text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Phân tích tác phẩm Vào Phủ Chúa Trịnh – Ngữ văn lớp 11
Hướng dẫn
VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH
(Trích Thượng kinh kí sự)
I- NHỮNG TRI THỨC Bổ TRỢ
1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời
Lê Hữu Trác (1724 – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên). Ông là một thầy thuốc nổi tiếng, đồng thời cũng là một tác giả văn học có một số sáng tác đáng chú ý. Là một trí thức, ông không ra làm quan, cũng không sống thuần tuý cuộc sống của nhà ẩn sĩ mà chọn con đường chữa bệnh cứu người.
Thượng kinh kí sự (Kí sự đến kinh đô) được Lê Hữu Trác viết nhân chuyến ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán năm 1782, hoàn thành năm 1783. Đây là thời điểm gần sát vói cuộc khủng hoảng của triều đình Lê – Trịnh. Trịnh Cán được lập làm thế tử tháng 10 năm Tân Sửu (1781), mới 5 tuổi nhưng đầy bệnh tật. Lê Hữu Trác rời Thăng Long ngày 18 tháng 9, về đến nhà ngày 2 tháng 10 năm Nhâm Dần (1782). Ngày 24 tháng 10 năm đó diễn ra cuộc kiêu binh nổi loạn, giết chết quan Chánh đường (tức Quận Huy Hoàng Đình Bảo), thế tử Trịnh Cán bị phế truất. Biến cố này là cơ sở thực tế cho triết lí được ông đúc kết ở cuối thiên kí sự: giàu sang như mây nổi, những nơi đàn sáo lâu đài trước đây bỗng phút chốc thành gò hoang cồn vắng, củng cố niềm tin của ông về tính chất tạm bợ của giàu sang và ý nghĩa của cuộc sống ung dung, ngoài vòng danh lọi. Những dòng văn miêu tả cảnh giàu sang phú quý trong phủ chúa Trịnh ở đoạn trích chỉ có thể hiểu đúng nếu như ta biết thái độ của ông đối vói công danh, phú quý được nói đến ở phần kết thúc của cuốn sách này.
2.Tri thức văn hoá
Lê Hữu Trác là nhà nho. Nhà nho lấy đạo trung quân (trung với vua) để đánh giá nhân cách, đạo đức con người. Chúa Trịnh lấn át quyền hành của vua Lê, tạo ra một cục diện triều chính vừa có vua lại vừa có chúa, vua chỉ là bù nhìn. Thái độ của Lê Hữu Trác đối với chúa Trịnh ngầm ẩn sắc thái phê phán mà người đọc phải hiểu được. Mặt khác, người đọc cũng cần biết về mẫu người ẩn sĩ, coi thường danh lợi như là một mẫu người đặc biệt trong xã hội phương Đông truyền thống. Đối vói ẩn sĩ, tránh xa trường danh lợi là một cách để giữ thân an toàn trong những thời kì xã hội loạn lạc, là cách thể hiện thái độ đánh giá đối vói một triều đại, cũng là cách thể hiện nhân cách đạo đức cao thượng, không tham giàu sang, phú quý mà chấp nhận cuộc sống quan trường gò bó, mất tự do. Lê Hữu Trác không sống biệt lập với xã hội như các ẩn sĩ trong lịch sử, ông vẫn làm thuốc, trị bệnh cứu người nhưng thái độ coi thường danh lợi, tinh thần kiên trì đạo đức của ông – giống như ẩn sĩ – thể hiện rất rõ ở đoạn trích này.
Thượng kinh kí sự thuộc thể loại kí sự, ghi chép sự việc là chính. Tuy nhiên, tác phẩm có những đoạn miêu tả cảnh, người và sự việc, những đoạn văn ghi lời bình luận hay cảm tưởng, lại có cả những bài thơ xen kẽ, khiến cho nó vừa có chất tự sự, kể chuyện, lại có chất trữ tình.
II – PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1.Quang cảnh phủ chúa Trịnh
Cảnh trong phủ chúa có mấy yếu tố: nhà cửa và kiến trúc ; các nhân vật hoạt động.
Trước hết, cần chú ý đến các yếu tố liên quan đến kiến trúc, xây dựng. Phủ chúa hiện ra như một thế giới khác hẳn bên ngoài về vẻ đẹp và sự sang trọng. Để vào trong phủ, từ bên ngoài phải qua mấy lần cửa.
Tác giả nhìn thấy “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”. Các công trình xây dựng, có: “điếm Hậu mã quân túc trực. Điếm làm bên cái hồ, có những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ. Trong điếm, cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp”, có nhà “Đại đường” thật là “cao và rộng’’, “Ở đây, cột đều sơn son thếp vàng”,…
Các vật dụng, đồ đạc được miêu tả cho thấy sự giàu sang, phú quý tột bậc, khác hẳn ngoài nhân gian. Trong nhà “Đại đường”: “Đồ nghi trượng đều sơn son thếp vàng. Ở giữa đặt một cái sập thếp vàng. Trên sập mắc một cái võng điều. Trước sập và hai bên, bày bàn ghế, những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy”. Bữa ăn trong điếm “Hậu mã”: “Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ”. Nơi ngồi của chúa và nơi xem mạch cho Đông cung, “đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy, đến một cái phòng rộng, ở giữa phòng có một cái sập thếp vàng […]. Bên sập đặt một cái ghế rồng son son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm”. Cảnh sinh hoạt trong phủ chúa thể hiện rõ sự xa hoa của cuộc sống vương giả.
Nhân vật nổi bật trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh là quan Chánh đường, ngoài ra có một số nhân vật chỉ được phác hoạ thoáng qua như Đông cung thế tử Trịnh Cán và các thầy thuốc.
-Quan Chánh đường xuất hiện trong tư thế một người đầy quyền lực, sang trọng. Ông có quyền quyết định nhiều việc trọng yếu trong phủ chúa chứng tỏ ông được chúa tin cậy, trao cho nhiều quyền lực. Những sự kiện chứng tỏ quyền lực của ông ta: mọi người chạy đi chạy lại như mắc cửi để thực thi lệnh của ông ; điếm Hậu mã – nơi nghỉ của ông ta hết sức sang trọng. Những chi tiết tiêu biểu: “Bấy giờ trong “phòng trà” có bảy, tám người. Thấy quan Chánh đường đến, tất cả đều đứng dậy. Quan Chánh đường ngồi ghế trên”, “Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ”, “phong vị của nhà đại gia” mà quan Chánh đường mời Lê Hữu Trác.
-Nhân vật Đông cung tuy thoáng qua nhưng cũng để lại một ấn tượng khó quên: độ năm; sáu tuổi, da mặt khô, rốn lồi to, gân xanh, tay chân gầy gò. Thế tử bật cười khen”Ông này lạy khéo!” khi thấy một ông già lạy mình.
-Bảy, tám vị lương y của “tam cung lục viện” tuy có xuất hiện nhưng không để lại ấn tượng nào đáng kể.
3.Thái độ của tác giả qua cách tả và lời bình luận
Cách tả như vô tình nhưng thực ra hàm chứa thái độ phê phán kín đáo mà mạnh mẽ, đồng thời bộc lộ sự coi thường danh lợi của tác giả. Phê phán sự xa hoa, hoang phí của phủ chúa còn một hàm nghĩa đạo lí nho gia nữa: chúa Trịnh lấn cướp quyền hành của vua Lê, các đồ vật đều “sơn son thếp vàng, sập rồng” (những biểu tượng của vua lại được chúa sử dụng) là sự quan sát phê phán kín đáo từ lập trường trung quân.
Như đã nói, nếu chúng ta liên hệ vói đoạn kết của Thượng kinh kí sự, ta sẽ hiểu dụng ý nhấn mạnh lối sống xa hoa vương giả trong phủ chúa là nhằm nêu lên một bài học triết lí về tính chất tạm thời, không bền vững của giàu sang, quyền lực, về sự đúng đắn của việc lựa chọn cách sống ẩn dật, quay lưng với danh lợi.
Cách tác giả tỏ thái độ cũng đa dạng: làm thơ, bình luận kín đáo, sử dụng từ ngữ (tự nhận mình là quê mùa), kể lại ý nghĩ (tự phân tích tâm lí: chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết, chỉ có những việc trong phủ chúa là mình chỉ mới nghe nói thôi), kể lại ấn tượng (tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia).
4.Nghệ thuật miêu tả
-Tài quan sát, lựa chọn chi tiết đắt giá: Đối với văn xuôi, chi tiết có vai trò rất quan trọng. Tác giả đã đưa những quan sát tưởng như vô tình, thoáng qua nhưng thực ra là những chi tiết chọn lọc. Ví dụ: Chi tiết “Cáng chạy như ngựa lồng, tôi bị xóc một mẻ, khổ không nói hết”. Với người khác, việc được đi cáng do phủ chúa phái lính đến đón có thể là một niềm tự hào, vinh dự ; còn ông – một nhà nho coi thường danh lợi – thì chỉ thấy khổ sở. Ông nhiều lần nhắc đến màu “vàng son” của đồ nghi trượng, cột nhà, sập, ghế rồng là có dụng ý phê phán việc chúa Trịnh chà đạp lên đạo trung quân. Hình ảnh các cung nhân với mặt phấn, màu áo đỏ thoáng qua nhưng cũng hàm ý phê phán cuộc sống truỵ lạc của chúa. Các chi tiết về quyền lực của quan Chánh đường, như đã phân tích ở trên, cũng đặc sắc.
-Việc kể chuyện kèm theo bình luận, tỏ thái độ, tự phân tích tâm lí của tác giả khiến cho câu chuyện được kể sinh động, hấp dẫn. | Phân tích tác phẩm Vào Phủ Chúa Trịnh – Ngữ văn lớp 11 | 1,636 | |
Phân tích tác phẩm Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Ngữ Văn 11
Hướng dẫn
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ
1.Hoàn cảnh sáng tác bài văn tế
Trong bối cảnh thực dân Pháp xâm lược nước ta và sự lúng túng của triều đình trước sức tấn công của kẻ thù, thậm chí phe chủ trương hoà hoãn trong triều càng tăng lên thì vẫn có nhiều nhà nho và nhân dân nhiều nơi đứng lên đánh giặc. Đêm 16 tháng 12 năm 1861, những người nông dân – nghĩa sĩ đã tập kích đồn Cần Giuộc của quân Pháp, thu được một số thắng lợi nhất định như giết được tên quan hai Pháp và một số lính đánh thuê, làm chủ đồn hai ngày, nhưng cuối cùng bị phản công và thất bại. Nghĩa quân hi sinh khoảng hai chục người. Đây là cuộc chiến đấu của người nông dân bảo vệ quê hương, làng xóm của mình, đầy tinh thần tự nguyện, tự giác.
Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc là bài văn Nguyễn Đình Chiểu viết theo yêu cầu của Đỗ Quang, tuần phủ Gia Định, để tế những nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận tập kích nói trên.
2.Thể loại văn tế
Văn tế là bài văn khóc người đã chết. Tiếng khóc không phải là điều xa lạ đối với con người vì nó là một trong những cách thức bày tỏ cảm xúc quan trọng (vui thì cười, buồn thương thì khóc). Tuy vậy, trong văn học thòi trung đại, tiếng khóc không phải ở thòi đại nào cũng được đưa vào thơ văn. Có những giai đoạn văn học hầu như vắng bóng tiếng khóc. Nghĩa là đã có những lúc, tiếng khóc không được các tác giả coi là đối tượng đáng được đưa vào văn học. Dường như các tác giả văn học thời xưa đề cao sự kiềm chế cảm xúc. Từ thế kỉ XVIII trở đi, mới bắt gặp nhiều tiếng khóc trong thơ: Nguyễn Du khóc nàng Tiểu Thanh trong bài Độc Tiểu Thanh kí, Phạm Thái khóc ngưòi yêu trong bài Văn tế Trương Quỳnh Như, Ngô Thì Sĩ khóc vợ qua tập thơ Khuê ai lục,… Đây là thời đại văn học đề cao cảm xúc, tình cảm. Tiếng khóc của văn học giai đoạn này có tính cách cá nhân, riêng tư. Cuối thế kỉ XIX, trong bối cảnh cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược nhưng bị thất bại, đã xuất hiện khá nhiều tiếng khóc trong thơ văn. Những tiếng khóc qua các bài thơ tuyệt mệnh của sĩ phu yêu nước chống Pháp, tiếng khóc các vị anh hùng bỏ mạng trong chiến trận qua các bài thơ gọi là khốc, điếu. Bản thân Nguyễn Đình Chiểu có thơ khóc các tướng lĩnh như Trương Định, Phan Tòng,… Nhưng điểm độc đáo của Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc là tác giả khóc những người nông dân bình thường đã chết trong trận chiến bảo vệ quê hương chống lại quân xâm lược. Lần đầu tiên trong văn học trung đại từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, vói bài văn tế này, ngưòi nông dân đã đi vào văn học với tư cách là một đối tượng miêu tả độc lập.
3.Lựa chọn sống – chết trong truyền thống văn hoá phương Đông
Bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu có một điểm đặc sắc là luận về lẽ sống – chết. Vì thế, cũng cần nói lại, dẫu là hết sức ngắn gọn, quan niệm về sống chết trong truyền thống văn hoá phương Đông. Con người sinh ra ai cũng muốn sống, hưởng thụ trọn vẹn cuộc sống của mình. Nhưng khi con người đứng trước một tình thế buộc phải lựa chọn giữa sự sống và cái chết, chết để bảo vệ nhân phẩm, đạo đức thì chết vinh còn hơn sống nhục. Nhà nho có tinh thần sát thân thành nhân, xả thân thủ nghĩa (chết để thành người có đạo nhân, hi sinh thân mình để bảo vệ đạo nghĩa). Truyền thống này thể hiện rất rõ trong khi Nguyễn Đình Chiểu luận về lẽ sống – chết trong bài văn tế, lại tiếp tục được phát huy trong văn học yêu nước, cách mạng: bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” ; bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu “Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ – Đèo Lũng Lô anh hò chị hát – Dù bom đạn xương tan thịt nát – Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh”.
II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1.Kết cấu bài văn tế
Có nhiều cách phân đoạn bài văn tế tuỳ theo quan niệm của người đọc muốn nhấn mạnh vấn đề nào trong bài. Chúng tôi xin giới thiệu một cách phân đoạn, theo đó thì bài văn tế có 4 đoạn chính:
-Đoạn 1 (từ đầu đến “dốc ra tay bộ hồ”: kể về thân phận và tấm lòng vì quê hương, đất nước của ngưòi nông dân nghĩa sĩ trước khi diễn ra trận đánh.
-Đoạn 2 (tiếp theo đến “tàu đồng súng nổ”): miêu tả hành động của những người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc Pháp xâm lược.
-Đoạn 3 (tiếp theo đến “con bóng xế dật dờ trước ngõ”): lí giải nguyên nhân hành động hi sinh vì nghĩa của những người nghĩa sĩ nông dân.
Tất nhiên, không nên quan niệm rằng nội dung của mỗi phần tách biệt, riêng rẽ so với các phần khác mà việc nội dung các phần đan xen nhau là một thực tế. Việc phân loại nói trên chỉ nhằm mục đích tách các nội dung chính để có định hướng phân tích.
2.Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ
Có thể nói rằng toàn bộ hình tượng ngưòi nông dân nghĩa sĩ và cả bài văn tế được triển khai trên một loạt những cặp đối lập. Khai thác đặc điểm đối lập này sẽ thấy được tài năng nghệ thuật của tác giả.
a.Người nông dân trước khi xảy ra sự kiện tấn công đồn cần Giuộc
Những người nông dân hiền lành, chất phác, lam lũ, nghèo khó, không phải là ngưòi lính chuyên nghiệp. Sau câu mở đầu có tính chất nhận định tổng quát, ấn tượng này được chuyển tải rất thành công bằng biện pháp đối ngẫu:
1.
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ
2.
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm
Nhận xét: Cặp đối 1 là đối lập về không gian sống và hoạt động. Người nông dân chỉ sống với vườn ruộng, trâu bò, ở trong làng xóm ; chưa biết thao trường tập luyện, chưa biết vũ khí cung nỏ, ngựa,… Cặp đối 2 là đối lập về việc làm (những việc nhà nông là những việc quen tay làm, còn việc nhà binh thậm chí mắt chưa từng thấy, nói gì tói tay quen làm).
Tác giả không dừng lại lâu ở chi tiết bề ngoài; sau cặp đối lập trên, tác giả chuyển sang thể hiện tâm tư, tình cảm của ngưòi nông dân. Trong bối cảnh giặc Pháp xâm lược đất nước ta, những ngưòi nông dân như đã có sự chuẩn bị về tinh thần, thái độ. Người nông dân nhưng cũng biết lo lắng việc quốc gia đại sự, nghe tin quân Pháp xâm lược đã tỏ lòng căm giận. Sự căm giận thể hiện bằng những từ ngữ rất mạnh, cụ thể chứ không chung chung: “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”. Tác giả nhấn mạnh tinh thần tự nguyện, tự giác ở họ: “Nào đợi ai đòi ai bắt”, “chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi”. Đó là động lực tinh thần mạnh mẽ, quyết định sự xả thân của họ trong việc công đồn, biến họ từ người nông dân trở thành người nghĩa sĩ. Không cần bất cứ một sức ép nào, người nông dân đã sẵn sàng cho hành động đánh giặc. Nghệ thuật đối lập ở cuối đoạn nhằm mục đích tô đậm tinh thần tự nguyện của ngưòi nông dân:
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình ; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.
Vế trước nhìn sự tự nguyện từ phía khách quan, từ bên ngoài (không cần đợi các sức ép đó) ; vế sau nhìn từ hành động chủ quan của người nông dân. Như vậy, cái nhìn toàn diện cho thấy tinh thần tự nguyện cao cả của họ.
b.Người nông dân trong sự kiện công đồn
Phần này chiếm một vị trí quan trọng trong bài văn tế. Những ngưòi nông dân “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Họ đi vào trận đánh mà thiếu rất nhiều điều kiện chủ quan của người làm việc nghĩa, ngoại trừ tinh thần vì nghĩa, tinh thần “sát thân thành nhân”, “xả thân thủ nghĩa”. Trong Truyện Lục Vân Tiên mà giói nghiên cứu cho là đã sáng tác trước khi thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Đình Chiểu đã đề cập đến điều kiện chủ quan của người làm việc nghĩa (hành nghĩa). Để làm được việc nghĩa, người hành nghĩa cũng cần có một số điều kiện chủ quan nhất định. Nhân vật Lục Vân Tiên được giói thiệu là người văn võ song toàn “Văn đà khỏi phụng đằng giao – Võ thêm ba lược sáu thao ai bì”. Nghe tín hai nữ nhi bị đảng cướp Phong Lai bắt, Vân Tiên nói “Tôi xin ra sức anh hào – Cứu người cho khỏi lao đao buổi này”. Nhưng mọi người can ngăn “Dân rằng lũ nó còn đây – Qua xem tướng bậu thơ ngây đã đành – E khi hoạ hổ bất thành – Khi không mình lại xô mình xuống hang”. Bởi lẽ nếu muốn làm việc nghĩa mà không đủ tài năng thì rất có thể sẽ không giúp ích được cho người mà bản thân còn mắc hoạ. May mắn là Lục Vân Tiên đủ tài năng, trí dũng song toàn. Điều Nguyễn Đình Chiểu nêu lên thoáng qua đã thành sự thật trong cuộc hành nghĩa đánh Pháp của những nghĩa binh cần Giuộc. Nếu như Lục Vân Tiên văn võ song toàn thì các nghĩa binh nông dân chỉ có tinh thần quyết đánh kẻ thù mà thiếu rất nhiều thứ. Đây là nguồn cội của âm hưởng bi tráng trong bài văn tế. Họ không được học binh thư, không được luyện tập sử dụng vũ khí; họ không được trang bị chuyên nghiệp ; vũ khí của họ chỉ là những vật dụng quen thuộc với nghề nông. Nhưng họ đã khiến cho kẻ thù kinh hoàng, đã lập được nhiều kì tích đáng khâm phục.
Nghệ thuật đối ngẫu đã được tác giả khai thác thành công. Nghệ thuật đối cho phép nhìn sự việc từ nhiều góc độ khác nhau, vẽ nên một bức tranh toàn cảnh. Nhìn ngườii nghĩa binh nông dân từ bên ngoài, so sánh với người lính chuyên nghiệp:
Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; / chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
Và nhìn từ góc độ “quan quản” và góc độ “thằng Tây”:
Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; / nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Có cách nhìn người nghĩa binh chuyển từ trang phục đến vũ khí:
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; / trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.
Có cách nhìn chuyển từ hành động này sang hành động khác trong các không gian hành động khác nhau: đốt nhà dạy đạo / chém đầu quan hai; đạp rào lướt tói / xô cửa xông vào; đâm ngang chém ngược / hè trước ó sau.
Đáng chú ý là đoạn này sử dụng dày đặc các động từ, tạo nên ấn tượng nhanh gấp, khẩn trương, quyết liệt. Các chi tiết miêu tả có tính chất tĩnh như áo vải, ngọn tầm vông, rom con cúi, lưỡi dao phay xen kẽ, kết họp vói miêu tả hành động góp phần tạo nên vẻ đẹp tạo hình của người nghĩa binh nông dân.
c.Lí giải hành động xả thân vì nghĩa
Những nông dân nghĩa sĩ đã chấp nhận một cái chết anh hùng, đầy tinh thần xả thân và hết sức bình dị: “Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ”.
Họ chấp nhận cái chết lẽ ra không thuộc về bổn phận, chức trách của họ: “Chẳng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm ; vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số”.
Lí giải nguyên nhân, động lực đã dẫn đến sự hi sinh, xả thân của những người nông dân nghĩa sĩ bao gồm quan niệm về lựa chọn cuộc sống có ý nghĩa và nhận thức về kẻ thù, sống mà theo kẻ thù – kẻ thù lúc này được ông và khống ít nhà nho nhận thức còn ở mức độ hạn chế nhất định – là những kẻ đến can thiệp vào “bát cơm manh áo” của nhân dân ta, là kẻ có những khác biệt về văn hoá (không thờ tổ tiên), thì sống như thế là khổ nhục. Một dân tộc kiêu hùng thà thác chẳng đầu hàng giặc Tây là một tinh thần được Nguyễn Đình Chiểu nhấn mạnh trong các sáng tác về những người nghĩa sĩ đánh Pháp: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh ; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở vói man di rất khổ”. Câu này có cùng nghĩa với hai câu trong một bài thơ điếu Phan Tòng:
Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây,
Một giấc sa trường phận cũng may.
Là ngưòi đi tiên phong của dòng văn học yêu nước chống Pháp, tất nhiên những hiểu biết về kẻ thù của Nguyễn Đình Chiểu không khỏi còn hạn chế nào đó mà với thời gian, các nhà yêu nước ở đầu thế kỉ XX sẽ nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về chúng. Chỉ có lòng yêu nước, căm thù quân xâm lược, tinh thần hi sinh tất cả để bảo vệ độc lập, tự do của những người nông dân nghĩa sĩ là luôn mới mẻ, thiêng liêng Nguyễn Đình Chiểu khẳng định tình cảm của toàn dân trước sự hi sinh quả cảm của họ. Đặt đối xứng giữa sông (thiên nhiên) và chợ (người) để thấy cả trời đất và con người đều cảm động trước cái chết đó (đây là quan niệm phổ biến của người xưa về mối quan hệ thống nhất giữa trời và người): “Đoái sông cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng ; nhìn chợ Trường’ Bình, già ttẻ hai hàng luỵ nhỏ”.
d.Luận về lẽ sinh tử và ghi nhận ý nghĩa của sự hi sinh, tình cảm của nhân dân với những người nghĩa sĩ
Bài văn tế còn có một đặc sắc khác nữa là sự hiện diện của hình tượng tác giả ở phần cuối cùng. Nếu ba phần trên, người nông dân nghĩa sĩ hiện lên qua những miêu tả trực tiếp thì ở phần này, những bình luận trữ tình của tác giả lại đưa ra một cách khắc hoạ gián tiếp, tạo nên một cái nhìn đa chiều về họ.
Nhà thơ viết bài văn tế bằng xúc cảm mạnh mẽ. Ông như thấy rõ nỗi đau thương mất mát nghẹn ngào nơi những con người còn sống cũng rất đáng thương. Cái chết bao giờ cũng gây nên xúc cảm thương tiếc:
Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.
Có cảm giác như ngưòi sống gục xuống vì đau đớn, mất mát. Nhưng hai cặp câu đối trên chỉ là sự chuẩn bị cho những cảm xúc tích cực. Sự xả thân, hi sinh có sức sống sánh cùng trời đất, bền vững với thời gian:
Ôi!
Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.
Cái chết của những nghĩa binh nông dân trước hết là lời kêu gọi những người còn sống tiếp tục sự nghiệp yêu nước thương dân:
Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen ; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.
Họ vốn là người nông dân chất phác, không định làm người anh hùng, không định nổi danh nhưng cái chết đầy khí phách hào hùng của họ đã đưa họ đến vị trí được tôn vinh. Danh thom truyền đi xa, được thờ noi đình miếu, tiếng hay lưu lại đến muôn đòi:
Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.
Hồn thiêng của họ như vẫn dõi theo sự nghiệp đánh giặc của người đang sống:
Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia ; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.
Trong quan niệm của nhà nho, vua chính là nước, không thể tách rời vua và nước. Thờ vua chính là thờ nước, trung với vua chính là trung vói nước. Những khái niệm tấc đất ngọn rau ơn chúa, thiên dân, vương thổ là cách diễn đạt phổ biến các khái niệm đất nước, nhân dân của văn học nhà nho thời xưa (phải đợi đến đầu thế kỉ XX, các nhà nho Duy tân mới bắt đầu tách đất nước ra khỏi vua, mới nói đến nước là của dân). Đặt hành động công đồn cần Giuộc của những người nghĩa binh nông dân vào tương quan thiên dân, vương thổ, thờ vua là cách ghi nhận tầm vóc quốc gia của một hành động vốn chỉ ở quy mô địa phương. Ý nghĩa của sự hi sinh không chỉ còn là bảo vệ mảnh đất quê hương mà đã ở trên bình diện quốc gia, dân tộc rồi.
Nhìn chung, nếu so sánh vói các sáng tác trong thời trung đại thì hình tượng người nông dân nghĩa sĩ là một đóng góp đột xuất của Nguyễn Đình Chiểu. Bởi vì người nông dân trong văn học các giai đoạn trước chỉ đóng một vai trò bị động, là đối tượng quan tâm săn sóc của người lãnh đạo, thậm chí là đáng thương (bài thơ Sở kiến hành của Nguyễn Du viết về mấy mẹ con người ăn mày đói khổ). Người dân nghèo trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là lực lượng tham gia vào sự nghiệp đánh quân Minh nhưng không có chân dung cụ thể nào ngoài vẻn vẹn mấy từ manh lệ chi đồ tứ tập (nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới). Manh lệ là ngưòi làm ruộng và ngưòi đi ở, tức là những ngưòi ở nấc thang thấp nhất của xã hội. Nhưng rõ ràng họ bị động, ra đi theo một ngọn cờ tập họp của đấng minh chủ. Người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã có hình tượng mang tính tạo hình khá hoàn chỉnh, vói những nét vẽ chân dung và hành động cụ thể, vói tâm hồn, tình cảm sâu sắc, chiếm được tình cảm thương mến, trân trọng của tác giả. Các nhà phê bình đã có lí khi nói đây là bức tượng đài bất hủ về ngưòi nông dân.
3.Thể văn tế
Bài văn tế được viết theo thể phú, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã có những cách tân quan trọng về thể loại. Hai cách tân quan trọng nhất là:
-Đối tượng thể hiện của phú thường là con người tầng lớp trên, vua chúa, trí thức nho sĩ (xem lại Bạch Đằng giang phú), còn Nguyễn Đình Chiểu hướng về những ngưòi nông dân nghèo khó vói tấm lòng trân trọng.
-Ngôn từ của phú thường có tính chất khoa trương, cách điệu, ước lệ cao. Nguyễn Đình Chiểu đã đưa vào bài văn tế ngôn ngữ mộc mạc, tả thực:
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vồng, chi nài sắm dao tu, nón gõ.
Hay:
Hoả mai đánh bằng rom con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
Ông cũng đưa các xúc cảm chân thành, nồng đượm của mình vào khiến bài văn tế sinh động, lôi cuốn được sự đồng cảm của ngưòi đọc.
XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM BÀI CA PHONG CẢNH HƯƠNG SƠN-NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY | Phân tích tác phẩm Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Ngữ Văn 11 | 3,588 | |
Phân tích tác phẩm Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài – Ngữ văn 11
Hướng dẫn
VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI
(Trích Vũ Như Tô)
I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ 1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời
-Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) xuất thân trong một gia đình nhà nho có tinh thần yêu nước, quê ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội). Từ khi còn là học sinh ở Hải Phòng, ông đã tham gia phong trào yêu nước của thanh niên học sinh. Ông sớm nuôi chí hướng viết văn để kí thác tấm lòng với đất nước. Cùng với các hoạt động trong phong trào Việt Minh và gia nhập tổ chức Văn hoá cứu quốc những năm trước Cách mạng, ông sáng tác một số tiểu thuyết (Đêm hội Long Trì – 1942, An Tư- 1945) và kịch lịch sử (Vũ Như Tô – 1941, Cột đồng Mã Viện – 1944). Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà văn tích cực hoạt động trong phong trào văn nghệ cách mạng, là một trong những người phụ trách Hội Văn hoá cứu quốc và tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
-Trong gần 20 năm sáng tác với nhiều thể loại khác nhau, Nguyễn Huy Tưởng có nhiều đóng góp quan trọng cho văn học Việt Nam hiện đại. Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng rõ rệt về đề tài lịch sử, khao khát sáng tạo được những tác phẩm có quy mô lớn, dựng được những hình tượng hoành tráng về lịch sử dân tộc. Ông có nhiều thành công hơn ở thể loại tiểu thuyết và kịch, trong đó, vở kịch Vũ Như Tô là thành công quan trọng nhất của nhà văn trong giai đoạn trước năm 1945.
2.Tri thức văn hoá
-Vũ Như Tô được hoàn thành vào năm 1941, năm Nguyễn Huy Tưởng mới 29 tuổi, nhưng người đọc cứ hình dung nhà văn như là một con người đã nếm trải đủ mùi cay đắng ở cuộc đời. Năm 1941 là năm chủ nghĩa phát xít đang hoành hành ngang dọc trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, chính quyền thực dân đàn áp tàn bạo phong trào yêu nước, bất cứ hình thức hoạt động nào có tính chất dân tộc đều bị cấm đoán. Vũ Như Tô ra đời là một cách nói gián tiếp phê phán chế độ thực dân nửa phong kiến đương thời hà khắc không thể bảo vệ và phát triển văn hoá dân tộc một cách mạnh mẽ được. Giữa vô số chàng và nàng uỷ mị, sướt mướt trong văn học công khai đương thời, hình ảnh Vũ Như Tô, Đan Thiềm xuất hiện thật là đẹp đẽ, cao quý. Họ thức tỉnh và kêu gọi những ai còn cả tin ngây thơ gửi gắm số phận và nghệ thuật vào “lòng tốt” và sự “anh minh” của bọn thống trị, kêu gọi đấu tranh để bảo vệ tài năng và nhân phẩm. Đằng sau mỗi lời nói của nhân vật chính ở hồi cuối vở kịch là một nỗi lo âu, một thái độ trách nhiệm với văn hoá dân tộc.
-Dường như sáng tác vở Vũ Như Tô là một cách Nguyễn Huy Tưởng tư duy về lịch sử, về mối quan hệ giữa nghệ thuật và nhân dân, về con đường đi của người nghệ sĩ, về văn hoá Việt Nam,… về tất cả những gì mà người dân Việt Nam phải chịu đựng, dằn vặt, giày vò đấu những năm 40 trước Cách mạng. Vở kịch như chỉ để mà kể chuyện đời xưa, thời vua Lê Tương Dực những năm 1516 – 1517 nhưng người đọc vẫn nhận ra tấm lòng, ước mơ giản dị của ông, của những người Việt Nam thời thực dân phong kiến – nhà văn đang nói về sự “nhận đường” của chính mình vào cái thời ông đang sống, vào năm 1941 đen tối: về với dân tộc. Đọc Vũ Như Tô, cần cảm nhận được dấu ấn sáng tạo độc đáo đó của nhà viết kịch Nguyễn Huy Tưởng giàu lương tri, đầy trăn trở giữa cuộc thế thái bát nháo, nan giải trước khi ông có ý thức về cách mạng.
3.Tri thức về thể loại
-Vũ Như Tô là một vở bi kịch lịch sử gồm năm hồi. Bi kịch là một thể của loại hình kịch nói chung. Ngoài đặc điểm chung của loại kịch, bi kịch có đặc điểm riêng, thể hiện qua một số yếu tố của bi kịch (xung đột, nhân vật,…). Xung đột bi kịch được tạo dựng từ những mâu thuẫn không thể điều hoà giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn ; mọi cách giải quyết, khắc phục những mâu thuẫn đó đều dẫn đến cái chết, gây nên suy tư và xúc động mạnh mẽ đối với người đọc (người xem). Nhân vật bi kịch đồng thời mang trong mình khát khao cao cả và những lỗi lầm không thể tránh khỏi. Lỗi lầm của Vũ Như Tô là lỗi lầm bi kịch: tưởng rằng có thể thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình trong cuồng vọng của hôn quân bạo chúa, trong chế độ không có chỗ cho sự khát khao đó. Nhân loại tìm thấy ở vở bi kịch những gì khủng khiếp mà cái ác có thể gieo rắc, do đó, không thể bàng quan và chịu khuất phục trước sức mạnh tàn bạo của nó. Kết thúc bi thảm của số phận nhân vật bi kịch thường có ý nghĩa thức tỉnh và dự báo về một điều gì đó tốt đẹp hơn sẽ nảy sinh trong cuộc sống và trong mỗi con người.
Phân tích đoạn trích, phân tích tâm lí, tính cách nhân vật Vũ Như Tô, Đan Thiềm cần chú ý đến đặc trưng loại thể đó.
II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1.Vị trí của đoạn trích trong vở kịch Vũ Như Tô
-Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử gồm năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở kinh thành Thăng Long vào những năm 1516 – 1517.
Lê Tương Dực là một ông vua tàn bạo, hoang dâm, muốn xây dựng Cửu Trùng Đài làm nơi ăn chơi hưởng lạc với các cung nữ; Người có thể giúp y thực hiện ý định ngông cuồng ấy chỉ có Vũ Như Tô, một kiến trúc sư có tài. Nhưng Vũ Như Tô vốn là một nghệ sĩ chân chính lại từ chối (hồi I).
Một cung nữ tên là Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô chấp nhận lời yêu cầu của Lê Tương Dực, vì làm như vậy cũng nhằm để xây cho đất nước, cho hậu thế một toà lâu đài “bền như trăng sao” có thể hãnh diện với nghìn thu, với thế giới. Ông dốc toàn tâm sức vào việc đó sao cho Cửu Trùng Đài thật uy nghi, tráng lệ. Công việc càng tiến triển thì mâu thuẫn giữa nhà vua và phe đối lập của Quận công Trịnh Duy Sản càng trở nên gay gắt, theo đó, mâu thuẫn giữa “tổng công trình sư” Vũ Như Tô với chính những ngưòi thợ, những người trợ giúp ông bị phe đối lập chia rẽ, xúi bẩy, đe doạ cũng dần dần trở nên căng thẳng (hồi II, III, IV).
Lợi dụng tình hình rối ren và những mâu thuẫn đến độ cần giải quyết, Trịnh Duy Sản cầm đầu phe đối lập dấy binh nổi loạn, giết Lê Tương Dực, Đan Thiềm, Vũ Như Tô và cho thiêu huỷ Cửu Trùng Đài (hồi V).
-Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài chính là toàn bộ hồi V của vở kịch Vũ Như Tô, gồm chín lớp kịch. Sự việc diễn ra và đi đến giải quyết ở hồi V được nung nấu và phát triển ở bốn hồi trước: Biết tin có biến, Đan Thiềm thúc giục Vũ Như Tô trốn chạy để bảo toàn tính mạng. Vũ Như Tô không nghe và tin rằng ông “chính đại quang minh”. Tình hình càng nguy kịch: vua bị giết, Đan Thiềm bị bắt và bị sỉ nhục,… Khi quân phản loạn đốt Cửu Trùng Đài thành tro bụi thì Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ. Ông đau đớn vĩnh biệt công trình dang dở của đời mình và bình thản ra pháp trường.
2.Hai mâu thuẫn cơ bản của vở kịch
a.Mâu thuẫn giữa phe nổi loạn và phe Lê Tương Dực
Cầm đầu phe nổi loạn là Quận công Trịnh Duy Sản. Sau Trịnh Duy Sản là võ sĩ Ngô Hạch, An Hoà Hầu. Vì can ngăn vua không xây Cửu Trùng Đài, đòi giết Vũ Như Tô nhưng không được lại còn bị đánh nhục nhã, Trịnh Duy Sản “giả mượn tiếng đi dẹp giặc rồi quay binh về làm loạn”,- Chúng đã lợi dụng, xúi bẩy thợ xây Cửu Trùng Đài và dân chúng để lôi kéo họ làm phản phục vụ cho mục đích riêng của phe đối lập trong triều.
Mâu thuẫn này tượng trưng cho mâu thuẫn cơ bản trong xã hội phong kiến: mâu thuẫn giữa bọn thống trị và những người bị trị, giữa lợi ích của hôn quân bạo chúa và quyền sống của nhân dân bị áp bức.
Mâu thuẫn này được thể hiện chủ yếu ở các hồi trước hồi V (xoay quanh việc xây hay không xây Cửu Trùng Đài, việc xây Cửu Trùng Đài đã ngốn bao tiền của, sức lực kể cả tính mạng của những ngưòi lao động,…), thành cao trào ở hồi cuối cùng (Lê Tương Dực bị giết, các cung nữ bị bắt bớ, nhục mạ ; dân chúng hò reo đốt phá Cửu Trùng Đài, nguyền rủa Vũ NhưTô, Đan Thiềm,…).
Ở vở kịch Vũ Như Tô, mâu thuẫn thứ nhất là cái cớ, làm nền cho ý tưởng mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đau đáu gửi gắm qua việc đề cập đến mâu thuẫn thứ hai của vở kịch.
b.Mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật của người nghệ sĩ và lọi ích thiết thực của nhân dân
Sự hình thành và diễn biến của mâu thuẫn này trong các hồi kịch trước gắn với câu chuyện xây Cửu Trùng Đài vớ những chuyển động trái chiều nhau, diễn biến với các xung đột dữ dội và dẫn đến kết thúc với nhiều xác chết, trên nền lụa đỏ lẫn tro bụi của Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô bình thản ra pháp trường…
Mâu thuẫn thứ hai, ở hồi V, bị đẩy lên đỉnh điểm. Nếu như ở bốn hồi trước, nó chỉ là mâu thuẫn tiềm ẩn bên trong mâu thuẫn thứ nhất thì ở cuối đoạn trích, nó được hoà nhập làm một. Chính mâu thuẫn thứ hai này là “lỗi lầm bi kịch” của Vũ Như Tô – người kiến trúc sư có tài ấp ủ một hoài vọng “đem hết tài ra xây cho nòi giống một toà đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hoá công”. Vũ Như Tô theo lời khuyên của Đan Thiềm tưởng rằng có thể mượn thế lực và đồng tiền của bạo chúa để thực hiện được khát vọng nghệ thuật chính đáng của mình. Ông đã bất chấp tất cả – tiền của, mồ hôi, xương máu của bao người thợ, thậm chí cả sức lực và tính mạng của bản thân. Chính sự đắm chìm trong công trình Cửu Trùng Đài cao cả, dần dần ông đã mất hẳn chỗ đứng trong cuộc đời, hơn thế nữa, thành kẻ bị cô lập, cô độc và cuối cùng phải nhận cái chết thảm khốc. Đấy là bi kịch của một nghệ sĩ “thuần tuý”, một kẻ mơ hồ, ngây thơ về chính trị, không biết đứng về phía nhân dân. Từ một người phản đối nhu cầu ăn chơi sa đoạ của kẻ thống trị, vô hình trung ông lại tự biến mình thành kẻ tiếp tay cho bọn thống trị ; từ một người biết tôn trọng lao động của nhân dân, ông đã vô tình làm khổ họ, đày đoạ và li tán bao gia đình ; từ một người yêu đất nước, ông trở thành kẻ làm hại dân hại nước… Vũ Như Tô đâu biết rằng có bao chuyện còn cần thiết hơn việc xây Cửu Trùng Đài, có những thứ còn quý hơn cả nghệ thuật kiến trúc. Tách rời lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, tách rời cuộc sống, nghệ thuật không thể tồn tại, tài năng của người nghệ sĩ không thể phát triển.
Việc giải quyết mâu thuẫn thứ hai của vở kịch được tiếp nhận với nhiều ý kiến khác nhau trong nhiều năm qua. Tạo được cái kết “bỏ ngỏ” đầy ám ảnh khiến ngưòi đọc nhiều thế hệ sau tiếp tục tìm lòi giải đáp là một nỗ lực không nhỏ của ngưòi viết vào những năm ông còn băn khoăn “tìm đường” đó.
3.Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô, Đan Thiềm
a.Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô
Vũ Như Tô là hình tượng nhân vật biểu tượng cho niềm khát khao sáng tạo và đam mê cái đẹp. Ở những hồi kịch trước, nhà văn đã chuẩn bị cho người đọc cuộc kì ngộ giữa Vũ Như Tô, người có tài đam mê cái đẹp, và Đan Thiềm, người cung nữ tài sắc, thâm trầm đam mê cái tài, để từ đó, tính cách nhân vật này được phát triển theo sự tiến triển của câu chuyện xây Cửu Trùng Đài đầy trắc trở, mâu thuẫn thứ nhất được giải quyết một phần nhưng lại là sự khởi đầu của một mâu thuẫn mới, chuẩn bị cho một cao trào mới. Từ lúc thà chết chứ không xây đài cao cho hôn quân bạo chúa đến lúc được Đan Thiềm khai mở, ông đã đắm chìm trong mộng tưởng sáng tạo là hai mặt mâu thuẫn nhưng thống nhất trong tính cách nhân vật Vũ Như Tô – nghệ sĩ. Với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài không còn là toà lâu đài của bạo chúa ; nó thành biểu tượng của cái đẹp mà kẻ sĩ như ông phải dốc toàn tài, nó thành lẽ sống của cả đời kẻ sĩ.
Diễn biến tâm trạng qua các lời thoại của Vũ Như Tô ở chín lớp kịch trong hồi cuối xoay quanh việc tìm lời giải çho câu hỏi lớn trong tâm tưởng của ông: “Xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai?”, “Việc ông đang làm là có công hay có tội?”. Bi kịch của Vũ Như Tô là ở chỗ ông không tự giải đáp được câu hỏi tưởng như đơn giản đó, bởi ông chỉ đứng trên lập trường của cái đẹp “thuần tuý” mà xa rời cuộc sống của nhân dân, vô tình làm phương hại đến lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Hành động mà ông lựa chọn và quyết định (không theo lời khuyên của Đan Thiềm là phải trốn chạy để bảo toàn tính mạng) chứng tỏ con người này không thể điều hoà nổi sự mâu thuẫn giữa lợi ích dân tộc lâu dài (xây Đài để khẳng định địa vị của dân tộc Việt trước các dân tộc khác) và thực tế đời sống trước mắt của đại bộ phận nhân dân (Đài càng cao thì càng mất nhiều tiền của, công sức của thợ, của dân…). Ông không tỉnh táo bằng Đan Thiềm, vẫn quá tự tin vào ý tưởng tốt đẹp của mình nên khi giấc mộng nghệ thuật của đời ông sụp đổ (Cửu Trùng Đài bị thiêu huỷ), ông đau đớn kinh hoàng. Nỗi đau ấy bật thành tiếng rú tuyệt vọng: “Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!”. Tiếng kêu đó rồi cũng bị ngọn lửa thiêu huỷ Cửu Trùng Đài nuốt chửng. Trên nền lửa đỏ tro tàn ấy, người kiến trúc sư đầy ảo tưởng ấy biết đời mình thế là hết. Trong cảnh bát nháo, náo loạn giữa triều đình và phe nổi loạn, ông bình thản ra pháp trường.
b.Tính cách, diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm
Nếu Vũ Như Tô là ngưòi đam mê cái đẹp thì Đan Thiềm là người đam mê cái tài, tài sáng tạo cái đẹp. Cái tài mà nàng trọng phải là cái tài có ích, cái tài ấy phải được thi thố trong việc tô điểm cho đất nước, nâng cao địa vị cho dân tộc. “Bệnh” của Đan Thiềm là bệnh của người tài, người có hoài bão đam mê sáng tạo. Ước mong cháy bỏng của người cung nữ này là làm sao để nước nhà có một Cửu Trùng Đài tráng lệ. Đó là một ước mơ đẹp của một người có nhân cách, có tinh thần dân tộc. Ở các hồi trước, Đan Thiềm đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của Lê Tương Dực với mục đích “làm cho đất Thăng Long này trở thành nơi kinh kì lộng lẫy nhất trần gian”. Và thế là, cũng như Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài trở thành lẽ sống của phần đời còn lại của người cung nữ lạ lùng này nơi cung đình. Nàng tìm cách lợi dụng bọn quan lại, vui niềm vui của những người thợ và sung công mọi đồ tế nhuyễn để xây Đài. Có biến, Đan Thiềm không nghĩ đến sự sống còn của bản thân mà đi tìm Vũ Như Tô, hai lần van lạy ông hãy mau trốn tránh và nghĩ rằng nếu ông mất đi thì “nước ta không còn ai tô điểm nữa”. Khi quân nổi loạn đến, Đan Thiềm cam chịu sỉ nhục, quỳ xuống van xin tên võ sĩ Ngô Hạch tha cho Vũ Như Tô: “Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết. Nhưng xin tướng quân tha cho ông Cả. Ông ấy là một người tài”. Khi bị quân Ngô Hạch trói lại, nàng vô cùng tuyệt vọng vì biết rằng không thể cứu được Vũ Như Tô đã đau đớn vĩnh biệt ông: “Ông Cả! Đài lớn tan tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”.
Diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm trong bảy lớp kịch ở hồi V góp phần thể hiện toàn vẹn tính cách bi kịch của Vũ Như Tô, làm rõ hơn sự giải quyết mâu thuẫn thứ hai và cũng là chủ đề của vở kịch.
4.Lời tựa vở kịch Vũ Như Tô
Ngày 8 – 6 – 1942, Nguyễn Huy Tưởng chép lại vở kịch viết xong từ mùa hạ năm 1941 và đặt bút viết Đề tựa cho nó. Chắc hẳn ông linh cảm được rằng những suy tư, dằn vặt mà mình gửi gắm vào tác phẩm không dễ được tiếp nhận. Ông viết Đề tựa dường như để nói rõ hơn, cụ thể hơn ý đồ nghệ thuật của mình nhằm để người đọc thấu hiểu cho ông.
Trong lời tựa, Nguyễn Huy Tưởng đã tóm tắt nội dung vở kịch Vũ Như Tô bằng ba câu hỏi buộc phải lựa chọn đầy băn khoăn, đặc biệt nhắc lại nhức nhối hai lần câu: “Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải?”. Ông nói rằng: “Ta chẳng biết”, thực ra là ông biết rất rõ, Cái ý của ông thể hiện qua lời thoại của nhân vật Đan Thiềm là nhà văn cảm phục “tài trời” và sức sống bất diệt của người dân Việt, đồng thời lại tủi hổ cho nỗi thiệt thòi của ngưòi dân Việt. Việt Nam đâu thiếu người tài, vậy mà chỉ vì miếng cơm manh áo hằng ngày ghì họ sát đất nên họ không phát triển về đường văn hoá nghệ thuật bằng ngưòi. Trước thực tế lịch sử đó, người cầm bút yêu dân yêu nước ngậm ngùi thấy mình “cùng một bệnh với Đan Thiềm” cũng là điều dễ hiểu. “Bệnh Đan Thiềm” là sự khao khát được thăng hoa sáng tạo những tài năng trong mỗi người cho đất nước, cho dân tộc.
XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TINH THẦN THỂ DỤC – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY | Phân tích tác phẩm Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài – Ngữ văn 11 | 3,420 | |
Phân tích tác phẩm Về Luân Lí Xã Hội Ở Nước Ta – Ngữ văn 11
Hướng dẫn
VỀ LUÂN LÍ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
(Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây)
I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ
1. Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời
Phan Châu Trinh (1872 – 1926), tự Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hi Mã, quê ở làng Tây lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì (nay là thôn Tây Hồ, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam). Ông là nhà yêu nước và hoạt động cách mạng nổi tiếng của nước ta trong thời kì đầu thế kỉ XX. Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Ông đỗ Phó bảng năm Tân Sửu (1901). Ông làm quan một thời gian ngắn, sau đó cáo quan về quê, đi nhiều nơi trong và ngoài nước (như Nhật Bản, Trung Quốc) để xem xét, tìm hiểu thời cuộc. Ông đưa ra sách lược riêng của mình. Đó là chủ trương bãi bỏ chế độ phong kiến quân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi, khai thông dân trí, mở mang công nghiệp, thúc đẩy thương nghiệp. Ông chủ trương tận dụng triệt để chiêu bài “bảo hộ, khai hoá” của thực dân Pháp để tạo ra sự đấu tranh hợp pháp, tránh bạo động, tự mình chứ không nhờ cậy ngoại bang. Năm 1908, ông bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Năm 1911, khi được trả tự do, ông sang Pháp với mục đích tranh thủ sự ủng hộ của tổ chức Nhân quyền Pháp để đòi giới cầm quyền thực dân ở Việt Nam phải cải cách chính trị, nhưng việc không thành. Ông về nước và mất vào ngày 24 – 3 – 1926. Đám tang cửa ông trở thành một phong trào vận động ái quốc rộng khắp cả nước.
Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị: Đầu Pháp chính phủ thư (1906), Tỉnh quốc hồn ca I, II (1907, 1922), Tây Hồ thi tập (1904 – 1914), Đạo đức và luân lí Đông Tây (1925),…
Về luân lí xã hội ở nước ta là một đoạn trích trong phần ba của bài diễn thuyết có tiêu đề Đạo đức và luân lí Đông Tây (gồm năm phần chính, kể cả nhập đề và kết luận), được Phan Châu Trinh diễn thuyết tại trụ sở Hội Thanh niên ở Sài Gòn ngày 19 – 11 – 1925, sau một thời gian từ Pháp trở về. Bài diễn thuyết tập trung làm rõ nguyên nhân mất nước là do bỏ mất luân lí và đạo đức dân tộc truyền thống. Ông cho rằng cần phải xây dựng lại một nền luân lí và đạo đức mới có sự tiếp thu “chủ nghĩa dân chủ” của châu Âu để đưa nước ta tiến lên. Ông chủ trương không dùng bạo lực như nhiều chính khách khác cùng thời.
2.Tri thức văn hoá
Thời kì Phan Châu Trinh sống và hoạt động là một thời kì đặc biệt gắn với nhiệm vụ lịch sử là tìm con đường đúng đắn để cứu nước cứu dân. Đây cũng là nỗi niềm trăn trở của nhiều bậc chí sĩ yêu nước thương dân, ý thức được giá trị của độc lập tự do, không chấp nhận cuộc sống nô lệ.
3.Tri thức về thể loại
Xét về hình thức, đây là một văn bản diễn thuyết, song về bản chất là một văn bản nghị luận chính trị – xã hội. Diễn thuyết là một hình thức giao tiếp với công chúng, thường được các nhà hoạt động chính trị – xã hội hoặc văn hoá dùng để trình bày, phổ biến, truyền bá một tư tưởng, một học thuyết, một quan niệm chính trị – xã hội nhất định… cho một loại công chúng. Một bài diễn thuyết phải làm nổi bật một chủ đề nhất định, phải có hệ thống luận điểm và cách thức lập luận rõ ràng, dứt khoát, không quá trừu tượng nhưng cũng không sa đà, dễ dãi. Nghệ thuật diễn thuyết phải đi đôi với nghệ thuật hùng biện, thể hiện qua cách thức tổ chức hệ thống luận điểm, qua giọng điệu, nhịp điệu, ngữ điệu. Một bài diễn thuyết hay phải có chủ đề lớn, thu hút được sự quan tâm của đông đảo quần chúng.
1.Đặc điểm về nội dung
Đây là một bài diễn thuyết mà vấn đề chính được tác giả tập trung nhấn mạnh là vấn đề luân lí xã hội. Theo tác giả, “đạo đức gồm cả luân lí và luân lí chỉ là một phần trong đạo đức mà thôi”. “Đạo đức thì không bao giờ thay đổi được” còn “luân lí có thể thay đổi được luôn. Luân lí tuỳ mỗi thời mà khác, tuỳ mỗi nơi mà khác”. Theo Phan Châu Trinh, luân lí phương Tây có ba giai đoạn phù hợp vói ba thời kì lịch sử: thời trung cổ là luân lí gia đình, khi các quốc gia hình thành (khoảng thế kỉ XVI – hoặc tương ứng với thời kì Phục hưng) thì có luân lí quốc gia, từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất xuất hiện luân lí xã hội. Ở Việt Nam, cho tới lúc đó vẫn chưa có luân lí gia đình và luân lí quốc gia, và chưa ý thức được như thế nào là luân lí xã hội, đây là nguyên nhân của sự mất nước.
Theo ông, luân lí xã hội tức là luân lí của chủ nghĩa xã hội lấy sự quan tâm tới quyền bình đẳng giữa người và người, quan tâm tới từng gia đình, từng quốc gia và cả nhân loại nói chung.
Các khái niệm mà tác giả dùng trong bài như xã hội luân lí, quốc gia luân lí… được dùng theo cú pháp Hán ngữ và phải đượe hiểu là luân lí xã hội, luân lí quốc gia… Cách hiểu của Phan Châu Trinh về chủ nghĩa xã hội cũng khác với cách hiểu của chúng ta hiện nay.
2.Đặc điểm về nghệ thuật
a.Kết cấu bài nghị luận chính trị – xã hội
Bài nghị luận có ba phần theo số thứ tự đã ghi trong đoạn trích.
-Phần 1 (từ đầu đến “Cái chủ ý bình thiên hạ mất đi đã từ lâu rồi”): tác giả Phan Châu Trinh cho thấy,: thứ nhất, ở nước ta “Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến”, lại càng không thể lấy tình cảm “bạn bè” để thay vào vị trí của “xã hội luân lí được”. Ở mức độ thấp hơn là “quốc gia luân lí”, thì “người mình còn dốt nát hơn nhiều”. Những kẻ học ra làm quan cũng võ vẽ nhắc đến hai chữ “thiên hạ” nhưng lại không hiểu gì về hai chữ đó. Bởi bản chất của hai chữ “thiên hạ đó tức là xã hội”.
Như vậy ở phần này, tác giả Phan Châu Trinh chỉ ra rằng ngưòi Việt Nam chứa biết tới luân lí xã hội, sự phát triển về ý thức luân lí xã hội chưa có. Đây là sự yếu kém về mặt lịch sử, do đó cần gấp rút bổ sung, hoàn thiện mà không thể khoanh tay ngồi nhìn được nữa.
-Phần 2 (tiếp theo đến “Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có là cũng vì thế”): đây là phần trọng tâm mà tác giả tập trung phân tích nhiều khía cạnh khác nhau dẫn tới việc người dân không có ý thức về “luân lí xã hội”. Cách đặt vấn đề của Phan Châu Trinh là tạo ra sự so sánh hơn thua để qua đó mọi người thấm thìa hơn về sự thua kém lịch sử đó. Ông nói: “Cái xã hội chủ nghĩa bên Âu châu rất thịnh hành”, rất phát triển, còn ở Việt Nam thì mọi, người cứ “điềm nhiên như kẻ ngủ không biết gì là gì”. Hoặc: “Bên Pháp, mỗi khi người có quyền thế, hoặc chính phủ, lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng” thì “người ta hoặc kêu nài, hoặc chống cự, hoặc thị oai, vận dụng kì cho đến được công bình mới nghe”. Ông chỉ ra sự khác biệt giữa “Âu châu”, giữa “bên Pháp” với Việt Nam là “người ta có đoàn thể, có công đức biết giữ lợi chung”, còn người Việt thì “phải ai tai nấy, ai chết mặc ai”.
Sự khác biệt mà ông chỉ ra ở đây là khác biệt về ý thức tập thể, ý thức dân tộc, ý thức về trách nhiệm phải “hiệp nhau lại phòng ngừa trước”. Tại sao lại phải liên kết với nhau? Phan Châu Trinh chỉ ra một chân lí mà ngay từ thời cổ sơ cha ông chúng ta đã biết đến, đó là: “Đã biết sống thì phải bênh vực nhau, ông cha mình ngày xưa cũng đã hiểu đến”, “dân tộc Việt Nam này hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, cũng góp gió làm bão, giụm cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi, lơ láo, sợ sệt, ù lì như ngày nay”.
Tại sao lại có tình trạng đánh mất ý thức dân tộc, đánh mất ý thức tập thể như thế? Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân của việc đánh mất ý thức đoàn kết dân tộc, đánh mất ý thức về trách nhiệm cộng đồng, trách nhiệm xã hội. Tác giả chỉ rõ, trước hết đó là lỗi của những kẻ có học, của giới trí thức các thời đại trong khoảng “ba bốn trăm năm trở về đây”. Những người có học mà tác giả gọi một cách mỉa mai là “bọn học trò” ấy đã “mắc ham quyền tước, ham bả vinh hoa của các triều vua mà sinh ra giả dối, nịnh hót, chỉ biết “có vua mà chẳng biết có dân”. Đối với những kẻ ấy “dân càng nô lệ” thì “ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý”. Một lối sống mới cũng được xác lập nhưng là lối sống ích kỉ, chỉ biết bản thân, gia đình mà quên dân tộc, quên đất nước. Đó là tư tưởng “một người làm quan một nhà có phước”, “Người ngoài thì khen đắc thời, người nhà thì dựa hơi quan, khiến những kẻ ham mồi phú quý không đua chen vào đám quan trường sao được”. Lối sống đó trở thành cách thức hành động của nhiều người, trở thành hình thức tiến thân, hình thức đua chen trong xã hội chỉ cho bản thân, cho cá nhân, cho từng gia đình mà quên mất dân tộc, quên mất đất nước: “Những kẻ ở vườn thấy quan sang, quan quyền cũng bén mùi làm quan. Nào lo cho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược nào chạy xuôi, dầu cố ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng, chỉ cần được lấy một chức xã trưởng hoặc cai tổng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi”.
Như vậy, nguyên nhân sâu xa dẫn tới việc mất nước, việc dân ta bị rơi vào vòng nô lệ chính là việc không có ý thức đoàn kết xã hội, hay nói như Phan Châu Trinh thì không có “luân lí xã hội”, mà không có “luân lí xã hội” là bởi những kẻ có học bỏ rơi đạo học, chạy theo những bả phù hoa, tiến thân bằng con đường xu nịnh, quỳ gối khom lưng. Tuy nhiên, tác giả chưa thấy được nhiều nguyên nhân sâu xa khác như trách nhiệm của vua chúa đứng đầu đất nước, chưa kể là bọn thực dân cũng không chấp nhận việc dân ta có hiệp hội, có đoàn thể.
-Phần 3 (phần còn lại): Tác giả chỉ ra con đường tất yếu để đưa đất nuớc tiến lên, để “nước Việt Nam được tự do độc lập” thì phải xây dựng các đoàn thổ trên cơ sở “truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam”.
b.Ngôn ngữ nghệ thuật
Đây là một bài diễn thuyết, do vậy trước hết cần phải đặt vấn đề mà mọi người cùng quan tâm. Vấn đề mà Phan Châu Trinh đưa ra ở đây là vấn đề “xã hội luân lí” mà về mặt hình thức, mọi người tưởng rằng mình đều biết đều hiểu, song về bản chất những hiểu biết đó của mọi người chỉ giới hạn trong khuôn khổ coi “xã hội luân lí” là tình cảm bạn bè. Cách hiểu như thế dẫn tới sự sai lệch trong nhận thức, dẫn tới chấp nhận hiện trạng xã hội như nó đáng tồn tại, nghĩa là chấp nhận tình trạng nô lệ, chấp nhận ách áp bức của ngoại bang.
Bài diễn thuyết này về cơ bản được trình bày cho những người có tâm huyết đối với đất nước, với dân tộc, cho nên trong cách xưng hô, tác giả Phan Châu Trinh thường sử dụng cụm từ “người mình” khi nói đến nhân dân, dùng “nước ta”, “người bên ta”, “người nước ta”,… khi nói về đất nước, dùng “ông cha mình” khi nói về truyền thống. Cách dùng từ như vậy cho thấy tấm lòng thiết tha vói đất nước, sự quý trọng nhân dân và truyền thống dân tộc.
Cách lập luận chặt chẽ, tạo ra lôgíc bên trong, khiến bài diễn thuyết càng trở nên dễ hiểu, lại được kết hợp với các hình thức biểu cảm như “Thương hại thay!”, “Thương ôi!”, “Ôi, cũng như lối nói, cách thức nói theo lối biền ngẫu: “Dân khôn mà chi! Dân ngu mà chi! Dân lợi mà chi! Dân hại mà chi!” khiến cho sức thuyết phục càng tăng lên, thể hiện sâu sắc tình cảm, thái độ yêu nước thương dân, xót xa cho cảnh nước mất nhà tan của tác giả khi diễn thuyết về vấn đề này.
Vấn đề mà Phan Châu Trinh đề cập năm 1925 đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sự của nó, cho dù cách hiểu về chủ nghĩa xã hội của ông có khác cách hiểu hiện nay, song về bản chất cũng có nét chung coi chủ nghĩa xã hội là vì dân tộc, vì con ngưòi, vì tiến bộ xã hội. Trong bài diễn thuyết của mình, Phan Châu Trinh đặc biệt lo lắng trước sự yếu kém về trình độ dân trí của Việt Nam. Ngày nay vấn đề này vẫn còn là vấn đề thời sự nóng hổi, bởi lẽ có dân trí cao không phải chỉ là biết đọc biết viết, biết sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại mà dân trí cao nghĩa là phải ý thức được việc giữ gìn và bảo vệ bản sắc dân tộc, biết tôn vinh dân tộc, là cống hiến nhiều hơn nữa để đưa dân tộc tiến lên, sánh ngang hàng với các dân tộc khác trên thế giới và có đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung vì tiến bộ xã hội của nhân loại. Tác giả nhấn mạnh vai trò của đoàn kết dân tộc thông qua việc tạo dựng tinh thần đoàn thể vì sự tiến bộ. Đây là một đóng góp quan trọng của tác giả qua bài diễn thuyết này, bởi đó cũng chính là chân lí mà dân tộc Việt Nam đã đúc rút được trong suốt trường kì lịch sử của mình.
XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NGƯỜI CẦM QUYỀN KHÔI PHỤC UY QUYỀN – NGỮ VĂN 11 | Phân tích tác phẩm Về Luân Lí Xã Hội Ở Nước Ta – Ngữ văn 11 | 2,610 | |
Phân tích tác phẩm Vịnh Khoa Thi Hương – Ngữ văn lớp 11
Hướng dẫn
Đọc thêm
VỊNH KHOA THI HƯƠNG
I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ
Thi cử đã từng đóng vai trò tích cực trong lịch sử, qua thi cử có thể tuyển chọn được người tài vào bộ máy nhà nước. Trường thi vốn là một không gian văn hoá trang nghiêm. Nhưng khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng thao túng, chi phối cả lĩnh vực thi cử vốn rất trang nghiêm, cần được tôn trọng. Nhìn quang cảnh trường thi có thể thấy tình cảnh đáng buồn của đất nước.
II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1.Kết cấu cảnh – tình
Theo kết cấu cảnh – tình, bài thơ này có 6 câu tả cảnh (và kể sự việc) để dẫn đến hai câu kết thể hiện tình. Cảnh ở đây không phải là cảnh thiên nhiên mà đều là cảnh ngưòi. Hai câu đầu kể sự để dẫn đến cảnh:
Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam, thi lẫn với trường Hà.
Ngay ở đây đã bao hàm cảm nhận về sự thay đổi: ba năm mở một khoa thi là lệ thường bao đời nhưng dồn chung hai trường thi Hà Nội và Nam Định lại là tình thế riêng lúc này. Bốn câu tả cảnh sau cho thấy cái nhìn toàn cảnh trường thi với hai nhân vật chính của nó là sĩ tử và quan trường:
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,
Váy lê quét đất mụ đầm ra.
Nhưng sĩ tử thì “lôi thôi”, quan trường thì hách dịch mà “ậm oẹ” nói không ra lời. Có một cảm giác về sự không bình thường qua hai nhân vật chính này. Nhưng một bất ngờ lớn là xuất hiện hai nhân vật hoàn toàn không truyền thống trong không gian trường thi: quan sứ và vợ quan sứ – mụ đầm.
Đây là thay đổi lớn nhất, đau đớn nhất đối với nhà nho quan tâm thế sự. Những thay đổi của trường thi được tả theo trật tự tăng tiến dần để dồn nén tâm sự:
Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.
Chuyện thi cử là một khía cạnh của đất nước nói chung.
2.Nghệ thuật thể hiện cảm xúc
Cách thể hiện cảm xúc cũng rất kín đáo, cảm xúc ẩn sau các cảnh được tả, cảnh tự nó đã khơi gợi suy nghĩ. Hình ảnh được tả không hề dừng lại ở sự miêu tả đầy đủ đối tượng vì câu thơ không thể tả chi tiết, tỉ mỉ như văn xuôi. Tác giả chọn lựa những hình ảnh có thể gợi thái độ, suy nghĩ, bình luận, cảm xúc. Sĩ tử đeo lọ gợi cảm giác “lôi thôi”, tiếng gọi loa của quan trường nghe “ậm oẹ” (tiếng thét có vẻ hách dịch nhưng lọc qua loa có cảm giác bị méo mó), các chữ “rợp trời”, “quét đất” thiên về bình luận hơn là tả thực. Đây là những hình ảnh gợi cảm giác chướng tai gai mắt, từ đó gợi nỗi buồn về tình cảnh đất nước bị đô hộ. | Phân tích tác phẩm Vịnh Khoa Thi Hương – Ngữ văn lớp 11 | 524 | |
Phân tích tác phẩm Vội Vàng -Ngữ Văn 11
Hướng dẫn
VỘI VÀNG
I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ
1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời
-Xuân Diệu (1916 – 1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự lực văn đoàn. Xuân Diệu được coi là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) do chỗ ông hiện diện như một “cái tôi” tự ý thức sâu sắc nhất, mang đến một quan niệm hiện đại về nhân sinh trong việc đề cao lối sống cao độ, giao cảm, tận hiến và một quan niệm hiện đại về thẩm mĩ: lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp thay vì lấy thiên nhiên như trong văn học trung đại.
Thi sĩ được giới trẻ tấn phong là “ông hoàng của thơ tình yêu” bởi đã đem vào thơ tình một quan niệm đầy đủ, toàn diện, một cách thể hiện mới mẻ, phong phú đặc biệt là sự diễn đạt chân thực và táo bạo về tình yêu. Xuân Diệu còn là một cây bút cách tân táo bạo trong nghệ thuật ngôn từ ở lối diễn đạt chính xác, ở những thông tin cụ thể, tỉ mỉ mang tính vi lượng, ở thơ giàu nhạc tính và sự sáng tạo trong việc sử dụng những cách nói mới nhờ phát huy triệt để năng lực cảm nhận của các giác quan. Xuân Diệu hấp dẫn bởi một phong cách nghệ thuật độc đáo với ba đặc điểm chính:
+ Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian.
+ Một trái tim luôn hướng đến mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời, yêu sống cuồng nhiệt, sôi nổi.
+ Một nghệ sĩ học tập nhiều ở cấu trúc câu thơ Tây phương hoàn thiện thơ trữ tình điệu nói để hiện đại hoá thơ Việt.
-Bài thơ Vội vàng được sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ thơ, thi phẩm đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu như một đại diện tiêu,biểu nhất của phong trào Thơ mới.
2.Tri thức văn hoá
Vội vàng và nhiều bài thơ khác của Xuân Diệu thường gây ấn tượng với công chúng bởi những lời kêu gọi kiểu như:
Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi…
Hoặc:
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.
Khi thi nhân cất cao những lời kêu gọi Mau với chứ! Vội vàng lên! mà Hoài Thanh từng nhận xét một cách hóm hỉnh “là đã làm vang động chốn nước non lặng lẽ” thì không có nghĩa là tác giả đang tuyên truyền cho một triết lí sống gấp từng bị coi là lai căng và vẫn bị đặt dưới một cái nhìn không mấy thiện cảm của người phương Đông, một xứ sở vẫn chuộng lối sống khoan hoà, chậm rãi.
Cần phải thấy rằng, bước vào thời hiện đại, sự bùng nổ của ý thức cá nhân đã kéo theo những thay đổi trong quan niệm sống và đánh thức một nhu cầu tự nhiên là cần phải thay đổi điệu sống. Ý thức xác lập một cách sống mới nói trên càng ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trong tầng lớp trẻ. Phát ngôn của Xuân Diệu trên phương diện thi ca chỉ có tính cách như một đại diện.
Nhìn ở một góc độ khác, bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinh mới: sống tự giác và tích cực, sống với niềm khao khát phát huy hết giá trị bản ngã, tận hiến cho cuộc đời và cũng là một cách tận hưởng cuộc đời.
Vội vàng được viết theo phong cách chung của một thế hệ thi nhân xuất thân Tây học, trưởng thành vào những năm 30 của thế kỉ trước được gọi là phong trào Thơ mới.
Thơ mới vẫn được coi là một sự nổi loạn trong sáng tạo nghệ thuật nhằm, một mặt, khước từ luật thơ gò bó, phản ứng với quan niệm cố định về âm thanh, vần điệu, chống lại thói quen “đông cứng” văn bản thơ trong những cấu trúc đã trở thành điển phạm, kiểu ngắt nhịp đã trở thành công thức, cách dùng từ đã trở nên sáo mòn mặt khác, nỗ lực đổi mới tư duy thơ trên nhiều phương diện. Chẳng hạn, mạnh dạn mở rộng diện tích bài thơ, câu thơ, táo bạo trong việc thể nghiệm cấu trúc mới, cú pháp mới, nhịp điệu mới, từ ngữ mới khai thác nhiều tiềm năng của tiếng Việt để làm giàu nhạc tính cho thơ. Nhưng điều quan trọng hơn, nói theo nhận xét của Hoài Thanh, tất cả chỉ nhằm để bộc lộ “cái nhu cầu được thành thực” trong xúc cảm và suy tư của một thế hệ.
II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1.Đặc điểm về nội dung
Sống vội vàng chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi, đây là một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của “cái tôi” cá nhân trong thời hiện đại. Quan niệm sống nói trên được diễiỊ giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “biện luận” rất riêng của tác giả.
a.Từ phát hiện mới: cuộc đời như một thiên đường trên mặt đất
Bước vào bài thơ, độc giả ngạc nhiên trước những lời tuyên bố lạ lùng của thi sĩ:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị, ngông cuồng bề ngọài, thực chất bên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp: chặn đứng bước đi của thời gian để có thể vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời.
Nhưng lí do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá để chặn lại dòng chảy của thời gian?
Trong quan niệm của người xưa, đời là chốn bụi trần, cuộc đời là bể khổ. Đấy là lí do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách sống mà cả tôn giáo cũng như văn chương đều chủ trương vẫy gọi con ngưòi trên hành trình đi tìm sự an lạc tâm hồn. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên, đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi Niết bàn, cõi Tây phương cực lạc ; văn học cổ Trung Quốc cũng như văn học trung đại Việt Nam đều đề cao tâm lí hoài cổ, phục cổ, khuyến khích xu hướng tìm về với những giá trị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại như đi tìm một thiên đường đã mất. Xuân Diệu thuộc thế hệ những người trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi, họ không coi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngược lại, họ không ngần ngại lao vào đời. Và thật ngạc nhiên, nhờ tuổi trẻ, họ phát hiện ra cuộc đời thực chất không phải là một cõi mông lung, mờ mờ nhân ảnh, cũng chẳng phải là cái bể khổ đày đoạ con ngưòi bằng sinh, lão, bệnh, tử… những định mệnh đã hàng ngàn năm ám ảnh con người mà trái lại, là cả một thế giới tinh khôi, quyến rũ. Tất cả đều hiện hữu, tất cả đều gần gũi, đầy ắp, ngay trong đời thực và trong tầm tay với:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật ;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì ;
Này đây lá của cành tơ phơ phất ;
Của yến anh này đây khúc tình si ;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa ;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần ;
Trong cái nhìn mới mẻ, say sưa thi nhân vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc đời bằng hàng loạt đại từ chỉ trỏ này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống động. Hơn thế, cõi sống đầy quyến rũ ấy như đang vẫy gọi, chào mời bằng vẻ ngọt ngào, trẻ trung và như có ý để dành cho những ai đang ở lứa tuổi yêu đương, ngọt ngào: đây là tuần tháng mật để dành cho ong bướm, đây là hoa của đồng nội (đang) xanh rì, đây là lá của cành tơ phơ phất và khúc tình si kia là của những lứa đôi…
b. … đến nỗi ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân
Tuy nhiên, trong ý thức mới của con người hiện đại về thời gian, khi khám phá ra cái đẹp đích thực kia của đời cũng là lúc người ta hiểu rằng điều tuyệt diệu này có số phận thật ngắn ngủi, mong manh và sẽ nhanh chóng tàn phai vì theo vòng quay của thời gian có cái gì trên đời là vĩnh viễn? Niềm ám ảnh đó khiến cái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác, tất cả đều nhuốm màu của âu lo, bàng hoàng, thảng thốt.
Đấy là lí do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi: từ việc xuất hiện các kiểu câu định nghĩa, tăng cấp nghĩa là (3 lần/3 dòng thơ), để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ, mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữu và phôi pha đến ý tưởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân, tuổi xuân nhằm thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp nhất của đời người rồi cất lên tiếng than đầy khổ não:
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Dường như tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời gian, bởi thời gian trôi đe doạ sẽ mang theo tất cả, thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật. Thế là từ đây, thời gian không còn là một đại lượng vô ảnh, vô hình nữa, người ta nhận ra nó trong hương vị đau xót của chia phôi, người ta phát hiện nó tựa một vết thương rớm máu trong tâm hồn:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệt với bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con người. Nỗi cay đắng trước sự thật đó được triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp theo tương quan đối lập giữa: lòng người rộng mà lượng trời chật; Xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn mà tuổi trẻ của con người thì chẳng hai lần thắm lại. Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con người, sinh thể sống đầy xúc cảm và khao khát lại hoá thành hư vô. Điều “bất công” này thôi thúc “cái tôi” cá nhân đi tìm sức mạnh hoá giải.
c.Những giải pháp điều hoà mâu thuẫn, nghịch lí
Đoạn thơ cuối trong bài gây ấn tượng đặc biệt trước hết bởi nó tựa như những lời giục giã chính mình lại như lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân được diễn đạt bằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống.
Rõ ràng, lẽ sống “vội vàng” bộc lộ một khát vọng chính đáng của con người. Như đã nói, đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lí sống gấp mà là ý thức sâu sắc về cuộc sống của con người khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung, sung sức nhất. Xuân Diệu từng tuyên ngôn: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối – Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” chính là tuyên ngôn cho chặng đời đẹp nhất này. “Vội vàng”, vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nét đẹp của một lối sống tiến bộ, hiện đại. Đây chưa phải là lẽ sống cao đẹp nhất lúc bấy giờ nhưng dù sao, trong một thời đại mà lối sống khổ hạnh, “ép xác”, “diệt dục” là không còn phù hợp nữa, là lời cổ động cho một lối sống tích cực, sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ và cũng là của “cái tôi”.
Tuy nhiên, lối sống vội vàng đang còn dừng lại ở sự khẳng định một chiều. Một lẽ sống đẹp phải toàn diện và hài hoà: không chỉ tích cực tận hưởng mà còn phải tích cực tận hiến.
2.Đặc điểm về nghệ thuật
Vội vàng có nét độc đáo trong cấu tứ. Bài thơ có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố: trữ tình và chính luận. Trong đó, chính luận đóng vai trò chủ yếu. Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện về sự mong manh của cái đẹp, của tình yêu và tuổi trẻ trước sự huỷ hoại của thời gian. Mạch chính luận là hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống vội vàng, thông điệp mà Xuân Diệu muốn gửi đến cho độc giả được trình bày theo lối quy nạp từ nghịch lí, mâu thuẫn đến giải pháp.
Là cây bút tích cực tiếp thu thành tựu nghệ thuật thơ trung đại và đặc biệt cái mới trong thơ phương Tây, Xuân Diệu có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cú pháp mới của câu thơ, cách diễn đạt mới, hình ảnh mới, ngôn từ mới.
Ví dụ trong đoạn thơ cuối, tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp như: ôm (Ta muốn ôm), riết(Ta muốn riết), say(Ta muốn say), thâu(Ta muốn thâu)… Và đỉnh cao của đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời, thể hiện một xúc cảm mãnh liệt và cháy bỏng. Không dừng lại ở đó, tác giả còn sử dụng một hệ thống từ ngữ cực tả sự tận hưởng: chếnh choáng, đã đầy, no nê… diễn tả niềm hạnh phúc được sống cao độ vói cuộc đời.
XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HẦU TRỜI – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY | Phân tích tác phẩm Vội Vàng -Ngữ Văn 11 | 2,481 | |
Đề bài: Phân tích tác phẩm Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài
Bài làm
Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” mà nhà văn Tô Hoài đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được trích từ tập “truyện Tây Bắc” (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này.
Tô Hoài thành công trong “Vợ chồng A Phủ” không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa. Trong “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý và hành động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.
Phân tích tác phẩm vợ chồng A Phủ
Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình ảnh của cô gái “dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mắt buồn rười rượi”. Đó là tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời mình. Thế nhưng “sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Chính vì thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình, trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó.
Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch. Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùa xuân. Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc tình cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi, rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa… Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử đã trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể “trói” được thân xác Mị chứ không thể “trói” được tâm hồn của một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.
Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của mình. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó.
Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay “Dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi”. Tại sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị “sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi” nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, “Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính “dòng nước mắt lấp lánh ấy” đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này”. Lý trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn ác hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay đắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này, chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khi trói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại không đối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh” của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị nhận ra bọn lãnh chúa phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước số phận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này.
Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi, còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân – hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình. Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài – một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…
Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật, tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.
Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn – giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 – 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài.
Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”. | Phân tích tác phẩm Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài | 2,264 | |
Đề bài: Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân
Bài làm
Ngay từ tựa đề của tác phẩm cũng gợi lên sự chua xót, miả mai, một nỗi đau không thể nói thành lời. “Nhặt vợ”, một hành động nghe sao đơn giản và dễ dàng đến như vậy? Điều đó hoàn toàn trái ngược với quan niệm của dân gian:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay
Vậy mà ở đây Tràng đã nhặt được vợ hẳn hoi, trong cơn đói khủng khiếp mà có lẽ “đến năm 2000 con cháu chúng ta vẫn kể cho nhau nghe để rùng mình” đang hoành hành. Cái lạ thường, kì dị của hành động đã tạo nên một tình huống vô cùng độc đáo mang ý nghĩa chi phối toàn bộ tác phẩm. Đã từ lâu, dân làng cái xóm ngụ cư này đã quá quen với hình ảnh vập vạp, thô kệch của Tràng với cái cười “hềnh hệch” vô hồn lúc nào cũng nở trên môi, Tràng nghèo túng, xấu xí hơn cả những con người tồi tàn, bèo bọt ở cái xóm làng thì làm gì có thể lấy được vợ? Thế nhưng hôm nay, bên cạnh cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn lại có cả một người đàn bà rón rén và e thẹn. Điều đó gợi nên sự kinh ngạc cho cả xóm. Sự tò mò, xoi mói cứ lan dần theo từng bước đi của Tràng và người đàn bà trên con đường xao xác, heo hút. Mọi người cứ xì xầm bàn tán “Ai đấy nhỉ! Hay là người nhà bà cụ Tứ mới lên?” “Chả phải, từ ngày còn mồ ma ông cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên thăm đâu?” thỉnh thoảng lại “rung rúc” vang lên tiếng cười đầy ghê rợn như tiếng cú báo hiệu tai ương và chết chóc vọng mãi theo đôi uyên ương về cuối xóm. Mặc cho những lời bàn tán, Tràng vẫn lầm lũi bước dưới những gốc gạo sù sì có “bóng những người đói đi lặng lẽ như những bóng ma thay cho khách” và tiếng quạ gào lên thê thiết từng hồi thay cho pháo cưới. Câu chuyện chìm trong nặng nề và sợ hãi, đầy những cảnh ma quái, đen tối. Cái đói đã luồn những làn gió chết chóc mọi nơi. Vậy mà Tràng lại có vợ “Ôi chao! Biết có nuôi nổi nhau qua được cái thời này không”.
Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân
Tình huống Tràng có vợ gây ra ấn tượng rất mạnh. Cả xóm ngạc nhiên đã đành, mà ngay cả bà cụ Tứ, mẹ Tràng cũng rất ngạc nhiên. Làm sao kể xiết sự sững sờ của bà khi trông thấy người đàn bà đứng ở đầu giường của con mình, lại còn chào mình bằng u nữa. Bà không thể nghĩ rằng con mình lại có vợ, ngay trong cái thời buổi đói kém này. Bà cứ hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn mà càng lúc nó cứ nhoèn mãi ra.
Tình huống càng bất ngờ đến hài hước khi chính Tràng cũng vẫn còn “ngỡ ngàng”. “Ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải. Ra hắn đã có vợ đấy ư?”. Mọi chuyện xảy ra quá bất ngờ, dường như chỉ là cơn mơ. Người đàn bà chỉ gặp mới hai lần lại trở thành vợ hắn. Mà thật ra, hắn cũng không có ý định gì với thị…Thị liều lĩnh đến với hắn chỉ bằng một câu nói suông. Thị theo hắn như phó mặc cho số phận. Cái đói đã đẩy họ đến với nhau.
Trong cái thời tao đoạn ấy, việc Tràng lấy vợ quả là một tình huống oái oăm. Ta sẽ mừng hay lo, buồn hay vui cho cặp vợ chồng này? Tâm trạng của những nhân vật trong câu chuyện chứa đầy những cảm xúc ngổn ngang và mâu thuẫn. Bà cụ Tứ vui vì cuối cùng con mình cũng có vợ nhưng lại tủi vì sự trớ trên của số phận: có phải thời “tao đoạn” như thế, người ta mới chịu lấy con mình? Bà mẹ nghèo nặng trĩu những lo âu cho tương lai của con mình, “liệu chúng nó có nuôi nhau nổi sống qua được cơn đói khát này không?”. Câu hỏi từ tận đáy lòng của bà mẹ “chất chứa nỗi hoang mang, ám ảnh của kiếp bần hàn không lối thoát và cả sự rình rập trước ngõ của cơn ác mộng về cái đói chưa bao giờ dữ dội đến thế”. Trong lòng bà, ta cảm thấy cả nỗi buồn của một người mẹ không được thấy con trong ngày vui, không được một vài mâm làm lễ gia tiên. Trong lời nghẹn ngoài tâm sự của bà có cả sự xót xa, một chút ân hận vì đã không làm được đầy đủ bổn phận của một người mẹ đối với con.
Tâm trạng của Tràng cũng biến đổi liên tục từ khi thị quyết định theo hắn về nhà. Tình huống nhặt vợ mang đầy vẻ bi hài, chỉ bằng những câu bông lơn và bốn bát bánh đúc, thị đã đồng ý làm bạn với hắn. Thị theo hắn dường như để giải quyết nhu cầu ăn. Những chuyện tưởng như rất thô lậu và trơ trẽn nhưng dưới ngọi bút tài tình của Kim Lân, nó trở nên nhẹ nhàng hơn và lấp ló tình thương. Tràng hoàn toàn mờ mịt về tương lai của mình “thóc gạo này đến thân mình còn chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng” nhưng hắn vẫn ra tay cưu mang người đàn bà nghèo khổ. Đói kém đã đẩy đưa người phụ nữ đến với hắn, mang đến cho hắn niềm hạnh phúc của một người có được mái ấm gia đình với bao ước mơ về tương lai dung dị nhưng đầy cảm động. Chính vì thế, hắn nhận ra trách nhiệm của mình đối với hạnh phúc mà mình vừa có được. Lòng hắn chợt loé lên một ý nghĩa được đổi đời, tự dưng hắn thấy ân hận, tiếc rẻ, vẩn vơ, khó hiểu.
Không cần dùng đến những lời lẽ đanh thép hay “đại ngôn” nhưng tác phẩm Vợ nhặt mang đến một giá trị nhân bản vô cùng to lớn. Bằng tình huống đầy bi hài, nó xoáy vào tố cáo chế độ thực dân phát xít, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái đói kinh hoàng. Cái đói mang đến sự chết chóc, tang thương khắp mọi nơi và cũng chính nó làm những giá trị con người bị hạ xuống mức thấp nhất. Con người dường như mất hẳn tính người, chỉ còn sống theo bản năng để được ăn, được sống…Cơn đói khát làm cho ngừoi đàn bà quên cả sĩ diện, được mời ăn “hai con mắt trũng hoáy của thị sáng lên” tức thì, thế rồi “thị sà xuống ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Đoạn văn làm cho bất cứ ai có lương tâm cũng phải xấu hổ, phải quay mặt đi để cười ra nước mắt. Thì làm ta liên tưởng đến bà lão trong Một bữa no của Nam Cao. Con người trở nên trơ trẽn, mất nhân cách khi cái đói lởn vởn trong tâm trí. Giận thị nhưng ta vẫn xót xa trước dáng hình tiều tụy của thị “hôm nay thị rách quá, quần áo tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Cái đói, với bóng đen kinh hoàng của nó bao trùm khắp mọi nơi, đè nặng lên cuộc sống bình thường của mỗi con người. Còn gì thê thảm bằng đám “rước dâu” có tiếng quạ kêu thê thiết đón chào, đêm tân hôn có tiếng ai hờ khóc tỉ tê “có mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”. Thân phận bọt bèo của những con người như Tràng, những cám cảnh bần cùng ấy tự thân nó đã có sức tố cáo mạnh mẽ cái tội ác của thực dân phát xít….
Thế nhưng, chính trong cái cảnh thê lương ấy, những tấm lòng nhân hậu lại sáng ngời lên mà tiêu biểu trong tác phẩm là bà cụ Tứ. Trong lòng người mẹ nghèo ấy lúc nào cũng mang sẵn tình thương con vô bờ bến “vừa ai oán vừa xót xa cho số kiếp của đứa con mình”. Trong cái nhìn đăm đăm vào người đàn bà đang “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt” có sự xót thương, thông cảm sẻ chia. Tình thương con dù bao la đến mấy cũng có thể chỉ làm bà “rủ xuống hai dòng nước mắt”. Cái khổ đau vất vả một đời đã vắt kiệt nước mắt người mẹ. Nó không đủ để chảy thành dòng “rủ” xuống như chết non một cách tức tưởi. Không còn nước mắt nhưng bà vẫn nhận lấy nguy cơ bị cái chết gần thêm bước nữa.
Bằng ngòi bút tài năng của mình, Kim Lân có lúc đã đưa người đọc đến tận cùng màn đêm tối tăm, u ám, nhưng rồi lại nhẹ nhàng hé ra một khe sáng lấp ló đâu đó khiến chúng ta hướng về và vươn tới. Người dân Việt nam mà đại diện là những bà mẹ Tràng, anh Tràng và người đàn bà vẫn khát khao cuộc sống hạnh phúc tươi sáng hơn. “Bà lão nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng sau này”. Trong tâm trí bà đã có sẵn một viễn cảnh tươi sáng gia đình. Niềm vui làm bà mẹ Tràng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác thường, “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. Ta vui lây niềm vui của gia đình hoà thuận, đầm ấm, niềm vui của Tràng được thấy xung quanh mình hôm nay có gì vừa thay đổi mới mẻ, khác thường. Niềm vui bất chợt của gia đình làm ta cười sung sướng nhưng nước mắt vẫn cứ tuôn mãi nghẹn ngào. Ta múôn tha thứ tất cả, kể cả sự trơ tráo của người đàn bà và cả tội phung phí đến hai hào dầu của anh Tràng.
Chỉ một tình huống nhỏ nhoi nhưng Kim Lân đã gợi nên biết bao điều. Mỗi ý nghĩ của tình huống lại mang một giá trị nhân bản,tấm lòng nhân đạo bao la của nhà văn. Chính vì thế, tác phẩm mang đầy tình yêu thương nồng ấm như một ngọn lửa nhỏ lấp loé mãi trong cuộc đời. Và tác phẩm đã cho ta phát hiện thêm một bản chất tuyệt vời nhân hậu., tuyệt vời đức hi sinh của những người nông dân Việt Nam. Dù đứng trước sự mất còn của mạng sống ( hiểu theo nghĩa đen trần trụi nhất) vẫn cưu mạng, vẫn lấy lại phẩm giá để làm người, để sống với hi vọng, với tương lai. Lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh dẫn đoàn người đói khát đi phá kho thóc của Nhật đâu chỉ là mộng tưởng. Cách mạng đã gần kề, suối nguồn của chủ nghĩa nhân đạo sẽ làm sáng lên những con người bình dị nhưng có phẩm chất nhân đạo như cụ Tứ, như Tràng và cô “vợ nhặt” tội nghiệp….Họ sẽ viết tiếp truyện thống về phẩm giá con người Việt Nam trong tương lai. | Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân | 1,951 | |
Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân- Văn lớp 12
Hướng dẫn
Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân- Văn lớp 12
Bài làm
Nhà văn Kim Lân là một tác giả được mệnh danh là bạn của người nông dân, bởi trong những tác phẩm ông viết đều gắn liền với những miền quê trên khắp đất nước Việt Nam. Ông gắn liền ngòi bút của mình với từng số phận người nông dân nghèo khổ vất vả trong chiến tranh, trong chế độ cũ.
Ngòi bút của tác giả đi sâu vào lòng người đọc bởi những tình cảm giả dị, chân thực đời thường nhưng chứa chan tình người, sự nhân văn sâu sắc.
Truyện ngắn “Vợ nhặt” là một tuyệt phẩm của văn học hiện thực nước ta trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và phát xít Nhật.
Truyện ngắn đã khắc họa thành công sự nghèo khổ bế tắc tới cùng của những mảnh đời bất hạnh, những người nông dân nghèo khổ trong chế độ “một cổ hai tròng”
Bằng nghệ thuật tả thực tài tình Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật chính nghĩa những con người hiền lành mộc mạc nhưng lại bị chế độ phong kiến, những kẻ bóc lột áp bức tới đường cùng, không còn lối thoát.
Tác phẩm này lấy bối cảnh là nạn đói kinh điển, lịch sử của dân tộc ta xảy ra vào những năm 1945 khi thực dân Pháp trao Đông Dương cho Nhật, và người dân Việt Nam phải chịu chế độ bóc lột của 3 tầng lớp. Bao gồm giai cấp phong kiến (dù đã lụi tàn nhưng vẫn còn dư âm), thực dân Pháp, và phát xít Nhật.
Với một xã hội nhiều người làm tướng hơn người lao động, thì những người nông dân khốn khổ không đói nghèo sao được. Họ bị đưa đẩy tới cảnh sống không bằng chết, các chính sách sưu cao thuế nặng, bóc lột tận xương tủy người dân.
Truyện ngắn kể về xóm ngụ cư nghèo, nơi mà những người dân tứ xứ về đây cùng nhau chung sống trở thành một địa bàn tái định cư mới, nhưng chẳng ai rõ gốc tích của nhau. Họ cứ sống như thế vật vờ, mờ nhạt đi qua nhau chẳng rõ người hay ma. Bởi bối cảnh đất nước lúc bấy giờ cái ăn cái mặc đã khiến người dân khốn khổ họ không còn tâm trí để mà suy nghĩ tới những người xung quanh mình nữa.
Truyện ngắn Vợ nhặt kể về cuộc đời anh cu Tràng, một con người có ngoại hình bên ngoài thô kệch, quai hàm bạnh ra, hai con mắt tí hí, người thì nghèo nàn, không toát lên vẻ gì là trí thức nho nhã cả.
Gia đình anh cu Tràng cũng không giàu có gì cả, cảnh mẹ góa con côi nuôi nhau nên cuộc sống mưu sinh vốn đã chật vật, thì trong bối cảnh nghèo đói áp bức này càng khốn khổ hơn, chỉ kiếm ngày hai bữa ăn cũng đã khiến con người ta mệt mỏi, đau đầu vì lo lắng.
Một người con trai vừa nghèo, vừa xấu lại không học rộng tài cao, không mồm mép khéo léo thì trong thời đại bình thường chắc chắn rất để cưới được một người vợ. Bởi con gái ai cũng muốn được gả cho một người đàn ông giàu có, hoặc khôi ngô tuấn tú, học hành đỗ đạt, nói năng văn chương nho nhã.
Anh cu Tràng chẳng được điểm nào trong những điểm trên, ấy thế mà trong bối cảnh nghèo đói ấy anh lại lấy được vợ quá dễ dàng. Chính xác hơn là anh nhặt được vợ ngoài đường mang về nhà như nhặt được một cục gạch mà thôi.
Tác giả Kim Lân đã vô cùng tinh tế khi xây dựng thành công tình huống truyện vô cùng độc đáo mới lạ chưa từng thấy trong bất kỳ tác phẩm nào. Tình huống nhặt được vợ đã làm thay đổi cuộc sống, số phận một con người.
Thông qua tình huống nhặt được vợ của anh cu Tràng người đọc cảm nhận được sự nghèo đói của xã hội, khiến họ bị đẩy vào cảnh đường cùng nên một cô gái mới liều mình nhận lời làm vợ chàng trai dễ dàng như thế. Bởi cô rất đáng thương không có nhà cửa, không có người thân một mình lang thang cù bất cù bơ, có lẽ vì mong muốn có một mái nhà, một nơi che nắng mưa, có những người thân bên cạnh nên cô đã nhận lời làm vợ anh cu Tràng dễ dàng như vậy.
Hình ảnh người vợ anh cu Tràng lần đầu xuất hiện là một người phụ nữ đanh đá, hay gạ gẫm người khác mời mình ăn. Trong cái thời buổi đói kém miếng ăn là thứ quan trọng nhất để duy trì sự sống con người cũng còn không có, khiến con người mất dần lòng tự trọng, sự e thẹn của một người con gái. Khi được anh cu Tràng mời ăn, cô gái ngồi thụp xuống húp một lúc bốn bát bánh đúc rồi đứng lên lấy đũa quẹt mỏ, khen “Ngon thật”
Rồi lần thứ hai xuất hiện, thị có vẻ gầy hơn tiều tụy hơn, chiếc nón rách, thân hình gầy đôi mắt trũng lại, sự chua ngoa đanh đá tăng lên. Cô và Tràng không yêu nhưng lại vô tình biết nhau và có duyên gặp gỡ vài lần. Rồi khi thấy Tràng hò một câu hát “Muốn ăn cơm trắng với giò, thì ra đây đẩy xe bò với anh” cô cũng ra đẩy xe phụ Tràng, rồi với vài ba câu bông đùa, Tràng rủ cô về nhà mình ở cùng, cuối cùng cô nhận lời thật.
Giữa xóm ngụ cư nghèo, trong buổi chiều ảm đạm thê lương, mùi xác chết thối vẫn còn bốc lên, tiếng quạ kêu làm tan nát lòng người, từng trận gió thổi lên từ cánh đồng có mùi đất ngai ngái. Hai bên là những dãy nhà nhỏ tối tăm, không có nhà nào có đèn, dù chỉ là đèn dầu. Sự tăm tối, nghèo khó bao trùm lên toàn bộ xóm ngụ cư nghèo khổ ấy. Tràng dắt vợ về nhà khiến cho những hàng xóm tò mò hiếu kỳ phải thắc mắc “ai đấy nhỉ, hay là vợ anh cu Tràng?”
Những tiếng xì xào, bàn tán khiến cho hai con người càng nép lại gần nhau. Họ cứ thế đi bên nhau, nhiều người chép miệng “Thời buổi đói kém này còn rước thêm một miệng ăn”.
Bằng ngòi bút chân thực sinh động của mình, tác giả Kim Lân đã làm người đọc cảm nhận được sự xót xa cho cuộc hôn nhân trong bối cảnh nghèo khổ ấy. Họ lấy nhau không có bất kỳ một vật định tình, đính ước nào, không có nổi mâm cơm ra mắt họ hàng, bà con làng xóm, không báo hỷ, hay có giấy đăng ký kết hôn. Họ lấy nhau chỉ đơn giản là hai mảnh đời nghèo khó ghép lại thành đôi thành cặp.
Bà bỗng nhói lên sự xót xa, thương cho mình mẹ góa con côi dựng vợ gả chồng cho con mà không có nổi mâm cơm, thương cho con trai con dâu bà vì cảnh nghèo khó mà lấy nhau tạm bợ.
Người tha dựng vợ gả chồng trong lúc ăn nên làm ra còn mình…Nhưng rồi bà lại thay đổi suy nghĩ phải gặp cảnh khốn khổ như lúc này thì người ta mới lấy tới con mình, như vậy con mình mới có vợ. Bà cụ Tứ là người có tấm lòng bao dung, lương thiện biết suy nghĩ cảm thông cho người khác.
Bà nhanh chóng chấp nhận cô gái lạ mặt làm con dâu, và thích nghi với cuộc sống khi nhà có ba người.
Từ lúc có vợ anh cu Tràng vui vẻ hơn, còn cô gái thì cũng không còn vẻ chua ngoa đanh đá nữa, mà dịu dàng e thẹn hơn nhiều. Buổi sáng cô cũng dậy sớm lo vun vén nhà cửa ruộng vườn, cùng mẹ chồng lo lắng vườn tược bếp núc.
Hình ảnh nồi cháo cám bữa cơm đầu tiên sau đêm tân hôn, khiến cho người đọc không khỏi nghẹn ngào cảm thương cho những số phận nông dân nghèo khổ trong thời kỳ đó. Một nồi cháo cám, đắng chát trong họng nhưng ai cũng ăn hai bát điềm nhiên, ngon lành chấp nhận thực tại nghèo đói.
Trong bữa ăn tiếng trống thu thuế vang lên người ta nói với nhau về làng Sùng nào đó người dân đã đứng lên đấu tranh không còn phải đóng thuế, rồi có nơi người ta phá kho thóc Nhật chia cho người nghèo… Họ mơ ước về cuộc sống mới, về sự thay đổi. Trong nghèo khó người ta không nghĩ tới cái chết, mà luôn hướng tới sự sống.
Những con người nghèo khổ ấy đang mong muốn tìm lối thoát cho cuộc đời mình. | Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân- Văn lớp 12 | 1,525 | |
Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
Hướng dẫn
Đề bài:Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân – văn lớp 12
Bài làm
Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc và những hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân. Bằng bút pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cùng giai đoạn đó.
Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, ”người chết như nga ra, không buổi sáng nào người trong làng đi chợi, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vấn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói đang hoành hành, đời sống nhân dân thê thảm.
Ngay từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những điều khốn khổ, bần hàn nhất. Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút làm nên cuộc đời của từng nhân vật.
Mở đầu truyện ngắn, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí của một anh nông dân nghèo rách mùng tơi. Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con không buồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Khung cảnh buồn thiu, đầy ám ảnh bao phủ lên xóm nghèo. Trong khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng được tái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái ao nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”.
Tác giả đã thật khéo để xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, mới lạ, làm thay đổi cuộc đời của một con người. Tình huống Tràng “nhặt” được vợ. Là “nhặt” được chứ không phải lấy được. Người đọc nhận ra sự thê thảm, bước đường cùng và đầy éo léo của con người trong xã hội bấy giờ.
Hình anh vợ anh cu Tràng dần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh “ thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén,e thẹn”. Một người đàn bà nghèo khổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cùng cực đúng là một đôi trời sinh.
Giữa cái đưa vợ “nhặt” được về nhà, Kim Lân đã xây dựng nên khung cảnh đìu hiu, ảm đảm của xóm nghèo “từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới gốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ kêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Không còn gì thê thảm và hiu hắt hơn khung cảnh chiều tàn nơi xóm nghèo như vậy. Mọi thứ dường như bị cái đói, cài nghèo đè nén đếm chìm nghỉm. Bằng ngòi bút tả thực sinh động, Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc nhiều chua xót, đắng cay cho những phận nghèo long đong.
Làm vợ một cách bất ngờ, giữa cảnh đói như ngả rạ. Có lẽ cái nghèo đói đã đẩy hai con người đến với nhau, không phải tình yêu nhưng là tình thương. Hẳn người đọc sẽ cảm thông và xót thương cho những mảnh đời dật dờ nơi xóm ngụ cư.
Khi trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và sự chuyển đổi trong tâm tinh thật tài tình và sâu sắc. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu. Chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thaayscos một người đàn bà ở trong…” Sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiển lên. Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu “bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…” Những suy nghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái khiến cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết.
Đây là một chi tiết vô cùng đắt giá trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân khiến người đọc nhớ mãi. Bên cạnh đó hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện của cuối truyện ngắn đã mang đến chút niềm tin và hi vọng về một tương lai tươi sáng hơn.
Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo,độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt. | Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân | 1,038 | |
Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt
Hướng dẫn
Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt
Đọc Vợ nhặt của Kim Lân tôi lại nhớ đến “Một đám cưới nghèo” của Nam Cao với những bóng đen lầm lũi đi trong màn sương chiều nhập nhoạng. Cái đói, cái nghèo ấy sao đầy kinh hoàng và u ám đến thế. Chính cái đói, cái nghèo đó tạo nên cho Vợ nhặt một tình huống hết sức độc đáo và hấp dẫn. Và vì thế, Kim Lân đã đóng góp một truyện ngắn vào loại hay nhất trong văn học Việt Nam hiện đại Ngay từ tựa đề của tác phẩm cũng gợi lên sự chua xót, mỉa mai, một nỗi đau không thể nói thành lời. “Nhặt vợ”, một hành động nghe sao đơn giản và dễ dàng đến như vậy? Điều đó hoàn toàn trái ngược với quan niệm của dân gian: Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà Trong ba việc ấy thật là khó thay Vậy mà ở đây Tràng đã nhặt được vợ hẳn hoi, trong cơn đói khủng khiếp mà có lẽ “đến năm 2000 con cháu chúng ta vẫn kể cho nhau nghe để rùng mình” đang hoành hành. Cái lạ thường, kì dị của hành động đã tạo nên một tình huống vô cùng độc đáo mang ý nghĩa chi phối toàn bộ tác phẩm.
Đã từ lâu, dân làng cái xóm ngụ cư này đã quá quen với hình ảnh vập vạp, thô kệch của Tràng với cái cười “hềnh hệch” vô hồn lúc nào cũng nở trên môi, Tràng nghèo túng, xấu xí hơn cả những con người tồi tàn, bèo bọt ở cái xóm làng thì làm gì có thể lấy được vợ? Thế nhưng hôm nay, bên cạnh cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn lại có cả một người đàn bà rón rén và e thẹn. Điều đó gợi nên sự kinh ngạc cho cả xóm. Sự tò mò, xoi mói cứ lan dần theo từng bước đi của Tràng và người đàn bà trên con đường xao xác, heo hút. Mọi người cứ xì xầm bàn tán “Ai đấy nhỉ! Hay là người nhà bà cụ Tứ mới lên?” “Chả phải, từ ngày còn mồ ma ông cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên thăm đâu?” thỉnh thoảng lại “rung rúc” vang lên tiếng cười đầy ghê rợn như tiếng cú báo hiệu tai ương và chết chóc vọng mãi theo đôi uyên ương về cuối xóm. Mặc cho những lời bàn tán, Tràng vẫn lầm lũi bước dưới những gốc gạo sù sì có “bóng những người đói đi lặng lẽ như những bóng ma thay cho khách” và tiếng quạ gào lên thê thiết từng hồi thay cho pháo cưới. Câu chuyện chìm trong nặng nề và sợ hãi, đầy những cảnh ma quái, đen tối. Cái đói đã luồn những làn gió chết chóc mọi nơi. Vậy mà Tràng lại có vợ “Ôi chao! Biết có nuôi nổi nhau qua được cái thời này không”?
Tình huống Tràng có vợ gây ra ấn tượng rất mạnh. Cả xóm ngạc nhiên đã đành, mà ngay cả bà cụ Tứ, mẹ Tràng cũng rất ngạc nhiên. Làm sao kể xiết sự sững sờ của bà khi trông thấy người đàn bà đứng ở đầu giường của con mình, lại còn chào mình bằng u nữa. Bà không thể nghĩ rằng con mình lại có vợ, ngay trong cái thời buổi đói kém này. Bà cứ hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn mà càng lúc nó cứ nhoèn mãi ra. Tình huống càng bất ngờ đến hài hước khi chính Tràng cũng vẫn còn “ngỡ ngàng”. “Ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải. Ra hắn đã có vợ đấy ư?”. Mọi chuyện xảy ra quá bất ngờ, dường như chỉ là cơn mơ. Người đàn bà chỉ gặp mới hai lần lại trở thành vợ hắn. Mà thật ra, hắn cũng không có ý định gì với thị…Thị liều lĩnh đến với hắn chỉ bằng một câu nói suông. Thị theo hắn như phó mặc cho số phận. Cái đói đã đẩy họ đến với nhau. Trong cái thời tao đoạn ấy, việc Tràng lấy vợ quả là một tình huống oái oăm. Ta sẽ mừng hay lo, buồn hay vui cho cặp vợ chồng này?
Đoạn văn làm cho bất cứ ai có lương tâm cũng phải xấu hổ, phải quay mặt đi để cười ra nước mắt. Thì làm ta liên tưởng đến bà lão trong Một bữa no của Nam Cao. Con người trở nên trơ trẽn, mất nhân cách khi cái đói lởn vởn trong tâm trí. Giận thị nhưng ta vẫn xót xa trước dáng hình tiều tụy của thị “hôm nay thị rách quá, quần áo tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Cái đói, với bóng đen kinh hoàng của nó bao trùm khắp mọi nơi, đè nặng lên cuộc sống bình thường của mỗi con người. Còn gì thê thảm bằng đám “rước dâu” có tiếng quạ kêu thê thiết đón chào, đêm tân hôn có tiếng ai hờ khóc tỉ tê “có mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”. Thân phận bọt bèo của những con người như Tràng, những cám cảnh bần cùng ấy tự thân nó đã có sức tố cáo mạnh mẽ cái tội ác của thực dân phát xít….
Thế nhưng, chính trong cái cảnh thê lương ấy, những tấm lòng nhân hậu lại sáng ngời lên mà tiêu biểu trong tác phẩm là bà cụ Tứ. Trong lòng người mẹ nghèo ấy lúc nào cũng mang sẵn tình thương con vô bờ bến “vừa ai oán vừa xót xa cho số kiếp của đứa con mình”. Trong cái nhìn đăm đăm vào người đàn bà đang “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt” có sự xót thương, thông cảm sẻ chia. Tình thương con dù bao la đến mấy cũng có thể chỉ làm bà “rủ xuống hai dòng nước mắt”. Cái khổ đau vất vả một đời đã vắt kiệt nước mắt người mẹ. Nó không đủ để chảy thành dòng “rủ” xuống như chết non một cách tức tưởi. Không còn nước mắt nhưng bà vẫn nhận lấy nguy cơ bị cái chết gần thêm bước nữa. Bằng ngòi bút tài năng của mình, Kim Lân có lúc đã đưa người đọc đến tận cùng màn đêm tối tăm, u ám, nhưng rồi lại nhẹ nhàng hé ra một khe sáng lấp ló đâu đó khiến chúng ta hướng về và vươn tới. Người dân Việt nam mà đại diện là những bà mẹ Tràng, anh Tràng và người đàn bà vẫn khát khao cuộc sống hạnh phúc tươi sáng hơn. “Bà lão nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng sau này”.
Chỉ một tình huống nhỏ nhoi nhưng Kim Lân đã gợi nên biết bao điều. Mỗi ý nghĩ của tình huống lại mang một giá trị nhân bản,tấm lòng nhân đạo bao la của nhà văn. Chính vì thế, tác phẩm mang đầy tình yêu thương nồng ấm như một ngọn lửa nhỏ lấp loé mãi trong cuộc đời. Và tác phẩm đã cho ta phát hiện thêm một bản chất tuyệt vời nhân hậu., tuyệt vời đức hi sinh của những người nông dân Việt Nam. Dù đứng trước sự mất còn của mạng sống ( hiểu theo nghĩa đen trần trụi nhất) vẫn cưu mạng, vẫn lấy lại phẩm giá để làm người, để sống với hi vọng, với tương lai. Lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh dẫn đoàn người đói khát đi phá kho thóc của Nhật đâu chỉ là mộng tưởng. Cách mạng đã gần kề, suối nguồn của chủ nghĩa nhân đạo sẽ làm sáng lên những con người bình dị nhưng có phẩm chất nhân đạo như cụ Tứ, như Tràng và cô “vợ nhặt” tội nghiệp….Họ sẽ viết tiếp những truyền thống về phẩm giá con người Việt Nam trong tương lai.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt | 1,375 | |
Phân tích tác phẩm Xin Lập Khoa Luận – Ngữ văn lớp 11
Hướng dẫn
Đọc thêm
XIN LẬP KHOA LUẬT
(Trích Tế cấp bát điều)
I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ
1.Về tác giả
Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) xuất thân từ một gia đình theo đạo Thiên Chúa, người làng Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông theo học chữ Hán từ nhỏ, rất uyên thâm về Nho học nhưng không theo con đường khoa cử mà mở trường dạy học. Ông có cơ hội sớm học tiếng Pháp và tiếp xúc với văn minh Tây Âu, có vốn hiểu biết về khoa học – kĩ thuật rộng lớn và chuẩn xác, về chính trị – xã hội thế giới cũng như phương Đông khá sâu sắc và tinh tường. Nguyễn, Trường Tộ nhận ra nhu cầu phải canh tân đất nước. Trước thực trạng nước ta mất dần vào tay quân xâm lược Pháp, ông rất đau lòng, muốn đem tất cả sức lực và trí tuệ của mình cống hiến cho dân, cho nước. Ông lần lượt dâng nhiều bản điều trần lên vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn đề nghị cải tổ đất nước về kinh tế, văn hoá và xã hội nhưng triều đình vẫn làm ngơ trước 58 bản điều trần giàu tâm huyết của ông. Thậm chí, có lúc ông còn bị nghi ngờ.
2.Tri thức văn hoá
a.Dưới thời phong kiến, điều trần là loại văn bản do bề tôi viết để dâng lên vua nhằm thuyết phục bề trên về một vấn đề chính trị, xã hội nào đó. Trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam, Thất trảm sớ của nhà giáo Chu Văn An, các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đều là những văn bản thuộc loại này.
Điều trần là một thể văn chính luận nhằm thuyết phục người đọc, người nghe làm theo đề nghị của người viết, người nói. Bởi vậy, lập luận trong bản điều trần phải chặt chẽ, chứng cứ phải xác thực, ngôn từ vừa mềm dẻo vừa thẳng thắn để nhằm tranh thủ sự đồng tình của các đối tượng mà người viết cần thuyết phục.
b.Xin lập khoa luật thuộc bản điều trần số 27 do Nguyễn Trường Tộ viết ngày 20 – 10 – 1867 mang tên Tế cấp bát điều (Tám việc cần làm gấp). Đó là tám việc sau:
1.Xin gấp rút sửa đổi việc võ bị;
2.Xin họp tỉnh, huyện để giảm bớt số quan lại và khoá sinh;
3.Xin gây tài chính bằng cách đánh thuế xa xỉ;
4.Xin sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng;
6.Xin sửa sang lại biên giới;
7Xin nắm rõ nhân số (số ngưòi – NBS);
8.Xin lập viện Dục anh (viện nuôi dưỡng trẻ mồ côi – NBS) và trại Tế bần (trại cứu giúp những người nghèo khổ – NBS).
Trong việc (4) – Xin sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng – Nguyễn Trường Tộ đề nghị thành lập các khoa sau đây để dạy cho người Việt Nam: khoa nông chính, khoa thiên văn và khoa địa lí, khoa kĩ nghệ, khoa luật học.
II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1.Nguyễn Trường Tộ đặt vấn đề phải lập khoa luật
Cách vào đề của Nguyễn Trường Tộ là trực tiếp, trực diện cốt để nêu bật tầm quan trọng của luật trong cuộc sống, vai trò của luật đối với bất kì ai – dù là người đó làm quan hay là thường dân: “Bất luận quan hay dân, mọi người đều phải học luật nước và những luật mới bổ sung thêm từ thời Gia Long đến nay”. Theo Nguyễn Trường Tộ, luật bao gồm kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia: đất nước muốn tồn tại phải có kỉ cương, nhà nước muốn cai trị dân phải có uy quyền, thông qua các chính sách và pháp luật (chính lệnh). Điều đó chứng tỏ luật bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như cuộc sống của con người.
Do bản điều trần này viết đệ trình lên vua Tự Đức, thuyết phục nhà vua cho mở khoa luật nên ông đã khéo léo làm một việc so sánh, đối chiếu giữa việc hành pháp ở các nước phương Tây văn minh vói việc thực thi đạo tam cương ngũ thường,việc hành chính của sáu bộ ở nước ta thời đó. Theo Nguyễn Trường Tộ, tam cương ngũ thường là xương sống của chế độ phong kiến, là đạo lớn nhất bao trùm mọi quan hệ xã hội và gia đình, mọi cách ứng xử giữa con người với nhau ; lục bộ (sáu bộ) là cơ quan quyền lực trung ương của nhà nước phong kiến. Vì trong luật có đủ cả đạo tam cương ngũ thường, cả việc hành chính của sáu bộ cho nên nhà vua không có lí do gì mà lại không cho thành lập khoa luật để dạy luật cho ngưòi Việt Nam.
Vả lại, việc hành pháp lại tránh cho các quan thi hành luật pháp “không bị một bó buộc nào cả” ; giúp cho nhà vua “không dự vào những việc ngũ hình để tỏ đạo nhân ái”.
Việc đặt vấn đề trực tiếp, rõ ràng như thế làm người đọc (vua Tự Đức) hiểu ngay mục đích vấn đề mà người viết nêu ra trong bản điều trần, bước đầu đã được thuyết phục bởi lí lẽ cũng như thực tế mà người viết viện dẫn.
Việc phê phán Nho học, nho gia được triển khai ở mấy điểm như sau:
-Thứ nhất, Nguyễn Trường Tộ thừa nhận “đạo làm người không gì lớn bằng trung hiếu, không gì cần thiết bằng lễ nghĩa”. Nhưng điều đáng nói ở đây là, ông khẳng định như vậy để mà phủ định nó: đạo ấy muốn trở thành hiện thực phải có luật, không thì chỉ là nói suông, “không làm cũng chẳng bị ai phạt, có làm cũng chẳng được ai thưởng” ; các nhà nho học nhiều nhưng “mấy ai đổi được tâm tính, sửa được lỗi lầm?”.
Để thuyết phục nhà vua, Nguyễn Trường Tộ dẫn lời của chính Khổng Tử – ông tổ của Nho học – để chứng minh cho sự phê phán của mình là đúng: “Ta chưa hề thấy ai nhận được lỗi mình mà biết tự trách phạt”. Đúng là Nho học truyền thống không có tác dụng như luật. Vì vậy, xã hội đã đến lúc cần phải có luật pháp để “cứu nước giúp đời”.
-Thứ hai, Nguyễn Trường Tộ cho rằng vua chúa thống trị được là nhờ hiểu luật chứ đâu chỉ vì xem các sách vở của nho gia xưa để lại. Theo ông, họ không “phụ thuộc” vào sách vở ; các vua chúa chỉ tham khảo thôi chứ dùng để trị dân sao được. Bởi vi, sách vở chỉ là các “sự tích chính sự thời xưa của cổ nhân”, “những bài luận hay ho của người xưa”, “những áng văn chương trau chuốt của chư tử”, “những tiểu thuyết dã sử của những người hiếu sự”,… Tóm lại, sách vở nho gia “chỉ làm rối trí thêm chẳng được tích sự gì”!
Một lần nữa, ông lại dẫn lời Khổng Tử để làm sáng tỏ quan điểm của mình vừa nêu: “Chép những lời nói suông chẳng bằng thân hành ra làm việc”. Mà muốn làm việc phải có luật, về vấn đề này, ông nêu lên tình trạng đáng buồn của phần đông các “con dân” nơi cửa Khổng sân Trình thời đó: suốt đời học chữ thánh hiền nhưng cư xử “còn tệ hơn những người quê mùa chất phác”.
Cách lập luận của Nguyễn Trường Tộ tỏ ra rất sắc sảo, chặt chẽ ; luận điểm rõ ràng, luận chứng và luận cứ có sức thuyết phục, có tính chiến đấu cao, bộc lộ tâm huyết của một nhà trí thức thiết tha với cồng cuộc đổi mới đất nước ở nửa sau thế kỉ XIX.
Để chốt lại vấn đề đặt ra, sau khi lập luận rằng luật pháp có vai trò quan trọng trong việc điều hành chính sự, tổ chức xã hội, rằng Nho học đã tỏ ra không có tác dụng bằng luật, Nguyễn Trường Tộ nâng thành vấn đề quan hệ giữa đạo đức và pháp luật để giả định phản bác quan niệm “luật chỉ tốt cho cai trị chứ không có đạo đức”. Theo ông, luật đâu chỉ là chính trị, đâu “chỉ tốt cho việc cai trị”, mà luật còn là “đức”, là cái đức “chí công vô tư”, là “đức trời”, là “đạo làm người”. Ông phản bác để mà khẳng định: “Nếu tận dụng cái lẽ công bằrìg ở trong luật mà xử sự thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức” ; “Trong luật cái gì cũng công bằng họp vói đức trời”.
Nếu có đọc bản điều trần này thì đến đây, chắc Tự Đức sẽ an lòng, không lo việc lập khoa luật sẽ trái với “đức trời”, vói “đạo làm người” mà hàng nghìn năm bao đòi vua đã cố công duy trì để thống trị xã hội phong kiến Việt Nam.
Tiếc rằng vua Tự Đức, triều đình nhà Nguyễn bấy giờ không chấp nhận. Bản điều trần số 27 cũng như các bản điều trần khác của Nguyễn Trường Tộ đều bị xếp lại.
Xin lập khoa luật là một trong rất nhiều đề nghị của Nguyễn Trường Tộ để canh tân đất nước – để đưa xã hội Việt Nam vào luật pháp, đưa con người sống trong luật pháp nhằm góp phần làm cho Việt Nam thoát khỏi lạc hậu và hiểm hoạ mất nước. Bản điều trần số 27 biểu hiện tấm lòng yêu nước của một trí thức theo đạo Thiên Chúa đi trước thời đại, tiếp cận tư tưởng nhà nước pháp quyền, khát khao muốn đưa đất nước đi lên theo hướng hiện đại, tiên tiến như các nước phương Tây khi đó. Tư tưởng pháp trị mà Nguyễn Trường Tộ trình bày trong bản điều trần vừa có ý nghĩa tiến bộ về luật pháp, vừa có ý nghĩa tích cực trong việc bảo vệ quyền lọi cho người dân thời đó. Cho đến nay, điều này vẫn còn nguyên giá trị.
XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHIẾU CẦU HIỀN -NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY | Phân tích tác phẩm Xin Lập Khoa Luận – Ngữ văn lớp 11 | 1,736 | |
Đề bài: Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hemingway
Bài làm
Hemingway nổi tiếng với phương pháp Tảng băng trôi. Phương pháp sáng tác này yêu cầu sự cô đọng trong phản ánh hiện thực. Do vậy, nét nổi bật trong thế giới ngôn từ của kiệt tác là khả năng kiệm lời. Đặc biệt Hemingway rất hạn chế việc sử dụng tính từ. Còn động từ được dùng để diễn tả hành vi giao tiếp của con người thì hầu như chỉ độc mỗi nói (say) hoặc hành vi tự giao tiếp với chính bản thân nhân vật thì gần như chỉ là nghĩ (think). Chi tiết, hình tượng nhân vật của ông thường mang tính ẩn dụ và biểu tượng cao.
Đoạn trích Ông già và biển cả trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập trung vào hành trình săn đuổi con cá kiếm của ông lão Santiago. Dưới đây là những nét đặc sắc nhất của văn bản.
Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hemingway
1. Cuộc chiến cuối cùng với cá kiếm
Ông lão câu được con cá kiếm vào khoảng trưa ngày đầu tiên. Ngay khi đó, con cá ròng rã kéo ông lão ra khơi xa trong suốt hai ngày đêm. Một con người cô độc, ra khơi chỉ với một chai nước và quyết tâm không gì lay chuyển về việc bắt được con cá lớn xứng đáng với tài nghệ của mình, lúc này đã được đặt vào thử thách quyết định. Liệu lão có chinh phục được con cá kiếm ấy không?
Các nhà nghiên cứu khái quát đặc trưng nhân vật của Hemingway bằng thuật ngữ “Code hero”, có nghĩa là nhân vật mã. Cách định danh này gây không ít tranh cãi. Bởi vì, thông thường mọi sáng tạo nhân vật của bất cứ nhà văn nào cũng đều tuân thủ theo một mã nhất định. Nếu không tạo được cho nhân vật của mình một mã đặc trưng, không thể lẫn thì nhà văn đó được xem là thất bại. Nhân vật của họ không thể đọng lại trong tâm trí người đọc. Như vậy, khái niệm “Code hero” có thể được dùng cho bất kì nhân vật của một nhà văn nổi tiếng nào, thế mà nhân vật của riêng Hemingway lại có được đặc ân đó.
Điều này có nguyên do của nó. Có thể cắt nghĩa như sau: trong số các nhân vật đặc trưng thì nhân vật của Hemingway thuộc dạng đặc trưng nhất hoặc kiểu đặc trưng của nhân vật Hemingway cá biệt đến nỗi không lẫn vào bất kì nhân vật của nhà văn nào khác. Nếu hiểu như vậy thì việc xem nhân vật của Hemingway là nhân vật mã tức các nhà nghiên cứu đã tôn vinh sự sáng tạo tuyệt vời của nhà văn bởi đó là kiểu nhân vật trước đó chưa hề xuất hiện và về sau cũng không có nhân vật nào giống nó.
Đúng vậy, ta có thể kể một số mã của nhân vật Hemingway như sau:
Trong tiếng Anh, để chỉ danh từ nhân vật có hai từ character và hero. Từ hero ít được dùng hơn vì nó ngầm chỉ tính chất anh hùng. Do vậy, khi các nhà nghiên cứu gọi nhân vật của Hemingway là code hero thì họ nhằm ám chỉ phẩm chất anh hùng ở những con người này.
Nhân vật mã của Hemingway luôn được đặt trong môi trường “tới hạn”, có nghĩa môi trường tồn tại của họ khốc liệt đến mức họ luôn bị cái chết rình rập, buộc phải tranh đấu để vượt qua.
Để nhân vật đứng giữa ranh giới sự sống và cái chết, Hemingway muốn tìm xem đâu là cơ sở để con người tồn tại trên thế gian này và yếu tố nào khiến con người cao quý hơn tất cả các sinh vật khác từng tồn tại trên trái đất.
Nhân vật Hemingway buộc phải tự mình tìm một lối thoát theo cách của họ để bảo vệ sự sống của bản thân, tính chất anh hùng được toát lên từ khả năng chống chọi và tìm đường này.
Cách thức để các nhân vật đương đầu với mọi thử thách, ở từng trường hợp khác nhau, có thể là khác nhau nhưng họ đều có cùng điểm chung là dựa vào sự điêu luyện của tay nghề và ý chí, nghị lực.
Nhân vật của Hemingway luôn có ý thức về sự hư vô mà họ phải đương đầu. Họ biết rất rõ rằng mục tiêu tồn tại của họ là chiến đấu chống trả lại cái hư vô đó. Nhưng họ không hề ảo tưởng con người đứng cao hơn số mệnh, cao hơn tự nhiên. Họ biết một khi vượt qua được cái hư vô này họ lại phải đối diện với một cái hư vô khác. Nhưng họ không bao giờ chịu buông xuôi.
Họ chống trả lại thực trạng bằng một “phong độ dưới áp lực” (Phillip Young). Có nghĩa dù đã rơi vào cảnh ngộ sức tàn lực kiệt đến đâu chăng nữa, nhưng hễ còn sống họ phải dốc tận lực ra mà chiến đấu để có thể tồn tại đúng nghĩa một con người.
Hemingway sáng tác trong thời buổi thế giới có nhiều biến động về chiến tranh, về các khuynh hướng tư tưởng, về kinh tế,… Sự tồn tại của con người trong môi trường đó được xem như một cuộc tranh đấu gian nan. Ở góc độ nào đó, tồn tại đồng nghĩa với việc chống trả các thế lực thù nghịch xung quanh. Xuất phát từ cách nhìn này, Hemingway xem nhân vật của mình là những chiến binh trên trận chiến cuộc đời. Hình tượng Santiago được khắc hoạ theo kiểu đó.
Trước hết, nhân vật hiện lên với tư cách là một con người đơn độc. Đây là một phẩm chất thường thấy của người anh hùng. Trong thần thoại hoặc trong sử thi, truyện cổ tích,… nhân vật anh hùng luôn hành động một mình. Điều này cốt để khẳng định tầm vóc phi thường, sức lực vô biên không thế lực nào ngăn cản hoặc một ai sánh nổi. Trong văn bản của sách giáo khoa chỉ có mỗi một ông lão đương đầu với con cá kiếm. Môi trường xảy ra trận chiến là đại dương bao la, nơi không có bất kì một thế lực nào có thể can thiệp. Môi trường này được xem là “tinh khiết” để ghi nhận sức mạnh của hai đối thủ. Con cá cứ kéo, ông lão cứ giữ, cả hai cố làm kiệt sức để huỷ diệt nhau. Đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu đuối sức phải lượn vòng. Điều này có nghĩa ông lão không bị con cá điều khiển nữa mà đang chuẩn bị bước vào quá trình điều khiển con cá. Sự thay đổi vị thế đã khẳng định sức mạnh của ông lão. Thực chất ông lão có phải là kẻ dồi dào sức lực không?
Câu trả lời không khó. Ông lão vừa già lại vừa yếu về sức mạnh cơ bắp. Hemingway thường nhấn mạnh đến yếu tố “già nua” trên cơ thể ông lão. Vậy ông lão lấy đâu ra sức lực để chinh phục con cá? Sức lực của ông lão được huy động từ nhiều nguồn. Trước hết là từ quá khứ oai hùng của lão (nhà vô địch vật tay, người ngang dọc trên đại dương săn rùa, câu cá,…), tiếp đó là sức mạnh từ việc thành thạo tay nghề (hiếm có người nào có tay nghề giỏi như ông lão ở làng chài ấy, dẫu suýt ngất vì kiệt sức nhưng chỉ cần một cú phóng lao, ông lão đã giết chết con cá kiếm), cuối cùng là sức mạnh tinh thần. Ông lão đã chứng minh được điều trước các sinh vật to lớn của đại dương, sức khoẻ cơ bắp của con người quả thật là thảm hại khi mang ra so sánh với chúng, nhưng sở dĩ con người lại trở thành “chúa tể của muôn loài” (theo cách nói của Shakespeare) là nhờ họ sở hữu được một thứ sức mạnh vô song. Đó chính là ý chí, nghị lực thuộc phạm vi tinh thần.
Hành trình đeo đuổi suốt hai ngày hai đêm của ông lão trước đó đã mang lại kết quả. Nó khẳng định chiến thắng của ông lão. Nhưng đấy mới chỉ là khởi đầu, cuộc chiến lúc này mới thực sự bước vào chặng đường gay cấn nhất. Ông lão không hề có ý định bỏ cuộc. Kinh nghiệm cũng như tài nghệ của ông lão được người kể khắc hoạ qua nhiều chi tiết cụ thể, tinh tế. Chỉ cần “cảm nhận áp lực của sợi dây hơi chùng lại”, Santiago biết con cá sắp lượn vòng.
Ông lão không hề bị phân tâm trong suốt quá trình chiến đấu. Lão là một người nhẫn nại với công việc. Không điều gì có thể dứt lão ra khỏi mục tiêu cuối cùng là bắt cho được con cá kiếm. Có thể nói, Santiago toàn tâm, toàn ý trước nhiệm vụ mà thoạt nhìn không nhiều người tin chắc ông lão có thể thực hiện được. Chính lòng cần cù, sự tập trung và quyết tâm cao độ đã cung cấp thêm nguồn sức mạnh vô biên cho lão.
Phẩm chất đáng quý nữa ở Santiago là tính cách luôn hành động. Có thể nói, ông lão là người không bao giờ chịu ngồi yên một chỗ để chờ vận may đến với mình. Trong cuộc chiến đấu đó, một phần con cá cứ liên tục kéo nên ông lão phải căng hết người lên mà chống đỡ, phần khác là vì, bản thân ông lão là con người hành động. Santiago không chịu bó tay trước hoàn cảnh. Sự vận động khẳng định tố chất muốn thể hiện giá trị tồn tại của con người, ngay cả khi sức lực đã già nua. Hơn nữa, với Santiago không hành động đồng nghĩa với việc chết. Lão không muốn chết. Do vậy, Santiago luôn tồn tại trong thế động với các động tác của cơ thể, của tư duy cũng như của ngôn từ.
Lão hết thu dây, thả dây, rồi lại nói, nghĩ (thành lời). Các động tác này cứ luân phiên nhau trong văn bản để tạo nên một con người Santiago đa diện mạo, để khiến cho câu chuyện chỉ viết về một người, một số phận nhưng lại âm vang nhiều cuộc đời, nhiều số phận.
Mở đầu tác phẩm, Hemingway đặt nhân vật Santiago vào vận rủi vô cùng tận với 84 ngày không bắt được cá. Nhưng chính nhờ hành động không mệt mỏi của mình, lúc này ông lão sắp tóm được chú cá lớn xứng đáng với tài nghệ mình như lão hằng mong muốn. Như thế, miệt mài theo đuổi khát vọng lớn trong đời là một đặc trưng của nhân vật mã Hemingway.
2. Cảm giác
Là bậc thầy xây dựng hình tượng ẩn dụ, đa nghĩa,… Hemingway còn là người khai thác rất thành công cảm giác của nhân vật. Bằng cách này, ông khiến cho thế giới nhân vật của mình hiện lên vừa cụ thể sống động nhưng lại vẫn có phần bí hiểm và đầy chiều sâu. Đặc biệt là với ông lão Santiago. Khi sức khoẻ suy kiệt, Santiago chiến đấu với con cá kiếm bằng kinh nghiệm và sức mạnh tinh thần. Kinh nghiệm chủ yếu được thể hiện bằng cảm giác. Điều kì lạ là chỉ bằng cảm giác mà ông lão có thể xử lí hoàn hảo trước mọi động thái của con cá. Điều này cho thấy tay nghề câu cá của ông lão đã vượt qua cả ngưỡng siêu việt. Khai thác cảm giác này, Hemingway mới có điều kiện thuận lợi để xâm nhập sâu vào thế giới tư duy của nhân vật. Nhờ đó mà độc thoại nội tâm của nhân vật đã trở thành phương tiện biểu đạt tính cách nhân vật một cách hoàn hảo, tài tình: “Đúng lúc đó lão cảm thấy một cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây lão đang níu bằng cả hai tay. Thật là sắc và cảm thấy cứng và nặng.
“Lưỡi kiếm của con cá đang quật vào đoạn dây thép đáy, lão nghĩ. Chuyện ấy tất xảy ra”. Hành động ấy của con cá diễn ra dưới mặt nước sâu, nhưng ông lão vẫn nhận ra.
Cảm giác đóng vai trò rất quan trọng trong kĩ thuật tự sự của Hemingway. Nổi bật trong đoạn trích là hai cảm giác cơ bản của Santiago: về sức khoẻ và về việc khuất phục con cá. Văn bản xuất hiện hàng loạt câu đề cập đến các cảm giác này. Người kể sử dụng hai thủ pháp ngôn từ để khắc hoạ. Một là bằng chính ngôn ngữ của mình để miêu tả (“Nhưng lão lại cảm thấy choáng váng”, “Nhưng đã hai lần lão cảm thấy chóng mặt và choáng váng và điều ấy khiến lão sợ”,…). Hai là sử dụng ngôn ngữ của nhân vật (“Lượt tới nó lượn ra ta sẽ nghỉ”, lão nói. “Ta cảm thấy đỡ hơn nhiều. Chỉ hai ba vòng nữa thôi thì ta sẽ có nó”).
Với cách kể này, câu chuyện của Hemingway đan cài nhiều tầng “không khí”. Thường thì độ căng của truyện được đặt ngay trong hành động trực tiếp của nhân vật, nhưng với Hemingway thì trọng tâm truyện bao giờ cũng nằm ngoài câu chuyện, nằm ở cái phần “trống”, phần không nói hết của người kể.
3. Diễn biến
Cuộc chiến của Santiago với cá kiếm diễn ra vô cùng gay cấn. Để giành chiến thắng ta thấy Santiago tiến hành lần lượt các bước sau:
– Thu dây để khiến con cá quay vòng.
– Cầu con cá đừng nhảy bởi sợ mất nó: “Đừng nhảy, cá”. Lão nói. “Đừng nhảy”.
– Cầu Chúa giúp bằng cách hứa đọc kinh: “Chúa giúp ta chịu đựng. Ta sẽ đọc một trăm lần kinh Lạy Cha và một trăm lần kinh mừng Đức Mẹ”.
– Phân tích tình hình: “Mình phải giữ cho nó đừng đau quá, lão nghĩ. Nỗi đau của ta thì không thành vấn đề. Ta có thể chế ngự. Nhưng nỗi đau của con cá thì có thể khiến nó cuồng lên”.
– Di chuyển được con cá: “Ta đã di chuyển được nó”.
– Động viên bản thân: “Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục. Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à”.
– Tập trung sức lực: “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu, lão mang ra đương đầu với cơn hấp hối của con cá”.
– Phóng lao giết chết con cá.
Song song với diễn biến trên là quá trình suy kiệt sức lực của ông lão:
– Khi con cá bắt đầu lượn vòng, lão hãy còn đủ sức để kéo: “Lão chỉ cảm nhận áp lực của sợi dây hơi chùng lại và dùng tay phải, lão bắt đầu nhẹ nhàng kéo vào. Sợi dây chững lại, như¬ mọi khi, như¬ng ngay lúc lão kéo đến điểm sắp đứt thì sợi dây bắt đầu thu vào. Lão lách vai và đầu ra khỏi sợi dây và bắt đầu liên tục kéo nhẹ nhàng”.
– Nhưng rồi cứ phải ra sức níu sợi dây để buộc con cá phải quay vòng, sức lực lão suy kiệt nhanh chóng: “hai giờ sau, mồ hôi ¬ướt đẫm ng¬ười ông lão và lão mệt thấu xương”, “ông lão thấy hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, mồ hôi xát muối vào mắt lão và xát muối lên vết cắt phía trên mắt và trán”,…
– Tiếp đó ông lão “lại cảm thấy choáng váng”, “toát mồ hôi đầm đìa nhưng không phải vì mặt trời mà vì một nguyên nhân khác”, “lão lại thấy xây xẩm mặt mày”, “miệng lão khô khốc không thể nói nổi, như¬ng lúc này lão không thể với lấy cái chai”.
– Đỉnh điểm của việc kiệt sức là sự “lú lẫn đầu óc”. Ông lão bước vào trạng thái chênh chao giữa sống và chết khi “lão nói bằng giọng mà bản thân hầu như¬ không còn nghe nổi”.
– Tại thời khắc đó, ông lão đã biết tự động viên kịp thời: “Hãy giữ đầu óc tỉnh táo và biết cách chịu đựng như¬ một con người”, lão nghĩ. Rồi lão kêu gọi: “Đầu ơi, hãy tỉnh táo”. Bằng cách đó, từng phút giây, lão trở nên mạnh hơn con cá.
Dõi theo mạch trần thuật trên, ta thấy, diễn biến của trận đánh rất gay cấn, được tính theo từng vòng lượn của con cá và tính theo cả chút sức lực ít ỏi còn lại, dần hao mòn của ông lão: “Cứ cái đà này thì không ổn rồi, lão nghĩ. Miệng lão khô khốc không thể nói nổi, như¬ng lúc này lão không thể với lấy cái chai. Lần này mình phải kéo nó cập mạn, lão nghĩ. Cứ thêm vài vòng nữa thì mình sẽ đuối sức”.
Có lúc người đọc ngỡ như ông lão để mất con cá hoặc gục chết trước nó. Thế nhưng, lần nào cũng vậy, lão biết cách xốc lại tinh thần kịp thời: “Lần này mình phải kéo nó cập mạn, lão nghĩ. Cứ thêm vài vòng nữa thì mình sẽ đuối sức. Không, mày khoẻ, lão tự nhủ. Mày luôn khoẻ”. Cuối cùng ông lão đã chiến thắng. Một chiến thắng kì vĩ cho quyết tâm không thể gì lay chuyển.
Trong đoạn trích, cuộc chiến tập trung vào hai đối thủ đã rã rời thân xác. Cả hai đã đấu sức với nhau ròng rã hai ngày đêm. Bây giờ, kẻ nào không trụ vững, kẻ đó không tồn tại. Do vậy ta thấy độ căng của diễn biến được tăng dần theo sự suy kiệt sức lực của hai đối thủ. Trong lúc con cá dần ngoi lên (dấu hiệu của sự thúc thủ) thì ông lão nhiều lần suýt ngất. Nhưng ông lão vẫn gượng dậy. Cuối cùng con cá là kẻ bại trận.
4. Hành động theo cách của riêng mình
Đặc trưng nổi trội nữa trong tính cách nhân vật mã của Hemingway là họ tự xác lập một lối hành động cho riêng mình. Với cách sống đó ta thấy ở họ dáng dấp của kiểu nhân vật hiện sinh.
Santiago là người gần như bị cộng đồng (chỉ còn mỗi thằng bé Manolin quan tâm) và bị cả tạo hoá bỏ rơi (không bắt được cá suốt 84 ngày), nhưng ông lão tin vào bản thân mình. Chỉ cần lão bắt được cá thì mọi sự sẽ chấm dứt. Ở đây tồn tại xung đột ngầm giữa một Santiago bị loại bỏ ra khỏi cộng đồng và một Santiago với cách thức tồn tại riêng của lão bên cộng đồng đó.
Lão hành động như sau: không hề nản chí mà cứ miệt mài ra khơi với hi vọng bắt được con cá xứng đáng với tài nghệ lão. Mục đích ban đầu của lão không phải vì những tiêu chí đánh giá của cộng đồng mà vì ý thức của lão muốn sống một cách tử tế theo cách riêng của lão. Lão đã bắt được con cá mà ngay cả đến trong mơ lão cũng chưa từng gặp. Con cá ấy lớn hơn bất cứ con cá nào trước đó được đưa vào cảng La Havana.
Santiago cũng như các nhân vật thuộc “thế hệ mất mát” đều tin vào các giá trị xác thực, tin vào khả năng của chính bản thân mình. Santiago cầu Chúa giúp là chỉ giúp lão chịu đựng chứ không cầu giúp bắt con cá, có nghĩa lão ý thức được thành quả lao động là phải do chính tay con người làm ra chứ không thể có Chúa nào làm giúp cả. Họ không tin vào những điều trừu tượng, hoa mĩ như những gì Kinh Thánh giảng dạy. Do vậy, việc Santiago hứa đọc kinh cầu Chúa giúp sức chỉ là một “phản xạ văn hoá” nhất thời (vì hằng bao thế kỉ, người phương Tây sống theo những quy chuẩn đạo đức Thiên Chúa giáo). Bởi vì sau đó Santiago không đọc mà lão thầm nhủ: xem như đã đọc rồi. Sự bất tin ấy còn được đẩy đến mức bất kính. Tập trung nhất là ở chi tiết sau khi giết chết con cá ông lão thấy “mắt nó trông dửng d¬ưng như¬ những tấm kính trong kính viễn vọng hay như¬ một vị thánh trong đám rước”.
Không dựa vào Chúa, nhân vật của Hemingway dựa vào chính bản thân mình. Đây là giá trị nhân văn vô cùng to lớn. Santiago đặt ra cho mình mục đích và cách sống. Bây giờ lão đang đi gần đến cái đích; con cá sắp bị lão chinh phục. Không có thế lực nào ngăn cản lão ngoại trừ chính bản thân lão. Đến đây ta bắt gặp một ý tưởng độc đáo của nhà văn: con người trong cuộc khám phá, chinh phục chính bản thân mình. Cuộc chinh phục của lão được tiến hành song song giữa hai đối tượng: đối tượng bên ngoài (con cá) và đối tượng bên trong (khả năng của thể trạng lão).
Hemingway không thật sự tập trung vào việc để nhân vật chinh phục thế giới bên ngoài. Tiêu điểm của ông hướng cả vào việc khai thác thái độ của nhân vật trước hoàn cảnh đó. Với Hemingway, việc đánh một con cá lớn thì ai đó cũng có thể thực hiện được, nhưng qua việc đánh cá đó để kiểm định khả năng tồn tại và ý nghĩa sống của con người, thì chỉ có Santiago thực hiện được mà thôi.
Từ quan niệm này, người đọc sẽ thấy Santiago rất nhiều lần bộc lộ mình qua những đối thoại. Trong cuộc chiến với con cá, ông lão liên tục đối thoại với bản thân với mục đích giữ cho đầu óc tỉnh táo, bàn tay khỏi bị chuột rút, cơ thể khỏi bị đổ sập xuống vì cuộc chiến không cân sức. Khẩu hiệu chiến đấu của lão là tổng động viên mọi bộ phận trong cơ thể: “Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục. Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày ch¬ưa bao giờ bại trận. Lần này ta sẽ lật đ¬ược nó”. Kết quả, nhờ vào ý chí và sự điêu luyện tay nghề, ông lão đã giết được con cá kiếm. Nhưng tâm trạng của ông lão không hoàn toàn phấn khích trước thành quả đó.
5. “Mày đang giết tao, cá à”
Trong văn bản được chọn dạy, người đọc chỉ tiếp xúc với hai nhân vật, ông lão và cá kiếm. Cá kiếm là đối tượng ông lão cần chinh phục để duy trì sự sống vật chất (lão từng nhẩm tính số lượng thịt của cá kiếm có thể nuôi sống một người trong cả mùa đông), đồng thời cũng để khẳng định giá trị tinh thần, vì với lão và với dân làng chài ấy, một khi ngư dân không bắt được cá nữa thì người ấy được xem như đã chết. Cái chết về phương diện tinh thần.
Trong cuộc chinh phục cá kiếm, ông lão cảm nhận được vẻ oai hùng, sòng phẳng, cao thượng,… của con cá nên cảm phục nó, xem nó là bạn, gọi nó là “người anh em”: “Mày đang giết tao, cá à, ông lão nghĩ. Nh¬ưng mày có quyền làm như¬ thế. Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, ng¬ười anh em ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai”. Khoảng cách của người chinh phục và kẻ bị chinh phục đã được rút đến điểm không. Mối quan hệ giữa ông lão và cá kiếm lúc này không đơn thuần là quan hệ triệt tiêu một chiều mà là mối quan hệ đa diện phức tạp.
Ngợi ca con cá và hành động trung thực, sòng phẳng của nó trong cuộc đối đầu với mình, Santiago gợi cho người đọc ẩn ý thầm kín mà tác giả gửi gắm rằng trên đất liền ông lão không còn ai tri âm tri kỉ nữa, cuộc sống loài người đã bị đảo điên ghê gớm các chân giá trị. Santiago không thể và không còn thuộc về thế giới ấy. Sự thẳng thắn, cao thượng của ông lão chỉ có thể tìm được sự tri âm ở chốn biển khơi. Con cá là bạn lão, cũng như đại dương bao la mới đích thực là ngôi nhà thân thiết của con người cô độc Santiago. Giống như mọi nhân vật mã khác của mình, Hemingway kiến tạo một môi trường sống gần gũi với thiên nhiên cho nhân vật. Chỉ quay về với thiên nhiên, nhân vật Hemingway mới tìm được sự lắng dịu tâm hồn, sự đồng cảm. Mối quan hệ giữa ông lão và cá kiếm thể hiện rõ điều này.
Tuy nhiên, không phải lúc nào mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên cũng suôn sẻ như nhan đề chỉ ra (Ông già và biển cả) mà thường xuyên là phức tạp. Mục tiêu của ông lão là giết chết con cá để tìm nguồn sống, nhưng ngay tức khắc ông lão ý thức được rằng con cá là hiện thân của cái đẹp. Lão giết nó đồng nghĩa với việc giết chết cái đẹp. Nhưng lão không thể không giết chết nó. Đây chính là bi kịch muôn thuở của con người.
6. Lão cố thêm lần nữa
Để vượt qua con cá và qua những phức cảm trong tâm hồn, ông lão chỉ còn cách “cố thêm lần nữa”. “Cố gắng” chính là nền tảng thành công của ông lão. Văn bản thường xuyên lặp lại mệnh đề này bằng ngôn ngữ của người kể và ngôn ngữ của chính Santiago:
– Mình sẽ cố thêm lần nữa.
– Lão cố thêm lần nữa.
– Mình sẽ lại cố thêm.
– Lão lại cố và mọi chuyện vẫn như cũ.
– Mình sẽ lại cố thêm một lần nữa…
Cứ một lần cố, ông lão đến gần hơn với chiến thắng. Sau một lần cố, con cá thêm một lần thất thế trước lão. Sự thành công của lão và sự thành công của con người nói chung phải chăng là nhờ những nỗ lực không ngừng trong cuộc đời?
Trong chiến thắng của ông lão, không chỉ có mỗi sự nỗ lực vượt qua những đau đớn thể xác và tinh thần, mà còn có cả quá khứ và tất cả mọi thứ tốt và xấu trong chính con người lão: “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu, lão mang ra đ¬ương đầu với cơn hấp hối của con cá và con cá tiến gần mạn thuyền, từ từ bơi nghiêng, mõm nó gần như¬ chạm vào ván thuyền và sắp sửa vượt qua, dài, sâu, rộng, ánh bạc, vằn tía và bất tận trong dòng n¬ước”. Đớn đau, tàn lực và lòng kiêu hãnh của quá khứ được đặt liền kề. Sức mạnh của Santiago không phải là sức mạnh của người sung sức mà là sức mạnh của tổng thể những gì đã suy thoái. Thế mà lão vẫn chiến thắng con cá. Đấy chính là giá trị tiềm tàng mà chỉ con người mới có được trên hành trình khẳng định sự sống.
7. “Con cá là vận may của ta”
Trên đây chúng tôi đã đề cập đến việc con cá là giá trị vật chất và tinh thần của ông lão. Bên cạnh đó, nó còn là vận may của Santiago. Điều này được chính ông lão thừa nhận. Thì ra ngoài nỗ lực của bản thân, thành quả chiến thắng của ông lão còn nhờ vào sự rủi may của số mệnh.
Rất nhiều lần trong tác phẩm, ông lão xem việc không bắt được cá trong suốt 84 lần ra khơi là do vận rủi. Không chấp nhận điều đó, lão vẫn nuôi hi vọng sẽ bắt được cá lớn. Cuối cùng lão toại nguyện khi câu được con cá khổng lồ. Nhưng con cá kéo lão ra khơi xa. Lão trở thành “con mồi” của con cá. Một sự hoán vị lạ lùng. Ông lão lại trở nên bị động trước con cá. Xem ra khát vọng càng lớn, con người càng bị nô lệ vào đó và rất dễ đánh mất đi sự tự do, tự chủ của chính bản thân mình. Trong trường hợp này, vận may lại trở thành vận rủi. Khi giết được con cá, vận may lại trở về với ông lão. Chỉ có điều, chẳng bao lâu vận may ấy lại chuyển sang vận rủi.
Cơ sự cũng bắt đầu bằng một hành động trái khoáy. Khi Santiago đâm chết con cá, nghỉ ngơi lại sức và tự nhủ: “Bây giờ phải kéo nó vào, buộc chặt và tròng một chiếc thòng lọng vào giữa thân và một chiếc nữa vào đuôi để buộc nó vào thuyền”. Rồi lão gọi: “Đến đây, cá. Nh¬ưng con cá không nhúc nhích. Thay vào đó, lúc này nó nằm ¬ườn mình trên biển và ông lão phải lôi con thuyền lại chỗ nó”. Một lần nữa, ông lão lại mất thế chủ động trước con cá, ngay cả khi nó đã chết. Điều này lại báo hiệu vận rủi và không lâu sau đàn cá mập đánh hơi được mùi máu cá đã xông tới tấn công. Cuối cùng khi đưa được thuyền về bến, Santiago chỉ còn lại bộ xương cá khổng lồ.
Có thể nói hành trình câu cá của ông lão là ẩn dụ cho hành trình rủi may của kiếp người. Trong đời rủi may luôn cận kề, không dễ gì nắm bắt và có thể hiểu hết. Hemingway khắc hoạ hình tượng nhân vật đầy ý chí, nghị lực, tài năng để vượt qua những rủi may ấy. Hành trình sống của họ hết đi từ điều may rủi này sang điều may rủi khác. Mọi phấn đấu của họ rốt cuộc sẽ cũng không thoát khỏi cái vòng rủi may kia. Và cuối cùng là cái chết – hư vô. Dẫu thế, nhân vật của Hemingway không bao giờ chịu khuất phục. Họ sống để khẳng định một điều, ngay cả lúc tả tơi nhất của số phận, con người vẫn luôn biết ngẩng cao đầu, kiên trì chịu đựng (chịu đựng như một con người), biết chiến đấu để vượt qua. Và đây là ý nghĩa sống tích cực nhất cho mọi lẽ sống: “con người có thể bị huỷ diệt chứ không chịu khuất phục” trước mọi thế lực bạo tàn./. | Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hemingway | 5,200 | |
Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hê-Minh-Uê
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hê-Minh-Uê.
Ơ-nít Hê-minh-uê (1899-1961), nhà văn xuất sắc của nền văn học hiện đại Mĩ, được Giải thưởng Nô-ben năm 1954. Tác phẩm Ông già và biển cả (1952), kể về hành trình săn đuổi và chinh phục con cá kiếm khổng lồ của một ông già trên biển cả, nhưng cuối cùng con cá khổng lổ ấy lại bị đàn cá mập tấn công, rỉa thịt đến mức chỉ còn bộ xương. Thiên truyện là một ẩn dụ về hình ảnh con người theo đuổi những khát vọng lớn lao, dù cuối cùng thất bại, nhưng vẫn bất khuất không chùn bước. Bên cạnh đó là một nghệ thuật độc đáo với nguyên tắc kể chuyện "cứ bảy phần của nó chìm cho một phần nổi" – đó chính là "nguyên lí tảng băng trôi" trong kể chuyện do chính Hê-minh-uê đề xuất. Thiên truyện thể hiện rõ nét sức thuyết phục lớn lao của tư tưởng và văn tài của Hê-minh-uê đối với Giải thưởng Nô-ben.
Đoạn trích trong sách giáo khoa nằm ở giữa thiên truyện, diễn tả cảnh ông lão chiến đấu ngoan cường với con cá kiếm và bắt được nó.
1.Con cá kiếm khổng lồ – vẻ đẹp và sức mạnh siêu việt của tự nhiên
Sau tám mươi tư ngày lênh đênh trên biển cả không đánh bắt được con cá nào, ngày thứ tám mươi lăm, ông lão gặp một con cá kiếm khổng lồ. Suốt hai ngày đầu, con cá dù đã mắc câu nhưng vẫn chưa chịu khuất phục, nó lôi ông lão đi dọc ngang trên biển. Đến khi nhìn thấy con cá đuối sức nổi lên mặt nước, chính ông lão, người thợ câu già dặn của biển cả, cũng phải kinh ngạc: Thoạt tiên, lão thấy một cái bóng đen vượt dài qua dưới con thuyền đến mức lão không thể tin nổi độ dài của nó: không, nó không thể lớn như vậy được ; cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt dại dương xanh thẳm ; thân hình đồ sộ và những sọc màu tía trên mình ; cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xoè rộng ; con cá lại tiếp tục lượn vào theo vòng tròn của nó trông điềm tĩnh và tuyệt đẹp, chỉ có cái đuôi đồ sộ cử động ; mõm nó dài, rộng, ánh bạc, vần tía và bất tận trong dòng nước, cái vây ngực đồ sộ, vươn cao trong không trung, phóng vút lên khỏi mặt nước, phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ dẹp và sức lực,… Một con cá to lớn và tuyệt đẹp. Đó chính là vẻ đẹp của thiên nhiên, một vẻ đẹp khổng lổ xứng đáng với cái rộng mênh mông, hùng vĩ của biển cả, nơi luôn chứa đựng bao điều bí mật và những sức mạnh cũng như những hiểm hoạ không lường.
Vẻ đẹp khổng lồ, rực rỡ cũng như sức mạnh ấy của con cá khiến ông lão cũng phải thán phục: Tao chưa bao giờ thấy hất kì ai hùng dũng, duyên dáng, hình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ. Con cá như là sản vật của tự nhiên mà con người bằng mọi gan dạ, mưu trí để chinh phục, là vận may của con người sau mọi gian truân, vất vả tìm kiếm. Nó được tôn trọng, được bình đẳng với con người về vẻ đẹp và sức mạnh. Vì thế trong trận chiến với con cá kiếm này, ông lão coi con cá như một người anh em, một con người thật sự. Vì vậy, ông có những lời nói âu yếm với con cá: ta chỉ thạo hơn cu cậu ở mỗi cái trò mánh lới; còn cu cậu thì đâu có làm hại ta chút máy may, cu cậu sẽ đưa ta vào tới bờ… Trong những lời trò chuyện của ông với con cá, ông coi đó như là một người bạn cùng chiến đấu trong một trận thể thao giao hữu, chứ không phải là trận quyết chiến với kẻ thù. Điều đó cho thấy sự hoà đồng, tôn trọng, thán phục của ông lão với vẻ đẹp và sức sống vô tận của biển cả.
2.Ông lão đánh cá – người chinh phục thiên nhiên
Để chiến thắng được sức mạnh khổng lồ ấy, ông lão đã phải vận dụng hết kinh nghiêm, trí thông minh, lòng dũng cảm của một ngư dân sống cả đời trên biển.
Cuộc chiến của ông lão với con cá khổng lồ là cuộc chiến gay go và ngoan cường, khẳng định sức mạnh cả tinh thần và thể chất của con người.
Ngày thứ ba, con cá bắt đầu mệt mỏi và dần khuất phục ông lão. Ông lão đã già, quá già, lại cộng thêm quá mệt mỏi vì suốt hai ngày đêm bị con cá kéo chạy dọc ngang trên biển, chỉ ăn một chút cá sống, uống nước cầm hơi, ông gần như kiệt sức: mồ hôi ướt đẫm người, lão mệt thấu xương ; hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ ; mồ hôi xát muối vào mắt lão ; hai lần lão cảm thấy chóng mặt và choáng váng ; chưa bao giờ mình mệt như thế này ; lão lại thấy xây xẩm mặt mày ; lão cam thấy choáng váng, đau đớn và không nhìn rõ ; lão cảm thấy mình sắp ngất đi,… Ông một mỏi và suy sụp đến nỗi: lòng kiêu hãnh cũng đã mất từ lâu.
Nhưng ông lão vẫn kiên cường, không bỏ cuộc. Bởi lẽ, cuộc đấu với con cá được ông lão coi là một cuộc đấu thực sự không chỉ vì mưu sinh mà còn vì danh dự của con người sinh sống lâu đời trên mặt biển. Ông lão luôn tự động viên mình: mày khoẻ, mày luôn luôn khoẻ ; đầu ơi, hãy tỉnh táo, mình sẽ cố thêm lần nữa ; hãy đứng vững, đôi chân kia ; tỉnh táo vì tao, đầu à, bọn mày chưa bao giờ bại trận,… Với những kinh nghiệm và trí thông minh của người đánh cá lão luyện, ông đã dồn sức để bắt con cá: thả dài dây câu, kéo dây, nới dây, thu dây về,… để con cá, dù có sức mạnh ghê gớm nhưng không thể tuột ra khói bàn tay già dặn kinh nghiệm của ông lão. Ông lão còn vận dụng cả kinh nghiệm về các cơn gió và con sóng để lựa đường kéo con cá. Con cá rất khoẻ, không dễ khuất phục, nhưng ông lão còn bền bỉ hơn nó bởi kinh nghiệm, đặc biệt là ý chí.
Để nói vể ý chí và sức chịu đựng của ông lão, ý nghĩ ấn tượng nhất của ông lão trong đoạn trích này là: Hãy giữ đẩu óc tỉnh táo và biết cách chịu đựng như một con nguời. Hay như một con cá. Điều đó có nghĩa là sự chịu đựng của con người luôn thể hiện trong trạng thái lặng lẽ, âm thầm, cô đơn, không thể chia sẻ, chi có mình mang hết mọi gánh nặng cuộc sống trên thế gian này. Một ý nghĩ mang tính triết lí.
Cuối cùng, dồn tất cả mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lảu, để đương đầu với cơn hấp hối của con cá, ông lão đã phóng lao vào con cá. Hình ảnh ông lão đứng trên đôi chân già nua, run rẩy, nhấc cao ngọn lao hết mức, vận hết sức bình sinh để phóng mũi lao vào đúng trái tim con cá, là hình ảnh tuyệt đẹp, như một bức tượng đài về sự chiến thắng đầy gian khổ của con người trong công cuộc chinh phục tự nhiên.
Ông lão đã chiến thắng: bắt được con cá kiếm khổng lồ. Đối với ngư dân, bắt được cá, mà cá càng to thì niêm vinh dự, lòng kiêu hãnh càng lớn. Con cá là vận may của ông lão sau hơn tám mươi ngày ròng rã lênh đênh trên biển. Bên cạnh việc đánh bắt cá như một phương tiện mưu sinh (ông lão đã từng tính, con cá nặng hơn nứa tấn, giá ba mươi xen (cent) một pao (pound) thì sẽ được bao nhiêu tiền), bắt được nhiều cá và cá lớn là minh chứng cho những kinh nghiệm nghề nghiệp, vận may trên biển, là thành quả của ý chí và lòng quả cảm của con người. Đó là sự chiến thắng thật sự vinh quang của con người lao động đầy mưu trí và lòng dũng cảm.
Nhưng con người anh hùng ấy thực ra lại là con người rất bình thường. Chân dung ông lão hiện lên với tất cả khả năng cũng như những giới hạn của con người: vừa kiên cường, dũng cảm, vừa đầy ý chí và nghị lực nhưng cũng bình thường, yếu đuối và nhỏ bé.
Đây chính là một trong những đặc điểm nổi bật của nhân vật trong tác phẩm của Hê-minh-uê. Nhưng có lẽ, đặc điểm ấy mới thể hiộn đúng đắn nhất hình ảnh thật của một con người anh hùng trong cuộc đời.
3.Nguyên lí tảng băng trôi – nghệ thuật kể chuyện đặc sắc
Tác phẩm là thiên truyện minh chứng rất rõ cho "nguyên lí tảng băng trôi" do tác giả đề xuất. Sự kiện hầu như không có gì: đuổi theo cá, cá cắn câu, bắt cá và bị cá mập tấn công, chống trả và về đến bờ trong thất bại. Tâm trạng nhân vật chủ yếu bộc lộ qua độc thoại nội tâm mang tính đối thoại. Nhà văn rất có ý thức nhường lời cho nhân vật, cố giấu mình hết mức. Hình ảnh ông già Xan-ti-a-gô được miêu tả cô đọng đến mức tối đa. Tất cả đoạn trích kể về chuyện ông lão bắt cá dường như chỉ là những lời được nhắc lại qua cảm giác và những độc thoại nội tâm của ông lão. Có khá nhiêu cụm từ như lão nói, ông lão nói, lão nghĩ, lão thấy, lão cảm thấy, cám giác,… báo hiệu hình thức ngôn ngữ độc thoại nội tâm, một biện pháp phổ biến trong tác phẩm của Hê-minh-uê. Với điểm nhìn được đặt vào nhân vật như vậy, bộ mặt tâm lí ông lão hiện lên rất rõ: dù mệt mỏi, suy sụp, ở ông lão vẫn tiềm tàng sức mạnh, ý chí và lòng quả cảm.
Đấy là phần nổi của câu chuyện, một phần của "tảng băng trôi", còn "bảy phần chìm" của tác phẩm là ở đâu? Đó là ở những hình ảnh mang tính ẩn dụ và tượng trưng cao của câu chuyện.
Bên cạnh cá kiếm như là biểu tượng của vẻ đẹp và sức mạnh hùng vĩ của tự nhiên bị con người chinh phục, biểu tượng của sự chiến thắng và chinh phục của con người trước tự nhiên thì đàn cá mập lại là hình ảnh của cái xấu xa, hung dữ, khát máu, là sức mạnh cuồng nộ, man dại và khủng khiếp của tự nhiên mà con người không tài nào thắng nổi.
Ngoài ra, còn có thể dẫn ra nhiều cách hiểu về hình tượng ông già và biển cả. Người thì cho rằng, đánh bắt cá, đặc biột là cá lớn là sự khẳng định sự tồn tại của con người (G. Ca-rây). Có người khẳng định: Ông già và biển cả là bài ca ca ngợi sức sống quật cường của con người (Lê Đình Cúc). Người thì phát hiện: tác phẩm miêu tả cuộc vật lộn gay gắt giữa con người với thiên nhiên đầy chân thực ; từ đó nâng lên tầng ý nghĩa thứ hai, nêu cái quyết liệt, tàn bạo của đời sống và khả năng chống trả của con người (Phùng Văn Tửu). Thậm chí, có người còn cho rằng Xan-ti-a-gô là biểu tượng của Chúa: nhọc nhằn, vất vả, đầy sức mạnh, lòng can đảm, tình yêu mãnh liệt, đấu tranh ngoan cường với số phận bi đát,… Xan-ti-a-gô còn là một huyền thoại: con người sinh ra là để chịu đựng, đương đầu với những khó khăn, gian khổ, rủi ro, thất bại, nhưng không bị đè bẹp bởi số phận mà vẫn vươn lên, tiềm tàng những khát vọng lớn.
Ông già Xan-ti-a-gô là biểu tượng hùng vĩ của con người chinh phục biển cả, một mình đơn độc bắt cá và chống trả lũ cá mập khát máu. Suy rộng ra, đó cũng là biểu tượng của con người trên đường chinh phục thế giới, thực hiện khát vọng, mơ ước của mình một cách ngoan cường. Nhưng mặt khác, đó vẫn là con người bình thường, yếu đuối, đơn độc, rất đỗi con người.
Ông già và biển cả – câu chuyện một ông già đơn độc tự chiến đấu, chiến thắng và thất bại trên biển cả – xứng đáng được xem như một thiên anh hùng ca về con người và hành trình con người thực hiện những khát vọng lớn lao của mình bằng ý chí và lòng dũng cảm. Tác phẩm đã được sáng tạo với một nghệ thuật đặc sắc: nhân vật chủ yếu tự bộc lộ bằng cái nhìn bên trong – độc thoại nội tâm được khai thác triệt để ; các chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ được lựa chọn nghiêm ngặt, tạo tính hàm súc, đa nghĩa ; các sự kiện được giản lược đến mức tôi đa… Thiên truyện quả là một kiệt tác. | Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hê-Minh-Uê | 2,312 | |
Phân tích tác phẩm ông già và biển cả
Hướng dẫn
Phân tích tác phẩm ông già và biển cả
Bài làm
Nhắc đến nguyên lí tảng băng trôi là chúng ta lại nhớ tới nhà văn nổi tiếng Hê minh uê. Có thể nói rằng ông là một nhà văn vĩ đại nhất nước Mỹ ở thế kì 20, ông đã để lại nhiều tiểu thuyết có giá trị viết về cuộc sống, trong đó nổi bật nhất là tác phẩm ông già và biển cả.
Ông là một nhà văn đề xướng lối viết kiệm lời nhưng lại rất giàu ý nghĩa, được xem là nguyên lí tảng băng trôi. Theo ông thì một tác phẩm phải được viết theo nguyên lí tảng băng trôi, nguyên lí này đòi hỏi con người khi đọc phải biết chiêm nghiệm mới thấy được cái hay của nó. Nhà văn không trực tiếp không trực tiếp chỉ ra ý tưởng của mình mà ông xây dựng nhiều hình tượng có nhiều sức gợi, có những câu văn lại bỏ lững hoặc là để trống để cho mọi người tự chiêm nghiệm và suy nghĩ tự hiểu ra ẩn ý của tác phẩm.
Về tác phẩm thì nhân vật chính là ông già Xantiago,là một ông già đánh cá người Cu ba. Ông đã 74 tuổi và trong suốt 84 ngày liền lão không câu được bất cứ một con cá nào dù nhỏ hay to. Chính vì vậy bố mẹ của cậu bé Ma nô lin cấm không cho đi câu chung với lão nữa. Người ta cho rằng ông đã gặp phải vận xui. Với ý chí không chịu khuất phục mà ông đã quyết định ra khơi để đánh cá một mình và rồi câu chuyện được bắt đầu từ đây.
Qua những hình ảnh trên cho thấy được nhà văn đã dùng những từ ngữ hay gọn nhất để có thể miêu tả về con cá kiếm. Con cá ấy lớn đến nỗi làm cho ông lão cảm thấy đang buộc một con thuyền lớn hơn vào chiếc thuyền của mình. Ngay khi đó thì con cá đã kéo ông lão ròng rã suốt hai ngày ra khơi, trong suốt hai ngày này ông chỉ cô độc với chai nước và ông quyết tâm phải bắt cho được con cá để cho xứng đáng với tài nghệ của mình Và một cuộc chiến giữa ông già và con cá bắt đầu từ đó, một cuộc chiến không cân sức.
Về phía con cá nó cũng tỏ ra ngoan cố và không chịu khuất phục dưới bàn tay của ông lão. Khi thấm mệt thì nó lại chậm rãi, có khi ông lão còn tưởng rằng bắt được nó nhưng nó lại bơi ra xa.
Qua đây chúng ta thấy được ý đồ nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi gắm qua hình tượng con cá kiếm,đó là một hình ảnh mang sự bất khuất không chịu nhún nhường trước gian khó của cuộc sống. Không những vậy con cá còn là biểu tượng của thiên nhiên, nó còn thể hiện cho ước mơ và khát vọng của con người.
Về phía ông lão thì tỏ ra vui mừng khi thấy con cá nhưng ông biết là mình còn phải chiến đấu với nó nhiều để còn đi về. Đây là một cuộc chiến không cân sức, nó cũng rất mạnh,mạnh hơn cả lão thế những lão vẫn không chịu khuất phục mà vẫn kiên quyết để bắt được con cá về bằng được. Ông cảm nhận với những vòng luộn qua sợi dây, hành động nhất quyết của ông đã phóng lao trúng tim của con cá. Cuộc chiến tuy không cân sức nhưng cuối cùng ông đã thu phục được nó.
Qua đây chúng ta đã thấy được sức mạnh và vẻ đẹp về hình tượng của ông lão. Đặc biệt là sự thắng lợi của con người trong quá trình chinh phục mọi thử thách.
Thế nhưng cái thắng lợi của ông già lại không hề dừng lại ở đây, kết cục thật đáng thương tâm bởi ông bắt được nó huy hoàng như thế nhưng đến khi vào được đến bờ thì đàn cá mập cũng rỉa hết thịt rồi chỉ còn trơ trọi lại mỗi bộ xương không. Nhưng điều này không quan trọng, quan trọng là ông lão đã thắng nó. Đó chính là điều mà nhà văn muốn gửi gắm tới con người những ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.
Như vậy qua đây ta thấy được nguyên lí tảng băng trôi của Hê Minh uê và tác phẩm ông già và biển cả. Qua tác phẩm chúng ta thấy được những phần chìm nổi của nó và cho chúng ta học tập được lối hành văn kiệm lời này của tác giả. | Phân tích tác phẩm ông già và biển cả | 798 | |
Phân tích tác phẩm Đây Thôn Vĩ Dạ – Ngữ Văn 11
Hướng dẫn
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
I – NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ
1. Về tác giả và xuất xứ bài thơ
-Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mĩ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay là tỉnh Quảng Bình) trong một gia đình viên chức nghèo theo đạo Thiên Chúa. Sau khi học trung học ở Huế, ông làm ở Sở Đạc điền Bình Định, sau đó vào Sài Gòn làm báo. Năm 1936, do mắc bệnh phong nên ông về hẳn Quy Nhơn chữa bệnh rồi mất ở trại phong Quy Hoà.
Cuộc đời Hàn Mặc Tử tuy ngắn ngủi, nhiều “đau thương” nhưng sức sáng tạo của ông lại rất dồi dào, mạnh mẽ. Hàn Mặc Tử nổi tiếng là thần đồng thơ ở Quy Nhơn lúc mới 14 – 15 tuổi. Ông sáng tác thơ vói nhiều bút danh. Hàn Mặc Tử bắt đầu con đường thơ bằng thơ Đường luật ; khi phong trào Thơ mới khởi phát, ông chuyển sang khuynh hướng lãng mạn. Hàn Mặc Tử vẫn được đánh giá là hiện tượng thơ kì lạ bậc nhất của phong trào Thơ mới.
-Xuất xứ bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ khá đặc biệt. Hồi làm ở Sở Đạc Điền tỉnh Bình Định, Hàn Mặc Tử đem lòng yêu con gái ông chủ Sở, người Huế, tên là Hoàng Thị Kim Cúc. Hai ngưòi chưa tỏ lòng nhau thì Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo. Ra đi mà lòng vẫn hi vọng. Đến lúc trở lại Quy Nhơn mới hay Hoàng Cúc đã theo cha về hẳn ngoài Huế, Hàn Mặc Tử vô cùng đau khổ. Về sau, khi biết tin Hàn Mặc Tử lâm bệnh hiểm nghèo, theo lời khuyên của Ngâm – người em họ Hoàng Cúc và cũng là bạn thân của Hàn Mặc Tử – Hoàng Cúc đã gửi vào cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh phong cảnh. Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng (hay ánh mặt trời) chiếu xuống mặt nước, với lời thăm hỏi sức khoẻ mà không kí tên, rồi nhờ Ngâm gửi. Nhận được tấm bưu ảnh ấy trong nỗi cô đơn, xa cách với tất cả, Hàn Mặc Tử vô cùng cảm kích. Thế là bài Đây thôn Vĩ Dạ ra đời. Cảm hứng thơ thức dậy từ tấm bưu ảnh nhưng nó là tiếng lòng đầy uẩn khúc của một tình yêu đơn phương mãnh liệt mà vô vọng, là nỗi khát sống, niềm thiết tha gắn bó với cuộc đời của một thi sĩ gặp “hoạn nạn nơi trần thế” khi tuổi còn rất trẻ.
2.Tri thức văn hoá
Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ trong sáng nhưng lại được Hàn Mặc Tử xếp vào tập Thơ Điên (về sau đổi là Đau thương). Đặc trưng chủ yếu của tập thơ này đã được các nhà nghiên cứu xác định như sau:
-Điệu cảm xúc đặc thù là đau thương ;
-Hình tượng chủ thể trữ tình là “cái tôi” li hợp bất định (vừa là mình vừa tự phân thân) ;
-Mạch liên kết trong tập thơ là dòng tâm tư bất định với những đứt nối đầy bất ngờ ;
-Lớp ngôn từ nổi bật của tập thơ là lớp từ cực tả.
Có lẽ ở bài Đây thôn Vĩ Dạ, dạng cảm xúc là nỗi khát khao nhuốm đau thương với những uẩn khúc của nó cùng mạch liên kết đứt – nối, ngôn từ thơ có thiên hướng cực tả rải rác trong bài thơ này nên Hàn Mặc Tử mới xếp nó vào tập Thơ Điên. Điều này cần được lưu ý trước khi phân tích bài thơ.
II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
1.Kết cấu bài thơ
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có ba khổ thơ, mỗi khổ là một cảnh sắc, một tâm tình ngỡ như không có liên hệ gì với nhau nhưng thực ra vẫn có chỗ liền nhau. Đó là trạng thái xúc cảm – một dòng chảy gồm những đứt – nối của lòng yêu cuộc sống đến khắc khoải. Đây cũng chính là nét độc đáo của bài thơ này.
-Khổ 1: Cảnh hàng cau, vườn thôn Vĩ dưới ánh nắng ban mai đẹp tinh khôi. Ẩn trong cảnh là nỗi ước ao, niềm đắm say của nhân vật trữ tình.
-Khổ 2: Cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo. Nhân vật trữ tình dường như mong ngóng, lo âu.
-Khổ 3: Cảnh trong mộng. Cảm xúc của nhân vật trữ tình là hoài nghi, mơ mộng.
2.Phân tích từng khổ thơ
a.Khổ thơ thứ nhất
Mở đầu bài thơ là câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Lời thơ khơi dòng thi tứ là một câu hỏi trong tâm tưởng nhà thơ như muốn khẳng định lời thăm hỏi của người thôn Vĩ – người ông vẫn thầm yêu trộm nhớ – không phải trong mơ mà là có thật; và như thế, thi sĩ như phân thân để nói với mình về Cúc: “Em bảo sao anh không về thôn Vĩ ư?”, “Sao mình lại không về thôn Vĩ nhỉ?”… Câu thơ như một lời gió thoảng, nhỏ nhẹ, êm ru và ngọt ngào kiểu Huế. Tấm bưu ảnh và những dòng chữ do chính Hoàng Cúc viết đến với nhà thơ lúc bệnh tật, cô đơn như là một liều “thần dược”. Bỗng chốc sinh lực như được hồi sinh, đất trời mở ra tràn đầy sức sống, những hình ảnh về thôn Vĩ ngày xưa, thời Hàn Mặc Tử còn là cậu học trò Trường Pe-lơ-ranh ở Huế, cùng lúc hiện về, tưoi rói, đẹp tinh khôi:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Cảnh thôn Vĩ chỉ còn như vậy, ít nét, mơ hồ, không xác định bởi vì đó là cảnh trong cõi nhớ, là những ấn tượng được lưu giữ ở miền kí ức. Nói đến hàng cau vì hàng cau vươn cao đón được nắng mới lên sớm nhất. Nhớ hàng cau bởi vì nhớ cái sắc nắng trong khoảnh khắc hàng cau đón những tia nắng ban mai tinh khiết mà rực rỡ ấy. Cảnh trí vườn tược nhập nhoà đường nét, chỉ còn lại là một ấn tượng về màu xanh mướt mát xanh như ngọc. Cái mướt của vườn đáng nhớ có lẽ vì cái sắc nắng của hàng cau rọi xuống. Rồi không rõ vì sao từ trong kí ức lại trở về một bức chân dung đẹp rất Á Đông: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”…
Đọc khổ thơ này – khổ thơ vui nhất của bài – nhiều người nghĩ rằng có thể tình cảm đặc biệt của chàng thi sĩ họ Hàn dành cho cô gái Huế có tên Hoàng Thị Kim Cúc những năm xưa vẫn ấp ủ, giấu kín trong lòng nay bỗng được đánh thức. Vì thế nên cảnh mới đẹp, mới trong, mới rạng ngời như tình yêu mới chớm nở ở thuở ban đầu lưu luyến ấy. Mà cảnh là ẩn tình – là nỗi ước ao được sống, được yêu đắm say mãnh liệt.
b.Khổ thơ thứ hai
Bốn câu ở khổ thơ này chẳng có liên hệ gì vói bốn câu trên, chẳng còn hàng cau với “nắng mới lên”, chẳng còn “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, cũng chẳng còn “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” nữa. Niềm yêu rạo rực, ngắn ngủi trước vẻ đẹp của tình người, của cảnh đời bỗng vụt tắt. Ấy là vì thi sĩ chợt tỉnh mộng yêu, đối diện với sự thật hiện hữu: giữa thân phận mình với người thôn Vĩ kia là một hố sâu ngăn cách – sự ngăn cách còn đáng sợ hơn nhiều nỗi xa cách về không gian. Đó là chứng bệnh nan y như một bản án tử hình chờ ngày hành quyết. Thi tứ Hàn Mặc Tử lại vụt bay đến cõi đau thương đối lập:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Do trực cảm về sự chia lìa đôi ngả giữa nhà thơ với người thân, với người trong mộng, với cuộc đời rồi sẽ như “Gió theo lối gió, mây đường mây” nên trước mắt nhà thơ, “nắng hàng cau” đã tắt lụi, thay vào đó là “dòng nước buồn thiu”. “Hoa bắp lay” có lẽ cũng là một hình ảnh xuất hiện đột ngột theo dòng cảm xúc hư ảo, mông lung lúc này ; mặc dù, về luận lí, có thể cho rằng đó cũng là một ấn tượng được lưu giữ trong kí ức về thôn Vĩ tái hiện (Trên cồn Hến giữa sông Hương, đối diện vói thôn Vĩ Dạ, có trồng nhiều vạt bắp ; vào mùa, cả một vùng hoa ngút ngát lay động theo gió). Chìm ngập trong mối sầu gió – mây đôi ngả, thi sĩ chỉ còn biết mong ngóng, đợi một người bạn cố tri có vẻ đẹp huyền ảo để phần nào linh hồn bất hạnh được cứu rỗi, được lãng khuây. Đó là vầng trăng vàng, trăng ngọc. Chỉ có trăng là điểm tựa, là niềm an ủi duy nhất. Cho nên thi sĩ hỏi với niềm hi vọng đầy khắc khoải nhưng cũng vô cùng phấp phỏng lo âu:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
c. Khổ thơ thứ ba
Đến khổ thơ cuối, ta thấy Hàn Mặc Tử vẫn lặng đi trong mơ tưởng:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Theo tứ thơ và mạch cảm xúc của thi nhân thì câu thơ trên gợi cho ta nghĩ ngay đến một khách… má hồng. Câu sau giúp ta khẳng định sự “suy diễn” trên – “Áo em trắng quá nhìn không ra”. “Khách đường xa” và cả “màu áo trắng” đều là trong tâm tưởng thi sĩ cả. Nhìn vào lòng mình, nhìn vào kí ức để thấy cái màu áo ấn tượng nên nó hư hư thực thực. Thực vì có lí và bất ngờ: trắng quá nên nhìn không ra. Thực mà lại hư ảo vì màu áo ấy bây giờ choán hết cảm xúc của tác giả, nhen lên trong lòng nhà thơ một thứ tình cảm rất khó xác định, rất khó nắm bắt:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu thơ kết không giấu nổi nỗi ngậm ngùi, nghi ngại trong lòng chàng thi sĩ thân bệnh nhưng lòng khao khát được yêu thương. Nêu ở cuối khổ thơ thứ hai, thi sĩ vừa cầu cứu trăng làm tan mối sầu thương vừa lo âu ước nguyện không thành (“Có chở trăng về kịp tối nay?”) thì kết thúc khổ thơ cuối cùng của bài, dường như thi sĩ muốn bấu víu vào tình người thôn Vĩ, vào tình đời mà sống trong cơn hoạn nạn.
Câu thơ kết bài cũng là một câu hỏi – hỏi trong lúc đã tỉnh chứ không còn mộng. Nó vang ứng với câu hỏi đầu tiên và để lại dư ba trong lòng người đọc:
Ai biết tình ai có đậm đà?
Chẳng nhẽ thi sĩ lại nói trắng ra là: “Không biết tình em có đậm đà không mà anh về thôn Vĩ”. Bài thơ trong sáng. Đọc bài thơ, ai cũng cảm nhận được vẻ đẹp hư ảo của nó nhưng dù phân tích thế nào thì vẻ đẹp ấy vẫn là một bí ẩn. Bài thơ trong sáng mà buồn thấm thìa.
3.Đặc điểm về nghệ thuật
Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử được đánh giá là một kiệt tác, bởi bài thơ mở ra một hướng tìm tòi về thi pháp của thơ mới lãng mạn. Ở bài thơ này, cái nghịch lí của tồn tại được biểu đạt một cách súc tích, thông qua sự trải nghiệm cá nhân của riêng thi sĩ Hàn Mặc Tử ; hình tượng thơ đa nghĩa, biến ảo lung linh. Mỗi khổ thơ là một câu hỏi giúp người đọc dần dần khám phá “cái tôi” trữ tình đầy mâu thuẫn của thi nhân – niềm xốn xang trong hoài niệm về thôn Vĩ; sự mặc cảm về thân phận “chậm chân”, “lỡ chuyến” giữa cuộc đời; sự ám ảnh về cõi mơ, về tình trạng gió – mây đôi ngả trong cuộc đời và trong tình yêu; cảm giác lo âu, phấp phỏng, mong chờ,… – giúp ta cảm nhận bản năng sống vô cùng mãnh liệt của chủ thể trữ tình, một thi nhân tài hoa dù lâm vào tình cảnh bi đát nhưng không thôi tra vấn về ý nghĩa cuộc đời.
XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TRÀNG GIANG – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY | Phân tích tác phẩm Đây Thôn Vĩ Dạ – Ngữ Văn 11 | 2,152 | |
Phân tích tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Phân tích tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Bài làm
Nguyễn Minh Châu là người suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật, thao thiết kiếm tìm “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người.” Trước 1975, Nguyễn Minh Châu được biết đến với những tác phẩm đậm chất sử thi như: Cửa sông, Miền cháy, Dấu chân người lính. Thế nhưng, sau 1975, chính Nguyễn Minh Châu lại là người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Chiếc thuyền ngoài xa được in năm 1983 là một bước tiến dài rất đáng trân trọng trong hành trình khám phá vào tầng chìm, vào chiều sâu của cuộc sống và con người của văn xuôi Nguyễn Minh Châu.
Tình huống thắt nút của tác phẩm
Tác phẩm đã chọn được một tình huống hết sức đắt giá và có ý nghĩa. Tình huống ấy chứa đựng nhiều mâu thuẫn, nhiều nghịch lí của cuộc sống. Phóng viên Phùng được giao nhiệm vụ đi chụp thêm cảnh một buổi bình minh đầy sương để bổ sung cho hoàn hảo vào bộ sưu tập chuyên đề thuỳen và biển: “ 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển.” Lặn lội hơn 600 cây số,anh đến một vùng đầm phá miền Trung xa xôi mà anh cho là rất thi mộng để săn lấy một bức ảnh hợp với ý đồ nghệ thuật của vị trưởng phòng. Bao nhiêu ngày nằm phục kích, cuối cùng anh cũng bắt gặp được một cảnh mà anh rất mãn nguyện: “có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh “đắt” trời cho như vậy. Trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”. Đó là cảnh chiếc thuyền vó của gia đình một ngư dân đang tiến vào bờ. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh tràn ngập hạnh phúc sau khi bấm “ liên thanh” một hồi hết một phần tư cuốn phim ghi lại bức ảnh mà anh cho là “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh.” Thế nhưng, chính lúc đang thăng hoa trong tột đỉnh khoái cảm nghệ thuật, người nghệ sĩ nhiếp ảnh và cả người đọc lại phải ngạc nhiên đến sững sờ trước một cảnh tượng nghịch lí đang diễn ra trước mắt. Nguyễn Minh Châu đã đưa đến cho ta một tình huống đầy bất ngờ: có ai ngờ trong cái khung cảnh mà người nghệ sĩ nhiếp ảnh nhìn thấy một sự hài hòa đến toàn bích kia, trong cái cảnh mờ sương đầy thơ mộng kia lại dần dần hiện lên một sự thực trần trụi đầy trớ trêu. Một trong những con đường để đi đến ý nghĩa của tác phẩm là phải phát hiện ra những mâu thuẫn nghệ thuật của tác phẩm. Nguyễn Minh Châu đã thực sự đặt người đọc trước một tình huống đầy vấn đề: một người đàn ông vũ phu, tàn nhẫn đến mức như không còn nhân tính; một người đàn bà cam chịu đến mức như mù quáng, vô cảm và một đứa bé với sức phản kháng dữ dội đến mức như những hành động bản năng. Rõ ràng, tình huống ấy có sức khơi gợi rất mạnh tư duy và cảm xúc của người đọc. Tình huống diễn ra bất ngờ và kì lạ đến mức trong mấy phút đầu người nghệ sĩ nhiếp ảnh chỉ biết “há mồm ra mà nhìn”. Từ tình huống ấy, ngòi bút “thâm trầm, buồn lắng, yêu thương nhưng dữ dội ” của Nguyễn Minh Châu đã tài tình hé mở cho ta đi vào cuộc sống đời thường với bao đa sự, đa đoan của nó. Nhiều người cho rằng loại tình huống mà Nguyễn Minh Châu đặt ra trong tác phẩm là tình huống nhận thức. Điều đó cũng hợp lí vì càng đi sâu vào tình huống càng cho ta ngộ ra, bừng tỉnh ra nhiều điều, những điều không tuyệt bích như một bức tranh sơn mài mù sương mà ngược lại; đầy chất muối, đầy sự mặn chát của cõi bụi trần. Từ tình huống ấy ta nhận ra bao tâm trạng, bao con người, bao vấn đề của cuộc sống.
Nếu nhìn từ xa và quan sát bên ngoài thì hình ảnh người đàn ông đánh vợ hiện lên đầy hùng hổ, táo tợn và tàn nhẫn. Thế nhưng, theo dõi tâm lí, hành động của con người này mới vỡ lẽ rằng, thì ra con người thô lỗ, lạnh lùng như gỗ đá ấy cũng biểu hiện những tâm trạng, cảm xúc khiến người đọc phải suy ngẫm.Quan sát kĩ chúng ta nhận thấy vấn đề: khi cùng lội vào bờ, đôi mắt người đàn ông “lúc nào cũng dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà” thế nhưng khi đã đi khuất vào sau những chiếc xe tăng hỏng thì người đàn ông mới lập tức trở nên hùng hổ, dữ tợn đến không ngờ. Trong cái thân hình hộ pháp đậm chất biển khơi kia như đang dồn nén bao gánh nặng bắt buộc phải được trút xuống, bắt buộc phải được thoát ra. Trong từng cơn giận lão trút xuống lưng người đàn bà ta nhận ra cái “giọng rên rỉ đau đớn” và câu nói đi kèm: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Câu nói cửa miệng “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ” giúp ta định hướng rằng, hành động vũ phu man rợ của người đàn ông không phải xuất phát từ nguyên nhân là một tội lỗi nào đó của người đàn bà mà nguyên nhân là gánh nặng cuộc sống, gánh nặng gia đình với một đàn con nheo nhóc đang đè lên vai người đàn ôn trụ cột này. Đàn con thì càng ngày càng đông đúc, nên những trận đòn ngày càng dài hơn, cay cực hơn. Người đàn ông trút bao căm hờn của tình cảnh gia đình lên đầu vợ bằng bạo lực, bằng thói vũ phu đến man rợ là điều đáng giận, đáng phê phán. Thế nhưng, qua tình huống truyện, qua cái “giọng rên rỉ đau đớn” ta nhận ra cái tình cảnh khốn cùng đến bế tắc đè nặng lên bờ vai, khối thịt vốn đã không thể đen hơn, rám nắng hơn trong sự vật lộn với biển khơi của người đàn ông vùng biển.
Hình ảnh người đàn bà câm lặng, nhẫn nhục chịu đựng đòn roi
Hình ảnh người đàn ông đánh vợ đã kì lạ nhưng hình ảnh người đàn bà câm lặng, nhẫn nhục chịu đựng đòn roi lại càng kì lạ hơn. “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người đàn bà ấy đã “không hề kêu lên một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn”. Người đàn bà trót gây nên tội lỗi gì để rồi cam tâm nhận lấy sự tả giá hay chi ta tăm tối, mù quáng đến mức không còn cút ý thức? Những giả thiết ấy đều bị đánh đổ bằng những điều mà người đàn bà trình bày trước vị chánh án của vùng biển. Qua những cảnh có tính chất “mở nút” của tình huống, ta nhận chân giá trị của hình tượng, đó là những vẻ đẹp tuyệt vời nơi người phụ nữ khốn khổ ấy. Người mẹ ấy luôn cam tâm nhận lấy nỗi đau thể xác nhưng chị còn phải khốn khổ hơn với nỗi đau tinh thần. Ở trên chiếc thuyền chật chội, túng thiếu và nheo nhóc những con với cái kia; tiếng cười niềm vui hạnh phúc trở nên thật hiếm hoi. Những khi trời không yên, biển không lặng, cuộc sống trên những con thuyền ấy càng trở nên gieo neo. Thế là, bao nhiêu cay cú, uất ức, người chồng vũ phu lại trút lên đầu người đàn bà, làm như người đàn bà ấy là nguyên nhân trực tiếp gây nên sự bế tắc kia. Dù oan trái nhưng chị tự nguyện chấp nhận với một lời khẩn cầu cho con: khi con cái lớn lên hãy “đưa tôi lên bờ mà đánh.” Bà cam tâm nhẫn nhục chịu đựng chỉ mong sao đừng gây nên sự tổn thương cho những tâm hồn trẻ thơ. Trong hoàn cảnh đói khổ, quẫn bách của cuộc sống thuyền chài, suy nghĩ về sự hành xử như vậy, giàu tình thương và đức hi sinh biết bao. Có hiểu được điều đó ta mới đồng cảm với tâm trạng của người mẹ ấy khi vô tình để con trai chứng kiến cảnh bà bị người chồng đánh đập dã man sau những chiếc xe tăng cũ nát kia. Người mẹ cảm thấy: “Vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã ”, đau khổ vì lo lắng cho con trước rồi mới đến xấu hổ, nhục nhã cho mình. Chứng kiến những trạng thái tình cảm này không ai không cảm thấy xúc động: “miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”.
Những hình ảnh biểu trưng và sự thức nhận đau đớn về bao giá trị sống
Cùng với việc xây dựng tình huống là những hình ảnh biểu trưng có sức gợi, sức kết lắng ý nghĩa tư tưởng lớn. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, những hình ảnh biểu tượng ẩn chứa bao ý nghĩa sâu xa và chính những hình ảnh này kết lắng và chứa đựng chủ đề tư tưởng tác phẩm.
Trước hết là cảnh tượng người đàn ông đánh vợ một cách thô bạo và man rợ đằng sau những chiếc xe tăng hỏng. Trên mảnh đất đầm phá đầy tinh thần cách mạng ấy, chiến tranh đã đi qua từ lâu. Những chiếc xe tăng, chứng tích của một thời bom đạn ác liệt giờ trở thành phế tích đang dần mục sét qua năm tháng và chất muối mặn của vùng biển. Những chiếc xe rà phá bom mìn đang cố gắng thu dọn những gì còn sót lại của chiến tranh có thể vô tình gây nên nỗi đau. Thế nhưng, bên cạnh cuộc chiến đấu ấy, bên cạnh nỗi đau ấy là một cuộc chiến đấu mới, là một nỗi đau mới. Cuộc chiến đấu mới ấy còn cam go hơn, nỗi đau mới ấy mới e chừng còn dai dẳng hơn. Đó là cuộc chiến đấu với đói nghèo, với tăm tối. Trên thuyền phải có một người đàn ông dù người đàn ông đó có man rợ và tàn bạo đến đâu đi nữa. Sự khẳng định hùng hồn như chân lí của người đàn bà làm vị chánh án chỉ biết “trút một tiếng thở dài đầy chua chát”.
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đã thể hiện những đổi mới thành công của Nguyễn Minh Châu. Bằng việc xây dựng tình huống thắt nút và việc sử dụng những hình ảnh có sức biểu trưng lớn, tác phẩm đã đi sâu khám phá cuộc sống đời thường với bao đa sự, đa đoan thời hậu chiến. Phải có cái nhìn tinh tế, sâu sắc, Nguyễn Minh Châu mới thấu hiểu và phát hiện được những vẻ đẹp thầm lặng ẩn giấu trong tâm hồn người phụ nữ khốn khổ ấy. Tác phẩm do vậy còn cho thấy tài năng và tấm lòng người cầm bút của Nguyễn Minh Châu. | Phân tích tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu | 1,970 | |
Phân tích tác phẩm “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn
Hướng dẫn
Phân tích tác phẩm “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn
“Chiếu dời đô” là áng văn chính luận, lí lẽ sắc bén dưới cái nhìn vượt thời đại của vua Lý Thái Tổ. Tác phẩm ra đời không chỉ để thông báo quyết định rời kinh thành từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La (Hà Nội) mà còn cho thấy tầm nhìn xa trông rộng của một minh quân dân chủ, thấu ý trời tỏ lòng dân.
Vua Lý Công Uẩn được biết đến là vị vua ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển kinh tế – xã hội, có giá trị to lớn trong xây dựng và phát triển đất nước. Đương thời, ông nhận thấy kinh thành Hoa Lư không còn phù hợp cho việc giao thương buôn bán, vì thế nhà vua đã đưa ra quyết định rời kinh thành từ Hoa Lư tới Đại La, nay là Thăng Long, Hà Nội. Và “Chiếu dời đô” khi được ban hành xuống đã trở thành một tác phẩm trong nền văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà còn mang ý nghĩa nhân văn, văn học sâu sắc
Chiếu là loại văn thể hiện tư tưởng lớn lao có sự ảnh hưởng tới sự phát triển của đất nước; mang nội dung thông báo một mệnh lệnh, một quyết định của vua chúa cho dân chúng được biết. Với “Chiếu dời đô”, ta thấy nó mang đặc trưng chung của thể chiếu, tuy nhiên có những nét rất riêng với sự kết hợp giữa tâm tình và chất mệnh lệnh.
Kinh thành Hoa Lư với núi non hiểm trở không còn phù hợp trong thời bình, với lợi thế và địa hình núi rừng như vậy chỉ phù hợp trong thời chiến còn khi hòa bình lại trở thành khó khăn. Nhân dân lúc này cần một nơi có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, giao thông thuận lợi để thúc đẩy giao lưu và buôn bán. Bộ máy hành chính cần được đặt ở trung tâm của đất nước. Và dời đô lúc này chính là hợp ý trời và thuận lòng dân.
Lý Công Uẩn đã chứng minh rằng Đại La xứng đáng là kinh đô của nước Việt muôn đời “Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”.
“Chiếu dời đô” là áng văn chính luận có giá trị sâu sắc, thể hiện tài năng, tầm nhìn xa trông rộng bắt nguồn từ thực tế lịch sử vì một Đại Việt hùng mạnh trong tương lai. | Phân tích tác phẩm “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn | 499 | |
Đề bài: Phân tích tác phẩm "Mẹ Tơm" của Tố Hữu
Bài làm
Tố Hữu có cả một dòng thơ viết về người mẹ. Trong tập thơ “Từ ấy” có bài ” Bà má Hậu Giang”; trong tập thơ “Việt Bắc” có “Bầm ơi!” “Bà Bủ”, “Bà mẹ Việt Bắc”, trong tập thơ “Gió lộng” có “Quê mẹ”, “Mẹ Tơm”; trong tập thơ”Ra trận” có “Mẹ Suốt”… Ông viết về người mẹ với tấm lòng thương yêu, kính trọng, ngợi ca.
Bài thơ “Mẹ Tơm” cũng được tác giả viết với dòng cảm xúc cao quý ấy và gửi gắm lòng biết ơn người mẹ đã nuôi dưỡng nhà thơ trong những ngày vượt ngục. Từ xúc cảm cụ thể, bài thơ vươn lên triết lí, để cao dạo lí ân nghĩa của dân tộc.Tác giả đã chọn thể loại thơ trữ tình kết hợp với tự sự thích hợp với giọng điệu tâm tình. Kết cấu của bài thơ theo diễn biến của cuộc hành trình và theo sự vận động nội tâm của tác giả.
Phân tích tác phẩm Mẹ Tơm của Tố Hữu
Cái tôi trữ tình hiện diện ngay ở đầu bài thơ với cảm xúc dào dạt khi nhà thơ trở về miền biển Hậu Lộc, quê hương của mẹ Tơm, sau mười chún năm xa cách:
“Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa, nắg dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát…”
Nhà thơ đi trong không gian thoáng đãng, dưới trưa nắng sáng, trong âm vang của sóng biển (hay sóng lòng?). Những từ láy phụ âm đầu như “xôn xao”. “đu đưa”. “ngân nga” đã cộng hưởng thành một hòa âm xao động mà êm ái du dương.
Nhà thơ trửo nên hồn nhiên, trò chuyện với những cái không thể trò chuyện được, chào hỏi những vật vô tri như chào hỏi cố nhân:
“Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về chưa đó
Có nhiều không con nục, con thu?
Cho những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố!
Nhớ nhau chăng, hỡi Hanh Cát, Hanh Cù?”
Màu sắc cũng được gợi lên thật đẹp. Màu xanh của “dừa xanh” đầy sức sống, nổi bật trên màu trắng của “cát trắng” tinh anh và điểm xuyết nét dỏ của “dưa đỏ ngọt lành”. Nhưng hay nhất của khúc tâm tình này là âm nhạc. Những từ láy và những vần lưng cộng hưởng thành những hòa âm phong phú”
“Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát”
“Chào những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố”
“Hỡi đồi cát trắng rung rinh nắng”
Trong điệu nhạc ân tình, nhà thơ tưởng nhớ đến người mẹ nuôi xưa”
“Con đã về đây, ơi mẹ Tơm
Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy
Không sợ tù gông, chấp súng gươm”
Tố Hữu nhớ đến mẹ Tơm là nhớ đến một người mẹ giàu lòng thương yêu, có lí tưởng cao quý. Chính mẹ Tơm mười chín năm về trước đã nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ cho Tố Hữu trong những ngày vượt ngục đầy gian nan, bất chấp bạo lực của kẻ thù. Mẹ Tơm tình nghĩa mà anh hùng!
Nhà thơ ngạc nhiên, vui mừng trước sự đổi thay của quê hương Hậu Lộc:
“Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng
Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong
Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng
Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong? “
Màu sắc mới mẻ ( tường vôi trắng ), hương vị miện biển ( thơm phức mùi tôm ), hình ảnh “ ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng “ đã nói lên sự thay da đổi thịt của miền quê Hậu Lộc – một miền quê biển thanh bình, sung túc.
Nhà thơ ngơ ngác trước cuộc sống lạ lùng hôm nay. “Cô gái má bồ quân “, “ Mái đầu tóc xoã xanh bên giếng “, mười chín năm trước đã quen thân, vậy mà giờ đây cả hai đều bỡ ngỡ. Lời thoại giữa cô gái và nhà thơ tạo ra không khí sôi nổi, trẻ trung cho thơ:
“Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi?
_ Hai mươi.
_ Ờ nhỉ, tháng năm trôi
Sóng bồi thêm bãi, thiền thêm bến
Gió lộng đường khơi, rộng đất trời! “
Rồi giọng thơ lại bùi ngùi trước hai tin buồn:
Ông mất năm nao ngày độc lập
“Bà về năm đói, làng treo lưới
Biển động: Hòn Mê, giặc bắn vào … “
Nhà thơ lại “ bâng khuâng” nhớ lại chuyện cũ. Mười chín năm trước, Tố Hữu và một số bạn tù đã vượt ngục Đắc Lay về Thanh Hoá và “ Duyên may dây nối, đất Hanh Cù”. Nhà thơ và các bạn tù đã tìm đến bà mẹ nghèo ở đất Hanh Cù:
“Đầu thôn, cồn vắng, túp lếu rơm:
Tổ ấm chim về. Có mẹ Tơm
Hai đứa trai ngày đi cúp dạo
Nồi khoai sớm tôi lót thay cơm”
Mẹ Tơm nghèo nhưng tình nghĩa “thương người cộng sản, căm Tây, Nhật “, trung thành, thuỷ chung với cách mạng:
“Buồng Mẹ – buồng tim – giấu chúng con”
Thật không còn hình ảnh nào xác thực hơn để ngợi ca lòng trung thành của mẹ Tơm đối với Đảng, với cách mạng! Hình tượng người Mẹ cứ lớn dần lên hoà lẫn với non nước thật là cao đẹp.
…”Bóng Mẹ ngồi canh lẩn bóng cồn “
…”Bóng Mẹ ngồi trông, vọng nước non!”
Mẹ Tơm từ người mẹ nuôi dưỡng, đã trở thành người mẹ tranh đấu. Từ những việc làm âm thầm như nuôi giấu cán bộ, ngồi canh cho những hoạt động của chiến sĩ cách mạng, dần dần Mẹ đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh:
“Chợ xa, Mẹ gánh mớ rau xanh
Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh
Bãi cát vàng thau in bóng mẹ
Chiều về…Hòn Nẹ…biển reo quanh! “
Mẹ Tơm gợi nhớ đến nhân vật Nilôpna trong tiểu thuyết “ Người mẹ “ của Macxim Go-rơ-ki. Hai người Mẹ đều bắt đầu từ tự phát đến tự giác đấu tranh.Và đều có những hành động anh hùng, bất khuất.
Nhà thơ tưởng niệm mẹ Tơm bằng một “ nén hương thơm “ và triết lí sâu sắc ngợi ca người Mẹ tình nghĩa mà anh hùng:
“Ôi bóng người xưa, đã khuất rồi
Tròn đôi nấm đất trắng chân đồi
Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời!
Đốt nén hương thơm, mát dạ Người
Hãy về vui chút, mẹ Tơm ơi!
Nắng tươi xóm ngói, tường vôi mới
Phấp phới buồm giong, nắng biển khơi “
Thành công lớn nhất của bài thơ là đã tái hiện được hình ảnh mẹ Tơm. Người mẹ nghèo khổ sống lặng lẽ âm thầm nhưng giàu lòng thương yêu và son sắt thuỷ chung với cách mạng. Từ người mẹ thật ngoài đời đã bước vào trong thơ thành nhân vật lí tưởng của thi nhân. Tượng đài người mẹ anh hùng mà tình nghĩa dược hiện lên trong âm nhạc hoài niệm và ngợi ca nên có sức ngân vang mãi trong lòng người đọc. | Phân tích tác phẩm “Mẹ Tơm” của Tố Hữu | 1,154 | |
Đề bài: Phân tích tám câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến của nhà văn Quang Dũng
Bài làm
Quang Dũng là một trong những nhà thơ chiến sĩ tiêu biểu cuả thời kì kháng chiến chống Pháp.Ông đặc biệt thành công khi viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.
Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó phai cuả đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở tám câu đầu cuả bài thơ.
” Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
….. mưa xa khơi”
Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu cuả Quang Dũng. Nhắc đến nhà thơ, ko ai không thể ko nhớ đến Tây Tiến. Bài thơ đượ sáng tác cuối năm 1948 khi nhà thơ đóng quân ở Phù Lưu Chanh_ 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng về sau đổi lại thành Tây Tiến vì nhà thơ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo chứ ko cần đến từ “nhớ”.
Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi cuả tổ quốc, sống và chiến đấu nơi núi rừng gian khổ nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng nhà thơ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng đội, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bồi hồi, xúc động khi nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức cuả nhà thơ.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”
Câu thơ như tiếng gọi chân thành, tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở đầu bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ đạo cuả bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở nên đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko đơn thuần là 1 con sông mà nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui_buồn, được_mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị bộ đội mà nó đã trở thành 1 người bạn ” tri âm tri kỉ” để nhà thơ giãi bày tâm sự.
“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang uà vào tâm trí Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” kết hợp với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết cuả nhà thơ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí nhà thơ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với cách dùng từ chọn lọc, gợi hình gợi cảm đã mở cưả cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ.
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời”
Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đó là địa bàn hoạt động cuả binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và dừng chân trên bước đường hành quân gian khổ, mệt nhọc. Nói đến Tây Bắc, là nói đến vùng đất có điạ hình hiểm trở, khí hậy khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở nên kiên cường, bất khuất hơn. Quang Dũng đã rất tài tình khi đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt cuả núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng miêu tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”
Có lẽ thiên nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức khó phai trong lòng nhà thơ. Thiên nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm đến mây trời. Quang Dũng đã khéo léo sử dụng từ “thăm thẳm” mà ko dùng từ chót vót” bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu cuả nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có ai có thể hình dung được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, nhà thơ đã làm cho người đọc cảm nhận được cái hoang sơ, dữ dội cuả núi rừng Tây Bắc. Nhà thơ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch khi đưa hình ảnh nhân hoá, ẩn dụ “ súng ngửi trời” để cho ta thấy bên cạnh thiên nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế oai phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang thiên nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở.
“Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”
Điệp từ “ngàn thước” đã mở ra một không gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Bên cạnh cái hiểm trở, hoang sơ ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Có những cơn mưa rừng chợt đến đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút cuả Quang Dũng, nó trở nên lãng mạn, trữ tình hơn. Nhà thơ đã thông minh, sáng tạo khi nói đến mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kì bí, hoang sơ giưã chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở cuả núi rừng và mở ra 1 bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu cuả bài thơ Tây Tiến là nhỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng đội Tây Tiến nhưng qua những chi tiết đặc tả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí nhà thơ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt cuả người lính Tây Tiến nói riêng và cuả những người lính nói chung.
Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút cuả lãng mạn, trữ tình cuả Quang Dũng đã trở thành 1 kiệt tác cuả mọi thời đại. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ đó là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã miêu tả nỗi nhớ đó bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất hoạ và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc cuả tâm hồn, cuả cuộc sống. Bởi thế, Xuân Diện thật chính xác khi cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong miệng. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và cuả 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.
“Tây Tiến” là 1 bài thơ hay được viết nên bởi tâm hồn, tài hoa, lãng mạn cuả người lính trí thức tiểu tư sản Quang Dũng. Bài thơ như 1 bức tượng đài bất tử đã tạc vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài thơ xứng đáng được xem là kiệt tác cuả Quang Dũng khi viết về người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. | Phân tích tám câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến của nhà văn Quang Dũng | 1,448 | |
Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt
Hướng dẫn
Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt
Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất săc nhất của nhà văn Kim Lân,nhà văn đã lột tả được hết sự cảnh nghèo khó của xã hội thời bấy giờ. Tiêu biểu là gia đình bà cụ tứ ở xóm nghèo trong nạn đói 1945. Với ngòi bút nhân đạo tài hoa của mình ông đã nói lên được hết vẻ đẹp tinh thần ẩn dấu sau sự đói khổ của nhân vật mình
Cuộc đời của xóm nghèo được tác giả miêu tả điển hình quan ba nhân vật đó là bà cụ Tứ,Tràng và Vợ nhặt của Tràng. Bàcụ Tứ là nhân vật được tác giả miêu tả với những tâm trạng vô cùng phức tạp đã thể hiện được nội dung nhân đạo sâu sắc
Tình huống đầu tiên là sự ngạc nhiên khi thấy con trai dẫn một người đàn bà về nhà và bảo đó là vợ mình. Lúc này bà cụ phần vừa ngạc nhiên vì con trai mình nghè xấu xí,dân ngụ lại trong cảnh đói khát nuôi mình chẳng xong thì ai dám lấy,với lại đã đói thế này Tràng còn lấy vợ về là thêm một miệng ăn rồi. Ngạc nhiên hơn là khi bà đi làm đồng về và người đàn bà ngồi cạnh góc giường gọi mình là mẹ. và sau đó được Tràng giới thiệu đó là vợ mình. Bà ngạc nhiên đến cả việc không thể tin vào tai,vào mắt mình nữa rồi”bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhòe vì tự dung bà thấy mắt mình nhoèn đi thì phải, bà nhìn kĩ người đàn bà vẫn chưa nhận ra người nào,bà quay sang nhìn con mình tỏ vẻ không hiểu
Bà lại mừng cho con mình vì đã nhặt được vợ mà không cần cưới xin rồi đã yên bề gia thất,tủi thân mình không lo được vợ cho con. Giờ đây người chết ngoài đường như ngả rạ lại có người chịu theo con mình về làm vợ. từ ngạc nhiên rồi thành tủi buồn vì cái đói cái nghèo cùng quẫn. rồi bà lại lo khi lấy gì để trình làng,để cúng tổ tiên bây giờ. Bà khóc vì thương còn phần khóc vì thương cho số phận mình “trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rũ xuống hai dòng nước mắt”” ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau thì u cũng mừng lòng”… Bao nhiêu yêu thương chất chứa của nguồi mẹ giành cho con mình thể hiện qua những lời nói đầy chân thành giản dị và mộc mạc ấy
Bao nhiêu là nổi lo lắng ngổn ngang bửa vây rong lòng của bà mà không biết làm như thế nào để vượt qua cơn đói này. Bà thực sự lo lắng cho con trai con dâu bởi liệu rằng chúng nó có nuôi nổi nhau không rồi lại tự an ủi mình bằng câu “có khó khăn,đói khổ này người ta mới đến lấy con mình chứ” rồi bà chỉ biết khuyên vai vợ chồng tràng yêu thương ăn ở hòa thuận với nhau nưng sự lo lắng và tủi hờn đã nhen nhòm trong bà một niềm tin
Niềm tin niềm vui của bà còn được thể hiện ở trong công việc”sửa sang vườn tược rồi và giẫy cỏ cho sạch vườn” “cái mặt bủng beo u ám của bà trở nên rạng rỡ hẳn lên”
Niềm vui của bà còn được thể hiện trong bữa sáng đầu tiên có con dâu,và đó là một bữa ăn với món cháo loãng chẳng có gì và món chè chat đắng như cái đắng của lòng người. mặc dù như vậy nhưng bà vẫn cố tỏ ra vui để động viên con mình. Cho thấy bà là một người mẹ gàu lòng nhân ái và có tình yêu thương con mình vô bờ bến
Cái vui ấy thật sự rất nhỏ bé vẫn không thể nhen nhóm lên được bởi đâu đó có tiếng khóc,mùi đốt rấm ở những nhà có người chết đói. Bà đã ngĩ đến đứa con và ông lão nhà mình rồi phấp phỏng nghĩ cho đứa con trai về cai đói cứ giằng lấy trước mắt
Như vậy nhân vật bà cụ Tứ diễn ra với những tâm trạng tâm lí diễ biến đầy phứ tạp. dưới ngòi bút tài tình của mình ông đã lột tả hết lòng nhân đạo sâu sắc của tác phẩm và đi vào lòng người | Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt | 768 | |
Đề bài: Phân tích tâm trạng bức bối, khao khát tự do qua bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố Hữu
Bài làm
Sáu dòng thơ đầu là cảnh hè về trên thiên nhiên đồng quê. Mở ra cảnh mùa hè là tiếng chim tu hú gọi bầy. Tiếng chim tu hú như tiếng báo hiệu của mùa hè, vọng vào trong xà lim nhà tù, đánh thức dậy trong ký ức của nhà thơ bao nhiêu hình ảnh tươi sáng, rực rỡ của mùa hè sôi động ở bên ngoài.
Bằng tưởng tượng, nhà thơ vẽ ra một bức tranh đầy màu sắc sáng tươi rực rỡ và âm thanh rộn ràng của thiên nhiên khi hè về. Có tiếng chim tu hú vang xa thúc giục, tiếng ve gióng giả và tiếng sáo diều vi vút trong không trung cao rộng. Có ánh nắng rực rỡ (đầy sân nắng đào), có màu vàng tươi của bắp rẫy vàng hạt, màu vàng đậm của lúa chín. Xen vào những mảnh màu sáng rực rỡ ấy là mảnh không gian cao rộng với màu xanh thăm thẳm của bầu trời. Trời xanh càng rộng, càng cao.
Cần chú ý đây là cảnh thiên nhiên mỏ đầu mùa hè. Nó có cái tưng bừng rộn rã, tưđi sáng và tất cả đang đi tới độ chín, đầy hứa hẹn. (Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần, bắp rây vàng hạl). Cũng như tác giả đang bước vào những năm iháns của tuổi ihanh nicn tràn đầy sức trỏ, đầy hi vọng, hứa hẹn và cũng là thời điểm gặp gõ lí iưởng cách mạng và say mê hoạt động.
Bởi vậy, tiếng gọi vào mùa hè của chim tu hú đã khơi dậy ở trong lòng người tù một tâm trạng bức bôi, u uất, một khát khao cháy hỏng muốn tung phá ra khỏi chốn lao tù ngột ngạt:
Ta nghe hè đậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi!
Bài thơ ngắn (chỉ có 10 dòng thơ) mà miêu tả rất sinh động với những hình ảnh, chi tiết tiêu biểu bức tranh thiên nhiên lúc sang mùa hè: có âm thanh rộn rã, vang vọng, có ánh nắng tươi hồng, có màu sắc rực rỡ, cỏ không gian cao rộng và sống động của bầu trời xanh cao với hình ảnh sáo bay lượn… Bức tranh thiên nhiên ấy vừa tả thực lại vừa mang ý nghĩa tượng trưng: đó là niềm khát khao của người tù tuổi trẻ về cuộc sống tự do, tươi sáng, thể hiện sự nhạy cảm và tâm hồn tha thiết với sự sống của tác giả. | Phân tích tâm trạng bức bối, khao khát tự do qua bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố Hữu | 448 | |
Đề bài: Phân tích tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở
Gợi ý
Người ta cứ tưởng như cả làng Vũ Đại phải nhịn uống rượu để cho chúng uống. Khi trở về vườn, Chí đã quá say, không đi vào túp lều mà ra thẳng bờ sông đẻ tắm. Trên đường đi hắn gặp Thị Nở đang ngủ hớ hênh dưới trăng. Sự chung đụng ấy hoàn toàn ngẫu nhiên, mang tính bản năng của người đàn ông trong cơn say.
– Sự thức tỉnh:
Sáng hôm sau, khi đã trải qua 2 biến cố: gặp Thị Nở rồi bị trúng gió được Thị Nở đưa vào lều.
+Đầu tiên, Chí Phèo tỉnh rượu: Đây có lẽ là lần đầu tiên anh ta tỉnh rượu kể từ lúc ra tù về. Những lần trước, mỗi khi tỉnh rượu, anh lại uống, vì thế say kế tiếp say. Còn lần này, Chí Phèo tỉnh rượu với trạng thái khác hẳn: “ Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc; hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tí. Hắn sợ rượu như những người ốm sợ cơm”. Đó là điều rất lạ ở Chí.
+Từ tỉnh rượu, Chí Phèo dần thức dậy ý thức vốn có ở một người bình thường. Lần đầu tiên, nah ta nghe tiếng ríu rít bên ngoài, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng gõ mái đuổi cá của anh thuyền chài. Tất cả những âm thanh ấy là những tiếng quen thuộc hôm nào chả có, nhưng hôm nay Chí Phèo mới nghe thấy, bởi xưa nay anh chưa bao giờ hết say.
Không những thế, Chí còn biết ngoài cái lều ẩm thấp chỉ có hơi lờ mờ của mình, mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cũng như những người say tỉnh dậy, Chí Phèo thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Nhưng với anh, đây là cảm giác, cảm xúc vừa được đánh thức. Khi Chí Phèo nghe những âm thanh của cuộc sống và biết đuợc trời sớm hay muộn cũng chính là anh đã dần ý thức về cuộc sống. Rồi anh lại nhớ về quá khứ, rằng có một thời, đã ước mơ có một cuộc sống gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Thông thường, người ta nhớ lại thời gian quã vẵng để hiểu hiện tại.Chí cũng vậy: Hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay ch đời! Có lí nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu… Hắn đã tới cái dốc kia của đời.
Rồi Chí Phèo đã hình dung được tương lai đầy bất trắc: Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao là chất độc, đày đoạ cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa cuối mùa thu cho biết trời gió rét, này mùa đông đã đến. Chí Phèo hình như đã trông trước thấy tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc… Càng nghĩ, Chí càng lo, vì cô độc đáng sợ hơn là đói rét và ốm đau. Nếu không có Thị Nở vào, cứ để hắn vẩn vơ, thì đến khóc được mất. Đến đay, không ai nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa. Một người không những giàu cảm giác, cảm xúc, mà còn ý thức có phần sâu sắc về cuộc đời, về bản thân phải là con người bình thường chứ! Với bản thân Chí Phèo, anh đã trở lại hoàn toàn con đường tự ý thức.
– Khi được chăm sóc: Những ngày kế tiếp, Thị Nở sống chung với Chí Phèo. Anh ta ốm và Thị Nở trở thành người duy nhất chăm sóc. Nhà văn không kể lể nhiều về sự chăm sóc đó mà dừng lại miêu tả thật chi tiết bát cháo hành Thị Nở đã bón cho Chí.
+Với Thị Nở, việc ấy xuất phát từ sự đáng thương đối với một người đau ốm mà nằm chòng queo một mình, lòng yêu của một người làm ơn và có cả lòng yêu của người chịu ơn.
+Còn Chí Phèo, anh ta cảm nhận được rất nhiều: Lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì… Đời hắn chưa bao giờ đuợc săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà” …Hắn chưa được người đàn bà nào yêu cả. Còn lần này, bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được… Như vậy, qua bát cháo hành, Chí Phèo cảm nhận được sự chăm sóc yêu thương của người khác dành cho mình và chính anh ta cũng mong ước có niềm yêu thương ấy.
+Từ cảm nhận về tình yêu của Thị Nở, cảm xúc, cảm giác càng được đánh thức sâu sắc hơn ở Chí Phèo: Hắn thấy mắt hình như ướt ướt…Hắn nhìn bát cháo hành bốc khói mà bâng khuâng… Hắn thấy vừa vui vừa buồn… Hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng Thị như với mẹ. Ôi sao mà hắn hiền… Không những thế, ở Chí còn giống một cái gì nữa như ăn năn… hối hận về tội ác khi không đủ sức mà ác nữa. Anh ta băn khoăn tự hỏi rồi tự trả lời, ngẫm nghĩ mà sợ hãi: Hắn đâu còn mạnh nữa. Và có lúc hắn ngẫm mình mà lo. Xưa nay hắn chỉ sống bằng giật cướp và doạ nạt. Nếu không còn sức mà giật cướp, dọa nạt nữa thì sao? Đã đành, hắn chỉ mạnh vì liều. Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có một lúc mà người ta không thể liều được nữa. Bầy giờ mới nguy!
+Bùng nổ trong tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở là khát vọng lương thiện. Đấy cũng là đỉnh điểm của sự tỉnh thức của Chí Phèo: Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với, vọi nguời biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lạo không thể đựơc. Họ sẽ thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại được ai. Họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện… Chí đã đem cái khát vọng ấy ta thăm dò đặng tìm sự chia sẻ ở Thị Nở. Khi thị cười tin cẩn, Chí Phèo thấy tự nhiên nhẹ cả người và lòng thấy rất vuoi chứng tỏ anh ta đang tràn đầy hy vọng trở lại thế giới con người. Những ngày sau đó, Chí không còn kinh rượu nhưng cố uống thật ít. Để cho khỏ tốn tiền, nhưng nhất là để tỉnh táo mà yêu nhau. Đàn bà không có men như rượu nhưng cũng làm người say. Và hắn say Thị Lắm. Cả người kể chuyện ẩn hình, vốn rất lạnh lùng, cũng không giấu nổi cảm xúc cảm hình khi hình dung về tương lai của họ: Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi.
– Bị từ chối quyền làm người lương thiện:
Những ngày vui của Chí Phèo không kéo dài được bao lâu. Đến hôm thư sáu, thì Thị bỗng nhớ rằng có một ngưòi cô ở đời… Thị nghĩ bụng: hãy dừng yêu để hỏi cô Thị đã.
+Bà cô Thị Nở quyết liệt phản đối cháu gái lấy thằng Chí Phèo vì ai lại đi lấy thằng Chí Phèo, một thằng không cha, chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Đau đớn cho Chí Phèo, khi anh ta hiền và muốn làm hoà với mọi ngưòi thì chính họ vẫn sợ và vẫn nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ ở làng Vũ Đại! Đến bà cô của Thị Nở, một người năm muơi tuổi vẫn chưa lấy chồng, sống cái đời dằng dặc, uất ức, còn nghĩ về Chí như vậy huống chi ngườ khác. Sự phản đối của bà cô Thị Nở đồng nghĩa với việc đóng chặt con đường trở về với thế giới lương thiện của Chí Phèo. Vì thế, ban đầu còn ngơ ngác, hắn nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu, hắn bỗng nhiên ngẩn người. Chí thấy cần thiết phải trả thù: Hắn phải đến nhà ****** Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nó. Nếu không đâm được, đến lúc ấy hãy đập đầu ra kêu làng. Với Chí, đập đàu hay kêu làng cũng là cách tỏ rõ sức mạnh của mình, một cách trả thù. Nhưng muốn đập đầu phải uống thật say. Không có rượu lấy gì làm cho máu nó chảy! Thế là Chí uống, song lần này càng uống lại càng tỉnh ra và đặc biệt hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Như vậy, đây cũng là lần đầu tiên trong đời, Chí Phèo uống rượu mà ngưòi lại tỉnh, khác với những cơn say dài mênh mông trước đó. Khi trong đầu anh cứ thoang thoảng mùi cháo hành chứng tỏ Chí không sao quên được những ngày ngắn ngủi từng được chăm sóc, vui sống. Bây giờ, tất cả những cái đó đã bị tước đoạt, vì thế Chí quyết phải đi trả thù, đi đòi lại lương thiện.
Khi nghe Thị Nở kể chuyện, Chí nghĩ ngay đến việc giết bà cô của thị để trả thù. Nhưng sau khi uống rất nhiều rượu, với một con dao ở thắt lưng, miệng lảm nhảm: “Tao phải đâm chết nó!”, Chí Phèo cứ thẳng đường mà đi đế nhà Bá Kiến. Anh không hề quên đường, bời bà cô Thị Nở không phải là người cướp đi những gì mà anh vốn có, càng không thể cho anh những gì đã mất. Đây có thể coi là giây phút tỉnh táo nhất khi Chí đi tù về. Tỉnh táo xác định kẻ thù: Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất được những vết mảnh trai trên mặt này? Tỉnh táo trong hành động tự sát vì không được sống lương thiện và không muốn trở lại kíêp sống thú vật như trước: Tao không thể làm người lương thiện nữa. Biết không? Chỉ có một cách…biết không?… Chỉ có một cách là …cái này! Biết không!… Những câu nói đứt quãng vừa thể hiện quyết tâm trả thù, vừa bộc lộ niềm phẫn uất, nỗi bế tắc của Chí Phèo. Cái chét là cách chọn lựa duy nhất để Chí giải quyết bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện. Vì thế, chết mà uất ức, vẫn còn muốn nói to với mọi người khát vọng của mình: …khi người ta đến thì hắn cũng đã giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn ngược, mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng. Ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứ ra. | Phân tích tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở | 1,887 | |
Đề bài: Phân tích tâm trạng chị em Liên đêm cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua phố huyện
Bài làm
Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn thường được nhắc tới nhiều nhất của Thạch Lam. Hình ảnh chuyến tàu đêm chạy qua một phố huyện nghèo thời trước đã được Thạch Lam miêu tả rất khéo léo, đã nổi lên thành một hình ảnh đầy ý nghĩa, bộc lộ chủ đề của tác phẩm.
Trước hết, bối cảnh cho chuyến tàu đêm xuất hiện là cuộc sống buồn tẻ, đơn điệu, đáng thương nơi phố huyện. Thạch Lam đã chọn được thời điểm để làm nổi bật những tính chất ấy. Truyện bắt đầu từ tiếng trống thu không dội xuống phố huyện, từng tiếng, từng tiếng mỏi mòn, giữa lúc trên bầu trời, ánh ngày đang dần nhường chỗ cho bóng hoàng hôn, phương tây đỏ rực lên như lửa báo hiệu một ngày đang tắt. Đêm tối sẽ đem tới cho phố huyện những gì? Chỉ có bóng tối, sự im lặng, mà tiếng ếch nhái ngoài đồng, tiếng muỗi kêu trong nhà, lại khiến cho nó càng trở nên vắng lặng, hoang vu, buồn bã hơn. Thế ra, giữa thế kỷ hai mươi, thế kỷ của những đô thị đầy ấp ánh sáng, vẫn có những miền đất, nhiều miền đất, sống trong sự tăm tối của cuộc sống hàng trăm, hàng ngàn năm về trước như vậy đấy.
Phiên chợ chiều đã vãn, những ồn ào tấp nập của buổi chợ đã tan đi, để lại phố huyện với thực chất của nó: cái nghèo nàn, cái tiêu điều xơ xác. Những đứa trẻ con lom khom tìm kiếm trên cái nền chợ xơ xác ấy, giữa những rác rưởi mà phiên chợ bỏ lại, mong tìm được chút gì đỡ cho cuộc sống. Thật là một chi tiết đầy ý nghĩa và rất gợi cảm về cái nghèo.
Rồi đêm xuống. Cuộc sống có xôn xao động đậy được chút nào chăng? Quả cũng có xôn xao một chút đấy, nhưng không vì thế mà vẻ nghèo, vẻ buồn của cuộc sống lại bớt đi. Bắt đầu là ngôi hàng nước của con chị Tí, với chiếc võng con, vài ba cái bát, một điếu hút thuốc lào… bày ra rồi lại thu vào vì vắng khách. Tiếp đến là gánh phở có ngọn lửa bập bùng của bác Siêu, cũng vắng khách vì đó là thứ quá xa xỉ (phở mà trở thành xa xí phẩm, thật là một nhận xét hóm hỉnh và đầy xót xa của Thạch Lam!).
Chính giữa cảnh tiêu điều như vậy của phố huyện, Thạch Lam đã miêu tả tâm trạng khắc khoải chờ đợi chuyến tàu của hai chị em cô bé Liên. Đó là hai đứa trẻ đã từng có những ngày sống ở một nơi không đến nỗi nghèo khổ và tối tăm như thế. Với chúng, nhất là với bé Liên, nơi ấy Hà Nội luôn đọng lại như một kỷ niệm xa xôi và mơ hồ nhưng bao giờ cũng êm đềm, đẹp đẽ và rực rỡ ánh sáng. Còn giờ đây, nơi phố huyện, cuộc sống của chúng thiếu hẳn ánh sáng và niềm vui. Ngày nào cũng giống hệt ngày nào, chúng chờ bán cho người ta nhưng món hàng nhỏ nhoi không hề thay đổi: một bao diêm, một cuộn chỉ, mấy bánh xà phòng… Chiều chiều, trong bóng chập choạng của hoàng hôn và trong tiếng muỗi vo ve, hai chị em cặm cụi kiểm đếm số tiền bé nhỏ bán được trong ngày. Chi tiết về chiếc chõng tre cũ, sắp gãy được Thạch Lam đưa vào đây thật là đầy ý nghĩa: cuộc sống của hai đứa trẻ mới lớn lên sao mà đã sớm già nua tàn tạ! Cả chi tiết bà lão hơi điên đến mua rượu uống, cũng gợi lên bao nỗi buồn. Cái thế giới mà các em Liên và An tiếp cận ngày này qua ngày khác chỉ có thế. Đây là niềm vui, biết lấy gì mà hy vọng?
May mắn thay, hai đứa trẻ đã tìm được chút niềm vui để mong đợi. Mỗi đêm chuyến tàu từ Hà Nội sẽ đi qua phố huyện trong mấy phút. Mỗi đêm, hai đứa trẻ lại chờ đợi chuyến tàu. Hẳn các em đã chờ đợi nó qua suốt một ngày buồn tẻ của mình. Nhưng nỗi đợi chờ bắt đầu khắc khoải từ khi bóng chiều đổ xuống. Rồi trong đêm tối, những ngọn đèn thắp lên ở đằng kia, bóng hai mẹ con chị Tí trên đường, ngọn lửa bập bùng của gánh phở bác Siêu, tiếng hát của vợ chồng bác xẩm mù… Với các em, đó là những cái mốc điểm bước đi của thời gian đang cho các em xích gần lại với chuyến tàu. Mỗi đêm, chỉ có một chuyến tàu đi qua phố huyện. Các em không thể bỏ lỡ nó. Bởi thế, đã buồn ngủríu cả mắt, An và Liên vẫn cố chống lại cơn buồn ngủ. Cho đến khi, vì chờ đợi quá lâu trong cái không khí buồn tẻ của phố huyện, bé An không thể thức được nữa. Em gối đầu lên tay chị, mi mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với: – Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé! Thật là một cảnh chờ đợi thiết tha như mọi sự chờ đợi thiết tha ở trên đời!.
Trên phố huyện ấy, giữa tâm trạng chờ đợi ấy của hai đứa trẻ, chuyến tàu đêm được Thạch Lam miêu tả tỉ mỉ và trang trọng làm sao! Chuyến tàu được báo trước từ xa, với hình ảnh hai ba người cầm đèn lồng lung lay các bóng dài, vẻ xôn xao của những người chờ tàu, rồi ngọn lửa xanh biếc sát mặt đất như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại trong đêm khuya kéo dài ra theo ngọn gió xa xôi. Chuyến tàu đã đến cùng với tiếng còi đã rít lên. Đoàn tàu vụt qua trước mặt. Bé An đã thức dậy và tâm hồn cả hai đứa trẻ đều bị cuốn hút bởi chuyến tàu. Các toa đèn đều sáng trưng… những toa hạng trên sang trọng, lố nhố người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Đoàn tàu đã đi qua nhưng tâm hồn chị em Liên thì vẫn gửi hút theo nó mãi, nhìn nó để lại trong đêm tối những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt… cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh… xa xa mãi rồi đi khuất sau rặng tre. Giờ đây, sự tương phản giữa hình ảnh đoàn tàu với cuộc sống nơi phố huyện càng trở nên rõ rệt trong tâm trí của đứa trẻ: đêm tối vẫn bao bọc xung quanh, đồng ruộng mênh mang và yên lặng.
Đọc xong truyện HAI ĐỨA TRẺ, người đọc không thể không ngẫm nghĩ về ý nghĩa sâu xa của hình ảnh chuyến tàu đêm mà Thạch Lam đã cố tình miêu tả nó để làm nổi lên thật rõ cuộc sống buồn tẻ đáng thương của hai chị em Liên? Với các em, chuyến tàu ấy là tất cả niềm vui và hi vọng. Đó là Hà Nội trong quá khứ êm đềm xa xôi. Đó là niềm vui duy nhất để giải toả cho tâm trí sau một ngày mệt mỏi, đơn điệu và buồn chán. Đó là âm thanh, ánh sáng, vẻ lấp lánh, của một cuộc đời mà các em hi vọng, một cuộc đời khác, hoàn toàn không giống với cuộc đời nghèo nàn và tẻ nhạt nơi đây. Có lẽ, qua truyện ngắn này, Thạch Lam đã muốn nói với chúng ta: có những cuộc đời mới đáng thương sao, có những ước mơ bé nhỏ, tội nghiệp nhưng chân thành tha thiết và cảm động làm sao! Nhưng dẫu sao, sự chờ đợi của các em cũng cho chúng ta một bài học: trong cuộc đời, phải biết vượt lên cái tẻ nhạt, cái vô vị hàng ngày để mà hi vọng, vì còn có hi vọng, dẫu cho hi vọng rất nhỏ bé, thì mới có thể còn gọi là sống.
HAI ĐỨA TRẺ không thuộc loại truyện hấp dẫn người đọc vì sự ly kỳ hay gay cấn của cốt truyện. Sức mạnh và sức sống của nó nằm trong vấn đề mà nó đặt ra và cả trong thái độ của Thạch Lam đối với cuộc sống: một thái độ ấp iu đầy lòng nhân ái. Chính thái độ ấy cũng ảnh hưởng đến cách viết của Thạch Lam: tỉ mỉ và trân trọng. Truyện tuy hơi buồn nhưng nó giúp cho con người thêm yêu thương con người. | Phân tích tâm trạng chị em Liên đêm cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua phố huyện | 1,474 | |
Đề bài: Phân tích tâm trạng con hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ
Bài làm
Nhớ rừng là một bài thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới. Nó cũng là một bài in được dấu ấn đậm và bền trong nhiều thế hệ bạn đọc – Tác giả của nó – thi sĩ Thế Lữ, là một nhà thơ tài năng, người có công đầu trong phong trào Thơ mới. Có thể nói ông đã nhập thân hoàn toàn vào hình tượng con hổ trong bài, mượn con hổ để bộc lộ tâm sự của một thanh niên trí thức trước cuộc đời tù túng, nô lệ.
Một khía cạnh rõ nét của tâm sự ấy, là nỗi “tủi nhục” vì hiện trạng của thân phận:
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đỏ chơi,
Chịu chung bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
Nỗi tủi nhục đến cao độ, chuyển thành phẫn uất, căm hờn. Bị mất tự do trong “cũi sắt”, đành thúc thủ bất lực “nằm dài trông ngày tháng dần qua”, lại còn bị “lũ người kia”, tác giả muốn ám chỉ ai đây? Phải chăng bọn thực dân người nước ngoài xa lạ nhào cợt, khinh thường:
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thâm
Xưa kia ta từng là “chúa tể của muôn loài”, “oai linh” ta ngự trị cả núi cao rừng sâu. Nay bị nhốt củi, cùng thân phận “làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi” bị coi cá mè một lứa với bầy gấu dở hơi, cặp báo nông nổi! Nhục nhã, uất hận biết bao.
Cùng với “niềm uất hận ngàn thâu” ấy, là thái độ khinh ghét. Và khinh cũng đến cao độ như căm hờn, con hổ này không có gì lưng chừng, nửa vời cà. Nó ghét tất cả những cảnh tượng môi trường xung quanh, từ:
Những cảnh sửu sang, tầm thường, giả dối.
Cho đến:
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém.
Nó khinh ghét tất cả cái môi trường áp đặt giả tạo mà “lũ người kia” đã thiết kế bày đặt ra. Nó nhận ra tất cả chỉ là trò nhái lại, là lối “học đòi” cái môi trường sống đích thực của nó xưa kia, cái “cảnh sơn lâm bóng cả, cây già – với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi” mà nó không thể nào quên được, mà nó mãi mãi nhớ thương. Phải chăng lẫm sự con hổ ở đây, một lần nữa lại phản chiếu tâm sự của chàng thanh niên Nguyễn Thế Lữ – người từng có thời hoạt động trong một “hội kín” yêu nước? Cái tâm sự bất bình, phủ định thứ văn minh “Tây Tàu nhô" nhăng” đang thay thế cho những “vẻ hoang vu” của “bóng cả cây già” “những đêm vàng bên bờ suối”, “những bình minh cây xanh nắng gội”… một cách hình dung, gợi nhớ đến những giá trị văn hoá cổ truyền của Tổ quốc?
Nhưng có lẽ luồng tâm sự xuyên suốt, điều canh cánh thường xuyên hơn cả trong lòng con hổ là nỗi nhớ – một nỗi nhớ vừa da diết xót xa, vừa mênh mang hoành tráng. Đó là nỗi “nhớ rừng” cao cả, thiêng liêng, đúng như đầu đề bài thư xác định. Ta dễ dàng nhận thấy hai đoạn thơ tả nỗi nhớ này lập trung, đậm đặc nhất – đoạn thứ hai và thứ ba trong bài – là hai đoạn có nhiều cảnh sắc huy hoàng hấp dẫn nhất, có nhạc điệu lôi cuốn say mê nhất. Nhớ làm sao bóng dáng xưa kia của ta “bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng” giữa “sơn lâm bóng cả, cây già – với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi”, đẹp đẽ, uy nghi, hùng tráng biết bao! Nhớ làm sao.
… những đệm vùng bên bờ 'suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
… những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm cảnh giang sơn ta đổi mới?
… những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca, giấc ngủ ta tưng bừng?
Những kỉ niệm mới lộng lẫy, hùng vĩ, nên thơ nên nhạc biết bao!
Có thể nói Thế Lữ đã chứa chất vào lời con hổ trong vườn này tâm sự của các thế hệ cùng lứa với nhà thơ. Và cũng không riêng gì một thế hệ. Ai là người Việt Nam còn chút lòng yêu nước, còn biết nghĩ, mà chẳng cảm nhận xót xa nỗi hờn mất nước? Ai đã từng đọc qua lịch sử dân tộc, có ít nhiều ý thức về nền “văn hiến” đã lâu “của đất nước, mà chẳng ngán ngẩm với thứ văn minh hào nhoáng pha tạp thời thực dân? Người Việt Nam chưa mất gốc nào mà chẳng ủ ấp hi vọng được “thênh thang (…) vùng vẫy”, được “ngự trị” trên “nước non hùng vĩ” của mình, tương tự chú hổ vườn thú kia vẫn không nguôi “giấc mộng vàng to lớn” của nó. | Phân tích tâm trạng con hổ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ | 856 | |
Đề bài: Phân tích tâm trạng cô bé Liên đêm đêm thức đợi xem chuyến tàu đi qua phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Bài làm
Thạch Lam là một ngòi bút truyện ngắn được nhiều người yêu thích Không phải vì cốt truyện đặc biệt, vì tình tiết li kì, mà chủ yếu là do ông đã sáng tạo ra một lối truyện ngắn: loại truyện tâm tình. Sức hấp dẫn của truyện ngắn Thạch Lam là ở tâm trạng nhân vật. Có thể thấy điều đó qua tâm trạng cô bé Liên đêm đêm thức đợi xem chuyến tàu đi qua phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của ông.
Vì sao đêm nào cũng vậy, Liên (và em) đều cố thức để đợi xem chuyến tàu đi qua phố huyện? Tâm trạng thức đợi tàu của Liên như thế nào? Muốn hiểu được điều đó phải bắt đầu từ cuộc sống của em ở cái phố huyện này.
Đó là cuộc sống buồn tẻ, đơn điệu, tàn lụi và đáng thương nơi phố huyện trong thời khắc của một ngày tàn. Phiên chợ chiều đã vãn, phô bày tất cả cái nghèo nàn, cái tiêu điều xơ xác trong hình ảnh những đứa trẻ lom khom tìm kiếm, nhặt nhạnh trong rác rưởi, và tiếng trống thu không dội xuống phố huyện, từng tiếng, từng tiếng mòn mỏi, rời rạc, buồn thấm thìa… Rồi đêm tối bao phủ kín mít phố huyện, bủa vây những kiếp người sống lầm lũi tội nghiệp như những cái bóng: mẹ con chị Tí hàng nước, bác phở Siêu, gia đình bác xẩm với manh chiếu, chiếc chậu thau sắt và đứa bé bò lê la trên rác bẩn, một bà lão điên mua rượu uống cười sằng sặc… Đến mức cái ánh lửa từ thùng phở bác Siêu chỉ hắt ra một vầng sáng con con và ngọn đèn leo lét trên chõng hàng nước chị Tí cũng “chỉ chiếu sáng một vùng leo lét trên chõng hàng nước chị Tí cũng “chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ” – biểu tượng về những kiếp sống nhỏ nhoi leo lét, vô nghĩa giữa đêm tối mênh mông của cuộc đời. Hình ảnh ngọn đèn con của chị Tí cứ trở đi trở lại đến bảy lần trong mấy trang truyện ngắn như một ám ảnh không thôi về cuộc sống héo hắt, tội nghiệp nơi phố huyện nghèo nàn, tăm tối.
Chính giữa cảnh điêu tàn như vậy của phố huyện, Thạch Lam đã miêu tả tâm trạng khắc khoải chờ đợi chuyến tàu của Liên. Đó là cô bé đã từng có những ngày sống ở một nơi không đến nỗi nghèo khổ và tối tăm như thế. Với Liên, nơi ấy, Hà Nội luôn đọng lại một kỉ niệm xa xôi và mơ hồ nhưng bao giờ cũng êm đềm, đẹp đẽ rực rỡ ánh sáng và niềm vui. Ngày nào cũng giống hệt ngày nào, cuộc sống cứ lặp lại một cách đơn điệu, tẻ ngắt: sáng dậy mở cửa dọn hàng, bán hàng; chiều tối lại kiếm tiền, thu hàng – và đó là những món hàng nhỏ nhoi không hề thay đổi: một bao diêm, một cuộn chỉ, mấy bánh xà phòng… Chi tiết chiếc chõng tre cũ, sắp gãy được Thạch Lam đưa vào đây thật đầy ý nghĩa: cuộc sống của hai đứa trẻ lớn lên sao mà đã sớm già nua tàn tạ! Cái thế giới mà Liên và em gái đang sống, đang tiếp cận ngày này qua ngày khác chỉ có thế. Đâu là niềm vui biết lấy gì mà kì vọng?
Tâm trạng buồn chán của Liên đã dẫn đến khát vọng muốn thoát ra khỏi cuộc sống mà cô đang phải sống, dù chỉ để hi vọng vu vơ về một cái gì ở bên ngoài khác với cái thế giới ngưng đọng và tàn lụi này. Cô phải tìm đến một cuộc sống khác, dù cuộc sống ấy chỉ đi qua trong khoảnh khắc. Và cô đã tìm thấy nó trong hình ảnh đoàn tàu đi qua phố huyện mỗi đêm. Dù buồn ngủ ríu cả mắt, cô vẫn thức đợi tàu. Để được, trong chốc lát, thoát ra khỏi cuộc sống nhàm chán, đơn điệu hiện nay. Đoàn tàu là một nhu cầu bức thiết về tinh thần của cô, vì chuyến tàu là hình ảnh một thế giới khác đi qua cuộc đời cô, một thế giới giàu sang, nhộn nhịp, huyên náo và đầy ánh sáng. Trong cả một ngày dài buồn tẻ, đây là những giây phút bừng sáng và hạnh phúc của cô, dù là chỉ sống trong mơ ước tưởng tượng.
Bởi vậy, khi tàu đến thì tâm hồn Liên bị cuốn hút ngay vào đoàn tàu – đoạn này được Thạch Lam miêu tả sinh động và đẹp: “Liên phắt đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng”. Đoàn tàu đã đi qua nhưng tâm hồn Liên thi vẫn gửi hút theo nó mãi cho đến khi chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre. Đến lúc ấy, cô như sống trong mơ tưởng, trong sự tiếc nuối một cái gì đã qua nhưng dư vang của nó thì vẫn còn đọng lại rõ rệt trong tâm hồn mình: “Liên lặng theo mơ tưởng, Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn, đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng”. Trong tâm trạng cô bé có sự tương phản rõ rệt giữa hai cuộc sống: cuộc sống đẹp đẽ của ước mơ và cuộc sống nơi phố huyện.
Khắc họa thành công tâm trạng đợi tàu của bé Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ. Thạch Lam muốn nói với người đọc nhiều điều sâu sắc. Đó là cuộc sống buồn tẻ đáng thương của những đứa trẻ trong chế độ cũ, và suy rộng ra, là cuộc sống của những kiếp người nhỏ bé, vô danh, không bao giờ được biết đến ánh sáng và hạnh phúc, cuộc sống mãi mãi bị chôn vùi trong tăm tối, nghèo đói, buồn chán nơi phố huyện, và rộng ra, trên đất nước còn chìm đắm trong cảnh nô lệ đói nghèo. Những cuộc đời mới đáng thương sao, nhưng lại có những ước mơ bé nhỏ, tội nghiệp mà chân thành tha thiết và cảm động rất đáng trân trọng như ước mơ đợi tàu đêm đêm của cô bé Liên. Ước mơ đó đã lay tỉnh những tâm hồn uể oải, đang lụi tắt, đốt lên trong lòng họ ngọn lửa của lòng khao khát được sống trong cuộc sống có ý nghĩa hơn, khao khát thoát khỏi cuộc đời tăm tối đang muốn chôn vùi họ. | Phân tích tâm trạng cô bé Liên đêm đêm thức đợi xem chuyến tàu đi qua phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam | 1,225 | |
Phân tích tâm trạng của hai chị em Liên trong cảnh đợi tàu. Qua đó Thạch Lam muốn nói đến người đọc vấn đề gì?
Mở bài
Tuổi thơ là những ngày tháng đầy ắp kỉ niệm về những lần chờ đợi. Có ai mà không từng chờ đợi kì nghỉ hè để được chơi thỏa thích, chờ đợi đêm giao thừa để được quần áo mới hay đơn giản hơn là chờ đợi vài viên kẹo mỗi khi bà đi chợ về. Có chờ đợi nên chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được sự hồi hợp, háo hức, hi vọng của chị em Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ. Bao nhiêu nỗi niềm vui buồn của tuổi thơ và cả những khát vọng đời thường của con người được Thạch Lam gửi găm hết vào cảnh đợi chờ chuyến tàu đêm từ Hà Nội qua phố huyện nghèo của chị em Liên.
Thân bài
Câu chuyện mở ra bằng âm thanh của tiếng trống thu không văng vẳng và cảnh tượng buổi chiều tan chợ của một phố huyện nhỏ. Cảnh tượng gợi trước mắt người đọc một không gian chật hẹp, nhỏ bé với những con người cũng lầm lũi, đáng thương. Nơi ấy, có hai chị em Liên và An vẫn ngày ngày ngồi bên gian hàng tạp hóa nhỏ trông hàng cho mẹ. Nơi ấy, mỗi chiều buông xuống, tiếng ếch nháy gọi nhau buồn tẻ, tiếng muỗi vo ve nao lòng. Cái âm thanh vốn ít ỏi, nhỏ bé ấy lại lọt thỏm vào màn đêm dày đặc. Bóng tối mỗi lúc mỗi phủ lấy mọi không gian, nó dày đặc, mịt mù khiến “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ..”Phố huyện nghèo chốc lát bỗng thu nhỏ lại bên gian hàng nước của chị Tí. Cả ngọn đèn thưa thớt của chị Tí và bếp lửa của bác Siêu cũng không đủ sức xua đi phần nào cái bóng tối bao trùm.
Chị em Liên ngồi đấy, thu mình và đưa đôi mắt nhỏ bé ướt át để trông chờ con tàu Hà Nội. Phải rồi, chính là Hà Nội, nơi mà ngày xưa chị em Liên có cuộc sống sung túc cùng ba mẹ. Cái “vùng sáng rực và lấp lánh” ấy trong kí ức hai chị em như được dát bằng vàng, bằng thứ vàng sáng vừa thực nhưng vừa ảo diệu. Hà Nội đẹp và yên bình, không như cuộc sống buồn tẻ bên những kiếp người tàn mà hai đứa trẻ đang sống. Sự lầm lũi trở đi trở lại mỗi ngày khiến họ, những con người đã từng hi vọng trở thành những cái bóng bị khuất mờ bởi màn đêm. Có thể Liên may mắn hơn chị Tí, bác Xẩm, bác Siêu vì em còn có một kí ức tươi đẹp về vùng sáng để mà có những phút giây tưởng nhớ và mơ mộng. Thế nhưng điều đó cũng mang lại cho em nỗi buồn lặng lẽ. Khi con người ta biết hạnh phúc và vui sướng thì cái cảm giác buồn tẻ sẽ càng nặng nề hơn một người suốt đời chưa có ngày thoát ra khỏi cái buồn. Tâm hồn của hai đứa trẻ vốn nhạy cảm, thơ ngây nên việc mơ mộng và khao khát là điều chính đáng. Lý do để hai chị em đợi đoàn tàu dù cả hai mắt đã ríu lại không phải để bán thêm ít hàng hoặc mong đợi một món quà nào của những người thân. Điều Liên và An chờ đợi chính là ánh sáng của Hà Nội đoàn tàu mang theo, đó là quá khứ vui vẻ cũng là tuổi thơ mà lẽ ra hai chị em được sống. Với hai chị em, đoàn tàu chưa qua có nghĩa là hoạt động cuối cùng trong ngày chưa kết thúc.
Không nhiều suy tư như chị mình vì An còn là cậu bé ngây thơ, duy chỉ có sự háo hức mong chờ là không mất đi dù cho đêm đã quá khuya. An nhiều lần căn dặn chị gọi mình khi tàu đến và chi tiết “An nhỏm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hơn” đã bộc lộ sự trưởng thành của đứa trẻ sớm phải xa rời cuộc sống êm ấm thị thành. An không như những đứa trẻ hay nhõng nhẽo, phụng phịu mỗi khi người lớn gọi dậy trong cơn mê ngủ. Với em, con tàu còn hơn cả giấc ngủ ngon. Chỉ có niềm say mê lớn lao mới đủ sức khiến một đứa trẻ chờ đợi bẳng cả hi vọng như thế. Hiểu được tâm lý của hai chị em An và Liên, Thạch Lam đã chứng tỏ mình là người tinh tế, nhạy cảm và hơn hết là hiểu được tâm lí, tính cách của trẻ em.
Tín hiệu đầu tiên làm Liên nhận ra đoàn tàu không phải là đèn ghi hay tiếng máy xe xình xịch mà là “ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma trơi”. Ngọn lửa sáng ấy chính là ánh sáng mà Liên khao khát, mong chờ. Cuối cùng sự chờ đợi ấy đã đến, hai chị em dồn mọi giác quan để được nghe, nhìn và cảm nhận đoàn tàu đang tiến về phía trước. Đáp lại sự mong đợi ấy, đoàn tàu như hiểu được tình cảm của những con người nơi phố huyện nên cứ nấn ná, chậm chạp. Con tàu hữu tình hay chính tấm lòng của nhà văn đã thổi niềm ưu ái vào số kiếp của những con người bé nhỏ. Cứ thế đoàn tàu hiện ra rĩ ràng trước đôi mắt háo hức của Liên và An “các toa đèn sáng trưng, chiếu sáng cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng, lố nhố những người đồng và kền lấp lánh..” Ngoại trừ ánh sáng của ngọn đèn dầu và bếp lửa hiu hắt đầu truyện thì cho đến khi đoàn tàu xuất hiện, cái ánh sáng rực rỡ mới thật sự xuất hiện. Ánh sáng nhiệm màu ấy dù đến trong phút chốc nhưng mới thật sự đủ sức xua đi bóng đêm u ám bao trùm cả tác phẩm. Trong phút chốc, cả phố huyện không chỉ bừng sáng mà còn nhộn nhịp bởi âm thanh vui vẻ từ toa tàu “tiếng còi rít lên, tiếng hành khách ồn ào”. Cái âm thanh nhộn nhịp của thành thì mà đoàn tàu mang đến khác hẳn với cuộc sống im lặng, đơn điệu của xóm huyện nghèo. “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ của họ”. Thế rồi khi con tàu khuất dần sau rặng tre chỉ để lại những chấm sáng nhỏ cũng là lúc một ngày khép lại. Bao nhiêu sự mong chờ, nuối tiếc và ước vọng đều theo thứ ánh sáng ấy ra đi.
Kết bài
Dù sáng tác trong trào lưu văn học lãng mạn nhưng Thạch Lam lại hướng đến những kiếp người nhỏ bé, đơn độc. Thông qua việc xây dựng thành công hai nhân vật Liên và An trong cảnh đợi chuyến tàu đêm, nhà văn đã thể hiện được tư tưởng nhân văn và tấm lòng nhân đạo của mình. Chẳng còn An và Liên cùng chuyến tàu đêm nữa nhưng đâu đó trong cuộc đời cần lắm thông điệp của Thạch Lam để vực dậy những kiếp người lẻ loi, bất hạnh “hãy thắp ngọn lửa hi vọng cho mỗi cuộc đời dù đó chỉ là ngọn lửa nhỏ bé trong phút chốc”. | Phân tích tâm trạng của hai chị em Liên trong cảnh đợi tàu. Qua đó Thạch Lam muốn nói đến người đọc vấn đề gì_ | 1,284 | |
Phân tích tâm trạng của người con trai lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao
Bài làm
Các nhân vật trong truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao đều là những con người vô cùng đáng thương. Họ là nạn nhân đau đớn của hoàn cảnh sống nghèo khổ, nghiệt ngã. Lão Hạc, ông giáo, vợ ông giáo, Binh Tư và cả người con trai lão Hạc đều ám ảnh ta bởi chính câu chuyện về cuộc đời họ.
Người con trai lão Hạc không xuất hiện trực tiếp trong truyện ngắn này. Ta biết đến anh qua lời kể của lão Hạc với ông giáo, qua những cuộc nói chuyện của lão Hạc với cậu Vàng. Nhưng không hiểu sao, hình ảnh người con trai lão cứ ám ảnh tâm trí tôi như ngôi sao xa bạc mệnh ở đời. Qua lời kể của lão Hạc, ta biết anh là người con trai duy nhất của lão. Anh yêu một cô gái trong làng nhưng vì nhà nghèo nên đành phải chia tay với người mình yêu. “Ý thằng con lão thì nó muốn bán vườn, cố lo cho bằng được”. Ta hiểu tâm trạng của anh. Với anh, đó là tình yêu đích thực, là khát vọng có vợ, có một gia đình bình thường như biết bao người con trai trong làng khác. Đó là khát vọng rất chính đáng của một người đã đến tuổi lập gia đình. Nhưng cuộc đời đâu có chiều theo ý người ta. Vì hoàn cảnh gia đình không lo đủ nên anh đành phải chấp nhận sự chia lìa, từ bỏ mơ ước về tình yêu và mái ấm. Nghe lão Hạc phân giải, anh âm thầm từ bỏ ý định: “Nó cũng là một thằng khá, nó thấy bố nó nói thế thì thôi ngay. Nó không đả động đến việc cưới xin gì nữa”. Có lẽ do anh đã ý thức rất rõ gia cảnh của gia đình mình, cũng vì thương bố, vì là một người con trai biết nghĩ nên anh không đả động đến việc cưới xin ấy nữa. Nhưng tình yêu bị chia lìa đâu có phải dễ quên. “Nó có vẻ buồn. Và lão biết nó vẫn đeo đuổi con kia mãi”. Tâm trạng của anh con trai là nét tâm trạng rất thực của những người con trai nhà nghèo yêu mà không đến được dich, yêu mà không lấy được người mình yêu.
Nhưng đó cũng là người con biết thương cha và là người con đầy lòng hiếu thảo. Bỏ lại cha già ở quê nghèo không người chăm sóc, nhiều người sẽ nghĩ anh vì tình riêng mà bất nghĩa với cha. Nhưng chỉ đến khi đọc được những dòng văn này ta mới thấy vừa cảm thông vừa thương cho người con trai cũng nhiều bất hạnh: “Trước khi đi nó còn cho tôi ba đồng bạc ông giáo ạ. Chả biết nó gửi thẻ xong, vay trước được mấy dồng, mà đưa về cho tôi ba đồng. Nó đưa cho tôi ba đồng và bảo: “Con biếu thầy ba đồng để thỉnh thoảng thầy ăn quà, xưa nay con ở nhà mãi cũng chẳng nuôi được thầy bữa nào, thì con đi cũng chẳng phải lo, thầy bòn vườn đất với làm thuê làm mướn thêm cho người ta thế nào cũng đủ ăn”. Những câu văn đượm lòng thương cảm với người cha già rồi đây sẽ sống trong cảnh côi cút. Những câu văn đầy sự xót xa của một người con không làm tròn chữ hiêu với người cha già của mình. Phải là một đứa con biết nghĩ và có những suy nghĩ rất sâu sắc, người con trai lão Hạc mới có những hành động như vậy. Từ bỏ ý định lấy vợ cũng một phần vì thương cha, thương cho hoàn cảnh sống đói khổ của hai cha con. Quyết tâm đi làm đồn điền cao su là vì muốn cha bớt khố’ với hi vọng vào ngày mai khá hơn.
Câu chuyện con lão Hạc và một sự thách thức với cuộc đời, với cái chết để trả giá cho cái nghèo, ta như cũng bắt gặp đâu đó trong Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái. Chừng nào còn cái nghèo trước số phận một con người hay dân tộc thì hình ảnh con lão Hạc vẫn còn ám ảnh bạn đọc sâu sắc.
Trong truyện ngắn Lão Hạc, có nhiều nhân vật đã khóc. Hình ảnh người con trai lão “rân rấn nước mắt” từ biệt cha trước lúc ra đi đã làm ta xúc động. Đó là những giọt nước mắt của lòng yêu thương cha già, của những nỗi trăn trở và day dứt về việc chưa làm tròn bốn phận người con của mình.
Những nhân vật của Nam Cao dù nghèo khổ, bất hạnh nhưng luôn là những đốm sáng dù leo lét trong đời. Những nét nhân cách của họ rất đáng trọng. Người con trai lão Hạc vừa làm ta thấy đáng thương vừa đáng trọng. Dù xuất hiện không nhiều, không trực tiếp trong tác phẩm nhưng nhân vật này có tiếng nói riêng, có cuộc đời, có sức sống riêng trong tác phẩm. Cuộc đời éo le của anh cũng là bản cáo trạng tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đã đẩy cha con anh và biết bao người vào cảnh khốn cùng, cướp mất của anh tình yêu chân chính và đẩy cha con anh vào hoàn cảnh chia lìa. Qua nhân vật người con trai lão Hạc, một lần nữa Nam Cao đã vẽ lên một bức tranh vô cùng chân thực về số phận của những người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. | Phân tích tâm trạng của người con trai lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao | 973 | |
Phân tích tâm trạng của nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ
Hướng dẫn
Phân tích tâm trạng của nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ
Liên và An là hai nhân vật chính của câu chuyện nhưng mọi biến chuyển tinh vi của vạn vật đều hiện lên qua ánh nhìn nhạy cảm của cô bé Liên.
Thạch Lam xuất thân từ một gia đình công chức gốc quan lại và là một cây bút đắc lực của báo Phong hóa và Ngày nay. Thạch Lam sáng tác không nhiều nhưng đủ để tạo nên phong cách riêng trong sáng, giản dị, đậm chất trữ tình. Ông có đóng góp đáng quý cho sự nghiệp văn xuôi trước Cách mạng tháng Tám, đặc biệt trong thể loại truyện ngắn. “Hai đứa trẻ” một “tác phẩm thơ mang y phục văn xuôi” đã để lại một niềm cảm thương sâu sắc trong lòng người đọc về hai đứa trẻ là Liên và An.
Liên và An là hai đứa trẻ từng sống ở Hà Nội, rồi gia đình sa cơ thất thế nên trở về quê, một phố huyện nghèo hẻo lánh. Hai chị em trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu. Một gian hàng thuê lại của bà lão móm, ngăn ra bằng phên nứa dán giấy nhật trình. Liên chừng khoảng chín tuổi còn An khoảng bảy, tám tuổi. Tuy còn nhỏ nhưng Liên đã có những toan tính cho cuộc sống. Có lẽ vì thế mà trong sâu thẳm tâm hồn cô bé này đã có những xúc cảm hết sức tinh vi về mọi vật, mọi việc ở phố huyện này.
Bức tranh thiên nhiên trong phố huyện khi ngày tàn được hiện lên qua điểm nhìn nhạy cảm, tinh tế của Liên. “Một buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gío nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve.” Trong bức tranh ấy có sự hòa trộn giữa hai loại hình ảnh: hình ảnh êm đềm, lãng mạn và hình ảnh gợi sự nghèo khổ, bần cùng. Phải chăng do cảnh chiều tàn mà gợi cho Liên nỗi buồn: “ Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đoi mắt chị bónh tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn.” Thật khó để phân định rạch ròi nỗi buồn ngoại cảnh thấm vào tâm cảnh haynỗi buồn tâm cảnh lan tỏa ra, nhuốm vào ngoại cảnh. Ta chỉ thấy ở đay là một nỗi buồn sâu sắc trong tâm trạng. Chỉ có sự cảm nhận tinh tế, nhạy cảm như Liên mới thấu hiểu nó.
Liên thực sự có một tấm lòng thương cảm vô hạn đối với những con người nghèo khổ, lam lũ, tù túng của phố huyện. Liên thương những đứa trẻ con nhà nghèo nhưng chính chị cũng chẳng có tiền cho chúng. Hình ảnh những đứa trẻ đã gợi sự xót thương của Liên đối với cảnh sống nghèo khó của chúng. Liên thương cho chị Tí, bởi vì cuộc sống của chị cũng khó khăn: “sỡm với muộn mà có ăn thua gì? “. Dường như trong lời hỏi thăm ân cần của Liên có một tiếng nấc khe khẽ. Liên thương cho cụ thi hơi điên, “chị lẳng lặng rót đầy cút rượu ti” và “hai chị em Liên đứng sững nhìn theo cụ đi lần vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng”. Nhịp sống ở phố huyện cứ lặp đi, lặp lại, quanh quẩn, đơn điệu, tẻ nhạt. Những cảnh đời bế tắc, cuộc sống của những con người tàn. Họ đang gồng mình lên để sống nói cách khác họ đang sống leo lắt hay chỉ đang tồn tại. Dường như tất cả cảnh phố huyện đều được cô bé thu vào tầm mắt. Với trái tim đa cảm giàu lòng thương xót, Liên đã có những cảm nhận tinh tế về cuộc đời mờ nhạt, quanh quẩn, cái ao đời phẳng lặng trong phố huyện nghèo. Chính sự quan tâm, niềm cảm thương ấy của Liên đã làm nên tình người bàng bạc khắp thiên truyện. Tình người trong Liên không ồn ào mà dịu nhẹ, sáng trong lắng dần trên trang sách. Cái nhìn nhân hậu cùng niềm xót thương đã tạo nên giá trị nhân văn cho “Hai đứa trẻ”. Những kiếp người xuất hiện trong đêm tối, từ bóng tối đi ra rồi lại đi lần vào bóng tối chỉ được gợi lên qua cái nhình của Liên hay chính Thạch Lam? Bởi theo Thế Lữ nhận xét: “Thạch Lam là người sống hết cả từng ý văn, từng câu văn anh đã viết ra trên trang giấy. Sự thực của tâm hồn mà Thạch Lam diễn trong văn chương phức tạp, nhiều hình vẻ, nhưng bao giờ cũng đằm thắm, cũng nhân hậu, cũng nghẹn ngào một chút lệ thầm kín của tình thương.”
Hai đứa trẻ dù cho già dặn trong suy nghĩ thì vẫn chỉ là hai đứa trẻ, là hai mầm cây mới nhú trên mảnh đất cằn cỗi, khắc nghiệt cảu không gian nơi phố huyện. Chúng vẫn thèm hòa nhập vào những cuộc chơicủa bao đứa trẻ khác ở “thềm hè” nhưng cả hai đều sợ “trái lời mẹ dặn” và “đành ngồi trên chõng”. Hai chị em Liên lũ trẻ đang chơi ở thềm hè với con mắt thèm muốn và một chút nuối tiếc. Đó là điều hết sức tự nhiên trong tâm hồn trẻ thơ. Tuổi thơ của chúng sớm phải chia tay với những buổi dạo chơi trên phố, sớm quên đi bao niềm vui để phải già dặn, toan tính. Rồi liên và An ngồi ở chõng mà ngước mắt lên bầu trời để khám phá, “vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ”. Chính sự khám phá tự nhiên ấy đã “làm mỏi trí nghĩ” của cả hai đứa trẻ. Thạch Lam hơn ai hết thấu cái bi kịch lớn của tình thương, muốn được san sẻ cùng mà chỉ có thể nâng đỡ về tinh thần. Hai đứa trẻ cũng như ấp ủ bao hi vọng mơ ước của nhà văn được thay đổi thực tại tù túng kia, để những đứa trẻ như liên và An được hưởng trọn vẹn trong vòng tay yêu thương, đùm bọc của cuộc đời.
Hai đứa trẻ-hai niềm hi vọng được nhen nhóm lên như ánh sáng của đoàn tàu làm bừng sáng cả không gian phố huyện, ánh lên nỗi khao khát về sự thay đổi. Sự khao khát, hi vọng mãnh liệt của Liên về sự thay đổi được thể hiện trong cảnh Liên và An cố thức để đợi chuyến tàu đêm. Đoàn tàu hiện ra trong bóng tối với “ngọn lửa xanh biếc”, với tiếng còi kéo dài, với “làn khói bừng sáng”. Con tàu hiện lên bằng một thứ ánh sáng khác hẳn với ngọn đèn leo lắt của chị Tí, của bác phở Siêu. Âm thanh “rầm rộ” làm xáo động cả không gian phố huyện. Trong sâu thẳm tâm hồn những con người nơi đây, đoàn tàu còn mang lại ánh sáng giàu sang, no ấm, hạnh phúc, ánh sáng mà “chừng ấy người trong bóng tối “ đang chờ đợi chăng? Đoàn tàu xuất hiện chỉ làm thay đổi không gian phố huyện trong khoảnh khắc nhưng cũng để mọi người thèm khát. Đặc biệt là Liên, Liên đã càng hiểu thấu sự khao khát đó do chính cô bé cũng từng là người Hà Nội, từng có cuộc sống ấm no như thế. Khi tàub tới “Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực rỡ vui vẻ và huyên náo”. Con tàu như đã đem đén một chút thế giới khác, một thế giới khác hẳn đối với Liên, một thế giới hạnh phúc, giàu sang khác xa với cuộc sống nghèo khổ, tù túng hiện giờ nơi phố huyện. Đoàn tàu đi từ kí ức tới hiện tại, mang đến ước mơ và khát vọng và đem chúng đi trong sự nuối tiếc của Liên. Phố huyện lại trở về với sự yên tĩnh, tịch mịch và sự bủa vây của bóng tối, nguyên vẹn một cuộc sống tù túng, nghèo khó của bao kiếp người. Dù có khó khăn nhưng họ vẫn khao khát, vẫn mơ ước về một tương lai tươi sáng. Đó chính là niềm tin sâu sắc của Thạch Lam, là giá trị nhân đạo của tác phẩm. Nhưng đó chỉ là ý niệm mà không thể thay đổi được thực tế. Đoàn tàu đến, đi qua nhưng chỉ làm Liên thanh thản, yên tĩnh chứ không thể thay đổi được thực tại về cuộc sống “tịch mịch và đầy bóng tối” của Liên. Không thấm được một tấm lòng nhân ái sâu xa, không hiểu lòng con trẻ, không có một tâm hồn nhạy cảm thì thạch Lam không thể diễn tả tinh tế đến thế nỗi thèm khát ánh sáng của những con người trong bóng tối mà đặc biệt là hai đứa trẻ. Quả thực thạch Lam là một hệ thống dây tơ nhạy bén đến mức có thể cảm nhận được sự biến chuyển tinh vi trong tâm trạng mỗi nhân vật. | Phân tích tâm trạng của nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ | 1,601 | |
Phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình qua bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin
Hướng dẫn
Phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình qua bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin
Bài làm
Bài thơ Tôi yêu em là một bài thơ tình đặc sắc của Puskin. Ta tìm gặp ở bài thơ tâm hồn Nga, tính cách Nga, hồn thơ Nga sôi nổi, đằm thắm, ngọt ngào…
Tôi yêu em đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai…
Ghi nhận sự có mặt của câu thơ đầu là hình ảnh của chủ thể trữ tình. Nó không bằng một cái tên cụ thể nào hết, mà là em và tôi. Nhân vật tôi ư? Không cần thiết phải nghi vấn, là người khác hay tác giả. Thống nhất nhưng không đồng nhất. Thơ trữ tình luôn lưu ý ta về đặc điểm này. Và em nữa, cũng như tôi vậy thôi. Chỉ có điều em và tôi là hai trong một chính thể. Tôi yêu em, vâng, tôi đã yêu, yêu say đắm, yêu vô vọng và cuồng nhiệt. Em không biết ư? Nó chưa tắt đâu, chưa tàn đâu, hay đúng hơn, sẽ không bao giờ lụi tàn đâu. Tôi yêu em bằng tình yêu số một, tình yêu duy nhất, tình yêu vĩnh cửu. Có lẽ em không biết, nhưng với tôi, trước sau không khoảng cách, bởi tôi là tôi. Tôi không phải là một người nào khác.
Hay hồn em phải gợn sóng u hoài.
Từ sâu thẳm của tôi là nỗi đau của sự chấm dứt một mối tình – một mối tình cô đơn và lạc lõng. Tôi yêu em, nhưng tôi không muốn làm bận em, hay gây day dứt cho em. Tôi đứng giữa hai con đường. Tất cả đều khó tin và đều buồn như nhau. Mặc dầu thế tôi càng yêu em. Trái tim mách bảo với tôi không thể rủ bỏ dễ dàng được đâu. Đã có sự mâu thuẫn giữa con người suy nghĩ và con người hành động. Một mối mâu thuẫn giữa tình cảm và lí trí đã giằng xé tôi, co giật tôi. Chia tay thì tôi đã tự nguyện chia tay, nhưng câu thơ sao trăn trở rớm máu! Tự nguyện mà sao lòng quặn lại, xót xa… Càng day dứt, càng đau, càng yêu. Tôi muốn có em, nhưng tôi biết rằng không thể. Tôi đứng đứng ở tư thế yêu và rất yêu nhưng chỉ là tình cảm từ một phía. Tình yêu tôi mất phương hướng, tôi chao đảo, tôi chới với. Em đấy, nhưng rất xa xôi, có thể tôi không bao giờ với tới được.
Tôi yêu em âm thầm không hi vọng
Khi rụt rè, khi hậm hực lòng ghen.
Tôi đơn phương? Điều đó quá rõ. Biết rằng tôi yêu em, nhưng: cũng biết là không mơ có được em. Tôi yêu một cách vô vọng. Ý thức đấy tôi tới một mối bi kịch sâu sắc. Điệp từ Tôi yêu em như một minh chứng về sự yêu tột đỉnh của tôi. Yêu và ghen, đó là sắc thái tự nhiên của tình yêu, càng đơn phương, càng vô vọng, tôi càng tự biểu hiện mình rõ rệt và tự nhiên hơn. Bài thơ Tôi yêu em – đó là tiếng lòng của tôi, nhưng tôi phải để cho em tự do lại là tiếng nói đầy lí trí. Rụt rè, mãnh liệt, hậm hực, ghen tuông… trong tình yêu, ấy là điều dễ có. Si mê, đau khổ và cao thượng, vô vọng nhưng kết thúc, tôi đã thốt lên:
Một câu thơ vị tha, một tấm lòng vị tha. Tình đơn phương mà không tàn lụi đi. Trái lại, tình cảm của tôi càng thêm mãnh liệt. Giọng điệu cũng như tâm trạng thơ, vừa thiết tha, vừa đau đớn. Đó chính là ấn tượng riêng của tôi yêu em.
Bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu hi vọng, bao nhiêu cay đắng và day dứt, tôi đã cất lên được tiếng lòng mình: Tôi yêu em. | Phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình qua bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin | 679 | |
Phân tích tâm trạng của nhân vật “tôi” trong buổi tựu trường qua truyện ngắn “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh
Hướng dẫn
Phân tích tâm trạng của nhân vật “tôi” trong buổi tựu trường qua truyện ngắn “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh
Bài làm
Thanh Tịnh sinh năm 1911 tại xóm Gia Lạc, ngoại ô thành phố Huế. Ông là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ kháng chiến. Những tác phẩm nổi tiếng của ông phải kể đến như Hận chiến trường, Quê mẹ, Chị và em, Đi từ giữa mùa sen….Sáng tác của ông mang tính sáng tạo và có hình thức diễn tả sâu sắc. Trong đó, truyện ngắn “ Tôi đi học” là một tác phẩm xuất sắc, thể hiện rõ diễn biến tâm lý của nhân vật “ tôi”, khi được mẹ đưa đến trường vào ngày đầu tiên của năm học mới.
Buổi tựu trường của nhân vật “ tôi” diễn ra vào “ một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh”. Hôm ấy, chú bé mặc một chiếc áo vải dù đen dài, mang lại cảm giác trang trọng và đứng đắn. Chú được mẹ âu yếm nắm tay nên cảm thấy vô cùng tưng bừng rộn rã. Hai mẹ con đi trên con đường làng thân thuộc dài và hẹp. Chú bé bỗng nhiên cảm thấy lạ, cảm thấy bỡ ngỡ, dường như mọi vật thân thuộc xung quanh cũng như con đường làng đều thay đổi. Và có lẽ sự bỡ ngỡ ấy là bởi “vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học”.
Chú bé “ bỡ ngỡ đứng nép bên người thân; đi từng bước nhẹ, như con chim non đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay nhưng còn ngập ngừng e sợ.” Đến lúc này, chú cảm thấy ngày càng hồi hộp, khi nghe tiếng trống trường thúc vang dội. Chú thấy mình chơ vơ, chân không đi được như bị một sức mạnh kéo dìu lại, cứ dềnh dàng mãi. Chắc hẳn chú cũng như những cô cậu học trò khác, run run theo nhịp bước rôn ràng trong các lớp vào buổi đầu khai trường.
Đến khi nghe ông đốc đọc tên từng người, nhân vật “ tôi” hồi hộp xúc động tưởng như quả tim ngừng đập, giật mình lúng túng, quên cả mẹ đang đứng đằng sau mình. Nhiều cô cậu học trò ôm mặt khóc, chú cũng dúi đầu vào lòng mẹ nức nở khóc theo, mặc cho bàn tay của mẹ nhẹ vuốt mái tóc, chú vẫn cảm thấy cô đơn, loi khi bước vào lớp. Cũng có thể vì “ chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như lần này.”
Khi được ngồi vào trong lớp, chú bé cảm thấy “ một mùi hương lạ xông lên”. Những hình treo trên tường khiến chú “ thấy lạ và hay hay.” Bàn ghế xung quanh được chú tạm nhận “ vật riêng của mình”. Người bạn bên cạnh không cảm giác xa lạ mà “ quyến luyến tự nhiên”. Khi chú lầm nhẩm đánh vần bài viết tập “ Tôi đi học”, tiếng phấn viết bảng của thầy giáo đã đưa chú về với thực tại. | Phân tích tâm trạng của nhân vật “tôi” trong buổi tựu trường qua truyện ngắn “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh | 547 | |
Đề bài: Phân tích tâm trạng người chiến sĩ cách mạng qua bài thơ Tâm tư trong tù của Tố Hữu
Bài làm
Văn thơ yêu nước và cách mạng Việt Nam có nhiều tác phẩm chứa chan tình yêu nước và căm thù giặc. Phan Bội Châu với "Hải ngoại huyết thư”, "Ngục trung thư",… Phan Châu Trinh có bài thơ "Đập đá ở Côn Lôn" sáng ngợi khí tiết của kẻ sĩ "uy vũ bất năng khuất". Hồ Chí Minh với "Nhật kí trong tù" – những vần thơ thép "mênh mông bát ngát tình". Phần "Xiềng xích" trong tập "Từ ấy" của Tố Hữu cũng có nhiều bài thơ đặc sắc được viết trong cảnh tù đày.
Bài thơ "Tâm tư trong tù" nằm trong phần "Xiềng xích" được Tố Hữu viết vào cuối tháng 4 năm 1939, tại nhà lao Thừa Thiên. Bài thơ phản ánh tâm trạng của người thanh niên cộng sản trong những ngày đầu bị thực dân Pháp bắt bớ, giam cầm.
Có đau đớn nào lớn hơn nổi đau đớn bị mất tự do? – "Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại" – nằm trong ngục tối, người chiến sĩ cách mạng trẻ luôn luôn hướng tâm hồn mình ra ngoài song sắt, cảnh nhà tù tăm tối, chật hẹp, chết chóc và lạnh lẽo:
"Đây lạnh lẽo bốn tường vôi khắc khổ
Đây sàn lim manh ván ghép sầm u".
Nhà thơ bị biệt giam trong một xà lim kín mít với "bốn tường vôi khắc khổ", phải nằm trên nền nhà với những "manh ván ghép". Một không gian nhỏ bé, chật hẹp, "lạnh lẽo", "sầm u" vô cùng tăm tối.
Đối lập với xà lim biệt giam là cảnh vật và không gian bên ngoài, hầu như tràn đầy ánh sáng và âm thanh:
"Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!".
"lắng nghe" trong một khung cảnh im ắng đến dễ sợ, vì phòng biệt giam nào khác một nấm mồ. Giọng thơ tha thiết, bồi hồi khi người tù "lắng nghe" những âm thanh của cuộc đời dội đến.
Người tù "tai mở rộng” và “ lắng nghe" mọi âm thanh cuộc sống bên ngoài. Một tiếng rao đêm. Một tiếng chim tu hú gọi bầy. Một tiếng diều sáo… Tiếng gió thổi như thủy triều vỗ sóng. Tiếng chim reo. Tiếng dơi chiều đập cánh "vội vã "bay đi tìm mồi”. Và tiếng guốc, tiếng lạc ngựa gần, xa:
"Nghe chim reo trong, gió mạnh lên triều,
Nghe vội vã tiếng dơi chiều dập cánh,
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh.
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về”
Câu thơ nào cũng có chữ "nghe". Chữ "nghe" chứa đầy tâm trạng. Giọng thơ tha thiết bồi hồi. Cái khao khát tự do làm cho tâm hồn người tù rung lên: "Tiếng guốc đi về" trên những đường phố nhỏ, dài, nghe mơ hồ lúc to lúc nhỏ, lúc gần lúc xa càng làm cho nỗi nhớ, nỗi buồn cô đơn thêm da diết. "Tiếng guốc đi về" là cái âm thanh bình dị của đời thường, gợi hơi hướng con người, được người tù "lắng nghe" và cảm nhận đã đặc tả nỗi buồn cô đơn và khao khát tự do cháy bỏng. Đó là một nét đặc tả tâm trạng đầy ấn tượng.
Nỗi cô đơn là tâm trạng của người chiến sĩ trẻ, chưa dạn dày trong đấu tranh, lần đầu tiên sa vào lưới mật thám Pháp. Hai lần trong bài thơ, tác giả nói lên tâm trạng cô đơn ấy:
"Cô đơn thay là cảnh thân tù
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực"…
Phải xa rời "đội ngũ", phải cách li đồng chí, bè bạn. Còn đâu nữa những tháng ngày hoạt động sôi nổi? Giờ đây, bị nhốt trong phòng kín nhà lao, chân tay bị xiềng xích, cùm trói, phải nằm trên "sàn lim manh ván ghép", nếm đủ mùi cay đắng, anh lại càng khao khát tự do. Anh tưởng tượng thế giới bên ngoài vô cùng đẹp đẽ:
"Tôi mơ hồ nghe tất cả bên ngoài
Đang ríu rít giữa một trời rộng rãi
Đang hút mật của đời sây hoa trái
Hương tự do thơm ngát cả ngàn ngày"…
Chỉ là "mơ hồ" thôi! Người tù đã vẽ ra một cảnh tượng "thần tiên" bên ngoài song sắt nhà tù: bầu trời"rộng rãi", bầy chim cùng vạn vật "ríu rít" hót ca. Cuộc đời đầy hương thơm, mật ngọt, sây hoa trái. Cuộc đời trong tưởng tượng được thi vị hóa: "Hương tự do thơm ngát cả ngàn ngày".
Nhưng rồi ảo tượng bồng bột ấy trôi qua nhanh. Anh tĩnh trí rồi tự phủ định những mơ tưởng trên là phi lí. Thời bấy giờ, Mặt trận dân chủ Đông Dương đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử một cách vẻ vang. Chiến tranh thế giới thứ II sắp hùng nổ. Thực dân Pháp tăng cường đàn áp và khủng bố. Cuộc sống của nhân ân ta vô cùng ngột ngạt. Nhà tù đế quốc chật ních chính trị phạm. Cuộc sống của đồng bào ta thuở ấy làm gì có cái cảnh "sây hoa trái”, có “Hương tự do thơm ngát cả ngàn ngày". Nhưng rồi mẫn cảm về chính trị đã giúp nhà thơ tự điều chỉnh nhận thức "mơ hồ" của mình. Anh cay đắng và uất hận:
"Tôi chiều hay giam cấm hận trong lòng,
Chỉ là một giữa loài người đau khổ
Tôi chỉ là một con chim non bé nhỏ,
Vứt trong lồng con giữa một lồng to".
Cuộc đời ngoài song sắt nhà tù lúc bấy giờ tuy có "rộng rãi" hơn chút ít, nhưng xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp là một cái "lồng to". Lao Thừa Thiên, Hỏa Lò, nhà tù Sơn La, Côn Đảo,… là những chiếc "lồng con" đáng sợ! Tố Hữu "chỉ là một con chim non bé nhỏ đang bị nhốt, bị đày đọa trong cái "lồng con" – nhà lao Thừa Thiên. Hình tượng thơ được đặt trong thể tương phản đối lập để nói lên những suy tư sâu sắc của người chiến sĩ cách mạng về cảnh lao tù, về thân phận những chính trị phạm, về nỗi lầm than của dân tộc! Anh uất hận rung lên:
"Ở ngoài kia… biết bao thân tù hãm,
Đọa đày trong những hố thẳm không cùng”
Anh sẵn sàng chấp nhận những cay đắng, nhục hình và cô đơn, nâng cao dũng khí trước mọi thử thách:
Tôi chỉ một giữa muôn người chiến đấu
Vẫn đứng thẳng trên đường đầy lửa máu
Chân kiêu căng không thoái bộ bao giờ!
Giọng thơ mỗi lúc một trở nên mạnh mẽ, uất hận, thể hiện một niềm tin sắt đá, một ý chí chiến đấu kiên cường, khẳng định lòng trung thành vô hạn với lí tưởng cách mạng cao cả. Anh nhìn rõ những chặng đường khổ ải phía trước, những địa ngục trần gian:
“Nơi đày ải là Đắc Pao, Lao Bảo
Là Côn Đảo, thế giới của ưu phiền”
Sau này, trong nhiều bài thơ khác, anh nói lên quyết tâm sắt thép của người thanh niên cộng sản, sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh:
"Đời cách mạng từ khi tôi đủ hiểu,
Dấn thân vô là phải chịu tù đày,
Là gươm kề cổ, súng kề tài,
Là thân sống chỉ coi còn một nửa… "
( Trăng trối – 1940)
Sa vào lưới mật thám, bị tù đày chưa hẳn là người chiến bại? Anh tự nhắc nhở mình giữ trọn vẹn phẩm chất và khí tiết người cách mạng:
"Tôi sẽ cười như kẻ sẵn lòng tin,
Giữ trinh bạch linh hồn trong bụi bẩn".
Sống trong cảnh cô đơn thân tù, tâm trạng của anh day dứt, tự đấu tranh để vượt lên. Không thể mềm lòng, yếu đuối! Không được bi quan, dao động! Vấn đề sống và chết được đặt ra một cách nghiêm túc và gay gắt. Tố Hữu đã trái qua những dây phút tự đấu tranh căng thẳng. Câu thơ như một lời thề vang lên mạnh mẽ và sôi sục:
“ Tôi chưa chết nghĩa là chưa hết hận
Nghĩa là chưa hết nhục của muôn đời
Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi
Còn trừ diệt cả một loài thú độc!"
" nghĩa là… nghĩa là… nghĩa là…", được nhân đi nhân lại ba lần, thể hiện một khí phách, một ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất!
"Tâm tư trong tù", "Con cá, chột mưa", Trăng trối"… là những bài thơ xuất sắc nhất của Tố Hữu viết trong nhà tù đế quốc những năm 1939, 1940. Bài thơ "Tâm tư trong tù" đã phản ánh chân thực tình cảm và tâm trạng của người chiến sĩ trẻ trong nhữngngày đầu bị đày đọa trong ngục tối: nỗi buồn cô đơn, lòng khao khát tự do, quan niệm về vấn đề sống và chết, về khí tiết của người cộng sản…
Cảm xúc chân thực. Tâm trạng vận động đúng quy luật đấu tranh cách mạng của người chiến sĩ chân chính trong chốn lao tù. "Tâm tư trong tù" có nói đến cô đơn, nhưng đích thực là khúc tráng ca về tự do. Bài thơ đẹp vì người chiến sĩ ấy đã sống tuyệt đẹp trong "Máu lửa – Xiềng xích – Giải phóng". | Phân tích tâm trạng người chiến sĩ cách mạng qua bài thơ Tâm tư trong tù của Tố Hữu | 1,544 | |
Đề bài: Phân tích tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Dàn ý
I. MỞ BÀI
Vợ nhặt là tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, viết về cuộc sống ngột ngạt của nhân dân ta mà tiêu biểu là gia đình bà cụ Tứ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Ngòi bút nhân đạo của Kim Lân vừa thể hiện ở sự phát hiện khẳng định vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu sau cái bề ngoài xác xơ vì đói khổ của nhân vật.
Trong ba nhân vật của truyện (bà cụ Tứ, Tràng và người đàn bà vợ Tràng), cụ Tứ, mẹ Tràng, là nhân vật có tâm trạng phức tạp mà nhân hậu vô cùng di thể hiện nổi bật nội dung nhân đạo sâu sắc, cảm động trong tác phẩm. Ngòi bút tài hoa của Kim Lân đã diễn tả rất thành công trạng thái tâm lí đó.
Phân tích tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
II. THẢN BÀI
1. Sự ngạc nhiên đến sững sờ
Tình huống đặc biệt làm cho bà cụ Tứ ngạc nhiên, ây là việc con trai mình lấy vợ. Bà cụ ngạc nhiên vì con mình nghèo, xấu xí, dân ngụ cư lại đang thời buổi đói khát, nuôi thân chẳng xong. Tràng còn dám lấy vợ, rước thêm miệng ăn. Khi bà cụ đi làm về muộn, thấy người đàn bà ngồi ở đầu giường con mình rất ngạc nhiên, càng ngạc nhiên hơn khi được người đàn bà chào bằng u và được Tràng giới thiệu: “Kìa nhà tôi nó chào u”..”Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ”. Bà ngạc nhiên đến mức không còn tin được vào mắt và tai mình: “Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn thì phải. Bà lão nhìn kĩ người đàn bà lẫn nữa, vẫn chưa nhận ra người nào. Bà lão quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu”.
2. Vừa mừng vừa tủi
– Khi đã vỡ lẽ, đã hiểu ra con mình “nhặt” được vợ, bà “cúi đầu nín lặng”. Bà liên tưởng đến bao cơ sự “oái ăm” “ai oán” “xót thương” cho số kiếp của đứa con mình. Bà liên tưởng đến người chồng quá cố, đến đứa con gái đã qua đời, lòng bà trĩu nặng tủi buồn, xót xa.
– Bà cụ Tứ mừng cho con từ nay yên bề gia thất, tủi thân làm mẹ không lo nổi vợ cho con. Giờ đây giữa lúc người chết đói “như ngả rạ" lại có người theo con trai bà về làm vợ. Cái tủi, cái buồn của người mẹ bị dồn vào cảnh nghèo cùng quẫn. Biết lấy gì để cúng tổ tiên, đế trình làng khi con đã có vợ. Bà cụ Tứ khóc vì mừng con có vợ, khóc vì thương con dâu không biết làm sao vượt qua nổi khó khăn này.
“Trong kẽ mất kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt”. “Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá!…” “ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…”. “Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Bao nhiêu tình yêu thương chân thành tha thiết của ngưòi mẹ thể hiện trong những lời giản dị mộc mạc ấy.
– Bà cụ xót xa thương dâu, thương con, tủi phận mình: “bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”. Bao nhiêu lo lắng ngổn ngang trong lòng.
3. Nỗi lo
Bà cụ Tứ lo lắng thực sự cho con trai, con dâu, lo cho cái gia đình nghèo túng của bà giữa lúc đói kém này liệu có nuôi nổi nhau? Tương lai rồi sẽ ra sao… Bà chấp nhận cái “hạnh phúc” oái oãm éo le của gia đình. Ngẫm cái phận nghèo bà tự nhủ: “Có gặp bước khó khăn, đói khổ này người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được..”. Bà chỉ biết khuyên con, khuyên dâu thương yêu nhau, ăn ở hoà thuận với nhau để cùng vượt qua cơn khốn khó. Đó là nỗi lo, nổi thương của người mẹ từng trải, hiểu đời có tấm lòng sâu thẳm đối với mình. Trong sự lo lắng tủi hờn vẫn nhen nhóm một niềm tin.
4. Niềm tin
– Trong cái mừng, cái tủi, cái lo, người đọc vẫn thấy được niềm vui của cụ. Một niềm vui tội nghiệp không sao cất cánh lên được, cứ bị cái buồn, cái lo níu kéo xuống. Nhưng bà cụ Tứ cố vui và gắng làm cho con, cho dâu vui.
+ Vui trong ý nghĩ tốt đẹp về tương lai: “Rồi ra may mà ông giời cho khá…” ai giàu ba họ ai khó ba đời. Có ra thì con cái chúng mày về sau. Bà cụ “nói toàn: chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này".
+ Vui trong công việc sửa sang vườn tược, nhà cửa. Bà cụ giẫy cỏ cho sạch vườn. “Cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa”.
+ Vui trong bữa cơm sáng, bữa cơm đầu liên có con dâu đó là một bữa “tiệc với món cháo loãng và món “chè khoái” đắng chát – một bữa ăn ngày đói rất thảm hại nhưng bà cụ cố tạo ra niềm vui để động viên an ủi con trai, con dâu.
– Mặc dù cuộc sống khắc nghiệt, ngặi nghèo đến tàn bạo đã đầy đoạ mẹ con bà. Bà vẫn cố tạo không khí hoà thuận ấm cúng trong gia đình và kể chuyện làm ăn, nuôi gà… tươi cười đon đả múc cho con dâu những bát cháo cám.
Tuy nhiên cái vui ấy, dù là rất nhỏ bé mà vẫn mong manh, vẫn chìm đi trong cái tăm tối hiện tại: Tiếng khóc, mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết đói. Bà cụ nghĩ đến ông lão, đến đứa con út, đến cuộc đời cực khổ dài dặc dặc của mình, đến cái “đói to” trước mắt. Bà cụ phấp phỏng nghĩ về con trai, về con dâu.
Nhân vật bà cụ Tứ mang nét đạo lí truyền thống:
Trong cái thân hình khẳng khiu, tàn tạ, với “cái mặt bủng beo, u tối” '"bà vẫn nung nấu một ý chí sống mãnh liệt. Bà là hiện thân của những người mẹ nghèo khổ mà từng trải, hiểu biết: hết lòng thương yêu con, yêu thương những cảnh đời tội nghịêp, oái oăm. Bà nung nấu một khái vọng về cuộc sống gia đình hạnh phúc.
III. KẾT BÀI
Qua nhân vật bà cụ Tứ, với những diễn biến tâm trạng phức tạp – dưới ngòi bút nhân đạo của Kim Lân – nội dung nhân đạo sâu sắc, cảm động của “Vợ nhặt” đã động chạm đến nơi sâu thẳm nhất của lòng người, bắt độc giả phải khóc, phải cười, phải sống cùng nhân vật của mình. | Phân tích tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân | 1,191 | |
Phân tích tâm trạng nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ
Hướng dẫn
Phân tích tâm trạng nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ
Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, những người có cuộc sống vất vả, thầm lặng chịu đựng và giàu lòng hi sinh. Những nhân vật trong truyện mang dáng dấp của tâm hồn nhạy cảm của ông, cũng như điểm nhìn của tác giả. Nhân vật Liên trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” là một trong số những nhân vật điển hình của ngòi bút Thạch Lam. Sự nhạy cảm,sự chuyển biến tâm trạng của nhân vật Liên gợi ra nhiều nét tâm trạng của một cô gái mới lớn. Những nét tính cách của Liên được bộc lộ qua những chi tiết nhỏ nhặt trong truyện ngắn, hay chính là những sự thay đổi trong tâm tư tình cảm của tác giả.
Tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm được thể hiện qua nhiều giai đoạn, nhưng có lẽ tâm hồn của một cô gái sẽ có sự nhạy cảm hơn khi cảnh chiều tà và ngày tàn buông xuống. Với một cô gái trẻ đầy suy tư những đường nét, âm thanh và màu sắc của chiều xuống càng khiến cho tâm trạng cô thêm lâng lâng khó tả. Buổi chiều ấy bắt nguồn từ những âm thanh quen thuộc,tiếng trống thu không vưng ra từng tiếng,gọi buổi chiều về, hình ảnh của những đám mây hồng ở cuối trời do ánh mặt trời hắt lên. Dưới con mắt của một cô gái, hình ảnh hoàng hôn thật khác. Trên nền áng mây ấy những ngọn tre cao vút như in hình và cắt hình rõ rệt trên nền trời. Trong gian hàng đơn sơ chỉ có mấy thức hàng đơn giản âm thanh của tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng, đến cả tiếng của những con muối vo ve, mà Liên cũng cảm nhận được. Chứng tỏ rằng không gian bây giờ rất yên tĩnh, ngoài Liên ra, không khí thật chìm vào buổi hoàng hôn,người ta thấy được sự chuyển đổi đó khi nhắc tới những âm thanh những dấu hiệu quen thuộc của một buổi chiều tà. Trước sự thay đổi của đất trời, cộng với mùi hơi đất bốc lên hay chính mùi đất mà chính phố huyện này mới có, nghĩ rồi Liên lại có một nỗi buồn man mác, có lẽ là do suy nghĩ của Liên về cuộc sống nơi đây, nghèo nàn,cái phố huyện tàn tạ. Những nét vẽ của đồng quê, với hình ảnh quen thuộc nhưng những âm thanh và cả buổi chiều êm như nhung đó,dưới con mắt của một cô gái nó lại trở thành cái cớ cho sự buồn lâng lâng không rõ vì sao.
Đêm xuống hình ảnh của cuộc sống cũng nhanh chóng chìm vào bóng tối,khiến cho Liên buồn hơn nhưng có lẽ nỗi buồn đó đã quá quen thuộc đối với cô. Hình ảnh của phố huyện chìm vào bóng tối, cách tác giả lấy ánh sáng để miêu tả bóng tối thật đặc sắc.Khi chợ tàn đi đêm bắt đầu buông xuống,Liên mở gian hàng mà cứ ngồi trên chõng tre ngắm ngía nơi ở của mình. Tất cả những hoạt động đều được Liên quan sát bằng một tình cảm yêu thương cái vùng quê hương của bản thân mình. Đó là hình ảnh ánh sáng và bóng tối quen thuộc nơi đây. Liên mơ màng ngồi trên chiếc chõng mà ngắm cảnh tượng ấy, dường như Liên đã đưa mắt đi khắp nơi để tìm kiếm những nguồn sáng trên không gian phố huyện: đó là những hột sáng, những khe ánh sáng từ ngọn đèn, phên nứa khiến cho cát cũng hiện lên lóng lánh như những hạt vàng. Đó còn là ánh sáng của hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh thế nhưng không xua được bóng tối của màn đêm. Khi đêm đến cả phố huyện chìm trong một màn đêm không đáy. Và có lẽ Liên cảm nhận được, trong cô vẫn là một cảm giác mơ hồ buồn.
Thêm một chút gia vị cho tâm hồn liên, hình ảnh con Tàu đêm đến sẽ khiến cho những con người nơi đây kiếm thêm chút gì đó, và Liên cũng thế. Chị em Liên cũng thao thức chờ cho đến khi tàu tới mới thôi. Và cũng chính con tàu là nguồn sáng đưa hai chị em sống về những kí ức thời còn sung sướng, được đi chơi và uống những thức uống xanh đỏ. An đã ngủ rồi, Liên cứ ngồi trên chõng mong đợi thao thức.
Chỉ là một cô gái nhỏ nhưng tâm hồn của cô chẳng khác gì một thiếu nữ trưởng thành, cùng với đó là sự nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn mà không phải ai cũng có. Sự yêu thương cảm thông và cả những ước mơ lẫn kí ức đẹp đẽ đa tạo nên một hình ảnh rất đặc biệt, qua đây cũng thể hiện tâm hồn của chính tác giả Thạch Lam. Miêu tả tâm trạng nhân vật Liên Thạch Lam muốn thể hiện được sự nghèo khổ hiện thực chua xót ấy nhưng vẫn mang những nét thi vị của chốn bùn lầy nước đọng và cũng là sự cảm thông sâu sắc đối với những nhân vật nhỏ bé của mình.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích tâm trạng nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ | 923 | |
Phân tích tâm trạng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
Hướng dẫn
Phân tích tâm trạng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
Sau khi bán mình chuộc cha và em, Thúy Kiều đã bị tên bán tớ mua nguyệt Mã Giám Sinh câu kết với Tú Bà đẩy Thuý Kiều vào lầu xanh. Kiều bị cấm cung ở lầu Ngưng Bích nhưng thực chất đó là một sự giam lỏng. Sau lưng nàng là biết bao song gió, đoạn trường. Tại lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ người yêu, nhớ mẹ cha và xót xa cho bản thân mình.
Cảnh lầu Ngưng Bích hiện ra trước mắt Thúy Kiều với sự mênh mông, trơ trọi:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Không gian rộng lớn “non xa trăng gần” “bát ngát” ấy có sự cô đơn, lẻ loi của con người. Từ “xa trông” biểu lộ rất rõ tâm trạng thẫn thờ, đón đợi từ cảnh vật thiên nhiên, mong muốn phá tan sự đơn độc của con người với cảnh vật, nhưng càng đón đợi, ngóng trông, cảnh vật càng trở nên vắng lặng.
Trăng gần vì sáng nhưng ánh trăng nhỏ quá, núi rộng và to nhưng xa vì trong đêm trăng non mờ quá. Cả “cát vàng cồn nọ” cũng xa con người. Thúy Kiều trở nên cô đơn trước không gian vũ trụ bao la ấy. Và cảm nhận “ Khóa xuân” là cảm nhận rất thực tế. Kiều thấy mình như không còn tuổi trẻ, đoạn tuyệt với tuổi trẻ khi đã rơi vào chốn lầu xanh.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Từ láy “bẽ bàng” cho thấy sự hổ thẹn của Kiều, nàng đang tự vấn bản thân, nỗi chán nản hòa với buồn tủi đang tràn ngập trong tâm trạng Kiều. Cảnh rộng lơn, tình cô đơn, con người không có nơi neo đậu. Kim Trọng là người Thúy Kiều nhớ đến đầu tiên trong cảnh ấy:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những dày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Lời thơ là lời thổn thức của một trái tim từng tha thiết mặn nồng với tình yêu đầu nhưng dường như thổn thức lắm. Nàng nhớ lại cảnh thề nguyền cùng Kim Trọng, lại tưởng tượng ra cảnh Kim Trọng đang mòn mỏi, ngóng trông tin tức của nàng một cách vô vọng. Bởi vậy nàng xót xa, thấu hiểu tấm lòng chàng Kim nhưng lại thấm thía cảnh bơ vơ, trơ trọi của mình. Nàng hiểu rõ tấm lòng son sắt, thuỷ chung của mình với Kim Trọng nhưng nàng cũng hiểu rõ sự trong trắng sẽ không bao giờ “gột rửa” được. Những câu thơ lảy lên nỗi nhớ nhung tha thiết, đồng cảm và tự trách bản thân của Kiều.
Sau nỗi nhớ người yêu nàng nhớ cha mẹ:
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Vì thương nhớ cha mẹ nên hình ảnh cha mẹ sớm hôm tựa cửa đón đợi người con hiếu thảo cứ lẩn quất quanh Kiều, nàng xót xa vì điều đó, càng xót xa hơn khi nghĩ cha mẹ đã già yếu “có khi gốc tử đã vừa người ôm” giờ đây ai sẽ là người thay mình chăm sóc cha mẹ “Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ”. Đoạn thơ có sử dụng điển tích, điển cố, cùng câu hỏi tu từ cho thấy rõ nỗi nhớ cha mẹ tha thiết trong xót xa không kém nỗi nhớ người yêu. Đó là nỗi nhớ của người con hiếu thuận với cha mẹ.
Kiều nhớ tới chàng Kim trước sau đó nhớ đến cha mẹ. Đó cũng là sự cảm thông hết sức lạ lùng của đại thi hào Nguyễn Du. Tác giả là người hiểu sâu sắc nhất những tâm trạng mà Thúy Kiều đang trải qua. Người con gái có trái tim yêu thương mặn nồng ấy từng “cậy em, em có chịu lời”, từng mong muốn sự đáp đền tình cảm riêng tư của mình với người yêu nhờ vào sự giúp đỡ của em gái thì khi đã lỗi với lời hẹn ước trước kia, trái tim nàng mới đớn đau tột độ. Tâm trạng phụ bạc lấn án nàng cả mười lăm năm lưu lạc. Bởi vậy nhớ người yêu trước là nỗi nhớ được cất lên từ chính sự thấu hiểu của đại thi hào có con mắt thấu suốt ngàn đời.
Buồn trông của bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
…………………………………………
Ầm ầm tiếng song kêu quanh ghế ngồi
Những câu thơ miêu tả tâm trạng bất ổn, buồn chán,,lo lắng thoát ra từ thiên nhiên ấy được kết thúc bằng tiếng “ầm ầm” của sóng như báo trước cơn tai biến sẽ đổ sập xuống đầu Kiều.
Với quan niệm thẩm mĩ truyền thống, lấy cảnh vật làm nền cho con người, Nguyễn Du mở đầu đoạn trích bằng không gian rộng lớn nhưng cô đơn. Kết thúc bằng nỗi cô đơn vô vọng đã đẩy lên cao độ trong không gian của sự vắng lặng không một bóng người. Tất cả đẩy Kiều đến nhưng lối rẽ không rõ ràng của vận mệnh. | Phân tích tâm trạng nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích | 912 | |
Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Tự Tình
Hướng dẫn
Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Tự Tình
Tình yêu luôn là một trong những đề tài muôn thuở của thơ ca. Có những tình yêu ngọt ngào hạnh phúc, nhưng cũng có những cuộc tình ngang trái đầy khổ đau. Hồ Xuân Hương – một người phụ nữ luôn khát khao yêu đương với trái tim nồng cháy đã đi qua biết bao nhiêu trang thơ và để lại bao nhiêu nỗi niềm da diết, băn khoăn. Trong lúc đau khổ nhất, tuyệt vọng nhất, bà lại tìm đến thơ như một người bạn tri âm tri kỷ để dãi bày tâm sự thầm kín trong lòng mình. Và “Tự tình” là một trong những dòng tâm sự ấy.
Bài thơ chỉ gồm tám câu ngắn gọn nhưng từng câu từng chữ lại chứa đựng nhiều cảm xúc của Xuân Hương về một tình yêu dang dở và khổ đau. Trong đó, bà đã tự lấy mình làm nhân vật trữ tình để hướng ngòi bút vào và vẽ lên một sự thật bẽ bàng:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non”.
Đêm khuya luôn là khoảnh khắc khiến con người ta dễ chìm vào những khoẳng lặng của tâm hồn, của nỗi buồn, của niềm đau. Cái khoảnh khắc đáng sợ ấy dường như muốn nhấn chìm tất cả, bao trùm lên tâm hồn người con gái đang nhớ thương da diết tới một người nơi xa. Nỗi nhớ ấy có lẽ cũng giống như tiếng trống canh dồn kia, “văng vẳng”, mờ nhạt, “yếu ớt” và vô định. Vô định không phải vì không xác định được ai là người mà Xuân Hương đang thương nhớ, mà vô định là sự mờ mịt về tương lai của tình yêu, của nỗi nhớ ấy. Không biết rằng người đó có nhớ tới nhà thơ không, có nhớ Xuân Hương như lòng bà đang nhớ người lúc này không. Mỗi một câu thơ được viết ra là mỗi một lần tiếng nấc lòng được cất lên một cách thầm kín và lặng lẽ. Xót xa, tủi hờn, Xuân Hương tự thấy mình “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Lúc này, tình yêu không còn là tình yêu riêng tư của một người con gái gửi tới người yêu nữa, mà rộng hơn, sâu sắc hơn, đó còn là sự đối lập giữa thân phận nhỏ bé của nhà thơ với “nước non”, với cả một thế giới bao la rộng lớn. Câu thơ còn gợi lên cho người đọc sự lẻ loi, cô đơn của một trái tim giữa biển đời mênh mông, gợi lên sự xót thương và cảm thông vô cùng sâu sắc.
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.”
Lúc buồn người ta vẫn thường nghĩ đến rượu, uống rượu giải sầu, để chìm vào cơn say mà quên đi nỗi đau thực tại. Xuân Hương cũng vậy, nhưng nỗi lòng kia nặng quá, men rượu không thể nào che lấp đi được. Hương rượu lẫn với men tình hòa quyện vào nhau càng khiến cho tâm trạng nhà thơ thêm trống vắng và buồn đau. Có lẽ lúc này Xuân Hương đang buồn lắm, một nỗi buồn không thể nào diễn tả bằng lời, đành mượn hình ảnh “vầng trăng” để nói hộ lòng mình. Nhưng lại càng buồn hơn khi vầng trăng ấy cũng chẳng trọn vọn mà lại “khuyết chưa tròn” giống như tâm trạng chơi vơi, chới với của một người đang khát khao yêu đương nhưng không thể nào đạt được. Xuân Hương cũng vậy, những nỗi niềm chất chứa trong lòng bà đang trào ra khỏi đầu ngọn bút, thấm nhuần trên từng câu từng chữ, khiến người đọc không khỏi xót xa.
