. Thực dân Pháp muốn khoe khoang công lao khai hoá của chúng đối với Đông Dương ư? Thì bản Tuyên ngôn đã vạch trần những hành động trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa của chúng trong 80 năm thống trị nước ta: thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, chia rẽ ba kì, tắm máu các phong trào yêu nước và cách mạng, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc bằng thuốc phiện và rượu cồn, bóc lột vơ vét đến tận xương tuỷ, cuối cùng gây ra nạn đói khiến "từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn hai mươi triệu đồng bào ta bị chết đói". Thực dân Pháp muốn kể công "bảo hộ" Đông Dương ư? Thì bản Tuyên ngôn đã chỉ rõ đó không phải là công mà là tội vì "trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật” Vì thế Người viết Tuyên ngôn luôn luôn láy đi láy lại hai chữ "sự thật": "Sự thật là…" "sự thật là…" vả cuối cùng "nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập"… Đấy là những điệp khúc tiếp nối nhằm tăng thêm âm hưởng hùng biện của bản Tuyên ngôn. Đấy là hệ thống li lẽ bác bỏ luận điệu của bọn đế quốc, thực dân. Còn đối với dân tộc Việt Nam? Dân tộc ta có xứng đáng được hường độc lập, tự do_ hay không? Bản Tuyên ngôn đã đưa ra những lí lẽ không phải để bác bỏ mà để khẳng định: Nếu thực dân Pháp, có tội phản bội Đồng Minh, hai lần bán rẻ Đông Dương cho Nhật, thì dân tộc Việt Nam đại diện là Việt Minh đã đứng lên chống Nhật cứu nước và cuối cùng giành chủ quyền từ tay phát xít Nhật. Nếu thực dân Pháp bộc lộ tính chất đê hèn, tàn bạo và phản động của chúng ở hành động "Thẳng tay khủng bố Việt Minh, thậm chí khi thua chạy chúng còn nhẫn tâm giết một số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng" thì nhân dân ta vẫn giữ thái độ khoan hồng và nhân đạo ngay đối với kẻ thù đã thất thế: "Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam của Nhật và bảo vệ tính mạng, tài sản của họ". Một dân tộc phải chịu biết bao đau khổ dưới ách thực dân tàn bạo, đã anh dũng chiến đấu cho độc lập tự do, đă đứng hẳn về phe Đồng Minh chống phát xít, đã nêu cao tinh thần nhân đạo, bác ái như thế."Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!" Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có thể gọi lả bản "hùng văn”. Sức hấp dẫn và thuyết phục của văn bản đồng thời cũng tạo nên sức sống vĩnh hằng cho văn bản. Hơn thế, đằng sau những lập luận chặt chẽ, bằng chứng thuyết phục tình cảm nồng hậu của người viết ta nhận ra một tư tưởng chính trị, một tầm văn hoá lớn, nhận ra may mắn, hạnh phúc lớn lao của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam vì có một chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó đã được Thủ tướng Phạm Vãn Đồng nói lên: “Dân tộc Việt Nam đã sinh ra Người và Người đã làm rạng danh cho dân tộc Việt Nam".
Phân tích sức hấp dẫn và thuyết phục trong bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1,562
Đề bài: Phân tích sức hấp dẫn và thuyết phục trong bản Tuyên ngôn Độc lập Bài làm Trong văn học Việt Nam, ít có tác phẩm nào hàm chứa nhiều giá trị như Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong rất nhiều giá trị đó, người ta nhắc nhiều đến giá trị sử học và văn học. Nhìn từ những góc độ khác nhau, hai giá trị này hoà quyện, xuyên thấm. Trên cơ sở thực tiễn và lập luận chặt chẽ đã tạo nên sức hấp dẫn, sức thuyết phục cho văn bản. Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm chính luận. Văn chính luận thuyết phục người ta bằng những lý lẽ, nếu đánh địch thì cũng đánh địch bằng những lý lẽ. Sức mạnh của nó là ở những lý lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không ai chối cãi được. Văn chính luận nếu có dùng đến hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm cho sự thuyết phục bằng lý lẽ mà thôi. Chúng ta sẽ nói đến cái hay, cái tài của Tuyên ngôn độc lập theo quan niệm đó. Bản Tuyên ngôn độc lập viết cho ai? Câu hỏi đặt ra có vẻ như thừa, bởi vì lời giải đáp đã có sẵn trong văn bản: Phân tích sức hấp dẫn và thuyết phục trong bản Tuyên ngôn Độc lập "Hỡi đồng bào cả nước!… Chúng tôi (…) trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng". Như vậy là Bác viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới chứ còn cho ai nữa. Còn viết để làm gì, thì viết để Tuyên ngôn độc lập chứ còn có mục đích nào khác? Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính lý lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi trong hai bản Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hoá của những dân tộc ấy. Cách nói, cách viết như thế là vừa khéo léo, vừa kiên quyết. Khéo léo vì nó tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ. Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản hội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mỹ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam. Ngoài ra mở đầu bản Tuyên ngân Độc lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong Lịch sử nhân loại của hai nước lớn như thế, thì cũng có nghĩa là ba cuộc cách mạng ngang bằng nhau, ba nền độc lập ngang bằng nhau, ba bản tuyên ngôn ngang bằng nhau. Một cách kín đáo hơn, bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh dường như muốn gợi lại niềm tự hào của tác giả bài Bình Ngô đại cáo ngày xưa, khi mở đầu tác phẩm bằng hai vế cân xứng như để đặt ngang hàng triều Đinh, Lê, Lý, Trần của Nam quốc với Hán, Đường, Tống, Nguyên của Bắc quốc. Nhưng để đối thoại với bọn đế quốc xâm lược lúc bây giờ, vấn đề hàng đầu là vấn đề độc lập dân tộc. Điều đó giải thích vì sao bản Tuyên ngôn độc lập lại mở đầu như thế: "Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới, sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Ý kiến "suy rộng ra" ấy quả là một đóng góp đầy ý nghĩa của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Một nhà văn hoá nước ngoài đã viết: "Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình". (Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới – NXB Sự thật. H.1979). Vậy thì có thể xem cái luận điển "suy rộng ra” kia là phát súng lệnh khởi cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân khắp thế giới vào nửa sau ihế kỉ XX? Nhưng kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đe doạ nền độc lập của dân tộc. Bản bản Tuyên ngôn ra đời và bọn xâm lược Pháp. Đẩy lùi nguy cơ ấy phải là cuộc chiến đấu vũ trang lâu dài của toàn dân. Nhưng cuộc chiến đấu ấy rất cần đến sự đồng tình và ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Muốn vậy phải xác lập sơ sở pháp lý của cuộc kháng chiến, phải nêu cao chính nghĩa của ta và đập tan luận điệu xảo trá của bọn thực dân muốn "hợp pháp hoá" cuộc xâm lược của chúng trước dư luận quốc tế. Bản Tuyên ngôn đã giải quyết được yêu cầu ấy bằng một hệ thống lập luận hết sức chặt chẽ và đanh thép. Thực dân Pháp muốn khoe khoang công lao khai hoá của chúng đối với Đông Dương ư? Thì bản Tuyên ngôn đã vạch trần những hành động trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa của chúng trong 80 năm thống trị nước ta: thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, chia rẽ ba kỳ, tắm máu các phong trào yêu nước và cách mạng, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc bằng thuốc phiện và rượu cồn, bóc lột vơ vét đến tận xương tuỷ, cuối cùng gây ra nạn đói khiến ”từ Quảng Trị đến Bấc Kỳ hơn hai mươi triệu đồng bào ta bị chết đói". Thực dân Pháp muốn kể công "bảo hộ" Đông Dương ư? Thì bản Tuyên ngôn đã chỉ rõ đó không phải là công mà là tội vì "trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật". Vì thế Người viết Tuyên ngôn luôn luôn láy đi láy lại hai chữ "sự thật": "Sự thật là…" "sự thật là…" và cuối cùng nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập… Đây là những điệp khúc tiếp nối nhằm tăng thêm âm hưởng hùng biện của bản Tuyên ngôn. Đấy là hệ thống lý lẽ bác bỏ luận điệu của bọn đế quốc, thực dân. Còn đối với dân tộc Việt Nam? Dân tộc ta có xứng đáng được hưởng độc lập, tự do hay không? Bản tuyên ngôn đã đưa ra những lý lẽ không phải để bác bỏ mà để khẳng định: Nếu thực dân Pháp, có tội phản bội Đồng Minh, hai lần bán rẻ Đông Dương cho Nhật, thì dân tộc Việt Nam đại diện là Việt Minh đã đứng lên chống Nhật cứu nước và cuối cùng giành chủ quyền từ tay phát xít Nhật. Nếu thực dân Pháp bộc lộ tính chất đê hèn, tàn bạo và phản động của chúng hành động "Thẳng tay khủng bố Việt Minh, thậm chí khi thua chạy chúng còn nhẫn tâm giết một số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng" thì nhân dân ta vẫn giữ thái độ khoan hồng và nhân đạo ngay đối với kẻ thù đã thất thế: "Sau cuộc biến động naày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam của Nhật và bảo vệ tính mạng, tài sản của họ". Một dân tộc phải chịu biết bao đau khổ dưới ách thực dân tàn bạo, đã anh dũng chiến đấu cho độc lập tự do, đã đứng hẳn về phía Đồng Minh chống phát xít, đã nêu cao tinh thần nhân đạo, bác ái như thế. "Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” Tuyên ngôn Độc lập của Chủ lịch Hồ Chí Minh cũng có thể gọi là bản “hùng văn”. Sức hấp dẫn và thuyết phục của văn bản đồng thời cũng tạo nên sức sống vĩnh hằng cho văn bản. Hơn thế, đằng sau những lập luận chặt chẽ, bằng chứng thuyết phục tình cảm nồng hậu của người viết ta nhận ra một tư tưởng chính trị, một tầm văn hoá lớn, nhận ra may mắn, hạnh phúc lớn lao của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam vì có một chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Dân tộc Việt Nam đã sinh ra Người và Người đi làm rạng danh cho dân tộc Việt Nam".
Phân tích sức hấp dẫn và thuyết phục trong bản Tuyên ngôn Độc lập
1,551
Phân tích sức sống tiềm tàng của Mị trong trong đêm tình mùa xuân Hướng dẫn Phân tích sức sống tiềm tàng của Mị trong trong đêm tình mùa xuân Mị là người phụ nữ tưởng chừng như cam chịu số phận, không còn sức sống và lối thoát nhưng trong hoàn cảnh có thể, Mị vẫn vươn lên làm chủ cuộc đời. Và cái gì đã khiến bên trong “con rùa” câm lặng ấy bùng lên khát vọng sống, khát vọng yêu, khát vọng được quyền làm người cho ra kiếp người, chính là đêm mùa xuân trở về trên rẻo cao. Khi trờ thành nô lệ nhà thống lí Pá Tra, Mị bị đầy đọa tới mức trầm cảm, vô vọng. Mị chôn vùi tuổi thanh xuân, thời con gái đẹp đẽ của mình. Ngày Mị không nói, sống như cái xác không hồn, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Tưởng rằng Mị sẽ chết tàn trong căn buồng u tối, nhưng ai có thể ngờ tiềm ẩn trong con người yếu đuối ấy vẫn chất chứa một sức sống tiền tàng. Đêm tình mùa xuân trở về đã đánh thức niềm yêu sống và khát vọng tự do trong Mị. Tiếng sáo gọi bạn đi chơi làm lòng Mị bổi hổi bồi hồi. Mị uống rượu, uống ừng ực từng bát để mong muốn đi bao nỗi đời cay đắng ư? Không hề! Tiếng sáo và hơi men đã đưa Mị về quá khứ tươi đẹp. Tô Hoài cảm nhận được ý thức đang sống dậy một cách mãnh liệt trong Mị. Mị nhận ra mình còn trẻ đẹp, nhận ra quyền làm người của mình. Vì thế, Mị muốn thoát ra khỏi cái địa ngục tăm tối để được tự do đón gió xuân, hơi xuân, tìm lại những ngày tươi đẹp đã mất… Nhưng đau đớn thay! Khát vọng vừa bùng lên đã bị A Sử chặn đứng lại. Sợi dây tàn bạo đã cuốn chặt Mị vào cây cột trong căn buồng u tối cho tới sáng. Hơi rượu nồng nàn nâng tâm hồn Mị, Mị quên mình đang bị trói. Đau đớn, xót ra Mị nhận ra kiếp một con người mà không bằng kiếp vật. Suốt đêm, Mị bị trói đứng trong hơi men nồng nàn, trong tiếng sáo tình tứ đầy ai oán. Nhưng sức sống tiềm tàng luôn ẩn chứ trong con người Mị, tiếp cho Mị một sức mạnh, quên đi nỗi đau thể xác để tâm hồn được bay lên, giải phóng theo tiếng sáo. Dù trong đêm tình mùa xuân, Mị vẫn chưa giải phóng được cuộc đời nhưng sức sống tiềm tàng đó trong Mị sẽ báo trước cho sự đột biến quyết liệt tháo cũi sổ lồng ở lần sau. Đó chính là ý nghĩa nhân văn của tác phẩm. Tô Hoài phải là người hiểu đời, hiểu người sâu sắc mới có thể hòa tâm nhập cảnh vào niềm tâm tư sâu kín nhất của người phụ nữ bất hạnh, đau nỗi đau cùng nhân vật, khát vọng cùng họ, mở đường cho họ một tương lai tươi sáng.
Phân tích sức sống tiềm tàng của Mị trong trong đêm tình mùa xuân
519
Phân tích sức sống tiềm tàng của Mị và A Phủ Hướng dẫn Phân tích sức sống tiềm tàng của Mị và A Phủ Bài làm Có thể nói Tô Hoài là một nhà văn không “nuông chiều” “những đứa con tinh thần” của mình, bằng chứng là từ đầu đến giờ chúng ta đã thấy rõ số phận khổ đau, bất hạnh và buồn tủi đến cùng cực của các nhân vật. Đó là nỗi đau của cô gái trẻ không được lấy người mình yêu, vì chữ hiếu phải nuốt nước mắt về làm dâu trừ nợ. “Cơm nhà giàu khó nuốt”, cuộc đời và tuổi xuân của nàng phải chôn vùi trong cái nơi mà nàng gọi là “nhà chồng” với biết bao cơ cực trong những việc làm nặng nhọc hằng ngày và những nỗi đau về tinh thần không gì bù đắp nổi. Đó là thân phận mồ côi không nơi nương tựa, bị hắt hủi và coi thường của một chàng trai chất phác, hiền lành, giỏi việc phút chốc cũng phải chịu cảnh đọa đày, nhọc thân dưới bàn tay tàc ác của bọn cường hào ác bá lúc bấy giờ. Nhưng “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”, nhân vật của Tô Hoài không phải là những con người chỉ biết sống mòn mỏi cho qua những chuỗi ngày lầm than. Tận sâu bên trong tâm hồn họ luôn ẩn chứa một sức sống tiềm tàng mà hễ có cơ hội là được thể hiện rất rõ nét. Trên nền tăm tối của số phận, sức sống ấy càng nổi bật, chói lòa và mãnh liệt hơn bao giờ hết.Ta có thể thấy rõ điều này qua nhân vật chính của chúng ta – Mị. 1.Sức sống tiềm tàng của Mị. Chúng ta hãy thử nhìn lại xem, phản ứng của nhân vật này với số phận bất hạnh thế nào. Mở đầu chỉ là tiếng khóc “có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc”.Tiếng khóc ấy là biểu hiện của trạng thái tâm lí bị ức chế, không cam chịu, không chấp nhận cái sự thật nghiệt ngã. Tiếng khóc kết thúc cuộc đời tuổi trẻ đầy sức sống, yêu đời, yêu người của một cô gái và cũng chính tiếng khóc ấy, mở ra một cuộc đời mới đầy khổ đau và bi kịch. Cuộc đời cực nhục làm Mị mất hết cảm giác, mất hẳn ý thức về đời sống. Khi mới về làm dâu, Mị đã định ăn lá ngón tự tử. Song vì cha, Mị đã chấp nhận cuộc sống trâu ngựa. Có thể nói, chính chữ hiếu đã cho Mị động lực sống qua những thời khắc cùng cực đầu tiên của cuộc đời. a) Đêm tình mùa xuân Sức sống mãnh liệt của Mị được thể hiện rõ nèt nhất trong đêm tình mùa xuân. Mùa xuân, mùa của những mầm sống mới, mùa của sự tươi trẻ, mùa của tình yêu và cũng làm thức dậy cả một kí ức tươi đẹp, lòng ham sống đến cuồng nhiệt của một cô gái bị giam hảm quá lâu về thể xác lẫn tinh thần. Mùa xuân đến với bản Mèo bằng Những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ”, bằng “đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà”, bằng “tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi” nơi đầu núi. Và cũng chính tiếng sáo này đã thức tỉnh Mị. Tiêng sáo mở đầu cho chuỗi hành động bộc phát dẫn đến bi kịch của Mị. Phản ứng đầu tiên là “Mị nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”, bao nhiêu năm tù túng, bao nhiêu năm cực nhọc, bao nhiêu năm bị chà đạp thua con trâu, con ngực trong nhà thống lí Pá Tra không dập tắt được những kí ức về tuổi trẻ của Mị. Chỉ cần một tiếng sáo nhẹ nhàng, tất cả ùa về không có gì cản nổi. “Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát”. Tại sao, tại sao một người con gái lại có thể có hành động mạnh mẽ và dữ dội đến như thế? Vì mùa xuân làm cho tâm hồn người ta nôn nao, rạo rực,vì tiếng sáo gợi nhắc lại tuổi thanh xuân đẹp đẽ, vì cảnh đời tủi nhục quá lâu hay vì buồn, vì cảm thấy trong lòng trống rỗng. Thiết nghĩ, vì lí do gì thì lần đầu tiên trong suốt tác phẩm từ đầu đến giờ, Mị cũng đã làm một việc bốc đồng một cách tự nhiên và thoải mái nhất, sống chân thật với bản thân mình nhất. “Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo”. Nhưng cũng vì những hành động nhất thời này mà nàng phải trả giá. Đó là việc bị trói đứng trên cây cột bởi chính người chồng của nàng. Nỗi đau về thể xác không lấn át được nỗi đau về tinh thần. Mặc dù bị trói, Mị vẫn “đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói”, “hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi, những đám chơi”, “Mị vùng bước đi”,”Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi”, “nồng nàn da diết nhớ”. Mị đâu còn sống bằng thể xác nữa mà Mị đang thực sự đang sống bằng tâm hồn. A Sử trói được thể xác của Mị nhưng không thể nào trói được tâm hồn của Mị. Bởi tâm hồn Mị đã vượt ra khỏi cái lỗ vuông bằng bàn tay kia để sống cùng đêm tình của tuổi trẻ. Có một chi tiết rất đắt khi nhà văn kết thúc diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân. Đó là chi tiết: Mị tỉnh dậy và nhớ lại câu chuyện người đàn bà bị chồng trói chết trong căn nhà này. Và Mị đã sợ, sợ chết “Mị cựa quậy xem thử mình còn sống hay đã chết”. Sợ chết là biểu hiện của lòng ham sống. Sức sống trong con người khốn khổ ấy đã không lụi tàn mà ngược lại vẫn mãnh liệt, như tự dặn lòng mình không được bỏ cuộc, phải tiếp tục đấu tranh. b)Đêm mùa đông Sức sống tiềm tàng của Mị không chỉ dừng lại ở đó. Nó còn được bộc lộ rõ nét trong đêm mùa đông. “Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn”, người bạn mỗi đêm của Mị chính là bếp lửa đỏ. Hơi ấm từ bếp lửa giữ cho Mị khỏi chết rét và chết héo. Ánh sáng từ ngọn lửa ấy đã soi rõ khuôn mặt của A Phủ, để cho Mị bừng tỉnh, lòng thương người trỗi dậy trong trái tim đã quá đỗi khô cằn cho cái gọi là cảm xúc yêu thương. Lúc này đây, Mị mới thấm thía được nỗi cùng cực của kiếp người. Mị thấy đồng cảm với A Phủ, thấy A phủ sao mà giống mình đến thế. Mị giằng xé dữ dội giữa mạng sống của mình và người đồng cảnh ngộ “Mị phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Thế nhưng “làm sao Mị cũng không thấy sợ”. 2.Sức sống tiềm tàng của A Phủ Cũng là nạn nhân của chính sách cho vay nặng lãi, A Phủ trở thành trâu ngựa trong nhà Pá Tra. Từ một chàng trai khỏe mạnh “chạy nhanh như ngựa, con gái trong làng nhiều người mê”,”công việc làm hay đi săn, cái gì cũng làm phăng phăng”, “A Phủ phải đi ở trừ nợ cho nhà quan thống lí Pá Tra”. Tuổi thơ bất hạnh cũng như cảnh đời cơ cực đã trói buộc con người này, nhưng không làm mất đi sức sống tiềm tàng vốn dĩ đã có sẵn trong máu từ khi chàng còn là một cậu trai trẻ “mới mười tuổi đã gan bướng, không chịu ở dưới cánh đồng thấp”, “trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài”và sau khi đã thành một chàng thanh niên “chỉ có độc một chiếc vòng vía lằn trên cổ, A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay và quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong vùng”. Không chỉ khỏe mạnh về thể chất, A Phủ còn là một chàng trai mạnh mẽ về tinh thần, dám trừng trị cả con nhà quan, đến khi bị bắt vẫn “quỳ chịu đòn, im như cai tượng đá” và mặc dù đi ở trừ nợ, chàng vẫn “đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ở ngoài rừng”. Có thể nói, Tô Hoài đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật này, đặc biệt là hành động cuối đoạn trích “trước khi cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy” và câu nói “đi với tôi” là minh chứng rõ nét nhất về sức sống mãnh liệt của nhân vật này. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích sức sống tiềm tàng của Mị và A Phủ
1,547
Phân tích sức sống tiềm tàng của Mỵ và A Phủ Hướng dẫn Phân tích sức sống tiềm tàng của Mỵ và A Phủ Bài làm Tô Hoài đã xây dựng thành công được tác phẩm Vợ Chồng A Phủ với nhiều chi tiết hấp dẫn, nó phản ánh sâu sắc giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm, qua đó làm nổi bật lên sức sống tiềm tàng của nhân vật Mỵ và A Phủ trong tác phẩm. Mỵ là người con gái hiền lành, có tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, người luôn hết mình vì cha mẹ, là người có tài thổi sáo hay, ngay trong đầu tác phẩm, tác giả đã miêu tả một con người hiền lành, chất phác, phải chịu cảnh gán nợ. Khi sang nhà thống lý Pa Tra cô trở thành người lầm lũi, suốt ngày quanh quẩn làm việc, cuộc sống của cô như đang bị bó buộc vào cuộc sống nơi đây. Mấy lần định ăn lá ngón tự tử, nhưng vì tấm lòng với cha mà cô lại thôi. Bị áp bức, bóc lột, bị hành hạ về thân xác và tâm hồn nhưng cô vẫn nảy nở lên niềm tin, trong đêm xuân cô mong ước những năm tháng được đi chơi, cô được giới thiệu là người thổi sáo hay, chính vì thế cô đang mong ước những năm tháng còn được đi chơi,tâm hồn của cô đang mở ra hướng tới một cuộc sống khác hơn, Mỵ được đi chơi, được sống những năm tháng khác hơn. Khi sắm sửa đi chơi cô bị A Sử bắt lại, lúc này hiện thực lại ùa về với cô, tâm hồn cô đau khổ, lầm lũi, khi bị hành hạ cả về thể xác lấy tinh thần. Nhưng với sức sống tiềm tàng của mình cô vẫn sống, cố gắng vượt qua. A Phủ vốn là chàng trai khỏe mạnh, làm thuê cho nhà thống lý, đi chăn bò bị mất bò nên bị nhà thống lý Pá Tra trói lại. Chàng cũng bị áp bức, bóc lột, những hành động của A Sử với A Phủ như: “ chạy vụt ra, vung tay ném con quay, xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo, xé, đánh tới tấp”. tất cả những điều này đã thể hiện sự áp bức, của bọn cường hào phong kiến mạnh đến mức nào, những hành động đó thể hiện sự mất nhân tính của bọn cường hào, bạo chúa, bọn chúng áp bức, bóc lột nhân dân ta, áp bức những người lao động nhỏ bé. Sức sống của hai người này cực kỳ đáng khen ngợi, cả hai người đều mong muốn thoáy khỏi gia đình nhà thống lý Pa Tra, tất cả những hành động vô nhân tính của gia đình thống lý cần phải bị trừng trị, Mỵ mấy lần định tử tử, A Phủ đã có ý định chạy trốn nhưng rồi vẫn bị nhà thống Lý trói chặt hơn. Tất cả những hành động này biểu hiện sự đấu tranh lấy cuộc sống mới. Tác phẩm đã để lại cho người đọc nhiều suy ngẫm sâu sắc, phản ánh giá trị hiện thực, qua đó nói lên được tâm hồn của họ, qua cách thể hiện tinh tế, mỗi chi tiết đều mang những giá trị sâu sắc qua cách miêu tả để nhằm nói lên được tinh thần sống mãnh liệt của Mỵ và A Phủ trong cảnh sống cảnh bị áp bức, bóc lột của thế lực cường hào. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích sức sống tiềm tàng của Mỵ và A Phủ
594
Đề bài: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ Bài làm Một cô gái trẻ phải chôn vùi cuộc đời thanh xuân trong nhà tên thống lí đến khi trốn khỏi Hồng Ngài, ta vẫn còn thấy được một sức sống tiềm tàng mãnh liệt trong người con gái Mèo ấy! Hạt nẩy mầm ra hoa kết trái là một qui luật tự nhiên. Là con gái lớn lên lấy chồng về làm dâu nhà chồng cũng là một tự nhiên và cũng là mơ ước của họ. Thế nhưng, hạnh phúc rất nhiều song nói như người đời, ông trời lại hay ích kỉ, ông chỉ ban cho một số người hạnh phúc còn khổ đau dường như nhân loại ai cũng được hưởng. Em nhớ H.Banzac trong “Miếng da lừa” có viết “Trên đời không có gì trọn vẹn hơn sự bất hạnh” là vậy. Ngay cả hạnh phúc tưởng chừng như tầm thường dễ dàng đó cũng không mỉm cười với Mị, nó quay lưng với cô và mở cho cô trang đời cơ cực: trang đời đẫm đầy nước mắt. Phân tích tác phẩm vợ chồng A Phủ Chân dung Mị hiện lên đầu tác phẩm gần như là tảng đá chai sạn khô lạnh, dường như ngọn lửa tình người đã vĩnh viễn tắt ngấm trong trái tim cô. Cô cứ “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Từ ngày bị bắt về làm dâu gạt nợ trong nhà thống lí đến nay, gương mặt Mị chỉ toàn nước mắt. Gia đình Pá Tra nào có xem Mị là một con người, là một thành viên hợp pháp? Một con ở! Thậm chí một con vật. Làm việc cạnh tàu ngựa, buồng ngủ gần tàu ngựa Mị giống như con ngựa nhà thống lí. Ngày nối ngày, Mị chỉ biết “quay tơ hái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi, đi cõng nước”. Mị tồn tại đấy song chỉ là cái xác biết đi, linh hồn Mị tắt lịm từ bao giờ rồi. Song, thật sự Mị vẫn chưa chết, con người của Mị ngày xưa vẫn còn sống trong thể xác héo mòn và vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. Mị là con của núi rừng sơn cước, dòng suối rừng cây đã nhen nhóm trong cô một vẻ hồn nhiên mộc mạc. Cô sống như chính cô, không giả dối, không tính toán so đo. Mị rất yêu đời. Cô đẹp, cô có tài thổi sáo và đã từng vui chơi như tất cả mọi người. Cô không có con trai khép kín dưới lòng biển sâu mà cô là cánh chim hay hót của núi rừng. Mị đã từng phản đối khi nghe tin Pá Tra đòi bắt cô về làm dâu gạt nợ. Mị bảo với bố “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Mị yêu tự do, Mị yêu cuộc sống Mị muốn là cánh hải âu không sợ biển lớn, sông dài, cô sẵn sàng trả bằng mọi giá để được tự do bên bố, bên gia đình, được yêu, được ca hát. Mị đã có ý thức hẳn hoi về cuộc sống, thế nhưng sự ngang trái cuộc đời đã chụp lên Mị màu đen tang tóc. Đối với Mị tự do là điều quí nhất. Song, đóa hoa vừa chớm nụ xuân vừa rung rung ngỡ ngàng đón cuộc đời mới – đời thiếu nữ – đã bị người ta ngắt, người ta vò nát, không thương tiếc: Mị bị A Sử bắt. Đau đớn đến tận cùng “có đến hàng mấy tháng đêm nào Mị cũng khóc” và rồi chính sức sống mãnh liệt, chính tình yêu cuộc sống đã đưa Mị đến ý định tự tử: Thà tự hủy diệt thân xác còn hơn sống mà không được tự do, sống theo lí tưởng của mình. Những ngang trái cuộc đời không buông tha Mị, cũng như bể khổ thế gian không cho phép Kiều phải chết, nàng phải sống, sống chịu đọa đày.Và Mị không thể chết vì Mị phải sống để gánh trên vai mối nợ truyền kiếp của cha mẹ. Cha mẹ cô cả đời khổ cực còn phải sống vì con. Còn cô? Cô đã làm gì chưa? Cô không thể chết phải cam chịu làm tảng đá vô tri, làm kiếp ngựa, kiếp con rùa thui thủi xó cửa nhà giàu. Năm tiếp năm, tháng tiếp tháng, ngày lại nối ngày, Mị cam chịu tất cả! Con ngựa con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ còn Mị chưa bao giờ được nghỉ ngơi. Ngày giờ chồng lên chừng nào thì sức sống của cô gái ngày xưa bị tiêu hao chừng ấy. “ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Sự đọa đày đã trói buộc đã biến Mị thành nô lệ gần mất hẳn sức sống Mị quên hẳn việc tử tự của những năm về trước. Đối với Mị lúc này thời gian là vô nghĩa. Mị chỉ biết làm việc mà thôi. Đáng lo thay khi con người mất dần nhận cảm về thời gian vì như thế con người đó đã chết. Họ họat động chỉ bằng bản năng còn đời sống tâm hồn đã tắt ngấm buồn vui, thời gian trôi qua thật vô nghĩa. Thế lực phong kiến và thế lực thần quyền trong nhà thống lí đã nghiến nát, đã tước đọat được cuộc đời thanh xuân, yêu, sống của Mị. Đọc phần đầu tác phẩm em không khỏi liên tưởng Mị là cô Huệ Chi trong Cửa biển của Nguyên Hồng. Song, công bằng mà nói Huệ Chi hạnh phúc hơn Mị. Nàng chỉ sống như đã chết trong một thời gian ngắn mà thôi – lúc bị ép gả cho tên tướng Nhật và nàng lại diễm phúc hơn Mị gấp bội lần. Nàng được chết, được trở về một thế giới ngát hoa vĩnh hằng với đôi tay rộng mở tình yêu của Mẹ. Còn Mị đau đớn thay khi cô phải kéo lê cuộc đời khổ ải hàng mấy năm. Nhưng rồi Chí Phèo vẫn còn được bát cháo ân tình của Thị Nở đánh thức. Mị cũng thế! Người con gái yêu đời, yêu cuộc sống như thế mà lại phải “chết” dễ dàng thế sao? Em rất tâm đắc với hai chi tiết: Thứ nhất là tiếng sao đêm xuân. Tiếng sáo vang dội từ xa, len lỏi vào tâm hồn Mị. Tiếng sáo ngân vang ấy đã mở cửa ngôi nhà tâm hồn từ lâu “im ỉm khóa” của Mị. Mị chợt nhớ – Lần đầu tiên qua bao năm nay kí ức chợt ùa về với Mị, Mị nhớ đến ngày trước “Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này Mị uống rượu bên bếp lửa và thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Và lần đầu tiên, lại cũng là lần đầu ý định tự tử lại đến và Mị ước “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay”. Khi con người ta muốn chết, hơn lúc nào hết lúc đó người ta tha thiết yêu cuộc sống và chính vì không được cuộc sống đáp ứng nên họ rơi vào sự thất vọng và tìm đến cái chết. Sức sống của Mị không bị hủy diệt mà tiềm ẩn và hôm nay như có một luồng gió mới thổi vào nó có dịp trỗi dậy. Mị đang thả hồn theo tiếng sáo như lần theo sợi dây quá khứ để tìm về những ngày xưa hạnh phúc. Và bất giác “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng”. Mị muốn đi chơi, Mị “ngồi xuống giường trông ra cái ô cửa sổ mờ mờ trăng trắng”. Còn ô cửa sổ nhỏ? Ô cửa sổ trong tác phẩm này là một không gian nghệ thuật, nơi ấy Mị nhớ về quá khứ, về thuở con gái. Không gian mờ đục đó hôm nay, Mị mới nhận thức được. Bấy lâu nay Mị nào có quan tâm. Không gian âm u có phải chăng là đời Mị? Một cuộc đời trong màn sương không lối thoát, Mị có phải chăng là con mồi mãi sa vào lưới nhện? Hôm nay, tiếng sáo luồn qua khung cửa đã làm cho Mị nhớ về quá khứ, một thời son trẻ được tái hiện qua lớp “mờ mờ trăng trắng” ấy. Con người thực tế trong Mị đã sống dậy thay thế cho con người vô thức. Thế mà, mãi mãi bất hạnh cứ không thôi bám riết lấy Mị. Hai lần vươn tay đến hạnh phúc, hai lần sức sống trở về là hai lần A Sử đã lấy đi mất, đã dang tay đẩy Mị trở về số kiếp con rùa, con ngựa. A Sử trói Mị tàn ác như thời trung cổ, nhưng Mị bất chấp tất cả, Mị không sợ, Mị đang sống với hạnh phúc kỉ niệm, đang thả trôi mình theo tiếng sáo. Thế nhưng sự tàn ác luôn không cho Mị hưởng hạnh phúc dầu một thời gian ngắn ngủi thôi. Mị trở về kiếp lùi lũi như con rùa con ngựa. Cuối cùng sức sống ấy đã trỗi dậy hơn lúc nào hết, nó mãnh liệt bội phần. Lần Mị cởi trói cho A Phủ. Thoạt tiên lúc thấy A Phủ, Mị nhìn. Một cái nhìn hờ hững không xúc động, không lạ lùng. Cảnh nhà này trói người là chuyện thường. Nhưng đến một đêm, như bao đêm nào Mị cũng thức dậy và vẫn “thản nhiên thổi lửa hơ tay”. ánh lửa “bập bùng sáng lên” chính ánh lửa ấy đã buộc Mị “lé mắt trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Và cũng như tiếng sáo, dòng nước mắt đau khổ của một con người đau khổ đã lôi tuột Mị trở về quá khứ khổ đau ngày nào. Nhìn A Phủ đứng đấy như một xác chết, bất giác Mị lại nhớ đến mình “Trông người lại ngẫm đến ta” là vậy, Mị nhớ đến hôm ấy mình cũng đã chịu trói như thế và nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ… không ai biết, ai hay. Nhìn A Phủ Mị thương mình quá! Sao đời mình lại khổ đến thế! Và từ thương bản thân Mị nghĩ đến người, nghĩ đến người đàn bà đã bị chết trói, nghĩ đến A Phủ Mị căm giận lũ người vô lương. Cái thương, cái căm giận, cái phẫn nộ ấy khác nào như nguồn hơi bơm vào một quả bóng đã căng và căng đến mức phải nổ tung, chính những điều đó đã làm Mị quan tâm đến A Phủ, một con người khổ sở chỉ vì đánh mất một con bò mà phải đem mạng mình đánh đổi. Không! Mị nhủ A Phủ không lí do gì phải chết. Và Mị đã hành động: “Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại, Mị rút dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi không biết mê hay tỉnh”. Mị hành động không hề tính toán. Thật vậy sau khi cởi trói cho A Phủ “Mị cũng hốt hoảng” Mị hành động chỉ vì thương và ý định trả thù… Mị không muốn một cái chết lại xảy ra, một tội ác nữa lặp lại, dù sao Mị cũng là một con người, Mị có trái tim nhân hậu của một con người. Và hành động đó là sự phản kháng của sức sống ngày xưa. Có người cho rằng đây là một hành động tự phát vô ý thức. Song theo em vẫn có thể hiểu đây là một hành động xuất phát từ một quá trình vận động tâm lí có ý thức. Có thể xảy ra lắm chứ! Nhưng cái quan trọng ở đây là kết quả một sức sống tiềm tàng, tiềm ẩn của Mị trước đó. Mị cởi trói cho A Phủ là đã tự tay giật bỏ vòng xiềng xích cho mình. Và hành động tự giải phóng này của Mị có nguồn gốc từ cái buồn “rười rượi” từ cách uống rượu từng bát như uống cay đắng tủi nhục của cuộc đời…Và dĩ nhiên, nó trực tiếp hơn nhờ vào tiếng sáo gọi bạn, tiếng sáo đã làm cho lòng Mị bùng lên một ngọn lửa vốn dĩ đã dập tắp từ lâu. Giữa màn đêm u tối, Mị lao theo A Phủ, Mị lao vào bóng đêm để xé tọac bóng đêm đến với ánh sáng của tự do và hạnh phúc. Mị chạy theo A Phủ chạy trốn để tìm một vùng đất mới, để sống với hạnh phúc, được làm con người. Mặc dù giữa Mị và A Phủ chưa hề có khái niệm tình yêu, thứ tình yêu trai gái nhưng ở họ có một thứ tình khác: tình người, người cùng đau khổ. Và họ đã biết rằng phải dựa vào nhau để sống. Chỉ có một con đường sống, duy nhất và con người thực của cô gái Mèo ấy đã thắng, cô lao đi quên tất cả, quên thế lực quên sự trả thù của cha con thống lí, quên đi con ma thần quyền chi phối, trói buộc cụôc đời cô. Đối với cô bây giờ tự do là trên hết. Cô lao đi, đi đến phía trước dù cô chưa định hình rõ nhưng đấy là đường sống. Khác với chị Dậu trong Tắt đèn Chị Dậu lao ra đêm đen, và bóng tối như muốn nuốt chửng chị ấy, chị mò mẫm trong vùng tối ấy. Chị không có con đường sáng để đi. Chị lao ra chỉ đơn thuần là tránh nạn, chị lao ra để mà lao ra song không lối thoát: Chị Dậu không thể tự giải phóng nổi mình “Trời tối như mực và như cái tiền đồ của chị”. Còn Mị, Mị lao ra để cùng đi với A Phủ đến một miền đất sống. Kết thúc đoạn trích là cảnh A Phủ dìu Mị lao xuống dốc. Có lẽ tác phẩm dừng ở đây thì em chắc hẳn người đọc ai cũng sẽ tin chắc rằng A Phủ và Mị sẽ được sống yên lành và hạnh phúc. Bởi lẽ với sức sống mãnh liệt với niềm yêu cuộc sống đến thế thì không thể nào họ (mà đặc biệt là Mị) lại có thể không tìm được cuộc sống đích thực như í muốn. Và không những chỉ có Mị mà bất kì một ai khác đều yêu tin vào cuộc sống thì sớm hay muộn trái ngọt hạnh phúc cũng đến với tay họ, dù hôm nay đang chịu nhiều đau khổ, nhọc nhằn. “Hạnh phúc là một sự đợi chờ” (J.Rútxô).
Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
2,533
Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ Chồng A Phủ Hướng dẫn Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ Chồng A Phủ Bài làm Trên cánh đồng văn chương Việt Nam, có nhà văn độc canh bằng một loại thể. Tiêu biểu cho khuynh hướng này phải kể đến nhà văn Kim Lân – nhà văn cả đời đi về với đất, với người, với cuộc sống nông thôn thuần hậu (nói như Nguyên Hồng); lại có nhà văn thâm canh tăng vụ bằng nhiều loại thể. Tiêu biểu ta phải kể đến nhà văn Tô Hoài. Tính đến nay sự nghiệp của Tô Hoài đã già nửa thế kỉ. Ông là tác giả của khoảng trăm đầu sách, hàng nghìn bài báo với nhiều thể loại phong phú và đa dạng. Nhưng nhắc đến Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám, người yêu văn không thể không nhắc tới “Dế mèn phiêu lưu kí”; sau Cách mạng tháng Tám với tập “Truyện Tây Bắc” gồm ba truyện ngắn: “Cứu đất cứu Mường”, “Mường Giơn giải phóng” và “Vợ chồng A Phủ”. Những năm gần đây người ta lại xôn xao nhắc đến ông với “Cát bụi chân ai” và tiểu thuyết “Ba người khác”. Đến nay “Vợ chồng A Phủ” vẫn là cái mốc thách thức của nhà văn Tô Hoài. Truyện được giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955; là một truyện ngắn xuất sắc viết về đề tài miền núi Tây Bắc. Tác phẩm được đưa vào trong chương trình giảng dạy như một kiệt tác của Tô Hoài. Truyện xoay quanh cuộc đời của người con gái Mèo nghèo khổ, xinh đẹp nết na; được Tô Hoài phát hiện và thể hiện với sức sống tiềm tàng bất diệt. Đó là Mị – nhân vật chính trong tác phẩm này. Thông qua sức sống tiềm tàng của Mị, Tô Hoài bộc lộ là một nhà văn nhân đạo, nhân văn, sâu sắc và cao cả. Văn hào Nga Shê-khốp đã từng nói: “Một người nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”. Tô Hoài là một nhà văn như thế. Cuộc đời con người là một chuỗi vận động liên hoàn mà chúng ta không thể chia cắt hoặc phân tách. Tuy nhiên cuộc đời ấy lại được hình thành bằng một chuỗi sự kiện và hoàn cảnh. Ở những hoàn cảnh lớn, sự kiện lớn; bản chất của con người được bộc lộ. Ban – dắc đã từng nói “Bản chất của con người thường bị bánh xe của số phận che đậy, còn một khi lao vào bão tố thì bản chất ấy dù tốt hay xấu tự nó bộc lộ”. Khẳng định như vậy bởi lẽ sức sống tiềm tàng là sức sống tiềm ẩn dưới đáy sâu tâm hồn con người. Nó là toàn bộ sức mạnh về thể chất và tinh thần của con người. Ở Mị, nó biểu hiện ra là niềm khao khát, muốn sống cuộc đời hạnh phúc trong tự do. Niềm khao khát ấy cứ âm ỉ cháy dưới đáy sâu tâm hồn Mị như một ngọn lửa chưa bao giờ tắt, như một chồi cây đâm sâu trong lòng đất chờ cơ hội để phát triển. Trong cuộc sống thường nhật, sức sống tiềm tàng còn được thể hiện ở thái độ phản kháng, sự chống lại và luôn vươn lên mọi thế lực bạo tàn; lúc nào cũng muốn lăm le hòng tiêu diệt lại nó. Câu nói bình thường, nhưng đã làm toát lên bản chất của một con người. Đó là con người có sức sống tiềm tàng bất diệt. Câu nói của Mị hàm chứa sự đánh đổi, đánh tráo: Mị thà ở nhà lao động cực nhọc trên nương rẫy, nhưng được sống một cuộc đời hạnh phúc tự do với ước mơ của một thời con gái còn hơn phải làm con dâu nhà giàu; sống kiếp trâu ngựa nô lệ mất cả quyền làm người. Sự tráo đổi này chỉ có thể có ở những con người mạnh mẽ, tự tin, biết quý trọng danh dự và nhân phẩn của bản thân. Có câu “thân gái như hạt mưa sa”. Làm dâu của nhà giàu là ước mơ của nhiều người phụ nữ. Nhưng với Mị, người con gái giàu lòng tự trọng và có sức sống tiềm tàng, Mị không bao giờ chấp nhận cuộc hôn nhân gả bán này. Điều đó thể hiện rõ ở lời quả quyết của Mị với cha: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Mặc dù Mị không chấp nhận làm dâu nhà thống lí, nhưng cuộc đời Mị không được yên thân. Bởi Mị đang sống trong xã hội tiền quyền và thần quyền. Đây là xã hội thổ ty, lang đạo ở miền núi, tương ứng với xã hội phong kiến ở miền xuôi. Trong xã hội ấy, cạm bẫy người giăng giăng như mắc cửi, thì những người nết na như Mị không thoát được. Mị bị bắt cóc, lừa gạt, về cúng trình ma nhà thống lí Pá Tra, đợi ngày chết rũ xương ở đây. Biết được điều này, Mị đã khóc ròng rã hàng tháng trời. Sống ở nơi đây cũng đồng nghĩa với cái chết, và Mị đã nghĩ đến cái chết. Là một cô gái nết na, hiếu thảo, Mị không thể nào chết ở nhà thống lí mà không về chào cha lần cuối. Nhưng khi về đến gia đình, Mị mới thấy rõ bi kịch của gia đình mình. Bố Mị nói như van xin: “Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi!”. Sau khi nghe người cha nói ra những lời đầy nước mắt, Mị đứng trước hoàn cảnh oái oăm, éo le và cay cực: Mị sống thì không muốn, giờ đây Mị chết lại không xong. Mặc dù vậy, ý định tự tử của Mị lại là biểu hiện của sức sống tiềm tàng, biểu hiện của một lòng ham sống. Điều này có gì là nghịch lí hay không? Mới nghe qua tưởng đó là một nghịch lí, nhưng đặt trong hoàn cảnh của Mị, đó lại là sự hợp lí sâu sắc. Bởi lẽ Mị muốn chết như một con người, còn hơn phải sống như một con vật; Mị muốn chết ngay một lần để được làm người còn hơn chết dần, chết mòn, chết khô, chết héo, chết cả về thể xác và tâm hồn. Nếu Mị chết, nghĩa là Mị đã làm theo tiếng gọi của sức sống tiềm tàng, làm theo tiếng gọi của khao khát cá nhân mình; Mị buộc phải chà đạp lên chữ hiếu, phải dày xéo lên tình phụ tử. Là một cô gái nết na, hiếu thảo, Mị không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi đau của cha mình và bi kịch của gia đình. Nghĩa là Mị không bước qua được chữ “hiếu”. Chỉ vì chữ “hiếu”. Mị đành gạt nước mắt, quăng nắm lá ngón, quay trở về nhà thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài. Cái nhà thống lí ở Hồng Ngài không khác gì hang hùm nọc rắn. Dấn thân vào nhà thống lí Pá Tra là dấn thân vào địa ngục trần gian, vào nơi thiên la địa võng. Ở đó cái ác hiện lên từng ngày, từng giờ và phát triển lên cùng cực. Cái ác lúc nào cũng muốn lăm le hòng tiêu diệt bản tính tốt đẹp của con người. Nhưng không phải vì thế mà người dân vùng cao bị xói mòn tình người, bị cằn cỗi tâm hồn. Ngược lại, trong lòng của cái ác, bản tính tốt đẹp của con người vẫn thăng hoa, nổi loạn. Chữ “hiếu” vẫn ngời sáng. Điều ấy cho thấy: tất của những gì tốt đẹp nhất của cuộc đời này không hề bị tiêu diệt. Cái thiện luôn chiến thắng cái ác! Chấp nhận vào nhà thống lí Pá Tra, nên từ đây Mị đã không khóc nữa, Mị hoàn toàn thay đổi. Mị đành đào sâu chôn chặt mọi ước mơ của một thời con gái với quãng đời thiếu nữ tự do, với hạnh phúc trong mối tình đầu. Cô Mị tự trọng xinh đẹp là thế. Mị sống lầm lũi như con rùa ở trong xó cửa, xó bếp. Mị sống như một cái bóng, cái xác vô hồn giữa địa ngục trần gian. Mị sống chẳng qua chỉ là kéo dài những ngày chưa chết được mà thôi. Những câu văn đầy tính tạo hình, Tô Hoài đã dựng lên những chân dung của Mị với sức sống tàn phai mai một ngay ở những dòng đầu tác phẩm: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước của, cạnh tàu ngực. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Tất cả những gì tưởng như đã chết rồi trong lòng Mị thì giờ đây lại hồi sinh – hồi sinh một cách chóng vánh khi mùa xuân đến. Có thể nói những trang văn viết về mùa xuân của Tô Hoài là những trang văn tuyệt bút. Ta bắt gặp một cây bút vốn viết văn hiện thực, giờ đây lại có những trang văn vô cùng lãng mạn. Có thể không quá lời khi khẳng định, những trang văn viết về mùa xuân của Tô Hoài là những bài thơ trữ tình viết bằng văn xuôi. “Vợ chồng A Phủ” là minh chứng cho lời nhận định của một nhà phê bình văn học: “Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 có sự kết hợp hài hoà giữa hai nhân tố hiện thực và lãng mạn”. Nhưng điều chúng ta quan tâm là ngòi bút tâm lí của nhà văn Tô Hoài khi lách sâu vào tâm hồn Mị để phát hiện ở Mị có sức sống tiềm tàng bất diệt. Nhà văn tập trung vào những ngõ ngách động cơ, những tâm lí phức tập âm thầm bên trong tâm hồn Mị. Cùng với Nam Cao, Tô Hoài thực sự là một nhà văn hiện thức tâm lí. Để sức sống của Mị trỗi dậy trong những ngày mùa xuân, đầu tiên nhà văn tập trung miêu tả những đổi thay bên ngoài. Năm ấy mùa xuân đến sớm. Tô Hoài miêu tả những làn gió đem mùa xuân vê trên khắp các bản làng. Tất cả không khí nơi đây đều cuốn vào không khí của ngày hội. Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi và cỏ gianh vàng ủng. Trên những bản của người Mèo Đỏ, những nương thuốc phiện đã nở hoa sặc sỡ, rồi những chiếc váy hoa xòe ra trông như những cánh bướm khổng lồ. Mùa xuân – nơi hội tụ sức sống của các bản làng, chất thơ của xứ sở được tập trung vào mỗi đám hội. Ban ngày từng đám thanh niên đến đánh quay, ném pao, tung còn… Tất cả không khí này âm thầm dội vào tâm hồn Mị – một tâm hồn vốn khô cằn; và nó làm cho sức sống của Mị bắt đầu có sự vận động trở lại. Nó chẳng khác nào như những nốt nhạc đầu tiên của bản tình ca thay đổi lớn sắp diễn ra trong lòng người đàn bà đã và đang phải chịu quá nhiều đau khổ. Kế đó nhà văn tập trung vào để miêu tả tiếng sáo đêm tình của mùa xuân. Nếu ban ngày từng đám thanh niên nô nức đến với đám hội thì cứ tối đến, trong không gian kia là tiếng sáo, tiếng hát; tiếng khèn lá, khèn môi của trai gái gọi bạn tình; réo rắt đi hết quả đồi này sang quả đồi khác. Những tiếng sáo, tiếng hát ấy đánh thức dậy trong lòng Mị những bài hát từ ngày xưa mà kể từ ngày bước chân vào nhà thống lí Pá Tra, Mị đành đào sâu chôn chặt. Mị bổi hổi bồi hồi nhẩm lại bài hát từ ngày xưa. Ngày xưa Mị thổi sáo thật tài, chỉ cần uốn chiếc lá trên môi, cô thổi hay như thổi sáo: “Anh ném pao, em không bắt Em không yêu, quả pao rơi rồi Em yêu người nào, em bắt pao nào.” Hoặc: “Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương Ta không có con trai con gái Ta đi tìm người yêu.” Điều đáng nói là tiếng sáo, tiếng hát ấy đã mang lại hai tiếng “ngày xưa” trở về với Mị. Nói cách khác, nhờ có tiếng sáo mà thời gian trở về với Mị. Từ ngày bước chân vào nhà thống lí Pá Tra, Mị sống một cuộc sống phi không gian, phi thời gian. Thế giới của Mị là một căn buồng tăm tối, nhìn ra bên ngoài qua ô cửa mờ mờ trăng trắng, không biết ngày hay đêm, sương hay nắng. Khi một người không nhận thức được ngày – đêm, sương – nắng nghĩa là họ không nhận thức được không gian – thời gian. Đó là phương thức tồn tại của một sự sống. Nói cách khác, sức sống của Mị đang tàn phai mai một. Hôm nay nhờ có tiếng sáo mà thời gian đã trở về. Thời gian ấy cho Mị thấy hiện tại là đau khổ, quá khứ ngày xưa mới là hạnh phúc. Thế là lòng Mị chỉ hướng về ngày trước, với những quãng đời thiếu nữ tự do, hạnh phúc trong mối tình đầu. Mị muốn quay trở về với quá khứ, muốn vớt vát quá khứ, muốn kéo dài quá khứ để bù đắp lại những cay đắng trong hiện tại. Khi Mị đang đứng trước đôi bờ thời gian thì sức sống của Mị lại được tiếp thêm bằng bữa cơm tất niên nhà thống lí Pá Tra. Hình ảnh những người ốp đồng, nhảy múa vui vẻ trong tiếng nhạc sênh tiền càng làm cho lòng Mị trở nên rộn ràng náo nức. Niềm rộn ràng náo nức ấy biến thành một nỗi thúc bách khi những người trong nhà thống lí mặc váy áo mới đi chơi. Niềm rộn ràng náo nức này cũng như nỗi thúc bách kia là gì nếu không phải đó là biểu hiện của sức sống tiềm tàng đang trỗi dậy trong lòng Mị. Nó trở thành nhiều đòi hỏi bên trong lòng Mị, nó muốn bật ra thành hành động cụ thể bên ngoài. Hành động đầu tiên là Mị lén lấy hũ rượu rồi uống ực từng bát. Nếu ai đọc “Đồng bạc hoa xòe” của Ma Văn Kháng thì không xa lạ khi gặp hình ảnh người phụ nữ uống rượu. Ở đây, ta quan tâm đến cách thức uống rượu của Mị. Mị uống ực từng bát. Mị uống như để nuốt những tủi hờn cay đắng, quên đi hiện tại khổ đau. Rồi say, Mị “lịm mặt” ngồi đấy, nhìn mọi người nhảy đồng và múa hát. Nhưng lòng Mị không ở thực tại, Mị đang sống về ngày trước. Mị thấy văng vẳng bên tai mình tiếng sáo gọi bạn ở đầu làng. Mị thấy mình còn trẻ đẹp, có nhu cầu đi chơi hội. Mị nghĩ: “Biết bao nhiêu người đàn bà có chồng, họ cũng đi chơi hội; huống hồ Mị với A Sử chẳng có lòng với nhau.” Thế là Mị cũng sửa soạn đi hội. Bước vào căn buồng tăm tối, việc đầu tiên Mị làm là xắn miếng mỡ để vào đĩa đèn, cho đèn sáng hơn. Đây là chi tiết có chiều sâu về nghệ thuật. Bởi trước đây không thiết sống, nên căn buồng của Mị tăm tối, hôi hám, luộm thuộm, ẩm thấp; Mị cũng chẳng bận lòng. Hôm nay thì khác, sức sống tiềm tàng trỗi dậy rất mạnh trong lòng Mị, Mị muốn cuộc đời mình phải sáng sủa hơn; có lẽ đây là bước ngoặt với những đổi thay của Mị. Viết về khát vọng sống của những người nông dân, các bậc tao nhân thường mượn hình ảnh ngọn đèn. Cuộc đời của người nông dân tăm tối hiện lên trên cánh đồng lúa của ngày xưa. Đó là những bức chân dung thiếu ánh sáng của Đảng chiếu vào, được Ngô Tất Tố viết trong “Tắt đèn”; là ngọn đèn dầu của mẹ con chị Tí cũng bị phân chia thành hai vùng sáng tối trong “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam; là ngọn đèn dầu thắp sáng lên trong túp lều của bà cụ Tứ ngày Tràng nhặt được vợ và đưa vợ về xóm ngụ cư. Còn ở đây là ngọn đèn trong căn buồng của Mị. Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội. Trong từng tế bào ấy, có những thành viên biết thắp lên ngọn lửa sống, như Mị trong “Vợ chồng A Phủ”, như Tràng trong “Vợ nhặt”… Đồng nghĩa cả một dân tộc lầm than đang: “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (“Đất nước” – Nguyễn Đình Thi) Rồi Mị đi tìm một chiếc váy hoa vắt tít ở phía trong vách. Bởi Mị thấy mình con trẻ, đẹp, Mị cũng sắp đi chơi hội. Mị quấn lại tóc. Khi một người đàn bà cuộc đời sống đồng lõa trong bóng tối, sống lầm lũi như con rùa ở xó cửa, xó bếp; bỗng một hôm thấy mình trẻ ra, đẹp hơn, có nhu cầu ăn mặc đẹp; đó là “dấu hiệu của sự tái xuân” (nói như Chu Văn Sơn). Đó là lúc sức sống tiềm tàng trong Mị trỗi dậy mạnh mẽ nhất. Đúng lúc ấy, A Sử xuất hiện. Lấy làm lạ khi thấy Mị sửa soạn đi hội, hắn hỏi: “Mày muốn đi chơi à?” Ngay lúc ấy, A Sử trói Mị vào cột nhà bằng cả thúng dây đay, từ chân đến đầu, chưa bao giờ Mị thấy đau đớn, nhục nhã như lúc này. Đọc truyện, người yêu văn nhận thấy, sợi đay đã trở thành phương tiện trói buộc Mị vào nhà thống lí Pá Tra bên cạnh tiền quyền và thần quyền. Bởi lúc nào trên tay Mị cũng có đay. Ở trang văn này Mị ngồi giặt đay, trang văn khác Mị lại ngồi xe sợi. Và giờ đây những sợi đay ấy lại trói buộc Mị vào nhà thống lí. Mị thấy mình không bằng con trâu, con ngựa trong nhà thống lí Pá Tra; bởi khi mỏi nó còn được đổi tàu, đứng gãi chân, nhai cỏ. Còn Mị giờ đây khóc không thể tự lau nước mắt. Cơ chừng sau lần ấy, sức sống của Mị đã chết hẳn. Rõ ràng khi đọc tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, đến đây, người yêu văn lại thấy phải chăng, nhà văn Tô Hoài, một nhà văn viết văn ở sau Cách mạng tháng Tám, chẳng nhẽ ông lại để cho nhân vật của mình chết rũ xương ở Hồng Ngài? Cuộc đời của Mị sẽ thế nào nếu như lại đi vào cái bước lặp của văn học hiện thực phê phán trước Cách mạng? Nhưng nhìn lại truyện “Vợ chồng A Phủ”, ta vẫn thấy ở đó còn vài ba trang truyện mà thông thường trong truyện ngắn, nhà văn đẩy kịch tính lên đến cao trào ở phần cuối truyện, rồi cởi trói truyện cũng ở phần cuối tác phẩm, Đọc hết “Vợ chồng A Phủ”, ta lại ngỡ ngàng nhận ra, nhà văn Tô Hoài đã để cho đứa con tinh thần của mình gặp được một người, không ngờ người ấy đã tiếp thêm cho Mị sức mạnh để giải thoát người cùng cảnh ngộ, giải thoát người cùng cảnh ngộ, giải thoát cuộc đời của mình, ấy chính là A Phủ. Do vậy, truyện có nhan đề “Vợ chồng A Phủ”. Lại nói đến A Phủ, là một đứa trẻ mồ côi cha mẹ, sau một trận đậu mùa, người thân đã không còn. A Phủ là một con người sống bộc trực, thẳng thắn, khỏe mạnh; là người mà Hồng Ngài nhận định: “Có được A Phủ chẳng khác nào có được một con trâu tốt trong nhà.” Nhưng vì sống bộc trực thẳng thắn nên A Phủ đã đánh lại con quan là A Sử, nhân một lần hắn gây lộn trong đám chơi xuân. Vì đánh phải con quan, A Phủ đã bị gia đình nhà thống lí Pá Tra bắt về để xử vả. Đọc truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, người yêu văn kinh hoàng trước cảnh tượng xử vả A Phủ. Những quan thống lí, thống phán và xéo phải ở đây ngất ngây trong cơn thuốc phiện, vừa đánh, vừa hút. Và kết cục cuộc đời của A Phủ, từ một con người tự do; nay đã trở thành kẻ trâu ngựa, nô lệ cho nhà thống lí Pá Tra với 100 đồng bạc trắng cùng tội trạng “đánh phải con quan”. Người yêu văn nhận thấy, chỉ với 10 đồng bạc mà món nợ nhà Mị đã trở thành món nợ truyện kiếp, cuộc đời của Mị đã bị bắt cúng trình mà ở nơi địa ngục trần gian này; thì với số tiền gấp 10 lần ấy của A Phủ, rõ ràng đời đời kiếp kiếp con cháu A Phủ ở nợ cho nhà thống lí Pá Tra cũng không trả hết được. Cuối cùng, cuộc đời của A Phủ đã trở thành kẻ trâu ngựa, nô lệ cho nhà thống lí Pá Tra. Đêm nào cũng vậy, Mị vẫn dậy thổi than để hơ tay, Mị vẫn luôn nhìn thấy A Phủ, nhưng cô không động lòng thương nữa. Có lẽ cô đã sống quá lâu trong gia đình nhà thống lí Pá Tra, trong cái địa ngục trần gian ấy, nơi mà việc đánh đập con người nhiều hơn cơm bữa, nên lòng thương người của cô Mị nay đã bị chai sạn, bị chai lì. Hôm nay thì khác, chợt nghe thấy tiếng thở phì phì của A Phủ, Mị lén mắt nhìn sang, bất ngờ thấy một chàng trai to khỏe nhất bản, giờ đã bị hành xác đến tiều tụy: mặt xám lại, má hõm sâu, hai con mắt trũng sâu đầy bóng tối. Điều kị lạ là đúng lúc ấy, hai dòng nước mắt từ hai hố mắt của A Phủ, lặng lẽ bỏ xuống hõm má. Mị cảm thấy không đành lòng. Một niềm thương cảm chợt dâng lên trong lòng Mị. Mị nhớ đến mình ngày trước, cô cũng từng bị trói, bị đánh như thế. Mị thương mình, rồi lại thương người. Bỗng nhiên từ trong lòng Mị đã xuất hiện một lời độc thoại: “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì lại phải chết thế. A Phủ…” Khi một người đàn bà sống lầm lũi trong bóng tối, cam chịu, nhẫn nhục như con rùa ở xó cửa, xó bếp như cái bóng, cái xác vô hồn giữa địa ngục trần gian, sống như để kéo dài những ngày chưa chết được, bỗng một hôm ném ra câu hỏi như vậy trong bóng tối; thì đó là khởi đầu của sự nổi loạn trong tâm hồn. Chưa bao giờ Mị lại liều lĩnh như thế này. Và có lẽ chính hai dòng nước mắt của A Phủ đã chạm vào lòng thương của Mị. Nó khơi dậy một sức sống tiềm tàng ác liệt, trỗi dậy trong lòng Mị. Nghĩ đến cái chết, Mị không sợ nữa. Trong khoảnh khắc, Mị cầm dao cắt dây trói cho A Phủ, cho đến khi vòng dây cuối cùng được cắt đứt, A Phủ khuỵu người xuống rồi bật người đứng dậy, chạy băng băng vào trong bóng tối. Đến lúc này đây, Mị cũng chỉ nghĩ đến việc mình phải cứu A Phủ. Nhưng nhìn vào cái cọc bỏ không, Mị lại nghĩ tới nguy cơ mình sẽ bị trói thay, trói thế vào đó. Ý định tự cứu mình đến với Mị, Mị không thể chết một cách vô lí như vậy. Mị vọng thanh theo A Phủ: “A Phủ, cho tôi đi.” Đó là câu nói của một lòng ham sống. Và thế là hai con người nô lệ đã giải thoát cho nhau, nương tựa vào nhau để trốn khỏi Hồng Ngài, đến Phiềng Sa. Hành động Mị giải thoát cho A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài, đến Phiềng Sa cho đến nay vẫn là cái mốc thách thức của chính nhà văn Tô Hoài. Chính nhờ hành động này mà “Vợ chồng A Phủ” đã trở thành một tác phẩm bản lề, khép mở 2 thế giới. Nó khép lại cái thế giới tăm tối với những kiếp sống trâu ngựa, nô lệ ở Hồng Ngài; và mở ra một cuộc sống mới, tươi sáng hơn ở phía Phiềng Sa. Ngoài ra, chính hành động này đã gián tiếp khắc phục được cái hạn chế của dòng văn học hiện thực phê phán một thời. Đồng thời, nó còn mở ra hướng đi mới cho văn học thời kì giải phóng. Chính nhờ chi tiết này mà “Vợ chồng A Phủ” được trao giải thưởng Nhà nước về văn học – nghệ thuật năm 1954 – 1955. Không phải ngẫu nhiên mà sau khi đọc xong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, cũng như sau khi đọc xong tác phẩm này, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận định: “Tôi nhớ như đã có lần nào tôi gặp chị Dậu trong một đám đông đi phá kho thóc Nhật, địch hậu o ép, chị tải lương và đậy nắp hầm cho cán bộ, bộ đội cơ sở trong những ngày huyện kì khởi nghĩa…” Rõ ràng trong truyện, chị Dâu không hề đi phá kho thóc Nhật. Nhưng chị là tiền thân của sức mạnh, là một con người chưa bao giờ đầu hàng trước hoàn cảnh. Vậy người mà Nguyễn Tuân nhầm tưởng là ai? Nếu không phải là vợ chồng A Phủ,…? Vì khi đến Phiềng Sa, Mị và A Phủ đã gặp được cán bộ cách mạng là A Châu. Vậy nên chúng ta có thể tin tưởng rằng, những người như Mị và A Phủ mới và sẽ trở thành những người chiến sĩ cách mạng kiên cường. Bởi nói như Tố Hữu: “Đời cách mạng từ khi tôi mới hiểu Dấn thân vô là phải chịu tù đày Là gươm kề cổ, súng kề vai Là thân sống chỉ còn một nửa.” Chỉ có những con người chịu nhiều khổ đau trong bóng tối thì mới có thể trở thành những chiến sĩ cách mạng, những con người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Ta có thể kết luận rằng, “Vợ chồng A Phủ” là một bài ca mô tả quá trình bừng thức, bùng dậy của kiếp sống trâu ngựa, nô lệ và còn là bài ca, ca ngợi tự do, lòng yêu đời mang tính nhân bản của con người. Ngòi bút của Tô Hoài đã đạt đến trình độ nhân văn, sâu sắc, cao cả. Chính hành động Mị cởi trói cho A Phủ đã làm sáng rõ hơn chân lí của cuộc đời mà Nguyễn Khải đã gửi gắm qua truyện ngắn “Mùa lạc”, nghĩa là mùa vui: “Sự sống nảy sinh ở trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ những gian khổ, hi sinh.” Không có con đường cùng, chỉ có ranh giới giữa sự sống và cái chết. Điều cốt yếu là phải chuẩn bị cho mình sức mạnh để vượt qua ranh giới vô hình ấy. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ Chồng A Phủ
4,711
Đề bài: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ Bài làm Cuộc đời của Mị được tính từ khi cô về làm dâu nhà thông lí Pá Tra. Thường thì khi người con gái lấy chồng giàu thì sướng, nhàn hạ. Nhưng đây, Mị chỉ lùi lũi một mình, câm lặng. Xưa kia Mị cũng đã có một thời con gái hạnh phúc ( trong đói nghèo). Những đêm tình mùa xuân, con trai đến thổi sáo đứng “chật cả chân vách đầu buồng Mị”. Và Mị đã có một tình yêu, có hiệu gõ vách hẹn hò. Tâm hồn cô gái xinh đẹp và loài hoa ấy luôn mở rộng để đón nhận hương hoa của cuộc đời. Nhưng rồi tất cả đều chấm dứt trong cái đêm Mị bi bắt cóc về nhà thống lí Pá Tra. “Sáng hôm sau, Mị mới biết mình đang ngồi trong nhà thống lí Pá Tra. Họ nhốt Mị vào buồng. Ngoài vách kia, tiếng nhạc tiền cúng ma đương rập rờn nhảy múa". Mị bị bắt cóc để rồi trở thành con dâu thông lí là trả cái món nợ hôn nhân từ đời cha mẹ Mị. Những ngày đầu làm dâu nhà thống lí, Mị thấm thìa nỗi đau một cuộc đời bị cướp đoạt “đêm nào Mị cũng khóc”. Đúng là về làm dâu gạt nợ, Mị bị cha con thống lí đốì xử không khác gì con vật. Suốt ngày Mị chỉ “ngồi quay sợi gai cạnh tảng đá, trước cửa tàu ngựa, gương mặt cô lúc nào cũng cúi xuống, mặt buồn rười rượi”. Cuộc đời cô cột chặt vào những công việc nặng nhọc. Đọc đoạn văn mở đầu của truyện không thể không băn khoăn, khao khát muốn hiểu nguyên nhân xô đẩy Mị vào tinh cảnh mà cô phải chịu. Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị Trước khi về cửa nhà thống lí Mị đẹp như một bông hoa rừng. Cô là một phụ nữ trẻ đẹp, chăm chỉ công việc, giàu lòng hiếu thảo, tự tin, thông minh…Người con gái ấy là niềm khát khao, ước mơ của bao nhiêu tràng trai “Có biết nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Mị chưa kịp nếm những trái ngọt của cuộc đời đã phải cay đắng tìm đến nắm lá ngón, mong kết liễu cuộc đời không ra gì. Bởi vì, Mị không muôn chấp nhận một cuộc sống chết mòn héo úa – điều này chứng tỏ con người Mị tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt, muốn thoát khỏi cuộc sống nô lệ. Nhưng vì tình thương cha, lòng hiếu thảo, Mị khó không đành chết nên vứt nắm lá ngón, trở lại nhà thống lí. Ngày lại ngày qua, nổi khổ cực đã dồn nén dần cái sức sống tiềm tàng trong con người Mị. Mị không nghĩ đến cái chết nữa (ngay cả khi cha cô không còn). Mị tưởng mình cũng chỉ là con trâu, con ngựa nhà thông lí, sống trong nhà thống lí ách áp bức của giai cấp thống trị, thần quyền, sự mê tín đã biến Mị trở thành con người hoàn toàn khi “ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Dường như mối giao cảm giữa Mị với cuộc sống bên ngoài chỉ còn thu hẹp của “căn buồng âm u, kín mít, có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trắng trắng, không biết là sương hay nắng”. “Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha, bồi hồi”. Tiếng sáo ấy đã khơi dậy sức sống ẩn náu trong Mị tưởng như đã nguội tắt. Mị còn nhớ như in những lời hát tình tứ mà Mị đã nghe, đã hát, đã thổi sáo, thổi kèn lá ngày nào. Hiện tại bây giờ cô đang sống lại cảnh tượng ngày xưa. Cô đâu phải là con người “chết dần chết mòn” về nhân tính như Chí Phèo. Tiếng sáo bây giờ đã thấm vào trái tim Mị, thức tỉnh sự câm lặng bấy lâu. Rồi Mị uống rượu, men rượu hay men cuộc đời đã nâng bỗng tâm hồn Mị lên, tâm hồn Mị đã thoát xác, vượt ra ngoài cái ô cửa “mờ mờ trăng trắng kia”. Khát vọng đi chơi bỗng bùng cháy trong tâm hồn Mị. Khái vọng ấy là cuộc khởi nghĩa nhân tính trong Mị. Bởi vì, từ ngày về làm dâu nhà thông lí “Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi”. Vậy mà khi tiếng chó sủa xa xa, vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng”. Sau bao nhiêu năm sống trong nhà thống lí, lần đầu tiên tiếng sáo của ai đó đến với Mị như một âm thanh của hiện tại. Rồi sau đó tiếng sáo làm sống lại bao rung động tâm linh của mùa xuân năm nào. Mới đầu tiếng sáo còn lấp ló nơi đầu núi, cuối cùng tiếng sáo đã thực sự hoá thân, nhập thân trong Mị “Trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo”. Góp phần làm nên cuộc “nổi loạn” nhân tính trong Mị có nhiều yếu tố; yếu tố ngoại lực, yếu tố nội lực. Trong đó, yếu tố quan trọng nhất phải chăng là tiếng sáo mùa xuân. Ngày xuân, không có gì cuốn hút Mị bằng tiếng sáo, tiếng áo đối với Mị mỗi lúc một mãnh liệt. Từ đầu là những âm thanh xa xôi, sau đó tiếng sáo trở thành lời mời gọi giúp Mị lãng quên quá khứ, sống vui vẻ với tương lai. “tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, đám chơi”. Quá trình hồi sinh của Mị đã không được miêu tả một cách dễ dãi, hời hợt, tâm trạng nhân vật được nhìn nhận từ cái nhìn lưỡng phân. Con người hiện tại dường như đã chết, con người quá khứ đang dần dần từng bước được hồi sinh. Mị như cây hoa ban, hoa Đào Tây bắc trước lúc vào xuân, nhìn bề ngoài thì có vẻ khẳng khiu, khô gầy, mỏng manh như đã chết nhưng bên trong sức sống vẫn âm ỉ, vẫn chờ thời để bừng sáng sắc xuân. Tết đến, Mị rất muốn đi chơi, nhưng A Sử không cho Mị đi, năm nào cũng vậy, A sử toàn đi một mình để Mị ở nhà như người xa lạ. Nhưng giai cấp phong kiến, gia đình nhà thống lí không thể cưỡng ép được Mị lâu, một con người sức sống đang còn cháy rực trong tâm hồn. Lúc này khi “tiếng sáo đang lửng lơ bay ngoài đường” gọi bạn đi chơi mà Mị đã phải ngồi cô độc trong xó cửa. Cô không thể dằn lòng được “Mị vùng dậy khêu đèn sáng, cuốn lại lóc, mặc váy hoa vắt ở vách" toan bước đi, tìm đến nơi đang lửng lơ bay tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha. Nhưng Mị vừa bước đi thì A sử lại kéo cô lại. A Sử không hề đánh đập, chửi rủa mà anh lầm lì như cái bóng từ từ trói cô vào cột nhà. Và bây giờ Mị mới bật khóc, khóc oan trái cho một kiếp người khao khát sống, muốn yêu mà đang ghì chặt vào một cuộc sống “không bằng con ngựa”. Nhưng từ đây sức sống của một cô gái yêu đời lại trỗi dậy. Trong bóng tối, cô đang mơ màng đi theo tiếng sáo, tiếng sáo ấy đã có lần đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. Nhưng rồi quá khứ chưa đi, hiện tại lại về. Giờ đây, Mị đang bị A Sử trói, dường như cô sống mà như đã chết. Đã chết phần hồn lẽ nào giờ đây cô lại để chết cả phần xác, Mị thấy xung quanh mình chỉ là bóng tối, không một tiếng động, cô “vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa”. Thời gian lại trôi qua, cho đến cái đêm A Phủ bị trói đứng vào cây cọc: trong nhà thống lí vì để hổ bắt mất con bò… A Phủ vì đánh lại con quan nên làng phạt vạ, và trở thành người ở gạt nợ của gia đình thống lí còn Mị làm dâu gạt nợ. A Phủ – Mị có cùng một cảnh ngộ, cùng là người đi ở gạt nợ cho nhà thống lí. A Phủ bị trói mấy đêm rồi nhưng đêm nào cũng vậy. Mị dậy đốt lửa sưởi và thản nhiên như không có gì bên cạnh. Mỗi đêm, đêm nào cũng vậy khi ngọn lửa bùng, Mị nhìn sang biết A Phủ còn sống nhưng Mị không hề nói năng gì. “Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi. Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa”. Bởi vì tâm hồn Mị đã khép kín và câm lặng rồi. Mặc dù, với ngọn lửa to như thế, hồng như thế cô vẫn cảm thấy lành lạnh, cô đơn. Sự cô đơn ấy cô đã từng nếm thử nhưng bây giờ nó cay và đắng lạ. Khi chỉ biết ngồi một mình bên bếp lửa. Dường như sức sống trong tầm hồn cô đã cạn dần. Không, ngược lại, sức sống trong cô lâu nay bị dồn nén quá sức bây giờ nó để vỡ tung ra khi “Ngọn lửa vừa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Dòng nước mắt ấy đã làm trỗi dậy trong Mị tinh thương những người cùng cảnh ngộ. Mị chợt nhớ lại cái đêm mình cũng bị trói đứng vào cột nhà như thế kia, cũng "nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không lau đi được”. Cũng như lần trước, một khi ý thức sống trỗi dậy, thì Mị lại nghĩ đến cái chết, nhưng lần này là một cái chết oan ức, vô lí của một người khác. Vì mê tín, vì đã là người của nhà thống lí, Mị cam chịu chết ở cái nhà này. Còn A Phủ việc gì phải chết, A Phủ phải được sống. Sau ý nghĩ ấy lòng thương người lớn hơn thương thân. Mị đã cam chịu chết thì cô sợ gì mà không cứu A Phủ. “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ cần biết đợi ngày mà rũ xuống ở đây thôi- Người kia việc gì phải chết”. Rõ ràng, Mị đã suy nghĩ kỹ, đã lường trước những gì sẽ xảy ra. Cô sẵn s àng chịu trói thay cho A Phủ. Nghĩ đến lúc rơi vào tình cảnh ấy Mị cũng không thấy sợ. Ngược lại lúc này cô bình tĩnh, can đảm hơn bao giờ hết. Đến giờ phút nà y thì việc rút dao cắt dây trói cho A Phủ là một việc phải làm tất nhiên có thể xảy ra. Đó là hành động tự bản thân Mị chứ không phải là sự phát triển của tình huống truyện do tác giả sắp đặt. A Phủ đã được giải thoát, lòng thương của Mĩ đã chiến thắng còn Mị vẫn đứng trong bóng tối. vẫn biết rằng Mị không sợ hình phạt của thống lí, không sợ phải chết thay cho A Phủ vì chết đối với Mị là một giải thoát, Mị vốn nghĩ thế. Nhưng thấy A Phủ đã chạy đi rồi, chạy đi đến một cuộc sống tự do, thì Mị bừng tinh hẳn. Mị không muốn chết nữa mà Mị muốn sống, phải sống “Mị cũng vụt chạy ra” theo A Phủ. Giải thoát cho A Phủ, Mị cũng giải thoát luôn cho chính mình. Hành động cởi trói cho A Phủ bắt nguồn từ một sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Trong tính cách của Mị, không một uy vũ nào có thể dập tắt nổi. Hành động chạy theo A Phủ là một hành động thật bất ngờ nhưng rất hợp lí. Lần này, thì sức sống mãnh liệt của Mị đã chiến thắng. Mị đúng là con người hơn con người thật. Đêm cuối cùng ở nhà thống lí Pá Tra, đã thành thật xin A Phủ cho đi theo, lời xin ấy cũng chính là ngọn lửa lâu ngày âm ỉ đang được bùng cháy. Nhân vật Mị đã thu hút được người đọc bằng chính cái sức sống tiềm ẩn ấy . Tô Hoài đã rất thành công khi tạo dựng nhân vật này. Một cô Mị xinh đẹp, tài hoa, yêu đời, ham sống và luôn luôn nghĩ đến cái chết vì không được sống cho ra sống. Một cô Mị câm lặng, khép kín và luôn luôn bùng nổ những hành động chống đối mãnh liệt. Mâu thuẫn đấy mà lại hết sức thống nhất, tự nhiên, hợp lí. Người đọc cảm giác ấy là nhờ cách kể truyện rất sinh động, kết cấu hình tượng chặt chẽ và nhất là nhờ những chi tiết nghệ thuật có tính biểu cảm cao: một lỗ cửa sổ, “mờ mờ trăng trắng” soi rọi cuộc đời của cô con dâu gạt nợ nhà thống lí một tiếng sáo gọi bạn tình đêm xuân bồi hồi, tha thiết như giục giã, như gọi mời những hơi rượu say nồng đêm xuân; những giọt nước mắt trong đêm cuối cùng ở nhà thống lí… ở Mị có sự dửng dưng vô cảm, bén cạnh lòng thương xót xâu xa; có lúc lãng quên tất cả và cũng có lúc trào dâng nỗi nhớ thiết tha bồi hồi. Từ chỗ không thấy sợ Mị bỗng trở thành người hoảng hốt. Tất cả trạng thái đối nghịch ấy của tâm hồn Mị đều được Tô Hoài dẫn dắt, phân tích một cách hợp lí tưởng như không có thể nào khác được. Đọc Vợ chồng A Phủ ta thấy Mị là bức chân dung tĩnh lặng. Hầu như trong thời gian nhà thống lí Mị chỉ nói có vài ba câu. Nhưng ẩn chứa trong tâm hồn câm lặng ấy là một sức sống mãnh liệt, một khát vọng lớn lao như mạch suối ngầm trong mắt. Tiếp xúc với Vợ chồng A Phủ ta nhớ, ta yêu một cô Mị ở Hồng Ngài càng bị đoạ đầy, đau khổ càng khao khát muốn vươn lên một cuộc sống tốt lành. Một cô Mị tiềm tàng sức sống mãnh liệt để có thể hiểu hơn một cô Mị du kích Phiềng Sa sau này.
Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị
2,493
Đề bài: Phân tích sự sống đối mặt với cái chết trong Vợ nhặt của Kim Lân Dàn ý 1. Cái hoạ chết đói năm 1945 quả là khủng khiếp. Không chỉ đói xóm đói làng mà đói nửa nước. Từ bắc Trung Bộ trở ra, từ thu đông 1944 đến xuân hè 1945 hơn hai triệu người nằm xuống. Kim Lân chọn bối cảnh ấy cho truyện Vợ nhặt. Không nhiều dòng miêu tả trực tiếp nhưng là những dòng rất hiếm trong văn chương từ đó đến nay. Cái nghèo ở Ngô Tất Tố, cái đói ở Nam Cao, ta thương cảm muốn rơi nước mắt. Cái đói và cái chết ở Kim Lân khiến ta khiếp sợ, rụng rời. Phân tích sự sống đối mặt với cái chết trong Vợ nhặt của Kim Lân Nó hiện lên thành màu: xanh xám của da người sắp chết, đen kịt đầy trời của các đàn quạ. Thành mùi: gây gây của xác người, khét lẹt của những gì đốt lên ở nhà có người chết. Thành tiếng: thê thiết của quạ trên những cây gạo, hờ khóc gió đưa vào tận nhà, văng vẳng như từ dưới âm ly. Cuộc sống khắp nơi, cuộc sống ở xóm ngụ cư đều bị bao vây trong những màu, những mùi, những tiếng thê lương ấy. Chưa chết thì ủ rũ, hốc hác, thở than tuyệt vọng. Đến như Tràng to lớn lưng rộng như lưng gấu cũng chỉ đi từng bước một, đầu chúi về đằng trước như bị những lo lắng đè hẳn người xuống. Cô con gái nhanh nhẩu, táo tợn, mới mấy hôm đã tả tơi, gầy sọp, xám xịt. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng, lại là hiện thân đầy đủ nhất cùa cái đói, cái chết truyền kiếp của nông thôn. Không gian toàn điêu tàn, rữa nát, cái chết lan tràn nơi nơi. Cái sống chỉ còn thoi thóp, leo lét. 2. Vậy mà mội chuyện trái đời đã xảy ra: chuyện lấy vợ lấy chồng. Chẳng theo lễ nghi nào cả. Cô gái đói lâu ngày, Tràng mời, cô ăn mấy bát bánh đúc, Tràng bảo có về với thì cùng về và cô theo. Hoàn cảnh là ngược đời: lấy vợ lấy chồng ít ra là lúc đời sống đang bình thường, lúc ăn nên làm nổi như mẹ Tràng chứ đâu trong con đói chết này, bản thân mình cũng chưa chắc qua khỏi. Mà lấy vợ lấy chồng là việc đại sự, việc sinh con đẻ cái, nối tiếp dòng họ, lưu truyền sự sống. Việc trọng đại cho đời người ấy lại xảy ra nhanh chóng ngoài sự tưởng tượng, có vẻ như không thực. Đời có đám cưới chạy tang, cũng rất nhanh. Đây cũng không phải chạy chết. Nhưng rõ ràng là thách thức cái đói cái chết. Cho nên cái đói cái chết chẳng buông tha. Đường về nhà của họ như đi qua cõi âm, thấp thoáng theo họ là dật dờ những bóng ma, đón rước họ là bầy quạ và tiếng quạ tối sầm; vang vào tận nhà, len vào giấc ngủ của họ là tiếng hờ khóc, tỉ tê, càng khuya càng rõ từ nhà có người chết; về tới nhà thì cảnh nhà vắng teo, rúm ró, hoang tàn, héo hắt, bữa cơm chỉ cháo loãng muối hột, cám khuấy. Cái đói cái chết bám theo quyết liệt với tất cả sức huỷ diệt của nó. Tưởng như thế, đôi vợ chồng này chỉ đưa nhau đến chỗ chết. Nhưng không, họ vẫn trụ được, hơn thế, lại vượt lên chiến thắng với một sức sống mãnh liệt phi thường và sức sống ấy đã tạo ra một sự biến đổi kỳ diệu. Tất cả đều khác. Trẻ con khác, người lớn khác. Tràng khác, bà cụ cũng khác. Còn cô gái? Chính tác giả đã gửi sức sống ấy vào cô gái. Nó toả ra từ cô, cô như được trao chiếc đũa thần để làm nên mọi thay đổi đột ngột, lạ lùng, làm nổi bật lên trên cái phông âm u rung rợn của cái đói, cái chết kia, cái sáng tươi, cái ước mơ đổi thay số phận cho mọi người, cho mình. Cô là vợ nhặt nhưng lại là một hào quang, một luồng khí ấm tiêu biểu cho sự sống trường cửu, mãnh liệt và mầu nhiệm. 3. Vợ nhặt ngẫm kĩ lại là một cụm từ nhiều ý vị đau thương mà ý nghĩa. Nào phải đó là cái tên, nhưng nó vẫn chỉ cô gái ấy. Chỉ có chút bất thường và kỳ lạ. Vợ theo nghe đã buồn, vì theo không, chả cưới xin và cũng chả ai chấp nhận. Đây lại là vợ nhặt, chẳng khác gì một đồ vật đánh rơi hoặc vứt đi nay nhặt được. Chẳng là Dậu, là Tý nào cả. Chỉ là cô ả, rồi người đàn bà, nó cộc lốc. Kể ra cái đói, bỏ xứ tha phương cầu thực, biết đâu ngày mai không còng queo cái xác bên đường, thì tên tuổi làm gì. Nhưng cái vô danh ấy đâu phải là vô nghĩa. Để chỉ sức sống, sự sống thì cần gì tên với họ? Chỉ cần biết đó là một người đàn bà, một phụ nữ. Không ngờ ẩn trong cái chữ thảm thê vợ nhặt ấy lại là một sức mạnh truyền thống có độ dày hàng nghìn năm. Nhặt thì không ra gì, nhưng vợ thì vinh dự. Chữ an trong Hán tự có chữ nữ, nghĩa là đàn bà vào nhà thì yên lành, hạnh phúc. Cho nên cái danh xưng ấy không phải dễ dàng hiện ra ngay: úp mở bằng nói lái của trẻ con, ước đoán ở hàng xóm, rồi năm rè, bảy rụt mượn chai dầu hôi làm cớ. Tràng mới dám đọc nó ra: vợ mới vợ miếc. Chính từ cái cách người vợ ấy, cô gái đã dần dần lột xác. Giữa đám em cùng lứa, cô ngang ngửa, thoải mái, cong cớn rồi sầm sầm, sưng sỉa, kể cả ăn xong một hơi bốn bát bánh đúc chẳng chút e dè, cô cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, quê và thô rất chi là tự nhiên. Vậy mà sau khi nghe Tràng có về với tớ thì cùng về, cô về thật, thì từ cái ngang ngửa, hồn nhiên nhưng đã biến đổi theo từng bước đi trên đường về nhà Tràng. Đùa chơi quả có khác. Đi theo cùng về, chứa rõ sẽ làm gì nhưng là nghiêm trang rồi, nghiêm trọng nữa. Đi sau ba bôn bước, đầu hơi cúi, nón che khuôn mặt. Không nhất thiết vì đã có người dòm ngó. Chỉ là đối diện với lòng mình: chuyện số phận chứ chẳng phải chơi. Không nước mắt nhưng cứ rón rén, e thẹn đích như cô dâu khi bước khỏi nhà mẹ, ngoan ngoãn, dễ thương, rất nữ tính. Đôi ba quãng đường nữa đã thấy cô đàng hoàng thể hiện cái chức năng an bài của người vợ. Cô chế diễu (bé lắm đấy), mắng (hoang nó vừa vừa chứ), rồi dẹp hết e thẹn lẫn ngại ngùng, cô văng ngay khỉ gió, phát đánh đét vào lưng Tràng… ấy là cô đã đặt chân vào con đường làm người vợ. Thế nhưng, bước vào nhà, cô cứ ngồi mớm ở mép giường, tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần. Thì ra đến phút này cô mới nghĩ kĩ về tình cảnh mình. Tới đây là tới chỗ quyết định cuối cùng cho thân phận cô. Đành là đói nên cô phải tìm nơi nương tựa, nhưng liệu đây có phải là chỗ cô mong đợi? Bà cụ chưa về. biết ý bà ra sao. Cái thế ngồi rụt rè, chông chênh như chính là cái thế phân vân của lòng cô. Chuyện thành vợ bỗng dưng của cô đã bất đầu nhưng sau cứ như không thực. Làm vợ, làm dâu, mà như thế nào sao? Lấy chồng, hạnh phúc lớn nhất trong đời con gái mà lủi thủi, trơ trọi như thế này? Thảm thương, buồn tủi cho mình biết bao! Thật là ngổn ngang trăm mối, cô bần thần chưa biết tính sao. May bà mẹ Tràng tỏ ra thương cảm, an ủi, khuyên lơn nên cô cảm thấy yên lòng. Và sau một đêm làm vợ, sáng ra cô đã trở thành một con người hoàn toàn khác hẳn, cô đã là một người vợ đảm đang, siêng năng, quán xuyến mọi việc, đem lại một sinh khí mới cho gia đình. 4. Cô vợ ấy, nàng dâu ấy không chỉ biến đổi chỉ mình mình mà quan trọng hơn, và sâu sắc hơn là như đã thổi luồng gió lành đánh thức dậy sức nóng cho mọi người, mọi nơi, đem lại sự sống ngay trong cái đói, cái chết. Cô vừa xuất hiện bên cạnh Tràng ở đầu xóm, cả xóm như sống đậy. Nhà cửa lúp xúp, tối om bỗng rộn ràng lên. Trẻ con ủ rũ không buồn nhúc nhích đã thoắt chạy theo Tràng và linh ranh như thế nào lại reo lên thích thú chông vợ hài người lớn kéo nhau ra cửa, mặt mày đang u tối bỗng rạng rỡ hẳn lên, kẻ dò đoánkẻ than thở và tỏ lòng thương cảm, xôn xao trước cảnh người đàn bà thẹn thẹn hay đáo để. Nói gì Tràng! Bắt đầu là đùa vui lối nông dân trẻ trung. Đến khi thấy cô gái sau mấy hôm đã xám xịt, bay hết màu sống, anh mời, cô ăn liền liền, không kịp thở như đói đã lâu, anh nửa đùa nửa thật lửng lơ có về với thì cùng về, cô theo anh hơi chợn nhưng chặc lưỡi: kệ. Mọi sự tình bắt đầu từ cái kệ này. Tác giả bảo “Trong lòng Tràng bấy giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà”… Đúng thế. Trước hết là một suy nghĩ nghiêm túc rất nhân tình từ đáy sâu lòng anh. Người đàn bà ấy đã cuốn anh từ đùa vui chuyển qua tình thật, tiếp một sức sống mới cho lòng anh. Còn tận trong bản chất trai trẻ chưa có nổi vợ như anh, làm sao không vô thưc âm ỉ một xúi giục cũng rất người? Thế là quên khuấy những gì là lo lắng, là ê chề, tăm tối, quên cả ngày tháng trước mắt. Tràng ta tủm tỉm cười (trong truyện đếm được đến 10 lần, mỗi lần cười mỗi Khác), có vẻ phớn phở khác thường, mắt sáng lên lấp lánh. Và cũng như thường bên cạnh một người đàn bà mà mình biết là người của mình, anh cảm thấy cái gì đó lạ lắm, nó mơn man khắp da thịt, nó như vuốt nhẹ trên sống lưng. Anh thấy cần bày tỏ lòng mình bằng một cử chỉ, một câu nói thân thương nhưng thấy lúng túng chẳng làm được gì. Cái can đảm lớn lao của anh là giục cô vợ đi ngủ và bị mắng yêu là dơ! Biến đổi sâu sắc nhất ở anh là sau đêm làm chồng anh thấy lạ cả với mình. Như có gì nhập vào người, anh nghe êm ái, lửng lơ như ở trong giấc mơ đi ra. Anh xăm xăm chạy ra sân, muốn làm một việc gì cho xứng với tư cách người đàn ông đã có vợ… như có một sức sống mới mẻ, rạo rực sôi nổi trong mình. Bà mẹ anh cũng như có nước cam lồ rưới vào, hoá khác hẳn. Bà như trẻ lại, vỗ về con dâu, ngọt ngào một u hai u, một con hay con, rồi tíu tít những dự định, ngăn riêng buồng cho đôi vợ chồng, nào mua gà nuôi, nào lúi húi giẫy cỏ sân. nào đon đả tươi cười với nồi cám khuấy mà bà gọi là chè đem ra đãi vợ chồng mới vào cuối bữa cơm tân hôn chỉ cháo loãng và muối hột bày trên cái mẹt rách, một bữa cơm không gì thê thảm hơn. Ôi, tấm lòng của những bà mẹ! Sao nó bao la thế. Chỉ có mấy lời phải chăng, thực tế từng trải cả một đời với giọng nói đẫm tình thương đem bày tỏ với cô gái là thay thế tất cả mọi lễ nghi, giải toả hết mọi bần thần mặc cảm của cô, là đã mẹ con, nàng dâu mẹ chồng hoà hợp, đằm thắm nghĩa tình. Bữa cháo đãtihành bữa tiệc. Chát xít, nghẹn ứ trong miệng mà ngon ngọt trong lòng. 5. Buổi sáng hôm ấy như ngày Tết, ngày hội ở gian lều tồi tàn, rúm ró của mẹ con Tràng. Chẳng có bà Tiên nào đến đó. Chỉ có mặt một cô dâu, một người vợ mới. Vậy mà như phép thần, mọi vật từ cảnh sân, ang nước, rác rưởi, quần áo, tất cả đều đâu ra đó, sạch sẽ, ngăn nắp, quang đãng, ánh sáng ban mai chan tiếng chổi quét sân bỗng dưng cũng thành điệu êm tai. Từ con người đàn bà nhập vào gia đình, sự sống lan toả như nắng bình minh, ấm áp., hoà hợp, dâng đầy ước vọng, niềm tin. Chưa phải nói tới những đoàn biểu tình có cây cờ đỏ dẫn trước báo sự xoay chuyển tất cả mọi thân phận, mặc kệ tiếng quạ, vẫn cứ rờn rợn từng hồi, mặc kệ tiếng trống thúc thuế dồn dập, gay gắt bên ngoài. Sự sống đã thách thức, đối mặt với cái chết cái đói và đã đàng hoàng chứng tỏ là bất diệt, lực lưỡng và mầu nhiệm. Chỗ sâu của dụng ý người viết là đó. Mở đầu là tôi sầm. kết thúc là bừng bừng thắm đỏ, nén sâu xúc động một tí tách hóm hỉnh đằng khác trong giọng điệu, đảo trước ra sau cho lạ lùng câu chuyện ở kết câu, lặng lẽ gài cô gái vào vai kỳ diệu… nghĩ cho cùng đều nhằm tô đậm dụng ý tư tưởng nghệ thuật ấy.
Phân tích sự sống đối mặt với cái chết trong Vợ nhặt của Kim Lân
2,367
Đề bài: Phân tích sự thắng lợi của thơ mới trong Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh Bài làm Hoài Thanh (1909-1982) là nhà phê bình, nghiên cứu văn học xuât sắc ở nước ta. "Thi nhân Việt Nam" là tác phẩm đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất của ông viết về thơ mới, xuất bản năm 1942. "Một thời đại trong thi ca" là bài tiểu luận mở đầu công trình, sau đó là phần giới thiệu và tuyển thơ của 44 nhà thơ mới. Sự thắng lợi của thơ mới là một trong những vấn đề được Hoài Thanh nói đến một cách sâu sắc, tinh tế trong bài tiểu luận cuốn "Thi nhân Việt Nam". "Một thời đại vừa chẵn mười năm" đó là phong trào thơ mới – thơ tiền chiến -từ năm 1932 – 1941. Giữa thơ mới và thơ cũ đã đấu trang giằng co, gắt gao, kéo dài trong một thời gian dài. Thơ cũ là thơ trung đại, thơ cổ điển Việt Nam, phần lớn viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, theo thi pháp trung đại. Trong cuộc đấu tranh ấy, "một bên giành quyền sống, một bên,giữ vững quyền sống". Đã có biết bao bài luận chiến, bút chiến về thơ cũ và thơ mới. Lê Trang Kiều, Lưu Trọng Lư,… được coi là "những người tả xung hữu đột nơi chiến trường để đem lại sự toàn thắngcủa thơ mới. Nhưng trong thắng lợi ấy, Hoài Thanh khẳng định "trước hết là công những nhà thơ mới". Hoài Thanh đã nêu lên một sự thật là không so sánh các nhà thơ mới với Nguyễn Du để "xem ai hơn ai kém", bởi vì "Đời xưa có thể có những bậc kì tài mà đời nay không sánh kịp". Từ chân lí ấy, ông đưa ra một tiêu chí để so sánh hai thời đại thi ca: "Đừng lấy một người sánh lấy một người. Hay sánh thời đại với thời đại". Thơ cũ – thơ cổ điển, thơ trung đại – phát triển trong mười thế kỉ có bao thành tựu rực rỡ, bao thi hào như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,… nhưng Hoài Thanh đã khẳng định: "Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này". Thời đại này là thời đại thơ mới "vừa chẵn mười năm" (1932- 1941). Tiếp theo, tác giả "Thi nhân Việt Nam" viết một cách tài hoa, tinh tế về một số thi sĩ tiêu biểu để chứng minh sự "phong phú" của thời đại thơ mới: "Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ào nảo như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên,… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu". Bảy mươi năm sau, đọc "Một thời đại trong thi ca", ta càng thấy rõ nhận định, nhận xét, đánh giá của Hoài Thanh là hoàn toàn chính xác. Những gương mặt thi sĩ được Hoài Thanh nói đến nay đã qua đời nhưng sự nghiệp thơ ca của họ vẫn còn nguyên giá trị, đã góp phần tạo nên giá trị và sự phong phú của nền thi ca Việt Nam hiện đại. Với sự thẩm thơ tinh tế, ông đã chỉ ra vẻ đẹp riêng, bản sắc riêng của từng nhà thơ mới. Mỗi chữ ông dùng đã chỉ ra rất đúng mỗi hồn thơ: "rộng mở, mơ màng, hùng tráng, trong sáng, ảo não, quê mùa, kì dị, thiết tha, rạo rực, băn khoăn". Không có lối nói chung chung với nhiều sáo ngữ như một số bài giới thiệu thơ, bình thơ trên báo chí hiện nay. Như mỗi loài hoa trong rừng hoa đều có vẻ đẹp riêng, hương sắc riêng, mỗi nhà thơ mới cùng có cá tính sáng tạo riêng, đúng như Hoài Thanh đã nói: "Từ người này sang người khác sự cách biệt rõ ràng". Ông đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa "làm giàu cho thơ ca", cho thơ mới là "sự giải phóng!": "Cá tính con người bị kiềm chế trong bao nhiêu bỗng được giải phóng". Một nguyên nhân nữa là "ảnh hưởng phương Tây, hay đúng hơn là ảnh hưởng Pháp". Hoài Thanh đã có một cách nói, cách viết thâm trầm, dung dị mà tài hoa. Có lúc ta tưởng như ông đang thổ lộ, tâm tình, tâm sự với độc giả về sự thắng lợi của thơ mới. Ông cho biết đã theo dõi thơ mới trong nhiều năm, đã đọc trên một vạn bài thơ mới để viết nên "Thi nhân Việt Nam". Nghệ thuật lập luận chặt chẽ, nhận định và đánh giá chuẩn xác, dùng từ, đặt câu, nêu dẫn chứng, giọng điệu thẩm bình đều thể hiện một văn phong đẹp, một cốt cách đẹp. Hoài Thanh đã giúp chúng ta một cách nhìn đúng đắn, và trân trọng đối với thơ mới và các nhà thơ mới trong một thời đại thơ ca 1932-1941.
Phân tích sự thắng lợi của thơ mới trong Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh
873
Phân tích Sự tích trầu cau Hướng dẫn Phân tích Sự tích trầu cau Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam những câu chuyện cổ tích mang những yếu tố kì ảo đã mang lại cho người đọc nhiều ý nghĩa sâu sắc. Bên cạnh những câu chuyện rất đỗi quen thuộc với chúng ta như Sọ Dừa, Thạch Sanh thì còn có câu chuyện Trầu cau cũng thấm đẫm tình người tình an hem và để lại nhiều bài học quí giá cho chúng ta. Từ câu chuyện cổ tích, mang lại cho chúng ta những nghi lễ cho tới ngày nay. Miếng trầu là đầu câu chuyện, là những lễ nghĩa cưới xin hội họp. Trầu cau kể về hai anh em là Tân và Lang, và người con gái của thầy đạo sĩ họ Lưu. Trầu Cau là câu chuyện về những câu chuyện về tình cảm của gia đình, tình cảm anh em hòa thuận và tình nghĩa vợ chồng. Nó mang tới cho hậu thế nhiều ý nghĩa sâu sắc và cho tới ngày nay sự tích ấy vẫn mang nhiêu màu sắc à mỗi khi người khi người ta nhai trầu cau không ai không nhắc tới câu chuyện đầy tình cảm này Tân và Lang là hai anh em, giống nhau như hai giọt nước khiến cho ai cũng nhầm không biết đâu là anh và đâu là em gia đình của hai chàng cũng còn nhằm nữa, chính vì thế mà mới dẫn đến câu chuyện về sau. Khi bố mẹ của hai anh em mất đi, đã gửi Tân cho một thầy đạo sĩ tên lưu dạy dỗ. Nhưng khi tới đó thì hai an hem quyết định đi cùng nhau. Vào một ngày nọ khi hai anh em đi làm nương, Lang về trước chị dâu tưởng chồng mình liền chạy tới ôm nhưng khi ấy Tân lại về. Tân giận em và ghen tức và nghĩ là Lang làm điều không phải nghĩ thế nên quyết định ra đi, sự ra đi của anh không ai biết cả, sự ra đi ấy để chứng tỏ anh không làm điều gì sai và có phần trách anh của mình. Lang đã giận anh không hiểu mình, anh buồn bã tủi hờn và anh khóc rất nhiều, đến sáng hôm sau thì anh hóa đá. Đây chính là yếu tố kì ảo của truyện cổ tích ngày xưa. Người em hóa đá thể hiện sự trong trắng ngay thẳng của người em. Chàng trai Lang kia vì nghĩ anh không thương mình lại không nghĩ tới tình nghĩa nữa mà khóc tới nỗi hóa đá. Tân bắt đầu thấy hối hận và lo lắng khi thấy em bỏ đi. Anh để vợ ở nhà một mình mà cất bước đi tìm em, tìm mãi tìm mãi cho đến khi anh không thấy được em mình nữa. Ngồi bên dòng sông ấy anh buồn bã anh khóc hết nước mắt rồi chết đi hóa thành một cái cây cao vút và sau này được gọi là cây cau để bày tỏ tấm lòng ngay thẳng của mình. Cả ba người Tân, Lang và cô gái chết hóa thành 3 thứ khác nhau những mỗi thứ đều mang tới cho chúng ta những ý nghĩa sâu sắc. Dù cả 3 không đi cùng một lúc nhưng tới lúc chết cả ba lại ở cạnh nhau thể hện cho tình yêu và tình anh em sâu sắc đó là tình nghĩa anh luôn bên cạnh người em, còn hai vợ chồng vẫn yêu thương quấn quýt. Cho tới bây giờ hình ảnh trầu cau vẫn gắn kết những tình cảm con người với nhau mỗi khi gặp mặt. Miếng trầu của ông bà ta có thêm vôi để thấy được càng say hơn. Sau này người ăn trầu càng ăn càng say cũng như tình cảm càng đong đầy hạnh phúc. Thứ tình cảm an hem vừa gắn chặt lại tình cảm vợ chồng thiêng liêng bền lâu. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích Sự tích trầu cau
668
Đề bài: Phân tích sự đối lập thiện – ác trong đoạn trích Lục vân Tiên gặp nạn của Nguyễn Đình Chiểu Bài làm Trong tác phẩm Một số tư liệu về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu (NXB Khoa học Xã hội, 1965), G. Ô-ba-rê từng nhận định: Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu từng được xem là "một trong những sản phâm hiếm có của trí tuệ con người có cái ưu điểm lớn là diễn tả được trung thực những tình cảm của một dân tộc". Một trong những tình cảm lớn lao ấy là tấm lòng yêu mến, trân trọng cái thiện đồng thời căm ghét, lên án cái ác ở đời. Qua đoạn trích “Lục Vân Tiên gặp nạn”, nhà thơ đã thể hiện trọn vẹn sự đối lập thiện – ác tiêu biểu cho toàn bộ tác phẩm. Đoạn trích “Lục Vân Tiên gặp nạn" nằm ở phần thứ hai của truyện. Đang bơ vơ nơi đất khách với đôi mắt mù lòa và nỗi đau xót khôn nguôi về người mẹ mới qua đời, Lục Vân Tiên lại gặp Trịnh Hâm thi rớt trở về. Sẵn lòng đố kị, ganh ghét với Vân Tiên từ trước, Trịnh Hâm bèn lợi dụng cơ hội đế hãm hại Vân Tiên. Hắn lừa tiểu đồng vào rừng trói lại rồi giả bộ đưa Vân Tiên xuống thuyền, hứa hẹn sẽ dẫn về quê nhà. Chờ khi đêm tối, Trịnh Hâm mới thực hiện hành động tàn ác của mình. Qua cách hành xử của các nhân vật khi gặp người bị nạn: Trịnh Hâm gặp Vân Tiên bị mù, ngư ông và gia đình gặp Vân Tiên bị đẩy xuống sông, tác giả đã vạch mặt chỉ tên cái ác – mà đại diện là gã Trịnh Hâm tàn ác, nham hiểm đồng thời ngợi ca cái thiện, tiêu biểu là nhân vật ông ngư cùng gia đình của ông. Trịnh Hâm là một kẻ có tâm địa hèn hạ, xấu xa. Vốn ghen ghét, với Lục Vân Tiên nhưng đến khi Lục Vân Tiên mù lòa rồi, dã tâm của Trịnh Hâm vẫn chưa thỏa. Lục Vân Tiên đã bị mù, tiền bạc hết, thầy tớ bơ vơ. Với Vân Tiên, Trịnh Hâm lại là người quen cũ. Vậy mà gã họ Trịnh lại đang tâm lừa gạt, hãm hại con người tội nghiệp, đang trong cơn hoạn nạn, cần cậy nhờ sự giúp đỡ của hắn: Trịnh Hâm khi ấy ra tay, Vân Tiên bị gã xô ngay xuống vời Không những vậy, Trịnh Hâm còn vừa ăn cướp vừa la làng đầy ghê tởm: Trịnh Hâm khi ấy kêu trời Cho người thức dậy lấy lời phôi pha. Chẳng những không thực hiện lời mình nói (hứa đưa Vân Tiên trở lại quê nhà) mà còn hãm hại Vân Tiên. Đó là sự phản bội bạn bè, phản bội lời hứa của chính mình. Đối với những người quân tử Nho học xưa, lời hứa vô cùng thiêng liêng, đó là bức tượng danh dự cho mỗi người: Lời đã nói ra như dao chém đá, một lời nói nặng tựa chín đỉnh đồng. Do vậy, hành động của Trịnh Hâm lột rõ tâm địa vừa bất nhân vừa bất nghĩa, vừa gian ngoan vừa xảo quyệt của hắn. Tất cả cũng vì lòng ganh ghét, vì sự đố kị tài năng với Vân Tiên. Nọc độc ấy ngấm vào xương tuỷ, trở thành bản chất độc ác của Trịnh Hâm. Chỉ tám dòng thơ, tác giả đã sắp xếp các tình tiết một cách hợp lí, thể hiện diễn biến hành động rất mau lẹ, có tính toán và rất độc ác của Trịnh Hâm. Cái ác trong con người này tiêu biểu cho cái ác trong toàn bộ tác phẩm. Đó là sự lọc lừa, phản trắc của những Bùi Kiệm, Võ Công,… Chúng đã không chỉ một hai lần hãm hại những tâm hồn lương thiện thanh sạch như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga… Nhưng Nguyễn Đình Chiểu không hề bi quan về cuộc đời, dựng lên hình ảnh của cái ác tấm lòng nhân ái của nhà thơ muốn tạo ra sự đối lập để tôn vinh cái thiện. Cái thiện ấy được thể hiện qua sự hiệp nghĩa và trái tim nhân ái của ông ngư cùng gia đình của ông. Thấy người bị nạn dưới sông, ông ngư đã ra tay cứu giúp: Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ Hối con vầy lừa một giờ, Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày Từ "hối" có ý nghĩa là giục giã, thúc giục. Ông ngư cùng vợ con đang rất khẩn trương cứu sống Vân Tiên. Câu thơ mộc mạc, chỉ kể lại sự việc một cách tự nhiên, nhưng ần chứa bao ân tình của cả một gia đinh vợ chồng, con cái đối với người gặp nạn. Chỉ riêng điều này đã đối lập gay gắt với hành động độc ác, bất nhân của Trịnh Hâm. Không chỉ vậy, ông Ngư và cả gia đình còn sẵn sàng cưu mang người hoạn nạn: ông chân thành ngỏ ý mời Vân Tiên ở lại cùng sớm hôm chia sẻ cuộc sống đạm bạc nhưng đầm ấm tình người: "Ngư rằng: "Người ở cùng ta Hôm mai hẩm hút một nhà cho vui". Khi Vân Tiên băn khoăn "ông lấy chi nuôi" ngư ông đã thể hiện lòng vị tha, tinh thần trọng nghĩa khinh tài của mình qua câu nói: "Lòng lão chẳng mơ Dốc lòng nhản nghĩa há chờ trả ơn" Có nghĩa là làm ơn mà không hề trông chờ sự báo đáp. Đó là sự trong sạch vô tư đến tuyệt vời của một tâm hồn lành mạnh khỏe khoắn… Điều đó một lần nữa còn được thể hiện qua cuộc sống lao động của ông Ngư. Đó là một cuộc sống trong sạch, không chạy theo danh lợi, khinh ghét thói đời bạc đen, tráo trà. Cuộc sống của ông gắn với thiên nhiên khoáng đạt, tâm hồn ông thanh thản và thư thái vô cùng: “Một mình thong thả làm ăn Tắm mưa trải gió trong vời hàn giang”. Bằng đoạn thơ trên, tác giả gửi gắm khát vọng và niềm tin vào cái thiện, vào bản chất tốt đẹp của con người lao động bình thường. Cùng với những Hớn Minh, Vương Tử Trực, ông Tiều, ông quán,… ông ngư đả đại diện cho cái thiện trong thiên truyện Truyện Lục Vân Tiên. Qua những nhân vật này, Nguyễn Đình Chiểu thể hiện một cái nhìn tiến bộ, lạc quan đậm chất nhân dân. Giống như toàn bộ tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên, đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn không có điều kiện để được Nàng Thơ trau chuốt về hình thức song chính sự giản dị, mộc mạc đậm chất Nam Bộ của ngôn ngữ đã mang đến cho đoạn trích sự chân thành chẳng những diễn tả thành công tính cách các nhân vật mà còn bộc lộ tấm lòng nhân ái, lạc quan của nhà thơ. Đặc biệt, đoạn trích diễn tả đời sống của ngư ông, ngôn ngữ và lời thơ rất thanh thoát, uyển chuyển, hình ảnh thơ đẹp, ý tình phóng khoáng mà sâu xa. Đọc đoạn thơ, ta có cảm giác như chính tác giả đang nhập thân vào nhân vật đểnói lên cái khát vọng sống của mình. Qua sự đối lập giữa thiện và ác trong đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn, tác giả đã thể hiện niềm tin vào những điều tốt đẹp ở đời. Đó cùng chính là cái gốc sâu xa làm nên sức hấp dẫn của toàn bộ tác phẩm này.
Phân tích sự đối lập thiện – ác trong đoạn trích Lục vân Tiên gặp nạn của Nguyễn Đình Chiểu
1,274
Phân tích Thiên nhiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Hướng dẫn Phân tích Thiên nhiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca Việt Nam từ xưa đến nay. Các tao nhân mặc khách, các thi sĩ xưa đến với thiên nhiên để hòa mình vào thiên nhiên, gửi gắm tình cảm tâm tư vào mỗi bức tranh ấy. Mỗi nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng thường tìm đến với người bạn thiên nhiên để soi lòng mình vào tấm gương trong sáng ấy. Không trọng tâm tả thiên nhiên cảnh vật nhưng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, thiên nhiên trở thành một nhân vật nói hộ tác giả tâm trạng nhân vật. Hoài Thanh đã có nhận xét thật đúng về nhân vật thiên nhiên trong Truyện Kiều: “Có thể nói thiên nhiên trong Truyện Kiều cũng là một nhân vật – một nhân vật thường kín đáo, lặng lẽ nhưng không mấy khi không xuất hiện và luôn thấm đượm tình người”. Thiên nhiên là cảnh vật, là cỏ cây hoa lá, là âm thanh, sắc màu. Viết về thiên nhiên là vẽ nên bức tranh phong cảnh nên thơ. Nhưng thiên nhiên trong Truyện Kiều mang cả hai chức năng: vừa tả cảnh vừa tả tình. Cảnh thấm đượm tình người và tình người hòa vào cảnh vật. Đó cũng chính là bút pháp tả cảnh ngụ tình tuyệt diệu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Thiên nhiên là một nhân vật mang tâm trạng nói hộ Nguyễn Du khi ngòi bút của ông bất lực. Cảnh thiên nhiên là một nhân vật xuyên suốt từ đầu tác phẩm đến cuối tác phẩm cùng với nàng Kiều. Một bức tranh phong cảnh nên thơ đã mở ra trước mắt ba chị em Kiều tròng buổi du xuân. Tiết thanh minh, trời xuân tươi đẹp rực rỡ khiến cỏ như non xanh hơn, hoa khẽ nở xòe trong hơi xuân: Cỏ non xanh rợn chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa Cỏ non xanh mơn mởn trải dài trên mặt đất nối tới tận chân trời xa. Xanh rợn là màu xanh ngan ngát, cả một vùng. Mặt đất phủ cỏ xuân như một chiếc thảm nhẹ mềm mại nâng bước chân người đi tảo mộ. Bên cạnh một gam màu đậm của cỏ xanh rợn là một gam màu nhẹ rất mềm, rất mỏng. Một vài bông lê trắng muốt điểm nhẹ lên làn cỏ xanh ấy. Cành lê sa gần mặt đất và vài bông lê trắng điểm ngỡ như ai đó còn để vướng lại trên nền cỏ non vài đốm hoa nhỏ. Hai gam màu đậm nhạt ấy như hài hoà với nhau tạo nên bức tranh thật đẹp, nên thơ và cũng đầy sức xanh. Cảnh vật thật tươi sáng, thơ mộng. Nhưng cùng cảnh trong buổi du xuân ấy, vào lúc chiều tà khi ba chị em Kiều thơ thẩn ra về thì gặp một ngôi mộ bên đường. Hỏi ra Kiều mới biết là mộ Đạm Tiên – cô kĩ nữ trẻ tuổi xuân xanh đã gãy cành thiên hương oan uổng một kiếp người. Thương Kiều, nghe chuyện cảm thường cho kiếp người bất hạnh ấy đã đầm đầm châu sa. Và cảnh vật quanh đây như chùng lại, lắng xuống đồng cảm với tâm hồn người trong cuộc. Dịp cầu nho nhổ cuối ghềnh bắc ngang. Sè sè nấm đất bến đường, Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Cảnh vật đó có dòng nước, có nhịp cầu, có cỏ nhưng tất cả đều nhuốm tình người. Dòng nước nao nao, uốn quanh nấm mồ khiến người nhìn cảnh cũng thấy lòng nao buồn. Nhịp cầu như thu nhỏ lại bắc ngang dòng nước cũng chẳng chút vui tươi mà lặng lẽ, gợi buồn. Dòng nước êm đềm chảy không gợn sóng lăn tăn. Nấm mồ Đạm Tiên trải qua bao cơn sóng gió dập vùi nay đã sè sè bên đường. Nấm mồ hoang không người hương khói giờ đây cỏ mọc um tùm. Nhưng cỏ cũng chẳng xanh tươi gì mà dàu dàu, nửa vàng nửa xanh. Cảnh vật nhuốm màu tàn tạ, ngọn cỏ nhuốm màu héo tàn, vàng úa như kiếp người bất hạnh nằm kia. Cảnh thiên nhiên mang tâm trạng buồn bã tiếc thương cùng với nàng Kiều. Các từ láy nao nao, nho nhỏ, sè sè, dàu dàu đã miêu tả thật chính xác tâm trạng buồn bã của người trong cảnh ấy. Nhân vật thiên nhiên như thấm đượm nỗi buồn, thấm đượm tình người. Rồi cũng cảnh ấy, cũng có cầu, có nước nhưng lại không đượm buồn mà mang màu sắc trong sáng, vui tươi. Đó là lúc chiều tà khi cuộc chia tay Kim – Kiều diễn ra, cảnh vật thật tươi sáng: Dưới Cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha Hai con người quốc sắc, thiên tài gặp nhau, chỉ phút chốc tình trong như đã. Tiếng sét ái tình đã lóe sáng trong tim mỗi người. Nhưng chiều đã muộn, người thì chưa muốn ra về mà thời gian thì giục giã khiến bước chân về mà lòng vẫn lưu luyến khôn nguôi. Kim Trọng là một văn nhân tài tử con nhà nho danh, phúc hậu, thông minh tài giỏi. Thúy Kiều là cô gái tiểu thư sắc nước hương trời, tài hoa hơn người. Họ quả là một cặp đẹp đôi mà trời gieo tớ phải lứa. Và cảnh vật lúc chia tay cũng trong sáng như tình yêu chớm nở ban đầu. Dòng nước như trong veo một màu in bóng chiếc cầu nhỏ nối ngang dòng. Bóng liễu thướt tha in trên mặt nước phẳng lặng như gương. Liễu vốn đã đẹp nhưng trong nắng chiều vàng nhạt, lá liễu như mềm mại hơn, thướt tha hơn. Câu thơ có hình ảnh bóng chiều nhưng không hề gợi buồn mà thật đẹp, tươi trẻ. Phải chăng lúc chia tay với Kim Trọng tâm hồn Kiều đang trong sáng, hồn nhiên nhất và cũng hạnh phúc trong tình yêu đầu nên cảnh vật như nhuốm sự vô tư, trong sáng của tâm hồn nàng. Cảnh thiên nhiên có dòng suối trong veo, có nhịp cầu bóng liễu là của ban ngày! Còn ban đêm ánh trăng trở thành người bạn gần gũi nhất, thân thiết nhất. Ánh trăng thu sáng vàng rực rỡ không lan tỏa mọi nơi mà như hội tụ lại soi rọi rõ mặt Kim – Kiều trong buổi thề non hẹn biển. Lời đính ước, thề nguyền của hai con người son trẻ được vầng trăng chứng giám: Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai mặt một lời song song. Ánh trăng sáng sẽ mãi là nhân chứng cho mối tình diễm lệ. Buổi thề nguyền như càng in đậm mãi trong lòng Kiều và nó là khoảnh khắc hạnh phúc nhất của cuộc đời nàng. Nhưng trăng vui tươi trong sáng rồi trăng có lúc cũng thật buồn, lạnh lẽo. Trong buổi tối trốn cùng Sở Khanh, ánh trăng nhợt nhạt như dự báo trước một cuộc trốn chạy vô ích của nàng Kiều: Đêm thu khắc lậu canh tàn, Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm sương. Lối mòn cỏ nhợt nhìu sương, Lòng quê đi một bước đường, một đau. Trăng không sáng soi vằng vặc, cũng không chiếu rõ muôn nơi mà trăng nhợt nhạt, u ám, cảnh vật thật buồn thảm, váng lặng, cảnh như thế thì người trong cảnh cũng chẳng được việc gì. Và lần bỏ trốn của Kiều sẽ không gặp may mà có thể nó sẽ gây nên cho nàng nỗi khổ nhục hơn. Trước kia khi bị Tú Bà bắt giữ làm gái lầu xanh, Thúy Kiều đã toan quyên sinh nhưng rồi không chết. Kiều được đưa ra lầu Ngưng Bích giam lỏng một thời gian trước khi gặp Sở Khanh. Cảnh vật cũng đượm buồn như cảnh trong đêm bỏ trốn. Vầng trăng xa xôi mà như gần gũi khiến nàng nhớ tới đêm hẹn ước năm xưa. Cảnh đẹp nhưng người buồn khiến cảnh cũng nhuốm buồn. Tất cả trước mắt Kiều đều xa xôi, lạnh lẽo, gợi,thân phận lạc loài của nàng. Lầu Ngưng Bích giữa một vùng nước rộng thật cô đơn lẻ loi. Đôi mắt buồn nhìn cảnh nên mới là “buồn trông”: Buồn trông cửa biển chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu? Nhìn con thuyền xa xôi nơi biển chiều, cô đơn, lạc lõng không bến bờ gợi tâm trạng cô đơn, xa cha lìa mẹ của người con gái nơi đất khách quê người. Ngọn nước trân cao để xuống dập vùi tan nát cánh hoa rơi hay rồi cuộc đời mai đây của Kiều cũng đau khổ bị sóng, gió dập vùi như cánh hoa kia. Nhìn phía nào cảnh nào cũng thấy một màu tàn úa, một tương lai mịt mừng, tăm tối. Nhìn cỏ thì cỏ vàng úa, héo tàn, nhìn nước thì nước đục ngầu giận dữ, nước vỗ sóng ầm ầm… Thiên nhiên quanh nàng phía nào cũng thật đáng sợ, gợi buồn, gợi đau trong lòng Kiều. Nghĩ tới tương lai thì mịt mùng, vô vọng nhìn vào hiện tại thì chán chường, lạc lõng còn quá khứ đau đớn thương cảm. Và có lẽ bức tranh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích là bực tranh dự đoán tương lai của nàng Kiều, là nền của cuộc chạy trốn với Sở Khanh không may mắn. Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. Anh trăng, vầng trăng là khối tình chung của Thúy Kiều với Thúc Sinh vậy mà giờ đây bị sẻ chia thành hai nửa. Người ra đi đem theo một nửa sáng soi dặm đường đi, người ở lại giữ một nửa vầng trăng chờ đợi ôm ấp mối tình chung thủy. Cả Rừng phong thu cũng nhuốm màu quan san. Chia tay ở cảnh rừng phong đỏ vào thu nên cảnh nhuốm li biệt. Cảnh chia tay ấy đẫm tình người và nước mắt. Nhân vật thiên nhiên đã có mặt thật đúng lúc để diễn tả tâm trạng con người. Chia tay có mấy cảnh vui tươi mà cảnh nào cũng buồn, cũng sầu bởi có ai muốn chia cách, li biệt. Nhân vật thiên nhiên còn hiện lên trong lần Kim Trọng về thăm vườn Thúy. Cảnh xưa tươi đẹp, nên thơ là thế giờ đây hoang vu, tàn tạ: Đầy vườn cỏ mọc lau thưa, Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời. Trước sau hào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Xập xè én liệng lầu không, Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày. Cảnh vườn Thúy trong buổi trao khăn, trao kim thoa thật đẹp, cảnh vui vẻ ấm tình người. Vậy mà giờ đây cỏ mọc đầy sân, vách tường rã rời vì mưa gió cảnh hoang vu vắng lặng không một bóng người. Cảnh xưa đấy, hoa đào năm ngoái vẫn còn đây nhưng người xưa đã vắng bóng bao giờ để cỏ lan để rêu phong kín dấu giày năm xưa. Cảnh tiêu điều, tàn tạ khiến lòng người về thăm cảnh cũ cũng nao nao buồn. Thiên nhiên luôn mang tâm trang nhân vật thiên nhiên luôn thấm đượm tình người là thế. Truyện Kiều của Nguyễn Du không cốt tả cảnh thiên nhiên nhưng ông lại mượn thiên nhiên nói hộ tâm trạng nhân vật. Và thiên nhiên trở thành một nhân vật đặc biệt, lúc ẩn lúc hiện nhưng luôn có mặt đúng lúc. Nhân vật thiên nhiên thường kín đáo, lặng lẽ bởi có mấy ai để ý đến, và nhiên và cảnh thiên cũng đến rất nhẹ. Mỗi nhân vật đều gửi gắm tâm trạng mình vào thiên nhiên ấy hay Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình trong Truyện Kiều. Bút pháp nghệ thuật ấy đã góp phần không nhỏ trong việc khắc họa tính cách nhân vật của Nguyễn Du. Thiên nhiên đã đi vào những vần thợ trong Truyện Kiều, đi vào tâm hồn đại thi hào dân tộc Nguyễn Du lặng lẽ, nhẹ nhàng nhưng đã tạo nên cho tác phẩm cũng như mang tâm trạng, nỗi lòng cua nhân vật. Đại thi thành công khi dùng bút pháp tả cảnh ngụ tình, mượn thiên nhiên nói hộ tâm trạng nhân vật của mình.
Phân tích Thiên nhiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
2,085
Phân tích thiên nhiên và nghệ thuật bài thơ Ngắm trăng Hướng dẫn Qua bài thơ Cảm tưởng dọc thiên gia thi, tưởng như Bác Hồ không làm thơ về thiên nhiên. Ngược lại thiên nhiên tràn ngập trong thơ Người. Chỉ có điều là người yêu thiên nhiên, nhưng không dừng ở việc mô tả cái đẹp của thiên nhiên tách rời khỏi đời sống xã hội. Thiên nhiên trong thơ Bác không chỉ là đối tượng xã hội của nhà thơ mà còn là những cảnh ngộ, tâm trạng, phương tiện tự thể hiện con người. Những lúc đêm khuya cảnh vắng, nhà tù đã quạnh hiu càng hiu quạnh. Đó là lúc tâm hồn hòa nhập với thiên nhiên và Người đã viết những bài thơ hay nhất. Một đêm ba canh không ngủ, Người nhìn ra bên ngoài: Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh, Nhòm song Bắc đẩu đã nằm ngang Càng cảm thấy yêu mến, gần gũi trăng sao và trăng sao đã được nhân hóa đế nói chuyện với Người. Hồ Chí Minh viết nhiều bài thơ về trăng. Có lẽ trăng là hình tượng gắn bó nhất với tâm hồn con người. Trăng là người bạn thanh cao, gần gũi: Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Trong tù đêm trung thu không được thưởng trăng, nhà thơ cảm thấy lòng buồn vời vợi. Thơ trăng có thế là loại thơ cao khiết nhất trong thơ thiên nhiên. Nó lắng đọng và kết tinh những tình cảm đẹp nhất của con người. Nó là sự gặp gỡ của những tâm hồn thanh cao trong thế giới huyền diệu và tinh tế của thiên nhiên và nghệ thuật.
