text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Phân tích và nêu cảm nghĩ về đoạn trích Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ Hướng dẫn Phân tích và nêu cảm nghĩ về đoạn trích Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ Lưu Quang Vũ được biết đến là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch tuồng vào những năm 80 của thế kỉ 20. Ông là người có tài ở trên nhiều lĩnh vực như làm thơ,soạn kịch nhưng nổi tiếng nhất vẫn là kịch. Trong những vở kịch của Lưu Quang Vũ thì đáng nhớ nhất là vở kịch Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt. Với nghệ thuật xây dựng nội tâm nhân vật đã đem lại cho chúng ta nhiều ấn tượng sâu sắc về các nhân vật trong đoạn, đặc biệt cũng như những tư tưởng mà tác giả muốn truyền đạt tới cho chúng ta. Trong tác phẩm được nhắc tới thì hồn Trương Ba là một ông lão đã 60 tuổi có sở thích làm vườn và có tâm hồn thanh cao nhờ đánh cờ giỏi nhưng Nam Tào làm việc tắc trách đã gạch nhầm tên thế nào lại khiến cho ông phải chể oan. Để sửa sai lỗi lầm của mình mà Đế thích đã cho ông nhập vào xác của lão hàng thịt cũng vừa mới mất đó, tưởng là để bù đắp nhưng lại khiến cho Trương Ba phải sống trong thân của người khác mà không phải là mình, chính vì thế mà ông phải rơi vào bi kịch khiến cho cuộc sống của ông không còn được vui vẻ như trước mà còn buồn,tồi tệ hơn nhiều. Cuối cùng Trương Ba đã chọn cái chết để không phải cho bản thân phải khổ sở và người thân cũng được thanh thản hơn. Cuộc hội thoại hồn và xác, luôn cãi cọ không ai nhường ai, ai cũng cho rằng mình có lí của riêng mình cho nên không có ai chịu thua. Nếu như lời của xác hùng hồn bao nhiều thì lời của hồn lại yếu ớt bấy nhiêu. Xác đắc thắng cười nhạo hồn. Qua màn đối thoại giữa xác và hồn thì tác giả muốn nói lên sự bất hạnh đau khổ của con người khi sống nhờ trong sự chắp vá tầm thường và có nguy cơ đánh mất những lẽ cao đẹp của tâm hồn mình. Hai hình tượng này mang một ý nghĩa sâu sắc về sự trong sạch, thanh cao và nhân hậu xứng với danh nghĩa của con người.Cuộc trang đấu này thực chất tác giả muốn nói ở đây đó là sự đấu tranh giữa phần con và phần người.Tóm lại thì trong một con người cần phải có sự hài hòa giữa thân xác và tâm hồn, sự quan tâm đến cả hai là ngang nhau thì mới mong sống tốt được. Không những vậy, Trương Ba còn tiếp tục gặp phải những trách móc không ngừng của người thân, những đoạn hội thoại của ông và người thân diễn ra vô cùng đau khổ. Trước hết đó là người vợ mà ông hết mực yêu thương, bà buổn vô cùng và còn muốn bỏ đi,bà đã nó rằng: “Ông đâu còn là ông của ngày xưa nữa”. Cháu gái của ông cũng không nhận ra ông nữa, nó còn một mực từ tình thân. Người mà ông hết mực yêu thương bây giờ còn không chấp nhận cả cái tình thân này nữa mà nguyên nhân chính đó là ông đã làm hỏng cái diều của cu tý, chữa lành thì lại thành hỏng, nó càng không thể chấp nhận được bàn tay giết lợn, bà tay to bè cùng với bàn chân thô kệch giẫm nát cả chồi non mà ông đã ươm nó từ lâu. Vì đứa cháu quá giận mà đuổi ông cút di, câu nói ấy giống như một nhát dao đâm thẳng vào tim ông. Sau tất cả những màn đối thoại của nhân vật khiến cho Trương Ba không thể nào mà chịu được cuộc sống như vậy nữa, ông đã quyết định từ bỏ thân xác và không gọi Đế Thích lên để xin được chết đi chứ không muốn sống trong cuộc sống chắp vá nữa. Và sau cùng đó là cuộc đối thoại giữa Đế Thích và hồn Trương ba được mở ra nhằm giải quyết xung đột của kịch. Cuộc trò chuyện này trở thành những quan niệm hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai lời thoại này có một ý nghia hết sức đặc biệt “Không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được tôi muốn được làm tôi trọn vẹn”. “Sống nhờ vào đồ đạc của người khác đã là một chuyện không nên đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông nghĩ đơn giản là cho tôi sống nhưng tôi sống như thế nào thì ông chẳng cần biết”. Cuối cùng thì Trương Ba xin cho cu Ti được sống còn mình thì chết hẳn mà không muốn gửi gắm vào ai nữa. Màn kịch kết thúc,Trương Ba trả lại xác cho anh hàng thịt còn hồn mình thì hóa thân vào những sự vật rất đỗi thân thương để tồn tại vĩnh viễn cạnh người thân. Đoạn trích là một bài ca nói về lẽ sống, về cái thiện và cái ác của con người,phải sống hòa nhập giữa hồn và xác của mình. “ Được làm người quý giá thật nhưng được sống đúng là mình sống trọn vẹn với những gì mình đã có thì còn quý giá hơn” Nguồn: Bài văn hay
Phân tích và nêu cảm nghĩ về đoạn trích Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
938
Đề bài: Phân tích và nêu cảm nhận của em sau khi xem diễn hoặc đọc Cảnh III trong vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ Bài làm Đổi mới tư duy trong làm ăn là một cái khó đâu dễ vượt qua? Lề thói cũ, cơ chế cũ, con người cũ là những lực cản ghê gớm trong bước phát triển đi lên của xã hội và đất nước. Ấn tượng sâu sắc ấy đã để lại trong tâm trí chúng ta khi đọc Cảnh III vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ. Hoàng Việt giám đốc và Nguyễn Chính phó giám đốc là hai đối thủ trong cuộc xung đột giữa hai phái mới và cũ này. Nguyễn Chính cho rằng muốn sản xuất thì phải theo đúng kế hoạch "cấp trên”, tuyển công nhân phải theo chỉ tiêu biên chế, bà trưởng phòng tài vụ cho biết “không có quỹ lương cho thợ hợp đồng”, muốn mua sắm nguyên liệu, vật tư “phải làm đúng những quy định”. Giám đốc Hoàng Việt tuyên bố: chúng ta phải chủ động đặt ra kế hoạch, phải tuyển thêm thợ hợp đồng, mức sản xuất của xí nghiệp sẽ tăng lên năm lần, lương mỗi công nhân sẽ tăng bốn lần. Phải dừng việc xây nhà khách để trả lương công nhân trong hai tháng, sau đó sẽ hoàn lại. Công nhân sẽ không phải lo "bện thừng gia công kiếm thêm nữa”. Muốn tăng sản xuất thì phải đầu tư, trước tiên là con người, để chấm dứt tình trạng vô lí, bất công: “người chăm à kẻ lười được đối xử như nhau, người tài năng và kẻ dốt nát đều hưởng chung một mức quyền lợi, thậm chí có những kẻ không làm gì cả, chỉ ngồi phán thôi, lại được vị nể hơn những người đã vất vả cống hiến ". Những chức vô tích sự như chức quản đốc Trương thì sẽ được bố trí làm nhiệm vụ khác, bởi lẽ: "Không có chức vụ nào quan trọng cả. Chỉ có hiệu quả công việc là quan trọng”. Ai làm được nhiều sản phẩm sẽ được hưởng lương cao, ai làm tồi sẽ bị phạt bằng tiền. Muốn phát triển sản xuất thì cần mua thêm máy móc, nhiên liệu, nguyên liệu, phải sửa chữa các máy móc hỏng. Phải dùng séc, tiền mặt để mua sắm. Giám đốc lệnh cho phòng tài vụ phải cấp tiền cho tổ sửa chữa mua sắm và khẳng định: "Tôi chịu trách nhiệm”. Nhưng hà trưởng phòng tài vụ không chịu chi. Phó giám đốc Nguyễn Chính đã phê phán giám đốc: "Đồng chí bất chấp các quy định nghiêm ngặt của cả một hệ thống các cơ quan tài chính, ngân hàng, lao động, vật tư… Phái bảo thủ Nguyễn Chính chống trả rất quyết liệt. Có lúc là bằng nguyên tắc, nghị quyết Đảng ủy, có khi lại lên giọng đạo đức ân tình.- "Cái cơ chế mà đồng chí mạt sát ấy tồn tại bền vững mấy chục năm nay. Nhờ nó mù chúng ta hôm nay có chủ nghĩa xã hội như ngày hôm nay, hạt gạo đồng chí ăn, cái áo đồng chí mục và cả chính con người đồng chí nữa đã được rèn luyện và trưởng thành trong cơ chế ấy. Đừng vội phủ nhận”. Quan điểm của Hoàng Việt rất mới mẻ tiến bộ, rất biện chứng. Anh đã chỉ cho Nguyễn Chính và phe bảo thủ biết: “Sự vật không đứng yên, cuộc sống không đứng yên một chỗ, có cái hôm qua đúng, hôm nay nó là vật cản. Phải tìm cách phá bỏ… Qua đó, ta thấy tư tưởng bảo thủ, cơ chế bao cấp quan liêu đã bị tư tưởng đổi mới giáng cho những đòn mạnh mẽ, quyết liệt. Nhưng thế lực bảo thủ đâu đã chịu đầu hàng. Nguyễn Chính, một kẻ vô cùng xảo quyệt “từng đánh đổ bốn đời giám đốc”. Hắn thuộc loại người nham hiểm, ghê gớm, "loại người nếu bất tay mình, mình phải xem lại tuy kia còn đủ năm ngón không?", vả lại sau lưng hắn vẫn còn có bao thế lực, đó là Trần Khắc, đại diện ban thanh tra của Bộ! Thật đáng buồn cho một cơ chế bao cấp bảo thủ "làm giả thì được huân chương, còn làm thật thì lại… no đòn! Cái "tôi" mà giám đốc Hoàng Việt nêu lên là một thái độ dứt khoát, rõ ràng: tôi làm, tôi chịu trách nhiệm; "chúng ta" là một tư tưởng lớn: chúng ta hăng say lao động, vì sự ấm no hạnh phúc của chúng ta, vì sự giàu đẹp của đất nước. Tôi và chúng ta là đổi mới. Hơn 20 năm sau, trước sự đổi mới tốt đẹp của đất nước, ta càng thấy rõ vở kịch của Lưu Quang Vũ là một vở kịch hay và sâu sắc.
Phân tích và nêu cảm nhận của em sau khi xem diễn hoặc đọc Cảnh III trong vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ
827
Đề bài: Phân tích và nêu cảm nhận của em về bài Tiếng nói của văn nghệ của Nguyễn Đình Thi Bài làm Tiếng nói của văn nghệ được Nguyễn Đình Thi viết vào năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp. Văn bản nghị luận này có bố cục chặt chẽ. Mọi lí lẽ và dẫn chứng của tác giả nêu ra đều tập trung và xoay quanh 3 luận điểm: – Văn nghệ nảy sinh từ hiện thực cuộc sống, sáng tạo ra cái đẹp vì cuộc sống và con người. – Văn nghệ là tiếng nói của tình cảm, của tâm hồn. – Văn nghệ là tiếng nói của tư tưởng. Văn nghệ phản ánh, thể hiện cuộc sống. Nghệ sĩ không tô, đồ hiện thực "mà muốn nói một điều gì mới mẻ". Nghệ sĩ sáng tạo ra cái đẹp, làm cho người đọc "rung động với cái đẹp". Câu thơ Kiều nói về cỏ xanh non và hoa lê "trắng điểm" mùa xuân đã làm cho chúng ta "rung động với cảnh thiên nhiên mỗi mùa xuân lại như tái sinh, tươi trẻ mãi và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn luôn tái sinh ấy". Văn nghệ, những trang văn, câu thơ sáng tạo nên bao nhiêu "hình ảnh đẹp đẽ", từ một ánh sáng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người, sự sống ở quanh ta, mà trước kia "ta chưa biết nhìn thấy", bỗng làm ta "ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn" mình. Mỗi một tác phẩm văn nghệ lớn "rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng" rất kì diệu, nó "làm thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc tư nghĩ". Sứ mệnh của những nghệ sĩ lớn là đem tới cho cả thời đại họ "một cách sống của tâm hồn". Nguyễn Đình Thi đã chỉ rõ: sáng tạo ra cái đẹp là thiên chức của nhà nghệ sĩ; cái đẹp là đặc trưng của văn nghệ – cái đẹp của thiên nhiên, cái đẹp của con người, cái đẹp của cuộc sống. Chức năng của văn nghệ là vô cùng kì diệu Tiếng nói của văn nghệ là tiếng nói của tâm hồn, tiếng nói tình cảm. Nó đem lại niềm khát khao sống, khát khao tự do cho những người tù chính trị trong các sở mật thám. Những câu thơ Kiều, những tiếng hát… đã làm cho những người bị giam cầm "vẫn buộc chặt lấy cuộc đời thường bên ngoài, có cây, có phố, có ruộng, có người, có tình yêu, có những vui buồn khó nhọc hàng ngày; nói một cách khác, đó là sự sống.” Những người đàn bà nhà quê lam lũ ngày trước, suốt đời đầu tắt mặt tối, nhưng khi họ ru con hay hát ghẹo, một câu ca dao, một buổi xem chèo đã gieo vào tâm hồn họ "một ánh sáng, lay động những tình cảm, ý nghĩ khác thường"', làm cho những con người tăm tối nghèo khổ ấy "trong mật buổi được cười hả dạ hay rỏ giấu một giọt nước mắt". Đúng, tiếng nói của văn nghệ, "lời gửi của văn nghệ là sự sống”. Nguyễn Đình Thi đã chỉ rõ "văn nghệ không thể sống xa lìa cuộc sống". Chỗ đứng của văn nghệ "chính là chỗ giao nhau của tâm hồn con người với cuộc sống…". Chỗ đứng của văn nghệ là "tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu" trong thiên nhiên và đời sống xã hội. Tác giả trích đẫn câu nói của Tôn-xtôi, văn hào Nga, để khẳng định kiến giải của mình: "Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm" Tiếng nói của văn nghệ còn là tiếng nói của tư tưởng Nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Tư tưởng trong văn nghệ "nảy ra" từ trong cuộc sống, và "thấm" trong tất cả cuộc sống. Tư tưởng của văn nghệ mang tính đặc thù, "không lộ liễu và khô khan". Một câu thơ, một trang truyện, một vở kịch, một bức tranh, một bản đàn, làm cho cảm xúc chúng ta "rung động", rồi sẽ khơi dậy trong trí óc ta "những vấn đề suy nghĩ". Tư tưởng trong nghệ thuật được thể hiện một cách tinh tế, "náu mình yên lặng”. Vì thế, "một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được", nó níu giữ mãi trong lòng ta. Văn nghệ là một loại tuyên truyền "rất đặc biệt". Văn nghệ "truyền điện" thẳng vào tâm hồn ta. Nó làm cho con người "vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn". Nghệ thuật “giải phóng được cho con người", nghệ thuật "xây dựng đời sống tâm hồn cho xã hội". Thật vậy, tư tưởng là cao quý mà tiếng nói của văn nghệ hướng tới. Có điều "văn nghệ là một thứ tuyên truyền không tuyên truyền nhưng lại hiệu quả và sâu sắc hơn cả". Văn nghệ là một thứ tuyên truyền bằng ngôn ngữ, hình tượng, cảm xúc…, nhưng nó "không tuyên truyền" bằng "tri thức trừu tượng", nhà nghệ sĩ "không mà một cuộc thảo luận lộ liễu và khô khan với chúng ta về một vấn đề khoa học hay triết học". Ví dụ, Truyện Lục Văn Tiên của Nguyễn Đình Chiểu đã lấy cuộc đời của Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga để nói về trung, hiếu, tiết, hạnh, "một thứ tuyên truyền không tuyên truyền" là như vậy. Sau hơn nửa thế kỉ, những ý kiến của Nguyễn Đình Thi trong bài Tiếng nói của văn nghệ không còn xa lạ với nhiều người. Một cách viết tài hoa, có duyên, lí lẽ và lập luận khá sáng tỏ, chặt chẽ, giọng văn nhiệt tâm, nhiệt thành là sức hấp dẫn của bài tiểu luận này.
Phân tích và nêu cảm nhận của em về bài Tiếng nói của văn nghệ của Nguyễn Đình Thi
994
Phân tích văn bản Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp Hướng dẫn Bài tấu “Bàn luận về phép học" được Nguyễn Thiếp viết khi đang giữ trọng trách Viện trưởng Viện Sùng Chính phụ trách việc biện soạn sách và xây dựng việc học hành thời vua Quang Trung. Cũng như các văn trình tấu khác, ông mở đầu bằng cách nhắc lại những điều giáo huấn cổ xưa: “Ngọc không mài không thành đồ vật, người không học không biết rõ đạo". Ông đã nêu ý nghĩa và vai trò của học vấn, rồi than phiền: “nền chính học đã thất truyền” và nêu ra các hiện tượng đáng trách như: “đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi”, coi thường đạo lí, “không còn biết tam cương ngũ thườngThậm chí ông chỉ ra cái cảnh nhà dột từ nóc: “chúa trọng nịnh thần”. Như vậy ở phần này ta thấy khái niệm của Nguyễn Thiếp về vai trò học tập là tiến bộ, trong sáng. Sang phần thứ hai, ông đề cập đến nội dung và phương pháp học: “Học ở đâu? Học cái gì? Học như thế nào?”. Quan điểm của ông là “trường học của phủ, huyện, các trường tư, con cháu các nhà văn võ thuộc lại ở các trấn cựu triều đều tùy đâu tiện đấy mà đi học". Bài tấu có đoạn trình bày về “phép học”. Nguyễn Thiếp khẳng định: “phép dạy nhất định theo Chu Tử. Lúc đầu học Tiểu học để bồi lấy. gốc. Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử”. Ở đây ta thấy đề cập của Nguyễn Thiếp về nội dung học tập không có gì mới. Ông chưa vượt qua được những hạn chế của lịch sử và thời đại, vẫn còn tôn thờ sách Tàu đã tồn tại mấy ngàn năm, chưa chú ý hướng tới khoa học. Nhưng phần nói về phương pháp học thì có ý kiến rất xác đáng. Đó là coi trọng vấn đề thiết yếu cơ bản: “lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc", sau đó “học rộng rồi tóm lược cho gọn”. Học sẽ đi đôi với hành: “theo điều học mà làm”. Từ đó ta thấy lòng mong ước của ông rất đẹp đẽ, chân thành: “Họa may kẻ nhân tài mới lập được công. Nhà nước vì thế mà vững yên”. Đây là điều đúng đắn, một phép học tốt nhất vì không phải chỉ phù hợp với nhà nước phong kiến lúc đó, mà cả đến sau này nữa. Phần cuối, tác giả giãi bày tấm lòng của mình qua những lời khuyên nhà vua chấn hưng việc học. Ông khẳng định tầm quan trọng của việc học, đạo học: “Đạo học thành thì người tốt nhiều, người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị”. Rõ ràng đây là những lời nói chân tình có ý nghĩa chiến lược “trồng người". Về nghệ thuật, bài tấu là một bài văn nghị luận trình bày theo phương pháp diễn dịch. Các luận điểm đặt ra trong bài rất rõ ràng và có kĩ năng, làm người đọc dễ cảm nhận. Luyện tập Đề 1. Từ văn bản Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp, em hãy nói về vai trò của việc học gắn liền với thực hành hiện nay. Đề 2. Hãy phân tích những luận điểm trong văn bản Bàn luận về phéphọc của Nguyễn Thiếp có thể áp dụng cho ngày nay. Đề 3. Giới thiệu văn bản Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp. Nguồn:
Phân tích văn bản Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp
593
Phân tích văn bản Bàn về phép học – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Bài tấu “Bàn luận về phép học” được Nguyễn Thiếp viết khi đang giữ trọng trách Viện trưởng Viện Sùng Chính phụ trách việc biên soạn sách và xây dựng việc học hành thời vua Quang Trung. Cũng như các văn trình tấu khác, ông mở đầu bằng cách nhắc lại những điều giáo huấn cổ xưa: “Ngọc không mài không thành đồ vật, người không học không biết rõ đạo”. Ông đã nêu ý nghĩa và vai trò của học vấn, rồi than phiền: “nền chính học đã thất truyền” và nêu ra các hiện tượng đáng trách như: “đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi”, coi thường đạo lí, “không còn biết tam cương ngũ thường”. Thậm chí ông chỉ ra cái cảnh nhà dột từ nóc: “chứa trọng nịnh thần”. Như vậy ở phần này ta thấy khái niệm của Nguyễn Thiếp về vai trò học tập là tiến bộ, trong sáng. Sang phần thứ hai, ông đề cập đến nội dung và phương pháp học: “Học ở đâu? Học cái gì? Học như thế nào?”. Quan điểm của ông là “trường học của phủ, huyện, các trường tư, con cháu các nhà văn võ thuộc lại ở các trấn cựu triều đều tùy đâu tiện đấy mà đi học”. Bài tấu có đoạn trình bày về “phép học”. Nguyễn Thiếp khẳng định: “phép dạy nhất định theo Chu Tử. Lúc đầu học Tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngủ kinh, chư sử”. Ở đây ta thấy đề cập của Nguyễn Thiếp về nội dung học tập không có gì mới. Ông chưa vượt qua được những hạn chế của lịch sử và thời đại, vẫn còn tôn thờ sách Tàu đã tồn tại mấy ngàn năm, chưa chú ý hướng tới khoa học. Nhưng phần nói về phương pháp học thì có ý kiến rất xác đáng. Đó là coi trọng vấn đề thiết yếu cơ bản: “lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc”, sau đó “học rộng rồi tóm lược cho gọn”. Học sẽ đi đôi với hành: “theo điều học mà làm”. Từ đó ta thấy lòng mong ước cửa ông rất đẹp đẽ, chân thành: “Họa may kể nhân tài mới lập được công. Nhà nước vì thế mà vững yên”. Đây là điều đúng đắn, một phép học tốt nhất vì không phải chỉ phù hợp với nhà nước phong kiến lúc đó, mà cả đến sau này nữa. Phần cuối, tác giả giãi bày tấm lòng của mình qua những lời khuyên nhà vua chấn hưng việc học. Ông khẳng định tầm quan trọng của việc học, đạo học: “Đạo học thành thì người tốt nhiều, người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị”. Rõ ràng đây là những lời nói chân tình có ý nghĩa chiến lược “trồng người”. Về nghệ thuật, bài tấu là một bài văn nghị luận trình bày theo phương pháp diễn dịch. Các luận điểm đặt ra trong bài rất rõ ràng và có kĩ năng, làm người đọc dễ cảm nhận.
Phân tích văn bản Bàn về phép học – Đề và văn mẫu 8
531
Phân tích văn bản Chiếu dời đô – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Lí Công Uẩn quê ở Kinh Bắc, là võ tướng có tài của Lê Bại Hành, từng giữ chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Ông là người tài trí, đức độ, kín đáo, nhiều hi vọng. Năm 1009, Lê Ngọa Triều chết, Lí Công Uẩn được giới tăng lữ và triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Lí Thái Tổ và gây dựng nên nhà Lí tồn tại hơn 200 năm. Năm 1010, Lí Thái Tổ viết “Chiếu dời đô” để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La. Sau khi dời về Đại La, ông đổi tên địa điểm này thành Thăng Long, kinh đô của nước Đại Việt, chính là Hà Nội ngày nay. Chiếu dời đô của Lí Công uẩn là văn kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn. Chính văn bản này đã góp phần khai sinh ra kinh đô của nước ta trong quá khứ và hiện nay. Phần đầu của Chiếu dời đô nói lên mục đích sâu xa, tầm quan trọng của việc dời đô. Đó là để đóng đô nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân. Nói một cách khác, việc dời dô là một việc lớn, vừa hợp mệnh trời, vừa hợp lòng dân, là để xây dựng đất nước cường thịnh, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. Phần mở đầu của Chiếu dời đô có lí lẽ sắc bén, dẫn chứng cụ thể, giàu sức thuyết phục. Tác giả đã lồng cảm xúc vào bài chiếu, tạo nên những ấn tượng đẹp: Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi. Tác giả đã chỉ ra được những điểm thuận lợi của kinh đô mới so với kinh đô cũ. Đại La không có gì xa lạ đối với mỗi người dân Việt lúc đó, nó được Cao Biền đời nhà Đường xây dựng vào thế kỉ thứ IX. Những điểm mạnh của kinh đô đã được Lí Công Uẩn chỉ rõ trong bài chiếu. Vị trí của nó ở vào nơi trung tâm của trời đất … đã đúng ngôi nam bắc đông tây. Địa thế của Đại La rất đẹp, rất hùng vĩ, là thế rồng cuộn hổ ngồi, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, địa thế rộng mà bằng phẳng; đất đai cao mà thoáng. Tóm lại, Đại La là thắng địa, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Phần thứ hai của Chiếu dời đô cho thấy tầm nhìn chiến lược của vị vua mở đầu triều Lí, một cái nhìn toàn diện, sâu sắc và chính xác về tất cả các mặt. Điều này hoàn toàn không phải là một ý kiến chủ quan mà chính là khả năng nhìn nhận và tính toán một cách chính xác, quyết đoán. Sau một nghìn năm, Thăng Long xưa nay là Hà Nội đã trở thành kinh đô của hầu hết các triều đại trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đây chính là cống hiến vĩ đại của Lí Công Uẩn cho lịch sử Việt Nam như câu nói của ông lúc dời đô: mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu. Về mặt văn chương, phần thứ hai của Chiếu dời đô rất đặc sắc. Cách viết hàm súc, giàu hình ảnh và biểu cảm. Vế đối trong các câu rất chuẩn và đạt hiệu quả cao về mặt nghệ thuật. Phần cuối của bài Chiếu là lời bày tỏ của nhà vua trước quần thần về ý định dời đô, điều này cho thấy nhà vua rất công minh, đức độ trong việc trị nước: Việc dời đô của Lí Công uẩn là một kì tích, kì công đối với đất nước. Sau một ngàn năm, Thăng Long – Hà Nội đã trở thành kinh đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; là trung tâm kinh tế, quốc phòng, văn hóa lớn của cả nước. Chiếu dời đô là áng văn xuôi cổ độc đáo, đặc sắc của tổ tiên để lại. Ngôn từ trang trọng đúng như khẩu khí của bậc đế vương. Nó là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ Việt Nam. Nó khơi dậy trong nhân dân ta lòng tự hào và ý chí tự cường mạnh mẽ. Tags:Văn 8
Phân tích văn bản Chiếu dời đô – Đề và văn mẫu 8
759
Đề bài: Phân tích văn bản Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải Bài làm Trần Tuấn Khải thường mượn những chuyện lịch sử để giãi bày tấm lòng yêu nước, nỗi đau mất nước, qua đó mà thức tỉnh tinh thần của đồng bào. Ở những năm đầu thế kỉ XX, ông là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu với giọng điệu bi tráng, thống thiết. Hai chữ nước nhà là tác phẩm tiêu biểu của ông. Dưới hình thức song thất lục bát, bài thơ Hai chữ nước nhà để lại một ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc trong lòng người đọc. "Tâm trạng xã hội khoảng 1926 uất ức, bi tráng, điệu lục bát du dương êm hòa không đủ, mà đòi hỏi một điệu thơ song thất lục bát để toát, để thoát, xé nỗi niềm u uất đè nặng tâm hồn" (Xuân Diệu). Cuộc chia tay cảm động giữa hai cha con Phi Khanh và Nguyễn Trãi trong bối cảnh nước mất nhà tan trong bài thơ là những khoảnh khắc đặc biệt, có sức lay động lớn đã được Trần Tuấn Khải sử dụng để kí thác tâm trạng, cảm xúc hiện tại, thực của mình. Lời trăng trối của người cha đối với con khi vĩnh biệt trĩu nặng ân tình, nhuốm đậm những đau thương. Tiếng lòng sầu thảm, ai oán kia khi thì trùng điệp dồn nén, khi thì da diết xót xa. Tác giả quả là đã không uổng công chút nào khi lựa chọn âm điệu phong phú của thể thơ song thất lục bát để dồn tả những tiếng lòng ấy. Có thể hình dung bố cục của văn bản trích Hai chữ nước nhà thành ba phần. Phần 1 (8 câu thơ đầu): diễn tả tâm trạng của người cha trong cảnh ngộ éo le, đau lòng; phần 2 (20 câu tiếp): phác họa tình cảnh đau thương tang tóc của đất nước; phần 3 (8 câu thơ còn lại): xót phận mình bất lực, người cha trao gửi cho con tâm nguyện cứu nước. Đi vào tìm hiểu từng phần ta sẽ cảm nhận được mạch xúc cảm thống thiết, chân thành của bài thơ. Ở 8 câu thơ đầu, tác giả gợi ra bối cảnh không gian biên ải ảm đạm, hun hút và tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bốn câu đầu là không gian chia li: Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm, Cõi giời nam gió thảm đìu hiu. Bốn bề hổ thét chim kêu, Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình. Trong cuộc ra đi không có ngày trở lại thì biên ải này chính là điểm mà Nguyễn Phi Khanh vĩnh biệt tổ quốc, quê hương, vĩnh biệt người con thân yêu của mình. Tâm trạng của kẻ sắp ra đi vĩnh viễn phủ lên khung cảnh vốn đã heo hút, ảm đạm một màu tang tóc, thê lương. Tâm sầu, cảnh sầu cũ khơi gợi lẫn nhau thành một mối sầu thảm tái tê, u hoài dằng dặc. Đoạn thơ này tạo ra không khí chung cho toàn bài, không khí thời cuộc năm xưa (thời Phi Khanh – Nguyễn Trãi) và cũng là không khí của xã hội Việt Nam những năm 20 thế kỉ XX. Bốn câu tiếp đầm đìa máu lệ: Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, Chút thân tài lần bước dặm khơi, Trông con tầm tã châu rơi, Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên. Giờ phút này đây, cha sẽ ra đi mà chẳng bao giờ về nữa. Đất nước lầm than, cha con li biệt, tình đất nước lớn lao hòa trong tình phụ tử sâu nặng Nguyễn Phi Khanh bị giải sang Tàu. Để làm tròn đạo hiếu với cha già, Nguyễn Trãi muốn đi theo để phụng dưỡng. Nhưng Phi Khanh gạt tình riêng, dằn lòng khuyên con trở lại để trả thù nhà, đền nợ nước. Người sắp ra đi vĩnh viễn thường nói những lời gan ruột, những lời mà người còn sống phải khắc cốt ghi xương. Tấm lòng đối với đất nước của người cha thật cảm động. Ở những câu thơ tiếp theo trong phần 2 tác giả đã hóa thân vào người trong cuộc li tan để phác ra tình cảnh đau thương của đất nước lầm than nô lệ. Trong đó tác giả sử dụng cả tự sự và miêu tả xen lẫn những lời cảm thán để làm nổi bật nỗi đau mất nước nhà tan, tất cả đang chìm ngập trong thảm họa "xương rừng máu sông"; uất hận sầu đau đang ngùn ngụt ngút trời: Thảm vong quốc kể sao xiết kể, Trông cơ đổ nhường xé tâm can, Ngậm ngùi đất khóc giời than, Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này! Nỗi đau ở đây là một nỗi đau lớn, vượt lên nỗi đau riêng để thành nỗi đau cao cả, thiêng liêng của cả đất nước, giống nòi. Sự lớn lao ấy được diễn tả bằng hàng loạt các hình ảnh mang tầm vóc vĩ mô: vong quốc, cơ đồ, đất khóc, giời than, nòi giống. Dòng xúc cảm mãnh liệt thống thiết biểu hiện qua những từ ngữ diễn tả tình cảm ở cung bậc mạnh, bi thiết: kể sao kể xiết, xé tâm can, ngậm ngùi, khóc than, thương tâm. Mỗi dòng thơ là một tiếng kêu than đứt ruột, đầy những hờn căm, bi phẫn. Chẳng đủ nước mắt để khóc than cho những đớn đau đang tràn ngập giang sơn, đắng cay đành nuốt sâu trong dạ, người cha nhắn nhủ tâm huyết lại cho con: Cha xót phận tuổi già sức yếu, Lỡ sa cơ đành chịu bó tay, Thân lươn bao quản vũng lầy, Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Con nên nhớ tổ tông khi trước, Đã từng phen vì nước gian lao. Bắc Nam bờ cõi phân mao, Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây… Nói phận mình bất lực để ủy thác tất cả cho con, cha "tuổi già sức yếu", lại gặp cơn nguy nan, đành uất hận, tủi hờn mà bó tay. Khơi gợi lại truyền thống kiên cường bất khuất của tổ tiên, người cha muốn thắp lên trong người con tin yêu của mình ngọn lửa căm thù xâm lăng, ngọn lửa ý chí quyết tâm khôi phục cơ đồ nước nhà và là cả niềm hi vọng lớn vào con trước khi đi mãi. Lời trao gửi nặng tựa Thái sơn. Nước mất thì nhà cũng tan, thù nhà chỉ có thể trả được khi thù nước đã rửa sạch. Nguyễn Phi Khanh muốn con mình biến nỗi đau mất cha thành nỗi hận mất nước. Mượn xưa để nói nay, mượn người để nói ta vốn là thủ pháp có từ lâu đời trong truyền thống văn học. Trần Tuấn Khải đã rất thành công khi lựa chọn chuyện chia li giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi để gửi gắm tâm sự, nỗi đau mất nước nhằm khơi gợi tinh thần yêu nước thương nòi khi non sông đang bị giày xéo bởi gót giày thực dân. Bằng tình cảm sâu đậm, mãnh liệt, với một giọng điệu thống thiết, thán ca, tác giả của Hai chữ nước nhà đã thực hiện bổn phận, sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ yêu nước. Thơ ông thôi thúc lòng người, khích lệ mọi người tranh đấu cho giang sơn độc lập, tự do.
Phân tích văn bản Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải
1,234
Phân tích văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Hướng dẫn Phân tích văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Thân Nhân Trung là một vị quan tài năng, đồng thời ông cũng là một nhà văn, nhà thơ, một người thầy giáo mẫu mực. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Thân Nhân Trung đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, một trông số đó có thể kể đến, đó chính là tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.Trong quan niệm của của tác giả, hiền tài là một nhân tố quan trọng có tính quyết định đến vận mệnh hung thịnh của một quốc gia, vì vậy cần trọng dun, bồi dưỡng nhân tài để đưa quốc gia ngày càng phát triển. Đoạn trích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia vốn là một bài văn bia, nội dung chính của đoạn trích là giải thích về nguyên nhân các triều đại dựng bia tiễn sĩ: đó không chỉ là cách lưu lại tên tuổi của những người hiền tài có công với đất nước mà còn tạo ra động lực để thế hệ sau cùng cố gắng, cống hiến tài năng và sức lực cho đất nước. Luận điểm chủ đạo của đoạn trích là: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, có vai trò đặc biệt quan trọng đến sự thịnh vượng, tồn vong của đất nước. Để chứng minh cho luận điểm của bài viết, tác giả Thân Nhân Trung đã đưa ra hệ thống luận cứ vô cùng chặt chẽ, sâu sắc. Nguyên khí ở đây là những chất ban đầu có thể làm nên sự sống cho con người và vạn vật. Hiểu một cách rộng nhất thì nguyên khí chính là tiền đề cho sự sống và phát triển của con người và thời đại. Tác giả Thân Nhân Trung không chỉ khẳng định vai trò của hiền tài với quốc gia mà còn thể hiện được sự cần thiết trong việc quan tâm, bồi dưỡng người hiền tài. Bất kì đất nước, quốc gia nào cũng có những người hiền tài, nhưng những người tài ấy có thể phát huy hết tài năng của mình để đóng góp cho đất nước hay không lại phụ thuộc một phần quan trọng vào sự quan tâm của xã hội. Để đưa đất nước phát triển thì những người đứng đầu một nước cần có chế độ chăm lo, bồi dưỡng cũng như trọng dụng hiền tài, cần quan tâm đúng mức và trân trọng những cống hiến của họ đối với xã hội. Trong đoạn trích này, tác giả Thân Nhân Trung cũng đã nhấn mạnh vai trò của việc khắc tên người hiền tài lên bia đã. Việc khắc tên trên bia đá có ý nghĩa vô cùng to lớn, đó không chỉ là sự ghi nhận của quốc gia đối với những đóng góp của người hiền tài, mang đến sự tự hào, vinh quang cho họ khi đã nỗ lực,cống hiến hết mình vì sự phát triển của đất nước. Mặt khác, việc khắc tên trên bia đá là để lưu danh tên tuổi cho những thế hệ sau được biết và có ý thức phấn đấu, noi theo. Tác giả cũng đã khẳng định việc khắc tên trên bia đá là cần thiết, đúng đắn bởi không chỉ tôn vinh tên tuổi của những người hiền tài mà còn có tác dụng ngăn chặn được những sự tha hóa và biến chất ở những người tài năng trong đất nước, răn dạy những điều hay lẽ phải. Để làm cho luận điểm thêm rõ ràng,mạch lạc, tác giả Thân Nhân Trung đã sử dụng biện pháp liệt kê, đối lập cùng với giọng văn có phần trang trọng đã làm cho chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của việc khắc tên người hiền tài lên bia đá. Trong thời kì hội nhập đất nước ngày càng mạnh mẽ như hiện nay đặt ra nhu cầu cấp thiết trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Để có thể sánh vai với các cường quốc năm châu trong niềm tự hào thì cần phải trọng dụng những người có đức, có tài như tác giả Thân Nhân Trung đã đê cập đến trong bài viết của mình.
Phân tích văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
721
Phân tích văn bản Thái sư Trần Thủ Độ Hướng dẫn Phân tích văn bản Thái sư Trần Thủ Độ Trần Thủ Độ là vị thái sư nổi tiếng dưới đời nhà mình, ông đã có nhiều đóng góp lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông cũng như quá trình xây dựng đất nước của nhà Trần. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đã viết về Trần Thủ Độ, trong đó có thể kể đến tác giả Ngô Sĩ Liên trong tác phẩm đồ sộ Đại Việt sử kí toàn thư. Viết về nhân vật thái sư Trần Thủ Độ, tác giả Ngô Sĩ Liên không chỉ khai thác trên phương diện chính trị mà còn viết sâu về cuộc sống đời thời của vị thái sư nổi tiếng này. Mở đầu bài viết, tác giả Ngô Sĩ Liên đã thông báo về cái chết của thái sư Trần Thủ Độ bằng thái độ kính trọng, nghiêm trang: “Giáp Tí, năm thứ bảy Mùa xuân, tháng giêng Thái sư Trần Thủ Độ chết, truy tặng Thượng phụ Thái sư Trung Vũ Đại Vương” Qua cách thông báo của tác giả Ngô Sĩ Liên, ta có thể thấy được sự thương xót, kính trọng của tác giả đối với thái sư Trần Thủ Độ, trước sự ra đi của Trần Thủ Độ, không chỉ tác giả mà người dân ai nấy đều cảm thấy xót thương, tiếc nuối. Để cho người đọc thấy được con người thực sự của thái sư Trần Thủ Độ, tác giả đã khéo léo lựa chọn bốn tình huống để làm nổi bật lên những phẩm chất, nhân cách đáng quý ở con người này. Qua những tình huống ấy, tác giả Ngô Sĩ Liên có thể vẽ ra được chân dung rõ nét của Thái sư trong cảm nhận của người đọc. Ở câu chuyện tiếp theo, tác giả Ngô Sĩ Liên đã hướng ngòi bút của mình đến câu chuyện gia đình của thái sư Trần Thủ Độ. Vợ của thái sư là Từ Linh Quốc Mẫu một lần đi qua cửa cấm nên bị quân lính ở đó ngăn lại không cho đi. Từ Linh Quốc Mẫu đã vô cùng tức giận nên khi về nhà đã mang câu chuyện ra kể với Trần Thủ Độ để trị tội tên lính gác cửa ấy. Khi nghe kể xong, thái sư Trần Thủ Độ tỏ ra tức giận và sai người giải tên lính gác cửa kia đến, người lính gác cửa nghĩ mình sẽ cầm chắc cái chết vì dám đắc tội với vợ của Thái Sư. Thế nhưng mọi chuyện lại diễn ra hoàn toàn bất ngờ. Thái sư Trần Thủ Độ đã cho gọi anh ta đến để hỏi rõ đầu đuôi câu chuyện, bởi vậy mà không những không bị trách phạt mà còn được thưởng lụa vàng vì làm đúng chức trách của mình. Qua câu chuyện chúng ta thấy được Trần Thủ Độ là một con người công tư phân minh, không thiên vị người nhà. Câu chuyên thứ ba là về một người dùng tiền để nhờ Trần Thủ Độ chạy cho một chức quan. Khi vợ của Trần Thủ Độ xin chô một người họ hàng làm chức câu đương, tức một chức quan nhỏ chuyên làm công việc bắt và áp giải phạm nhân. Khi nghe Từ Linh Quốc Mẫu trình bày thì Trần Thủ Độ đã ngay lập tức đồng ý và mang giấy bút ra viết tên họ của người xin chức kia. Trước hành động của Trần Thủ Độ, người đi xin chức kia đã nghĩ Thái sư cũng như bao vị quan tham ô khác, có tiền là có thể giải quyết được tất cả, đúng là “một người làm quan thì cả họ được nhờ”. Tuy nhiên câu nói sau đó của thái sư TRần Thủ Độ lại khiến cho người nọ khiếp sợ. Ông nói vì người này được Quốc mẫu đặc biệt nhờ cậy nên để phân biệt với người khác phải chặt một ngón chân để phân biệt. Qua câu chuyện này ta có thể thấy, Trần Thủ Độ vẫn chấp nhận yêu cầu của vợ, không muốn làm vợ phật lòng nhưng với chức trách và nhiệm vụ của mình ông phải răn đe với những hành động sai trái. Trần Thủ Độ là người luôn đặt lợi ích của triều đại lên trên hết, xử lí mọi việc hết sức công bằng,minh bạch,không có nửa điểm gian dối. Qua bốn câu chuyện trên, tác giả Ngô Sĩ Liên khéo léo dẫn dắt câu chuyện khiến cho người đọc luôn cảm thấy bất ngờ trước những giải quyết của thái sư Trần Thủ Độ. Những câu chuyện đều có mâu thuẫn căng thẳng nhưng rồi lại được giải quyết đầy bất ngờ, qua đó thể hiện được những phẩm chất đáng quý ở thái sư Trần Thủ Độ, đó là con người công tư phân minh, luôn đặt việc nước lên trên những tình cảm cá nhân. Đoạn trích Thái sư Trần Thủ Độ đã thể hiện được chân dung rõ nét về con người và tính cách của Trần Thủ Độ, qua đó không chỉ thể hiện được bản lĩnh hơn người, phẩm chất thanh liêm của thái sư mà còn thể hiện được tài năng của Ngô Sĩ Liên trong việc khắc họa và xây dựng tình huống truyện.
Phân tích văn bản Thái sư Trần Thủ Độ
891
Phân tích văn bản Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục Hướng dẫn 1.Lời chỉ dẫn sân khấu dài chia lớp kịch này thành hai cảnh rõ rệt: cảnh trước gồm những lời thoại của ông Giuốc-đanh và bác phó may; cảnh sau gồm những lời thoại của ông Giuốc-đanh và tay thợ phụ. Cảnh trước trên sân khấu có bốn nhân vật là bác phó may, tay thợ phụ mang bộ lễ phục của ông Giuốc-đanh và một gia nhân của ông Giuốc-đanh. Cảnh sau đông hơn, sôi động, cảnh có thêm bốn thợ phụ nừa. Cảnh trước chủ yếu chỉ là lời đối thoại của ông Giuốc-đanh và bác phó may. Sang cảnh sau khán giả không chỉ được nghe lời đối thoại, mà còn được xem các thợ phụ cởi quần áo cũ, mặc lễ phục mới cho ông Giuốc-đanh. Kịch sôi động hẳn lên. Ở cảnh này còn có cả nhảy múa và âm nhạc rộn ràng. 2.Mở đầu lớp kịch là cuộc đối thoại giữa ông Giuốc-danh với bác phó may xoay quanh một số sự việc như bộ lễ phục, đôi bít tất, bộ tóc giả và lông dính mũ, nhưng chủ yếu là xoay quanh bộ lễ phục. Bộ lễ phục của ông Giuốc-đanh được một bác phó may vụng tay nghề nhưng khéo ăn nói. Chẳng biết do dốt hay do sơ suất hoặc do cố tình biến ông Giuốc-đanh thành trò cười nên đã may hoa ngược. Ông Giuốc-đanh chưa phải là mất hết tĩnh táo nên đã phát hiện ra điều đó. Nhưng chỉ cần bác thợ may vụng chèo khéo chống, đánh đúng thói trưởng giả học làm sang của ông Giuốc-đanh, bịa ra lí lẽ những người quý phái đều mặc hoa ngược là ông ưng thuận ngay. Tiếp theo, ông Giuốc-đanh lại phát hiện ra bác phó may ăn bớt vải của mình. Bác phó may chống đỡ yếu ớt. Lần này bác lại gỡ thế bí bằng cách hỏi ông Giuốc-đanh có muốn mặc thử bộ lỗ phục không. Nước cờ của bác phó may thật cao tay vì nó một lần nữa đã đánh trúng vào tâm lí đang muốn học đòi làm sang của ông Giuốc-đanh. 3.Ở cảnh sau, người đọc, người xem lại phát hiện ra một biểu hiện mới của tính cách trưởng giả học làm sang của ông Giuốc-đanh. Mô-li-e chuyền tiếp từ cảnh trước sang cảnh sau một cách hết sức tự nhiên và khéo léo. Khi ông Giuốc-đanh mặc xong bộ lễ phục là được các tay thợ phụ tôn xưng là “ông lớn” ngay, khiến ông tưởng rằng cứ mặc bộ lề phục vào là nghiễm nhiên trở thành quý phái. Các tay thợ phụ là nhừng kẻ ranh mãnh, dùng mánh khóe nịnh hót để moi tiền, điếm đúng huyệt học đòi làm sang của ông Giuốc-đanh. Chúng thấy ông mắc mưu, cứ tôn lên mãi, hết “ông lớn” đến “cụ lớn” rồi đến “đức ông”. 4.Qua hai cảnh trong lớp kịch, điều gây cười cho khán giả là ông Giuốc-đanh ngu dot chẳng biết gì, chỉ vì thói học đòi làm sang mà bị bác phó may và tay thợ phụ lợi dụng để kiôm chác. Khán giả cười khi thấy ông ngớ ngẩn tưởng rằng phải mặc áo hoa ngược mới là sang trọng. Người ta cười khi thấy ông cứ moi mãi tiền ra đế mua lấy cái danh hão. Có thể nói đoạn trích đã lột tả khá đầy đủ tính cách học đòi làm sang của ông Giuốc-đanh. Qua tác phẩm của mình nhà văn muốn đả kích một lớp người trong xã hội bấy giờ dốt nát, học đòi, kệch cỡm.
Phân tích văn bản Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục
607
Đề bài: Phân tích Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu để thấy đây là bức tượng đài bi tráng về người nông dân nghĩa sĩ đánh Pháp từ những ngày đầu chúng xâm lược đất nước ta Bài làm Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho yêu nước cuối thế kỉ 19. Cuộc đời của ông đầy những bất hạnh. Nhưng bằng nghị lực phi thường: Ông trở thành tấm gương sáng về nhiều mặt… “Với Văn tù nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên bức tượng đài bi tráng về người nông dân nghĩa sĩ đánh Pháp cuối thế kỉ XIV”. Lời đánh giá trên rất xứng đáng với thành công của tác phẩm. Hơn một thế kỉ qua, đọc lại bài văn tế ấy, ai không dạt dào xúc động, bởi “nước mắt anh hùng” có bao giờ ráo khô? Mở đầu tác phẩm, tác giả đã cất lên tiếng than: Hỡi ôi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ! Đây chính là hoàn cảnh, là cái nền mà trên đó, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên bức tượng đài bất hủ. Đất nước bị xâm lăng. Súng giặc đã rền khắp núi sông. Kẻ thù hung hãn đã tới. Xã tắc chao đảo trước “tàu thiếc, tàu đông, súng nổ”. Phải chăng, đây là lúc: Bến Nghé của tiền tan bọt nước Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây Cũng chính là lúc: Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ bầy chim dáo dát bay (Chạy Tây – Nguyễn Đình Chiểu) Từ hoàn cảnh khốc liệt, tan tác, đau thương này, tấm lòng của người dân đã rực sáng giữa trời xanh! Họ là ai? Họ không phải là những sĩ phu, những chí sĩ, cũng không phải những đại gia từng được ơn vua lộc nước hậu hĩnh. Họ chỉ là những người: Côi cút làm ăn, lo toan nghèo khó… … Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó Họ hoàn toàn là nông dân, nông dân 100% những con người quanh năm chưa từng bước ra khỏi lũy tre làng! Hơn thế, họ còn là những nông dân nghèo, nghèo lắm. Hai chữ “côi cút” của cụ Đồ mới xót xa làm sao! Có nghĩa là, ngày thường, những tháng năm dài dặc kia, họ chẳng được “chăn dắt” như mạo nhận của bọn vua quan. Một đời, nhiều đời thui thủi bán mặt cho đất, bán lưng cho trời! Thế nhưng, chính những con người bị bỏ rơi ấy lại là những người đầu tiên đứng lên, cho dù chẳng phải quân cơ, quân vệ. Họ chỉ vì nghĩa lớn mà tập hợp dưới cờ. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó Với hai câu văn trên, cụ Nguyễn Đình Chiểu đã cho ta thấy họ quả là những nghĩa sĩ, những con người có trách nhiệm lớn với non sông, những con người mang trong mình dòng máu bất khuất. Cho nên, chính họ đã quyết “Phen này xin ra sức đoạn kình… Chuyến này dốc ra tay bộ hổ”. Đó chính là tư tưởng của những Triệu Thị Trinh, Bố cái Đại vương Phùng Hưng từng chém cá kình ở biển Đông, bắt hổ dữ ở rừng sâu trong lịch sử dân tộc. Nhưng Cụ Đồ Bến Tre vẫn không quên chính họ là những người chân đất có tấm lòng căm thù giặc tới tận xương tủy: Bữa thấy bòng bong che trăng lốp, muốn tới ăn gan Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ! Chính sự sôi máu này khiến họ vượt qua khó khăn thiếu thốn, không đợi trang bị vũ khí, ăn mặc, không đợi luyện tập quân sự, không sợ kẻ địch vũ khí tối tân, có lính đánh thuê hung hãn, có bọn Việt gian thâm hiểm nhất quyết ngay một lúc vào trận với những vũ khí tự tạo thô sơ: “Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi/ Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay”, nghĩa là có gì đánh nấy, miễn là giết được giặc! Nếu không có tấm lòng vì nghĩa lớn, làm sao có được cái gan ấy? Và khi vào trận, họ qủa là phi thường: Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới; coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô của vông vào liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ. Quả là một trận chiến dũng mãnh, quyết liệt đến liều mạng của lòng căm thù! Các động từ mạnh như “đạp – lướt – xô – xông – đâm ngang – chém ngược…” khiến cho người đọc hàng trăm năm sau còn như thấy trước mất khí thế vũ bão ào ào của nghĩa quân. Trong ánh lửa bập bùng, loang loáng những bắp tay trần, loang loáng ánh thép dao phay, rầm rập những buớc chân, ầm ầm tiếng thét giết tươi kẻ thù… Trong văn học Việt Nam đến thời điểm ấy, hiếm có một bức tranh công đồn nào hiện thực sinh động như thế! Khòng một chút ước lệ, ngòi bút kí sự, đặc tả của Nguyễn Đình Chiểu, mới quí giá biết bao! Vì sao một người quanh mình chỉ có bóng đêm” mà lại nhìn sáng tỏ đến như thế? Tài năng hay tấm lòng? Có lẽ là tất cả! Chính tinh thần quyết chiến ấy của người nghĩa sĩ đã làm nên những chiến công rất đáng ca ngợi. Họ đã tiêu diệt được tên chỉ huy ác ôn, đã đốt háy ổ gián điệp, tức là kẻ thù nổi, kẻ thù chìm, kẻ thù bằng xương băng thit, kẻ thù tư tưởng (nhà dạy dạo)… Càng có ý nghĩa lớn khi những chiến công ấy được lập lên từ những vũ khí rất thô sơ! Bức tượng đài hoành tráng ấy càng lẫm liệt. Xót xa thay! Họ đã ngã xuống! Sự hi sinh anh dũng của họ đã làm đau xót cả đất trời Nam Bộ: Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ. Đất trời mờ mịt! Người người khóc thương! Nỗi sầu thảm này biết mấy xót xa! Đằng sau cái chết của người anh hùng sẽ là: Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn, đèn khuya leo lét trong lều; Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ. Có thể nói, Nguyễn Đình Chiểu đã hòa máu và nước mắt để viết nên những câu văn nẫu lòng như thế! Mặc dù Nguyễn Đình Chiểu đã gạt lệ để ngợi ca tấm gương hi sinh oanh liệt của người chiến sĩ với tấm lòng son vằng vặc ánh trăng rằm, “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ linh, muón kiếp nguyện được trả thù kia”, nghĩa là những con người ấy chết mà vẫn sống. Nhưng lòng chúng ta vẫn không sao ngăn được ngậm ngùi xót thương đau đớn! Bức tượng đài bi tráng mà Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên bằng ngòi bút của mình sẽ mãi mãi tồn tại cùng non sông đất Việt. Đây là bức tượng đài đầu tiên về người nông dân đánh giặc! Chúng ta đều biết, người Việt ta từ khi biết dùng cành cây chọc lỗ gieo hạt cũng là lúc biết vót nhọn ngọn tầm vông, chuốt nhọn mũi chông tre để chống lại mọi kẻ thù bốn chân và kẻ thù hai chân! Họ thực là chủ nhân của đất nước. Nhưng trong văn học chính thống trước thời Nguyễn Đình Chiểu, họ chưa một lần trở thành nhân vật trung tâm! Nay, Nguyễn Đình Chiểu đã trả lại địa vị chính đáng cho những người chân lấm tay bùn này. Nguyễn Đình Chiểu đả trở thành ngôi sao sáng trên bầu trời văn học nước ta cuối thế ki XIX có phần đóng góp xứng đáng của “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”! “Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” mãi mãi là “bài ca về những người anh hùng thất-thế” (Phạm Văn Đồng). Xin được thắp một nén tâm hương tưởng nhớ, hai lần tưởng nhớ, tưởng nhớ người anh hùng liệt sĩ, tưởng nhớ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.
Phân tích Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu để thấy đây là bức tượng đài bi tráng về người nông dân nghĩa sĩ đánh Pháp từ những ngày đầu chúng xâm lược đất nước ta
1,428
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Bài làm Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc tạc một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Ở trong thơ Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian “Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hnội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” “Tây Tiến” của Quang Dũng là dòng hồi ức vô cùng thương nhớ về những đồng đội của nhà thơ, những người đã từng sống, từng chiến đấu nhưng cũng có người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ yêu thương, nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên cương hay miền viễn xứ. Chính vì thế QDũng không chỉ dựng lại cả một hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến trên những chặng đường hành quân gian khổ hy sinh mà “đời vẫn cứ tươi” như ở 14 dòng thơ đầu tiên. Và QDũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân. QDũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dtộc. Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ “Tây Tiến đoàn quân ….. khúc độc hành” Bức tượng đài người lính Tây Tiến trước hết được khắc hoạ lên từ những đường nét nhằm tô đậm cuộc sống gian khổ của họ. Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong đoàn quân mỏi trong câu: ” Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ” hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của QDũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể mọc được (chứ không phải họ cố tình cạo trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá nguỵ trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ dũng mãnh như hổ báo, hùm beo. Cái giỏi của QDũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như “tiến”, “mọc tóc”. Nhờ những thanh trắc ấy mà âm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một đoàn binh. 2 chữ “đoàn binh” âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng. Và đặc biệt hai chữ “Tây Tiến” mở đầu câu thơ không chỉ còn là tên gọi của đoàn binh nữa, nó gợi ra hình ảnh một đoàn binh dù đầu không mọc tóc vẫn đang quả cảm tiến bước về phía Tây. Thủ pháp tương phản mà QDũng sử dụng ở câu thơ “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. ở đây, nhà thơ không chỉ muốn nói rằng những người lính Tây Tiến như chúa sơn lâm, không phải muốn “động vật hoá” người lính Tây Tiến mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ “Hoành sóc giang san cáp kỷ thu Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu” Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết “Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu Thể diện sài long xâm lược quân” Có thể nói QDũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ mang âm vang của lsử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dtộc. Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông á. Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi QDũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về HNội. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ thuở mang gươm đi mở nước Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Đã một thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. QuDũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đsống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa. Bức tượng đài người lính Tây Tiến đã được khắc tạc bằng những nguồn ánh sáng tương phản lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn. Từng đường nét đều như nổi bật và tạo được những ấn tượng mạnh mẽ. Đây cũng là đặc trưng của thơ QDũng. Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ. Nếu chỉ đọc từng câu thơ, chỉ phân tích từng hình ảnh riêng rẽ độc lập, người ta dễ cảm nhận một cách bi luỵ về cái chết của người lính mà thơ ca kháng chiến thuở ấy rất ít khi nói đến. Bởi thơ ca kháng chiến phần lớn chỉ quan tâm đến cái hùng mà không quan tâm đến cái bi. Nhưng nếu đặt các hình ảnh, các câu thơ vào trong chỉnh thể của nó, ta sẽ hiểu QDũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng. Có thể thấy câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” nếu tách riêng ra rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết, về nấm mồ của người lính Tây Tiến ở nơi “viễn xứ”. Từng chữ từng chữ dường như mỗi lúc một nhấn thêm nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ. Chẳng phải thế sao? Nói về những nấm mồ, lại là những nấm mồ “rải rác” dễ gợi sự hoang lạnh, lại là “rải rác” nơi “viễn xứ”, những nấm mồ ấy càng gợi sự cô đơn côi cút. QDũng muốn nói tới nơi yên nghỉ của những người đồng đội Trong Chinh phụ ngâm: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời” “Hồn tử sĩ gió về ù ù thổi Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn” Tuy nhiên với câu thơ thứ hai, ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải rác nơi biên cương đã trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của nhân dân, của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ của những người con anh dũng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Đồng thời cũng chính câu thơ thứ 2 đã làm cho những nấm mồ rải rác kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng niệm, của Tổ quốc đối với người lính đã vì tiếng gọi của chiến trường mà hiến dâng tuổi xanh của mình. Trong thơ QDũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh như vậy. Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ “áo bào thay chiếu anh về đất” Bao nhiêu thương yêu của QDũng trong một câu thơ như vậy về một đồng đội của mình. Ai bảo QDũng không xót thương những người đồng đội của mình ra đi trong cách tiễn đưa ấy, cảnh tiễn đưa với bao thiếu thốn, khó khăn, cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó khăn nên tiễn đưa người chết không có cả một chiếc quan tài. Hoàng Lộc trong “Viếng bạn” cũng đã viết về cảnh tiễn đưa như thế ” Ở đây không manh ván Chôn anh bằng tấm chăn Của đồng bào Cứa Ngàn Tặng tôi ngày sơ tán” Chỉ có điều câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm, cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc chiếu cũng không có, chỉ có chính tấm áo của người lính. Dù hiểu theo cách nào thì cũng phải thấy QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất nước, với núi sông. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của QDũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.