Nhưng rồi, ý chí và niềm tin của một người phụ nữ mạnh mẽ đã tự vực bà dậy:
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”
Có lẽ Xuân Hương muốn bứt phá, muốn vươn mình bật dậy hỏi thực tại đau thương để làm nên những điều mà mình chưa từng làm. Bởi thế, trong câu thơ của bà bỗng dưng nổi lên những động từ rất mạnh và dứt khoát: xiên, đâm. Những đám rêu dù yếu ớt nhưng vẫn còn có đủ sức để “xiên ngang mặt đất”, giống như mấy hòn đá “đâm toạc chân mây”, vậy thì cớ sao bà lại yếu mềm đến vậy. Câu thơ như một lời động viên bà tự dành cho bản thân mình để tiếp tục cố gắng, tiếp tục vươn lên khỏi nỗi đau của thực tại. Trong lòng người phụ nữ ấy vẫn đang tràn trề bao hi vọng và niềm tin.
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con!”
Giống như Xuân Diệu từng thốt lên một cách bẽ bàng chua xót:
“Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian…”
(Vội vàng – Xuân Diệu)
Tình yêu còn đó, nhưng tuổi xuân để thưởng thức tình yêu thì ngày một vơi dần đi. Đó là quy luật vĩnh hằng của tự nhiên, không ai có thể chống lại được. Bởi thế, một lần nữa nhà thơ lại rơi vào tâm trạng tuyệt vọng, khổ đau. Xuân cứ đi, xuân lại về nhưng tuổi xuân của đời người thì không bao giờ trở lại. Sự hữu hạn của cuộc đời không thể nào ôm hết được sự vô hạn của tình yêu. Thế nên, qua mỗi một mùa xuân, tình yêu của Xuân Hương lại bị “san sẻ” chỉ còn lại chút “tí con con”.
Tình yêu, nỗi nhớ và nỗi tuyệt vọng, tất cả đều được Xuân Hương thể hiện trong những câu thơ ngắn gọn, xúc tích và giàu hình ảnh. Dù trong đó có lóe lên những tia hi vọng rất mạnh mẽ, nhưng sau cùng, nhân vật trữ tình chính là nhà thơ vẫn phải ngậm ngùi chấp nhận sự thật đớn đau và bẽ bàng. Tuy nhiên, qua những dòng tâm sự thầm kín, ta vẫn thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và tài năng độc đáo của “Bà Chúa Thơ Nôm” trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng. Cho đến nay, bài thơ vẫn còn nguyên giá trị và được nhiều nhà bình luận văn học đề cập đến. | Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Tự Tình | 1,076 | |
Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
Hướng dẫn
Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
Bài làm
Trong phòng trào thơ mới, Xuân Diệu được gọi là “nhà thơ của tình yêu”, những tác phẩm của ông trong giai đoạn này chủ yếu viết về tình yêu nồng cháy, da diết của con người trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống. Bài thơ Vội vàng cũng được coi là tác phẩm nổi tiếng về chủ đề này.
Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ vội vàng có diễn biến vô cùng phức tạp, lúc thì cuồng nhiệt, say đắm khi thì lại da diết, lắng đọng.
Thiên nhiên được cảm nhận qua con mắt của nhân vật trữ tình là hội tụ của những gì đẹp nhất, tinh túy nhất:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si.
Đoạn thơ đã làm hiện lên vẻ đẹp của thiên nhiên giống như thiên đường trên mặt đất, có đầy đủ ong bướm, hoa cỏ, cả khúc tình ca. Nhân vật trữ tình bỗng nhiên giống như một đứa trẻ đang lạc vào một thiên đường, tất cả mọi thứ đều rất lạ, rất đẹp, và đứa trẻ ấy dần dần khám phá những vẻ đẹp ấy, mọi thứ hiện ra rất bất ngờ khiến tâm hồn đứa trẻ tươi vui và rộn rã. Cuộc sống biết bao điều khiến ta tò mò, và càng khám phá ta càng nhận thấy bao điều kì diệu: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Chưa bao giờ tôi thấy có một nhà thơ lại so sánh tháng giêng với một hình ảnh rất đắt “cặp môi gần”. Đó là cặp môi của nàng thiếu nữ đang tuổi thanh xuân, còn gì đẹp hơn khi ta được gần cặp môi ấy. Tháng giêng trong con mắt của Xuân Diệu ngon như một cặp môi gần, khiến ta cảm thấy tác giả yêu thiên nhiên đến tột độ và tìm mọi cách để hưởng thụ thiên nhiên. Tất cả những cảm xúc ấy đã được tác giả khái quát qua hai câu thơ:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Vẫn đang đắm chìm say xưa trong cảm xúc hạnh phúc trước vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng tác giả chợt nhận ra rằng mình phải “vội vàng một nửa”. Vì sao phải vội vàng? Thiên nhiên đẹp đấy, quyến rũ đấy nhưng sẽ không thể tồn tại mãi, rồi hoa kia sẽ tàn, chim cũng sẽ dừng tiếng hót, thời gian sẽ trôi đi và con người thì không thể khiến những khoảnh khắc đó dừng lại. Đến đây, ta có thể nhận thấy Xuân Diệu không chỉ yêu thiên nhiên mà còn yêu cuộc đời đến cuồng nhiệt.
Hai câu thơ trên còn thể hiện một thái độ sống rất đáng khâm phục của tác giả, đánh thức suy nghĩ của tuổi trẻ. Rằng con người không thể chạy đua với thời gian, vậy nên chúng ta cần sống sao cho có ích với xã hội để sau này khi thời gian đó trôi qua rồi chúng ta sẽ không còn phải ân hận hoặc nuối tiếc điều gì.
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…
Lại một cảm xúc khác trước thời gian, không gì là mãi mãi, con người gặp nhau rồi cũng phải chia ly, biết bao cuộc chia ly mà chúng ta đã từng trải qua, thật đau đớn trước những khoảnh khắc ấy. Tác giả lại một lần nữa không kìm nén được cảm xúc của mình:
Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm
Trong sự nuối tiếc khi vẻ đẹp của thiên nhiên phai tàn theo thời gian, Xuân Diệu đã chọn cho mình cách tận hưởng thiên nhiên, cuộc sống từng giây, từng phút để những giây phút đó không còn là vô ích. Cuối bài thơ, tác giả đã thể hiện cái tôi của mình một cách cuồng nhiệt, mãnh liệt với những động từ: ôm, riết, say, thâu, cắn như muốn thâu tóm toàn bộ cái tươi nguyên của cuộc sống trong khoảnh khắc. Tác giả cảm nhận cuộc sống bằng tất cả các giác quan. Các động từ mạnh kết hợp với các từ: sự sống mơn mởn, mây đưa gió lượn, cánh bướm với tình yêu, cái hôn, mùi thơm, ánh sáng, xuân hồng…đã cho thấy tâm trạng ngây ngất và khát khao vô biên của nhà thơ luôn “thèm muốn vô biên và tuyệt đích”.
Tâm trạng của nhân vật trữ tình được Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ Vội vàng có diễn biến vô cùng phức tạp, qua cách sử dụng từ ngữ lạ và táo bạo, ta thấy được một tâm hồn yêu thiên nhiên, thiết tha, cuồng nhiệt với cuộc sống và nuối tiếc trước sự tài phai của vạn vật. Nhà thơ giúp chúng ta nhận ra được giá trị đích thực của cuộc sống từ đó có cách sống nhiệt tình, hết mình và sống có ích. | Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu | 870 | |
Đề bài: Phân tích tâm trạng và diễn biến tính cách của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích hồi 5 của vở kịch Vũ Như Tô
Bài làm
Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) là nhà văn có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử và có những đóng góp nổi bật ở thể loại tiểu thuyết và kịch. Văn phong của ông trong sáng, giản dị, đôn hậu nhưng thâm trầm, sâu sắc.
Vũ Như Tô là vở kịch 5 hồi, viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516-1517 dưới triều Lê Tương Dực. Vớ kịch xoay quanh mâu thuẫn giữa nhà vua với phe nổi loạn do việc xây dựng Cửu Trùng Đài. Dân gian đói kém nổi lên tứ tung… Khi dân nổi lên, họ nông nổi vô cùng.. Thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch.
Phe đối lập trong triều đình đứng đầu là Trịnh Duy Sản, sau Trịnh Duy Sản là Ngô Hạch, An Hòa Hầu. Mâu thuẫn đến hồi 5 đã đạt tới đỉnh điểm và dã được giải quyết: Trịnh Duy Sản, Ngô Hạch giết chết Lê Tương Dực. Mâu thuẫn giữa phe Trịnh Sản với Kim Phượng và các cung nữ vì coi đó là phương tiện hành lạc của Lê Tương Dực cũug được dẩy lên ở đỉnh cao. Kim Phượng và cung nữ đã lái sự căm ghét đó sang Đan Thiềm, Vũ Như Tô để mong bớt tội, mong thoát mũi kiến trừng phạt của Ngô Hạch.
Vũ Như Tô là một nghệ sĩ có nhân cách, có lí tưởng nghệ thuật, không phải là người ham sống, sợ chết hoặc hám lợi. Lúc đầu, ông thà chết chứ nhất định không xây Cửu Trùng Đài cho hôn quân; khi được vua thưởng bạc vàng, lụa là ông đem chia hết cho thơ. Nhưng Vũ Như Tô quá say sưa với mơ ước xây dựng một công trình nghệ thuật lớn cho đất nước, cho đời sau đến mức quên cả thực tế: dân chúng đang đói khổ, càng bị giai cấp thống trị bòn rút mồ hôi, nước mắt để xây Cửu Trùng Đài.
Vũ Như Tô tích cực xây Cửu Trùng Đài càng làm cho khối mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến thối nát Lê Tương Dực với nhân dân đang bị bần cùng hóa vì sưu thuế, tạp dịch được tăng dần lên. Đan Thiềm khuyến khích Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài càng làm cho mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô càng cao hơn. Khát vọng nghệ thuật trong con người nghệ sĩ ở Vũ Như Tô có phần chính đáng nhưng đã đặt nhầm chỗ, nhầm thời. Trong việc xây Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vừa là tội nhân, vừa là nạn nhân. Diễn biến mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô và Đan Thiềm, mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ, giữa khát vọng nghệ thuật và thực tế xã hội đã có kết cục nhưng thực ra vẫn chưa được giải quyết triệt để: Vũ Như Tô bị giết mặc dù không cố tình hại dân, bản thân Vũ Như Tô không nhận ra sai lầm của mình.
Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật, cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thân của nhân dân trong hồi V vẫn chưa được tác giả giải quyết dứt khoát. Điều đó được thể hiện ở phần cuối cùng của vở kịch. Quần chúng nổi dậy giết Vũ Như Tô, phá hủy Cửu Trùng Đài. Bản thân Vũ Như Tô bị giết nhưng vẫn chưa nhận ra sai lầm của mình. Vũ Như Tô không đứng về phe Lê Tương Dực nhưng vẫn muốn hoàn thành công trình nghệ thuật. Chính tác giả cũng băn khoăn vì kết thúc này.
Việc quần chúng giết Vũ Như Tô có lí đúng: nếu Vũ Như Tô không xây Cửu Trùng Đài thì chắc Lê Tương Dực không thể xây dựng Cửu Trùng Đài, gây thiệt hại cho nhân dân. Nhưng quần chúng nhân dân trong cơn nông nổi, giận dữ, có thể chưa hiểu hết Vũ Như Tô. Quần chúng lúc đó cũng chưa nghĩ đến công sứ: của chính mình bỏ ra cho công trình nghệ thuật mà có thể lưu lại cho con cháu muôn đời sau. Việc nổi dậy giết Lê Tương Dực là đúng, việc tạm hoãn xây Cửu Trùng Đài là đúng nhưng việc giết Vũ Như Tô là quá tay và việc phá hủy Cửu Trùng Đài là không nên.
Trong hồi 5, ta còn thấy mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô. Đó cũng chính là quan điểm của tác giả về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống nhân dân. Tác giả nhận thức được mâu thuẫn giữa lợi ích bức thiết của dân chúng và niềm mong muốn có được một công trình nghệ thuật vĩ đại cho dân tộc. Tác giả băn khoăn: không thể hi sinh lợi ích bức thiết của dân chúng nhưng vẫn mong có một công trình nghệ thuật như Cửu Trùng Đài. Trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, việc mong muốn có được một Cửu Trùng Đài là không đúng. Nghệ thuật không thể đứng cao hơn cuộc sống, cao hơn cả sự sông còn của nhân dân. Khát vọng và động cơ của Vũ Nhu Tô là chính đáng, nhưng xây Cửu Trùng Đài là không nên vì lúc đó là chết thêm một gánh nặng cho dân chúng.
Đan Thiềm và Vũ Như Tô là những người quá say mê nghệ thuật mà quên cả thực tế. Đoạn trích thể hiện rất rõ đặc sắc nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao. Đặc biệt, nhà văn đã dùng ngôn ngữ, hành động của nhân vật để khắc họa tính cách.
Đoạn trích còn thể hiện được tài dẫn dắt và đẩy xung đột kịch lên cao của nhà văn. Đó là hai mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến thối nát Lê Tương Dực với nhân dân đang bị bần cùng hóa vì sưu thuế, tạp dịch: mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô. | Phân tích tâm trạng và diễn biến tính cách của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích hồi 5 của vở kịch Vũ Như Tô | 1,071 | |
Đề bài: Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ trong truyện Vợ chồng A Phủ
Bài làm
Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được trích từ tập “truyện Tây Bắc” (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này.
Tô Hoài thành công trong “Vợ chồng A Phủ” không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa. Trong “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý và hành động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.
Phân tích tác phẩm vợ chồng A Phủ
Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình ảnh của cô gái “dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Đó là nét tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời mình. Thế nhưng “sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Chính vì thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình, trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó.
Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch. Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùa xuân.
Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc tình cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa… Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử đã trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể “trói” được thân xác Mị chứ không thể “trói” được tâm hồn của một cô gái đang hoà nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.
Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của mình. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó.
Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay “dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi”. Tại sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị “sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi” nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, “Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính “dòng nước mắt lấp lánh ấy” đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cài nhà này”. Lí trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn các hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người thanh niên khoẻ mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay dắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khi trói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại không đối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh” của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị nhận ra bọn lãnh chúa phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước số phận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này. Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân – hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình. Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài – một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…
Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật qua đó tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.
Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn – giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 – 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài.
Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hoá tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”. | Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ trong truyện Vợ chồng A Phủ | 2,255 | |
Phân tích tâm trạng và ý nghĩ của người mẹ trong “Cổng trường mở ra” của Lý Lan
Hướng dẫn
Quần áo mới, giày nón mới, cặp sách mới, tập vở mới… đã sẵn sàng, con “háo hức”, con cảm nhận được sự quan trọng của ngày khai trường,… vì thế khi con đã lên giường mà “không sao nằm yên được”. Sau khi ru con ngủ, mẹ “không biết làm gì nữa”. Mọi thít đồ chơi của con bày ra, con đã giúp mẹ thu dọn từ chiều, làm rất “hăng hái” sau khi nghe mẹ nói: “Ngày mai đi học, con là cậu học sinh lớp Một rồi”.
Lên giường, mẹ vẫn “trằn trọc”. Mẹ “không lo lắng” về sự bỡ ngỡ của con. Lên ba, con đã đi học rồi. Trước ngày khai giảng, con đã làm quen với bạn mới, thầy cô giáo mới… Mẹ không ngủ được vì mẹ nhớ lại kỷ niệm tuổi thơ của mẹ khi bà ngoại đưa mẹ đi học. Mẹ “nôn nao, hồi hộp” khi đến gần trường; mẹ “hốt hoảng” khi cổng trường đóng lại, bà ngoại đứng ngoài cánh cổng…
Lý Lan đã diễn tả một cách chân thực và cảm động về nỗi thao thức của người mẹ trẻ trong đêm trước ngày khai trường đứa con thơ vào lớp Một. Mẹ thương con; tuổi thơ cắp sách đến trường của mẹ rất đẹp và sâu sắc, nên người mẹ trẻ mới có tâm trạng thao thức và nỗi xúc động như thế.
a. Rồi cảm Xúc của người mẹ trôi theo thời gian và không gian…, mẹ nghĩ về ngày khai trường ở nước Nhật “là ngày lễ của xã hội”… Lý Lan rất tinh tế khi thể hiện ước mơ mang tính nhân văn của người mẹ Việt Nam đối với những chính sách về giáo dục.
Đêm về khuya, nhưng người mẹ vẫn “không ngủ được”. Mẹ nghĩ đến ngày mai sẽ dưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng, rồi buông tay ra mà nói: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kỳ diệu sẽ mở ra”.
Cử chỉ của người mẹ rất đẹp vừa nâng đỡ, dìu dắt, vừa tung cánh con bay lên bầu trời cao rộng. Rất yêu thương và tin tưởng, hy vọng. Câu nói của mẹ đã khích lệ đứa con thơ bước vào con đường văn hoá, đua tranh với bạn bè trong một thế giới kì diệu đã và đang mở ra…
Con đường của tuổi thơ là con đường đi học, đó cũng là con đường hạnh phúc. | Phân tích tâm trạng và ý nghĩ của người mẹ trong “Cổng trường mở ra” của Lý Lan | 443 | |
Phân tích tâm trạng đợi tàu của nhân vật Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
Hướng dẫn
Phân tích tâm trạng đợi tàu của nhân vật Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
Thanh Lam là một trong những cây viết truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông là thành viên của nhóm tự lực văn đoàn nhưng ông mang một nét rất riêng so với các nhà văn trong nhóm. Văn của tự lực văn đoàn thường đượm một nổi buồn lãng mạn còn văn của Thạch Lam lại chất chứa những nổi buồn hiện thực. Nó như một thứ “Hương hoàng lan”, được cất từ những nổi đời. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” in trong tập “Nắng trong vườn” (1938), tác phẩm này tiêu biểu cho phong cách của Thanh Lam. Đó là kiểu truyện ngắn trữ tình đượm buồn. Nét phong cách này thể hiện sâu sắc ở khung cảnh phố huyện và tâm trạng đợi tàu của nhân vật Liên. Truyện ngắn của Thạch Lam là kiểu truyện ngắn trữ tình buồn hiện thực, không có cốt truyện, giàu cảm xúc, nhẹ nhàng và thấm thía như một bài thơ.
Bức tranh phố huyện được miêu tả theo trình tự thời gian, cảnh phố huyện lúc chiều xuống. Cảnh phố huyện lúc về đêm. Cảnh đợi tàu và cảnh phố huyện lúc có chuyến tàu khuya đi qua. Liên là một cô gái nhỏ vì cha mất việc, cả nhà phải chuyển từ Hà Nội về sống ở một phố huyện nghèo…Tuy còn nhỏ mà Liên đã tỏ ra đảm đang, thay mẹ trông coi một quán tạp hóa nhỏ để kiếm sống và Liên cũng rất chu đáo khi thay mẹ chăm sóc bé An. Đặc biệt Liên là một cô gái nhỏ dịu hiền, nhân hậu, đa cảm. Tâm trạng của Liên được khắc qua bốn cảnh ở phố huyện, như bốn nấc thang tâm lí: chiều muộn, đêm về, cảnh đợi tàu và chuyến tàu khuya. Bức tranh thiên nhiên trong phố huyện khi ngày tàn được hiện lên qua điểm nhìn nhạy cảm và tinh tế của Liên. Đó là “ Một buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran, ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng muỗi đã bắt đầu vo ve”. Trong bức tranh ấy có sự hòa trộn giữa hai hình ảnh: hình ảnh êm đềm lãng mạn và hình ảnh gợi sự nghèo khó, bần cùng. Phải chăng do cảnh chiều tàn mà gợi cho Liên nổi buồn: “Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngạp đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy long buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn.” Thật khó để phân định rành rọt nỗi buồn ngoại cảnh thấm vào tâm cảnh hay nổi buồn tâm cảnh lan tỏa ra, nhuốm vào ngoại cảnh. Ta chỉ thấy ở đây là một nổi buồn sâu sắc trong tâm trạng. Chỉ có sự cảm nhận tinh tế và nhạy cảm như Liên mới thấu hiểu nó. Liên tuy không lam lũ vất vả như những mảnh đời kia. Nhưng lại là số phận đáng thương nhất. Vì quá khứ tươi đẹp của hai chị em Liên đã thuộc về dĩ vãng. Hiện tại thì buồn tẻ, tăm tối, bế tắc. Đúng là cuộc sống phố huyện cứ đang tàn dần, lụi dần trong đói nghèo lam lũ quẩn quanh. Những tâm hồn mới lớn như chị em Liên, chứng kiến những cảnh đó không buồn sao được, nhưng nổi buồn cũng chỉ man mác đọng trong đôi mắt Liên “bóng tối ngập đầy dần” nó đang thấm dần vào tâm hôn Liên. Phố huyện như một sân khấu cuộc đời chỉ độc diễn một màn buồn tẻ, không có sự thay đổi của cả người lẫn cảnh. Đó là cuộc sống cứ “mốc lên, mòn đi, mục ra, rĩ ra” không lối thoát. Nó gợi liên tưởng bởi hình ảnh “chiếc ao đời phẳng lặng”.
Nhà văn không trực tiếp tả tâm trạng này của Liên, nhưng cảnh vật và cuộc sống qua cái nhìn của Liên đã khắc họa được tâm trạng đó. Sống trong hoàn cảnh như vậy, chị em Liên sao không khỏi chờ đợi một cái gì đó dù mơ hồ. Nổi buồn dường như thấm thía hơn. Nhưng không hi vọng thì làm sao sống nổi. Và chuyến tàu đêm đã thắp lên niềm hi vọng đó. Cảnh chuyến tàu khuya và tâm trạng buồn vui của Liên, trong cả chuỗi thời gian dài buồn tẻ, thì ánh sáng, tiếng còi tàu chính là niềm vui lớn của hai chị em. Hai đứa đêm nào cũng náo nức thức chờ tàu. Chúng không chờ tàu để bán hàng, đó là niềm vui tinh thần của hai chị em. Khi đoàn tàu đến Liên và An đứng cả dậy, hướng về phía con tàu, và khi nó đi rồi, “Liên vẫn lặng theo mơ tưởng”, con tàu đến rồi lại đi nhanh để lại trong hai đứa trẻ nổi buồn tiếc. Tàu đi rồi, phố huyện lại trở về với đêm tối và sự tĩnh lặng, càng nặng nề hơn. Niềm vui của hai đứa trẻ vừa lóe lên lại bị dập tắt như đám than bổng bùng lên cháy rực rồi lại lùi dần trong đêm. Nổi chờ đợi bắt đầu khắc khoải từ khi bóng chiều xuống, đêm về và phố huyện vào khuya. Hai đứa trẻ chờ đợi từng bước đi của thời gian, từng bước xích lại gần của chuyến tàu: tàu sắp đến, tàu vuột qua, tàu đi rồi chỉ còn lại ánh đèn ghi đỏ xa mãi rồi khuất sau rặng tre. Đêm tối lại bao bọc phố huyện.
Từ đó tác giả như muốn lay tỉnh những tâm hồn uể oải, đang lụi tàn. Muốn nhen lên trong họ ngọn lửa khát khao được sống một cuộc sống tươi đẹp, ý nghĩa hơn. Khát khao thoát khỏi cuộc đời tăm tối đang chôn vùi họ. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã thể hiện sâu sắc cái tài và cái tâm của Thạch Lam. | Phân tích tâm trạng đợi tàu của nhân vật Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam. | 1,062 | |
Đề bài: Phân tích tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
Bài làm
Tình cảm gia đình là một mảng đề tài quan trọng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Viết về đề tài này, đã có những tác phầm ngợi ca tình mẫu tử, tình phụ tử thiêng liêng. Và nhà thơ Bằng Việt đã góp phần làm phong phú thêm chủ đề bằng tình cảm bà cháu sâu đậm trong bài thơ “Bếp lửa”.
Bài thơ ra đời năm 1963, khi ấy nhà thơ đang học tập và sinh sống ở nước bạn Liên Xô. Trong nước, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc đang dần đến hồi cam go. Nhớ về Tổ quốc trong những ngày tháng ấy, Bằng Việt gửi trọn niềm thương nỗi nhớ cho người bà tần tảo, vất vả mà giàu tình yêu thương của mình.
Bài thơ có tên là “Bếp lửa” nhưng một điều dễ nhận thấy là hình ảnh đầy sức gợi ấy được gợi cảm hứng từ người bà. Hay nói cách khác, bếp lửa trong kí ức nhà thơ được nhóm lên từ đôi tay của bà: sáng sáng chiều chiều bà nhen bếp lửa thổi gạo, nấu cơm một tay tảo tần nuôi cháu, Bởi thế, hình ảnh bếp lửa bập bùng trong bài thơ để hình ảnh thiêng liêng ấy gắn bó mật thiết với hình ảnh của bà. Nhắc về bà là nhớ về bếp lửa và nhớ về bếp lửa là nhớ về bà. “Bếp lửa” là bài ca về tình bà cháu ấm áp, cảm động.
Bài thơ mở đầu bằng những hình ảnh thơ đầy ám ảnh:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.
Ngọn lửa “chờn vờn sương sớm” là ngọn lửa thực trong lòng bếp lửa được nhen lên trong mỗi sớm mai. Còn ngọn lửa “ấp iu nồng đượm” là ngọn lửa của yêu thương mà bà dành cho cháu. Bởi vậy nên nhắc đến bếp lửa là nhắc đến bà với bao tình thương và nỗi nhớ: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Những nắng mưa ấy là gì?
Là cuộc đời đầy vất vả nhọc nhằn không chỉ nuôi con mà còn thay con nuôi cháu:
“Đó là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”.
Nhà thơ nhắc lại những năm tháng khủng khiếp của nạn đói 1945. Ngày tháng ấy đến người cha đương sức trẻ phải “khô rạc ngựa gầy” mà không đủ ăn. Vậy mà bà đã già cả, ốm yếu lại một tay nuôi dạy cháu. Cái đói, cái chết rình mò nhưng bà vẫn dành tất cả yêu thương mang đến cho cháu những bữa ăn nhọc nhằn:
"Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói”
“Khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.
Cùng với hình ảnh bếp lửa, còn có một âm thanh tha thiết gắn với người bà: tiếng tu hú:
“Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”
“Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trẽn những cánh đồng xa”.
Tiếng tu hú thường gợi đến cảnh đồng vàng đầy lúa chín. Nhưng trong những năm tháng ấy, tiếng tu hú tha thiết thê lương là tiếng khóc, tiếng than cho những mất mát, nghèo đói. Được bà yêu thương, che chở, người cháu chạnh lòng mà mời gọi tiếng chim “đến ở cùng bà”. Vậy là đối với cháu, bà đã trở thành biểu tượng của sự đùm bọc, chở che đầy cao cả.
Cơ cực lên đến tận cùng khi:
“Giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Làng xóm bốn bên trở về lầm lụi”.
Nhưng ngay cả khi ấy, khi mà mọi vật đã trở thành phê tích, hoang tàn, sự sống đã bị triệt tiêu thì ở bà vẫn ánh lên những tia lửa cùa tin yêu:
“Rồi sớm rồi chiều bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.
Thời thế có thăng trầm biến chuyển thì lòng bà vẫn như ngọn lửa, trước sau vẫn bùng lên trong bếp nhỏ “chứa niềm tin dai dẳng” vào cuộc đời. Nuôi cháu ăn, bà còn “dạy cháu làm, chăm cháu học” không muôn để cái đói, cái nghèo vùi dập đời sống văn hóa, tinh thần của cháu. Đó là tư tưởng vô cùng tiến bộ hiếm thấy ở những người mà tuổi tác đã như bà. Điều đặc biệt là bà đã âm thầm đón nhận gian khó và lại một mình chịu đựng những nhọc nhằn, không muốn những cực nhọc cùa bản thân làm con cái lo lắng:
“Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo rằng nhà vẫn được bình yên”.
Hình ảnh bà hiện lên chẳng những ấm áp yêu thương mà còn đầy cao cả, vị tha và giàu đức hi sinh. Đó phải chăng là tấm lòng muôn thuở của những người bà, người mẹ trên mảnh đất Việt Nam này?
Suốt những phần đầu của bài thơ, nhà thơ vừa kể, vừa tỏ lòng thương nhớ, ngợi ca, biết ơn công lao của bà. Và đến đây, ông đúc kết lại về sự kì lạ và linh thiêng của hình ảnh bếp lửa và cũng là của bà:
"Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng! Bếp lửa!”
Mấy chục năm đã trôi qua, “niềm tin dai dẳng” trong bà chưa bao giờ lụi tắt, để đến tận bây giờ “bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”. Bà vẫn tiếp tục nhóm lên ngọn lửa của yêu thương, của sẻ chia ấm áp, của bầu trời tuổi thơ đẹp đẽ trong cháu,… Bếp lửa nhóm lên hay tay bà gây dựng? Tất cả đều là những miền kì lạ và thiêng liêng không ai gọi tên được bao giờ. Nhà thơ chỉ có thể thốt lên một tiếng “Ôi!” đầy cảm động.
Những ân tình của bà theo cháu suốt cả cuộc đời. Để giờ đây:
"Giờ cháu đã đi xa
Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…
Lời nhắc ấy là lời nhắc cháu đã mang theo từ bếp lửa của bà. Ngọn lửa ấy luôn cháy trong lòng cháu. “Chờn vờn”, “ấp iu” nhưng dai dẳng và bền bỉ dù là “khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” vẫn không thể nào khiến nó bị lụi tàn hay che khuất.
Tình bà cháu trong “Bếp lửa” của Bằng Việt là tình cảm thiêng liêng cảm động. Bà dành cho cháu những hi sinh thầm lặng của phần đời mong manh còn lại. Bà là mái ấm chở che, bao bọc tuổi thơ dại khờ, yếu đuối của cháu trước những mất mát, đau thương của cuộc sống. Và người cháu, những năm tháng cháu đi trong đời là những năm tháng cháu nhớ đến bà với lòng tin yêu và biết ơn sâu sắc. Ngọn lửa bà trao cho cháu đưạc cháu giữ vẹn nguyên để trở thành ngọn lửa trường tồn, bất diệt.
Nội dung tư tưởng của “Bếp lửa” được thể hiện sâu sắc hơn nhờ những hình ảnh thơ sinh động, giàu sức liên tưởng: “bếp lửa chờn vờn sương sớm”, “bếp lửa ấp iu nồng đượm”,…cùng với đó là điệp từ “nhóm” đặc biệt được sử dụng ở cuối bài thơ. Song quan trọng hơn tất thảy là cảm xúc chân thành và lòng yêu mến vô bờ của nhà thơ đối với người bà kính yêu của mình.
Đọc và cảm nhận tình yêu thương chan chứa trong bài thơ “Bếp lửa”, người đọc thấy yêu hơn, trân trọng hơn những ngọn lửa tỏa trong căn nhà mình cùng những người thân yêu ta có được trên đời. | Phân tích tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt | 1,358 | |
Phân tích tình cảm của Bé Hồng dành cho mẹ trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng
Hướng dẫn
Phân tích tình cảm của Bé Hồng dành cho mẹ trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng
Nguyên Hồng (1918-1982) được mệnh danh là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh viết rằng: Nguyên Hồng đã sống hơn 60 năm, đã viết hơn 40 năm, ông đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đời và cho nghệ thuật, bây giờ nằm dưới ba tấc đất, dòng nước mắt ấy có vơi cạn được không? Bằng bao nhiêu giọt nước mắt rơi xuống từ chính cuộc đời mình ông đã viết nên thiên hồi ký Những ngày thơ ấu xúc động lòng người. Trong đó đoạn trích Trong lòng mẹ thuộc chương IV có thể coi là đoạn trích hay nhất, làm rơi nước mắt bao thế hệ độc giả vì tình mẫu tử thiêng liêng.
Đoạn trích có nhiều hình ảnh so sánh gây ấn tượng nhưng xúc động hơn cả là hình ảnh so sánh viết về khát khao gặp mẹ của bé Hồng khi vừa mới tan trường:
Nếu người quay lại ấy là một người khác… Và cái lầm đó không những làm tôi thẹn mà còn là tủi cực hơn nữa, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người khách bộ hành ngã giữa giữa sa mạc.
Lần theo từng dòng hồi ký, với lời văn vừa tự sự, miêu tả lại giàu sắc thái biểu cảm, người đọc như cảm nhận được bé Hồng đang bấm từng đốt ngón tay mong ngày mẹ trở về:
Gần đến ngày giỗ đầu thầy tôi, mẹ tôi ở Thanh Hóa vẫn chưa về… Nhưng đến ngày giỗ đầu thầy tôi, tôi không viết thư gọi, mẹ tôi cũng về. Có thể nói ước mong gặp mẹ của bé Hồng thật mãnh liệt. Dường như bao nhiêu cay đắng, tủi cực của một thời thơ ấu xa vắng mẹ đã trào lên đầu ngọn bút để Nguyên Hồng diễn tả thật tinh tế, xúc động những xúc động cực điểm của một linh hồn bé dại được gặp mẹ sau bao ngày trông ngóng.
Trước hết đây là hình ảnh so sánh vừa chính xác vừa gợi cảm. Bằng lời văn miêu tả giàu sắc thái biểu cảm câu văn như truyền thẳng đến người đọc rung động mãnh liệt về tình mẫu tử thiêng liêng.
Ba sẽ là cánh chim, cho con bay thật xa; Mẹ sẽ là nhành hoa, cho con cài lên ngực. Ba mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con. Mồ côi cha, lại phải sống xa mẹ giữa họ hàng giàu có mà băng giá tình thương, luôn reo rắc vào đầu bé những rắp tâm tanh bẩn về người mẹ nhưng trong trí óc non nớt thơ ngây của bé Hồng, tình thương và lòng yêu mẹ vẫn vẹn nguyên, lúc nào bé cũng tưởng đến khuôn mặt rầu rầu của mẹ, khát khao được gặp mẹ. Sâu thẳm trong tâm hồn bé có một niềm tưởng nhớ không bao giờ hết, đó là mẹ.
Nhà văn đã dùng hình ảnh người khách bộ hành ngã gục giữa sa mạc với đôi mắt gần rạn nứt để so sánh với bé Hồng vừa diễn tả được chính xác hoàn cảnh sống của bé Hồng giữa một họ hàng giàu có mà bằng giá tình thương, vừa diễn tả khát khao gặp mẹ của bé thật cháy bỏng, mãnh liệt. Khát khao ấy giống như ánh nhìn mòn mỏi đau đáu của người khách bộ hành giữa sa mạc mênh mông nóng bỏng mơ về một dòng nước trong mát
Còn người mẹ nhà văn đã so sánh giống như dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành gục ngã trước sa mạc. Đây là hình ảnh so sánh đẹp bởi mẹ vốn bao dung, hiền hòa nhân hậu, mẹ vốn dịu dàng như nước suối nguồn trong mát, tắm mát tâm hồn con trước mọi nỗi đắng cay của cuộc đời.
Nhà văn đã đẩy sự vật so sánh và hình ảnh so sánh đến tận cùng của cái chết và sự sống, với lối văn biểu cảm để nhấn mạnh và làm nổi bật nỗi khát khao gặp mẹ của bé Hồng là mãnh liệt đến vô cùng. Với bé, niềm hạnh phúc, niềm khát khao duy nhất lúc này đó chính là mẹ. Mẹ là tất cả.
Qua hình ảnh so sánh này, ta càng thấu hiểu, cảm thông với nhà văn, với những tuổi thơ bất hạnh. Tuổi thơ có bao điều khao khát ước mơ, nhưng có khát khao, ước mơ nào lớn hơn là khao khát tình mẹ. Có lẽ không chỉ với tuổi thơ, mà với cả cuộc đời mỗi con người, mẹ chính là điều thiêng liêng nhất vì môi khi va vấp ưu phiền mỗi khi hạnh phúc êm đềm con chỉ tìm về với mẹ thôi.
Hình ảnh so sánh trên không chỉ chính xác, gợi cảm mà còn rất phù hợp với cách nói truyền thống. Thơ ca biết bao lời hay, ý đẹp viết về tình mẹ, nhưng lời nào cũng gắn liền tình mẹ với dòng nước mắt:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Hay là từ lời bài hát ngọt ngào: Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào.
Chẳng biết tự bao giờ, trong trái tim mỗi người con, mẹ chính là suối nguồn trong mát không vơi cạn, là đại dương mênh mông, đầy ắp tình thương. Qua trang văn của Nguyên Hồng, một lần nữa, người đọc lại cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng qua dòng chữ thấm đẫm nước mắt của trái tim người con yêu mẹ, xa vắng mẹ.
Có nhà văn đã từng nói: Khi tôi viết nghĩa là tôi đau ở đâu đó. Có lẽ bao nhiêu kỷ niệm của thời thơ ấu đắng cay, xa vắng mẹ của chính nhà văn đã hóa thành dòng chữ, dòng nước mắt rung động nức nở lòng người đọc. | Phân tích tình cảm của Bé Hồng dành cho mẹ trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng | 1,050 | |
Đề bài: Phân tích tình cảm quê hương qua bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương
Bài làm
Hạ Tri Chương là một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc vào đời Đường. Ông là bạn vong niên với Lý Bạch. Hầu hết các sáng tác của ông đều thể hiện tình cảm yêu thương sâu nặng với quê hương. Một trong những bài thơ mang cảm hứng chủ đạo về nỗi niềm nhớ quê hương của tác giả là Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê (Hồi hương ngẫu thư):
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?
Ngay nhan đề bài thơ đã thể hiện niềm xúc động dâng trào khi tác giả trở về với mảnh đất đã sinh ra mình mà gần hết cuộc đời nay mới trở lại. Tình cảm nhớ quê luôn thường trực trong lòng tác giả, nhưng phải đến khi đứng trên mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn, tình cảm ấy không thể nén được và trào dâng
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
(Khi đi trẻ, lúc về già)
Quê hương chính là cội nguồn của mỗi cá nhân, gia đình, thậm chí cả dòng họ. Được sinh ra nhưng tuổi ấu thơ đã phải rời gia đình, quê hương sống nơi đất khách quê người. Vậy là tác giả ngay từ nhỏ đã phải làm quen với phong tục tập quán và kể cả lũ bạn hoàn toàn mới lạ. Sự hoà đồng có lẽ cũng nhanh, nhưng nó vẫn không phải là quê nhà, là sinh khí âm dương hội tụ của mẹ cha để sinh ra mình. Điều đó có ảnh hưởng rất nhiều đến nhận thức của nhà thơ. Nỗi niềm nhớ quê đã trở thành thường trực đau đáu trong lòng. Quê hương trong bài thơ là cố hương. Tác giả xa cách không phải là 3 năm, 15 năm mà là hơn nửa thế kỷ, gần một đời người. Đành rằng cuộc sống chốn Tràng An náo nhiệt, ồn ào, sung túc. Công danh có thành đạt đến mức nào, cái chất quê, cái máu, cái hồn trong ông vẫn không hề thay đổi. Có nỗi đau nào hơn nỗi đau “li gia”. Tuy vậy, ta thấy rằng với tác giả, vui sướng vô cùng là cuối đời còn được hồi hương.
Cuộc đời đầy sóng gió và cát bụi, mái tóc còn xanh mướt ngày nào khi xa quê thì nay, chính trên mảnh đất này mái tóc ấy đã bạc phơ. Dẫu cho tóc bạc, da mồi, địa vị công danh thay đổi. Nhưng cái cốt cách, cái linh hồn của đất mẹ quê cha vẫn nguvên đó.
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)
Lời nói, giọng quê vẫn không thay đổi, ấy chẳng phải là sự gắn bó với quê hương đó sao. Thật vậy truyền thống văn hoá của gia đình, dân tộc quê hương không dễ gì thay đổi được. Nó được ăn sâu trong máu, trong tâm hồn tác giả. Lý Bạch trên bước đường chống kiếm lãng du xa quê từ nhỏ nhưng ánh trăng nơi quán trọ đã gợi trong ông những kỷ niệm thân thương nhất về quê hương, ánh trăng làm sống dậy một thời gắn bó từ thuở nằm nôi. Hạ Tri Chương cũng vậy, ông sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương hết mực của cha mẹ, của quê hương, chỉ có những kẻ bạc tình mới nỡ nhắm mắt quên đi nguồn cội.
Càng cảm động nhường nào khi trên đỉnh danh vọng cao sang mà hình ảnh quê hương không hề phai nhạt. Ta hiểu rằng về với quê có lẽ là ước nguyện lớn nhất của đời ông. Ước nguyện ấy đã biến thành hiện thực, bao năm ly biệt nay trở về với quê hương, trong lòng sao tránh khỏi cảm xúc dâng trào. Có lẽ ngay từ đầu ngõ tác giả đã thốt lên con đã về đây hỡi người mẹ hiền quê hương, ông như muốn ôm trọn cả quê hương vào lòng với những dòng nước mắt sung sướng.
Nhưng về tới quê hương một nghịch lý đã xảy ra:
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?
(Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: khách ở chốn nào lại chơi?)
Thời gian xa quê dài dằng dặc, bạn bè cùng trang lứa ngày xưa ai còn ai mất. Quê hương đã có thay đổi gì chưa. Đời sống cùa bà con như thế nào? Bao nhiêu câu hỏi cứ dội về hiện hữu. Sau tiếng cười nói ồn ào của lũ trẻ, lòng tác giả không khỏi man mác. Trong con mắt lũ trẻ thì mình là khách lạ, đó là một thực tế bởi khi ông từ giã quê hương thì làm gì đã có chúng. Sau nụ cười tinh nghịch của trẻ thơ là những giọt nước mắt chua cay và sung sướng. Ta là khách lạ! xa quê gần một đời người nay mới trở lại, ta dù lạ với lũ trẻ thơ như quá đỗi thân thuộc với mảnh đất quê hương. Sung sướng hơn bao giờ hết nhà thơ đang đứng trên mảnh đất quê hương, ông đã thực hiện được.tâm nguyện của mình “sống chết với quê hương”. Tình cảm ấy đẹp quá, thiêng liêng quá!.
Cảm ơn nhà thơ Hạ Tri Chương, chính ông đã đánh thức trong lòng độc giả những tình cảm gắn bó với quê hương. Nó làm thức tỉnh bao kẻ đang muốn từ bỏ quê hương. Đồng thời củng cố, khắc sâu hơn niềm tin yêu quê hương gia đình của mỗi con người. Và dĩ nhiên không có tình cảm gắn bó với quê hương sẽ không lớn nổi thành người. | Phân tích tình cảm quê hương qua bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương | 985 | |
Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc
Hướng dẫn
TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ (Trích “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn)
Mở bài:
Chinh phụ ngâm là một trong những tác phẩm nổi nhất của nền văn học Việt nam thế kỉ XVII do Đặng Trần Côn sáng tác. Tác phẩm được xem là kiệt tác văn học, có giá trị về nhiều mặt. Chinh phụ ngâm là tiếng nói oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa của tác giả, đồng thời thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Tác phẩm mang đậm bút pháp nghệ thuật cổ điển với tính tượng trưng ước lệ đặc sắc, bút pháp tả cảnh ngụ tình đạt đến độ hoàn mĩ. Đặc biệt, với bản dịch Chinh phụ ngâm khúc đã đưa ngôn ngữ dân tộc lên tầm cao mới, phong phú, uyển chuyển.
Thân bài:
Đặng Trần Côn sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Ông là người thông minh, tài hoa, hiếu học. Tính cách của Đặng Trần Côn “đuềnh đoàng không buộc”, thích được tự do, phóng túng nên không đỗ đạt cao, chỉ đỗ Hương cống và giữ các chức quan thấp. Lúc còn trẻ, Đặng Trần Côn không có tiếng tăm gì. Thế nhưng, khi tác phẩm Chinh phụ ngâm ra đời đã gây tiếng vag lớn trong giới Nho sĩ, đưa Đặng Trần Côn trở thành một trong những tên tuổi nổi bậc nhất trên thi đàn đương thời. Khuynh hướng chung của thơ văn ông là đi sâu vào tình cảm, đi sâu vào nỗi lòng trắc ẩn, phức tạp, sâu kín của con người, nhất là đối với người phụ nữ. Chinh phụ ngâm là một phát hiện sâu thẳm của Đặng Trần Côn, khó có ai bì kịp.
Chinh phụ ngâm kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi của người chinh phụ có chồng phải tham gia cuộc chiến tranh phi nghĩa. Hạnh phúc chưa được bao lâu phải rời xa nhau trong nước mắt. Cuộc tiễn đưa lưu luyến kết thúc, người chinh phụ trở về khuê phòng và tưởng tượng ra cảnh sống của chồng nơi chiến địa. Những xúc cảm về một hình ảnh “lẫm liệt” của chồng phút chia ly đã dần mờ nhòe, thay thế vào đó là nỗi lo sợ khủng khiếp về số phận của chồng giữa chiến trường khốc liệt, đầy oan hồn tử khí, và niềm đau khổ khôn nguôi về thân phận đơn chiếc của bản thân nàng. Tâm trạng nàng trăm sầu nghìn não, chán chường và tuyệt vọng. Nàng thầm trách cuộc chiến tranh đã ngăn cách lứa đôi sum vầy. Đó cũng là lời tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi hạnh phúc của biết bao con người.
Nỗi cô đơn lẻ bóng của người chinh phụ (8 câu thơ đầu)
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Nàng cứ đi đi lại lại quanh quẩn ngoài hiên “dạo hiên vắng”, “thầm gieo từng bước”, hết buông rèm, rồi lại cuốn rèm nhiều lần, thao thức cùng ngọn đèn khuya. Hành động cứ lặp đi lặp lại trong vô thức, không mục đích và vô nghĩa. Những động tác, hành động của chinh phụ chứng tỏ nàng không tự chủ được bản thân vì mối sầu nhớ triền miên, da diết không biết san sẻ cùng ai. Những động tác lặp đi lặp lại không mục đích, vô nghĩa thể hiện tâm trạng rối bời, nhung nhớ đến ngẩn ngơ, cô đơn lẻ loi. Nàng khổ đau đến quẫn bách cả tinh thần.
Từng khắc, từng giờ, nàng mong ngóng tin xa nhưng càng chờ đợi càng thấy bặt tăm:
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Chim thước là loài chim báo tin tốt lành. Nhưng giờ đây “Thước chẳng mách tin”. Nàng thầm trách chim thước vì không nhận được tin của chồng. Càng mong ngóng càng thấy tuyệt vọng. Người chinh phụ tìm đến bày tỏ tâm sự với đèn nhưng rồi cũng vô ích. Cuối cùng thấy mình và đèn có cùng một cảnh ngộ đáng thương. Nỗi cô đơn thể hiện qua sự đối bóng giữa người chinh phụ và ngọn đèn khuya, vẫn chỉ là “một mình mình biết, một mình mình hay”.
Điệp ngữ bắc cầu “Đèn biết chăng” – “đèn có biết” thể hiện tâm trạng buồn triền miên, kéo dài lê thê dường như không bao giờ dứt, ngừng. Kết hợp với câu hỏi tu từ: “Đèn biết chăng- đèn chẳng biết” làm lời than thở, nỗi khắc khoải, chờ đợi và hi vọng trong nàng day dứt không yên. Tâm trạng của nhân vật trữ tình đã chuyển giọng tự nhiên từ lời kể bên ngoài thành lời tự độc thoại nội tâm da diết, tự dằn vặt, rất thương, rất ngậm ngùi.
Hình ảnh “ngọn đèn”, “hoa đèn” cùng với cái bóng trên tường của mình gợi cho người đọc gợi nhớ đến hình ảnh ngọn đèn không tắt trong nỗi nhớ của người thiếu nữ trong bài ca dao quen thuộc “đèn thương nhớ ai, mà đèn không tắt?” và nhớ đến truyện Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Trong im lặng dằng dặc, dưới ánh đèn thăm thẳm, người chinh phụ trẻ chỉ còn thầm lặng chuyện trò với ngọn đèn, với cái bóng của chính mình.
Nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ trong đêm khuya khoắt (8 câu tiếp theo)
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoèphất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầmgượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.
Để diễn tả tâm trạng sầu muộn của người chinh phụ, tác giả đã sử dụng những hệ thống những âm thanh, hình ảnh vo cùng đặc sắc và ấn tượng.
Thể hiện qua không gian:
+ Âm thanh: Tiếng gà gáy suốt năm canh, biểu hiện sự vắng vẻ tĩnh mịch của không gian.
+ Hình ảnh: Bóng hòe gợi nên sự buồn bã, ủ rủ của người chinh phụ.
Người chinh phụ cô đơn đã thao thức suốt cả đêm trong một không gian hoang vắng, tĩnh mịch.
Thể hiện qua thời gian:
So sánh “Khắc giờ” = “như niên”, “mối sầu” = “tựa miền biển xa”
+ Từ láy “đằng đẵng, dằng dặc”.
Nỗi sầu của người chinh phụ kéo dài vô tận trong một không gian vô cùng.
Thể hiện qua hành động:
+ “Gượng” + đốt hương, soi gương, gảy đàn. Những hành động gượng gạo không tìm được sự giải tỏa, sẻ chia. Càng nhớ mong, chờ đợi nỗi sầu càng thêm chồng chất.
+ Ẩn dụ: “sắt cầm”, “dây uyên”, “phím loan”: khát vọng lứa đôi + động từ “đứt, chùng”. Nàng lo sợ hạnh phúc tan vỡ, lứa đôi chia lìa.
=> Khát vọng hạnh phúc, tình yêu lứa đôi của người chinh phụ.
– “Gió đông”, “Non Yên”
– đường lên bằng trời
– trời thăm thẳm
→ Hình ảnh ước lệ gợi không gian rộng lớn, vô tận ngăn cách hai người-> nỗi nhớ mong chinh phu da diết, khắc khoải của người chinh phụ tăng lên.
– Từ láy “thăm thẳm”, đau đáu”→ nỗi nhớ chồng khôn nguôi, canh cánh trong lòng của người chinh phụ
– Bút pháp tả cảnh ngụ tình + độc thoại nội tâm: “Cảnh buồn…mưa phun” →nỗi nhớ nhung, đau đớn, xót xa của người chinh phụ.
=> Khát khao sự đồng cảm của người chinh phu nơi biên ải nhưng vô vọng
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, độc thoại nội tâm, câu thơ gợi tả tâm trạng đau đáu, tha thiết không nguôi như nhuốm vào giọt mưa, giọt sương, đều đều, miên man trong tiếng trùng ra rả. Qua đó bộc lộ nỗi nhớ nhung đau đớn, xót xa của người chinh phụ với hình ảnh chinh phu tràn ngập trong tâm tưởng. Đó là khát khao sự đồng cảm của người chinh phu nơi biên ải nhưng vô vọng, sầu nhớ da diết, triền miên.
Qua đoạn trích, tác giả thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với khao khát hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ. Đoạn trích cũng gián tiếp lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đã gieo rắc biết bao đau khổ lên số phận con người.
Kết bài:
Tác giả bản dịch đã sử dụng ưu thế của thể thơ song thất lục bát, đã vươn tới một sáng tạo tài tình bằng ngôn ngữ trong sáng hiện đại, kết cấu thanh vận khéo léo, láy âm điệp chữ tinh tế, gieo vào lòng độc giả âm hưởng xao xuyến vừa quen thuộc vừa đa dạng, và hầu như lúc nào cũng gây được hiệu quả thẩm mỹ. Một lần nữa, Chinh phụ ngâm khúc không ngừng thúc dội mãnh liệt vào trái tim con người bằng những vần thơ tinh xảo, giàu giá trị nhân văn và nhân đạo sâu sắc. | Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc | 1,543 | |
Đề bài: Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích Chinh phụ ngâm
Gợi ý
1. Đặng Trần Côn (chưa rõ năm sinh, năm mất) người làng Nhân Mục, tên nôm là làng Mộc, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. về sáng tác, ngoài tác phẩm chính là Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ chữ Hán và viết một số bài phú chữ Hán. Theo các tài liệu lịch sử, đầu đời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình cất quân đánh dẹp, nhiều trai tráng phải từ giã người thân ra trận. Đặng Trần Côn cảm động trước nỗi khố đau mất mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến tranh, đã viết Chinh phụ ngâm. Khúc ngâm này gồm 476 câu thơ làm theo thể trường đoản cú (câu thơ dài ngắn không đều nhau).
Tác phẩm đã được dịch ra chữ Nôm, và chưa biết ai là tác giả bản dịch hiện hành. Có người cho rằng đó là bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Lại có người cho rằng Phan Huy Ích chính là dịch giả của Chinh phụ ngâm. Đoạn trích dưới đây thuộc bản dịch hiện hành, viết về tình cảm và tâm trạng người chinh phụ phải sống cô đơn, mòn mỏi trong thời gian dài người chồng đi đánh trận, không có tin tức, không rõ ngày trở về.
2. Kể từ lúc tiễn chồng vào “cõi xa mưa gió” người chinh phụ trở về sống trong tình cảm đơn chiếc, lẻ loi. Ngày cũng như đêm, sau khi công việc đã yên mọi bề, người chinh phụ
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Bốn câu thơ song thất lục bát với vần điệu chặt chẽ, thăng trầm như những nốt nhạc buồn càng làm đậm thêm tình cảnh đơn chiếc, lẻ loi kia. Người trước có lúc sóng đôi vợ chồng thì nay “thầm gieo từng bước" dưới mái hiên vắng vẻ. Ngày nào bàn chuyện làm ăn cùng chồng bên cửa sổ thì nay buông xuống kéo lên nhiều lần mong ngóng nhưng chẳng thấy chim thước báo tin lành. Ngày thì như thế, còn đêm thì không ngủ được, một mình đối diện với ngọn đèn khuya. Tình cảnh của người chinh phụ quá lẻ loi, đơn chiếc. Ngày thì khắc khoải chờ mong. Đêm dài câm lặng, biết riêng lòng mình, Hoa đèn kia dẫu sao còn lửa. Riêng lòng này với bóng lạnh lùng.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Hai câu lục bát, một câu miêu tả thời gian, một câu miêu tả nỗi buồn. Cả hai câu đều mang nghệ thuật so sánh. Trong tình cảnh lẻ loi ấy thì một giờ là đợi dài tựa một năm, như người xưa thường ví “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề", ngày sau này Xuân Quỳnh tâm sự “Một ngày không gặp nhau / Biển bạc đầu thương nhớ”. Thời gian chờ đợi càng dài thì nỗi sầu càng lớn "tựa miền biển xa”. Tình cảnh đã bước qua tâm trạng. Đấy là tâm trạng nhớ thương của người chinh phụ gửi tới chồng ở miền xa. Nỗi nhớ thương thật tha thiết.
Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Bốn câu thơ trên là lời tâm sự của vợ gửi đến chồng. Nhưng chim thước không có để nhờ mang thư đi. Vậy thì gửi lời nhớ thương theo gió. Nhưng gửi theo gió đông thì gió có mang lời thủ thỉ đến được tai chàng? Biết chàng đang ở nơi nào ngoài mặt trận? Thôi thì lòng thương quý chàng xin được gửi đến nơi xa nhất mà chàng tới như Đậu Hiến đời Hậu Hán đánh đuổi giặc Bắc Thiền Vu đến núi Yên Nhiên, bởi vì:
“Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua.”
Đời chiến binh là như thế, là “ôm yên, gối trống đã chôn, / Năm vùng cát tráng ngủ cồn rêu xanh”, chưa kể đời chiến binh mấy người đi trở lại. Tình thương, nỗi nhớ của nàng là như thế. Nhưng:
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Dù là “Trời” thì Trời cũng khó mà hiểu thấu tình thương và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Các từ láy “thăm thẳm, đau đáu” càng làm tăng thêm sự không hiểu biết, không thấy được của Trời, và chỉ có người trong cuộc (người chinh phụ) mới cảm nhận rõ lòng mình. Cảnh thì buồn, đến cả cây cỏ và tiếng côn trùng cũng não ruột. Còn tình thì da diết thiết tha.
3. Thể thơ song thất lục bát vốn thích hợp với tự sự, trong đoạn trích, bản dịch lại dùng phép so sánh, từ lặp và từ láy một cách tự nhiên càng làm tăng thêm giá trị nội dung.
Đọc đoạn trích người đọc cứ ngỡ ngàng rằng chỉ để miêu tả tình cảnh lẻ loi, thể hiện tâm trạng khát khao tình yêu của người chinh phụ. Nhưng nếu nghĩ sâu xa hơn thì đoạn trích bày tỏ sự oán ghét chiến tranh. Chiến tranh đã chia rẽ tình yêu, ngăn cách hạnh phúc lứa đôi của nhiều thế hệ, nhất là thế hệ trẻ, có lẽ vì thế mà tác phẩm đã được độc giả cùng thời hết sức tán thưởng. Nhiều người còn dịch Chinh phụ ngâm sang thơ Nôm (tức thơ tiếng Việt) để khúc ngâm được truyền bá rộng rãi hơn. Bản diễn Nôm hiện hành là bản dịch thành công nhất. | Phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích Chinh phụ ngâm | 1,004 | |
Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Hướng dẫn
Bài tập làm văn phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ lớp 10 bao gồm dàn ý phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ hay nhất.
Dàn ý phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
1. Mở bài
– Giới thiệu tác giả Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điềm – Giới thiệu tác phẩm Chinh phụ ngâm. – Giới thiệu trích đoạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” và khái quát tâm trạng của người chinh phụ trong trích đoạn trên.
2. Thân bài
a. Tâm trạng buồn, cô đơn, lẻ loi, khát khao hạnh phúc lứa đôi
– Một mình ở nhà, lẻ loi ngoài hiên, đi đi lại lại; – Quanh quẩn, quẩn quanh; – Buông rèm., cuốn rèm bao nhiêu lần,… => Những động tác, hành động lặp đi lặp lại không mục đích, vô nghĩa, người chinh phụ cho ta thấy tâm trạng cô đơn, lẻ loi của nàng. Nỗi lòng nàng không biết san sẻ cho ai! – Điệp ngữ bắc cầu: “đèn biết chăng – đèn có biết” đã và sẽ là một biện pháp nghệ thuật phổ biến trong đoạn trích và trong toàn khúc ngâm. (Có thể nói thêm hình ảnh của đoạn dưới non Yên, bằng trời- trời thăm thẳm..) diễn tả tâm trạng buồn lê thê trong thời gian và không gian dường như không bao giờ dứt. +“Đèn biết chăng – đèn có biết” còn là sự kết hợp việc sử dụng câu hỏi tu từ như lời than thở, nỗi khắc khoải đợi chờ và hi vọng trong nàng day dứt không yên. Từ lời kể chuyển thành lời độc thoại nội tâm da diết, tự dằn vặt, rất thương, rất ngậm ngùi. – Hình ảnh “ngọn đèn, hoa đèn” cùng với hình ảnh cái bóng trên tường của chính mình gợi cho người đọc nhớ đên hình ảnh ngọn đèn không tắt trong bài ca dao: “Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt?…” => Không gian quanh người chinh phụ mênh mông, khiến sự cô đơn càng đáng sợ.
b. Bút pháp tả cảnh ngụ tình
– Dùng cảnh vật thiên nhiên, để miêu tả tâm trạng con người, dùng khách quan để tả chủ quan: + Tiếng gà “eo óc” báo hiệu canh năm, chứng tỏ người vợ trẻ xa chồng, đã thao thức suốt cả đêm. + Bóng cây hoè ngoài sân, trong vườn ngắn rồi dài, dài rồi lại ngắn: bước đi chậm chạp của thời gian, một khắc, một giờ dài như một năm. + Cụ thể hoá mối sầu như niên: đằng đẵng, dằng dặc + Hành động: gảy, soi, đốt,… gắn liền với các đồ vật như đàn, hương, gương – những thú vui tao nhã, những thói quen trang điểm của người chinh phụ giờ đây thành miễn cưỡng, gượng gạo, chán chường. (+) Đốt hương để tìm sự thanh thản mà hồn lại mê man, bấn loạn; (+) Soi gương mà không cầm được nước mắt; (+) Dây đàn, phín đàn chỉ nhắc cảnh chia li và nỗi chia lìa ám ảnh dây đứt, phím chùng… – Hình ảnh ẩn dụ tượng trưng mang tính ước lệ của thi pháp trữ tình trung đại bóng bảy, sang trọng và cổ kính nhưng người đọc tâm trạng thật của người phụ nữ bồn, cô đơn, lẻ loi, nhớ thương, dằn vặt khi chồng đi chinh chiến phương xa.
c. Nỗi nhớ chồng đi chinh chiến xa trường
– Gió đông: gió xuân tươi mát làm dịu đi cảnh vật và lòng người – người chinh phu vẫn xa xôi. – Non Yên: địa danh người chồng chinh chiến. => Không gian xa cách muôn trùng giữa người chinh phu và người chinh phụ – Tâm trạng người chinh phụ được miêu tả trực tiếp: + Nỗi nhớ triền miên trong thời gian ”đằng đẵng” được cụ thể hoá bằng độ dài không gian ”đường lên…” + Đất trời dường như bao la đến vô hạn: ”xa thẳm” không có đích, ”đau đáu” trăn trở không sao gỡ ra được. => Tâm trạng của ngừơi chinh phụ được miêu tả ngày càng sầu thảm, làm cho khung cảnh thêm hoang vắng, quạnh hiu. Hình ảnh người chinh phụ chìm sâu trong cô đơn, vò võ, lẻ loi chiếc bóng thao thức suốt 5 canh: nhớ nhung, sầu muộn, lo lắng, day dứt. Khao khát âm thanh mãnh liệt được hưởng hạnh phúc ái ân đôi lứa, đoàn tụ gia đình của người chinh phụ.
3. Kết bài
– Khẳng định lại tình cảnh và nỗi khát khao hạnh phúc của người chinh phụ. – Với nghệ thuật miêu tả tâm lí đặc sắc cộng với một tấm lòng nhân đạo cao cả, Đặng Trần Côn đã xây dựng lên hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến tiêu biểu cho bi kịch về hạnh phúc lứa đôi
Bài văn mẫu phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – bài 1
Trong xã hội thời phong kiến ngày xưa có rất nhiều các tác phẩm nói về nỗi khổ tâm của người phụ nữ có chồng phải rời xa gia đình mà phải đi theo chồng và đặc biệt là đi theo chồng trong chiến trận loạn lạc. Thậm chí có những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Và nỗi khổ của họ là những nỗi đau đớn, dằn vặt mà không thể nói ra được thành lời, mà chỉ có thể giữ tâm trạng cô đơn ấy trong lòng. Vậy trong các tác phẩm văn học của thế kỉ XVIII nói riêng, và thời phong kiến nói chung, chúng ta không thể không nhắc đến tác phẩm “ Chinh phụ ngâm khúc” của tác giả Đặng Trần Côn cùng với nghệ thuật diễn Nôm xuất sắc của Đoàn Thị Điểm.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen Ngoài rèm thước chẳng báo tin
Mở đầu là bốn câu thơ song thất lục bát làm cho người đọc cũng phải suy ngẫm, như thoang thoảng đâu đây có những nét buồn mang mác, như nỗi lòng lo ấu, sầu muộn của người phụ nữ ngày ngày trông ngóng tin chồng nơi chiến trận đầy nguy hiểm. Mới ngày nào vợ chồng còn sánh bước bên nhau, và yêu thương nhau sâu đậm mà nay trong căn phòng, ngoài hiên nhà chỉ còn bóng dáng lẻ loi của người vợ bên trong bức rèm nhìn ra xa xăm để đợi chồng về. Nàng ngày ngày ngóng trông tin người chồng nơi xa xôi, trông chờ tiếng kêu của những con chim thước từ nơi chiến trường bay về, để mang người chồng của nàng bình an nơi chiến trận. Ấy vậy mà nàng trông mãi, trông mãi mà không thấy tin lành từ phương xa. Thế là đêm đêm, nàng vẫn một mình bên ngọn đèn, thế nhưng, đèn dẫu sao vẫn còn ngọn lửa tỏa ánh sang ấm áp, còn nàng, lòng của nàng lại lạnh lẽo, và mỏi mòn chờ người thương. Liệu ánh đèn ấm áp kia có hiểu cho nỗi buồn của nàng hay không:
Khắc giờ đằng đẵng như niên Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa
Tiếp theo là hai câu thơ lục bát mà tác giả đã dùng trong bài thơ, và đó đều là những câu thơ mang ý nghĩa so sánh. Trong trái tim của người chinh phụ thì giờ đây chỉ biết chờ đợi người chồng của mình, và thời gian mỗi phút mỗi giây đối với nàng thật dài, như là cả một thế kỉ. và nó cũng giống như nhà thơ Xuân Quỳnh đã từng viết:
Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ
Tình yêu của nàng, và nỗi nhớ nhung của nàng xa thăm thẳm, nó tựa như đại dương mênh mông không nhìn thấy bến bờ. Và cùng với nó, thời gian chờ đời gì đây ngày càng dài, và lòng nàng lại càng “ tựa miền biển xa”.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải Gương gượng soi lệ lại châu chan Sắt cầm gượng gảy ngón đàn Dây uyên kinh đứt phím loan ngại ngùng
Chỉ bốn câu thơ ở đây nhưng nó lại có tới ba dòng “ gượng”. Nàng gượng soi gương, gượng đốt hương trong căn phòng và rồi lại gắng gượng gảy từng phím đàn. Thế nhưng nàng lại nhận ra rằng, dù nàng có cố gắng làm cho mình đẹp, cố gắng đốt hương thơm cho căn phòng hay gảy nên những khúc nhạc quen thuộc của nàng thì cũng không còn ai ở bên cạnh để lắng nghe nỗi lòng của nàng cả, thưởng thức bề ngoài xinh đẹp của nàng cùng tiếng đàn trầm bổng nữa rồi. Than ôi! Đó có lẽ là những điều đau khổ và tuyệt vọng nhất của người phụ nữ trong thời chiến tranh. Để rồi từng phím đàn không còn được mượt mà, và đằm thắm như ngày xưa nữa. Mà chỉ còn lại những” phím loan ngại ngùng” như tình yêu của đôi uyên ương đã bị xa cách nghìn khơi vậy.
Lòng này gửi gió đông có tiện Nghìn vàng xin gửi đến non Yên Non Yên dù chẳng tới miền Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Nếu như ở đoạn đầu, nàng chờ tin lành từ những chú chim tước từ phương xa báo tincho nàng về chồng của mình, thì giờ đây nàng đành phải gửi tình cảm của mình cho ngọn gió Đông kia đến với chàng. Liệu rằng, cơn gió ấy có thể đi đến bên chàng không, và có nói cho chàng biết những điều tâm sự, nỗi niềm thương yêu của nàng hay không. Thế là nỗi lòng của nàng giờ đây đã cao tựa như đường lên bầu trời mất rồi, liệu bao giờ chàng mới có thể trở về bên nàng được đây?
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong Cảnh buồn người tha thiết lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun
Bốn câu thơ cuối, từng nhịp thơ hình như đã chậm đi rất nhiều, như thấm vào lòng người đọc, như tiếng vọng ai oán, và đượm vào từng nhánh cây, ngọn cỏ. Như câu thơ: “ Người buồn cảnh cớ vui đâu bao giờ”.
Và giờ đây, người chinh phụ cũng đã không còn niềm vui nào nữa, và dường như mọi vật xung quanh cũng ảnh hưởng bởi tâm tư và tình cảm của nàng luacs bấy giờ, như nỗi nhớ “ đau đáu” của nàng dành cho người chồng bị cuốn vào cuộc chiến tranh phi nghĩa.
Tóm lại, bài thơ “ Chinh phụ ngâm khúc” đã nói lên tình cảm da diết của người vợ dành cho người chồng phải đi xa, và ca ngợi tình yêu chung thủy của hai người. Nhưng cũng đồng thời lên án chiến tranh phi nghĩa đã làm cho biết bao gia đình phải tan nát, làm vợ phải xa chồng, và con phải xa cha, cha mẹ xa con, …Mặt khác, và tác phẩm cũng đã phản ánh lên được ý thức về cuộc sống, niềm khao khát bảo vệ hạnh phúc của gia đình. Đó cũng là các lí do mà “chinh phụ ngâm khúc” đã tạo dấu ấn cho người đọc rất riêng biệt trong nên văn học của thế kỉ 18 mà vẫn còn có giá trị to lớn cho tới tần bây giờ.
Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – bài 2
Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê – Mạc đánh nhau đến Trịnh – Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công giá trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác.
Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây.
Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh. Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thía nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy.
Đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến câu 228) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
Đoạn trích có thể chia làm ba đoạn nhỏ:
Đoạn 1: Từ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước… đến Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng: Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được.
Đoạn 2: Từ Lòng này gửi gió đông có tiện… đốn sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi: Nỗi nhớ thương người chồng ở phương xa; cảnh vật khiến lòng nàng thêm sầu thảm.
Đoạn 3: Từ Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc… đến Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!. Cảnh vật xung quanh khiến lòng người chinh phụ rạo rực niềm khát khao hạnh phúc.
Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Một lần nữa nàng tự hỏi vì sao đôi lứa uyên ương lại phải chia lìa? Vì sao mình lại rơi vào tình cảnh lẻ loi? Bấy nhiêu câu hỏi đều không có câu trả lời. Tâm trạng băn khoăn, day dứt ấy được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế. Có thể nói, sầu và nhớ là cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ này.
Trong mười sáu câu thơ đầu, tác giả tập trung miêu tả hành động và tâm trạng của người chinh phụ:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng? Đèn có biết dường bằng chẳng biết? Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Nàng lặng lẽ dạo hiên vắng thầm gieo từng bước trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.
Giữa không gian tịch mịch, tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, sốt ruột mong một tiếng chim thước báo tin vui mà chẳng thấy.
Nàng khát khao có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình. Không gian im ắng, chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng. Lúc đầu, nàng tưởng như ngọn đèn biết tâm sự của mình, nhưng rồi lại nghĩ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, bởi nó là vật vô tri vô giác. Nhìn ngọn đèn chong suốt năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân tủi phận: Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Hình ảnh người chinh phụ thầm gieo từng bước ngoài hiên vắng và suốt năm canh ngồi một mình bên ngọn đèn chong, không biết san sẻ nỗi niềm tâm sự cùng ai đã miêu tả được tâm trạng cô đơn tột độ của người chinh phụ.
Tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ trong tám câu thơ. Đó là cảm giác lúc nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi: ban ngày, ban đêm, ngoài phòng, trong phòng. Nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian luôn đeo đẳng, ám ảnh nàng.
Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi:
Gà eo óc gáy sương năm trống, Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên. Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Tiếng gà gáy báo canh năm làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng. Cây hòe phất phơ rũ bóng trong ánh sáng lờ mờ của ban mai gợi cảm giác buồn bã, hoang vắng. Giữa không gian ấy, người chinh phụ cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào!
Ở các khổ thơ tiếp theo, nỗi ai oán hiện rõ trong từng chữ, từng câu, dù tác giả không hề nhắc đến hai chữ chiến tranh:
Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại châu chan. Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc, Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn loan phượng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.
Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia xa đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, nàng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió:
Lòng này gửi gió đông có tiện? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên. Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt có một ý nghĩ rất nên thơ: nhờ gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đình với bóng dáng thân yêu của mẹ già, vợ trẻ, con thơ:
Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong vắn chương nước ta thời trung đại:
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi sinh li đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ này chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? Biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đớn đau cho thể xác:
Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương cho thân phận bất hạnh, cô đơn. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ. Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nổi lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ không được sống hạnh phúc, đồng thời cũng phản ánh thái độ lên án chiến tranh của tác giả.
Bầu trời bát ngát không cùng và nỗi nhớ cũng không cùng, nhưng suy tưởng thì có hạn; người chinh phụ lại trở về với thực tế cuộc sống nghiệt ngã của mình. Ý thơ chuyển từ tình sang cảnh. Thiên nhiên lạnh lẽo như truyền, như ngấm cái lạnh đáng sợ vào tận tâm hồn người chinh phụ cô đơn:
Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.
Hình như người chinh phụ đã thấm thía sức tàn phá ghê gớm của thời gian chờ đợi. Tuy nhiên đến câu: Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi thì không khí đã dễ chịu hơn, cũng bởi người chinh phụ chỉ mới thất vọng mà chưa tuyệt vọng.
Tám câu cuối là bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Chinh phụ ngâm:
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên. Lá màn lay ngọn gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm. Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!
Ý thơ đi từ tình đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ dội qua dội lại như vậy nhằm thể hiện rõ tâm trạng ở đâu, lúc nào, làm gi… người chinh phụ cũng chỉ vò võ một mình một bóng mà thôi!
Từ thốc rất mạnh trong câu Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên báo hiệu sự chuyển sang một tâm trạng mới ở người chinh phụ. Cảnh hoa – nguyệt giao hòa khiến lòng người rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi. Những động từ dãi, lồng toát lên cái ý lứa dôi quấn quýt gần gũi, âu yếm nồng nàn mà vẫn tế nhị, kín đáo.
Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên… Đặc biệt, tác giả đã sử dụng thành công hàng loạt từ láy: eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau đáu… về nhạc điệu, tác giả đã phát huy một cách tài tình nhạc điệu du dương của thể thơ song thất lục bát, giống như những đợt sóng dạt dào, diễn tả tâm trạng người chinh phụ hết nhớ lại thương, hết thương lại nhớ trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc.
Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật.
Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của các vua chúa, tác giả đã đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện tinh thần phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương; một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người.
Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – bài 3
“Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.”
Văn học Việt Nam đã từng chứng kiến biết bao những cuộc chia li, tiễn biệt đầy lưu luyến như thế. Và ở thế kỉ thứ XVIII, “Chinh phụ ngâm” một tác phẩm lấy từ đề tài chia li trong chiến tranh đã của Đặng Trần Côn đã cho chúng ta thấy được một cuộc tiễn biệt thấm đẫm tâm trạng, đằng sau đó là nỗi đau người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã làm nỗi bật lên nỗi lẻ loi cô đơn cùng những nhớ mong, và có cả những khao khát hạnh phúc của người chinh phụ.
Nhà văn Tô Hoài đã từng khẳng định: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Thời đại của Đặng Trần Côn là thời kì mà chiến tranh các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên và phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra khắp nơi, nhà nhà sống trong cảnh loạn lạc, khói lửa, đâu đâu cũng thấy cảnh lầm than, tang tóc. Khi thời đại đưa cho ông một đề tài quen thuộc “hiện thực chiến tranh”, bằng cảm hứng nhân đạo của mình, Đặng Trần Côn đã chiếu ngòi bút của mình xuống những nỗi đau của người phụ nữ trong chiến tranh để cất lên tiếng nói của con người thời đại, tiếng nói oán ghét chiến tranh phi nghĩa, tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc qua khúc tự tình trường thiên “Chinh phụ ngâm”. Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, qua nỗi niềm của người chinh phụ có chồng ra trận, tác giả đã đã để cho người đọc cảm nhận nỗi đau thương trong chiến tranh của cả hai phía người ra trân và người ở lại. Nếu ở nơi chiến địa, chinh phu đang từng ngày từng giờ đối mặt với cái chết thì chinh phụ nơi quê nhà cũng đang mòn mỏi chờ đợi trong vô vọng, và chìm đắm trong muộn phiền. Ba sáu câu thơ trong đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” như tích tụ nỗi đau, nỗi nhớ thương và niềm khao khát hạnh phúc lứa ở tầng sâu nhất của tác phẩm.
Mở đầu đoạn trích, tác giả đã khắc họa bức chân dung tâm trạng của người chinh phụ trong tình cảnh cô đơn, lẻ loi, ngày qua ngày mong ngóng tin chồng:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen Ngoài rèm thước chẳng mách tin Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”
Giữa một không gian tịch mịch “vắng” và “thưa”, người chinh phụ hiện lên như hiện thân của nỗi cô đơn. Nàng đi đi lại lại, những bước chân của nàng không phải là bước chân “xăm xăm” khi nghe thấy tiếng gọi của tình yêu, hạnh phúc của nàng Kiều mà những bước chân ấy gieo xuống từng bước như gieo vào lòng người đọc những thanh âm của sự lẻ loi cô độc. Nàng hết buông rèm rồi lại kéo rèm để hướng ra ngoài, hướng về nơi biên ải xa xôi kia để mong ngóng chút tin tức của chinh phu nhưng không có dấu hiệu hồi đáp lại. Nhịp thơ chậm, kéo dài như ngưng tụ cả không gian và thời gian. Dường như hành động nàng đang lặp đi lặp lại một cách vô thức bởi tâm trí nàng giờ đây đang dành trọn cho người chồng nơi chiến trường đầy hiểm nguy. Những thao tác trữ tình ấy đã lột tả được tâm tư trĩu nặng và cảm giác bế tắc không yên của người chinh phụ. Trong nỗi bồn chồn khắc khoải ấy, nàng mong ngóng một một người có thể sẻ chia những tâm tư nhưng tất cả chỉ có một ngọn đèn khuya leo lét:
“Đèn có biết dường bằng chẳng biết Lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi Buồn rầu chẳng nói nên lời Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
Ngọn đèn vừa chứng kiến vừa soi tỏ nỗi cô đơn của người phụ nữ xa chồng. Khi đối diện với ngọn đèn là người phụ nữ đáng thương ấy đang tự đối diện với chính mình, dưới ánh sáng của ngọn đèn mà tự phơi chải nỗi đau của chính mình. Để rồi những tâm tư ấy bật thành lời tự thương da diết “Hoa đèn kia với bóng người khá thương”. Nàng thấy mình chỉ như kiếp hoa đèn kia mỏng manh và dang dở, thấy sự tàn lụi ở ngay trước mắt mình. Nếu ngọn đèn không tắt đồng hành với người phụ nữ trong ca dao thắp lên nỗi nhớ thương:
“Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt”
Ngọn đèn trong đêm với Thúy Kiều đã trở thành nhân chứng của nỗi đau của người con gái tài sắc:
“Một mình một ngọn đèn khuya Áo đầm giọt tủi tóc se mái đầu”
Thì hình ảnh ẩn dụ ngọn đèn của người chinh phụ soi bóng trong đêm lại là sự hiện diện của lẻ loi, đơn chiếc, trống trải. Hình ảnh hoa đèn và bóng người như phản chiếu vào nhau để diễn tả nỗi cô đơn đên héo úa canh dài, đến hao mòn cả thể chất. Dường như nỗi niềm ấy đã vo tròn, nén chặt đè nặng trong lòng người chinh phụ, và trở thành nỗi “bi thiết” không thể nói lên lời, là nỗi “buồn rầu” đến não nề, đến thương cảm. Bức chân dung người phụ nữ ấy không chỉ gợi lên qua những bước chân, động tác, cử chỉ, qua gương mặt buồn rầu, qua dáng ngồi bất động trước ngọn đèn khuya mà còn nổi bật lên trên nền của không gian và thời gian:
“Gà eo óc gáy sương năm trống Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”
Hình ảnh “bóng hòe phất phơ” suốt ngày dài cùng biện pháp lấy động tả tĩnh với sự xuất hiện âm thanh “tiếng gà eo óc suốt” đêm thâu như tô đậm nỗi cô đơn, triền miên của nhân vật trữ tình. “Eo óc” đó là âm thanh thưa thớt trong một không gian rộng lớn, hiu quạnh có cảm giác tang tóc, tang thương đã bộc lộ sâu sắc nỗi chán chường của chủ thể trong đêm thâu. Nàng đã thức trọn năm canh để nghe thấy tận sâu trong đáy lòng mình nỗi sầu, nỗi đau vô hình ấy. Từ láy “phất phơ” đã biểu đạt một cách tinh tế dáng điệu võ vàng của người chinh phụ, tâm trạng của một người vợ ngóng chờ từng chút hình ảnh của người chồng. Tâm trạng của nhân vật trữ tình như đang thấm đẫm, lan tỏa cả trong thời gian và xuyên suốt cả thời gian. Tác giả đã biến thời gian thành thời gian tâm lí, không gian thành không gian cảm xúc bằng bút pháp ước lệ và nghệ thuật so sánh trong hai câu thơ:
“Khắc giờ đằng đẵng như niên Mối sầu dằng dặc tự miền biển xa”
Câu thơ theo đúng nguyên tác của Đặng Trần Côn:
“Sầu tựa hải Khắc như niên”
Chỉ thêm hai từ láy “dằng dặc” và “đằng đẵng” nhưng sự chán chường, mệt mỏi kéo dài vô vọng của người chinh phụ trở nên thật cụ thể, hữu hình và có cả chiều sâu trong đó. Kể từ khi chinh phu ra đi, một ngày trở nên dài lê thê như cả một năm, những mối lo toan, nỗi buồn sầu như đông đặc, tích tụ đè nặng lên tâm hồn người phụ nữ đáng thương ấy. Từng ngày, từng giờ, từng phút người chinh phụ vẫn đang chiến đấu với nỗi cô đơn, chiến đấu để thoát khỏi cuộc sống tẻ nhạt của chính mình:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải Gương gượng soi lệ lại châu chan Sắt cầm gượng gảy ngón đàn Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”
Điệp từ “gượng” được điệp đi điệp lại ba lần trong bốn câu thơ tiếp theo đã thể hiện sự nỗ lực vượt thoát ấy của người chinh phụ. Nàng gượng đốt hương để kiếm tìm sự thanh thản thì lại rơi sâu hơn vào cơn mê man. Nàng gượng soi gương để chỉnh trang nhan sắc thì lại chỉ thấy những giọt sầu. Nàng gượng tìm đến với âm nhạc để giải tỏa thì nỗi âu lo về duyên cầm sắt và tình loan phượng lại hiện hình. Dường như nàng đang mang trong mình quá nhiều những nỗi lo sợ, lo lắng, bởi thế, người chinh phụ không những không thể giải tỏa được nỗi niềm bản thân mà còn như chìm sâu hơn vào nỗi bi thương xót xa. Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ được đã đặc tả bằng bút pháp trữ tình đa dạng để độc giả có thể cảm nhận được tâm trạng ấy của nhân vật trữ tình ngay cả khi ngày lên cũng như khi đêm xuống, luôn đồng hanh cùng người chinh phụ cả khi đứng, khi ngồi, lúc ở trong phòng và ngoài phòng và bủa vây khắp không gian xung quanh. Sự cô đơn ấy đã làm hao gầy cả hình dáng và héo úa cả tâm tư và người chinh phụ như đang chết dần trong cái bọc cô đơn ấy.
Sống trong không gian cô đơn ấy, nàng chỉ biết nhớ về người chồng nơi biên ải xa xôi kia với một tấm lòng thủy chung, sắt son:
“Lòng này gửi gió đông có tiện Nghìn vàng xin gửi đến non Yên Non yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”
Người chinh phụ đã gom hết những yêu nhớ, thương xót và cả lòng thủy chung của mình vào gió đông, nhờ cơn gió mùa xuân ấm áp gửi tâm tư thầm kín của mình đến non Yên. Những hình ảnh có tính tượng trưng ước lệ như “gió đông”, “non Yên”, “trời thăm thẳm” vừa gợi ra không gian rộng lớn vô tận nói lên khoảng cách xa xôi giữa chinh phu và chinh phụ vừa biểu đạt được tấm lòng chân thành, nỗi nhớ nhung vô hạn của người vợ nơi quê nhà. Phải chăng ngọn gió đông đánh thức tâm hồn chinh phụ cũng chính là ngọn gió xuân đánh thức giấc mộng ái ân khuê phòng trong “xuân tứ” của nhà thơ Lí Bạch:
“Cỏ non xanh biếc vùng Yên Cành dâu xanh ngà ở bên đất Tần Lòng em đau đớn muôn phần Phải chăng là lúc phu quân nhớ nhà Gió xuân có biết chi mà Cớ chi lọt bức màn là tới ai”
Nhưng nỗi thương nhớ của người chinh phụ người ta còn thấy được cả dư vị của nỗi đau, sự ngậm ngùi, xót xa:
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
Hai từ láy “thăm thẳm” và “đau đáu” đã biểu đạt trực tiếp sắc thái củ nỗi nhớ thương ấy của người chinh phụ. Nếu hai từ “thăm thẳm” gợi nên trường độ của nỗi nhớ nhung trải dài dằng dặc, triền miên trong không gian thì độ sâu của nỗi nhớ được thể hiện qua từ “đau đáu”. Hình ảnh đường lên trời mù mịt, xa xăm cũng giống như bi kịch nỗi nhớ mong của nàng chẳng biết đâu là bến bờ, chẳng biết đến khi nào người chồng trở về để kết thúc cái bi kịch ấy.
“Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”
Cảnh vật xung quanh chính là tâm cảnh bởi nó đã được nhìn bởi đôi mắt đẫm lệ, đã nhuốm màu tâm trạng của chủ thể trữ tình. Ý thơ đã đúc kết qui luật cảm xúc và có sự gặp gỡ với ý thơ của Nguyễn Du trong kiệt tác “Truyện Kiều”:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Câu thơ như một tấm bản lề khép lại nỗi nhớ nhung sầu muộn dẫn người đọc đến với nỗi sầu muộn của người chinh phụ trong câu thơ sau. Trong bức tranh mùa đông được gợi mở, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh bất ngờ để cực tả nỗi sầu muộn và cảm giác lạnh lẽo trong lòng người phụ nữ:
“Sương như búa bổ mòn gốc liễu Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô”
Nỗi đau đớn sầu muộn ấy khi thì nặng nề như búa bổ, khi thì nặng nề như cưa xẻ còn “gốc liễu” “cảnh ngô ấy phải chăng chính là hiện thân của người phụ nữ đang mòn mỏi chờ chồng. Cả dung nhan và tâm hồn nàng dường như đang bị tàn phá không phải chỉ bởi cái lạnh lẽo của sương tuyết mà còn là cái lạnh lẽo, cô dơn đang bủa quanh. Mùa đông của thiên nhiên nhiên giờ đây đã hóa thành mùa đông của cuộc đời người chinh phụ.
“Giọt sương phủ bụi chim gù Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi”
Tiếng chim gù trong bụi cây sương phủ, tiếng côn trùng nỉ non não nề trong đêm sương phải chăng nhà thơ muốn bật lên tiếng lòng tê buốt lạnh giá của người chinh phụ? Phải chăng không chỉ là tiếng sâu tường bên cạnh “vẳng” ra, tiếng chuông chùa từ xa “nện” lại mà đó còn là những cơn sóng dữ dội, tha thiết và nhức nhối đang cuộn lên trong lòng người phụ nữ ấy? Tất cả những âm thanh như đang xoáy sâu vào tâm hồn, ăn mòn tâm trí của chinh phụ. Với sự thành công của biện pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của thi ca cổ điển nhà thơ không chỉ tô đậm ấn tượng lạnh lẽo của bức tranh mùa đông mà còn đang phơi bày thế giới nội tâm lạnh giá của người chinh phụ. Nếu không phải là một ngòi bút khắc họa tâm lí sắc sảo chắc chắn sẽ không thể miêu tả tâm trạng của người chinh phụ sâu sắc và tinh tế đến thế.
Tưởng chừng như người chinh phụ sẽ mãi chìm đắm trong nỗi sầu muộn ấy, nhưng trong giây lát nàng đã đến với những khao khát của hạnh phúc lứa đôi qua bức tranh hoa nguyệt lộng lẫy của thiên nhiên
“Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên Lá màn lay động gió xuyên, Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm Hoa đãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiêt đâu”
Bức tranh hoa nguyệt lộng lẫy ấy đã được nhà thơ khắc họa bằng thủ pháp trùng điệp liên hoàn tạo ra những hình ảnh lồng xoáy vào nhau, những lớp hình ảnh giao hòa. Hoa phô bày vẻ đẹp dưới ánh trăng vàng và vầng trăng tỏa sáng lại phản chiếu bóng hình hoa trên mặt đất. Sắc hoa ngời lên dưới nguyệt và cuối cùng kết tinh lại ở hình ảnh đẹp nhất, một biểu tượng ý nghĩa nhất: nguyệt và hoa giao hòa quấn quýt lẫn nhau. Phải chăng chính sự giao hòa của thiên nhiên, tạo vật đã đánh thức niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi thầm kín trong lòng chinh phụ bấy lâu? Nhưng phải chăng cũng bởi thế mà nỗi đau về sự lẻ loi lại quay lại với nàng mà còn như khơi sâu thêm hơn nữa? Đến thiên nhiên vô tri vô giác còn có cảm giác hạnh phúc lứa đôi, còn nàng, nàng chỉ có một mình với một tấm lòng thủy chung chờ đợi chồng nơi khuê phòng này, chờ những hạnh phúc ái ân sẽ trở về. Cùng với hình ảnh, âm điệu của lời thơ cũng trở nên tha thiết, nồng nàn như những con sóng của niềm khao khát đang dâng lên trong lòng người chinh phụ. Đến đây, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã đạt đến mức điêu luyện. Nếu ở đoạn thơ trên tác giả đã gửi tình vào cảnh thì ở đoạn sau tác giả đã để cho cảnh gợi tình. Những hình ảnh mĩ lệ của hoa lồng nguyệt và nguyệt lồng hoa hết sức mĩ lệ đã thể hiện hết sức tế nhị những khao khát thầm kín và mãnh liệt của người chinh phụ – đó cũng là những khát vọng trần thế và nhân bản của con người.
Bên cạnh tài năng miêu tả tâm lí nhuần nhuyền bằng nhiều bút pháp được thể hiện qua thể thơ song thất lục bát mềm mại của tác giả, dịch giả Hồng Hà Nữ Sĩ còn thành công khi sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt một cách tinh tế và thanh nhã.Chính sự kết hợp của ngôn ngữ giàu về “thể chất” của Nguyễn Gia Thiều với cái linh hồn ngôn ngữ của Đoàn Thị Điểm đã làm cho ngôn ngữ bài thơ truyền tải được mọi cung bậc cảm xúc tinh tế nhất trong diễn biến tâm trạng của người chinh phụ. Tác phẩm đã góp phần vào tiếng nói đấu tranh, tố cáo chiến tranh phong kiến chia rẽ hạnh phúc lứa đôi đồng thời khẳng định quyền sống, quyền hạnh phúc nhân bản nhất của con người. Đó cũng là giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc nhất của tác phẩm. Những vần thơ khép lại nhưng dường như nỗi đau của người chinh phụ vẫn còn đó. Niềm khao khát về một hạnh phúc từ đây mà trở thành niềm khao khát của cả một thời đại và thúc giục con người hành động để đạt dành được hạnh phúc mà mình đáng có.
Phân tích 8 câu cuối tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Nhắc đến Đặng Trần Côn ta thường nhớ đến ông là một nhà thơ sống vào đầu thế kỉ XVIII, mặt khác tên tuổi của ông còn gắn liền với tác phẩm nổi tiếng “Chinh phụ ngâm”.Trong đó 8 câu cuối của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của toàn bộ tác phẩm qua việc thể hiện khát khao về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ trong thời chiến loạn.
“Lòng này gửi gió Đông có tiện? Nghìn vàng xin gửi đền non Yên Non Yên dù chẳng tới miền Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa với khôn thấu Thiếp nhớ chàng đau đáu nào xong Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”
Nhớ hình bóng của người chồng, người chinh phụ thỗn thức hướng cái nhìn nội tâm về miền biên ải xa xôi.Nếu như ở khổ trước người chinh phụ càng cảm thấy cô đơn buồn sầu tới bao nhiêu thì ở 8 câu này nỗi nhớ nhung của người chinh phụ lại càng tăng lên bây nhiêu cùng với sự thương nhớ ấy là tâm trạng lo lắng cho số phận của người chồng nơi biên ải. Trạng thái lo lắng của người chinh phụ được tác giả thể hiện như một mạch ngầm dù người chinh phụ không nói ra nhưng ta vẫn cảm nhận được, thể hiện sự tinh tế trong miêu tả nội tâm của tác giả Đầu tiên tác giả đã nhân hoá gió đông như một người đưa tin đến non Yên nhằm nhấn mạnh nỗi mong nhớ lo lắng của người chinh phụ về người chồng
Lòng này gửi gió đông có tiện? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Vì quá thương nhớ chồng mà người vợ phải nhún nhường xin hỏi ngọn gió để gửi tin cho chồng mình, phải nói đó là một người đưa tin đặc biệt, đưa một cái tin đặc biệt đó là cái tin về tình cảm yêu thương nhung nhớ của người vợ giành cho người chồng nơi chinh chiến.Ngoài ra cái tin ấy được đưa đến”non Yên”- một vùng hẻo lánh xa xôi nơi người chồng đang xông pha trận mạc,khốn nguy vô cùng.Qua việc dùng bút pháp nhân hoá, hình ảnh ước lệ “non Yên”, “gió Đông”,câu hỏi tu từ tác giả mở ra không gian mênh mông gợi thêm nỗi trống trãi cô đơn cho cảnh vật từ đó xoáy sâu vào sự nhớ nhung khắc khoải, da diết của người chinh phụ Nỗi nhớ đằng đẳng ấy làm nàng mòn mỏi cuối cùng được nâng lên thành nỗi đau, một nỗi đau vô hình đã dược tác giả tạo hình hài qua 4 câu
Non Yên dù chẳng tới miền Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa với khôn thấu Thiếp nhớ chàng đau đáu nào xong
Cùng với nỗi nhớ thương mong đợi,từ “đằng đẵng” gợi cảm giác triền miên liên tục tưởng kéo dài đến vô tận nên được tác giả hình dung bằng sự so sánh với đường lên trời.nỗi nhớ của người chinh phụ đằng dẵng, miệt mài,không thể nguôi ngoai và không thể dùng toán học mà cân đếm được.Nhưng trớ trêu thay khoảng cách giữa nàng và người chồng dường như khó chạm tới dược, sự xa cách nghìn trùng mây.Bằng việc mở rộng không gian,”trời thăm thẳm xa với khôn thấu”như là lời than thở,ai oán thể hiện sự tuyệt vong của người chinh phụ sau nhiều ngày tháng mòn mỏi đợi tin chồng và chính từ đó nỗi đau xuất hiện, từ “đau đáu” biểu lộ sắc thái tăng tiến,sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa đắng cay nối dài bất tận trong lòng người chinh phụ Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, người chinh phụ thấy cảnh vật vô hồn, thê lương như tâm trạng của mình lúc bấy giờ.
Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Đó là mối quan hệ giữa con người và tâm cảnh, người vui thì tâm trạng vui thấm vào cảnh vật nhìn đâu cũng thấy toàn niềm vui chất chứa sự sống.Còn người buồn thì nỗi buồn thấm vào tâm can nên nhìn cảnh vật thấy sầu não,thê lương.Ỡ đây hình ảnh “cành cây sương đượm”,”tiếng trùng”,”mưa phun” là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi buồn chất chứa sâu lắng của người chinh phụ,sự mòn héo của cảnh vật hay do lòng người mòn héo mà ra.
Tác giả đã sử dụng điêu luyện thể thơ song thất lục bát, phối hợp các hính ảnh ước lệ “non yên”,”gió Đông”,với hình ãnh ẩn dụ “sương đượm”,”mưa phun”,đặc biệt là sự thành công trong bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật, tả cảnh ngụ tình tác giả đã đưa người đọc qua các cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ trình một cách tự nhiên nhất và thể hiện ước mơ khát vọng chính đáng của họ về tình yêu và hạnh phúc
Với cách dùng từ hình ảnh ước lệ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tình tế khát khao về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ.Đồng thời thể hiện sự thương cảm sâu sắc của tác giả với ước mơ chính đáng của người phụ nữ cũng là lời tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa là biểu hiện của cãm hứng nhân văn cho toàn doạn trích
Trên đây là bài tập làm văn phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình! | Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ | 8,398 | |
Đề bài: Phân tích tình huống bị cự tuyệt quyền làm người – bi kịch lớn nhất của Chí Phèo
Bài làm
Có ý kiến cho rằng: Nếu không viết: “Chí Phèo”, Nam Cao đã để lại cho Văn học Việt Nam một khoảng trống lớn. Chí Phèo là tác phẩm đầu tay của Nam Cao trình làng với bạn đọc, ngay từ khi xuất hiện nó đã trở thành một vấn đề, một kiệt tác của trào lưu văn học hiện thực. Đây là tác phẩm tiêu biểu viết về người nông dân bởi đến đây người đọc mới hiểu thế nào là tận cùng nỗi khổ của người nông dân Việt Nam trong xã hội phong kiến.Nếu như ở những tác phẩm của các nhà văn hiện thực khác: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… hình ảnh người nông dân chỉ hiện lên với những áp bức bất công, bị dồn đến bước đường cùng, nhưng họ vẫn còn giữ được con người mình, nhưng đến với Nam Cao thì đã có những khám phá phát hiện mới mẻ, ông không chỉ phát hiện ra bi kịch bị bần cùng hóa mà còn khám phá phát hiện ra bi kịch bị lưu manh tha hóa bị cự tuyệt quyền làm người của người nông dân.
Phân tích tình huống bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo
Mở đầu trang văn, Nam Cao đã để cho Chí Phèo xuất hiện bằng một hình ảnh hết sức sống động độc đáo: Chí Phèo khật khưỡng vừa đi vừa chửi: tiếng chửi của Chí Phèo ngay lập tức cho người đọc hình dung về một sự việc bất bình thường. Vì lẽ gì mà một con người phải cất lên những tiếng chửi như vậy? Tại sao những tiếng chửi đó lại không được đáp trả…? Nhưng chúng ta sẽ thấy tiếng chửi này không phải là bâng quơ, không đơn giản mà nó rất logic, rất có dụng ý. Ban đầu hắn chửi trời đến chửi đời rồi chửi ngay tất cả làng Vũ Đại… nhưng đối tượng của những tiếng chửi này là mơ hồ không xác định đến khi hắn chửi không biết đứa nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ thế này… thì đối tượng đã được xác định. Chí Phèo chửi để nhận thức nguyên nhân dẫn đến bi kịch của bản thân. Nhưng ngay lập tức hắn hiểu rằng tiếng chửi của hắn là vô vọng, hắn thấy thấm thía nỗi khốn khổ của số phận, hắn đã phải cất tiếng chửi để thèm mong có ai đó chửi lại hắn, để hắn có thể được giao tiếp với đời, với người. Vậy mà không người nào chịu chửi lại hắn, có nghĩa là tất cả mọi người đã dứt khoái không coi hắn là người. Chửi lại hắn nghĩa là còn thừa nhận hắn là người, còn bằng lòng giao tiếp đối thoại với hắn. Chí chửi cả làng Vũ Đại với hy vọng sẽ có ai đó chửi lại. Nhưng hắn chỉ nhận lại một sự im lặng đáng sợ, và Chí vẫn còn lại một mình Chí trong sa mạc cô đơn: hắn cứ chửi rồi lại nghe, chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu.
Bằng cách mở đầu truyện độc đáo thế này, tác giả không chỉ giới thiệu mà còn bắt đầu hé mở cho người đọc thấy tình trạng bi đát của một số phận, đó là số phận người nông dân bị xã hội tàn phá về tâm hồn, hủy diệt cả nhân tính, do đó bị phủ nhận giá trị, tư cách làm người. Nỗi thống khổ của Chí Phèo ban đầu tất cả là con số không: không nhà, không cửa, không cha mẹ, không họ hàng thân thích, không một tấc đất cắm dùi… Nhưng đó mới chỉ là mở đầu, nỗi khổ đau đớn nhất của Chí Phèo là bị cả xã hội quay lưng lại, bị cướp mất linh hồn người, bị loại ra khỏi xã hội loài người, phải sống kiếp sống tối tăm của thú vật. Từ quá khứ đến hiện tại, từ bản chất đến hiện tượng Chí Phèo đã biến đổi. Trong quá khứ Chí Phèo là một con người hiền như cục đất, có bản chất lương thiện, từ khi vào làm canh điền cho nhà Bá Kiến, rồi bị Bá Kiến đẩy vào tù, sau 7-8 năm ở tù ra, Chí Phèo đã rơi vào vô thức và bị lưu manh tha hóa, tất cả mọi hành động của Chí Phèo đều phải thông qua rượu, đều diễn ra trong vô thức: đâm thuê, chém mướn, cướp bóc, rạch mặt ăn vạ… Những tội ác của Chí cứ đầy lên trong con mắt người dân làng Vũ Đại.
Tưởng như số phận cuộc đời của Chí Phèo sẽ mãi mãi trượt dài trên cái dốc lưu manh tha hóa và rơi vào vực sâu của kiếp sống tội lỗi; nhưng sự xuất hiện Thị Nở đã đưa Chí Phèo từ vực sâu của kiếp sống lưu manh tha hóa đến bến bờ của cõi đời lương thiện. Đây có thể xem là một sự kiện trọng đại, một biến cố mở ra một bước ngoặt của cuộc đời Chí Phèo, đưa Chí Phèo trở lại với kiếp người. Sự xuất hiện của Thị Nở cùng bát cháo hành đã biểu hiện cho sự đồng cảm và tình người nhân hậu. Người đàn bà xấu đến ma chê quỷ hờn kia lại là người duy nhất ở làng Vũ Đại biết được sao có lúc nó hiền đến thế. Hơi ấm của bát cháo hành chính là hơi ấm của tình người nhân hậu đã làm cho con người lương thiện bấy lâu chìm khuất trong hình ảnh của con quỷ dữ, thằng đầu bò đã phục sinh, giờ đây sức sống tâm hồn đã trỗi đậy trong Chí Phèo.
