text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam Bài làm Không phải ngẫu nhiên mà Thạch Lam lại đặt tên cho truyện ngắn của mình 1à Hai đứu trẻ. Hai đứa trẻ gợi lên một niềm thương cảm, gợi lên những mảnh đời như bao mảnh đời tăm tối trong phố huyện nhỏ nghèo nàn và dày đặc bóng tối. Không riêng gì Hai đứa trẻ các truyện ngắn khác của Thạch Lam khi viết về người nghèo đều gợi lên niềm thương cảm đặc biệt. Không cần những lời lẽ tả tình cảm, không lâm li khóc lóc, mà ẩn trong cách miêu tả, cách nhìn và thái độ của nhà văn chúng ta hình như đã nhận ra điều đó. Truyện ngắn Hai đứa trẻ được viết bằng bút pháp lãng mạn, câu chuyện nhẹ nhàng như một bài thơ trữ tình. Kết hợp với nghệ thuật miêu tả không gian, thời gian tài tình, Thạch Lam đã làm nên cái phông nền cho sự xuất hiện của những con người cùng với cuộc sống tối tăm của họ trong phố huyện nhỏ, và để lại dư âm trong lòng người đọc. Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam Ở truyện ngắn Hai đứa trẻ, không gian và thời gian hầu như không tách bạch mà giao nhau, đan cài vào nhau đến khó có thể phân biệt. Tiếng trống thu không trên cái nền chòi của huyện nhỏ, từng tiếng vang xa để gọi buổi chiều. Phượng tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn, dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời… Chiều chiều rồi văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng… muỗi bắt đầu vo ve… Đó là lời đối thoại, nhịp điệu kéo dài, tất cả tạo nên một dòng cảm xúc trước thời khắc, đó không phải là cái vui, cái nhộn nhịp của con người trước thời khắcn ngày tàn mà đó là nỗi niềm, nỗi buồn man mác khó tả của lòng người như hòa vào cảnh vật, chìm đắm cùng với cảnh vật. Thời gian, không gian đó còn là hình ảnh của phiên chợ đã vãn từ lâu, dư âm của nó chỉ còn lại mùi âm ẩm bốc lên, những vỏ mía, vỏ bưởi, vỏ thị và cũng trên cái nền ấy là những đứa trẻ con nhà nghèo hiện lên lấm lem, đi nhặt nhạnh những thứ rác rưởi có thể dùng được mang về nhà. An và Liên cũng không hơn gì chúng, bởi cũng không có thứ gì để cho chúng ngoài niềm thương cảm mà thôi Có thể nói Thạch Lam rất tài tình khi miêu tả cảnh vật (mặc dù đó không còn là mới mẻ). Nhưng cái cảnh vật của ông, khác với cái không gian thoáng đãng mênh mông vời vợi của Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến mà chật hẹp, tăm tối, hình như đến ngột ngạt khó thở. Thế nhưng cái khó ở đây không phải vì con người không có chỗ đứng để hoạt động mà chủ yếu gợi lên từ cuộc sống ngột ngạt bế tắc của họ. Cái cuộc sống không biết đâu là tương lai ngày mai nhưng vòng luẩn quẩn, như cái dây bị thắi nút mà con người bó tay không biết bắt đầu gỡ từ đâu. Hình ảnh chị Tý với gánh hàng nước, chờ một vài người, cái cách trả lời của chị sao mà buồn, sao mà mịt mù. “Ôi chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì”. Hình ảnh hai chị em Liên tính những món hàng bán được cũng chẳng khác gì những cốc nước của chị Tý. Cái cửa hàng nhỏ xíu, cái gì của hai chị em cũng nhỏ xíu theo, đến có thể cầm nắm được. Nhất là cụ Thi, điên loạng choạng. bước trong đêm, vật vờ như một hóng ma với tiếng cười khanh khách, dễ sợ cái hành động cụ ngửa cổ ra đằng sau uống một hơi cạn sạch, rồi chép miệng thật đáng thương. đời của một con người không ra người mà là một kiếp phù du. Không biết trong cái phố huyện nghèo và nhỏ này có còn bao nhiêu bà điên như thế nữa? Hay hình ảnh vợ chồng bác xẩm với đứa con thơ bò ra nghịch đất cát, manh chiếu rách, tiếng đàn bầu vang lên bần bật? Thạch Lam không hề nói đó là hình ảnh của người đi ăn xin nhưng cách miêu tả và hình ảnh nó hiện lên thì có lẽ đúng là một gia đình đi ăn xin. Tiếng đàn bầu bần bật cũng như cuộc đời họ hơn bao giờ hết lúc này cũng đang run lên, mà lúc này không hề có một sự cứu cánh, không có con đường để giải thoát cho họ. Cái đáng nói của văn phong Thạch Lam là ở đó, ông không cần phải khắc họa phải miêu tả tỉ mỉ mà chỉ vài nét đi qua cũng đủ khái quát lên hình ảnh của cuộc đời một con người và cuộc sống của họ. Gánh phở cùa bác Siêu bốc lên một mùi thơm ngây ngất, thế nhưng không ai dám mơ, không dám ăn vì đó là thứ hàng quá xa xỉ với những con người đang hiện diện quanh gánh phở ấy. Gánh phở của bác như là tiếng đàn lạc điệu trong âm hưởng của nghèo nàn khổ sở. Đó cũng là lúc gợi lên nỗi nhớ của Liên về Hà Nọi huyên náo, no đủ với cuộc sống dư dật của một thời đã xa, một thời thuộc về quá vãng, một đi không trở lại để rồi trở về với thực tại càng thấy xót xa, bi đát hơn. Và bầu trời vẫn hàng nghìn ngôi sao ganh nhau lấp lánh. Vũ trụ thăm thẳm bao la càng làm tăng thêm sự đối lập với cái chật hẹp, không lối thoát của cuộc đời những con người trong phố huyện với cái không gian tối tãm, khó thở. Đoàn tàu lâu nay nhiều người vẫn cho rằng đó là điểm sáng của cả câu chuyện, là tương lai và ước mơ vườn tới của hai đứa trẻ. Thiết nghĩ không phải như vậy, đoàn tàu – thứ ánh sáng tô điểm được một chút xíu rồi cũng qua đi như cơn gió thoảng.Thực tại nơi phố huyện vẫn tràn ngập trong bóng tối, sự huyên náo của con người, của đoàn tàu lại càng làm tăng thêm cái yên lặng tĩnh mịch của phố huyện và của cuộc đời con người ở đó. Thạch Lam đã thương, đã cảm thông cho họ nhưng có lẽ nhà văn chưa mở đường sáng cho họ, đó không phải hạn chế của thế giới quan nhà văn mà là một thực trạng xã hội lúc này. Thạch Lam mặc dù viết theo bút pháp lãng mạn nhưng ông đã không tô điểm cho cuộc sống nhân vật như nhiều nhà văn khác, ông đã dám nhìn thẳng vào sự thật cuộc đời nghiệt ngã để làm chỗ đứng cho những trang văn của mình, đó cũng là lí do để những truyện ngắn của ông mãi sống với cuộc đời. Bất kì một tác phẩm văn học có giá trị và có sức sống lâu bền đều bắt nguồn cuộc sống, cuộc sống chính là mảnh đất tốt cho những trang văn được ươm mầm nảy lộc. Đọc Hai đứa trẻ cũng như các truyện ngắn khác của Thạch Lam chúng ta thấy rõ điều đó và nhất là chúng ta được có những phút giây suy ngẫm về cuộc đời, có sự thanh lọc về tâm hồn. Một lần nữa tấm lòng và niềm yêu thương của nhà văn đôi với con người, nhất là những con người nghèo khổ, luôn là điều làm nên sức sống vĩnh hằng của tác phẩm.
Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
1,339
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ và ngòi bút Thạch Lam Bài làm Tuy là một thành viên của Tự lực văn đoàn nhưng tư tưởng thẩm mĩ cùa Thạch Lam đi theo một hướng riêng. Văn chương của ông thường hướng vể một tầng lớp tiểu tư sản, trí thức nghèo và những con người bé mọn. Thạch Lam có sợ trường về truyện ngắn, nhất lạ những truyện ngắn tâm tình, không có cột truyện đặc biệt nhưng thấm đượm tình cảm nhân ái sâu sắc. Nhà văn có khả năng đi sâu phân tích thế giới nội tâm nhân vật một cách tinh tế. Hai đứa trẻ là mọt trong những truyện ngắn như thế của ông. Trong truyện này, Thạch Lam đã lặng lẽ hướng ngòi bút vào việc phân tích cuộc sống của những người dân lao động nghèo khổ nơi phố huyện đìu hiu với sự cảm thông sâu sắc và lòng thương xót chân thành. Nổi bật lên trong bức tranh phố truyện này là tâm trạng của hai, chị em Liên và An thức chi để đợi một chuyến tàu khách hàng đêm đi qua. Chuyện chỉ có thế từ lúc miêu tả, màn đêm buông xuống, đến tận đêm khuya nơi phố huyện, ngỡ như chẳng có gì để nói, thế nhưng Thạch Lam đã nói được biết bao điều về những kiếp người nghèo quẩn quanh với một tinh thần nhân đạo độc đáo và thấm thía. Đọc hai đứa trẻ, hình ảnh hai chị em Liên cứ ám ảnh mãi trong tâm trí của chúng ta, đặc biệt là chi tiết đêm nào hai đứa trẻ này cũng cố thức chờ đi chuyến tàu di qua rồi mới dọn hàng đi ngủ. Những giây phút được nhìn hình ảnh con tàu với “các toa đèn đều sáng trưng, những toa hạng trên sang trọng lố nhố người, đồng và kền lấp lánh và các cửa kính sáng…" vun vút lao qua trong đêm tối, tâm trạng hai chị em lại rộn lên. Thoáng vui một chút để tạm quên đi cảnh đời nghèo nàn tẻ nhạt của phố huyện hàng ngày. Chỉ cần thấy cảnh Liên xếp hàng hoá của mình vào hòm, cách tính tiền bán hàng của hai chị em và nhất là ý nghĩ gánh phở của bác Siêu là món quà xa xỉ không bao giờ chị em Liên có thể mua được, người đọc cũng đủ cảm nhận gia cảnh và mức sống của gia đình Liên ra sao? Cha mất việc, mẹ đưa cả nhà từ Hà Nội về quê. Hàng ngày mẹ làm hàng xáo, lại thuê thêm một gian hàng nhỏ ngoài chợ huyện giao cho hai chị em trông nom. Lời lãi của việc bán hàng chẳng là gì cả nhưng cũng là nguồn thu phụ cho một gia đình vốn đã lao đao không thê sống nổi ở Hà Nội. Tuy mới mười tuổi đầu nhưng Liên đã sớm tỏ ra là một cỏ gái đảm đang, chịu thương, chịu khó. Cô có chiếc chìa khóa đeo vào chiếc xà tích ở thắt lưng: “Chiếc xà tích và cái khóa chị quý mến và hãnh diện vì nó tỏ ra chị là người con gái đảm đang". Mở đầu tác phẩm chúng ta đã bắt gặp hình ảnh Liên “ngồi yên lặng bên mấy quà thuốc sơn đen: đôi mắt chị bóng tối ngập giấy dán và cái buồn của buổi chiêu quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn". Từ phiên chợ chiều nơi phố huyện đã vãn một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, bả mía quen thuộc quá “khiến chị em liên tưởng đến mùi của quê hương này". Hai chị em Liên còn nhỏ đã phải tự trông nom nhau, vừa trông coi cửa hàng ngày ngày, thiếu vắng bàn tay chăm sóc của người mẹ, vì bà còn mãi đi làm hàng xáo tần táo nuôi con. Tuy cuộc sống có tẻ nhạt, phẳng lặng, tù túng nhưng tâm hồn của những con người nhỏ bé ấy vẫn ánh lên vẻ đẹp tình yêu quê hương, tình người. Liên có một tấm lòng nhân, hậu hiếm thấy. Nhìn những đứa trẻ nghèo nhặt nhạnh, tìm tòi, mót chợ, Liên động lòng thương nhưng lại không có tiền mà cho chúng, bởi vì đời sống của hai chị em cô cũng không sung sướng gì. Tình cảm của cô không chỉ nghiêng tràn cho những đứa bé nghèo bởi rác mà còn san sẻ cho cả bà cụ Thi, một bà già hơi điên, cho chị Tí, cho bác xẩm… Ngoài ra, Liên cũng rất ân cần với em trai mình. Cô thương và chu đáo hết lòng với em. Chi tiết Liên quạt cho em trong lúc thức đợi chuyến tàu qua nói lên điều đó. Có thể nói cô gái bé nhỏ này sinh ra đời để yêu thương. Nlũrng rung động ấy, những tình cảm như vậy chí có thể có được ở một tâm hồn trong sáng, cao đẹp và nhạy cảm. Trong thế giới đìu hiu của phố huyện nhỏ, Liên đã ý thức, cảm nhận đầy đù, sâu sắc cuộc sống buồn tẻ và tù đọng. Buồn chán nhất là ngày nào cũng như ngày nào, đều đểu, hai chị em Liên và An cũng phải ngồi trong cái cửa hàng tạp hoa nhỏ xíu ấy, bán những món hàng nhỏ bé ít tiền: bao diêm, gói thuốc lào, bánh xà phòng… trong chập choạng bóng hoàng hôn, vo ve tiếng muỗi, đếm lại món tiền nhỏ nhoi vừa bán được. Đều đều, ngày nào cũng chờ đợi những người khách nghèo khổ quen thuộc. Buổi chiềụ vừa xuống, sự xuất hiện của hàng nước chị Tí, gánh phở bác Siêu… ngày nào cũng là cái mốc để hai chị em đo đếm thời gian mong đợi chuyến tàu mau qua. Cả hai chị em tuy đã buổn ngủ nhưng mắt vẫn cố thức để chờ chuyến tàu. Cho đến khi Ân đã không thể nào thức được nữa đành gối đầu lên đùi chị, mi mắt sắp sửa rơi xuống còn dặn với: “tàu đến chị đánh thức em dậy,nhé". Cảnh tượng ấy buồn bã, xót xa. Đối với cuộc sống phố huyện, hình ảnh con tàu đêm hiện ra như một giấc mộng đẹp đem lại cho đám người nghèo khổ kia một thoáng sống của thế giới thần tiên xa lạ. Đem tới một mơ ước xa xôi khó trờ thành hiện thực, nhưng vẫn có gì như là niềm an ủi dù trong chốc lát cho cảnh đời cơ cực, hiu hắt của họ. Riêng với chị em Liên, hình ảnh con tàu đã trở thành niểm say mê. Vì không những nó đã đi quạ. sự phẳng lặng, tẻ nhạt của đời sống phố huyện mà còn mang “những ngày hạnh phúc đã qua" trở lại, đánh thức trong hai chị em những kỉ niệm đẹp về Hà Nội, làm cho ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn sống dậy. Do vậy, đêm nào cũng thế tàu sắp đến, dường như mọi người ở phố huyện ai cũng tỉnh hẳn. Riêng Liên cũng dắt em mình đứng lên nhìn cho rõ như là để đón nhận và thỏa mãn những cái gì sâu sắc lắm, thân mến lắm mà lòng trẻ thơ không nhận ra được. Con tàu lướt qua chí thấy “các toa đèn sáng trưng… những toa hạng sang trọng lố nhố gười đồng và kền lấp lánh”. Khi tàu đi xa rồi, hai chị em Liên còn luyến tiếc nhìn theo cho đến khi cái chấm nhỏ của chiếc đèn treo khuất sau rặng tre. Tàu đi rồi, Liên im lặng không đáp lời em. Liên lặng theo mơ tưởng. Liên nhớ về Hà Nội xa xăm. Cô so sánh cái thế giới con tàu đưa lại với thế giới cô và chị Tí, bác Siêu… đang sống cùng với đêm tối bao bọc xung quanh đất quê và đổng ruộng mênh mông, yên lặng. Cô liên tưởng đến cuộc đời của mình như chiếc đèn của chị Tí chi chiếu sáng một vùng đất nhỏ và cô thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi… Như vây, hai chị Liên cố thức để đợi chuyến tàu đêm ấy như bao đêm khác về từ Hà Nội cứ tưởng sẽ tìm được một lối thoát, không phải buồn chán và bế tắc nữa. Nhưng thực ra hình ảnh chuyến tàu thoáng đến thoáng đi càng làm rõ hơn, sâu hơn sự tù túng của cuộc sống phải đầy bóng tối của phố huyện đìu hiu, nghèo nàn, của những cuộc đời bé mọn, khốn khổ. Giá như không có tàu đêm đi qua, không có chút ánh sáng phù du ấy hẳn là cổ gái nhỏ bé này sẽ để khắc khoải và đỡ buồn tủi hơn nhiều. Nhưng như thế thì còn gì là cuộc dời khi cuộc sống chìm đắm trong mòn mỏi mà không có niềm vui, niềm hi vọng nào để bấu víu, hướng tới. Phố huyện buồn với những con người đáng thương từ trẻ đến già một thời trở nên mãi mãi vì được Thạch Lam đeo vào lòng người đọc bao thế hệ. Đọc truyện ngắn Hai đứa trẻ, hình ảnh chị em Liên cứ ám ảnh chúng ta. Bởi một lẽ, Thạch Lam đã diễn tả đời sống, tâm trạng của một lớp người trước Cách mạng tháng Tám sống buồn tủi nghèo khổ, không chút niềm vui cũng không có hi vọng, mong đợi bằng một giọng kể nhỏ nhẹ mà tinh tế, thấm sâu. Với truyện ngắn đặc sắc này, chúng ta bắt gặp một lối kể tinh tế với giọng văn tâm tình đầy chất thơ. Phía sau cảnh vật thời gian và không gian nơi phố huyện đìu hiu ấy là một mảnh của tâm trạng, của bốn người. Nhất là tấm lòng nhân hâu, sự nhạy cảm đầy day dứt và thái độ rất mực nâng niu, tôn trọng linh hồn tạo vật và tâm hồn con người của nhà văn.
Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ và ngòi bút Thạch Lam
1,730
Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ Thạch Lam muốn tránh lối viết tầm thường là hấp dẫn người đọc bằng cốt truyện li kì, những tình tiết éo le, những cuộc tình mùi mẫn, hoặc là những xung đột gay cấn hồi hộp. “Hai đứa trẻ” hấp dẫn người đọc bằng chất liệu thật của đời sống. Cách lựa chọn chất liệu này gần với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài (các nhà văn hiện thực giàu tính nhân đạo), lại kích thích người đọc bằng những ước mơ, hoài bão tốt đẹp. Tinh thần lãng mạn ấy gắn với các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo. Thạch Lam có một lối văn nhẹ như cánh bướm đậu trên hoa. Bức tranh bằng ngôn ngữ của ông có thể ví với tranh lụa chứ không phải sơn dầu. Thạch Lam trước sau vẫn là một nhà văn lãng mạn. lãng mạn tích cực, đẹp. Nhà văn là những người nói hộ cho hiện thực cũng có khi họ thi vị hóa cho những gì đang xảy ra xung quanh họ, từ những điều đơn giản nhất cho tới những thứ mà con người ta hay nghĩ đến,văn thơ đóng một vai trò không thể thiếu. Với ngòi bút tài hoa giàu lòng trắc ẩn, tác phẩm Hai đứa trẻ ra đời mang ý nghĩa nhân văn. Những con người xuất hiện trong tác phẩm mang một cuộc sống cơ cực nghèo khổ, cái nghèo bám lấy họ và họ không có lối thoát. Họ mong muốn có một cuộc sống sung túc, tuy không giàu có những làm sao cho cuộc sống mưu sinh đỡ vất vả. Mở đầu tác phẩm là hình ảnh chiều tà,hình ảnh xuất hiện trong hầu hết các tác phẩm, là chính khoảnh khắc mà khiến con người ta nhận ra nỗi buồn nhiều nhất. Những âm thanh quen thuộc, tiếng ếch nhái, tiếng muỗi vo ve, và khung cảnh xung quanh tác động đến tâm trạng của mỗi người.Cảnh mở đầu của tác phẩm chính là một buổi chiều tàn,bầu trời gồm những áng mây hồng, như được nhuộm một màu sắc đỏ đỏ mang một cảm giác ưu buồn và cô đơn. Thông qua sự miêu tả của một ngày tàn của Thạch Lam, thì phần nào cũng giúp người đọc nhận ra đây là một buổi chiều buồn bã và chán nản. Thời gian bắt đầu chuyển động dần tới đêm,nhưng hình ảnh chiều tàn và hình ảnh chợ chiều tàn hiện ra càng thể hiện sự nghèo khổ và hiu hắt ở nơi đây. Những con người cân mẫn, luôn mong muốn cuộc sống của họ đầy đủ hơn,cuộc sống thật vất vả và đầy khổ cực bươn chải. Hình ảnh những con người xuất hiện trong “ Hai đứa trẻ” tuy xuất hiện không nhiều nhưng mang một nét riêng biệt,nổi bật lên đó là hình ảnh của cô gái Liên, dù còn nhỏ nhưng tâm hồn và suy nghĩ của cô thực sự như là một thiếu nữ. Đêm bắt đầu buông xuống, cuộc sống của một đêm ở phố huyện nghèo lại bắt đầu.Nhân vật Liên trong tác phẩm sửa soạn lại hàng trên chiếc chõng tre,mẹ con chị tí, sáng mò cua bắt ốc,tối lại mở thêm hàng nước để kiếm thêm thu nhập. Quán hàng phở cũng bắt đầu sửa soạn còn hai cha con nhà bác Sẩm thì chưa hát chưa kéo đàn vì vẫn chưa có khách nghe. Đứa con thì nhoài ra nghịch đất cát ở bên ngoài. Mọi thứ thật đơn điệu, không có một chút niềm vui của họ, chắc có lẽ họ nghĩ và hi vọng rằng, hàng quán đắt khách kiếm thêm được tiền quả là một niềm vui một niềm hạnh phúc và mang lại một cuộc sống no đủ hơn. Hình ảnh cụ Thi điên đắm chìm vào men rượu, bước đi lảo đảo, cụ sống một cuộc sống k còn tự chủ của bản thân, có hay chăng cụ tìm đến rượu để quên lãng đi tất cả đau khổ và chìm vào đó để tìm thú vui của mình. Những ước mơ của họ chỉ chợt lóe lên khi đoàn tàu chạy qua, cũng có khi có có ước mơ nhưng chỉ khi đoàn tàu chạy qua họ mới cảm thấy những mong muốn của họ mới trở nên lấp lánh và có hi vọng hơn. Hai đứa trẻ, một tác phẩm lãng mạn, xúc động và đầy ý nghĩa. Những kiếp người nơi phố Huyện, họ luôn là những con người mang một cuộc sống đáng thương nhưng đầy sự khát khao và cháy bỏng nhưng thật sự, những điều mà khát khao cháy bỏng đo thực ra chỉ là sự mong manh và huyền ảo. Qua tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam còn thể hiện sự khát khao to lớn của một đời người,một số phận nghèo khổ muốn vươn tới một cuộc sống tốt đẹp tuy còn khó khăn và lắm chật vật. Tài năng của Thạch Lam thông qua đó mà được bộc lô,đặc biệt là sự tinh tế tròn tả cảnh và phân tích diễn biến tâm lí nhân vật khiến truyện đi vào lòng người một cách tự nhiên nhất.
Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ
887
Phân tích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân Quê hương là chum khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là cầu tre nhỏ Con về rợp bướm vàng bay. (Quê hương – Đỗ Trung Quân) Quê hương trong tâm khảm mỗi người là nơi thân thương nhất, bình dị nhất. Tình yêu quê hương vì thế luôn là một chủ đề xuyên suốt trong văn học. Truyện ngắn Làng cũng nằm trong mạch nguồn cảm xúc ấy. Đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). Truyện đã khắc họa nhân vật ông Hai – một lão nông cần cù, chăm chỉ, mang nặng lòng yêu làng, yêu kháng chiến. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà, tha thiết, yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Kể về làng Chợ Dầu, ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát,sầm uất, đường trong làng lát toàn bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu Làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Thống 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng, không có lấy một hạt. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. Ông tự hào, vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo, có bề dày lịch sử. Nhưng khi cách mạng thành công, nó đã giúp ông hiểu được sự sai lầm của mình. Và từ đó, mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Ông còn khoe cả những hố, những ụ, những hào,… lắm công trình không để đâu hết. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng, ông buộc phải xa làng. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niềm thương nhớ. Vì vậy, nên lúc tản cư, ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. Quả thật, cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. Tự hào và yêu nơi “chôn rau cắt rốn” của mình trở thành một truyền thống và tâm lí chung của mọi người nông dân thời bây giờ. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản, nhỏ: cây đa, giếng nước, sân đình… và nâng cao lên đó chính là: tình yêu đất nước. Tới đây, là chợt nhớ đến câu nổi bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua: “lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Thế nhưng, niềm vui chưa kịp bày tỏ thì một cú sốc lớn đã đến với ông Hai: đó là cái tin làng Chợ Dầu là Việt gian theo Tây. Hôm ấy, ông vừa bước ra khỏi phòng thông tin thì nghe được cái tin ấy từ miệng người đàn bà tản cư khiến ông lão: “lặng người đi, tưởng như đến không thở được, Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi. Ông Hai vô cùng bàng hoàng trước cái tin ấy. Thế rồi ông rơi vào tột cùng của sự đau đớn, ông cố lê những bựớc chân chậm rãi về nhà. Những ngày sau đó, ông chỉ ru rú ở trong nhà, không dám đi đâu cả, ở đâu ông cũng được bộc lộ rõ nét. Đầu tiên, ông về nhà và không dám đi đâu cả, chỉ ở nhà một mình, giọng nói chua lanh lảnh của người đàn bà tản cư kia lại cứ văng văng trong tâm trí ông mãi: “Đói khổ ăn cắp ăn trộm, bắt được người ta còn thương chứ cái giống Việt gian bán nước ấy thì cứ cho mỗi đứa một nhát”. Chao ôi! Sao lại có chuyện ấy được, chẳng lẽ lại là sự thật, nhìn lũ con thơ, tủi thân, nước mắt ông lão cứ thế tràn ra: “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian ấy; Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu… “. Lòng ông lão như bị giằng xé, có cái gì như đang bóp nghẹt quả tim ông khiến ông khó thở, đau đớn tột cùng. Rồi ông lại tự mình nói chuyện với mình, lúc thì ông bảo không phải và lấy cớ để thanh minh chọ chuyện ấy. Rồi ông lại thấy điều đó là sự thật thì hợp lí hơn: “Không có lửa làm sao có khói. Ai hơi đâu người ta bịa tạo ra những chuyện ấy làm gì? Chao ôi! Cực nhục chưa? Khắp cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm cái giống Việt gian bán nước…”. Rồi lòng ông lại quặn đau, nội tâm ông luôn luôn thay đổi, luôn có hai quan điểm đối lập nhau. Rồi ông lại trò chuyện với đứa con út để vơi đi đối phần, ông hỏi đứa con ông ủng hộ làng hay Cụ Hồ, nghe nó ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh, lòng ông như được vun đắp phần nào, càng vững trí hơn. Cái lòng bố con ông như thế đấy, đâu dám đơn sai: “Các đồng chí biết cho bố con ông.,. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. Ông rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan khi biết ở vùng tản cư không ai chứa những người làng Chợ Dầu nữa để đi đến một quyết định cao đẹp. “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Đó là một hành động cao đẹp của ông Hai – một người dân yêu nước. Cuối cùng, ông đã chọn đi theo Cụ Hồ theo lí tưởng cách mạng, ở đây ta thấy được sự hòa quyện giữa tình yêu làng với tình yêu nước. Đó là bước chuyển biến mới trong tư tưởng tình cảm của người nông dân Việt Nam buổi giao thời mới – cũ. Quê hương là hình ảnh không thể phai mờ trong thơ ca. Nhà văn I-li-a Ê-ren-bua đã từng viết: “Lòng yêu làng quê trở thành tình yêu đất nước”. Kim Lân đã đưa được thông điệp ấy đến với người đọc thông qua tình huống truyện bất ngờ, gay cấn và nội tâm nhân vật thay đổi bất ngờ, phù hợp. Đó là nét đẹp mới của người nông dân, hòa quyện tình yêu với làng quê thân yêu. Ông Hai là tiêu biểu của người nông dân Việt Nam buổi giao thời mới – cũ.
Phân tích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân
1,140
Phân tích truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao- Văn lớp 9 Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao- Văn lớp 9 Bài làm Nam Cao là một nhà văn tiêu biểu xuất sắc của nền văn học trước cách mạng tháng 8/1945. Ông là người gắn liền với số phận của người dân nghèo khổ, những người trí thức tiểu tư sản đang loay hoay giữa con đường văn chương của mình. Tác phẩm “Lão Hạc” là tác phẩm xuất sắc viết về số phận người nông dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật và Pháp. Những người nông dân khốn khổ của chúng ta phải chịu cảnh sống lay lắt, không ra kiếp người trong thời kỳ thiếu đói, áp bức đó. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào thì người nông dân vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp thanh cao của mình. Lão Hạc là một trong những người nông dân như thế. Tác phẩm thể hiện tính nhân đạo của tác giả, thể hiện sự trăn trở của người cầm bút với những mảnh đời bất hạnh. Lão Hạc là một người nông dân nghèo khổ, gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Vợ ông mất sớm ông chỉ có một người con trai nhưng người đó lại bị bắt đi làm ở đồn điền cao su trong Đồng Nai đã nhiều năm. Một nơi nổi tiếng tàn ác, đi dễ khó về, bị tra tấn đánh đập dã man nhiều người đã phải bỏ mạng ở những đồn điền cao su đó. Truyện ngắn được kể thông qua lời của ông giáo là người hàng xóm thân thiết của lão Hạc. Là người mà có bất kỳ việc gì lão Hạc cũng sang xin ý kiến, bởi lão tôn trọng cái tâm, cái tài của người hàng xóm này. Con Vàng không chỉ là một con vật nuôi bình thường mà nó chính là người bạn tâm giao, tri kỷ của lão Hạc, là hình ảnh thế thân cho con trai của lão, nên lão thương nó nhiều lắm. Dù cuộc sống có nhiều khó khăn nhưng lão chưa bao giờ có ý định bán nó dù nhiều người gạ gẫm lão. Lão Hạc rất tằn tiện, lão bị ốm, không có đồ ăn thì lão ăn củ chuối củ mài sống qua ngày nhưng nhất định không tiêu vào sốtiền tích cóp mà lão dành dụm được để cưới vợ cho con. Lão có sở hữu một mảnh vườn là tài sản duy nhất mà hai vợ chồng lão tích cóp được cũng là tài sản duy nhất lão có để dành cho con trai sau này lấy vợ có miếng đất cắm dùi làm ăn. Nhưng không may cho lão rằng, miếng đất của lão lại bị Bá Kiến người có tiền và quyền hành trong xã hội để ý. Nhà Bá Kiến nhăm nhe chiếm mảnh đất của lão Hạc để là nơi ở cho con trai lão ấy. Những lão Hạc kiên quyết không bán. Nhưng bằng linh cảm của người từng trải lão Hạc biết, lão sẽ không được sống yên với cha con nhà Bá Kiến, chúng không mua được mảnh đất của lão bằng con đường danh chính ngôn thuận, thì chúng nhất định sẽ tìm cách nào đó để cướp không của lão. Sẽ dồn lão tới đường vướng vòng lao lý tù tội để làm điều kiện trao đổi mảnh đất hương hỏa. Lúc ấy lão sẽ mất trắng mảnh đất. Nghĩ vậy nên lão mới bán con Vàng lấy tiền, rồi mang hết giấy tờ nhà, tiền bạc dành dụm được sang gửi ông giáo hàng xóm thân thiết đáng tin của lão. Rồi lão còn gửi tiền ma chay của mình phòng khi lão nằm xuống thì có tiền mua quan tài, tổ chức ma chay. Một người đàn ông tự trọng lo liệu chu toàn cho cả cái chết của mình. Hành động này thể hiện lòng tự trọng của lão Hạc. Sau đó, về nhà lão đi xin bả chó, lão qua nha Binh Tư một tay chuyên bắt trộm chó trong làng đem bán lấy tiền ăn tiêu. Khi thấy lão Hạc xin bả chó, mà con Vàng lão đã bán rồi, khiến cho Binh Tư nghi ngờ cho rằng lão Hạc nghèo đói quá cũng sinh hỏng tính ăn cắp vặt như mình, trở thành người tha hóa biến chất. Nên hắn còn trêu ông lão “Nếu có đánh được quả nào thì chia cho tôi với nhé” Lão Hạc đã chọn cho mình một cái chết đau đớn, nhưng tâm hồn thanh thản, bởi lão biết nếu lão sống thì cũng gặp những khó khăn, khi gia đình Bá Kiến đang âm mưu hại lão cướp mảnh vườn, lão không muốn để mất mảnh vườn được lão thà chết còn hơn. Tình thương con của một ông lão nông dân khiến cho nhiều người đọc phải nghẹn ngào đau đớn, xúc động. Lão Hạc chính là người nông dân đau khổ, bế tắc, bị hoàn cảnh xô đẩy tới chỗ chết, thể hiện sự tàn ác của xã hội cũ. Tác phẩm thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của Nam Cao với những người nông dân khốn khổ trong xã hội xưa.
Phân tích truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao- Văn lớp 9
875
Phân tích truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao Hướng dẫn *về việc bán con chó: . – Lão Hạc có ý định bán con chó vào lức nào? (Đoạn vãn: “Lão Hạc thổi cái nồi cơm… có vẻ băn khoăn quá thể! ”). –Lão Hạc có thương con chó không? (Đoạn văn: “Lão Hạc ơi!… Ông để cậu Vàng ông nuôi… ”). –Nhưng tại sao lão Hạc lại bán chó? (Đoạn văn:“Sau khi thằng con đi… Tôi bây giờ có làm gì được đâu! ”). –Hôm sau, lão Hạc qua báo cho ông giáo biếtlà“Cậu Vàngđi đời rồi… ”, người lão như thê nào? (Đoạn văn: “Lão cô làm ra vẻ… như kiếp tôi chẳng hạn!… ”). *về nguyên nhân cái chết của lão Hạc: –Việc làm ăn và thời tiết khí hậu như thế nào? (Đoạn vãn: “Sau trận ôm… đói deo đói dắt”). –Bản thân lão Hạc phải chịu cảnh cơ cực nào? (Đoạn văn đã hướng dẫn ở câu hỏi trên, và đoạn: “Luôn mấy hôm… hay bữa trai, bữa ốc ”). –Lão có nhận sự giúp đỡ của ông giáo không? (Đoạn văn: “Chao ôi!… Và lão cứ xa tôi dần… ”). –Vì sao lão Hạc không bán vườn đi để sống? {Đoạn văn: “Sau khi thằng con đi, một trăm đồng bạc… ”, và đoạn cuối của truyện). Đó là tình cảm bi đát, bê tắc và tính cách tự trọng đáng quý của lão Hạc. I.Nam Cao tên thật là Trần Hữu Trí, quê ở Hà Nam. Ông là một trong những nhà văn hiện thực nổi tiếng. Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều với công nhân, học sinh, và cả binh lính nên tác phẩm của ông phản ánh khá nhiều đề tài, Xuất thân từ một gia đình trung nông, Nam Cao cảm hiểu nỗi thông khổ của nông dân, những hủ tục sau lũy tre làng, bọn cường hào ác bá,… đã đẩy họ vào cảnh sống bế tắc. Và ông đã để tâm viết về đề tài ấy, trở thành nhà văn nổi tiếng. Nhắc đến Nam Cao, người đọc nhớ ngay đến Chí Phèo ngổ ngáo, liều mạng; nhớ ngay Lão Hạc đặt lòng tự trọng trên cả mạng sống của mình vào lúc mà hoàn cảnh kinh tế bế tắc mà chính quyền thời ấy thì không mảy may nghĩ đến tình cảnh sông của dân nghèo, ở đây, chúng ta phân tích, tìm hiểu ý nghĩa của truyện ngắn Lão Hạc. II.Truyện ngắn Lão Hạc có nhiều nhân vật: vợ của nhân vật “tôi” (ông giáo), tên trộm chuyên nghiệp Binh Tư, con trai lão Hạc,… con chó xuất hiện hay được nhắc đến trong truyện cũng chỉ để làm nổi bật tính cách của lão Hạc, tạo thuận lợi cho mạch suy nghĩ của người kể chuyện là nhân vật “tôi”. Người kể chuyện sau khi miêu tả một cảnh thực lại xen vào suy nghĩ của mình về cảnh thực ấy. Ớ đây, người kể chuyện là ông giáo nên nội dung truyện càng tăng thêm chiều sâu. Mở đầu truyện là cảnh hút thuốc lào và trò chuyện giữa nhân vật “tôi” và lão Hạc, cảnh thường thấy ở làng quê Bắc Bộ. Mở đầu câu chuyện là lời thông báo của lão Hạc: Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!” Diễn biến tâm trạng của lão Hạc, của ông giáo, cũng bắt đầu từ việc bán chó ấy. Mà không phải chỉ mới lần này lão Hạc mới thông báo, lão đã bao lần đề cập tới việc bán chó. Bởi vậy, khi nghe lão nói, như lời ông giáo tâm sự “thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi”. Nhưng rồi ông giáo đâm ra suy nghĩ, so sánh việc bán chó của lão Hạc với việc bán sách quý của mình khi con bị bệnh kiệt sức để rồi thầm nhắn với lão: ‘‘‘’Không! Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu? Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi…” Con chó là của cháu nó mua đấy chứ!…Nó mua về nuôi, định để đến lúc cưới vợ thì giết thịt… Hóa ra thế, con chó có liên can tới chuyện cưới vợ của con trai lão. Giả sử con chó do lão mua về nuôi thì chuyện bán chó có lẽ sẽ khác đi. Mạch truyện chuyển qua chuyện tình yêu và cưới xin của con trai lão. Nhà gái biết: “hai đứa mê nhau lắm” nên “cũng bằng lòng gả”. Nhưng họ thách cưới nặng quá. Thằng con lão muốn bán vườn, “cố lo cho hằng được”. Lão lựa lời khuyên giải. Khi người con gái lấy con trai ông phó lý thì “thằng con lão sinh phẫn chí […] xỉn đi làm đồn điền cao su…”. Ây là theo lời ông giáo kể, còn lão Hạc thì “rân rân nước mắt” kể thêm chuyện thằng con trai cho lão ba đồng, bàn cách lão sinh sông ở nhà, rồi thề thốt với lão rằng: “con đi chuyến này cô chí lầm ăn, bao giờ có bạc trăm con mới về; không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này, nhục lắm!… Thế rồi con trai của lão ra đi. Lão chỉ còn biết khóc, chỉ biết kể lại cho ông giáo ‘nghe bằng lời nói bất lực, đớn đau lẫn uất hận: “iVó tại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu có còn là con tôi?…” Nghe lão kể như thế ông giáo mới chợt hiểu ra và thầm nói với lão: “Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó vàng của lão. Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây. ” Đúng vậy, con chó là nguồn vui, nguồn an ủi của lão trong hoàn cảnh một thân một mình. “Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự”. Đâu dễ gì để có được đứa con trai nối dõi tông đường! Phải tới đình chùa lễ bái cầu xin Trời Phật ban cho. Lão nuôi con chó như nuôi đứa cháu nội “cầu tự”. Lão bắt rận cho nó. Lão cho nó ăn uống, nói năng với nó như với con người. Làm việc gì lão cũng tính toán, cũng nghĩ đến người vợ đã chết và con trai đang ở nơi xa. Lão đi làm thuê lây tiền lo cho mình và con chó, còn tiền “bồn vườn” thì lão để dành chờ con trai về. Thế rồi lão bị bệnh hơn hai tháng, người ốm yếu hẳn đi. Việc làm thuê không có. Mưa bão phá sạch hoa màu. Cuối cùng, lão tâm sự với ông giáo: Thôi thì bán phắt đì! Đỡ được đồng nào, hay đồng ấy. Bây giờ tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ chết nó. Tôi bây giờ có làm gì được đãuỉ” Thế là đã rõ nguyên nhân khiến lão Hạc phải bán chó, hay đó chỉ là nguyên nhân rõ ràng trước mắt. Hôm sau, ngay khi vừa bán chó xong, lão qua nhà ông giáo kể chuyện bán chó cho ông giáo nghe. Đây có lẽ là đoạn văn tạo ân tượng sâu đậm nhất trong lòng người đọc không chỉ ở nhân vật lão Hạc, cậu Vàng mà còn cả ở nhân vật “tôi” (ông giáo). Lão Hạc thì bị ám ảnh bởi cảnh thằng Mục và thằng Xiên bắt trói con chó bị ám ảnh bởi tiếng kêu, cái nhìn của “cậu Vàng”. Nỗi ám ảnh ấy khiến lão cứ nghĩ mình là kẻ phạm tội, cư xử còn tệ hơn súc vật. Câu hỏi vô tình “Thếnó cho bắt à?” của ông giáo khơi đúng vào nỗi đau khiến “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhãn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đâu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc… ” Còn nhân vạt “tôi” (ông giáo) là người vừa để lão Hạc trút bầu tâm sự vừa để an ủi lức lão buồn, vừa để giải tỏa những điều u uất trong tâm trí lão như nỗi u uất về chuyện bán chó. Là người có chút học vấn lại am hiểu chuyện đời và biết người biết ta nên ông giáo đễ được người trong làng mến phục, tin tưởng. Cái đáng quý nhất ỏ nhân vật “tôi” là tình thương, sự quan tâm đến người khác. Như ở câu chuyện lão Hạc bán chó chẳng hạn, lúc đầu thì “tôi dửng dưng”, tới “tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó Vàng”, và khi nghe và thấy vẻ mặt của lão Hạc thông báo đã bán chó thì “tôi muốn ôm lấy lão và òa lên khóc”. Trong truyện, hai nhân vật gần như gắn liền với nhau. Lần này, lão Hạc qua nhà ông giáo không chỉ để cho ông giáo biết là đã bán con chó mà cồn “muốn nhờ một việc” khác nữa. Ấy là việc nhờ ông giáo giữ hộ miếng vườn cho thằng con trai, và lo việc tang ma cho lão nếu lão chết. Lão tính toán rất chi li, hợp lý và hữu tình để ba sào vườn để dành cho thằng con của lão “không ai còn tơ tưởng dòm ngố đến Lão gửi cho ông giáo ba mươi đồng bạc trong đó có năm đồng vừa bán con chó (!) để nhờ hàng xóm lo chôn cất khi lão chết. Sợ nhân vật “tôi” không nhận giúp, lão Hạc năn nỉ đến cạn lời rằng: “’Tôi cắn rơm, cắn cỏ tôi lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gửi”. Gửi được mảnh vườn và tiền cho ông giáo rồi, mấy ngày sau thì khoai cũng hết: “Bắt đầu từ đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc.” Thấy cảnh sống của lão Hạc, nghe vợ nhận xét về lão, nhân vật “tôi” buồn lắm nhưng không trách vợ. Là một ông giáo sống nội tâm nên “tôi” đã suy nghĩ về câu nói của vợ mà không trách gì bà. Đúng như vậy, “Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa”. Bởi vậy nên thỉnh thoảng “tôi” mới ngầm giúp lão Hạc, nhưng “Lão từ chối một cách gần như là hách dịch. Và lão cứ xa tôi dần dần…”. Lòng cảm phục tính khí khái của lão Hạc cứ tăng dần. Cho tới một hôm được tên trộm Binh Tư cho biết lão Hạc đã xin bả chó của hắn để chuốc chó thì thần tượng lão Hạc gần như sụp đổ. Ông giáo đã than thở và tự hỏi: Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!… Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng… Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn…” Nếu lão Hạc đúng như thế thì một người trọng đạo làm người, quý những ai sông với tính cách “đói cho sạch, rách cho thơm” như ông giáo buồn là phải. Nhưng chỉ một lúc thôi thì nỗi buồn ây được thay bằng nỗi đau về cái chết dữ dội của lão Hạc, một cái chết mà những người chứng kiến “Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với Binh Tư hiểu.” Hiểu được giá trị của sự chủ động trong lựa chọn, kể cả chọn lựa cái chết, ông giáo càng kính trọng lão Hạc bội phần. Và đã hứa trước vong hồn lão, tự hứa với mình: “Tôi sẽ cổ giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: “Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn; cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào… III.Vốn xuất thân từ tầng lớp trung nông, cảm hiểu đời người chịu thương chịu khó, phẩm chất cao quý của người nông dân, Nam Cao đã viết về họ. Nhà văn đã thể hiện cảnh sông sau lũy tre làng một cách chân thật, đầy tâm huyết bằng lối viết già dặn, miêu tả tâm lý nhân vật thật sâu sắc mà cũng thật gần gũi nên truyện ngắn Lão Hạc là một truyện ngắn có giá trị văn học và sớm trở thành một phần chính của bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy, làm phong phú thêm phim truyện về đề tài nông thôn trong kho tàng điện ảnh Việt Nam hiện đại.
Phân tích truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
2,226
Phân tích truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải Bài viết Nguyễn Khải bắt đầu nổi tiếng từ bộ tiểu thuyết hai tập: Xung đột viết về những người nông dân công giáo vùng đạo gốc Nam Định, những người nông dân ngoài sự áp bức giai cấp còn bị mê muội bởi tôn giáo. Năm 1958, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân lên nông trường Điện Biên. Sau chuyến đi đó, Nguyễn Huy Tưởng viết tiểu thuyết Bốn năm sau, Nguyễn Khải viết tập truyện ngắn Mùa lạc và Nguyễn Tuân viết tuỳ bút Sông Đà. Trong khi Nguyễn Huy Tưởng miêu tả những chuyện gỡ hàng rào dây thép gai, gỡ mìn, tổ chức các đội sản xuất ở nông trường Điện Biên thì Nguyễn Khải có một hướng khai thác riêng: tập trung chú ý vào sự biến đổi của số phận con người, sự hình thành những quan hệ đạo đức mới giữa con người với con người, khẳng định những giá trị nhân đạo và lối sống trong quan hệ sản xuất mới của nông trường Điện Biên. Chính vì thế mà tác phẩm Mùa lạc đứng được với thời gian khi những sự kiện thời sự đã đi qua. Như vậy từ một đối tượng những người nông dân công giáo vùng Nam Hà, Nguyễn Khải đã chuyển sang viết về những người nông dân tiến bộ nhất của miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa. Nguyễn Khải đã khai thác trở lại một mô típ đã trở thành quen thuộc trong văn học truyền thống, mô típ xuyên qua nhiều tác phẩm của văn học trung đại và hiện đại: Truyện Kiều­ – Nguyễn Du; Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều; Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn; Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu; Bỉ vỏ – Nguyên Hồng; Tắt đèn – Ngô Tất Tố; … Trước khi lên nông trường Điện Biên, Đào là một cô gái bất hạnh. Năm 17 tuổi cũng lấy được chồng. Tưởng có một mái ấm gia đình thì chồng lại cờ bạc, nợ nần, phải bỏ trốn vào Nam. Khi trở về, sống lại với nhau, có đứa con trai hai tuổi thì chồng chết, sau đó con cũng bỏ chị mà đi. Đào trở nên đơn độc, bơ vơ với tất cả những nỗi buồn đau nghiệt ngã cay đắng của số phận. Chị đã phải bỏ quê hương, tha phương nơi đất khách quê người, không chỉ để kiếm sống, mà còn để quên đi nỗi đau, quên đi niềm khao khát về một hạnh phúc trong đời. Cuộc sống bươn chải, nay đây mai đó là cả một chuỗi ngày vất vả, cơ cực, buông xuôi, liều lĩnh “đòn gánh trên vai, tới đâu là nhà, ngã đâu là giường”, không gia đình, không quê hương, không người thân thích, không tương lai – một cuộc sống vô nghĩa “muốn chết mà chưa chết được vì đời còn dài nên phải sống. Mô típ người đàn bà “ba chìm bảy nổi chín lênh đênh” trong văn học quá khứ thường kết thúc bằng một tấn bi kịch (Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường). Nhưng ở đây, trong hoàn cảnh của một môi trường mới, một quan hệ sản xuất mới, Đào lại tìm được một hạnh phúc mới. Một ông trung đội trưởng già phụ trách lò gạch của nông trường mới gặp chị vài bận mà đã viết thư ngỏ lời một cách táo bạo: “mới đọc được mười dòng chị giận dữ tưởng như có thể xé vụn từng mạnh được, người ta coi thường chị đến thế ư? Nhưng khi gấp lá thư lại thì một cảm giác êm đềm cứ lan nhanh, hư mạch nước rỉ ngọt thấm vào những thớ đất khô cằn…”. Hạnh phúc mới đã làm cho tâm lí Đào thay đổi. Từ một người đàn bà hờn tủi, ghen tuông với hạnh phúc của mọi người, bây giờ chị thấy: “tất cả đều là những người đáng yêu, tất cả đều vun xới cho hạnh phúc của chị…”. Trong tiểu thuyết Xung đột cũng như trong truyện ngắn Tầm nhìn xa, Nguyễn Khải đã sử dụng một pháp hiện thực tỉnh táo, đôi khi là một bút pháp lạnh. Nhưng khi viết Mùa lạc, ta thấy Nguyễn Khải sử dụng bút pháp đôn hậu hơn, trữ tình thắm thiết hơn. Bởi vì ở đây là một cuộc sống mới, một quan hệ sản xuất mới, trong đó mọi người yêu thương lẫn nhau, vun xới hạnh phúc cho nhau. Cuộc sống mới đã hiện lên trong tác phẩm như một bức tranh nhiều màu sắc tươi vui và lạc quan: “Một năm qua đi. Mùa xuân thứ hai đã đến. Màu xanh thẫm của đỗ, của ngô, của lạc, màu xanh non của lá mạ, màu đỏ tươi tươi của ớt chín lấn dần lên các thứ màu nham nhở, man rợ khác của đất hoang… Cuộc sống vĩ đại đã trở lại rồi”.
Phân tích truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải
844
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải Bài làm Một người Hà Nội là truyện ngắn giàu tính triết luận, được sáng tác trong bối cảnh đổi mới văn học sau 1986. Triết luận vốn là một nét trội trong phong cách văn xuôi Nguyễn Khải thuộc giai đoạn sáng tác từ cuối những năm bảy mươi (của thế kỉ XX) trở đi, gắn liền với việc soi xét đối tượng dưới các góc độ văn hoá, lịch sử và triết học. Trước đó, sáng tác của Nguyễn Khải đầy ắp cảm hứng chính luận, chuyên đề cập các vấn đề thời sự, chính trị của đất nước và thường lấy tiêu chí chính trị, đạo đức cách mạng để bàn luận, đánh giá sự kiện, con người. Rõ ràng, sự chuyển đổi từ cảm hứng chính luận sang cảm hứng triết luận đánh dấu một bước phát triển đáng ghi nhận trong tư duy nghệ thuật của nhà văn. Hứng thú quan sát, thể hiện những vấn đề thế sự, đặc biệt là vấn đề khẳng định bản lĩnh cá nhân của con người giữa một hoàn cảnh sống mà cái “tôi” chưa được nhìn nhận công bằng, thoả đáng, tất cả đều liên quan tới việc chuyển đổi cảm hứng nói trên. Các sáng tác lúc này vẫn không thiếu tính thời sự, nhưng giá trị của chúng đã vượt ra khỏi cái khung thời sự nhất thời để gây ám ảnh lâu dài. Việc nhà văn có ý thức tô đậm kinh nghiệm, thể nghiệm của cá nhân mình trong việc trình bày mọi vấn đề đã làm cho những trang viết của ông thấm đượm tinh thần đối thoại dân chủ, thoát li dần kiểu áp đặt chân lí một chiều trước đây. Phân tích truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải Với một sáng tác mang tính triết luận, việc xếp đặt các nhân vật được miêu tả trong đó vào các phạm trù tốt – xấu, chính diện – phản diện quen thuộc một thời đã trở nên bất cập. Sự đánh giá về nhân vật có thể rất đa chiều. Lời khen hay lời chê của tác giả (thể hiện qua nhân vật kể chuyện xưng “tôi”) lúc này cũng chỉ có giá trị tham khảo thuần tuý, không hề mang tính chất “chân lí”, không phải là kết luận tối hậu. Trong Một người Hà Nội “, “tôi” nhìn nhận bà Hiền là “một hạt bụi vàng”, đó là quyền của “tôi”. Người khác có thể có cách nhìn nhận khác, tất nhiên, không thể không tham khảo cách nhìn có tính chất gợi ý mà “tôi” đưa ra. Nếu không hiểu nguyên tắc đánh giá này, lại lấy cách xây dựng nhân vật trong truyện của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác trước làm hệ quy chiếu, độc giả rất dễ có những phán quyết vô lí về tác giả trên các vấn đề quan điểm, lập trường chính trị, hoặc ngược lại, ra sức tán dương nhân vật bà Hiền, gán cho bà những phẩm chất tốt đẹp (theo mong muốn hay tưởng tượng, suy diễn của chính độc giả) mà bản thân nhân vật “tôi” không nói tới trong câu chuyện của mình. Nếu căn cứ vào những gì đã được thể hiện trong truyện ngắn, độc giả có thể đặt lại tên tác phẩm Một người Hà Nội thành Nghĩ về một người Hà Nội. Dĩ nhiên, đây là đặt cho mình, nhằm mục đích lĩnh hội đúng tinh thần tác phẩm, cảm nhận đúng ý nghĩa của “thành phần” suy nghĩ trong kết cấu truyện ngắn này. Quả là chuyện kể không có gì thật đặc biệt, nhưng suy nghĩ, đánh giá của nhân vật “tôi” thì lại chứa đựng nhiều điều thú vị. Đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Khải vốn là thế: tỉ trọng những lời phân tích, bình luận bao giờ cũng lớn, nhiều khi lấn át cả sự miêu tả, trần thuật khách quan về đối tượng. Viết Một người Hà Nội, điều cơ bản mà nhà văn hướng đến chưa hẳn là ca ngợi một con người, cho dù người đó đáng ca ngợi bao nhiêu đi chăng nữa. Cảm hứng chính của ông là khám phá bản sắc văn hoá Hà Nội – cái quyết định vận mệnh và vị thế của Hà Nội trong lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát triển mới của nó trong tương lai. Không phải ngẫu nhiên mà khi ngắm hình ảnh bà Hiền “lau đánh cái bát bày thuỷ tiên”, ông đã có một ghi chú tưởng như là bâng quơ: “nếu là một thiếu nữ thì phải hơn”[1], rồi cảm thán: “thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội”. Cũng hoàn toàn hợp lô gích việc nhà văn đã kết lại truyện ngắn như thế này: “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng!”. Lô gích thì lô gích nhưng vẫn lạ. Ai đã từng quen với giọng văn tinh sắc, tỉnh táo, thậm chí là “lọc lõi” của Nguyễn Khải, hẳn phải ngỡ ngàng trước cái giọng “bốc” lên khá đột ngột mà nhà văn biểu lộ ở đây. Một chút giỡn đùa với chính văn mình hay niềm xúc động tận đáy tâm can cứ bật ra không nén được? Trả lời quyết hẳn theo bề nào cũng khó, nhưng điều có thể khẳng định chắc chắn là: Nguyễn Khải thật sự yêu quý Hà Nội, có những suy nghĩ thâm trầm về “đất kinh kì” và tha thiết được thấy một Hà Nội hiện đại, đẹp, sang, xứng với bề dày văn hoá truyền thống của nó. Hình tượng bà Hiền được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh thần Hà Nội, một linh hồn Hà Nội thực sự đã và đang tồn tại, để lại dấu ấn đậm nét trong những người con của nó. Bà Hiền không phải là một “tấm gương” kiểu mẫu hiểu theo nghĩa thông thường để các tổ chức xã hội nêu lên cho mọi người học tập, theo cách người ta vẫn thường làm nhằm mục đích tuyên truyền, vận động. Bà chỉ là người dân bình thường, dù xuất thân là con nhà “tư sản”, dù đã có một thời “vang bóng” (mà thực ra, “tư sản” thì cũng có thể là người dân bình thường được chứ!). Tác giả (và người kể chuyện) hiểu vậy nên chọn cách giới thiệu, chuyện trò về bà thật dung dị. Bà là một người bà con xa, người dì họ của “tôi”, thế thôi! Mọi việc bà làm đều tự nhiên, như cuộc sống hàng ngày, chẳng gây chấn động gì tới xung quanh cả. Ấy vậy, ai dám bảo chất Hà Nội ở bà không đậm đặc? Vả lại, muốn khám phá bề sâu văn hoá của một vùng đất, tuyệt đối không được bỏ qua những điều tưởng là nhỏ nhặt. Nhiều khi chính chúng lại cung cấp cứ liệu thuyết minh về vấn đề có sức nặng hơn hẳn những chuyện to tát. Dõi theo mạch kể của nhân vật “tôi”, người đọc thấy quả không có gì đáng gọi là “sự kiện” việc bà Hiền lấy chồng, quản lí gia đình, sinh con, dạy con, cho con đi bộ đội, tiếp khách, bài trí nơi ở, duy trì nếp sinh hoạt riêng,… Một câu bình phẩm của “tôi”, rằng, việc bà lấy ai không lấy, lại lấy một ông giáo cấp tiểu học hiền lành chăm chỉ làm chồng đã “khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc”, phần nhiều chỉ là một cách nói ngoa ngôn khá đặc thù của văn chương. Nếu quả người ta có kinh ngạc, thì đó là sự kinh ngạc trước một chuyện không ngờ lại xảy ra bình thường (thậm chí là tầm thường) quá như thế. Tuy vậy, nếu bình tâm suy xét, ta lại thấy trong tất cả những cái bình thường kia lại chứa đựng một triết lí sống đáng vị nể, vừa thể hiện bản lĩnh cá nhân một con người, vừa bộc lộ kiểu ứng xử đặc trưng của đất kinh kì. Bà Hiền biết rõ mình là ai (câu tuyên bố “thẳng thừng” của bà đối với nhân vật “tôi” đã chứng thực điều đó: “Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ”), và cũng tương tự thế, bà hiểu sâu xa mình là người Hà Nội. Sau năm 1954, gia đình bà chẳng di cư vào Nam vì “không thể rời xa Hà Nội”. Đây không đơn giản chỉ là một biểu hiện của tình yêu đối với nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, mà còn là một biểu hiện của niềm tin vào thế tồn tại bền vững của mảnh đất đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, có văn hoá riêng đã thấm vào máu thịt cư dân nơi này. Bà Hiền có thể không nghĩ một cách rành rọt như vậy, nhưng tác giả và nhân vật “tôi” – một sự hoá thân của ông – thì ý thức về điều này quá sâu sắc. Nhân vật “tôi” cũng khó lòng quên lời bà Hiền răn lũ con của anh: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng”. Hoá ra vậy, làm người Hà Nội vừa là một vinh dự, vừa là một trách nhiệm. Bà Hiền hẳn là luôn đau đáu về vấn đề này, chẳng thế mà dù đã ngoài bảy mươi, bà vẫn để lộ tâm sự đó của mình khi hỏi người cháu (“tôi”) vừa mới từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm: “Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá thế nào, dân tình thế nào?” Ngỡ đó chỉ là một câu hỏi xã giao thông thường mà thực chất lại gửi gắm bao nỗi niềm, bao phấp phỏng và hi vọng về tương lai của Hà Nội. Những điều vừa nói trên chứng minh sự gắn bó làm một, rất máu thịt, giữa bà Hiền và Hà Nội. Nhưng cốt lõi ứng xử của người Hà Nội được thể hiện qua bà Hiền là cái gì? Khi kể về bà, nhân vật “tôi” rất hay nói đến chữ tính: “tính thế là đúng”, “Mọi sự mọi việc đều được các bà tính trước cả. Và luôn tính đúng…”, “đã tính là làm”, “Cô tôi tính toán việc nhà việc nước đại khái là như thế”, “cô muốn mở rộng sự tính toán…”. Dĩ nhiên, đã “tính đúng” thì người đó là người khôn (“cô khôn hơn các bà bạn của cô”), người “có đầu óc rất thực tế”, biết thích ứng. Với người “khôn”, mọi điều khó mấy xem ra cũng có thể thu xếp được một cách khá nhẹ nhàng: là “tư sản” mà khi ở với chính quyền mới, gia đình bà Hiền không bị hề hấn gì, bà lại có khả năng nuôi cả gia đình đủ ăn mà không phải dính dáng gì tới hai chữ “bóc lột”… Bà Hiền có thể “cười rất tươi” – một kiểu cười quá đỗi tự tin – khi ông cháu thóc mách: “Tại sao cô không phải học tập cải tạo, cô giấu cũng tài nhỉ?” Nói ra toàn những chuyện như thế về bà Hiền, phải chăng tác giả muốn kết luận rằng cái “bản sắc” của người Hà Nội là tính và khôn? Sự thực hoàn toàn không phải thế. Đằng sau mỗi câu chuyện kể về bà Hiền, tác giả luôn luôn cho ta thấy sự tồn tại của một bản lĩnh sống vững vàng, một khả năng tự ý thức rất cao, một lòng tự trọng không thể nghi ngờ. Tự trọng ở đây gắn liền với việc không để mình rơi vào tình trạng nhục nhã, sống giữ được cốt cách và đặc biệt là không quên trách nhiệm với cộng đồng (một tinh thần trách nhiệm không cần tuyên bố ồn ào, bốc đồng, hời hợt). Những lời thổ lộ của bà Hiền xung quanh việc bằng lòng cho hai đứa con đi bộ đội thể hiện rõ điều này: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”, “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”, “Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm gì”… Không phải không có những ngộ nhận về tính cách người Hà Nội. Trong truyện, tác giả đã khéo tạo ra một tình huống để làm rõ vấn đề này. Trong khi nhân vật “tôi”, giữa một bữa tiệc, đã “nói hơi nhiều” những ý chê trách Hà Nội trong sự so sánh nó với những vùng miền khác, thì nhân vật Dũng, con bà Hiền, mới từ chiến trường miền Nam trở về, đã kể cho mọi người nghe về phản ứng tâm lí của một người mẹ Hà Nội có con hi sinh: “Bà níu chặt lấy một cánh tay của cháu, người bà run bần bật nhưng không khóc, và bà nói run rẩy: “Nín đi con, nín đi Dũng! Cô đã biết cả. Cô biết từ mấy tháng nay rồi”. Đúng là một sự đối trọng. Câu chuyện của Dũng tự nó nói lên bao điều! Ta đã phân tích khả năng tính của bà Hiền, một người Hà Nội. Tính không phải bao giờ cũng gắn với thói thực dụng. Nhiều khi, nó là đòi hỏi bắt buộc của một cách tồn tại giữa thời cuộc có nhiều thay đổi, xáo trộn khó lường. Bà Hiền quá nhạy cảm về vấn đề này. Bà có chính kiến, chủ kiến riêng về nhiều chuyện “vĩ mô” của nhà nước, chế độ. Khi đứa cháu nói: “Nước được độc lập vui quá cô nhỉ?”, bà đã trả lời: “Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ?”. Theo bà “Chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái phải yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công sá cho kẻ ăn người ở…”. Bà cũng nhận ra có cái gì đó không phù hợp trong cách nghĩ “không thích cá nhân làm giàu”: “Chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để không phải sống ăn bám”. Đặc biệt, bà có một quan điểm hết sức khác thường: “Xã hội lúc nào cũng phải có một giai tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị…”. Chưa hết, bà còn phát biểu về cái huyền vi của sự sống mà càng ngày ta càng phải thừa nhận: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được”. Như vậy, trong cái tính của bà Hiền có chứa đựng một “tầm nhìn xa” đáng để cho nhân vật “tôi” phải thốt lên khâm phục: “Bà vẫn giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng lượng quá. Một người như cô phải chết đi thật tiếc…”. Chính tầm nhìn xa có ở bà Hiền, rộng ra là có ở nền văn hoá của đất kinh kì đã tạo nên cái mà trên kia ta đã gọi là thế tồn tại uyển chuyển và ngoan cường của Hà Nội, vượt lên trên mọi ba động của đời sống chính trị. Chi tiết bà Hiền kể cho nhân vật “tôi” nghe về sự hồi sinh sau cơn bão của cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn mang ngụ ý triết lí sâu sắc. Các nhân vật trong truyện dường như chỉ “luận” về sự kiện này xoay quanh sự tiếp nối của nhiều thế hệ người Hà Nội. Kì thực, ý nghĩa của nó trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm còn lớn hơn thế. Cũng cần lưu ý: nhiều quan điểm được nói ra từ miệng bà Hiền cũng là cái mà nhân vật “tôi” và tác giả tỏ ra tâm đắc. Lời trần thuật khách quan về đối tượng đã quyện chặt với lời phân tích mang theo cách đánh giá riêng của người viết. Đây quả là một nét đặc sắc của văn Nguyễn Khải – một nhà văn vẫn được nhiều người viết khác cùng thế hệ bái phục về “năng khiếu” có thể gài lồng được vào sáng tác của mình những tư tưởng riêng đầy táo bạo, không dễ phát ngôn, về đời sống. Nói về “dân” Hà Nội, người ở nhiều vùng miền khác vẫn thường thừa nhận thanh lịch là đặc điểm nổi bật. Vậy, ở một người khôn ngoan, giỏi tính toán như bà Hiền, nét thanh lịch ấy có tồn tại không và nếu có thì nó được biểu hiện như thế nào? Thực ra, không hề có sự đối chọi nào giữa các phẩm chất ấy trong con người bà Hiền cả. Đừng lầm về kiểu xưng hô bỗ bã của bà đối với con cháu (vốn nó biểu hiện rõ tư cách của con người quyết đoán, ý thức mình là “nội tướng” trong gia đình), mà hãy nhìn vào thực chất của vấn đề, biểu hiện qua thái độ chu tất trong nết ăn, nết mặc, trong cử chỉ lau đánh cái bát đựng hoa thuỷ tiên, trong việc duy trì một cách “bướng bỉnh” cái nền nếp sinh hoạt xa lông một thời vẫn thường bị định kiến là “tư sản”. Không, trong ngày thường, một người như bà Hiền đã hoà nhập rất tốt vào cuộc sống chung, cũng “áo bông ngắn, quần thâm, đi dép hoặc đi guốc, vuông khăn len tơi tớp buộc quanh cổ hay bịt đầu”. Nhưng bà, cũng như các bạn của mình, không vì vậy mà không được quyền sống cho mình. Họ, lúc cần, đã biết rũ bỏ “đồng phục” để hoá thân thành những con người khác, đáng để cho những kẻ yêu cái đẹp ngắm nhìn: “bà chủ xuất hiện trước như diễn viên trên sân khấu, rồi một loạt bảy tám bà tóc đã bạc hoặc nửa xanh nửa bạc, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc đeo dây đi lại uyển chuyển”. Tất cả những điều đó cũng là biểu hiện cụ thể của bản lĩnh sống – một vấn đề hết sức nghiêm túc cần được nhìn nhận thấu đáo trong hoàn cảnh sống của đất nước, của thời đại bây giờ. Nhìn chung, bà Hiền đúng là một người Hà Nội, dù bà không thuộc “típ” điển hình quen thuộc mà văn học cách mạng một thời ưa xây dựng trong cảm hứng ngợi ca. Dĩ nhiên, bà cũng đã dành được sự ngợi ca, quý trọng rất mực của nhân vật “tôi”, của tác giả, nhưng đây là sự ngợi ca, quý trọng xuất phát từ một tiêu chí đánh giá khác với trước. Cái lõi của tiêu chí đó chính là sự khẳng định bản lĩnh cá nhân của con người trong đời sống – điều sẽ khiến cho con người trong khi biết thích ứng với thời đại thì vẫn đóng góp được nhiều cho việc cải biến, cải tạo môi trường tồn tại của mình theo hướng tích cực. Viết về một mẫu người như bà Hiền, văn Nguyễn Khải trở nên khoái hoạt hơn bao giờ hết. Hoàn toàn có thể nói bà Hiền chính là nhân vật lí tưởng (không nhất thiết phải là nhân vật anh hùng, nhân vật phi thường) của sáng tác Nguyễn Khải giai đoạn từ khoảng 1978 trở đi (theo sự tự phân chia của chính nhà văn). Qua bà cũng như qua các nhân vật khác thuộc loại này, nhà văn đã thực sự có đóng góp cho việc dân chủ hoá hoạt động sáng tác văn học nước nhà. Các thước đo về con người, cuộc sống trở nên đa dạng hơn, và chính điều đó đã kích thích tinh thần đối thoại ở độc giả. Thì đó, nhân vật “tôi” trong tác phẩm đâu có được xây dựng như một con người nắm giữ chân lí, có quyền đưa ra lời phán quyết sau cùng về mọi sự. Anh ta đã từng hiện lên như một kẻ khôn ranh, ứng xử thiếu đàng hoàng với người cô “tư sản” (không ghi tên bà Hiền trong lí lịch cán bộ), một kẻ tự thị vô lối khi đưa ra những lời nhận xét hấp tấp về Hà Nội trong một bữa tiệc. Anh ta cũng có thể sai, cũng phải chịu lời phản biện từ chính thực tế cuộc sống. Biết nghĩ về sự “nín lặng” (không đồng nghĩa với sự chấp thuận) của người khác thì cũng đồng nghĩa với việc tự mình biết sẵn sàng nín lặng khi những “ý thức” khác cất lời. Sự hấp dẫn của văn của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác thứ hai chính được đưa tới từ đặc điểm giàu tính đối thoại dân chủ này. Dù không có ý áp đặt cho ai về cách đánh giá một con người, cụ thể ở đây là bà Hiền, Nguyễn Khải, thông qua nhân vật “tôi”, vẫn có khả năng tạo được sự tán đồng của người đọc khi ông đưa ra nhận xét: bà Hiền chính là một người Hà Nội, tuy chỉ là hạt bụi nhưng đó lại là hạt bụi vàng của đất kinh kì!
Phân tích truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
3,712
Phân tích truyện ngắn Một người Hà nội Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Một người Hà nội Nguyễn Khải, tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải là một nhà vănđược trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và là một trong những gương mặt nổi bật của thế hệ nhà văn trưởng thành sau cách mạng tháng Tám 1945 Viết Một người Hà Nội, điều cơ bản mà nhà văn hướng đến chưa hẳn là ca ngợi một con người, cho dù người đó đáng ca ngợi bao nhiêu đi chăng nữa. Cảm hứng chính của ông là khám phá bản sắc văn hóa Hà Nội – cái quyết định vận mệnh và vị thế của Hà Nội trong lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát triển mới của nó trong tương lai. Trong tác phẩm Hình tượng bà Hiền được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh thần Hà Nội, bà không phải là một “tấm gương” kiểu mẫu hiểu theo nghĩa thông thường để các tổ chức xã hội mà chỉ là người dân bình thường, dù xuất thân là con nhà “tư sản”, dù đã có một thời “vang bóng”.Tác giả đã chọn cách kể chuyện và mở đầu thật giản dị:Bà là một người bà con xa, người dì họ của “tôi”, thế thôi! Mọi việc bà làm đều tự nhiên, như cuộc sống hàng ngày, chẳng gây chấn động gì tới xung quanh cả. Theo mạch kể của nhân vật “tôi”, người đọc thấy quả không có gì đáng gọi là “sự kiện” việc bà Hiền lấy chồng, quản lí gia đình, sinh con, dạy con, cho con đi bộ đội, tiếp khách, bài trí nơi ở, duy trì nếp sinh hoạt riêng,…Và câu bình phẩm của “tôi”, rằng, việc bà lấy ai không lấy, lại lấy một ông giáo cấp tiểu học hiền lành chăm chỉ làm chồng đã “khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc”, Bà Hiền biết rõ mình là ai bà hiểu sâu xa mình là người Hà Nội. Sau năm 1954, gia đình bà chẳng di cư vào Nam vì “không thể rời xa Hà Nội”. Đây không đơn giản chỉ là một biểu hiện của tình yêu đối với nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, mà còn là một biểu hiện của niềm tin vào thế tồn tại bền vững của mảnh đất đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, có văn hóa riêng. Bà Hiền có một quan điểm hết sức khác thường: “Xã hội lúc nào cũng phải có một giai tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị…”. Chưa hết, bà còn phát biểu về cái huyền vi của sự sống mà càng ngày ta càng phải thừa nhận: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được”.Như vậy, trong cái tính của bà Hiền có chứa đựng một “tầm nhìn xa” đáng để cho nhân vật “tôi” phải thốt lên khâm phục: “Bà vẫn giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng lượng quá. Một người như cô phải chết đi thật tiếc…”. Chính tầm nhìn xa có ở bà Hiền, rộng ra là có ở nền văn hóa của đất kinh kì đã tạo nên cái mà trên kia ta đã gọi là thế tồn tại uyển chuyển và ngoan cường của Hà Nội, vượt lên trên mọi ba động của đời sống chính trị. Chi tiết bà Hiền kể cho nhân vật “tôi” nghe về sự hồi sinh sau cơn bão của cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn mang ngụ ý triết lí sâu sắc. Kì thực, ý nghĩa của nó trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm còn lớn hơn thế. Nhiều quan điểm được nói ra từ miệng bà Hiền cũng là cái mà nhân vật “tôi” và tác giả tỏ ra tâm đắc. Lời trần thuật khách quan về đối tượng đã quyện chặt với lời phân tích mang theo cách đánh giá riêng của người viết. Đây quả là một nét đặc sắc của Nguyễn Khải. Nguyễn Khải – một nhà văn vẫn được nhiều người viết khác cùng thế hệ bái phục về “năng khiếu” có thể gài lồng được vào sáng tác của mình những tư tưởng riêng đầy táo bạo, không dễ phát ngôn, về đời sống. Một người Hà nội rất giản dị nhưng để lại trong người đọc nhiều suy ngẫm thú vị. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích truyện ngắn Một người Hà nội
748
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Bài làm Có người cho rằng Nguyễn Thi đúng là đứa con của vùng quê nghèo gặp thời chính chiến, được sinh ra ở miền Bắc trong một gia đình gieo neo, vất vả, phải theo người anh vào Sài Gòn sinh sống, trưởng thành và tham gia cách mạng ở miền Nam năm 1945. Lăn lộn với người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, vào sinh ra tử, Nguyễn Thi đã thấm đẫm chất Nam Bộ từ thể chất đến tâm hồn. Cùng với bản chất sâu sắc của người dân đất Bắc, ông đã đưa chúng vào những trang văn. Bởi vậy, khi đọc những tác phẩm của ông, nhiều người cho rằng: Nguyễn Thi là cây bút có biệt tài phân tích tâm lý con người, có khả năng nhập sâu vào nội tâm nhân vật của mình… tạo nên những hình tượng gân guốc, có cá tính mãnh liệt. mà Những đứa con trong gia đình là những trang viết tiêu biểu của ông về biệt tài ấy. Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Truyện kể về người lính giải phóng quân tên Việt bị thương và bị thất lạc đồng đội trong một trận đánh khốc liệt với quân Mĩ. Sau mấy ngày, anh được đồng đội cứu, đưa về bệnh viện, nhận được thư chị Chiến, rồi nhớ lại lần chị Chiến chết giấc vì bom Mĩ, rồi nhớ lại trận đánh đẫm máu với quân Mĩ khiến anh bị thương nặng. Lúc tỉnh, Việt bò lê đi kiếm đồng đội. Lúc mê, Việt nhớ lại cảnh cha bị giặc chặt đầu, mẹ bị đạn pháo giết hại; nhớ chuyện cùng với chị Chiến giành nhau đi bộ đội trước; nhớ chuyện hai chị em cùng lo việc gia đình trước lúc ra đi…. Việt nhớ không sót một chuyện gì về những đứa con trong gia đình cho tới khi anh Tánh và đồng đội tìm ra Việt và đưa về bệnh viện… Về nghệ thuật, ngôn ngữ trong toàn truyện ngắn là ngôn ngữ của người dân vùng Nam Bộ, kể cả những đoạn miêu tả về cảnh, về người của nhà văn: “… Việt giấu chị như giấu của riêng vậy. Cậu ta sợ mất chị mà cái miệng ống loa của Tánh không bịt lại được…’’-. Tả tâm trạng: "… Việt lắng nghe, đúng là những con ếch nhái bụng tròn vo, mất thồi lồi, hay ngồi liếm mép kêu uôm uôm…”. Tả loài vật: "… Đúng súng của ta rồi! Việt muốn reo lên. Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó. Cha, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi": độc thoại ngắn gọn theo phong cách Nam Bộ… Toàn truyện, có nhân vật Tánh và một số đồng đội, nhưng trong đoạn trích để phân tích chỉ có mỗi nhân vật Việt xuất hiện. Qua trí nhớ của Việt, nhiều nhân vật khác trong gia đình xuất hiện, vẫn có những đoạn văn ghi đối thoại giữa các nhân vật một cách giản dị, chân thật như đang sống hiện hữu giữa cuộc đời. Đấy là những hồi ức đã ăn sâu vào từng tế bào, thớ thịt của Việt: Hãy đọc lại một đoạn hồi ức của Việt qua ngòi bút của nhà văn: "Mình đi đâu thì ba má đi theo đó chớ gi mà lo? Vậy chứ ba má không theo con thì theo ai, nhưng mà cũng phai tính cho đâu ra đó chớ. Đem bàn thờ sang gởi chú Năm em có ừ không? Ừ!… mà hồi đó má dọn chi vậy hả? Má có biết má chết đâu mà dặn. Việt sải chân ra giường: Vậy mà nói nghe in như má vậy.” Đoạn văn đối thoại vừa thông minh vừa ngây thơ, thật dễ thương để diễn ta tình cảm của nhân vật. Không những thế, Nguyễn Thi còn thành thạo trong sử dụng thành thạo văn độc thoại: "… Việt còn đây! Việt sẽ tới phụ với các anh!…” "… Vậy là ban ngày đã đến. Mùi nắng có thể ngửi thấy được. Hai mắt Việt bị thương thiệt rồi, nó đang sưng lên cho nên ban ngày rồi mà Việt không thấy gì hết. Nếu giặc tới thì làm sao bắn?…” "… Tao sẽ chờ mày! Trên trời có mày, dưới đất có mày, cá khu rừng này còn có minh tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày…”. Truyện ngắn có nhiều đoạn văn độc thoại hay như những đoạn văn ngắn trên. Chúng rất phù hợp với những hồi ức trong những cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù như E. Hemingway đã sử dụng độc thoại trong hầu hết những tác phẩm nổi tiếng của ông. Truyện phong phú chi tiết, sự việc xảy ra đan chéo nhau. Quá khứ gần đan chéo quá khứ xa, quá khứ xa đan chéo quá khứ gần (quá khứ gần: Việt bị thương, lạc đơn vị; quá khứ xa: Chuyện xảy ra trong gia đình, trong làng xóm Việt ; và hiện tại: Việt đang điều trị ở bệnh viện và nhận được thư chị Chiến) Mỗi sự việc xảy ra đều có xung đột, và được giải quyết hợp lí, liền mạch truyện… Kẻ thù xuất hiện trong trận đánh, có bom đạn, xác Mĩ. Chủ yếu nhân vật trong truyện là những nhân vật cùng tuyến chính diện. Và ai cũng mang ền thống yêu thương, chống giặc ngoại xâm. Người gần gũi với Việt lúc này là “anh Tánh”, tiểu đội trưởng luôn quan tâm đến Việt. Vừa đánh giặc vừa tìm cứu Việt ngoài chiến trường, vừa chăm sóc, nhắc nhở Việt viết thư cho chị. Thế nhưng chú Năm mới là người thân thiết. Chú Năm: là người yêu quê hương tha thiết: "… chú kể chuyện con sông nào ở nước ta cũng đẹp, lắm nước bạc, nhiều phù sa, vườn ruộng mát mẻ cũng sinh ra từ đó, lòng tốt của con người cũng sinh ra từ dó…”. Đất đẻ ra nước, nước đẻ ra người. Người thương đất nước là lẽ đương nhiên. Chú năm đi rộng, biết nhiều: "… Chẳng là trước kia chú vốn đi bè cũng ham sông ham bến, nên biết nhiều nơi”… “Những câu hò chú thuộc từ hồi đi chèo ghe mướn ở Sài Gòn, lục tỉnh"… Là người lớn duy nhất còn lại giữ riêng mối gia đình. Chú quý trọng gia đình lắm: "… Trăm sông đổ về một biển, con sông của gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm. ”. Riêng mối gia đình cụ thể là ở cuốn sổ tay chú ghi đủ mọi chuyện xảy ra trong gia đình, cho gia đình. Chú ghi đủ hết. Từ chuyện "… Thím năm bơi xuồng đi rọc lá chuối bị ca-nông Mở Cày bắn bể xuồng, chết còn mặc cái quần mới…” đến chuyện “lính tổng Phong… bắn vào giữa bụng ông nội”. Từ chuyện bà nội bị lính quận Sơn bắt, đánh đến chuyện: “Thằng Hai, con chú Năm… bò và đặt trái, lấy cốt xong, bó năm cây súng vác về nhà”… Chú còn mượn câu hò để gửi gắm lòng mình… “Lúc đó, gân cổ chú nổi đỏ lên, tay chú đặt lên vai Việt, đôi mắt chú mở to, đọng nước, nhìn thẳng vào mắt Việt, đầu chú lắc lư, nhấn nhủ, làm như Việt chính là nơi cụ thể để chú gửi gắm những câu hò đó…”. Còn ba, má Việt thì sao? Bắt đầu từ cuộc đời con gái, “chiều chiều má đi làm mướn về, vì không tiền đi đò nên vẫn lấy nón làm phao mà lội qua sông. Ba hồi đó còn là trai, cầm tầm vông gác bến đò. Một buổi má xin quá giang xuồng, ba nhứt định không cho, má liền phóng xuống sông, lội. Xuồng ba cặp bến thì má cũng lội tới bờ. Hai bên giáp mặt. Ba cười hề hề, nhưng má chẳng thèm dòm, hai mắt hử một cái “cóc” rồi đi thẳng”. "… Chiều hôm đó má gánh cơm đi tặng bộ đội “tầm vông” thì lại gặp ba trong hàng ngũ đó”. Tình yêu nên chồng, nên vợ của ba má Việt như vậy đó. Nhưng hai người thương nhau vô cùng. Ba cũng đánh Tây, “ôm đệm đi ngủ ngoài bờ bị lính Tây bót Kinh Ngang bắt chặt đầu”. Tình thương yêu của má biểu hiện càng cao: "… tao cứ đi theo cái thằng xách đầu mà đòi. Đi từ ấp trong tới ấp ngoài.. Một tay tao bồng em mày, một tay tao cắp rổ…”. Đòi được đầu về rồi má mới khóc thương ba mà chẳng kể gì hết. Má thương các con, thương ba nên luôn luôn so sánh việc làm của Việt là giống ba. Nhờ có ba mà má dạn lên, một mình nuôi bốn đứa con nhỏ dại. Má cũng anh hùng – nhờ chiếc xuồng, má làm việc đầu tắt mặt tối để nuôi con, nhưng cũng chở người đi đấu tranh ở trên quận. Xuồng bị đập bể, má đi chân không. Lội sình tìm việc nuôi con mà cũng để nghe ngóng tình hình. Hình ảnh về cái chết của má cũng thật gan dạ:… Má vừa mới đi đấu tranh ở Mỏ Cay về, cà nông nó bắn đuổi theo. Một trái rơi bịch trên lộ, trước mặt má, không nổ, má đến dòm dòm rồi bỏ luôn vào rổ, cắp về. Một trái kác đã văng miếng trúng má lúc mà về tới đầu xóm. Má nằm xuống, trái cà nông lép trong rổ rau còn nóng hổi, Má chết…". Hơi cường điệu trong miêu tả, nhưng hình ảnh má hi sinh thật anh hùng. Như ngày nào má dõng dạc buông câu trả lời nổi tiếng khi kẻ thù hỏi: “Vợ Tư Nông đây!”… Tóm lại, mẹ Việt rất yêu thương chồng: “Lấy chồng rồi, má lại lặn lội thăm chồng. Lên rừng xuống biển má cũng đi, vai gánh chục dừa, một đầu thêm nải chuối, một đầu thêm vài rê thuốc”. Đó là hình ảnh của người vợ lặn lội thân cò đế lo lắng cho chồng. Và đồng thời, đấy cũng là người mẹ rất thương con, dồn hết tình thương cho con: “Vì mong cho con mau lớn mà má trông từ cách con làm tới miếng cơm con ăn trong miệng”. Chị Chiến: Một người con hiếu thảo, người chị mẫu mực trong gia đình, và là người con gái mang truyền thống giặc xâm lược. Một người con hiếu thảo khi chị giúp mẹ làm công việc trong nhà để mẹ làm mướn nuôi mấy chị em, để mẹ có thì giờ cùng bà con đấu tranh. Sau khi hai chị em cùng đăng kí đi bộ đội, một mình Chiến lo suy nghĩ, thu xếp nơi đặt bàn thờ của cha, mẹ. Chuẩn bị bữa cơm cúng cha mẹ trước khi dời bàn thờ sang nhà chú Năm. Một người em, người chị mẫu mực: – Viết thư cho chị Hai dù chị là con nuôi của ba, má… Luôn luôn nhường nhịn em: nhường em về công soi ếch nhái, nhường cả “vết đạn bắn thằng Mĩ trên sông Định Thủy” độ nào. – Chiến luôn luôn hỏi ý em một cách khéo léo về những công việc gia đình cần giải quyết trước khi hai chị em cùng lên đường. – Chuyện căn nhà, bàn ghế… chuyện thăng út: "… Chị em mình đi thì thằng Út sang chú Năm, chú nuôi. Còn cái nhà này ba má làm ra đó thì cho các anh ở xã mượn mở trường học… Giường ván cũng cho xã mượn làm ghế học, nghen?… "… Bàn thờ má gởi đâu? Gởi sang chú Năm cho thằng út coi chừng hay là chị Hai về đem đi?”. "… Chị Chiến ra đứng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống… dùng cả thân người to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thơ má lên….”. Chị Chiến giỏi và khéo như vậy nên đã được chú Năm khen: “Khôn! Việc nhà có thu gọn được thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non…”. Ở chiến trường, luôn viết thư liên lạc động viên em, nhưng trước hết Chiến là một người dân biết bổn phận. Điều này được thể hiện ở chỗ hai chị em giành nhau đi tòng quân. Chiến đã lí luận: “Tao lớn tao mới đi, mầy còn nhỏ, ở nhà phụ với chú Năm, qua năm hãy đi"… “Hồi đó má nói cho tao di, mầy ở nhà làm ruộng với má, trọng trọng rồi đi sau”. … Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ cu một câu: nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”. Tinh thần chiến đấu của Chiến quả là rất cao. Nguyễn Văn Việt là một thanh niên nông thôn mới lớn, thật thà, chất phác yêu quê nhà, những người thân, gắn bó với đồng đội, can đảm giữa mặt trận. Trước hết Việt là người tha thiết yêu quê nhà. Êch nhái kêu dậy lên – Việt lắng nghe, đúng là những con ếch nhái bụng tròn vo, mắt thồi lồi, hay ngồi liếm mép kêu uôm uôm. Ở quê Việt, những đêm như đêm nay, đèn soi nhấp nhánh đầy đồng”. Từ tiếng ếch kêu trong hiện tại trước khi Việt bị thương, Việt nhớ nhà, quê hương với những chi tiết cụ thể “Cứ trời mà dứt hột’’, Việt đã cởi trần ra, hai chị em, hai cái đèn soi, lóp ngóp đi”. Và lúc nào cũng yêu thương những người trong gia đình, lúc còn nhỏ, đã biết yêu thương gia đình. Thương Ba nên cùng đi đòi đầu ba. Thương má nên làm theo lời dặn của má: “Việt à, coi chừng nhà nghe con!… Việt à, ra phụ má nghe con!”. Lúc chuẩn bị ra đi thì cùng chị chăm lo, thu vén công việc gia đình. “Việt thương chú Năm vì hồi đó chú hay bênh Việt. Chú là người thân gần nhất và lớn nhất còn lại của gia đình”… Khi bị thương, Việt nhớ chị Chiên, nhớ thuở còn nhỏ hai chị em đi soi ếch, nhớ tới chuyện cùng chị chạỵ lon ton theo má đi đòi đầu ba. Nhớ vụ cãi nhau trong việc tòng quân, nhớ tới đêm nằm nghe chị bàn chuyện thu xếp nhà cửa, nhớ tới ngày hai chị em đưa bàn thờ mẹ sang nhà chú Năm, Việt “thấy thương chị lạ". Việt nhớ tới chú Năm vì hồi đó chú hay bênh Việt; nhiều nhất là Việt nhớ tới mẹ. Trong hồi ức của Việt, hình của người mẹ luôn hiện ra. Việt nhớ tiếng chân “má đi lịch bịch vào nhà". Việt còn nhớ cả mùi hôi của má, rồi có lúc Việt mơ ước được má xoa đầu như những ngày còn bé. Việt cũng nhớ đồng đội như in. “Những khuôn mặt anh em mình lại hiện ra… Cái cằm nhọn hoắt của anh Tánh, nụ cười và cái nheo mắt của anh Công…”. Và cuối cùng Việt căm thù giặc và dũng cảm trong chiến đấu. Đây là những đoạn mô tả tâm lý mà Nguyễn Thỉ đã vận dụng nghệ thuật viết hồi ức, những đoạn văn độc thoại ngắn hay nhất. Nhân vật nào gần gũi với Việt cũng mang lòng căm thù giặc không chỉ nghĩ, nói mà cả ở hành động. Hồi nhỏ, qua lời kể của má về Việt: "… Phải hồi đó tao không níu lại thi nó đã bắn mày rồi. Đầu ba ở dưới đất không lượm, cứ nhè cái đầu thằng vừa liệng đầu mà đá": gan lì, căm thù kẻ ác từ nhỏ. Lúc đi đánh giặc: Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, ui nó đang đè nặng ở trên vai”: Thù vì ba thì bị chặt đầu, má thi bị đạn ca nông bắn chết. Bốn lần ngất đi, tỉnh lại đều đó có bóng dáng căm thù trong tâm tư, trong cử chỉ của người lính bị thương ấy: "… Đơn vị của Việt đâu? Các anh ở gần hay ở xa? Không tìm thấy Việt sao? Việt đi bánh xe ở tuốt đằng kia, xa lắm, thủ pháo đã bổ vào thùng nó, chắc nó cháy rồi, bây giờ Việt đi tìm các anh đây!" Có căm thù mới chiến đấu can đảm đến như vậy. Có căm thù mới "… bò gấp. qua những cái gì nữa Việt không cần biết, quên cả khắp người đang rỉ máu quên cá trận địa sắt thép ngổn ngang mà thương tích”… Quyết vượt qua đau đớn của thể xác đế tìm cho ra đồng đội. "… Việt chộp súng, lên đạn. Cả mười ngón tay không ngón nào còn lên nổi. Việt ghé răng giựt mạnh cơ bẩm. Một viên đạn lên nòng…” “…khi nghe thấy tiếng dộng, Việt cứ đinh ninh là giặc, đang chuẩn bị bắn nó và chờ phútt quyết liệt nhất của đời mình coi cái chết nó ra sao…” Sẵn sàng chấp nhận hi sinh cho tới hơi thở cuối cùng. “Cái sâu sắc của Nam Cao, cái chấm biếm của Nguyễn Công Hoan, cái mới lạ của Trần Đăng, cái tinh tế của Bùi Hiển… ít nhiều đều có dấu ấn trong Nguyễn Thi. Nguyễn Thi cho tôi thấy bao nhiêu là tình sâu nghĩa nặng trong một chữ gia đinh, nó là nỗi niềm sâu thẳm của người chiến sĩ ra trận lần đầu…” (Phong Lê) Nguyễn Thi có một tâm hồn tha thiết, yêu thương và căm thù mãnh liệt. Điều đó khiến cho những trang viết thật giàu có về hình tượng và mỗi hình tượng đều rung động chúng ta sâu sắc… yêu thương và căm thù, đó là hai nguồn sức mạnh tạo tính cách đặc biệt ngoan cường cùa nhân vật Nguyễn Thi. Sự hiểu biết cặn kẽ tâm lí con người, khả nâng thâm nhập vào dòng tâm sự của nhân vật để quan sát, phát hiện và phân tích một cách tỉ mỉ, đồng thời thông qua đó mà dẫn câu chuyện một cách linh hoạt. Những đứa con trong gia đình có thể coi là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thi về phương diện này”.
Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
3,090
Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình-Nguyễn Thi Hướng dẫn Mở bài: Nguyễn Thi (còn có bút danh khác là Nguyễn Ngọc Tấn) tên thật là Nguyễn Hoàng Ca. Ông sinh năm 1928 tại Hải Hậu, Nam Định. Nhưng Nguyến Thi có nhiều năm sống gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ đã thực sự trở thành nhà văn của người dân Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Nhân vật tiêu biểu nhất trong sáng tác của Nguyễn Thi phần lớn là nhân dân Nam Bộ, có lòng căm thù giặc sâu sắc, vô cùng gan góc kiên cường, thủy chung sắc son với quê hương; đất nước và Cách Mạng. Nguyễn Thi là cây bút có năng lực phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo. Ông có khả năng xâm nhập sâu vào đời sống nội tâm nhân vật, phân tích và diễn tả chính xác những quá trình tâm lí tinh tế của con người, đặt biệt là người nhân dân Nam Bộ. Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình viết năm 1966, là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Thi, cũng như của văn xuôi VN trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Thân bài: Ý nghĩa nhan đề của truyện Những đứa con trong gia đình Đối tượng miêu tả của nhà văn: là Việt và Chiến – những đứa con. Nhưng sợi dây gắn bó, kết nối các nhân vật này chính là gia đình, là truyền thống, là quê hương đất nước. Như vậy, mạch truyện được mở rộng, nhưng vẫn được qui tụ về Gia đình. Trong gia đình Việt và tình yêu nước, tình yêu Cách Mạng gắn bó với nhau như một lẽ tự nhiên, tất yếu cha mẹ Việt đến với nhau, nên vợ nên chồng cũng vì có chung một tấm lòng với Cách Mạng: Chồng bị giắc Pháp giết, mẹ Việt tiếp tục tham gia đấu tranh, đảm đang nuôi con nhưng mong sau này con lớn báo thù cho cha. Mẹ Việt bị đạn pháo giặc Mỹ giết hại, tội ác của kẻ thù lại chồng chất lên với gia đình này. Những đứa con của gia đình tình nguyện đi chiến đấu, chính là biểu hiện cụ thể của tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ. Hơn ở đâu hết, tình cảm của Việt gắn bó chặt chẽ với tình yêu nước, tình cảm Cách Mạng. Những hình ảnh, chi tiết nào trong truyện ngắn thể hiện rõ tình cảm gắn bó sâu nặng của Việt, Chiến với gia đình Mặc dù ba má đã mất lâu, nhưng dường như hình ảnh của Má luôn hiện lên rất sống động, cụ thể từng suy nghĩ, hành động của những đứa con. Khi tính toán thu xếp việc nhà, Việt và Chiến vẫn làm theo cách của Má trước đây, thậm chí Việt thấy chị Chiến nói năng, tính cách mọi chuyện y hệt như Má. Đêm trước ngày lên đường cả hai chị em cùng khiêng bàn thờ của Má sang gửi nhà chú Năm – hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc Việt và Chiến xung phong đi tòng quân cũng là để trả thù nhà, đền nợ nước. Có thể nói, truyền thống yêu nước của dân tộc ta được thể hiện cụ thể trong truyền thống của gia đình Việt ở cuốn sổ chú Năm giữ – cuốn gia phả của sự căm thù và đấu tranh, ghi rõ từng người và chiến công, cá nhân hòa trong gia đình, gia đình hòa trong đất nước. Mối thù chung của cả dân tộc được nhen lên từ mối thù riêng: “chú Năm thường quí chuyện gia đình của ta nó dài như dòng sông để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc và ghi vào đó, chú kể con sông nào ở nước ta cũng đẹp, lắm nước bạc, nhiều phù sa, vườn ruộng mát mẻ cũng sinh ra từ đó, lòng tốt của con người cũng sinh ra từ đó, trăm sông đổ về một biển, con sông của gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển rộng lắm, chị em Việt lớn lên rồi cũng biết, rộng bằng nước ta và ra ngoài cả nước ta”. Mối quan hệ gắn bó giữa cái riêng và cái chung, giữa gia đình với quê hương, đất nước. Qua hình ảnh “dòng sông của chú Năm còn nói đến sự tiếp nối truyền thống từ thế hệ này qua thế hệ khác, và mỗi con người đều phải có ý thức bổn phận để tô thêm cái truyền thống ấy. Truyện ngắn đã khắc họa cụ thể và dinh động hình tượng những con người thuộc nhiều thể hệ khác nhau trong một gia đình Cách Mạng. Họ gắn bó với nhau trong tình máu mủ ruột thịt, có những nét chung thống nhất nhưng mỗi người lại có một cá tính riêng không ai giống ai Nhân vật Chú Năm Đó là một người dân Nam Bộ tiêu biểu, là một người chất phác, nhưng có tâm hồn phong phú. Chú là người lưu trữ truyền thống của gia đình, dòng họ. Cuốn sổ gia phả của chú ghi rất rõ từng con người, từng sự việc và từng chiến công. Mặc dù là người ít học nhưng chú rất thích ghi chép, và trong lời ăn tiếng nói thường hay nói chữ (như: gọn bề gia thất, nặng bề non nước) Trong dòng sông truyền thống gia đình, chú Năm là khúc thượng nguồn, là nơi kết tinh đầy đủ hơn cả truyền thống gia đình, dòng họ. Chú hay kể sự tích gia đình cho đám con cháu và là tác giả của cuốn gia phả của gia đình, ghi chép cụ thể chi tiết tội ác của giặc và chiến công của các thành viên khác trong gia đình. Chú Năm là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân Nam Bộ chất phác nhưng giàu tình cảm. Tâm hồn chú Năm bay bổng dạt dào cảm xúc nhất là khi cất lên tiếng hò trên sông nước, những lúc đó chú Năm đặt cả trái tim mình vào trong câu hò tiếng hát. Nhân vật Má của Việt Là người phụ nữ đảm đang tháo vát, yêu chồng thương con và có một tình cảm gắn bó sâu sắc, thủy chung với Cách Mạng. Người Má cũng là hình ảnh tiêu biêu cho tính cách con người Nam Bộ: sống tình cảm nhưng đồng thời cũng rất hiên ngang, cứng cỏi, nhất là với quân thù. Có thể nói người Má cũng là người phụ nữ lưu giữ đầy đủ nhất và truyền cho những đứa con của mình những truyền thống tốt đẹp của gia đình mình, của dòng họ. Cùng với chú Năm, má Việt cũng là một hiện thân đầy đủ nhất của truyền thống, đây là hình tượng người phụ nữ mang đậm nét tính cách của Nguyễn Thi. Đó la người phụ nữ nông dân Nam Bộ rất gan góc, căm thù giặc sâu sắc, rất mực thương chồng, thương con, đảm đang tháo vát. Cuộc đời làm lụng vất vả, chồng chất những đau thương, tan tóc nhưng vẫn cắn răng nén chặt nỗi đau thương của mình để nuôi con đánh giặc. Nhà văn Nguyễn Thi đã khéo léo chọn những chi tiết điển hình, dồn nén biết bao ý nghĩa để khắc họa hình tượng người phụ nữ này: Một tay bồng con, một tay cắp rổ đi theo giặc đòi đầu chồng hiên ngang đối đáp với kẻ thù mà “hai bàn tay tỏ bản” vẫn giữ lên đầu đàn con, đang nép dưới chân. Mỗi lần bọn lính bắn dọa “ mắt Má lại sắc ánh lên nhìn lại bọn lính – đôi mắt của người đã từng vượt sông biển” – đó là hình ảnh của sự gan góc, chở che, mang ý nghĩa biểu tượng của người phụ nữ nông dân Nam Bộ lam lũ, vất vả, chồng chất đau thương nhưng rất đổi kiên cường, cao cả. Má Việt ngã xuống trong cuộc đấu tranh,trái cà nông lép má nhặt đem về vẫn còn nóng hổi. Như vậy, trong quan niệm của Nguyễn Thi, cái phần thực chỉ là thể phách còn linh hồn thì bất tử – sống mãi trong những đứa con. Không phải ngẫu nhiên mà cái đêm sắp xa nhà đi chiến đấu, những đứa con như cảm thấy linh hồn má vẫn phản phất đâu đây theo dõi chúng từng bước đi Nhân vật Chiến Lúc xung phong đi tòng quân đánh giặc, Chiến còn rất trẻ con (mới 19) nên vẫn tranh giành phần hơn với em (từ chuyện bắt ếch cho đến thành tích bắn tàu chiến Mỹ,…) Tuy nhiên là chị cả của những đứa em sớm mồ côi bố mẹ nên ở Chiến có sự từng trải, già dặn trước tuổi, biết quan tâm, lo lắng cho các em; Thu xếp mọi việc trong nhà trước lúc lên đường chu đáo,… Chiến cũng là người rất có ý thức về truyền thống gia đình (không phải ngẫu nhiên Việt nhận thấy chị thu xếp mọi việc trong nhà, nói năng y hệt má,…) Qua những dòng hồi tưởng của Việt, nhân vật Chiến hiện ra với cả một quá trình, từ lúc còn nhỏ cho tới khi trở thành một chiến sĩ trong hàng ngũ quân giải phóng. Đó là một cô gái có tính khí còn rât “trẻ con”, vẫn hay tranh giành với em từ chuyện giành phần bắt ếch nhiều hay ít cho đến giành nhau thành tích bắn tàu chiến Mỹ, giành nhau ghi tên tòng quân. Là con gái nên ở Chiến có tính kiên trì, gan góc riêng của người phụ nữ. Việt có thể dũng cảm trong chiến đấu nhưng không thể kiên trì ngồi đánh vần cuốn sổ của chú Năm như Chiến: “có lúc Việt bỏ về nhà ăn cơm nhưng chị Chiến cứ ngồi ở một góc vắng, lông mày cau lại, chiếc khăn hở ngang miệng, đánh vần hoài. Chị đọc tiếng đặng tiếng mất, chữ mẹ đẻ chữ con, từ trưa tới xế, từ xế tới chiều, bỏ ăn, quên cả trời chạng vạng”. Chiến là một cô gái đảm đang tháo quát, sớm biết lo biết nghĩ và lại cha mẹ cô mất cả, cô lại là chị lớn phải biết sớm làm chủ gia đình vì thế ở Chiến có gì đó tỏ ra khôn ngoan, già dặn trước tuổi. Không phải ngẫu nhiên mà đêm trước ngày nhập ngũ, Việt thấy Chiến thu xếp mọi việc trong nhà, nói năng rọt đâu ra đấy, giống in như mẹ: “Chà! Chị Chiến bửa nay nói in như Má vậy, cũng ở trong giường mà nói với ra, cũng nằm với thằng Út em ở trên cái giường đó”. Ngay cả chú Năm khi nghe Chiến trình bày ý kiến của mình cũng phải khen “Khôn, việc nhà nó thu xếp gọn gàng thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thất, đặng bề nước non”. Nhân vật Việt Là một chiến sĩ giải phóng quân trẻ tuổi, lập được nhiều chiến công nhưng ở Việt vẫn còn mang nhiều nét trẻ con của tuổi mới lớn ( hay tranh giành với chị; lúc bàn bạc, trao đổi chuyện nhà với chị vẫn chụp con đom đóm trên tay rồi ngủ khì lúc nào không biết; đi bộ đội vẫn mang theo cái ná thun bên mình; rồi đánh giặc, bị thương không sợ nhưng lại sợ ma; giấu anh em trong đội việc mình có chị gái vì sợ mất chị) Việt là một chiến sĩ dũng cảm, chiến đấu bị thương nằm lại một mình ở chiến trường vẫn không hề mảy may lo sợ, sẵn sàng chiến đấu đến cùng với giặc. Việt là một con người có tâm hồn phong phú, nhạy cảm, có tình cảm gắn bó với những người đã sinh ra mình, với quê hương, đất nước. Trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình, Việt là người xuất hiện nhiều nhất và được tái hiện xuyên suốt cả truyện ngắn. Toàn bộ câu chuyện được dẫn dắt, nhìn nhận thông qua điểm nhìn của nhân vật Việt và chính từ điểm nhìn ấy mà nhân vật Việt đã hiện lên cụ thể, sinh động trước mắt chúng ta. Vừa là cậu con trai mới lớn hồn nhiên, ngây thơ, vừa là một chiến sĩ quân giải phóng gan góc, dũng cảm, kiên cường. Ở Việt có nét riêng dễ mến của một cậu con trai vô tư, tính tình trẻ con ngây thơ, hiếu động. Nếu như Chiến luôn biết nhường nhịn em thì ngược lại, Việt lại hay tranh giành phần hơn với chị. Việt rất thích đi câu cá, bắn chim. Ngay cả khi đi bộ đội giải phóng vẫn đem theo cây ná thun trong túi;còn vô tâm,chưa biết nghĩ. Mọi việc trong nhà Việt đều phó mặc cho chị. Đêm trước ngày lên đường, trong khi Chiến lo toan, thu xếp công việc nhà: từ Út em, nhà cửa, ruộng nương cho đến bàn thờ Má, bàn bạc với em một cách trang nghiêm thì Việt vẫn vô tâm “lăn kềnh ra ván cười khì khì, vừa nghe vừa chụp một con đom đóm úp trong lòng bàn tay” rồi ngủ quên lúc nào không biết. Cách thương chị của Việt cũng rất trẻ con: “giấu chị như giấu của riêng” vì sợ mất chị. Đánh giặc không sợ chết nhưng lại sợ ma. Lúc gặp lại đồng đội thì vừa khóc vừa cười “ giống hệt như thằng Út em ở nhà, khóc đó rồi cười đó”. Ở nhân vật này còn những nét hồn nhiên, ngây thơ, vô tư của tuổi mới lớn (như tranh giành phần hơn với chị, đi bộ đội vẫn mang theo cái ná thun,…) Tuy nhiên,ở nhân vật này, người đọc cũng bắt gặp những phẩm chất tiêu biểu mang tính truyề thống của gia đình như: yêu đất nước, yêu quê hương, có lòng căm thù giặc sâu sắc; có tình cảm gắn bó với Cách Mạng với những người thân trong gia đình. Tuy vẫn còn có vẻ hồn nhiên, vô tư của tuổi mới lớn nhưng Việt cũng thật đường hoàng, chững chạc, trong tư thế của người chiến sĩ trẻ dũng cảm, kiên cường. Dòng máu nóng chảy trong người Việt là dòng máu truyền thống của những người gan góc, không bao giờ biết lùi bước trước những thế lực tàn bạo. Cho nên lúc còn bé mà Việt đã dám xông thẳng vào thằng địch đã giết hại cha mình. Trong chiến đấu, Việt tỏ ra rất nhanh nhẹn, dũng cảm, đã dùng thủ pháo diệt được một xe bọc thép của địch và đến khi bị thương nặng, một mình nằm lại giữa chiến trường, hai mắt không còn nhìn thấy gì, vừa đau đớn, vừa đói, vừa khát nhưng Việt vẫn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu: “ta sẽ chờ mày. Trên trời có mây, dưới đất có mây, cả khu rừng này có mình tao, mày có bắn tao thì tao cũng bắt được mày. Nghe súng nổ, các anh tao sẽ chạy đến đâm mày. Có thể nói, hành động giết giặc để trả thù nhà, đền nợ nước đã trở thành một trong những thước đo quan trọng nhất về phẩm chất con người của nhân vật Nguyễn Thi. Những điểm chung và riêng giữa Việt và Chiến: * Điểm chung: Cả Việt và Chiến đều còn rất trẻ (chị 19 tuổi, còn em mới 18). Chính vì vậy mà ở họ vẫn còn có nhiều nét hồn nhiên, ngây thơ, thậm chí còn “trẻ con”: vẫn hay tranh giành nhau từ chuyện bắt ếch đến chuyện thành tích bắn tàu chiến Mỹ, rồi xung phong đi tòng quân đánh giặc. Cả hai chị em Việt và Chiến đều gan góc, dũng cảm trong chiến đấu và đã lập nhiều chiến công. * Nét khác biệt giữa hai nhân vật này: Ở Việt, trước sau vẫn hết sức hồn nhiên, vô tư, ngay cả khi vào bộ đội vẫn không quên mang theo cái ná thun bên người, cách ứng xử cũng rất vô tâm “khóc đó rồi cười đó” Chiến mặc dù còn rất trẻ và ít nhiều vẫn có tính trẻ con nhưng là chị gái những đứa em sớm mồ côi bố mẹ nên Chiến phải đảm nhận vai trò người chị trong gia đình. Chính vì thế ở Chiến có những nét khôn ngoan, già dặn trước tuổi: biết nhường nhịn em, không muốn em phải gặp nguyn hiểm nên mũi tên hòn đạn; rồi trước khi lên đường thu xếp mọi chuyện trong nhà một cách ổn thỏa, chu đạo. Ở Chiến còn có sự kiên trì, gan góc mà ở Việt chúng ta không thấy. Chiến có thể ngồi đánh vần từng chữ, đọc cho bằng hết cuốn gia phả của chú Năm. Nhưng trong khi đó, Việt bỏ về nhà ăn cơm hoặc ngủ khì. * Ý nghĩa chi tiết hai chị em đưa bàn thờ má đi gửi bên nhà chú Năm trước lúc lên đường: Nó thể hiện tấm lòng hiếu thảo của những đứa con Qua chi tiết này, tác giả cũng thể hiện được mối thù đối với giặc Mỹ. Nó trở nên cụ thể, có sức nặng trên vai. Nó cũng tạo nên được một không khí trang trọng, thiêng liêng trước giờ phút lên đường.
Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình-Nguyễn Thi
2,919
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Bài làm Rừng xà nu chỉ là một truyện ngắn nhưng dung lượng hiện thực của nó thật lớn lao. Đó là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào Tây Nguyên với sự trường thành của một thế hệ cách mạng mới, trẻ trung, nhiệt tình, mưu trí và kiên trung. Mỗi nhà văn, dường như đều có một vùng quê sáng tác. Đối với Nguyên Ngọc, Tây Nguyên hùng vĩ núi non, Tây Nguyên bất khuất kiên cường và những người bộc trực kiên trung một lòng đi theo cách mạng chính là vùng đất mà ông gắn bó, trăn trở trong sáng tác của mình. Những năm kháng chiến chống Pháp, ông bám trụ ở Tây Nguyên để rồi viết nên tiểu thuyết "Đấtnước đứng lên". Những năm đánh Mỹ. Nguyên Ngọc lại trở về với vùng đất gian khổ này từ đầu những năm sáu mươi, ngay sau những ngày đồng khởi của cách mạng miền Nam. Cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân Tây Nguyên đã khơi lòng cảm hứng cho ông viết truyện ngắn Rừng xà nu – một truyện ngắn xuất sắc của văn học thời chống Mỹ. Phân tích truyện ngắn Rừng xa nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành Rừng xà nu chỉ là một truyện ngắn nhưng dung lượng hiện thực của nó thật lớn lao. Đó là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào Tây Nguyên với sự trường thành của một thế hệ cách mạng mới, trẻ trung, nhiệt tình, mưu trí và kiên trung. Tác phẩm mở đầu bằng hình ảnh rừng xà nu quanh làng Xô Man của người Strá. Một rừng xà nu bất chấp đạn bom, vượt lên sự hủy diệt tàn bạo của kẻ thù để tiếp nhận ánh nắng mặt trời duy trì sự sống của mình. Một rừng xà nu tràn trề sức sống cho dù đại bác của đồn giặc "đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy” dồn dập nã chết chóc đau thương vào nó. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương, có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình… ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn… Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi… năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đại bác không kết nối chúng, những vết thương của chúng chóng lành như một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã. Cứ thế ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”… Nguyên Ngọc miêu tả Rừng xà nu bằng một thứ ngôn ngữ rất giàu chất thơ chắt lọc và tinh tế ở một thứ ngôn ngữ vừa tả vừa gợi, mở ra những liên tưởng phong phú cho người đọc. Hình ảnh Rừng xà nu ở đây vừa là hình ảnh thực của một rừng cây " ham ánh mặt trời", vừa là hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng cho con người Tây Nguyên đau thương, bất khuất, kiên cường trong những ngày đồng khởi chống Mỹ, bút pháp đặc tả phối hợp với thủ pháp nhân cách hóa đã phát huy tối đa hiệu lực của nó. RÌ/IIỊỊ xù nu hiện lên như mội người bạn trung ihành che chở cho dần làng Xô Man, như những con người đẹp nhất của buôn làng. Và có ihể nói Rừng xà nu chính là hiểu iượng về sức sống bất diệt của con người Tây Nguyên, của COI1 người Viội Nam. Tái hiện chân thực cuộc chiến đâu kiên cường của nhân dân Tây Nguyên trong những ngày đánh Mỹ, nhà văn tập trung miêu tả hình thành của một thê hệ tiếp nối, phát huy truyền thống anh hùng của cha ông, và qua đó nhà văn cũng phản ánh sự trưởng thành của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc đấu tranh một mất một còn với kẻ thù mới là đế quốc Mỹ. Tiêu biểu cho thế hệ thanh niên đó là Tnú và Dít. Sự trưởng thành của họ gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân Strá làng Xô Man. Tnú mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được dân làng đùm học, nuôi dạy lớn khôn. Cậu bé Tnú đến với cách mạng ngay từ những ngày gian khổ, ác liệt nhất khi mà Mỹ Diệm đang ngày đêm khủng bố cách mạng ở khắp mọi nơi. Chính Tnú đã chứng kiến cảnh đau thương của dân làng. Bọn giặc "treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng… giết bà Nhan, chặt đầu cột tóc treo đầu súng", chỉ vì họ là những người dũng cảm, dám nuôi dấu cán bộ cách mạng. Ngày ngày Tnú vào rừng nuôi cán bộ, tiếp nhận tri thức và lẽ sống ở đời qua sự chỉ bảo của anh cán bộ Quyết. Dũng cảm, mưu trí, lanh lợi là phẩm chất nổi bật của Tnú. "Nó liên lạc cho anh Quyết từ xã lên huyện. Không bao giờ nó đi đường mòn. Giặc vây các ngả đường nó leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi, lọt tất cả vòng vây. Qua sông nó không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như một cá kình" bởi vì Tnú hiểu rằng “qua chỗ nước êm thằng Mỹ Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ. Một lần đi liên lạc, Tnú bị giặc phục kích, bắt được. Chúng dẫn em về làng, tra lấn đủ mọi cách, lưng Tnú ngang dọc những vết dao chém. Nhưng Tnú vẫn không khai báo, chỉ điềm tĩnh chỉ vào bụng mình để trả lời câu hỏi của kẻ thù: “Cộng sản ở đây này". Đó không phải là câu trả lời mà là một lời thách thức, dũng cảm! Với lời thách thức ấy, Tnú phải trả giá bằng ba năm tù. Thoát ngục Công Tum trở về, Tnú đã là một thanh niên, trưởng thành hơn về nhận thức. Anh hiểu rõ nhiệm vụ của mình khi tiếp nhận lời trăn trối của anh Quyết. Anh trở thành người lãnh đạo cuộc chiến đấu của làng Xô Man. Anh thực hiện ngay lời dặn của anh Quyết “chuẩn bị giáo, mác, vụ, rựa, tên, ná…'', chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho cuộc chiến đấu sắp lới. Và hạnh phúc cũng đến với anh trong những ngày đó. Mai, cô bạn gái cùng anh đi liên lạc trở thành người bạn đời của anh. Lại một thử thách nữa đến với Tnú: bọn giặc ở đồn Đắc Hà xuống làng Xô Man truy bắt anh, vợ con anh sa vào tay chúng. Không thể cầm lòng trưởc cảnh giặc tra tấn vợ con, Tnú đành phải ra đối đầu với bọn chúng. Và trong cuộc đối đầu này, phẩm chất kiên cường của anh càng sáng hơn bao giờ hết. Giặc bắt Tnú, chúng đốt mười ngón tay anh. “Mười ngón tay anh đã thành mười ngọn đuốc” răng cắn nát môi, không một tiếng kêu van, Tnú trừng trừng ném căm giận vào chúng, tiếng hét của Tnú như một lời hiệu triệu dân làng cầm vũ khí đứng lên, cả làng Xô Man đứng dậy. “Tiếng giết", tiếng chân người đạp nhà ưng ào ào, tiếng bọn lính kêu thất thanh… Sự vùng dậy của dân làng đã cứu thoát Tnú để rồi sau đó anh vào giải phóng quân đi giải phóng cho nhân dân, giải phóng đất nước với một nhận thức sâu sắc hơn. Điều này có thể thấy rõ qua lời tâm sự của Tnú với dân làng sau "ba năm đi lực lượng", anh kể rằng anh giết được thằng Dục – tên chỉ huy đồn giặc ở Đắc Hà, kẻ đã giết vợ con anh, kẻ đi gieo đau thương cho làng Xô Man và theo anh thằng giặc nào “cũng là thằng Dục cả". Rõ ràng, với anh chiến sĩ giải phóng quân Tnú, mối thù chung của Tây Nguyên, của đất nước cũng là mối thù của gia đình, của quê hương anh; giết được giặc ở bất cứ nơi nào trên đất nước cũng là giết được thằng Dục, kẻ thù của gia đình anh, của quê hương anh. Đó là một nhận thức sâu sắc – nhận thức mà Tnú rút ra được từ nỗi đau của bản thân, của buôn làng, của đất nước và của cuộc chiến đấu của quê hương. Cùng thế hệ của Tnú còn có Dít, cô bí thư chi bộ xã kiêm chính trị viên đội làng Xô Man. Ba năm trước, ngày Tnú ra đi, Dít “còn là một cô bé không có áo mặc, đêm lạnh không ngủ…”. Vậy mà, khi Tnú trở về, cô bé ấy đã đảm trách những công việc trọng yếu nhất của làng Xô Man. Sự trưởng thành kỳ lạ của Dít không phải là ngẫu nhiên mà là một quá trình tự rèn luyện vượt qua nhiều thử thách. Lúc còn nhỏ, Dít là một đứa bé lanh lợi, rất gan dạ. Lần ấy, Dít bị giặc bắt “Chúng để con bé giữa sân, lên đạn tôm xong rồi từ từ bắn từng viên một, không bắn trúng, đạn chỉ sướt qua tai, sém tóc, cày đất dưới hai chân nhỏ của Dít. Váy nó rách tượt từng mảnh. Nó khóc thét lên nhưng rồi đến viên thứ mười nó chùi nước mắt, từ đó im bặt. Nó đứng lặng giữa bọn lính, cứ mỗi viên đạn nổ, cái thân hình mãnh dẻ của nó lại quật lên một cái nhưng đôi mắt của nó vẫn nhìn bóng giặc bình thản lạ lùng…”. Không chỉ gan góc, Dít còn là một cô bé cương nghị. Chứng kiến cái chết đau thương của chị Mai, Dít “lầm lì không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi người cả cụ già, đều khóc". Cứ thế Dít lớn lên cùng với cuộc đấu tranh của làng Xô Man. Trở thành người lãnh đạo cuộc chiến đấu của buôn làng. Dít cũng tỏ ra là người có bản lĩnh, có sức thu phục quần chúng. Gặp lại Tnú, Dít không khỏi xúc động, nhìn anh rất lâu “đôi mắt mở to bình thản trong suốt". Ấy vậy, chị không quên trách nhiệm của mình khi hỏi “đồng chí về có giấy không”, khi tuyên bố dứt khoát “không có giấy về thì không được, ủy ban phải bắt thôi" và sau khi xem kĩ giấy của Tnú chị lại buồn tiếc “sao anh về có một đêm thôi". Con người Dít là như vậy đó, gan góc, cương nghị, không kém phần tha thiết yêu thương, đành rằng bề ngoài tưởng như chỉ có lạnh lùng bình thản. Tnú và Dít tiêu biểu cho thế hệ thanh niên làng Xô Man, từ lòng căm thù họ đến với cuộc chiến đấu của dân tộc, và chính trong cuộc chiến đấu đó, họ trưởng thành. Sự trưởng thành của họ có cội nguồn của nó một mặt là do tự họ vượt mình qua những thử thách lớn lao, mặt khác là do có sự dìu dắt của cách mạng, của cha ông. Đặc biệt sự trưởng thành của Tnú và Dít được Nguyên Ngọc miêu tả trong mối quan hệ với truyền thống anh hùng của người Strá. Cụ Mết chính là đại diện cho thế hệ cách mạng đi trước của làng Xô Man. Cụ là pho sử sống, là chỗ dựa tinh thần của buôn làng. Tuy già nhưng cụ “vẫn quắc thước như xưa… ngực cũng như một tấm xà nu lớn… Tiếng nói vẫn ồ ồ vang trong lồng ngực" vẫn sáng suốt ngày đêm lãnh đạo cuộc chiến đấu của buôn làng. Có lẽ cuộc đời cụ đã nếm trải qua nhiều đau khổ, đã thu lượm được nhiều kinh nghiệm quý báu, cho nên cụ luôn luôn nhắc nhở cháu con nhớ tới quá khứ đau thương bất khuất của quê hương. Chứng kiến cái chết thảm thương của Mai và sự bất lực của Tnú trước sự dã man tàn bạo của bọn thằng Dục, cụ Mết càng thấu hiểu: đối với kẻ thù “chỉ có hai bàn tay trắng, chỉ với hai bàn tay không” thì không thể nào đối đầu với chúng được, phải cầm vũ khí đứng lên! Bài học này, cụ muốn truyền lại cho thế hệ mai sau “nghe rõ chưa, các con, rõ chưa, nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tao chết rồi, bây còn sống phải nói lại cho con cháu. Chúng nó đã cầm súng, mình phủi cầm giáo!”. Lời cụ rành rẽ vang lên trong ánh lửa bập bùng ở nhà ưng. Xậy dựng nhân vật cụ Mết như một nhân vật huyền thoại, kết tinh nhiều phẩm chất tốt đẹp của con người Tây Nguyên, phải chăng Nguyên Ngọc muốn khẳng định vai trò của thế hệ đi trước đối với thế hệ trẻ. Cụ Mết vừa là người nối kết thế hệ với truyền thống, với lịch sử quê hương, vừa là người dẫn dắt thế hệ thanh niên trong cuộc chiến đấu hiện tại. Chính vì có một thế hệ cha ông như cụ Mết mà thế hệ của Tnú, của Dít… có sự trưởng thành lớn lao. Và không chỉ có lớp người nhưTnú, lớp sau Tnú như bé Heng cũng lớn lên, lớn lên cùng với cuộc chiến đấu ác liệt của làng Xô Man. Với nhân vật bé Heng, Nguyên Ngọc chỉ phác họa bằng vài ba đường nét miêu tả ngoại hình nhưng cũng đủ tạo ra ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Tuổi của bé Heng, lẽ ra là tuổi đến trường với những trang sách, với những trò chơi vui nhộn nhưng đất nước còn giặc, bé cũng còn nhỏ, bé Heng đã có dáng vẻ của “một người lính thật sự. Nó đội chiếc mũ sụp xin được của anh giải phóng quân nào đó, mặc một chiếc áo be ba dùi phết đít, vẫn đóng khố, súng đeo chéo ngang lưng…”. Hơn thế, Heng thuộc từng lớp hầm bẫy, hố chông, trở thành người liên lạc như Tnú năm xưa. Thật là tự hào và tin tưởng với một lớp người như bé Heng! Lớp người ấy đang lớn lên, trưởng thành, xứng đáng với thế hệ cha anh. Đọc Rừng xù nu ta có cảm tưởng như được xem một bộ phim truyện về số phận một con người với biết bao sự kiện. Truyện bắt đầu từ hiện tại từ cái thời điểm anh chiến sĩ giải phóng quân Tnú đặt chân lên mảnh đất quê hương sau “ba năm đi lực lượng" rồi ngược dòng thời gian trở về quá khứ. Quá khứ cứ hiện dần lên trong sự hồi tưởng của Tnú. trong lời kể của tác giả, trong lời kể của cụ Mết. Những mảnh đời quá khứ, những mảnh đời hiện tại, cứ đan nhau, soi tỏ cho nhau để cắt nghĩa sự trưởng thành của thê hệ Tnú, sự trưởng thành của làng Xô Man trong cuộc chiến đấu với kè thù, để làm nổi rõ chủ đề của truyện. Từ nỗi đau riêng và nỗi đau chung. Tnú và làng Xô Man phải cầm vũ khí để tự cứu mình, để giải phóng dân tộc và cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc đã sản sinh ra một thế hệ trẻ kế tục xứng đáng cha ông. Chính cái tư tưởng này đã chi phối kết cấu của Rừng xà nu. Hệ thống sự kiện trong truyện, chủ yếu được tổ chức theo sự phát triển tâm lý tính cách nhân vật trung tâm, chứ không theo trât tự thời gian thông thường. Tổ chức sự kiện theo cách đó, nhà văn có điều kiện tập trung miêu tả những tình huống gay cấn làm nổi bật tính cách nhân vật, và mặt khác cũng phù hợp với ý nghĩa chính luận của tác phẩm. Hai lần đối đầu trực tiếp với kẻ thù là hai lần Tnú thể hiện rõ phẩm chất kiên cường của anh, tất nhiên phẩm chất này thể hiện ở mỗi lần có khác nhau và có sự phát triển. Sa vào tay giặc khi còn là một cậu bé, Tnú đã chứng tỏ đức tính quả cảm kiên trung của mình. Còn lần đối đầu với ke thù, Tnú rực sáng kiên cường bất khuất trước bóng đen tàn bạo của kè thù. Khắc họa tính cách nhân vật, Nguyên Ngọc có sở trường trong việc lựa chọn những chi tiết tiêu biểu có ý nghĩa khái quát cao, những chi tiết giàu chất tạo hình, giàu chất thơ. Trong nhận thức của người đọc, sừng sững hình ảnh cụ Mết với những nét khắc chạm rất tài tình của tác giả: Một cụ Mết quắc thước, râu dài, mắt sáng, ngực căng như một cây xà nu lớn. Và cũng xúc động lòng người một cụ Mết ân tình với cháu con lúc trở tay chùi hai giọt nước mắt lớn khi lặng nhìn tấm lưng rộng của Tnú còn ngang dọc những vết thương đã thành sẹo tím. Như vậy nhân vật anh hùng trong Rừng xà nu không chỉ rung cảm người đọc bởi sự vượt lên hoàn cảnh khốc liệt của họ mà còn ở những xúc động, những tình cảm thầm kín ở nơi họ. Trên những trang viết của mình, Nguyên Ngọc thường trải những cảm xúc trữ tình của ông về con người, đất nước quê hương. Giọng văn của Rừng xà nu đằm chìm chất trữ tình, khi trầm hùng theo ánh lửa chập chờn ở nhà ưng trong lời kể trang nghiêm xúc động về quá khứ đau thương của cụ Mết, khi tha thiết luôn chảy theo dòng hồi tưởng về người thân, theo dòng suy tưởng về quê hương của Tnú… Lời văn của Rừng xà nu giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, nhiều đoạn văn trau chuốt, mượt óng như ngôn ngữ của một bài thơ (Ví dụ: Đoạn mở đầu tác phẩm). Rừng xà nu là truyện của một con người nhưng qua đó ta thấy số phận của một dân tộc. Từ câu truyện của Tnú và làng Xô Man, tác giả nói tới sự trưởng thành của cách mạng miền Nam trong những ngày trước và sau đồng khởi. Đọc Rừng xà nu hôm nay, vẫn thấy âm vang cái hào hùng của một thời chống Mỹ, một thời có những con người đẹp như cụ Mết, như Tnú, như Dít, như Mai.
Phân tích truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
3,233
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Rừng xà nu Bài làm Truyện “Rừng xà nu” viết về những anh hùng ở làng Xô Man trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Là tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Cảm hứng của nhà văn về nhân vật anh hùng gắn liền với cảm hứng về đất nước hùng vĩ mà cụ thể là hình tượng cây xà nu của Tây Nguyên. Nhà văn đã chọn một loại cây họ thông, gỗ và nhựa đều rất quý, có sức sống mãnh liệt và dẻo dai rất gần gũi với đời sống người dân Tây Nguyên để tượng trưng cho phẩm chất và sức mạnh tinh thần bất khuất của dân làng Xô Man và các dân tộc Tây Nguyên. Phân tích truyện ngắn Rừng xà nu Truyện được mở đầu và kết thúc bằng hình ảnh rừng xà nu. Suốt trong quá trình kể chuyện, hình ảnh rừng xà nu được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc, gần 20 lần nhà văn nói đến rừng xà nu, cây xà nu, nhựa xà nu, ngọn xà nu, đồi xà nu, khói xà nu, lửa xà nu, dầu xà nu. Hình tượng cây xà nu mang ý nghĩa tượng trưng, nó nói lên sức sống bền vững, quật khởi của dân làng Xô Man, của Tây Nguyên bất khuất. Chất sử thi của thiên truyện sẽ không trở thành giọng điệu chính của tác phẩm nếu thiếu đi hình tượng cây xà nu được khai thác từ nhiều góc độ, được lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy, nhất là các hình ảnh “đồi xà nu” (4 lần), “rừng xà nu” (5 lần), với “hàng vạn cây” “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”. “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc… Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa úa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn”. Hình ảnh cây xà nu mở đầu truyện đã cho thấy cuộc đấu tranh quyết liệt của dân làng. Bằng nghệ thuật nhân hoá, tác giả nói lên được nỗi đau thương mất mát của dân làng Xô Man và tố cáo tội ác của kẻ thù. Mỗi cây xà nu ngã xuống, ta thấy thương tâm như một người dân làng Xô Man ngã xuống. Nhưng hình tượng cây xà nu cũng tượng trưng cho sức sống dẻo dai,mãnh liệt của dân làng Xô Man, của con người Tây Nguyên. “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế.” “Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”. Rừng xà nu mang ý nghĩa biểu tượng cho con người. “Đặt trong hệ thống chủ đề, trong mạch truyện, những cây xà nu này mang tính biểu tượng cho những Mai, Dít, Tnú, Heng, thế hệ trẻ của làng Xô Man bất khuất, gắn bó với cách mạng”. Chỉ đơn giản một chi tiết này, thấy cây xà nu giống người biết mấy! “Nhưng cũng có những cây vượt lên đựơc đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng”. Hình ảnh đó giống Tnú biết bao, Tnú bị bọn giặc chém nhiều nhát sau lưng, trên tấm lưng chưa rộng bằng bề ngang cái xà lét mẹ để lại đó ứa một vệt máu đậm, từ sáng đến chiều thì đặc quện, tím thẫm như “nhựa xà nu”. Nhưng sau khi ở tù vượt ngục trở về, những vết thương đã lành lặn, Tnú khoẻ mạnh, cường tráng, rồi trở thành một chiến sĩ kiên cường. Cái chết của những cây xà nu giống cái chết của mẹ con Mai biết bao. “Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng; vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết”. Và đây, Dít giống một cây xà nu non lao thẳng lên trời bất khuất. Dít nhỏ như lanh lẹ, cứ sẩm tối lại bò theo máng nước đem gạo ra từng cho cụ Mết và thanh niên. Chúng bắt đựơc con bé. Chúng để con bé đứng ở giữa sân, lên đạn tôm-xông rồi từ từ bắn từng viên một. Không bắn trúng, đạn chỉ sượt qua tai, sém tóc, váy nó rách tượt từng mảng. Nó khóc thét lên, nhưng rồi đến viên thứ mười, nó chùi nước mắt, từ đó nó im bặt. Nó đứng lặng giữa bọn lính, cứ mỗi viên đạn nổ, cái thân hình mảnh dẻ của nó lại quật lên một cái nhưng đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng. Hình ảnh những cây xà nu vững chắc, không chịu ngã trước giông bão, bom đạn của kẻ thù “ưỡn tấm ngực lớn của mình che chở cho làng” gợi cho ta nghĩ đến hình ảnh cụ Mết, con người tiêu biểu cho sức sống quật khởi của làng Xô Man, người nuôi giữ ngọn lửa khát vọng tự do, gắn bó với Đảng. Chính cụ Mết cũng đã nói với Tnú: “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta…” Cụ còn nói với dân làng: “Nghe rõ chưa các con, rõ chưa Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại với con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”. Và khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ, nguyên nhân trực tiếp chính là do ngọn lửa xà nu cháy trên mười đầu ngón tay Tnú. Cả làng Xô Man bị kích động, những ngọn đuốc xà nu bùng cháy khắp rừng “Đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn. Suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng…” Viết về Tây Nguyên, Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành) muốn gắn chặt đất nước với con người. Viết về anh hùng Đinh Núp, tác giả gọi tên tiểu thuyết của mình là “Đất nước đứng lên”. Viết về cuộc khởi nghĩa của dân làng Xô Man trong cuộc kháng chiến chống Mĩ lại lấy tên là “Rừng xà nu”… Hình tượng cây xà nu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Trung Thành. Với bút pháp tượng trưng, tư tưởng chủ đề của truyện “Rừng xà nu” thêm sâu sắc. Chính nhờ hình tượng cây xà nu mà những nhân vật anh hùng thêm bất tử.
Phân tích truyện ngắn Rừng xà nu
1,223
Phân Tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn -Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân Tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn -Văn lớp 12 Bài làm Tác giả Lỗ Tấn là một nhà văn nổi tiếng của nền văn học Trung Quốc. Ông là một trong những nhà văn có nhiều tác phẩm kinh điển để đời. Những tác phẩm của ông đều gắn liền với những số phận người dân Trung Quốc thời kỳ mê muội, lạc hậu hủ tục phong kiến. Trong truyện ngắn “Cố hương” cuối truyện tác giả đã mơ ước về một con đường tương lai dành cho những người dân quê hương ông. Trong truyện ngắn “Thuốc” tất cả dường như con mê muội lạc hậu hơn rất nhiều, khi những người dân lam lũ bần hàn đó chỉ tin tưởng vào một loại thần dược gớm ghiếc ‘chiếc bánh bao tẩm máu tử tù” thì sẽ chữa được bách bệnh. Tác phẩm thuốc của nhà văn Lỗ Tấn được việt năm 1919 khi mà Trung Hoa vẫn còn nặng tinh thần phong kiến, người dân mê muội thường tin vào những điều không có thật. Sự nghèo nàn lạc hậu đã làm cho những người dân trở nên nhẫn tâm, độc ác với sinh mạng của người khác. Truyện ngắn kể về gia đình Thuyên, một chàng thanh niên mắc bệnh ho lao, hen suyễn mãn tính lâu ngày không khỏi làm cho sức khỏe của Thuyên ngày càng giảm sút. Cha mẹ anh rất lo lắng, bởi anh là con trai duy nhất của họ là người nối dõi cho dòng họ. Bên cạnh, Thuyên là nhân vật Du một thanh niên trí thức có tinh thần tiên tiến, muốn làm cách mạng để giải phóng con người. Nhưng trong con đường hoạt động của mình Du lại mắc phải một sai lầm nghiêm trọng là không gần gũi với nhân dân, xa rời thực tế. Lão Hoa một ông lão thương con muốn cứu sống người con trai duy nhất của mình bằng mọi giá nên ông đã âm mưu tìm bằng được máu của một người tử tù để cứu mạng cậu con trai. Và cuối cùng để có được phương thuốc thần dược anh lão Hoa đã đánh đổi tính mạng của một thanh niên khác. Một thanh niên trí thức yêu nước chống lại phát xít Nhật để bảo vệ độc lập cho nhân dân. Ông đã tìm cách tố cáo với chính quyền vềHạ Du để Hạ Du bị bắt và ngày Du bị xử tử ông Hoa đã tìm mọi cách để lấy được những giọt máu tươi từ người thanh niên, để cứu sống con trai mình. Sự u mê tăm tối, suy nghĩ lạc hậu, mê tín dị đoan của một người nông dân đã là chết đi một thanh niên ưu tú, giết đi một mạng người oan uổng. Vợ chồng nhà lão Hoa và mọi người trong quán trà của lão cố chấp cho rằng chỉ cần chiếc bánh bao tẩm máu tử tù thì căn bệnh hiểm nghèo của con trai lão là Thuyên sẽ được khỏi hẳn hoàn toàn. Chính vì tin tưởng vào phương thuốc thần kỳ đấy mà lão Hoa đã bỏ nhiều công sức để có được chiếc bánh bao tẩm máu người đó mang về Hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đỏ tươi được tác giả Lỗ Tấn miêu tả chi tiết khiến người đọc không khỏi rùng mình, ghê rợn vì sự man rợ, khiến con người ta phải rùng mình kinh hãi. Sự man rợ đó đã khiến một người thanh niên trẻ ưu tú phải chết nhưng những con người mê muội kia không hề cảm thấy ân hận mà họ còn vui vẻ, vì họ nghĩ con trai mình sắp khỏi bệnh, sắp thoát khỏi cảnh ốm yếu lâu ngày. Sự u mê, lạc hậu của những con người nơi đây đã làm cho Thuyên chết sớm hơn. Lỗ Tấn đã vô cùng tinh tế, sâu sắc khi viết lên một câu chuyện cảm động lấy được nước mắt của người đọc để nói lên sự lạc hậu, mê tín dị đoan. Tác giả Lỗ Tấn đã lên án cả đường lối chính của các nhà hoạt động yêu nước xưa kia, khi họ không biết cách lấy lòng dân chúng mà chỉ hoạt động riêng lẻ, không có tư tưởng gần gũi người nông dân lao động để tạo nên sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân. Chính tinh thần đó đã làm cho người dân không tin tưởng họ, cho rằng những việc họ làm là sai trái, đáng bị chịu tội. Bởi chính những người dân kia đâu hề biết rằng những điều mà Hạ Du làm đều vì nhân dân, đất nước, thậm chí tới người thân ruột thịt nhất của Hạ Du là mẹ anh cũng không biết anh làm gì tới mức bị xử tử, chỉ biết rằng anh bị chính quyền bắt rồi xử tử. Bởi Hạ Du không biết cách lấy lòng quần chúng nhân dân, không biết lôi kéo nhân dân đứng về phía mình, anh chỉ hoạt động một mình đơn lẻ xa rời quần chúng nhân dân, nên cái giá anh phải trả quá đáng tiếc. Chính sự đồng cảm của hai bà mẹ sẽ tạo cho người đọc một niềm tin mới rằng những con người tăm tối đó sẽ ngày càng hiểu nhau hơn, thống nhất để tìm ra phương hướng cho cuộc đời mình xóa tan mọi u mê, tăm tối những hủ tục lạc hậu đè nặng những con người lao động khổ sở này. Truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn không chỉ là liều thuốc chữa bệnh thể xác mà nó còn thể hiện một liều thuốc về mặt tâm hồn. Nó chính là căn bệnh trầm kha của người dân lao động Trung Quốc thời phong kiến đó chính là những hủ tục lạc hậu, u mê trong suy nghĩ của người dân lao động. Qua tác phẩm ta thấy được xã hội Trung Quốc thời xưa vô cùng tăm tối u mê không lối thoát.
Phân Tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn -Văn lớp 12
1,016
Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ tấn Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ tấn Lỗ Tấn (1881-1936), ông là một người có tài có đức, chứng kiến nhiều người mắc bệnh mà không qua khỏi nên ông quyết định học ngành y, học về thuốc để chữa trị cho những người không may đó. Khi ông đang học y bên Nhật thì xem được phim người Trung Quốc đua nhau đi xem người Nhật chém đầu một người Trung Quốc chống Nhật. Theo ông thì chữa bệnh tinh thần còn quan trọng hơn chữa bệnh thể xác ông quyết định chuyển sang làm văn học để cảnh tỉnh người dân nước mình. Tác phẩm “Thuốc là một tác phẩm, một liều thuốc để ông chữa bệnh tinh thần cho người dân Trung Quốc Thuốc được Lỗ Tấn viết vào năm 1919- thời điểm cuộc vận động Ngũ Tứ là phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ của học sinh sinh viên Kinh Bắc bùng nổ mạnh mẽ. Nó để lại nhiều ý nghĩa, nhiều điều khiến con người Trung Quốc thời bấy giờ phải suy nghĩ Trong tác phẩm này, thuốc không phải được làm từ một thứ thỏa dược thông thường mà nó là một chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa Thuyên đã cất công đi từ sáng sớm để mua cho con trai mình ăn để chữa bệnh lao. Hình ảnh ấy thật để lại nhiều ám ảnh độc giả và có lẽ cả người dân trung quốc lúc bấy giờ. Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người tử tù nó hiện thân cho mê tín dị đoan và lạc hậu. Và bản thân chúng ta còn thấy sự hoang đường khi cho bánh bao tẩm máu người lại là vị thuốc chữa bệnh mà đặc biệt ở đây chiếc bánh bao tẩm máu tử tù chứ không phải tẩm máu ai khác. Tử tù đó chính là những người anh hùng chống lại Nhật để bảo vệ đất nước Trung Quốc. Nhưng không ai khác bố Lỗ Tấn là nạn nhân.Chính phương thuốc ấy đã lấy mất tính mạng của bố Lỗ Tấn. Trong tác phẩm thì chiếc bánh bao tẩm máu tử tù không những không giúp Hoa Thuyên mà con trai lão còn chết. Thuốc bánh bao tẩm máu người còn là phương thuốc cho chính tinh thần của người dân cũng như người làm cách mạng Trung Quốc. Mà bánh bao tẩm máu kia lại chính của người làm cách mạng là Hạ Du. Bởi vì người nông dân thì u mê lạc hậu tin vào thứ thuốc chết người đó, còn người cộng sản lại đi quá xa nhân dân không gán bó với nhân dân thì sẽ đổ máu.Điều ddó cho thấy phải biết gắn kết với nhân dân thì mới mong thành công được. Mở đầu câu chuyện khi người con trai lên những cơn ho lao, lão hoa vội vàng đến sớm để mua cho kì được thứ thuốc cứu sống mạng con trai mình. Nó sẽ làm cho con trai ông trở nên khỏe mạnh như thường thậm chí là khỏe mạnh hơn. trong lời miêu tả của Lỗ Tấn để miêu tả tâm trạng hứng khởi khi sắp tìm ra vị thuốc thần tiên ấy lão vui hẳn lên, không chỉ có mình lão trông chờ thứ thuốc tiên dược đó mà cả rất nhiều người nữa nên họ chen chúc nhau suýt nữa thì lão hoa thuyên ngã.Nhưng thật may mắn khi lão mua được thuốc về cho con. Đó chiếc bánh bao tắm máu của tử tù Hạ Dư. Ông mang về tới nhà thì máu vẫn nhỏ từng giọt, một hình ảnh kinh hoàng.. bà hoa nhanh chóng đi nướng chiếc bánh bao và cho Hoa Thuyên ăn, người trong quán trà thì khen thơm họ bàn nhau về người tử tù. Ai cũng nghĩ rằng vị thuốc ấy sẽ cứu sống được mạng của Hoa Thuyên nhưng đâu có, anh ta vẫn cứ chết, để cho kẻ đầu bạc phải tiễn người đầu xanh. Hoa Thuyên ăn bánh bao chết, Hạ Du làm cách mạng cũng chết một kết quả bi thảm. Một trong những chi tiết mang ý nghĩa của truyện đó là đoạn kết truyện. Đó là đoạn khi hai bà mẹ đến thăm mộ con, nghĩa trang được chia làm hai bên bên trái là mộ của những người tử tù, bên phải là mộ của những người dân nghèo. Bà Hoa đến thăm con trước sau đó một người đàn bà khác ngập ngừng bước về phía bên trái nghĩa trang. Đó chính là mẹ của Hạ Du. Tuy hai bên có sự ngăn cách phân biệt nhưng sau đó thì bằng chính tấm lòng cảm thông hai bà mẹ bước đến bên nhau an ủi nhau thôi đừng đau xót làm gì. Chi tiết đó được tác giả gửi gắm rất nhiều ý đồ nghệ thuật, gợi ra ý nghĩa sâu sa của nó. Họ đã bước qua bức tường rào định kiến mà từ lâu người ta cố công xây dựng nên chứ không phải là cố công để xóa bỏ nó.Khi ra về hai bà ngạc nhiên trước vòng hoa đặt cạnh mộ của Hạ Du, vòng hoa đẹp đẽ với hoa hồng hoa xanh, phải chăng đó chính là sự ngợi ca lí tưởng cách mạng của tác giả đối với Hạ Du mặc dù không thành công nhưng anh đã có chí và giác ngộ. Mặc dù không biết vòng hoa ấy không biết ai đặt đó, không biết ai mang đến và ở đâu ra nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng nhà văn đã dành nó cho Hạ Du để ca ngợi vẻ đẹp của chiến sĩ yêu nước. Đã có người đồng cảm với hành động của Hạ Dụ Nguồn: Bài văn hay
Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ tấn
983
Đề bài: Em hãy viết bài văn phân tích truyện ngắn Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng. Bài làm Nguyên Hồng sinh năm 1918, mất năm 1982, quê gốc ở thành phố Nam Định. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ông sống chủ yếu ở Hải Phòng, trong một xóm lao động nhỏ nên được tận mắt chứng kiến những cảnh đời cơ cực. Nguyên Hồng là nhà văn của lớp người “dưới đáy” xã hội. Viết về thế giới nhân vật ấy, ông thường bày tỏ niềm yêu thương sâu sắc và thái độ trân trọng những nét đáng quý trong phẩm chất của họ. Văn xuôi Nguyên Hồng giàu chất trữ tình. Đó là tiếng nói chân thành của một trái tim nhạy cảm trước nỗi đau và niềm hạnh phúc bình dị của con người. Những ngày thơ ấu là tập hổi kí viết về tuổi thơ bất hạnh của chính nhà văn. Tác phẩm gồm 9 chương, lần lượt đăng trên báo từ năm 1938 và được in thành sách năm 1940. Trong lòng mẹ là chương 4. Bằng lời văn chân thực và giàu cảm xúc, tác giả đã kể lại nỗi cay đắng tủi cực về tình yêu thương cháy bỏng đối với mẹ của đứa con sớm mồ côi cha. Thông qua cảnh ngộ éo le và tâm sự đau khổ của chú bé Hồng, tác giả còn cho ta thấy bộ mặt vô cảm lạnh lùng của loại người nhỏ nhen, đố kị đến mức độc ác trong xã hội phong kiến tư sản chỉ trọng đồng tiền. Những thành kiến cổ hủ của đám thị dân tiểu tư sản… đã cố tình cắt đứt tình mẫu tử thiêng liêng. Đoạn trích này có thể chia làm hai phần, Phần 1 là cuộc đối thoại giữa bà cô cay độc và chú bé Hồng. Ý nghĩ, cảm xúc của chú bé về người mẹ đáng thương. Phần 2 là cuộc gặp gỡ bất ngờ với mẹ và cảm giác vui sướng cực điểm của chú bé Hồng khi được ngồi trong lòng mẹ. Chú bé Hồng là kết quả của một cuộc hôn nhân gượng ép, không có tình yêu. Người cha lớn tuổi và ốm yếu quanh năm lặng lẽ u uất bên bàn đèn thuốc phiện. Người mẹ trẻ trung, xinh đẹp luôn khao khát yêu thương song đành phải chôn vùi tuổi xuân bên ông chồng nghiện ngập. Gia đình bé Hồng lúc đầu sung túc, đầy đủ về vật chất nhưng lạnh lẽo, thiếu vắng tiếng nói, tiếng cười. Rồi người cha chết vì bệnh. Người mẹ không chịu nổi sự o ép khắc nghiệt của nhà chồng nên đành bỏ lại con thơ, dứt áo ra đi. Để Hồng phải sống với bà cô nghiệt ngã, thâm hiểm. Như mọi đứa trẻ khác, bé yêu mẹ, thèm được ở bên mẹ nhưng cố giấu kín điều đó trong lòng, chỉ thỉnh thoảng mới hé lộ ra. Vì thế, lòng thương yêu mẹ của bé Hồng lại càng da diết. Mở đầu đoạn trích, qua giọng kể mộc mạc, tự nhiên, tác giả giúp người đọc hình dung ra cảnh ngộ thương tâm của bé Hồng: Tôi đã bỏ cái khăn tang bằng vải màn ở trên đầu đi rồi. Không phải đoạn tang thầy tồi mà vì tồi mới mua được cái mũ trắng và quấn băng đen. Tiếp theo, nhà văn kể về thời gian xảy ra câu chuyện và hoàn cảnh sống của người mẹ tội nghiệp: Gần đến ngày giỗ đầu thầy tôi, mẹ tồi ở Thanh Hóa vẫn chưa về. Trong đó nghe đâu mẹ tôi đi bán bóng đèn và những phiên chợ chỉnh còn bán cả vàng hương nữa. Tôi nói “nghe đâu” vì tôi thấy người ta bắn tin rằng mẹ và em tôi xoay ra sống bằng cách đó. Câu chuyện đã được khơi nguồn. Nhân vật bà cô xuất hiện và tâm địa độc ác của bà ta càng về sau càng lộ rõ. Bà ta cố tình nói cho bé Hồng biết cảnh ngộ thảm thương của mẹ cậu để rồi cười cợt, nhạo báng, thoả mãn trên nỗi đau của người khác: – Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không? Nụ cười giả tạo của bà cô chứa đựng ác ý rõ ràng. Nó như một mũi dao nhọn cố tình xoáy vào trái tim non nớt đang rớm máu của đứa cháu vừa mới mồ côi cha, lại phải chịu cảnh xa lìa mẹ. Lẽ ra, bé Hồng sẽ trả lời rằng muốn vì bé đang thiếu thốn tình mẫu tử, nhưng vốn nhạy cảm, bé lập tức nhận ra những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của người cô. Vì thế, bé cúi đầu không đáp. Không thể để tình thương yêu và lòng kính mến mẹ của mình bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến, bé Hồng đã trả lời: Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào mẹ cháu cũng về. Cuộc đối thoại tưởng chừng sẽ chấm dứt sau lời đáp có vẻ bất cần mà thực ra đầy suy nghĩ của đứa cháu nhỏ, nhưng bà cô thâm hiểm nào đã chịu buông tha. Bà ta hỏi dồn, giọng vẫn ngọt nhạt: Sao lại không vào? Mẹ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu. Cùng với giọng nói cố tình làm ra vẻ tử tế nhưng đầy mỉa mai, châm chọc là hai con mắt long lanh nhìn chằm chặp vào đứa cháu mồ côi. Rõ ràng, bà ta muốn lôi kéo cậu bé Hồng vào một trò chơi độc ác đã toan tính sẵn. Mặc dù chú bé phản ứng bằng cách im lặng cúi đầu và khóe mắt đã cay cay, nhưng bà cô vẫn tiếp tục tấn công. Từ vẻ mặt đến lời nói, hành động của bà ta đểu toát ra vẻ giả dối và độc ác: Cô tôi liền vỗ vai tôi cười mà nói rằng: Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mẹ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ. Đến đây, bà ta không cần che đậy ác ý nữa mà còn tỏ rõ thái độ giễu cợt và nhục mạ. Quả là đau đớn khi vết thương lòng của đứa cháu lại bị chính cô ruột của mình săm soi, hành hạ: Hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn. Nhân vật bà cô tàn nhẫn đến mức lạnh lùng, vô nhân đạo đối với đứa cháu đáng thương. Cho đến khi bé Hồng phẫn uất, oà lên khóc nức nở, bà cô vẫn cố tình hành hạ bằng những câu chuyện bịa đặt về hoàn cảnh bi đát của người mẹ nơi đất khách quê người. Đối lập với tâm trạng đau đớn, xót xa như bị gai cào, muối xát của đứa cháu là sự vô cảm đáng sợ của người cô: Cô tôi vẫn cứ tươi cười kể các câu chuyện cho tôi nghe. Tình cảnh túng quẫn, hình dáng gầy guộc, rách rưới của mẹ bé Hồng được bà cô thêu dệt, miêu tả tỉ mỉ với vẻ thích thú rõ ràng. Cử chỉ vỗ vai, nhìn vào mặt đứa cháu rồi đổi giọng làm ra vẻ nghiêm nghị của bà cô chỉ là sự thay đổi cách thức tấn công. Bà ta tung ra miếng đòn hiểm cuối cùng. Khi thấy đứa cháu tức tưởi, phẫn uất đến cực độ thì bà ta lại giả vờ hạ giọng, tỏ vẻ ngậm ngùi, thương xót người anh đã mất. Đến đây, bản chất độc ác, giả dối, thâm hiểm và trơ trẽn của nhân vật bà cô đã được phơi bày toàn bộ. Tác giả muốn thông qua hình ảnh ấy để tố cáo hạng người tàn nhẫn, coi nhẹ tình máu mủ rụột rà trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ. Nghe bà cô hỏi, trong kí ức bé Hồng vụt hiện lên vẻ mặt rầu rầu và hiền từ của mẹ. Tất cả họ hàng bên nội có thể ruồng rẫy mẹ, kết tội mẹ, thóa mạ mẹ… nhưng với bé Hồng, mẹ vẫn là người mẹ yêu quý mà bé Hồng ra sức bênh vực và bảo vệ. Bé Hồng còn nhỏ lắm nên trước những lời kết tội mẹ mình, bé chỉ phản ứng bằng cử chỉ im lặng, cúi đầu mà lòng thắt lại, khóe mất cay cay. Bé nhận ra ngay những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt của bà cô. Bé không muốn tình thương yêu và lòng kính mến mẹ của mình bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến. Đến khi mục đích mỉa mai, nhục mạ của bà cô đã phơi bày trắng trợn thì bé không nén nổi uất ức và oà lên khóc: Nước mắt tôi đã ròng ròng rớt xuống hai bên mép rối chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ. Bé khóc vì những lời cạnh khóe độc ác mà bà cô cứ cố ý nhắc đi nhắc lại. Bé khóc vì căm tức những thành kiến bất công của người đời đối với người mẹ tội nghiệp. Bé khóc vì thương xót người mẹ khốn khổ sợ dư luận chê cười nên phải lìa con, tha phương cầu thực và trốn tránh tìm nơi sinh nở. Hình ảnh cậu bé cười dài trong tiếng khóc thể hiện tâm trạng đau đớn cực điểm: Nhưng không phải vì thấy mẹ tôi chưa đoạn tang thầy tôi mà đã chùa đẻ vói người khác mà tôi có những cảm giác đau đớn ấy. Chỉ vì tồi thương mẹ tồi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm… Những hình ảnh và động từ trong đoạn văn trên có sức gợi tả, gợi cảm rất lớn. Lúc này, tình thương mẹ của bé Hồng trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Tình thương ấy đã biến thành sự phản kháng quyết liệt: Cô tồi chưa dứt câu, cổ họng tồi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi. Trong tâm khảm bé Hồng lúc nào cũng in sâu hình bóng mẹ. Một buổi chiều, lúc tan trường, thoáng thấy người ngồi trên xe kéo giống mẹ mình, bé Hồng liền đuổi theo, bối rối gọi. Đó là tiếng gọi bật ra từ trái tỉm thương nhớ mẹ không nguôi của chú bé tội nghiệp. Tác giả đã miêu tả hàng loạt cử chỉ thể hiện niềm vui sướng của bé Hồng khi gặp mẹ. Vì chạy đuổi theo mẹ mà bé thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi. Đến khi trèo được lên xe với mẹ thì mừng đến nỗi ríu cả chân lại. Mẹ vừa kéo tay, xoa đầu hỏi chuyện thì bé đã òa lên khóc rồi cứ thế nức nở. Tiếng khóc trút bỏ bao nỗi,tủi cực, uất ức trong những ngày xa mẹ. Tiếng khóc sung sướng được gặp lại người mẹ thương yêu. Tiếng khóc của niềm khát khao tột độ tình mẫu tử. Cảnh hai mẹ con bé Hồng gặp nhau được tả bằng ngòi bút trữ tình đẫm nước mắt. Nhà văn đã vẽ nên bức tranh bằng ngôn ngữ về một thế giới của tình thương yêu đang bừng nở, hổi sình, tràn đầy những kỉ niệm dịu dàng và ấm áp tình mẫu tử… Cậu bé Hồng như bồng bềnh trôi trong cảm giác vui sướng, rạo rực. Những lời nói cay độc của bà cô, những tủi cực chất chồng trong thời gian xa mẹ đã bị nhấn chìm giữa niềm hạnh phúc đang dâng tràn. Cảm giác sung sướng cực điểm của đứa con khi được ôm ấp trong lòng mẹ đã được Nguyên Hồng diễn tả bằng cảm hứng say mê cùng những rung động tinh tế lạ thường. Trong lòng mẹ, bé Hồng nhận ra rằng cảm giác ấm áp thiếu vắng bao lâu nay giờ đây lại mơn man khắp cả da thịt. Đó là những phút giây không thể nào quên của bé Hồng. Bé nhận ra hơi quần áo của mẹ, hơi thở của mẹ lúc đó thơm tho lạ thường. Bé nhận ra gương mặt mẹ vẫn tươi sáng, mắt trong, da mịn, má hồng, vẫn đẹp như thuở nào. Bé cũng nhận ra người mẹ có một êm dịu vô cùng… Tất cả những cảm giác đó, những ý nghĩ đó chỉ có được khi đứa con hết lòng yêu thương mẹ. Được gặp mẹ là niềm hạnh phúc lớn lao, là niềm vui khôn xiết. Được sà vào lòng mẹ, bé Hồng mừng đến nỗi quên hết mọi thứ trên đời. Những lời thăm hỏi giữa hai mẹ con chỉ còn là một chuỗi âm thanh hạnh phúc, bé Hồng không thể nhớ đó là những câu gì, chuyện gì. Bao trùm tâm trí bé là nỗi vui sướng khôn xiết. Phải thương nhớ mẹ, yêu quý mẹ, thèm khát được gần mẹ đến chừng nào thì bé Hồng mới cảm thấy sung sướng tột đỉnh khi được ôm ấp trong vòng tay dịu hiền của mẹ sau bao ngày xa cách. Tình thương yêu mẹ là nét nổi bật trong tâm hồn bé Hồng. Tình thương mẹ đã giúp bé Hồng có cách nhìn xác thực về con người và cuộc đời. Cho dù cảnh ngộ có éo le đốn mấy thì tình mẫu tử thiêng liêng vẫn không thể phai mờ. Chúng ta càng thêm thông cảm và quý mến bé Hồng, từ đó càng trân trọng tình mẫu tử. Trong lòng mẹ là một đoạn văn có tính chất hồi kí mà âm hưởng trữ tình thấm đẫm toàn bộ nội dung câu chuyện. Đặc biệt, đoạn cuối cùng là bài ca cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt. Dòng cảm xúc chân thành như tuôn chảy dưới ngòi bút tài hoa của Nguyên Hồng. Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn với khả năng miêu tả tâm lí nhân vật tỉnh tế của ông gây ấn tượng mạnh, làm rung động lòng người. Thấm thìa nỗi khổ của những đứa con xa mẹ, chúng ta mới nhận ra rằng hạnh phúc thay những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương, bảo bọc của mẹ hiền.
Phân tích truyện ngắn Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng
2,468
Đề bài: Em hãy viết bài văn phân tích truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh. Bài làm Thanh Tịnh tên thật là Trần Văn Ninh, sinh ngày 11/12/1911, mất ngày 17/7/1988, quê xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ông học Tiểu học và Trung học ở Huế. Vốn có năng khiếu văn chương nên đến năm 1933, ông bắt đầu sáng tác. Thanh Tịnh viết được nhiều thể loại nhưng thành công hơn cả là truyện ngắn và thơ. Các truyện ngắn của ông đều thấm đượm cảm xúc êm dịu, trong trẻo, vừa man mác buồn thương, vừa ngọt ngào sâu lắng. Giọng văn nhẹ nhàng thủ thỉ mà thấm thìa khó quên. Truyện ngắn Tôi đi học in trong tập Quê mẹ, xuất bản năm 1941 là một tác phẩm như vậy. Đây là thiên hồi ức rất xúc động về những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường ba mươi năm về trước. Trong kí ức mỗi con người thì những kỉ niệm vui buồn của tuổi học trò thường được lưu giữ bền lâu hơn cả, nhất là ấn tượng về ngày đầu tiên đi học. Thanh Tịnh bồi hồi nhớ về ngày ấy và tâm hồn ông vẫn rung động thiết tha như thuở nào. Bằng ngòi bút giàu chất thơ, tác giả đã gieo vào lòng người đọc một nỗi niềm bâng khuâng khó tả. Bố cục bài văn được sắp xếp theo trình tự thời gian. Tâm trạng nhân vật phát triển song song cùng với các sự kiện đáng nhớ của ngày đầu tiên đi học. Từ cảnh cậu bé được mẹ âu yếm dắt tay dẫn đi trên con đường tới trường, đến cảnh cậu say mê nhìn ngắm ngôi trường; cảnh hồi hộp nghe thầy gọi tên, lo lắng khỉ phải rời tay mẹ để cùng các bạn vào lớp nhận chỗ của mình và học giờ học đầu tiên. Sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp tự sự, miêu tả và bộc lộ cảm xúc đã tạo nên tính trữ tình đậm đà của bài văn. Mở đầu, tác giả tả khung cảnh thiên nhiên là yếu tố khơi gợi dòng hồi tưởng. Mùa thu thường đẹp và buồn. Những chuyển biến của đất trời làm cho tác giả nhớ về dĩ vãng xa xôi: Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kĩ niệm mơn man của buổi tựu trưởng. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Mạch cảm xúc được mồ ra hết sức tự nhiên. Nghệ thuật so sánh được tác giả sử dụng khéo léo, kết hợp với những hình ảnh giàu sức gợi cảm đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa thu thơ mộng với sắc lá vàng phai, với màu mây bạc lãng đãng trôi trên bầu trời mênh mông, xanh thẳm. Hình ảnh mấy em nhỏ rụt rè nấp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường khiến cho nhà văn nhớ lại ngày đầu tiên đi học không thể nào quên của mình. Tâm trạng hồi hộp, cảm giác mới mẻ của cậu bé khi được mẹ dắt đi trên con đường tới trường được diễn tả rất tinh tế: Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ… cảnh vật chung quanh đều thay đổi. Cậu bé đã nhanh chóng tìm ra nguyên nhân của sự lạ lùng ấy: vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học. Đi học, đó là một sự kiện trọng đại trong đời. Điều đó có nghĩa là cậu bé đã lớn và từ nay, cậu sẽ không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô đùa như thằng Sơn nữa. Ý nghĩ ngây thơ trong sáng và nghiêm túc của cậu học trò trong bủổi đi học đầu tiên hồn nhiên và đáng yêu biết chừng nào! Cậu bé không chỉ thấy sự thay đổi của khung cảnh bên ngoài mà còn thấy cả sự thay đổi lớn lao trong con người mình. Đoạn văn miêu tả diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật cậu bé trên đường tới trường thật chân thực và xúc động: Trong chiếc áo vải dù đen dài, tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn. Dọc đường thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tuổi tôi áo quần tươm tất, nhỉ nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng xệch ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước ôm sách vở nhiều lại kèm cả bút cả thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hốt. Trong ngày đầu tiên đi học, được mặc bộ quần áo mới, cậu thấy mình đã là người lớn cho nên tất cả mọi thứ đều phải thay đổi. Chính suy nghĩ và cảm nhận ấy khiến cho điệu bộ của cậu bé khác hẳn ngày thường. Mọi cử chỉ, hành động của cậu đều trở nên lúng túng, vụng về. Theo cậu thì chuyện đi học là ghê gớm lắm, nghiêm túc lắm! Nghĩa là kể từ đây, cậu không còn được chạy nhảy tự do như trước nữa. Nhìn đám học trò lớp trên nhí nhảnh cười đùa, cậu cố gắng kìm nén, nhưng càng kìm nén lại càng thèm được như các bạn. Hai quyển vở có đáng kể gì mà cậu bắt đầu thấy nặng và phải bặm tay ghì thật chặt. Trong khi đó, các bạn khác mang nhiều sách vở hơn và còn cầm cả bút thước nữa mà vẫn không để lộ vẻ khó khăn gì hết. Không muốn thua kém bạn bè và muốn tỏ ra là mình đã lớn, cậu xin mẹ được cầm cả bút thước. Nghe mẹ bảo để mẹ cầm thì trong óc cậu bé nảy ra ý nghĩ thật ngây thơ: chắc chỉ người thạo mới cầm hổi bút thước. Nhớ lại tâm trạng của mình thuở ấy, tác giả thú vị nhận xét: Ý nghĩ ấy thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi. Hình ảnh so sánh trong câu văn trên vừa đẹp đẽ, vừa phù hợp với tâm lí tuổi thơ. Cậu bé choáng ngợp khi nhìn thấy cảnh sân trường làng Mĩ Lí dày đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt vui tươi và sáng sủa. Cậu nhớ lại cảm tưởng của mình về ngôi trường lúc cậu chưa đi học, đó là thái độ dửng dưng: Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang qua làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tồi có ghé lại trường một lần, Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo tường. Tôi không có cảm tưởng nào khác là nhà trường cao ráo và sạch sẽ hơn các nhà trong làng. Nhưng giờ đây, lúc sắp sửa thành học trò, cậu bỗng thấy ngôi trường vừa xinh xắn vừa oai nghiêm khác thường và mình quá nhỏ bé so với nó. Vì vậy, cậu đâm ra lo sợ vẩn vơ. Trước mắt cậu là cả một thế giới mới mẻ, lạ lùng. Cậu và đám bạn cùng trang lứa nào có khác chi những con chim đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ… thèm vụng và ước ao thầm được như những người học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ. Trí óc non nớt của cậu không thể hình dung ra được những điều xảy ra hằng ngày trong ngôi trường đẹp đẽ kia. Tâm trạng lo sợ phập phồng, khao khát tìm hiểu, ước muốn được biết bạn, biết thầy trong ngày đầu đi học giờ đây vẫn hiển hiện rõ nét trong kí ức nhà văn: Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi thẳng vào lớp. Cảm thấy mình trơ vơ là lúc này. Vì chung quanh là những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa, hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp. … Ông đốc trường Mĩ Lí cho gọi mấy cậu học trò đến đứng trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ồng ta đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tồi đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Cậu bé bỗng cảm thấy sợ hãi khi sắp phải rời bàn tay dịu dàng của mẹ. Trong đám trẻ, những tiếng khóc bật ra khiến cậu bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ… nức nở khóc theo. Cậu hoang mang vì cảm thấy chưa lần nào thấy xa mẹ… như lần này. Khi đã ngồi yên trong lớp và đón nhận giờ học đầu tiên, cậu cảm thấy vừa xa lạ, vừa gần gũi với mọi vật xung quanh, kể cả với người bạn ngồi bên cạnh: Phân tích truyện ngắn Tôi đi học Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tồi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên lạm nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi; một người bạn tôi chưa hề quen biết, nhưng lòng tồi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến tự nhiên và bất ngờ quả đến nỗi tôi cũng không dám tin có thật. Ngỡ ngàng và tự tin, cậu bé nghiêm trang bước vào giờ học đẩu tiên của đời mình: Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỉ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa hay bên bờ sông Viêm sống lại đầy rẫy trong trí tôi. Nhưng tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đánh vần đọc: Bài viết tập: Tôi đi học. Truyện ngắn Tôi đi học sống mãi với thời gian bởi nó được tạo nên từ cảm xúc trọng sáng, hồn nhiên và bút pháp nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế của nhà văn. Bằng câu chuyện của mình, Thanh Tịnh đã nói thay tất cả chúng ta cái cảm giác kì diệu của buổi học đầu tiên đã trở thành kỉ niệm đẹp đẽ, để lại ấn tượng sâu sắc trong cuộc đời mỗi người. Chính vì vậy mà nó đã làm rung động trái tỉm bao thế hệ bạn đọc trong hơn nửa thế kỉ qua.
Phân tích truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh
1,939
Đề bài: Phân Tích Truyện Ngắn Tôi Đi Học Của Tác Giả Thanh Tịnh Bài làm Theo dòng hoài niệm của Thanh Tịnh,ta trở về với ngày đầu đi học của nhà văn. Ở đó,ta bắt gặp những hồi ức đẹp bồi hồi và chẳng thể nào quên. Dẫu kết lắng bao vơi đầy,tán tụ nhưng với mỗi đời người,hẳn có những kỉ niệm chẳng dễ phôi phai. Được nâng niu,giữ gìn những kỉ niệm sâu sắc ấy sẽ mãi như một nguồn sáng tâm hồn trong trẻo,thiêng liêng gợi nhớ và thức dậy dư ba…”Tôi đi học” là truyện ngắn được in trong tập “Quê mẹ” (xuất bản năm 1941). Đây là một truyện ngắn thể hiện rất đầy đủ phong cách sáng tác của tác giả: Đậm đà chất trữ tình,đằm thắm,êm dịu,trong trẻo và tràn đầy chất thơ. Truyện đã thể hiện một cách xúc động tâm trạng hồi hộp,cảm giác bỡ ngỡ của nhân vật “tôi”-chú bé được mẹ đưa đến trường lần đầu tiên trong ngày tựu trường. Trong cuộc đời mỗi con người chúng ta,ai cũng đã từng trải qua ngày tháng đầu tiên của tuổi học trò. Câu chuyện “Tôi đi học” rất đơn giản,bình dị nhưng đã làm xúc động tất cả những ai từng cắp sách tới trường. Ta thật trân trọng,mến yêu và cùng cảm thông biết bao trước những giác cảm,những nghĩ suy của nhân vật “tôi” trên đường đến trường. Cảm xúc bắt đầu được khơi nguồn từ hiện tại với cảnh lá rụng vào cuối thu. Mở đầu truyện là hai câu văn được tạo thành hai đoạn văn rất gợi cảm. Câu một nói sắc thu với lá rụng,với mây “bàng bạc”,gợi nhớ những kỉ niệm “mơn man”,nhè nhẹ,lâng lâng của buổi tựu trường. Câu văn thứ hai,tác giả dùng hình ảnh so sánh-nhân hóa để hình tượng cảm giác trong sáng nảy nở trong lòng “như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. Giọng văn nhẹ nhàng,giàu cảm xúc. Những thế hệ học trò ngày xưa đã học thuộc câu văn này: “Hằng năm cứ vào cuối thu,lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc,lòng tôi lại náo nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường.” “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.” Cứ mỗi độ cuối thu,khi tiết trời se lạnh,những chiếc lá vàng rơi,những đám mây bàng bạc thì kỉ niệm buổi tựu trường đầu tiên lại hiện về trong kí ức của tác giả và của tất cả những ai đã từng cắp sách tới trường. Để rồi những cảm giác trong sáng ấy lại nảy nở trong lòng “như những cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. Hình ảnh so sánh nhân hóa đầy ấn tượng và có sức biểu cảm. Câu văn như cánh cửa dịu dàng mở ra,dẫn người đọc vào một thế giới đầy ắp những sự việc,con người, những cung bậc tâm tư tình cảm đẹp đẽ,trong sáng,rất đáng nhớ,đáng chia sẻ và mến thương. Trung tâm của thế giới ấy là cậu học trò ngày đầu tiên tới trường với bao tình cảm xao xuyến,mới lạ,suốt đời không bao giờ quên. Không chỉ thế,dòng cảm xúc của tác giả còn đưa người đọc đến với diễn biến tâm trạng đặc biệt của một cậu học trò lần đầu đến lớp. Cậu bé cảm thấy mình “trang trọng và đứng đắn” khi được mặc chiếc áo vải dù đen dài,trong tay cầm hai quyển vở mới. Cậu thèm cảnh mấy cậu nhỏ bằng trạc tuổi mình “áo quần tươm tất nhí nhảnh” gọi tên nhau,trao sách vở cho nhau xem,có nhiều cậu còn ôm sách vở vừa cầm cả bút thước nữa. Cậu non nớt,ngây thơ nghĩ: “Chắc chỉ có người thạo mới cầm nổi bút thước”. Ý nghĩ ấy thoáng qua tâm trí cậu bé “như làn mây lướt ngang trên ngọn núi”. Lần thứ hai,Thanh Tịnh lại sáng tạo nên một so sánh lí thú,thể hiện ý nghĩ hồn nhiên,ngây thơ của cậu bé trên đường tựu trường. Trường làng Mĩ Lý đã được cậu bé ghé qua một lần chỉ cách ngày tựu trường mấy hôm,khi cậu đi bẫy chim quyên với thằng Minh. Đối với cậu đó là một nơi xa lạ,các lớp có cửa kính,có bản đồ treo trên tường,nhà trường “cao ráo và sạch sẽ”…Nhưng buổi tựu trường hôm nay cậu lại thấy khác. Trường Mĩ Lý “vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp”. Vì thế,cậu đâm ra “lo sợ vẩn vơ”. Đó là tâm trạng hồn nhiên,ngây thơ của tuổi thơ trong buổi tựu trường khi đứng trước ngôi trường xa lạ,mới mẻ. Nhưng dẫu sao,nhân vật “tôi” lúc đó vẫn đang ở tuổi thơ ngây,cho nên một thoáng “lo sợ vẩn vơ” ấy đã mau chóng lướt qua,nhường chỗ cho cảm giác ngỡ ngàng,tò mò quan sát những người bạn đang “đứng nép bên người thân”,cậu dự cảm họ “như con chim con nhìn quãng trời rộng muốn bay nhưng còn ngập ngừng e sợ”. Phía trước là bầu trời rộng mở,biển học là vô bờ,nhưng ước mơ đầu tiên của cậu là “được như những người học trò cũ,biết lớp,biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ”. Ước mơ ấy thật dễ thương,bởi đó là ước mơ được xóa đi những khoảng cách bỡ ngỡ ban đầu. Tiếng trống trường vang dội. Tiếng trống trường ngày khai giảng,tiếng trống trường ngày tựu trường ở đâu và bất cứ thời nào cũng gây chấn động,hồi hộp,lạ kì. Hồi trống buổi tựu trường của trường Mĩ Lý đã “thúc vang dội cả lòng” cậu bé. Khi học sinh xếp hàng vào lớp,cậu cảm thấy mình “chơ vơ”. Và tát cả học trò mới đều bắt đầu “vụng về,lúng túng”,”toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng”. Đoạn văn đặc tả được những phút giây hồn nhiên,xúc động khó quên của mỗi đời người. Hình ảnh ông Đốc trường Mĩ Lý xuất hiện và đọc tên từng học trò gây một ấn tượng mạnh đến mức “cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập”,đến “quên cả mẹ tôi đứng sau” và nghe đọc đến tên “tôi tự nhiên giật mình và lúng túng” mặc dù ông đốc nhìn học trò bằng ánh mắt thật “hiền từ và cảm động”. Nhiều bạn “ôm mặt khóc”,nhiều bạn “thút thít”. Riêng cậu bé thì có “bàn tay dịu dàng đẩy tới trước” nhưng vẫn “dúi đầu vào lòng mẹ nức nở khóc”. Có bao giờ cậu quên được cái bàn tay yêu thương của mẹ nhẹ vuốt lên mái tóc mình. Tuy vậy khi xếp hàng vào lớp,cậu vẫn cảm thấy lẻ loi: “Trong thời thơ ấu,tôi chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như lần này”. Có thể nói,tựu trường dù ở lứa tuổi nào,bậc học nào cũng là niềm hạnh phúc,là địa chỉ lưu giữ những hình ảnh đẹp nhất và đáng nhớ nhất của đời người. “Tôi đi học” của Thanh Tịnh là một trang văn đầy chất thơ,chất thơ của kỉ niệm thời thơ ấu ngày tựu trường,chất thơ ở giọng văn nhẹ nhàng,truyền cảm,chất thơ ở sự lắng đọng và khơi gợi tâm hồn kí ức thời cắp sách trong mỗi chúng ta. “Tôi đi học” là một tiếng lòng man mác,bâng khuâng của một thời để nhớ,để yêu. Khép lại trang văn vẫn còn bồi hồi,xao xuyến. Dẫu đã đi qua lần đầu tới lớp nhưng mỗi lần nghe hai tiếng “tựu trường”,vẫn thấy lòng thổn thức không nguôi.
Phân Tích Truyện Ngắn Tôi Đi Học Của Tác Giả Thanh Tịnh
1,289
Đề bài: Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc Bài làm Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác truyện ngắn Lời than vãn của bà Trưng Trắc và vở kịch Con rồng tre lên án và chế giễu sâu cay ông vua bù nhìn. Nhân kỉ niệm một năm chuyến đi ô nhục ấy, Nguyễn Ái Quốc lại viết truyện ngắn Vi Hành, biến Khải Định thành đối tượng của những cuộc đàm tiếu khinh bỉ… Vấn đề đặt ra cho tác giả là phải sáng tạo một hình thức nghệ thuật mới để không lập lại chính mình. Sự thành công của tác phẩm Vi hành đã chứng tỏ tài năng nghệ thuật dồi dào, sắc bén của nhà văn Nguyễn Ái Quốc. Thật vậy, nếu trong hai tác phẩm Lời than vãn của bà Trưng Trắc và Con rồng tre, Khải Định trực tiếp xuất hiện, thì ở đây, trong tác phẩm Vi hành, vua Khải Định vắng mặt. Vậy làm thế nào để cho Khải Định xuất hiện,đặng nhận lấy lời đàm tiếu nhục nhã và lời tố cáo sắc bén? Nguyễn Ái Quốc đã dùng biện pháp hóa không thành có- biện pháp hiểu lầm, nhận lầm một người An Nam là nhà vua đi “vi hành”, để tố cáo, chế giễu một cách cay độc. Ai là người có thể nhận lầm như vậy? Đó không thể là người An Nam, thần dân của ngài. Đó chỉ có thể là người dân Pháp hiếu kì và từ lâu đã không xem vua chúa như một đấng bề trên. Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo nên một đôi nam nữ người Pháp nhận lầm vua An Nam trên xe điện, và truyện ngắn mở đầu bằng cuộc tranh luận của họ. Chàng trai quả quyết đó chính là nhà vua, còn cô gái, người đã thấy nhà vua ở trường đua thì quả quyết là không phải, vì thấy thiếu mũmăng, nhẫn vàng, hạt cườm. Từ hai cách hiểu ấy mở ra hai hướng đàm tiếu: đàm tiếu về trang phục nhà vua và đàm tiếu về việc “vi hành” của ông. Việc đàm tiếu về trang phục nhà vua do đôi thanh niên nam nữ người Pháp thực hiện. Lợi dụng cách cảm nhận ngộ nghĩnh của họ đối với cách ăn mặc xa lạ. Nguyễn Ái Quốc đã biến ông vua thành một trò cười rẻ tiền: đầuđội chụp đèn, quấn khăn, tay đeo đầy nhẫn, mũi tẹt, mắt xếch, mặt bủng như quả chanh, không một chút uy nghi, đường bệ. Hơn thế, người bạn gái đã trông thấy nhà vua, hình dung vua là người “đeo lên người hắn đủ cả bộ lụa là, đủ cả bộ hạt cườm“, y như một mụ đàn bà. Còn người thanh niên thì xem vua như một trò vui mắt không phải mất tiền như xem “vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên”, hoặc “trò leo trèo, nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô”. Thậm chí còn tung tin Nhà hát Múa rối định ký hợp đồng thuê nhà vua biểu diễn! Thật không còn lời báng bổ, khinh miệt nào hơn đối với một đức Hoàng Thượng! Nhưng đó là sựthật: Khải Định chỉ đóng được một vai hề rẻ tiền trong lịch sử! Việc đàm tiếu về truyện “vi hành” do kẻ bị nhận lầm – tác giả bức thư gửi cho cô em họ – thực hiện qua lời tâm sự trong thư. Đây là lời của một người An Nam, am hiểu nội tình nước Nam. Ở đây Nguyễn Ái Quốc dùng biện pháp “quá mù ra mưa” – nhân có người nói nhà vua “vi hành”, thế là người anh họ trong thư liền liên hệ với các cuộc “vi hành” của các vị vua vĩ đại như vua Thuấn, vua Pie, và bình luận nhạo báng về cuộc “vi hành” tưởng tượng của vua Nam. Đây là một đoạn văn nữa mỉa mai sắc bén, từ nào cũng nhằm phơi trần thân phận và nhân cách hèn hạ của tên vua. Biện pháp “quá mù ra mưa” lại được sử dụng thêm một lần: nhân việc người Pháp nhận lầm vua Nam, tác giả đẩy xa hơn: phổ quát hóa sự nhận lầm để châm biếm việc cảnh sát Pháp theo dõi người yêu nước Việt Nam trên đất Pháp:”… tất cả những ai ở Đông Dương có màu da trắng đều là những bậc khai hóa thì bây giờ đến lượt tất cả những ai có màu da vàng đều trở thành Hoàng đế ở Pháp”. Trở thành Hoàng đế thì được sự chăm sóc, theo dõi của cảnh sát và đó là nỗi phiền hà cho những ai da vàng. Đến đây ta thấy “Vi hành” rõ ràng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo lạ lùng. Ai cũng thấy là tác giả bịa, nhưng là một sự bịa đặt khéo léo, tài tình, hợp lí, có khả năng tố cáo sâu sắc và do đó mà gây thú vị cho người đọc. Có thể nói là tác giả đã dùng phép “đà đao”, nhân sự hiểu lầm của mấy người Pháp mà đưa ngòi bút sắc bén đánh trúng vào chỗ trí mạng của tên vua. Ở đây người ta thấy sức mạnh nghệ thuật được sửdụng một cách nhẹ nhàng, dí dỏm, đắc địa. Ngoài việc xây dựng cốt truyện khéo léo, việc không có mà như có thật, bút pháp mỉa mai, châm biếm của tác giả thể hiện ở các pháp ví von dí dỏm rất “Tây“: mũ miện của vua thì ví với chụp đèn, ngọc quý thì ví với hạt cườm, nhìn vua thành con rối, so hắn với hề Saclô, đặc biệt, ngòi bút mỉa mai của tác giả chỉa thẳng một lúc vào hai đối tượng: thực dân và phong kiến. Ta hãy xem tác giả viết trong thư: “Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp, dưới quyền ngự trị của bạn ngài là Alêchxăng đệ Nhất, (…) có được uống nhiều rượu và được hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam, dưới quyền ngự trị của ngài, hay không?(…). Hay là, chán cảnh làm một ông vua to, giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời các cậu công tử bé?”. Những nghi vấn thật là mỉa mai! Và đây là lời mỉa mai cảnh sát Pháp: “Các vị chẳng nề hà chút công sức nào để bảo vệ bọn tôi, và giá có được trông thấy các vị ân cần theo dõi tôi chẳng khác bà mẹ hiền rình con thơ chập chững bước đi thứ nhất, thì hẳn cô phải phát ghen lên được về nỗi niềm âu yếm của các vị đối với tôi. Có thể nói là các vị bám lấy đế giày tôi, dính chặt với tôi như hình với bóng…” Biết bao chua chát, cay đắng trong nụ cười ở đây! Đó là nghệ thuật mỉa mai, châm biếm có tính chất chính luận hết sức già dặn. Tất cả các chữ dùng đều được sử dụng rất đắt và phát huy tác dụng châm biếm tối đa. Chẳng hạn gọi vua Pháp là “bạn” của vua Nam hoặc nói cảnh sát Pháp theo dõi như ”mẹ hiền rình con thơ” v.v… và v.v… Tóm lại, nghệ thuật độc đáo và bút pháp mỉa mai châm biếm bậc thầy của thiên truyện đã chứng tỏ tài nghệsiêu việt, phong phú của Nguyễn Ái Quốc, chứng tỏ một thành tựu sắc sảo của nghệ thuật cách mạng giàu tính chiến đấu.
Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc
1,259
Phân tích truyện ngắn Vợ nhặt-Kim Lân Hướng dẫn Mở bài: Đầu năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Nhân dân ta lâm vào tình thế “một cổ hai tròng’’. Ở miền Bắc nước ta, bọn phát xít Nhật bắt nhân dân ta phải nhổ lúa và hoa màu để trồng đay, phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Trong khi đó, bọn thực dân Pháp cũng tăng thuế, ra sức bóc lột, vơ vét của cải. Hậu quả bi thảm của chính sách bóc lột tàn bạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp đã giết chết hơn 2 triệu nhân dân ta. Hàng triệu người khác người khác sống trong tình trạng ngắc ngoải. “Vợ nhặt” truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Tác phẩm được xây dựng trên bối cảnh đời sống nói trên đã tái hiện chân thực nạn đói năm l945. Từ bối cảnh đó, tác giả đi sâu miêu tả đời sống nhân dân nước ta. Những kiếp người bần cùng, khổ cực đang ngày đêm mong chờ, khát khao ánh sáng Cách Mạng. Thân bài: Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Dưới sự thống trị của thực dân Pháp và Nhật, năm 1945, hơn 2 triệu người dân Việt Nam đã bị chết đói. Sự kiện bi thảm này đã được đề cập tới trong nhiều tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ như: Tô Hoài, Nam Cao, Nguyên Hồng,… Ngay sau sự kiện ấy, nhà văn Kim Lân đã viết tập truyền dài có nhan đề truyện “Xóm ngụ cư”. Thế nhưng, truyện chưa được in thì bản thảo thất lạc. Hòa bình lặp lại năm 1954, dựa trên cốt truyện cũ Kim Lân đã viết lại truyện ngắn với nhan đề “Vợ nhặt ”. Truyện ngắn này đã được in trong tập truyện “Con chó xấu xí’’ năm 1962 Ý nghĩa nhan đề tác phẩm: Với nhan đề độc đáo này, Kim Lân đã gợi được sự quan tâm, chú ý của người đọc. Đồng thời cũng làm nổi bật rõ được tư tưởng, chủ đề của truyện ngắn. Ở đây, từ “nhặt” vốn là một động từ đã được nhà văn sử dụng như một tính từ. Chỉ qua tiêu đề “Vợ nhặt” thôi, Kim Lân cũng nói lên được việc bế tắc, đen tối của xã hội và thân phận rẻ rúm của con người. Xưa nay, việc dựng vợ gả chồng là công việc của cả đời người. Thế nhưng vào thời điểm này, người ta có thể dễ dàng “nhặt” vợ, giống như là nhặt cái rơm cọng rác bên đường vậy. “Vợ nhặt” có tiền thân là truyện “Xóm ngụ cư’’ – nơi tập trung của những con người đói nghèo phải rời bỏ quê hương, đi tha phương cầu thực, mong tìm được miếng cơm manh áo. Tình huống truyện độc đáo: Nhà văn Kim Lân đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo, mới lạ. Đó là tình huống nhân vật Tràng (con trai bà cụ Tứ) lấy vợ hay nói đúng hơn là nhặt được vợ: “giữa cái cảnh đói sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều, người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa”. Việc dựng vợ gả chồng là một quy luật bình thường của cuộc sống con người. Nhưng đặt vào bối cảnh của Tràng thì lại là một chuyện lạ đời. Bởi lẽ Tràng là một anh nông dân nghèo, xấu trai, lại là dân ngụ cư. Nạn đói đang hoành hành dữ dội, người chết đầy đường đầy chợ. Trong khốn khó con người còn có thể nghĩ về nhau. Phân tích nhân vật Tràng: Ngay từ đầu tác phẩm, tác giả Kim Lân đã dựng được bức tranh ảm đạm của làng quê Việt Nam vào thời kì đói kém. Từng đoàn người lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên thành phố. Những bóng dáng xanh xám như những bóng ma. Hoặc là nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết đói như ngả rạ. Nhiều đến nỗi cứ đi làm đồng về, người ta lại bắt gặp ba, bốn cái thây nằm cong queo bên đường. Tiếng quạ gào lên từng hồi “thê thiết”. Không khí vẫn lên mùi khen khét của đống rấm, mùi thối của rác rưởi và mùi gây gây của xác người… Có thể nói vào thời điểm đó, không ai là không nghĩ đến cái chết. Ngay cả lũ trẻ con thường ngày vốn nghịch ngợ vô tư, giờ cũng ủ rũ không buồn nhúc nhích. Một hớp cháo cám nhạt cầm hơi lúc này cũng là niềm ước ao của chúng. Cuộc sống “tối sầm” lại vì đói khát và chết chóc. Cảnh trần gian mà cứ ngỡ như chốn địa ngục tối tăm. Trong hoàn cảnh túng đói ngặt nghèo đấy, tình yêu, hạnh phúc cũng trở nên đượm màu chua chát, xót xa. Như anh Tràng – một thanh niên nhà nghèo xấu xí thậm chí còn có vẻ ngoài ngờ nghệch, dở hơi mà còn “nhặt” được vợ. Mà đúng là “nhặt được thật”. Anh hỏi vợ bằng mấy lời chọc ghẹo, bông đùa vu vơ. Bốn bát bánh đúc thay cho lễ cưới đơn sơ đến chua chát. Thế là Tràng được vợ. Quả thực, trong nạ đói, giá trị con người quá ư rẻ rúng. Ngày anh Tràng có vợ không bình thường nên buồn hay nên vui? Cảnh bửa cơm ngày đói đón nàng dâu mới thật thảm hại, tội nghiệp. Ai cũng thấy ngượng ngùng. Đuốc tân hôn, của đôi vợ chồng trẻ là ngọn đèn dầu yếu ớt. Cả nồi chè khoán (không phải nhà nào cũng có) của cụ bà Tứ trong thật tội nghiệp. Tràng ăn thấy đắng ngắt và nghẹn ứ trong cổ,… Việc lấy vợ của Tràng lại trở thành một sự kiện lớn của xóm ngụ cư nghèo. Tràng lấy vợ vào thời điểm khó khăn, cùng quẫn nhất. Khi mà người ta không biết có thể qua nổi cơn đói kém này không thì anh lại lấy vợ. Cái anh nông dân nghèo, xấu xí, dở hơi, lại là dân ngụ cư ấy lại lấy được vợ. Xóm ngụ cư chưa hết ngạc nhiên thì lại xót xa cho đôi vợ chồng trẻ ấy. Một cuộc gắn kết thầm lặng khiến ai cũng thấy ngâm ngùi, không biết nói gì hơn. Giá trị hiện thực của truyện ngắn: Nhà văn đã tái hiện sâu sắc, chân thực xã hội Việt Nam vào thời kì đen tối, cùng quẫn nhất. Toàn bộ cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của những người nông dân bị dồn đến bước đừng cùng, không có lối thoát được dụng lại sinh động hết sức. Ngay từ đầu tác phẩm, tác giả đã hắt vào truyện thứ ánh sáng của hoàng hôn xám xịt. Theo bước chân Tràng từ phố chợ đến miền quê. Người chết rải rác nằm cong queo bên lề đường. Người sống thì đi lại dật dờ, mặt mày xanh xám như những bóng ma. Những đứa trẻ của xóm ngụ cư ngồi ủ rũ ở những xó đường không buồn nhúc nhích. Không khí vấy lên mùi ẩm thối. Trên cây gạo đầu làng tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết. Cả một vùng như biến thành bãi tha ma trong không gian đầy mùi tử thi. Mội cõi dương có hơi ám cõi âm. Thời gian và không gian nghệ thuật là một tín hiệu thẩm mĩ đặc sắc. Nó báo rằng đó là thời điểm con người đang đứng ở ranh giới giữa ánh sáng với bóng tối, giữa trần gian với địa ngục. Cả dân tộc đang đứng trước hoàng hôn của cuộc đời, đứng mấp mé bên bờ vực thẳm. Điều đó cho thấy sự tàn phá ghê gớm của nạn đói, một hiện thực thê thảm. Trong hoàn cảnh ấy, thân phận con người thật là bèo bọt. Người đàn bà Tràng gặp ngoài kho thóc quần áo rách tả tơi, thân hình gầy sọp vì đói. Người đàn bà này theo không Tràng mà chẳng còn chút sĩ diện, danh dự. Đó là một sự thật, một hiện thực mỉa mai, cay đắng mà cũng đầy xót xa. Thân phận con người chẳng khác gì cỏ rác. Mẹ con Tràng chỉ chòn cháo cám cầm hơi. Nhà cửa chẳng khác gì gia cảnh của chị Dậu (Tắt đèn – Ngô Tất Tố). Họ đứng trước tương lai mờ mịt, nạn đói đang đe dọa đến sinh mạng. Đó là hiện thực về thân phận bọt bèo, hẩm hiu của người lao động trước Cách mạng. Giá trị nhân đạo: Truyện ngắn “Vợ nhặt” còn mang một giá trị nhân đạo sâu sắc. Trong tác phẩm này, Kim Lân đã nói lên được nổi khổ của người dân lao động. Ông bày tỏ nổi niềm đồng cảm, chia sẻ với họ. Nhưng điều đáng quí nhất ở đây là nhà văn vẫn thấy trong những con người đáng thương ấy vẫn có đời sống tâm hồn phong phú, những phẩm chất tốt đẹp. Họ vẫn yêu thương, đùm bọc nhau trong cơn hoạn nạn. Giữa lúc khó khăn, đói kém nhất, việc anh Tràng cưu mang và nhận một cô gái về làm vợ. Trong khi cô gái có hoàn cảnh quần áo rách tả tơi, mặt gầy xọp hẳn đi vì đó. Đó là một cử chỉ cao thượng, hào hiệp, không phải ai cũng làm được. Như vậy, chuyện thành vợ thành chồng của họ rõ ràng không phải là chuyện tầm phào mà là có tình có nghĩa. Nó đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống của Tràng, của gia đình anh. Hình như có một cái gì đó thức dậy trong tâm hồn Tràng: “Hẳn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt sáng lên lấp lánh”. Lần đầu tiên anh cảm thấy niềm hạnh phúc của cuộc đời. Một cái gì mới mẻ, lạ lẫm, chưa từng thấy ở người nông dân nghèo khổ ấy. Nó “ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng”. Và điều ấy lớn hơn, mạnh hơn với sự đói khổ. Nó giúp cho người ta vượt lên trên những khó khăn, cơ cực đang rình rập, chờ đón của cuộc sống nhưng cũng hứa hẹn biết bao. Điều ấy giúp Tràng có thêm sức mạnh để quên đi hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày. Giúp anh quên cả đói khát ghê gớm đang đe dọa để mà vui, hi vọng. Kết bài: Như vậy, cho dù luôn bị cái chết rình rập, đe dọa, phải sống như loài vật nhưng nó không thể dập tắt được cái phần rất con người ở Tràng, ở bà cụ Tứ cũng như người “Vợ nhặt”. Họ vẫn hướng tới tương lai, khát khao hạnh phúc của cuộc sống gia đình.
Phân tích truyện ngắn Vợ nhặt-Kim Lân
1,805
Phân tích truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao Nam Cao được biết tới là nhà văn có nhiều trăn trở với cuộc sống với đời,và ông là một ngòi bút đầy tài năng.những tác phẩm ông để lại đều chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trong đó truyện ngắn “ đôi mắt” (1948) được Nam Cao đặt ra vấn đề cách nhìn của nhà văn trong sáng tác nghệ thuật ở thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Và tác phẩm này được xem là “Tuyên ngôn nghệ thuật” của nhiều nhà văn ở thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó chắc hẳn cũng để lại nhiều thành công cho nhà văn và cho văn học Việt Nam. Khi đặt bút viết “ Đôi mắt, Nam Cao đặt ra một vấn đề bức xúc nhà văn nghệ sĩ lúc bấy giờ: vấn đề cách nhìn, quan điểm- đối với cuộc kháng chiến, đặc biệt là đối với nhân dân, những người đã làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám và đang đóng vai trò chủ chốt trong cuộc kháng chiến. Không những thế đó còn là quan điểm của ông về cách nhìn của ông về lập Vấn đề lập trường của họ đối với cuộc kháng chiến của dân tộc. Truyên ngắn đôi mắt ra đời vì sao lại đặt ra vấn đề cách nhìn vào thời điểm ấy? và đặt ra cho ai? Những đối tượng mà tác giả hướng tới chính là tầng lớp văn nghệ sĩ trước 1945, tuy yêu nước và có tinh thần dân tộc, đi theo cách mạng, nhưng chưa thật hiểu cách mạng, hiểu nhân dân và kháng chiến. Chính vì những lí do này thì làm sao có thể nhìn đúng để viết đúng được, có thể phục vụ cuộc kháng chiến bằng ngòi bút của mình? Và Nam Cao đã giúp họ “gỡ nứt” bằng truyện ngắn Đôi mắt để từ đó xác lập cho họ một lập trường và một cách nhìn để giải tỏa những băn khoăn, vướng mắc trong ngòi bút của họ Truyện ngắn Đôi mắt không chỉ là vấn đề bức xúc lúc bấy giờ mà còn là vấn đề cốt tử, vĩnh hằng của văn nghệ sĩ: “thế giới quan quyết định sáng tác nghệ thuật”. Cách nhìn hiện thực đúng thì sẽ đem lại những tác phẩm tốt, có ích cho đời, và ngược lại. để có cách nhìn đúng đắn, thì điều tiên quyết là nhà văn phải có một chỗ đứng đúng đắn: ở giữa cuộc sống cách mạng của nhân dân, của đất nước. Trong tác phẩm Nam Cao đã đặt ra vấn đề cốt tử này bằng một hình tượng nghệ thuật sóng đôi hấp dẫn, sinh động với hai nhân vật có lập trường và cách nhìn đối lập nhau: Hoàng và Độ mà Hoàng là tiêu biểu cho loại người có cách nhìn sai lệch, phiến diện Nam Cao gọi là “nhìn một phía”với thái độ hằn học, khinh miệt quần chúng,ông ta chỉ chăm chăm nhìn vào hiện tượng bên ngoài mà không thấy được bản chất tốt đẹp bên trong của người nông dân yêu nước kháng chiến. Độ – nhà văn có cách nhìn đúng đắn, toàn diện với thái độ thông cảm và tin tưởng. Trước sự việc anh nông dân vác tre đi rào làng kháng chiến, Hoàng chỉ thấy đó là một con người “ngố và nhặng xị”,; nhưng Độ lại thấy ở anh một tấm lòng yêu nước thật hồn nhiên và vô tư.Cách nhìn khác nhau ấy, do chỗ đứng khác nhau của hai nhà văn quyết định, sống một cuộc sống cá nhân, ích kỉ, xa rời nhân dân, tách biệt hẳn cuộc sống kháng chiến như Hoàng thì không thể cổ cách nhìn giống như Độ – một nhà văn của nhân dân, sống hòa mình cùng quần chúng phục vụ kháng chiến. Ở văn sĩ Hoàng và Hoàng giữ vững lập trường của mình. Như vậy thông qua tác phẩm cho ta thấy một điều lập trường quyết định “đôi mắt”, quyết định cách nhìn Nguồn: Bài văn hay
Phân tích truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao
702
Phân tích truyện ngắn Đời thừa Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn Đời thừa Đời thừa là truyện về một nhà văn nghèo bất đắc dĩ. Đề tài ấy không thật mới: đương thời, đã có Mực mài nước mắt(Lan Khai), Nợ văn (Lãng Tử), nhiều trang tuỳ bút của Nguyễn Tuân, nhiều vần thơ của Tản Đà, Nguyễn Vỹ, Trần Huyền Trân…, hai câu thơ rất quen thuộc của Xuân Diệu:“Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt – Cơm áo không đùa với khách thơ”… Tất cả đều đã nói thấm thía về cảnh nghèo túng đáng thương của người cầm bút. Đời thừa cũng như một số sáng tác của Nam Cao gần gũi với nó về đề tài, giọng điệu, tư tưởng: Trăng sáng, Nước mắt,Sống mòn… – đã ghi lại chân thật hình ảnh buồn thảm của người tri thức tiểu tư sản nghèo. Tuy không đến nỗi quá đen tối, “tối như mực” lắm khi “đen quánh lại” – chữ dùng của Nguyễn Tuân -, như cuộc sống của quần chúng lao động thường xuyên đói rét thê thảm, nhưng cuộc sống của những người “lao động áo trắng”, những “vô sản đeo cổ cồn” đó cũng toàn một màu xám nhức nhối: “không tối đen mà xam xám nhờ nhờ” (Xuân Diệu). Vì nghèo túng triền miên, vì “chết mòn” về tinh thần. Trong bức tranh chung về cuộc sống người tiểu tư sản nghèo, Nam Cao đã góp vào những nét bút rất mực chân thật và sắc sảo, làm cho hình ảnh vừa bi vừa hài của lớp người này trở nên đầy ám ảnh. Trong mảng sáng tác về đề tài tiểu tư sản của Nam Cao, Đời thừa có một vị trí đặc biệt. Cũng như tiểu thuyết Sống mòn, Đời thừa là sự tổng hợp của ngòi bút Nam Cao trong đề tài tiểu tư sản, là tác phẩm đã thể hiện khá hoàn chỉnh tư tưởng nghệ thuật cơ bản của nhà văn. Có điều, trong khuôn khổ truyện ngắn, sự tổng hợp ấy không xảy ra trên bề rộng mà chủ yếu tập trung đi vào bề sâu. Giá trị của Đời thừa không phải chỉ ở chỗ đã miêu tả chân thật cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người trí thức tiểu tư sản nghèo, đã viết về người tiểu tư sản không phải với ngòi bút vuốt ve, thi vị hoá, mà còn vạch ra cả những thói xấu của họ v.v… Cách nói đó dường như xác đáng, song chỉ thấy một lớp ý nghĩa, lớp thứ nhất, lớp bên trên của tác phẩm. Mà với Nam Cao, cách nhìn như vậy thật tai hại, vì nó “bất cập”, vô tình thu hẹp và hạ thấp rất nhiều tầm tư tưởng của truyện. Khác với các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, truyện của Nam Cao thuộc loại có nhiều lớp nghĩa, tư tưởng truyện không phải luôn trùng khít với nội dung cuộc sống đựơc phản ánh trong truyện. Trong khi dựng lại chân thật tình cảnh nhếch nhác của người trí thức nghèo, ngòi bút Nam Cao đã tập trung xoáy sâu vào tấn bi kịch tinh thần của họ, qua đó, đặt ra một loạt vấn đề có ý nghĩa khái quát xã hội và triết học sâu sắc. Chuyện Hộ “mê văn”, có “hoài bão lớn” về văn chương và khao khát tên tuổi chói sáng, là một hiện tượng phổ biến, có ý nghĩa điển hình. Với Đời thừa (sau đó là Sống mòn), Nam Cao đã đề cập gần như trực diện tới vấn đề cá nhân, nói lên yêu cầu được khẳng định và phát triển của cá nhân – vấn đề mà lâu nay, người ta tưởng đâu chỉ đặt ra trong văn học lãng mạn đương thời. Quả là chủ đề cá nhân không có trong sáng tác của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, nhưng lại là chu đề tâm huyết của Nam Cao. Và niềm khao khát được làm đầy trái tim, khao khát được sống mạnh mẽ, sâu sắc, chói sáng, vượt lên trên cái bằng phẳng tầm thường, sự ghê sợ điệu sống mòn mỏi, đơn điệu, vô vị…, là những điều da diết ở tác giả Phấn thông vàng, Kinh cầu nguyện của những kẻ đi làm, tác giả Thiếu quê hương, Tuỳ bút (I, II), Chiếc lư đồng mắt cua…, nhưng cũng chính là những điều nung nấu ở tác giả Đời thừa, Sống mòn. Chủ đề ấy chính là một biểu hiện mới mẻ của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam thế kỷ XX này. Có điều là, nếu như phần nhiều cái “tôi” trong văn học lãng mạn trong khi giãy giụa “nổi loạn” “chống lại xã hội thù địch với nó, nó càng ngày càng khép kín, chỉ còn tự thực hiện và tự “phát triển” trong sự đối lập với xã hội; thì ở Nam Cao, yêu cầu khẳng định và phát triển cá nhân luôn gắn liền với trách nhiệm xã hội, hướng theo lí tưởng nhân tạo tiến bộ. Hoài bão cá nhân mà Hộ say mê đạt tới để tự khẳng định trước cuộc đời là một sự nghiệp văn chương, nhưng là thứ văn chương chân chính, mang tinh thần nhân đạo cao đẹp, “nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình”… Có lẽ trong văn học đương thời, không ai ngoài Nam Cao đã đặt ra vấn đề cá nhân một cách đúng đắn và tiến bộ như vậy. Nhưng cái xã hội ấy nếu kích thích sự thức tỉnh ý thức cá nhân thì đồng thời, đã đẩy cá nhân vào tình trạng bị đè bẹp. Đó là tất cả tấn bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm trong đời sống tinh thần thế hệ 1930 khi đó. “Hoài bão lớn” mà Hộ quyết đạt tới bằng một ý chí phi thường đã không thể thực hiện được. Hộ gặp Từ giữa lúc người con gái bất hạnh đó đang “đau đớn không bờ bến”: bị một gã Sở Khanh bỏ rơi với đứa bé mới đẻ… Hộ đã “cuối xuống nỗi đau khổ của Từ (…) mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ”. Trước số phận đau khổ của con gnười, anh không còn có thể coi “nghệ thuật là tất cả” mà đã hành động như một con người chân chính. Nhưng điều đó đã gây nên nguy cơ phá hỏng sự nghiệp của anh. Từ khi “ghép cuộc đời của Từ vào cuộc đời của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo”. Hộ không thể “khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất” như trước đây, mà trái lại, phải ra sức kiếm tiền. Và “những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lí nhưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì giờ của hắn”. Nhưng không phải chỉ thì giờ. Là người hiểu rất rõ viết văn là một hoạt động sáng tạo không ngừng, phải “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”, Hộ cay đắng nhận ra rằng mình “là một kẻ vô ích, một người thừa”, bởi vì, “hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đên cho văn chương”. Người nghệ sĩ sáng tạo trước đây trong Hộ đã chết. Hộ đau buồn vô hạn vì cảm thấy đời mình đã bỏ đi, không gì cứu vãn được: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi!”. Tấn bi kịch tinh thần đau đớn của Hộ là ở đó. Đây không phải chỉ là bi kịch của một nhà văn không thành đạt, cũng không phải là bi kịch “vỡ mộng” của những chàng trai nghèo tỉnh lẻ cay cú muốn nhập vào xã hội thượng lưu Pari nhưng bị ném trả tàn nhẫn trong tác phẩm của Banzắc. Đây là bi kịch của con người có ý thức sâu sắc về sự sống, muốn vươn lên một cuộc sống chân chính, trong đó cá nhân được phát triển bằng sự nghiệp tinh thần có ích cho xã hội, nhưng đã bị nhấn chìm trong lối sống mà anh ta rất khinh ghét vì không xứng đáng với con người. “Còn gì đau đớn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì để nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt?“. Trong Sống mòn, cuốn tiểu thuyết dày dặn đã triển khai một cách hệ thống chủ đề này, tiếng kêu đó lại cất lên một cách thống thiết: “Đau đớn thay những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất!” Cũng như nhà văn Hộ, anh giáo Thứ đau đớn vì cuộc đời khốn nạn cứ bắt anh phải sống “cái lối sống quá ư loài vật, chẳng biết một việc gì ngoài cái việc đổ thức ăn vào dạ dày”! Đó là nỗi đau tinh thần to lớn, không nguôi và không gì có thể xoa dịu được đối với người trí thức khát khao sáng tạo, khát khao khẳng định trước cuộc đời “khao khát muốn lên cao“… Xoáy sâu vào bi kịch tinh thần này, Nam Cao đã lên án sâu sắc cái hiện thực tàn nhẫn đã vùi dập mọi ước mơ, hoài bão của con người, tước đi ý nghĩa sự sống chân chính thật sự xứng đáng với con người. Nhưng tấn bi kịch tinh thần của nhà văn Hộ không chỉ có thế. Từ cái bi kịch đau đớn dai dẳng vì phải sống cuộc “đời thừa”, Hộ cũng đã lâm vào một bi kịch thứ hai cũng rất đau đớn, thậm chí, đau đớn hơn nữa. Đó là bi kịch của con người coi tình thương là nguyên tắc, là đạo lí cao nhất, nhưng lại vi phạm vào chính nguyên tắc, đạo lí thiêng liêng đó của mình. Trước mắt Hộ, có một con đường giải thoát: thoát li vợ con. Có thế anh mới có thể rảnh rang theo đuổi sự nghiệp văn chương là lẽ sống của đời anh. Tức là để đạt được “hoài bão lớn”, thực hiện được lí tưởng mà anh hằng say mê, anh phải tự gỡ bỏ sợi dây ràng buộc của tình thương. Đã có cả một triết lí cao siêu, đầy hấp dẫn bênh vực, khuyến khích anh làm điều đó. Một triết gia nổi tiếng phương Tây đã ném ra câu nói hùng hồn: “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Câu nói có giọng điệu của chủ nghĩa siêu nhân của Nitsơ, tư tưởng gia tiền bối của chủ nghĩa phát xít đó, không phải không có sức hấp dẫn đối với những kẻ đang khát khao “sống cho mạnh mẽ”, khao khát khẳng định cá nhân như Hộ. Nhưng mặc dù nỗi đau đớn vì “đời thừa” to lớn đến đâu, nỗi mong mỏi được giải thoát mãnh liệt đến đâu. Hộ vẫn không thể lựa chọn cách giải quyết ấy. Bởi vì, thoát li vợ con để rảnh thân – dù là vì gì chăng nữa – vẫn cứ là tàn nhẫn, vứt bỏ lòng thương. “Hắn có thể hi sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỉ đi; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là người”. Như vậy là, với Hộ, tình thương là tiêu chuẩn xác định tư cách làm người; không có tình thương, con người chỉ là “một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái”. Khi cuộc đời tàn nhẫn buộc anh phải lựa chọn một trong hai thứ: nghệ thuật và tình thương, anh đã hi sinh nghệ thuật để giữ lấy tình thương, hi sinh lẽ sống thứ nhất cho lẽ sống thứ hai, dù đây là sự hi sinh quá lớn đối với anh. Như vậy là, một lần nữa, người nghệ sĩ say mê lí tưởng nghệ thuật, có thể hi sinh tất cả cho nghệ thuật ấy, đã hi sinh nghệ thuật cho tình thương, cái mà anh còn thấy cao hơn cả nghệ thuật. Việc dứt khoát đặt tình thương, trách nhiệm đối với con người lên trên nghệ thuật như vậy, cũng như lời phát biểu của Hộ về thế nào là một tác phẩm văn chương “thật giá trị” cho thấy cái gốc nhân đạo sâu vững của nhà văn lớn Nam Cao. Ở Hộ có khác. Anh từ bỏ nghệ thuật không phải như từ bỏ một đam mê tội lỗi, cũng không phải như từ bỏ một sở thích, sở nguyện. Nghệ thuật với anh có ý nghĩa lớn lao, thiêng liêng hơn nhiều. Đó là lẽ sống đời anh, là lí tưởng anh hằng theo đuổi, là cái chứng tỏ sự có mặt của anh trên cõi đời này. Chính vì vậy mà, tuy Hộ không băn khoăn nhiều khi phải lựa chọn tình thương, trách nhiệm thay cho nghệ thuật, khi từ chối lời kêu gọi thoát li vợ con để được “sống cho mạnh mẽ” và thực hiện “hoài bão lớn” của đời mình, nhưng sau sự lựa chọn ấy anh không thể yên tâm thanh thản mà vẫn đau khổ dai dẳng, lúc ngấm ngầm âm ỉ, lúc nhói lên dữ dội. Và anh cứ bị giày vò bởi mặc cảm cay đắng là đang sống một cách vô ích, vô nghĩa, là “một người thừa”. Con người “khao khát bay lên cao” và không thiếu tài năng và ý chí để thực hiện khao khát của mình ấy làm sao không đau khổ u uất trong tình cảnh đó? Hộ đã cố hi vọng sau vài năm bỏ phí để kiếm tiền, cho người vợ có được cái vốn con để làm ăn, anh lại có thể trở lại với con đường sự nghiệp của mình. Nhưng cuộc sống cơm áo ngày càng chẳng dễ dàng khiến cho hi vọng của Hộ trở thành hão huyền và tình cảnh của Hộ trở nên hoàn toàn bế tắc. Gánh nặng cơm áo chẳng hề nhẹ đi mà cứ ngày càng nặng thêm mãi: “Đứa con này chưa kịp lớn lên, đứa con khác đã vội ra, mà đứa con nào cũng nhiều đẹn, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc. (…) Hộ điên người lên vì phải xoay tiền”. Và những “bận rôn tẹp nhẹp vô nghĩa lí” đó chẳng những làm tiêu tan hi vọng về sự nghiệp của Hộ mà còn thường xuyên phá hoại sự yên tĩnh, thư thái của tâm hồn là điều rất quan trọng đối với người trí thức sáng tạo: ” Hắn còn điên lên vì con khóc, nhà không lúc nào yên tĩnh để cho hắn viết hay đọc sách. Hắn thấy mình khổ quá, bực bội quá. Hắn trở nên cau có và gắt gỏng. Hắn gắt gỏng với con, với vợ, với bất cứ ai, với chính mình. Và nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mắt chan chứa nước, mặt hầm hầm, vùng vằng đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn”. Đi ra phố để thoát khỏi “không khí bực tức ở trong nhà” hay tìm người bạn nào để nói chuyện văn chương cho vơi nỗi lòng, nhưng chẳng đi đâu trốn được bản thân mình, Hộ chỉ càng nung nấu thêm tâm sự u sầu: “Hắn lặng lẽ nghĩ đến cái tác phẩm dự định từ mấy năm nay để mà chán ngán. Hắn thừ mặt ra như một kẻ phải đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhớ quê hương (…) Lòng hắn rũ buồn”… Như một thông lệ, người nghệ sĩ bất đắc chí ấy tìm đến sự giải sầu giải uất trong men rượu. Nhưng cả rượu cũng chẳng làm vơi đi mà chỉ như càng làm cho anh thấm thía thêm nỗi khổ sở đắng cay của mình. Và anh trút nó vào vợ con mà anh thấy là nguồn gốc trực tiếp của tình cảnh bế tắc của đời anh. Con người giàu tình thương, đã từng hi sinh những gì quý giá, thiêng liêng của mình cho tình thương và trách nhiệm đối với vợ con đó, đã hơn một lần đối xử phũ phàng thô bạo với vợ con mình, như một gã vô lại. Anh đã gây khổ cho người vợ rất đáng thương, “rất ngoan, rất phục tùng, rất tận tâm” đối với anh và cũng khổ sở không kém gì anh. Tức là anh đã vi phạm vào nguyên tắc, đạo lí làm người cao nhất của chính mình. Cái bi kịch thứ nhất – không thực hiện được hoài bão lớn – tuy rất đau đớn nhưng còn lí do để an ủi: hi sinh sự nghiệp vì tình thương,c òn bi kịch thứ hai này – lẽ sống tình thương bị vi phạm – thì không có gì an ủi, biện hộ được. Và nếu Hộ phải từ bỏ con đường sự nghiệp là do áp lực của hoàn cảnh, thì sự vi phạm vào nguyên tắc tình thương lại trực tiếp do bản thân anh. Vì thế mà nó chua xót vô cùng,. Tỉnh rượu, nhớ lại hành vi của mình, Hộ hối hận tới đau đớn. Khi rón rén bước lại gần người vợ đang nằm bế con ngủ mệt trên võng, nhận ra từ cái “dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não”, “cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ”, từ khuôn mặt xanh xao, có cạnh, có đôi mắt thâm quầng, đến bàn tay “xanh trong xanh lọc”, “lủng củng rặt những xương”…, tất cả đều “lộ một cái gì mềm yếu, một cái gì ẻo lả”, “một vẻ bạc mệnh, một cái gì đau khổ và chật vật”, Hộ đã “khóc núc nở”, nước mắt “bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh”… Anh đau đớn vì nghĩ đến lối cư xử tồi tệ của mình đối với người vợ đáng phải được anh an ủi, che chở đó… Tiếng khóc của Hộ, cũng giống như tiếng khóc của nhân vật Thứ trong Sống mòn – nghe tin Đích ốm nặng, Thứ thầm mong Đích chết, và ngay lúc ấy, Thứ đã khóc -, là những tiếng khóc “khóc cho cái chết của tâm hồn”. Hộ nghẹn ngào nói với Từ, giọng nói đẫm nước mắt: “Anh… anh… chỉ là… một thằng… khốn nạn”. Anh không thể nào tha thứ cho mình. Trong sáng tác, Nam Cao đã nhiều lần đề ập và ca ngợi nuớc mắt. Nhân vật tiểu tư sản của ông có không ít tật xấu và lỗi lầm, nhung thường là những người hay bị hối hận giày vò và thường khóc vì hối hận. Đó không phải là thứ “hối hận” ồn ào hời hợt của những kẻ lấy việc xỉ vả mình để khoe khoang; cũng không phải thứ hối hận có chu kì củ nhiều kẻ tiểu tư sản dùng để xoa dịu cái lương tâm rách nát của mình trong khi vẫn buông mình theo cái xấu. Mà đó là sự giằng xé chảy máu của những tâm hồn trung thực, khát khao hướng thiện. Với Nam Cao, nước mắt là biểu tượng của tình thương và ông gọi nước mắt là “giọt châu của loaì người”, là “miếng kính biến hình vũ trụ”. Giọt nước mắt của Hộ lúc này đã thanh lọc tâm hồn, nâng đỡ nhân cách của anh, giữ anh lai trước vực thẩm sa ngã. Điều đáng chú ý là trong khi miêu tả rất chân thực tình trạng con người bị đẩy vào chỗ phải tàn nhẫn, Nam Cao vẫn dứt khoát lên án cái ác, bảo vệ tình thương. Nếu đương thời, không ít cây bút gọi là “tả chân”, là “xã hội”, đã đồng tình, biện hộ và đề cao những nhân vật vứt bỏ lương tâm, vứt tình thương yêu đồng loại, tự cho phép làm điều ác nhân danh sự trả thù xã hội bất công tàn bạo, thì Nam Cao trước sau không bao giờ chấp nhận cái ác. Nhân vật của ông dù lâm vào tình thế bi kịch bế tắc, vẫn vật vã quằn quại cố vươn lên lẽ sống nhân đạo. Song, nước mắt chỉ là… nước mắt; nó đâu phải là sức mạnh vạn năng để có thể xoay lại cuộc đời, cứu được loài người! Nhân vật của Nam Cao vẫn bế tắc và bi kịch của họ không cách gì gỡ ra được. Tác phẩm của Nam Cao không mở ra triển vọng cho sự giải thoát. Và thực ra, làm cho con người “thoát khỏi những xiềng xích của cái đói và cái rét” (Sống mòn), để không chỉ hoạt động kiếm sống trong “vương quốc tất yếu” mà còn có thể bước ra hoạt động trong “vương quốc tự do” – the cách nói của Mác – để con người có thể phát triển tự do và toàn diện, là việc mà lịch sử không dễ dàng thực hiện. Nhưng, từ những câu chuyện sinh hoạt thường nhật bề ngoài tầm thường Nam Cao đã gióng lên tiếng chuông báo động về sự huỷ diệt giá trị sự sống và nhân cách. Đó cũng là lời kêu cứu thống thiết: hãy bảo vệ tình thương để cứu lấy con người, và con người hãy tự cứu lấy mình! […] Xây dựng nhân vật Hộ, Nam Cao không quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách bằng những nét cá tính độc đáo gây ấn tượng đậm – khác với đám nhân vật trong Giông tố, Số đỏ, Tắt đèn và cả Chí Phèo. Ông tập trung đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật và làm nổi bật bi kịch tinh thần của người trí thức đó. Và ở đây, nổi bật sở trường miêu tả, phân tích tâm lí con người của nhà văn, nhất là khi miêu tả sự diễn biến tâm lí và cho thấy quy luật tâm lí con người. Có thể nói, trong đội ngũ tác giả văn xuôi đông đảo nhiều tài năng đương thời, chưa có ai có được ngòi bút tinh tế, sâu sắc trong việc khám phá, thể hiện tâm lí như Nam Cao. Sức hấp dẫn nghệ thuật của Đời thừa – và của mảng sáng tác về người tiểu tư sản của Nam Cao – một phần quan trọng cũng là ở đó.
Phân tích truyện ngắn Đời thừa
3,812
Phân tích truyện ngắn ‘Gió lạnh đầu mùa’ của Thạch Lam Hướng dẫn Truyện ngắn ‘Gió lạnh đầu mùa’ có cốt truyện đơn giản nói về chuyện cho áo, trả áo rét giữa ba đứa trẻ và hai người mẹ nơi phố huyện nghèo, cách chúng ta ngày nay trên 60 năm trời. Đúng như có ý kiến đã cho rằng: ‘Truyện… tuy có nói đến gió lạnh nhưng lại ấm áp tình đời và tình người’. 1. Truyện mở đầu bằng cảnh gió lạnh, đó là một buổi sáng mùa đông. Cái rét mướt chợt đến chỉ sau một đêm mưa rào, trời nổi gió bấc. Sơn ngủ dậy thấy mọi người trong nhà, mẹ và chị… ‘đã mặc áo rét cả rồi’. Ngoài sân ‘Gió vi vu… thổi lăn những cái lá khô lạo xạo’. Rét lắm, trời ‘một màu trắng đục’. Những cây lan trong chậu ‘lá rung động và hình như sắt lại vì rét’. Lạnh lắm, Sơn ‘co ro’ đứng dậy sau khi kéo chăn lên đắp cho em nhỏ. Gió lạnh mà ấm áp tình đời. Cả nhà nhớ đến những mùa đông lạnh lẽo đã qua. Nhìn chiếc áo bông cánh xanh đã cũ nhưng còn lành, mẹ Sơn nói: ‘Đây là cái áo của cô Duyên đấy’. Vú già, người đã nuôi Duyên từ lúc mới đẻ ‘với lấy cái áo lật đi lật lại ngắm nghía, tay mân mê các đường chỉ’. Bé Duyên đã chết từ năm lên bốn tuổi. Nghe mẹ nói, Sơn ‘nhớ em, cảm động và thương em quá’. Nhìn thấy mẹ ‘yên lặng…’, Sơn xúc động khi thấy mẹ ‘hơi rơm rớm nước mắt’. Cái áo bông, một di vật của bé Duyên bạc mệnh để lại, gợi lên bao nỗi đau và tình thương: tình mẹ con, tình anh em, tình thương của vú già nhân hậu. Tình tiết nói về chiếc áo bé Duyên cho thấy ngòi bút Thạch Lam rất tinh tế, giàu xúc cảm, ‘tâm hồn nhạy cảm và từng trải về sự đời’ (Nguyễn Tuân). Tinh tiết, cái Hiên con nhà mò cua bắt ốc đứng ‘co ro’ bên cột quán, trong gió lạnh chỉ mặc có manh áo ‘rách tả tơi’, ‘hở cả lưng và tay’ được tác giả nhắc đến thật xúc động. Sơn ‘động lòng thương’ chợt nhớ ra mẹ cái Hiên rất nghèo, nhớ đến em Duyên ngày trước vẫn cùng chơi với Hiên ở vườn nhà. Chị Lan và Sơn đã bàn với nhau cho cái Hiên chiếc áo bông cũ. Chị Lan ‘hăm hở’ chạy về nhà lấy áo. Sơn yên lặng đợi chờ, trong lòng tự nhiên thấy ‘ấm áp vui vui’. Chiếc áo bông cũ đối với cái Hiên lúc bấy giờ là vô giá. Em đang sống trong cảnh nghèo, đói rét. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Cái áo cũ mà chị em Sơn đem cho cái Hiên chứa đựng biết bao tình người, thể hiện tình cảm san sẻ ‘lá lành đùm lá rách’. Trong gió lạnh đầu mùa mà thế giới trẻ con lại ấm áp tình người cao quý. 3. Phần cuối truyện mở ra một tình huống mới: trả áo và cho vay tiền mua áo. Mẹ cái Hiên đã đem cái áo bông đến trả cho bà mẹ của chị em Sơn và nói: ‘Tôi về thấy cháu nó mặc cái áo bông, tói hỏi ngay. Nó bảo của cậu Sơn cho nó. Tôi biết cậu ở đây đùa, nên tôi phải vội vàng đem lại đây trả mợ…’. Thạch Lam là một cây bút, một thành viên của Tự lực văn đoàn. Sau hơn nửa thế kỉ, văn chương của Tự lực văn đoàn, nói chung đã rơi dần vào quên lãng. Thế nhưng truyện ngắn Thạch Lam vẫn đem đến cho ta nhiều ‘nhã thú’, có lẽ vì tâm hồn ông giàu tình thương và quý trọng người nghèo, ông đã dành cho tuổi thơ những trang văn đậm đà, trong sáng. Và ta càng thấy rõ tình nhân đạo thấm đẫm làm nên chất thơ trong truyện ngắn Thạch Lam. Vì thế, truyện ‘Gió lạnh đầu mùa’ mãi mãi để lại trong lòng người sự ấm áp của tình người và tình đời. Đúng, ‘người nhân hậu là người đáng quý trọng, đáng yêu nhất’.
Phân tích truyện ngắn ‘Gió lạnh đầu mùa’ của Thạch Lam
717
Đề bài: Phân tích truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen ri Bài làm Nhà văn O Hen ri là một ngôi sao sáng lấp lánh trong nền văn học của nước Mĩ. Những tác phẩm của ông đều chứa đựng tinh thần nhân văn cao cả sâu sắc. Truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” là tác phẩm vô cùng sâu sắc, thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc, một tác phẩm thể hiện tinh thần nhân đạo, tình người sâu sắc. Ngòi bút của nhà văn O Hen ri đã vô cùng tinh tế khi có thể vẽ lên những mảnh đời vô cùng bất hạnh nhưng chứa đựng nhiều tình cảm sâu sắc. Câu chuyện xoay quanh những nhân vật đều là họa sĩ, trong một ngôi nhà trọ tồi tàn có ba người họa sĩ một già là cụ Bơ Men, một ông lão khốn khổ luôn mong muốn tạo ra một tác phẩm kiệt tác để đời. Nhưng ông lại phải ngồi làm mẫu vẽ cho những người họa sĩ trẻ, sinh viên mỹ thuật mới vào nghề, để kiếm vào đồng kiếm sống qua ngày. Cuộc sống mưu sinh gian khổ vô cùng vất vả, làm cho ông quyền dần ước mơ thánh thiện của mình. Hai người con gái trẻ, Giôn xi, và Xiu trong đo Giôn xi bị phong hàn nhưng cô luôn tự kỷ ám thị rằng mình sắp chết. Mỗi ngày Giôn xi đều ngồi trên giường để đếm những chiếc lá ngoài cửa sổ và tưởng tượng rằng đến một ngày khi những chiếc lá cuối cùng trên cây rơi xuống thì cô gái sẽ chết. Lòng yêu thương con người của ông lão Bơ Men đã được khai thác nguồn cảm hứng để ông có thể đứng trong mưa tuyết, gió bão của mùa đông lạnh giá, vẽ lên kiệt tác của đời mình. Đó chính là Chiếc lá cuối cùng. Khi nghe Xiu cô bạn thân cùng nhà của Giôn xi đã kể cho ông lão Bơ Men nghe về niềm tin của Giôn xi khốn khổ. Chính vì vậy, ông cụ Bơ Men đã thức cả đêm để vẽ lên bức tranh chiếc lá cuối cùng. Để sáng hôm sau khi thức dậy Giôn xi cho rằng mình sẽ không còn nhìn thấy chiếc lá nào trên cây nữa, và mình sẽ chết. Nhưng thật bất ngờ, trên cái cây kia vẫn còn một chiếc lá mỏng manh. Nhờ chiếc lá cuối cùng vẫn còn tồn tại mà cô bé Giôn xi khốn khổ dần dần lấy lại hy vọng cho cuộc sống của mình. Cô tin rằng mình sẽ hết bệnh, rằng mình có thể tiếp tục theo học ở trường mỹ thuật, sẽ đi thực tế sáng tác khi mùa xuân tới. Rất nhiều ước mơ đã đến với cô gái trẻ trung nhưng thiếu niềm tin đó. Cuối cùng Giôn xi biết được một sự thật đau đớn để hoàn thành bức tranh kiệt tác đó ông họa sĩ già Bơ Men đã vĩnh biệt cõi đời, khi ông đứng cả đêm trong mưa tuyết để hoàn thành bức tranh cho Giôn xi khốn khổ. Kiệt tác ấy chính là kết quả của sự tích lũy kinh nghiệm sống, là sự tích lũy giá trị nghệ thuật hơn bốn mươi năm của một ông họa sĩ già. Cuối cùng ông Bơ Men đã thực hiện được ước mơ khát khao cháy bỏng của mình. Chính bác Bơ Men đã hy sinh đã trút hơi thở cuối cùng để nuôi dưỡng sự sống cho cô gái trẻ Giôn xi. Chính chiếc lá cuối cùng là điểm sáng của câu chuyện, nó được vẽ giống như thật, nó ra đời hoàn toàn vì một động cơ trong sáng. Ngòi bút của tác giả đã vô cùng sâu sắc khi viết lên một tác phẩm vô cùng hay thể hiện giá trị nhân văn cao cả trong từng chi tiết, khiến người đọc vô cùng xúc động.