Phân tích vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
2,200
Phân tích vẻ đẹp bài thơ Ánh trăng-Nguyễn Duy Hướng dẫn Vẻ đẹp tình cảm qua bài thơ Ánh trăng-Nguyễn Duy Mở bài: Nguyễn Duy thuộc lớp nhà thơ trẻ tiêu biểu được rèn luyện và trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tuy viết không nhiều nhưng thơ ông để lại dấu son đậm nét trong nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Thơ ông gần gũi với văn hóa dân gian, nhưng sâu sắc mà rất đỗi tài hoa, đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam, đôi khi lại có cái ngang tàng nhưng vẫn trầm tĩnh và giàu chiêm nghiệm sâu sắc khiến người ta phải giật mình suy nghĩ. Bài thơ Ánh trăng thể hiện sâu sắc đặc điểm nghệ thuật ấy trong của ông. Vẻ đẹp bài thơ Ánh trăng thực sự mang lại cho người đọc những cảm xúc mới mẻ. Thân bài: Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc. Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên. Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy ông thường hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình. Và từ những chuyện nhỏ cỏn con ông thường nâng lên thành triết lí nhân sinh sâu sắc “khiến cho ta giật mình”. Ánh trăng được nhiều bạn đọc yêu thích trước hết vì nó thực sự là một phần của một cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách nhiệm trước cuộc sống xây dựng và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm qua, luôn trăn trở về trách nhiệm, bổn phận và vai trò của mình đối với quê hương đất nước, đối với cuộc đời. Mở đầu bài thơ thật dịu nhẹ. Chỉ vài câu thơ, tác giả đã đưa ta về với tuổi thơ bình dị, êm đềm: “Hồi nhỏ sống với đồng Với sông rồi với bể”. Hai từ “hồi nhỏ” nghe thân quen, tha thiết lập tức gợi nhớ về những tháng ngày ấu thơ, hồn nhiên thơ dại. Con người được sống trong cái làng quê bình dị mà thắm đượm nghĩa tình. Thiên nhiên và con người như giao hòa, ôm bọc lẫn nhau. Tuổi thơ mấy ai không từng rong ruổi trên đồng trong những ngày hè nắng gió, hay bơi lội trên dòng sông quê, để cho làn nước trong mát xoa dịu cơ thể. Từu sông ra bể, không gian lớn, cuộc đời lớn rộng mở. Rồi bất ngờ, nhà thơ chuyển nhanh: “Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ”. Không gian, thời gian bất ngờ chuyển đỏi thế nhưng không gây cho người đọc sự hụt hẫng. Từ tuổi thơ mát rượi đột ngột đến “hồi chiến tranh ở rừng”. Gắn kết hai không gia xa cách ấy là “vầng trăng tròn”. Nếu những ngày tuổi thơ, vầng trăng rọi sáng vườn quê, rọi sáng sông quê, rọi vào cả những giấc mơ, dệt nên mơ ước. Giờ dây, khi ở rừng, vầng trăng lại trở thành người bạn tâm tình, người tri kỉ. Vầng trăng gắn bó với người lính trên mỗi bước hành quân, ở bên người lính những đêm rừng sâu thẳm, cùng xuất hiện với người lính trong trận chiến đấu với kẻ thù. “Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa”. Với cảm nhận của người trong cuộc, Nguyễn Duy nghĩ về vầng trăng thật tự nhiên: “Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ”. Trăng muôn đời là vậy, lúc nào cũng “trần trụi” không bao giờ che giấu hay giả tạo. Trăng lúc nào cũng “hồn nhiên” không bao giờ vụ lợi hay ích kỉ. Cứ cho đi và chẳng nhận lại cái gì. Cứ tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời mà chẳng đòi hỏi một điều gì ở thế gian. Trăng là một đứa trẻ con không biết suy tính, không cảm giận nhưng lại không vô tình. Cùng đồng hành với con người qua biết bao năm tháng, trắng gắn bó với con người như hình với bóng. Đó là vầng trăng nghĩa tình, chung thủy, vầng trăng của quá khứ hiền dịu, ngọt mát. Và nhà thơ đã “Ngỡ không bao giờ quên. Cái vầng trăng tình nghĩa” ấy. Thế nhưng: “Từ hồi về thàng phố Quen ánh điện cửa gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường”. Đoạn thơ có chúc uẩn khúc, đọc lên nghe thật xót xa, cay đắng. Đất nước hòa bình, hoàn cảnh sống có nhiều thay đổi thay đổi: yên bình hơn, tiện nghi hơn, con người cũng xa rời cuộc sống giản dị của quá khứ, con người được sống sung túc trong “ánh điện cửa gương”. Cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại, xa rời thiên nhiên và hững hờ với cả vầng trăng – người bạn tâm tình thuở nào. Vầng trăng tri kỉ năm xưa giờ đây “đi qua ngõ như người dưng qua đường”. Câu thơ như một tiếng thở dài buồn bã, vừa giật mình ngỡ ngàng, vừa chạnh lòng tủi hổ. Chốn phồn hoa đô thị đã giết chết cái hồn xanh mơ mộng của con người dù đã từng có một thời thủy chung, gắn bó. Vầng trăng bây giờ đối với người lính năm xưa chỉ còn là dĩ vãng, dĩ vãng nhạt nhòa của quãng thời gian xa xôi nào đó dường như không còn hiện hữu nữa. Biện pháp nhân hóa đạc sắc và lối so sánh táo bạo đã nâng ý nghĩa câu thơ lên nhiều lần. Ta chợt nhận ra đâu đó cái nghịch cảnh này. Ta cung đã nhiều lần ngước nhìn vầng trăng trên những lầu cao và nhiều lần ta cũng từng vô tình, cũng từng dửng dưng như thế. “Vầng trăng tình nghĩa” năm xưa trở thành “người dưng qua đường”. Vầng trăng vẫn “đi qua ngõ”, vẫn tròn đầy, vẫn thủy chung tình nghĩa, nhưng con người đã lãng quên trăng, hờ hững, dửng dưng đến vô tình. Vầng trăng giờ đây bỗng trở thành người xa lạ, chẳng còn ai nhớ, chẳng còn ai hay biết, cứ âm thầm đi qua trên bầu trời. Để rồi đêm nay, khi sự cố tắt điện sảy ra: “Thình lình đèn vụt tắt Phòng buding tối om Vội bật tung cửa sổ Đột ngột vầng trăng tròn”. Đèn vụt tắt chỉ là một sự tình cờ đã trở thành tình huống đặc sắc. Vốn quen với ánh điện sáng lòa, quen với đèn màu và hào quang ánh sáng, và khi đèn điện cúp, con người mới nhận ra bấy lâu mình bị bao quanh bởi bốn bức tường kín, bị lừa dối bởi ánh sáng đèn màu, bị tách biệt với thế giới bên ngoài. Rồi con người tự lừa dối mình, tự chấp nhận nó như một sự tất yếu, dần dần rời bỏ quá khứ bình dị, rời bỏ quá khứ đau thương, lãng quên quá khứ nghĩa tình. Vầng trăng đột ngột hiện ra bên khung cửa sổ, vẫn tròn đầy thủy chung, vẫn hiền hòa và chờ đợi. Nó lập tức làm sống lại trong con người tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống. Và chợt nhiên, có cái gì đó thức dậy trong lòng nhà thơ: “Ngửa mặt lên nhìn mặt Có cái gì rưng rưng Như là đồng là bể Như là sông là rừng”. Chao ôi, ánh trăng đã mang đến nơi đây biết bao điều gần gũi, thân thương của ngày xưa cũ. Đó là đồng xanh yêu dấu, là bể rộng mênh mang. Đó là sông dài lượn khúc, là rừng đêm chiến trận; là tất cả những tháng ngày thân thương, gắn bó, thủy chung. Câu thơ “Có cái gì rưng rưng” nghe thật tha thiết. Bắt gặp vầng trăng trên trời cao như được gặp lại cố nhân, vừa như bỡ ngỡ vừa như muốn vồ vập lấy. Giọt nước mắt rưng rưng không làm nhòe vầng trăng sáng. Trăng vẫn lặng im, không nói, không hờn cũng không oán trách. Trăng bao dung độ lượng, tha thứ cho tất cả và đón nhận tất cả. Không những nhận ra cả một khoảng trời mênh mang và những tháng ngày xưa cũ từ vầng trăng sáng, nhà thơ còn nhận ra sự vô tình, phụ bạc của chính mình. Thế nên, khi “Ngửa mặt lên nhìn mặt”, một niềm tủi hổ hòa lẫn trong niềm vui hội ngộ tràn ngập trong lòng. Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng – biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Ông chợt nhận ra một điều phủ phàng trong ái ngại: “Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình”. Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu nhưng cũng rất nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Chính cái “im phăng phắc” của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người. Đó là một sự thức nhận đẹp đẽ và đau đớn của một tâm hồn vốn chưa bị bào mòn, chai sạn bởi cuộc sống đầy cạm bẫy. Nó đánh mạnh vào tiềm thức vốn đã ngủ yên từ lâu trong “căn phòng” giả tạo. Nó chà sát vào lương tri, thức tỉnh tình người. Với cách nói vừa hồn nhiên vừa tỉnh táo, cách xây dựng và khắc họa hình ảnh đặc sắc, nhà thơ đã khắc họa thành công kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Kết bài: Với thể thơ năm chữ linh hoạt, cách xây dựng tình huống đặc sắc, ngôn ngữ tự nhiên mà đầy triết lí, chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, giàu tính biểu cảm, đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc, khơi gợi trong lòng ta về trách nhiệm với quá khứ và trước cuộc đời. Qua đó nhà thơ cũng nghiêm khắc nhắc nhở mình về lối sống nghĩa tình, hiện đại mà không quên quá khứ, sung sướng mà vẫn nhớ đến những tháng ngày gian khổ. Và đó cũng là bài học sâu sắc, là hành trang cho mỗi chúng ta đang tiến bước trên con đường đi đến tương lai. Qua bài thơ Ánh trăng-Nguyễn Duy, hãy làm sáng tỏ nhận định: Tác phẩm vừa là kết tinh tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng
Phân tích vẻ đẹp bài thơ Ánh trăng-Nguyễn Duy
1,880
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua nhân vật Tnú và nhân vật Việt Bài làm Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành và “ Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi đã ra đời trong hoàn cảnh ấy. Dẫu hai tác phẩm ấy được viết theo hai phong cách khác nhau nhưng cả hai nhà văn đã gặp nhau ở nơi hội tụ của mọi ánh sáng văn chương chân chính mọi thời đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng lớn lao, cao cả, hào hùng. Vẻ đẹp ấy được thể hiện rõ nét nhất qua nhân vật Tnú và nhân vật Việt. Mỗi nhà văn có một sở trường riêng về một đề tài và khi nhắc đến văn học kháng chiến chống Mĩ ta không thể không nhắc đến hai nhà văn tiêu biểu đó là Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi. Nguyễn Trung Thành sinh năm 1932 ông là nhà văn có sở trường viết về vùng đất Tây Nguyên anh hùng, bất khuất. Nguyễn Thi (1928-1968) tuy là người Bắc nhưng ông lại có cảm tình sâu sắc với mảnh đất Nam Bộ. Chính vì vậy ông đã được coi là nhà văn, con người Nam Bộ kiên cường. Cả hai tác giả đều gắn bó với cuộc kháng chiến chống Mĩ, là những nhà văn chiến sĩ ở hai tuyến đầu máu lửa của Tổ quốc Tác phẩm của họ mang hơi thở nóng hổi của cuộc chiến đấu với những hình tượng nhân vật sinh động, bước vào văn học từ thực tế chiến đấu. Hai truyện ngắn “Rừng xà nu” (1965) và “Những đứa con trong gia đình” (1966) đã phản ánh thật rõ ràng và đậm nét ý chí quyết tâm đánh giặc ngoại xâm của dân tộc ta; lòng căm thù giặc cũng như những phẩm chất anh hùng của người chiến sĩ trong công cuộc đấu tranh để gìn giữ non sông của cha ông ngàn đời. Nhân vật Tnú và Việt trong hai tác phẩm là hai nhân vật tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, yêu cách mạng của con người Việt Nam trong kháng chiến. Ở họ mang nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng cao cả và thiêng liêng nhất chính là vẻ đẹp anh hùng cách mạng. Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Vậy thế nào là chủ nghĩa anh hùng cách mạng? Đó là sự thể hiện của lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc, tinh thần chiến đấu bất khuất chống lại kẻ thù xâm lược để bảo vệ tổ quốc của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là sự trung thành với lí tưởng cách mạng được thử thách trong những hòan cảnh khốc liệt, qua đó bộc lộ được vẻ đẹp của phẩm chất anh hùng có tính chất tiêu biểu cho cả dân tộc. Tnú và Việt là sự kết tinh của chủ nghĩa anh hùng cao đẹp ấy. Trước tiên đọc tác phẩm “Rừng xà nu” ta có thể dễ dàng cảm nhận được vẻ đẹp anh hùng rực rỡ ở nhân vật Tnú. Tnú là người con của dân làng Xôman, cha mẹ mất sớm và được dân làng cưu mang, nuôi dưỡng. Cũng như người dân làng “có cái bụng thương núi, thương nước”, Tnú đã sớm có lòng yêu thương nhân dân, làng xóm. Từ tấm lòng này, Trú đã mở rộng thành tình yêu gắn bó trung thành thủy chung sâu nặng với Cách mạng, cán bộ Cách mạng. Bởi ngay từ khi còn là một cậu bé, Tnú được cụ Mết, người gìn giữ và truyền ngọn lửa Cách mạng từ thế hệ này sang thế hệ khác cho hay: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn nước non này còn”. Vì vậy ngay từ chặng đầu của cuộc đời, Tnú đã xuất hiện với tư cách của người anh hùng Tây Nguyên thời chống Mỹ. Dù còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra gan góc táo bạo, đầy quả cảm như Kim Đồng, Lê Văn Tám, Vừ A Dính… Bất chấp sự vây lùng khủng bố dã man của kẻ thù, chặt đầu những người đi nuôi cán bộ – đầu anh Xút, bà Nhan đang bị chúng treo lủng lẳng đầu bản xóm, Tnú đã cùng với Mai xung phong vào rừng bảo vệ anh Quyết, một cán bộ trung kiên của Đảng. Đây là một công việc vô cùng khó khăn và đầy nguy hiểm nhưng Mai và Tnú đã làm rất tốt để dân làng Xô man mãi tự hào ” Năm năm chưa hề có cán bộ bị giặc bắt hoặc bị giết ở trong rừng”. Tnú còn là một người có phẩm chất chính trực, trong sáng, trung thực, thẳng thắn như cây xà nu. Tnú quyết tâm học cho được cái chữ Cụ Hồ để trở thành cán bộ giỏi thay anh Quyết, nếu không may anh Quyết bị hy sinh. Tnú có cái đầu sáng lạ lùng trong việc tìm đường rừng để đưa thư cho anh Quyết. Nhưng Tnú học chữ hay quên. Bởi vậy, khi học chữ thua Mai, Tnú đã tự trừng phạt cái tội hay quên của mình bằng cách “cầm hòn đá tự đập vào đầu mình máu chảy ròng ròng”. Hành động này có cái gì đó hơi nóng nảy, nông nổi nhưng nó biểu lộ ý chí, quyết tâm sắt đá của một con người có chí khí, vì không học được chữ nên tự trừng phạt mình cho đau cho nhớ mà cố gắng hơn. Làm liên lạc chuyển thư cho anh Quyết, Tnú có cái đầu sáng lạ lùng. Vốn là con người nhanh trí, táo bạo thích mạo hiểm, Tnú không bao giờ đi đường mòn, bị giặc vây các nẻo đường, Tnú leo lên cây cao xé rừng mà đi vượt qua mọi vòng vây. Tnú không vượt qua suối những nơi nước cạn dễ đi mà thường băng qua những con thác hiểm như cưỡi lên lưng con cá kình. Có lần vượt qua thác, chuẩn bị lên bờ thì họng súng đen ngòm đã chĩa vào gáy lạnh ngắt. Tnú kịp nuốt lá thư của anh Quyết vào bụng bảo đảm bí mật. Tnú bị giặc giam cầm ở ngục tù Kontum với biết bao đòn roi, thương tích. Địch tra tấn hỏi “Cộng sản ở đâu?” Tnú đã không ngần ngại đặt tay lên bụng và nói: “Ở đây này!”.Và lưng Tnú lại hằn lên những vết dao chém ngang dọc của kẻ thù. Đúng Tnú là con người rất giàu phẩm chất thủy chung, trung thành với Cách mạng mà bất khuất hiên ngang trước kẻ thù “Uy vũ không thể khuất phục”. Ba năm sau, Tnú vượt ngục trở về trực tiếp lãnh đạo dân làng Xô man đánh giặc. Và Mai, người bạn từ thuở thiếu thời, đã cùng Tnú trưởng thành qua năm tháng đầy thử thách khốc liệt của chiến tranh nay đã là vợ của Tnú. Đứa con trai kháu khỉnh vừa đầy tháng là hoa trái đầu mùa của mối tình thơ mộng và thủy chung ấy. Hạnh phúc gia đình lứa đôi của Tnú đang đẹp như trăng rằm lung linh tỏa sáng cả núi rừng Tây Nguyên. Song kẻ thù tàn bạo dã man đã đập vỡ tổ ấm hạnh phúc của Tnú một cách không tiếc thương. Chúng đã giết vợ con anh bằng cây gậy sắt, hòng uy hiếp tinh thần Cách mạng của Tnú, người cầm đầu, linh hồn của cuộc nổi dậy. Đoạn văn diễn tả sự bất lực của Tnú trước cái chết của vợ con thật bi thương tràn đầy xúc cảm và ấn tượng “Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy… bụng anh có lửa đốt. Chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”. Căm thù đau nhói trong tim và bừng cháy trong hai con mắt – một chi tiết thật dữ dội. Tnú nhảy vào giữa đám lính, hai cánh tay như cánh gỗ lim của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Nhưng không còn kịp nữa! Tnú bị bắt, bị trói. Vợ và con chết cả rồi nhưng Tnú không khóc. Anh ghìm nén nỗi đau, cố gắng vượt qua bi kịch cá nhân để tiếp tục sống và chiến đấu. Trước cái chết cận kề, Tnú không hề run sợ mà anh cảm thấy mình thật bình thản. Anh nghĩ “Đứa con chết rồi. Mai chắc cũng đã chết. Mình rồi cũng chết thôi”. Nhưng Tnú không sợ, điều làm Tnú day dứt và băn khoăn nhất chính là không sống được đến ngày cùng dân làng Xô man đánh giặc, rồi khi có lệnh của Đảng cho đánh ai sẽ lãnh đạo dân làng Xô man? Tnú hoàn toàn không nghĩ đến mình nữa, Tnú đã đặt cái chung, cái nhiệm vụ lên trên bi kịch của mình. Đó là thái độ biến đau thương thành hành động. Giặc dùng giẻ tẩm nhựa xà nu để đốt mười đầu ngón tay của Tnú. Chúng định dùng lửa để thiêu rụi ý chí đấu tranh của dân làng Xô man. Nhưng chúng đã nhầm. Chúng đã vô tình thắp lên ngọn lửa đồng khởi, ngọn lửa đấu tranh của dân làng Xô man. Một ngón, hai ngón rồi ba bốn ngón của Tnú bốc cháy. Không gì đượm băng lửa Xà nu. Mười ngón tay của Tnú nhanh chóng thành mười ngọn đuốc sống. Kì lạ thay, người Cộng Sản ấy không hề kêu van, dù “răng anh đã cắn nát môi anh rồi”. Đúng rồi, Tnú không thèm kêu van nhưng Tnú đã thét lên một tiếng “Giết”. Tiếng thét ấy làm rung chuyển núi rừng, làm lay động tâm can con người. Và cộng hưởng cùng tiếng thét ấy là tiếng chân người chạy rầm rập trên nhà Ưng, tiếng cụ Mết ồ ồ “Chém! Chém hết, Giết, giết hết!”, Tiếng thét ấy trở thành ngòi nổ làm bùng cháy cả khối thuốc nổ căm hờn của dân làng Xôman. Trong phút chốc họ đã chứng kiến cảnh: “xác 10 tên giặc nằm ngổn ngang quanh đống lửa.” Cuộc đời bi tráng của Tnú đã làm sáng tỏ một chân lý giản dị mà sâu xa của cuộc sống được cụ Mết truyền dạy cho con cháu: “sau này, tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cấm giáo”. Đó là chân lý của Cách mạng được nảy sinh từ mảnh đất Tây Nguyên thấm máu và nước mắt. Đó là một chân lý thật nghiệt ngã nhưng tất yếu: Phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu tự giải phóng của nhân dân. Câu chuyện về cuộc đời và con đường đi lên của Tnú mang ý nghĩa tiêu biều cho số phận và con đường của các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Vẻ đẹp và sức mạnh của Tnú là sự kết tinh vẻ đẹp và sức mạnh của con người Việt Nam nói chung trong thời đại đấu tranh cách mạng. Đến với “những đứa con trong gia đình”, Nguyễn Thi cũng đã khắc học rất thành công vẻ đẹp anh hùng cách mạng sáng ngời của nhân vật Việt. đó là một cậu con trai mới lớn, hồn nhiên, vô tư luôn tranh giành với chị ngay cả trong cuộc sống bình thường lẫn khi đi đánh giặc. đêm trước ngày đi bộ đội trong khi Chiến bàn bạc chuyện gia đình và nói với em những lời trang nghiêm thì Việt lúc “ lăn kềnh ra ván cười khì khì” lúc lại rình “chụp một con đom đóm úp trong lòng bàn tay” và cuối cùng “ngủ quên lúc nào không biết”. Đứa con trai ngây thơ ấy còn là một người con, một người cháu, một người em, một người đồng đội giàu tình cảm và sống rất tình nghĩa. Vốn mồ côi cha mẹ, chị Hai ở xa, đứa em út còn nhỏ, tình cảm thương yêu của Việt đối với chị thật sâu đậm. sau khi cùng ghi tên vào bộ đội, sắ xếp việc nhà xong Việt và chiến cùng khiêng bàn thờ má gởi chú Năm: “ Việt khiêng trước.Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thầy lòng mình rõ như thế”. Ngoài tình thương chị Việt còn rất thương mến chú Năm. Tình cảm đó hình thành từ những ngày Việt còn nhỏ “ Việt thương chú Năm vì hồi đó chú hay bênh Việt. Mỗi khi cất giọng hò, chú làm như Việt chính là nơi cụ thể để chú gửi gắm những câu hò đó”. Trong lúc Việt bị thương hình ảnh của cha mẹ thân yêu luôn chập chờn ẩn hiện trong hồi ức của Việt với bao kỉ niệm chua xót lẫn ngọt ngào “dường như cả cuộc đời vất vả của má, mọi ý nghĩ lặng lẽ trong đêm của má, cả những hiểm nguy gian lao của má đã trải qua một cách không hề sợ hãi, tất cả đều gom lại và dồn lại vào trong ý nghĩa cuối cùng này: “để má ráng nuôi bây lớn coi bây có làm được gì cho cha mày vui không?”. Nhưng có lẽ đẹp đẽ hơn cả ở Việt-làm nên vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng chính là tinh thần chiến đấu quả cảm, kiên cường. Việt không chỉ là một con người giàu lòng yêu thương mà còn là một chiến sĩ giải phóng quân dũng cảm, mang trong mình dòng máu gia truyền của những con người gan góc không bao giờ khuất phục trước sự tàn bạo. Việt đã chiến đấu bằng tất cả sức mạnh lần thể chất tinh thần, bằng ý chí bất khuất thừa hưởng từ một gia đình cách mạng. Ông nội, chú Năm, ba Việt đều tham gia kháng chiến. Cha bị chặt đầu, mẹ bị trúng pháo của giặc.. những hình ảnh đó mãi in sâu trong tâm trí Việt. chính mối thù nhà là động lực thúc đẩy hai chị em việt anh dũng chiến đấu. Giữa trận đánh, Việt bị thương nặng. mất liên lạc với đồng đội, trơ trọi một thân, đói khát, mình đầy thương tích, Việt vẫn can đảm chịu đựng. dù lúc tỉnh lúc mê, Việt vẫn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu mỗi khi choàng dậy “ Việt day họng sung về hướng đó “ nếu mày đổ quân thì sung tao còn đạn” Việt ngầm bảo bọn địch khi nghe tiếng xe bọc thép của chúng chạy mỗi lúc một gần. Cuối cùng khi đồng đội đã tìm được Việt dù kiệt sức, anh vẫn giữ được tư thế chiến đấu sinh tử với kẻ thù “một ngón tay của cậu vẫn còn nhúc nhích, một viên đạn đã lên nòng và chung quanh cậu dấu xe bọc thép còn nằm ngang dọc” hình ảnh đó đã cho ta thấy tính cách anh hùng của Việt một chàng trai yêu nước,sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Một dáng vóc cao cả, phi thường, đáng khâm phục. Có thể nói, xây dựng hình tượng nhân vật Tnú và Việt hai nhà văn đã thể hiện sự trân trọng sâu sắc trước những con người của dân tộc, vì dân tộc. Cùng được sáng tác trong kháng chiến chống Mĩ nên ở hai nhân vật đều có nhiều nét tương đồng trong vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng. Họ là những người con đã kế thừa xuất sắc truyền thống bất khuất của gia đình, của quê hương, của dân tộc: Tnú là người con của làng Xô Man, nơi tất cả người dân đều hướng về cách mạng. Còn Việt sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nứơc, căm thù giặc: Cha là cán bộ cách mạng, má là người phụ nữ Nam Bộ kiên cường trong đấu tranh, hai con tiếp nối lí tưởng của cha mẹ. Họ đã phải chịu nhiều đau thương, mất mát do kẻ thù gây ra, tiêu biểu cho đau thương mất mát của cả dân tộc: Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị kẻ thù tra tấn đến chết, bản thân bị giặc đốt mười đầu ngón tay. Việt chứng kiến cái chết của ba má: ba bị chặt đầu, má chết vì đạn giặc. Những đau thương đó đã hun đúc tinh thần chiến đấu, lòng căm thù giặc sâu sắc của con người Việt Nam. Biến đau thương thành sức mạnh chiến đấu cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Tnú lên đường đi “lực lượng” dù mỗi ngón tay mất đi một đốt, Việt vào bộ đội, coi việc đánh giặc trả nợ nước thù nhà là lẽ sống. Họ chiến đấu bởi sức mạnh của lòng căm thù giặc, cũng là bởi sức mạnh của tình yêu thương, vì: chỉ có cầm vũ khí đứng lên, ta mới có thể bảo vệ được những gì thiêng liêng nhất, bảo vệ tình yêu và sự sống. Chân lí đó đã được minh chứng qua số phận và con đường cách mạng của những người dân Nam Bộ trong hai tác phẩm trên, chân lí đó cũng được rút ra từ thực tế đau thương mất mát nên nó càng có giá trị, càng phải khắc sâu vào lòng người. Không chỉ vậy ở họ còn mang phẩm chất anh hùng, bất khuất, là những con người Việt Nam kiên trung trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm.Tnú từ nhỏ đã gan dạ, đi liên lạc bị giặc bắt được, tra tấn dã man vẫn không khai. Anh vượt ngục trở về, lại là người lãnh đạo thanh niên làng Xô Man chống giặc, bị đốt mười ngón tay vẫn không kêu rên trước mặt kẻ thù à Ở Tnú toát lên vẻ đẹp của người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên và vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại chống Mĩ. Việt bị thương trong trận đánh lại lạc mất đơn vị, vẫn chắc tay súng quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. Đối với chị, Việt ngây thơ, nhỏ bé.,còn trước kẻ thù, Việt vụt lớn lên, chững chạc trong tư thế người anh hùng. Có thể nói Tnú và Việt đều đã vượt lên nỗi đau và bi kịch cá nhân để sống có ích cho đất nước. Những đau thương của họ cũng chính là đau thương của dân tộc trong những năm tháng thương đau của chiến tranh. Tinh thần quả cảm, kiên cường của họ cũng chính là tinh thần của cả dân tộc Việt Nam, là biểu hiện cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tuy nhiên, không chỉ có những nét chung độc đáo vẻ đẹp anh hùng cách mạng ở nhân vật Tnú và Việt mà còn mang những nét riêng khác biệt. Việt là một con người được sinh ra và trưởng thành trên miền non nước Nam Bộ vì vậy ở anh có tính chất sôi nổi, bộc trực, trọng nghĩa. Còn Tnú lại hiện lên với hình ảnh “vóc dáng vạm vỡ” chứa trong đó cái mênh mang, hoang dại, trong sạch của núi rừng, ở Tnú nổi bật lên với vẻ đẹp của một con người Tây Nguyên huyền thoại, kỳ vĩ, đậm chất sử thi. Như hai bản anh hùng ca thời đại đánh Mĩ, hai tác phẩm đã khắc sâu được cuộc chiến đấu của dân tộc chống lại kẻ thù xâm lược hết sức ác liệt và gay go. Qua đó tác giả cũng ngợi ca phẩm chất anh hùng của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ, là những con người tiêu biểu cho cộng đồng về lí tưởng và phẩm chất, nhân danh cộng đồng mà chiến đấu hi sinh. Với giọng văn ngợi ca, thấm đẫm cảm hứng lãng mạn cách mạng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời kỳ chống Mĩ, hai tác phẩm đều được tác giả làm hiện diện trên khắp mọi miền của đất nước. Từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng bằng đến miền núi. Tất cả tạo nên một sức mạnh long trời lở đất để nhấn chìm lũ bán nước và quân cướp nước. Qua đó cũng thấy rằng, cuộc đời và sự hi sinh của những con người Việt Nam anh hùng như Tnú và Việt mãi mãi là bản anh hùng ca tuyệt đẹp cho các thế hệ Việt Nam noi theo.
Phân tích vẻ đẹp chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua nhân vật Tnú và nhân vật Việt
3,506
Phân tích vẻ đẹp con người lao động trên biển trong Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận Hướng dẫn Vẻ đẹp con người lao động trên biển trong Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận Mở bài: Trở về với cuộc sống mới, Huy Cận lập tức tìm cách hòa nhập với mọi người, với nhiệm vụ của đất nước. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là bài ca dạt dào niềm vui về cuộc đời, là bài thơ yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống mới, là tiếng reo vui của nhà thơ trước sức sống mạnh mẽ của nhân dân, đất nước. Nổi bậc trong bức tranh lao động là hình ảnh con người lao động khỏe khoắn. mạnh mẽ và tràn đầy niềm tin tưởng. Thân bài: Sự kết hợp hài hòa giữa hai nguồn cảm hứng: cảm hứng về thiên nhiên, vũ trụ và cảm hứng về con người lao động trong cuộc sống mới đã làm nên vẻ đẹp bài thơ. Thế nhưng, cảm hứng chủ đạo vẫn là cảm hứng về con người trong cuộc sống lao động mới. Thuên nhiên, vũ trụ chỉ là nền cảnh để vẻ đẹp con người lao động kiên cường tỏa sáng. Trong bức tranh lao động trên biển ấy, hình ảnh con người hiện lên phi thường, kì vĩ. Họ ra khới với niềm vui, niềm hăm hở chinh phục sông dài biển rộng: Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi Hình ảnh “đoàn thuyền” ào ạt ra khơi gợi không khí đông vui trên bến cảng, gợi lối làm ăn tập thể của Hợp tác xã đánh cá Hạ Long. Phụ từ “lại” chỉ hành động lặp lại nhiều chứng tỏ cảnh những đoàn thuyền ra khơi trong những chiều hoàng hôn đỏ là nếp sinh hoạt quen thuộc của bà con vùng mỏ Quảng Ninh. Âm thanh tiếng hát vang vang.. biện pháp nói quá gợi hình ảnh đẹp “gió căng buồm” đẩy thuyền lướt nhanh. Nó còn bộc lộ niềm hăm hở, phấn chấn của người lao động muốn ra khơi chinh phục biển trời. Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng Giọng thơ chứa đầy niềm tự hào, yêu thương khi khẳng định “thuyền ta” là hình ảnh hoán dụ chỉ những con người lao động. Động từ “lướt” chỉ sự chuyển động nhanh, nhẹ nhàng phơi phới. Biện pháp nói quá tạo vẻ đẹp con thuyền như chắp cánh bay lên. Người lao động đang ở tư thế trung tâm của vũ trụ, sánh ngang tầm với vũ trụ thiên nhiên. Cuộc chinh phục thiên nhiên của ngừoi lao động không ít những khó khăn. Biển khơi lấy gió để cản bước biến, lấy độ xa để đo chí, độ sâu để thứ thách lòng can đảm. Người lao động đã vận dụng kinh nghiệm “cha truyền con nối” để bể cánh lái theo chiều gió, dùng sữc mạnh của đội thuyền của họ để xông thẳng ra khơi xa, áp dụng khoa học kĩ thuật để “dò bụng biển”. Lao động của họ có sức mạnh của tập thể. Bước vào buổi lao động như người chiến sĩ bước vào một trận chiến đấu. Với họ, “biển khơi là chiến trường, lưới thuyền là vũ khí, ngư dân là chiến sĩ. Hậu phương thi đua với tiền phương”. Họ cần cù ân cần cống hiến cho bến cảng quê hương. Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao” Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Thời gian trong thơ dịch chuyển “trăng cao” rồi “sao mờ” chứng tỏ họ đã làm việc miệt mài suốt đêm qua. Lao động của họ vất vả nhưng tiếng hát lời ca vẫn thể hiện niềm lạc quan phơi phới. Trong nền bình minh, thư thế của người lao động đang kéo lưới tạc vào đất trời vẻ đẹp rắn rỏi, chắc nịch như một bức tượng đồng. “Chùm cá nặng” là thành quả thu được sau một đêm nhọc nhằn. Công việc lao động trên biển như là một cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên. Người lao động làm việc với tất cả lòng dũng cảm, sự hăng say, trí tuệ nghề nghiệp, tâm hồn phơi phới. Họ hiểu đại dương và đêm tối như thấu hiểu chính mình. Niềm tin và ý chí của họ tràn ngập trong gió, trong sóng, trong từng hơi thở của vũ trụ: Câu hát căng buồn cùng gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Âm thanh tiếng hát vang suốt hành trình ngày lao động. Tiếng hát lặp đo lặp lại bốn lần như một bài ca lao động hăng say. Tác phẩm nhân hoá đoàn thuyền cùng mặt trời chạy đua để về kịp bến cảng sớm nhất. Chi tiết “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” chứng tỏ con người đã chiến thắng thiên nhiên. Kết bài: Thông qua việc miêu tả cảnh lao động đánh cá của người ngư dân vùng biển Hạ Long, bài thơ ngợi ca vẻ đẹp con người lao động mới, ca ngợi khí thế lao động hăng say, yêu đời của người lao động mới đã được giải phóng, đang làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời và đất nước: Tập làm chủ, tập làm người xây dựng. Dám vươn mình cai quản lại thiên nhiên!
Phân tích vẻ đẹp con người lao động trên biển trong Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận
901
Phân tích vẻ đẹp con người Lão Hạc trong truyện ngắn của Nam Cao Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp con người Lão Hạc trong truyện ngắn của Nam Cao Văn học không chỉ là mảnh đất ghi lại dấu ấn của nhà văn mà còn là đất để nhân vật ghi lại những ấn tượng nơi người đọc. Nhắc tới việc xây dựng thành công nhân vật có lẽ mỗi nhà văn đều có cho mình những nghệ thuật riêng, với Nam Cao, nhân vật của ông như bước ra từ chính đời sống. Dù chính diện hay phản diện thì nhân vật của ông vẫn để người đọc nhận ra những vẻ đẹp riêng. Lão Hạc là một nhân vật như thế. Theo tác giả Trương Chính, Nam Cao viết truyện ngắn từ năm 1943, thời gian ấy tác giả cũng đang sống cuộc đời của một nhà giáo trường tư với muôn nỗi khổ cực của đời sống. Ông sống cùng tầng lớp nhân dân và đó là điều kiện để ông hiểu thấu những số phận của người dân trong chế độ phong kiến. Truyện Lão Hạc được sáng tác trong những năm cả nước đang chịu cảnh đói nghèo. Lão Hạc là nhân vật chính. Lão trước hết là một người nông dân nghèo nhưng lương thiện. Câu nói ca ngợi riêng cho những người giữ được phẩm giá của mình trong khi cái đói, cái khổ bủa vây. Vợ chồng lão làm thuê, làm mướn mua được một mảnh vườn nhỏ làm nơi ăn chốn ở, gia đình lão thuộc diện “cùng đinh” trong làng, vợ chết, con trai do không có tiền lấy vợ mà phải bỏ nhà đi tha hương, lão cô độc cùng con chó mà lão gọi là Vàng. Nhưng cả đời lão chưa hề làm hại ai, không gây phiền toái đến ai, lão sống gom góp cho con và chết để bảo vệ thứ tài sản ít ỏi còn lại cho con mình. Thương con, lão sống cô độc một mình và luôn muốn dành dụm tiền cho con trai. Sau khi thằng con đi, lão tự bảo rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ mả mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả… Của mẹ nó tậu, thì nó hưởng. Lớp trước nó đòi bán, ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó, chứ có phải giữ để ta ăn đâu? Nó không có tiền cưới vợ, mới chịu về. Ta bòn vườn của nó, cũng nên để ra cho nó ; đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm vào với nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ, thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn”. Tình thương yêu của người cha với con như vậy sao không được gọi là sâu nặng? Lão dè dặt với cuộc đời của mình cốt là để dành dụm cho con. Nhà phê bình văn học Nguyễn Xuân Lạc có nhận định: “Cuộc đời lão Hạc là một dòng nước mắt chảy dài của nỗi đau bất hạnh”. Lão đã sống trong nghèo túng, đói khổ như ngàn vạn con người trong xã hội thực dân, nhưng trong cảnh đời thê thảm ấy ta lại thấy bừng lên vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao cả của lão. Ta thấm thía ý nghĩa nhân sinh: Bên dưới manh áo rách là một tấm lòng vàng.
Phân tích vẻ đẹp con người Lão Hạc trong truyện ngắn của Nam Cao
598
Phân tích vẻ đẹp con người trong ba tác phẩm Ánh trăng, Lặng lẽ Sa Pa và Bài thơ về tiểu đội xe không kính Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp con người trong ba tác phẩm Ánh trăng, Lặng lẽ Sa Pa và Bài thơ về tiểu đội xe không kính Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn ngàn năm Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng! (Chế Lan Viên) Vâng! Tổ quốc và con người Việt Nam thật đẹp. Đó là những con người đã và đang lao động và cống hiến hết mình cho dân tộc. Hình ảnh của họ đã đi vào trong thơ ca, văn học, đặc biệt là các tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, Ánh trăng của Nguyễn Duy. Con người Việt Nam đẹp cả trong chiến tranh và thời kì xây dựng đất nước. Văn học phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ, quê hương đất nước và văn học cũng sáng tạo hình ảnh con người mới vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa có những phẩm chất mới mẻ của thời đại. Đất nước ta đã trải qua biết bao gian khổ, hứng chịu biết bao tai họa của chiến tranh từ thực dân Pháp đến đế quốc Mĩ. Hình ảnh con người Việt Nam gắn liền với từng thời kì phát triển của đất nước. Đặc biệt là từ những ngày Cách mạng tháng Tám thành công, cả dân tộc ta rũ bùn đứng dậy sáng loà, con người Việt Nam bước vào những trang thơ, trang văn đẹp như chính cuộc đời họ. Ba tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long và Ánh trăng của Nguyễn Duy là bức tranh toàn cảnh ghi lại một cách chân thực và toàn diện về hình ảnh con người Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám. Dù họat động trên lĩnh vực nào, ở bất cứ nơi đâu, họ vẫn toát lên những phẩm chất và tính cách đáng quý. Con người Việt Nam có những phẩm chất và tính cách đáng quý, biết vượt lên trên khó khăn, gian khổ, nguy hiểm. Trước hết, đó là phẩm chất của các chiến sĩ lái xe Trường Sơn qua Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Họ là những chàng trai – tuổi đời còn rất trẻ nhưng đã tự nguyện lên đường bảo vệ Tổ quốc, bỏ lại sau lưng những gì thân thương nhất của mình: mái trường, gia đình. Họ đã ra đi với một quyết tâm lớn và cao đẹp là giữ vững nền độc lập cho đất nước. Các chàng trai trẻ ấy đã sẵn sàng chấp nhận một cuộc sống ác liệt, thiếu thốn của chiến trường. Họ đã làm một công việc nguy hiểm và quan trọng là vận chuyển lương thực ra tiền tuyến để nuôi quân. Vất vả, cực nhọc là thế, máy bay địch có thể ập đến bất cứ lúc nào, đường Trường Sơn thì không hề bằng phẳng, họ lại phải lái những chiếc xe không kính. Nhưng, các anh đã chấp nhận tất cả: Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Các anh đã tự lí giải cho sự thiếu thốn của mình là do chiến tranh tàn phá, để rồi: Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Vẫn ung dung ngồi vào buồng lái, các anh lính trẻ bất chấp mọi thử thách để tạo cho mình một tư thế đàng hoàng nhất, một tư thế chứng tỏ bản lĩnh của người chiến sĩ. Họ vẫn vững tay lái, thậm chí còn biến khó khăn thành sự hưởng thụ vì được nhìn, được tiếp xúc một cách trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài, họ vẫn nhìn thẳng về phía trước, vẫn tiếp tục đối chọi với mọi hiểm nguy: Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Thử thách cứ nối tiếp nhau đến với người chiến sĩ, không toát lên qua hình ảnh các chiến sĩ lái xe: Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần tròng xe có một trái tim Dù thiêu thốn rất nhiều: kính, đèn, mui xe, thùng xe có xước. Xe đã mất đi mọi trang bị tối thiểu nhất để bảo vệ chữ người chiến sĩ. Họ phải đối mặt với bao chông gai và hiểm nguy phía trước thế nhưng xe vẫn băng băng vượt qua bao nẻo đường, vì miền Nam ruột thịt. Đoàn xe ấy vẫn chạy dù cho còn nhiều và nhiều hơn nữa những khó khăn, chỉ cần có một trái tim. Người lính luôn mang trong mình trái tim đó, trái tim của lòng dũng cảm, của tình yêu đất nước. Trái tim ấy là biểu tượng cho ý chí cách mạng, cho những suy nghĩ ngời sáng của người chiến sĩ Trường Sơn, Các anh đã chiến đấu không mệt mỏi vì những suy nghĩ đúng đắn, vì ý thức được trách nhiệm của bản thân. Ý thức, trách nhiệm cao độ đối với công việc cũng là một phẩm chất cao đẹp của con người xứ sở sương mù – Sa Pa. Nhà văn Nguyễn Thành Long đã thể hiện đức tính đó qua nhân vật anh thanh niên. Anh đã quan niệm thật đúng đắn về công việc; anh thấy được ý nghĩa cao quý trong công việc thầm lặng của mình. Anh không tô đậm cái gian khổ của công việc, nhưng anh nhấn mạnh niềm hạnh phúc khi biết nhờ mình phát hiện đám mây khô mà không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực của Mĩ. Phải có lòng yêu nghề sâu sắc., đam mê hết mình cho cộng việc thì anh mới có được những niềm hạnh phúc như thế. Anh tự tâm sự về công việc: “Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này, cháu không nghĩ như vậy nữa”. Anh thanh niên đã tự mình tạo cho mình sự cố gắng, phấn đấu. Anh coi những ngôi sao kia đang lẻ loi một mình như một con người có cùng cảnh ngộ và rồi biết tự ý thức được trách nhiệm của mình mà làm việc. Anh còn tâm sự: “Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?” Công việc và anh gắn bó với nhau mật thiết, anh đã sống chung với công việc tưởng như là đôi. Chính ý thức trách nhiệm, chính tình yêu quê hương đất nước đã làm nên niềm say mê, hào hứng, cái nhiệt tình sôi nổi thật đáng quý, đáng trân trọng ấy. Tâm hồn của người chiến sĩ Trường Sơn năm xưa cũng đáng để những con người hôm nay khai phá và tìm tòi. Cuộc sống gắn liền với bom đạn ác liệt song không hề làm mất đi ở họ những nét đẹp đáng quý cũng như một tâm hồn cao đẹp. Họ mang trong mình sự lạc quan, tếu táo, họ dũng cảm mà vẫn lãng mạn biết bao: Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi Sự khốc liệt của chiến tranh đã tàn phá mọi thứ và những chiếc xe không kính đã trở thành một điều bình thường, là cơ hội để người chiến sĩ lái xe trao cho nhau một tình cảm thiêng liêng và cao đẹp – tình đồng đội. Họ không hề chùn bước trước hiểm nguy và càng không hề xa rời nhau trong chiến đấu và cả sau trận chiến. Họ bắt tay nhau qua cửa kính vỡ – cái bắt tay không sợ hiểm nguy, cái bắt tay rất tếu táo, đáng yêu. Tâm hồn của các anh thật trẻ trung làm sao, tươi sáng làm sao, trái ngược với cuộc sống chiến tranh đáng sợ. Họ đã thoát mình ra khỏi những gay gắt của những trận chiến để hướng tới những giá trị cao đẹp của cuộc sống. Hành động bắt tay qua cửa kính vỡ chứa đầy khí phách của những chàng trai đất Việt có một tâm hồn ngang tàng, tếu táo, đã thể hiện sâu đậm mối tình quân ngũ. Hai tác phẩm Bài thơ về tiều đội xe không kính của Phạm Tiến Duật và Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long đã thể hiện được những vẻ đẹp tâm hồn cao đẹp của con người Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám. Hình ảnh con người trong ba tác phẩm là hình ảnh của những con người mới Việt Nam nhiệt tình, hăng say xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ là đội ngũ những con người lao động đã và đang ươm mầm xanh cho Tổ quốc, kế tục, phát huy sự nghiệp của cha ông. Họ là những con người đáng để mỗi chúng ta học tập, noi gương.
Phân tích vẻ đẹp con người trong ba tác phẩm Ánh trăng, Lặng lẽ Sa Pa và Bài thơ về tiểu đội xe không kính
1,567
Phân tích vẻ đẹp con người Tây Nguyên qua các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng trong tác phẩm Rừng xà nu Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp con người Tây Nguyên qua các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng trong tác phẩm Rừng xà nu Bài làm Về các tác phẩm Đất nước đứng lên và Rừng xà nu, sách Văn học 12, tập Một, đã nhận định rằng: “Có thể coi đây là những bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên, là bức tranh chân thực sinh động về hai cuộc chiến tranh nhân dân chống Pháp và chống Mĩ”. Tác giả Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) thật sự đã khắc họa được những nhân vật anh hùng gắn bó thành một tập thể anh hùng vừa mang dấu ấn của thời đại, vừa đậm đà dáng nét Tây Nguyên. Ta hãy phân tích vẻ đẹp của hình tượng các nhân vật nổi bật lên trong bối cảnh hùng vĩ của Rừng xà nu: Tnú, cụ Mết, Dít và bé Heng. Đầu tiên là nhân vật Tnú. Được tác giả khắc họa bằng những nét tính cách độc đáo, giàu chất sử thi.Trước hết Tnú rất gắn bó với cách mạng. Từ nhỏ Tnú đã từng nuôi giấu cán bộ và hoàn thành xuất sấc công tác giao liên. Khi bị giặc bắt, Tnú dũng cảm chịu đựng những đòn tra tấn của giặc. Sau khi vượt ngục, anh cùng cụ Mết tiếp tục lãnh đạo dân làng Xô-man mài giáo, mài rựa chiến đấu chống kẻ thù. Tnú tha thiết thương yêu bản làng. Sau ba năm chiến đấu trở về làng, anh nhớ rõ từng hàng cây, từng con đường, từng dòng suối, bồi hồi xúc động khi nghe tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xa xưa, của Mai, của Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe tiếng chày ấy rồi. Anh yêu thương vợ con tha thiết. Chứng kiến cảnh kẻ thù man rợ dùng chày sắt đập chết mẹ con Mai, nỗi đau thương của Tnú dâng lên tột đỉnh. Anh lao vào lũ giặc với mội tiếng thét dữ dội và anh dang hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Yêu thương, căm thù biến thành hành động. Tnú thét lên một tiếng… Chính nỗi đau xé lòng của Tnú đã khiến cho anh và đồng bào anh dứt khoát đứng lên tiêu diệt cả một tiểu đội giặc hung ác. Riêng Tnú ra đi lực lượng để quyết tiêu diệt mọi kẻ thù tàn ác để bảo vệ bản làng, giải phóng quê hương. Chính trong thực tế chiến đấu mà nhân vật vươn lên nhận thức đó, hiểu biết sâu sắc về kẻ thù và nâng lòng căm thù cá nhân lên thành căm thù chung của cả dân tộc. Tiếp đến, nhân vật cụ Mết. Cụ Mết tiêu biểu cho truyền thống của làng Xô-man. Lịch sử chiến đấu của làng, qua lời kể của cụ Mết, thấm sâu vào tim óc các thế hệ. Cụ là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là pho sử sống của làng. Tấm lòng cụ Mết đối với cách mạng trước sau như một. Cụ đã từng nói: “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn”. Trong những năm đen tối, cụ cùng dân làng Xô-man, từ thanh niên, ông già bà già, đến lũ trẻ đi nuôi và gác cho cán bộ: năm năm chưa hề có một cán bộ bị giặc bắt hay giết trong rừng làng này. Cụ Mết là linh hồn của làng Xô-man. Chính cụ đã lãnh đạo dân làng đồng khởi. Hình ảnh ông cụ mắt sáng và xếch ngược, ngực căng như một cây xà nu lớn, cất tiếng nói vang vang như một mệnh lệnh thôi thúc họ vùng lên tiêu diệt kẻ thù… thật rực rỡ như trong một trang sử thi anh hùng. “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên!”… tích vẻ đẹp con người Tây Nguyên qua các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng trong tác phẩm Rừng xà nu Còn nhân vật Dít là nhân vật tiêu biểu cho những cô gái Tây Nguyên thời chống Mĩ, trưởng thành từ những đau thương và quật khởi của dân làng. Trong thời gian dân làng Xô-man chuẩn bị chiến đấu, rồi bị địch bao vây, cụ Mết và Tnú dẫn đám thanh niên vào rừng. Chỉ có con Dít nhỏ, lanh lẹn, cứ sẩm tối lại bò theo máng nước đem gạo ra rừng cho cụ Mết, Tnú và thanh niên. Khi bị giặc bắt, Dít bị chúng bắn dọa, đạn chỉ sượt qua tai, sém lóc, cày đầy quanh hai chân nhỏ… đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọn giặc bình thản… Ngày Mai bị giặc đánh chết và Tnú ra đi, trong khi mọi người, cả cụ già, đều khóc vì cái chết của Mai và Dít vẫn lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh. Tất cả chi tiết trên thể hiện tính cách kiên cường, sức chịu đựng phi phường của Dít, biết dồn nén đau thương để nung nấu lòng căm thù. Như những người con đã khuất của làng Xô-man, Dít căm thù trên cơ sở nhận thức rõ bản chất của kẻ thù, để quyết tâm chiến đâu tiêu diệt chúng. Dít rất giàu tình cảm thương yêu: Khi Tnú về thăm làng, Dít đã là bí thư chi bộ vừa là chính trị viên xã đội. Như ngày nào, đôi mắt Dít vẫn mở to, bình thản, trong suốt khi gặp lại Tnú. Dù trong lòng rất vui mừng, Dít vẫn thực hiện trách nhiệm kiểm tra giấy về phép của anh. Rồi từ chỗ gọi Tnú là đồng chí, Dít chuyển sang gọi là anh, xưng em thật tự nhiên, như người em gái nhỏ của Mai và Tnú ngày xưa và tỏ bày tỏ tình thân thiết: “Sao anh về có một đêm thôi? (…). Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”. Nếu cụ Mết xứng đáng với hình ảnh cây xà nu đại thụ giữa rừng xà nu bạt ngàn xanh thẫm, thì bé Heng tượng trưng cho cây xà nu mới lớn ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời, sẽ phát triển đến đâu, chưa ai lường được. Nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Trung Thành mang những nét độc đáo đượm khí vị Tây Nguyên anh hùng. Nếu rừng xà nu tượng trưng cho các thế hệ dân tộc Tây Nguyên kiên cường, thì các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng là hình ảnh những lớp cây xà nu đại diện cho các thế hệ nối tiếp nhau dân làng Xô-man, được khắc họa thật sinh động. Qua Rừng xà nu, ta hiểu biết và mến yêu thêm đất nước và con người Tây Nguyên. Họ đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp chiến đâu chung để giải phóng dân tộc.
Phân tích vẻ đẹp con người Tây Nguyên qua các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng trong tác phẩm Rừng xà nu
1,190
Phân tích vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận Bài làm Huy Cận là một nhà thơ tên tuổi trong nền thi ca nước nhà với nhiều tác phẩm tiêu biểu, có đóng góp rất nhiều trong phong trào thơ mới. “Tràng Giang” là một trong những bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng nhất của ông. “Tràng Giang” trích trong tập “Lửa Thiêng” được viết trước cách mạng tháng Tám. Với bút pháp nghệ thuật đặc sắc, bài thơ là một bức tranh đẹp được hòa quyện giữa nét cổ điển và hiện đại. Nét đẹp cổ điển và hiện đại được thể hiện ngay từ thi đề của bài thơ “Tràng Giang”. Hai chữ “tràng giang” mang tính cổ điển mà trang nhã, là từ Hán Việt, gợi cho ta đên những bài thơ Đường thi có màu sắc xưa cũ, cổ kính. Nhưng nếu các thi nhân xưa đến với thiên nhiên để tìm sự giao cảm thì nhà thơ hiện đại Huy Cận lại đứng trước “Tràng Giang” để thể hiện nỗi ưu tư, buồn bã trước kiếp người nhỏ bé cô đơn. Đó là một tâm hồn rất hiện đại mà qua đó ta có thể thấy được nét quyến rũ của bài thơ. Với khổ thơ đầu tiên: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng Hai từ láy “điệp điệp” và “song song” của 2 câu thơ đầu đậm chất cổ điển của thơ Đường. Giữa cái bao la bát ngát của sóng, của nước là hình ảnh một “con thuyền xuôi mái”. Thuyền và nước thường đi đôi với nhau nhưng ở đây “thuyền về nước lại” nghe sao xót xa. Câu thơ cuối “Củi một cành khô lạc mấy dòng” cho ta thấy được sự cô đơn lẻ loi đến lạc lõng giữa vũ trụ bao la. Nét đẹp cổ điển của khổ thơ được thể hiện qua ngòi bút đặc sắc của tác giả, chỉ bằng vài nét chấm phá đơn sơ đã gợi được lên hồn cốt của tạo vật.Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn thấy được nét đẹp hiện đại của khổ thơ, đó là hình ảnh độc đáo không ước lệ “củi một cành khô”, hình ảnh thâu tóm ý tưởng chủ đạo cả khổ thơ, hé mở tâm trang nhân vật trữ tình cô đơn, lac lõng. Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Từ láy được tác giả sử dụng dày đặc “lơ thơ” “đìu hiu”, “chót vót” cùng với việc sử dụng hình ảnh đối lập “nắng xuông- trời lên”, “sông dài- trời rộng” là thủ pháp nghệ thuật trong lối thơ cổ. Vẻ đẹp cổ điển còn hiện ra qua các thi liệu quen thuộc như sông, trời còn cuộc sống con người thì cô đơn, buồn bã. Cái mới mẻ ở đây là cách diễn đạt qua hình ảnh chuyển đổi cảm giác của tác giả khi mà “nắng xuống trời lên” lại “sâu chót vót”, gợi lên cho ta cái mở rộng về thời gian, không gian để rồi thấy rõ hơn cái nhỏ bé cô đơn của con người. Ở khổ thơ thứ ba: Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. “Bèo” là hình ảnh ẩn dụ cho kiếp người trôi nổi thường được sử dụng trong những bài thơ cổ điển. Ở đây, bèo không chỉ có một cánh mà “hàng nối hàng” rợn ngợp. Cảnh vật ở đây hiu quạnh đến vô cùng. Cụm kết cấu “không… không” nhấn mạnh điều đó. Giữa không giang mênh mông rợn ngợp giường như heo hắt không có sự sống, chỉ có “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” được tác giả lấy thi hứng từ tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ “Mặt đất mây đùn của ải xa”. Bút pháp gợi tả cùng từ láy “lớp lớp” cho thấy được hình ảnh sống động của núi mây. Ở đây tác giả vận dụng rất tài tình động từ “đùn” khiến cho từng lớp mây như đang chuyển động. Hình ảnh này rất độc đáo, mang vẻ đẹp hiện đại. Ở câu thơ sau, “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Hình ảnh “chiêm nghiêng cánh” và “bóng chiều” cũng là những hình ảnh quen thuộc của thơ ca cổ điển. Câu thơ tả không gian nhưng gơi được cả thời gian. Giữa khung cảnh đó là một tâm hồn rất hiện đại: Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà “Dợn dợn” là một từ láy độc đáo của Huy Cận mà trước đó chưa ai sử dụng. Kết hơp cùng với cụm từ “vời con nươc” khiến cho “lòng quê” càng thêm hiu quanh. Ở câu thơ cuối tác giả lấy cảm hứng từ tứ thơ “Yên ba giang thượng sử nhân sầu” của Thôi Hiệu. Nhưng ở đây tác giả không cần “khói hoàng hôn” cũng vẫn “nhớ nhà” bởi nỗi nhớ đó luôn thường trực trong tâm khảm. Nét khác biệt đó làm nên vẻ đẹp hiện đại của câu thơ. “Tràng Giang” là một bức tranh về phong cảnh mà còn là một bản nhạc về tâm hồn. Nét thi vị của bài thơ là ở vẻ đẹp cổ điển và hiện đại luôn hòa quyện, sóng đôi. Nét đẹp của bài thơ sẽ mãi đi vào lòng người, để rồi qua vẻ đẹp đó ta thấy được một tấm lòng yêu nước thầm kín, một tài hoa rực sáng của thi ca.
Phân tích vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận
1,008
Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ Tràng Giang – Huy Cận Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ Tràng Giang – Huy Cận Bài làm Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông mang nỗi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: “Lửa thiêng”, “Vũ trụ ca”, Kinh cầu tự”. Nhưng sau Cách mạng tháng Tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: “Trời mỗi ngày lại sáng”, “Đất nở hoa”, “Bài thơ cuộc đời”… Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ “Tràng Giang”. Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Bài thơ được trích từ tập “Lửa thiêng”, được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc. Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp …. Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. “Tràng giang” là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm “ang” đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ “tràng giang” mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng. Tứ thơ “Tràng giang” mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại. Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài”. Trước cảnh “trời rộng”, “sông dài” sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm “bâng khuâng” và nhớ. Từ láy “bâng khuâng” được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng. Và con “sông dài”, nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc. Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng “điệp điệp”, nước “song song” ấy là một “con thuyền xuôi mái”, lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng “tràng giang” dài và rộng bao la không biết đến nhường nào. Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách “thuyền về nước lại”, nghe sao đầy xót xa. Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi “sầu trăm ngả”. Từ chỉ số nhiều “trăm” hô ứng cùng từ chỉ số “mấy” đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn. Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: “Củi một càng khô lạc mấy dòng”. Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. “Một” gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, “cành khô” gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, “lạc” mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên “mấy dòng” nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi. Nét đẹp cổ điển “tả cảnh ngụ tình” thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói “Củi một cành khô” thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng. Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Hai từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. “Lơ thơ” gợi sự ít ỏi, bé nhỏ “đìu hiu” lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh “cồn nhỏ”, gió thì “đìu hiu”, một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi “đâu đó”, âm thanh xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi “đâu” như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể là “đâu có”, một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên. “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.” “Nắng xuống, trời lên” gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. “sâu chót vót” là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với “sông dài, trời rộng”, còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: “bến cô liêu”. Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người thì buồn tẻ, chán chường với “vãn chợ chiều”, mọi thứ đã tan rã, chia lìa. Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn. Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu: Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng, Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cần gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là “hàng nối hàng”. Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là “bờ xanh tiếp bãi vàng” như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết: Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật. Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. “…không…không” để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào. Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Bút pháp chấm phá với “mây cao đùn núi bạc” thành “lớp lớp” đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ: Mặt đất mây đùn cửa ải xa. Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc. Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng “cánh chim” và “bóng chiều”, vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển. Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại: Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. “Dợn dợn” là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước. Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” của Thôi Hiệu. Xưa Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn, mà nhớ, còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó đã sâu sắc lắm rồi. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay. Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim… Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường. Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như “sâu chót vót”, dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được. Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất “Huy Cận”, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.
Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ Tràng Giang – Huy Cận
2,377
Phân tích vẻ đẹp của anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long Hướng dẫn Phan tich ve dep cua anh thanh nien trong Lang le Sa pa – Đề bài: Phân tích vẻ đẹp của anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long. Khi nói đến cái lặng im và lặng lẽ của Sa Pa thì người ta sẽ nghĩ ngay đến việc nghỉ ngơi. Nhưng Nguyễn Thành Long lại cho ta biết về những con người đang âm thầm, lặng lẽ cống hiến hết sức mình cho đất nước, để rồi ông viết nên Lặng lẽ Sa Pa. Anh thanh niên trong truyện ngắn này là người tiêu biểu, đại diện cho lớp người lao động thầm lặng ấy. Anh không xuất hiện từ đầu tác phẩm, không trực tiếp nhận xét về bản thân mình. Nguyễn Thành Long đã cho anh thanh niên – nhân vật chính của tác phẩm – tự bộc lộ vẻ đẹp của mình. Qua lời giới thiệu của bác lái xe: anh sống cô độc một mình trên đỉnh Yên Sơn cao hai ngàn sáu trăm mét, làm công tác khí tượng kiêm vật ụ địa cầu, sống giữa rừng xanh, mây trắng, bốn bề chỉ toàn là cỏ cây. Dường như người đọc không thể hình dung một cách cụ thể con người của anh. Nhưng khi anh xuất hiện, ông họa sĩ sau khi nghe lời giới thiệu thì bỗng như đứng sững sờ, xúc động khi thấy “người con trai bé nhỏ, nét mặt rạng ngời”. Anh thanh niên quả là một người đầy bản lĩnh, có như thế thì mới dám sống và làm việc ở một nơi thiếu bóng người như thế. Anh còn bảo: “Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”. Công việc tuy vất vả nhưng anh thanh niên đã vượt qua tất cả và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Cuộc sống của anh hòa vào cuộc sống của mọi người. Anh rất vui và tự hào khi mình đã góp phần phát hiện một đám mây khô giúp không quân ta bắn hạ máy bay của Mĩ. Những công việc tưởng chừng như đơn giản và thầm lặng ấy của anh đã góp phần rất lớn trong việc đự báo thời tiết để sản xuất. Nhờ hăng say trong công việc, anh không thấy cô đơn khi làm việc một mình ở vùng cao hẻo lánh và cảm thấy vui khi hoàn thành tốt công việc của mình. Anh còn là một người hiếu khách: rót nước mời ông họa sĩ và cô kĩ sư, cắt hoa tặng cô gái và tặng một làn trứng cho bác lái xe, ông họa sĩ và cô gái trẻ. Những món quà ấy tuy không đáng là bao nhưng thấm đượm tình nghĩa, giàu lòng hiếu khách. Anh thanh niên không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, quan tâm đến người khác, anh còn có một lối sống ngăn nắp, mẫu mực. Bác họa sĩ lấy làm ngạc nhiên khi bước vào nhà của anh. Trước khi đến đây, bác đã tưởng tượng ra một căn nhà chưa kịp quét, một tấm chăn chưa kịp gấp nhưng hiện ra trước mắt bác lại là một căn nhà ba gian sạch sẽ, tất cả mọi thứ được để ngăn nắp. Anh hái hoa tặng khách. Hoa anh trồng đang khoe sắc. Nào hoa đơn, thược dược, và các loại rau. Điều đó đã làm những vị khách mới này bất ngờ. Ngoài những công việc này anh còn nghiên cứu sách báo. Anh có thể dùng số tiền mua sách vở cho việc sắm sửa các vật dụng khác phục vụ cho cuộc sống của mình. Nhưng anh mừng quýnh lên với những cuốn sách anh nhờ bác lái xe mua hộ. Và anh không hề cảm thấy cô đơn vì đã có sách làm bầu bạn. Anh nói với cô kĩ sư trẻ: “Lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà”. Bởi vậy, anh không cảm thấy cô đơn khi sống một mình ở vùng cao hẻo lánh. Dù được nhìn qua suy nghĩ của ông họa sĩ, cô kĩ sư nhưng chúng ta cũng hình dung được những nét đẹp đáng quí ở anh thánh niên. Anh có một cuộc sống thật đáng sống và một tâm hồn phong phú. Anh luôn tạo ra cái đẹp ở quanh mình, dù đó là vùng cao xa xôi. Anh thanh niên là một hình tượng điển hình cho chúng ta học tập. Qua câu chuyện, Nguyễn Thành Long muốn nhắn nhủ chúng ta hãy biết sống vì mọi người và sống hữu ích cho cuộc đời. Hãy làm những thanh niên tình nguyện, những cán bộ tình nguyện công tác ở vùng cao, đem tài năng của mình để phục vụ đất nước. Đây là vẻ đẹp của người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng trong cuộc sống.