Phân tích thiên nhiên và nghệ thuật bài thơ Ngắm trăng
283
Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao Hướng dẫn Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao Nguyễn Tuân là người tài hoa hơn người, văn chương của ông cũng từ cái tài hoa đó mà sản sinh ra. Dựa vào một hình tượng có thật của Việt Nam- Cao Bá Quát, Nguyễn Tuân đã tạo dựng được câu chuyện về người tử tù có tên là Huấn Cao – một nhân vật khí phách kiên cường, nhân cách cao thượng và rất đỗi tài hoa. Thông qua vẻ đẹp của viên quản ngục, Nguyễn Tuân khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng đối với cái xấu xa thấp hèn. Thái độ của Huấn Cao cũng chính là cái nhìn của tác giả về mọi thứ xung quanh cũng là cách đánh giá của tác giả về những chân lí trong cuộc sống, về cái đẹp cái thiện.Huấn Cao trước hết là người hết sức tự trọng, “không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”, “tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. Ông coi chữ là thứ vô cùng quý giá và chữ ấy không phải ai muốn ông đều cho, theo ta nghĩ nếu cho chữ mà không đung người thì chẳng khác gì tự mình làm mất đi giá trị của thứ mình quý trọng bấy lâu. Ông là một con người sống hiên ngang bất khuất, “chọc trời khuấy nước”, có “hoài bão tung hoành”, “đến cái cảnh chết chém” ông cũng chẳng sợ.Huấn Cao đặc biệt khinh bỉ những người đại diện cho quyền lực thống trị. Dưới mắt ông, chúng chỉ là một lũ “tiểu nhân thị oai”. Vì vậy, tuy dưới quyền cai quản của chúng, ông vẫn cố tình tỏ ra khinh bạc. Xuất hiện trước mặt viên quản ngục khi gõ gông nặng 7,8 tạ,“đánh huỳnh một cái”, và “lãnh đạm”, “không thèm chấp”. Sau khi quản ngục khép nép hỏi Huấn Cao: “ngài có cần gì thêm nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu cấp”. Huấn Cao trả lời với một giọng điệu đầy khinh bỉ: “người hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn một điều. Là ngươi đừng đặt chân vào đây”. Ông không muốn không gian xung quanh ông bị chính những cái thấp hèn, những con người chỉ biết cung phụng cho những tầng lớp trong xã hội cũ có thể quấy rầy mình. Tâm hồn ông rất thanh cao nhưng ông cũng là người khẳng khái không sợ uy lực của cái xấu. Kiêu sa là thế, đến khi hiểu được tấm lòng của viên quản ngục, Huấn Cao chẳng những vui lòng nhận lời cho chữ, mà còn chân thành thốt lên: ta cảm cái lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây là lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ. Huấn Cao còn là con người hết sức tài hoa,đến nỗi viên quản ngục coi việc xin được chữ của ông là “có một vật báu trên đời”.Hình tượng Huấn Cao càng trở nên lộng lẫy bởi tư thế hiên ngang đường hoàng đúng là tư thế của người anh hùng. Với bản chất kiên cường, cho dù đã sa cơ thất thế Huấn Cao vẫn có tư thế ung dung, tự tại của một người “chọc trời khuấy nước” coi khinh cái chết. Khi ở trong tù, ông vẫn thản nhiên ăn thịt uống rượu “coi đó là một việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh”. Tác phẩm “ chữ người tử tù” với hình tượng của Huấn Cao và thái độc của ông, diễn biến tâm lí và tính cách của ông thay đổi thay từng chặng. Qua các nhân vật Huấn Cao và viên quan ngục, ta thấy tác giả không hề đối lập tài với tâm, cái đẹp với thiên lương trong sạch của con người. Tuy trong một hoàn cảnh vô cùng oái oăm, nhưng khi cái đẹp, cái tài, cái tâm không bị tách rời, thì nghệ thuật cảm hóa con người, dù phải sống trong bùn như viên quản ngục nhưng thật sự yêu cái đẹp thì vẫn không mất khả năng hướng thiện. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao
730
Phân tích thân phận người phụ nữ qua bài Tự tình (Hồ Xuân Hương) và Thương vợ (Trần Tế Xương) Hướng dẫn Thân phận bất hạnh và khổ đau của người phụ nữ qua bài thơ Tự Tình (Hồ Xuân Hương) và Thương vợ (Trần Tế Xương) Mở bài: Hình ảnh người phụ nữ vốn là đề tài quen thuộc trong ca dao và trong văn học viết. Các nhà văn, nhà thơ luôn có sự quan tâm sâu sắc đến thân phận và tiếng nói của họ trong cuộc sống đầy đau thương, trở ngại. Hồ Xuân Hương với bài thơ Tự tình và Trần Tế Xương với bà thơ Thương vợ đã góp thêm một tiếng nói đồng cảm sâu sắc, cho ta hiểu hơn về cuộc đời và số phận khổ đau của người phụ nữ trong xã hội phong kiến vốn tồn tại nhiều bất công, ngang trái. Thân bài: Với bài thơ Tự tình, Hồ Xuân Hương đã tâm tình về cái thân phận bèo bọt đáng thương ấy trong xã hội phong kiến với đầy rẫy sự bất công. Mở đầu bài thơ, mở ra một không gian tĩnh lặng. Người phụ nữ đơn côi, một mình với không gian mênh mông, buồn chán đến tê lòng: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non.” Không quá cầu kì trong câu chữ, bằng hình ảnh tả thực, Hồ Xuân Hương phơi bày cảnh sống lẻ loi, buồn chán đến tận cùng của người phụ nữ. Từng đêm, họ một mình đối diện với chính mình trong không gian quen thuộc. Đó là một không gian đơn điệu, buồn chán. Thời gian lại ở trong khoảnh khắc nhạy cảnh, dễ làm cho người ta nao lòng. Từ ngữ giản dị đã gợi cho ta thấy được sự cô đơn lạnh lẽo trong cái không gian mênh mông thanh vắng đến trống trải của đêm khuya. Âm thanh của tiếng trống như làm khuấy động bầu không khí yên tĩnh xung quanh và trong tâm hồn của Hồ Xuân Hương. Tiếng trống vọng về từ xa nhưng nghe hết sức rõ ràng. Bởi trong cái không gian ấy không có gì ngoài tiếng trống não nề điểm khắc cầm canh ấy. Tiếng trống cũng báo hiệu rằng đêm đã rất khuya. Sự sống như đang dừng lại. Tất cả đang chìm trong giấc ngủ say. Riêng góc trời này, chỉ có một người còn thao thức. Hai từ “hồng nhan” làm hiện lên hình ảnh một người phụ nữ xinh đẹp, quyến rủ. Thế nhưng, nhan sắc ấy nó lại cứ “trơ” ra với nước non như là một sự mỉa mai. Từ “trơ” tách ra khẳng định sự hững hờ, bất lực của người phụ nữ trước cuộc đời. Lại thêm từ “cái” càng làm cho thân phận ấy trở nên nhỏ bé, vô nghĩa. Đối lập vói nó là cả “nước non”. Một cái quá nhỏ bé đến chìm khuất trong cuộc đời bề bộn. Lại ngắn ngủi trong dòng đời phù sinh. Một cái quá lớn lao. Lại thêm trường cửu với thời gian, không bao giờ phai mòn. Nói về thân phận ấy, Bà Hyện Thanh Quan cũng đã từng than thở: “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Nước còn cau mặt với tang thương.” (Thăng Long thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan) Chữ “trơ” một lần nữa xuất hiện gắn với đời người, kiếp người. Nhưng lần này là “đá trơ gan”. Chữ “trơ” thể hiện sự chủ động, thách thức với đất trời và cái quy luật sinh diệt bất tận của vũ trụ. Hồ Xuân Hương cay đắng nhận ra được số phận của những người phụ nữ trong chế độ phong kiến thối nát là số phận bạc bẽo, đầy rẫy những trái ngang. Chính những luật lệ khắt khe của xã hội phong kiến, chế độ trọng nam khinh nữ đã làm cho người phụ nữ không có được một chỗ đứng trong xã hội. Phẫn uất trước những bất công, ngang trái nhưng không biết làm gì hơn. Bà cay đắng xác nhận cái thực tại đầy phũ phàng và tàn nhẫn ấy ấy: “Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.” Hồ Xuân Hương đã mượn chén rượu say để quên đi tình cảnh trớ trêu ấy. Bà muốn quên đi cái số phận hẩm hiu của mình, quên đi sự tồn tại vô nghĩa này. Thế nhưng say rồi lại tỉnh, tỉnh rồi lại say. Dù say hay tỉnh bà đều nhận ra rất rõ ràng rằng nghịch cảnh ấy không thể nào khác đi được. Thời gian cứ tàn nhẫn trôi đi. Vầng trăng hết khuyết lại tròn. Vũ trụ cứ vận hành bất chấp mọi số phận. Trong sự tuần hoàn ấy, số phận người phụ nữ bị vùi dập, bị cuốn đi tàn bạo. Càng ngẫm nghĩ lại càng buồn tủi hơn, càng đau khổ hơn. Càng nhận ra cái vòng quẩn quanh trong cuộc đời thân phận thật sự của chính bản thân mình, lại càng thêm phẫn uất. Đôi khi, họ muốn bức phá ra khỏi những ràng buộc ấy một cách mạnh mẽ: “Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.” Khoảng không gian như được mở rộng hơn, xa hơn qua tầm nhìn của tác giả. Những động từ “đâm”, “xiên” của đá, rêu gợi lên một sức sống hết sức mạnh mẽ. Dù đó là vật vô tri vô giác nhưng nó cũng có sức sống mãnh liệt đến nỗi nó cứ sống mãi sống mãi trong đôi mắt của Hồ Xuân Hương. Đến vật vô tri cũng đòi lấy sự sống, đòi lấy sự giao cảm với đất trời. Bất chấp những trở ngại, nó cứ vươn lên không cần biết điều gì sẽ sảy ra. Cùng với sự bướng bỉnh thể hiện sự kháng cự đầy quyết liệt của Hồ Xuân Hương đã nói lên một nỗi khao khát được hạnh phúc. Người phụ nữ cần có được một mái ấm gia đình, được người chồng thương yêu chăm sóc chứ không phải ngồi một mình trong đêm khuya thanh vắng với sự cô đơn và lạnh lẽo trong nỗi buồn tủi. Nhưng càng ước vọng càng thấy xa vời: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình xan xẻ tí con con.” Hồ Xuân Hương đã chán ngán, ngán ngẫm với nỗi cô đơn, buồn tủi, khi ngày này lại tiếp nối ngày khác, xuân này lại nối xuân khác mà qua. Tâm trạng chán chường trước một mảnh tình không được trọn vẹn mà phải “chia năm sẻ bảy” để rồi cuối cùng chỉ còn một mảnh “tí con con”. Mặc dù Hồ Xuân Hương có bản lĩnh, có giỏi giang như thế nào cũng không thoát khỏi được nghịch cảnh của số phận. Bởi người phụ nữ không hề có được địa vị trong xã hội này. Cái xã hội bất công “trọng nam khinh nữ”, đã làm cho người phụ nữ điêu đứng, nhưng cũng từ đó những phẩm chất tốt đẹp của họ được bộc lộ rõ nét hơn… “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng. Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo xèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên hai nợ, âu đành phận Năm nắng mười mưa, dám quản công”. Hoàn cảnh kiếm sống vất vả, lam lũ của bà Tú đã được giới thiệu rất rõ nét. Chỉ hai từ “quanh năm” thôi cũng đủ làm hiện rõ cái cơ cực vất vả của bà. Thời gian cứ lặp đi lặp lại hết năm này sang năm khác, dù trời nắng hay mưa. Vả lại phải “buôn bán ở mom sông” là nơi chênh vênh đầy nguy hiểm. Bà Tú phải làm việc vất vả, cực nhọc để “nuôi đủ năm con với một chồng”. Tất cả nói lên cái gánh nặng đôi vai, một bên là chồng, một bên là con. Đó không phải là một điều dễ dàng mà ai cũng có thể làm được. Tác giả đã sữ dụng biện pháp tu từ đảo ngữ một cách tinh tế ở hai câu tiếp theo: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Câu thơ vừa nói lên được cuộc sống vất vả tảo tần buôn bán ngược xuôi, vừa khắc họa rõ nét chân dung của bà Tú ở những nơi nguy hiểm vắng vẻ. Công việc mưu sinh đáng ra việc đó phải dành cho người chồng, người cha, người trụ cột của gia đình. Thế nhưng, bà Tú lại phải gánh lấy không một lời than phiền oán trách. Câu thơ còn gợi tả cảnh chen chúc, bươn bả trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Buổi “đò đông” không chỉ có những lời phàn nàn, cáu gắt, những sự chen lấn xô đẩy mà còn chứa đầy sự bắc trắc nguy hiểm. Lại thêm hai chữ “eo sèo” càng làm cho cái cảnh ấy thêm đáng buồn, hình ảnh bà Tú càng khắc khổ, gian nan. Cái khổ ấy cũng là cái khổ của bao kiếp đời phụ nữ. Xã hội phong kiến đã đặt ra cho họ cái luật lệ bất công ấy. Thế nhưng, người phụ nữ cũng tự nhận lấy bồn phận cao cả của mình mà chẳng hề than phiền hay oán trách. Cái duyên đi liền với cái phận. Cái duyên hẩm hiu thì cái phận cũng nhọc nhằn. Trần Tế Xương ngậm ngùi nhận ra điều ấy: “Một duyên hai nợ, âu đành phận Năm nắng mười mưa, dám quản công” Câu thơ nói lên cái đức tính cao đẹp, giàu đức hy sinh của người phụ nữ. Dù gian nan, vất vả thế nào thì cũng là duyên phận. Bà Tú chấp nhận tất cả. Bà giấu kín lòng mình với bao nỗi xót xa, tủi cực chịu. Bà âm thầm chịu thương, chịu khó vì chồng vì con. Tác giả nói thay lời của vợ mình cũng là để than trách chính bản thân mình. Là người chồng mà không làm được việc tích sự gì để chăm lo đến gia đình. Để rồi còn trở thành một gánh nặng đè trên vai người vợ bé nhỏ kia. Bao tháng ngày qua đã nhẫn tâm “hờ hững” không hề quan tâm đến gia đình, vợ con. Bấy lâu, cũng không biết chia sẽ những nỗi vất vả của vợ. “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc! Có chồng hờ hững cũng như không.” Phải chăng đây cũng chính là một gia đình điển hình trong chế độ phong kiến thời xưa với những thủ tục lạc hậu “tam tòng tứ đức” đã trở thành một sự ràng buộc đối với người phụ nữ. Cái hay của bài thơ đâu chỉ ở cái tình mặn đắng, mà còn ở cái nghệ thuật trào phúng chua cay. Thơ xưa kị viết như nói. Thế mà Trần Tế Xương cứ nói một cách bình thản, chẳng ngại ngùng gì. Qua bài thơ, Trần tế Xương đã thể hiện quan điểm tiến bộ của ông so với thời đại đó là hết lời ca ngợi nỗi vất vả gian truân của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ vốn bị xem là lớp người không có danh phận. Nghĩa vụ của họ là phục tùng người chồng và gia đình một cách vô điều kiện. Họ bị ràng buộc trong quá nhiều bổn phận. Họ cũng không được than vãn hay kêu ca. Trần Tế Xương đã có con mắt nhìn thấu vào kiếp đời bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội với trái tim đầy rung cảm. Không chỉ riêng gì bà Tú, đó còn là tất cả người phụ nữ đang phải gánh chịu những khổ đau cơ cực trên cõi đời này. Xưa nay, các nhà Nho không khi nào ca ngợi hay tôn vinh những đóng góp của người phụ nữ đối với xã hội. Có chăng, đó là khi người phụ nữ đã qua đời, công đức của họ được ghi nhận bằng những lời phúng điếu ai vãn. Bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương chẳng khác gì bài thơ tế vợ lúc bà còn sống. Điều đó cho thấy, ông đã vượt qua được những định kiến khắc khe của xã hội phong kiến để thể hiện tấm lòng tri ân sâu sắc của mình đối với người vợ đầy mến yêu này. Kết bài: Qua hai tác phẩm trên đã làm cho chúng ta hiểu rõ thêm về thân phận người phụ nữ thời xưa, với những khát vọng, những ước mơ nhỏ bé mà họ ao ước được một gia đình ấm êm, cuộc sống no đủ, có thể làm chủ được số phận của mình. Và ta càng hiễu rõ thêm những phẩm chất tốt đẹp, sẵn sàng hy sinh vì chồng vì con của người phụ nữ Việt Nam.
Phân tích thân phận người phụ nữ qua bài Tự tình (Hồ Xuân Hương) và Thương vợ (Trần Tế Xương)
2,147
Phân tích thân phận người phụ nữ trong ca dao xưa- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phân tích thân phận người phụ nữ trong ca dao xưa- Văn lớp 10 Bài làm Trong kho tàng văn học dân gian của nước ta, ca dao, tục ngữ đóng góp một giá trị tinh thần vô cùng to lớn. Nó như một dòng suối ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn của người nông dân lao động xưa. Đặc biệt là số phận của những người phụ nữ trong chế độ phong kiến. Người phụ nữ sống trong thời phong kiến thường bị coi thường, “Trọng nam khinh nữ”. Họ không được quyết định cuộc sống của mình, đặc biệt là tình yêu đôi lứa. Cuộc sống của người phụ nữ xưa thường phải tuân theo những luật tam tòng tứ đức. Chuyện hôn nhân do cha mẹ mai mối sắp đặt. Theo quan điểm “Tại gia tòng phụ xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”khiến cho họ không thể nào tự làm chủ đời mình. Trong cuộc sống hôn nhân thì người phụ nữ phải sống kiếp chung chồng theo tư tưởng “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng” Người đàn ông trong xã hội phong kiến có thể cưới nhiều người vợ khác nhau cũng không làm sao. Những người phụ nữ thì cả cuộc đời chỉ có thể lấy một người đàn ông mà thôi, khi chồng chẳng may qua đời thì phải theo con trai. Chính vì vậy mà mới có câu thơ ai oán: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” Người phụ nữ xưa được ví như những món đồ, nếu người mua mình, lấy mình là người tử tế thì được hưởng phúc phận, còn nếu như người đàn ông đó không tốt, lăng nhăng, vũ phu, gia trưởng, cờ bạc thì cũng phải cam chịu số phận cay đắng, ngậm ngùi nhịn nhục cho qua kiếp người. Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” Câu ca dao thể hiện tiếng nói đầy mặc cảm cay đắng của người phụ nữ xưa. Họ như một tấm lụa đào, đang xuân sắc nhiều người yêu thích, muốn có một món đồ quý nhưng họ không biết là người chọn mình sẽ là ai, điều đó họ không thể tự quyết định được. Hai từ “thân em”đã thể hiện sự nhỏ bé đáng thương thể hiện nỗi lòng xót xa của người con gái khi không thể nào tự quyết định tương lai số phận của mình. Người con gái xưa ngay từ khi sinh ra đã bị xã hội coi rẻ hơn đàn ông, không có quyền hạn gì cả, mà phải hoàn toàn phụ thuộc vào cha mẹ và người chồng tương lai của mình. “Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa Em với anh cũng muốn kết nghĩa giao hòa Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời, Em với anh cũng muốn kết tóc ở đời, Sợ rằng mây bạc giữa trời mau tan”… Những ước mơ khát khao bị chế độ kìm hãm, cuộc sống hạnh phúc lứa đôi của người con gái xưa bị phong tục đè nặng. Họ không có cách nào ngoài việc cất lên những lời cay đắng, nghẹn ngào về thân phận của mình. “Thân em như miếng cau khô Người thanh chuộng mỏng, người thô tham dày” Hai câu ca dao này thể hiện sự oán trách, số phận của người phụ nữ được ví như những vật tầm thường bé nhỏ, phụ thuộc vào người dùng có người thì thích mỏng, người thì thích miếng cau dày, chẳng thể nào biết trước. Những người con gái xưa không có quyền tự do yêu thương, lựa chọn đức phu quân phù hợp với mình mà họ luôn phải nghe lời người khác. Chẳng thế mà bà chúa thơ Nôm, Hồ Xuân Hương đã phải làm vợ ba của ông tổng Cóc, bà cũng đau đớn viết lên bài thơ “Bánh trôi nước” “Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son” Người phụ nữ xưa bị chà đạp lên quyền sống quyền tự do yêu thương nhưng họ vẫn luôn giữ đạo làm vợ, đức hạnh của người phụ nữ chung thủy, sắc son trước sau nhưng một. “Năm nay em đi làm dâu Thân khác gì trâu mang theo ách Năm nay em đi làm vợ Thân mang cày, dây khiến không biết ai? Em đi làm dâu không có mùa nghỉ, chỉ có mùa làm.” Thân phận người con gái trong bài ca dao trên đang than thở cho số phận mình khi đi lấy chồng chỉ là kiếp con trâu, kiếp nô lệ bán thân cho nhà chồng. Người nhà chồng lấy vợ cho con trai họ không phải là lấy người phụ nữ về nâng khăn sửa túi cho người con trai mà lấy thêm một sức lao động, người làm việc nhà, đồng áng, nương rẫy. Chính vì vậy người phụ nữ xưa lấy chồng như con trâu mang ách vào cổ, muốn thoát ra nhưng không thể nào thoát được. “Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra” Người phụ nữ khi đi lấy chồng như chim vào lồng, như cá mắc câu, cuộc sống tàn khốc mất tự do, càng vùng vẫy kêu la thì càng nhận nhiều đau đớn, tủi hờn. Nhiều khi gặp ông chồng đa thê lăng nhăng, rồi tính tình cục mịch hay đánh vợ mỗi khi tức giận, thì họ cũng phải cam chịu. Tệ nạn bạo hành gia đình ở Việt Nam rất nhiều cho tới bây giờ trong thời kỳ hiện đại vẫn có nhiều người phụ nữ bị chồng bạo hành. “Cái cò là cái cò quăm Mày hay đánh vợ mày nằm với ai” Nhiều người phụ nữ sau khi lấy chồng hết lòng với chồng nhưng vẫn bị anh ta phụ bạc, bỏ mình để đi cưới thê thiếp, trẻ đẹp hơn. Những người phụ nữ phải chịu cảnh chung chồng nhiều cay đắng bất hạnh. “Nhớ xưa anh bủng anh beo Tay bưng chén thuốc lại đèo múi chanh, Bây giờ anh mạnh anh lành Anh tham duyên mới anh đành phụ tôi.” Trong cuộc sống lúc còn con gái thì họ không được lựa chọn hạnh phúc của mình, còn khi lấy chồng thì bị coi thường phụ bạc, không có tiếng nói trong gia đình, suốt ngày chỉ cắm mặt vào làm việc mà thôi. Ở mặt nào họ cũng bị vùi dập xô đẩy, cũng không được quyền lên tiếng lựa chọn. Đến cả sự tỏ bày tình yêu cũng vô cùng tội nghiệp. Người phụ nữ xưa thật nhiều cay đắng, xót xa những ai oán mà họ phải chịu không thể tâm sự cùng ai, nên họ chỉ biết tâm tình qua những câu ca dao. Như thể nói lên nỗi lòng ai oán của người phụ nữ.
Phân tích thân phận người phụ nữ trong ca dao xưa- Văn lớp 10
1,151
Phân tích thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua hình ảnh các nhân vật Vũ Nương, Thúy Kiều, Kiều Nguyệt Nga Hướng dẫn Thân phận đáng thương của người phụ nữ qua cuộc đời và số phận của Vũ Nương, Thúy Kiều và Kiều Nguyệt Nga Mở bài: Trong tư tưởng Nho giáo có quy định, phụ nữ không có bất kì một quyền lợi hoặc quyền lực nào trong đời sống gia đình và xã hội. Khẳng định quan điểm giáo dục của mình, Khổng Tử từng cho rằng trong xã hội có hai loại người không thể giáo hóa được đó là hạng tiểu nhân và hạng đàn bà. Xuất phát từ tư tưởng đó, có biết bao nhiêu quy định khắc khe ràng buộc và siết chặt cuộc đời người phụ nữ, khiến cho đời sống của họ hết sức khổ cực, số phận của họ vô cùng bi đát. Những tiếng khóc than thê thiết còn in đậm mãi mãi trong các tác phẩm văn học vẫn còn lưu truyền đến nay trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ), Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu). Thân bài: Trước hết, họ bị tước đoạt mọi quyền lợi. Họ không được xã hội thừa nhận và hoàn toàn bị phụ thuộc vào đàn ông. Thân phận người phụ nữ như chiếc lá khô trên cành, như hoa trôi trên nước, như ngọn gió vô danh thầm lặng thổi qua cuộc đời không ai hay biết. Có thể thấy trong xã hội phong kiến nước ta, rất nhiều người phụ nữ không được gọi tên chính thức, cái khẳng định sự tồn tại của họ trên thế giới này. Lúc nhỏ, họ được gọi là cái tên tục. Lớn lên lấy chồng họ thường được gọi theo tên của chồng. Khi con đã lớn, họ thường được gọi theo tên của con trưởng. Bởi tư tưởng trọng nam khinh nữ khắt khe “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một nam là có, mười nữ xem như không có). Xã hội phong kiến lại đặt ra cho họ những điều luật khắt khe cần phải tuân thủ. Trong đó Tam tòng tứ đức là điều luật khắt khe nhất. Tam Tòng (ba điều phải làm theo) được quy định khá rõ ràng: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Có nghĩa là khi còn ở nhà bố mẹ, phải nghe lời cha. Khi đi lấy chồng phải nghe lời chồng. Nếu chồng mất sớm phải ở vậy nuôi con suốt đời. Còn tứ đức (bốn đức tính cần phải có) cũng hết sức chặt chẽ. Người phụ nữ chuẩn mực rong xã hội phải hội tụ hoặc rèn luyện được đủ bốn đức tính căn bản: công (đảm đang việc nhà), dung (tư dung tốt đẹp), ngôn (ăn nói chuẩn mực), hạnh (giữ gìn tiết hạnh khả phong). Bốn đức tính ấy tuy đúng đắn nhưng trong hoàn cảnh nào đó lại trở thàn điều ràng buộc,gây biết bao phiền phức đối với người phụ nữ. Vũ Nương khi về làm vợ Trương Sinh đã biết giữ gìn gia phong hết sức chuẩn mực. Dù Trương Sinh là người có tính hay ghen, lại là người đa nghi, tính tình thô lỗ, nàng cũng chưa từng vì lòng hẹp hòi mà dẫn đến gia đình bất hòa hay để sảy ra điều tiếng. Đó là người phụ nữ đảm đang và đức hạnh, biết giữ lễ nghi và thực hiện bổn phận của mình một cách đúng đắn. Nàng chịu nhận thiệt thòi về mình để giữ gìn hạnh phúc gia đình. Tấm lòng nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó của Vũ Nương cũng là tấm lòng của biết bao người phụ nữ Việt Nam xưa nay. Thúy Kiều, một người con gái sinh ra trong gia đình gia giáo cũng đã tuân thủ nguyên tắc ấy hết sức nghiêm ngặt. Dù đang ở tuổi yêu đương nhưng nàng rất biết giữ gìn khuôn phép, ít đi ra ngoài, sợ điều tai tiếng làm ảnh hưởng đến gia phong. Ở nhân vật Kiều Nguyệt Nga, khi được Lục Vân Tiên cứu thoát khỏi tay bọn cướp, Kiều Nguyệt Nga đã giải bày về gia cảnh và bổn phận làm con: “Làm con đâu dám cãi cha Ví dàu nghìn dặm, đường xa cũng đành” Có thể thấy, xã hội phong kiến đã đặt ra cho người phụ nữ những trách nhiệm vô cùng nặng nề, ràng buộc họ trong bổn phận nữ nhi thường tình. Những điều luật ấy vừa giúp họ có định hướng để sống và hành động đúng đắn nhưng cũng trở thành mối ràng buộc chôn chân họ trong thân phận nhỏ bé, không thể sống đúng với chính mình như cuộc sống vốn có. Người phụ nữ là lớp người phải chịu những bất công ngang trái, bị sỉ nhục vùi dập và chà đạp một cách tàn bạo của xã hội phong kiến bất nhân. Cuộc đời và số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ở bất kì thời đại nào cũng được con người quan tâm. Đặc biệt nền văn học TK XVIII, hàng loạt các tác phẩm có giá trị lên tiếng bênh vực ca ngợi người phụ nữ. Ở họ có đầy đủ các phẩm chất tốt đẹp, xứng đáng có được cuộc sống gia đình hạnh phúc. Thế nhưng hoàn cảnh trái ngang đã khiến cho cuộc đời họ đầy đau thương, đẩy họ vào bước đường cùng không lối thoát. Chỉ với thói hay ghen và hành động thiếu suy nghĩ mà Trương Sinh đã khiến cho Vũ Nương phải lấy cái chết để chứng minh mình trong sạch. Cái chết của Vũ Nương có sức mạnh cảnh tỉnh những người chồng ngu muội, vô tình, vô nghĩa như Trương Sinh. Cái chết của Vũ Nương cũng là tiếng nói phê phán nghiêm khắc xã hội phong kiến bất công tàn bạo, bức ép, đẩy con người vào bước đường cùng không lói thoát. Chi tiết hồn Vũ Nương trở về trên bến sông, nói lời từ biệt rồi từ từ biến mất có ý nghĩa là xã hội phong kiến đã không còn chỗ cho những người phụ nữ tốt đẹp như nàng Cuộc đời và số phận của nhân vật Thúy Kiều lại là môt tấm bi kịch khác, khổ đau và tủi nhục gấp nhiều lần hơn thế. Nàng có tài năng và sắc đẹp ấy là một núm hàng quý giá, đã ra sức chiếm hữu và khai thác nó một cách tàn bạo, khác cho cuộc đời Thúy Kiều hết lần này đến lần khác bị đẩy vào bi kịch hết sức khốc liệt. Kết thúc câu chuyện, Thúy Kiều được đoàn viên với gia đình. Thế nhưng, cuộc đời này từ đó cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Tất cả danh dự nhân cách nhân phẩm của nàng đã bị xã hội ấy hủy hoại. Sự sống của nàng chẳng qua là làm theo ước muốn của người thân mà thôi. Ở nhân vật Kiều Nguyệt Nga, tuy không đi vào bước đường cùng như Vũ Nương và Thúy Kiều nhưng bóng dân của xã hội phong kiến bao trùm lên cuộc đời nàng hết sức rõ nét. Sức mạnh bao trùm của nó quyết định hành động và tư tưởng của nàng và gần như mọi hành động của nàng đều hướng đến thực hiện bổn phận của mình. Tuy bị vùi dập, chà đạp, bức hại nhưng ở người phụ nữ vẫn luôn tỏa sáng nhưng vẻ đẹp tuyệt vời, vốn có của họ. Có lẽ, các tác giả đã dành những trang văn, trang thơ hay nhất để ca ngợi vẻ đẹp hình thức và phẩm chất tâm hồn. Vũ Nương được giới thiệu là một người phụ nữ thùy mị nết na, lại thêm tư suy tốt đẹp. Không những thế nàng là một người vợ thủy chung, sâu sắc, một người mẹ đảm đang tận tụy, một người con dâu hiếu thảo nghĩa tình. Nàng tự giác thực hiện các bổn phận của mình và xem đó là nguồn sống, nguồn hạnh phúc. Nhân vật Kiều Nguyệt Nga cũng được miêu tả là người có sắc đẹp hiếm có và tấm lòng hiếu nghĩa có ai sánh bằng. Tình cảm của nàng đối với Lục Vân Tiên lại hết sức cao thượng và trong sáng, là sự kết hợp giữa tình yêu, tấm lòng tri ân và cả tinh thần thần tượng người anh hùng. Tác giả cũng đã giành cho Kiều Nguyệt Nga những câu thơ hay nhất, say đắm nhất được ca ngợi và tôn vinh người phụ nữ trong xã hội. Có thể nội trong dòng văn học đương đại, hình ảnh người phụ nữ là hình ảnh trung tâm tập trung sự phản ánh. Dù bị chèn ép, bị khinh miệt nhưng họ vẫn tỏa sáng bằng cái đẹp vốn ở họ. Viết về thân phận người phụ nữ, các tác giả đã thể hiện sự cảm thông và trân trọng sâu sắc đối với lớp người nhỏ bé, khổ đau trong xã hội, lên tiếng phê phán tố cáo và đã kích xã hội phong kiến bất nhân tàn bạo đã chà đạp lên nhân cách, nhân phẩm của con người, đồng thời ca ngợi phơi bày nhưng vẻ đẹp vốn có và sức sống mãnh liệt của người phụ nữ trước khó khăn thách thức khắc nghiệt của cuộc đời. Kết bài: Mỗi tác phẩm là một bài ca đầy vang vọng khẳng định giá trị của người phụ nữ, thể hiện khát vọng sống, đòi quyền sống và quyền làm người của họ. Mỗi tác phẩm là một nhà nhân đạo có trái tim bao dung và cái nhìn sáng suốt thấu rõ vào từng số phận con người.
Phân tích thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua hình ảnh các nhân vật Vũ Nương, Thúy Kiều, Kiều Nguyệt Nga
1,643
Đề bài: Phân tích thông điệp Lưu Quang Vũ gửi đến người đọc qua Hồi 7 vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt Bài làm Trong truyện cổ dân gian nước ta có truyện Hồn Trương Ba, da hàng thịt. Từ cốt truyện của truyện cổ dân gian đó, Lưu Quang Vũ đã phát huy năng lực sáng tạo nghệ thuật, sáng tác một vở kịch lớn gửi đến người đọc những thông điệp về bản thể và cách sống của con người, cụ thể là quan hệ giữa thể xác linh hồn và cách sống chân thực, lẽ sống vì mọi người. Về quan hệ giữa thể xác và linh hồn, truyện cổ dân gian cũng quan niệm linh hồn phải có thể xác thì mới có chỗ trú ngụ và thể xác phải có linh hồn thì mới sống được nhưng truyện cổ dân gian tuyệt đối hóa vai trò của linh hồn, coi nhẹ thể xác quá nên khi Trương Ba mượn được thể xác của người bán thịt thì Trương Ba coi mình là Trương Ba 100% và không băn khoăn gì về hình dạng của mình, cũng không có biến đổi gì trong tính cách… Phân tích Hồi 7 vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt Lưu Quang Vũ có kế thừa truyện cổ dân gian, ông cũng nhấn mạnh vai trò cao hơn của linh hồn so với thể xác. Trương Ba khi sống lại trong thân xác anh hàng thịt thì nhận biết mình là Trương Ba (dựa váo kí ức, tình cảm và ý thức tức là dựa vào phần hồn của mình). Vợ Trương Ba sau khi kiếm tra kí ức của Trương Ba cũng nhận chồng; Trương Hoạt, bạn của Trương Ba cũng vậy. Chị con dâu thì càng thương cha chồng hơn, mặc dù lúc này ông mang vóc hình khác vì thấy ở ông đức tính nhân hậu hệt như cha chồng xưa. Tuy nhiên, Lưu Quang Vũ không dừng lại ở đó, ông thấy linh hồn không hoàn toàn độc lập với thể xác, ông nhìn thấy sự chi phối của thân xác đối với linh hồn. Trương Ba trong xác anh hàng thịt, bắt đầu thích ăn tiết canh, uống rượu, nói to, tay chân trở nên thô vụng: động vào cây làm gãy chồi non, chân giẫm lên cả cây sâm quý. Bị Lí trưởng xử ban ngày phải sang nhà vợ anh hàng thịt, Trương Ba cũng có lúc bị xao động (ít ra là ở cảm giác) trước cử chỉ thân mật của chị vợ anh ta và phải tự đấu tranh để thoát ra. Chính xác anh đã nói với hồn Trương Ba: ‘Chính vì âm u, đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả cái linh hồn cao khiết của ông đấy”. Cuộc tranh cãi giữa xác anh hàng thịt và hồn Trương Ba là một cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác, cuộc đấu tranh trong bản thân con người để chống lại tác động xấu của thể xác làm tha hóa linh hồn. Bản thân Trương Ba cũng tự thấy nhiều điều phiền toái và có nguy cơ tự đánh mất mình. Ông cảm thấy vướng víu xa lạ trong thân xác khác, cháu gái nội ông không nhận ông, vợ ông muôn bỏ đi, con dâu thấy ông không chỉ khác lạ về thân xác mà bắt đầu khác cả về tính tình. Trương Ba cũng đã phải tự nói: “Mày (thân xác) đã thắng rồi đấy, cái thân xác không phải của ta, mày đã tìm đủ mọi cách để sấn át ta”. Trương Ba đã phải tiến hanh một cuộc đấu tranh với xác anh hàng thịt, đây là cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác trong một con người. Thể xác cũng có tiếng nói riêng của nó, nhu cầu riêng của nó, những nhu cầu này có cái chính đáng, có cái không chính đáng, con người phải biết tiết chế, biết đè nén nhu cầu thè xác, thậm chí phải hi sinh một số nhu cầu… Trước những phiền toái và nguy cơ tha hóa do sống trong thân xác mượn của kẻ khác, Trương Ba muốn trả lại thân xác cho anh hàng thịt. Nhưng như có nghĩa là Trương ba lại phải chết. Trương Ba sẵn sàng chết vì nếu sống mà không là mình, mà mất dần nhân cách, mà nhìn thấy những người khác đau khổ (ví dụ chị vợ anh hàng thịt, “chị ta thật đáng thương”, rồi vợ, rồi con, rồi cháu, như đã nói trên), thì thà chết, còn hơn. Lúc đó có cháu Tị chẳng may ốm chết, Đế Thích định cho hồn Trương Ba nhập vào thân xác cháu, thì cháu Tị được sống lại với hồn Trương Ba, còn hồn Trương Ba được sống trong thân xác bé bỏng của cháu. Trương Ba cũng từ chối vì nếu thế, bi kịch sống không là mình lại tiếp diễn sống gây phiền toái, đau khổ cho những người khác (trước nhất là cho mẹ cháu Tị rồi đến vợ mình…). Trương Ba đề nghị Đế Thích dùng phép thiêng cứu sống cho cháu Tị còn mình chấp nhận cái chết. Đó là cách duy nhất để hồn Trương Ba có thể thanh thản – ở thế giới bên kia. ‘Từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình là Trương Ba thật, tâm hồn tôi trở lại thanh thản, trong sáng như xưa… Trương Ba chết nhưng linh hồn Trương Ba vẫn sống trong nỗi nhớ của mọi người, sống trong sự sống vẫn đang sinh sôi của cây cỏ, của con người… (Đoạn kết). Tóm lại, qua vở kịch, Lưu Quang Vũ đã sáng tạo nên một tình huống ẩn dụ có sức lôi cuốn và gợi suy nghĩ sâu sắc, gửi tới người đọc thông điệp: “Trong con người có hai thực thể là thể xác và linh hồn, hai thực thể đó có quan hệ hữu cơ với nhau nhưng cũng có tính độc lập tương đối với nhau. Con người phải luôn luôn đấu tranh với bản thân, điều chỉnh, làm chủ những nhu cầu, ham muốn để có được sự thống nhất hài hòa giữa linh hồn và thể xác hướng tới sự hoàn thiện nhân cách. Đó là sống thành thật, sống trong sạch, là sống vì mọi người, không thể sống giả dối, sống bằng mọi giá, sống trên sự đau khổ của người khác…”. Tư tưởng triết lí của Lưu Quang Vũ, về con người, về quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về cách sống và lẽ sống của con người vừa biện chứng, vừa lạc quan và cao thượng. Điều này cùng với tài năng sáng tạo nghệ thuật của tác giả đã làm cho vở kịch có giá trị nhân văn cao, vươn tới tầm nhân loại.
Phân tích thông điệp Lưu Quang Vũ gửi đến người đọc qua Hồi 7 vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt
1,163
Đề bài: Phân Tích Thú Lâm Tuyền Của Bác Qua Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Bài Làm Tức cảnh Pác Bó là một trong những bài thơ tứ tuyệt tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Chí Minh. Bài thơ bình dị mà pha chút giọng điệu vui đùa này đã thể hiện tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của Bác trong cuộc sống cách mạng đầy gian khổ ở Pác Bó. Với người, làm cách mạng và sống hòa hợp với thiên nhiên là một niềm vui lớn. Đấy cũng chính là thú lâm tuyền của Người: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Cuộc đời cách mạng thật là sang” Trước hết ta nên hiểu thú lâm tuyền là gì. Thú lâm tuyền là niềm vui thú được sống với rừng, suối. Thú lâm tuyền của Bác là được sống vui thích, thoải mái, gắn bó, hòa nhịp với thiên nhiên. Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu tìm đường cứu nước, tháng 2 – 1941, Nguyễn Ái Quốc đã bí mật trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người sống trong hang Pác Bó – một hang núi nhỏ sát biên giới Việt – Trung (Thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng). Câu thơ đầu tiên của bài thể hiện được nếp sống của Người ở Pác Bó: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang” Câu thơ cho ta biết được không gian sống của Bác Hồ, đó là không gian núi rừng hoang sơ, dân dã, có suối và hang. Không phải là một ngôi nhà, hay một căn biệt thự xa hoa – lộng lẫy. Câu thơ ngắt nhịp 4/3, tạo thành hai vế sóng đôi và đặc biệt có sự đối xứng nhịp nhàng: “sáng” – “tối”, “suối” – “hang”, “ra” – “vào” toát lên cảm giác về sự nhịp nhàng, nề nếp: sáng ra, tối vào. Hơn nữa, giọng điệu của câu câu cũng thật thoải mái, phơi phới, cho thấy Bác Hồ sống thật ung dung, hòa điệu nhịp nhàng với nhịp sống núi rừng. Và điều đó cũng chứng tỏ rằng, Người sống rất giao hòa, giao cảm với thiên nhiên, gắn bó và yêu thiên nhiên sâu sắc. “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.” Ở nơi rừng núi thiếu thốn trăm bề, Bác chỉ ăn những thứ sẵn có của núi rừng: cháo bẹ, rau măng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài viết Từ Pác Bó đến Tân Trào có kể lại: “Những khi trời mưa to, rắn rết chui cả vào chỗ nằm. Có buổi sáng, Bác thức dậy thấy một con rắn rất lớn nằm khoanh tròn ngay cạnh Người (…) Bác sốt rét luôn. Thức ăn cũng rất thiếu (…) Có thời gian, cơ quan chuyển vào vùng núi đá trên khu đồng bào Mán Trắng, gạo cũng không có, Bác cũng như anh em khác phải ăn cháo bẹ hàng tháng”. Mặc dù gian khổ, khó khăn như vậy, nhưng với giọng điệu vui đùa, hóm hỉnh “vẫn sẵn sàng” cho chúng ta thấy được tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh. Và qua đây, chúng ta có thể khẳng định rằng, được sống giữa lòng đất nước sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, được sống chan hòa với thiên nhiên, dù có khó khăn, thiếu thốn ra sao thì Bác vẫn thấy vui, thấy hạnh phúc. Đó là niềm vui, là thú lâm tuyền đặc biệt của Người chiến sĩ cách mạng mà ít ai có được. Đến sau này, trong bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc (1947) của Bác Hồ, cũng diễn tả niềm vui thích, sảng khoái đặc biệt của Người trong cuộc sống ở rừng chắc chắn có nhiều gian khổ lúc bấy giờ: “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày … Non xanh nước biếc tha hồ dạo Rượu ngọt chè tươi mặc sức say…” Điều kiện sinh hoạt ăn, ở tại Pắc Bó gian khổ là thế. Điều kiện làm việc cũng khó khăn không kém. Bàn làm việc là một phiến đá bên bờ suối Lê-nin “bàn đá chông chênh” nhưng Người vẫn say sưa làm công việc cao quý: dịch tài liệu học tập cho cán bộ cách mạng khi đó. Và đối với Hồ Chí Minh, được sống, được làm việc, được hòa mình vào thiên nhiên núi rừng Pác Bó như vậy, Người cảm thấy cuộc đời ấy quả thật đặc biệt: “Cuộc đời cách mạng thật là sang” Câu thơ kết bài đã nói lên toàn bộ ý nghĩa của bài thơ. Cuộc đời cách mạng dù ăn, ở, điều kiện làm việc có thiếu thốn, khó khăn đến mấy thì được sống giữa thiên nhiên núi rừng và được làm việc vì nhân dân, vì tổ quốc, thì cuộc đời đó với Bác quả thật rất sang trọng, quý phái. Thật vậy, trong tâm khảm của mình, Bác Hồ – vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta luôn ao ước được sống “nơi có non xanh, nước biếc”. Đó chính là sở nguyện của Bác. Các bậc cao nhân mặc khách ngày xưa thường tìm đến thú lâm tuyền vì cảm thấy bất lực trước thực tế xã hội, muốn “lánh đục về trong”, tự an ủi bằng lối sống “an bần lạc đạo”. Tiêu biểu như Nguyễn Trãi, với bài thơ Côn Sơn ca: “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.” Nguyễn Trãi trở về sống trong thiên nhiên Côn Sơn vì chán ghét con đường công danh, khi thời thế đã rối loạn, khi tài năng của mình không còn được coi trọng hoặc thậm chí bất lực trước sự suy vong của xã hội. Cảnh thiên nhiên giúp ông cảm thấy thanh thản trước sự đời. Tuy đó là lối sống thanh cao, khí tiết nhưng không thể không gọi là tiêu cực. Trong khi đó Bác Hồ sống cảnh lâm tuyền không phải để trốn tránh cuộc sống mà để hoạt động cách mạng, bảo vệ đất nước, cảnh thiên nhiên giúp Người có thêm sức mạnh đẻ đấu tranh. Hồ Chí Minh sống hòa nhịp với lâm tuyền nhưng vẫn vẹn cốt cách chiến sĩ; và chính cuộc sống lâm tuyền đó là một biểu hiện của cuộc đời cách mạng của Người. Như vậy, chúng ta thấy, cùng vui thú lâm tuyền, nhưng Nguyễn Trãi và người xưa là những ẩn sĩ lánh đời, còn Hồ Chí Minh là chiến sĩ cứu đời. Đây chính là nét tiến bộ hơn trong thơ Hồ Chí Minh so với người xưa. Bài thơ tứ tuyệt ngắn gọn nhưng đã cho chúng ta hiểu thêm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ. Bên cạnh đó, bài thơ còn là bài học thấm thía về thái độ sống và quan điểm sống đúng đắn, tích cực của một chiến sĩ cộng sản chân chính.
Phân Tích Thú Lâm Tuyền Của Bác Qua Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó
1,168
Phân tích thơ Hai cư của Ba – sô Hướng dẫn Phân tích thơ Hai cư của Ba – sô Thơ Hai- cư là một thể thơ đặc trưng của nền văn học Nhật Bản, thơ Hai- cư được xem là thể thơ ngắn nhất trên thế giới, mỗi bài thơ Hai- cư đều có một tứ thơ nhất định mà thường được những nhà thơ ghi lại với những cảnh vật, hiện tượng cụ thể. Điển hình nhất trong dòng thơ Hai- cư là nhà thơ Ba – sô. Bài thơ đầu tiên, tác giả Ba- sô đã viết về tình cảm gắn bó đối với quê hương mà mảnh đất nơi mình gắn bó trong một thời gian dài xa quê: “Đất khách mười mùa sương Về thăm quê ngoảnh lại Ê – đô là cố hương” Ba- sô rời xa quê hương của mình từ sớm để lập nghiệp, hơn mười năm ông mới có điều kiện trở lại quê hương Mi – ê của mình, tuy nhiên khi trở về rồi ông lại cảm thấy nhớ Ê- đô, mảnh đất mà mình đã sinh sống và làm việc suốt mười năm, ông đã coi Ê- đô như quê hương thứ hai của mình. Bài thơ thứ nhất này đã thể hiện được tình cảm gắn bó,yêu thương của nhà thơ Ba- sô đối với mảnh đất mà mình đã từng ở. “ Chim đỗ quyên hót ở Kinh đô mà nhớ Kinh đô” Ba- sô đã có một thời gian sống ở kinh đô Ki- ô- tô, sau đó ông đã chuyển đến sinh sống ở Ê- đô.Khi nghe thấy tiếng chim đỗ quyên hót thì ông nhớ về những kí ức khi còn ở Ki- ô – tô và viết lên bài thơ này. Hình ảnh chim đỗ quyên là một điển tích trong nền văn học của Trung Quốc, nó gắn liền với việc vua Thục bị mất nước. Ở Nhật Bản, hình ảnh của chim đỗ quyên lại được dùng để chỉ sự tiếc thương khi thời gian trôi đi, thể hiện nỗi buồn và sự vô vọng của con người. Tan trên tay tóc mẹ Làn sương thu” Ba- sô xa nhà từ khi còn rất trẻ,khi bốn mươi tuổi ông trở về quê nhà thì vô cùng đau xót khi biết mẹ đã mất.Người ta đã đưa cho ba- sô di vật mà mẹ để lại, đó là một mớ tóc bạc. Sự đau xót khôn nguôn là cảm xúc khi ông viết lên bài thơ này. Sự đau đớn, xót xa của nhà thơ Ba- sô được thể hiện thông qua hình ảnh của giọt lệ rơi xuống nắm tóc bạc của mẹ. Quý ngữ của bài thơ là sương thu ý chỉ mái tóc của mẹ bạc trắng như sương hay sương thu như giọt lệ xót xa, hiểu theo nghĩa nào cũng hướng đến thể hiện triết lí về sự ngắn ngủi, vô thường của đời người. “Tiếng vượn hú não nề Hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc Gió mùa thu tái tê” Ba- sô trong tác phẩm “Du kí phơi thân đồng nội” sáng tác năm 1685 đã từng tâm sự về câu chuyện khi ông đi ngang qua cánh rừng đã nghe thấy tiếng vượn hú đầy náo nề, chính tiếng hú bất ngờ ấy đã gợi nhắc cho ông nhớ đến hình ảnh của một đứa bé đáng thương bị chính bố mẹ bỏ lại ở trong rừng. Ở Nhật Bản vào những năm xảy ra nạn đói, mất mùa đã có rất nhiều gia đình không nuôi được con đành dứt ruột để lại chúng ở trong rừng. Khi nghe thấy tiếng vượn hú, Ba- sô lại nhớ về một sự việc đau lòng mà ông từng chứng kiến. Chú khỉ con thầm ước Có một chiếc áo tơi” Bài thơ được sáng tác dựa trên một câu chuyện có thật mà nhà thơ từng chứng kiến, đó là khi đi qua một khu rừng, ông đã nhìn thấy hình ảnh của một chú khỉ nhỏ đang run lên vì lạnh, khi ấy nhà thơ đã tưởng tượng ra chiếc áo tơi để giúp co chú khỉ đỡ lạnh. Hình ảnh của chú khỉ nhỏ trong bài thơ đã gợi ra hình ảnh những người nông dân đáng thương trong cơn đói rét của thời đại. Bài thơ đã thể hiện được tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ với con người. Bằng hình thức của những câu thơ ngắn gọn, súc tích, nhà thơ Ba- sô đã truyền tải được trong những bài thơ của mình về những triết lí, những tư tưởng,quan niệm của ông về cuộc sống.
Phân tích thơ Hai cư của Ba – sô
763
Phân tích thủ pháp nghệ thuật tương phản trong Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn Hướng dẫn Phân tích thủ pháp nghệ thuật tương phản trong Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn Tương phản là một thủ pháp nghệ thuật được sử dụng khá phổ biến trong sáng tác văn chương. Nó được thể hiện bằng việc tạo ra những hành động, những cảnh tượng, những tính chất trái ngược nhau. Từ đó mà làm nổi bật lên một ý tưởng hoặc toàn bộ nội dung tư tưởng chủ đạo của tác phẩm. Trong những truyện ngắn hay của nền văn học Việt Nam những năm đầu tiên thế kỷ thì có thể nói truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn là một sự vận dụng sáng tạo và sắc sảo thủ pháp nghệ thuật nêu trên. Sống chết mặc bay là một bức tranh, tương phản giữa một bên là cảnh tượng nhân dân đang phải vật lộn vất vả, căng thẳng trước nguy cơ vỡ đê. Bên kia là cánh quan phủ cùng nha lại, chánh tổng đang lao vào một cuộc đánh tổ tôm, trong khi đáng lý ra họ phải là những ông quan phụ mẫu đứng mũi chịu sào. Câu chuyện bắt đầu vào lúc quá nửa đêm, khi ấy trời vẫn mưa tầm tã, nước sông dâng lên cao, khúc đê xem chừng núng thế không khéo thì vỡ mất. Ở trên đê, “dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức giữ gìn”. Cảnh hộ đê nhốn nháo và căng thẳng: “Trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai ai cũng mệt lử cả rồi”. Vậy mà mưa cứ đổ, nước vẫn cứ cuồn cuộn bốc lên. Sức người dường như đã tỏ ra bất lực trước thiên nhiên. Chiếu bạc vững yên và nghiêm trang lắm. Ngoài đánh tổ tôm, các ngài còn hút sách ăn uống, hầu hạ và vân vân còn bao nhiêu thứ nữa. Trong khi đó ngoài kia mưa gió cứ ầm ầm, dân phu thì rối rít. Phạm Duy Tốn hành văn rất tự nhiên. Ông cứ tả, vừa tả vừa chêm xen hai cảnh cứ như là những lời nhắc nhở rất nhỏ thôi. Ấy vậy mà, người đọc cứ thấy rạo rực cứ run lên vì lo cho tính mệnh của bao người đang ôm lấy thân đê và cũng vì thế mà càng căm ghét lũ quan tham vô trách nhiệm. Bằng lời văn tả thực nhưng cũng vô cùng sinh động, bằng sự khéo léo trong việc đan xen kết hợp hai thủ pháp tăng cấp và tương phản, truyện ngắn đã lên án gay gắt thái độ vô trách nhiệm của bọn quan tham. Đồng thời, sống chết mặc bay cũng bày tỏ niềm cảm thương da diết trước nỗi đau của con người. Nhờ sự thành công ở cả hai mặt nội dung và nghệ thuật, Sống chết mặc bay xứng đáng là truyện có chất lượng đầu tiên của nền văn học hiện đại Việt Nam.
Phân tích thủ pháp nghệ thuật tương phản trong Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn
523
Phân tích tinh thần sống vì mọi người qua các phẩm đã học lớp 9 Hướng dẫn Phân tích tinh thần “không chịu sống đời nhỏ nhoi” qua các phẩm đã học lớp 9. Mở bài: Văn học Việt Nam trước và sau 1975 đã có những tác phẩm xuất sắc phản ánh đời sống và chiến đấu của nhân dân trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược và xây dựng quê hương, đất nước. Đó là tinh thần dám hi sinh tất cả vì tổ quốc, “không chịu sống đời nhỏ nhoi” trong hoàn cảnh chiến tranh và ngay cả trong thời hòa bình làm sáng rực chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại Hồ Chí Minh. Hình ảnh người lính cụ Hồ với tinh thần sẵn sàng vì nước vì dân không quản ngại gian khổ, hi sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được ghi nhận một cách chân thành qua bài thơ Đồng chí (Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kinh (Phạm Tiến Duật). Hay hình ảnh người lao động trong thời đại xã hội chủ nghĩa cũng được phản ánh sâu sát qua hình tượng anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long). Điểm chung dễ nhận thấy ở họ đó là tinh thần “không chịu sống đời nhỏ nhoi”, gan dạ, quả cảm, lao động và chiến đấu vì đất nước. Dù trong khó khăn gian khổ lúc nào họ cũng mạnh mẽ, yêu đời và tràn đầy niềm tin hướng đến tương lai. Thân bài Không chịu sống đời nhỏ nhoi đó là tinh thần sống vì mọi người, khát vọng làm nên điều lớn lao trong cuộc sống này. Không chịu sống đời nhỏ nhoi là sống có trách nhiệm với bản thân, với nhân dân, với đất nước. Không chịu sống đời nhỏ nhoi là sống xứng đáng với truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc, sống xứng đáng với kì vọng mà nhân dân, đất nước đã tin tưởng giao phó. Không chịu sống đời nhỏ nhoi vốn là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa, con người đã biết đề cao phận sự của mình đối với tổ quốc. Nguyễn Công Trứ đã hơn một lần nói về điều đó: “Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông”. (Đi thi tự vịnh – Nguyễn Công trứ) “Không công danh thà nát với cỏ cây”(Nguyễn Công Trứ). Đối với bậc hiền nhân: “hơn nhau hai chữ anh hùng” mà thôi. Bởi thế, Phan Chu Trinh trong bài Đập đá ở Côn Lôn cũng đề cao phận sự đối với cuộc đời: Lừng lẫy làm cho lở núi non”. Tinh thần ấy cũng được thế hệ trẻ thời kháng chiến tiếp tục phát huy trong cuộc chiến đấu với kẻ thù xâm lược. Khát vọng công danh sự nghiệp lúc này không phải là làm nên đại nghiệp rạng danh gia tộc mà là góp sức mình cùng dân tộc bảo vệ tổ quốc, xây dựng nền độc lập nước nhà. Thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, tinh thần ấy trở thành lẽ sống của con người, đặc biệt là thế hệ thanh niên yêu nước. Họ từ những miền quê xa xôi nghèo khó; họ bở lại gia đình, bỏ lại người thân yêu lên đường đi chiến đấu: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. (Đồng chí – Chính Hữu) Câu thơ của Chính Hữu tuy nói về những người nông dân cầm súng với lời thơ mộc mạc, chân thành nhưng ta vẫn cảm nhận được cái nét hào hoa của “những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng” thuở lên đường: “Rách tả tơi đôi hài vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”. (Ngày về – Chính Hữu) Họ chấp nhận gian khổ, hi sinh bởi không chịu sống kiếp đời nô lệ, quyết vươn lên giành lấy sự sống trong bàn tay tàn bạo của kẻ thù. Họ “không chịu sống đời nhỏ nhoi”, muốn sống đúng nghĩa con người tự do, tự chủ trong tình yêu thương, gắn kết. Tinh thần ấy tiếp tục được Phạm Tiến Duật phản ánh sinh động trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Những người lính lái xe trên tuyết đường Trường Sơn ác liệt luôn mang trong mình ước vọng lớn lao, góp sức cùng nhân dân chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Hoàn cảnh chiến đấu khác nghiệt, thiếu thốn không làm họ sờn lòng, nản chí. Họ hiên ngang điều khiển chiếc trên mọi nẻo đường trong niềm vui: “Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Họ yêu đời, yêu cuộc sống và lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của dân tộc: Chỉ cần trong xe có một trái tim”. (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật) Khi đất nước hòa bình, con người hồ hởi đi vào xây dựng cuộc sống mới. Thế hệ thanh niên Việt Nam vẫn không quản ngại gian lao, tiếp tục hăng say lao động. Họ không chọn cuộc sống nghỉ ngơi hay tận hưởng ngày tháng an bình mà tiếp tục góp công góp sức nhân dân vượt qua khó khăn, xây dựng quê hương. Anh thanh niên trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một minh chứng tiêu biểu cho tinh thần “không chịu sống đời nhỏ nhoi” ấy. Lẽ sống cao đẹp của anh thanh niên là được cống hiến, được góp sức mình để bảo vệ xây dựng đất nước đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người. Anh làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu, một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600 mét, quanh năm suốt tháng, bốn bề chỉ có cây cỏ và mây núi Sa Pa lạnh lẽo. Công việc là “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc bó trước thời tiết hằng ngày phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc đều đặn, nhàm chán đơn điệu, lại vô cùng khó khan giản khổ giữa thời tiết khắc nghiệt, sự vắng vẻ, heo hút và cô đơn. Công việc ấy đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao. Anh yêu nghề, say mê lí tưởng, có trách nhiệm trong công việc. Dù chỉ có một mình nhưng lúc nào anh làm việc một cách nghiêm túc tự giác. Luôn cố gắng vượt qua khó khan để hoàn thành nhiệm vụ. Nửa đêm đúng giờ “ốp” thì dù mưa tuyết, giá lạnh thế nào cũng phải dậy ra ngoài trời làm công việc đã quy định. Anh trở thành người lao động lành nghề, thạo việc, giàu kinh nghiệm. Anh ý thức được công việc mình là có ích cho cuộc sống. Mỗi chiến thắng của dân tộc đều khiến anh vui sướng và hạnh phúc. Suy nghĩ, quan niệm của anh về công việc, về cuộc sống là: “…Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của bao anh em đồng trí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”. Đó là suy nghĩ đúng đắn sau sắc về công việc, về cuộc sống con người, về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể. Công việc có nhiều đóng góp to lớn cho đất nước như vậy nhưng anh thanh niên lại rất khiêm tốn, thành thực: luôn cảm thấy công việc và sự đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. Anh ngượng ngùng khi thấy họa sĩ vẽ chân dung mình và say sưa giới thiệu những người khác mà anh cho là đáng vẽ hơn như ông kĩ sư vườn rau, anh cán bộ nghiên cứu lập bản đồ sét… Nhà văn đã cố tình không cho anh một cái tên gọi cụ thể. Tác giả gọi theo lứa tuổi với dụng ý anh là con người vô danh, bình dị đang âm thầm lặng lẽ cống hiền cho đất nước. Anh thanh niên là tiêu biểu cho thế hệ tri thức trẻ trong những năm chống Mĩ. Đây là tấm gương điển hình cho chân dung người lao động mới có lí tưởng, tình cảm, cách sống đẹp.qua nhân vật anh thanh niên, ta hiểu thêm hạnh phúc đối với con người: đó là niềm vui, hạnh phúc cho mọi người; đó là được cống hiến, được góp mình để bảo vệ và xây dựng đất nước. Kết bài: Tinh thần sống vì mọi người, vì dân tộc, vì quê hương đất nước, không chịu sống đời nhỏ nhoi đã làm nên một thời đại anh hùng, một dân tộc anh hùng. Tinh thần và lẽ sống cao đẹp ấy tiếp tục được thế hệ thanh niên kế thừa và phát huy mạnh mẽ trong thời đại mới với nhiệm vụ xây dựng đất nước vững mạnh tiến đến tương lai “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Bác Hồ đã dặn.