Phân tích truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen ri
659
Đề bài: Phân tích truyện ngắn “Làng” của Kim Lân Bài làm Nhà văn Kim Lân là nhà văn hiện đại Việt Nam. Ông có một vốn sống vô cùng sâu sắc về người nông dân Việt Nam, những thú chơi dân gian mang cốt cách nông dân. Kim Lân là người gắn liền cuộc sống của mình với người nông dân, những tác phẩm của mình đều gắn liền với người dân gần gũi mộc mạc. Kim Lân là một người có cây bút điêu luyện, mỗi tác phẩm của ông đều gắn liền với người nông dân với muôn màu muôn vẻ khác nhau. Viết về đề tài nông dân hay đề tài kháng chiến truyện Làng của Kim Lân là tác phẩm thành công. Nhân vật chính của truyện ngắn chính là ông Hai một người trong lòng có nhiều ấn tượng tốt đẹp về quê hương về Làng của mình. Ông Hai chính là một ông lão nhà nông chất phác, hiền hậu, có lòng yêu nước tha thiết, tự hào về quê hương của mình. Ông gắn bó với cách mạng, quyết tâm đi theo kháng chiến và trung thành với sự lựa chọn vào cụ Hồ Chí Minh vĩ đại. Ông Hai cũng giống như hàng triệu người nông dân khác, ông hai có những cái đáng yêu cũng có những điều hạn chế của mình. Ông hay lam hay làm, chăm chỉ cần cù “Ở quê hương làm suốt ngày không có lúc nào ngơi tay ngơi chân”. Ông làm gì cũng giỏi, cày ruộng, cuốc đất, làm vườn… đều giỏi cả. Cái làng Chợ Dầu của ông Hai là nơi ông sinh ra lớn lên, nơi chôn rau cắt rốn của mình. Ông cũng rất tự hào về làng của mình bởi làng ông có loa thông tin cao nhất khu, làng ông có lát đá xanh…. Ông yêu làng Chợ Dầu của mình yêu một cách hồn nhiên, ngây thơ của một người nông dân ít học, nhưng chân thành sâu sắc. Nhắc lại chuyện xưa cũ nhà văn Kim Lân đã viết với giọng văn châm biếm nhẹ nhàng, sâu sắc, thể hiện tình cảm của nhân vật dành cho làng của mình cho quê hương, của mình. Quyết tâm theo kháng chiến, đặt lòng tin vào sự lãnh đạo của cụ Hồ Chí Minh là một trong những nét đẹp của người nông dân lao động. Kháng chiến thì khắp nơi diễn ra khiến cho người dân cũng phải đứng lên, ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí.. Nhưng một ngày ông Hai nghe tin sét đánh rằng làng Chợ Dầu của ông làm hán gian, làng theo Tây khiến cho ông Hai vô cùng đau đớn chua xót. Ông tủi nhục cúi gằm mặt để bước đi nằm vật ra giường như ốm nặng nước mắt tràn ra cổ họng nghẹn cứng, có lúc ông chửi chua chát. Ông yêu làng nhiều lắm nhưng làng mà theo Tây thì phải thù. Chính vì vậy, mà ông không muốn quay lại làng Chợ Dầu nữa. Lòng trung thành của người nông dân với vị lãnh tụ của dân tộc Việt Nam. Ông là người yêu nước, yêu làng, yêu quê hương của mình nhưng tất cả mọi tình cảm đều đặt dưới sự tồn vong sinh tử của tổ quốc. Vì thế, khi cái tin thất thiệt của cái làng Chợ Dầu đi theo Việt gian được cỉa chính ông Hai sung sướng vui mừng. Ông tươi vui rạng rỡ, ông đi khoe với mọi người, cặp mặt của ông sáng rực lên hung đỏ… Ông Hai đi khắp nơi để khoe tin làng Chợ Dầu vừa lập chiến công lớn, thể hiện niềm vui của ông sự tự hào của một người con yêu nước. Khi người đọc gấp lại trang sách chúng ta cảm thấy bồi hồi xúc động về tình yêu của ông Hai dành cho làng của mình về nghệ thuật tạo tình huống truyện hấp dẫn, khích tính hồi hộp. Thảo Nguyên
Phân tích truyện ngắn “Làng” của Kim Lân
666
Phân tích truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc- Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc- Văn lớp 12 Bài làm Tác giả Nguyễn Ái Quốc là một nhân vật yêu nước, nhà hoạt động cách mạng lỗi lạc của nhân dân ta. Trong thời gian này tác giả Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước Pháp, nên người có cơ hội phản hồi và biết được tình hình lúc đó. Ngay từ nhan đề của truyện ngắn “Vi hành” đã gợi lên sự tò mò cho người đọc vì Vi hành chỉ dành cho những người yêu dân, muốn giấu đi thân phận thật của mình để quan sát dân chúng sống như thế nào nhưng Khải Định là một vị vua ham sống sợ chết, bán nước cho thực dân Pháp, ông ta đi sang nước Pháp – Quốc mẫu nhằm mục đích riêng tư, vì lợi ích cá nhân chứ không phải vì dân chúng. Tác giả Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện sự khôn khéo trong phong cách của mình dưới dạng một bức thư gửi tặng em gái của mình. Truyện có yếu tố hư cấu nhưng nhờ đó nó gợi tả những sự thật, lật tẩy bộ mặt chuyến viếng thăm nước mẹ của Khải Đinh. Tác giả đã xây dựng tình huống truyện độc đáo bằng sự nhầm lẫn tai hại, khi mà nước Pháp nhìn ai da vàng mũi tẹt cũng đều là vua của nước An Nam. Đến cả chính quyền nước Pháp cũng không phân biệt được đâu là Nguyễn Ái Quốc người cần phải quản thúc theo dõi và đâu là vua Khải Định người cần phải tiếp đón. Trong thực tế sẽ không bao giờ có một sự việc nhầm lẫn tai hại như vậy, nhưng trong tác phẩm của mình tác giả đã thể hiện tình tiết khéo léo để làm cho truyện ngắn trở nên hấp dẫn hơn. Qua lời trò chuyện của đôi trai gái người da trắng mắt to mũi lõ người Pháp thì người đọc có thể tưởng tượng ra được chân dung của vị vua Khải Định khi đi sang Pháp với vẻ mặt ngây ngô lúng túng, thể hiện sự lố lăng… Trong mắt những người dân Pháp chúng coi thường khinh bỉ người gọi là vua của nước An Nam vô cùng, chẳng có gì là nể trọng cả. Hắn chẳng qua chỉ là một cây gỗ mục tạc thành tượng bắt mọi người phải thờ cúng mà thôi, chứ thực chất chẳng có tài cán gì. Đó cũng chính là sự thật thối nát của chế độ phong kiến cha truyền con nối xưa kia. Chính sự tinh tế, trong ngôn ngữ tình huống truyện độc đáo của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã xây dựng truyện ngắn Vi Hành thành công, gây ra những tiếng cười sâu sắc đả kích lớn với vua Khải Định với thái độ rúm ró bán nước hại dân. Sự độc đáo của truyện ngắn còn thể hiện ở cách viết châm biếm dí dỏm của tác giả. Thể hiện ngòi bút linh hoạt, văn phong ngắn gọn xúc tích nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Chất hài hước trong truyện mang tính sinh động, hoạt ngôn sôi nổi của phương Tây, nhưng chứa trong đó là sự sâu sắc của văn chương Phương Đông. Truyện ngắn Vi hành chứng minh cho khả năng sáng tạo nghệ thuật tinh tế, ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Ái Quốc. Trong mỗi tác phẩm của mình Nguyễn Ái Quốc đều chứa đựng những mục đích cách mạng, vũ khí đấu tranh cho tinh thần yêu nước của tác giả. Truyện ngắn “Vi hành” đã gây được một tiếng vang lớn đối với nhân dân ưa chuộng hòa bình trên thế giới. Những người có tư tưởng tiến bộ tôn trọng sự thật.
Phân tích truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc- Văn lớp 12
644
Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao Bài làm Truyện ngắn Đời thừa viết năm 1943. Có thể xem Đời thừa, về mặt chủ đề, góp phần chuẩn bị trực tiếp cho tiểu thuyết Sống mòn của nhà văn hoàn thành vào năm sau đó, năm 1944. Không phải ngẫu nhiên mà cả hai tác phẩm đều có tính chất tự truyện và nhan đề đều bộc lộ một tâm trạng, một tư tưởng sáng tạo gần gũi nhau. Đời thừa viết về cuộc sống của một trí thức nghèo, một nhà văn. Hộ là một con người trung thực, thương yêu vợ con, rất có trách nhiệm đối với gia đình, là một người cầm bút có suy nghĩ đúng đắn, nghiêm túc về nghề pghiệp, có hoài bão xây dựng được mội tác phẩm thật có giá trị “sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời”, thậm chí có thể được trao giải Nobel. Nhưng trong thực tế, Hộ phải chịu bao nhiêu cảnh buồn lo, cực nhục trong cuộc sống. Hộ phải làm quần quật nhưng vẫn không kiếm đủ tiền để nuôi sống gia đình, chạy chữa thuốc men cho một bầy con nhỏ quặt quẹo, ốm luôn. Là một người đàn ông, một người chồng, một người cha có tinh thần tự trọng, Hộ rất khổ tâm trước cảnh nhà túng thiếu, nhất là nhìn thấy Từ, vợ mình, người đàn bà đã chịu nhiều đau khổ với người tình cũ, đến với mình đầy ân nghĩa, lại phải chịu đựng, lầm lũi, vất vả quá. Lúng túng, khổ tâm vì chuyện gia đình. Hộ không mấy khi được ngồi viết văn một cách thanh thản, thực hiện được những điều mình ưa thích, mong muốn. Và bất chấp động cơ, ý nghĩa tốt đẹp, Hộ phải viết một cách cẩu thả, bôi bác, đế kiếm tiền, tạo ra những sản phẩm mà mỗi lần đọc lại “hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng, vò nát sách mà mắng mình như một thằng khốn nạn”. Những sự dằn vặt trong gia đình vì nghèo, vì cảnh vợ con nheo nhóc, thêm sự bất mãn, sự xấu hổ trong việc viết văn mà Hộ thiết tha và đặt bao nhiêu hi vọng, càng ngày càng biến Hộ thành một người bẩn tính, thô bạo, bất cần. Hộ mắng chửi vợ con, say rượu liên miên. Nhưng mỗi khi tỉnh lại, Hộ lại buồn bã, hối hận, càng thương vợ thương con và tự trách mình. Qua tác phẩm của Nam Cao, ta thấy những người tốt, những người có mơ ước hoài bão, những người lao động trung thực, cần cù, sao mà khổ quá, khổ cả về vật chất và tinh thần! Trong hoàn cảnh như vậy, những người như Từ chỉ biết chịu đựng, nhẫn nhục, và càng hiểu chồng, thương chồng. Nhưng Hộ là một nhà văn, Hộ càng thấy hoàn cảnh sống thật là nặng nề, không lối thoát, một bi kịch thật sự. Hộ có lúc nói ra miệng là vợ con làm khổ mình, nhưng trong thâm tâm anh biết không phải như vậy. Chẳng biết trách ai, anh tự trách mình, xỉ vả mình, gặm nhấm một mình nỗi bất bình và đau khổ. Nhân vật chính trong tác phẩm là nhà văn. Cho nên trong tác phẩm, thông qua cuộc sống và nhất là suy nghĩ của nhân vật Nam Cao đã đề cặp trực tiếp đến một vấn đề mà ông thường xuyên quan tâm, đó là vấn đề sáng tạo nghệ thuật, quan niệm và yêu cầu của ông về văn chương. « … Này, Từ ạ… Nghĩ cho kỉ, đời tôi không đáng khổ mà hóa khổ, chính tôi làm cái thân tôi khổ, tôi mê văn quá nên mới khổ. Ấy thế, mà tuy khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi. Tôi cho rằng: những khi được đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay thì dẫu ăn một món ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm! Sao thiên hạ lại có người tài đến thế?” Theo Hộ, một tác phẩm thật có giá trị, tác phẩm Hộ mong viết được trong cả một đời văn của mình, không thể chỉ có giá trị địa phương thôi, không chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội, mà “Phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau dớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tính bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn” Chắc chắn đó cũng là mong ước, là yêu cầu của Nam Cao về một tác phẩm hay, về văn chương. Văn chương không chỉ là nghề mà còn là nghiệp, một sự ràng buộc, một nhu cầu nội tại văn chương, về phương diện sáng tác cũng như thưởng thức, là nỗi đau mà cũng là niềm vui, là hạnh phúc, tự nguyện của từng người. Văn chương là lĩnh vực của tài năng, của sự liên tài. Tác dụng cao quý của văn chương là nhân đạo hóa xã hội và cuộc sống, làm cho con người cảm thông với nhau, gần gũi nhau. Nam Cao phê phán nghiêm khắc bệnh cẩu thả trong văn chương xem những người viết văn cẩu thả là những tên bất lương. Ông viết: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Nam Cao cũng khẳng định rất rõ ràng viết văn, làm nghệ thuật là tìm tòi phát hiện, sáng tạo: không ngừng, mang đến cho người đọc một cái gì lạ, một cái gì mới, một cái gì độc đáo, mà điều này thì chỉ có tài năng và công phu mới làm được. Nam Cao viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”! Đó là quan niệm rất chính xác, một yêu cầu rất cao về văn chương. Nhà văn, nghệ sĩ tất nhiên phải biết “hành nghề”, phải am hiểu về kĩ thuật, phải “khéo tay” ở một mức độ nhất định, nhất là trong một số ngành nghệ thuật nào đó, chẳng hạn như điêu khắc, biểu diễn âm nhạc v.v… Nhưng nhà văn, nghệ sĩ, về bản chất hoạt động mà nói, không phải là người thợ, cho dù là thợ khéo tay, làm theo những kiểu mẫu có sẵn, theo “đơn đặt hàng” của người khác. Văn chương nghệ thuật là hoạt động tinh thần, là “Thôi thúc bên trong” là tình cảm, tư tưởng không nén nổi của người nghệ sĩ cất lên thành lời, thành nhạc, thành tranh… Chỉ có thứ văn chương “gan ruột”, không viết ra không được đó mới rung động được tâm hồn người khác, mới có giá trị. Theo Nam Cao những nguời cầm bút chì viết được những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm nông cạn, “diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi”, chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương, là những kẻ vô ích, những người thừa. Trong tác phẩm, Nam Cao đã dùng các khái niệm người thừa, đời thừa theo một nghĩa xác đinh. Thừa là không có ích, không cần thiết cho con người, xã hội. Chỉ có những con người trung thực, những người có suy nghĩ đúng và có yêu cầu về giá trị của con người trong cuộc sống, về sự sáng tạo đích thực, mới biết thế nào là thừa, mới dám nhận và xót xa về tình trạng thừa của mình. Người thừa, đời thừa là một nhận thức, một tiếng kêu về sự vô vị, bế tắc trong cuộc sống. Chủ đề này Nam Cao đã nêu ra dưới dạng này, dạng khác trong nhiều truyện ngắn của mình, đặc biệt là sau này đã khai thác một cách rộng hơn, sâu hơn trong tiểu thuyết Sống mòn. Những nhân vật của Nam Cao, đặc biệt là những nhân vật trí thức, thường sống nhiều với nội tâm. Để trình bày đời sống bên trong của nhân vật, có khi tác giả trực tiếp dùng biện pháp miêu tả tâm lí, nhưng lại hay để cho nhân vật tự bộc lộ, tự nói với mình, “độc thoại bên trong”. Trong Đời thừa, Nam Cao cũng kết hợp hai biện pháp: miêu tả những hành động cử chỉ của nhân vật, quan hệ, lời ăn tiếng nói của nhân vật, đồng thời để nhân vật tự bộc lộ, tự nói với mình (độc thoại bên trong). Chính do vậy mà tác phẩm mang nhiều tính chất trữ tình, nhiều đoạn văn thật sự làm xúc động người đọc, vì những sụy nghĩ chân thành, vì những nỗi đau của nhân vật và của chính tác giả. Ở chiều sâu của Đời thừa, có một chất thơ từ niềm khát khao cái đẹp, khát khao một cuộc sống trong đó con người biết thương yêu nhau và có thể sống một cách xứng đáng, có ý nghĩa. Nam Cao hay nói đến Tsêkhốp, mong viết được như Tsêkhốp. Ở Nam Cao, cũng có chất thơ, chất trữ tình, có nỗi buồn, tình yêu thương xót xa đối với con người như ở Tsêkhốp. Và, cũng như Tsêkhốp Nam Cao cảm nhận sâu xa ý nghĩa và bi kịch của cuộc đời trong những cái tư tưởng chừng nhỏ nhặt, vô nghĩa hằng ngày ở xung quanh. Đời thừa có một kết cấu rất tự nhiên. Thực chất đây là một loại truyện không có cốt chuyện. Sự việc hầu như không có gì. Nhà văn có nói qua về quá khứ bất hạnh của Từ, về quá trình Hộ và Từ quen biết nhau và nên vợ nên chồng, về một buổi gặp gỡ giữa Hộ và các bạn làng văn, nhưng tập trung chủ yếu vào suy nghĩ và nỗi khổ tâm củ Hộ vì không được thực hiện nguyện vọng thiết tha của đời mình là viết văn, hoàn thành những tác phẩm thật có giá trị như mình mong ước và tin rằng có khả năng làm được. Lẽ ra phải dồn hết tâm lực cho văn chương, cống hiến cho sự nghiệp cao quý đã lựa chọn tất cả những gì tốt đẹp nhất của mình, thì Hộ lại tất tưởi lo kiếm sống, luôn luôn bị quấy rầy bởi cảnh gia đình nheo nhóc, túng quấn, do đó mà con người cũng trở nên thô bỉ, hèn kém, mộng tưởng ban đầu cũng tàn lụi dần. Tâm trạng của Hộ bị giằng xé một bên là khát khao sáng tạo, vươn tới những đỉnh cao trong văn chương và, bên kia, là những đòi hỏi thực dụng, cấp bách của cuộc sống gia đình vất vả, thiếu thốn hàng ngày. Đặc sắc và chiều sâu của tác phẩm là ở sự giằng xé trong tâm trạng của Hộ, ở chất lượng những suy nghĩ của nhân vật chính phát ngôn cho tác giả về cuộc đời, về sáng tạo văn chương. Có thể nói nhân vật trong Đợi thừa là một nhân vật – tâm trạng. Chất thơ, chất trữ tình bàng bạc khắp tác phẩm do đấy mà ra. Chiều sâu và sự mới mẻ của chủ đề, chất lượng suy nghĩ, chất thơ và chất trữ tình đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho Đời thừa, cũng như cho nhiều tác phẩm khác của Nam Cao có cấu tạo một cách rất tự nhiên, khiến cho người đọc có thể trở lại nhiều lần với truyện ngắn của ông, dừng lại trên từng ý, từng câu văn ông viết ra.
Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao
2,054
Phân tích truyện Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu Hướng dẫn Nguyễn Ái Quốc trong thời kì sống và hoạt động ở Pháp đã viết một số truyện kí bằng tiếng Pháp như Vi hành, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu… Đó là những tác phẩm giàu chất trí tuệ và tính hiện đại, thể hiện một quan niệm lấy văn chương để phục vụ chính trị và dân tộc. Tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu đăng trên báo Người cùng khổ số 36 – 37 vào tháng 9, 10 – 1925. Truyện gồm có ba cảnh: cảnh 1, Va-ren đến Sài Gòn được bọn tay chân đón rước linh đình; cảnh 2, Va-ren dừng lại Huế được bọn bù nhìn đãi yến và gắn mề-đay Nam Long bội tinh; cảnh 3, Va-ren đến Hà Nội và gặp Phan Bội Châu đang bị thực dân Pháp cầm tù với bản án tử hình. Cuộc chạm trán giữa Va-ren và Phan Bội Châu cho thấy ngòi bút châm biếm sâu sắc của tác giả Nguyễn Ái Quốc. Tác giả đã sử dụng thủ pháp tương phản đối lập để tạo nên tính chiến đấu sắc bén. Va-ren đã vào “tận xà lim” nơi Phan Bội Châu “đang rên xiết”. Va-ren là con người “đã phản bội giai cấp vô sản Pháp, tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kể đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòngtin, ruồng bỏ giai cấp mình”… Phan Bội Châu là con người “đã hi sinh cả gia đình và của cải”, phải “sống xa Ha quê hương” để tìm đường cứu nước cứu dân, bị bọn thực dân “kết án tử hình vắng mặt”, đang bị “đeo gông” chờ ngày lên “máy chém”. Hai nhân cách đối đầu, một bên là “kẻ phản bội nhục nhã”, một bên là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thăn vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng.”. Ngòi bút của Nguyễn Ái Quốc biểu lộ thái độ yêu, ghét, tôn trọng, khinh bỉ rất rõ ràng, dứt khoát. Bằng trí tưởng tượng kì diệu, tác giả đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt, giả nhân giả nghĩa, thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc của tên thực dân cáo già! Va-ren “tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu trong nhà tù ảm đạm”. Va-ren dụ dỗ Phan Bội Châu hãy “trung thành”, “cộng tác”, “hợp lực” với nước Pháp vì sự nghiệp “khai hóa và công lí”. Hắn khuyên nhà cách mạng Việt Nam đừng “xúi giục” đồng bào ta nổi lên chống Pháp… Hắn khoe mẽ ở Đông Dương “nền dân chủ… nhờ Chúa, rất là tốt!”… Cuối cùng hắn tự vạch trần chân tướng là một kẻ phản bội, tên cơ hội hãnh tiến: “Ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! Trước tôi là Đảng viên xã hội đấy và giờ đây thì tôi làm Toàn quyền!…”. Trái lại, trong cuộc chạm trán ấy, Phan Bội Châu rất chủ động “im lặng, dửng dưng”, “mỉm cười một cách kín đáo..”. Đặc biệt ở phần “tái bút”, tác giả cho biết một nhân chứng quả quyết rằng “Phan Bội Châu đã nhổ vào mặt Va-ren”. Một cái nhổ khinh bỉ. Vị toàn quyền “tôn kính” đã bị hạ nhục! Tác giả Nguyễn Ái Quốc viết truyện này không chỉ nhằm mục đích ca ngợi Phan Bội Châu “một người lừng tiếng” mà còn đòi ân xá cho cụ, đồng thời vạch trần bộ mặt xảo quyệt, bẩn thỉu của tên Toàn quyền Va-ren nói riêng và lũ thực dân Pháp nói chung.
Phân tích truyện Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu
624
Đề bài: Phân tích Truyện Tam đại con gà Gợi ý 1. Mâu thuẫn trái tự nhiên ở nhân vật “Thầy”. Bản chất nhân vật thầy đồ được khẳng định ngay từ đầu là dốt nát. Dốt nát nhưng lại hay khoe giỏi, đó là mâu thuẫn trái tự nhiên ở nhân vật. Câu chuyện muốn minh chứng cho mâu thuẫn đó nhưng qua các tình huống, mâu thuẫn này lại biến đổi đi một chút trở thành: dốt nhưng luôn tìm cách giấu dốt. Đó cũng là nội dung đả kích được bộc lộ qua những tình huống cụ thể. a. Khi gặp chừ “kê” – một chữ đơn giản trong sách dạy trẻ con học chữ Hán – thầy không biết. Không biết nhưng phải dạy cho học trò nên thầy đành nói bừa, nói liều. Nói bừa, nói liều nên thầy phải dặn học trò đọc khẽ, để không ai nghe thấy. Như vậy thầy đã tự bộc lộ cái dốt nát thảm hại ở nhiều phương diện (kiến thức và cách xử trí) và cũng bộc lộ cái láu cá vặt khi tìm cách giấu đi cái dốt của mình. b. Sau đó để kiểm tra sai đúng, thầy xin âm dương và “đắc chí” vì thổ công cũng đồng tình với mình. Có cơ sở để tin tưởng và yên tâm thầy không còn “sợ nhỡ sai”, “bảo học trò đọc khẽ” mà “bệ vệ ngồi trẽn giường bảo trẻ đọc cho to” và “lũ trẻ vâng lời thầy gân cổ lẽn đọc”. Đây là biểu hiện của mâu thuẫn dốt nhưng lại thích khoe chữ. Và cũng chính vì thói thích khoe như vậy nên bao nhiêu cái dốt của thầy không chỉ được phô bày đầy đủ mà còn được khuếch đại, được nhân lên gấp bội. Đã dốt về chữ, cách chữa dốt của thầy cũng thật buồn cười, ngớ ngẩn, đặc biệt niềm tin và sự “đắc chí” của thầy lại càng khiến thầy bị đẩy lên đỉnh cao của sự ngu dốt. c. Khi được chủ nhà nhắc, lúc đó thầy mới biết mình dốt thật. Thế nhưng vì sĩ diện thầy vẫn không nhận mình là dốt. Bằng cái láu cá vặt, thầy nhanh trí bảo vệ mình. Cách phản ứng tức thời của thầy để nói gỡ cho mình: “Dạy cho cháu biết đến tậm tam đại con gà” vô hình chung đã tự phơi bầy khong chỉ bản chất dốt nát mà quan trọng hơn còn cả thói giấu dốt, sĩ diện hão. Tiếng cười phê phán đến đây bật lên thật mạnh mẽ và sâu sắc. Như vậy, qua các tình huống và cách giải quyết tình huống của nhân vật, người đọc có thể nhận ngay ra một điều: thầy đồ dốt và tìm cách giấu dốt, nhưng càng ra sức che đậy thì bản chất của thầy lại càng hiện ra một cách nhanh chóng. 2. Ý nghĩa phê phán. Bằng tiếng cười, truyện tập trung phê phán thói giấu đốt phổ biến ở nhiều đối tượng trong cuộc sống. Bản thân cái dốt và sự thiếu hiểu biết chưa phải là cái đáng cười, cái đáng phê phán, đả kích. Cái đáng cười, đáng phê phán mà nhân dân đề cập ở đây là khi người ta dốt mà biết mình dốt mà vẫn khoe là mình giỏi, lại dám nhận làm thầy dạy người khác, đặc biệt là cố tìm mọi cách để giấu đi cái dốt, che đậy cái dốt của mình. Cố giấu dốt để đề cao mình, bảo vệ mình, thực chất đưa đến một kết cục ngược lại. Tự mình hại chính mình, tự mình lật tẩy chính mình. Đó cũng là bài học mà Tam đại con gà muốn nhắc nhở tất cả mọi người.
Phân tích Truyện Tam đại con gà
629
Đề bài: Phân tích truyện Thầy bói xem voi Bài làm Nhân dân vẫn lấy tiếng cười để mua vui giải trí, để đánh địch, để chê giễu những thói hư tật xấu quanh ta. Truvện Thầy bói xem voi là một truyện cười mang tính ngụ ngôn sâu sắc. Truyện nói về một cuộc hội ngộ của năm ông thầy bói nhân buổi chợ ế hàng. Họ tranh luận về con voi mà họ xem bằng "tay"; tất cả đều mù nên mỗi "thầy" nhận diện con voi một cách khác nhau. Thầy bói sờ vòi voi thì bảo "sun sun như con đỉa". Thầy bói sờ ngà lại phán con voi "chần chẫn như cái đòn càn". Lão thầy bói sờ tai voi lại khẳng định nó "bè bè như cái quạt thóc". Lão thầy bói thứ tư sờ chân voi, lại cãi là voi "sừng sững như cái cột nhà". Thầy bói thứ năm sờ đuôi lại nói con voi "tun tủn như cái chổi sể cùn". Cả năm ông thầy bói đều thuộc thế giới mù, nên thầy nào cũng dùng cách ví von so sánh tả con voi thật hóm hỉnh, buồn cười. Năm thầy bói đều có nhận xét đúng nhưng chỉ đúng một bộ phận của con voi. Vì mù quen nói mò, nhưng thầy bói nào cũng tin là mình tuyệt đối đúng, đắp tai trước chân lí, trước sự thật. Cuộc cãi vã của năm ông thầy bói trở nên ồn ào. Cuộc đấu khẩu thành cuộc xô xát. Màn hài kịch trở thành màn bi – hài kịch. Năm lão thầy bói đã "đánh nhau toạc đầu, chảy máu'' làm cho thiên hạ được một bữa ôm bụng mà cười! Từ câu chuyện cười thầy bói xem voi mà nhân dân ta có cầu tục ngữ: Thầy bói nói mò. Truyện cười này nhằm chế giễu bọn thầy bói mắt đã mùa mà còn giở trò bịp bợm, kiếm ăn bằng trò mê tín dị đoan. Truyện Thầy bói xem voi còn mang tính ngụ ngôn sâu sắc. Nhân dân nêu lên bài học về cách nhìn và cách đánh giá sự vật, hiện tượng, không được chủ quan, phiến diện, phải có quan điểm toàn diện. Trong học tập và cuộc sống hàng ngày, bài học ấy rất cần thiết đối với mỗi người.
Phân tích truyện Thầy bói xem voi
383
Phân tích truyện Tấm Cám Hướng dẫn Phân tích truyện Tấm Cám Truyện Tấm Cám là một trong những câu chuyện ý nghĩa về của kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Truyện vừa hấp dẫn người đọc bởi những tình tiết ly kỳ hấp dẫn vừa đi sâu vào tiềm thức bao thế hệ học sinh qua bài học ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác của những nhân vật trong truyện. Truyện kể về cuộc đời truân chuyên của cô Tấm hiền lành, nết na bị mụ dì ghẻ và người em cùng cha khác mẹ là Cám chèn ép hết lần này đến lần khác. Mẹ con họ luôn đối xử bạc đãi với Cám. Một ngày nọ, mẹ sai hai chị em đi bắt cá, Cám vốn tính ham chơi lại gian xảo nên đã lừa trút hết cá của Tấm. Khi Tấm buồn tủi khóc, Bụt hiện lên và chỉ cho Tấm biết vẫn còn một con cá Bống trong giỏ. Tấm nghe theo lời Bụt mang cá về nuôi dưới giếng, hàng ngày cho Bống ăn. Nhưng mẹ con nhà Cám đã lừa tấm để giết thịt Bống. Khi Tấm phát hiện Bống chết, cô chỉ biết khóc, Bụt lại xuất hiện bảo Tấm lấy xương Bống chôn xuống bốn chân giường. Đến ngày nhà vua mở hội chọn vợ, mẹ con Cám bắt Tấm phải nhặt hết một thúng thóc và gạo rồi mới được đi. Tấm không chống cự lại được mà chỉ biết khóc. Bụt lại hiện lên giúp đỡ Tấm. Nhặt xong, Tấm không có quần áo đẹp đi dự tiệc, Bụt bảo hãy đào bốn cái lọ ở chân giường lên. Lạ thay, trong đó toàn thứ Tấm đang cần: Quần áo đẹp, hài đẹp, có cả ngựa để Tấm đi nữa. Nhưng khi đi ngang qua cầu, Tấm vô tình làm rơi chiếc hài xuống sông. Nhà vua sau khi nhặt được chiếc hài liền ra lệnh ai đi vừa sẽ cưới làm vợ. Mọi người trong làng, cả mẹ con Cám đến thử hài nhưng không ai vừa. Dĩ nhiên, chỉ có Tấm đi vừa, cô được vua rước về làm Hoàng Hậu. Ngày giỗ cha, cô xin về nhà làm lễ cúng cha. Mẹ con Cám đã lừa Tấm trèo cây cau hái quả rồi giết chết Tấm để Cám vào cung làm vợ vua thay chị. Tấm chết hóa thành chim vàng anh nhưng lại bị mẹ con Cám giết. Chỗ Cám vứt lông chim mọc lên hai cây xoan đào xanh tốt. Thấy nhà vua ngày ngày ra đó mắc võng nằm, Cám lại chặt cây làm khung cửi. Trong lúc dệt vải, Cám lại nghe thấy tiếng chị nên sợ quá đốt khung cửi đi rồi đem tro đổ ra một nơi thật xa. Tại đó, mọc lên cây thị nhưng chỉ có duy nhất một quả chím vàng thơm lừng. Có bà cụ đi qua xin thị về nhà để ngửi. Sau khi bị phát hiện Tấm chui từ quả thị ra, bà cụ đã xé vụn vỏ thị. Từ đó, hai bà cháu sống vui vẻ với nhau. Một hôm nhà vua đi ngang qua ghé vào nghỉ chân. Vua đã nhận ra vợ mình khi thấy cánh trầu được têm theo kiểu mà chỉ có Tấm mới biết têm. Vua đón Tấm về. Từ đó, hai người sống hạnh phúc bên nhau, không còn sóng gió nữa. Câu chuyện kết thúc và dành phần thắng cho cái thiện như một quy luật tự nhiên. Những lần chết đi sống lại của Tấm càng khẳng định thêm sự đúng đắn của đạo lý nhân văn: cái thiện nhất định sẽ chiến thắng cái ác, cái thiện luôn là sự vĩnh hằng. Những tình tiết li kỳ, hấp dẫn trong truyện đã khiến người đọc bị cuốn hút và dễ dàng ghi nhớ ý nghĩa sâu sắc mà dân gian đã gửi gắm vào. Nhân vật Tấm được xây dựng với tính cách yếu đuối, hiền lành, sống chỉ biết vâng lời và nhịn nhục. Nhưng mỗi lần Tấm bị ức hiếp, buồn tủi đều có Bụt xuất hiện giúp đỡ. Bụt là một hình ảnh đẹp với tính cách nhân từ được dân gian tạo dựng lên từ trí tưởng tưởng, từ lòng hướng thiện của mình. Ngược lại, mẹ con Cám gian ác, tham lam là đại diện cho những kẻ bạo tàn, lòng lang dạ sói trong xã hội, giết người không ghê tay. Họ đã hết lần này đến lần khác hãm hại Tấm nhưng sau cùng, dù họ có ác đến mấy cũng không bao giờ có thể chống lại được luật nhân quả ở đời. Cô Tấm hiền lành trải qua nhiều lần chết đi sống lại, sau cùng vẫn được hưởng hạnh phúc trọn. Còn mẹ con Cám với những tội ác mình gây ra đã phải nhận lấy kết cục xứng đáng. Qua đó, dân gian muốn lên án những kẻ gian ác bạo hành trong xã hội. Hiện nay, trong xã hội cũng có không ít kẻ gian ác, xảo quyệt như mẹ con Cám. Họ chỉ muốn trà đạp lên người khác để tiến thân, họ ganh ghét khi thấy người khác hơn mình. Vì vậy mà có những kẻ đã dùng mọi thủ đoạn để hãm hại người khác, để chuộc lợi cho bản thân. Cụ thể như những vụ quan liêu trong thi cử, cấp trên nhận hối lộ của cấp dưới, các quan chức tham ô tiền bạc hàng tỉ đồng của dân. Làm vậy là họ đang ăn chơi bằng chính xương máu của bao người đã vất vả mới làm ra được đồng tiền. Mặc dù còn nhiều kẻ vẫn đang ẩn khuất trong xã hội nhưng với quy luật nhân quả, họ chắc chắn sẽ không thể nào thoát được cái giá mà mình phải trả.
Phân tích truyện Tấm Cám
984
Đề bài: Phân tích truyện Đeo nhạc cho mèo Bài làm Ba tiếng hội đồng chuột là tiếng cười châm biếm, chế giễu của dân gian. Truyện ngụ ngôn Đeo nhạc cho mèo cũng là một trong những chuyện hội dồng chuột ấy. Làng chuột hội họp đông đủ, bàn việc rất hệ trọng. Chiếu trên ngất ngưỡng ông Cống. Chiếu giữa có hai anh Nhắt. Chiếu cuối của anh Chù, dù hôi hám nhưng cũng là tráng đinh. Chương trình nghị sự do ông Cống trình bày là bàn chuyện đeo nhạc cho Mèo để làng chuột được báo động từ xa mà an tâm làm ăn. Hay quá! Cao kiến quá!", cả làng chuột reo lên khi ông Cống dứt lời. Mấy ngày sau, nhạc đã mua về. Làng chuột lại nhóm họp để cử "người" đi đeo nhạc vào cổ Mèo. Ai sẽ được vinh dự lĩnh ấn tiên phong? Người đầu tiên được cả làng chuột đồng thanh nhất trí giới thiệu là ông Cống. Nhưng ông vểnh râu khước từ cho đó là "việc làm tầm thường" không xứng với danh hiệu cao quý của mình. Anh Nhắt được cử đi. Anh nhanh nhẹn được cả làng chuột tín nhiệm. Anh bảo là giữa làng chuột thì anh vẫn là người có vai vế "ở chiếu trên". Việc tẹp nhẹp ấy dành cho bọn "đàn em"… Cuối cùng Chù được vinh dự nhận công việc vinh quang "đeo nhạc cho Mèo". Chù thấp cổ bé họng, chối không được, phải cõng cái nhạc ra đi. Gặp Mèo, Chù đánh bạo đến gần. Mèo liền nhe nanh giương vuốt, gầm gừ. Chù cắm đầu tháo chạy, vứt cái nhạc lại, không biết cái nhạc bon đi đâu! Cả làng chuột vừa thấy Chù chạy về, vô cùng sợ hãi bỏ chạy tán loạn. Cái hay, cái thú ở truyện ngụ ngôn này là ở ba tình tiết. Một, ông Cống dâng ý kiến đeo nhạc cho Mèo. Hai cả làng chuột đùn đẩy nhau. Ba, Chù phải cõng nhạc đi. Mới gặp Mèo, Chù sợ quá vứt nhạc lại hổn hển chạy về… Cả làng chuột bạt vía kinh hôn, mạnh ai nấy chạy, lo bảo toàn tính mạng của mình. Đeo nhạc cho Mèo cứ ngỡ là một sáng kiến, nhưng chỉ là một ý đồ viển vông, không thực tế. Trong cuộc sống, mọi kế hoạch, mọi "sáng kiến" phải mang tính khả thi mới có giá trị. Đó là bài học luận lí hàm chứa trong truyện cười — ngụ ngôn Đeo nhạc cho Mèo.
Phân tích truyện Đeo nhạc cho mèo
421
Đề bài: Phân tích truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” của Nguyễn Dữ Bài làm Tác giả Nguyễn Dữ là một tác giả nổi tiếng trong thời kỳ văn học trung đại của nước ta. Tên tuổi của ông được khẳng định qua những tác phẩm tiêu biểu như “Truyền kỳ mạn lục”. Đây được xem là một tập truyện được mệnh danh thiên cổ kỳ bút của nền văn học nước ta. Trong đó, tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là một tác phẩm đặc sắc trong tập truyện Truyền kỳ mạn lục. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên ca ngợi tính kiên cường, chính trực dũng cảm của người dân, khi Ngô Tử Văn là người ngay thẳng dám chống lại những điều sai trái trong xã hội. Chống lại những thế lực tội ác. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên được viết theo lối văn xuôi chữ Hán và được xen lẫn những yếu tố kỳ ảo trong đó. Nhân vật trung tâm của tác phẩm chính là anh chàng Ngô Tử Văn. Một con người chính trực, ngay thẳng, anh đã có công tiêu diệt tướng giặc, bảo vệ quê hương. Nhưng sau khi chết tên tướng giặc không cam tâm nên biến thành quỷ trú ngụ ở đền Tản Viên thường xuyên dọa nạt người dân trong vùng. Hắn cũng chờ cơ hội để trả thù Ngô Tử Văn. Bởi, Ngô Tử Văn là người ngay thẳng không tin vào việc ma quỷ, cũng không sợ ma quỷ làm hại bởi anh xưa nay sống chính trực không làm điều gì khuất tất. Chính vì vậy, Ngô Tử Văn cho người đốt đền Tản Viên khiến oan hồn của tên tướng giặc mất nơi trú ngụ, hoành hành. Hắn bị Ngô Tử Văn đốt đi nơi trú ngụ, khiến hắn vô cùng tức giận dùng tà phép mà quỷ của mình khiến Ngô Tử Văn bị đau ốm sốt nóng, sốt rét… Sau đó, Ngô Tử Văn qua đời nhưng hồn của chàng bị đưa xuống tận Diêm Vương xét xử trước những lời buộc tội và sự ngang ngược của tên tướng giặc Ngô Tử Văn vẫn thể hiện phong thái ung dung, không khoan nhượng. Chính thái độ kiên cường, khí phách cứng rắn thể hiện niềm tin mạnh mẽ vào chính nghĩa của Ngô Tử Văn đã khiến cho Diêm Vương của phải nể phục chàng. Khi phải đối diện với một người nhiều quyền lực như Diêm Vương uy nguy thì Ngô Tử Văn cũng không hề sợ hãi, anh vẫn đấu lý với tướng giặc một cách anh dũng không khoan nhượng. Kể tội tướng giặc bằng những lý lẽ sắc bén hùng hồn, khiến cho Diêm Vương cũng phải nể phục. Khí phách của Ngô Tử Văn đã khiến chàng phải công lý mà bất chấp tính mạng của mình gặp nguy hiểm, trước uy quyền chàng cũng không hề run sợ mà kiên cường đấu lý, bảo vệ cho chính nghĩa lẽ phải. Cuộc đấu lý giữa Ngô Tử Văn và tên tướng giặc thể hiện cuộc đấu tranh không nao núng, nhân nhượng trước cái thiện với cái ác. Cái ác dù có biến đổi hóa phép như thế nào thì cuối cùng vẫn thất bại giữa công lý và chính nghĩa. Thông qua tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, tác giả Nguyễn Dữ muốn khẳng định niềm tin của mình vào chính nghĩa, công lý và lẽ phải. Thể hiện lòng quyết tâm của tác giả với những cái xấu cái ác trong xã hội, những điều xấu cần phải loại bỏ để cái tốt được phát huy và có chỗ đứng xứng đáng của nó. Thông qua cuộc đấu tranh của nhân vật Ngô Tử Văn còn phản ánh thế giới của người xưa đầy những chuyện xấu xa, của kẻ mạnh uy hiếp kể xấu, những người có chức quyền thương tham lam, ức hiếp người dân vô tội. Vì vậy, việc Ngô Tử Văn lên làm chức phán sự đền Tản Viên thể hiện ước mong của người dân muốn có một người quan đứng ra bảo vệ lẽ phải cho mình. Truyện đã gây ấn tượng với người đọc bằng những yếu tố ly kỳ huyền ảo tình huống truyện độc đáo giàu kịch tính. Thông qua câu chuyện thể hiện niềm tin của tác giả và người dân về việc chính nghĩa sẽ thắng hung tàn.
Phân tích truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” của Nguyễn Dữ
740
Phân tích truyện “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi Hướng dẫn Phân tích truyện “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi Bài làm I. Mở bài Nguyễn Thi là nhà văn gắn bó sâu sắc với nhân dân miền Nam và thực sự xứng đáng với danh hiệu: Nhà văn của người dân Nam Bộ. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Những đứa con trong gia đình. Truyện kể về những đứa con trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc và khao khát chiến đấu, son sắt với cách mạng. II Thân bài Những đứa con trong gia dình là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Thi viết ngay trong những ngày chiến đấu chống Mĩ ác liệt khi ông công tác ở tạp chí Văn nghệ quân giải phóng năm 1966. Nhân vật chính của truyện là Việt.Việt là một chiến sĩ giải phóng quân.Ông nội và bố Việt bị giặc giết hại,Mẹ Việt một mình nuôi con vất vả rồi cũng chết vì bom đạn.Gia đình chỉ còn lại Việt, chi Chiến, thằng Út em,chú Năm,và một người chi nuôi đi lấy chồng xa.Truyền thống ấy được chú Năm ghi tất cả vào cuốn sổ gia đình.Việt và Chiến hăng hái đi tòng quân giết giặc,Trong một trận chiến đấu,Việt hạ được một chiếc xe bọc thép của địch nhưng lại lạc đồng đội và bị thương nặng ngất đi tỉnh lại nhiều lần.Mỗi lần tỉnh lại,dòng hồi ức lại đưa anh về với những kỉ niệm thân thiết đã qua: kỉ niệm về má,về chị Chiến,chú Năm,đồng đội và anh Tánh…Anh Tánh và đồng đội tìm được Việt, đưa về điều trị một bệnh viện và sức khoẻ Việt dần dần hồi phục.Chuyện được kể theo dòng hồi ức của Việt trong những lần ngất đi tỉnh lại ấy. Đặc sắc của truyện là đã dựng nên được hình tượng những con người trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, thuỷ chung, son sắt với cách mạng. Những con người này có những nét chung thống nhất, thể hiện rõ đặc điểm của nhân vật Nguyễn Thi. Đó là:Căm thù giặc sâu sắc ; Gan góc, dũng cảm, khao khát được chiến đấu giết giặc ; Giàu tình nghĩa, rất mực thuỷ chung son sắt vời quê hương và cách mạng. Tuy nhiên, trong cái dòng sông truyền thống của gia đình ấy, “mỗi người một khúc”, có nét tính cách riêng, không ai giống ai. Đó chính là điểm nói lên tài năng của Nguyễn Thi. Cùng với chú Năm, má Việt cũng là một hiện thân của truyền thống. Đây là một hình tượng người phụ nữ mang đậm những nét tính cách của nhân vật Nguyễn Thi. Rất gan góc, căm thù giặc sâu sắc. Rất mực thương chồng, thương con, đảm đang, tháo vát. Cuộc đời lam lũ, vất vả chồng chất đau thương tang tóc, nhưng cắn răng nén chặt nỗi đau thương của mình để nuôi con, đánh giặc. Một tay bồng con, một tay cắp rổ đi theo thằng giặc đòi đầu chồng; hiên ngang đối đáp vời kẻ thù mà “hai bàn tay to bản” vẫn “phủ lên đầu đàn con đang nép đước chân”; mỗi lần bọn lính bắn doạ “mắt má lại sắc ánh lên nhìn lại bọn lính, đôi mắt của người đã từng vượt sông, vượt biển”… Đó là hình ảnh của sự gan góc, chở che mang ý nghĩa biểu tượng về người phụ nữ ở một xứ sở như đất nước ta, cuộc sống thì lam lũ vất vả, chồng chất đau thương nhưng con người lại rất đỗi kiên cường, cao cả. Má Việt đã ngã xuống trong một cuộc đấu tranh nhưng trái cà-nông lép má nhặt đem về vẫn còn nóng hổi. Trong quan niệm của Nguyễn Thi, người mẹ ấy cái phần thác chỉ là thể phách còn linh hồn thì bất tử, sống mãi tròng những đứa con. Không phải ngẫu nhiên mà vào cái đêm sắp xa nhà đi chiến đấu, những đứa con đểu cảm nhận không phải ai khác mà chính là người mẹ đã hiện về. Chiến có những nét giống mẹ: gan góc, đảm đang tháo vát. Nguyễn Thi có ý thức tô đậm nét kế thừa người mẹ nhân vật Chiến. Chiến là một tính cách đa dạng: vừa là một cô gái mới lớn, tính khi còn rất trẻ con, vừa là người chị biết nhường em,.,biết lo toan, đảm đang, tháo vát. So với người mẹ, Chiến không chỉ khác ở cái vẻ trẻ trung thích làm duyên làm dáng. Vận hội mới của cách mạng đã tạo điều kiện cho Chiến được trực tiếp cầm súng đánh giặc để trả thù nhà, thực hiện lới thề như dao chém đá của mình: “Đã lăm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất”. Nếu Chiến luôn biết nhường nhịn em, thì trái lại, Việt lại hay tranh giành phần hơn với chị. Việt rất thích đi câu ca, bắn chim, và đến khi đi bộ đội vẫn còn đem theo cả cái súng cao su ở trong túi. Mọi công việc trong nhà, Việt đều phó thác cho chị. Đêm trước ngày lên đường, Chiến lo toan thu xếp chu đáo việc nhà, từ Út em, nhà cửa, ruộng nương đến nơi gửi bàn thờ má, bàn bạc với em một cách trang nghiêm còn Việt thì vô tư “lăn kềnh ra ván cười khì khì”, vừa nghe vừa chụp một con đom đóm úp trong lòng tay rồi ngủ quên lúc nào không biết. Cách thương chị của Việt cũng rất trẻ con, “giấu chị như giấu của riêng” vì sợ mất chị trước những lới tán tỉnh đùa tếu của anh em. Việt bị thương nằm lại ở chiến trường, đến khi gặp được đồng đội thì cũng giống hệt như thằng Út em ở nhà “khóc đó rồi cười đó”,… Tuy vẫn còn có vẻ hồn nhiên, vô tư nhưng Việt cũng thật đường hoàng, chững chạc trong tư thế của người chiến sĩ trẻ dũng cảm, kiên cường. Dòng máu nóng chảy trong người Việt là dòng máu gia truyền của những con người gan góc, không bao giờ biết sợ trước sự bạo tàn. Cho nên, còn bé tí mà Việt đã dám xông thẳng vào thằng giặc đã giết hại cha mình. Việt đã nằng nặc đôi đi tòng quân để trả thù cho ba má. Khi xông trận, Việt đã chiến đấu rất dũng cảm, đã dùng thủ pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của địch. Và đến khi bị trọng thương, một mình nằm giữa chiến trường, hai mắt không còn nhìn thấy gì, toàn thân đau điếng và rỏ máu, người thì khô khốc đi vì đói khát, Việt vẫn ớ trong tư thế chờ tiêu diệt giặc: “Tao sẽ chờ mày. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày.”. Có thể nói, hành động giết giặc để trà thù nhà, đền nợ nước đã trở thành một trong những thước đo quan trọng nhất về phẩm cách con người của nhân vật Nguyễn Thi. III. Kết bài Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình có một dòng sông truyền thống gia đình liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến đời chị em Chiến, Việt. Sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã làm nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Truyện có bút pháp nghệ thuật già dặn, điêu luyện được thể hiện qua giọng trần thuật, trần thuật qua hồi tưởng của nhân vật, miêu tả tâm lí và tính cách sắc sảo, ngôn ngữ phong phú, góc cạnh và đậm chất Nam Bộ.
Phân tích truyện “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi
1,353
Đề bài: Phân tích truyện “Ông già và biển cả” của Hê- minh- uê Bài làm Nhà văn Hê- minh-uê là một người sáng tác ra nguyên lý tảng băng trôi. Ông chính là nhà văn nổi tiếng và vĩ đại nhất của đất nước Mỹ xa xôi trong thế kỷ 20. Hê-minh-uê đã sáng tác nhiều tác phẩm tiểu thuyết có giá cuộc sống trong đó có tác phẩm Ông lão và biển cả. Chính tác phẩm này đã đánh dấu cho tên tuổi của nhà văn Hê- minh-uê. Trước hết là nguyên lý tảng băng trôi thì chính tác giả Hê-minh-uê là người đề xuất lối viết ít lời, ít từ ngữ những giàu ý nghĩa ẩn dụ. Nhà văn Hê-minh-uê không trực tiếp thể hiện ra những ý tưởng của mình nhưng ông đã vô cùng tinh tế khi xây dựng hình tượng ông lão và biển cả. Câu chuyện kể về nhân vật chính là ông già Xantiago là một ông già chuyên làm người đánh cá người dân Cu ba. Mặc dù ông đã 74 tuổi ở cái tuổi mà người ta thường gọi là thất thập cổ lai hy. Trong một thời gian dài ông lão Xantiago không câu được một con cá nào, khiến cho người dân trong làng bàn tán về tay nghề câu cá của ông. Bố mẹ của cậu bé tên là Ma nô lin cũng cấm không cho cậu bé đi câu chung với ông lão nữa, bởi ông lão không có duyên đánh bắt cá, đang gặp vận xui xẻo rồi. Ông lão Xantiago đi tới trưa đã thả một lượt bốn chiếc cần câu một lúc và ngồi chờ đợi những chú cáo cắn câu, nhưng mãi tới trưa mới có một căn cá kiến cắn mồi. Con cá kiến này vô cùng to lớn. Nó khiến ông lão vô cùng vui mừng, bởi nó thể hiện được tài năng đánh bắt cá của ông lão vẫn chưa hề bị mai một. Ông vẫn rất có ích và không hề vô dụng tới mức gặp vận xui như người ta nói. Nghĩ vậy ông lão Xantiago quyết định phải bắt con cá kiến đó vào bờ cho người dân trong làng nhìn thấy và không thể nói mỉa mai về tài câu cá của ông nữa. Hình ảnh con cá kiến hiện lên với những ấn tượng vô cùng đẹp đẽ. Nó là một con cá to thể hiện qua những vòng nhảy lượn tròn cao vút. Không chỉ có vậy, ông lão thấy nó qua một cái bóng đen vô cùng to lớn vượt qua cả một chiếc thuyền, làm ông lão vô cùng kinh ngạc. Nó rất dài và to lớn. Cái đuôi của chú cá kiến to hơn cả một chiếc lưỡi hái, thân hình của nó thì vô cùng béo bự, đồ sộ, bộ vậy thì xòe rộng, thể hiện cho việc nó đã sống ở dưới biển cả này rất lâu năm. Ông lão Xantiago vô cùng cô độc chỉ có một thân một mình nơi biển cả ông cương quyết không buông tay từ bỏ con cá, quyết tâm không về làng với bàn tay trắng. Chỉ cần bắt được con cá này thì dân làng nhất định sẽ phải nể phục tài câu cá của ông. Con cá kiến đó to lớn và rất thông minh, khi bị mắc câu nó đã lượn vòng chậm chạp, rồi đột ngột tấn công lại ông lão Xantiago, khi nó cảm thấy đuối sức nó lại chậm lại có những khi ông Xantiago tưởng như mình đã chộp được nó nhưng rồi nó lại bơi xa bờ. Con cá kiến đó thật sự làm ông vô cùng hoa mắt, nó khiến một ông lão 74 tuổi phải lao đao khốn đốn. Hình tượng con cá kiến chính là hình tượng của thiên nhiên đẹp đẽ mạnh mẽ vô cùng. Nó là khả năng chiến thắng những khó khăn không chịu thất bại đầu hàng số phận, toát lên vẻ kiêu hùng anh dũng không khuất phục trước khó khăn thử thách. Nhưng ông không khuất phục nó ông cương quyết chiến đấu với thiên nhiên. Cuối cùng trong cuộc chiến đó ông lão đã chiến thắng và bắt được nó. Nhưng tiếc thay trên đường trói con cá kiến trở về bờ có một đàn cá mập đã đến tấn công con cá kiến của ông, ăn thịt nó chỉ để lại một bộ xương. Nhưng điều đó không có gì quan trọng, điều quan trọng là ông lão đã chiến thắng đã chinh phục được con cá kiến đó. Qua đây ta có thể thấy được tác phẩm có ý nghĩa vô cùng sâu sắc nó thể hiện hành trình chinh phục con cá kiến của ông lão Xantiago. Thể hiện quyết tâm chinh phục thiên nhiên của con người. Nói lên trí tuệ của người nông dân lao động. Con cá kiến chính là hình ảnh của thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp Đồng thời tác phẩm nói lên ước mơ chinh phục thử thách, của con người, dù khó khăn, gian nan thì con người cũng không đầu hàng số phận mà kiên quyết tới cùng. Đông Thảo
Phân tích truyện “Ông già và biển cả” của Hê- minh- uê
859
Phân tích Trích diễm thi tập Hướng dẫn Phân tích Trích diễm thi tập Trích diễm thi tập được biên soạn bởi Hoàng Đức Lương và nó là một trong những công trình sưu tầm tác phẩm văn thơ của trí thức Việt Nam. Trích diễm thi tập góp phần vào nâng cao ý thức và nhận thức của nhân dân trong việc truyền bá rộng rãi văn hóa dân tộc đồng thơi thể hiện ý thức trách nhiệm về niềm tự hòa và tự lực tự cường của dân tộc Việt Nam Trong trích Diếm thi tập tác giả đã nêu ra lí do tại sao mà thơ ca lại không được lưu truyền rộng rãi. Và trong đó bốn nguyên nhân chính của việc thơ ca không được lưu truyền. qua đó cũng thể hiện những góc nhìn và ý thức của người biên soạn và tâm huyết của ông dành cho thơ cơ và nền văn hóa của ông cha ta để lại. Thứ nhất trong sáng tác văn chương chỉ có thi sĩ nhà thơ mới thấy được cái hay cái đẹp trong thi ca của họ mà thôicho nên thơ ca không được lưu truyền, bởi đã không ai hiểu chỉ có những nhà thơ mới hiểu thì làm sao có thể truyền lưu được. Thứ hai là người có học, bản thân họ luôn luôn bận rộn trong quan trường và khoa cử cho nên ít có thời gian dành cho thơ ca. Và cuối cùng một lí do cũng góp phần vào nguyên nhân tại sao mà thơ ca không được lưu truyền đó chính là do Chưa có lệnh lưu truyền thơ ca do nhà vua Ban hành Không chỉ dừng lại ở những nguyên nhân chủ quan mà còn liên quan tới những nguyên nhân khách quan khiến cho thơ ca không được lưu truyền rộng rãi. những thơ ca cho tới ngày nay không được lưu truyền là do thời gian và bom đạn. Đó là sự phá hủy hủy diệt của chiến tranh không chỉ là chết người mà nó còn mang đi cả những thơ ca nữa. Cứ như thế thơ ca ngày càng mai một và không nhiều người còn nhớ rõ tới sự tồn tại của những tác phẩm lừng lẫy hay nổi tiếng nữa. Bước sang đoạn tiếp theo Hoàng Đức Lương thể hiện những động cơ thôi thúc ông làm nên việc biên soạn của ông, và qua những biến cố khó khăn thử thách ấy, ông vẫn làm nên được một cuốn thu thập những tác phẩm hay và có giá trị, qua đó thể hiện niềm tự hào dân tộc sâu sắc đối với văn chương mà cha ông để lại. đó chính là những tác phẩm mang những nét tinh túy và thuần khiết của Nền văn học nước nhà. Qua Trích Diếm Thi tập Hoàng Đức Lượng không những đã thể hiện được tầm quan trọng của việc sưu tầm những bài thơ của ông cha ta mà còn khơi gợi ra những khó khăn muôn trùng khi làm công việc sưu tầm thơ ca. Bên cạnh đó những gì ông làm và nói ra cho chúng ta hiểu được mọi công việc đều đòi hỏi sự nỗ lực và thành quả chính là trái ngọt mà chúng ta sẽ được nhận lại. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích Trích diễm thi tập
556
Đề bài: Phân tích trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ để làm rõ tư tưởng và ý nghĩa phê phán của vở kịch Bài làm Lưu Quang Vũ thoạt đầu được nhiều người biết đến với tư cách nhà thơ. Nhưng về sau, ông gây được tiếng vang và đặc biệt được hâm mộ với tư cách một nhà viết kịch tài ba. Những năm tám mươi, kịch của Lưu Quang Vũ đã chiếm lĩnh sàn diễn của rất nhiều nhà hát. Lưu Quang Vũ mang khát vọng được bày tỏ, muốn được thể hiện tâm hồn mình vào thế giới xung quanh, muốn được tham dự vào dòng chảy mãnh liệt của đời sống, được trao gửi và dâng hiến. Khi đất nước bước vào thời kì vận động đổi mới, ý thức dân chủ trong đời sống xã hội đã ùa vào văn học. Hiện thực được phản ánh mang tính đa diện, đa chiều. Số phận con người, vấn đề cá nhân được khám phá, thể hiện đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Khát vọng được tham dự, dược trao gửi, dâng hiến, khát vọng về cái đẹp, cái thiện, về sự hoàn thiện nhân cách con người vừa là ý thức công dân vừa trở thành nhiệt hứng nghệ sĩ ở Lưu Quang Vũ. Lúc ấy, viết kịch chính là hình thức có điều kiện tham dự, “xung trận” trực tiếp. Phân tích trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ Hồn Trương Ba, da hàng thịt được sáng tác theo hướng khai thác cốt truyện dân gian để gửi gắm những suy ngẫm về nhân sinh, về hạnh phúc, kết hợp phê phán một số tiêu cực trong lối sống hiện thời. Truyện dân gian gây kịch tính sau khi hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt dẫn tới “vụ tranh chấp” chồng của hai bà vợ phải đưa ra xử, bà Trương Ba thắng kiện được đưa chồng về. Lưu Quang Vũ khai thác tình huống kịch bắt đầu ở chỗ kết thúc của tích truyện dân gian. Khi hồn Trương Ba được sống “hợp pháp” trong xác anh hàng thịt, mọi sự càng trở nên rắc rối, éo le để rồi cuối cùng đau khổ, tuyệt vọng khiến Hồn Trương Ba không chịu nổi phải cầu xin Đế Thích cho mình được chết hẳn. Xây dựng tình huống và giải quyết xung đột như vậy, Lưu Quang Vũ đã gửi gắm một triết lí sâu sắc về lẽ sống, lẽ làm người: cuộc sống thật đáng quý, nhưng không phải sống thế nào cũng được. Nếu sống vay mượn, sống chắp vá, không có sự hài hòa giữa vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách và nhu cầu vật chất thì con người chỉ gặp bi kịch mà thôi. Cuộc sống của mỗi con người chỉ thực sự hanh phúc, chỉ có giá trị khi được sống đúng là mình, được sống tự nhiên trong một thể thống nhất. Đó là chủ đề tư tưởng chính của vở kịch. Tài năng kịch của Lưu Quang Vũ thể hiện trên nhiều phương diện, tiêu biểu nhất là tài dựng cảnh và dựng đối thoại. Kịch tính cẳng ra trong những xung đột, những mâu thuẫn bên ngoài và bân trong nhân vật. Ngôn ngữ hành động và ngôn ngữ nội tâm được diễn tả sống động, lời thoại thấm đẫm triết lí nhân sinh. Đoạn trích có thể gọi là “Thoát ra nghịch cảnh” là cảnh cuối, đúng vào lúc xung đột trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng sống trong tình trạng “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, nhân vật hồn Trương Ba ngày càng trờ nên xa lạ với bạn bè, người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình. Hồn Trương Ba cảm thấy không thể sống trong “da” anh hàng thịt, không thể kéo dài “nghịch cảnh” mãi được. Hồn muốn tách ra khỏi cái thân xác kềnh càng, thô lỗ. Trong tình trạng ấy; nhà văn đã sáng tạo khi dựng lên đoạn đôi thoại giữa hồn và xác để rồi trước sự giễu cợt, mỉa mai của xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba càng trở nên đau khổ, bế tắc. Thái độ cư xử của người thân trong gia đình càng khiến hồn tuyệt vọng. Hồn Trương Ba đã châm hương gọi Đế Thích, hai bên đang đối thoại thì cu Tị chết. Đế Thích gợi ý để hồn rời xác anh hàng thịt sang xác cu Tị. Nhưng hồn Trương Ba, sau một “quãng đời” vô cùng thấm thìa, hình dung ra những “nghịch cảnh” khác khi phải sống trong thân xác một đứa bé đã quyết định xin cho cu Tị được sống và mình được chết hẳn. Đúng là “nghịch cảnh” trớ trêu. Lưu Quang Vũ đã dựng lên hai cuộc đối thoại đặc sắc (đối thoại giữa hồn và xác và đối thoại giữa hồn và Đế Thích) cùng những đối thoại hỗ trợ khác (hồn với người vợ, với cái Gái, với chị con dâu) để đẩy xung đột nội tâm của hồn Trương Ba lên đến tận cùng từ đó ý nghĩ tư tưởng, những triết lí nhân sinh được phát biểu một cách sâu sắc, thấm thìa. Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho hồn Trương Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy” với một lời độc thoại đầy khẩn thiết: Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát”. Rõ ràng, hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ. Những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với cái ước nguyện khắc khoải của hồn đã nói lên điều đó. Hồn bức bối bởi không thể nào thoát ra khỏi cái thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn đau khổ bởi mình không còn là mình nữa. Trương Ba bây giờ đâu còn là một người làm vườn chăm chi, hết lòng thương yêu vợ con, quan tâm tới hàng xóm láng giềng như ngày trước. Ông Trương Ba được mọi người kính trọng đã chết rồi. Trương Ba bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Người đọc, người xem càng lúc càng được thấy rõ điều đó qua các đối thoại và hồn Trương Ba cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái đau khổ, tuyệt vọng. Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba ở vào thế yếu, đuối lí bởi xác nói những điều mà dù muốn hay không muốn hồn vẫn phải thừa nhận Đó là cái đêm khi ông đứng cạnh vợ anh hàng thịt với “tay chân run rẩy”, “hơi thở nóng rực”, “cố nghẹn lại” và “suýt nữa thì…”. Đó là cảm giác “xao xuyến” trước những món ăn mà trước đây hồn cho là “phàm”. Đó là cái lần ông tát thằng con ông “tóe máu mồm máu mũi”,… tất cả đều là sự thật. Xác anh hàng thịt gợi lại tất cả những sự thật ấy khiến hồn càng cảm thấy xấu hổ, cảm thấy mình ti tiện. Xác anh hàng thịt còn cười nhạo vào cái lí lẽ mà ông đưa ra để ngụy biện: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thẳn…”. Trong cuộc đối thoại này, xác thắng thế nên rất hể hả tuôn ra những lời thoại dài với chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo, khi thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than, tiếng kêu. Không chỉ đau khổ, hồn còn xấu hổ trước những lời nói công khai của xác mà trước đó hồn đã cảm thấy mà không muốn nói ra, không muốn thừa nhận. Nỗi đau khổ, tuyệt vọng của hồn Trương Ba càng được đẩy lên khi đối thoại với những người thân. Người vợ mà ông rất mực vêu thương giờ đây buồn bã và cứ nhất quyết đòi bỏ đi. Với bà “đi đâu cũng được… còn hơn là thế này”. Bà đã nói ra cái điều mà chính ông cũng đã cảm nhận được: “ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”. Cái Gái, cháu ông giờ đây đã không cần phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình thân (tôi không phải là cháu ông.. Ông nội tôi chết rồi). Cái Gái yêu quý ông nó bao nhiêu thì giờ đây nó không thế chấp nhận cái con người có “bàn tay giết lợn”, bàu chân “to bè như cái xẻng” đã làm “gãy tiệt cái chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó “ông nội đời nào, thô lỗ, phũ phàng như vậy”. Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua đuổi quyết liệt: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”. Chị con dâu là người sâu sắc. chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị cảm thấy thương bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm, khổ hơn xưa nhiều lắm”. Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình “như sắp tan hoang ra cả” khiến chị không thể bấm bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau đó: “Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thấy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa..”. Tất cả những người thân yêu của hồn Trương Ba đều nhận ra cái nghịch cảnh trớ trêu. Họ đã nói ra thành lời bởi với họ cái ngày chôn xác Trương Ba xuống đất họ đau, họ khổ nhưng “cũng không khổ bằng bây giờ”. Sau tất cả những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng cách nói riêng, giọng nói riêng mình đã khiến hồn Trương Ba cảm thấy không thể chịu nổi. Nỗi cay đắng với chính bản thân mình cứ lớn dần… lớn dần, muốn đứt tung, muốn vọt trào. Đặc biệt sau hàng loạt câu hỏi có vẻ tuyệt vọng của chị con dâu: “Thầy ơi, làm sao, làm sao giữ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ tốt lành như thầy của chúng con xưa kia? Làm thế nào, thầy ơi?” thì dường như hồn không thể chịu đựng thêm được nữa. Nhà viết kịch đã để cho hồn Trương Ba còn lại trơ trọi một mình với nỗi đau khổ, tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời độc thoại đầy chua chát nhưng cũng đầy quyết liệt: “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ.. Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? “Chẳng còn cách nào khác”! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không còn cách nào khác? Có thật không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”. Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định dần tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát. Cuộc trò chuyện giữa hồn Trương Ba với Đế Thích trở thành nơi tác giả gởi gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai lời thoại của hồn trong cảnh này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn… – Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”. Người đọc, người xem có thể nhận ra những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thắm thía qua hai lời thoại này. Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chi đổ tội cho thân xác, không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Thứ hai, sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài cùa minh, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng chênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện. Quyết định dứt khoát xin tiên Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết hẳn chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa của nhân vật hồn Trương Ba là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa, quyết định này cần phải đưa ra kịp thời vì cu Tị vừa mới chết. Hồn Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào xác cu Tị để sống và thấy rõ "bao nhiêu sự rắc rối” vô lí lại tiếp tục xảy ra. Nhận thức tỉnh táo ấy cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát. Qua quyết định này, chúng ta càng thấy Trương Ba là con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt, đó là con người ý thức được ý nghĩa của cuộc sống. Cái chết cua cu Tị có ý nghĩa đẩy nhanh diễn biến kịch đi đến chỗ “mở nút”. Dựng tả quá trình đi đến quyết định dứt khoát của nhân vật hồn Trương Ba, Lưu Quang Vũ đã đảm bảo được tính tự nhiên, hợp lí của tác phẩm. Không chỉ có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, với tinh thần chiến đấu thẳng thắn của một nghệ sĩ hăng hái tham dự vào tiến trình cải cách xã hội, trong vở kịch này nói chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ. Thứ nhất, con người đang có nguy cơ chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở nên phàm phu, thô thiển. Nói như Chế Lan Viên trong một bài thơ đã từng cảnh báo “muốn nuôi sống xác thân đem làm thịt linh hồn”. Thứ hai, lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà chẳng chăm lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đâu vì hạnh phúc toàn vẹn. Thực chất đây là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, của sự lười biếng, không tưởng. Cả hai quan niệm, cách sống trên đều cực đoan, đáng phê phán. Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một vấn đề cũng không kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng không được sống là bản thân mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi. Lưu Quang Vũ đã chết một cách rất thương tâm trong một tai nạn giao thông. Khoảng trống mà nhà viết kịch tài ba ấy để lại trong nền sân khấu Việt Nam là không thể lấp đầy. Vở kịch cuối cùng được Lưu Quang Vũ đặt tên là Chim sâm cầm không chết. Với tất cả những gì để lại cho đời thì mãi mãi Lưu Quang Vũ không chết. Từ bấy đến nay, Hồn Trương Ba, da hàng thịt và gần 50 vở kịch khác của Lưu Quang Vũ vẫn được dàn dựng và công diễn. Những triết lí về cuộc đời, về con người, về xã hội… đặt ra trong các vở kịch luôn có ý nghĩa với mọi người, mọi thời.
Phân tích trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ để làm rõ tư tưởng và ý nghĩa phê phán của vở kịch
2,873
Đề bài: Phân tích trích đoạn kịch ông Giuốc-đanh mặc lễ phục Bài làm Mô-li-e được coi là nhà viết kịch có nhiều tác phẩm đạt đến mức cổ điển của thế giới. Vở kịch "Trưởng giả học làm sang" là một tác phẩm nổi tiếng của ông, trong đó trích đoạn "Ông Giuôc-đanh mặc lễ phục" là một trích đoạn tiêu biểu. Lớp kịch này được chia làm hai cảnh, dấu hiệu nhận biết trên văn bản là đoạn chỉ dẫn sân khấu "Bốn tay thợ phụ bước vào…". Cả hai cảnh này đều diễn ra trong không gian phòng khách nhà ông Giuốc-đanh – nhân vật chính. Không khí kịch càng về sau càng sôi động, cho đến cuối cảnh sau thì không khí hài kịch thực sự náo nhiệt. Trên văn bản, ta thấy ở cảnh trước gồm những lời thoại của hai nhân vật: ông Giuốc-đanh và bác phó may; cảnh sau là những lời đối thoại của ông Giuốc-đanh và tay thợ phụ. Cảnh trước, trên sân khấu xuất hiện bốn nhân vật (ông Giuốc-đanh và một gia nhân, bác phó may và tay thợ phụ mang bộ lễ phục). Cảnh sau, xuất hiện thêm bốn tay thợ phụ nữa. Cảnh trước, ông Giuốc-đanh và bác phó may đối thoại với nhau. Cảnh sau, ông Giuốc-đanh nói với một tay thợ phụ "mang lễ phục”, xuất hiện từ cảnh trước nhưng xung quanh ông là cả bốn tay thợ phụ đến sau đang xúm vào để giúp ông thử lễ phục mới nên như là nói với cả bọn. Thêm nữa, cảnh trước cử chỉ, động tác của các nhân vật ít hơn (chỉ là những cử chỉ, động tác kèm theo đối thoại của hai nhân vật), đến đoạn sau các thợ phụ nhộn nhịp cởi quần áo cũ, mặc lễ phục mới cho ông Giuôc-đanh… Thêm nữa, khi ông Giuốc-đanh mặc lễ phục còn có cả nhảy múa và âm nhạc! Ở cảnh đầu của lớp kịch, tính cách của Giuốc-đanh thể hiện trong đối thoại với bác phó may. Nào là chuyện đôi bít tất, chuyện bộ tóc giả, lông đính mũ song chủ yếu là chuyện xoay quanh bộ lễ phục mới, với những bông hoa ngược! Làm sao mà biết được là do bác phó may đốt, do sơ suất hay cố ý may thành những bông hoa ngược? Chỉ biết rằng chính ông Giuôc-đanh phát hiện ra sự cố này. Khổ một cái, cái bác phó may với tay nghề khó hiểu này lại bảo rằng người quý tộc người ta vẫn mặc vậy. Mà ông Giuốc-đanh thì đang học đòi làm sang. Thế là ông hoàn toàn bị khuất phục bởi sự láu cá của bác phó may. Kịch tính được đẩy lên khi bác phó may liên tiếp ra đòn: "Nếu ngài muốn thì tôi sẽ xin may hoa xuôi lại thôi mà", "xin ngài cứ việc bảo". Sợ cơ hội làm sang sẽ tuột mất, ông Giuốc-đanh cứ chối đây đẩy: "Không, không", "tôi đã bảo không mà". Rồi lại chính ông Giuô'c-đanh phát hiện ra bác phó may ăn bớt vải của mình. Song bác phó may đã nắm chắc điểm yếu của đối phương, chỉ cần bác lảng sang chuyện thử bộ lễ phục mới là ông Giuốc- đanh chẳng còn để ý đến chuyện ăn bớt vải nữa. Chẳng thế mà bác phó may lại quá tự tin khi mặc đúng cái áo may bằng vải ăn bớt của ông Giuốc-đanh đến nhà ông Giuốc-đanh. Sang cảnh sau của lớp kịch, tính cách trưởng giả học đòi làm sang của ông Giuốc-đanh tiếp tục được bộc lộ. Lần này đến lượt tay thợ phụ lợi dụng ông ta. Nếu anh này cứ gọi ông Giuốc-đanh như thông thường (ông hoặc ngài) thì đã không có chuyện gì xảy ra (và chắc cũng không được tiền uống rượu). Đằng này lại xưng tôn là "ông lớn", lại đúng vào lúc ông đang mặc lễ phục và say sưa với cảm giác trở thành quý phái. Thế là y được thưởng vì tiếng "ông lớn" sang trọng ấy. Tay thợ phụ ranh ma này nắm thóp được ông Giuốc-đanh thì liên tiếp tung ra những câu nịnh hót để moi tiền. Và y đã rất thành công. Những tiếng "cụ lớn ', rồi "đức ông" đều đem lại cho y tiền thưởng. Không phải ông Giuốc-đanh không nghĩ gì đến túi tiền của mình (Nó như thế là phải chăng, nếu không ta không mất tong cả tiền cho nó thôi) mà là tại vì cái mộng quý phái còn lớn hơn cả sự tiếc tiền! Như vậy cũng đủ thấy tính cách học đòi làm sang của ông Giuốc-đanh mạnh đến mức nào. Sự chênh lệch, mất cân xứng giữa nội dung và hình thức, giữa cái bên trong và bên ngoài là nguyên tác cơ bản để nhà văn tạo ra cái hài. Ở lớp kịch này cũng vậy, Mô-li-e đã xây dựng một nhân vật hài kịch bất hủ khi tạo ra sự khập khiễng, bất hoà giữa cái ngu dốt, ngớ ngẩn và cái sang trọng học đòi ở nhân vật ông Giuốc-đanh, với hàng loạt các tình tiết gây cười: bộ lễ phục với những bông hoa ngược, tiền thưởng cho những tiếng tôn xưng quý phái hão, vẻ vênh vác rởm hợm của ông Giuốc-đanh khi mặc lễ phục cũng như khi được tôn xưng… qua đó nhà văn chế giễu thói học đòi làm sang vẫn thường thấy trong xã hội.
Phân tích trích đoạn kịch ông Giuốc-đanh mặc lễ phục
927
Phân tích trích đoạn Nỗi oan hại chồng để làm nổi bật giá trị nhân đạo của vở chèo Quan Âm Thị Kính Hướng dẫn Trích đoạn Nỗi oan hại chồng là phần đầu vở chèo Quan Âm Thị Kính. Màn chèo này có 3 cảnh. Cảnh 1:Thiện Sĩ đọc sách, Thị Kính ngồi khâu áo. Thiện Sĩ thiu thiu ngủ, Thị Kính quạt cho chồng. Thị Kính cầm dao cắt chiếc râu mọc ngược ở cằm chồng. Thiện Sĩ chợt tỉnh, túm lấy con dao rồi kêu to lên. Sùng ông và Sùng bà hốt hoảng chạy ra. Cảnh 2:Sùng bà và Sùng ông chửi mắng Thị Kính thậm tệ, vu cho Thị định giết chồng. Thị Kính khóc lóc và kêu oan. Cảnh 3:Sùng ông đi gọi Mãng ông sang. Mãng ông bị Sùng ông dúi ngã. Thị Kính bị đuổi về cha mẹ đẻ. Hai cha con ôm nhau than khóc. ThịKính cất tiếng than và thổ lộ “quyết tâm trá hình nam tử bước đi tu hành”. Chân trời sớm rạng đông khi Thị Kính bước ra khỏi nhà họ Sùng. Nhân vật Sùng bà là một vai hề rất sống, rất ghê gớm. Tuy có đủ mặt năm nhân vật, nhưng xung đột chủ yếu thể hiện qua hai nhân vật: Sùng bà và Thị Kính. Trong chèo, Sùng bà thuộc loại nhân vật ác, từ ngôn ngữ đến cử chỉ, hành động của mụ rất tàn nhẫn, độc địa. Mụ mạt sát Thị Kính là “mặt sứa gan lim” định giết con bà. Mụ chửi Thị Kính là tuồng “mèo mả gà đồng” rất “lẳng lờ”. Thị Kính càng vật vã kêu khóc thì mụ càng lồng lên dữ dội, nanh ác. Mụ xỉa xói Thị Kính là “cả gan”, là kẻ hư hỏng “say hoa đắm nguyệt”, “trên dâu dưới Bộc”…, là “gái say trai lập chí giết chồng”. Mụ đòi “chém bổ băm vằm” Thị Kính. Mụ xỉ vả Thị Kính “mặt gái trơ như mặt thớt”, không biết “tam tòng tứ đức”, không sợ “gươm trời búa nguyệt”. Sùng bà rất tàn nhẫn và độc ác, mụ quyết tâm đuổi Thị Kính về nhà, như “ngựa bất kham thôi phó về Bồng Bảo”, như “Đồng nát thì về Cầu Nôm- Con gái nỏ mồm thì về ở với cha”. Mụ vênh váo tự hào gia thế bà là cao sang quyền quý, thuộc loại “cao môn lệnh tộc”, “trứng rồng lại nở ra rồng”. Mụ hạ nhục Thị Kính là “con nhà cua ốc”, “liu điu lại nở ra liu điu”. Sùng bà mắng Sùng ông, chồng bà là kẻ nát rượu, “lúc nào cũng rượu, lúc nào cũng say”, ăn nói thì “lèm bèm lèm bèm…”. Mụ nạt và ra lệnh cho Thiện Sĩ: “Đi! Đi vào!”. Mụ nhắc Thiện Sĩ “vào rửa mặt mà đọc sách” mụ hứa lấy cho con trai mụ “dăm vợ” (mụ có biết đâu cậu quý tử của mình, tuy theo đòi bút nghiên nhưng chỉ là một kẻ nhu nhược, hồ đồ và đần!). Sùng bà ra lệnh cho Sùng ông đi gọi Mãng ông đến để trả Thị Kính. Mụ tàn nhẫn dúi tay xô ngã Thị Kính khi Thị Kính chạy theo mụ van xin. Có thể nói, nhân vật Sùng bà được xây dựng rất sống. Ngôn ngữ của mụ độc địa, mụ cũng ví von, cũng sử dụng tục ngữ ca dao, mụ cũng nói chữ, cũng chửi mắng, mạt sát rất thô lỗ tục tằn. Mụ cùng con trai dựng chuyện không đâu vào đâu, rất vu vơ để vu oan cho Thị Kính âm mưu hại chồng, đang tâm và tàn nhẫn đuổi Thị Kính về nhà bố mẹ đẻ. Sùng bà là hiện thân mụ ác, một vai chèo rất sống, một người đàn bà giàu có, hợm hĩnh, độc ác và tàn nhẫn. Nhân vật Thị Kính là một vai hề đau khổ, đáng thương. Nhân vật Thị Kính rất đáng thương. Nhờ có nhan sắc, tuy nhà nghèo mà Thị Kính lấy được chồng là một nho sinh, con nhà giàu có. Thị đã hành xử một cách tùy tiện, đơn giản là lấy dao khâu cắt râu chồng lúc chồng nằm ngủ, nên đã gây ra bi kịch “nỗi oan hại chồng”. Trong trích đoạn, 6 lần Thị Kính khóc lóc, van xin. Bốn lần khóc, van lạy Sùng bà: "… Oan cho con lắm mẹ ơi!”, “Mẹ xét tình con, oan con lắm mẹ ơi!”… Thị Kính càng khóc lóc van xin càng bị Sùng bà chửi mắng độc địa, dúi cho ngã khuỵu xuống. “Oan này còn một kêu trời, nhưng xa” (Nguyễn Du). Bị vu oan cầm dao hạichồng, bị đuổi về nhà cha mẹ đẻ, đó là nỗi đau khổ, tủi nhục tột cùng của Thị Kính, rủa người phụ nữ nghèo hèn trong xã hội cũ. Hình ảnh Mãng ông bị Sùng ông dúi ngã, Thị Kính ôm lấy cha, cả hai cha con cùng khóc là hình ảnh đau khổ và thương tâm cho thân phận những kẻ nghèo hèn. Thị Kính kêu với Thiện Sĩ: “Oan thiếp lắm chàng ơi!”. Nhưng anh chồng đần nào có động lòng. Nỗi oan của Thị Kính chỉ được người cha cảm thông, san sẻ. Nghe con gái kêu khóc: “Cha ơi! Oan cho con lắm cha ơi!” thì Mãng ông cất lời than: “Con ơi! – Dù oan dù nhẫn chẳng oan – Xa xôi cha biết nỗi con thế nào!” An ủi con gái, Mãng ông khuyên con đi về nhà, “về cùng cha con ơi!”. Cuối trích đoạn Nỗi oan hại chồng, Thị Kính cất lời than. Đau khổ về “tiếng mỉa mai” sao tránh khỏi! Trách duyên số, trách hai mẹ con Thiện Sĩ: “Đang tay nỡ bẻ phím đồng làm đôi”. Nàng cầu mong “nhật nguyệt rạng soi” cho nỗi oan, xin lạy cha lạy mẹ, và “quyết tâm trá hình nam tử bước đi tu hành”. Cách hành xử ấy cho thấy Thị Kính đau khổ và bế tắc đến tột cùng. Cảnh chân trời chớm rạng đông khi Thị Kính lặng lẽ bước ra khỏi nhà họ Sùng là một cảnh tượng trưng nói lên một quan niệm, một niềm tin thánh thiện của nhân dân ta ngày xưa: con đường tu hành đi tới Phật là con đường sáng… Phải chăng đó cũng là điều mà Nguyễn Du đã nói đến trong Truyện Kiều: “Tu là cõi phúc, tình là dây oan”? Nỗi oan hại chồng là tiếng kêu thương, đau khổ của người phụ nữ nghèo hèn trong xã hội cũ. Bị vu oan, vùi dập, bị xua đuổi, sống trong đau khổ. bế tắc. Trích đoạn chèo đầy nước mắt và tiếng kêu thương, giàu tình cảm nhân đạo. Xung đột kịch, tâm trạng và hành động nhân vật còn sơ lược, chưa sâu sắc. Đó cũng là hạn chế của chèo cổ dân tộc. Nguồn:
Phân tích trích đoạn Nỗi oan hại chồng để làm nổi bật giá trị nhân đạo của vở chèo Quan Âm Thị Kính
1,149
Phân tích trích đoạn “Chí anh hùng” tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phân tích trích đoạn “Chí anh hùng” tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du- Văn lớp 10 Bài làm Truyện Kiều là một tác phẩm vô cùng đặc sắc, của thi hào Nguyễn Du. Nó là một trong những tác phẩm kinh điển của nền thi ca Việt Nam tạo ra được nhiều tiếng vang lớn. Trong đó, đoạn trích “Chí anh hùng” thể hiện nội dung vô cùng độc đáo sâu sắc giữa cuộc tiễn biệt của Thúy Kiều Và Từ Hải. Trong những câu thơ của mình Nguyễn Du đã thể hiện sự tôn trọng của mình với một nhân vật anh hùng, có ý chí. Đồng thời tác giả Nguyễn Du cũng muốn tố cáo tội ác của chế độ Phong kiến thối nát coi trọng giá trị bên ngoài hơn giá bên trong của con người. Trong đoạn trích này, tác giả Nguyễn Du đã phác họa một hình ảnh nhân vật anh hùng Từ Hải như một vị anh hùng, nam nhi chí tại bốn phương, thể hiện ý chí anh dũng, của người nam nhi, muốn đi ngao du thiên hạ tạo nên sự nghiệp lớn. Dù trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du nhân vật Từ Hải vốn là người tướng cướp nhưng vô cùng hào kiệt thường cướp của người giàu chia người nghèo. Sống có ý chí bản lĩnh căm ghét sự xấu xa. Nhưng Từ Hải lại bị chế độ phong kiến truy nã, coi là một tên tội phạm, bởi anh thường chống lại quan lại triều đình những hiện tượng xấu xa trong xã hội xưa. Từ Hải cảm thương cho thân phận của Thúy Kiều vì cô là người chân tình có tài sắc, lại có suy nghĩ vô cùng đáng trân trọng. Hai con người bị xã hội ruồng bỏ đã tìm tới nhau bởi họ có tiếng nói chung. Nhờ Từ Hải, Thúy Kiều được chuộc thân ra khỏi lầu xanh và được báo ân báo oán. Tuy sống cùng Thúy Kiều nhưng Từ Hải vẫn cảm thấy muộn phiền ở trong lòng bởi vẫn chưa làm được sự nghiệp lớn. Chính vì vậy, Từ Hải đã quyết định ra đi tìm chí hướng cho riêng mình: Nửa năm hương lửa đương nồng Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương Trông vời trời bể mênh mang Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong Trong những câu thơ này, thể hiện thời gian sáu tháng mặn nồng tình cảm ấm áp cháy bỏng của đôi uyên ương. Nhưng cũng thể hiện ý chí khát khao của Từ Hải muốn thể hiện ý chí anh hùng của mình. Muốn tạo dựng nên sự nghiệp riêng của mình không muốn vương vấn tình cảm nam nữ mà chùn chân. Những câu thơ “lòng bốn phương” là hình ảnh ước lệ tượng trưng cho việc tạo dựng công danh của người con trai, khi đã quyết chí làm gì thì không bao giờ lung lay, lùi bước. Trong bốn bề không gian đất trời mênh mông, Từ Hải muốn ngao du và làm được điều gì đó thật lớn lao, mang ý nghĩa sâu sắc. Nhưng từ khi gặp được Thúy Kiều yêu thương nàng, Từ Hải đã chậm bước chân anh hùng của mình. Thúy Kiều khi đưa tiễn Từ Hải trong lòng vô cùng buồn rầu, cô muốn đi theo Từ Hải nàng rằng: Nàng rằng: Phận gái chữ tòng Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi Trong thâm tâm của Thúy Kiều đã coi Từ Hải như một phu quân của mình nàng muốn theo người xưa “Xuất giá tòng phu” thể hiện tình cảm gắn, bó chung thủy trước sau như một của người con gái với chồng mình. Từ rằng: Tâm phúc tương tri Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Bao giờ mười vạn tinh binh Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường Làm cho rõ mặt phi thường Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia Trước những lời tha thiết của Thúy Kiều nhưng Từ Hải chỉ nói muốn thoát khỏi cảnh nữ nhi thường tình. Chàng đi ngao du, nhưng chưa biết mình sẽ đi đâu, chưa biết bốn biển đâu sẽ là nhà nên mang theo Thúy Kiều sẽ chỉ làm khổ cho cô và làm cho Từ Hải chậm bước anh hùng của mình mà thôi. Nên chàng đã nói Thúy Kiều rằng thời gian xa cách chỉ là thử thách, khi mà Từ Hải làm nên sự nghiệp lớn chàng sẽ đón Thúy Kiều cùng đi. Bằng ngay bốn bể không nhà Theo càng thêm bận, biết là đi đâu Đành lòng chờ đó ít lâu Chầy chăng là một năm sau vội gì. Quyết lời dứt áo ra đi Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi Cách chia tay của Từ Hải thể hiện rõ ý chí của nhân vật này, không vì nữ nhi nhan sắc của người con gái mà bị trói buộc. Từ Hải là người vô cùng ý chí, anh hùng, thể hiện tình cảm anh hùng của Từ Hải. Sự ra đi của chàng thể hiện trái tim dứt khoát, sắt đá, chàng như con chim phải tung cánh bay tìm tới ước mơ của đời mình. Từ Hải thể hiện ước mơ của người nam nhi, thể hiện tính quân tử của mình. Trích đoạn “Chí anh hùng” của tác giả Nguyễn Du đã xây dựng được một tượng đài vô cùng anh hùng lý tưởng sâu sắc. Tác giả Nguyễn Du đã xây dựng một nhân văn tài năng ý chí vô cùng khác người thể hiện những nam nhi có chí hướng, muốn tạo dựng sự nghiệp lớn.
Phân tích trích đoạn “Chí anh hùng” tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du- Văn lớp 10
937
Phân tích Tuyên ngôn độc lập-Hồ Chí Minh Hướng dẫn Mở bài: Tháng 8/1945, cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp thắng lợi trên toàn quốc. Để khẳng định chiến thắng vẻ vang và nền độc lập nước nhà, Hồ Chí Minh đã bắt tay soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập và chính thức độc trước hàng chục vạn người dân tại quảng trường Ba Đình khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Không những có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn, bản Tuyên ngôn độc lập còn có giá trị văn chương sâu sắc. Thân bài: 1. Cơ sở pháp lí và chính quyền của bản Tuyên ngôn độc lập Nhìn một cách chung nhất, Tuyên ngôn độc lập là văn bản tuyên bố về quyền độc lập, tự do thiêng liêng của dân tộc. Tuyên bố về chủ quyền quốc gia, nó kết tinh những quyền lợi và nguyệ vọng tha thiết của dân tộc, đồng thời thể hiện khí phách của dân tộc đã được hun đúc trong cả một lịch sử hình thành và phát triển. Một trong những vấn đề quan trọng và cốt lõi của bản Tuyên ngôn độc lập là phải tạo cơ sở cho pháp lí cho nền độc lập của dân tộc ta. Từ quyền con người đã được thừa nhận, Bác đã mở rộng và khẳng định quyền của các dân tộc. Trong đó có dân tộc Việt Nam. Bác đã dựa vào hai bản Tuyên ngôn của Pháp và Mĩ để trên cơ sở đó tạp những tiền đề cần thiết không thể phủ nhận được Tuyên ngôn nước ta. Mở đầu bản Tuyên ngôn, Bác đã nêu lên một chân lí, đã được ghi nhận qua lịch sử tiến hóa của nhân loại: Đó là chân lí về quyền sống, quyền tư do và mưu cầu hạnh phúc của con người. Từ chân lí ấy, đã dẫn tới một chân lí khác, đó là chân lí về quyền của các dân tộc: “Tất các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Như vậy, bằng sự dẫn dắt mở rộng tất yếu, từ quyền con người đến quyền dân tộc, Tuyên ngôn độc lập đã xác lập được căn cứ vững chắc, đã nêu lên một lẽ phải không ai chối cãi được để khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc ta. Để khẳng định tính đúng đắn và tạo sức mạnh thuyết phục cho bản tuyên ngôn, Bác lại trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ ở thế kỷ XVIII bởi đây là hai bản Tuyên ngôn có giá trị tích cực và tiến bộ đã được cả thế giới thừa nhận. Trên cơ sở vấn đề con người đã được khẳng định và thừa nhận ở hai bảng Tuyên ngôn trên, Bác đã xác lập quyền của dân tộc ta. Đây là một chiến thuật sắc bén của Hồ Chủ Tịch, dùng “gậy ông đập lưng ông”. Cách nói khác là dùng chỉnh lời lẽ, vũ khí của kẻ thù để đánh bại kẻ thù. Dẫn trích hai bản tuyên ngôn trên, Bác đã khóe léo đặt nước ta ngang hành; bình đẳng với các nước lớn trên thế giới. Đây là cách đi, là con đường ngắn nhất để Bác khẳng định bản Tuyên ngôn nước ta. Đó là cách dễ đi vào lòng người nhất. Cả hai mặt pháp lý và đạo lý đều hết sức sáng tỏ trong nguyên tắc quyền dân tộc mà Tuyên ngôn độc lập xây dựng làm căn cứ cho lập luận của mình. Cách đặt vấn đề của Hồ Chủ Tịch vừa khóe léo, vừa chặt chẽ. Không phải ngẫu nhiên mà mở đầu bản Tuyên ngôn, Hồ Chủ Tịch đã đều cập đến nội dung bản Tuyên ngôn độc lập Mỹ (1776) và tuyên ngôn nhân quyền (1789) của Pháp. Bởi vậy, trích dẫn hai bản tuyên ngôn ấy sẽ tạo cơ sở pháp lí chính nghĩa và vững vàng cho Tuyên ngôn độc lập của chúng ta. Hơn thế nữa, việc trích dẫn bản Tuyên ngôn của Pháp và Mỹ còn thể hiện một chiến thuật sắc bén của Hồ Chí Minh: Dùng gậy ông đập lại lưng ông. Vạch trần cho thiên hạ thấy nếu Pháp lăm le trở lại xâm lược nước ta một lần nữa có nghĩa là chúng phản bội lại truyền thống tốt đẹp của tổ tiên. Những người có lương tâm và phẩm cách không bao giờ làm thế. 2. Cơ sở thực tiễn của bản Tuyên ngôn độc lập Bác bỏ, phủ định Quyền của Thực dân Pháp đối với dân tộc ta, để từ đó ngăn chặn âm mưa của Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Bác khẳng định Việt Nam giành độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Pháp rêu rao sang Việt Nam với mục đích “bảo hộ” nhưng thực tế Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật (lần 1 năm 1940; lần năm 1945). Chính quyền Pháp cũng cho rằng họ sang Việt Nam để nhằm “khai thác văn minh” thì Bác bằng những lập luận chặt chẽ, sắc bén, những dẫn chứng tiêu biêu chọn lọc đã chứng minh: trong suốt hơn 80 năm qua, thực dân Pháp đã thi hành những chính sách thâm độc, ngu dân làm cho đất nước ta suy yếu, nòi giống ta càng ngày trở nên suy nhược. Bác cũng vạch trần những tội ác dã man của Pháp đối với nhân dân ta trong suốt mấy chục năm qua. Mở đầu phần 2 này, Hồ Chủ Tịch đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta trong suốt thời gian hơn 80 năm qua. Cách nêu tội ác của Pháp hết sức súc tích, đầy đủ, bao gồm đủ các mặt, cả về chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế. Kết hợp với giọng văn đanh thép đầy phẫn nộ là những từ ngữ hình ảnh giản dị mà sâu sắc, giàu tính gợi cảm, có tác dụng làm cho câu văn thêm xúc động, thấm vào lòng người mối thù không đội trời chung với bọn thực dân Pháp: “Chúng thi hành những luật pháp dã man… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học… Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu… Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân… Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm nòi giống ta suy nhược… Chúng bốc lột dân ta đến xương tủy khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều”. Mỗi hình ảnh so sánh hay ẩn dụ; mỗi từ ngữ được chọn lọc ở đây dường như gợi lại trong tâm trí người đọc một bức tranh sống động đầy máu và nước mắt gây xúc động mạnh mẽ cho người đọc. Trong phần kết tội bọn thực dân Pháp đã bán nước ta cho Nhật, Hồ Chủ Tịch đã thẳng tay vạch trần lập trường phản động và vô nhân đạo của chúng đồng thời khẳng định lập trường chính nghĩa và nhân đạo của nhân dân ta bằng những hình ảnh sinh động, cụ thể, Hồ Chí Minh đã lên án lập trường phản động đê hèn của thực dân Pháp: “Bọn thực Pháp quì gối đầu hàng, mở của nước ta rước Nhật… Trong 5 năm, chúng đã bán nước ta 2 lần cho Nhật… Thậm chí đến khi thua chạy chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái, Cao Bằng”. Để phủ định dứt khoát mọi quan hệ thuộc địa giữa nước ta với thực dân Pháp, đồng thời để khẳng định mạnh mẽ cuộc Cách Mạng dân tộc, dân chủ của nhân dân ta. Hồ Chủ Tịch đã dựa vào hàng loạt biến cố chính trị diễn ra trong lịch sử thực tế Việt Nam, khoảng 5 năm (1940-1945) và vận dụng phương pháp suy luận theo quan hệ nhân – quả để đi tới những kết luận cần phải có như những lẽ đương nhiên, không ai có thể phủ nhận được. Phân tích nội dung cụ thể, chúng ta có thể trình bày tóm tắt toàn bộ lập luận Hồ Chủ Tịch. Tóm tắt như sau: Theo qua trình diễn biến ba bước của lịch sử: Bước 1: Pháp đã bán nước ta cho Nhật, nước Việt Nam đã trở thành thuộc địa. Do đó đã chấm dứt quan hệ thuộc địa với Pháp. Bước 2: Pháp chạy và Nhật hàng. Nhân dân ta đã giành laijn nước Việt Nam từ tay Nhật, lật đổ chế độ thực dân, lập nên nước Việt Nam độc lập. Bước 3: Vua bảo đại thoái vị, nhân dân ta đã đánh đỗ chế độ phong kiến, lập nên chế độ dân chủ Cộng hòa. Như vậy, nước ta dân chủ cộng hòa ra đời là một sự thật lịch sử không ai có thể phủ nhận được. Như vậy, cùng với lập luận chặt chẽ, có tính thuyết phục cao, là nghệ thuật sử dụng ngôn từ rât điêu luyện của Hồ Chủ Tịch. Có lúc Người sử dụng cấu trúc đặc biệt và nhịp điệu dồn dập của câu văn để gợi lên sự biến chuyển mau lẹ của các sự kiện (Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị). Trên cơ sở những thực tế lịch sử hiển nhiên đã được chứng minh kế thúc phần 2 của bản Tuyên ngôn, Hồ Chủ Tịch đã khẳng định đanh thép quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam, bình đẳng với các dân tộc trên thế giới. Sự khẳng định này dựa trên hai cơ sở: Pháp lý và thực tế. Cớ sở Pháp lý ở đây có phần gần gũi và thiết thực hơn – đó không phải là bản Tuyên ngôn lịch sử của Pháp và Mỹ TK XVIII nữa mà là nguyên tắc dân tộc bình đẳng đã được chính các nước đồng minh công nhận ở hội nghị Tê Hê Ran và Cựu Kim Sơn ( I – ran và SanFransico). Còn cơ sở thực tế chính là sự nghiệp đấu tranh Cách Mạng của dân tộc ta trong hơn 80 năm qua: “gan góc chống ách nô lệ của Pháp và mấy năm qua đã đứng về phe đồng minh chống Phát xít”. Một sự nghiệp hoàn toàn phù hợp với công lý và chính nghĩa, phù hợp với những nguyên tắc dân tộc bình đẳng đã được các nước đồng minh thừa nhận. 3. Lời tuyên bố chính thức với thế giới. Kết thúc bản tuyên ngôn độc lập là lời tuyên bố đanh thép của Hồ Chủ Tịch về sự ra đời của nước Việt Nam mới tự do và độc lập. Mặt thứ nhất: Lý lẽ, để khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc; phủ định mọi mưu toan và hành động xâm lược. Mặt thứ hai: Trữ tình, bộc lộ ý chí, nguyện vọng quan tâm, nó là sự thể hiện tư thếbản lính dân tộc. Hai mặt này luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau để cùng diễn đạt tư tưởng quan tâm giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc. Tuyên ngôn độc lập là kết tinh vẻ đẹp của nghệ thuật văn chương chính luận. Giá trị văn học của tuyên ngôn độc lập. Đây là một tác phẩm hết sức ngắn gọn, cô đúc (chỉ vào khoảng ba trang) nhưng hàm chứa một nội dung tư tưởng lớn lao, có liên quan đến vận mệnh sống còn của cả một dân tộc. Nói đến văn chính luận là phải nói tới nghệ thuật lập luận ở tác phẩm Tuyên ngôn độc có lập luận chặt chẽ, đanh thép, có sức thuyết phục cao. Những dẫn chứng được nêu lên trong bản Tuyên ngôn độc lập hết sức tiêu biểu, chọn lọc (như phần kết tội, lên án bọn thực dân Pháp đã được Bác triển khai trên nhiều bình diện: cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vô cùng đặc sắc. Bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ Tịch không những là một văn kiện lịch sử vô giá mà còn là một tác phẩm văn học nghê thuật có giá trị lớn lao. Tuyên ngôn độc lập cũng là sự kết tinh trong sáng và đầy đủ nhất. Những tác phẩm văn học Cách Mạng phong phú, nổi tiếng trước Cách Mạng tháng 8 của Hồ Chí Minh như vở kịch “ Con Rồng tre”, “ Bản án chế độ Thực dân Pháp”,… Nó có thể coi là một áng văn bất hủ của nền văn học dân tộc. Kế thừa và phát huy xuất sắc truyền thống thể loại văn “cáo” và tuyên ngôn của các anh hùng dân tộc mà tiêu biểu là bài thơ “ Nam Quốc Sơn Hà” tương truyền của Lý Thường Kiệt và áng “thiên cổ hùng văn”, “ Bình ngô đại cáo” nổi tiếng của Nguyễn Trãi. Nghệ thuật chính luận trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ Tịch đã đạt đến một trình độ mẫu mực. Nội dung tư tưởng sâu sắc lập luận đanh thép chặt chẽ, văn phong giản dị trong sáng. Kết bài: Có thể nói Tuyên ngôn độc lập là kết tinh cao đẹp, rực rỡ của truyền thống yêu nước, ý chí, nguyện vong và tinh thần dân tộc và phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ 20. Tuyên ngôn độc lập đánh dấu một móc son chói lọi, mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: kỉ nguyên độc lập, tự chủ, tự cường dân tộc. Các dạng đề: 1, Nêu hoàn cảnh ra đời, mục đích sáng tác bản “ Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh. 2, Hãy nêu nội dung và giá trị nhiều mặt của bản “Tuyên ngôn độc lập” 3, Có ý kiến cho rằng: “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ là văn kiện lịch sử vô giá mà còn là một áng văn chính trị mẫu mực. Anh/chị hãy giải thích và làm sáng tỏ ý kiến nhận xét trên.
Phân tích Tuyên ngôn độc lập-Hồ Chí Minh
2,368
Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử Hướng dẫn Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử Bài làm Trong mỗi con người chúng ta, chúng ta phải cần rất nhiều những đức tính khác nhau để có thể trưởng thành hơn và thành công trong cuộc sống.Tuy nhiên, đối với thế hệ học sinh ngày nay thì việc trung thực trong thi cử và cuộc sống là rất quan trọng để chúng ta có thể tự lập và thành công hơn sau này. Thế trung thực là gì? Trung thực là ngay thẳng, thật thà, đúng với sự thật, không làm sai lệch đi những cái đúng, lẽ phải,và nó cũng thể hiện đúng trình độ, năng lực của chúng ta.Như trong thi cử, sự trung thực rất cần trong thi cử, nó giúp chúng ta biết được khả năng tới đâu và có thể chỉnh đốn việc học để đạt điểm cao hơn chứ không nên dùng phao, hỏi bài,….Hay trong cuộc sống, việc trung thực sẽ giúp chúng ta được nhiều người yêu quý hơn,ta có thể làm mích lòng người khác vì sự trung thực nhưng đó là sự thật, người đó phải chấp nhận nó.Hơn nữa, nó sẽ giúp cho ta được tin tưởng nhiều hơn,kính trọng hơn. Sự trung thực có ý nghĩa lớn lao đối với mỗi người, nó đánh giá đúng hiệu quả giáo dục, giúp xây dựng một xã hội văn minh, thân thiện,…Tuy nhiên thì ngày nay, tình trạng thiếu trung thực trong học tập và thi cử lại ngày càng tăng một cách đột biến. Việc học sinh quay cóp trong giờ kiểm tra, hay dùng phao tài liệu là việc khá phổ biến hiện nay. Nó giúp những học sinh lười học bài, hay không chép bài đạt được điểm cao,…Trong cuộc sống hiện nay cũng vậy, sự gian dối, thiếu trung thực cũng phổ biến từ gia đình và xã hội, từ mọi lứa tuổi,…họ có thể nói dối, thiếu trung thực để đạt được những mục đích của mình, các quan chức cấp cao lợi dụng chức vụ của mình để thoát tội, để gian dối trong việc kinh doanh,..Điều đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới đạo đức xã hội, nó còn khiếm cho niềm tin của con người vào những giá trị, phẩm chất tốt đẹp bị đổ vỡ, hơn nữa nó sẽ khiến cho đất nước chậm phát triển, tụt hậu,… Vậy phải làm sao để ngăn chặn những hành vi thiếu trung thực đó?Chúng ta cần có một sự phối hợp ăn ý giữa nhà trường,gia đình và xã hội để giúp các em thiếu trung thực có thể cải thiện nó và không còn thiếu trung thực nữa.Riêng với việc thiếu trung thực trong thi cử và cuộc sống thì phải xử lí nghiêm.Còn những con người luôn trung thực trong thi cử, cuộc sống và luôn đấu tranh với sự gian dối,thì phải được biểu dương toàn trường hay biểu dương ở địa phương mình sống để họ có niềm tin để tiếp tục con đường đấu tranh với gian dối. Còn riêng em thì để đạt được điểm cao và luôn trung thực trong thi cử, cuộc sống là chúng ta phải học thuộc bài thật kĩ, làm bài tập thật nhiều để quen và đạt điểm tối đa Có thể nói, trung thực là thước đo nhân cách của mỗi con người, nó giúp chúng ta được sống là chính mình, không ai khác.Và nó còn nói lên sự dạy dỗ của cha mẹ, nhà trường, xã hội đối với từng con người chúng ta.Trung thực sẽ giúp chúng ta thành công trong cuộc sống hiện tại và mai sau nữa. Trung thực là luôn tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lí, lẽ phải, sống ngay thẳng, thật thà và dũng cảm nhận lỗi khi mắc khuyết điểm. Vì vậy, ngay từ tuổi ấu thơ, tuổi học trò, chúng ta cần được rèn luyện và tự bản thân xây đắp nên tính trung thực. Nhưng đây đó vẫn còn nhiều hiện tượng học sinh thiếu trung thực. Cứ nhìn vào các giờ kiểm tra, các kì thi cử, hay tự hỏi, mình đã một lần nói dối bố mẹ, thầy cô giáo chưa là rõ. Vậy mà nhiều bạn bao che cho nhau khi làm việc có lỗi với người khác. Trung thực có ý nghĩa rất lớn lao đối với mỗi người. Trung thực đánh giá đúng hiệu quả của việc giáo dục của cha mẹ ở nhà và thầy cô giáo ở nhà trường. Trung thực là một bàn đạp vững chắc để tạo nên các đức tính khác. Nếu cả cộng đồng đều có đức tính trung thực thì xã hội sẽ càng văn minh, thân thiện và lúc tối ngủ không đóng cửa cũng chẳng cần lo lắng bị trộm. Bởi vậy cần phải trung thực, không vì cái lợi trước mắt mà bán rẻ lương tâm. Nhất là những người cầm quyền phải là người chí công vô tư, cương trực, thẳng thắn thì mới đưa đất nước vững mạnh đi lên, tiến tới công bằng, dân chủ, văn minh. Thiếu trung thực sẽ gây ra hậu quả không thể lường trước được. Những tai biến xã hội từ nạn làm hàng giả hay ngộ độc thực phẩm, bằng cấp giả…chắc hẳn ai cũng thấy. Như vậy điểm đầu rèn luyện là thành thực với chính bản thân mình. Bởi vì, “Phải thành thật với mình, có thể mới không dối trá với người khác’’(Uy-li-am Sếch-xpia). Điều đó làm ảnh hưởng tới đạo đức xã hội, phần nào làm đổ vỡ niềm tin của con người vào những giá trị tốt đẹp, cản trở sự phát triễn của đất nước. Chúng ta cần phải có sự phối hợp giữa gia đình,nhà trường và xã hội, xử lí nghiêm khắc, không mềm lòng với những biểu hiện thiếu trung thực như thế và cũng phải biểu dương những tấm gương trung thực, dám đấu tranh với những biểu hiện dối trá. Ta nên rút ra một điều: rèn luyện tu dưỡng các tính tốt là rất cần nhưng thể hiện nó trong xử thế còn quan trọng hơn. Trung thực là thang đo phẩm chất con người cần phải được rèn luyện. Có nó như ta được trang bị thêm một phần hành trang để bước vào cuộc sống hiện đại ngày nay.
Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử
1,076
Phân tích tác phẩm Ai đã Đặt tên cho dòng sông-Hoàng Phủ Ngọc Tường Hướng dẫn Mở bài: Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn, một tri thức yêu nước. Ông có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Ông chuyên về thể loại bút kí. Nét đặc sắc trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức sâu rộng về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý,… Tất cả được diễn đạt trong lối hành văn hướng nội xúc tích, say đắm và tài hoa. Ai đã đặt tên cho dòng sông là một trong những bút kí đặc sắc của ông. Tác phẩm vừa thể hiện những nét độc đáo của sông Hương, vừa biểu hiện phong cách trữ tình hướng nội xúc tích và tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thân bài: Vẻ đẹp của sông Hương qua từng chặng: + Sông Hương ở thượng nguồn + Sông Hương ở vùng ngoại vi Huế + Sông Hương với vẻ đẹp kinh thành Huế + Sông Hương chia tay với Huế để hòa vào biển cả. Vẻ đẹp sông Hương qua các góc độ khác nhau: + Sông Hương với vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng trữ tình. + Sông Hương nhìn từ góc độ văn hóa + Sông Hương nhìn từ góc độ lịch sử Nếu con sông Đà phải cảm ơn Nguyễn Tuân vì nhờ nhà văn nó mới được ghi tên trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại như một đối tượng thần mĩ; thì cũng giống như vậy, dòng sông Hương cũng phải cảm ơn nhà văn chuyên viết kí Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có thể nói, hai con sông ấy chảy chung trong lịch sử hai vùng đất nước đã được hai nhà văn bắt mạch, khơi dòng cho chúng chảy tiếp uốn lượn bồng bềnh, trôi trong biển nước văn chương đầy chất thơ, chất họa, chất nhạc,… Để rồi mãi tha thiết chảy trong tâm hồn bạn đọc. Nhưng cũng có lúc nó lại hiền lành trữ tình “dịu dàng, say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Hình ảnh dòng sông mang đậm chất sử thi tráng lệ vừa mạnh mẽ, phi thường vừa trữ tình hồn hâu. Đó cũng là tấm lòng yêu mến thiết tha của nhà văn đối với cội nguồn của quê hương đất Huế. Dòng sông được một lần nữa được hình tượng hóa như một cô gái phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ. Rừng già cũng tạo cho nó một tâm hồn tự do và trong sáng. Đó là sức mạnh bản năng của người con gái. Sức mạnh ấy được chế ngự bởi cấu trúc địa lý lãnh thổ để đi ra khỏi rừng. Nó “nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá sứ sở”. Sông Hương khi mạnh mẽ, khi lại dịu dàng. Con sông có lúc “mềm như tấm lụa” khi qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lưu Bảo. Có khi lại như ánh lên “những phản quang nhiều màu sắc: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” lúc qua những đồi núi phía Tây Nam thành phố và mang “vẻ đẹp trầm mặc” khi qua bao lăng tẩm, đền đài. Khi lại mang niềm kiêu hãnh âm u được phong kín trong những rừng thông u tịch. Cho đến lúc bừng sáng tươi tắn và trẻ trung khi gặp “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”. Hai bút pháp kể và tả được kết hợp với nhuần nhuyễn và tài hoa trong đoạn văn đã làm nổi bật một sông Hương đẹp bởi phối cảnh kì thú giữa nó với thiên nhiên xứ Huế phong phú mà hài hòa. Bút pháp miêu tả của nhà văn cũng có sự chuyển đổi. Vẫn là nét tài hoa, trữ tình nhưng có sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa kể và tả đầy linh hoạt. Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế – một sông Hương mơ mộng soi bóng Kinh thành Huế. Như đã tìm thấy chính mình khi bắt gặp thành phố thân yêu, sông Hương “vui tươi hẳn lên giữa những bãi biển xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long”. Dòng sông “kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng Tây-Bắc-Đông-Nam”, rồi “uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến” khiến cho “dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. Nằm ngay giữa lòng thành phố, sông Hương cũng giống như sông Xen của Paris, sông Đa-Nup của Budapet,… Nhưng trong biểu đạt tài hoa của tác giả, sông Hương được cảm nhận từ nhiều góc độ khác nhau, đưa lại cho người đọc những cảm nhận đa dạng, phong phú: nhìn bằng con mắt của hội họa, sông Hương và những chi lưu của nó tạo nên những đường nét thật tinh tế, tôn lên vẻ đẹp cổ kính của cố đô. Qua cách cảm nhận âm nhạc, sông Hương lại đẹp như một điệu slow chậm rãi, sâu lắng trữ tình và với cái nhìn đắm say của một trái tim đa cảm thì sông Hương lại là một người tình dịu dàng và chung thủy. Cũng theo nhận xét của tác giả thì khúc quanh thật bất ngờ đó tựa như một nỗi vương vấn và dường như còn có cả “chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Kết bài: Sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về địa danh, lịch sử, văn hóa và đời sống con người đôi bờ sông Hương kết động trong những câu văn vừa chân thực vừa có chiều sâu triết lý khiến cho hình ảnh dòng sông trở nên sống động, lung linh, huyền ảo lạ thường.