Sau khi con người lương thiện phục sinh, tính cách tâm hồn con người Chí Phèo đã tỉnh dậy lắng nghe những âm thanh bình dị mộc mạc hàng ngày mà lâu nay Chí quên lãng. Chí bỗng hồi tưởng về những kỉ niệm của thời êm đẹp:Ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm….Đáng lẽ ra hắn cũng sẽ có được một cuộc sống bình thường như bao người khác nhưng giờ đây khi hắn tỉnh dậy hắn mới thấy hắn đã già mà vẫn còn cô độc hắn vẫn đang sống bên lề cuộc đời một cách khốn nạn, hắn cảm thấy buồn, cảm thấy tủi nhục. Hơn lúc nào hết, lúc này hắn mong ước được làm người, được trò truyện…
Nhưng những giây phút được yêu của cuộc sống lứa đôi Chí Phèo – Thị Nở thật ngắn ngủi, hạnh phúc vừa hé mở đã khép lại. Chí Phèo và Thị Nở đã dắt tay nhau tới ngưỡng cửa cuộc đời nhưng bị từ chối phũ phàng bởi định kiến xã hội mà bà cô Thị Nở là đại diện. Khi tỉnh dậy và đối diện với hiện thực, Chí Phèo mới giật mình và nhận thức một cách sâu sắc hơn, rằng hắn đã bị từ chối khỏi cộng đồng và không thể trở thành người lương thiện trong con mắt mọi người được nữa.
Khi con người lương thiện trong Chí Phèo đã phục sinh thì hắn lại càng khao khát được làm người hơn bao giờ hết. Nhưng khao khát vẫn chỉ là khao khát, như ánh cầu vồng vụt tắt sau cơn mưa, như ngọn lửa nhỏ bị dập tắt khi mới vừa được nhen nhóm khát vọng làm người của hắn đã bị cự tuyệt hoàn toàn. Chí lại trở về với sự cô độc, và đau đớn, xót xa khi nhận ra mình đã không còn đường về quay trở lại: Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất những hết mảnh chai trên mặt này? Đây chính là sự tự ý thức cao độ của Chí Phèo về bi kịch của bản thân mình. Hình ảnh những vết mảnh chai trên mặt chính là dấu vết của những năm tháng tội đồ. Hình ảnh này đã hằn sâu trong tâm trí của người dân làng Vũ Đại và trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với họ. Trong con mắt của mọi người, Chí Phèo là con quỷ dữ. Thằng đầu bò và hình ảnh này không thể tẩy xóa đi được nữa. Chính định kiến đã ngăn cản bước chân của Chí Phèo tìm về với cõi đời lương thiện.
Hơn ai hết, Thị Nở là người đem lại cho Chí Phèo sự đồng cảm về tình người nhân hậu, nhưng chính Thị Nở cũng là người đẩy Chí Phèo đến bờ vực của cái chết. Thị vừa là phương tiện, là công cụ lại vừa là nạn nhân của định kiến.
Đến đây, Chí Phèo rơi vào bi kịch của sự lựa chọn giữa sự sống và nhân cách cái Và cuối cùng, Chí Phèo đã tìm đến cái chết để khẳng định nhân cách của mình Chí Phèo cầm dao đâm chết Bá Kiến – kẻ thù lớn nhất của đời mình rồi tự sát. Chí Phèo đã lựa chọn – một sự lựa chọn nghiệt ngã, nhưng đó là cách duy nhất để con người lương thiện trong Chí được sống, để nhân cách con người của hắn được tồn lại.
Hành động tự sát của Chí Phèo là cuộc chiến đấu mạnh mẽ nhất, dữ đội nhất và là cuộc chiến đấu cuối cùng giữa con người hiền như cục đất và con quỷ dữ thằng đầu bò. Trong cuộc quyết đấu này, Chí Phèo đã chết, nhưng nhân cách lương thiện đã trỗi dậy và tỏa sáng, đó cũng chính là chiến thắng tất yếu của cái thiện đối với cái ác, đồng thời cũng là sự thể hiện rõ ràng nhất của tư tưởng nhân đạo và tinh thần nhân văn của ngòi bút Nam Cao. | Phân tích tình huống bị cự tuyệt quyền làm người – bi kịch lớn nhất của Chí Phèo | 1,703 | |
Đề bài: Phân tích tình huống cắt dây trói cứu A Phủ, Mị cũng đã cắt dây trói buộc cuộc đời mình với nhà Pá Tra
Bài làm
Vợ chồng A Phủ là mội truyện ngắn trong tập Truyện Tây Bắc cùa Tô Hoài được giải nhất tiểu thuyết, giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954-1955. Tác phẩm ra đời từ kết quả cuộc thâm nhập đời sống đồng bào các dân tộc miền núi Tây Bắc, kể về cuộc đời khốn khó chăm chiều của người dân vùng cao khi chưa có ánh sáng của Đảng. Đọc Vợ chồng A Phủ, ta không thể quên được chi tiết Mị cắt dây trói cứu A Phủ – một chi tiết làm nên mọi giá trị tác phẩm. Và đúng như ai đó đã từng nói, khi cắt dây cứu A Phủ, Mị đã tự cắt dây trói buộc cuộc đời mình với nhà thông lí Pá Tra.
Câu chuyện về Mị, được bắt đầu từ một hình ảnh rất giàu sức gợi: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra, thường thấy có một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi gai, thái cỏ ngựa, vải, chẻ củi hay cõng nước dưới khe lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rượi”, chỉ với hai câu văn giản dị ấy thôi, bản chất sự việc đã hiện lên khá nét. Câu văn cũng như dài thêm ra để độc giả lĩnh hội một cách thâu đáo. Vị trí xuất hiện của Mị đã nói lên tất cả, ngồi quay sợi gai bên tảng đá, cạnh tàu ngựa, thậm chí còn như gắn liền với chúng.
Phân tích tình huống cắt dây trói cứu A Phủ
Mị vốn là một cô gái con nhà nghèo – “nghèo từ trong trứng”; cô trẻ giàu lòng yêu đời, ham sống và có tài thổi sáo; Mị còn là một cô gái chăm lả một đứa con hiếu thảo… Nhưng, một thứ “nợ gia truyền” của người nghèo, cô phải “đi tù khổ sai” trong nhà thống lí Pá Tra, dưới hình thức làm dâu gạt Biết bao thân phận người dân miền núi, đã bị trả giá bằng cả đời người như bởi hình thức cho vay nặng lãi.
Thời gian đầu, khi mới ở “nhà tù Pá Tra”. Mị đau đớn, uất ức, phản quyết liệt. “Có đến mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc”. Cô không thể chấp nhận làm thân phận nô lệ cho nhà giàu. Nhưng, tất cả đã thành định mệnh Nàng Kiều của Nguyễn Du, trước khi dấn thân vào cuộc đời ô nhục, cũng một lần nghĩ đến quyên sinh, mà cũng không thoát khỏi kiếp đoạ đày 15 năm đây, Mị còn khổ hơn, bởi món nợ vẫn còn đây, đổ lên đầu bố già.
Ở địa ngục trần gian nhà Pá Tra, bao vất vả, cực nhọc nhất đổ lên đầu. Mấy năm sau khi bố già qua đời, Mị cũng không nghĩ đến cái chết nữa, bởi vì “Mị quen cái khổ rồi. Bây giờ Mị tưởng như minh cũng là con trâu, con ngựa (…) biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”. Đời Mị chí là công việc nối tiếp nhau, mỗi năm, mỗi mùa, mỗi tháng cứ thế làm đi làm lại: tết xong thì hái thuốc phiện, năm thì giặt đay, xe đay, cuối mùa thì bẻ bắp… thêm vào sự đoạ đày thể xác ấy còn là ách áp chế về tinh thần mê tín, thần quyền đã hỗ trợ rất đắc lực cho giai cấp thống trị. Nó thực sự là thứ “thuốc phiện tinh thần” như lời Mác nói.
Không chỉ dừng lại ở đó, ở tầng sâu hơn ngòi bút Tô Hoài còn nêu lên một sự thực đau lòng: con người bị áp bức, nếu cứ nhẫn nhục chịu đựng, kéo dài đến một lúc nào đó, sẽ bị tê liệt cả tinh thần phản kháng. “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” thật không ở đâu mạng sống, nhân cách con người bị coi rẻ đến thế! Cũng không ở đâu, con người lại tự mình coi rẻ mình một cách tuyệt vọng như vậy. Mị cam chịu thân phận con rùa trong xó chỉ biết ngồi trong cái buồng kín mít, trông ra cửa sổ vuông mờ mờ trăng trắng, “đến bao giờ chết thì thôi”.
Như đã nói ở phần đầu, Mị có một tuổi trẻ hạnh phúc, một khái khao làm chủ cuộc sống tính cách ấy, phẩm chất ấy không bao giờ chết, nó chỉ lạm thời bị đè lén xuống. Và ngọn gió để thổi bùng lên đốm lửa trong lòng Mị, là hoàn cảnh điển hình: mùa xuân về trên vùng cao: “Hồng Ngài năm ấy, ăn tết vào lúc gió thổi cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rát dữ dội”. Dầu trong thời tiết khắc nghiệt, mùa xuân về cũng đem đến cho người dân vùng cao một niềm vui sống, được Sức sống của tạo vật và con người như bừng tỉnh: “trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra treo trên các mỏm đá, xoè ra như con bướm sặc sỡ. Hoa thuốc phiện vừa nở trắng, lại đổi ra màu đỏ au, đỏ thậm, rồi sang màu tím man mát. Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà…”Sức mạnh của ngòi bút nhân đạo Tô Hoài không chỉ dừng lại ở tình cảm xót thương Mị, ở sự tố cáo tính tàn bạo của giai cấp thống trị, mà còn ở chỗ nhìn ra con người bên trong của nhân vật. Ông đã tìm sâu vào tận cùng của ý thức và trong đáy sâu của tiềm thức nhân vật, cho thấy vẫn còn le lói chút ánh sáng, hơi ấm của niềm ham sống, khát khao hạnh phúc, như lớp cho dày nguội lạnh vẫn còn ủ chút than hồng, lớp than ấy chỉ cần ngọn gió thoáng qua là bùng lên. Tô Hoài đã góp thêm vào truyền thống nhân đạo trong nền văn học dân tộc một tiếng nói có quyền năng và sức tái tạo riêng.
Hoàn cảnh ấy không thể tác động vào tâm hồn Mị. Trong các yếu tố “ngoại của mùa xuân, phải kể đến tiếng sáo: “ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai sáo gọi bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bồi hồi…”. Như vậy, với Mị, tiếng sáo là biểu tượng lôi cuốn nhất của tình yêu, khát vọng ham sống. Trong không khí ấy Mị lại được kích động bởi men rượu: “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát”. Cách uống rượu ấy như báo trước sự nổi loạn mà chính Mị cũng chưa ý thức rõ: “Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng (…), còn Mị thì đang sống về ngày trước”.
Bằng việc nhớ lại quá khứ, Mị đã vượt qua tình trạng sống “phi thời gian” lâu nay của mình. Tiếp đó, lòng ham sống trong cô trỗi dậy mãnh liệt: “Mị thấy phơi phới trở lại”. Phản ứng đầu tiên đến trong tâm trí Mị là một ý nghĩ: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho hết ngay, chứ không thèm nhớ lại nữa…” ý nghĩ về cái chết lúc này, là sự phản kháng quyết tiệt với hoàn cảnh.
Trong khi ấy, tiếng sáo gọi bạn tình cứ thôi thúc, quyến rũ Mị. Nó là biểu tượng của sự sống mà bấy lâu nay Mị đã quên, giờ đang trở lại. Tiếng sáo theo sát diễn biến tâm trạng nhân vật. Tiếng sáo từ chỗ là một sự việc của thực tại bên ngoài (lơ lửng bay ngoài đường), đã trở thành sự hiện hữu của đời sống bên trong (rập rờn trong đầu).
Từ những chuyển biến trong suy nghĩ, Mị đã có một hành động thật ý nghiã “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ vào đèn cho thêm sáng. Hành động này có ý nghĩa là Mị đã thắp lên một ngọn đèn, soi rọi cuộc sống tối tăm triền miên của quá khứ.
Giữa lúc lòng ham sống trỗi dậy mãnh liệt, cũng là lúc nó bị vùi dập một cách tàn bạo. A Sử bước vào, thản nhiên xách ra một thúng sợi đay, trói đứng Mị vào cột nhà.
Suốt cái đêm bị trói đứng vào cột nhà ấy, Mị đã sống trong sự giằng xé mãnh liệt giữa niềm khao khát hạnh phúc cháy bỏng và thực tại tàn bạo, lạnh lùng. Lúc mới bị trói, Mị vẫn còn như sống trong tâm trạng mê say với tiếng sáo ngoài kia. Mị như quên mình đang bị trói, quên những đau đớn thể xác, đến nỗi trong giây phút khát khao cuộc sống mãnh liệt, Mị đã “vùng bước đi”. Như thực tế phũ phàng là vòng dây trói đang thít chặt, dẫu mong ước mãnh liệt đến mấy, Mị cũng không vượt qua được. Hai biểu tượng của ước mơ và thực tại hiện ra trong hai âm thanh trái ngược, tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết và tiếng chân ngựa đạp vào vách khô khan.
“Mị không nghe tiếng sáo nữa, chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách (…) Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”- thực tại phũ phàng đã bóp nghẹt những khát vọng tươi sáng. Kết cục ấy nói lên rằng, chỉ có những phản kháng tự phát, nhân vật không tự giải thoát cho mình; đồng thời nó cũng hứa hẹn những cuộc nổi loạn trong tương lai của nhân vật.
Sau đêm xuân bị trói đứng, tình cảm u mê của Mị có phần trầm trọng. Trước cảnh A Phủ bị trói đứng, lúc đầu Mị là người hoàn toàn vô cảm, vô hồn, cô vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay. A Phủ có là cái xác chết đứng đây, Mị cũng thế thôi. Đôi mắt mở trừng trừng của A Phủ chẳng gợi lên cho Mị một điều gì. Nhưng như đã nói ở đoạn trên, khát vọng đi theo tiếng gọi tự đo hãy còn đó hồn Mị. Không phải ngẫu nhiên, hình ảnh ngọn lửa được tác giả lặp đi lặp nhiều lần trong một đoạn văn miêu tả tâm lí nhân vật khá sâu sắc, tinh tế.
Nhưng, cái gì đã khiến Mị trở lại với con người thật của mình? Một lần trở dậy, “ngọn lửa bập bừng sáng lên, Mị hé mắt trông sang thấy hai mắt A Phủ: vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai gò má đã xám đen lại”. Chao ôi! nước mắt. Cái giọt đau, giọt khổ ấy đã làm Mị “chợt nhớ lại” việc Mị bị trói đứng năm trước, cũng nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không lau đi được; Mị lại nhớ đến người đàn bà đã bị trói chết trong nhà này, và A Phủ chỉ đêm nay là chết thôi. Tết năm trước đã thế, lần này, trí nhớ của Mị lại loé lên cách vô thức. Và như một phản ứng dây chuyền, nó nối lại ba số phận. Mị không còn sống với ngọn lửa nữa. Lửa vạc đi mà cô không thổi. Mị chìm vào tưởng tượng. Mị nghĩ mình có thể chết thay cho A Phủ. Cô đã đứng lên trong một ý thức chấp nhận sự hi sinh về mình: lấy con dao nhỏ cắt cho A Phủ. Đó là đỉnh cao của đời Mị và cũng là nơi tập trung giá trị nhân văn. Hành động của Mị, tuy không thể đoán trước nhưng vẫn nằm trong sức sống nội tại nhân vật. Mị nguyện làm rẫy, chịu khổ để trả nợ cho bố, đã toan chết để tìm sự giải thoát thì lẽ nào lại không dám chết để cứu một con người vô tội?
Nhưng, tính cách Mị có sự hợp lí, quy luật mà vẫn gây cho ta sự bất ngờ, ngạc nhiên thú vị. Vừa mới nghĩ đến việc có thể chết thay cho A Phủ, nhưng khi A Phủ chạy đi, Mị đứng lặng trong bóng tối rồi cũng chạy theo. Một kết cấu chặt chẽ: Mị đã cứu A Phủ, thì tại sao lại không tự cứu mình? và “hai người lẳng lặng đỡ nhau lao xuống núi”.
Thực chất, quá trình Mị cắt dây trói và chạy theo A phủ là một quá trình tự nhận thức: Nhận thức tại xã hội tàn bạo, lạnh lùng. Mị cứu A Phủ bởi cô thấy sự bất công, phi lí sắp giết chết một con người vô tội và nhận thức “người” cũng là để qua đó nhận thức, soi sáng “mình” cho nên, có thể nói, Mị cắt dây trói cứu A Phủ, cũng là Mị đã tự cắt dây trói buộc cô với nhà thống lí Pá Tra. Điều đó hoàn toàn đúng với lí luận cũng như thực tiễn thời đại. Dòng đầu liên của tuyên ngôn các Đảng cộng sản F. Ăng ghen từng khẳng định: “Lịch sử loài người là lịch sử đâu tranh giai cấp, áp bức bóc lột của giai cấp thống trị càng nặng nề, sự vùng lên đấu tranh càng mạnh mẽ.” | Phân tích tình huống cắt dây trói cứu A Phủ, Mị cũng đã cắt dây trói buộc cuộc đời mình với nhà Pá Tra | 2,254 | |
Phân tích tình huống gây cười trong truyện cười Lợn cưới áo mới
Hướng dẫn
Lợn cưới áo mới được xây dựng bởi tình huống truyện đặc sắc, mang đến tiếng cười hài hước đồng thời thể hiện thái độ phê phán với thói khoe khoang ở một bộ phận người trong xã hội.
I. Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
Giới thiệu truyện: “Lợn cưới áo mới”, câu chuyện đem lại những tiếng cười sảng khoái cùng với bài học thấm thía về những con người có tình khoe khoang
2. Thân bài
– Tình tiết cười trong nhân vật anh chàng có chiếc áo mới
+ Là người thích khoe khoang, được may chiếc áo mới, đứng ngoài cổng chờ người đi qua để được khen
+ Tự hào về gia đình mình khi đã sắm được cho bản thân một chiếc áo mới
+ Tình tiết cười qua câu thoại “Từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này…” một câu trả lời không hề đáp ứng nội dung câu hỏi, câu hỏi để người đối diện chú ý mình.
– Tình tiết cười trong nhân vật anh chàng bị mất lợn
+ Khoe mình có lợn cưới vì ngày xưa đám cưới có lợn là một đám cưới lớn, một gia đình có điều kiện
+ Đi tìm lợn mà đưa ra câu hỏi không liên quan tới hình dáng, màu sắc, kích thước con lợn
-Tình tiết cười trong cuộc đối thoại giữa hai người
+ Người hỏi và người đáp đều muốn kheo về bản thân mình, người hỏi một đằng người trả lời một nẻo, người hỏi không đúng với mục đích tìm kiếm, người trả lời không đúng trọng tâm câu hỏi
3. Kết bài
Bài học rút ra từ chuyện: Câu chuyện đem đến tiếng cười thư giãn, thoải mái và bài học quý giá về vấn đề khoe khoang trong cuộc sống.
II. Bài tham khảo
Khoe khoang là một thói xấu trong cuộc sống nhiều khi thói xấu đó tự đẩy bản thân chính mình vào sự lố bịch, vào những nghịch cảnh không mong muốn, bị cười chê, tiêu biểu là anh chàng trong câu chuyện cười “Lợn cưới áo mới”, câu chuyện đem lại những tiếng cười sảng khoái cùng với bài học thấm thía về những con người có tình khoe khoang.
Qua truyện là những tình tiết hài hước giữa hai con người có chung một tính cách, tính khoe khoang về bản thân để ra oai với hàng xóm láng giếng, với những người xung quanh. Trước tiên xét về anh chàng có chiếc áo mới, trong thời buổi ngay xưa khi được may một chiếc áo mới là điều vô cùng tự hào và vinh dự, từ khi được may chiếc áo đó anh luôn đứng ở cửa để chờ người đi ngang qua để ý và khen về bộ quần áo của anh.
Thế nhưng điều đáng nói ở đây là đợi từ sáng đến chiều mà chẳng nhận được một lời khen nào, đang lúc thất vọng thì có người chạy qua, không bỏ lỡ cơ hội khoe chiếc áo của mình anh ta chạy ra với một suy nghĩ về lời khen không ngớt từ người đó, cuộc đối thoại giữa hai người diễn ra, người hỏi thì đang tìm con lợn nhưng đối với anh chàng này mà nói thì anh ta chẳng cần biết người đối diện hỏi gì mà anh thản nhiên đáp “Từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này…” một câu trả lời không hề đáp ứng nội dung câu hỏi, câu trả lời chỉ muốn nhấn vào chiếc áo và để người đối diện để ý tới mình. Thế nhưng người anh gặp cũng chẳng kém anh là bao, “kẻ tám lạng người nửa cân” cả hai đều muốn khoe khoang về những thứ mình có.
Anh đi tìm lợn khoe về con lợn cưới của mình, vùng thôn quê ngày xưa khi có đám cưới mà có lợn để thịt là một đám cỗ lớn, một nhà giàu có với của ăn của để thì mới có lợn mà thịt trong hôm cưới, chính vì điều đó mà anh rất tự hào khi có thịt lợn trong đám cưới của gia đình mình, lại mang trong mình tính thích kheo nên thông tin anh đề cập đến nó thật nực cười, thông tin anh cung cấp để tìm con lợn của mình nó chẳng liên quan gì tới hình dáng, màu da, kích thước hay đại loại một đặc điểm nhận dạng nào cả, câu hỏi của anh chỉ muốn khoe khoang rằng tôi vừa bị mất một con lợn cưới.
Tình tiết bật ra trong chính cuộc đối thoại giữa hai người khi cả người hỏi và người đáp đều muốn kheo về bản thân mình, người hỏi một đằng người trả lời một nẻo, người hỏi không đúng với mục đích tìm kiếm, người trả lời không đúng trọng tâm câu hỏi. Cuối cùng cả hai trở thành nực cười khi người khoe còn gặp người khoe tài hơn.
Qua câu chuyện đã cho người đọc những phút giây thư gian với tiếng cười vui vẻ đồng thời nhân dân ta cũng mượn hình ảnh của hai anh chàng để phê phán tính hay khoe khoang của con người, nhất là những người có một chút tài sản trong gia đình, không coi ai ra gì, luôn cho bản thân mình là nhất. Đặc biệt hơn cả là tính cách đó nên được sửa đổi bởi nó chỉ làm trò lố bịch, làm trò cười cho những người xung quanh.
Share
Facebook
Twitter
Pinterest
Đề bài: Phân tích tình huống gây cười trong truyện cười Lợn cưới, áo mới
Bài làm
Khoe khoang của cải là một thói xấu đôi khi khiến người khoe tự đẩy mình vào tình thế lố bịch, bị người đời cười chê. Những người khoe của thường là những kẻ hợm hĩnh, coi của cải là trên hết, có chút gì mới cũng khoe ra để chứng tỏ là mình hơn người. Truyện cười Lợn cưới, áo mới khiến ta thấm thía hơn ý nghĩa đó. Tình huống gây cười trong câu chuyện này thật giàu ý nghĩa.
Truyện kể về anh chàng hay khoe của vừa may được chiếc áo mới, đứng hóng ở cửa đợi được người ta khen. Đứng mãi từ sáng đến chiều mà vẫn chẳng ăn thua, đang thất vọng thì có người chạy qua, thế là không bỏ lỡ dịp may – cũng chẳng cần biết người đó hỏi gì – liền vội khoe ngay: "Từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này…". "Chiếc áo mới" ở đây là một thong tin thừa. Người hỏi đang cần biết thông tin về con lợn, chứ đâu cần biết chiếc áo anh đang mặc là mới hay cũ và anh mặc nó từ bao giờ!
Anh đi tìm lợn khoe của trong tình huống nhà sắp có đám cưới mà lợn lại sổng mất. Lẽ ra trong câu hỏi của anh phải có những thông tin mà người được hỏi cần biết về con lợn (con lợn to hay nhỏ, màu lông ra sao, gầy béo thế nào…), anh lại hỏi về con lợn cưới. Thông tin này là thừa với người được hỏi (Ai cần biết con lợn ấy anh để làm gì?).
Tình tiết gây cười bật ra ngay trong câu hỏi của anh đi tìm lợn. Mục đích của anh là hỏi để người ta giúp anh tìm con lợn. Thay vì cung cấp những thông tin cần thiết về con lợn, anh lại nhằm vào một mục đích khác: khoe nhà giàu, cỗ cưới to (Ngày xưa, đám cưới mà mổ cả một con lợn hẳn là to lắm). Anh được hỏi cũng chẳng vừa, lẽ ra chỉ cần thông báo điều mà người hỏi muốn biết (không nhìn thấy con lợn), anh lại cũng tranh thủ khoe luôn chiếc áo mới của mình.
Như thế gọi là "kẻ cắp bà già gặp nhau". Anh khoe của lại gặp đúng cái anh cũng thích khoe của, mà anh kia khoe của còn tài hơn. Anh tìm lợn dù sao cũng chỉ cài thêm thông tin vào một cách khéo léo (con lợn ấy là con lợn cưới), từ đó khiến anh kia suy ra rằng nhà anh sắp có cỗ bàn to lắm. Anh khoe áo thì nói "huỵch toẹt": Từ lúc tôi mặc cái áo mới này… thông tin của anh hoàn toàn không liên quan gì đến vấn đề mà anh kia quan tâm (con lợn bị sổng chuồng).
Qua truyện Lợn cưới, áo mới, nhân dân ta phê phán tính hay khoe khoang của con người, nhất là khoe khoang về của cải. Tính khoe của biến con người thành những kẻ lố bịch, hợm hĩnh, trở thành đối tượng cho mọi người cười chê. | Phân tích tình huống gây cười trong truyện cười Lợn cưới áo mới | 1,464 | |
Đề bài: Phân tích tình huống truyện trong truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu
Bài làm
Một là, nghịch lý giữa đời sống và nghệ thuật. Cả một tập thể nghệ sĩ nhiếp ảnh trong “dăm tháng” trời đã chụp được “hàng trăm bức ảnh đẹp, chụp công phu …”, được ông Trưởng phòng “là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến” đánh giá là “đẹp thì đẹp thực … và nhất là lại có hồn nữa. Đúng là những bức ảnh nghệ thuật”.
Thế mà, cũng chính vì Trưởng phòng thông minh này lại “không thể chọn đủ cho mười hai tháng, vẫn đang còn thiếu một tờ”. Thì ra người nghệ sĩ dù có cố gắng bao nhiêu, nỗ lực bao nhiêu, đầu tư nhiều thời gian, bỏ ra nhiều tâm huyết và trí tuệ bao nhiêu cũng chưa thể đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống. Người nghệ sĩ không bao giờ được thoả mãn, phải luôn coi mục đích nghệ thuật luôn ở phía trước để phấn đấu. Đây có thể coi là thông điệp nghệ thuật thứ nhất của nhà văn.
Phân tích truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu
Hai là, nghịch lý giữa cảnh đẹp của thiên nhiên thơ mộng trữ tình và di hoạ chiến tranh. Cái bờ biển ấy cách Hà Nội hơn sáu trăm cây số, được Phùng – nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh nhìn bằng con mắt “nhà nghề”, nó “thật là thơ mộng”, “thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu
…”, thế nhưng lại có “những bãi xe tăng do bọn thiết giáp nguỵ vứt lại trên đường rút chạy hồi
“tháng ba bảy nhăm” (bây giờ sau gần mười năm, đã bị hơi nước gặm mòn và làm cho sét gỉ)…”. Theo tôi từ chi tiết này ít nhất cũng mang ba dụng ý nghệ thuật sau. Thứ nhất, nó nhắc nhở người nghệ sĩ đừng bao giờ quên cái nghịch lý của đời sống. Nghệ thuật không chỉ ở cảnh đẹp thơ mộng mà còn ở cả cái hiện thực sần sù gai góc kia. Thứ hai, để bạn đọc khỏi ngỡ ngàng nó như là một sự báo hiệu đưa dần bạn đọc vào chủ đề chính thể hiện ở những tình huống nghịch lý căng thẳng dữ dội hơn. Đây có thể coi là một biện pháp tâm lý mời gọi bạn đọc theo dõi những diễn biến tiếp sau của câu chuyện. Thứ ba, nó nhắc khéo bạn đọc bối cảnh ra đời của câu chuyện là chưa xa một thời chiến tranh (chú ý một chi tiết nhỏ “sau gần mười năm”). Mà chiến tranh bao giờ cũng đi liền với sự mất mát, đau thương nên di hoạ, cả ở phương diện vật chất và phương diện tinh thần vẫn còn tồn tại dai dẳng. Do vậy, những điều gì xấu, phi nhân tính được đề cập ở phần sau của câu chuyện cũng không có gì lạ. Cái mà chúng ta cần là làm sao xoá bớt dần di hoạ chiến tranh, làm liền sẹo những nỗi đau mà chiến tranh để lại. Đây cũng là một ẩn ý cần được khai thác sâu hơn.
Ba là, nghịch lý giữa cảnh thiên nhiên đẹp thơ mộng hữu tình và cái đẹp vô hồn. Chúng ta tạm quy ước “đẹp” là một khái niệm mang tính ước lệ cao để khỏi phải vướng vào hàng rào của đường biên khái niệm này, và thống nhất với nhau, ở ngoài đời cũng như trong văn chương vẫn tồn tại cái đẹp có hồn và cái đẹp vô hồn. Lần thứ nhất Phùng không lấy “cảnh người ta đẩy một chiếc thuyền xuống nước” vì “ cảnh đẩy thuyền đầy không khí vui nhộn… thật hùng tráng” này lại có gì “hơi thô lỗ”. Lần thứ hai Phùng cũng không thể lấy cảnh “thuyền đánh cá thu lưới vào lúc nhập nhoạng sáng” vì đó là “một cảnh chết” có quá nhiều người đã khai thác. Lần thứ ba Phùng cũng không lấy cảnh “Đằng đông đã trắng sáng. Trên một nửa vòm trời sao đã lặn hết. Những đám mây hình vỏ sò cứ hồng lên dần, trong khi đó, mặt biển tuy đã sáng rõ, đến cái mức đứng trong bờ cũng nhìn thấy từng đường gấp nếp lăn tăn trên mặt tấm thép dát màu xám đục ”. Nhưng cũng chính cảnh này “sao mà tẻ nhạt, tiếng sóng ồ ồ dội vào giấc ngủ suốt đêm chạy trốn đi đâu hết, biển im thít và không màu sắc, như một con sứa khổng lồ giạt vào bãi”. Phải đến lần thứ tư Phùng mới quyết định bấm máy để thu vào ống kính “… vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hoà tấu ánh sáng và bóng tối, tượng tưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời”.
Đúng là một cảnh đẹp có hồn, khoẻ khoắn, trong sáng, tươi vui!
Đó là một cảnh thật hài hoà về hình ảnh, màu sắc. Nhà hoạ sĩ đã hoà phối sắc màu có cả ánh sáng và bóng tối, cả cận cảnh và viễn cảnh “văn trong hữu hoạ” trong văn có hoạ và có cả “văn trung hữu nhạc” trong văn có nhạc (mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc), có cả cảnh thiên nhiên và cảnh con người lao động, có cảnh khách quan và có cả chủ quan của chủ thể (chói mắt).
Để có được cảnh này Phùng phải qua bốn lần quyết định. Nghệ thuật là như vậy, phải là sự công phu, tìm tòi biết chờ đợi, đòi hỏi một sự kiên nhẫn cao độ. Và cũng trớ trêu thay, nghệ thuật không chỉ thế là có được mà còn phải là “giời cho” nữa. Chính Phùng đã tâm niệm điều này: “… nếu không có thêm sự sắp đặt đầy tài tình của ngẫu nhiên thì với tài ba đến bao nhiêu, anh cũng chỉ … thu được những tấm ảnh vô hồn”.
Bốn là, nghịch lý giữa “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh” và cảnh con người lam lũ, vất
vả, khổ đau. Phải đến lần thứ năm Phùng mới được “một cảnh “đắt” trời cho”: “… Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào?”.
Phải có một bút lực mạnh mẽ, một sự am hiểu sâu sắc về hội hoạ, một sự nhạy cảm trước cái đẹp mới có thể viết nổi đoạn văn miêu tả “cái đẹp tuyệt đỉnh”, “toàn bích” này. Câu đầu là ước lệ, là cảm nhận chung “một bức tranh mực tàu …”. Các câu sau là những hình ảnh cụ thể với mũi thuyền trôi trong bầu sương mù, vài bóng người cả người lớn lẫn trẻ con, rồi những cái mắt lưới và tấm lưới … Cảnh thật huyền ảo (bầu sương mù trắng như sữa), tinh khôi, tinh khiết (màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào), vừa tĩnh tại (im phăng phắc), vừa sống động (hướng mặt vào bờ). Các tính từ láy loè nhoè, hồng hồng, phăng phắc, khum khum tăng cường thêm độ huyền ảo, như hư như thực. Các so sánh tinh tế trắng như sữa, im phăng phắc như tượng, y hệt cánh một con dơi làm đậm thêm chất tạo hình của bức tranh. Dường như ngôn từ bất lực trước cái đẹp, nhà hoạ sĩ buộc lòng phải đưa “cái tôi” chủ quan tham gia vào “quá trình thưởng thức”: “… đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào?” Làm cho bức tranh kia nhuốm thêm “sắc màu” tâm trạng.
Nhưng oái oăm thay, nghịch lý và trớ trêu thay, cảnh đẹp nhất, có hồn nhất lại là cảnh ẩn chứa những điều tệ hại nhất, xót xa nhất!
Đó là tiếng quát của gã ngư phủ: “Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”.
Đó là “một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ..”.
Đó là một gã đàn ông “mái tóc như tổ quạ … chân đi chữ bát … hàng lông mày cháy nắng rủ
xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ…”
Chưa hết, tiếp theo là cảnh hành hung đánh đập, phi nhân tính rùng rợn: “Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay gắt, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa… chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két …”
Nghiệt ngã thay! Khát vọng tìm đến cái đẹp để mong muốn làm cho con người đẹp lên là rất đáng quý nhưng người nghệ sĩ phải tỉnh táo để nhận ra cái thực tế phũ phàng của đời sống. Và đây cũng là lời cảnh tỉnh cho tất cả mọi người: hãy tỉnh táo trước cái đẹp. Bất cứ cái đẹp nào cũng rất có thể ẩn chứa những điều phức tạp đi ngược lại hạnh phúc của con người. Cái tình huống nghịch lý này trong Chiếc thuyền ngoài xa đã xua tan màn khói lãng mạn phủ lên hình ảnh tuyệt đẹp kia để làm trơ ra cái sự tàn nhẫn của đời thường. Người nghệ sĩ không chỉ nhận thấy cảnh đẹp lãng mạn bên ngoài kia mà còn phải nhìn thấy cả cảnh hành hạ man rợ của lão ngư phủ nọ. Đây là bài học, là trách nhiệm, cũng là lương tâm của nghệ thuật.
Dưới góc độ nhân vật chúng ta cũng thấy nhà văn đã sử sụng nguyên tắc nghịch lý, đối lập trong xây dựng nhân vật: cái tốt cái xấu lẫn lộn, đan cài với nhau. Người đàn bà xấu xí thô kệch ấy có vẻ bề ngoài thật quá nhẫn nhục, cam chịu “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng vẫn không chịu “chia tay” với gã chồng vũ phu tàn bạo. Bởi vì, như lời giãi bày gan ruột của người mẹ đáng thương ta mới thấy bà có một tấm lòng hi sinh vô bờ “ … đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa… Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình…”. Còn gã đàn ông kia cũng không hẳn hoàn toàn xấu. Vì đâu mà lão trở lên vũ phu tàn độc như vậy? Khi xưa, theo lời vợ lão thì đó “ là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập..”. Vẫn theo lời vợ lão thì là do lão “khổ quá” vì làm ăn nuôi con. Rồi đói, khi “ông trời làm biển động suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối… ”. Trước sau thì hắn vẫn là người lao động lương thiện, hơn nữa lại là lao động chính, kiếm sống bằng mồ hôi nước mắt của mình để nuôi mười mấy miệng ăn. Lão đánh vợ để giải toả những bức bối. Ta hãy để ý khi đánh vợ lão cũng đau đớn “Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn”. Lão cũng không phải là kẻ hiếu chiến, không phải là kẻ chỉ thích gây gổ đánh đấm người khác, bằng cớ là ngay Phùng cũng khẳng định “lão đánh tôi hoàn toàn vì mục đích tự vệ”. Còn thằng Phác đứa trẻ ham hiểu biết (cặn kẽ giải thích cho tôi nghe cuộc sống của những giống chim trên rừng), sớm lam lũ lao động, hồn nhiên chơi với “tôi” như một người bạn thân và rất thương mẹ… Bên cạnh những phẩm chất ấy trong nó cũng ẩn chứa một tính côn đồ nguy hiểm: sẵn sàng cầm dao đâm bố để cứu mẹ. Nó sớm đã có ý thức báo thù bằng cách lấy bạo lực để ngăn cản bạo lực.
Như vậy, nhân vật trong Chiếc thuyền ngoài xa được cấu trúc với tất cả sự phức tạp của nó, không hẳn xấu cũng không hẳn là kẻ tốt. Xét đến cùng lão chồng vừa là thủ phạm gây ra cảnh đau đớn cho người vợ, cho con đẻ đồng thời cũng lại là nạn nhân của cuộc sống còn tăm tối khốn khổ. Người vợ cũng vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm, mà theo chính lời mụ thì là do “cái lỗi…là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá”. Thằng Phác cũng thế, vừa là nạn nhân của thói côn đồ lại vừa là thủ phạm kích động thói côn đồ và chính nó cũng sớm có tính côn đồ. Những nhân vật đó chưa mang chiều kích của nhân vật tính cách với những quá trình phát triển tâm lý nhưng nó đã làm tốt chức năng thể hiện chủ đề tác phẩm. Một phương diện rất thành công của truyện ngắn là cách chọn điểm nhìn trần thuật. Nhà văn trao điểm nhìn trần thuật cho Phùng, nhân vật – người kể chuyện là cách chọn tối ưu. Phùng kể lại kể chuyện mình trực tiếp chứng kiến, trực tiếp tham gia vào biến cố câu chuyện (nói chuyện với Phác – đứa con ; đánh lại gã chồng để tránh đòn cho người đàn bà ; nghe lời trần tình, giãi bày của người vợ) nên câu chuyện kể ra rất thật, vì đó là chuyện của người kể, kể lại chuyện của mình. Cách kể này chúng tôi đã khái quát thành khái niệm “kịch hoá nhân vật – người kể chuyện ” (4). Người kể chuyện đóng vai nhân vật nhảy vào các biến cố, tham gia trực tiếp vào các diễn biến của cốt truyện, rồi kể lại cho bạn đọc nghe; điều đó đã tạo ra xu hướng trần thuật tiệm tiến gần hơn với sự thật ngoài đời. Thứ nữa, Phùng là người trải nghiệm, giàu vốn sống(từng có mười năm cầm súng đánh giặc, nay làm nghề chụp ảnh được đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người) nên lời văn trần thuật chứa nhiều yếu tố triết lý, ví như “ ở đời cái gì cũng thế, con người bản tính vốn lười biếng, đôi khi mình hãy cứ để cho mình rơi vào hoàn cảnh bị ép buộc phải làm, không khéo lại làm được một cái gì”. Phải là người như Phùng, nghề nghiệp như Phùng bạn đọc mới tin và thấm thía triết lý này. Hơn nữa Phùng là một nghệ sĩ nhiếp ảnh nên tất yếu phải có yếu tố nghề nghiệp trong lời kể. Thế cho nên lời văn ở đây tràn đầy chất thơ, chất trữ tình và cũng đậm chất hoạ, chất điện ảnh thì đó cũng là điều dễ hiểu. Và các thủ pháp nghệ thuật trong lời kể cũng rõ cái dấu ấn nghề nghiệp gắn với nhân vật ví dụ một phép so sánh tả một ngư phủ. Ngư phủ thì bao giờ cũng đi liền với cái thuyền và lưới, thế nên:
“Tấm lưng rộng và cong như chiếc thuyền”
“Những món tóc vàng hoe có chỗ đỏ quạch như mớ lưới to đã bợt bạt”
“Cặp mắt thật đen gợi cho tôi nghĩ đến con mắt người ta vẽ trên đầu mũi thuyền”
Chủ thể trần thuật là ngôi thứ nhất, người kể chuyện đồng nhất với nhân vật đã thống nhất cả hai điểm nhìn, của nhân vật vốn bị chia cắt vào từng cảnh, của người kể vốn luôn xuyên suốt các sự kiện trên một trục thời gian đã tạo nên sự nhất quán của lời văn trần thuật trong cấu trúc văn bản, vừa đi sâu, cụ thể vào các sự kiện vừa quy chiếu một cách toàn diện, hệ thống cốt truyện. Vậy nên truyện cứ lôi kéo ta vào từng chi tiết vừa hấp dẫn mời gọi ta dõi theo cái kết cục của câu chuyện sẽ như thế nào, liệu người vợ có bỏ lão chồng kia không, liệu tòa có xử cho họ ly hôn không, rồi số phận những đứa con họ sẽ ra sao…???
Đối với nhà văn tài năng thì có khi người đọc chỉ cần đọc cái tên truyện là đã nhận chân ra được phong cách của ông ta. Các tiêu đề truyện Bức tranh, Một lần đối chứng, Mảnh trăng cuối rừng, Chiếc thuyền ngoài xa… đã góp phần làm rõ hơn nội dung tác phẩm, rõ cái dấu ấn của nhà văn Nguyễn Minh Châu. ở đây “ chiếc thuyền” nghệ thuật đang trôi trên “ ngoài xa” cuộc đời đã nói lên rất hay mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, nghệ thuật nằm trong cuộc sống này, biểu hiện cuộc sống. Người nghệ sĩ chèo lái con thuyền nghệ thuật ấy vừa phải hiểu sâu sắc con thuyền nghệ thuật vừa phải nắm bắt rõ những luồng lạch, độ nông sâu của biển cả cuộc đời. Có vậy mới đưa nghệ thuật tới chân trời lý tưởng của hạnh phúc và cái đẹp của con người. | Phân tích tình huống truyện trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu | 3,172 | |
Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân
Hướng dẫn
Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân
Có những tác phẩm đọc xong là ta quên ngay nhưng có những tác phẩm đọc xong mà để lại ấn tượng sâu sắc tựa như một dòng nước chảy qua để lại lớp phù sa màu mỡ. Tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân là một tác phẩm như vậy. Đặc biệt, tác phẩm là một minh chứng rõ ràng nhất cho nhận định: “Một tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc chính là xây dựng thành công tình huống truyện và miêu tả nội tâm nhân vật”.
Vậy tình huống truyện là gì? Một tác phẩm tự sự hay, không thể thiếu tình huống truyện. Tình huống là các sự việc, hoàn cảnh diễn ra sự việc được tác giả đặt nhân vật vào đó để bộc lộ đặc điểm, tính cách, phẩm chất của mình. Và dĩ nhiên, việc miêu tả nội tâm nhân vật chính là khắc họa những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của nhân vật để qua đó người đọc có một cái nhìn rõ hơn về nhân vật cũng như tác phẩm. Tác phẩm Làng của Kim Lân là một tác phẩm hay, thành công trong xây dựng tình huống truyện và miêu tả nội tâm nhân vật.
Tác phẩm xoay quanh một sự việc là tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc cùng những phản ứng của ông Hai trước, trong và sau sự việc độ. Chính vì thế tình huống trong tác phẩm cũng chia làm ba giai đoạn: trước khi ông Hai nghe tin, khi ông Hai nghe tin làng mình theo giặc và sau khi nghe tin cải chính. Trong mỗi tình huống, nhân vật ông Hai bộc lộ những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của mình thông qua việc xử lí các tình huống. Trước khi nghe tin, ông Hai là một người nông dân với những suy nghĩ khá hồn nhiên và tánh cách khá đặc biệt. Ông yêu làng nên đi đâu cũng khoe về cái làng của mình, ông tự hào và yêu tất cả mọi thứ của làng Chợ Dầu nên khi tình huống phải đi tản cư xảy ra, ông Hai vẫn còn rất quyến luyến cái nơi “chôn rau, cắt rốn” của mình, khi rời xa làng ông vẫn luôn theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm tình hình những người ở nơi khác đến. Đặc biệt, với tình huống thứ hai sau khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, nhân vật ông Hai bộc lộ sâu sắc tình cảm của mình. Từng hành động, cử chỉ, lời nói của ông trong mỗi hoàn cảnh, thời gian, địa điểm là một sự tủi hổ, nhục nhã, xót xa, đau đớn, dằn vặt và cuối cùng đi đến quyết định vô cùng khó khăn “Làng thì yêu thật nhưng làng đã theo Tây mất rồi thì phải thù”, Một người đã từng yêu làng hơn bất cứ thứ gì, đã từng tự hào về làng mà bây giờ lại phải thất vọng, đau khổ để quyết định “thù” làng. Tình huống này đã làm cho người đọc cảm nhận sâu sắc con người của nhân vật ông Hai. Nhưng Kim Lân không chỉ dừng lại đó mà còn muốn nói một điều gì “mới mẻ hơn” khi tạo ra tình huống thứ ba là ông Hai nghe được tin cải chính. Một niềm vui bất ngờ, ông Hai như một con người đang chết mòn chết mỏi bây giờ được hồi sinh lại. Ông mua quà cho con và lại theo thói quen sang nhà bác Thứ để khoe tin mừng. Con người ấy vẫn mộc mạc, chân thực, đáng yêu và đáng quý biết bao. Tình huống đã khẳng định một điều trong con người ông Hai, tình yêu làng của ông Hai đã hòa quyện, thống nhất với tình yêu nước, tình yêu kháng chiến, yêu Cụ Hồ. Có thể nói, ở mỗi tình huống, nhân vật ông Hai đều bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, rất “người” của mình. Điều đó cũng khẳng định thành công trong việc xây dựng tình huống truyện của nhà văn Kim Lân.
Phải chăng người đọc không chỉ thấy hấp dẫn với tác phẩm bởi tình huống truyện trong Làng mà còn thực sự thấy ấn tượng, yêu quý và hiểu rõ nhân vật hơn qua việc miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Kim Lân.
Thật vậy, nhà văn Kim Lân đã đi vào miêu tả rất sâu và kĩ tâm trạng của nhân vật ông Hai qua mỗi tình huống. Trước khi ông Hai nghe tin làng mình theo Tây, ông yêu làng Chợ Dầu của ông hơn bất cứ thứ gì. Ông tự hào về tất cả những gì của làng. Những điều đó khiến cho nhân vật ông Hai hiện lên với những suy nghĩ khá hồn nhiên và tính cách cũng đặc biệt. Ông hay khoe làng: “Ông có thể ngồi nói cả buổi về cái làng Chợ Dầu mà không biết người nghe thế nào, chỉ nói cho sướng cái miệng”. Cho nên khi nhận lệnh phải đi tản cư ông Hai nửa muốn đi vì kháng chiến, nửa lại muốn ở lại vì tình cảm quyến luyến, yêu làng, không muốn rời xa làng, nhưng cuối cùng ông cũng phải đi. Ở nơi tản cư, ông vẫn luôn theo dõi tin tức kháng chiến, tình yêu làng của ông thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi dù ở làng hay rời xa làng. Song, tình yêu làng, yêu nước của ông Hai mới thực sự được bộc lộ rõ khi nghe tin làng mình theo Tây. Một sự thất vọng tột độ, cái làng ông vốn rất tự hào, yêu hơn chính bản thân mình thì giờ đây lại theo Tây. Ông thấy mình như người có tội, bỗng chốc những cảm xúc tủi hổ, nhục nhã, dằn vặt, đau đớn ùa về trong ông. Những ngày sau ông không dám ra đường bởi ông sợ, ông lo lắng và cảm thấy chẳng còn mặt mũi để nhìn ai. Một quyết định đau đớn mà ông Hai phải dằn lòng đưa ra: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”, ông đã đặt tình vêu nước lên trên tình yêu làng, hi sinh cá nhân vì dân tộc. Nhưng ông vẫn muôn một lần nữa khẳng định sự trung thành với Đảng, với cách mạng của mình qua cuộc trò chuyện với đứa con thơ. Ông Hai đã thực sự có những suy nghĩ đúng đắn. Sau khi nghe tin cải chính, ông Hai lại được yêu làng, tự hào về làng đúng với tình yêu trong trái tim ông. Vì thế ông lại được bản tính hồn nhiên, mộc mạc của mình. Tình yêu làng của ông giờ đã quyện, thống nhất với tình yêu nước, tình yêu kháng chiến. Có thể trong sâu sắc nội tâm nhân vật, nhà văn Kim Lân đã thực sự thành công để người đọc hiểu hơn về nhân vật.
Tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân chỉ là một hạt cát trên sa mạc trong nền văn học bấy giờ. Nhưng tác phẩm vẫn có những nét riêng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc. Đặc biệt với việc thành công trong xây dựng tình huống truyện và miêu tả nội tâm nhân vật, Kim Lân đã đưa nhân vật ông Hai trở thành người nông dân điển hình sống mãi trong lòng người đọc. | Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân | 1,291 | |
Đề bài: Phân tích tình huống truyện trong Vợ nhặt của Kim Lân
Bài làm
Sự thành công của mỗi truyện ngắn có sự góp mặt của nhiều yếu tố, trong yếu tố đóng vai trò then chốt là: tình huống, nhân vật và cách trần thuật, nhà văn có những điểm mạnh riêng để tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm mình. Kim Lân đã rất thành công trong các truyện ngắn của mình khi sáng tác được những tình huống truyện đặc sắc. Đọc Vợ nhặt của Kim Lân ta cảm rõ điều đó.
Trong Vợ nhặt của Kim Lân, tình huống truyện đã giúp nhà văn xây dựng bộc lộ sâu sắc tính cách và tâm lí nhân vật. Đồng thời gúp ông bộc lộ tâm tư ti và những điều mà bản thân ông muốn gửi gắm cho bạn đọc. Truyện cũng thế mà hấp dẫn hơn.
Phân tích tình huống truyện trong Vợ nhặt của Kim Lân
Tình huống của Vợ nhặt thể hiện ngay ở tên truyện. Một anh nông dân “nhặt” được vợ. Mà nào anh ta có bảnh bao hấp dẫn gì: vừa nghèo, vừa xấu trai, lại là dân ngụ cư. Vậy mà chỉ “tầm phơ tầm phào” mấy câu mà có vợ theo về.
Sự hấp dẫn của tình huống truyện trước hết là ở đó. Như một nghịch lý, nó gây ngạc nhiên cho mọi trường trong xóm ngụ cư, cho bà cụ Tứ, mẹ Tràng cho cả bản thân Tràng là kẻ đã “nhặt” được vợ.
“… người trong xóm lạ lắm: Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán…”Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn Người thì “cười lên rung rúc”. Người lại lo dùm cho anh ta “Ôi chao! đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thời này không?”.
Bà cụ Tứ hiểu tình cảm con mình hơn ai hết nên càng khó tin Tràng có vợ, có người đàn bà đứng ngay ở đầy giường con mình, bà cụ cứ ngơ ngác tự hỏi: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Sao lại chào mình bằng u? Ai thế nhỉ? “ Bà cụ làm sao hiểu nổi. Nghèo như con bà ai người ta thèm lấy có vợ được. Vả lại trời làm đói khát thế này, nuôi thân chẳng nổi, lấy gì vợ nuôi con?
Bản thân Tràng cũng lấy làm lạ cho mình. Nhìn vợ, ngồi ngay giữa nhà, anh ta “vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”.
Đúng là một tình huống lạ. Nhưng khi hiểu ra rồi thì lại thấy có gì đáng ngạc nhiên đâu. Cái lý do dễ hiểu biết bao, nhưng cũng buồn tủi biết bao, tội nghiệp bao! Điều này, bà cụ tứ sống gần hết đời người phải làm bạn với cái nghèo mới sự thấm thía: “Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiều cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con trong lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Con mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhem của bà cụ rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau cho qua được cơn đói khát này không?”.
Lòng bà cụ thật là ngổn ngang trăm mối: vừa mừng vừa lo, vừa vui vừa tủi. Mừng vui vì dù sao con mình có có vợ, điều mà bổn phận làm mẹ bà đã không lo nổi cho con: “ ừ, thôi thì các con đã phải duyên kiếp với nhau, u cũng mừng ". Nhưng lo buồn, tủi nhục vì “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”. Như thế là tình huống truyện đã làm bộc lộ sâu sắc tâm trạng, tính cách các nhân vật. Bà cụ Tứ do từng trải nhiều nên tâm lí diễn biến phức tạp hơn cả. Còn Tràng thì lo ít, vui nhiều. Mới đầu cũng “chợn”, nhưng liều sau đó chặc lưỡi kệ!”. Trên đường đưa vợ về nhà, thấy người ta tò mò nhìn ngó, “hắn lại vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”. Niềm vui át hẳn nỗi lo, đến nổi anh ta không hiểu được tại sao vợ lại buồn, mẹ lại khóc: “Chán quá, chẳng đâu vào đâu tự nhiên cũng khóc!”.
Bỗng nhiên “nhặt” được vợ, hạnh phúc đến với Tràng quá lớn và quá đột ngột. Mãi đến sáng hôm sau anh ta vẫn còn thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Và cùng với niềm vui, ý thức về bổn phận, về trách nhiệm đối với cái tổ ấm của mình, cũng nảy sinh. Anh ta thấy thương yêu gắn bó với mọi người, với cái nhà, cái sân, khoảnh vườn của mình một cách lạ lùng. “Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người”.
Buồn tủi nhất là tâm trạng của người vợ Tràng “nhặt” được. Lấy chồng chuyện thiêng liêng là sự phó thác cả cuộc đời mình cho người đàn ông mình yêu quý. Vậy mà chị ta nào có biết Tràng là ai, tốt xấu thế nào đâu. Chỉ một câu hò bâng quơ và mấy bát bánh đúc riêu cua là theo ngay về. Cái đói đã đẩy người đàn bà đến chỗ chẳng còn biết xấu hổ là gì, mất hết ý thức tự thấy mình không hơn gì cái rơm cái rác, người ta có thể “nhặt” được ngoài đường, xó chợ…
Nhưng chủ đề của Vợ nhặt không chỉ có thế. Tình huống truyện đã đặt nhân vật kề bên nanh vuốt của cái chết. Một không khí chết chóc cứ len lỏi trong tác phẩm với mùi khói, khét lẹt của những đống rấm nhà có người chết lan tới và tiếng hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ… Nhưng qua tâm trạng của các nhân vật, nhất là Tràng và bà cụ Tứ, thấy người dân lao động tin ở sự sống vẫn hi vọng ở tương lai, cũng khao khát một tổ ấm gia đình để được thương yêu nhau và cùng chia xẻ vui buồn, để có bổn phận với nhau cũng như có nhiệm với đời…
Đó là bản chất lạc quan của nhân dân lao động. Một chủ nghĩa lạc quan có căn cứ gì rõ rệt “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”… vẫn tồn tại dai dẳng ở những con người luôn sống hết mình với cuộc sống trong lao động và đâu tranh để sinh tồn. Niềm tin tưởng lạc quan ấy cuối cùng đã gặp được ánh sáng của cách mạng với lá cờ Việt Minh bay phấp phới báo hiệu cuộc đổi đời vĩ đại của dân tộc đang sắp sửa.
Bà cụ Tứ càng để lại cho người đọc những thiện cảm tốt đẹp. Thấy con lấy vợ trong hoàn cảnh khó khăn, bà không khỏi bùi ngùi, thương xót: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái, mở mày mở mặt sau này. Còn mình thì..”. Nhưng, bà thực sự vui mừng khi con trai bà đã yên bề gia thất: “Bà lão nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên…”. Rồi trong bữa cơm, cả ba mẹ con đều quên đi hiện thực đau lòng để hướng đến một tương lai tươi đẹp hơn:
“Tràng ạ. Khi nào có liền ta mua lấy đôi gà. Tau tin rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này, ngoảng đi ngoảng lại, chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…”
Nghĩ đến cái sống, không nghĩ đến cái chết là ở chỗ đấy. Bà cố gắng xua đi lại thực hãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho các con. Tuy nhiên món chè cám đã nhắc họ về với thực tại. Chao ôi, chè cám! Phải đói đến một mức nào đó, người ta ăn cám mới cảm thấy ngon! Cuộc sống khắc nghiệt, đày đọa bắt họ phải sống cuộc sống loài vật, nhưng nào có dập tắt được phần Người đáng quý trong mỗi con người. Cái phần Người ấy sẽ giúp họ vượt qua đoạn khó khăn này.
Sẽ lại thiếu sót nêu bỏ qua hình ảnh những người nông dân trên đê Sộp cùng nhau đi phá kho thóc, khi nói đến những kể hấp hối trong vòng tử địa vẫn hướng tới cuộc sống. Đó là hình ảnh không hề ngẫu nhiên chút nào, được nhà văn chẩn bị từ trước. Nó là dấu hiệu của “bước đường cùng”, không còn cách giành sự sống nào khác, phải vùng dậy đấu tranh, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tràng thấy “ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu” bởi anh chưa bắt được mạch nguồn cách mạng. Trước mắt người đọc lúc này, sự sống trở thành mục đích chung của mọi người; họ đấu tranh, đoạn tuyệt dứt khoát với cái chết. Và chắc chắn, mẹ con Tràng sẽ tiếp nối dòng người kia, giành sự sống cho mình.
Có thể khẳng định, truyện ngắn Vợ nhặt là một thành công của Kim Lân. Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông cũng là đỉnh cao của truyện ngắn hiện đại Việt Nam. Người đọc nhớ mãi một Vợ nhặt với tình huống truyện độc đáo và chất nhân văn cao cả của tác phẩm. | Phân tích tình huống truyện trong Vợ nhặt của Kim Lân | 1,685 | |
Phân tích tình huống truyện độc đáo trong bài Vợ nhặt của Kim Lân
Hướng dẫn
Phân tích tình huống truyện độc đáo trong bài Vợ nhặt của Kim Lân
BÀI LÀM
Nạn đói khủng khiếp năm 1945 là một khoảng thời gian rất thương tâm trong lịch sử Việt Nam. Xác chết người đói và người đang sống dở chết dở vì đói lẫn lộn ngay bên cạnh nhau. Có thể nói, sự sống lúc ấy đang trong tình trạng nghìn cân treo sợi tóc. Ấy vậy mà, nhà văn Kim Lân lại có nhã hứng sáng tác nên một câu chuyện vô cùng độc đáo: “Vợ nhặt”. Đúng như cái tên, vừa hài hước mà cũng vừa tủi nhục, kẻ nhặt vợ và kẻ làm thân vợ nhặt đều rách rưới, thiếu thốn như nhau. Có lẽ, chính vì cái đói, cái khổ đã làm họ trôi dạt vào với nhau. Xuyên suốt câu chuyện, nhà văn đã liên tục xây dựng nên những tình huống rất đặc sắc, mang ý nghĩa sâu xa đánh thẳng vào tâm lý người đọc với sự tủi hờn, bẽ bàng nhưng vẫn đầy hi vọng và niềm tin.
“Vợ nhặt” – có lẽ cái tên đã nói lên tất cả. Bởi người ta chỉ nói cưới vợ hoặc lấy vợ chứ chẳng ai nói vợ nhặt bao giờ. Nhưng ở đời, chuyện gì cũng có thể xảy ra. Nhất là trong lúc cái đói cái khổ đang hoành hành khắp nơi, khắp chốn, khi mà sự sống đang rơi vào tình trạng nghìn cân treo sợi tóc, khi mà cái đói có thể vùi dập con người ta bất cứ lúc nào. Thậm chí, mùi lờm lợm, nồng thối của xác chết lúc nào cũng len lỏi khắp đường khắp chợ. Người ta còn chẳng thèm chôn mấy cái xác đã nằm ươn ra đấy vì đói. Kim Lân cũng đã miêu tả cảnh thê lương ấy một cách rất chân thực và bi ai: “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và của xác người”.
Ấy vậy mà, nhà văn vẫn cầm cây bút với lòng đầy xót thương và dựng nên một cảnh hết sức bi hài trong cái đói cái khổ cùng cực: đó là cảnh nhặt vợ! Anh cu Tràng – nghe cách gọi của tác giả cũng đủ thấy sự ngờ nghệch, ngây thơ của một chàng thanh niên nơi xóm ngụ cư nghèo. Anh dắt theo bên mình một người con gái cũng chẳng hơn kém gì mình: “Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt”. Trai chưa vợ, gái chưa chồng đi cạnh nhau là điều rất bình thường. Nhưng cái bình thường ở đây là trong lúc nạn đói đang giết chết từng người từng ngày, người ta chỉ còn biết nghĩ đến cái ăn, đến tiền chứ tâm trí đâu mà nghĩ đến việc yêu đương, hẹn hò hay cưới xin nữa. Thế nên, cảnh anh cu Tràng và người “vợ” vừa nhặt được đang đi bên nhau giữa những làn sương khói của buổi chiều tà khiến cho mọi người không khỏi chú ý, tò mò. Phải chăng Kim Lân đã cố tình dựng nên tình huống này để làm cái đói bớt thê lương? Và làm lòng người bớt u uất giữa những bế tắc của đói khổ, của túng quẫn? Ông có ý gì không khi để hai con người cùng cảnh bước qua những xác chết vì đói ngay bên đường để về ở với nhau. Biết đâu một ngày nào đó chính họ cũng sẽ là một trong những cái xác chết ven đường kia? Động lực nào đã khiến họ can đảm vượt qua tất cả để về với nhau?
Con đường đầy u ám mọi khi nay bỗng nhiên trở thành con đường kỉ niệm với bao hồi hộp, mong chờ. Có lẽ, tình yêu bao giờ cũng vậy, cũng làm cho con người ta thay đổi và trở nên tràn đầy sức sống với niềm tin. Chỉ có điều, tình yêu của Tràng và thị chóng vánh quá, gấp gáp quá và được đặt vào tình huống éo le quá. Thế nên khi về đến nhà, người mẹ già của Tràng cũng không khỏi ngỡ ngàng, xót xa. Bà ngỡ ngàng vì trong cảnh đói khổ thế này mà con mình cũng lấy được vợ, xót xa vì bà không biết cuộc sống những ngày tiếp theo sẽ ra sao nữa. Cái đói, cái khổ cứ quẩn quanh thế này thì đến bao giờ “chúng nó” mới khấm khá lên được. Mà liệu rằng có qua được cái tao đoạn này không… Lòng người mẹ đã trải qua bao năm tháng cuộc đời cứ suy nghĩ vẩn vơ rồi lại tự xót thương cho thân phận con mình. Bà cũng xót cho cả người “con dâu mới”. Lẽ ra người ta dựng vợ gả chồng ít nhất cũng phải có dăm ba mâm để ra mắt họ hàng, nhưng vì nghèo quá, bà không thể nào lo liệu cho con được. Thương con, thương mình. Ôi phận nghèo đến bao giờ mới hết?
Nhà văn đã xây dựng tình huống truyện một cách rất khéo léo, tài tình khiến mọi chuyện diễn ra rất tự nhiên và đầy hấp dẫn. Dẫu trang văn có dài nhưng người đọc vẫn muốn theo dõi đến cùng để xem đôi vợ chồng đã nhặt được nhau sẽ cùng nhau đi đến đâu đâu và sống ra sao.
Và rồi, Kim Lân cũng đã thổi một làn gió mới vào xóm ngụ cư nghèo, vào cái gia đình đã bao lâu nay nguội lạnh, hoang tàn vì đói vì rét. Trong ngày đầu tiên có vợ, mọi thứ trong nhà đã thay đổi. Từ quang cảnh, từ cách sinh hoạt… tất cả đều như được sống dậy sau những ngày dài chìm trong u tối. Mà có lẽ cũng là như vậy thật. “Nhà cửa sân vườn hôm nay đều được quét, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”. Từ những điều đơn giản nhất, nhỏ bé nhất trong nhà đều được thay đổi. Mọi thứ đã sẵn sàng cho một cuộc sống mới – một cuộc sống tràn đầy niềm tin và hi vọng.
Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Dù mọi người đều đang hào hứng, phấn khởi cho sự thay đổi mới của cả gia đình nhưng sự thật về cái đói đang hoành hành vẫn không thể nào xua tan đi ngay được. Bữa cơm đầu của ngày mới về làm dâu không có gì hơn là một lùm rau chuối thái rồi và một đĩa muối ăn với cháo. “Nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành”. Có lẽ, câu chuyện sẽ có thể kết thúc ngay tại đây, nhưng nhà văn không thể không nhắc đến sự thật cảnh sống thực tế của nạn đói lúc bấy giờ. Thế nên, ông đã cố tình dựng nên tình huống về nồi cháo cám khi mọi người đã ăn hết cháo. Một nồi cháo chẳng thể đủ cho cả ba miệng ăn khi mà ai cũng đói, cũng thèm được ăn cho no. Hết cháo, bà cụ chống chữa bằng nồi cháo cám. Nhưng trước khi mang cháo cám lên, bà đã khơi dậy hứng thú cho hai con bằng câu nói rất ngọt ngào “Chúng mày đợi u nhá. Tao có cái này hay lắm cơ”. Rồi bà cũng tự động viên, nhắn nhủ con mình: “Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”. Miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ khiến cho “nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người”. Và có lẽ, tình huống này đã khơi dậy bao niềm đồng cảm và xót xa nơi người đọc. Xót cho thân phận những người nông dân lương thiện, đói nghèo, đến ngay cả mưu cầu hạnh phúc cho bản thân mình cũng bị cái đói kìm kẹp. bủa vây. Đồng thời cũng oán than, trách giận cho những kẻ cầm quyền tàn ác bất nhất đã đẩy người nông dân vào tình cảnh éo le này.
Mọi thứ rồi sẽ thay đổi khi con người ta có hi vọng, có ý chí. Dù không biết cái đói có thể lấy đi mạng sống mình bất cứ lúc nào nhưng niềm tin trong những con người cùng khổ, lương thiện vẫn luôn đầy ắp, như chiếc chum khô cong bao ngày nay đã được đổ tràn đầy.
Bằng những ngôn từ giản dị và tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn, Kim Lân đã rất thành công khi dựng nên một thước phim quay chậm về cuộc sống của xóm ngụ cư nghèo trong tình cảnh đói khát, thiếu thốn đến cùng cực. Càng khó khăn bao nhiêu, tình người lại càng sáng chói bấy nhiêu. Bởi ở đó, họ dù có khổ sở, có túng quẫn cũng không trà đạp lên nhau. Ngược lại, một kẻ ngờ nghệch như Tràng vẫn mở rộng tấm lòng đón nhận một người phụ nữ về ở cùng mình. Dù rằng rất có thể cái đói sẽ nhấn chìm cả hai, nhưng tình người chân chính và lòng lương thiện đã khiến họ xích lại gần nhau.
Đi hết tình huống này đến tình huống khác, người đọc càng xót xa cho thân phận người nông dân bao nhiêu, lại càng oán than những kẻ cầm quyền gian ác bấy nhiêu. Bởi vậy, nhà văn Kim Lân cũng không quên gieo vào lòng người đọc sự hoan hỉ khi dựng nên hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới ở cuối câu truyện để lấy lại niềm tin cho mọi người. Lá cờ ấy còn khẳng định rằng: Nhân dân nhất định sẽ chiến thắng. Kẻ gian ác tàn bạo nhất định sẽ bị lụi tàn.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | Phân tích tình huống truyện độc đáo trong bài Vợ nhặt của Kim Lân | 1,782 | |
Phân tích tình huống độc đáo của truyện Vợ nhặt
Hướng dẫn
Phân tích tình huống độc đáo của truyện Vợ nhặt
Nạn đói năm 45 dường như đã trở thành một nỗi ám ảnh sâu sắc đối dân tộc ta. Nỗi đau thương ấy đâu chỉ được diễn tả bằng lời mà nó còn được in dấu trong từng câu văn, từng trang giấy của các nhà thơ, nhà văn. Đó có thể là Chí Phèo của nhà văn Nam Cao hay Chị Dậu của Ngô Tất Tố và trong số đó không thể nào thiếu được truyện ngắn vợ nhặt của Kim Lân. Đó được coi là một trong những tác phẩm có chiều sâu tư tưởng và giá trị nghệ thuật đặc sắc. Trong tác phẩm này, nhà văn Kim Lân đã xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo, với những diễn biến thăng trầm nhằm khắc tả được thành công nội dung của truyện ngắn và thông qua đó làm nổi bật lên được tình hình chung của đất nước trong những năm kháng chiến đầy gian khổ đó.
Để làm nên thành công của một tác phẩm không chỉ cần nhà văn viết hay, viết tài, nội dung phong phú mà hơn thể nữa tác phẩm phải cần một tình huống truyện tài tình. Và cũng như vậy, nhà văn Kim Lân đã xây dựng thành công đã làm nên một tình huống truyện như thế, và nó đã được thể hiện ở ngay trong chính tiêu đề của tác phẩm: Vợ nhặt. Từ trước đến ngay, người ta nhặt đồ, nhặt nhạnh, lượm lặt chứ ai lại đi nhặt người và thậm chí là nhặt vợ? Vợ là người sẽ chung sống và đồng cam cộng khổ với ta, vợ phải là người được cưới hỏi đàng hoàng, chứ làm gì có ai lại đi nhặt vợ? Nhưng đặt trong bối cảnh của nạn đói khủng khiếp năm 1945, thì những người dân thường, những người bán mặt cho đất bán lưng cho trời may lắm thì mới có thể thoát khỏi được bàn tay tử thần, ấy thế mà “sống là tốt rồi, tự nuôi được mình là tốt lắm rồi chứ còn ai có cái suy nghĩ lấy vợ”. Ấy thế mà anh cu Tràng – cái anh chàng hiền làng, tử tế, nhưng lại quá nghèo mà không thể lấy được vợ lại nhặt được vợ, đó quả là một điều thật là lạ. Cũng bởi vì sống trong cái hoàn cảnh đó thì cái giá trị của con người lại càng trở nên rẻ rung, người ta cũng chỉ vì 1 bát bánh đúc mà lấy được vợ.
Nhà văn Kim Lân với quan niệm “nghệ thuật vị nhân sinh”, đã tạo ra một tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn thu hút người đọc và hơn thế nữa là một nội dung truyện mang tính hiện thực nhưng cũng mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Cái thú của câu chuyện là chuyện anh cu Tràng trong cái tình huống trớ trêu đã nhặt được vợ như là một nghịch lý. Nếu nói trong thực tế thì việc Tràng có vợ cũng bởi vì người vợ “mới: của Tràng hơi ham sống, chứ không chỉ vì 4 bát bánh đúc mà anh Tràng đã “hào phóng” tặng cho “nàng”. Cái truyện mà nghịch lý, khiến ai ai cũng đều phải bất ngờ nhưng thực chất thì nó lại rất phù hợp với quy luật của cuộc sống. Bởi trong những tình huống khó khăn nhất, bần cùng nhất thì cái nhân cách của con người ta cũng trở nên rẻ rung hơn bao giờ hết. Không phải vì con người ta ngay từ khi sinh ra đã có bản chất như vậy mà do thực tại, do cái xã hội này đã tác động và đẩy con người ta vào những tình huống khiến chính họ cũng không thể nào nghĩ được cái bản chất của mình đã bị “tha hóa” đến như vậy. Bởi vậy mà việc Tràng có vợ không còn chỉ là niềm vui mà hơn thế nữa nó còn là một nỗi đau, một sự thương cảm cho chính thân phận của con người.
Nhà văn không xây dựng trong truyện một cuộc sống như mơ hay cố vẽ ra một viễn cảnh ảo mộng mà ngược lại, nhà văn không hề né tránh mà lại săn đuổi hiện thực tới cùng. Nhưng mục đích chính của nhà văn, làm từ chính hiện thực đó để có thể làm sáng tỏ vẻ đẹp trong lòng con người – cái vẻ đẹp mà tưởng chừng như đã bị sự nghèo đói làm cho tha hóa. Nhưng không, chính cái hiện thực ấy lại là một phép đòn bẩy cho tình yêu và tâm hồn của con người trở nên sáng rực hơn lúc nào hết.
Tình huống độc đáo thứ nhất của truyện, chính là khi nhà văn cho Tràng nhặt được vợ. Cũng chính từ lúc đó, nhà văn Kim Lân đã gieo cho những con người một tia hy vọng, dù là một tia hy vọng mong manh nhất. Ấy là trước khi Tràng nhặt được vợ, cái xóm nghèo thê lương là thế: trẻ con thì ngồi rũ rượi 1 góc không thèm nhúc nhích, ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường,… thế nhưng từ khi Tràng nhặt được vợ thì mọi thứ dường như đã thay đổi hẳn, cái xóm ngụ cư nghèo ấy dường như đã được thổi một làn gió mới, một tia hy vọng mới. Xóm ngụ cư ấy từ chỗ chả ai nói với nhau câu nào cho đến khi mọi người bàn tán xôn xao chuyện Tràng lấy được vợ. Ai nấy cũng đều cảm giác tò mò, nhưng sâu thẳm trong trái tim của họ lại lóe lên một tia hy vọng sống, một tia hy vọng cho một tương lai mới.
Niềm hạnh phúc của con người đến nhanh lắm, nó nhỏ bé nhưng lại có thể nhanh chóng làm con người ta quên hết những ê trề, mệt mỏi, nó dường như không chân thực lắm mà đôi khi còn khiến con người ta lơ lửng như đi ra từ giấc mơ. Chính vì thế mà khi đi bên cạnh người vợ mới nhặt về, Tràng dường như đã quên hết tất cả cái cuộc sống ê trề, tăm tối hàng ngày và thậm chí còn quên ngay cả cái nạn đói đang đeo bám con người ta hằng ngày. Hóa ra, nhà văn đã hóa thân vào trong tác phẩm để có thể gửi gắm đến nhân vật của mình cái tình cái nghĩa đậm đà, sâu sắc. Hạnh phúc của Tràng được xây dựng trên cái tình, cái nghĩa. Đó là tình yêu thương giữ con người với con người trong cơn khó khăn, hoạn nạn, là cái nghĩ của một người mang hàm ơn – trong cái lúc quẫn cùng ấy lại có một người tự dang rộng vòng tay để mình bấu víu, nương tựa. Cũng chính bởi vậy mà nhà văn Kim Lân đã xây dựng thành công sức sống mãnh liệt của tình cảm con người thiêng liêng mà bất diệt ấy để cùng nhau vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Nhà văn đâu chỉ cho Tràng được thay đổi, mà ngược lại, qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi, tưởng chừng như trêu đùa đã khiến hai con người ấy nên duyên vợ chồng. Thị chỉ là một người cong cớn, chỏng lỏn, chỉ biết quan tâm đến miếng ăn mà giờ đây lại trở thành vợ của người ta, chóng vánh là thế. Ấy vậy mà khi về đến nhà Tràng, khi đã trở thành dâu nhà người ta, thì thị lại trở nên nhẹ nhàng và e lệ là thế. Đọc đến đây, ắt hẳn nhà văn muốn người đọc phải tự hỏi: Cái chỏng lỏn, cong cớn kia đâu mất rồi? để giờ đây, đến chính người đọc còn thấy người vợ Tràng mới mang về lại là một người đàn bà hiền lành, đầy ý tứ và rất lễ phép với mẹ Tràng – bà cụ Tứ khi mới nói: “U đã về đấy ạ!” – Chỉ bằng một lời nói, một hành động, nhà văn đã khiến người đọc hiểu rằng người đàn bà ấy đã trở thành một người con dâu thực sự, biết lắng nghe những sự khuyên dạy của mẹ chồng.
Nếu tưởng như đã người vợ ấy chỉ “làm bộ” như vậy thì đến sáng hôm sau, mọi thứ như một câu trả lời thích đáng nhất. Mới sáng sớm, nàng dâu mới đã tất bật dọn dẹp, sắp xếp lại gia đình – đó chỉ là những thay đổi tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng thấm thía đối với cả Tràng và bà cụ Tứ. Và cứ như thế, cuộc sống gia đình, niềm hạnh phúc cũng đã làm thay đổi thị, thay đổi tính cách và cả số phận của thị nữa.
Kim Lân đã cố tình đặt nhân vật người vợ vào tình huống éo le như vậy để có thể nhấn mạnh rằng: “ Cái đó có lúc sẽ làm cho con người ta trở nên hèn mọn, yếu kém, nhưng đôi khi nó sẽ không làm lu mờ hay khiến con người ta trở nên vô nhân cách mà sau cùng thì con người vẫn luôn quay trở lại với những gì vốn có của riêng mình”.
Cảm động biết bao khi kết thúc câu chuyện bằng hình ảnh nồi cháo cám – đó là món ngon từ tinh thần chứ không phải là về vật chất. Cái đắng, cái chát của cháo cám đã được tình yêu thương của bà cụ Tứ lấp đầy. Nhưng ẩn trong nụ cười của bà cụ Tứ ấy luôn ẩn chứa một nỗi lo: Bà lo cho cuộc sống trước mắt của hai đứa con của mình, làm sao để có thể sống cho qua những ngày tháng mà cái đói, cái nghèo luôn cứ đeo bám cuộc sống của gia đình bà. Phải chăng cái đắng chat và nghẹn bứ của nồi cháo cám cứ thế mà quẩn quanh trong cuộc sống của gia đình bà và ngay cả đối với những người dân sống trong xóm ngụ cư?”.
Chỉ bằng một tình huống Tràng nhặt được vợ mà dường như đã làm nổi bật lên cái nhân đạo của nhà văn. Nó không chỉ giúp xóm ngụ cư ấy xóa tan đi cảnh thê lương, ảm đạm vốn có mà còn giúp cho nhân vật “nên người”. Giúp cho Tràng hiểu được lẽ sống, nhìn thấy được lá cờ đỏ sao vàng như chiếu rọi vào tim. Và cho đến cùng, chỉ là hình ảnh chiếc lá cờ tung bay đã làm Tràng mập mờ hiểu được rõ con đường mà mình sẽ chọn, sẽ hướng tới: đó là theo Cách Mạng. Và chỉ có Cách mạng mới có thể giúp cuộc sống của những người dân như Tràng, như những người dân nơi xóm ngụ cư này mới bớt cơ cực và có thể tìm lại ánh sáng.
Thành công của nhà văn Kim Lân là đã thấu hiểu và phân tích được những trạng thái tâm lý tinh tế của con người. Họ nghèo ấy, họ khổ như thế ấy nhưng họ lại biết vươn lên trong mọi hoàn cảnh để biết yêu thương nhau, để biết khao khát hạnh phúc và để có thể tin tưởng vào tương lai. Chính nhà văn Kim Lân đã làm nên cái hồn của câu chuyện, để có thể tạo nên giá trị sâu sắc và cảm động cho tác phẩm Vợ nhặt này.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích tình huống độc đáo của truyện Vợ nhặt | 1,965 | |
Phân tích tình thế của chị Dậu khi cai lệ và đám tay sai nhà lí trưởng xông đến
Bài làm
Tình thế của chị Dậu khi cai lệ cùng đám tay sai nhà lí trưởng xông đến là một tình thế cực kì nan giải. Vụ thuế đang ở thời điểm gay gắt nhất (quan phủ sắp về làng để đốc thuế) và cũng là thời điểm mà bọn tay sai bộc lộ rõ nét nhất sự hung bạo của chúng để tấn công và để tỏ rõ sự tận tụy, trung thành của chúng. Nhưng đó cũng là thời điểm mà anh Dậu vừa tỉnh lại sau thời gian bị đánh, bị trói mà chỉ cần một lần trói, lần đánh nữa thôi thì anh có thể mất mạng.
Đoạn trích mở đầu bằng tình thế của vợ chồng chị Dậu khi nồi cháo vừa chín tới. Anh Dậu sau một thời gian bị trói, bị hành hạ đã hồi tỉnh nhưng món nợ thuế thân vẫn còn đó. Bên ngoài, “tiếng trống và tù và đã thủng thẳng đua nhau từ đầu làng đến đình”. Tiếng trống và tiếng tù và ở đây được miêu tả trong trạng thái đối lập, một mặt là “thủng thẳng” với vẻ chậm rãi, từ tốn; mặt khác lại “đua nhau”, tạo thành âm thanh hỗn độn, dồn dập, tạo tình thế thúc bách, không đợi chờ, không trì hoãn. Điều đó được cảm nhận không chỉ với gia đình chị Dậu mà còn cả với bà lão láng giềng qua cử chỉ “lật đật”, qua “vẻ mặt băn khoăn”, qua nhận xét “người ốm rề rề như thế, nếu lại phải một trận đòn, nuôi mấy tháng cho hoàn hồn”. Sự chân thành của bà lão láng giềng thể hiện tình cảm bao dung nhân ái theo quan niệm “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Bản thân chị Dậu cũng ở trong trạng thái ruột như lửa đốt (“Nhưng để cháo nguội, cháu cho nhà cháu ăn lấy vài cái húp đã. Nhịn suông từ sáng hôm qua tới giờ còn gì”). Chị nhớ rất rõ chồng mình đã một ngày không được ăn, lại còn bị trói và đánh đập dã man nữa. Chị rất lo cho chồng, quên cả nỗi mệt nhọc, tất cả chạy ngược chạy xuôi lo cho đủ mấy đồng bạc SƯU để cứu chồng. Đó là một món tiền lớn đối với gia đình chị – một món tiền mà người lao động quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, phải vất vả lắm nhưng vẫn không kiếm nổi. Chị dồn mọi tình cảm cho anh Dậu: dành cho anh “bát cháo lớn” và “rón rén bưng” đến cho chồng. Lời nói của chị đối với chồng cũng thể hiện tình yêu thương rất mực: “Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột”. Tình cảm vợ chồng
Phân tích tình thế của chị Dậu khi cai lệ và đám tay sai nhà lí trưởng xông đến
Trạng thái anh Dậu là mệt mỏi, đau đớn vô cùng, biểu lộ qua các hành động: “uốn vai ngáp dài một tiếng” (uốn vai chứ không phải vươn vai); anh phải “chống tay xuống phản” mới ngồi dậy được; rồi “vừa rên vừa ngỏng đầu lên” (ngỏng đầu chứ không phải là ngẩng đầu. Khi nói ngẩng đầu ta hiểu là có sự chủ động của chủ thể, còn ngỏng đầu cho thấy trạng thái mệt mỏi, sức khỏe kiệt quệ);….
Cả gia đình chị Dậu đang ở trong tình thế đối mặt với sự đe dọa từ phía bọn cường hào ác bá đang hoành hành trong mùa sưu thuế. Đối mặt với lũ tay sai do tên cai lệ đứng đầu ấy không chỉ có anh Dậu đang sông dở chết dở mà còn có cả chị Dậu, một người đàn bà yêu chồng thương con hết mực. Với chị, bất cứ kẻ nào đụng tới những người mà chị yêu thương đều sẽ phải trả giá.
Chị Dậu rất biết hoàn cảnh mà gia đình mình bị rơi vào. Chị phân trần một cách rạch ròi phân minh: “Nhà cháu đã túng lại phải đóng cả suất sưu của chú nó nữa, nên mới lôi thôi như thế”. Trước hết, chị nhận thức dược trách nhiệm phải đóng sưu, phải đóng thuế thân như một nghĩa vụ bắt buộc mặc dù loại thuế đó là loại thuế bất nhân, vô lí mà chính quyền thực dân phong kiến đặt ra: “Chứ cháu có dám bỏ bê tiền SƯU của nhà nước đâu?”. Còn sự chậm trễ trong việc nạp thuế mà theo cách diễn đạt của chị là “lôi thôi” thì liên quan tới cái chết của người em chồng. Chị không hề oán thán em chồng, vẫn gọi một cách dịu dàng là “chú nó”. Việc chậm trễ này là có lí do xác đáng, mà rắc rối lại nằm ở chỗ chú em chết vào năm ta (tức là âm lịch) mà thuế lại tính theo năm tây (tức dương lịch). Cái “lôi thôi” này trở thành cái cười ra nước mắt, cho thấy chính quyền thực dân ngoài việc tìm mọi cách để bóc lột người dân, chúng còn dùng chính sách ngu dân để cai trị, để tạo cớ đàn áp những người lao động cùng khổ. | Phân tích tình thế của chị Dậu khi cai lệ và đám tay sai nhà lí trưởng xông đến | 900 | |
Phân tích tình yêu của Chí Phèo và Thị Nở
Hướng dẫn
Phân tích tình yêu của Chí Phèo và Thị Nở
Có lẽ mọi người thường nhắc đến tình yêu với những viễn cảnh lãng mạn, đẹp đẽ và tình tứ. Trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao cũng xuất hiện một mối tình khiến không ít người để tâm. Đó là mối tình của Chí Phèo và Thị Nở. Nhưng tình yêu này không hẳn là thứ tình yêu mà mọi người vẫn thường hay nghĩ, mà sâu xa hơn tình yêu ấy còn là lòng thương cảm, là một sự kiện lớn trong nền văn học hiện thực của Việt Nam. Ở đó, Nam Cao đã dùng tình yêu để trao cho nhân vật của mình một cơ hội được làm lại cuộc đời. Nhưng tình yêu dù lớn thế nào cũng vẫn nằm trong khuôn khổ của thực tại. Nhưng điểm khác biệt ở đây là tình yêu ấy được nhà văn thể hiện qua lăng kính của văn học hiện thực nhân đạo, của giai cấp, của xã hội.
Tác phẩm xoay quanh những biến cố trong cuộc đời Chí. Nếu lấy tình yêu làm điểm mốc, ta có thể chia cuộc đời Chí thành hai giai đoạn lớn là trước và sau khi gặp Thị Nở. Trước khi gặp Thị, Chí là một tên lưu manh được Nam Cao miêu tả tóm gọn bằng hai từ “ghê tởm”. Hệ quả ấy là do những tháng ngày trong tù đã nhào nặn Chí từ một người nông dân lương thiện, hiền lành trở thành một con quỷ dữ khiến cả làng vũ đại vừa ghét vừa sợ. Sau khi gặp Thị Nở, cùng với tình yêu chớp nhoáng từ người đàn bà dở hơi ấy, đời Chí đã bước sang một trang mới tươi sáng hơn, tràn đầy niềm tin và hi vọng. Nhưng hạnh phúc chẳng được bao lâu lại vụt tắt khi Thị nghe theo lời bà cô từ chối tình yêu của Chí. Lại một lần nữa Chí rơi vào tuyệt vọng. Nhưng lần này khác với những lần trước, bởi Chí đã ý thức được cuộc đời mình, Chí quyết định giết chết Bá Kiến rồi tự vẫn để giữ bản thân mình nguyên vẹn không bị quay trở lại con đường làm quỷ dữ như trước kia nữa.
Điều đáng nói ở đây là tình yêu của Chí và Thị tuy chỉ là một mối tình chóng vánh, hay còn gọi là tình yêu sét đánh như mọi người vẫn thường hay nói. Nhưng tình yêu này không chỉ đơn thuần dừng lại ở những cảm tính thông thường, ở xác thịt của hai con người nam và nữ, mà hơn hết nó làm thức tỉnh ý thức làm người của một con người đã chìm đắm trong mê muội, trong men say suốt bấy lâu nay. Nhất là khi Chí không còn ý thức về sự tồn tại của mình, còn Thị cũng chỉ là một người đàn bà dở hơi, xấu xí nhưng tình yêu đã làm thay đổi con người của cả hai. Từ một kẻ say xỉn, chuyên rạch mặt ăn vạ sau đêm tình bên bụi chuối đã trở thành một con người hiền lành, giàu tình yêu thương và lòng trắc ẩn.”Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài. Cũng như những người say tỉnh dây, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn.” Lần đầu tiên Chí nhận ra “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!”. Tình yêu làm cho Chí buồn. Nhưng cái buồn ấy là dấu hiệu của hạnh phúc. Bởi biết buồn nghĩa là Chí đã quay trở lại làm một con người bình thường. Không như trước đây, Chí chỉ biết có rượu chứ có biết đâu là buồn hay vui. Rượu và những tiếng chửi chua chát, nghiệt ngã. Giờ đây Chí buồn vì tại sao mình không được yêu sớm hơn, tại sao mình không nhận ra những hương vị thường ngày của cuộc sống, rất đơn giản thôi nhưng đầy thi vị. Khác hẳn với men rượu, với những cơn say. Còn về thị, một người đàn bà tuy dở hơi, xấu xí nhưng không hiểu tình yêu có phép lạ gì mà thị vẫn ý thức được mình phải làm gì khi “người yêu” bị ốm. Thị kéo Chí về lều, nấu cho hắn một bát cháo hành. Là thị, hay là tình yêu của thị đã biến đổi cuộc đời Chí? Thêm vào đó là bát chó hành đầy tình nghĩa, đầy yêu thương càng làm cho Chí xúc động và khát khao được hòa với mọi người, được sống một cuộc sống ấm êm như trước đây Chí từng ước mơ. Chí ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải chăm non con cái, nhà cửa. Có lẽ ước mơ ấy không chỉ của riêng chí mà là của tất cả mọi người nông dân cùng thời lúc bấy giờ.
Câu chuyện tình Chí Phèo – Thị Nở không lãng mạn thơ mộng như các câu chuyện tình của khác nhưng lại là điểm dấu ấn quan trọng cho cuộc đời Chí, cho những biến cố tiếp theo mà Nam Cao đã khéo léo gài dựng. Chưa bao giờ hắn tỉnh táo để “nhớ rằng hắn có ở đời”. Tức trong hắn chỉ tồn tại không phải ý thức mà là một khối u u mê mê, tối tăm đặc quánh, vô cảm, vô thức. Ngay cả sự hiện hữu của bản thân, hắn cũng không nhận thức được, hắn chỉ kinh ngạc rồi cười ngặt nghẽo, cười rũ rượi khi phát hiện ra mình dưới dạng một cái bóng trên đường trăng nhễ nhại, méo mó, xệch xạc. Chính hình ảnh này hướng đến sự ẩn dụ về một dạng tồn tại bất toàn của con người trong xã hội cũ. Con người không được sống thực là chính mình mà chỉ là những cái bóng, nhưng cũng không được là cái bóng của chính mình mà là bóng của giai cấp thống trị nên thành “cái vật xệch xạc, một cái gì đen và méo mó trên đường trăng nhễ nhại”. Với cái bóng đó, với ý thức hiện hữu về sự méo mó của chính mình, Chí Phèo đến với Thị Nở. Đó là cuộc gặp gỡ tất yếu là hệ quả từ hai cuộc đời trống rỗng và bất toàn của hai con người.
Với Nam Cao, tình yêu không đi liền với sự lý tưởng hoá đối tượng, với sự hâm mộ sùng bái người yêu mà bắt đầu chỉ thuần tuý là bản năng. Ánh trăng trong mắt của Chí Phèo đêm gặp Thị Nở mang đầy màu sắc nhục thể, cứ “xanh rời rợi như là ướt nước”. Cây dâu tây gần bờ sông thì “thân mềm oặt”, những tàu chuối trong vườn nhà hắn thì “nằm ngửa, ưỡn cong cong lên” thỉnh thoảng lại “giẫy lên đành đạch như là hứng tình”. Cái bóng – dấu ấn về sự hiện hữu méo mó của bản thân Chí Phèo cũng được phát hiện trong lúc này. Hành động chiếm đoạt Thị Nở của Chí Phèo lúc đầu chỉ thuần tuý là bản năng nhưng chính trong cõi âm u của bản năng ấy một ánh loé diệu kỳ đã bùng dậy hé mở cho ta nhìn thấy bản thể tốt đẹp của con người.
Nhưng sau tất cả, dù thế nào đi nữa, tình yêu vẫn phải gắn liền với thực tế. Mà thực tế lại quá bất hạnh cho cuộc đời Chí khi Chí vốn chỉ là một thằng chuyên đi rạch mặt ăn vạ. Thị dở hơi nhưng người bà cô của thị đâu có dở để cho cháu mình đi lấy một thằng không những không cha không mẹ mà còn lưu manh, dữ tợn. Dù thị có xấu xí đến mức ma chê quỷ hờn thì ngoài kia cũng vẫn còn nhiều thằng đàn ông xứng đáng với thị hơn Chí. Lại thêm một lần nữa, Chí bị đẩy xuống bước đường cùng, xuống tận đáy của xã hội. Nhưng tình yêu đã làm cho Chí thay đổi. Dù Chí vẫn tìm đến rượu và lại say. Nhưng cơn say lần này khác với những cơn say trước kia. Lại thêm hương cháo hành phảng phất lẫn với men rượu càng cho Chí như trở nên điên cuồng với tình yêu vừa bị rũ bỏ. Chí nhắm đích đến cuối cùng của mình chính là Bá Kiến. Chính hắn là kẻ đã khiến Chí trở thành con người tàn tạ như bây giờ. Cũng chính vì thế Chí mới bị thị Nở cự tuyệt. Đúng. Đúng vậy. Chí nhắm đúng lắm. Là Bá Kiến chứ không phải bất kỳ một ai khác đã đẩy Chí từ hết bi kịch này đến bi kịch khác. Lòng thù hận của Chí lại sôi sục nổi dậy. Có lẽ nỗi đau bị cha mẹ bỏ rơi từ khi mới lọt lòng còn không đau bằng nỗi đau bị người mình yêu từ chối. Bởi tình yêu ấy hơn hết tất cả tình yêu khác. Tình yêu ấy đã vực dậy Chí từ những cơn say triền miên, đã đưa Chí đi từ vũng bùn lầy lội của tội lỗi đến với những niềm mơ ước giản đơn mà thánh thiện. Sức mạnh của tình yêu đã đưa hai nhân vật này đến một tâm điểm tuyệt đối của cuộc sống, trong khi thực tại lại không như vậy, nó vẫn tồn tại những định kiến xã hội không dễ buông tha cho con người nên thiên đường tình yêu, khát vọng làm người của Chí rơi tõm vào hiện thực trần trụi và vỡ toang, buộc Chí Phèo phải đối diện với hiện thực với nỗi đau khổ, tuyệt vọng để vùng lên cầm dao giết chết Bá Kiến.
Như vậy, chính tình yêu đã làm thay đổi tất cả. Nhà văn đã rất thành công khi đưa tình yêu lên một bậc cao mới ý nghĩa hơn, cao thượng hơn và có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ hơn rất nhiều những tình yêu đôi lứa thông thường khác. Tình yêu ấy không những làm cho Chí Phèo – Thị Nở bừng tỉnh giữa cuộc đời đầy mê muội mà còn làm cho người đọc có cái nhìn mới tình yêu. Rằng tình yêu rất cao đẹp nhưng luôn đi liền với thực tế hiện tại. Tình yêu và cuộc sống phải hài hòa với nhau mới có thể tạo thành một tình yêu viên mãn và trọn vẹn. | Phân tích tình yêu của Chí Phèo và Thị Nở | 1,825 | |
Phân tích tình yêu của Tiên Dung và Chử Đồng Tử
Hướng dẫn
Phân tích tình yêu của Tiên Dung và Chử Đồng Tử
Hỡi ai đi ngược về xuôi
Nhớ hội Đa Hòa mồng mười tháng hai
Câu ca dao trên gắn với thiên tình sử lãng mạng của chàng trai nghèo Chử Đồng Tử và nàng công chúa Tiên Dung. Chuyên tình yêu giữa hai con người ở hai giai cấp đối lập nhưng đã vượt lên mọi lễ giáo phong kiến, sự phân chia giầu – nghèo để cập bến bờ hạnh phúc. Mối tình đẹp của Chử Đồng Tử – Tiên Dung cũng là hiện thân của khát vọng ước mơ về hôn nhân tự do đồng thời là bài ca đẹp về lòng hiếu thảo đạo làm người của nhân dân ta từ thủa xa xưa.
Mối tình đẹp của Tiên Dung và Chử Đồng Tử có thể nói là mối tình kỳ lạ và vô cùng táo bạo đồng thời gắn bó đầy yêu thương. Trong xã hội phong kiến sự phân chia giai cấp giầu nghèo vô cùng sâu sắc, đặc biệt trong tình yêu thì sự giầu nghèo là một rào cản lớn gần như chẳng thể vượt qua của bao đôi lứa yêu nhau:
Vắn tay với chẳng tới kèo
Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng được em.
Nhưng tình yêu của Chử Đồng Tử và Tiên Dung đâu chỉ là sự phân biệt giầu – nghèo về tiền bạc mà nặng nề hơn đó là sự phân chia giai cấp vô cùng sâu sắc. Tiên Dung là công chúa con gái của vua Hùng. Nàng chính là “lá ngọc cành vàng” sống trong nhung lụa, cao quý ngược lại Chử Đồng Tử là một chàng trai nghèo tới nỗi hai cha con chỉ có một chiếc khố thay phiên nhau mặc. Có câu rằng: “Khố rách áo ôm” để chỉ những con người nghèo khổ, rách dưới nhưng Chử Đồng Tử nghèo đến nỗi không có nổi một mảnh vải che thân dù chàng rất chăm chỉ làm lụng. Qua đó nhân dân ta đã phản ánh cuộc sống khổ cực của người dân lao động lúc bấy giờ, họ chăm chỉ làm ăn nhưng dưới chế độ phong kiến bất công số phận của con người bị vùi dập, chịu khổ đau nghèo đói. Nếu so về thân phận địa vị thì Chử Đồng Tử và Tiên Dung ở hai phía đối ngược không bao giờ có thể hợp nhất nhưng hai con người ở hai tầng lớp khác nhau ấy đã gặp được nhau để xây đắp lên một thiên tình sử lãng mạng. Tiên Dung tuy là công chúa nhưng không ham vinh hoa phú quý. Nàng rất yêu thiên nhiên thường đi thuyên ngắm cảnh muôn nơi: “Mỗi năm vào độ mùa xuân Tiên Dung ngồi thuyền du ngoạn, có khi ra tận biển lắm lúc mê cảnh đẹp quên về”. Đặc biệt Tiên Dung không muốn lấy chồng, chắc hẳn nàng chán ghét những cuộc hôn nhân sắp đặt coi trọng lợi ích mà rẻ rúng hạnh phúc con người. Có thể thấy Tiên Dung là công chúa nhưng nàng không “liễu yếu đào tơ” mà rất tự chủ, yêu cuộc sống tự do. Chử Đồng Tử tuy nghèo nhưng qua hành động chàng không nghe lời cha, không nỡ để cha mình trần về nơi chín suối. Tuy trái lời dặn của cha nhưng khiến ai cũng phải cảm phục trước sự hiếu nghĩa của Chử Đồng Tử. Hai con người khác nhau về địa vị nhưng đều có tâm hồn cao đẹp tình yêu của họ đã lay động đến mọi người.
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ, bất ngờ giữa hai người thật vô cùng táo bạo: “Một hôm thuyền rồng chở công chúa Tiên Dung đến vùng đó. Nghe tiếng chuông, trống đàn sáo lại thấy cờ quạt. Chử Đồng Tử hoảng sợ, chui vào bụi lau ở bãi cát bờ sông, nấp mình xuống đó rồi phủ cát lên người. Tiên Dung lên chơi bãi thấy cảnh thanh tú, sai người hầu quay màn ở bụi lau để làm nơi cho mình tắm, đúng ngay vào chỗ Chử Đồng Tử nấp đến khi Tiên Dung xối nước cát trôi để lộ thân hình trần chuồng của người trai lạ”. Theo quan niệm phong kiến nam nữ thụ thụ bất thân thì cuộc gặp gỡ của Tiên Dung và Chử Đồng Tử thật vô cùng cấm kỵ. Tác giả dân gian đã sáng tạo ra tình cảnh bất ngờ đó âu cũng là hợp lý vì Tiên Dung vốn định cả đời không lấy chồng nay gặp được Chử Đồng Tử lại hỏi rõ sự tình biết chàng là con người hiếu nghĩa nàng đã tự nguyện đến với Chử Đồng Tử: “Tôi nguyện đã không lấy chồng, nay trời run rủi lại gặp chàng chốn này mới biết cưỡng không được với trời…” Sự mạnh bạo của nàng thật chân tình và đáng quý, nàng yêu mến Chử Đồng Tử vì nhân cách tốt đẹp của chàng không hề bận tâm đến địa vị sang hèn. Chử Đồng Tử lúc đầu còn e ngại là phận mình thấp hèn không dám nhận lời nhưng trước lời lẽ chân tình của Tiên Dung chàng cũng thuận lòng: “ Thiếp với chàng là tự trời se duyên việc gì mà từ chối” Tiên Dung hiện lên là hình ảnh một người con gái rất tự chủ nàng đã kết duyên với Chử Đồng Tử mà không xin phép vua cha. Nàng bỏ qua những lễ giáo phong kiến cổ hủ hà khắc tự nắm bắt hạnh phúc của cuộc đời cùng Chử Đồng Tử tạo nên mối tình duyên thật kì diệu và thật đẹp. Qua đó nhân dân ta cũng thể hiện mong ước về tình yêu không bị ngăn cản phân chia bởi địa vị sang hèn mà dược tự do tìm hiểu, được sống hạnh phúc trong tình yêu lứa đôi. | Phân tích tình yêu của Tiên Dung và Chử Đồng Tử | 1,001 | |
Đề bài: Phân tích tình yêu lứa đôi trong bài thơ số 28 của tập Người làm vườn
Bài làm
Đất nước Ấn Độ – ai mà không nghe, không biết dù chỉ một lần về xứ sở thiêng liêng đầy huyền bí ấy. Mỗi chúng ta, ai đã từng thường thức những cuốn phim Ần Độ? Có lẽ khi xem bộ phim “Truyền thuyết tình yêu" chúng ta sẽ thấy được xứ sở lạ lùng ấy. Đó chỉ dừng lại ở một lĩnh vực điện ảnh nhưng khi bạn ngâm nga đôi vần thơ của thi sĩ vĩ đại Tago – vị thánh sư trong trái tim người Ấn – thì cuộc sống, tình yêu đã trở thành một giai điệu tuyệt vời – một thứ “tôn giáo con người” kì diệu nhất! Tình yêu lứa đôi trong thơ Tago đã vượt lên trên mọi bờ cõi đời thường, nó dã nhuộm màu linh thiêng huyền bí mang đậm sắc thái, phong vị của riêng con người Ấn Độ. Bài thơ số 28 thực sự là khúc ca ngân vang, êm dịu nhất cho tình yêu đôi lứa cho tinh yêu rộng mở, bao la trong trái tim thiên tài Tago.