Phân tích tinh thần sống vì mọi người qua các phẩm đã học lớp 9
1,524
Đề bài: Phân tích tinh thần thơ mới được Hoài Thanh nói đến trong Một thời đại trong thi ca Bài làm Tinh thần thơ mới là một nội dung nổi bật được Hoài Thanh nói lên thật sâu sắc trong phần cuối bài tiểu luận "Một thời đại trong thi ca". Sau khi chỉ ra hình dáng câu thơ, nhạc điệu câu thơ, sự mềm mại, chỗ ngắt hơi, phép dùng chữ, phép đặt câu,… của thơ mới, ông nói rõ tinh thần thơ mới là điều quan trọng hơn ta hãy đi tìm. Ông đưa ra một tiêu chí là "phải sánh bài hay với bài hay"; ông chỉ ra sự kế thừa của sự vật là "Hôm nay đã phôi thai từ hôm qua và trong cái mới vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ". Vì các thời đại vẫn nối tiếp theo dòng chảy thời gian nên “muốn rõ đặc sắc mỗi thời phải nhìn vào đại thể". Tinh thần thơ mới theo Hoài Thanh biểu hiện rõ nhất ở chữ tôi. Trong thơ cũ là chữ ta, còn trong thơ mới là chữ tôi. Tuy có chỗ giống nhau nhưng vẫn có chỗ khác nhau, đó là điều chúng ta hãy cần tìm hiểu. Cái tôi là bản ngã của mỗi con người mà ai cũng có, là sự tự ý thức về mình. Nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy: quan niệm cá nhân. Lúc đầu chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam "thực bỡ ngỡ", như một kẻ "lạc loài nơi đất khách". "Chữ tôi vài cái nghĩa tuyệt đối của nó" lúc đầu xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó đến một mình, "bao nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu". Ngày một ngày hai, “mất dần vẻ bở ngỡ rồi được "vô số người quen", cảm thấy "nó đáng thương", "nó tội nghiệp quá!". Bài "Tình già" của Phan Khôi, bài "Trên đường đời", "Vắng khách thơ" (sau đổi thành "Xuân về") của Lưu Trọng Lư là ba bài thơ mới được giới thiệu trên báo Phụ nữ tân văn vào năm 1932. Sáu năm sau, 1938, tập "Thơ thơ" của Xuân Diệu ra đời. Ta có thế giớỉ thiệu hai đoạn thơ làm ví dụ để thấy được "hình dáng câu thơ", thấy được cái tôi từ chỗ "bỡ ngỡ" lúc đầu rồi về sau được "vô số người quen" như thế nào? Năm vừa rồi Chàng cùng tôi Nơi vùng giáp Mộ Trong gian nhà cổ Tôi quay tơ, Chàng ngâm thơ. Vườn sau oanh giục gĩa, Nhìn ra hoa đua nở, Dừng tay tôi kêu chàng: "Này, này! bạn! xuân sang" Chàng nhìn xuân mặt hớn hở Tôi nhìn chàng lòng vồn vã (“Xuân về' – Lưu Trọng Lư) Và đây là bốn câu thơ trích trong bài "Vội vàng” của Xuân Diệu Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa; Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân… Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân, chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình. Còn cá nhân, cái bản sắc của cá nhân "chìm đắm trong gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong biển cả". Những bậc kì tài (như Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương, Tú Xương,…), "thảng hoặc họ cũng ghi hình ảnh họ trong văn thơ", thẳng hoặc trong thơ văn họ cũng dùng đến chữ tôi để nói chuyện với người khác" (1). Trong thợ cũ thường chỉ có chữ ta, các thi sĩ "ẩn mình sau chữ ta một chữ có thể chí chung nhiều người". Rượu đến cội cây ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta. (Bà Huyện Thanh Quan) Gặp ta nay, xuân chớ lạ lùng Tóc có khác nhưng lòng chẳng khác Kế từ thuở biết xuân bốn mươi chín năm về trước Vẫn rượu thơ non nước thú làm vui Đến xuân này ta tuổi đã năm mươi Tính trăm tuổi đời người, ta mới nửa Rồi sau lại bao nhiêu xuân nữa Mặc trời cho ta chửa hỏi chi Sẵn rượu đào xuân uống với ta đi… (Gặp xuân- Tản Đà) Cái tôi của thơ mời là cái tôi đầy bi kịch. Cũng muốn nói đến cái khổ sở, thảm hại trước "nỗi đời cay cực” của các nhà thi nhân. Cũng nói đến chuyện lên tiên được sống trong giấc mơ tiên ("Tiếng sáo Thiên Thai" – Thế Lữ). Cũng nói đến say, đến cô đơn ("Say đi em", "Phương xa",… – Vũ Hoàng Chương). Hoặc phiêu lưu trong trường tình: Thuyền yêu không ghé bến sầu Nhớ đêm thiếu phụ bên lầu không trăng (Một mùa đông – Lưu Trọng Lư) Hoặc điện cuồng, hoặc đắm say, hoặc bơ vơ, hoặc ngơ ngẩn buồn: Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh, Một vì sao trơ trọi cuối trời xa! Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo". Chế Lan Viên Chiều đông tàn, lạnh xuống tự trời cao, Không lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đó. Huy Cận Trăng sáng, trăng xa, trông rộng quá! Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ Xuân Diệu Cái tôi làm cho nền hồn thơ giàu bản sắc của thơ mới, đồng thời cũng chứa đầy bi kịch của thơ mới. Cách phân tích của Hoài Thanh vừa khái quát vừa cụ thể, rất tinh tế và tài hoa. Cách dùng từ chính xác, cách dùng điệp từ, dùng tương phản để tạo giọng điệu và cảm xúc, đọc lên nghe rất lí thú: "Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Những động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận". Phải nắm được cái hồn của thơ mới, và phải rất tài hoa mới viết đúng và viết hay như vậy. Hoài Thanh như dẫn hồn độc giả nhập vào hồn của thơ mới: "Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta. Chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế. Cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên thời trước". Một điểm nổi bật nữa của thơ mới là đã góp phần hiện đại hoá tiếng Việt. Câu thơ co, duỗi tự nhiên. Lời thơ giản dị, dễ hiểu, giàu cảm xúc và hình ảnh. Các nhà thơ mới đã gửi gắm tấm lòng trân trọng và yêu quý tiếng Việt. Hoài Thanh đã dùng hình ảnh "tấm lụa" và "tấm hồn bạch" để nói lên tình cảm đẹp đẽ đó: "Bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt. Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê trong tình yêu tiếng Việt. Tiếng Việt họ nghĩ, là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ đã qua. Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn tấm hồn bạch chung để gửỉ nỗi băn khoăn riêng". Đoạn cuối của bài tiểu luận "Một thời đại thi ca", Hoài Thanh đã trân trọng, quý trọng bày tỏ niềm hi vọng đối với thơ mới và các nhà thơ mới "trong thất vọng sẽ nảy mầm hi vọng". Thơ mới cũng như các nhà thơ mới kế thừa và phát huy truyền thống tinh thần nòi giống, sẽ kế thừa những tinh hoa của thơ cũ, nền thơ cổ điển Việt Nam, “tìm về dĩ vãng để vin về những gì bất diệt đủ bảo đảm cho ngày mai”. Điệp ngữ "Chưa bao giờ như bây giờ…’! cất lên ba lần làm cho giọng văn vang lên tha thiết, ân tình. Những năm 1943, 1944, thơ mới như bị "chững lại". Nhưng rồi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, kháng chiến chống Pháp diễn ra ác liệt đã thổi lửa cho thơ mới và thế hệ những nhà thơ mới. Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ,… đã trở thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, đã góp phần xứng đáng xây dựng và phát triển nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Bảy thập niên sau, đọc "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh, ta hiểu thêm thơ mới, ta yêu thêm lớp thi sĩ tiền chiến của "một thời đại thi cu". Mời trầu Quả cau nho nhỏ, miếng trâu hôi. Này của Xuân Hương mới quệt rồi. Có phải duyên nhau thi thắm lại. Đừng xanh như lá, bạc như vôi. (Hồ Xuân Hương) Bài ca ngất ngưởng Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng. Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ) Đêm buồn Trời không chớp bể với mưa nguồn. Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn. Ngủ quách sự đời thây kẻ thức. Bén chùa chú trọc đã hồi chuông. (Tú Xương)
Phân tích tinh thần thơ mới được Hoài Thanh nói đến trong Một thời đại trong thi ca
1,514
Đề bài: Phân tích tinh thần yêu nước trong bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt Bài làm Yêu nước và tự hào dân tộc là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi người dân Việt Nam. Tình cảm ấy thấm đẫm trong tâm hồn dân tộc và dạt dào lai láng trên những trang thơ văn. Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) là một áng thơ như thế! Sông núi nước Nam không phải là sáng tác duy nhất thời Lí -Trần khơi nguồn từ cảm xúc về đất nước, về dân tộc. Gắn bó với một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt – thời đại hào hùng đấu tranh chống ngoại xâm, dường như đất nước và dân tộc là mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn, nhà thơ. Và do đó, tình cảm yêu nước và tự hào dân tộc đã trở thành cảm hứng chủ đạo cho các sáng tác văn chương thời kì này. Nhìn lại các sáng tác thời Lí – Trần, tuy tình cảm đất nước bộc lộ ở những khía cạnh khác nhau, trong những thời điểm khác nhau, nhưng đều rất sâu sắc. Trong Chiếu dời đô, nỗi lo lắng cho vận số của đất nước, dân tộc, hạnh phúc của muôn dân, trăm họ là niềm trăn trở lớn nhất của vị hoàng đế đầu tiên của triều Lí. Ở Hịch tướng sĩ, lòng căm thù giặc, nỗi xót đau trước cảnh đất nước bị giày xéo tàn phá, ý chí sẵn sàng xả thân vì nước trào dâng mãnh liệt trong lòng vị thân vương họ Trần. Còn trong Phò giá về kinh, lại là hào khí chiến thắng của dân tộc và khát vọng về một nền thái bình muôn thuở cho đất nước của thượng tướng thái sư Trần Quang Khải. Ra đời trong máu lửa của cuộc kháng chiến chống Tống, Sông núi nước Nam là tuyên ngôn của Đại Việt về độc lập, chủ quyền đất nước. Đây là tuyên ngôn của hàng triệu trái tim Đại Việt nồng nàn, thiết tha yêu nước mình. Ta hãy đọc kĩ lại bản tuyên ngôn để cảm nhận được tình cảm mãnh liệt, sục sôi của một dân tộc: Nam Quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Dịch: Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ. (Theo Lê Thước và Nam Trân dịch) Sông núi nước Nam là của người Nam, đó là tư tưởng của hai câu thơ đầu của bài thơ. Tư tưởng này đối với chúng ta ngày nay tự nhiên như cơm ăn, nước uống. Nhưng ngày ấy, cái thời mà bọn phong kiến phương Bắc đã từng biến nước ta thành quận huvện và đang cố sức khôi phục lại địa vị thống trị, thì tư tưởng ấy mới thực sự thiêng liêng và có ý nghĩa biết chừng nào! Lòng tự tôn dân tộc hun đúc qua mấy mươi thế kỉ đã hoá thành tư thế đứng thẳng làm người, mặt đối mặt với kẻ thù. Đọc câu thơ, lòng ta không khỏi rưng rưng xúc động. Nếu nhìn từ góc độ nguyên tác Hán tự, ta thật kinh ngạc. Câu thơ như một làn roi quất thẳng vào bộ mặt bá vương hợm hĩnh của triều đình phong kiến Trung Quốc – kẻ đang phát động chiến tranh xâm lược để thực hiện mưu đồ bá chủ. Lần đầu tiên trong lịch sử bành trướng, chúng gặp phải ý chí quật cường đến thế, một tinh thần khẳng khái đến thế! Chúng đã có Bắc Quốc (Trung Quốc) thì ta cũng có Nam Quốc chúng có Bắc đế thì ta cũng có Nam đế; nào có thua kém gì nhau! Từ ngôn từ và ý thơ thế hiện một niềm tự hào cao độ về đất nước và dân tộc mình. Đây là niềm tự hào mà mỗi thần dân Đại Việt đều có trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù. Lòng tự hào ấy, hơn ba thế kỉ sau được Nguyễn Trãi nhấn mạnh thêm: Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác Từ Triệu, Đinh, Li, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương (Bình Ngô đại cáo) Như vậy ý thức độc lập tự chủ đâu phải là mới thai nghén Hôm nay, nó đã hình thành từ rất lâu trong tiềm thức của mỗi người dân đất Việt, có lẽ là từ thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang. Trải qua bao thăng trầm trong lịch sử, qua rất nhiều biến cố đau thương, nhưng ý chí độc lập không bao giờ bị dập tắt. Máu xương của cha ông đã đổ mấy ngàn năm chẳng phải là để giành lại xã tắc đó sao? Ngày hôm nay, một lần nữa, tinh thần dó được phát biểu thành một tuyên ngôn hùng hồn, đanh thép. Hơn nữa, là niềm tin sắt đá vào sự thắng lợi tất yếu của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Giặc dữ cớ sao phạm tới đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ). Dám đánh và quyết tâm đánh thắng giặc thù. Đó chính là biểu hiện tập trung nhất, cao độ nhất của lòng yêu nước trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Sau này, trong văn chương nước nhà, ta còn bắt gặp không ít những áng thơ văn dạt dào sâu lắng tình yêu quê hương đất nước mình như thế trong đó Sông núi nước Nam mãi xứng đáng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất về lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
Phân tích tinh thần yêu nước trong bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt
998
Đề bài: Phân tích tinh thần yêu nước trong Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) của Trần Quang Khải Bài làm Ra đời trong máu lửa của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, thơ văn thời Trần thấm đẫm tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc. Bài thơ Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) của Trần Quang Khải là một hồn thơ như thế. Chủ nghĩa yêu nước thời Trần được kết tinh từ ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc thù, từ bản lĩnh và khí phách hiên ngang lẫm liệt trong cuộc đọ sức với quân thù. Cuộc đụng đầu lịch sử quyết liệt giữa, một bên là một dân tộc đại diện cho chính nghĩa với một bên là một đạo quân xâm lược hung hãn mà vó ngựa của chúng đi tới đâu là gieo rắc kinh hoàng đến đó, diễn ra vô cùng quyết liệt. Từ thế yếu, với tài trí thao lược, dân tộc ta đã chuyển sang thế thắng: Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù Còn nhớ mới ngày nào ta còn tạm nhường kinh thành Thăng Long cho giặc, mà nay đã ở vào tư thế của người chiến thắng, đạp trên đầu thù mà xốc tới (cướp giáo giặc, bắt quân thù). Thật là những tinh thần quả cảm vô song. Song, nhìn từ góc độ câu thơ nguyên tác, ta mới thấy hết được dũng khí cùa tướng sĩ nhà Trần. Mặt đối mặt với một kẻ thù hung dữ và thiện chiến mà cứ bình thản, bình tĩnh như không (đoạt sáo, cầm Hồ). Thật đáng cảm phục. Chưa bao giờ mà chủ nghĩa anh hùng Đại Việt lại ngời sáng đến thế. Từ câu thơ của Trần Tuấn Khải, ta còn nhìn thấy hình ảnh cả một đạo quân xâm lược mất hết ý chí chiến đấu, để cho tướng sĩ nhà Trần tước vũ khí và bắt trói dễ dàng như bắt lợn, bắt dê. Thật là thảm bại và nhục nhã. Nhắc lại hai chiến công chói lọi mà bản thân mình đã góp phần trong đó, trong lòng vị thượng tướng của chúng ta vừa hả hê, vừa tự hào. Niềm tự hào chân chính của một dân tộc vì chính nghĩa mà chiến thắng. Nếu như ở hai câu thơ đầu, chủ nghĩa yêu nước Đại Việt được thể hiện ở việc phát huy chủ nghĩa anh hùng trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc, thì ở hai câu thơ cuối, chủ nghĩa yêu nước lại mang một nội dung mới đầy tính nhân văn. Đó chính là niềm mong mỏi, khát khao mãnh liệt về một nền thái bình thịnh trị muôn thuở cho đất nước, cho nhân dân: Thái bình nên gắng sức Non nước ấy nghìn thu Với những công lao lớn, lại là một vương thân hoàng thích dòng dõi Tôn thất nhà Trần, Trần Quang Khải có quyền được nghỉ ngơi để an hưởng vinh hoa phú quý sau những ngày gian lao xông pha nơi trận mạc. Nhưng, ngay trên đường về lại kinh đô, giáp binh còn vương khói lửa chiến tranh, vị tướng ấy đã có tấm lòng hướng tới trăm dân muôn họ. Ở đây yêu nước đã gắn với yêu dân, mong cho dân được an hưởng thái bình hạnh phúc, tránh xa được vòng binh đao loạn lạc. Tình cảm yêu nước của Trần Quang Khải mang đậm dấu ấn thời đại và còn đi xa hơn thế. Sau này, gần hai thế kỉ sau, Nguyễn Trãi lại một lần nữa nhấn mạnh thêm và nâng nó lên một tầm cao lí tưởng: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo (Bình Ngô đại cáo) Chao ôi, tấm lòng của người xưa đến hôm nay ta vẫn thấy rưng rưng.
Phân tích tinh thần yêu nước trong Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) của Trần Quang Khải
643
Phân tích tiếng chửi của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích tiếng chửi của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao Viết về xã hội cũ, Nam Cao đã không ít lần mượn hoàn cảnh của nhân vật để phản ánh hoàn cảnh thật của nhân dân, của những tàn dư trong chế độ phong kiến lạc hậu, lỗi thời. Càng xót thương số phận của những người cùng khổ bao nhiêu, ông lại càng căm phẫn, oán giận những kẻ cầm quyền tàn ác bất nhân bấy nhiêu. Đỉnh điểm, ông đã đẩy Chí Phèo lên trang đầu của truyện ngắn cùng tên với những tiếng chửi rủa xót xa, chua chát. Dù cả làng Vũ Đại chẳng ai thèm để ý đến tiếng chửi của Chí, nhưng ẩn chứa bên trong những tiếng chửi não nề tưởng chừng như vô nghĩa ấy chính là những thông điệp mang ý nghĩa sâu sắc mà Nam Cao đã gửi gắm vào. Chí vốn hiền lành, chất phác, nhưng sau khi trải qua kiếp sống tù đày, Chí trở về với nỗi uất hận trong lòng. Hận vì bị nhà Bá Kiến đẩy vào tù mà không làm sao chống cự lại được. Một người nông dân hèn mọn, một kiếp người cỏ rác như Chí trong xã hội ấy làm gì có tiếng nói và bản lĩnh để chống lại được cả một thế lực cường hào ác độc. “Hắn vừa đi vừa chửi, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả lãng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có mà trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết…”. Tiếng chửi của Chí có lẽ đã trở nên quen thuộc với dân làng Vũ Đại, nên chẳng ai thèm để ý tới hắn. Bởi thế, trong tiếng chửi của Chí dồn nén biết bao nhiêu cảm xúc. Xót thương có, tủi hờn có, hận thù cũng có. Nhưng xót xa hơn cả là khi Chí chửi không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này. Tiếng cười “A ha” như một sự bữ bàng đến tột độ. Được sinh ra làm người, nhưng lại không được ai công nhận là người. Cuộc đời này còn có ý nghĩa gì với Chí nữa? Chí không khóc, nhưng tiếng chửi còn mặn chát hơn cả nước mắt. Chí thật bất hạnh. Đã mồ côi cha mẹ, không được một lần bú mớm, cũng không một lần biết mùi hơi mẹ là gì. Chí lớn lên nhờ dân làng truyền tay nhau nuôi nấng. Cuộc sống lẽ ra rất yên ổn với Chí. Nhưng Chí đã không thoát khỏi nanh vuốt của bọn cường hào thống trị gian ác. Chí cũng không thể đủ sức lực để chống lại bọn chúng. Giờ đây, Chí đã bị đẩy vào bước đường cùng, đến ngay cả bản thân Chí cũng muốn chối bỏ cuộc sống này. Bởi sống mà không được sống, là người mà không được làm người thì còn nỗi đau nào hơn? Ai có thể trả lời cho Chí biết Chí phải sống như thế nào trong những chuỗi ngày dài cay đắng trước mắt không? Chí không biết, và cũng không một ai biết. Chí chỉ biết chìm vào trong cơn say, say rồi lại chửi. Chửi triền miền, chửi hết tất cả những gì Chí nghĩ đến. Trong những tiếng chửi chua chát nồng nặc mùi rượu ấy còn có cả tiếng lòng của Nam Cao. Ông xót thương cho Chí, nhưng chính bản thân ông cũng không thể làm gì giúp Chí được. Ông chỉ là một thầy giáo nghèo trong cái xã hội tồi tàn, thối nát. Bản thân ông cũng chưa thể lo nổi, làm sao có thể gánh vác được thêm ai? Bởi thế, tiếng chửi của Chí cũng chính là tiếng chửi của ông. Ông chửi bọn làm quan bất nhân bất nghĩa, bọn địa chủ giàu có tham lam bạc tình. Điều độc đáo ở đây là ông lồng tiếng chửi vào một nhân vật đã bị tha hóa cả đạo đức và nhân cách, hắn chính là sản phẩm của sự tàn bạo. Thế nên, tiếng chửi ấy rất xứng đáng, rất hợp lý. Giá như, ai đó có một chút đồng cảm, một chút đồng tình, một chút cảm xúc với tiếng chửi của Chí, có lẽ sự xót xa và tủi hổ sẽ được giảm bớt phần nào. Chí say nhưng tiếng chửi ấy hoàn toàn nằm trong tiềm thức tỉnh táo của một kẻ bị đàn áp quá nhiều. Chí ý thức rất rõ về thân phận của mình khi chửi mẹ cha đứa nào đẻ ra mình. Cuộc sống này không phải là phép màu, cũng phải là món quà vô giá mà “đứa chết mẹ” kia đã ban cho hắn. Mà ngược lại, sự có mặt của hắn trên cuộc đời này là một nỗi tủi hờn cùng cực, một sự sỉ nhục và đớn đau vô cùng.
Phân tích tiếng chửi của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao
1,009
Đề bài: Phân tích tiếng cười châm biếm của Trần Tế xương qua bài thơ Năm mới chúc nhau Bài làm Nói đến Trần Tế Xương, người ta không thể không nghĩ tới ngòi bút châm biếm quyết liệt, dữ dội như những làn roi vun vút quất thăng vào mặt kẻ thù của ông. Sinh ra, lớn lên và được trực tiếp chứng kiến thời buổi nhiễu nhương, nhan nhản lũ người nhí nhố, ngang nhiên làm những việc bất chính ngay giữa thanh thiên bạch nhật. Thế mà chẳng ai làm gì được. Dường như không kìm được nỗi căm uất và khinh ghét đến tột cùng. Tú Xương ném thẳng tiếng cười châm biếm chua cay vào lũ người nọ ngay vào dịp Tết đón xuân về bằng bài thơ nổi tiếng: NĂM MỚI CHÚC NHAU Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu Phen này ông quyết đi buôn cối Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu. Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang Đứa thì mua tước đứa mua quan Phen này ông quyết đi buôn lọng Vừa chửi, vừa la cũng đắt hàng. Nó lại mừng nhau cái sự giàu Trăm nghìn vạn mở để vào đâu Phen này ắt hẳn gà ăn bạc Đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu. Nó lại mừng nhau sự lắm con Sinh năm đẻ bẩy được vuông tròn Phố phường chật hẹp người đông đúc Bồng bế nhau lên nó ở non. (Văn 11, phần Văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, 1991) Đối với người Việt Nam, mồi khi năm hết, Tết về, xuán đến là một dịp để người ta chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Năm mới chúc nhau vì thế đã trở thành một nét phong tục đẹp từ lâu đời của nhân dân ta. Cứ như nhan đề bài thơ thì phải hiểu là thế. Nhưng đọc vào thì hoàn toàn không phải vậy. Nội dung bài thơ lại là những tiếng chửi, những lời chế giễu sâu cay. Tính chất châm biếm bật ra từ sự mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức chúc nhau mà thực ra là để chửi, là để thể hiện sự khinh ghét. Hệt như cụ Tam NguyênYên Đổ khi hỏi thăm quan Tuần mất cướp. Hỏi thăm mà thực ra là đè chế giễu, để thể hiện sự khinh bỉ và để cho bo lòng căm ghét. Nhà thơ đặt Vị Xuyên đã chế giễu bọn người hợm hĩnh ấy bằng việc “tường thuật” lại cho mọi người nghe những lời chúng chúc nhau: Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu Phen này ông quyết đi buôn cối Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu. Chúc nhau sống lâu trăm tuổi là một lời chúc đẹp. Nội dung lời chúc khổ đầu là thế, nhưng dưới con mắt Tú Xương lại không phải thế. Ta nhận ra.say thái độ châm biếm của nhà thơ khi ông gọi những người chúc là “nó" là “đứa”. Cân thơ Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu vốn là lời chúc trang trọng thành kính, thể mà ông chỉ thêm vào chữ râu (bạc đầu râu), câu thơ ấy ngay lập tức hóa thành lời chế nhạo. Thái độ châm biếm còn biểu lộ rõ hơn ở lời toan tính, dự định của nhà thơ “Phen này ông quyết đi buôn cối – Thiên hạ bao nhiêu dứa: “giã trầu”. Nào có hay ho, trang trọng, đẹp tốt gì một lũ bạc đẩu râu và răng không còn nữa. Răng không còn nên phải dùng cối giã trầu, vẫn là cái giọng điệu ấy, nhà thơ tiếp tục mỉa mai bọn trưởng giả học làm sang: Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang Đứa thì mua tước, đứa mua quan Phen này ông quyết đi buôn lọng Vừa chửi vừa la cũng đắt hàng. Ở bất kì thời kì lịch sử nào cũng vậy, khi xã hội đã trở nên mục ruồng, giai cấp thống trị sa đọa, thối nát… thì việc mua quan bán tước là chuyện hiển nhiên, không có gì khó hiểu. Thời Tú Xương là một thời như thế. Con người ta sống sao cho sang, cho đẹp là một ao ước, một khát khao lành mạnh. Tuy nhiên làm nên cái sang, cái đẹp ấy đâu phải là do địa vị, hàm đố, đo tước, đo quan. Tước hay quan cũng chỉ là bề ngoài như quần áo vậy. Cái bề ngoài ấy chỉ trở nên có nghĩa khi bên trong con người có một tâm hồn và trí tuệ đẹp đẽ, lành mạnh. “Y phục phải xứng ky đức” là thế. Tú Xương căm uất cái thói trưởng giả học làm sang của bọn người nhố nhăng này. Thì ra quan, tước của chúng chẳng qua là đo mua, đo bán, một thứ bộ dạng đi vay, đi mượn chứ nói gì đến những phẩm chất và tư cách bên trong. Cau thơ lặp lại mấy chữ "đứa thì mua tước, đứa mua quan” đã vẽ nên cảnh tượng nhốn nháo, đua đòi kệch cỡm của bọn vô học chốn quan trường. Người đọc dường như cũng hả hê bõ tức khi ông hạ câu thơ “Vừa chửi vừa la cũng đắt hàng”. Sống lâu và sống sang là nội dung của hai lời chúc đầu. Nhưng qua hai lời chúc ấy lại thấy tất cả sự nhếch nhác, bệ rạc của bọn người này. Đã thế nhà thơ còn bồi thêm cho chúng những cú đòn ê ẩm liên tiếp. Nếu như hai lời chúc đầu là chúc sống lâu và sống sang thì hai khổ thơ cuối cùng chúc nhau “cái sự giàu” và “sự lắm con”. Nó lại mừng nhau cái sự giàu. Trăm ngàn vạn mớ để vào đâu? … Nó lại mừng nhau sự lắm con Sinh năm đề bảy được vuông tròn Thái độ châm biếm của nhà thơ thể hiện ngay ở việc lặp lại các cụm từ “nó lại, “cái sự giàu” và “sự lắm con”. Cách diễn đạt theo kiểu ngoa ngôn như “trăm ngàn vạn mớ” “sinh năm đẻ bảy” cũng là nhằm thể hiện thái độ mỉa mai, giễu cợt về sự ôhợp, lộn xộn của lũ người hợm của. Và cùng như hai khô thơ trên, cứ sau mỗi lời bọn chúng chúc nhau, Tú Xương lại nêu lời bình luận cùa chính mình. Qua những lời bình luận ấy mà nhà thư thể hiện rõ hơn thái độ và tình cảm của ông. Không hiểu sao dọc nhừng lời dự đoán của nhà thơ về bọn đông con, lắm của, nào là “Phen này ắt hẳn gà ăn bạc – Đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu” hoặc “Phố phường chật hẹp người đông đúc – Bồng bế nhau lên nó ở non”, người đọc chỉ thấy buồn cười về một hiện thực nhố nhăng, một hiện thực đậm màu hài hước. Năm mới chúc nhau là một trong những bài thơ đặc sắc, tiêu biểu cho khuynh hướng và nguồn mạch châm biếm trào phúng của nhà thơ Trần Tế Xương. Đó là những lời “chúc Tết” hết sức độc đáo dưới một hình thức cũng hết sức độc đáo: chúc mà thực ra là chửi, là châm hiếm. Tuy là chửi mà vẫn thành thơ, và lại là thơ hay. Bài thơ mang lại cho bạn đọc một tình cảm hả hê, sung sướng, bõ hờn, bõ tức. Nó cũng gợi lên nhiều cảm hứng khiến người đọc dễ “nhại” và muốn “nhại” theo cái giọng điệu trào phúng châm biếm của ông mỗi khi gặp cảnh chướng tai gai mắt ở đời. Chẳng thế mà có người đã “bắt chước” làm thêm mấy câu thơ nối tiếp vào bài thơ trên, đọc lên nghe chẳng khác gì của chính nhà thơ: Bắt chước ai ta chúc mấy lời Chúc cho khắp hết cả trên đời Vua quan sĩ thứ người muôn nước Sao được cho ra cái giống người. Đấy chính là bằng chứng hùng hồn về sức sống của hài thơ.
Phân tích tiếng cười châm biếm của Trần Tế xương qua bài thơ Năm mới chúc nhau
1,328
Phân tích tiếng cười châm biếm đả kích trong vở kịch Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục Hướng dẫn Phân tích tiếng cười châm biếm đả kích trong vở kịch Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục Nói đến kịch phải nói đến xung đột kịch. Nhưng đi vào hài kịch thì cái mà người xem chú ý nhất là nghệ thuật gây cười. Trong những tình huống nhất định, nhân vật chính của hài kịch xuất hiện đem đến cho người xem những nụ cười sảng khoái. Đạt đến mức ấy, vở kịch đã thành công. Vở hài kịch Trưởng giả học làm sang của ông tổ hài kịch cổ điển Pháp đã đạt đến tiêu chuẩn như vậy. Cảnh ông Giuốc-đanh mặc lễ phục (Ngữ văn 8 – Tập hai), nhân vật chính đã xuất hiện từ đầu đến cuối, với thói học đòi kệch cỡm đã trở thành con rối để bác phó may và những tay thợ phụ giật dây làm nổ ra những trận cười sảng khoái cho khán giả. Sau những trận cười đó là một lời cảnh báo về sự biến chất thoái hóa đang diễn ra như một nguy cơ không thể nào tránh được khi con người đã bị ô nhiễm về tinh thần. Chúng ta hãy cùng Mô-li-e đến với cảnh thứ nhất của lớp kịch: ông Giuốc-đanh và bác phó may. Đây là màn đối thoại đầu tiên của hai nhân vật xoay quanh việc may lễ phục và chuẩn bị bít tất, bộ tóc giả. Ông Giuốc-đanh là người có lý, bởi cả hai thứ ông ta đều đi chật. Còn vì sao ông ta phải khổ sở vô cùng mới xỏ chân vào được và đã bị đứt mất hai mắt rồi, nó làm tôi đau ghê gớm. Đó chẳng qua là lời láu cá ăn bớt tiền của bác phó may. Rồi may một bộ lễ phục cho khách mà bác ta cố tình gạn đủ một cái áo cho mình. Biết tỏng những mẹo vặt ấy, ông Giuốc- đanh đã dồn bác ta vào chân tường (rất bị động). Ăn vụng bị bắt quả tang, phó may đuối lý. Khán giả hoàn toàn đồng cảm với Giuốc-đanh, lúc này đầu óc ông ta hoàn toàn tỉnh táo. Vì tỉnh táo nên lý luận rất sắc bén. Ví như khi bác chống chế về đôi tất xỏ không vừa chân rồi nó giãn ra thì lại rộng quá ấy chứ y ngay lập tức ông Giuốc-đanh đốp vào mặt bác Phải, nếu tôi cứ làm đứt mãi các mắt thì rộng thật. Với đôi giày đi chật, bác phó may không chịu, cho đó chỉ là tưởng tượng: Ngài cứ tưởng tượng ra thế, ông đưa ra lẽ phải của mình: Tôi tưởng tượng ra thế là vì tôi thấy thế. Bác này lý luận hay nhỉ! Cảm giác của lão trưởng giả đúng quá! Bởi lão đã đưa vào thực tế (là đôi chân của mình) để nói ra một sự thật. Giuốc-đanh đã phân biệt phải trái rất rạch ròi. Nếu cuộc đối thoại dừng lại thì không có gì phải đáng cười. Nghệ thuật gây cười được bắt đầu từ bộ lễ phục trang nghiêm của các nhà quí tộc mà không phải màu đen thì thật là tuyệt tác! Những lời ba hoa của bác phó may lúc đấy chưa đủ sức để ông Giuốc-đanh bị hoa mắt. Ông ta vẫn còn tỉnh táo để tấn công phó may: Thế này là thế nào? Bác may hoa ngược mất rồi. Lần này thì ông ta vẫn có lý vì cái điều sơ đẳng ấy, người thợ may nào mà chẳng phân biệt được. Thế mà bác phó may đã từng bước đẩy lùi cái lý đúng của ông Giuốc-đanh đang từ tư thế chủ động sang tự thế bị động, làm cho tiếng cười bật ra Vâng, phải bảo chứ. Vì những người quí phái đều mặc như thế này cả. Bằng giọng của một kẻ đáng thương đuối lý: Những người quí tộc phải mặc áo hoa ngược. Với người xem, luận điểm của bác phó may rõ ràng là lừa bịp. Đang thế tiến công, gã phó may tiếp tục đánh qụy đối phương của mình: Nếu ngài muốn thì tôi sẽ xin may hoa xuôi lại thôi mà, xin ngài cứ việc bảo…. Cứ như thế, đang từ thế bị động chuyển sang thế chủ động, bác phó may khiến ông Giuốc-đanh lùi mãi. Không chỉ sẵn sàng việc may áo ngược hoa mà còn phải đánh lảng sang chuyện khác. Bằng chứng là ngay cả khi phát hiện bác phó may ăn bớt vải một cách trắng trợn (dám mặc áo trước mặt Giuốc-đanh), lão cũng chỉ phàn nàn đôi chút: Đành là đẹp, nhưng đáng lẽ đừng gạn vào áo của tôi mới phải, xung đột kịch diễn biến không căng thẳng nhưng thói học đòi bắt chước đã biến đổi con người nhanh quá, sâu sắc quá! Đúng mà hóa thành sai và ngược lại. Sự sáng suốt trở nên mù quáng. Trong cái có lý lại có phi lý phải chăng đó là bí quyết gây cười mà Mô-li-e đã tận dụng được trong những tình huống…..đầu tiên của cảnh thứ nhất. Cảnh thứ nhất có 32 lời thoại, đến cảnh thứ hai của lớp kịch chỉ cồn 10 lời thoại. Nhưng không phải số lời thoại của các nhân vật ít mà tính hài của kịch bị giảm đi, những trận cười nổ ra còn giòn giã hơn. Hòa vào những tiếng cười đó là sự diễu cợt châm biếrn thói háo danh của những người trưởng giả. Họ đã tự biến mình thành một thứ trò hề mà chính con người hề kia không tự biết. Đầu tiên, nghe chú thợ phụ xin tiền uống rượu, ông Giuốc-đanh giật mình, giật mình không phải vì sợ (sợ mất tiền là bệnh cố hữu của những người giàu keo kiệt) mà vì sung sướng mơ màng, nở mặt: lần đầu tiên trong đời, Giuốc-đanh được gọi là ông lớn. Có phải nhầm hay không? Ông ta phải hỏi lại cho chắc chắn. Khi đích xác rồi, ông vô cùng sung sướng tin vào lập luận của chính mình: Ấy đấy, ăn mặc theo lối quí phái thì thế đấy! Còn cứ bo bo giữ kiểu áo quần trưởng giả thì đời nào được gọi là ông lớn. Sự trả giá của Giuốc-đanh thật là hào phóng. Đây, ta thưởng về tiếng ông lớn đây này. Lòng tham của những tay thợ phụ quả là không đáy. Chúng đã đánh hơi được con mồi béo bở: kẻ thích tâng bốc có cả một túi tiền. Túi tiền ấy giúp cho chú thợ phụ tinh ranh leo thang từng nấc một, biết kìm chế, cứ từ từ, không đi đâu mà vội. Hãy cứ để cho người có túi tiền kia có thời gian tận hưởng niềm vui, một niềm vui hão huyền. Vì có niềm vui của lão thì lão sẽ xì tiền ra. Lão cần danh vọng nên lão không tiếc tiền, dù sự tôn vinh đó có giả tạo đi chăng nữa. Cứ thế, danh vọng hão nhưng tiền lại có thật. Có sao đâu? Những chú thợ phụ chỉ cần có thế, để tha hồ đem đến cho lão những niềm vui. Nhân vật Giuốc-đanh đã trở thành đối tượng của họ, mà nạn nhân cứ ngỡ mình đang là ông lớn thật. Nhân vật Giuốc-đanh cứ hiện lên sân khấu, cứ như bằng xương bằng thịt hẳn hoi vì ông ta là một người có tính cách: lòng háo danh (hão), chỉ cần tỉnh táo một chút thôi sẽ biết thế nào là giả dối. Tình huống kịch và diễn biến kịch qua hai cảnh diễn rất sinh động, luôn luôn phát triển. Nhờ đó mà nhân vật được khắc họa tài tình. Chỉ với hai lớp kịch nhưng tác giả đã làm nổi bật lên tính cách rất đáng phê phán: thói học đòi làm sang thật kệch cỡm của những hạng người trưởng giả. Ngầm trong những nụ cười sảng khoái của hài kịch, Mô-li-e nhắc khẽ: con người phải giữ nguyên được bản chất, cội nguồn của chính mình.
Phân tích tiếng cười châm biếm đả kích trong vở kịch Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục
1,379
Phân tích tiếng cười trong câu chuyện dân gian Tam đại con gà Hướng dẫn Tam đại con gà là câu chuyện cười nổi tiếng trong dân gian, qua những tình huống gây cười tác giả dân gian đã ngầm phê phán đối với những đối tượng được gọi là thầy nhưng lại thiếu hiểu biết, không chịu học hỏi mà cố gắng che đậy cái dốt, sự thiếu hiểu biết của mình. Anh chị hãy phân tích tiếng cười trong câu chuyện dân gian Tam đại con gàđể thấy được ý nghĩa trào phúng của câu chuyện cười này. I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích tiếng cười trong Tam đại con gà 1. Mở bài Giới thiệu tác phẩm: Tiếng cười luôn là liều thuốc bổ đối với mỗi người, câu chuyện Tam đại con gà là một câu chuyện gây cười thông qua việc phê phán chê bai một số loại người trong xã hội, nội dung truyện hướng đến sự châm biếm đả kích vào những người dốt nát nhưng muốn thể hiện mình 2. Thân bài – Phân tích các tình huống gây cười Hình ảnh anh học trò trong vai người thầy Ăn học không tới nơi tới trốn, dốt nát Bên ngoài lịch lãm nên mọi người hiểu lầm là có học Thích khoe khoang, thể hiện kiến thức của mình -Lần thứ nhất: Người thầy gặp chữ “Kê” nhưng không biết là chữ gì Không nhận được mặt chữ, cho học trò đọc bừa Thận trong khi bảo học trò đọc khẽ -Lần thứ hai: Tìm đến thổ công, sức mạnh tâm linh Vui mừng khi được sự đồng tình của thổ công Cho học trò đọc thật to rõ ràng -Lần thứ ba: Đối diện với chủ nhà Giải thích vòng vo, vô căn cứ Nghệ thuật của truyện Thành công trong xây dựng nhân vật, cốt truyện Để nhân vật tự bộc lộ, người đọc tự suy ngẫm mà bật cười 3. Kết bài Cảm nghĩ về tình huống gây cười của truyện: Qua truyện tam đại con gà tác giả muốn phê phán một số bộ phận trong xã hội, tài năng thì có hạn nhưng luôn muốn khoe khoang ta đây là tài giỏi, đưa ra chân lí vô cùng sâu sắc đó là không nên giấu dốt, biết khiêm tốn với những người xung quanh. II. Bài tham khảo Tiếng cười luôn là liều thuốc bổ đối với mỗi người, nhưng cười sao cho thật sảng khoái, cười mang tính giải trí cao và khiến con người tự bật cười là điều vô cùng khó, nhưng ông cha ta luôn có những câu chuyện ngụ ngôn mang lại tiếng cười cho đời, chẳng đâu xa lạ đó là câu chuyện Tam đại con gà, một câu chuyện gây cười thông qua việc phê phán chê bai một số loại người trong xã hội, nội dung truyện hướng đến sự châm biếm đả kích vào những người dốt nát nhưng muốn thể hiện mình nhưng càng thể hiện thì càng làm trò cười cho thiên hạ. Nội dung câu chuyện xuyên suốt hình ảnh một anh học trò mẫu thuẫn giữa nội tâm bên trong và vẻ đẹp bên ngoài, xuất phát từ sâu trong anh ta đã là một con người ăn học không tới nơi tới trốn, học hành dốt nát vô cùng nhưng vẻ hào nhoáng bên ngoài lại khiến cho người đời hiểu nhầm anh ta là học rộng tài cao, là văn hay chữ tốt. Cùng với đó bản tính trong con người anh lại thích khoe khoang thể hiện, muốn chứng minh với mọi người rằng mình ăn học đầy đủ, có tài năng hơn người. Cũng chính vì thế mà đã làm cho câu chuyện đi từ hài hước này đến hài hước khác gây nên tiếng cười cho người đọc. Bi kịch hài hước liên tiếp diễn ra trong cùng một chuỗi sự kiện, bắt đầu từ khi ông dạy bọn trẻ, sự dốt nát của ông hiện lên rõ nét nhất khi ông lúng túng trong nhận biết chữ, nhưng với cái tôi của mình ông đã nói bừa đi, trong thâm tâm ông nghĩ những đứa trẻ đó cũng không biết mặt chữ nên sẽ chẳng thế nào biết được đó là chữ gì, nhưng cái dốt của ông được đẩy lên cao hơn khi ông bảo học trò đọc khẽ không người khác lại nghe thấy mà biết ông dạy không ra gì, qua đó cũng đã đủ cho thấy nhân vật anh học trò hiện lên dốt nát đến mức độ nào, những kiến thức cơ bản anh không nắm rõ, với tư cách một người làm thầy anh ta luôn mông lung trong những thứ đơn giản nhất, chẳng những không giúp học trò tiến bộ lên mà còn làm cho những người học trò của anh thụt lùi lại phía sau. Không chỉ dừng ở đó, tiếng cười còn được phát ra một cách giòn giã hơn khi chính cái người thầy dốt tin tưởng vào thần thành, và thần thánh thiêng liêng đối với ông là đúng hơn bao giờ hết đã đẩy tiếng cười lên cao hơn, tiếng cười phê phán một lúc hai nhân vật cả thổ công lẫn người thầy, chế giễu cùng một lúc khi người thầy đã dốt nay thổ công cũng dốt không kém và rồi người thầy chẳng còn sợ rằng mình đọc sai nữa mà bảo học trò đọc to rõ ràng những gì mà thầy đã dạy, tưởng tượng ra cảnh những đứa trẻ học sai kiến thức cơ bản mà ra sức gân cổ lên đọc cũng khiến người nghe cảm thấy buồn cười vô cùng. Cuối cùng tiếng cười trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết khi người thầy tin rằng những gì mình đang dạy cho bọn trẻ là đúng đắn, tự hào về kiến thức của bản thân mình, tự phục bản thân khi đọc bừa mà cũng đúng, và rồi trên lớp thì người thầy ung dung tự đắc, những đứa trẻ gào to rõ ràng, chủ nhà ngạc nhiên vô cùng khi không hiểu con mình đang được học cái gì. Và sự dốt nát của người thầy bị lột tả khi phải đối diện với chủ nhà, bị chủ nhà chất vấn người thầy không muốn nhận mình dốt nát, trở lời một cách vòng vo và vẫn bảo thủ giữ nguyên quan điểm của mình, chống chế bằng cách giải thích thật loàng ngoằng và buồn cười. Trái với sự tự tin trước đó khi được thổ công đồng tình thì nay là một người thầy với sự lúng túng tột cùng đã tạo nên tiếng cười trào phúng vô cùng hả hê. Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật vô cùng hoàn hảo, xây dựng nội dung cốt truyện khiến nhân vật tự bộc lộ bản tính dốt nát, sĩ diện của mình, đưa ra chân lí cho người đọc rằng cái dốt không phải là điều đáng xấu hổ, mà điều đáng xấu hổ ở đây là đã dốt mà không chịu tìm tòi học hỏi, đã dốt còn giấu dốt. Qua truyện tam đại con gà tác giả muốn phê phán một số bộ phận trong xã hội, tài năng thì có hạn nhưng luôn muốn khoe khoang ta đây là tài giỏi, đưa ra chân lí vô cùng sâu sắc đó là không nên giấu dốt, biết khiêm tốn với những người xung quanh Theo
Phân tích tiếng cười trong câu chuyện dân gian Tam đại con gà
1,234
Phân tích Tiếng cười trong truyện Tam đại con gà Hướng dẫn Phân tích Tiếng cười trong truyện Tam đại con gà Truyện cười dân gian là những tác phẩm tự sự ngắn có kết cấu chặt chẽ có kết thúc bất ngờ, tác dụng gây cười nhằm mục đích giải trí hoặc phê phán, châm biếm, đả kích cái xấu xa. Trong đó tiêu biểu là tác phẩm Tam đại con gà. Truyện nói về cái dốt nát nhưng lại thích đi khoe khoang mình là người thông minh có học nên do đó tạo ra những mâu thuẫn trái tự nhiên. Truyện đề cập dến một người dốt nát nhưng tỏ ra hay chữ và đi dạy học. Mặc dù kiến thức của người này có rất ít như hạt cát ở ngoài xa mạc nhưng anh ta vẫn rất là huênh hoang về những kiến thức mình đang có nên đã quyết trí bằng được đi dạy học. Như người ta nói đã đã dốt còn hay chơi chữ vì thế mà làm cho xã hội của chúng ta ngày càng tụt hậu đi không thể phát triển được. Một trong những cái mà chúng ta nhớ nhất đó là sự ngụy biện và những lời lẽ để che đậy sự dốt nát của mình thì chỉ làm cho chúng ta dốt nát thêm. Đầu tiên ta thấy được tình huống người thầy đang dạy học sinh khi gặp từ “Kê” đây là một từ cực kì đơn giản để dạy trẻ học chữ Hán nhưng người thầy này hoàn toàn không biết. Đã không biết người thầy lại nó bừa, nói liều nên dạy trẻ đọc khẽ, đọc bé. Như vậy ngay từ đầu ta đã thấy người thầy này là một người thầy dốt nát vốn không có kiến thức để dạy học mà vẫn cố đi dạy học. Để bao biện cho sự dốt nát của mình là mình là người thông minh biết nhiều. Ấy vậy mà khi thầy được chủ nhà nhắc nhở thầy mới nhận ra mình là người dốt thật. nhưng thầy vì sĩ diện cao nên không chịu lắng nghe mà lại tìm cách vặt để bảo vệ mình “Dạy cho cháu biết đến tậm tam đại con gà” từ đó lại càng phơi bầy cái dốt cực kì dốt của bản thân. Từ đó tiếng cười càng được bật nên mạnh mẽ trong câu chuyện. Như vậy ta thấy được đây là một truyện cười làm cho người đọc cười sảng khoái và có ý nghĩa giáo dục con người sâu sắc. Chúng ta cần phải biết lắng nghe, biết tiếp thu và biết chọn lọc cho mình những gì gọi là tinh hoa đáng quý về những kiến thức trong cuộc sống. Không nên vì bản thân mình dốt mà dốt cái dốt của bản thân đi bởi điều đó chỉ làm cho chúng ta dốt nát thêm chứ không làm cho chúng ta phát triển được. Hình ảnh người thầy trong truyện đó là một minh chứng rõ ràng về sự dốt nát của con người và qua những tình huống đó làm cho chúng ta càng thấy rõ tác hại của cái dốt mà thích đi khoe khoang không chịu học hỏi và lắng nghe. Qua câu chuyện này muốn thể hiện cho người đọc thấy được những điều mà họ nhận thức được để thay đổi mình. Khi chúng ta không biết thì chúng ta nên học hỏi và trau dồi cho kiến thức của bản thân để khi có đủ kiến thức thì chúng ta mới nên nói lại với người khác. Như vậy không những chúng ta đang phát triển mà làm cho cả xã hội phát triển theo. Chúng ta hãy mang câu chuyện này chia sẻ rộng rãi để cho mọi người đọc và thấy được khả năng thực sự của bản thân mình từ đó nên thay đổi sao cho phù hợp với hoàn cảnh sống để cho mọi người yêu quý và tôn trọng. Bằng tiếng cười, truyện tập trung phê phán thói giấu dốt phổ biến ở nhiều đối tượng trong cuộc sống. Bản thân cái dốt và sự thiếu hiểu biết chưa phải là cái đáng cười, cái đáng phê phán, đả kích. Cái đáng cười, đáng phê phán mà nhân dân đề cập ở đây là khi người ta dốt mà biết mình dốt mà vẫn khoe là mình giỏi, lại dám nhận làm thầy dạy người khác, đặc biệt là cố tìm mọi cách để giấu đi cái dốt, che đậy cái dốt của mình. Cố giấu dốt để đề cao mình, bảo vệ mình, thực chất đưa đến một kết cục ngược lại. Tự mình hại chính mình, tự mình lật tẩy chính mình. Đó cũng là bài học mà Tam đại con gà muốn nhắc nhở tất cả mọi người.
Phân tích Tiếng cười trong truyện Tam đại con gà
809
Phân tích triết lí nhân sinh của Nam Cao trong truyện ngắn Lão Hạc Hướng dẫn Phân tích triết lí nhân sinh của Nam Cao trong truyện ngắn Lão Hạc Nam Cao là một cây bút hiện thực độc đáo. Với một tấm lòng luôn trăn trở về con người, về cuộc đời, Nam Cao đã đưa vào trong các sáng tác của mình những triết lí nhân sinh sâu sắc. Nam Cao không phải là người đầu tiên lấy thơ văn để triết lí về cuộc đời. Từ xa xưa, văn học đã coi trọng điều này. Ý nghĩa triết lí nhân sinh của dân gian về bản lĩnh của người quân tử: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, triết lí sống cao đẹp của nhân dân kí thác vào con cò khi gặp nạn: Có xáo thì xáo nước trong – Đừng xáo nước đục đau lòng cò con, quan điểm ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão trong các truyện cổ tích Tấm Cám, Thạch Sanh… chẳng phải là những minh chứng chứa đựng triết lí đó sao? Nam Cao không phải là người khởi nguồn lấy văn chương để gửi gắm những triết lí về cuộc đời, về con người, về cách ứng xử của mỗi người; nhưng Nam Cao là người đã kế tục được truyền thống đó của văn chương và nâng nó lên một tầm cao mới, sâu sắc hơn và toàn diện hơn. Đọc lại truyện ngắn Lão Hạc của ông, ta càng thêm khẳng định một cách chắc chắn và thấm thía điều đó. Trong truyện ngắn Lão Hạc, cái triết lí nhân sinh của Nam Cao được biểu hiện ở hai phương diện: trực tiếp và gián tiếp qua những ý nghĩ được phát ra thành lời của nhân vật ông giáo và qua suy nghĩ hành vi, việc làm của nhân vật lão Hạc. Trong hoàn cảnh như thế, lão Hạc đã xử trí thế nào? Không phải chỉ đến Lão Hạc, Nam Cao mới tạo tình huống để thử thách nhân vật của mình, ông đã thực hiện điều này trong một loạt các sáng tác văn chương khác nhau. Hầu hết các nhân vật của ông đã phải đầu hàng hoàn cảnh, buông xuôi theo dòng xoáy của cuộc đời, trở nên méo mó, dị dạng cả về thể chất lẫn tâm hồn. Âu đó cũng là một ngụ ý của Nam Cao đề lên thành những triết lí khác nhau về con người, về cuộc đời! Trở lại với nhân vật lão Hạc, hoàn cảnh nghiệt ngã đã không khuất phục được lão. Cuộc đời càng đầy lên những khó khăn và bất hạnh, thì tâm hồn lão càng được mài giũa sáng trong thêm, nhân cách của lão càng tỏa rạng hơn. Đỉnh cao của lòng nhân ái, đức hi sinh, lòng tự trọng, sự cao thượng và vị tha, ý thức trách nhiệm, là hành động ứng xử đầy dũng cảm của nhân vật: chọn cái chết. Một cái chết bất thình lình và đau đớn. Nhưng từ cuộc đời và cái chết của lão Hạc, ta cảm nhận được bao ý nghĩa về cuộc đời. Nam Cao không chỉ đã tạo niềm tin cho mọi người về cuộc đời, ông còn tạo niềm tin cho mọi người về con người. Con người không thể buỗng xuôi đầu hàng hoàn cảnh để đánh mất lương tri và nhân phẩm. Triết lí của lão Hạc là sống nghèo còn hơn sống hèn, sống nhơ bẩn, thà chết trong còn hơn sống đục, thà chấp nhận một cuộc đời ngắn ngủi còn hơn sống mà để phiền lụy đến mọi người, sống mà vô trách nhiệm với bản thân, với cuộc đời, và cả với thế hệ sau. Đó là những triết lí sống đẹp. Bên cạnh cách thể hiện triết lí qua việc xây dựng tính cách nhân vật, Nam Cao còn trực tiếp phát biểu ra những quan điểm, suy nghĩ của mình. Và nhà văn đã mượn lời ông giáo để nói hộ quan điểm của mình: Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi…toàn những cớ để ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thương… Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo láng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Có thể nói truyện ngắn Lão Hạc là một sáng tác tự sự chứa đựng nhiều triết lí sống thật đẹp, nhiều triết lí nhân sinh sâu sắc của Nam Cao. Đây chính là sự trăn trở của một trái tim yêu thương vĩ đại.