Phân tích tác phẩm Ai đã Đặt tên cho dòng sông-Hoàng Phủ Ngọc Tường
1,012
Phân tích tác phẩm Ba Cống Hiến Vĩ Đại Của Các Mác- Ngữ văn 11 Hướng dẫn BA CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CỦA CÁC MÁC I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Phri-đrích Ăng-ghen (1820 -1895) là nhà triết học ngưòi Đức, bạn thân thiết của Các Mác và là nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của phong trào công nhân thế giới và Quốc tế cộng sản. Di sản lí luận của ông là một phần quan trọng trong lí luận của chủ nghĩa Mác. Các Mác (1818 – 1883) là nhà triết học và lí luận chính trị vĩ đại người Đức, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Học thuyết về chủ nghĩa cộng sản khoa học của Các Mác mở đường cho nhân loại bước vào kỉ nguyên xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ông đã kế thừa và sáng tạo một cách xuất sắc những đỉnh cao của tư tưởng thế kỉ XIX, đó là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Ông sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xây dựng học thuyết kinh tế mác xít và chủ nghĩa xã hội khoa học,… Học thuyết của ông là vũ khí lí luận và hành động của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống ách thống trị tư sản. Các Mác và Ph. Ăng-ghen đều không để lại những công trình chuyên khảo trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, song tư tưởng của hai ông về vai trò, chức năng của văn học nghệ thuật xuất hiện khá nhiều trong các công trình mang tính triết học, kinh tế học và đều được soi sáng bằng chủ nghĩa xã hội khoa học. Các bài viết hoặc các kiến giải của hai ông về các tác giả tác phẩm văn chương được tập hợp lại và in thành sách với tiêu đề Mác – Ăng-ghen bàn về văn học nghệ thuật. Văn bản Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác là bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ Các Mác, trong đó ông đã đánh giá cao cống hiến to lớn của Mác và biểu lộ tình cảm tiếc thương của những người cộng sản trước tổn thất lớn không bù đắp được này. Bài chính luận được viết trong hoàn cảnh đặc thù gắn với một sự kiện đặc biệt và gắn với những con người có thật chứ không phải là những hĩnh tượng hư cấu. Tất cả những điều đó tạo ra tính chất đặc biệt của văn bản. Thế kỉ XIX là thế kỉ của sắt thép, là thế kỉ mà ở đó chủ nghĩa tư bản xác lập, ổn định trật tự thống trị và điều hành xã hội bằng vị thần tiền toàn năng (liên hệ với tác phẩm Lão Gô-ri-ô và Những người khốn khổ). Đây cũng là thế kỉ của áp bức bóc lột nặng nề, thế kỉ của đau thương, ở đó người lao động chịu nhiều sự thống trị bất công, vô lí ; ở đó khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái đã không còn ý nghĩa cao cả nữa. Tại thời điểm đó, sự thức tỉnh ý thức giai cấp cho giai cấp vô sản là hết sức cần thiết, việc bênh vực và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động là yêu cầu cấp bách của thời đại. Trong trận tuyến đấu tranh quyết liệt ấy, các hoạt động lí luận và thực tiễn của Các Mác có tầm quan trọng đặc biệt. Nói cách khác, hoạt động của Mác và Ăng-ghen gắn liền với thời đại đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, thời đại thức tỉnh giá trị của người lao động trên phạm vi toàn thế giới vì một tương lai tươi sáng hơn. 3.Tri thức về thể loại Văn bản này thuộc thể loại văn chính luận, do đó cách khai thác các giá trị thẩm mĩ cũng có khác với các thể loại văn học hư cấu khác. Bài điếu văn không chỉ bày tỏ sự thương tiếc mà còn ca ngợi công lao to lớn của Các Mác. Có thể hiểu đây là đánh giá của một vĩ nhân về một vĩ nhân, ở đó Ph. Ăng-ghen nhấn mạnh tính chất bất tử của những cống hiến của Các Mác đối với nhân loại. Bài điếu văn khẳng định khía cạnh quan trọng của cuộc đời con người là khía cạnh sống thể hiện sự đóng góp thúc đẩy sự phát triển của nhân loại chứ không dừng ở khía cạnh mất mát đau thương. Điều đó thể hiện qua cách lập luận được tổ chức theo hình thức so sánh bằng kết cấu tầng bậc để từ đó tạo ra sự trùng điệp nhằm nhấn mạnh tính chất bất tử eủa những đóng góp quan trọng mà Các Mác đã cống hiến. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM -Nhân vật được nói tới trong đoạn trích là Các Mác, một nhân vật lịch sử có thật. Các Mác được đặt trong quan hệ so sánh vói Đác-uyn (1809 – 1882), nhà tự nhiên học và sinh vật học ngưòi Anh, tác giả của cuốn sách nổi tiếng về nguồn gốc của các loài trên con đường chọn lọc tự nhiên xuất bản năm 1859 và là người sáng lập học thuyết Đác-uyn về tiến hoá. -Ăng-ghen, người bạn, ngưòi đồng chí của Các Mác, đồng thời cũng là người cộng sản, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng. Ăng-ghen đánh giá cao ba cống hiến vĩ đại của Các Mác và biểu lộ tình cảm tiếc thương của những người cộng sản trước tổn thất to lớn không sao bù đắp được này. 2.Đặc điểm về nghệ thuật Văn bản được viết sau thời điểm Các Mác qua đời và được đọc trước mộ Các Mác. Đây là một thời điểm quan trọng trong cuộc đời của mỗi một con người: thời điểm kết thúc sự hiện diện của con ngưòi đó trong thế giới của những người sống. Đối với các vĩ nhân, đây cũng là thời điểm tổng kết cuộc đời thông qua sự nhìn nhận, đánh giá của bạn bè thân hữu, của đồng chí, đồng đội. Giá trị của vĩ nhân hiện ra trong sự đánh giá tổng kết ấy. Cho nên bản thân sự đánh giá cũng cho thấy tầm vóc của ngưòi được đánh giá, đồng thời sự đánh giá càng khách quan và chính xác bao nhiêu thì giá trị của vĩ nhân càng lớn bấy nhiêu. Đây là đánh giá của một vĩ nhân đối với một vĩ nhân và vĩ nhân – ngưòi đánh giá – cũng mang tầm vóc lịch sử thời đại chứ không phải là một người bình thường, để đánh giá vĩ nhân – con người mà lịch sử đã sinh ra. a.Kết cấu đoạn trích Văn bản (có 7 đoạn và một câu kết luận) được chia làm ba phần: phần một gồm đoạn 1, 2; phần hai gồm đoạn 3, 4, 5, 6 (là phần trọng tâm của bài điếu văn) ; phần ba (phần kết thúc) gồm đoạn 7 và câu cuối cùng. -Phần một, cho thấy không gian, thời gian liên quan tới sự ra đi của Các Mác. Trước hết, đó là thời gian cụ thể: có ngày có giờ (Chiều ngày 14 tháng ba, vào lúc ba giờ kém mười lăm phút), có không gian (trong phòng ở, trên chiếc ghế bành). Thời gian và không gian ở đây là bình thường. Tiếp đó là cách giới thiệu Các Mác: “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”. Trong cách giới thiệu đó, Các Mác hiện ra là vĩ nhân của thế kỉ (thế kỉ XIX) mà tính chất vĩ nhân thể hiện khá rõ qua tính chất “nhà tư tưởng hiện đại”. Hàm nghĩa của từ “hiện đại” ở đây, tức là có thể hiểu tính chất cách mạng, tính chất mới mẻ và sáng tạo của tư tưởng Các Mác. “Hiện đại” còn thể hiện sự vượt trội về tính chất, phẩm chất so với thời đại, đồng thời cho thấy sự tiếc thương của những người đồng chí, đồng đội. -Phần hai, là trọng tâm của bài, đề cập đến những cống hiến to lớn của Các Mác đối với nhân loại. -Phần ba, đề cập tới các giá trị tổng quát của những cống hiến của Các Mác. Những cống hiến đó đều hướng vào mục tiêu chung là phục vụ nhân loại. b.Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác -Cống hiến đầu tiên của Các Mác là “tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người” qua các thời kì lịch sử, mà bản chất của quy luật đó là cơ sở hạ tầng (bao gồm tư liệu sản xuất, cách sản xuất tư liệu sản xuất, trình độ phát triển kinh tế,…) quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội (bao gồm các hình thức, thể chế nhà nước, tôn giáo, văn học nghệ thuật,…). -Cống hiến thứ hai là “tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra”. Đó là quy luật về giá trị thặng dư. -Cống hiến thứ ba, qua cách lập luận của Ph. Ăng-ghen, là cống hiến quan trọng hơn cả. Đó là sự kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, biến các lí thuyết cách mạng – khoa học thành hành động cách mạng, bởi vì “khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng” và “trước hết Mác là một nhà cách mạng”, ở Mác “đấu tranh là hành động tự nhiên”. Những cống hiến này được sắp xếp theo một trật tự tăng tiến ; cống hiến sau lớn hơn cống hiến trước, mặc dù chỉ có được một trong các cống hiến ấy cũng đã trở thành vĩ nhân rồi. Để làm nổi bật cống hiến của Mác, Ăng-ghen đã so sánh các cống hiến ấy với cống hiến của Đác-uyn, của các nhà khoa học khác cùng thời đại. Thế kỉ XIX, ở phương Tây, là thế kỉ của nhiều phát minh lớn, quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các cống hiến của Mác mang tầm vóc khái quát thời đại, mở đường cho thời đại. Trong ý nghĩa đó, Mác nổi bật lên hàng đầu như là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”. b.Ngôn ngữ nghệ thuật Khi khai thác nghệ thuật lập luận của bài điếu văn, cần đặc biệt chú ý đến nghệ thuật so sánh theo hình thức tăng tiến. Cụ thể: Đoạn mở đầu chỉ có hai câu: câu thứ nhất thông báo thời điểm Các Mác – một vĩ nhân – qua đời. Câu thứ hai cho biết sự ra đi thanh thản của bậc vĩ nhân ấy với một niềm tiếc nuối của những người thân. “Để Mác ở lại một mình vẻn vẹn chỉ có hai phút, thế mà khi trở vào phòng, chúng tôi đã thấy ông ngủ thiếp đi thanh thản trên chiếc ghế bành – nhưng là giấc ngủ nghìn thu”. Câu văn ở đây dường như để giãi bày tâm trạng, như để giải thích nỗi niềm thương tiếc, như để phân bua với những người đồng chí, đồng đội khác. Đoạn văn mở đầu này tạo ra không khí để thể hiện một tình cảm tiếc thương vô hạn đối vói sự ra đi của Các Mác, “đồng thòi qua đó cũng cho thấy sự kính trọng của những người bạn, những người dồng chí của Các Mác. Đoạn tiếp theo cũng chỉ có hai câu văn và cũng có chung giọng điệu tiếc thương và kính trọng ấy. Trước hết, tầm vóc nhân loại của Mác cũng được khẳng định: “con người đó ra đi là một tổn thất không sao lường hết được đối vói giai cấp vô sản đang đấu tranh ở châu Âu và châu Mĩ, đối với khoa học lịch sử”. Ở đây Các Mác hiện ra dưới hai hình thức: một là nhà cách mạng của giai cấp vô sản ; hai là nhà khoa học lịch sử. Kết cấu trùng điệp được sử dụng ở đây để nhằm nhấn mạnh tính chất vĩ nhân của Mác: Con người đó – ra đi = (là) một tổn thất (không sao lường hết được) -> đối với giai cấp vô sản đang đấu tranh ở châu Âu và châu Mĩ. -> đối với khoa học lịch sử. Từ đó, cái chết ấy tạo ra một “nỗi trống vắng” đối với nhân loại, đối với khoa học. Sự kính trọng và thương tiếc được nhân lên nhiều lần. Cái chết của Các Mác trở thành sự mất mát lớn của nhân loại. Đây cũng là một hiệu quả nghệ thuật mà kết cấu trùng điệp tạo ra. Mô hình chung cho toàn bài là: Thông báo về cái chết – đánh giá sự nghiệp của người quá cố – bày tỏ sự tiếc thương người đã khuất. Hai đoạn 1, 2 đã được phân tích cho thấy nét đặc biệt về nghệ thuật kết cấu trùng điệp. Các đoạn 3, 4, 5, 6 tập trung đánh giá sự nghiệp. Do đó, biện pháp lập luận theo lối kết cấu tầng bậc kết họp so sánh thể hiện qua mô hình: Giống như: -Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ. -Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người. Ở đây, Mác được so sánh với các vĩ nhân khác cùng thời đại, với những thành tựu khoa học nổi tiếng của thời đại đó. Đây không phải là sự so sánh vụn vặt, tầm thường mà là sự so sánh đặc biệt: so sánh với những tinh hoa của cùng thời đại, so sánh vói những phát minh và cống hiến quan trọng mà không phải ai cũng làm được và không phải đã có từ thời đại trước. Những con người cũng như những thành quả khoa học được đưa ra so sánh là những con người, những thành tựu tạo nên tầm vóc con người, tạo ra đỉnh cao của thời đại. Cho nên cách so sánh ở đây cũng rất đặc biệt: Mác được so sánh với các đỉnh cao cùng thời và Mác không dừng ở vị trí đỉnh cao nhân loại (qua những con người cụ thể, chẳng hạn, Đác-uyn) mà còn vượt qua những đỉnh cao ấy. Bản thân Mác, do đó, trở thành đỉnh cao của mọi đỉnh cao, trở thành vĩ nhân của mọi vĩ nhân, trở thành “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”. Đây cũng chính là hiệu quả nghệ thuật mà biện pháp kết cấu tầng bậc kết hợp so sánh tạo ra. Cũng cần lưu ý là sự so sánh ở đây cũng mang tính chất một sự so sánh trùng điệp, tạo ra hiệu quả tăng cấp (thông qua hàng loạt từ ngữ so sánh liên tiếp, không ngừng). Giống như A đã… thì B (cũng) đã… theo kiểu: Nếu A đã… thì B cũng… Đặc biệt, sau vế 3 là một sự liệt kê không chỉ kết quả mà còn phân tích, chỉ ra ý nghĩa của kết quả ấy nữa, tạo ra một sự trùng điệp có hiệu quả nghệ thuật rất cao. Tiếp theo sự so sánh tương đồng là so sánh vượt trội mà sự khẳng định được thể hiện ngay trong câu: “Nhưng không chỉ có thế thôi”. Cách lập luận được thể hiện ở chỗ không chỉ nêu luận điểm mà còn ngay sau đó đưa ra một sự chứng minh đầy sức thuyết phục: “Mác cũng tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra”. Tác giả cũng ngay sau đó chỉ ra ý nghĩa to lớn mà Mác phát hiện: đó là “một ánh sáng” để đối lập lại “bóng tối” mà “các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa đều mò mẫm”. Sự so sánh đó còn được nhấn mạnh nhiều lần ngay trong các đoạn tiếp theo. Như vậy, với tư cách là một nhà nghiên cứu khoa học thì những phát kiến của Mác là vô giá và tên tuổi của ông đã được lưu vào sử sách. Nhưng nếu nhận thức về Mác như vậy thì chưa thấy hết sự vĩ đại của Mác, cũng như chưa thấy hết được sự đau xót, thương tiếc của Ăng-ghen đối với Các Mác. Cần phải hiểu thêm về Mác từ hai phương diện: con ngưòi của phát minh khám phá và con ngưòi của hoạt động thực tiễn. Giữa hai con người ấy, giữa hai phương diện ấy là một mối quan hệ biện chứng nhân quả hết sức chặt chẽ. Bỏi vì, như chính tác giả nhấn mạnh thì: “Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”. “Bởi lẽ trước hết Mác là một nhà cách mạng”. Khía cạnh thứ hai trong con người Mác – khía cạnh con người hoạt động thực tiễn: “Bằng cách này hay cách khác, (ông) tham gia vào việc lật đổ xã hội tư sản và các thiết chế nhà nước do nó dựng lên, tham gia vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại mà ông là người đầu tiên đem đến cho giai cấp ấy ý thức về địa vị và yêu cầu của mình, ý thức về điều kiện để tự giải phóng, đó thật sự là sứ mệnh thiết thân của cuộc đòi ông”. Bởi vì: “Đấu tranh là hành động tự nhiên của Mác”. Bài điếu văn này đề cao hình ảnh của Mác nhưng tác giả không nói nhiều về cái chết (đây là khía cạnh độc đáo của bài điếu văn) mà nhấn mạnh ý nghĩa của sự sống, ý nghĩa của cuộc đời Mác và sự bất tử của những đóng góp sáng tạo mà Mác đã cống hiến cho nhân loại. Đây cũng là điểm khác biệt giữa bài điếu văn này với những bài điếu văn thông thường khác mà chúng ta đã được biết. Cuộc đời của Các Mác với những cống hiến vĩ đại mà ông để lại cho nhân loại cũng mang tầm vóc nhân loại. Kết thúc bài điếu văn là một tiếng khóc bày tỏ tình cảm tiếc thương dưới hình thức một lời cầu nguyện: “Tên tuổi và sự nghiệp của ông đời đời sống mãi!”. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TIẾNG MẸ ĐẺ – NGUỒN GIẢI PHÓNG CÁC DÂN TỘC BỊ ÁP BỨC, NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Ba Cống Hiến Vĩ Đại Của Các Mác- Ngữ văn 11
3,194
Phân tích tác phẩm Bài Ca Ngất Ngưởng – Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn BÀI CA NGẤT NGƯỞNG I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, ông xuất thân trong một gia đình Nho học. Nguyễn Công Trứ là một nhà hoạt động xã hội tài năng và tích cực trên nhiều lĩnh vực quân sự, kinh tế, văn hoá. Đây là một tác giả được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là “tri hành hơp nhất” (kết hợp được cả tri thức và hành động). Đánh giá phong cách “ngất ngưởng” của ông, cần thấy được cả sự nghiệp hoạt động sôi nổi, có ý nghĩa xã hội nhiều mặt của ông. 2.Lễ giáo Trong xã hội phong kiến, nơi Nho giáo thống trị, con người sống theo trật tự do lễ giáo quy định. Lễ thực chất là cách triệt tiêu cá tính, đưa cá nhân vào khuôn khổ. Khổng Tử nói: “Khắc kỉ, phục lễ vi nhân” (Thủ tiêu cái riêng tư cá nhân, uốn mình theo lễ là có đạo nhân – Luận ngữ). Trên cơ sở ý thức về tài năng và nhân cách của bản thân, Nguyễn Công Trứ đã phô trương, khoe sự ngang tàng, phá cách trong lối sống – một lối sống ít phù hợp với khuôn khổ của đạo Nho. “Ngất ngưởng” chính là sự ngang tàng, phá vỡ khuôn mẫu hành vi “khắc kỉ, phục lễ” của nhà nho để hình thành một lối sống tự nhiên, chân thực hơn, dám khẳng định cá tính và bản lĩnh cá nhân. 3.Thể hát nói Đây là thể thơ hình thành trong sinh hoạt hát ca trù (hay còn gọi là hát ả đào). Khác với thơ Đường luật, một thể thơ dùng trong khoa cử có những “luật lệ” chặt chẽ, thể hát nói là một thể văn giải trí, “văn chơi” nên có tính chất tự do, phóng túng, không bị gò bó. 1.Phong cách ngất ngưởng qua các chặng đường đời của tác giả Có thể chia bài hát nói thành 3 đoạn: -Đoạn 1 (gồm 6 câu thơ đầu): nói về chặng đường làm quan của tác gíả. -Đoạn 2 (gồm 6 câu tiếp theo): kể về quãng đời sau khi nghỉ hưu. -Đoạn 3 (gồm 7 câu còn lại): sự đánh giá chung của tác giả về phong cách sống của mình. Trong cả ba đoạn đều xuất hiện chữ “ngất ngưởng”. Nói cách khác, “ngất ngưởng” là một phong cách sống nhất quán của Nguyễn Công Trứ. Mở đầu bài hát nói là một câu có tính chất tuyên ngôn: Vũ trụ nội mạc phi phận sự, (Mọi việc trong trời đất đều là phận sự của ta) Đây là một con người xã hội, con người của cộng đồng, chủ trương sống có trách nhiệm với đời (qua khái niệm vũ trụ), về mặt ngôn từ, tác giả dùng các địa danh khác nhau trên các vùng miền khác nhau để nhấn mạnh tầm vóc vũ trụ của sự nghiệp này. Để thực thi trách nhiệm xã hội, cần có vị trí trong xã hội. Đó là lí do vì sao tiếp liền theo câu tuyên ngôn này, tác giả liệt kê một số vị trí mà mình đã đảm nhận: Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng. Lúc bình Tây, cờ đại tướng, Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên. Nhà thơ không tỏ ra khiêm tốn, ông khẳng định tài thao lược của bản thân để trên cơ sở đó, cho phép mình “ngất ngưởng”. Nghĩa là trong môi trường quan lại đầy phức tạp, ông đã giữ được bản lĩnh và cá tính. Khi về hưu, cách choi cách nghỉ của ông cũng khác thường, vẫn lại được gọi là “ngất ngưởng”: Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng. Kìa núi nọ phau phau mây trắng, Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì, Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng. Hai hình thức “ngất ngưởng” là “đạc ngựa bò vàng” (xem SGK, chú thích 8 về chuyện này) và “Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì” (xem SGK, chú thích 10). Vì sao thế lại là “ngất ngưởng”? Những câu thơ trong đoạn 3 có thể giúp ta trả lời câu hỏi này. Ông viết: Được mất dương dương người thái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong. Khi ca, khỉ tửu, khi cắc, khi tùng, Không Phật, không Tiên, không vướng tục. Đoạn thơ này có hai ý cần phân tích. Ca, cắc, tùng là mô phỏng âm thanh của cuộc hát ả đào (đánh trống và cắc trống là những động tác người văn nhân nghe hát thể hiện sự tán thưởng người nghệ sĩ ả đào) – một thú chơi văn hoá tao nhã, trong đó ngưòi chơi tất nhiên không nghiêm trang, đạo mạo như Tiên, Phật nhưng cũng không phải là tục nhân. Là người sống có bản lĩnh và cá tính, Nguyễn Công Trứ chủ trương hoạt động xã hội tích cực mà cũng chủ trương biết chơi, biết giải trí có nghệ thuật (Ông từng nói trong một bài hát nói khác: Chơi cho lịch mới là chơi – Chơi cho đài các cho người biết tay). Làm việc hết mình, cống hiến hết mình nhưng không chấp nhận uốn mình, thủ tiêu cá tính. Cách chơi cũng độc đáo, với mục đích giữ được hình ảnh một con người tự nhiên, không có dáng vẻ đạo mạo, nghiêm nghị, cao sang mà cũng không rơi vào phàm tục. Sự bình luận, dị nghị của ngưòi đời ông không quan tâm ; chuyện được mất trong quan trường ông cũng không coi là vinh, nhục. 2.Giọng điệu tự thuật của Nguyễn Công Trứ Bài hát nói được viết theo hình thức tự thuật. Đây là điểm khác với nhiều bài thơ thời trung đại, nơi tác giả thường ẩn kín sau sự việc và cảnh: Ở bài hát nói này, Nguyễn Công Trứ nhấn mạnh rằng mình đang kể lại chuyện của mình. Có nhiều dấu hiệu ngôn từ khẳng định điểm này như: ông Hi Văn (tên hiệu), Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông, Phủ doãn Thừa Thiên (những chức vụ ông đã nắm giữ). 3.Nghệ thuật Cần chú ý đến nhiều nét đặc biệt của thể hát nói, nhất là tính chất tự do của thể thơ này. Nhịp điệu, vần luật, đối xứng đều không bị gò bó, rất thích hợp với nội dung bài thơ vừa có tính tự sự vừa có chất trữ tình. Các nhịp khác nhau trong một đoạn thơ tạo nên cảm giác phong phú, đa dạng. Để liệt kê các sự kiện, tác giả thường dùng nhịp gọn, chắc như Khi Thủ khoa / khi Tham tán / khi Tổng đốc Đông hoặc Khi ca / khi tửu / khi cắc / khi tùng. Khi cần bình luận, tác giả dùng nhịp phức hợp: Gót tiên / theo/ đủng đỉnh/ một đôi dì; Bụt cũng nực cười / ông ngất ngưởng. Đôi câu đối xen kẽ trong bài hát nói (Được mất / dương dương/ người thái thượng – Khen chê / phoi phới/ ngọn đông phong) lại tạo nên ấn tượng cân đối, trang trọng trên một toàn thể nhịp điệu tự do của cả bài, tạo nên sự phong phú. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VỊNH KHOA THI HƯƠNG NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Bài Ca Ngất Ngưởng – Ngữ văn lớp 11
1,249
Phân tích tác phẩm Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát – Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT (Sa hành đoản ca) I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả Cao Bá Quát (1809 – 1855), người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội), Ông là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh, được người đương thời tôn thờ là Thánh Quát. Thơ văn Cao Bá Quát bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX. 2.Khái niệm “danh lợi” Khái niệm danh lợi chỉ địa vị xã hội và lợi ích vật chất do địa vị đó mang lại, được người xưa sử dụng thực chất để chỉ việc làm quan. Mưu cầu danh lợi, thưởng phải thông qua việc làm quan. Nhưng để làm quan, trừ việc tập ấm (con cái được làm quan do có ông cha làm quan to), con đường phổ biến của người xưa là đi học, thi đỗ, ra làm quan mà không có con đường nào khác. Con đường danh lợi gập ghềnh trắc trở nhưng để có danh lợi, tất cả mọi người đều phải theo con đường nhỏ hẹp này. 3.Thể ca hành Bài thơ được viết theo thể hành (còn gọi là ca hành). Đây là một thể thơ cổ, có tính chất tự do phóng khoáng, ít bị gò bó về số câu, độ dài của câu, niêm luật, bằng trắc, vần điệu. Từ điển Từ hải viết: “Từ Sư Tăng (đời Minh) trong sách Văn thể minh biện viết: Ngoài việc khúc đàn phụ hoạ, bài thơ có tình cảm phóng túng, lời dài mà đa dạng, không bị gò bó thì gọi là ca ; nhịp điệu nhanh gấp khẩn trương, lưu loát mà không bị ngưng trệ gọi là hành. Bài nào kiêm được cả hai đặc điểm thì gọi là ca hành”. Nhịp điệu của thể thơ này mô phỏng con đường đi trên cát trắc trở, khó khăn. 1.Kết cấu bài thơ Có thể chia bài thơ thành hai đoạn chính: Đoạn 1 (gồm 10 câu thơ đầu): liên hệ so sánh bãi cát với con đường danh lợi. Đoạn 2 (gồm 6 câu thơ còn lại): suy nghĩ về sự gian khó và bế tắc của bãi cát dài – tức con đường danh lợi. Nhưng trong mọi đoạn, ta lại có thể thấy kết cấu phổ biến của thơ cổ (xúc cảnh sinh tình – tâm tiếp xúc với cảnh và tình nảy sinh): bao giờ cũng tả cảnh để từ cảnh đưa đến suy tư, cảm xúc. Đi trên bãi cát để thấy con đường danh lợi gian nan, trắc trở như thế nào (đoạn 1) ; đi trên bãi cát để có cảm giác con đường cùng (bế tắc), xung quanh núi, biển bao vây. Câu hỏi cuối cùng như lời kêu gọi mọi người cùng suy nghĩ về con đường danh lợi vẫn đang đi. 2.Hình tượng bãi cát -Đoạn 1: Hai câu thơ đầu tiên tả thực bãi cát, hai câu tiếp theo tả tâm trạng người đi trên bãi cát. Nhà thơ chọn hai yếu tố tiêu biểu: về không gian, đó là bãi cát dài mênh mông, đi được một bước lại lùi một bước, về thời gian, ngày đã tàn, mặt trời đã lặn, lẽ ra đã được nghỉ ngơi nhưng vẫn phải đi tiếp chừng như bãi cát quá rộng dài, chưa tìm được chốn nghỉ. Ta hiểu vì sao nhân vật người đi đường nước mắt lã chã rơi. Nhưng bài thơ không dừng lại ở việc tả thực mà khai thác nghĩa tượng trưng của bãi cát dài. Đó là con đường danh lọi. Vì thế nên tiếp theo sau khi tả cảnh bãi cát là lời bình luận đầy triết lí: Cổ lai danh lợi nhân, Bôn tẩu lộ đồ trung. (Xưa nay, phường danh lợi, Tất tả trên đường đòi.) Rõ ràng, từ nghĩa tả thực của bãi cát, tác giả dẫn dắt liên tưởng đến con đường danh lợi. Một cách đặt song song: Người đi trên bãi cát một bước lùi một bước / Người tìm danh lợi tất tả trên đường đời. Thái độ của tác giả đối với danh lợi bộc lộ tiếp tục qua hình ảnh quán rượu tấp nập, nơi người tỉnh thì ít mà người say thì nhiều. Hình tượng này cho thấy thêm một cách nhìn đối với sự cám dỗ của danh lợi: Phong tiền tửu điếm hữu mĩ tửu, Tỉnh giả thường thiểu tuý giả đồng. (Đầu gió hoi men thơm quán rượu, Ngưòi say vô số, tỉnh bao người?) -Đoạn 2: Trường sa, trường sa nại cừ hà? Thản lộ mang mang uý lộ đa. Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca, Bắc sơn chi bắc son vạn điệp, Nam son chi nam ba vạn cấp. Quân hồ vi hồ sa thượng lập? Vượt qua sự tả thực, tác giả khái quát về con đường trừu tượng có nét tương đồng với bãi cát dài (Bước đường bằng phẳng thì mờ mịt, bước đường ghê sợ thì nhiều). Con đường đó được gọi là cùng đồ (đường cùng) bởi xung quanh là núi và biển bao vây trùng điệp. Phải đi tiếp để thoát khỏi con đường cùng ấy. Như vậy, ta có thể mô tả sự vận động của hình tượng bãi cát bằng một sơ đồ sau: Bãi cát dài -» đường danh lợi -» con đường cùng. Cao Bá Quát đã nhận thấy sự bế tắc của con đường danh lợi mà ngưòi đời vẫn bước đi. Về thể hành (hay ca hành), có những nét nghệ thuật độc đáo so với thơ Đường luật. Nhưng nét đặc sắc nhất có lẽ là nhịp điệu bài thơ có khả năng mô phỏng hình tượng con đường trắc trở, gập ghềnh với những bước đi nặng nề, khó nhọc. Trong nguyên văn, nhịp này rõ hơn là trong bản dịch thơ. -Trường sa / phục trường sa, Nhất bộ / nhất hồi khước. -Trường sa,/ trường sa/ nại cừ hà? -Bắc sơn chi bắc/sơn vạn điệp, Nam sơn chi nam/ ba vạn cấp. Nhịp điệu bài thơ được tạo nên nhờ có sự phối hợp thanh điệu bằng trắc với việc đặt thanh trắc ngắt giữa câu, việc lặp lại (trùng điệp) một từ ngữ để gây ấn tượng (trường sa, nhất, bắc, nam), cách ngắt nhịp mang tính mô phỏng bước đi đem lại ấn tượng dồn dập. Kĩ thuật dùng âm thanh và ngắt nhịp để mô phỏng cảnh vật được các nhà thơ xưa nay sử dụng (ví dụ bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng tả dốc núi bằng nhịp điệu và từ trùng lặp Dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm thẳm ; Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống). Những câu hàm chứa suy tư bình luận thì không mô phỏng bước đi, thường có độ dài lớn hơn các câu tả bãi cát và bước đi. Quan hệ giữa nội dung và hình thức trong bài thơ đã được nhà thơ xử lí thành công. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM BÀI CA NGẤT NGƯỞNG NGỮ VĂN LỚP 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát – Ngữ văn lớp 11
1,212
Phân tích tác phẩm Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn – Ngữ văn 11 Hướng dẫn Đọc thêm BÀI CA PHONG CẢNH HƯƠNG SƠN (Hương Sơn phong cảnh ca) I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ Chùa Hương không giống như một ngôi chùa thông thường mà là cả một quần thể di tích danh thắng. Do đó, mà có việc nói đến phong cảnh Hương Sơn trong đó có “động” (hang động), có rừng mai, khe Yến (còn gọi là suối Yến), có chùa Cửa Võng… Chu Mạnh Trinh là người đã tham gia trùng tu chùa Thiên Trù trong quần thể chùa Hương. Bài hát nói thể hiện tình cảm của ngưòi đã góp phần tô điểm cho vẻ đẹp của quần thể di tích danh thắng này. II-PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Kết cấu bài hát nói Bài hát nói triển khai theo điểm nhìn của người du khách từ ngoài xa nhìn vào, nhìn toàn cảnh sau đó nhìn vào các đối tượng cụ thể, rồi cuối cùng là cảm xúc chung về danh thắng này. Lúc đầu, tác giả nhìn từ xa và có cảm giác ngỡ ngàng, hồi hộp, chờ đợi vì từ lâu đã được nghe về chùa Hương. Rồi ngưòi du khách đến gần hơn, đi qua nào là rừng mai, khe Yến, và đã nghe tiếng chuông chùa đâu đây vọng tới, sau đó là những liệt kê và tả cụ thể các cảnh đẹp của quần thể này. về mặt kể và tả, bài hát nói có chỗ tương đồng với đặc điểm liệt kê của phú. Và nguyên lí chung của thơ cổ vẫn được tuân thủ ở đây: cảnh được tả trước để bộc lộ suy tư, tình cảm. Âm thanh của chuông chùa được cảm nhận như là sự thức tỉnh tâm hồn của những người vãn cảnh đến từ thế giới trần tục, khiến họ giật mình vì vẫn vương vấn trong những ham muốn, từ đó hướng ngưòi ta suy nghĩ đến điều thiện. Người du khách ngắm nhìn cảnh đẹp của thiên nhiên và cũng nghĩ đến công lao của bàn tay, khối óc con ngưòi điểm tô cho cảnh đẹp. Cảm xúc tôn giáo và cảm xúc thế tục: Đây là hai cảm xúc hoà quyện trong bài hát nói. Một loạt từ ngữ mang màu sắc tôn giáo cho thấy cảm xúc trước vẻ đẹp thiên nhiên và cảm xúc tôn giáo gắn bó với nhau: cảnh Bụt, chim cúng trái, cá nghe kinh, tiếng chày kình, khách tang hải giật mình trong giấc mộng, lần tràng hạt, niệm Nam mô Phật; từ bi, công đức. Cũng có những từ ngữ cho thấy rõ xúc cảm trước thiên nhiên tươi đẹp của đất nước, niềm tự hào vì bàn tay tô điểm của con người: non non, nước nước, mây mây, đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt, hang lồng bóng nguyệt, gập ghềnh mấy lối uốn thang mây… Nếu so sánh hai bài hát nói Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh thì thấy ngôn từ của bài trước cố sắc thái tự thuật, tự đánh giá nên có nhiều từ ngữ kể về hoạt động của con người, tạo không khí thế tục đậm đà hơn. Bài ca phong cảnh Hưong Son nghiêng về tả, quan sát nhìn ngắm, nhiều từ ngữ tôn giáo được sử dụng, tạo không khí thành kính, thoát tục. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHẠY GIẶC TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn – Ngữ văn 11
584
Phân tích tác phẩm Bài Thơ Số 28 – Ngữ Văn 11 Hướng dẫn Đọc thêm BÀI THƠ SỐ 28 (Trong tập Người làm vườn) I. NHỮNG TRI THỨC CẦN BỔ TRỢ 1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Ra-bin-đra-nát Ta-go (1861 – 1941) là nhà văn, nhà văn hoá lớn của Ấn Độ. Sinh ra trong một gia đình theo đạo Bà-la-môn, Ta-go đã sớm tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, sớm nhận ra ách áp bức bất công mà thực dân Anh áp đặt lên quê hương và đồng bào ông. Vốn nổi tiếng thông minh, từ nhỏ, Ta-go đã thông thạo nhiều ngoại ngữ, nhờ đó, ông đã sớm tiếp thu được nhiều tinh hoa văn hoá không chỉ của đất nước Ấn Độ mà còn của nhiều nền văn hoá khác. Ta-go là người hiền hậu, dễ xúc động và thích trầm tư suy ngẫm, vốn là một đặc điểm của các nhà hiền triết xứ sở này, đặc biệt trong thời kì từ 1902 đến 1907, khi mà gia đình ông gặp nhiều tổn thương mất mát. Ta-go sớm tham gia các hoạt động xã hội vì độc lập tự do của Ấn Độ và sớm hoà nhập vói phong trào đấu tranh chung vì tiến bộ xã hội trong thòi kì giữa hai đại chiến. Ta-go để lại 52 tập thơ, 12 bộ tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, 42 vở kịch, 63 tập tiểu luận triết học, chưa kể hàng trăm ca khúc và hàng nghìn bức hoạ đang được lưu giữ tại các bảo tàng mĩ thuật của Ấn Độ. Các con số đó cho thấy một sự nỗ lực sáng tạo phi thường của Ta-go. Ông cũng là người châu Á đầu tiên được nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học với tập Thơ Dâng nổi tiếng. 2.Tri thức văn hoá Ta-go sống trong thời đại mà các dân tộc thuộc địa thức tỉnh, đòi độc lập tự do và đòi quyền sống ; thời đại mà thế giới phải gồng mình gánh chịu hai cuộc đại chiến thế giới do các giới tư bản tài phiệt gây ra. Ta-go đã hoà mình trong nhịp sống hối hả đó của thời đại. Ông đặt chân đến nhiều nới với những đặc điểm chính trị xã hội rất khác biệt như Mĩ, Anh, Pháp, Nhật Bản,… để từ đó có được cái nhìn khách quan về lịch sử mà không rới vào cái nhìn bi luỵ về cuộc đời và con người như một số nhà văn phương Tây khác cùng thời. Sự kết hợp, giao hoà được các nền văn hoá khác nhau đã tạo ra một thiên tài Ta-go của đất nước Ấn Độ. Tính chất đa văn hoá trong vốn sống, trong sáng tạo văn học nghệ thuật cũng là nét nổi bật của các nhà văn thế kỉ XX. 3.Tri thức về thể loại Bài thơ số 28 thuộc tập thơ Người làm vườn (gồm 85 bài, thường không có nhan đề mà chỉ đánh số thứ tự), được Ta-go sáng tác bằng tiếng Ben-gan và tự dịch sang tiếng Anh, xuất bản năm 1914. Chủ đề bao trùm của tập thơ là tình yêu, tiêu biểu cho giọng thơ giàu chất trữ tình và chất triết lí của Ta-go, vừa thể hiện tâm hồn Ấn Độ vừa bao quát tinh thần nhân loại. II- PHÀN TÍCH TÁC PHẨM Đây là một bài thơ trữ tình, chủ thể trữ tình là nhà thơ mà câu chuyện được bộc lộ ra trong bài thơ là câu chuyện tình yêu rất riêng tư của chính chủ thể nhà thơ. Bài thơ ca ngợi sức mạnh của tình yêu vô biên thể hiện qua khát vọng khám phá mãnh liệt không cùng để tạo ra một sự gắn kết hoà họp, tạo ra một niềm tin bất tận vào chính sự khám phá ấy. ‘ 1.Đặc điểm về nội dung a.Một số khái niệm cần lưu ý Hình ảnh “đôi mắt” với các sắc điệu của nó (buồn, băn khoăn,…) là một hình ảnh đặc trưng của nhiều nhà thơ song hình ảnh này ở thơ Ta-go rất đậm đặc và mang đặc trưng của cách nhìn tâm linh theo quan niệm của người Ấn Độ mà chính Ta-go đã nhấn mạnh: “Đôi mắt chúng ta liên kết nhau trong hoà điệu làm cho chúng ta hành động được thống nhất”.. b.Nhân vật Trong bài thơ, xét về hình thức, có hai nhân vật: một là chủ thể trữ tình, trực tiếp bày tỏ, bộc lộ cảm xúc tình cảm của mình ; hai là khách thể tiếp nhận các cung bậc tình cảm yêu thương đó. Tuy nhiên, vì đây là bài thơ trực tiếp bộc lộ cảm xúc cho nên các nhân vật này đều dường như có sự phân thân: chủ thể trữ tình bộc lộ tình cảm với khách thể tiếp nhận song cũng chính là đang nói với chính mình, băn khoăn của khách thể tiếp nhận cũng được phân đôi tạo nên sự giằng xé tâm trạng. Từ đó, dẫn tới các suy tưởng trừu tượng hướng tới cái vô biên của tình người, tình đời mà mỗi khi đạt tới một cung bậc mới của tình người, tình đời ấy thì phạm vi của tình yêu lại được mở ra và một chân trời mới hiện lên. 2.Đặc điểm về nghệ thuật Bài thơ được cấu trúc theo kiểu tư duy hướng nội, hướng vào chiều sâu tâm tưởng, gợi mở cái nhìn về thế giới tâm linh. Từ đó, ý nghĩa của bài thơ cũng được tạo ra theo kết Cấu tầng bậc, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ nhận thức cảm tính, trực cảm tới nhận thức lí tính, khái quát cao. a.Kết cấu bài thơ Bài thơ toát lên âm hưởng của giọng điệu thơ tình qua cách thức giãi bày bộc lộ quan niệm về tình yêu mà ở đây có thể liên tưởng tới tình yêu lứa đôi. b.Ngôn ngữ nghệ thuật Trong nguyên bản bằng tiếng Anh do chính Ta-go dịch thì bài thơ này cũng như nhiều bài thơ khác trong tập Người làm vườn đều có hình thức là thơ văn xuôi, một hình thức trung gian giữa thơ và văn xuôi. Đối với thơ văn xuôi, cần chú ý tới tứ thơ, nhịp điệu thơ và nhạc điệu, đặc biệt tính chất triết lí trên nền cảm xúc trữ tình. Để phân tích được, trước hết cần phải tìm ra các từ “chìa khoá” ở cầu: “đời anh là một trái tim “, ta gặp một sự khẳng định có tính chất mở đường cho cách lập luận và tạo ra cảm xúc của bài thơ. Các cụm từ “Nếu trái tim anh” được lặp lại nhiều, trong nguyên tác bằng tiếng Anh do chính Ta-go tự dịch ra cụm từ này có nghĩa là “đời anh”. Từ đây ta có các từ khoá quan trọng: đời anh là trái tim – đời anh là tình yêu, đời anh = trái tim = tình yêu. Các từ khoá này cho phép hiểu tình yêu ở một khía cạnh cao hơn. Tình yêu ở đây là con người trong sự phát triển viên mãn của nó, cũng giống như trái tim được hiểu là biểu hiện cao nhất của cuộc sống. Lưu ý: Các câu thơ được cấu trúc theo hình thức nghịch lí, đặc biệt qua các dòng thơ: Em là nữ hoàng của vương quốc đó Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu. Hay các dòng thơ: Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu. Giọng điệu nghịch lí này vốn xuất phát từ đầu bài thơ qua hình ảnh “Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh”. Nghịch lí này gắn liền với bản chất của cuộc sống, của tình yêu. Khi phân tích, cần lưu ý tới hình thức cấu trúc câu thơ: tác giả thường đưa ra một giả định không thực sau đó tiến hành bước phủ định giả thiết ấy để hướng tới một sự khẳng định mới, tạo ra bất ngờ và hứng thú: Nếu trái tim anh (- đòi anh) = chỉ là = khổ đau (thì)… độc giả đang chờ đợi thì một sự bất ngờ đến ngay bởi hệ thống các từ khoá: đời anh là trái tim – đời anh là tình yêu, đời anh = trái tim – tình yêu, tức là độc giả được đưa đến, được đặt vào một sự khẳng định khác lớn hơn, cao cả hơn, không chỉ dừng ở mức độ so sánh bình thường. Cái bí ẩn của tình yêu xuất hiện cho dù em có là “nữ hoàng của vương quốc” tình yêu đó đi chăng nữa thì nữ hoàng ấy cũng chẳng dễ gì hiểu được vương quốc của mình. Cuộc đời không chỉ được đo đếm bằng niềm vui hay nỗi buồn cụ thể mà cuộc đời chính là tình yêu với biểu hiện muôn màu của nó, là sự hoà trộn của niềm vui và nỗi đau, bởi tình yêu ôm vào trong nó sự đa dạng của cuộc đời. Nhưng em ơi, trái tim anh lại là tình yêu Nỗi vui sướng, khổ đau của nó là vô biên. Những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu. Các dòng thơ trên cho ta thấy rõ hơn chiều sâu của tình yêu, một tình cảm thiêng liêng và cao quý nhất của con người. Tình yêu có cuộc sống riêng của nó, và nó tạo ra một quy luật riêng cho ứng xử thẩm mĩ của con người: “Người vói người sống để yêu nhau”. Hai dòng thơ cuối cũng cho thấy một nghịch lí: Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy Nhưng chẳng bao giờ êm biết trọn nó đâu. Ở đây tình yêu – cuộc đời, tình yêu vừa cụ thể vừa trừu tượng vừa hữu hạn tưởng chừng như thể có một đường biên rõ ràng lại vừa vô hạn chẳng biết đâu là bến, đâu là bờ. Bởi thế, cho dù nó bao gồm cả niềm vui và nỗi đau nhưng chính niềm vui và nỗi đau ấy cũng vô cùng vô tận. Ở đây cần thiết phải lí giải nghịch lí này. Muốn thế phải trở về với từ khoá: đời anh = tình yêu, đời anh là hiện thân của tình yêu, anh là tình yêu. Đến với anh không chỉ đến bằng sự nhận thức thuần tuý lí tính, bằng phép định lượng định tính, bởi mỗi một con người là một tiểu vũ trụ tồn tại trong cái thế giới đại vũ trụ bao la. Mặt khác, đời anh là tình yêu cho nên muốn hiểu được đời anh tất yếu phải dùng tình yêu, chỉ có tình yêu đến với tình yêu, chỉ bằng tình yêu để khám phá và mở đường cho tình yêu thì mới được tình yêu đền đáp, mới hạnh phúc vì lúc đó mới hiểu được bản chất của tình yêu. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TÔI YÊU EM – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Bài Thơ Số 28 – Ngữ Văn 11
1,858
Đề bài: Phân tích tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Bài làm Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ trẻ tiêu biểu trong những năm kháng chiến chống Mĩ. Với phong cách trẻ sôi nổi, hồn nhiên mà sâu sắc, những bài thơ viết về hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam qua hình tượng những cô gái thanh niên xung phong và những anh bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến đã để lại trong người đọc ấn tượng sâu đậm. Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một bài thơ như thế. Những chiếc xe không có kính – hình ảnh thơ độc đáo đã khiến cho nhan đề bài thơ trở nên hết sức đặc biệt – tưởng chừng như tác giả sắp viết một câu truyện dài vậy. Hình ảnh ấy đã làm nổi bật lên hình tượng những người lính trẻ, những người lái xe ở thời kì đó: trẻ trung, sôi nổi và có gì đó ngang tàng, hóm hỉnh. Không biết nhà thơ đã bao giờ ngồi trong buồng lái hay trực tiếp cầm vô lăng chưa mà giọng thơ lại sôi động, tự nhiên và đầy hứng khởi đến vậy? Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi Từ ngôn từ, phong cách, nội dung đến nhịp điệu thơ đều rất tự nhiên, mộc mạc, có sức gợi tả, gợi cầm. Câu thơ làm hiện lên trước mắt người đọc một hình ảnh lạ lùng: những chiếc xe không kính. Mặt khác, lời giải thích của tác giả về những chiếc xe đặc biệt ấy cũng rất đỗi chân thực đến gần như là lột trần ra một chiếc xe đã bị phá huỷ bởi bom giật, bom rung – những động từ mạnh làm nổi bật hình ảnh và ý thơ. Hai câu thơ thật tự nhiên, không có hình ảnh hoa mĩ, tráng lệ, không có hình ảnh tượng trưng, giọng thơ có chút gì đó ngang tàng tạo nên điểm khởi dầu đầy ấn tượng cho bài thơ. Rồi ở khổ cuối cùng của bài thơ, Phạm Tiến Duật lại một lần nữa tái hiện lại hình ảnh chiếc xe: Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước, Những chiếc xe ấy bị biến dạng, bị phá huỷ gần như là toàn bộ. Bom đạn, chiến tranh mới khốc liệt làm sao: sắt thép còn như thế nữa thì huống chi con người. Vậy mà, những chiếc xe ấy, dưới con mắt của Phạm Tiến Duật, vẫn hiện lên một cách rất độc đáo, rất có hồn, rất ngang tàng. Và vô hình trung, chúng đã trở thành biểu tượng đặc trưng của cuộc kháng chiến chông Mĩ. Và có lẽ vì thế, mà chúng dã làm nổi bật lên hình ảnh những người lính lái xe – thế hệ trẻ Việt Nam hiện lên trong cuộc kháng chiến trường kì. Thơ như lời nói, lời kể chân tình: Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhịp thơ ngắn, nhanh, điệp từ nhìn lặp lại tạo nên tiết tấu hết sức sinh động cho câu thơ. Rồi sau đó, lại là lời kể về những sự vật được nhìn thấy trên đường: Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. Những người lính lái xe vẫn ung dung, vẫn nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Lời thơ mà nhịp nhàng, sôi nổi như lời ca, tiếng hát, khiến không khí bài thơ thật vui tươi, sôi động. Khi chiếc xe đã bị phá huỷ, nát tan đến như vậy thì biêt bao khó khăn đã nảy sinh cũng chỉ vì xe không có kính: Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Thế nhưng, không có kính thì tác giả lại có bụi rồi có mưa tuôn, mưa xối. Cấu trúc thơ lặp đi lặp lại – ừ thì – đã làm toát lên thái độ bất chấp, không hề run sợ, coi thường mọi khó khăn. Những câu thơ như vang lên tiếng cười vui vẻ, cười để lạc quan yêu đời, để phớt lờ mọi khó khăn, để động viên mình và động viên đồng đội. Và niềm lạc quan ấy còn được thể hiện bằng hành động: Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Và: Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Giọng thơ âm vang rộn rã, tràn đầy sức sống sôi nổi của tuổi mười tám, đôi mươi. Những người lính trẻ ấy thật kiên cường và trẻ trung, hóm hỉnh. Không chỉ vậy, họ còn là những người đồng chí gắn bó keo sơn, khăng khít. Sự tụ họp lại của những chiếc xe đồng cảnh ngộ đã gắn kết những người lính lại với nhau và qua của kính vỡ họ làm quen với nhau: Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Chao ôi! Kì lạ làm sao! Những con người ấy vốn dĩ không hề quen biết vậy mà giờ đây, trong gian khổ, họ thân thiết gắn bó, họ chào nhau như những người bạn đã quen. Và rồi kỉ niệm như ùa về trong tâm trí nhà thơ. Có lẽ vì ông cũng là một người lính nên ông thấu hiểu, đồng cảm tình đồng đội, đồng chí: Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Gia đình – hai tiếng thân thương gợi hình ảnh những con người cùng huyết thống. Họ, những người lính Trường Sơn ấy, cũng mang trong mình dòng máu nóng – dòng máu sôi sục khát vọng giải phóng miền Nam, giải phóng đất nước: Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim. Tuy chiếc xe có bị phá huỷ, nát tan đến mức nào, dù gian khổ khó khăn bao nhiêu, nhưng chỉ cấn trong xe có một trái tim. Đúng vậy! Chính tình yêu Tổ quốc đã cầm lái, đã là động lực thúc đẩy, giúp những người lính có thêm sức mạnh trước mỗi khó khăn. Lời thơ nhẹ nhàng như một lời khẳng định chắc nịch, ngắn gọn. Câu thơ kết của bài thơ có lẽ là câu thơ hay nhất đã kết lại sức mạnh của con người chính là ở tình yêu, tình yêu Tổ quốc, tình thương đồng bào và tình yêu hoá thành ý chí – kiên cường và vững bền. Nhưng đồng thời, nó cũng mở ra, gợi ra cánh cửa ánh sáng: miền Nam, nơi mà người dân đang trông ngóng cách mạng trong từng khoảnh khắc. Phạm Tiến Duật với lời thơ, chất thơ trẻ trung, ngang tàng, nghịch ngợm, có phần tếu táo đã làm cho bài thơ trở nên thật đặc biệt, rất có hồn. Ngôn từ giản dị, thơ mà có nhạc, trong nhạc có thơ, hình ảnh sáng tạo mà vẫn đầy chân thực… Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên dấu ấn đặc trưng cho tác phẩm – in sâu trong tâm trí người đọc một thế hệ trẻ anh hùng. Trong những năm kháng chiến chống Mĩ gian khổ, ác liệt.
Phân tích tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
1,236
Phân tích tác phẩm Bên Kia Sông Đuống Hướng dẫn Phân tích tác phẩm Bên Kia Sông Đuống Bài làm Sinh ra ở quê hương quan họ Bắc Ninh, được tắm mát dưới làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm đã nuôi dưỡng hồn thơ Hoàng Cầm. Cũng chính bởi vậy, thơ Hoàng Cầm luôn hiện hữu đất và người Kinh Bắc với bao di tích, đền đài, những nếp sống sinh hoạt và văn hóa của mảnh đất nghìn năm văn vật nơi đây. Bài thơ Bên kia sông Đuống được thai nghén từ hồn thơ ấy. Sông Đuống (sông Thiên Đức) là một nhánh của sông Hồng chia Bắc Ninh làm đôi, tả ngạn và hữu ngạn. Khi nhà thơ đang chiến đấu ở miền Nam, nghe tin giặc bắn phá quê hương đã xúc động và viết Bên kia sông Đuống với tâm tư của một người con kháng chiến đau nỗi đau quê hương bị giặc Pháp giày xéo và gửi vào đó ước vọng chiến đấu giành lại độc lập, tự do cho quê hương đất nước. Hình ảnh mở đầu mỗi khổ thơ là sông Đuống – dòng sông gắn với tiềm thức, tâm hồn, văn hóa đất Kinh Kỳ tạo nên bản giao hưởng thấm đượm chất trữ tình. Khiến bài thơ nhẹ nhàng như lời ru lời hát gợi dậy bao nỗi niềm bâng khuâng. Sông Đuống được miêu tả sinh động, cụ thể mà ở góc độ nào ta cũng cảm nhận được và kiêu hãnh với vẻ đẹp của nó. Khi nói tới nỗi chia cắt đôi bờ Kinh Bắc, cấu trúc thơ chất chứa sự đau đớn, tiếc nuối như xoáy vào lòng người đọc nỗi đau đáu khôn nguôi. Quê hương bị chia cắt cũng như mất đi một phần cơ thể, vì thế nhà thơ đã so sánh “như rụng bàn tay”, một so sảnh tự nhiên, sâu sắc làm tăng thêm nỗi nhớ khôn nguôi với mảnh đất quê hương xứ sở tăng thêm cảm hứng dạt dào trong thơ. Trong thơ Hoàng Cầm, nét tươi trong của tranh Đông Hồ gợi lên sự tươi tắn, tinh khôi gợi màu dân tộc niềm kiêu hãnh về bản sắc văn hóa quê hương. Nhà thơ không miêu tả hình ảnh những con người cụ thể nhưng trạm khắc về cuộc sống chia li hoang tàn bằng cách dùng hình ảnh những vật vô tri trong bức tranh để nói lên nỗi đau thương mà đồng bào ta phải chịu đựng và đằng sau nỗi đau ấy là hình ảnh quê hương với bản sắc văn hóa, phong tục sống động Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng Trên đây là những nét vẽ điển hình về người con gái đất Kinh Bắc, những cô hàng xén răng đen với những nét phong tục tập quán cổ truyền, nhà thơ đã khéo léo so sánh nụ cười thiếu nữ với ánh nắng mùa thu, một vẻ đẹp hòa hợp giữa con người với thiên nhiên. Tình yêu quê hương tràn đầy trong từng câu thơ. Nếu như không gắn bó máu thịt với quê hương với phong tục, truyền thống của quê hương thì Hoàng Cầm thì không thể viết nên những vần thơ đẹp đến vậy. Đọc Bên kia sông Đuống, chúng ta lại có dịp hồi tưởng tới quê hương của riêng mình.
Phân tích tác phẩm Bên Kia Sông Đuống
567
Phân tích tác phẩm Bố của Xi-mông của Guy đơ Mô-pa-xăng Hướng dẫn Đề bài: Phân tích bài văn Bố của Xi-mông trong truyện ngắn cùng tên của Guy đơ Mô-pa-xăng Những trang viết tuy chỉ là phần đẩu của một truyện ngắn đã vô cùng sinh động và cảm động. Ở đó có sự sinh động của cuộc sống – cuộc sống diễn ra y như thật, tươi tắn, hồn nhiên. Còn cảm động vì nó thấm thìa tình người, những đau khổ và ước mơ, những yêu thương và sẻ chia, đùm bọc. Tuy nhiên, đấy chỉ là một cái nhìn bao trùm tổng thể. Muốn phân tích nó, không có một cách nào khác hơn, với một tác phẩm tự sự là đi vào nhân vật và nhất là mối quan hệ giữa các nhân vật ấy với nhau. Đây là yếu tố tạo nên tính cách và hình thành mạch văn, cốt truyện. 1.Xi-mông, đứa trẻ không cha là nhân vật trung tâm không chỉ xuất hiện thường trực với tần số cao mà có tác dụng gắn kết các nhân vật còn lại như đám học trò nghịch ngợm, bác công nhân Phi-líp, người thiếu phụ rơi vào cảnh ngộ đáng thương. Xi-mông là đứa trẻ tự trọng, nhạy cảm, thông minh. Vì tự trọng em thấy việc không có cha của mình là nỗi bất hạnh lớn. Còn vì nhạy cảm và thông minh, Xi-mông bế tắc, không biết chia sẻ cùng ai ngoài việc tìm đến dòng sông để kết thúc cuộc đời bằng cái chết. Tất nhiên, những đặc điểm trên đây chỉ là một tính cách mới được hình thành. Bởi vậy những ý nghĩ đến với em, nhiều khi chỉ như cơn gió. Vừa khóc lóc xong, rất thèm được ngủ, nhưng bất chợt nhìn thấy một chú nhái màu xanh, Xi-mông đã quên hết mọi chuyện vừa qua, cả cơn thèm ngủ lúc này. Nhu cầu nghịch ngợm trỗi dậy ở em mạnh hơn bao giờ hết. "Em định bắt nó. Nó nhảy thoát. Em đuổi theo nó và vồ hụt ba lần liền". Ở đó có cả sự xuýt xoa và sung sướng đến bật cười khi tóm được con vật và nhìn nó "cố giãy giụa thoát thân". Nỗi bất hạnh, cơn thèm ngủ bỗng chốc qua đi không để lại dấu vết. Thậm chí, em còn nhớ rộng ra, liên tưởng miên man đến những thứ đồ chơi "làm bằng những mảnh gỗ hẹp đóng đinh chữ chi". Và kết thúc, không hiểu vì sao em lại nghĩ tiếp đến nhà mình, đến mẹ. Nhận được một bàn tay tin cậy của một người đàn ông tin cậy, bác Phi-líp (lúc đầu Xi-mông chưa biết đó là ai), em thấy cần phải giãi bày nỗi niềm cay đắng xót xa với giọng điệu hờn tủi vì oan ức của mình để "người thợ cao lớn, râu tóc đen, quăn" thấu hiểu. Sự tin cậy ấy thật hồn nhiên khi hai bác cháu trở về như một cuộc dạo chơi vui vẻ "người lớn dắt tay đứa bé", như cha và con chẳng còn một chút gì là ưu tư phiền muộn nữa. Nhu cầu cần có một người cha ở Xi-mông mạnh mẽ đến mức chỉ cần một cái gì đó na ná như thế, hoặc tưởng tượng ra như thế, em đã hạnh phúc lắm rồi. Ảo tưởng của Xi-mông chỉ hoàn toàn biến mất khi em trở về với thực tại, một thực tại tàn nhẫn, phũ phàng qua câu nói và giọng nói của người thợ mới quen với mẹ Xi-mông: "Đây, thưa chị, tôi dắt vể trả cho chị cháu bé bị lạc ở gần bờ sông" (Trong trí óc tuy còn non nớt của mình: Xi-mông cảm thấy mình đâu có bị lạc vì quên đường, mà em đang đứng trước một ngã ba không biết rõ con đường tiến thoái). Nhưng hi vọng ở em không tắt. Để giải thoát cho cảnh ngộ của mình, cũng là của mẹ (vừa hôn con vừa khẽ tuôn rơi nước mắt), một câu hỏi vụt hiện lên như một chiếc phao cứu người chết đuối lúc này là: "Bác có muốn làm bố cháu không?" với bao tha thiết, hồi hộp, lo âu. Thời gian như ngừng lại, như nín thở. Phải đến lúc, bác Phi-líp đồng ý, đồng ý như một giao kèo, một cam đoan đồng thuận, Xi-mông mới thật yên tâm. "Thế nhé! Bác Phi-líp, bác là bố cháu". Lần đến trường sau đó, Xi-mông đã trở thành một con người khác hẳn, đầy tự tin. Lời em nói với "thằng kia" không phải là câu nói thường tình. Đó là bao nhiêu căm hờn, uất ức bật ra. Xi-mông "quát vào mặt nó những lời này, như ném một hòn đá", những câu trả lời về bố mình là ai (dù em vì vội quên không hỏi họ của người ấy): "Bố tao ấy à, bố tao tên là Phi-líp". Trong ca dao Việt Nam, có một câu hài hước nhằm đả kích những ông thầy bói nói dựa ngày xưa "Số cô có mẹ có cha – Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông". Nhưng, thực tình, nó đâu phải là vô nghĩa. Bởi trong cuộc đời này còn có bao nhiêu kẻ mồ côi cha hoặc mẹ (thậm chí cả hai). Câu nói hãnh diện của Xi-mông có sức sâu xoáy vào lòng người chính là những khát khao thật giản dị, thật bình thường là được "có mẹ", "có cha" như mọi người trong thiên hạ mà thôi. Tính nhân văn ở cách nghĩ trên đây còn là ước mơ của loài người mãi mãi. 2.Bác thợ Phi-líp là điểm tựa cho câu chuyện thương tâm mà thật ấm áp tình người. Hình như, trên một phương diện nào đó, con người bình thường, vô danh này là lương tâm của nhân loại. Cuộc gặp gỡ giữa bác với Xi-mông vừa ngẫu nhiên vừa là tất nhiên, quy luật thương người như thương mình. Câu hỏi đầu tiên với đứa bé đầy tâm sự (ngồi bên dòng sông, ngồi bên cái chết) âu yếm biết bao: "Có điều gì làm cháu buồn phiền đến thế, cháu ơi?". Nhu cầu được chia sẻ, được gánh chịu, được bảo vệ đối với bác Phi-líp gần giống với một bản năng. Đó là một con người – đúng nghĩa – ở thái độ không thể thờ ơ, lạnh nhạt, quay lưng với nỗi khổ của con người, dù con người ấy chỉ là một sinh linh bé nhỏ, và cũng vô danh như bác. Cái cách hành động của bác lúc đầu là một cách nghĩ rất đỗi ngây thơ, cốt chỉ là để an ủi và khích lộ đứa trẻ đứng lên: "Thôi nào… đừng buồn nữa, cháu ơi", "Người ta sẽ cho cháu…. một ông bố". Nhưng khi đến nhà của mẹ con Xi-mông rồi, nụ cười hồn nhiên và bao dung vì sao vụt tắt? Làm sao có thể bỡn cợt được với một "cô gái cao lớn, xanh xao đứng nghiêm nghị trước cửa nhà mình". Đó là một giới hạn mà con người giàu tướng tượng nhất cũng không thể vượt qua. Bác Phi-líp cảm thấy mình khống được phép bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà ấy. Người đàn ông từng trải đã phải bối rối như một đứa trẻ thơ, dại dột một cách thực thà trước một vấn đề quá phức tạp mà anh ta đang gặp phải và không biết xử lí ra sao. Chỉ tới khi có được một cơ hội, ấy là câu nói thơ ngây (không hàm ý sâu xa nào) của đứa trẻ, bác mới vừa trả lời được Xi-mông vừa giải thoát được chính mình. "Bác công nhân nhấc bổng em lên, đột ngột hôn vào hai má em, rồi sải từng bước dài, bỏ đi rất nhanh". Sau này, con người có tấm lòng nhân hậu ấy còn chia sẻ với Xi-mông, đùm bọc và che chở cho Xi-mông đúng như một người cha tốt. 3.Về nghệ thuật của đoạn văn, nên dựa vào tiêu chí nào để đánh giá? Có thể xem nó là một tác phẩm tự sự thông thường, nhưng có lẽ, đúng hơn cần xác định: đây là truyện thiếu nhi. Viết về trẻ em và nói bằng giọng điệu trẻ em – cách nhìn và nghĩ ngây thơ nhất của loài người, ấy là đặc điểm bao trùm của nó. Về phương diện này, ta nên nghĩ đến Thời thơ ấu của Goóc-ki, những tác phẩm tự truyện của Nguyên Hồng,… Bố của Xi-mông dựa trên một cái mặt bằng như thế. Theo định hướng này, Xi-mông đúng là một nhân vật trung tâm. Người mẹ đáng thương Blăng-sốt là ngôi nhà của em, còn bác Phi-líp là bầu trời của em, ngôi nhà thì quen thuộc, thân yêu, còn bầu trời là cả một không gian mênh mông hi vọng. Tâm tình – nghĩa là bao nhiêu cay đắng, buồn vui, mơ ước, cả một thế giới tâm trạng về số phận con người – quy tụ vào những cảm nghĩ trẻ thơ. Những cảm nghĩ ấy trong sáng như bầu trời mà bất hạnh chỉ giống như một thứ mưa bóng mây. Đứa con không có cha không phải là một định mệnh nghiệt ngã suốt đời, rồi một lúc nào đó, nó không là một ám ảnh. Nhưng hình tượng nhân vật bé bỏng mà ta vừa nói trên đây là từ con mắt của người lớn nhìn vào. Do vậy, mà có sự tiết chế và chọn lọc để vừa khắc hoạ một tính cách trẻ thơ vừa phát hiện được ở chiều sâu những quy luật khách quan của cuộc sống. Lời văn dung dị, hồn nhiên như không được đẽo gọt đi thẳng vào khả năng cảm nhận trực tiếp của người đọc, để với người đọc sẽ hình thành một loại văn bản thứ hai từ những liên tưởng, rung động về cuộc sống mà chính bản thân Iĩìlnh trải nghiệm. Một tác phẩm hay cũng như cuộc chạy tiếp sức: người viết và người đọc cứ nối tiếp nhau đi trên một con đường không biết đâu là điểm giới hạn cuối cùng.
Phân tích tác phẩm Bố của Xi-mông của Guy đơ Mô-pa-xăng
1,722
Phân tích tác phẩm Cha Con Nghĩa Nặng – Ngữ văn 11 Hướng dẫn Đọc thêm CHA CON NGHĨA NẶNG (Trích) I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thòi điểm tác phẩm ra đời -Hồ Biểu Chánh (1885 – 1958) tên khai sinh là Hồ Văn Trung, người làng Bình Thành (nay là xã Thành Công, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang). Thuở nhỏ học chữ Nho, sau học chữ quốc ngữ ; lớn lên làm công chức ở nhiều nơi, từng làm đến chức Đốc phủ sứ, Nghị viên Hội đồng liên bang Đông Dương,… nên Hồ Biểu Chánh có điều kiện thấu hiểu cuộc sống và con ngưòi Nam Bộ. -Hồ Biểu Chánh viết văn từ rất sớm. Trong gần 50 năm cần mẫn sáng tạo, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm khá lớn, gồm nhiều thể loại (truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch, kí, khảo cứu, phê bình,…), trong đó có 64 tiểu thuyết. Ông thử sức trên nhiều lĩnh vực nhưng nổi tiếng hơn cả là trong lĩnh vực tiểu thuyết. Cha con nghĩa nặng là tiểu thuyết thứ 15 của ông, được xuất bản năm 1929, sáng tác theo khuynh hướng cổ suý cho đạo đức truyền thống, lấy đề tài tương đối mới trong văn học đương thời là mối quan hệ nghĩa tình sâu nặng giữa cha và con. 2.Tri thức văn hoá Đề tài bao quát hầu hết các sáng tác của Hồ Biểu Chánh là cuộc sống Nam Bộ từ nông thôn đến thành thị những năm đầu thế kỉ XX vói những xáo trộn về mọi phương diện do chủ nghĩa thực dân đem đến. Dưới ngòi bút tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, những hiện tượng xã hội vượt quá khuôn khổ đạo lí thông thường trở thành chất liệu chính của những tiểu thuyết ngồn ngộn sự sống. Ông cũng nhìn nhận và đánh giá khá đúng diện mạo của lớp người nghèo không chỉ ở tính tình thật thà, chất phác, là nạn nhân của sự áp bức mà còn là những con người có tấm lòng nhân ái, biết giữ vững phẩm chất đạo đức truyền thống, đôi khi cũng biết phản kháng, cho dù là tự phát và liều lĩnh, để chống lại sự tàn ác của kẻ giàu có và thế lực. Nhân vật của ông được phân loại theo hai tuyến: có nghĩa có nhân và bất nhân bất nghĩa ; mâu thuẫn thiện – ác vẫn là xung đột cơ bản chi phối nội dung cốt truyện. Bước vào văn đàn giữa lúc văn xuôi quốc ngữ còn vắng vẻ, vớii sức viết dồi dào và sự mẫn cảm trong việc phơi bày bộ mặt phức tạp của cái xã hội phong kiến đang trên con đường thực dân hoá, Hồ Biểu Chánh nhanh chóng có một vị trí đáng kể trong số những cây bút tiểu thuyết ít ỏi ở miền Nam thời đó. Ông được xem là một trong số ít những người đi tiên phong, đặt nền móng cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ở giai đoạn sơ khai trên mấy phương diện: nội dung đề tài, xây dựng nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ. 3.Tri thức về thể loại Cha con nghĩa nặng là một cuốn tiểu thuyết hiện đại vào những năm đầu của quá trình hiện đại hoá thể loại này. Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt xã hội, giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng. Tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại vãn học khác. Chính khả năng trên làm cho tiểu thuyết cũng đang vận động, không đứng yên. Tuy nhiên, lối viết của ông cũng chỉ dừng lại giữa tả và kể với trình tự lớp lang ít thay đổi; nhân vật xây dựng gần như theo một kiểu: hành động liên tục và ít biểu hiện tâm lí; kết cấu chưa thoát khỏi ảnh hưởng của lối chương, hồi, “có hậu” ; câu văn nôm na nhưng còn thô ráp, chưa được trau chuốt… Phân tích nhân vật tiểu thuyết, nghệ thuật tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng cần lưu ý đến đặc điểm đó. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Vị trí của đoạn trích trong tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng -Cha con nghĩa nặng gồm 10 chương. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Trần Văn Sửu, một người nông dân thật thà, chăm chỉ nhưng lấy phải người vợ là thị Lựu có tính lẳng lơ, lăng loàn. Có một hôm Sửu bắt quả tang vợ ngoại tình ở nhà mình. Vợ Sửu đã không biết lỗi lại còn ngăn giữ chồng để cho tình nhân tẩu thoát. Sửu tức quá xô vợ ngã, không may vợ chết. Sửu hoảng sợ liền bỏ trốn biệt tích. Mọi người tưởng anh sợ tội đã nhảy xuống sông tự vẫn. Ba đứa con của anh còn nhỏ phải về nương nhờ ông ngoại của chúng là hương thị Tào. Do hoàn cảnh túng thiếu, đứa nhỏ bị bệnh chết, còn hai đứa lớn là Tí và Quyên phải đi ở đợ cho bà hương quản Tồn. Rất may bà hương quản là một bà điền chủ goá giàu có, tốt bụng, hết sức đỡ đần và còn lo chuyện dựng vợ gả chồng cho Tí và Quyên. Về phần Sửu, ở nơi xa, nhớ con không chịu nổi nên anh quyết liều lẻn về thăm các con. Anh gặp ngay cha vợ, nghe kể chuyện về các con, anh rất xúc động và quyết định lần này sẽ đi hẳn không trở về nữa để không ảnh hưởng đến tương lai các con. Sửu vừa ra khỏi nhà cha vợ thì Tí, do đã rình nghe chuyện, bèn chạy theo níu cha ở lại. Về sau, nhờ sự vận động của ba Giai – con rể – truy tìm nguyên do cái chết của thị Lựu, Trần Văn Sửu được miễn truy tố và được đoàn tụ với các con. -Đoạn trích đưa vào SGK kể lại sự việc Trần Văn Sửu bỏ đi sau khi lẻn về thăm các con, thằng Tí chạy theo cha và hai cha con gặp nhau trên cầu Mê Tức, bày tỏ tình cảm và trách nhiệm, toan tính cho cuộc sống trước mật. 2.Hình tượng nhân vật người cha Trong suốt cuốn tiểu thuyết, Trần Văn Sửu được miêu tả với tính cách đặc trung của một nông dân Nam Bộ: thật thà, chăm làm, thương vợ, yêu con. Đoạn trích này nhằm tô đậm một nét nổi bật trong tính cách của anh: tình người cha với các con, dám hi sinh tất cả vì tương lai của các con. Trước khi trở về, anh mong từng giờ từng phút để được nhìn thấy các con lần cuối, nói rõ sự việc khi trước về mẹ chúng để các con không oán hận cha ; thì nay, chưa gặp con, anh đã phải nhanh chóng bỏ đi. Khi ngồi một mình trên cầu Mê Tức, Trần Văn Sửu có tâm trạng khá phức tạp: thanh thản vì biết rằng các con không oán trách mình, các con “lại gần được giàu có sung sướng” ; thương thân vì đã “lăn lóc chịu cực khổ mà sống” để có ngày trở về ; nỗi ám ảnh vì cái chết của vợ; nhớ lại những ngày tháng gia đình đầy đủ vợ chồng, con cái thật hạnh phúc, đầm ấm ; tuyệt vọng vì chợt nhận ra không còn cơ hội gặp lại các con ý định tự vẫn trong anh ập đến thật bất ngờ. Ở đầu đoạn trích, Hồ Biểu Chánh sử dụng các biện pháp miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật Trần Văn Sửu khá đa dạng và hiện đại. Điều này thật sự có ý nghĩa đối vói việc mở ra các khả năng thể hiện tâm lí nhân vật của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ở giai đoạn sơ khai: phác hoạ không gian và thời gian làm nền cho tâm trạng ; sử dụng độc thoại nội tâm ; hồi ức của nhân vật được làm sống động phù hợp với nét mặt, cử chỉ nhân vật; chú ý dòng chảy liên tục của cảm xúc, suy tư của nhân vật với nhiều biến thái hợp lôgíc,… Việc Hồ Biểu Chánh ‘‘đưa” nhân vật của mình vào tình huống khó xử thực sự chứng tỏ ông là nhà tiểu thuyết có bản lĩnh trong việc phản ánh và tôn trọng lôgíc hiện thực khách quan cũng như khả năng nhìn thấu và biểu hiện được sự phức tạp của đời sống. Nhờ tình huống truyện giàu kịch tính này, nhà văn có cơ hội cho người đọc thấy được đầy đủ hơn chiều sâu tình cảm và tính cách nhân vật người cha, đồng thời khiến ta nóng lòng chờ đợi cách xử lí tình huống đó. Gây tâm lí chờ đợi kết cục câu chuyện, để bạn đọc “tham gia” dự đoán sự tiến triển của cốt truyện cũng là những yêu cầu mà các nhà tiểu thuyết đầu thế kỉ trước đặt ra cho bản thân họ khi cầm bút. 3.Hình tượng nhân vật người con Cũng như với người cha, cuộc hạnh ngộ giữa hai cha con làm thoả lòng mong nhớ bấy nay của Tí. Tí thể hiện tình cảm với người cha hết sức nồng nàn, thắm thiết. Các hành động, cử chỉ của nhân vật này cũng được miêu tả thật tự nhiên, chân thật như là sự bùng phát của nỗi nhớ thương bị dồn nén bấy lâu: “chạy riết lại nắm tay cha”, “dòm sát trong mặt mà nhìn, rồi ôm cứng trong lòng mà nói”… Tuy vậy, bóng đen của quá khứ vẫn hiện về ám ảnh cả hai cha con. Mong muốn cha con được sum họp gặp bao trở ngại khó có thể vượt qua. Ngưòi cha kiên quyết ra đi nhưng con anh không chịu. Chính sự hiếu thảo và trách nhiệm của Tí vói cha rất có thể làm Tí mất cơ hội có một gia đình riêng êm ấm. Trở ngại ấy khiến cả hai cha con “bối rối, không biết liệu lẽ nào cho xuôi”, “cha thì lo, con thì tính, cả hai đều lặng thinh”. Điều đáng chú ý là ở phần sau của đoạn trích, nhà văn đã để nhân vật Tí đưa ra các cách giải quyết và nhân vật người cha cũng lần lượt nêu lên những điều không ổn trong từng cách giải quyết đó. Diễn biến câu chuyện, dưới hình thức đối thoại của hai cha con, có nhịp độ nhanh và lát sinh động. Có thể nhận thấy nhà tiểu thuyết thúc đẩy tiến trình sự việc rất nhanh và sắc sảo qua lời đối thoại như trong kịch, ông đã tước đi hầu hết những lời dẫn rườm rà để cuốn hút người đọc tập trung theo dõi câu chuyện. Trong các lời thoại, người đọc không còn thấy kiểu đối xứng, hô ứng có vẻ sách vở giữa các vế nữa. Ngữ điệu ở đây là ngữ điệu của lời nói hằng ngày. Dường như nhân vật nghĩ sao nói vậy. Đây cũng là một thành công của Hồ Biểu Chánh so vói những nhà văn cùng thòi. Việc để cho Tí ráo riết tìm các giải pháp xử lí tình huống khó xử, gay cấn với cả hai cha con cho thấy lòng thương yêu cha của Tí thật là sâu sắc. Tí cũng tự chứng tỏ tính cách mạnh mẽ của mình – không chịu bó tay trước hoàn cảnh. Cuối cùng, Tí đã tìm được lối thoát khả dĩ cho tình huống tưởng như bế tắc đó làm dịu lòng ngưòi cha, yên được lòng mình, vẹn được nhiều bề? Từ cách xử lí tình huống giàu kịch tính ở đoạn trích, tính cách các nhân vật được tô đậm theo ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Có thể nói, theo Hồ Biểu Chánh, một kết thúc tốt đẹp chỉ có thể là một kết thúc hợp đạo lí truyền thống – cha giữ đạo làm cha, con giữ đạo làm con. Được như vậy, tình cha con mới sâu nặng, vẹn tròn. Đọc đoạn trích, ta thấy phần nào nghệ thuật kể chuyện khéo léo, hấp dẫn của nhà tiểu thuyết, khả năng sử dụng ngôn ngữ sống động của đời sống người dân quê miền Nam với nhiều nét chân xác để miêu tả tâm lí, tính cách nhân vật. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHA CON NGHĨA NẶNG- NGỮ VĂN 11
Phân tích tác phẩm Cha Con Nghĩa Nặng – Ngữ văn 11
2,161
Đề bài: Phân tích tác phẩm Chiếc lá cuối cùng của O.He-ri BÀI LÀM Nói đến văn học Mỹ, người đọc thế giới thường nhắc tới O.Henry như một trong những tác giả viết truyện ngắn có duyên nhất. Với một vốn sống phong phú, O.Henry đã sáng tác hơn 400 truyện ngắn và góp vào nền văn học Mỹ một tiếng nói rất riêng. Văn chương của O.Henry nhẹ nhàng, ngắn gọn đến mức sắc sảo. Giọng văn hài hước, dí dỏm, đôi khi giấu sau những nụ cười là một sự nghiệt ngã đến không ngờ của cuộc sống. Rất nhiều tác phẩm của O.Henri có những kết thúc bất ngờ, gây sửng sốt cho người đọc. Nhiều độc giả yêu quý nhà văn này đã rất ngạc nhiên vì một nhà văn không có học vấn cao (ông chỉ học ở một trường tư cho đến năm 15 tuổi) nhưng lại rất thành công với mảng truyện ngắn và đã đưa vào tác phẩm của mình một xã hội đa dạng và rộng lớn của nước Mỹ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Bạn có thể tìm thấy trong văn chương O.Henri những tội phạm, thế giới của người vô gia cư, cuộc sống phiêu lưu của những kẻ cao bồi hay dòng người đi tìm vàng cho đến cuộc sống giàu sang của thành phố New York… Đặc biệt, chúng ta bắt gặp trong truyện của ông một lối viết văn giàu kịch tính. ó là một chuỗi liên tiếp và sự đan cài khéo léo phức tạp các yếu tố bất ngờ mà chỉ đến câu cuối cùng của tác phẩm, cái nút ấy mới được tháo gỡ. Tiếp xúc với thiên truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng, ta sẽ được nhà văn đưa đến phía Tây công viên Oa-sinh-tơn của nước Mĩ. Đó là một địa điểm nhỏ, phố xá nhằng nhịt không có lối ra rõ ràng. Hầu như khu công viên nhỏ này bị một màn xám bao phủ, vây quanh. Nó đã làm cho cuộc sống của những con người như Xiu, Giôn-xi và bác Ba-men thiếu sinh khí: “Hãy tưởng tượng một tay thu ngàn nào đó mang hoá đơn đòi tiền sơn hay giấy và vải vẽ đi qua con đường này, đột nhiên lại gặp ngay chính mình quay trở ra, tiền nự không thu một xu nhỏ”. Cách nói rất hình ảnh của tác giả đã cho ta cảm nhận được cái nghèo nàn, đạm bạc của những con người ở đây. Ở đây hầu hết là giới nghệ sĩ chung sống với nhau. Họ phải bỏ tiền ra thuê những căn phòng tối om và vẽ những bức vẽ bình thường đổ kiếm sống. Họ chăm chỉ làm ăn là thế mà nghèo vẫn hoàn nghèo, thiếu thốn vẫn hoàn thiếu thốn. Ta tưởng như họ sống trong hôm nay mà chẳng đến hết ngày mai. Những hoạ sĩ (Giôn-xi, Xiu, Bơ-men) trong ý thức họ vẫn muốn hẹn một cuộc sống tốt đẹp, một tương lai sáng lạn. Thế nhưng cơ hội lại chưa mỉm cười với họ. Thành ra họ chỉ còn biết chờ đợi với tình cảm mông lung, huyễn tưởng. Rõ ràng ta nhận thấy O. Hen-ri không thi vị hoá cuộc sống. Ngòi bút của ông hướng về hiện thực, tái hiện chân thực những cảnh đời đói khổ.
Phân Tích Tác Phẩm Chiếc Lá Cuối Cùng Của Nhà Văn O.He-Ri
567
Phân tích tác phẩm chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng Hướng dẫn Đề bài: Phân tích tác phẩm chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng Bài làm Có những câu chuyện dù phải đọc nhiều lần ta vẫn không thể nhớ,. Lại có những câu chuyện dù chỉ đọc một lần ta vẫn không thể quên. Có những hạnh phúc muộn màng và ngắn ngủi khiến ta phải trào nước mắt. Có những tình cảm nồng ấm và thiêng liêng mà ta chỉ cảm nhận được trong tổ ấm gia đình… Tất cả những ấn tượng ấy đều có từ truyện ngắn Chiếc lược ngà củ nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Một truyện ngắn dung dị nhưng gây xúc động lòng người trước tình cảm sâu nặng của cha con ông Sáu. Đặc biệt truyện còn làm ngời sáng vẻ đẹp cứng cỏi cùng tình yêu thương cha mãnh liệt của một em bé mới bảy tám tuổi. Trong đời sống tự nhiên, ai ai cũng thầm công nhận một điều rằng, tình cảm cỉa con cái hình như thân thiết và gần gũi với mẹ hơn. CÒn với cha thì sao? Tình cha bao la và hy sinh vì con cái cũng không kém gì người mẹ, đôi khi còn mãnh liệt và sâu sắc hơn. Là một chiến sỹ cách mạng xa nhà đi thoát ly cách mạng từ khi đứa con đầu lòng còn chưa đầy tuổi, mãi đến khi hòa bình lập lại ông Sáu mới có dịp về thăm nhà. Non nao và hạnh phúc khôn tả khi nghĩ đến giây phút gặp con, ông Sáu lại thấy đau khổ và thất vọng hơn khi con không nhận cha. Cuộc gặp gỡ sau 8 năm xa cách là khởi đầu cho chuỗi những sự việc, thái độ, hành động thể hiện tình yêu thương cha mãnh liệt của Thu. Xa cách bao năm, Thu và cha chưa một lần gặp mặt, ông Sáu “ chỉ thấy con qua tấm ảnh nhỏ luôn mang bên người”, bé Thu chỉ biết mặt cha qua tấm hình chụp chung với má. Xa cha, Thu nhớ thương vô cùng và dường như hình ảnh người cha trong tấm ảnh đã in sâu vào trong trí nhớ của Thu, là hình ảnh đẹp nhất trong lòng Thu. Tám năm sau khi người cha trở về, chiến tranh đã làm ông có sư thay đổi lớn khiến Thu không thể nhận ra cha mình. Từ đằng xa thấy “ một đứa bé độ tám tuổi, tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi” ông Sáu đoán biết là con, không chờ xuồng cập bến “ anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra”. Linh tính của người cha cho ông biết đấy là con mình, trái tim người cha hướng ông mau mau chạy về phía con để ôm lấy cái hình hài máu mủ mà ông hằng thương nhớ trong bao năm xa cách. “ Anh vừa bước, vừa khom người đưa tay đón chờ con… giọng lặp bặp run run Ba đây con, ba đây con!” Những tưởng cha con ông sẽ ôm chầm lấy nhau trong khoảnh khắc sung sướng thì trớ trêu thay con bé không nhận ra ông, nó giật mình “ tròn mắt nhìn…ngơ ngác, lạ lùng”. Mặt Thu tái đi em kêu lên, bỏ chạy và cầu cứu “ Má! Má”. Với ông Sáu thái độ của Thu khiến ông hụt hẫng, đau đớn. Nhưng với Thu đây là phản ứng tâm lý tự nhiên. Bởi từ khi em lớn lên, ông Sáu đâu có ở bên cạnh, chưa bao giờ em được trông thấy cha bằng xương, bằng thịt. Hôm nay một người đàn ông lạ lẫm với “ vết sẹo dài đỏ ửng, giật giật, trông rât dễ sợ” đột ngột xuất hiện tự xưng là cha, làm sao em không sợ hãi? Một nghịch lý trớ trêu, đau xót cho người cha, một sự ngỡ ngàng, lạ lẫm cho đứa con được Nguyễn Quang Sáng miêu tả thật sinh động, tài tình Những ngày sau đó, đáp lại tình cảm nồng nàn của cha, bé Thu lại càng tỏ ra sợ hãi, ngờ vực. Trong ba ngày phép ngắn ngủi, ông Sáu càng vỗ về, Thu càng lùi ra xa, ông càng chiều thương, nó càng lẩn tránh. Ông chỉ mong được nghe tiếng Ba mà sao khó khăn đến thế. Khi phải gọi ông Sáu ăn cơm, dẫu được mẹ nhắc nhở, Thu vẫn chỉ nói trổng “ vô ăn cơm” hoặc “ cơm chín rồi”. Đặc biệt trong một tình huống tưởng chừng cô bé không thể ương bướng hơn được nữa vậy mà Thu vẫn quyết liệt. Đó là lúc nồi cơm sôi, một đứa bé không thể tự mình nhấc nồi để chắt nước. Tình thế đó cứ ngỡ rằng Thu sẽ ngoan ngoãn nhờ ba giúp. Nhưng không, ngay cả khi bác Ba mờ đường cho “ Cháu phải gọi Ba chắt nước giùm con”, phải nói như vậy”, Thu vẫn không cất tiếng dẫu mấy lần em tỏ ra lo sợ bị mẹ đánh đòn nếu để cơm bị nhão. Bướng bình và bất cần, Thu tự mình làm một công việc nguy hiểm và quá sức. Nghĩa là nó không chịu thua, không chịu nhượng bộ. Song đỉnh điểm của sự ương bướng được thể hiện khi Thu “ hất tung cái trứng cá to vàng” mà ông Sáu gắp cho nó. Bị đánh, nhưng Thu không khóc, lẳng lặng gắp lại cái trứng cá rồi bỏ sang nhà ngoại. Lúc cởi dây xuồng, nó còn cố ý khua dây xích “ kêu rổn rảng” để tỏ ý bất bình, có lẽ nó muốn cho mọi người biết nó sắp đi để chạy ra dỗ dành. Một chuỗi những thái độ của Thu khiến ta có thể cho Thu là một cô bé bướng bỉnh, cứng đầu. Nhưng xét căn nguyên sâu xa, không thể coi đó là biểu hiện cửa sự ương ngạnh, cứng đầu, hỗn láo. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, bé Thu còn quá nhỏ để hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của cuộc sống, hơn nữa ba má bé Thu cũng không lường trước được sự việc để giải thích cho bé rõ. Trong suy nghĩ non nớt của em, ông Sáu có vết sẹo đáng sợ ấy sao chẳng giống hình ba chụp chung với má. Mà đã không phải là cha thì không thể gọi tiếng “ ba”. Điều đó chi phối toàn bộ suy nghĩ, hành động của em. Sự bướng bỉnh của Thu không thể hiểu là sự ương ngạnh của một đứa trẻ khó dạy mà là sự kiên định của một cô bé có lập trường yêu ghét phân minh. Trong thái độ cứng đầu ẩn chứa sự kiêu hãng dành cho người cha thân yêu.- người cha trong tấm hình chụp chung với má. Thế mới biết Thu là một cô bé có cá tính. Điều mà ở những đứa trẻ bày, tám tuổi thường không có. Đó cũng là tiền đề tạo phẩm chất gan dạ, dũng cảm của cô giao liên sau này. Tình yêu cha của Thu được thể hiện ngay trong chính hành động bướng bỉnh. Vì cha, Thu kiên quyết từ chối sự quan tâm của ông Sáu, thương cha nên bao nhiêu yêu thương kính trọng được em giữ gìn trong tiếng Ba trìu mến. Với em, ba là duy nhất, không ai có thể thay thế tình yêu ấy khiến em tỏ rõ thái độ căm ghét những gì em hoài nghi là sự xâm phạm đến hình ảnh người cha yêu quý. Đó là nét đẹp phẩm chất nơi Thu khiến ta khâm phục. Nhưng khi được ngoại giải thích rõ về nguyên nhân vết sẹo, thì sự nghi ngờ của em được giải tỏa” “ Nghe bà kể, nó nằm im lăn lộn, thỉnh thoảng thở dài như người lớn”. Sự miêu tả nội tâm gian tiếp qua hành động cho thấy những tình cảm, cảm xúc đang trào dâng trong lòng em- yêu thương cha xen lẫn nỗi ân hận. Hôm sau trỏ về nhà, nhìn mọi người vây quanh cha, vẻ mặt Thu buồn ràu “ Cái nhìn của nó không ngơ ngác, lạnh lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi, sâu xa”. Và khi bắt gặp ánh mắt của cha thì đôi mắt ấy như xôn xao. Cái “ xôn xao” của đôi mắt như nói lên bao điều. Khi ông Sáu cất tiếng chào “ Thôi ba đi nghe con” thì nỗi niềm trong nó bật tung thành tiếng “ Ba…….a…a” Tiếng kêu của nó như xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu lâu nay, tiếng ba như vỡ tung từ nỗi lòng nó. Đọc truyện ta như thấy cách Thu bộc lộ tình cảm với cha thật xúc động, là người ngoài cuộc ta cũng không khỏi nhói lòng. Yêu thương cha vô cùng nên em quyết định lạnh lùng với ông Sáu. Thương cha nên em không thể dành tiếng “ ba” để gọi người xa lạ. Thế nhưng khi biết ngọn nguồn vết sẹo, biết đích xác là ba rồi, tình cảm nơi em vỗ òa, tức tưởi. Cũng như bao đứa trẻ khác có cha trên đời, em mong được cha chăm chút, yêu thương. Nhưng bất hạnh thay, em xa cha từ bé, em đã trông ngóng biết bao ngày cha về nhưng chỉ tại vết sẹo, mà Thu đã để mất ba ngày quý giá, làm tổn thương tình cảm cha mình. Chính vì thế nên ta không lạ gì Thu “ ôm chặt lấy cổ ba nó… dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó. Nó hôn ba cùng khắp…hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Nếu như trước đây, Thu ghét ông Sáu bao nhiêu thì giờ đây tình cảm của em dành cho ông mãnh liệt bấy nhiêu. Ta nhận ra hai thái độ ấy tuy trái ngược này thực ra lại nhất quán trong sự phát triển tính cách- tính cách của cô bé dành trọn tất cả tình yêu cho người cha vô cùng kính mến. Có người cho rằng tác giả xây dựng hình tượng bé Thu hơi thái quá, song thiết nghĩ thái độ ngang ngạnh đó cũng vì xuất phát từ tình yêu thương cha mãnh liệt. Với sự am hiểu tâm lý trẻ thơ, ngòi bút miêu tả sinh động diễn biến tâm lý trẻ thơ của tác giả đã xây dựng nên một cô bé Thu cứng cỏi, mạnh mẽ, sâu sắc trong tình cảm. Tâm lý và hành động của Thu được miêu tả sinh động, sát với tâm lý lứa tuổi của em. Điểm nổi bật gợi sự xúc động của em là một tình cảm chân thành, mãnh liệt mà thánh thiện dành cho cha. Trong Chiếc lược ngà, tình cảm của ông Sáu dành cho con cũng mãnh liệt, sâu nặng không kém. Tình cảm ấy được tác giả thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà và được miêu tả kỹ lưỡng hơn khi ông ở căn cứ kháng chiên. Sau khi chia tay với gia đình, nỗi day dứt ân hận ám ảnh ông Sáu nhiều ngày là việc là ông lỡ tay đánh con. Nhớ lời dặn tha thiết của con, ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà nhỏ xinh tặng con. Tìm được một khúc ngà voi, “ anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe… mặt hớn hở như đứa trẻ được quà”. “ Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Tại sao chiếc lược bằng ngà mà không bằng một vật liệu gì khác? Phải chăng là để thể hiện tình yêu thương của ông đối với con? Chiếc lược ngà ấy rất quý, phải như thế mới xứng đáng với đứa con gái bé bỏng của ông, với tình yêu ông dành cho nó. Từng chiếc răng lược dần hiện ra là từng niềm vui của ông. Bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Bao nhiêu bụi ngà rơi là bấy nhiêu tình cảm ông dành cho con. Trên sống lưng lược, ông còn gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét “ Yêu nhớ tặng Thu con gái của ba”. Bao trìu mến thân thương toát lên từ hai chữ “ Yêu nhớ”, bao nồng nàn, thấm đẫm nhớ nhung, yêu thương con của ông Sáu ẩn chứa trong những chữ “ Thu con của ba”. Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh.” Có cây lược, ông càng mong được gặp con để trao tận tay cho nó nhưng éo le thay, chiến tranh đã vô tình cướp đi của ông giây phút vui mừng trao cho con cây lược. Giây phút cuối, tình cảm cha con trong ông vẫn da diết, trước lúc nhắm mắt, dòng suy tưởng của ông vẫn nhớ về con mình. TRút hơi thở cuối cùng, ông Sáu chỉ kịp gửi lại chiếc lược ngà cho đồng đội. Lần đầu tiên một người chiến sỹ trở thành một nghệ nhân sáng tạo tài tình dù chỉ sáng tạo một sản phẩm duy nhất Chiếc lược ngà. Người mất nhưng kỷ vật còn. Chiếc lược ngà là gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại, nó vẫn còn mãi, là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc, đơn sơ mà đằm thắm, kỳ diệu, là hiện hữu củatình cha con bất tử không bao giờ chết được. Bản thân là người Nam bộ, là người lính từng chiến đấu xa nhà nên hơn ai hết Nguyễn Quang Sáng hiểu được tình cảm gia đình đối với người lính sâu đậm biết chừng nào. Kết cấu truyện với nhiều tình huống bất ngờ đã làm nổi bật vẻ đẹp tính cách của các nhân vật, gây xúc động sâu sắc cho người đọc. Chuyện được ghi theo lời kể của một chiến sỹ cách mạng- người bạn thân thiết của ông Sáu, khiến chuyện càng trở nên đáng tin cậy, trung thực Truyện Chiếc lược ngà là bài ca đẹp về tình cha con. Trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh, tình cảm thiêng liêng ấy càng cao đẹp và càng ngời sáng. Truyện không chỉ nói lên tình cảm cha con thắm thiết sâu nặng mà còn gợi cho ta suy nghĩ thấm thía về những éo le, đau thương, mất mát mà chiến tranh gieo rắc cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình. Ta càng thấm thía rằng tình cảm gia đình là sức mạnh, niềm tin để con người có thể vượt qua tất cả, ngay cả cái chết. Ta hiểu “ Nếu trên đời có những nguồn vui chân chính và niềm hạnh phúc thật sự, thì nó sẽ nằm trong tổ ấm gia đình”
Phân tích tác phẩm chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
2,551
Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Hướng dẫn Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Chiếc thuyền ngoài xa”là thuộc trong số những nhà văn mở đường tài năng, tinh anh nhất cho văn học nước ta hiện nay, là đứa con tinh thần của Nguyễn Minh Châu. Quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật chuyển từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường đã được thể hiện rõ ở. “Chiếc thuyền ngoài xa”. Ở tác phẩm này ông thật sự thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật, ông đã xây dựng được các nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những tác phẩm tiêu biểu mà nó cũng góp phần thể hiện những triết lí về cách nhìn cuộc sống. Triết lí đs được rút ra từ cuộc sống, từ bức tranh chân thực của cuộc sống con người. Cuộc sống vốn luôn chứa đựng nhiều khó khăn nhiều ngang trái hơn là cái màu hồng mà nó đang hiện ra. Không chỉ thế để có một cái nhìn thấu đáo con người phải trực tiếp đi vào cuộc sống đó và có cái nhìn đa chiều chứ không phải phiến diện nữa. Tác phẩm có các nhân vật chính là Nhân vật Phùng, người đàn bà, người đàn ông, bé Phác và nhân vật Phùng. Với nhân vật Phùng là một người quý trọng và say mê nghề nghiệp nhiếp ảnh của mình, anh được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh thuyền và biển trong sương mù vào giữa tháng bảy để in trong bộ lịch năm sau. Anh muốn tìm tới những điều mưới lạ và đẹp đẽ cho nên Phùng đã tìm về vùng ven biển miền Trung nơi chiến trường xưa. Trước cái đẹp trước vẻ đẹpc của cuộc sống của bức tranh thiên nhiên, thì Phùng như đắm chìm vào không gian đó, không những thế anh cho rằng khi nhận ra khoảnh khắc đó anh là người hanbhj phúc nhất. Trong giờ phút thăng hoa cùng cái đẹp anh cảm nhận cái đẹp chính là đạo đức”. Là người yêu cái đẹp khi mà được chứng kiến được chạm vào vẻ đẹp ấy thì quả là một điều tuyệt vời khó có thể diễn tả nổiPhùng đã bỏ ra thời gian là một tuần lễ suy nghĩ tìm kiếm, phục kích mới chụp được một bức ảnh ưng ý, một cảnh đắt trời cho. Phùng không chỉ là người yêu cái đẹp mà thờ ơ với mọi thứ mà còn là người căm ghét áp bức bất công, dám đối diện với cái ác và hành động chống lại cái ác. Phùng đã phản xạ một cách tự nhiên như một người yêu sự công bằng au phút ngỡ ngàng thấy cái ác, diễn ra ngay trước mắt,. Anh vội vàng vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy đến ngăn cản người đàn ông vũ phu. Người đàn ông trong tác phẩm vốn dĩ là người hiền lành hơi cục tính nhưng bây giờ sau bao nhiêu chèo chống cuộc sống thì tính cách cũng đổ khác, ông trở nên đọc ác và bẳn tính hơn. ông không ngần ngại đánh lấy đánh để vào người phụ nữ của mình và là mẹ của những đứa trẻ của ông. Như thế trước cảnh bạo lực và độc ác của người đàn ông ta nhận ra rằng cuộc sống sẽ khiến cho con người ta thay đổi chứ đừng vội trách móc.Người đàn bà hàng chài không có tên,một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác.Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu,bao dung,giàu đức hi sinh.người đàn bà ấy thật đáng cảm thông trân trọng sâu sắc chính bởi vì đức bao dung chịu thương chịu khó của người.mặc dù phải sống với một người chồng vũ phu nhưng chính vì cũng hiểu nỗi khổ của chồng nên bà cũng cam chịu.Chồng của bà la 1 người đàn ông trước kia là một “anh con trai cục tính nhưng hiền lành” nay là một người chồng độc ác. Ông vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ,vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính những người thân của mình Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để đem lại cái phần thiện trong người đàn ông ấy? Trong một gia đình như gia đình vợ chồng làng chài,những đứa trẻ như chị Phác, cậu bé Phác lớn lên và sẽ thành người như thế nào. Một người nghệ sĩ chụp được bức ảnh tuyệt đẹp thì chính trong đó lại chứa những cái xấu ác, Một người đàn bà bị chồng đánh dã man nhưng không bao giờ muốn từ bỏ. Từ đó ta rút ra một triết lí nhân sinh sâu sắc rằng:” Cuộc sống không hề đơn giản mà phức tạp,không dễ gì khám phá.Người nghệ sĩ phải có cái nhìn nhiều chiều khi phản ánh hiện thực cuộc sống. Tác giả với lời kể tư nhiên cũng đang là người chứng kiến tất cả những cảnh đó cho nên những cảnh và cảm xúc tới với độc giả thật tự nhiên và đầy những nghệ thuật điển hình giúp tác phẩm ngày một thành công và giàu ý nghĩa hơn.Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người:một cách nhìn đa dạng nhiều chiều,phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
955
Phân tích tác phẩm Chiếu Cầu Hiền – Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn CHIẾU CẦU HIỀN (Cầu hiền chiếu) I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về thể loại “chiếu cầu hiền” Hiền là người có đức có tài. Hầu như triều đại mới thành lập nào cũng dùng hình thức xuống chiếu kêu gọi những người hiền tài ra làm việc. Ở thế kỉ XV, Lê Lợi sau khi đánh thắng quân Minh cũng có chiếu với nội dung cầu hiền. Một bài chiếu thường có nội dung trực tiếp kêu gọi những người có tài có đức ra cộng tác, hoặc kêu gọi tiến cử (hình thức giới thiệu người tài đức). Người viết chiếu thường dùng lòi lẽ khiêm tốn, khơi gợi tình cảm vì nước vì dân ở người được kêu gọi và những hứa hẹn về công danh, địa vị. 2.Hoàn cảnh lịch sử của Chiếu cầu hiền Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại Thừa Thiên – Huế vào ngày 25 tháng chạp (tháng 12) năm 1788, lấy niên hiệu Quang Trung, rồi tiến quân ra Bắc Hà đánh đuổi quân Thanh xâm lược. Trưa ngày 5 tháng giêng năm Kỉ Dậu (1789), đạo quân chiến thắng tiến vào Thăng Long. Tên vua bán nước Lê Chiêu Thống bỏ chạy cùng quân Thanh. Đất nước bước vào giai đoạn hoà bình, xây dựng. Trong rất nhiều công việc bề bộn của buổi đầu, có vấn đề về nhân tài cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước. Chúng ta cần ghi nhận một sự thật lịch sử là có không ít ngưòi Bắc Hà không cộng tác với Quang Trung, thậm chí còn chống lại triều đại mói. Cầu hiền là cách để Quang Trung bày tỏ tinh thần trân trọng tài năng, hợp tác đồng thời cũng nhằm bổ sung thêm lực lượng quan chức có học cho bộ máy chính quyền. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Kết cấu bài chiếu Một tác phẩm văn chính luận, với mục đích mời gọi các hiền sĩ cộng tác, phải được xây dựng trên một hệ thống kết cấu họp lí, lôgíc chặt chẽ. Phân tích tác phẩm loại này, cần chú ý đến các phần và chức năng của mỗi phần cũng như mối liên kết giữa chúng. Có thể chia bài chiếu thành 4 phần chính: –Phần 1 (từ đầu đến “ý trời sinh ra người hiền vậy”): trình bày vai trò và sứ mệnh của người hiền ở đời, đặc biệt nhấn mạnh việc người hiền phải phụng sự cho thiên tử (tức vua, đại diện cho xã hội) thì mới có ý nghĩa. Phần này chuẩn bị cơ sở lí luận cho sự kêu gọi người hiền ra làm việc cho triều đại mới. Phần này có ba câu với ba ý nhỏ, gắn kết chặt chẽ, lập luận tinh vi, dùng hình ảnh sắc sảo. Câu đầu tiên khẳng định vị trí của người hiền: đây là tinh hoa của xã hội, cũng như những vì sao sáng trên trời. Câu thứ hai: dùng hình tượng sao Bắc Đẩu để ví với vua (hình tượng sao Bắc Đẩu hay Bắc Thần để chỉ vua đã xuất hiện trong Luận ngũ) và các vì sao châu tuần về sao Bắc Đẩu để chỉ các hiền tài châu tuần quanh vua. Câu thứ ba tiếp tục triển khai hình tượng “sao sáng” đang dùng ở câu một và hai: nếu sao che mất ánh sáng thì mất vẻ đẹp, có tài mà không thi thố tài năng, không được sử dụng thì không đúng vói quy luật (ở đây, “ý trời” là quy luật). -Phần 3 (tiếp theo đến “vì mưu lợi mà phải bán rao”): trình bày cụ thể cách thức tiến cử và tự tiến cử của người hiền. Những ngưòi có tài năng học thuật, có mưu kế hay, có nghề nghiệp giỏi đều có thể tự tâu bày hay qua các quan văn võ tiến cử để xem xét sử dụng Triều đình khuyến khích mọi sáng kiến hay lòi hiến kế, không bắt tội nếu như lời nói có sai sót, sơ xuất. Bài chiếu cũng động viên những ngưòi tự tiến cử, “chớ hiềm vì mưu lợi mà phải bán rao”. Tóm lại, xét kết cấu bài chiếu, có thể nói đây là một bài luận thuyết mẫu mực: chặt chẽ, mạch lạc, nhất quán, có sức thuyết phục, kết hợp hài hoà thái độ trân trọng hiền tài và sự khiêm tốn chân thành của người viết chiếu ; tình và lí; những lời kêu gọi, khơi gợi trách nhiệm và những lời hứa hẹn về quyền lợi, đãi ngộ. 2.Đối tượng của bài chiếu Một bài văn luận thuyết bao giờ cũng nhằm đến một đối tượng nhất định. Đối tượng cần thuyết phục quy định bút pháp, phong cách của tác phẩm. Bài chiếu này nhằm gửi đến chủ yếu là các nho sĩ – trí thức (hiền tài tất nhiên phải có trí tuệ, học thức nhất định). Điều này có thể xác nhận qua các từ ngữ dùng trong bài chiếu như “kẻ sĩ”, “những ngưòi học rộng tài cao”, “ngưòi nào có tài năng học thuật”,… Do vậy, ngưòi viết đã sử dụng lối viết uyên bác, nhiều điển tích, điển cố lấy từ văn học Trung Quốc để đối tượng vốn là những người học rộng phải “tâm phục khẩu phục”. Những điển cố chỉ khó hiểu đối vói người không có vốn Hán học cần thiết, nhưng lại hết sức súc tích, dễ hiểu đối vói những người học rộng, tác giả không cần trình bày dài dòng mà chỉ dẫn điển tích, điển cố là đạt được điều cần trình bày. Chẳng hạn, chỉ cần nói “ra biển vào sông” là diễn đạt được ý “các ẩn sĩ mỗi ngưòi đi một phương”. Những điển cố rút từ nhiều nguồn khác nhau của văn học Trung Quốc cho thấy ngưòi có văn tài viết được tác phẩm như thế (ở đây là Ngô Thì Nhậm) đã được Quang Trung trọng dụng, tin cậy. Điều này cũng có thể cổ vũ, khích lệ các hiền tài khác ra cộng tác vói triều đại của vua Quang Trung. Như vậy, nghệ thuật sử dụng điển cố cũng là một điểm đặc sắc của bài chiếu. Trong bài chiếu, ta bắt gặp những từ ngữ gợi cảm giác về sự trang nghiêm của sự nghiệp mà những người hiền tài sẽ có thể tham dự. Đó là: “nền đại định”, “nghiệp trị bình”, “dải đất văn hiến rộng lớn”, “trong khoảng trời đất”, “hội gió mây”. Những từ này ngầm so sánh sự nghiệp xây dựng đất nước có tầm cỡ vũ trụ, nghĩa là ngầm đặt những bậc hiền tài vào tương quan vũ trụ, vì thế ẩn chứa một sắc thái tôn vinh, trân trọng đối với người hiền. Đó là một phương diện đáng chú ý của nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong tác phẩm. 4.Tình cảm, tư tưởng và nhân cách của vua Quang Trung Bài chiếu được Ngô Thì Nhậm viết thay vua Quang Trung. Tất nhiên văn tài của Ngô Thì Nhậm phải phục tùng tư tưởng chỉ đạo của vua Quang Trung. Vì thế, cần nói đến con người của Quang Trung thể hiện qua bài chiếu. Một con người khiêm tốn: “trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng”, “kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết”, “mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình” ; con người khiêm nhường này lo lắng cho đất nước, cho nhân dân: “Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến”, “Dân còn nhọc mệt chưa lại sức, mà đức hoá của trẫm chưa kịp nhuần thấm khắp nơi. Trẫm nơm nớp lo lắng”. Tư tưởng đúng đắn về sự nghiệp xây dựng đất nước là sự nghiệp chung của toàn dân được diễn đạt thành công bằng hình ảnh “Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một ngưòi không thể dựng nghiệp trị bình”. Qua một số từ ngữ, tác giả dựng lên chân đung của một ông vua có trí tuệ, có tấm lòng lo cho dân cho nước, một người chân thành và khiêm tốn. Một con người như vậy dễ dành được thiện cảm và sự ủng hộ của quần chúng. XEM THÊM PHÂN TÍCH VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Chiếu Cầu Hiền – Ngữ văn lớp 11
1,418
Phân tích tác phẩm Chiều hôm nhớ nhà Hướng dẫn ‘Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn, Gác mái ngư ông vê viễn phô’, Gõ sừng mục tủ lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn. Các từ Việt mà nữ sĩ dùng đẩy ta vào thế giới muôn đời. Trên đời chỉ có những ông chài, những thôn vắng, những kẻ chăn trâu, những bến xa, những người ở đài cao, những người khách trọ, cảnh lạnh ấm của cuộc đời. Làm gì có những ngư ông, những viễn phố, những mục tử, những cô thôn? Làm gì có Chương Đài, người lữ thứ, nỗi hàn ôn? Không những thế, các từ Hán Việt đều đặt vào vị trí quyết định giá trị câu thơ: câu cuối vẩn, để gây tiếng vang trong tâm hồn ta; cuối nhịp ở âm tiết 4 để bắt người dừng lại ở đấy (…). Nghệ thuật là sự lựa chọn cực kì công phu. Bằng cách này, Bà Huyện Thanh Quan kéo ta về cõi vĩnh viễn của ý niệm và nỗi u hoài của nhà thơ là nỗi u hoài của cái kiếp người không biết đến tháng, năm, thời đại. Không có sự cách biệt giữa tôi với anh. Cái hay của thơ không ở chữ, mà ở quan hệ. Cái thông báo bằng chữ là thông báo tẻ nhạt của cuộc đời thực tế. Phải tạo nên thông báo thứ hai bằng quan hệ. Cho nên không có chữ hay, dở, mà chỉ có nghệ sĩ tồi, chi thấy có chữ với chữ, và các nghệ sĩ lớn dùng chữ làm phương tiện để tạo nên các quan hệ kín đáo, thâm trầm, nhưng có thực ở con người.