Phân tích vẻ đẹp của anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
867
Phân tích vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều Hướng dẫn Đề bài: Phân tích vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc ta. Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm “Truyện Kiều” – kiệt tác số một của văn học trung đại Việt Nam. Có lẽ đoạn thơ “Chị em Thuý Kiều” trích trong tác phẩm là những vần thơ tuyệt bút. Chỉ bằng 24 câu thơ lục bát, Nguyễn Du đã miêu tả cả tài, sắc và đức hạnh của hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều với tất cả lòng quý mến, trân trọng của nhà thơ. Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” nằm trong phần: “Gặp gỡ và đính ước”, sau phần giới thiệu gia cảnh gia đình Thuý Kiều. Với nhiệt tình trân trọng ngợi ca, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ cổ điển, lấy những hình ảnh thiên nhiên để gợi, tả, khắc hoạ vẻ đẹp chị em Thuý Kiều thành những tuyệt sắc giai nhân. Trước hết, Nguyễn Du cho ta thấy vẻ đẹp bao quát của hai chị em Thuý Kiều trong bốn câu đầu: Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân. Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười. Nhà thơ dùng từ Hán Việt “tố nga” chỉ những người con gái đẹp tinh tế để gọi chung hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều. Hai chị em được ví von có cốt cách thanh cao như hoa mai, có tâm hồn trong sáng như tuyết trắng. Mỗi người có vẻ đẹp riêng và đều đẹp một cách toàn diện. Từ cái nhìn bao quát ấy, nhà thơ đi miêu tả từng người. Bằng nghệ thuật ước lệ tượng trưng, liệt kê, nhân hoá, tác giả miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân là vẻ đẹp trang trọng, quý phái, phúc hậu: Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười, ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Vẻ đẹp của Thuý Vân có sự hoà hợp với tự nhiên, như ngầm dự báo trước tương lai êm ấm, bình lặng trong cuộc đời nàng. Tác giả dùng thủ pháp đòn bẩy, tả khách hình chủ, tả Thuý Vân trước rồi mới tả Thuý Kiều. Vân đã đẹp, Kiều càng muôn phần đẹp hơn. Thuý Kiều lại có nhan sắc “ sắc sảo mặn mà”. Kiều “sắc sảo” về trí tuệ, “mặn mà” về tâm hồn. Đặc biệt, vẻ đẹp ấy thể hiện qua đôi mắt “làn thu thuỷ nét xuân sơn”. Đôi mắt chính là cửa sổ tâm hồn, đôi mắt Kiều trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân. Nếu vẻ đẹp của Thuý Vân được thiên nhiên tạo hoá sẵn sàng nhường nhịn thì với Thuý Kiều, vẻ đẹp ấy lấn át cả thiên nhiên, khiến cho thiên nhiên ấy phải đố kị, ghen ghét: “ Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn, Làn thu thuỷ, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” Nếu như nhan sắc của Thuý Kiều khiến cho nghiêng thành đổ nước, không ai sánh bằng thì tài năng của nàng may ra mới có người thứ hai. “Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai, Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm” Thuý Kiều thông minh do thiên bẩm nên tất cả những môn nghệ thuật: thi hoạ, ca ngâm, nàng đều rất điêu luyện, đặc biệt là tài gảy đàn: “Cung thương làu bậc ngũ âm”. Nàng không chỉ giỏi về âm luật mà còn biết sáng tác. Khúc nhạc “Bạc mệnh” mà nàng sáng tác làm cho người nghe phải rơi lệ. Những câu thơ cuối khái quát về cuộc sống đức hạnh của chị em Thuý Kiều: “Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai” Hai chị em sống trong môi trường gia giáo, nề nếp, tránh xa những chuyện thị phi ong bướm ngoài đời. Đoạn thơ “Chị em Thuý Kiều” đã tái dựng tài tình chân dung hai trang tuyệt sắc giai nhân Thuý Vân, Thuý Kiều bằng nhiều biện pháp ẩn dụ, tượng trưng, hình ảnh ước lệ, từ ngữ trong sáng, giàu sức gợi. Qua chân dung hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều, nhà thơ Nguyễn Du đã bộc lộ thái độ trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ. Đó chính là một trong những biểu hiện rõ nét của tư tưởng nhân đạo Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”. Nguồn Edufly
Phân tích vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều
767
Phân tích vẻ đẹp của con sông Hương Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp của con sông Hương Bài làm I. Mở bài Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều hình vực. Ông chuyện về thể loại bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén vời suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức sâu rộng về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lí, lối hành văn hướng nội súc tích, mê đắm và tài hoa. Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế 1981, in trong tập sách cùng tên của ông. Tác phẩm đã miêu tả cảnh quan thiên nhiên sông Hương, sự gắn bó của con sông với lịch sử và văn hoá của xứ Huế, của đất nước. Qua đó nhà văn bộc lộ Niềm tự hào tha thiết, sâu lắng dành cho dòng sông Hương, cho Xứ Huế thân yêu và cũng là cho đất nước. II. Thân bài Sông Hương nhìn từ cội nguồn là dòng chảy có mối quan hệ sâu sắc vời dãy Trường Sơn. Trong mối quan hệ đặc biệt này, sông Hương tựa như một bản trường ca của rừng già với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội: khi rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, lúc mãnh liệt vượt qua ghềnh thác, khi cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu,, lúc dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Vời cái nhìn được nhân hoá, sông Hương tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man đại vời một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Theo tác giả, nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành mà không chú ý tìm hiểu sông Hương từ nguồn cội, người ta khó mà hiểu hết các vê đẹp trong phần tâm hồn sâu thẳm của dòng sông mà chính nó đã không muốn bộc lộ. Như vậy, ở thượng nguồn, sông Hương có thể chất mạnh, toát lên về đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại, đầy cá tính. Sông Hương khi chảy về kinh thành Huế lại mang nhiều vẻ đẹp đa dạng, gắn bó với đặc trưng văn hoá, không gian kinh thành Huế.Trước khi trở thành người tình dịu dàng và chung thuỷ của cố đô, sông Hương đã trải qua một hành trình đầy gian truân và nhiều thử thách. Trong cái nhìn tinh tế và lãng mạn của tác giả, toàn bộ thuỷ trình của dòng sông tựa như một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của người con gái trong một câu chuyện tình yêu nhuốm màu cổ tích. Vừa mạnh mê vừa dịu dàng, sông Hương có lúc “mềm như tấm lụa” khi qua Vọng Cảnh. Tam Thai, Lựu Bảo; có khi ánh lên “những phản quang nhiều màu sắc sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” lúc qua những dãy đồi núi phía tây nam thành phố và mang vẻ đẹp trầm mặc khi qua bao lăng tẩm, đền đài mang niềm kiêu hãnh âm u được phong kín trong những rừng thông u tịch cho đến lúc bừng sáng, tươi tắn và trẻ trung khi gặp “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”… Hai bút pháp kể và tả được kết hợp nhuần nhuyễn và tài hoa trong.đoạn văn đã làm nổi bật một sông Hương đẹp bởi phối cảnh kì thú giữa nó với thiên nhiên xứ Huế phong phú mà hài hoà. Sông Hương khi chảy trong Huế, như đã tìm thấy chính mình khi gặp thành phố thân yêu, sông Hương “vui tươi hắn lên giữa những biến bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long”, dòng sông “kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc”, rồi “uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến” khiến dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói là của tình yêu”. Nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình, sông Hương cũng giống sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa- pét,… nhưng trong cách biểu đạt tài hoa của tác giả, sông Hương được cảm nhận với nhiều góc độ: nhìn bằng con mắt của hội hoạ, sông Hương và những chi lưu của nó tạo những đường nét thật tinh tế làm nên về đẹp cổ kính của có đô; qua cách cảm nhận âm nhạc, sông Hương “đẹp như điệu Slow” chậm rãi, sâu lắng, trữ tình và, vời cái nhìn đắm say của một trái tim đa tình, sông Hương là người tình dịu dàng và chung thuỷ. Có thể nói, nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của đoạn văn là tình yêu say đắm với dòng sông được thể hiện bằng tài năng của một cây bút giàu trí tuệ, tổng hợp từ một vốn hiểu biết sâu rộng về văn hoá, lịch sử, địa lí và văn chương cùng một văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa. III. Kết Bài Trích đoạn bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông đã gợi ra vẻ đẹp của Huế, của tâm hốn người Huế qua sự quan sát sắc sảo của HPNT về dòng sông Hương. HPNT xứng đáng là một thi sĩ của thiên nhiên, một cuốn từ điển sống về Huế, một cây bút giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Bài kí góp phần bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào đối với dòng sông và cũng là với quê hương đất nước. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích vẻ đẹp của con sông Hương
993
Phân tích vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều qua đoạn trích cùng tên trích Truyện Kiều Nguyễn Du Hướng dẫn Chị em Thúy Kiều – một vẻ đẹp chưa từng có ở trên đời Mở bài: Truyện Kiều là một kiệt tác văn học của đại thi hào Nguyễn Du, được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian, trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần dân tộc ta. Đoạn trích Chị em Thúy Kiều nằm ở phần mở đầu của Truyện Kiều, giới thiệu gia cảnh nhà Vương viên ngoại. Sau bốn câu thơ nói về gia cảnh gia đình nhà họ Vương (bậc trung lương, con gái út là Vương Quan) tác giả đã dành 24 câu thơ để nói về vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân. Thân bài: Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du giới thiệu khái quát chị em Thúy Kiều: “Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân Mai cốt cách, tuyết tinh thân Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”. Hai câu thơ đầu xác định lứa tuổi và vị trí hai chị em. “Tố nga” có nghĩa là cô gái đẹp. Đó không những là cái đẹp của lứa tuổi mà còn là cái đẹp của nhan sắc yêu kiều. Tiếp đến, bằng bút pháp ước lệ, tác giả gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng của hai người thiếu nữ: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Thúy Kiều và Thúy Vân được miêu tả là người có cốt cách thanh cao, đẹp đẽ như dáng mai. Không những thế, tâm hồn hai nàng trong sạch và tinh khôi như tuyết trắng. Thủ pháp ước lệ gợi cho người đọc hai hình dung tuyệt đẹp cả về hình dáng lẫn tâm hồn. Vẻ đẹp ấy đạt đến chuẩn mực mà xã hội phong kiến xưa cần có. Một vẻ đẹp hài hòa và toàn vẹn “mười phân vẹn mười”. Dù là xinh đẹp hay kiều diễm đến mức nào thì cũng phải có giới hạn bởi dù sao Thúy Kiều Và Thúy Vân là con người chứ không phải là tiên nữ giáng trần. Thế nhưng, ở đây, Nguyễn Du muốn phá vỡ giới hạn đó. Ông muốn tạo ra một ngoại lệ, đưa vẻ đẹp của hai nàng đến độ tuyệt mĩ, hiếm có. “Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”. Qua bốn câu thơ, Thúy Vân hiện lên với vẻ đẹp đằm thắm lạ thường. Nàng có khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu (khuôn trăng đầy đặn), với nét ngài nở nang. Nụ cười của nàng rạng rỡ như đóa hoa đương thì đậm sắc trong vườn xuân (hoa cười). Giọng nói của nàng trong trẻo như tiếng ngọc ngà, cẩm thạch (ngọc thốt) biết bao mê li. Cử chỉ, hình dung đoan trang, thùy mị khiến cho người nhìn, người nghe càng thêm yêu mến trong lòng. Mái tóc nàng óng mượt và mềm mại như mây bay gió thổi. Làn da mịn màng, trắng đẹp như tuyết trắng non cao. Thật là càng nhìn càng thấy đắm say. Vẻ đẹp ấy làm cho đất trời phải thua, phải nhường, phải khiêm cung cúi đầu chào đón. Một vẻ đẹp tuyệt sắc nhưng điềm đạm, dự báo mọt tương lai êm đềm, hạnh phúc sẽ đến với nàng. Đó là một vẻ đẹp trang trọng, cao sang của các công nương quý tử chỉ có thể có ở chốn lầu vàng gác ngọc. Thế nhưng, hoàn cảnh của Thúy Vân hết sức bình thường. Nàng là con dân một nhà thường thường bậc trung không có gì nổi bậc. Đó là một vẻ đẹp trời đất hợp duyên mà có, tạo hóa ban tặng, là thành quả của tổ tiên nhân đức nhiều đời tích tụ mà thành. Xưa nay ta chưa từng thấy tiên nữ, nay đọc Truyện Kiều mà được gặp tiên nữ vậy. Thật là một vẻ đẹp hiếm có ở trên đời. Người đọc càng bất ngờ hơn nữa khi đọc bốn câu thơ tiếp theo miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều. Tưởng rằng người đẹp đến như Thúy Vân sẽ không thể nào có người đẹp hơn được nữa. Thế nhưng, dụng ý của Nguyễn Du thực chất là lấy vẻ đẹp của người em Thúy Vân làm cái nền để cho vẻ đẹp của người chị Thúy Kiều tỏa sáng, lung linh giữa đất trời: “Kiều càng sắc xảo, mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm. liễu hờn kém xanh”. Vẻ đẹp của Thúy Kiều hiện lên cái nền của Thúy Vân. Nguyễn Du đã rất tài tình khi tạo được một “lực đẩy”, tiếp tục cho người đọc chiêm ngưỡng hai tuyệt phẩm của đất trời. Không giống như Thúy Vân, Thúy Kiều có mang vẻ đẹp sắc xảo mặn mà hơn nhiều lần. Sắc xảo là cái đẹp của tư dung thể hiện qua khuôn mặt, ánh mắt, giọng nói,… “Mặn mà” là cái đẹp của tâm hồn vừa nồng thắm của cung cách vừa sâu sắc của trí tuệ và tài năng. Ánh mắt nàng trong trẻo như mặt nước hồ thu (làn thu thủy) trong ngày gió lặng. Chân mày của nàng cong vút như dáng núi mùa xuân (nét xuân sơn) tràn đầy sức sống. Toàn thân nàng toát lên sức cuốn hút đến mê mị lòng người. Vẻ đẹp ấy đã khiến cho hoa ghen tức vì “thua thắm”, liễu hờn giận vì “kém xanh”. Nguyễn Du đã dành những từ ngữ đẹp nhất của mình dành tặng ca ngợi vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều. Đó là một vẻ đẹp toàn bích, trác việt, ngoại hạng. Và còn hơn thế nữa, đó là một vẻ đẹp chưa từng có ở trên đời: “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”. Nếu so về tài năng, có thể tìm thấy người thứ hai; còn vẻ đẹp của nàng là duy nhất. Một vẻ đẹp vượt qua mọi giới hạn mà có lẽ phải có duyên cơ ta mới được chiêm ngưỡng. Thế nên, vẻ đẹp độc nhất vô nhị ấy khiến cho đất trời nảy sinh đố kị, lòng người ganh đua. Điều đó dự báo một cuộc đời trắc trở, đầy sống gió mà Kiều sẽ trải qua. Cuộc đời vốn đa đoan, tài năng và xinh đẹp không phải là tội lỗi nhưng lòng người khó đoán, mệnh số trắc trở. Quân tử đa nan, hồng nhan bạc mệnh cũng là lẽ thường tình. Đó cũng là điều mà tác giả muốn gửi gắm khi xây dựng nhân vật này. “Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”. Thúy Kiều sinh ra vốn đã là người thông minh. Nhờ rèn luyện mà nàng cảng trở nên tinh tế, tài năng phát lộ ra ngoài. Những thú tiêu dao cao quý của người xưa (cầm, kì, thi, họa) nằng đều thành thạo hơn người. Âm luật xưa nay nàng đều thấu rõ. Lại thêm có tài trích âm tạo nên bản “Bạc mệnh” vô cùng tha thiết đến sầu não nhân gian. Có thể nói, nàng có tất cả các kĩ năng về nghệ thuật và ở lĩnh vực nào nàng cũng đạt đến tuyệt đỉnh. Phải chăng, Nguyễn Du vì quá yêu mến nhân vật của mình mà đã dành cho nàng sự tôn vinh tột bậc đến thế? Trong sử sách xưa nay cũng có lắm người đẹp nhưng xinh đẹp. Nhưng xinh đẹp, tài năng và tâm hồn cao quý như Thúy Kiều thì chưa từng thấy bao giờ. Nhân vật Thúy Kiều kiểu nhân vật lý tưởng mà Nguyễn Du đã cố công xây dựng. Quan nhân vật, Nguyễn Du đề cao giá trị con người thường dân trong xã hội phong kiến. Đặc biệt là người phụ nữ. Đó là những con người có nhân phẩm cao đẹp, tài năng xuất chúng, khát vọng cao vời, ý thức cao độ về thân phận cá nhân,…nhưng lại không được nhận lấy cuộc sống xứng đáng mà đáng lẽ ra phải có. Đoạn thơ Chị em Thúy Kiều sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người, khắc họa rõ nét chân dung chị em Thúy Kiều. Đoạn trích còn là bài ca ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh là biểu hiện của cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du. Bài viết liên quan: Cảm nhận vẻ đẹp của Thúy Kiều qua đoạn thơ: Kiều càng sắc sảo mặn mà…
Phân tích vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều qua đoạn trích cùng tên trích Truyện Kiều Nguyễn Du
1,487
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp của người Hà Nội qua nhân vật bà Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội Bài làm Nguyễn Khải là nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm “Mùa lạc”,“Một chặng đường”,“Tầm nhìn xa”. Trước năm 1978, tác phẩm của Nguyễn Khải là cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, luôn khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ – mới, tốt – xấu, ta – địch. Từ năm 1978 trở về sau, tác phẩm của ông là cái nhìn trăn trở, chiêm nghiệm, cảm nhận cái hiện thực xô bồ, hối hả, đổi thay nhưng cũng đầy hương sắc. Chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội. Nhà văn nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, quá khứ dân tộc, gia đình và sự tiếp nối thế hệ. Từ đó nhà văn khẳng định những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Nhân vật bà Hiền trong tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp cận ấy của nhà văn. Phân tích truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải Tác phẩm “Một người Hà Nội” tiêu biểu cho các tác phẩm của Nguyễn Khải sau giai đoạn 1978, vẻ đẹp của hình tượng của cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất diệt của Hà thành. Qua nhân vật này, nhà văn Nguyễn Khải đã nói lên biết bao nhiêu điều có tính triết lý về sự thay đổi của thời gian, không gian nhưng vẻ đẹp của con người và vốn văn hóa cùng tính cách người Hà Nội mãi là giá trị tinh thần không thay đổi. Nhân vật cô Hiền vốn xuất thân trong một gia đình giàu có, lương thiện, được dạy dỗ theo khuôn phép nhà quan, thời trẻ là một thiếu nữ xinh đẹp, thông minh, mở xalông văn chương để giao lưu rộng rãi với giới văn nghệ sĩ Hà thành. Cô là con người trí thức, hiểu biết rộng, là con người có “bộ mặt tư sản”, một cách sống rất tư sản: “Ở trong một tòa nhà rộng, tọa lạc ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung đền Ngọc Sơn”. Cái mặc cũng sang trọng quá: “Mùa đông ông mặc áo Ba-đờ-xuy, đi giày da, bà mặc áo Măng-tô cổ lông, đi giày nhung đính hạt cườm”. Cái ăn cũng không giống với số đông: “Bàn ăn trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa nhỏ, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản, và từng người ngồi đúng chỗ quy định”. Đây là một lối sống nền nếp, lịch lãm, nhìn thì cứ ngỡ là tư sản nhưng thực chất cô Hiền không phải là tư sản bởi vì “Cô không bóc lột ai cả thì làm sao gọi là tư sản”. Cô làm ăn lương thiện với cửa hàng hoa giấy do chính tay tự làm và các con phụ giúp. Trong quan hệ với người làm, chủ và tớ “dựa vào nhau mà sống”. Tình nghĩa như người trong họ. Đây chính là vẻ đẹp của người lao động chân chính, có nhân có nghĩa. Vẻ đẹp của cô Hiền được miêu tả trong nhiều thời điểm khác nhau của lịch sử. Nhân vật lại có những biểu hiện ứng xử thể hiện cá tính đặc biệt nhất quán. Khi hòa bình lập lại 1955, nhân vật “Tôi” từ kháng chiến trở về. “Hà Nội nhỏ hơn trước, vắng hơn trước”. Người thì tìm những vùng đất mới để làm ăn, sinh sôi. Riêng gia đình cô Hiền vẫn ở lại Hà Nội “Họ không thể rời xa Hà Nội, không thể sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất khác”. Đây chính là sự gắn bó máu thịt, tình yêu của cô đối với Hà Nội. Hay sau kháng chiến chống Mỹ, mỗi bận nhân vật “tôi” từ Sài Gòn trở về Hà Nội, bà băn khoăn hỏi “Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá như thế nào, dân tình thế nào?”. Cứ ngỡ đó chỉ là câu hỏi xã giao nhưng thực chất là chứa đựng tất cả những đau đáu, phấp phỏng và hi vọng về tương lai Hà Nội. Nhân vật bà Hiền mang vẻ đẹp thanh lịch của người đất kinh kỳ. Đó là vẻ đẹp có trong bản thân nhân vật và được nhân vật không ngừng ý thức vun đắp. Đúng như câu ca xưa viết về con người Hà Nội: “Chẳng thơm cũng thể hoa lài Chẳng lịch cũng thể con người Tràng An” Vẻ đẹp thanh lịch đó được thể hiện ở cách bà nuôi dạy con, uốn nắn cho chúng từ thói quen nhỏ nhất như cách cầm bát đũa, cách múc canh, cách nói chuyện trong bữa ăn, cách đi đứng… Điều này thật khác với cách sinh hoạt của gia đình nhân vật xưng tôi “Cứ việc sục muôi, sục đũa vào, vừa ăn vừa quát mắng con cái, nhồm nhoàm, hả hê, không phải theo một quy tắc nào cả”. Với bà Hiền đây không phải là chuyện sinh hoạt vặt vãnh mà là văn hóa sống, văn hóa ứng xử của người Hà Nội “Là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện buông tuồng”. Bà còn nói làm người Hà Nội thì phải “Biết lòng tự trọng, biết xấu hổ”. Đây không phải là biểu hiện của sự kỹ tính mà thể hiện nét tinh tế của một người có văn hóa. Vẻ đẹp thanh lịch ấy còn thể hiện qua lối sống, qua những thói quen lịch lãm rất Hà Nội. Dường như sự lịch lãm ấy như dòng máu chảy trong huyết quản của bà qua bao thời gian. Thời thiếu nữ thì mở xalông văn chương, khi về già thì tĩnh tâm hưởng ngoạn cái đẹp, trang trọng giữa nhịp sống xô bồ, náo nhiệt với hình ảnh ngồi “Tỉa thủy tiên mỗi khi xuân về”, qua không khí căn phòng khách cổ kính, trang trọng với “Bình phong bằng gỗ chạm… Cái sạp gụ chân quỳ … Cái lư hương đời Hán”. Tất cả đều tinh tế và quý phái đậm hồn Hà Nội. Sau chiến tranh, giữa đời thường là vẻ đẹp của một bà Hiền bình dân như bao con người khác “Áo bông ngắn, quần thâm, đi dép hoặc đi guốc, khăn len buộc đầu”. Nhưng điều đáng quý ở bà là quan niệm sống “Xã hội lúc nào cũng phải có một gia tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị”. Đây là một quan niệm đẹp về cái chuẩn thanh lịch. Khác với kiểu buông tuồng. Bữa tiệc chiêu đãi hai anh lính từ chiến trường miền Nam trở về đã giúp tác giả nói lên được vẻ đẹp ấy, đó là vẻ đẹp thanh lịch đúng chuẩn của con người Hà Nội. “Các ông mũ dạ, áo ba-đờ-xuy, cổ thắt caravat, các bà lược giắt trâm cài hoa hột lấp lánh, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc, đeo dây đi lại uyển chuyển”. Vẻ đẹp này không chỉ là vẻ đẹp một thời mà là cả một đời, nó sẽ là vẻ đẹp trầm tích văn hóa cho một thời vàng son của lịch sử. Ngoài vẻ đẹp thanh lịch quý phái, ở bà còn toát lên vẻ đẹp của bản lĩnh cá nhân, bản lĩnh sống của người Hà Nội, hiểu biết, nhận thức về cuộc sống hết sức thực tế. Là người phụ nữ nhưng bà mạnh mẽ, chủ động, tự tin, dám là chính mình. Trong hôn nhân bà chủ động lấy một ông giáo tiểu học hiền lành chăm chỉ. Bà nào chọn ai trong số đám văn nhân một thời vui chơi? Sự kiện ấy làm cả Hà Nội “kinh ngạc”. Bà tính toán việc sinh con đẻ cái sao cho hợp lý, đảm bảo tương lai con cái. Nếu trong thời kỳ phong kiến vai trò của người phụ nữ bị xem nhẹ thì trong xã hội hôm nay, bà Hiền luôn đề cao người phụ nữ “Người đàn bà không là nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao”. Bà cũng quyết định luôn cái kinh tế gia đình trong cái buổi giao thời đầy phức tạp. Ông chồng định mở tiệm máy in trong khi nhà nước đang có ý “không thích cá nhân làm giàu”. Bà nhanh chóng cản ngăn “Ông muốn làm ông chủ ở cái chế độ này à?”. Đây chính là cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt của con người biết nhìn xa trông rộng. Bản lĩnh ở bà còn là tính thẳng thắn. Bà bày tỏ rất thẳng nhận xét của mình về cuộc sống với bao vấn đề. Theo bà “Chính phủ can thiệp quá nhiều vào việc của dân quá, nào là phải tập thể dục mỗi sáng, sinh hoạt văn nghệ mỗi tối”. Bà cũng nhận ra cái gì đó không phù hợp trong cách nghĩ “không thích cá nhân làm giàu”. Đây chính là thái độ nói thẳng nói thật của con người trung thực, có cái nhìn sâu sắc với thời cuộc. Vẻ đẹp của bà Hiền còn là vẻ đẹp của một nhân cách sống cao thượng, vẻ đẹp của con người Hà Nội luôn coi lòng tự trọng là thước đo phẩm giá của mình. Lòng tự trọng ấy được thể hiện rõ nét nhất qua câu chuyện của bà về hai người con đi bộ đội. Khi anh Dũng xin đi bộ đội vào Nam chiến đấu, bà nói với nhân vật “tôi”: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Đến lượt thằng con thứ hai lên đường bà cũng nói “Tao không khuyến khích cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm con đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”. Bà muốn sự công bằng như bao bà mẹ khác “Tao cũng muốn sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm gì”. Là người mẹ ai mà không yêu con, không muốn con gặp gian nguy, bất trắc nhưng ở đây bà Hiền muốn dạy con đừng bao giờ sống đớn hèn, sống bám vào sự hi sinh của người khác là sống đáng hổ thẹn. Lòng tự trọng không cho phép con bà sống hèn nhát, ích kỷ. Ở đây bà còn hiện lên vẻ đẹp của người mẹ thời chiến có ý thức trách nhiệm với đất nước với dân tộc, biết sẻ chia trước đau thương mất mát của biết bao người mẹ khác. Lòng tự trọng giúp con người ta sống có trách nhiệm với cộng đồng. Ở bà Hiền, lòng tự trọng của cá nhân đã hòa vào lòng tự trọng của dân tộc. Đây là một cách ứng xử rất nhân bản. Bà còn là con người luôn lưu giữ những niềm tin vào cuộc sống. Dù sống trong cơn lốc thị trường làm xói mòn đi nếp sống của người Hà Nội ngàn năm văn vật nhưng nó không làm lay chuyển được ý thức của con người luôn tin vào giá trị văn hóa bền vững của Hà Nội không thể mất đi. Bà quan niệm rằng “Với người già, bất kể ai, cái thời đã qua luôn là thời vàng son, mỗi thế hệ đều có thời vàng son của họ. Hà Nội thì không thế. Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mọi lứa tuổi”. Đấy chính là niềm tin mãnh liệt vào những giá trị cổ truyền. Nhà văn còn đem hình ảnh cây si cổ thụ vào phần cuối của truyện với thái độ ngợi ca nhân vật với sự trân trọng những giá trị tâm linh. Cây si bật gốc đổ lên mái đền Ngọc Sơn nhưng nhờ vào tình yêu và niềm tin của con người mà nó đã sống lại. Sự sống lại cây cổ thụ là niềm lạc quan tin tưởng của tác giả vào sự phục hồi những giá trị tinh thần của Hà Nội. Những giá trị văn hóa bền vững sẽ không mất đi, nhà văn ao ước những giá trị ấy sẽ hóa thân vào hiện tại “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kỳ lung linh chói sáng những ánh vàng”. Làm nên thành công của tác phẩm nói chung và xây dựng nhân vật bà Hiền nói riêng là nhờ vào ngôn ngữ kể chuyện đặc sắc, có tính cá thể hóa. Nhà văn ít miêu tả, chủ yếu là kể, kể bằng quan sát, phân tích và bình luận sắc sảo giàu ý nghĩa. Giọng điệu trần thuật mang tính trải đời, tự nhiên, trĩu nặng suy tư, giàu chất khái quát, đa thanh, mang đậm yếu tố tự truyện qua “cái tôi”, (giọng kể tự tin xen lẫn hoài nghi, tự hào xen lẫn tự nhiên tăng tính chân thật, khách quan.) Qua nhân vật bà Hiền, nhà văn khẳng định sức sống bền bỉ của các giá trị văn hóa mang nét đẹp Hà Nội. Qua đó tác giả gửi gắm niềm thiết tha gìn giữ các giá trị ấy cho hôm nay và cho cả mai sau. Từ đó chúng ta thêm yêu quý, tự hào về văn hoá, đất nuớc, con người Việt Nam trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và nối tiếp thế hệ. Nhân vật bà Hiền là “Một người Hà Nội” mãi mãi là hạt bụi vàng trong bể vàng trầm tích của văn hóa xứ sở.
Phân tích vẻ đẹp của người Hà Nội qua nhân vật bà Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội
2,361
Phân tích vẻ đẹp của người lính Tây Tiến Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp của người lính Tây Tiến Trong nền văn học nước nhà, thơ ca Cách Mạng Việt Nam luôn được coi là tài sản vô giá của dân tộc, bởi chúng phản ánh cả một giai đoạn lịch sử đấu tranh hào hùng của đất nước và con người Việt. Đặc biệt trong thời kì kháng chiến, với cảm hứng yêu nước, thi ca đã thực sự hun đúc nên tượng đại của những chiến sĩ anh hùng, những “Thạch Sanh của thế kỉ XX”. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trở thành hình tượng đẹp nhất, đáng tự hào nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Họ là những người sống có lí tưởng sẵn sàng lấy máu mình để tô thắm lá cờ cho Tổ quốc, đồng thời đó cũng tràn đầy tâm hồn lãng mạn hào hoa. Qua việc tìm hiểu hình ảnh anh bộ đội trong bài thơ “Tây Tiến”, một bài thơ tiêu biểu nhất của Quang Dũng nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung, chúng ta có thể thấy rõ. “Tây Tiến” là tên của một đơn vị bộ đội được thành lập năm 19471947, giữa những ngày đầu vô cùng gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên, trí thức trẻ. Đơn vị này hoạt động chủ yếu trên địa bàn núi rừng miền Tây Bắc sang tới Thượng Lào, có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt- Lào và phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp. Sinh hoạt vô cùng thiếu thốn và gian khổ nhưng lính Tây Tiến vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng. Bài thơ được viết ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây) cuối năm 1948, lúc Quang Dũng rời xa đơn vị chưa lâu, Bài thơ ban đầu có tên là Nhớ Tây Tiến, sau đổi lại là Tây Tiến. Qua nỗi nhớ cảnh vật và con người Tây Tiến, bài thơ bày tỏ niềm ngưỡng mộ những người lính trong kháng chiến chống Pháp và ngợi ca một thời gian khổ mà anh hùng trong lịch sử dân tộc. Nỗi nhớ ấy xuyên suốt cả ba đoạn và bốn câu kết thúc của bài thơ. Trước hết là khổ thơ đầu của bài, Quang Dũng thể hiện sự thể hiện nỗi nhớ của mình về đoàn quân Tây Tiến thông qua nỗi nhớ ấy ta thấy được những hình ảnh bi tráng thể hiện vẻ đẹp của những anh hùng Tây Tiến: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Nỗi nhớ ấy bắt đầu bằng tiếng gọi Tây Tiến ơi. Tiếng gọi đó sao mà nghe tha thiết như thế, nó như vọng vào không gian của con sông Mã, quay ngược lại với những kỉ niệm thời xưa. Một thời đạn bom đó đã để lại nỗi ám ảnh cho những người trực tiếp tham gia chiến đấu. Cách hiệp vần ở những chữ cuối mỗi câu khiến cho câu thơ càng vang xa,ngân mãi trong đêm:” ơi,vơi, hơi”. Nó giống như lúc những anh lính tây tiến trút hơi thở mệt mỏi sau một ngày hành quân. Hai địa danh Sài Khao và Mường Lát hiện lên khắc sâu vào nỗi nhớ của tác giả. Hai địa danh ấy gắn với những cuộc hành quân của đoàn quân tây tiến. “ Đêm hơi” khiến cho độc giả nghĩ tới nhiều sự vật kì vĩ, đêm hơi có thể là đêm đầy sương và hơi sương, đêm hơi còn là đêm của không khí lạnh của rừng sâu, nhưng cũng có thể là sự di chuyển nhẹ nhàng của những chiến sĩ đoàn quân tây tiến hay chính là những hơi sương trong đêm hành quân ấy thể hiện những khó khăn vất vả của đoàn quân. Những khó khăn của những người lính tây tiến lại trở nên đẹp đẽ và nên thơ trong những vần thơ của Quang Dũng. Đó là những gian nan mà những người lính phải trải qua, chính những gian nan đó lại càng tô đậm vẻ đẹp bi tráng của họ… những triền dốc khiến người ta mới nhìn đã thấy ngại, hai từ thăm thẳm trong câu thơ khiến độ hun hút của những con dốc lại càng trở nên nguy hiểm biết bao nhiêu.chưa dừng lại đó,những hình ảnh hun hút, đầu súng của những người lính đang đùa giỡn vấy mây trời. Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Những chi tiết, hình ảnh thơ của tác giả đầy ấn tượng. Sương dày như lấp cả đoàn quân, mưa nhiều đến nỗi làm cho những ngôi nhà như trôi bồng bềnh giữa biển khơi… Nhiều câu thơ sử dụng hàng loạt thanh trắc: “dốc”, “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”… làm hiện lên cái gập ghềnh, thăm thẳm, khúc khuỷu, cheo leo của con đường hành quân. Những độ cao độ sâu ấy được tính bằng ngàn thước, nhấn mạnh vào những gian khổ mà đoàn quân phải vượt qua. Tiếp đó là những chữ dùng rất bạo, nhất là ba chữ “súng ngửi trời” gợi lên độ cao chóng mặt. Hai câu sau có sự phối thanh rất độc đáo. Điệp ngữ “ngàn thước” là một ước lệ nghệ thuật có tính định lượng, khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ, chênh vênh, kì thú của núi rừng miền Tây. Yếu tố tương đồng của điệp ngữ “ngàn thước” và tính chất tương phản của các động từ “lên – xuống”trong hai vế câu đã tạo ra cảm giác về một nét gập đột ngột, dữ dội cho câu thơ, cũng là cách để nhà thơ gợi tả thật tài hoa độ của của dốc, độ sâu của vực: bên này đường lên núi dựng đứng, vút cao; bên kia vực đổ xuống hun hút, hiểm trở. Trong cả câu thơ đặc biệt giàu tính tạo hình và biểu cảm, dốc núi miền Tây được miêu tả hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng đều khắc họa được đồng thời cả sự hiểm trở lẫn vẻ đẹp hùng vĩ, kì thú. Thông qua bức tranh thiên nhiên, có thể thấy vẻ đẹp tâm hồn của những người lính Tây Tiến: họ lạc quan, mạnh mẽ, coi thường mọi gian truân, vất vả; những thử thách của thiên nhiên chỉ càng làm rõ hơn ý chí, sức mạnh, tâm hồn trẻ trung và tư chất nghệ sĩ của họ. Sau những câu thơ hun hút, nhọc nhằn miêu tả dốc núi, câu thơ tả mưa miên man trong bảy thanh bằng, cùng với rất nhiều âm tiết mở; câu thơ đã gợi tả một không gian mênh mang, dàn trải, nhạt nhòa trong mưa “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Dòng thơ mở ra một khoảng không gian bát ngát, câu thơ như bay ngang trời. Ta như hình dung được người lính đang leo lên những cồn mây, một hôm nào đó, dừng chân bên dốc núi phóng tầm mắt nhìn ngang ra xa, Ánh mắt những người lính xa nhà bâng khuâng hướng tới những ngôi nhà bồng bềnh, thấp thoáng, ẩn hiện trong màn mưa hư ảo… Sắc thái phiếm chỉ khiến cụm từ “nhà ai” trở nên mơ hồ, xa xăm. Sắc thái nghi vấn lại gợi nỗi trăn trở trong lòng người. Cả câu thơ chỉ có duy nhất tiếng “nhà” mang thanh huyền như một thoáng trầm lắng, suy tư để rồi sau đó, tất cả những thanh không chơi vơi trong nỗi nhớ. Giữa mưa rừng buốt lạnh, giữa núi rừng mênh mông, ở những địa danh như Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Pha Luông… rất xa lạ, làm tăng thêm ấn tượng về sự hoang sơ, kì vĩ, bí mật của rừng thiêng, hình ảnh ngôi nhà gợi cảm giác ấm áp, nhớ nhung dễ làm xao xuyến lòng người xa quê. Chúng cho biết không chỉ miền đất mà người lính đã đi qua mà khi “vừa mới đọc lên thôi đã thấy mòn chân mỏi gối” (Trần Lê Văn). “Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” “Thác gầm thét” và “cọp trêu người” là hai hình ảnh nhân hóa thể hiện sự dữ dội, hoang sơ đầy bí hiểm của núi rừng miền Tây. Bút pháp đối lập của cảm hứng lãng mạn được sử dụng trong phép đối thanh rất tinh tế ở hai câu thơ này. Nếu câu trên có các tiếng “thác”, “thét” mang thanh trắc ở âm vực cao thì câu dưới là các tiếng “Hịch”, “cọp” cũng mang thanh trắc nhưng lại thuộc âm vực thấp. Và có thể thấy những dấu sắc trong câu trên như gợi âm thanh của tiếng thác nước man dại ở vòm cao thăm thẳm; những dấu nặng liên tiếp trong câu thơ dưới lại như một phỏng tiếng bước chân nặng nề của thú dữ, gợi ra cái thâm u, bí ẩn đầy đe dọa ở vòm tối thấp của núi rừng. “Chiều chiều” và “đêm đêm” là những trạng ngữ chỉ dòng thời gian tuần hoàn, miên viễn, vĩnh hằng. Những sức mạnh thiên nhiên khủng khiếp đã ngự trị núi rừng miền Tây không phải một chiều, một đêm mà là “chiều chiều – đêm đêm” – sự ngự trị muôn đời! Nhưng cũng chính điều này lại càng khiến chân dung người chiến sĩ Tây Tiến thêm hào hùng, mạnh mẽ: họ đã hành quân qua những vùng đất hoang sơ, dữ dội, vắng bóng con người, những vùng đất tưởng như chỉ là vương quốc riêng của heo hút mây trời, của rừng thiêng nước độc; vùng đất ấy nay đã in dấu chân của những người chiến sĩ kiên cường, dũng cảm trong đoàn quân Tây Tiến. Sự vất vả, gian truân cũng như vẻ đẹp trong tâm hồn người lính Tây Tiến đã ít nhiều thể hiện trong những câu thơ miêu tả cảnh thiên nhiên miền Tây và hành trình qua miền Tây, ngoài ra còn có những câu thơ trực tiếp miêu tả hình ảnh người lính cũng như những kỉ niệm của họ trong chặng đường hành quân. Trước hết là một kí ức sâu đậm của Quang Dũng về hình ảnh một người chiến sĩ Tây Tiến trên đường hành quân: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi ” Từ láy “dãi dầu” đã thể hiện tòan bộ những vất vả, nhọc nhằn của các anh khi hành quân qua miền Tây, khi vượt qua những núi cao, vực sâu, thác ghềnh dữ dội, vượt qua những nắng mưa, sương gió miền Tây… Hai câu thơ tựa nhưa một bức kí họa đầy ấn tượng về người lính Tây Tiến. Sự hồn nhiên của người lính được thể hiện qua những giây phút mệt mỏi,gục lên ba lô và ngủ,bỏ lại sau đó những khó khăn vất vả, những hiểm nguy của kháng chiến. Hình ảnh người lính gục lên súng mũ dãi dầu không bước nữa là một hình ảnh đẹp. Câu thơ nhằm nói giảm đi cái chết, cái hi sinh của những người chiến sĩ ấy. Đó là một vẻ đẹp bi tráng, cái hi sinh kia là bị nhưng trong cái bi ấy ta lại thấy một cái tráng lệ vô cùng. Họ có thể hi sinh nhưng trong một tư thế rất nhẹ nhõm, “ bỏ quên đời” những kí ức về những lúc dừng chân mệt mỏi, những kỉ niệm với những buổi chiều và ban đêm với những con thú dữ gầm rú lên, nhớ những đêm mùa nếp xôi ở Mai Châu. Ở đoạn thơ tiếp theo người lính hiện ra với vẻ hồn nhiên, có một đời sống tinh thần cũng vô cùng vui vẻ lạc quan, những hình ảnh liên hoan đời thường, cùng với cô gái Viên Chăn xinh đẹp kiều diễm với tình dân quân thân thiết đẹp sao. Bỏ qua những vất vả những người lính hiện ra với vẻ đẹp oai hùng mà cũng hồn. Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ “Doanh trại” là nơi đóng quân của Tây Tiến cũng là nơi diễn ra lễ hội văn hóa đậm đà tình quân dân. Đồng bào dân tộc đã tụ họp về đây để sinh hoạt và góp vui tinh thần với bộ đội Tây Tiến. Từ “Bừng” gợi cảm giác ấm áp, gợi niềm vui lan tỏa. Đêm rừng núi thành đêm hội. Ngọn đuốc nứa, đuốc lau thành “đuốc hoa” (“Đuốc hoa” là hoa chúc – cây nến đốt lên trong phòng cưới, đêm tân hôn). Ở đây, “đuốc hoa” có ý nghĩa là gợi không khí ấm cúng gợi niềm vui, niềm hạnh phúc trong lòng các chiến sĩ. “Bừng” chỉ ánh sáng của đuốc hoa, của lửa trại sáng bừng lên; cũng còn có nghĩa là tiếng khèn, tiếng hát, tiếng cười nói tưng bừng rộn rã. Có thể hình dung đêm hội mà Quang Dũng viết trên đây như một đám cưới tập thể. Từ “Kìa em” trong câu thơ thứ hai thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của lính Tây Tiến trước vẻ đẹp của cô gái vùng cao trong trang phục “xiêm áo” lộng lẫy cùng dáng vẻ “e ấp” rất thiếu nữ. Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục. Yêu say từ vóc dáng đến trang phục. Chính trang phục truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa của các thiếu nữ Tây Bắc càng tôn vinh lên vẻ đẹp của họ. Quang Dũng không khỏi không thán phục đến ngạc nhiên tr­ước vẻ đẹp ấy. Em trở thành hạt nhân của bức tranh với vẻ đẹp xứ lạ phư­ơng xa. Những thiếu nữ Mường, những thiếu nữ Thái, những cô gái Lào xinh đẹp, duyên dáng “e ấp”, xuất hiện trong bộ xiêm áo rực rỡ. Cũng có thể hiểu người lính đang đóng giả con gái trong những trang phục dân tộc rất độc đáo, tạo tiếng cười vui cho đêm văn nghệ. Ngỡ ngàng nữa là tiếng khèn “man điệu”. Khèn là một loại nhạc cụ của người dân tộc miền núi Tây Bắc còn “man điệu” là một điệu nhạc “lạ” đặc trưng văn hoá của những con người nơi đây. Và hòa vào tiếng khèn ngất ngây ấy là điệu múa Lam vông quyến rũ của những cô gái Lào đã “xây hồn thơ” trong lòng các chàng lính trẻ. Chính cái lạ ấy làm đắm say tâm hồn những chàng trai Tây Tiến gốc Hà Nội hào hoa. Chính trong không khí của âm nhạc, vũ điệu ấy đã chắp cánh cho tâm hồn những ngư­ời lính Tây Tiến thăng hoa, mọi mỏi mệt như bị đẩy lùi, thêm vào đó là lòng yêu đời, yêu miền đất lạ. Chính vì thế mọi cảm giác mỏi mệt, mọi vất vả đều tan biến. Thay vào đó là niềm lạc quan, yêu đời nâng bước họ mạnh mẽ hơn trên con đường hướng về “Viên Chăn xây hồn thơ”. Từ đó, ta có thể thấy được rằng các chiến sĩ của chúng ta dù trong những giờ phút vui vẻ, thoải mái nhất thì tâm hồn của họ vẫn luôn hướng về lí tưởng cách mạng cao đẹp. Bốn câu sau là khung cảnh chia tay trên nền sông nước Tây Bắc vừa thực vừa mộng hoang vắng, tĩnh lặng, buồn thi vị. Cả bốn câu là cảnh sắc Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo:mang, huyền ảo: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa So với bốn câu thơ trên là hình ảnh không khí đêm lễ hội tưng bừng hoà hợp với ánh sáng lung linh và tâm hồn trẻ trung, yêu đời của các chiến sĩ Tây Tiến thì bốn dòng thơ tiếp theo, Quang Dũng đưa người đọc đến với hình ảnh của con người và núi rừng Tây Bắc trong một buổi chiều sương … Một không gian bảng lảng khói s­ương như­ trong cõi mộng cứ thế hiện ra. Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên theo chiều hướng nhẹ hoá. Cái dữ dội, khốc liệt được đẩy lùi đi và thay vào đó là những hình ảnh nhẹ nhàng và thơ mộng. Hình ảnh đầu tiên là hình ảnh chiều sương cho ta thấy nét đặc trưng vốn có của núi rừng nơi đây. Nhưng sương ở đây ko phải là sương lấp, sương che hay sương phủ mà là ”Người đi Châu Mộc chiều sương ấy”. Nó gợi màu sắc bảng lảng, sương khói vừa có nỗi buồn man mác. Đại từ ”ấy” làm rõ nghĩa hơn cho từ chiều sương để nhấn mạnh rằng đây là một buổi chiều sương rất đặc biệt, chiều sương trong nỗi nhớ đã thành kỷ niệm nên tình người cũng man mác, bâng khuâng! Không gian nên thơ ấy làm nền cho ngư­ời thơ xuất hiện: Giữa hình ảnh thiên nhiên Tây Băc hiện lên đầy sức sống và lãng mạn thì hình ảnh con người nơi đây hiện lên mang một vẻ đẹp khỏe khoắn, bất khuất, kiên cường: ”Có nhớ dáng người trên độc mộc”. Điệp ngữ “có thấy – có nhớ” luyến láy như chạm khắc vào lòng người một nỗi nhớ da diết, cháy bỏng khôn nguôi. Độc mộc là một loại thuyền được làm từ thân cây gỗ lớn, dài. Dáng người trên độc mộc ở đây có thể là hình ảnh mềm mại, uyển chuyển của những cô gái Thái, Mèo đang đưa các chiến sĩ vượt sông. Cũng có thể hiểu là dáng hình kiêu dũng của các chiến sĩ Tây Tiến đang chèo chống con thuyền vượt sông, vượt thác dữ tiến về phía trước. Tất cả những hình ảnh ấy đều đã để lại trong lòng của Quang Dũng một hình ảnh khó phai nhoà… Thiên nhiên Tây Bắc vốn nổi tiếng với con sông Mã, một dòng sông đã chứa trong nó biết bao dữ dội. Nhưng ở đây, dòng sông Mã đã hiện lên với sự nhẹ nhàng đến kỳ lạ. Những cánh hoa rừng không bị ”dồi lên dập xuống” mà là “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Từ láy “đong đưa” được sử dụng rất gợi: Cánh hoa rừng như cũng quyến luyến con người. Cánh hoa rừng như bàn tay vẫy chào người lính, tiễn người lính vượt sông đi đánh giặc. “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Không chỉ khó khăn trên chiến trường chiến đấu, những câu chuyện về bệnh tật và nơi khí hậu khắc nghiệt cũng được đưa vào trong thơ của Quang Dũng. Không một chút giấu diễm, sự thiếu thốn hay những căn bệnh như sốt rét. Chính Hữu trong bài thơ “Đồng chí” đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng tráng ướt mồ hôi” Căn bệnh đáng sợ khiến cả binh đoàn bị rụng hết tóc được Quang Dũng khai thác hết sức chân thực của người lính Tây tiến, dù khó khăn khắc nghiệt nhưng tinh thần chiến đấu chưa bao giờ kết thúc. Hình ảnh quân xanh màu lá là những hình ảnh gầy gò ốm nhưng không hề yếu mà vẫn dữ oai hùm. Mắt trừng gợi cho ta liên tưởng đến sự căm thù giặc của những anh hùng tây tiến. Những ánh mắt hiện lên lửa hi vọng và tinh thần chiến đấu oai hùng, không một chút phó mặc cho số phận, cũng có thể đó chính là sự thức trắng không ngủ được vì lo cho biên giới hoặc mở mắt để nhớ những bóng kiều thơm kia..Đó sự hi sinh của những người chiến sĩ ấy, họ phần lớn là những trí thức Hà Thánh ngày đêm nghĩ đến quê nhà với những bóng hồng mà không bao giờ mờ nhạt trong lòng họ.. Đó chính là cái bi của vẻ đẹp người lính. Nhưng nó lại rất tráng vì người ta chết đi vì lí tưởng cao cả của mình thì đó chính là cái chết đẹp. Thay vì chiếu đắp lên, sự ra đi của các anh được ví như sự ra đi của những người được những người khác tôn trọng và biết ơn.Những áo bào thì thay bằng chiếu thể hiện sự giản dị của những người lính. Chiến trường khắc nghiệt làm cho anh phải ra đi chỉ có mảnh chiếu che thân. Đất mẹ chính là nơi các anh sinh ra cũng là nơi mà các anh về, đất mẹ che chở cho các anh mãi mãi yên bình với giấc ngủ ngàn thu của mình. Một lần nữa, hình ảnh sông Mã hiện ra, gầm lên khúc hành ca, như kính cẩn tiễn đưa linh hồn các anh, không phải là sự chơi vơi nữa mà là tiếng gầm, nó càng tạo nên chất tráng cho bài thơ. “Tây tiến” được xem là một thi phẩm xuất sắc, gần như đạt đến sự toàn bích về nghệ thuật. Bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn, đậm chất bi tráng,nhiều sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu. Hình ảnh thơ sáng tạo mang sắc thái thẩm mĩ phong phú. Ngôn ngữ thơ đa sắc thái, phong cách ; ( trang trọng, cổ kính; sinh động gợi tả gợi cảm…), có những kết hợp từ độc đáo ( nhớ chơi vơi, Mai Châu mùa em…), tên địa danh vừa cụ thể xác thực vừa gợi cảm giác lạ lẫm.. Ba chùm bài thơ là giọng điệu khi tha thiết bồi hồi, khi hồn nhiên vui tươi, khi bâng khuâng man mác, khi trang trọng, khi trầm lắng… Cả bài thơ là nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với đơn vị Tây Tiến: Nhớ những chặng đường hành quân với bao gian khổ, thiếu thốn, hi sinh mất mát mà vẫn có nhiều kỉ niệm đẹp, thú vị, ấm áp; nhớ những đồng đội Tây Tiến anh hùng… Qua đó, tác giả đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa và vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên miền Tây tổ quốc. Cũng từ đó mà toát lên chất lãng mạn bi tráng là vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người lính cách mạng trong thơ Quang Dũng Dưới ngòi bút hào hoa của Quang Dũng những hình ảnh về những người lính Tây Tiến vừa hồn hậu,giản dị lại hết sức khí phách.Qua đây ta cũng thấy được những vẻ đẹp bi tráng của những chiến binh tây tiến, cảm nhận được như thế chúng ta càng thêm yêu hơn những con người vì quê hương đất nước. Bài thơ xứng đáng là một tượng đài bằng ngôn ngữ đã bất tử hóa phẩm chất anh hùng của anh bộ đội cụ Hồ trong cuộc kháng chiến chống Pháp rất đỗi gian khổ và vui tươi, hào hùng: “Tây Tiến biên cương mờ khói lửa Quân đi lớp lớp động cây rừng Và con người ấy, bài thơ ấy Vẫn sống muôn đời cùng núi sông” (Giang Nam) Nguồn: Bài văn hay
Phân tích vẻ đẹp của người lính Tây Tiến
3,991
Phân tích vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện trong bài thơ Bánh trôi nước Bài làm Hình ảnh những người phụ nữ Việt Nam từ lâu đã trở thành một nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca, nhạc và họa,… Trong những tác phẩm văn học nói về người phụ nữ, những bài thơ tiêu biểu không thể không nhắc đến “Bà chúa thơ Nôm” – Hồ Xuân Hương. Bà được xem là nhà thơ của người phụ nữ, và minh chính cho nhận định đó chính là bài thơ “Bánh trôi nước”. Bài thơ là một bài thơ vịnh vật, được viết theo thể thở thất ngôn tứ tuyệt. Bề nổi của bài thơ là vịnh về một món ăn dân giã, quen thuộc trong dân gian, còn nghĩa chìm sâu trong chiếc bánh trôi đó là vẻ đẹp và thân phận của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non. Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, Mà em vẫn giữ tấm lòng son.” Hai tính từ miêu tả “trắng” và “tròn” đã khơi gợi về vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ. Vẻ trắng trẻo, nét tròn đầy bắt mắt, tràn đầy sức sống và chứa đựng bao khát khao rạo rực của người phụ nữ. Đó là một nét đẹp phúc hậu, tâm hồn hồn nhiên thuần khiết, mang quan niệm và cốt cách Việt. Ở câu thơ thứ hai, thông qua cách nói khi luộc bánh trôi, tác giả đã sử dụng thành ngữ “Ba chìm bảy nổi” nhưng đảo câu thành ngữ cho vế “chìm” nằm ở cuối câu, ý thể hiện cho sự long đong, lận đận và cơ cực của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Tuy nhiên có lẽ ít ai thấy được đằng sau sự long đong và cơ cực ấy lại chính là vẻ đẹp của sự tần tảo, chịu thương chịu khó và đức tính hi sinh của người phụ nữ Việt Nam. Đó là một nét đẹp đẹp truyền thống từ bao đời nay. Ở hai câu thơ cuối, nối tiếp mạch thơ về số phận người phụ nữ, ý thơ đã tập trung vào việc khẳng định phẩm chất quý báu và sự sống cong của mỗi người phụ nữ theo quan niệm đạo đức phong kiến. Vẻ đẹp “tấm lòng son” ở đây chính là biểu tượng cho sjw thủy chung son sắt. Từ xa xưa cho tới ngày nay, đạo tam tòng tứ đức buộc người phụ nữ khi có chồng phải một mực thủy chung và đó là một phẩm chất quý báu của người phụ nữ được xã hội coi trọng và đề cao. Tác giả Hồ Xuân Hương đã khẳng định vẻ đẹp thủy chung của người phụ nữ với thái độ đầy tự tin và tự hào. Dù hoàn cảnh cuộc đời và số phận của người phụ nữ có long đong, lận đận, và phụ thuộc đến mấy nhưng họ vẫn luôn giữ được tấm lòng thủy chung sáng ngời. Qua mỗi một câu thơ, nhà thơ lại cho người đọc cảm nhận được một vẻ đẹp khác của người phụ nữ, những vẻ đẹp ấy rất đặc trưng cho vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Chỉ bằng hình ảnh bánh trôi nước, dưới ngòi bút tài hoa, tinh tế của Hồ Xuân Hương, từng vẻ đẹp của người phụ nữ đã hiện ra. Qua bài thơ “Bánh trôi nước” Hồ Xuân Hương đã ca ngợi, khẳng định về cả vẻ đẹp hình thức và vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam. Tạo cho độc giả một cái nhìn mới về vẻ đẹp hoàn mỹ của người phụ nữ. Đồng thời đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ với một thái độ khẳng định đầy tự tin.
Phân tích vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện trong bài thơ Bánh trôi nước
649
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp của nhân vật bà Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải Bài làm Nét đẹp của văn hóa kinh kì xưa và nay đã và đang làm rung động bao trái tim người nghệ sĩ, trở thành nguồn cảm hứng nghệ thuật của thơ văn, họa và nhạc… Nguyễn Khải cũng là một nhà văn nhiều duyên nợ với mảnh đất nghìn năm văn hiến ấy. Nhà văn từng tâm sự, ông đã sống với Hà Nội qua nhiều thời đoạn, nhiều chặng đường của hiện thực đất nước, “thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mỗi lứa tuổi…”. Đặc biệt, với Nguyền Khải, Hà Nội đẹp nhất ở những con người hào hoa, có bản lĩnh, tinh tế trong ứng xử, nhưng cũng đầy nghị lực kiên cường, thiết tha yêu Thủ đô, đất nước thân thương. Cảm nhận đó của nhà văn được thể hiện tập trung trong nhân vật bà Hiền – Một người Hà Nội. Phân tích truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải Cũng như những người Hà Nội bình thường khác, bà Hiền đã cùng Hà Nội, cùng đất nước trải qua nhiều biến động thăng trầm nhưng vẫn giữ được cái cốt cách người Hà nội, cái bản lĩnh văn hóa của người Hà Nội. Bà sống thẳng thắn, chân thành, giàu tự trọng. Nét đẹp của người Hà Nội ấy như bản chất tự nhiên bộc lộ ngay trong chính cuộc sống đời thường của một người vợ, người mẹ. Là người phụ nữ có nhan sắc, yêu văn chương, thời con gái giao du với nhiều văn nhân nghệ sĩ nhưng không chạy theo những tình cảm lãng mạn viển vông, bà Hiền “chọn bạn trăm năm là một ông giáo cấp tiểu học hiền lành, chăm chỉ, khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc”. Người ta kinh ngạc vì nghĩ theo thói thường, còn bà Hiền không ham danh lợi, sự tính toán. Ông giáo tiểu học – mẫu người mô phạm, khiêm nhường – là mẫu người phù hợp với quan niệm của cô về tổ ấm gia đình – quan niệm chỉ có ở một người nghiêm túc với hôn nhân, đặt trách nhiệm “làm vợ”, “làm mẹ” lên trên mọi thú vui khác. Tình yêu của bà Hiền cũng là một tình yêu sáng suốt của người mẹ giàu tự trọng, biết nhìn xa trông rộng. Cái thời người Việt Nam thích đẻ nhiều con thì bà Hiền lại có cái quan niệm khác người – bà không tin “trời sinh voi sinh cỏ”, mà cho rằng con cái phải được nuôi dạy chu đáo đế chúng có thể “sống tự lập”. Trong gia đình, bà Hiền luôn là người chủ động, tự tin vì bà hiểu rõ vai trò quan trọng của người vợ, người mẹ. Trước ứng xử của một người cháu đối với vợ mà theo bà là sự “bắt nạt quá đáng”, bà thẳng thắn phê bình và bảo: “Người đàn bà không là nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao”. Trong cách dạy con. bà dạy từ những cái nhỏ nhất. Chuyện ngồi ăn, cách cầm bát, cầm đũa, múc canh… chỉ là những chuyện văt vãnh, nhỏ nhặt đốì với nhiều người. Bà Hiền thì khác, bà coi đấv là văn hóa sống, văn hóa người, hơn thế, đấy là văn hóa của người Hà Nội. Bà nhỏ nhẹ nhắc nhở: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện, buông tuồng”. Cái “chuẩn” trong suy nghĩ của bà Hiền là “lòng tự trọng”. Lòng tự trọng không cho phép con người ta sống hèn nhát, ích kỉ. Khi được hỏi: “Cô bằng lòng cho em đi chiến đấu chứ?”. Bà Hiền trả lời: “Tao đau đớn mà bằng lòng vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Và bà cũng lại chấp nhận khi em Dũng – con trai thứ hai của bà cũng muốn tiếp bước anh: “báo nó đi tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó". Với bà Hiền, con người đánh mất lòng tự trọng thi chỉ còn cái chết – cái chết tâm hồn. Bà Hiền tôn trọng danh dự của con, hiểu con nên chấp nhận để con ra chiến trường nhưng bà không che giấu nỗi đau lòng, khòng vờ vui vẻ ồn ào. Với bà, đấy là quyết định thật khó khăn nhưng hợp lí. Đó cũng là một quyết định cùa “một người Hà Nội" thiết tha yêu đất nước. Đặt tên truyện là Một người Hà Nội, có lẽ nhà văn Nguyễn Khải như muốn khắc đậm cái bản lĩnh, cốt cách của người Hà Nội. Người đọc nhận ra “chất Hà Nội” ở bà Hiền còn bởi cái nét văn hóa lịch lãm, sang trọng trong cách bài trí phòng khách của bà: vừa cổ kính, quý phái và tinh tế, “suốt mấy chục năm không hề thay đổi" – một không gian hẹp nhưng lưu giữ cái hồn của mảnh đất kinh kì. Cuộc sống biến động từng ngày, khó khăn theo những đổi thay khôn lường. Lối sống của một số người Hà Nội trong thời “kinh tế thị trường” khiến người ta – nhất là với những người yêu Hà Nội, không khỏi thất vọng (như những người mà nhân vật “tôi” quên đường phải hỏi thăm, anh chàng đi xe đạp, cô ca, gái anh bạn…). Nhưng với bà Hiền, không chỉ làm ấm lòng người được bởi chính nét đẹp mang cốt cách người Hà Nội của mình, bà còn xua đi cái ấn tượng “hơi nghiệt” của người cháu – của người đọc bằng thái độ ung dung, tự tại, bằng sự khôn ngoan sâu sắc của trí tuệ. Bà nói về luật tự nhiên, về niềm tin: Hà Nội “thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho một lứa tuổi”, bà “khiêm tốn và rộng lượng”, hòa mình với cảnh sắc Hà Nội “trời rét, mưa rây lả lướt chi đủ làm ẩm áo chứ không làm ướt”, bà đang lau chùi cái bát cổ để cắm hoa thủy tinh. Sự hài hòa đó là cái duyên riêng Hà Nội, nét quyến rũ của Hà Nội khiến người xa Hà Nội phải kêu thầm “thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội”. Tác giá gọi bà Hiền là “một hạt bụi vàng” của Hà Nội. Nói đến hạt bụi người ta liên tưởng tới sự bé nhỏ, tầm thường, ít ai nhận thấy và cũng chẳng có giá trị gì. Nhưng là hạt bụi vàng thì dù rất nhỏ bé, khiêm nhường nhưng lại mang giá trị quí báu – là tinh túy của giá trị cuộc sống. Bao nhiêu hạt bụi vàng sẽ hợp lại thành những “áng vàng” chói sáng. Bà Hiền là một người Hà Nội bình thường, vỏ danh nhưng ở bà thấm sâu cái tinh hoa trong bản chất người Hà Nội. Những người Hà Nội như bà đã là “những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội”, tất cả đang “bay lên cho đất kinh kì chói sáng những áng vàng”. Văn chương khắc họa lịch sử qua số phận cá nhân, trọng tâm phản ánh là con người, là đặc điểm, bản chất, cách ứng xử của con người trong những tình thế lịch sử nhất định. Một người Hà Nội là tác phẩm văn chương như thế. Nhân vật trung tâm là bà Hiền với những chặng đường đời song hành cùng những biến động lớn lao của đất nước. Nhà văn đã có những khám phá sâu sắc về bản chất của nhân vật trên dòng lưu chuyển của hiện thực lịch sử. Là một con người, bà Hiền luôn giữ gìn phẩm giá, nhân cách, là một công dân, bà chỉ làm những gì có lợi cho đất nước. Là một người Hà Nội, bà đà góp phần làm rạng rỡ thêm cái cốt cách, cái truyền thống của một Hà Nội anh hùng và hào hoa – tôn thêm vẻ đẹp thanh lịch quyến rũ của “người Tràng An”. Chất nhân văn sâu sắc của ngòi bút Nguyễn Khải chính là ở đó. “Muốn hiểu con người thời đại với tất cả những cái hay, cái dở của họ, nhất là muốn hiểu cách nghĩ của họ, cuộc sống tinh thần của họ, phải đọc Nguyễn Khải”. Nhận xét này cùa nhà nghiên cứu Vương Trí Nhân thật xác đáng, nhất là đối với truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải.
Phân tích vẻ đẹp của nhân vật bà Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
1,482
Phân tích Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Hướng dẫn Phân tích Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Một tác phẩm thơ hay không chỉ ở nội dung mà còn là nghệ thuật của tứ thơ ấy, một tác phẩm truyện hay không chỉ hấp dẫn người đọc ở cốt truyện đầy kịch tính li kì mà còn ở hình tượng nhân vật. Nếu như nhà văn Nam Cao xây dựng thành công nhân vật Chí Phèo với hình hài quỷ dữ xong làm nổi bật lên bản chất tốt đẹp của người nông dân thì Nguyễn Tuân một nhà văn tài hoa uyên bác lại xây dựng thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao là một người tử tù nhưng mang nét tài hoa của những bậc tao nhân mặc khách. Đúng vậy, Huấn Cao giống như một viên ngọc sáng lấp lánh trong trang văn của Nguyễn tuân. Tình huống truyện của tác phẩm chữ người tử tù là một điều không thể không nhắc đến. Chính sự oái oăm của tình huống truyện đã khiến cho nhân vật Huấn Cao được thể hiện. Huấn Cao là một tội phạm của triều đình nhưng lại có tìa viết chữ rất giỏi, trong một lần làm nghiệp lớn chống lại triều đình ông bi bắt và chờ ngày tử hình. Tại nhà giam ẩm thấp và tối tăm nhưng Huấn Cao vẫn hiện lên là một viên ngọc sáng lấp lánh lấn át đi sự tối tăm ấy. Nhà văn đã xây dựng nhân vật Huấn Cao là một người có thiên lương trong sáng, có tài năng viết chữ rất đẹp. Tài năng ấy được thể hiện qua lời khen ngợi của viên quản ngục và thầy thơ lại. Khi nhận được tráp báo rằng sẽ có tên tử tù nguy hiểm tên Huấn Cao sẽ bị giải về nơi đây chờ tử hình thì cả hai người đều tỏ ra buồn thay cho một người tài hoa uyên bác như thế. Đặc biệt là viên quản ngục luôn tỏ ra kính trọng người có tài. Có thể nói Huấn Cao phải viết chữ đẹp lắm thì mới khiến cho viên quản ngục ngày đêm tìm cách mong Huấn Cao có thể cho chữ. “Có chữ ông Huấn Cao mà treo trong nhà thì cứ như là vật báu”. Cảm phục trước tài năng nên quản ngục tỏ ra kính trọng và biệt đãi Huấn Cao. Là một tử tù nhưng Huấn Cao được biệt đãi được ăn rượu uống thịt. Về phần Huấn Cao thì ông là một người vốn khoảnh. Trừ những chỗ tri kỉ không bao giờ ông cho chữ ai một cách tùy tiện cả. Cả đời ông cũng mới viết có mấy bức cho mấy người bạn thân chứ ông chưa viết cho ai cả. Điều đó cho thấy Huấn Cao tôn trọng chính chữ viết của mình. Ông chỉ cho những ai biết thưởng thức nó và thực sự xứng đáng với nó mà thôi. Đó chính là thiên lương trong sáng trong ông. Không những thế khi được biệt đãi Huấn Cao còn quát mắng viên quản ngục nhưng đến khi được thầy thơ lại nói về tấm lòng của viên quản ngục thì Huấn Cao nhận ra được tấm chân tình và quyết định cho chữ. Đối với Huấn Cao chữ của ông chỉ cho những người có tấm lòng yêu nó. Và ông bật lên câu nói: “Suýt chút nữa thì ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Và thế là cảnh tương xưa nay chưa từng có” được diễn ra. Không chỉ là người tài năng và có thiên lương trong sáng Huấn Cao còn là một anh hùng. Có thể nói Nguyễn Tuân đã sử dụng nguyên mẫu Cao Bá Quát để xây dựng lên hình ảnh nhân vật này. Huấn Cao được biết đến là một tử tù tội ác tày đình và có tài bẻ khóa vượt ngục. Không nhà lao nào có thể giam giữ nổi ông. Nghe đến đây thôi thì ta tưởng Huấn Cao là một người xấu thế nhưng lại không phải vậy. Khi ấy triều đình có những tư tưởng sai lệch, một người có chí lớn như Huấn Cao không thể dương mắt làm ngơ, trong khi dân chúng khổ cực. Chính vì thế mà Huấn Cao không ngần ngại đứng đầu đội quân để chống lại triều đình. Điều đó khẳng định ông quả là một anh hùng không sợ trời sợ đất chỉ biết làm việc nghĩa cho nhân dân mà thôi. Thế rồi ông bị bắt và giam giữ, khi đến nhà lao nơi quản ngục và thầy thơ lại trông coi. Huấn Cao không hề tỏ ra sợ hãi. Biết rằng mình sắp chết nhưng vẫn không ngần ngại có những hành động coi thường những kẻ chỉ biết lấy uy quyền ra dọa nạt. Đầu tiên là hành động giỗ gông khi một trận dệp làm cho Huấn Cao không thê chịu nổi. Mặc cho bọn lính thúc và đánh liên tục Huấn Cao cũng không sợ mà quyết định giỗ gông. Hay khi được biệt đãi Huấn Cao nghĩ rằng viên quản ngục có thể cho thuốc độc vào thức ăn nhưng ông đã không sợ cái chết và vẫn ăn ngon lành. Khi mắng lại quản ngục Huấn Cao cũng nghĩ đến mấy trò trả thù hèn hạ của bọn cai ngục thế nhưng ông cũng chẳng sợ gì. Qua đây ta thấy Huấn Cao quả thật là một người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất. Tóm lại ở Huấn Cao ta thấy toát lên một vẻ đẹp của một người có danh tiếng lớn. Đối với triều đình thì Huấn Cao là một tên tử tù nguy hiểm cần bắt gấp và đề phòng còn đối với nhân dân Huấn Cao là một người tài năng có thiên lương trong sáng, là một vị anh hùng có khí phách hơn người.