Phân tích triết lí nhân sinh của Nam Cao trong truyện ngắn Lão Hạc
780
Đề bài: Phân tích triết lý sống trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt Bài làm Nếu cốt truyện dân gian chỉ đơn giản đề cao, tuyệt đối hoá vai trò của linh hồn đối với thể xác, thì đến vở kịch của Lưu Quang Vũ, vấn đề đã được ông đào sâu, mở rộng và phát triển hơn rất nhiều. Ông có quan niệm khác về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác – đó là mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau. Hơn nữa, ông còn mở rộng tầm triết lý sang cả những vấn đề nhân sinh khác, như vấn đề xung đột giữa nhu cầu tự nhiên và nhân cách, vấn đề đấu tranh trong bản thân mỗi con người để hoàn thiện nhân cách làm người, v.v.. Vở kịch của Lưu Quang Vũ, vì thế, không chỉ là thành quả to lớn của nền kịch nói hiện đại Việt Nam, mà còn là một đóng góp đặc sắc của ông vào quan niệm triết lý nhân sinh nói chung. Phân tích triết lý sống trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt Trong bài viết này, chúng tôi không so sánh một cách toàn diện giữa một truyện cổ dân gian và một vở kịch dài hiện đại, cũng không so sánh về toàn bộ nội dung tư tưởng, mà chỉ so sánh về tư tưởng triết học – phần cốt lõi của cả hai tác phẩm. Truyện cổ dân gian: Ngày xưa, có một người tên là Trương Ba, người còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất giỏi. Nước cờ của anh dễ thường thiên hạ không có người nào địch nổi. Bao nhiêu giải cờ trong những hội hè mùa xuân đều về tay anh. Tiếng đồn vang khắp nước, sang đến tận Giang Nam. Buổi ấy, ở Trung Quốc, có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng cao cờ. Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liền khăn gói sang Nam tìm đến nhà địch thủ. Hai người đọ tài nhau trong mấy ván vẫn không phân thua được. Nhưng đến ván thứ ba, Trương Ba dồn Kỵ Như vào thế bí. Thấy đối phương vò đầu suy nghĩ, Trương Ba kiêu hãnh bảo: – Nước cờ này dù có Đế Thích xuống đây cũng không thể gỡ nổi. Bấy giờ Đế Thích là thần cờ ở thiên đình, bỗng nghe câu nói hỗn xược của Trương Ba xúc phạm đến mình, liền cưỡi mây xuống trần định cho y biết tay. Trương Ba và Kỵ Như đang đánh, chợt có một ông cụ già đến ngồi bên cạnh bàn cờ. Ông cụ thủng thỉnh mách cho Kỵ Như mấy nước. Tự nhiên, bên Kỵ Như cờ bại thành thắng. Trương Ba cau có, trong bụng tức giận ông già ở đâu đến làm cho mình lâm vào thế bí. Nhưng nhìn thấy ông cụ râu tóc trắng xóa, mặt mũi không có vẻ là người trần tục, chợt hiểu, liền sụp xuống lạy mà rằng: “Ngài hẳn là thần Đế Thích đây rồi, tôi người trần mắt thịt không biết, xin thứ lỗi”. Đế Thích cười bảo: “Ta nghe như nhà ngươi tự phụ là cao cờ nên xuống xem cho biết”. Trương Ba liền giữ Đế Thích lại mua rượu, giết gà, khoản đãi rất chu tất. Đế Thích tuy mới gặp cũng rất yêu mến Trương Ba. Thấy anh khẩn khoản muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo anh: “Ta thấy nhà ngươi có bụng chân thành, vậy ta cho một bó hương này, mỗi lần cần đến ta thì thắp lên một cây, ta sẽ xuống”. Nói đoạn, cưỡi mây bay lên trời. Từ đó, Trương Ba thỉnh thoảng lại dọn cờ mời thầy Đế Thích xuống chơi. Hai bên rất tương đắc. Nhưng một hôm, Trương Ba bị cái chết mang đi một cách đột ngột. Sau khi chôn cất chồng, người vợ dọn dẹp nhà cửa, thấy có nén hương giắt ở mái nhà, chị ta vô tình lấy xuống đốt lên cắm trước bàn thờ chồng. Ở thiên đình, thần Đế Thích nhận được tin bằng mùi hương liền xuống ngay. Thấy vắng mặt Trương Ba, Đế Thích ngạc nhiên: “Trương Ba đâu?”. Vợ Trương Ba sụt sịt: “Nhà tôi chết đã gần một tháng nay rồi!” – “Chết rồi! Sao lúc mới tắt thở không gọi ta xuống ngay, để đến bây giờ còn làm thế nào được nữa?”. Suy nghĩ một chút, Đế Thích lại hỏi thêm: “Trong xóm hiện nay có ai mới chết không?”. Vợ Trương Ba đáp: “Có một người Hàng thịt mới chết tối hôm qua”. Thần Đế Thích bảo chị ta dẫn mình đến nhà người Hàng thịt mà bảo: “Ta sẽ kiếm cách làm cho chồng nhà ngươi sống lại”. Nói xong, thần hóa phép rồi trở về trời. Nói chuyện trong nhà người Hàng thịt lúc đó, mọi người đang xúm quanh linh sàng khóc lóc kể lể thì tự nhiên thấy người chết ngồi nhỏm dậy. Hắn ta vứt tất cả mọi đồ khâm liệm rồi chẳng nói chẳng rằng đi thẳng một mạch về nhà Trương Ba. Vợ Trương Ba thấy người Hàng thịt, biết là thần Đế Thích đã làm cho chồng mình sống lại, mừng rỡ đón vào. Giữa lúc đó, thì vợ con người Hàng thịt cũng chạy theo níu lấy chồng nhưng không những bị vợ Trương Ba giằng lại, mà ngay chính chồng mình cũng nhất định không chịu về. Đôi bên cãi cọ nhau, cuối cùng biến thành cuộc đấu khẩu rất kịch liệt. Xóm làng không biết phân xử ra sao, đành đem việc đó lên quan. Quan cho đòi các nhà hàng xóm tới hỏi cung thì ai cũng bảo người sống lại đó là anh Hàng thịt. Nhưng chỉ có vợ Trương Ba thì nhất định nhận ra là chồng mình”. Quan hỏi rằng: “ Chồng chị ngày thường hay làm gì?”. Đáp: “chồng tôi chỉ thạo đánh cờ mà thôi”. Quan lại hỏi vợ người Hàng thịt: “chồng chị ngày thường hay làm nghề gì?”. Đáp: “chồng tôi chỉ thạo nghề mổ lợn”. Nghe đoạn, quan sai đem một con lợn vào công đường cho anh Hàng thịt mổ, nhưng anh ta lúng túng không biết làm thế nào cả. Quan lại sai mấy người giỏi cờ vào tỉ thí với người Hàng thịt thì không ngờ, con người đó đi những nước cờ rất cao không ai địch nổi. Quan bèn phán cho về nhà Trương Ba. Vì thế mới có câu “ Hồn Trương Ba, da Hàng thịt”(1). Như vậy, truyện cổ dân gian Hồn Trương Ba, da Hàng thịt cũng quan niệm linh hồn phải có thể xác mới có chỗ trú ngụ và thể xác phải có linh hồn mới sống được, mới không rữa nát. Nhưng truyện cổ dân gian tuyệt đối hóa vai trò của linh hồn, coi nhẹ thể xác, nên khi Trương Ba mượn được thể xác của người Hàng thịt thì Trương Ba coi mình là Trương Ba 100% trong ý thức, trong tình cảm, trong tính cách, tuyệt nhiên không băn khoăn gì về hình dạng của mình. Vợ Trương Ba cũng vậy, khi thấy chồng là thân xác anh Hàng thịt nhưng tâm trí là Trương Ba – chồng mình – thì cũng không băn khoăn gì, nhận ngay và vui vẻ chung sống. Vợ anh Hàng thịt chỉ thấy đơn giản là hình dạng chồng mình sống lại nên đấu tranh khiếu kiện giành giật về cho mình, mặc dù anh ta đã nói anh ta là Trương Ba và chạy về nhà Trương Ba. Quan phủ sau khi kiểm tra kỹ năng mổ thịt lợn và nhất là kỹ năng chơi cờ thì quyết định xử ngay cho anh – Hàng – thịt – mang – hồn Trương Ba về với vợ Trương Ba. Phép thử mổ thịt có thể không chính xác, vì anh Hàng thịt nếu thích vợ Trương Ba có thể giả vờ mổ vụng; nhưng phép thử chơi cờ thì không thể sai được, vì nó thuộc về trí tuệ, về năng khiếu tính toán trong loại hình thể thao trí tuệ đặc biệt, cũng chính là một biểu hiện, một phương diện đặc sắc của linh hồn. Nó xác định, khẳng định linh hồn đó chỉ có thể là Trương Ba – người sinh thời chơi cờ rất giỏi. Với cốt truyện ngắn gọn, mang một tư tưởng triết học có phần hơi đơn giản – đề cao, tuyệt đối hóa linh hồn, không để ý đến mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn, tách rời linh hồn và thể xác, coi thể xác chỉ như cái túi đựng linh hồn – truyện cổ dân gian Hồn Trương Ba, da Hàng thịt phù hợp với quan niệm xưa, qua bao thế kỷ vẫn được kể, được yêu thích và không hề gây tranh cãi. Nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, của con người và khoa học (sinh lý học và tâm lý học), tư tưởng triết học về con người cũng trở nên phong phú hơn, sâu sắc hơn và toàn diện hơn. Từ đó, tư tưởng triết học trong truyện cổ dân gian đã được Lưu Quang Vũ, nhà viết kịch tài năng của thời hiện đại, nhìn nhận lại và phát triển theo trình độ nhận thức của thời đại, theo yêu cầu nhân sinh và thẩm mỹ của thời hiện đại. Tóm tắt vở kịch của Lưu Quang Vũ. “Nam Tào, Bắc Đẩu đang ngồi chấm người phải chết trong ngày. Đế Thích đến tỏ ý muốn xuống hạ giới để tìm người cao cờ đánh cho vui. Vì vội đi dự tiệc ở bên dinh Thái thượng nên Nam Tào gạch bừa tên Trương Ba. Trương Ba đang chăm vườn và trò chuyện cùng vợ, cháu gái nội, con trai, con dâu thì Trưởng Hoạt đến chơi cờ. Đế Thích xuất hiện, giúp Trưởng Hoạt gỡ thế cờ. Đế Thích cho Trương Ba mấy nén hương và bảo nếu cần thì thắp một nén là Đế Thích xuống, thắp ba nén thì có thể lên thiên đình gặp Đế Thích. Sau đó, Trương Ba thấy trong người khó chịu và chết. Nam Tào, Bắc Đẩu và Đế Thích đang trò chuyện thì vợ Trương Ba lên (bà ta vô tình thắp ba nén hương cho chồng). Bà đòi trả mạng sống cho chồng. Nhân có anh Hàng thịt mới chết, thân xác chưa tan rữa, Nam Tào, Bắc Đẩu cho hồn Trương Ba nhập vào xác anh Hàng thịt để sống lại. Gia đình người Hàng thịt đang ngồi bên quan tài thì người Hàng thịt đội nắp quan tài lên, đòi về nhà Trương Ba, không chịu ở lại nhà Hàng thịt. Vợ Trương Ba đến xem phép mầu nghiệm ứng để đón chồng. Lúc đầu, mọi người đều ngỡ ngàng nhưng hồn Trương Ba đã nói được những điều chỉ có Trương Ba xưa mới biết, nên vợ Trương Ba nhận chồng, Trưởng Hoạt nhận bạn. Hồn Trương Ba (trong xác anh Hàng thịt) về nhà Trương Ba. Nhưng bà vợ băn khoăn vì thân xác chồng khác xưa nhiều quá. Bà cũng thắc mắc về việc chồng phải sang giúp chị Hàng thịt mổ lợn mặc dù vụng về. Anh con trai thì hy vọng với sức vóc mới, bố có thể cùng đi buôn lậu với mình. Hồn Trương Ba đã tát con với sức mạnh của cánh tay anh Hàng thịt. Lý trưởng vào bắt hồn Trương Ba phải về nhà Hàng thịt. Anh con trai hối lộ, Lý trưởng xử: ban ngày ở nhà Trương Ba, đêm về nhà Hàng thịt. Anh con trai lại có lời, Lý trưởng cho phép Trương Ba chỉ phải ở nhà Hàng thịt đến nửa đêm thì được về. Trời đã khuya, hồn Trương Ba giúp chị Hàng thịt mổ lợn, pha thịt xong, chuẩn bị về thì chị ta giữ lại mời rượu rồi mời ở lại. Hồn Trương Ba lúc đầu định xuôi theo nhưng đã đấu tranh tư tưởng, gỡ tay chị ta, về nhà. Trưởng Hoạt sang phê phán Trương Ba bắt đầu đổi tính: uống rượu, đòi ăn ngon, nước cờ đi cũng khác. Lý trưởng lại đến sách nhiễu. Cháu gái không nhận ông, người con dâu cũng than phiền bố chồng thay đổi. Một cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác người Hàng thịt diễn ra; qua đó, xác người Hàng thịt khẳng định thế lấn tới của y đối với hồn Trương Ba. Hồn Trương Ba đốt một nén hương gọi Đế Thích xuống giải thoát cho mình. Lúc đó, cu Tỵ nhà hàng xóm bị ốm nặng, sắp chết. Đế Thích bảo hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tỵ. Trương Ba từ chối, xin cho cu Tỵ sống, còn mình xin trả lại xác cho người Hàng thịt và chấp nhận cái chết. Hồn Trương Ba nhập vào màu xanh cây vườn trò chuyện với vợ”. Trước hết, Lưu Quang Vũ có kế thừa tư tưởng của truyện cổ dân gian. Ông cũng nhấn mạnh vai trò cao hơn của linh hồn so với thể xác. Trương Ba khi sống lại trong thân xác anh Hàng thịt thì nhận biết mình là Trương Ba (dựa vào ký ức, tình cảm và ý thức của hồn Trương Ba) và về ngay nhà mình (nhà Trương Ba). Vợ Trương Ba, sau khi kiểm tra ký ức của Trương Ba (mới), cũng nhận là chồng mình và giữ lại. Trưởng Hoạt, bạn của Trương Ba, khi kiểm tra ký ức của Trương Ba (mới) về tình bạn giữa hai người, cũng xúc động ôm hôn ngay bạn mình, mặc dù anh ta lúc này đã mang thân xác xa lạ. Cô con dâu thì lại càng thương cha chồng, mặc dù cha lúc này mang vóc hình ông Hàng thịt, vì điều chị ta tìm thấy ở ông là đức tính nhân hậu hệt như cha chồng xưa. Chị ta nói khá đúng, khá đủ, khá cơ bản về linh hồn: “Đã gọi là hồn làm sao có hình thù, bởi nó không là vuông hay tròn, mà là vui buồn, mừng giận, yêu ghét. Thầy vẫn dạy chúng con: Cái bề ngoài có quan trọng gì, chỉ có tấm lòng yêu thương và trí tuệ cao sáng của con người ta là đáng kể”. Tuy nhiên, Lưu Quang Vũ không dừng lại ở đó. Đầu tiên, hồn Trương Ba tỏ ra lạ lẫm, khó chịu với sự khác lạ của thân xác mình. Rồi anh ta cảm thấy thân xác đó bắt đầu chi phối anh: cũng thích ăn tiết canh, uống rượu, nói to và có sức khỏe (không đau lưng, không hen nữa, tát con chảy máu mồm). Khi ông Lý xử anh phải sang nhà chị Hàng thịt một số giờ trong ngày thì anh cũng tấm tắc khen ngon mấy món ăn của chị ta. Chị Hàng thịt thì biết linh hồn trong thể xác chồng mình không phải là của chồng mình mà là của Trương Ba, nhưng chị ta càng quý hơn vì nó tốt đẹp và dịu dàng, điều mà chị ta không thấy ở người chồng thô bạo đã khuất. Sự cô đơn về thân xác và linh hồn khiến chị càng khao khát hồn Trương Ba. Hồn Trương Ba cũng bị rung động trước sự gần gũi với vợ người Hàng thịt và phải tự đấu tranh để thoát ra khỏi vòng tay âu yếm của thị. Vợ Trương Ba cũng dần cảm thấy chồng khác trước và nảy sinh mặc cảm, tự ti về sức khỏe và nhan sắc trước hình vóc trẻ khỏe của hồn Trương Ba. Đến đây, ta đã thấy sự tồn tại độc lập của thân xác đối với linh hồn, sự chi phối của thân xác đối với linh hồn cùng những phiền toái do sự không hòa hợp, không thống nhất giữa linh hồn và thân xác. Đỉnh cao của tư tưởng triết lý trong vở kịch là sự đối thoại giữa linh hồn và thân xác. Cuộc đối thoại này cho thấy con người ta có hai phần là linh hồn và thể xác. Hai phần đó có quan hệ hữu cơ với nhau. Linh hồn có cơ sở vật chất là thể xác, cũng như nhận thức lý tính phải bắt đầu từ cảm tính; tình cảm hình thành từ những quan hệ cụ thể trong đời thường; cảm xúc thẩm mỹ phải dựa trên các cảm quan thị giác, thính giác… Thể xác cũng có tính độc lập tương đối, có tiếng nói riêng, có nhu cầu tự nhiên hợp lý, không thể bỏ qua. Nhưng, linh hồn phải kiểm soát những nhu cầu đó, phải điều chỉnh, thăng hoa, “Người” hóa, văn hóa hóa những nhu cầu ấy. Con người nói chung phải biết kìm hãm, tiết chế những nhu cầu bản năng và nếu cần, biết đè nén, biết hy sinh nó. Linh hồn và thể xác là một thể thống nhất; trong đó, linh hồn giữ vị trí chủ đạo, nên linh hồn phải chịu trách nhiệm cuối cùng về hành động của thể xác, không thể thỏa mãn mọi nhu cầu ở mọi mức độ, mọi nơi, mọi lúc rồi đổ trách nhiệm cho thể xác. Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác thực sự là cuộc đấu tranh trong bản thân con người để làm chủ những nhu cầu và ham muốn, nhất là khi bị hoàn cảnh tác động. Đó là cuộc đấu tranh để làm chủ bản thân và hoàn thiện nhân cách. Ở đây, cuộc đấu tranh này cũng cảnh báo khả năng lấn át của thể xác – tức của những nhu cầu tầm thường – đối với linh hồn – tức là đối với khát vọng sống cao khiết. Hành động chấp nhận cái chết, trả lại xác cho anh hàng thịt của Trương Ba là một hành động đúng đắn, một hành động dũng cảm và đạo đức. Từ sự lý giải lại một cách biện chứng về quan hệ giữa thể xác và linh hồn trên triết lý nhân sinh của thời đại, Lưu Quang Vũ đã đi đến một quan niệm sống đẹp: sống chân thật, mình phải chính là mình, cả linh hồn và thể xác, sống vì mọi người, vì hạnh phúc và sự tốt đẹp của con người. Trương Ba chết, nhưng hồn Trương Ba vẫn sống – sống trong tình cảm của mọi người, sống mà không cần mượn đến thân xác của ai hết. Trước khi kết thúc, tác giả còn đưa nhân vật vào cuộc thử thách cuối cùng, đặt nhân vật trước một sự lựa chọn: chấp nhận cái chết hoặc nhập vào xác cu Tỵ – một em bé hàng xóm vừa chết. Trương Ba không thể tái diễn bi kịch sống trong thân xác mượn của người khác: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Vì thế, ông đã xin cho cu Tỵ được sống lại, còn mình thì xin được chết. Thực chất, đó là lời tái khẳng định của tác giả đối với quan niệm sống đẹp mà ta nhắc đến ở trên. Bi kịch xung đột giữa linh hồn và thể xác không thể được giải quyết theo đúng cái cách đã tạo ra bi kịch. Đến đây, cái “chết hẳn” của Trương Ba lại thể hiện một chiến thắng thuyết phục của “tồn tại – người”, của nhân cách, của khát vọng hoàn thiện nhân cách của con người. Không phải chờ đến khi các nhà ngoại cảm và lý thuyết trường sinh học xuất hiện, Lưu Quang Vũ đã khẳng định, theo cách của ông, thân xác của từng cá thể người tồn tại hữu hạn, nhưng sự sống và linh hồn của con người là bất tử. Tư tưởng triết lý của Lưu Quang Vũ về con người vừa biện chứng, vừa lạc quan và cao thượng. Điều này, cùng với tài năng sáng tạo nghệ thuật tác giả, đã làm cho vở kịch có giá trị nhân văn cao, vươn tới tầm nhân loại. Vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác trong Hồn Trương Ba, da Hàng thịtcòn có thể làm ta liên tưởng đến mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong mỗi sự vật. Đương nhiên, mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác, giữa nội dung và hình thức là hai cặp phạm trù không đồng nhất, không thể suy cái này ra cái kia một cách tịnh tiến. Tuy vậy, từ sự không đồng nhất, thậm chí đối lập giữa linh hồn và thể xác trong vở kịch, ta có thể liên tưởng tới sự thống nhất cần có giữa nội dung và hình thức là hai mặt của thực tại tự nhiên và xã hội. Khi nội dung và hình thức phù hợp với nhau thì sự vật tồn tại và phát triển. Khi nội dung và hình thức không phù hợp với nhau thì sự phát triển bị kìm hãm và thậm chí, sự tồn tại của sự vật bị đe dọa. Liên tưởng trên không hề có khi đọc truyện cổ dân gian, mà nếu có, thì đó chỉ là sự tuyệt đối hóa nội dung, xem thường hình thức và tách rời nội dung khỏi hình thức, một tư duy siêu hình mang tính tiên nghiệm. Từ triết lý đơn giản trong truyện cổ dân gian về vai trò quan trọng thứ nhất của linh hồn, Lưu Quang Vũ đã sáng tạo nên một vở kịch có sức lôi cuốn mạnh mẽ, gửi tới người đọc một thông điệp sâu sắc về triết lý sống: thể xác và linh hồn có quan hệ hữu cơ với nhau; con người không thể chỉ sống bằng thể xác, mà phải luôn luôn đấu tranh với bản thân để có sự thống nhất hài hòa giữa linh hồn và thể xác, hướng tới một lối sống cao thượng, vươn tới một nhân cách hoàn thiện.
Phân tích triết lý sống trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt
3,698
Phân tích triết lý sống trong vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt”- Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích triết lý sống trong vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt”- Văn lớp 12 Bài làm “Hồn Trương Ba da hàng thịt” là một vở kịch nổi tiếng của tác giả Lưu Quang Vũ được dựng theo cốt truyện tưởng tượng trong dân gian Việt Nam. Tuy nhiên, nếu như trong câu chuyện gốc “Hồn Trương Ba da hàng thịt” chỉ dừng lại ở việc tranh giành giữa hai người vợ khi ai cũng cho đó là chồng mình, rồi cả hai bà vợ Trương Ba và anh hàng thịt kéo nhau ra tòa, sau đó tòa xử cho vợ Trương Ba thắng kiện. Câu chuyện chỉ có ý nghĩa giải trí vui vẻ đơn giản, gây ra những tiếng cười hài hước cho người đọc. Thì trong vở kịch của Lưu Quang Vũ ông đã đưa câu chuyện sang một tầm cao mới thể hiện những triết lý sống sâu sắc. Đó chính là mâu thuẫn giữa tâm hồn và thể xác con người. Nhu cầu xác thịt, khiến cho bản chất tâm hồn của con người có lúc phải thay đổi để thỏa mãn nhu cầu đó. Việc vay mượn thể xác người khác để sống là một việc làm đem lại nhiều hậu quả đáng tiếc là một vở kịch nổi tiếng được Lưu Quang Vũ xây dựng dựa trên một câu chuyện dân gian về nhân vật Trương Ba giỏi chơi cờ và cái chết oan ức của ông. Sau khi xem xong vở kịch khán giả không chỉ cảm nhận được những tiếng cười mà còn có những suy nghĩ trăn trở về nhân sinh, hạnh phúc. Hồn Trương Ba da hàng thịt kể về một ông lão Trương Ba trên 60 tuổi rất mê đánh cờ tướng, và nổi tiếng là vua cờ trong làng với những nước cờ vô cùng bí hiểm, khó gỡ. Không có ai là địch thủ của ông trong lĩnh vực này, nhưng một hôm Đế Thích đi qua ngôi làng Trương Ba ở thấy Trương Ba mê cờ tướng nên đã chơi cùng nhau. Do sự tắc trách sơ xuất của Nam Tào nên Trương Ba chẳng may bị chết oan. Sau khi gia đình Trương Ba làm lễ chôn cất ông xong, Đế Thích xuống chơi cờ không tìm thấy Trương Ba, biết Trương Ba chết oan nên Đế Thích tìm cách mượn xác hoàn hồn. Đúng lúc đó, trong làng có anh hàng thịt vừa mới chết xong xác chưa kịp đem chôn cất. Đế Thích liền làm phép cho hồn Trương Ba nhập vào đó rồi anh hàng thịt mở mắt, từ trong quan tài bước ra khiến vợ con kinh thiên động địa, sau đó cũng vui mừng khôn xiết. Nhưng anh hàng thịt nhất định nhận mình là Trương Ba rồi chạy về nhà mình tìm vợ. Vợ Trương Ba lúc đầu cũng không tin, nhưng thấy anh hàng thịt cư xử ăn nói, đặc biệt là tài cờ tướng giống hệt chồng mình khi còn sống nên đã tin dần. Cuộc mâu thuẫn tranh chấp chồng xảy ra giữa hai bà vợ. Hai người kéo nhau ra tòa, cuối cùng thì quan tòa xử cho vợ Trương Ba thắng kiện, Trương Ba được về nhà ở với vợ con mình. Trương Ba về nhà sống với người thân nhưng mọi vấn đề nảy sinh từ đây. Từ một ông lão nông dân làm vườn nho nhã, Trương Ba dần dần trở thành người phàm phu tục tử dần đi. Xưa kia ông không ăn tiết canh, rượu thịt chó nhưng sống trong thân xác anh hàng thịt to cao vạm vỡ, Trương Ba có lúc lại thèm rượu thịt, rồi cơ thể béo tốt kia khiến ông ăn khỏe hơn, bàn tay bàn chân vụng về, với những ngón tay to múp míp. Giọng nói của Trương Ba trước kia từ tốn khiến ai cũng phải kính nể thì nay nó to oang oang, ồm ồm khiến người khác giật mình ghê sợ. Đã thế anh hàng thịt rất nóng tính thường xuyên đánh vợ, hồn Trương Ba ở trong thân xác anh cũng có lúc không làm chủ được cơn giận dữ của mình. Cuộc sống của Trương Ba khi ở trong thân xác anh hàng thịt trở nên éo le, thân xác có nhu cầu riêng của nó mà lý trí tâm hồn không thể nào kìm chế được. Trương Ba vô cùng đau khổ, khi mà cô con dâu người vốn rất nể trọng bố chồng, người hiểu cho hoàn cảnh éo le của ông nhất cũng có lúc phải thốt lên rằng “Đến con có lúc cũng không nhận ra được thầy nữa”. Cháu gái của ông cũng không nhận ra ông, xưa kia hai ông cháu quấn quýt với nhau suốt ngày. Nó tôn trọng yêu mến ông là thế, thì nay hễ thấy ông nội lại gần thì nó tránh ra xa. Nó nhất quyết không nhận ông là ông nội của nó. Quá đau đớn tuyệt vọng, Trương Ba hẹn Đế Thích gặp mặt nói chuyện rồi ông xin cho mình được chết hắn. Cuộc sống vay mượn thân xác, hồn một nẻo, xác một nơi khiến cho Trương Ba vô cùng tuyệt vọng, những mâu thuẫn trong gia đình ông cũng xuất phát từ đây khiến ông vô cùng đau đớn. Trương Ba cảm thấy ghê tởm thân xác của mình, chính thân xác to kềnh càng đó đã làm nảy sinh những ham muốn khác thường, làm đảo lộn cuộc sống thanh tao, nho nhã trước kia của Trương Ba. Cuộc sống xung đột này cho thấy thể xác là những tiếng nói bản năng, cũng có những nhu cầu đòi hỏi của thể xác.Sau khi đấu tranh với chính mình Trương Ba xin được chết hẳn, Đế Thích bảo Trương Ba hãy nhập vào xác cu Tị vừa mới chết, làm một đứa trẻ con sẽ thanh thản, và dễ sống hơn. Nhưng Trương Ba không đồng ý, ông chỉ xin Đế Thích một ân huệ cuối cùng là hãy cho cu Tị sống lại, bởi nhà cu Tị chỉ duy nhất nó là con trai nối dõi tông đường. Khi vở kịch khép lại hồn Trương Ba thoát khỏi xác anh hàng thịt, cụ Tị sống lại, còn hồn Trương Ba thì sống trong những ánh lửa, trong vườn cây trong nhà, trong những suy nghĩ tốt đẹp của mọi người nghĩ về mình. Đó chính là một kết thúc tốt nhất có lợi nhất cho tất cả các nhân vật. Vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” cho chúng ta một bài học sâu sắc về cái chết và sự sống, người ta chết nhưng vẫn sống trong suy nghĩ của mọi người còn hơn là sống mà nhưng chết, khi không ai yêu quý không ai nhận ra mình.
Phân tích triết lý sống trong vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt”- Văn lớp 12
1,149
Phân tích truyền thuyết Thánh Gióng chi tiết đầy đủ nhất 2018 Hướng dẫn “Thánh Gióng” là một trong những bản anh hùng ca mở đầu cho truyền thống yêu nước của dân tộc ta, thông qua hình tượng nhân vật Thánh Gióng, nhân dân ta không chỉ thể hiện tinh thần tự hào trước truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc mà còn gửi gắm khát vọng về sức mạnh của dân tộc trong những cuộc đấu tranh bảo vệ chính nghĩa. Bằng những hiểu biết của mình, em hãy phân tích truyền thuyết Thánh Gióng. I. Dàn ý cho đề bài phân tích truyền thuyết Thánh Gióng 1. Mở bài cho đề phân tích truyền thuyết Thánh Gióng Giới thiệu chung về truyền thuyết “Thánh Gióng”. “Thánh Gióng” là một trong những bản anh hùng ca mở đầu cho truyền thống yêu nước của dân tộc ta. 2. Thân bài cho đề phân tích truyền thuyết Thánh Gióng Tóm tắt truyền thuyết “Thánh Gióng” – Sự ra đời kì lạ của Thánh Gióng: giai đoạn đời vua Hùng Vương thứ sáu, tại làng Gióng có hai vợ chồng già lương thiện nhưng chưa có con. Sau một buổi đi làm đồng, ướm chân mình lên vết chân to, người vợ đột nhiên mang thai. – Mười hai tháng sau sinh ra một cậu bé khôi ngô nhưng lên ba tuổi vẫn không biết nói, biết cười, biết đi. – Tiếng nói đầu tiên mà cậu bé cất lên là tiếng nói đòi giết giặc ngoại xâm. Cậu bé yêu cầu sứ giả nói với nhà vua nhu cầu về việc rèn áo giáp sắt, ngựa sắt và roi sắt. – Cậu bé lớn nhanh như thổi và nhân dân đều vui lòng góp gạo để nuôi cậu bé. – Khi giặc ồ ạt kéo đến, cậu bé bỗng vươn vai trở thành một tráng sĩ và ra trận giết giặc. – Vì giặc quá đông nên roi sắt bị gãy, tráng sĩ nhổ bụi tre bên đường quật vào lũ giặc. – Giặc tan, tráng sĩ cởi bỏ áo giáp sắt và bay thẳng về trời. Phân tích giá trị nội dung của truyền thuyết “Thánh Gióng” – Truyền thuyết Thánh Gióng là bản anh hùng ca về người anh hùng chống giặc ngoại xâm. – Sự lớn mạnh nhanh như thổi và vươn vai trở thành tráng sĩ của Thánh Gióng cho thấy sự trưởng thành của ý thức dân tộc tinh thần chống giặc ngoại xâm của cả cộng đồng. – Truyền thuyết Thánh Gióng phản ánh sự thật lịch sử của dân tộc ta thời bấy giờ: thành tựu chế tạo vũ khí và sử dụng đồ bằng sắt của nền văn minh nước ta thời bấy giờ. tinh thần kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta từ buổi xa xưa. Phân tích giá trị nghệ thuật của truyền thuyết “Thánh Gióng” – Sử dụng thành công yếu tố thần kì gắn với hành trang nhân vật. – Ý nghĩa của yếu tố thần kì: + Mô- típ sự ra đời thần kì dự báo về chiến tích vẻ vang của nhân vật. + Tiếng nói đầu tiên cất lên cho thấy tinh thần chống giặc ngoại xâm mãnh liệt. + Sự hóa thân thể hiện rằng nhân dân đã bất tử hóa người anh hùng. 3. Kết bài cho đề phân tích truyền thuyết Thánh Gióng Khát quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết “Thánh Gióng”.
Phân tích truyền thuyết Thánh Gióng chi tiết đầy đủ nhất 2018
566
Đề bài: Hãy phân tích truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu để làm nổi rõ những nỗi niềm, những tiếng thương làm ta xúc động Bài làm Truyện Bến quê thấm một nỗi buồn và tình thương khi ta bắt gặp một nhân vật ốm đau bệnh tật nằm liệt giường. Nhĩ là người chồng, người cha, người láng giềng, người bạn bị bệnh đã nhiều, không thể đi lại được nữa, muốn ngồi dậy cũng phải có người nâng đỡ; có lúc anh phải "thu hết tàn lực" mới "lết dần lết dần" ra khỏi phiến nệm nằm, mà anh cảm thấy "như mình vừa bay được một nửa vòng trái đất". Ốm nặng liệt giường đã nhiều tháng ngày, cơ thể anh bị tàn phá nặng nề "phiến lưng đã có nhiều mảng da thịt vừa chai cứng, vừa lở loét". Truyện Bến quê ghi lại những gì nhìn, nghe thấy, những suy ngẫm và mơ ước. những quan hộ của Nhĩ khi nằm trên giường bệnh, qua 4 cảnh: Nhĩ được Liên săn sóc; Nhĩ sai thằng Tuấn đi sang bên kia sông; Nhĩ được các cháu nhỏ (Huệ, Vân, Tam, Hùng…) đến nương nhẹ, lót chăn, kê gối cho anh; ông giáo Khuyên chống gậy đi qua tạt vào hỏi thăm Nhĩ. Cốt truyện của Bến quê rất bình dị, "bằng phẳng" nhưng lại mang hàm nghĩa triết lí sâu sắc. Qua nhân vật Nhĩ, một bệnh nhân "sắp từ giã cõi đời", Nguyễn Minh Châu nói lên những suy ngẫm về con người, về cuộc đời và cách sống, thức tỉnh, khơi dậy ở đồng loại hãy biết nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp, những giá trị bình dị, gần gũi, quen thuộc của cuộc sống, của quê hương. 1. Nhĩ là một con người từng trải và có địa vị, đi rộng biết nhiều: "Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất": "anh đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xu mới 2 năm trước đây, anh còn đi công tác sang một nước bên Mĩ La-tinh. Có thể nói, bao cảnh đẹp những nơi phồn hoa đô hội gần xa, những miếng ngon nơi đất khách quê người, anh đều được thưởng thức, được hưởng thụ. Nhưng những cảnh đẹp gần gũi, những con người tình nghĩa thân thuộc, thân yêu nơi quê hương cho đến những tháng ngày ốm đau nằm trên giường bệnh khi sắp từ giã cõi đời, anh mới cảm thấy một cách sâu sắc, cảm động. Hoa bằng lăng quê kiểng có gì là đẹp? Lúc mới nở "màu sắc đã nhợt nhạt". Vòm trời và con sông Hồng, bờ bãi, bến đò… có gì xa lạ đối với nhiều người trong chúng ta, nhất là đối với Nhĩ, khi nhà anh ở gần dòng sông ấy. Sớm nay, Nhĩ vừa ngồi để cho vợ bón từng thìa thức ăn vừa nghĩ: Anh cảm thấy hoa bằng lăng trong tiết lập thu đẹp hơn, "đậm sắc hơn". Sông Hồng "màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra". Bãi bồi phù sa lâu đời ở bên kia sông Hồng dưới những tia nắng sớm đầu thu đang phô ra g'một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ". Và bầu ười, vòm trời quê nhà "như cao hơn". Nhìn qua cửa sổ ngôi nhà mình, Nhĩ xúc động trước những cảnh đẹp bình dị của quê nhà. Tại sao trước đây, anh ít nhìn thấy, cảm thấy? Phải chăng vì cuộc sống bận rộn tất tả ngược xuôi? Hay tại bởi vô tình? Qua đoạn miêu tả thiên nhiên ở phần đầu truyện, Nguyễn Minh Châu muốn nhắc khẽ mọi người đừng vô tình mà phải biết gắn bó, trân trọng cảnh vật quê hương xứ sở vì những cái đó là máu thịt, là tâm hồn của mỗi chúng ta. Phải biết phát hiện ra vẻ đẹp bình dị, thân thuộc của quê nhà để nâng niu, yêu quý. 2. Bị ốm đau nằm liệt giường đã lâu ngày, được vợ con săn sóc, trong lòng anh nảy nở bao ý nghĩ, bao tình cảm đằm thắm, sâu nặng, thiết tha. Nshc Liên nói: "Anh cứ yên tâm. vất vả, tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được", thì Nhĩ "lần đầu tiên để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá". Hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh làm cho Nhĩ cảm động, thoáng ân hận về sự vô tình của mình: "Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm… mù em vẫn "im thinh". Chưa bao giờ mà Nhĩ nghe rõ thế, những tiếng bình dị thân thương: tiếng vỢ đi lại dọn dẹp và dặn dò con…, Liên hãm nước thuốc và tiếng nước rót ra lẫn mùi thuốc bắc hay vào nhà, "tiếng bước chân rón rén quen thuộc" của người vợ hiền thảo trên "những bậc hồ mòn lõm". Đó là tiếng lòng, tiếng thân thương, không phải lúc nào Nhĩ cũng nghe được, Nhĩ cũng cảm được! Tuấn là đứa con trai thứ hai của vợ chồng Nhĩ và Liên. Một năm nay vắng nhà, Tuấn đi học xa, tận một thành phố phía nam và vừa mới trở về đêm qua. Bố ốm nặng, Tuấn về thăm bố, thăm mẹ và thăm nhà? Nằm trên giường bệnh ngắm con, Nhĩ xúc động "thấy càng lớn thằng con anh cũng có nhiều nét giống anh". Nhĩ sai con đi sang bên kia sông "qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh… một lát rồi về". Với Tuấn thì đó là "cái việc gì lạ thế" mà bố sai làm, khi cậu đang mải mê xem cuốn truyện dịch. Đứa con trai chưa hiểu được "cái điều ham muốn cuối cùng" của đời bố, mà Nhĩ muốn nói ra. Nhĩ muốn đứa con trai thân thương thay mặt mình đi dạo bước qua sông, để ngắm nhìn những cảnh vật thân quen, bình dị mà hầu như suốt cuộc đời bố đã lãng quên. Qua khung cửa sổ ngôi nhà, Nhĩ dõi theo hình bóng đứa con đội cái mũ cói vành rộng, mặc chiếc áo sơ mi màu trứng sáo, cắp cuốn sách bên nách "đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố". Cái say mê của con bây giờ cũng giống như cái say mê của bố ngày xưa: "Suốt đời Nhĩ cũng đã từng chơi phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật là không dứt ra được". Nhĩ trầm ngâm suy nghĩ, lo lắng vẩn vơ: "Không khéo thằng con trai anh lại trễ mất chuyên đò trong ngày". Những trò chơi phá cờ thế, những việc làm vô vị nhạt nhẽo sẽ làm tốn mất bao thời gian, hao tâm trí, bao sức lực… Những trò chơi ấy, việc làm ấy sẽ làm cho tuổi trẻ của nhiều người "trễ mất chuyến đò trong ngày", sẽ làm chậm bước, làm lỡ nhịp một thời trai trẻ. Bằng kinh nghiệm xương máu của mình, "Nhĩ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đã thấy cô gì đang hấp dẫn ở bên kia sông đâu?". Ý nghĩ ấy mang hàm nghĩa một triết lí nhân sinh sâu sắc về đường đời và mục tiêu cuộc sống. Người xưa có nói: "Thế lộ nan" Lý Bạch), "người tu đi mãi mà thành đường" (Lỗ Tân), v.v… Con đường trong tâm thức của Nhĩ là "vòng vèo", là "chùng chình", vì nhiều người bị lạc đường, lạc hướng, thiếu trí tuệ, không bền chí, hay nản lòng. Tuổi trẻ và thời gian bị lãng phí. Tâm hồn nông cạn, sống thiếu lí tưởng, không có mục tiêu, tầm nhìn hạn hẹp, sao không khỏi vòng vèo, chùng chình, và sẽ không bao giờ tìm thấy cái "hấp dẫn" ở phía trước trên đường đời. Cuộc sống và cảnh vật ở quanh ta, ở quê ta rất đẹp rất đáng yêu, đó là "sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp", thậm chí cả "những nét tiêu xơ", nhưng phải trải nghiệm, phải sống hết mình mới có thể khám phá, mới có thể phát hiện, mới tìm thấy. Và còn phải có một tấm lòng gắn bó yêu thương. Có người do tài trí, thời cơ, vận may mà thành đạt. Có người sớm phát hiện ra sự lạc hướng, lạc đường mà điều chỉnh, mà khắc phục. Có nhiều người, rất nhiều người đi suốt hành trình cuộc đời mới nhận ra cái vòng vèo, cái chùng chình, sự lạc đường, lạc hướng của mình, nhưng quỹ thời gian đã vung phí, đã gần đất xa trời… Đời người đầy bi kịch, vì thế, một con người như Nhĩ "đã từng in gót chân khắp mọi chân trời", mãi đến lúc nằm liệt trên giường bệnh, trong những "điều riêng mới khám phá" anh cảm thấy "như một niềm say mê pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn" mà "lời lẽ không bao giờ giải thích hết". Cuộc đời là một ẩn số, đường đời là một bài toán khó. nôn "không bao giờ phải thích hết". Thế lộ nan, hành lộ nan là như vậy. Vì thế, phải có trí tụệ, có chí khí, giàu lòng kiên nhẫn, sống có lí tưởng đẹp, mới bớt được rủi ro, mới tránh được vòng vèo, chùng chình, thất bại. Những cảm nhận, những suy nghĩ của Nhĩ về Liên thật sâu sắc, đầy ân tình ân nghĩa. Từ một cô gái chân quê "mặc áo nâu chít khăn mỏ quạ" rồi thành "một người đàn bù thị thành". Thế nhưng "tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa". Nhĩ đã trải qua những ngày tháng "bôn tẩu, tìm kiếm", nếm trải bao ngọt bùi, cay đắng, Nhĩ "đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình", là vợ con mình. Với Nhĩ, gia đình là bến đậu, bến tình thương, bến hạnh phúc. Cảnh những đứa trẻ (Huệ, Vân, Tam, Hùng) xinh tươi, ngoan ngoãn, nghe Nhĩ gọi, chúng ríu rít chạy lên, xúm vào, nương nhẹ giúp anh xê dịch từ mép tấm nệm ra mép tấm phản, lấy gối đặt sau lưng Nhĩ, làm cho anh như trẻ lại "toét miệng cười với tất cả, tận hưởng sự thích thú được chăm sóc và chơi với". Hạnh phúc ở đâu, hạnh phúc đâu phải cái gì cao siêu, mà rất bình dị, rất nhi nhỏ, có khi chỉ là một ánh mắt, một nụ cười trẻ thơ, một hàn tay nhỏ bé "chua lòm mùi nước dưa",… Hình ảnh ông cụ giáo Khuyến sáng nào đi qua cũng tạt vào thăm Nhĩ là một hình ảnh ân tình ân nghĩa nuôi dưỡng tâm hồn. Một câu hỏi thăm về sức khỏe, một lời an ủi, động viên ân cần: "Hôm nay ôìĩị’ Nhĩ có vẻ khoẻ ra nhỉ?". Còn gì cao quý hơn, ấm áp hơn, tình nghĩa hơn? Được sống trong tinh yêu '.nương của đồng loại mới thật hạnh phúc. Và đó là sắc màu ý vị trong cuộc đời mỗi chúng ta, là "bến quê" của tâm hồn mỗi chúng ta. Cụ Khuyến hốt hoảng khi phát hiện ra mặt mũi Nhĩ "đỏ rựng một cách khác thường", hai mắt thì 3,long lanh chứa một mê say đầy đau khổ", và mười đầu ngón tay Nhĩ "đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy",… Đó là "chút sức lực cuối cùng còn sót lại…" của Nhĩ. Nhĩ sắp ra đi. Con đò chở khách trên sông Hồnq cập bến, mang ý nghĩa một biểu tượng, con đò sẽ đưa Nhĩ tới cõi hư không của một kiếp người… Bến quê là một truyện ngắn thấm đẫm ý vị triết lí về con người và cuộc đời. Những năm cuối đời, Nguyễn Minh Châu đã trải qua nhiều tháng ngày đau đớn. Bến quê ít nhiều mang tính tự truyện và dự báo nên rất chân thật chân thành. Bài học về tình yêu và lẽ sống được đặt ra một cách cảm động. Có gì hạnh phúc hơn khi được sống trong tình thương với gia đình, quê hương. Phải biết nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, thân thuộc của cuộc sống, của quê hương. Như thế mới thật sự hạnh phúc. Đó là tiếng lòng trang trải của Nguyễn Minh Châu. Bài làm 2 Nhân vật Nhĩ trong truyện đang trong hoàn cảnh bệnh tật, không thể đi lại được. Mọi sinh hoạt cá nhân đều phải nhờ đến các thành viên trong gia đình. Xây dựng tình huống này, tác giả muốn thể hiện thân phận con người trong cảnh ngộ phải phụ thuộc. Những bông hoa bằng lăng ngay từ khi mới nở màu sắc đã nhợt nhạt. Cảnh vật ấy phù hợp với căn bệnh của nhân vật Nhĩ đến nỗi hàng ngàv phải ngồi ngửa cổ lên cho vợ, con bón từng thìa thức ăn. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, khi nằm trên giường bệnh, Nhĩ đã nhìn thấy qua khung cửa sổ vòm trời như cao hơn, những tia nắng đầu thu đang di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông và anh khao khát được sống. Miêu tả cảnh sống của nhân vật trong cái khung cảnh ấy, tác giả muốn thể hiện nỗi đau của nhân vật. Là người hoạt động, trước kia đi khắp đó đây, nay chỉ còn thấy vòm trời qua khung cửa sổ có hoa bằng lăng, có những tia nắng sớm và còn nữa là một bãi bồi phù sa ớ bên kia sông Hồng. Xây dựng tình huống của nhân vật, tác giá muốn thể nghiệm một điều “Con người không có gia đình, không có quê hương, không thể sống yên lành”. Hay là tình cảm gia đình thực sự là một sự nâng đỡ chăm sóc, đùm bọc khi một thành viên lâm cảnh ốm đau, bệnh tật. Chính nhờ những bàn tay vợ, con, trong những ngày cuối cùng của đời mình, Nhĩ vẫn còn được thể hiện lòng khát khao được sống. Thiên nhiên và cuộc sống bao giờ cũng phát triển, nảy nở tươi đẹp. Ở đoạn kết truyện, tác giả đã tập trung miêu tả cái chân dung và cử chỉ của nhân vật Nhĩ với vẻ rất khác thường: “… mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, Các chi tiết ấy cho thấy tính “khẩn thiết” trong khát vọng được sống một cuộc sống tự do, được hưởng những giây phút bình dị trên chính mảnh đất quê hương Đó là một mảng đời sống đầy ý nghĩa với tất cả mọi người. Hình như con người sắp sang bên kia thế giới, thường ôn lại những hình ảnh đầy ấn tượng ấy. Tác giả để cho nhân vật suy ngẫm rồi rút ra một nhận xét: "Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa gia đình trong những ngày này”. Tác giả miêu tả rất sinh động cái bến đò ngang: “Người đi bộ, người dắt xe đạp. Một vài lớp đàn bà đi chợ về đang ngồi kháo chuyện hoặc sổ tóc ra bắt chấy” Tác giả để cho nhân vật của mình nói đến đứa con mà anh ta tìm mãi không thấy, thì ra: “Thằng bé vẫn cắp cuốn sách bên nách đang sa vào một dám người chơi phá cờ thế trên hè phố”. Từ đó, nhân vật nhớ lại là mình cũng đã nhiều năm đi chơi phá cờ thế trên vỉa hè, không dứt ra được. “Nhĩ chợt nhớ ngày bố mẹ anh mới cưới Liên từ một làng bên kia sông về làm vợ anh. Liên vẫn còn mặc áo nâu chít khăn mỏ quạ! So với ngày ấy bây giờ Liên đã trở thành một người đàn bà thị thành. Cũng như: cảnh bãi bồi nằm phơi mình bên kia. Tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời nay, và cũng chính nhờ có điều đó nhiều ngày tìm kiếm… Nhĩ đã thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này”. Qua đoạn văn trên, nhà văn Minh Châu đã đưa lên trang giấy những suy ngẫm, trải nghiệm về cuộc đời. Cái nét bình dị, đôn hậu của con người thường gần gũi với cuộc sống, quê hương và đó là nét đẹp đích thực của con người.
Phân tích truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu
2,836
Phân tích truyện Chiếc Lá Cuối Cùng của Ô Henri Hướng dẫn + Cụ Bơ-men đã vẽ chiếc lá vào nơi mà chiếc lã cuối cùng đã rụng trong đêm ấy. Cụ đã chết ở bệnh viện sam đó hơi Ngày, còn Giôn-xi thì đang bình phục. + về o.Henri thì ông có tên là William Sydney Porter, sinh năm 1862 ở Greensboro, bang Bắc Caroline, mất năm 1910 tại New York. I. Dù xuất thân từ một gia đình có cha là thầy thuốc ở Têch-dát nhưng khi khôn lớn lại gặp phải cuộc sống ba chìm bảy nổi. Đang là nhân viên ngân hàng ởđây, ông phải trôn xuống miền nam nước Mỹ vì bị tô” cáo về tội thâm lạm tiền bạc. Sông lang bạt cho tới năm 1898 thì bị bắt ở Cô-lôm-bớt. Có thể xem sự nghiệp văn chương của ông bắt đầu từ những tháng năm sông cảnh cá chậu chim lồng này. Ông viết truyện ngắn, và mượn tên O.Hen-ri của người coi tù làm bút danh. Không ngờ, người dân Mỹ thời ấy lại thích lối viết của ông. Các truyện của O.Hen-ri thường nhẹ nhàng nhưng toát lên tinh thần nhân đạo cao cả, tình thương yêu người nghèo khổ, rất cảm động, tiêu biểu là truyện Chiếc lú cuối cùng. II. Truyện kể lại rằng Xiu và Giôn-xi là hai nữ họa sĩ nghèo, còn trẻ, sông trong một căn hộ thuê ở gần công viên Oa-sinh-tơn. Cụ Bơ-men cũng là một họa sĩ nghèo thuê phòng ở tầng dưới. Bôn chục năm nay cụ mơ ước vẽ một kiệt tác nhưng chưa thực hiện được; cụ,thường ngồi làm mẫu vẽ cho các họa sĩ để kiếm tiền. Lúc ấy là vào mùa đông. Giôn-xi bị bệnh sưng phổi. Bệnh tật và nghèo túng khiến cô tuyệt vọng không muốn sông nữa. Cô đếm từng chiếc lá còn lại trên cây thường xuân bám vào bức tường gạch đối diện với cửa sổ, chờ khi nào chiếc lá cuối cùng rụng nốt thì cô cũng buông xuôi, lìa đời… Đoạn văn mà chúng ta phân tích dưới đây là phần cuối truyện. Mở đầu phần này là sự xuất hiện của cụ Bơ-men tại nơi ở của hai nữ họa sĩ nghèo, lúc trời đang mưa lẫn cùng với tuyết. Cụ đang là người mẫu “ngồi đóng vai một tay thợ mỏ già trên cái ấm đun nước lật úp giả làm tảng đá”để cho nữ họa sĩ Xiu vẽ. Có lẽ cụ đã nghe Xiu cho biết là Giôn- xi bị bệnh nặng và rơi vào tình trạng bi quan nến đã ghé thăm. Trước khi bắt đầu công việc thường ngày ở phòng bên cạnh, cả hai người “sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thưởng xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”.Nhà văn đã miêu tả nét nhìn của hai nhân vật. Khi nhìn cây thường xuân ở bên ngoài cửa sổ, nét nhìn của họ có chung tính chất là “sợ sệt”. Ở nét nhìn này, người đọc có thể tự hỏi: Họ sợ sệt điều gì? Nét nhìn thứ hai là họ nhìn nhau mà chẳng nói năng gì. Dù vậy, nhưng chắc nét nhìn của Xiu ngầm nói một mong ước, và có thể cụ Bơ-men hiểu được sự mong ước của Xiu. Nhà văn đã miêu tả một tín hiệu ẩn vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra, và nếu có thì mong ước của Xiu có được đáp ứng hay không. Chi tiết này sẽ tạo sự bất ngờ ởngười đọc. Ai đã thắp sáng lại niềm hi vọng này? Ai đã cứu Giôn-xi? Tất nhiên trước mắt là vị bác sĩ. Bác sĩ chữa bệnh là chuyện thường tình. Nhưng nguyên nhân sâu xa quyết định tâm trạng hồi sinh của Giôn-xi nằm ẩn trong hình ảnh của chiếc lá cuối cùng còn lại trên cành thường xuân. Lá và hoa đâm chồi nẩy lộc, mọc và rung theo chu kì tự nhiên nếu không có tác động bởi con người. Chính Giôn-xi đã nói với Xiu cảm nhận của mình về chiếc lá cuối cùng kia rằng “có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đố… “.Nhà văn đã khéo léo tạo cho người đọc một cảm giác mơ hồ từ câu nói của Giôn-xi. “Cái gì đấy”đích xác, rõ ràng chính là cái gì? Người đọc có thể tự đặt câu hỏi như thế, rồi tự tìm lấy câu trả lời trong suốt quá trình đọc truyện, còn nhà văn thì chỉ mấp mé hé mở qua lời của nhân vật. “Cái gì đấy”, trong truyện có thể là tình bạn gắn bó giữa Xiu và Giôn-xi. Dù nghèo khổ nhưng Xiu không bỏ mặc Giôn-xi với cơn bệnh nặng. Ngược lại Xiu còn chăm sóc, lo lắng cho Giôn-xi như chăm sóc cho em gái của mình. Khuôn mặt Xiu ngày càng hốc hác. Khi biết được ý nghĩ kì quặc của Giôn-xi, Xiu đã cố năn nỉ: “Em hãy nghĩ đến chị, nếu em không còn muốn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?’Điều ấy chứng tỏ cô thương Giôn-xi vô cùng, và mong muốn Giôn-xi tống khứ ý nghĩ kì quặc kia ra khỏi đầu Giôn-xi. Có lẽ vì thế mà Xiu đã cùng cụ Bơ-men nhìn cây thường xuân, rồi hai người im lặng nhìn nhau. Một phần câu trả lời câu hỏi “cái gì đấy” ẩn trong cái nhìn ấy của Xiu, và phần còn lại ẩn trong cái nhìn của cụ Bơ-men. Người đọc có thể đoán ra cái nhìn của hai người biểu lộ ý ngầm hiểu ý nghĩ kì quặc của Giôn-xi về sự sống hay chết của cô có liên quan đến sự rụng của chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân. Nhưng làm cách nào để chiếc lá ấy vẫn tồn tại trước cơn mửa to gió lớn? Nếu không có đoạn cuối truyện thì cả nhân vật Giôn-xi lẫn bạn đọc không trả lời được câu hỏi trên, không nhận ra sự hi sinh cao cả của cụ Bơ-men. O.Hen-ri đã cho nhân vật Xiu giải thích tại sao chiếc lá thường xuân cuối cùng không hề rung rinh mỗi khi gió thổi, và đi đến kết luận: “Ô, em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men, – cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng”. III. Với lối hành văn nhẹ nhàng, với tài quan sát và miêu tả thật tự nhiên và tinh tế những chi tiết chọn lọc của từng nhân vật, cùng với sự sắp đặt các chi tiết ấy thành các tình huống đảo ngược bất ngờ một cách hợp lí, O.Hen-ri đã tạo được sức hấp dẫn của nghệ thuật viết truyện ngắn. Người đọc xúc động về tình bạn của Xiu đối với Giôn-xi, trân trọng tấm lòng thương yêu và hành động âm thầm nhưng vô cùng cao cả của cụ Bơ- men cho sự sông của người trẻ đang trong tuyệt vọng, muốn chết như Giôn-xi. Có thể nói Chiếc lá cuối cùnglà bức tranh kiệt tác mà cụ đã từng mơ vẽ được lúc cụ còn sống, và nó cũng làm sống lại ước mơ được vẽ vịnh Na-plơ đẹp nổi tiếng ởbờ biển I-ta-li-a của Giôn-xi.
Phân tích truyện Chiếc Lá Cuối Cùng của Ô Henri
1,233
Đề bài: Phân tích truyện Chí Phèo của Nam Cao Bài làm Chí Phèo là câu chuyện về đoạn cuối cuộc đời của một con người trong xã hội thực dân phong kiến diễn ra và được ghi lại bởi Nam Cao (1917 — 1951), mội ngòi bút bậc thầy cách nay đã hơn sáu mươi năm. Mở đầu tác phẩm Chí Phèo xuất hiện trong tư thế khật khưỡng của kẻ say rượu vừa đi vừa chửi. Hắn chửi vung tất cả. Chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi những đứa khổng chửi nhau với hắn. Đây chính là lí do để ngay phần tiếp theo, tác giả kể vể lai lịch của Chí. Hắn vốn là đứa trẻ từ khi mới đẻ ra đã bị bỏ rơi trong cái lò gạch bò hoang, được người làng nhặt về nuôi, đi ở cho nhiều nhà khác nhau, cuối cùng đến năm 20 tuổi thì về làm canh điền cho Lí Kiến. Có thể vì ghen tuông, nghi cho bà ba vốn tính lẳng lơ có tư tình với anh canh điền khoẻ mạnh, Bí Kiến cho người bắt Chí giải lên huyện và đẩy vào lao tù. Ngay sau khi ở tù về, Chí đã uống rượu say khướt rồi cầm vỏ chai đến cổng nhà Bá Kiến (lúc này Bá Kiến đã là Bá bộ) chửi Lí Cường con trai Bá Kiến xông ra hành hung Chí, được thể Chí đã dùng mảnh chai rạch mặt ăn vạ. Đang thế, Bá Kiến xuất hiện, lên giọng mắng Lí Cường rồi dùng lời ngon ngọt để an ủi Chí, lại mời Chí vào nhà thết đãi cơm rượu hậu hĩnh, cho Chí một đổng bạc đem về Chí vô cùng hả hê. Từ đó, khi nào hết tiền hắn,lại đến ăn vòi. Lần thứ hai, Chí đến nhà Bá Kiến xin đi ờ tù lần nữa với cách lập luận đi tù còn có cơm ăn, ở làng mảnh đất cắm rùi cũng không có mà cái ăn cũng không, Bá Kiến lợi dùng cơ hội này nhờ hắn đi đòi nợ Đội Tảo 50 đồng và hứa sẽ,có vườn cho Chí. Sau khi Chí hoàn thành việc được giao, Bá Kiến cho vài hào uống rượu và cắt cho hắn 5 sào vườn ở bãi sông. Lúc này Chí mới 27, 28 tuổi. Cũng bắt đẳu từ đây, Chí trờ thành kẻ đâm thuê chém mướn, một công cụ đắc lực của Bá Kiến nhằm ức hiếp dân lành và thanh toán những kẻ có máu mặt trong làng nhưng không cùng vây cánh. Chí Phèo đã thực sự trở thành "con quỷ dữ của làng Vũ Đại", ai ai cũng đều sợ hắn và tránh mặt hắn. Một lần trong buổi tối sáng trăng, sau khi được uống rượu với Tự Lãng, hắn trở về túp lều ven sông định bước xuống tắm, tình cờ nhìn thấy Thị Nở đang nằm ngủ. Thị là người nghèo rót mồng tơi, xấu ma chê quỷ hờn lại ngẩn ngơ như người đẩn trong cổ tích Họ đã ăn nằm với nhau và đánh thức tình cảm bình thường cùng mong muốn làm một người bình thường trong Chí. Nhờ thứ tình cảm này mà bao nhiêu mơ ước hiền lành thời trai trẻ bỗng thức đậy, hắn muớn có một tổ ấm gia đình bình dị. Rôi Chí bị cảm. Thị Nở đã an cần chăm sóc, nấu cháo hành cho hắn ăn giải cảm… Tưởng được bền lâu, nào ngờ chỉ được vẻn vẹn năm ngày, đến ngày thứ sáu, bà cô thị Nở đi buôn chuyến trở về. Bà đã xỉ vả mắng nhiếc thị vì đã biết được chuyện giữa Thị với Chí Phèo. Do đấy, Thị Nở đến mằng Chí Phèo và bỏ mặc Chí trong tuyệt vọng. Thế rồi Chí khóc, Chí lại- tìm đến rượu, Khi say hắn dắt dao vào lưng, nói là đi đâm chết “nó", tức đâm chết hai cô cháu nhà Thị Nở. Nhưng bước chân khật khường của Chí cứ thế đến nhà Bá Kiến. Hắn xông vào Bá Kiến, vung dao đòi làm ngưòi lương thiện. Trong cơn tỉnh say cuối cùng này. Chí đã vung dao đâm chết Bá Kiến và cũng tự kết liễu cuộc đời mình. Nghe tin hai cái chết, trong lúc bao người, báo kẻ hả hê, Thị Nở nghĩ đến Chí “sao có lúc nó hiền như đất và nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn”. Thị lo mình có chửa. Khép lại câu chuyện là hình ảnh thị nhìn nhanh xuống bụng và “đột nhiên thị thấy caí lò gạch thoáng hiện, xa nhà cửa và vắng bóng người qua lại” Đây là một truyện ngắn mà dung lượng hiên thực được phản ánh trong trạng thái dồn nén, chứa nhiều mâu thuẫn, với nhiều nhân vật, có nhiều lớp thời gian…, mang tầm vóc của một tiểu thuyết. Có thể phân tích theo vấn đề ý nghĩa nhân sinh của truyện, có thể phân tích theo tuyến nhân vật, hoặc cũng có phân tích-từng mối quan hệ giữa nhân vật chính là Chí Phèo với làng Vũ Đại và một số nhân vật có quan hệ trực tiếp (Bá Kiến, thị Nở). Đâu đi theo con đường nàó cũng cần làm nổi bật rõ nghệ, thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật miêu tả nhân vật và ngôn ngữ truyện. Sức mạnh của trúyện ngắn trước hết là chi tiết. Cách phân tích dưới đây cố gắng đi theo tình huống này. Làng Vũ Đại, một hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng. Về kết cấu và ngôn ngữ truyện. Trước nhất phải kể đến kết cấu. Nếu xét về kết cấu hình tượng, truyện Chí Phèo cũng có một cốt truyện có thể kể được nhưng điều đáng nói ở đây là kết cấu văn hán truyện. Nam Cao đã rất có ý thức sáng tạo và huy động kết cấu tham gia vào việc xây dựng nhân vật cũng như đắp bổi thêm bề dày, bề sâu các lớp nghĩa cho tác phẩm. Thứ nhất, Nam Cao sử dụng kết cấu vòng tròn. Đó là sự trở lại chi tiết “cái lò gạch bỏ hoang” ở phần kết truyện hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang nơi Chí bị bỏ rơi lúc mới đẻ ở phần đầu truyện được nhà văn sử dụng để cho Thị Nở đột nhiên thấy thoáng hiện ra khi nhìn xuống bụng, sợ nhỡ may mình có chửa. Kết truyện nay có sức gợi rất lớn. Điểu này gì nếu không: phải là khả năng tái sinh của Chí Phèo? Chừng nào còn tồn tại cái xã hội kiểu làng Vũ Đại thì chừng đó sẽ còn nảy nòi ra loại người như Chí. Môi trường này cần được thay đổi. Nếu như đặt vấn để hãy cứu lấy nhân cách con người thì rõ ràng phải bắt đầu từ việc cứu lấy môi trường đă huỷ hoại nhân cách. Thứ hai, các thành, phẩn lời trần thuật được xáo trộn, lắp ghép, đan xen không luân theo trình tự tuyến tính của.cốt truyện. Nam Cao bắt đầu bằng hình ảnh Chí khật khưỡng say và vừa đi vừa chửi; Chân dung nhân vật bước đầu hiện ra với những đường nét thật ấn tượng, buộc người đọc chú ý và ham mê theo dõi ngay lập tức. Về yếu tố ngôn ngữ truyện có nhiều điều có thể bán được nhưng ở đây chỉ xin đơn cử một cách thức sử dụng ngổn ngữ hết sức sáng tạo và độc đáo kiểu Nam Cao. Ông đã đan xen, trộn lẫn lời nhân vật và lời người kể truyện, nhiều đơn vị lời văn có thể là của nhân vật vừa là của người kể chuyện. Điều này có tác dụng rất lớn cho phép nhà văn soi quét, lách sâu vào thẻ giới nội tâm rất phức tạp và tinh tế của nhân vật. Nhờ vậy chân dung nhân vật hiện ra hết sức chân thực và sống động. Chỉ cần đơn cử đoạn mở đầu truyện là đã thấy thủ pháp nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đan xen, hoà trộn như thế’ nào. Đây là một kĩ thuật của ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại mà không phải nhà văn cùng thời nào với Nam Cao cũng đã biết và sử dụng. Hiểu như vậy mới thấy sự cách tân và đóng ghóp vào kĩ thuật tiểu thuyết của Nam Cao thực sự là không nhỏ và có nhiều-ý nghĩa cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Tóm lại, chỉ với tác phẩm Chí Phèo đã dù thấy Nam Cao trong buổi mạt kì của chủ nghĩa hiện thực phê phán nước ta đã có công đưa nó lên một tầm cao mới về cả nội dung và nghệ thuật trước khi nó im tiếng.
Phân tích truyện Chí Phèo của Nam Cao
1,501
Phân tích truyện Chử Đồng Tử văn 10 Hướng dẫn Phân tích truyện Chử Đồng Tử văn 10 Chú ý làm rõ ý hai câu thơ: Yêu truyện cổ vì truyện cổ thể hiện tình yêu thương con người đối với con người và có nhiều ý nghĩa sâu xa, nhất là có tính giáo dục sâu sắc. Chọn phân tích truyện Chử Đồng Tử để chứng minh giá trị của truyện cổ. Đây là truyện cổ thần kì đã cho ta thấy được tấm lòng của người xưa đôi với những số phận bất hạnh trong xã hội: Người kể chuyện đã tỏ ra đồng cảm: – Thân phận nghèo hèn, bất hạnh của Chử Đồng Tử. – Ủng hộ cá tính yêu tự do phóng khoáng và đặc biệt là quyết định táo bạo về hôn nhân của mình. – Ca ngợi tình yêu thiên tính -> xóa ranh giới giàu nghèo -> giai cấp -> họ trở thành thần, thành tứ bất tử. Đồng Tử và Tiên Dung chỉ hoàn toàn trở thành người và sống hạnh phúc khi đã vượt qua tất cả thử thách. Đó là lẽ công bằng, đó là phần thưởng vô giá mà người xưa khao khát được trao tặng cho những con người tuy không may về số phận về định kiến xã hội nhưng không đầu hàng hoàn cảnh mà khẳng định tự do để xây dựng hạnh phúc. —> Lòng nhân hậu của người xưa mới chân thật và sâu sắc biết bao! Ý nghĩa sâu xa của truyện Chử Đồng Tử: Truyện đã cho ta nhiều bài học có tính giáo dục sâu xa về cách sống và cách nhìn nhận giá trị con người: – Cách sống: Phải chủ động vươn lên để xác định giá trị của mình. Như Chử Đồng Tử không đầu hàng số phận, tự tin, có nghị lực… thì sẽ làm được những điều kì diệu. Hãy yêu thương và sống vì người sẽ tìm được hạnh phúc đích thực. Hãy thông cảm và tôn trọng những kẻ bất hạnh. – Cách đánh giá con người: Không nên vội đánh giá con người qua bề ngoài, phải biết coi trọng tài đức và tình người hơn hình thức, cần phải quan niệm về cái đẹp một cách toàn diện: Chỉ có cái đẹp về nhân cách mới khẳng định được cái đẹp của con người (Qua hai nhân vật Chử Đồng Tử và Tiên Dung). – Khát vọng hạnh phúc, xóa nhòa quan hệ giai cấp: Chỉ có tình người đích thực là hằng số có giá trị của con người đến với hạnh phúc. Ca dao: Hơn nhau tấm áo manh quần, Cởi ra mình trần ai cũng như ai Chử Đồng Tử nói riêng và truyện cổ tích nói chung là những sáng tác dân gian có giá trị. Vừa là những câu chuyện giản dị nhưng cũng là những ẩn dụ vô cùng sâu xa khiến ta nghe xong không để trôi tuột đi mà động lại trong ta nhiều suy ngẫm.
Phân tích truyện Chử Đồng Tử văn 10
494
Phân tích truyện Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài Hướng dẫn Mờ sáng, Thành “rón rén” đi ra vườn, đau khổ ngồi xuống gốc cây hồng xiêm, thì chỉ một lát sau, em gái cũng đi ra vườn ngồi cạnh anh trai. Em gái “lặng lể’ đặt tay lên vai anh trai, còn anh trai thì “kéo em ngồi xuống và khẽ vuốt lên mái tóc” em gái. Khi Thủy nhớ bố, mong gặp bố, chào bố trước khi theo mẹ về quê ngoại, thì Thành “xót xa nhìn em” và nghĩ: “Bao giờ nó cũng chu đáo và hiếu thảo như vậy”. Nghe Thủy nói: “Hay anh dẫn em đến trường một lát” thì Thành lấy chiếc khăn mặt ướt đưa cho em… Thành lại dẫn em gái đến trường như những ngày còn nhỏ… Thủy là một em bé rất nhân hậu, giàu tình thương, rất quan tàm săn sóc đến anh trai. Mỗi con búp bê đều được Thủy đặt cho một cái tên riêng: con Vệ Sĩ, con Em Nhỏ, và Thủy luôn luôn đặt chúng cạnh nhau, “quàng tay lên vai nhau” thân thiết. Thủy đã mang kim chỉ ra bãi bóng vá áo cho anh trai. Trước khi giã biệt anh còn dặn dò: “Anh ơi! bao giờ áo anh có rách, anh tìm về chỗ em, em vá cho anh nhé…”. Thành nằm mê ngủ thấy ma, Thủy đã có “sáng kiến” bắt con Vệ Sĩ khoác dao dip gác cho anh trai ngủ. Trước lúc theo mẹ về quê ngoại, Thủy ôm hôn con Vệ Sĩ và ân cần dặn dò: “Vệ Sĩ thân yêu ở lại nhé! Ớ lại gác cho anh trai tao ngủ nhé..”. Cảnh chia đồ chơi đã nói lên một cách tuyệt đẹp tình anh em thắm thiết. Thành bảo với Thủy: “Không phải chia nữa. Anh cho em tất”. Nhưng rồi em gái lại “buồn bã” lắc đầu: “Không, em không lấy. Em để hết lại cho anh”. Trước lời mẹ “quát”, hai anh em bắt buộc phải chia đồ chơi. Con Vệ Sĩ ở lại VỚI anh trai, còn Thủy mang theo con Em Nhỏ. Nhưng trước lúc giã biệt anh, Thủy đã để con Em Nhỏ ở lại với lời dặn dò… Cách ứng cử của Thủy rất nhân hậu và rất quan tâm săn sóc anh trai. Em không bao giờ để hai con búp bê phải chia tay nhau. Và em cũng chỉ mong muốn anh em mình không bao giờ phải xa nhau. Cảnh giã biệt đau lòng: Thủy “khóc nức lên” nắm tay anh trai dạn dò; Thành “mếu máo”,… đứng như chôn chân xuống đất nhìn theo cái bóng nhỏ liêu xiêu của em gái… – đã biểu lộ tất cả nỗi đau và tình thương của hai anh em trước bi kịch gia đình.