Mở đầu bài thơ, Tago đã để ngòi bút thiên tài của mình như sống dậy, tràn tuôn với lời thơ tình tứ nhất:
Đôi mắt băn khoăn của em buồn
Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh
Ở khúc dạo đầu, “đôi mắt” tình yêu đã hiện diện ra. Phải chăng, Tago muốn lấy “hằng số chung” của tâm hồn thay ngôn ngữ? Không là “đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời và để làm duyên”, đôi mắt em lại băn khoăn muốn nhìn vào "tâm tưởng của anh”. Cái buồn từ đôi mắt ấy nói hộ em biết bao điều. Em muốn tin anh lắm, nhưng em rất sợ anh dối gian em. Em muốn được hiểu hết ngõ ngách hồn anh, tâm tưởng anh. Điều đó có được chăng? Em cố gắng kiểm soát cái biên giới vô hình ấy:
Như trăng kia muốn vào sâu biển cả
Cái khát vọng cùng được hòa nhập tâm hồn, được sống trong anh cứ quấn quýt, ràng buộc lấy em. Sự khát vọng hòa nhập tình yêu ấy được tác giả nâng lên tầm cao vũ trụ. Như vầng trăng lặn sâu và biển cả, đại dương với muôn ngàn con sóng yêu thương rì rào vô tận. Trăng như ghì lấy đại dương, dù rất nhỏ bé trước đại dương nhưng sức lay động kết dính thật kìdiệu. Nhưng cái trăn trở của đôi lứa yêu nhau không chỉ là những trách móc, hờn ghen, những băn khoăn ấy mà dường nhưcó sự nghịch lí lạ lùng.
Anh khống giấu em một điều gì
Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh
Chính vì quá yêu em, yêu em mãnh liệt mà em nghi ngờ anh. Cái nghịch lí này phải chăng chỉ có ở tình yêu? Làm thế nào để em hiểu anh đây? Đọc câu thơ trên tạc hình dung ra ngay người con trai đang thì thầm tâm sự. Tình yêu có ngôn ngữ riêng của nó. Dẫu em không nói ra nhưng đâu cần phải nói mà: Ánh mắt là ngôn ngữ chân thành nhất trong tình yêu (Sêxpia) thì anh cũng đọc được ở đáy mắt em một đôi lời thầm thì, ánh mắt ấy như rực sáng trong anh một ngọn lửa khát vọng yêu đương, hòa hợp tâm hồn. Anh sẽ là biển cả trùng dương cơn sóng vỗ, ru hồn mảnh trăng bằng đợt sóng ngân nga, êm dịu. Như để phơi bày cả tâm hồn mình cho người yêu, nhân vật “anh” trữ tình này ví mình như viên ngọc, đóa hoa, và khát vọng được dàng tặng cho nữ thần tình yêu, vị giáo chủ nhỏ bé của mình:
Nếu đời anh chỉ là viên ngoc
Anh sẽ đập nổ ra làm trăm mảnh
Và xâu thành một chuỗi quàng vào cổ em
Nếu đời anh chỉ là một đóa hoa
Tròn trịa, dịu dàng và bé bỏng
Anh sẽ hái nó ra để đặt lên mái tóc em
Anh nguyện là con chiên ngoan đạo của riêng em. Từ “chỉ” ở đây như xưng tôn giá trị của viên ngọc, của đóa hoa. Em là tác phẩm quý đẹp của thượng đế nhưng anh xin làm ngọc được “quàng vào cổ em ", được là đóa hoa cài lên mái tóc như mây suối ấy, được điểm trang em lên, và tuyệt vời hơn. Đó là ước mơ khao khát trong trái tim anh. Có lẽ chỉ có đôi lứa yêu nhau, yêu nhau với tình yêu cháy bỏng, trung thành mới có được những lời thì thầm chân thành ấy. Nét tâm lí chung chăng? Ta có lần bắt gặp trong lời hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Anh xin làm quán trọ để dừng chân, em ghé chơi… Anh xin làm đá cuội và lăn theo gót hài
Nhưng lời hát này kín đáo, phảng phất tình yêu thầm lặng đơn phương. Tiếp theo lời thơ Tago như đàn, như đệm cho lời tỏ tình của chàng trai. Nhưng lúc này tâm hồn anh như bị xáo động, anh kêu vang khe khẽ:
Nhưng em ơi đời anh là một trái tim
Nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó
Em là nữ hoàng của vương quốc đó
Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu
Có những chiến công ta có thể lập, có những biên giới ta có thể kiểm soát, nhưng chiều sâu và bờ bến tâm hồn mấy ai đo được. Tình yêu của anh trao em là tình "không biên giới”. Trong vương quốc ấy, anh xưng tôn em là nữ hoàng đầy quyền lực. Điều đó hơn ai hết em là người hiểu được nó, và thấu suốt tình yêu của anh, nhưng… em đã làm anh thất vọng… Chỉ có riêng anh mới hiểu được tình yêu của anh sao? Và duy chỉ có anh mới hiểu em muốn nói gì với anh cơ à?
Tiếp theo sau, “anh” thiết tha bày tỏ?
Nếu trái tim anh chỉ là một phút giây lạc thú.
Nó sẽ nở ra thành một nụ cười nhẹ nhõm và em thấu suốt rất
nhanh
Nếu trái tim anh chi là khổ đau
Nó sẽ tan ra thành lệ trong
Và lặng im phản chiểu nỗi niềm u ẩn
Em là tất cả tình yêu của anh. Anh không gian dối. Và anh biết em rất tinh tường. Làm sao anh có thể dối gian em. Những nỗi niềm u ẩn của tình yêu đơn phương hay những phút giây thỏa mãn của thứ tình yêu không đúng nghĩa sẽ một giây phút nào sẽ được lộ diện. Nhưng cả em và anh, chúng ta cùng dạo bước trong thế giới tình yêu kì diệu thiêng liêng, tình yêu song phương tuyệt đỉnh thì có thể nào chứ? Anh muốn van vỉ em như con chiên trước đấng cứu thế.
Nhưng em ơi, trái tim anh lại là tình yêu
Nỗi vui sướng khổ đau của nó là vô biên
Những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu
Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy
Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu.
Tình yêu thánh thiện, tinh nguyên anh đã trao tặng về em, nó vượt lên trên khái niệm của vũ trụ bao la, và anh đã tôn thờ nó, tôn thờ tuyệt đối. Tự bao giờ, trái tim anh “hướng về em một phương". Nhưng có lẽ, em sẽ chẳng bao giờ "hiểu được tình yêu của anh đâu”. Phải chăng đây là điều nghịch lí cứ đeo đẳng hai ta? Lời thơ mỗi lúc như thiết tha, cháy bỏng, và kết thúc một giai điệu ái tình, nhưng âm vang hãy còn ngân đọng. Tình yêu ấy như cốc rượu tràn đầy, càng rót càng say, càng tràn đầy và càng quyến luyến, ngất ngây trong tâm hồn.
Tinh yêu có những lí lẽ nông tư, vi diệu được dệt bằng ánh mắt nụ cười Tago đã thực sự sống trong tình yêu, tôn xưng tình yêu lên thành thứ tôn giáo kì diệu thiêng “Tôn giáo con người”. Những tiếng nói riêng, rất riêng ấy được ngòi bút tác giả thấu suốt, phơi bày. Lời nói của em và anh là những nốt nhạc bổng trầm tạo nên giai điệu riêng của tình yêu đôi lứa. Thiên nhiên cứ như xoắn xít từng lời thơ, câu chữ, cả vũ trụ, đại dương như nới rộng ra và lặng im, ngừng thở, để đôi lứa yêu nhau thầm thì, trách hờn. Nét hờn ghét vô cớ, cái nét băn khoăn từ ánh mắt là những ngôn ngữ vô thanh nhưng nên vần nên điệu, như những cánh cửa thần kì soi thấu tâm hồn họ. Tago thực sự nắm bắt những biến động của thế giới ấy. Ta đã có lần gặp “đôi mắt” ấy xuất hiện ở thơ của ông như thế:
Anh là con chim quen sống cảnh hoang vu
Đã tìm nơi mắt em khung trời của nó
Đôi mắt em là chiếc nôi buổi sáng là vương quốc của trời sao
Tiếng hát anh bay lượn lọt vào chiều sâu của đôi mắt ấy
Trên khung trời này rộng rãi cô đơn và tung cánh bay lên trong ánh mặt trời
Trong thơ Tago, tình yêu lứa đôi là âm chủ vút cao còn dàn nhạc đệm là thiên nhiên hoa cỏ, là chiều cao không gian là chiều sâu biển cả. Tất cả đã hòa kết lại thành. “Ca khúc giao duyên bất hủ. Có lẽ qua đó ta hiểu phần nào tựa đề Nguời làm vườn cho cả tập thơ này chăng?
Đọc bài thơ Tago, mở ra trước mắt cả một thế giới diệu kì, nâng tâm hồn ta bay bổng. Bài thơ được tạo ra từ cả một tình yêu. Có câu danh ngôn:
Tác phẩm nghệ thuật là kết quá tình yêu con người đối với cuộc sống.
Muôn thuở, tình yêu lửa đôi này sẽ sống mãi như một phép tiên, trở thành cây đời. Đọc bài thơ ấy, chúng ta có nghe chăng lời hát du dương.
Tình yêu là chiếc lá xanh, là những đám mây bồng bềnh trong gam nắng
Tình yêu là những cánh chim, là tiếng hát em trong xanh êm đềm
Hãy giữ lấy tình yêu, giữ lấy mùa xuân
Vì tình yêu là chiếc lá, chiếc lá trên cành mãi màu xanh
Vì tình yêu là ánh sáng đem đến cho dời hạnh phúc mùa xuân…
Có thể chăng lấy tiếng hát này là kết thay cho ca khúc bằng thơ của Tago?
Tago sẽ là một “thánh sư” cả trong trái tim chúng ta, trong nền thơ ca thế giới. Tago ra đi vĩnh viễn nhưng tha thiết với đời với tình yêu vẫn còn đọng lại có bài thơ đến nay tôi không thể nào quên được về người.
Ta không còn nữa cây ơi
Thì xin lá mới xuân đòi thay ta
Nhắn người lữ khách đi qua
Rằng thi nhân ấy đã là tình nhân
(R.Togo – Cây)
Và mãi mãi cây xanh, cây đời,cây tình yêu sẽ tiếp nhận lời nhắn nhủ tha thiết của người thi nhân thiên tài của nhân loại. | Phân tích tình yêu lứa đôi trong bài thơ số 28 của tập Người làm vườn | 1,880 | |
Đề bài: Phân tích tình yêu quê hương đất nước trong văn học giai đoạn 1945-1954
Bài làm
Tình yêu quê hương đất nước là cảm hứng lớn của văn học mọi thời đại. Đó cũng là cảm hứng chủ đạo trong thơ giai đoạn 1945 – 1975. Tình yêu này thấm đượm từng ngòi bút, từng trang thơ. Một cô gái "Thăm lúa" nhớ chồng của Trần Hữu Thung, một ''Bài ca vỡ đất" của Hoàng Trung Thông, những anh lính "Tây Tiến" của Quang Dũng, những bà Bầm, bà Bủ của Tố Hữu đến mối tình "Núi đôi" của Vũ Cao… Tất cả đều ấp ủ và chiếu sáng bằng tính cảm quê hương nước. Rồi "Bên kia sông Đuống" của Hoàng cầm, "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi, “Việt Bắc” của Tố Hữu, sâu lắng thiết tha lay động lòng người cũng chính bằng tình quê hương đất nước.
“Thủa còn thơ ngày hai buổi đến trườngQuê hương đất nước là một luỹ tre làng, một giếng nước, gốc đa, một bát rau muống với quả cà dầm tương, một chùm khế ngọt, một cánh cò bay. Những hình ảnh đó có một sức mạnh tuyệt vời từ bao đời nay và in đậm trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Quê hương là nơi sinh ra ta, nuôi ta khôn lớn. Nơi ta đã gửi gắm kỷ niệm của thời thơ ấu:
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ
Ai bảo chăn trâu là khổ
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao"
(Quê hương – Giang Nam)
Tình quê làm ta nhớ lại những buổi chiều tà, đi trên cây cầu tre lắc lẻo, nghe giọng hò quen thuộc, thấy hiện tình những cảnh đẹp giản dị, cao quý gần gũi, dẫu ta đã trưởng thành, đã xa quê:
"Quê ta là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bóng vàng bay"
(Đỗ Trung Quân)
Quê hương cho ta vẻ đẹp không nơi nào có được, sống giữa quê hương, ta chìm đắm trong ảo mộng được nghe tiếng sáo văng vẳng bên tai, với ng lời ru ngọt ngào tươi mát của bà, của mẹ. Những hình ảnh ấy càng làm ta thêm yêu Tổ quốc. Tình yêu ấy đã thôi thúc lớp lớp người lên đường quyết tâm bảo vệ, hi sinh cho đất nước.
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Cỏ một phần xương thịt của em tôi
(Giang Nam)
Hình ảnh "Núi vẫn đôi mà anh mất em" (Núi đôi – Vũ Cao) là tình yêu lứa gắn với đất nước quê hương.
Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm
Đất nước đã nuôi dưỡng chở che tâm hồn con người Việt Nam. Trước vận mệnh của Tổ quốc lâm nguy, con người đã từ giã quê hương lên đường giết giặc. Và tình yêu quê hương đất nước cứ lớn dần. Đó là niềm tự hào của đất nước " Rũ bùn đứng dậy sáng loà" mà thơ văn giai đoạn trước không thể có. Viết về mùa thu đất nước kháng chiến, tác giả của ca khúc nổi tiếng "Người Hà Nội", "Diệt phát xít” đã tạo một bài thơ có nhạc điệu thầm lắng, bâng khuâng mà rất hào hùng.
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trong biếc nói cười thiết tha
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúg ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngã đường bát ngát
Những dồng sông đỏ nặng phù sa
(Đất nước)
Khác với Nguyễn Đình Thi, Hoàng cầm nói đến quê hương bằng những thơ xót xa căm giận. "Bên kia sông Đuống" viết về những ngày khủng khiếp nhất của vùng quê Kinh Bắc. Ruộng khô, nhà cháy, mẹ già bước thấp bước cao trên bờ tre "hun hút” chạy chốn lũ giặc. Em bé trong mơ cũng "thon thót mình" bởi "bóng giặc giầy vò những nét môi sinh". Đó là nổi đau khiến cho " gốc lúa bờ tre hồn hậu" cũng phải "bật lên những tiếng căm hờn". Và nổi đau ấy biến thành lời nguyền phẫn nộ:
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn
Nhưng không chỉ có nỗi đâu uất ức căm giận. Cảm xúc của tác giả "hồn" quê hương, hồn dân tộc đắm đuối suốt cả bài thơ. Từ hình ảnh đầm ấm thanh bình trong quá khứ:
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng – trên giấy điệp
Đến hình ảnh quê hương chìm đắm trong khói lửa chiến tranh:
Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang từng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
Nhà thơ đã dùng hình ảnh truyền thống để gợi rất sâu niềm thương nỗi nhớ, sự tiếc thương của con người trước cảnh quê hương bị giặc tàn phá. "Bên kia sông Đuổng" viết về một vùng quê cổ kính với những truyền thống văn hoá lâu đời và những con người tiêu biểu cho quê hương dân tộc. Màu sắc dân tộc đậm đà trong cái thần thái, cái hồn của tranh Đồng Hồ, của cảnh vật và con người. Hình ảnh cô gái răng đen có " khuôn mặt búp sen" và miệng " cười như mùa thu toả nắng" vừa thể hiện nét riêng của cô gái vùng Quan họ Bắc Ninh vừa là khuôn mặt đáng nhớ đầy kỷ niệm trong ký ức của con người Việt Nam.
Có một tác giả cũng viết rất hay về quê hương đất nước. Đó là Tố Hữu qua “Việt Bắc". Toàn bài thơ là một khúc ân tình, một bài ca chiến thắng của một thời kỳ lịch sử và về một quê hương chung. Quê hương cách mạng trong những ngày "trứng nước" gian nan hiện lên qua "miếng cơm chấm muối" qua mái nhà “ hắt hiu lau xám" và nhất là qua hình ảnh "người mẹ nắng cháy lưng – Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô".
Tố Hữu đã đem cho ta một bức tranh tuyệt diệu về quê hương Cách mạng chan hòa màu sắc, đường nét, âm thanh và ánh sáng đẹp như cảnh đào nguyên:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Viết về quê hương, đất nước trong giai đoạn cách mạng kháng chiến không thể thiếu nhân dân. Nhân dân trở thành hình ảnh cao đẹp của bài thơ Đất nước hôm nay. Hoàng cầm nhớ về những người du kích của quê hương đất nước đã làm giặc Pháp điên, quay cuồng như xéo trên đống lửa và những bà mẹ chiến sĩ đón con đi bộ về trong đêm ấm áp tình quân dân kháng chiến.
Trong “ Đất nước", Nguyễn Đình Thi lắng nghe được tiếng nói truyền thống bất khuất của cha ông:
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Tiếng nói của cha ông từ hào khí Đông A, hào khí Đồng Nai, hào khí Lam Sơn vọng về thúc giục chiến đấu, hi sinh:
Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng
Những người anh hùng đã làm nên gương mặt của đất nước là những con người “ hồn hậu như gốc lúa bờ tre”. Những con người ấy đã giành lại đất nước từ tay kẻ thù để làm nên một hình tượng đất nước mới:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa
Hình ảnh đất nước như một thiên thần từ trong bùn đen đêm tối vươn ra ánh sáng huy hoàng.
Ở Việt Bắc, đất nước là quê hương cách mạng. Bài thơ là khúc ca tình con người kháng chiến với quê hương Cách mạng với nhân dân. Những tình cảm này đan xen, quyện chặt vào nhau mang đến cho nhà thơ sắc thái trữ tình – chính trị.
Tác giả đã sử dụng giọng điệu tâm tình ngọt ngào. Đó là lời của người yêu lời giao duyên để nói lên đạo lí dân tộc – tình nghĩa quân dân và cao hơn nữa là tình người.
Xuyên suốt cả bài thơ là lời nhắc nhở “ xin đừng quên! đừng quên!". Đừng quên tấm lòng son sắc của nhân dân Việt Bắc đối với kháng chiến cách mạng. Xin đừng quên những mái nhà “ hắt hiu lau xám”. Đừng quên những ngày “ thươnq nhau chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”. Nhất là đừng quên cuộc kháng chiến, chính những tháng năm này với củ khoai, củ sắn, đã nuôi nấng và xây đắp tâm hồn con người Việt Nam.
Cảm hứng về quê hương đất nước trong giai đoạn 1945 – 1954 được các nhà thơ thể hiện thật đậm nét. Mỗi nhà thơ đều cảm nhận bằng một nét riêng. Nhưng tất cả tượng hình lên một “ Đất nước" chung. Đất nước đã trưởng thành và tỏa sáng. Tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với tình cảm Cách mạng, với niềm vui giải phóng, với ý thức tự hào dân tộc, của người làm chủ và quyết lâm bảo vệ đất nước. Đất nước này là đất nước của nhân dân, đất nước của Cách mạng.
Đề tài về quê hương đất nước rất đa dạng vì vậy mà mỗi nhà thơ chỉ cảm nhận được từ một góc độ nào đó. Đây là mảnh đất màu mỡ mà bao thế hệ nhà thơ khai thác cũng không bao giờ vơi. Nó như bầu sữa mẹ ngọt ngào nuôi lớn mỗi tâm hồn nhà thơ Việt Nam. Thơ ca 1945-19854 nhìn chung được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Trong thời gian khổ, trong mất mát vẫn yêu đời, yêu quê hương. Các nhà thơ làm thơ – trước hết là phục vụ chiến đấu, với một tình cảm chính trị chân thành nồng thắm.
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người
Mỗi người trong chúng ta chỉ có một quê hương duy nhất đó là nơi sinh ra và nuôi ta khôn lớn. Hình ảnh quê hương đất nước qua nhà thơ như những hành trang tinh thần sẽ theo ta đi suốt cuộc đời. | Phân tích tình yêu quê hương đất nước trong văn học giai đoạn 1945-1954 | 1,793 | |
Phân tích tình yêu thiên nhiên trong bài thơ Cảnh Khuya và Rằm Tháng Giêng
Hướng dẫn
“Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát Đứng bên tè đồng, ngó bèn ni đồng, bát ngát mênh mông. Thân em như chẽn lúa đòng đòng Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.”
Chỉ bằng vài câu dân ca mà đã có thể diễn tả được cảnh đẹp ruộng đồng xanh tươi bát ngát làm cho người đọc, người nghe tăng thêm lòng yêu mến thiên nhiên. Đề tài về thiên nhiên quả thật rất có sức hút với các tâm hồn thi sĩ và từ đó ra đời nhiều tác phẩm nổi tiếng, không phai mờ theo năm tháng như: “Bài ca Côn Sơn” của cụ Nguyễn Trãi, “Cảnh khuya” và “Rằm tháng giêng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và “Xa ngắm thác núi Lư” của thi tiên Lý Bạch. Mỗi bài thơ, mỗi phong cách, mỗi cách viết khác nhau nhưng nội dung đều chất chứa tình yêu mến cảnh thiên nhiên, thể hiện được sự giao hoà trọn vẹn giữa con người và thiên nhiên. Thiên nhiên và con người hoà hợp thành một tâm hồn.
Nếu ai một lần đọc bài thơ “Bài ca Côn Sơn” của cụ Nguyễn Trãi thì sẽ ghi sâu trong lòng một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp và phong cảnh Côn Sơn như hiện ra ngay trứơc mắt mặc dù vẫn chưa một lần đặt chân đến. Đọc hết bài thơ, ta cảm nhận được vẻ đẹp lâm tuyền của Côn Sơn qua bốn cảnh vật thiên nhiên rất dỗi gần gũi: suối, đá, thông, trúc, tầng tầng lớp lớp xuất hiện. Câu thơ đầu tiên, tác giả đã thành công khi miêu tả đêm dã về khuya, không gian tĩnh mịch. Trong không gian im ắng ấy, nổi lên một âm thanh trong trẻo, êm dịu của tiếng suối. Nhà thơ đã ví âm thanh đó như tiếng đàn cầm du dương, tạo cho tiếng suối như có hồn dồng thời chứng tỏ giữa con người với thiên nhiên có sự gần gũi, hoà hợp. Thế rồi ở những câu thơ tiếp theo, cảnh vật ở Côn Sơn phủ lên một màu xanh của rêu, thanh sạch đến độ con người ngồi trên đá rêu phơi mà cứ ngỡ như ngồi trên chiếu êm. Rồi còn màu xanh của thông, của trúc làm cho tâm hồn tác giả cảm thấy thư thái để sáng tác thơ, để cùng chia sẻ với mọi người cảnh vật mà tác giả được thưởng thức, qua đó làm tăng thêm tình cảm của mọi người đối với thiên nhiên.
Một bài thơ khác của Bác Hồ viết về cảnh đẹp nên thơ của thiên nhiên cũng không kém phần nổi tiếng, đó là bài “Rằm tháng giêng” Từng chữ từng câu đều chất chứa niềm vui thưởng thức vẻ đẹp đêm trăng. Còn gì đẹp hơn nữa khi đất trời vào xuân, vạn vật căng đầy sức sống được tổ điểm thêm một vần trăng tròn lồng lộng trên bầu trời tỏa ánh sáng huyền ảo, lung linh xuống mặt sông. Đẹp nhất là có lẽ về khuya, vầng trăng tròn lên cao, toả ánh sáng bàng bạc khắp con thuyền. Chắc có lẽ vì bất ngờ trông thấy cảnh tượng lãng mạn ấy mà Bác đã tạo ra một hình tượng nghệ thuật độc đáo. Chính tài năng này đã đem đến cho người đọc cảm nhận được sự thanh cao, trong sáng của thiên nhiên.
Sau khi đọc xong bốn bài thơ kiệt xuất trên, các bạn có cảm thấy lợi ích to lớn của thiên nhiên mang lại cho chúng ta không? Riêng tôi thì tôi cảm thấy thiên nhiên là nguồn cảm hứng bất tận cho những tác phẩm để đời. Chỉ cần chúng ta thả hồn vào thiên nhiên là có thể cảm nhận được hết cái tinh túy của vẻ đẹp dất trời từ đó loé lên những vần thơ để ghi trên trang giấy. Đây chính là niềm vui mà thiên nhiên mang lại cho những người thích thơ như tôi. Nhưng có thể nói rằng vui nhất là được trực tiếp tận hưởng những nét đẹp của thiên nhiên. Còn gì bằng khi được ngắm nhìn cảnh đồi thông xanh mát, cảnh thác nước hùng vĩ ở Đà Lạt. Rồi còn nữa biết bao nhiêu những phong cảnh tuyệt vời trên khắp đất nước ta… | Phân tích tình yêu thiên nhiên trong bài thơ Cảnh Khuya và Rằm Tháng Giêng | 748 | |
Phân tích tình yêu thiên nhiên trong thơ Bác (Hồ Chí Minh)
Hướng dẫn
Phân tích tình yêu thiên nhiên trong thơ Bác (Hồ Chí Minh)
Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa của thế giới trong thế kỉ 20. Người còn là một nhà thơ lớn của dân tộc, để lại nhiều thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt.
Hồn thơ Hồ Chí Minh mênh mông bát ngát tình (Hoàng Trung Thông). Ngoài tình yêu nước sâu nặng, tình thương người tha thiết, Hồ Chí Minh đã hướng tâm hồn mình về thiên nhiên tạo vật với bao tình yêu thương nồng hậu. Có thể nói tình yêu thiên nhiên là một tình cảm đẹp, trong sáng trong thơ Hồ Chí Minh.
Thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận của tao nhân mặc khách xưa nay. Các nhà thơ đời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ,… các nhà thơ cổ điển Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến,… đều có những bài thơ tuyệt tác viết về thiên nhiên hùng vĩ, hoa lệ, nên thơ. Thơ Hồ Chí Minh, đặc biệt là Nhật kí trong tù cũng đã dành cho thiên nhiên một vị trí danh dự. Mặt trời tỏa sáng trong thơ Bác, là biểu tượng cho khác vọng tự do:
Trong ngục giờ đây còn tối mịt
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi
Người hay nói đến trăng, trăng tròn, trăng sáng, trăng thu. Ở trong tù không rượu cũng không hoa, nhà thơ ngắm trăng qua song sắt nhà tù. Trăng được nhân hóa, xuyên qua cửa ngục ngắm nhà thơ trong mối tình tri âm tri kỉ. Trăng và nhà thơ giao hòa giao cảm. Trong ngục tối, nhà thơ hướng tới vầng trăng sáng với tâm hồn thanh cao, với phong thái ung dung tự tại và tinh thần lạc quan yêu đời.
Trải qua 14 tháng tù đày, trên những chặng đường khổ ải bị giải lui giải tới khắp 13 huyện của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, nếm đủ mùi cay đắng, Hồ Chí Minh với dũng khí không chịu lùi một phân, không nao núng tinh thần, với tâm thế tinh thần ở ngoài lao, đã lấy thiên nhiên làm nơi nương tựa tâm hồn mình. Một ánh trăng đêm, một giọt sương mai, một khóm chuối dưới trăng lạnh, một tiếng chim rừng, một mùi thơm hương hoa… được Người đón nhận một cách say mê và tự do. Rất ung dung và yêu đời, bị tù đày mà ung dung, lạc quan và yêu đời:
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng;
Vui say ai cấm ta đừng,
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu.
(Trên đường)
Bị trói, bị giải đi lúc Gà gáy một lần đêm chửa tan, nhà thơ ngước mắt nhìn lên bầu trời thu, hướng về ánh sáng mà đi tới, cảm thấy trăng sao cùng đồng hành trên con đường xa gió rét:
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn
(Giải đi sớm)
Núi cao trập trùng là để đo tầm vóc và nghị lực của người đi đường. Có chiêm lĩnh được đỉnh cao chót mới giành được hạnh phúc, mới tận hưởng vẻ đẹp bát ngát của nước non trải dài muôn dặm. Cảm hứng vũ trụ được diễn tả đầy thi vị:
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
(Đi đường)
Thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh có lúc mang vẻ đẹp cổ điển như Chiều tối. Một cánh chim mỏi bay về rừng tìm cây trú ẩn. Một áng mây lẻ loi lơ lửng trôi giữa bầu trời. Nhà thơ phóng bút, phác họa một vài nét, lấy điểm để gợi diện, lấy động để tả tĩnh… từ cánh chim và áng mây mà làm hiện lên cái vắng lặng êm đềm, cái mênh mông của bầu trời lúc chiều tối nơi xóm núi xa lạ. Cảnh thiên nhiên đẹp mà thoáng buồn qua cảm nhận người đi đày:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Ngoại cảnh và tâm cảnh đồng điệu; cánh chim và áng mây kia trở thành mảnh tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng trên con đường đi đày nơi đất khách quê người.
Bài thơ Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh thể hiện một cái nhìn ấm áp, trìu mến của Bác đối với thiên nhiên và cuộc sống con người. Mặc dù đôi chân đang bị trói, bị treo lên như tội xử tử treo cổ (giảo hình), nhưng với tâm thế làm chủ hoàn cảnh, Người vẫn tự do thưởng thức cảnh đẹp. Một chiếc thuyền câu bơi nhẹ trên dòng sông, cảnh sắc đông vui của xóm làng quê đôi bờ sông đã ôm trọn tâm hồn thi nhân. Nếu không có một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống dào dạt nếu không có một tinh thần lạc quan, không thể có tâm hồn đẹp, vần thơ đẹp như vậy:
Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh,
Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình;
Làng xóm ven sông đông đúc thế,
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.
Thơ viết trong cảnh tù đày của Hồ Chí Minh làm hiện lên một thế giới tạo vật hữu tình nên thơ. Trong cảnh nhà tù tối tăm lạnh lẽo, Người thao thức hướng về ánh sáng như hướng về tự do. Lúc thì Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu, lúc thì nhìn trăng sao qua cửa ngục và cảm được cái lạnh cùng khóm chuối:
Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh,
Nhòm song Bắc đẩu đã nằm ngang.
(Đêm lạnh)
Bài thơ Mới ra tù tập leo núi có hai câu thơ đầu tả cảnh mây núi hùng vĩ ôm ấp quấn quýt nhau rất thi vị hữu tình. Cảnh sắc mây núi, lòng sông mang màu sắc cổ điển đầy ấn tượng:
Lòng sông gương sáng bụi không mờ.
Bức tranh sơn thủy được sáng tạo nên trong niềm vui tự do. Nó còn mang ý nghĩa thẩm mĩ tượng trưng cho tấm lòng trong sáng, thủy chung của con người.
Cuộc đời cách mạng của Hồ Chủ tịch vô cùng sôi nổi và phong phú. Thơ của Người viết trong nhà tù, viết trên những nẻo đường cách mạng và kháng chiến đều chứa chan một tình yêu lớn mênh mông yêu nước, yêu người, yêu cỏ hoa (Hoàng Trung Thông). Thiên nhiên Việt Bắc để lại dấu ấn tươi đẹp, sinh động trong thơ Bác. Là cảnh suối đá, cổ thụ, trăng hoa trong Cảnh khuya:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Là cảnh chim rừng, hoa núi quanh ngôi nhà sàn chiến khu của lãnh tụ:
Đọc sách chim rừng vào cửa đậu,
Phê văn hoa núi ghé nghiến soi.
Là cảnh rạng đông thời máu lửa trên dòng sông Đáy. Màu hồng tráng lệ tượng trưng cho chân trời thắng lợi đang ở gần phía trước. Vần thơ sáng bừng màu sắc tươi đẹp và niềm vui:
Thuyền về trời đã rạng đông,
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi
Tóm lại, tình yêu thiên nhiên là tình cảm đẹp trong sáng, nồng hậu trong thơ Hồ Chí Minh. Người đã sáng tạo nên những vần thơ hàm súc, giàu hình tượng, mang vẻ đẹp cổ điển, cỏ hoa trăng ngàn, dòng sông, vách núi, chim hót, vượn kêu… hiện diện trong thơ Bác đã mở ra bao không gian nghệ thuật đáng yêu. Tâm hồn Người trong sáng, phong thái Người ung dung nên thơ viết về thiên nhiên của Người mới đẹp như thế. | Phân tích tình yêu thiên nhiên trong thơ Bác (Hồ Chí Minh) | 1,259 | |
Đề bài: Phân tích tình yêu trong Chí Phèo của Nam Cao
Bài làm
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao xưa và nay vẫn được xem là một truyện ngắn tiêu biểu, xuất sắc của văn học sáng tác theo khuynh hướng hiện thực phê phán. Tác phẩm được chú ý khai thác ở các khía cạnh tố cáo xã hội phi nhân tính, sự áp bức của giai cấp thống trị, số phận con người bị tha hoá… nhiều hơn là nhìn từ góc độ tình yêu. Toàn bộ nội dung, kết cấu tác phẩm gắn liền với cuộc đời của nhân vật chính là Chí Phèo, có một chi tiết đáng lưu ý là: các biến cố làm nên những đổi thay to lớn, những bước ngoặt trong cuộc đời Chí Phèo cũng như trong kết cấu tác phẩm lại đến từ hình bóng những người đàn bà. Tuy nhiên có bóng dáng đẩy Chí Phèo vào chốn tăm tối những cũng có gương mặt tuy xấu xí nhưng lại đưa Chí Phèo ra nơi ánh sáng của cõi minh triết.
Cuộc đời Chí Phèo đột nhiên chuyển hướng do việc tiếp xúc miễn cưỡng với bà Ba Bá Kiến, một người “đàn bà phốp pháp, má hây hây”, để từ một anh nông dân hiền lành chất phác trở thành một tên tù, một tên lưu manh mất hết nhân tính, mất luôn cả ý thức về mình lẫn ý thức làm người. Tuy nhiên, lần gặp gỡ với Thị Nở lại mang đến một hệ quả ngược, nó làm đảo lộn tất cả. Chính cuộc gặp gỡ với Thị Nở chứ không phải một biến cố xã hội nào đã làm thay đổi toàn bộ cuộc đời Chí Phèo và quyết định số phận của cả Chí Phèo lẫn Bá Kiến. Chút tình cảm tưởng chừng rất vu vơ giữa Chí Phèo và Thị Nở ấy đã tác động, chi phối một cách sâu sắc đến quan hệ giữa Chí Phèo và Bá Kiến.
Từ đó có thể thấy không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao đã xây dựng nhân vật Chí Phèo bắt đầu từ buổi tối trước khi gặp Thị Nở, cái buổi tối mà hắn “vừa đi vừa chửi”, để rồi từ đó mối quan hệ dây mơ rễ má với Bá Kiến, những khúc, đoạn trong cuộc đời Chí Phèo như một cuốn phim quay chậm được tái hiện. Tất cả những chi tiết này có tính chất như một đường truyền, một lời đề dẫn hay như những hoạ tiết có tính chất phông nền để làm nổi bật tác động của tình yêu, tình người đến cuộc đời Chí qua nhân vật Thị Nở.
Một trong những đặc trưng phong cách của Nam Cao là sử dụng những yếu tố trái khoáy, ngược nhau để mô tả hiện thực. Tên của tác phẩm cũng thường hàm chứa một điều trái khoáy như Lang rận, Chí Phèo, Tình già… Bản thân sự tồn tại nhếch nhác của nhân vật Lang rận cùng với vẻ bề ngoài bẩn thỉu là một sự trái ngược, mâu thuẫn với nghề nghiệp, vị thế xã hội mà nhân vật mang vác. Tất cả những đối nghịch đó được thâu tóm trong một cái tên: Lang rận, và được khắc sâu hơn trong sự tương phản giữa vẻ bên ngoài nhếch nhác, thấp kém với đời sống tâm hồn cao đẹp. Hay trong truyện Nửa đêm, người cha có tên là Thiên Lôi nhưng lại đặt tên con là Đức – như hai mặt của một quá trình biện chứng nhân quả…v.v.
Từ những chi tiết đó có thể hiểu tại sao Nam Cao lại lạ hoá câu chuyện tình Chí Phèo – Thị Nở như vậy. Không lãng mạn thơ mộng như các câu chuyện tình của Tự Lực Văn Đoàn, buổi tối gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở bắt đầu bằng hình ảnh Chí Phèo “vừa đi vừa chửi… chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo”, cuộc đời hắn chìm trong những cơn say. Chưa bao giờ hắn tỉnh táo để “nhớ rằng hắn có ở đời”. Tức trong hắn chỉ tồn tại không phải ý thức mà là một khối u u mê mê, tối tăm đặc quánh, vô cảm, vô thức. Ngay cả sự hiện hữu của bản thân, hắn cũng không nhận thức được, hắn chỉ kinh ngạc rồi cười ngặt nghẽo, cười rũ rượi khi phát hiện ra mình dưới dạng một cái bóng trên đường trăng nhễ nhại, méo mó, xệch xạc. Chính hình ảnh này hướng đến sự ẩn dụ về một dạng tồn tại bất toàn của con người trong xã hội cũ. Con người không được sống thực là chính mình mà chỉ là những cái bóng, nhưng cũng không được là cái bóng của chính mình mà là bóng của giai cấp thống trị nên thành “cái vật xệch xạc, một cái gì đen và méo mó trên đường trăng nhễ nhại”. Với cái bóng đó, với ý thức hiện hữu về sự méo mó của chính mình, Chí Phèo đến với Thị Nở. Đó là cuộc gặp gỡ tất yếu là hệ quả từ hai cuộc đời trống rỗng và bất toàn của hai con người.
Thị Nở trước khi gặp Chí Phèo vốn chỉ là một thực thể không có đường nét cá tính gì đặc biệt mà còn khùng khùng dại dại, còn dung nhan là những đường nét tự nhiên, thô mộc đến mức dị hợm: trên một khuôn mặt ngắn ngủn, có cái mũi “vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành” và một đôi môi “cũng cố to cho không thua cái mũi” hơn nữa, lại dày và có “màu thịt trâu xám ngoách”. Toàn bộ “nhan sắc” của Thị Nở được Nam Cao tóm lại trong một nhận xét là “xấu đến ma chê quỷ hờn”. Từ hai cuộc đời, hai thân phận khiếm khuyết, hai trí tuệ mông muội tăm tối của Chí Phèo – Thị Nở, Nam Cao đã để cho họ kết hợp lại như một sự liên kết hoàn hảo để tạo ra một con người mới thống nhất trong sự bừng nở trở lại của một trí tuệ minh triết. Đó là Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở.
Với Nam Cao, tình yêu không đi liền với sự lý tưởng hoá đối tượng, với sự hâm mộ sùng bái người yêu mà bắt đầu chỉ thuần tuý là bản năng. Ánh trăng trong mắt của Chí Phèo đêm gặp Thị Nở mang đầy màu sắc nhục thể, cứ “xanh rời rợi như là ướt nước”. Cây dâu tây gần bờ sông thì “thân mềm oặt”, những tàu chuối trong vườn nhà hắn thì “nằm ngửa, ưỡn cong cong lên” thỉnh thoảng lại “giẫy lên đành đạch như là hứng tình”. Cái bóng – dấu ấn về sự hiện hữu méo mó của bản thân Chí Phèo cũng được phát hiện trong lúc này. Hành động chiếm đoạt Thị Nở của Chí Phèo lúc đầu chỉ thuần tuý là bản năng nhưng chính trong cõi âm u của bản năng ấy một ánh loé diệu kỳ đã bùng dậy hé mở cho ta nhìn thấy bản thể tốt đẹp của con người.
Nam Cao đã vượt trước những nhà văn của thời đại ông ở chỗ không dừng lại ở những tình yêu lý tưởng thuần tuý tinh thần như của Loan và Dũng trong Đoạn Tuyệt (Khái Hưng), Lan và Ngọc trong Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng), Thanh và Ngọc trong Dòng sông Thanh Thuỷ (Nhất Linh), mà ông đã hợp nhất tình yêu trong sự hoà hợp tinh thần và thể xác. Đó là những chi tiết làm căn cứ để khẳng định đây là tình yêu chứ không thuần tuý là bản năng khi Nam Cao tiếp tục miêu tả thêm lúc Chí Phèo đau bụng và ói mửa, được Thị Nở dìu về lều… Hành động ban đầu là bản năng đã làm sống dậy tình yêu, sống dậy phần nhân tính tưởng không có hay đã chết trong con người của cả Chí Phèo lẫn Thị Nở. Ở đây có sự tái sinh, phục sinh của tinh thần nhờ tình yêu và sự gắn kết hai thân xác. Nó đã cải hóa, tái sinh Chí Phèo, tình yêu cho Chí Phèo và Thị Nở ý thức về chính mình. Trước đây, họ chỉ là hai khối mông muội, Chí Phèo thì hung bạo và triền miên trong vô thức và những cơn say vô tận: “Ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt chửi bới dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say để rồi say nữa, say vô tận”. Vậy nhưng trong tình cảm với Thị Nở, Chí Phèo đã tìm thấy chính mình, khám phá ra chính mình, hơn thế nữa khám phá ra sự sống. Con người ý thức, con người cảm xúc của Chí Phèo sống dậy.
Lần đầu tiên hắn tỉnh hẳn rượu, đó là cái tỉnh của ý thức. Tại sao Chí Phèo “càng uống lại càng tỉnh ra?”. Bởi vì tình yêu của hắn và Thị Nở đã làm thay đổi tâm điểm cuộc sống của hắn. Tâm điểm đó đã trượt từ cõi u minh của vô thức những ngày trước đây về với cõi thực tại, bắt Chí Phèo thừa nhận một thực tại cuộc sống đang tồn tại dù có hay không có hắn. Nó định vị tâm điểm cuộc sống của Chí Phèo từ những cơn say nghiêng ngả vào một cuộc sống bình thường. Chính vì vậy mà hắn tỉnh, hắn đã nhìn thấy chính bản thân mình. Thấy “bâng khuâng” rồi “lòng mơ hồ buồn”rồi “nghĩ vẩn vơ”… Thị Nở cũng thế, lần đầu tiên Thị lắng nghe cảm xúc của tâm hồn mình để “trằn trọc” “nghĩ ngợi” “tưởng tượng bâng quơ”.v.v..
Những giới hạn của cuộc đời Chí Phèo như đã được phá bỏ, nó mở rộng, liên thông với cuộc đời bên ngoài. Chính tình yêu đã mở thông lối về với cuộc đời của Chí Phèo, hắn cảm nhận được cuộc sống xung quanh: “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!”.
Tình yêu cũng gia tăng thêm kích thước cho cuộc đời hắn. Trước đây Chí Phèo vô cảm, vô tâm, không có ý thức về chính bản thân mình nhưng nay hắn có cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là quá khứ với những kỷ niệm yêu thương đầm ấm, là mùi hương từ bát cháo hành và những săn sóc ân cần của Thị Nở, những kỷ niệm xa xưa cũng hiện về. Hắn từng mơ tới một viễn cảnh bình yên với chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải… hắn còn sợ già, sợ cô độc và muốn làm hòa với mọi người, muốn làm người lương thiện. Sự chuyển vị này là hệ quả tất yếu do tình yêu đem lại, nó khắc họa một cách sâu sắc bản thể bất toàn và cô độc của Chí Phèo lẫn Thị Nở trước khi yêu và được yêu. Chính tình yêu đã bù đắp khiếm khuyết trong tâm hồn, tái sinh một cuộc đời và làm giàu có đời sống nội tâm của nhân vật này rất nhiều.
Chính vì thức tỉnh, vì đã được khai hóa và giàu có nhờ tình yêu nên khi bị Thị Nở từ chối “và ngoay ngoáy cái mông đít ra về”, Chí Phèo mới cảm thấy tuyệt vọng và đau khổ. Sức mạnh của tình yêu đã đưa hai nhân vật này đến một tâm điểm tuyệt đối của cuộc sống, trong khi thực tại lại không như vậy, nó vẫn tồn tại những định kiến xã hội không dễ buông tha cho con người nên thiên đường tình yêu, khát vọng làm người của Chí rơi tõm vào hiện thực trần trụi và vỡ toang, buộc Chí Phèo phải đối diện với hiện thực với nỗi đau khổ, tuyệt vọng để vùng lên cầm dao giết chết Bá Kiến.
Lời chì chiết của bà cô Thị Nở như là một chi tiết “giải thiêng” tình yêu của Chí Phèo. Nó thực tế, trần trụi đến tàn nhẫn. Đó là cái giá mà Chí Phèo và Thị Nở phải trả để đến với nhau, những thành trì xung quanh tình yêu ấy không dễ gì phá nên Chí Phèo tự kết liễu đời mình là một cách chọn lựa thích hợp nhằm chối bỏ sự thỏa hiệp, quay lại cuộc sống trước kia.
Sau những tác phẩm về tình yêu của Tự Lực Văn Đoàn của chủ nghĩa lãng mạn thì Chí Phèo của Nam Cao là một khám phá. Bởi Nam Cao vẫn viết về tình yêu nhưng không phải về bản thân tình yêu Chí Phèo – Thị Nở, mà sâu xa hơn, Nam Cao muốn hướng người đọc đến những vấn đề ngoài tình yêu. Đó là vấn đề về văn hóa, về con người và xã hội, về bản năng và vô thức, những ý niệm về thân phận con người, sự tự do thoát khỏi những buộc ràng của định kiến xã hội, khao khát làm người. Chính vì vậy tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao không mang dáng dấp của truyện tình theo nghĩa thông thường ta vẫn hiểu, cũng không chuyển tải nội dung tình yêu theo cách thông thường mà theo một cách rất trái khoáy, rất nghịch dị mang dấu ấn riêng của Nam Cao. Nó làm cho hiện thực cuộc sống không còn bị gò ép trong cái khuôn khổ thông thường, quen thuộc trong cái nhìn của mọi người mà hiện ra một cách đột ngột bất ngờ tạo sự ngạc nhiên trong cảm nhận. | Phân tích tình yêu trong Chí Phèo của Nam Cao | 2,354 | |
Phân tích tình yêu trong hai bài thơ Vội vàng và Mùa xuân chín
Bài làm
Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới (1930 -1945) nhưng mỗi người có một phong cách riêng. Nét riêng của hai nhà thơ nổi tiếng này đã được Hoài Thanh khái quát trong Thi nhân Việt Nam. Nếu Xuân Diệu được xem là “nhà thơ mới nhất” thì Hàn Mặc Tử được coi là nhà thơ lạ nhất” trong những nhà Thơ mới. Cả hai đều nói đến mùa xuân, tình yêu, tuổi trẻ nhưng mỗi người có một cách nói riêng. Điều đó thể hiện khá rõ trong hai bài thơ tiêu biểu: Vội vàng (Xuân Diệu) và Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử).
Với Xuân Diệu thì mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu gắn bó hết sức mật thiết. Trong bài thơ Vội vàng, Xuân Diệu viết:
‘Của ong bướm này đây tuần tháng mật; /
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây tá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si…”.
Nhà thơ đã nắm bắt được những nét đặc trưng của mùa xuân. Mùa xuân là mùa của ong bướm, cỏ cây, hoa lá… Mùa xuân trong thơ Xuân Diệu tràn đầy sức sống. Sức sống của mùa xuân cũng chính là sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ. Không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu chọn “Này đây lá của cành tơ phơ phất. “Cành tơ’ là sự non tơ, gợi cho người đọc liên tưỏng đến những chàng trai tơ, những cô gái tơ. Xuân Diệu rất sợ thời gian cướp mát tuổi xuân:
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già”.
Nhà thơ hiểu một cách sâu sắc quy luật của đời người:
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!’’.
Mùa xuân trong thơ Xuân Diệu không chỉ gắn với tuổi trẻ mà còn gắn với tình yêu lứa đôi. Xuân Diệu là người yêu vồ vập, sôi nổi, đắm đuối. Chỉ có nhà thơ mới biết được “tuần tháng mật” của ong bướm; chỉ có nhà thơ mới nghe được “khúc tình si” của yến anh; và cũng chỉ có nhà thơ mới cảm nhận được “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Nhà thơ muốn tận hưởng vẻ đẹp của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ:
“Ta muốn ôm
cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!’’.
Hàn Mặc Tử cũng viết về mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu nhưng không vồ vập, sôi nổi, đắm say như Xuân Diệu mà trầm tĩnh, nhẹ nhàng, sâu lắng. Mở đầu bài thơ Mùa xuân chín là khung cảnh:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lâm tẩm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang".
Mùa xuân về lặng lẽ và êm ái. Ấm của các từ lan, tan, vàng, sang vừa đủ để diễn tả bước đi hết sức khẽ khàng của mùa xuân. Thi sĩ cảm nhận một cách tinh tế sự biến đổi không gian. Đúng vào thời điểm “khói mơ tan” cũng là lúc ‘sđôi mái nhà tranh lấm tấm vàng". Từ láy "lấm tấm” làm cho màu vàng của những mái tranh cứ hiện dần lên. “Lấm tấm” còn cho ta biết “tầm nhìn xa” của thi sĩ. Nếu Xuân Diệu nghe được “khúc tinh si” của yến anh thi Hàn Mặc Tử cũng nghe được “sột soạt gió trêu tà áo biếc” trên giàn thiên lí. Thiên nhiên dưới con mắt của Hàn Mặc Tử không đắm say nhưng cũng tình tứ lắm. Nếu Xuân Diệu khoe “Này đây hoa của đồng nội xanh rì” thì Hàn Mặc Tử chỉ lặng lẽ tả “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. Và trong cái khung cảnh mùa xuân tràn đầy sức sống đó xuất hiện “Bao cô thôn nữ hát trên đồi”. Họ đang hát một cách say sưa. Thi sĩ vừa nghe, vừa nhìn, vừa cảm:
“Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thì với ai ngồi dưới trúc.
Nghe ra ý vị và thơ ngây”,
Ở đây có sự hoà hợp giữa mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu. Các cô thôn nữ tươi trẻ đang hát những bài hát về tình yêu trong một không gian mùa xuân thật thoáng đãng. Đó là mùa xuân đang xanh. Còn đây mới là cái cảnh mùa xuân chín:
“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng chợt nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”.
Phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới phát hiện được những nét tương phản của hai bức tranh. Một bên “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời". Còn bên kia “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. Cái xanh tươi của cỏ đối lập với cái chang chang của nắng. Một bên “bao cô thôn nữ hát ừên đồi”. Còn bên kia “chị ấy năm nay còn gánh thóc”. Cô và chị, bao cô và chị ấy, hát trên đồi và gánh thóc dọc bờ sông. Một bên còn xuân xanh, một bên đã qua thời tuổi trẻ. Bên thì đông vui, bên thì lặng lẽ một mình. Từ hình ảnh “Chị ấy năm nay còn gánh thóc /Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” mà Hàn Mặc Tử ngậm ngùi cho bao cô thôn nữ ở trên kia: “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi!”. Đó là quy luật không ai có thể cưỡng được. Thi sĩ biết vậy mà vẫn tiếc thầm cho họ và cả thầm tiếc cho mình, tiếc cho cái tuổi thanh xuân một đi không bao giờ trỏ lại.
Rõ ràng cùng viết về mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu nhưng Vội vàng của Xuân Diệu và Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử có những cách thể hiện khác nhau. Mỗi cách thể hiện có cái hay riêng. Tôi thích sự vồ vập, sôi nổi, đắm say của Xuân Diệu nhưng tôi cũng thích sự trầm tĩnh, nhẹ nhàng, sâu lắng của Hàn Mặc Tử. TÔI thích những cái mới trong thơ Xuân Diệu nhưng tôi cũng rất thích những cái lạ trong thơ Hàn Mặc Tử. Chính cá tính sáng tạo làm nên nét riêng độc đáo của từng nhà thơ. Nói như đại thi hào Nguyễn Du “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Nhưng dù viết theo phong cách nào, trường phái nào thì cái đích cuối cùng của nhà thơ là làm được những bài thơ hay, vượt qua sự sàng lọc khắt khe của thời gian như hai bài thơ Vội vàng và Mùa xuân chín | Phân tích tình yêu trong hai bài thơ Vội vàng và Mùa xuân chín | 1,176 | |
Đề bài: Phân tích tính chất bi tráng ở bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Bài làm
Tính chất bi tráng luôn bao hàm cả hai yếu tố “bi” và “tráng”, đau thương và cao cả.
Cả hai yếu tố này gắn bó, cái bi làm nền, tôn vinh sự hùng tráng, cao cả. Tính chất bi tráng ở bài thơ Tây Tiến thể hiện ở:
– Sự miêu tả trực tiếp, không né tránh những khắc nghiệt, nguy nan luôn rình rập người lính Tây Tiến trên những bước đường hành quân (địa hình hiểm trở, thú rừng hung dữ, bệnh tật…). Đặc biệt. Quang Dũng đã không ngần ngại khi nói đến cái chết, điều mà văn học kháng chiến trong thời gian dài thường né tránh:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Áo bào thay chiếu anh về đất
– Nhưng khi miêu tả những cảnh đau thương, kế cả cái chết, lời thơ Quang Dũng không làm mềm lòng người đọc. Trái lại, tính chất hùng tráng đã bật lên từ cái bi, bởi đó là cái chết vì lí tưởng cao cả (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh) cái chết đã hóa thành bất tử (Áo bào thay chiếu anh về đất).
– Góp phần tạo nên vẻ đẹp bi tráng ở Tây Tiến là những nét đặc sắc về nghệ thuật. Hàng loạt từ Hán Việt (biên giới, biên cương, viễn xứ, chiến trường…), âm thanh gầm thét của sông Mã đã góp phần mang tính chất nghi lễ. Cần lưu ý là nói đến cái chết, nhưng Quang Dũng không dùng động từ “chết”. Cái chết đối với người lính Tây Tiến là một sự dâng hiến và khi đã dâng hiến thì họ trở về với đất nước, ở trong sự chở che, đùm bọc của Tổ quốc. | Phân tích tính chất bi tráng ở bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng | 301 | |
Đề bài: Phân tích tính cách nhân vật cô Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải
Bài làm
Nguyễn Khải được coi là cây bút khá nổi tiếng của văn xuôi nước ta từ sau rách mạng tháng Tám. Những sáng tác văn chương của Nguyễn Khải phản ánh sinh động và khá chân thật quá trình vận động của cả nền văn học từ thời chiến tranh sang thời hòa hình. Trong những sáng tác trước năm 1977, Nguyễn Khải chủ yếu quan tâm đến các vấn đề mang tính thời sự chính trị. Và những sáng tác của ông từ năm 1978 về sau ông lại quan tâm nhiều hơn về cuộc sống đời thường. Ông đi sâu phản ánh và phân tích những diễn biến tâm lí khá phức tạp nhưng rất hợp lí của con người trong thời đại sau chiến tranh. Một người Hà Nội rút từ tập truyện Hà Nội trong mắt tôi là một tác phẩm tiêu biểu cho ngòi bút Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Trong truyện Một người Hà Nội Nguyễn Khải đã xây dựng khá thành công hình tượng nhân vật bà Hiền – một nhân vật khá tiêu biểu cho người Hà Nội.
Phân tích truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
Một người Hà Nội nói riêng và cả tập truyện Hà Nội trong mắt tôi nói chung là chứa đựng một tình yêu sâu nặng với Hà Nội với những hiểu biết sâu sắc và tinh tế của Nguyễn Khải về nét đẹp của cảnh vật và con người Hà Nội.
Cô Hiền xuất thân từ một gia đình giàu có, lương thiện, có học thức, yêu thích thơ văn. Cô Hiền đẹp, thông minh, được bố mẹ cho phép mở phòng tiếp khách văn chương, vẻ đẹp của cô Hiền là một vẻ đẹp khá toàn diện được tác giả thể hiện qua nhiều góc độ khác nhau, từ cách chọn người bạn trăm năm đến việc thu xếp việc nhà, sinh con và răn dạy con cái.
Về hôn nhân, cô Hiền đã vượt qua thói thường tình của con người, cô không ham danh, hám lợi, không cơ hội, không lính toán. Cô có một quan điểm rất nghiêm túc đúng đắn về hôn nhân. Là một phụ nữ có nhan sắc, yêu văn chương, thời còn con gái tiếp xúc nhiều với những văn nhân nghệ sĩ, nhưng cô lại không sống theo lối sống lãng mạn, viễn vông. Cô cũng chả hứa hẹn gì với đám nghệ sĩ, văn nhân, đùa vui một thời son trẻ thế là đủ. Cô chọn người bạn đời của cô cũng không phải là một ông quan nào mà là một ông giáo cấp tiểu học, hiền lành, chăm chỉ, khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc. Cô Hiền luôn đặt trách nhiệm làm vợ, làm mẹ lên trên mọi thú vui khác. Cô coi việc phụng dưỡng chồng, chăm sóc cho chồng con là một niềm vui, là niềm hạnh phúc của cô. Trong việc quản lí gia đình cô Hiền luôn là người chủ động, tự tin và xác định rõ vai trò quan trọng của người vợ trong gia đình. Theo cô “Người đàn bà không làm nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao”. Vì vậy mà cô Hiền đã phê phán cái thói "bắt nạt vợ" quá đáng của người cháu. Cô là một người sớm có nhận thức về “bình đẳng nam nữ".
Về việc dạy con, cô Hiền dạy con khi chúng còn nhỏ và dạy từ những chuyện sinh hoạt hàng ngày trong gia đình như cách ngồi ăn, cách cầm bát, cầm đũa, múc canh… vì cô cho đó là một hình thức văn hóa: văn hóa ẩm thực, văn hóa sống… và hơn nữa, đó là văn hóa của người Hà Nội. Theo cô, người Hà Nội phải sống cho thật chuẩn mực: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện, buông tuồng”.
Về việc sinh con, cô Hiền cũng có quan điểm rất tiến bộ so với những người đương thời. Cái thời mà người ta thích đẻ nhiều để sau này có “con đàn, cháu đống” cho vui cửa, vui nhà và họ coi đó là niềm hạnh phúc. Họ thích đẻ nhiều mà ít quan tâm đến việc nuôi nấng và giáo dục con cái đến nơi đến chôn vì họ cứ theo cái quan niệm cũ: “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”. Cũng ở vào cái thời đại đó nhưng cô Hiền lại có một nhận thức đúng đắn, tiến bộ. Cô không tin vào việc “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”, và cô có một quyết định khá dứt khoát: chấm dứt việc sinh đẻ vào năm bốn mươi tuổi, để có điều kiện nuôi dạy con cái một cách chu đáo để chúng có thể “sống tự lập”, không bị lệ thuộc, sống có nhân, cách. Tình yêu thương con của cô Hiền là một thứ tình cảm sáng suốt của một người mẹ có nhân cách, giàu lòng tự trọng, có suy nghĩ sâu sắc, đúng đắn, có tầm nhìn sâu rộng.
Một nét đẹp ở cô Hiền mà khiến chúng ta phải khâm phục và trân trọng đó là “lòng tự trọng“ rất cao cả của cô. Lòng tự trọng không cho phép con người ta sống ích kỉ và hèn nhát. Chính vì có lòng tự trọng cao nên cô Hiền bằng lòng cho đứa con trai lớn của mình là Dũng đi chiến đấu mặc dầu lòng cô đau đớn lắm vì cô "không muốn nó sống bám vào sự hy sinh của bạn bè”. Tiếp đến, cô Hiền cho đứa em Dũng tiếp bước anh mình “bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”. Lòng tự trọng ấy cũng chính là lòng yêu nước, ý thức cộng đồng thâm trầm, sâu sắc mà không cần ồn ào của cô Hiền.
Cô Hiền là một người sống chuẩn mực có bản lĩnh, tự tin ở chính mình. Cô Hiền có cách sống và vẻ bề ngoài có vẻ tư sản nhưng không hề bị đi học tập cải tạo vì cô chẳng hề bóc lột ai, cô chỉ sống bằng cái nghề làm hoa giấy. Cô Hiền là một con người mang đậm chất Hà Nội. Chất Hà Nội của cô Hiền được thể hiện qua cách sống lịch lãm, sang trọng của cô. Điều này được thể hiện rất rõ ngay trong phòng khách của cô. Phòng khách của cô như lưu giữ cái hồn Hà Nội: cổ kính, quý phái và tinh tế mà “suốt mấy chục năm không hề thay đồi". Chất Hà Nội của cô Hiền đưực thể hiện qua thái độ ung dung, tự tại trước những biến động của thời cuộc: cô không hề lo sợ trước sự thắng lợi của cách mạng và cũng không tỏ ra mừng vui quá mức. Câu trả lời của cô trước câu hỏi hơi nghiệt của đứa cháu:
– “Tại sao cô không phải học tập cải tạo. Cô giấu cũng tài nhỉ?”
– “Tao có bộ mặt rất tư sản, một cách sống rất tư sản, nhưng lại không bóc lột ai cả thì làm sao thành tư sản được. ”
Hoặc:
– “Nước độc lập vui quá cô nhỉ”
– "Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ?" đã thể hiện khá rõ chất ung dung tự tại của cô Hiền.
Hơn thế nữa, chất Hà Nội ở cô Hiền còn được thể hiện qua sự khôn ngoan, sâu sắc của trí tuệ như việc cô nói về lẽ tuần hoàn: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được’’, hoặc việc cô bộc lộ niềm tin vào tương lai vào cái đẹp của Hà Nội vẫn tồn tại vĩnh viễn, dẫu mỗi thời điểm cái đẹp có khác nhau: "Mỗi thế hệ điều có thời vàng son của họ. Hà Nội thì không thế. Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho một lứa tuổi”.
Nhìn chung lại, ta thấy cô Hiền là một người phụ nữ không những có nhan sắc mà còn có một vẻ đẹp tâm hồn rất lớn. Cô Hiền là một người phụ nữ mẫu mực rất yêu chồng và thương con, có lòng lự trọng cao, có nhiều quan điểm rất tiến bộ như trong việc sinh con, giáo dục con, sống chuẩn mực, lịch lãm, điềm đạm, luôn giữ phong cách của một người Hà Nội và rất yêu Hà Nội, tin tưởng vẻ đẹp của Hà Nội không bao giờ mất đi. Hay nói một cách khác cô Hiền là một người tiêu biểu cho vẻ đẹp của người Hà Nội. | Phân tích tính cách nhân vật cô Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải | 1,492 | |
Phân tích tính cách nhân vật Việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình
Hướng dẫn
Phân tích tính cách nhân vật Việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình
Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn nghệ giải phóng ở Miền Nam. Ông là người được mệnh danh là nhà văn của người dân Nam Bộ. Và đặc biệt hơn nữa là ông rất thành công trong việc miêu tả tính cách nhân vật– nhân vật Việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình.
Việt dưới ngòi bút của Nguyễn Thi là một người chiến sĩ cộng sản, ngay từ nhỏ thì anh đã có một tư chất của anh hùng nhưng bên cạnh đó vẫn còn có tính cách hồn nhiên đúng với lứa tuổi. Có thể nói rằng anh yêu dân tộc đất nước là thế nhưng trong cuộc sống bình dị của đời thường Việt vẫn thể hiện được một cách rõ ràng về sự hồn nhiên đúng với lứa tuổi.
Việt sinh ra ở trong một gia đình có truyền thống yêu nước và lòng căm thù giặc cho nên từ nhỏ Việt đã biết gắn liền với việc đồng áng, nhanh nhẹn. Chính vì xuất thân trong một gia đình như thế cho nên nó đã tác động phần nào đến phẩm chất anh hùng cũng như về tinh thần yêu nước và căm thù giặc. Đúng như những gì chú Năm từng nói:”trăm sông đều đổ về biển, con sông của gia đình ta cũng dạt dào chảy về biển lớn” Việt lên đường đấu tranh thể hiện điều đó.
Tiếp đó là phẩm chất bất khuất gan dạ. Tuổi nhỏ nhưng có lần cả hai chị em cùng theo du kích đi đánh tàu Mỹ và một tên đã bị trúng đạn của hai chị em, và chính chiến công này đã được chú năm ghi lại ở trong cuốn sổ của gia đình. Rồi có lần Việt còn dám xông thẳng vào chính cái thằng đã giết cha mình
Trước cái đêm đi tòng quân thì Việt và chiến cùng khiêng bàn thờ của ba má sang nhà chú Năm, đó là một chi tiết đẹp thể hiện đạo lí truyền thống nhớ những người đã khuất: “ chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má chừng nào nước nhà độc lập chúng con lại rước ba má về”.
Khi vào chiến trường, ở trong trận đánh giáp lá cà Việt dũng cảm dùng thư pháo để tiêu diệt một con xe bọc thép của địch và bị trọng thương, toàn thân thì đổ máu và khô khốc đói rét nhưng Việt vẫn ở tư thế tấn công “ tao sẽ chờ mày, trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này chỉ có mình tao, nếu mày bắn tao thì tao cũng bắn được mày, nghe súng nổ của các anh tao sẽ chạy tới đâm mày, mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao mày chỉ là thằng chạy”. đó là lời độc thoại đầy sự gan dạ và dũng cảm.
Quả thực Việt là một người lính chững chạc nhưng vẫn mang tính cách trong sáng ngây thơ của một cậu bé đang cập kề với tuổi trưởng thành. Việt chính là đại diện cho những người con quả cảm, anh dũng của đất nước và trong danh sách gia đình ấy thì Việt là một khúc sông vươn xa. | Phân tích tính cách nhân vật Việt trong tác phẩm những đứa con trong gia đình | 585 | |
Đề bài: Phân tích tính nghệ thuật trong truyện Hai đứa Trẻ của Thạch Lam
Bài làm
Văn Thạch Lam cũng như khu vườn bên trong cánh cổng ấy, ít sự kiện, hành động nhưng đầy ắp những bâng khuâng. Nó cho ta cơ hội hiểu thấu sâu xa những cuộc đời giản dị, qua sự chiêm nghiệm lặng lẽ.
“Hai đứa trẻ” là truyện ngắn rất Thạch Lam. Chất liệu của nó vẫn là cuộc sống tù đọng, mòn mỏi nơi những phố huyện nghèo nàn xơ xác. Nhưng từ thứ chất liệu rất “văn xuôi” đó, nhà văn đã đưa lại cho chúng ta những trang viết hết sức thi vị, không có gì chung với sự thi vị hoá cuộc sống một cách tầm thường. Thi vị ( hay chất thơ) của tác phẩm gắn liền với dụng công của nhà văn muốn khêu gợi trí tưởng tượng nơi người đọc và đánh động khả năng cảm nhận của các giác quan bằng lối hành văn hoặc cách tổ chức lời văn khá riêng biệt. Đây chính là chiều sâu của một nghịch lý tưởng chừng khó giải thích: viết về các sự vật, sự việc tầm thường, đơn điệu mà văn vẫn lôi cuốn đến thế. Điều này phá vỡ một ngộ nhận (chí ít là của người đọc) về tính quyết định của vật liệu. Thực ra nghệ thuật chính là một sự chế ngự vật liệu, vật liệu thông qua những phương thức, phương tiện diễn tả đặc thù.
Câu văn của Thạch Lam tả rất sát sự thật, sự việc. Nhưng điều đó không có nghĩa ở đây chỉ có sự khớp đúng đến nghẹt thở. Tiết điệu buông chùng của câu mở đầu thiên truyện chứng tỏ điều đó: ” Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều”. Cái lõi ngữ pháp của câu chỉ được nhận ra ở vế sau, nhưng sự cảm nhận của người đọc đã thực sự được khởi hành từ trước cùng cụm danh từ được đảo lên trên. Trong câu này cái đáng chú ý còn có từ “gọi”. Nó xác lập một tương quan mới (dù vô hình) giữa các sự vật mà từ báo hiệu chẳng hạn không nói lên được. Dĩ nhiên câu văn vừa nêu không chỉ Thạch Lam mới viết nổi. Nhưng điều quan trọng là nó xuất hiện có quy luật chứ không ngẫu nhiên, nhằm nhấn mạnh một điều gì khác hơn những sự kiện nổi trên bề mặt. Xin chú ý thêm hai câu văn khác đứng kề nhau: ” Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Trong câu đầu dường như thừa một chữ “chiều”, xét theo góc độ thông tin bình thường. Nhưng thực ra ở đây còn có thông tin về tâm trạng mà riêng hai chữ “chiều rồi” chưa truyền tải được (do thiếu vắng nhịp điệu). Mặt khác, nếu không có chữ chiều ” thừa ra” ấy, sự buông lơi êm đềm của câu sau sẽ ít có hiệu quả. Tính chất thừa tiếp hô ứng của mạch văn cũng thiếu trọn vẹn. Rõ ràng đọc giả đang bị dẫn dắt bởi văn chứ không phải cái gì khác.
Suốt truyện ngắn, nhà văn nhiều lần nhấn mạnh sự “ngây thơ” của hai nhân vật chị em qua các nhận xét như: “Liên không hiểu sao…”, “Liên tưởng là…”, “tâm hồn Liên… có những cảm giác mơ hồ không hiểu”, “vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ…”,”Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết…”. Rất có thể nhân vật của truyện “không biết”, không hiểu thật, nhưng điều đáng nói là tác giả đã mượn chính tâm trạng nhân vật để ám thị người đọc. Các phủ định từ “không” đã “bẫy” họ sa vào một không khí bất định, mông lung. Độc giả cứ ngỡ mình đang cùng nhà văn theo dõi nhân vật, nhưng thật sự họ đã bị lây nhiễm chính cảm giác của nhân vật và không thôi thao thức. Càng cố gắng hiểu những điều nhân vật “không hiểu” để phân biệt với nó, anh ta càng rơi sâu vào không khí của truyện đến nỗi mất cả đường ra, trong khi tác giả vẫn không ngừng tả, kể để trói anh ta chặt hơn vào câu chuyện mà ông “bịa” ra.
Truyện tuy rất ít hành động nhưng vẫn thấp thoáng những lời đối thoại. Chúng được phân bố rất đều trong tác phẩm và xuất hiện giữa những đoạn miêu tả cảnh vật – một khung cảnh lặng lẽ, êm đềm, có phần hiu hắt, buồn bã. Chính không khí ấy quy định sắc điệu của lời đối thoại, trong khi bản thân lời đối thoại cũng mang tính chất lơ lửng, không gây nên sự đột biến nào của mạch truyện. Những câu hỏi nêu ra có thể trả lời cũng được mà không cũng được. Nó không nhằm mục đích tìm biết mà chỉ chờ đợi một sự phụ hoạ, xác nhận điều người nói nghĩ và thậm chí cả sự hiện tồn mờ nhạt của họ nữa:
– Em thắp đèn lên chị Liên nhé!
– Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ?
– Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế?
– Còn cô chưa dọn hàng à?
– Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không?
– A, cô bé làm gì thế?
– Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?
– Tàu hôm nay không đông, chị nhỉ?
Trước những câu hỏi ấy người đối thoại thường là “mãi rồi mới chép miệng trả lời”, ngẫm nghĩ rồi đáp hoặc có đáp cũng “đáp vẩn vơ”, thậm chí “không đáp”, “không cần ngoảnh mặt ra”. Một số người khi muốn chứng minh luận điểm nói rằng cảnh đời được miêu tả trong truyện thật nghèo nàn buồn tẻ, đã viện đến các chi tiết như đám trẻ con nhặt nhạnh những thứ rơi vãi trên nền chợ, chị Tý dọn hàng đến khuya mà không bán được bao nhiêu, hai chị em Liên xem phở bác Siêu như một thứ quà xa xỉ, một người mua hàng đến nửa bánh xà phòng cũng phải mua chịu… Thật ra cần chú ý hơn đến những mấu đối thoại rời rạc đã nói ở trên. Dụng công của Thạch Lam cũng như hồn văn của truyện chính toát lên từ đấy. Nó đưa tới cho người đọc không phải chuyện này chuyện nọ mà là một ấn tuợng buồn nản, xót thương, thậm chí bực bội trước các câu hỏi tủn mủn, bâng quơ, không cần thiết phải trả lời và những lời đáp quá chừng nhạt nhẽo, phẳng lặng. Những ấn tưọng đó khó gây dựng hơn nhiều so với các nhận xét kết luận “đóng bao”sẵn thường thấy ở nhiều truyện thừa giọng giáo huấn mà thiếu tính nghệ thuật.
Trong truyện cũng vài lần nổi lên tiếng reo chứa đựng niềm hân hoan mong đợi:
– Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi.
– Đèn ghi đã ra kia rồi.
Nhưng những tiếng reo đó đã nhanh chóng phô ra tính chất tội nghiệp của chúng, niềm vui mới nhóm lên đã bị triệt tiêu bởi lời kể nhẩn nha vô tình mà thật “ác nghiệt”: ” An và Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị em không bao giờ mua được ” và “chuyến tàu hôm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn”. Đúng là mong đợi chỉ để mà mong đợi, reo lên chỉ để rồi buồn tiếc và thất vọng hơn. Cảm giác thất vọng của nhân vật chắc chắn là sâu sắc. Nhưng đâu chỉ nhân vật, độc giả cũng thất vọng không kém. Bị trói chặt bởi nhịp cầu lê thê của câu chuyện, họ đã chờ đợi bao nhiêu ở những tiếng reo kia. Thật ra, niềm thất vọng này chính là hiệu quả nghệ thuật của truyện. Sau sự hụt hẫng này, độc giả sẽ vỡ ra những ý nghĩa của đời sống mà truyện muốn hướng tới. Nghệ thuật không phải là nói thẳng mà nói vòng, còn độc giả thì có được cảm giác thật như người trong truyện. Cùng với nhân vật, họ tự nghiệm sinh các giá trị của đời.
Hình ảnh thiên nhiên trong truyện đã gây cho người đọc những ấn tượng sâu đậm. Sự êm ả đượm buồn mà ta nhận thấy một phần là của thiên nhiên với tư cách là chất liệu, vật liệu, một phần là của văn. Những bức tranh nho nhỏ được gài xen kẽ với nhũng mẫu đối thoại rời rạc, không hoàn chỉnh. Chúng lấp đầy những khoảng trống của lời nói và cầm giữ nhịp điệu của thiên truyện. Giả sử tác giả viết khác đi, dồn hẳn những đoạn miêu tả thiên nhiên về một phía, và phía kia là hình ảnh sinh hoạt của con người, hẳn giọng điệu điều hoà của truyện sẽ biến mất và chủ đề của truyện sẽ khác đi. Ở đây thiên nhiên không thu hút toàn bộ thần trí con người để họ mê man trong đó. Nó gần gũi, vỗ về, khơi gợi những cảm xúc dịu dàng và bâng khuâng. Nó trổi lên đánh lạc hướng tâm trạng buồn chán của nhân vật ( và của độc giả) thông qua mùi âm ẩm của đất bụi, vẻ lung lay của bóng đèn, bóng người, ánh nhấp nháy của ngàn sao và đom đóm, tiếng động mơ hồ, khe khẽ của loạt hoa bàng rụng xuống vai…Tuy nhiên, việc đánh lạc hướng kia chỉ diễn ra từng lúc một, và nhân vật của truyện lại trở về với thực tại túng thiếu, lam lũ, để tiếp đó rơi vào trạng thái chập chờn nửa mơ, nửa thức, khắc khoải chờ mong, hi vọng ( dẫu chẳng biết hi vọng ở cái gì). Truyện sở dĩ không rơi vào nhàm tẻ dù đối tượng hàm chứa sự tẻ nhàm, chính một phần nhờ lối tả, kể xen kẽ, chắp nối đó.
Hai đứa trẻ là truyện ngắn giàu tính nghệ thuật. Tác giả đã rất ung dung, thoải mái khi xử lí chất liệu hiện thực. Tất cả chất liệu đã được tổ chức lại nhằm khơi dậy ở người đọc những cảm xúc nghệ thuật thuần khiết. Nhà văn đưa họ vào thế giới của ông, thôi miên họ, sau đó tự để họ ngẫm nghiệm và rút ra những bài học cần thiết. Ở trên có nhắc tới “khu vườn Thạch Lam”. Thực ra “khu vườn”ấy không chỉ có nghĩa là đề tài. Đó là “khu vườn” của nghệ thuật – một nghệ thuật biết vượt thoát khỏi sự trói buộc của đề tài để làm vang dậy tiếng nói riêng của nhà văn. | Phân tích tính nghệ thuật trong truyện Hai đứa Trẻ của Thạch Lam | 1,870 | |
Phân tích tính nghệ thuật trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Hướng dẫn
Phân tích tính nghệ thuật trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Nếu đọc truyện Tắt đèn của Ngô Tất Tố ta cảm nhận được sự cay đắng nghiệt ngã của số phận chị Dậu thì đến với truyện ngắn hai đứa trẻ của Thạch Lam vẫn là hiện thực đấy nhưng chúng ta cảm nhận được sự thi vị của cuộc sống này. Văn Thạch Lam khác so với những nhà văn hiện thực khác. Không hề dữ dội và phong ba bão táp mà chỉ là sự nhẹ nhàng nhưng mang lại những bâng khuâng trầm lắng trong lòng người đọc. Hai đứa trẻ là một minh chứng điển hình cho phong cách văn chương Thạch Lam. Có lẽ thế nên tính nghệ thuật được thể hiện rất rõ trong tác phẩm này.
Hai đứa trẻ là một tác phẩm văn xuôi thế nhưng lại mang đậm chất thơ. Đó chính là sự khác biệt của tác phẩm này và nhà văn Thạch Lam so với tác phẩm và nhà văn khác. Tính nghệ thuật trong tác phẩm này là sự thi vị của thơ ca trên nền chất liệu là văn xuôi.
Thứ nhất là về cách thức tổ chức những câu văn trong bài. Những câu văn trong tác phẩm hai đứa trẻ là được tổ chức sắp xếp tương đối linh hoạt mềm mại nhẹ nhàng như những vần thơ. Hẳn trong chúng ta khi đọc tác phẩm này rồi đều không quên được những câu văn mở đầu như mang lại sự thầm nhuần không khí của bức họa đồng quê cảnh chiều tàn: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rơ rệt trên nền trời. Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve”. Hay khi đêm mùa hạ êm về êm như nhung và thoảng qua gió mát.
Thứ hai,chất liệu hiện thực ở đây là phố huyện nghèo. Rõ là một phố huyện xơ xác tiêu điều vậy mà nhà văn cho ta thấy điều đó thông qua những hình ảnh bình thường nhẹ nhàng nhưng lại mang đến sự suy ngẫm. Sức gợi của hình ảnh phố huyện nghèo không nhấn mạnh vào cảm nhận khổ cực của các nhân vật nơi đây mà chỉ để thông qua đó ta thấy được cuộc sống tù túng nghèo nàn của họ. Có thể nói tất cả những gì trong truyện ngắn của thạch Lam đều rất nhẹ nhàng. Những hình ảnh của phố huyện như cảnh buổi chiều về với tiếng trống thu không trên cái chòi huyện nhỏ văng từng tiếng một ra để gọi buổi chiều, hình ảnh dãy tre làng cắt trên nền trời, rồi hình ảnh cảnh chợ tàn xơ xác, đêm tối chẳng chịt như màn đêm không đáy và những con người sống lay lắt nơi bùn lầy nước đọc ấy. Thế nhưng tất cả những thứ ấy hiện lên bằng sự nhẹ nhàng thi vị giống như cách nói lên mùi đất quê hương của phố huyện. Đó là một mùi âm ẩm bốc lên chỉ có phố huyện nghèo này mới có. Chính vì thế mà chúng ta thấy được Thạch Lam không dùng những từ cay nghiệt nhất để bày tỏ sự xót thương cho số phận của những người nghèo khổ nơi phố huyện này mà chỉ bằng những hình ảnh xác thực mà nhẹ nhàng.
Thứ ba là những mẩu đối thoại trong truyện. Nhà văn không đi vào xây dựng những đoạn đối thoại có kịch tính hay hấp dẫn li kì mà những chỉ xây dựng những mẩu đối thoại. Nó chưa thể coi là đoạn vì dung lượng rất ít. Trong tác phẩm ta thấy bắt gặp những câu hỏi như:
– Em thắp đèn lên chị Liên nhé!
– Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ?
– Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế?
– Còn cô chưa dọn hàng à?
– Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không?
– A, cô bé làm gì thế?
– Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?
– Tàu hôm nay không đông, chị nhỉ?
Tắt cả những câu hỏi ấy được đáp lại một cách rời rạc hoặc là không đáp. Thật ra thì dụng ý của Thạch lam không phải khiến cho bạn đọc hấp dẫn bởi sự kịch tính của câu chuyện này hay câu chuyện khác mà chỉ là thấy được sự chán nản xót xa, buồn chán trong những nhân vật mà thôi. Chính điều đó còn khó xây dựng hơn là những tác phẩm xây dựng đối thoại kịch tính hấp dẫn. Bởi không phải ai cũng làm được những đối thoại tủn mụn ít ỏi nhẹ nhàng vẩn vơ mà lại có thể hấp dẫn người đọc như Thạch Lam. Hay trong truyện có nhiều khi thấy được sự reo hò của nhân vật khi thấy gánh phở bác Siêu, chiếc đèn ghi sáng của đoàn tàu thế nhưng những tiếng reo hò ấy cũng nhanh chóng bị tắt bật đi. Điều đo cho ta thấy sự tôi nghiệp của chúng.
Như vậy qua đây ta có thể khẳng định Hai đứa trẻ quả là một tác phẩm giàu tính nghệ thuật. Hiện thực cuộc sống tù túng chật hẹp lay lắt của con người sống nơi phố huyện ấy nhưng lại trở nên thi vị đượm buồn. Đó là tính lãng mạn của hai đứa trẻ. Và có lẽ đây cũng chính là sự khắc phục hạn chế văn học hiện thực của Thạch Lam. | Phân tích tính nghệ thuật trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam | 983 | |
Đề bài: Phân tích nhân vật Tnú để làm rõ hình tượng người anh hùng cách mạng
Bài làm
Để dẫn ra một tác phẩm tiêu biểu có thể minh hoạ cho sự tồn tại của “nền văn học sử thi” trong văn học Việt Nam 1945 – 1975, tưởng không có tác phẩm nào tiêu biểu hơn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.
Quả đây là một truyện ngắn mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn (thực ra, với các tác phẩm thuộc loại này, chỉ nói đến tính sử thi là đủ, bởi cảm hứng lãng mạn đã trở thành một phần tất yếu của nó).
Phân tích truyện ngắn Rừng xa nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Tính sử thi của Rừng xà nu được biểu lộ trước hết ở những sự kiện có tính chất toàn dân được nhắc tới. Những chuyện xảy ra với làng Xô man hoàn toàn không có ý nghĩa cá biệt. Chúng là chuyện chung của cả Tây Nguyên, cả miền Nam, cả nước trong những ngày chiến đấu chống đế quốc Mĩ. Tính thế bị o ép của làng Xô Man trước ngày đồng khởi là bức tranh sinh động về cuộc sống đau thương của đồng bào miền Nam trong những ngày Mĩ – Diệm thi hành luật 10-59, khủng bố dữ dội những người yêu nước, những người kháng chiến cũ. Khi làng Xô Man đứng dậy thì gương mặt của làng lúc này lại chính là gương mặt của cả nước trong những ngày quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ – một gương mặt rạng rỡ, tự tin, điềm tĩnh đón nhận những thử thách mới.
Biểu hiện thứ hai của tính sử thi trong Rừng xà nu là truyện ngắn đã xây dựng thành công hình tượng một tập thể anh hùng. Những anh hùng được kể tới trong đó đều có tính đại diện cao, mang trong mình hình ảnh của cả một dân tộc. Tập thể anh hùng trong Rừng xà nu là tập thể đa dạng về lứa tuổi và giới tính. Mỗi gương mặt anh hùng đều có những nét riêng, thể hiện một số phận riêng trong cuộc đời chung. Tất cả họ đều giống nhau ở những phẩm chất cơ bản: gan dạ, trung thực, một lòng một dạ đi theo cách mạng. Chiến công của mỗi người tuy đa dạng mà thống nhất. Cuốn sử vẻ vang của làng Xô Man, của Tây Nguyên không phải do riêng một người mà do tất cả mọi người viết ra. Bản trường ca của núi rừng không chỉ trỗi lên một giọng mà là sự tổng hoà của nhiều giọng. Anh Quyết, cụ Mết, anh Tnú, chị Mai, cô Dít, bé Heng là những nhân vật tiêu biểu, nhưng bên cạnh họ, đằng sau họ còn có bao người khác nữa cũng không chịu sống mờ nhạt, vô danh. Tất cả họ đều thi đua lập công, đều muốn góp phần mình vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc. Dĩ nhiên, hình tượng văn học nào cũng là sự thống nhất giữa cái cá biệt và cái phổ quát, nhưng ở Rừng xà nu, cảm hứng hướng về cái chung đã mang tính chất chi phối.
Biểu hiện thứ ba của tính sử thi ở truyện ngắn Rừng xà nu là nó đã miêu tả các sự kiện, các nhân vật anh hùng từ một cái nhìn chiêm ngưỡng, khâm phục. Các chi tiết đời thường ít được nhắc tới. Nhà văn chỉ tâm đắc với những chi tiết nào có khả năng làm phát lộ được phẩm chất anh hùng của nhân vật. Tả cụ Mết, nhà văn chú ý tới giọng nói “ồ ồ dội vang trong lồng ngực” của cụ. Tưởng như trong tiếng cụ nói có âm vang của tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng của núi rừng, của lịch sử. Và quả thật, cụ là hình ảnh tượng trưng của truyền thống vững bền. Mỗi lời cụ thốt ra kết tinh trải nghiệm của cả một dân tộc. Nó cô đúc, sâu sắc, vang vọng như những chân lí. Chả thế mà cả làng Xô Man nghe như uống từng lời cụ nói và cả rừng xà nu cũng “ào ào rung động” như một sự hoà điệu, một sự tạo nền. Ngay cuộc đời của Tnú, một cuộc đời trải ra trong chính thời hiện tại cũng đã được lịch sử hoá và nhuốm màu huyền thoại. Đêm đêm bên bếp lửa nhà ưng, cụ Mết đã kể chuyện anh cho lũ làng, cho thế hệ con cháu nghe. Anh đã trở thành niềm tự hào của làng, là một biểu tượng sống động của người anh hùng được tất cả ngưỡng vọng, học tập.
Tính sử thi của Rừng xà nu còn thể hiện ở giọng văn tha thiết, trang trọng mà tác giả đã sử dụng khi kể về sự tích của làng Xô Man. Giọng văn ấy cũng thấm đượm trong việc miêu tả thiên nhiên, khiến cho hình ảnh rừng xà nu bỗng thổi tới trong lòng người đọc một cảm giác say sưa. Ta bị cuốn theo câu chuyện không gì cưỡng nổi, tưởng mình đang được tắm trên một dòng sông mênh mang, tràn trề sinh lực, hoặc tưởng mình đang bị thôi miên bởi một bản nhạc giao hưởng hùng tráng. | Phân tích tính sử thi của tác phẩm Rừng xà nu | 901 | |
Phân tích tính sử thi trong truyện “Rừng xà nu”của Nguyễn Trung Thành- Văn lớp 12
Hướng dẫn
Phân tích tính sử thi trong truyện “Rừng xà nu”của Nguyễn Trung Thành- Văn lớp 12
Bài làm
Tác giả Nguyễn Trung Thành là một nhà văn viết gắn liền với người dân vùng Tây Nguyên, trong mỗi tác phẩm của mình ông đều thể hiện đậm chất sử thi của mình và thể hiện được sự nhân văn cao cả.
Tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là một tác phẩm có quy mô to lớn, thể hiện được sự kiên cường của những người dân làng Xô Man vùng Tây Nguyên đầy khí chất anh hùng, kiên cường, trong thời kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc.
Văn chương sử thi là thể loại văn chương thể hiện tính tự sự cao, thể hiện tính trường ca của tác phẩm có quy mô hoành tráng, ngợi ca tính anh dũng của những người dân kiên cường đánh giặc, căm thù giặc sâu sắc, tiêu biểu cho phẩm chất và ước vọng của cả cộng đồng, dân làng đó.
Trong mỗi tác phẩm sử thi có tính đặc trưng về ngôn ngữ giọng điệu, cảm hứng chủ đạo của những tác phẩm, thể hiện những giá trị mang tính trường ca rõ rệt.
Trong tác phẩm “Rừng xà nu” tính sử thi thể hiện ở việc nhà văn xây dựng được những sự kiện có tính chất gắn liền với làng bản, cộng đồng cao, sự đoàn kết không chỉ cá nhân riêng lẻ. Những câu chuyện gắn liền với cả vùng quê Tây Nguyên chứ không phải chỉ gắn liền với một bản nhỏ riêng biệt.
Dân làng Xô Man là một dân làng yêu nước căm thù giặc sâu sắc, từ những em bé cho tới những cụ già như cụ Mết, T Nú hay Mai, tất cả đều là những anh hùng kháng chiến có tư tưởng yêu nước căm thù giặc sâu sắc.
Nguyễn Trung Thành đã thành công khi mang tới tính cộng đồng rất cao cho tác phẩm “Rừng xà nu” còn xây dựng một tập thể những người dân anh hùng đoàn kết, kiên cường với tinh thần chiến đấu cao ngút ngàn trong tác phẩm của mình.
Tính sư thi còn được thể hiện qua việc tác giả miêu tả chi tiết những sự kiện, những việc đã xảy ra trong dân làng, những vị già làng trưởng bản đã lãnh đạo nhân dân vượt qua những sự kiện đó khiến người đọc phải ngưỡng mộ.
Trong tác phẩm nhà văn Nguyễn Trung thành đã tập trung để miêu tả những tình tiết có tính chọn lọc nhất thể hiện là nổi bật khí phách anh hùng, của mỗi người dân làng Xô Man trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Lãnh đạo dân làng người được toàn thể người dân tôn kính chính là cụ Mết. Cụ Mết được xem như già làng trưởng bản. Cụ Mết có tiếng nói ồ ồ, vang động, có uy lực dũng mãnh qua mỗi câu nói của mình. Cụ chính là người đã truyền lửa cho T Nú cho dân làng trong cuộc đấu tranh chống giặc cứu nước này.
T Nú là một thanh niên yêu nước, căm thù giặc. Cuộc đời T Nú gắn liền với những đau đớn mất khi cha mẹ anh đều chết vì giặc giết, rồi anh thành trẻ mồ côi được cụ Mết và dân làng nuôi dưỡng. Từ nhỏ T Nú đã là thanh niên ưu tú, có tinh thần kiên cường quả cảm, thường xuyên dẫn bộ đội qua đường rừng núi, là thông tin, liên lạc viên.
T Nú trưởng thành anh dũng kiên cường tham gia hoạt động cách mạng anh kết hôn với Mai rồi hai người có một người con trai đầu lòng thành quả của tình yêu. Ngày T Nú đi chiến đấu bọn giặc tới nhà do sự chỉ điểm của tên tay sai Dục bắt mẹ con Mai đi tra tấn. T Nú đứng trong gốc cây nhìn cảnh vợ con bị tra tấn uất hận vô bờ, rồi Mai và đứa nhỏ bị giặc đánh chết. Sự căm hận tăng lên sục sôi T Nú xông ra và bị bắt
Bọn chúng tra tấn anh dã man đốt hai bàn tay anh khiến cả bàn tay mười ngón bị cụt chỉ còn hai. Nhưng nỗi đau thể xác không bằng nỗi đau tâm hồn T Nú càng bị mất mát càng đau thương anh càng căm thù giặc tới xương tủy càng trở nên kiên cường bất khuất.
Chính yếu tố sử thi đã làm nên sự thành công cho tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, làm nên một tác phẩm về sự anh dũng quả cảm yêu nước của những người dân Tây Nguyên. | Phân tích tính sử thi trong truyện “Rừng xà nu”của Nguyễn Trung Thành- Văn lớp 12 | 805 | |
Phân tích tính sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu
Hướng dẫn
Phân tích tính sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu
Tác giả Nguyễn Trung Thành tên thật là Nguyễn Văn Báu, là nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông là ngòi bút gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên, có nhiều thành tựu nhất khi viết về Tây Nguyên. “Rừng xà nu” là tác phẩm đặc trong kháng chiến chống Mỹ, mang đậm chất sử thi; nhân vật trung tâm mang những phẩm chất chung tiêu biểu cho cộng đồng; giọng điệu ngợi ca, trang trọng, hào hùng.
Tác phẩm “Rừng xà nu” được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ.Thông qua câu chuyện về những con người anh hùng ở một buôn làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra một vấn đề của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí đứng chống lại kẻ thù tàn ác.
Trong văn học Việt Nam có những tác phẩm cũng mang đậm khuynh hướng sử thi. Đó là một khuynh hướng trong sáng tác nghệ thuật mà qua đó tác giả thiên về việc phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân. Nhân vật trung tâm thường là những con người đại diện cho giai cấp, cho dân tộc với những phẩm chất cao cả, kết tinh những gì cao đẹp nhất của cộng đồng. Cùng với đó khi khẳng định, ngợi ca những anh hùng, những kì tích sáng chói …, người nghệ sĩ không nhân danh cá nhân mà nhân danh dân tộc, nhân danh cộng đồng. Đặc biệt hơn khuynh hướng sử thi thường gắn liền với khuynh hướng lãng mạn.
Khuynh hướng sử thi trong “ Rừng xà nu” được thể hiện khá rõ ở việc lựa chọn đề tài, việc xây dựng nhân vật, việc sử dụng hình ảnh lẫn giọng điệu của tác phẩm … Đề tài của truyện “Rừng xà nu” nói đến vấn đề sinh tử hết sức hệ trọng không chỉ của cả cộng đồng dân làng Xô Man mà của cả dân tộc Việt Nam. Thêm vào đó, thời điểm mà tác phẩm ra đời trùng khớp với thời điểm lịch sử của cách mạng miền Nam. Chủ đề của tác phẩm mang đậm tính sử thi đó chính là trước sự tàn ác của kẻ thù, nhân dân Miền Nam chỉ có một con đường duy nhất là cầm vũ khí vùng lên chiến đấu giải phóng quê hương.
Trong Rừng xà nu, nhân vật Cụ Mết đại diện cho thế hệ cách mạng từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, cụ truyền lại cho con cháu truyền thống oanh liệt đó của dân làng; còn nhân vật Tnú tiêu biểu cho ý chí và sức mạnh của cả cộng đồng; Dít, Heng là thế hệ non trẻ tiếp nối cha anh … chúng ta có thể thấy sự thống nhất giữa các nhân vật và cách biểu đạt những giá trị, ý ghĩa sâu sắc của tác phẩm.Điều đó cũng thể hiện rõ nét tính sử thi của tác phẩm.
Rừng xà nu là câu chuyện của một người, một làng,nhưng đặt vào hoàn cảnh Rừng xà nu được viết ra, thì đó cũng là câu chuyện của một thời đại, một đất nước, một cuộc cách mạng.Vì lẽ đó, nhà văn đã để cho nó được nói lên bằng giọng nói thiêng liêng, như để mãi mãi khắc sâu vào kí ức. Chất sử thi xuyên suốt và thống nhất qua đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh thiên nhiên, các chi tiết nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ của tác phẩm.
Hình tượng cây xà nu – rừng xà nu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn, được xây dựng với cảm hứng sử thi hoành tráng, bút pháp lãng mạn, kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. Mở đầu tác phẩm, nhà văn Nguyễn Trung Thành tập trung giới thiệu về rừng xà nu, một rừng xà nu cụ thể được xác định rõ: “nằm trong tầm đại bác của đồn giặc”, “Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào đồi xà nu cạnh con nước lớn”.Truyện mở ra một cuộc đụng độ lịch sử quyết liệt giữa làng Xô Man với bọn Mĩ- Diệm. Rừng xà nu cũng nằm trong cuộc đụng độ ấy.
Nhưng không chịu khuất phục cây xà nu vẫn hiên ngang vươn lên mạnh mẽ như người dân Tây Nguyên kiên cường bất khuất, không khuất phục trước kẻ thù. Rừng xà nu bạt ngàn, rừng xà nu trùng trùng lớp lớp các thế hệ nối tiếp cũng chính là thể hiện sự gắn bó, sức mạnh đoàn kết và sự nối tiếp bất tận của các thế hệ, gợi liên tưởng đến sức sống vô tận, bền bỉ, bất diệt của con người Xô man Cây xà nu rắn rỏi, ham ánh nắng mặt trời tựa như người Xô man chân thật, mộc mạc, phóng khoáng yêu cuộc sống tự do.
Nhân vật trong tác phẩm cũng mang tầm vóc sử thi.Cụ Mết là cội nguồn, là lịch sử: Cụ như một nhân vật huyền thoại từ hình dáng cho đến tính cách: quắc thước như xưa, râu dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt sáng xếch ngược, ở trần, ngực căng nhưmột cây xà nu lớn.Tấm lòng của cụ với buôn làng, với Tnú, với cách mạng là tấm lòng thuỷ chung, tình nghĩa. Cụ Mết là khuôn mẫu của người già Tây Nguyên, yêu buôn làng, yêu cách mạng, tuổi cao chí càng cao. Hình ảnh cụ còn sống mãi với câu nói bất hủ: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”.
Sau Tnú là Dít là cô gái có vẻ đẹp trẻ trung, trong sáng, là một cán bộ Đảng trẻ, có năng lực, nghiêm túc, tình cảm trong sáng, cao đẹp. Từ nhỏ cô đã gan dạ một mình mang côm tiếp tế cho thanh niên du kích trong sự lùng bắt ráo tiết của giặc.Cô cũng có cái nhìn bình thản khi bị trói vào gốc cây và những viên đạn bay sượt qua người.
Phác hoạ thành công một tập thể nhân vật anh hùng, Nguyễn Trung Thành đã làm nên thành công của Rừng xà nu. Họ là hiện thân của những phẩm chất anh hùng, đẹp đẽ của các thế hệ nhân dân, tượng trưng cho các thế hệ tiếp nối nhau của dân làng Xô Man.
Rừng xà nu là một tác phẩm viết về đề tài về con người tây nguyên về tính cách và con người tinh thần chiến đấu bất diệt. Lấy hình tượng là cây xà nu, truyện góp phần làm nổi bật những vẻ đẹp tốt đẹp của con người nơi đây, về ý chí cách mạng và đặc biệt là tính sử thi nổi bật.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích tính sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu | 1,210 | |
Phân tích tính sử thi trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành
Hướng dẫn
Phân tích tính sử thi trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành
Nói đến Nguyễn Trung Thành là nói đến nhà văn cách mạng đã trưởng thành từ khói lửa của cuộc chiến tranh vệ quốc dân tộc. Ông là cây bút văn xuôi chuyên nghiệp, chủ yếu viết về đề tài chiến tranh. Ông gắn bó nhiều với Tây Nguyên và được cho là nhà văn thành công nhất khi viết về mảnh đất này. Một trong những tác phẩm đó phải nói đến là “ Rừng Xà Nu” với những con người hùng của dân tộc Tây Nguyên. Tác phẩm đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Sử thi là những áng văn tự sự (bằng văn vần hoặc văn xuôi) có quy mô hoành tráng miêu tả và ca ngợi những thành tựu những sự kiện có tính chất toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với cộng đồng ca ngợi những anh hùng bộ tộc mang sức mạnh thần kỳ tiêu biểu cho phẩm chất và khát vọng của bộ tộc. Mỗi bộ sử thi chính là niềm tự hào to lớn của dân tộc đó. Sử thi thời cổ đại là thể loại một đi không trở lại. Nền văn học hiện nay không còn thể loại sử thi nữa nhưng cái không khí tính chất của sử thi vẫn được người cầm bút mang vào trong các sáng tác. Và chất sử thi đã làm nên giá trị làm nên sức sống cho từng trang viết làm sống lại không khí hùng tráng của một thời đại anh hùng. Sâu đậm nhất là văn của Nguyễn Trung Thành.
Tính sử thi thể hiện ở điểm thứ nhất là “mang tính chất toàn dân”. Năm 1965 kể thù của chúng ta là đế quốc Mĩ mở rộng phạm vi bờ cõi nước ta toàn Miền Bắc sau đó trực tiếp kéo quân tham chiến Miền Nam hòng giành lại thế chủ động. Với lực lượng đông, vũ khí trang bị hiện đại của quân giặc nhân dân ta rất lo lắng. Đúng thời điểm đó “Rừng Xà Nu” ra đời như luồng gió mới của ngày hè” xua tan nỗi lo của nhân dân Bắc. Tây Nguyên là vùng đất màu mỡ tốt tươi cũng là vùng đất gắn bó với Nguyễn Trung Thành đầy yêu thương với con người cũng như cây cối nơi đây.
Bằng những chi tiết trong tác phẩm đã khắc hoạ các nhân vật anh hùng trong những khía cạnh khác nhau, họ sẽ mãi được lưu thơm và luôn trong tâm trí của nhân dân. Sau ba năm đi bộ đội, Tnú trở về thăm làng Xô Man ẩn sau ngọn đồi Xà Nu cạnh con nước lớn và thấy làng mình đã trở thành làng kháng chiến, những đứa trẻ trong làng như Dít và Bé Heng đã trở thành du kích. Đêm ấy, cả làng tụ họp, Dít kiểm tra giấy phép xong, cụ Mết tự hào kể lại cho mọi người nghe trang sử đấu tranh đồng khởi của làng, gắn bó sâu sắc.