Phân tích Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
1,016
Phân tích vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc qua bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu Hướng dẫn “Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” (Trích Việt Bắc – Tố Hữu) Mở bài: Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu nhất của nền thơ Cách mạng và kháng chiến thế kỉ 20. Ở Tố Hữu có sự thống nhất đẹp đẽ giữa cuộc đời cách mạng và cuộc đời thơ. Việt Bắc là bài thơ xuất sắc của Tố Hữu. Vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Bắc được ông gió gọn trong 8 câu thơ: “Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người …….. Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Thân bài: Mở đầu đoạn thơ là nỗi nhớ thương, là tình cảm ân tình thủy chung của người ra đi đối với chiến khu Việt Bắc: “Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người”. Cách sử dụng các đại từ nhân xưng “ta” – “mình” vốn rất quen thuộc trong ca dao, dân ca. Mượn lời ví von của dân gian, Tố Hữu vận dụng một cách sáng tạo mang một nội dung mới mẻ hiện đại. Chỉ riêng trong hai câu thơ đầu, đại từ “ta” xưng hô đến bốn lần tạo được ấn tượng mạnh mẽ. Nó bộc lộ cảm xúc trực tiếp của nhà thơ, của người ra đi đối với người ở lại. Tình cảm này hết sức chân thành, thiết tha, có sức lôi cuốn mạnh mẽ và tạo nên được đồng vọng, sẻ chia với người đọc. Nỗi nhớ Việt Bắc của nhà thơ, người về xuôi đã được Tố Hữu biểu hiện hết sức cụ thể, phong phú. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài thơ Việt Bắc, tác giả đã sử dụng 34 lần từ “nhớ” (biện pháp điệp từ) để làm nổi rõ tấm lòng ân nghĩa thủy chung, thương nhớ đối với chiến khu Việt Bắc. Từ “nhớ” được tác giả nhắc đến với nhiều ý nghĩa phong phú. Có khi diễn tả nổi nhớ như “nhớ gì như nhớ người yêu”. Cũng có lúc từ “nhớ” được sử dụng với hàm ý là nhớ lại “nhớ khi giặc đến giặc lùng”,… – “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”. – “Nhớ cô em gái hái măng một mình” Khi lại hướng về một đối tượng mơ hồ: – Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Mặc dù sắc thái và cung bậc có khác nhau song nỗi nhớ của nhà thơ bao giờ cũng hướng về những con người lao động cân cù, chất phác với một lòng một dạ thủy chung, sắc son với Cách mạng. Mỗi cặp thơ là một nỗi nhớ da diết cháy bỏng của nhà thơ. Nỗi nhớ cảnh và nhớ người như đan xen hòa quyện với nhau trong bốn cặp thơ lục bát. Nếu câu 6 dành cho nỗi nhớ cảnh thì câu 8 thì diễn tả nỗi nhớ con người. Cảnh và người trong mỗi cặp thơ lại mang những đặc điểm sắc thái riêng. Cứ như thế, đoạn thơ lần lượt gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ, trữ tình của cảnh và người Việt Bắc. Bức tranh phong cảnh thiên nhiên đa dạng về nghệ thuật màu sắc, ánh sáng và âm thanh dần hiện ra trước mắt người đọc. Nét hài hòa của nhịp thơ và hình ảnh gợi lên ở người đọc những cảm xúc và rung động trước khung cảnh vừa hùng vĩ nên thơ, vừa mênh mông man mác. Phong cảnh thiên nhiên mà tác giả gợi tả ở đây là phong cảnh thiên nhiên rừng núi Việt Bắc. Búc tranh thiên nhiên hiện lên tự nhiên mà đẹp và nên thơ một cách tinh tế. Tố Hữu đã làm hiện rõ cảnh sắc riêng của bốn mùa trong năm một cách tài tình chỉ bằng những cặp lục bát ngắn ngủi mà đầy đủ. Việt Bắc được ghi nhận theo dòng chảy của thời gian vĩnh hằng. Đó là cảnh mùa đông với: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Mùa đông hiện lên với sắc đỏ của hoa chuối rừng giữa đại ngàn. Trên nền xanh bất tận của muôn cây, hoa chuối rừng kiêu hãnh khoe sắc dỏ thắm tươi. Cái màu ấn tượng ấy dù đứng từ rất xa cũng có thể nhìn thấy được. Nó tập trung và thu hút cái nhìn của người đọc. Bởi nhìn từ từ rát xa nên mới có thể thấy ánh sáng phản chiếu chiếc “dao cài thắt lưng” của người đi rừng. Ánh sáng lấp lóe, bất chợt và đột nhưng rất rõ ràng. Tiếp đến, hình ảnh mùa xuân hiện ra với sắc trắng của hoa mơ trắng ngút ngàn: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”. Hoa mơ trắng vốn là một nét đẹp chỉ có ở núi rừng Việt Bắc. Ngày xuân, rừng mơ buông hoa trắng xóa cả núi rừng, tạo nên cảnh sắc thật kì vĩ. Những dải màu trắng hoa mơ kéo dài bất tận, như chiếc khăn mềm mại vắt ngang ngọn núi. Hình ảnh con người hiện lên trong tư thế lao động. Đôi bàn tay khéo léo chuốt từng sợi giang tỉ mỉ và cẩn trọng. Bức tranh mùa xuân tươi mát, trong sạch như tình người cán bộ son sắt, thủy chung với núi rừng, với nhân dân Việt Bắc. Mùa hạ hiện ra với âm thanh réo rắt của tiếng ve rừng: “Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Tiếng ve rừng là âm thanh sống động nhất của núi rừng Việt Bắc. Không phải là tiếng kêu đơn lẻ lạc điệu của một vài chú ve. Đó là một bản đồng ca xáo động, dữ dội và rộn vang. Người nghệ sĩ của rừng cây tấu lên những khúc nhạc rộn ràng, âm vang đất trời. Có lúc im bặt rồi bất ngờ cất lên ầm ĩ. Tiếng ve hòa trong sắc vàng của rừng phách. Ve kêu cũng là lúc rừng cây phách đổ vàng. Bức tranh mùa hạ núi rừng Việt Bắc thay màu mới. Hiện lên trong bức tranh là hình ảnh cô gái yêu kiều một mình hái măng giữa rừng. Cô hòa mình với thiên nhiên vĩ đại. Cô vui vẻ tìm kiếm những phẩm vật quý giá của rừng xanh. Dường như, cô cũng đang hân hoan ca hát cùng những chú ve, lòng rộn ràng trong bản tình ca đắm say bất tận. “Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Ánh trăng thu mở ra bức tranh mở ảo. Thật không thể nói hết vẻ đẹp của đêm trăng chốn đại ngàn. Trong bóng tối bao la và sự vắng lặng của vũ trụ, ánh trăng là nguồn sáng thu hút hồn ta, tưới tắm hồn ta tình yêu cái đẹp và tình yêu cuocj sống. Từ bào đời nay, trăng luôn là biểu tượng của cuộc sống yên bình và tươi đẹp. Trăng kết nối hồn ta với đất trời, kết nối người đi kẻ ở. Trăng luyến lưu đưa tiễn và cũng gợi nhớ kí ức xa xăm. Khi tất cả đã xa rời, trang chính là nguồn ánh sáng kì điệu đưa ta trở về. Tố Hữu đã rất thành công khi sử dụng thể thơ lục bát mềm mại, nhuần nhuyễn một cách điêu luyện. Các câu thơ nhịp nhàng, cân đối, hài hòa đến tuyệt vời. Hình ảnh thơ được chọn lọc kĩ càng, biểu đạt sâu sắc vẻ đẹp thơ mộng của con người và thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình, thủy chung. Đoạn thơ là sự hòa quyện tuyệt vời giữa âm thanh, sắc màu và hình ảnh tạo nên một bức tranh núi rừng hết sức tráng lệ, kì vĩ. Hình ảnh con người được khác họa tinh tế và đẹp đẽ. Tuy nhỏ bé nhưng không hề bị chìm lấp giữa núi rừng bạt ngàn. Con người là điểm nhấn, điểm tô cho bức tranh thêm sinh động. Tuy nhiên, sự thành công không chỉ ở nghệ thuật ngôn từ mà chính là tấm lòng tha thiết của tác giả đối với Việt Bắc. Kết luận: Đây là đoạn thơ đẹp và hay. Đoạn thơ có cấu trúc hài hòa, cân đối, có giá trị tạo hình mang nhiều sắc thái biểu cảm và thể hiện cảm xúc chân thành nhất, sâu lắng nhất của nhà thơ Tố Hữu đối với cảnh vật và con người Việt Bắc.
Phân tích vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc qua bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu
1,478
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp của sông Hương qua Ai đã đặt tên cho dòng sông Bài làm Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn có phong cách độc đáo và sở trường về thể bút kí, tuỳ bút. Lời văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường được cấu tạo bởi hệ thống ngôn từ nghệ thuật sang trọng, ám ảnh, đậm chất trữ tình của cái tôi uyên bác, tài hoa Ông là một trí thức yêu nước, đã từng gắn bó đời mình với cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ, anh hùng của dân tộc. Để rồi, sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông đã chắp bút viết tập kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Trong tác phẩm, nhà văn gắn bó lòng yêu nước, tinh thần dân tộc với tình yêu sâu sắc dành cho thiên nhiên đất nước và với truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời của dân tộc mà ông đã bỏ công say mê tìm tòi, tích luỹ cả một đời người. Tất cả những phẩm chất ấy đã được thể hiện rất rõ qua việc ông tái hiện lại vẻ đẹp của dòng sông Hương như một nhân vật trữ tình, với những nét tính cách phức tạp, biến đổi một cách kì diệu trong không gian thời gian. Tất cả được phô diễn qua những lời văn giàu chất trí tuệ, kết hợp giữa tự sự và trữ tình tài hoa, mê đắm. Phân tích vẻ đẹp của sông Hương qua Ai đã đặt tên cho dòng sông Sông Hương hiện ra qua sự kết hợp nhiều góc nhìn khác nhau của Hoàng Phủ Ngọc Tường, từ địa lý, lịch sử, văn hoá, nghệ thuật… “hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn mãnh liệt qua những ghềnh thác”. Nhưng rồi cũng có những lúc sông Hương “trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Viết tuỳ bút, theo Nguyễn Tuân là “lối chơi độc tấu”, “mạch văn tràn chảy tuỳ theo cảm hứng”. Đặc trưng này xác đáng với những lời văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả về sông Hương. Nhà văn đã đưa người đọc đến những liên tưởng bất ngờ, khi ông so sánh “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Ông cho rằng sông Hương là đứa con của rừng già với một tâm hồn tự do và trong sáng, để rồi rừng già đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”. Với đôi mắt khảo sát nghiêm túc của nhà địa lí có một tầm văn hoá sâu rộng, kết hợp vốn ngôn từ nghệ thuật phong phú mượt mà giàu chất thi họa, Hoàng Phủ Ngọc Tường tái hiện thủy trình của sông Hương từ vùng trung du trở xuống, nó liên tục chuyển dòng, “theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Nhà văn đã đặt sông Hương vào giữa cảnh quan núi đồi, lăng tẩm, bãi biển vùng ngoại ô tây-nam thành phố Huế, gương mặt Hương Giang trong xanh phẳng lặng tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn dòng sông Hương như một chủ thể có ý thức góp phần tôn vinh thêm vẻ đẹp của xứ Huế. Và trước khi về với Huế, sông Hương trôi lặng thầm giữa một vùng không gian “Bốn bề núi phủ mây phong. Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng vạn niên”. Giữa đám quần sơn lô xô, ở phía tây thành Huế, nơi dành cho giấc ngủ ngàn năm của các bậc vua chúa thời Nguyễn, sông Hương hiện ra với vẻ đẹp trầm mặc như triết lí, như cổ thi kéo dài mãi “giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”. Đến khi sông Hương đổ vào thành phố tương lai của nó, “nó đã kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam-đông bắc…, nó đã thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như vành trăng non”. Nhà văn đã dành cho sông Hương một tình cảm trìu mến, thân thương. Có như vậy, ông mới liên tưởng trạng thái sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Đôi mắt sâu sắc của nhà văn đã nhìn ra mối quan hệ biện chứng giữa dòng sông Hương mềm mại với con người xứ Huế. Sông Hương dịu dàng, duyên dáng như đã góp phần hình thành nên tính cách nết na, ý nhị của người con gái cố đô. Với một trình độ văn hoá uyên bác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã so sánh vẻ đẹp của sông Hương với nhiều dòng sông nổi tiếng thế giới như sông Xen của Pari, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Nê-va của Nga,… Từ đó mà ông đã tôn vinh vẻ đẹp độc đáo của dòng sông Hương vào buổi đêm về, “vẫn lập lòe trong đêm sương, những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được”. Nhà văn quý điệu chảy lững lờ của sông Hương qua thành Huế. Ông cho rằng “Đây là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy… chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.” Có thể nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn hoá Huế, ông không chỉ nhìn sông Hương trôi ở trong thì hiện tại, ngày ngày mang phù sa và nguồn nước ngọt trao tặng vô tư cho những cánh đồng Châu Hoà, cho cuộc sống người dân xứ Huế; mà ông còn nhìn sông Hương như là khởi nguồn cho những giá trị tinh thần lịch sử. Sông Hương trong quá khứ qua các triều đại phong kiến vàng son, nó đã từng mang cái tên Linh giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam Tổ quốc nước Đại Việt. Nó đã từng vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ, rồi nó đi suốt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ góp phần làm nên những chiến công lẫy lừng vang dội cả thế giới như lời đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu: “Lịch sử Đảng đã ghi bằng nét son tên của thành phố Huế, thành phố tuy nhỏ nhưng đã cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc”. Từ hiện thực kiêu hùng của Huế, mà Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng: “Sông Hương là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết dưới màu cỏ lá xanh biếc”. Mặt khác, sông Hương cũng là cội nguồn của thi ca nghệ thuật. Có biết bao văn nhân, thi sĩ đã từng rung động với dòng sông Hương như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu. Nhà văn đã tin rằng “có một dòng sông thi ca về sông Hương và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Cao Bá Quát đã từng nhìn sông Hương mà thốt lên rằng: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”. Tản Đà thấy “dòng sông trắng, lá cây xanh”. Hàn Mặc Tử thì lại so sánh tôn vinh sông Hương như sông ngân hà: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/Có chở trăng về kịp tối nay”. Thu Bồn nhìn dòng nước lững lờ của sông Hương mà bâng khuâng “con sông dùng dằng con sông không chảy/Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. Và với Nguyễn Trọng Tạo, Hương Giang lãng đãng một bầu khí quyển huyền thoại thi ca giúp nhà thơ thăng hoa những vần mê đắm: “Con sông đám cưới Huyền Trân Bỏ quên dải lụa phù vân trên nguồn Hèn chi thơm thảo nỗi buồn Niềm riêng nhuộm tím hoàng hôn đến giờ Con sông nửa thực nửa mơ Nửa mong Lí Bạch, nửa chờ Khuất Nguyên” Đất nước Việt Nam có rất nhiều dòng sông chảy qua mọi miền xứ sở, và nó đã kịp chảy vào trong những vần thơ, trang văn tuyệt vời. Bạn đọc từng xót xa với Hoàng Cầm khi nghe tin sông Đuống bị quân thù chiếm đóng. Nhà thơ đã thốt lên: “Sông Đuống trôi đi/Một dòng lấp lánh/Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”. Công chúng yêu văn cũng đã chiêm ngưỡng vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của “Đà Giang độc bắc lưu” qua những “trang hoa” xuất sắc của nhà tuỳ bút hàng đầu Nguyễn Tuân. Giờ chúng ta lại tìm đến với sông Hương-dòng sông chỉ tự thu mình khiêm tốn trong lãnh địa Thừa Thiên Huế, nhưng qua những trang kí tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường sông Hương hiện ra với những vẻ đẹp dịu dàng, tinh tế, góp phần làm cho Huế trở nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình. Hơn thế, sông Hương còn là dòng sông lịch sử, văn hoá, thơ ca, nghệ thuật. Nó đã là một phần trong đời sống tâm linh của người Huế trầm mặc, sâu sắc. Câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gợi lên trong miền tình cảm của bạn đọc nhiều băn khoăn về một dòng sông ngỡ là quá quen, hoá ra lại có nhiều bí ẩn cần được khám phá thêm. Có như vậy, chúng ta mới hiểu sâu sắc hơn về quê hương đất nước, tự hào hơn về giang sơn cẩm tú Việt Nam.
Phân tích vẻ đẹp của sông Hương qua Ai đã đặt tên cho dòng sông
1,753
Phân tích vẻ đẹp của thiên nhiên vũ trụ trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp của thiên nhiên vũ trụ trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận Mở bài: Năm 1958, hưởng ứng phong trào viết về cuộc sống lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Huy Cận cũng xông xáo lên đường. Đoàn thuyền đánh cá là kết quả của chuyến đi thực tế dài ngày tại vùng mỏ Quảng Ninh của nhà thơ. Bài thơ là cảm hứng trước thiên nhiên đất nước, con người và niềm vui, niềm tin tưởng dạt dào trước cuộc sống mới. Đặc biệt, hình ảnh thiên nhiên vũ trụ được miêu tả hết sức sinh động và đẹp đẽ. Thân bài: Mở đầu bài thơ, tác giả ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước với cảnh hoàng hôn trên bến cảng quê hương: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Không gian trong thơ là biển, thời gian la buổi hoàng hôn. Trong thơ xưa, không gian, thời gian này gắn với nỗi buồn, niềm chia biệt. Nhưng trong thơ Huy Cận, cảnh sắc lại rất tươi tắn, không nhuốm nỗi buồn. Nhà thơ nhân hoá mặt trời như vị khách của vũ trụ, biển cả là ngôi nhà trần thế, gợn sóng dạt dào là then cài vững chắc, màn đêm là cửa sập… Viết về thiên nhiên, vũ trụ nhưng thiên nhiên ấy không hề xa lạ mà ấm áp hơi thở của cuộc đời. Các động từ “cài”, “sập” diễn tả hành động mạnh mẽ, dứt khoát khi vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi, yên tĩnh hoàn toàn. Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng, Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng. Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi! Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng, Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng. Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé, Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long. Liệt kê một loạt các loài cá ngon và quí chứng tỏ sự giàu có, phong phú về các loại cá của biển Đông. So sánh cá như “đoàn thoi”, nhân hoá chúng “dệt” tấm lụa trắng lung linh trong lòng biển nhầm ngợi ca vẻ đẹp huyền ảo của biển đêm. Liên tưởng độc đáo và sáng tạo “cá Song lấp lánh đuốc đen hồng” gợi vẻ đẹp của đêm hội hoa đăng trong lòng biển. Cá bơi từng đàn như rước đuốc, đuôi cá quẫy làm tung toé ánh trăng vàng. Một bức tranh sơn mài với những màu sắc rực rỡ, tráng lệ. Biển quê hương đầy ắp ân tình nuôi dưỡng biết bao thế hệ Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự thuở nào So sánh lòng biển với lòng mẹ. Tình mẹ bao la, hy sinh hết mực như biển quê hương đã nuôi dưỡng bao đời nay những thế hệ lớn lên từ các làng chài. Câu thơ là lời tri ân biển, bộc lộ những ân tình sâu sắc của biển Quê hương. Vảy bạc, đuôi vàng loé rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Các tính từ chỉ màu sắc “bạc”,” vàng”, “hồng” diễn tả cái tươi sáng của buổi bình minh. Phép nhân hoá vầng mặt trời “đội biển” khoe màu của ngày mới khiến câu thơ giàu sức biểu cảm. Bình minh đi lên từ đêm tối. Màu mới hay đây chính là hình ảnh của cuộc sống mới đang mang lại những niềm vui phơi phới trong lòng ta. Kết bài: Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đã có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú. Giọng thơ mang âm hưởng khoẻ khoắn, hào hùng lạc quan. Với bút pháp lãng mạn, Huy Cận đã khắc hoạ nhiều hình ảnh đẹp, tráng lệ, thể hiện sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước cuộc sống lao động mới.
Phân tích vẻ đẹp của thiên nhiên vũ trụ trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận
720
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp của viên quản ngục trong bài văn chữ người tử tù Bài làm Nếu như nhân vật Huấn Cao là biểu tượng về cái đẹp với sức mạnh hướng thiện của nó, thì nhân vật viên quản ngục được sáng tạo ra là để hiện thực hóa sức mạnh ấy. Có viên quản ngục thì ý đồ nghệ thuật của nhà văn mới thực hiện được. Nhưng vai trò cực kì quan trọng ấy của nhân vật quản ngục không dễ nhận ra, bởi vì nhân vật này dường như được Nguyễn Tuân “giấu” đi, ẩn xuống hàng thứ hai đằng sau nhân vật Huấn Cao. Cảm giác ban đầu khi đọc Chữ người tử tù, người đọc choáng ván, ngập trong ánh sáng tỏa ra từ hình tượng Huấn Cao uy nghi, rực rỡ. Từng dòng chữ, từng trang sách cứ lấp lánh Huấn Cao. Người đọc chẳng thiết nghĩ điều gì khác ngoài nghĩ về Huấn Cao. Nhưng đọc thêm một vài lần nữa, gấp trang sách lại, ngẫm nghĩ kĩ, thấy nhân vật quản ngục từ từ hiện lên, ngày một rõ nét và cuốn hút ta bằng một sức mạnh kì lạ. Ta càng thấm thía, cảm phục ngòi bút tài hoa, thâm thúy của Nguyễn Tuân. Khi được khám phá, phát hiện, nhân vật quản ngục sẽ đem lại cho ta nhiều khoái cảm thẩm mĩ mới mẻ, thú vị. Tính cách của nhân vật Huấn Cao có phần một chiều, bất biến và đơn giản, ít những bất ngờ. Trái lại, nhân vật viên quản ngục có sự vận động về tính cách. Trước khi là quản ngục, ông ta cũng là người đèn sách, “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”. Là người lương thiện, tử tế, lại có chữ thánh hiền bồi đắp cho “thiên lương” nảy nở tốt đẹp, ông ta yêu đến say mê cái đẹp, “cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”. Nhưng sự đời run rủi, và “ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”, quản ngục sa vào chỗ tối tăm, phẩm chất từ đó đã hoen ố đi ít nhiều. Giữa chốn tù ngục hầu như chỉ tồn tại hai thứ: cái ác, cái xấu, tàn nhẫn, lừa lọc và những nỗi đau khổ, tuyệt vọng. Tình cờ, viên quản ngục gặp được ông huấn Cao, gặp thần tượng của mình, gặp trong hoàn cảnh cực kì éo le: giữa chốn ngục thất, thần tượng của ông giờ đây lại là một tử tù, còn ông là cai ngục. Một tình huống đầy kịch tính được mở ra: ở bình diện xã hội, họ là những kẻ đối địch nhau ; ở bình diện nghệ thuật, họ lại là tri âm, tri kỉ của nhau. Kẻ cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình lại là một nghệ sĩ tài hoa tầm cỡ “thiên hạ đệ nhất thư pháp”, kẻ đại diện cho luật pháp của triều đình lại là người có “tấm lòng biệt nhỡn liên tài”’ ngưỡng mộ tài thư pháp ấy. Cuộc “kì ngộ” khiến cho lòng yêu cái đẹp trong quản ngục sống dậy mãnh liệt tới mức ông có thể bất chấp cả tính mạng và địa vị, mong sao có được mấy chữ của ông Huấn. Người đọc hồi hộp theo dõi từ đầu chí cuối tác phẩm, không biết quản ngục có xinh nổi chữ của ông Huấn hay không? Nhân vật quản ngục bị đặt vào một thử thách khá gay go quyết liệt. Mấy ngày ngắn ngủi ông Huấn Cao tạm bị giam trong ngục tử tù của y, quản ngục luôn sống trong tình trạng vô cùng căn thẳng, hồi hộp. Y thừa biết tính ông Huấn “vốn khoảng, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. Làm sao đây, chỉ trong ít ngày để có thể lấp đầy khoảng cách giữa “cai ngục” và “tử tù”, để thành “tri kỉ” của ông Huấn? “Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất”. Mặt khác, viên quản ngục luôn luôn phải dò xét, đề phòng cả bọn thuộc hạ, ông sợ “tên bát phẩm thơ lại này đem cáo giác với quan trên thì khó mà ở yên”, ông phải “dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu”. Nhân vật viên quản ngục được xây dựng với bút pháp giàu chất hiện thực, gần với cuộc đời hơn, thật hơn. Và chính ở đây thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Đọc truyện, người đọc như thấy hiện ra trước mắt dáng đi, điệu đứng, lời ăn tiếng nói của viên quản ngục này. Lúc ở công đường, dáng điệu của y rõ bệ vệ, quan cách, oai phong, trầm tĩnh, rõ là chu đáo, cần mẫn trong công việc. Tiếp được công văn để lĩnh nhận sáu tên tù án chém, ông ta đọc tên từng người và dừng lại ở cái tên Huấn Cao, rồi hỏi viên thơ lại để xác minh cho rõ. Nhân vật viên quản ngục không chỉ là kẻ biết thi hành phận sự, cần mẫn, tận tụy, mà còn là nhân vật có đời sống nội tâm sâu sắc. Có lúc khuôn mặt tỏ rõ sự nghĩ ngợi đăm chiêu, “ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương”, “người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ”. Trong nhận xét rất tinh tế của người dẫn truyện thì viên quản ngục có “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”. Ông được coi “là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”, là “cái thuần khiết” bị đày ải “vào giữa một đống cặn bã”, là “người thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Là quản ngục, nhưng ông ta cũng chính là tù nhân chung thân của cái nhà tù do ông cai quản. Cái danh, cái lợi, trách nhiệm, bổn phận của một ngục quan là những thứ gông cùm, xiềng xích vô hình xiết chặt tâm hồn quản ngục suốt đời. “Lũ người quay quắt”, cái “đống cặn bã” bao quanh ông chẳng khác gì nơi buồng tối giam tử tù “một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Đã có lúc, ngục quan thấm thía thân phận lạc loài, cô đơn giữa chốn tù ngục của chính mình, y than thở một mình: “Có lẽ lão bá này, cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi”. Nếu như bi kịch của ông Huấn là bi kịch của người anh hùng thất thế, thất thế nhưng vẫn kiêu hùng, lẫm liệt ; thì bi kịch của ngục quan là bi kịch lầm đường. kẻ lầm đường lạc lối, may thay, vẫn còn có lương tri, lương năng, còn có “lòng biệt nhỡn liên tài”, còn có khát vọng giải thoát. Y tôn thờ cái đẹp, say mê cái đẹp để hi vọng tự giải thoát. Lúc ngục quan gặp huấn Cao thì “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu”, “bộ mặt tư lự” đã hằn nhiều nếp nhăn của cuộc đời “tù nhân” nhọc nhằn, nhưng khát vọng giải thoát biểu hiện ở khát vọng hướng tới cái đẹp vẫn mãnh liệt vô cùng. Âm ỉ bấy lâu, nay nó bùng cháy lên thành lửa ngọn. Ngục quan tự hạ mình xuống trước tử tù, nhẫn nhục chấp nhận sự “khinh bạc đến điều” của ông Huấn. Y không oán thù, y biết người ta, “y cũng thừa hiểu những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”. Về bản chất, đó là sự ngưỡng mộ trước cái đẹp một cách hoàn toàn tự nguyện. Hành động biệt đãi ông Huấn cũng là xuất phát từ lòng say mê đó. Nhưng đến cuối tác phẩm thì không chỉ còn là chuyện say mê, tôn thờ mấy cái chữ đẹp nữa, mà cao hơn thế, đó là sự trân trọng, tôn thờ nhân cách cao quý của một bậc tài danh. Bị cái đẹp và nhân cách cao thượng của ông Huấn thuyết phục, viên quản ngục thực sự cảm động cũng giống như ông Huấn Cao đã cảm động trước “sở thích cao quý” và “tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của ngục quan. Đó là điểm gặp gỡ để trở thành tri âm, tri kỉ của hai con người cách nhau quá xa về vị trí xã hội. Sự tri kỉ ấy được đánh dấu bằng dòng lệ và tiếng nói nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” và kèm theo một cái vái. Vận mệnh nghệ thuật của tính cách ông Huấn Cao đã kết thúc cùng với sự kết thúc của thiên truyện ; trong khi đó, vận mệnh vẫn còn tiếp tục ở nhân vật viên quản ngục: người đọc có thể tin rằng sau những lời khuyên bảo ân cần của ông Huấn, viên quản ngục đã luống tuổi ấy sẽ từ bỏ nghề bất nhân về quê ở để giữ thiên lương cho trong sạch, lành vững. Nhân vật viên quản ngục là một sáng tạo rất mực sinh động của Nguyễn Tuân, để vừa tô đậm vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật Huấn Cao, lại vừa thể hiện vẻ đẹp của một con người đang được dắt dẫn bởi cái đẹp và cái thiện. Đây là kiểu sáng tạo nhân vật rất mới trong văn học hiện đại Việt Nam, cái cách để cho nhân vật tự tạo tính cách.
Phân tích vẻ đẹp của viên quản ngục trong bài văn chữ người tử tù
1,769
Phân tích vẻ đẹp của ánh trăng trong hai bài thơ Cảnh Khuya và Rằm tháng giêng Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp của ánh trăng trong hai bài thơ Cảnh Khuya và Rằm tháng giêng Cảnh khuya và Rằm tháng giêng đều được viết vào thời kỳ Bác đang chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc. Hai bài thơ cũng đều viết về trăng thế nhưng mỗi bài mỗi vẻ. Hình ảnh ánh trăng trong mỗi bài cũng vì thế mà đẹp theo một góc chiếu khác nhau. Ở bài Cảnh khuya, trăng được quan sát dường như một tầm nhìn hẹp. Ánh trăng không hiện lên bằng cả một vầng sáng tròn đầy mà lại được cảm nhận theo một chiều kích khác. Nó phủ trùm lên những tán cây, chiếu rọi rồi rơi rớt, lan tỏa hàng trăm ngàn đốm sáng trên mặt đất. Trăng quyện hòa gần gũi và tràn đầy sức sống “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”. Đêm thanh tĩnh, cảnh vật cũng tĩnh đến nỗi chúng ta có thể nghe thấy tiếng suối hát rất trong. Cảnh ấy, tình ấy khiến chúng ta nghĩ đến vẻ đẹp cổ điển của ánh trăng. Trăng với người ở đây dường như đang đối ứng và đối ẩm. Trăng chia sẻ với người và người dường như cũng đang muốn tâm sự cùng trăng. Trăng ở Nguyên tiêu cũng ở trong cảnh tĩnh nhưng nó không chất chứa suy tư. Không giống với Cảnh khuya, trăng ở đây thoáng rộng, phóng túng và tràn trề sức sống hơn: Trăng xuân, lại là trăng của đêm rằm chính vì thế mà nó tròn đầy viên mãn. Ánh trăng tràn trên khắp mặt sông rồi quện hòa vào cái sức sống của đất trời sông nước. Cái hay cái đẹp của trăng ở bài thơ này không chỉ là sự thi vị mà còn là ở cái sức xuân, cái niềm lạc quan tin tưởng mà nó đang tiếp vào lòng người chiến sĩ. Trăng ở đây thực sự đang chấp cánh bay lên cho những vần thơ. Có thể nói dù được viết trong những hoàn cảnh khó khăn của cuộc kháng chiến, thế nhưng ở cả hai bài thơ, chúng ta đều thấy hiện lên vẻ đẹp tâm hồn của Bác, Đó là một tâm hồn lạc quan, yêu đời và tha thiết đối với thiên nhiên. Đó cũng là một tâm hồn luôn canh cánh một nỗi niềm vì dân vì nước. Đọc thơ Bác, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp của một cốt cách thanh cao. Bác yêu nước, thương dân và Người cũng luôn sống với thiên nhiên đậm đà, sâu sắc. Thơ Bác giản dị, tự nhiên, hồn hậu và trong sáng. Vì thế những vần thơ của Bác bao giờ cũng chan hòa, dễ khơi gợi niềm thích thú và tình yêu trong lòng mỗi chúng ta.
Phân tích vẻ đẹp của ánh trăng trong hai bài thơ Cảnh Khuya và Rằm tháng giêng
483
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp của Đăm Săn trong đoạn trích chiến thắng Mtao Mxây Bài làm Sở dĩ xảy ra cuộc chiến này là do Mtao Mxây đã cướp Hơ Nhị – vợ của Đăm Săn. Đối với người Ê-đê theo chế độ mẫu hệ, việc bị kẻ thù cướp mất vợ là 1 nỗi sĩ nhục của cả cộng đồng. “Chiến thắng Mtao Mxây” là lần thứ hai Đăm Săn fải chiến đấu với kẻ thù để chứng tỏ sự hùng mạnh của Đăm Săn. Chàng fải đối mặt với kẻ thù hung hãn và cũng có sức mạnh phi thường ko kém. Hàng loạt những hình ảnh so sánh trong đoạn trích cho thấy sự tương phản giữa Đăm Săn với kẻ thù, làm nổi bật lên sự hào hùng của chàng và sự thảm hại của Mtao Mây. Đó chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật đoạn trích này, tôn vinh vẻ đẹp người anh hùng Đăm Săn. Vẻ đẹp Đăm Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của Mtao Mxây. Tù trưởng Sát hung bạo, du kiêu căng ngạo mạn nhưnng cũng phải e dè sự hiện diện của Đăm Săn. Hình ảnh Đăm Săn cùng những người bạn đồng minh của chàng hiện lên dưới mắt kẻ thù thật dũng mãnh với “khố màu sặc sỡ, đầu đội khăn đẹp” cùng khí thế hừng hực ” Gươm sáng như mặt trời. Thân mình ở trần như quả dưa, ở thế chờ sẵn như con sóc. Mắt sáng gấp đôi gấp ba mắt thường”. Hình ảnh so sánh thật đặc trưng đã làm đậm nét phi thường của người anh hùng, Tư thế ấy lại gắn liền hành động thánh thức “chặt ống tre thành ba khúc, xô đổ hàng rào” hàm chứa sức mạnh tuyệt luân của chàng. Khi giáp chiến cùng Đăm Săn, dù Mtao Mxây cũng rất dũng mãnh nhưng vẫn lộ ra sự khiếp sợ trc Đăm Săn. Lời nói của hắn với chàng lộ ra sự hèn nhát ” đừng đâm ta lúc ta đang xuống nhé”. Đáp lại, Đăm Săn đã bộc lộ sự khinh bỉ kẻ thù bằng tư thế đường hoàng của mình: ” Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi xuống nhỉ? Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đát, ta cũng ko thèm đâm nữa là!”. Phân tích vẻ đẹp của Đăm Săn trong đoạn trích chiến thắng Mtao Mxây Cuộc đối đầu của Đăm Săn với Mtao Mxây là cuộc đối đầu giữa 2 tù trưởng dũng mãnh. Phẩm chất anh hùng theo cách nhìn sử thi là ở sự chiến thắng bằng sức mạnh và sự can đảm. cuộc đối đầu sinh tử ấy không có chỗ dung thân cho kẻ nào hèn nhát. Trong tình cảm tôn vinh người anh hùng của buôn làng, mọi cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của Đăm Săn đều nổi bật, vượt trội hơn kẻ thù. Chúng ta cùng đc chứng kếin màn thi tài múa khiên thú vị: Mtao Mxây thể hiện sự khoác lác khi lời nói của hắn được chứng minh bằng ” tiếng khiên lộc cộc, lộp cộp như tiếng mướp đập vào nhau”, còn Đăm Săn đã dập tắt khí nhuệ của hắn bằng sức mạnh phi thường trong màn múa khiên độc đáo. Ngôn ngữ sử thi khoa trương sức mạnh áy ngang sức mạnh của tự nhiên: ” Một bước nhảy, chàng qua mấy đồi tranh… nghiêng ngả”. Lần múa khiên thứ hai của cháng còn ghê gớm hơn bởi dồn chứa sức mạnh trừng phạt lên Mtao Mxây. Sức mạnh của Đăm Săn có được còn nhờ sự trợ lực của người vợ H Nhị khi nàng ném trầu và thuốc cho chàng để sức lực chàng tăng lên gấp bội. Đăm Săn không hề đơn độc trong cuộc chiến vì danh dự này. Chính nghĩa thuộc về chàng khi các tù trưởng bạn hùng mạnh giúp chàng giành lại người vợ yêu quý. Đồng thời, chàng còn được sự trợ giúp của ông Trời. Người anh hùng sử thi luôn có mối wan hệ với lực lượng siêu nhinê. Trời đã giúp chàng đánh rơi áo giap của Mtao Mxây. Khi không còn giáp sát, hắn thật thảm hại và hèn nhát. Đăm Săn kết liễu kẻ thù trong sự cầu xin 1 cách nhục nhã của Mtao Mxây. Đòi lại danh dự, giành lại được vợ, chính nghĩa đã thuộc về Đăm Săn. Chiến thằng được tôn vinh cùng việc Đăm Săn được sở hữu tất cả tài sản, dan làng, tôi tớ của Mtao Mxây. Hình ảnh trong sử thi đc mô tả với quy mô hoành tráng: mọi người tình nguyện theo Đăm Săn đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến mối. Chàng thêm quyền uy, thêm nhiều chiên núm, chiêng bằng – của cải trở thành biểu tượng sức mạnh tuyệt đối của người anh hùng. Chính vì thế, để xứng đáng với chiến công cũng phải có 1 tiệc mừng chiến thắng thật kỳ vĩ. Lời kêu gọi của Đăm Săn có sức mạnh hiệu triệu như 1, bởi chàng đem lại niềm vinh quang chiến thắng hào phóng cũng là để tôn vinh xứng đáng: ” Hãy đi lấy rượu bắt trâu! … Rượu bảy ché, trâu 7 con … ko còn ai bì kịp.”. Nổi bật giữa đám đông hoan hỉ ấy tất yếu phải là người anh hùng Đăm Săn – tù trưởng hùng mạnh ít ai sánh kịp. Ngay cả trong không khí yên bình của cộng đồng, vẻ đẹp ấy vẫn nổi bật từ ngoại hình cho đến hành động: mái tóc dài cuồn cuộn thả xuống … không bao giờ thấy no. Hơn thế nữa, ngôn ngữ phóng đại của sử thi so sánh chàng ngang sức manh thần linh: “Oai linh đến tận thần núi phía Đông, đến tận thần núi phía Tây”. Hình ảnh Đăm Săn sau chiến công này đc mô tả phóng đại và như 1 điệp khúc vang vọng niềm tự hào về người anh hùng tiêu biểu của cộng đồng: “Và người ta bàn tán không ngừng… trong lòng mẹ”. Vẻ đẹp ấy chỉ có thể xuất hiện trong sử thi người anh hùng, chỉ có ngôn ngữ sử thi mới đem lại những vẻ đẹp độc đáo đến như thế.
Phân tích vẻ đẹp của Đăm Săn trong đoạn trích chiến thắng Mtao Mxây
1,073
Phân tích vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Bài làm Quang Dũng là một nhà thơ tỏa sáng trên nền trời thơ ca Việt Nam, ông có nhiều đóng góp lớn cho thơ ca dân tộc. Tây tiến là một bài thơ kết tinh được tài năng của ông và thể hiện được một cách chân thực, rõ nét nhất về hình ảnh thơ sáng tạo, bút pháp lãng mạn và ngôn ngữ kết hợp giọng điệu tinh tế linh hoạt. Bài thơ đã khắc họa được một bức tranh thiên nhiên vừa thơ mộng lại vừa dữ dội hoang sơ. Tất cả đã làm nổi bật nhất về hình ảnh người lính Tây Tiến. Vẻ đẹp người lính được thể hiện và khắc họa với một vẻ đẹp hào hùng và hào hoa, đó chính là vẻ đẹp tiêu biểu của một thế hệ con người Việt Nam. Vẻ đẹp hào hùng đó đã được khắc họa với một lí tưởng cao cả, một phẩm chất kiên cường và sự bất tử của những con người chiến đấu quên mình, hi sinh cho đất nước. Tuy biết khó khăn gian khổ nhưng họ vẫn luôn quyết tâm lên đường bảo vệ đất nước “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. “Tây Tiến người đi không hẹn ước Ai lên tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.” Trong đoạn thơ trên đã làm nổi bật được hình ảnh người đi lên đường bảo vệ tổ quốc với quyết tâm sắt đá, cùng với đó là sự gian khó trên hành trình chuyến đi với những câu như “người đi không hẹn ước”,”đường lên thăm thẳm”. Phẩm chất kiên cường và dũng cảm đó còn được thể hiện ở ngoại hình đầy ấn tượng mang những khó khăn mà các anh phải trải qua. Phân tích vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính trong bài thơ tây tiến của Quang Dũng “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm” Nhà thơ không hề né tránh mà đề cập tới chiến trường ác liệt với những hi sinh mất mát mà người lính phải chịu, từ đó làm nổi bật lên vẻ đẹp bi tráng và hào hùng về hình tượng của người lính. Và vẻ đẹp hiên ngang lẫm liệt đó còn được khắc họa trong cái chết. Từ đó chúng ta có thể thấy được và khẳng định sự bất tử của những con người đã ngã xuống vì nền độc lập tự do cho đất nước. “Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Tác giả đã mượn hình ảnh thiên nhiên hoang sơ và hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc đã làm nền cho hình ảnh người lính với tư thế hên ngang và tầm vóc có thể sánh ngang tầm với vũ trụ. “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm khơi” Người lính đã khám phá ra vẻ đẹp nguyên sở ẩn chứa hồn thiêng của núi rừng Tây Bắc, tâm hồn của người lính hòa nhập vào cuộc sống của người dân Tây Bắc một cách tự nhiên và thiên thiện vô cùng. “Người đi Châu Mộc chiều sương Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.” “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ” Tuy mang những khó khăn và thiếu thốn khi phải chiến đấu ở một vùng hoang sơ nhưng cũng không thể làm giảm đi sự phong độ hào hoa, họ đã thắp sáng tâm hồn mình vằng những niềm tin, bằng khát vọng sống và cả nỗi niềm thương nhớ của mình giành cho những cô gái ở phương xa. Phân tích vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính trong bài thơ tây tiến của Quang Dũng “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Không chỉ có bút pháp thực mà vẻ đẹp của người lính Tây Tiến còn được khắc họa bởi sự hào hoa và lãng mạn, chính điều đó càng làm nên sự độc đáo cho hình tượng của người lính cùng với tác phẩm cùng thời. Bằng tất cả tấm lòng của mình, Quang Dũng đã dựng lên một tượng đài nghệ thuật bất tử của một thế hệ người Việt Nam yêu nước đứng lên để bảo vệ tổ quốc. Bài thơ đã khắc họa được vẻ đẹp hào hùng và hào hoa với bút pháp lãng mạn và cảm xúc chân thành độc đáo hết sức ấn tượng.
Phân tích vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
772
Phân tích vẻ đẹp hình tượng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp hình tượng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Bài làm Nguyễn Trung Thành là một trong số ít nhà văn có các tác phẩm nổi tiếng viết về vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ. Những truyện ngắn của ông không chỉ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên nơi đây mà còn toát lên khí chất của những người con nơi vùng đất anh hùng. Tiêu biểu trong số đó chính là tác phẩm “ Rừng xà nu” được ông viết vào thời kì kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Hình tượng cây xà nu không chỉ gắn liền với vùng đất Tây Nguyên mà còn đại diện cho tinh thần kiên cường, bất khuất những con người nơi đây. Cây xà nu từ xa xưa đã trở thành một phần máu thịt của người dân làng Xô Man. Đó là một loài cây thân gỗ, “mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hạng vạn, hàng triệu cây vô tận. Không khí ở đây thơm lừng…”. Cây xà nu qua lời kể của tác giả hiện lên thật hùng vĩ, khỏe khoắn, có thể chịu đựng được mọi tác động của thiên nhiên khắc nghiệt. Cuộc sống của dân làng từ lâu đã chẳng thể thiếu hình ảnh của cây xà nu trong các hoạt động sinh hoạt thường ngày. Lửa xà nu cháy bập bùng trong nhà ưng tập trung cả dân làng để nghe cụ Mết kể về cuộc đời Tnú. Khói xà nu đen nhẻm thân hình lũ trẻ; khói xà nu còn làm tấm bảng đen cho anh Quyết dạy Tnú và Mai học chữ cụ Hồ… Tất cả những thứ của cây xà nu đều được người dân tận dụng để làm những đồ dùng cần thiết, từ nhựa, tới thân rồi ngọn lửa, bó đuốc. Cây xà nu đã thâm nhập vào trong từng ngõ ngách của cuộc sống, trở thành một nét đẹp trong văn hóa nơi đây. Hình tượng rừng xà nu là hình ảnh đại diện cho số phận và phẩm chất của những con người làng Xô Man. Hàng này giặc tiến hành bắn phá ba lần đại bác vào ngôi làng nhưng hầu hết đều trúng vào rừng xà nu bên cạnh con nước lớn, khiến cho cả khu rừng không cây nào còn nguyên vẹn mà không bị xước xát gì. Có những cây bị đạn bắn ngang thân mình, đổ ào như một trận bão, còn có những cây khác bị đứt làm đôi, nhựa cây ứa ra, chất dầu ứa ra, chỉ năm mười hôm là cây chết. Những vết đau, những tổn thương mà rừng xà nu đang gánh chịu cũng giống như những mất mát mà nhân dân ta đang phải gánh chịu trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Rừng xa đứng đó hiên ngang, anh dũng, che chở bảo vệ cho cả dân làng trước những tàn phá của quân thù. Qua hình ảnh ẩn dụ, nhân hóa này, tác giả như muốn tố cáo tội ác của kẻ thù. Mỗi cây xà nu ngã xuống giống như một người chiến sĩ tử trận nơi chiến trường, đó có thể là anh Xút, bà Nhan, mẹ con Mai hay anh Quyết, những người đã hi sinh cả cuộc đời mình vì sự nghệp bảo vệ tổ quốc. Trong mưa bom bão đạn của chiến tranh, cây xà nu vẫn đứng đó hiên ngang và anh dũng, nó đẹp không chỉ vì ngoại hình cao lớn, mùi thơm của nhựa mà nó còn ẩn chứa một vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong giống như tâm hồn của một con người. Đó chính là tinh thần kiên cường, bất khuất, không chịu gục ngã trước mọi khó khăn, thử thách giống như những người con Tây Nguyên. Tác giả đã miêu tả sức sống mãnh liệt của rừng xà nu “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Rừng cây xà nu giống như bất diệt, không mưa bom bão đạn nào có thể quét sạch, giống như cụ Mết đã khẳng định “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc lên, đố chúng nó giết hết được cả rừng xà nu này”. Quả thực qua bao nhiêu đợt tàn phá mà rừng xà nu vẫn đứng đó hiên ngang, không thể đánh gục giống như những con người nơi đây. Khi những thế hệ đi trước ngã xuống, lập tức lại có những thế hệ đi sau tiếp nối, không ngừng phát triển. Khi anh Xút, bà Nhan hi sinh thì đến thế hệ của Mai và Tnú, rồi khi thế hệ đó bị vùi chôn trôn trong bão đạn thì lại đến thế hệ của những bé Heng, bé Dít đang lớn. Đó như một lời khẳng định rằng dân tộc Việt Nam nói chung và dân làng Xô Man nói riêng sẽ không bao giờ đầu hàng, chấp nhận số phận trước kẻ thù xâm lược. tích vẻ đẹp hình tượng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Vẻ đẹp của cây Xà Nu còn được thể hiện ở chỗ nó loài cây ưa ánh sáng, luôn luôn vươn lên phía trước để sinh tồn. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, vô số những hạt bụi vàng bay ra từ nhựa cây thơm mỡ màng. Có thể nói cái đặc tính “ ham ánh sáng” của xà nu cũng giống như khao khát tự do, niềm tin vào cách mạng, vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của dân làng Xô Man. Niềm tin ấy có thể bị chà đạp, nhưng sẽ không bao giờ vụt tắt. Bằng bút pháp xây dựng hình tượng nhân vật và các thủ pháp nghệ thuật khác, Nguyễn Trung Thành đã thành công trong việc xây dựng một hình tượng cây xà nu mang vẻ đẹp sử thi, hào hùng, tràn đầy sức sống. Đó cũng chính là đại diện cho các tầng lớp nhân dân nói chung và dân làng Xô Man trong việc kiên cường, bất khuất đấu tranh mọi kẻ thù xâm lược. vẻ đẹp hình tượng cây xà nu hình tượng cây xà nu trong rừng xà nu
Phân tích vẻ đẹp hình tượng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
1,138
Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao Bài làm Tài hoa uyên bác- là một hình tượng nhân vật thường gắn liền trong các tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Tuân- một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp, luôn khao khát hướng tới những cái chân, thảo, chiện, mỹ lệ. Được đánh giá là cây bút tài hoa nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Và tác phẩm “ chữ người tử tù” được xây dựng dựa trên hình tượng đẹp như vậy và tiêu biểu là nhân vật Huấn Cao xuất hiện trong chuyện với vai trò là một người tài hoa, khí phách hiên ngang, thiên lương trong sáng. Truyện kể về nhân vật Huấn Cao- một kẻ cầm đầu bọn phản loạn dám đứng lên chống lại triều đình.Khi bị bắt giam ở nhà tù tỉnh Sơn, vì cảm mến trước tấm lòng viên quản ngục ông đã đồng ý cho chữ. Và đó là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Tình huống truyện vô cùng độc đáo. Huấn Cao là người cho chữ nhưng lại là tử tù chờ ngày ra pháp trường, viên quản ngục là người xin chữ nhưng đồng thời lại là người quản lí trại giam nơi giam giữ Huấn Cao. Cuộc gặp gỡ đã tạo nên tình thế vô cùng kịch tính, làm nổi bật lên vẻ đẹp rạng ngời của nhân vật Huấn Cao. Với cây bút tài hoa uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân, đã xây dựng một hình tượng nhân vật vừa mang vẻ đẹp tài hoa, có chứa khí phách hiên ngang và đặc biệt lại có một thiên lương trong sáng. Nhưng với vị trí là người tử tù, Huấn Cao lại có những hành động thể hiện khí phách hiên ngang của mình. Trước hết đó là hình tượng văn võ toàn tài, nghĩa khí. Đặc biệt, ông luôn thể hiện rằng thái đọi khinh thường bọn lính quản ngục, bằng hành động rỗ gông, rồi tiếp đến là khinh bạc những trò tiểu nhân hèn nhác của những kẻ tiểu nhân. Thêm vào đó là cái tính cách không chịu khuất phục trước quyền lực và tiền bạc, khi đối mặt với viên quản ngục ông vẫn ung dung không thèm để ý đến sự có mặt của viên quản ngục. Với tình cách thản nhiên vô ưu chờ ngày ra pháp trường kèm theo đó là thản nhiên nhận rượu thịt từ tay viên quản ngục mà không cần mảnh may suy nghĩ. Ngoài vẻ đẹp tài hoa uyên bác, một tính cách cũng khiến cho người đọc hiểu và ngưỡng mộ nhân vật Huấn Cao đó là thiên lương trong sáng, và chính cái thiên lương trong sáng đó mà đã làm cho rất nhiều người ngưỡng mộ ông. Không ít người đã xin chữ của ông những không phải ông cũng nhận lời cho chữ, trong cuộc đời ông chỉ cho chữ có bốn người đó là ba người bạn thân và người cuối cùng là viên quản ngục. Không vì tiền mà cho chữ, biết cân nhắc cho chữ. Ngoài ra, nhân cách của ông còn được đánh giá qua cách nhìn nhận và đánh giá khả năng và tài đức của viên quản ngục. Đặc biệt là một người yêu cái đẹp, trọng cái đẹp, và biết trân trọng những người yêu thích cái đẹp. Như vậy, qua hình tượng nhân vật Huấn Cao khiến cho người đọc hiểu thêm được về sự tài hoa, uyên bác, hiểu được thế nào là cái đẹp và niềm đam mê cái đẹp. Ngoài ra, nó còn là sự hy sinh cho cái đẹp và cái tâm thế luôn luôn bảo vệ cái đẹp. Nhà văn đã sử dụng ngòi bút tả thực đầy kịch tính kết hợp với việc khắc hoạ tính cách nhân vật và ngòi bút miêu tả phong cảnh hiện thực lẫn lãng mạn. Có thể nói “Chữ người tử tù” với bút pháp sắc sảo khi dựng người, dựng cảnh, với ngôn ngữ văn xuôi giàu có và góc cạnh, với vẻ đẹp tuyệt vời của Huấn Cao, tác phẩm xứng đáng là một áng văn chương một thời vang bóng và nó mãi mãi vang bóng trong bạn đọc nhiều thời.
Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao
731
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu Bài làm Xuất dương lưu biệt không những là một bài thơ hay, mà còn là một mốc quan trọng đánh dấu cuộc đời hoạt động cứu nước sôi nổi cùng thơ văn cổ động lòng yêu nước và đấu tranh cách mạng đầy nhiệt huyết của nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Bài thơ được ứng khẩu trong hoàn cảnh tác giả tạm biệt bạn bè đồng chí để lên đường. Xuất dương lưu biệt là bài ca hào sảng và hùng tráng về chí nam nhi của nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng. Bài thơ Xuất dương lưu biệt là giờ phút con hổ được về rừng, con cá kình được ra biển khơi, con đại bàng được tung cánh, dù phía trước còn biết bao khó khăn và nguy hiểm, nhưng chúng có cái hanh phúc được vẫy vùng. Sau một thời gian tham gia các phong trào yêu nước nhưng không đem lại hiệu quả, Phai Bội Châu đã trăn trở suy tư để tìm ra một con đường cứu nước mới để đưa nước Việt Nam hùng mạnh như các nước ở Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản). Đến năm 1905 ông giã biệt bạn bè để sang Nhật cầu giúp đỡ. Xuất dương lưu biệt là những lời lẽ tỏ rõ quyết tâm của ông trước khi lên đường: Làm trai há phải lạ trên đời. Há đế càn không tự chuyển dời. Câu thơ thể hiện rõ quan niệm về chí nam nhi của Phan Bội Châu, làm trai trước hết phải được sự nghiệp anh hùng. Chúng ta bắt gặp ý thơ này trong bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão: Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thỉnh nhân gian thuyết Vũ hầu Hay trong thơ của Nguyễn Công Trứ. Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển. Quan niệm của cụ Phan giống với các nhà nho thuở xưa, đã là con người sống trong trời đất này, phải làm được một điều gì đấy, đã sinh ra làm kẻ nam nhi cũng phải mong có điều lạ. Nhưng tới câu thơ thứ hai, ý thơ cửa Phan Bội Châu đã bắt đầu khác: Lẽ nào dể trời đất chuyền vần lấy sao. Nghĩa là Phan Bội Châu đã thoát ra khỏi tư tưởng thiên mệnh của người xưa. Xưa kia người anh hùng tiết tháo Đặng Dung chua chát nhận ra thời vận (tức ý trời) là nhân tố quyết định nên sự thành bại. chứ không phải do tài năng của bản thân: Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. (Gặp thời thì anh hùng thật, người câu cá cũng dễ dàng làm nên công trạng / vận đã hết thì anh hùng cũng chỉ nuốt hận mà thôi). Với Phan Sào Nam thì ngược lại, ông đặt con người ngang tầm với càn khôn (đất trời). Càn khôn xoay vần cuộc đời thi cớ gì con người không xoay vần được càn không. Người xưa nói: Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên (Mưu việc do con người, nhưng thành công là bởi ý trời). Phan Bội Châu không đề cập chuyện thành bại ở đây nhưng ý chí dám xoay lại càn khôn thì không chỉ là ngang tàng, bướng bỉnh mà có phần tự tin, lạc quan. Thoát khỏi tư tưởng thiên mệnh là bước đột khởi để người chí sĩ cách mạng thực hiện chí nam nhi của mình. Sau khi so mình với càn khôn, tác giả lại so mình với đồng loại: Uu bách niên trung tri hữu ngã Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy (Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở há không ai?). Hào kiệt xưa kém thua càn khôn nhưng với đồng loại thì tự cho mình là xuảt chúng, không bao giờ chịu ở trong đám đông tầm thường. Với Phan Bội Châu thì khác nhiều, ông vừa đánh giá cao cá nhân anh hùng, nhưng cũng không cho cá nhân ấy là duy nhất. Câu thơ thứ ba của bài rất gần với ý thơ của Nguyền Công Trứ. Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải cỏ danh gì với núi sông. Nhưng ở câu thơ thứ tư thì lại rất khác. Tác giả đặt vai trò của cá nhân mình bình đẳng với các cá nhân khác, tuy rằng đó mới chỉ là một câu nghi vấn: Sau này muôn thuở, há không ai? Nhưng đã chứng tỏ Phan Bội Cháu không coi mình Là duy nhất. Bản thân là một nhà nho, nhưng không vì thế mà Phan Bội Châu giữ lấy sự cố hữu của nhà nho, trái lại ông là con người của thực tiễn, hăm hớ với trào lưu đổi mới. Đầu tiên đó là sự dổi mới của tư tưởng nhận thức. Non sông đã chết sống thêm nhục Hiền thánh còn đâu học cũng hoài. Nhà thơ đã đặt số phận của đất nước bên cạnh số phận cùa mỗi người, điều này không phải đến Phan Bội Châu mới có. Nhưng có lẽ ít ai nói được điều đó da diết thống thiết như cụ Phan. Nước đã mất đồng nghĩa với anh hùng chịu nhục. Nhục thì phải đứng lên rửa nhục, làm được điều đó thì xứng đáng là anh hùng. Việc học cũng phải quan niệm lại. Nếu như ở Nguyên Khuyến hay Tú Xương: Sách vở ích gì cho buổi ấy Hay: Ông nghè ông cống cũng nằm co. Chỉ là niềm cảm khái cho đạo thánh hiền đến buổi lụi tàn, thì ở Phan Bội Châu là sự phê phán đến gay gắt. Sách vở thánh hiền vô dụng mà còn ngồi tong thì chỉ là hoài, là nghi mà thôi. Sau đổi mới về tư tưởng, nhận thức là sự đổi mới về hành động: Muốn vượt biển đông theo cách gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. (Nguyện trục trường phong đông hải khứ Thiên trùng bạch lãng nhất tề phỉ). Sóng gió ở đây không phải là sóng gió bình thường, mà là gió dài (trường phong), sóng bạc (bạch lãng) tức sóng to gió lớn (phong ba bão táp). Người hào kiệt không những không sợ sóng gió mà còn coi sóng gió là bạn đường (những khó khăn nguy hiểm trên dường hoạt động) là đối tượng để mình dua sức, đua tài Hai câu thơ cuối thế hiện ý chí mạnh mẽ của Phan Bội Châu, mong muốn được ra đi bất chấp mọi khó khăn gian khổ. Câu thơ gợi một cảm giác bừng bừng tráng khí chứ không mang một chút lo âu, cũng chẳng hề nghĩ đến quan san muôn dặm hay lữ thứ tha hương. Nhiệt huyết cứu nước cứu nòi đã lấn át đi tất cả. Câu thơ vượt Biển Đông cũng ngầm ý là sang Nhật Bản, đất nước nhờ biết duy tân mà trở nên hùng cường, đánh thắng cả nước Nga hùng mạnh, là tấm gương sáng cho các dân tộc noi theo. Vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng của nhân vật trữ tình trong tác phẩm đã được thế hiện rõ nét trong chí làm trai của tác giả. Nó thể hiện khát vọng độc lập tự do cùa các bậc chí sĩ yêu nước thuở xưa. Trong bối cảnh đất nước Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu (á – tế – á — ca), sự xuất hiện của Phan Bội Châu với sứ mệnh hai vai gánh vác cả sơn hà đã thổi vào lịch sử văn học một luồn sinh khí hào hùng chưa từng có. Qua vẻ đẹp lãng mạn mà hào hùng của nhân vật trữ tình, Phan Bội Châu muôn hát vang chí nam nhi, trở thành gạch nối giữa lí tưởng cao đẹp của nhà nho chân chính với lí tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa của người cộng sản, mà tiêu biểu là Nguvền Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
Phân tích vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
1,352
Phân tích vẻ đẹp Lặng lẽ Sa Pa Hướng dẫn Vẻ đẹp thiên nhiên và con người trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa Mở bài: Xanh ngát trong nền văn học Việt Nam thế kỉ 20, nổi bậc lên cây bút Nguyễn Thành Long. Không khai thác hiện thực cuộc sống khốc liệt, sắc cạnh và sôi sục như các nhà văn khác, Nguyễn Thành Long đã lựa chọn cách biểu đạt nhẹ nhàng, sâu lắng như chính tâm hồn ông, bởi ông yêu văn, yêu cả cuộc sống. Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật ấy. Vẻ đẹp Lặng lẽ Sa Pa trầm lắng nhưng rạo rực và tinh tế vô cùng. Thân bài: Văn Nguyễn Thành Long có giọng buồn êm dịu như một bài thơ, nhỏ xinh run rẩy như một bông cúc nở trong sương sớm. Ta ngơ ngẩn trước vẻ đẹp của bông hoa và đắm say trước đất trời hòa thắm yêu thương. Nhiều khi, hồn văn Nguyễn Thành Long làm dịu mát lòng ta như mạch nguồn trong trẻo, dịu dàng. Truyện ngắn của Nguyễn Thành Long lúc nào cũng nhẹ nhàng, tình cảm, thường pha chất kí và giàu chất thơ, thấm đẫm chất trữ tình. Văn ông thường ánh lên vẻ đẹp của con người nên có khả năng thanh lọc làm trong sáng tâm hồn, khiến chúng ta thêm yêu cuộc sống. Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” được xây dựng xoay quanh một tình huống truyện khá đơn giản mà tự nhiên. Đó chính là cuộc gặp gỡ tình cờ của mấy người khách trên chuyến xe lên Sa Pa với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi cũng đủ để tác giả khắc họa “bức chân dung” anh thanh niên – nhân vật chính một cách tự nhiên và tập trung, qua sự quan sát của các nhân vật khác và qua chính lời lẽ, hành động của anh. Đồng thời, qua “bức chân dung” của người thanh niên, qua sự cảm nhận của các nhân vật khác về anh và những người như anh, tác giả đã làm nổi bật được chủ đề của tác phẩm: Trong cái lặng lẽ, vắng vẻ trên núi cao Sa Pa, nơi mà nghe tên người ta chỉ nghĩ đến sự nghỉ ngơi, vẫn có bao nhiêu người đang ngày đêm làm việc miệt mài, say mê, cống hiến sức mình dựng xây đất nước. Có lẽ nhà văn luôn mong đợi điều đó. Ông cũng yêu thiên nhiên lắm, thế nên đến với với Tây Bắc ông cũng hồ hởi như con trẻ, say đắm biểu đạt nó. Tây Bắc hiện ra với nắng đốt cháy rừng cây, nắng mạ bạc con đèo… Cây hoa tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe. Chỉ vài nét chấm phá điểm xuyết như trong thơ cổ, nghệ thuật nhân hóa, so sánh đặc sắc, tác giả đã mau chóng khắc họa bức tranh thiên nhiên Sa Pa với vẻ đẹp trong trẻo, thơ mộng, quyện tròn tình người. Người đọc không hề thấy một Tây Bắc dữ dội với đèo cao, vực thẳm, dốc đá trơ trọi,… mà chỉ thấy một Tây Bắc tươi xanh, trẻ đẹp như một sơn nữ, thấp thoáng trong làn sương mờ ẩn vừa hữu tình vừa khơi gợi đam mê khám phá. Miêu tả bức tranh thiên nhiên bằng ngôn ngữ trong sáng, mỗi chữ, mỗi câu như có đường nét, hình khối, sắc màu. Người đọc cứ rộn ràng theo nhịp điệu văn mang âm hưởng một bài thơ về thiên nhiên đất nước, thôi thúc lòng người đến với miền địa đầu tổ quốc. Có thể nói, Nguyễn Thành Long đã khéo léo để cho bức tranh ấy được cảm nhận bởi du khách, với nhiều tâm trạng, nhiều lứa tuổi, nhiều trải nghiệm khác nhau. Có khi rất quen thuộc của người lái xe, có khi lạ lẫm của cô kĩ sư, có khi triết lí của ông họa sĩ. Hình ảnh thiên nhiên được lột tả nhiều mặt, chuyển đổi liên tục, càng ngày càng rõ, có sức cuốn hút vô cùng. Trên nền cảnh hùng vĩ ấy, nhân vật anh thanh niên dần dần hiện lên qua lời giới thiệu của bác lái xe trong cuộc trò chuyện với khách. Đó là “một trong những người cô độc nhất thế gian”, rằng anh ta rất “thèm người” và nếu họa sĩ đến gặp thì thế nào “cũng thích vẽ”. Lời mào đầu đã thực sự gây hứng thú đối với ông họa sĩ và cô kĩ sư – những người luôn mong ước được gặp gỡ để ghi nhận những anh hùng người thầm lặng trên khắp đất nước mình. Không để cho các nhân vật chờ đợi lâu hơn nữa, Nguyễn Thành Long đã rất hạn chế diễn giải dài dong, cuộc gặp gỡ diễn ra ngay sau đó. Đúng như lời bác tài xế đã giới thiệu, anh thanh niên quả thật tuyệt vời. Cuộc sống đơn độc, công việc vất vả nhưng không vì thế mà tâm hồn khô héo, nó vẫn tươi xanh và tràn đầy sinh lực. Anh vẫn nhớ tặng bác tài xế củ tam thất cho bác gái bồi bổ sức khỏe. Vừa tiếp chuyện, anh vẫn kịp chạy đi cắt mấy bông hoa tặng cô kĩ sư trẻ. Cuộc sống của anh lúc nào cũng rộn ràng dù chỉ có mình anh trên đỉnh mây mù. Lật từng trang văn của Nguyễn Thành Long, ta thấy anh thanh niên 27 tuổi sống và làm việc một mình trên đỉnh núi cao 2600m, quanh năm làm bạn với mây mù và cây cỏ. Công việc của anh là hằng ngày là “đo gió, đo mưa, đo nắng,tính mây và đo chấn động mặt đất, dự báo thời tiết hằng ngày để phục vụ sản xuất và phục vụ chiến đấu”. Một công việc gian khó nhưng đòi hỏi sự chính xác, tỉ mỉ và tinh thần trách nhiệm cao. Hoàn cảnh làm việc khó khăn, lại không có ai quản lí thế nhưng anh không hề sao nhãng hay lười biếng: “nửa đêm dù mưa tuyết, gió lạnh, đúng giờ ốp thì cũng phải trở dậy ra ngoài trời làm việc”. Sự heo hút, vắng vẻ của núi rừng Tây Bắc; cuộc sống và công việc có phần đơn điệu, nhàm chán…là thử thách thực sự đối với tuổi trẻ vốn sung sức và khát khao trời rộng, khát khao hành động. Nhưng cái gian khổ nhất đối với chàng trai trẻ ấy là phải vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ quanh năm suốt tháng ở nơi núi cao không một bóng người. Chỉ 30 phút trò chuyện nhưng cũng đủ để những người tiếp xúc kịp ghi một ấn tượng sâu sắc, kịp để ông họa sĩ thực hiện bức kí họa chân dung, kịp để cô kỹ sư bối rối và có những cái gì đó thật thân thiết với anh thanh niên. Rồi dường như anh lại khuất lấp vào trong mây mù bạt ngàn và cái lặng lẽ muôn thuở của núi cao Sa Pa. Trong cái im lặng của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước. Kết bài: Nguyễn Thành Long đã rất thành công khi chọn cách kể chuyện nhỏ nhẹ như lời tâm tình. Sự hòa lẫn giữa lời dẫn chuyện và sự dẫn dắt giữa các nhân vật làm cho câu chuyện trở nên tự nhiên, cảnh vật phô bày trước mắt người đọc. Nhân vật chính hiện lên đa hiều giúp người đọc nhanh chóng cảm nhận khá toàn diện. Với Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long đã đóng góp một tiếng nói thầm lặng ngợi ca những người anh hùng đã quên mình làm việc, góp sức xây dựng quê hương, đất nước trong thời đại mới. Đó cũng là một phát hiện khá mới mẻ, một điểm nhìn đặc sắc của nhà văn. Có thể bạn đàn tìm kiếm: Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa–Pa của Nguyễn Thành Long
Phân tích vẻ đẹp Lặng lẽ Sa Pa
1,414
Phân tích vẻ đẹp người lính Tây Tiến Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp người lính Tây Tiến Một trong những bài thơ hay mà cho tới tận hôm nay, những vần thơ ấy vang lên vẫn giống như một khúc ca đi cùng năm tháng, Tây Tiến đã trở thành một hiện tượng trong thơ Quang Dũng, cũng là một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính. Những câu thơ mang một vẻ hào hoa, mang một phong cách hồn hậu,phóng khoáng. Không những thế qua bài thơ Tây Tiến chúng ta thấy được vẻ đẹp bi tráng của những người lính Tây Tiến và về một thời hào hùng đã qua đi. Câu thơ mở đầu như một khúc nhạc dạo cứ ngân dài mãi, khúc nhạc ấy nhắc tới hình ảnh Sông Mã, Tây Tiến ngay ở câu mở đầu cũng được ưu ái với một cách gọi thân thương “ tây Tiến ơi”. đây chính là một trong tiếng gọi trở về những năm tháng kề vai sát cánh bên nhau trong hành quên chiến đấu. Sông Mã hào hùng như minh chứng cho một thời oanh liệt đã qua, cứ ồ ạt cuốn nước chảy tới vô bờ. Vẻ đẹp của những anh hùng tây tiến cũng từ đó hiện ra, vẻ đẹp của những con người đã in dẫu chân trên những con đường hành quân. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đem hơi” Một thời đạn bom đó đã để lại nỗi ám ảnh cho những người trực tiếp tham gia chiến đấu. Cách hiệp vần ở những chữ cuối mỗi câu khiến cho câu thơ càng vang xa,ngân mãi trong đêm:” ơi,vơi, hơi”. Nó giống như lúc những anh lính tây tiến trút hơi thở mệt mỏi sau một ngày hành quân. Hai địa danh Sài Khao và Mường Lát hiện lên khắc sâu vào nỗi nhớ của tác giả. Hai địa danh ấy gắn với những cuộc hành quân của đoàn quân tây tiến. “ đêm hơi” khiến cho độc giả nghĩ tới nhiều sự vật kì vĩ, đêm hơi có thể là đêm đầy sương và hơi sương, đêm hơi còn là đêm của không khí lạnh của rừng sâu, nhưng cũng có thể là sự di chuyển nhẹ nhàng của những chiến sĩ đoàn quân tây tiến hay chính là những hơi sương trong đêm hành quân ấy thể hiện những khó khăn vất vả của đoàn quân. Những khó khăn của những người lính tây tiến lại trở nên đẹp đẽ và nên thơ trong những vần thơ của Quang Dũng. Đó là những gian nan mà những người lính phải trải qua, chính những gian nan đó lại càng tô đậm vẻ đẹp bi tráng của họ… những triền dốc khiến người ta mới nhìn đã thấy ngại, hai từ thăm thẳm trong câu thơ khiến độ hun hút của những con dốc lại càng trở nên nguy hiểm biết bao nhiêu.chưa dừng lại đó,những hình ảnh hun hút, đầu súng của những người lính đang đùa giỡn vấy mây trời. Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Những độ cao độ sâu ấy được tính bằng ngàn thước, mục đích của nó nhâm nhấn mạnh vào những gian khổ mà đoàn quân phải vượt qua. Nhưng đến câu thơ cuối thì một dòng toàn thanh bằng lại được xuất hiện như bù lại cho những câu thơ mang nhiều thanh trắc. Sự bằng ấy mang đến cho chúng ta một cảm giác thật sự yên bình. “ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.những lúc mưa gió, đoàn quân nghỉ ngơi và nhìn ra những cơn mưa như trút nước xuống, khiến một vùng trắng xóa như những mặt nước trắng xóa vậy. Những gian nan khó khăn ấy mở nguồn cho hình ảnh đẹp vi tráng của những người lính ấy. Cũng có những lúc sự hồn nhiên của người lính được thể hiện qua những giây phút mệt mỏi,gục lên ba lô và ngủ,bỏ lại sau đó những khó khăn vất vả, những hiểm nguy của kháng chiến.Hình ảnh người lính gục lên súng mũ dãi dầu không bước nữa là một hình ảnh đẹp. Câu thơ nhằm nói giảm đi cái chết, cái hi sinh của những người chiến sĩ ấy. Đó là một vẻ đẹp bi tráng, cái hi sinh kia là bi nhưng trong cái bi ấy ta lại thấy một cái tráng lệ vô cùng. Họ có thể hi sinh nhưng trong một tư thế rất nhẹ nhõm, “ bỏ quên đời” những kí ức về những lúc dừng chân mệt mỏi, những kỉ niệm với những buổi chiều và ban đêm với những con thú dữ gầm rú lên, nhớ những đem mùa nếp xôi ở Mai Châu. “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” Hình ảnh có thấy dáng người trên độc mộc và hoa đong đưa tạo nên một hình ảnh có đôi có cặp, hình ảnh hoa xoáy vào dòng nước càng tạo nên vẻ đẹp thơ mộng nơi đây. “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Không chỉ khó khăn trên chiến trường chiến đấu, những câu chuyện về bệnh tật và nơi khí hậu khắc nghiệt cũng được đưa vào trong thơ của Quang Dũng. Không một chút giấu diễm, sự thiếu thốn hay những căn bệnh như sốt rét, khiến cả binh đoàn bị rụng hết tóc, quang Dũng đã khai thác một vẻ đẹp hết sức chân thực của người lính Tây tiến, dù khó khăn khắc nghiệt nhưng tinh thần chiến đấu chưa bao giờ kết thúc. Hình ảnh quân xanh màu lá là những hình ảnh gầy gò ốm nhưng không hề yếu mà vẫn dữ oai hùm. Mắt trừng gợi cho ta liên tưởng đến sự căm thù giặc của những anh hùng tây tiến. Những ánh mắt hiện lên lửa hi cọng và tinh thần chiến đấu oai hùng, không một chút phó mặc cho số phận, cũng có thể đó chính là sự thức trắng không ngủ được vì lo cho biên giời hoặc mở mắt để nhớ những bóng kiều thơm kia..Đó sự hi sinh của những người chiến sĩ ấy, họ phần lớn là những trí thức Hà Thánh ngày đêm nghĩ đến quê nhà với những bóng hồng mà không bao giờ mờ nhạt trong lòng họ.. Đó chính là cái bi của vẻ đẹp người lính. Nhưng nó lại rất tráng vì người ta chết đi vì lí tưởng cao cả của mình thì đó chính là cái chết đẹp. Thay vì chiếu đắp lên, sự ra đi của các anh được ví như sự ra đi của những người được những người khác tôn trọng và biết ơn.Những áo bào thì thay bằng chiếu thể hiện sự giản dị của những người lính. Chiến trường khắc nghiệt làm cho anh phải ra đi chỉ có mảnh chiếu che thân. Đất mẹ chính là nơi các anh sinh ra cũng là nơi mà các anh về, đất mẹ che chở cho các anh mãi mãi yên bình với giấc ngủ ngàn thu của mình. Một lần nữa, hình ảnh sông Mã hiện ra, gầm lên khúc hành ca, như kính cẩn tiễn đưa linh hồn các anh, không phải là sự chơi vơi nữa mà là tiếng gầm, nó càng tạo nên chất tráng cho bìa thơ Nguồn: Bài văn hay
Phân tích vẻ đẹp người lính Tây Tiến
1,316
Phân tích vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn Hướng dẫn Mở bài: Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại hơn 700 bài thơ chữ Hán và chữ Nôm. Các bài thơ được tập hợp trong Bạch vân am thi tập và 170 bài thơ chữ Nôm trong Bạch vân quốc ngữ thi. Thơ ông mang đậm chất triết lí giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời phê phán thói đời đen bạc trong xã hội. Bài thơ Nhàn là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho lối sống nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm ngay trong thời đại có nhiều biến động dữ dội nhất của lịch sử. Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Thân bài: Nhan đề của bài thơ Nhàn do người đời sau đặt cũng là một sự tri ân với tác giả. Chữ Nhàn trong bài nhằm chỉ một quan niệm, một cách xử thế. 1. Vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ “Nơi vắng vẻ” là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và nơi thảnh thơi của tâm hồn. Đó cũng là nơi không người cầu cạnh ta và ta cũng không cầu cạnh người. Người “dại” thường tìm nơi vẳng vẻ. Người “khôn” thích đến chốn lao xao. Đây là cách nói ngược vô cùng hóm hỉnh nhưng sâu cay. Người “dại” thực chất là người “khôn”. Người dại biết quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn, sống ung dung hoà nhập với thiên nhiên. Đó là vẻ đẹp của trí tuệ phi thường, vượt lên trên mọi cám dỗ và ràng buộc. Có rượu tìm đến cội cây, nơi quang đãng, vắng lặng đẻ uống, để say thỏa thích, mặc sự đời trôi chảy, nhìn mọi người tranh đoạt phú quý mà cười khinh miệt. Nguyễn bỉnh Khiêm nhìn cuộc đời như là một giấc mộng. Ông xem phú quý tựa chiêm bao để nhận ra lẽ sống. Cái say và giấc chiêm bao của tác giả thể hiện quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Công danh, phú quý, cái mà mọi người đang tranh giành nhau, đối với ông chỉ như một giấc mơ chẳng có ý nghĩa gì. Cái tồn tại mãi mãi vĩnh viễn là thiên nhiên và nhân cách con người Câu thơ thể hiện quan điểm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sống nhàn là sống hoà hợp với tự nhiên, sống đạm bạc, nhàn tản, vui với thú điền viên thôn dã, xa lánh quyền quý, danh lợi để giữ cốt cách thanh cao.Điều này cho thấy ông là một người có trí tuệ uyên thâm. Kết bài:
Phân tích vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn
478
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù Bài làm Ai đã từng đọc Chữ người tử tù đều rung động cảm phục, sùng kính trước vẻ đẹp của người anh hùng sa cơ lỡ vận mà hiên ngang, bất khuất, có tài, có tâm, mến mộ nghĩa khí. Đó là Huấn Cao (HC), HC là kết tinh, là hội tụ phẩm chất của một con người có nhân, dũng, trí. Ông là tập hợp của tất cả những gì tinh khiết nhất, cap đẹp nhất. HC là một hình tượng thẩm mỹ, một nét đẹp trong cuộc sống đời thường, là một người có nhân cách vẹn toàn, vừa có tài văn, tài võ, vừa là người có nghĩa khí. HC phảng phất bóng dáng của Cao Bá Quát đã từng sống một cuộc sống tung hoành ngang dọc, là người có tài,có đức, văn hay chữ đẹp, sống trong giai đoạn của Nguyễn triều, dám đứng lên chống lại bọn thực dân phong kiến, bọn cường quyền, đả kích xã hội PK thối nát, bỉ ổi. Phải chăng, Nguyễn Tuân(NT) đã mượn HC để ca ngợi Cao Bá Quát và mặt khác dựa vào Cao Bá Quát, khái quá lên một hình tượng HC mà cái đẹp của tài hoa quyện với cái đẹp của khí phách, tuy chí không thành nhưng vẫn coi thường hiểm nguy gian khổ, coi khinh cái chết. Tư thế của HC hiên ngang lồng lộng toả sáng trên cái nền đen quánh của tù ngục. Nói đến vẻ đẹp của hình tượng HC trước hết phải nhắc đến cái tái. HC là một người viết chũa đẹp. Trong thị hiếu thẩm mỹ của người xưa từ Trung Quốc đến Việt Nam thì viết chữ đẹp là cả một nghệ thuật cao quý và chơi chữ đẹp là biểu hiện của con người có tri thức, một vẻ đẹp hoàn mỹ trong văn hoá truyền thống dân tộc. Nó như một sản phẩm nghệ thuật, như một vật báu mà con người khát khao, thèm muốn. Ngào ra, HC còn có tài bẻ khoá vượt ngục coi nhà tù như nơi không người, ra vào như chơi. Điều đó thể hiện một con người khát khao tự do, hoài bão tung hoành luôn đấu tranh cho chính nghĩa, chống lại triều đình PK mục nát. Tất cả những tài năng đó làm thành một HC có tầm lớn, đi vào lòng độc giả như một anh hùng, một trượng phu đã vượt lên tất cả cái bình thường nhỏ nhoi của cuộc đời để vẫy vùng để chọc trời khuấy nước. Nhưng trong cái xã hội PK bóc lột người, nhân tài như lá mùa thu ấy thì HC hiện lên là một anh hùng thất thế. Nguyễn Du đã từng viết về Từ Hải-một anh hùng thời cổ: Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn Song vị hùm thiêng HC này tuy có sa cơ, lỡ nghiệp nhưng HC vẫn kiên cừơng, bất khuất, vẫn dũng khí. Do đó, người đọc không chỉ nhận ra HC là một người có tài mà ông còn là người có dũng khí, hiên ngang trước cường quyền, trước một cái chết treo lơ lửng. Hết mực ca ngợi cái tài của HC, đồng thời Nguyễn Tuân cũng hết sức trân trọng cái tâm của HC. Bởi Cái tâm kia mới bằng ba chữ tài(Nguyễn Du). Cái tâm của ông cũng vuông lắm, cao khiết và đày sức chinh phục như nét chữ của ông vậy. Có lẽ phong cách tức là con người đã được thể hiện rất rõ ở đây. Mặc dù viết chữ Nho đẹp lẽ ra ông phải trung thành với đạo thánh hiền, giữu mình theo lễ nghĩa Nho giáo, trung với vua, một lòng một dạ theo triều đình. Nhưng không! HC không chịu vào luồn ra cúi, không chịu sống trong cảnh nhung hoa áo gấm, thà làm giặc triều đình sống theo chính nghĩa mà mình đã vạch ra. Sự nghiệp dang dở, bị bát, bị kết án tử hình nhưng ông vẫn không hề tỏ thái độ run sợ, không mảy may tiếc nuối, hối hận. HC- ngôi sao Hôm chính vị ấy- bước vào ngục trong tư thế thật hiên ngang, khí phách ung dung. Trong con mắt của bọ lính ông thật cao thượng, bất khuất, khinh đời. Ngay cả với gông xiềng, với cái án tử hình sắp đến gần, thái độ của ông vẫn ngang tàn, lạnh lùng. HC ung dung, lãnh đạm dỗ gông trước mạt bọn lính, không thèm chấp mấy lời đe doạ. Ông bình thản ăn những món ăn do quan ngục biệt đãi, coi như mình có quyền hưởng thụ, ông làm việc theo ý mình, hoàn toàn tự chủ. Ông ngước mát nhìn lên nhà lao, lên những bộ mặt bất nhân, nham nhở. Cái nhìn hiên ngang đó không run sợ, không căm hờn, oán hận, không van xin, cầu khẩn. Đó là một cái nhìn của kẻ dám làm dám chịu. Thậm chí ông còn khinh bạc, nặng lời khi chưa rõ ý tốt cuả quản ngục: Ngươi hỏi ta muốn gì?Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây. Con người khuấy nước trọc trời chẳng biết nể sợ ai. Nừu trong đời thương trừ chỗ tri kỷ, ông ít chịu cho chữ, nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ, thì khi sa vào chốn giam cầm thì mấy chén rượu, vài bữa cơm thịt của hai con người vô danh tiểu tốt ở chốn tù ngục bé nhỏ này làm sao lung lay được ông hay vì quyền uy mà làm ông run sợ. Thật đúng là nhân cách lý tưởng mà con người của ngàn năm qua vẫn ao ước. Cái thái độ khinh đời, ngang tàn đó phải chăng làm cho viên quản ngục ngây ngất, kính nể. Hc đã mang đén chốn lao tù, cho cái địa ngục sống này một ánh sáng ký ảo, huyền diệu, lung linh, chói rọi, soi sáng đạo lý làm người. Thiên lương cao đẹp của ông là một vầng hào quang toả sáng rực rỡ trên bầu trời đầy u ám của nhà tù. HC-vầng hào quang chói lọi này không những là một người có dũng trí mà còn là một con người có trài tim nhân hậu. Khi biết thiện ý của quản ngục, HC đã rất cảm động. Từ đó, ta thấy ông Huấn là người có lòng bao dung, độ lượng, chia sẻ nỗi niềm cùng với hai người bạn bạn mới mà suýt nữa ông đã đánh mất: Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các ngươi. Nào ta biết đâu một người thầy quản đay lại có cái sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữ ta đi phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ. Sự biệt đãi bằng vật chất và thái độ ân cần không làm cho trái tim sắt đá kia mềm lòng. Chính cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài và những sở thích cao quý, hướng về văn minh, văn hoá mới cảm hoá được trái tim dường như được đúc bằng thép ấy. Thái độ biệt nhỡn liên tài của HC đối với quản ngục không phải sự liên tài sự trả ân đối với người đã đối xử tử tế, biết chơi chữ của mình, mà là sự trân trọng, cảm đọng trước một nhân cách Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Quản ngục sống giưũa bùn nhơ nhớp mà vẫn giữu được thiên lương, biết trọng người tài, kính cái đẹp. Đó đúng là một đoá sen trong bùn. ánh hào quang rực rỡ, vẻ đẹp tuyệt diệu toả ra rất rõ ở cảnh HC cho chữ. Nó bộc lộ trọn vẹn nhất vẻ đẹo nhân cách HC. ở đây vẻ đẹp này toả hương thơm ngát hơn lúc vào hết. Dưới ngòi bút của NT, một cảnh tượng đày kịch tính diễn ra, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Đó là sự tương phản giữa một bên là một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tương đày mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián với một bên là tấm lụa trắng tinh, căng phẳng và với ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu đang cháy rừng rực. Ba đầu người chăm chú trên một tấm lụa bạch nguyên vẹn. Nó là sự trái ngược của sự tàn bạo, đánh đập, tra khảo dã man với ánh sáng của nền văn minh, văn hóa. Đó còn là sự mâu thuẫn giữa bóng tối và ánh sáng, cái xấu và cái đẹp, cái ác và cái thiện, cái chết và cái sống, cái xấu xa đê tiện và cái trong trẻo cao thượng. Ngòi bút dựng cảnh, dựng người của Nguyễn Tuân rất giàu tính tạo hình với trình độ nghệ thuật điêu luyện, sức sảo, gần đạt đến sự hoàn mĩ( Vũ Ngọc Phan ). Dưới ánh sáng của bó đuốc đỏ rực-bó đuóc của trí tuện, của niềm tin, của hy vọng và trong khung cảnh thật nghiêm trang, thật thiêng liêng này, HC dồn hết tâm linh, sinh lực vào từng nét chữ. Ông không mảy may lưu ý gì đến cái xấu xa xa, bẩn thỉu đang tồn tại mà hoàn toàn bị thu hút, quyến rũ vào một sự vật:tấm lụa bạch nguyên vẹn. Đúng thế, ở đay chỉ có cái đẹp, cái cao thượng mới thực sự tồn tại. Chính tấm lụa trắng tinh này mà ông HC đang cho ra đời những con chữ tuyệt tác ấy mới thực sự có sức mạnh. Ở đây không còn là một HC tử tù nữa. Chỉ còn một HC tự do nhất, sống động nhất. Cái giá treo cổ kia cũng không còn nữa mà chỉ có cuộc sống vĩnh hằng về chân lý của cái đẹp. Ngôi sao sáng –HC -đang phát quan bừng tỉnh cái không gian u tối, phá vỡ caí màn đem ngự trị ngàn đời ở đây. HC đem đén nơi đay một thế giới văn hoá. Vẻ đẹp cao nhân đó đã làm cho viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đòng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Tuy nhiên, ở nhà ngục này có sự thay bậc đổi ngôi, có sự chuyển hoá vị thế, vị trí xã hội của con người. Nó noí lên một sự thật mà đày tính lãng mạn. Giờ phút này và tại nơi đay không phải do quản ngục làm chủ. Sức mạnh, quyền lực của cái đẹp và chân lý tồn tại trên đời, thể hiện sức mạnh, quyền uy theo cách riêng của nó. Nó không khất phục người ta bằng bạo lực, nó chinh phục người ta bằng tự bản chất của nó. Nó không giày xéo áp đặt con người để bắt người ta phải tuân theo nó, trái lại, nó vực con người ta đứng dậy, tự nguyện đi theo nó để hướng tới cái CHÂN-THIỆN-MỸ trở nên trong sáng và tốt đẹp hơn. Và ở đây caí đẹp đã lên ngôi thay thế cho cái xấu xa, thấp kém, cái đẹp nâng đỡ con người, cứu vớt con người(Đôxtôiepxki). Cái đẹp đăng quan, cái xâú xa đã phải chìm xuống nhường chỗ cho cái đẹp. Cái đẹp đã tồn tại, sẵn sàng và rất cần sự đánh thức cái thiên lương ở mỗi con người. HC cho chữ như chuyển giao một nhân cách tự do, chuyển giao cái đẹp đẻ cái đẹp mãi sinh sôi nảy nở, đi vào cõi vĩnh hằng. Hình tượng nhân vật HC được khắc hoạ bằng ngòi bút lãng mạn cứ sừng sững hiên ngang hiện lên như muốn cất bổng lên, phá vỡ chốn lao tù, phá vỡ cái cuộc sống đang tràn ngập màn đêm, ngột ngạt, trì trệ. Phải chăng đó là quan niệm thẩm mỹ của HC hay của là của chính NT: cái đẹp phải gắn với cái thiện không thể ở chung với cái xấu, cái ác. Sự chân thành, bộc bạch giản dị đó của HC đã khiến cho ngục quan cảm đọng vái người tù một cái và rưng rưng: Kẻ mê muội nỳa xin bái lĩnh. Nói tóm lại, HC là một con người tích tụ những phẩm chất tốt đẹp nhất. Tuy bị cầm tù về thể xác nhưng lại tự do về tâm hồn. Hay nói khac đi, HC dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân là biểu tượng cho cái đẹp trong hoàn cảnh lịch sử đang đày rẫy những cái xấu xa,tội lỗi, biểu tượng cho Thiên lương cao quý. Con người sống vượt lên những hiện thực tầm thường, tăm tối để toả sáng, đẻ vĩnh cửu, để bất diệt, truyền cho người đời phẩm giá làm người, những phẩm giá tiêu biểu cho đạo lý dân tộc. Dựng lên hình tượng HC với vẻ đẹp rực rỡ tráng lệ giữa chốn lao tù ẩm thấp chật chội. NT đã thể hiện niềm cảm phục sâu sắc đối với những người anh hùng xả thân vì nghĩa lớn. Nhà văn đã sử dụng ngòi bút tả thực đầy kịch tính kết hợp với việc khắc hoạ tính cách nhân vật và ngòi bút miêu tả phong cảnh hiện thực lẫn lãng mạn. Có thể nói Chữ người tử tù với bút pháp sắc sảo khi dựng người, dựng cảnh, với ngôn ngữ văn xuôi giàu có và góc cạnh, với vẻ đẹp tuyệt vơì của HC, tác phẩm xứng đáng là một áng văn chương một thời vang bóng và nó mãi mài vang bóng trong bạn đọc nhiều thời.
Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù
2,320
Phân tích vẻ đẹp phẩm chất anh hùng của ba nữ thanh niên xung phong trong truyện ngắn Những ngôi sao xa sôi Hướng dẫn Vẻ đẹp phẩm chất anh hùng của ba nữ thanh niên xung phong trong truyện ngắn Những ngôi sao xa sôi Mở bài: Viết về những cô gái thanh niên xung phong kiên cường, bất khuất trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Lâm Thị Mĩ Dạ đã có những câu thơ thật cảm động. Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương Cho đoàn xe kịp giờ ra trận Em đã lấy tình yêu Tổ Quốc của mình thắp lên ngọn lửa Đánh lạc hướng thù. Hứng lấy luồng bom… (Khoảng trời hố bom – Lâm Thị Mĩ Dạ) Lê Minh Khuê với truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi đã góp vào bản trường ca hào hùng ấy một nốt son chói lọi, làm rạng ngời vẻ đẹp anh hùng Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thân bài: Truyện kể về cuộc sống và chiến đấu của ba nữ thành niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Tuy đến từ nhiều vùng quê khác nhau, lại không cùng lứa tuổi nhưng ở họ có những điểm chung sâu sắc. Trước hết là họ ở cùng một chỗ “một hang dưới chân cao điểm”. Đây là một nơi rất nguy hiểm vì ở một cao điểm, lại giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn ra trận, ở đó có rất nhiều khó khăn và các cuộc chiến đấu ác liệt nhất. Thậm chí nơi ở của họ cũng ác liệt. Đường bị đánh lở loét màu đất đỏ, trắng lẫn lộn vào nhau, đó là chưa kể cây không thể sống được, “hai bên đường không có lá xanh và những rễ cây nằm lăn lóc”. Nơi ở và công việc của ba nữ thanh niên xung phong Cuộc sống ở đây thật ác liệt, mọi thứ đều bị tàn phá. Vậy mà công việc của ba cô gái lại diễn ra ở đây. Họ làm công việc trinh sát mặt đường. Hàng ngày “khi có bom nổ thì chạy đến, đo khối lượng đất lấp hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom”. Công việc cũng chẳng đơn giản chút nào luôn phải chạy trên cao điểm giữa ban ngày, luôn phải đối diện với tử thần khi máy bay địch đến hay khi phá những quả bom nổ chậm ở nơi kẻ địch hay ném bom đánh phá. Nhưng với ba cô gái công việc này rất bình thường, nhiều khi bị bom vùi luôn cũng nhiều khi chỉ thấy hai con mắt lấp lánh trên khuôn mặt lem luốc. Với chúng ta họ là những cô gái dũng cảm, bình tĩnh khi “thần kinh căng như chão, chân chạy mà biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ”.Giữa muôn vàn hiểm nguy của công việc, họ vẫn luôn tìm được niềm vui. Tuổi trẻ của họ gắn với trườn Sơn hùng vĩ, với cuộc chiến chống kẻ thù. Họ sớm quen với cuộc sống chiến trường, có tinh thần trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ. Dù quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô nhưng họ không sợ mà sẽ đường hoàng bước tới, dù sự hi sinh luôn rình rập họ nhưng với lòng dũng cảm, họ đã vượt qua. Phá bom nổ chậm là công việc cực kì nguy hiểm nhưng họ “quen rồi! Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít ba lần”. Những nét chung trong phẩm chất anh hùng của ba cô gái trẻ: Họ đã luôn dũng cảm vượt qua sự đe dọa của tử thần để cống hiến cho Tổ quốc. Đặc biệt ở họ có tinh thần gắn bó giữa đồng đội. Họ luôn quan lâm, lo lắng đến nhau. Mỗi ngày, họ đều tạo ra một niềm vui cho nhau. Họ ca hát, họ sửa soạn làm đẹp, cố làm sao cho cuộc sống vui vẻ nhất. Trong cong việc, họ luôn làm việc cùng nhau, sống cùng sống, chết cùng chết. Khi tất cả đều xong việc, điểm mựt đủ cả, họ mới trở về. Họ không sợ chết nhưng lại hết sức lo cho đồng đội. Khi Nho bị thương do “quả bom tung lên và nổ trên không. Hầm nước bị sập”. Định bông băng lại cho Nho. Còn chị Thao, dù rất lo cho Nho nhưng vì sợ máu nên chỉ luẩn quẩn bên ngoài. Chị Thao “giọng thì chua, chị không hát trôi chảy được bài nào” nhưng chị lại có ba quyển sổ dày chép bài hát. Chị cũng thích thêu thùa nữa. Còn Phương Định tự đánh giá khiêm tốn mình khá vì vậy cô thích ngắm mình trong gương và bó gối mơ mộng hay ngồi hát một mình. Nho thì vô tư nhất. Lúc bị thương mà Nho vẫn cứ hồn nhiên, nhìn đẹp như một que kem lạnh. Tuy nhỏ tuổi nhất tổ nhưng Nho hết sức dũng cảm. Đồng đội làm được việc gì, em cũng làm được việc đó. Thao và Phương Định nhìn người đồng đội bé bỏng ấy vừa thấy thương vừa thấy cảm phục vô cùng. Bên cạnh những nét chung ta thấy mỗi người có cá tính riêng, mỗi người một cá tính càng làm phong phú đời sống của họ. Chị Thao nhiều tuổi hơn một chút nên có vẻ từng trải hơn. Chị không hồn nhiên như Nho hay mơ mộng như Phương Định. Chị điềm tĩnh, ít nói, trong công việc chị rất “cương quyết, táo bạo”. Nhất là khi cả tổ phá bom, giọng chị vang lên rắn rỏi, dứt khoát. Cả đội cứ theo lời chị mà làm. Chị Thao cũng có những ước mơ tươi đẹp về tương lai. Cả quảng đời tuổi trẻ gắm mình với núi rừng Trường Sơn, có lẽ chị đang lo âu về những ngyaf sắp tới, khát khao về mái ấm gia đình. Những suy tư âm thầm ấy chị chưa bao giờ nói ra nhưng chắc chắn ai cũng hiểu. Dù mạnh mẽ đến thế nhưng chi cũng hết sức nữ tính. Chị thích chép bài hát vào sổ tay, thích thêu thùa, may vá như Phương Định và Nho. Đặc biệt, chị rất sợ nhìn thấy máu. “Thấy máu thấy vắt là chị nhắm mắt lại, mặt tái mét”. Chị Thao anh dũng, kiên cường trong công việc nhưng lại sợ những điều bình thường trong cuộc sống. Nho là người nhỏ tuổi nhất. Ở Nho là sự vô tư đích thực. Cô ít khi lo lắng về điều gì. Chiến trường không làm cho nho bé lại bởi nỗi sợ hãi mà làm cho tâm ồn cô lớn lên, trường thành hơn. Nho dũng cảm, kiên cường chẳng kém gì Thao và phương Định. trong nhiệm vụ, Nho cũng liều lĩnh lắm, luôn kề vai sát cánh bên hai đồng đội. Chưa bao giờ Nho than vãn về điều gì. trong tâm hồn cô không có gì lớn hơn tình yêu nước mà cô từng ngày gìn giữ lấy. Đặc biệt, vẻ đẹp phẩm chất của ba cô gái được thể hiện lớn nhất qua Phương Định. Cô là một cô gái Hà Nội, vì yêu Tổ quốc nên đã vào chiến trường. Trong những ngày chiến tranh ác liệt này cô luôn nhớ lại và chỉ mong được trở lại sống trong hòa bình, yên ả. Hà Nội thơ mọng luôn tạo một khoảng yên ả, trầm tư trong lòng Phương Định giữa những cơn căng thẳng, quyết liệt của chiến tranh. Cũng như chị Thao và Nho, cô rất yêu mến những người đồng đội gặp gỡ tren chiến trương. Đặc biệt cô dành tình yêu vì lòng cảm phục cho những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ. Thú vị hơn là cách cô tự đánh giá về mình: “Nói một cách khiêm tốn tôi là một cô gái khá”. Đó là cô tự nhận thức về bản thân, về giá trị của mình. Điều đó cũng bộ lộ khát vọng về một cuộc sống hạnh phúc, bình yên, tương xứng với những gì mình có. Mỗi người có một tính cách riêng nhưng ở họ đều sáng ngời vẻ đẹp của những người phụ nữ “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” Viết về ba cô gái thanh niên xung phong, Lê Minh Khuê đã miêu tả hết sức cụ thể và chân thực như họ từ cuộc đời bước vào trang sách. Kết bài: Qua hình tượng ba nữ thanh niên xung phong, nhà văn Lê Minh Khuê đã phản ánh sâu sắc đời sống tình cảm và tinh thần chiến đấu của những con người anh hùng đã nguyện gắn kết thân mình với vận mệnh của dân tộc trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù. Năm tháng trôi đi và lịch sử đã bước sang trang mới nhưng những con người ấy vẫn sáng ngời lên nhắc nhở ta về một quãng đường đầy gian khổ, đau thương, lại rất đỗi anh hùng mà đất nước mình đã đi qua. Để rồi mỗi lần đọc lại tôi không khỏi ngỡ ngàng vì người dân mình đẹp quá, dũng cảm; trong lòng được như sống lại những ngày còn chiến tranh bom đạn ấy. Bài làm 2: Mở bài: Trường Sơn đông nắng tây mưa. Ai chưa đến đó thì chưa rõ mình Một cái tên thôi cũng gợi cho ta về một thời lửa cháy, gợi hình ảnh đoàn quân cha trước con sau cùng hát khúc quân hành, gợi những đoàn xe ra trận vì Miền Nam thân yêu. Không chỉ có những bài thơ, bài ca ca ngợi những chiến sĩ lái xe hay những cô gái mở đường trong trang thơ của Lâm Thị Mĩ Dạ mà còn có những câu chuyện đầy cảm phục viết về nữ thanh niên xung phong, những cô trinh sát mặt đường, những cô chuyên phá bom nổ chậm mở đường cho xe qua trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của nhà văn Lê Minh Khuê. Thân bài: Họ là những cô gái còn rất trẻ tuổi. Một người có thế chỉ mới mười tám hoặc hai mươi tuôi thôi. Nhưng họ đã phải rời xa mái trường, rời xa thành phố, bạn bè, rời xa gia đình và các anh chị em trong gia đình mà họ rất yêu thương. Họ hi sinh tuổi thanh xuân và không tiếc máu xương, thực hiện lí tưởng cao đẹp. Cả ba nữ thanh niên xung phong đều có một lý tưởng sống cao đẹp, họ gan dạ không sợ gian khổ hi sinh. Họ bình tĩnh, can trường và có tinh thần dũng cảm. Họ không sợ khi đối đầu với cái chết, họ gan dạ. Khi được lệnh yêu cầu có nhiệm vụ, họ liền đi ngay để hoàn thành nhiệm vụ sớm nhất có thể. Họ làm việc một cách tự nguyện, luôn nhận khó khăn, nguy hiểm về mình. Cuộc sống ở chiến trường tuy gian khổ. Nhưng họ vẫn luôn luôn vui vẻ, lạc quan, yêu đời. Chỉ có sức mạnh của niềm tin, của hi vọng mới giúp họ đứng vững. Đối lập với chiến trường nham nhở, tâm hồn họ lúc nào cũng tươi xanh. Chị Thao, là một tổ trưởng rất gương mẫu trong đội, chị Thao đã từng trải qua những thăng trầm trong chiến trường khốc liệt và đẫm máu này. Trong công việc, chị rất bình tĩnh và quyết liệt. Nhưng khi thấy máu thì y như rằng chị nhắm mắt và chìm trong sợ hãi. Những khi biết rằng cái sắp tới sẽ không êm ả chị lại tỏ ra bình tĩnh. Không ai có thể quên được khi chị hát, bài hát thì vấp, nát bét, giọng thì chua, không được hay cho lắm. Nhưng chị lại rất thích hát, chị có ba quyển sổ dày chép bài hát và rỗi là chị ngồi chép bài hát. Chị được đại diễn là gương mặt có tình cách điềm tĩnh. Nho thì lại là một cô gái khác, cô còn rất trẻ trung. Có lúc cô bướng bỉnh, có lúc thì lại dũng cảm, mạnh mẽ có thể còn hơn cả chị Thao nữa. Cô được ví như là một hình ảnh mỏng manh nhưng lại can đảm, không sợ máu như chị Thao giữa chiến trường khốc liệt khói mù mịt. Còn đây là Phương Định, một nhân vật chính trong tác phẩm truyện của tác giả Lê Minh Khuê. Đây là một cô gái trẻ trung, xinh xắn và đang sinh sống tại Hà Nội. Vì muốn cống hiến cho tổ quốc, đất nước nên cô đã bỏ lại gia đình mình và lên chiến trường sinh sống chung với hai chị em Thao và Nho. Cô nhạy cảm và hồn nhiên, thích mơ mộng và hay sống với những kỉ niệm của tuổi thiếu nữ vô tư về gia đình và về thành phố của mình. Có thể chiến trường là một thử thách để có thể nhận biết lòng yêu nước của ba nữ thanh niên xung phong này. Trong công việc, Phương Định là một cô thanh niên can đảm, luôn lo lắng cho đồng đội hơn cả bản thân mình. Mỗi nhiệm vụ phá bom, cô đều muốn xung phong lên trước để chấp nhận gian khổ, hi sinh cho đội trưởng Thao và bé Nho. Nhiều lúc, cô thật khép kín đến nỗi cả Thao và Nho cũng tỏ ra khó hiểu. Kết bài: Dù sao thì mỗi người đều có một tính cách riêng của mình, họ đều rạng ngời, là một tấm gương tốt cho tổ quốc Việt Nam. Tác giả đã không tô vẽ, không chú thích nhiều. Nhưng tác giả đã miêu tả cực kì chân thực, cụ thể. Ba nữ thanh niên xung phong này rất xứng đáng được trao giải thưởng những phụ nữ Việt Nam dũng cảm nhất, vì đã dám lao mình vào chiến trường thực hiện nhiệm vụ nguy hiểm.
Phân tích vẻ đẹp phẩm chất anh hùng của ba nữ thanh niên xung phong trong truyện ngắn Những ngôi sao xa sôi
2,356
Phân tích vẻ đẹp tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân Kim Lân là một nhà văn của làng quê. Văn của ông không chỉ thành công trong việc xây dựng nhân vật mà còn miêu tả một cách chân thực nhất về nạn đói 1945 trong truyện ngắn Vợ Nhặt. Và đặc biệt, còn khắc họa về những tác động của nạn đói lên nhân vật của mình, cụ thể ở đây là Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Trong nạn đói ấy con người Việt Nam vẫn lấp lánh vẻ đẹp của tình người và cả niềm tin vào cuộc sống. Nạn đói 1945 được Kim Lân miêu tả chân thực đến đau thương “cái đói đã tìm đến xóm ngụ cư của mẹ con Tràng. Buổi sáng ra đường đã thấy mấy cái xác bốc mùi hôi thối, có những người đói nằm dài trên đường trưa về thì họ đã chết. Hôm nào chẳng vậy phải đến ba bốn cái thây nằm trên đường. trên cao những tiếng quạ kêu thật thảm thiết “. Có thể nói tử thần đang bủa vây nơi đây. Trước hết, Tràng được thể hiện trong truyện đó là một anh Tràng có ngoại hình xấu xí, có đôi mắt gà gà, cùng tấm lưng to như lưng gấu. Anh làm nghề kéo xe thuê, anh thường kéo xe gạo lên tỉnh, có hôm anh đang kéo thì thấy mấy cô đang chơi với nhau nhặt nhạnh những hạt thóc vương vãi trên đường thì anh liền ngẫu hứng hò một câu: Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì” Không ngờ trong số đó có một cô gái ra đẩy xe với anh và cười tít. Chuyện cũng được bắt đầu từ đây, Sau chuyện đó, có lần anh đang ngồi uống nước thì thị chạy tới, trông thị khác lắm. “ cái mặt gầy sọp lại nhìn như cái lưỡi cày. Thị như hiện thân của cái đói. Thế rồi thị đòi ăn kêu Tràng hôm trước nói dối, thị ăn liền bốn bát bánh đúc”. Anh Tràng tuy thế nhưng cũng rất hào phóng, thị ăn xong thì liền theo tràng về nhà. Vẻ đẹp tình người được thể hiện rõ nhất trong vợ nhặt, thị xuất hiện thật xấu và ghê gớm. Kim Lân đã cho Thị một sáng vẻ chẳng khác nào hiện thân của cái đói, gầy gò “ mặt nhu lưỡi cày”. Cái đói chính là nguyên nhân làm cho Thị trở nên mất đi vẻ duyên dáng, trở nên chỏng lỏng. Nghe anh TRàng tán gẫu thì tin ngay, chạy ra đẩy xe bò với anh. Gặp lại thì chẳng ngại gì rồi sà xuống đòi ăn một lúc 4 cái bánh đúc, ăn xong còn lấy đũa quẹt ngang miệng, có lẽ do thị đói quá cho nên cũng chẳng thể giữ được ý tứ, sự dịu dàng của một cô gái. Thị cũng chẳng biết đi đâu nữa, Thị theo Trafg về nhà, thị nghĩ mình sẽ được sung sướng nhưng khi về đến lại vỡ lẽ ra, mặt sầm lại nhưng vẫn chấp nhận ở lại. Đó chính là tình người đáng quý, thấy người ta nghèo đói nhưng vẫn không bỏ đi mà nương tựa vào nhau để sống. Tình thương đó được thể hiện rõ nhất khi cụ chấp nhận thị và khuyên răn hai vợ chồng không ai nghèo ba họ không ai khó ba đời…để động viên an ủi con mình và vẫn hy vọng có tương lai sáng rạng hơn. Qua đây, chúng ta có thể khẳng định ngay cả trong nạn đói thì nhân dân ta vẫn cứ yêu thương đùm bọc lấy nhau, lá lành đùm lá rách. Trước thực tại đau khổ và chết chóc, họ không thôi nhìn về tương lai với niềm tin đổi đời và sự thật ở cuối tác phẩm đã lóe lên một con đường đổi mới làm tác giả muốn nhắc tới. Hình ảnh về lá cờ đỏ sao vàng như thể hiện được quy luật tới với cách mạng của những người dân Việt.
Phân tích vẻ đẹp tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân
715
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp và bi kịch của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến được thể hiện qua văn bản Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ Bài làm "Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ nhìn thoáng qua ngỡ là những câu chuyện ma quái, hoang đường nhưng ngẫm kĩ đó lại là bức tranh đời sống của xã hội thực tại. Chỉ qua truyện ngắn ’’Chuyện người con gái Nam Xương”, đặc biệt là qua số phận của nhân vật chính trong tác phẩm – nàng Vũ Nương – ta đã phần nào hiểu thêm về số phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ đẹp đẽ, tiết hạnh nhưng phải chịu một số phận khổ đau bất hạnh khiến người đọc vừa yêu mến, trân trọng lại vừa đồng cảm, xót thương. Nàng Vũ Nương trong tác phẩm có một nét đẹp vẹn toàn, hài hoà giữa vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp tâm hồn “vừa đẹp người vừa đẹp nết”. Và đó cũng chính là vẻ đẹp tiêu biểu cho những người phụ nữ Việt Nam. Điều đó khiến người đọc luôn dành cho Vũ Nương một niềm yêu mến, trân trọng lớn lao. Là người vợ, người mẹ hay người con dâu Vũ Nương luôn làm tròn bổn phận của mình. Trong mối quan hệ vợ hằng ngày, biết chồng “có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.” Vũ Nương đã “giữ gìn khuôn phép, không từng lần nào vợ chồng phải đến thất hoà.”. Hai vợ chồng chia li Vũ Nương một lòng nghĩ đến sự an nguy của chồng “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. […] Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hang cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”. Xa chồng, Vũ Nương thuỷ chung, tấm lòng luôn tha thiết hướng về chồng: “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được.” Ngay cả khi bị chồng nghi oan, Vũ Nương vẫn nói năng đúng mực, tha thiết bày tỏ nỗi niềm và ước mong về cuộc sống gia đình hạnh phúc. Trong mối quan hệ với mẹ chồng, nàng hết lòng chăm sóc mẹ chồng lúc ốm đau: “Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn.”, thương yêu, lo lắng chu toàn: khi mẹ chồng mất “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”- Đặc biệt, tấm lòng nàng dành cho mẹ chồng khiến bà cảm động: khi mất, những lời cuối cùng của cuộc đời bà dành để chúc phúc cho con dâu. Bị chồng hiểu lầm, bị hàm oan tức tưởi, Vũ Nương đã chọn cái chết để chứng minh phẩm tiết. Hành động này cho thấy lòng tự trọng, ý thức giữ gìn danh dự, tiết hạnh ở người phụ nữ này. Nhưng càng yêu quý, trân trọng những người phụ nữ như vậy bao nhiêu ta càng xót thương cho số phận của họ bấy nhiêu. Thật là những tấm lụa đào phất phơ giữa chợ, những trái bần trôi bị gió dập sóng dồi, những hạt mưa sa tan tác… Xinh đẹp, tiết hạnh như vậy nhưng nàng có một cuộc hôn nhân không được lựa chọn: Trương Sinh là một kẻ vô học nhưng giàu có “xin với mẹ đem trăm lạng vàng” lấy nàng về làm vợ. Người phụ nữ vẹn toàn này không có quyền lựa chọn cho mình một người chồng tương xứng. Cuộc hôn nhân của nàng chẳng khác nào một cuộc trao đổi bán mua. Về nhà Trương Sinh, êm thấm được một thời gian rồi chiến tranh phong kiến cũng cướp đi cái hạnh phúc gia đình nàng đã cố công gìn giữ. Không chỉ vậy, những khuôn phép cũ xưa lỗi thời được chiến tranh tiếp tay một lần nữa hại đời Vũ Nương. Và lần này đã giập vùi đời nàng vĩnh viễn. Quen theo nếp nghĩ, nếp sống trưởng giả, Trương Sinh nghi ngờ cho tấm lòng sắt son của vợ, không cho nàng thanh minh lấy nửa lời. Sự lựa chọn của Vũ Nương: trầm mình tự vẫn đã phản ánh một thực tế: xã hội phong kiến xưa không có chỗ cho những con người đẹp đẽ như nàng, nàng không thể thuộc chốn ấy. Nhưng như thế cũng có nghĩa nàng phải từ giã hạnh phúc trần gian, từ bỏ gia đình, con cái… Người đọc nhẹ lòng khi Vũ Nương được minh oan chiêu tuyết nhưng vẫn nhói lòng bởi cái chết đã khiến nàng một đi không trở lại, để dở dang cả quãng đời đương độ viên mãn tròn đầy nhất. Yêu mến và xót thương, hai dòng cảm xúc không khi nào nguôi khỏi tấm lòng người đọc đối với thân phận người phụ nữ xưa qua hình ảnh nàng Vũ Nương. Càng yêu thương những viên ngọc bị giập vùi ấy ta càng căm phẫn trước những thế lực phong kiến đen tối, hủ lậu chà đạp lên quyền hưởng hạnh phúc, quyền được sống của con người. Nguyễn Dữ và bao nhà thơ, nhà văn khác hẳn đã nhân đạo biết bao khi viết về những con người như thế, khơi dậy trong lòng người những cảm xúc thầm mĩ nhân đạo hướng đến cái thiện cái mĩ của cuộc đời này… Và vì thế, ta càng trân trọng hơn hình ảnh người phụ nữ trong xã hội xưa mà nàng Vũ Nương, nàng Kiều,… là những hiện thân sống động.
Phân tích vẻ đẹp và bi kịch của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến được thể hiện qua văn bản Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ
1,009
Phân tích vẻ đẹp và số phận bi kịch của nhân vật Vũ Nương Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp và số phận bi kịch của nhân vật Vũ Nương Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là một trong những tác phẩm được đánh giá cao bởi sự đan xen hòa quyện giữa giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc. Nổi bật trong tác phẩm là một người phụ nữ đức hạnh, luôn khao khát một cuộc sống hạnh phúc nhưng bởi do những lễ giáo phong kiến khắc nghiệt và sâu xa hơn là do chiến tranh gây ra đã khiến cái ước mơ bé nhỏ đó không trở thành hiện thực mà nó còn làm cho người phụ nữ đó rơi vào một tấn bi kịch không lối thoát. Người phụ nữ đó tên là Vũ Nương mang một nét tài sắc, nhưng lại mang một số phận đầy thảm thương, cay đắng. Mở đầu tác phẩm, hình ảnh của Vũ Nương được tác giả thể hiện qua các câu văn biền ngẫu. Tác giả không nêu tư dung trước mà nêu phẩm giá, đức hạnh của người con gái đoan trang này. Đằng sau những câu văn tưởng chừng như thuật lại là một thái độ trân trọng ngợi ca. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, Vũ Nương lại được xuất hiện trong vẻ đẹp bình thường, giản dị, hoàn thiện, hoàn mỹ. Đó là một vẻ đẹp chuẩn mực trong xã hội phong kiến. Vũ Nương chính là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống, muôn đời của người con gái Việt Nam. Chỉ bằng những miêu tả ngắn gọn, súc tích đã tạo lên một trường liên tưởng cho người đọc. Dù xuất thân trong một gia đình nghèo, nhưng ở cô vẫn ánh lên bởi những phẩm chất cao quý mà không thấp hèn. Dù được gả vào một gia đình giàu có, nhưng không vì thế mà cô ham giàu sang, phú quý. Cuộc sống của cô trước và sau khi về nhà chồng vẫn thế, vẫn chăm chỉ làm lụng để không làm phụ lòng ai. Ai ai cũng đều yêu mến cô, ngay cả với mẹ chồng. Lấy chồng chẳng được bao lâu thì cô nghe tin chồng phải đi lính. Đây là tình huống đầu tiên mà tác giả đặt ra thử thách đối với cô. Không ham giàu sang phú quý, cô chỉ có một mong muốn nhỏ nhoi là được sống hạnh phúc bên gia đình. Khác hẳn với những người phụ nữ, mong muốn chồng đi lính để có thể thăng quan, tiến chức, nhưng Vũ Nương lại không muốn chồng ra chiến trường vì lo lắng cho an nguy của chồng. Lối nói ước lệ: “Nhìn trăng soi …đất thú” để diễn tả tâm trạng của người phụ nữ luôn lo lắng cho phu quân của mình. Đi lính ra chiến trường thì lành ít dữ nhiều. Ở đây, vẻ đẹp của Vũ Nương được ánh lên thông qua một tâm hồn trong sáng, không quen công danh, một người chỉ luôn hướng về chồng, lo lắng cho chồng và hết mực yêu thương. Không chỉ đối với chồng, ngay cả đối với mẹ chồng cô cũng thực hiện tốt nghĩa vụ của một người con dâu, thay chồng chăm sóc mẹ, không để mẹ phàn nàn dù chỉ một tiếng. Cô coi mẹ chồng như mẹ ruột của mình và khi mẹ mất thì hết lời thương xót, ma chay tử tế như đối với mẹ đẻ của mình. Cô là một người con dân hiếu thảo, hiếm có. Khi chồng ra chiến trường, mẹ chồng thì mất, một mình Vũ Nương chăm lo, quán xuyến hết việc trong gia đình. Cô vừa là cha, vừa là mẹ của con. Luôn chỉ dạy những điều hay lẽ phải cho con. Trong câu chuyện, một lần nữa tác giả đặt nhân vật vào trong một tình huống hay cũng chính là bi kịch của cuộc đời cô. Chi tiết cái bóng chính là chi tiết đã làm nên bi kịch của cuộc đời cô. Vì muốn con được yêu thương, không muốn con bị thiếu thốn tình cảm mà mỗi đêm, cô chỉ lên trên bức tường, nơi có cái bóng của mình và bảo con trai: “Đây chính là bố của con”. Vì muốn con có bố, tránh sự tổn thương hay cũng là chỗ dựa vững chắc của Vũ Nương rằng chồng vẫn luôn ở bên, để tránh khỏi mọi lo toan, mệt nhọc, mọi khoảng cách đều bị xóa nhòa. Vì muốn hạnh phúc, vì muốn con được có bố khi bố ra trận, vì muốn có chỗ dựa cho chính mình mà Vũ Nương đã bảo với đứa trẻ ngây dại cái bóng là bố của mình. Để rồi, khi người chồng trở về, do nghe lời con nhỏ mà đã đưa vợ mình vào bước đường cùng. Phải lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Làm sao có thể tưởng tượng rằng, người phụ nữ luôn ngày đêm chờ ngóng chồng về, mong chồng về để gia đình trở nên hạnh phúc, thế mà giờ đây lại thành ra như vậy? Bao năm tháng qua, đến khi chồng về, cô sẽ có chỗ dựa vững chắc, để không phải một thân chăm sóc con. Vậy mà giờ thì sao đây? Cái chết để chứng minh sự trong sạch, để rửa oan và khẳng định danh tiết cho mình, cái chết để quên đi mọi thứ của thực tại. Nhưng nguyên nhân nào đã khiến cho một người luôn khao khát mãnh liệt sự sống, mưu cầu hạnh phúc phải chết? Là do cái ngây thơ của trẻ con, do cái thói ghen tuông mù quáng, do lễ giáo phong kiến hay do chiến tranh gây nên. Nhưng có lẽ, cái lối hành xử của Trương Sinh đem đến chính là sản phẩm của lễ giáo phong kiến gây ra. Nhân vật Vũ Nương chính là linh hồn của câu chuyện. Nhà văn đã thể hiện vẻ đẹp, phẩm chất của Vũ Nương thông qua việc thể hiện vẻ đẹp và phẩm chất trong sáng của cô. Qua việc miêu tả hình ảnh của nhân vật Vũ Nương nhằm nhận ra được tấn bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Một bi kịch không thể tránh khỏi mà thủ phạm gây ra cái chết oan ức cho cô… lại là chế độ phong kiến. Hơn thế nữa tác giả còn thể hiện cái nhìn đồng cảm, xót thương trước số phận của Vũ Nương nói riêng và của người phụ nữ trong xã hội phong kiến nói chung. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích vẻ đẹp và số phận bi kịch của nhân vật Vũ Nương
1,126
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp và số phận bi kịch của Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương Bài làm Nguyễn Dữ là cây bút văn xuôi xuất sắc nhất của văn học thế kỷ XVI. Ông sống ở thời kỳ chế độ phong kiến bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong, các cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài liên miên gây đau khổ cho nhân dân. Vốn không đồng tình với chế độ phong kiến bất công, thối nát, ông đã thể hiện kín đáo tình cảm ấy của mình qua tác phẩm Truyền kì mạn lục gồm hai mươi truyện ngắn, trong đó tiêu biểu là Chuyện người con gái Nam Xương. Theo lời kể của tác giả ngay từ đầu tác phẩm thì Vũ Nương là một người con gái thuỳ mị, nết na lại có tư dung tốt đẹp. Và những phẩm hạnh ấy đã được bộc lộ trong những hoàn cảnh khác nhau. Trong cuộc sống gia đình, Vũ Nương là người vợ hiền thục. Nàng lấy chồng là Trương Sinh, vốn là một người ít học, lại có tính đa nghi, phòng ngừa quá mức.Vì thế, nàng đã biết lựa tính chồng, giữ cho khả bất hòa, gia đình luôn được trong ấm, ngoài êm. Ta thấy Vũ Nương quả là một người vợ hiền, có ý thức giữ gìn hạnh phúc gia đình. Thế rồi đất nước xảy ra nạn binh đao, Trương Sinh phải đi lính, nàng lại càng bộc lộ rõ hơn phẩm chất tốt đẹp của mình. Lời nói, lời dặn dò trong cảnh tiễn chồng của nàng đã khiến mọi người cảm động: chỉ xin ngày về mang theo hai chữ binh yên. Vũ Nương là người không ham danh vọng mà luôn khao khát hạnh phúc gia đình, không những thế, nàng còn hiểu, thông cảm cho nỗi vất vả gian lao của chồng: chi e việc quán khó liệu, the giặc khôn lường, giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao… Thế rồi, nàng bày tỏ nỗi nhớ nhung khôn xiết của người vợ yêu chồng thuỷ chung: nhìn trăng soi thành củ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa… Khi xa chồng, Vũ Nương luôn làm tròn bổn phận của người vợ hiến, dâu thảo. Nàng sinh con, quán xuyến công việc gia đình, chăm sóc mẹ già đau ốm. Đặc biệt khi người mẹ mất, nàng dã lo ina chay chu đáo như với cha mẹ của mình. Qua lời trăng trối của bà mẹ trước lúc lâm nguy tác giả đã gửi gắm tình hình của mình đối với nhân vật Vũ Nương, khẳng định công lao, nhân cách của Vũ Nương đối với gia đình: Trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con không phụ mẹ. Ta thấy ở Vũ Nương tập trung những phẩm chất cao quý truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Nàng xứng đáng được hưởng cuộc sống hạnh phúc. Thế nhưng thực tế oan nghiệt đã đẩy nàng vào cảnh ngộ bất hạnh, éo le, oan khuất. Nàng vốn dĩ là một người phụ nữ rất mực thuỷ chung, vậy mà bây giờ đây lại bị nghi oan thất tiết. Chỉ vì lời nói vô tình ngây thơ của con trẻ mà Vũ Nương bị chồng ruồng rẫy, hắt hủi, đánh đập đuổi đi, bị gán cho tội nhục nhã nhất đối với đức hạnh của người phụ nữ. Trương Sinh quả thực đã hồ đồ, cả ghen, không cho vợ được thanh minh. Những lời bênh vực của bà con hàng xóm cùng những lời phân trần giãi bày hết sức thê thảm không cứu được nàng thoát khỏi nỗi nhục nhã, vì mất danh dự, Vũ Nương hết lòng hàn gắn hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ bằng những lời than thấu tận trời xanh: Cách biệt ba nãm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đỡ nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Thế nhưng, lời lẽ không làm lung lay được thói độc đoán, gia trưởng hồ đồ của người chồng có máu ghen tuông mù quáng. Vũ Nương đã phải đau đớn, thất vọng đến tột cùng vì bị đôi xử bất công, vì bất lực không có khả năng bảo vệ danh dự, niềm khát khao hạnh phúc gia đình bị tan vỡ: Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió… dâu còn có thể Lại lên núi Vọng Phu kia nữa. Thế nhưng, lời nguyền thảm thương của Vũ Nương không giúp nàng thoát khỏi án oan nghiệt ngả. Là một người phục nữ có ý thức sâu sắc về phẩm giá, Vũ Nương đã quyết liệt tìm đến cái chết để bảo toàn danh dự chứ không chịu sống nhục. Nàng đã gieo mình xuống sông, kết thúc cuộc đời người phụ nữ bất hạnh. Bằng cách xây dựng tình tiết truyện đặc sắc đầy kịch tính, tác giả cho ta thấy nhửng cố gắng hết sức nhưng không thành của một người phụ nữ, để rồi phải chấp nhận số phận và nàng đã phải giải thoát kịch của cuộc đời mình bằng cái chết oan khuất. Sự việc này đã đẩy câu chuyện đến đỉnh điểm của sự việc. Đến khi Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ cũng bằng sự việc hết sức ngẫu nhiên mà hợp lí. Đó là khi-bé Đản chỉ Trương Sinh cái bóng trên tường chính là cha của mình. Điều đó có ý ngìa tố cáo vô cùng mạnh mẽ đối với chế độ phong kiến, chỉ một cái bóng cũng có thể quyết định số phận một con người, đẩy người phụ nữ nết na bất hạnh vào bi kịch không lối thoát. Qua việc xây dựng bi kịch của Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã bày tỏ thái độ xót xa thương cảm cùng niềm trân trọng đối với người phụ nữ. Thông qua bi kịch của Vũ Nương, nhà văn phản ánh bi kịch chung về số phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến. Những người phụ nữ ấy nết na, đức hạnh như bị đối xử bất công, vô nhân đạo không có quyền sống hạnh phúc, không được che chở, bảo vệ số phận vô cùng mỏng manh, yếu ớt. Có lẽ vì thế mà truyện đã in sâu đậm vào trái tim người đọc, khiến ta mãi day dứt, xót xa, trào dâng niềm thương cảm nghẹn ngào.
Phân tích vẻ đẹp và số phận bi kịch của Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương
1,114
Đề bài: Phân tích vẻ đẹp và tài hoa của Thúy Kiều qua đoạn thơ Chị em Thúy Kiều Bài làm Trong bài thơ Kính gửi Cụ Nguyễn Du, nhà thơ Tố Hữu viết: Tiếng thơ ai động đất trời, Nghe như non nước vọng lời ngàn thu. Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du, Tiếng thơ như tiếng mẹ ru những ngày… Nguyễn Du là nhà thơ thiên tài của dân tộc ta. Truyện Kiều là kiệt tác của nền thi ca cổ dân tộc sáng ngời tinh thần nhân đạo, về phương diện nghệ thuật, áng thơ này là mẫu mực tuyệt vời về ngôn ngữ, về tả cảnh, tả người, tả tình, tự sự v.v… đem lại cho nhân dân ta nhiều thú vị văn chương. Đoạn thơ giới thiệu chị em Thúy Kiều là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất trong Truyện Kiều. Thúy Kiều là nhân vật trung tâm của truyện thơ, một thiếu nữ tài, sắc vẹn toàn đã được thi hào khắc họa một cách thần tình, mĩ lệ. 1.Đoạn thơ gồm 24 câu: 4 câu đầu giới thiệu chung hai chị em Kiều là hai ả tố nga của ông bà Vương Viên ngoại, 4 câu tiếp theo nói về sắc đẹp Thúy Vân, 12 câu tiếp theo nói về tài sắc Thúy Kiều, 4 câu cuối đoạn ca ngợi đức hạnh của hai chị em Kiều. Hai chị em Kiều mang vẻ đẹp thanh tao, trinh trắng như "mai", như tuyết", mỗi người một vẻ đẹp riêng, toàn thiện, toàn mĩ: Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười. Sắc đẹp của Thúy Vân là sắc đẹp của một thiếu nữ "đoan trang", "trang trọng khác vời"- rất quý phái: khuôn mặt "đầy đặn" tươi sáng như vầng trăng, mắt phượng mày ngài, miệng cười tươi như hoa, giọng nói trong như ngọc.. Còn gì đẹp hơn về mái tóc, màu da của nàng? – "Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da". Nhà thơ đã sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng để miêu tả sắc đẹp Thúy Vân, tạo nên những hình ảnh ẩn dụ đầy gợi cảm. Tả Thúy Vân trước, tả Thúy Kiều sau là một dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du để khẳng định Kiều là một giai nhân tuyệt thế: Kiều cùng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. Dung nhan Thúy Kiều đẹp lắm "nghiêng nước nghiêng thành". Mắt đẹp trong như sắc nước mùa thu, lông mày thanh tú xinh xắn như dáng núi mùa xuân; một vẻ đẹp đằm thắm, xanh tơi mơn mởn khiến cho "Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh". Ngòi bút tả người của thi hào biến hóa, đa dạng: kết hợp thần tình các biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa, thậm xứng với sự vận dụng tinh tế thi liệu cổ (nghiêng nước nghiêng thành) tạo nên những vần thơ đẹp gợi cảm. Hình bóng giai nhân được phác họa đôi ba nét chấm phá ước lệ nhưng hết sức thần tình, để lại cho người đọc bao cảm xúc, trân trọng: Làn thu thủy, nét xuân sơn. Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Một hai nghiêng nước nghiêng thành. Hóa công như đã ưu đãi dành cho Kiều tất cả "Sắc đành đòi một, tài đành họa hai". Thông minh bẩm sinh "tính trời", tài hoa lỗi lạc xuất chúng: thơ tài, họa giỏi, đàn hay; môn nghệ thuật nào nàng cũng tuyệt giỏi, cũng thành "nghề", "ăn đứt" thiên hạ: Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm. Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương. Nguyễn Du đã không tiếc lời ca ngợi Thúy Kiều bằng một số từ ngữ biểu thị giá trị tuyệt đối: vốn sẵn tính trời, pha nghề, đủ mùi… lầu bậc… nghề riêng ăn đứt… Khi tả tài sắc Thúy Kiều, thi hào không chỉ nói lên cái tuyệt vời của hiện tại mà còn hàm ý dự báo về tương lai của nàng, sắc đẹp kiều diễm "hoa ghen… liễu hờn…” với bản đàn "Bạc mệnh" mà nàng sáng tác ra "lại càng não nhân" như gợi ra trong tâm hồn chúng ta một ám ảnh "định mệnh" mà nhà thơ đã khẳng định: "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen",… "Chữ tài liền với chữ tai một vần",… Gần hai thế kỉ nay, bức chân dung giai nhân này qua đoạn thơ Chị em Thúy Kiều đã để lại trong trái tim hàng triệu con người Việt Nam một sự cảm mến nồng hậu, một sự phấp phỏng lo âu đối với người con gái đầu lòng của Vương ông. Đó là tài năng đích thực của Nguyễn Du về nghệ thuật tả người. Đức hạnh là cái gốc của con người. Thúy Kiều không chỉ có tài sắc mà còn có đức hạnh. Nàng được hưởng một nền giáo dục theo khuôn khổ của lễ giáo, của gia phong. Tuy sống trong cảnh "phong lưu rất mực hồng quần", đã tới "tuần cập kê" nhưng nàng là một thiếu nữ có gia giáo, đức hạnh: Ềm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Tóm lại, Thúy Kiều là một nhân vật tuyệt đẹp trong Đoạn trường tân thanh. Thi hào Nguyễn Du với cảm hứng nhân đạo và tài nghệ thơ ca trác việt miêu tả Thúy Kiều bằng những vần thơ lục bát đẹp nhất. Ông đã dành cho nhân vật bao tình cảm yêu mến, trân trọng sâu sắc. Sự kết hợp tài tình bút pháp ước lệ tượng trưng, sử dụng sáng tạo các biện pháp tu từ, nhất là ẩn dụ so sánh, một ngôn ngữ thơ tinh luyện, hàm súc, hình tượng và gợi cảm để vẽ nên bức chân dung mĩ nhân bằng thơ sáng giá nhất trong nền văn học cổ nước nhà. Thúy Kiều mang một "lí lịch" ngoại tộc nhưng dưới ngòi bút thiên tài của thi hào Nguyễn Du, nàng xuất hiện với bao phẩm chất tốt đẹp, đậm đà bản sắc dân tộc. Vẻ đẹp nhân văn toát lên từ hình ảnh Thúy Kiều là vẻ đẹp văn chương của đoạn thơ này.