Phân tích tác phẩm Chiều hôm nhớ nhà
308
Phân tích tác phẩm Chiều Tối – Ngữ văn 11 Hướng dẫn CHIỀU TỐI (Mộ) I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Xem bài “Vi hành”, mục 1.1. trong sách này. Ngoài ra, cần lưu ý đến sự kiện đặc biệt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có liên quan đến sự ra đòi của tập thơ Nhật kí trong tù: Sau 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, tháng 2-1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, sống và hoạt động chủ yếu ở huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngày 13 – 8 – 1942, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (lúc này lấy tên là Hồ Chí Minh) lên đường sang Trung Quốc với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam độc,lập đồng minh hội và Phân bộ quốc tế phản xâm lược của Việt Nam để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế. Sau nửa tháng đi bộ, ngày 27 – 8 – 1942, vừa tới Túc Vinh (thuộc huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây), Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ, bị giải đi nhiều nhà tù trong tỉnh, chịu bao khổ ải. Trong suốt 13 tháng ở tù, Ngưòi đã sáng tác được 134 bài thơ bằng chữ Hán, sau đó tập hợp thành một tập có tên là Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù). Chiều tối (Mộ) là bài thứ 31 của tập thơ, được Nguyễn Ái Quốc viết sau cuộc chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo vào một chiều cuối thu năm 1942. 2.Tri thức văn hoá Nhật kí trong tù trước hết là tập nhật kí bằng thơ, vừa mang đặc điểm của thể nhật kí vừa mang đặc trưng của thơ trữ tình. Tập thơ vừa ghi lại nhiều sự việc, cảnh tượng cụ thể hằng ngày trong tù cũng như trên đường chuyển lao (theo trình tự thòi gian 13 tháng) vừa là tâm sự của nhà thơ. Có nhiều bài tả thực, có nhiều bài bộc lộ cảm xúc, tâm trạng nhưng nội dung chính của tập Nhật kí là bức chân dung tinh thần tự hoạ của tác giả. Tập thơ được dịch ra tiếng Việt và in lần đầu vào năm 1960. Theo dõi tập thơ theo quá trình sáng tác thì thấy bốn tháng đầu, Hồ Chí Minh làm tới hơn một trăm bài, mười tháng sau chỉ làm thêm ba mươi bài. Điều đó cho thấy khi có điều kiện hoạt động chính trị, Người liền gác bút làm thơ. Đúng như bài Mở đầu tập nhật kí (Khai quyển) Người đã viết: Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây. Ngày dài ngâm ngợi cho khuây, Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do. Dẫu là như vậy nhưng thơ là tiếng nói tâm hồn con người, là tài trí của người cầm bút, cho nên dù làm thơ chỉ để tiêu khiển trong hoàn cảnh bất đắc dĩ, Nhật kí trong tù vẫn thể hiện tài thơ lớn, bản lĩnh cách mạng vĩ đại và tâm hồn cao đẹp của Hồ Chí Minh. 3.Tri thức về thể loại Cũng như đa số các bài thơ trong Nhật kí trong tù, Chiều tối được viết theo thể tuyệt cú cổ điển. Đây là một thể Đường luật có tính hàm súc cao, chứa đựng nội dung tư tưởng, tình cảm phong phú trong khuôn khổ câu chữ hạn định, vần luật nghiêm ngặt. Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh có màu sắc vừa cổ điển lại vừa hiện đại, đặc biệt các bài có đề tài thiên nhiên. Thơ trung đại dù viết về nội dung gì thì vẫn đặt nó trong khung cảnh cao sơn lưu thuỷ. Người xưa thường dễ có cảm hứng khi đứng trước thiên nhiên rộng lớn nhìn từ cao, từ xa nên đọc thơ thiên nhiên xưa ta thường bắt gặp những thi đề gọi là đãng sơn, đãng lâu,… Ở điểm nhìn ấy, nhà thơ không chú trọng mô tả hình xác của thiên nhiên mà thường chỉ chấm phá, cốt ghi lấy linh hồn của tạo vật. Màu sắc cổ điển của thơ xưa còn thể hiện ở hình tượng nhân vật trữ tình có phong thái ung dung tự tại, tâm hồn hoà hợp với thiên nhiên. Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh không hẳn là thơ cổ điển. Cảnh trong thơ xưa thường tĩnh hơn động ; cảnh trong thơ Hồ Chí Minh luôn vận động hướng về sự sống, ánh sáng. Nhân vật trữ tình trong thơ Hồ Chí Minh thường hiện ra trên nền bức tranh phong cảnh vói tư thế vừa ung dung tự tại vừa tự chủ hành động, vừa sống cao độ với từng giây từng phút. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM Bài thơ cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ – chiến sĩ Hồ Chí Minh. Bài thơ có bốn câu, hai câu trên tả cảnh thiên nhiên rừng núi, hai câu dướì nói đến lao động của con người xóm núi. -Câu 1 và 2 gợi tả bức tranh thiên nhiên vùng núi: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không; Trước hết, ta cần chú ý đến không gian nghệ thuật của bài thơ: không gian là cảnh núi rừng. Giữa rừng núi, người tù ngẩng đầu nhìn lên bầu trời cao, nhận ra một cánh chim mỏi mệt đang trở về rừng tìm nơi trú ngụ, một chòm mây lẻ loi, cô đơn (cổ vân) cũng đang trôi chầm chậm, lững thững dường như muốn tụ lại một chốn nào đó để nghỉ ngơi. Chim bay về tổ là dấu hiệu trời về chiều, sắp tối. Hình ảnh miêu tả không gian mà mang ý nghĩa thời gian. Ở đây, chim không bay mà “chim mỏi” – mỏi mệt sau một ngày bay đi kiếm ăn. Hình ảnh chim chiều cũng là tâm trạng của tác giả. Nhà thơ cũng mỏi mệt sau một ngày bị xiềng gông, bị áp giải từ nhà tù Tĩnh Tây đến nhà tù Thiên Bảo. Câu thứ hai còn bộc lộ rõ hơn tâm trạng của người tù: Chòm mây dường như cũng có linh hồn, cũng buồn, cũng có tâm trạng. Dĩ nhiên đó là tâm trạng của người tù toả vào cảnh vật. Một bức tranh buồn – cảnh buồn mà người cũng buồn. Điều này dễ hiểu. Trong cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trẳn Dân Tiên viết: “Mỗi buổi sáng, gà gáy đầu, người ta giải Cụ Hồ đi. Mỗi buổi chiều, khi chim về tổ, người ta dừng lại ở một địa phương nào đó, giam Cụ Hồ vào trong xà lim”. Không buồn sao được khi thân thể Người bị đày đoạ khổ ải ở nơi xa Tổ quốc, đồng bào lại không biết đến ngày nào mới được trả lại tự do. Thiên nhiên hoang vu, vắng lặng như nhân lên nỗi buồn chất chứa trong lòng tác giả. Hai câu thơ tuy cũng sử dụng hình ảnh ước lệ (chim, mây) thường thấy trong thơ trung đại nhưng rất tự nhiên, sống động. Nội dung xúc cảm của nhà thơ chiến sĩ làm cho câu thơ cổ điển đậm chất hiện đại. Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết, lò than đã rực hồng. Hai câu thơ cho thấy sự vận động của thời gian từ lúc chiều tối đến lúc tối hẳn. Trong nguyên tác chữ Hán không có chữ tối mà nói được tối. Hình ảnh cô gái xay ngô bên lò than rực hồng đến với nhà thơ một cách tự nhiên. Thực ra, rất có thể là than đó vẫn đỏ lửa nhưng vì trời đã tối hẳn nên nhìn mới thấy “rực hồng” là vì vậy. Thơ cổ điển dùng cái tĩnh để nói cái động. Thơ Hồ Chí Minh dùng cái sáng để nói cái tối, nghệ thuật là ở đó, tự nhiên như không hề sắp đặt. Ở cuối câu 3 và đầu câu 4 có sự lặp lại mấy chữ “ma bao túc”,“bao túc ma hoàn” vừa diễn tả được sự xoay tròn của cối xay ngô, vừa diễn tả nhịp thời gian trôi, trôi theo vòng xoay của công việc đến lúc “lô dĩ hồng”, lò đã rực hồng. Chữ hồng ở cuối bài thơ là một “nhãn tự” (mắt chữ). Trong bài Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã bình chữ hồng đó như sau: “Với chữ hồng đó, có ai còn cảm giác nặng nề mệt mỏi nhọc nhằn nữa đâu mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia”. Vậy là ở câu chuyển và câu hợp của bài tứ tuyệt này, cùng với sự vận động của thời gian là sự vận động của cảm xúc, của tư tưởng nhà thơ từ bóng tối ra ánh sáng, từ lạnh lẽo cô đơn đến ấm áp, từ buồn đến vui. Trên nền tối lạnh lẽo, âm u của vùng rừng núi ấy, con người trong lao động thành trung tâm toả ra ánh sáng và sự sống. Đây là một nét phong cách của thơ Hồ Chí Minh: tư tưởng và hình tượng nghệ thuật luôn luôn vận động hướng về sự sống và ánh sáng. Hồ Chí Minh – Tác giả, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr. 449, Nguyễn Như Ý (Chủ biên) tuyển chọn và giới thiệu. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM ĐÂY THÔN VĨ DẠ – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Chiều Tối – Ngữ văn 11
1,628
Phân tích tác phẩm Chiều Xuân -Ngữ văn 11 Hướng dẫn CHIỀU XUÂN I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời -Anh Thơ (1921 – 2005) tên khai sinh là Vương Kiều Ân, sinh tại thị trấn Ninh Giang (nay là thị xã Ninh Giang), tỉnh Hải Dương ; xuất thân trong một gia đình công chức, quê gốc ở thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Tuổi thơ của Anh Thơ gắn bó với thôn xóm, làng quê. Anh Thơ chịu ảnh hưởng của gia đình bên ngoại (ông ngoại là cụ Phó bảng Kiều Oánh Mậu) và lớn lên giữa lúc phong trào Thơ mới đang sôi nổi. Nữ sĩ đến với thơ như tìm con đường tự giải thoát khỏi cuộc sống tù túng, buồn tẻ và khẳng định giá trị của người phụ nữ trong xã hội đương thời. Anh Thơ có thơ đăng báo từ năm 1937, được giải khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn năm 1939. Bà có sở trường viết về cảnh sắc nông thôn, gọi được không khí và nhịp sống của đồng quê Bắc Bộ. Anh Thơ là nữ sĩ tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại. Bà từng là uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khoá I và II). Năm 2001, Anh Thơ được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật ; năm 2007, được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. -Bài thơ Chiều xuân được rút từ tập thơ đầu tay của Anh Thơ: tập Bức tranh quê (1941). Đúng như tên gọi Bức tranh quê, tập thơ là những bức tranh bằng thơ vẽ cảnh thôn quê thời đó, mỗi bài thường có ba khổ thơ, mười hai câu, mỗi câu tám chữ, có kết cấu khá giống nhau nhưng các chi tiết được quan sát đều hết sức sắc sảo, không trùng lặp. Tập thơ bắt đầu bằng các cảnh mùa xuân rồi lần lượt mùa hạ, mùa thu, mùa đông với cả các bài thơ tết. Bài Chiều xuân được in ở đầu tập Bức tranh quê. Đọc hồi kí Từ bến sông Thương (1986), người đọc mới biết Anh Thơ viết Bức tranh quê phải giấu bố, viết vụng trộm vì nếu bố bắt được là phải ăn đòn. Ngày đó, các cụ quan niệm con gái mà làm thơ dễ bị ế chồng, chỉ tổ viết thư cho giai. Thế mà Anh Thơ vẫn lén lút làm thơ, lén lút đưa thơ đi dự thi và có giải thưởng từ năm 1939 của Tự lực văn. đoàn, bước vào làng thơ từ đó. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM Chọn chiều xuân mưa bụi giăng giăng là Anh Thơ muốn có dịp nói đến đặc trưng của thời tiết nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Nông thôn Việt Nam thời đó còn yên tĩnh, có phần ngưng đọng. Trong chiều xuân mưa lạnh, nơi bến sông, trên con đê rìa làng càng tiêu điều, vắng vẻ. Ba đoạn thơ là ba cảnh chiều xuân mà mỗi cảnh đều là kết quả của sự quan sát đặc biệt tinh tế. Cảnh đầu tiên: Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng, Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi; Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời. Có thể đặt tên cho cảnh này là bến đò vắng chiều xuân, một khung cảnh dường như không âm thanh, không màu sắc tươi sáng: mưa bụi “đổ” rất êm, bến vắng, con đò “biếng lười nằm mặc nước sông trôi”, một quán nước không bóng người, chỉ có tiếng rơi rất nhỏ, rất nhẹ của những cánh hoa xoan tím nhưng nó cũng lẫn với màu mưa xuân và chìm trong cái vắng lặng của trời chiều. Cảnh hai là con đường đê chiều xuân: Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ, Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ; Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió, Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa. Vẫn làn mưa bụi ấy bay giăng giăng nhưng đã có sự hoạt động: thỉnh thoảng có đàn sáo “sà xuống mổ vu vơ”, mấy cánh bướm rập rờn “trôi trước gió”, có trâu bò thong thả “cúi ăn mưa”, gặm “cỏ non tràn biếc cỏ”. Đoạn thơ có nhiều nét thơ mộng, tươi mát chứng tỏ người viết có biệt tài quan sát, lại có hồn thơ nên cảnh là thực mà có chút gì đó kì ảo: “cỏ non tràn biếc cỏ”, “Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ” ; “Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa”. Cái cách tả cảnh như Anh Thơ đâu dễ có. Phải là người gắn bó sâu nặng với cảnh quê, phải có cái nhìn phát hiện được những điều mới mẻ, kì thú từ cảnh vật, con người bình thường của cuộc sống nơi thôn dã mới tạo nên cái lung linh, sinh động của cảm xúc như vậy. Đó là điều vô cùng đáng quý ở Anh Thơ. Cảnh thứ ba vẫn là cảnh thường thấy ở thôn quê: cảnh ngoài cánh đồng lúa đang mùa cào cỏ. Khổ thơ này rất dễ bằng phẳng nếu thiếu đi những sự đột biến. Đó là sự “vụt bay ra” của lũ cò con và cái “giật mình” ngơ ngác của “cô nàng yếm thắm”: Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng, Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra, Làm giật mình một cô nàng yếm thắm So với cảnh đầu của bài thơ, không gian ở khổ thơ này hoạt động hơn, ấm áp hơn, có bóng dáng của con người nên nó tràn trề sức sống: “lúa xanh rờn và ướt lặng” hứa hẹn một mùa vàng chứ không phải “chòm xoan hoa tím rụng”, lũ cò con nghịch ngợm “chốc chốc vụt bay ra” làm náo động sự tĩnh lặng bình yên, làm “giật mình một cô nàng yếm thắm”. Sự xuất hiện của con người lao động, một thôn nữ trẻ trung yếm thắm đang “cúi cuốc cào cỏ” cho ruộng lúa đang “sắp ra hoa’’ đem lại cảm giác ấm áp, điểm xuyết nét son tươi rói cho bức tranh chiều xuân nhạt nhoà ở hai cảnh trước đó bừng sáng. Thực ra đó là những cảnh bình thường ở làng quê xưa, quen thuộc hằng ngày, ai cũng thấy, nhưng qua mắt nhìn của Anh Thơ bỗng nhiên như mới lạ, đầy kì thú. Có lẽ sống ở quê từ tấm bé, những cảnh sắc quê hương thấm vào thi sĩ từ tuổi ấu thơ nên Anh Thơ mới diễn đạt cảnh quê một cách tinh tế và độc đáo như vậy. Nhà thơ cảm nhận được chất thơ, cái đẹp trong cuộc sống bình dị hằng ngày. Chiều xuân cũng như nhiều bài thơ khác trong Bức tranh quê không đặt vấn đề gì to tát, hệ trọng của cuộc sống, của thời đại. Bài thơ ghi nhận một sở thích của nhà thơ: viết về những điều trông thấy quanh mình. Chiều xuân hay ở sự quan sát cảnh quê và đương nhiên cũng ở cái tình của người viết với quê hương. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TƯƠNG TƯ – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Chiều Xuân -Ngữ văn 11
1,214
Đề bài: Phân tích tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ Bài làm Nguyễn Dữ, một học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thành tài, đỗ đạt, ông ra làm quan. Một năm sau, vì chán cảnh triều đình thối nát, ông đã lấy cớ phải nuôi mẹ già mà xin từ quan. Trong những ngày sống “cành điền viên vui tuế nguyệt", ông viết “Truyền kỳ mạn lục", một tác phẩm văn xuôi đầu tiên của văn học cổ Việt Nam gồm những truyện có những chi tiết li kì. Phần lớn ca ngợi phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam phải sống trong khuôn mẫu “tam tòng, tứ đức" của đạo đức phong kiến, mà "Chuyện người con gái Nam Xương” là một. Truyện kể lại Vũ Thị Thiết vâng lời cha mẹ làm vợ Trương Sinh, một người kém học, đất nước gặp cảnh đao binh nên Trương Sinh phải ra trận. Một tuần sau, Vũ Nương sinh con đầu lòng. Một mình chị chăm lo mẹ chồng, lo tang ma khi mẹ chồng chết, nuôi dạy con và lo công việc đồng áng. Giặc tan, Trương Sinh về, nghe lời con mà nghi ngờ lòng chung thuỷ của vợ. Vũ Nương không minh oan được nên đành trầm mình. Nàng được hoàng hậu ở động Rùa giúp đỡ. Sau đó, nàng gặp Phan Lang, người hàng xóm đã cứu hoàng hậu ở động Rùa. Phan Lang về kể lại cho Trương Sinh nghe. Trương Sinh hối cải lập đàn cầu xin theo lời của nàng. Nàng hiện lên gặp chồng con nhưng lại quay về sống ở động Rùa vì hai người ở hai thế giới khác biệt. Cũng như truyện cổ, những pho truyện của Trung Hoa có ảnh hưởng nhiều đến nhà Nho đương thời (thế kỉ XVI). “Thiếu phụ Nam Xương” cũ có hai tuyến nhân vật, có những hoàn cảnh điển hình, có người giàu kẻ nghèo ở trong xã hội đang thời loạn lạc, nhiễu nhương. Nhưng dù sống trong hoàn cảnh nào thì người tốt vẫn không hề thay đổi bản chất của mình, mà Vũ Thị Thiết là nhân vật tiêu biểu. Vũ Nương nhà nghèo nhưng “tư dung tốt đẹp", "thuỳ mị, nết na". Thời phong kiến, con gái "tại gia tòng phụ" để có “công, dung, ngôn, hạnh",Vũ Nương được như thế chứng tỏ nàng có sắc đẹp (dung) trời cho nhưng “thuỳ mị, nết na" thì ắt là do sự giáo dục của gia đình. Nàng nghèo nhưng không mất nề nếp gia phong. Trái lại “Trương Sinh tuy con nhà hào phú nhưng không có học ”. Một loạt các nhân vật tốt xuất thân từ những hoàn cảnh sống khác nhau như mẹ chồng, người láng giềng Phan Lang, hoàng hậu động Rùa Linh Phi… đủ chứng tỏ giàu nghèo tuy có ảnh hưởng đến hình thức sống nhưng khó thay đổi được bản chất của họ. “Nam Xương tử nữ truyện" không chỉ giới thiệu những nhân vật tốt, xấu ấy mà còn thông qua họ. Nguyễn Dữ muốn đề cao sự chung thuỷ và lòng bao dung luôn được nhân vật này thể hiện trong từng lời nói đến từng sự việc. Vâng lời cha mẹ chịu lấy Trương Sinh làm chồng, nàng đã trước sau như muốn làm người con hiếu thảo. Không chỉ hiếu thảo với cha mẹ ruột. Vũ Nương còn hiếu thảo với mẹ chồng. Nàng một minh đã lo toan đỡ đần mẹ chồng lúc ốm đau, rồi mẹ chồng chết lại lo chôn cất. Người phụ nữ có con mọn như nàng mà vẫn chu toàn những công việc nặng nhọc ấy thay chồng mà không tiếng kêu than thì quả thật là hiếm có. Mẹ chết, một mình ở vậy nuôi con chờ ngày chồng trở về thì bảo nàng không chung thuỷ sao cho được?! Chồng với vợ như bóng với hình, nàng đã mượn chiếc bóng cùa mình để an ủi con, muốn đứa con nhỏ dại luôn nghĩ rằng mình cũng là đứa trẻ có cha. Khi bị Trương Sinh nghi ngờ, nàng đã bao lần hỏi rõ dù bị dằn vặt, chửi mắng, đánh đập. Nàng đã từng tâm sự với chồng: “Thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu… Đâu có hư thân như lời chàng nói. Khi nhận thấy không thể nào xoá tan được mối nghi ngờ nhục nhã, hạ thấp phẩm giá một cách oan khốc, nàng đã quyết định tự trầm mình, mượn dòng nước trong rửa sạch những oan khiên. Xét cho cùng, kiên quyết báo toàn danh dự của con người cũng là lòng chung thuỷ sắt son! Lại nữa khi gặp được Phan Lang, người hàng xóm tốt bụng ở động Rùa, Vũ Nương vẫn không quên chồng khi nàng tâm sự cùng Phan Lang và nhờ Phan Lang về nói lại với Trương Sinh yêu cầu của nàng, điều đó vừa thể hiện sự chung thuỷ, vừa tỏ ra bao dung đối với Trương Sinh. Cả đến Phan Lang, hoàng hậu Linh Phi cũng đều là những người có lòng bao dung, chung thuỷ. Chỉ riêng có Trương Sinh là có lòng ích kỉ, hẹp hòi, tối dạ vì thuở nhỏ không lo chuyện sách đèn. Chỉ cần nghĩ đến công lao của vợ lúc chàng đang ở ngoài mặt trận, chỉ cần sống gần gũi với láng giềng, chỉ cần có lòng tin vào lòng chung thuỷ của vợ thì nghi vấn xuất phát từ lời nói của con nít “Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng…" đã được giãi bày để rồi vợ chồng lại sống trong cảnh đầm ấm, thương yêu. Một nội dung khác thật rõ ràng trong chuyện là ân oán phân minh. Vũ Nương là người phụ nữ, có lẽ mang đặc tính ấy trong cuộc sống. Vì lẽ đó, khi nàng không còn đủ kiên nhẫn chờ đợi chồng biểu lộ ấy thì nàng tự biểu lộ. Cái chết của nàng hàm chứa ý nghĩa ấy, làm cho Trương Sinh phải nhận ra ân tình nàng đã mang đến cho chàng và nỗi oan khiên mà nàng phải chịu. Trường hợp giữa hoàng hậu Linh Phi và Phan Lang cũng vậy. Hoàng hậu đã được Phan Lang cứu nên khi Phan Lang gặp nạn khi lên thuyền ra biển tránh sự truy đuổi của quân giặc thì đã được Linh Phi hết lòng cứu chữa, lại thết tiệc đãi, tặng thêm ngọc ngà… trước khi tiễn chân chàng trở về làng quê. Như thế, ngay truyện ngắn thuộc văn viết, dù là chữ Hán trong buổi sơ khai cũng đang mang hoàn cảnh điển hình, con người điển hình của đời thường vào tác phẩm; cũng có đầy đủ người giàu, kẻ nghèo, hỉ – nộ – ái – ố với kết thúc có hậu ỏ nội dung là ở hiền gặp lành. Truyện có rất nhiều chi tiết nhưng được liên kết bởi quan hệ nhân quả nên có kết cấu khá chặt chẽ. Mở đầu truyện, Nguyễn Dữ đã khéo léo giới thiệu Vũ Thị Thiết và Trương Sinh, hai nhân vật chính có hoàn cảnh, tính cách trái ngược nhau dế làm cơ sở cho việc khai thác nhân vật sau này. Tính tình, hoàn cảnh sống trái ngược nhau nhưng lại nên vợ nên chồng chỉ vì vâng lời cha mẹ. Quan hệ nhân quả thể hiện từ đầu. Từ đó, quan hệ nhân quả của hai nhân vật diễn ra một cách tự nhiên, hợp lý. Vì nước có loạn binh đao nên chẳng mới ra trận. Vì chàng vào nơi gió cát nên nàng phải nặng gánh giang san nhà chồng. Vì con thơ nói đến cha nên mẹ đã mượn cái bóng của mình thay thế; cho con đỡ hổ thẹn với bạn bè. Vì nghe lời con trẻ nên Trương Sinh mới nghi ngờ vợ… Chuỗi nguyên nhân và kết quả đầy kịch tính ấy dã dần đến đỉnh điểm là Vũ Nương quyết định trầm mình. Nếu chuyện kết thúc ở đây thì quả là bi đát, không có hậu. Có lẽ vì thế mà những chi tiết thần kỳ được thêm vào. Ấy là Phan Lang nằm mơ thấy con rùa xanh kêu cứu. Rồi Phan Lang nhớ lại và thả rùa để rồi sau đó là được rùa cứu mạng trả ân và gặp Vũ Nương ở động Rùa. Những chi tiết thần kỳ ấy ở vào thời buổi mà vua quan, thần dân đều tin vào sự hiện hữu của Trời, Thần, Quỷ, Ma… giống như trong những truyện cổ thì cũng là điều không mấy ngạc nhiên. Có những chi tiết đó, Vũ Nương mới gặp được chồng để giải mối oan khiên, nhục nhã nhất của đời làm vợ. Và dù ra đời sau ''Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn ba thế kỷ, “Nam Xương tử nữ truyện" vẫn còn những câu văn biền ngẫu cổ xưa. Dù có những hạn chế ấy nhưng truyện Người con gái Nam Xương" không những có giá trị đạo lý, lịch sử (phản ánh sự rối ren của xã hội phong kiến) mà cũng có giá trị nghệ thuật xây dựng truyện. Cho tới nay, “Người con gái Nam Xương" vẫn còn lôi cuốn người đọc. Giữa xã hội nam nữ bình quyền thì nó là cột mốc để so sánh vai trò của người phụ nữ trong văn học xưa và nay. Giữa xã hội suy đồi về đạo đức, nhất là với nữ giới thì nội dung truyện là một bài học đạo đức truyền thống tốt.
Phân tích tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
1,617
Phân tích tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương Hướng dẫn Chuyện người con gái Nam Xương (trích Truyền kì mạn lục) của Nguyễn Dữ Mở bài: Nguyễn Dữ là một cây bút khá bí ẩn trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XVI. Tương truyền ông là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống vào thế kỉ XVI, thời nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh quyền lực gây ra các cuộc nội chiến kéo dài. Nguyễn Dữ học rộng tài cao nhưng chỉ làm quan có một năm rồi về quê sống ẩn dật như nhiều trí thức đương thời khác. Trong thời gian về ở ẩn, ông đi khắp noi ghi chép chuyện kể trong dân gian và biên khảo thành tập Truyền kỳ mạn lục, một tác phẩm kinh điển của nền văn học trung đại Việt Nam. Thiên truyện Chuyện người con gí nam Xương trích trong tập truyền kì ấy. Thân bài: Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện viết bằng chữ Hán. Chuyện người con gái Nam Xương là thiên truyện thứ 16, kể về số phận oan nghiệt của nhân vật Vũ Nương, một người phụ nữ có nhan sắc, đức hạnh dưới chế độ phong kiến. Qua cuộc đời và số phận của nhân vật Vũ Nương, tác giả thầm kín thể hiện thái độ phê phán, tố cáo, căm phẫn đối với chế độ phong kiến thối nát đương thời đã chà đạp lên số phận con người, đẩy họ vào bước đường cùng không lói thoát. Tác giả tập trung khắc họa nhân vật Vũ Nương. Tuy không được điển hình hóa như các nhân vật khác trong văn học, thế nhưng, nhân vật Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc một hình ảnh khá toàn diện. Nhân vật Vũ Nương mang trong mình những phẩm chất cao quý của người phụ nữ chuẩn mực. Trước hết nàng là một người con gái thùy mị, nết na, hết mực hiền thục. Nàng có ý thức đúng mực trong việc cư xử, nhường nhịn, giữ gìn khuôn phép trong cuộc sống gia đình, không có lúc nào để chồng phải bất hòa. Ngay cả khi bị chồng nghi oan, dứt khoát đuổi đi, nàng vẫn nhẹ nhàng, một mực phân trần cho chồng hiểu, không một lời to tiếng. Ttrong bất kì hoàn cảnh nào, nàng cũng luôn là một người phụ nữ hiền thục, nết na, biết giữ gìn khuôn phép và tuân thủ các chuẩn mực hết sức nghiêm khắc. Vũ Nương là một người phụ nữ yêu chồng tha thiết và hết mực thủy chung. Khi tiễn chồng lên đường, nàng đã nói với chàng Trương những lời rất chân tình, âu yếm “chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Nàng bày tỏ sự khắc khoải nhớ nhung của mình, “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời lại ngập chìm trong lòng nàng”. Nàng một lòng chung thủy mong đợi chồng về trong cô đơn mòn mỏi, chưa một lần nghĩ đến chuyện bướn ong, thậm chí quên cả chuyện to son, điểm phấn. Trong trái tim nàng, chỉ có duy nhất hình ảnh người chồng và đứa con thơ. Ngoài ra, nàng còn là một người mẹ thương con, người vợ hết lòng vun đắp cho hạnh phúc gia đình. Nàng hết mực đảm tháo vác. Mọi chuyện trong gia đình chồng một tay nàng quán xuyến. Có thể khẳng định rằng, Vũ Nương là một mẫu mực của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, đẹp người, đẹp nết. Nàng là hiện thân cho người phụ nữ Việt Nam với nhiều phầm chất đáng trân trọng, thái độ nâng niu người phụ nữ – những con người bị xã hội phong kiến chà đạp. Đó chính là biểu hiện của giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm này. Cuộc đời Vũ Nương là một cuộc đời bi kịch, hết sức đau thương. Một người con gái xinh đẹp, bất hạnh nhưng lại có số phận vô cùng oan nghiêt. Tính cách nàng hiền thục, nhân phẩm nàng cao quý nhưng lại lấy phải một người chồng thất học, đa nghi, thiếu hiểu biết, cư xử một cách hồ đồ. Bởi thế, nàng không những không được hưởng hạnh phúc gia đình mà còn rơi vào một mối oan tình khó gỡ. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của nàng một phần là do người chồng ghen tuông mù quáng. Nhưng một phần là do sự tiếp tay của xã hội phong kiến chuyên quyền, độc đoán vốn rất hà khác đối với người phụ nữ. Vũ Nương chính là nạn nhân trực tiếp của chế độ nam quyền, một xã hội mà hôn nhân không có tình yêu và tự do; là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa gây ra nhiều đau thương mất mát cho con người. Chiến tranh đã gây nên cuocj chia biệt, đồng thời tạo điều kiện cho lòng ghen tuông mù quáng vốn là bản tính của trương Sinh có dịp dồng nén và bùng phát. Tuy có những phẩm chất tâm hồn đáng quý nhưng Vũ Nương đã phải chịu một số phận cay đắng,oan nghiệt. Nghịch lí ấy tự nó đã là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bấtcông phi lí đương thời chà đạp lên hạnh phúc của con người. Xây dựng hình tượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý của người phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bất hạnh của họvà cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chà đạp, rẻ rúng con người, đặc biệt là người phụ nữ. Tấm lòng yêu thương con người của Nguyễn Dữ chính là niềm cảm thông sâu sắc đối với nhân vật Vũ Nương. Dù rằng, Nguyễn Dữ đã tưởng tượng ra những ngày sung sướng của Vũ Nương nơi thuỷ cung để xoa dịu bớt nỗi đau trong lòng người đọc nhưng trước câu chuyện vẫn là số phận bi kịch đầy nước mắt của người thiếu phụ năm xưa. Đó chính là giá trị hiện thực của tác phẩm. Nhân vật Trương Sinh tuy không được đặc tả nhưng cũng hiện lên với những đặc điểm đáng chú ý. Trước hết, Trương Sinh hiện ra với lí lịch là con nhà giàu nhưng thất học, lại có tính đa nghi và phòng ngừa quá mức. Nghĩa là, ở nhân vật này không có một điểm tốt nào nhưng không ai trách móc gì. Đó là một dụng ý sâu sắc của Nguyễn Dữ. Bản chất của Trương Sinh hay cũng chính là cái bản chất của xã hội phong kiến nam quyền đã tự cho mình những cái quyền lực vô hạn. Với quyền hạn ấy, xã hội nam quyền đã đổ lên số phận người phụ nữ biết bao oan nghiệt, khổ đau và bất hạnh, biến họ thành nô lệ. Ở thiên truyện này, Nguyễn Dữ đã rất thành công khi xây dựng một tình huống truyện đặc sắc, hấp dẫn. Motip chiến tranh li loạn, gia đình tan vỡ không có gì mới nhưng các giá trị về nhân sinh là hoàn toàn mới mẻ. Cách miêu tả nhân vật của nhà văn tuy còn sơ lược nhưng cũng đủ sức hấp dẫn, sinh động, hợp lý. Nhà văn cũng tạo dựng các tình tiết kì ảo làm tăng thêm tính li kì và lôi cuốn người đọc, đồng thời qua đó thể hiện tình yêu thương vô hạn và sự cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh, đau thương của ocn người. Lại thêm sự kết hợp tự sự với trữ tình khiến cho câu chuyện vừa mạch lạc, rõ ràng vừa tha thiết bi ai. Kết bài: Chuyện người con gái Nam Xương là một thành công lớn của Nguyễn Dữ và của nền văn học trung đại. Tác phẩm đánh dấu sự chuyển hướng mạnh mẽ từ chuyện kể dân gian sang sáng tác văn học, khởi đầu cho dòng văn học tự truyện và chuyện kể nở rộ sau này.
Phân tích tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương
1,398
Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao lớp 11 Hướng dẫn Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao lớp 11 Bài làm Trong những năm 40 của thế kỉ, cuộc sống của nhân dân ta rất khó khăn, bị bóc lột khổ cực, hay chính họ là những nô lệ cho tầng lớp quan lại, bí bách không lối thoát. Trước hiện thực ấy, đã có rất nhiều nhà văn đứng lên bênh vực cho lẽ phải, phê phán hiện thực bằng ngòi bút của mình. Trong các tác giả đó, phải kể đến Nam Cao, ông nổi bật với những trang viết khai phá sâu sắc bi kịch của những kiếp người khổ đau trong bóng tối của xã hội. Chí Phèo là một trong những tác phẩm được coi là kiệt tác của ông về tài năng cũng như trong phong cách nghệ thuật. Truyện ngắn Chí phèo đã được Nam Cao tái hiện lại hình ảnh nông thôn của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ (trước Cách mạng tháng Tám). Đó là một xã hội được đặc trưng bởi một bên là bộ mặt của Bá Kiến, Lí Cường, Đội Tảo…là một đội ngũ cường hào, đại chủ thống trị, bóc lột sức lao động của nhân dân, nhưng cũng chính trong nội bộ này cũng có sự mâu thuẫn. Bọn chúng như một đàn cá tranh mồi. Mồi thì ngon mà bè nào cũng muốn ăn, do đó, chúng luôn rình cơ hội để thống trị lẫn nhau, muốn cho nhau lụi bại để cưỡi đầu cưỡi cổ lên nhau. Mâu thuẫn khá phổ biến, gay gắt, có liên quan đến những số phận Binh Chức, Năm Thọ và đặc biệt là Chí Phèo. Tầng lớp thứ hai là những người như Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức họ lại hợp thành một nhóm riêng. Họ là những người dân thường, những người lao động nghèo, nhưng đã bị manh hóa, bị mua chuộc và trở thành tay sai cho bọn địa chủ thống trị, những tên cường hào, lí dịch và gây nên không biết bao nhiêu tội vạ cho những người lương thiện. Dưới ngòi bút của Nam Cao, bức tranh xã hội hiện lên đầy kịch tính, chất chứa những xung đột bùng nổ. Chính sự ý thức được bản thân mình bị tha hóa, muốn quay về làm người lương thiện nhưng không ai chấp nhận hắn, đã dẫn đến bi kịch tiếp nối trong cuộc đời hắn. Chí Phèo tuy đã bị tha hóa từ lâu, nhưng trước khi gặp Nở, hắn sống triền miên trong men rượu và chưa thấy mình khổ, tức là chưa thực sự có bi kịch nội tâm. Cho đến lúc bị ốm, Chí gặp Nở, một người phụ nữ xấu đến “ma chê quỷ hờn” đã giúp hắn thức tỉnh ra được tình trạng tha hóa của mình và bắt đầu diễn ra trong đời sống nội tâm của Chí. Chí Phèo đã ý thức được kẻ gây ra cuộc đời đau khổ, biến hắn thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại chính là Bá Kiến, nhân vật tiêu biểu cho giai cấp thống trị. Bá Kiến đã được Nam Cao vạch trần bộ mặt xấu xa, tàn ác của hắn. Đây là một tên cáo già cường hào trong “nghề” thống trị dân đen. Trông thì có vẻ cao sang, ăn nói hiểu đời, hiểu người, giúp đỡ những người khó khăn trong lúc hoạn nạn. Nhưng chính hắn lại đẩy những người tốt như Chí đến con đường tội ác, bản chất của hắn thật ghê tởm. Vì thế, Chí đã đến để đòi lại công bằng với Bá Kiến trong những cơn say, nhưng lại là lúc tỉnh nhất trong đời của Chí. Nhưng vì quá nhỏ bé trước thế lực thống trị độc ác nên khiến Chí đau khổ lại nối tiếp đau khổ. Kết thúc câu chuyện, không chỉ dừng ở đấy, tuy Bá Kiến chết nhưng vẫn còn con cái, các thế lực cường hào lại tiếp tục bóc lột dân đen, còn Thị nhìn xuống cái bụng của mình và cái lò gạch bỏ hoang. Người dân hiểu rằng “Tre già măng mọc”. Và như vậy, cái chết của Chí và Bá Kiến tố cáo lên thực cảnh xã hội nhưng chưa giải quyết được thực cảnh ấy. Nam Cao là người có sự thông cảm, sẻ chia sâu sắc với nông dân mới hiểu được và khắc họa lên bức tranh xã hội như vậy. Tác giả đã xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo không chỉ là người đại diện cho tầng lớp bị tha hóa, mà đó còn là tiếng kêu cứu thiết tha của những con người bất hạnh. Hãy bảo vệ và đấu tranh để bảo vệ quyền lợi, quyền sống, quyền làm người của họ. Qua đây, ta có thể thấy được giá trị nhân đạo sâu sắc được thể hiện trong truyện ngắn Chí Phèo.
Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao lớp 11
831
Phân tích tác phẩm Chí Phèo – Ngữ văn 11 Hướng dẫn CHÍ PHÈO I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và nhan đề tác phẩm -Về tác giả Nam Cao, đã có bài học dành riêng trong Ngữ văn 11, tập một. -Về nhan đề tác phẩm, theo nhà văn Nguyên Hồng trong cuốn Sức sống của ngòi bút (NXB Văn học, 1963), Chí Phèo là một truyện trong tập truyện đầu tay của Nam Cao vào khoảng những năm 1940 – 1941 có tên là Cái lò gạch cũ. Nam Cao dùng tên truyện làm tên cho cả tập. Bản thảo tập truyện mới đầu bị vứt lay lắt ở một nhà xuất bản nọ, bỗng một hôm, có người đọc và tri hô lên về những cái lạ, cái hay trong tác phẩm. Thế là tác phẩm được in với cái tên mới: Đôi lứa xứng đôi (1941). Đến khi in lại trong tập Luống cày (Hội Văn hoá cứu quốc xuất bản, Hà Nội, 1946), tác giả đặt lại tên truyện là Chí Phèo. Về cái tên gọi Đôi lứa xứng đôi để gây sự tò mò, kích thích thị hiếu của một bộ phận công chúng thời bấy giờ thì khỏi cần nói nữa. Trở lại cái tên ban đầu của thiên truyện – Cái lò gạch cũ, có lẽ tác giả muốri tập trung làm rõ sự luẩn quẩn, bế tắc của người nông dân nghèo trước Cách mạng chăng. Cái tên này gắn với hình ảnh về sự ra đời của Chí Phèo (bố) ở đầu truyện và hình ảnh cũng chiếc lò gạch ấy thoáng hiện trong ý nghĩ thị Nở cùng vói một Chí Phèo (con) sẽ xuất hiện trong tương lai. Với việc đặt lại tên cho truyện ngắn của mình là Chí Phèo, mục đích của Nam Cao là nhằm tố cáo cái xã hội thực dân nửa phong kiến bạo tàn đã cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính của người nông dân lương thiện mà điển hình là Chí Phèo ; đồng thời, qua đó nhà văn thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của mình trong việc phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của những con ngưòi ấy ngay khi tưởng như họ đã biến thành quỷ dữ. Dùng tên nhân vật chính hội tụ những giá trị đặc sắc của tác phẩm đặt tên cho thiên truyện được coi là kiệt tác này, điều đó chứng tỏ Nam Cao là một nhà văn thâm trầm sâu sắc. 2.Tri thức về lí luận văn học -Chí Phèo thuộc thể loại truyện ngắn nhưng có dung lượng của tiểu thuyết. Tác phẩm này đã đưa Nam Cao lên vị trí là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc nhất trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Một trong những thành công của truyện là đã xây dựng thành công những nhân vật điển hình như Chí Phèo, bá Kiến. Trước khi phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo, cần nắm được khái niệm nhân vật điển hình. Nhân vật điển hình là hình tượng nhân vật được sáng tạo theo phương pháp điển hình hoá, vừa có cá tính cụ thể, sắc nét vừa phản ánh được một số mặt bản chất của đời sống xã hội. Các nhân vật thành công trong các sáng tác hư cấu (kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn,…) đều có sự hoà quyện giữa tính phổ biến và tính đặc thù, thông qua cái cá biệt để phản ánh cái chung. Các nhân vật điển hình như thế đều có cội nguồn trong đời sống xã hội nhưng chúng lại có sức khái quát cao, tập trung, nổi bật hơn ; có ý nghĩa xã hội phong phú, sâu sắc hơn; đồng thời hấp dẫn và thú vị hơn. -Quan điểm văn học hiện thực chủ nghĩa của Nam Cao: Trào lưu văn học hiện thực Việt Nam hình thành và phát triển trong khoảng nửa đầu thế kỉ XX có khuynh hướng miêu tả chân thực đời sống, phơi bày thực trạng của xã hội và đi sâu phản ánh tình cảnh khốn khổ của quần chúng. Trong những năm 1940 – 1945, tình hình xã hội hết sức đen tối, văn học hiện thực gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn tồn tại và phát triển. Trong gọng kìm xiết chặt của chính quyền thuộc địa, văn học hiện thực những năm đó không thể đề cập đến những vấn đề xã hội thiết yếu như những năm trước nhưng lại có những thành công nhất định: Các nhà văn cố gắng bám sát đời sống của những con người bình thường, nhỏ bé, nhiều tác phẩm có sức tố cáo có chiều sâu ; Yếu tố trữ tình thấm đượm và sự suy nghĩ trở đi trở lại luôn đan xen vào dòng trần thuật khiến cho ý nghĩa tác phẩm nhiều khi vượt khỏi phạm vi hạn hẹp của đề tài, nhiều tác phẩm có ý vị đậm đà, tính triết lí quyện với chất trữ tình thấm thía ; Tâm lí nhân vật được thể hiện sâu sắc hơn ; Ngôn ngữ cũng sinh động, gần với đời sống hằng ngày hơn. + Nghệ thuật hiện thực phải phản ánh chân thật cuộc sống trên lập trường của chủ nghĩa nhân đạo (Tráng sáng). + Văn học hiện thực không chỉ mô tả cuộc sống hiện thực mà còn phải phân tích, giải thích cuộc sống theo quy luật: hoàn cảnh xã hội quyết định tính cách, tâm lí con người (Tư cách mõ). + Nhà văn phải nhìn người bằng đôi mắt của tình thương mới thấu hiểu được bản chất tốt đẹp của con người dù bề ngoài họ có vệ cục cằn, thô lỗ, xấu xí (Đôi mắt, Nước mắt). + Coi trọng vai trò nhà văn với những suy tư về cuộc sống xuất phát từ những tư tưởng cao cả. (Ở Nam Cao, đề tài thường hẹp nhưng tư tưởng thì rộng lớn. Ông có biệt tài từ những “câu chuyện chẳng có gì để nói những cái sâu sắc”. Nhỏ nhen là một ví dụ.) II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1. Đặc điểm về nội dung a. Truyện ngắn Chí Phèo phản ánh cuộc sống cùng quẫn, đen tối của ngưòi nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 -Làng Vũ Đại là một hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Đây là một làng khép kín gần như tự trị, “xa phủ, xa tỉnh”, ngưng đọng, không vận động, tồn tại trong thế gầm ghè giữa các phe cánh có máu mặt với nhau, trong sự lộng hành bạo ngược của bọn thống trị đối với tầng lớp bị trị. Thành phần cư dân trong làng phức tạp, nhiều dạng, loại được Nam Cao miêu tả trong tác phẩm sinh động đến mức người đọc tưởng đấy là làng Đại Hoàng quê hương nhà văn. Cao nhất là cụ tiên chỉ bá Kiến “bốn đời làm tổng lí” uy thế sừng sững. Tranh giành địa vị, kết bè kết đảng thành phe phái này khác còn có cánh ông đội Tảo, cánh ông tư Đạm, cánh ông bát Tùng. Thủ đoạn chủ yếu của bọn thống trị làng Vũ Đại là dùng quyền lực và tiền tài để bao chiếm công điền, công thổ ; cho vay nặng lãi; bóc lột bằng bắt nợ, bằng sưu thuế; bỏ rượu lậu vu oan cho người vô tội; trực tiếp đánh đập, đàn áp nông dân Bá Kiến khôn lõi đời, chèo chống đủ kiểu nhưng cuối cùng vẫn bị chí Phèo đâm chết. Rõ ràng, bọn địa chủ cường hào ở Chí Phèo không còn đè nén một chiều như Nghị Quế (Tắt đèn), Nghị Lại (Bước đường cùng) trước kia nữa. Bọn cường hào lí dịch càng giàu có bao nhiêu thì người nông dân lao động càng cơ cực bấy nhiêu. Họ phải nộp tô nặng nề, phu phen tạp dịch. Nhiều người phải tha phương cầu thực. Một số nông dân bị đẩy vào con đường lưu manh hoá như Chí Phèo, binh Chức, năm Thọ,… mà Chí Phèo là một điển hình. Như vậy, qua những chi tiết chọn lọc kĩ càng, sắp xếp họp lí rải rác trong tác phẩm, Nam Cao đã xây dựng được một không gian nghệ thuật vừa cụ thể vừa có tính khái quát, một làng Vũ Đại sống động, ngột ngạt, đen tối – một hoàn cảnh điển hình theo đúng nghĩa của nó. Rõ ràng làng Vũ Đại không thể là một môi trường thuận lợi cho cái thiện, cái tốt hình thành và phát triển. -Chí Phèo là điển hình của một bộ phận những người nông dân Việt Nam bị lưu manh hoá và roi vào bi kịch bị xã hội từ chối quyền làm người lương thiện. + Quá trình Chí Phèo bị lưu manh hoá và trở thành công cụ nguy hiểm trong tay bọn cường hào ác bá: Lần theo mạch truyện, ta thấy, ban đầu Chí là một đứa trẻ bị bỏ rơi bên cái lò gạch bỏ không, “trần truồng và xám ngắt trong một váy đụp”, sau đó, chuyền tay cho ngưòi làng nuôi. Lớn lên, làm canh điền cho nhà lí Kiến, là “một thằng hiền lành như đất” (lời lí Kiến). Cũng như bao người nông dân khác, Chí mơ ước được sống và lao động yên lành trong một hoàn cảnh bình thường: “…ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải… bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời Chí (Nam Cao không miêu tả theo trình tự, chỉ điểm xuyết đan xen) là việc Chí bị lí Kiến cho người bắt giải lên huyện và ở tù. Sau khi ở tù bảy, tám năm, Chí thành con người khác hẳn – dị dạng về hình hài, không còn ý thức về phẩm giá con người. + Bi kịch Chí Phèo bị từ chối quyền làm người dẫn đến cái chết bi thảm: Bước ngoặt thứ hai trong cuộc đời Chí là việc Chí gặp thị Nở. Tình yêu đơn giản đến thô lỗ nhưng chân thật của người đàn bà xấu xí này đã đánh thức bản chất lương thiện của anh tá điền bị vùi lấp từ lâu trong đáy sâu tâm hồn. Anh nông dân biến chất hung bạo kia bỗng thức tỉnh với bao nỗi khát khao được làm người lương thiện, được có một tổ ấm gia đình bình dị. Nhưng bi kịch của Chí Phèo lại bắt đầu chính từ đó, ở cái ước mơ lương thiện của anh ta. Ước mơ nào có cao xa gì cho cam. Vậy mà cũng không thể được. Thị Nở tuyệt tình, với Chí điều đó có nghĩa là đường dẫn để anh ta trở về với cuộc đời thế là vĩnh viễn đứt đoạn. “Xã hội độc ác đã đánh dấu lên mặt anh ta bằng những vết sẹo ngang dọc và đã tạo cho anh ta một cái lí lịch đầy án tích”. Trong cơn quẫn trí và tuyệt vọng với sự mơ hồ của tiềm thức, Chí Phèo lại uống rượu và xách dao đi đâm chết bá Kiến rồi tự sát. Hành động này dường như chưa hẳn là kết quả của một quá trình nhận thức giai cấp tỉnh táo mà chỉ như là sự giải toả bế tắc của một chuỗi những diễn biến tâm lí bi phẫn, từ lâu, rất sâu trong tiềm thức, bất ngờ ; không dễ giải thích ở một kẻ cố cùng liều thân như Chí. Nam Cao đã miêu tả nó với trình độ bậc thầy, tự nhiên và lôgíc. Chí Phèo vừa là sản phẩm vừa là nạn nhân của cái làng Vũ Đại ngột ngạt, đen tối thời xưa. Đó là một nhân vật điển hình trong một hoàn cảnh điển hình theo nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực. Nhưng giá trị độc đáo của tác phẩm không chỉ ở đó. Xây dựng nhân vật điển hình Chí Phèo – một nông dân bị lưu manh hoá, với tư cách là cây bút hiện thực nghiêm ngặt, Nam Cao đã thể hiện một cái nhìn nhân đạo bằng cách đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của những con ngưòi khốn khổ như Chí Phèo ngay khi tựởng như họ đã bị xã hội tàn bạo cướp mất cả hình dạng và tâm hồn. b.Truyện ngắn Chí Phèo cho thấy tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nam Cao Cái đáng quý nhất của ngòi bút Nam Cao là niềm tin sâu sắc của nhà văn vào bản chất tốt đẹp của người dân lương thiện. Xét toàn bộ đường đời hơn bốn chục năm ngắn ngủi của Chí, như đã nói ở phần trên, có hai sự việc mang tính bước ngoặt: lần thứ nhất – đi tù, lần thứ hai – gặp thị Nở. Sự việc lần thứ hai được nhà văn dày công chuẩn bị, khai thác triệt để (riêng số trang cho việc đó cũng đến khoảng một phần ba truyện ngắn). Nếu như quan hệ bá Kiến – Chí Phèo là mối quan hệ để Nam Cao trực tiếp thể hiện bi kịch bị lưu manh hoá và gián tiếp bộc lộ bi kịch bị từ chối quyền làm người lương thiện của Chí Phèo thì quan hệ thị Nở – Chí Phèo là quan hệ trực tiếp thể hiện phần nhân tính chìm khuất cũng như bi kịch bị từ chối quyền làm người của Chí. Sự xuất hiện của thị Nở có ý nghĩa đặc biệt trong số phận, tính cách của Chí Phèo (duy chỉ vẻn vẹn trong năm ngày cuối cuộc đời Chí), giúp cho Nam Cao khắc hoạ nổi bật và tự nhiên những khám phá bất ngờ của ông trong tính cách, số phận Chí Phèo. Dưới con mắt dân làng Vũ Đại, thị Nở vừa xấu, vừa dở hơi, vừa nghèo ; nhưng với Chí Phèo, thị là người duy nhất trong làng này không quay lưng lại với anh ta. Hơn thế, thị Nở đã mang quyền lực của thiên tạo đánh thức toàn bộ tâm hồn Chí, thổi vào đó những đốm lửa ấm áp của tình đời, tình người và trên thực tế, đã kéo Chí ra khỏi cõi say bất tận, rồ dại. Gặp thị Nở, Chí Phèo mới hay “cháo hành ăn rất ngon”. Trong con người Chí đã xuất hiện ý nghĩ xa xôi đến một tổ ấm, thứ hạnh phúc bình dị theo kiểu con ngưòi. Chí biết khóc khi ăn cháo hành – cái hạnh phúc lần đầu tiên trong đời được hưởng. Chí biết cả giận hờn khi phải chờ đợi quá lâu… Đi theo tiếng gọi cảm động của tình yêu, Chí như đang tập những bước đi non nót, chập chững đầu tiên về với cõi người thường. Nhưng rồi, như ta đã biết, thị Nở cũng là nỗi đau sâu thẳm của Chí Phèo, tô đậm cái bi đát, hẩm hiu trong số phận nhân vật Chí Phèo. 2.Đặc điểm về nghệ thuật -Truyện ngắn Chí Phèo ghi nhận thành công của Nam Cao trước hết trong việc xây dựng nhân vật, tiêu biểu nhất phải kể đến nhân vật Chí Phèo (đã gợi ý phân tích ở phần trên) và bá Kiến. Đó là những nhân vật điển hình sắc nét, sinh động, có cá tính độc đáo và có tính khái quát, tiêu biểu, gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Khi xây dựng nhũng nhân vật điển hình đó, Nam Cao đã phát huy cao độ sở trường khám phá và miêu tả những trạng thái tâm lí phức tạp của nhân vật. (Chẳng hạn, tâm lí của Chí Phèo sau đêm gặp thị Nở và tỉnh giấc.) -Thứ hai, phải kể đến kết cấu truyện. Chí Phèo có lối kết cấu mới mẻ kiểu vòng tròn dường như khá tự do thoải mái trong việc trần thuật. Hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang, nơi Chí Phèo bị bỏ rơi ở đầu truyện, lại trở lại ở phần kết thúc văn bản truyện, có sức gợi rất lớn. Nó khiến người đọc nghĩ rằng chừng nào làng Vũ Đại còn thì hiện tượng Chí Phèo không thể mất đi… ; muốn cứu lấy những con người lương thiện để họ tránh được sự tha hoá cần từ việc thay đổi hoàn cảnh sống phi nhân tính đó trước. Nếu căn cứ vào hình tượng nhân vật Chí Phèo, ta có thể có một cốt truyện để kể lại theo trình tự thời gian cuộc đời hơn 40 năm của nhân vật – từ khi là một đứa bé đỏ hỏn bị bỏ rơi đến khi cầm dao đâm bá Kiến và tự kết liễu đời mình. Nhưng về mặt văn bản truyện, có thể tóm tắt trình tự trần thuật của Nam Cao như sau: + Chí Phèo say rượu “vừa đi vừa chửi” ; + Chí Phèo ra tù, hôm sau đã đến nhà bá Kiến rạch mặt ăn vạ ; + Chí Phèo sực tỉnh, được thị Nở chăm sóc ; + Thị Nở chối bỏ Chí Phèo ; + Chí Phèo tuyệt vọng cầm dao giết bá Kiến và tự sát ; + Cảnh làng Vũ Đại xôn xao về hai cái chết và hình ảnh cái lò gạch thoáng hiện trong ý nghĩ thị Nở. Như vậy, các thành phần lời trần thuật được xáo trộn, lắp ghép, đan xen không theo tuyến tính. Điều này tạo cho câu chuyện có sức hấp dẫn đặc biệt, gây sự chú ý và hứng thú theo dõi liên tục cho độc giả. Ví dụ, truyện ngắn mở đầu bằng tiếng chửi rất bất ngờ. Đó là tiếng chửi của một kẻ say nhưng cũng vẫn còn tỉnh. Đối tượng chửi vừa mơ hồ lại vừa xác định: cái xã hội đã đẻ ra kiếp sống Chí Phèo. Giới thiệu nhân vật Chí Phèo kiểu như vậy rất ấn tượng, kích thích trí tò mò, sự hứng thú theo dõi câu chuyện. -Thứ ba, ngôn ngữ truyện rất sống động, có sự đan xen giữa lời nhân vật và lời người kể chuyện, cũng có khi vừa là lời nhân vật vừa là lời người trần thuật (Ví dụ đoạn thị Nở trút giận lên Chí Phèo). Điều này có tác dụng rất lớn trong việc miêu tả diễn biến tâm lí hết sức tinh tế và phức tạp của nhân vật, nhờ đó mà chân dung nhân vật hiện lên sinh động và chân thực. Đây là một cách tân của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại mà không phải nhà văn nào cùng thòi với Nam Cao đã có thể sử dụng được thành công. Riêng điều đó thôi cũng đã là một đóng góp không nhỏ của Nam Cao cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nửa đầu thế kỉ XX. Vói một số đặc sắc nghệ thuật vừa nêu ở trên, truyện ngắn Chí Phèo đúng là một phát hiện về nội dung, một khám phá về nghệ thuật, xứng đáng là một kiệt tác, như nhiều ngưòi đã khẳng định. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HẠNH PHÚC CỦA TANG GIA- NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Chí Phèo – Ngữ văn 11
3,259
Phân tích tác phẩm Chạy Giặc – Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn Đọc thêm CHẠY GIẶC I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ Bài thơ Chạy giặc thuộc giai đoạn sáng tác thứ hai của Nguyễn Đình Chiểu. Giai đoạn sáng tác thứ hai của ông tập trung vào đề tài đánh Pháp xâm lược. Các sáng tác của ông hầu hết gắn vói các sự kiện lớn của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Bộ quê hương ông. Thơ ông vì bám sát thực tế sinh động nên đề tài và cảm hứng là rất mới so với thơ ca truyền thống. Chất kí sự, chất thông tấn báo chí rất đậm nét trong sáng tác thuộc giai đoạn hai này. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Kết cấu bài thơ Bài thơ này có nét tương đồng với bài Vịnh khoa thi Hương. Sáu câu đầu là tả cảnh, kể sự việc để hai câu cuối bộc lộ cảm xúc. Bài thơ mở đầu bằng một chi tiết tạo không khí chiến tranh rất ấn tượng: đó là tiếng súng Tây – hiện diện đặc trưng nhất của kẻ xâm lược kiểu mói, có vũ khí tối tân hơn hẳn chúng ta. Sự thất thủ của quân triều đình, đó là điều không tránh khỏi, dẫn đến cuộc chạy tản cư và những cảnh tượng tàn phá thương tâm. Những chi tiết của cảnh gây cảm xúc nhiều hơn là tả thực – đây là một nét đặc trưng lớn của thơ, nhất là thơ trung đại, so với văn xuôi. Nhà thơ đã liên tưởng đến hai sự kiện gây xúc động nhất là bọn trẻ con phải bỏ nhà chạy lơ xơ, không có người dẫn dắt che chở và bầy chim nhỏ bé hiền lành mất tổ bay tan tác. Những con người ngây thơ, hiền lành, vô tội nhất, những con vật yếu ớt nhất đã phải hứng chịu hậu quả của cuộc xâm lược. Việc liệt kê những địa danh như Bến Nghé, Đồng Nai vừa thất thủ đã gợi nên sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc, nhất là với người đân Nam Bộ. Bởi chúng là những địa danh có từ rất sớm, rất quen thuộc với hàng triệu con ngưòi. Cách tả “của tiền tan bọt nước” và “tranh ngói nhuốm màu mây” là tả ước lệ, không đi vào chi tiết song nhờ có hai địa danh quen thuộc nền vẫn gây được sự chia sẻ, đồng cảm. Qua những cảnh tượng được tả, tác giả bộc lộ cảm xúc đã nêu bằng việc đặt câu hỏi: Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng, Nỡ để dân đen mắc nạn này? Hai từ nỡ và mắc nạn cho thấy sự lo lắng và xót xa cửa tác giả trước cảnh tượng đáng thương của người dân. 2.Ngôn ngữ nghệ thuật Bài thơ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt đại chúng, giản dị mà trong sáng, dễ hiểu. Kĩ thuật đối xứng được khai thác khéo léo để tạo ra bức tranh toàn cảnh: Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất tổ bầy chim dáo dác bay. Ở hai câu này, Nguyễn Đình Chiểu đã khéo chọn hai hình ảnh đặc trưng và có sức gợi: lũ trẻ phải lìa bỏ mái ấm gia đình và bầy chim non phải rời tổ dáo dác bay. Hai hình ảnh đặc tả tạo thành một cặp đối xứng để diễn tả ý khái quát cả con ngưòi và tạo vật đều đau khổ vì quân xâm lược: Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây. Hai câu trên tạo thành cặp đối diễn tả ý khắp noi, từ mặt đất (nước) đến bầu tròi (mây) đều có dấu hiệu của sự tàn phá, huỷ diệt. Miêu tả một cảnh tượng, một miền quê bị chiến tranh tàn phá vói cảm xúc trào dâng, Nguyễn Đình Chiểu đã khiến cho người đọc cùng một lúc chia sẻ nỗi căm hờn đối vói bè lũ cướp nước, bán nước và xót xa cho đất nước, quê hương và dân lành.
Phân tích tác phẩm Chạy Giặc – Ngữ văn lớp 11
677
Phân tích tác phẩm Chữ Người Tử Tù – Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Nguyễn Tuân (1910 – 1987) sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Quê ông ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nguyễn Tuân là một nhà văn có cá tính độc đáo, có thể coi ông là một định nghĩa về người nghệ sĩ. Nhưng trước hết, ông là một trí thức yêu nước. Phẩm chất này ở Nguyễn Tuân được thể hiện qua tinh thần tự tôn dân tộc (khi đang học Trung học, ông là một trong số học sinh cứng đầu đã tham gia bãi khoá để phản đối các thầy giáo Tây có thái độ coi thường người Việt) ; qua thái độ dấn thân (Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ông hăng hái đi theo cách mạng, tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ) ; qua mối quan tâm sâu sắc và thiết tha với tiếng mẹ đẻ cùng các giá trị văn hoá cổ truyền của dân tộc (ông viết nhiều về lối sống độc đáo, văn hoá ẩm thực tinh tế, những cảnh sắc mĩ lệ và hào hùng của đất nước. Ông luôn có ý thức thể hiện sự sáng tạo trong lao động nghệ thuật và tôn vinh vẻ đẹp của tiếng Việt qua việc dùng từ ngữ, cách xây dựng hình tượng nhân vật, chọn đề tài, cách hành văn,…). Nét nổi bật trong phong cách là ở chỗ, Nguyễn Tuân luôn nhìn sự vật ở phương diện văn hoá và mĩ thuật, nhìn con ngưòi ở phẩm chất nghệ sĩ và tài hoa. Sáng tác của Nguyễn Tuân thể hiện hài hoà màu sắc cổ điển và hiện đại. Đặc biệt, ông thường có cảm hứng mãnh liệt với cái cá biệt, phi thường, dữ dội và tuyệt mĩ. Đặc điểm riêng này trong cá tính sáng tạo khiến ông chọn thể loại sở trường của mình là tuỳ bút, một thể loại dễ phát huy cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Truyện ngắn Chữ người tủ tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng, in lần đầu tiên năm 1938 trên tạp chí Tao đàn, sau được chọn đưa vào tập truyện Vang và bóng một thời, 1940 (các lần tái bản sau, Vang và bóng một thời đựợc đổi tên là Vang bóng một thcrì và Dòng chữ cuối cùng cũng được đổi tên là Chữ người tử tù). 2.Tri thức văn hoá Văn chương lãng mạn thường ít dựa vào nguyên mẫu. Trường hợp sử dụng nguyên mẫu trong Chữ người tủ tù có thể coi là một cá biệt, hơn nữa đây là một nguyên mẫu rất độc đáo, mở ra khuynh hướng yêu nước trong sáng tác của Nguyễn Tuân, điều ít thấy ở các cây bút lãng mạn khác. Nguyên mẫu của Huấn Cao là Cao Bá Quát, nhà nho kiệt xuất, nghệ sĩ tài hoa và khí phách, nhà thơ tài năng với tâm hồn phóng khoáng, nhạy cảm với cái mới, cái lạ nổi tiếng một thời: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường (Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thòi tiền Hán không có / Thơ Tùng Thiện Vương và Tuy Lí Vương đến thòi thịnh Đường cũng không bằng được). Cao Bá Quát chính là người anh hùng đa tài từng tham gia cuộc khỏi nghĩa của nông dân do Lê Duy Cự cầm đầu năm 1854 sau bị giết và bị triều đình Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc. 3.Tri thức về thể loại Từ nguyên mẫu Cao Bá Quát, nhà văn xây dựng nhân vật Huấn Cao bằng bút pháp lãng mạn mà chủ yếu là nghệ thuật phóng đại, lí tưởng hoá để sáng tạo nên một hình tượng mang vẻ đẹp lí tưởng. Để lí tưởng hoá, gây ấn tượng về nhân vật Huấn Cao, tác giả sử dụng cặp hình tượng nhân vật tương đồng nhưng vẫn có khoảng cách. Trong đó, Huấn Cao được coi là hiện thân của người sáng tạo cái đẹp. Nhân vật quản ngục không sáng tạo cái đẹp nhưng là người trân trọng và yêu quý cái đẹp. Từ đó chọn lọc và tổng hợp để xây dựng một mẫu người đại diện cho chủ nghĩa yêu nước và nhân văn theo kiểu Nguyễn Tuân: mẫu người khí phách hài hoà với thiên lương. Huấn Cao trong tác phẩm có nhiều nét tương đồng nhưng cũng có nhiều nét dị biệt so vói Cao Bá Quát. Đọc tác phẩm, không nên đồng nhất nguyên mẫu (Cao Bá Quát) vói hình tượng nghệ thuật (Huấn Cao). II– PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Đặc điểm về nội dung a.Nhân vật Huấn Cao -Huấn Cao, con người mang phẩm chất tài hoa siêu việt: Nét cơ bản trong phong cách nghệ sĩ của Nguyễn Tuân là luôn nhìn nhận con người ở phẩm chất nghệ sĩ tài hoa. Các nhân vật trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân đều là những con người tài hoa, tài tử và hình ảnh Huấn Cao trong thế giới ấy rực sáng như một đại diện tiêu biểu nhất. Với bút pháp lí tưởng hoá, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ nhân vật Huấn Cao, một con người mang phẩm chất tài hoa siêu việt, người đứng đầu nghệ thuật thư pháp. Tài nghệ thư pháp của Huấn Cao được miêu tả rất tỉ mỉ. Trước hết là ở nét chữ và phong cách. Đúng là của một bậc tài hoa, nổi tiếng khắp tỉnh Sơn về tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp, ở khuôn chữ: “đẹp lắm, vuông lắm”… -Huấn Cao, con người mang khí phách ngạo nghễ, ngang tàng: Các nhà nho (trừ một số nhân vật lỗi lạc) thường non kém về bản lĩnh và khí phách. Bởi sinh ra trong nền sản xuất tiểu nông, sống dựa vào sự cung cấp của các tầng lớp khác, tầng lớp nho sĩ thường có thể trạng yếu. Người đời thường vẫn có cái nhìn khá hài hước về họ: “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”. Các thành ngữ như “Bạch diện thư sinh”, “Trói gà không chặt” là cách mà người ta dùng để gọi tầng lớp nho sĩ nói chung, không với hàm ý coi thường mà thực tế là như thế. Ngoài ra, có thể do tầng lớp nho sĩ vốn chỉ lo dùi mài kinh sử, trui rèn kiến thức “cửa Khổng sân Trình” trong suốt cuộc đòi nên họ thường bị khống chế bởi tư tưởng “trung quân ái quốc”, “trí quân trạch dân”, thậm chí nhiều kẻ mặc nhiên coi đó là lí tưởng chân chính của kẻ làm trai mà quên rằng nhiều khi chỉ là một thứ ngu trung, lâu dần họ bị triệt tiêu bản lĩnh và khí phách cá nhân. Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao gây ấn tượng mạnh bởi ông không chỉ là một con ngưòi mang phẩm chất tài hoa mà còn là con ngưòi mang nét đẹp của khí phách với tính cách ngang tàng, ngạo nghễ. Huấn Cao là bậc nghĩa sĩ dù thất thế nhưng không rơi vào cách ứng xử tầm thường. Khác với kiểu “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” (Truyện Kiều – Nguyễn Du), những ngày cuối cùng của cuộc đời lại là thời điểm nhân vật này toả sáng một cách rực rỡ khí phách ngạo nghễ, ngang tàng như vẫn đang tung hoành nơi chiến địa. Là con người của khoa cử, nhưng Huấn Cao không mù quáng với tư tưởng “phò chính thống” mà sẵn sàng chịu tiếng “làm giặc” vì nghĩa lớn. Nét độc đáo của tác giả Chữ người tử tù là ở chỗ ông tả một khí phách lớn qua những chi tiết nhỏ: Động tác rỗ gông lạnh lùng, mạnh mẽ: “chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái”. Tư thế mắng quản ngục oai phong như khi ra lệnh: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”, cốt cách ung dung, tự tại thể hiện ở cách ăn uống như người làm chủ nhà lao: “thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm”. Có mấy ai, trước cái chết đã được báo trước (chỉ còn tính từng ngày) có được bản lĩnh đó? Khí phách của con người Huấn Cao còn thể hiện ở tư thế viết chữ phóng túng, vô hiệu hoá thế lực của nhà tù. Mặc dù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” nhưng nét bút vẫn thể hiện “những cái hoài bão tung hoành của một đời con ngưòi”. Tác giả không tả rõ nội dung của dòng chữ trên lụa bạch mà chỉ sử dụng hình ảnh gọi để nổi bật nhân cách. -Huấn Cao, con người mang vẻ đẹp thiên lương: Nguyễn Tuân đã miêu tả Huấn Cao như người nghĩa sĩ có phẩm chất “vô uý” (không biết sợ). Huấn Cao không sợ cái mà người bình thường vẫn sợ: cái chết – ngọc lụa – quyền quý. Nhưng xét kĩ ra, dù rất đáng trọng, đây chỉ là phẩm chất truyền thống của một dân tộc vốn thường xuyên phải đương đầu với bạo ngược và hung tàn. Điều cần suy ngẫm là ở chỗ, nếu con ngưòi ta không còn biết sợ một điều gì thì lại không còn là con ngưòi nữa (không còn cái “tâm”, con người trở nên lạnh lùng, vô cảm). Bởi thế, Nguyễn Tuân có ý thức trong việc thể hiện cái “không biết sợ” của Huấn Cao để trong phần cuối của tác phẩm, tập trung làm nổi bật cái phẩm chất biết sợ của Huấn Cao. Huấn Cao đã từng hiểu lầm quản ngục vì cho rằng quản ngục chỉ là kẻ tầm thường. Ông đã từng tỏ thái độ khinh miệt đến tàn nhẫn để chứng tỏ cái khí phách không biết sợ quyền uy và cái chết của mình: “Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Nhưng khi nhận ra quản ngục bên ngoài khoác áo ngục quan mà bên trong mang tấm lòng biết quý cái tài, cái tâm, cái khí phách và cái đẹp thì chính ông lại đổi hẳn thái độ, ngồi lặng đi vì bị bất ngờ rồi nói những lời xúc động: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Nguyễn Tuân dùng một chữ cảm để diễn đạt sự mềm lòng của người nghĩa sĩ nhưng mặt khác cũng hé lộ cho ta thấy nét chân thành trong con người Huấn Cao: ông không chỉ là người có cái tâm mà còn là người hệ luỵ bởi chữ tâm. Những người có tâm trên đời thì không chỉ biết trọng cái tâm của người khác mà còn rất sợ mình phụ tấm lòng dù chỉ là của ngưòi trong thiên hạ. Đây là nét đẹp tự nhiên trời phú để người có tâm trở nên một nhân cách mà thòi bấy giờ ngưòi ta vẫn gọi là thiên lương. Phẩm chất đó khiến ta không ngạc nhiên khi Huấn Cao không chỉ cho chữ mà còn khuyên quản ngục những lời chí tình như đối với một tri âm: “Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện choi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Với cuộc đời của một kẻ “làm giặc”, chống lại triều đình phong kiến tàn bạo, Huấn Cao đương nhiên phải chịu đựng bao thử thách, gian truân và cuộc sống khắc nghiệt nơi chiến địa, rồi bao tra tấn, đoạ đày ở chốn lao tù nhưng tâm hồn của người tử tù ấy vẫn không hề khô cứng trước cái đẹp. Án tử hình treo lơ lửng trên đầu, thậm chí ngay cả khi biết rằng sau buổi sáng ngày hôm sau mình đã không còn sống trên đời nữa nhưng Huấn Cao đã thực sự rung động bởi hương mực, đắm chìm trong cái khí tiết tinh tuý của tinh thần: “Thoi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?”. Những lời nhận xét tinh tế, đồng thời cũng là những lời chia sẻ vốn chỉ dành cho bạn bè tri kỉ, tâm đắc trên đời. b.Nhân vật quản ngục Sau lời đối thoại giữa quản ngục và thầy thơ lại về tử tù Huấn Cao, quản ngục rơi vào tâm trạng mâu thuẫn và đầy kịch tính: vừa mừng vừa lo. Mừng vì đây là cơ hội hiếm có để xin chữ của chính con người nổi tiếng về nghệ thuật thư pháp mà trong lòng, tự bấy lâu nay quản ngục vẫn thầm kính trọng, tôn thờ. Lo không phải vì sợ không giữ được loại tử tù “có tài bẻ khoá và vượt ngục” mà vì sợ không xoá được cái khoảng cách về địa vị, nhân cách và tài năng giữa hai người thì dù có một ông Huấn trong tay, quản ngục vẫn trắng tay, không thực hiện được sở nguyện vốn ấp ủ bấy lâu. Bị giằng xé trong tâm trạng mâu thuẫn ấy, quản ngục thao thức không ngủ, ánh đèn soi tỏ gương mặt ngưòi quản ngục: cháy bùng to lên, soi tỏ mặt người ngồi đấy. Tác giả ví gương mặt quản ngục như: nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo, và êm nhẹ. Những chi tiết trên hé lộ một phần phẩm chất tâm hồn của nhân vật. Đó là con người kín đáo, tế nhị đúng như lời nhận xét của tác giả trong đoạn văn trữ tình ngoại đề. Quản ngục tiêu biểu cho những người biết trân trọng và thực lòng yêu cái đẹp của tài hoa. Tính cách ấy bộc lộ trong tình huống éo le nên đầy kịch tính. -Quản ngục, người có sở thích cao quý: Ngục quan cũng như các quan chức lúc bấy giờ thường có những sở thích thấp hèn: ham mê tửu sắc, phú quý, hư danh… Quản ngục trong tác phẩm của Nguyễn Tuân đã được lí tưởng hoá. Là viên coi ngục (công cụ đắc lực của bộ máy thống trị suy vong) nhưng lại có tài thẩm định và thực lòng yêu nghệ thuật thư pháp. Đó không phải là sở thích nhất thời khi làm quan mà là tình cảm được nhen nhóm từ lúc tuổi thơ. Từ thuở “đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”, quản ngục đã có sở thích “một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”. Quản ngục là người thẩm định đúng giá trị chữ của Huấn Cao: “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời!”. Trong khi chờ đợi cơ hội xin chữ, quản ngục ở trong tâm trạng day dứt, lo sợ: “y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đòi mất”. Sở thích cao quý đã giúp cho quản ngục thực hiện được ý nguyện: làm động lòng Huấn Cao, xin được chữ. Biết Huấn Cao là ngưòi anh hùng – nghệ sĩ, tiêu biểu cho sự thanh cao về nhân cách con người, quản ngục luôn giữ thái độ lễ phép, cung kính, trân trọng. Vì sự trân trọng và đề cao giá trị con ngưòi mà quản ngục kiên trì, kìm nén trước thái độ tức giận của Huấn Cao, hon thế còn dám biệt đãi người tù “cơm rượu lại vẫn đưa đến đều đều và có phần hậu hơn trước”. Quản ngục đã thực hiện một hành động mạo hiểm: Dám choi chữ của kẻ tử tù ngay noi mình tòng sự mà không sợ búa rìu pháp luật, dám tổ chức viết chữ ngay trong nhà tù trong giờ giới nghiêm bất chấp tai hoạ có thể giáng xuống chỉ vì lòng trân trọng cái đẹp và sự ngưỡng mộ nhân cách cao cả của một con người. -Quản ngục, người biết trân trọng những giá trị văn hoá: Thái độ trân trọng nền nghệ thuật thư pháp chính là sự trân trọng các giá trị văn hoá nói chung. Thái độ đó thể hiện qua sự ân hận của quản ngục khi phải làm nghề thất đức trong xã hội suy đồi: “Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi”. Đề cao giá trị văn hoá khi sớm nhận ra triết lí: muốn chơi chữ đẹp phải có nhân cách đẹp. Tiêu biểu là cử chỉ hạ mình ngưỡng mộ của ngục quan trước tử tù Huấn Cao: “Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Có thể coi nhân vật quản ngục như một sự thể hiện tư tưởng yêu nước và tinh thần dân tộc của tác giả, trong ý nghĩa người bảo vệ linh hồn và tinh hoa văn hoá xứ sở trước sự bành trướng của chủ nghĩa kĩ trị và sự xâm lăng của văn hoá Tây phương. 2.Đặc điểm về nghệ thuật Nghệ thuật viết truyện của Nguyễn Tuân vừa cổ kính vừa hiện đại: -Nét cổ kính trước hết được thể hiện ở đề tài chạm tới nhân vật, sự kiện, lịch sử và văn hoá thời trung đại. Tương hợp với đề tài là hệ thống từ Hán Việt đậm đặc: tử tù, thiên lương, lạc khoản,… Nét cổ điển thể hiện ở cách miêu tả nghệ thuật thư pháp: Từ cách viết chữ đến cách cho chữ, trong cách nhìn nhận cái tâm trong mối quan hệ tổng hoà: tài – tâm – khí phách. Điều này chứng tỏ Nguyễn Tuân nhìn con người ở phương diện nghệ sĩ, tài hoa nhưng không rơi vào quan điểm duy mĩ. Nét cổ điển của truyện ngắn còn ở nghệ thuật đòn bẩy, mượn nhân vật quản ngục để làm nổi bật hình ảnh Huấn Cao. Chất hiện đại: Ngòi bút Nguyễn Tuân thể hiện chất hiện đại ở sự phân tích tinh vi những ý nghĩ sâu kín của nhân vật (quản ngục, Huấn Cao), ở cảnh tự nhiên được đưa vào tâm tư của nhân vật (cảnh đồng lúa, hình ảnh mặt nước hồ êm nhẹ,…), ở những diễn biến tâm trạng giàu kịch tính. Ngoài ra, tính hiện đại còn để dấu ấn trong cách trần thuật biến hoá, kĩ thuật miêu tả đa dạng. Nhân vật Huấn Cao lúc đầu được miêu tả gián tiếp chỉ gây ấn tượng qua đối thoại giữa quản ngục và thơ lại với tài viết chữ, với tính cách ngang tàng của tài bẻ khoá và vượt ngục. Sau đó là sự xuất hiện trực tiếp thông qua hai nét tính cách: ngạo nghễ, ngang tàng và coi trọng thiên lương. Tác giả nhấn vào các chi tiết gợi vẻ đẹp của khí phách: cử chỉ “rỗ gông”, lời mắng, tư thế ung dung, tự tại thưởng thức cơm rượu trong những ngày cuối cùng trên đời của một tử tù… Chi tiết gợi vẻ đẹp của cái tâm: sự mềm lòng, sự xúc động trước một sở thích đáng quý trọng của người khác. Cuối cùng tả trực tiếp Huấn Cao trong mối quan hệ với quản ngục, thơ lại trong cảnh cho chữ để hội đủ ba nét trong phẩm chất Huấn Cao. Chất hiện đại ở việc sử dụng thủ pháp tương phản, đối lập của bút pháp lãng mạn, tạo ra sự tương phản giữa các cặp đối lập: ánh sáng / bóng tối; cái cao cả / cái phàm tục ; thân phận / nhân cách ; tư thế người cho chữ / tư thế người nhận. Chất hiện đại còn được thể hiện ở nghệ thuật tạo cảnh, tô đậm vào các chi tiết nhằm tôn vinh vẻ đẹp hoàn hảo của Huấn Cao trong cảnh cho chữ, toả sáng ở ba phẩm chất: tài – tâm – khí phách. Cảnh cho chữ thể hiện sự thăng hoa của ngòi bút Nguyễn Tuân, không chỉ làm toả sáng vẻ đẹp lí tưởng ở Huấn Cao mà còn bộc lộ tư tưởng của tác giả. Cái đẹp cuối cùng cũng đã thể hiện sức mạnh đích thực của nó, giúp cho con người xoá bỏ khoảng cách với con ngưòi, giúp ba người trong tác phẩm chụm lại thành tượng đài: “Tam vị nhất thể”, xoá bỏ ranh giói thân phận, cứu vót quản ngục và thơ lại ra khỏi vũng bùn, đúng như lòi Đốt-xtôi-ép-xki: “Cái đẹp sẽ cứu vớt con người”. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ -NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Chữ Người Tử Tù – Ngữ văn lớp 11
3,593
Phân tích tác phẩm Câu Cá Mùa Thu -Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn CÂU CÁ MÙA THU (Thu điếu) I.- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) hiệu là Quế Sơn, lúc nhỏ tên là Nguyễn Thắng, sinh tại quê ngoại – xã Hoàng Xá (nay là Yên Trung), huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, lớn lên sống ở quê nội – làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo. Nguyễn Khuyến trưởng thành, đỗ đạt cao và ra làm quan giữa lúc đất nước ta bị thực dân Pháp xâm chiếm. Ông chỉ làm quan hơn mười năm rồi về quê nhà ở ẩn không họp tác với chính quyền thực dân Pháp. Các nhà nghiên cứu cho rằng ba bài thơ thu tả cảnh thu với những nét đặc biệt của mùa thu vùng đồng bằng Bắc Bộ quê hương ông. Nghĩa là chúng được Nguyễn Khuyến sáng tác khi ông về quê ở Hà Nam. 2.Mùa thu trong thi ca trung đại Mùa thu là đề tài yêu thích trong thi ca trung đại. Vì thế nhà thơ dễ mô phỏng cách tả của các tác giả khác mà thiếu sáng tạo. Chẳng hạn, như nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét, nhiều bài thơ thu xưa thường tả cây ngô đồng vì thơ cổ Trung Quốc cô câu nổi tiếng “Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng tri thu” (Một lá ngô đồng rụng – Thiên hạ đều biết thu đến). Cúc cũng là một hình ảnh phổ biến của thơ thu xưa. Bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến đã tránh được nhiều công thức tả thu và có tính sáng tạo độc đáo. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Nhân vật trữ tình Trong bài thơ này, chủ ngữ thường bị tỉnh lược nên ta chỉ có thể suy đoán đó là ngưòi đang ngồi câu cá trên chiếc thuyền bé tẻo teo, đó cũng là chủ thể của hành động “tựa gối buông cần”. Người đi câu nhưng phân tâm, không để ý đến việc câu mà dường như đang nghĩ đến việc khác nên mặc dù cá có nhiều dưới bèo nhưng không cắn câu. Nhân vật trữ tình là hình ảnh của tác giả, là một điển hình nghệ thuật, phản ánh tâm trạng chung của một tầng lớp nho sĩ trong bối cảnh đất nước ta bị rơi vào tay thực dân Pháp. Nguyên lí tả cảnh để thể hiện tình, tình nương tựa vào cảnh được thực hiện như thế nào ở bài thơ này? Ở nhiều bài thơ Đường luật đã học, có sự bày tỏ trực tiếp cảm xúc của nhàn vật trữ tình, ví dụ tiêu biểu là bài Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du. Nhưng trong bài Câu cá mùa thu, ta chỉ thấy tả cảnh, tâm sự, cảm xúc ẩn kín sau những câu tả cảnh chứ không thể hiện trực tiếp. Do đó, phân tích cảnh có ý nghĩa quan trọng để hiểu tình của nhân vật trữ tình. Chú ý các yếu tố thuộc không gian và thòi gian của cảnh trong bài thơ. -Về không gian: Trời xanh ngắt, tầng mây lơ lửng. Dưới mặt đất có ao nước lạnh lẽo, những làn sóng xanh biếc gợn nhẹ, những đám bèo, và dưới lớp bèo là những con cá chứng tỏ sự hiện diện của chúng bằng việc đớp động dưói chân bèo, chiếc thuyền câu mà trên đó, chắc hẳn người câu đang ngồi. Trên bờ là một ngõ nhỏ có trồng trúc quanh co vắng vẻ. Các yếu tố không gian tổng hợp lại thành một bức tranh mùa thu điển hình ở nông thôn Bắc Bộ (ao nhỏ, thuyền câu nhỏ, ngõ trúc nhỏ hẹp, quanh co, bầu trời thu xanh ngắt). -Về thời gian: Xét về mùa, đây là mùa thu, khi thiên nhiên, đất trời ở Bắc Bộ đẹp nhất, mát mẻ, dễ chịu nhất trong năm. Nhưng thời gian trong cảm nhận của con người ở đây dường như ngưng đọng. Các dạng hoạt động có nhịp điệu chậm chạp: sóng gợn lăn tăn, lá vàng khẽ bay trong gió, mây lơ lửng, ngõ vắng teo (rất ít người qua lại), tiếng cá đớp nhẹ dưới chân bèo. Người ngồi câu cũng có tư thế gần như bất động: “Tựa gối buông cần lâu chẳng được”. Nhịp thời gian ngưng đọng đó gọi ấn tượng về sự nhàn nhã của cuộc sống ẩn dật. -Về con người: Trong bức tranh thu, con người dưòng như ẩn kín sau cảnh vật, hoà tan vào thiên nhiên, đất trời. Giống như trong bài thơ Uống rượu mùa thu (Thu ẩm), chỉ tả ngôi nhà chứ không kể người ngồi trong nhà (Năm gian nhà cỏ thấp te) ; ở bài thơ này, chỉ thấy chiếc thuyền câu bé nhỏ chứ không nhắc đến người ngồi thuyền, chỉ nói đến hành động “tựa gối buông cần” mà không nhắc đến ai là người ngồi câu. Tâm sự của nhân vật trữ tình ẩn kín sau bức tranh thiên nhiên mùa thu. Để hiểu tâm sự ấy, cần vận dụng cả nhừng tri thức nằm ngoài văn bản bài thơ này, chẳng hạn như tâm sự thể hiện trong các bài thơ thu khác của Nguyễn Khuyến. Nhận xét: Không gian và thời gian của bài thơ tạo nên một ấn tượng về cuộc sống ẩn dật, xa rời nhịp sống hối hả của đời thường. Chỉ có thiên nhiên trong sạch, yên tĩnh: ao nước trong veo, bầu trời xanh ngắt, ngõ vắng vẻ. Tác giả – nhân vật người câu cá – tưởng như đang hưởng cảnh nhàn nhã. Chi tiết cá đớp động dưới chân bèo trong khi người câu tựa gối buông cần lâu chẳng được có thể hiểu theo hai nghĩa: (1) người câu đang theo đuổi những ý nghĩ thầm kín, riêng tư nào đó mà không quan tâm đến hành động câu cá, chỉ khi tiếng cá quẫy dưới chân bèo mới kéo người câu quay trở lại vói việc câu cá của mình ; (2) người đi câu không quan tâm đến việc câu cá nên không để ý đến kết quả của việc câu, dưới ao vẫn có cá quẫy nhưng người câu không cần cá cắn câu. Dẫu hiểu theo cách nào thì ta cũng thấy nhà thơ về ở ẩn ở quê nhà để giữ trọn nhân cách của mình nhưng tấm lòng ông vẫn cứ canh cánh một mối bận tâm. Bài thơ Thu vịnh có bộc lộ târn sự sâu kín ấy qua câu “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”, chúng ta có thể nghĩ người câu cá bận lòng về thời cuộc, về thế ứng xử đạo đức trong bối cảnh đất nước mất tự do. 3.Ngôn ngữ nghệ thuật Nghệ thuật sử dụng tiếng Việt của tác giả đã đạt đến sự tinh tế, điêu luyện. Bài thơ không dùng điển tích, điển cố hoặc từ ngữ khó hiểu. Các từ được khai thác để diễn đạt các cảm giác khác nhau về mùa thu khơi gọi kinh nghiệm nơi người đọc. Mùa thu hiện lên qua các giác quan. Mắt nhìn thấy: màu vàng của lá thu, màu xanh ngắt của trời thu, nước trong veo, làn sóng xanh biếc, con ngõ quanh co, vắng vẻ. Thân thể rùng mình vì cái lạnh của ao nước mùa thu. Tai nghe thấy tiếng bay vèo của lá vàng trước gió, tiếng cá đớp dưới lớp bèo. Những cảm giác của các giác quan này đã truyền cảm nhận về mùa thu của tác giả thông qua kinh nghiệm sống của độc giả, nên sống động, được chia sẻ mạnh mẽ. Các từ láy sử dụng trong bài thơ góp phần tạo nên ấn tượng nhẹ nhàng, chậm chạp, yên tĩnh, vắng vẻ của cảnh thu: lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng, quanh co. Vần eo tạo cảm giác thu nhỏ, xa vắng (nhiều tính từ, trạng từ vần eo gợi cảm giác này: cheo leo, heo hút, tẻo teo,…). Cảnh thu nhìn từ quan điểm của một nhà nho ẩn dật đã được diễn tả bằng yếu tố tạo hình, tạo ấn tượng của từ ngữ rất thành công. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TỰ TÌNH NGỮ VĂN LỚP 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Câu Cá Mùa Thu -Ngữ văn lớp 11
1,410
Phân tích tác phẩm Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến Bài viết văn của bạn Thu Bình đến từ Hưng Yên gửi đến ban biên tập website. Bài làm Mùa thu là cảm hứng vô tận cho các thi nhân. Riêng Nguyễn Khuyến đã có một chùm thơ thu vô cùng đặc sắc: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Nhà thơ lấy cảnh thu, tình thu mà nói lòng mình vậy. Và cùng qua thơ thu ta thấy hiện lên một phần đáng trân trọng trong con người Nguyễn Khuyến. Trong bài thơ Thu điếu – Câu cá mùa thu, Nguyễn Khuyến hiện lên với tấm lòng sâu nặng nghĩa tình đối với đất nước. Thơ thu xưa chẳng khi nào vui cả. Nhắc đến thơ thu là nhắc đến những tâm trạng u hoài, man mác. Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến cũng vậy. Phân tích tác phẩm Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến Thơ gợi tình người mà người buồn thì thơ vui sao được? Bài thơ ra đời khi Nguyễn Khuyến đã quá bất mãn với xã hội mà lui về ở ẩn ở quê nhà. Xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến cướp đi quyền tự chủ của nước nhà, gieo rắc bao đau thương mất mát cho đất nước, con người Việt Nam. Buồn vì thảm cảnh”, bất hợp tác với thực dân Pháp, Nguyễn Khuyến thể hiện khí tiết học ông ngư về quê câu cá. Bài thơ Câu cá mùa thu bước ra từ một tâm sự, một nỗi niềm như thế để giãi bày với hồn thiêng sông núi quê hương một tấm lòng yêu nước thiết tha, day dứt. Điều dễ thấy trong Câu cá mùa thu là cảnh tuy buồn nhưng vô cùng đẹp đẽ. Điều đó thể hiện tấm lòng yêu nước ưu ái với thiên nhiên của thi nhân. Bức tranh mùa thu hiện lên trong trẻo, xinh xắn làm sao. Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Cái se lạnh của mùa thu làm làn nước ao “lạnh lẽo” “trong veo”. Câu thơ không chỉ nói đến cái lạnh mà còn nhắc đến cái tĩnh lặng, cái vắng vẻ, cái buồn buồn của khí trời, của cảnh vật. Phải rồi, “ao thu lạnh lẽo” thì mọi loài cũng chỉ muốn lặn mình xuống đáy, đâu muốn tung tăng bơi lội nô đùa? Vì thế, làn nước “trong veo” – trong trẻo, tĩnh lặng, cái trong có hình có khối. Tưởng đôi mắt Thuý Kiều – “làn thu thuỷ” – cũng chỉ trong đến thế. Trên nền ao thu vốn đã rất nhỏ là “Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Chỉ là “một chiếc” thôi không hơn. số từ “một” khiến chiếc thuyền câu bơ vơ đơn độc. Mà “một chiếc thuyền câu” lại “bé tẻo teo” nên càng mong manh tội nghiệp. Điểm xuyết cho bức tranh thu xinh xắn là gợn “sóng biếc” là chiếc lá vàng. Tưởng rằng thêm vào sẽ bớt vắng vẻ đìu hiu nhưng ở đây, làn sóng biếc, chiếc lá vàng càng gợi cái nhỏ bé mong manh của sự vật. Bởi “sóng biếc” thì “theo làn hơi gợn tí”, chỉ “hơi” gợn, chăm chú lắm mới thấy, mà còn là “gợn tí” một chút cỏn con… Còn lá vàng thì “đưa vèo” như chỉ tạo ra một vệt sáng vàng rồi nhanh chóng nằm lặng im nơi nào đó. Chiếc “lá vàng” ấy là lá gì? Là lá trúc, lá tre chăng? Có thể lắm bởi bờ ao đồng bằng Bắc Bộ thường có những luỹ tre xanh toả bóng êm dịu. Càng có thể bởi ở hai câu sau nhà thơ đã viết: Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Không gian được mở rộng lên chiều cao, sang bề rộng. Vậy nhưng cũng không bớt vắng vẻ cô đơn. Mây trắng “lơ lửng” giữa không trung không về với trời; chẳng sà xuống thấp, lẻ loi trôi dạt trong bao la. Sắc trời “xanh ngắt” – xanh rất đậm, xanh như có hình khối, sắc xanh tuyệt đối ấy càng khẳng định cái đơn côi lẻ loi của sự vật. Trời xanh cao mà buồn quá. Hạ tầm nhìn xuống thấp mong chờ sự giao hoà đồng cảm nhưng nhà thơ chỉ thấy “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Đường làng vốn đã rất nhỏ nay lại quanh co khúc khuỷu, tưởng như một dải lụa cố xoắn mình tự thu nhỏ lại. Đường vắng vẻ, vắng lắm, “vắng teo” Nếu chẳng “vắng teo”, dẫu có bóng người có lẽ củng nhỏ bé, đơn độc lắm. Một bức tranh thu xinh xắn hài hoà. Sự vật gì cùng thu mình lại để nhỏ hơn, để hoà hợp hơn với khuôn hình của sự vật khác. Đặc biệt, cách dùng vần “eo” rất tinh tế: “lạnh lẽo” “trong veo” “tẻo teo” “đưa vèo”…, ở đây có sự thống nhất giữa nội dung và hình thức: vần “eo” khiến cảnh vật càng bé nhỏ, mong manh đơn côi hơn. Bức tranh thiên nhiên xinh xắn, đẹp đẽ thể hiện một tâm hồn thi nhân tinh tế, nhạy cảm. Hơn thế còn bộc lộ một con người đồng cảm với thiên nhiên, yêu thiên nhiên tha thiết. Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông. Ai cũng biết “lá ngô đồng” “rừng phong đó” là hình ảnh ước lệ tả mùa thu, hai hình ảnh ấy tượng trưng cho mùa thu Trung Quốc. Các nhà thơ trung đại Việt Nam theo lối “tập cổ” mà vẫn ưu ái những hình ảnh ấy. Thiên nhiên trong bài thơ của Nguyễn Khuyến thì khác. Không một chút vay mượn, chỉ có cái thuần cảnh vật quê hương. Ao làng, bụi trúc, lá vàng rơi… những hình ảnh ấy giản dị, quen thuộc với người dân đồng bằng Bắc Bộ lắm. Đưa chúng vào thơ, Nguyễn Khuyến đã thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên quê nhà tha thiết, lòng tự hào về cảnh sắc quê hương. Tình yêu ấy cảm động ở việc đã phá bỏ những lề lối ước lệ bền chắc xưa cũ. Chưa hết, một bài thơ Đường luật năm mươi sáu chữ không một chữ nào không thuần Việt. Chẳng ai tìm được một từ Hán Việt nào, nhà thơ hoàn toàn dùng ngôn ngữ của đất nước để vẽ nên bức tranh tuyệt mĩ về quê hương. Chẳng những vậy, nhà thơ còn vận dụng rất tài tình vần “eo” – vần thơ rất đặc biệt, nó nôm na xa lạ với thơ cổ nhưng lại đạt hiệu quả nghệ thuật rất cao. Sự tài tình trên chỉ có thể có ở một nhà thơ yêu tiếng mẹ đẻ, trân trọng dân tộc, tự hào về đất nước mình. Thiên nhiên, đẹp đẽ nhưng tầng sâu của nó là một nỗi buồn, một tâm sự của thi nhân. Cảnh đẹp nhưng sao buồn thế! Mọi vật đều hững hờ, đơn côi đến vô tình. Nguyễn Du đã có một câu thơ thật hay “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ở đây, cảnh thu cũng vậy. Nguyễn Khuyến buồn thì có cớ gì đế cảnh vui? Cảnh buồn, cảnh cô đơn bởi nhà thơ cũng đang mang nặng cảm giác ấy giữa cuộc đời biến động. Bất mãn với xã hội, khinh bạc chốn quan trường nhưng vẫn nậng lòng lo cho an nguy của Tổ quốc. Vậy nên, dầu lui về ở ẩn tâm hồn nhà thơ vẫn canh cánh một niềm riêng. Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Tư thế “tựa gối ôm cần” là tư thế mang nặng tâm trạng. Chờ hoài không có cá nên buồn bã, thất vọng “tựa gối” nhưng còn mong mỏi đợi chờ nên vẫn “ôm cần”. Nhưng có phải thi nhân đang câu cá? Nếu phải, tại sao lại có cảm nhận mơ hồ “cá đâu đớp động dưới chân bèo?”. Thực ra, Nguyễn Khuyến câu cá đâu phải vì muốn câu cá. (Thế nên mới có cái ngơ ngác nhìn quanh: cá ở đâu đớp động dưới chân bèo vậy? – Chăm chú câu cá sẽ không có chi tiết này). Nhà thơ làm ông ngư chỉ vì muốn lánh đời. Nhưng cuộc đời ở ẩn không làm tan đi nỗi ưu tư với đời. Câu cá mà không tập trung câu cá, tâm hồn vẫn chơi vơi nơi đâu không ở lại nơi cái ao làng nhỏ bé này. Thi nhân ưu tư điều gì? Ưu tư về vận nước, ưu tư về lẽ đời. Niềm ưu tư dai dẳng, khắc khoải dứt áo ở ẩn vẫn không nguôi trăn trở. Nguyễn Khuyến, một con người có tấm lòng yêu nước sâu nặng. Con người Nguyễn Khuyên qua Câu cá mùa thu hiện lên ở nhiều góc cạnh: yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng mẹ đẻ, trân trọng và tự hào về dân tộc, luồn trăn trở băn khoăn với vận nước, với cuộc đời… Tựu trung lại, bài thơ đã thể hiện một tâm hồn yêu nước khắc khoải, trăn trở đầy xúc động. Thơ Nguyễn Khuyến đa dạng về nội dung, nhiều màu vẽ trong cách thể hiện nhưng sẽ còn mãi với thời gian.Và do đó, Câu cá mùa thu cũng luôn là một trong những “kiệt tác xinh xắn” của thơ ca Việt Nam.