Cha mẹ chết sớm,Tnú được dân làng Xô Man chăm sóc và nuôi dưỡng. Hồi ấy, Mỹ- Diệm khủng bố dữ dội, nhưng làng vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ (anh Quyết). Tuy còn nhỏ tuổi, Tnú và Mai được giao làm liên lạc cho anh Quyết, rồi được anh Quyết dạy chữ. Một lần, trong chuyến đưa thư của anh Quyết lên huyện Tnú bị giặc bắt và tra tấn dã man nhưng vẫn không khai. Ba năm sau,Tnú vượt ngục trở về thì anh Quyết đã hi sinh. Đó là một phần cuộc đời anh hung cách mạng và cũng là nhân vật trung tâm cuộc đời thơ ấu đầy biến động của thời kì lịch sử.
Tnú cưới Mai và cùng dân làng chuẩn bị chiến đấu. Hay tin làng Xô Man chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đến tai giặc. Thằng Dục đưa lính đến lùng sục vây ráp. Cụ Mết, Tnú, cùng thanh niên lánh vào rừng. Không bắt được Tnú, bọn giặc bắt Mai với đứa con nhỏ chưa đầy tháng của hai người đánh đập dã man cho đến chết. Tnú xông ra nhưng không cứu được vợ con mà còn bị chúng bắt trói và tẩm nhựa xà nu đốt mười đầu ngón tay để khủng bố tinh thần dân làng. Thế nhưng, cũng ngay đêm ấy, khi Tnú bị Bắt, Cụ Mết đã dẫn thanh niên vào rừng lấy giáo mác cất giấu đem về và bất ngờ đồng loạt xông vào giết hết lũ giặc. Làng Xô Man đồng khởi thắng lợi. Tnú gia nhập Giải phóng quân. Anh dũng cảm lập chiến công, được cấp chỉ huy cho về phép. Sáng hôm sau, Tnú lại chia tay dân làng về đơn vị. Cụ Mết và Dít tiễn Tnú. Ba người nhìn ra xa thấy đồi xà nu xanh ngút ngàn trải dài tới tận chân trời. Họ chia tay nhau ở đồi xà nu, cạnh con nước lớn.
Nghệ thuật xây dựng kết cấu truyện lồng ghép và cấu trúc cuối đàu tương ứng. Mở đầu là hình ảnh rừng Xà Nu kết thúc cũng là rừng Xà Nu để khẳng định sức sống bất diệt của con người và đem lại cảm hứng lạc quan cho tác phẩm. Truyện lồng truyện các câu truyện đan xen nhau linh hoạt, quá khứ lồng hiện tại, tiếp nối giũa các thế hệ. Cấu trúc này gợi mở nhiều suy tưởng đem lại thành công cho tác phẩm.
Việc chọn người dẫn và kể truyện cũng cổ kính sử thi qua nhân vật cụ Mết như nhân chứng lịch sử, là hình tượng phản phất của các già làng trong sử thi Tây Nguyên là linh hồn của Xô Man. | Phân tích tính sử thi trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành | 995 | |
Phân tích tính sử thi trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành
Hướng dẫn
Phân tích tính sử thi trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành
Bài làm
Để dẫn ra một tác phẩm tiêu biểu có thể minh hoạ cho sự tồn tại của “nền văn học sử thi” trong văn học Việt Nam 1945 – 1975, tưởng không có tác phẩm nào tiêu biểu hơn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Quả đây là một truyện ngắn mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn (thực ra, với các tác phẩm thuộc loại này, chỉ nói đến tính sử thi là đủ, bởi cảm hứng lãng mạn đã trở thành một phần tất yếu của nó).
Tính sử thi của Rừng xà nu được biểu lộ trước hết ở những sự kiện có tính chất toàn dân được nhắc tới. Những chuyện xảy ra với làng Xô man hoàn toàn không có ý nghĩa cá biệt. Chúng là chuyện chung của cả Tây Nguyên, cả miền Nam, cả nước trong những ngày chiến đấu chống đế quốc Mĩ. Tính thế bị o ép của làng Xô Man trước ngày đồng khởi là bức tranh sinh động về cuộc sống đau thương của đồng bào miền Nam trong những ngày Mĩ – Diệm thi hành luật 10-59, khủng bố dữ dội những người yêu nước, những người kháng chiến cũ. Khi làng Xô Man đứng dậy thì gương mặt của làng lúc này lại chính là gương mặt của cả nước trong những ngày quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ – một gương mặt rạng rỡ, tự tin, điềm tĩnh đón nhận những thử thách mới.
Biểu hiện thứ ba của tính sử thi ở truyện ngắn Rừng xà nulà nó đã miêu tả các sự kiện, các nhân vật anh hùng từ một cái nhìn chiêm ngưỡng, khâm phục. Các chi tiết đời thường ít được nhắc tới. Nhà văn chỉ tâm đắc với những chi tiết nào có khả năng làm phát lộ được phẩm chất anh hùng của nhân vật. Tả cụ Mết, nhà văn chú ý tới giọng nói “ồ ồ dội vang trong lồng ngực” của cụ. Tưởng như trong tiếng cụ nói có âm vang của tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng của núi rừng, của lịch sử. Và quả thật, cụ là hình ảnh tượng trưng của truyền thống vững bền. Mỗi lời cụ thốt ra kết tinh trải nghiệm của cả một dân tộc. Nó cô đúc, sâu sắc, vang vọng như những chân lí. Chả thế mà cả làng Xô Man nghe như uống từng lời cụ nói và cả rừng xà nu cũng “ào ào rung động” như một sự hoà điệu, một sự tạo nền. Ngay cuộc đời của Tnú, một cuộc đời trải ra trong chính thời hiện tại cũng đã được lịch sử hoá và nhuốm màu huyền thoại. Đêm đêm bên bếp lửa nhà ưng, cụ Mết đã kể chuyện anh cho lũ làng, cho thế hệ con cháu nghe. Anh đã trở thành niềm tự hào của làng, là một biểu tượng sống động của người anh hùng được tất cả ngưỡng vọng, học tập. | Phân tích tính sử thi trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành | 530 | |
Đề bài: Phân tích tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài làm
Nếu người Hà Nội tự hào có con sông Hồng đỏ nặng phù sa, người Huế cũng tự hào khi có dòng sông Hương thơ mộng chảy qua thành phố Huế cổ kính với những lăng tẩm, đền đài. Con sông ấy đã chứng kiến bao đổi thay của lịch sử, sự thăng trầm của cuộc sống. Dòng nước của con sông Hương ấy đã tươi mát cho cảnh vật cũng như con người nơi xứ Huế này. Vì thế, người Huế rất tự hào về con sông ấy nó mang đặc trưng của Huế là niềm tự hào kiêu hãnh của những con người xứ Huế. Có lẽ cũng vì điều đó mà sông Hương cũng đã đi vào thơ ca, nhạc họa rất trữ tình và sâu lắng. Hoàng Phủ Ngọc Tường, một người con xứ Huế đã bao lần ngắm con sông Hương rồi một lần bất chợt một lần thắc mắc, ai đã đặt tên cho con sông này là sông Hương nhỉ? Nỗi băn khoăn ấy được ông thế hiện trong tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông. Bằng ngòi bút trữ tình sâu lắng, thể hiện rõ phong cách thể loại Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác phẩm thể hiện sự uyên bác tài hoa của chủ thể sáng tạo trong cái nhìn liên tưởng cùng với những triết luận sâu sắc về quan hệ giữa dòng sông và lịch sử, dòng sông với thi ca nhạc họa, dòng sông và người xứ Huế.
Phân tích tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Mở đầu Hoàng Phủ Ngọc Tường đã giới thiệu sự độc đáo, đặc biệt và đầy ấn tượng của con sông Hương. Nó là con sông duy nhất của thành phố. Trước về vùng châu thổ êm đềm, con sông thơ mộng ấy đã vượt qua bao thác ghềnh cuộn xoáy. Mang tính lưỡng thể, sông Hương vừa hùng vĩ như một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực thẳm, thế nhưng cũng có nhiều lúc dòng sông Hương trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm sài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Màu xanh của nước sông và sắc đỏ chói lọi của hoa đỗ quvên như hòa vào nhau, những bông hoa đỏ rực như đang nghiêng mình soi bóng dưới dòng nước trong xanh ấy của dòng sông, cảnh đẹp và nên thơ. Sông Hương không đơn thuần là dòng sông nữa khi được tác giả liên tưởng nó như một cô gái Di-gan phóng khoáng khi nó ở giữa lòng Trường Sơn, có lẽ rừng đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Một sự liên tưởng độc đáo và táo bạo với cách so sánh mạnh mẽ và đầy bất ngờ. Ở đây. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xem con sông như một nhân vật trữ tình khiến cho chúng ta cảm nhận được rằng sông Hương có sức sống mãnh liệt, hoang dại nhưng dịu dàng và say đắm. Thoát khỏi rừng già, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của cả một vùng văn hóa xứ sở. Dòng chảy của sông Hương ở đầu là cuộc hành trình gian truân không kém phần kì lạ và bí mật, vì nó đã đóng kín cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phượng.
Dường như có sự gặp gỡ giữa Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường, cả hai khi miêu tả con sông đều xem nó như một chủ thể trữ tình. Khi miêu tả con sông Đà. Nguyễn Tuân đã viết như oán trách… như van xin… như khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, có lúc như tiếng của hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rùng vầu rừng tre nứa đổ lửa… Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng thế, thật tài hoa khi miêu tả sông Hương đã không ngần ngại khi sử bũt pháp nghệ thuật so sánh, liên tưởng, ẩn dụ và nhân hóa về vẻ đẹp lưỡng thể đầy tính nhân văn của dòng sông Hương giữa đại ngàn Trường Sơn. Tác giả đã nhắc khẽ mọi người nếu chỉ mãi ngắm nhìn khuôn mặt kinh thành sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc chiến tranh gian truân mà nó đã vượt qua… suy tưởng ấy đã làm cho những liên tưởng mà tác giả nêu lên thêm phần rung động thấm thìa.
Vượt qua cánh đồng Châu Hóa đầy cỏ dại, sông Hương như người con gái đang ngủ mơ màng được đánh thức bởi người tình mong đợi. Sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục khi vừa ra khỏi rừng. Nó như nôn nóng đi tới gặp người tình – thành phố tương lai của nó. Nó đã vòng những khúc đột ngột. Nó đã uốn mình theo những đường cong thật mềm… Con sông như được nhân hóa như đang làm duyên, đang múa lượn. Sông Hươn lúc thì trôi theo hướng nam bắc theo điệu Hòn Chén, vấp phải Ngọc Trản, lúc thì chuyển sang hướng sang tây bắc vòng qua bãi Nguyệt Biểu, Lương Quán. Rồi nó đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc ôm lấy chân đồi Thiên Mụ xuôi dần về Huế. Dòng chảy của dòng sông Hương qua các địa danh ngã ba Tuần, điện Hòn Chén, Ngọc Trản, bãi Lương Biểu, Lương Quán, Vọng Cảnh,Tam Thai, Lưu Bảo… được tác giả vẽ ra, nhắc lại một cách chính xác thế kiến thức về địa lí, văn hóa tinh tường. Người đọc nhiều lúc cứ ngỡ là ông là người nhiều năm tháng đi du ngoạn ngược xuôi với con thuyền nhỏ bồng bềnh trong điệu Nam ai, Nam bình trên dòng sông Hương thơ mộng.
Ông yêu dòng sông quê mẹ, ông biết rõ dáng hình và những đường nét uốn lượn của nó. Cũng như Tố Hữu đã cảm mến thốt lên Hương Giang ơi, qua tim ta vần ngày đêm tự tình. Ông nói về sắc nước của Hương Giang là xanh thẳm dáng hình cùa nó mềm như tấm lụa, sự tấp nập rộn ràng của nó là những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng những con thoi. Ông say mê thưởng thức gương sông lấp lánh sớm xanh trưa vàng, chiều tím dưới ánh phản quang nhiều màu sắc trên nền trời Tây Nam thành Huế.
Giữa đám quần sơn lô xô, giữa những lăng tẩm đồ sộ của vua chúa nhà Nguyễn giừa những rừng thông u tịch, sông Hương mang vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí, như cổ thi… tác giả nhắc lại một vần thơ cổ, thật đắc địa gợi lên không khí, khung cảnh u tịch và trầm mặc của những rừng thông, của dòng sông, những thành quách và những đồi núi lô xô ở đây. Ai đã từng một lần đến thăm thú Khiêm Lãng (lăng vua Tự Đức) mới cảm nhận được cái đẹp của cảnh vật mà tác giả nói đến:
Bốn bề núi phủ mây phong
Mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng vạn niên
Sắp đến thành phố mến thương, mặt nước con sông Hương trở nên mơ màng, phẳng lặng trong tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, giữa bát ngát tiếng gà của những xóm làng.
Một lần nữa ta được thưởng thức một đoạn tùy bút mà chất thơ lai láng, bồi hồi. Những liên tưởng và suy tưởng, những so sánh và nhân hóa, những kiến thức về địa lí, về văn hóa về thi ca được tác giả vận dụng tài hoa khi nói về vẻ đẹp quyến rũ của sông Hương đoạn từ ngã ba Tuần đến chân đồi Thiên Mụ Đến vùng ngoại ô Kim Long, giữa những bãi biển xanh biếc, sông Hươu vui tươi hẳn lên khi nó nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phổ in ngần trên bầu trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non. Cồn Giã Viên và cồn Hến ở đầu và cuối thành phố như hai cù lao xanh đã làm cho dòng Hương uốn co mềm hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu. Tác giả liên tưởng đến sông Xen của Pa-ri, sông Đa-núp của Bu-đa-pét, để nói lên vẻ độc đáo sông Hương là nó nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình, nó đà cho Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai sông. Những nhánh sông đào mang nước Hương Giang tỏa đi khắp đô thị, những cây đa, cây cừa cố thụ, những ánh lứa chài lập lòe nơi xóm thuyền xúm xít trong đêm sương… đã làm cho cố đô Huế tựa như một linh hồn mô tê xưa mà không một thành phô hiện đại nào còn nhìn thấy được.
Lần thứ hai, Hoàng Phủ Ngọc Tường liên tưởng so sánh về lưu tốc của sông Nê-va nơi thành phố Lê-nin-grat nước Nga với sông Hương. Hình ảnh chim hải âu co một chân đậu trên chiếc thuyền băng lướt qua cung điện Pê-téc-bua như một khám phá nhiều ngộ nghĩnh. Tác giả mơ ước được hóa một con chim nhỏ co một chân trên con tàu thủy tinh để đi ra biển. Con sông Hương khi gặp kinh thành xưa, hai hòn đảo Giã Viên và cồn Hến đã làm nó trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh.
Nhìn những dòng sông, những dòng nước chảy, tác giả nhắc lại tiếng khóc của nhà triết học Hi Lạp hơn hai ngàn năm về trước để nêu lên suy nghĩ dòng chảy của cuộc đời, về sự biến chuyển không ngừng của vạn vật. Rồi ông lại nghĩ về điệu chảy lặng lờ của sông Hương, quý trọng coi đó là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. Hình ảnh hàng trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội răm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về và sự ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của nỗi lòng đã nói lên thật thơ vẻ mộng mơ của sông Hương – bài thơ trữ tình của cố đô Huế.
Sự ngập ngừng vấn vương ấy là vẻ đẹp của Hương Giang mà nhiều nhà thơ đã cảm nhận, trong đớ Thu Bồn đã có lần rung cảm.
Con sông dùng dằng, con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gieo chữ lên những vườn hoa, những cánh đồng màu mỡ trong đó mỗi so sánh, nhân hóa và liên tưởng về dòng sông Hương đi qua Huế tựa như hoa thơm trái ngọt đã thể hiện một bút lực và tầm cao trí tuệ của nhà văn sở trường về bút kí, tùy bút. Ông dã dành cho sông Hương cả một tấm lòng yêu mến và quý trọng đặc biệt.
Đoạn nói về sông Hương rời khỏi kinh thành ra đi được Hoàng Phủ Ngọc Tường diễn tả bằng một ngòi bút nghệ thuật rất đỗi hào hoa phong tình. Ông đã nhân hóa sông Hương thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya, họ biết nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước Hương Giang. Ông cho hay, thi hào Nguyễn Du đã từng ôm ấp một phiến trăng sầu trong bao năm lênh đênh trên dòng sông Hương. Một nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ đã chỉ đích danh hai câu thơ Trong như tiếng hạc bay qua – Đục như tiếng suối mới sa nửa vời mang điệu nhạc cung đình Tứ đại cảnh. Hương rời khỏi kinh thành lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ, rồi nó lại đổi dòng đột ngột gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bảo Vinh xưa cổ như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, phải chăng khúc lượn này, sông Hương có cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con người. Tác giả cho rằng đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yẽu. Và ông đã so sánh sông Hương với nàng Kiều trong đêm trình tự, ông dẫn buông hai câu thơ của Nguyễn Du để nói sự lưu luvến chí tình với lời thề trước khi về biển cả. Thật không có sự so sanh nào hay hơn khi nói về con sông mang tình người, tình son sắt thủy chung của lứa đôi còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ… lời thề của lứa đôi, lời thề của dòng sông đã trở thành giọng hò dân gian của xứ Huế. Sâu xa hơn nữa. lời thề ấy là tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở thân thương.
Đến với Huế mộng mơ là đến với sông Hương, đến với tiếng chuông chùa Thiên Mụ đến với tiếng gà Bao Vinh, là đến với lăng tẩm đế vương, đến với con người thủy chung trọn tình trọn nghĩa, là đến với lời ca điệu hò gian dịu ngọt
Tác giả bài tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông? Đã nói hộ lòng ta những tình cảm sâu sắc tốt đẹp ấy. Bài tùy bút đã thể hiện một bút pháp nghệ thuật độc đáo, tài hoa và phong tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác giả đã tạo nên chất thơ quyến rũ làm I say lòng người. Những tri thức về địa lí, văn hóa, thi ca, âm nhạc cùa ông đã chung đúc thành trang văn tuyệt bút. | Phân tích tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường | 2,376 | |
Đề bài: Em hãy phân tích tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo
Bài làm
Năm 1407, giặc Minh xâm lăng nước ta. Năm 1417, tại núi rừng Lam Sơn, Thanh Hóa, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa xưng là Bình Định Vương. Trải qua mười năm kháng chiến vô cùng gian lao và anh dũng, nhân dân ta quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi. Mùa xuân năm 1482, thay lời Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo Bình Ngô đại cáo.
Bình Ngô đại cáo khẳng định sức mạnh nhân nghĩa, nhân dân Đại Việt căm thù lên án tội ác ghê tởm của quân “cuồng Minh”, ca ngợi những chiến công oanh liệt thuở “bình Ngô”, tuyên bố đất nước Đại Việt bước vào kỉ nguyên mới độc lập, thái bình bền vững muôn thuở.
Tuy ra đời gần sáu trăm năm, nhưng cho đến nay và muôn đời sau nữa, Bình Ngô đại cáo và những tác phẩm khác cũa Nguyễn Trãi mãi mãi đi sâu vào lòng người. Tư tưởng “nhân nghĩa’' trong thơ văn Nguyễn Trãi thâm sâu, ngay khi mở đầu Bình Ngô đại cáo, ông viết:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Việc nhân nghĩa là gì? Nho giáo cho rằng: Nhân nghĩa là quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong cộng đồng. Khái niệm này mang nội hàm rất đẹp, rất tiến bộ và cao cả. Nguyễn Trãi đã khẳng định: Điều chủ yếu của nhân nghĩa là giữ “yên dân”. Vì thương yêu dân, muốn cho dân được yên ổn làm ăn nên phải “trừ bạo” là trừ những kẻ sách nhiễu dân.
Từ quan hệ ứng xử mang tính cá nhân, Nguyễn Trãi đã nâng lên thành lí tưởng xã hội, một nhiệm vụ cụ thể, nói theo Đinh Gia Khánh thì “tư tưởng này không mơ hồ, nó gắn chặt với chủ nghĩa yêu nước”. Chính vì “nhân nghĩa”, vì thương dân nên Nguyễn Trãi xem những hành động man rợ của quân Minh hành hạ nhân dân ta như đốt lửa thiêu sống, đào hố để chôn sống dân lành vô tội là những việc phi nhân nghĩa, là bạo ngược, do đó chúng ta phải trừng phạt. Như vậy có nghĩa là “việc nhân nghĩa”, hành động nhân nghĩa không phải một cái gì đó trừu tượng, chung chung, mà nó biểu hiện bằng “việc” cụ thể là chống quân xâm lược để giữ yên bờ cõi, tiêu diệt các nguồn phản động chống triều đình để xây dựng xã hội “vua sáng, tôi hiền”. Việc ấy phải được giao phó cho quân đội. Nguyễn Trãi không mơ hồ về sự nghiệp giải phóng dân tộc có thể dùng đường lối thỏa hiệp mềm yếu để chấm dứt can qua, hòa bình muôn thuở, mà phải có sức mạnh của quân sự và sức mạnh của “đại nghĩa”-.
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo”.
Lấy nghĩa để thắng hung, lấy nhân thay bạo. Ớ đây trong sự đối đầu lịch sử của cuộc kháng Minh này, kẻ thù là hung tàn và cường bạo:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.
Tội án “trời không dung, đất không tha” ấy của giặc Minh:
“Trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Nước Đông Hải không rửa sạch mùi”.
Tội ác ấy phải trừng phạt. “Quân điểu phạt trước lo trừ bạo”. Quân ở đây là nhân dân: tập hợp thành đội quân “đại nghĩa – chí nhân” để chống lại quân cường bạo giặc Minh. Vậy là, triết lí nhân nghĩa của Nguyễn Trãi xét đến cùng là lòng yêu nước thương dân. Đó chính là chủ nghĩa yêu nước. Nó làm nền cho bản hùng ca bất hủ “Cáo bình Ngô”, nó là ánh sáng kì diệu để Nguyễn Trãi nêu lên một quan điển về quyền dân tộc, và do đó ông đã định nghĩa về đất nước khá rõ ràng, hoàn chỉnh, khoa học trong lời mở đầu bài cáo trang trọng, thật đỉnh đạc và tự hào.
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng để một phương”.
Trải qua bao biến động của lịch sử, Nguyễn Trãi lặp lại quyền vương để đầy tinh thần độc lập tự chủ ấy. Nước Đại Việt có cương vực, có lịch sử, có phong tục và nền văn hiến, nghĩa là có nhân nghĩa. Nó không cần và không thể phụ thuộc để tồn tại. Mọi mưu toan muốn biến nó thành quận huyện, thành chư hầu phải chi thảm họa. Lịch sử đâu đã quên:
“Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã".
Thế mà nay bọn giặc Minh “mượn tiếng điếu dân phạt tội, kì thực làm việc tàn bạo, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được yên ổn”. Nhân nghĩa mà lại thế Lí? Thế đứng của một dân tộc trong nhân nghĩa bằng mọi giá cho quân thù nếm cay đắng mà cha ông chúng ta phải trả giá cho sự tàn bạo “lỗi đạo”, ngạo mạn, xấc xược…
Sức mạnh nhân nghĩa của nhân dân ta “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” đã làm nên chiến thắng.
“Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã An, Liễu Thăng cụt đầu.
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong.
Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn”.
Những trang nhật kí chiến sự thể hiện một cuộc tấn công đại quy mô mạnh mẽ, hào hùng. Chiến thắng càng gần, thế trận càng trở nên biến hóa kè thù chưa kịp trở tay đối phó thì đã lại:
“Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận, tan tác chim muông”.
Miêu tả cuộc tổng chiến công đại phá quân thù, có lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam chưa bao giờ có những trang hào hùng sáng chói như thế. Đội quân làm nên chiến thắng ấy, chính là đội quân đã xác định “vì nhân nghĩa mà chiến đấu, vì an dân mà trừ bạo”.
Nhân nghĩa là sức mạnh để chiến thắng. “Chí nhân, đại nghĩa” là nền tảng của chủ nghĩa nhân đạo mà dân tộc ta bao đời đeo đuổi để tạo dựng nền văn hiến mang bản chất truvền thống của con người Việt Nam. ở đây, Nguyễn Trãi đã nêu cao chủ nghĩa nhân đạo ấy, gắn nó với nhân nghĩa là chủ nghĩa yêu nước.
Coi trọng con người, quý trọng nhân dân, coi trọng tình hòa hiếu giữa các dân tộc nên chúng ta đã đặt nhân nghĩa lên trên tất cả. Có gì quý hơn sinh mạng con người? “Người, ta là hoa của đất’’ do đó nhân nghĩa sau chiến tranh là tấm lòng, là trí tuệ để giải quyết những hậu quả, cho “bốn phương biển cả thanh bình”… đối với quân giặc đã bị “cầm tù như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng”, chúng ta đã “chẳng giết hại” mà cho chúng “đường hiếu sinh”. Chúng ta có cái thế để “xử tội ác chiến tranh, có đủ sức để trừng phạt, nhưng nhân nghĩa không cho phép chúng ta làm điều đó khi bọn giặc đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng”. Chúng ta tha tội cho chúng để chấm dứt can qua trong tương lai, để được “an dân” không phải chỉ ngày một ngày hai mà mãi mãi dân ta được “nghỉ sức” trong thanh bình:
“Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới”.
Nghĩa là triết lí nhân nghĩa, hành động nhân nghĩa của chúng ta đã toàn thắng. Ta đã đạt mục đích, không cần phải xử sự như những kẻ cuồng sát không nhân nghĩa.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thể hiện ngay cả khi cổ vũ nhân dân ta tiêu diệt giặc, nhưng lại rất thông cảm với nhân dân và binh sĩ Trung Quôc bị tàn hại bởi chiến tranh. Nguyễn Trãi từng vạch tội tướng giặc với nhân dân Trung Quốc: chúng lại muốn cùng bỉnh độc vũ, khiến nhân dân vô tội liền năm phải thiệt mạng ở chốn gươm đao, những kẻ lưu li phải nát gan ở nơi chốn đồng cỏ” (Bài 28 – Quân Trung từ mệnh tập).
Bình Ngô đại cáo xét về mặt tư tưởng là tác phẩm nổi bật về chủ nghĩa nhân đạo, chứng minh hùng hồn cho cuộc chiến thắng của nhân dân ta chống giặc Minh. Triết lí nhân nghĩa của Nguyễn Trãi tiềm ẩn như mỏ quặng quý mà ta phải khai thác đào sâu, nhưng nổi lên bề mặt lộ thiên của nó chính là chủ nghĩa yêu nước, là tình cảm thương dân. Vì yêu nước thương dân mà Nguyễn Trãi có tư tưởng tiến bộ về bản chất và mục đích của đội quân nhân nghĩa, về Tổ quốc và ước vọng “bốn phương biển cả thanh bình”. Vì yêu thương nhân dân trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi tố cáo tội ác quân Minh đanh thép như thế, miêu tả những trang hào hùng của quân dân ta trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Bình Ngô đại cáo trở thành một tác phẩm còn lại mãi với thời gian.
Đã sáu trăm năm trôi qua, Nguyễn Trãi – người anh hùng dân tộc và là nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng chính trị, thực sự sống mãi trong lòng dân tộc khi các thế hệ con cháu mang tư tưởng nhân nghĩa của Người đã làm nên bao kì tích, bao chiến thắng lẫy lừng, như trong chiến tranh chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng nhân nghĩa ấy mà đối xử nhân đạo với những phi công Mỹ ngụy. Họ đã đem bom đạn đến giết hại nhân dân ta trên mọi miền đất nước, tàn phá đất nước ta, gây bao đau thương tang tóc cho nhân dân ta. Vậy mà khi bắt sống những kẻ ấy, ta vẫn đối xử nhân đạo và sau ngày toàn thắng 30-4-1975 trao trả lại cho Mỹ. Phải chăng đó là được nguồn từ tư tưởng Nguyễn Trãi.
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lẩy chí nhân để thay cường bạo”.
Bình Ngô đại cáo vừa là một bản tổng kết cuộc kháng chiến mười năm chống giặc Minh vừa là lời tuyên ngôn độc lập, hòa bình. Đồng thời là áng “thiên cổ hùng văn" khẳng định sức mạnh nhân nghĩa Đại Việt. | Phân tích tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo | 1,822 | |
Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Bình ngô đại cáo
Hướng dẫn
Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Bình ngô đại cáo
Vua Lê Thánh tông đã từng đề cao: Ức Trai lòng sáng tựa sao khuê và ngày nay, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã đánh giá: Nguyễn Trãi là tinh hoa của dân tộc qua bao thời đại kết hợp lại. Trong suốt bao năm qua, Nguyễn Trãi được nhớ tới như một nhà văn, nhà thơ vĩ đại của non sông Việt Nam, một nhà tư tưởng, một nhà chính trị đại tài của dân tộc Việt Nam thế kỉ XV. Tuy gặp nhiều oan khuất và bi kịch, suốt cả cuộc đời tận tuỵ cống hiến của Nguyễn Trãi được bao trùm bởi một tư tưởng vĩ đại: tư tưởng nhân nghĩa, mà qua thơ văn ông, chúng ta có thể thấy điều đó. Bình ngô đại cáo là một trong số các tác phẩm đó, thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa này.
Tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp được thấm nhuần xuyên suốt qua từ câu đầu tiên:
Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Tư tưởng nhân nghĩa đã được khẳng định ngay từ đầu tác phẩm. Nguyễn Trãi đã viết tự đáy lòng ông, chứ không chỉ như được từng nghe suông. Chính ông đã coi việc nhân nghĩa cốt ở yên dân như mục tiêu phấn đấu cao nhất của đời mình. Cả cuộc đời ông đã giành trọn cho những công việc nhân nghĩa, ta có thể coi đó là lí tưởng của ông. Một lí tưởng cao quý. Với đạo đức nho giáo ngày xưa, nhân nghĩa là một điều mà con người ai cũng phải có, và thể hiện bằng cách xử sự đối đãi tốt đẹp với người khác. Ở Nguyễn Trãi, nhân nghĩa đã được nhân lên một tầm cao hơn hẳn, và mở rộng hơn nữa: đó là lo cho dân, giúp cho dân – dân ở đây nói với nghĩa bao trùm tất cả thiên hạ, ta có thể thấy lòng Nguyên Trãi bao la và suy nghĩ của ông thật rộng lớn. Với tư cách một vị quan và trên phương diện thay lời Vua để viết lời tuyên cáo chiến thắng, Nguyễn Trãi đã khẳng định nhân nghĩa là yên dân tức là làm cho dân được yên ổn làm ăn, ấm lo hạnh phúc trong an bình. Vì thế, quân điếu phạt trước lo trừ bạo, phải dẹp tan giặc giã hung tàn để cho yên dân. Ông thương dân và lo cho dân với tất cả tấm lòng mình, không phải để ban ơn cho dân mà là đền ơn dân như ông từng nghĩ ăn lộc, đền ơn kẻ cấy cày. Đó là một suy nghĩ hết sức tiến bộ và đáng quý biết bao trong thời đại lúc bấy giờ, mà qua bao thời gian, đến ngày nay vẫn vô cùng giá trị.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ… …
Cũng từng chứng kiến sự tan cửa nát nhà, sự man rợ của bọn cuồng Minh sát hại người vô số, nên Nguyễn Trãi đã hiểu rõ lòng thương cảm và căm giận thay khi những người dân đang gặp cảnh chiến tranh khốc liệt. Những dân đen, con đỏ là những người ở tầng lớp khốn khổ nhất xã hội, những người chuyên đi cày cấy, đi ở, đi làm thuê xuất hiện dưới ngòi bút Nguyễn Trãi cùng tình cảm của ông. Sự quan tâm này thật không dễ gì có được ở những người vốn làm quan lại như ông, vì thế đây là điều rất tốt đẹp của tư tưởng Nguyễn Trãi.
Càng thương dân, ông càng căm giận quân xâm lược. Đoạn kể tội giặc của ông với những hình ảnh cụ thể trong bài Cáo Bình Ngô đầy nước mắt đồng cảm thương xót cho nhân dân, cho quê hương cho cây cỏ núi sông, đồng thời ngùn ngụt lòng căm thù, tức giận đối với kẻ ngoại xâm và bán nước.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nối rừng sâu nước độc …
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Nặng nề những nỗi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Trước tội ác đến độ
Trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Nước Đông Hải không rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần dân chịu được?…
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã mách bảo ông rằng, đã đến lúc trừ bạo để yên dân. Tâm trạng của ông, cũng là của Lê Lợi canh cánh suốt ngày đêm nỗi lo làm sao đánh giặc, cứu dân thoát cơn nguy biến và giành lại độc lập cho giang sơn. Tư tưởng nhân nghĩa ở đây xét đến cùng là lòng yêu nước thương dân. Lòng yêu nước, thương dân vĩ đại ấy đã khiến Nguyễn Trãi cũng như Lê Lợi: đau lòng nhức óc, nếm mật nằm gai suốt mười mấy năm trời. Bài Cáo toát lên một tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc khi nhắc lại lịch sử.
Như nước Đại Viêt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu…
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần, bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Đến khi chiến thắng giặc Minh, một lần nữa, tư tưởng nhân nghĩa – tấm lòng thanh cao của Ức Trai càng cao vời vợi. Ông thương dân, mong muốn sớm yên bình cho quân dân nên ông đã lấy toàn dân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Đối với vị chủ tướng như ông, chiến thắng không phải tất cả, nếu nhân dân cần cuộc sống ấm no thì ta cho họ, ta cũng không nên vì lợi lộc mà quên đi mục đích ban đầu
Hơn thế nữa, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn đối với những kẻ đã gây họa cho nước Đại Việt.Theo ông, binh đao khói lửa chỉ là chuyện bất đắc dĩ, vì làm hao tổn sinh mạng, ông luôn mưu phạt tâm công, dùng áng văn chính luận có sức mạnh hơn 10 binh để tránh đổ máu mà thu phục được lòng người. Với quân tướng bại trận của giặc, ông đã tha bổng và giúp cho về nước, không giết hại: thể lòng trời, ta mở đường hiếu sinh để giữ vẹn hoà hiếu. Ta thấy Nguyễn Trãi quả là một con người nhân nghĩa, với tấm lòng nhân hậu, bác ái và thanh cao tuyệt vời!
Tâm hồn Nguyễn Trãi đong đầy nhân nghĩa, rất thanh cao và trong sáng, có thể coi như một viên ngọc quý. Tên tuổi ông là một dấu son lớn trong trang sử danh nhân Việt Nam. Tư tưởng nhân nghĩa của ông vượt thời gian – qua bao thế kỉ, bao triều đại, và vượt cả không gian – Vang danh trên thế giới, ý nghĩa rộng lớn không biên giới của lòng nhân nghĩa ấy để trở thành một tư tưởng vĩ đại của loài người!
Chúng ta kính trọng Nguyễn Trãi với tư tưởng nhân nghĩa quý báu đã góp phần lớn lao cho lịch sử dân tộc, lại càng thương thay cho cuộc đời lắm éo le, oan khuất của ông. Nguyên nhân cũng chính vì những kẻ xấu không chịu nổi tư tưởng của ông quá tiến bộ, con người ông quá trong sạch và tốt đẹp, vì sự trung thực của một con người nhân nghĩa – Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi đã được mọi người đời sau thương mến kính trọng vì tư tưởng và hành động (rất nhân nghĩa) của ông. Chúng ta tin rằng, chúng ta sẽ thực hiện được những điều có ích cho dân, cho nước,như nguyễn Trãi – tổ tiên chúng ta đã từng theo đuổi – và sẽ có nhiều tấm gương sáng noi theo ông – ngôi sao khuê sáng mãi trên bầu trời Đại Việt.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Bình ngô đại cáo | 1,379 | |
Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Đại cáo bình ngô
Hướng dẫn
Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Đại cáo bình ngô
Nguyễn Trãi là một đại thi hào dân tộc Việt Nam. Ông thật xứng danh là một nhân vật lịch sử vĩ đại cho hàng ngàn thế hê sau học hỏi và noi theo. Người anh hùng ấy vừa gây dựng nên bao công lao to lớn cho đất nước vừa để lại cho nền văn học nước nhà một khối lượng lớn các tác phẩm vô cùng giá trị với tư tưởng nhân văn, nhân nghĩa sâu sắc. Trong đó, không thể không kể đến tác phẩm “Bình ngô đại cáo”. Đây được coi như bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của đất nước. Mà ở đó ông đã khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc, đã đưa ra những chân lý hết sức xác thực và đanh thép, rằng kẻ ác kẻ hung tàn dù có mạnh đến mấy cũng không bao giờ giành chiến thắng, rằng ranh giới bờ cõi đất Việt đã chia rõ ràng, không có kẻ nào có thể xâm chiếm được. Cùng với đó là tư tưởng nhân nghĩa – một thứ tư tưởng không thể tách rời với vận mệnh của đất nước, của nhân dân.
“Nhân” là người, “nghĩa” là nghĩa tình, nghĩa lý. Nhân nghĩa là sự đối nhân xử thế giữa người với người sao cho có ý nghĩa, có tình có lý. Trong “Đại cáo bình ngô” Nguyễn Trãi đã thể hiện tư tưởng nhân nghĩa rất rõ ràng và chí lý. Ngay trong những câu thơ mở đầu, ông đã viết:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Trong hai câu thơ này, Nguyễn Trãi đã khẳng định luôn việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Tức nhân dân làm chủ, người lãnh đạo phải luôn luôn đặt lợi ích của dân lên làm đầu, chớ có vì lợi ích riêng mà hãm hại dân lành. Ông cũng nhắc đến tấm gương của Thang, của Vũ đã vì dân mà đánh kẻ có tội là Kiệt, là Trụ. Họ đã thẳng thắn, không bao che cho nhau. Như thế mới là nhân nghĩa. Như vậy, việc nhân nghĩa không hề là một khái niệm trừu tượng, mà ở đây, Nguyễn Trãi đã giải thích rất rõ ràng nhân nghĩa chính là những việc làm cụ thể, xứng đáng, là những việc mà người lãnh đạo, người cầm quyền làm cho nhân dân. Nguyễn Trãi còn đưa ra nhiều chứng cứ xác thực:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyễn mỗi bên xứng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Nguyễn Trãi đã liệt kê ra một loạt những nhân chứng của lịch sử nước nhà cho sự nhân nghĩa. Chính vì nhân nghĩa nên đất nước dẫu có lúc Bắc Nam hai miền hai phong tục, hay có khi mạnh khi yếu, song đời nào cũng vẫn có những vị anh hùng hào kiệt đáng ngợi ca.
Nhân nghĩa không chỉ là cách ứng xử riêng tư giữa một hai người với nhau, mà hơn thế, nhân nghĩa còn là một tư tưởng lớn của dân tộc. Cũng chính vì lòng nhân nghĩa, nên Nguyễn Trãi đã thấu hiểu hơn ai hết những nỗi đau tột cùng mà bọn giặc Minh đã gây ra cho nhân dân. Bằng nỗi căm hờn khinh ghét, Nguyễn Trãi đã thẳng tay tố cáo tội ác của bọn chúng:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.
Tội ác này chúng sẽ không bao giờ gột rửa được. Câu thơ bất động mà như tanh mùi máu bởi những từ ngữ gợi hình gợi cảm cùng giọng điệu ai oán xót xa mà Nguyễn Trãi đã khéo léo sử dụng. Bọn chúng còn đưa ra đủ các thứ thuế bắt nhân dân phải nộp hàng tháng, hàng năm.
“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc ngán thay cá mập, thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc”.
Chúng bắt dân ta phải phục tùng, phải lao động khổ sai ở những nơi nguy hiểm, tính mạng có thể mất bất cứ lúc nào. Chúng càn quét, vơ vét hết sản vật, chim trả, hươu đen… Tội ác của chúng khiến ngòi bút văn chương của ông phải ghê rợn:
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần nhân chịu được?”
Tội ác tày trời của giặc Minh không thể kết xiết được. Thù này nhất định phải trả.
Như vậy, một lần nữa, lòng nhân nghĩa được Nguyễn Trãi chỉ ra bằng hành động cụ thể: nhìn nhận chính xác kẻ thù, vùng dậy đấu tranh bằng lòng quả cảm, quyết liệt, dù có phải đổ máu cũng không tiếc chi. Từ tinh thần ấy, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được nổi lên. Dù ban đầu, phía quân ta thiếu thốn đủ đường: thiếu nhân lực, thiếu lương thực, thiếu vũ khí… Nhưng, đổi lại, ta lại có những mặt lợi thế:
“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông, chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh;
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo”.
Lòng nhân nghĩa đang được Nguyễn Trãi thể hiện bằng những hành động, những chiến lược quân sự cụ thể. Một lực lượng non yếu, thiếu thốn không cân sức khó mà chiến thắng được, nhưng với thế trận xuất kỳ, với các mai phục thông minh, nhất định ta sẽ giành thắng lợi. Biết mình, biết ta, trăm trận trăm thắng. Có lẽ Nguyễn Trãi cũng thấu hiểu điều đó nên đã ngày đêm tìm hiểu, nghiên cứu để tìm ra thế trận chống lại đội quân hung ác của giặc. Và đúng như những gì mong muốn, quân ta đã giành thắng lợi vẻ vang. Lũ giặc Minh gian ác đã phải trả giá với những gì mình đã gây ra cho dân Việt:
“Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lí An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân…”
Bằng sự quyết tâm và ý chí chiến đấu quyết liệt theo đúng tư tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi đã đưa ra ngay từ đầu, nhân dân ta đã toàn thắng một cách rất hào hùng, oanh liệt. Ông đã liệt kê rất nhiều kỳ tích vang dội của nhân dân:
“Đánh một trận sạch không kình ngạc
Đánh hai trận, tan tác chim muông”
Từ lòng nhân nghĩa, thương dân cùng với sự tương trợ nỗ lực hết mình của tất cả mọi người, cuộc khởi nghĩa đã toàn thắng vẻ vang. Ngược lại, giặc Minh thất bại thảm hại. Đã đến lúc chúng phải đền bù cho những tội ác tày trời mình đã gây ra.
“Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay sắc phong vân phải đổi
Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ”.
Những kỳ tích vang dội của quân ta giành được chính là nhờ có lòng nhân nghĩa, có sự đóng góp công sức to lớn của từng người, từng người trong đoàn quân ít ỏi với vô vàn khó khăn, thiếu thốn. Đúng như lúc đầu Nguyễn Trãi đã nói “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo”. Đến giờ phút này tất cả đã được minh chứng bằng hành động cụ thể, bằng chiến thắng vang dội của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Sau bao gian lao vất vả, hòa bình đã lập lại, non sông Việt Nam lại đi vào công cuộc xây dựng đổi mới đất nước. Lúc này, lòng nhân nghĩa chính cũng chính là niềm tự hào, tự tôn dân tộc.
“Xã tắc từ nay vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiều khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Muôn thuở đều thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy
Thân ôi!
Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn
Xa gần bá cáo
Ai nấy đều hay.”
Niềm vui chiến thắng hòa lẫn với hào hứng bắt tay vào công cuộc mới, công cuộc xây dựng đất nước thời bình. Nguyễn Trãi cũng không quên ghi nhớ công lao của những thế hệ trước đã ngầm giúp đỡ.
Như vậy, tư tưởng nhân nghĩa đã xuyên suốt tác phẩm, được minh chứng cụ thể bằng sự chiến thắng vẻ vang oanh liệt của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Trong cuộc khởi nghĩa ấy, một bên ngang tàng ngang sức, ác độc với lực lượng quân đội rất đông và mạnh, vũ khí tối tân hiện đại, còn một bên thiếu thốn trăm bề từ lực lượng đến lương thực… nhưng sau cùng, “đại nghĩa” đã thắng “hung tàn”. Đó cũng là một quy luật tất yếu của tự nhiên. Cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác.
Tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp trong tác phẩm khiến ta nhìn lại những gì đang diễn ra trên đất nước mình của ngày hôm nay. Một đất nước hòa bình, độc lập tự do, đầy đủ. Thế nhưng không phải ai cũng cố gắng phấn đấu xây dựng nước nhà. Ngay trong đội ngũ lãnh đạo đất nước đã có không ít kẻ lạm dụng chức quyền mà tham ô tiền của, đất đai của nhân dân. Làm vậy không những không còn lòng nhân nghĩa mà còn trở thành kẻ thù của dân. Cuộc chiến tranh của thời bình chẳng phải chống lại ai xa lạ mà chống lại chính những kẻ không có lòng nhân nghĩa, những kẻ đã ác tâm làm hại dân lành. Ngược lại, trong thế hệ trẻ cũng có không ít những người đi vào con đường tội lỗi làm nhũng loạn xã hội. Tất cả đều cần phải nhìn nhận lại chính mình, xem xét lại lòng nhân nghĩa của mình ở đâu. Lòng nhân nghĩa xuất phát từ chính những hành động nhỏ nhất như sự cố gắng học tập, làm việc của mỗi cá nhân, sự kỷ luật nghiêm túc của mỗi tập thể…
Tác phẩm đã khép lại nhưng với giá trị như một bản Tuyên ngôn độc lập, Nguyễn Trãi đã để lại cho đời sau một bài học vô cùng sâu sắc về lòng nhân nghĩa. Giọng văn lúc hào hùng, đanh thép, lúc trầm lắng, bình thản đã đưa những câu thơ đi vào lòng người một cách rất tự nhiên. Cho đến nay, tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị và được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của đất nước. | Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Đại cáo bình ngô | 1,872 | |
Phân tích tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Trãi được thể hiện qua tác phẩm Bình ngô đại cáo
Hướng dẫn
Đề bài: Bình ngô đại cáo là áng thiên cổ hùng văn khẳng định chủ quyền, sức mạnh dân tộc với niềm tự hào sâu sắc. Đồng thời qua tác phẩm này, tác giả Nguyễn Trãi cũng thể hiện tư tưởng nhân đạo rõ nét qua quan điểm yên dân, trừ bạo. Anh chị hãy phân tích tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Trãi được thể hiện thông qua bài thơ Bình Ngô đại cáo.
I. Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
Giới thiệu tư tưởng trong tác phẩm
Nguyễn Trãi một nhà văn, nhà thơ vĩ đại của dân tộc ta, là cây trụ cột trong lâu đài cổ văn học Việt Nam, ông dành cả cuộc đời mình cho những sáng tác, những cống hiến vì nước vì dân
“Bình ngô đại cáo” tác phẩm chất chứa nỗi niềm của ông với tư tưởng nhân đạo xuyên suốt toàn tác phẩm.
2. Thân bài
Một người con của đất Việt: Dành cả cuộc đời cống hiến cho đất nước, luôn lo nghĩ cho dân,, xây dựng tác phẩm trên tình cảm của mình
Việc nhân nghĩa trong ông là yên dân: Sống cống hiến theo lý tưởng đó, từng là nhân dân nên hiểu rõ nỗi khổ nhân dân, những tội ác mà lũ cướp nước, bán nước gây ra
Nỗi căm hận quân xâm lược, tình thương dành cho những con người vô tội
Căm thù những hành động của giặc: Nướng dân, vùi dân, phá nhà cửa, xóm làng… hành động của loài cầm thú
Tình thương đối với nhân dân, làm động lực dẹp yên giặc
Tư tưởng là sự kết hợp giữa nhân dân và thực tiễn dân tộc, nhân nghĩa gắn liền với tự do: Đặt mình vào vị trí người dân mà cảm nhận, đề cao sự tự do, lòng tự tôn dân tộc.
3. Kết bài
Cảm nghĩ, trách nhiệm của bản thân trong thời đại mới
Những người đi trước đã dùng xương máu của mình mà gây dựng nên đất nước, đã sẵn sàng hi sinh qua bao thế hệ
Mỗi người trong chúng ta cần biết cách gìn giữ, ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa đất nước trong tương lai.
II. Bài tham khảo
Nguyễn Trãi một nhà văn, nhà thơ vĩ đại của dân tộc ta, là cây trụ cột trong lâu đài cổ văn học Việt Nam, ông dành cả cuộc đời mình cho những sáng tác, những cống hiến vì nước vì dân, những khoảng trống cuộc đời bất hạnh đã tạo nên con người ông, tạo nên những tác phẩm để đời cho nhân loại, trong số những tác phẩm mà ông xây dựng nổi bật hơn cả là “Bình ngô đại cáo” tác phẩm chất chứa nỗi niềm của ông với tư tưởng nhân đạo xuyên suốt toàn tác phẩm.
Một con người dành cả cuộc đời mình cống hiến cho đất nước, dành toàn bộ tâm trí lo nghĩ cho dân, ông viết theo dòng cảm xúc của mình, viết theo những gì ông biết, ông thấy, ông chứng kiến chứ không phải tưởng tượng, bịa đặt ra và rồi xuất phát từ tận đáy lòng ông mà ông xây dựng nên tác phẩm như một bản tuyên ngôn độc lập được viết theo thể cáo, một thể loại được vua chúa dùng để trình bày chủ trương, tuyên bố vấn đề, khẳng định điều gì đó trước mọi người, và ông dùng tuyên ngôn đó để tố cáo tội ác của lũ cướp nước coi mạng người như cỏ rác.
Đối với ông việc nhân nghĩa cốt ở yên dân là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời mình, ông sống và cống hiến hết mình cho lí tưởng đó, cũng xuất phát từ nhân dân mà ra nên ông hiểu rõ những nổi khổ mà nhân dân phải chịu đựng, phải trải qua, những khó khăn mà người nông dân mang trên mình mỗi ngày. Bè lũ cướp nước đã dùng vũ lực, chúng coi dân ta không phải là con người, như vật bị bỏ đi từ đó mà chèn ép, áp bức, bóc lột thảm hại, không chỉ có những lũ ác ôn từ phương xa tiến vào đất nước ta mà chính những người trong xã hội, những con người cùng sống, lớn lên trên cùng mảnh đất cũng bán nước cầu vinh.
Ông vô cùng thấu hiểu và thương xót cho nhân dân, những con người khốn khổ dưới cuối của tầng lớp xã hội, những con người chân chất thật thà đầy tình yêu thương nhưng lại bị đối xử tệ bạc vô cùng, sự thấu cảm đó của ông xuất phát bởi chính ông cũng đã từng là người dân trốn tránh giặc. Từ đó trong ông luôn có một sự căm hận đối với lũ bán nước và cướp nước. chúng “ Nướng dân ta trên ngọn lửa hung tàn”. Chúng “Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”… Sự căm thù quân xâm lược bao nhiều càng làm cho tình thương trong ông với nhân dân cao cả và lớn lao bấy nhiêu, những hình ảnh trong bài làm người đọc không khỏi rơi nước mắt khi chúng phá nhà, phá cửa, phá con người và thiên nhiên trên mảnh đất của nhân dân ta, chúng vừa khai thác vừa phá hoại những thứ mà không thuộc về chúng. Tư tưởng nhân nghĩa đã làm cho động lực dẹp yên giặc bạo vô cùng lớn lao, một tư tưởng của tướng Lê Lợi, của ông cũng như bao con dân Việt Nam khác.
Tư tưởng của ông trong tác phẩm là sự kết hợp một cách hài hòa giữa nhân dân và thực tiễn của dân tộc, ông hiểu nhân dân, ông yêu nhân dân luôn hết lòng vì nhân dân từ đó mà ông đặt mình vào là một người dân để thấu hiểu những gì mà lũ cướp nước đã gây ra, hòa mình vào nhân dân để vạch trần bộ mặt tàn ác, gian xảo của chúng, một lũ giả danh giả nghĩa cướp nước một cách trắng trợn. Và nhân nghĩa của ông gắn liền với bảo vệ chủ quyền đất nước, đưa nhân dân độc lập, tự do, dân chủ.
Những người đi trước đã dùng xương máu của mình mà gây dựng nên đất nước, đã sẵn sàng hi sinh qua bao thế hệ, chiến đấu tới cùng trong bất kì hoàn cảnh nào để những thế hệ sau này có được một cuộc sống ấm no hạnh phúc, vì vậy mỗi người trong chúng ta cần biết cách gìn giữ, ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa đất nước trong tương lai
Theo | Phân tích tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Trãi được thể hiện qua tác phẩm Bình ngô đại cáo | 1,126 | |
Phân tích tấm lòng lương thiện của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Hướng dẫn
Phân tích tấm lòng lương thiện của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Có thể nói Chí Phèo của Nam Cao là một trong những tác phẩm xuất sắc và chân thực viết về những con người khốn khổ trong xã hội cũ. Họ khổ đến nỗi phải trà đạp lên cả nhân cách và tâm hồn mình mà sống. Như Chí Phèo từng là một anh thanh niên hiền lành, chịu khó nhưng vì lòng người gian ác và xã hội bất công đưa đẩy, anh vào tù ra tội rồi trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Nhưng may thay, trong khi không một ai còn coi Chí là người thì lại có một Thị Nở xuất hiện, làm thay đổi cả cuộc đời Chí. Xây dựng hình ảnh người phụ nữ nhưng không hiểu là vô tình hay cố ý mà Nam Cao đã dành cho Thị một hình hài xấu xí vô cùng, xấu đến nỗi ma chê quỷ hờn. Nhưng trong sâu thẳm cái vỏ bọc bên ngoài ấy lại chính là một tấm lòng lương thiện rất cao quý. Cả làng Vũ Đại không ai xấu như thị nhưng cũng không ai tốt bằng thị.
Thị – một người đàn bà ế chồng, dở hơi nhưng tấm lòng thẳng thắn, trong sáng. Thị gặp Chí trong một đêm ngủ quên bên bờ ao. Hai con người cùng khổ quấn lấy nhau trong đêm trăng thanh gió mát. Rồi tự dưng tình yêu cũng đến. Thị lần đầu tiên biết đến một người đàn ông, lần đầu tiên trông thị có duyên đến lạ. Chí cũng vậy, hắn chưa từng được chăm sóc bởi bàn tay một người đàn bà. Ngay cả mẹ, Chí cũng không hề biết là ai thì làm sao biết thế nào là sự săn sóc, là đàn bà.
Thị đến với Chí phần vì dở hơi, không nhận thức được Chí là ai, phần vì nhu cầu sinh lí. Thị cũng đã ba mươi tuổi rồi, chưa từng đụng chạm với bất kỳ người đàn ông nào. Nhưng sau khi thỏa mãn, Thị không vội vã quay đi mà còn có tình cảm với Chí. Trong thứ tình cảm ấy còn có cả tình thương và sự cảm thông, chia sẻ. Bởi nếu không thương, không yêu, thị sẽ không bao giờ nấu được cho Chí một bát cháo hành ngon đến thế. Nếu không yêu, thị sẽ không nghĩ ngợi gì cho sức khỏe của Chí, sẽ mặc kệ Chí dù hắn ôm đau bệnh tật. Nhưng thị không làm vậy, lòng lương thiện đã mách bảo thị hãy săn sóc, yêu thương hắn. Dù hắn có là quỷ dữ đi chăng nữa, nhưng trước mắt thị giờ đây là một anh Chí hiền lành, tử tế. Một người đàn ông thực sự đã tỉnh dậy sau một cơn say dài triền miên. Có thể thị dở hơi, nhưng cũng chính vì dở nên thị không so đo tính toán. Giữa lúc nghèo đói thiếu thốn như vậy, thị vẫn dám “cả gan” nấu cho Chí một bát cháo hành thật ngon. Nếu bà cô ngoa ngoắt của thị mà biết thì thị lại bị ăn một trận chửi té tắt, thậm chí là đòn roi như mưa. Thị biết điều đó chứ, nhưng giờ sức khỏe của Chí quan trọng hơn. Thị còn biết ăn cháo hành sẽ ra mồ hôi, giúp cơ thể đỡ mệt hơn. Mọi người nhìn thị dở hơi, cũng có lẽ thị dở thật. Vậy một người dở hơi làm việc tốt có được coi là lương thiện không? Tất nhiên là có. Vì lòng lương thiện đã ở sẵn trong con người họ, nó bộc phát theo bản năng một cách tự nhiên nhất, chân thành nhất.
Tấm lòng lương thiện cao quý ấy đã đánh thức một con quỷ dữ bấy lâu nay thoát khỏi cơn say mê muội kéo dài. Lần đầu tiên Chí tỉnh, Chí cảm nhận mọi thứ xung quanh mình, từ những điều giản dị nhất, mộc mạc đơn sơ nhất, như tiếng mái chèo gõ cá, tiếng người đi chợ nói chuyện lao xao… Lòng lương thiện của thị còn đánh thức cả một khoảng trời ước mơ của Chí. Ước mơ ấy đã tưởng chừng như bị nhấn chìm và nhạt nhòa trong men rượu, nhưng giờ đây, men tình của thị đã làm nó quay trở lại. Chí ước có một gia đình nhỏ, có những đứa con thân yêu, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải thêu thùa. Cả hai chăm lo cho con, cùng sống bình yên và hạnh phúc. Một ước mơ thật đẹp, không cao sang nhưng vô cùng cao quý. Vậy mà sự tàn ác, bất công của xã hội đã cướp mất ước mơ ấy của Chí tự bao giờ. Không phải Chí không có bản lĩnh, mà thế lực của thống trị quá lớn, một mình Chí không thể nào chống lại được. Đã thế, Chí lại còn bị đẩy xuống tận cùng cái đáy của xã hội. Không một ai coi Chí là người. Cho đến bây giờ, chỉ có thị dở hơi mới nhìn nhận Chí, cho Chí những khoảnh khắc yêu đương mặn nồng, cho Chí tỉnh lại giữa cuộc đời đầy nghiệt ngã. Lòng lương thiện của con người dở hơi ấy đã có sức mạnh bật lại cả những nỗi oán hận nặng nề hằn sâu trong tâm trí Chí. Bởi lúc này, Chí chỉ mong được hoàn lương, được trở lại làm người bình thường. Chí sẽ không uống rượu nữa, không chửi bới nữa. Mọi sự hận thù trong Chí đã được thị xua tan. Vừa là tình yêu mà cũng vừa là tình người đã cứu sống được kẻ đang thoi thóp nơi đáy vực thẳm của tội lỗi quay trở về với bến bờ của thiện lương.
Dù thế nào đi nữa, tấm lòng lương thiện của thị vẫn là một điểm sáng chói giữa làng Vũ Đại. Thị mang đến cho người đọc thông điệp rất ý nghĩa và sâu sắc: làm người hãy biết cảm thông, sẻ chia và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Dù là ai đi nữa, dù là kẻ tội lỗi hay xấu xa, khi nhận được tình thương thật lòng, nhất định sẽ được cảm hóa và cứu vớt. Thị đã góp phần rất lớn vào thành công của Nam Cao khi viết nên tác phẩm này. Mỗi người trong chúng ta hãy sống rộng lương hơn, thứ tha nhiều hơn và yêu thương nhiều hơn nữa tới những cuộc đời dẫu lầm lỡ hay tội lỗi. | Phân tích tấm lòng lương thiện của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao | 1,135 | |
Đề bài: Phân tích tấn bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ qua nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa
Bài làm
Chỉ xét riêng một truyện ngắn Đời thừa (in lần đầu tiên vào cuối năm 1943), ta cũng có thể nhận ra tấn bi kịch ấy với bao nghịch cảnh, bế tắc, xót xa.
Hộ, nhân vật chính của Đời thừa, là một nhà văn có tài và đầy tâm huyết. Người đọc có thể nhận ra ở Hộ nhiều nét tự truyện của chính Nam Cao. Hộ đã từng viết được những tác phẩm có giá trị, được bạn bè cùng giới viết văn và người đọc yêu mến, cổ vũ. Nhưng, không muốn dừng lại ở bất kỳ chặng nào của thành công, không bao giờ mãn nguyện với những gì đã được viết ra. Hộ luôn luôn khao khát vươn tới cái tận thiện, tận mĩ của nghệ thuật. Hộ thèm khát nghĩ đến một tác phẩm “nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời”.
Hộ dốc lòng phụng sự nghệ thuật. Với Hộ, nghệ thuật là tất cả,là trên hết, niềm đam mê nghệ thuật cao nhất, loại trừ hết mọi đam mê khác. Công việc hàng ngày của Hộ chỉ còn có hai thứ: đọc và viết, không viết thì đọc, không đọc thì viết; đọc để càng hoàn thiện thêm cây bút của mình, đọc để thưởng thức cái đẹp chân chính, cái đẹp cao thượng của văn chương nghệ thuật; viết để sáng tạo, để thể hiện những khát vọng đẹp đẽ của mình về văn chương thế sự. Đọc và viết, Hộ quên tất cả cuộc đời nhỏ nhen, quên tất cả những khó khăn, nghèo túng của một nhà văn nghèo. Trong cách nhìn của Hộ, cả cái nghèo túng ấy cũng là một nét đẹp, cái đẹp của một nhà văn, một con người quên mình vì văn chương, nghệ thuật.
Hộ (và cả Nam Cao nữa) có là một nhà văn “nghệ thuật vị nghệ thuật” không? Không. Bởi với Hộ, nghề văn thật là một nghề cao đẹp trong đời, là một nghề có ý nghĩa phục vụ con người, phụng sự nhân loại ở mức độ cao. Nó làm cho con người trở nên phong phú hơn, cao thượng hơn, nhân ái và độ lượng hơn, gần gũi nhau hơn. Hộ tự đòi hỏi cao và không bao giờ tự bằng lòng về mình, vì cái đẹp, sự tuyệt đối của nghệ thuật, đồng thời cũng vì một ý thức trách nhiệm cao đối với người đọc, đối với nhân loại mà Hộ phụng sự. Đối với Hộ, đưa ra cho người đọc một tác phẩm mờ nhạt, nông cạn, hơn nữa, lại viết cẩu thả, là một việc làm thiếu lương tâm, tệ hơn nữa, đó là một sự lừa gạt. Không muốn chỉ làm “một người thợ khéo tay” trong nghề văn. Hộ muốn “khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có”. Cuộc đời mà sống với những hoài bão như của Hộ, luôn phấn đấu để vươn tới, để hoàn thiện, luôn nhìn thấy mối mâu thuẫn giữa điều đã làm được và điều đáng phải làm được, luôn cố gắng để xoá bỏ sự mâu thuẫn giữa điều mình đang có và cái mình phải có, phải vươn tới; nguyên chừng ấy thôi đã đủ để cho người ta không yên, đã đủ để người ta phải sầu khổ, nhiều khi cảm thấy đổ vỡ. Nhưng không chỉ có thế, tấn bi kịch của Hộ còn lớn hơn nhiều!
Là một người tôn thờ cái đẹp, cái cao thượng trong văn chương, Hộ cũng muốn sống đẹp trong tư cách một con người. Và Hộ đã có một hành động đẹp, tuyệt đẹp của lòng nhân ái. Hộ đã cứu danh dự của Từ, cứu sống đời Từ, cưu mang Từ đúng vào lúc Từ cần đến những điều ấy nhất. Trong tư cách một người chồng, một người cha, Hộ muốn Từ và các con mình hạnh phúc, ít nhất là không khổ, không đau khổ. Nhưng Hộ đã làm được những gì? Từ càng ngày càng khổ, càng gầy gò, xanh xao vì thiếu thốn, đói khát. Các con Hộ thì càng nheo nhóc, tật bệnh. Nguyên chỉ nhìn thấy cái cảnh ấy cũng đã đau khổ rồi, đầy bi kịch rồi, bi kịch của một người muốn làm điều tốt, muốn hạnh phúc cho người khác mà không sao làm được.
Tuy nhiên bi kịch chính của Hộ là ở chỗ này: mối mâu thuẫn giữa khát vọng của một người nghệ sĩ với ước muốn làm một con người tốt đẹp. Để có tiền có thể nuôi vợ nuôi con (dầu chỉ có mức độ thiếu đói), Hộ phải viết vội những tác phẩm mà ngay khi biết ra xong, chính Hộ đã thấy chán. Hộ phải chống lại ngay chính mình, vi phạm ngay những tiêu chuẩn mà Hộ đặt ra cho mình trong tư cách nhà nghệ sĩ. Viết văn để kiếm tiền, viết vội, viết cẩu thả, đó là điều không thể tha thứ, không thể bào chữa được, đối với Hộ. Nhưng để làm một người nghệ sĩ chân chính ư? Thì Hộ phải bỏ mặc vợ con, thậm chí tàn nhẫn với vợ con. Nhưng như thế, với Hộ, lại là hèn nhát, là vô lương tâm, cũng không thể tha thứ được. Hộ đã chẳng từng nêu như một tiêu chuẩn sống là gì: Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình”. Hộ không thể chọn lấy một trong hai con đường: hi sinh nghệ thuật để làm một người chồng, người cha tốt, hoặc vì cái đẹp tối thượng của nghệ thuật mà hi sinh phần con người, làm một con người nhẫn tâm, vô trách nhiệm. Cả hai thứ trách nhiệm ở Hộ đều được ý thức rất cao.
Hộ không có quyền, và không thể chọn lấy và hi sinh bất kỳ phần nào. Tấn bi kịch thường xuyên dai dẳng của Hộ chính là ở đó. Trên cả hai phương diện trách nhiệm, Hộ đều cảm thấy mình làm được ở mức tồi nhất. Vì thế mà Hộ luôn luôn lên án mình, tự xỉ vả mình. Tấn bi kịch ấy trở thành một chứng u uất trầm kha nơi Hộ, có những lúc đã bộc phát lên. Những lúc ấy, những lúc say rượu, Hộ đã chọn lấy một, đã muốn tìm một giải phóng cực đoan nhất. Nhưng rồi tỉnh cơn say, tình thế vẫn vậy, cái vòng lẩn quẩn vẫn vậy, xem chừng lại nặng nề, bi đát hơn.
Đời thừa kết thúc bằng một lần tỉnh rượu của Hộ sau một cơn say (trước đó đã bao nhiêu lần như thế?), Hộ khóc trước cái dáng nằm ngủ khổ sở của Từ, trong vòng tay gầy yếu của Từ. Cả Từ cũng khóc. Hộ khóc vì hối hận đã tệ bạc, đã tỏ ra thô bạo với Từ. Nhưng nguyên nhân chính, hẳn Hộ đã khóc cho nỗi đau của mình, khóc vì cái bế tắc của đời mình, khóc sự tan vỡ thảm thương của hoài bão to tát và đẹp nhất của mình. Rồi cả Từ nữa, Từ cũng khóc vì cô đã mơ hồ nhận ra điều đó.
Đời thừa có phải là tấn bi kịch muôn đời của người trí thức? Người ta có thể vừa sống với hoài bão lớn lao hiến dâng cho sự nghiệp, vừa sống với phần con người tốt đẹp của mình không? Được lắm chứ. Thế thì nguyên nhân bi kịch của Hộ ở đâu? Chính là ở sự bế tắc chật hẹp của đời sống. Cái vòng lẩn quẩn mà xã hội đã khép chặt lại trên thân phận người trí thức nghèo trong xã hội cũ, đặc biệt xã hội Việt Nam thời kỳ 1930-1945.
Nam cao, với Đời thừa, đã để lại cho ta một bức tranh hiện thực, đồng thời cũng để lại cho ta một thông điệp. Người ta có thể sống mà không cảm thấy đời mình là đời thừa; không cảm thấy sống là sống mòn, là một cách chết mòn. Muốn thế, phải giật tung hết những cái lẩn quẩn, những bế tắc của đời sống đi. Cuộc khởi nghĩa tháng Tám đã làm công việc đó. | Phân tích tấn bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ qua nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa | 1,411 | |
Đề bài: Phân tích tấn bi kịch Vũ Như Tô trong Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Trích hồi V vở kịch lịch sử Vũ NHư Tô – Nguyễn Huy Tưởng)
Bài làm
“Vũ Như Tô” là vở kịch lịch sử có qui mô hoành tráng xuất sắc của Nguyễn Huy Tưởng và của nền kịch nói Việt Nam hiện đại. Tác phẩm được sáng tác vào năm 1941, dựa trên một sự kiện lịch sử xảy ra ở kinh thành Thăng Long vào thời hậu Lê. Tác phẩm gồm 5 hồi. Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là hồi 5, hồi cuối của vở kịch. Trong đoạn trích được học, gây ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người đọc là nhân vật Vũ Như Tô cùng bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài.
Hành động, sự kiện chính của hồi này có thể tóm tắt như sau: Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn giữa nhân dân, thợ xây đài với Vũ Như Tô và bạo chúa Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản cầm đầu một phe cánh đối nghịch trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản. Biết tin có binh biến, bạo loạn trong phủ chúa, nguy hiểm đến tính mạng Vũ Như Tô, Đan Thiềm hết lời khuyên và giục chàng đi trốn. Nhưng Vũ khăng khăng không nghe vì tự tin mình “quang minh chính đại”, “không làm gì nên tội” và hi vọng ở chủ tướng An Hòa Hầu. Tình hình càng lúc càng nguy kịch. Lê Tương Dực bị giết; đại thần, hoàng hậu, cung nữ của y cũng vạ lây; Đan Thiềm bị bắt,.… Kinh thành điên đảo. Khi quân khởi loạn đốt Cửu trùng đài thành tro, Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ. Chàng trơ trọi, đau đớn vĩnh việt cửu trùng đài rồi bình thản ra pháp trường.
Theo từ điển văn học, bi kịch là mâu thuẫn giữa khát vọng, hoài bão, lí tưởng của cá nhân với thực tại. Thực tại chưa đủ điều kiện cho cá nhân thực hiện khát vọng, lý tưởng của mình nên rơi vào thất bại, thậm chí dẫn đến cái chết thảm thương. Hiểu theo nghĩa thông thường là nỗi đau khổ vò xé dai dẳng không có cách nào giải thoát. Trong Vĩnh biệt cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô là người nghệ sĩ thiên tài có lý tưởng cao đẹp nhưng lâm vào cảnh ngộ không giải quyết được một cách đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để làm gì nghĩa là không giải quyết được mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống cuối cùng rơi vào bi kịch đau đớn.
Vũ Như Tô là một nhân vật có thật đã từng được Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rất tỉ mỉ: “Trước đây, Vũ Như Tô một người thợ ở Cẩm Giàng, xếp những thanh nứa làm thành kiểu mẫu cung điện lớn trăm nóc, dâng lên nhà vua; nhà vua bằng lòng phong cho Như Tô làm đô đốc đứng trông nom việc dựng hơn trăm nóc cung điện lớn có gác, lại khởi công làm Cửu trùng đài. “(Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục Chính Biên, quyển 26). Tuy nhiên Cửu Trùng Đài đã làm “Dân chúng đau khổ, binh lính mệt nhọc. Quân năm phủ đắp thành chưa xong được, đến đây lại có lệnh bắt các nha môn ở trong ngoài kinh thành phải làm, tập hợp nhau lấy hồ, khiêng đất. Vua hàng ngày bất thần ngự chơi các nơi, chỗ nào vừa ý thì thưởng cho bài vàng, bài bạc. Có chỗ đã làm xong lại phải làm lại, sửa đổi xây đắp lại, hết năm này qua năm khác, liên miên không dứt. Quân lính đắp thành mắc chứng dịch lệ đến một phần mười.”(Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Quyển XV, Kỷ Nhà Lê, Tương Dực Đế). Sau đó, Trịnh Duy Sản phản nghịch, dẫy binh, Vũ Như Tô bị thợ thuyền giết chết, xác quăng ngoài chợ, bị mọi người khinh khi nhổ nước bọt. Tuy nhiên, bi kịch đó của họ Vũ là sự oan khuất bởi ông chỉ là người thừa lệnh của vua làm Cửu Trùng Đài vì thế nhân dân lầm tưởng ông chỉ biết phụng sự cho hôn quân bạo chúa. Năm 1941, Nguyễn Huy Tưởng đã minh oan cho họ Vũ bằng vở kịch năm hồi này.
Trong vở kịch Vũ Như Tô hiện lên là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân của niềm khao khát say mê sáng tạo cái đẹp, “là người ngàn năm dễ có một….có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ…chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công”. Qua vài lời của tác giả ta thấy Vũ Như Tô là một nghệ sĩ lớn mang trong mình nhân cách cao đẹp, một nghệ sĩ có hoài bão lớn lao, có lý tưởng nghệ thuật cao cả. Khát vọng nghệ thuật của ông lớn lao hơn bao giờ hết, ông muốn xây dựng một toà lâu đài vĩ đại “bền như trăng sao” để cho “dân ta nghìn thu còn hãnh diện”. Đó là một công trình kiến trúc vĩ đại, tuyệt mĩ, tô điểm cho non sông đất nước: “để ta xây một Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở, vài năm nữa Cửu Trùng Đài hoàn thành, cao cả huy hoàng, giữa cõi trần lao lực có một cảnh Bồng Lai…. Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài”. Tâm Hồn của Vũ dành hết cho Cửu trùng đài.
Cửu Trùng Đài – như cái tên của nó – là một công trình kiến trúc mà tầm vóc không thể chỉ tính đếm bằng lượng gỗ cây, đá khối, cho dù đó là những con số nghe qua cũng đã đủ kinh hoàng (“hai trăm vạn cây gỗ chất đống cao như núi, toàn những gỗ quý vô ngần”,“hai mươi vạn phiến đá lớn, bốn mươi vạn phiến đá nhỏ, từ Chân Lạp tải ra”). Tầm vóc của nó, phải hình dung bằng chính tầm vóc ý tưởng, khát vọng đầy ngạo nghễ của người sẽ tạo ra nó: một công trình độc nhất vô nhị, vượt xa tất cả những kỳ quan ở Trung Quốc, Ấn Độ, Chiêm Thành,… và những công trình mà người đời từng biết đến, từng truyền tụng. Lại là một kỳ quan bền vững, bất diệt. Xây công trình, họ Vũ không thèm “tranh tinh xảo” với người, chỉ “tranh tinh xảo với Hóa công”! Đó là hiện thân của cái Đẹp, không phải cái Đẹp nói chung mà là cái Đẹp “siêu đẳng”.
Tuy nhiên, Đài Cửu Trùng lại là hiện thân cho cái Đẹp xa hoa. Xây nên kỳ quan ấy, tất nhiên cực kỳ tốn kém, một sự tốn kém không chỉ tính bằng tiền của ngân khố quốc gia, mà còn phải tính bằng cả mồ hôi, nước mắt và máu nữa. Mà Đài chỉ xây cho kẻ ăn chơi sa đọa là vua dâm Lê Tương Dực. Còn nhớ đời Tây Chu bên Trung Hoa, U vương vì Bao Tự mà bắt dân xây Giao Đài để ăn chơi hưởng lạc, khiến cho lòng dân trong nước oán hận rồi cuối cùng đời Tây Chu cũng diệt vong. Cái mầm mống bi kịch của Vũ Như Tô ở đây là ước mơ khát vọng to lớn như vậy nhưng bản thân thì không thực hiện được vì không có tài chính. Còn phụng sự cho hôn quân bạo chúa Lê Tương Dực thì ông không bao giờ hợp tác. Nhưng rồi, Đan Thiềm xuất hiện: sắc đẹp, lời ngon tiếng ngọt và sự tôn kính của Đan Thiềm đã làm cho Vũ xiêu lòng và bằng lòng xây Cửu Đài. Cái oái oăm là ở đó, và mầm mống bi kịch của Vũ Như Tô cũng là ở đó.
Theo đó, ý nghĩa biểu tượng thâm trầm của Cửu Trùng Đài được xác lập trên nhiều mối quan hệ. Với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài hiện thân cho “mộng lớn”. Với Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài hiện thân cho niềm kiêu hãnh nước nhà. Với Lê Tương Dực, Cửu Trùng Đài là quyền lực và ăn chơi. Với dân chúng, Cửu Trùng Đài là món nợ mồ hôi, xương máu,… từ đó bi kịch đã đến với Vũ Như Tô.
Vì quá đam mê thi thố tài năng Vũ Như Tô nào có hiểu được sâu xa, trên thực tế, Cửu Trùng Đài đã xây dựng bằng mồ hôi xương máu của nhân dân và nếu được hoàn thành thì nó cũng chỉ là nơi ăn chơi xa xỉ, sa đoạ của vua chúa, giống như công trình kiến trúc “Vạn Niên” của triều đình Nguyễn sau này: “Vạn niên là vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào đào máu dân”. Như vậy, Vũ Như Tô đã sai lầm khi lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình. Chỉ đứng trên lập trường nghệ sĩ thuần tuý nên đã vô hình chung, trở thành kẻ đối nghịch với nhân dân, gây đau khổ cho nhân dân. Để xây dựng Cửu đài, triều đình đã ra lệnh tăng sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những người chống đối. Dân căm phẫn vua làm cho dân cùng nước kiệt; thợ oán Vũ vì nhiều người chết vì tai nạn, vì ông cho chém những kẻ bỏ trốn. Vì thế cho nên nhân dân căm giận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách, nguyền rủa, thậm chí là oán hận kiến trúc sư đầy tài năng Vũ Như Tô và cuối cùng đã giết chết cả tên hôn quan bạo chúa Lê Tương Dực lẫn Vũ Như Tô, đốt cháy cả Cửu Trùng Đài.
Mâu thuẫn đỉnh điểm được giải quyết bằng vũ lực. Trịnh Duy Sản cầm đầu bọn phản nghịch đã náo loạn kinh thành. Chúng tìm Lê Tương Dực và giết chết tên hôn quân ấy. Chúng đốt phá Cửu trùng đài, chúng tìm Vũ Như Tô để rửa hận. Nhưng Vũ đúng là một nhân vật bi kịch. Ông không thể nào trả lời câu hỏi “xây dựng Cửu Trùng Đài là đúng hay sai, là có công hay có tội?. Thật đau đớn thay, bi kịch thay cho đến khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm mặt cắt không còn hột máu, hốt hoảng đến báo cho Vũ Như Tô, nếu không chạy trốn thì ông sẽ bị giết, nhưng Vũ Như Tô vẫn không chịu đi và vẫn day dứt một câu hỏi: “Tôi có tội gì? Tôi làm gì nên tội? Làm gì phải trốn?”. Thậm chí Vũ Như Tô còn khẳng định “ Bà không nên lo cho tôi. Tôi không trốn đâu. Người quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cũng để cho mọi người biết rằng công việc mình làm chính đại quang minh. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả đây!”. Khi được Đan Thiềm giục giã chạy trốn bởi nguy hiểm cận kề, Vũ Như Tô còn “Ngây thơ”: “Họ tìm tôi nhưng có lý gì họ giết tôi. Tôi có gây oán gây thù gì với ai”. Câu nói thể hiện sự bảo thủ và có phần mê muội. Ngay cả khi bị bắt Vũ vẫn không tin là sự thật, vẫn vĩnh biệt Đan Thiềm “đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một đài vĩ đại để tạ lòng tri kỷ”. Khi bị quân sĩ vả vào miệng Vũ vẫn không ngừng nói về Cửu đài: “…vài năm nữa, Đài cửu trùng sẽ hoàn thành, cao cả, huy hoàng giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai”. Đến chết vẫn hi vọng sẽ thuyết phục được An Hoà Hầu, một kẻ cầm đầu một phe nổi loạn, song sự thực đã diễn ra một cách phũ phàng tàn nhẫn, không như ảo tưởng của Vũ Như Tô. An Hoà Hầu đã cho quân đốt phá kinh thành, đốt phá cả Cửu trùng đài. Cửu Trùng đài tan thành tro bụi.
Tất cả chỉ là ảo vọng. Đan Thiềm và Vũ bị bắt, Cửu Trùng Đài bị thiêu huỷ thì Vũ mới bừng tỉnh, ngửa mặt lên trời mà cất lên tiếng than ai oán tuỵệt vọng “Đốt thực rồi! Ôi đảng ác! Trời ơi! Phú cho ta cái tài để làm gì. Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài! Thôi thế là hết! Dẫn ta đến pháp trường”. Trong tiếng kêu than ấy, tiếng “Đan Thiềm, mộng lớn Cửu Trùng Đài” dồn dập vang lên hoà nhập vào nhau thành khúc ca bi tráng, ai oán, đầy tiếc thương. Đó chính là âm hưởng chủ đạo của đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”. Vậy là cuối cùng Vũ Như Tô cũng đã phải trả giá cho chính hành động của mình. Cái chết của người nghệ sĩ vừa đáng thương lại vừa đáng giận.
Là một nghệ sĩ đầy tài năng và giàu sáng tạo, Vũ Như Tô muốn khẳng định tài năng của mình, muốn tô điểm cho đất nước, muốn làm đẹp cho đời, nhưng khát vọng nghệ thuật và đam mê sáng tạo của ông đã đặt lầm nơi lạc chốn, lạc điệu với thời thế, xa rời thực tế, nên đã phải trả giá bằng chính sinh mệnh của bản thân và của cả công trình thấm đẫm mồ hôi tâm não của mình. Người đọc, người xem thương người nghệ sĩ có tài có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cái đẹp nhưng xa rời thực tế, mà phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật đầy tâm huyết sáng tạo cuả mình
Đoạn trích nói riêng và vở kịch nói chung đã để lại giá trị nhân văn sâu sắc rằng: “Không có cái đẹp tách rời cái chân cái thiện. Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp thuần tuý, nó phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc đời. “Văn chương không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời, cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi đi tới của văn chương”. Người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại cho muôn đời, nhưng cũng biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn dân”. Một vấn đề đặt ra nữa là “Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài năng, quý trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích thực”.
Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và thực tế đời sống nhân dân. Vì vậy vấn đề tác giả đặt ra ngày ấy, giờ đây bước sang thiên niên kỉ mới, nó vẫn còn nguyên giá trị. | Phân tích tấn bi kịch Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt cửu trùng đài | 2,622 | |
Đề bài: Phân tích từ Hoa trong bài Tây Tiến của Quang Dũng
Bài làm
“Tây Tiến” là bài thơ nổi tiếng của nhà thơ xứ Đoài Quang Dũng. Nói đến Tây Tiến, người ta nói đến một thứ ngôn ngữ thơ tài hoa, đậm màu sắc bi tráng và lãng mạn. Bài thơ có nhiều hình ảnh đẹp, nhiều câu chữ xuất thần.
Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Chữ “Hoa” xuất hiện ba lần trong toàn bài, đạt tới sự thăng hoa của cảm xúc nhưng nhiều người chưa hiểu thật đúng và sâu sắc ý thơ.
Chữ “Hoa” thứ nhất xuất hiện trong dòng thứ 4, khổ 1 của bài thơ gợi ra nhiều cách hiểu khác nhau:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát Hoa về trong đêm hơi”
Chữ “Hoa” trong hình ảnh “Hoa về trong đêm hơi” ở câu thơ trên có nhiều người ( nhất là học sinh) hiểu theo nghĩa: Đoàn quân Tây Tiến về Mường Lát trong đêm mang theo cả hương hoa rừng. Cách hiểu thứ hai nghiêng về nghĩa vốn có của từ “Hoa” nghĩa là bông hoa rừng. Khi phân tích, bình giảng cũng có người hiểu theo nghĩa “Hoa” chính là hình ảnh ẩn dụ chỉ các chiến sĩ Tây tiến. Đôi khi người ta cũng cho rằng đó chỉ là một thủ pháp lạ hóa ngôn từ của Quang Dũng mà thôi. Sách giáo khoa không có phần chú thích chữ này,và thực tế cho thấy, khi tìm hiểu bài thơ, ít có nhà nghiên cứu, hay người viết nào luận bàn thật sâu sắc từ này, vì chưa hiểu rõ nên người ta thường bỏ qua vẻ đẹp của nó.
Nhìn lại một số các hiểu từ “hoa” như trên, tôi cho rằng chưa thỏa đáng. Cách hiểu thứ nhất là cách hiểu suy diễn, vì ở đây không hề xuất hiện từ “hương”, do đó không thể hiểu là “Hương hoa”. Theo cách hiểu thứ hai, đặt trong văn cảnh bài thơ, đoàn quân Tây tiến về Mường Lát trong đêm, chữ “Hoa” với nghĩa là “Hoa rừng” tỏ ra không phù hợp vì trong đêm tối, nhất là đêm hơi, đêm sương nhà thơ dù tinh tế đến đâu cũng không thể nhìn thấy vẻ đẹp của hoa. Cách hiểu thứ ba, mới nhìn có vẻ hợp lý hơn hai cách trước, tuy nhiên, trong văn học, người ta thường lấy hoa làm biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ, chứ không thấy “Hoa” là biểu tượng cho người lính bao giờ. Vì thế, cũng không nên hiểu theo cách đó. Còn nếu nói, đó chỉ là thủ pháp lạ hóa về ngôn từ của nhà thơ, thì chỉ đúng phần nào, vì dụ lạ hóa đến mức nào, ngôn từ cũng phải mang trong nó một ý nghĩa, một hàm ý nào đó.
Theo “Từ điển tiếng việt” chữ “Hoa” đứng một mình mang tới 7 nghĩa, nhưng áp vào trường hợp trên, tôi thấy không có từ nào phù hợp. Chữ “Hoa” trong từ ghép có tới 51 từ, trong đó chỉ có 2 từ là “Hoa đăng”,”Hoa đèn” hay “Hoa chúc” ( Từ điển Hán Việt- Đào Duy Anh) mang tính chất phù hợp hơn cả. Nhưng ta nên lý giải như thế nào để đúng với bài thơ?
Đi tìm một cách luận giải hợp lý, tôi cho rằng để hiểu chữ “Hoa” thứ nhất ta nên bàn thêm về chữ “Hoa” thứ hai trong khổ thơ tiếp theo:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ”
Chữ hoa ở đây đặt trong từ “đuốc hoa” (hoa chúc), nghĩa là những ngọn đuốc trong đêm liên hoan của các chiến sĩ Tây Tiến với đồng bào dân tộc miền Tây. Ngọn đuốc đối với những người lính hành quân trong rừng đêm vừa là phương tiện soi đường, vừa là một thứ vũ khí đối phó với thú dữ. Trong bài “ Việt Bắc”, Tố Hữu cũng viết:
“ Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
Trở lại với chữ “Hoa” thứ nhất trong khổ thơ đầu của bài thơ Tây Tiến, chúng ta cần hiểu theo nghĩa “Đuốc Hoa”. Đây là cách hiểu chính xác hơn cả. Chữ “Hoa” đạt tới sự thăng hoa trong cảm xúc Quang Dũng. Nhìn từ xa đoàn quân Tây Tiến hành quân về Mường Lát mang theo những ngọn đuốc giống như một dòng sông hoa lung linh, ẩn hiện trong đêm sương. Cách hiểu hiểu này cũng phù hợp với nỗi nhớ mênh mang, chơi vơi của nhà thơ ở những dòng thơ đầu. Sự lạ hóa trong ngôn từ của Quang Dũng thật tài hoa, mang đầy chất lãng mạn. Chính sự lạ hóa này làm cho hình ảnh đoàn quân Tây Tiến đẹp hơn, thơ hơn rất nhiều.
Trong bài thơ Tây Tiến, chữ “Hoa” cũng xuất hiện trong đoạn thơ miêu tả vẻ đẹp thơ mộng của sông nước miền Tây:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Chữ “Hoa” đã thể hiện cảm nhận tinh tế của nhà thơ về thiên nhiên. Hình ảnh những bông hoa rừng đong đưa như làm duyên trên dòng nước lũ làm khổ thơ đẹp hơn rất nhiều, Ba chữ “Hoa đong đưa” gợi một cảm xúc rất tình tứ và duyên dáng. Viết về vẻ đẹp của hoa rừng, ít nhà thơ nào viết được như vậy.
Cả ba chữ “Hoa” trong bài thơ Tây Tiến đều đẹp, hoa(1) đẹp vẻ huyền ảo, hoa (2) đẹp lung linh, và hoa (3) đầy duyên dáng.
Tóm lại, tuy chữ: hoa” chỉ là một chữ nhỏ trong bài thơ Tây Tiến, song chỉ một chữ thôi, Quang Dũng đã thể hiện những cảm nhận thật tinh tế và sự thăng hoa tuyệt vời trong cảm xúc. Nếu hiểu thật đúng và sâu sắc ý thơ, chúng ta sẽ thấy bài thơ hay và đẹp hơn rất nhiều. | Phân tích từ Hoa trong bài Tây Tiến của Quang Dũng | 1,035 | |
Phân tích viên quản ngục trong Chữ người tử tù
Hướng dẫn
Phân tích viên quản ngục trong Chữ người tử tù
Chữ người tử tù là một trong những tác phẩm cùng tên của Nguyễn Tuân, được sáng tác và trích trong tập vang bóng một thời, là những trang viết về những danh nhân nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng trong nhiều lĩnh vựa cho nước nhà. Hình ảnh Huấn Cao, người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất là hình tượng chính xuất hiện trong suốt tác phẩm, song song với hình ảnh đó chính là nhân vật viên quản ngục. Hình ảnh đẹp, bình dị và gửi gắm nhiều thông điệp tốt đẹp của tác giả đối với đông đảo người đọc.
Thông thường khi nhắc đến quản ngục người ta thường nghĩ tới những người với khuôn mặt dữ dằn, dáng vẻ thô kệch và vô cùng táo bạo. Những người bước chân tới cửa lao tù phải là những người táo bạo có máu mặt, bởi những người ở tử tù này, đều là những nhân vật có tiếng nguy hiểm. Nhưng trái ngược với những suy nghĩ của chúng ta về một người quản ngục, viên quản ngục trong Chữ người tử tù lại hiện ra với một vẻ đẹp tư cách và có hơi hướng thẩm mỹ cao, là người yêu cái đẹp.
Viên quản ngục là một người biết phân biệt đúng sai, biết quý trọng nhân tài, biết được nên làm gì cho đúng với lương thường đạo lý. Khi nghe rằng chiều nay sẽ có những tên tử tù nguy hiểm số một tới trại giam, và biết được người này chính là Huấn Cao, cầm đầu trong nhóm đội trời đạp đất, đứng về công lý nhưng lại phản lại triều đình cho nên bị đẩy đến mức bước đường này cho nên ông cũng không hề có ý khinh bỉ hay tỏ khinh khi, đánh đập tra tấn mà ngược lại vô cùng tôn kính. Hơn thế nữa, Huấn Cao lại là người viết chữ rất đẹp, người trong nhân gian rất muốn có được chữ của ông treo trong nhà thì quý biết bao nhiêu. Nhưng khó là ở chỗ, chỉ chỗ thân cận, Huấn Cao mới cho chữ, và cũng cho rất ít cho nên nó trở nên quý hiếm và được trân trọng biết bao nhiêu. Đối với Huấn Cao, viên quản ngục sắp xếp phòng giam, quét dọn sạch sẽ lại cho dọn rượu thịt và đối đãi rất tốt. Ông biết được rằng Huấn Cao là tử tù nhưng lại là người đứng lên vì chính nghĩa. Suy cho cùng, Huấn Cao là người tài giỏi, văn võ song toàn, là người có tài thao lược nhưng cốt cách ngời ngời. Biết được những điều đó, cho dù bị Huấn Cao đuổi và tỏ ra khinh bỉ nhưng viên quản ngục vẫn cúi đầu nghe theo, lẳng lặng chú ý và quan sát.
Viên quản ngục còn là một con người yêu cái đẹp và cốt cách cũng rất đáng quý trọng. Như chúng ta đã biết, ông rất muốn xin chữ Huấn Cao nhưng chưa có cơ hội để bày tỏ những điều đó. Mong mỏi của ông chính là có chữ của Huấn Cao mang về đeo trong nhà cũng là ước nguyện của ông khi một người nghĩa hiệp và có chữ quý hơn châu báu trước khi bị tử tù. Biết được tâm niệm của viên quản ngục, Huấn Cao cho chữ và còn đưa ra lời khuyên cho ông. Quản ngục dù chân đứng chốn lao tù nhưng lương tâm lại vô cùng sáng và lương thiện. Ông được ví như âm thanh trong trẻo nhất của bản giao hưởng xô bồ. Cúi đầu vái lạy Huấn Cao khi được cho chữ và nhận lời khuyên cho thấy ông đã hướng và có ý định bắt đầu cuộc đời mình với một cuộc sống mới.
Xuất hiện trong Chữ người tử tù, Viên quản ngục lại trở thành một tâm điểm khác mà tác giả muốn hướng độc giả đến. Những con người này khi thấm nhuần được những tư tưởng, những đạo lý và nhân nghĩa đều có ý phục theo. Con người muốn sống lương thiện, yêu cái đẹp nhưng cũng như ông cha xưa đã nói, tâm sáng thì đứng trong chỗ bùn lầy cũng không thể giữ mãi nhân cách của bản thân mình được. CHính vì vậy nghe theo lời răn dạy của Huấn Cao, cái kết của CHữ người tử tù là một hồi kết mở, độc giả cũng có thể lờ mờ đoán ra được viên quản ngục sẽ làm gì, cuộc đời sẽ tới đâu và con người này sẽ nghe lời khuyên của Huấn Cao để về quê sống cuộc đời lương thiện. | Phân tích viên quản ngục trong Chữ người tử tù | 809 | |
Đề bài: Phân tích và bình giảng bài Trong lòng mẹ trích hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng
Bài làm
Những ngày thơ ấu (viết năm 1938, Nhà xuất bản Đời nay in lần đầu năm 1940) là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Nguyên Hồng. Đó là một tập hồi ký ghi lại những năm tháng tuổi thơ rất ít niềm vui nhưng nhiều cay đắng của tác giả, thể hiện một cách chân thật những “rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”. (Thạch Lam)
Hồi kí Những ngày thơ ấu gồm 9 chương, Trong lòng mẹ là chương IV của tác phẩm. Nhân vật chính của chương sách này là bé Hồng. Bé Hồng được đặt trong tình huống hết sức tội nghiệp: bố mất, mẹ đi bước nữa bị gia đình nhà chồng ruồng rẫy. Bé Hồng phải sống nhờ họ hàng và bị hắt hủi tàn nhẫn. Em thương mẹ, nhớ mẹ vô cùng mà phải xa mẹ, đồng thời thường xuyên phải nghe những lời nói xấu về mẹ. Ta hiểu vì sao em vô cùng sung sướng khi mẹ trở về.
Trong chương sách này, nhà văn đã tập trung làm nổi bật tình cảm xót thương, yêu quý sâu sắc của bé Hồng đôi với người mẹ nhân từ, tần tảo mà cuộc đời đầy bât hạnh. Tình cảm ấy trước hết được thể hiện qua tâm trạng cua bé Hồng khi nói chuyện với bà cô. Diễn biến tâm trạng của bé Hồng được miêu tả thật sinh động. Lúc đầu bé Hồng định nghe lời bà cô vào Thanh Hóa thăm mẹ. Nhưng khi nhận ra “ý nghĩa cay độc” trong giọng nói và trên nét mặt “khi cười rất kịch”, đầy giả dối của bà cô, bé Hồng lẳng lặng “cúi đầu không đáp”. Cử chỉ “im lặng, cúi đầu xuống đất” của bé Hồng lại được miêu tả lặp lại một lần nữa khi bà cô tiếp tục giục giã em vào Thanh Hóa thăm mẹ, vì mẹ em dạo này “phát tài lắm”. Bà cô đưa tin mẹ bé Hồng có con khi chưa hết tang chồng, lại nghèo túng khốn khổ nơi đất khách quê người, thấy người quen lại tránh mặt để lăng nhục bé Hồng và gieo rắc vào đầu óc em sự “hoài nghi”, “khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”. Những lời cay độc của bà cô như những con dao nứa cứa vào tâm hồn thơ dại của đứa trẻ. Bé Hồng từ chỗ nhẫn nhục, “im lặng, cúi đầu” đến lúc không sao nén nổi nỗi đau đớn tủi nhục đã bật lên tiếng khóc, nước mắt “ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ”. Và một thứ tình cảm phức tạp, vừa thương yêu, vừa căm tức nẩy sinh trong tâm hồn ngây thơ của bé Hồng, khiến em “cười dài trong tiếng khóc”.
Bé Hồng cười (cười mỉa mai) vì hiểu thâu những rắp tâm “tanh bẩn" của cô, vì khinh bỉ thái độ rất cay độc của bà: làm ra vẻ thông cảm, nhưng kỳ thực: chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc em những hoài nghi “để em khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”. Bé Hồng khóc vì thương mẹ bị đày đọa, bị lăng nhục, bị đối xử một cách tàn nhẫn, bất công, vô nhân đạo. Khóc vì thương mẹ chỉ vì “sợ hãi những thành kiến tàn ác” mà xa lìa hai con “để sinh nở một cách giấu giếm, trốn tránh như một kẻ giết người”. Càng thương mẹ, bé Hồng càng căm ghét những hủ lục phong kiên vô lý, tàn nhẫn đã đày đọa, trói buộc người phụ nữ. Lòng căm ghét cao độ, mãnh liệt ây đã được tác giả diễn tả bằng những hình ảnh cụ thể, cùng với nhịp văn gấp gáp, dồn dập: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi”.
Vậy là, dù có tinh ma, độc địa đến đâu, bà cô bé Hồng cũng không thể chia rẽ được tình cảm giữa em với người mẹ: “Nhưng đời nào lình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến… Mặc dầu non một năm ròng mẹ tôi không gửi cho tôi lấy một lá thư, nhắn người thăm tôi lấy một lần và gửi cho tôi lấy một đồng quà”. Tâm địa xấu xa của bà cô chỉ làm khơi sâu thêm tình cảm thương yêu mẹ của bé Hồng và thổi bùng lên trong em sự căm ghét sâu sắc những kẻ đối xử tàn nhẫn với mẹ em. Có thể nói, chương Trong lòng mẹ là lời khẳng định chân thành đầy cảm động sự bất diệt của tình mẫu tử. Tình cảm thiêng liêng muôn đời ấy không một thế lực nào có thể tàn phá nổi.
Cuối chương hồi kí, tác giả đã diễn tả thật cụ thể và sinh động tâm trạng của bé Hồng khi gặp mẹ. Một buổi chiều tan học, bố Hồng “chợi thoáng thấy một bóng ngựời trôn xe kéo giống mẹ” và em “liền đuổi theo, gọi rối rít”. Nhưng nếu người trên xe lại là người khác thì cái lầm đó thành ra một trò cười lức bụng cho lũ bạn. “Cái lầm đó không những làm cho tôi thẹn mà còn tủi cực nữa, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc”. Thủ pháp so sánh ví von này đã diễn tả được một cách cụ thể sự khao khát tình mẹ con thật là mãnh liệt như người bộ hành ở giữa sa mạc khát nước đến cháy bỏng. Nỗi vui sướng của bé Hồng khi gặp mẹ còn được nhà văn thể hiện qua những cử chỉ, hành động. Vì cuống cuồng đuổi theo xe, bố Hồng “thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi” và “ríu cả chân lại” khi trèo lên xe. Và đến khi được bàn tay dịu hiền của mẹ xoa đầu thì bé Hồng “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Đó là! khóc đầy hạnh phúc.
Để diễn tả những rung cảm sâu xa và niềm hạnh phúc lớn lao của bé Hồng khi được ngồi trong lòng mẹ, tác giả đã miêu tả rất cụ thể những cảm giác của em khi ngồi trên đệm xe, đùi áp vào đùi mẹ, “đầu ngả vào cánh tay mẹ ". Em còn cảm nhận được cả mùi quần áo quen thuộc của mẹ và “những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra (…) thơm tho lạ thường”. Vừa trực tiếp miêu tả những cảm giác cụ thể của bé Hồng, tác giả vừa diễn tả những ý nghĩ của em bình luận về niềm hạnh phúc tuyệt vời của mình: “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một sự êm dịu vô cùng”. Trong những giây phút say sưa và “rạo rực” ấy, bé Hồng không còn nghĩ gì, thứ gì khác nữa kể cả những âu yếm mẹ con với nhau và những lời cay độc của bà cô trước đó. Tất cả tâm trí của em đều dồn cho sự tận hưởng tình mẹ. Đôi với em, niềm sung sướng và hạnh phúc nhất trên đời là được sống trong lòng mẹ. | Phân tích và bình giảng bài Trong lòng mẹ trích hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng | 1,312 | |
Phân tích và chứng minh Bố của En-ri-cô rất yêu thương con, nhưng cũng rất nghiêm khắc trước những lỗi lầm cua con
Hướng dẫn
Nhắc lại tên con nhiều lần, kèm theo các từ: “ạ!”, “này”, “rằng”, giọng bố trở nên tâm tình, thủ thỉ, tha thiết; lời giáo huấn cứ thấm sâu vào tâm hồn con, làm cho En-ri-cô “xúc động vô cùng”.
Tuỳ thương yêu con hết mực, nhưng bố rất nghiêm khắc, kiên quyết. bố nói cho con biết nỗi đau đớn cay đắng của mình vì “trước mặt cô giáo, con đã thiếu lễ độ với mẹ”, và “sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy!”. Đau đớn vì con hư! Tủi nhục vì bố mẹ có đứa con thiếu giáo dục!
bố nhắc con “không bao giờ được tái phạm” về hành vi thiếu lẻ độ với mẹ. bố đã chỉ cho con thấy công ơn to lớn và tình thương bao la của mẹ đối với con, “tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả”. Đó là cái gốc của đạo làm người, vì thế kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó, “thật đáng xấu hổ và nhục nhã”.
bố bắt con phải xin lỗi mẹ “không phải vì sợ bố, mà do sự thành khẩn trong lòng” nghĩa là do sự ăn năn hối hận, do lương tâm cắn rứt? bố khuyên con “hãy cầu xin mẹ hôn con”, chiếc hôn tha thứ đứa con tội lỗi, chiếc hôn để “xóa đi cái dấu vết vong ân bội nghĩa trên trán con”.