Phân tích vẻ đẹp và tài hoa của Thúy Kiều qua đoạn thơ Chị em Thúy Kiều
1,037
Phân tích về bài thơ Phong Kiều dạ bạc Hướng dẫn … chập chùng, đau đớn nằm nghe tiếng mưa rơi rỉ rả nơi hành cung vắng lặng, thì nhà thơ Trương Kế, một đại quan tiến sĩ Ngự Sử Đài, chẳng theo kịp đoàn hộ giá vương tôn lánh nạn, đành lưu lạc xuống tận miền Giang Nam trên chiếc thuyền phiêu bạt. Đêm kia, ghé bến Phong Kiều, động mối u hoài chất chứa, gợi cảm cùng ngoại cảnh thê lương, bức xúc viết nên bài thơ tuyệt diệu, vượt cả không gian, thời gian lưu truyền hậu thế: Nguyệt lạc, ô dề, sương mãn thiên, Giang phong, ngư hỏa, đối sầu miên. Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. tạm dịch; Quạ kêu trăng lặn khắp trời sương, Lửa chài cây ảnh giấc sầu vương. Thành Tô ngoài mé Hàn Sơn tự, Thuyền khách đêm tàn vẳng tiếng chuông. Nội dung bài thơ chứa đựng muôn vàn uẩn sự, phản ánh mô tả những trạng huống tang thương: Trâng lặn gợi lên hình ảnh một xã hội xuống dốc, tiếng quạ kêu thống thiết như tiếng con người rên xiết lầm than trong thời tao loạn, màn sương che phủ trời đất tối tăm, trăng chiếu nhạt mờ ít ỏi dùng ngọn lửa chài leo lét tựa bóng ma trơi vất vưởng lang thang. Những cây bàng ven sông cũng đang rì rào một điệp khúc ai oán, thành Cô Tô say giấc triền miên. Chùa Hàn Sơn tiên khởi là một ngôi chùa hẻo lánh, bên cầu Tây Phong ngoài thành Ngô Huyện thuộc tỉnh Giang Tô. Xung quanh bát ngát rừng mai, phía sau dòng sông xanh ngắt lững lờ uốn khúc, giữa hai dãy núi sừng sững vươn mình trong làn mây trắng xóa. Theo Truyện Đăng Lục và Đường Cao Tăng truyện, thì hai vị Sa môn: Hàn Sơn và Thập Đắc từng cư ngụ nơi đây, nên chùa mang tên là Hàn Sơn tự. Hàn Sơn tăng ở lãnh vực thi văn khá nổi tiếng qua biệt hiệu Hàn Sơn Tử, mang dấu ấn lịch sử văn hóa buổi sơ Đường, biểu hiện thi phạm bắt đầu với quy luật phân minh nghiêm túc. Trong Thiên Văn Nghệ Chí – Cựu Đường Thi đã nói đến Hàn Sơn Tử tập, gồm hơn 300 bài thơ độc đáo phỏng theo kinh Phật, lời ít ý nhiều.
Phân tích về bài thơ Phong Kiều dạ bạc
397
Phân tích về bài Tiếng nói của văn nghệ của Nguyễn Đình Thi Hướng dẫn Đề bài: Phân tích – Bình luận về bài Tiếng nói của văn nghệ của Nguyễn Đình Thi. Trong cuộc sống của con người, cùng với sự hưởng thụ vật chất như ăn, uống, mặc, ở,… không thể thiếu sự hưởng thụ tinh thần: nghe ca nhạc, xem tranh tượng, đọc vãn thơ,… Một khúc nhạc du dương, trầm bổng chúng ta được nghe, một bức tranh, một pho tượng đẹp chúng ta được nhìn ngắm, một câu chuyện, một bài thơ đặc sắc chúng ta được đọc – hiểu – suy ngẫm,… tất cả gọi là văn nghệ. Đó là những sản phẩm tinh thần cao quý mang lại cho chúng ta bao điều bổ ích. Vậy những điếu bổ ích mà văn nghệ đem lại cho chúng ta là gì? Bài Tiếng nói của văn nghệ – một tác phẩm nghị luận sâu sắc, chặt chẽ và giàu hình ảnh của nhà văn Nguyễn Đình Thi – sẽ trả lời cho chúng ta câu hỏi ấy. 1.Mỗi tác phẩm văn nghệ là một lá thư, một lời nhắn nhủ. Để lí giải nội dung những lá thư, những lời nhắn nhủ của văn nghệ, tác giả Nguyễn Đình Thi đã trình bày một hệ thống luận điểm bằng các lí lẽ và dẫn chứng rành mạch, cụ thể: a)Một câu thơ, đoạn thơ, số phận một nhân vật trong truyện hay tác phẩm văn học, một bài hát, một diệu múa, bức tranh,… đặc sắc sẽ đánh thức trong chúng ta những bâng khuâng, suy nghĩ, khiến ta vương vấn những buồn vui về cuộc sống, về con người. Có người nói: văn học nghệ thuật luôn ám ảnh chúng ta để hướng chúng ta tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Đó là lời nhắn gửi thứ nhất của văn nghệ. Trước khi nêu luận điểm ấy nhà văn phân tích ngắn gọn câu thơ của Nguyễn Du, nhân vật trong tiểu thuyết của Lép Tôn-xtôi. b)Lời nhắn gửi thứ hai: tác phẩm nghệ thuật gợi cho ta những bài học luân lí, hay một triết lí về đời người, những lời khuyên xử thế,… Minh hoạ luận điểm này, Nguyễn Đình Thi dẫn hai câu Kiều đáng nhớ: Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Nhà văn bổ sung bằng những lí lẽ và dẫn chứng về tác phẩm của Nguyễn Du, của Tôn-xtôi rồi nhấn mạnh: mỗi tác phẩm lớn "rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng…". Những nghệ sĩ lớn "đem tới được cho thời đại họ một cách sống của tâm hồn". Lời gửi cua văn nghệ kì diệu biết bao! c)Không chỉ như vậy, văn nghệ còn buộc chặt chúng ta với cuộc đời. Văn nghệ giúp cho ta được sống vui vẻ, lạc quan, tin yêu và hi vọng. Tương tự cách lập luận ở hai luận điểm trên, nhà văn kể những câu chuyện cụ thể, cảm động về các chiến sĩ cách mạng tiền bối bị cầm tù, cận kề cái chết vẫn "kể Kiều", đọc cho nhau nghe Truyện Kiều, những người nông dân quanh năm vất vả vẫn ham thích hát dân ca, xem tuồng, chèo,… Từ dẫn chứng cụ thể, người viết sơ kết bằng hai câu văn thật sâu sắc: "Văn nghệ đã làm cho tâm hổn họ thực được sống. Lời gửi của văn nghệ là sự sống". Như vậy, với các luận điểm trên, nhà văn Nguyễn Đình Thi giúp chúng ta hiểu rõ sức mạnh, khả năng kì diệu của văn học nghệ thuật đối với cuộc sống con người. Các nhà lí luận gọi đó là chức năng, tác dụng của văn nghệ. Nguyễn Đình Thi không dùng từ ngữ mang tính khái quát ấy mà nói giản dị bằng những từ ngữ gợi cảm, dễ hiểu, "…một lời nhắn nhủ…lời gửi của văn nghệ", kết hợp những dộng từ nhấn mạnh: "chúng ta nghe thấy…tác phẩm rọi một ánh sáng… câu Kiều, tiếng hát buộc chặt lấy cuộc đời…truyền lại, gieo vào…". Cùng sự lựa chọn ngôn từ chính xác, gợi cảm, nhà văn sử dụng cách lập luận quy nạp khiến cho những luận điểm vốn là những khái niệm khó, trở nên dễ hiểu, đầy sức thuyết phục. 2.Cách nói, cách nhắn nhủ của văn nghệ Đọc đoạn văn từ câu "Có lẽ văn nghệ…" đến câu "… khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy", chúng ta có thể hiểu cách nói, cách nhắn gửi của văn nghệ trong ba ý chính sau. Thứ nhất: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm. Những câu thơ đẹp, những hình tượng nhân vật sống động, lời ca tiếng hát hay,… lay động con tim chúng ta, khiến ta xúc động, trào dâng niềm vui, lòng thương xót, mến yêu, niềm hi vọng,… trong cuộc sống. Thứ hai: Tác phẩm khơi dậy trong trí óc tư những vấn đề suy nghĩ. Điều đó nghĩa là cùng với tình cảm, con đường đi tới của nghộ thuật là trí tuệ, là tư tưởng. Nhưng "cái tư tưởng trong nghệ thuật là một tư tưởng náu mình, yên lặng". Nó không nêu những nội dung tư tưởng, không giáo huấn trực tiếp, khô khan, áp đặt, nó "náu mình, yên lặng" để bằng sự khơi gợi của tình cảm, sự lay động từ con tim, truyền những dư ba, những nguồn sóng ngầm lên trí óc, đánh thức suy nghĩ, lắng sâu trong tư tưởng con người. Con đường đi và hướng đi của nghệ thuật thật tinh tế như thế đấy. Thứ ba: Cách nói, đường đi của nghệ thuật tinh tế và kì diệu hơn nữa là nghệ thuật đốt lửa trong lòng chúng ta. Đi từ tình cảm đến tư tưởng, từ cách lay động con tim đến sự thức tỉnh trí óc,… mỗi tác phẩm nghệ thuật thực đã tác động đến những nơi tinh nhạy, linh thiêng nhất trong sự sống của con người. Ba cách nói, ba phương thức tác động của văn học nghệ thuật đối với con người kì diệu và màu nhiệm xiết bao. Trình bày những luận điểm ấy, Nguyễn Đình Thi ít dùng những dẫn chứng cụ thể như ở phần trên mà chủ yếu giảng giải, phân tích bằng lí lẽ. Song lí lẽ của ông không trừu tượng, khô khan vì ngôn từ trong đoạn văn rất uyển chuyển, cụ thể, sinh động. Đồng thời nhà văn dùng nhiểu phép so sánh, ẩn dụ bằng những hình ảnh gần gũi, chẳng hạn "chỗ đứng của văn nghộ chính là chỗ giao nhau của tâm hồn con người với cuộc sống"… "tư tưởng trong nghệ thuật là một tư tưởng náu mình, yên lặng… trỏ vẽ cho ta đường đi… đốt lửa trong lòng chúng ta…". Viết văn nghị luận như thế thật tài hoa, đáng học tập. 3.Mục đích của văn nghệ Đến phần kết thúc của văn bản (từ câu "Bắt rễ ở cuộc đời"… đến hết), tác giả tiếp tục dùng lí lẽ và những từ ngữ sinh động để khái quát cội nguồn và thiên chức vẻ vang, khả năng kì diệu của văn học nghệ thuật đối với con người, đối với cuộc sống. Nguyên lí cơ bản: Văn học nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống, để rồi trở lại phục vụ cuộc sống được nhà văn nhấn mạnh bằng những luận điểm đầy ấn tượng như "văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn người… Nghệ thuật giải phóng được cho con người khỏi những biên giới của chính mình, nghệ thuật xây dựng con người,… làm cho con người tự xây dựng được". Tóm lại, đọc văn bản Tiếng nói của văn nghệ chúng ta nghe được, hiểu được những lời nhắn gửi kì diệu của văn học nghệ thuật đối với cuộc sống con người. Văn nghệ là mối dây đồng cảm giữa nghệ sĩ với bạn đọc qua những rung động mãnh liệt, sâu xa của trái tim. Văn nghệ giúp cho chúng ta được sống phong phú hơn, để tự hoàn thiện nhân cách, để biết sống trong sạch, cao thượng theo tiêu chuẩn của chân, thiên, mĩ (sự thật, điều tốt và cái đẹp). Đồng thời qua áng văn này, chúng ta học tập được ở nhà văn Nguyễn Đình Thi thao tác phân tích bằng lí lẽ, kết hợp nhiều dẫn chứng sinh động, những lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh và cảm xúc, đạt tới chuẩn mực của một văn bản nghị luận sâu sắc có tính thuyết phục cao. Nói cách khác, nội dung và những giá trị nghệ thuật dặc sắc ấy của bài viết đã nhắn gửi cho chúng ta bao điều kì diệu, đốt nóng trong chúng ta tình yêu văn chương nghệ thuật, khích lệ thêm cho chúng ta niềm hứng khởi và quyết tâm học tập, thực hành văn chương, nghệ thuật ở trường lớp, trong gia đình cũng như ngoài cuộc sống. Cám ơn nhà văn Nguyễn Đình Thi đã cho chúng ta thưởng thức một món ăn tinh thần cao quý và bổ ích.
Phân tích về bài Tiếng nói của văn nghệ của Nguyễn Đình Thi
1,535
Phân tích vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ Hướng dẫn Phân tích vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ Lưu Quang Vũ sinh năm (1948 _1988) là một trong những nhà viết kịch tài năng nhất của nền văn học Việt Nam, tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của ông có vở kích Hồn Trương Ba da hàng thịt là một trong những văn bản đặc sắc với việc khắc họa những mâu thuẫn giữa linh hồn của Trương Ba với xác của hàng thịt, phản ánh bi kịch cũng như khát vọng được hoàn thiện về nhân cách của hồn Trương Ba. Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt xuất xứ từ một câu chuyện có trong dân gian từ lâu đời được tác giả Lưu Quang Vũ biên kịch thành một vở kịch nói hiện đại, đặt ra những vấn đề mới mẻ và có ý nghĩa về tư tưởng cũng như triết lý nhân văn một cách sâu sắc. Vở kịch được công diễn tại nhiều nước trên thế giới, là một trong những vở kịch góp phần nên tên tuổi của Lưu Quang Vũ. Với nội dung của nó được tóm tắt như sau: Trương Ba là một nhân vật người làm vườn nhưng có tài chơi cờ tướng, vì một sự nhầm lẫn nhỏ của Nam Tào nên Trương Ba bị chết oan. Để có thể sửa sai thì Nam Tào cùng Đế Thích để cho Trương Ba sống lại nhưng lại nằm trong thân xác của anh hàng thịt. Cuối cùng thì Trương Ba cũng đã quyết định trả lại thân xác cho anh chàng hàng thịt, giải thoát cho mình và chấp nhận cái chết.Đay là đoạn trích của đoạn kết trong tác phẩm tập trung phản ánh những chủ đề tư tưởng của vở kịch. Ở trong đoạn này, mâu thuẫn đỉnh điểm đã được tác giả thể hiện qua sự dằn vặt, cũng như những giằng xé một cách đau đớn của hồn Trương Ba. Cảnh hồn Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt với tư thế ngồi ôm đầu chính là cảnh mở đầu cho đoạn kịch, nói ra những câu đầy bực bội: “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi…Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi, chán lắm rồii! Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng để nó được tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát!” Sau đó chính là cảnh hồn của Trương Ba được tách khỏi xác của anh hàng thịt, cũng từ đây thì cuộc đối thoại giữa hồn và xác cũng được bắt đầu. Dưới vỏ bọc ngôn ngữ của những lời đối thoại có nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy theo trình độ của những người xem kịch mà Lưu Quang Vũ cũng chú ý đến sử dụng ngôn ngữ mà phản ánh tính cách và bản chất của nhân vật. Hồn của Hồn Trương với thái độ vừa coi thường vừa ngạc nhiên: “mày cũng biết nói kia à? Vô lí, mày không thể biết nói”… “hoặc có thì cũng là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được” thèm ăn, thèm rượu thịt”. Lưu Quang Vũ thừa kế những tư tưởng của những truyện cổ dân gian một cách thấm nhuần, và tiếp tục khẳng định những vai trò to lớn của linh hồn và thể xác. Tuy thế nhưng tác giả đã cho người xem một cuộc tranh luận không kém phần gay go và quyết liệt giữ linh hồn của Trương Ba và xác của anh hàng thịt. Có những khi tiếng nói của xác thịt còn lấn át cả tiếng nói của linh hồn, làm cho linh hồn bị đẩy vào ở thế bị động và lúng túng: “Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục!… Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ?” hay sự phân bua lý lẻ đòi công bằng qua câu “Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi… Khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác…” Hành động trao trả lại thân xác cho anh hàng thịt của nhân vật Trương Ba là một hành động đúng đắn và hợp đạo lí. Điều đó có thể khẳng định: Một linh hồn dù có tốt đẹp đến đâu nhưng mà phải trú ngụ trong một thể xác của người khác thì cũng không thể nào có thể thấy thoải mái vì những mặc cảm giả dối. Đây chính là đoạn trích hồn Trương Ba da hàng thịt tập trung một cách cao độ tính triết lý cũng như tư tưởng nhân văn của vở kịch đến từ dân gian này. Tác giả đã cho người đọc và người xem thấy được một quan niệm về cách sống một cách đúng đắn hãy là chính mình, cuộc sống thực sự của một cá nhân chỉ có ý nghĩa khi chúng ta sống vì niềm vui và sự lạc quan, hạnh phúc của tất cả mọi người vì sự tốt đẹp cho cuộc đời.
Phân tích vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
884
Phân tích vở kịch Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt Hướng dẫn Phân tích vở kịch Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt Lưu Quang Vũ sinh năm (1948 _1988) là một trong những nhà viết kịch tài năng nhất của nền văn học Việt Nam, tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của ông có vở kích Hồn Trương Ba da hàng thịt là một trong những văn bản đặc sắc với việc khắc họa những mâu thuẫn giữa linh hồn của Trương Ba với xác của hàng thịt, phản ánh bi kịch cũng như khát vọng được hoàn thiện về nhân cách của hồn Trương Ba. Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt xuất xứ từ một câu chuyện có trong dân gian từ lâu đời được tác giả Lưu Quang Vũ biên kịch thành một vở kịch nói hiện đại, đặt ra những vấn đề mới mẻ và có ý nghĩa về tư tưởng cũng như triết lý nhân văn một cách sâu sắc. Vở kịch được công diễn tại nhiều nước trên thế giới, là một trong những vở kịch góp phần nên tên tuổi của Lưu Quang Vũ. Với nội dung của nó được tóm tắt như sau: Trương Ba là một nhân vật người làm vườn nhưng có tài chơi cờ tướng, vì một sự nhầm lẫn nhỏ của Nam Tào nên Trương Ba bị chết oan. Để có thể sửa sai thì Nam Tào cùng Đế Thích để cho Trương Ba sống lại nhưng lại nằm trong thân xác của anh hàng thịt. Cuối cùng thì Trương Ba cũng đã quyết định trả lại thân xác cho anh chàng hàng thịt, giải thoát cho mình và chấp nhận cái chết.Đay là đoạn trích của đoạn kết trong tác phẩm tập trung phản ánh những chủ đề tư tưởng của vở kịch. Ở trong đoạn này, mâu thuẫn đỉnh điểm đã được tác giả thể hiện qua sự dằn vặt, cũng như những giằng xé một cách đau đớn của hồn Trương Ba. Cảnh hồn Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt với tư thế ngồi ôm đầu chính là cảnh mở đầu cho đoạn kịch, nói ra những câu đầy bực bội: “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi…Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi, chán lắm rồii! Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng để nó được tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát!” Sau đó chính là cảnh hồn của Trương Ba được tách khỏi xác của anh hàng thịt, cũng từ đây thì cuộc đối thoại giữa hồn và xác cũng được bắt đầu. Dưới vỏ bọc ngôn ngữ của những lời đối thoại có nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy theo trình độ của những người xem kịch mà Lưu Quang Vũ cũng chú ý đến sử dụng ngôn ngữ mà phản ánh tính cách và bản chất của nhân vật. Hồn của Hồn Trương với thái độ vừa coi thường vừa ngạc nhiên: “mày cũng biết nói kia à? Vô lí, mày không thể biết nói”… “hoặc có thì cũng là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được” thèm ăn, thèm rượu thịt”. Lưu Quang Vũ thừa kế những tư tưởng của những truyện cổ dân gian một cách thấm nhuần, và tiếp tục khẳng định những vai trò to lớn của linh hồn và thể xác. Tuy thế nhưng tác giả đã cho người xem một cuộc tranh luận không kém phần gay go và quyết liệt giữ linh hồn của Trương Ba và xác của anh hàng thịt. Có những khi tiếng nói của xác thịt còn lấn át cả tiếng nói của linh hồn, làm cho linh hồn bị đẩy vào ở thế bị động và lúng túng: “Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục!… Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ?” hay sự phân bua lý lẻ đòi công bằng qua câu “Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi… Khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác…” Hành động trao trả lại thân xác cho anh hàng thịt của nhân vật Trương Ba là một hành động đúng đắn và hợp đạo lí. Điều đó có thể khẳng định: Một linh hồn dù có tốt đẹp đến đâu nhưng mà phải trú ngụ trong một thể xác của người khác thì cũng không thể nào có thể thấy thoải mái vì những mặc cảm giả dối. Đây chính là đoạn trích hồn Trương Ba da hàng thịt tập trung một cách cao độ tính triết lý cũng như tư tưởng nhân văn của vở kịch đến từ dân gian này. Tác giả đã cho người đọc và người xem thấy được một quan niệm về cách sống một cách đúng đắn hãy là chính mình, cuộc sống thực sự của một cá nhân chỉ có ý nghĩa khi chúng ta sống vì niềm vui và sự lạc quan, hạnh phúc của tất cả mọi người vì sự tốt đẹp cho cuộc đời.
Phân tích vở kịch Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt
876
Phân tích vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng Hướng dẫn Phân tích vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng Kịch là một trong ba thể loại chính của nền văn học Việt Nam, nhắc đến kịch thì ngoài cái tên nổi tiếng như Lưu Quang Vũ thì ta còn biết đến cái tên Nguyễn Huy Tưởng. Đặc biệt Nguyễn Huy Tưởng không chỉ là một nhà viết kịch mà còn là một nhà văn. Trong những tác phẩm kịch nổi tiếng của ông phải kể đến tác phẩm Vũ Như Tô được sáng tác vào năm 1941. Qua tác phẩm này nhà văn thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cường quyền, giữa nghệ sĩ và nhân dân và thậm chí là văn hóa dân tộc. Vở kịch là một vở nói về lịch sử gồm có năm hồi, đoạn trích Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài thuộc hồi năm của vở kịch này. Nhân vật chính của kịch là Vũ Như Tô. Ông là một nhà kiến trúc tài giỏi, tính tình cương trực trọng nghĩa khinh tài. Lê Tương Dực là một tên bạo chúa sai Vũ Như Tô xây cửu trùng đài để hắn lấy nơi vui chơi với bọn cung tần mĩ nữ và ăn chơi xa đọa. Vốn tính tình cương trực thẳng thắn Vũ Như Tô đã từ chối sự sai khiến ấy mặc cho sự đe dọa về tính mạng. Thế nhưng Đan Thiềm một cô cung nữ tài sắc bị ruồng bỏ đã khuyên Vũ Như Tô xây cửu trùng đài để cống hiến cho đất nước. Vì ông luôn muốn cống hiến cho đất nước cho nên khi nghe thế ông quyết định xây Cửu Trùng Đài, ông dùng toàn tâm toàn lực để xây dựng. Nhưng chính cái Cửu Trùng Đài ấy đã làm khổ nhân dân khiến họ không thể chịu nổi và quyết tâm nổi dậy. Vũ Như Tô bị giết còn Cửu Trùng Đài bị thiêu dụi hoàn toàn. Mâu thuẫn của đoạn trích này là khi nhân dân không thể chịu nổi nữa bèn đứng lên nổi loạn. Người đứng đầu cho cuộc nổi loạn ấy chính là Trịnh Duy Khản. Đó chính là mâu thuẫn thứ nhất, mâu thuẫn trực tiếp và thực tế. Nhân dân phải sống trong cảnh lầm than đã thế lại còn phải phục vụ cho việc xây dựng Cửu Trùng Đài cho tên vua vô lại ăn chơi hưởng lạc. Điều đó làm sao có thể chịu được. Nhân dân không chỉ mất tiền mất sức mà còn mất cả mồ hôi và xương máu. Vì thế cho nên ở đây có sự mâu thuẫn giữa vua vô lại và nhân dân. Mâu thuẫn kịch ấy được giải quyết bằng một cuộc nổi loạn dẹp sạch cuộc sống xa hoa kết liễu tên vua dâm kia. Khi nhân dân nổi dậy họ đã bắt và giết tên Lê Tương dực sau đó những cung tần mĩ nữ hoàng hậu cũng bị vạ lây mà giết hết. Cuối cùng là Đan Thiềm và Vũ Như Tô họ cũng không tránh khỏi cái chết vì đã làm cho nhân dân khổ cực. Cửu Trùng Đài thì bị thiêu dụi trong ánh mắt tiếc nuối của Vũ Như Tô. Mâu thuẫn thứ hai trong đoạn trích này chính là mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật thuần túy lâu đời với lợi ích thiết thực của nhân dân trong việc xây Cửu Trùng Đài. Trong tác phẩm ta thấy Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ có tâm và hết lòng vì nghệ thuật. Chính vì thế mà ông luôn muốn cống hiến những công trình nghệ thuật của mình cho đất nước. Thế nhưng là một người nghệ sĩ ông lại không nhận thức được mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống cho nên đã mắc sai lầm và dẫn tới cái chết. Hay Đan Thiềm cô khuyên Vũ Như Tô không hề vì một mục đích nào khác. Cô là một người bạn tri âm tri kỉ với ông nên muốn tốt cho ông mà thôi. Nhưng Đan Thiềm cũng không ý thức được mối quan hệ đó cho nên cũng nhận lấy kết cục đáng buồn. Cửu Trùng Đài là một công trình nghệ thuật lớn vì thế cho nên nó rất tốn ngân khố của quốc gia. Mà ngân khố quốc gia lại chính là nhân dân làm ra chứ không ai hết. Chính vì thế xây dựng càng lớn thì nhân dân càng khổ nhiều hơn. Không những thế mà họ còn phải trả xương máu cho công trình ấy. Thứ hai Cửu Trùng Đài xây nên chỉ để phục vụ cho vua chúa ăn chơi xa đọa chứ không phải để phục vụ cho nhân dân. Chính vì thế nhân dân hoàn toàn không có một lợi ích nào ở đây. Trong khi đó Vũ Như Tô một người nghệ sĩ tài ba có tâm lại không nhận thức được điều đó. Ông chỉ chú tâm vào xây dựng công trình nghệ thuật vĩ đại của mình cho nên điều đó đã khiến cho công trình nghệ thuật ấy xa rời thực tế cuộc sống và nhận lấy kết quả đáng buồn. Ngay cả khi Đan Thiềm khuyên ông chạy đi không thì sẽ chết nhưng ông vẫn không chạy, ông vẫn tin vào việc làm của mình là đúng và quang minh chính đại. Và cho đến khi ông bị lôi ra pháp trường ông vẫn không nhận ra mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Ông vẫn không hề biết lí do tại sao mình phải chết. Điều đó là một bi kịch lớn đối với một người nghệ sĩ.
Phân tích vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng
964
Phân tích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài Hướng dẫn Mở bài: Tô Hoài là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, nhà văn Tô Hoài đã từng sống và hoạt động nhiều năm ở chiến khu Việt Bắc. Năm 1952, ông tham gia với bộ đội trong chiến dịch giải phóng Tây Bắc. Trong chuyến công tác kéo dài 8 tháng ấy, nhà văn đã sống và gắn bó với nhân dân nhiều dân tộc ở khu căn cứ du kích. Hình ảnh Tây Bắc đau thương và anh hùng với những người dân tộc ít người mộc mạc, chất phác, ngay thẳng và quật cường đã in đậm trong tâm trí của nhà văn. Những kỉ niệm sâu sắc đó sau này đã được tái hiện một cách chân thực và sinh động trong tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài. Tác phẩm được giải nhất: Giải thưởng của hội văn nghệ Việt Nam năm 1955. “Vợ chồng A Phủ” là một trong ba truyện ngắn được in trong tập truyện này. Thân bài: Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là tác phẩm ghi dấu sự trưởng thành của tác giả Tô Hoài trong việc chiếm lĩnh mảng đề tài miền núi mà ông đắc biệt quan tâm. Truyện được tổ chức chặt chẽ, cách dẫn dắt tự nhiên, không cần chạy theo những chi tiết li kì mà vẫn có sức cuốn hút mạnh mẽ. Điều đó có được nhờ cái nhìn hiện thực rất sắc bén và chủ nghĩa nhân đạo tích cực của nhà văn. Có thể nói, với âm điệu trữ tình tha thiết, truyện ngắn xứng đáng là một bài thơ bằng văn xuôi, ngợi ca sức sống mạnh mẽ của con người từ trong bóng tối của cuộc đời đầy đau khổ, tủi nhục đã vươn tới ánh sáng rực rỡ của nhân phẩm và tự do. Tác phẩm còn là bức tranh xã hội thực dân phong kiến miền núi đen tối, thối nát, thể hiện chân thực cuộc sống nghèo khổ, bị chà đạp của người dân miền núi trước Cách mạng và tái hiện sinh động cuộc sống sinh hoạt, phong tục, tập quán, kể cả những hủ tục khắc nghiệt ở miền núi trước Cách mạng. Trước hết, ta thấy truyện ngắn Vợ chồng A Phủ đã phản ánh hết sức chân thực một hiện thực nghiệt ngã của cuộc sống thời đại thực dân phong kiến mà điểm đầu tiên ta nhận ra bộ mặt tàn bạo của bọn lang đạo, chúng đất ở vùng cao. Qua những trang viết của Tô Hoài, ta thấy bóng đen của bọn thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai như bao trùm, đè nặng lên cuộc sống vốn đã chồng chất bao khổ đau của những người dân vùng cao Tây Bắc. Ta có thể coi bọn Tây đồn của bản Phe là hình ảnh đại diện cho ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp. Chúng bắt đồng bào các dân tộc đi phu để làm đường, để xây dựng đồn bốt. Chúng liên tục mở những đợt hành quân càng quét đến tận những bản làng xa xôi, hẻo lánh. Chúng bắt giết người dân vô tội, đốt phá nhà cửa, giày xéo ruộng nương. Sự có mặt của chúng luôn đi liền với tai họa và những điều xấu xa. Núp dưới bóng của bọn thực dân Pháp, bọn phong kiến tay sai mặc sức hoành hành ở những bản làng của người H’Mông trên núi cao đó là những tên thống lí Pá Tra (lí trưởng); thống quản (phó lí),… Chúng chiếm đoạt những gì tốt nhất, tìm mọi cách để có nhiều của cải, mở mang ruộng đất. Chúng bóc lột chủ yếu bằng biện pháp lao dịch, nghĩa là bắt người dân nghèo phải làm không công cho chúng, như một thứ nô lệ, còn chúng tự cho mình có quyền đánh đập, hành hạ, giết chết hoặc bán những nô lệ ấy cho kẻ khác mà không bị buộc tội gì cả. Chính cha con nhà Pá Tra đã trực tiếp đọa đầy bao kiếp người khốn khổ, gây ra cho họ biết bao đau thương, tủi nhục. Trong số lớn các nạn nhân ấy có Mị và A Phủ. Cuộc đời của Mị và A Phủ đại diện tiêu biểu cho nỗi khổ ấy của người dân lao động miền núi. Thông qua những chi tiết trong cuộc đời Mị và A Phủ, hiện thực sống càng được phản ánh rõ nét trong tác phẩm này. Mị là một thiếu nữ xinh đẹp, làm nương giỏi, hồn nhiên yêu đời “cô uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Nhiều trai làng đến với Mị “đứng nhẵn cả chân cột”. Mị có đủ những phẩm chất tốt đẹp để xứng đáng được hưởng một cuộc đời yên ấm, hạnh phúc. Cô gái ấy không những chăm chỉ làm ăn mà còn biết yêu quí tự do, biết khẳng định quyền sống của mình. Do vậy, mà ngay khi còn rất trẻ, trước nguy cơ bị thống lý Pá Tra bắt về làm dâu gạt nợ, Mị đã thưa với cha những lời tha thiết và dứt khoát “con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu” Mị không sống riêng cho bản thân mình mà phẩm chất cao đẹp nhất của Mị là lòng vị tha và đức hi sinh. Mị thà chết còn hơn là sống khổ nhục. Nhưng cuối cùng người con gái ấy đã chấp nhận sống trong đau khổ còn hơn bất hiếu với cha mẹ, còn hơn phải chứng kiến người cha già yếu ớt phải chịu đựng sự khổ cực. Xã hội cũ tàn ác, không cho phép Mị sống dù chỉ sống một cuộc sống bình thường như bao người khác mà buộc cô phải chấp nhận một thân phận nô lệ khổ nhục. Với Mị, hạnh phúc chỉ là ước mơ, còn đau thương mới là sự thật – một sự thật cay đắng, bắt đầu từ khi cha cô vay bạc trắng ở nhà thống lí Pá Tra để làm lễ cưới. Suốt đời làm lụng vất vả mà cha mẹ Mị không trả được món nợ ấy, chính vì vậy mà Mị – người con gái hiếu thảo ấy đã trả món nợ của gia đình bằng cả tuổi trẻ và cuộc sống tự do của mình. Mị bước vào nhà Pá Tra với danh nghĩa con dâu nhà quan nhưng cô bị đối xử như một nô lệ, thứ nô lệ mà người ta không cần phải mua nhưng vẫn có quyền tha hồ đánh đập, bóc lột, hành hạ. Mị ở nhà chồng mà như sống dưới địa ngục, không hề có tình thương, không hề có sự chia sẻ cảm thông tình nghĩa vợ chồng mà ở đó chỉ có những ông chủ độc ác, tàn bạo với những công việc triền miên quanh năm suốt tháng: “quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi, hay đi cõng nước dưới khe suối lên,.. tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì chặt đay, e đay, đến màu thì đi nương bẻ bắp”. Cuộc sống ở nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị từ một cô gái trẻ trung yêu đời, xinh đẹp trở thành một con người lặng lẽ, cam chịu. Mang tiếng là con dâu nhà quan, giàu có nhất vùng nhưng thật chất chỉ là nàng hầu, con ở; thậm chí thân Mị cũng không bằng thân trâu, ngựa bởi vì “con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân nhai cỏ; đàn bà con gái nhà này thì vùi vào làm việc cả đêm, cả ngày”. Không những thế, Mị còn phải phục dịch hầu hạ cả kẻ ăn người ở trong nhà Pá Tra; lại thường xuyên bị A Phủ đánh đập, hành hạ hết sức tàn nhẫn “có hôm nó xách cả thúng sợi đay trói đừng Mị vào cột nhà”. Có hôm đi chơi khuya về, chỉ vì thấy ngứa mắt, nó đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp. Thân phận Mị cũng chẳng khác gì một tù nhân bởi vì Mị phải thường xuyên sống trong một căn buồng chật hẹp tối tăm như một nhà tù. Mối giao cảm duy nhất giữa Mị và cuộc sống bên ngoài chỉ còn thu lại qua một ô cửa nhỏ bé, vuông bằng bàn tay, lúc nào cũng “mờ mờ trăng trắng”, từ trong nhà nhìn ra không biết là sương mờ hay nắng. Có thể nói, cái tối tăm của căn buồng Mị ở hòa với cái tối tăm nhà Pá Tra, cái tối tăm của xã hội đương thời, tất cả đã tạo thành một màng đêm mịt mùng vây kín cuộc đời Mị. Mỵ sống như con rùa sống trong lầm lũi trong xó cửa, cuộc đời không bằng thân trâu, ngựa, suốt ngày làm việc và câm lặng giống như một tảng đá. Cuộc đời của người phụ nữ đau khổ nhưng số phận người con trai Mèo cũng chẳng hơn gì. Nhà văn Tô Hoài đã để cho A Phủ xuất hiện thật đột ngột trong cảnh đánh nhau với A Sử, rồi bị bắt trói bị đánh đập tàn nhẫn ở nhà Pá Tra. Sau đó mới kể về lai lịch của nhân vật: đó là một chàng trai nghèo khổ đã mất cha mẹ, anh em trong một trận dịch bệnh khủng khiếp, đã phải sống bơ vơ ngay khi còn nhỏ dại. Khi còn bé, A Phủ đã không chịu cuộc sống tù hãm, anh đã giấu gia đình chủ đi tìm tự do và bước chân lưu lạc đã đưa anh đến tới Hồng Ngài. Ở đây, A Phủ khẳng định rõ tính cách tự lập, một mình xoay sở kiếm sống học hỏi đủ các nghề, biết đúc lưỡi cày, biết đúc cuốc, biết làm nương giỏi lại đi săn bò tót rất thạo. A Phủ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, không gia đình, không nhà cửa, không anh em họ hàng thân thích. Anh phải lang bạc nhiều nơi để kiếm sống. Đó là một chàng trai khỏe mạnh, biết đủ các nghề: biết đúc lưỡi cày, đúc lưỡi cuốc, làm nương giỏi, săn thú hay và là niềm ao ước của biết bao cô gái. A Phủ còn có sức khỏe hơn người lại hiền lành và chăm chỉ nên đã trở thành đề tài trong các câu chuyện của các cô gái trong vùng: “đứa nào được A Phủ cũng bằng có con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy chốc mà giàu”. Tuy vậy, với tập tục khắc nghiệt của cuộc sống phong kiến thời đó, A Phủ chẳng những bị khinh do bởi không có gia đình, không có họ hàng thân thích mà thực tế cũng chẳng bao giờ anh kiếm được tiền xây nhà, cưới vợ. Điều đau khổ hơn là A Phủ – một đứa con của núi rừng tự do không sao mà thoát khỏi kiếp sống nô lệ. Sự việc xảy ra vào một đêm hội mùa xuân, do A Phủ không chịu nổi những bất công và áp bức nên anh đã dám đánh cả A Sử – con quan thống lí Pá Tra. Hành động đó của A Phủ không đơn thuần là sự ghen ghét thường tình giữa một đám trai làng với nhau mà nó có một nguyên nhân xâu xa: từ mối hận thù giai cấp. Cũng vì mối hận thù đó, Pá Tra sai tay chân bắt trói A Phủ, đánh đập tàn nhẫn: “sau một lượt đánh, kẻ, chửi lại hút… cứ như thế suốt một chiều, một đêm, càng hút càng tỉnh càng đánh”. Tuy vậy, những hành động dã man ấy không làm cho A Phủ khiếp sợ khuất phục, mà trái lại: “A Phủ quì chịu đòn, chỉ im như tượng đá”. Cuối cùng, trong cảnh xử kiện đầy quái gỡ, khi kẻ phát đơn kiện cũng là kẻ ngồi trên ghế quan tòa. A Phủ đã bị buộc phải làm nô lệ suốt đời để trừ nợ. (100 đồng bạc trắng vạ). A Phủ bị tước đoạt quyền làm người một cách vô lí. Đó là kiếp sống bị khinh bỉ, bị bạc đãi, phải gánh vác những công việc nguy hiểm, nặng nhọc nhất. Cuộc đời của Mị và A Phủ có nhiều điểm tương đồng. Cả Mị và A Phủ đều là những người dân nghèo khổ, cơ cực. Họ là những người yêu lao động, khát khao tự do. A Phủ và Mị đều là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, mà cụ thể hơn là nạn nhân của cha con nhà thống lí Pá Tra (phải làm việc quần quật quanh năm suốt tháng, rồi bị đánh đập dã man, bị trói đứng ở cột,…) Giá trị hiện thực của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ ngoài việc tái hiện cuộc đời khổ ải của những người dân nô lệ cò nói lên sự thật sót xa: người dân bị áp bức, đè nén quá lâu, sẽ bị tê liệt tinh thần phản kháng, sẽ bị đầu độc bởi tâm trí nô lệ, bạo lực cấu kết với thần quyền. Với mê tín dị đoan làm cho họ không cất đầu dậy nổi. Thế nhưng, trong cuộc đời, mọi cái đều có giới hạn, có áp bức tức có đấu tranh. Mị và A Phủ như bao người khác, cũng vùng lên tự giải phóng mình, giành quyền làm người tự do. Đoạn đời sau của vợ chồng A Phủ chứng minh qui luật muôn đời ấy. Đề tham khảo: 1. Phân tích giá trị hiện thực và gía trị nhân đạo của truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” 2. Phân tích những đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” 3. Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị từ lúc cô bị bắt về làm dâu nhà thống Lý Bá Tra cho đến khi A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngài 4. Anh/chị hãy phân tích những diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân. 5. Anh/chị hãy phân tích những diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cô cắt dây trói cứu A Phủ và cùng bỏ trốn khỏi Hồng Ngài.
Phân tích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài
2,449
Đề bài: Phân tích xung đột kịch trong tác phẩm Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng Bài làm Bắc Sơn là vở kịch nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, là tác phẩm mở đầu của kịch nói cách mạng. Tác phẩm đã giúp chúng ta hiểu về ý nghĩa cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và sức mạnh cảm hoá của cách mạng với quần chúng. Đoạn trích hồi IV của vở kịch Bắc Sơn đã tạo được những xung đột kịch điển hình, qua đó tái hiện sinh động chân dung các chiến sĩ cách mạng và tấm lòng của Thơm – nhân vật trung tâm của vở kịch. Thơm là con của cụ Phương và là chị của Sáng, hai chiến sĩ tham gia vào khởi nghĩa Bắc Sơn. Nhưng cô còn là vợ của Ngọc, một tên Việt gian đã dẫn quân Pháp về tấn công làng Vũ Lăng, đại bản doanh của cuộc khởi nghĩa, gây thiệt hại nặng nề cho cách mạng. Trong trận chiến đấu không cân sức, cụ Phương và Sáng đã hy sinh anh dũng. Ngọc cố tình che giấu vợ về hành động theo giặc vì hắn sợ bị trừng trị. Mặt khác, hắn lại ôm tham vọng có thật nhiều tiền thưởng của Pháp vì thành tích bắt cán bộ. Một tình huống trớ trêu đầy bất ngờ khi những người bị hắn lùng bắt là Thái và Cửu lại lọt vào chính ngôi nhà của vợ chồng Thơm – Ngọc. Chính trong thời điểm này, người xem được chứng kiến một sự chuyển biến dứt khoát của Thơm, mưu trí đánh lừa Ngọc, bảo về an toàn cho các chiến sĩ cách mạng. Màn kịch bắt đầu bằng những đối thoại giữa Thơm và Ngọc. Lúc này, qua lời đồn đãi, Thơm đã bắt đầu nghi ngờ Ngọc làm tay sai cho giặc Pháp. Bản tính của một người vợ yêu chồng, nhẹ dạ cả tin và trong sáng khiến cho đến tận lúc ấy cô không hề tin vào những dư luận chung quanh. Cộng vào đó, Ngọc vốn là kẻ xảo trá và khéo nịnh vợ nên cô nàng không có cơ sở để nghi cho Ngọc là kẻ phản động. Những lời nói lấp lửng của Ngọc cho thấy hắn cố tình che giấu và chột dạ lo sợ hành động gian manh của mình bị phát giác. Khi Thơm nhìn, hắn đã hoảng hốt:”Mắt cứ như mắt chú đấy!” (chú tức là cụ Phương – bố của Thơm). Khi Thơm tỏ ý nghi Ngọc đi bắt giáo Thái – chiến sĩ Bắc Sơn đang bị giặc truy lùng, hắn đã lu loa lấp liếm bằng những lời nói đánh trống lảng. Nhưng chính thái độ của hắn đã vạch trần bản chất hèn nhát và gian xảo:”Thơm nhìn chồng, vô ý thức y quay mặt nhìn đi chỗ khác”. Dù từ trước đó, Thơm cũng là con người thờ ơ với thời cuộc, an phận thủ thường, nhưng bản thân cô không thể không chịu sự tác động của cha và em trai, biết việc đánh Tây là đúng đắn. Bởi thế, gặp ánh mắt của Ngọc lảng tránh, cô nói thẳng:”Đã làm rồi, thì thôi đi, hay ho gì cái việc ấy”. Lời nói ấy cho thấy Thơm là một con người sẵn sàng khoan dung, tha thứ nhưng không chấp nhận chồng là một kẻ xấu xa. Ngọc là kẻ có nhiều tham vọng, bị đồng tiền làm mờ mắt và dựa vào thế lực của Pháp hòng kiếm chác danh vị giàu sang. Có lúc, Thơm đã tận hưởng những cám dỗ vật chất Ngọc đem lại, nhưng giờ phút này, nàng đã dần dần thấy rõ hơn bộ mặt thật của Ngọc và những đồng tiền nhơ nhuốc hắn đem về. Bởi vậy, cô rất dứt khoát:”Làm việc ấy để có tiền thì chết đói, chết rách còn hơn. Anh thằng Sáng đừng cho tôi tiền nữa, tôi không cần tiền ấy”. Nhưng Ngọc cũng thể hiện sự gian xảo, mập mờ khi tung hoả mù lừa Thơm bằng việc vu khống trắng trợn giáo Thái là mật thám. Bởi thế, lòng Thơm hoang mang chưa quyết, lẫn lộn trắng đen. Bản thân cô hẳn phải mong muốn lời đồn không là sự thật, nhưng lương tâm và linh tính mách bảo lại khiến cô đau khổ trăm phần. Kết lại lớp kịch thứ nhất của hồi này, ta thấy Thơm cầm trên tay kỷ vật là khẩu súng lục của cha mà khóc. Đó là thái độ ân hận và báo hiệu một sự chuyển biến tích cực cho tính cách nhân vật:”Chú ơi! Mé ơi! Chỉ tại con thôi! Con có biết đâu!”. Những xung đột kịch hình thành từ chính sự giằng xé nội tâm của nhân vật, đòi hỏi phải được làm sáng tỏ:”Đã chắc gì những lời đồn!…Nhưng tiền thì lấy đâu mà lắm thế!”. Tình huống đầy bất ngờ mở đầu lớp hai của hồi bốn như bổ sung thêm cho thái độ ngả về phía cách mạng của thơm. Màn đối thoại giữa ba nhân vật:Thơm – Thái – Cửu đã làm nên tình huống thử thách. Chính vào thời điểm này, ta nhận ra vai trò của Thái khi ngăn Cửu manh động định rút súng bắn Thơm, khi biết vào nhầm nhà của kẻ đang lùng bắt mình. Sự bình tĩnh của người cán bộ dạn dày ấy đã cảm hoá được Thơm. Vì đây là lần đầu tiên cô được tiếp xúc với nhân vật rất được mọi người tin yêu, ca ngợi. Những gì cô chứng kiến càng khẳng định cho niềm tin vào ngừời cách mạng. Mặc dù Thơm chưa hiểu hết về công việc cách mạng nhưng dẫu sao cô cũng là con của một liệt sĩ Bắc Sơn, đó cũng là cơ sở để giáo Thái khẳng định lòng tin:”Tôi biết cô Thơm. Anh đừng nghi ngờ dòng máu cụ Phương. Tôi tin như thế. Nghe giọng nói thì biết là thật hay không thật chứ.”. Nhưng điều trớ trêu, vào chính thời điểm ấy, Ngọc đã dắt quân Pháp lùng bắt Thái và Cửu. Tình thế khẩn cấp không cho phép do dự và cũng là lúc Thơm chứng minh cho tấm lòng ngay thẳng của mình. Trong hoàn cảnh ấy, Thơm thể hiện thái độ hốt hoảng, cuống quýt gần như khóc, nghẹn ngào. Tâm trạng ấy không phải là do sợ cho bản thân mà chính là đan xen nỗi lo lắng về sinh mạng những chiến sĩ đang ở trong nhà mình, cùng nỗi uất ức khi thấy tận mắt:”Có cả Tây. Ngọc cũng đi vào đấy”. Thơm đã đứng hẳn về phía cách mạng khi hành động ngoan ngoãn và mau lẹ, thân mật như một người em gái để quyết tâm bảo vệ họ. Không chỉ che giấu cho những người cách mạng, Thơm còn phải thể hiện hết sự khôn khéo và bình tĩnh để đánh lạc hướng Ngọc. Trong giờ phút này, khi biết rõ bộ mặt thật của Ngọc, cô đã đóng một vai kịch bất đắc dĩ nhưng cũng rất tỉnh táo như nhằm vạch rõ chân tướng của Ngọc. Màn đối thoại lần thứ hai giữa Thơm và Ngọc tạo được sự hồi hộp căng thẳng của một cuộc đấu trí. Giờ phút này, không chỉ tìm cách che chở cho những cán bộ cách mạng đang ẩn nấp ngay trong buồng của mình, nói to nhằm đánh động cảnh báo để họ đề phòng kẻ địch, Thơm cong muốn Ngọc bộc lộ chân tướng Việt gian nên cô vờ như muốn níu giữ, vừa tìm cách vuốt ve lòng tự ái của Ngọc. Quả thật, giờ phút này, Ngọc bộc lộ rõ động cơ theo giặc của mình. Hoá ra, chỉ vì những tính toán ích kỷ, cá nhân: mua nhà, tậu ruộng, chạy hàm cửu phẩm để vênh vang với thiên hạ nên Ngọc đã trở thành nô lệ cho chính những tham vọng của mình. Anh ta quả là một con người đáng giận hơn đáng thương. Bởi lẽ, đã có lúc anh ta tự độc thoại để như đáp lại một sự bứt rứt trong lòng, có lẽ vì ân hận trước việc làm của mình đã gây nên cái chết của những người thân yêu của vợ, làm tan cửa nát nhà, nhưng lời lẽ của Ngọc lại là một sự nguỵ biện:”Đằng nào chúng nó cũng bị bắt, mình chả bắt thì cũng người khác bắt, bắt sớm lại đỡ khổ”. Để rồi cuối cùng, những toan tính nhỏ nhen đã thắng thế trước tình cảm, hắn không thèm đếm xỉa đến sự quan tâm lo lắng thực sự của Thơm mà sấp ngửa chạy theo ảo vọng giàu sang. Bởi thế, dù lời lẽ của Thơm có xa xăm, bóng gió, nhằm cảm hoá Ngọc cũng không ngăn cản nổi anh ta, cuối cùng, cô phải bộc lộ thái độ sốt ruột cùng lời nói sẵng như muốn tách xa khỏi Ngọc. Dù vậy, bề ngoài vẫn phải tỏ ra vui vẻ để tránh sự sinh nghi. Có thể nhận ra trong màn đối thoại này, những lời của Thơm không hề bày tỏ cảm xúc của người vợ thương chồng như lúc đầu mà cô đang phảo gắng gượng chịu đựng vai trò người vợ trước một tên Việt gian đầy tham vọng. Kết lại hồi kịch là khoảnh khắc thở phào sung sướng như trút được gánh nặng của Thơm:”May thế!”. Đó cũng là tín hiệu cho ta biết cô đã thực sự đứng về phía cách mạng, không còn là người thờ ơ đứng ngoài cuộc như trước. Màn kịch với những tình huống đột biến liên tục trong bối cảnh ngôi nhà của Thơm đã tạo nên những bước ngoặc tâm trạng dứt khoát của nhân vật. Qua đó, chúng ta nhận ra một con người có lòng tự trọng, ngay thẳng, tuy còn có lúc ngây thơ, cả tin nhưng khi biết rõ sự thật đã lột xác để trở thành một con người bình tĩnh, can đảm, quyết tâm bảo vệ cách mạng đến cùng. Nguyễn Huy Tưởng đã thành công trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật kịch qua ngôn ngữ và hành động kịch rất tự nhiên. Bắc Sơn đã có sức cuốn hút công chúng bởi lẽ tác phẩm đem lại hình ảnh chân thực về những chiến sĩ cách mạng trong những ngày sục sôi của khởi nghĩa Bắc Sơn. Qua đó, nhà văn còn khẳng định tấm lòng của nhân dân không rời xa cách mạng ngay cả trong giờ phút nguy nan nhất. Qua hình tượng nhân vật Thơm, công chúng còn có dịp chứng kiến sức cảm hoá của cách mạng với quần chúng. Chính mối quan hệ này đã làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm.
Phân tích xung đột kịch trong tác phẩm Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng
1,818
Đề bài: Phân tích xung đột trong đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong Quan Âm Thị Kính Bài làm Sân khấu dân gian có hai loại hình quen thuộc là chèo cổ, luống cổ. Chèo cổ của dân tộc ta có đến hàng chục vở, trong đó có 4 vở quen thuộc với mọi người như: Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Kim Nham, Chu Mãi Thần… Trong số những vở chèo kể trên vở chèo Quan Âm Thị Kính được xem là hay nhất. Trích đoạn Nỗi oan hại chồng là phần đầu của vở chèo Quan Âm Thị Kính. Màn chèo này có 3 cảnh, có đủ 5 nhân vật nhưng chủ yếu xung đột kịch thể hiện qua hai nhân vật: Sùng bà và Thị Kính (mụ ác và nữ chính). Trong chèo Sùng bà thuộc loại nhân vật mụ ác, từ ngôn ngữ đến cử chỉ, hành động của mụ rất tàn nhẫn độc địa. Còn Thị Kính là cô gái gặp nhiều oan khiên. Chồng của Thị Kính là Thiện Sĩ – con của Sùng bà. Trong một hôm vì mệt mỏi đèn sách, chàng ngơi mình bên tràng kỷ. Vốn yêu chồng, Thị Kính đến bên chồng ngồi ngắm dung nhan chồng. Vô tình Thị Kính phát hiện ra trên mặt chồng có chiếc râu mọc ngược, nàng toan cắt bỏ: Dạ thương chồng, lòng thiếp sao an Âu dao bèn, thiếp xén tày một mực Cùng lúc đó chồng nàng hô hoán: Hỡi cha! Hỡi mẹ! Hỡi xóm! Hỡi làng Đêm hôm khuya khoắt bổng làm sao thấy sự bất thường. và Sùng bà quả quyết rằng Thị Kính định giết con bà. Mụ mạt sát Thị Kính là mặt sứa gan lim muốn hại con của bà. Mụ chửi Thị Kính như tát nước vào mặt: Còn tuồng bay mèo mả gà đồng lẳng lơ Chứ bây giờ bay mới lộ cái mặt ra Thị Kính càng vật vã kêu oan, than khóc bao nhiêu thì mụ càng lồng lên dữ dội bấy nhiêu. Mụ chửi mắng xỉa xói không thiếu một lời nào. Mụ cho rằng con dâu mụ gan to bằng trời, định sát hại chồng, hơn thế nó là kẻ hư hỏng đổ đốn. Này con kia! mày có trót say hoa đắm nguyệt Đã trên dâu dưới Bộc hẹn hò… Mụ cho rằng Thị Kính là gái say trai lập chí giết chồng và như vậy mụ đòi chém bổ băm vằm xả xích mặt Thị Kính. Mụ xỉ vả Thị Kính hết lời mặt gái trơ như mặt thớt không hiểu phép tắc lễ nghĩa là gì không, không biết tam tòng tứ đức không? Chúng ta thấy rằng Sùng bà chẳng cần hỏi nguyên cớ ra sao, mụ một mực đuổi Thị Kính về nhà, mụ cho rằng gia đình mụ không thể dạy nổi người đàn bà hư hỏng này: Ngựa bất kham thôi phó về Bồng Báo Này, bà bảo cho mà hay này: đồng nát thì về cầu Nôm Con gái nỏ mồm thì về ở với cha, biết không? Mụ vênh váo vỗ ngực ta đây là gia đình thế gia vọng tộc, quyền quý cao sang: trứng rồng lại nở ra rồng còn Thị Kính là con nhà hèn kém bé nhỏ con nhà cua ốc, liu điu lại nở ra dòng liu điu. Với chồng mụ, mụ luôn mắng chồng khinh rẻ chồng, cho chồng là kẻ bợm rượu, ăn nói thì lèm bèm. Còn với Thiện Sĩ mụ hứa lấy cho nó dăm vợ. Thực ra cậu quý tử này là kẻ nhu nhược thậm chí còn đần độn. Đối lập với mụ ác là nữ chính Thị Kính, Thị Kính thật đáng thương. Nàng con nhà nghèo nhưng nhờ có chút nhan sắc nàng lấy được chồng là một nho sinh con nhà giàu có. Bi kịch mà Thị Kính phải gánh chịu là do chính nàng hành xử tuỳ tiện. Trong trích đoạn này ta thấy Thị Kính bị oan uổng. Trong sáu lần khóc van xin thì có đến bốn lần nàng cầu khẩn mẹ chồng soi xét, nhưng mẹ chồng nàng đều gạt phắt đi. Thực tế ta thấy rằng trong đoạn trích này chủ yếu là lời chửi rủa của Sùng bà, cứ sau mỗi hồi chửi bới hạ nhục thì lại có một hồi Thị Kính kêu oan cho mình. Nàng muốn nói mà không nói được, không có ai chịu nghe lời nàng nói. Bị vu oan, xua đuổi, hành hạ đến mức tột cùng. Tâm trạng bực tức Sùng bà trút lên Thị Kính và không còn cách nào khác nàng phải hứng chịu nỗi oan khiên đó. Hai nhân vật hoàn toàn đối lập nhau về tính cách. Sùng bà là đại diện cho giai cấp thống trị, cho lễ giáo phong kiến hà khắc, cổ hủ, cho tầng lớp trên. Còn Thị Kính thì nghèo hèn, hạ lưu. Nàng bị dồn vào bước đường cùng không lối thoát. Chính những xung đột giữa hai nhân vật đã làm cho đoạn chèo đầy kịch tính, gây sự phản kháng đối với Sùng bà và lòng thương cho nỗi oan của Thị Kính. Tuy xung đột kịch còn chút sơ lược, chưa sâu sắc nhưng đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong vở chèo Quan Âm Thị Kính đã gây ấn tượng mạnh cho người xem. Và vở chèo này thật xứng đáng được coi là vở chèo hay nhất trên sân khấu chèo Việt Nam ta.
Phân tích xung đột trong đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong Quan Âm Thị Kính
904
Phân tích yếu tố biểu cảm trong đoạn trích Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc. Hướng dẫn * Yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận: – Văn bản nghị luận rất cần yếu tốbiểu cảm. Yếu tố biểu cảm giúp cho văn bản nghị luận đạt hiệu quả thuyết phục hơn, vì nó có tác động mạnh đến tình cảm của người đọc, người nghe. – Để văn bản nghị luận có sức thuyết phục cao, tác giả cần có xúc cảm thực sự trước những đề tài mình muốn viết hoặc trình bày, đồng thời phải biết diễn tả những cảm xúc đó bằng những từ ngữ, những câu văn, đoạn văn có sức thuyết phục và truyền cảm. Cảm xúc phải được diễn tả một cách chân thực và không được phá vỡ mạch văn trong bài văn nghị luận. – Yếu tốbiểu cảm trong bài văn thường thể hiện rõ nhất ở những từ ngữ chỉ cảm xúc, ở những câu cảm thán, ở giọng văn. Những yếu tố biểu cảm không chỉ ở từ ngữ, câu văn hay giọng điệu, mà còn ở nội dung. Muôn biểu cảm thì trước hết phải có cảm xúc để biểu lộ. Hơn nữa cảm xúc ấy phải chân thành để tác động đến tình cảm của người đọc, người nghe. – Cần lưu ý là trong văn bản nghị luận, yếu tố biểu cảm chỉ cần thiết và có giá trị khi nó giúp cho nghị luận đạt hiệu quả thuyết phục cao hơn. * Yếu tốbiểu cảm trong đoạn trích “Thuế máu”: – Trong đoạn trích “Thuế máu”, Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng nhiều từ ngữ, nhiều hình ảnh có sức biểu cảm cao. Các từ như tên da đen bẩn thỉu, An-nam- mit bẩn thỉu, con yêu, bạn hiền, chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do… đều là cách xưng gọi của bọn thực dân trước và sau chiến tranh. Trước thì miệt thị, khinh bỉ; sau thì đề cao một cách bịp bợm. Tác giả nêu ra các từ ấy nhằm mục đích vạch trần bản chất dối trá của bọn thực dân, tạo nên hiệu quả mỉa mai. Nhờ vậy văn bản đã đạt hiệu quả tốcáo và lên án của mình. – Tác giả còn dùng nhiều hình ảnh mỉa mai giọng điệu tuyên truyền của bọn thực dân. Một sốcâu trong đoạn trích được tác giả sử dụng hết sức hiệu quả: đã phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơithây trên các chiến trường châu Âu….nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng, lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ, – chả thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôi ấy? Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, hoặc trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ, để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế… Những ngôn từ mĩ miều trên không che đậy được một bản chất tàn nhẫn của chủ nghĩa thực dân. Lời mỉa mai đã thể hiện thái độ khinh bỉ đối với giọng điệu tuyên truyền của bọn thực dân. Đề 1. Giới thiệu về tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp và đoạn trích Thuế máu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đề 2. Chương Thuế máu trong Bản án chế độ thực dân Pháp đã xây dựng hình tượng khái quát về tên thực dân quỷ quyệt ghê tởm. Em hãy phân tích và chứng minh. Đề 3. Trình bày cảm nhận về đoạn trích Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc. Đề 4. Phân tích và nêu cảm nghĩ của bản thân về phần đầu trong văn bản Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc. Nguồn:
Phân tích yếu tố biểu cảm trong đoạn trích Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc.
704
Phân tích yếu tố biểu cảm trong đọan trích Thuế máu – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Gợi ý viết bài *Yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận: – Văn bản nghị luận rất cần yếu tố biểu cảm. Yếu tố biểu cảm giúp cho văn bản nghị luận đạt hiệu quả thuyết phục hơn, vì nó có tác động mạnh đến tình cảm của người đọc, người nghe. – Để văn bản nghị luận có sức thuyết phục cao, tác giả cần có xúc cảm thực sự trước những đề tài mình muốn viết hoặc trình bày, đồng thời phải biết diễn tả những cảm xúc đó bằng những từ ngữ, những câu văn, đoạn văn có sức thuyết phục và truyền cảm. Cảm xúc phải được diễn tả một cách chân thực và không được phá vỡ mạch văn trong bài văn nghị luận. -Yếu tố biểu cảm trong bài văn thường thể hiện rõ nhất ở những từ ngữ chỉ cảm xúc, ở những câu cảm thán, ở giọng văn. Những yếu tố biểu cảm không chỉ ở từ ngữ, câu văn hay giọng điệu, mà còn ở nội dung. Muốn biểu cảm thì trước hết phải có cảm xúc để biểu lộ. Hơn nữa cảm xúc ấy phải chân thành để tác động đến tình cảm của người đọc, người nghe. -Cần lưu ý là trong văn bản nghị luận, yếu tố biểu cảm chỉ cần thiết và có giá trị khi nó giúp cho nghị luận đạt hiệu quả thuyết phục cao hơn. -Trong đoạn trích “Thuế máu”, Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng nhiều từ ngữ, nhiều hình ảnh có sức biểu cảm cao. Các từ như tên da đen bẩn thỉu, An-nam-mit bẩn thỉu, con yêu, bạn hiền, chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do… đều là cách xưng gọi của bọn thực dân trước và sau chiến tranh. Trước thì miệt thị, khinh bỉ; sau thì đề cao một cách bịp bợm. Tác giả nêu ra các từ ấy nhằm mục đích vạch trần bản chất dối trá của bọn thực dân, tạo nên hiệu quả mỉa mai. Nhờ vậy văn bản đã đạt hiệu quả tố cáo và lên án của mình. – Tác giả còn dùng nhiều hình ảnh mỉa mai giọng điệu tuyên truyền của bọn thực dân. Một số câu trong đoạn trích được tác giả sử dụng hết sức hiệu quả: đã phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các chiến trường châu Ẩu. …nhiều người bản xứ, sau khỉ được mời chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng, lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ, – chả thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôi ấy? Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, hoặc trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ, để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế… Những ngôn từ mĩ miều trên không che đậy được một bản chất tàn nhẫn của chủ nghĩa thực dân. Lời mỉa mai đã thể hiện thái độ khinh bỉ đối với giọng điệu tuyên truyền của bọn thực dân.