Phân tích tác phẩm Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến
1,591
Phân tích tác phẩm Hai Đứa Trẻ – Ngữ văn 11 Hướng dẫn HAI ĐỨA TRẺ I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời -Thạch Lam (1910 – 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh (sau đổi là Nguyễn Tường Lân), sinh tại Hà Nội trong một gia đình công chức gốc quan lại. Quê nội ở làng Cẩm Phô, xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Quê ngoại ở làng Hàn Giang, huyện cẩm Giàng, Hải Dương. Thạch Lam là con thứ sáu trong một gia đình bảy anh chị em: Nguyễn Tường Thuỵ, Nguyễn Tường cẩm, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân và Nguyễn Tường Bách. Thạch Lam bắt đầu hoạt động văn học từ 1931, và là một trong những cây bút chính của nhóm Tự lực văn đoàn. Ông vừa tham gia biên tập các tuần báo Phong hoá, Ngày nay vừa tích cực viết truyện ngắn, tuỳ bút, tiểu luận. Tham gia tích cực trong nhóm Tự lực văn đoàn, nhưng sáng tác của Thạch Lam chảy riêng một dòng. Ông thường hướng ngòi bút về phía những người lao động bần cùng sống trong những làng quê bùn lầy nước đọng, những ngưòi dân nghèo thành thị lay lắt chốn phồn hoa, những kiếp ngưòi kiếm sống bằng những nghề vất vả, tủi cực trong những khu hành lạc lắm bùn nhơ hay khu ngoại ô nghèo khổ, buồn và vắng. Thạch Lam sở trường về truyện ngắn – trữ tình. Sự đan xen hài hoà giữa hai yếu tố hiện thực và lãng mạn là nét đặc sắc trong phong cách Thạch Lam. Sáng tác của Thạch Lam không tập trung vào việc tạo dựng cốt truyện, do đó thường ít sự kiện, biến cố và hành động nhưng vẫn đầy hấp dẫn bởi thiên hướng đi vào thế giới nội tâm nhân vật qua việc ghi lại những cảm giấc mơ hồ, mong manh và thể hiện bằng một lối viết nhẹ nhàng, kín đáo, tế nhị. -Những tác phẩm chính của Thạch Lam: Gác tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Ngày mới, tiểu thuyết (1939), Theo dòng, tiểu luận (1941), Sợi tóc (1942), Hà Nội băm sáu phố phường (1943). Những truyện ngắn của Thạch Lam trong ba tập Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc và tuỳ bút Hà Nội băm sáu phố phường là một chuỗi tác phẩm viết khá đều tay, mỗi quyển đều có một số truyện thật hay, xứng đáng xếp vào loại những truyện ngắn giá trị của Việt Nam trong thế kỉ XX. Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, in ở tập Nắng trong vườn do Nhà xuất bản Đời nay xuất bản năm 1938. 2.Tri thức văn hoá Thạch Lam khác với nhiều người cầm bút cùng thời và cả với hai người anh nổi tiếng của mình ở quan niệm sáng tạo. Ý thức về sứ mệnh của ngưòi nghệ sĩ khiến Thạch Lam từng khao khát dùng văn chương như một vũ khí thanh cao và đắc lực nhằm làm thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác nhưng ông không chủ trương viết các tiểu thuyết luận đề hay hiện thực phê phán để lên án hoặc kêu gọi công chúng bằng những mục đích cụ thể và trực tiếp. Thạch Lam không kêu gọi cải cách cũng không chủ trương giáo huấn, đối với ông, cõi đời dẫu phong phú và phức tạp, thiện ác chen nhau, nhưng con người sinh ra không ai vốn thiện sẵn hay vốn ác sẵn, con ngưòi rất có thể sa ngã, sai lầm, thậm chí gây nên tội ác vì ranh giới giữa cái thiện và cái ác thực chất chỉ cách nhau bằng một sợi tóc. Tuy nhiên, nhiều khi ngưòi ta có thể vì một nguyên cớ rất tình cờ mà bỗng thay đổi cá tính, nhân cách hay vận mệnh. Những nguyên cớ bé nhỏ, đôi khi có vẻ vụn vặt ấy thường ngẫu nhiên đến với mỗi người vào một thời điểm bất ngờ nào đó, cũng không gây sóng gió hay bão táp gì trong lòng ngưòi nhưng lại mang sức mạnh đánh thức bao giá trị vô danh trong tâm hồn khiến họ bỗng nảy sinh cái nhu cầu được sống sâu sắc và nhân ái hơn. Thạch Lam tin và coi ngẫu nhiên như một tất yếu của cuộc sống nên ông chỉ muốn làm một người cầm bút đóng cái vai trò khiêm nhường là gợi ý và gợi mở một cách tế nhị cái thế giới bao la và sâu thẳm ở xung quanh ta và ngay chính trong tâm hồn mỗi con ngưòi chúng ta. Cái thế giới ấy, thực ra, vẫn đang vận động một cách bí mật, lặng lẽ và có thể một ngày nào đó bỗng rực sáng khi ta chọt nhận ra nó cùng lúc nhận ra ý nghĩa làm người. Cái tư cách khiêm nhường, chỉ muốn làm một người gợi ý tế nhị và nhẹ nhàng ấy ở Thạch Lam khiến nhiều thế hệ độc giả mặc nhiên coi ông như một nhà thơ trong văn xuôi. Phố huyện được miêu tả trong truyện có cơ sở thực tế là phố huyện cẩm Giàng, Hải Dương – noi có ga xép, tàu hoả từ Hà Nội về thường dừng lại chốc lát. Mẹ Thạch Lam, bà Lê Thị Sâm, mua được một khoảnh đất nhỏ giữa phố huyện, sau nhà có đường tàu hoả. Tác giả lúc bấy giờ mói 8 tuổi (trong hình ảnh bé An) thường cùng chị (Nguyễn Thị Thế) bán hàng và ngủ lại để coi hàng. Phố huyện có ga xép – một cái chợ nhỏ nằm giữa thôn xóm và cánh đồng, có nhiều nét tương ứng với bức tranh phố huyện trong tác phẩm. Nhưng những điều đó không mấy quan trọng, điều cần lưu ý ở đây là chuyến tàu từ Hà Nội về vẫn đều đặn chạy qua cái quán nhỏ của hai chị em sau 9 giờ tối đã đánh thức trong tâm hồn hai đứa trẻ niềm thương tiếc âm thầm một thiên đường của tuổi thơ đã trở nên xa xôi, diệu vọi. Và có lẽ cũng không chỉ dừng lại ở đó, con tàu ấy còn đánh thức cả niềm khao khát được sống trong một thế giói ấm áp và hạnh phúc của những linh hồn trẻ dại sớm phải chịu đựng những truân chuyên của cuộc đòi. Văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng có mấy yếu tố cơ bản là: -Tình huống nghệ thuật -Tình tiết -Cốt truyện -Nhân vật -Giọng điệu và ngôn ngữ. Mọi sự biến đổi về thi pháp chủ yếu nằm trong mấy nét cơ bản đó. -Văn xuôi trung đại chủ yếu thuật lại tiểu sử của các nhân vật cùng các biến cố lịch sử nên yếu tố cốt truyện được đặt lên hàng đầu. -Truyện Nôm cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX mà đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du, có thể chịu những tác động nào đó của tiểu thuyết cổ điển thời Minh – Thanh, nên được viết dưói dạng thơ nhưng thực chất đã thuộc thể loại tự sự và là một biểu hiện của thời kì quá độ từ thể loại trữ tình (thơ) sang thể loại tự sự (truyện) bằng việc hướng sự miêu tả từ cốt truyện sang nhân vật. -Các nhà văn cùng thờ với Thạch Lam chịu nhiều ảnh hưởng về cấu trúc tác phẩm văn xuôi Tây phương thế kỉ XIX nên coi trọng tất cả các yếu tố cơ bản: tình huống, cốt truyện, nhân vật và tình tiết. -Truyện ngắn của Thạch Lam xoá mờ yếu tố cốt truyện còn các yếu tố khác như nhân vật, tình tiết dường như đều có một sự giảm nhẹ một cách tối đa. Như vậy, có thể ông đã sớm lắng nghe những cách tàn hiện đại hoá của văn xuôi Tây phương thế kỉ XX bằng xu hướng đi vào thế giới bên trong của tiềm thức để phát hiện những bí mật cùng vẻ đẹp của phẩm giá con người. II – PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.. Đặc điểm về nội dung a.Bức tranh về đời sống tối tăm, mòn mỏi nơi phố huyện Sáng tác của Thạch Lam không thu hút người đọc bằng sự vận động đầy căng thẳng và bất ngờ của cốt truyện mà bằng những chi tiết giàu chất tạo hình và giàu sức gợi do nhà văn có một sở trường đặc biệt trong quan sát và lắng nghe những vận động âm thầm của tạo vật trong không gian và thời gian. Truyện khởi đầu bằng câu văn miêu tả tiếng trống thu không trên chòi canh của huyện nhỏ vói những âm rền thong thả, chậm rãi “từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”. Dù là phố huyện nhưng cách đo thòi gian nơi đây có vẻ vẫn theo lối cổ xưa, điểm bước đi của thời gian và sinh hoạt của một vùng bằng tiếng trống. Nét đặc biệt ấy gọi ý thức về thời gian giúp tác giả dẫn người đọc theo dõi cảnh quay chi tiết hình ảnh một buổi chiều tàn vói những nét rực rỡ: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”. Cả mặt trời lúc sắp xuống núi lẫn những đám mây từ phía chân trời đều như đang bốc cháy lần cuối trước khi từ giã ban ngày, nhường chỗ cho cảnh tượng dãy tre làng (như thể đã bị đốt cháy) đen lại, cắt hình rõ rệt trên nền trời. Ngòi bút của tác giả thực sự trở nên linh hoạt và sống động khi miêu tả sự vận động của thời gian qua những diễn biến của cảnh vật. Lúc đầu là cảnh “nhá nhem tối” khi ánh sáng và bóng tối đan xen qua hình ảnh “những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối”. Sau đó là hoàng hôn bao phủ: “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”, “Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”. Cuối cùng là cảnh đêm về thực sự: “tịch mịch và đầy bóng tối”. Nếu để ý, ta sẽ thấy ngòi bút miêu tả cửa nhà văn đi từ đại cảnh đến tiểu cảnh. Thoạt đầu là cảnh bầu trời, những đám mây, sau đó là luỹ tre làng rồi ghé xuống quán nhỏ của chị em Liên, cuối cùng đậu trên chiếc đèn con leo lét của chị Tí. Nhưng đấy chỉ là cảnh nền, cảnh thực của phố huyện được nhà văn đặc tả tỉ mỉ. Đây là hình ảnh phiên chợ đã tàn: “Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn vói mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”. Tuy nhiên, tác giả không dừng lại ở đó. Bao trùm lên những đốm sáng nhỏ nhoi ở cái phố huyện nghèo vào đêm ấy là cả một “Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất hay len vào những cành cây”. Nếu so sánh với đoạn văn mở đầu truyện ngắn, ta lại thấy ống kính miêu tả của nhà văn lia theo hướng ngược lại, từ tiểu cảnh mở ra đại cảnh, từ vi mô mở ra vĩ mô. Nhưng ấn tượng ám ảnh tâm trí lại là sự tương phản giữa cái vũ trụ bao la đầy những ánh sáng huyền ảo của thiên nhiên và vạn vật với những kiếp người nghèo khổ, sống trong mòn mỏi của sự quanh quẩn, vô nghĩa. Họ ngồi trong bóng tối, thầm đợi chờ một điều gì tươi sáng đến cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ mà không thực sự biết đó là điều gì. b.Niềm khao khát một thế giới tươi sáng và hạnh phúc Trong sáng tác của Thạch Lam, không chỉ nhà văn mới bộc lộ cái sở trường lắng nghe và cảm nhận được bao chuyển động và biến đổi của âm thanh, màu sắc và hương thơm, nhân vật của ông, nhiều người cũng mang phẩm chất đó. Điều đáng chú ý là ở chỗ bởi họ biết lắng nghe và cảm nhận nên cuộc sống bên ngoài thường dội vào tâm hồn họ gây nên bao biến động bất ngờ. Nhân vật Liên trong tác phẩm cũng vậy. Tâm trạng bao trùm trong tâm hồn của cồ bé Liên là nỗi buồn man mác, thấm thía chuyển hoá thành khát vọng đổi đòi mơ hồ được diễn tả qua ba chặng thời gian: khi hoàng hôn xuống, khi đêm về và lúc con tàu qua. Đây là tâm trậng Liên trước cảnh chiều tàn nơi huyện lị buồn tẻ khi nghe tiếng trống thu không rời rạc “từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều” cùng tiếng ếch nhái “kêu ran ngoài đồng ruộng” như một bản hoà âm thôn dã gọi bao bâng khuâng trong lòng cô bé ngụ cư. Cảnh chiều tàn gieo vào lòng cô gái mới lớn, không quen cuộc sống tù túng nỗi buồn man mác, gửi vào tiếng thở dài kín đáo: “Chiều, chiều rồi… Nỗi buồn phản quang qua đôi mắt trong trẻo, hồn nhiên giờ đây bị bóng tối ngập đầy trở nên già nua, suy tư và thấm vào nội tâm: “cái buồn của buổi chiều quê thấm thìa vào tâm hồn ngây thơ của chị”. Liên ngắm cảnh phố huyện vào đêm như thể trong vô thức cô muốn xoá đi cái tâm trạng buồn xâm chiếm tâm hồn mình lúc hoàng hôn về. Nhưng cảnh những đứa trẻ lúi húi nhặt nhạnh, bòn mót những gì còn sót lại, vương vãi trên đất lại làm Liên buồn hon và “thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó”. Cảnh cư dân kiếm sống ban đêm với những vụn đời lam lũ, tủi cực mới thực sự tác động mạnh vào tâm hồn đa cảm của cô bé. Trong lặng lẽ, Liên cảm thông với cảnh ế ẩm của chị Tí, bác Siêu, bác xẩm và ái ngại cho mẩu đời tàn trong cô độc của bà cụ Thi… Nhìn phở bác Siêu, “thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị em không bao giờ mua được”, Liên nhớ thời “mẹ Liên nhiều tiền – được đi chơi Bờ Hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ”. Hoài niệm đánh thức trong Liên những ngậm ngùi tiếc nuối: Khi Hà Nội thì “nhiều đèn quá” còn hiện tại hai chị em phải chung sống với “bóng tối”. Hoài niệm không chỉ kích thích quá khứ sống dậy mà còn nhen nhóm bao khát vọng âm thầm về ngày mai, dẫu chỉ là một ngày mai mơ hồ. Đó là lí do vì sao, dù buồn ngủ đến dip cả mắt nhưng hai đứa trẻ vẫn cố thức để đọi ngắm con tàu qua. Chị em Liên cố thức để đợi chuyến tàu không phải để bán hàng theo lời mẹ dặn mà để kiếm một khoảnh khắc vui dù là vui ghé, vui lây trong hiện tại mòn mỏi, vô nghĩa. Khi con tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn tàu vụt qua. Dù chỉ trong chốc lát nhưng hình ảnh “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng” thì đọng lại mãi. Đứng lặng ngắm con tàu qua, Liên không trả lòi câu hỏi của em, trong tâm hồn cô, cơn xúc động vẫn chưa lắng xuống “Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”. Có thể trong phút ấy, khát vọng đổi đòi đã được đánh thức: “Con tàu như đã đem một chút thế giói khác đi qua. Một thế giới khác hẳn, đối vói Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu”. Chữ khác điệp ba lần để diễn tả niềm khao khát âm thầm mà mãnh liệt. 2.Đặc sắc nghệ thuật Có người nhận xét: Thạch Lam là một nghệ sĩ tài hoa, trong ông có một hoạ sĩ, một nhạc sĩ và một nhà thơ. Ông đã ngắt câu bằng màu, chấm câu bằng nốt nhạc và chuyển đoạn bằng hình ảnh. Đó là một nhậrì xét tinh tế. Truyện ngắn Hai đứa trẻ hội tụ những phẩm chất đặc biệt của tâm hồn tài hoa đó. a.Nghệ thuật đối lập Câu chuyện về hai đứa trẻ nghèo đêm đêm ngủ lại quán nhỏ trông hàng cho mẹ ngồi trên chõng ngắm phố vào đêm, qua ánh sáng những đốm lửa chúng quan sát những đứa trẻ nghèo khác đi nhặt nhạnh vật thừa thãi sau phiên chợ tàn, những kiếp người kiếm ăn lam lũ và đặc biệt, khi con tàu từ Hà Nội về chạy qua hắt ánh sáng rực rỡ xuống phố huyện nghèo thì tâm hồn hai đứa trẻ xao động thực sự, chúng bồi hồi nhớ tiếc những kỉ niệm ngọt ngào của một thời ấu thơ. Nếu chỉ thế thôi, truyện ngắn Hai đứa trẻ sẽ khó để lại ấn tượng sâu bền trong lòng bao thế hệ người đọc. Cũng như trong một truyện ngắn của An-đéc-xen, Thạch Lam khá dụng công trong việc tạo dựng hai mảng màu sáng – tối (cũng có thể nói: diễn biến của truyện chủ yếu dựa trên nền của sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối) để mỗi lúc đốm lửa bùng lên, bóng tối dạt đi, người đọc lại có cơ hội quan sát một cảnh tượng trong bức tranh đời sống nơi phố huyện hay một góc tâm tư của hai đứa trẻ. Bút pháp tinh tế đó khiến cho ánh sáng của những ngọn đèn trên phố, của bầu tròi hư ảo trên cao, của con tàu từ Hà Nội mang một chức năng kép: vừa soi rạng cho ta tận mắt chứng kiến bao kiếp ngưòi nghèo khổ, lầm lũi kiếm ăn trong mòn mỏi, vô vọng vừa soi rạng tâm hồn hai đứa trẻ cho ta thấy bao khát vọng mơ hồ trong những tâm hồn trẻ thơ. b.Kết cấu vòng tròn như cấu tứ một bài thơ Nhìn từ phương diện kết cấu, truyện ngắn Hai đứa trẻ được tổ chức tựa như một bài thơ. Bóng tối có mặt ở đầu truyện, thân truyện và cuối truyện. Bóng tối đeo bám dai dẳng gợi liên tưởng và suy ngẫm đến từng số phận: Chị Tí, bác Siêu, bác xẩm và cả bé Liên. c.Âm điệu của tác phẩm Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Thế, chị gái của nhà văn, truyện ngắn Hai đứa trẻ là câu chuyện có thật về quãng thời gian hai chị em sống với mẹ ở cẩm Giàng, Hải Dương. Tác phẩm, vì thế, còn phảng phất một tự truyện. Đây cũng có thể là lí do khiến câu văn của thiên truyện trở nên mềm mại, trong sáng, bình dị, mang âm điệu du dương phù họp với tâm hồn êm dịu, sâu lắng và tế nhị chứa nỗi buồn man mác của nhân vật chính trong truyện và cũng là của tác giả khi hồi cố tuổi thơ của chính mình. XEM THÊM PHÂN TÍCH TSC PHẨM XIN LẬP KHOA LUẬN-NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Hai Đứa Trẻ – Ngữ văn 11
3,372
Phân tích tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng Hướng dẫn Vũ Trọng Phụng đã dựng nên những nghịch lý đau xót nhất, tàn ác nhất, đáng khinh bi nhất của một cuộc sống đảo điên vì đồng tiền, giẫm đạp lên nhau vì đồng tiền nhơ bấn. Và cũng chính bằng những lời lẽ chua cay đầy khinh miệt, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên một đám tang điển hình cho cái xã hội bẩn thỉu ấy, đám tang của cụ tổ trong Hạnh phúc của một tang giatrích trong Sô'đỏ:đám tang này vừa đáng cười, vừa đáng khóc, vừa đáng khinh bỉ, vừa đáng xót xa, gieo vào lòng những ấn tượng sâu sắc mạnh mẽ. Cái đám tang trong Hạnh phúc của một tang giaấy được dựng lên trong những nghịch lý, trong những sự đối lập đầy mâu thuẫn gay gắt. Đó là một đám tang diễn ra trong hạnh phúc, trong vui sướng, trong mừng rỡ, đó là một đám tang mà từ khâu báo tin, chuẩn bị đến đưa tang đều làm cho người ta bật cười mỉa mai, chế giễu, nhưng cười rồi lại khóc, cười rồi lại xót xa, cười rồi lại chìm vào trong nghĩ suy trở trăn day dứt. Những nhân vật trong đám tang ấy đều là những tên hề, những kẻlố lăng và hợm hĩnh được xây dựng nên trong sự khinh bỉ căm ghét của nhà văn. Đám tang ấy phải chàng vừa là một tràng cười dài, vừa là một giọt nước mắt lớn đầy chua cay đau xót? Đám tang của cụ tổ, cái chết của cụ tổ dường như là một niềm vui sướng vô bờ bến, dường như là kết quả của một sự mong đợi từ rất lâu: “Ba hôm sau, ông cụ già chết thật”. Câu văn báo tin hay một tiếng thở phào nhẹ nhõm, một tiếng cười trút đi gánh nặng? Tác giả không hề nói giảm nói tránh mà nói một cách trực tiếp về cái chết, nói trong một sự mỉa mai đầy phũ phàng. Từ “chết thật” đặt trong sự đối lập với “chết.' giả” thể hiện một nghịch lý rất đau xót: dường như con người đã phải tìm về cái chết mà cũng không được yên thân. Ngay từ câu đầu tiên, ý vị trào phúng đã nổi bật lên đầy mai mỉa. Người nhà của cụ tổ đã chuẩn bị đám tang cho cụ trong một niềm vui sướng vô bờ, trong những toan tính riêng tư cho bao dự định tốt đẹp sắp đến, ông Phán – con rể cụ – hớn hở nhận ra giá trị của đôi sừng trên đầu mình, hí hửng cho kế hoạch thừa kế và làm một cuộc doanh thương vĩ đại. Cụcố Hồng – con ruột của cụ tổ – người đáng lẽ phải mang nỗi đau đớn nhất thì lại mải mê hoan hỉ với một ý tưởng độc đáo: “Cụ cố Hồng nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồxô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: “úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa” Cụ chắc cá mười phần rằng ai cũng phải ngợi khen một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế… ”. Cụcố Hồng vốn thích sự già bởi sự già làm cho cụ trở nên cao quý hơn. Thời điểm này chính là lúc thích hợp nhất để cụ phô trương cho tất cả mọi người cái sự già của mình, cái sự hiếu thảo và oai phong của mình. Trong mỗi suy nghĩ, trong mỗi hành động, bản chất của cụcố Hồng đều hiện lên rất rõ – bản chất hám danh trưởng giả, bản chất bẩn thỉu của một' quái thai trong xã hội đồng tiền. Có một chút khác biệt, ông Văn Minh không biểu lộ niềm vui một cách trực tiếp mà lại giữ thái độ nung nấu đăm chiêu như đang suy nghĩ trăn trở. Ong nghĩ suy trăn trở thật, nhưng không phải vì đám ma mà lại là lo cho đám cưới, lo xử trí Xuân Tóc Đó và lo lót việc hư hỏng của cô Tuyết, em gái ông. Ồng lao vào một cuộc tranh cãi với vợ chồng cụcố Hổng về việc cưới chạy tang cho cô Tuyết. Đám tang lúc này bỗng chốc đã hoá thành tiếng cười, nỗi buồn bỗng chốc trở thành niềm vui hoan hỉ. Cảnh chuẩn bị đám tang được miêu tả rất ngắn, không phải vì việc chuẩn bịsơ sài, mà ngắn bởi đám tang ấy đã được chuẩn bịsắp đặt từ rất lâu, rất kỹ càng, giờ cụ tổ chết thật thì ai vào việc nấy, có hệ thống, có tổ chức quy củ đàng hoàng. “Bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thoả thích… người ta tung bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma… Tối hom ấy, khách khứa đến hỏi thăm, phúng viếng, chia buồn tấp nập”. Niềm vui dường nhu' đang tràn'ngập chỉ bằng một từ “tấp nập”, cả không khí chuẩn bị tang gia đã hiện lên tung bừng vui sướng như một đám cưới, một ngày lễ hội. Nhà văn càng miêu tả, ta càng nhận ra những nghịch lý, những mâu thuẫn ngược đời khiến người ta phái bật cười thành tiếng, cười khinh bỉ, chế giễu và mỉa mai. Đỉnh cao của niềm hạnh phúc trong tang gia chính là cảnh đưa tang – một cảnh đưa tang hoành tráng, ngoạn mục, đầy trang trọng. Nhưng ẩn sau niềm vui, tiếng cười đưa tang ấy là những lời lên án tố cáo, những tiếng khóc xót xa cay đắng cho một xã hội thực dân nửa phong kiến bẩn thỉu, lô lãng, hợm hĩnh, rởm đời, thô bỉ. Đám tang được đưa vàođúng 7giờ sáng với rất nhiều người tham gia có cả cảnh sát bảo vệ. Hai viên cảnh sát Min Đơ, Min Toa “giữa lúc không có ai thuê, được mời đi bảo vệ cho đám tang to tát này thì thật vô cùng vui sướng và rất hết lòng” Hai viên cảnh sát có chung niềm vui với gia chủ: niềm hạnh phúc có việc làm chính đáng kiếm ra tiền, thể hiện được uy danh oai phong lẫm hệt. Phái chăng cái xã hội kia đã quá thối nát, không còn phép tắc kỷcương, để cho những kẻ nhân danh pháp luật phải khốn nạn như thế. Các quan khách của đám tang đều là bạn của cụcố Hồng, “ngực các ông đầy những huân chương: Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh… ”. Chưa bao giờ người ta được thấy nhiều huy chương cao quý như thế đậu trên áo của những ngài quan khách. Các ngài còn được miêu tả với những bộ râu độc đáo, đa dạng và phong phú: râu loăn quăn, râu ba chòm, râu lún phún… ” những bộ râu tỏ vé khí phách đàn ông, nhưng thực chất chỉ như những thằng hề với một bộ sưu tập về râu mỉa mai, nực cười. Ngoài ra, trong đám tang còn có sư cụ Tăng Phú – vênh váo đắc thắng, cô Tuyết – nét mặt buồn rầu, tưởng như đang buồn cho người vừa khuất núi, nhưng hoá ra cô đang lo lắng băn khoăn vì “không tìm thấy bạn giai” ông Typn, Joseph Thiết, Xuân Tóc Đỏ… Đám tang đi đến đâu là rầm rộ huyên náo đến đấy: “Đám cứ đi… ” lặp lại đến hai lán, diễn tả quá trình đưa đám đầy thách thức, mọi cái xấu xa, lố lăng, rởm đời đểu ngang nhiên diễn ra, phơi bày trên đường phố. Dường như người ta đã mặc nhiên chấp nhộn những cái nhố nhăng ấy như một tất yếu khách quan của xã hội đương thời. Cái đám dông đi đưa ma ấy cứ nhốn nháo, nhặng xị, họ kháo nhau về đủ thứ chuyện: chuyên vổ nhà cửa, về cái tủ mới sắm, cái áo mới may… ngoài mặt thì giảvờ theo lộ của một đám ma, nhưng bên trong chúng lại toan tính, chúng trêu nhau, bẹn hò nhau: “Một mớ âm thanh hỗn độn hoà vào bản nhạc kèn ta kèn tây của đám tang”. Dường như Vũ Trọng Phụng đã đưa tất cả các nhân vật lên trang viết để dựng thành một vở kịch với những thằng hề tự nhảy nhót, tự bộc lộ bản chất xấu xa, tự phơi trần bản chất “chó đểu” của xã hội thực dân nửa phong kiến. Màn sống động nhất của vở kịch chính là cảnh hạ huyệt. Cậu Tú Tân bắt mọi người phải giơ chân, múa tay, cúi đầu để cậu chụp ảnh. Ông Phán mọc sừng lại nổi bật lên với tiếng khóc kỳ lạ “Hút! Hút! Hút”. Tiếng khóc ấy rất kỳ quái, người ta không thể biết âm thanh về nghĩa ấy là tiếng khóc hay tiếng cười. Đây là tiếng khóc duy nhất trong đám tang nhưng lại là một tiếng khóc trống rỗng và giả dối. Cái đám ma ấy dường như tất cả, chi thiếu duy nhất một tình thương chân thành, như một giọt nước mắt thực sự xót thương. nhà văn phê phán tất cả, nhà văn cười tất cả, không hề bênh vực bất kỳ một nhân vật nào, kê cả người chết: “đến ông cụ nằm dưới mồ cũng phải vui sướng, nếu không ngồi nhỏm dậy mà gật gù cái đầu”. Đến cả người chết cũng chấp nhận và vui sướng về những sự nhố nhăng ấy. Đám tang cụ tổ trong Hạnh phúc của một tang gialàm cho người ta cười ra nước mắt, cười trong chế giễu, mai mỉa và xót xa. Cái đám tang ấy như một xã hội thực dân thu nhổ với tất cảsựlố bịch, xấu xa, bẩn thỉu, rởm đời được phơi bày trần trụi, làm cho người đọc phải cười mà trăn trớ day dứt và căm hận. Nguồn:
Phân tích tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
1,692
Phân tích tác phẩm Hạnh Phúc Của Một Tang Gia – Ngữ Văn 11 Hướng dẫn HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA (Trích Số Đỏ) I. NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) xuất thân trong một gia đình “nghèo gia truyền” (chữ dùng của Ngô Tất Tố), “nghèo kế thế” (chữ dùng của Lan Khai). Quê gốc ở làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông cụ thân sinh của Vũ Trọng Phụng nhập cư vào Hà Nội khoảng đầu thế kỉ XX, làm thợ điện cho một xưởng chế tạo toa xe và sớm qua đời vì bệnh lao khi nhà văn mới 7 tháng tuổi. Vũ Trọng Phụng may mắn có được một người mẹ hiền hậu, tần tảo lo cho ăn học nhưng ông cũng chỉ qua bậc Tiểu học rồi phải đi làm để kiếm sống. Vào đời đúng vào thời điểm xã hội Việt Nam đang bị cuốn vào cơn khủng hoảng kinh tế, Vũ Trọng Phụng liên tục bị mất việc, ông đành phải chọn nghề viết báo, viết văn chuyên nghiệp làm kế mưu sinh. Cuộc sống khốn quẫn, công việc cực nhọc, Vũ Trọng Phụng mắc bệnh lao mà không có điều kiện chạy chữa. Ông qua đời năm 1939 tại Hà Nội khi còn một tuần nữa mới đầy 27 tuổi. Suốt tuổi thơ ấu và trưởng thành, Vũ Trọng Phụng gắn bó vói đòi sống đô thị nhiều lọc lừa và cạm bẫy nhưng ông là một con người bình dị, khuôn phép, mực thước, trọng nghĩa và thủ tín. Ông có ý thức tự học, rất chăm đọc và có một năng suất sáng tác phi thường. Trong khoảng gần chục năm cầm bút, Vũ Trọng Phụng đã cho ra đời khoảng tám cuốn tiểu thuyết (Giông tố, số đỏ, Vỡ đê, Lấy nhau vì tình, Trúng số độc đắc,…) đưa ông lên vị trí nhà tiểu thuyết bậc thầy, bảy vở kịch (Không một tiếng vang, Tết cụ cố,…), năm phóng sự dài (Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô,…) khiến ông được tấn phong là ông vua phóng sự đất Bắc. Ngoài ra, Vũ Trọng Phụng còn là tác giả của dăm chục truyện ngắn, một số vở kịch và tiểu luận khá dài cùng hàng trăm bài phê bình, tiểu luận, bài báo và xã luận. Vũ Trọng Phụng là nhà văn sớm thể hiện nét sắc sảo của một cây bút mang tri giác hiện đại nhưng đồng thời về sự nghiệp sáng tác cũng như thế giới quan cũng bộc lộ những nét phức tạp, đôi khi mâu thuẫn, gây ngộ nhận và tranh cãi qua một thời gian khá dài trong nhiều thế hệ người đọc. Từ năm 1986 cho đến nay, địa vị và uy tín văn học của Vũ Trọng Phụng được đề cao trở lại, ông được xếp vào hàng ngũ những cây bút xuất sắc nhất của trào lưu hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Về phong cách nghệ thuật, Vũ Trọng Phụng là cây bút chuyên chú phát hiện và phanh phui cái xấu, cái ác trong xã hội tư sản thành thị vớii cái nhìn tinh tường cùng lối thể hiện trực diện đến trần trụi và lạnh lùng gần với phong cách của một bác sĩ ngoại khoa ngành giải phẫu. Do chuyên chú xây dựng bức tranh xã hội nên sở trường của ông là xây dựng kiểu nhân vật đám đông, ông sử dụng tài tình thủ pháp đối lập và cường điệu để làm nổi bật bản chất hiện thực. Số đỏ được coi là kiệt tác của Vũ Trọng Phụng và cũng là kiệt tác của văn xuôi Việt Nam trước 1945, xuất bản dưới dạng đăng nhiều kì trên Hà Nội báo, bắt đầu từ số 40, từ ngày 7 – 10 – 1936, in thành sách vào năm 1938. 2.Tri thức văn hoá Số đỏ ra đời như một sự thể hiện thái độ của Vũ Trọng Phụng đối với các phong trào rầm rộ nhưng nông nổi và hời hợt trong xã hội đô thị Việt Nam những năm 30 của thế kỉ trước. Đó là những làn sóng mới với những cái tên rất kêu như Âu hoá, thể thao, bình dân, nữ quyền nhưng thực chất chỉ là những trò lừa mị, quảng cáo để che đậy lối sống chạy theo vật chất, dục vọng tầm thường và nhiều thú vui phù phiếm của tầng lớp thượng lưu, giàu có mới nổi. Lối sống mới này có nguy cơ tạo nên những loạn cương về mặt đạo đức xã hội cho nên Vũ Trọng Phụng cần phải dùng tiếng cười để lật tẩy, tạo điều kiện cho công chúng nhận ra bản chất Âu hoá rởm, thể thao rởm, bình dân rởm, nữ quyền rởm mà thực dân Pháp và chế độ phong kiến lúc bấy giờ muốn tạo ra. 3.Tri thức về thể loại Đoạn trích thuộc chương XV trong tổng số 20 chương của tác phẩm. Mười bốn chương đầu, các nhân vật lần lượt xuất hiện với tính cách hoàn chỉnh, ở chương XV, mượn bối cảnh đám tang, tác giả để cho xuất hiện kiểu nhân vật đám đông. Mỗi nhân vật dù chỉ được miêu tả chấm phá vài nét nhưng bản chất của chúng lại bộc lộ khá nổi bật. Chủ trương của tác giả trong chương XV là lật tẩy và vạch trần bản chất nhố nhăng, giả dối, lố bịch, vô đạo đức của bọn người mang danh là thượng lưu, quý phái, văn minh. Thực chất chúng chỉ là những quái thai, cặn bã của xã hội thực dân tư sản thành thị nước ta trước Cách mạng. Nét đặc sắc về nghệ thuật của tiểu thuyết Số đỏ và cũng là của đoạn trích là ở chỗ, Vũ Trọng Phụng đã tạo được một tình huống nghệ thuật độc đáo và đã thể hiện tài năng của một nhà văn hiện thực sắc sảo qua nghệ thuật trào phúng bậc thầy đặc biệt là ở tài nghệ siêu việt trong việc luôn tạo ra sự bùng nổ mâu thuẫn dây chuyền nhằm duy trì tiếng cười thường trực với mọi cung bậc gây nên một trận cười dài càng về sau càng hấp dẫn (trong khĩ tiếng cười trong dân gian thường bật ra nhanh và kết thúc gấp). II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Đặc điểm về nội dung a.Một số thuật ngữ, khái niệm cần lưu ý -Tình huống nghệ thuật: Là sự kiện đặc biệt, bất ngờ, thường xảy ra ở phần đầu các tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi, có giá trị như một chất xúc tác cực mạnh, làm lộ ra phẩm chất sâu kín của các nhân vật. -Nghệ thuật trào phúng: Là các hình thức và thủ pháp gây tiếng cưòi. Các hình thức và thủ pháp mà một cây bút trào phúng thường sử dụng là: tạo sự đối lập, thúc đẩy kịch tính, kết thúc bất ngờ… Vũ Trọng Phụng cũng sử dụng thành công các hình thức và thủ pháp đó nhưng ông sở trường ở bút pháp cường điệu cao độ, phóng đại tột cùng đặc biệt là thủ pháp miêu tả sự thống nhất mà đối lập một cách tinh tường và sắc sảo giữa nội tâm và ngoại hiện nhằm phoi bày và lật tẩy bản chất của đối tượng trào phúng. Đoạn trích đã tạo được một tình huống trào phúng thật độc đáo. Đó là cái chết của cụ cố tổ và thái độ ứng xử của đám con cháu. Cái chết của cụ cố tổ đã thực sự đem lại niềm vui lớn cho cái đại gia đình bất hiếu ấy. Bởi vì, cái chết ấy tựa như một hỉ tín vừa cáo chung một khoảng thòi gian dài mong mỏi và chờ đợi vừa mở ra một kỉ nguyên mới- kỉ nguyên thực hành tờ di chúc của người đã khuất, tức là kỉ nguyên chia của và hưởng thụ. Một tình huống nghệ thuật độc đáo, tự nó mang ý nghĩa của một sự cố đặc biệt, đánh thức những phẩm chất sâu kín của tất cả các nhân vật mà bình thường chúng muốn che giấu. Theo nghĩa đó, cái chết của cụ tổ có giá trị của một sự kiện quan trọng lật tẩy bản chất thực dụng của tất cả các thành viên trong gia đình ấy. Nét sắc sảo của ngòi bút Vũ Trọng Phụng là ở chỗ ông miêu tả sự kiện trên tựa như một cú hích làm tất cả quay 180 độ. Ngay sau cái chết của cụ cố tổ, mọi thành viên trong cái đại gia đình thượng lưu, giàu có ấy lập tức vất bỏ các vai diễn về lòng hiếu thảo giả vờ, thái độ tận tuỵ giả vờ, tâm trạng lo lắng giả vờ để trở về với con người thật của chúng: bận rộn tổ chức đám tang trong niềm háo hức, hoan hỉ với số của nả, tiền bạc mà người chết để lại. Thông qua thái độ của các nhân vật trước cái chết của cụ cố tổ, tác giả thể hiện sự suy đồi về nhân cách của con người. Nhưng sử dụng tình huống đám tang là nét khác người và cũng là sở trường của Vũ Trọng Phụng. Đây là tình huống điển hình vì thái độ của con người trước cái chết của đồng loại và người thân thường là thước đo chính xác và chân thực phẩm giá con ngưòi. Ban-dắc bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực cũng soi tính cách của các nhân vật thượng lưu và bình dân qua cái chết của lão Gô-ri-ô (đoạn trích: Đám tang lão Gô-ri-ô). Qua đoạn trích, tác giả muốn phơi bày bản chất xấu xa của cả hai loại nhân vật: đám ngưòi quý phái, thượng lưu và tầng lớp bình dân lưu manh qua đại điện là Xuân Tóc Đỏ. c.Chất trào phúng trong nhan đề Hạnh phúc của một tang gia là nhan đề đã được lược bớt của chương XV trong tác phẩm Số đỏ. Nhan đề đầy đủ của chương do tác giả tự đặt là Hạnh phúc của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – Một đám ma gương mẫu. Chọn đặt nhan đề Hạnh phúc của một tang gia, tác giả đã thu hút ngay từ đầu sự chú ý của người đọc vào một mâu thuẫn mang tính trào phúng. Gia đình có tang mà lại hạnh phúc? Gia đình có người chết mà lại vui vẻ, sung sướng? Nếu quả thật trong thực tế có chuyện trái khoáy, ngược đời đó thì hạnh phúc ở đây chỉ có thể hiểu là hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui ở đây chỉ có thể hiểu là niềm vui của một lũ con cháu đại bất hiếu mà thôi. Câu cửa miệng người ta thường nói “tang gia bối rối” vốn để chỉ tình cảnh bận rộn, lúng túng, lo lắng, rối bời trước mất mát của một gia đình có tang, thì ở đây tác giả cũng đã dựng lên đúng cảnh bối rối thực sự của cái đại gia đình cụ cố Hồng vào lúc cụ cố tổ qua đời. Tuy nhiên, toàn bộ sự lo lắng, bận rộn ở đây trong thực chất chỉ là lo làm sao để tổ chức cho thật to, thật linh đình một ngày vui, một đám hội cho mọi thành viên trong gia đình và thiên hạ cùng chứng kiến và thưởng thức một “đám ma gương mẫu”. Còn bối rối? Thì quả là có bối rối thật. Nhưng là cái bối rối lo làm sao giải quyết cho xong một vài việc còn dang dở đối với một vài thành viên trong gia đình để niềm vui và hạnh phúc do cái chết của cụ cố tổ đưa lại được thực sự mĩ mãn. Như vậy, nhan đề Hạnh phúc của một tang gia vừa gây sự chú ý bởi tính hài hước, mỉa mai về một sự thật có vẻ ngược đời, trái khoáy nhưng đáng buồn thay lại đang xảy ra trong thực tế ; vừa cho người đọc thấy mà suy ngẫm về một vấn đề khác lớn hơn và đáng lo ngại hơn: tâm lí thực dụng tư sản, tâm lí bất chấp tất cả để chạy theo vật chất và đồng tiền trong xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy gỉờ đang chà đạp và làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống từng được coi là thiêng liêng và đáng trân trọng nhất của một xứ sở. d.Tài nghệ trào phúng qua việc xây dựng các chân dung biếm hoạ -Chân dung biếm hoạ cá nhân: Cái chết của cụ cố tổ, như đã phân tích, rõ ràng là một sự kiện đem lại hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình của cụ. Điều có vẻ như một nghịch lí này, oái ăm thay lại là một sự thực khá mỉa mai và tàn nhẫn khi ta soi vàó tâm trạng và hành vi của từng thành viên trong đại gia đình ấy. Ông Phán mọc sừng là thành viên được tác giả nhắc đến đầu tiên trong đám người nhận được tin vui ngay sau cái chết của cụ cố tổ. Cũng không phải ngẫu nhiên cụ cố Hồng lại chọn ông con rể quý hoá ấy là người đầu tiên để nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và rể một số tiền là vài ngàn đồng. Vì chính ông (xứng đáng là một đạo diễn tài ba) đã chỉ đạo cho anh chàng diễn viên tài ba là Xuân Tóc Đỏ nói cái câu cần nói cho cái người cần và phải được nghe, là cụ cố tổ. Cái kết quả ngoài cả sự mong đợi của mọi người ấy, xét một cách khách quan thì công lớn thuộc về Xuân, nhưng công đầu vẫn phải thuộc về ông, vì thử hỏi, mọi người sẽ còn phải đợi cái chết của ông cụ già đáng chết đến bao giờ nữa, nếu không có ông khôn ngoan đã trù tính trước và cài đặt cái câu: “Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng!” vào miệng Xuân để Xuân, trong một cơn tức giận chính đáng, nã luôn cái câu nói ấy vào mặt cụ cố tổ? Niềm vui của cụ cố Hồng thuộc kiểu hiếu danh mù quáng đến mức ngu xuẩn và lố bịch. Đối với nhân vật kì quặc này, ông cụ thân sinh qua đời sẽ là một cơ hội hiếm có để cụ Hồng lên chức cụ cố trước mắt bàn dân thiên hạ, mặc dù về tuổi trời, cụ mới ngoài năm mươi! Thế nhưng chỉ cần mơ tưởng đến thời khắc vinh danh ấy, cụ sung sướng mê tơi đến mức nhắm nghiền mắt lại rồi mơ màng, rồi tưởng tượng ra cái cảnh đau đớn, khổ não của mình cùng lời trầm trồ khen ngợi của đám đông đứng xem đám tang. Niềm hạnh phúc của Vân Minh, con trai cụ cố Hồng có thể tạm gọi tên là niềm hạnh phúc điển hình của đám con cháu đại bất hiếu nhuốm màu lạnh lùng kiểu Tây phương hạ lưu. Đối với Văn Minh, cái chết của cụ tổ là một nốt son trong lịch sử gia đình. Vì nó chấm dứt cái thời kì chờ đợi sốt ruột và mỏi mòn thực đáng ghét để bước sang kỉ nguyên chia của và hưởng lợi đầy hân hoan! Tâm trạng rộn ràng khiến Văn Minh bấn lên với bao nhiêu sự chen lấn giữa ngôn ngữ pháp đình với ngôn ngữ biểu cảm, tình thái nào luật sư, lí thuyết, thực hành, tố cáo, phạm tội, băn khoăn, phiền, phân vân,… Niềm vui của sư cụ Tăng Phú thì lộ hẳn ra ngoài qua vẻ vênh váo ngồi trên một chiếc xe tham gia vào đội quân đưa tang cụ tổ mà như thể đang cụng một đội quân ca khúc khải hoàn vì chắc mẩm rằng trong số thiên hạ đứng xem ở các phố thế nào cũng có ngưòi nhận ra rằng sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo, và như thế thì là một cuộc đắc thắng đầu tiên của báo Gõ mõ mà Tăng Phú giữ vai trò cố vấn. Các thành viên còn lại chỉ thực sự hạnh phúc khi cụ Hồng ra lệnh phát phục. Bởi đám tang cụ tổ là một sự kiện để mỗi người nhân đó có dịp trình diễn cái vai trò của cá nhân mình trước xã hội: bà Văn Minh sẽ trình diễn đồ xô gai thuộc dạng mốt tân thòi, Tuyết sẽ trình diễn bộ y phục cũng thuộc dạng mốt tân thời có tên là Ngây thơ để tiện thể cải chính vói thiên hạ rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh, cậu Tú Tân sẽ trình diễn tài nghệ chụp ảnh trong đám tang, còn ông Typn thì sẽ lắng nghe báo giới bình phẩm ra sao về những thiết kế tang phục của hiệu may Âu hoá. -Chân dung biếm hoạ tập thể: Niềm hạnh phúc do cái chết của cụ tổ đem lại không chỉ tràn ngập tâm hồn các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng mà còn ban phát cho cả nhiều hạng người ngoài xã hội. Đó là niềm vui bỗng lại có công ăn việc làm, tức là được thuê giữ trật tự cho đám ma, đồng nghĩa với cái mà ngôn ngữ thông tục ngày nay gọi là “có lộc” của hai cảnh binh thuộc bộ thứ 18 Min Đơvà Min Toa ; là niềm vui của những ông bạn thân của cụ cố Hồng, nhân dịp đến chia buồn với tang gia mà tiện thể khoe công trạng một đòi công chức của họ với đủ loại huân chương như: “Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, Cao Mên bội tinh, Vạn Tượng bội tinh, vân vân…Tuy nhiên, cái đám đầy đủ râu ria rất đáng kính ấy còn mãn nguyện hơn nữa khi đến chia buồn bỗng lại được hưởng chút niềm vui khá trần tục là thưởng thức cái làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết. Vói đám giai thanh, gái lịch Hà thành, những kẻ không dính líu chút nào về quan hệ bà con, họ hàng với người đã khuất thì niềm vui của họ là được đến đám tang để có cơ hội khoe về chuyện vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may. Đây cũng là dịp để họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau nữa. Nhưng người hạnh phúc nhất có lẽ là Xuân, dù anh ta có vẻ như không ý thức được điều đó. Cái chết của cụ tổ đem lại cho Xuân hai món hời gồm cả danh dự lẫn tiền bạc. về danh dự, cái chết của cụ tổ đã khiến cho danh dự của Xuân to thêm, về tiền bạc, ông Phán mọc sừng đã lập tức thanh toán hợp đồng giết người ngay trong đám tang! Theo như sở nguyện của hai vợ chồng cụ cố Hồng thì đám ma cụ tổ phải là một đám ma mẫu mực, to tát chưa từng có và cái đại gia đình ấy đã làm được điều đó. Tuy nhiên, đây là một đám tang mẫu mực cho sự biến tướng quái gở trong lối sống của lớp ngưòi giàu có mới nổi chỉ còn biết nghe theo tiếng gọi của những thú vui phù phiếm, tầm thường, vô nghĩa lí với bất cứ sự kiện gì cũng có thể tạo thành một cuộc hội hè cho dù có là một đám tang đi nữa. Về tổ chức, đám tang này theo phong cách hổ lốn! Nhạc điếu thì có đủ kèn Ta, kèn Tầu, kèn Tây thay nhau mà rộn lên như thể đua nhau mà tạo tiếng ồn. Phúng viếng lại càng đa tạp, trưng cả ra đường hàng trăm câu đối, bức trướng, vòng hoa… Người đưa tiễn kẻ quá cố đông đúc, sang trọng nhưng chen lấn giữa xe và người. Đã thế lại có đến một nửa là phụ nữ, phần lớn là tân thời. Chính vì thế mà càng ồn ào, huyên náo. Sự huyên náo, hỗn tạp do sự đua chen giữa các kiểu lời: từ thì thầm trò chuyện về vợ con, nhà cửa để khoe một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may đến việc chim nhau, cười tình với nhau, hẹn hò nhau bên cạnh những lời bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau lại còn những lời thì thào cùng nhiều câu vui vẻ, ý nhị khác nữa… Tất cả được che giấu qua quýt bằng những vẻ mặt làm ra bộ nghiêm chỉnh hoặc buồn rầu nữa, do đó mà giả dối, hài hước, đồi bại và lố lăng phô bày trọn vẹn sự suy đồi phong hoá. Từ niềm hạnh phúc của các nhân vật do cái chết của cụ tổ đem lại và cảnh tượng của cái đám ma gương mẫu có thể thấy, qua sự lật tẩy sắc sảo của nhà văn Vũ Trọng Phụng, xã hội tư sản đương thời thực chất chỉ là sản phẩm quái gở của cơn sốt Âu hoá nông nổi và lố lăng phô bày trọn vẹn bản chất giả dối, suy đồi của nó. Thái độ của nhà văn về cái xã hội tư sản nửa mùa này là khinh bỉ, nhạo báng một cách cay độc trong một tiếng cưòi trào phúng mang sức mạnh triệt hạ, huỷ diệt. 2.Đặc điểm về nghệ thuật Có thể thấy để tạo được sức mạnh triệt hạ, huỷ diệt như thế, Vũ Trọng Phụng đã có những dụng công thực sự về mặt nghệ thuật trào phúng. Nghệ thuật tạo tiếng cưòi của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích được thể hiện trên mấy phương diện sau: a.Tạo các chân dung biếm hoạ bằng bút pháp phóng đại, cường điệu -Biếm hoạ diện mạo, trang phục bằng cường điệu cái lố lăng. -Biếm hoạ ngôn ngữ và hành vi bằng cường điệu cái lố bịch. -Đặc tả tâm lí tiểu tư sản nửa mùa bằng cường điệu những cảm xúc và suy nghĩ mang nét quái gở của đối tượng. b.Sử dụng bút pháp miêu tả tương ứng trong đối lập giữa nội tâm và ngoại hình để lật tẩy bản chất đối tượng. Thái độ không khoan nhượng với tất cả mọi thứ che đậy, ngụy trang, giả dối một cách quyết liệt đã khiến Vũ Trọng Phụng trở thành một tài năng trong việc lật tẩy, soi thấu tim đen đối tượng. Nhà văn đã tinh quái chỉ cho độc giả thấy đằng sau cái dáng điệu “nhắm nghiền mắt lại” của cụ cố Hồng mà thoạt nhìn ai cũng tưởng là đã quá đau xót vì mất bố kia thực chất chỉ là do cụ đang “nhắm nghiền mắt lại để mơ màng” cái giây phút được thiên hạ trầm trồ khen già, khen đám ma to, khen cái gậy chống tang gia đẹp như thể một diễn viên đang chờ phút được lên sân khấu diễn kịch trước công chúng vậy. Cũng như vậy, trong cái cách đi đi lại lại, “vò đầu rứt tóc”, “đăm đăm chiêu chiêu” của Văn Minh, con cụ cố Hồng mà ai cũng tưởng anh ta đang căm hờn cái định mệnh khắc nghiệt đã cướp ông nội của anh ta kia kì thực là y đang băn khoăn về vấn đề mời luật sư đến chứng kiến cái chết trên thực tế của cụ tổ để từ nay trở đi, việc chia của “không còn là lí thuyết viển vông nữa” ; là sự quá bối rối về vấn đề không biết xử trí thế nào trước tình thế nan giải giữa “hai cái tội nhỏ, một cái ơn to” của Xuân. Cứ thế, từ từng nhân vật cho đến cả cái xã hội thượng lưu tư sản nửa mùa ấy bị Vũ Trọng Phụng lật tẩy. Để đằng sau áo quần, ngựa xe và các mốt áo quần sang trọng, hợp thời trang, tất cả chúng chỉ là lũ ngợm nông cạn, phù phiếm, trần tục, giả dối đang vứt bỏ mọi giá trị truyền thống mà lao vào cái vùng sáng Âu hoá như một lũ thiêu thân. c.Nghệ thuật pha trộn giọng điệu để tạo giọng điệu mới Giọng hài hước bông đùa pha trộn với giọng châm biếm, công kích. Tiếng cười trào phúng thường vẫn toát ra từ giọng điệu. Nét độc đáo ở Vũ Trọng Phụng là sự pha trộn các sắc thái giọng, chẳng hạn: -Giọng giễu nhại pha trộn với giọng giả vờ nghiêm trang. -Giọng tường thuật khách quan pha trộn vói bình luận dí dỏm mà cay độc. d.Nghệ thuật pha trộn từ ngữ để tạo từ ngữ mới Tiếng khóc: “Hứt!… Hứt!… Hút của ông Phán mọc sừng trong đám tang cụ cố tổ rõ ràng là độc nhất vô nhị. Trong muôn vàn cung bậc của nỗi đau thương phát ra bằng âm thanh ta chưa từng nghe cái thanh âm nào lại lạ như thế. Vũ Trọng Phụng đã tạo ra nó dựa trên cơ sở nào? Bởi trong bụng ông Phán mọc sừng vui, đang hoan hỉ với tiếng-cười Hì…hì… hì… do số tiền vài nghìn đồng được chia nhờ cái chết của cụ cố tổ nhưng ngoài mặt thì y không thể không làm ra bộ đớn đau, thương tiếc nên phải vờ khóc Hu… hu… hu… Vũ Trọng Phụng đem trộn cả hai thứ ấy vào nhau, thành ra cái tiếng “Hứt!… Hứt!… Hứt…” quái lạ ấy. Kĩ thuật pha trộn từ ngữ này của Vũ Trọng Phụng còn được sử dụng vài lần nữa trong một số sáng tác. Điển hình là tiếng “Nhịa” của ông cụ thân sinh Nguyễn Văn Phúc trong Trúng số độc đắc. Tiếng khóc quái lạ ấy của nhân vật nhìn ở góc độ khác còn là một thứ tín hiệu để gọi đối tác nhằm hoàn thành công việc thanh toán tiền công cho Xuân,kẻ đã tình cờ gây ra cái chết của cụ cố tổ ngay trong đám tang! XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHỮ NGƯỜI TỬ TỬ – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Hạnh Phúc Của Một Tang Gia – Ngữ Văn 11
4,449
Phân tích tác phẩm Hầu Trời – Ngữ Văn 11 Hướng dẫn HẦU TRỜI I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời -Tản Đà (1889 -1939) tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu, người làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Làng ông nằm ven sông Đà, núi Tản Viên. Chọn bút danh Tản Đà, có lẽ nhà thơ ước muốn gửi gắm trong đó cả hồn thiêng sông núi quê hương mình. Sinh ra trong một gia đình dòng dõi khoa bảng, bản thân Tản Đà có học chữ Hán từ nhỏ nhưng sau hai kì thi Hương đều hỏng, ông bỏ con đường khoa cử, chuyển sang “bán văn, buôn chữ kiếm tiền tiêu” – viết báo, viết văn, làm thơ quốc ngữ. Lại lớn lên trong buổi giao thời – Hán học suy vi mà Tây học mới bắt đầu – nên con người ông (học vấn, lối sống) và sự nghiệp văn chương đều mang dấu ấn người của hai thế kỉ (Hoài Thanh). -Sáng tác của Tản Đà rất phong phú về nhiều thể loại nhưng thơ mới đưa ông lên vị trí ngôi sao sáng trên thi đàn Việt Nam đầu thế kỉ XX. Là nhà nho đi tiên phong trong việc thay đổi diện mạo của lối thơ cũ, Tản Đà đã thể hiện một “cái tôi” lãng mạn bay bổng, phóng khoáng, ngông nghênh trong thi ca. Trong quá trình hiện đại hoá nền thơ dân tộc, thơ Tản Đà được các nhà nghiên cứu đánh giá như là “dấu gạch nối” giữa thơ truyền thống và thơ hiện đại. -Hầu Trời là bài thơ tiêu biểu cho lối thơ phóng túng, cách thể hiện “cái tôi” độc đáo của nhà thơ: “cái buồn mơ màng, cái xúc cảm chơi vơi” (Xuân Diệu). Khi xuất hiện lần đầu trong tập Còn chơi (1921), Hầu Trời gồm 124 câu và dưới tên bài thơ, Tản Đà ghi Điệu thu thuỷ với chú thích: “Thu thuỷ là nước mùa thu, mùa thu nước lũ chảy thật mạnh, gỗ, bương, củi, sậy cùng trôi, không có kỉ luật nào”. Tiếp đó, đưa vào tập Thơ Tản Đà (1925), ông bỏ bớt 6 câu và sửa một số từ. Sau này, trong Tuyển tập Tản Đà (Xuân Diệu viết lời giới thiệu), Nguyễn Khắc Xương sưu tầm, chú thích và viết lời bạt, NXB Văn học Hà Nội xuất bản năm 1986, bài thơ chỉ còn 114 câu. Văn bản bài thơ Hầu Trời đưa vào SGK là rút từ tuyển tập này. 2.Tri thức lịch sử – văn hoá -Bước sang giai đoạn thứ hai của thời kì văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 (tức là vào đầu những năm 20), thơ Việt Nam có sự đổi mới từ cách nhìn, cách cảm đến hình thức biểu hiện. Đã thấy xuất hiện một số bài thơ gồm nhiều khổ thơ, thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc đa dạng của “cái tôi” cá thể của nhà thơ, khắc phục phần nào tính chất duy lí trong cấu trúc của thơ truyền thống, nhất là thơ thất ngôn. Trong thơ những năm đó, nhiều hình tượng quen thuộc của thơ trung đại đã được cải biến, làm mới, có khi đặt bên các hình tượng mượn từ thơ ca dân gian ; vì vậy, chúng trở nên dung dị, không còn cao xa như trước. Ngữ điệu thơ đã mang dáng dấp ngữ điệu nói – sống động, tạo điều kiện cho nhà thơ đối thoại được với lớp bạn đọc mới ở các thành thị, đô thị tư sản hoá. Hình thức kể chuyện bằng thơ được nhiều nhà thơ thể nghiệm, tạo đà làm tăng chất văn xuôi cho thơ về sau. -Tản Đà là một trong số không nhiều các nhà thơ rất nỗ lực hiện đại hoá thi ca đầu thế kỉ XX. Ngoài thể thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú Đường luật, Tản Đà mạnh dạn thể nghiệm lối thơ tự do không hạn định câu chữ, phá bỏ niêm luật, “pha trộn” các thể thơ, chế tác thêm điệu mới nhằm tăng sức biểu hiện. Vì vậy mà, tuy sử dụng thi liệu cổ điển, thơ Tản Đà vẫn có gì rất hiện đại. Chất hiện đại của thơ ông không chỉ ở hình thức mà chủ yếu là ở trường cảm hứng – những xúc cảm vừa có gì lãng mạn, mới lạ, phóng túng vừa rất gần gũi với đời thường. Tản Đà biến thơ thành một thế giới muôn sắc màu, trong đó, cõi tiên như cõi trần, nhà thơ “sắm” các vai – lúc làm thằng Cuội, lúc du hí “hầu Trời”, lúc ngông nghênh “nói láo”, lúc lại cao giọng giáo huấn, có khi như tâm tình thủ thỉ,… Dù biểu hiện mình theo cách nào thì người đọc thơ Tản Đà cũng nhận ra ông có một “cái tôi” mạnh mẽ luôn tìm cách tự khẳng định tài năng, phẩm giá đích thực của mình, bỏi chẳng thể nào trông đợi ở “cõi trần nhem nhuốc bao nhiêu sự” lúc đó. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Tìm hiểu đề tài, cách bố cục và cách vào bài độc đáo -Đề tài lên tiên là đề tài không phải mới trong thơ văn kim cổ, đặc biệt là còn phổ biến trong truyện cổ dân gian và trong các loại truyện truyền kì thời trung đại. Tản Đà cũng lấy đề tài lên tiên nhưng đã làm mới nó bằng cách hoà trộn cõi tiên và cõi trần để miêu tả một cách trần tục, cho cõi tiên và ngưòi trần “giao lưu” vói nhau, bày tỏ ý kiến, cảm xúc một cách thẳng thắn, tự do, dân chủ. Đặc biệt, nhà thơ cho thấy, việc lên tiên bấy giờ không còn là mơ ước của người trần mắt thịt mà chẳng qua chỉ là cái cớ mượn thiên đình để tự khẳng định tài năng văn chương của cá nhân ông, của con ngưòi nơi trần thế. -Bài thơ viết theo thể thất ngôn cổ phong trường thiên kể lại từ đầu đến cuối việc “hầu Trời” của nhân vật trữ tình – một thi nhân. Câu chuyện lên “hầu Trời” diễn biến theo các bước như một câu chuyện tự sự, rất lôgíc: thi nhân nằm một mình, buồn, đun nước uống, ngâm văn –>> tiên xuống, nêu lí do, đưa thi nhân lên “hầu Trời” thi nhân được Trời và chư tiên đón tiếp trọng vọng, được mời đọc thơ, Trời và chư tiên khen ngợi tán thưởng, Trời hỏi danh tính ; thi nhân kể lể tình cảnh khốn khó của kẻ theo đuổi nghề văn và thực hành “thiên lương” ở hạ giới ; bày tỏ nỗi lòng, Trời “trấn an”, thi nhân lạy tạ ra về -> cuộc chia tay đầy xúc động với Trời và chư tiên. Chuyện là “bịa” mười mươi nhưng xem chừng có vẻ rất tự nhiên, rất thật là đằng khác. -Cách vào bài thơ có vẻ dân dã pha chút hài hước, hóm hỉnh: Đêm qua chẳng biết có hay không, Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng. Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể! Thật được lên tiên – sướng lạ lùng. Cái cảm giác “sướng lạ lùng” nửa hư nửa thực mà Tản Đà cho độc giả biết ở ngay khổ thơ đầu đã gây sự chú ý, kích thích trí tò mò của người đọc về một câu chuyện lạ “được lên tiên” của thi nhân chắc là sẽ có nhiều điều thú vị sau đó. Tình huống câu chuyện “bịa mà như thật” bắt đầu từ tiếng ngâm thơ “vang cả sông Ngân Hà” làm Trời “mất ngủ”. Rõ là cái duyên “được lên tiên” – “hầu Trời” là gắn với chuyện văn thơ, gắn với những giây phút cao hứng tột bậc của thi nhân trong đêm trăng vào canh ba. Lí do lên “hầu Trời” xem chừng rất tự nhiên, thoải mái, không có gì là gò ép cả. Ngay việc hư cấu tình huống lên “hầu Trời”, hư cấu một câu chuyện có đầu có cuối đã là một sự cách tân của Tản Đà. Nó làm thơ hiện đại xa dần với việc tỏ chí ở thơ cổ điển, nó tạo tình huống để diễn tả mọi sắc thái, cung bậc tình cảm của cá nhân con người và tạo nên một quan hệ tiếp nhận mới với người đọc ở chốn thị thành khi đó. 2.Cảnh Tản Đà đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe -Tản Đà được mời lên thiên đình là để đọc văn thơ cho Trời và chư tiên nghe. Một việc xét thấy cần thật trang trọng nhưng lại được kể với giọng đùa vui: Đọc hết văn vần sang văn xuôi Hết văn thuyết lí lại văn chơi Đương con đắc ý đọc đã thích Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. Nhà thơ đã khéo léo mượn giọng “người nhà Trời” để khoe văn mình, giọng đọc của mình: nào là “Văn dài hơi tốt ran cung mây!”, nào là “Văn đã giàu thay, lại lắm lối”, nào là “Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay”, còn các chư tiên thì “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi– Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày – Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng – Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay”. -“Đương cơn đắc ý cao độ, thi nhân ta tranh thủ bèn khoe tiếp gia tài văn chương phong phú, đa dạng của mình: Khối tình (hai quyển), Khối tình con (hai quyển), Thần tiền, Giấc mộng, Đài gương, Lên sáu, Đàn bà Tàu, Lên tám – mười quyển, đủ các loại từ “văn thuyết lí”, “văn chơi”, “văn tiểu thuyết” đến “văn vị đời”, “văn dịch”. Chưa ngừng, nhà văn còn cố tâu tiếp để tranh thủ sự ủng hộ của nhà Trời: Nhờ Trời văn con còn bán được Chửa biết con ỉn ra mấy mươi? Quả thực là thi sĩ “rao văn” duyên dáng, hóm hỉnh mà lại “chuyên nghiệp” nữa. Chẳng biết đây có phải là thói quen của một ít nhà văn đã sinh sống được bằng nghề viết văn, xuất bản ở đầu thế kỉ XX (như Tản Đà) không? Bởi thế mà “Trời nghe Trời cũng bật buồn cười!”. Tự nhiên, nhờ buổi đọc thơ mà văn chương của ông trở thành món hàng đắt giá: Chư tiên ao ước tranh nhau dặn -“Anh gánh lên đây bán chợ Trời!” Thật là may cho thi sĩ Tản Đà, văn chương dưới hạ giới vừa “ế ẩm” vừa “rẻ như bèo” thế mà lại được các “thượng đế” ở thiên đình trầm trồ, khen ngợi, tranh nhau hẹn mua vói bán. -Ngông hơn nữa, Tản Đà còn mượn “bút phê” của Trời để quảng bá tài văn của mình: Văn thật tuyệt, chắc có ít, đẹp như sao băng, khí văn hùng mạnh như mây chuyển, êm như gió thoảng, tinh như sương,… Thường thì hiếm có người nào dám nói trắng ra cái “giàu”, cái “hay”, cái “tuyệt” của văn thơ mình như vậy, hơn nữa, lại nói với ông Trời (dù ông Trời khá là bình dân!). Ở đây người đọc nhận thấy ý thức cá nhân của nhà thơ đã phát triển rất cao: dám tự khen văn tài của mình (để Trời khen cũng là cách tự khen ; ai dám phản bác rằng Trời đâu có nói thế!), tự nhận thức được văn mình có cái “dài”, “giàu’’, “lắm lối”,… – phẩm chất văn thời hiện đại – bên cạnh “nhời văn chuốt đẹp”, “khí văn hùng mạnh”, “êm”, “tỉnh”,… – phẩm chất truyền thống. Tạo ra tình huống “hầu Trời” để có cơ hội thuận lợi phô bày tài năng văn thơ, sự nghiệp văn thơ của mình quả là một cách tự khẳng định rất độc đáo, rất “ngông” của vị “trích tiên” Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu. Có tài đến vậy đâu phải người thường. Ở hạ giới, văn chương thì “rẻ như bèo”, thân phận nhà văn thì bị rẻ rúng, Tản Đà không có tri âm tri kỉ. Ông phải lên tận cõi tiên để quảng bá thơ văn của mình, để tự giới thiệu “lí lịch” của mình. Tình huống “xưng danh” cũng thật tự nhiên, phù hớp với mạch câu chuyện và diễn biến của cuộc bình văn thơ. Đến đây cũng cần nói thêm rằng, việc xưng danh không phải là hiện tượng lạ trong văn học nghệ thuật. Nhưng cái cách xưng danh của Tản Đà thể hiện một dấu ấn mang tính hiện đại: tách tên họ theo kiểu khai lí lịch, nói rõ quê hương bản quán, quốc tịch, châu lục, hành tinh. Dường như đằng sau cái thái độ có vẻ thực thà, cung kính trước “đấng chí tôn” kia có ẩn giấu một nụ cười hóm hỉnh, một ý thức về bản ngã, một ý thức dân tộc thực là sâu sắc. Một cái tên mộc mạc “Nguyễn Khắc Hiếu” do cha sinh mẹ đẻ đặt cho được nói ra trịnh trọng thế hẳn phải gắn với một giá trị, một nhân cách nhất định không thể phủ nhận. Hơn nữa, ông còn muốn Trời thấy được Nguyễn Khắc Hiếu là đứa con đích thực vùng “Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”, con người của Á châu, của xứ sở có một nền “văn minh tinh thần” cao quý, đáng tự hào. Trong bối cảnh đất nước đang nằm trong tay chính quyền “bảo hộ”, cách xưng danh, cách khai nguồn cội của mình như vậy rõ ràng vừa chứa đựng niềm tự hào, tự tôn dân tộc chính đáng, vừa như mách bảo ý nghĩa sâu xa của bút danh Tản Đà mà ông chọn. Thái độ ngông nghênh, tự đắc ở đây được phóng đại một cách có ý thức, gây ấn tượng mạnh. Thì ra, Nguyễn Khắc Hiếu là một “trích tiên” bị “Đày xuống hạ giới vì tội ngông”. Thế là cái ngông tiếp tục có quyền tồn tại chính đáng, vì ông còn phải thực hiện nhiệm vụ truyền bá “thiên lương” mà Trời “sai”: Trời rằng: “Không phải là Trời đày, Trời định sai con một việc này Là việc “thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đòi hay. ” Và ở đây, “cái tôi” Tản Đà lại hiện diện ở một góc độ khác: ý thức trách nhiệm với đời và khát khao được gánh vác việc đời. Điều đó chứng tỏ Tản Đà lãng mạn nhưng không thoát li hiện thực. Đó cũng là một cách ông tự khẳng định mình: Tản Đà đâu chỉ “chơi văn” mà là thừa lệnh Trời thực hiện một sứ mệnh cao cả – quảng bá “thiên lương” chốn hạ giới. Trong nhiều tác phẩm, Tản Đà tự biến mình thành nhân vật khác đời, tự chất lên vai mình gánh nặng “tải đạo” làm hưng thịnh “thiên lương” ở cõi trần. Phải là một nhà văn có tài, có bản lĩnh mới dám ngang nhiên bộc lộ “cái tôi” của mình trước Trời, chư tiên và cả bàn dân thiên hạ như vậy. –“Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó Trần gian thước đất cũng không có Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều Vốn liếng còn một bụng văn đó. Giấy người mực người thuê người in Mướn cửa hàng người bán phường phố. Văn chương hạ giới rẻ như bèo Kiếm được đồng lãi thực rất khó. Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu”. Tản Đà đã vẽ một bức tranh rất hiện thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn khác cùng thời. Trong bài thơ Hầu Trời, đây là đoạn có nhiều chi tiết chân thực, xúc động. Thời đó, Tản Đà nếm đủ nhục vinh trong đời, phải chịu nhiều lận đận với nghề văn, nghề báo: vừa sáng tác, vừa xuất bản, tự in và tự bán tác phẩm của mình, về cuối đời, ông từng phải xem tướng số để kiếm ăn, mở lớp dạy Hán văn và quốc văn,… mà cũng không đủ ăn. Ông chết trong cảnh “nghèo đói” ; nhà cửa, đồ đạc bị chủ nợ tịch biên ; chỉ còn một cái giường một, cái ghế ba chân, chồng sách nát và một be rượu. Bởi thế, nhiều khi bế tắc bởi miếng cơm manh áo, ông càng xây mộng văn chương, tìm cách khẳng định mình ở một thế giới xa vời tưởng tượng. Tản Đà tin rằng những nỗ lực thực hành “thiên lương” của mình sẽ không vô ích, dù người trần mắt thịt chưa biết thì… Trời biết: “Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết”. “Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!” là sự “động viên”, khích lệ của Trời nhưng cũng là lời tự nhủ, là tâm niệm của chính nhà thơ. 3.Đặc điểm về nghệ thuật Hầu Trời là bài thơ hay, độc đáo, có nhiều nét mới về mặt thi pháp, rất tiêu biểu cho tính chất “giao thời” trong nghệ thuật thơ Tản Đà. Có thể tìm thấy dấu hiệu đổi mới theo hướng hiện đại trên những phương diện chính như sau: -Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do. Bài thơ gồm nhiều khổ thơ, mỗi khổ không hạn định số câu (thường là bốn, có khi sáu – tám – mười – thậm chí hai mươi) tuỳ theo diễn biến cảm xúc và sức dung chứa sự việc được kể, tả, biểu hiện. -Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm, gắn với đời sống, không ước lệ, xa cách như thơ truyền thống. -Cách kể chuyện hóm hỉnh theo lối bình dân, hấp dẫn người đọc. Đây là một nét đặc sắc, tinh tế của bài thơ này. Nó bộc lộ trước hết ở thái độ hào hứng của người kể chuyện – nhân vật chính, chủ thể trữ tình – trước những đối tượng nghe chuyện tưởng tượng (Tri – chư tiên giả định) đồng đẳng, thân tình. Trong câu chuyện hư cấu này, quan hệ giao tiếp giữa người kể (ở cõi trần) và ngưòi nghe (ở cõi tiên) xem ra vô cùng thân mật, dung dị. Dưới ngòi bút tác giả, những chư tiên không có một chút gì gọi là phi phàm. Họ cũng xúc cảm theo cách của người bình dân ta: lè lưỡi, chau đôi mày, lắng tai đứng, vỗ tay, tranh nhau dặn,… Từ ngữ được dùng lấy từ đòi sống thường nhật dường như có vẻ còn thô mộc, không có sự gia công trau chuốt ; lại được đặt vào ngữ điệu nói nên càng giàu sức sống và rất ý vị: “Văn dài hơi tốt ran cung mây!”, “Văn đã giàu thay, lại lắm lối – Trời nghe Trời cũng bật buồn cười”,… Cách kể ấy, nụ cười hóm hỉnh ẩn trong giọng kể ấy, làm nên cái thần, nội dung trữ tình của bài thơ ; nó thích họp với câu chuyện “hầu Trời” mà Tản Đá hư cấu. Nhìn chung, thơ Tản Đà chưa hẳn là mới (ở thể loại, ở ngôn từ, ở hệ thống hình ảnh nghệ thuật,…) nhưng đã có những dấu hiệu khá rõ của sự đổi mới theo hướng hiện đại. Có thể nói, ông là nhà thơ đã bắc một nhịp cầu nối hai thời đại thi ca Việt Nam. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Hầu Trời – Ngữ Văn 11
3,274
Phân tích tác phẩm Khóc Dương Khuê – Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn Đọc thêm KHÓC DƯƠNG KHUÊ I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Tiếng khóc trong thơ nhà nho Nhà nho vốn là nhân vật thiên về lí trí. Khóc là sự thể hiện trạng thái cảm xúc mạnh. Do đó, tiếng khóc không phổ biến trong sáng tác của nhà nho trong văn học giai đoạn trước thế kỉ XVIII. Sang thế kỉ XVIII, tiếng khóc mới bắt đầu xuất hiện khá phổ biến trong thơ ca: có tiếng khóc vợ của các nhà thơ Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, tiếng khóc ngưòi yêu của Phạm Thái, tiếng khóc chồng của Lê Thị Ngọc Hần, tiếng khóc nàng Tiểu Thanh của Nguyễn Du, tiếng khóc của Hồ Xuân Hương dành cho những người bạn đời chung sống một thời gian ngắn ngủi như Tổng Cóc, Phủ Vĩnh Tường. Nhưng khóc bạn như Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê vẫn là một hiện tượng hiếm gặp. Nguyễn Khuyến có làm câu đối khóc vợ và bài thơ khóc bạn. Điều này cho thấy ông là nhà thơ coi trọng thể hiện cảm xúc. 2.Nguyễn Khuyến là tác giả của nhiều bài thơ song ngữ Hán – Việt: ông có những bài thơ bằng chữ Hán đồng thời bằng cả chữ Nôm. Hiện thật khó xác định bản Nôm hay bản Hán là bản có trước để bản kia là bản dịch, thậm chí có thể ông không làm việc dịch mà sáng tác đồng thời cả hai bản. Bài thơ chữ Hán Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ thư có bản chữ Nôm với nội dung tương tự Khóc Dương Khuê. Nếu đối chiếu hai văn bản này, chúng ta có thể hiểu thêm về mỗi bận. Chẳng hạn, nếu đọc hai câu: Bác già, tôi cũng già rồi, Chúng ta có cảm giác khó hiểu ở mấy chữ thôi lặp lại (thôi cái gì?). Trong bản chữ Hán viết rõ hơn: “Dư lão công diệc lão – Giải tổ quy điền viên” (Tôi già bác cũng già – cởi dây ấn về với ruộng vườn). Thôi nghĩa là nghỉ quan về quê. Hay câu “Ai chẳng biết chán đời là phải” có câu tương đương trong bản chữ Hán là “Dư khởi bất yếm thế? – Nhi công tranh thướng tiên” (Tôi phải chăng không chán đời – Sao ông tranh lên cõi tiên trước?)-. Trong bản Nôm, chán đời là triết lí chung cho mọi người, còn ở bản chữ Hán, ông nhấn mạnh mình vẫn sống nhưng không phải là không chán đòi, tâm sự cá nhân gửi gắm rõ hơn. II- PHÀN TÍCH TÁC PHẨM 1.Kết cấu bài thơ Có thể chia bài thơ thành 4 đoạn như sau: -Đoạn 1(sáu câu đầu): Nguyễn Khuyến nghe tin buồn về việc người bạn qua đời. Nghĩ về quan hệ gần gũi, thân thiết của hai người đồng khoa như duyên phận trời dẫn dắt. -Đoạn 2 (tiếp theo đến câu “Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là”): Hồi tưởng những kỉ niệm chung giữa nhà thơ và ngưòi bạn Dương Khuê từ khi còn làm quan cho đến khi nghỉ quan. -Đoạn 3(tiếp theo đến “Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời” ): Sự bất ngờ khi nghe tin bạn qua đời. vẫn nghĩ bạn còn khoẻ, tuổi còn ít hơn, lại không có bệnh như mình, thế nhưng bạn đã “lên tiên” trước. -Đoạn 4 (phần còn lại): Nỗi buồn cô đơn trong cảnh khuất vắng người bạn tâm tình và cách bày tỏ nỗi buồn ấy. 2.Tình bạn của nhà nho qua bài thơ Có khi từng gác cheo leo, Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang. Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp, Chén quỳnh tưong ăm ắp bầu xuân. Có khi bàn soạn câu văn, Biết bao đông bích, điển phần trước sau. Khi nghe tin bạn mất, Nguyễn Khuyên cũng nghĩ đến sự trống vắng trong các sinh hoạt văn hoá này. Nhà nho cũng là mẫu người vũ trụ, có cái nhìn lí tưởng hoá thiên nhiên, thường hoà mình vào thiên nhiên. Vì thế, tác giả cũng nhớ lại không gian núi rừng (Tiếng suối nghe róc rách lung đèo) như một kỉ niệm đẹp. Tình bạn được gọi nhớ đến qua các kỉ niệm hiện ra chân thật, giản dị và cảm động. 3.Đặc điểm của sự thể hiện tình cảm Nguyễn Khuyến khóc bạn nhưng tiếng khóc không ồn ào mà thâm trầm, kín đáo, sâu lắng. Sự bất ngờ bao giờ cũng gây nên xúc động. Tin Dương Khuê mất đến khá đột ngột vì 3 lẽ: (1) cuộc gặp cách đây 3 năm, Dương Khuê còn tinh thần chưa can ; (2) Nguyễn Khuyến hơn tuổi Dương Khuê ; (3) Nguyễn Khuyến còn đau ốm trước Dương Khuê mà vẫn còn sống. Tuy nhiên, do từng trải và có nhiều suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đòi nên nhà thơ bình tĩnh tiếp nhận tin buồn bất ngờ này. Một cách nói vừa an ủi người mất, vừa trấn tĩnh chính mình: Sao vội vàng đã mải lên tiên. Chán đời mà ra đi là điều hơp lí (tâm trạng thời thế ẩn sau những dòng thơ khóc bạn này), chết là lên cõi tiên không có gì đáng buồn, chỉ có điều là vội vàng quá. Bạn chết để lại nỗi buồn cho mỗi khi thơ rượu cờ đàn. Chết là tất yếu, không tránh được “Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở”. Một người già từng trải lại ốm yếu nên nỗi buồn chỉ để trong tâm, không thể hiện qua những dòng lệ. Một sự chân thành được diễn đạt rất tự nhiên. 4.Nghệ thuật tu từ Tiếng Việt trong bài thơ này được nhà thơ sử dụng rất điêu luyện và trong sáng. Tác giả khai thác sự tinh tế và phong phú của lời ăn tiếng nói hằng ngày để diễn tả một tình cảm rất sâu lắng, thiêng liêng. Riêng khái niệm chết đã có nhiều từ diễn đạt: thôi đã thôi rồi, về, lên tiên, chẳng ở. Các từ ngữ đó vẫn nói về cái chết nhưng giảm bớt sắc thái thông tục, rất thích hợp khi thể hiện thái độ tôn trọng của người khóc đối với người đã khuất, cần chú ý đến kết cấu hô ứng trong thơ văn thời xưa. Ở trên, tác giả kể lại những kỉ niệm đẹp trong thú vui thơ rượu cờ đàn như để chuẩn bị cho nỗi trống vắng khi mất bạn. Bây giờ rượu không mua nữa, thơ không làm nữa, tiếng đàn cũng ngẩn ngơ.Đối với nhà nho, cuộc sống tẻ nhạt và vô vị khi không còn thú tiêu khiển tao nhã này. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM THƯƠNG VỢ NGỮ VĂN LỚP 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Khóc Dương Khuê – Ngữ văn lớp 11
1,126
Phân tích tác phẩm Lai Tân – Ngữ văn 11 Hướng dẫn Đọc thêm LAI TÂN I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời -Về tác giả Hồ Chí Minh: xem bài Chiều tối (Mộ), mục 1. trong sách này. -Lai Tân là một bài thơ mang tên một địa phương mà Hồ Chí Minh trải qua trên con đường chuyển lao từ Thiên Giang đến Liễu Châu. Đây là bài thơ thứ 97 của tập Nhật kí trong tù, được sáng tác trong vòng bốn tháng đầu mà Người nói rằng “sống khác loài người”. Bài thơ tiêu biểu cho bút pháp tả thực châm biếm, đả kích của Hồ Chí Minh trong tập thơ, cho thấy hiện trạng đen tối, thối nát của một xã hội nhìn bề ngoài tưởng là “thái bình”. 2.Tri thức về thể loại Cũng như đa số bài trong tập Nhật kí trong tù, Lai Tân được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Trong bài Chiều tối, chúng ta có dịp tìm hiểu về thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh. Nhưng ở bài Lai Tân, kết cấu bài tứ tuyệt có phần đặc biệt: bài thơ có hai phần. Phần một là 3 câu đầu có tính tự sự (kể): ban trưởng nhà lao ngày nào cũng đánh bạc, cảnh sát trưởng thì giải tù và ăn tiền hối lộ của tù nhân, huyện trưởng thì chong đèn “làm việc công”. Riêng phần hai chỉ có một câu kết có tính biểu cảm về hiện trạng bề ngoài của Lai Tân. Kết cấu như vậy tưởng như không cân đối nhưng thực ra là hết sức hợp lí, chặt chẽ. Kết cấu như vậy làm nổi rõ sự “không thống nhất” giữa hai phần: ba câu đầu phản ánh hiện trạng thối nát phổ biến của hệ thống quan lại quản lí và hành pháp trong và ngoài nhà tù của chính quyền Quốc dân đảng, nhưng câu cuối lại đưa ra nhận định “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”. Điều đó có nghĩa là, sự thối nát, mọt ruỗng dường ấy nhưng đã trở nên bình thường, phổ biến, đương nhiên. Sự liên kết giữa hai phần của bài thơ tạo nên hiệu quả mỉa mai, châm biếm thâm thuý, sâu sắc. cần cảm nhận được cả giọng điệu bình thản, khách quan của nhà báo cách mạng Hồ Chí Minh: sự phản ánh theo cách “đưa tin”, có sao nói vậy, người viết rất công bằng không thiên vị, không phê phán điều gì. 1.Bài thơ phác hoạ bộ mặt thật của hệ thống quan lại thời Tưởng Giới Thạch những năm 1942 – 1943, thời gian Trung Quốc bị phát xít Nhật chiếm đóng: -“Ban trưởng nhà lao’’, quan chức chịu trách nhiệm thi hành nhiệm vụ cải huấn các loại tội phạm trong tù, trong đó có tội phạm đánh bạc, thì lại “chuyên đánh bạc”. Người dân ở ngoài đánh bạc thì bị bắt tội, bị giam trong tù ; thế mà, con bạc ở trong tù thì lại được đánh bạc thoả thích. Cũng trong tập Nhật kí trong tù, tác giả đã châm biếm: “Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội – Trong tù đánh bạc được công khai” (Đánh bạc). Chưa hết, tù nhân cờ bạc bị hành hạ, chết đói chết rét ngay trong tù (Đêm qua còn ngủ bên tôi – Sáng nay anh đã về nơi suối vàng). Thật là thê thảm! Có thể nói, nhà tù là noi hành pháp nhưng nhà tù Lai Tân đã thủ tiêu luật pháp. Vì sao? Vì ban trưởng nhà lao đã biến nhà tù thành nơi kiếm chác, ăn chặn của tù nhân. Một chi tiết thôi nhưng thật đắt giá, thật sống động được nhà thơ – nhà báo Hồ Chí Minh đưa ra ánh sáng. -Ở ngoài nhà tù cũng là một tên “trưởng” nữa làm bậy bị “tóm”. Lại cũng là một quan chức thi hành pháp luật – cảnh sát trưởng Lai Tân: (Giải ngưòi, cảnh trưởng kiếm ăn quanh;) Nạn ăn hối lộ thời đó ở Trung Quốc đã thật trầm trọng. Trong nhà tù lại càng thối nát: tù nhân vào tù phải nộp tiền (!), nếu chưa đủ tiền thì “mỗi bước anh đi mỗi bước phiền” ; muốn có đèn sáng phải có tiền ; muốn có nước rửa mặt cũng phải có tiền Cảnh sát trưởng giải phạm nhân cũng câu kết với quan chức nhà tù tranh thủ “kiếm chác”… -Còn ngưòi đứng đầu huyện Lai Tân, cái huyện có những trưởng “chuyên đánh bạc”, “kiếm ăn quanh”, thì làm gì? Câu 3 là hình ảnh một quan phụ mẫu bận rộn một cách đầy bí ẩn, khó hiểu: Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự, (Chong đèn,.huyện trưởng làm công việc,) Câu 3 trong bài thơ này từng được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những cách hiểu khác nhau. Trong cuốn Nét đẹp thơ, Nguyễn Đức Quyền có nêu ý kiến của Giáo sư Lê Trí Viễn như sau: “Trong bài thơ Lai Tân có một câu không rõ nghĩa ngay ở nguyên tác: “Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”. Hai câu thơ trên nói về việc đánh bạc và ăn hối lộ, còn ở đây huyện trưởng làm việc gì mà phải đốt đèn? Có người nói hắn moi việc để kiếm chác, nhưng như thế cũng là ăn đút lót. Có người lại cho rằng: Hay là hắn ta hút thuốc phiện? Không rõ. Chỗ này cần nghiên cứu thêm” 2. Câu kết bài thơ là câu biểu cảm hết sức thâm thuý:-“Lai Tân y cựu thái bình thiên”. Nếu ở ba câu trên, tác giả vạch ra sự mâu thuẫn giữa chức trách của các chức quan và thực trạng việc thực thi pháp luật của chúng, thì ở câu cuối bài, nụ cưòi châm biếm của Ngưòi thực là sâu cay: Bên trong sự “thái bình” bề ngoài giả tạo là một hiện trạng mọt ruỗng từ trên xuống dưới, từ kẻ điều hành chính sự (huyện trưởng) đến kẻ thực thi luật pháp (ban trưởng, cảnh trưởng). Không nên xem ngang bằng hai phần bài thơ, vì như vậy, chủ đề bài thơ chỉ là phê phán thói hư tật xấu của bọn quan lại ở Lai Tân. Nếu xem ba câu đầu là sự chuẩn bị, là bệ đỡ của toà nhà thì câu cuối là nóc của toà nhà. Vậy chủ đề bài thơ sẽ là lên án thái độ và hành động vô trách nhiệm của nhà cầm quyền ở Lai Tân mà cũng là của xã hội Trung Quốc thời Quốc dân đảng. Bài thơ sẽ có giá trị khái quát và sâu sắc hon nhiều. Theo Nguyễn Đức Quyền, Nét đẹp thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr. 103. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TỪ ẤY – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Lai Tân – Ngữ văn 11
1,150
Đề bài: Nhận xét về cách viết của Nam Cao trong những truyện ngắn, giáo sư Hà Minh Đức viết: “Viết về những nhân vật này, ngòi bút Nam Cao không lạnh lùng khách quan mà tha thiết gắn bó; không châm biếm, mỉa mai mà chân thành, xúc động. Tác giả xem mình cũng là người trong cuộc”. Hãy phân tích tác phẩm Lão Hạc của Nam Caođể làm sáng tỏ nhận định trên. Bài làm Nhận xét về cách viết của Nam Cao trong những truyện ngắn về những người nông dân tột cùng thống khổ và đau thương, giáo sư Hà Minh Đức viết: “Viết về những nhân vật này, ngòi bút Nam Cao không lạnh lùng khách quan mà tha thiết gắn bó; không châm biếm, mỉa mai mà chân thành, xúc động. Tác giả xem mình cũng là người trong cuộc”. Trong số những tập truyện ngắn của Nam Cao, truyện Lão Hạc là một điển hình về bút pháp như vậy của tác giả viết về những người nông dân đau khổ và lầm than vô hạn. Viết về lão Hạc – nhân vật chính trong truyện, một người nông dân tột cùng nghèo khổ và đau thương – ngòi bút của Nam Cao đã bộc lộ một tình cảm tha thiết gắn bó. Khi chưa hiểu rõ tâm tình của lão Hạc thì giọng điệu của ông giáo dưới ngòi bút của nhà văn tưởng chừng vẫn chỉ là viết về một loại Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận nào đó: “Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi… Lão nói là nói để đấy thôi… Làm quái gì có một con chó mà lão có vẻ boăn khoăn quá thế”. Đôi lúc, ông còn bộc lộ sự tự tôn mình, coi thường người nghèo khổ: “Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào đâu so với tôi quý năm quyển sách của tôi”. Một sự lạnh lùng khách quan: Tôi “dửng dưng” nhìn lão để rồi mộng tưởng về một cái thời “say mê”, đẹp đẽ, chăm chỉ và đầy “cao vọng” của riêng mình. Ta bắt đầu cảm thấy một bóng dáng đơn điệu của làng quê ông giáo Thứ trong truyện Sống mòn: con người lạnh nhạt, bới móc nhau… Nhưng tác giả không dừng lại ở đó, ông đưa những trang viết về tình cảm của ông giáo đối với lão Hạc tiến triển một cách chậm rãi lần theo những lời kể của ông lão, khiến người đọc ngày càng thấy sự rung động, sâu xa của cõi lòng tác giả: Người con trai lão thất tình, bỏ đi phu cao su, để lại cho người cha vài đồng bạc để “ăn quà”, một con chó và mảnh vườn nho nhỏ, biệt tích, để cho lão cứ ngóng trông, dành dụm, chắt chiu mà nào biết bao giờ nó về! Vợ mất, con biệt xứ, lão cô đơn giữa tuổi già và cái chết đang dần đến. Ngòi bút của nhà văn lại bùi ngùi, xúc động: “Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn”. Vì vậy mà “những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ bồn một chút”, nhắc đến con “lão rân rấn nước mắt”. Đến đây thì ông giáo đã thốt lên: “Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa”. Trước những đe dọa rình rập, những mất mát chồng chéo lên nhau, ông giáo đành an ủi lão Hạc mà ta nghe thấy biết bao đau xót, thương cảm: “Lão Hạc ơi! ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu?”. Thì ra tác giả đâu có thờ ơ, ông thấu hiểu con người tốt đẹp ấy, mỗi lời kể như đượm nỗi xúc động: Thương con, lão không muốn bán đi con chó – kỉ vật của con. Nhưng nuôi nó thì tốn mà lão không muốn phải tiêu vào tiền lão đã dành dụm cho con. Nhưng cái nghèo khổ cứ đến: “làng mất vé sợi”, “Lão Hạc không có việc”… Sự điêu đứng cứ dồn dập đến. Ngòi bút nhà văn trở nên xót xa cho lão Hạc. Trước cảnh lão khóc vì để con chó bị bắt, ngòi bút Nam Cao bỗng như trào lên nước mắt. Ông giáo hỏi như để che giấu nỗi đau: “Thế nó cho bắt à”, rồi đau đớn và phủ nhận, ông kết luận: “Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ!”, đều khổ, đều cơ cực, kiếp người không khác kiếp con chó. Số phận một con chó chấm dứt bằng một ccái chết bi thảm thì con người cũng không hơn, còn dữ dội gấp trăm lần. Nhà văn cảm thông tha thiết với “những người cùng khổ ấy”, muốn san sẻ nỗi cực nhục với họ, bởi “một chút âu yếm, một chút tình thương cũng đủ để nâng đỡ họ” (Thạch Lam). Nhưng Nam Cao còn sâu sắc hơn, ông giận cuộc đời gian ác đã cướp đi bao người lương thiện như lão Hạc, nên ông cầm bút khóc cho những con người đang quằn quại sống và quằn quại chết đó. Trong nhiều truyện ngắn, giọng điệu châm biếm, mỉa mai của Nam Cao khá rõ nét, nhưng đó là đối với những kẻ tàn ác, bóc lột người khác. Còn trong truyện Lão Hạc, đó là một ngòi bút chân thành, xúc động với những người nông dân như lão Hạc. Nam Cao đã viết “Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc”. Nam cao không hô hào, kêu gọi, hay tưởng tượng ra những “sáng kến” cải cách vùng quê ao tù nước đọng như nhiều nhà văn lúc bấy giờ. Ngòi bút của ông chỉ kể sự việc có vẻ bình thường trong mọt làng quê lặng lẽ sau lũy tre làng, nhưng nó lại mài sắc nỗi đau, tăng thêm mạch cảm xúc của tác giả với nhân vật. Phải có một tình cảm đẹp đẽ và chân thành tha thiết thì ngòi bút của nhà văn mới tinh thế và sâu sắc đến thế khi viết về sự biểu hiện nỗi đau của nhân vật lão Hạc: “Lão cố làm ra vẻ vui vẻ… Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu của lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc”. Rồi những đoạn văn mang tính triết lí về cuộc đời: “Một người đau chân có lúc nào quên cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu”. Nhưng lòng tác giả vẫn muốn hé mở tìm đến cái bản tính tốt của con người bị những lo toan ích kỷ thường ngày che lấp mất. Nam Cao muốn khơi gợi cho người đọc những cảm xúc chân thành về nhân vật lão Hạc trước những biến đổi dữ dội của cuộc đời. Khi thấy lão Hạc xin bả chó của Binh Tư, ông giáo bàng hoàng nghi hoặc rồi thêm đau đớn. Ngòi bút của Nam Cao đã trở nên xót xa vô hạn trước sự cùng đường của lão Hạc. Ông giáo nghi ngờ: “Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”, bởi ông xót xa đau đớn trước sự mất mát một nhân phẩm mà ông vốn nâng niu, trân trọng, một “con người đáng kính” như ông nói. Nhưng trước cái chết đột ngột và khốc liệt của lão Hạc thì ông vỡ lẽ về cái chân cái thiện tột cùng của thân phận bé nhỏ ấy. Ông như mừng rằng “cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn” nhưng thực ra lại càng đau đớn hơn “hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”. Người tốt đã mất đi, số phận của họ bi thảm quá. Đó là một niềm xúc động thiêng liêng khi hiểu ra rằng: Lão giữ nhân cách cho chính mình là cho con, lão còn không muốn khi chết đi để phiền cho hàng xóm, không muốn con trai lão khi trở về tứ cố vô thân như một Chí Phèo với những cơn say chửi đời, chửi cả kẻ đã đẻ ra mình. Đó là lão đã nhận ra cái “chết trong còn hơn sống đục”. Kết thúc thiên truyện, tấm lòng chân thành hết mực của tác giả đã viết nên những dòng như những lời thề thiêng liêng trước vong linh con người đáng kính ấy: “Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt… Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: “Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn; cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào…”. Và ta càng nhận rõ lòng chân thành sâu đậm thêm khi Nam Cao xem mình là người trong cuộc. Ta thấy bóng dáng tác giả trong hình tượng ông giáo – một ông giáo đã nếm đủ mùi gian khổ ở trường tư (theo ý của giáo sư Trương Chính). Là người trong cuộc nên tác giả luôn bày tỏ được tình cảm tha thiết gắn bó với nhân vật lão Hạc, điển hình cho những người đau khổ lầm than mà tác giả luôn muốn gắn bó. Trước cái chết của lão Hạc, tác giả cảm thấy mình bất lực trước cuộc đời đen bạc. Dường như lúc nào Nam Cao cũng bị dằn vặt trước cảnh đau khổ của con người. Người ta nói: Lương tâm là vật có ba góc nhọn, khi phạm một lỗi lầm thì nó quay và cái góc nhọn đó đâm vào tim ta. Nhưng cứ phạm lỗi liên tục thì các góc sẽ mòn đi và con người là như vậy, không muốn bản thân trở thành người như vậy. Suy nghĩ của ông giáo cũng chính là suy nghĩ của tác giả. Ông soi mình vào nhân vật, nhiều lúc bỗng thấy mình trở nên tồi tệ và thêm xúc động với nhân vật hơn. Nam Cao có văn phong chịu ảnh hưởng ngòi bút nhân đạo của Lỗ Tấn, đôi lúc còn nghê rợn tự nhiên, còn quá bi thảm, sự thể hiện suy nghĩ của bản thân trong nhân vật cũng giống như sự suy nghĩ của Lỗ Tấn trong nhân vật “tôi” trong truyện Cố hương. Đó là là một tình cảm xuất phát từ lòng nhân đạo, tình thương yêu con người. Nam Cao luôn để cho nhân vật đấu tranh giành lấy giá trị “người” dù bằng giá nào. Cái chưa làm được của Nam Cao là chưa thấy đuuơcj một tương lai mới như Lỗ Tấn đã suy nghĩ trong Cố hương. Nam Cao đã bộc lộ những tình cảm tốt đẹp của mình: tha thiết gắn bó và chân thành xúc động khi viết về những kiếp người thống khổ và đau thương với số phận bi thảm như lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên. Với cảm hứng nhân đạo, nhà văn đã đưa nhân vật lão Hạc thành một nhân vật điển hình trong văn học lúc bấy giờ. Tùy còn kết thúc quá bi thảm, nhưng điều quan trọng là nhà văn đã viết bằng máu của trái tim mình mà ít ai có được.
Phân Tích Tác Phẩm Lão Hạc Của Nam Cao Hay Nhất
1,933
Đề bài: Phân tích tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao Bài làm Tác giả Nam Cao là một nhà văn hiện thực vô cùng xuất sắc mỗi tác phẩm của ông đều gắn liền với những thân phận người dân vô cùng day dứt, thể hiện sự ám ảnh của tác giả về những người dân khốn khổ bị xô đẩy tới đường cùng. Mỗi câu chuyện của ông đều gợi lên một những sự bế tắc, nỗi khốn khổ của người dân trong kiếp người lầm than, bị chế độ phong kiến, thực dân Pháp đẩy tới đường cùng phải tự mình tìm tới cái chết. Tác phẩm “Lão Hạc” là một trong những câu chuyện cảm động về hình ảnh người nông dân nghèo khổ, cô độc, cảnh khốn khổ nhưng vẫn toát lên tinh thần cao quý, phẩm chất tốt đẹp của người nông dân nhân hậu, chất phác. Lão Hạc là người nông dân có lòng tự trọng mãnh liệt dù chết ông cũng không muốn nhờ vả người khác, hàng xóm xung quanh mình. Thông qua tác phẩm “Lão Hạc” thể hiện sự nhân văn nhân đạo của tác giả với những mảnh đời nông dân khốn khổ, bất hạnh. Tác giả Nam Cao lấy bối cảnh lịch sử thời kỳ đất nước đang chìm trong biển lửa tang tóc, cảnh nước mất, dân lầm than vô cùng đói khổ, cùng quẫn, xơ xác. Tác giả đã xây dựng lên một nhân vật ông lão vô cùng khốn khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân đẩy tới đường khốn khổ. Tác giả Nam Cao đã thể hiện sự tinh tế của mình khi lựa chọn người kể lại câu chuyện này là ông giáo người hàng xóm thân thiết với lão Hạc. Cuộc đời của lão Hạc là một cuộc đời chỉ chứa toàn chuyện buồn, sự khổ đau. Vợ lão mất sớm, có người con trai duy nhất thì lại bỏ lão đi làm ở đồn điền cao su, một nơi nổi tiếng là đi dễ khó về, nơi bóc lột sức lao động hành hạ con người tới tận cùng. Lão Hạc rất thương con nhưng lại nghèo khổ quá không thể làm gì cho con được. Lão chỉ có duy nhất một mảnh đất là thứ tài sản duy nhất lão có thể dành dụm để lại cho con để khi nào con trai lão về lấy vợ có chốn nương thân. phân tích truyện lão hạc Lão Hạc là người dân hiền lành lương thiện, vô cùng chăm chỉ, chất phác, quanh năm bán mặt cho trời bán lưng cho đất nhưng không đủ ăn. Ai thuê gì lão đều làm cả. Nhưng cuộc sống khắc nghiệt, sức khỏe của lão ngày càng yếu đi, lão không muốn cậy nhờ con cái khi tuổi mình càng ngày yếu đi và lão cũng không muốn làm phiền hàng xóm. Cuộc sống quá túng quẫn bê tác nên lão đã nghĩ đến việc phải bán người bạn thân thiết của mình là con chó tên cậu Vàng. Những tình cảm của ông lão dành cho cậu Vàng chẳng khác gì con trai mình. Bởi từ ngày con trai lão đi xa, trước khi đi con trai lão có dẫn về một con chó. Việc phải bán đi người bạn thân thiết của mình lão phải đấu tranh nội tâm ghê gớm, khiến cho lão đau khổ tới tận cùng, những nếp nhăn trên khuôn mặt xô lại. Lão có mảnh vườn là tài sản duy nhất để lại cho con trai sau khi con lão từ đồn điền cao su trở về quê hương. Nhưng, mảnh đất đó đang có nguy cơ bị nhà Bá Kiến chiếm lấy làm của nhà lão. Đã nhiều lần tên Bá Kiến sai người sang hỏi mua mảnh vườn của ông lão. Nhưng ông lão không bán, chúng mua không được nên bàn mưu tính kế để cướp không mảnh vườn của lão. Trước khi chết lão sang nhà Binh Tư xin bả chó, rồi lão sang nhà ông giáo Thứ gửi gắm ông giấy tờ mảnh vườn và ba mươi đồng để ông giáo giữ hộ, khi nào lão chết thì dùng tiền để làm ma chay tang lễ cho lão. Còn mảnh vườn lão nhờ ông giáo giữ hộ để con trai lão về thì trao lại, cho gia đình Bá Kiến khiến không nhăm nhe chiếm mảnh vườn của lão. Cái chết của lão Hạc phản ảnh hiện thực của xã hội phong kiến vô cùng bất công, đã xô đẩy người nông dân vào bước vào đường cùng khiến cho sự bế tắc túng quẫn là nguyên nhân dẫn tới cái chết vô cùng bi thảm. Truyện ngắn “Lão Hạc” thể hiện sự bế tắc của người dân trong xã hội phong kiến, những người nông dân khốn khổ bị xô tới đường cùng phải tìm tới cái chết một cách đau đớn. Thông qua truyện ngắn “Lão Hạc” thể hiện tinh thần nhân văn của tác giả Nam Cao với những số phận người nông dân khốn khổ. Thông qua tác phẩm tác giả muốn tố cáo tội ác của xã hội phong kiến và bè lũ xâm lược. Thảo Nguyên
Phân tích tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao
862
Phân tích tác phẩm Lưu Biệt Khi Xuất Dương – Ngữ Văn 11 Hướng dẫn LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG (Xuất dương lưu biệt) I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời –Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thuở nhỏ là Phan Văn San, biệt hiệu chính là Sào Nam. Quê ông ở làng Đan Nhiễm, nay thuộc thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ ông đã có tiếng là thần đồng. Được nuôi dưỡng trong không khí cả nước sục sôi chống Pháp xâm lược, Phan Bội Châu sớm có lòng yêu nước nhiệt thành. Ông là một trong số ít những nhà nho Việt Nam đầu tiên nuôi ý tưởng tìm hướng đi mới cho sự nghiệp khôi phục giang sơn: tham gia vận động thành lập Duy tân hội (1904), khởi xướng phong trào Đông du và xuất dương sang Nhật Bản (1905). Hơn hai mươi năm ông bôn ba đó đây mưu việc lớn nhưng tiếc thay lại không thành. Năm 1925, ông bị bắt ở Thượng Hải (Trung Quốc). Thực dân Pháp định đưa ông về nước thủ tiêu bí mật nhưng nhân dân cả nước ta đã đấu tranh buộc nhà cầm quyền Pháp phải đưa ông ra xử công khai ở Hà Nội. Ông được trắng án nhưng vẫn bị giam lỏng ở Huế cho đến ngày tạ thế. -Vào đầu năm 1905, ngọn lửa của phong trào cần vương đã tắt báo hiệu sự bế tắc của con đường cứu nước do các sĩ phu phong kiến Việt Nam lãnh đạo.. Như trên đã nói, sau khi Phan Bội Châu tham gia thành lập Duy tân hội, ông nhận nhiệm vụ sang Trung Quốc, Nhật Bản đặt cơ sở đào tạo cốt cán cho cách mạng trong nước, cầu viện Nhật giúp Việt Nam đánh Pháp. Ông là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ cách mạng mới, vượt qua giáo lí Nho giáo lỗi thời để đón nhận luồng tư tưởng tiên phong thời đó, kì vọng tìm ra một con đường mới mẻ nhằm khôi phục giang sơn, lúc ấy đã nằm trong tay Pháp. Trước lúc lên đường Đông du, Phan Bội Châu đã làm bài thơ này để chia tay với những người đồng chí của mình. 2.Tri thức về thể loại -Phan Bội Châu là một nhà yêu nước cách mạng tiêu biểu cho phong trào đấu tranh đòi giải phóng dân tộc trong 25 năm đầu thế kỉ XX. Tuy có văn tài lỗi lạc nhưng không bao giờ ông xem văn chương là mục đích của đòi mình. Ông chỉ muốn dùng văn chương để xốc dậy tinh thần của nhân dân, đặc biệt là thanh niên, trong sự nghiệp cứu nước. Với mục đích đó, thơ văn của Phan Bội Châu chứa đựng xúc cảm mãnh liệt, tràn đầy nhiệt huyết, có khả năng lôi cuốn người đọc hướng theo ngọn lửa lí tưởng chính trị – xã hội mà ông và những người cùng chí hướng đang hào hứng nhóm lên. Có thể nói, Lưu biệt khi xuất dương là sáng tác khởi đầu một giai đoạn hoạt động cách mạng sôi nổi, thành công của Phan Bội Châu. Bài thơ này cũng như toàn bộ thơ văn của Phan Bội Châu là thành tựu rực rỡ nhất của dòng thơ văn tuyên truyền, vận động cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX. Tuy chưa đứt đoạn hẳn với thi pháp văn học trung đại, nhưng dòng văn thơ tuyên truyền, vận động cách mạng đầu thế kỉ XX có đóng góp lớn cho văn hoá, lịch sử, văn học Việt Nam. -Lưu biệt khi xuất dương được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, theo bút pháp khoa trương của thơ tỏ chí thời trung đại nhưng nội dung nhằm mục đích cổ động, tuyên truyền cách mạng. Trong bài, nhiều câu, chữ vẫn được sử dụng trong thơ trung đại nhưng lại mang tư tưởng cách mạng, nhiệt huyết hành động, niềm lạc quan, nỗi trăn trở của nhân vật trữ tình – tác giả – khiến chúng mang đậm dấu ấn cá nhân người viết và có sức lay động thấm thía. Hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ là hình tượng một người anh hùng hào kiệt tràn đầy ý thức về “cái tôi” của mình – không phải là “cái tôi” trung với vua mà là “cái tôi” công dân luôn thao thức về sự tồn vong của giống nòi, dân tộc. “Cái tôi” ấy cất lên tiếng nói lưu biệt đầy chí khí, khát vọng cao đẹp của kẻ làm trai giữa cuộc đời, giữa càn khôn, vũ trụ và ý thức rất rõ về bổn phận, về sự sống – cái chết, về được – mất, thành – bại của chính mình. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Đặc điểm về nội dung -Hai câu đề: Sinh vi nam tử yếu hi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di. (Đã sinh làm kẻ nam nhi thì cũng phải mong có điều lạ, Há lại để trời đất tự chuyển vần lấy sao!) Hai câu đề nêu quan niệm mới về chí làm trai và tư thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ. Câu thứ nhất được dịch khá rõ nghĩa, duy từ lạ chưa thể hiện hết ý tứ của hai từ hi kì (hiếm, lạ, khác thường) trong nguyên tác. Hai từ hi kì được hiểu là những công việc lớn lao, trọng đại (mà kẻ làm trai phải gánh vác). Câu thứ hai có thể hiểu là lời nhân vật trữ tình tự nhắc nhở mình, khích động bản thân: Lẽ nào mình cứ để trời đất xoay vần đến đâu thì biết đến đấy, còn mình cứ như đứng ngoài, vô can? Trước Phan Bội Châu, nhiều nhà thơ trung đại đã đề cập đến chí làm trai theo tinh thần Nho giáo. Chẳng hạn: Công danh nam tử còn vương nợ, Luống thẹn tại nghe chuyện Vũ hầu. (Phạm Ngũ Lão, Thuật hoài) Đã mang tiếng ở trọng trời đất, Phải có danh gi vói núi sông. (Nguyễn Công Trứ, Đi thi tự vịnh) Về cơ bản, quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu vẫn nằm trong vòng ý thức hệ Nho giáo. Dù vậy, có thể nhận thấy nét mới trong cách đặt vấn đề của nhà chí sĩ. Điều đó có được từ sự nhạy cảm trước đòi hỏi bức xúc của đất nước: khôi phục lại chủ quyền dân tộc đã mất vào tay quân xâm lược. Hai câu thơ đầu bộc lộ một lẽ sống đẹp của chủ thể trữ tình: kẻ làm trai sống là phải dám làm những việc phi thường, hiển hách có tính chất kinh thiên động địa, xoay chuyển càn khôn. Chí khí đó là sự tiếp nối lí tưởng nhân sinh cao cả của các nhà nho trung đại nhưng có gì đó táo bạo, quyết liệt hơn. Nhân vật trữ tình ở đây dám đối mặt với đất trời (càn khôn), với cả vũ trụ để khẳng định mình, tự vượt lên mộng công danh cá nhân nhỏ hẹp để vươn tới nhân quần, xã hội rộng lớn hơn. Lẽ sống mới tạo cho nhân vật trữ tình trong bài thơ một tư thế mới, tầm vóc mới, sánh ngang tầm vũ trụ. Phải là bậc hào kiệt trên đời này thì mới phát ngôn được những lời như vậy. -Hai câu thực triển khai cụ thể ý tưởng về chí làm trai được đặt ra ở hai câu đề, nói về ý thức trách nhiệm cá nhân của trang nam nhi trước thòi cuộc: Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ. (Giữa khoảng trăm năm này, phải có ta chứ, Chẳng nhẽ ngàn năm sau lại không có ai (để lại tên tuổi) ư?) Câu 3 không đơn giản chỉ là nhận thức về sự hiện hữu của “cái tôi” mà còn hàm chứa một tâm niệm: Ta hiện diện trong thời gian này phải làm được một việc gì đó có ích cho cuộc đời. Câu 4, cụ Tôn Quang Phiệt dịch nghĩa là: Chẳng nhẽ ngàn năm sau lại không có ai (để lại tên tuổi) ư? Có tài liệu dịch câu này như sau: Còn như chuyện ngàn năm sau thì có người sắp tới; câu này giúp ta suy ra ý là: Ngàn năm sau lẽ nào chẳng có người nối tiếp công việc của người trước. Các bản dịch nghĩa đều làm rõ “cái tôi” đầy trách nhiệm của nhân vật trữ tình trước thời cuộc: thấy việc phải làm, không ỷ lại cho ai được. Hơn nữa, “cái tôi” ấy thấy rõ lịch sử là một dòng chảy liên tục, cần có sự chung tay góp sức của nhiều thế hệ nối tiếp. Đó là “cái tôi” công dân – “cái tôi” hành động, tham gia vào sự chuyển dời của càn khôn, vũ trụ. -Hai câu luận tiếp tục triển khai vấn đề, gắn quan niệm về chí làm trai vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước nhà những năm đầu thế kỉ XX – thời điểm Phan Bội Châu “xuất dương lưu biệt”: Giang son tử hĩ sinh đồ nhuế, Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si! (Non sông đã chết, sống chỉ nhục, Thánh hiền đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi!) Câu 5 nói đến thực trạng đất nước ta vào buổi Phan Bội châu xuất dương (non sông đã chết). Với nhiệt huyết của một chí sĩ yêu nước nồng nàn và cá tính mạnh mẽ của một con người hành động, ông đã đưa vào thơ những từ ngữ gây ấn tượng mạnh như tử hĩ (chết rồi), đồ nhuế (nhục nhã, nhơ nhuốc), si (ngu),… Đằng sau những từ ngữ mạnh mẽ, đầy ấn tượng đó là cốt cách của một con người không cam chịu sống cuộc đời nô lệ, đắng cay (sống chỉ nhục). Thái độ quyết liệt ấy nằm trong nguồn mạch tư tưởng yêu nước, chống xâm lược từ văn thơ Nguyễn Đình Chiểu nửa sau thế kỉ XIX. Nhưng cảm hứng yêu nước trong 120 thơ văn Đồ Chiểu vẫn nặng về chữ hiếu, trung; còn trong Xuất dương lưu biệt, nội dung yêu nước mang sắc thái mới của tư tưởng thời đại. Mang trong tâm nỗi đau xót của một người dân mất nước, lại chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, tư tưởng cải cách xã hội theo mô hình Âu – Mĩ,… (qua sách báo), dẫu là ngưòi từng gắn bó với cửa Khổng sân Trình, Phan Bội Châu đã nhận ra sự vô ích của nội dung học vấn, của kiểu học thời phong kiến trước đòi hỏi mới của đất nước, của thời đại: “Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!”. Ông dè bỉu, chê bai thái độ, lối sống “nhắm mắt làm ngơ” trước thòi cuộc, phê phán những ai vẫn còn tụng niệm giáo lí “thánh hiền” trong lúc đất nước đã rơi vào tay giặc, khi linh hồn của Nho giáo đã bị tiêu vong. Hiển nhiên, Phan Bội Châu rất hiểu vai trò to lớn, ý nghĩa của đạo Nho trong quá trình lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, cụ thể, trong việc đào tạo những kiểu người thích ứng trong một thời kì lịch sử cụ thể nhất định. Điều ông muốn phát biểu qua bài thơ này, đặc biệt qua hai câu luận, là vấn đề thái độ trước hiện trạng đất nước. Mục đích ông muốn tuyên truyền, vận động là hãy hành động vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Với Phan Bội Châu, vào lúc “lưu biệt xuất dương”, điều đó là thước đo giá trị, là quan điểm để nhìn nhận, đánh giá tất cả các vấn đề khác. Lời thơ dịch sống thêm nhục, học cũng hoài dù là vậy cũng chưa chuyển tải hết khí lực dồi dào của các từ đồ nhuế, sỉ trong nguyên tác. Nguyện trục trường phong Đông hải khứ, Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi. (Mong đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông, Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên.) Nếu đem đối chiếu với nguyên tác và bản dịch nghĩa, thì thấy, bản dịch thơ đã quá “thoát” ý trong nguyên tác. Mong muốn của tác giả thể hiện trong hai câu kết là đuổi theo con gió lớn qua biển Đông, cũng có nghĩa là tìm ra con đường đi mới cho đất nước, tìm ra một trường hoạt động khác để cho trang nam nhi được phỉ chí vẫy vùng trong bốn cõi. Câu thơ dịch đã chuyển một nguyện ước, một khát vọng, một liên tưởng bay bổng thành sự miêu tả cụ thể, do vậy, chưa truyền đạt được hào khí lên đường và trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ: bay lên làm quẫy sóng đại dương hay là bay lên cùng những đợt sóng trào sôi vừa hiện trong tâm tưởng lúc chia tay – nhất tề phi. Tâm thế và tư thế của nhân vật trữ tình lúc này là muốn lao ngay vào trường hoạt động cách mạng ở bên kia đại dương. Khát vọng cháy bỏng đó được hàm chứa trong hình ảnh thật lãng mạn, thật hào hùng. Hình tượng thơ làm hiển hiện trước mắt người đọc hàng ngàn đợt sóng đại dương sôi réo, trắng xoá đang bay lên. Đó là một hình tượng vừa kì vĩ, vừa thơ mộng thể hiện được quyết tâm phơi phới, lòng tự tin cùng sự thăng hoa của một thi sĩ – nhà cách mạng dám đưong đầu vói mọi thử thách để thực hiện lí tưởng cứu dân cứu nước của mình. 2.Đặc điểm về nghệ thuật -Bài thơ được tổ chức theo kết cấu của một bài thơ Đường luật, thể thất ngôn bát cú, đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật trữ tình – tác giả – với sự vận động của cảm xúc theo quá trình diễn biến như sau: + Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ (hai câu đề). + Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc (hai câu thực). + Thái độ quyết liệt trước thực trạng nước mất nhà tan và những tín điều xưa cũ của Nho giáo (hai câu luận). + Khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường (hai câu kết). -Bài thơ được viết theo bút pháp ước lệ, phóng đại của thơ tỏ chí thời trung đại rất có lợi cho mục đích tuyên truyền, vận động cách mạng. Tư tưởng hành động để cứu dân cứu nước, nhiệt huyết trào sôi của tác giả đã đem lại cho câu, chữ, hình ảnh vốn đã quen được sử dụng trong thơ cổ điển một nội dung mới, hiện đại – nội dung cách mạng, khiến cho bài thơ có sức lay động mạnh mẽ, thấm thía. Chính vì vậy, bài thơ thể hiện tình cảm lưu biệt của Phan Bội Châu lúc xuất dương nhưng cũng là lời thúc giục hành động, mời gọi lên đường của ông. Bài thơ tương xứng với một nhân cách đáng ngưỡng mộ, với tầm vóc vĩ đại của một “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con ngưòi trong vòng nô lệ tôn sùng”. -Tuy còn có một số từ ngữ trong nguyên tác chưa được người dịch lột tả hết ý tứ nhưng dẫu sao, đây cũng là một bản dịch thơ rất hay, giúp người đọc hiểu gần như trọn vẹn ý nghĩa của tác phẩm. Nguyễn Ái Quốc, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, trong Truyện và kí, NXB Văn học, Hà Nội, 1974. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN – NGỮ VĂN 11
Phân tích tác phẩm Lưu Biệt Khi Xuất Dương – Ngữ Văn 11
2,666
Đề bài: Phân tích tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long Bài làm Trong cuộc sống lao động mới, con người là nòng cốt cơ bản để có sự tạo dựng vững chắc. Những phẩm chất tốt đẹp sẽ khẳng định vai trò làm chủ cuộc sống mới. Nhân vật anh thanh niên trong thiên truyện Lặng lẽ Sa Pa là một người như thế. Để nhân vật anh thanh niên hiện rõ những đức tính đáng quý, Nguyễn Thành Long đã để ông họa sĩ làm việc đó qua điểm nhìn của mình. Nội dung truyện đơn giản, không có tình huống thắt nút, gay cấn cho nên câu chuyện giàu chất trữ tình hơn là tự sự. Sự xuất hiện của anh thanh niên, tuy là nhân vật chính với nhiều biểu hiện tốt đẹp nhưng đến rất bất ngờ, gián tiếp qua lời kể của bác lái xe. Và cũng như khi đến, anh lại lặng lẽ khuất lấp vào mây mù trong cái tĩnh lặng muôn thuở của Sa Pa. Hình ảnh anh thanh niên với nhiều phẩm chất như khiêm tốn, yêu lao động, tận tâm với công việc… tất cả thể hiện trên một bức họa lớn nhưng đến ông họa sĩ cũng phải thốt lên: ông biết rõ sự bất lực của nghệ thuật. Con người bé nhỏ nhưng những nét đáng quý khiến anh trở nên lớn lao đến như thế. Trong lao động, anh thanh niên hiện ra là một con người yêu lịch sử và sẵn sàng cống hiến vì lao động. Quan niệm rất mới lạ khi anh nhận xét về công việc được coi là cô độc nhất thế gian này: khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Từ quan niệm ấy, anh vượt lên chính bản thân mình để đi tìm niềm hạnh phúc trong lao động. Có lẽ chỉ có quan niệm như thế mới khiến anh thấy mình không cô đơn, không lẻ loi một mình. Từ tâm sự của anh thanh niên, ngay ông họa sĩ và cả người đọc đều sửng sốt trước thái độ trân trọng, gắn bó với lao động như đã ngấm sâu vào máu của con người trẻ tuổi này: công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn chết mất. Tự xác định với bản thân về vai trò quan trọng không thể thiếu của lao động đối với mọi người nói chung và đặc biệt đối với chính bản thân anh. Một suy nghĩ mới và độc đáo khi anh lấy gian khổ nhiều hay ít để xem ai một mình hơn, cô đơn hơn anh bạn trên trạm đỉnh Phang-xi-păng ba nghìn một trăm bốn mươi hai mét kia mới một mình hơn cháu. Phải chăng chính những suy nghĩ và tâm sự vượt hơn cả tuổi tác như anh thanh niên đã giúp anh hạnh phúc hơn khi ý thức được mối liên quan giữa bản thân với tập thể trong sự đóng góp cho đất nước: cháu ở đây có nhiệm vụ đo gió, đo mưa… phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Trong công việc anh thấy được vai trò của mình và hơn cả biết được mình vì ai mà lao động. Những suy nghĩ ấy khiến cho con người nhỏ bé này cảm nhận được niềm hạnh phúc trong lao động nhiều hơn nữa. Thấy được vai trò của lao động đối với bản thân nên anh đã có những thái độ tự giác và nghiêm túc đối với lao động. Công việc của anh thanh niên rất đặc biệt với sự cô lập tuyệt đối. Tuổi trẻ, sức xuân của anh bị đánh đổi bởi công việc tẻ nhạt cắt vụn ngày đêm: công việc của cháu cũng quanh quẩn ở mấy chiếc máy ngoài vườn này thôi. Cháu lấy những con số báo về nhà bằng máy bộ đàm: bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ tối và một giờ sáng. Bất chấp tất cả công việc vẳn được hoàn thành một cách xuất sắc. Không phải là người có lòng kiên nhẫn, tự giác cao thì anh không thể làm di làm lại công việc buồn chán này đặc biệt giờ ốp lúc một giờ sang: gió tuyết và Lặng ỉm… chỉ trực đợi mình ra lủ ào ào xô tới. Ngay cả thời tiết khắc nghiệt cũng không khuất phục được con người yêu lao động và sống rất có trách nhiệm đối với lao động. Chẳng ai kiểm tra thường xuyên nhưng không vì thế mà anh lơ là, làm việc cho xong, cho nhanh. Công việc luôn được hoàn thành chính xác, tỉ mỉ, cẩn thận với tinh thần trách nhiệm nghiêm túc tự giác cao. Anh thanh niên không chỉ đẹp trong lao dộng mà anh còn đẹp trong lối sống. Anh thanh niên còn là một con người sống cởi mở, chân thành và hiếu khách. Ngay từ cách anh muốn tìm người trò chuyện, đẩy khúc thân cây chắn ngang đường để xe đi qua có dịp nghỉ chân, anh chạy xuống trò chuyện cho đỡ thèm người đã thấy trong đó một trái tim rộng mở muốn quen và muốn thân. Khi được bác lái xe giới thiệu những vị khách sẽ lên thăm nhà anh thì anh mừng ra mặt và chân thành, có thiện ý mời họ lên nhà anh trên đỉnh Yên Sơn cao hai nghìn sáu trăm mét. Ông họa sĩ, cô kĩ sư chỉ là những người xa lạ chưa một lần gặp mặt và cũng có thể đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng họ gặp nhau nhưng anh vẫn rất nhiệt tình trao bó hoa đã cắt cho người con gái rồi mời hai người uống thứ trà pha nước mưa, thơm như nước hoa của Yên Sơn nhà anh. Anh thân thiện vô cùng, đãi khách bằng những thứ bình dân nhưng rất quý đối với bản thân anh cũng như với hai vị khách đặc biệt từ dưới xuôi lên. Giữa họ giờ như không còn khoảng cách bởi chính tình người, sự tự nhiên của anh thanh niên đã xóa đi sự xa lạ. Anh nói: cái này để ăn trưa cho bác, cho cô, và bác lái xe – một giỏ trứng thể hiện tình cảm rất chân thành. Anh sống một mình không những không đòi hỏi sự quan, tâm của người khác mà chính bản thân anh lại rất quan tâm chu đáo với những người sống xung quanh. Củ tam thất cháu vừa đào thấy, cháu gửi bác gái ngâm rượu uống, Hôm nọ bác chăng báo bác gái vừa ốm dậy là gì? Anh quan tâm đến cả người anh chưa một lần gặp mặt, người có lẽ chỉ qua lời kể của bác lái xe. Một con người biêt cách sống tốt với mọi người chỉ đơn giản là qua sự quan tâm rất chân thành. Ngay trong uộc trò chuyện với ông họa sĩ việc anh thanh niên nhắc đi nhắc lại những cái máy vườn trạm khí tượng nào cũng có thể hiện sự khiêm tốn trong lối nói và lối nghĩ. Không khoe mẽ, tự cao, anh coi mình cũng chỉ là con người thật bình thường và giản đơn như bao người khác. Thế cho nên việc ông họa sĩ tay hí hoáy vào cuốn sổ tì trên đầu gối khiến anh phải ngăn lại bởi anh thấy bản thân chưa xứng đáng với niềm vinh dự mà với anh thật lớn lao như thế. Không những không để ông họa sĩ vẽ mình, anh còn giới thiệu cho ông: ông kĩ sư vườn rau và đồng chí nghiên cứu khoa học – họ cũng cống hiến quên mình cho Tổ Quốc, cho xã hội, cho cuộc sóng mới. Anh có suy nghĩ thật đúng đắn khi thấy cuộc đời đẹp quá bởi có những người đang ngày đêm hết lòng hết sức lao động bằng trách nhiệm và tinh thần cao. Một diều khiến ông họa sĩ và ngay chính người đọc cũng ngỡ ngàng vì sự sắp xếp cuộc sống hết sức khoa học và ngăn nắp của anh thanh niên. Hoa dơn, hoa thược dược, vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong… – đó là vườn của do bàn tay của chàng trai trẻ tuổi này tạo dựng nên. Cuộc sống một mình mà muôn màu muôn vẻ rực rỡ sắc hoa. Phải là con người có nghị lực sống phi thường thì mới có thể có đời sống tinh thần phong phú đến như thế. Và ngay cả khi công việc trên trạm khí tượng này của anh đã có thể coi là yên ổn thì ngày ngày anh vẫn nhờ bác lái xe mua sách dưới xuôi gửi lên, anh vẫn không ngừng trau dồi thêm vốn kiến thức để rồi anh lại có thể tìm ra một cái gì đó mà cống hiến hơn nữa cho một đất nước thời kì đổi mới này. Những con người như anh thanh niên đang ngày ngày làm giàu có thêm cho đất nước Việt Nam. Anh là lớp người trẻ tuổi tiếp bước lòng nhiệt huyết lao động của lớp người đi trước như bác lái xe, ông họa sĩ… Anh thanh niên và chính vẻ đẹp tâm hồn của anh đã tác động mạnh mẽ tới ông họa sĩ và đặc biệt cô kĩ sư dưới xuôi lên Sa Pa nhận công tác. Và không chỉ các nhân vật trong truyện ngắn này mà ngay chính người đọc chúng ta cùng cần suy nghĩ nhiều hơn nữa về công việc lao động hiện tại của bản thân và sẽ cần phải cố gắng nhiều hơn nữa theo hướng tích cực để xã hội sẽ tốt đẹp hơn, phát triển hơn bởi có những con người với nhiều phẩm chất cao quý như anh thanh niên. Thiên truyện Lặng lẽ Sa Pa gấp lại để lại vấn vương cho mỗi người đọc. Đặc biệt nhân vật anh thanh niên đã có sức hấp dẫn, lay động tâm hồn mỗi người. Ngợi ca con người anh chính là cách chúng ta ngợi ca lao động và không quên đánh giá lại bản thân.
Phân tích tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
1,730
Phân tích tác phẩm Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu Bài làm Nam bộ với những vườn ruộng trù phú và con sông hiền lành đầy phù sa đã xây đắp nên tính cách con người nơi đây cũng hiền lành, chân thành và bộc trực. Tính cách trọng nghĩa, khinh tài và yêu ghét phân minh ấy đã được thể hiện rõ nét qua thơ văn Đồ Chiểu mà đoạn trích Lẽ ghét thương trong truyền Lục Vân Tiên là một ví dụ điển hình. Đoạn trích không chỉ dừng lại ở tư tưởng yêu nước của một nhà nho khí tiết mà còn chở những đạo lí gần gũi của nhân dân. Lẽ ghét thương là lời của ông Quán mượn những câu chuyện kinh sử để nói lên cái nhìn thế thái nhân tình. Thương hay ghét đó là những tình cảm xuất phát từ trái tim đa cảm của một con người tha thiết với cuộc sống. Trong đoạn trích điệp từ “thương “, “ghét” xuất hiện cùng tần số như nhau cho thấy sự công bằng, phân minh của ông Quán nói riêng và của nhân dân nói chung. 10 câu thơ đầu nói về lẽ ghét, nhà thơ đã điểm qua những điển tích Trung Quốc theo các triều đại “Kiệt, Trụ, U, Lệ, Ngũ bá, Thúc quý” và lời giải thích cụ thể khiến người đọc mặc dù không nắm rõ những thói ăn chơi, xa đọa của các ông vua trên nhưng vẫn hình dung được sự nhũng nhiễu của họ đối với nhân dân. Nhà thơ của nhân dân Nam bộ đã sử dụng từ “việc tầm phào” đậm đà sắc thái ngôn ngữ sinh hoạt để khẳng định những việc khiến ông Quán ghét là những việc vu vơ, hão huyền, không ý nghĩa và quan trọng là đi ngược lại vưới lợi ích của nhân dân. Ngay từ đầu, nhà thơ đã khẳng định một điều “vì chưng hay ghét cũng là hay thương” để nói lên cội nguồn của sự ghét. Ghét chính là vì thương mà nên, ghét bao nhiêu thì có nghĩa là thương nhiều hơn thế. “Thương là thương đức thánh nhân Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần lúc Khuông..” Nếu như những kẻ mà ông Quán ghét là những tên bạo chúa hun hăn, tham lam, sa đọa thì những người mà ông thương là những vị quan thần tận trung, tận hiếu, tận nghĩa như “đức thánh nhân, Nhan tử, Gia Cát, Khổng Tử, Hàn Dũ…”Họ là những người có ý chí, có tài năng và hơn hết là có tấm lòng vì nhân dân mà hi sinh. Tuy nhiên sở nguyện của họ không thành mà còn mắc phải vòng truân chuyên, khổ ải. Khổng Minh lận đận một đời, Nhan Uyên đau khổ chết sớm, Nguyên Lượng bỏ áo quan lui về cấy cày… Một đấng quân vương tốt phải là người đem lại sự công bình, hạnh phúc cho nhân dân. Mọi thái độ thương ghét ở đời đều quy tụ thành lẽ ghét thương chính đáng nhất xuất phát từ lợi ích của nhân dân. Đó cũng chính là tư tưởng tiến bộ, mới mẻ mà nhà thơ Nam bộ họ Nguyễn mang lại thông qua đoạn trích Lẽ ghét thương. Với đoạn thơ chất vấn cũng như tự thuật, Nguyễn Đình Chiểu đã hóa thân thành ông Quán để bày tỏ tâm can của mình. Mặc dù thủ pháp quen thuộc của thơ Trung đại là vịn vào sử sách Trung Quốc nhưng cụ Đồ Chiểu đã thổi màu sắc bình dân vào khiến câu thơ trở nên gần gủi, quen thuộc. Chỉ bằng một đoạn thơ ngắn, nhà thơ đã vẽ nên bức tranh tính cách của người Nam bộ: thẳng thắng, cương trực, chân thành.