Phân tích truyện Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài
476
Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày và Tam đại con gà Hướng dẫn Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày và Tam đại con gà Việt Nam có kho tàng truyện cười vô cùng phong phú và đa dạng, để phân biệt, người ta phân ra làm hai loại chính là truyện khôi hài và truyện trào phúng. Nếu như truyện khôi hài chỉ nhằm mục đích mua cười, giải trí thì tiếng cười trào phúng lại mang ý nghĩa phê phán nhẹ nhàng đối với những thói hư tật xấu ở đời, Truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày và Tam đại con gà phê phán thói tham nhũng của quan lại và những thầy đồ dốt nát. Câu chuyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày có cốt truyện khá đơn giản: Hai người hàng xóm đánh nhau rồi mang ra kiện quan. Tuy nhiên, các tác giả dân gian đã xây dựng tình huống này thành một vở hài kịch với những yếu tố then chốt để dẫn đến sự hình thành của mâu thuẫn. Người đi kiện ở đây là Ngô và Cải, người xử kiện là thầy Lí- người nổi tiếng xử kiện giỏi ở địa phương. Cao trào của câu chuyện cười này là khi thầy Lí tuyên bố cải thua kiện và bị mang ra đánh. Yếu tố gây cười ở chỗ một bên kết án, một bên lại xin xem xét lại vì khoản tiền năm đồng đã đút lót. Câu nói kết thúc vở hài kịch và hóa giải được những thắc mắc của Cải và của cả độc giả: “Nhưng nóp phải bằng hai mày”. Câu nói không chỉ mang đến tiếng cười hài hước mà còn thể hiện được thói hối lộ, tham nhũng của lí trưởng. Cải và Ngô là những nạn nhân của việc xử kiện bằng tiền bạc nhưng đòng thời cũng là người tiếp tay cho nạn tham ô ấy hoành hành, phát triển trong xã hội, do vậy mà Cải và Ngô vừa đáng thương lại vừa đáng trách. Thông qua những cử chỉ, hành động nhân các nhân vật Lí trưởng và Cải đã làm nên tiếng cười cho toàn bộ câu chuyện. Ta có thể thấy những hành động, cử chỉ của các nhân nhật khá giống với những nhân vật trong vở kịch câm. Khi bị lí trưởng sai quân lính đánh cải mười roi thì cải đã xòe năm ngón tay ra như để nhắc nhở lí trưởng nhớ về món tiền đút lót năm đồng. Trước hành động ấy của Cải, thầy Lí không nói gì mà xòe năm ngón tay úp lên bàn tay kia để thông báo cho Cải rằng Ngô đút lót gấp đôi cải nên lẽ tất nhiên lẽ phải sẽ thuộc về Ngô. Ngoài những hành động, cử chỉ thì câu chuyện này còn dùng hình thức chơi chữ để tạo ra tiếng cười. Từ “phải” ở đây mang tính đa nghĩa, đó vừa là lẽ phải, đối ngược lại với sai trái trong phân xử ở công đường nhưng “phải” còn mang nghĩa bắt buộc, thông báo về mức tiền có thể mua được công lí, lẽ phải. Ngay phần mở đầu câu chuyện, tác giả dân gian đã giới thiệu cho độc giả về người thầy đồ dốt nát nhưng lại đi dạy học, đi đến đâu cũng thích nói chữ. Ở người thầy đồ này chứa đựng nhiều mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, giữa sự dốt nát bên trong với sự thể hiện, khoe mẽ ở bên ngoài. Từ phần giới thiệu về nhân vật, tác giả dân gian đã miêu tả chi tiết về tình huống anh ta được mời đi dạy vì gia đình tưởng anh ta giỏi thật. Bản chất dốt nát lại làm công việc gõ đầu trẻ nên không thể tránh được những tình huống dở khóc dở cười. Khi dạy về bài Tam thiên tự, vì chữ “kê” có rất nhiều nét rắc rối nên anh ta cũng không biết là chữ gì, học trò hỏi dồn dập nên anh ta đành trả lời bừa “dủ dỉ là con dù dì”. Yếu tố gây cười ở đây là đi dạy học mà lại không biết được chữ gì, dốt nhưng lại giấu dốt. Vì học trò hỏi bất ngờ mà thực tế anh ta cũng không biết đó là chữ gì nên dù trả lời vẫn thấy thấp thỏm không yên. Câu chuyện trở nên kịch tính hơn khi anh ta nhờ đến thủ công để xem câu nói vừa rồi mình nói ra có đúng hay không, và hài hước ở chỗ anh ta xin thì được cả ba đài nên anh ta rất tự tin để cho học trò đọc to. Có thể nói cách xử lí của người thầy đồ rất thận trọng vì anh ta nhận thức được sự dốt nát của mình và muốn giấu cái dốt ấy. Người thầy đồ biết mình sai nhưng không công nhận mìn sai mà tìm cách lấp liếm để che giấu đi sự ngu dốt của mình, cách người thầy đồ đưa ra cách lí giải vòng vo để chống chế càng làm cho tiếng cười đậm nét hơn. Như vậy, qua quá trình dạy học, người thầy đồ đã tự bộc lộ cái dốt nát của mình. Câu chuyện đã được khai thác vào phần bản chất nhất ở các nhân vật để gây ra tiếng cười cho câu chuyện. Những câu chuyện cười không chỉ mang đến tiếng cười để giải trí mà qua đó nhằm phê phán kín đáo những thói hư, tật xấu trong đời.
Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày và Tam đại con gà
947
Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày để thấy được ý nghĩa trào phúng sau những tình tiết gây cười Hướng dẫn Đề bài: Truyện cười dân gian không chỉ nhằm mục đích giải trí với những tình tiết gây cười mà qua những tiếng cười đó ông cha ta đều gửi gắm những bài học, ý nghĩa phê phán sâu sắc với một đối tượng, hiện tượng nào đó trong xã hội. Nhưng nó phải bằng hai mày là câu chuyện như thế, anh chị hãy phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày để thấy được ý nghĩa trào phúng sâu sắc được ẩn sau những tình tiết gây cười. I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày 1. Mở bài Giới thiệu truyện: “Nhưng nó phải bằng hai mày”, một câu chuyện đưa đến cho người đọc rất nhiều cảm xúc, vừa bi vừa hài, đồng thời một phần lên án những góc khuất trong xã hội thời bấy giờ 2. Thân bài Phân tích tình huống truyện Cốt truyện Nhân vật: Lý trưởng, người nông dân: Cải và Ngô Mâu thuẫn đánh nhau nên cả 2 cùng đi kiện Tiếng cười trong truyện: Mâu thuẫn bật lên tiếng cười và ý nghĩa Thầy Lý mang tiếng xử kiện giỏi nhưng lại ăn đút lót Hành động gây cười của Cải và thầy Lý Cảnh tượng éo le của Cải: Vừa mất tiền vừa bị đánh Lên án một bộ phận con người trong xã hội cũ 3. Kết bài Cảm nghĩ về câu chuyện: Thông qua truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày” đã góp phần nào đó làm cho nền văn học dân gian trở nên phong phú hơn, tạo nên nét riêng biệt mang đậm bản sắc dân tộc, là một mảnh ghép tạo nên bức tranh đầy đủ về một xã hội thời bấy giờ để còn lưu truyền cho tới ngày nay II. Bài tham khảo Truyện dân gian Việt Nam luôn có những nét đặc trưng riêng biệt, đặc biệt là những câu chuyện ngụ ngôn luôn đem đến cho người nghe những giây phút thoải mái, những bài học quý giá đúc rút ra sau mỗi câu chuyện, tiêu biểu cho những tác phẩm đó là truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày”, một câu chuyện đưa đến cho người đọc rất nhiều cảm xúc, vừa bi vừa hài, đồng thời một phần lên án những góc khuất trong xã hội thời bấy giờ. Câu chuyện diễn ra giữa hai người nông dân tên Ngô và Cải, do mâu thuẫn cá nhân mà không ai chịu nhường nhịn ai dù là một li nhỏ nhất, cả hai đều tự cho mình là đúng và không chấp nhận chịu phần thiệt thòi về cho bản thân, từ đó cùng nhau đi kiện để quan phân xử giúp. Quan đứng ra xử kiện cho hai người nông dân là Lý Trưởng, câu chuyện xoay quanh người quan, Ngô và Cải, những tình huống khiến người đọc bật cười cũng từ đây mà xuất hiện, tiếng cười xuất hiện do mâu thuẫn của sự việc, thầy Lý với vẻ bên ngoài là một người công tư phân minh, được cho là xử kiện giỏi, đứng ra đem lại công bằng cho người dân, nhưng ẩn sâu bên trong con người này lại là một ông quan tham, một người yêu thích đồng tiền hơn bất cứ thứ gì khác, ông ta xử kiện dựa trên những gì mà ông ta nhận được từ người kiện cáo, và tỉ lệ thắng kiện cũng đồng nghĩa với số tiền mà ông ta nhân được từ người đó. Trước vụ kiện cả Cải và Ngô đều muốn mình là người được ưu ái, muốn là người thắng kiện, không phải chịu những trận đòn của quan, và cũng muốn nhìn người kia khổ sở và mất mặt nên cả hai đều đã đút lót quan một số tiền nhất định. Và điều gì đến cũng đến, Tiếng cười được bật lên thông qua cử chỉ và hành động của hai người nông dân và quan xử kiện, vì đã đút lót quan nhiều hơn nên Ngô ung dung tự tại mà không việc gì, còn Cải với số tiền ít hơn Ngô nên đã không giúp Cải tránh những trận đòn nhừ tử của quan. Và khi bị lôi ra đánh Cải, vì nghĩ là quan đã quên nên Cải đã xòe năm ngón tay ra để cầu xin lẽ phải với quan, bằng cử chỉ và lời nói của mình cải muốn nhắc nhở quan về số tiền mà anh đã đưa trước đó. Nhưng thứ mà anh nhận lai được là một hành động tương tự đến từ phía Thầy lý, Thầy lý cũng xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải và nói “Mày phải nhưng nó phải bằng hai mày” một câu chơi chữ vô cùng sắc bén đã khiến người đọc phì cười, một hàm ý mà chỉ những người trong cuộc với nhau mới có thể hiểu được, dù biết là Cải đã có lẽ phải với quan nhưng lẽ phải của cải so với Ngô chỉ bằng một nửa. Cao trào của chuyện được thể hiện ở hành động xử kiện của thầy lý, một con người tham lam nhận tiền từ hai phía và sẽ xử thua nếu như số tiền đút lót đó ít hơn, còn về phía Cải, anh chàng này rơi vào tình huống bi hài vô cùng, cùng nhau đi kiện nhưng anh Ngô với số tiền đút lót lớn hơn nên đã tự đắc vô cùng, còn Cải tiền mất tật mang, vừa mất tiền đút lót quan nhưng không hề được một chút ưu ái nào mà còn bị lôi ra đánh. Câu chuyện vô cùng thành công với những mâu thuẫn trong suốt câu chuyện để đẩy tiếng cười lên cao trào, bên canh đó tình huống chuyện bi hài khiến người đọc bật cười hả hê. Xuất phát trong dân gian, câu truyện muốn lên án những con người ham danh lợi, vì đồng tiền mà bán rẻ lương tâm, lên án xã hội sống thiếu công bằng, mọi người dùng đồng tiền để hơn thua nhau trong cuộc sống. Ngoài ra câu truyện cũng là bài học vô cùng quý giá lưu truyền trong dân gian để dạy dỗ con người về lối sống, phong cách sống, để tạo ra một xã hội công bằng Thông qua truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày” đã góp phần nào đó làm cho nền văn học dân gian trở nên phong phú hơn, tạo nên nét riêng biệt mang đậm bản sắc dân tộc, là một mảnh ghép tạo nên bức tranh đầy đủ về một xã hội thời bấy giờ để còn lưu truyền cho tới ngày nay Theo
Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày để thấy được ý nghĩa trào phúng sau những tình tiết gây cười
1,141
Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày. Liên hệ thực tế cuộc sống hiện tại. Hướng dẫn Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày. Liên hệ thực tế cuộc sống hiện tại. Trong kho tàng văn học dân gian có không ít những câu chuyện hài hước, hóm hỉnh được ông cha ta sáng tác để răn rạy con cháu cho muôn đời sau. Mỗi một câu chuyện đều thấm đượm ý nghĩa nhân văn sâu sắc về cuộc sống đời thường. Có những điều tuy gây cười nhưng sau tiếng cười ấy là tiếng nhắc nhở sâu sắc đến mọi người về lối sống hiện tại. Truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày” chính là một trong những bài học ý nghĩa như thế. Nhất là trong xã hội hiện nay, việc đút lót, tham quan giống như trong câu chuyện không còn là điều quá xa lạ hay hiếm hoi nữa. Câu chuyện kể về cuộc xử kiện giữa một tên tham quan và hai kẻ đánh nhau Ngô và Cải. Đương nhiên phần thắng thuộc về kẻ đã đút lót nhiều tiền hơn. Thậm chí là nhiều hơn hẳn gấp đôi. Bởi thế, cuối câu chuyện mới xuất hiện tình huống: “Thầy lí cũng xỏe năm ngón tay trái mà úp lên trên năm ngón tay mặt, nói: Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày!”. Câu chuyện đã mang lại tiếng cười sảng khoái khi kết thúc bất ngờ rằng Cải dù đã đút lót nhưng vì đút ít hơn mà bị thua kiện. Đồng thời, trong lời của thầy lí cũng đã hàm chứa luôn ẩn ý rằng tiền là lẽ phải. Nhưng cái “phải” của “Ngô” lại gấp hai lần cái “phải” của Cải. Lẽ phải ở đây được đánh giá chính xác bằng số tiền mà họ đã bỏ ra. Cứ có tiền là mua được công lý. Và công lý cũng giống như một mớ rau, mớ cỏ ngoài chợ, nhiều tiền mua được nhiều, ít tiền mua được ít. Bởi vậy, nhân vật Ngô không ngờ rằng mình đã thua kiện trong khi đã bỏ tiền ra đút lót. Một trong những ví dụ cụ thể là việc xử phạt của các đồng chí cảnh sát giao thông. Tất nhiên không thể đánh đồng hết tất cả nhưng những hành động đút lót để được “xử phạt nhanh” đang diễn ra rất nhiều. Thậm chí, có đồng chí còn đề nghị luôn người tham gia giao thông “nộp phạt nhanh” để được thoát tội. Những đồng tiền phạt ấy sẽ vào túi ai khi hóa đơn không được lập? Trong những tình huống như vậy, cũng không thể đổ hết lỗi cho các đồng chí cảnh sát giao thông, bởi rõ ràng người tham gia giao thông vi phạm lỗi mới bị bắt lại. Nhưng khi bị bắt, chính bản thân họ lại muốn được xử lý nhanh để còn nhanh chóng đi tiếp, không muốn dính vào phiền phức nếu lỡ bị giữ xe… theo đúng quy định xử phạt của luật pháp Nhà nước đưa ra. Trong một số trường hợp khác, do chính người tham gia giao thông không hiểu rõ luật nên bị các đồng chí cảnh sát giao thông hạch sách, vòi vĩnh… Cách tốt nhất để khắc phục tình trạng này là mỗi người tự nâng cao ý thức khi tham gia giao thông, đồng thời tìm hiểu và nắm rõ các quy định của luật pháp để biết mình đã sai ở đâu hay đúng như thế nào. Mặt khác, các đồng chí cảnh sát giao thông cũng hãy làm đúng luật, bắt đúng người đúng tội, dứt khoát xử lý các trường hợp vi phạm để họ rút kinh nghiệm và làm tấm gương răn đe cho những người khác. Khi mà lương tâm con người bị đồng tiền sai khiến, sẽ có rất nhiều việc nguy hiểm xảy ra. Nhất là khi người đó là người nắm quyền. Họ sẽ sẵn sàng vì đồng tiền, vì lợi ích riêng của bản thân mình mà làm hại người khác. Các thế hệ học sinh khi còn ngồi ghế nhà trường hãy rèn luyện đạo đức thật tốt để làm nền tảng cơ bản cho những kiến thức chuyên sâu khác. Bởi có tài và có đức mới có thể làm được việc đúng như lời Bác Hồ đã từng nói. Em hi vọng trong xã hội sẽ không còn có những trường hợp xảy ra giống như trong câu chuyện cười trên nữa. Và em cũng mong tất cả các bạn hãy cùng nhau cố gắng học hành, rèn luyện cả kiến thức và đạo đức để sau này trở thành người có ích cho xã hội, mang lại cho nhân dân một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, và bình yên.
Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày. Liên hệ thực tế cuộc sống hiện tại.
807
Phân tích truyện cười Tam Đại con gà. Liên hệ cuộc sống thực tế hiện nay. Hướng dẫn Phân tích truyện cười Tam Đại con gà. Liên hệ cuộc sống thực tế hiện nay. Truyện cười dân gian từ xưa đến nay vẫn là những câu chuyện hóm hỉnh, hài hước. Song lại chứa đựng những bài học vô cùng sâu sắc về lẽ sống đời thường. Trong đó, truyện Tam đại con gà là một trong những bài học rất thấm thía cho những kẻ vừa giấu dốt lại vừa tự phụ khoe khoang, gây nên những tình huống dở khóc dở cười trong thiên hạ. Truyện kể về một anh học trò vốn học dốt nhưng đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt. Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ. Ngay bài học đầu tiên đã dạy cho trò chữ “kê” thành “dủ dì là con dù gì”. Khi nhà chủ phát hiện, anh ta còn nhanh nhảu bào chữa “Tôi vẫn biết ấy là chữ kê nghĩa là gà nhưng tôi dạy thế là dạy các cháu biết đến tận tam đại con gà kia”. Hắn cũng không quên giải thích rất tường tận, cặn kẽ: “Dủ dỉ là con dù gì, dù dì là chị con công, công công là ông con gà”. Anh học trò trong câu chuyện trên không những không hiểu rõ về chữ nghĩa, còn tự cho mình có tài, có chữ. Đến cuối câu truyện hắn vẫn tỏ vẻ mình giỏi, nhất quyết không chịu nhìn nhận lại bản thân mình. Câu chuyện khép lại với tiếng cười nhạo báng nhưng bài học để lại cho đến tận thế hệ sau vẫn còn nguyên giá trị. Nói về lĩnh vực y học, bên cạnh những vị bác sĩ thực sự có tài, có tâm vẫn tồn tại những kẻ do được “đút lót” mà vào “đeo mác” ngành y. Cụ thể, trong thời gian gần đây, nếu ai theo dõi báo chí nhiều sẽ bắt gặp những câu chuyện oái oăm dở khóc dở cười về một ca mổ nhầm chân cho bệnh nhân, hoặc bỏ sót dụng cụ mổ bên trong nội tạng… Những sự việc hi hữu như vậy đã xảy ra, báo động cho một nền y học vẫn còn tồn tại quá nhiều tiêu cực. Trong khi gia đình người bệnh sẵn sàng hi sinh hết tất cả tiền của của mình để mong cứu lấy người thân, thì đâu đó lại có những người dùng đồng tiền của mình để mua lấy chức vụ y, bác sĩ… Để rồi làm lỡ dở cả cuộc đời của những người bệnh nhân xấu số. Tiền mất, tật mang, gia đình họ sẽ đi về đâu khi bệnh không khỏi mà tiền đã hết? Trong trường hợp này, tiếng cười đã trở thành tiếng khóc than ai oán đầy thù hận. Về lĩnh vực giáo dục. Cũng tương tự như trong câu truyện cười trên, một số thầy cô đã dùng tiền mua lấy vị trí của mình. Dẫn đến hậu quả không kèm cặp, dạy dỗ được học sinh đến nơi đến chốn. Kiến thức bị hổng, quá trình dạy thiếu kinh nghiệm, khiến học sinh không tự bồi bổ được kiến thức cho mình để bước vào những kỳ thi trong quá trình học tập. Đặc biệt, tiếng tăm của những thầy cô tâm huyết trong nghề cũng từ đó mà bị ảnh hưởng chung. Đây chỉ là hai trong số nhiều lĩnh vực xảy ra trường hợp người ngồi ghế trên nhưng kiến thức không thông dẫn đến những hậu quả khó lường. Còn rất nhiều trường hợp khác cũng đang trong tình trạng tương tự. Nhất là khi cơ chế tuyển dụng công chức Nhà nước diễn ra ngày càng nhiều, thì việc dùng tiền để mua việc cũng đồng thời đang dấy lên một làn sóng mạnh đáng quan tâm trong xã hội. Tại sao lại phải mua việc? Có muôn vàn lý do để giải thích điều này. Tuy nhiên, có một thực trạng mà ai cũng có thể hiểu rõ được rằng: Khi trở thành nhân viên chính thức của chế độ công chức nhà nước, việc thể hiện năng lực sẽ không bị kiểm soát khắt khe như đối với các doanh nghiệp tư nhân. Bởi họ sẽ đào thải nhân viên liên tục nếu không đáp ứng được nhu cầu công việc. Còn đối với công chức nhà nước, việc đó có phần giảm nhẹ hơn, dẫn đến tình trạng nhiều người chưa đủ khả năng làm việc nhưng có nhiều tiền nên vẫn thắng. Đơn giản hơn, ngay trong bộ máy chính quyền tại các thôn, xã, phường, nhiều người trình độ chưa cao, kinh nghiệm giải quyết công việc còn hạn chế nhưng khi được đưa lên nắm quyền lại đương nhiên trở thành người đứng đầu của một vùng. Việc này gây ra không ít những rắc rối cho người dân. Câu chuyện cười khép lại, nhưng ý nghĩa vẫn là một bài học rất sâu sắc cho tất cả mọi người noi theo. Cười cho anh học trò, nhưng cũng là lời nhắc nhở khéo léo cho bản thân mỗi người hãy tự nhìn nhận lại mình, tự kiểm soát kiến thức và khả năng của mình để bù đắp, để phấn đấu. Em mong sao xã hội ngày càng vững mạnh hơn với những con người có tài thực sự, và em cũng tự hứa sẽ học hành thật nghiêm túc, chăm chỉ để được phục vụ mọi người bằng tất cả những gì mình hiểu biết.
Phân tích truyện cười Tam Đại con gà. Liên hệ cuộc sống thực tế hiện nay.
940
Phân tích truyện cười Tam đại con gà Hướng dẫn Phân tích truyện cười Tam đại con gà Thông thường, cái dốt do thất học được mọi người dễ dàng thông cảm; còn cái dốt của học trò thì chỉ đáng chê trách, chứ không đáng cười. Người xưa nói:“ Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Thế nhưng trong cuộc sống, nhiều người lại có thói “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Vì thế mà cha ông ta đã sáng tác ra những câu truyện cười truyện ngụ ngôn để phê phán theo một cách hài hước, trong số đó truyện cười Tam đại con gà là một câu truyện khá phổ biến hướng đến sự châm biếm đả kích vào một anh học trò loại người “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Anh ta học hành dốt nát nhưng lại có tính khoe khoang đi đâu cũng ra vẻ cũng lên mặt “văn hay chữ tốt”. Cái xấu cái tốt càng che đậy càng dễ lộ ra kệch cỡm và đáng cười hơn rất nhiều lần. “Tam đại con gà” là câu truyện dân gian ngắn có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ kể về những sự việc hành vi tự nhiên của con người với tính chất giải trí. Câu chuyện thu hút người đọc ở các tình huống khó xử khác nhau trong truyện dẫn dắt người đọc đi từ bất ngờ hay tới bất ngờ khác và tiếng cười vang lên khi tình huống cuối cùng khép lại. Mấu chốt của câu chuyện chính là ông thầy được mời về gõ đầu trẻ.Bi kịch đã bắt đầu từ đó và khiến ông thầy không thể xoay xở được.Bắt đầu là việc nhận biết mặt chữ.Thầy đồ đi dạy học trò nhưng “thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối quá học trò lại hỏi gấp,thầy cuống nói liều”. Thầy gặp chữ “kê” mà cũng không biết là chữ gì nên nói bừa “dủ dỉ là con dù dì”. Đọc chữ kê thành dủ dỉ, rồi giảng bậy dủ dỉ là con dù dì quả là thầy đã đi đến chỗ tận cùng liều lĩnh và tận cùng của sự dốt nát thảm hại. Dủ dỉ đâu phải chữ Hán? Và trên đời làm gì có con vật nào tên là dủ dỉ, dù dì? Như vậy là thầy vừa dốt Kiến thức sách vở, lại vừa dốt kiến thức thực tế. Người đọc đọc đến đây phải bật cười ngạc nhiên trước “trình độ” của “ông thầy kì quặc này. Nhân vật Thổ Công xuất hiện khiến cho ý nghĩa phê phán và nghệ thuật trào phúng của truyện càng sinh động, sâu sắc. Như một mũi tên bắn trúng hai đích, truyện “khèo” cả Thổ Công vào với thầy mà chế giễu. Té ra thần thánh tưởng là thiêng liêng mà cũng dốt. Cái dốt ấy thể hiện ở chi tiết thầy đổ xin ba đài âm dương, Thổ Công cho được cả ba. Như vậy là Thổ Công đồng ý với thầy đồ chữ ấy đúng là dù dì. Thế là thầy đồ vững bụng, không sợ nữa mà đắc chí lắm… bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào: Dủ dỉ là con dù dì! Dủ dỉ là con dù dì… Với chi tiết ấy, cái dốt của thầy đã được khuếch đại lên gấp nhiều lần Vốn “vụng chèo khéo chống”, thầy vẫn cố gượng gạo giấu dốt bằng cách giải nghĩa quanh quẩn rất buồn cười. Không ngờ chữ dủ dỉ vô nghĩa mà lại được thầy tìm ra lắm nghĩa đến thế. Cách chống chế của thầy nhằm mục đích giấu dốt và thầy vẫn ra vẻ ta đây hay chữ, trái ngược với sự tự nhận thức về mình lúc trước. Chính sự trái ngược này đã tạo ra tiếng cười trào phúng hả hê. Truyện khai thác cả vần điệu, cả yếu tố thứ bậc trong tam đại con gà mà chế giễu, chọc cười: Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà. Yếu tố bất ngờ nhất của chuyện khép lại thì cũng là lúc tiếng cười phê phán vang lên không dứt. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích truyện cười Tam đại con gà
721
Đề bài: Phân tích truyện cổ dân gian Em bé thông minh Bài làm Em bé thông minh là một trong những truyện cổ dân gian Việt Nam có sức hấp dẫn riêng và được nhân dân ưa thích. Truyện ca ngợi trí thông minh của nhân dân ta trong cuộc sống. Nhân vật trung tâm là em bé thông minh. Trí thông minh của em bé được trổ tài trong bốn lần. Lần thứ nhất, trước câu hỏi oái ăm của tên quan: “Trâu… cày một ngày được mấy đường?" thì em bé đã hỏi vặn lại: Ngựa… đi một ngày được mấy bước?". Em đã lấy cái không xác định đế giải đáp cái không xác định. Thể thức này ta thường bắt gặp trong nhiều truyện dân gian. Ví dụ, hỏi: "trên đầu có bao nhiêu sợi tóc?" thì vặn lại: "lỗ mũi có bao nhiêu cái lông?"… Lần thứ hai, vua ban cho làng em 3 thúng gạo nếp, 3 con trâu đực, hạn trong 3 năm, trâu ấy phải đẻ thành 9 con. Thật kì quặc vì trâu đực sao đẻ được? Có loại trâu nào đẻ được 3 con trong 3 năm? Lệnh vua ai dám chống lại? Dí dỏm ở chỗ: cả làng thì lo, còn em bé lại có cách xử trí rất "lạ": giết hai trâu, đem 2 thúng gạo nếp đồ xôi, cả làng ăn… một trận cho sướng miệng; còn 1 thúng gạo nếp, 1 con trâu thì đem bán đi để hai cha con em làm lộ phí lên kinh một chuyến. Em đã tìm cách gặp được vua. Cuộc đối đáp của em cũng rất thông minh. Em gặp vua và em khóc vì mẹ đã chết mà cha em không đẻ được một bé nào nữa… Câu hỏi ngây thơ ngộ nghĩnh của em đã làm cho ông vua phì cười cắt nghĩa: "Bố mày là giống đực thì làm sao mà đẻ được!". Em đã "giương bẫy" để vua mắc mưu, và em có cớ vặn lại: "Thế sao làng chúng con lại có lệnh trên bắt nuôi 3 con trâu đực cho đẻ thành 9 con để nộp đức vua?…". Em bé rất thông minh và đã biết sử dụng phép luận suy là lấy cái vô lí, cái phi lí để giải thích, để bác bỏ cái phi lí, cái vô lí: đàn ông không đẻ được thì trâu đực cũng không đẻ được, đó là chuyện đương nhiên! Vua vẫn chưa tin em bé này thông minh, nên đã sai sứ mang đến một con chim sẻ bắt cha con em phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em đã gửi sứ giả một chiếc kim đem về tâu với đức vua rèn cho ba con dao. Trong điều kiện kiện thủ công lạc hậu, thô sơ thì một cái kim không thể nào rèn dược ba con dao. Đã không có dao, hoặc chưa có dao thì chưa thể giết được sẻ đế dọn cỗ cho vua. Rất dí dỏm, thú vị. Em bé thông minh lắm: Em đã lấy cái không thể nào làm được để giải thích sự việc thành không thể nào được! Không thể nào rèn một chiếc kim thành ba con dao cũng như không thể giết một con chim sẻ dọn thành ba cỗ thức ăn được! Lần thứ tư em đọ trí với sứ giả một nước láng giềng (cũng như Trạng Quỳnh gặp sứ tào, thuở nào!). Làm sao xâu sợi chỉ luồn qua đường ruột con ốc xoắn? Trong lúc Trạng nguyên, đại thần, văn võ bá quan vô kế khả thi thì em bé ung dung, hát lên một bài vè: Tang tình tang! Tang tình tang! Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng, Bèn thời lấy giấy mà bưng, Bền thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang Tang tình tang…. Câu đố tưởng là hóc hiểm nhưng đối với em bé thì dễ ợt! Em đã làm cho vị sứ giả nước láng giềng phải thán phục khi nhìn thấy con kiến càng kéo sợi chỉ qua ruột con ốc xoắn. Sau bốn lần trổ tài, em bé đã được phong Trạng nguyên, được ở gần vua để tiện hỏi han, nghĩa là em đã trở thành thái sư của hoàng đế! Truyện cổ tích Em bê thông minh gần giống một truyện Trạng Quỳnh. Truyện hàm chứa nhiều chất dí dỏm, hài hước. Một em bé 7, 8 tuổi thế mà được phong Trạng nguyên, trở thành cố vấn đầu triều cho hoàng đế, làm cho sứ giả nước láng giềng phải trố mắt thán phục. Cuộc sông lam lũ, cực nhọc nên nhân dân ta tưởng tượng ra một câu chuyện dí dỏm đề mua vui, đế yêu đời… Truyện đề cao trí khôn dân gian. Em bé thông minh tiêu biểu cho trí khôn dân gian, mẫn tiệp, sắc sảo trong ứng xử. Qua truyện cổ tích này, nhân dân ta thể hiện lòng quý mến, trân trọng những con người thông minh, tài trí trong xã hội, đồng thời khẳng định: trí khôn, sự thông minh, tính sáng tạo là vô giá! Ai cũng phải rèn luyện trí thông minh.
Phân tích truyện cổ dân gian Em bé thông minh
860
Đề bài: Phân tích truyện cổ tích Tấm Cám Bài làm 1. Dù là truyện loài vật, thần kì hay thế tục thì truyện cổ vẫn mang yếu tố chính là xuất hiện và phản ánh những sự việc xảy ra trong xă hội loài người. Truyện cổ Tấm – Cám thuộc loại truyện thần kì kể về dời cô Tấm, một có bé bất hạnh phải chịu nhiều nỗi đắng cay, chua xót nhưng được tiên, bụt.. phò trợ nên đã vượt qua và đạt được hạnh phúc trong đời. Truyện tuy có những chi tiết thần kì giữ vai trò mở nút thắt trong từng tình huống, nhưng trên tất cả là thề hiện ước mơ cháy bỏng của nhân dân lao động về hạnh phúc gia đình, về lẽ công bằng xã hội, về phẩm chất và năng lực tuyệt vời của con người. Phân tích truyện cổ tích Tấm Cám 2. Đoạn đầu truyện, dân gian giới thiệu các nhân vật chính và hoàn cảnh sống của họ. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha Tấm cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám. Lời giới thiệu không chỉ gọn, rõ mà còn gợi mở số phận đắng cay của nhân vật Tấm với người đọc. Đúng vậy, tục ngữ – ca dao cũng đã từng nhắc nhở: Mấy đời bánh đúc có xương, Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng Cám thì được mẹ nuông chiều, được ăn trắng mặc trơn. Ngược lại thì Tấm bị dì ghẻ bắt làm đổ mồ hôi, sôi nước mắt mà không hết việc. Sau đoạn văn giới thiệu, tình huống thứ nhất xuất hiện do mụ dì ghẻ rất cay nghiệt bày ra. Mụ mang ra hai cái giỏ đưa cho hai chị em đi bắt tôm bắt tép, và ra điều kiện rằng: Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yểm đỏ. Một điều kiện, một lời hứa khá là công bằng, chẳng bắt ép con ghẻ, cũng chẳng thiên vị con ruột. Đứa nào nhiều hơn thì được thưởng. Thế thôi! Nhưng ai biết được mụ đã nói gì với Cám, con gái cưng của mụ? Tất nhiên trong sinh hoạt hàng ngày mụ dư biết Tấm đã quen với việc mò tôm bất tép, còn Cám thì không. Chỉ một buổi thôi, Tấm đã bắt được một giỏ đầy. Thấy vậv, Cám mới bảo: Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng. Về hình thức thì câu nói có vần có điệu khiến lời kể hấp dẫn hơn. về nội dung thoạt nghe thì hữu lí, nhưng nghĩ lại cho cùng thì ẩn chứa sau lời nhắc nhở có chút đe dọa kia là một mưu toan. Tin là thật nên Tấm làm theo, còn Cám thì thừa dịp đó trút hết tôm tép vào giỏ của mình rồi ba chân bôn cẳng chạy về nhà. Tất cả những chi tiết tạo nên tình huống trên giúp người đọc thấy rõ đặc tính của mỗi nhân vật, ai là người chân thật, ai là kẻ dối trá và lừa đảo. Trước tình cảnh đó, cô Tấm chỉ còn biết khóc. Thế là Bụt xuất hiện. Hiện thực (Tấm) và siêu nhiên thần kì (Bụt) giao hóa để tạo nên tình huổng mới. Nếu không có Bụt xuất hiện thì hướng phát triển của truyện theo chiều hiện thực (chẳng hạn Tấm về nhà, bị mụ dì ghẻ đánh mắng và đuổi đi…). Có Bụt xuất hiện Bụt mới chỉ cho Tấm cách nuôi con cá bống duy nhất còn sót lại trong giỏ. Và bống cũng trở thành con cá thần kì nghe được tiếng người gọi theo lời Bụt dặn để trồi lên… Bống bống, bang bang, Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người Thế giới siêu nhiên thần kì sống giao hòa với con người bắt đầu từ tình huống này. Tấm làm theo lời Bụt nuôi cá bống ở giếng trong vườn nhà, mỗi ngày gặp nhau bằng câu Bụt dặn. Với người tin thế giới tâm linh thì đó là câu thần chú. Với người bình thường thì đó là câu mật khẩu để nhận ra người cùng phe dù không biết mặt mũi của nhau. Nhờ vậy mà Tấm với bông sống và gập gỡ nhau trong một thời gian dài. Nhưng sự việc không qua được cặpmắt soi mói, đầu óc nghi ngờ của mụ dì ghẻ. Mụ sai Cám đi rình, học thuộc mấy câu trên, rồi thực hiện âm mưu đen tối của mình. Mụ sai Tấm chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu. Tấm làm theo. Tới chiều về, Tấm mang cơm ra cho bống như mọi khi. Gọi mãi mà không thấy bống, cuối cùng chỉ thấy một cục máu nổi lên mặt nước. Chi tiết kì ảo ấy khiến người đọc có cảm giác rờn rợn. Tính độc ác tăng dần trong con người của hai mẹ con mụ dì ghẻ. Cái chết đã xuất hiện, dù là cái chết của con cá bống. Mà cá bống, trong trường hợp này lại là một phần của lực lượng siêu nhiên bởi có sự dẫn dắt, chỉ bảo của Bụt, rõ hơn là tình thương, là sự giúp đỡ cùa Bụt đối với Tấm – cô bé mồ côi, bất hạnh. Bởi vậy, khi nghe Tấm vừa khóc vừa trình bày sự việc, Bụt đã cho biết là bống đã bị người ta ăn thịt và chi cho cách sử dụng xương của bống. Tấm lục lọi tìm xương của bông khắp vườn, nhưng không thấv. Thấy vậy, một con gà bảo Tấm: Cục ta cục tác! Cho ta nắm thóc, ta bới xương cho. Tấm làm theo yêu cầu của gà, rồi theo gà vào bếp. Lấy được xương bống, Tấm cho vào bốn cái lọ và chôn dưới bốn chân giường theo lời Bụt dặn. Chắc chắn Tấm chẳng biết ai ăn thịt bống, nhưng qua đoạn văn thì siêu nhiên (ở đây là Bụt) biết, chỉ cho Tấm cách dùng xương của bống, và sắp xếp cho gà gặp và mách bảo cho Tấm. Gà nói được tiếng người hay người nghe được tiếng gà cũng do quyền năng của siêu nhiên. Quyền năng ấy là điều bí ẩn, cũng như việc chôn bốn lọ đựng xương xuống dưới bốn chân giường để làm gì, sau này chúng thành nhừng thứ gì thì con người chẳng ai biết. Nhưng người đọc nhận ra sự liên can giữa bốn lọ xương với Tấm khi tự đặt ra câu hỏi: Tại sao không chôn bốn lọ xương ây ở một nơi nào khác mà lại chôn dưới bốn chân giường của Tấm? Chính những chi tiết ấy khèu gợi tính tò mò của người đọc khiến họ không muốn đứt câu chuyện. Truyện được kể tiếp về những ngày hội ở kinh đô. Không muôn Tấm cùng đi, mụ dì ghẻ trộn hai đấu thóc và gạo vào nhau, bảo Tấm lựa hai loại để riêng ra rồi hãy đi. Bụt lại giúp Tấm hai câu thần chú gọi chim sẻ: Rặt rặt xuống nhặt cho tao Ăn mất hạt nào, thì tao đánh chết. Không có quần áo đẹp đi dự hội, Bụt bảo Tấm đào bôn cái lọ đã chôn dưới bốn chân giường lên. Xương của bống đã hóa thành lễ phục, đỏi giày thêu, con ngựa và yên ngựa. Từ phương tiện để chưng diện, di chuyển ấy Tấm nhanh chóng đi dự lễ hội. Ngựa phóng qua chỗ lội, Tấm bị rơi mất một chiếc giày. Hai chú voi đẫn đầu đoàn xa giá của vua đến dự hội tới đấy đều kêu rống lên, không chịu đi tiếp. Nhà vua phải sai quân hầu tìm hiểu thì vớt được chiếc giày. Nhà vua nhìn kĩ chiếc giày và thầm bảo: Chà, một chiếc giày thật xinh! Người đi giày này hẳn phải là một trang tuyệt sắc. Từ chiếc giày ở đây trở lại đầu truyện, những chi tiết tạo nên những tình huống giúp Tấm vượt qua thử thách đều do Bụt, và bống là nhân vật liên can. Chính nhờ chiếc giày được biến hóa từ xương của bông mà Tấm được vua sai đoàn thị nữ rước nàng vào cung, dù trước đó khi gặp hai mẹ con Cám trong buổi thử giày nàng đã bị mụ dì ghẻ bĩu rằng: Chuông khánh còn chả ăn ai, nữa là mảnh chinh vứt ngoài bờ tre. Từ đây trở về sau, các chi tiết chính tạo nên các tình huống chính đều liên can trực tiếp đến sinh mạng của Tâm, và mưu mô ác độc của mụ dì ghẻ và Cám. Tuy sống sung sướng trong hoàng cung, Tấm vẫn không quên ngày giỗ cha. Chi tiết ấy cho người đọc nhận ra Tấm không chỉ là cô gái thật thà mà còn là người con hiếu thảo. Nàng xin phép nhà vua về phụ với dì ghẻ làm cỗ cúng cha thì bị mụ dì ghẻ lợi dụng lòng hiếu thảo ây sai nàng trèo lên cây cau xé lấy một buồng để cúng bố để đốt cây giết nàng. Mụ còn đưa Cám vào cung thay thế vai trò của chị. Nhà vua thì trong bụng không vui, nhưng vẫn không nói gì cả. Cái chết của Tấm nảy sinh ra một chuỗi tình huống nhỏ tiếp theo. Tấm chết, hóa làm chim vàng anh, bay thẳng về cung nhắc nhở Cám: Phơi áo chồng tao, phai lao phơi sào, chở phơi bờ rào, rách áo chồng tao. Chim vàng anh được vua vô cùng yêu quv, cho ở lồng vàng. Cám biết được, nghe lời mẹ bắt vàng anh làm thịt nấu ăn và vứt lông chim ra vườn. Lông chim hóa ra hai cây xoan đào được vua cho mắc võng và ngày nào cũng ra nám hóng mát. Mụ dì ghẻ và Cám lén chặt cây làm khung cửi. Cứ mỗi lần ngồi dệt và Cám nghe lời đe dọa. Cót ca cót két, Lấy tranh chồng chị, Chị khoét mắt ra Sợ quá, Cám nghe lời mẹ đốt khung cửi rồi sai người mang tro đổ bên vệ đường cách xa hoàng cung. Từ đống tro mọc lên một cây thị chỉ đậu được một quả khi đến mùa, hương thơm ngát tỏa ra khấp nơi. Bà lão hàng nước gần đó thấy bèn xin: Thị ơi thị, rụng vào bị bà, bà đem bà ngửi, chứ bà không ăn. Về với bà lão hiền từ, Tấm từ quả thị chui ra giúp bà dọn dẹp nhà cửa, múc nước, nấu cơm. Bà lão thấy ]ạ bèn rình xem. Khi thấy cô gái xinh đẹp thì bà ôm choàng lấy, rồi xé vụn võ thị Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương yêu nhau như hai mẹ con. Nhân một chuyến vi hành, thấy quán nước sạch sẽ và tươm tất nên nhà vua ghé vào. Bà lão mang cau trầu và nước dáng vua. Thấy miếng trầu têm cánh phượng, vua nhớ tới miếng trầu Tấm têm dâng vua ngày trước, bèn hỏi bà lão. Nhờ vậy mà Tấm và vua đoàn tụ. Một chuỗi nguyên nhân và kết quả, một chuỗi tình huống nhỏ xuất phát từ cái chết, từ xương thịt của Tấm. Từ chim vàng anh, cây gỗ xoan đào, khung cửi, cây thị đều có gốc từ xương thịt của Tấm mà ra. Nhưng chỉ từ cây thị, quả thị Tấm mới hóa kiếp lại thành người bởi Tấm đã trả xong những món nợ trong quá khứ mà đạo Phật gọi là nghiệp (nghiệp báo) nay ở vào hoàn cảnh gặp được người lành. Nếu ở truyện cổ Thạch Sanh – Lí Thông, Thạch Sanh thì tha nhưng Trời thì trừng phạt, cả hai mẹ con Lí Thông bị sét đánh chết thì ở truyện này Tấm lại trả thù, giết chết Cám. Có người cho rằng Tấm nhẫn tâm. Nhưng suy cho cùng thì mẹ con Cám đã tạo nghiệp ác quá nhiều, giết mẹ con Cám là Tấm muôn xóa sạch nghiệp ác ấy, để những người khác không phải chịu hành vi độc ác của mẹ con Cám nếu cả hai còn sống. Cái chết của mẹ con Cám hợp với quy luật: Gieo gió thì gặp bão! 3. Truyện cổ thần kì Tấm – Cám kể lại số kiếp long đong trong một phần đời của Tấm kể từ ngày mất mẹ, mất cha, và phải sống với mụ dì ghẻ và đứa em gái cay nghiệt độc ác. Qua nghệ thuật hư cấu truyện với những chi tiết thần kì, phần đời ấy, sự chuyển biến hình tượng của Tấm chính là sự đấu tranh giữa điều thiện với cái ác, là sự mâu thuẫn và xung đột trong gia đình dưới chế độ mẫu hệ. Từ một cô bé mồ côi bị hãm hại phải chết đi sống lại nhiều lần, cuối cùng Tấm vẫn giữ ngôi hoàng hậu đã thể hiện sức mạnh của điều thiện trước cái ác.
Phân tích truyện cổ tích Tấm Cám
2,209
Đề bài: Phân tích truyện Làng của Kim Lân Bài làm Kim Lân là nhà văn hiện đại Việt Nam. Ông có một vốn sống vô cùng sâu sắc về nông thôn Việt Nam. Những thú chơi dân dã mang cốt cách "phong lưu đồng ruộng" như thả diều, chọi gà, nuôi chó săn, thả chim bồ câu, chơi núi non bộ, gánh hát chèo, trẩy hội mùa xuân, v.v… được ông viết rất hay và cho ta nhiều thú vị. Ông là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc mang hương đồng gió nội qua 2 tác phẩm: Con chó xấu xí và Nên vợ nên chồng. Viết về đề tài nông dân và kháng chiến, truyện Làng của Kim Lân thành công hơn cả. Nhân vật chính của truyện là ông Hai đã để lại trong lòng em nhiều ấn tượng sâu sắc, đẹp đẽ. Ông Hai là một lão nông, cần cù chất phác, giàu lòng yêu quê hương đất nước. Ông gắn bó với cách mạng, quyết tâm đi theo kháng chiến, trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của Cụ Hồ Chí Minh. Cũng như hàng triệu người nông dân khác, ông Hai là một con người cần cù chất phác rất đáng yêu. Ông hay lam hay làm "ở quê ông làm suốt ngày, không mấy lúc chịu ngơi chân ngơi tay". Đi cày, đi cuốc, gánh phân, tát nước, đan rổ, đan rá,… ông đều làm khéo, làm giỏi. Ông Hai đã sống qua hai chế độ, trước kia ông mù chữ, sau nhờ cách mạng mà ông được học "bình dân học vụ", biết đánh vần. Kim Lân đã kể rất hay về tình yêu làng của ông Hai. "Làng ta phong cảnh hữu tình"… không yêu làng sao được? Cái làng Chợ Dầu vốn là nơi chôn nhau cắt rốn của ông, "nhà ngói san sát, sầm uất như tính", "dường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió …bùn không dính đến gót chân"… Trước kia, ông Hai rất lấy làm tự hào về cái sinh phần quan tổng đốc làng ông. Đi đâu ông cũng khoe, gặp ai ông cũng khoe "cái dinh cơ cụ thượng làng tôi có lăm lắm là của. Vườn hoa cây cảnh nom như động ấy…". Ông yêu làng Chợ Dầu với tất cả sự hồn nhiên, ngây thơ của người ít học. Ông đã mang thương tật trên mình khi bị bắt làm phu xây cái lăng ấy! Đáng lẽ ông không nên khoe, không nên "hả hê cả lòng”. Nỗi đau, nỗi nhục của một đời người nói làm gì nữa cho thêm phần nhục nhã? Nhắc lại chuyện xưa, cũ ấy của ông Hai, Kim Lân đã viết với một giọng văn châm biếm nhẹ nhàng. Từ ngày cách mạng thành công, ông Hai vẫn yêu làng, yêu với tất cả tình cảm trong sáng, chân thành. Ông đã có nhiều thay đổi về mặt nhận thức. Ông không bao giờ còn "đả động" đến "cái sinh phần" ấy nữa, ông biết "thù nó" đến tận tim gan. Ông yêu cái làng Chợ Dầu kháng chiến với tất cả niềm kiêu hãnh cao cả! Cái làng Chợ Dầu của ông “mà cái phòng thông tin tuvên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”. Ông khoe làng mình "những ngày khởi nghĩa rầm rập", các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ vác gậy đi tập quân sự, "nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì lắm công trình không để đâu hết!". Có thể nói, từ ngày đi tản cư, phải xa làng thân yêu, bao nỗi buồn vui của quá khứ và hiện tại chứa chất trong lòng ông bao tâm sự. Dưới ngòi bút của Kim Lân, ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước, hiền lành, chất phác… hiện lên một cách chân thực, ta thấy gần gũi, bình dị và đáng yêu lắm. Tình yêu làng, tình yêu quê hương là một trong những tình cảm sâu sắc nhất của người dân cày Việt Nam. Quyết tâm kháng chiến, tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch cũng là một nét rất đẹp trong tư tưởng, tình cảm của ông Hai. Kháng chiến thì khắp nơi “Ruộng rẫy là chiến trường. Cuốc cày là vũ khí. Nhà nông là chiến sĩ”. Vợ con đi tản cư, nhưng ông Hai vẫn ở lại cùng với đội du kích "đi đào đường, đắp ụ" để bảo vệ cái làng Chợ Dầu thân yêu. Khi hoàn cảnh gia đình neo bấn, vợ con thúc hách, cực chẳng đã phải xa quê hương, ông tự an ủi mình: "Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được thì tản cư âu cũng là kháng chiến!". Xa làng rồi nhớ làng, tính nết ông Hai có phần thay đổi. Ông ít nói ít cười, lầm lầm lì lì, thậm chí cáu gắt, chửi bới vợ con. Ồng vô cùng đau khổ: "Chúng mày làm khổ ông! Chúng mày làm khổ ông vừa vừa chứ! Ông thì giết hết, ông thì giết hết!". Chúng ta cảm thông với "tâm sự" u uẩn của ông, thương ông lắm! Trong lúc ông Hai đang hồ hởi với những chiến tích kháng chiến, những gương dũng cảm anh hùng của quân và dân ta thì ông như bị sét đánh về cái án "dữ" cả làng Chợ Dầu "Việt gian theo Tây",.., "vác cờ thần ra hoan hô" lũ giặc cướp! ông tủi nhục cúi gằm mặt mà đi, nằm vật ra giường như bị ốm nặng, nước mắt cứ tràn ra, có lúc ông chửi thề một cách chua chát! Ông sống trong bi kịch triền miên. Vợ con vừa buồn vừa sợ. "Gian nhà lặng đi, hiu hắt". Ông sợ mụ chủ nhà… có lúc ông nghĩ quẩn "hay ta quay về làng"… nhưng rồi ông lại kiên quyết: "Lùng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!!'. Kim Lân rất sâu sắc và tinh tế miêu tả những biến thái vui, buồn, lo, sợ… của người nông dân về cái làng quê của mình. Họ đã yêu làng trong tình yêu nước, đạt tình yêu nước lên trên tình yêu làng. Đó là một bài học vô cùng quý giá và sâu sắc của ông Hai đem đến cho mỗi chúng ta! Cuộc đối thoại giữa hai bố con ông Hai là một tình tiết cảm động và thú vị: … – "À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?" – "Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!" Nghe con ngây thơ nói mà nước mắt ông chảy ròng ròng trên hai má… Lòng trung thành của cha con ông, của hàng triệu nông dân Việt Nam đối với lãnh tụ là vô cùng sâu sắc, kiên định, vẻ đẹp tâm hồn ấy của họ rất đáng tự hào, ca ngợi. Vì thế, khi cái tin thất thiệt "cả cái làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây” được cải chính thì ông Hai là người sung sướng nhất. Ông "tươi vui, rạng rỡ hẳn lên", "mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ…". Ông mua quà cho con. Ông chạy sang nhà bác Thứ để "khoe" cái tin làng Chợ Dầu đánh giặc, nhà ông bị Tây đốt. Tự hào lắm chứ! Người đọc như được san sẻ niềm vui sướng cùng ông. Gấp trang sách lại, chúng ta bồi hồi xúc động về tình yêu làng của ông Hai, về nghệ thuật kể chuyện tạo tình huống hấp dẫn, hồi hộp của nhà văn Kim Lân. Những phẩm chất tốt đẹp của ông Hai như cần cù lao động, chất phác, yêu quê hương đất nước… tiêu biểu cho bản chất cao quý, trong sáng của người dân cày Việt Nam. Chính họ đã đổ mồ hôi làm nên những bát cơm đầy dẻo thơm nuôi sống mọi người. Chính họ đã đem xương máu, đánh giặc "giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín"… (Thép Mới). "Quê hương là chùm khế ngọt…" là niềm vui, nỗi buồn, là ước mơ đẹp của mỗi chúng ta. Quê hương đang đổi mới "ngói hóa", no ấm, giàu có trong thanh bình. Bài học sâu sắc nhất đối với em khi đọc truyện ngắn này của Kim Lân là tình yêu quê hương đất nước, từ lòng tự hào và biết ơn người dân cày Việt Nam.
Phân tích truyện Làng của Kim Lân
1,435
Phân tích truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh Châu Bài làm Tác giả Nguyễn Minh Châu là một cây bút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam thời kì sau năm 1975. Sự tài ba và tinh tế của ông đã được mọi người đánh giá là “Người mở đường tài ba và tinh anh” của công cuộc đổi mới văn học. Truyện ngắn “Bức tranh” được coi là tác phẩm mở đầu quá trình chuyển hướng sáng tác sang kiểu nhân vật tư tưởng của Nguyễn Minh Châu. Truyện ngắn xoay quanh hai nhân vật chính là người họa sĩ và anh chiến sĩ, nội dung chủ đạo là lòng suy nghĩ, sự hồi tưởng và trăn trở, đấu tranh tâm lí của người họa sĩ tài năng nhưng cũng mang đầy những khuyết điểm và hạn chế của con người. Nói về người họa sĩ, đó là một anh chàng nghệ sĩ tài năng, anh ta vốn nghiêm túc với nghệ thuật và công việc. Bức tranh kí họa “Chiến sĩ giải phóng quân” của người họa sĩ này rất nổi tiếng và được nhiều người chọn mua trưng bày. Chính anh cũng là người biết nhận ra những khiếm khuyết, thiếu sót và sai lầm của bản thân để từ đó khắc phục và sửa chữa. Khi trên đường chuyển công tác, anh ta mang the nhiều bức tranh tâm huyết của mình băng qua rừng qua suối, nhưng anh ta đã bị ngã xuống và bị thương, không còn mang vác nặng được nữa. Khi ấy, đã có người chiến sĩ đồng hành và tận tình giúp đỡ anh, vừa trị vết thương cho anh lại mang vác thay anh đống đồ đạc và những bức tranh. Tuy nhiên, người chiến sĩ này chính là người mà anh họa sĩ đã từng từ chối phũ phàng, không vẽ cho anh chiến sĩ một bức tranh truyền thần. Thế rồi từ lòng biết ơn và hối hận, anh họa sĩ đã xin lỗi và xin được vẽ một bức tranh tặng cho anh chiến sĩ, chính là bức kí họa người chiến sĩ, anh họa sĩ đã vẽ bằng cả tài năng, tấm lòng và cảm xúc của mình thế nên, chính bức họa ấy đã làm nên danh tiếng của anh. Sự quyết tâm của người họa sĩ sẽ đem bức tranh truyền thần của anh chiến sĩ về đưa trực tiếp cho mẹ của chiến sĩ đã cho ta cảm nhận được sự chân thành, tấm lòng đáng quý của người họa sĩ. Tuy nhiên những sai lầm và hạn chế của người họa sĩ này cúng bắt đầu từ bức kí họa và lời hứa đó mà bộc lộ. Anh ta trở về và bị cuốn vào guồng quay công việc, chìm trong sự thành công đầy bất ngờ của bức kí họa “Người chiến sĩ giải phóng quân”, anh ta đã không còn nhớ đến lời hứa, cho tới khi gặp lại chiến sĩ ấy tại hiệu cắt tóc, anh ta vừa hoảng hốt vừa trăn trở, và rồi anh ta nhận ra chính sự vô tâm của mình đã làm cho người mẹ chiến sĩ mùa lòa vì thương nhớ con. Anh nghệ sĩ ấy luôn tự trách và đấu tranh nội tâm dữ dội, anh ta nhận ra hành động của mình là sai trái, sự ích kỉ của anh đã làm cho người mẹ già yếu lại thêm mù lòa vì thương nhớ con. Sau một quá trình đấu tranh dữ dội phải – trái, đúng – sai, nói ra – giấu kín, anh ta đã quyết định nhận lỗi với người chiến sĩ. Chính sự giãi bày của anh họa sĩ đã làm cho bản thân anh ta được thanh thản, và là một hành động đúng đắn. Anh chiến sĩ hiện lên với một tấm lòng cao thượng, vị tha, khi biết việc làm của anh họa sĩ anh chiến sĩ không hề một lời trách móc. Người chiến sĩ ấy chính là tấm gương và là ánh sáng của lương tâm để người họa sĩ tự soi chiếu lại mình. Bức tranh kí họa thứ hai và cũng là bức tranh kết thúc tác phẩm chính là bức kí họa người họa sĩ tự vẽ về mình. Bức tranh ấy nhắn gửi tới người đọc rằng: hãy nhìn con người vào bản chất bên trong, sự hào nhoáng bên ngoài không thể phản ánh được những góc tối trong tâm hồn.
Phân tích truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh Châu
749
Phân tích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của nhà văn O. Hen-ri Hướng dẫn Ở một xứ sở có hai mùa phân biệt luôn luôn luân chuyển như ở nước ta, nhất là miền Bắc, chúng ta hẳn không ngỡ ngàng gì lắm với cảnh cây thay lá mỗi khi tiết trời thay đối. Ấy thế mà Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri lại không ngớt làm tôi ngạc nhiên thích thú. Bởi đó là một truyện ngắn rất giàu kịch tính. Nó là một chuỗi liên tiếp và là sự đan cài khéo léo, phức tạp các yếu tố bất ngờ mả chỉ đến câu cuối cùng của tác phẩm, cái nút mới được thảo gỡ. Câu chuyện xoay quanh một chiếc lá, chiếc lá có lẽ không quá nhỏ nhưng cũng chẳng lớn lao gì mấy để cho người ta, qua một cái sân rộng chừng sáu thước, có thế quan sát được dễ dàng. Đó là chiếc lá cuối cùng của “một cây leo già cỗi, tàn héo, cạn nhựa sống, rễ đầy những bướu”, khẳng khiu, trơ trụi, bám hững hờ vào lưng chừng bức tường thấp phía trước mặt, qua cửa số căn phòng của đôi bạn nữ họa sĩ. Chiếc lá tội nghiệp ấy liệu còn có thể bám víu vào cái cây leo gầy guộc kia được bao lâu nữa mới gánh nặng của những cơn gió bấc rét cắt ruột, những trận mưa đập ào ạt, dai dẳng trên cửa sổ, tiên mái hiên, những đợt tuyết rơi…? Trong thực tế, thì chỉ qua ba, bốn ngày gần đây, hàng trăm chiếc lá của chính cái cây ấy đã vĩnh viễn lìa đời. Hình tượng chiếc lá lắt lẻo trên một dây leo héo hắt khiến tôi nghĩ đến một cuộc sống tàn lụi, mong manh, bị vùi dập phũ phàng mà vẫn gắng chịu đựng, dũng cảm tồn tại. Chẳng phải là vô tình, khi chiếc lá cuối cùng ấy lọt vào mắt mọi người ở đây – nhất là Xiu lúc này đang lo lắng theo dõi cái nhìn của cô bạn gái. Vì nó gắn liền với cái cây leo thân yêu của Giôn-xi. Cũng vì nó gợi nhớ đến hiện trạng của chính Giôn-xi đang bị đánh gục bởi những ngón tay buốt giá của “gã viêm phổi”. Nó sẽ rụng. Nhưng, vào lúc nào? Sự tồn tại hay không tồn tại của nó có ý nghĩa gì đối với những người đang hằng ngày hằng giờ khắc khoải ngóng nhìn nó? Cái tất nhiên hình như đang treo lại lơ lửng đấy, hứa hẹn những điều bất ngờ khiến ta phải nín thở mà theo dõi. Bất ngờ đã đến. Nhưng đến theo một cách khác, người dự đoán: qua một đêm mưa to gió lớn, “chiếc lá cuối cùng” vẫn còn đó, nổi bật trên tường gạch, hơn nữa, còn thấy rõ là “chỗ gần cuống lá non xanh thẫm, nhưng đường viền răng cưa xung quanh đã nhuốm màu vàng…”. Hãy quan sát kĩ mà xem! Kì lạ thật, nhưng khó mà nghi ngờ. Hình ảnh hiện ra cụ thể, lặng lẽ như sự thật hiển nhiên không cần biện bạch. Hôm sau thế. Hôm sau nữa vẫn thế. Người ta buộc phải tin. Hầu như chẳng ai băn khoăn về sự tồn tại phi lí đó. Con người ấy là Giôn-xi lúc này đang nằm bất động trên chiếc giường sắt quét sơn, đưa mắt qua nhừng ô cửa nhỏ nhìn sang bức tường trống. Cô gái bé nhỏ này vốn đã khô gầy, lại viêm phổi nặng, xem ra khó hề qua khói, mạng sống mười phần chưa chắc đã hi vọng được một. Đến chỗ dựa là dấu hiệu bình thường nhất của lòng yêu đời — sự quan tâm đến một người đàn ông, đến thời trang cua phụ nữ chẳng hạn – cũng lại thiếu nốt. Khát khao về nghệ thuật đối với cô bé này, chỉ nó không thôi, chưa đủ đế cân bằng với chín phần, chác chắn mà tử thần đã nắm. Ngọn lứa leo lét như đang lụi dần theo thời gian, chỉ chực bùng lên một lần chót trước khi tắt ngấm. Giôn-xi đã bùng lên thật! Cô mở to mắt. Cô đăm đăm nhìn ra phía cửa sổ. Cô khe khẽ đếm ngược các con số – những chiếc lá còn sót lại trên cây. Với một ý thức rõ ràng, cô đang nhắm đếm những bước tiến đến cái chết đang chực sẵn. Chiếc lá cuối cùng nhất định sẽ rụng nốt. Cái chêt nhất định sẽ không thế tránh khỏi đối với Giôn-xi. Nhưng nó sẽ đến vào lúc nào? Có đúng là vào ngày “hôm nay” trước khi trời tối như phỏng đoán của Giôn-xi không? Không khí nặng nề, căng thẳng đến nỗi Xiu phải cô gắng và khéo léo làm dịu bớt. Giôn-xi dã ngạc nhiên trước thực tế. Nhưng phải qua thời gian, qua nhiều thử thách nữa, cô mới thốt lên được cái câu nặng ý nghĩa: “Muốn chết, đó là một tội lỗi”. Trờ lại với những nhu cầu cụ thể hằng ngày (muốn ăn, uống, muốn soi gương, muốn ngồi dậy xem nấu nướng…), những ước mơ, hoài bão chân chính, Giôn-xi bước một bước quyết định qua ranh giới của cái chết để bước vào lãnh địa của cái sống. Đó là điều không ai dự đoán dược, kể từ ông bác sĩ đã chẩn đoán cho Giôn-xi. Cho đến khi Giôn-xi “nằm vui vẻ đan một cái khăn quàng len để phủ lên vai, màu xanh ngắt và chẳng dùng làm gì được” thì không còn gì để có thế đánh ngã cô được nữa. Lùi trong hậu trường, mãi gần cuối tác phẩm, ẩn sâu trong cái hang tối mờ mờ – căn gác hai của tòa nhà, là một ông già khoảng lục tuần, râu tóc bờm xờm nửa thần nửa quỷ, đang đương đầu với giá rét bằng bộc một chiếc sơ mi cũ màu xanh. Bác Bơ-men đấy! Nhà nghệ sĩ nghèo cô độc này, say nhiều hơn tính, gần hết cuộc đời chưa sáng tạo nên được một cái gì hẳn hoi. Cái khung vải căng sẵn trên giá vẽ từ hai mươi nhăm năm nay cơ hồ bị bỏ quên và chắc gì đã không khiến cho nhiều người xung quanh mỉm cười hoài nghi? Cũng may mà đối với ông già tốt bụng, người ta còn chưa nỡ giễu cợt. Chỉ sau cái chết thảm vì bệnh viêm phổi của bác, căn cứ vào nhừng dấu tích bác còn để lại – từ chiếc đèn bão còn leo lét cháy, đến chiếc thang đã bị xê dịch, đến những chiếc bút vẽ và bảng pha màu vứt bừa bãi, người ta mới đoán ra: chính bác đã vẽ “chiếc lá cuối cùng” lên bức tường, chỗ cây leo. Chiếc lá vẽ giống hệt như thật, đặt đúng chỗ chiếc lá thực mới lìa cành. Tất cả được hoàn thành cấp tốc chỉ trong một đêm với một mình bác Bơ-men dưới ánh đèn nhập nhoạng và dưới mưa đêm lạnh thấu xương. Toàn bộ công trình dược xếp đặt tài tình đến nỗi, sáng hôm sau, con mắt cúa những nhà chuyên nghiệp như Xiu, như Giôn-xi, dù đã quan sát kĩ cũng chịu không phân biệt được. Ngay chính Xiu cũng không kịp nhớ lại để hoài nghi. Cái có bất ngờ nào thú vị hơn? Nhưng, chưa hết! Bất ngờ này mới thực là trọng đại: chiếc lá âm thầm ấy đã đảo ngược tình thế, đã cứu thoát một con người chi còn hi vọng sống có một phần mười! Quả là một kiệt tác vô song. Đấy là hiện thân nỗi khát vọng một đời của bác Bơ-men, hay đấy chính là hóa thân của bác Bơ-men? Bức vẽ chiếc lá trên tường được đánh đổi bằng cuộc sống và cái chết của lão nghệ sĩ đáng kính. Đấy là di sản vô giá kết tinh tấm lòng và tài năng, thứ nghệ thuật phục vụ thiết thực cho đời và tinh thần vị tha không gì sánh kịp của bác Bơ-men. Truyện ngắn đầy kịch tính, chứa chan ý vị nhân văn cao cả của O Hen-ri đã đột ngột kết thúc sau khi toàn bộ sự việc đã sáng tỏ. Những dư âm của nó như còn ngân vang mãi, nâng thêm lên trong ta khát vọng không cùng sống, và sống có ích, cho người, cho đời…
Phân tích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của nhà văn O. Hen-ri
1,428
Phân tích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri văn 8 Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri văn 8 O Hen-ri là cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Mĩ đầu thế kỷ 20. Giải thưởng o Hen-ri là giải thưởng văn chương ở Mĩ dành cho những truyện ngắn hay nhất hàng năm. Tên tuổi nhà văn mãi mãi lưu danh hậu thế. Truyện Chiếc lá cuối cùng tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của o Hen-ri. Truyện chỉ có ba nhân vật, những họa sĩ nghèo: Xiu, Giôn-xi và cụ già Bơ-men. Truyện có kết cấu chặt chẽ, hầu như không có chi tiết nào thừa, diễn biến xúc động như khi nói về trận ốm kéo dài của Giôn-xi và cái chết bất ngờ của cụ Bơ-men. Có ý kiến cho rằng: Truyện Chiếc lá cuối cùng của o Hen-ri là bức thông điệp màu xanh về tình thương và sự sống của con người. Truyện Chiếc lá cuối cùng đã thể hiện một tình bạn cao quý cảm động. Giôn-xi và Xiu là hai nữ họa sĩ trẻ, tuy nghèo nhưng nhiều mơ ước, nhiều yêu thương. Họ gắn bó với nhau về những sở thích và về nghệ thuật mà kết thành chị em cùng chung nhau thuê một phòng hoạ nơi phố nghèo. Mùa đông năm ấy, chứng viêm phổi hoành hành đã đánh ngã hàng chục nạn nhân. Giôn-xi cũng bị cảm lạnh, nằm liệt giường. Mọi thứ thuốc men, đều trở thành vô dụng, cô yên trí là mình không thể khỏi được. Giốn-xi lại bị ám ảnh, một khi chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân phía cửa sổ rụng xuống là cô sẽ ra đi. Sự sụp đổ về tinh thần của cô họa sĩ trẻ bất hạnh làm bệnh tình ngày thêm trầm trọng. Em thân yêu, em yếu dấu!… Em hãy hứa với chị là hãy nhắm mát lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ nữa… Em hãy cố ngủ đi… Xiu đã tận tình săn sóc em, lúc thì khuấy nước súp gà, lúc thì pha sữa với rượu Boóc-đô, lúc thì đặt thêm gối, lúc thì mời bác sĩ, lúc thì cầu cứu bác Bơ-men. Xiu đã giành giật với tử thần để chạy chữa cho đứa em nuôi bé bỏng tội nghiệp. Xiu là hiện thân của tấm lòng trắc ẩn vị tha, là một con người giàu đức hi sinh thầm lặng, có một trái tim nhân hậu mênh mông. Xiu là một nhân vật rất đẹp làm ta xúc động và ngưỡng mộ về một tình bạn, tình chị em thủy chung, cao quý. Nhân vật Xiu tỏa sáng bức thông điệp màu xanh của Chiếc lá cuối cùng. Để cứu người khỏi tai họa, có những con người đứng trước cái chết không hề sợ chết. Cụ già Bơ-men, một hoạ sĩ già là một con người giàu đức hi sinh như vậy. Năm ấy, cụ Bơ-men đã 60 tuổi, khắc khổ, đã 40 năm cầm bút vẽ mà vẫn không với tới được gấu áo vị nữ thần của nghệ thuật. Tuy yậy, cụ đã nói với cô Xiu: Một ngày kia tôi sẽ vẽ một tác phẩm kiệt xuất…. Ông không ngồi làm mẫu nữa, mà đã đứng trong cơn mưa lạnh lẽo, dai dẳng, pha lẫn tuyết đang để xuống, chỉ mặc một cái áo sơ-mi cũ màu xanh, đứng suốt đêm âm tầm sáng tạo nên Chiếc lá cuối cùng, chiếc lá dũng cảm. Gió bấc dữ dội, nhưng chiếc lá thường xuân đơn độc ấy vẫn bám chắc lấy cành. Giày và áo quần cụ họa sĩ đã ướt sũng và lạnh buốt, Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi. Chiếc lá cuối cùng do cụ vẽ nên đã đánh lui thần chết, cứu sống cô Giôn-xi. Quên mình để cứu người là một hành động cao cả. Cái chết của cụ già Bơ- men đẹp hơn mọi bài ca. Nếu Chúa bị đóng đinh chịu nạn vì hạnh phúc của con người, thì cụ Bơ-men cao đẹp thay đã xả thân vì sự sống của Giôn-xi. Cụ đã vĩnh viễn ra đi, nhưng chiếc lá cuối cùng là một kiệt tác, cụ để lại cho đời, vì sự sống và hạnh phúc của con người. Giôn-xi khỏi bệnh, cô lặng ngắm tác phẩm kiệt xuất của cụ Bơ-men, và cô xúc động khi nghĩ tới lời Xiu nói: Cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng với tất cả tình thương và lòng biết ơn vô hạn. Hơn một thế kỉ nay hàng triệu độc giả trên hành tinh đã cúi đầu nghiêng mình trước nghĩa cử và cái chết của họa sĩ già Bơ-men. Nghệ sĩ Bơ-men đã ngã xuống vì nghệ thuật, đã hi sinh vì sự sống và hạnh phúc của con người. Nghệ thuật hướng tới con người là nghệ thuật đẹp nhất, lâu bền nhất!