Phân tích yếu tố biểu cảm trong đọan trích Thuế máu – Đề và văn mẫu 8
608
Phân tích yếu tố thần kì trong truyện cổ tích Thạch Sanh – Văn mẫu lớp 6 tuyển chọn Hướng dẫn Đề bài: Trong truyện cổ tích Thạch Sanh, nhân vật Thạch Sanh đã trải qua rất nhiều thử thách mới dành được hạnh phúc cuối cùng, Trong truyện xuất hiện rất nhiều những yếu tố thần kì như: đàn thần, niêu thần, đó là những vật dụng thần kì giúp Thạch Sanh vượt qua những thử thách. Em hãy phân tích yếu tố thần kì trong truyện cổ tích Thạch Sanh. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài – Giới thiệu tác phẩm, yếu tố thần kì trong truyện: Truyện cổ tích Việt Nam thường mang theo nhiều yếu tố thần kì, thể hiện khát vọng, truyền tải thông điệp hay mang một ý nghĩa nhất định – Thạch Sanh cũng chứa nhiều tình tiết thần kì, đặc biệt là tiếng đàn thần 2. Thân bài – Tiếng đàn giải oan, tố cáo người sống gian ác + Nguồn gốc cây đàn: Vật kỉ niệm của vua Thủy Tề + Tiếng đàn da diết kể tội Lý Thông: Cướp công giết chằn tinh, đại bàng, cứu công chúa, lấp cửa hang. + Tiếng đàn thần kì: Chỉ có trong truyện, không có ngoài đời, lên án một bộ phận ở ngoài đời thực sống thực dụng, phụ thuộc – Tiếng đàn lập công lao lớn lao cho vua, cho dân tộc + Tiếng đàn: da diết, khiến công chúa cười đùa vui vẻ trở lại + Xóa tan nỗi no của vua, của dân tộc trước mười tám nước chư hầu: Nghe tiếng đàn tướng sĩ bủn rủn tay chân, mất tinh thần chiến đấu. + Tiếng đàn thể hiện phẩm chất của người dân Việt Nam: Dũng cảm, có lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, luôn sẵn sàng đấu tranh chống lại bất cứ quân xâm lược nào. 3. Kết bài Cảm nghĩ về yếu tố thần kì trong truyện: Yếu tố thần kì đem lại sức hấp dẫn cho truyện, đồng thời còn mang ý nghĩ thông điệp vô cùng sâu sắc. II. Bài tham khảo Truyện cổ tích Việt Nam thường mang theo nhiều yếu tố thần kì, thể hiện khát vọng, truyền tải thông điệp hay mang một ý nghĩa nhất định trong cuộc sống xã hội, mỗi tác phẩm đều có một có một vẻ đẹp riêng, không ngoại lệ tác phẩm Thạch Sanh cũng chứa nhiều tình tiết thần kì, đưa người đọc tới nhiều cảm xúc khác nhau, trong những chi tiết thần kì như nhân vật hư cấu, nồi cơm niêu, sức mạnh thần kì thì nổi bật hơn cả là tiếng đàn, tiếng đàn thần. Cây đàn, một vật kỉ niệm của vua Thủy Tề dành tặng cho Thạch Sanh, rồi từ tiếng đàn gắn liền với Thạch Sanh đi theo anh suốt những câu chuyện tiếp theo, tiếng đàn lần đầu cất lên khi Thạch Sanh ngồi trong ngục, qua truyện chỉ cho người đọc thấy được hình ảnh tiếng đàn được cất lên thật thánh thót, nhưng qua thơ cơ tiếng đàn như lời nói của Thạch Sanh cho những nỗi oan của mình, lên án tố cáo bản chất con người Lý Thông, một người độc ác, nham hiểm, bất nhân bất nghĩa. Đàn kêu: Ai chém chằn tinh Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang? Đàn kêu: Ai chém xà vương Đem nàng công chúa triều đường về đây? Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày Cớ sao phụ nghĩa rày lại vong ân? Đàn kêu: Sao ở bất nhân Biết ăn quả lại quên ân người trồng? Tiếng đàn qua thơ ca chân thật, ai oán vô cùng, tiếng đàn kể ra công lao mà Thạch Sanh đã hi sinh thân mình để có được nhưng không hề mong muốn nhận lại bất cứ thứ gì, nhưng tại sao phải chịu nỗi oan ức trong ngục tù, tại sao lại kết anh em với một người có lòng dạ hiểm sâu không chỉ cướp công mà còn dồn anh tới chỗ chết, tiếng đàn vang lên như một bản án kết tội, như một công cụ biết nói vạch trần tội ác của Lý Thông đồng thời mang thông điệp của công lý, bênh vực cho những con người hiền lành lương thiện nhưng phải chịu oan khuất, phải chịu đựng những điều không đáng có, tiếng đàn trong truyện có phép kì lạ, sẽ chả có tiếng đàn nào ở ngoài đời có thể thay lời muốn nói của người đánh đàn như trong câu chuyện cổ tích Việt Nam, điều đó thật tuyệt vời và hấp dẫn, tiếng đàn trong truyện là thế nhưng khi câu chuyện cất lên ở ngoài đời thực nó như một lời cảnh tỉnh, một lời răn cho những kẻ sống hiểm độc, không chịu vận động nhưng muốn thửa hưởng thành quả tốt đẹp nhất, dựa hơi người khác để đi lên để vụ lợi, không chịu đứng lên bằng chính đôi chân của mình. Tiếng đàn không chỉ dừng ở đó, tiếng đàn da diết khiến công chúa vui tươi trở lại sau những ngày im lặng từ khi trở về, rồi tiếng đàn giúp nhà vua xóa tan nỗi lo của cả một dân tộc khi đứng trước quân xâm lược, tiếng đàn giải oan rồi cho cơ hội để Thạch Sanh được một lần nữa dùng tài năng, sức mạnh của mình ra trận đánh đuổi quân xâm lược, khi quân tướng của mười tám nước chư hầu đầy hận thù và tham vọng xâm lược, chàng cầm cây đàn một mình đứng trước đội quân hùng hậu không một chút do dự, tiếng đàn khiến quân sĩ bủn rủn chân tay, không còn hào hứng muốn đánh trận, nếu xét trên phương diện đời thực thì chẳng có tiếng đàn nào có thể gây ảnh hưởng tới một người đừng nói là mười tám nước chu hầu, nhưng cũng chính sự thần kì đó đã tạo nên sự hấp dẫn cho câu chuyện, ngoài ra qua tiếng đàn cũng thể hiện phẩm chất của người dân Việt Nam dũng cảm, có lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, luôn sẵn sàng đấu tranh chống lại bất cứ quân xâm lược nào. Những yếu tố thần kì luôn đem lại sức hấp dẫn không thể cưỡng lại trong những tác phẩm mà dân gian lưu truyền để lại cho thế hệ sau, đưa người đọc đi từ cảm xúc này tới cảm xúc khác, vờ òa trong sung sướng hạnh phúc không chỉ thế nó còn mang những ý nghĩa thông điệp sâu sắc mà không phải thể loại nào cũng có được.
Phân tích yếu tố thần kì trong truyện cổ tích Thạch Sanh – Văn mẫu lớp 6 tuyển chọn
1,102
Phân tích ý kiến cho rằng chữ “hồng” là nhãn tự bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Phân tích ý kiến cho rằng chữ “hồng” là nhãn tự bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh Bài làm Trong thơ Đường cổ thường xuất hiện những từ nhãn tự được xem sẽ là linh hồn, trụ cột của bài thơ. Như trong bài thơ Hoàng Hạc lâu của tác giả Thôi Hiệu nhãn tự của bài thơ chính là chữ “sầu” thể hiện nỗ buồn của tác giả trước thiên nhiên, cảnh vật nơi đây. Chữ sầu gợi lên một nỗi buồn mênh mang, da diết cho bài thơ. Còn trong bài thơ Mộ của tác giả Hồ Chí Minh chữ ” Hồng” được coi là nhãn tự của bài thơ, gợi lên sự sinh động, tương lai của bài thơ, xóa tan sự u tối, nỗi buồn của khung cảnh hoàng hôn nơi vùng núi hoang sơ vắng vẻ. Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết, lò than đã rực hồng. Bài thơ Mộ là một bài thơ nằm trong tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh khi tác giả bị bắt giam tại nhà tù Tưởng Giới Thạch. Trong thời gian này người đã cho ra đời rất nhiều bài thơ hay thể hiện nỗi buồn khi bị bắt giam vô cớ, tâm trạng nhớ nhà, nhớ quê hương đất nước. Bài thơ Mộ được tác giả viết khi bị giải đi từ nhà tù này tới nhà tù khác. Lúc thì trời vừa gáy sáng, khi thì hoàng hôn xế bóng. Bài thơ Mộ thể hiện sự mệt mỏi, cô đơn của con người trước cảnh hoàng hôn, khi trời vừa tắt nắng. “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” Hai câu thơ gợi lên cảnh thiên nhiên rừng núi hoang sơ, cánh chim chiều sau một ngày mải miết đi tìm thức ăn, mưu sinh đã cảm thấy khá mỏi mệt, nên vội vã tìm chốn nghỉ ngơi khi ánh nắng chiều tắt đi. Tâm trạng của Bác lúc này cũng vô cùng mệt mỏi sau nhiều chặng đường áp giải leo hết núi này tới núi khác, thân thể bị xiềng xích gông cùm. Trên bầu trời những đám mây lững lờ trôi lãng đãng, làm cho không gian mênh mông, rộng lớn càng tăng cảnh buồn thê lương, u ám. Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết, lò than đã rực hồng. Trong hai câu thơ này bài thơ bỗng xuất hiện cảnh con người lao động vô cùng vui vẻ, sinh động, thể hiện tinh thần làm việc hăng say không hề biết đến mệt nhọc của người con gái vùng núi nông thôn, đảm đang, thánh thiện. Chữ hồng trong bài thơ, cũng thể hiện tinh thần lạc quan của tác giả Hồ Chí Minh trong bối cảnh bị áp giải, bị tù đày chân tay đeo nhiều xiềng xích nặng nề, khó khăn khổ ải nhưng tác giả Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời, sự kiên cường của mình trong những câu thơ vô cùng sinh động nhiều sức sống. Chữ hồng còn thể hiện cho niềm tin của tác giả vào tương lai tươi sáng, vào con đường cách mạng mà người đã lựa chọn. Bài thơ Mộ là một bài thơ hay độc đáo của nhà thơ Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời, ý chí thép của tác giả, dù thân thể bị tù đày nhưng tâm hồn của tác giả vẫn vượt lên mọi không gian và nghịch cảnh.
Phân tích ý kiến cho rằng chữ “hồng” là nhãn tự bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh
615
Phân tích ý nghĩa 4 câu đề từ trong bài thơ Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên Hướng dẫn Tây Bắc ư! Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi tôt quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu? Mở bài: Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ nổi bậc của phong trào Thơ Mới. Sau cách mạng, ông mạnh mẽ chuyển mình, gắn kết mình với các nhiệm vụ của đất nước. Ngòi bút của ông tiếp tục sôi nổi phục vụ trong phong trào văn nghệ cách mạng yêu nước. Tiếng hát con tàu là tác phẩm nổi bậc nhất của ông ở giai đoạn này. Thân bài: Tiếng hát con tàu là tiếng hát của một tâm hồn thơ khao khát được bày tỏ tình cảm ân nghĩa, lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ đối với nhân dân, đối với cuộc đời và cách mạng. Đó là một tâm hồn thơ tràn đầy niềm vui và khát vọng sáng tạo. Trái tim sôi sục nguồn sống và tràn đầy niềm tin vào cuộc đời khi đã được giác ngộ một lẽ sống lớn của người nghệ sĩ. Đó là sự thức tỉnh người nghệ sĩ của nhân dân. Họ đem nghệ thuật phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Đó là niềm vui phát hiện ra chân lí lớn của nghệ thuật. Nghệ thuật đích thực nằm ngay chính trong cuộc đời. Bốn câu đề từ thể hiện rất rõ ràng tư tưởng ấy: “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hoá những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã khẳng định: “cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi tới của thơ ca”. Nguyễn Đình Thi cũng từng phát biểu: “Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn con người. Nghệ thuật mở rộng khả năng của tâm hồn, làm cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn”. (Tiếng nói văn nghệ – Nguyễn Đình Thi). Với phong cách trí tuệ độc đáo và cách lập luận chặt chẽ, ngay câu thơ mở đầu, Chế Lan Viên đã tạo nên một phong cách thơ đặc sắc: Câu hỏi ngắn nhưng tạo nên ấn tượng mạnh mẽ, xoáy sâu vào tâm hồn người đọc. Tây Bắc, ngoài nghĩa cụ thể của một vùng đất. Tây Bắc còn là biểu tượng gợi nghĩ đến mọi miền xa xôi của Tố Quốc. Tây bắc là nơi có cuộc sống gian lao mà nặng nghĩa tình của nhân dân. Nơi ấy đã ghi dấu không thể nào quên của đời người trải qua cuộc kháng chiến oanh liệt. Tây Bắc hay cũng chính là nguồn cội của tinh thần và lý tưởng mà ta cần có. Tây Bắc đã vẫy gọi đi tới, giục giã, mời gọi ta lên đường. Lên Tây Bắc cũng chính là trở về với chính lòng mình. Thế nhưng, “đâu riêng gì Tây Bắc”. Nơi nào của đất nước mà chẳng trìu mến, thân yêu. Nơi nào của đất nước cũng sẵn sàng chở che, dưỡng nuôi và cưu mang chúng ta. Từ một địa danh, nhà thơ mở ra một không gian rộng lớn của muôn phương vạn hướng bát ngát bao la của tổ quốc. Từ một tình cảm nhỏ đối với Tây Bắc, nhà thơ hướng đến tình cảm lớn đối với dân tộc, đối với đất nước. Từ góc trời riêng, nhà thơ đã thực sự bước ra bầu trời sáng. Từ thung lũng đau thương ra ông đến với cuộc đời lớn. Đó cũng là sự vận động tất yếu khi con người tìm thấy lí tưởng, tìm thấy một nguồn sống dạt dào trong cuộc đời mới: “Khi lòng ta đã hoá những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”. Chính lý tưởng sống cao đẹp và tình yêu nước thiết tha là động lực để họ lên đường. Khi lòng ta “đã hòa những con tàu”, tràn đầy khát vọng đi xa thì đâu ngại gì vất vả gian nan. Tổ quốc luôn nằm trong trái tim. Tổ quốc đã gọi mời ta đến, ta không thể không đến. Đến với Tổ quốc là đến với nhân dân, đến với những người thân yêu kính mến. Đến với Tổ quốc là đến với mẹ thiêng liêng, vĩ đại. Con lên đường ra được trở về nương náu trong yêu thương của mẹ. Hình ảnh con tàu là một biểu tượng đẹp, có sức khái quát cao độ. Đó đâu chỉ là con tàu với khát vọng đi xa. Đó còn là sự hóa thân của nhà thơ mong tìm kiếm cho riêng mình một cách đi đến với đất nước. Tiếng hát của con tàu nhập cùng khúc hát xây dựng rộn ràng bốn bề Tổ quốc. Chính lúc này, người nghệ sĩ cũng có thể soi vào lòng mình mà thấy được cả đất nước, nhân dân: Nhà thơ ý thức rất rõ ràng về vai trò quyết định của hiện thực đời sống. Nhưng ông không coi nhẹ vai trò chủ thể của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật. Người nghệ sĩ không đứng tách mình ra khỏi cuộc sống. Người nghệ sĩ lấy cuộc sống làm nguồn cảm hứng. Và nghệ thuật phải hướng đến phục vụ cuộc sống chiến đấu. Những câu thơ tưởng như có sự mâu thuẫn: “Lòng ta đã hóa những con tàu” Rồi lại “Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu?” Nhưng kì thực đó là sự hợp lí, thống nhất một cách chặt chẽ trong quy luật tư tưởng và sáng tạo nghệ thuật. Đó là sự hòa quyện giữa cái “tôi” và cái “ta”. Đó là sự kết nối giữa cá nhân và đất nước. Tất cả đều có thể tìm thấy sự hòa hợp thống nhất trong hình ảnh thơ giản dị mà rất sâu sắc của Chế Lan Viên. Bài thơ rõ ràng là tiếng gọi thúc giục thanh niên lên đường xây dựng tổ quốc. Nhưng Chế Lan Viên không giới hạn bài thơ của mình ở mục đích tuyên truyền vận động cho một chính sách, chủ trương cụ thể. Bài thơ này còn mang một ý nghĩa khát quát sâu rộng hơn về ý nghĩa, đời sống và triết lý nghệ thuật. Sau chín năm kháng chiến chống Pháp gian khổ, đất nước ta đã từng bước hồi sinh và phát triển mạnh mẽ. Khắp nơi vang lên khúc hát xây dựng. Cuộc sống ấy chính là điểm xuất phát cho những ước mơ và khát vọng. Cuộc sống ấy cũng là ngọn nguồn của mọi sự sáng tạo nghệ thuật. Trong đó có thơ ca. Nhưng nghệ thuật không tự nó tìm đến. Nghệ thuật chỉ có thể nảy sinh từ ngay trong cuộc sống. Nghệ thuật chỉ đến khi người nghệ sĩ mở rộng tâm hồn mình, đón nhận và hòa nhập với cuộc đời rộng lớn: “Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép”. Nơi như Nguyễn Đình Thi: “Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn con người”. Một khi tâm hồn nhà thơ đã “hóa những con tàu” và tiếng hát con tàu hòa nhập cùng với bốn bề của Tổ quốc thì chính lúc này, người nghệ sĩ có thể soi vào lòng mình và thấy cả được đất nước và nhân dân. “Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu” thực ra ý tưởng này xuất hiện không chỉ một lần trong thơ Chế Lan Viên mà chúng ta còn bắt gặp nhiều bài thơ, câu thơ khác: Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ”. (Chim lượn trong vòng – Chế Lan Viên) Ý thơ gói gọn trong phương thức lập luận vừa mền mại, vừa hết sức cứng cỏi. Sự chuyển hóa trong tình cảm lúc nào cũng cần có thời gian. Nhưng nếu có một động lực đủ lớn để thúc dầy thì nó ngay lập tức được chuyển hóa. Một cách biện chứng trong qui luật của tư tưởng và sáng tạo nghệ thuật. Mới đặt vấn đề: “Tây bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc” thì ngay sau đó đã “Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”. Có được sự kì diệu đó là bởi khi tâm hồn nhà thơ thực sự gắn bó với Tây Bắc rồi. Ông không cần tìm kiếm ở đâu xa. Tây Bắc đã hiện diện ngay trong chính tâm hồn nhà thơ. Chính vì vậy, lời thơ là lời thúc giục lên đường, đến với những miền đất xa xôi của đất nước, đến với nhân dân: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Muôn vàn vẻ đẹp mở ra trong một tâm hồn yêu cuộc đời, yêu đất nước. Chính nó là thứ keo dính thần kì, gắn kết người nghệ sĩ với cuộc đời lớn. Đó cũng còn là lời nhắc nhở hãy trở về với chính lòng mình, với những tình cảm đẹp đẽ trong sáng. Những tình nghĩa sâu nặng làm nên ý nghĩa của đời người, đời thơ. Kết bài: Về với Tây Bắc là về với tâm hồn. Nỗi mong chờ của Tây Bắc cũng chính là nỗi mong nhớ của tâm hồn mình. Hai sự thống nhất nói trên đã trở thành sự thống nhất biện chứng trong hồn thơ Chế Lan Viên. Vì vậy, bốn câu thơ đề từ trên đã kết tinh, tiêu biểu cho cả bài thơ Tiếng hát con tàu.
Phân tích ý nghĩa 4 câu đề từ trong bài thơ Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên
1,636
Phân tích ý nghĩa bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu Hướng dẫn Mở bài: Cảm hứng về dòng sông vốn là đề tài nổi bậc trng nền văn học nước ta từ xưa đến nay. Những dòng sông hoặc trong xanh hiền hòa, hoặc ngầu đỏ phù sa không chỉ bồi đắp bờ bãi thành những dải đồng bằng phì nhiêu nuôi sống người dân Việt Nam mà còn là nơi chiến trường thủy chiến, nơi ghi dấu ấn những chiến thắng, chiến công vang lừng của dân tộc ta trong trường kỳ chống ngoại xâm. Sông Bạch Ðằng là dòng sông nổi tiếng nhất. Dòng sông này đã gắn với những chiến công của dân tộc và trở thành niềm cảm hứng của bao thế hệ thi nhân. Bạch Ðằng giang phú củaTruong Hán Siêu là tác phẩm đầu tiên và thành công nhất. Thân bài: Trương Hán Siêu là môn khách của Trần Hưng Đạo, làm quan dưới bốn triều nhà Trần. Ông tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, được vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. Sông Bạch Đằng, nơi ghi dấu nhiều chiến công lịch sử hiển hách trở thành dề tài cảm hứng của nhiều tác giả như Trần Minh Tông với “Bạch Đằng giang”, Nguyễn Trãi với “Bạch Đằng hải khẩu”, Nguyễn Mộng Tuân với “Hậu Bạch Đằng giang phú”. Nhưng nổi tiếng hơn cả: Trương Hán Siêu với bài phú này. Bài Bạch Đằng Giang phú chưa rõ được sáng tác năm nào. Có lẽ vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông thắng lợi. bài phú chia làm 4 đoạn. Đoạn mở: “Khách có kẻ… còn lưu”: cảm xúc lịch sử của nhân vật “khách” đối với cảnh sông Bạch Đằng. Đoạn giải thích:“Bên sông … ca ngợi”: lời các bô lão kể với “khách” về những chiến công lịch sử trên sông Bạch Đằng. Đoạn bình luận: “Tuy nhiên … chứa lệ chan”: suy ngẫm và bình luận các bô lão về những chiến công xưa. Đoạn kết:“Rồi vừa đi … đức cao”: lời ca khẳng định vai trò và đức độ con ngườ a. Hình tượng nhân vật “khách” * “Khách” là sự phân thân của chính tác giả – Hình ảnh: +Giương buồm giong gió chơi vơi + lướt bể chơi trăng + Từ láy: mải miết, chơi vơi =>Tâm hồn phóng khoáng, yêu thiên nhiên của tác giả, xuất hiện với tư thế của con người có tâm hồn khoáng đạt, hoài bão lớn: “tráng chí bốn phương” (ý chí hùng tráng) +Liệt kê: . sông Nguyên, sông Tương, cửu Giang, Ngũ Hồ, tâm Ngô, Bách Việt, đầm Vân Mộng-> địa danh ở TQ → Hình ảnh không gian rộng lớn→ “khách” đi qua chủ yếu bằng sách vở, bằng trí tưởng tượng. . Cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng ->Địa danh đất Việt => Có hiểu biết sâu rộng, thích du ngoạn + Điển tích: Tử Trường -> khao khát tìm hiểu lịch sử dân tộc b. Cảnh sông Bạch Đằng – Bát ngát sóng kình muôn dặm -> ước lệ, tượng trưng -> sông BĐ mênh mông, hùng vĩ, rộng lớn -Thướt tha…ba thu ->Đẹp, lãng mạn, trong sáng, nên thơ -Bờ lau… xương khô -> ảm đạm, hiu hắt(nơi ghi dấu những chiến công lịch sử)→ buồn => Cảnh hồi tưởng nhưng cụ thể và nhuốm tâm trạng của nhân vật khách c. Tâm trạng của nhân vật khách – Buồn vì cảnh thảm -Đứng lặng giờ lâu -Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá -Tiếc thay dấu vết luống còn lưu -> Tâm trạng Vừa vui, vừa tự hào, vừa buồn đau, vừa tiếc nuối và xúc động “Đứng lặng giờ lâu” -> Nỗi lòng ưu hoài chiến tích. – Tâm trạng: Phấn khởi, tự hào, buồn thương, nuối tiếc vì những giá trị đang lùi vào quá khứ. Đó cũng chính là cảm hứng bi tráng, hào hung với một tư thế ung dung, phóng khoáng của khách ->Giọng văn vừa sảng khoái, vừa trầm lắng, vừa hào hùng, vừa bi thiết => Nhân vật khách là con người có tính cách mạnh mẽ, vừa có hồn thơ dạt dào cảm xúc, vừa là một kẻ sĩ nặng lòng ưu hoài trước thiên nhiên, chiến tích, thiết tha với lịch sử dân tộc 2. Các vị bô lão kể về những chiến tích trên sông Bạch Đằng Hình tượng nhân vật các bô lão * Bô lão: ( có thể ) . Người dân địa phương mà tác giả gặp . Nhân vật có tính hư cấu của tác giả + Đóng vai trò: là người kể lại và bình luận chiến tích trên sông Bạch Đằng. – Thái độ đối với khách: “vái ta mà thưa rằng”→tôn kính, hiếu khách. ->Nghệ thuật phân thân, đảm bảo tính khách quan và hấp dẫn cho câu chuyện + Kể về chiến tích “ Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã Ngô chúa phá Hoàng Thao” →kể cụ thể theo diễn biến chiến tích -Kể về diễn biến của chiến tích: “Đương khi ấy … Giáo gươm sáng chói” ->Ta xuất quân với khí thế hào hùng – Trận chiến ác liệt: “ ánh nhật nguyệt > < phải mờ trời đất > <đổi” → kể hào hứng gợi không khí căng thẳng, gay go và quyết liệt của cuộc chiến bằng nghệ thuật khoa trương Những hình tượng kì vĩ, mang tầm vóc của đất trời đặt trong thế đối lập→báo hiệu cuộc thuỷ chiến kinh thiên, động địa. + Kết quả:“hung đổ hết lối “Đến nay nước sông tuy chảy hoài Mà nhục quân thù khôn rửa nổi!” → chính nghĩa chiến thắng => Lời văn ngắn, nhịp văn mạnh, thủ pháp khoa trương, phóng đạiphù hợp với diễn biến trận đánh -So sánh: Hai trận thủy chiến của ta với hai trận đại thủy chiến của TQ -> giọng văn đầy nhiệt huyết, tự hào, tràn đầy cảm hứng. =>Niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước a. Chỉ ra nguyên nhân ta thắng lợi. “Từ có vũ trụ”:Trời cho ta thế hiểm, nhưng điều quyết định là ta có “nhân tài giữ cuộc điện an – Yêú tố chiến thắng: Thiên thời ( “trời cũng chiều người”) Địa lợi ( “đất hiểm”) Nhân hoà ( “nhân tài”) -Điển tích: Hàn Tín, Lã Vọng -> Nhấn mạnh tài trí của vua tôi nhà Trần→khẳng định vai trò, vị trí của con người b. Tâm trạng của khách – hổ mặt – lệ chan -> Giọng văn chùng xuống, trầm lắng thể hiện thái độ vừa cảm phục, vừa sững sờ, tiếc nuối →cảm hứng mang giá trị nhân văn và có tầm triết lí sâu sắc 4. Lời ca khẳng định vai trò và đức độ của con người -Lời của chủ “Những người bất nghĩa tiêu vong Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh” →Tuyên ngôn về chân lý: bất nghĩa thì tiêu vong, anh hùng thì lưu danh thiên cổ: -Lời của khách: “Anh minh hai vị thánh quân Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh” ->ca ngợi con người- chiến tích. “Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao” =>Khẳng định vai trò và vị trí quyết định của con người trong tương quan với yếu tố đất đai, hiểm yếu. => Niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân văn cao đẹp Tổng kết: Bài phú sông Bach Đằng thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào về truyền thống đạo lí anh hùng bất khuất và đạo lí nhân nghĩa cao đẹp của tác giả. Tư tưởng nhân văn cao đẹp: khẳng định, đề cao vai trò của con người, đạo lí chính nghĩa -Bố cục chặt chẽ. Lời văn linh hoạt. Hình tượng nghệ thuật sinh động
Phân tích ý nghĩa bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu
1,232
Phân tích ý nghĩa bài thơ mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa bài thơ mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải Mở bài: Thanh Hải là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông chân thật, bình dị, đôn hậu và chân thành bám sát cuộc đấu tranh bền bỉ, anh dũng của nhân dân miền Nam, của nhân dân Thừa Thiên. Trong 50 năm cầm bút và chiến đấu, Thanh Hải để lại nhiều bài thơ đặc sắc, trong đó, bài Mùa xuân nho nhỏ là thành công tiêu biểu hơn cả. Thân bài: Mùa xuân nho nhỏ được Thanh Hải viết không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời. Bài thơ thể hiện niềm mến yêu cuộc sống, quê hương đất nước và ước nguyện cống hiến chân thành của nhà thơ. Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên mùa xuân đơn sơ, tràn đầy sức sống, đậm màu sắc quê hương xứ Huế: Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. Bức tranh phong cảnh đất trời xứ Huế hiện ra thật đơn sơ, bình dị. Ba nét chấm phá đặc sắc với màu sắc và hình ảnh của “dòng sông xanh”, “hoa tím biếc” và âm thanh tràn ngập của “tiếng chim chiền chiện hót” vang trời tạo nên vẻ đẹp hiền hòa, giản dị, nên thơ và tràn ngập niềm yêu đời, niềm vui sống. Sức sống của đất trời càng trở nên mạnh mẽ khi nhf thơ sử dựng thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ: “Mọc giữa dòng sông xanh. Một bông hoa tím biếc” làm ý thơ lung linh, gây ấn tượng như nhấn mạnh sự vươn lên mạnh mẽ của sức sống mùa xuân. Lại thêm âm thanh tiếng chim hót “vang trời” làm không gian náo nức lạ thường. Từ cảm thán “ơi” đặt ở đầu cũng góp phần nâng cao niềm hân hoan, sung sướng và khao khát muốn bày tỏ trong lòng nhà thơ. Dường như con người và thiên nhiên như giao hòa trong niềm hạnh phúc đón xuân sang. Mọi sự vật đều chuyển động, phát triển đi đến độ viên mãn: sông đang chảy, hoa đang nở, chim đang hót, giọt đang rơi. Tiếng chim hót được nghe bằng tai, nhìn bằng mắt, sau cùng cầm ở trên tay. Đây là sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị cho thấy sự rung động trong tâm hồn thi sĩ là vô cùng tinh tế và sâu sắc. Hình ảnh thơ giàu sức liên tưởng này bộc lộ một tâm trạng say mê rạo rực đón xuân với một tâm hồn khát khao yêu cuộc sống, trân trọng đắm say trước thiên nhiên, đất trời. Mùa xuân của những con người đang chung tay xây dựng va bảo vệ quê hương. Lộc giắt đầy quanh lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao Cấu trúc thơ song hành đưa nhịp thơ tiến nhanh lên phía trước. Điệp khúc “mùa xuân” như tiếng hát ngợi ca hai nhiệm vụ chiến lược của tổ quốc cùng song song thực hiện trong cùng một thời điểm: nhiệm vụ xây dựng đất nước và nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quê hương. Hình ảnh “Lộc” vừa mang nghĩa tả thực, vừa mang nghĩa tượng trưng. Nó vừa là chồi non lộc biếc vừa chỉ sự may mắn hạnh phúc của một năm mới, sức sống mới. Với người cầm súng, “lộc” là lá non xanh giắt trên vòng ngụy trang, trên lưng pháo. Với người nông dân, “lộc” là cây lúa non xanh đang tràn căng sức sống hứa hẹn một mùa bội thu. Người chiến sĩ ngoài mặt trận, người nông dân trên đồng ruộng là những lực lượng then chốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, mang lại ấm no, hạnh phúc, sự bình yên cho quê hương. Họ gieo lộc xuân, mang lại mùa xuân cho đất nước. Điệp từ “tất cả”, từ láy “hối hả”, ‘xôn xao” làm nhịp thơ thay đổi, tươi vui, rộn ràng như tiếng lòng của nhà thơ, của nhân dân đang rộn ràng, tin tưởng vào cuộc sống mới, vào tương lai đất nước. Đó cũng là nhịp sống lao động khẩn trương hối hả, là những âm thanh náo nức của cuộc đời tươi xanh. Từ niềm vui chiến thắng, nhà thơ nghĩ ngợi về đất nước, về lịch sử quật cường, lẫm liệt của dân tộc trong mấy nghìn năm tồn tại: Ðất nước bốn nghìn năm Vất vả và gian lao Ðất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước. Hình tượng tổ quốc được nhân hóa như một bà mẹ tảo tần, “vất vả và gian lao”. Trải qua bao nhiêu gian lao thử thách, tổ quốc vẫn kiêu hãnh, ngoan cường “cứ đi lên phía trước” không chỉ bằng sức mạnh hôm nay mà còn bằng sức mạnh của “bốn nghìn năm” lịch sử hào hùng. Cụm từ “bốn nghìn năm” chỉ một thời gian dài lâu đầy tự hào về một nền văn hiến. Tự hào về một quốc gia có lãnh thổ, biên giới, phong tục, tập quán riêng. Tự hào về các triều đại Vua Hùng dựng nước và cha ông giữ nước. Quá khứ vẻ vang là điểm tựa để nhà thơ khẳng định niềm tin hướng tới tương lai. Biểu tượng “đất nước” được so sánh với hình tượng “vì sao”, một nguồn ánh sáng diệu kỳ, vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên là một sự so sánh đẹp. Phụ từ “cứ” với thanh trắc rắn rỏi, chắc nịch làm nhịp thơ dứt khoát, mạnh mẽ như khẳng định một niềm tin không gì lay chuyển nổi. Đất nước sẽ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sẽ chiến thắng mọi thế lực thù địch từ biên giới phía Bắc, phía tây Nam. Câu thơ như là điểm nhấn, lời tổng kết về sức sống mãnh liệt của Tổ Quốc đồng thời ẩn chứa niềm tự hào, niềm tin của tác gỉa vào tương lai. Càng ngẫm ngợi càng thấy tự hào, càng thấy yêu thương. Bởi thế, dù đang ở đoạn cuối cuộc đời, nhà thơ vẫn hét sức thiết tha muốn được gắn kết cuộc đời mình với cuộc đời chung của nhân dân, của đất nước thiêng liêng, vĩnh hằng: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến. Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. Điệp ngữ “ta làm” làm nhịp thơ sôi nổi dồn dập. Từ “ta làm” đến “ta nhập” là quá trình đi từ ý thức đến hành động. Hình ảnh tượng trưng đẹp như bông hoa, con chim, nốt nhạc trầm… là những ước nguyện được cống hiến giản dị của một tâm hồn khiêm tốn, chân thành. Chủ thể trữ tình thay đổi cách xưng hô. Từ “tôi” đến “ta” là đi từ nguyện ước riêng đến nguyện ước chung. Sau nguyện ước hòa đồng, tác giả đi tới nguyện ước cống hiến bền bỉ cả đời mình cho mùa xuân của đất nước. Hình ảnh “một mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo. Mùa xuân là khái niệm trừu tượng chỉ mùa đẹp nhất trong năm. Nó không của riêng ai. Nhưng khi “mùa xuân” kết hợp với số từ “một” và tính từ “nho nhỏ” thì mùa xuân đó là mùa xuân riêng của nhà thơ, là biểu tượng của cuộc đời riêng của nhà thơ. Đó là tâm hồn của một con người muốn sống cuộc đời đẹp như mùa xuân căng tràn nhựa sống. Nhưng đồng thời ý thưc được rằng sự cống hiến của mình chỉ là một mùa xuân nho nhỏ, khiêm nhường mà thôi. Điệp nhữ “dù là” như khẳng định, thách thức với tuổi già, bệnh tât. “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”(Tố Hữu). Các hình ảnh hoán dụ “tuổi hai mươi” và cả khi “tóc bạc” là một sự tổng kết về một cuộc đời cố gắng không biết mệt mỏi của nhà thơ. Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này… Hay trong lời đồng vọng của Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca Mặt dduwwongf khát vọng: Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang đất nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó san sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời… Dù cuộc chiến đã đi qua, nhưng vẫn còn có biết bao con người đang ngày đêm thầm lặng cống hiến sức mình dựng xây đất nước. Sống là phải cống hiến. Đó là trách nhiệm, là lẽ sống cao đẹp mà nhà thơ trao gửi lại cho chúng ta. Bài thơ mùa xuân nho nhỏ là sự cống hiến cuối cùng đẹp nhất mà nhà thơ để lại. Phải yêu cuộc sống, phải hóa thân đến tận cùng mới có những vần thơ thấm thía thế. Như đã tìm thấy một bầu trời, xanh, một con đường mới, Thanh Hải như con chim nhỏ cất cao tiếng hát ngợi ca nước non ngàn dặm: Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai, Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đất Huế… Chủ thể trữ tình “ta” mang tiếng hát riêng mang giai điệu “Nam ai – Nam Bình” xứ Huế hòa vào tiếng hát chung ngợi ca nước non một dải nối liền. Người nghệ sĩ ôm đàn gõ phách đứng dưới đất trời mùa xuân thắm tươi, bên dòng sông, vệ cỏ cất lên tiếng hát thiết tha ngợi ca nước non ngàn dặm đâu đâu cũng chan chứa ân tình. Lời thơ mang giai điệu câu hát như cất lên từ trái tim khỏe khoắn tràn ngập niềm yêu đời, yêu cuộc sống. Kết bài: Với thể thơ 5 chữ giàu nhạc điệu nhẹ nhàng tha thiết, hình ảnh trong thơ tự nhiên, giản dị nhưng giàu ý nghĩa ẩn dụ tượng trưng, Thanh Hải đã biểu đạt thành công tình yêu cuộc sống và ước nguyện thiêng liêng của cuộc đời mình. Bài thơ là tiếng lòng tha thiết gắn bó yêu thương cuộc đời, thể hiện ước nguyện của nhà thơ khát khao cống hiến cho quê hương, muốn đem mùa xuân nho nhỏ của đời mình góp vào mùa xuân chung của đất nước.
Phân tích ý nghĩa bài thơ mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
1,776
Phân tích ý nghĩa bài thơ nói với con của nhà thơ Y Phương Hướng dẫn Ý nghĩa bài thơ nói với con của nhà thơ Y Phương Mở bài: Ý phương là nhà thơ dân tộc Tày. ông thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi. Với thể thơ tự do, chất giọng lắng sâu tuy thủ thỉ tâm tình mà đầy nội lực, cách tư duy giàu hình ảnh, tuy mộc mạc chân tình nhưng chất triết lí nặng sâu, bài thơ Nói với con tiêu biểu cho hồn thơ của Y Phương. Thân bài: Y Phương viết bài thơ Nói với con năm 1980, khi đất nước đang lâm vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng vô cùng vất vả thiếu thốn. Khi đời sống vật chất còn nhiều gian nan, nhà thơ tin rằng sẽ vượt qua sự ngặt nghèo,đói khổ bằng văn hóa. Mở đầu bài thơ là lời người cha nói với con về cội nguồn sinh dưỡng. Không gian mái ấm gia đình hiện lên đầy ắp tiếng nói, tiếng cười, cảnh đứa trẻ tập đi những bước chân đầu đời: Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước chạm tiếng cười Cách nói tưởng như kể, như tả mà xiết bao trìu mến. Người cha như khơi ngợi lại tâm trạng và niềm hạnh phúc của con. Cái ngập ngừng, băn khoăn của đứa trẻ sống trong sự nâng đỡ dịu dàng, vòng tay yêu thương của cha mẹ Hình ảnh ngộ nghĩnh và sáng tạo. Mỗi bước chân con bước tới mang theo một niềm vui, sự kì vọng của cha mẹ ở tương lai. Nó có cái ấm áp, ríu rít, ngọt ngào và có cái xôn xao của hạnh phúc lần đầu làm cha mẹ. Gia đình là cái nôi đầu đời, tình yêu của cha mẹ là tình yêu đầu đời của con nhưng nuôi dưỡng tâm hồn và thể xác con trưởng thành chính là mảnh đất quê hương, cuộc sống lao động của những người đồng mình: Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa, vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng. Quê hương hiện lên qua ba yếu tố: Rừng, con đường và người đồng mình. Với người miền núi, rừng là mẹ. Rừng cho nguồn lương thực dồi dào, rừng là hoa, là chim hót, là suối reo… Rừng thì chở che, con đường lại mở lối. Nhưng đáng yêu hơn cả là “người đồng mình”. Cái đáng yêu đó là gì nếu không phải là cốt cách tài hoa và tinh thần vui sống.Người đồng mình tuy nghèo khó nhưng vẫn biết lấy lao động làm đẹp cho cuộc đời. Mỗi phẩm vật được tạo ra chứa đựng trong đó cái đẹp của tâm hồn, niềm tin yêu dành cho sự sống: Vách nhà ken câu hát Thì ra dưới dáng vẻ thô sơ da thịt là một tâm hồn lãng mạn biết bao. Cuộc sống của họ không hề đơn điệu hay nhàm chán mà đầy ắp những niềm vui. Công việc của họ không chỉ tạo ra cái ăn cái mặc mà còn tạo ra cái đẹp cho tinh thần. Từ hình ảnh quê hương nghĩa tình, người cha tiếp tục nói với con về sức sống mãnh liệt và những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình: Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung[4] không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục Đứa trẻ năm xưa không còn tập đi mà đang tập bước vào đời. Lời trao gửi, dặn dò của cha đầy lo lắng yêu thương và đặt ra nhiều vấn đề hệ trọng hơn. Đó là chí lớn và lẽ sống làm người. Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn xa nuôi chí lớn Hình ảnh “người đồng mình” một lần nữa được lặp lại trong tiếng gọi thiết tha, trìu mến: “thương lắm con ơi”. “Thương lắm” là thương cái đức tính dù trong vất vả, gian nan mà vẫn tự tin, vẫn “nuôi chí lớn”. Hình ảnh thơ nâng cao tư thế của người đồng mình. Tinh thần của họ không hề nhỏ bé trong cuộc sống nhỏ bé của họ. Họ biết suy tư, biết giữ vững ý chí, khát vọng và không ngừng mơ tưởng đến tương lai. Thấu hiểu được điều đó, người cha gửi gắm vào lời tâm tình mến yêu và mong muốn con sẽ ghi lấy, nhớ lấy: Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung[4] không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Dẫu làm sao là trong bất kì tình huống nào. Trên con đường con đi đấy có bao điều chờ đợi. Niềm vui hay nỗi buồn, thành công hay thất bại, bằng phẳng hay gian truân.. nhưng hoàn cảnh nào con cũng mang trong mình sức sống của quê hương, những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình. Đó là thái độ sống thủy chung, chấp nhận hoàn cảnh và sống với quê hương làng bản: Sống trên đá không chê đá gập ghềnh. Sống trong thung không chê thung nghèo khó Quê hương con là bản làng nhấp nhô bên những sườn núi đá, là thung lũng mà cái đói, cái nghèo còn bủa vây. Từ “không chê” được nhắc lại hai lần như răn dạy, khắc sâu sự thủy chung là điều quan trọng nhất. Đó là lối sống hồn nhiên, vô tư và thanh sạch như thiên nhiên, cây cở, tâm hồn trong mát như sông như suối. Đó là lối sống khỏe khoắn, có ý chí nghị lực, luôn “chân cứng đá mềm” vượt qua bao gian khổ bằng sự lạc quan, không hề thở than. Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Cách diễn đạt bằng hình ảnh, nghệ thuật so sánh và sử dụng thành ngữ làm câu thơ có điệu riêng đầy cứng cỏi. Ba từ “sống” đặt ở đầu câu nối tiếp nhau như nhấn mạnh một vấn đề đầy hệ trọng. Nó thành kính, thiêng liêng như việc người cha giữ lửa và truyền lửa cho con vậy! Sức mạnh của quê hương, của người đồng mình không chỉ là nghị lực mà còn là nhân cách làm người: Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Nhà thơ lấy cái thô sơ, mộc mạc bên ngoài của hình thức để tương phản đối lập với cái “không bao giờ nhỏ bé” về mặt tâm hồn. Họ biết: Tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục Cách nói ẩn dụ đầy sáng tạo. Phải chăng trong gian khổ, đói nghèo, họ tự tay mình xây dựng, kiến thiết quê hương. Mỗi căn nhà, mỗi lối đi, mỗi thửa ruộng ddeuf do bàn tay con người bồi đắp mà thành. Tuy nhỏ bé, thô sơ nhưng đó là kết quả cảo lao động miệt mài, là niềm tự hào lớn lao mà người đồng mình luôn quý trọng, gìn giữ. Tất cả kết tụ thành phong tục,thành lối sống, thành linh hồn mà mỗi người đồng mình phải biết lấy, giữ lấy. Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con. Vẫn giọng thơ thủ thỉ, tâm tình nhưng yếu tố lý trí đã được nâng cao, cô đúc, rắn rỏi. Lời dặn dò yêu thương nhưng đầy nghiêm khắc, chuyển giao cho con một mệnh lệnh, một niềm tinHành trang con bước vào đời là nguồn sức mạnh tinh thần đủ để con tự hào và kiêu hãnh. Và quan trọng hơn là con phải sống xứng đáng với quê hương. Với thể thơ tự do, mạch cảm xúc tự nhiên, giàu giai điệu, Y Phương đã biểu đạt thành công tâm tư và ước vọng của người cha đói với con nhỏ. Người cha muốn con hiểu và cảm thông với cuộc sống khó khăn của quê hương, tự hào về truyền thống quê hương, tự hào về dân tộc để vững bước trên con đường đời, để tự tin trong cuộc sống. Kết bài: Nói với con mang vẻ đẹp của tâm hồn chân chất, mộc mạc mà chan chưa yêu thương của người miền núi lúc nào cũng chân thành, thiết tha. Từ lời cha dặn con, bài thơ vun đắp cho ta tình cảm đẹp, giáo dục ta về truyền thống biết ơn cội nguồn, gia đình, quê hương, đất nước.
Phân tích ý nghĩa bài thơ nói với con của nhà thơ Y Phương
1,490
Phân tích ý nghĩa bài thơ Quốc tộ, Cáo tật thị chúng, Quy Hứng Hướng dẫn Quốc tộ – Đỗ Pháp Thuận Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn Quốc tộ như đằng lạc, Nam thiên lý thái bình. Vô vi cư điện các, Xứ xứ tức đao binh. Dịch nghĩa Vận nước như dây leo quấn quít, Trời Nam mở ra nền thái bình. Hãy dùng phép Vô vi ở nơi cung đình, Thì mọi chốn đều dứt hết đao binh. Dịch thơ Vận nước như mây quấn, Trời Nam mở thái bình. Vô vi trên điện các, Chốn chốn dứt đao binh. a. Hai câu đầu: Đất nước trong cảnh thái bình thịnh vượng Sau nhiều năm chiến tranh loạn lạc do nội chiến thời Đinh Tiên Hoàng,chiến thắng giặc Tống (981) thời Lê Đại Hành, đất n­íc bước vào thời kì tương đối ổn định. Lê Đại Hành muốn xây dựng một vương triều phong kiến vững mạnh,một quốc gia hïng cường Câu 1: “Vận nước như dây mây leo quấn quýt” →khẳng định vận nước hưng thịnh, bền vững lâu dài Câu 2:. Trong khí thế đi lên của dân tộc, một vận hội mới đang mở ra. →Tác giả mượn hình tượng thiên nhiên để nói về vận nước: bền chặt, lâu dài và thịnh vượng thông qua NT so sánh → tâm trạng tác giả phơi phới niềm vui, niềm tự hào, lạc quan, tin tưởng b. Hai câu sau: Vai trò người đứng đầu đất nước và truyền thống dân tộc – Đường lối trị nước cô đọng trong hai chữ: “vô vi” có nghĩa là thuận theo tự nhiên, không làm trái quy luật tự nhiên, với lòng người, không để xẩy ra chiến tranh, dân được an cư, lạc nghiệp, vận nước ngôi vua mới vững bền + “cư”: – nơi ở điện gác – cư xử điều hành + “Điện các”: cung điện điều hành → khuyên vua trong việc điều hành nên “vô vi” → lấy đức mà giáo hoá dân→ “thái bình”→vai trò người đứng đầu đất nước => truyền thống tốt đẹp: yêu chuộng hoà bình. Tác giả muốn đem hiểu biết của mình về tư tưởng trị nước bày tỏ với nhà vua (người đứng đầu) làm thế nào để giữ cho đất nước yên tĩnh, vui vẻ, dân được an cư lập nghiệp. – Vô vi là vô vi pháp của nhà Phật. Nghĩa là từ bi bác ái. Điện các để chỉ triều đình, chỉ nhà vua. Cả câu thơ nên hiểu muốn giữ yên vận nước và để vận nước phát triển thịnh vượng nhà vua phải vô vi, phải làm những gì thuận với tự nhiên với lòng người. Theo nghĩa nhà Phật làm cho mọi chúng sinh được yên vui, xoá bỏ mọi khổ nạn cho họ. Đó là lo cho dân. – Chốn chốn tắt đao binh: nghĩa là nơi nơi không còn cảnh chém giết nữa, không còn chiến tranh, đất nước thanh bình thì vận nước, ngôi vua mới được bền vững. – Hai câu phản ánh truyền thống yêu nước khao khát nhân đạo hoà bình là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. – Đây là lời nhà sư trả lời vua Lê Đại Hành. Bài thơ bộc lộc tư tưởng trị nước, cách nhìn xa trông rộng của tác giả. +Từ đó nêu nội dung và nghệ thuật của bài – Dùng hình tượng thiên nhiên để khẳng định vận nước hưng thịnh vững bền lâu dài. – Lời thơ ngắn gọn ý thơ hàm súc. – Câu thơ có nội dung hình thức như một châm ngôn. Ý nghĩa văn bản: Biểu hiện lòng yêu nước, khát vọng sống hòa bình và sự quan tâm tới vận nước của tác giả. Văn bản Cáo tật thị chúng – Mãn Giác thiền sư Phiên âm: Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai. Sự trục nhãn tiền quá, Lão tùng đầu thượng lai. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. Dịch nghĩa Xuân đi, trăm hoa rụng, Xuân đến, trăm hoa nở. Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt, Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu. Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết, Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân. Dịch thơ: Xuân qua, trăm hoa rụng Xuân tới, trăm hoa cười Trước mắt việc đi mãi Trên đầu già đến rồi Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua, sân trước một cành mai a. Bốn câu đầu: – Câu 1 -2: quy luật biến đổi của thiên nhiên, đó là sự luân hồi của thiên nhiên: tàn → nở (sự sống tuần hoàn không ngừng chuyển động) → mùa xuân và hoa mang đến sự ấm áp, tươi tắn, tràn đầy sức sống – Hai câu 3- 4: quy luật biến đổi của đời người: sinh, lão, bệnh, tử (quan niệm đạo phật) → Sự biến đổi của con người trước thời gian ẩn chứa bao nỗi niềm nuối tiếc của kiếp người ngắn ngủi trước cõi đời. Tác giả nhìn sự vật theo quy luật sinh trưởng. Nếu đảo vị trí cũng được: nói lên quy luật tuần hoàn biến đổi, đó là cái nhìn sự vật theo quy luật: xuân tới → xuân qua; hoa tươi→hoa rụng (không sâu sắc và thâm thuý bằng câu trên) b. Hai câu cuối: – Hình ảnh “nhành mai” bất chấp xuân tàn vượt lên trên quy luật vận động và biến đổi của thiên nhiên. → có sức mạnh lớn lao vượt lên trên lẽ hoá sinh thông thường, tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của con người. => niềm yêu đời, niềm lạc quan tươi vui trong cuộc sống. Câu 3 và 4 diễn tả quy luật biến đổi của đời người. Thời gian sự việc qua đi, con người trải theo năm tháng cũng già đi. Mái đầu bạc là tượng trưng cho tuổi già. Đó là biểu hiện cụ thể nhất sự biến đổi của con người trước thời gian. Nhưng con người không luân hồi như cây cối. Cuộc đời con người sẽ đi về phía huỷ diệt không hề cứu vãn. Con người sẽ nuối tiếc, xót xa. Quan niệm triết lí đạo phật khi con người giác ngộ đạo ( hiểu chân lí, quy luật). – Sử dụng hình ảnh tương phản, giàu biểu tượng – Kết cấu chặt chẽ. Ý nghĩa văn bản: Bài thơ thể hiện tinh thần, ý chí bất diệt của con người Văn bản Quy hứng – Nguyễn Trung Ngạn Phiên âm: Lão tang diệp lạc tàm phương tận, Tảo đạo hoa hương giải chính phì. Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo, Giang Nam tuy lạc bất như quy. Dịch nghĩa Dâu già lá rụng tằm vừa chín, Lúa sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo. Nghe nói ở nhà, dẫu nghèo vẫn tốt, Đất Giang Nam tuy vui cũng chẳng bằng về nhà. Dịch thơ: (Dâu già lá rụng tằm vừa chín, Lúa sớm bông thơm cua béo ghê. Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt, Dẫu vui đất khách chẳng bằng về) a. Hai câu đầu – “dâu, tằm, lúa, cua”→ các hình ảnh dân dã, quen thuộc, chân thật, mộc mạc của quê nhà hiện về trong kí ức nhà thơ → qua đó thể hiện nỗi nhớ quê hương,lòng yêu nước sâu sắc của nhà thơ b. Hai câu cuối: – Tiếng lòng trở về nghe tha thiết, khắc khoải trong lòng kẻ xa quê – Tác giả trực tiếp nói lên tâm trạng của mình: cuộc sống nghèo khổ ở quê nhà là hơn bất cứ nơi đâu – Tình yêu quê hướng đất nước, niềm tự hào về dân tộc là cảm xúc chủ đạo của bài thơ. c. Nghệ thuật: Cách nói chân thực, giản dị, hình ảnh gợi cảm Ý nghĩa văn bản: Bài thơ thức tỉnh tâm trạng của những kẻ xa quê.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Quốc tộ, Cáo tật thị chúng, Quy Hứng
1,252
Phân tích ý nghĩa bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh Mở bài: Hữu Thỉnh thuộc lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong thòi kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ Hữu Thỉnh mang đậm hồn quê Việt Nam dân dã, mộc mạc tinh tế và giàu rung cảm. Bài thơ Sang thu là một trong những tác phẩm tiêu biểu của hồn thơ Hữu Thỉnh. Thân bài: Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều, viết hay về những con người, cuộc sống ở nông thôn, đặc biệt về mùa thu. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng, vấn vương; trước đất nươc trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. Bài thơ Sang thu được hữu tĩnh sáng tác vào cuối năm 1977, In lần đầu tiên trên báo văn nghệ, sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ đã mang đậm dấu ấn phong cách viết của thi sĩ … Tác giả đã khắc họa bức tranh thiên nhiên trong khảng khắc sang thu tinh tế, nhẹ nhàng để từ đó kín đáo bộc lộ tâm trạng cùng những suy nghiệm của mình về cuộc đời của con người. Những chuyển biến nhẹ nhàng mà tinh tế của đất trời trong khoảnh khắc giao mùa: Thiên nhiên vốn là người bạn thân thiết đối với mỗi thi nhân. Đó không những là nguồn cảm hứng mà còn là nơi để thi nhân gủi gắm tâm tư, tình cảm và ước vọng của mình. Bởi thế, mọi sự chuyển động của thiên nhiên đều khiến các thi nhân chú ý. Hữu Thỉnh, trong buổi sớm hôm ấy đã nhận ra một điều khác lạ, tuy hết sức kín đáo nhưng cũng đủ khiến nhà thơ để tâm: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào lòng trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Từ “bỗng” mở đầu bài thơ thông báo về sự xuất hiện đột ngột của sự vật trong không gian. Nhân vật trữ tình chợt cảm nhận thấy bao điều trong sự xuất hiện đột ngột ấy. Một sự bất ngờ nhưng đã đợi sẵn, đợi từ lâu một nét thân quen rồi để giờ đây có dịp lại buông ra ngay. Tín hiệu để tác giả nhận ra màu thu ở đây trước hết là “hương ổi” chứ không phải là những nét đặc trưng của mây trời trong xanh hay sắc vàng hoa mơ của hoa cúc như trong thơ cổ điển. Mùi hương quê nhà mộc mạc ấm nồng của sớm mùa thu ở một miền quê Bắc bộ được gió đưa trong không khí cứ lang tỏa, thoảng thoảng bay. Sau cảm nhận bằng khứu giác đó là sự cảm nhận bằng xúc giác “gió se” Gió đã khô và lạnh của khí thu. Đó còn là sự cảm nhận về thị giác qua hình ảnh “sương chùng chình qua ngõ”. Có thể nói thơ đã tập trung mọi giác quan để cảm nhận không gian thu đang xích lại gần. Hai chữ “hình như” vừa như thầm hỏi, lại vừa bao hàm một sự khẳng định. Mùa thu đến mà như chưa đến, bất ngờ, đột ngột. Những tín hiệu đàu tiên tuy đã rất rõ ràng nhưng chưa đủ để khẳng định mùa thu đã thực sự bước sang. tác giả sợ rằng mình có thể nhầm lẫn nên chưa vội khẳng định mà chỉ phỏng đoán mà thôi. Từ tượng hình “chùng chình” gợi cảm giác sương đang ngương lại mịt mù hơi nước chưa kịp lan tỏa vào không gian. “Chùng chình” hay chính là sự bịn rịn, lưu luyến, ngập ngừng của thi sĩ khi chợt nhận ra đã qua rồi mùa hạ. Cái “ngõ” mà sương theo gió đang ngập ngừng đi qua vừa là cái ngõ xóm thực, vừa là cái cửa ngõ thời gian thông nhaucủa hai mùa. Âm điệu của đoạn thơ nhẹ nhàng, mang mác rất phù hợp với không khí thu. Những biến chuyển mãnh liệt trong không gian lúc đất trời sang thu: Để thật chắc chắn rằng mùa thu đã bước sang, nhà thơ vội chạy ra với đất trời rọng lớn. Ông ngỡ ngàng, say mê khi nhìn thấy vạn vật đang chuyển động hết sức mãnh liệt: Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nữa mình sang thu Không gian mùa thu không chỉ ở quanh “ngõ” nữa mà cả trời thu. Bức tranh thu từ không gian vô hình đã nhường chỗ cho những gì là cụ thể. Thiên nhiên được quan sát là một không gian rộng lớn, nhiều tầng bậc hơn. Bức tranh thu từ những gì vô hình đã nhường chổ cho những gì là cụ thể. Từ những vô hình ẩn kín của “hương”, “gió”,” sương”, chuyển sang những nét hữu tình, cụ thể, rõ ràng của “sông”, “chim”, “ mây”. Từ không gian hẹp, nhỏ hơn đến với một không gian vừa dài rộng, vừa cao vời. Thu lại về trên quê hương, trên những con đường bờ đê và trên cả những con sông, cánh chim trời. Cái bỡ ngỡ ban đầu chợt tan biến đi nhường chỗ cho sự rung cảm mảnh liệt trước mùa thu. Dòng sông không cuồn cuộn dữ dội và gấp gáp như những ngày mưa lũ mùa hạ nữa mà cứ dềnh dàng như còn luyến lưu với bờ xinh, bãi đẹp. Tương phản với dòng sông, cánh chim lại bắt đầu vội vã chuẩn bị cho cuộc hành trình di trú vạn dặm phương nam. Hơi thu lạnh tràn về làm cho chúng phải khẩn trương hơn Điểm thêm vào bức tranh còn là hình ảnh “đám mây mùa hạ” đang nhuộm dần sắc thu. Cái cách mùa hạ chuyển giao cho mùa thu trong thật kì lạ. Có cái gì đó như không muốn tách rời, không muốn từ bỏ khi đám mây: “vắt nửa mình sang thu”. Lối diễn đạt nhân hóa của nhà thơ thật là độc đáo. Hình như trong đám mây đó còn một vài làn nắng ấm áp của mùa hè nên mới “vắt nửa mình”. Từ “vắt” tạo cho đám may như một dải lụa mềm mại trên bầu trời nửa đang còn là mùa hạ, nữa đang nghiên về mùa thu. Thu về làm cho bao cảnh vật thay đổi và đám mây cũng khác lạ, rõ ràng, chỗ chứa của nhân vật chữ tình vẫn đang nơi mùa hạ. Cái buổi giao thời từ hạ sang thu sao mà miễng cưỡng, dùng dằng đến thế! Khác với những bức tranh mùa thu khác trong thơ ca dân tộc, Hữu Thỉnh không tả “trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” như Nguyễn Khuyến mà chỉ điểm vào bức tranh thu một chút mây vương lại của mùa hè vừa qua… Người đọc không khỏi thích thú với cấu trúc đổi tự nhiên chặt chẽ và tuyệt đẹp như trong thơ cổ điển. Bởi thế mà, khi đọc bài thơ ta thấy mùa thu vừa mới chớp rất nhẹ,rất dịu, rất êm, mơ hồ như cả trời đất đang rùng mình thay mới. Âm điệu thơ nhẹ nhàng, trầm lắng tạo không khí thu như thái, lắng động, chậm rãi, lâng lâng. Với một đoạn thơ ngắn vẻn vẹn hai khổ thơ rất đẹp về mặt tạo hình, rất tinh tế trong cảm nhận, nhà thơ đã dựng lại bức tranh thu nồng đượm hơi ấm cuộc đời, hơi ấm quê nhà. Những hình ảnh sang thu thân quen, giản dị mà tươi tắn, sống động. Kết hợp với những từ láy rất riêng và một giong thơ có thoảng ngở ngàng, vừa vui sướng, Hữu Thỉnh như đưa ta về một miền quê dân dã ấm áp tình người. Dấu hiệu mùa thu đã qua rõ qua không gian, thời gian, để cho nhân vật trữ tình trực diện với mùa thu thì ở khổ thơ cuối lại kíêm tìm những dấu hiệu mùa hạ còn sót lại qua hình ảnh “nắng”, “mưa”,” sấm”. đó chính lafsuwj khẳng định sức sống mảnh liệt của tâm hồn dù đã “ sang thu” vẫn còn rao rực hạ nắng. Những suy ngẫm về cuộc đời của tác giả: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt ngất ngờ Trên hàng cây đúng tuổi. Theo lời tác giả cái “đứng tuổi” của cây còn gợi cho ông liên tưởng đến một thế giới khác, thế giới sang thu của hồn người. Vẻ chín chắn, điềm tỉnh của hàng cây trước sấm sét, bão giông vào lúc sang thu hay đó là sự từng trải, chín chắn, thâm trầm, điềm đạm của con người sau những bão táp của cuộc đời? Bài thơ là sự biến đổi của đất trời từ cuối hạ sang đâu thu hay là sự ngập ngừng dùng dằng của một tâm hồn, một cuộc đời trong buổi giao thời khi bắt đầu “sang thu”? Phải chăng một không gian hạ nắng vẫn đang rạo rực tâm tư? Bút pháp ẩn dụ được tận dụng khéo léo và kín đáo. Cấu trúc bài thơ theo một trình tự tự nhiên hợp lý. Đó cũng là diễn biến mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình trong buổi giao thời “sang thu” từ chỗ lãng tránh, chưa thật dứt khoát đến chấp nhận “sang thu” cũng đủ cho ta thấy sự dùng dằng của tâm tư trước sự biến thiên của quy luật thời gian. Bài thơ như đưa ta trở về với khung cảnh thân thuộc của lang quê việt nam. Nó vẫn làm say lòng người, gieo vào tâm hồn chúng ta những cảm xúc nhẹ nhàng, góp phần thanh lọc tâm hồn giữa chốn phồn hoa đô hội… khoảng khắc thu được Hữu Thỉnh miêu tả sao mà bình dị và đáng yêu đến thế. Gửi cả nỗi niềm vào bài thơ, ta bắt gặp đây là một hồn thơ, một nguồn thi cảm không bao giờ vơi cạn trước thiên nhiên, cuộc sống. Bài thơ chính là sự cưỡng lại, níu kéo thời gia, một sự dùng dằng khó tả của một tâm hờn không bao giờ già đi theo năm tháng. Ai gắn bó nhiều với thôn quê, đều có thể cảm nhận được cái hồn xứ sở rất đổi thân thương trong đó… Kết bài: Với thể thơ năm chữ mộc mạc, âm điệu trầm lắng, lời thơ giản dị mà tinh tế, hình ảnh đơn sơ mà gợi cảm, tác giả đã khắc họa bức tranh thiên nhiên trong khoảng khắc “sang thu” để từ đó kín đáo bộc lộ tâm trạng cùng những suy nghiệm của mình về cuộc đời của con người. Bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh đánh thức tình cảm của mỗi người về tình yêu quê hương đất nước và suy ngẫm về cuộc đời.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
1,810
Phân tích ý nghĩa bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Hướng dẫn Mở bài: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ giàu yêu thương với nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường. Phong cách thơ ấy được thể hiện khá sâu sắc trong bài thơ Sóng, một tác phẩm xuất sắc của nhà thơ Xuân Quỳnh và của nền thơ Việt Nam. Thân bài: Hoàn cảnh sáng tác – Xuất xứ bài thơ: Bài thơ được sáng tác trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình) năm 1967 và được in trong tập Hoa dọc chiến hào. Cảm hứng chủ đạo: tình yêu sôi nổi của tuổi trẻ Nội dung: Hình tượng Sóng và em. Bài thơ xây dựng theo kết câu song hành, trên cơ sở nhận thưc sự tương đồng hòa hợp giữa 2 hình tượng trữ tình “Sóng” và “em”. “Sóng”: một hình tượng nghệ thuật độc đáo: vừa là con sóng ngoài biển cả về ẩn dụ để thi sĩ tỏ bày mọi trạng thái bí ẩn, mãnh liệt của tình yêu. Sóng là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của Xuân Quỳnh. “Em”: Cái tôi trữ tình của nhà thơ – người phụ nữ đang yêu. “Sóng” và “em” tuy hai là một, có lúc phân chia, có lúc lại hòa nhập, đan cài, soi chiếu cho nhau đề nói lên những phương diện phong phú, phức tạp nhiều khi mâu thuẫn nhưng thống nhất trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu. Âm diệu, nhịp điệu của bài thơ giống như âm điệu của những con sóng trên biển cả vỗ liên hồi không ngừng nghỉ. Âm hưởng ấy lại được tạo nên bợi thể thơ ngũ ngôn với những câu thơ liền không dấu chấm câu như những đợt sóng miên man, vô tận gợi lên tâm trạng không yên định của con người luôn trăn trở, khát khao. Dữ dội và dịu êm. Ồn ào và lặng lẽ Nghệ thuật đối lập: sóng khi “dữ dội”. “ồn ào” khi “dịu êm”, “lặng lẽ”. Ở sóng, luôn tồn tại những điều mâu thuẫn, đối cực và không yên định. Khi yêu con người cũng vậy, luôn sống trong những trạng thái phức tạp, đầy bí ẩn nhiều khi nghịch lí: khi bồng bột sôi nổi, lúc kín đáo sâu sắc, vừa đắm say vừa tỉnh táo, vừa nồng nhiệt vừa dè dặt, vừa tin tường vừa hoài nghi…_ trạng thái luôn bất yên, xao động. Khát vọng vươn xa, hướng đến bến bờ rộng lớn của tình yêu thoát khỏi những gì nhỏ hẹp, chật chội, tầm thường: Sông không hiểu nổi mình. Song tìm ra tận bể. Nghệ thuật nhân hóa: sóng khao khát ra biển lớn, hòa nhập vào không gian mênh mông. Trái tim người phụ nữ khi yêu cũng vậy không chịu chấp nhận sự tầm thường nhỏ hẹp luôn vươn tới cái lớn lao có thể đồng cảm, đồng điệu với mình ( nét mới trong quan niệm về tình yêu). Khẳng định khát vọng tình yêu là khát vọng muôn đời của nhân loại – luôn bất biến như song. Trước biển cả mênh mông, nhà thơ nhận ra con sóng vĩnh hằng cùng thời gian, từ đó Xuân Quỳnh nghĩ đến sự vĩnh hằng của tình yêu với những liên tưởng sâu sắc: Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ Con song ngự trị ngàn đời nơi biển cả thì tình yêu cũng là khác vọng muôn đời của nhân loại, mà mãnh liệt nhất là của tuổi trẻ. Từ ngàn xưa, con người đã đến với tình yêu và mãi mãi vẫn cứ đến với tình yêu. Tình yêu luôn là khát vọng bồi hồi. Trăn trở suy tư tìm cách lí giải cội nguồn của tình yêu: Con sóng khao khát truy tìm cội nguồn của mình thì khi tinh yêu đến người ta cũng thường có nhu cầu tìm hiểu và phân tích: Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên? Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau Hai câu hỏi tu từ: suy tư trăn trở muốn khám phá tìm hiểu cội nguồn tình yêu. Nhưng tinh yêu cũng như sóng biển, như gió trời, làm sao mà hiểu hết được. Đó quả là bí ẩn kì diệu của tình yêu. Cách thể hiện hồn nhiên, thật dễ thương đấy nữ tính. trái tim yêu luôn nhớ thương mãnh liệt: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Tình yêu thường gắn liền với nỗi nhớ. Xuân Quỳnh phát hiện con song nhớ bờ tha thiết trào dâng cũng chính là nỗi nhớ tha thiết trong tâm hồn ngưới con gái khi yêu (kết cấu song hành song nhớ bờ/ em nhớ anh). + Nỗi nhớ được bộc lộ một cách trực tiếp, mới mẻ và táo bạo (Cách nói nhân hóa, trực tiếp “ sóng nhớ bờ” “em nhớ anh”). + Nỗi nhớ thường trực trong mọi không gian, thời gian (đối lập: dưới lòng sâu – trên mặt nước, ngày – đêm). + Nỗi nhớ cồn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn dào dạt như những đợt sóng biển triền miên vô hồi vô hạn (Phép điệp con sóng, nhớ). + Nỗi nhớ không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi vào trong tiềm thức, xâm nhập vào cả giấc mơ. Một tình yêu chân thành thiết tha, mãnh liệt, luôn thủy chung son sắt: Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương Ở ngoài kia đại dương Trăm nghìn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở Nghệ thuật đối lập và cách nói ngược hai chiều ngược nhau “ xuôi – ngược”; “ nam – bắc ” là những dự cảm về những khó khăn vất vả, về sự xa xôi, cách trở, những thử thách trong tình yêu. Câu thơ khẳng định trái tim thủy chung luôn hướng về một phương duy nhất “phương xa”. Đól à sự khẳng định lòng thủy chung đủ sức mạnh vượt qua tất cả để chiến thắng. Con sóng tình yêu của Xuân Quỳnh mới mẻ, táo bạo nhưng vẫn rất gần gũi, đáng yêu. Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ Cấu trúc chính phụ: “ tuy … vẫn”, “ dẫu…vẫn”: nhà thơ sớm nhận ra và thấm thía sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúc. Giọng thơ trầm lắng suy tư, đầy chiêm nghiệm, âu lo. Ước muốn được sống hết mình cho tình yêu. Khát vọng hóa than thành sóng để bất tử hóa tình yêu. Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ khi yêu qua hình tượng sóng trong bài thơ vừa mang tính truyền thống đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu, chung thủy; vừa mang tính hiện đại táo bạo mãnh liệt dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, luôn vững tin vào sức mạnh của tình yêu. Đặc sắc nghệ thuật: + Thể thơ năm chữ truyền thống; cách ngắt nhịp, gieo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng. + Giọng điệu tha thiết chân thành, có ít nhiều những lo âu phấp phỏng. + Xây dựng được những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc. Kết luận: Qua hình tượng sóng, tác giả đã khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu: tha thiết, nồng nàn, đầy khát vọng và son sắt thủy chung, vượt lên mọi giới hạn của đời người.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