Phân tích tác phẩm Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu
630
Phân tích tác phẩm Lẽ Ghét Thương – Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn LẼ GHÉT THƯƠNG (Trích Truyện Lục Vân Tiên) I.- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Nhân vật ông Quán trong Truyện Lục Vân Tiên -Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu thuộc loại tác phẩm luận đề, có tính chất giáo huấn đạo đức, bộc lộ trong mấy câu thơ có tính chất tuyên ngôn ngay từ đầu truyện: Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh là câu trau mình. Các nhân vật được phân tuyến thiện – ác, chính – tà rõ rệt. Nhưng điều cần chú ý là tác giả đã dồn hết tâm huyết cho mục tiêu giáo huấn này và thật sự tin tưởng vào vai trò của đạo đức, nhân cách đối với việc xây dựng một xã hội tốt đẹp vì hạnh phúc của nhân dân. Đạo đức sở dĩ có ý nghĩa vì nó là đạo đức của nhân dân, có tính nhân dân. Nhiệt tình đạo đức của tác giả đã truyền vào thái độ đối với các nhân vật: đồng cảm, bênh vực, ca ngại nhân vật chính diện và phê phán, lên án nhân vật phản diện. Vì thế, tác phẩm được nhân dân đón nhận nồng nhiệt. Ông Quán, ngưòi bán quán, là một ẩn sĩ lánh đời nhưng đọc thông kinh sử, biết sự tích, tên tuổi của nhiều nhân vật lịch sử Trung Quốc, nghĩa là một trí thức nho sĩ chứ không phải là người bán quán bình thường. Quan niệm đạo đức của ông được đào luyện từ kho kinh sử đó. Ông Quán thực ra chỉ là hình bóng của tác giả, là người phát ngôn cho tư tưởng đạo đức của tác giả. -Vị trí của đoạn trích Lẽ ghét thương trong Truyện Lục Vân Tiên: Đoạn này đang kể về bốn sĩ tử trên đường ứng thí (đi thi) ngồi nghỉ tại quán nước của ông Quán. Phát biểu của ông Quán về lẽ ghét thương là một cách để phân biệt bốn chàng sĩ tử ấy. Vân Tiên, Tử Trực (nhân vật chính diện) nghe ông nói thì cảm phục ; còn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm (nhân vật phản diện) cho rằng “Lão Quán nói nhăng”. 2.Cách phát biểu quan niệm đạo đức – thẩm mĩ của các tác giả văn học trung đại Người xưa thường chọn cách phát biểu quan điểm đạo đức hay thẩm mĩ thông qua bình luận, đánh giá một nhân vật lịch sử. Qua sự khen chê, có thể biết chính kiến của tác giả. Tiêu biểu cho cách phát biểu chính kiến này là loại thơ vịnh sử mà các nhà thơ xưa kẻ ít người nhiều đều có sáng tác (chúng ta đã học bài Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du, bài thơ có một số nét của thơ vịnh sử, nhất là cách thông qua bình luận một nhân vật để gửi gắm tâm sự của bản thân). Trong đoạn trích, các nhân vật lịch sử Trung Quốc được nói đến theo cách vịnh sử. ông Quán chọn một đặc điểm nào đó của nhân vật để làm căn cứ tỏ thái độ ghét / thương. Để đánh giá thái độ của ông Quán đối vói các nhân vật đó, lẽ dĩ nhiên là người đọc cũng phải có hiểu biết như tác giả. 1.Các nhân vật là đối tượng của ghét – thương a.Ghét Những nhân vật đáng ghét đều là những nhân vật lịch sử bị nhà nho lên án xét về chuẩn mực đạo đức Nho giáo. Ví dụ, ông Quán lên án những triều đại suy thoái về đạo đức, những ông vua này đều say mê nữ sắc, không quan tâm đến triều chính, phạm phải những sai lầm sơ đẳng khiến cho triều đại bị sụp đổ. Trong tác phẩm Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long cho biết Lệ Vương là thứ chín nhà Chu rất nhu nhược, tiếp theo sau là Tuyên Vương và sau Tuyên Vương là u Vương, u Vương được khắc hoạ là người say mê sắc đẹp của Bao Tự đến mức để làm cho Bao Tự cười, ông ta đã cho xé hàng trăm tấm lụa (Bao Tự có sở thích kì quái là nghe tiếng xé lụa). Nhưng tiếng xé lụa chấm dứt thì Bao Tự cũng hết cười. Một tên nịnh thần bày cho u Vương cách làm cho nàng cười to hơn, nhiều hơn. Nguyên là nhà Chu có hẹn vói các nước chư hầu là khi nào có giặc tấn công thì sẽ đốt lửa trên đài cao, các nước chư hầu sẽ đem quân đến ứng cứu. u Vương cho đốt lửa, quả nhiên quân chư hầu kéo đến, thấy không có việc gì lại quay về. Đứng trên lầu cao, quan sát cảnh tượng quân chư hầu bực dọc ra về, Bao Tự cười và rất vui. Nhung u Vương đã trả giá cho nụ cười của mĩ nhân: khi có giặc tấn công thực, đốt lửa cấp cứu thì không có đạo quân ứng cứu nào kéo đến nữa. Chuyện chỉ có vậy, không thấy Đông Chu liệt quốc kể đến nỗi khổ của nhân dân dưới sự trị vì của u Vương. Điểm mới mẻ, đặc sắc trong cách đánh giá của ông Quán là đã nhấn mạnh nỗi khổ của nhân dân dưới những triều đại suy thoái đó. Đây chỉ là sự suy diễn theo lôgíc riêng của tác giả nhưng là sự suy diễn có lí (đã là ông vua bất tài, hoang dâm, vô đạo thì tất nhiên không thể đem lại cho dân cuộc sống hạnh phúc). Tất cả sự căm ghét của ông Quán đều xuất phát từ lòng thương dân: các triều đại bị “ghét” vì đã gây ra nỗi đau khổ cho nhân dân: Quán rằng: “Ghét việc tầm phào, Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm. Ghét đòi Kiệt, Trụ mê dâm, Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Ghét đời u, Lệ đa đoan, Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần. Ghét đời Ngũ bá phân vân, Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn. Ghét đời thúc quý phân băng, Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân. Lấy hạnh phúc của dân làm chuẩn mực để đánh giá các triều đại lịch sử chính là sự thể hiện quan điểm lịch sử tiến bộ của Nguyễn Đình Chiểu. Nhân vật lịch sử thực ra chỉ là cái cớ để tác giả phát biểu quan điểm thân dân của mình mà thôi. Nói cách khác, lịch sử đã được ông giải thích theo quan điểm thân dân chứ không thuần tuý theo quan điểm đạo đức như sử gia Nho giáo. Các nhân vật lịch sử được “thương” cũng chỉ là cái cớ để ông Quán phát biểu lí tưởng sống. Đây đều là những nhân vật có đạo đức, có tài năng, có chí hướng nhưng không thành cồng trong cuộc đời. Mỗi người có một hoàn cảnh riêng: Thương là thương đức thánh nhân, Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông. Thương thầy Nhan Tử dở dang, Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh. Thương ông Gia Cát tài lành, Gặp con Hán mạt đã đành phui pha. Thương thầy Đồng Tử cao xa, Chí thờ có chí, ngôi mà không ngôi. Thương người Nguyên Lượng ngùi ngùi, Lỡ bề giúp nước lại lui về cày. Thương ông Hàn Dũ chẳng may, Sớm dâng lời biểu, tối đày đi xa. Thương thầy Liêm, Lạc đã ra, Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân. Khổng Tử đã đi nhiều nước để truyền bá đạo Nho nhưng không mấy thành công. Thực ra, Khổng Tử đã có thời gian ở nước Lỗ bốn năm, được làm Á tướng (tướng quốc thứ nhì), và chỉ ba tháng sau nước Lỗ đã tốt hơn lên. Nhưng rồi ông lại không được trọng dụng nữa nên cùng học trò bỏ nước Lỗ ra đi. Có lần ông còn gặp nguy hiểm đe doạ tính mạng. Đó là khi ở nước Tống, ông giảng đạo cho học trò dưới gốc cây đại thụ, bị quan Tư mã nước Tống là Hoàn Khôi cho người chặt cây đó, học trò đều lo cho thầy nhưng ông tin rằng trời đã giao cho ông sứ mệnh quan trọng nên Hoàn Khôi không làm gì được ông. Khuông là một ấp trong nước Vệ, ở xứ này nhân dân oán ghét một người tên là Dương Hổ. Vì Khổng Tử có dung mạo giống Dương Hổ, nên người đất Khuông vây Khổng Tử và các học trò định hãm hại. Sau đó họ nhận thấy đã nhầm lẫn nên xin lỗi và thả ống. Khổng Tử lúc bị đe doạ, lại nói đại ý là trời muốn giao cho ông tiếp tục nền văn chương của Văn Vương nên người đất Khuông không thể làm gì nổi ông. Những sự việc trên có thể giải thích bằng nhiều cách: (1) Đó là căn cứ cho thấy Khổng Tử có niềm tin vững chắc vào sứ mệnh truyền đạo của ông ; (2) Cho thấy một người tài như ông mà phải long đong, lật đật. Ông Quán khai thác nghĩa thứ hai. Nhan Tử – học trò của Khổng Tử – được Khổng Tử khen là người hiền, chẳng may chết sớm, chưa có công danh gì. Đào Nguyên Lượng (tức Đào Tiềm) “lui về cày” (tức là từ quan về ở ẩn) vì không chấp nhận khom lưng uốn gối trước quan trên. Các truyện kể về Đào Tiềm chỉ nhấn mạnh tấm gương trọng nhân cách, đạo đức của ông chứ không thấy nói ông “lỡ bề giúp nước” thế nào. Hàn Dũ dâng biểu can ngăn nhà vua vì nhà vua quá sùng bái đạo Phật (vua rước cốt Phật) nên bị giáng chức. Nói chung, tất cả các nhân vật được “thương” đều được tác giả khai thác ở nét tương đồng với cảnh ngộ của Nguyễn Đình Chiểu. Qua các nhân vật đó, ta hiểu thêm lí tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu, khát vọng đem tài năng ra giúp đòi, giúp nước nhưng do bị mù loà nên đành lỡ dở. Ông Quán là ngưòi sống thiên về tình cảm. Đọc kinh sử (kinh là ngũ kinh: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu), sử là các bộ sử thời cổ như Sử kí (Tư Mã Thiên), ông không đọc bằng con mắt lạnh lùng mà đọc bằng cả trái tim, đọc với những cảm xúc mạnh mẽ, Các từ ngữ như lòng hằng xót xa ; Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm,,các từ ghét, thương lặp đi lặp lại có tính chất liệt kê cũng gây ấn tượng về sự yêu ghét mạnh mẽ, dứt khoát của ông Quán. Nếu chú ý về số lần lặp lại thì dễ thấy, số lần chữ thương nhiều hơn số lần chữ ghét. Ông nêu 4 triều đại đáng ghét, nêu 7 nhân vật đáng thương. Mặc dù nói “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” ; hoặc “Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương”, song thực tế, tình thương vẫn được nói nhiều hơn: thương những người cùng chí hướng và cảnh ngộ. Đó là tình cảm tích cực. Ông Quán đã truyền cảm xúc mạnh mẽ của mình sang người đọc, khiến cho việc bình luận lịch sử – công việc tưởng như khô khan – cũng trở nên hấp dẫn, tránh được tính chất công thức thường thấy của loại thơ vịnh sử. 3.Ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ Nam Bộ. Ông dùng tiếng Việt phổ thông, nhưng đồng thời cũng đưa vào sáng tác của mình những từ ngữ dân gian của nhân dân Nam Bộ như coi (đọc), đàng công danh (đường công danh), phui pha (uổng phí). Từ phương ngữ tạo nên sắc thái địa phương đậm đà cho tác phẩm. Tác giả có cách tạo ngữ cảnh giúp ngưòi đọc bình dân, không có kiến thức cổ, vẫn hiểu được nghĩa. Chẳng hạn, người đọc có thể không biết Kiệt, Trụ, u, Lệ là ai nhưng các câu “Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang” ; “Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần”,… đã mang tính định hướng, giải thích lí do ghét thương rồi. Các nhân vật được thương là thánh nhân, tài lành, cao xa nhưng chẳng may lỡ đàng công danh, phui pha, lui về cày,… Vì thế, có thể người đọc không biết Khổng Tử, Hàn Dũ là ai mà vẫn có thể hiểu được đây là những ngưòi bất đắc chí, lỡ dở, không thành công trong sự nghiệp công danh. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Lẽ Ghét Thương – Ngữ văn lớp 11
2,130
Phân tích tác phẩm một người hà nội Hướng dẫn Phân tích tác phẩm một người hà nội Bài làm Trong số các sáng tác của Nguyễn Khải, truyện ngắn Một người Hà Nội là cái nhìn mới trong nghệ thuật của nhà văn về cuộc sống và con người. Trước những năm đổi mới, con mắt nhìn của nhà văn về truyện ngắn có sự sắc lạnh, đa chiều, nghiêm ngặt…nhưng bước sang thời kì đổi mới, cái nhìn ấy trở nên đầy suy nghiệm, trăn trở trước hiện thực đầy biến động, hối hả và xô bồ nhưng cũng đầy hương sắc. Nguyễn Khải đã chuyển từ các nhìn hướng ngoại sang hướng nội và lấy việc khám phá con người làm trung tâm trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, dân tộc, gia đình và các thế hệ qua đó ngợi ca những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Nhân vật trung tâm của Một người Hà Nội là nhân vật bà Hiền. Bà Hiền hiện lên là một con người lịch lãm, thông minh, thẳng thắn và giàu lòng tự trọng. Trải qua bao biến động thăng trầm của đất nước, bà Hiền vẫn giữ được vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn người Hà Nội. Bà chính là hạt bụi vàng lấp lánh của đất kinh kì ngàn năm văn hiến, góp phần làm giàu làm đẹp cho bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Trong cuộc sống, bà Hiền thể hiện là người thông minh, tài hoa và lịch lãm… đó là những nét văn hóa lâu đời của một người Hà Nội. Bảy mươi tuổi vẫn chơi hoa thủy tiên và cho bao năm tháng đi qua vẫn duy trì một phòng khách sang trọng, lịch lãm. Bà Hiền luôn có ý thức giữ tìn nét đẹp trong tâm hồn và lối sống người Hà Nội vì thế bà luôn bảo ban, dạy dỗ con cháu phải sống nền nếp, tế nhị và giữ lòng tự trọng từ cách ngồi, cách ăn uống, đi đứng, nói năng đến lẽ sống ở đời. Nét nổi bật của nhân vật bà Hiền là sự thẳng thắn, giàu lòng tự trọng. Bà thực tế từ việc lấy chồng, sinh con đến mọi công việc nhà. Bà Hiền lấy một ông chồng không tài hoa để đảm bảo sự an toàn cho hạnh phúc gia đình; đẻ con chỉ năm đứa để tròn trách nhiệm nuôi dưỡng con cái. Mọi việc bà đều liệu trước và quyết là làm cho bằng được. Nguyễn Khải đã đem tới cho bạn đọc tác phẩm Một người Hà Nội với giọng văn nhẹ nhàng pha chất triết luận khi khắc khọa hình mẫu bà Hiền, một hạt bụi vàng nhỏ nhoi nhưng không dễ dàng có thể chìm vào biển cát mênh mông giữa giông tố và sự đổi thay của thời đại. Những người như bà Hiền sẽ soi sáng cho mỗi thế hệ Hà Nội, ấy chính là giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người mà Nguyễn Khải muốn ngợi ca.
Phân tích tác phẩm một người hà nội
521
Phân tích tác phẩm Người Cầm Quyền Khôi Phục Uy Quyền – Ngữ văn 11 Hướng dẫn NGƯỜI CẦM QUYỀN KHÔI PHỤC UY QUYỀN (Trích Những người khốn khổ) I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời -Vích-to Huy-gô (1802 – 1885) là nhà thơ, nhà soạn kịch và nhà tiểu thuyết người Pháp thế kỉ XIX. Nổi tiếng là “thần đồng”, ông đã được mệnh danh là “chú bé trác việt”. Năm 13 tuổi, ông đoạt Giải thưởng Bông huệ vàng dành cho thơ của Viện Hàn lâm Pháp. Năm 1845, ông trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm, đồng thời được bầu làm Nguyên lão của nước Pháp trong cùng năm đó. Ông là nhà văn có tư tưởng nhân đạo bao dung, có tình thương dành cho mọi tầng lớp người, đặc biệt là đối với những người nghèo khổ. -Những người khốn khổ (1862) là cuốn tiểu thuyết lớn nhất và cũng là một cuốn tiểu thuyết được nhân loại biết đến nhiều nhất trong kho tàng sáng tác của Huy-gô. Tác phẩm được viết trong thời gian ông bị lưu đày ra khỏi nước Pháp. Đề tài của tác phẩm là vấn đề số phận của những ngưòi khốn khổ, những người không được luật pháp tư sản thừa nhận. Họ là những ngưòi sống dưới đáy cùng của xã hội, sống ngoài vòng pháp luật tư sản. Cuốn tiểu thuyết chiếm được cảm tình của độc giả trong và ngoài nước Pháp. Đây cũng là lần đầu tiên “những người khốn khổ ” trở thành nhân vật chính, có tiếng nói riêng trong văn học Pháp. Từ đây, Huy-gô trở thành nhà văn của những người khốn khổ, trở thành nhà nhân đạo chủ nghĩa. Những người khốn khổ gồm năm phần, mỗi phần được chia thành nhiều quyển, mỗi quyển gồm nhiều chương, mục và đều có tiêu đề riêng. Đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền nằm ở quyển tám (quyển cuối của phần thứ nhất). 2.Tri thức văn hoá Huy-gô sống trọn trong thế kỉ XIX, một thế kỉ có nhiều biến động không chỉ đối với nước Pháp mà còn đối với cả châu Âu, dẫn tới sự biến động ở các châu lục khác nữa. Ông là chủ soái của trào lưu văn học lãng mạn, một trào lưu chịu ảnh hưởng nhiều của các học thuyết chủ nghĩa xã hội không tưởng. Tư tưởng chủ đạo của ông cũng là triết lí mà trọn đời ông yêu thích và theo đuổi, đó là “Sống là yêu thương” (Vivre c’est aimer). Tư tưởng này phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa xã hội không tưởng chủ trương dùng tình thương để cảm hoá cái ác, để thanh toán mọi bất công và tội lỗi, để xây dựng một xã hội mói. Tuy nhiên, thế kỉ này cũng là thế kỉ mà giai cấp vô sản bước lên vũ đài chính trị, đấu tranh để giành quyền sống, quyền làm người, để chống lại mọi áp bức bất công mà trật tự tư sản đem lại, đỉnh cao của cuộc đấu tranh đó là Công xã Pa-ri. Thế kỉ này cũng là thế kỉ với nhiều phát minh khoa học mở đường cho sự phát triển của khoa học kĩ thuật. Ảnh hưởng của thời đại đã tác động sâu sắc tói cách nhìn nhân đạo và thái độ tôn vinh tiến bộ của Huy-gô, tạo cho ông có một tầm vóc mới trong thời đại đó. 3.Tri thức về thể loại Những người khốn khổ là cuốn tiểu thuyết lãng mạn thuộc vào loại hay nhất của Huy-gô. Các thủ pháp nghệ thuật như phóng đại, so sánh, ẩn dụ, tương phản,… là những thủ pháp quen thuộc ở nhà văn này, giúp ông khẳng định một thế giới lí tưởng trong khi phủ nhận trật tự xã hội tư sản đương thời. Lời đề từ của ông cho tác phẩm này cũng chỉ rõ điều đó: “Khi những người đàn ông còn sa đoạ vì phải bán sức lao động, khi những người đàn bà còn truỵ lạc vì đói khát, khi những trẻ thơ còn cằn cỗi vì tăm tối thì cuốn sách này còn có ích”. Thế giới lí tưởng của ông được tạo ra qua hình ảnh người anh hùng lãng mạn Giăng Van-giăng, được tình thương cảm hoá và đã tự nguyện dùng tình thương ấy để cảm hoá thế gian, suốt đời hi sinh hạnh phúc bản thân để cưu mang, đùm bọc, che chở một đứa bé mồ côi, bất hạnh là Cô-dét. Hiển nhiên, việc cảm hoá cái ác bằng trái tim nhân hậu cho dù ở một mức độ nào đó là mang tính ảo tưởng, song nó vẫn cần thiết cho cuộc sống, bởi lẽ cuộc sống con người không thể thiếu vắng tình người, tình đồng loại. Tiểu thuyết Những người khốn khổ đặt ra và giải quyết vấn đề số phận của những người khốn khổ – những nạn nhân và đồng thời là sản phẩm của xã hội đồng tiền – một cách nhân đạo, bao dung. Đây là một đoạn trích khá trọn vẹn và đầy đủ liên quan tới một tình huống đặc biệt gắn với nhân vật trung tâm của tác phẩm là Giăng Van-giăng. Tình huống đặc biệt đó là Giăng Van-giăng không còn là thị trưởng Ma-đơ-len nữa. Thanh tra Gia-ve, người vốn dưới quyền của thị trưởng, nay trở thành kẻ trực tiếp đến bắt Ma-đơ-len và sự việc đó diễn ra trước mắt Phăng-tin, ngưòi mẹ bất hạnh vốn đang được thị trưởng Ma-đơ-len che chở. 1.Đặc điểm về nội dung a.Nhân vật Ở đây các nhân vật được đặt trong các mối quan hệ: -Loại nhân vật cặp đôi: + Gia-ve và Giăng Van-giăng: quan hệ đối kháng theo mô hình đao phủ – nạn nhân hoặc kẻ sát nhân – vị cứu tinh (thú dữ – anh hùng), qua đó tạo ra ấn tượng về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác. Chú ý các nhận xét của Phăng-tin để phân biệt ai là thiện nhân và ai là ác nhân. + Gia-ve và Phăng-tin: quan hệ đối lập theo mô hình đao phủ – nạn nhân. + Phăng-tin và Giăng Van-giăng: quan hệ đối lập theo mô hình nạn nhân – vị cứu tinh (người bị nạn – người cứu nạn, nạn nhân – ân nhân), song cũng có quan hệ tương đồng nạn nhân – nạn nhân mà qua đó có thể thấy được tình càm tốt đệp của những con người cùng cảnh ngộ khi hoạn nạn, hiểm nguy. + Người kể chuyện và Gia-ve, người kể chuyện và Giăng Van-giăng: các quan hệ này tạo ra cách kể, cách bình luận ngoại đề, qua đó cho thấy thái độ, cách đánh giá nhân vật và tình cảm nhân đạo của tác giả. Lưu ý: Bên cạnh việc xác định loại nhân vật cặp đôi này và chỉ ra quan hệ của chúng, cần chú ý tới cách miêu tả của tác giả, đặc biệt là đối vói Gia-ve (kiểu con ngưòi thú, được nhìn như một con thú dữ) và Giăng Van-giăng (như một anh hùng, một vị cứu tinh, như một con ngưòi phi thường trong hoàn cảnh đặc biệt). -Loại nhân vật cặp ba: + Gia-ve / Phăng-tin và Cô-dét: ở đây xuất hiện nhân vật gián tiếp là Cô-dét (nhân vật được nói tới), dẫn tới cái chết tuyệt vọng của Phăng-tin, qua đó tái hiện nỗi đau của người mẹ yêu thương con tha thiết đang mong muốn được thấy mặt con lần cuối. + Giăng Van-giăng / Phăng-tin và Cô-dét: dẫn tới lời hứa đối với người đã khuất với vai trò mở rộng cốt truyện trong cuốn tiểu thuyết này, dẫn tới sự thanh than trong tâm hồn người ra đi, thể hiện qua kết thúc có hậu của đoạn trích. Từ đây niềm tin cái thiện sẽ thắng cái ác xuất hiện và được khảng định. b.Tác giả Tác giả đóng vai trò là người kể chuyện, đồng thời cũng là người đưa ra các bình luận ngoại đề, qua đó ta thấy rõ hơn thái độ, quan điểm của tác giả đối với câu chuyện được kể, đối với các nhân vật khác nhau xuất hiện trong đoạn trích. 2.Đặc điểm về nghệ thuật a.Kết cấu đoạn trích Có thể chia đoạn trích thành ba phần. Nổi bật trong đoạn trích là sự đối lập giữa hai nhân vật Gia-ve và Giăng Van-giăng với sự đảo ngược vị thế xã hội: Gia-ve là cảnh sát vốn dưới quyền của thị trưởng đến để bắt Giăng Van-giăng, còn thị trưởng – Giăng Van-giăng – lại phải cầu xin viên cảnh sát đó. Vị thế đối lập này sẽ là điểm tựa để phân tích. Ba phần của đoạn trích gắn với ba cấp độ xuất hiện của Giăng Van-giăng. Đó là: -Qua cách nhìn nhận và xưng hô của Phăng-tin, qua cách cảm nhận của bà xơXem-pli-xơ thì Giăng Van-giăng vẫn là thị trưởng Ma-đơ-len. -Qua các tình huống Giăng Van-giăng bị Gia-ve túm lấy cổ áo, bị xưng hô mày – tao, và thái độ có vẻ nhún nhường thể hiện qua sự bình tĩnh, nói năng lễ phép của Ma-đơ-len vói Gia-ve, thì vai trò của thị trưởng không còn. Nhân vật Gia-ve vốn là cảnh sát dưới quyền của thị trưởng Ma-đơ-len, luôn phục tùng thị trưởng cho dù đã có lúc hắn nghi ngờ ông thị trưởng này không phải ai khác mà chính là tên tù khổ sai Giăng Van-giăng giả mạo tên họ khác. Cho nên khi thị trưởng Ma-đơ-len trở lại với cái tên thật Giăng Van-giăng gắn với quãng đời khổ sai, đày ải của mình, thì Gia-ve với chức năng là thanh tra mật thám “khôi phục” lại uy quyền của hắn. Các động tác: đứng lì một chỗ mà nói, tiến vào giữa phòng và hét, nắm lấy cổ áo, phá lên cười, ngắt lời,… cách xưng hô mày – tao… cho thấy thái độ hống hách của Gia-ve khi trở lại với quyền uy mật thám. Trong phần cuối của đoạn trích, tác giả cho thấy “Sự thật là Gia-ve run sợ”, lo lắng, “mắt không rời Giăng Van-giăng”, hắn cũng không dám làm gì khi Giăng Van-giăng nói những lời cuối cùng với người đã chết. Thái độ của Gia-ve ở đây không còn hống hách nữa mà khép nép, lo sợ. Như vậy, khó có thể coi Gia-ve là “người cầm quyền” đã “khôi phục” lại “uy quyền”! Qua hành động quyết liệt, dứt khoát: kết tội Gia-ve (Anh đã giết chết người đàn bà này rồi đó), tìm Vũ khí tự vệ (giật gãy trong chớp mắt một… cái thanh giường), ra lệnh (Giờ thì tội thuộc về anh), thì vai trò thị trưởng được lấy lại. b.Nghệ thuật Các biện pháp nghệ thuật như so sánh, đối lập,… được tác giả sử dụng kết hợp với cách tổ chức tình tiết, sự kiện theo hình thức phát triển đã khắc hoạ được người anh hùng lãng mạn trung tâm. Đặc biệt hình ảnh nụ cười trên môi và khuôn mặt rạng rỡ của Phăng-tin khi đã chết trở thành hình ảnh tiêu biểu của nghệ thuật lãng mạn ở tác giả này. Có thể thấy rõ điều đó qua: Cách kể của tác giả: thể hiện tình cảm và thái độ của tác giả. Các câu hỏi liên tiếp được đưa ra đầy nghi vấn, song không hề có chút gì mỉa mai. Các câu hỏi đó đều được giải đáp bằng chi tiết bà xơ Xem-pli-xơ, “ngưòi độc nhất chứng kiến cảnh ấy”, là người đã trông thấy “một nụ cưòi không sao tả được hiện lên trên đôi môi nhợt nhạt”. Có thể coi đây là một thực tế vô lí vì ngưòi đã chết rồi thì còn cưòi làm sao được nửa. Song bà xơ Xem-pli-xơ, ngưòi mà tác giả đã nhấn mạnh nhiều lần là không bao giờ biết nói dối, bà chỉ nói sự thật, sự thật của mắt thấy tai nghe, cần chú ý tới câu: “Có những ảo tưởng cảm động, có thể là những sự thực cao cả” như là cách lí giải hợp lí ở đây. Song không chỉ có nụ cười trên môi mà còn có cả nụ cười “trong đôi mắt xa xăm, đầy ngỡ ngàng” của Phăng-tin nữa. Tất nhiên, đây là đôi mắt của ngườii đã chết, song trong không gian thiêng liêng ấy, qua cách nhìn của bà xơ, cái ảo tưởng này có thể giải thích được. Các hành vi, động tác sửa soạn lại tư thế cuối cùng cho Phăng-tin của Giăng Van-giăng như là động tác của người mẹ chăm con. Các động tác của Giăng Van-giăng chậm rãi, không gấp gáp mà tuần tự để đi tới động tác cuối cùng: “Rồi ông vuốt mắt cho chị”. Điều gì xảy ra khi ấy? Câu kể tiếp theo của tác giả cho thấy điều khác thường tiếp theo: “Lúc ấy gương mặt Phăng-tin như sáng rỡ lên một cách lạ thường”. Đây cũng là biểu hiện độc đáo của nghệ thuật lãng mạn, hướng tới cái khác thường, phi thường trong, hoàn cảnh khác thường, phi thường. Động tác Giăng Van-giăng quỳ xuống trước bàn tay buông thõng ngoài giường của Phăng-tin cũng rất đặc biệt. Ở đây, có sự khác biệt giữa hai cách nhìn một của Giăng Van-giăng, một của Gia-ve về Phăng-tin, từ đó thấy rõ tình cảm nhân đạo, tình ngưòi bao la của tác giả. Các động tác ở đây cũng nhẹ nhàng, tình cảm và tuần tự. Động tác cuối cùng của Giăng Van-giăng là đặt vào bàn tay ấy “một nụ hôn”. Cũng cần chú ý thêm quan niệm của tác giả về cái chết: “Chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại”. Đây cũng là một cách nhìn lãng mạn, khác thường, không giống như quan niệm bình thường, thể hiện niềm tin bất diệt vào thế giới cái thiện. Cái thiện bao giờ cũng gắn vói thế giói ánh sáng, cái ác bao giờ cũng gắn vói thế giói bóng tối. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NGƯỜI TRONG BAO – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Người Cầm Quyền Khôi Phục Uy Quyền – Ngữ văn 11
2,385
Đề bài: Phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân Bài làm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là bút ký đặc sắc, là kết quả của chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 – 1960 của nhà văn, in trong tập bút ký Sông Đà. Cảm hứng gắn bó với mảnh đất và con người Tây Bắc đã in đậm trong hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu.” (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên) Trong những ngày tháng cả nước rộn rang lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc” để xây dựng lại một miền quê của Tổ quốc, có biết bao nhà văn, nhà thơ đã thực hiện quá trình lột xác để đến với cách mạng. Một trong những nhà nghệ sĩ yêu nước ấy là Nguyễn Tuân – cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam, người đã mang lại những tờ hoa thơm thảo cho đời. Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc qua tùy bút Người lái đò sông Đà – một tác phẩm thể hiện rõ nét và sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông. Phân tích tùy bút Người lái đò Sông Đà Đến với nghệ thuật, đối với Nguyễn Tuân là đến với sự tìm tòi và sáng tạo, bởi vì “nhà văn là người sáng tạo lại thế giới”. Nguyễn Tuân sợ mình của ngày hôm nay giống với mình của ngày hôm qua, sợ sự trùng lặp tầm thường. Chính vì thế, ông đã lấy “chủ nghĩa” xê dịch “làm đề tài cho tác phẩm, làm mục đích cho cuộc đời mình. Sống là để đi, để tìm hiểu những điều mới lạ. Trước cách mạng, một mình với chiếc vali, Nguyễn Tuân đã bôn ba trên nhiều miền quê đất nước nhưng với tâm trạng của kẻ “thiếu quê hương”, bất mãn với cuộc đời. Đó cũng là tâm trạng chung của thời đại. Sau cách mạng, ông cũng xuôi ngược nhiều nơi nhưng với tinh thần của người yêu quê hương xứ sở, muốn góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Chính nhà văn đã từng nói đến Tây Bắc là để “đi tìm cái thứ vàng mười của màu sắc song núi Tây Bắc, và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa tươi vui và bền vững”. Với tình yêu quê hương sâu nặng và bầu nhiệt huyết sôi nổi ấy, Nguyễn Tuân đã sử dụng uyển chuyển, tinh vi vốn ngôn ngữ phong phú của mình để viết nên những tờ hoa thơm thảo về con người và thiên nhiên của miền sông núi này… Tác giả hay đi tìm cảm giác mạnh cho các giác quan. Vì vậy, những trang văn của ông thường mang theo âm điệu của những trận cuồng phong, bão tố. Nhưng không vì thế mà chúng mất đi nét dịu hiền, thơ mộng. Qua ngòi bút Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên vừa hung bạo nhưng cũng vừa trữ tình. Nó mang tâm địa xảo quyệt của thứ kẻ thù số một, có thể cướp đi mạng sống của bất cứ kẻ nào lỡ sa chân vào “thạch trận”…”Nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ…đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông” và khi thấy chiếc thuyền nào nhô vào thì chúng “nhỏm cả dậy để vồ lấy”… Nhưng cái hung hãn dữ tợn ấy vẫn không làm mất đi được nét trữ tình ở sông Đà. Miêu tả con sông ở những đoạn xuôi dòng, ngòi bút Nguyễn Tuân bỗng trở nên mềm mại, uyển chuyển, mang đậm chất thơ. “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân”… Trên con sông ấy, ông lái đò xuất hiện, dữ dội và phi thường. Trong cuộc chiến đấu “một mất, một còn” với thác nước, tác giả cho ta thấy được cái tài hoa, trí dũng tuyệt vời của ông lái. Người lái đò sông Đà là hiện thân của tác giả, chỉ thích lao vào những cuộc chiến đấu nguy hiểm với thác nước dữ dội mà không ưa xuôi thuyền trên dòng sông êm ả… Giọng văn Nguyễn Tuân thật tự nhiên và phóng túng khi miêu tả hai trạng thái đối lập của cùng một sự vật. Sông Đà vừa trữ tình vừa hung bạo, vừa là “kẻ thù, vừa là “cố nhân”. Dưới ngòi bút tác giả, con sông không chết cứng mà vận động một cách mạnh mẽ, sôi nổi bằng những từ ngữ gợi hình ảnh, tác động mạnh vào giác quan người đọc. Ông lái đò cũngthế cũng xuất hiện một cách sinh động, rõ nét và sắc sảo… Đối với Nguyễn Tuân, “đã là văn thì trước hết phải là văn”. Văn phải đẹp, phải trau chuốt. Cái đẹp ấy đã chi phối cách nhìn của tác giả trên toàn bộ tác phẩm. Con người và sự vật, qua ngòi bút Nguyễn Tuân, đều được khai thác trên phương tiện mĩ thuật và tài hoa nghệ sĩ. Nét đẹp sông Đà là một công trình dày công sáng tạo của tạo hóa. Nó vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Nó đẹp từ dáng dấp đến màu sắc. Cái áng tóc trữ tình của người thiếu nữ ấy là nguồn cảm hứng cho biết bao nhà thơ, nhà văn. Nước sông Đà cũng thế. “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích”, “Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượi bữa”. Con sông ấy đối với tác giả không chỉ đơn thuần là một cảnh đẹp thiên nhiên mà nó thật gợi cảm. Nó gây nên nỗi nhớ da diết cho những ai đã từng một lần gặp gỡ rồi lại đi xa. Gặp lại sông Đà, tác giả cảm thấy tâm hồn lâng lâng vui sướng như gặp lại cố nhân. “Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Và trong cái đẹp đẽ, thơ mộng của đất trời thiên nhiên, con người xuất hiện như một nghệ sĩ tài hoa. Ông lái điều khiển con thuyền một cách chủ động và thuần thục. Ông bao giờ cũng đứng trên thác sóng dữ dội mà bắt chúng phải qui hàng. “Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chèo về phía cửa đá ấy”. Nguyễn Tuân miêu tả hình ảnh ông lái điều khiển chiếc thuyền cứ như một nhạc sĩ đang kéo đàn violon. “Người lái đò sông Đà” là một bước chuyển lớn trong phong cách Nguyễn Tuân. Trước cách mạng, nhà văn thường đi tìm đề tài cho tác phẩm bằng cách quay về với quá khứ, với một thời vang bóng đã qua. Nhân vật của Nguyễn Tuân là những Huấn Cao, quản ngục mang tâm trạng của kẻ “nào biết trên đầu có ai”. Nhân vật “vang bóng một thời” là những vị anh hùng ngang dọc, “khinh bạc đến điều”. Nhưng sau cách mạng, Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở những con người lao động hết sức bình dị, gần gũi. Huấn Cao giờ đây đã lùi vào dĩ vãng chỉ còn đây một ông lái đò cả đời gắn bó với công việc, với cuộc sống. Hình ảnh ông lái lênh đênh trên sóng nước, chiến đấu với tử thần bằng cây sào bé nhỏ gây xiết bao xúc động trong lòng người đọc. Nguyễn Tuân đã trao tặng ông chiếc huy chương anh hùng lao động trên ngực như một niềm hãnh diện thiêng liêng. Ông lái xuất hiện trước mắt chúng ta như những người nghệ sĩ tài hoa trí dũng song toàn. Miêu tả hình ảnh người đời thường lái đò, Nguyễn Tuân đã thể hiện tấm lòng trân trọng, cảm phục những con người góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Trong việc tái hiện lại hình ảnh sông núi Tây Bắc và người lái đò, Nguyễn Tuân đã kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc… Mọi vật, mọi sự như hiện ra trước mắt ta sừng sững và sinh động. “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”. Âm thanh sóng vỗ vào đá, vào mạn thuyền, sóng dậy lên thành thác núi, “một anh bạn quay phim táo tợn…đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròng trành” rồi lao xuống “đáy hút sông Đà” để quay phim… Tất cả những gì nhà văn viết ra, những gì nhà văn tưởng tượng và sáng tạo nên đều như được dựng lại trước người đọc. Tiếp xúc với tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, ta như đang đứng trước con sông ấy, chứng kiến cuộc vật lộn giữa ông lái với thác nước, chứng kiến từng đoạn sông dữ tợn, lởm chởm những đá ngầm, đá nổi và cả những đoạn sông êm ả, trữ tình. Trong đoạn văn, Nguyễn Tuân dùng cả những kiến thức về quân sự, võ học… Cuộc chiến đấu giữa người lái với thạch trận sông Đà diễn ra thật hấp dẫn, li kì: “Mặt nước hò la”, sóng nước “đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Nó “bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra”… Tất cả những từ ngữ và hình ảnh mang đậm nét “quân sự, võ thuật” ấy như gợi lại trước mắt ta quan cảnh một cuộc hỗn chiến nguy hiểm, đầy hồi hộp hấp dẫn. Nguyễn Tuân từng được mệnh danh là nhà văn của sự tài hoa và uyên bác. Nguồn tri thức khổng lồ của ông về lịch sử, khoa học, địa lí, sinh học… thường được tuôn trào dào dạt trong tác phẩm. Với Người lái đò sông Đà, tác giả đã đưa ta đến với một miền quê hương Tổ quốc. Vị trí sông Đà, lịch sử sông Đà đã được Nguyễn Tuân giới thiệu bằng những trang viết đầy tính “uyên bác”. Nhiều địa danh được tác giả nhắc đến trong tác phẩm như Tà Mường Vát, Sơn La,Hát Loóng… Tất cả, tất cả chứng tỏ sự hiểu biết rất rộng và rất sâu của tác giả khi viết về sông Đà… Khả năng diễn đạt và vốn ngôn ngữ của Nguyễn Tuân thật phong phú. Mỗi từ ngữ khi đưa vào câu văn dường như đã được chắt lọc, gọt giũa cẩn thận. Ông đã sáng tạo nên nhiều từ ngữ mới lạ, độc đáo. Giọng văn đôi khi có vẻ thô kệch, dàn trải nhưng lại hết sức cô đúc và tự nhiên. Nguyễn Tuân không những viết nên những trang văn đầy tài hoa và lịch lãm mà ông còn sáng tạo nên những trang thơ cho đời. Đọc những dòng viết về con sông Đà trữ tình, ta không khỏi ngỡ ngàng, ngạc nhiên trước giọng văn êm ái, dịu dàng như thơ của Nguyễn Tuân. Viết về người lái đò sông Đà, viết về một vùng quê hương Tổ quốc, Nguyễn Tuân đã thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết đối với người lao động và thiên nhiên đất nước. Sông Đà càng đẹp, càng sinh động, ông lái càng anh dũng, ngoan cường trong công việc ta càng thấy được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn – Người lao động trong tác phẩm Nguyễn Tuân thật bình dị từ công việc đến hình dáng, cách ăn nói. Nhưng ông ta lại là người anh hùng trước mắt Nguyễn Tuân. Nhà văn đã phát hiện ra trong con người bình dị ấy chất nghệ sĩ tài hoa, dám đương đầu với sóng to gió lớn để chèo chống con thuyền qua sông. Ông lái hiện lên trong tác phẩm là người lao động hăng hái, quên mình vì công việc. Cuộc sống quanh ta vốn dĩ rất tầm thường, cũ kĩ. Ngày lại qua ngày, mây vẫn bay và gió vẫn thổi…nhưng chính nhà văn là người mang lại cho ta một thế giới mới, tinh khôi, kì diệu. Nguyễn Tuân cũng là một nhà văn, một người góp phần sáng tạo lại thế giới. Văn chương của Nguyễn Tuân đã mang đến cho chúng ta một chân trời huyền bí riêng biệt, hấp dẫn và độc đáo. Đó là chân trời của cái đẹp, của sự tài hoa và uyên bác…
Phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
2,203
Phân tích tác phẩm Người Trong Bao – Ngữ văn 11 Hướng dẫn NGƯỜI TRONG BAO I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời An-tôn Páp-lô-vích Sê-khốp (1860 – 1904), nhà văn Nga nổi tiếng cuối thế kỉ XIX. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình buôn bán nhỏ ở thị trấn Ta-gan-rốc. Ông nội của nhà văn vốn là một nông nô, phải chịu nhiều cực khổ, đoạ đày, song cả gia đình đã quyết tâm làm mọi việc, kiếm đủ tiền để tự mình giải phóng ra khỏi thân phận nô lệ. Cha của Sê-khốp đã có được một cửa hàng nho nhỏ với các loại hàng hoá rẻ tiền – nơi mà kí ức tuổi thơ của nhà văn không bao giờ quên những ấn tượng về sự đơn điệu, nhàm chán của một cuộc sống buồn tẻ nơi tỉnh lẻ. Năm 1884, tốt nghiệp khoa Y, Trường Đại học Tổng hợp Mát-xcơ-va, Sê-khốp vừa làm bác sĩ nông thôn vừa viết báo, viết văn. Đây là điều kiện để ông tiếp xúc với mọi loại hạng người trong xã hội, giúp ông hiểu sâu hơn về xã hội đó. Năm 1887, Sê-khốp được nhận Giải thưởng Pu-skin của Viện Hàn lâm khoa học Nga. Năm 1900, ông được bầu làm Viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm khoa học Nga. Sê-khốp viết truyện ngắn từ năm 1880. Ông viết rất nhiều truyện ngắn, truyện vừa và đã giành được giải thưởng của Viện Hàn lâm. Truyện ngắn của Sê-khốp có hình thức giản dị, ngắn gọn, ngôn ngữ đẹp, chính xác, nội dung phong phú, đậm chất hài hước song cũng rất trữ tình và có sức truyền cảm lớn. Nhiều truyện đặc sắc như: Cái chết của viên công chức, Anh béo và anh gầy, Con kì nhông, Phòng số 6, Đảo Xa-kha-lin, Đồng cỏ,… Ngoài ra, ông còn để lại một số vở kịch nổi tiếng như Ba chị em, Vườn anh đào, Hải âu,… Người trong bao (1898) được sáng tác trong thời gian nhà văn dưỡng bệnh ở thành phố I-an-ta trên bán đảo Crưm, biển Đen. “Người trong bao” Bê-li-cốp là một phát hiện nghệ thuật độc đáo, đặc sắc của nhà văn. Tác phẩm tập trung phê phán lối sống thu mình, sợ hãi, mất nhân cách của một bộ phận người trong xã hội Nga cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ yếu là một bộ phận trí thức tiểu tư sản. 2.Tri thức văn hoá Sê-khốp sống trong thời đại mà ở đó nước Nga đang có nhũng bước chuyển mình đặc biệt gắn liền với thời kì triệt tiêu chế độ nông nô, quyền lãnh đạo cách mạng xã hội đang chuyển từ những trí thức bình dân sang giai cấp vô sản. Sự trì trệ, thụ động, co mình thành một lối sống được thể hiện qua các nhân vật mà ông miêu tả trong các truyện ngắn, là sản phẩm gắn liền với thời kì lịch sử đó. Lối Sống đó đã làm hạ thấp giá trị nhân bản của con người, biến con ngưòi thành một nô lệ tự nguyện, chỉ răm rắp phục tùng mà không hề biết phân biệt đúng sai, thật giả, tạo ra một cơ chế sống giả tạo, máy móc, rập khuôn. Nhà văn cho rằng “không thể sống như thế mãi được”. Ông phủ nhận trật tự xã hội đương thời và nhiệt tình cổ vũ cho một xã hội mới tốt đẹp hơn. Ông chứng minh một cách thuyết phục về những cái xấu xa đang tồn tại để chỉ cho mọi ngưòi thấy trách nhiệm của họ là phải thanh toán những cái xấu xa, lạc hậu ấy. 3.Tri thức về thể loại Truyện ngắn là một thể loại tự sự, tức là kể chuyện, bằng văn xuôi, có dung lượng ngắn, gắn liền với một câu chuyện được kể. số lượng nhân vật trong truyện ngắn không nhiều, sự kiện được kể thường ít và không chồng chéo, cốt truyện được kể có kích thước giới hạn về phạm vi không gian và thời gian. Câu chuyện ở đây được kể từ ngôi thứ ba (Bu-rơ-kin kể cho bác sĩ I-van I-va-nứt nghe chuyện về Bê-li-cốp), theo mô hình: anh ta kể cho bạn anh ta câu chuyện về một người bạn khác của anh ta. Còn theo hình thức nhân vật tự kể về mình (tức là kể từ ngôi thứ nhất) thì sẽ có mô hình: tôi kể câu chuyện về bản thân tôi cho anh, cho mọi người. Sự thay đổi cách kể này thường gặp trong các tác phẩm văn học và tạo ra những hiệu quả nghệ thuật nhất định. Nhân vật được kể, tức là đối tượng của việc kể, trở thành nhân vật kể chuyện và tự kể, tức là biến mình thành đối tượng của việc kể. Như vậy, cái cần kể, cái phải kể ở đây không thay đổi nghĩa là vẫn con người ấy, vẫn tính cách ấy song ngôi kể, tức chủ thể phát ngôn thì thay đổi. Nhân vật tự kể về mình cũng có nghĩa là nhân vật tự phô bày mình ra, tự trình bày lại mọi hành vi, hoạt động theo suy nghĩ của bản thân, đúng như tính cách nhân vật. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Đặc điểm về nội dung Đây là một truyện ngắn. SGK chỉ trích một phần của truyện ngắn đó. Do vậy, cần chú ý những đoạn tóm lược (được in bằng chữ nhỏ) để hiểu được toàn bộ câu chuyện được kể. a.Một số khái niệm cần lưu ý Ngoài các từ ngữ được chú thích, cần hiểu thêm ý nghĩa biểu trưng của hình ảnh “cái bao”. Ngoài ý nghĩa cụ thể, “cái bao” như là vật dùng để đựng, bọc, gói đồ vật, hàng hoá,… thì “cái bao” còn mang nghĩa là một sự cầm tù, một cái khuôn, một cái khung giam hãm, một sự ràng buộc,… b.Nhân vật Trong đoạn trích, nhân vật chủ yếu được tái hiện từ góc nhìn của người kể chuyện, của tác giả và người nghe chuyện về Bê-li-cốp. Qua cuộc trò chuyện giữa hai nhân vật trí thức: thầy giáo Bu-rơ-kin và bác sĩ I-van I-va-nứt, nhân vật “người trong bao” hiện ra. Đó là Bê-li-cốp – một thầy giáo dạy tiếng Hi Lạp. Tác giả dường như chỉ là người ghi chép lại một cách tình cờ câu chuyện được nghe, song đây là cách kể chuyện khách quan. 2.Đặc điểm về nghệ thuật a.Kết cấu đoạn trích Đoạn trích có thể chia làm hai đoạn, phù hợp với các ngắt đoạn theo trình tự của câu chuyện (ngắt đoạn gắn với phần lược thuật in bằng chữ nhỏ). Đoạn 1 (từ đầu đến “rầu rĩ”): nhân vật Bê-li-cốp từ góc nhìn của người kể chuyện. Đoạn 2 (đoạn còn lại): nhân vật Bê-li-cốp qua một sự kiện cụ thể. -Đoạn một cho thấy chân dung của Bê-li-cốp qua góc nhìn của người kể chuyện. Bê-li-cốp xuất hiện qua lời kể như là một điển hình cho loại “người trong bao”, loại người luôn tự tìm cho mình một cách thức bao gói để co mình lại. Hình thức thu mình, tạo ra cách thức che chắn trước hết là áo khoác bên ngoài: Bao giờ “hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên”. Mắt thì được che chắn bằng đôi kính râm, cho dù là chẳng bao giờ cần đến kính râm cả. Lỗ tai thì “nhét bông” để tạo ra lớp vỏ che chắn. Khi ngồi lên xe ngựa, “thì bao giờ cũng cho kéo mui lên” để tạo ra lớp vỏ bọc như là một hình thức phòng vệ từ xa. Đã thế, tay hắn lúc nào cũng “cầm ô” và chân luôn đi “giày cao su”. Các vật dụng mà hắn đem theo đều được bao gói trong những cái bao: ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu, chiếc dao nhỏ để gọt bút chì cũng đặt trong bao,… Tất cả những cái đó cho thấy Bê-li-cốp là nhân vật luôn có ý thức tự thu mình vào trong một cái vỏ bọc nào đấy, bởi vì hắn sợ cuộc sống đang diễn ra ồn ã xung quanh. Hắn sợ và “ghê tởm” hiện tại cho nên hắn hướng về quá khứ, luôn ngợi ca những gì không có thật. Nghề nghiệp của hắn là dạy tiếng Hi Lạp, thứ tiếng này cũng là một hình thức bao gói, giúp hắn ẩn sâu hơn vào quá khứ mà tránh đi cái hiện thực đang diễn ra. Chạy trốn hiện tại cũng có nghĩa là từ chối tương lai, từ chối cái sẽ đến hoặc sẽ phải đến. Tìm về với quá khứ, kể cả cái quá khứ không có thật chính là sự vô trách nhiệm với bản thân, với cuộc đời. Nhân vật Bê-li-cốp luôn luôn bị một ám thị, đó là “nhỡ lại xảy ra chuyện gì”. Nỗi sợ hãi trong hắn cứ lớn dần lên, triền miên khiến hắn lúc nào cũng “cảm thấy rờn rợn”, bao giờ cũng có những giấc mơ “khủng khiếp”. Con người khi tự thu mình lại, nó sẽ đánh mất khả năng tự vệ, đánh mất bản lĩnh cuộc sống của nó. Nó trở thành một cỗ máy trơ ì thảm hại, trở thành vô phương chống đỡ cũng như mất khả năng định hướng tìm đường trong cuộc sống hiện tại. Nó sẽ nhìn đồng loại như là các đối thủ cần phải thủ tiêu hoặc loại bỏ. Nó làm cho con người trong cộng đồng ấy trở nên hoang mang, do dự và thậm chí lo sợ bởi cái lí lẽ “nhỡ lại xảy ra chuyện gì”. -Trong đoạn hai, tác giả đặt Bê-li-cốp vào một hoàn cảnh cụ thể gắn với một sự kiện cụ thể. Đó là Bê-li-cốp tìm gặp chị em Va-ren-ca để nói về việc hai chị em đã đi xe đạp, một hành động theo Bê-li-cốp là “chuyện kinh khủng”. Việc đi xe đạp đối với thời đại đó là một điều mới mẻ, nhưng Bê-li-cốp thì không muốn chấp nhận cái mới mẻ ấy, bởi vì nỗi sợ “nhỡ lại xảy ra chuyện gì”, “Nếu thầy giáo đi xe đạp thì học sinh sẽ làm gì?”… Con ngưòi của sự bao gói luôn luôn muốn tồn tại trong sự tròn trĩnh, không có cái táo bạo quyết đoán có thể thúc đẩy cuộc sống đi lên. Con người đó luôn tìm mọi cách để tránh va chạm, tránh đụng độ. Đó là một kiểu người lẩn tránh cuộc sống, thoả hiệp với cái ác, với cái lạc hậu. Như vậy, Bê-li-cốp không chỉ tạo ra một lối sống riêng mà còn là người thực hành và mong muốn áp đặt lối sống ấy cho những ngưòi khác nữa. Điều nguy hiểm là không những hắn không nhận ra cái tầm thường, thảm hại của lối sống hắn đang theo đuổi mà hắn còn muốn trở thành người điều hành, chỉ huy mọi người cũng phải theo lối sống ấy. Song hắn chỉ gặp người em là Cô-va-len-cô. Kết quả của cuộc nói chuyện là Bê-li-cốp gặp phải sự phản bác kịch liệt của Cô-va-len-cô và bị chính anh này xô ngã nhào từ trên cầu thang xuống. Các thứ vỏ bọc của hắn đã phát huy được tác dụng, cặp kính vẫn còn nguyên vẹn, hắn đã lăn xuống cầu thang “một cách bình yên vô sự”. Song đấy cũng chính là thời điểm mang kịch tính cao nhất: sự kiện hắn ngã đã được Va-ren-ca trông thấy và cô ta cất tiếng cười “vang khắp khu nhà”. Chi tiết hắn bị xô ngã nhào và chi tiết hắn bị Va-ren-ca cười đã đặt dấu chấm hết cho cuộc đời hắn, nhưng dấu ấn về lối sống trong bao mà hắn theo đuổi thì vẫn còn, bởi lẽ “hiện còn bao nhiêu là người trong bao, trong tương lai cũng sẽ còn bao nhiêu kẻ như thế nữa!”. Như vậy, lối sống co cụm, bạc nhược, thủ tiêu đấu tranh không phải chỉ là lối sống của một Bê-li-cốp mà là lối sống của không ít người trong thời đại đó. Do đó, chân lí được tác giả rút ra là: “Không thể sống mãi như thế được!”. Trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật, Sê-khốp thường sử dụng nhiều chi tiết tưởng chừng vặt vãnh, nhỏ nhoi, tầm thường như giày, ô, mũ, bông nhét tai,… và đặc biệt là hình ảnh “cái bao”. Từ đoạn trích có thể thống kê số lần “cái bao” xuất hiện để từ đó tìm ra ý nghĩa của tiêu đề Người Trong bao. Có thể phân tích hình ảnh cái bao qua ba cấp độ: -Hình ảnh “cái bao” qua các vật dụng hằng ngày của Bê-li-cốp: Tác giả liệt kê nhiều chi tiết cho thấy các vật dụng hằng ngày của Bê-li-cốp đều mang tính chất “bao”, đều được “bao bọc”: “ô hắn để trong bao”, “đồng hồ quả quýt cũng để trong bao”, “chiếc dao ấy cũng đặt trong bao”,… còn bản thân Bê-li-cốp cũng được đặt trong cái bao đặc biệt: “chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên” cho dù khi trời không lạnh. Tất cả các vật dụng của nó đều có một thứ vỏ bọc riêng, tạo ra các kiểu “bao” cụ thể song rất ấn tượng. -Hình ảnh “cái bao” qua công việc hằng ngày: Nhiệm vụ của Bê-li-cốp là hằng ngày giảng dạy tiếng Hi Lạp, thứ tiếng mà hắn cho là “thật là tuyệt vời, êm tai”. Hắn ghê tởm hiện tại nên tìm cách quay về với quá khứ: ngợi ca quá khứ, ngợi ca những gì không có thật. Tất cả những điều đó cũng tạo ra một loại “bao bì” đặc biệt vây bọc hắn, che chở và bảo vệ cho hắn. -Hình ảnh “cái bao” thường trực trong tư tưởng: + Hắn luôn luôn có một nỗi sợ hãi “sợ nhỡ lại xảy ra chuyện gì” thường trực trong tư tưởng. Từ đó dẫn tới việc ngại tiếp xúc, ngại va chạm, bảo thủ và không dám chấp nhận cái mới. Tạo ra một lối sống kì dị: khi ngủ thì trùm chăn kín mít và rờn rợn nghĩ “nhỡ lại xảy ra chuyện gì”. Tư tưởng của hắn bị bao kín bởi một nỗi sợ vô hình và hắn bị gặm nhấm dần vì nỗi sợ ấy. + Hình ảnh “cái bao” tạo ra một lối sống thu mình, có thể nói là ích kỉ, song điều nguy hiểm là lối sống co cụm trong bao ấy sẽ tác động tiêu cực đến xã hội, sẽ khiến người khác phải chùn bước trước cái mới. Lối sống ấy tạo ra một bầu không khí nặng nề, ức chế, đề phòng và dè chừng lẫn nhau, ở đó con người khó có thể giao tiếp cởi mở với nhau, khó có thể nói thật lòng vói nhau. Giọng kể của tác giả mỉa mai, châm biếm mà trầm tĩnh, bề ngoài có vẻ khách quan, bình thản nhưng giấu bên trong sự bức xúc, trăn trở mạnh mẽ, sâu sắc. Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình với tính cách kì quái mà vẫn chân thực, tiêu biểu. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM BÀI THƠ SỐ 28 – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Người Trong Bao – Ngữ văn 11
2,588
Phân tích tác phẩm Nhớ Đồng – Ngữ văn 11 Hướng dẫn Đọc thêm NHỚ ĐỒNG I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời -Về tác giả Tố Hữu: xem bài Từ ấy, mục 1. trong sách này. -Về thời điểm tác phẩm ra đời: Cuối tháng 4 – 1939, trên thế giới có nguy cơ bùng nổ cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ở Đông Dương, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp cách mạng, khủng bố Đảng Cộng sản. Tố Hữu cũng bị giặc bắt giam vào nhà lao Thừa Phủ (Huế). Tuy bị giam cầm trong ngục tù nhưng ông vẫn sáng tác thơ. Nhớ đồng là một trong những bài tiêu biểu thuộc phần “Xiềng xích” của tập Từ ấy, được sáng tác vào tháng 7 – 1939. 2.Chủ đề “tâm tư trong tù” Trong ba phần “Máu lửa”, “Xiềng xích”, “Giải phóng” của tập Từ ấy, phần “Xiềng xích” vẫn được đánh giá là hay hơn hai phần kia. Phần này tập hợp những bài thơ Tố Hữu viết trong thời gian ở tù. Trong phần “Xiềng xích” có bài mang tên Tâm tư trong tù nhưng nhìn chung, toàn bộ phần “Xiềng xích” đều ghi lại “tâm tư trong tù” của nhà thơ – chiến sĩ Tố Hữu. Đọc phần này, ta cảm nhận được suy nghĩ, tình cảm khá chân thực của người chiến sĩ cách mạng: sự buồn bã, cảm giác cô đơn. Vì sao vậy? Điều đó là tự nhiên, dễ hiểu. Vì đang hoạt động cùng đồng chí, đồng bào trong phong trào yêu nước, cách mạng nay bị giam hãm trong bốn bức tường chật hẹp, bẩn thỉu với những đòn tra khảo dã man, bị cách li với tất cả, không buồn sao được. Mọi âm thanh của cuộc sống ngoài nhà tù dội vào có thể làm thức dậy mọi kỉ niệm, khiến lòng cồn cào nhớ mong, khiến người chiến sĩ đối mặt với hiện thực nghiệt ngã, đối diện với chính phần yếu đuối của mình để lòng lại dặn lòng vượt lên. Và cảm hứng bao trùm các bài, ở những mức độ khác nhau còn là sự lạc quan: người chiến sĩ khao khát tự do, khao khát thoát khỏi chốn ngục tù để lại tiếp bước trên con đường tranh đấu vĩ sự nghiệp cách mạng. Nhớ đồng cũng là một bài thơ mà mạch tâm tư trong tù có những nét như vậy. Tố Hữu là hiện tượng thơ kết hợp được những yếu tố lãng mạn từ phong trào Thơ mới lãng mạn đương thời và tinh thần cách mạng. Tố Hữu đã tiếp nhận một cách sáng tạo, cách diễn tả cảm xúc, cách tạo hình ảnh, cách sử dụng ngôn ngữ của các nhà thơ mới để bộc lộ “cái tôi” trữ tình cách mạng của mình, để khắc hoạ thế giới tinh thần đa dạng của con người cách mạng và làm phong phú thêm cho dòng thơ trữ tình chính trị – cách mạng Việt Nam. (Xem thêm bài Từ ấy, mục I. 2. trong sách này.) II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Bài Nhớ đồng được sáng tác khi nhà thơ đang bị giam trong nhà lao Thừa Phủ (Huế). Cả bài thơ là tâm tư của ngưòi tù – chiến sĩ vốn gắn bó thiết tha vói thiên nhiên, cuộc sống và con ngưòi của quê hương xứ sở. -Trong những buổi “trưa hiu quạnh” của cuộc sống mất tự do sau cửa khám, nỗi “nhớ đồng” trong lòng người tù – nhà thơ dâng lên từ một âm thanh quen thuộc – tiếng hò – vọng vào nhà tù. Thế là bao nhiêu kí ức về đồng quê cùng lúc hiện về trong tâm tưởng. Điệp khúc: -Gì sâu bằng những trưa thương nhớ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò! -Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi! Được lặp lại nhiều lần nhấn mạnh nỗi buồn thấm thìa, da diết, khắc khoải trong tâm can con người. Đâu những lưng cong xuống luống cày Mà bùn hi vọng nức hương ngây Và đâu hết những bàn tay ấy Vãi giống tung trời những sớm mai? Đoạn thơ như chạm khắc vào trời đất một bức tượng khoẻ khoắn – bức chân dung người lao động, tạo nên một vẻ đẹp trường cửu của những công việc lao động đem lại giá trị của sự sống, hi vọng vào tương lai. Điệp từ đâu những, đâu rồi, thương nhớ ơi,… làm nỗi nhớ càng thêm sâu sắc, khắc khoải. “Nhớ đồng” là nhớ tất cả những gì làm nên cuộc sống ngoài nhà tù, mà giờ đây, người chiến sĩ đang trong tình cảnh phải cách biệt với tất cả. Cảm giác nhớ da diết,, buồn não lòng là cảm giác, nỗi buồn rất thật. 2.Tâm tư của người chiến sĩ trong tù được thể hiện khá chân thực và liền mạch: Nỗi nhớ được đánh thức từ “một tiếng hò đưa hố não nùng”. Tiếng hò gọi dậy thế giới đồng quê từ cảnh sắc đến những dáng hình quen – từ những người dân quê lao động miệt mài đến người mẹ già thân thương đơn chiếc. Rồi nhớ về những ngày còn tự do ; cuối cùng trở lại với thực tế “cảnh thân tù” để dặn lòng phải vượt lên hoàn cảnh, kiên trì lẽ sống và tin vào ngày mai. Cùng với các bài thơ khác trong tập Từ ấy, Nhớ đồng đem đến cho thơ Việt Nam trước năm 1945 một “cái tôi” trữ tình cách mạng độc đáo. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM LAI TÂN – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Nhớ Đồng – Ngữ văn 11
946
Phân tích tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc Bài làm Chảy trong dòng sông văn học Việt Nam, giai đoạn đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945, truyện ngắn Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Chân của Nguyễn Ái Quốc mang một màu sắc và âm điệu độc đáo: được viết bằng tiếng Pháp, xuất hiện trên đất Pháp, “có tính chiến đấu cao và bút pháp điêu luyện, hiện đại”. Trong khi các tác giả trong nước bóng bảy phê phán bọn phong kiến ươn hèn, để nhân dân đói khổ (như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học), hoặc gửi gắm tình yêu nước, lo đời kín đáo, mơ hồ (như Tản Đà, Trần Tuấn Khải) thì Nguyền Ái Quốc thẳng thắn và trực tiếp vạch mặt lũ thực dân xâm lược xảo trá, dã man ; bày tỏ tấm lòng yêu nước, căm thù giặc mạnh mẽ, cháy bỏng. Trái tim người cầm bút yêu, ghét thật rõ ràng. Vì thế, tuy xuất bản ở nước ngoài, song truyện ngắn Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Chân cùng nhiều lác phẩm khác mà Bác Hồ viết với bút danh Nguyễn Ái Quốc vẫn có giá trị như một áng văn Việt Nam đích thực, góp phần làm sôi động dòng chảy của văn chương dân tộc. Đọc truyện, chúng ta bắt gặp hai hình tượng nhân vật đối lập nhau: tên thực dân xảo trá và người chiến sĩ yêu nước đầy bản lĩnh. 1. Va-ren, một chính khách thực dân xảo quyệt, một kẻ phản bội nhục nhã. Ngay những dòng đầu, Va-ren đã được giới thiệu như một kẻ có lời nói và hành động mập mờ: “nửa chính thức hứa… giả thử… biết giữ lời hứa, liệu quan Toàn quyền Va-ren sẽ “chăm sóc” vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao”. Đó là những từ ngữ mỉa mai, châm biếm nhẹ, mà sâu. Từ đó, tác giả định hướng cho nhân vật hiện lên trong thời gian (vào lúc nào) và mang những phẩm chất tính cách cụ thể (ra làm sao). Về thời gian, Toàn quyền Va-ren chỉ muốn chăm sóc vụ Phan Bội Châu “khi nào yên vị thật xong xuôi ở bên ấy đã”. Nghĩa là, hắn lo cho cái ghế thống trị thật vững vàng trước đã. Hắn muốn tỏ rõ uy quyền thực dân với công chúng ở Đông Dương trước đã. Còn Phan Bội Châu ra sao, hãy đợi đấy. Do đó, sau khi rời nước Pháp với lời hứa “nửa chính thức” sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu, Toàn quyền Va-ren đã làm một chuyến đi rề rà, lững thững, để nhấm nháp, hưởng thụ những của ngon vật lạ, những lời nói, cử chỉ tâng bốc của lũ tay sai cấp dưới. Tác giả sử dụng ngòi bút kể chuyện xen kẽ miêu tả, đối chứng bằng điệp ngữ và những câu văn kéo dài chia chuyến đi của Va-ren thành ba chặng. Chặng thứ nhất: Va-ren đến Sài Gòn. Chặng thứ hai: Va-ren ra Huế. Như vậy, Va-ren đúng là kẻ chỉ hứa suông, tuyên bố sẽ xem xét vụ Phan Bội Châu, thực tâm hắn chẳng chút động lòng nào tới số phận đau khổ của cụ Phan, hắn chẳng phải là viên quan nêu cao trách nhiệm trong công việc. Tới Hà Nội – cái đích quan trọng nhất của chuyến đi – những trò lố chính thức của Va-ren mới thực sự diễn ra, bộ mặt hề mồi, phản trắc, xảo quyệt của tên chính khách thực dân mới thực sự phơi bày. Bằng đôi cánh cửa trí tưởng tượng, nhà văn dẫn người đọc vào “tận cổng nhà lao chính, tận xà lim, nơi người đồng bào tôn kính của chúng ta đang rên xiết”… “Ôi, thật là một tấn kịch!”, nhà văn kêu lên, như muốn người đọc tập trung chú ý và cùng nhau suy ngẫm. Nêu những cảnh trên là “hài kịch”, thì đến dây “tấn kịch” diễn ra vừa hài vừa bi. Màn chưa mở. Tác giả dành một đoạn văn trữ tình ngoại đề để tóm tắt tiểu sử bất hảo của Va-ren, đồng thời ngợi ca phẩm chất anh hùng của Phan Bội Châu. Về Va-ren, chúng ta đọc thấy rặt những dòng chữ đen ngòm, nhơ nhớp: “Con người đã phản bội […] tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi […], kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình…”. Sự nhơ nhớp mà tác giả gọi là những trò lố diễn ra suốt buổi Va-ren gặp Phan Bội Châu. Trong cuộc “chạm trán” này, hắn luôn tỏ ra chủ động, một con người cao sang, hào hiệp: “Tôi đem tự do đến cho ông đây!”. Hắn tuyên bố, rồi cúi xuống bắt tay Phan Bội Châu, nâng cái gông to kệch ở cổ người tù. Chỉ thế thôi, Va-ren đã treo cái bánh vẽ tự do trước đối thủ, rồi “tấn công”, ào ạt, liên hồi… bằng những lời nói dài dòng, vòng vo, khi chân thành, thống thiết, lúc châm chọc, mỉa mai, lên bổng xuống trầm. Đúng là giọng lưỡi của một anh hề. Va-ren nói những gì? Trước hết, hắn mặc cả với Phan Bội Châu về hai chữ “tự do”. Một bên hắn hứa “đem trả tự do cho Phan Bội Châu”, một bên khuyên – hay là ép buộc – Phan, hãy: “từ bỏ những mưu đồ […] chớ tìm cách xúi giục đồng bào […], hãy bảo họ cộng tác với người Pháp…”. Như vậy, Va- ren dâu có “quý trọng” Phan như hắn nói. Thục chất là hắn dã khuyên người chiến sĩ kiên cường, bất khuất kia đầu hàng, phản lại lí tưởng chiến đấu suốt đời của mình. Lời Va-ren nói, nghe ngọt xớt. Đó là vị ngọt chứa thuốc độc của kẻ phản bội. Tiếp sau, Va-ren nêu những tên tuổi, những chính khách nổi tiếng… về sự… phản bội. Từ Nguyễn Bá Trác – người Việt Nam, đến những Guy-xta-vơ, những A-lếch-xăng, A-ri-xtít, những An-be Pôn, và Lê-ông – người Pháp. Cuối cùng hắn khoe sự thành đạt, bước đường thăng tiến của bản thân. “Trước tôi là đảng viên Xã hội đấy, và giờ đây thì tối làm Toàn quyền…!”. Trơ trẽn thay, lố bịch thay là kẻ cầm quyền thực dân Pháp tôn thờ sự phản bội, lấy sự phản bội làm chuẩn mực để ngợi ca những nhân cách bỉ ổi. Do đó, tất cả những lời nói của Va-ren lọt vào tai Phan Bội Châu như “nước đổ lá khoai”, nghĩa là nó trôi tuột đi. Tất cả những thái độ “nhiệt tình, chân thành” của kẻ phản bội đã khiến Phan Bội Châu “dửng dưng”, hoậc “nhếch” đôi ngọn râu mép (…) lên một chút”, rồi “nhổ vào mặt Va-ren”. Càng về cuối truyện, nhân vật Va-ren càng hiện rõ bản chất xấu xa. Những trò lố của hắn dã tự lột trần cái bộ mặt tên chính khách xảo quyệt, “kẻ phản bội nhục nhã”. Miêu tả chân dung Va-ren, Nguyễn Ái Quốc dùng ngòi bút lạnh lùng, hóm hỉnh, thông minh, sắc sảo. Đó là ngòi bút điêu luyện, hiện đại, kết hợp chất châu Âu sôi nổi với âm điệu Á Đông thâm trầm. Càng về cuối càng thâm trầm. Sử dụng ba chi tiết miêu tả thái độ và cử chỉ của Phan Bội Châu trước những lời lố bịch của Va-ren, tác giả đã đập thẳng vào mặt kẻ thù – kẻ thù của cụ Phan, kẻ thù của cả dân tộc – những đòn chí mạng. Đó là lưỡi gươm sắc bén mà người thanh niên yêu nước – Nguyễn Ái Quốc – đã vùng lên trong buổi đầu chiến đấu chống ngoại xâm vì nền độc lập, tự do của dân tộc. 2. Phan Bội Châu – người anh hùng. Với kẻ thù – ở đây là nhân vật Toàn quyền Va-ren – ngòi bút Nguyễn Ái Quốc mang tính chiến đấu mạnh mẽ bao nhiêu thì, với người anh hùng dân tộc – ớ đáy là nhân vật Phan Bội Châu – ngòi bút ấy mềm mại, nâng niu, trân trọng bấy nhiêu. Tuy không miêu tả chi tiết, song hình tượng Phan Bội Châu vẫn rõ nét, luôn song song với nhân vật Va-ren, như một đối xứng của hai màu sắc chọi nhau trong một hoạ phẩm. Viết về nhân vật Phan Bội Châu, tác giả đã dành những từ ngữ dẹp nhất để ngợi ca. Khi tác giả gọi Phan là “người đồng bào tôn kính của chúng ta”, “con người đã hi sinh cả gia đình và của cải”, lúc nâng lên tầm của “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân”. Những phó danh từ bậc, vị, đấng đâu phải để nói về người bình thường. Đó là cách định danh mang tính thần thánh. Càng về cuối, tính cách thần thánh của hình tượng Phan Bội Châu càng được tô đậm thêm. Trong suốt buổi gặp, để mặc cho Va-ren diễn thuyết, cụ Phan chỉ “im lặng, dửng dưng”. Tai cụ không nghe, nét mặt cụ bình thản, cụ ngồi… im như một pho tượng… “làm cho Va-ren sửng sốt cả người”. Đấy chính là nhân cách hiên ngang, bất khuất của người chiến sĩ, luôn tỉnh táo, cảnh giác trước những giọng lưỡi kẻ thù. Đó cũng là cách chiến đấu chống lại kẻ thù, phủ nhận, bác bỏ mọi mưu ma chước quỷ của bọn ngoại xâm. Truyện ngắn Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu nguyên văn bằng tiếng Pháp, được sáng tác cách đây trên nửa thế kỉ. Những nhân vật, những sự việc và cả tác giả đã di vào cõi vĩnh hằng. Lúc đầu đọc, qua bản dịch, chúng ta có phần bỡ ngỡ. Song vừa đọc vừa suy ngẫm, chúng ta hiểu rằng: Bằng hình thức tưởng tượng, hư cấu, Nguyễn Ái Quốc – Bác Hồ thời trẻ – đã khắc hoạ được hai nhân vật có hai tính cách đại diện cho hai lực lượng hoàn toàn đối lập nhau: Va-ren: phản bbội lí tưởng, quen chơi những trò lố là đại diện cho thực dân Pháp ở Đônq Dương ; Phan Bội Châu: “vị anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập” tiêu hiểu cho khí phách dân tộc Việt Nam. Đằng sau hai hình tượng Việt Nam (hình tượng nhân vật trong truyện – Phan Bội Châu và hình tượng tác giả – Nguyễn Ái Quốc) ấy là một tấm lòng vừa căm thù bọn thực dân xâm lược vừa yêu nước thiết tha. Tấm lòng ấy kết hợp một tài năng, một quá trình rèn luyện đã tạo ra một ngòi bút chiến đấu thật sắc sảo, độc đáo: miêu tả sinh động, dùng từ linh hoạt, tự nhiên, trào lộng, nhất là nghệ thuật khắc hoạ nhân vật, tạo tình huống bất ngờ. Nguyễn Ái Quốc – Bác Hồ của chúng ta – ngay từ những ngày đầu cầm bút đã xứng đáng người chiến sĩ yêu nước, xứng đáng một nhà văn với nghĩa dẹp nhất của từ này.
Phân tích tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc
1,893
Phân tích – bình luận tác phẩm Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 Bài làm Từ năm học 2002 trở đi, trong chương trình Ngữ văn THCS và THPT có một loại văn bản mới: văn bản thuyết minh. Đó là kiểu văn bản thông dụng nói về mọi lĩnh vực đời sống từ những sự vật, sự việc lớn lao đến những vật, những việc bình thường nhưng có ý nghĩa đối với cuộc sống con người chúng ta. Sau những áng vãn tự sự đặc sắc của Việt Nam và thế giới như Lão Hạc, Cô bé bán diêm, Người thầy đầu tiên,… chúng ta được đọc và suy ngẫm một số văn bản thuyết minh mà Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 là bài mở đầu. Bài vãn nói về những tác hại của việc dùng túi ni lông một cách tuỳ tiện và kêu gọi mọi người có hành động đúng đối với ni lông, đồ nhựa,… Đây là một vấn đề thông thường mà ai cũng biết, song không phải ai cũng có thể nghĩ đứng và làm đúng. Do đó, nội dung của văn bản vẫn có ý nghĩa quan trọng. Và lời kêu gọi mà người thảo văn bản nêu lên, ngỡ như bình thường nhưng đã được trình bày một cách trang trọng, xứng đáng để chúng ta đọc và suy ngẫm nghiêm túc. Về bố cục, chúng ta có thể chia vãn bản nói trên thành ba đoạn: Vào bài (từ đầu đến “… không sử dụng bao bì ni lông “): nguyên nhân ra đời của bản thông điệp Thông tin vê Ngày Trái Đất năm 2000, nguyên cớ Việt Nam kêu gọi “Một ngày không sử dụng bao bì ni lông “. Thân bài (từ “Như chúng ta đã biết…” đến “… đối với môi trường”): tác giả giải thích những tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông, từ đó, nêu ra một vài giải pháp cho vấn đề sử dụng bao bì ni lông. Phần này có thể chia thành hai đoạn ứng với hai nội dung nêu trên được nối kết bằng từ chuyển tiếp (gọi là từ nối, quan hệ từ) “vì vậy”. Kết bài (ba câu cuối): Kêu gọi mọi người hãy hành động tích cực để góp phần bảo vệ trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta. nhiệm vụ cụ thể ở phần sau. Thân bài giúp người đọc, người nghe hiểu rõ vấn đề, biết cách làm những việc cụ thể theo yêu cầu của vấn đề. Cuối cùng để nhấn mạnh, khích lệ người đọc, người nghe, tác giả dùng ba câu mệnh lệnh kết hợp điệp từ, điệp ngữ tác động trực tiếp vào cảm xúc: “Hãy cùng nhau…”, “Hãy bảo vệ…”, “Hãy cùng nhau…”. Hãy: “từ biểu thị yêu cầu có tính chất mệnh lệnh hoặc thuyết phục, động viên nên làm việc gì đó, nên có thái độ nào đó”. Điệp từ hãy ở cuối văn bản này vang lên liên tiếp ba lần, nhấn mạnh yêu cầu, để thuyết phục, động viên mọi người có thái độ đúng và cố gáng làm theo những điều nói tới trong văn bán với chủ đề “Một ngày không sử dụng bao bì ni lông”. Đi vào tìm hiểu, suy ngẫm về chủ đé này, chúng ta hiểu rõ: 1. Nguyên nhân cơ bản khiến cho việc dùng bao bì ni lông có thể gây nguy hại đối với môi trường là “đặc tính không phân huỷ của pla-xtíc, chất dẻo hoá học”. Vậy mà, như văn bản nêu: “Ở Việt Nam, mỗi ngày thải ra hàng triệu bao bì ni lông… vứt bừa bãi khắp nơi công cộng, ao hổ, sông ngòi”. Câu văn không miêu tả mà chỉ là một thống báo có tính khoa học, khách quan nhưng vẫn gợi cho chúng ta một hình ánh quen thuộc hằng ngày ai cũng có thể trông thấy: những tờ ni lông, những bao bì, những túi, những bọc ni lông to nhỏ, xanh, đỏ, tím, vàng,… bị vứt bừa bãi, nằm rải rác mọi nơi, bên lề đường bộ, ven sông hồ, ao chuôm và cả trên những mặt suối. Thật là đáng sợ. Vậy mà, khi nhìn thấy những hình ảnh ấy, nhiều khi vì “quen mắt” nên chúng ta đã bỏ qua, không có chút gì xáo động, hoặc suy nghĩ. 2. Giờ đây, đọc văn bản này, chúng ta mới thấm thìa những tác hại ghê gớm của hiện tượng ni lông bị vứt bừa bãi ấy: a) Làm cản trở sự sống, quá trình phát triển của cỏ cây, các loài thực vật. b) Làm tắc các đường dần nước, tắc dòng chảy của sông, suối, tắc cống rãnh,… gây ô nhiễm nước, làm cho muồi sinh sôi, dịch bệnh lan truyền. c) Những bao bì ni lông nhuộm màu gói thực phẩm, cá thịt, rau quả thấm các màu có chất độc hoá học sang vật được gói dễ dẫn đến các bệnh nguy hiểm tác hại cho não, cho phổi của con người. d) Nguy hiểm nhất là khi chúng ta đốt các chất thải ni lông, khói bốc lên, thải ra chất đi-ô-xin gây nôn mửa, khó thở, rối loạn các chức năng, gây ung thư dị tật,… thật đáng sợ. Ngoài những tác hại chính mà bản thông điệp nêu ra, chúng ta còn thấy thêm biết bao tác hại của ni lông. Chẳng hạn bao bì ni lông vứt bừa bãi ở nơi công cộng, đình chùa miếu mạo làm mất mĩ quan, gây ô nhiễm môi trường nơi chôn thiêng liêng. Túi ni lông gói hoặc vứt chung với các rác thải khác sẽ hạn chế sự phân huỷ làm rác thải ứ đọng vô cùng bẩn thỉu, v.v. và v.v. Việc phát minh ra chất dẻo hoá học đê làm ra những chiếc túi, những tấm vải, những bao bì ni lông là một thành tựu khoa học lớn lao của con người, đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống chúng ta: Nhưng chính con người chúng ta lại không biết sử dụng ni lông một cách khoa học. Vứt và dùng ni lông tuỳ tiện, bừa bãi là một hành dộng con người tự làm hại con người, người nọ gây hại cho người kia, mình làm hại chính mình. Phải chăng điều đó nghĩa là: “Gậy ông lại đập lưng ông” như câu tục ngữ ngày xưa tổ tiên ta từng nhắc. 3. Vậy, để sửa chữa những sai lầm trên, chúng ta phải làm gì? Tác giả bản thông điệp viết rành mạch, rõ ràng: “Vì vậy chúng ta cần phải…”. Từ chuyển tiếp “vì vậy” như một cầu nối chặt chẽ dẫn dắt suy nghĩ của người đọc một cách tự nhiên. Hiểu thấu những tác hại của việc vứt và sử dụng bao bì ni lông tuỳ tiện, chúng ta dễ dàng đồng tình với những biện pháp mà tác giả nêu ra. Văn bản ncu ra bốn điều, trong đó có ba điều mỗi người phải làm và một điều cần tuyên truyền, vận động mọi người cùng làm theo, nói gọn là: b) Minh làm thật tốt, chưa đủ, mà cần vận động mọi người cùng làm theo. So với phần nêu nguyên nhân và tác hại của việc dùng bao bì ni lông, phần công việc phái làm ít ngôn từ, câu chữ hơn song nội dung của nó thật sáng tỏ, rành mạch, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo. Phải chăng đó chính là một nét đặc điểm của loại văn bán thuyết minh. Tác giá vừa thuyết minh – “nói hoặc chú thích cho người ta hiểu rõ hơn về những sự vật, sự viộc…”(1), vừa hướng dẫn chúng ta những việc làm cụ thể. Cuối cùng, ba câu vãn ở đoạn kết với giọng điệu mạnh mẽ, vang ngân, kêu gọi, động viên khích lệ thiết thực (“Mọi người hãy cùng nhau…, Hãy bảo vệ…, Hãy cùng nhau…”), người viết không nhắc lại chú dề một cách giản đơn mà nâng ý nghĩa của chủ dể ấy lên một tầm cao hơn. “Hãy quan tâm tới trái đất, hãy bảo vệ trái đất…”. Sau hai lần nhắc tới trái đất với lời kêu gọi cần được bảo vệ, kết thúc văn bản là câu văn then chốt: “Một ngày không dùng bao bì ni lông” khiến cho ý nghĩa của công việc “không dùng bao bì ni lông” – một việc đơn giản, bình thường trờ nên trang trọng. Tóm lại, lời kêu gọi “Một ngày không dùng bao bì ni lông” đã được truyền đạt bằng một hình thức rất trang trọng: Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000. Điều đó, cùng với một bố cục chặt chẽ, lô gích, sự giải thích giản dị, sáng tỏ về tác hại của việc dùng bao bì ni lông, vé lợi ích của việc giảm bớt chất thải ni lông, đã gợi cho chúng ta những điểu có thể làm ngay để cải thiện môi trường sống, ‘để báo vệ trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta.
Phân tích tác phẩm Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000
1,521
Phân tích tác phẩm Thương Vợ -Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn THƯƠNG VỢ I- NHỮNG TRI THỨC Bổ TRỢ 1.Về cuộc đòi của Trần Tế Xương Trần Tế Xương (1870 – 1907) thường gọi là Tú Xương, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định (nay thuộc phường Vị Hoàng, thành phố Nam Định). Là một nhà nho đi thi chỉ đỗ đến Tú tài, không làm quan hay làm công chức nên đời sống của nhà thơ tương đối khó khăn. Cảnh nghèo là một đề tài dễ gặp trong thơ Tú Xương. Ông cũng thường xuyên làm thơ tự trào, tức là tự chế giễu, mỉa mai mình chính là vì nhận thấy bản thân là một kiểu “người thừa”. Gánh nặng kinh tế gia đình chủ yếu đặt lên đôi vai buôn bán đảm đang của bà Tú. 2.Hình tượng người vợ trong văn học nhà nho Mặc dù có quan hệ gần gũi, thân thiết, nhưng người vợ hầu như vắng bóng trong sáng tác văn thơ của các “ông chồng” nhà nho thời trung đại.Thế kỉ XVIII trở đi, một số nhà nho như Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du bắt đầu viết về người vợ, nhưng phổ biến là thơ khóc vợ, nghĩa là viết về vợ khi vợ đã chết. Dòng thơ ca khóc vợ tiếp tục với Nguyễn Khuyến ở thế kỉ XIX, Đông Hồ ở thế kỉ XX. Rất hiếm nhà thơ nhà văn viết về người vợ lúc còn sống, lại càng hiếm hơn kiểu bài thơ viết về người vợ tần tảo, buôn bán nuôi chồng con. Đặt trong bối cảnh đó, dễ thấy Thương Vợ là một bài thơ lạ, hầu như không có tiền lệ. Tác giả đã viết bài thơ với tất cả tình cảm chân thành và xây dựng hình tượng người vợ với sự sáng tạo của riêng mình. Ngoài bài thơ này, Tú Xương còn có một số bài khác viết về cuộc sống của vợ. Il – PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Kết cấu tình – cảnh Theo phép làm thơ, một bài thơ xưa được xây dựng theo nguyên lí tình – cảnh (còn gọi là thuyết ý cảnh). Tất nhiên ở đây, cảnh phải được hiểu theo nghĩa rộng, không đơn giản là cảnh thiên nhiên mà còn gồm cả sự việc. Tâm con người tiếp xúc với cảnh, tình nảy sinh. Theo sơ đồ này, ta thấy, bài thơ có hai phần rõ rệt. -Phần một (bốn câu thơ đầu): nêu sự việc khách quan, có giá trị như cảnh trong các bài thơ khác. Hai câu thơ đầu cho biết bà Tú buôn bán để nuôi cá gia đình, từ năm đứa con đến một người chồng: Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Sau nhận xét khái quát về sự thật đó, ở hai câu 3-4, nhà thơ khắc hoạ hai hình ảnh gây ấn tượng nhất về bà Tú: Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Bà Tú lặn lội trên quãng đường vắng vẻ như thân cò (một hình ảnh quen thuộc về thân phận người bình dân trong văn học dân gian) và trải qua những nguy hiểm trên con đò đông người. Thân cò và đò đông là những hình tượng nghệ thuật của văn học dân gian truyền thống. Nhà thơ viết về một đề tài không có tiền lệ (việc buôn bán tần tảo của người vợ) nên không thể vay mượn điển tích, điển cố có sẵn của văn học truyền thống phương Đông (Nho giáo vốn coi khinh việc buôn bán) mà buộc phải tìm đến truyền thống văn học dân gian. Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không. Hai câu 5 – 6 là sự ghi nhận đầy xúc động mà kín đáo về đức hi sinh của người vợ: bà Tú âm thầm cam chịu, chấp nhận sự vất vả, khó khăn mà không hề kêu ca, than thở. Hai câu 7 – 8 chuyển đối tượng bình luận: những lời phẫn nộ nhằm vào thói đời bạc bẽo, những ông chồng không làm được gì để giảm gánh nặng cho người vợ. Khi dùng từ thói đời, nhà thơ đã khái quát một sự thực không chỉ liên quan đến bản thân ông mà còn liên quan đến nhiều ông chồng khác. Sự tự phê phán nghiêm khắc của một nhà nho, một người đàn ông. Đây là chỗ độc đáo của bài thơ. Nhà nho trước Tú Xương hiếm có ai lại tự phê phán, chỉ trích bản thân gay gắt như thế. Trong hoàn cảnh mới, Trần Tế Xương đã đặt vấn đề nhà nho phải nghiêm khắc xem xét lại lối sống của họ. Như vậy, bài thơ bắt đầu bằng sự việc chọn lọc rồi từ đó nêu các suy nghĩ, xúc cảm về ngưòi vợ. Tình cảm yêu thương, trìu mến, trân trọng dành cho người vợ đảm đang, chịu thương chịu khó bộc lộ qua những quan sát cụ thể, thực tế nên chân thành, sâu sắc. Từ suy nghĩ về người vợ, tác giả liên hệ tự phê phán bản thân. Bài thơ vừa có chất tự sự, vừa có chất trữ tình. Bài thơ ngắn nhưng có hai nhân vật. Nhân vật người vợ được tả có chất tạo hình đậm nét. Nhân vật thứ hai ẩn kín sau những lời bình luận, phát biểu. Thực chất đây là nghệ thuật thể hiện hình ảnh người vợ nhìn từ những góc độ khác nhau. Hình tượng bà Tú là sự miêu tả khách quan những sự việc mà ai cũng có thể ghi nhận, còn khi nhân vật tác giả xuất hiện trong 4 câu thơ cuối cùng, bà Tú lại hiện ra qua sự cảm nhận, bình luận, qua thái độ trìu mến, trân trọng, qua sự tự phê phán của riêng tác giả. 3.Ngôn ngữ nghệ thuật Chất liệu ngôn ngữ của bài thơ là những từ ngữ của đời sống, là lời ăn tiếng nói hằng ngày, thành ngữ và cách nói dân gian. Tác giả sử dụng cả lời mắng mỏ nhẹ nhàng (cha mẹ thói đời). Nghệ thuật tu từ: các từ ngữ tạo hình (lặn lội), âm thanh (eo sèo), nghệ thuật đối xứng của thơ Đường luật ở các cấp độ khác nhau (tiểu đối – tức là đối trong một câu như: một duyên/ hai nợ, năm nắng/ mười mưa ; liên đối – tức là đối hai câu như các cặp đối câu 3-4, câu 5-6). Các biện pháp nghệ thuật khác nhau của cả thơ Đường luật bác học và các biện pháp tu từ của văn học dân gian tạo nên tính chất vừa trang trọng vừa thân mật, gần gũi, chân thành cho bài thơ. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CÂU CÁ MÙA THU NGỮ VĂN LỚP 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Thương Vợ -Ngữ văn lớp 11
1,166
Phân tích tác phẩm Tinh Thần Thể Dục – Ngữ văn 11 Hướng dẫn Đọc thêm TINH THẦN THỂ DỤC I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời –Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977) xuất thân trong một gia đình nho sĩ, quan lại. Quê ông ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nguyễn Công Hoan vừa dạy học vừa viết văn. Ông viết cả truyện ngắn và tiểu thuyết, nhưng đóng góp nổi bật nhất của ông vào sự phát triển của văn xuôi quốc ngự chính là truyện ngắn trào phúng, bắt đầu từ tập Kép Tư Bền (1935). Nguyễn Công Hoan là nhà văn tiêu biểu cho trào lưu văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng ; tác phẩm của ông đặc biệt phê phán mạnh mẽ xã hội thuộc địa nửa phong kiến thời đó. Sau Cách mạng, nhà văn tiếp tục sáng tác phục vụ kháng chiến, xây dựng đất nước. Nguyễn Công Hoan được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. -Truyện ngắn Tinh thần thể dục lần đầu xuất hiện trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy số 251, ra ngày 25 – 3 – 1939, vạch rõ tính chất bịp bợm của “phong trào thể dục thể thao” mà thực dân Pháp cổ động rầm rộ nhằm đánh lạc hướng thanh niên đương thời. 2. Tri thức về thể loại Trong cuốn Nhà văn hiện đại (quyển tư, tập hạ, NXB Tân dân, 1945), nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã có một số nhận xét về Nguyễn Công Hoan và nghệ thuật viết truyện ngắn của ông. Có thể tóm tắt thành một số điểm như sau: -Nguyễn Công Hoan sở trường về truyện ngắn. Nhiều truyện ngắn của ông linh động, lại có nhiều bất ngờ khiến người đọc rất thích. -Ở truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan là một ngưòi kể chuyện rất có duyên. Văn truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan rất vui, thứ vui chỉ thấy ở ngòi bút của ông. -Nếu xét riêng về những vấn đề ông thường quan tâm và có cảm hứng sáng tạo thì thấy, Nguyễn Công Hoan băn khoăn nhất về những sự động chạm của cái giàu với cái nghèo trên đường đời. Sự xung đột giữa kẻ giàu người nghèo là cái cốt của hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan. Khi hai hạng giàu – nghèo động chạm nhau, bao giờ người ta cũng thấy ông ngả về hạng nghèo. -Ông đã có một nụ cười riêng, một nụ cười chỉ ông mới có. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Bố cục và cách dựng truyện -Truyện ngắn Tinh thần thể dục được bố cục như một vở kịch: ngoài nội dung tờ trát của quan tri huyện sức cho các hương lí thì tác phẩm, gồm năm cảnh: + Cảnh 1: Anh Mịch cùng đinh đến nhà lí trưởng xin miễn đi xem đá bóng vì còn phải đi làm trả nợ nuôi vợ con kẻo cả nhà chết đói. + Cảnh 2: Bác Phô gái đến lí trưởng biếu cành cau để xin cho chồng không đi xem đá bóng, vì chồng bác đau yếu quá mà đường lên huyện lại xa, “những chín cây lô mếch”. + Cảnh 3: Bà cụ phó Bính đến lót lễ cho lí trưởng ba hào để xin thuê ngưòi đi xem thay thế vì con trai cụ bận đi ăn cưói. + Cảnh 4: Tờ mờ sáng lí trưởng đã quát tháo sai tuần đinh đi tróc nã muời tám người còn chưa có mặt ở đình làng theo lệnh ông ta ; bởi vậy, thằng Cò ôm con trốn ở đống rơm bị hai anh tuần phát hiện và lôi đi xềnh xệch ra đình làng. -Năm cảnh được xây dựng chủ yếu bằng hình thức đối thoại mà nhân vật trung tâm là ông lí, đặt sau chỉ thị bằng văn bản của quan tri huyện gửi các hương lí đều cho thấy rõ ràng dân làng Ngũ Vọng không hề có “tinh thần thể dục” như chủ trương của nhà nước, như chỉ thị của quan trên. Đó cũng chính là mâu thuẫn trào phúng cơ bản của truyện ngắn Tinh thần thể dục: sự mâu thuẫn giữa mục đích có vẻ tốt đẹp, trang trọng với thực chất là tai hoạ của “phong trào thể dục thể thao” – một phong trào mà thực dân Pháp cổ động rầm rộ nhằm đánh lạc hướng thanh niên ta khi đó. 2.Một số mâu thuẫn trào phúng Nghệ thuật trào phúng của thiên truyện ngắn được xây dựng trên những mâu thuẫn trào phúng sau đây: a.Trát quan tri huyện về việc phải gom đủ người đi xem đá bóng. Xem đá bóng là một nhu cầu giải trí, tự nguyện của người hâm mộ bóng đá. Đây là một hoạt động thường hấp dẫn nhiều người và được nhiều người hào hứng đón xem. Vậy mà quan tri huyện Lê Thăng lại phải có trát gửi về các làng xã lệnh cho các chức dịch bắt dân lên huyện xem đá bóng đủ số lượng phân bổ cho từng thôn làng. Nội dung tờ trát có nhiều điều nực cười bởi chứa đựng nhiều mâu thuẫn: lí trưởng phải đích thần dẫn đủ một trăm người có mặt ở sân vận động huyện từ 12 giờ trưa, làng Ngũ Vọng lại phải có năm lá cờ từ 10 giờ sáng, trong khi trận bóng khởi tranh vào giữa buổi chiều ; ai đã “đi dự cuộc khánh thành sân thể dục tháng trước, thì lần này được miễn”, trong khi tưởng đó là hoạt động giải trí tự do ; “các thầy không được coi thường, nếu không tuân lệnh sẽ bị cữu”, hoá ra đây là “việc quan” buộc các chức dịch phải đôn đốc thực hiện, nếu không quan trên sẽ khiển trách Về hình thức, loại văn bản hành chính – công vụ này có nhiều câu, chữ, chi tiết khiến người đọc được cười một trận thoải mái. Nó là một tập họp lộn xộn các từ kim – cổ, tây – ta, viết theo văn viết xen khẩu ngữ… Nó hé mở cho thấy tầm nhận thức, cách điều hành xã hội của hệ thống chức dịch quan lại phong kiến ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng đến đâu và như thế nào. Lệnh quan đáng lẽ phải là việc khẩn, trang trọng, nghiêm túc nhưng hoá ra lại là về một hoạt động vui chơi, giải trí. Bởi vậy mà buồn cười. Đây là mâu thuẫn trào phúng thứ nhất, mở đầu hay cũng là nguyên nhân của hàng loạt cảnh “cười ra nước mắt” sau đó. b.Đi xem đá bóng là tai hoạ giáng xuống đầu dân lành -“Phong trào thể dục thể thao” do chính quyền thực dân đề xướng thực chất là tai hoạ đối với những người nông dân Việt Nam: + Với anh Mịch, loại cùng đinh ở làng, đi xem đá bóng là mất một ngày làm để trả nợ ông nghị ; là có nguy cơ bị ông nghi “đánh chết” ; cũng có nghĩa là không còn chỗ vay mượn, “nhờ vả” quanh năm, mà mất chỗ bấu víu thì cả nhà sẽ chết đói. + Bác Phô gái có gánh hàng ở chợ nhưng cũng sẵn lòng bỏ một ngày chợ để đi thay chồng ốm. Bác có cành cau làm lễ mọn nhưng cũng không được lí trưởng chấp nhận. Bởi vì, cái việc xem đá bóng là “việc quan không phải thứ chuyện đàn bà” – ông lí bảo thế. + Thằng Cò biết thế nào rồi cũng phải đi. Thế nhưng mất buổi làm thì bố con sẽ nhịn đói; với lại, Cò “không mượn đâu được quần áo” nên khi hai anh tuần đốt đuốc đi tróc nã mưòi tám người còn thiếu, nó sợ quá đành ôm con trốn… cạnh đống rơm! Tại cái thằng bé con “khóc thét lên” không đúng lúc nên thằng bố mới bị lộ, “bị lôi xềnh xệch” ra đình làng, chứ không thì đã thoát. + Một số người “khôn ngoan” đi ngủ nhờ nhà người khác hoặc làng khác, như để “lánh nạn” mới tránh được cái hoạ đi xem đá bóng lần này. -Khi kể và tả lại tình cảnh bi – hài của những người dân lành bị ép đi xem đá bóng, tuỳ theo thành phần, giói tính, lứa tuổi, hoàn cảnh,… của từng nhân vật, nhà văn đã lựa chọn, sử dụng từ, ngữ, chi tiết chính xác, gợi cảm và vận dụng đắc địa các biện pháp nghệ thuật tương thích. Nhờ vậy, tình huống trào phúng nào cũng rất cụ thể, rất sống động: + Anh Mịch là cùng đinh nên đến ông lí với bộ mặt “nhăn nhó”, xưng hô khiêm nhường: “Lạy ông, ông làm phúc…”, “Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy” “Lạy ông, ông thương…”,… + Bác Phô gái, người có gánh hàng ở chợ nên có “cánh cau” làm “đầu câu chuyện”, lời lẽ của người buôn bán nên khéo léo, “dịu dàng”, dáng vẻ nhũn nhặn (ngồi xổm ở xó cửa, gãi tai), thưa gửi một điều lại “lạy thầy”, hai điều là “thưa thầy” và xưng “con” ngon ngọt rất lọt tai. + Bà cụ phó Bính cao niên, có vai vế lại sẵn có đồng tiền trong tay nên “vừa nói, vừa cười rất vô duyên”. Cụ cũng là người khôn ngoan, biết tỏng bụng dạ lũ người có chức sắc kia thằng nào chẳng mê tiền nên tiền là của cụ bỏ ra nhưng cụ lại nói trại ra là “lễ” của thằng con cụ để ông lí nhận mà không bẽ. Cụ còn thưa gọi ông lí một mực là “ông” cho phải phép nữa để ông ta cho qua cái vụ “bỏ tiền tráo ngưòi” mà cụ vừa là đạo diễn vừa là người bình luận đắc ý. Những cảnh đời tuy được miêu tả trong những tình huống trào phúng khác nhau nhưng đều hàm ẩn ý nghĩa: việc đi xem đá bóng là tai hoạ khủng khiếp đe doạ đến cái ăn, cái mặc, cái sống của dân lành. Đọc văn Nguyễn Công Hoan, người đọc thấm thía tình cảm xót xa của nhà văn, thấm thía nỗi đau nhân thế của ông. Nụ cười cùng nước mắt ướt như hoà quyện vấn vương trong từng cảnh đời, từng số phận. c.Sự “mẫn cán”, “tận tâm” của viên lí trưởng “Phong trào thể dục thể thao” thời đó còn là một cơ hội béo bở để các loại chức dịch trong các làng xã thể hiện sự “mẫn cán” với các quan trên và lòng “tận tâm” của chúng với quê hương, làng nước. Bản chất cơ hội “đục nước béo cò” của bọn quan lại đó được ngòi bút trào phúng sắc sảo của Nguyễn Công Hoan lột tả đến chân xác không thương tiếc. Ở truyện ngắn Tinh thần thể dục,hình tượng nhân vật lí trưởng được hoàn chỉnh dần sau các cảnh bi – hài: -Ông triển khai chủ trương của quan trên một cách “tận tâm”: “Ba bốn giờ chiều mới bắt đầu, nhưng quan bắt đến huyện từ 12 giờ trưa. Để ngài điểm, Mà quan sức 12 giờ, thì mình phải đến từ 11 giờ cho sớm sủa. Vả lại, tôi còn phải mang cờ lên lúc 10 giờ, thì chả đi từ 5, 6 giờ thì đi vào lúc nào? Cho nên, mọi người phải chờ tôi ở đình từ gà gáy”. Vì thế mà “từ sáng tờ mờ” người ta đã nghe tiếng ông lí quát tháo om sòm ở đình làng vì còn mưòi tám người chưa có mặt. Đặc biệt, hình ảnh viên lí trưởng trong cảnh cuối truyện: “lo lắng, đi cuối cùng, mắt nhanh nhẹn để coi cẩn thận như coi tù binh”, chửi đổng “Mẹ bố chúng nó, cho đi xem đá bóng chứ ai giết chết mà phải trốn như trốn giặc!”. Đúng là một bức chân dung biếm hoạ rất thú vị. Tiếng chửi ấy nghe mới đã làm sao. Đấy là tiếng lí trưởng chửi “chín mươi tư thằng… xếp hàng năm… đi… đều bước” kia đang bị bọn tuần đinh kèm giám sát chung quanh hay là lời nhà văn chửi bọn quan huyện, quan làng và cái chủ trương “thể dục thể thao” của lũ chúng nó? Mạng lưới kiểm duyệt đương thời không cho phép Nguyễn Công Hoan tấn công trực diện và mạnh mẽ hơn, nhưng với một truyện ngắn giàu tính bi – hài kịch, nhà văn cũng đã đả kích khá đích đáng cái “tinh thần thể dục” lúc bấy giờ, làm çho người đọc hiểu rằng “phong trào thể dục thể thao” chỉ gieo tai hoạ cho người dân. Truyện khẳng định tài năng trào phúng bậc thầy của Nguyễn Công Hoan thể hiện trong cách bố cục, dựng truyện, sáng tạo những tình huống trào phúng độc đáo và giọng văn kể chuyện rất hóm hỉnh. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VI HÀNH – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Tinh Thần Thể Dục – Ngữ văn 11
2,215
Phân tích tác phẩm Tiếng Mẹ Đẻ – Nguồn Giải Phóng Các Dân Tộc Bị Áp Bức Hướng dẫn TIẾNG MẸ ĐẺ – NGUỒN GIẢI PHÓNG CÁC DÂN TỘC BỊ ÁP BỨC I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Nguyễn An Ninh (1899 – 1943) là một trí thức yêu nước mà tên tuổi gắn liền với nửa đầu thế kỉ XX. Ông sinh ở quê mẹ (Long An) và lớn lên ở quê cha (Thành phố Hồ Chí Minh). Sinh trưởng trong một gia đình Nho học có truyền thống tự hào dân tộc, ông theo đuổi con đường học hành để có một học vấn cao rộng, từng học đại học trong nước rồi sang Pháp học ở Đại học Xoóc-bon (Pa-ri), đỗ Cử nhân Luật năm 1920. Ông giao lưu và có mối liên hệ mật thiết vói các nhà yêu nước nổi tiếng cùng thời như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc. Ông nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam và đày ải. Ông mất tại nhà tù Côn Đảo năm 1943. Với vốn kiến thức uyên bác của mình, ông đã tham gia nhiều hoạt động chống lại chế độ thực dân xâm lược. Các bài báo cũng như những buổi diễn thuyết của ông đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhiều thế hệ người Việt đương thời. Ông là phủ bút tờ báo Tiếng chuông rè, một tờ báo yêu nước, tiến bộ mà qua đó ông góp phần truyền bá chủ nghĩa yêu nước, thương nòi, góp tiếng nói của mình vào công cuộc đấu tranh chung nhằm giải phóng đất nước ra khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Tư tưởng của Nguyễn An Ninh trước hết đi từ tư tưởng yêu nước ôn hoà, tiến dần tới công khai đấu tranh chống lại chế độ cai trị thực dân. Các hành động công khai đó gắn liền với hoạt động báo chí, tuyên truyền, diễn thuyết. Nguyễn An Ninh cho rằng những thanh niên trí thức thời đó chưa nghiên cứu văn hoá Trung Hoa đến nới đến chốn, ông phê phán đạo Khổng và chỉ cho mọi người thấy cần thiết phải học hỏi văn hoá châu Âu để xây dựng một nền văn hoá đặc sắc riêng của nước nhà. Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức cũng thuộc hệ thống các bài viết của Nguyễn An Ninh nhằm thức tỉnh tinh thần dân tộc bằng cách vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá nước ngoài vừa biết bảo vệ, gìn giữ và phát triển tiếng mẹ đẻ. Đây được coi là bài chính luận xuất sắc của ông với bút danh Nguyễn Tịnh đăng trên báo Tiếng chuông rè (1925). Cuộc đời và các hoạt động xã hội – chính trị của Nguyễn An Ninh diễn ra chủ yếu trong những năm 20 đến 40 của thế kỉ XX. Trong khoảng thời gian này, một mặt chính quyền thực dân đã củng cố chính quyền thuộc địa, mặt khác phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc cũng phát triển, đặc biệt là sự thành công của Cách mạng tháng Mưòi Nga. Tiếp đó, trên chính trường Việt Nam là tiếng nói của phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Các hoạt động của Nguyễn An Ninh cũng như của Phan Châu Trinh và nhiều chí sĩ yêu nước cách mạng khác đều là những đóng góp quan trọng thúc đẩy sự phát triển của phong trào chống thực dân Pháp nói chung. 3.Tri thức về thể loại Bài viết này thuộc văn bản nghị luận chính trị – xã hội, ở đây tác giả trực tiếp trình bày quan điểm của mình về tiếng mẹ đẻ. Thể loại nghị luận không chỉ đòi hỏi tính chặt chẽ trong lập luận, tính khoa học trong khi chứng minh hay giải thích các vấn đề mà còn đòi hỏi phải có tình cảm sâu nặng khi bình giải những vấn đề mà mình trình bày, ở đây là tình yêu tiếng mẹ đẻ. Sự kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố trên sẽ tạo ra phong cách nghị luận riêng của cá nhân, từ đó người đọc vừa có thể cảm nhận được vẻ mượt mà, trau chuốt của ngôn từ, vừa cảm nhận được ý đẹp lòi hay qua tính chất suy lí của các lập luận đó. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Đặc điểm về nội dung Đoạn trích mở đầu bàng sự phê phán thói “thích bập bẹ năm ba tiếng Tây hơn là diễn tả ý tưởng cho mạch lạc bằng tiếng nuớc mình”. Đây là kiểu học đòi nói tiếng Pháp thường được gọi là kiểu Pháp bồi, chỉ chuyên đi “cóp nhặt những cái tầm thường” để tạo ra một hình thức để bắt buộc Iihững ngưòi khác “tin là họ đã được đào tạo theo kiểu Tây phương”. Những người học đòi theo kiểu bồi đó không hiểu được rằng họ không những không có đủ trình độ hiểu biết cần thiết mà cũng không thể hiểu được đầy đủ chính xác các nền văn hoá “ngoại bang” khác. Nguyễn An Ninh gọi điều đó là “Thái độ mù tịt về văn hoá châu Âu”. Ông phê phán cách học như vậy và chỉ rạ sự lai căng mà những kẻ “Tây học” kiểu đó cố tình tạo ra: “Những kiểu kiến trúc và trang trí lai căng của những ngôi nhà thuộc về những người An Nam được hun đúc theo cái mà những người ở Đông Dương gọi là văn minh Pháp, chứng tỏ rằng những người An Nam bị Tây hoá chẳng có được một thứ văn minh nào”. Hệ quả của việc làm đó là: “Việc từ bỏ văn hoá cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng”. Tiếp đó, ông phân tích bản chất của tiếng mẹ đẻ, của ngôn ngữ dân tộc. Ông chỉ ra lợi ích thiết thực của việc bảo vệ tiếng mẹ đẻ, của việc dùng tiếng mẹ đẻ: “Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị”. “Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình”. Vì sao lại thế? Bởi vì: “Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian”. Như vậy, học châu Âu không phải để thu được vài tiếng bồi mà là tiếp thu khoa học, các học thuyết lớn, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để tìm ra con đường đi thích hợp cho dân tộc mình, là lấy lí luận của phương Tây để phản bác lại phương Tây. Ông chỉ trích những người chê bai tiếng Việt nghèo nàn và chỉ rõ những lời trách cứ như vậy đều không có cơ sở. Bởi vì những người đó: “Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào. Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?” Từ đó ông đưa ra câu hỏi buộc những người có lương tâm với dân tộc đều phải suy nghĩ: “Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?” Ở đây, ông chỉ rõ thái độ vô trách nhiệm, thái độ phủ nhận một chiều của những người cam tâm làm nô lệ, chấp nhận làm tay sai cho thực dân, bởi lẽ chê bai đất nước một cách thụ động, giản đơn, một chiều, sẽ dẫn tới thái độ khinh rẻ đất nước, dẫn tới sự tự ti dân tộc. 2.Đặc điểm về nghệ thuật Nổi bật lên ở đây là nghệ thuật lập luận dẫn dắt vấn đề. Trước hết, cũng cần nói tới khả năng của tư duy lí tính theo mô hình tư duy phương Tây, đặc biệt là kiểu hình tư duy khoa học của người Pháp mà tác giả Nguyễn An Ninh đã tiếp thu được từ nhà trường Pháp, cũng có đóng góp quan trọng cho việc nhìn nhận và lí giải vấn đề tiếng mẹ đẻ này. Tiếp đó, tác giả lần lượt đề cập tới các khía cạnh khác nhau của vấn đề tiếng mẹ đẻ và đặt ra trách nhiệm chung cho toàn xã hội, đặc biệt cho những người có học, những người Tây học, là phát triển hơn nữa tiếng mẹ đẻ, tiếng nói chung của dân tộc. Bảo vệ tiếng mẹ đẻ không chỉ dừng lại ở mức độ biết hoặc thường xuyên sử dụng tiếng mẹ đẻ mà phải làm cho tiếng mẹ đẻ đó phát triển đi lên, bằng cách tiếp nhận các khái niệm mói, bổ sung, hoàn thiện vốn từ ngữ của dân tộc, dùng tiếng mẹ đẻ để chuyển tải những học thuyết tiến bộ về “đạo đức và khoa học” để mở đường đi lên cho dân tộc. Việc lập luận chặt chẽ này có tính thuyết phục cao bởi đối tượng.quan trọng mà tác giả hướng tới là đội ngũ trí thức Tây học, nhằm thức tỉnh họ, đặt họ trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc. Do đó, việc bảo vệ tiếng mẹ đẻ cũng chính là một hành động yêu nước, thương nòi. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VỀ LUÂN LÍ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Tiếng Mẹ Đẻ – Nguồn Giải Phóng Các Dân Tộc Bị Áp Bức
1,660
Phân tích tác phẩm truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Hướng dẫn Phân tích tác phẩm truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Bài làm: Truyền kì mạn lục là tác phẩm văn xuôi của văn học cổ, tác phẩm bao gồm những truyện có các chi tiết li kì viết bằng tản văn xen lẫn biền văn và thơ ca chủ yếu ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam phải sống trong “tam tòng, tứ đức”. Mỗi truyện trong Truyền kì mạn lục đều có lời bình và quan điểm của tác giả và phần lớn các nhân vật, sự việc li kỳ trong tác phẩm đều xảy ra vào thời Lý, Trần, Hồ, Lê sơ. Cốt truyện dựa vào câu chuyện được lưu truyền trong dân gian mà nhiều trường hợp lấy từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện nay vẫn còn đó. Việc lấy tên là Truyền kì mạn lục hay còn được hiểu là sao chép tản mạn những truyện lạ nhằm thể hiện thái độ của người ghi chép truyện cũ bằng trí tưởng tượng phong phú, bút pháp linh hoạt nhằm đưa người đọc vào thế giới huyền bí giữa thần và người, giữa hư và thực nhan nhản những cả xấu xa, đồi bại. Tác phẩm là sáng tác văn học đánh dấu sự phát triển của thể loại tự sự hình trượng trong văn học chữu Hán. Ra đời vào thời kỳ xã hội đầy biến động với những mâu thuẫn giai cấp gay gắt, quan hệ xã hội phức tạp, sự phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ, chiến tranh liên miên, nhân dân lầm than cơ cực. Trước nhu cầu phản ánh hiện thực cuộc sống đầy biến động thì không chỉ dừng lại ở việc ghi chép sự tích đời trước. Nguyễn Dữ đã dựa lại những sự tích sẵn có, trên cơ sở đó xây dựng, thêm bớt tái tạo lại thành thiên truyện mới phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI của đất nước ta. Qua tác phẩm, Nguyễn Dữ đã bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề lớn của đất nước, dân tộc khi chế độ phong kiến dần suy thoái. Bên cạnh vẹ phản ánh sự ngang nhiên của cái ác, cái xấu thì tác giả vẫn cho chúng ta thấy những tâm hồn thanh cao, sự lương thiện của người dân. Truyện nào trong Truyền kì mạn lục cũng thể hiện quan điểm chính trị, thái độ nhân sinh và ý tưởng đạo đức rõ ràng của ông, qua đó cho thấy hoài bão của ông về một xã hội mọi người được sống trong sự công bằng, trong tình thương yêu giữa con người với con người, trong nền đức trị, công bằng, nhân ái… Đó chính là giá trị nhân văn cao cả của Truyền kì mạn lục. Nguyễn Dữ phơi bày những thói hư, tật xấu trong xã hội nhằm bảo vệ chế độ xã hội với tư tưởng Nho gia làm chủ đạo, lên án bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi bậc minh quân hiền triết nhưng không chỉ dừng lại đó, tác giả còn thể hiện sự dao động của tư tưởng Nho gia trước sự rạn vỡ của ý thức hệ phong kiến. Tác phẩm Truyền kì mạn lục là thành tựu nghệ thuật của Nguyễn Dữ trong nghệ thuật dựng truyện và xây dựng hệ thống nhân vật, vượt xa truyện kí lịch sử đương thời và truyện cổ dân gian không chú trọng vào nội tâm, tâm hồn nhân vật. Tác phẩm là sự kết hợp nhuần nhuyễn các phương thức tự sự, trữ tình, kịch, ngôn ngữ, văn biền ngẫu và thơ ca với lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ… Truyền kì mạn lục xứng đáng là áng “thiên cổ kì bút” là “áng văn hay của bậc đại gia” tiêu biểu cho văn học hình tượng chữ Hán dưới sự ảnh hưởng của sáng tác dân gian.