Phân tích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri văn 8
836
Phân tích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng Hướng dẫn Đề bài: Phân tích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Câu chuyện được kể "Vào một đêm trời sáng trăng suông, trong một ngôi nhà nhỏ giữa Tháp Mười mà xung quanh nước đã lên đầy…". Người kể chuyện là "đồng chí già"- một chiến sĩ lão thành từng trải qua biết bao nỗi buồn, niềm vui trong hai cuộc kháng chiến. Ông vừa là người chứng kiến, vừa là nhân vật của câu chuyện. "Chuyện xảy ra cách đây đã hơn một năm rồi, mà mỗi lần nhớ lại, tôi cứ bàng hoàng như vừa thấy một giấc mơ…". Ông già cất tiếng. Giọng trầm đục, đầu hơi cúi xuống, mặt ngước nhìn mênh mông. Ngay từ mấy dòng đầu ấy của tác phẩm, Nguyễn Quang Sáng đã tạo được không khí cho câu chuyện. Ông không trực tiếp kể mà dùng nhân vật người già với cái giọng trầm ấm dể dẫn dắt bạn đọc. Do đó, truyện ngắn hiện đại mà âm vang như một truyện cố tích, một huyền thoại, với biết bao nhân vật, bao chi tiết, tình huống bất ngờ, kì diệu. Đây là sự sáng tạo của nhà văn hay chính là cuộc chiến đấu của đồng bào miền Nam anh hùng đầy những điều diệu kì, sáng tạo nên? Xung quanh "chiếc lược ngà" ấy, chúng ta gặp những con người nhân hậu, thông minh, dũng cảm và cũng… sáng tạo biết bao! Tác phẩm khá dài, có nhiều tình huống, sự việc éo le, hấp dẫn diễn ra trong nhiều quãng thời gian, hiện tại, quá khứ đan xen, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Ở đây, chúng ta chỉ đọc hiểu và suy ngẫm về đoạn trích trong sách Ngữ văn 9. Theo lời kể chuyện – nhân vật xưng tôi – chúng ta có thể tóm tắt những tình tiết như sau: Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thâm con. Bé Thu – con gái ông – không nhận cha, trái lại đã đối xử lạnh nhạt, có lúc vô lễ với cha. Điều đó làm cho ông Sáu đau lòng, nhưng ông vẫn yêu thương con bằng tất cả tình cha con ruột thịt. Sau vài ngày ngắn ngủi sum họp gia đình, ông Sáu phải ra đi. Đến lúc ấy bé Thu bỗng thay đổi thái độ. Em ôm chặt lấy cha không muốn cha con phải xa nhau. Mọi người ngỡ ngàng sửng sốt. Thì ra, mấy ngày trước, do nhìn thấy trên mặt ông Sáu có vết sẹo lớn, bé Thu thấy ông không giống cha chụp chung ảnh với mẹ. Nhờ bà ngoại giảng giải, Thu đã hiểu ra mọi chuyện. Em cất tiếng gọi "Ba… ba!.." và hẹn "Ba mua cho con một cây lược nghe". Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình cảm yêu quý nhớ thương con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để mang về tặng cô con gái bé bỏng. Nhưng trong một cuộc chiến đấu ông đã ngã xuống. Trước lúc nhắm mắt, ông còn kịp trao cây lược nhờ người bạn, gửi vé tận tay cho con. Xung quanh câu chuyện vể chiếc lược ngà ấy, hai hình tượng nhân vật nổi bật lên. Nhân vật thứ nhất: cô bé Thu – một em gái tám tuổi – có một tình yêu cha đằm thắm và kì lạ. Cha đi chiến đấu biền biệt xa nhà. Đến khi Thu lên tám tuổi, hai cha con mới được gặp mặt nhau. Cô bé tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo hoa đỏ, hồn nhiên, xinh đẹp, mới nhìn, ông Sáu đã nhận ra ngay con gái mình. Vậy mà, trong suốt ba ngày gần gũi, cô bé đã không nhận ra cha của mình. Cô đã nói năng cộc lốc, đã cư xử vùng vằng, ương ngạnh. Tình cảm cha con tưởng chừng không hình thành được. Song đến giây phút cuối cùng, trước khi ông Sáu đi xa, thì tình cảm thiêng liêng ấy bỗng cháy bùng lên. Khi nhìn thẳng, đối diện với người cha "đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao". Đằng sau dôi mắt mênh mông, chắc đang xáo động biết bao ý nghĩ, tình cảm. Mấy tiếng gọi "Ba… ba!" cùng cử chỉ ôm chặt lấy cổ ba, hôn khắp mọi nơi, "hôn cả vết thẹo dài trên má của ba", biểu hiện một tình yêu ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với cha. Và khi nghe ông Sáu nói "Ba đi rồi ba về với con", cô bé hét lên "không", rồi hai tay siết chặt cổ, dang cả hai chân quặp chặt lấy ba, đôi vai nhỏ run run! Chắc cô bé khóc? Phải chăng lúc ấy Thu thực sự thấy xót xa, ân hận về lỗi lầm của minh, thực sự thấy xót thương người cha đau khổ? Trong trí nhớ ngây thơ của cô, cha cô đẹp lắm. Vì bom đạn quân thù, cha mang sẹo trên mặt. Đấy là điều đau khổ. Vậy mà, cô không hiểu, cô lại xa lánh khiến cha đau khổ thêm. Được bà ngoại giải thích, cô mới hiểu ra mọi lẽ. Khi bé Thu hiểu thì đã… muộn rồi. Cha sắp đi xa, xa mẹ, xa con, và tiếp tục cuộc đời gian khổ. Vì vậy, Thu siết chặt cổ cha, níu chặt lấy người cha, như muốn đền bù những hụt hẫng đã qua. Nhà văn không viết nhiều, song chỉ bằng một chi tiết nhỏ ấy, đủ cho chúng ta xúc động trước những nỗi niềm, tâm trạng của nhân vật. Nỗi niềm, tâm trạng ấy trong tréo, chân thành xiết bao. Vì thế, khi thấu tỏ nguyên cớ khiến bé Thu ương ngạnh, chưa chịu nhận ông Sáu là cha, mọi người và bạn đọc chúng ta đều có thể cảm thông, và lượng thứ cho Thu. Trong lâm hồn cô bé tám tuổi ấy, người cha đẹp lắm, trẻ lắm. Giờ đây, cô lại vỡ thêm một vẽ dẹp nữa là: cha cô thật anh hùng. Cái giây phút "vỡ" ra ấy của nhân vật được nhà văn miêu tả bằng một đoạn văn thật đặc sắc: "Ba…a…a…ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người… tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó,… nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Tôi (người kể chuyện) thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên". Dường như từ giờ phút thức tỉnh đó, Thu bắt đầu thay đổi. Cô bé không chỉ yêu cha, mà còn thương cha, tự hào về cha. Tình yêu thương và niềm tự hào ấy, phải chăng đã trở thành sức mạnh thôi thúc, rèn giũa để Thu trưởng thành sau này, khi cô trở thành một chiến sĩ giao liên, gan dạ, dũng cảm? Có thể nói, ở tuổi thiếu nhi, Thu là một em gái có tình cảm thật mạnh mẽ, sâu sắc, hồn nhiên, ngùy thơ,… Tất cả nét cá tính ấy đều tập trung biểu hiện tình cảm con đối với cha thật đằm thắm, bất diệt. Nhân vật thứ hai: ông Sáu – một người cha hi sinh cả cuộc đời để gìn giữ tình cha con bất diệt. Vì cuộc chiến đấu chung của dân tộc, ông Sáu đã mang vết sẹo trên mặt, đã hi sinh cả vẻ đẹp của một thời trai trẻ. Đấy là nổi đau thể xác. Mấy ngày về thăm nhà, ông lại phải trải qua nỗi đau tinh thần: đứa con gái duy nhất ông hằng mong nhớ, không chịu nhận ông là cha, không một lời gọi "ba". Cho đến phút cuối cùng trước lúc chia tay, ông mới được hưởng hạnh phúc của người cha. Nhưng phút ấy ngắn ngủi quá. Để rồi cụối cùng ông vĩnh viễn phải xa con. Ông đã ngã xuống trong thầm lặng, không một lời trăng trối, không nấm mồ, không bia mộ: "Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật thì cũng đã đành một lẽ, còn người chết cũng phải chết bí mật nữa". Lời ông Ba nói với đồng đội khi kể chuyện, hay đấy chính là lời nhấn gửi thiêng liêng của ông Sáu gửi lại người ruột thịt, gửi lại tới chúng ta? Sống rồi hi sinh, khổ đau và lặng lẽ, song người chiến sĩ ấy không chết. Vì ông là một người cha hết mực yêu thương con. Mang lời hẹn ước của con gái ra đi, ông đã miệt mài, say sưa, cưa giũa, thận trọng, tỉ mỉ như một nghệ nhân, làm chiếc lược bằng ngà voi tặng con gái. "Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng" của ông. Nó trở thành vật thiêng, an ủi ông, nuôi dưỡng trong ông tình cha con và sức mạnh chiến đấu. Hằng đêm, ông đã nhìn ngắm chiếc lược, mài nó lên tóc, cho chiếc lược thêm bóng, thêm mượt. Tác giả không miêu tả rõ, song người đọc vẫn hình dung cái kỉ vật nhỏ bé mà thân thương ấy, mỗi ngày mỗi đẹp lên, trắng ngà, anh ánh, toả sáng lung linh. Đó là biểu tượng trắng trong, quý giá, bất diệt của tình cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Do đó, trước khi vĩnh biệt con, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, đã chuyển nó cho người bạn như một cử chỉ chuyển giao sự sống, một ước nguyện gìn giữ muôn đời tình cảm cha con, ruột thịt. Điều đó đúng như ông Ba nói "chỉ có tình cha con là không thể chết được". Chiếc lược ngà đã tìm được địa chỉ trao lại cho người con gái để "tình cha con không… chết!". Và hơn thế nữa, nó đang sống lại trong sự sống của người đồng chí già, của bé Thu – nay đã là cô giao liên mười tám tuổi… Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ ngợi ca tình cha con đậm đà, sâu nặng, bất diệt của hai cha con ông Sáu mà còn gợi cho người đọc thấm thìa những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh gieo xuống cho bao con người, bao nhiêu gia đình trên đất nước Việt Nam. Gấp sách lại, chia tay ông Ba, câu chuyện về Chiếc lược ngà với lời nói cuối cùng của ông – giọng trầm ấm khoan thai – cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng la, như sự âm vang của một truyện cổ tích. Truyện cổ tích hiện đại đó đã thành công trong việc tạo tình huống truyện, miêu tả tâm lí, tình cảm nhân vật và một giọng kể nhẹ nhàng, thấm thìa, truyền cảm. Ông Ba – người kể chuyện – hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng? Phải là người từng trải đã sống hết mình với công cuộc kháng chiến của quê hương, gắn bó máu thịt với những con người quê hương giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên cường, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào các nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị và cảm động như vậy. Qua cuộc đời mỗi nhân vật, từ cô bé Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rằng: trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng dội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống… mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không bao giờ có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt!
Phân tích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
2,038
Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một nhà văn quân đội, sáng tác trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông là cây bút tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học, là một trong số các nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức, thế sự. Nguyễn Minh Châu có lối văn giản dị mà sâu sắc, thấm thía, nhiều dư vị, nhiều trải nhiệm, chiêm nghiệm. Những tác phẩm tiêu biểu gắn bó với tên tuổi của ông như Cửa sông (tiểu thuyết, 1966), Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972), Miền cháy (tiểu thuyết, 1977), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983), Bến quê (truyện ngắn, 1985),… Một trong số những tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc là truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, được viết năm 1983, nội dung kể về chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh, qua đó thể hiện cách nhìn của tác giả về hiện thực cuộc sống, một cái nhìn thấu hiểu và thấm đẫm tình thương cùng sự băn khoăn, day dứt vể thân phận con người. Chiếc thuyền ngoài xa kể về chuyến đi sáng tác của nhiếp ảnh Phùng theo yêu cầu của trưởng phòng, để có được tấm ảnh biển đẹp sương mù, toàn tĩnh vật, Phùng đã chọn điểm đến là vùng biển miền Trung, chiến trường nơi anh từng chiến đấu. Sau nhiều ngày phục kích, Phùng đã chụp được một cảnh đắt trời cho: chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ ẩn hiện trong gam màu hồng của sương mai, nhưng khi chiếc thuyền đẩm thẳng vào bờ, thăng hoa của cái đẹp nghệ thuật trong Phùng đã thay bằng nỗi đau nhân thế. Kể từ đây, người đàn bà làng chài trở thành nỗi ám ảnh với người nghệ sĩ, chiến sĩ khi ấy. Nổi bật trong tác phẩm chính là nhân vật “người đàn bà”. Người đàn bà hiện lên trong cảm nhận, khám phá của quân sĩ nhiếp ảnh Phùng khi anh thể hiện chuyến đi sáng tác. Theo yêu cầu tác phẩm nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đã đến vùng biển miền Trung, vốn là chiến trường trước đây anh đã từng chiến đấu, để chụp tấm ảnh cho bộ lịch năm sau với chủ đề “thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật” sau một tuần phục kích, anh đã bắt gặp được một cảnh đắt trời cho: cảnh chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ hiện trong màu hồng của sương mai. Giây phút ấy anh cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, thấy mình được chạm tới chân lý của nghệ thuật “tôi trở lên bối rối trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào. Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức”. Ngay sau khi chiếc thuyền ấy đâm thằng vào bờ, Phùng phải chứng kiến một sự thật đau lòng: cảnh bạo lực gia đình và người đàn bà là nhân vật chính trong câu chuyện ấy. Trong con mắt của người nghệ sỹ luôn săn tìm cái đẹp mà trước đó vừa ngất ngây vì cái đẹp hiện lên thật gần một hình ảnh “người đàn bà chạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, dường như đang buồn ngủ. Người phụ nữ ấy gây ấn tượng về cuộc sống nhọc nhằn, lam lũ. Nhà văn đã miêu tả nhân vật của mình chân thật trong từng chi tiết khiến người đọc có cảm giác người đàn bà từ chiếc thuyền lưới vó bước thẳng vào trang giấy chứ không do công dụng miêu tả của nhà văn. Hình ảnh người chị với “tấm áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng” gọi sự xót xa thương cảm. Lẽ nào trên một chiếc thuyền đẹp như trong huyền thoại ấy lại có những người khốn khổ, cực nhọc vậy. Theo mạch cốt trụ, người đàn bà có mặt ở tòa án theo yêu cầu của chánh án Đẩu. Tại đây chị ta đã kể lại chính cuộc đời mình để giải thích vì sao không thể bỏ gã chồng vũ phu. Từ một người cam chịu sợ sệt, người đàn bà trở nên sắc sảo đến không ngờ thay cách xưng hô “ con – quý bà” là cách đối thoại mang vẻ kể cả “ chị – các chú” khi đó đôi mắt sợ sệt bỗng trở thành đôi mắt như đang nhìn suốt cuộc đời mình chị tỏ ra người phụ nữ biết mình hiểu người. Bản thân việc lấy chồng của chị cũng không phải là việc bình thường của thời đó: “ cũng vì xấu trong phố không ai lấy tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phố hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới”. Lời tâm sự của chị dấy lên trong lòng người đọc sự đồng cảm với người phụ nữ kém may mắn từ nhỏ. Hạnh phúc với chị khó khăn chật vật đến nhường nào. Trước tòa án chị có bênh vực cho chồng, nhớ rất tốt điểm tốt của chồng để biện hộ cho anh ta “ lão chồng tôi khi ấy là một chàng trai cục tính nhưng hiền lành lắm không bao giờ đánh đập tôi”. Đói nghèo và nhận thức được tăm tối khiến người đánh mất đi nhân tính. Lão sẵn sàng trút cơn giận như lửa cháy lên người vợ “ bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh cũng như đàn ông thù khác uống rượu…giá mà lão cũng uống rượu…. thì tôi đỡ khổ… sau này con cái lớn lên tôi mới xin được với lão đưa tôi lên bờ mà đánh” Nhưng chị tha thiết xin tòa đừng bao giờ bắt chị bỏ người chồng vũ phu đó vì bởi các chú không phải là người đàn bà, chưa bao giờ các chú biết thế nào là nỗi vất vả của một người đàn bà trên chiếc thuyền không có đàn ông” cuộc sống ngư dân quanh năm lênh đênh trên sóng nước phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Thời tiết đẹp, đánh được nhiều cá thì còn có cái để ăn, có những đợt dông bão suốt hàng tháng cả nhà việc con cái toàn ăn xương rồng luộc chấm muối”. Trên thuyền phải có người đàn ông chèo chống phong ba làm chỗ dựa mỗi khi sóng to gió lớn” để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng lớn hơn mười đứa” chị quan niệm “ đàn bà phải gánh lấy cái khổ”. Vì thế cả lời tâm tình rất thật của chị ở tòa án không có một tiếng nào chị kêu rên oán thán. Một đàn con còn nhỏ đã khiến chị quên cả bản thân mình, chấp nhận sự hành hạ của chồng về tinh thần và thân xác sẵn sàng chấp nhận cam go để nuôi con khôn lớn. niềm vui vô bờ của người mẹ thật giản đơn và cảm động biết bao: “ Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó đã ăn no” những đứa con là nguồn sức mạnh to lớn giúp chị trụ vững trên con đường chông chênh. Ta hướng nỗi niềm của chị dù đau đớn xé ruột xé lòng, tủi nhục đến tận độ nhưng trong suy nghĩ giản đơn của chị vẫn lóc lên một niềm vui giản dị, bất ngờ. Tấm lòng chị là tấm lòng người mẹ chân chất chịu đựng và giàu chất hy sinh “ đàn bà thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không phải sống cho mình ở trên đất được” suy nghĩ ấy khiến chị đủ sức lặng lẽ chịu đựng âm thầm chịu đựng mọi nỗi khổ: “ Tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như sự thâm trầm trong việc hiểu thấu cái lẽ đời “ hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bên ngoài” trong đau khổ người mẹ ấy chắt chiu hạnh phúc “ nhớ đến ở trên thuyền cũng có lúc việc con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ” những lúc nhìn đàn con được ăn no, khuôn mặt nụ cười sáng lên nụ cười hạnh phúc. Những lúc như thế không nhiều thậm chí quá ít ỏi so với những trận đòn mà như cơm bữa của chồng nó là nguồn động viên lớn lao đối với chị. Sự hòa thuận vui vẻ đó như đốm sáng lên trong cuộc đời tăm tối dài dằng dặc của chị. Hạnh phúc của cuộc đời chị dành cho chị sao khó khăn ít ỏi quá. Thấp thoáng trong chị là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu bao dung giàu lòng vị tha nhẫn lại vun đắp hạnh phúc gia đình là thấu hiểu, trải đời, yêu con. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp cho nhà văn nhận ra đời sống con người cả ở những sự kiện bề nổi nhưng khuất lấp trong bề sâu của nó, nhận ra những quy luật tất yếu lẫn những ngẫu nhiên, may rủi đầy bất trắc và khó lường trước của đời sống. Ông luôn day dứt về việc con người phải chịu đựng, phải chấp nhận những nghịch lí mà lẽ ra là không đáng có trong một cuộc sống tốt hơn. Qua tác phẩm, ta thấy ở trong tác phẩm hơn một lần nhà văn nói đến hai cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã thành công điều mà nhà văn trăn trở chính là: cần có một cuộc cách mạng khác, cuộc cách mạng giải phóng người nhưng đó không phải là người chung chung mà là những phận người cụ thể sâu sắc biết bao tấm lòng của Nguyễn Minh Châu.
Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
1,775
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Bài làm Chỉ là một truyện ngắn, lại là truyện ngắn sáng tác sớm của Nam Cao về đề tài nông dân, nhưng Chí Phèo là sự tổng hợp, sự kết tinh của ngòi bút Nam Cat về đề tài này. Nếu như Nam Cao có thể được coi là "nhà văn của nông dân", cùng với Ngô Tất Tố, thì trước hết vì ông có Chí Phèo. Khác với truyện ngắn cùng đề tài của tác giả, Chí Phèo có phạm vi hiện thực được phản ánh trải ra cả bề rộng không gian (một làng quê) và cả bề dài thời gian. Có thể nói, làng Vũ Đại trong truyện chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam đương thời. Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số đỏ Những năm 1940 – 1945, nông thôn vẫn là một đề tài lớn trong văn xuôi khu vực hợp pháp. Các nhà văn đã đi vào đề tài này theo chiều hướng khác nhau. Trước hết là đi vào phong tục tập quán dân quê, sự lục đục giữa vợ cả và vợ lẽ, mẹ chồng và nàng dâu, dì ghẻ và con chồng, anh và em, chú bác, cô cậu và những đứa cháu bên nội, bên ngoại. Trên bối cảnh chung của văn học hiện thực thời kì 1940 – 1945, Chí Phèo là một hiện tượng đột xuất. Giông như Tắt đèn, Bước đường cùng, Giông tố…. thời Mặt trận dân chủ, Chí Phèo cũng là “bức tranh xã hội rộng lớn với những xung đột giai cấp quyết liệt". Tác phẩm gây ấn tượng đậm nét về tính đầy đặn, đa dạng nhiều màu sắc của bức tranh về đời sông xã hội nông thôn. Song, dựng lên bức tranh xã hội ở nông thôn, Nam Cao trước hết tập trung nổi bật mối xung đột giai cấp đối kháng giữa bọn địa chủ cường hào thống trị và người nông dân bị áp bức bóc lột. Tức là, cũng như tác giả Tắt đèn, Bước cùng…. Nam Cao đã phản ánh hiện thực nông thôn trên bình diện mâu thuẫn giai cấp. Chí Phèo của Nam Cao đã xây dựng một hình tượng điển hình khá hoàn chỉnh về giai cấp phong kiến thống trị ở nông thôn: Bá Kiến. Chân dung lão cường hào cáo già Bá Kiến dần dần hiện rõ trong tác phẩm những nét tính cách được thể hiện hết sức sinh động, đầy ấn tượng. Đó là khái quát “rất sang” (“bắt đầu bao giờ cụ cũng quát để thử dây thần kinh mọi người”), lối nói ngọt nhạt, và nhất là “cái cười Tào Tháo” (“cụ vẫn tự phụ hơn đời cái cười Tào Tháo ấy”) – tất cả đều cho thấy bản chất gian hùng của lão cường hào “khôn róc đời” này. Nam Cao cũng hé cho thấy tư cách nhem nhuốc của “cụ tiên chỉ”: đó là thói ghen tuông thảm hại của lão cường hào háo sắc mà sợ vợ – lão cay đắng nhận ra mình “già yếu quá ” mà “bà Tư” thì “cứ trẻ, cứ phây phây”, “nhìn thì thích nhưng mà tưng tức lạ… khác gì nhai miếng bò lựt sựt khi rụng gần hết răng". Đó là chuyện lão gỡ gạc tồi tệ đối với người vợ lính vắng chồng… Và bổ sung vào đó, để cho sự thối nát của nhà “cụ Bá” được hoàn chỉnh, còn có “Bà Tư” quỷ cái “thường gọi canh điền lên bóp chân mà lại “cứ bóp lên trên, trên nữa’’… Nhà văn chỉ kể qua, nhẹ nhàng, – tuy không kém thâm thúy, chứ không sa đà trong việc soi mói đời tư thối tha của lão cường hào. Ông tập ưung ngòi bút vào việc soi sáng bản chất xã hội của nhân vật, chủ yếu thể hiện trong mối quan hệ với người nông dân bị áp bức. Đoạn độc thoại nội tâm rất mực sinh động của “cụ tiên chỉ làng Vũ Đại" về cái “nghề tổng lí”cho thấy Nam Cao chẳng những soi thấu tim đen của nhân vật mà còn tỏ ra hiểu rất sâu các mối quan hệ xã hội ở nông thôn. Bá Kiến đã lặng lẽ nghiền ngẫm về nghề thống trị, rút ra từ bốn đời tổng lí những phương châm, thủ đoạn thống trị khôn ngoan: “mềm nắn, rắn buông”, “bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu", “thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân”, “chỉ bóp đến nửa chừng", "hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn"… Còn đây là chính sách dùng người của lão: “không có những thằng đầu bò thì lấy ai trị những thằng đầu bò”, “thu dụng những thằng bạt mạng không sợ chết và không sợ đi tù. Những thằng ấy chính là những thằng được việc. Khi cần đến chỉ cho nó dăm hào uống rượu là có thể sai nó đến tác oai tác quái bất cứ anh nào không nghe mình (…). có chúng nó sinh chuyện thì mới có dịp mà ăn…. ”… Tất cả đều nhằm sao cho vừa bóp nặn được nhiều nhất, vừa giữ chắc cái ghế thống trị. Tâm địa thâm độc tới ghê sợ của Bá Kiến còn thể hiện trong việc hắn nhẹ nhàng “khích” Chí Phèo đòi nợ đội Tảo, đẩy những kẻ sẵn sàng đâm chém ấy vào chỗ chém nhau, để kẻ nào sống “cũng có lợi cụ cả”! Bá Kiến thật là một con hổ biết cười!. Vạch khổ cho người nông dân bị áp bức bóc lột, Nam Cao không đi vào nan sưu thuế, nạn chiếm đoạt ruộng đất, nạn tô tức, quan tham lại những, thiên tai địch họa…. ở Chí Phèo và nhiều truyện nữa, nhà văn đi vào một phương khác: người nông dân bị xã hội tàn phá về tâm hồn, hủy diệt cả nhân tính, do đó, bị phủ nhận giá trị, tư cách làm người. Nỗi thống khổ ghê gớm của Chí Phèo không phải ở chỗ tất cả cuộc đời người nông dân cố cùng này chỉ là một không: không nhà, không cửa, không cha không mẹ, không họ hàng thân thích không tấc đất cắm dùi, cả đời không hề biết đến một bàn tay chăm sóc của đàn bà nếu không gặp Thị Nở…, mà chính là ở chỗ anh đã bị xã hội rạch nát cả bộ mặt người, cướp đi linh hồn người, để bị loại ra khỏi xã hội loài người, phải sống kiếp sống tối tăm của thú vật. Mở đầu truyện là hình ảnh hết sức sống động, độc đáo của Chí Phèo khật khưỡng vừa đi vừa chửi. Nhưng đằng sau cái chân dung gã say rượu chửi lảm nhảm được vẽ bằng những nét bút tưởng đâu là kí họa gây cười ấy, nếu đọc kĩ còn có thể thấy một cái gì như là sự vật vã của một linh hồn đau đớn, tuyệt vọng. Không, tiếng chửi của Chí Phèo không hẳn là bâng quơ. Hắn từ “chửi trời” đến “chửi đời” rồi “chửi ngay tất cả làng Vũ Đại…”.Và hắn bỗng tức tối khi thấy “không ai lên tiếng cả”… Trong cơn say hắn vẫn cảm thấy tuy mơ hồ mà thấm thìa “nông nỗi" khôn khổ của thân phận. Đó là “nông nỗi” không có người nào chịu chửi lại hắn! Có nghĩa là tất cả mọi người đã dứt khoát không coi hắn là người. Chửi lại hắn nghĩa là còn thừa nhận hắn là người, là còn bằng lòng giao tiếp, đối thoại với hắn. Chí Phèo chửi cả làng với… hi vọng được người nào đó chửi lại. Những tín hiệu yêu cầu giao tiếp phát đi liên tục đó chỉ gặp sự im lặng đáng sợ. Và vẫn còn lại một mình Chí Phèo trong sa mạc cô đơn: Hắn cứ “chửi rồi lại nghe”, "chỉ có ba con chó dữ một thằng say rượu!… Cảnh mở đầu đột ngột của thiên truyện đó chẳng những đã giới thiệu hấp dẫn tính cách độc đáo của nhân vật mà còn hé thấy tình trạng bi đát của một số phận. Chí Phèo trước hết là một hiện tượng có tính quy luật, tính phổ biến, sản phẩm của tình trạng áp bức bóc lột tàn tệ ở nông thôn Việt Nam trước đây. Đây là hiện tượng những người nông dân lao động bị đè nén thái quá đã chống trả lại để tồn tại bằng con đường lưu manh. Bá Kiến đẩy anh canh điền hiền lành vào tù; nhà tù thực dân – chỗ dựa tin cậy của bọn phong kiến trong việc đàn áp nông dân – đã tiếp tay lão cường hào để giết chết phần người trong con người Chí, biến Chí thành Chí Phèo, biến một người nông dân lương thiện thành một con quỷ dữ. Với ngòi bút hiện thực tỉnh táo ông vạch ra rằng, những người nông khốn khổ phải giành lấy sự tồn tại sinh vật bằng việc bán cả nhân phẩm ấy, đã trở thành lực lượng phá hoại mù quáng, dễ dàng bị bọn thống trị thâm độc lợi dụng, Vì thế mà Chí Phèo từ chỗ hung hăng đến nhà Bá Kiến, tuyên bố “liều chết với bố con” lão, chỉ cần mấy câu nói ngọt xớt, chuỗi cười Tào Tháo và mấy hào chỉ, đã trở thành tên tay sai mới của lão. Hiện tượng mỉa mai, đau xót rất phổ biến và có tính quy luật mà ngòi bút phân tích xã hội sâu sắc Nam Cao đã vạch ra. Giá trị điển hình, sức mạnh tố eáo to lớn của hình tượng Chí Phèo trước hết là ở chỗ làm nổi bật lên cái hiện tượng có tính quy luật vẫn hằng diễn ra ở xã hội nông thôn đầy bất công và tội ác đương thời đó. Vấn đề của Chí Phèo là vấn đề nông dân – với ý nghĩa đó, vẫn có thể nói Chí Phèo là một hình tượng điển hình về nông dân. Truyện ban đầu được tác giả đặt tên là Cái lò gạch cũ; hình ảnh cái lò gạch cũ được xuất hiện ở phần mở đầu và cả khi kết thúc truyện. Rõ ràng đó là ý nghệ thuật của Nam Cao. Cái lò gạch cũ như là một biểu tượng về sự hiện tất yếu của hiện tượng Chí Phèo, gắn liền với tuyến chủ đề chính của tác phẩm. Câu chuyện mối tình Chí Phèo – Thị Nở quả là hấp dẫn đặc biệt. Song mặc dù giọng văn bông lơn, có lúc như chế giễu, mặc dù đối với một số người, đó là sự hấp dẫn của loại truyện tình bờ hụi của hạng nữa người ngợm, ngưu tầm ngưu mã tầm mã, “đôi lứa xứng đôi”, thì đây vẫn thật sự là truyện có một nội dung hết sức nghiêm túc, chứa đựng một tư tưởng nhân đạo thật mới mẻ, độc đáo đem lại cho tác phẩm một tầm vóc bất ngờ. Ban đầu, Chí Phèo đến với Thị Nở một cách rất… Chí Phèo. Trong một đêm “rười rượi những trăng”, có những tầu chuối nằm ngửa ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rười rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy lên đành như là “hứng tình”, Chí Phèo rất say và cảm thấy “bứt rứt”, “ngứa ngáy" da thịt, đã xông tới người đàn bà khốn khổ “dại dột đã nằm ềnh ệch mà ngủ ngay gần nhà hắn”. Khi Thị Nở hốt hoảng kêu làng, thì “cái thằng trời đánh không chết ấy lại kêu to hơn, “vừa kêu vừa dằn người đàn bà xuống”! Trâng no, lì lợm đến thế là cùng! Nhưng điều kì diệu đã xảy ra là, nếu như ban đầu, Thị Nở chỉ khơi dậy bản năng giống đực ở gã đàn ông Chí Phèo, thì sau đó, sự chăm sóc giản dị đầy ân tình và lòng yêu thương mộc mạc mà chân thành của đàn bà khốn khổ ấy đã làm thức dậy bản chất lương thiện của người lao động trong Chí Phèo. Đoạn văn viết về sự thức tỉnh của linh hồn Chí Phèo sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở, là một đoạn tuyệt bút, đầy chất thơ và tập trung thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc bất ngờ cùa ngòi bút Nam Cao. Sáng hôm ấy, Chí Phèo tỉnh dậy muộn và lòng “bâng khuâng”, “mơ hồ buồn”. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, Chí Phèo mới lại nghe thấy tiếng chim hót vui vẻ, tiếng cười nói của những người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ nể chèo đuổi cá…Những âm thanh quen thuộc trong cuộc sống lao động xung quanh ấy hôm nào chả có, nhưng hôm nay bỗng trở nên vang động sâu xa trong lòng Chí Phèo, trở thành những tiếng gọi tha thiết của cuộc sống vẳng đến bên tai lần đầu tiên tỉnh táo của anh. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã lóe sáng như một tia chớp trong cuộc đời tăm tối dằng dặc của Chí Phèo. Dưới ánh sáng của tia chớp ấy, Chí Phèo bỗng nhìn rõ tất cả cuộc đời mình: những ngày xưa “rất xa xôi ” đã từng “ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng! Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm". Cái hiện tại đáng buồn: “già mà vẫn cô độc”, cái tương lai còn đáng buồn hơn: “đói rét và ốm đau và cô độc cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Nếu như bao nhiêu năm nay, Chí Phèo “bao giờ cũng say”, “say tận", “có lẽ hắn chưa bao giờ tỉnh táo, để nhớ rằng có hắn ở đời”, thì hôm nay lần đầu tiên Chí Phèo tỉnh táo, tỉnh táo để tự ý thức về thân phận. Trước đi Chí Phèo sống và hành động hoàn toàn vô thức, hắn không thể biết và không cần biết hắn là gì và đã làm những gì: “hắn không biết rằng hắn là con quỷ.. của làng Vũ Đại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng (…). Hắn biết đâu vì làm tất cả những việc ấy trong khi người hắn say… Giờ đây, lần đầu tiên, Chí Phèo nhận ra sự hiện hữu của mình, đối mặt với chính mình, và đồng thời, cũng lần đầu tiên, nhận ra sự bế tắc tuyệt vọng của thân phận mình. Khi thấy Thị Ni bưng cháo hành đến, hắn “rất ngạc nhiên” và hết sức xúc động uBởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho”. Hắn ăn bát cháo từ tay Thị Nở và bỗng nhận thấy rằng cháo hành ăn rất ngon. Bởi vì hương vị cháo hành này chính là hương vị của tình yêu thương chân thành, của hạnh phúc giản dị, mà có thật, lần đầu tiên đến với Chí Phèo. Lần đầu tiên, Chí Phèo mắt "như ươn ướt", “ôi sau mà hắn hiền, ai dám bảo đó là thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt của mình". Trở lại là anh canh điền trong trắng năm xưa cảm thây bị xúc phạm khi bị cái bà ba “quỷ cái" gọi lên bóp chân, trở lại anh nông dân lương thiện từng mơ ước cuộc sống gia đình hạnh phúc hết sức bình dị khiêm nhường trong lao động… "Đó là cái bản tính của hắn ngày thường bị lấp đi… ” Như vây là, lòng yêu thương, cái tình người chân thành đã làm sống lại trong Chí Phèo cái bản chất đẹp đẽ của người nông dân lao động, bao lâu nay bị cho lấp, vùi dập nhưng vẫn không tắt. Bọn cường hào và nhà tù thực dân, nói rộng ra là cả cái xã hội tàn bạo ấy, ra sức giết chết cái “bản tính tốt" ấy của anh “Trần trụi giữa bầy sói”, anh không thể hiền lành, trong trắng, mà để tồn tại anh phải cướp giật, ăn vạ, đâm chém. Muốn thế phải liều và mạnh, những thứ ấy Chí Phèo tìm ở rượu. Và Chí Phèo luôn luôn say, “ hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm" – xét cho cùng, Chí Phèo không chịu trách nhiệm về những hành động của mình: linh hồn của anh đã bị cướp đi rồi. Nhưng hôm nay, tình yêu đã thức tỉnh anh và linh hồn anh đã trở về. Anh thấy “thèm lương thiện”, “muốn làm hòa với mọi người biết bao!”, Anh như rưng rưng và bẽn lẽn trong sự phục sinh của linh hồn đó. Anh mong được nhận vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện”. Tình của Thị Nở chẳng những đã thức tĩnh anh mà còn hé mở cho anh con đường trở lại làm người, trở lại cuộc đời, và anh hồi hộp hy vọng. Đã hơn một lần, Nam Cao viết về những mối tình của những kẻ bị cả xã hội miệt thị, lăng nhục độc ác: Lang Rận – mụ Lợi, Đức – Nhi, Chí Phèo – Thị Nở… Tuy vẫn giữ giọng văn khách quan, hài hước, nhà văn đã dứt khoát đứng ra làm luật sư cãi trắng án cho những con người bất hạnh, bị mọi người hắt hủi đó, nhất là khi họ bị ném vào tình thế nhục nhã, trở thành cái đích cho những mũi tên chế giễu độc ác của người đời đầy thành kiến mu muội. Ông đã đanh thép bênh quyền được yêu của họ và khẳng định tính chính đáng của những mối tình như thế. Có gì là không chính đáng nếu như những con người trong khi bị cả xã hội xua đuổi ấy đã đến với nhau, tìm thấy ở nhau sự giao cảm, chia sẻ nỗi lòng? Vì nếu tình yêu chân chính là tình yêu làm nhân đạo hóa con người, nâng cao sống, thì đã có mấy lần tình yêu có tác dụng nhân đạo hóa kì diệu, cảm động như mối tình Thị Nở – Chí Phèo? Chẳng phải tình yêu thương tuy đơn giản, có phần thô lỗ của người đàn bà xấu xí ấy đã gọi dậy linh hồn người trong con quỷ dữ Chí Phèo, đưa hắn từ cõi địa ngục trở về cõi người đó sao? Chẳng phải một sự hóa giải thần bí nào mà chỉ là một tình yêu rất mực trần tục, nhưng là tình yêu đích thực con người, thật lành mạnh, khỏe khoắn. Mô típ nghệ thuật này được xử lí bằng một tư tưởng nhân đạo lớn lao và một bút lực phi thường, chỉ có Nam Cao. Tư tưởng nhân đạo và hút lực phi thường đó còn thể hiện ở đoạn văn miêu tả tấn bi kịch tinh thần của Chí Phèo. Truyện ngắn đầy hấp dẫn này càng về cuối càng đặc biệt hấp dẫn; không phải chỉ vì cốt truyện, tình tiết đầy tính kịch, biến hóa khôn lường, mà còn vì tầm tư tưởng càng ngày càng nâng cao một cách bất ngờ của tác phẩm. Nhiều người cũng nói đến Chí Phèo như là một bi kịch số phận, song nếu hiểu cho chặt chẽ, chính xác thì chỉ từ nhân vật này đã thức tỉnh linh hồn, khao khát trở lại làm người nhưng bị cự tuyệt lạnh lùng, thì chỉ đến khi đó, Chí Phèo mới thật sự rơi vào tình thế bi kịch: bi kịch của con người bị từ chối không được làm người. Khi hiểu ra rằng xã hội không công nhận mình, Chí Phèo vật vã đau đớn. Hắn lại uống, nhưng điều lạ là, hôm nay “hắn càng uống càng tỉnh ra”. Đúng hơn là tuy say, trong tâm thức Chí Phèo lúc này vẫn có một điềm tỉnh: nỗi đau khôn cùng về thân phận, và “hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Rồi như để chạy trốn bản thân, chạy trốn nổi đau, hắn “lại uống… lại uống… đến say mềm người”. Rồi hắn đi với một con dao và vừa đi vừa chửi… như mọi lần. Nhưng lại hoàn toàn khác mọi lần: hôm nay, Chí Phèo quằn quại đau đớn vì tuyệt vọng, càng thấm thía hơn bao giờ tội ác của kẻ thù, đã đến thẳng trước Bá Kiến “trợn mắt, chỉ tay vào mặt” lão, dõng dạc đòi quyền làm người, đòi lại bộ mặt người đã bị vằm nát của mình. Kẻ chết vì ý thức nhân phẩm đã trở về, anh không thể chấp nhận trở lại kiếp sông thú vật được nữa. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống, chết trong tâm trạng bi kịch đau đớn. Thế là, trước đây, để bám lại sự sống, Chí Phèo phải từ bỏ nhân phẩm, bán linh hồn cho quỷ; giờ đây, ý thức nhân phẩm thức dậy, linh hồn trở về. Nhiều người nghi ngờ tâm lòng của Nam Cao đối với nông dân, vì thấy người nông dân của nhà văn phần nhiều xấu xa dữ tợn. Vậy mà chính ở những người khốn khổ có bộ mặt và tính cách không mấy “đáng yêu” đó, nhiều khi ý thức nhân phẩm còn mạnh hơn cả cái chết. Lão Hạc bề ngoài dường như lẩm cẩm, gàn dở nhưng lão đã lặng lẽ tìm đến cái chết để giữ trọn lòng tự trọng trong cảnh cùng đường (Lão Hạc). Lang Rận cũng tìm đến cái chết vì không chịu nổi điều nhục nhã đang chờ ông ta hôm sau (Lang Rận) và ở đây là Chí Phèo? Chí Phèo đã chết quằn quại trên vũng máu trong niềm đau thương vô hạn, khao khát lớn lao, thiêng liêng là được làm người lương thiện đã không thực hiện được. Lời nói cuối cùng của Chí Phèo, vừa đanh thép, chất chứa phẫn nộ vừa mang sắc thái triết học và âm điệu bi thống đầy ám ảnh, làm người đời sững sờ và day dứt không thôi…”Ai cho tao lương thiện?”. Làm thế nào để con người được sống cuộc sống con người? Đó là “một câu hỏi lớn không lời đáp chẳng những Bá Kiến không thể hiểu mà xã hội khi ấy cũng chưa thể trả lời Câu hỏi ấy được đặt ra một cách bức thiết, day dứt trong hầu như toàn bộ sáng tác Nam Cao ưước cách mạng. Và đặt ra bằng một tài năng lớn, độc đáo, khiến cho nhiều sáng tác của Nam Cao – trước hết là Chí Phèo – thuộc vào những trang hay nhất của nền văn xuôi Việt Nam.
Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
3,879
Phân tích truyện ngắn Chí Phèo Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao là một cây bút tài hoa trên diễn đàn văn học Việt Nam, những tác phẩm ra đời mang màu sắc hiện thực sâu sắc. Những tác phẩm của ông mang cái nhìn về thời đại và cuộc sống hoàn toàn mới,cũng như hình ảnh trong các tác phẩm cũng đa dạng và phong phú,mang những mảng tính cách sáng tối tương phản rõ rệt. Chí Phèo là một tác phẩm điển hình khi nhắc tới Nam Cao. Đây là câu chuyện về đoạn cuối cuộc đời của một con người trong xã hội thực dân phong kiến diễn ra và được ghi lại bởi Nam Cao, câu chuyện cũng gợi một những ý nghĩa nhân văn sâu sắc Tác phẩm mở đầu thật mở,với tiếng vừa đi vừa chửi của Chí Phèo, và xung quanh hắn chỉ có mấy con chó đứng chầu chực sủa. Ngoài mấy con chó, không có ai đáp lời hắn. Mở đầu thật tự nhiên, giống như chúng ta đang chứng kiến khung cảnh ấy vậy. Những âm thanh hay cụ thể là những tiếng chửi của Chí Phèo lại làm cho mọi thứ trở nên sống động,mọi hình ảnh như mở ra trước mắt. Hình ảnh Chí say rượu, vừa đi vừa chửi,chửi những gì mà hắn thấy. Có lẽ mọi người ở cái làng Vũ Đại đã quen với hình ảnh này của nó, cho nên cứ khi nào hắn chửi mọi người cũng chẳng để ý và nghĩ rằng:” chắc hắn trừ mình ra”. Tới đây ắt hẳn mọi người lại ngạc nhiên tại sao hắn lại có hành động như vậy, theo thông thường người ta chửi bới khi uất ức một chuyện gì hay quá áp lực. Quả là như vậy,hắn vốn là đứa trẻ từ khi mới đẻ ra đã bị bỏ rơi trong cái lò gạch bỏ hoang, được người làng nhặt về nuôi, đi ở cho nhiều nhà khác nhau, cuối cùng đến năm 20 tuổi thì về làm canh điền cho Lí Kiến. Vì ghen tuông với sự trẻ trung lực lưỡng của hắn và vì bà Ba để ý tới hắn, nên Bá Kiến tìm cách bỏ tù hắn, để hắn không thể xuất hiện nữa. Một sự vô cớ, Chí Phèo vốn dĩ là một người lương thiện, nghèo đói nên đi ở, nhưng trong xã hội đó,ai có tiền có quyền người đó được làm mọi thứ, và cứ thế từ một con người lương thiện, Chí dần bị đẩy vào con đường tha hóa và lưu manh hóa. Cuộc sống và con người của Chí Phèo thực sự thay đổi khi một lần trong lúc uống say,hắn trở về túp lều ven sông định bước xuống tắm, tình cờ nhìn thấy Thị Nở đang nằm ngủ. Thị là người nghèo rót mồng tơi, xấu ma chê quỷ hờn lại ngẩn ngơ như người đần trong cổ tích Họ đã ăn nằm với nhau và đánh thức tình cảm bình thường cùng mong muốn làm một người bình thường trong Chí. Bát cháo hành của Thị như liều thuốc tiên đánh thức con người lương thiện luôn giấu kín trong một bộ dạng quỷ dữ của hắn. Mùi cháo hành bốc lên và cử chỉ quan tâm của Thị đã khiến chí bùi ngùi nhận ra, anh muốn có một gia đình, với vợ dệt vải chồng đi làm, cứ thế cuộc sống êm đềm trôi qua. Nhưng niềm vui sướng chưa được bao lâu thì người bà cô đã khuyên Thị không nên ở với hắn,rồi Thị cũng là người duy nhất quay lưng lại với hắn thì cuối cùng cũng bỏ đi. Chiếc thang bắc cầu cho lòng lương thiện của Chí được sang bến bờ được sống như một người bình thường giờ cũng không còn nữa. Chính vì thế,hắn đã mang dao tới, kết thúc đời bá Kiến và tự sát, hắn không còn một lựa chọn nào khác.khi nghe được tin này, nhiều người tỏ ra hả hê, còn riêng Thị Nở lại nhìn xuống bụng và nghĩ tới cái lò gạch bỏ hoang không người qua lại. Hình ảnh làng Vũ Đại, một hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng,hiện thực cuộc sống được khơi ra từ những tình huống truyện đặc sắc và những chi tiết nhỏ nhất nhưng khiến độc giả không thể bỏ qua. Truyện mở đầu và kết thúc theo kết cấu vòng, khi mở đầu truyện với hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang thì kết thúc truyện cũng như vậy, đó là chi tiết khi biết chí phèo tự sát, Thị Nở nhìn ngay xuống bụng mình và lại nghĩ ngay tới hình ảnh cái lò gạch, không biết một cuộc sống sẽ bắt đầu như thế nào, kết thúc mở khiến cho độc giả có nhiều liên tưởng thú vị. Ngôn ngữ trong tác phẩm là một điều không thể bỏ qua, lời trần thuật được xáo trộn, lắp ghép, đan xen không luân theo trình tự tuyến tính của.cốt truyện. Nam Cao bắt đầu bằng hình ảnh Chí khật khưỡng say và vừa đi vừa chửi. Chân dung nhân vật bước đầu hiện ra với những đường nét thật ấn tượng, buộc người đọc chú ý ngay từ khi mới đặt tay lên trang giấy. Ông đã đan xen, trộn lẫn lời nhân vật và lời người kể truyện, nhiều đơn vị lời văn có thể là của nhân vật vừa là của người kể chuyện. Qua đây, việc sử dụng này có ý nghĩa rất lớn đến việc đi sâu vào thẻ giới nội tâm rất phức tạp và tinh tế của nhân vật. Nhờ vậy chân dung nhân vật hiện ra hết sức chân thực và sống động. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích truyện ngắn Chí Phèo
985
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Bài làm Nói đến Nguyễn Tuân là nói đến một nhà văn lớn, một nghệ sĩ tài hoa của nền văn học Việt Nam. Mỗi lời văn của Nguyễn Tuân đều là những nét bút trác tuyệt như một nét chạm khắc tinh xảo trên mặt đá quý của ngôn ngữ (Tạ Tỵ). Một trong những nét bút trác tuyệt đó là tác phẩm Chữ người tử tà. Nổi bật lên trong tác phẩm là hình tượng nhân vật Huấn Cao và cảnh cho chữ – một cảnh tượng hiếm và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Chúng ta đều biết văn học lãng mạn thường mô tả theo những mẫu hình lí. Có nghĩa là văn chương thường thả trí tưởng tượng của minh để theo đuổi những vẻ đẹp hoàn hảo nhất. Bỡi thế nhân vật viết theo lối lãng mạn có tầm vóc phi thường. Nó là biểu hiện cho những gì mà nhà văn mơ ước, khao khát. Huấn Cao là thế. Từ đầu đến cuối, ông hiện ra như một con người phi thường. Từ tài hoa đến thiên lương, từ thiên lương đến khí phách, nhất nhất đều có tầm vóc phi thường. Có thể nói Huấn Cao là một giấc mơ đầy tính nhân văn của ngòi bút Nguyễn Tuân. Phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Thiên truyện được mở đầu bằng cuộc đối thoại của hai nhân vật quản ngục và thơ thơ lại. Ở đây tuy Huân Cao hiện lên gián tiếp nhưng cũng đủ để cho ta thấy ông nổi tiếng với tài văn võ song toàn, uy danh đồn khắp cõi tỉnh Sơn. Nhưng trong truyện cái tài được tô đậm nhất ở nhân vật này là tài viết chữ đẹp. Đó là nghệ thuật thư pháp – một bộ môn nghệ thuật truyền thống và cao siêu của dân tộc. Ở đó mỗi lần nhà thư pháp hạ bút là mỗi lần sáng tạo, mỗi nét bút là sự gửi gắm, kí thác toàn bộ những tâm nguyện sâu xa của mình. Bởi thế mỗi con chữ là một tác phẩm nghệ thuật, là sự kết tinh những vẻ đẹp tâm hồn của người viết. Mỗi con chữ là hiện thân của khí phách, của thiên lương và tài hoa. Chữ Huấn Cao thể hiện nhân cách Huấn Cao. Nó quý giá không chỉ vì được viết rất nhanh, “đẹp lắm, vuông lấm” mà trước hết vì đó là những con chữ nói lên khát vọng tung hoành của một con người. Chính vì thế mà có được chữ ông Huấn Cao đã trở thành tâm nguvện lớn nhất, thiêng liêng nhất của quản ngục. Để có được chữ Huấn Cao, quản ngục sẵn sàng đánh đổi tất cả, kể cả sự hi sinh về quyền lợi và sinh mệnh của mình. Nhưng Huấn Cao không chỉ là một đấng tài hoa, sâu xa hơn, ông còn có một tấm lòng – đó là tấm lòng biết quý trọng phần thiện tâm sâu xa trong mỗi con người. Một nhà văn nước ngoài đã nói: "Hãy đập vào trái tim mình thiên tài là ở đó". Thì ra cội nguồn của tài năng là ở trái tim, gốc của cái tài là cái tâm. Tấm lòng biết trọng thiên lương là gốc rễ của nhân cách Huấn Cao. Trong mắt Huấn Cao, quản ngục chỉ là một kẻ tầm thường làm nghề thất đức. Bởi thế, Huấn Cao đã thể hiện sự khinh bỉ không cần giấu diếm, đến khi nhận ra quản ngục là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ thì Huân Cao rất ân hận. Bằng tất cả sự xúc động, Huấn Cao đã nói: Ta cảm cái tâm lòng trong thiên hạ. Câu nói ấy đã hé mở cho chúng ta thấy phương châm của một nhân cách, sống là phải xứng đáng với những tấm lòng. Cảm hứng lãng mạn bao giờ cũng xui khiến các nghệ sĩ khắc họa những hình tượng sao cho hoàn hảo thậm chí đến mức phi thường. Ông Huấn Cao cũng thế. Nguyễn Tuân đã khiến cho hình tượng này trở thành một con người siêu phàm với việc tô đậm một khí phách siêu việt. Căm ghét xã hội thối nát, ông đã cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình, sự nghiệp không thành, ông lĩnh án tử hình. Nhưng tù đầy, gông cùm và cả chết cũng không khuất phục được ông. Đối với Huân Cao, mọi sự trói buộc, tra khảo, giam cầm đều vô nghĩa. Và khi quản ngục hỏi ông muốn gì để giúp, ông đã trả lời bằng sự khinh bạc: “Nhà người đừng đặt chân vào đây nữa” Lời nói của ông có thể là nguyên cớ để ông phải rước lấy những trận trả đũa. Nhưng một khi đã nói nghĩa là ông không hề run sợ, không hề quy phục trước cường quyền và bạo lực. Có thể Huấn Cao sừng sững trong suốt cả thiên truyện như một khí phách kiên cường bất khuất, uy vũ bất năng khuất. Những phẩm chất tuyệt vời đó Huân Cao đã chói sáng lên trong cảnh tượng cuối cùng mà Nguyễn Tuân đã gọi là cảnh tượng xưa nay chưa từng có – cảnh cho chữ. Cảnh cho chữ là sự biểu hiện sống động rực rỡ và tài hoa, phẩm chất và khí phách của Huấn Cao. Muốn hiểu được giá trị sâu sắc của cảnh cho chữ chúng ta không thể không nói tới quá trình dẫn đến cảnh cho chữ ấy. Người tinh ý sẽ dễ nhận thấy rằng câu chuyện có hai phần rõ rệt: Phần đầu giới thiệu các nhân vật và dẫn dắt câu chuyện chuẩn bị cho phần sau. Phần sau khắc họa cảnh cho chữ. Nếu không có phần hai thì phần đầu chỉ là những mẩu vụn vặt, thiếu sức sống. Bởi thế phần hai tuy ngắn nhưng lại là kết tinh của toàn bộ câu chuyện. Và bút lực của Nguyễn Tuân càng dồn vào phần này đậm nhất. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh một tình huống đặc biệt. Đó là cuộc gặp hết sức éo le của Huấn Cao và quản ngục – Nơi gặp gỡ là nhà tù, thời gian là những ngày cuối cùng trước khi ra pháp trường của Huấn Cao. Những điều này làm cho tình thế trở nên ngặt nghèo, bức xúc, khó xoay xở. Nhưng oái ăm hơn cả vẫn là thân phận của hai nhân vật. về bình diện xã hội, họ là những kẻ đối địch. Một người là kẻ phản loạn, dám nổi dậy chồng lại thể chế đương thời, còn người kia là một viên quan đại diện cho chính thể ấy Nhưng về bình diện nghệ thuật, họ lại là hai người tri âm: Một người có tài viết chữ đẹp còn người kia lại vô cùng ngưỡng mộ cái tài đó. Sự trái ngược này đã đặt quản ngục trước sự lựa chọn nghiệt ngã: hoặc là muốn làm tròn bổn phận của một viên quan thì phải chà đạp lên tấc lòng tri kỉ hoặc muốn trọn đạo tri kỉ thì phải phản bội chức phận của một viên quan. Quản ngục sẽ hành động như thế nào. Ông ta hành động như thế nào thì tư tuởng tác phẩm sẽ nghiêng về hướng đó. Với một tương quan như vậy, quan hệ giữa họ ban đầu rất căng thẳng. Tâm nguyện lớn nhất của quản ngục là có được chữ của ông Huân Cao nhưng đây là cơ hội cuối cùng. Còn Huân Cao tuy có tài viết chữ nhưng lại chỉ cho chữ những ai ông cho là tri kỉ. Vậy muốn có chữ Huân Cao thì quản ngục phải được ông thừa nhận là tri kỉ trong vòng mấy ngày tới. Điều đó lại dường như không thể đạt được. Trong mắt Huấn Cao, quản ngục cũng có những ưu thế để đối xử với những người tù thông thường. Đó là ông là có thừa quyền lực và tiền bạc. Nhưng Huân Cao không phải hạng tiểu nhân như thế, quyền lực không ép được ông cho chữ, tiền bạc không mua được chữ ông. May thay ở viên quản ngục lại có một tấm lòng trong trẻo – tấm lòng “biệt nhỡn liên lài”. Và tấm lòng này đã khiến cho Huấn Cao cảm động. Sự cảm này của Huấn Cao là cội nguồn dẫn đến cảnh cho chữ. Vậy là việc Huấn Cao cho chữ không giống như việc trả nợ một cách tầm thường, không giống việc một kẻ sắp bị tử hình đang đem tài sản cuối cùng cho người sống, cũng không phải là cơ hội cuối cùng mà để Huân Cao trình diễn tài năng, về bản chất việc cho chữ là sự xúc động của một tấm lòng một tấm lòng. Về cảnh cho chữ Nguyễn Tuân gọi là cảnh “xưa nay chưa từng có”. Bởi trước hết lẽ ra nó phải diễn ra ở nơi sang trọng, đàng hoàng thì nó lại diễn ra trong căn buồng giam chật hẹp, hôi hám, bẩn thỉu. Và người đem cho cái đẹp lẽ ra phải thuộc thế giới tự do thì ở đây lại là tử tù sắp bị hành hình. Đặc biệt ở đây diễn ra một sự đổi ngôi xưa nay chưa từng có. Kẻ cầm quyền hành trong tay thì bị tước hết quyền uy, khúm núm trước Huấn Cao, kẻ tưởng chừng bị mất cả quyền sống là ông Huấn Cao thì trở nên đầy quyền uy khi chăm chú tô đậm từng nét chữ và cho quản ngục những lời khuyên. Và quản ngục vái lạy Huân Cao như một bậc thánh nhân: Kẻ mê muội này xin bái lĩnh. Cảnh cho chữ là khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện trước cái xấu, cái ác. Trong căn phòng giam ẩm thấp đó, ánh áng rực rỡ của bó đuốc đã đẩy lùi bóng tối, mùi thơm của chậu mực đã xua đuổi mùi phân chuột, phân gián, màu trắng của tấm lụa bạch đã xóa tan sự u ám của nhà tù. Lúc này cái đẹp đang lên ngôi, cái đẹp đang đăng quang, ngự trị chiến thắng hoàn toàn cái xấu. Trong những con người ấy lúc này chỉ còn là niềm kính trọng, tôn sùng cái đẹp. Phẩm chât và nhân cách của Huấn Cao đang tỏa sáng, soi đường dẫn dắt quản ngục – một kẻ nhầm đường, lạc lối. Qua đây tác giả cũng khẳng định rằng cái đẹp có thể tồn tại ở mọi nơi, mọi lúc, chiến thắng mọi cái xấu, cái ác. Và cái đẹp có thể cứu rỗi linh hồn con người, giúp con người hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn. Cái đẹp sẽ không bị khuất đi ngay cả khi nó bị vùi dập. Đó là giá trị nhân văn của tác phẩm. Với nghệ thuật vẽ mây, nảy trăng và nghệ thuật đối lập, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật hình tượng Huấn Cao và khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp. Đồng thời nhà văn còn sử dụng hệ thống ngôn ngữ cổ: biệt nhỡn liên tài, thiên lương, bái lĩnh, sở nguyện…. mang lại cho truyện bầu không khí và nhịp điệu của thời phong kiến xa xưa, giúp nhà văn tái tạo câu chuyện của một thời vang bóng.
Phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
1,951
Đề bài: Em hãy viết bài văn phân tích truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen. Bài làm Hanx Cri-xti-an An-đéc-xen (1805 – 1875) sinh ra trong một gia đình nghèo khổ trên đất nước Đan Mạch, vốn là người đa cảm và có năng khiếu văn chương, ông trở thành nhà văn nổi tiếng với loại truyện dành cho thiếu nhi. Cái tên An-đéc-xen rất quen thuộc với bạn đọc năm châu. Không chỉ trẻ em mà người lớn cũng yêu thích truyện của ông bởi sức hấp dẫn lạ lùng được tạo nên từ sự kết hợp tài tình giữa hiện thực và tưởng tượng, cùng với tính chất hoang đường, kì ảo. Tình thương yêu con người và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của điều thiện là nội dung bao trùm lên toàn bộ sáng tác của An-đéc-xen. Cô bé bán diêm là câu chuyện vô cùng cảm động về số phận bất hạnh của một cô bé nghèo khổ trong xã hội tư bản đương thời. Đói và rét, cô bé ao ước có lò sưởi ấm, có thịt ngỗng quay, có cây thông Nô-en và bà nội sống dậy cùng em đón giao thừa. Xót xa thay, tất cả đều là mộng tưởng Ị Cô bé đã chết cóng trong đêm đông giá lạnh. Bố cục câu chuyện có thể chia làm ba phần. Phần thứ nhất giới thiệu hoàn cảnh cơ cực của cô bé bán diêm. Phần thứ hai (trọng tâm) kể về những lần quạt diêm và bao hình ảnh đẹp đẽ hiện lên trong trí tưởng tượng của cô bé. Phần thứ ba miêu tả cái chết thương tâm của cô bé trong đêm đông giá lạnh. Phần trọng tâm có thể chia làm 5 đoạn nhỏ, dựa vào các lần cô bé quẹt diêm. Bốn lần đầu, mỗi lần cô bé chi quẹt một que diêm. Lần thứ năm cô bé quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Thời điểm xảy ra câu chuyện khá đặc biệt: Đêm giao thừa, mọi người sum họp dưới mái ấm gia đình để cùng nhau tiễn đưa năm cũ và đón chào năm mới trong không khí thiêng liêng, ngập tràn hạnh phúc. Riêng cô bé mồ côi mẹ, đầu trần, chân đất, váy áo phong phanh, bụng đói meo đang dò dẫm trong bóng tối. Suốt ngày hôm nay, cô bé lang thang khắp nơi mà không bán được bao diêm nào. Lúc này, quang cảnh xung quanh cô bé đẹp đẽ, ấm áp lạ thường: cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Những hình ảnh ấy gợi cô bé nhớ lại năm xưa được đón giao thừa bên bà nội hiền hậu trong căn nhà xinh xắn có đầy dẫy thường xuân bao quanh. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh tương phản làm nổi bật tình cảnh hết sức tội nghiệp của cô bé. Em đang rét và có lẽ càng rét hơn khi thấy mọi nhà rực sáng ánh đèn. Em đang đói, có lẽ càng đói hơn khi ngửi thấy mùi ngỗng quay sực nức. Chẳng có điều gì tốt đẹp chờ đợi cô bé ngoài cái xó xinh tối tăm, rét mướt, đầy tiếng mắng nhiếc, chửi rủa cửa người cha thô lỗ, cộc cằn. Những lần đón giao thừa năm xưa vui vẻ cùng bà và cha mẹ giờ đây đã lùi vào dĩ vãng. Tai họa đã làm cho gia đình cô bé tan nát. Mẹ mất, bà nội cũng qua đời, em không còn được ai yêu thương, ấp ủ. Giữa đêm giao thừa giá buốt, cô bé lủi thủi một mình với chiếc giỏ đựng diêm. Lúc em nép vào một góc tường để tránh cơn gió bấc rét thấu xương cũng là lúc những khao khát cháy bỏng bùng lên trong trái tim nhỏ bé. Đôi bàn tay em cứng đờ vì lạnh, em ao ước được sưởi ấm bằng một que diêm: Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ? Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ? Cuối cùng em đánh tiêu quẹt một que. Diêm bén lửa thật là nhạy. Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt. Que diêm thứ nhất soi tỏ niềm vui sáng ngời trong đôi mắt cô bé tội nghiệp. Ngọn lửa chắp cánh cho trí tưởng tượng của em bay bổng: Em hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Chà! Ánh sáng kì dị làm sao! Em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng. Thật là dễ chịu! Đôi bàn tay em hơ trên ngọn lửa; bên tay cầm diêm, ngón cái nóng bỏng lên. Chà! Khi tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút mà được ngồi hàng giờ như thế, trong đêm đông rét buốt, trước một lò sưởi, thì khoái biết bao! Thực tế và mộng tưởng xen kẽ với nhau. Trong ánh lửa bập bùng của que diêm, những hình ảnh của cuộc sống đầy đủ hiện ra rõ ràng trong đầu óc cô bé. Mải mê tưởng tượng nên que diêm cháy gần bén ngón tay mà em không thấy nóng. Em ao ước lúc này mà được ngồi trước lò sưởi để hơ đôi bàn tay đã cứng đờ vì lạnh thì sung sướng biết bao! Que diêm cháy hết, cô bé lại trở về với hiện thực phũ phàng: Em vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất. Em ngồi đó, tay cầm que diêm đã tàn hẳn. Em bẩn thần cả người và chợt nghĩ ra rằng cha em đã giao cho em đi bán diêm. Đêm nay về nhà thế nào cũng bị cha mắng. Sợ thì sợ nhưng những ảo ảnh đẹp đẽ do ngọn lửa của que diêm thứ nhất tạo ra vẫn lôi cuốn, hấp dẫn em mãnh liệt. Em muốn tiếp tục được sống trong thế giới kì diệu ấy: Em quẹt que diêm thứ hai, diêm chảy và sáng rực lên. Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màu. Em nhìn thấu vào tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay. Nhưng điều kì diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa và mang cả dao ăn, phuốc-sốt cắm trên lưng, tiến về phía em bé. Đáng buồn thay! Những ảo ảnh đó chỉ hiện lên trong chốc lát. Lửa tắt, vây quanh em vẫn là bóng tối mịt mùng, là cái lạnh thấu xương, cái đói rã rời và đáng sợ hơn cả là nỗi cô đơn không ai chia sẻ: Thực tế đã thay thế cho mộng tưởng; chẳng có bàn ăn thịnh soạn nào cả, mà chi có phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phũ trắng xóa, gió bấc vi vu và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của cô bé bán diêm. Tuy vậy, em vẫn không tuyệt vọng. Trí tưởng tượng phong phú đã đem lại cho em những ao ước mới: em muốn đêm Giáng Sinh phải có cây thông Nô-en nên quyết định quẹt que diêm thứ ba: Em quẹt que diêm thứ ba. Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Nô-en. Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây mà em được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong các tủ hàng, hiện ra trước mắt em bé. Nhưng rồi diêm tắt. Tất cả các ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời. Xung quanh em vẫn là hai bức tường và đêm tối, rồi em nghĩ tới bà em vì bà em, người hiền hậu độc nhất đối với em, đã chết từ lâu, trước đây thường nói rằng: “Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hồn bay lên trời với Thượng đế”. Em quẹt que diêm nữa vào tường, một ánh sáng xanh toả ra xung quanh và em bé nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em. – Bà ơi! Em bé reo lên, cho cháu đi với! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Nô-en ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này; trước kia khi bà chưa về với Thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết bao! Dạo ấy bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu. Que diêm tắt phụt, và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biến mất. Lần thứ năm, em quẹt hết những que diêm còn lại để níu kéo hình ảnh của bà, để được bà cho đi theo đến một thế giới không còn đói rét và đau khổ: Các mộng tưởng của em bé diễn ra lần lượt theo thứ tự như trên là hợp lí. Vì trời rất rét nên trước hết em mơ tưởng đến lò sưởi. Tiếp đó vì đang đói nên em mơ tưởng đến bàn ăn đầy thức ăn ngon mà sau các bức tường kia, mọi nhà đang đón giao thừa. Vì là đêm giao thừa nên ngay sau đó, cảy thông Nô-en hiện ra. Đến đây, tất nhiên mọi điều đều gợi cho em nhớ đến đã có một thời, em cũng được đón giao thừa như thế, khi bà nội còn sống và bất chợt, hình ảnh bà em xuất hiện. Kết thúc câu chuyện là sự đối lập giữa cảnh đời vui vẻ và cái chết bi thảm của em bé bán diêm: Sáng hôm sau, tuyết vẫn phũ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường, người ta thấy một em bé gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Em đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa. Ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Mọi người bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấm!”, nhưng chẳng ai biết những cái kì diệu em đã trông thấy, nhất là cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón những niềm vui đầu năm. Em bé thật đáng thương! Chỉ có mẹ và bà thương yêu em, nhưng họ đều đã qua đời. Cha em có lẽ vì quá nghèo khổ nên đã đối xử với em tàn nhẫn. Người qua đường nhìn thấy thi thể em vào buổi sáng đầu năm với thái độ dửng dưng, vô cảm. Trong xã hội tư bản thiếu sự đồng cảm và tình thương yêu giữa người với người, nhà văn An-đéc-xen đã viết truyện này với niềm xót thương vô hạn đối với em bé bán diêm bất hạnh nói riêng và cả tầng lớp người nghèo khổ nối chung. Để làm dịu bớt nỗi đau đang nhức nhối trong tim và cũng để an ủi những linh hồn tội nghiệp, nhà văn đã miêu tả em bé chết nhưng đôi má vẫn hồng và đôi môi đang mỉm cười, đồng thời hình dung ra cảnh huy hoàng hai bà cháu bay lên trời để đón lấy những niềm vui đầu năm. Tuy vậy, nội dung câu chuyện Cồ bé bán diêm với kết thúc thương tâm của nó vẫn khiến người đọc cảm động rơi nước mắt.
Phân tích truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen
2,063
Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn Hướng dẫn Đề bài: Phân tích – Bình luận tác phẩm Cố hương của Lỗ Tấn. Đọc Cố hương, ta bắt gặp một giai điệu buồn, một nỗi buồn xuyên suốt, sâu xa từ hiện thực mang chất trữ tình thâm trầm, thấm thìa. Một câu chuyện dường như không có cốt truyện – chỉ như một bút kí sơ sài nhưng lại có sức đọng ở tầng sâu cảm nghĩ. Chủ đề của tác phẩm cứ toả rộng ra, nâng cao dần lên từ những vỉa quặng nổi, chìm, từ những mạch ngang dọc. Đề tài là cố hương, tất nhiên phải có hình ảnh về chính cố hương, nhưng ấn tượng đọng lại của truyện lại là những nỗi niềm buồn vui về mảnh đất nghìn đời của nhà văn, và sau đó là những day dứt băn khoăn: làm thế nào để thay đổi nó. 1.Hình ảnh một quê hương xơ xác tiêu điều. Dấu hiệu đầu tiên của sự tàn tạ làm "lòng tôi se lại" là những "thôn xóm tiêu điều, hoang vắng nằm im lìm dưới vòm trời màu vàng úa" mà tác giả (nhân vật tôi) quan sát được ở ven sông. Đó không phải là hình ảnh về quê hương mà người viết mong chờ và hồi hộp biết bao sau hơn hai mươi nãm trở lại. Quê hương trong thực tế khác xa cái quê hương mà "tôi" có trong lòng, có trong kí ức. Cái hôm nay không giống cái hôm qua "Làng cũ tôi đẹp hơn kia!". Vậy phải chăng cảm giác đầu tiên khi trở về làng này là một ngộ nhận, một cảm tính chủ quan vì "lòng mình vốn dã không vui", hoặc sự thê lương cũng không đến nỗi như mình lầm tưởng? Cảnh hiu quạnh khi bước chân đặt đến cổng nhà gieo thêm cái lạnh, cái buồn về sự tan hoang, thưa vắng. Nhà cửa, chòm xóm chắc hai chục năm về trước còn ấm áp đông vui, nhưng giờ thì nhiều gia đình đã dời đi, nay đã thành trống trải. Nhiều nhà khác dã ra đi, gia đình "tôi" cũng sắp sửa ra đi. Nhìn mấy cọng tranh khô phất phơ trên mái ngói nhà mình giống như một ngôi nhà vô chủ từ lâu, vậy nên "khống đổi chủ không được", điều ấy tất nhiên, không khác gì những ngôi nhà trước đó. Đồ đạc trong ngôi nhà của "tôi" gần như bị quên lãng và nào có gì nhiều. Ấy thế mà biết tin, xóm giềng họ tộc đến "hỏi thăm" không ít. Động cơ không hoàn toàn chỉ là trong sáng, thể hiện ở cái không khí xô bồ không phân biệt được người ngay, kẻ gian vì khách khứa thì nhiều, trong dó có kẻ đến dưa chân, người đến lấy đồ đạc, cũng "có kẻ vừa dưa chân vừa lấy đồ đạc". Vì vậy khi con thuyền của gia đình "tôi" rời bến lên đường thì tất cả đồ đạc trong ngôi nhà "hư hỏng, to nhỏ, xấu tốt" đều đã được mang đi "sạch trơn như quét". Nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói không gì khác là mất mùa, thuế má… Một gia đình như gia đình Nhuận Thổ đông con, tuy đứa bé nhất có thể lao đọng cũng đã "giúp được việc" rồi vẫn chẳng đủ ăn vì tai hoạ, vì sự sách nhiễu của bộ máy tham ô "chỗ nào cũng hỏi tiền, chẳng có luật lệ gì cả". Có lẽ sự thay đổi nhiều nhất, ấy là sự biến dạng ở chính con người. Một Nhuận Thổ hôm nay hoàn toàn không giống với Nhuận Thổ năm xưa. Còn đâu khuôn mặt ngày nào tròn trĩnh, "nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng". Thay cho gương mặt rạng rỡ, hăm hở vào đời ngày đó là một cái gì thật tàn héo xác xơ "Anh cao gấp hai trước, khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật trước kia nay đổi thành vàng sạm", chiếc mũ trên đầu rách bươm, chiếc áo bông mặc mùa lạnh trên người thì "mỏng dính". Đặc biệt là hai bàn tay trước kia hồng hào, lanh lẹn, mập mạp nay chỉ còn hai bàn tay "vừa thô kệch vừa nặng nề, nứt nẻ như vỏ cây thông". Nếu chỉ là dấu vết của tuổi già, một cái gì vô cảm thì tại sao khuôn mặt Nhuận Thổ khi gặp người mà chính anh mong nhớ, đợi chờ lại "vừa hớn hở vừa thê lương". Cái gì đó nhấn con người đói nghèo nhưng lương thiện ấy xuống tận bùn đen, đổ gương mặt vui tươi ngày trước trở thành mụ mẫm "đần độn" đi nếu không phải là do bao nhiêu tệ nạn: con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào đày đoạ. Nói đến tệ nạn và các thế lực áp bức này thông qua một nạn nhân của nó, sức tố cáo của ngòi bút hiện thực mạnh mẽ, dữ dội biết chừng nào? Nhân vật thím Hai Dương, "nàng Tây Thi đậu phụ" có lẽ là đại diện cho số đông có những biểu hiện lưu manh hoá. Ra vẻ tức giận "tôi" giàu mà keo kiệt vì không chịu cho không những thứ "đồ gỗ hư hỏng", mụ quay gót thong thả đi ra rồi "tiện tay giật luôn đôi bít tất tay của mẹ tôi giắt vào lưng quần, cút thẳng". Hoặc một lần khác mụ "đứng cạnh đống tro, moi ra hơn mười chiếc, cả bát lẫn đĩa" rồi đổ cho Nhuận Thổ có ý gian lén lút vùi vào. Đứa trẻ nhỏ nhất bây giờ, đứa con thứ năm của Nhuận Thổ cũng không giống bố nó hai chục năm về trước, hoặc chỉ như một phiên bản đáng buồn vì gương mặt thì nó giống hệt anh "chỉ có điều vàng vọt, gày còm hơn một tí, và cổ không đeo vòng bạc mà thôi". Rõ ràng bằng óc quan sát có sự đối chiếu làm nổi bật sự đổi thay, nhất là bằng phương thức miêu tả nói ít mà gợi nhiều, phác hoạ cái bên ngoài mà nói được bao điều sâu sắc bên trong hoặc điển hình hoá một chân dung, một tính cách nhân vật. 2. Nỗi buồn vô hạn của nhà văn Khi quan sát, miêu tả cảnh và người nơi chôn rau cắt rốn, nhà văn vốn không có cái nhìn dửng dưng của người ngoài cuộc. Vì cảnh ấy, người ấy đối với nhà văn rất đỗi thân yêu, gần gũi. Có thể nào nhà văn "vô cảm", dửng dưng? Nhưng dù sao, những chi tiết phác hoạ trên đây vẫn là ngoại canh, đối với người viết, nó vẫn chỉ là khách thể, cái bên ngoài. Còn nỗi buồn vô hạn của nhà văn, nó lặn vào chiều sâu, vào tầng hai của hiện thực nhìn thấy. Ở đây, các phương tiện biểu cảm được tận lực phát huy và tỏ ra vô cùng hiệu quả. Trước hết, ấy là cảm nhận về sự tù túng, quẩn quanh, ngưng đọng của một làng quê nói riêng, cũng là một đất nước Trung Quốc nói chung. Một gia đình như gia đình Nhuận Thổ tính đến ba đời: từ cha Nhuận Thổ đến Thuý Sinh (con Nhuận Thổ) trước sao sau vậy, không "mọc mũi sủi tăm" lên được dù thời gian có đến một thế kỉ trôi qua. Ông là người "ở tháng", cha là người được chủ gọi thêm, để coi giữ đồ thờ (trong những ngày giỗ tết), còn đứa con biết trôi dạt về đâu khi điểm tựa là gia đình, một gia đình đồng con làm không đủ sống. Nếu theo quan điểm "con hơn cha là nhà có phúc" thì gia đình Nhuận Thổ đúng là "vô phúc". Một Thuỷ Sinh bây giờ đâu có bằng cha nó của hai mươi năm vể trước? Một thím Hai Dương cũng khác trước nhiều. Cái lương thiện, hiền hậu của cô gái ngồi bán đậu phụ năm xưa đã thay thế bằng những gì không được đáng yêu như thế: tự cao, tự đại, tâng bốc lấy lòng, tham lam tinh quái, cái dáng điệu com-pa thay bằng tên gọi "mụ com-pa"… Cùng với sự trói buộc vô hình của xã hội, những nạn nhân đáng thương này còn tự trói mình bằng một sợi dây truyền kiếp. Ấy là sự mặc cảm, những ngộ nhận về thân phận tôi đòi. Điều này làm cho nhà văn bất ngờ và đau đớn nhất. Vì đó là căn bệnh nan y về mặt tinh thần của những người áp bức do chính họ tạo ra. Nó phổ biến lan tràn trở thành một thứ "quốc dân tính" kìm hãm con người ngu muội trong một không gian khép kín tối tăm. Tình cảm giữa Nhuận Thổ với nhân vật "tôi" thật thân thiết, chân thành, cởi mở hồi còn là hai đứa trẻ ngày nào. Với nhân vật "tôi" sau hai chục năm dường như nó vẫn còn trọn vẹn, còn tươi nguyên như thế. Vì kỉ niệm giữa chúng gần giống như một thiên đường trên mặt đất. Nhuận Thổ khi ấy "lên tỉnh" thì lần đầu tiên mới trông thấy "những điều hắn chưa bao giờ trông thấy cả". Còn về vùng biển quê Nhuận Thổ, nhân vật "tôi" tung tăng bay nhảy như một con chim sẻ sổ lồng. Mùa tuyết xuống thì đi bẫy chim, mùa dưa hấu thì đi canh lợn rừng, con tra, con nhím. Ra biển thì đi nhặt vỏ sò màu đỏ, màu xanh… cảm giác của nhân vật "tói", cũng giống Nhuận Thổ là "chưa hể biết trên đời này lại có những chuyện mới lạ như vậy". Với nhân vật "tôi", những phát hiện mới này không chỉ là ngày hội, niềm vui, nó còn là sự kiêu hãnh so với bạn bè trên tỉnh vì "chúng nó cũng như tôi, chỉ nhìn một mảnh trời vuông trên bốn bức tường cao bao bọc lấy cái sân mà thôi!". Trong thế giới tuổi thơ hồn nhiên ấy, chúng đã từng là bạn bè, anh em dù hai gia đình không cùng một hoàn cảnh sống. Không có gì để phân chia kẻ nông thôn người thành phố. Những giọt nước mắt khi phải chia tay đéu rất chân thành chia đéu cho hai đứa trẻ ngây thơ. Nó là vô giá. Với nhân vật "tôi", đó là vùng sáng của quê hương, hồn vía của quê hương. Hai chục năm xa cách, tuổi thơ đã đi qua nhưng có cái không thể đi qua, kí ức của "tôi" giống như "bừng sárig lên" khi bà mẹ nhấc đến "có anh Nhuận Thổ đến chơi" sau bao chuyện vật đổi sao dời xa lơ xa lắc. Còn Nhuận Thổ khi gặp lại "tôi" tại sao nét mặt "vừa hớn hớ vừa thê lương"? Hớn hở vì vui mừng, đó là những tình cảm hồn nhiên chưa mất. "Tôi" đi xa, anh thường đến hỏi thăm. Nhận tin "tôi" trớ về, anh vội đến gặp mặt, lại còn cho quà dù quà quê chỉ là một gói đỗ xanh phơi kĩ. Tình cảm như thế là chân thật. Nhưng cái hiển nhiên thì đã không còn. Nhuận Thổ đã biết tiết chế sự hồ hởi thể hiện ở những hành vi ứng xử rất chừng mực. Anh đã tạo ra một thứ hàng rào ngăn cách. Thay cho cách nói suồng sã anh anh em em ngày nào là một thái độ khác: một dáng điệu "cung kính", một cách chào "rành mạch" dường như anh đã tự dặn mình, đã luyện tập kĩ để không một mảy may vụng về, lúng túng: "Bẩm ông". Cái cách thưa gửi lạ tai ấy thật bất ngờ vì lần đầu "tôi" nghe thấy trong quan hộ bạn bè, tri âm thân thiết. Nó ráo hoảnh trong sự ngăn cách phân chia. "Tôi như điếng người đi" chính là vì vậy. Sự đau đớn của "tôi" không nói được nên lời vì đó là nỗi đau quá lớn ngoài sức tưởng tượng của người kể chuyện. Hơn thế nữa, một cái gì còn lớn hơn, giống như một định mệnh: người đi ở vẫn là đi ở, người hèn hạ vẫn là người hèn hạ. Thế giới phẳng lặng này không dành chỗ cho sự thay bậc đổi ngôi. Trái tự nhiên, luật lộ vô hình vẫn ngang nhiên tồn tại, tồn tại trong ý thức con người, kổ cả con người bị áp bức khổ đau. Quan hệ thân mật đã trở nên xa cách, "tôi" không nói được gì hơn vì cái không khí ngột ngạt bao trùm. Cuộc trò chuyện giữa khách và chủ tớ nên rời rạc "toàn là những chuyện chẳng quan trọng gì", bởi nó vô hồn nhạt nhẽo. Kể lể về nỗi buồn của bản thân Nhuận Thổ mà những nếp nhăn trên mặt anh không hề động đậy như anh là người kể còn nội dung câu chuyện là của một ai đó mà thôi. Gương mặt ấy "phảng phất như một pho tượng đá" thật phẳng lặng đến thản nhicn nhằm vĩnh viễn hoá những đau thương mà mình nếm trải nhọc lòng, không còn biết cái buồn vui hồn nhiên là gì nữa. 3. Một con đường đang hình thành ở phía trước Như thế là con đường phía sau đã rõ: một con đường rất hẹp mà cũng rất dài vắt ngang bao nhiêu thế kỉ. Vấn đề đặt ra là có nên tiếp tục giẫm chân lên những bước chân của người khác hay thay đổi nó đi, mở ra một con đường mới. Hình ảnh về con đường cũ như tự nó hình thành: con đường tâm tưởng ấy song song với con đường có thực mà quy trình của nó dễ thấy biết bao: từ thành phố trở vé rồi từ dó lại ra đi, trở về trong đêm và ra đi trong buổi hoàng hôn. Hai khoảnh khắc thời gian đánh dấu một con đường ảm đạm. Phải chăng là rời bỏ cố hương cũng là chia tay với quá khứ, một quá khứ đáng buồn? Câu văn bỗng trở nên đa nghĩa. Đó là "những núi xanh hai bên bờ sông đen sẫm lại, nối tiếp chạy về phía sau lái" có ý nghĩa về cuộc biệt li, biệt li mà "không chút lưu luyến" cảm thương. Trong bối cảnh đó, một cảm nhận mới, không phải không dính líu đến cuộc chia tay ập đến "tôi chỉ cảm thấy chung quanh tôi là bốn bức tường vô hình, nhưng rất cao, làm cho tôi vô cùng lẻ loi, ngột ngạt". Tuy vậy, tuy quá khứ thì có thể quên đi nhưng câu hỏi của thằng bé Hoàng còn đó "nhưng mà thằng Thuý Sinh nó hẹn cháu đến nhà chơi cơ mà!". Quan hệ giữa "tôi" với Nhuận Thổ cứ cho là đã thuộc về quá khứ, còn tình bạn của hai đứa trẻ, nghĩa là một thế hệ tiếp nối thì sao? "tôi mong ước chúng nó sẽ không giống chúng tôi, không bao giờ phải cách bức nhau cả…". Trong tương lai số phận của chúng sẽ không thể nào còn giống chúng tôi, hoặc vất vả chạy vạy như tôi, hoặc "khốn khổ mà đần độn" như Nhuận Thổ, cũng không giống những người dưng "vì khốn khổ mà tàn nhẫn như bao nhiêu người khác". Cuộc sống của chúng tôi, thời chúng tôi, thời của quá khứ không xứng đáng với con người. Nhà văn nghĩ đến một cuộc song khác, một cuộc đời mới mà "chúng tôi chưa từng được sống", nghĩa là một xã hội phải thay đổi hẳn đi trong no đủ và nhất là một quan hệ mới giữa con người. Nhưng hi vọng của người ta có ba, bảy đường. Ở đây lại xuất hiện một thứ ngã ba, có hi vọng hướng vé phía sau, có hi vọng hướng về phía trước. Trong Nhuận Thổ có cái ước mơ thứ nhất. Nó tự nhiên như một quán tính, một thói quen khi anh xin gia đình "tôi" chiếc lư hương và đôi nến. Dù cuộc sống có khốn khổ thế nào anh không bỏ được thói quen là "sùng bái tượng gỗ" của anh, tự nguyện trở lại cái quá khứ đáng hàng trăm lần nguyền rủa. Nhưng ngay ở hi vọng thứ hai, hi vọng một xã hội trong đó con người được giải phóng, được tự do cũng có thể không phải không hão huyền, và xét cho cùng, nó cũng là một loại "tượng gỗ" vô hồn, vô tri kiểu mới "thứ tượng gỗ tự tay tôi chế tạo ra". Trở về với quá khứ thì quá giản đơn vì gần gũi, còn đánh cược cuộc đời mình về phía trước thì dường như lại quá "xa vời" gần với sự hư vô như nhìn vào ảo ảnh. Hình ảnh con đường và thái độ chọn đường đến phần kết câu chuyện mới thực sự được xác định. Biến mơ ước thành quyết tâm khi nhà văn tự nêu lên một định nghĩa về tương lai, cũng là về con đường mới: "kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi". Đặt ý nghĩ trên đây vào những năm hai mươi của thế kỉ trước, ta mới nhận ra một dự cảm tiên tri, một táo bạo và dũng cảm tìm đường của Lỗ Tấn. Phương thức lập luận với nhiều thao tác tư duy như: so sánh, loại trừ, phủ định để tìm ra chân lí phù hợp với giọng văn độc thoại ở đây. Giá trị nhân văn của Cố hương vì vậy không chỉ ở sự cảm thông (với nỗi khổ của kiếp người – như kiếp người Nhuận Thổ) mà còn là, và chính xác là xoá bỏ. Phê phán một xã hội đang tàn hay khát khao thiết kế một mô hình mới, một xã hội tốt đẹp cho con người, ngòi bút "trong nóng ngoài lạnh" của nhà văn có một sức lan toả sâu xa.
Phân tích truyện ngắn Cố Hương của Lỗ Tấn
3,073
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Cố hương của văn hào Lỗ Tấn Bài làm Lỗ Tấn (1881 – 1936) là nhà văn cách mạng nổi tiếng của Trung Quốc. Truyện “ Cố hương" là một truyện ngắn tuyệt hay và xúc động. Nó man mác một tình quê vơi đầy. Nó ghi lại một cách chân thực, cảm động ký ức tuổi thơ. Nó phản ánh số phận những con người quê hương với bao nỗi buồn thương và hi vọng. Các nhân vật như tôi, mẹ tôi, cháu Hoàng, Nhuận Thổ, Thủy Sinh, chị Hai Dương – là những con người của quê hương, gợi ra bao nỗi buồn vui về nơi chôn rau cắt rốn sâu nặng nghĩa tình. 1. Hình ảnh quê hương Sau 20 năm xa cách “tôi” về thăm quê. Phải vượt qua 2000 dặm giữa một mùa đông lạnh giá. Lòng “tôi” bồi hồi khôn xiết. Gió lạnh vi vu thổi vào khoang thuyền. Gần về đến làng, trời càng u ám, xóm thôn xa dần, thấp thoáng tiêu điều, hoang vắng… lòng “tôi" se lại, về quê thì phải vui sao lại buồn? “Tôi” tự hỏi có phải đây là làng cũ thân yêu trong ký ức nữa không? Chuyến về thăm quê này rất đăc biệt, về để bán nhà, giao nhà lại cho chủ mới. Về để từ giã ngôi nhà cũ – nơi cả đại gia đình “chúng tôi” đời đời ở chung với nhau. Sao không buồn đươc, vì sau 20 năm đi xa, lần này “tôi" trở về là để “vĩnh biệt ngôi nhà yêu dấu và từ giã làng cũ thân yêu đem gia đình đến nơi đất khách tôi đang làm ăn sinh sống”. Quê hương thường gắn liền với phần mộ tổ tiên ông bà. Trong "Cố hương" không thấy nói đến. Tác giả chỉ xúc động nói đến ký ức tuổi thơ khoảng chừng 30 năm về trước. Một tình bạn đẹp tuổi thơ độ lên mười với Nhuận Thổ – con trai của một người làm thuê cho gia đình "tôi”. Nhờ Nhuận Thổ mà “tôi” được biết bao chuyện kỳ lạ: cách bẫy chim trên tuyết, con "tra" lông da trơn như mỡ biết ăn dưa; bên bờ biển quê hương có nhiều vỏ sò đẹp và lạ: sò “mặt quỷ” và sò “tay Phật". Nhờ Nhuận Thổ mà tôi cảm nhận được vẻ đẹp quê hương, với bao cảnh tượng thần tiên: "Một vầng trăng tròn vàng thắm treo lơ lửng trên nền trời xanh đậm, dưới là một bãi cát bên bờ biển, trồng toàn dưa hấu, bát ngát một màu xanh rờn”. Quê hương cũ với bao kỷ niệm thời thơ bé. Đó là những ngày mà “thầy tôi hãy còn", cảnh nhà sung túc… năm ấy nhà tôi đến lượt lo giỗ tổ. Giỗ vào tháng giêng. Lễ vật rất nhiều, các đồ tế rất sang, người đến lễ cúng rất đông…, Quê hương trong ký ức bao giờ cũng cảm động. Lỗ Tấn đã nói về hình ảnh quê hương trong hiện tại và trong quá khứ, lúc ở trên đường trở về, lúc gặp lại bạn cũ, người xưa. Có niềm vui nỗi buồn, 30 năm đã trôi qua, nhưng không bao giờ có thể quên được quê hương và tuổi thơ. 2. Hình ảnh người mẹ quê nhà Mẹ đã già. " Tôi” đã trưởng thành, đi làm ăn xa, lưu lạc 20 năm trời nay mới về thăm quê, thăm mẹ. Lâu nay chỉ “gặp mẹ" và hỏi thăm mẹ qua nhũng cánh thư. Con vừa bước vào nhà, mẹ “đã chạy ra đón". Mẹ già “rất mừng rỡ'’ gặp lại con trai sau những năm dài xa cách, thế nhưng "nét mặt vẫn ẩn nỗi buồn thầm kín”. Chắc là mẹ buồn vì thương nhớ người đã khuất, mẹ buồn vì cảnh nhà sa sút, phải bán nhà, theo con trai đến nơi đất khách quê người? Mẹ vẫn hiền hậu, săn sóc “tôi” như ngày "tôi” còn thơ bé: “Mẹ bảo tôi ngồi xuống nghỉ ngơi, uống trà…". Mẹ nói với con trai chuyện dọn nhà… Mẹ vẫn hiền từ như xưa: “Con hãy nghỉ ngơi vài hôm, đi thăm các nhà bà con một chút rồi mẹ con mình lên đường ”. Nhắc đến Nhuận Thổ… “Mẹ tôi” động lòng. Gặp 2 bố con Nhuận Thổ, mẹ ân cần vồn vã. Mẹ thở than cho cảnh nhà anh ta, mẹ bàn với "tôi": "Cái gì không cần chở đi thì cho anh ta hết. Cứ để cho tùy ý chọn, lấy cái nào thì lấy!”. Thương con cháu và thương người đó là hình ảnh người mẹ trong Cố hương. Có một nhà thơ trẻ Việt Nam đã viết: “Quê hương là cầu tre nhỏ – Mẹ về nón lá nghiêng che”. Đọc Cố hương của Lỗ Tấn, nếu ai đó không hiểu được người mẹ thì làm sao cảm nhận được hình ảnh quê hương thân yêu. Bởi lẽ mẹ là quê hương, quê hương là mẹ! Tình yêu quê hương luôn luôn gắn liền thiết tha với người mẹ hiền mà ta yêu quý. 3. Con người quê hương Nhuận Thổ trước hết là tình bạn tuổi thơ. Ba mươi năm trước, “tôi” và Nhuận Thổ đã sống với nhau trong suốt một tháng giêng mà suốt đời “tôi" không thể nào quên được. Hình ảnh hắn thuở lên 10, lần đầu gặp tôi: "Khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng…''. Hắn “bẽn lẽn” với mọi người, nhưng “không bẽn lẽn” với chỉ riêng tôi. Hắn nói lên tỉnh, hắn được trông thấy những điều hắn chưa bao giờ trông thấy cả. Cũng như "tôi” nghe hắn nói chuyện bẫy chim sẻ, chuyện cầm đinh ba đâm con “tra” khi đi canh dưa, chuyện vỏ sò, vỏ ốc, v.v… là những chuyên lí thú, kỳ lạ. Ba mươi năm rồi, “tôi” nhớ đến Nhuận Thổ là nhớ đến gói quà hắn gửi cho tôi: một bọc vỏ sò và mấy thứ lông chim rất đẹp. Không có tuổi thơ thì không có quê hương. Tình bạn tuổi thơ làm cho tình yêu quê hương mãi mãi tươi thắm. Đúng như Lỗ Tấn đã viết: "Bây giờ mẹ tôi nhắc đến Nhuận Thổ, kí ức tôi bỗng dưng sáng bừng lên trong chốc lát. Tôi cảm thấy tựa hồ tôi đã tìm được quê hương tôi đẹp ở chỗ nào rồi. Hình ảnh Nhuận Thổ ấu thơ là hình ảnh quê hương, là “vành trăng non trên bầu trời xanh miền thơ ấu”. Nhuận Thổ là một phần rất nhỏ của Cố hương, là tình yêu quê hương. Hình ảnh Nhuận Thổ trong hiện tại là nỗi đau, nỗi buồn về quê hương. Sau 30 năm xa cách nay găp lại, Nhuận Thổ thay đổi quá nhiều. Nước da “vàng xạm”, những nếp nhăn trên mặt “sâu hóm”. Cặp mắt, mí mắt “viền húp đỏ mọng lên". Đầu đội một cái mũ lông chiên “rách tươm”, mặc một cái áo bông “mỏng dính" giữa lúc trời rét dữ! Người “co ro cúm rúm”, đôi bàn tay “vừa thô kệch, vừa nặng nề nứt nẻ như vỏ cây thông”. Thời gian đã tàn phá một con người về mặt ngoại hình. Sự nghèo khổ và vất vả làm tàn tạ một con người vốn cường tráng và dẻo dai. Gặp lại bạn cũ, Nhuận Thổ “vừa hớn hở vừa thê lương” mấp máy đôi môi nói không ra tiếng, sau mới “cung kính” nói được hai tiếng: “Bẩm ông!”. Lễ giáo và tôn ti trật tự của xã hội phong kiến đã tạo nên giữa đôi bạn “một bức tường khá dày ngăn cách". “Tôi” như bị “điếng người" khi nghe anh ta nói. Nhìn người và nghe Nhuận Thổ nói “tôi” nặng trĩu trong lòng "trông anh ta phảng phất như một pho tượng đá” vô hồn và vô cảm. Hình ảnh Nhuận Thổ trong hiện tại là hình ảnh một xứ sở, một miền quê xơ xác, tiêu điều, người nông dân bị bần cùng hóa, bị áp bức và bóc lột đến tận xương tủy: "mất mùa, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào…”, “chỗ nào cũng hỏi tiền, chẳng có luật lệ gì cả”. Thông qua việc tường thuật chuyến về quê lần cuối cùng của “tôi", thông qua những rung cảm của “tôi" trước sự thay đổi, tàn tạ ghê gớm của làng quê, đặc biệt là Nhuận Thổ, tác giả đã lên án tội ác của chế độ phong kiến đối với nông dân, từ đó đặt ra vấn đề quyền sống và hạnh phúc của nhân dân trên con đường đi tới. Nói đến con người quê hương trong Cố hương không thể nào không nhắc tới hình ảnh chị Hai Dương – “Tây Thi đậu phụ", ngày xưa “phấn son” nổi danh tài sắc bây giờ đã trở thành một “bỉ vỏ" trơ tráo, lúc thì ăn cướp đôi tất tay, lúc thì lấy cái "cẩu khí sát” rồi chạy biến. Cũng không thể không nghĩ tới cháu Hoàng và Thủy Sinh, con trai thứ năm của Nhuận Thổ. Trẻ con xưa nay vẫn hồn nhiên và đáng yêu. Nghĩ đến những con người quê hương, "tôi” mong muốn những em bé quê hương sẽ không còn “phải khốn khổ và tàn nhẫn…”, mong mỏi chúng nó được sống “một cuộc đời mà chúng tôi chưa từng được sống". 4. Con đường Phần cuối truyện Cố hương tác giả viết một câu văn rất lạ mà hay. Sau khi ông nói đến mọi thứ " tượng gỗ” và “sùng bái tượng gỗ", nói đến mong ước “gần gũi" và “xa vời", nói đến “thực" và “hư’' trong “hy vọng", rồi ông hạ bút. Đó là suy ngẫm của “tôi”: “ Cũng giống như những con đường trên mặt đất; kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Có con đường mưu sinh phải xa quê. Có con đường tình nghĩa, không quản xa xôi, cách trở đã về thăm lại quê. Có con đường khổ ải. Có con đường hạnh phúc. Con đường gần, con đường xa, con đường hi vọng đi lên phía trước. Có con đường mòn… Cũng có chuyện phá lối mở đường. Con đường đến với mỗi người là con đường số phận. Con đường của mỗi dân tộc là con đường cách mạng. Phải chăng đó là ý tưởng sâu sắc về hình tượng con đường trong Cố hương. Ca dao có câu: Quê hương nghĩa nặng tình sâu, Bể dâu biến đổi biết đâu là nhà Đọc Cố hương của Lỗ Tấn, tôi bâng khuâng mãi về tiếng hát ấy từng vang vọng khắp miền Trung thân yêu của quê mẹ…
Phân tích truyện ngắn Cố hương của văn hào Lỗ Tấn
1,807
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam để chứng minh rằng truyện Hai đứa trẻ là một bài thơ trữ tình đầy xót thương Bài làm Trên văn đàn văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, Thạch Lam chưa được xếp ở vị trí số một nhưng cũng là một tên tuổi rất đáng coi trọng và khẳng định, Thạch Lam tuy có viết truyện dài nhưng sở trường của ông là truyện ngắn, bởi ở đó tài năng nghệ thuật được bộc lộ một cách trọn vẹn, tài hoa. Nguyễn Tuân viết: “Nói đến Thạch Lam người ta vẫn nhớ đến truyện ngắn nhiều hơn là truyện dài”. Đóng góp của Thạch Lam không chỉ ở nghệ thuật mà nó còn giúp ta thanh lọc tâm hồn: “ Mỗi truyện là một bài thơ trữ tình đầy xót thương”. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam cũng là “một bài thơ trữ tình đầy xót thương” như thế. Thạch Lam tuy có chân trong Tự lực Văn đoàn nhưng tư tưởng thẩm mĩ lại theo một hướng riêng. Ông xây dựng cho mình một thế giới nhân vật khác. Ông lặng lẽ hướng ngòi bút của mình về phía những người nghèo khổ với tấm lòng trắc ẩn chân thành? ( Phong Lê ). Thế giới nhân vật là những lớp người nghèo khổ cơ cực bế tắc nói chung, những nhân vật của Thạch Lam thật nhỏ bé và tộI nghiệp: Họ thường nép mình trong bóng tối của một không gian hẹp thường là nơi phố huyện tiêu điều, xơ xác hoặc những xóm nghèo ngoại ô Hà Nội. Nhân vật của ông chủ yếu là con người thân phận, họ thường tìm kiếm nơi ẩn nấu trong gia đình, giữa bốn bức tường hoặc trong sân vườn, có nghĩa là tách khỏi cuộc đời, nơi xã hội đầy bất trắc bên ngoài. Có lẽ như thế con người mới cảm nhận hết về mình và về cuộc sống xung quanh. Dường như họ thu mình trước thực tại để xót mình và thương người, để bâng khuâng man mác khi hồi tưởng về quá khứ? Không dám nhìn về tương lai, mang nặng một mặc cảm mờ mịt trong lòng khi nghĩ về mai sau. Cảm quan trong truyện của Thạch Lam có thể gói gọn trong ba chữ đó là niềm xót thương. Những con người nhỏ bé ấy bao giờ cũng được nhà văn học trong một không khí trữ tình đầy mến thương toả ra một cách dịu dàng từ tấm lòng tác giả … Truyện của Thạch Lam không có cốt truyện đặc biệt, giọng điệu và ngôn ngữ nhiều chất trữ tình: Mỗi truyện ngắn của Thạch Lam có cấu từ và giọng điệu như một bài thơ trữ tình, gợi sự thương xót trước số phận của những con người nhỏ bé bất hạnh. Một giọng văn bình dị mà tinh tế. Âm điệu man mác bao trùm hầu hết truyện ngắn và thiên nhiên cũng trữ tình. Văn cứ mềm mại, uyển chuyển, giàu hình ảnh, nhạc điệu. Đó chính là chất thơ trong truyện ngắn Thạch Lam, “có cái dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây” khiến ta vương phải. “ Hai đứa trẻ” là đặc trưng của hồn văn Thạch Lam. Nó là “một bài thơ trữ tình đầy xót thương” Truyện “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một mẩu chuyện sinh hoạt kéo dài của hai chị em đứa trẻ thay mẹ trông nom một gian hàng vặt ở một phố huyện gần một cái ga xép. Đêm đêm những bóng ngườI bình thường cũng lù mù đi qua trước gian hàng. Những bóng người ấy cũng lù mù như nhiều chấp lửa ở những nguồn sáng quanh quất nơi phố huyện. Trong cái bốn bề chìm chìm nhạt nhạt, bỗng có tiếng động mạnh và những luồng sáng mạnh của một chuyến xe lửa kéo qua hàng ngày. Hai chị em ngày nào cũng chờ một chuyến tàu đêm kéo qua ra mớI chịu đóng cửa hàng. Nguyễn Tuân đã tóm tắt truyện như thế. Đúng vậy, truyện này tưởng như không có cốt truyện, không có biến cố. Nó chỉ là biến diễn của một thời gian ngắn, từ khoảng năm giờ chiều khi “phương tây đỏ rực như lửa cháy” đến chín giờ tối “đêm tối bao bọc chung quanh”; nó chỉ là biến diễn bên trong “tâm hồn ngay thơ của hai chị em Liên, An trong một buổi tối của các thường ngày tưởng như “ tẻ nhạt”, “không có gì” … Song vượt lên trên các thường ngày, Thạch Lam bằng con đường nghệ thuật riêng với thế giới nghệ thuật riêng, một thờI gian riêng, không gian riêng, nhân vật riêng, ngôn ngữ riêng đã tạo nên khí vị nhẹ nhàng, buồn man mác, đậm đà hương vị đồng quê; nhiều bóng tối mà chói sáng mối tình thương yêu hiền hoà, nhân hậu, xót thương chân thành, phảng phất thơ toả lên từ quê hương. Truyện không có cốt truyện như chất chứa biết bao cảnh đời, bao tâm trạng, tâm cảnh sâu lắng tinh tế. Diện mao phố huyện được Thạch Lam tái hiện là một khung cảnh buồn, là cảnh chiều tàn đi dần vào đêm khuya. Hàng ngà, những cái ồn ào của buổi sáng làm không khí bị nhoè đi trong nắng như đến chiều thì cái bộ mặt thật của phố huyện hiện ra với tất cả những cái tiêu điều, xác xơ, tàn lụi. “Chiều chiều rồi” như là một lời thảng thốt, bàng hoàng như một tiếng thơ dài. Thế là một buổi chiều nữa lại đến, chiều là buồn. Ấn tượng về buổI chiều khá sâu đậm. Thạch Lam đã chọn một phiên chợ tàn để nói lên được tất cả bộ mặt của phố huyện. Chợ là nơi biểu hiện sức sống của một làng quê, biểu hiện thuần phong mĩ tục của làng quê. Người ở nông thôn thường trông chờ vào ngày chợ phiên đông vui tấp nập. Thạch Lam đã chọn ngày chợ phiên để nói cái xác xơ tiêu điều của phố huyện. Mặc dù không tả buổi chợ phiên nhưng ông đã tả những phế phẩm còn lại của buổI chợ, đó cũng là cách biểu hiện sức sống đầy hay vơi của phố huyện. Tả những con người cuối cùng trao đổi với nhau rồi bước vào các ngỏ tối. Rác chỉ là những thứ phế thải vớ vẫn “rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía, những thanh nứa thanh tre…Lũ trẻ vẫn còn ra bòn mót, nhặt nhạnh. Ngày chợ phiên như thế thì sức sống đã kém lắm, đã yếu lắm rồi. Người bán trông vào người mua và ngược lại nhưng chỉ là sự vô vọng, lẩn quẩn, trông chờ vào sự vô vọng. Mùi vị toả ra trong không gian này là một thứ mùi đặc trưng để nói tớI sự nghèo nàn. Đó là mùi bã mía, vỏ bưởi, vỏ thị, đất ẩm, mùi khói, mùi cỏ, mùi phân trâu nồng nồng ngai ngái… Cái mùi vị ấy cũng góp phần làm cho khung cảnh thêm phần tàn tạn héo úa, lụi dần. Có thể thấy xung đột giữa bóng tốI và ánh sáng khá mạnh mẽ. Ánh sáng và bóng tối đang giao tranh nhau. Ánh sáng yếu dần ban đầu là “ bầu trời đỏ rực như lửa cháy, mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” sau đó là bóng tốI hiện dần ở bóng xẩm trên ngọn tre và cuối cùng bao trùm lên khu phố huyện là cái bóng tối mênh mông của nó, tín hiệu là ngọn đèn Hoa Kỳ của chị Tí. Ở đây ánh sáng và bóng tối còn mang ý nghĩa tượng trưng, ánh sáng là ước mơ, bóng tối là nghèo nàn và cô đơn; mở đầu chuyện ánh sáng tắt dần, bóng tối chiếm lĩnh. Chính cái ánh sáng cuốI cùng ấy báo hiệu rõ màn đêm- màn đêm vừa sâu vừa dày sẽ diễn ra tiếp đó. Ánh sáng càng ngày càng thu nhỏ phạm vi hoặc ở xa manh mảnh, li ti như ánh sáng của ngôi sao trên bầu trời hoặc yếu ớt ảm đạm lọt qua khe cửa khép hờ hoặc toả trên cái bóng tre của chị Tí. Ánh sáng ấy biểu hiện một sự tàn lụi ở cường độ thấp và khả năng thu hẹp của nó. Tiếng trống thu không rời rạc, chậm, lẽ tẻ và cứ tắt lịm dần. Nhưng âm thanh nhỏ nhất như tiếng muỗi vo ve gợi cảm giác về sự ngưng đọng. Nó rơi tỏm vào trong không gian đang chết lặng. Đó là những âm thanh không có hồi âm, nó chỉ nhấn mạnh thêm cái buồn tẻ đến rợn người của phố huyện lúc chiều tối. Tất cả hô ứng, qui tụ để cho ngườI đọc thấy rõ được khung cảnh thật của phố huyện một ngày tàn. Thạch Lam miêu tả nhận xét một cách tinh tế, sâu xa bước đi thờI gian của nơi phố nghèo. Người đọc dường như thấy được bước chuyển biến của thời gian rung lên bằng ngôn ngữ riêng. Sức rung động của câu văn có khả năng đánh thức con người hãy cảm nhận thật tinh tế khung cảnh phố huyện và tâm sự của Thạch Lam. Trên cái nền ấy, những cảnh đời, những con người, đúng hơn là những phiến cảnh về cuộc đời, về con ngườI bé mọn, hoàn toàn không có ước vọng, khát khao được khắc hoạ rõ nét. Họ nói chuyện với nhau nhưng dường như chẳng có nộI dung. Họ có đi lại, ăn nói với nhau nhưng chỉ thấy họ vừa lòng thoả mãn với cảnh chật hẹp. Mua chịu nửa bánh xà phòng, bán đong hơn một ngấn rượu trong chiếc cút bé nhỏ …Chị Tí là điển hình cho người dân phố huyện với nhịp sống quẩn quanh: ban ngày mò cua bắt tép, ban tối chị mới mở cái hàng bán nước. Cái đáng sợ là vẫn biết bán không được gì “sớm muộn mà có ăn thua gì?” mà vẫn cứ ra. Đây không phải là sự sống thực sự mà là sự sống cầm chừng cầm cự vớI cuộc sống, giao tranh, tranh giành với cái đói,cái chết trông chờ vào những ngườI trên tàu là qua bấp bênh có khác gì trông chờ vào những người khách ấy để sống. Cách chị Tí trả lời câu hỏi của Liên: không trực tiếp trả lời ngay mà còn làm thêm để chõng xuống đất, bày biện các bát uống nước mãi rồi mới chép miệng trả lời: “Ối chao, sớm muộn mà có ăn thua gì”. Câu văn cho ta thấy nhịp sống chập chạp, lẩn quẩn của nhân vật. Bác phở Siêu có vẻ khá hơn nhưng nhưng nguy cơ lại lớn hơn vì thứ mà bác bán là thứ quà xa xỉ mà ngay cả chị em Liên cũng không dám ăn. Bác Xẩm góp tiếng đàn run bần bật trong đêm tối, mà không hề có tiếng động nào của một đồng xu. Bà cụ là một con người bị tàn lụi, héo úa và cho ta cảm giác rợn người, kinh hoàng. Bà là kiếp người đáng sợ ở chi tiết vừa đi vào bóng tối vừa cười khanh khách. Cách xưng hô vớI Liên “chị” đã kéo xa khoảng cách tình giữa con người vớI con người vốn nó rất cần trong hoàn cảnh cầm chứng này. Cụ Thi điên là một nạn nhân đầy đủ nhất của kiếp người, như một cái cây đã tàn lụi quá nhiều – kiếp người héo hắt – tàn lụi. Cụ Thi xuất hiện chỉ trong mấy dòng truyện ít ỏi nhưng đã ám ảnh người đọc, thức dậy trong ta lòng trắc ẩn chân thành. Ở vị trí tiền cảnh của bức tranh đời buồn thảm, héo tàn, mờ mờ lay động bóng hai chị em nhỏ tuổI cũng âm thầm không kém với cái “cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu” mà khách hàng là những người khốn khổ có khi không đủ tiền mua nổi nửa bánh xà phòng hoặc chỉ đủ tiền cho cút rượu nhỏ “uống một hơi cạn sạch”. Liên xót xa cho những kiếp người lay lắt nhưng cuộc sống của Liên cũng cầm chừng không kém. Nỗi khổ của Liên có lẽ còn cao hơn nỗi khổ vật chất của những người khác, đó là bi kịch tinh thần bởi họ khổ mà không biết mình khổ còn Liên đã thực sự thấm thía cảnh sống tẻ nhạt tù hãm và đơn độc hết ngày này sang ngày khác. Biện pháp duy nhất để khuây khoả nỗI hắt hiu, đơn điệu chỉ là đêm nào cũng mỏI mắt cố gắng chờ đợi một chuyến tàu đi qua: “đó là hoạt động cuối cùng của đêm khuya”. Ánh sáng của đoàn tàu là mảng ánh sáng rực rỡ, mạnh mẽ song ở ánh sáng này cũng chỉ vụt loé lên nhanh như một vì sao băng để rồi vĩnh viễn tắt lịm trong màn đêm khiến ta phải ngơ ngác, bàng hoàng. Dường như “Hai đứa trẻ” là truyện của những nguồn ánh sáng, hồi tưởng của Liên cũng là hồi tưởng về ánh sáng. Lần đầu tiên Liên “nhớ lạI” Hà Nội, một kí ức không rõ rệt, Hà Nội là một vừng sáng rực lấp lánh “và” Hà NộI nhiều đèn quá. Lần thứ hai, Liên mơ tưởng “Hà Nội xa xăm”, “Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”. Cái cảnh tượng của quá khứ đẹp đẽ ấy tương phản gay gắt với cái tối mịt mù dưới gốc bàng của hiện tại đang diễn ra. Quá khứ và hiện tại, ánh sáng và bóng tối, lãng mạng và hiện thực, giấc mơ nghèo và sự thật nghèo khổ, tất cả tạo nên biến động sâu kín trong tâm hồn Liên. Ánh sáng của đoàn tàu là ánh sáng của mơ ước, nó chỉ thoáng qua, tắt lịm và để rồi tất cả lại chìm trong bóng tốI mênh mông, buồn tẻ. Tất cả các nhân vật đó đã hiện ra dưới cái nhìn xót thương của người tái hiện. Và nỗi thương cảm của Liên đốI vớI mấ đứa trẻ đi nhặt rác, vớI chị Tí, với bác Siêu, vớI cụ Thi điên cũng là cảm xúc của chính Thạch Lam. Thạch Lam đã hoá thân vào nhân vật để nói cái cảm quan xót thương của mình. Đoàn tàu với thoáng sáng vụt qua rất nhanh rồi tắt lịm đã thay đổi một chút ít không khí của thế giới hiện tại, phải chăng đó là khát vọng thoát khỏi cuộc sống tù đọng dù chỉ trong chốc lát của Thạch Lam. Nhà văn day dứt về một kiếp sống tàn lụi, héo úa, đơn điệu, hư vô chứ không chỉ có xót thương thông thường. Chính vì vậy mà ông trình bày hiện thực của phố huyện mang ý nghĩa khái quát lớn của xã hộI Việt Nam về sự trì trệ. Nếu đặt trong dòng thời sự văn học buổi ấy, ta thấy Thạch Lam phản ánh khá rõ nét một hoàn cảnh, tâm lí thời đại mà Nam Cao đã phải từng thốt lên: “Cuộc đời đang cùn đi, gỉ đi, nổi váng lên”… “Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn như một bài thơ trữ tình bởi cấu từ, giọng điệu, ngôn ngữ của nó, giống như một bài thơ. Cấu từ của truyện là cấu từ vòng tròn xoay quanh hình ảnh bóng tối được lặp đi lặp lạI nhiều lần (không dưới ba mươi lần). Khi miêu tả cảnh trời phố huyện cũng như cảnh đời những con người phố huyện, tác giả đặc biệt có ý sử dụng một cách công phu yếu tố nghệ thuật:hình ảnh bóng tối bao trùm cảnh vật và con người mà tác giả dụng công miêu tả từ nhiều thờI điểm, từ nhiều góc nhìn, từ nhiều tâm cảnh khác nhau. Bóng tối như một ám ảnh, như một sự hăm doạ, như một quái vật đè nặng lên cảnh vật và con người. Tác giả nhắc đến bóng tối nhiều lần dướI những cách nói hình ảnh từ ngữ tuy có khác nhau: “buổi chiều hòn than sắp tàn”, “mặt đen lại”, “chiều, chiều rồi”, “bóng tối ngập đầy”, “bước của buổi chiều”, “ngày tàn”. Tác giả miêu tả rất nhiều trạng thái khác nhau của bóng tối đến với tiếng trống thu không tư trên chòi cao, bóng tối sắp đến với những đám mây hồng như hòn than sắp tàn, bóng tối đến với dãy tre làng đen lại, bóng tối đến với cánh muỗi vo vo, bóng tối đến với những viên đá nhỏ trên con đường mấp mô, bóng tối trùm lên đường phố và các ngõ huyện… Nói tóm lạI, bóng tối được lặp đi lặp lại đầu và cuối huyện. Bóng tối như một cái gì hãi hùng đang hoạt động, đang thâm nhập, đang len lỏi, luồn lách, bám sát vào mọi cảnh vật, mọi trạng thái hoạt động âm thầm của mọi sinh vật. Nó như cái nền không gian nghệ thuật của tác phẩm và không gian xã hội của con người. Bởi tối là lúc chị Tí xuất hiện “tối đến chị mới dọn cái hàng dưới gốc cây bàng”; về đêm bác phở Siêu mới xuất hiện như một chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi rồi lại hiện ra … bóng tối là nơi cụ Thi mang đến và mang đi “một tiếng cười khanh khách nhỏ dần”, một cụ Thi cuộc đời không rõ ràng nhưng rõ ràng là đang chứa ẩn một nỗi lòng u uất cứ chìm trong bóng tối; vợ chồng bác Xẩm thu gọn trên manh chiếu chật hẹp, với chị em Liên, tác giả kể tỉ mỉ hơn nhưng tâm trạng, những suy nghĩ của hai đứa trong đêm tối: đêm tối ngập đầy đôi mắt của Liên, Liên thích ngồi yên lặng ngắm nhìn trong đêm tối, về khuya, Liên ngồi yên lặng trong đêm chờ đón đoàn tàu, khi tàu vụt qua, Liên nhập dần vào giấc ngủ yên tĩnh như đêm ở trong phố tịch mịch và đầy bóng tối… Lặp đi lặp lại gián tiếp hay trực tiếp hình tượng bóng tối cũng chính là cách để tác giác bộc lộ chủ đề tác phẩm qua cảm quan xót thương và tạo cho truyện có âm hưởng, cấu từ như một bài thơ trữ tình. Mặt khác, việc miêu tả những cảm giác thiên nhiên rất hiếm trong hiện thực phê phán nhưng trong “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam luôn luôn miêu tả khi có cơ hội. Thiên nhiên bao bọc truyện với nhiều trạng thái phong phú. Tác giả còn chú ý khắc hoạ được cảm giác mơ hồ về giờ khắccủa ngày tàn và về vũ trụ thăm thẳm bao la rất gần ũi mang sắc thái dân tộc, cũng chính vì vậy mà nhân vật chính của câu chuyện là Liên cứ mang theo vẻ hồn man mác. Chất thơ còn được thể hiện ở ngữ điệu nhỏ nhẹ, man mác thú vị ở lờI văn, ở những cảm xúc tinh tế của một tâm hồn dể rung động. Truyện cứ trảI dài ra như một bài thơ, lắng sâu thanh lọc hồn ta. Chất nhạc thấm trong từng câu văn thấm thía. Một giọng văn bình dị mà tinh tế, đầy ưu ái. Có thể nói “ hai đứa tẻ” là một bài thơ trữ tình trọn vẹn của Thạch Lam. Khi nói “mỗi truyện là một bài thơ trữ tình đầy xót thương” thì người nói muốn nhấn mạnh cả về nội dung lẫn hình thức của truyện. Nội dung thể hiện hình thức và ngược lại. Nó là sự gắn bó hoài hoà để tạo nên tác phẩm. Văn phong của Thạch Lam được thể hiện đặc trưng trong “Hai đứa trẻ”, và tôi muốn kết thúc bài viết này bằng ý kiến của Nguyễn Tuân: “Ngày này đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học.”
Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam để chứng minh rằng truyện Hai đứa trẻ là một bài thơ trữ tình đầy xót thương
3,428