Cuối bức thư, thái độ của bố càng quyết liệt hơn. Yêu và ghét, còn và mất dược bố nêu lên một cách kiên quyết. Tuy rất yêu con, coi con là “niềm hi vọng tha thiết nhất”, nhưng nếu con “bội bạc với mẹ” thì “thà rằng bố không có con”. Càng nghiêm khắc hơn nữa khi người bố viết: “Thôi, trong một thời gian con dừng hôn bố; bố sẽ không thể vui lòng đáp lại cái hôn của con được”. Đối với con, thời gian là thử thách, con có sửa chữa được lỗi lầm đó không…
Qua bức thư, ta thấy người bố rất nghiêm khắc trong việc giáo dục đạo đức cho con. bố dạy con cách ăn nói phải lễ phép, phải biết kinh trọng và ghi nhớ công ơn to lớn của bố mẹ và phải biết thành khẩn sửa chữa lỗi lầm. Bức thư viết cách chúng ta trên một thế kỉ của một người bố gửi cho con trong một gia đình nước Ý, thuộc nền văn hóa phương Tây, nhưng chúng ta (thuộc nền văn hóa phương Đông) vẫn cảm thấy gần gũi, thân thiết và xúc động. Bài học về lòng biết ơn và kính trọng bố mẹ được đặt ra một cách nghiêm túc. Con cái không nên, không được làm cho bố mẹ phải đau lòng, dù là một cử chỉ, một lời nói vô lễ. Vô lễ là bất hiếu. Bất hiếu, bất trung là tội lớn, xưa nay đều quan niệm thế. | Phân tích và chứng minh Bố của En-ri-cô rất yêu thương con, nhưng cũng rất nghiêm khắc trước những lỗi lầm cua con | 524 | |
Phân tích và chứng minh những bài ca dao có hai chữ thân em
Hướng dẫn
Có khá nhiều bài ca dao nói về cô gái làng quê ngày xưa. Có bài bất đầu bằng hai chữ “Em là…”: “Em là con gái Kẻ Mơ…”, “Em là con gái Phủ Từ…”, “Em là cô gái đồng trinh – Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè…”. Còn có những bài bắt đầu bằng hai tiếng rất dễ thương “thân em”. Chữ “thân” được nói đến có nghĩa là thân phận, số phận, duyên số… Có bài là lời tâm sự tỏ bày nỗi niềm. Có bài là lời tự hát với bao mơ ước chứa chan. Tất cả đều làm hiện lên hình ảnh cô thôn nữ đáng yêu và đáng nhớ.
“Hạt mưa sa”, “hạt mưa rào”, “tấm lụa đào”,…là những ẩn dụ về “thân em”. “Đài các” tượng trưng cho sự giàu sang phú quý. “Vườn rong”, “ruộng cày” chí một cánh đời chân quê, vất vả, tay lấm chân bùn. Sống trong xã hội phong kiến, việc hôn nhân của thiếu nữ là do cha mẹ định đoạt, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Tình duyên hạnh phúc mai sau, chỉ biết tin vào số phận như một sự may rủi: “Thân em như hạt mưa sa,
Hạt rơi đài các, hạt ra ruộng cày”
“Thân em như hạt mưa rào,
Hạt rơi đài các, hạt vào vườn rong”
Chỉ là hạt mưa nhỏ bé, hạt mưa sa, hay hạt mưa rào cũng thế thôi. “Đài các” với “ruộng cày”, với “vườn rong” tương phản hai cảnh đời. Có yên ấm hạnh phúc hay lận đận vất vả chỉ còn biết trông chờ vào số phận, vào sự may rủi. Như một tiếng than khẽ thốt lên chứa bao nỗi niềm.
“Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
Đạo tam tòng của lễ giáo phong kiến vô cùng nghiệt ngã. “Biết vào tay ai” cũng là một nỗi niềm phấp phỏng lo âu. Nhà thơ dân gian đã cảm thông, đã san sẻ với những nỗi niềm ấy của bao cô thôn nữ ngày xưa.
Vẻ đẹp của thiếu nữ thật trăm màu trăm dáng. Có vẻ đẹp rực rỡ “mặt hoa da phấn”. Có nét đẹp “cổ kiêu ba ngấn, da phấn má lúm đồng tiền”. Lại có cô duyên thầm đen dòn,… Củ ấu gai trong bùn ao khác nào “thân em”, bình dị, quê kiểng:
“Thân em như củ ấu gai,
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen.
Anh ơi nếm thủ mà xem,
Nếm xong mới biết là em ngọt bùi”
“Vỏ ngoài thì đen”,đó là đen dòn. Bởi lẽ tâm hồn em trong trắng, trinh trắng. Phẩm chất em trung hậu, đoan chính “ngọt bùi”. Lòng dạ em chung thủy sắt son. Một chút tâm sự giãi bày, nhưng rất tự tin, tự trọng về cái duyên thầm của
“thân em”.
Trên cái nền “bát ngát mênh mông”… “mênh mông bát ngát” của cánh đồng làng, cô thôn nữ rạo rực trước tâm hồn mình, nhan sắc của mình:
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”
Chẽn lúa đòng đòng hứa hẹn một ngày mai hạnh phúc trĩu hạt sây bông. So sánh “như chẽn lúa đòng đòng” gợi tả một sức sống căng tràn, một cuộc đời phơi phới như đang tung bay trong màu hồng và hơi ấm của ánh bình minh. Thân em vừa trẻ trung xinh đẹp, vừa dạt dào sức sống, hứa hẹn nhiều hạnh phúc tương lai.
Tóm lại, những bài ca dao nói về “thân em” diễn tả sâu sắc bao nỗi niềm, bao tâm lí, bao ước mơ về tình duyên, hạnh phúc của cô thôn nữ sau bờ tre ruộng lúa. Những ẩn dụ nói về “thân em” thật gợi cảm và hình tượng. Giá trị nhân bản thấm sâu những bài ca dao “thân em…” ấy.
Dưới ánh sáng cách mạng, vị thế vai trò của người phụ nữ được đề cao, được trọng vọng. Họ đã và đang vươn lên thành những mẹ hiển, vợ đảm đang, cô gái tài sắc đáng kính đáng yêu. Nhưng có điều rất lạ, những bài ca dao nói về “thân em” vẫn rất sống… | Phân tích và chứng minh những bài ca dao có hai chữ thân em | 698 | |
Phân tích và cảm nghĩ phần đầu văn bản Thuế máu – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp trong thời gian Người ở Pháp và được xuất bản lần đầu tiên tại Pa- ri vào năm 1925. Tác phẩm đã tố cáo và kết án những tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân Pháp, đồng thời phản ánh cuộc sống tủi nhục, đau thương của những người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa trên thế giới.
Đoạn trích Thuế máu được rút trong chương I của “Bản án chế độ thực dân Pháp. Các tiêu đề trong phần này lần lượt là Chiến tranh và người bản xứ; Chế độ lính tình nguyện; Kết quả của sự hi sinh. Phần đầu trong văn bản chính là mục Chiến tranh và người bản xứ. Phần này nói về tình cảnh của những người An-nam-mít và những người nô lệ da đen phải làm bia đỡ đạn cho bọn thực dân Pháp và bị đối xử một cách vô cùng tàn nhẫn.
Trước khi có chiến tranh thì những thanh niên bản xứ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên An-nam-mít bẩn thỉu chỉ biết làm cu li kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị da trắng. Nhưng khi chiến tranh vừa bùng nổ, bọn thực dân đã sử dụng mọi thủ đoạn để lừa bịp và biến họ thành con yêu, bạn hiền của các quan cai trị. Không những thế họ còn được phong cho danh hiệu chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do. Nguyễn Ái Quốc đã rất khéo léo sử dụng thủ pháp tương phản để vạch trần giọng điệu bịp bợp của bọn thực dân cai trị. Thực chất là bọn thực dân bắt họ làm bia đỡ đạn, một cách đánh thuế máu vô cùng xảo quyệt. Các từ ngữ như chiến tranh vui tươi, lập tức họ biến thành,đùng một cái, được phong cho cái danh hiệu tối cao đã làm cho giọng văn châm biếm trở nên sâu cay, mỉa mai.
Nguyễn Ái Quốc nêu ra những mất mát đau thương của những thanh niên bản xứ bị bắt đi làm bia đỡ đạn. Họ phải xa lìa vợ con, phải rời bỏ quê hương, mảnh ruộng, đàn cừu. Họ đi phơi thây trên các chiến trường châu Âu. Biết bao cảnh chết chóc đau thương đã xảy ra. Họ chết vì thủy lôi: được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của loài thủy quái; bị bỏ xác tại các vùng hoang vu tận Ban-căng, để lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ. Xương máu của họ, cái chết của họ thật vô nghĩa, hoặc anh dũng đưa tay cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ, hoặc lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy, lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống đốc. Tác giả đã kết hợp miêu tả với bình luận để mỉa mai, châm biếm cái thuế máu của bọn thực dân.
Những người lính thợ không bị bỏ xác trên các chiến trường thì lại bị đầu độc, phải lao động khổ sai, làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm để nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ối. Những kẻ khốn khổ ấy đã khạc ra từng miếng phổi chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy! Đó là một sự cống hiến rùng rợn của người dân bản xứ đối với chiến tranh.
Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng thành công các thủ pháp nghệ thuật như tương phản đối lập, kết hợp miêu tả với bình luận, sử dụng số liệu… đặc biệt là giọng văn chua cay, châm biếm, mỉa mai để vạch trần và lên án những tội ác của bọn thực dân.
Trong suốt 80 năm thông trị nước ta, thực dân Pháp đã đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí nhằm bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ. Khi đọc đoạn trích Thuế máu chúng ta được biết thêm một loại thuế có một không hai mà bọn thực dân đặt lên đầu nhân dân ta.
Tags:Văn 8 | Phân tích và cảm nghĩ phần đầu văn bản Thuế máu – Đề và văn mẫu 8 | 735 | |
Phân tích và làm rõ giá trị nghệ thuật bài thơ Nhớ Rừng – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Thế Lữ (1907 – 1989) tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, sinh ra ở vùng Kinh Bắc, là nhà thơ tiêu biểu nhất trong phong trào Thơ mới (1932 – 1945) buổi đầu. Với một hồn thơ dồi dào lãng mạn, Thế Lữ góp phần quan trọng vào việc đổi mới thơ ca và đem lại chiến thắng cho Thơ mới. Ngoài sáng tác thơ, Thế Lữ còn viết truyện. Sau đó, ông chuyển sang hoạt động sân khấu và trở thành một trong những người có công đầu xây dựng ngành kịch nói ở nước ta.
Bài thơ “Nhớ rừng” được Thế Lữ viết năm 1934, in trong tập “Mấy vần thơ” xuất bản năm 1935. Bài thơ mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn Bách thú để thể hiện ý chí căm hờn, u uất và niềm khát khao tự do mãnh liệt của tác giả cũng như những người bị giam cầm, bị nô lệ.
Bài thơ mở đầu bằng câu thơ chứa đầy uất hận của tác giả:
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt.
Bị nhốt trong cũi sắt, căm hờn, uất hận đã chứa thành khối, gậm mãi mà chẳng tan, càng gậm càng cay đắng. Chỉ còn biết nằm dài bất lực, đau khổ. Bị chế giễu, bị nhục nhằn tù hãm, trở thành thứ đồ chơi cho lũ người ngạo mạn, ngẩn ngơ. Lũ người ngạo mạn kia không ai khác chính là bọn thực dân cướp nước. Đau khổ nhất là chúa sơn lâm nay bị tầm thường hóa, vị thế trước đây nay bị đánh mất:
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
Đó là một tâm trạng điển hình đầy bi kịch của chúa sơn lâm khi bị sa cơ, thất thế, bị giam cầm. Hiểu hoàn cảnh lịch sử đất nước khi bài thơ ra đời mới thấy tính chất đồng điệu trong nỗi cay đắng, tủi hờn của con hổ với nỗi tủi nhục của nhân dân ta khi sống trong xiềng xích nô lệ.
Câu thơ tiếp theo gợi lại cuộc sống của con hổ nơi vườn bách thú:
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ.
Tình thương và nỗi nhớ của con hổ cho thấy sự luyến tiếc, nhớ nhung cuộc sống mà nó từng trải qua, nhớ thuở tung hoành, nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già. Những khúc nhạc rừng hùng tráng, dữ dội. Chữ nhớ, chữ với và cách ngắt nhịp 4/2/2; 5/5; 4/2/2 làm gia tăng nỗi nhớ nhung của con hổ. Sự phong phú về nhạc điệu đã khắc họa đời sống nội tâm vô cùng mạnh mẽ của nhân vật oai hùng từng có một quá khứ oanh liệt. Những câu thơ tiếp theo là hồi ức đẹp về khung cảnh rừng xanh, nơi chúa sơn lâm một thời thống trị, nhưng nay chỉ còn trong kí ức:
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
…
Ta biết ta là chúa tể cả muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
…
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Các động từ gào, thét, hét miêu tả khúc trường ca dữ dội của núi rừng, suối ngàn thiêng liêng và hùng tráng. Đó là những câu thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới. Tiếp đó, chúa sơn lâm mới trở về với thực tại: ta nằm dài, ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ. Các từ ta xuất hiện trong câu làm xuất hiện vẻ kiêu hãnh tự hào của chúa sơn lâm. Hình ảnh chúa sơn lâm được khắc họa trong chiều sâu tâm linh, trong chiều cao uy quyền được khẳng định. Khi chúa bước lên là muôn loài đều nể phục, tuy nhiên thời vàng son ấy nay không còn nữa.
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Sau một nỗi nhớ vàng son, oanh liệt, chúa sơn lâm chợt tỉnh mộng, trở về với thực tại là cũi sắt, là cái khung cảnh giả tạo do con người đặt ra, chúa sơn lâm cảm thấy đau đớn và cay đắng vô cùng. Lời than của con hổ cũng là tiếng than vãn của những người dân lầm than bị áp bức bóc lột. Sự kết hợp giữa cảm thán với câu hỏi tu từ làm dội lên một lời thơ, một tiếng than của chúa bị sa cơ. Đó cũng là tiếng thở dài của những người khao khát tự do ngày ấy:
Câu thơ: Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu gợi lại nỗi niềm của con hổ. Để rồi sau đó chúa sơn lâm chỉ biết nhắn gửi với lời lẽ thiết tha, bồn chồn.
Tags:Văn 8 | Phân tích và làm rõ giá trị nghệ thuật bài thơ Nhớ Rừng – Đề và văn mẫu 8 | 852 | |
Phân tích và nêu cảm nghĩ của bản thân về phần đầu trong văn bản Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc
Hướng dẫn
Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp trong thời gian Người ở Pháp và được xuất bản lần đầu tiên tại Pari vào năm 1925. Tác phẩm đã tố cáo và kết án những tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân Pháp, đồng thời phản ánh cuộc sống tủi nhục, đau thương của những người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa trên thế giới.
Đoạn trích Thuế máu được rút trong chương I của “Bản án chế độ thực dân Pháp. Các tiêu đề trong phần này lần lượt là Chiến tranh và người bản xứ; Chế độ lính tình nguyện; Kết quả của sự hi sinh. Phần đầu trong văn bản chính là mục Chiến tranh và người bản xứ. Phần này nói về tình cảnh của những người An-nam-mít và những người nô lệ da đen phải làm bia đỡ đạn cho bọn thực dân Pháp và bị đối xử một cách vô cùng tàn nhẫn.
Trước khi có chiến tranh thì những thanh niên bản xứ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên An-nam-mít bẩn thỉu chỉ biết làm cu li kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị da tráng. Nhưng khi chiến tranh vừa bùng nổ, bọn thực dân đã sử dụng mọi thủ đoạn để lừa bịp và biến họ thành con yêu, bạn hiền của các quan cai trị. Không những thế họ còn được phong cho danh hiệu chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do. Nguyễn Ái Quốc đã rất khéo léo sử dụngthủ pháp tương phản để vạch trần giọng điệu bịp bợp của bọn thực dân cai trị. Thực chất là bọn thực dân bắt họ làm bia đỡ đạn, một cách đánh thuế máu vô cùng xảo quyệt. Các từ ngữ như chiến tranh vui tươi, lập tức họ biến thành, đùng một cái, được phong cho cái danh hiệu tối cao đã làm cho giọng văn châm biếm trở nên sâu cay, mỉa mai.
Nguyễn Ái Quốc nêu ra những mất mát đau thương của những thanh niên bản xứ bị bắt đi làm bia đỡ đạn. Họ phải xa lìa vợ con, phải rời bỏ quê hương, mảnh ruộng, đàn cừu. Họ đi phơi thây trên các chiến trường châu Âu. Biết bao cảnh chết chóc đau thương đã xảy ra. Họ chết vì thủy lôi: được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của loài thủy quái; bị bỏ xác tại các vùng hoang vu tận Ban-căng, để lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ. Xương máu của họ, cái chết của họ thật vô nghĩa, hoặc anh dũng đưa tay cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ, hoặc lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy, lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống đốc. Tác giả đã kết hợp miêu tả với bình luận để mỉa mai, châm biếm cái thuế máu của bọn thực dân.
Những người lính thợ không bị bỏ xác trên các chiến trường thì lại bị đầu độc, phải lao động khổ sai, làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm để nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ối. Những kẻ khôn khổ ấy đã khạc ra từng miếng phổi chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy! Đó là một sự cống hiến rùng rợn của người dân bản xứ đối với chiến tranh.
Những con sốdưới ngòi bút của Nguyễn Ái Quốc thật sự có ý nghĩa. Bảy mươi vạn người ra đi thì có đến 8 vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa. Sốphận đau thương và những mất mát của người bản xứ đã được thể hiện một cách chi tiết qua các số liệu Nguyễn Ái Quốc đưa ra.
– Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng thành công các thủ pháp nghệ thuật như tương phản đối lập, kết hợp miêu tả với bình luận, sử dụng sốliệu… đặc biệt là giọng văn chua cay, châm biếm, mỉa mai để vạch trần và lên án những tội ác của bọn thực dân.
Trong suốt 80 năm thông trị nước ta, thực dân Pháp đã đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí nhằm bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ. Khi đọc đoạn trích Thuế máu chúng ta được biết thêm một loại thuế có một không hai mà bọn thực dân đặt lên đầu nhân dân ta.
Nguồn: | Phân tích và nêu cảm nghĩ của bản thân về phần đầu trong văn bản Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc | 804 | |
Đề bài: Phân tích và nêu cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Phong cách Hồ Chí Minh của Giáo sư Lê Anh Trà
Bài làm
Phong cách Hồ Chí Minh rút trong bài Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị của Lê Anh Trà in trong cuốn sách Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam – năm 1990.
Luận điểm thứ nhất mà người viết nêu lên là tầm sâu rộng vốn tri thức văn hóa của Hồ Chí Minh. Do đâu mà có vốn tri thức văn hóa ấy? Hồ Chí Minh có một cuộc sống phong phú, sôi nổi. Người "đã tiếp xúc" với văn hóa nhiều nước ở phương Đông và phương Tây. Người "đã ghé lại" nhiều hải cảng, "đã thăm" các nước châu Phi, châu Á, châu Mĩ. Người "đã sống dài ngày" ở Anh, ở Pháp. Lúc làm bồi, lúc cuốc tuyết, lúc làm nghề rửa ảnh… Chế Lan Viên cũng đã có lần viết:
Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể,
Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mĩ, châu Phi
Những đất tự do, những trời nô lệ
Những con đường cách mạng đang tìm đi.
(Người đi tìm hình của nước)
Người "nói và viết thạo" nhiều ngoại ngữ như Pháp, Anh, Hoa, Nga… Không phải là lắm tiền đi du lịch… mà trái lại cuộc đời Người "đầy truân chuyên", Người "đã làm nhiều nghề", và đặc biệt là "đến đâu Người cũng học hỏi, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm". Hồ Chí Minh "đã tiếp thu" mọi cái hay cái đẹp của các nền văn hóa, và "đã nhào nặn" với cái gốc văn hóa dân tộc đã thấm sâu vào tâm hồn mình, máu thịt mình, nên đã trở thành "một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại". Cách lập luận chặt chẽ, cách nêu luận cứ xác đáng, lối diễn đạt tinh tế của Lê Anh Trà đã tạo nên sức thuyết phục lớn.
Luận điểm thứ hai mà tác giả đưa ra là lối sống rất bình dị, rất phương Đông, rất Việt Nam của Hồ Chí Minh. Lê Anh Trà đã sử dụng 3 luận cứ (nơi ở, trang phục, cách ăn mặc) để giải thích và chứng minh cho luận điểm này. Cái "cung điện" của vị Chủ tịch nước là một chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh cái ao. Chỉ vẻn vẹn có vài phòng để "tiếp khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngũ"', đồ đạc "rất mộc mạc, đơn sơ". Trang phục của Người "hết sức giản dị" với bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp "thô sơ như của các chiến sĩ Trường Sơn". Cách ăn uống của Hồ Chí Minh "rất đạm bạc": cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa…, đó là "những món ăn dân tộc không chút cầu kì". Những luận cứ mà người viết nêu ra không có gì mới. Nhiều người đã nói, đã viết, nhiều hồi kí đã kể lại mà ta đã biết. Nhưng Lê Anh Trà đã viết một cách giản dị, thân mật, trân trọng và ngợi ca.
Phần còn lại, tác giả đã bình luận phong cách Hồ Chí Minh. So sánh với cuộc sống của một vị lãnh tụ, một vị tổng thống, một vị vua hiền…, rồi ông ngạc nhiên khẳng định Hồ Chí Minh đã "sống đến mức giản dị và tiết chế như vậy". Lê Anh Trà "bất giác nghĩ đến", liên tưởng đến Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, trích dẫn hai câu thơ của Trạng Trình: "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá – Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao" để đi tới ca ngợi nếp sống giản dị và thanh đạm của Hồ Chí Minh, của các vị danh nho không phải là "tự thần thánh hóa, tự làm cho khác đời", mà là "lối sống thanh cao, một cách di dưỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mĩ về cuộc sống, có kha năng đem lại hạnh phúc, thanh cao cho tâm hồn và thể xác".
Tóm lại, Lê Anh Trà đã lập luận một cách chặt chẽ, nêu lên những luận cứ xác thực, chọn lọc, trình bày khúc chiết với tất cả tấm lòng ngưỡng mộ, ngợi ca "Nhà văn hóa lớn, nhà đạo đức lớn, nhà cách mạng lớn, nhà chính trị lớn đã quyện chặt với nhau trong con người Hồ Chí Minh, một con người rất giản dị, một con người Việt Nam gần gũi với mọi người".
Đọc bài viết của Lê Anh Trà, chúng ta học tập được bao điều tốt đẹp về phong cách Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. | Phân tích và nêu cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Phong cách Hồ Chí Minh của Giáo sư Lê Anh Trà | 816 | |
Đề bài: Hãy phân tích và nêu cảm nghĩ của em khi đọc Con chó Bấc trích tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã của G. Lân-đơn
Bài làm
Như được đi theo đoàn người đi đào vàng lên vùng A-lax-ca, Bắc cực mênh mông tuyết trắng, với những cảnh, những con người với bao ấn tượng mạnh mẽ, dữ dội không cùng. Đặc biệt những trang viết về con chó Bấc, viết về mối quan hệ cảm động giữa Giôn Thoóc-tơn với con chó Bấc là hay nhất, cảm động nhất. Nhà văn không miêu tả ngoại hình, sinh hoạt bản năng của con chó Bấc mà đi sâu vào thế giới bên trong – thế giới tâm hồn – của con vật, hình như mang nặng tình người hiếm có, cảm động. Đoạn văn Con chó Bấc là một đoạn văn ngọt ngào chất thơ khi nói về một tình thương giao cảm thắm thiết giữa người với vật nuôi.
Có lẽ vì đã trải qua những tháng ngày kéo xe trượt tuyết nặng nhọc, gặp phải những ông chủ độc ác, con chó Bấc mới hiểu sâu sắc thế nào là tình người. Miếng ăn của nó kiếm được là roi vọt, là sự bố thí của những con người tàn nhẫn và đang khát vàng. Cho nên từ ngày con chó Bấc được Giôn Thoóc-tơn cứu sống, nó mới được sống trong “một tình yêu thương thực sự vù nồng nàn lần đầu tiên phát sinh ra bên trong nó". Nó cũng đã một lần ít ỏi được hưởng hương vị của tình thương khi chưa bị bắt cóc lên bắc cực, đó là những ngày sống trong nhà ông Thẩm phán Mi-lơ giữa thung lũng Xan-ta Cla-ra mơn man ánh nắng.
Con Bấc chẳng bao giờ quên những ngày tháng êm đẹp và ngắn ngủi ấy. Những lần đi săn, đi lang thang với mấy cậu con trai ông Thẩm “tình cảm của Bấc cũng chỉ là thứ tình cảm làm ăn cùng hội cùng phường”. Với các cháu nhỏ ông Thẩm “đó lù một thứ trách nhiệm hộ vệ trong niềm kiêu hãnh tự cao tự đại”. Còn với ông Thẩm “lù thứ tình bạn trịnh trọng và đường hoàng”.
Lân-đơn đã có một cách nói rất đặc sắc về mối quan hệ của Bấc với những thành viên trong gia đình Thẩm phán Mi-lơ. Bấc chỉ là một con chó săn, một con chó giữ nhà, và là một con chó cảnh. Thế thôi!
Còn từ ngày nó được sống với Giôn Thoóc-tơn, nó được ông chủ, ông bạn mới “khơi dậy” lên trong lòng Bấc những tình thương yêu, những tình cảm chưa hề được hưởng, chưa hề có: “sôi nổi, nồng cháy, thương yêu đến mức tôn thờ, thương yêu đến cuồng nhiệt… "
Tinh cảm vui, buồn, thương yêu, giận dữ cũng tựa như dòng nước có độ tràn, có hẹp và mênh mông, có sức chảy nhanh, chậm. Mọi dòng nước đều có nguồn cũng như mọi tình cảm đều có nguồn. Cái nguồn tình cảm sâu xa mà Bấc tìm thấy ở Giôn Thoóc-tơn là anh đã “cứu sống nó”, anh là “ông chủ lý tưởng”. Những người khác nuôi Bấc là xuất phát từ nghĩa vụ và lợi ích kinh doanh để Bấc đi săn, giữ nhà, là vật nuôi làm cảnh… và để kéo xe trượt tuyết đi tìm vàng. Còn Giôn Thoóc-tơn đã coi Bấc là “con cái của anh” vậy. Cái nguồn gốc ấy mới sâu sắc và cao quý, vì nó đã vượt hẳn mối quan hệ con vật với con người, đi tới mối quan hệ của tình thương, tình người. Mối quan hệ tình cảm ấy, con Bấc đã cảm nhận được bằng trực giác, bằng cảm xúc, bằng sự tinh nhậy, khôn ngoan mà chỉ có những con chó như con Bấc mới có.
Giôn Thoóc-tơn "đã chăm sóc”, lúc là một lời chào “hớn hở’’, lúc là một cử chỉ “thân ái", lúc là anh ngồi xuống rất lâu “nói chuyện” với Bấc mà cả hai đều tương thân, đều đồng cảm, đều “thích thú”. Giôn Thoóc-lơn “có thói quen túm chặt lấy đầu Bấc rồi đưa đầu anh vào đầu nó, hoặc lắc nó đảo qua đảo lại, vừa lắc vừa khe khẽ thốt lên những tiếng rủa mù đối với nó lại là những lời nói nựng âu yếm". Với con Bấc, đó là những giây phút thần tiên mà chỉ có Giôn Thoóc-tơn mới trao cho nó trong sự vuốt ve, yêu thương. Lúc đó, con Bấc cảm thấy “không có gì vui sướng bằng cái ôm ghì mạnh mẽ", "tiếng rủa rủ rĩ bên tui”. Sự vui sướng của Bấc đến cực độ, có lúc nó cảm thấy “quả tim mình nhảy tung ra khỏi lồng ngực”.
Tình yêu thương giữa người và vật nuôi cũng có “cho" có "nhận” trong mối giao cảm, giao hòa, tương tác. Đây là một đoạn văn tuyệt bút nói về mối quan hệ sâu sắc, đẹp đẽ và hiếm có ấy: “Khi được buông ra, nó bật đứng dậy thẳng lên, miệng cười, mắt hùng hồn diễn cảm, họng rung lên những âm thanh không thốt nên lời, và cứ như vậy trong tư thế đứng yên bất động. Những lúc ấy, Giôn Thoóc-tơn lại kêu lên, trân trọng: “Trời đất! Đằng ấy hầu như biết nói đấy!”.
Bấc như một đứa trẻ giàu tình cảm, nó “có một kiểu biểu lộ tình thương yêu gần giống như làm đau người ta”. Nó hay cắn vào tay Giôn Thoóc-lơn "ép răng xuống mạnh đến nỗi vết răng hằn vào da thịt một lúc sau mới mất”. Và chỉ có anh mới cảm nhận một cách hạnh phúc rằng “cái cắn vờ ấy là cử chỉ âu yếm, yêu thương”.
Lơn-đơn với tình yêu thương loài vật, với cái tài quan sát và diễn tả, đặc biệt ông đã phát hiện ra, đã “sống" với những rung động, với những biến thái tâm tình, ông đã ả,hiểu được” ngôn ngữ riêng của một vật nuôi đã được thuần dưỡng và gắn bó lâu đời với con người, một vật nuôi khôn nhất, trung thành nhất và giàu tình cảm nhất, để nói lên một cách xúc động về mối quan hệ “sôi nổi, nồng cháy, thương yêu đến mức tôn thờ, thương yêu đến mức cuồng nhiệt” giữa Giôn Thoóc-tơn và con Bấc.
Nếu như phần đầu, nhà văn đã lấy mối quan hệ giữa con Bấc với gia đình Thẩm phán Mi-lơ để làm nổi bật mối tình yêu thương đặc biệt giữa con Bấc với Giôn Thoóc-tơn, thì ở phần giữa ông lại so sánh cách biểu hiện tình cảm của con Bấc và những con chó khác đối với chủ, mỗi con một vẻ. “Xơ-kit có thói quen thọc cúi mũi của nó vào dưới bàn tay của Thoóc-tơn rồi hích, hích mũi cho đến khi được vỗ về… Nich thì… tựa cái đầu to lớn của nó lên đầu gối của Thoóc- tơn”. Còn Bấc thì diễn đạt tình thương yêu bằng "sự tôn thờ”, sung sướng đến “cuồng lên ” khi được Thoóc-tơn “vuốt ve” hoặc "nói chuyện ” với nó… Thế giới loài vật được Lân-đơn nhìn nhận và miêu tả như thế giới con nguời tràn ngập tình yêu thương và biết sống trong sự giao cảm đầy hạnh phúc! Con Bấc “thường nằm phục ở chân Thoóc-tơn hàng giờ, mắt hau háu, tỉnh táo, linh lợi, ngước nhìn thẳng vào mặt anh, chăm chú vào đấy, xem xét kỹ nét mặt, theo dõi với một mối quan tâm đặc biệt từng biểu hiện thoáng qua, mọi cử động hoặc đổi thay trên thần sắc”. Có lúc con Bấc ngắm nhìn chủ từ phía sau, và bằng linh cảm, giao cảm giữa người và chó, anh quay đầu nhìn lại, đôi mắt Thoóc-tơn “tỏa rạng tình cảm tự đáy lòng”, còn “tình cảm của Bấc cũng ngời ánh lên qua đôi mắt nó.
Cách ngồi, cái ngước nhìn, cái lắng nghe và theo dõi cặp mắt và ánh mắt… của con chó Bấc hiện lên trên trang văn như một linh hồn người, trong biểu cảm có chiều sâu lí trí, trong tâm hồn có cả chiều cao của tư duy. Con chó Bấc không chỉ có tình yêu thương mà còn có cả những suy nghĩ sống bên “Ông chủ lí tưởng”.
Con chó Bấc cũng có nỗi lo. Cuộc đời ba chìm bảy nổi đã qua, luôn luôn ám ảnh nó, "nó không muốn rời Thoóc-ưm ra một bước". Nó luôn luôn sợ, Thoóc-tơn cũng lại biến khỏi cuộc đời của nó như Pê-rôn và Phơ-răng-xoa và anh chàng người lai Ê-cốt đã đi qua rồi biến mất trước đây. Cả trong giấc mơ, nó cũng bị nỗi lo sợ này ám ảnh. Đêm nào nó cũng tỉnh giấc giữa chừng, rồi trườn qua giá lạnh đến đứng ở mép lều "lắng nghe tiếng thở đều đều của chủ". Chi tiết ấy là một nét vẽ cảm động gợi lên trong lòng ta nhiều cảm thương xót xa. À ra thế đó, không chỉ riêng ở con người, mà cả những vật nuôi như con chó Bấc tinh khôn, tình cảm này cũng sợ ly biệt! Nhà văn Lân-đơn đã nói được điều đó và diễn đạt bằng những hình ảnh giàu giá trị nhân bản.
Tóm lại, Lân-đơn đã lấy tình thương đổ tả loài vật. Ông đã miêu tả sống động, hấp dẫn con chó mang tình người. Nó đã sống tình nghĩa thủy chung như con người. Chúng ta học lập ở Lân-đơn nghệ thuật tinh tế, biểu cảm trong miêu tả loài vật. Con chó Bấc nhân hậu, tình nghĩa đã làm cho thế giới tâm hồn chúng ta trở nên phong phú đối với những vật nuôi trong gia đình. Biết sống trong tình người, trong tình thương là cách sống đẹp nhất. | Phân tích và nêu cảm nghĩ khi đọc Con chó Bấc trích tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã của G. Lân-đơn | 1,663 | |
Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài ca dao: Ngày nào em bé cỏn con…
Hướng dẫn
Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài ca dao: Ngày nào em bé cỏn con…
Như chúng ta đã thấy thì ca dao dân ca giống như giai điệu cuộc sống vậy. Dù bạn ở thời đại nào thì những âm hưởng của nó vẫn in sâu trong tâm trí của người về những đạo lí ở đời, về những lời ru của mẹ, hay về tình yêu đôi lứa…Nhưng tất cả đều nói về cách sống và lí lẽ ở đời để con người ta cư xử về cuộc sống sao cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Nhắc đến đây có bài ca dao:
Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế này,
Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.
Đây là một bài ca dao rất ý nghĩa nó nói về tình cảm thiêng liêng và công ơn to lớn của cha mẹ và thầy cô những người giáo dục hoàn thiện nhân cách của mỗi người. Chỉ khi chúng ta được sống trong môi trường có giáo dục thì con người ta mới biết nhìn nhận cuộc sống sao cho phù hợp.
Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế này,
Hai câu đầu nói nên quá trình hình thành và phát triển của một con người. Giờ đây người này đã lớn và muốn dãi bầy tâm sự về sự trưởng thành của mình “Bây giờ em đã lớn khôn thế này”. Sự đối lập ngôn ngữ và hình ảnh “ trước – giờ”, “bé – lớn”. thể hiện sự trưởng thành của một người và người này muốn nó về cách vượt qua những gia đoạn ấy. “Em bé con con” đây là lúc rất còn bé chưa biết gì bé vẫn vô tư hồn nhiên sống trong vòng tay và sự nâng niu của gia đình. Với những từ ngữ và hình ảnh quen thuộc như này người đọc rất dễ hiểu ra ý nói của câu ca dao. Đồng thời tác giả không sử dụng những từ như bé tí hon,…mà sử dụng bé cỏn con vì tác giả muốn thể hiện rõ sự vô tư của đứa trẻ. Qua đây ta chúng thấy rõ sự tinh tế trong cách lựa chọn từ ngữ mà giàu biểu cảm. Năm tháng cũng trôi đi rồi đứa bé ấy ngày một càng lớn rồi, nó không thể bé mãi mà phải lớn lên để đi học và ra ngoài nhìn nhận cuộc sống mà lớn lên. Đứa bé này được đến trường học tập và sau thời gian rèn luyện trong môi trường giáo dục đứa bé này đã trưởng thành đã biết suy nghĩ hơn. Đại từ em nhấn mạnh hai lần ý chỉ nhân vật trữ tình tuy đã trưởng thành hơn nhưng vẫn còn đang trong độ tuổi học tập và rèn luyện.
Hai câu thơ sau là quá trình đem đến sự trưởng thành đó:
Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.
Câu lục bát đầu được chia làm ba vế mỗi vế hai từ “cơm cha-áo mẹ-nghĩa thầy” hài hòa cân xứng để nhấn mạnh công lao nuôi dưỡng của cha mẹ và ơn thầy đã dạy cho những lẽ sống ở đời. Đây là một đạo lí làm người rất cao cả dù là ai, dù sau này có lớn thế nào đi chăng nữa thì không bao giờ được quên những công lao cao cả này. Cha mẹ là người sinh ra chúng ta, đặc biệt người mẹ phải mang nặng đẻ đau chín tháng mười người mới được một thiên thần bé bỏng như chúng ta rồi sau đó hàng ngày vất vả kiếm cơm áo gạo tiền để nuôi lớn chúng ta cho chúng ta phát triển tốt nhất về thể xác. Còn người thầy là người mà sẽ dạy cho chúng ta không chỉ biết những kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội mà còn dạy chúng ta cách làm người, cách ứng xử lễ nghi trong cuộc sống. Để chúng ta có thể phát triển phù hợp với xã hội.
Nhịp thơ ngắt quãng như những nốt nhấn về công lao trời bể của cha mẹ và thầy cô nó khắc sâu vào tâm hồn để mỗi không không bao giờ quên. Nó về những tình cảm thiếng liêng ấy kho tàng văn học nước ta rất là phong phú:
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Và:
Ơn thầy soi lối mở đường
Cho con vững bước dặm trường tương lai.
Như vậy qua bài ca dao này muốn gửi gắm đến người đọc đạo lí ở đời “Uống nước nhớ nguồn”. Dù trưởng thành đến mấy thành công đến mấy cũng không được quên công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ và thầy công những con người soi lối mở đường đưa chúng ta vững bước trên con đường thành công. | Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài ca dao_ Ngày nào em bé cỏn con… | 851 | |
Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài Dế chọi
Hướng dẫn
Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài Dế chọi
Như chúng ta đã biết trong các lễ hội dân gian thường thì có chọi gà, chọi trâu… nhưng đằng này là một chuyện lạ khác thường ở chỉ diễn ra dưới thời Tuyên Đức bên Tàu họ chọi dế.
Từ đó mà Bồ Tùng Dinh đã viết Dế chọi là một truyện tiêu biểu cho tinh thần phê phán và thể hiện phần nào bút pháp của Liêu trai chí dị.
Chọi dế là một trò chơi dân dã, hơn nữa đó là một trò chơi của trẻ con. Thế nhưng, bằng ngòi bút tài hoa, sắc sảo.Mà Bồ Tùng Linh đã phơi bày được cả hệ thống chính trị thối nát đương thời. Sáng kiến đút lót bề trên, “sáng kiến” hiến dế chọi của một viên huyện lệnh đã biến thành “lệ định” của cung đình và từ đó, có khi chỉ vì “nộp một con dế” mà bao gia đình phải khuynh gia bại sản.
Đồng thời truyện nói về gia đình Thành Danh. Có lẽ vì vừa biết chút ít chữ nghĩa vừa dễ sai, nên Thành Danh đã bị bọn chức quyền thế ép, phải giữ chân chức dịch trong làng. Đồng thời có lệ nộp dế mà cả nhà ông điêu đứng cuộc sống như lâm vào cảnh không lối thoát.
Nhưng bên cạnh ông là một người vợ hiền biết nghĩ biết lo toan.Thành Danh đã nghe lời vợ khuyên cũng ngày ngày lồng mang ống tre đi “bới đất lật đá tìm hang, mọi nơi tường đổ, bờ hoang, bãi cỏ” để lùng bắt dế. Nhưng chỉ bắt vài ba con “vừa yếu vừa bé vừa không đủ quy cách”. Quá hạn nộp dế hơn mười ngày, anh ta đã bị quan “trách phạt” đánh đòn trăm gậy, đôi mỏng bê bết máu, nằm lăn lộn trên giường, vị chức dịch “chỉ còn nghĩ đến chuyện tự tử mà thôi”. Trông Thành Danh lúc này thật đáng thương nhưng thì theo phép nước anh vẫn phải cam chịu. Đồng thời bi kịch của Thành Danh cũng là bi kịch chung của nhân dân lúc bấy giờ.
Tiếp đó Bồ Tùng Dinh đã xây dựng hình tượng nhân vật cô đồng gù xuất hiện với “tài bói toán Cầu thán”. Vợ chồng Thành Danh đã bỏ ra ít tiền và thẻ hương để bà chỉ cho chỗ cất giữ khao báu lớn đó là chú dế “cực kì to khỏe… minh to, đuôi dài, cỏ xanh, cánh vàng”. Vợ chồng anh ta mừng vui khôn xiết kể “cho dầu có bắt được trân châu bảo ngọc cũng không bằng”. từ đó vợ chồng anh chăm sóc chu đáo cẩn thận hơn cả cậu con trai 9 tuổi của mình. Trong một Con trai Thành đem bồn dế ra chơi. Dế vọt ra và cậu bé đuổi bắt nhưng chẳng may lúc vồ được thì dế đã đi đời nhà ma “gãy cẳng, bẹp bụng”. Đúng là ” tiền oan nghiệp chướng”, đứa bé sợ hãi.Gần tối vợ chồng Thành tìm được con thì con chỉ là một cái xác nằm dưới giếng. Thành vật vã kêu khóc. Nhà tranh bặt khói nhưng thật kinh dị. kì dị. Lúc vợ chồng Thành lấy chiếu cỏ lượm thấy con thì đứa bé lại “thoi thóp thở”, đến nửa đêm thì sống lại, nhưng như kẻ mất hồn”vẫn trơ ra như gỗ, bần bặt ngủ lịm”.
Vua ban cho quan tỉnh ngựa hay vải quý. Quan tỉnh tiến cử quan huyện là “tài năng ưu việt” có thể thăng cấp. Quan huyện “sướng quá” cho Thành được “miễn sai dịch”: Dặn học quan cho Thành thi lấy học vị tú tài. Hơn năm sau con trai của Thành bình phục hẳn, nó cho biết đã hóa thành dế lanh lẹ, chọi giỏi, nay mới thực sống lại”. Quan tỉnh được nghe chuyện ấy lại hậu thưởng cho Thành.
Thành còn nhớ như in cũng chỉ vì lệ nộp dế mà gia đình anh lâm vào cảnh khốn cùng xít chút nữa là mất cả cậu con trai ấy vậy mà giờ đây nhờ dế chọi mà anh ta có “ruộng đồng trăm khoảnh, lầu gác nguy nga, trâu dê đầy đàn”. Ra khỏi nhà thì “áo cừu, ngựa xe vượt cả các bậc quyền thế”. Một sự đổi đời mà cả trong mơ cũng khó nhìn thấy.
Trong đoạn cuối tác giả viết:“Riêng họ Thành vì sâu mọt mà nghèo, vì dế chọi mà giàu, ngựa béo, lúc còn bị lí dịch sách nhiễu chắc chẳng tưởng đến chuyện như thế’.Tác giả châm biếm: “Còn ơn trời đền đáp sao mà dài lâu hậu lũ vậy, khiến cho quan tỉnh, quan tỉnh đều được hưởng ân huệ và phúc ấm của dế Ta từng nghe “Một người thăng thiên” gà chó cũng thành liên”. Đáng tin vậy thay!” | Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài Dế chọi | 824 | |
Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thân Nhân Trung
Hướng dẫn
Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thân Nhân Trung
Thân Nhân Trung là một vị quan mẫu mực đức độ và có tài năng. Ông đã để lại cho đời sau một khối lượng các tác phẩm đồ số, trong đó “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” là một tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu, Nó không chỉ là có giá trị lúc đó mà còn để lại mãi tới đời sau.
Tác phẩm này đã nêu lên được mục đích và ý nghĩa của việc dựng bia tiến sĩ. Muốn cho đất nước được yên bình thì việc đầu tiên chúng ta cần làm đó là tôn vinh những người có công với đất nước, ghi công để động viên khích lệ họ.
Câu mở đầu đã khiến cho chúng ta càng thêm khâm phục sự tài đức và sự khéo léo trong lối hành văn của tác giả “Tôi dẫu nông cạn vụng về nhưng đâu dám từ chối xin kính cẩn chấp tay cúi đầu mà làm bài kỉ”câu nói này thật sự là rất khiêm tốn biết nhường nào.Sau đó ông cò khẳng định cả tầm quan trọng của hiền tài đối với sự nguy vong của đất nước. Với lối viết chặt chẽ, hợp lí rõ ràng được đưa ra hết sức thuyết phục. Tác giả đã nói đến hiền tài là nguyên khí,khẳng định người có tài cao học rộng và có đạo đức thì sẽ làm nên được vận mệnh của đất nước. Người hiền tài có vai trò quyết định tới sự suy thịnh của đất nước. Hiền tài mà dồi dào thì đất nước hưng thịnh, còn nếu như hiền tài mà cạn kiệt thì ắt hẳn đất nước sẽ suy yếu, người hiền tài chính là sự kết tụ tinh hoa của dân tộc và của đất trời.
Tiếp đến để làm sáng tỏ hơn cho luận điểm của mình thì ông đã viết “đã yêu mến cho khoa danh lại đỗ cao bằng tước trật.Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên tháp ở Pháp Nhạn ban cho Danh hiệu Long hổ bày tiệc Văn hỉ”.
Bằng lối hành văn súc tích thì tác giả đã nêu được một cách rõ ràng vai trò của các bậc hiền tài. Nhưng tác giả cũng cho rằng với những thiết đãi và trọng dụng đối với hiền tài như vậy cũng vẫn chưa đủ so với sự cống hiến,chăm lo của hiền tài đối với đất nước.
Tác giả nêu rằng, để nói lên được công trạng của hiền tài thì khắc tên lên bia đá cho cá chiến sĩ để tên tuổi và công danh của các bậc hiền tài cho đất nước, khích lệ những người tài có ở khắp mọi nơi trên đất nước,để cho mọi người thấy được sự trọng dụng nhân tài của triều đình mà ra sức giúp vua xây dựng đất nước. “Nay thánh minh lại cho rằng chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy nhưng lơi khen tiếng thơm chưa đủ để lưu vẻ sáng lâu dài,cho nên dựng đá để danh đặt ở cửa hiền quan khiến cho kẻ sĩ chông vào mà phấn chấn hâm mộ rèn luyện danh tiết ráng sức giúp vua.Há chỉ là chuộng văn suông ham tiếng hão mà thôi đâu.” Còn trách nhiệm của kẻ sĩ là phải ra sức báo đáp ân đức của thánh đế, của triều đình.
Với lối liệt kê trùng điệp,kết hợp với giọng văn trang trọng lịch sự và hào hùng, dễ hiểu khiến cho chúng ta thấy được tác dụng to lớn của việc khắc bia mộ là như thế nào. Tấm bia mộ sẽ nhắc nhở cho những người hiền tài có ý thức và trách nhiệm đối với sự hưng vong của đất nước.
Cuối cùng thì tác phẩm lại muốn nhấn mạn vai trò quan trọng của việc lập bia mộ cho tiến sĩ vừa để tạo tiếng thơm danh tiếng cho người tài giỏi lại vừa một lòng tập trung với nước. Bên cạnh đó còn răn dạy cho những kẻ có ý đồ xấu lấy đó làm gương quay về với cái thiện. Vậy việc lập bia đá là hoàn toàn quan trọng và mang một ý nghĩa to lớn.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thân Nhân Trung | 753 | |
Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài thơ Quốc Tộ của Đỗ Pháp Thuận
Hướng dẫn
Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài thơ Quốc Tộ của Đỗ Pháp Thuận
Theo Thiền uyển tập anh ngữ lục, vua Lê Hoàn thường hỏi thiền sư: “Vận nước ngắn dài thế nào?”. Nhà sư đáp lại bằng bài thơ ngũ ngôn tuyệt cú để trả lời vua. Nhà sư ở đây không ai khác chính là Thiền sư Đỗ Pháp Thuận ông chính là tác giả của bài thơ ngũ ngôn tuyệt cú nói trên, đó là bài “Quốc Tộ”( Quốc Tộ). Thiền sư Pháp Thuận (915-990) họ Đỗ, không rõ tên thật và quê quán, là người “học rộng, thơ hay, có tài giúp vua, hiểu rõ thế cuộc đương thời”- Thiền uyển tập anh). Ông là một nhà nho yêu nước, tư tưởng của ông đã thấm nhuần được thể hiện ở trong văn chương, hay là trong những hành xử của ông đối với đất nước, nhất mực trung thành phò vua giúp nước. Nhà sư tham gia đắc lực vào triều chính thời Tiền Lê, có vị trí vai trò rất quan trọng được vua Lê Hoàn rất mực kính trọng và tin cậy. Vua Lê Hoàn thường hay tâm sự hỏi han ông về các việc triều chính, ông không chỉ là một nhà chính trị mà còn là một nhà thơ xuất sắc. Những tác phẩm của ông viết ra có tầm ảnh hưởng lớn lao đến sự nghiệp văn chương và công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc ta. Tiêu biểu là tác phẩm “Quốc Tộ”, bài thơ được làm sau năm 981-982, khi vua Lê Hoàn đích thân đi chinh chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ dân tộc và kết quả toàn thắng. Bài thơ “Quốc Tộ” được coi như là một trong những bài thơ sớm nhất có tên tác giả của Việt Nam. Bài thơ chính là lời tiên tri của Pháp sư khi trả lời câu hỏi về vận nước của nhà vua.
Đây là một trong những tác phẩm mở đầu văn học viết Việt Nam. Bài thơ bắt đầu bằng hai chữ “Quốc Tộ” đã tạo nên sự mở đầu ý nghĩa: ngôi nước được tôn cao ( tộ có nghĩa là ngôi), phúc nước được trường thịnh ( tộ còn có một nghĩa nữa là phúc- lành, may). Bài thơ này là lời đáp của Thiền sư Pháp Thuận khi vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước, cô đọng ngắn gọn, vẻn vẹn hai mươi chữ mà ý nghĩa thật sâu xa.
“Vận nước như mấy quấn
(Quốc tộ như đằng lạc)
Nghệ thuật so sánh vận nước như dây mây leo quấn quýt vừa gợi sự bền chặt, vừa gợi sự dài lâu, sự phát triển thịnh vượng. Cả câu ý nói vận may của nước nhà bền chặt.
Tiếp theo câu thơ thứ hai là cách nói trực tiếp:
Trời Nam mở thái bình
(Nam thiên lí thái bình)
Hai câu thơ đầu đã phản ảnh một tâm trạng phơi phới niềm vui, niềm tự hào, lạc quan của tác giả đồng thời củng cố niềm tin của nhà vua vào vận nước. Cái hay ở đây đó là hai chữ “thái bình”, vì hai chữ này vừa kết hai câu thơ đầu vừa mở đầu vừa mở vào hai câu cuối. Vận nước xoay quanh hai chữ “thái bình” mà đường lối trị nước cũng hướng tới hai chữ “thái bình”. Tuyên ngôn của hai câu đầu vang lên là mục đích, là khát vọng hòa bình, no ấm, sống trong sự thái bình của tác giả đối với vận mệnh của đất nước. Ở hai câu thơ đầu này thì tác giả sử dụng những hình ảnh sinh động như: “dây mây leo quấn quýt” tượng trưng cho sự bền chặt, chắc chắn của vận mệnh đất nước. Câu thứ hai ở từ “trời Nam”( Nam thiên) nhắc tới “Nam quốc sơn hà” đó là niềm tự hào và khẳng định chủ quyền của nước ta độc lập.
Đường lối trị nước, cô đọng lại trong hai chữ “vô vi”:
Vô vi trên điện các
Chốn chốn dứt đao binh
(Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh)
“Vô vi” theo Lão Tử là thuận theo tự nhiên, không làm gì trái với quy luật tự nhiên. Vô vi theo Nho gia là phương sách đức trị: “trị nước bằng đức thì vô vi mà thiên hạ theo về”. Vô vi khi vào Phật có Pháp vô vi đề cao từ bi, bác ái, lấy đức hóa dân, không cần dùng đến các biện pháp bạo lực. Như trong bài thơ này tác giả sử dụng từ “vô vi” còn mang ý nghĩa khuyên con người hãy sống thật sống hợp với lẽ tự nhiên. Trách nhiệm cao cả của một nhà vua đó là là tu nhân tích đức, sống có đạo đức thì mới cảm hóa được lòng dân, nhân dân mới tin tưởng, khâm phục, theo đó làm gương. Nhà vua phải hiểu được lòng dân muốn gì, hành xử với nhân dân ra sao hợp lí với quy luật tự nhiên, đó là kế sách trị nước lâu dài trong quan hệ nhân quả luân hồi. Vậy ý của Thiền sư đó là muốn khuyên nhà vua hãy dùng phương pháp lấy đức trị quốc, lấy cái đức mà giáo hóa nhân dân. Tiếp theo đó là chữ “cư” trong “cư điện các” nếu hiểu theo nghĩa đơn thuần đó là “ở nơi điện gác”, những ở đây tác giả lại muốn nói đến cách cư xử, điều hành. Còn “điện các” là để chỉ cung điện nơi bàn việc chính sự. Như vậy thì “cư điện các” là muốn nói tới nơi triều chính điều hành chính sự. Có thể nói rằng ở hai câu thơ cuối là kế dựng nước mà Thiền sư Đỗ Pháp Thuận muốn tâu lên nhà vua. Lời thơ như một tấm chân tình mà Thiền sư muốn nói lên ước nguyện của dân ta đó là muốn đất nước thịnh trị, nhân dân được sống trong no ấm thái bình.
Bài thơ được viết ra dưới tình yêu quê hương đất nước, yêu con người của tác giả, vì vậy khi đọc bài thơ mang một âm hưởng nhẹ nhàng, trầm ấm thể hiện tấm lòng cao cả và đầy chất nhân văn trong tâm hồn nhà thơ. Bài thơ góp phần vào công cuộc đấu tranh và bảo vệ đất nước bằng thơ ca, còn cho thấy cái tầm nhìn xa trông rộng về chính sách dựng nước.Không chỉ có thể đây còn là một bài ca, ca ngợi đất nước, một niềm tin về đất nước vững bền thịnh vượng dài lâu. Đã hơn một nghìn năm trôi qua vậy mà bài thơ “Quốc Tộ” của Thiền sư Đỗ Pháp Thuận vẫn còn giữ nguyên giá trị đến tận bây giờ và mãi về sau này. Vận nước dưới thời Tiền Lê là thái bình, là tắt đao binh, nhân dân được sống trong no ấm. Vậy ở thời hiện nay chúng ta phải cố gắng hết sức để bảo vệ đất nước, đổi mới đất nước để đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Là thế hệ trẻ chúng ta hãy học và thực hành tốt tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ để áp dụng vào đời sống. | Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài thơ Quốc Tộ của Đỗ Pháp Thuận | 1,244 | |
Đề bài: Phân tích và nêu cảm nghĩ về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê
Bài làm
Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê viết về cuộc sống chiến đấu của tổ trinh sát mặt đường", trên con đường chiến lược Trường Sơn thời đánh Mĩ.
"Tổ trinh sát mặt đường" gồm có 3 cô thanh niên xung phong: Nho, Phương Định, và chị Thảo. Họ ở trong một hang dưới chân cao điểm, ở đó, máy bay giặc Mĩ đánh phá dữ dội. Đường bị đánh "lở loét, màu đất đỏ, trống lẫn lộn". Tưởng như sự sống bị hủy diệt: "không có lá xanh" hai bên đường, "thân cây bị tước khô cháy". Có biết bao thương tích vì bom đạn giặc: những cây rễ nằm lăn lóc, ngổn ngang những hòn đá to, một vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất.
Công việc của họ vô cùng nguy hiểm và gian khổ. Khi có bom nổ thì chạy lên đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ, phá bom. Họ bị bom vùi luôn. Thần chết "lẩn trong ruột những quả bom". Thần kinh căng như chão. Trong lúc đơn vị thanh niên xung phong thường "ra đường vào lúc mặt trời lặn. Và làm việc có khi suốt đêm" thì tổ trinh sát lại "chạy trên cao điểm cả ban ngày" dưới cái nóng trên 30 độ. Từ cao điểm trở về hang, cô nào cũng chỉ thấy "hai con mắt lấp lánh", "hàm răng loá lên" khi cười, khuôn mặt thì "lem luốc".
Cả ba cô, cô nào cũng đáng mến, đáng cảm phục. Nhưng Phương Bịnh là cô gái để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng ta. Phương Định, con gái Hà Nội "hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn". Đôi mắt Định được các anh lái xe bảo là "có cái nhìn sao mà xa xăm". Nhiều pháo thủ và lái xe hay "hỏi thăm" hoặc "viết những bức thư dài gửi đường dây" cho Định. Cô có vẻ kiêu kì, làm "điệu" khi tiếp xúc với một anh hộ đội "nói giỏi" nào đấy. nhưng trong suy nghĩ của cô thì "những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ".
Phương Định là một cô gái rất hồn nhiên yêu đời, giàu cá tính. Thuở nhỏ đã hay hát. Cô có thể ngồi lên thành cửa sổ căn phòng nhỏ bé nhà mình "hát say sưa ầm ĩ". Bàn học lúc nào cũng "bày bừa bãi lên", để đến nỗi hà mẹ phải "nguyền rủa”: "Con gái gì cái của mày. Lấy chồng rồi mù no đòn… No đòn…!". Vì thế ngay từ lúc còn ở nhà, cô đã thề là "không lấy chồng".
Sống trong cảnh bom đạn ác liệt, cái chết kề bên, Định lại càng hay hát, những hài hành khúc, những điệu dân ca quan họ, bài ca Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô, bài dân ca Ý… Định còn biết bịa ra những lời hát, thế mà chị Thao vẫn "say mê" chép vào sổ tay. Định hát trong những khoảnh khắc "im lặng" khi máy bay trinh sát hay "rè rè", cơn bão lửa sắp ụp xuống cao điểm. Định hát để động viên Nho, chị Thao và động viên mình. Hát khi "máy bay rít, bom nổ. NỔ trên cao điểm, cách cái hầm; này khoảng 300 mét". Hát trong không khí ngột ngạt: "Khói lên, và cửa hang bị che lấp'm. Đúng là "tiếng hát át tiếng bom" của những người con gái trong tổ trinh sát mặt đường, những con người "khao khát làm nên những sự tích anh hùng".
Trong kháng chiến chống Mĩ, ở hai miền Nam, Bắc của Tổ quốc đã có hàng vạn, hàng triệu chàng trai lên đường ra trận với dũng khí và quyết tâm "đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào" để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tiền tuyến vẫy gọi, hàng ngàn hàng vạn cô gái mang chí khí Bà Trưng, Bà Triệu xung phong ra tiền tuyến. Con đường chiến lược Trường Sơn huyền thoại được làm nên bằng xương máu, mồ hôi và bao sự tích phi thường của những người con gái Việt Nam anh hùng.
Những ngôi sao xa xôi đã ghi lại một cách chân thực chiến tích thầm lặng của tổ trinh sát mặt đường. Trọng điểm đang chìm trong mưa bom bão lửa. Tiếng Định lại cất lên: "Tôi, một quả bom trên đồi. Nho, hai quả dưới lòng đường. Chị Thao, một quả dưới chân cái hầm ba-ri-e cũ". Cảnh tượng chiến trường trở nên "vắng lặng đến phát sự". Cảnh vật hị hủy diệt: cây xơ xác, đất nóng, khói đen vật vờ từng cụm trong không trung: Phương Định, dũng cảm và bình tĩnh tiến đến gần quả bom, "đàng hoàng mù bước tới". Quả bom có 2 vòng tròn màu vàng nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Thần chết đang đợi chờ, vỏ quả bom nóng. Định dùng lưỡi xẻng đào đất, có lúc lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Có lúc Định "rùng mình" vì cảm thấy tại sao mình làm quá chậm thế! Hai mươi phút đã trôi qua. Tiếng còi chị Thao rúc lên. Định cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi vào dây mìn. Cô khỏa đất rồi chạy nhanh về chỗ nấp… Tiếng còi của chị Thao lại thổi lên. Quả bom nổ. Ba tiếng nổ nữa tiếp theo. Mảnh bom xé không khí. Đất rơi lộp bộp. Bom nổ váng óc, ngực đau nhói, đôi mắt cay mãi mới mở ra được. Mồ hôi thấm vào môi, cát lạo xạo trong miệng. Nguy hiểm, căng thẳng không thể nào kể xiết. Chị Thao vấp ngã, vết sẹo bóng lên, mảnh dù bay trên lưng, chị cười. "răng trắng’, đôi mắt mở to…". Nho bị thương. Bom nổ, hầm sập. Chị Thao và Định phải moi đất, bế Nho lên. Máu lúa ra, ngấm vào đất. Chị Thao nghẹn ngào. Định rửa vết thương cho Nho, tiêm thuốc cho Nho, pha sữa cho Nho… Rồi chị Thao lại giục: "Hát đi, Phương Định, mày thích bài gì nhất, hát đi!". Đó là cuộc sống chiến đấu thường nhật của họ.
Mỗi ngày, tổ trinh sát mặt đường phá bom đến 5 lần; ngày nào ít: ba lần. Phương Định cho biết: "Tôi có nghĩ đến cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể…
Đoạn văn tả cảnh phá bom trên cao điểm là đoạn văn xuất sắc nhất trong truyện Những ngôi sao xa xôi. Lê Minh Khuê đã sử dụng bút pháp hiện thực nghiêm ngặt tái hiện lại cảnh phá bom vô cùng nguy hiểm, dựng nên một tượng đài về khí phách anh hùng lẫm liệt của tổ trinh sát mặt đường. Chị Thao. Nho và Phương Định đã sáng ngời lên trong khói lửa bom đạn. Chiến công thầm lặng của họ bất tử với năm tháng và lòng người. Tổ quốc và nhân dân có bao giờ quên những nữ anh hùng Đồng Lộc, những nữ anh hùng trên con đường chiến lược Trường Sơn:
…Đất nuớc mình nhân hậu
Có nước trời xoa dịu vết thương đau
Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
Đêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng
Những vì sao ngời chói, lung linh…
(Khoảng trời hố bom – Lâm Thị Mỹ Dạ)
Định, cô gái Hà Nội xinh đẹp, dũng cảm trong lửa đạn, giàu yêu thương đồng đội. Cô cũng thích làm duyên như cô thôn nữ ngày xưa soi mình xuống giếng làng vừa mỉm cười vừa vuốt tóc; Định "thích ngắm" đôi mắt mình trong gương. Cô lự hào về cặp mắt mình "nó dài dài, màu nâu, hay nheo lại như chói nắng". Tâm hồn của Định rất trong sáng mộng mơ. Cô đã gửi lòng mình theo tiếng hát; hát trong hom đạn. Định, trái tim dào dạt thương yêu. Cứ sau mỗi trận chiến đấu ác liệt, chị Thao cất tiếng hát, Nho vừa tắm dưới suối lên đã đòi ăn kẹo. Còn Định thì "niềm vui con trẻ… nở tung ra, suy sưu, tràn đầy" khi nhặt được những hạt mưa đá trên cao điểm. Và hình bóng mẹ, cái cửa sổ, những ngôi sao to trên bầu trời thành phố, chiếc xe chở đầy thùng kem, con đường nhựa ban đêm, cái vòm tròn nhà hát… tất cả những cái đó "xoáy mạnh như sóng" trong lòng cô gái một thời đạn bom. Đôi mắt của Định, của Nho, của Thao, của hàng vạn cô thanh niên xung phong trên những cao điểm, những trọng điểm của con đường chiến lược Trường Sơn, và trái tim rực đỏ của họ, của những người con gái Việt Nam anh hùng là Những ngôi sao xa xôi mãi mãi lung linh, tỏa sáng.
Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê đã làm sống lại trong lòng ta hình ảnh tuyệt đẹp và những chiến công phi thường của tổ trinh sát mặt đường, của Định, Nho, của chị Thao, của hàng ngàn, hàng vạn cô thanh niên xung phong thời chống Mĩ. Chiến công thầm lặng của Phương Định và đồng đội là bài ca anh hùng.
Chiến tranh đã đi qua. Sau ha thập kỉ, đọc truyện Những ngoi sao xa xôi, ta như được sống lại những năm tháng hào hùng của đất nước. Những Phương Định gần xa vẫn tỏa sáng hồn ta với bao ngưỡng mộ. | Phân tích và nêu cảm nghĩ về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê | 1,647 | |
Đề bài: Phân tích và nêu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn trong đoạn Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang
Bài làm
Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang trích chương 10 tiểu thuyết Rô-bin-xơn Cru-xô của nhà văn Đi-phô người Anh trong thế kỉ XVIII. Tác phẩm lúc đầu mang một cái tên dài. Cuộc đời và những chuyện phiêu lưu kỳ lạ của Rô-bin-xơn Cru-xô. Phiêu lưu và tự truyện là 2 tính chất nổi bật của tác phẩm này. Đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang cũng như toàn bộ cuốn tiểu thuyết thấm nhuần một vẻ đẹp nhân văn, vừa cảm thông với sự rủi ro, bất hạnh của một con người, vừa ca ngợi sức sống mạnh mẽ, đầy nghị lực và sáng tạo của một thanh niên giữa một thiên nhiên hoang dã, ngoài hoang đảo!
Nhiều năm tháng đã trôi qua, Rô-bin-xơn đã sống một mình giữa hoang vu. Trước mắt vẫn là những chặng đường đầy thử thách. Anh nói: “Tôi sống yên ổn trên đảo và chịu đựng số phận của mình hơn một năm nữa”. Ta như đang nghe tiếng anh thầm thì kể lại những nếm trải cay đắng ngọt bùi. Tiếng anh như chìm đi trong sóng gió đại dương đang bủa vây hoang đảo.
Anh đã nói với chúng ta những gì anh đã làm và anh đã sống trong ngót ba thập kỷ. Cô đơn, thú dữ, bệnh tật, thiếu thốn. Không thể chết được! Phải sống và biết cách sống, vốn là một thanh niên ưa mạo hiểm, thích làm giàu, giờ đây hoàn cảnh khắc nghiệt đã rèn luyện anh trở thành một con người “lành nghề trong nhiều ngành thủ công”. Anh làm việc không mệt mỏi để không còn thì giờ “nghĩ ngợi vẩn vơ”. Đó cũng là một phương pháp tư tưởng đúng đắn tích cực. Nhờ thế, anh đã trở thành một thợ nặn rất khéo, nặn được đủ thứ vật dụng, từ chum vại, bình vò đến bát đĩa. Anh đã trồng được thuốc để hút, giờ đây lại nặn được cái lẩu “tuyệt mĩ" nữa, vì thế anh vô cùng “thích thú”. Anh dùng cây miên liễu để đan lát. Đan thúng để quảy mồi săn được, đựng hoa trái kiếm được. Đan bồ đựng thóc, đan được nhiều đồ dùng khác nữa. Nói lao động là sáng tạo, lao động là phát triển năng khiếu thẩm mĩ của con người, trong trường hợp này đối với Rô-bin-xơn là hoàn toàn đúng.
Ở đời, những kẽ yếu hòn dễ bị khó khăn quật ngã. Với Rô-bin-xơn, anh đã trải qua một vạn ngày cô đơn trên hoang đảo rồi! Tuổi trẻ đã trôi qua. Thể lực và chí khí đã hao mòn. Chặng cuối cùng bao giờ cũng vậy, khó khăn, thử thách như được nhân lên một cách ghê gớm! “Thuốc đắng cạn liều cũng thấy đắng – Đường gay cuối chặng lại thêm xay” (Hồ Chí Minh). Đó là quy luật. Rô- bin-xơn cho biết hoàn cảnh mình: "Thuốc đạn ngày càng khan, thực phẩm cũng vơi dần". Bước sang năm thứ 11 ở trên đảo, anh đã bắt tay vào việc chăn nuôi, sau khi đã trồng lúa, trồng mạch thành công. Anh đã đánh bẫy dê rừng, làm chuồng và nuôi nấng, thuần dưỡng dê. Chỉ 2 năm sau, anh đã có một đàn dê lên tới 43 con để giết thịt ăn dần. Vừa giàu chí khí, vừa giàu sáng tạo và khéo chân tay, anh đã biết vắt sữa, làm hơ, làm phó mát, thuộc da dê may áo quần, trồng hoa quả. Anh đã nổi về đời sống vật chất của mình trên hoang đảo sau những năm dài vật lộn, với tất cả niềm vui ánh lên tự hào:
“Các bạn thử nghĩ, một mình trên một hòn đảo hoang vắng mà bữa sáng có sữa tươi, bữa ăn thường ngày có bánh mì, bánh bột gạo tẻ, thịt dê, trứng rùa, bơ và phó mát; tráng miệng thì có các thứ hoa quả, nhất là nho tươi, nho khô, thiết tưởng cũng thịnh soạn không kém ở những khách sạn bình thường tại các thành phố lớn".
Rô-bin-xơn đã không bị thiên nhiên khuất phục. Trái lại, anh biết dùng trí tuệ, đôi bàn tay và ý chí của mình – của CON NGƯỜI – để cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ đời sống mình. Việc nuôi dưỡng và thuần dưỡng dê rừng của Rô-bin-xơn là một kỳ công. Sữa tươi, phó mát, hơ, áo da mà anh làm ra là thành quả lao động trong gian khổ và cô đơn. Người đọc gần 300 năm nay trên trái đất vô cùng khâm phục anh – một con người bất hạnh mà vĩ đại.
Phần sau của chương 10 nói về “Một vài nét hình thù ông “chúa đảo” khi di chu du trong vương quốc của mình". Đây là bức chân dung tự họa rất hóm hỉnh giàu giá trị nhân bản. Có một điều rất thú vị là trên cái “vương quốc’ hoang đảo này, chỉ có một vị chúa đảo" là Rô-bin-xơn, chỉ có một thần dân, đó cũng là Rô-bin-xơn. Anh đã nói về trang phục, về mày râu của mình. Ta có thể đi theo vị “chúa đảo" mà chiêm ngưỡng. Bộ áo quần bằng da rất kỳ lạ, có thể làm "kinh sợ" hay “bò ra mà cười” ai đổ khi lần đầu bắt gặp. Cái mũ bằng da dê “cao lêu đêu". Một cái áo chẽn cũng cắt bằng da dê “tà áo chấm ngang đầu gối" rất quý tộc; cái quần ngắn may bằng da dê xồm, lông dê dài lê thê, buông thõng đến mắt cá, thành ra quần đùi mà không khác quần dài! Cái thắt lưng cũng bằng da dê để giắt cưa và búa. Hai cái túi bằng da dê “hình dáng lạ lùng” để đựng đạn ghém và đựng thuốc súng, đeo lủng lẳng bằng một dây da vòng qua cổ. Đây là những nét miêu tả rất hiện thực nói lên cuộc sống của con người nơi hoang đảo về mặt trang phục, hình hài đã trở nên "cổ quái", kỳ dị. Vì thế chàng trai Rô-bin-xơn càng ngày càng “rám nắng, đen sạm lại" Râu thỉnh thoảng được cạo nhưng vẫn "đảm ra tua tủa như chổi xể”. Trên mép là một cặp ria theo kiểu người Thổ Nhĩ Kỳ "vừa dài vừa rậm khác thường". Chó vốn là một vật nuôi vô cùng tinh khôn. Rô-bin-xơn có một con chó như một người bạn, một vệ sĩ rất trung thành với chủ, từng chia ngọt sẻ bùi với chủ, mà nay, có lúc nhìn “lệ bộ" da dê, râu ria của Rô-bin-xơn, nó có vẻ "kinh ngạc khiếp sự”, nó “nghi nghi hoặc hoặc”, sợ hãi, dò xét “cái con quái vật kỳ dị kia là bạn ây là thù”. Đó là chất hoang dã lấn chiếm, hoang dã hóa con người. Phải có một sức mạnh to lớn lắm mới chế ngự và hạn chế sức mạnh ghê gớm của thiên nhiên nơi hoang đảo.
Nhân vật "tôi” tự kể chuyện mình. Một giọng văn trầm, có lúc thoáng một nét buồn, có lúc hài hước. Một trang đời vất vả, cay đắng cũng có khoảnh khắc “thịnh soạn" đàng hoàng. Cái rủi ro phải trả giá cả một thời thanh xuân trong cô đơn và gian nan. Rô-bin-xơn hiện lên với tất cả sức mạnh của con người. Anh đã khẳng định và cho mọi người tìm được một bài học: Dám sống và biết cách sống, sống một cách mạnh mẽ, dũng cảm và sáng tạo trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Có người đã từng ngợi ca, đoạn văn Rô-bin-xơn ngoài hoang đảo là bài ca lao động sáng tạo hào hùng của con người. Rô-bin-xơn đã phiêu lưu và mạo hiểm. Cái vĩ đại và đáng quý nhất ở anh là anh đã sống đẹp như một con người chân chính. | Phân tích và nêu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn trong đoạn Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang | 1,340 | |
Đề bài: Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện Mùa cá bột của nhà văn Đỗ Chu
Bài làm
Phù sa, tập truyện ngắn của nhà văn trẻ Đỗ Chu, trong đó có truyện Mùa cá bột. một truyện đặc sắc nói về nhịp sống lao động và tâm tình của bà con một vùng quê thuộc miền Kinh Bắc trù phú.
Truyện không có những tình tiết, những tình huống giàu kịch tính, nhưng lại lôi cuốn hấp dẫn người đọc bằng lối kể chuyện nhẹ nhàng, cuộc sống lao động làm ăn hiện tại và những kỉ niệm, những hồi ức thời khói lửa; hai mạch truyện đan lồng vào nhau, tạo nên điệu tâm tình thiết tha, đằm thắm.
Xã đội trưởng Đá đã hi sinh, cụ Tự Giấc, Khang chủ nhiệm, vợ là Tiềm, o du kích gan dạ ngày xưa, bấy nhiêu nhân vật, có nét vẽ chỉ thoáng qua, có nét vẽ đậm đều để lại tất cả trong tâm hồn người đọc bao xúc động về cuộc sống chiến đấu, cuộc sống lao động, về cách ăn ở nghĩa tình của làng quê ta.
1. Mùa cá bột đến cũng là mùa mưa về. Dòng sông quê và bãi Thè Le sôi nổi, sống dậy như ngày hội. Con sông thân thuộc, mùa cạn, lũ trẻ trong làng vẫn đánh trâu ra tận giữa dòng đùa nghịch, nhưng nay "phù sa đỏ ngầu, dòng nước sủi bọt chảy về xuôi vội vã". Bãi Thè Le "bỗng rộng rãi hẳn ra". Cả làng mong mưa, mọi công việc đồng bãi như nhổ đay, giặm vừng, gieo mạ mùa… được tiến hành khẩn trương, để ai nấy đều yên lòng mà "đón bột, nuôi bột".
Mùa cá bột đến, cả làng kéo nhau ra bãi dựng lều nằm ngủ, đón chờ "những đêm lặng gió" để "đón bột". Mùi lá đay quen thuộc "dễ chịu" bốc lên. Những mái lều. mái rạ úp trên mặt đất, ánh đèn dầu "tỏa ra vàng khè" khắp cảnh bãi. Già, trẻ, gái. trai thức thâu canh để "đón bột". Thằng con trai chị Tính cũng theo mẹ ra lều, khóc ré lên giữa đêm khuya ở chiếc lều cuối bãi. Cả làng chuyển động, cả làng náo nức đợi chờ. Mùa bột là mùa làm ăn đã bao đời nay:
Mùa bột hốt bạc hốt tiền,
Buộc duyên đôi lứa nên duyên vợ chồng.
(Ca dao)
Cảnh những chiếc thuyền thúng vội vã bơi qua sông trong màn mưa. Cảnh tổ phụ nữ do Tiềm phụ trách kéo sang bên phía bên kia sông thả đáy suốt đêm, cô nào cũng " ướt như chuột". Tất cả đều cho thấy nhịp sống lao động vất vả, cần mẫn, chịu khó của những người dân hiền lành, dân dã quê hương đã đem đến cho ngòi bút và trang văn của Đỗ Chu thêm phần dung dị, đầm ấm.
2. Thế giới nhân vật trong Mùa cá bột chỉ là những chân dung phác họa nhưng không kém phần sống động lung linh. Cụ Tư Giấc là thân sinh của Xã đội trường Đá. Ông nhớ như in cái chứng "độc lập"của đứa con cả, mới lên 5 tuổi đã nằng nặc đòi mẹ cho ngủ riêng rồi. Cụ nhớ đứa con đã hi sinh trong lửa đạn, cụ tính tuổi con với bao nỗi niềm: "thằng cả nhà tôi mà còn thì năm nay tròn bốn mươi tuổi rồi đấy”. Trong cảnh yên vui làm ăn, cả làng đi thả đáy, đi "đón bột, nuôi bột", người cha lại ngẩn ngơ nghĩ: "Được như bây giờ thì nó lại chẳng còn". Khi Khang báo tin Chi ủy Hợp tác xã muốn dời ngôi mộ liệt sĩ Đá bên kia sông về bên làng mình cho "có anh có em" thì cụ nói: "Tôi nghĩ kĩ rồi, nó ngã ở đâu cứ để nó nằm ở đấy lại hóa hay. Anh có thấy cái mả nó nằm ngày càng bồi to mãi lên đấy không?". Cụ cảm động nói tiếp: "Các anh đối với nó chí tình thật… Đợi con mẹ cả nó về, tôi bảo qua nó một tiếng, một ngày cũng nên nghĩa nên tình anh ạ”. Cụ Tư Giấc là hình ảnh rất đẹp về đức tính thuần hậu nghĩa tình của những bậc cao niên trong làng quê xưa nay mà ai cũng kính trọng.
Cụ Tư Giấc là một lão nông hết lòng vì công việc của hợp tác xã. Khi đã nhận lãnh đạo tổ vớt bột, cụ làm say sưa nhiệt tình "chăm lo hết lòng" với công việc chung trong hợp tác. Cụ giàu kinh nghiệm trong nghề vớt bột. Dân gian có câu ca: "Khúc sông bên lở bên bồi – Bên lở mùa bột thời trời ban cho". Tiềm hỏi bờ bên nào bột về nhiều hơn thì cụ đã bảo cô: "Bên nào lở nhiều thì bên ấy lắm bột". Cụ là người đang truyền nghề cho lớp trẻ biết cầm cái vợt mà vớt con cá, bán lấy đồng tiền làm mát mặt xóm làng.
2. Nhân vật Tiềm được Đỗ Chu vẽ rất khéo. Là cô du kích gan dạ, đã mưu trí, táo bạo ném lựu đạn vào quán rượu trên bốt giặc giữa ban ngày. Là người vợ trẻ sống giữa thời bom đạn chỉ mong đến ngày "yên hàn" sẽ "đẻ hai đứa con, một trai một gái". Là tổ trưởng giỏi làm ăn đã biết đưa chị em bơi thuyền qua sông để "đón bột, nuôi bột" suốt đêm "trong mưa". Chị rất trung hậu. Vừa bơi chèo, chị vừa hỏi chồng như nhắc nhở: "Cứ để anh Đá nằm ở bên kia mãi hay sao?". Tiềm, cô du kích; Tiềm, cô vợ trẻ; Tiềm, cô tổ trưởng "vớt bột", ở công việc nào, vị thế nào, hoàn cảnh nào, cô thật đáng mến và quý trọng.
3. Khang là nhân vật trung tâm của truyện Mùa cá bột. Anh du kích năm xưa nay đã trở thành Chủ nhiệm Hợp tác xã, một đảng viên có chân trong Chi ủy. Anh cùng một số cán bộ khác đang gánh vác và xốc dậy phong trào. Đi họp Chi ủy bên làng Bồng nửa đêm mới về, anh "xuống bãi mà không về nhà nữa". Cái nhìn của anh "khắp một lượt "các lều vớt cá bột ở trên bãi, là cái nhìn của một cán bộ lãnh đạo sống gần dân và hết lòng vì dân. Chi tiết Khang đi vào lều cụ Tư Giấc rất có ý nghĩa. Là một con người chu đáo nghĩa tình. Câu chuyện giữa Khang với cụ Tư Giấc về chuyện dời mộ anh Đá từ bên kia sông trở về nghĩa trang làng mình để "có anh có em", chuyện thời tiết, chuyện "đón bột, nuôi bột" làm sao để có thể “đem bán lấy đồng tiền", tất cả đều cho thấy anh là một con người cẩn trọng, ăn ở rất tình nghĩa thủy chung. Đang nằm một mình trong lều giữa bãi, khi cơn mưa rào từ bên kia sông kéo sang, những tia chớp làm quang cả bầu trời, gió quật mưa ầm ĩ, trong bóng tối, Khang "vội vàng choàng dậy, lom khom chạy ra khỏi lều, quên cà mặc áo". Rất khẩn trương, Khang "nhảy xuống nước”. Lúc thì anh đặt chậu cá, lúc thì anh lao xuống sông vớt mấy chiếc giành và đáy lên, tài sản của hợp tác xã, khi thì anh chạy đến các túp lều xã viên. Anh lo toan, anh xông xáo. Rồi anh vội bơi "thúng" qua sông trong gió mưa tầm tã, để đi tìm tổ thả đáy, đón bột ở bên kia sông. Mưa như trút nước, mặt sông mù mịt mênh mông. Anh chẳng hề sợ sóng gió làm "thúng" úp. Khang đang đứng mũi chịu sào để cùng bà con giành lấy một mùa cá bột bội thu. Khang là hình ảnh một cán bộ nông thôn kiểu mới. Anh đang sống và làm việc hết mình với xóm thôn quê nhà, vì sự ấm no thịnh vượng của bà con. Nhân vật Khang được Đỗ Chu miêu tả rất chân thực.
4. Xã đội trưởng Đá được giới thiệu một cách gián tiếp với bao kỉ niệm in sâu mãi trong lòng người. Lên 5 tuổi, nhưng Đá đã có cái chứng "độc lập” chi thích nằm ngủ một mình. Trong những năm kháng chiến, Đá là một chỉ huy gan dạ, đã đưa đội du kích quấy rối địch trên bốt Bồng, đưa đội du kích ra ngoài bãi Thè Le tập quân sự. Đá rất vui tính, anh đã đặt ra bài vè: "Anh ấy cô mình cùng muốn lấy nhau" và cuối cùng Tiềm và Khang nên vợ nên chồng. Trong lễ cưới Tiềm và Khang cũng là tối liên hoan mừng chiến thắng đầu tiên của đội du kích xã, Đá – Xã đội trưởng đã chúc cô dâu chú rể "vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Thật độc đáo, anh đã tặng cô dâu một quả lựu đạn, làm cho đám thanh niên được một phen "cười rung cả rạp". Trong tối tân hôn, Tiềm và Khang đi canh gác, cô dâu chú rể bàn về chuyện sinh con đẻ cái sau này; xã đội trưởng đi kiểm tra nghe được, vừa chế giễu vừa phê bình một cách ý vị: "Gà đẻ gà cục tác thế thì kín làm sao được. Canh gác như vợ chồng cô hôm nay rồi tha hồ mà mơ mộng ở trên bốt”.
Người chỉ huy du kích ấy, lúc sống được đồng đội tín phục, lúc hi sinh được nhân dân thương tiếc, biết ơn. Nghe tin anh Đá mất, "cả làng chưa ai tin ngay, người ta bỏ cả nồi cơm đang sủi, bỏ rơi cả gầu nước đang kéo lên nửa chừng… Tất cả đều chạy sang sông xem thực hư ra sao… Đá đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, anh đã "cùng chết với chúng nó". Đá đã lấy cái chết của mình để giết giặc. Anh đã hi sinh "vào đêm mồng bốn tháng năm giữa mùa cá bột. Cụ Tư Giấc, Tiềm, Khang, đồng đội anh, bà con quê hương anh vẫn nhớ". Nghị quyết của Chi ủy đưa mộ người Anh hùng Liệt sĩ Du kích từ bên kia sông trở về nghĩa trang làng mình là một chi tiết nói lên tấm lòng uống nước nhớ nguồn của nhân dân đối với các liệt sĩ. Máu đào của bao chiến sĩ, liệt sĩ đổ xuống trong khói lửa mới có mùa cá bột yên bình hôm nay.
Đọc truyện Mùa cá bột, người đọc đã tìm thấy bao nét đẹp về cảnh sắc thiên nhiên của làng quê ta. Dòng sông, bờ bãi, con thuyền, màn mưa… rất gần gũi, thân thuộc đáng yêu. Đặc biệt là tiếng chim le le. Trong chiến tranh, chim le le cất lên phía nào, người chiến sĩ du kích biết rằng quân giặc không phục kích ở phía ấy.Giữa mùa cá bột, tiếng vợ chồng con le le "gọi nhau lảnh lót, dồn dập". Với Khang thì "khắp vùng này có điệu dân ca nào tha thiết hơn thế không?". Đó là chất thơ, chất trữ tình của Mùa cá bột. Mùa cá bột là mùa vui, là mùa ấm no, hạnh phúc. Mùa cá bột là mùa gọi đàn.
Một tình quê vơi đầy trên trang văn của Đỗ Chu qua Mùa cá bột cứ làm ta băng khuâng mãi: Mùa bột hốt bạc hốt tiền… | Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện Mùa cá bột của nhà văn Đỗ Chu | 1,942 | |
Đề bài: Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện Người trong bao của Sê-khốp
Bài làm
Sê-khốp (1860-1904) là một trong những cây đại thụ của rừng văn học Nga, đã để lại nhiều kịch bản và hơn năm trăm truyện ngắn. Tác phẩm của Sê-khốp làm hiện lên toàn cảnh xã hội nước Nga cuối thế kỉ XIX ngạt thở trong bầu không khí chuyên chế bảo thủ nặng nề dưới thời Sa hoàng.
Truyện ngắn "Người trong bao" được Sê-khốp viết vào năm 1898. Qua nhân vật Bê-li-cốp, tác giả châm biếm và đả kích người trí thức Nga sống tầm thường, hủ lậu, hèn nhát và giáo điều, đê tiện và dung tục; đồng thời chỉ ra lối sống ấy đã để lại nhiều di hại đầu độc tâm hồn người, đầu độc cuộc sống, gây ảnh hưởng và hậu quả nặng nề, dai dẳng trong xã hội nước Nga. Cái bao mang hàm nghĩa về một kiếp người, một lối sống, một xã hội đen tối, tù túng, nặng nề mà không sao thoát ra được, chết rồi cũng không thoát ra được!
Cuộc đời của anh giáo chức tỉnh lẻ Bê-li-cốp là những trang hài, là một bức tranh biếm hoạ cười ra nước mắt. Chả thế mà cô giáo Va-ren-ca đã "cười phá lên" khi Bê-li-cốp bị xô ngã "lộn nhào" xuống chân cầu thang, và cô đã "oà lên khóc" khi hắn đã nằm trong bao đi chầu âm phủ!
Bê-li-cốp, giáo viên trung học dạy tiếng Hi Lạp cổ. Hắn quen sống trong tù túng, nô lệ. Với hắn thì "nếu không có chỉ thị nào cho phép thì ta không được làm. Hắn sống vì quá khứ, như một kẻ mang bệnh tâm thần, lúc nào cũng sống trong tâm trạng "sợ hãi", "lo âu", "nhút nhát". Hắn chỉ có một chút niềm vui do bệnh nghề nghiệp sinh ra. Hắn nói "ngọt ngào”: "Ôi, tiếng Hi Lạp nghe thật tuyệt vời êm tai", rồi "nheo mắt lại", "giơ một ngón tay lên" và thốt ra tiếng: "An-thro-pos”. Phải chăng lúc đó gã Bê-li-cốp hạnh phúc nhất. Chắc lúc ấy hắn đã thò đầu ra khỏi cái bao trong khoảnh khắc!
Bê-li-cốp sống một cách kì quặc, vừa lập dị vừa lẩm cẩm. Con người hắn cuộc đời hắn, từ cử chỉ, hành động đến ngôn ngữ sinh hoạt. Hắn như đã bị cầm tù, đã bị nhốt vào bao. Quanh năm suốt tháng, nắng mưa, ngay cả mùa hạ hắn vẫn khoác áo bành tô ấm cốt bông! Lúc nào chân cũng đi giày cao su. Chiếc ô, đồng hồ quả quýt, con dao nhỏ để gọt bút chì… tất cả đều đút trong bao. Ngồi xe ngựa, hắn bắt phải hạ mui xe. Bộ mặt hắn cũng được giấu kín trong bao, đó là cái cổ áo bành tô cổ bẻ. Lỗ tai hắn cũng nhét bông. Mọi ý nghĩ, hắn "cũng giấu vào bao". Với hắn thì cái bao là một thứ vỏ bọc để "ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài". Nhưng thật hài hước, đầu óc hắn cũng chỉ là một cái bao cổ hủ để bọc lấy những chỉ thị, thông tư, những bài báo quy định cấm đoán điều này điều nọ mà hắn cho là "rõ ràng". Hắn vừa hèn vừa đáng thương! Hắn thật tội nghiệp!
Qua các chi tiết nói về cái bao, Sê-khốp châm biếm một loại "linh hồn chết" trong xã hội Nga cuối thế kỉ XIX, đó là loại trí thức sống lạc hậu, cổ hủ, nô lệ, mù quáng, sống cuộc đời chật hẹp, quẩn quanh tù túng.
Cách sống của Bê-li-cốp cũng rất kì lạ. Hắn có một thói quen "kì quặc". Hắn thường đến các nhà giáo viên, như hắn nói đến để "duy trì những mối quan hệ tốt với bạn bè". Nhưng hắn đến mà "chẳng nói chẳng rằng", cứ “ngồi im như phổng", mắt thì nhìn quanh "như tìm kiếm vật gì", độ một giờ sau thì cáo từ. Tính hắn hâm hay hắn là một mật vụ lân la dò xét? Vì thế, giáo viên nào trong trường cũng sợ hắn. Cả hiệu trưởng, oai quyền thế cũng sợ hắn. Cả thành phố đều sợ hắn. Các bà, các cô không dám diễn kịch vào tối thứ bẩy vì sợ rằng "nhỡ hắn biết thì lại phiền". Giới tu hành không dám ăn thịt và đánh bài khi có mặt hắn. Bê-li-cốp như một bóng ma, một hung thần gieo rắc sợ hãi, làm cho dân chúng trong thành phố suốt một thời gian dài mười lăm năm trời “sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, sợ giúp đỡ người nghèo, sợ dạy học chữ…".
Sê-khốp đã chỉ ra và cho thấy loại người trong bao, lối sống trong bao thật vô cùng đáng sợ. Loại người ấy, lối sống ấy đã toả chiết tâm hồn người, bao phủ lên khắp mọi nơi một bóng đen đáng sợ.
Vì quanh năm suốt tháng tự nhốt mình trong bao nên Bê-li-cốp sống như một người bệnh tưởng, trầm cảm. Hắn sợ ánh sáng, sợ bóng tối, sợ trộm vào nhà, sợ lão nấu bếp cắt cổ hắn. Nhà lúc nào cũng đóng chặt cửa, cài then, chăn trùm đầu kín mít lúc ngủ, ở nhà mùa hè cũng như mùa đông, lúc nào hắn cũng mặc áo khoác ngoài. Suốt đêm, "hắn toàn mơ những điều khủng khiếp" vì thế buổi sáng đến trường, mặt hắn "tái nhợt, rầu rĩ" một cách thảm hại! Lối sống đó là sống khổ, sống mà như chết. Bê-li-cốp đã tự cầm tù mình, đày đoạ mình, gây đau khổ cho thân mình. Hắn thật đáng thương hại.
Hóm hỉnh và ý vị biết bao khi Sê-khốp nói về bi kịch ái tình của người trong bao. Cô giáo Va-ren-ca khoảng ba mươi tuổi mới về trường, thế là nữ thần ái tình đến gõ trái tim Bê-li-cốp. Trên bàn trong ngôi nhà "chật như cái hộp", hắn trân trọng đặt tấm ảnh người đẹp. Ý định lấy vợ choán ngợp tâm hồn hắn, nhưng vì quen sống trong bao nên hắn cứ lần lữa đắn đo, suy tính, lúc nào mặt mày cũng nhợt nhại đáng thương. Hắn bị gán ghép, rồi hắn có vẻ thích Va-ren- ca… Thế là bức tranh biếm hoạ "An-thro-pos si tình" (kẻ si tình) được gửi đến tất cả các giáo viên ở hai trường nam nữ, giáo viên chủng viện, các viên chức và cả Bê-li-cốp nữa. Bức biếm hoạ mới gợi tình làm sao: hình ảnh "Bê-li-cốp đang đi, chân xỏ trong giày mưa, quần túm ống, tay cầm ô, tay khoác tay Va-ren-ca". Chà! Người trong bao lãng mạn và đa tình quá! Nhưng Bê-li-cốp lại bị sốc, bị bức tranh châm biếm gây cho hắn "một ấn tượng nặng nề".
Sê-khốp đã tạo nên những chi tiết điển hình, những tình huống điển hình để khắc hoạ tính cách của Bê-li-cốp người trong bao. Dư vị chua cay, hài hước của câu chuyện càng trở nên hấp dẫn, lôi cuốn.
Bê-li-cốp chẳng gặp "hên" một chút nào! Ngày chủ nhật, mồng một tháng năm hôm ấy, thầy trò cả trường trung học tổ chức cùng đi ra ngoài thành phố vào rừng chơi. Nhưng anh chàng Bê-li-cốp đã bỏ về giữa chừng. Giữa đường hắn bất ngờ thấy hai chị em Va-ren-ca cưỡi xe đạp phóng qua. Cô chị "mặt mày ửng đỏ… vui vẻ, hớn hở" gào to: "Trời hôm nay đẹp thật, đẹp tuyệt, đẹp ghê gớm!". Bê-li-cốp "ngẩn người ra", như bị choáng, bị ma ám: "Mặt mày đang từ xanh mét chuyển sang trắng bệch". Người trong bao phàn nàn, trách cứ: "Chẳng lẽ giáo viên và đàn bà, con gái lại có thể cưỡi xe đẹp, làm như thế coi sao tiện?".
Phải chăng hắn là một kẻ cổ hủ đáng cười? Phải chăng hắn là một nhà mô phạm đang bảo vệ nên đạo đức chính thống?
Suối ngày hôm sau, người trong bao đau khổ dằn vặt, bực dọc, toàn thân run lên", thậm chí hắn bỏ cả buổi lên lớp, bỏ cả cơm trưa. Tối hôm đó, dù đang tiết mùa hạ, nhà đạo đức bèn "mặc áo ấm" lần mò đến nhà hai chị em Va-ren- ca. Cô chị đi vắng, hắn chỉ gặp được người em. Hắn thật thà thanh minh về bức tranh châm biếm. Hắn khẳng định nhân cách "tử tế, đứng đắn" của mình. Lấy tư cách là "bạn đồng nghiệp đi trước", hắn nhắc nhở kẻ "mới bắt đầu đi làm" đôi điều. Hắn chê trách việc đi xe đạp của hai chị em Va-ren-ca "hoàn toàn không hợp với tư thế của một nhà giáo dục thiếu niên". Hắn cảnh cáo việc đi xe đạp ấy là thiếu gương mẫu, là trái pháp luật, trái nội quy vì "chưa có chỉ thị nào cho phép thì không được làm". Hắn bày tỏ thái độ nào là "phát kinh lên", nào là mắt hoa lên" khi nhìn thấy cảnh đàn bà, con gái đi xe đạp! Hắn khuyên nhủ Cô- va-len-cô phải xử sự "thận trọng", không được buông thả quá chừng như mặc áo thêu ra đường, trong tay còn cầm sách này nọ, lại còn cưỡi xe đạp nữa. Hắn nhắc nhở nếu chuyện ấy đến tai ông hiệu trưởng, ông thanh tra thì "còn ra cái thể thống gì”.
Khi bị Cô-va-len-cô cự lại, hắn răn dạy: "Anh cần phải có thái độ kính trọng đối với chính quyền". Hắn doạ "sẽ báo cáo với ngài hiệu trưởng nội dung câu chuyện" đã xảy ra mà hắn đã nói với Cô-va-len-cô.
Cuộc đôi co diễn ra. Cô-va-len-cô “thô bạo" chỉ vào mặt Bê-li-cốp và bảo hắn là "tên mách lẻo”, rồi túm lấy cổ áo hắn, tống cổ ra khỏi nhà. Người trong bao "lộn nhào xuống chân cầu thang”. Sự việc diễn ra đầy kịch tính. Khi Bê-li- cốp "sờ lên mũi xem cặp kính có còn nguyên vẹn không", thì hai người đàn bà và Va-ren-ca bỗng từ đâu xuất hiện, nhìn thấy. Bê-li-cốp đau khổ cảm thấy thà "tự vặt cổ” còn hơn là biến thành trò cười cho thiên hạ. Hắn vô cùng lo sợ câu chuyện sẽ đến tai ngài hiệu trưởng, ngài thanh tra. Người ta sẽ vẽ tranh châm biếm hắn, sẽ ép hắn về hưu…
Có bao chi tiết bi hài. Nhất là khi Va-ren-ca "cười phá lên vang khắp khu nhà". Tiếng cười "ha-ha-ha!" lảnh lót, âm vang ấy "đã chấm dứt tất cả”: "chấm dứt chuyện cưới xin, chấm dứt cả cuộc đời của Bê-li-cốp". Cái ngã của Bê-li-cốp xuống chân cầu thang, điệu cười "lảnh lót" của Va-ren-ca có giá trị và ý nghĩa phê phán một cách chua cay lối sống giáo điều, dung tục của hạng người trong bao. Kẻ hủ lậu lên mặt đạo đức giả, dạy đời bằng bài học luân lí cổ lỗ đã bị Sê- khốp châm biếm qua một tình huống bi hài.
Chỉ một tháng sau bị xô ngã, Bê-li-cốp chết. Trước khi đi chầu Diêm Vương, hắn không quên cất tấm ảnh Va-ren-ca để trên bàn đi. Hắn nằm trong quan tài với vẻ mặt "hiền lành, dễ chịu, tươi tỉnh". Phải chăng hắn "mừng" vì được "chui vào cái bao" vĩnh viễn. Đám ma hắn được cử hành trong một buổi, trời mưu dầm âm u". Lúc hạ huyệt, Va-ren-ca "bỗng oà lên khóc". Nàng khóc vì thương tiếc một thiên tình sử chăng? Nàng khóc vì thương hại một con người bảo thủ, cổ hủ từng làm trò cười cho thiên hạ chăng?
Sau khi Bê-li-cốp chết, lúc đầu ai cũng cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng rồi chưa đầy một tuần sau, ai cũng cảm thấy "nặng nề, mệt nhọc, vô vị" vì cuộc sống đã lại diễn ra như cũ, "chẳng tốt đẹp gì hơn trước". Một Bê-li-cốp chết, một người trong bao đã về chầu âm phủ nhưng còn lại bao nhiêu người trong bao, và "trong tương lai cũng sẽ còn bao nhiêu người như thế nữa!". Sê- khốp đã chỉ rõ: lối sống tầm thường, hủ lậu, giáo điều, dung tục đã đầu độc con người, đầu độc cuộc sống, sẽ gây bao hậu quả nặng nề, sẽ tồn tại dai dẳng trong xã hội Nga những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
Mọi quái thai, mọi ung nhọt trong xã hội xưa nay đâu dễ một sớm một chiều mà tiệt nọc, mà bị quét sạch! Một Bê-li-cốp chết đi nhưng sẽ còn lại bao nhiều Bê-li-cốp nữa. Chí Phèo đã ngoẻo nhưng Thị Nở vẫn còn, và cái lò gạch cũ vẫn còn đó. Cái loại người "mũ nỉ che tai", “vòi rụt cổ", "hủ lậu mà tinh tưởng" thời nào, xã hội nào chẳng có!
Phải biết coi khinh lối sống cổ hủ, coi khinh tính cách bọn người trong bao. Phải biết sống và dám sống với tinh thần tự chủ, sống có trí tuệ và đạo đức của con người mới. Đọc truyện "Người trong bao", ta tự hỏi bản thân mình phải sống như thế nào cho đáng sống:
Sê-khốp đã có một lối viết khá hấp dẫn. Diễn biến câu chuyện được kể một cách tự nhiên, chân thực và sinh động. Nhân vật Bê-li-cốp từ vật dụng, cử chỉ, hành động, ý nghĩ đến lối sống được thể hiện bằng nhiều chi tiết rất điển hình. Hắn là sản phẩm tất yếu của một xã hội tù túng, trì trệ.
Nhân vật Va-ren-ca là một nét vẽ tương phản đầy ấn tượng. Nàng yêu đời, sống hồn nhiên, hay hát, hay cười, động một tí là cười phá lên. Cuộc sống tự do, phóng túng của hai chị em Va-ren-ca đã làm xao động cái không khí buồn thảm nơi tỉnh lẻ và đã làm "rách nát" cái bao của Bê-li-cốp, đẩy hắn ta xuống nằm yên trong quan tài – cái bao nơi âm phủ. Bức tranh biếm hoạ, cái ngã cầu thang, cái chết lặng lẽ và đám ma của Bê-li-cốp có giá trị và ý nghĩa phê phán, châm biếm sâu cay.
"Người trong bao" là một truyện ngắn đầy dư vị đưa độc giả "tự đi tìm bóng mình và soi vào bóng người" để mà sống có ý nghĩa hơn như văn hào Lỗ Tấn đã nói. | Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện Người trong bao của Sê-khốp | 2,418 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.