Phân tích tác phẩm truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ
673
Phân tích tác phẩm Truyền kì mạn lục Hướng dẫn Phân tích tác phẩm Truyền kì mạn lục Nguyễn Dữ là nhà văn lỗi lạc của đất nước ta trong thế kỷ 16. Vốn là học trò giỏi của Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngoài thơ, ông còn để lại tập văn xuôi viết bằng chữ Hán, gồm có 20 truyện ghi chép những mẩu chuyện hoang đường lưu truyền trong dân gian; cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả. Đằng sau mỗi câu chuyện thần kỳ. “Truyền kì mạn lục” chứa đựng nội dung phê phán những hiện thực xã hội đương thời được nhìn dưới con mắt nhân đạo của tác giả. Với tập truyện ngắn “Truyền kì mạn lục” ông thực sự đã mang đến cho nền văn học nước nhà một “Thiên cổ kì bút” có khả năng lay động lòng người bởi giá trị sâu sắc về mọi mặt của nó. Chế độ phong kiến Việt Nam cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI nhìn chung vẫn đang trên đà phát triển. Tuy nhiên sự cường thịnh của những giai đoạn trước đó thì đã giảm sút rõ rệt, bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của sự suy thoái. Trong tập đoàn giai cấp thống trị không còn những vua sáng tôi hiền. Triều đình đã gây nên bao nỗi thống khổ cho nhân dân. Ngoài xã hội, tình trạng đạo đức suy đồi, nhân tình thế thái đảo điên đã đẩy con người ta vào bước đường cùng. Sống giữa bối cảnh lịch sử xã hội như vậy, là một trí thức có tâm huyết, Nguvễn Dữ đã không thể không lên tiếng. Thái độ của tác giả được thể hiện qua “Truyền kì mạn lục” (quyển sách ghi chép tản mạn những điều kì lạ đang được lưu truyền) gồm 20 truyện ngắn viết bằng chữ Hán theo thể văn xuôi tự sự (có xen văn biền ngẫu và thơ ca). Tác phẩm này được Nguyễn Dữ viết trong thời gian ở ẩn và hoàn thành trước năm 1547. Sự đan xen pha trộn giữa yếu tố hiện thực và yếu tố hoang đường, kì ảo là nét đặc trưng và sức hấp dẫn đặc biệt của những câu chuyện trong tác phẩm. Sau mỗi truyện ngắn đều có một lời bình ngắn (hiện chưa biết là của ai) đề cập đến phẩm chất đạo đức của các nhân vật trong tác phẩm. Tác phẩm Truyền kì mạn lục là tiếng nói phản kháng mạnh mẽ của Nguyễn Dữ đối với hiện thực xã hội lúc bấy giờ. Do điều kiện lịch sử, Nguyễn Dữ không thể nói trực tiếp mà phải dùng cách gián tiếp: Thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ…, tác phẩm muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Phương pháp này giúp nhà văn có thể tự do tung hoành ngòi bút của mình trên trang giấy và thể hiện được tất cả những suy nghĩ, thái độ, quan điểm của mình về con người, về xã hội. Thứ hai, tác phẩm còn thể hiện ý thức xây dựng, bảo vệ tinh cảm gia đình, hạnh phúc lứa đôi. Tình yêu trong tác phẩm của Nguyễn Dữ là tình yêu tự do nẩy sinh từ sự rung cảm giữa trái tim đôi bên, vượt ra ngoài khốn khổ phong kiến và đạo đức Nho Giáo. Ông đã nói lên được khá trọn vẹn và sâu sắc tiếng nói tâm tình riêng tư của tuổi trẻ đương thời, phản ánh một nhu cầu bức thiết, đòi hỏi được giải phóng khỏi lễ giáo khắc nghiệt. Ở khía cạnh này, Nguyễn Dữ tập trung ca ngợi sự gắn bó son sắt trong tình cảm vợ chồng, đặc biệt ông dành nhiều cảm hứng để đồng cảm với những bất hạnh và đề cao phẩm chất tốt đẹp ở con người, đặc biệt là những người phụ nữ. Dưới ngòi bút của ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm. Tác phẩm tiêu biểu “Người con gái Nam Xương” với một Vũ Nương – người phụ nữ đảm đang, hiếu thảo, tiết hạnh….thế mà phải gánh chịu bao nỗi oan khiên, chịu sự hinh bỉ, ruồng rẫy của chồng.Người phụ nữ ấy chẳng còn con đường giải quyết nào khác để chứng minh sự trong sạch, cho điều oan khuất của mình, để rồi cuối cùng người đã trầm mình xuống sông với một lời nguyền. Đến cả loại nhân vật “phản diện” như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), nàng Nhị Khanh (Mộc miên phụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và “yêu quái ở Xương Giang” cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì “nghiệp oan” mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng đáng thương.Ông trân trọng, ca ngợi những nhân cách thanh cao, cứng cỏi, bao dung với những người phụ nữ bị xã hội dồn ép thành kẻ xấu xa không kể họ ở địa vị cao hay thấp. Vì thế, nội dung này đem đến cho Truyền kì mạn lục chiều sâu của tư tưởng nhân đạo. Thứ ba, ngoài hai vấn đề nội dung trên, thông qua Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ còn bộc bạch những nỗi niềm ưu tư sâu kín trước thời thế. Là một nho sĩ tài năng, tâm huyết với dời, thấu đáo bao đạo lí của trời đất nhưng ngày ngày phải nhìn thế thái nhân tình đổi thay, nhiều giá trị tốt đẹp trong cuộc sống con người có nguy cơ sụp đổ, tan rã, nhà văn không khỏi rơi vào nỗi bi uất. Mong mỏi giữ gìn và khơi dậy tất cả những giá trị cao đẹp bền vững của cuộc sống, Nguyễn Dữ cũng thể hiện rõ thái độ dứt khoát đấu tranh với tất cả những gì đang làm cho nó bị băng hoại. Truyền kỳ mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật. Thành công của tác giả trong tác phẩm trước hết là ở sự sáng tạo trên cơ sở những cốt truyện có sẵn. Đa phần những câu chuyện trong tác phẩm đều có nguồn gốc từ dân gian hoặc trong sách vở của người xưa. Nguyễn Dữ đã sưu tầm, đồng thời bố sung, nhào nặn, chau chuốt, gọt giũa, biên những câu chuyện còn thô sơ, đơn giản trở thành những tác phẩm văn học tinh tế giàu ý nghĩa và có hiệu quả nghệ thuật cao. Nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật kết cấu, dẫn dắt tình huống kết hợp với cách xây dựng nhân vật là những thành công rõ nét nhất trong quá trình sáng tạo của nhà văn, đem lại cho những cốt truyện quen thuộc một sức sống và sự hấp dẫn mới. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là “thiên cổ kỳ bút”, là “áng văn hay của bậc đại gia”, tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian. “Truyền kì mạn lục” đã tồn tại bất chấp sự khắt khe của thời gian và giữ nguyên được giá trị trong mọi thời đại. 20 thiên chuyện, chuyện nào cũng thể hiện một quan điểm chính trị, một thái độ nhân sinh, một ý tưởng đạo đức của Nguyễn Dữ. Đó là những mong muốn của ông về một xã hội mọi người được sống yên bình trong nền đức trị, trong sự công bằng, trong tình cảm yêu thương nhân ái giữa con người với con người… Giá trị lớn của Truyền kỳ mạn lục chính là ở những nội dung nhân văn đó. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích tác phẩm Truyền kì mạn lục
1,438
Phân tích tác phẩm Tràng Giang – Ngữ văn 11 Hướng dẫn TRÀNG GIANG I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời Huy Cận (1919 – 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn (nay là huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh. Thuở nhỏ, Huy Cận học ở trường làng, sau học trung học ở Huế. Năm 1939, ông ra Hà Nội học ở Trường Cao đẳng Canh Nông. Sau Cách mạng tháng Tám, Huy Cận liên tục tham gia chính quyền cách mạng, giữ nhiều trọng trách khác nhau: Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Bộ trưởng đặc trách công tác Văn hoá – Nghệ thuật… Huy Cận làm thơ từ năm 1934, được đăng báo từ năm 1936. Tháng 11 năm 1940, tập Lửa thiêng được nhà xuất bản Đời nay của Tự lực văn đoàn ấn hành, Xuân Diệu đề tựa, Tô Ngọc Vân trình bày bìa, gây một tiếng vang lớn trên thi đàn. Năm 1942, Huy Cận cho xuất bản tập văn xuôi Kinh cầu tự, hoàn thành tập thơ thứ hai Vũ trụ ca, chưa in thành sách. Sau 1945, Huy Cận tiếp tục cho ra đời các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Những năm sáu mươi (1968), Cô gái Mèo (1972), Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978),… Huy Cận là một trong những trụ cột của phong trào Thơ mới. Nỗi ám ảnh thường trực trong thơ Huy Cận là sự hữu hạn của kiếp người trước cõi vô biên của vũ trụ. Mỗi khi đối diện với một không gian rộng lớn, mênh mang, nỗi ám ảnh trên thường thăng hoa thành niềm cô đơn, sầu muộn khó hoá giải. Thơ Huy Cận thiên về suy tưởng triết lí hơn là giãi bày, bộc lộ. Về nghệ thuật, cùng thế hệ với Huy Cận, nhiều người hăng hái vận dụng cái mới trong thơ Tây phương nhằm cách tân về thi pháp, riêng tác giả, thi phẩm Lửa thiêng lẳng lặng kết hợp và dung hoà giữa chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Pháp với cái hàm súc, sâu lắng của thơ Đường để tạo cho thơ mình một vẻ đẹp riêng: vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại. 2.Tri thức văn hoá Nếu phương tiện di chuyển chính của người châu Âu xa xưa là ngựa thì ở nước ta phương tiện di chuyển chính là thuyền. Đây là chỗ khác nhau giữa hai nền văn minh, một nền văn minh không có nước và một nền văn minh dựa vào sông nước. Nước là một trong năm thứ thiết thân với đời sống của con người (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ), mặc dù nước thực ra chỉ là một khối chất lỏng. Nhưng chính sự hội tụ của nước làm nên suối, sông, đầm, hồ và biển cả. Con người dựa vào sông nước để tồn tại, quần tụ, nhỏ thì thành làng xóm, lớn là quốc gia, thế giới. Sông nước, con người vì thế như gắn bó cùng một bọc, nước vì thế vừa là chỗ để đi tới vừa là chỗ để trở về. Từ đó, nước hay sông nước trở thành đối tượng để con người khám phá ra chính mình, khám phá ra hiện hữu người trong cõi thế gian. Quan hệ giữa sông nước với con ngưòi đến một mức độ nào thì tạo nên cả một nền văn minh dựa trên sông nước. Tức là dựa vào sông nước mà tạo nên nếp sống, nếp nghĩ, phong tục, tập quán, tiếng nói rồi hướng tớ sông nước mà sáng tạo thơ ca, tiểu thuyết, suy niệm triết học. Một cách tự nhiên, sông nước trở thành đối tác để làm ăn sinh sống mà cũng lại là đối tượng của thẩm mĩ hay suy ngẫm triết học để con người gửi gắm những vui buồn của thân phận hoặc triết lí về vị thế tồn tại của con người trong cõi vô thường. 3.Tri thức về thể loại Tràng giang là một trong số không nhiều thi phẩm tuyệt tác của phong trào Thơ mới. Trong tư cách là một bài thơ mới, Tràng giang có nhiều cách tân, tìm tòi mới mẻ. Chẳng hạn, một phong thái diễn đạt cảm xúc mới, một điệu hồn sâu lắng, rợn ngợp cô đơn của “cái tôi” hiện đại, những cách tân trong nhịp thơ để tăng chất nhạc và những lựa chọn táo bạo về hình ảnh, ngôn ngữ gây ấn tượng sâu sắc. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Đặc điểm về nội dung Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang, sâu lắng của một “cái tôi” cô đơn trước vũ trụ được bộc lộ trục tiếp qua cách diễn đạt cô đọng và hàm súc. Tâm trạng của một “cái tôi” lãng mạn đó lại được thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá vỡ quy tắc ước lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mói. 2.Đặc điểm về nghệ thuật Có thể coi nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Tràng giang là ở sự kết hợp hài hoà hai phẩm chất: màu sắc cổ điển và chất hiện đại. a.Màu sắc cổ điển trong Tràng giang Màu sắc cổ điển đậm đà, in dấu ấn toàn diện tạo nên vẻ độc đáo của một bài thơ mới. -Cổ điển ở nhan đề Tràng giang:. Bài thơ mới lại có nhan đề bằng chữ Hán. Tràng (một âm đọc khác của trường) gọi sự cổ kính, giang là tên chung để chỉ các dòng sông. Hai chữ này gọi một không gian cổ kính, trang trọng, bát ngát như trong Đường thi, gợi nhớ câu thơ nổi tiếng của Lí Bạch: “Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu’’ (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng). -Cổ điển ở đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Trời rộng gợi cảm giác về sự vô biên của vũ trụ, sông dài tạo ấn tượng về cái vô cùng của không gian. Trời rộng và sông dài mở ra không gian ba chiều gọi cảm giác rợn ngợp của con người cô đơn, bé nhỏ trước cái mênh mang, bất tận của trời đất. Tâm trạng này từng được diễn tả một cách sâu sắc trong những vần thơ cô đọng, đầy ám ảnh của Trần Tử Ngang: Tiền bất kiến cổ nhân Hậu bất kiến lai giả Niệm thiên địa chi du du Độc thương nhiên nhi thế hạ. (Người trước không thấy ai Người sau thì chưa tới Ngẫm trời đất thật vô cùng Một mình xót xa mà rơi lệ.) -Cổ điển ở tứ thơ sóng đôi: Tràng giang được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi. Có dòng “tràng giang” thuộc về thiên nhiên trong tư cách một không gian hữu hình và (cũng có) dòng “tràng giang” tâm hồn như một không gian vô hình trong tâm tưởng. Đầy vốn là cấu tứ quen thuộc của Đường thi. Tiếp cận “tràng giang” trong tư cách là dòng sông thiên nhiên có thể thấy một điều đặc biệt: khổ thơ nào cũng có thông điệp về nước. Thông điệp trực tiếp là: nước, con nước, dòng,… Thông điệp gián tiếp là: sóng gọn, cồn nhỏ, bèo dạt, bờ xanh, bãi vàng,… Tiếp cận “tràng giang” với tư cách là dòng sông cảm xúc trong tâm hồn lại phát hiện thêm một điều thú vị nữa: cảnh nào cũng gợi buồn. Sóng buồn vô hạn (buồn điệp điệp) ; gió đầy tử khí (đìu hiu). Gợi nhớ đến câu: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” (Chinh phụ ngâm); Bến sông cô đơn, vắng vẻ (bến cô liêu), nước vội nỗi buồn trải khắp không gian (sầu trăm ngả). -Cổ điển ở nghệ thuật đối: Màu sắc cổ điển còn được bộc lộ qua cách sử dụng nghệ thuật đối của Đường thi nhưng khá linh hoạt và phóng túng. Chẳng hạn: “Sóng gạn tràng giang buồn điệp điệp” đối với “Con thuyền xuôi mái nước song song” ; “Nắng xuống” đối với “trời lên” ; “Sông dài” đối với “trời rộng”,… -Sử dụng hệ thống từ láy gợi âm hưởng cổ kính: (10 lần/16 dòng thơ, cách ngắt nhịp truyền thống: 3 / 4) Hệ thống từ láy trải khắp bài thơ: tràng giang, điệp điệp, song song, lơ thơ, đìu hiu, chót vót, mênh mông, lặng lẽ, lớp lớp, dợn dợn. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng sáng tạo thi liệu của Đường thi với rất nhiều hình ảnh và chất liệu quen thuộc. Đặc biệt câu kết mượn thẳng ý thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc Lâu: “Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai – Tản Đà dịch). Điểm khác biệt ở hai tác giả là: Nỗi nhớ nhà của Thôi Hiệu được gợi từ hình ảnh “khói sóng” còn nỗi nhớ của Huy Cận không cần tác động của ngoại giới (Không khói hoàng hôn) vì đã là một yếu tố nội tâm thường trực. Đây cũng là nét khác biệt cơ bản của hai cách phô diễn cảm xúc tạo nên đặc điểm riêng của thi pháp thơ trung đại và thi pháp thơ hiện đại. b.Màu sắc hiện đại trong Tràng giang Dù bài thơ Tràng giang có in đậm màu sắc cổ điển trên một số phương diện như đã phân tích thì hiện đại vẫn là nét chính của thi phẩm này. Bởi cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang, sâu lắng của “cái tôi” cô đơn trước vũ trụ được bộc lộ một cách trực tiếp qua cách diễn đạt cô đọng và hàm súc. Tâm trạng của một “cái tôi” lãng mạn đó lại được thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá vỡ quy tắc ước lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mới. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nỗi buồn đó được thể hiện đa dạng với nhiều cung bậc và hết sức tinh tế. Ngay trong khổ thơ đầu, nỗi sầu muộn đã thấm vào cái nhìn cảnh vật. Tuy thuyền và nước song song nhưng thuyền về ngược hướng với nước lại gợi liên tưởng về một sự ngổn ngang trăm mối trong lòng. Và hình ảnh gây ấn tượng chính là hình ảnh củi trong câu “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Theo lời thổ lộ của chính tác giả, trong bản thảo, ông đã băn khoăn nhiều, cân nhắc rất kĩ trước khi chọn hình ảnh này. Quả nhiên, chi tiết giàu chất thực đó mang đến cho câu thơ một màu sắc hiện đại. Hình ảnh củi không chỉ tạo một ấn tượng mới mẻ mà còn gọi những liên tưởng và suy ngẫm về kiếp người lam lũ, tủi cực, lênh đênh… Mạch cảm xúc trong khổ thơ tiếp theo diễn tả nỗi ám ảnh về cái hờ hững, mất liên lạc giữa con người và tạo vật cùng cảm giác trống trải của tâm hồn con người trước cái thế giới hoang vắng với hình ảnh bóng cây lơ thơ trên nhũng cù lao nhỏ trơ trọi và ngọn gió hiu hắt buồn như thổi về từ nghìn năm trước. Cảm giác trống trải trước một không gian hoang sơ, vắng lặng càng được tồ đậm khi tác giả sử dụng nghệ thuật diễn tả cái động để làm nổi bật cái tĩnh: Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Câu thơ này từng gợi ra hai cách hiểu. Một, âm thanh vẳng tới mơ hồ như có như không của phiên chợ vãn ở làng xa khiến nhân vật trữ tình thấm thìa hơn nỗi cô đơn trước một không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối. Hai, đây chỉ là một ý nghĩ bất chợt, gần như một ảo giác do những mong mỏi thầm kín trong thẳm sâu hồn người vào khi chiều xế trong thời điểm tâm hồn rơi vào một nỗi cô đơn mang tính muôn thuở. Nếu câu thơ vừa phân tích chủ yếu gợi ấn tượng rợn ngợp bởi nỗi cô đơn do chiều cao vô cùng của bầu trời đem lại thì câu thơ tiếp theo sử dụng nhịp 2/2/3 cùng hàm ý nhấn mạnh vào các tính từ miêu tả không gian: sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu… nghe tựa như một tiếng thở dài đầy bâng khuâng và sầu muộn của “cái tôi” trước tạo vật hững hờ. Nỗi sầu muộn đó sẽ còn tiếp tục gây ám ảnh trong khổ thơ tiếp theo khi “cái tôi” trữ tình đối diện với một thiên nhiên gần như ngoảnh mặt làm ngơ với bao nỗi niềm cần chia sẻ của con người: Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Trong khổ thơ có những câu hỏi không thể có câu trả lời. Những câu hỏi như để khơi sâu thêm nỗi buồn, cảm giác hẫng hụt và đặc biệt là tình cảnh bơ vơ của’“cái tôi” trước một thế giới không còn là nơi nương tựa quen thuộc như muôn nghìn năm trước nữa. Trong khổ thơ còn có sự diễn đạt mang tính tăng cấp nhấn vào các ngôn từ mang tính phủ định khiến người đọc nảy sinh những liên tưởng và so sánh. Từ ‘‘khách vắng teo” của Nguyễn Khuyến qua “Đã vắng ngưòi sang những chuyến đò” của Xuân Diệu cho đến hàng loạt ‘‘không đò”, “không cầu”, “lặng lẽ” của Huy Cận là cả một hành trình “càng đi sâu càng thấy lạnh” (Hoài Thanh) của con ngưòi khi bước vàó thế giới hiện đại. Khổ thơ cuối diễn tả một sự đối lập cao độ giữa con ngưòi với vũ tru. Cái mênh mông của không gian: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” tương phản gay gắt với hình ảnh “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”. Rõ ràng, không còn là cánh chim mang tính nghệ thuật thuần tuý duy mĩ như trong Đường thi: “Chiếc cò bay với ráng pha – Sông xanh cùng với trời xa một màu” (Vương Bột) hay cảnh “Bạch lộ song song phi hạ điền” (Đôi cò trắng song song bay xuống cánh đồng – Thiên Trường vãn vọng – Trần Nhân Tông) nữa. Cánh chim ở đây chứa đựng “cái tôi” rợn ngợp trước hoàng hôn, gọi ám ảnh về cái hữu hạn của kiếp ngưòi trước cái vô hạn của tạo hoá. Nhu cầu tìm về một hình ảnh thân thương, quen thuộc sưởi ấm lòng người trong bối cảnh nỗi cô đơn đang ngập tràn tâm trạng như sắp dìm “cái tôi” trữ tình vào một nỗi buồn vừa mang tính muôn thuở vừa chưa từng trải qua bao giờ sẽ là một tất yếu. Đấy là lí do vì sao bài thơ kết thúc bởi hai câu: Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Vừa như chịu ảnh hưởng từ hai câu thơ của nổi tiếng của Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị – Yên ba giang thượng sử nhân sầu” vừa như muốn đối lập với người xưa bằng lối bộc lộ cảm xúc trực tiếp theo phong cách của con người thời hiện đại. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VỘI VÀNG – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Tràng Giang – Ngữ văn 11
2,594
Đề bài: Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh Bài làm Trong sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh, thơ và truyện chỉ chiếm một phần nhỏ còn chủ yếu là văn nghị luận, những tác phẩm chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp chính trị cuả Người. Trong số những tác phẩm của Bác có những kiệt tác sánh ngang với các thiên cổ hùng văn của dân tộc thì Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm tiêu biểu nhất. Tác phẩm có giọng văn hùng hồn thống thiết, có lí luận chặt chẽ sắc bén, có sức thuyết phục cao đối với người đọc và người nghe- Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh của những con người anh hùng Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. “Bản tuyên ngôn Độc lập” là kết quả của bao nhiêu hi vong, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam (Trần Dân Tiên). Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh Tuyên ngôn Độc lập mở đầu là nêu thẳng vấn đề. Người nêu những căn cứ pháp lí, “những lẽ phải không ai chối cãi được”. Đó là những câu tuyên bố nổi tiếng được Bác rút ra từ hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và Mĩ. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ: “Tất cả mọi người đều sinh ra… mưu cầu hạnh phúc”. Để làm nổi bật tính phổ biến của những lẽ phải, Người còn nêu những lời trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra… về quyền lợi). Cách nêu dẫn chứng như thế vừa khéo léo vừa kiên quyết. Khéo léo vì tỏ ra tôn trọng chân lí chung dù chân lí ấy của các nước đang là kẻ thù gây ra. Cách nêu dẫn chứng ấy cũng hàm chứa một sự phê phán. Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ- những kẻ xâm lược đã chà đạp lên chân lí, chà đạp lên lương tâm và lý tưởng của cha ông chúng. Đó là cách dùng lí lẽ của kẻ thù để chống lại kẻ thù, dùng gậy ông đập lưng ông. Hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đều nhấn mạnh quyền con người, Bác nói thêm về quyền dân tộc. Câu nói của Người mở đầu cho trào lưu giải phóng dân tộc trên khắp thế giới. Đồng thời, đặt Bản tuyên ngôn của nước ta ngang hàng với hai bản tuyên ngôn đã nêu. Bác lập luận như vậy là để kết tội thực dân Pháp. Những lời bất hủ trong hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đã trở thành cơ sở pháp lý để Bác kết tội thực dân Pháp. “Thế mà đã hơn 80 năm nay… nhân đạo và chính nghĩa” Sau khi kết thúc một cách khai quát tôị ác của thực dân Pháp, bản tuyên ngôn nêu lên những dẫn chứng cụ thể để lật mật nạ “bảo hộ” của thực dân Pháp trước toàn thể nhân loại: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho… dân chủ nào”. Lời kể tội của tác giả hùng hồn và đanh thép. Cách lập luận trùng điệp như: “Chúng thi hành…”, “Chúng lập ra…”. “Chúng thẳng tay chém giết…” thể hiện được tội ác chồng chất của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Cách dùng hình ảnh của tác giả làm nổi bật sự tàn bạo của thực dân Pháp: “Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước… chúng tắm các cuộc… bể máu”. Về kinh tế, Bác cũng kết tội thực dân Pháp từ khái quát đến cụ thể “Chúng bóc lột dân ta đến… tiêu điều”. Bác quan tâm đến những hạng người như: “dân cày và dân buôn trở nên bần cùng”, “chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”. Lập luận như vậy là Bác muốn tranh thủ sự ủng hộ của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc bảo vệ nền Độc lập. Cả đoạn văn tác giả chỉ dùng một chủ ngữ “chúng” để chỉ thực dân Pháp, nhưng vị ngữ thì luôn thay đổi: “thi hành”, “lập ra”, “thẳng tay chém giết”, “tắm”… chỉ một ke thù là thực dân Pháp nhưng tội ác của chúng gây ra trên đất nước ta vô cùng nhiều. Cách lập lụân đanh thép cùng với những dẫn chứng cụ thể khiến kẻ thù hết đường lẩn tránh tội ác. Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp gây ra là nạn đói khủng khiếp năm 1945: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căm cứ đánh đồng minh thì thực dân Pháp quì gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói”. Tác giả cũng không bỏ xót nhữung tội ác khác của bọn thực dân Pháp như “trong năm năm chung bán… cho Nhật”, tội thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, tội “giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.” Người kết tội thực dân Pháp một cách hùng hồn và đanh thép như vậy nhằm phơi bày bản chất tan bạo, dã man của thực dân Pháp, lột mặt nạ “khai hoá’, “bảo hộ” của chúng trước nhân dân thế giới, khơI lòng căm thù của nhân dân ta với thực dân Pháp. Tác giả biếu dương sức mạnh dân tộc tỏngcông cuộc chống thực dân phong kiến và giành lấy nền Độc lập “Pháp chạy, Nhật hàng…chế độ dân chủ cộng hoà”. Đoạn văn này diễn tả đầy hào khí. Chỉ có 9 chữ “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, Bác dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động và cực kì oanh liệt của dân tộc ta. Biểu dương truyền thống bất khuất của dân tộc, tác giả nhằm kích thích tinh thần tự hào dân tộc, kích thích ý chí chiến đấu để nhân dân ta quyết tâm chống lại âm mưu của thực dân Pháp. Tiếp theo, Người nêu cơ sở chính nghĩa của việc thành lập nước Việt Nam mới. Việt Minh là tổ chức cách mạng của toàn bộ dân tộc Việt Nam. Việt minh đã đứng về phe đồng minh, đã chống lại thực dân Pháp và phát xít Nhật và đã giành chính quyền từ tay Nhật. Hai lần Người nhấn mạnh nền Độc lập của đất nước bẳng những câu văn điệp ngữ mạnh mẽ: “Sự thật là…”. Trên cơ sở ấy, Người tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ trên đất nước Việt Nam…” Cuối cùng thay mặt cho cả một dân tộc vừa giành được tự do độp lập. Người nêu lời thề “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cảI để giữ vững quyền tự do Độc lập ấy”- Tuyên ngôn Độc lập là kiệt tác của Hồ Chí Minh. Bằng tâm huyết và tài hoa, Người đã thể hiện được khí phách của một dân tộc đang vùng dậy chống đế quốc, thực dân phong kiến, giành Độc lập tự do cho nước nhà. Với Tuyên ngôn Độc lập, lần đầu tiên Việt Nam hiện diện trên trường quốc tế với tư cách là một nước tự do và Độc lập và nhân dân thế giới cũng thấy được tinh thần quyết tâm bảo vệ nền Độc lập của dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập trước hết là một văn kiện lích sử. Nó là bản văn quan trọng bậc nhất của nước ta. Để có được Tuyên ngôn Độc lập, biết bao đồng bào, đồng chí đã hy sinh trong suốt 80 năm chống Pháp. Tuyên ngôn Độc lập là một cột mốc lịch sử, nó chấm dứt giai đoạn mất nước, giai đoạn nhân dân ta sống kiếp ngựa trâu, nô lệ của dân tộc, nó mở đầu một kỉ nguyên mới: ki nguyên Độc lập tự do. Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, thống thiết, Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng sánh ngang với các bản tuyên ngôn trên thế giới và các thiên cổ hùng văn của các dân tộc khác như Hích tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi…
Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
1,487
Phân tích tác phẩm Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ (Trích Chinh phụ ngâm – ĐẶNG TRẦN CÔN) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Đặng Trần Côn (? –?), người làng Nhân Mục (làng Mọc), huyện Thanh Trì, nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Về sáng tác, ngoài tác phẩm chính là Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ chữ Hán và viết một số bài phú chữ Hán. 2.Theo các tài liệu lịch sử, đầu đời Lê Cảnh Hưng, năm 1740, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đi đánh dẹp, nhiều thanh niên phải từ giã người thân ra trận. Cảm động trước những nỗi đau mật mát của con người nhất là những người vợ lính trong chiến tranh, Đặng Trần Côn đã viết nên khúc ngâm này. Chinh phụ ngâm gồm 478 câu thơ làm theo thể trường đoản cú (các câu thơ dài ngắn không đều nhau). Chinh phụ ngâm là khúc ngâm nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khát khao tình yêu, hạnh phúc lứa đôi – một đề tài vốn ít được thơ văn các thời kì trước chú ý. Vì thế ngay từ khi mới ra đời, nó đã được người đương thời đánh giá rất cao. 3.Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán. Hiện vẫn còn tổn tại những ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề ai là dịch giả của bản dịch hiện nay. Có ý kiến cho rằng bản dịch hiện đang sử dụng là của Đoàn Thị Điểm. Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, người làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc, nay thuộc Hưng Yên. Bà nổi tiếng thông minh từ nhỏ, lấy chồng là tiến sĩ Nguyễn Kiệu năm bà đã 37 tuổi. Sáng tác của bà ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm, còn có tập truyện khá nổi tiếng là Truyền kì tân phở. Lại có thuyết nói dịch giả của Chinh phụ ngâm là Phan Huy Ích. Phan Huy Ích (1750 – 1822) tự là Dụ Am, người làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh), sau di cư ra ở Sài Sơn, Phú Quốc Oai, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông đậu tiến sĩ năm 26 tuổi. Sáng tác hiện còn Dụ Am văn tập, Dụ Am ngâm lục và dịch Chinh phụ ngâm. II- HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Trong thơ ca trung đại, thủ pháp tả cảnh ngụ tình là một trong những thủ pháp nghệ thuật khá quen thuộc, ở trong đoạn trích này, tác giả cũng dùng các yếu tố ngoại cảnh có tương quan với tâm trạng để diễn tả những biến thái tinh vi trong tâm hồn của nhân vật. Trong những đêm cô đơn, buồn khổ, người thiếu phụ chỉ có ngọn đèn vô tri vô giác chia sẻ bao nỗi ưu tư: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bỉ thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương. Đêm đêm, người thiếu phụ ngồi bên ngọn đèn mong ngóng, nhớ nhung, sầu muộn cho đến khi cái bấc đèn cháy rụi thành than hồng rực như hoa. Thời gian cứ thế trôi qua đau nhói còn nỗi tuyệt vọng kia cứ ngày một tăng dần. Nhà thơ tả ngọn đèn leo lét nhưng chính là để tả không gian mênh mông và sự cô đơn trầm lặng của con người. Màn đêm sâu thẳm, âm u và tĩnh mịch còn được điểm thêm vào bởi những tiếng gà eo óc suốt năm canh. Tiếng gà là âm thanh duy nhất trong đêm nhưng nó ngay lập tức bị chìm đi trong cái cô tịch của đêm. Điểm thêm vào bức tranh sầu muộn ấy là bóng cây hoè: Gà eo óc gáy sương năm trống, thế nhưng nó cũng chỉ lại gợi ra thêm cảm giác hoang vắng và dáng sợ mà thôi. Cảnh vật quạnh hiu bởi lòng người đang sầu đau tê tái vì nỗi nhớ mong và sự khát khao hạnh phúc đang tràn ngập trong lòng. Âu đó cũng là cái quy luật tâm lí chung của con người mà ở đoạn sau chính Đặng Trần Côn đã viết: Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun. 2.Những dấu hiệu cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ: -Người chinh phụ ngày ngày không lúc nào nguôi ngóng trông chồng (rủ rèm rồi lại cuốn rèm, đi đi lại lại trong hiên vắng để chờ đợi một tin tốt lành nào đó báo người chồng sắp trở về) nhưng vẫn bặt tin. -Đêm đêm, nàng lại thức cùng ngọn đèn leo lét với màn đêm hoang vắng và cô tịch trong sự đợi mong đến tiều tuỵ. -Vì quá buồn đau, người chinh phụ cũng chẳng thiết tha gì với bản thân mình (gương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gảy). 3.Người chinh phụ buồn đau thất vọng, vì: -Lo lắng cho sự an nguy của người chồng nơi chiến trận. -Tuổi trẻ qua đi vội vã (hạnh phúc và tình yêu cũng sẽ mất theo – khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi). -Niềm tin vào cuộc sống tương lai mỏng manh và mờ nhạt. 4*. Trong đoạn trích, người chinh phụ hầu như không nói. Vì thế ngôn ngữ của nhân vật chủ yếu là ngôn ngữ nội tâm (qua lời kể và qua cách miêu tả của nhà thơ) hoặc là thứ ngôn ngữ kiểu nửa trực tiếp (vừa là của nhân vật, vừa là của tác giả). Dù không trực tiếp bộc lộ tâm trạng của mình qua lời nói nhưng thông qua cảnh vật và sự bối rối trong hành động, có thể nhân vật đang buồn đau da diết, oán trách, than vãn cho hiện thực phũ phàng. Tâm trạng của người chinh phụ hiện rõ sự thất vọng và tuyệt vọng. 5.Nhận xét về nhạc điệu của thể thơ song thất lục bát. Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong. Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. Như thế bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành sử dụng thể thơ song thất lục bát là hoàn toàn hợp lí, bởi chính sự lựa chọn này đã giúp bộc lộ một cách sâu sắc và tinh tế nhiều cung bậc tình cảm phức tạp của nhân vật trữ tình. Ill – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Để có thể viết được đoạn văn hay đoạn thơ miêu tả một niềm vui hay nỗi buồn của bản thân mình cần đọc tham khảo kĩ các trích đoạn thơ có sử dụng biện pháp nghệ thuật miêu tả nội tâm trong sách này để hiểu rõ đặc trưng của biện pháp. Sau khi nắm được cách thức, cần định hướng nội dung của đoạn văn (ví dụ niêm vui khi được đặt chân vào trường THPT, nỗi buồn khi một người thân qua đời hay khi phải chia tay một người bạn thân vì bạn chuyển đến ngôi trường mới,..,), lập ý và lựa chọn cách trình bày rồi mới tiến hành công việc viết. Sau khi viết xong, cần đối chiếu lại với yêu cầu xem đoạn văn (đoạn thơ) đã đạt được chưa. Nếu cần, hãy sửa lại. XEM THÊM HƯỚNG DẪN VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 6: VĂN THUYẾT MINH VĂN HỌC – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ – Ngữ văn 10
1,287
Phân tích tác phẩm Tình Yêu Và Thù Hận – Ngữ Văn 11 Hướng dẫn TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN (Trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét) I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời -Uy-li-am sếch-xpia (1564 – 1616) là nhà thơ, nhà viết kịch thiên tài người Anh. Ông sinh tại thị trấn Xtơ-rét-phớt ôn Ê-vơn thuộc miền tây nam nước Anh trong một gia đình buôn bán ngũ cốc, len, dạ. Sếch-xpia được theo học Trường Ngữ pháp (Grammar School), loại trường gắn với phong trào Phục hưng đang phát triển mạnh ở châu Âu lúc này và tiếp thu được nhiều kiến thức tiến bộ, gắn với tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn. Năm 1578, khi gia đình sa sút, ông phải thôi học cho dù chỉ mới học hết lớp bảy. Năm 1582, ông kết hôn với An-na Ha-tha-uây, họ có ba người con, hai gái và một trai. Năm 1585, sếch-xpia rời quê hương lên Luân Đôn kiếm sống. Ông làm nhiều việc khác nhau trước khi xin vào giúp việc cho đoàn kịch của Hầu tước Stơ-ren-giơ, bắt đầu từ việc giữ ngựa, soát vé rồi nhắc vở để sau đó được tham gia đóng các vai diễn. Năm 1599, đoàn kịch này trở thành chủ nhân của Nhà hát Địa cầu (The Globe) và sếch-xpia trở thành thành viên chính thức của nhà hát đó. Năm 1612, Sếch-xpia từ giã Nhà hát Địa cầu, trở về thành phố quê hương và cũng thôi không sáng tác nữa. Sau khi ông mất, di hài của ông được an táng tại nơi an nghỉ dành cho các nhà thơ. Căn nhà nơi quê hương ông về sau trở thành nhà bảo tàng cất giữ các kỉ vật lưu niệm gắn với cuộc đời sếch-xpia. -Khoảng từ năm 1590, sếch-xpia bắt đầu tham gia hoạt động sáng tác. Ông sáng tác được 154 bài thơ viết theo thể xô-nê (thể thơ 14 câu, theo hình thức chặt chẽ), hai bản trường ca và 37 vở kịch bao gồm kịch lịch sử, hài kịch và bi kịch. Để có thể sáng tác được, ông đã nỗ lực vượt lên chính bản thân mình. Ông tự học và tự đọc rất nhiều. -Vở bi kịch Rô-mê-ô và Gỉu-li-ét được công diễn vào năm 1594. vở kịch này có năm hồi, bằng thơ xen lẫn văn xuôi, cốt truyện và đề tài được rút ra từ một truyện ngắn của Ác-tơ Brúc, xuất bản vào năm 1562. Tuy nhiên, truyện ngắn của Brúc cũng có nguồn gốc xa xưa từ các tác phẩm của văn học I-ta-li-a. Đề tài vở kịch dựa trên câu chuyện tình yêu có thật về mối hận thù giữa hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét, tại Vê-rô-na (I-ta-li-a) thời trung cổ (xem tóm tắt tác phẩm trong SGK). về kịch, đây là vở bi kịch được sáng tác sớm nhất của sếch-xpia. Trong Rô-mê-ô và Giu-li-ét, cái bi được tạo ra tữ sự xung đột giữa cá nhân và hoàn cảnh (có thể coi là bi kịch kiểu cũ để phân biệt với bi kịch kiểu mới như Hăm-lét, ở đó cái bi được tạo ra từ sự xung đột giữa tính cách và hoàn cảnh). 2.Tri thức văn hoá Thời đại mà sếch-xpia sống là một thời kì lịch sử đặc biệt trong lịch sử châu Âu, được gọi chung là thòi kì Phục hưng, thòi kì giai cấp tư sản tiến hành cuộc đấu tranh chống lại ách thống trị của quân quyền và thần quyền. Cuộc đấu tranh chống phong kiến và giáo hội diễn ra sôi nổi, hướng tới mục tiêu khẳng định lí tưởng của chủ nghĩa nhân văn, đề cao và ca ngợi con người cùng cuộc sống trần thế của nó. Chủ nghĩa nhân văn đòi tự do cho con người, đòi thoả mãn các nhu cầu trần thế của con ngưòi, khẳng định hạnh phúc của con người là hạnh phúc trần thế, khẳng định quyền được yêu, được sống của con người. Chủ nghĩa nhân văn là một trào lưu tư tưởng tiến bộ, tạo ra bước phát triển đi lên của xã hội loài người, tạo ra “cuộc đảo lộn tiến bộ nhất mà từ xưa đến nay nhân loại chưa từng thấy” (Ăng-ghen). Từ đó: “Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Sếch-xpia). Chủ nghĩa nhân văn đề cao con người qua vẻ đẹp trần thế, qua khát vọng sống bình yên, hạnh phúc của nó. Chủ nghĩa nhân văn ca ngợi thiên nhiên và nhấn mạnh vai trò của trí tuệ. Sếch-xpia là một trong những đại diện lớn của chủ nghĩa nhân văn trong thời đại này. Bằng hoạt động sáng tác sôi nổi, phong phú với nội dung tư tưởng tiến bộ, ông góp phần khẳng định giá trị nhiều mặt của con người với tư cách là chủ thể của vũ trụ. 3.Tri thức về thể loại -Rô-mê-ô và Giu-li-ét là một vở bi kịch mà đặc trưng thể loại của nó là miêu tả xung đột gay gắt giữa lí tưởng và thực tại. Xét trong toàn vở kịch, xung đột cơ bản là xung đột giữa tình yêu và hận thù của hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét. -Rô-mê-ô và Giu-li-ét là một vở kịch về đề tài tình yêu – gắn với khát vọng giải phóng con người của thời đại Phục hưng và cũng là dạng đề tài phổ biến trong văn học thế giới. Qua đề tài tình yêu, Sếch-xpia cũng như các nhà nhân văn khác khẳng định vẻ đẹp trần thế, ca ngợi hạnh phúc do chính con người tạo ra chứ không phải là loại hạnh phúc mà chúa trời ban phát. Đồng thòi, qua đề tài tình yêu, tác giả cũng lên tiếng bênh vực và bảo vệ cho quyền lợi của những người phụ nữ. Khát vọng tình yêu mang tính chất cao cả, giàu tính nhân văn và là khát vọng đổi đòi gắn liền với thời đại Phục hưng. Kịch của Sếch-xpia là đỉnh cao của nghệ thuật sân khấu thế giới với cách thức tạo dựng xung đột và điển hình. Các xung đột kịch được trình bày là những xung đột cơ bản, gay gắt, dai dẳng và quyết liệt mang tính thời đại. Do đó, các xung đột được lựa chọn cũng đã mang phẩm chất và sức mạnh khái quát thời đại, tạo ra tính điển hình của thời đại. Các xung đột này đều được giải quyết một cách hợp lí tạo ra khả năng thuyết phục lớn. -Cần hiểu về xung đột và xung đột kịch: Xung đột là cuộc đấu tranh giữa những lực lượng đối lập. Xung đột là thành tố quan trọng nhất của truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch, bởi vì nó tạo ra những hành động mà từ đó tác giả xây dựng nên cốt truyện. Có hai loại xung đột: xung đột bên trong (với cuộc đấu tranh diễn ra trong nội tâm nhân vật. Tất nhiên đối với kịch thì cho dù là diễn ra bên trong tâm hồn nhân vật thì xung đột đó vẫn phải được thể hiện bằng lời) và xung đột bên ngoài (ở đó nhân vật đấu tranh với những lực lượng bên ngoài để thực hiện ý nguyện và ước mơ của mình). Có thể coi xung đột như là một sự đối lập, một sự mâu thuẫn với tư cách là một nguyên tắc tương tác giữa các hình tượng trong tác phẩm nghệ thuật. Xung đột nghệ thuật tái hiện sự va chạm của các nhân tố tinh thần và đời sống đang đối chọi với nhau theo một cách thức nào đó tuỳ hoàn cảnh gắn với nhân vật. Xung đột không chỉ đơn thuần là sự va chạm bên ngoài giữa các đối lập của mâu thuẫn mà nó còn là phương tiện bộc lộ và khẳng định một tư tưởng nào đó mà tác giả muốn trình bày với người xem. Xung đột trong bi kịch là “xung đột không có lối thoát, kết quả của nó là một cuộc đấu tranh sẽ xảy ra và sẽ được kết thúc bằng cái chết của nhân vật”. Xung đột bi kịch là những xung đột có ý nghĩa xã hội, lịch sử, đạo đức, tám lí. Nó liên quan tới lẽ sống và tình đời rộng lớn của con người. 1.Đặc điểm về nội dung Đoạn trích Tình yêu và thù hận, trích lớp 2, hồi II của vở kịch. Cảnh này xảy ra sau khi Rô-mê-ô và Giu-li-ét đã gặp gỡ nhau trong đêm dạ hội hoá trang tại nhà Ca-piu-lét trước đó vài giờ. Tại đó và chính từ cuộc gặp gỡ đó mà tình yêu giữa họ đã nảy sinh. Rô-mê-ô đã thốt lên: “Nàng là họ Ca-piu-lét sao? Ôi oan trái yêu quý, đời sống của ta nay nằm trong tay người thù” và Giu-li-ét cũng nhận thức điều đó: “Một mối thù sinh một mối tình – Vội chi sớm gặp, biết đành muộn sao! – Tình đâu trắc trở gian lao – Hận thù mà lại khát khao ân tình”. Cả hai đều đã nhận thức được cái tình cảnh oái oăm, hoàn cảnh thù địch mà họ bị đặt vào. a.Một số vấn đề cần lưu ý Trong đoạn trích gồm mười sáu lời thoại, cần lưu ý về những chữ in nghiêng, tức là các chỉ dẫn sân khấu. Đó là các chỉ dẫn: “Vườn nhà Ca-piu-lét. Rô-mê-ô ra”, chỉ dẫn này cho thấy không gian, tức địa điểm nơ sẽ xảy ra cuộc gặp gỡ khác thường, đồng thời giới thiệu nhân vật Rô-mê-ô. Tiếp đó gắn với câu mở đầu của lời thoại đầu tiên là một chỉ dẫn khác: “Giu-li-ét xuất hiện trên cửa sổ”, giới thiệu nhân vật thứ hai của đoạn trích. Ở lời thoại thứ năm có một chỉ dẫn sân khấu nữa đó là: “nói riêng”, tức là nói một mình, mình nói chỉ để mình nghe, chỉ ra cách thức bắt buộc nhân vật phải hành động theo. Các chỉ dẫn sân khấu gắn với khả năng tưởng tượng của tác giả nhằm tạo ra một tình huống, một hoàn cảnh giống thật khiến cho câu chuyện trở nên sinh động hơn ; đồng thời các chỉ dẫn sân khấu còn mang tính quy ước qua đó nhân vật phải tuân theo những hành động bắt buộc (nói riêng, chạy, làm các động tác kịch,…). b.Nhân vật Đoạn trích chỉ có hai nhân vật: Rô-mê-ô và Giu-li-ét Cả hai đều đang ở trong tình trạng hứng khỏi bởi tình yêu vừa loé lên, vừa mới được thắp sáng trong tâm tư tình cảm của cả hai. Xét về mặt trạng thái tâm lí thì cả hai đều đang trong tâm trạng được yêu, đang yêu, đang hướng về nhau. Do đó, cả hai đều chủ động thổ lộ cho nhau những điều thật nhất của tâm tư tình cảm của riêng mình. Khi phân tích một vở kịch, việc khai thác xung đột kịch là cần thiết. Song xung đột kịch không phải được dàn đều trong mọi cảnh kịch. Xung đột trong toàn vở Rô-mê-ô và Giu-li-ét là xung đột giữa tình yêu chân thành, trong trắng với hận thù của hai dòng họ. Trong đoạn trích Tình yêu và thù hận, xung đột đó không nổi lên trên bình diện hàng đầu mà ở đây chỉ là tình yêu bất chấp thù hận. c.Tác giả Vai trò của tác giả trong kịch nói chung chỉ thể hiện chủ yếu qua các chỉ dẫn sân khấu mà không can thiệp vào các hành động kịch cũng như không có bình luận hay đánh giá theo kiểu trữ tình ngoại đề thường gặp trong truyện ngắn hay tiểu thuyết. 2.Đặc điểm về nghệ thuật a.Kết cấu đoạn trích Đoạn trích có mười sáu lời thoại, gồm hai loại: sáu lời thoại đầu mang tính chất độc thoại nội tâm, mười lời thoại còn lại là đối thoại. Khi nói chuyện với nhau (có thể là hai hoặc nhiều người) thì lời thoại hướng vào nhau, tạo ra tính chất hỏi – đáp. Trong sáu lời thoại đầu, hai nhân vật không đối thoại với nhau, cho dù trong lời thoại của họ đều có nhắc đến tên nhau. Sáu lời thoại này, về mặt hình thức, là các độc thoại. Các nhân vật nói về nhau chứ không nói với nhau. Độc thoại là nói một mình, tự mình nói với chính mình: “Ấy, khe khẽ chứ!” ; “Ôi! Đấy là người ta yêu! Ôi, giá nàng biết nhỉ!” ; “Sao chàng lại là Rô-mê-ô nhỉ…”. Vì các độc thoại này là tiếng lòng của nhân vật, nên xét về bản chất, các lời thoại này là các độc thoại nội tâm. Nhân vật nói ra thành tiếng những suy nghĩ của mình về một đối tượng hay một hiện tượng nào đấy đang ám ảnh mình. Nhân vật nói một mình và chỉ để cho một mình mình nghe. Trong kịch, cho dù lời thoại là độc thoại nội tâm thì nhân vật cũng phải nói to (để khán giả nghe được) và giả định là nhân vật kia không nghe thấy những Ịòi nói đó. Vì là độc thoại nội tâm, nên sáu lời thoại đầu chứa đựng cảm xúc yêu thương chân thành, đằm thắm. Trên cơ sở ngôn từ mượt mà, cách nói đầy những so sánh, ví von phù họp với tâm trạng phấn chấn, rạo rực chen lẫn bồn chồn của những người đang yêu, cho nên, tuy là lời độc thoại nội tâm song không phải là kiểu phát ngôn đơn tuyến, một chiều mà trong độc thoại đó cũng xuất hiện tính đối thoại. Chẳng hạn, cách nói của nhân vật Rô-mê-ô: lúc thì như nói với Giu-li-ét khi nàng vừa xuất hiện bên cửa sổ (“Vừng dương đẹp tươi ơi…” ; “Hỡi nàng tiên lộng lẫy, hãy nói nữa đi).Lúc thì như đang đối thoại với chính mình (“Kìa, nàng tì má lên bàn tay! Ôi! Ước gì ta là chiếc bao tay, để được mon trớn gò má ấy!” ; “Mình cứ nghe thêm nữa, hay mình nên lên tiếng nhỉ?”). Tính đối thoại trong độc thoại làm cho lời thoại thêm sinh động. Đây là vẻ đẹp của lời văn Sếch-xpia. Mười lời thoại còn lại mang hình thức đối thoại, tức là các lời thoại ấy hướng vào nhau, các nhân vật nói cho nhau nghe. Tính chất hỏi đáp, đối đáp xuất hiện. ‘ Về mặt không gian – thời gian của cuộc gặp gỡ: Trước hết là bối cảnh đêm khuya, trăng sáng. Màn đêm thanh vắng với mảnh trăng bạc đang lướt trên trời cao tạo ra chiều sâu cho sự bộc lộ tình cảm của đôi tình nhân. Thiên nhiên được nhìn qua các điểm nhìn của nhân vật. Thiên nhiên như hoà cảm, đồng tình, trân trọng, chở che. Trăng ở đây đóng vai trò trang trí cho cảnh gặp gỡ tình tứ song rất mực đoan chính của đôi tình nhân. Trong khung cảnh ấy, trăng trở thành đối tượng để Rô-mê-ô so sánh với vẻ đẹp không thể bì được của Giu-li-ét. Cách so sánh mà Rô-mê-ô đưa ra là so sánh Giu-li-ét như “vừng dương” lúc bình minh ; sự xuất hiện của “vừng dương” khiến “ả Hằng Nga” trở nên “héo hon và nhọt nhạt”. Theo mạch suy nghĩ của Rô-mê-ô – tâm lí ngưòi đang khao khát yêu đưong – thì các so sánh này là hợp lí. Sự xuất hiện của Giu-li-ét bên cửa sổ sẽ trở thành “ánh sáng” của “phương đông” và do đó “nàng Giu-li-ét là mặt trời”. Mạch suy nghĩ của Rô-mê-ô hướng vào đôi mắt: “Đôi mắt nàng lên tiếng”. Sự liên tưởng này là hợp lí. Nếu vẻ đẹp của Giu-li-ét được so sánh với “vừng dương” thì đôi mắt của Giu-li-ét được so sánh với các ngôi sao và đó là “hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời”. Sự so sánh được đẩy lên cấp độ cao hơn bằng một sự tự vấn: “nếu mắt nàng lên thay cho sao, và sao xuống nằm dưới đôi lông mày kia thì thế nào nhỉ?”. Trả lời câu hỏi ‘‘đôi mắt lên thay sao” chính là khẳng định vẻ đẹp của đôi mắt, vì lúc đó “cặp mắt nàng trên bầu trời sẽ rọi khắp không gian một làn ánh sáng tưng bừng…”. Đối với khía cạnh thứ hai, “nếu sao xuống nằm dưới đôi lông mày” thì lúc đó vẻ đẹp thứ hai của Giu-li-ét sẽ xuất hiện: “vẻ rực rỡ của đôi gò má nàng sẽ làm cho các vì tinh tú ấy phải hổ ngươi”: Các nét đẹp trên khuôn mặt Giu-li-ét lần lượt hiện lên: đẹp của đôi mắt, đẹp của đôi gò má. Từ đó, dẫn tới một khát vọng yêu đương hết sức mãnh liệt: “Kìa, nàng tì má lên bàn tay! Ôi! Ước gì ta là chiếc bao tay, để được mơn trớn gò má ấy!”. Sự suy nghĩ cũng như cách so sánh liên tưởng của Rô-mê-ô là hợp lí. Sự so sánh được thể hiện dưới các dạng thức hoặc tương đồng hoặc tương phản. So sánh Giu-li-ét là “vừng dương”, là “phương đông”, là “thiên thần”, cho dù Rô-mê-ô chỉ nhìn thấy gương mặt mà chủ yếu qua đôi mắt, gò má và bàn tay… nhưng cách so sánh đó không hề mang tính chất khuôn sáo, tán tụng mà là cách nói chân thành. Sự so sánh ở đây còn hết sức linh hoạt: so sánh người – cảnh, so sánh người – thần tiên… được lồng trong thứ ngôn ngữ của sự đắm say, của sự nồng nhiệt, tất cả nhằm thổi bùng lên ngọn lửa tình yêu để từ đó dẫn dắt hai người đi tới sự chủ động tạo hướng đi cho mối tình của mình. Nỗi ám ảnh về hận thù giữa hai dòng họ xuất hiện ở Giu-li-ét nhiều hơn, cho thấy nỗi lo kèm theo sự ái ngại về hoàn cảnh của Giu-li-ét. Nàng không chỉlo cho mình mà còn lo cả cho người mình yêu. Thái độ của Rô-mê-ô đối với hận thù giữa hai dòng họ quyết liệt hơn. Chàng sẵn sàng từ bỏ dòng họ của mình, thể hiện sự dũng cảm để đến với tình yêu. Điều mà Rô-mê-ô sợ là sợ không có được tình yêu, không chiếm được tình yêu của Giu-li-ét, (Ánh mắt của em còn nguy hiểm cho tôi hơn hai chục lưỡi kiếm của họ ; em hãy nhìn tôi âu yếm là tôi chẳng ngại gì lòng hận thù của họ nữa đâu). Cả hai đều ý thức được sự thù hận đó, song nỗi lo chung của hai người là lo họ không được yêu nhau, họ không có được tình yêu của nhau. Cả hai đều nhắc tới hận thù song không nhằm khơi dậy, khoét sâu hận thù mà chỉ để hướng tới vượt lên trên hận thù, bất chấp hận thù. Ở đây, sự thù hận của hai dòng họ là cái nền còn tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét không xung đột với hận thù ấy. Đây là sự khẳng định quyết tâm xây đắp tình yêu của hai người. Sự nhận thức đó dẫn tới độc thoại của Giu-li-ét như là một sự băn khoăn day dứt, một sự dằn vặt thể hiện tâm trạng rối bời trước hoàn cảnh éo le. Các lời độc thoại (2, 4, 6) của Giu-li-ét cho thấy tình yêu mãnh liệt đang bùng lên. Lời thoại thứ hai đơn giản chỉ là một cụm từ cảm thán “Ôi chao”, song nó cho thấy cảm xúc bị dồn nén không thể không thổ lộ ra thành lời, đồng thời cũng hàm chứa một tiếng thở dài mang dáng vẻ lo âu, vì hai lẽ: thứ nhất là hận thù giữa hai dòng họ, thứ hai là không biết Rô-mê-ô có thật sự yêu mình không. Tâm trạng của Rô-mê-ô đơn giản hơn nhiều. Chàng đã yêu, đã được đáp lại bằng tình yêu và đi tới dứt khoát khẳng định tình yêu, sẵn sàng từ bỏ dòng họ, từ bỏ tên họ mình (lời thoại 7, 9, 11). Các lời thoại 4, 6 của Giu-li-ét là sự thổ lộ tình yêu trực tiếp, không ngại ngùng. Việc thổ lộ tình yêu trực tiếp qua các lời thoại này không phải để nói với Rô-mê-ô, bởi vì người còn gái thường không chủ động thổ lộ tình yêu với người mình yêu, mà để nói với chính mình. Hơn nữa, Giu-li-ét cũng không hề biết là Rô-mê-ô đang đứng nấp gần đấy. Các lời thoại này cho thấy sự chín chắn trong suy nghĩ của Giu-li-ét qua sự tự phân tích để đi tới khẳng định: “Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi”. Cách đặt vấn đề của Giu-li-ét rất hồn nhiên, tha thiết và trong trắng, vừa tự chất vấn mình rồi lại tự tìm cách trả lời: “Cái tên nó có nghĩa gì đâu?” rồi tự đề xuất các giải pháp: “Chàng hãy vứt bỏ tên họ của chàng đi”. Hoặc đề xuất một cách làm có thể nói là táo bạo thể hiện một tình yêu cháy bỏng: Cái tên kia “đâu phải xương thịt của chàng, đổi lấy cả em đây”. Câu trả lời là một giải pháp khẳng định, không có cách lựa chọn hay giải quyết nào khác. Lời thoại thứ 8, lời của Giu-li-ét, cho thấy sự bất ngờ của nàng khi biết có người đang nhìn mình, đang nghe mình thổ lộ. Sự bất ngờ của Giu-li-ét không tạo ra cảm giác sợ hãi, bởi vì xét về mặt tâm lí, lúc đó Giu-li-ét cũng đang rất cần một sự đồng cảm sẻ chia. Và khi biết được ngưòi đang ẩn nấp đó là Rô-mê-ô thì tâm trạng của Giu-li-ét trở nên phấn chấn: “Tai tôi nghe chưa trọn một trăm tiếng thốt từ miệng đó ra mà tôi đã nhận ra tiếng ai rồi”. Song nỗi sợ về mối hận thù giữa hai dòng họ lại loé lên trong suy nghĩ của Giu-li-ét: “Chẳng phải anh Rô-mê-ô, và là họ nhà Môn-ta-ghiu đấy ư?”. vế đầu của câu hỏi này vừa là để hỏi vừa trả lời khẳng định luôn, song vế hai được đưa ra có vẻ không cần thiết, nhưng lại cho thấy nỗi lo ám ảnh Giu-li-ét. Các lời thoại 7, 9, 11 của Rô-mê-ô mang tính khẳng định và quyết tâm được nhấn mạnh bằng các cụm từ “nàng tiên yêu quý”, “nàng tiên kiều diễm” và các động từ dứt khoát: “thù ghét”, “xé nát”. Nhưng Giu-li-ét vẫn e ngại và đưa ra câu hỏi: “Anh làm thế nào tới được chốn này anh ơi, và tới làm gì thế?”. Câu hỏi này có vẻ như thừa song lại là điều mà Giu-li-ét cần biết. Đó là Rô-mê-ô có thực sự yêu mình không? Động cơ thúc đẩy anh ta đến có phải là tình yêu chân thành hay chỉ là sự bồng bột thoáng qua? Nàng sợ Rô-mê-ô không thành thật. Các bức tường lần lượt được dỡ bỏ. Trước hết, điều mà Giu-li-ét cần nhất là tình yêu chân thành của Rô-mê-ô. Điều này được khẳng định ở lời thoại thứ 13, lời của Rô-mê-ô, mà ở đó cụm từ “tình yêu” được nhấn mạnh bốn lần với một sự khẳng định dứt khoát: “cái gì tình yêu có thể làm là tình yêu dám làm”. Bức tường thù hận được dỡ bỏ bỏi chính quyết tâm của hai ngưòi, nhất là quyết tâm của Giu-li-ét trong lòi thoại 16: “Em chẳng đời nào muốn họ bắt gặp anh nơi đây”. Còn bức tường đá của vườn nhà thì đã có “đôi cánh nhẹ nhàng của tình yêu” giúp đỡ. Diễn biến nội tâm của Giu-li-ét là phức tạp, song phù họp với tâm lí của người đang yêu, đồng thời cũng cho thấy sự chín chắn trong tình yêu của Giu-li-ét. Sự day dứt trong tâm trạng đó cho thấy sức ép nặng nề của hoàn cảnh, thấy được sự vây hãm của mối hận thù truyền kiếp giữa hai dòng họ, thấy được mối nguy hiểm đang đe doạ cả hai người. Trong toàn vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét, xung đột cơ bản là xung đột giữa tình yêu và thù hận. Tuy nhiên, trong đoạn trích này, thù hận không xuất hiện như một thế lực cản trở tình yêu. Thù hận chỉ hiện ra qua suy nghĩ của các nhân vật, song không phải là động lực chi phối, điều khiển hành động của nhân vật. Đối vói Rô-mê-ô, chàng đã gặp Giu-li-ét, đã có được tình yêu của Giu-li-ét và sẵn sàng làm tất cả vì tình yêu ấy (các lời thoại 7, 9, 11). Đối vói Giu-li-ét, sự xuất hiện cảm thức về các bức tường cản trở là có thật. Điều này phản ánh sự chín chắn trong suy tư của nàng, song đây không phải là sự tính toán thiệt hơn. Điều mà Giu-li-ét cần là tình yêu chân thực của Rô-mê-ô, và tình yêu của Rô-mê-ô dành cho nàng là tất cả. Cho nên, khi biết chắc chắn Rô-mê-ô đến với mình bằng tình yêu thì mọi nghi ngại, mọi băn khoăn trong lòng Giu-li-ét cũng chấm dứt. Như vậy, trong đoạn trích gồm mưòi sáu lời thoại này, tình yêu không xung đột với thù hận mà chỉ diễn ra trên nền thù hận. Thù hận bị đẩy lùi, bị xoá đi vĩnh viễn, chỉ còn lại tình người, tình đời bao la, phù hợp với lí tưởng nhân văn. Chính vì lẽ đó, tác phẩm Rô-mê-ô và Giu-li-ét trở thành bài ca ca ngợi và khẳng định tình yêu cao đẹp. Vấn đề tình yêu và thù hận về cơ bản đã được giải quyết. Tuy nhiên, Rô-mê-ô và Giu-li-ét là một vở bi kịch ; tính chất bi kịch của mối tình thể hiện qua vị trí của hai ngưòi: chỗ đứng của Rô-mê-ô là trên bức tường rào xung quanh nhà Giu-li-ét. Cho dù bức tường ấy bằng đá nhưng bức tường ấy chỉ để chở che cho gia đình Ca-piu-lét, nghĩa là cho một thế lực hận thù có thể đe doạ trực tiếp tính mạng của Rô-mê-ô. Chỗ đứng của Giu-li-ét: là cửa sổ của căn phòng riêng của nàng, cho dù có các bức tường của căn phòng che chở song đó cũng là những bức tường của sự ràng buộc của vòng lễ giáo. Giữa họ là một khoảng không gian không quá rộng song cũng chẳng đủ hẹp để họ có thể nắm tay nhau. Họ chỉ có thể nói với nhau, có thể nhìn nhau trong vị thế khá chênh vênh (nhất là đối vói Rô-mê-ô). Tuy nhiên, cái khoảng không vắng lặng ấy lại ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm nhất là mối thù của hai dòng họ. Có thể bất chợt một người nào đó của nhà Ca-piu-lét xuất hiện. Cho nên, sự thinh lặng của không gian hàm chứa trong nó yếu tố bi kịch, yếu tố đe doạ tới tính mạng của hai người cũng như cho chính hạnh phục mà cả hai đang hướng tới. Người xem lo sợ cho những hiểm nguy rình rập họ, tạo ra hiệu quả nghệ thuật về một sự đồng cảm giữa người xem và nhân vật. Ở đây có hai không gian lồng vào nhau: không gian của đôi tình nhân (mà ở đó mảnh trăng dát bạc lên các ngọn cây trĩu quả như để nguỵ trang, như để đánh lừa) và không gian của sự thù địch. Sự thù địch này xuất hiện ngay từ những lời thoại đầu tiên, thỉnh thoảng lại loé lên trong câu chuyện của hai ngưòi như một sự nhắc nhở (Họ mà bắt gặp anh, họ sẽ giết chết anh). b.Ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ kịch hết sức tự nhiên, nhuần nhị, phù hợp với đề tài, với nhân vật và là cách nói của tình yêu say đắm, hoà hợp, chân thành. Đây cũng là cách nói, lối nói, hình thức nói của một thời đại mà ở đó con ngưòi khát khao được giải phóng, khát khao cái mới. Sắc thái biểu cảm ngôn từ của hai nhân vật, ngôn ngữ vừa sống động vừa hàm súc và đầy chất thơ. Ngôn ngữ của nhân vật còn thể hiện nỗi bức xúc không thể nén được của tình cảm yêu thương đã bùng phát giữa hai người, nỗi bức xúc phải thổ lộ, phải giãi bày cho dù chỉ để nói với chính mình thôi (tức là cách thức tự hỏi rồi lại tự trả lời) hay phải vượt tường để đến vớii nhau cho dù mọi nguy hiểm vẫn đang rình rập mà động lực cho hành vi ấy chính là sức mạnh của tình yêu: “cái gì tình yêu có thể làm là tình yêu dám làm”. Tuy nhiên, đây là tình yêu từ hai phía, có sự rung động mãnh liệt và đồng cảm giữa hai bên chứ không phải là tình yêu đơn phương. Cách nói, lối nói hồn nhiên của cả hai người, cách sử dụng lối nói của nhau để xoá đi sự ngăn cách mà hận thù tạo ra, đồng thời cho thấy sự lo lắng tràn đầy yêu thương mà Giu-li-ét dành cho Rô-mê-ô và sự dũng cảm khi Rô-mê-ô chấp nhận mạo hiểm để đến tìm Giu-li-ét. Tình yêu trở thành sức mạnh chở che cho đôi tình nhân cũng như tạo cho họ quyết tâm gắn bó trọn đời với nhau. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Tình Yêu Và Thù Hận – Ngữ Văn 11
5,007
Phân tích tác phẩm Tôi Yêu Em – Ngữ văn 11 Hướng dẫn TÔI YÊU EM I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (1799 – 1837) là nhà thơ Nga vĩ đại, người được mệnh danh là “Mặt trời của thi ca Nga”. Ông để lại một khối lượng đồ sộ hơn 800 bài thơ trữ tình, nhiều tiểu thuyết bằng thơ và các trường ca, kịch và nhiều truyện ngắn xuất sắc. Sớm nổi tiếng về tài năng thơ văn, lại kết hợp được tình yêu nhân dân, yêu đất nước, sớm tiếp nhận khát vọng tự do, Pu-skin đã tạo ra cho mình một vị trí quan trọng không thể thay thế trên văn đàn nước Nga thế kỉ XIX. Ông trở thành ngưòi mở đường cho một nền văn học mói của nước Nga, nền văn học hướng tới nhân dân, đất nước, tạo ra “sự khởi đầu của mọi khởi đầu” mà theo như M. Go-rơ-ki thì Pu-skin “đã đặt những nền móng không gì lay chuyển nổi cho tất cả những gì sau này sẽ kế tục mình trong nền nghệ thuật Nga”. Ảnh hưởng của ông khá sâu rộng không chỉ đối với các nhà văn cùng thời như Gô-gôn, Tôn-xtôi mà còn đến cả Go-rơ-ki và Mai-a-cốp-xki,… sau này nữa. Sớm giác ngộ những lí tưởng tiến bộ, cho dù bị đày ải, nhưng Pu-skin vẫn hướng theo con đường đã chọn, luôn tìm mọi cách “đem lời nói đốt tim muôn người”, cổ vũ cho mọi người đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ để giành lấy “bình minh rực rỡ của tự do”, cho dù đôi lúc nhà thơ cảm nhận mình như “người gieo giống tự do trên đồng vắng”. Ông tham gia tích cực vào phong trào tháng Chạp ngay sau khi vừa mãn hạn đi đày và tạo ra một thời kì sáng tác sôi nổi với những bài thơ nổi tiếng như Cây An-xa, Đài kỉ niệm… với tiểu thuyết Người con gái viên đại uý và nhiều truyện ngắn nổi tiếng. Ông trở thành “người ca sĩ của phong-trào tháng Chạp”. Tình yêu là một chủ đề lớn của sáng tạo thơ ca Pu-skin. Bài thơ bắt nguồn từ một mối tình có thật giữa nhà thơ với A. A. Ô-lê-nhi-na (con gái vị Chủ tịch Viện Hàn lâm nghệ thuật Nga), song lời cầu hôn của nhà thơ đã bị chối từ. Câu chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1829. Tôi yêu em ra đời vào thời điểm đó. Bài thơ vốn không tên, nhan đề Tôi yêu em là do người dịch đặt. 2.Tri thức văn hoá Pu-skin sống trọn trong nửa đầu thế kỉ XIX, thời kì nước Nga chuyển mình để thoát ra khỏi chế độ nông nô. Đặc biệt, trong quãng thời gian đó, Pu-skin trực tiếp cảm nhận nhiều sự kiện lịch sử lớn của nước Nga. Trước hết, cuộc chiến tranh của nhân dân Nga chống lại sự xâm lược của quân đội Na-pô-lê-ông (1812), đưa lại cho ông tinh thần dân tộc và tình yêu đất nước Nga. Tiếp đó, cuộc khởi nghĩa tháng Chạp (1825) của những trí thức tiến bộ Nga nhằm lật đổ chế độ Sa hoàng, đưa lại cho ông khát vọng về tự do và tinh thần bất khuất trước cường quyền và bạo tàn. Tinh thần yêu nước của nhân dân Nga cũng như tấm gương hi sinh quả cảm của những ngưòi con ưu tú mãi mãi là động lực kích thích mọi sáng tạo tinh thần của Pu-skin. Ông trở thành người vừa kế thừa truyền thống dân tộc vừa là người phục hưng và mở đường cho một nền văn học mới của đất nước Nga. Tôi yêu em là một trong những bài thơ tình nổi tiếng của Pu-skin mà nhà phê bình Bi-ê-lin-xki đã đánh giá là bài thơ “tôn vinh phẩm giá con người với tư cách là CON NGƯỜI”. Trong bài thơ này, Pu-skin không dụng công xây dựng các hình ảnh, cũng rất ít dùng các mĩ từ pháp (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá,…) mà chỉ đơn giản là lời giãi bày tâm sự chân thành nhất, lời chia tay buồn song không bi luỵ, cũng chẳng hề oán trách. Pu-skin, trong thơ của mình, thường chú ý quan tâm nhiều tới việc xác lập các cấu trúc quan hệ hơn là đi tìm kiếm các thủ pháp để trau lời chuốt chữ. Ta không thấy ở thơ ông sự rực rỡ hào nhoáng của những câu chữ hay hình ảnh khác thường, song ta gặp ở đây vẻ đẹp của tâm hồn, của tư tưởng đang trong xu thế hướng thiện, đang vươn về cái cao cả, thiêng liêng, đang cố gắng hoàn thiện mình để trở thành con người viết hoa như nhà thơ thường tâm niệm. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Đặc điểm về nội dung -Đây là một bản dịch hay và tương đối sát nghĩa song vẫn chưa lột hết được cái hay của nguyên bản. Trước hết, là thời của động từ, trong nguyên bản là “Tôi đã yêu em” chỉ một hành động đã thuộc về quá khứ, chỉ còn là kỉ niệm, một hành động được nhớ lại, hồi tưởng lại. Từ em ở đây là cách nói trang trọng tương ứng với đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số nhiều trong nguyên bản. Hình ảnh “ngọn lửa tình” không có trong nguyên bản mà do dịch giả thêm vào. Có thể hình ảnh này được gợi ra từ động từ tắt trong nguyên bản. -Trong bài thơ này, nhà thơ và nhân vật trữ tình đồng nhất với nhau và xuất hiện ở ngôi thứ nhất qua cách xưng hô tôi. Cần lưu ý điều này để phân tính cảm xúc của nhân vật trữ tình. Nhân vật em ở đây không xuất hiện mà chỉ là đối tượng để chủ thể trữ tình hướng tới để giãi bày, bộc bạch và trao gửi tâm tình. 2.Đặc điểm về nghệ thuật a.Kết cấu bài thơ Bài thơ chỉ có tám câu, được chia tự nhiên thành hai đoạn và được phân định bằng dấu chấm câu ; cho nên có thể coi bài thơ dựa trên hai câu lớn, mỗi câu có bốn dòng thơ, tạo thành kết cấu hai phần của bài thơ. Tuy số lượng câu thơ ít nhưng lại chồng chất nhiều lớp nghĩa, tạo ra một hình thức trùng điệp để nhấn mạnh cảm xúc tâm tư. Do đó, cần thâm nhập văn bản thật tốt. -Hoàn cảnh đặc biệt xuất hiện ở đây là người đang yêu mãnh liệt phải tự nguyện từ bỏ, tự nguyện cắt đứt hay quên đi người tình mà mình theo đuổi. Đây là tiếng lòng của giã biệt, chia tay mãi mãi. Trong hoàn cảnh đó, có thể xuất hiện nhiều hình thức phản ứng khác nhau. Pu-skin chọn hình thức giãi bày tâm trạng, chủ động nhận về mình tính chất đơn phương một chiều để rút lui, để bảo vệ tình yêu mà mình đã theo đuổi. Mở đầu hai khổ thơ (câu 1 và câu 5) đều là cụm từ “Tôi yêu em” (chứ không phải “chúng ta đã yêu nhau”, “mối tình của chúng ta”) để đi đến câu 7, cụm từ này lại xuất hiện lần nữa tạo nhịp kết thúc cho câu chuyện tình yêu. Cụm từ “Tôi yêu em” cho thấy tính chất một chiều, đơn phương trong tình yêu. Nói cách khác là Pu-skin không gặp được sự đồng cảm đồng tình, không có được sự cộng hưởng đồng điệu từ phía ngưòi con gái. -Khi đã tự nhận là tình yêu đơn phương thì vấn đề đặt ra là nhà thơ có yêu thật lòng không? Thông thường trong cuộc sống có không ít người cũng rơi vào tình trạng, vào hoàn cảnh yêu thương một chiều như vậy. Điểm khác biệt giữa mối tình đơn phương mà nhà thơ dành cho người con gái ấy với những người khác là ở khía cạnh chân thành thông qua sự đam mê say đắm. -Hai khổ thơ cho thấy hai mức độ yêu của tác giả. Hai câu đầu: Tôi yêu em: đến nay chừng có thể Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai ; Dịch nghĩa: Tôi đã yêu em, tình yêu vẫn, có lẽ Chưa tắt hẳn trong tâm hồn tôi ; Hai câu cuối: Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm, Cầu em được người tình như tôi đã yêu em. Dịch nghĩa: Tôi đã yêu em chân thành như thế, dịu dàng như thế, Cầu Trời cho em được người khác (cũng) yêu (chân thành, dịu dàng) như thế. Mức độ yêu đó tạo ra sự đối vị, tạo nhịp nhấn để khẳng định sự chân thành, tha thiết của nhà thơ. Để từ đó đi tới các giải pháp mà nhà thơ tự chọn, tự quyết định cho mình. -Tình yêu của nhà thơ tuy đơn phương nhưng không phải là thứ tình cảm tầm thường mà luôn có xu hướng vươn về cái cao cả. Ở đây ta gặp kiểu tình yêu vị tha, đơn phương, sôi nổi, chân thành. Trước hết đây là tình yêu nam nữ bình thường như các mối tình khác. Người con trai rung động trước vẻ đẹp của người con gái và đem lòng yêu, quyết tâm theo đuổi. Ta có thể suy luận ý nghĩa của câu thơ “Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai” để thấy rằng tình yêu trong lòng tác giả vẫn còn vương vấn. Tình yêu của nhà thơ với người con gái cũng diễn ra giống như những người bình thường khác. Câu thơ “Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen” hay câu thơ thứ 5: “Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng” để thấy được sự bất ổn xuất hiện trong mối tình giữa tác giả và người con gái. Sự bất ổn này đặt nhà thơ vào một sự lựa chọn bắt buộc: đó là chấm dứt mối tình. -Cách giải quyết vấn đề của tác giả mang tính chất vị tha. Trước hết là để cho người con gái không phải “bận lòng thêm nữa”, lại càng không muốn để cho “hồn em phải gợn bóng u hoài” (nguyên tác: “Tôi không muốn làm em buồn vì bất cứ điều gì”). Nhà thơ không những tự nhận lỗi về mình, không hề oán giận người yêu mà còn khẳng định với người con gái ấy về tình yêu “chân thành, đằm thắm”, là đã yêu hết lòng. -Đỉnh cao của tình yêu vị tha ấy là lời cầu chúc kết thúc bài thơ: “Cầu em được người tình như tôi đã yêu em” (nguyên tác: “Cầu Trời cho em được người khác (cũng) yêu (chân thành, dịu dàng) như thế”). Ý nghĩa của câu thơ này là sự cao thượng của tình yêu. Có thể so sánh vói câu hát quan họ trong bài Giã bạn: Người về em dặn câu rằng Đâu hơn thì lấy, đâu bằng đợi em. Cũng có thể suy luận là, ở câu thơ này nhà thơ dường như muốn thách thức ngưòi con gái tìm được một ngưòi tình chân thành, đắm thắm như mình. Ở đây nhà thơ tự so sánh ngầm tình yêu của mình với “người khác” mà “người khác” này có thể đã được người con gái chấp nhận. Sự so sánh đó cho thấy niềm tự hào được yêu được sống hết mình vì tình yêu đã lựa chọn, tất nhiên là tình yêu vị tha, không vụ lợi. Tình yêu nam nữ là loại tình cảm phổ quát của nhân loại, gắn liền với thái độ ứng xử thẩm mĩ có văn hoá mà ta còn gọi là văn hoá yêu đương hay văn hoá ứng xử trong tình yêu, thể hiện trước hết trong quan hệ đối xử bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. -Tôn trọng qua cách xưng hô: Tôi / em, lưu ý nội hàm của đại từ nhân xưng tôi (tính chất riêng lẻ, cô đơn, hàm chứa nỗi đau ngấm ngầm). -Tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu: không phản bác mà tự nguyện chấp nhận sự lựa chọn của người con gái, cũng không hờn dỗi trách móc hay oán thán, tự nhận về mình trách nhiệm đã làm người con gái phải “bận lòng”, phải “u hoài”. -Cho dù trong quá trình theo đuổi, nhà thơ “Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen”, song nhà thơ đã không để ghen tuông lấn át lí trí. Trong tình yêu, thường có hiện tượng “Yêu nhau cái gì cũng cho – Ghét nhau một mảnh quạt mo cũng đòi”, dẫn tới hiện tượng nói xấu, gièm pha, hay thoá mạ lẫn nhau. Nhà thơ đã vượt qua thói đời tầm thường ấy bằng mong muốn cũng rất chân thành, song có chút ít thách đố là “Cầu em được ngưòi tình như tôi đã yêu em”. Ở đây, nhà thơ vẫn khẳng định tình cảm chân thành, đằm thắm của mình, nhưng cũng tự nguyện chấp nhận chia tay để cho người con gái được thanh thản bước đi trên con đường mà cô đã lựa chọn. Tình yêu không phải là sự ép buộc mà tình yêu là một sự tự nguyện: tự nguyện của những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu. Và khi hai con tim đã không cùng có chung nhịp đập thì tình yêu cũng không còn và việc chia tay, giã từ là tất yếu. Song, chia tay không phải để trở thành đối lập, thù địch của nhau mà chia tay để nối thêm, để mở rộng tình đời. Đó là văn hoá ứng xử trong tình yêu. -Cách bộc bạch chân thành, không giấu giếm, luôn luôn đề cao vẻ đẹp của tình yêu, của tình cảm thiêng liêng dành cho người con gái, cho thấy sự độc đáo của cách thức thổ lộ tâm trạng tình cảm riêng tư của Pu-skin và cách thức trữ tình của nhà thơ. Tôi yêu em khá tiêu biểu cho phong cách trữ tình “điệu nói” của Pu-kin. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, thể hiện lời giãi bày tình yêu với giọng điệu thay đổi một cách sinh động, chân thực: từ phân vân, ngập ngừng tới kiên quyết, dứt khoát rồi lại day dứt, dằn vặt để cuối cùng thiết tha, điềm tĩnh. Qua đó, ta thấy được những phức cảm tinh tế của nhân vật trữ tình (trong quan hệ nhiều chiều giữa lí trí và tình cảm, vị kỉ và vị tha,…). Chính vẻ đẹp tâm hồn đó làm nên sức hấp dẫn của thơ tình Pu-skin XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHIỀU XUÂN – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Tôi Yêu Em – Ngữ văn 11
2,474
Phân tích tác phẩm Tương Tư – Ngữ văn 11 Hướng dẫn Đọc thêm TƯƠNG TƯ I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời -Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, những năm tháng sống ở Nam Bộ lấy tên là Nguyễn Bính Thuyết. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hoà), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Năm lên 10 tuổi đã mồ côi mẹ, Nguyễn Bính được người cậu ruột nuôi nấng, sau theo anh trai (nhà thơ Trúc Đường) ra Hà Nội. Thời trẻ, Nguyễn Bính rất vất vả, lưu lạc nhiều nơi, vừa dạy học vừa làm thơ. Nguyễn Bính làm thơ từ năm 13 tuổi. Năm 19 tuổi, Nguyễn Bính được nhận giải khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn với tập Tâm hồn tôi. Năm 1943, ông vào Nam Bộ, tham gia kháng chiến, làm tuyên huấn, văn nghệ. Năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, tiếp tục hoạt động báo chí, văn nghệ ở Hà Nội, Nam Định. Năm 2000, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. -Bài Tương tư rút trong tập Lỡ bước sang ngang (1940) được Nguyễn Bính viết khi ông mới ngoài 20 tuổi (1939), rất tiêu biểu cho phong cách thơ chân quê của Nguyễn Bính. 2.Tri thức văn hoá Suốt cả thời kì Thơ mới (1932 – 1945), Nguyễn Bính là nhà thơ của tha hương và tình yêu trắc trở. Trong khi nhiều nhà thơ mới khác tìm tòi khai thác cái hồn, cái tân kì của thơ hiện đại Pháp thì Nguyễn Bính vẫn mơ mộng, say sưa hồn quê, cảnh quê mộc mạc chất phác với cách ví von, so sánh ý nhị, duyên dáng, với thể thơ năm chữ, bảy chữ và đặc biệt là thể lục bát quen thuộc. Theo nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học, trong dòng “thơ quê” của phong trào Thơ mói có bốn nhà thơ nhưng “mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười”: Anh Thơ là nữ sĩ của cảnh quê, Đoàn Văn Cừ là thi sĩ của nếp quê, Bàng Bá Lân là thi sĩ của đời quê, còn Nguyễn Bính là thi sĩ của hồn quê. Hồn quê ấy hoà quyện từ nội dung đến hình thức, từ giọng điệu đến lối nói, lời nói khiến thơ Nguyễn Bính vừa là tiếng nói của thời đại mới lại vừa như là của ngàn xưa. 3.Tri thức về thể loại Bài thơ Tương tư theo thể lục bát rất gần với ca dao về vần, về nhịp, về gieo vần, vừa gieo vần lưng vừa gieo vần chân: tiếng cuối câu lục vần với tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu bát gieo vần xuống tiếng cuối câu lục tiếp theo, về luật bằng trắc, theo hình mẫu sau: 0 B 0 T 0 B 0 B 0 T 0 B 0 B (0 – tự do, B – bằng, T – trắc) Thơ lục bát cho phép mọi sự tìm tòi sáng tạo về âm luật tuỳ bài cụ thể. Thơ lục bát vẫn có một vị trí nhất định trong thơ ca Việt Nam hiện đại, được nhiều nhà thơ sử dụng và quần chúng ưa thích. Có lẽ nói về nỗi nhớ không gì thích hợp hơn là sử dụng lục bát. Thể thơ lục bát giàu nhạc điệu, dịu dàng, tha thiết làm tăng thêm sự xao xuyến, bồi hồi vốn có ở ý thơ. Nguyễn Bính lại sở trường về lục bát và đã đưa thêm vào lục bát cổ truyền cái bản sắc của thơ mới lãng mạn. Nhờ thế, Tương tư giống ca dao mà cũng khác ca dao. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM -Tương tư là nhớ nhau. Trai gái nhớ nhau. Đó cũng là một thi đề muôn thuở của thơ ca. Cũng như các nhà thơ mới cùng thời, Nguyễn Bính say mê với đề tài tình yêu. Nhưng tình yêu trong thơ Nguyễn Bính có một dạng thức riêng, đi theo một lối riêng. Ví như cùng viết về nỗi nhớ thương da diết trong tình yêu đôi lứa mà giữa Tương tư của Nguyễn Bính và Tương tư chiều của Xuân Diệu.khác nhau biết mấy! Xuân Diệu “rất Tây”, Nguyễn Bính thì “chân quê”, cả hai đều có sức hấp dẫn riêng. “Cái tôi” trong thơ Nguyễn Bính không nổi lên mà tan hoà vào không gian đồng quê. Nhà thơ không dùng câu chữ cầu kì. Người đọc có thể hiểu dễ dàng qua trực cảm không cần suy tư gì cả: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười mong một người. Gió mưa là bệnh của giời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Chủ thể trữ tình là một chàng trai thôn Đoài đa tình. Người con trai đang yêu này là người có huyết mạch sâu xa với làng mạc quê hương. Từng lời, từng câu, cách nói, lối nói có dây mơ rễ má với thơ ca dân gian. Các cụm từ “ngồi nhớ”, “chín nhớ mười mong” gọi nhớ câu ca dao: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi, Như đứng đống lửa như ngồi đống than. Nguyễn Bính thường hay cụ thể hoá cái trừu tượng của ca dao, cụ thể ra thành con số kiểu như: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo – Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua”, nhưng ông lại đặt trong một cấu trúc điêu luyện của riêng thơ ông: “Một người chín nhớ mười mong một người”. “Một ngưòi” đứng ở hai đầu câu thơ, diễn tả sự xa cách, nhớ mong như vậy thật là độc đáo, thật là hay. Tâm trạng của người con trai yêu đơn phương cũng được mở ra trong không gian: Gió mưa là bệnh của giời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Nói là “bệnh” nhưng đó chính là thuộc tính vốn có tự nhiên của trời đất, của con người. Nhiều người trẻ tuổi nhớ câu thơ này bởi nó nói hộ họ rất nhiều cái nỗi tương tư mơ hồ, mênh mang trong lòng. Nhiều ngưòi cứ tưởng là ca dao chứ không biết là thơ của thi sĩ Nguyễn Bính. Đó là niềm vinh quang của thi sĩ đồng quê này. -Nhớ mong đơn phương là “quyền được yêu” của con người. Còn “người kia” có lẽ cũng chỉ là tưởng tượng, là cái cớ để nhà thơ bộc lộ cái ‘‘bệnh đa tình thi sĩ của mình mà thôi. Cho nên cái nhớ, cái yêu ở đây có tha thiết, có nóng lòng sốt ruột mà vẫn nhẹ nhàng. Rồi mong đợi, rồi trách móc cũng hết sức nhẹ nhàng: Hai thôn chung lại một làng, Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này? Thật là tội nghiệp cho người trách và cũng tội nghiệp cho cả người bị trách – “thôn Đông” (trong tưởng tượng) đã lọt vào “tầm ngắm” của anh trai quê “thôn Đoài”. Rồi than thở: Ngày qua ngày lại qua ngày, Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng. Lối điệp từ láy chữ “ngày qua ngày lại…” như các nốt luyến láy trong nhạc điệu dân ca, trong chèo tạo nên âm hưởng uyển chuyển của câu thơ, phô diễn tâm trạng “sầu đong càng lắc càng đầy” trong lòng người trai đang yêu. -Thế rồi chàng “thôn Đoài” lại “mát mẻ” với người chàng yêu trong mộng: Bảo rằng cách trở đò giang, Không sang là chẳng đường sang đã đành. Nhưng đây cách một đầu đình, Có xa xôi mấy mà tình xa xôi… Thực tế điều này là vô lí. Vô lí bởi chàng trai ngồi chờ thụ động. Nhưng nghĩ kĩ thì lại không vô lí. “Cách một đầu đình”, không “cách trở đò giang” mà vẫn xa xôi, thế thì chưa thể nói là yêu. Nếu đã yêu thì dù đò giang, núi đèo ngăn cách mấy cũng vượt qua được theo tiếng gọi của tình yêu. Cho nên những lời trách cứ mát mẻ kia cũng chỉ là để vơi nhẹ nỗi buồn, nỗi nhớ vô vọng mà thôi. Người đọc thông cảm với tâm trạng ấy, hiểu thêm được những sắc thái tinh tế và phức tạp của tình yêu: yêu chưa được gặp (vì chỉ ở một phía) thì cứ ngẩn ngơ, giả định, đợi chờ, nghĩ ngợi lung tung. -Vẫn chưa thoả, anh trai quê còn kể lể: Tương tư thức mấy đêm rồi, Biết cho ai, hỏi ai người biết cho! Kể lể như vậy chỉ là để bộc lộ tình yêu tha thiết của riêng anh thôi. Còn thì anh yêu ai, nhớ ai và chắc gì đã có ai yêu lại, chỉ có một mình anh hay, một mình anh biết. Những từ “ai” phiếm chỉ được lặp đi lặp lại nghe thật não lòng, khiến ta nhớ đến câu ca dao: “Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai”. Nhớ mong cứ não nề bởi mong ước ấy khó có thể thành hiện thực: Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau? Ở đây ta lại bắt gặp sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật ca dao của thi sĩ hồn quê Nguyễn Bính. Trong ca dao, bến và hoa là những biểu tượng tĩnh, ám chỉ người con gái ; đò và bướm là những biểu tượng động, để chỉ người con trai. Nguyễn Bính đã khéo léo biểu đạt tình yêu của đôi trai gái dân quê. Sao lại “bao giờ bến mới gặp đò”? Chẳng bao giờ có chuyện đó. Lại còn “hoa khuê các” làm sao gặp “bướm giang hồ”! Đúng là Nguyễn Bính đã thổi chút tình lãng mạn của thời đại vào tình hoa – bướm, bến – đò dân dã, giản dị làm cho cuộc tình ấy có gì đó vừa duyên dáng, dễ thương lại vừa hiện đại, mói lạ. -Ở đoạn kết, bài thơ trở về với giai điệu ban đầu, có thêm một vài biến tấu: Nhà em có một giàn giầu, Nhà anh có một hàng cau liên phòng. Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông, Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? Giai điệu ban đầu với hình ảnh cặp đôi thôn Đoài – thôn Đông được nhắc lại nhưng có thêm cặp biểu tượng của tình yêu cau – giầu không. Điều đó càng khẳng định sâu thẳm trong nỗi tương tư của anh trai quê kia là niềm khao khát được gần kề, được chung tình, được sánh đôi: “Miếng trầu với lại quả cau – Làm sao cho đỏ với nhau thì làm” (Ca dao). Niềm khao khát ấy vẫn chỉ là khát khao đơn phương, “thôn Đoài” nhớ “thôn Đông”, người nhớ người, cau nhớ trầu nhưng không làm sao “đỏ với nhau” được. Tình yêu gắn với hôn nhân dường như là đặc điểm của quan niệm về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính, một đặc trưng của “cái tôi” Nguyễn Bính trong thơ mới lãng mạn. Bằng tài hoa và tâm huyết với thơ ca dân gian, Nguyễn Bính là một trong số ít các nhà thơ mới vẫn giữ được chút “hương đồng gió nội” cho thơ mình. Sức hấp dẫn của bài Tương tư không chỉ là ở chuyện “tương tư” với nhiều phức điệu mà còn ở tấm lòng tha thiết của nhà thơ với cảnh và người thôn quê, ở sự nâng niu, trân trọng và học hỏi của nhà thơ với nghệ thuật dân tộc. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NHỚ ĐỒNG – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Tương Tư – Ngữ văn 11
1,922
Phân tích tác phẩm Từ Ấy – Ngữ văn 11 Hướng dẫn TỪ ẤY I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời -Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thuở nhỏ, ông học ở Trường Quốc học Huế. Tháng 7 – 1938, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Cách mạng tháng Tám 1945, ông là Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa ở Huế. Trong nhiều năm ông vừa sáng tác vừa giữ nhiều trọng trách trong bộ máy lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Tố Hữu là nhà thơ lớn của nền thơ hiện đại Việt Nam. Với bảy tập thơ (Từ ấy, 1937 – 1946 ; Việt Bắc, 1947 – 1954 ; Gió lộng, 1955 – 1961 ; Ra trận, 1962 – 1971 ; Máu và hoa, 1972 – 1977 ; Một tiếng đờn, 1992 ; Ta với ta, 1999), thơ ông được xem như biên niên sử bằng thơ của cách mạng Việt Nam. Đối với Tố Hữu, con đường thơ ca cũng là con đường cách mạng. Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho phong cách trữ tình – chính trị, thường viết về lẽ sống, lí tưởng, tình cảm của con người Việt Nam hiện đại. Thơ ông đậm đà tính dân tộc. Ông được trao nhiều giải thưởng cao quý: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996), Giải thưởng văn học ASEAN (1999). -Bài thơ Từ ấy thuộc phần “Máu lửa” của tập Từ ấy, tập thơ đầu tay của Tố Hữu, gồm ba phần “Máu lửa”, “Xiềng xích”, “Giải phóng” ghi lại ba chặng đường trưởng thành của Tố Hữu trong đấu tranh cách mạng. Tập thơ là tiếng hát hân hoan nồng nhiệt của một thanh niên trí thức khát khao lẽ sống, say mê lí tưởng, hăng hái đấu tranh cách mạng. Bài thơ được viết vào thời điểm đặc biệt trong cuộc đời Tố Hữu: được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản, tháng 7 – 1938. 2.Tri thức về thể loại Tố Hữu có đóng góp đáng kể trong việc hiện đại hoá thơ trữ tình chính trị – cách mạng Việt Nam: đem lại hình thức hiện đại cho thơ cách mạng và có sức cuốn hút bạn đọc trẻ tuổi. Thơ trữ tình chính trị – cách mạng Việt Nam là dòng thơ được hình thành từ đầu thế kỉ XX gắn với tên tuổi các chí sĩ yêu nước (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,…) và các chiến sĩ cộng sản trong các nhà tù thực dân (Trần Cung, Trường Chinh, Xuân Thuỷ,…). Hầu hết thơ ca cách mạng những năm đầu thế kỉ XX vẫn có hình thức truyền thống với các hình ảnh ước lệ, thể Đường luật thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát. Cùng vói phong trào Thơ mới lãng mạn, Tố Hữu đem đến cho thơ một chủ thể trữ tình trẻ trung, giàu nhiệt huyết, một cách cảm thụ thế giới riêng, độc đáo. Với tập thơ Từ ấy, có thể nói, Tố Hữu lá một gạch nối giữa thơ mới lãng mạn và thơ ca cách mạng: các nhà thơ mới có thực tế để thấy rằng có thể đem thơ ca phục vụ lí tưởng cách mạng ; và đồng thời, các nhà thơ cách mạng cũng nhận thấy cần đổi mới hình thức để thơ ca cách mạng vừa thực sự trở thành vũ khí đắc lực trong sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc vừa gần với tâm hồn người đương thời. 1.Bài thơ có ba khổ, mỗi khổ thơ đều có bốn dòng bảy chữ, diễn tả những diễn biến tâm trạng của nhà thơ vào thòi điểm rất quan trọng trong cuộc đời cách mạng của ông. Có thể hình dung mạch cảm xúc đó như sau: vui sướng -> nhận thức mới về lẽ sống -» sự chuyển biến trong tình cảm. a.Khổ thơ đầụ diễn tả sự vui sướng của nhà thơ khi được giác ngộ lí tưởng cộng sản: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt tròi chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim… “Từ ấy” là từ thời điểm nhà thơ được giác ngộ lí tưởng cách mạng của Đảng. Nhà thơ diễn tả sự thay đổi, sự bừng sáng trong tâm hồn người thanh niên đang “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” bằng hàng loạt hình ảnh có tính ẩn dụ (mặt trời chân lí, vườn hoa lá). Lí tưởng cộng sản như ánh mặt trời chiếu rọi, xua tan những u ám, buồn đau – những tư tưởng tiểu tư sản còn rơi rớt trong nhận thức của những thanh niên có nhiệt huyết yêu nước nhưng chưa tìm được hướng đi trong cuộc đời ; báo hiệu những điều tốt lành mà nhà thơ không chỉ nhận thức được bằng lí trí mà còn cảm nhận được bằng cả trái tim: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt tròi chân lí chói qua tim. Hai câu sau, với bút pháp trữ tình lãng mạn, nhà thơ diễn tả niềm vui sướng tột cùng, sự say mê mãnh liệt trong tâm hồn: Lí tưởng của Đảng như có phép nhiệm màu làm sống lại, làm xanh tươi những tâm hồn. Thế giới ấy rộn rã tiếng chim ca và như đang đơm hoa kết trái: Rất đậm hương và rộn tiếng chim… Từ giờ phút ấy, tâm hồn nhà thơ tràn trề niềm vui sống, lẽ yêu đời để hoạt động cách mạng, để sáng tạo thơ ca. Lí tưởng cách mạng đã đem lại cho cuộc đời Tố Hữu một ý nghĩa vô cùng lớn lao và mới mẻ, đồng thời cũng khai sinh cho đời một hồn thơ. Sau này nhớ lại, ông viết: “Lòng tôi vui sướng vô cùng khi cảm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi rọi vào tâm hồn tươi trẻ của mình” ’. b.Khổ thơ thứ hai thể hiện nhận thức mới về lẽ sống: Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời. Sau những giây phút tâm hồn như được thăng hoa, như được chắp cánh, nhà thơ chân thành bộc bạch sự trưởng thành về nhận thức của mình: lí tưởng của Đảng hấp dẫn tuổi trẻ, giúp họ tin vào một ngày mai tươi sáng có thể thực hiện được trên chính mảnh đất quê hương. Từ đây, lẽ sống là sự gắn bó giữa “cái tôi” cá nhân nhà thơ với “mọi người”, với “trăm nơi”, với “bao hồn khổ”. Việc sử dụng những từ ngữ có tính ngoa dụ (nói quá) như “buộc” (gắn bó), “trang trải” (quan tâm, chia sẻ) nhằm biểu đạt một quyết tâm mới, một sự tự nguyện vượt lên chính mình để xứng đáng là một đảng viên cộng sản trẻ tuổi, là một ngưòi trong muôn người, đồng cảm sâu xa với những người còn chịu nhiều đau khổ. Cũng như một số hài thơ trong phần “Máu lửa” của tập Từ ấy, Tố Hữu hướng tình cảm, sự quan tâm đến “bao hồn khổ” – những em bé đi ở, chị vú em, ông lão, em bé bán rong,… để hoà mình vào môi trường rộng lớn thực hiện lí tưởng giải phóng giai cấp cần lao, giải phóng dân tộc mà Đảng đã giác ngộ cho nhà thơ, để nhân lên súc mạnh của mỗi ngưòi cũng như của “khối đời”. c.Khổ thơ cuối bộc lộ sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm giai cấp của người cộng sản trẻ tuổi: Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ… Trước khi gia nhập Đảng, Tố Hữu là một thanh niên học sinh yêu nước. Được lí tưởng của Đảng soi rọi, nhận thức về lẽ sống của người thanh niên có sự thay đổi có tính bước ngoặt: từ “cái tôi” cá nhân tiểu tư sản học sinh đã có sự giao hoà vào “cái ta” chung, hơn thế nữa, hoà đồng với “bao hồn khổ” ; từ nhận thức về lẽ sống, ông có sự chuyển biến về tình cảm: nhà thơ xác định mình là một thành viên của “vạn nhà”. Sử dụng điệp từ là kết hợp với các từ con, em, anh (là con, là em, là anh), sau đó với sự có mặt của hàng loạt từ chỉ số lượng nhiều vạn nhà, vạn kiếp, vạn đậu,… nhà thơ muốn bộc lộ một tình cảm ruột thịt, một sự thâm nhập sâu sắc với quần chúng lao khổ (vạn kiếp phôi pha). Vì tình cảm vói những “kiếp phôi pha”, với những con người “không áo cơm” ấy mà nhà thơ làm cách mạng và làm thơ. -Về quan điểm sáng tác: gắn bó với quần chúng lao khổ, nói lên tình cảm, nguyện vọng, hạnh phúc, tương lai của họ. -Về phương thức biểu hiện: dùng thể thơ thất ngôn (bảy chữ) ; sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu ; bút pháp trữ tình lãng mạn – cách mạng. Sau này nhớ lại thuở “Từ ấy”, Tố Hữu viết: “Từ ấy là tâm hồn trong trẻo. của tuổi mưòi tám, đôi mươi, đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh”. Từ ấy không chỉ là tình cảm của riêng Tố Hữu vói Đảng mà là tâm trạng của một thế hệ thanh niên cách mạng được Đảng giác ngộ và dìu dắt để gánh vác sự nghiệp giải phóng dân tộc những năm đất nước còn dưới ách thực dân phong kiến. Tố Hữu, Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, với thời đại ta, NXB Văn học, Hà Nội, 1973. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHIỀU TỐI – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Từ Ấy – Ngữ văn 11
1,709
Phân tích tác phẩm Tự Tình – Ngữ văn lớp 11 Hướng dẫn TỰ TÌNH (Bài II) I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Người phụ nữ làm thơ Trong văn học trung đại, đa số tác giả là nam giới, số tác giả là nữ chiếm tỉ lệ rất thấp và người phụ nữ được nói đến trong văn học cũng không nhiều. Hiện tượng này phản ánh tư tưởng trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến phương Đông cổ xưa. Thế kỉ XV, có nhà thơ nữ Ngô Chi Lan. Đến thế kỉ XVIII, với các khúc ngâm như Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), vấn đề về hạnh phúc của người phụ nữ đã được nêu lên nhung bởi các tác giả là nam giới. Hồ Xuân Hương là một trường họp nhà thơ nữ hiếm có đã lên tiếng thổ lộ tâm tư sâu kín của bản thân. Đây là nét đặc sắc của thơ Hồ Xuân Hưong nói chung, của Tự tình (bài II) nói riêng. 2.Thể thơ Đường luật Đây là thể thơ có chức năng nói chí của cọn người hoạt động xã hội, cảm hoài, tự thuật, bộc lộ con người đạo đức của nhà thơ. Tự tình (bài II) được viết bằng thể thơ đường luật nhưng chỉ thể hiện nỗi niềm riêng tư, cá nhân, nỗi buồn chán và phẫn uất vì tình duyên không toại nguyện. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến được giáo dục tinh thần cam chịu, chấp nhận, im lặng. Sự lên tiếng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương về nỗi cô đơn, chán ngán cho thấy người phụ nữ trong giai đoạn này đã có ý thức mạnh mẽ về quyền sống cá nhân. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM Đây là người phụ nữ cô đơn (hồng nhan). Người phụ nữ này có nỗi buồn riêng nên một mình uống rượu trong đêm khuya. Nỗi buồn đó được thổ lộ trong câu thơ cuối cùng “Mảnh tình san sẻ tí con con!”. Hai chữ “san sẻ” có thể liên quan đến thân phận làm lẽ của tác giả (tương truyền Hồ Xuân Hương có làm lẽ). Điều đáng chú ý là người phụ nữ đã thể hiện thái độ bất bình vói thân phận đáng buồn đó, ao ước một cuộc sống hạnh phúc xứng đáng. 2.KẾT CẤU BÀI THƠ Đối với bài thơ Đường luật, cần chú ý đến kết cấu cảnh – tình. Tác giả tả cảnh để ngụ tình và tình thường ẩn sau cảnh. Cảnh gồm các yếu tố liên quan đến không gian và thời gian. Thời gian trong bài thơ là đêm khuya, không gian là cảnh khuya. Thường đêm khuya là lúc con người nghỉ ngơi sau một ngày lao động. Nhưng ở đây, đêm đã khuya mà nhân vật trữ tình vẫn ngồi trầm ngâm, suy tư có nghĩa là trong lòng ngổn ngang tâm sự. Trong cảm nhận của nhân vật, thời gian dường như ngừng trôi: đêm trôi qua chậm chạp tưởng như ngừng lại vì nhân vật “say lại tỉnh” (sự lặp đi lặp lại của hành động), vì trăng hết tròn lại khuyết, “xuân đi xuân lại lại”, năm tháng lặp đi lặp lại mà không có gì thay đổi. Nhìn ra không gian, cảnh vật tạo nên ấn tượng về sự cô đơn của nhân vật. Chỉ thấy người phụ nữ (hồng nhan) cô đơn (trơ) đối diện với vũ trụ bao la (nước non). Âm thanh văng vẳng của tiếng trống cầm canh càng tô đậm ấn tượng vắng vẻ của đêm khuya, tăng thêm nỗi cô đơn: Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Chén rượu hưong đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Nhưng cảnh cũng có yếu tố động, phá vỡ sự tĩnh tại, đứng yên của thời gian và không gian: Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Có cảm giác những đám rêu mềm mại cũng “xiên ngang mặt đất”, mấy hòn đá cũng “đâm toạc chân mây”. Bản thân cảnh vật không thể giận dữ, quyết liệt như vậy mà chính là tâm lí bất bình, phản kháng của con người đã nhìn ra, hình dung và tưởng tượng ra trạng thái đó. Hai câu cuối bài thơ, sau sáu câu thơ tả cảnh, xuất hiện tâm trạng bất bình, phản kháng. Người phụ nữ đã không im lặng, không chấp nhận hay cam chịu thân phận cô đơn, lẻ loi mà lên tiếng công khai nỗi chán ngán vì tình yêu bé mọn, không tương xứng: Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con! Nhân vật trữ tình trong bài thơ chịu đựng bi kịch tình duyên nhưng không chấp nhận mà khát khao một hạnh phúc xứng đáng. Đây là nét mới có ý nghĩa thời đại vì như đã nói, người phụ nữ thời xưa được giáo dục tinh thần cam chịu, chấp nhận, phục tùng. Kết cấu cảnh – tình của bài thơ có lôgíc chặt chẽ, mạch lạc. Liên kết nghĩa giữa các câu nhằm dẫn dắt cảm xúc chán ngán, phẫn uất ở cuối bài. Bốn câu thơ đầu tiên diễn tả sự cô đơn, trống vắng, lặp đi lặp lại của cuộc sống thiếu hạnh phúc. Hai câu 5 và 6 lại chọn những hình ảnh diễn tả sự bứt phá, cựa quậy mạnh mẽ khỏi sự giam hãm tù túng. Trên nền hình ảnh đó, xuất hiện lời than vãn chán ngán về tình duyên lận đận, tầm thường, không xứng đáng, một quyết tâm tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Nghệ thuật sử dụng tiếng Việt của tác giả đáng chú ý. Ngôn từ tạo nên âm thanh, lại càng tăng thêm cảm giác trống vắng của đêm khuya (tiếng gà văng vẳng, tiếng trống canh dồn), có khả năng tạo hình (trơ cái hồng nhan, xiên ngang, đâm toạc). Nhịp điệu lặp đi lặp lại nhàm chán của cuộc sống thiếu tình yêu xứng đáng được tả bằng các chu kì say – tỉnh, khuyết – tròn, xuân đi – xuân lại. Những động từ xiên ngang, đâm toạc diễn tả tâm trạng phẫn uất của nhân vật trữ tình. Câu kết tập trung các từ ngữ nhấn mạnh tính chất bé mọn, nhỏ nhoi không xứng đáng của tình duyên: mảnh tình vốn đã nhỏ mọn, lại chỉ được “san sẻ” “tí con con”, chúng giải thích cho tâm trạng chán ngán trong câu thứ 7: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”. Xuân ở đây có nhiều nghĩa, vừa là tuổi trẻ, vừa là năm tháng (xuân đi xuân lại là năm này qua năm khác, thời gian trôi đi, tuổi trẻ cũng mòn mỏi theo – tục ngữ có câu “Mỗi tuổi như đuổi xuân đi”). Tác giả biết khai thác các khả năng diễn đạt đa dạng của tiếng Việt để thể hiện cảm xúc. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Tự Tình – Ngữ văn lớp 11
1,178
Phân tích tác phẩm Vi Hành – Ngữ văn 11 Hướng dẫn Đọc thêm VI HÀNH (Trích Những bức thư gửi cô em họ do tác giả tự dịch từ tiếng An Nam) I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả -Về tiểu sử và sự nghiệp văn học của tác giả Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chương trình Ngữ văn lớp 12 sẽ dành một bài học riêng. Ở bài đọc thêm về truyện ngắn “Vi hành” này, SGK lưu ý HS về hoạt động cách mạng của Người những năm 1920 – 1923 ở bên Pháp. Trong thời gian hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc có viết một số tác phẩm (bằng tiếng Pháp) lên án chủ nghĩa thực dân, gửi gắm tinh thần yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc. Truyện ngắn “Vi hành” được sáng tác vào đầu năm 1923, theo phong cách Âu châu hiện đại, bằng tiếng Pháp, là một hoạt động cách mạng bằng văn chương của Người trong thời gian đó. Cùng với vở kịch Con rồng tre và truyện ngắn Lời than vãn của bà Trưng Trắc, truyện “Vi hành” vạch trần bản chất bù nhìn, tay sai của vua Khải Định khi hắn sang Pháp, đồng thời phơi bày sự điêu trá của những cái gọi là “khai hoá”, “bảo hộ” Việt Nam của chủ nghĩa thực dân Pháp. -Một điểm nữa cũng cần chú ý, đó là mục đích sáng tác của Người. Chúng ta đều biết Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh viết văn hay làm thơ trước hết không vì mục đích văn chương. Đối với Ngưòi, đấy trước hết là một hình thức hoạt động cách mạng. Vậy trước khi phân tích truyện ngắn “Vi hành”, chúng ta cũng cần tìm hiểu Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm này cho ai đọc và viết để làm gì. 2.Hoàn cảnh tác phẩm ra đời Giữa năm 1922, chính quyền bảo hộ đưa vua Khải Định sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Mác-xây. Động thái này của nhà cầm quyền Pháp nhằm đánh lạc hướng dư luận ở ngay nước Pháp: rằng, vua một nước thuộc địa đến chính quốc để tỏ thái độ thần phục và cảm tạ công ơn khai hoá của “mẫu quốc” ; rằng, xứ Đông Dương thuộc địa vẫn ổn định, Chính phủ Pháp có thể tiếp tục đầu tư và “khai hoá’… Đầu năm 1923, “Vi hành” được đăng trên báo Nhân đạo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, số ra ngày 19 – 2 – 1923. Tác phẩm lật tẩy mưu đồ bẩn thỉu đó của các nhà cầm quyền, đồng thời vạch trần bản chất bù nhìn, tay sai của vua Khải Định. II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1.Đặc điểm về nội dung a.Mục đích sáng tác truyện “Vi hành’’ b.Truyện khắc hoạ thành công hình tượng ông vua Khải Định Tác giả “Vi hành” không trực tiếp miêu tả, kể chuyện về nhân vật ông hoàng Khải Định nhưng bằng cách xây dựng tình huống truyện độc đáo với giọng văn châm biếm, mỉa mai trong hình thức một bức thư gửi cô em họ, hình ảnh ông hoàng An Nam từ tướng mạo đến bản chất dần dần hiện rõ một cách hèn hạ và lố bịch. Từ sự nhầm lẫn của đôi trai gái trên tàu điện ngầm (tưởng nhân vật “tôi” là hoàng đế An Nam), nhân vật “tôi” – người kể chuyện – nghe được họ nhận xét về tướng mạo Khải Định rất nực cười: mũi tẹt, mắt xếch, mặt vàng bủng, đầu quấn khăn lại còn đội nón, ngón tay đầy nhẫn, người đầy lụa là và hạt cườm, dáng vẻ nhút nhát, lúng túng… Trong con mắt của họ, của những người dân Pháp, ông vua một nước thuộc địa do Pháp bảo hộ kia chẳng khác nào một thứ sinh vật lạ hiếm hoi đến từ một xứ sở xa xôi và mông muội. Tệ hại hơn nữa là, họ nhìn ngắm Khải Định như xem các tiết mục giải trí khác không mất tiền (vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, trò leo trèo nhào lộn của sư thánh xứ Công-gô,…). Hơn thế, Khải Định lúc thì có vẻ như một con rối trên sân khấu Nhà hát Múa rối của họ ; lúc thì giống một công tử bé choi bời bừa bãi, lén lút ở Pa-ri. c.Truyện khéo léo đả kích “những bậc khai hoá” -Tác giả “Vi hành” còn tái hiện tiếp sự nhầm lẫn nữa của người dân Pa-ri (tưởng nhân vật “tôi” là hoàng đế An Nam đang vi hành), kết hợp với hình thức viết thư để thực hiện được mục đích thứ hai của truyện: đả kích Chính phủ Pháp, bọn mật thám tay sai, bọn thực dân mà tác giả gọi là “những bậc khai hoá”. + “Nhật báo chẳng còn cái gì để bôi bác lên giấy cả”: châm biếm báo chí Pháp lúc đó. + “Tôi nhớ chuyện vua Thuấn, vì muốn đích thân tai nghe mắt thấy dân có bằng lòng mình không, nên cải trang làm dân cày đi dò la khắp xứ”: tiếp tục châm biếm Khải Định “vi hành”. + “Phải chăng là ngài (Khải Định – NBS) muốn biết dân Pháp, dưới quyền ngự trị của bạn ngài là A-lếch-xăng Đệ nhất, có được sung sướng, có được uống nhiều rượu và được hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam, dưới quyền ngự trị của ngài, hay không?”: đả kích chính sách bóc lột của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. -Còn mức độ nhầm lẫn thứ ba trong truyện được xây dựng đó là sự “nhầm lẫn” của Chính phủ Pháp giữa hoàng đế An Nam vói tất cả những người da vàng trên đất Pháp lúc đó. Mức độ nhầm lẫn càng tăng tiến, bút pháp mỉa mai càng tỏ ra lợi hại nhằm đả kích chính quyền thực dân Pháp, nhân có sự việc Khải Định sang dự cuộc đấu xảo ở Mác-xây, đã ráo riết theo dõi bất cứ ai là người Việt Nam yêu nước, cách mạng đang ở trên đất Pháp, sẵn sàng có biện pháp đàn áp dã man mọi biểu hiện của dư luận, mọi hành vi phản kháng công khai hay ngấm ngầm về chuyện “xuất ngoại” của ông vua bù nhìn Khải Định: “… để chắc chắn khỏi thất thố trong nhiệm vụ tiếp tân, Chính phủ bèn đối đãi với tất cả mọi người An Nam vào hàng vua chúa và phái tuỳ tùng đi hộ giá tuốt!”, “… các vị bám lấy đế giày tôi, dính chặt với tôi như hình vói bóng. Và thật tình là các vị cuống cuồng cả lên nếu mất hút tôi chỉ trong dăm phút 2.Đặc điểm về nghệ thuật a. Đặc sắc nhất ở “Vi hành” là đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo, đạt được hiệu quả đả kích sâu cay nhưng kín đáo. Đấy là tình huống nhầm lẫn với ba mức độ tăng tiến, tạo thành sức mạnh chủ yếu của nghệ thuật “Vi hành”: -Nhiều người dân Pa-ri tưởng nhầm nhân vật “tôi” với hoàng đế An Nam đi ‘‘vi hành” để hoàn chỉnh chân dung ông vua bù nhìn Khải Định bên đất Pháp, đồng thời châm biếm bản chất đê hèn của hắn. -Đến cả Chính phủ Pháp cũng nhầm lẫn vị khách quý – hoàng đế An Nam với những người Việt Nam yêu nước cách mạng để nhân đó, châm biếm, tố cáo tính chất điêu trá, bịp bợm của cái gọi là “văn minh”, “khai hoá” của chủ nghĩa thực dân Pháp. b. Truyện “Vi hành” được viết dưới hình thức một bức thư của nhân vật “tôi” gửi cô em họ ở quê nhà và tác giả tự dịch ra tiếng Pháp. Ai cũng biết thư từ là kiểu văn bản tự do, nhất là thư gửi người thân (ở đây là gửi cô em họ) thì lại càng tự do trong việc cung cấp tin tức, giãi bày tình cảm, kể bằng nhiều giọng điệu, hỏi – đáp về nhiều chuyện có vẻ linh tinh cùng một lúc… Bức thư “Vi hành” có mấy nét đáng chú ý sau: -Sự chuyển giọng, chuyển cảnh, kể, tả khá linh hoạt: khi nghiêm trang khi cười cợt, khi vui tươi nhí nhảnh, lúc lại lạnh lùng sắc sảo… Nhưng giọng chủ đạo là mỉa mai, chân biếm. -Hiện tượng liên hệ tạt ngang, so sánh thoải mái nhằm tăng hiệu quả châm biếm: Từ sự phỏng đoán Khải Định “vi hành”, nhân vật “tôi” đưa ra hàng loạt phán đoán nhằm lố bịch hoá đối tượng mà tác giả đả kích ; Từ chuyện nhầm lẫn của hai thanh niên Pháp bất ngờ người viết vạch mặt bọn mật thám ở Pa-ri theo lệnh của nhà cầm quyền bám sát theo dõi những người Việt Nam yêu nước Nhìn chung, truyện ngắn “Vi hành” là một tác phẩm có tính chiến đấu cao, nghệ thuật mỉa mai châm biếm độc đáo, linh hoạt và đa dạng. XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHA CON NGHĨA NẶNG-NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY
Phân tích tác phẩm Vi Hành – Ngữ văn 11
1,536