1,329
Phân tích ý nghĩa bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến Mở bài: Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ nổi bậc nhất của nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, học giỏi, đỗ đầu trong ba kì thi (Tam nguyên Yên Đỗ). Ra làm quan hơn 10 năm, sau đó vì bất mãn với thời cuộc, Nguyễn Khuyến từ quan về quê ở ẩn cốt giữ lấy khí tiết của người quân tử. Thu điếu (mùa thu câu cá) là bài thơ đặc sắc, thể hiện tinh tế tấm lòng yêu dân, yêu nước của Nguyễn Khuyến khi ở ẩn tại quê nhà. Thân bài: Nguyễn Khuyến là người có cốt cách thanh cao, yêu nước thương dân. Lấy thơ ca làm bầu bạn, Nguyễn Khuyến để lại những vần thơ hết sức quý giá. Thơ ông gắn liền với cuộc sống bình dị của người dân nơi đồng bằng Bắc bộ. Toàn bộ cái hồn của làng cảnh được ông đưa cả vào trong thơ hết sức tinh tế và vi diệu. Bởi thế, ông được mệnh danh là nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam. Bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) nằm trong chùm thơ thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm). Ba bài thơ là ba bức tranh thu bình lặng và đẹp như những bức tranh thủy mặc được vẽ bởi một nghệ sĩ đa tài. Trong đó Thu điếu là bài nổi bậc hơn cả. Bài thơ chứa đựng cảnh thu, tình thu chan chứa, tuy nhẹ nhàng, bình lặng nhưng lại chứa đựng tấm lòng sâu nặng hết sức thiết tha của nhà thơ trước cuộc đời. Thành công trước hết của bài thơ Thu điếu là vẽ ra một bức tranh mùa thu hài hòa. Cảnh thu được dựng lên qua điểm nhìn vừa quen thuộc vừa lạ lẫm. Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Khác với bài thơ Thu vịnh, cảnh thu được đón nhận từ cao xa tới gần, lại từ gần đến cao xa, từ trên trời xuống mặt đất, từ ngõ vắng ra với ao thu: Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo Tầng mây lơ lững, trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo Ở bài thơ Thu điếu thì ngược lại, xuất phát từ “ao thu lạnh lẽo”, hình ảnh nhỏ dần với “một chiếc thuyền câu”. Không gian mở ra không quá rộng, đủ ở trong tầm nhìn và ngẫm ngợi. Hình ảnh: ao thu, chiềc thuyền câu làm hiện lên nét bình dị, dân dã, xinh xắn của làng quê Bắc bộ khi vào thu. Màu sắc cũng được gợi tả qua màu nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt, màu sắc xanh trong, dịu nhẹ. Gam màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi. Đường nét khung cảnh và những chuyển động được miêu tả vô cùng tinh tế. Sóng hơi gợn tí chứ không òa ạt. Lá vàng khẽ đưa vèo trong lẳng lặng. Tầng mây lơ lững không trôi. Tiếng cá đâu đó bất chượt đớp động mặt hồ. Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng, khẽ khàng, không đủ để tạo âm thanh. Bức tranh mùa thu vắng lặng lại càng vắng lặng hơn trong tâm thức của nhân vật trữ tình. Nhận xét về Thu điếu, Xuân Diệu đã nói: “Nét nổi bật nhất là các điệu xanh: xanh ao, xanh nước, xanh sóng, xanh bờ, xanh trời, xanh trúc…chen vào màu vàng của chiếc lá thu rơi trên mặt ao tạo nên hòa sắc nhẹ nhàng”. Ở bài thơ thu hứng, bút pháp ấy một ần nữa hát huy sức mạnh: Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc ánh trăng vào. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Hình ảnh cần trúc, ao thu, khói, gió được lặp lại nhưng mang một sắc thái khác biệt. Hình ảnh thơ phản ánh cái hồn của tác giả, mỗi thời khắc là một trạng thái khác nhau, không lặp lại. Bút pháp nghệ thuật cổ điển với hình ảnh gợi tả thu thuỷ, thu thiên, thu diệp, ngư ông khiến cho bức tranh cổ kính như trong huyền sử. Bút pháp lấy động tả tĩnh cổ điển, lại thêm hình ảnh gợi tả, giản dị cùng cách gieo vần độc đáo đạt đến mức độ hoàn hảo. Cảnh thu với những hình ảnh quen thuộc, dân dã, bình dị, đẹp, nên thơ, tĩnh lặng, phảng phất buồn, mang đặc trưng mùa thu của đồng bằng Bắc bộ. Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Không gian có xu hướng co lại với hình ảnh của người câu. Tiếng cá đớp bóng nước đâu đó khẽ vang lên rồi im bặt càng làm cho không gian vắng lặng hơn. Nghệ thuật lấy động gợi tĩnh, tả cảnh ngụ tình cô động lại ở hai câu thơ cuối này. Không gian thu cũng chính là không gian tâm trạng. Cõi lòng nhà thơ đang rất yên tĩnh, vắng lặng. Trong bức tranh thu xuất hiện nhiều gam màu xanh gợi cảm giác se lạnh. Cái se lạnh của cảnh thu thấm vào tâm hồn nhà thơ hay chính cái lạnh của tâm hồn thi nhân đang thấm vào cảnh vật. Người tựa gối ôm cần là tư thế của người câu cá, một tâm thế nhàn. Song đó chỉ là dáng vẻ bên ngoài. Ngỡ là bất động, tĩnh lặng tuyệt đối song đó là cả một nỗi niềm u uẩn, uẩn khúc trong lòng nhà thơ. Tâm sự của một nhà nho lánh đời thoát tục song vẫn không nguôi nghĩ về đất nước nhân dân, về sự bế tắc, bất lực của bản thân? Nhàn thân song không nhàn tâm. Nguyễn khuyến không thể ung dung đi câu như một ẩn sĩ thực thụ. Kết bài: Bài thơ Thu điếu thể hiện sự tinh tế của nhà thơ trong cách cảm nhận về cảnh sắc thiên nhiên mùa thu vùng đồng bằng bắc bộ, đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước, tâm trạng thời thế của tác giả. Dường như cái hồn của làng quê Bắc bộ đã được Nguyễn Khuyến thông thấu từ lâu. Cho nên, lời thơ cứ tự nhiên mà đạt đến chuẩn mực. Bởi thế, Nguyễn Khuyến được tôn vinh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến
1,118
Phân tích ý nghĩa bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão Hướng dẫn Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão 1. Tác giả: – Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương – Có nhiều chiến công lớn trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên – Là người văn võ song toàn 2. Tác phẩm: – Tỏ lòng (Thuật hoài), Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương. – Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật – Viết bằng chữ Hán. – Nhan đề: +Thuật: bày tỏ,kể +Hoài: hoài bão, chí hướng Bày tỏ hoài bão, thuộc đề tài thi dĩ ngôn chí. Thuật hoài Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu, Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái, Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu. Dịch: Tỏ lòng Múa giáo non sông trải mấy thu, Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu. Công danh nam tử con vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu. 1. Hình tượng con người và quân đội thời Trần. a. Hình tượng con người: Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu (Múa giáo non sông trải mấy thu) -Tư thế: “hoành sóc”: cầm ngang ngọn giáo -> lớn lao. -Hành động: gìn giữ non sông -> kì vĩ. -Bối cảnh: +Không gian: giang sơn -> rộng lớn. +Thời gian: mấy năm rồi (kháp kỉ thu) -> thời gian trải dài. =>Vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kì vĩ. Con người xuất hiện với một tư thế hiên ngang mang tầm vóc vũ trụ, át cả không gian bao la, mở ra theo chiều rộng của đất nước và chiều dài của lịch sử. Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu (Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu) -Tam quân: ba đạo quân (tiền quân, trung quân, hậu quân): quân đội nhà Trần -> tượng trưng cho sức mạnh dân tộc. – Sức mạnh: như hổ báo (tì hổ) -> NT phóng đại, so sánh: sức mạnh vật chất và tinh thần. – Khí thế: nuốt trôi trâu (khí thôn ngưu) -> hùng dũng. => Đông đảo, hùng tráng, mạnh mẽ tượng trưng cho sức mạnh dân tộc mang “hào khí Đông A”. => Vẻ đẹp con người và vẻ đẹp thời đại hòa quyện vào nhau. Bản dịch nhiều chỗ chưa thật sát nghĩa với bản phiên âm. + “hoành sóc” không phải là “múa giáo” mà là cầm ngang ngọn giáo + “ngưu” có thể là con trâu hoặc sao ngưu (hiểu theo cách nào cũng được) Hình tượng kì vĩ, thể hiện chí làm trai của con người. Đây là lí tưởng sống của trang nam nhi trong XHPK (trí thức PK) 2. Chí làm trai và tâm tình của tác giả. a. Chí làm trai: Nam nhi vị liễu công danh trái (Công danh nam tử còn vương nợ) – Quan niệm về công danh của người con trai: + Lập công: lập kì tích, chiến công kì vĩ, để lại sự nghiệp to lớn vì dân, vì nước. + Lập danh để lại tiếng tốt, tiếng thơm cho đời. – Chí làm trai mang tinh thần và tư tưởng tích cực: + Là món nợ phải trả cho non sông, đất nước của kẻ làm trai. + Lí tưởng sống tích cực của trang nam nhi thời PK. => Có tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu cho sự nghiệp lớn lao – sự nghiệp cứu dân, cứu nước của toàn xã hội. Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu (Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu) – “Tu”: thẹn -> cái tâm của người anh hùng. – “Thẹn” vì chưa có tài mưu lược lớn để trừ giặc, cứu nước như Vũ Hầu Gia Cát Lượng. -> Nỗi thẹn của con người có nhân cách. – Thẹn vì chưa trả xong nợ nước. -> Cái tâm chân thành, trong sáng. Nỗi hổ thẹn khiêm tốn và cao cả của con người có nhân cách lớn. Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão là bài thơ ca ngợi sức mạnh, hào khí của quân đội nhà Trần. Bài thơ đồng thời thể hiện niềm tự hào và khát vọng lập công danh của người làm trai, sống xứng đáng với thời đại anh hùng.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
685
Phân tích ý nghĩa bài thơ Tự tình II của Hồ Xuân Hương Hướng dẫn Ý nghĩa bài thơ Tự tình II của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Mở bài: Hồ Xuân Hương là một trong những nữ sĩ hiếm hoi và nổi bậc nhất của nền văn học trung đại Việt Nam. Bà xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, cha làm nghề dạy học, sớm tiếp cận với sách vở và văn chương. Hồ Xuân Hương là người đa tài, đa tình, phóng túng, giao thiệp rộng rãi nhưng cuộc đời, tình duyên lại gặp nhiều trái ngang, bất hạnh. tất cả những tâm sự bà đều gửi gắm hết cả vào trong những vần thơ. Thơ Hồ Xuân Hương là thơ của phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm chất dân gian từ đề tài, cảm hứng đến ngôn ngữ, hình tượng. Bài thơ Từ tình (II) là một trong những tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu cho hồn thơ Hồ Xuân Hương. Thân bài: Tự tình II nằm trong chùm thơ Tự Tình gồm 3 bài của Hồ Xuân Hương. Bài thơ là lời tự bộc lộ tâm tình của tác giả, tập trung thể hiện cảm thức về thời gian và tâm trạng buồn tủi, phẫn uất và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của nhà thơ trước cảnh đời trái ngang. Hồ Xuân Hương được đương thế ca ngợi là nữ sĩ tài sắc. Bà không những xinh đẹp mà còn ăn nói có duyên, tài ứng đối không ai sánh bằng. Đến tuổi trăng tròn, Hồ Xuân Hương cũng được cưới gả từ rất sớm như mọi con cái trâm anh thế phiệt bấy giờ. Nhưng dẫu qua hai lần đò đều không viên mãn. Cả hai lần đều làm thiếp khiến Hồ Xuân Hương mang trong lòng tâm sự buồn chán cho só kiếp của mình. Cuộc đời Hồ Xuân Hương có lẽ ứng với câu nói: Quân tử đa truân, hồng nhan bạc phận. Càng gắng gượng, bà càng thấy khổ đau. Mở đầu bài thơ là bối cảnh không gian, thời gian làm nảy sinh, bộc lộ tâm trạng. Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Thời gian là đêm khuya thanh vắng (quá nửa đêm). Đây là lúc con người thường rời khỏi cuộc sống bề bộn, đối diện với chính mình, sống thật với tâm hồn mình. Không gian hiện lên với tiếng trong canh văng vẳng điểm từng canh một. Tiếng trong canh tưởng sẽ làm không gin rộn rã lên nhưng ngược lại, nó khiến cho không gian càng thêm yên tĩnh vắng lặng. Hồ Xuân Hương vận dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Tiếng trong mệt mỏi vang lên rồi im lặng, để lại một khoảng trống mênh mông trong lòng người. Đó không chỉ là thời gian, không gian của tự nhiên mà còn là không gian, thời gian của tâm trạng. Tiếng trống cầm canh nhắc nhở con người về bước đi của thời gian. Từng khắc, từng canh trôi đi. Bóng tối ngập tràn bóng tối. Im lặng nói daig im lặng. Nhưng con người vẫn thức, vẫn chờ đợi mỏi mòn một cái gì đó. Nếu bài thơ Tự tình I lấy cảm hứng vào lúc gà báo sáng “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom” thì bài Tự tình II lại lấy cảm hứng vào lúc nửa đêm. Đó là thời khắc của hạnh phúc lứa đôi, của sum họp vợ chồng. Vì thế cũng là thời khắc người vợ lẽ hay góa phụ cảm nhận được sâu sắc nhất, đầy đủ nhất, thấm thía nhất cảnh cô đơn, nỗi bất hạnh của thân phận. Bị tách biệt, bỏ rơi ngay trong chính cuộc sống, chính trong gia đình của mình, gần đấy mà xa đấy, có mà lại như không có khiến cho nữ sĩ vô cùng xót xa. Khát khao đến thế, mong chờ đến thế nhưng đành bất lực, nhà thơ chỉ còn biết phó mặc cho cuộc đời: Trơ cái hồng nhan với nước non Từ “trơ” gợi lên hết nỗi chán chường, mệt mỏi của con người trong đêm vắng và trong cuộc sống vốn có nhiều bất công. “Trơ” có nghĩa là trơ trọi, cô đơn. “Trơ” còn có nghĩa là tủi hổ, bẽ bàng. mọi cảm xúc tích cực dường như đã bị triệt tiêu hết thảy, chỉ còn lại đấy một cái xác vô hồn, vô cảm mà thôi. Thủ pháp đối giữa “cái hồng nhan” và “nước non” tô đậm cảm giác đơn côi, trống vắng. Nếu câu phá đề giới thiệu về không gian và thời gian làm xuất hiện tâm trạng thì câu thừa đề đã diễn tả tâm trạng cô đơn, buồn tủi và bẽ bàng về duyên phận của nhân vật trữ tình. Kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ đặc sắc đưa từ “trơ” lên đầu câu thơ có vai trò nhấn mạnh vào sự trơ trọi, lẻ loi. Lời thơ tuy có chút tiêu cực nhưng chứa đầy bản lĩnh của Xuân Hương. Đó là thái độ phản kháng lại đối với số phận, phản kháng lại những luật lệ, ràng buộc cố hữu của xã hội phong kiến áp đặt lên số phận người phụ nữ. Họ không có quyền lựa chọn hạnh phúc và cũng không có quyền từ bỏ cái khổ đau, bất hạnh mà họ đang phải gánh lấy. Tâm trạng ấy cũng là tâm trạng của Thúy Kiều khi nàng bị Tú Bà giam lỏng ở lầu Ngưng Bích: Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa. Để thoát khỏi nỗi buồn đang vây bám, nhà thơ tìm đến rượu và hi vọng rằng men rượu sẽ xua đuổi nỗi buồn đi xa, làm cho tâm hồn phấn chấn lên. Đó thực sựu là một lối thoát, là hành động tích cực vượt qua nghịch cảnh. Thế nhưng, càng uống lại càng tỉnh. Càng tỉnh lại càng thêm buồn: Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Chén rượu thơm nâng cánh tâm hồn u sầu lên cao khiến nữ sĩ thấy say. Say rồi lại tỉnh. Dường như nỗi buồn trong lòng người còn sâu đậm hơn men rượu, đã hóa giải ma lực của nó rồi. Rượu không vơi cạn nỗi niềm mà khiến nỗi niểm trở nên thấm thía, đau xót hơn bởi “say lại tỉnh”. Chữ “lại” gợi lên cái vòng luẩn quẩn, trở đi trở lại trong bế tắc, xót xa, chán nản, thất vọng… Mượn rượu để giải sầu nhưng lại vẫn trong vòng luẩn quẩn không lối thoát. Đó thực sự là bi kịch của Hồ Xuân Hương. Một bi kịch của số phận. Thi sĩ đắm say, tha thiết với cuộc đời nhưng rồi khi nhìn lại, lại thấy cuộc đời chẳng có gì khởi sắc, chẳng có giá trị nào tốt đẹp tương xứng với mình. Càng khao khát, càng mong cầu, càng tìm kiếm lại càng thấy nó xa vời hơn. Thi sĩ tìm đến với trăng nhưng trăng lại trở thành hình ảnh soi chiếu thân phận: “Vầng trăng – bóng xế – khuyết chưa tròn”. Cuộc đời ấy như vầng trăng xế trên trời cao mãi khuyết vẫn chưa tròn. Đó là sự muộn màng, dở dang, tình duyên không trọn vẹn. Trăng trên trời khuyết rồi lại tròn còn cuộc đời con người chỉ có một lần được viên mãn. Tuổi xuân trôi qua mà hạnh phúc mãi chưa trọn vẹn. Câu thơ bộc lộ mãnh liệt nỗi buồn bã, chua xót trước sự éo le trong cảnh ngộ của mình. Dường như, tren khóe mắt của người con gái như ngấn lệ, hòa lẫn trong bóng trăng. Càng suy ngẫm càng thấy đau đớn, xót xa. Nhà thơ kêu gào trong phẫn uất: Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Đến đây, có sự thay đổi cả về giọng điệu và hình tượng thơ. Nghệ thuật đối kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ cùng những động từ mạnh “xiên”, “đâm” cùng các bổ ngữ “ngang”, “toạc” tạo âm hưởng mạnh, tô đậm hình tượng thơ. Cảnh thiên nhiên có sức sống mạnh mẽ qua cảm nhận của người mang sẵn niềm phẫn uất như muốn phản kháng, thách thức lại số phận nghiệt ngã. Đó cũng chính là bản lĩnh, cá tính mạnh mẽ, không cam chịu của Hồ Xuân Hương trước nghịch cảnh đường đời. Đã nhiều lần hơn thế, nữ sĩ từng muốn thay đổi mình, từng muốn chống lại cái ràng buộc bất công, phi lí của xã hội: Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu. (Đề đến Sầm Nghi Đống) Bà muốn được như những bậc nam nhân tranh tài đua sức. Thấn gái hẳn đã kém gì đâu nhưng lại không được làm những việc mà người đàn ông có thể làm. Tài cao, chí lớn lại phải cam chịu cuộc sống nữ nhi thường tình. Thế nên, Hồ Xuân Hương quyết liệt phản kháng. Bà quyết liệt thách thức trời cao đất dày: Giơ tay với thử trời cao thấp Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài. Càng quyết liệt càng thêm đau khổ. Ngững tưởng tất cả những cơn thịnh nộ của chế độ nam quyền ấy sẽ vùi lấp thấn gái thuyền quyên trong nhục nhã, đè bẹp ước vọng sống, ước vọng vương lên nhưng Hồ Xuân Hương vẫn vững vàng đứng giữa đất trời vô cùng ngạo nghễ: Tài tử văn nhân đâu đó tá Thân này đâu đã chịu già tom. Thế nhưng, đó chỉ là phép thắng lợi tinh thần mà Hồ Xuân Hương là con người duy nhất thực hiện điều ấy. Một mình bà hết sức nhỏ bé trước hệ thống tư tưởng và giáo điều vốn đã định hình và ăn sâu tận gốc rễ của con người, trở thành nếp nghĩ, nếp sống, lối ứng xử không thể nào thay đổi được. Thấy vọng, nữ sĩ trở về với chính cuộc đời mình, trong tuổi xuân muộn màng: Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con! Xuân có nghĩa là mùa xuân của đất trời, là dòng chuyển dịch của thời gian vĩnh hằng. Xuân còn có nghĩa là tuổi xuân, tuổi đời thơ mộng. Lại lại có nghĩa là trở lại, là thêm một lần nữa. Từ “ngán” bộc lộ sự buông bỏ, bất lực củ con người trước nghịch cảnh. Câu thơ vừa diễn tả nhịp tuần hoàn của mùa xuân nhưng đồng thời cũng biểu hiện tâm trạng chán chường. Bởi mùa xuân đến mùa xuân đi rồi mùa xuân lại đến theo nhịp tuần hoàn của trời đất còn tuổi xuân của con người đã qua đi thì không bao giờ trở lại và lòng người không gì đau xót, chua chát hơn khi phải từng ngày, từng giờ, từng phút nhìn thấy tuổi xuân của mình đang dần bị tàn phai trong nỗi cô đơn, buồn tủi. Hai câu kết thể hiện tâm trạng, chán chường, buồn tủi cho duyên phận song qua đó lại đồng thời thể hiện khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của nhân vật trữ tình- người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Bài thơ bộc lộ mâu thuẫn giữa khát vọng và khả năng của con người. Nhân vật trữ tình từ chỗ khát vọng vươn lên đến khi thực sự rơi vào bi kịch của chính mình. Toàn bài thơ là chuỗi diễn biến tâm trạng của bi kịch ấy. Từ cô đơn, buồn tủi đến chán chường, mệt mỏi. Từ cay đắng, xót xa đến phẫn uất, tuyệt vọng. Co người muốn vươn lên để vượt thoát số phận bất hạnh nhưng rồi cuối cùng lại vẫn rơi vào nỗi xót xa, buồn tủi. Càng khát khao càng thêm đau đớn và bế tắc. Qua tâm trạng đầy bi kịch của nhân vật trữ tình ta thấy được nỗi niềm tâm sự, tính cách và bản lĩnh của Hồ Xuân Hương. Trong buồn tủi, người phụ nữ gắng vượt lên trên số phận nhưng cuối cùng vẫn rơi vào bi kịch. Đó cũng chính là ý nghĩa nhân văn của bài thơ mà Hồ Xuân Hương muốn gửi đến hậu thế. Ở bài thơ này, Hồ Xuân Hương còn tỏ rõ tài năng Việt hóa thơ Đường. Cách sử dụng từ ngữ giản dị mà đặc sắc, hình ảnh giàu sức gợi, tả cảnh sinh động trong thể thức Đường luật chứng tỏ tiếng Việt cũng có đủ sức mạnh để diễn tả mọi cung bậc trong đời sống tâm tư của con người. Bởi thế, hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương vẫn theo dòng chảy chung nhưng đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình. Kết bài: Tự tình II là một bài thơ đặc sắc, điển hình cho phong cách thơ của Hồ Xuân Hương, vừa mãnh liệt vừa đằm sâu. Lời thơ cứ tự nhiên như lời tâm tình, thủ thỉ nhưng lại hết sức chuẩn mực khiến người đọc có cảm giác nữ sĩ đang nói, đang than chứ chẳng có một dụng công nghệ thuật nào. Ấy vậy mà, xem lại, tác phẩm lại hết sức chặt chẽ và tinh tế vô cùng. Bởi thế mà từ xưa, Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo, được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm, là Thiên tài kì nữ trong lịch sử văn học Việt Nam từ xưa đến nay.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Tự tình II của Hồ Xuân Hương
2,271
Phân tích ý nghĩa bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương Hướng dẫn Ý nghĩa bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương Mở bài: Viễn Phương là nhà thơ miền Nam, trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông bình dị, gắn bó sâu sắc với đời sống và chiến đấu của nhân dân miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến. Khi đất nước lặng yên tiếng súng, từ mảnh đất miền Nam mấy chục năm trời chiến đấu gian khổ, thi sĩ làm một cuộc hành hương về Bắc. Dồn hết tình cảm thương nhớ và thái độ thành kính đối với vị Cha già dân tộc suốt bao nhiêu năm, thi sĩ đã viết nên bài thơ thật xúc động: Viếng lăng Bác Từ việc khắc họa cảnh quan nơi lăng Bác, tác giả đã kín đáo bộc lộ tâm trạng xúc động, thái độ thành kính, tình cảm yêu thương của mình đối với vị Cha già kính yêu của dân tộc. Thân bài: Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng bác: Bàng bạc suốt bài thơ là cảm xúc, tâm trạng thành kính, cảm phục, tiếc thương của tác giả. Bài thơ mở ra hình ảnh một người lăng lội từ chiens trường nam bộ ra thăm nơi yên nghỉ của vị lãnh tụ: Con ở miền nam ra thăm lăng bác. Câu thơ mở đầu có ý nghĩa như một lời thông báo. Qua cách xưng hô đầy thân mật: “con-Bác” , nhà thơ đã biểu hiện thái độ thành kính, tình cảm thân thương của mình đối với vị cha già kính yêu của dân tộc. Câu thơ khiến ta cảm động vì hoàn cảnh của tác giả: từ miền Nam ra thăm Bác. Hai tiếng “miền Nam” không chỉ gợi sự xa xôi mà còn gợi lên tình cảm của nhân dân miền nam, nhân dân một nửa nước đã “đi trước về sau” trong hai cuộc kháng chiến khao khát mong mỏi được gặp bác. Với cách nói giảm, nói tránh nhằm làm giảm nhẹ nỗi đau thương, mất mát của dân tộc. Ý thơ khẳng định Bác vẫn còn mãi trong trái tim nhân dân miền Nam,trong lòng dân tộc. Lời thơ chân tình, xúc động,thiêng liêng, thành kính là nỗi lòng kính yêu của Viễn Phương đối với vị cha già dân tộc đã trọn cuộc đời vì nước vì dân. Đó không chỉ là tình cảm riêng của nhà thơ mà còn là tình cảm chung của dân tộc Việt Nam. Thế hệ này tiếp nối thế hệ khác, tất cả đều có chung một tình cảm như thế với Bác Hồ kính yêu. Hình ảnh đầu tiên mà tác giả thấy được và tấn tượng đậm nét về cảnh quang quanh lăng Bác là hàng tre xanh. Đó là hình ảnh hết sức thân thuộc của làng quê Việt Nam, của đất nước Việt Nam: Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hành tre xanh việt nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng. Hình ảnh “hàng tre” thân thuộc, mộc mạc, vẫn đứng thẳng hàng, hiên ngang cho dù “bão táp mưa sa” . Đó còn là biểu tượng cho tâm hồn, sức sống bền bỉ, kiên cường bất khuất của dân tộc trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Cây tre còn gắn bó với người việt nam trong lao động “tre dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang”(Thép Mới). Tre gắn bó cả cuộc chiến đấu sinh tử của dân tộc. Cậu bé làng Gióng đã nhổ cụm tre làng quất giặc ân xâm lược. Đồng bào miền Nam đã dùng gập tầm vông, gậy tre chống lại xe tăng, đại bác của thực dân đế quốc. Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác: Vượt lên trên cảnh vật, với niềm thành kính thiêng liêng, nhà thơ đi vào suy tưởng. Hình ảnh lăng Bác, hình ảnh Bác Hồ dduwwocj nhìn dưới góc độ nghệ thuật hết sức kì vĩ, hùng tráng: Ngày ngày mặt trời qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi qua trong thương nhớ Kết tràng hoa dân bảy mươi chín mươi mùa xuân. Hình ảnh “mặt trời đi qua trên lăng” ở câu thơ thứ nhất là hình ảnh thật. Đó là mặt trời của vũ trụ. Nó gợi ra sự kì vĩ, sự bất tử, vĩnh hằng. Mặt trời là nguồn cội của sự sống, ánh sáng.Hình ảnh “mặt trời trong lăng” ở câu thơ thứ hai là hình ảnh ẩn dụ. Đó là bác Hồ kính yêu. Bác là mặt trời của dân tộc, là nguồn sáng vĩ đại của dân tộc. Dù Bác đã ra đi nhưng người mãi bất tử trong niềm tin yêu, nỗi nhớ thương của muôn vạn con người, muôn thế hệ con người Việt Nam. Sử dụng hình ảnh ẩn dụ: “mặt trời trong lăng” phải chăng nhà thơ còn muốn ca ngợi Bác là vầng thái dương soi sáng cho con người cách mạng. Người đã đem lạ ấm no hạnh phúc cho dân tộc. Hay hình ảnh cũng là biểu tượng cho sự trường tồn bất tử của người trong tâm hồn con người Việt Nam. Tiếp tục dòng liên tưởng, khi nhìn những dòng người đến tưởng niệm Bác, nhà thơ liên tưởng đó chính là “tràng hoa” dân lên “bảy mươi chín mùa xuân” tuổi đời của Người. “Bảy mươi chín mùa xuân” đối với đời người thật ngắn ngủi. Nhưng nếu sống tận dâng, tận hiến, sống ý nghĩa như Bác thì đó lại là một quãng đời vĩ đại, đủ sức để trường tồn mãi mãi. Bởi thế, nhà thơ tố hữu cũng đã từng ca ngợi Bác: Bảy mươi chín tuổi xuân trong sáng Vào cuộc trường sinh nhẹ cánh bay Biện pháp ẩn dụ được sử dụng trong khổ thơ thật mới lạ đã diễn tả được tình cảm thương yêu, thái độ biết ơn và tự hào về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Điệp từ “ngày ngày” trở đi trở lại trong đoạn thơ khiến ta cảm nhận như đó là tiếng bước đi của thời gian, vòng tuần hoàn của đat trời vô tận, vĩnh viễn như tấm lòng nhân dân không nguôi nhớ bác mặc dù thời gian cứ lẳng lặng trôi qua nhưng tình cảm thương nhớ của người việt nam đối với lãnh tụ vẫn còn mãi mãi. Biên pháp nhân hóa “mặt trời” của thiên nhiên vũ trụ “thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” chứa đựng biết bao tình cảm mến yêu của nhà thơ. Đặt Bác trong mối quan hệ hài hòa với vũ trụ là niềm mong ước người sẽ làm bạn với thiện nhiên, với đất trời cao rộng như lúc sinh thời Người đã từng mong muốn có được một cuộc sống ung dung, tự tại như thế. Theo dòng người, nhà thơ đi vào trong lăng, một cảnh tượng thật tỉnh lặng, trang nghiêm hiện ra trước mắt: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim. Bác đang nằm đấy điềm nhiên và tĩnh lặng. Người đang ngủ dưới ánh trăng xanh trong và diệu hiền. Xuất phát từ trái tim yêu thương và thái độ thành kính đã tạo cho tác giả một cái nhìn thật đẹp. Bác đã đi vào cuộc trường sinh thế nhưng tác giả ngỡ Người đang ngủ, một “giấc ngủ bình yên” thật đẹp của một con người suốt cả một đời đấu tranh giải phóng cho dân tộc, cho nhân loại. Cả một cuộc đời gian nan, giờ đây, giấc ngủ của Bác thật thanh thản, trọn vẹn. Bởi lẽ ước nguyện thống nhất đất nước đã được thành hiện thực “ham muốn tột cùng” của người giờ đã thỏa nguyện. Hình ảnh ẩn dụ “trời xanh” ở đây biểu tượng cho cuộc đời của Bác. Người đã hóa thân vào thiên nhiên, đất nước, dân tộc. Nhưng tất cả không làm khuây được nỗi nhớ thương, sự mất mát không gì bù đắp được trong lòng mỗi con người Việt Nam. Dù vẫn biết điều đó là sự thật, nhưng nhà thơ không khỏi quăng đau, xót xa “nghe nhói ở trong tim”. Từ “nhói” diễn tả tâm trạng tiếc thương, xốn xang, xúc động mạnh, không dồn nén dược trong nhân vật trữ tình. Sự đớn đau, quặng thắt nhanh chóng chìm xuống bởi nhà thơ biết đó không phải là điều mà Bác muốn nhìn thấy ở thế hệ này (và cả thế hệ mai sau) yếu đuối trước sự ra đi của Bác. Cả khổ thơ làm hiện lên một khung cảnh thật yên bình, thiêng liêng và thành kính. Người nằm đó tĩnh lặng và bình tâm. Người nằm đó trong thiên nhiên ấm áp, chân tình. người hòa vào dòng sống vĩ đại, vượt ra khỏi dòng sống bé nhỏ để đi vào dòng sinh diệt vĩnh hằng. Người không hề cô đơn. Xung quanh người có người bạn thiên nhiên luôn bầu bạn, tâm tình. Dường như, đọc đến khổ thơ này, ta không còn có cảm giác mất mát hay đau thương nữa. Bác ở xa mà lại ở rất gần. Bác không mất đi mà là đã hóa thân vào một phần tâm hồn của mỗi con người Việt Nam ta. như một vòng quay định mệnh, đến rồi lại đi, nhà thơ quyến luyến từ biệt lãnh tụ, từ biệt thủ đô trở về miền Nam. Khổ thơ bịn rịn như người đi không muốn rời bước: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này… Câu thơ đầu như một lời nói thông thường không cần dùng đến kỹ thuật, giọng thơ không ồn ào thế mà đọc lên thấy xúc động: Mai về miền Nam thương trào nước mắt. Mai có nghĩa là sớm mai, cũng có nghĩa là trong tương lai. Thương trào nước mắt là cách nói thật chân thành của nhà thơ, một kiểu nói của người Nam bộ. Thương là bởi không còn được trong nhìn thấy Người, không được kề cận để vơi niềm mong nhớ. Thương là bởi bác đã trọn đời vì dân tộc mà hy sinh, vì độc lập nước nhà mà chiến đấu nhưng lúc ra đi chưa thể nhìn thấy hiện thực thành quả ấy. Thương là bởi niềm mong ước của Người đã là sự thật, miền Nam đã sạch bóng quân thù, nhân dân miền Nam có thể làm thế nào để kể Bác nghe niềm vui sướng ấy. Thế nên, tại đây, nhà thơ đã nói lên một tâm nguyện: Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này… Tuy là muốn nhưng thực ra đó là một lời hứa, một lời thề sắc son, chung thủy với tổ quốc, với lãnh tụ, với thiêng liêng đất nước. là người lính cụ Hồ, nhà thơ cũng muốn sống một cuộc đời vĩ đại để xứng đáng với Người. Làm con chim đang cho đời tiếng hát, làm đóa hoa dâng cho đời hương thơm, làm cây tre giữ làng, giữ nước. Tất cả đều rất trong sáng, rất cao quý, thật đáng trân trọng. Đặc biệt, hình ảnh “cây tre trung hiếu” là hình ảnh ẩn dụ thể hiện lòng kính yêu, sự trung thành vô hạn với Bác, nguyện mãi mãi đi theo con đường cách mạng mà Người đã mở đường chỉ lối. Đó là lời hứa thủy chung của riêng nhà thơ và cũng là ý nguyện của đồng bào miền Nam và của mỗi chúng ta với Bác Hồ. Kết bài: Với giọng điệu nhẹ nhàng, phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc vừa trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, đau xót, tự hào; nhịp thơ chậm rãi, thiết tha, hình ảnh sinh động, giàu sức biểu cảm, nhà thơ Viễn Phương đã thể hiện thành công niềm xúc động chân thành cùng tình cảm kính yêu vô hạn đối với vị cha già dân tộc. Đọc bài thơ Viếng lăng Bác, ta bắt gặp cảm xúc của mình ở đâu đó. Bở thế, bài thơ đâu chỉ là cảm xúc của riêng Viễn Phường mà là cảm xúc của toàn thể nhân dân miền Nam, toàn thể dân tộc Việt Vam trân trọng dâng lên Bác.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương
2,090
Phân tích ý nghĩa bài thơ Việt Bắc của tác giả Tố Hữu Hướng dẫn 1. Hoàn cảnh sáng tác Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, tháng 7-1954, hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở ra. Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miển xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc. 2. Xuất xứ bài thơ: Bài thơ được in trong tập thơ “Việt Bắc”, là đỉnh cao của thơ Tố Hữu, là tác phẩm xuất sắc của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp. Đoạn trích trong SGK là phần đầu của bài thơ, tía hiện kỉ niệm về cách mạng và kháng chiến. 3. Nội dung: * Khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người (8 câu đầu): Lời Việt Bắc (câu 1 đến câu 4): Lời ướm hỏi, khơi ngợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian, cội nguồn, nghĩa tình, qua đó thể hiện tâm trạng của người ở lại. Sử dụng lối đối đáp quen thuộc, gần gũi trong ca dao, dân ca _ xưng hô mình – ta vừa tình cảm, vừa thân mật, với biết bao yêu thương, gắn bó. Gợi những kỉ niệm mặn nồng, thiết tha trong “mười lăm năm ấy”. Hình thức nghệ thuật liệt kê “cây”, “núi”, “sông”, “nguồn” kết hợp với điệp từ “nhớ” như muốn nhấn mạnh cách mạng va Việt Bắc không thể tách rời “như cây với núi, như sông với nguồn”…. Lời người về xuôi (bốn câu thơ tiếp) Đáp lời Việt Bắc, người về xuôi bày tỏ tâm trạng: lưu luyến, bịn rịn trong buổi phân li. Dùng lối nói phiếm chỉ “tiếng ai”. Hình ảnh “áo chàm” là hình ảnh hoán dụ – tiêu biểu người dân tộc Việt Bắc gần gũi, thân thương, nghĩa tình. * Những kỉ niệm đẹp về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm (82 câu sau) Lời Việt Bắc (câu 9 đến câu 20) Hỏi để đánh thức những kỉ niệm ở Việt Bắc trong kí ức người về xuôi. Kỉ niệm về những ngày tháng gian khổ với “Mưa nguồn suối lũ”, “mây cùng mù”, “miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”. Những tình cảm ấm áp, ân tình, thủy chung “Hắt hỉu lau xám, đậm đà lòng son”. Những cao trào cách mạng, những địa danh thiêng liêng của lịch sử đất nước “Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”, “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”. Hỏi để bày tỏ tâm trạng: Những nhớ thương, trống vắng, trong lòng kẻ ở: “rừng núi nhớ ai”, “Trám bùi để rụng, măng mai để già”, những điệp ngữ “mình đi… có nhớ”, “mình về… có nhớ”, “mình về… nhớ ai”, “ có… còn”,… vang lên một cách dồn dập liên tiếp đã nói lên điều đó. Những băn khoăn, day dứt, âu lo liệu còn giữ những kỉ niệm xa, hay là sẽ chối bỏ: “mình đi, mình có nhớ mình?”. Lời người về xuôi (câu 21 đến câu 90) Khẳng định nghĩa tình thủy chung, son sắc (Câu 21-câu 24). Bày tỏ nỗi nhớ Việt Bắc (Câu 25 –câu 90). Các điệp ngữ ở đầu câu: “nhớ gì”, “nhớ từng”, “nhớ người”, “nhớ sao”,… và phép điệp cấu trúc _ khẳng định người ra đi không quên bất cứ một hình ảnh nào của Việt Bắc. Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian, nỗi nhớ cồn cào da diết “nhớ gì như nhớ người yêu”. Nhớ thiên nhiên và con người Việt Bắc: Thiên nhiên: + Một thiên nhiên mênh mông, hùng vì, đầy sức sống. + Một thiên nhiên vừa hiện thực vừa thơ mộng, thú vị và mang đậm nét đặc trưng của Việt Bắc khác hẳn những vùng quê khác: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương… + Một thiên nhiên đa dạng, phong phú, sinh động thay đổi từng mùa với những khoảng không gian, thời gian khác nhau (sương sớm – nắng chiều – trăng khuya, nhất là vẻ đẹp bốn mùa – bức tranh tứ bình: xuân, hạ, thu đông…). + Thiên nhiên luôn hòa quyện thắm thiết với con người (người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng …) nên hài hòa, tươi tắn, đầy sức sống (bức tranh tứ bình). Con người: + Con người Việt Bắc luôn gắn bó với thiên nhiên, làm cho thiên nhiên bớt hoang sơ, lạnh lẽo. + Bình dị, thủy chung nghĩa tình, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, chia ngọt, sẻ bùi với cách mạng: + Tần tảo, lam lũ, chịu thương, chịu khó. + Tài hoa, cần mẫn. + Lạc quan, yêu đời, thủy chung gắn bó với kháng chiến, với cách mạng. Nhớ cuộc sống, sinh hoạt ở chiến khu Việt Bắc: + Cuộc sống kháng chiến nhiều khó khăn gian khổ, thiếu thốn nhưng vẫn lạc quan yêu đời: – Những sinh hoạt đời thường khi liên hoan, học tập: – Không gian thanh bình, êm ả. Nhớ Việt Bắc kháng chiến: + Một tinh thần đoàn kết – một sự anh dũng, kiên cường trong chiến đấu: Rừng núi mênh mông hùng vĩ trở thành bạn của ta, chờ che cho bộ đội ta, cùng quân và dân ta đánh giặc. + Một Việt Bắc với khí thế chiến đấu hào hùng, sôi động, của cuộc kháng chiến toàn dân: + Là nơi các chủ trương của Đảng và Chính phủ tỏa khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng: + Là niềm tin, hi vọng, niềm mong đợi của cả dân tộc, của những con người Việt Nam yêu nước đặc biệt ở những nơi còn u ám quân thù. + Là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc: “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”. * Nghệ thuật đặc sắc trong bài thơ: + Đậm đà tính dân tộc. + Thể thơ lục bát được phát huy ở nhiều thế mạnh, sử dụng một cách nhuần nhuyễn, biến hóa, sáng tạo; vừa dân dã, cổ điển vừa hiện đại. + Cấu tứ: đối đáp như trong ca dao, + Sử dụng hình thức tiểu đối của ca dao: vừa nhấn mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ cân xứng, uyển chuyển, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư. + Về ngôn ngữ: Vận dụng hiểu quả lời ăn tiếng nói mộc mạc, giản dị của nhân dân trong đời sống và trong ca dao. Ngôn ngữ giàu hình ảnh cụ thể, vừa tự nhiên vừa sáng tạo. Ngôn ngữ giàu nhạc điệu. + Đặc biệt sử dụng cặp đại từ “mình – ta” vừa quen thuộc vừa sáng tạo. + Sử dụng nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian. Tất cả tạo nên giọng điệu trữ tình tah thiết, ngọt ngào, như đưa ta vào thế giới của kỷ niệm và tình nghĩa thủy chung son sắt. Ý nghĩa: Bài thơ Việt Bắc là bản hùng ca về kháng chiến đồng thời cũng là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Việt Bắc của tác giả Tố Hữu
1,218
Phân tích ý nghĩa bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo Hướng dẫn Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca Mở bài: Thanh Thảo là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Ông là một cây bút hướng nội, giàu suy tư, trăn trở về cuộc sống, luôn tìm tòi những cách biểu đạt mới trong sáng tác. Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca được trích trong tập “Khối vuông Ru- bích” là một trong những sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ tượng trưng của nhà thơ Thanh Thảo. Thân bài: Nhan đề bài thơ mang ý nghĩa biểu trung sâu sắc. Cây đàn ghi- ta, một nhạc cụ phổ biến vốn là biểu tượng cho nghệ thuật, tượng trưng cho đất nước Tây Ban Nha. Bởi thế, có nơi, nó được gọi là Tây Ban cầm. Cây đàn ghi ta gắn với câu chuyện kể về nghệ sĩ Lor-ca, một huyền thoại của đất nước Tây Ban Nha Lor-ca là một tài năng sáng chói của văn học hiện đại Tây Ban Nha. Nghệ thuật của ông có ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần của nhân dân Tây Ban Nha nói riêng và Tây Âu nói chung. Lor-ca còn là một chiến sĩ kiên cường chống lại chủ nghỉa phát- xít cực đoan của Tây Ban Nha, với khát vọng tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật mãnh liệt. Hoảng sợ trước ảnh hưởng to lớn của ông, bọn Phăng – cô than phát – xít đã bí mật sát hại ông. Cái chết của Lor-ca đã dấy lên một làn sóng phẫn nộ với bè lũ phát- xít Phăng- cô. Tên tuổi của Lor-ca từ đó đã trở thành biểu tượng, là ngọn cờ tập hợp các nhà văn hóa Tây Ban Nha và thế giới chống chủ nghĩa phát- xít, bảo vệ văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại. Đặt đàn ghi-ta với Lor-ca tác giả muốn ta cho thấy sự gắn bó của Lor-ca với nghệ thuật của đất nước Tây Ban Nha. Đồng thời cho thấy ảnh hưởng của Lor-ca với nghệ thuật của đất nước ông. Lời đề từ: Khi tôi chết hãy chôn với cây đàn cũng mang một ý nghĩa sâu sắc. Câu nói trích trong bài thơ Ghi nhớ của Lor-ca, được xem như một di chúc của ông để lại hậu thế. Lời đề từ thể hiện một tình yêu say đắm, tha thiết của Lor-ca với nghệ thuật và xứ sở Tây Ban Nha. Sâu xa hơn, nó chứa đựng một thông điệp quan trọng đối với những ai muốn sáng tạo cái mới: Lor-ca nghĩ rằng thơ ca của mình đến một ngày nào đó sẽ án ngữ, ngăn cản sự sang tạo nghệ thuật của những người đến sau, nên đã căn dặn lại phải biết chon nghệ thuật của ông để đi tới. Lor-ca: con người tự do và nhà cách tân nghệ thuật mong manh, đơn độc. Bằng những hình tượng nghệ thuật độc đáo, nhà thơ Thanh Thảo từng bước bộc lộ chủ đề bài thơ. Nổi bậc và trọng tâm của toàn bài thơ là hình tượng nghệ sĩ Lor-ca. Lor-ca được khắc họa là con người tự do, nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha. Lời thơ mang đậm chất chấm phá mang dấu ấn của thơ siêu thực và trên nền văn hóa Tây Ban Nha: Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt li-la li-la li-la đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn Hình ảnh Lor-ca xuất hiện trong hình ảnh và âm thanh của tiếng đàn ghi-ta. Thanh Thảo ngay câu thơ đâì tiên đã có sự diễn dạt đọc đáo. Một hình ảnh thực được cảm nhận bằng sự siêu thực bởi thính giác và thị giác: tiếng đàn li la, li la, hình ảnh bọt nước. Câu thơ toàn vần bằng, kết hợp giữa thơ và nhạc độc đáo. Lor-ca hiện hình trong sinh hoạt văn hóa với Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt. Lor-ca xuất hiện trong sinh hoạt đời thường với phong cách nghệ sĩ dân gian, tự do phóng khoáng. Hình ảnh “vầng trăng”, “yên ngựa” và những từ láy: “lang thang”, “đơn độc” “chếnh choáng”, “mỏi mòn” giàu sức biểu cảm. Hình tượng Lor-ca đã được giới thiệu bằng những hình ảnh tương phản gay gắt giữa nghệ thuật và bạo tàn, giữa thân phận người nghệ sĩ bọt bèo với hiện thực tàn khốc. Xuất hiện trên bối cảnh ấy, nhìn theo góc độ nào cũng vẫn chỉ thấy Lor-ca: con người tự do và nhà cách tân nghệ thuật mong manh, đơn độc. Lor-ca bị sát hại và sự xót xa về sự dang dở của khát vọng cách tân: Tây Ban Nha hát nghêu ngao bỗng kinh hoàng áo choàng bê bết đỏ Lorca bị điệu về bãi bắn chàng đi như người mộng du tiếng ghi-ta nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy Cái chết của Lor-ca được miêu tả qua những hình ảnh tả thực và tượng trưng siêu thực. Đó là mọt cái chết bất ngờ, bi tráng. Trước khi điều tồi tệ xảy ta, Lor-ca vẫn hát nghêu ngao. Bỗng kinh hoàng nhận ra vết thương khi áo choàng bê bết đỏ. Đó là cái chết đầy bí ẩn vì Lor-ca không được xét xử, không được tự vệ. Chính điều ấy tạo ra nỗi xót xa ám ảnh trong lòng người khi Lor-ca bị điệu về bãi bắn, đi như người mộng du…Tất cả tố cáo sự tàn bạo, độc ác của chế độ phát- xít lúc bấy giờ. Ở y nghĩa tượng trưng siêu thực, âm thanh tiếng ghi-ta là sự hóa than của Lor-ca. Tiếng đàn vỡ ra thành màu sắc: nâu, xanh. Hình ảnh gợi tình yêu Tổ quốc, mối tình thủy chung, niềm ky vọng vào cuộc sống…của khát vọng LLor-ca. Tiếng đá tan ra thành hình khối: “ tròn bọt nước vợ tan”. Đó là sự ám ảnh về cái chết giờ đây đã thành sự thật. Tiếng đàn đọng lại thành dòng máu: “tiếng ghi-ta ròng ròng/ máu chảy”. Hình ảnh gợi cái chết thê thảm và sự dã man, tàn ác của kẻ thù. Mỗi tiếng ghi-ta là một nỗi niềm của con người trước cái chết của Lor-ca. Đó là sự tiếc thương của người tình thủy chung, là nỗi niềm xót xa, tiếc nuối của con người, của nhà thơ trước hành trình cách tân nghệ thuật dở dang, là nỗi đau của chúng ta trước cái chết thê thảm của người nghệ sĩ. Thủ pháp chuyển đổi cảm giác tạo nên những cảm nhận rất mới, rất độc đáo, phù hợp với những khát vọng cách tân của người nghệ sĩ Lor-ca. Niềm xót thương và sự tiếc nuối những cách tân nghệ thuật còn dang dở của Lor-ca: không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng Sự bất tử của nghệ thuật và con người Lor-ca được khẳng định như một chân lí. Di chúc của Lor-ca: “Khi tôi chết hãy chon tôi với cây đàn” được lấy làm đề từ, bộc lộ một tình yêu say đắm, tha thiết của Lor-ca với nghệ thuật và đất nước Tây Ban Nha. Sâu xa hơn, Lor-ca muốn hậu thế hãy quên ông, vượt qua ông để đổi mới nền nghệ thuật. Thế nhưng hậu thế vì quá ngưỡng mộ Lor-ca đã không dám vượt qua nghệ thuật của ông. Vô hình đã chôn vùi khát vọng đổi mới của Lor-ca: không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang. Câu thơ mở ra nhiều trường liên tưởng. Có nỗi xót thương cái chết của một thiên tài, có nỗi xót tiếc hành trình cách tân dang dở, có cả sự ngợi ca nhân cách của một nghệ sĩ vĩ đại với tâm nguyện đổi mới và ngợi ca sự vĩ đại trong sự nghiệp nghệ thuật tài hoa của Lor-ca… Nỗi đau xót trước cái chết của Lor-ca, trước khát vọng cách tân dang dở đọng lại thành những hình ảnh đẹp và buồn giọt nước mắt vầng trăng. Long lanh trong đáy giếng. Hình ảnh “giọt nước mắt” trực tiếp gợi nỗi đau, sự thương tiếc còn hình ảnh “vầng trăng” tượng trưng cho cái đẹp, cho nghệ thuật…. “Đáy giếng” nơi kẻ thù ném xác Lor-ca hòng xóa dấu vết tội ác, nơi lưu giữ hiện than của đau thương và tội ác. Sự kết hợp tuyệt diệu giữa những “giọt nước mắt” đau thương và “vầng trăng” huyền diệu đã tạo thành một hệ hình ảnh trùng phức, giao thoa, ánh xạ vào nhau, gợi những suy tư đa chiều về nỗi xót thương, niềm tiếc thương, kính trọng, ngưỡng mộ của tác giả và mọi người dành cho Lor-ca. Từ đó bất tử hóa hình tượng Lor-ca. Thanh Thảo đã nói về cái chết của Lor-ca từ góc độ duy tâm, tướng số học phương Đông. Cái chết được báo trước như một định mệnh: đường chỉ tay đã đứt dòng sông rộng vô cùng Lorca bơi sang ngang trên chiếc ghi-ta màu bạc Cái chết đầy chất nghệ sĩ, nhẹ nhàng thanh thản như một sự giải thoát. Lor-ca bơi qua dòng sông cuộc đời với chiếc đàn ghi ta ánh bạc. Cái chết như một sự lựa chọn để mở đường cho sự cách tân, sang tạo: chàng ném lá bùa cô gái di-gan vào xoáy nước chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt Điệp từ: ném, hình ảnh lá bùa, xoáy nước, trái tim là sự phản đối quyết liệt đối với tội ác, sự bất công. Sau cái chết, mọi sự ràng buộc được dứt bỏ. Lor-ca hoàn toàn được tự do. Sự thóng trị của cường quyền và cả thần quyền mất hết quyền năng của nó. Lỏ-ca chỉ giữ lại cho mình cây đàn nghệ thuật và tình yêu sự sống. Ở đây, chàng đã hóa thân vào vũ trụ với đầy đủ vẻ đẹp của cuộc đời con người đích thực với trái tim cuồng nhiệt, thánh thiện và tự do. Chuỗi âm thanh li la li la li la như khúc dạo cuối của bản nhạc, thể hiện sự kính trọng và tri âm của Thanh Thảo đối với Lor-ca. Viết Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo đã lựa chọn một hình thức nghệ thuật độc đáo. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa hai yếu tố thơ và nhạc. Thơ dẫn bước cho nhạc. Nhạc nâng cánh cho thơ đưa nghệ thuật lên mức tuyệt đỉnh. Ta vọng nghe tiếng hát trong câu thơ bay bỏng, cuộn trào. Sức gợi mở của hình tượng hết sức đa dạng, hình ảnh phong phú, ngôn từ được gọt giũa mới mẻ, hàm súc giàu sức gợi cảm. Từ tiếng đàn, người đọc liên tưởng đến nghệ thuật, liên tưởng đến cuộc đời, sự tự do của con người và khát vọng sống chân thực, đẹp đẽ. Bài thơ đã sử dụng biện pháp của thơ siêu thực, đặc biệt là những hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng thể hiện sự sáng tạo của Thanh Thảo trong việc cách tân thơ. Với Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo đã đóng góp một tiếng nói riêng đầy triết lí, siêu thực làm đẹp thêm vườn thơ Việt Nam vốn đang dần đi vào thực dụng sau chiến tranh. Kết bài: Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca ngợi ca vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn và tài năng của Lor-ca – nhà thơ, nhà cách tân vĩ đại của văn học Tây Ban Nha và thế giới thế kỉ XX. Với bài thơ, Thanh Thảo đã tìm được một ý tưởng, hồi ức, quan niệm của mình. Từ cuộc đời và cái chết của nghệ sĩ Lor-ca và tiếng đàn, Thanh Thảo đã bắt gặp toàn bộ những cái gì sâu thẳm nhất của ông được biểu lộ. Mỗi một tiếng đàn là một ý tưởng, một hồi ức, một cảnh đời, một đối thoại đầy ý nghĩa, một suy ngẫm triết lý về thơ và đời.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo
2,029
Phân tích ý nghĩa bài thơ Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm Hướng dẫn Mở bài: Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất trí tuệ – suy tư; cảm xúc dồn nén, mang màu sắc chính luận thể hiện tâm tư sâu lắng của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân. Bài thơ Đất nước là tác phẩm xuất sắc của ông. Tác phẩm thể hiện tình yêu sâu đậm và niềm tự hào lớn lao về đất nước và nguồn cội của mỗi con người Việt Nam. Thân bài: Hoàn cảnh sáng tác – xuất xứ: Trường ca Mặt đường khát vọng được viết ở chiến khu Trị Thiên năm 1971. Viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miển Nam trước năm 1975. Nhận thức về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Đoạn trích Đất nước thuộc phần đầu chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng, là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại. Thể hiện tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”. Nôi dung: Những cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành và phát triển Đất nước (Phần 1): Những nhà thơ khác khi viết về đề tài Tổ quốc, thường tự tạo ra một khoảng cách nhất định để chiêm nghiệm hình ảnh đất nước, dùng những hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ mang tính biểu tượng, hoặc nhìn đất nước qua nhưng trang lịch sử hào hùng. Giọng điệu thường là ca ngợi, tự hào. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn cách thể hiện tự nhiên và bình dị, cảm nhận Đất nước ờ tầm gần để từ đó phát hiện ra một khuôn mặt mới của đất nước: dung dị, đời thường. Giọng điệu tâm tình thủ thỉ như một lời trò chuyện thân mật, tự nhiên nên rất dễ đi vào lòng người. Đất nước là những gì bé nhỏ, gần gũi, riêng tư trong cuộc sống mỗi con người: Đất nước trong chiều sâu văn hóa: + Đất nước có từ lâu đời: từ “cái ngày xửa ngày xưa”. + Đất nước trong phong tục tập quán và trong truyền thống đạo lí của dân tộc. Ở những câu chuyện cổ tích mẹ kể, miếng trầu bà ăn, hình ảnh bới tóc của mẹ, lối sống giàu tính nặng nghĩa, gắn bó thủy chung “gừng cay muối mặn” của ông bà cha mẹ. + Đất nước trong truyền thống chống giặc ngoại xâm: Ở hình ảnh cây tre dân ta trồng để đánh giặc. + Đất nước trong truyền thống lao động cần cù của người nông dân để làm ra hạt gạo. +Đất nước hiện diện trong mỗi gia đình: Ở cái kèo, cái cột làm nên ngôi nhà ta ở, hạt gạo ta ăn. Đất nước trong chiều rộng của không gian địa lý: + Đất nước là không gian đời thường gần gũi, thân thương: (nơi anh đến trường… nơi em tắm). + Đất nước còn tồn tại ngay cả trong những không gian riêng tư, sâu thẳm nhất của tình yêu đôi lứa: “Đất nước là nơi ta hò hẹn… là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”. + Đất nước là núi sông, rừng, bể hùng vĩ, tráng lệ: “hòn núi Bạc… nước… biển khơi”. + Đất nước còn là không gian sinh tồn qua bao thế hệ: “Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ”. Đất nước trong chiều dài của thời gian lịch sử: + Đất nước được cảm nhận suốt chiều dài thời gian lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và tương lai: + Đất nước trong quá khứ – một Đất Nước thiêng liêng, hào hùng (gắn liền với huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, truyền thuyết vế các vua Hùng dựng nước). +Đất nước trong hiện tại – một Đất Nước giản dị, gần gũi (Trong anh và em hôm nay / Đều có một phần Đất Nước”). + Đất nước trong tương lai – một Đất Nước triển vọng sáng tươi (“Mai này con ta lớn lên / Con sẽ mang Đất Nước đi xa / Đến những tháng ngày mơ mộng”). Đất nước trong tổng hòa các giá trị gắn kết: + Đất Nước là sự hòa quyện không thể tách rời giữa cá nhân và cộng đồng. + Đất Nước sẽ lớn mạnh trong tình yêu đôi lứa và tình đoàn kết dân tộc: “Khi chúng ta cầm tay / Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm / Khi chúng ta cầm tay mọi người / Đất nước vẹn trọn to lớn”. + Đất nước là sự thống nhất giữa hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc lớn của dân tộc. Trách nhiệm của mỗi người với Đất Nước: + Trách nhiệm chung: “gánh vác … ”, “dặn dò…”, Mỗi cá nhân có bổn phẩn gìn giữ, phát triển, truyền lại cho thế hệ sau mọi giá trị vật chất, tinh thần của dân tộc. + Nhiệm vụ cụ thể: “gắn bó” trong tình đoàn kết. “san sẽ” bằng tình yêu thương, đồng cảm. “hóa thân” ở hành động hi sinh cho Đất nước. Cái nhìn độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm về Đất nước: Lời thơ không giáo huấn mà chỉ như một lời tự nhủ, nhắn nhủ chân thành, tha thiết _Tạo nên sức truyền cảm mạnh mẽ. Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện trên ba chiều cảm nhận: + Từ không gian địa lí: nhân dân làm nên tên núi, tên sông, tên địa phương, danh lam thắng cảnh của Đất Nước: Tác giả nhìn thiên nhiên, dnah lam thắng cảnh qua tâm hồn, số phận, ước vọng nhân dân. Nhân dân trao cho núi sông tình yêu, nỗi đau của mình nên mới có núi Vọng Phu, hòn Trống Mái… Nhân dân vô danh đã hóa thân vào mỗi tấc đất của quê hương để có Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm… Cuộc đời nhân dân tạc vào núi sông, thành cốt cách, lối sống dân tộc “Và ở đâu … Chẳng mang một dáng hình, … một lối sống ông cha …, Những cuộc đời đã hóa núi sông ta. + Từ thời gian lịch sử: Nhân dân làm nên truyền thống anh hùng vẻ vang trong 4000 năm giữ nước: Khi nghĩ về lịch sử Đất Nước, tác giả không nhắc đến các triều đại, các anh hùng có tên tuổi mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị là nhân dân: họ cần cù lao động xây dựng Đất Nước trong thời bình và sẵn sàng ra trận, hy sinh bảo vệ Đất Nước trong thời chiến. _ hóa thân vào Đất Nước muôn đời. Cảm xúc tự hào, cảm phục. + Từ những phát hiện đó nhà thơ đi đến một định nghĩa độc đáo: Đất Nước này là Đất nước của Nhân dân / Đất Nước của ca dao thần thoại. Trong muôn vàn vẻ đẹp của dân tộc, tác gỉa đã chọn ba nét nổi bật ấn tượng nhất được thể hiện trong ca dao để nói lên giá trị tinh thần của nhân dân: +Rất say đắm, thủy chung trong tình yêu “yêu em từ thuở nằm nôi..”. +Hết sức quý trọng tình nghĩa “ Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. +Vô cùng quyết liệt trong căm thù và chiến đấu, bền bỉ kiên cường không khuất phục trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy / Đi trả thù mà không sợ dài lâu”. Nghệ thuật: + Thể thơ tự do, linh hoạt, biến chuyển nhanh, gọn + Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi. + Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, biến đổi linh hoạt. + Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình. Kết bài: Bài thơ là một cách cảm nhận mới về Đất Nước, qua đó khẳng định tư tưởng Đất Nước của Nhân dân, đồng thời khơi dây lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về nên văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm
1,384
Phân tích ý nghĩa bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du Hướng dẫn Bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du Thương xót cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ tài sắc là một nguồn cảm hứng lớn trong sáng tác của Nguyễn Du. Ngoài Truyện Kiều – một tác phẩm bất hủ, Nguyễn Du còn không ít những bài thơ chữ Hán đặc sắc viết về thể tài này. Một trong số đó phải kể đến bài thơ Độc Tiểu Thanh kí. Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tài năng nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du. Vậy tài năng nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo đó được thể hiện như thê nào? Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu bài thơ…… 1. Tác giả Nguyễn Du – Nguyễn Du (1765 – 1820) là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là danh nhân văn hóa thế giới. – Sự nghiệp sáng tác: gồm thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm. – Nội dung trong thơ văn đặc biệt là chữ hán: sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người nhỏ bé, bất hạnh, đặc biệt là số phận bất hạnh của những người phụ nữ có tài hoa, nhan sắc. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong thơ văn Nguyễn Du. 2. Chuyện nàng Phùng Tiểu Thanh (1594 – 1612) Tiểu Thanh – Phùng Tiểu Thanh (1594- 1612), người Quảng Lăng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, thông minh, tài, sắc vẹn toàn. Năm 16 tuổi cô làm vợ lẻ một nhà quyền quý họ Phùng (Phùng Sinh). Bị vợ cả ghen ghét, cô phải tránh ra ở Cô Sơn (trên núi cao), cạnh Tây Hồ. Vì đau buồn cô sinh bệnh rồi chết năm 18 tuổi. Những uất ức và đau khổ được cô gửi gắm vào thơ nhưng rồi cũng bị vợ cả đốt, may mắn thay, một số bài thơ còn sót lại, do nàng viết trên hai tờ giấy gói tặng mấy vật trang sức cho một cô gái (phần dư). Đọc phần dư cảo, Nguyễn Du trào lên nỗi xót thương, đồng cảm với thân phận của người phụ nữ nhan sắc vẹn toàn nên viết bài thơ này. 3. Bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí a. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Chưa rõ tác giả sáng tác trong hoàn cảnh cụ thể nào (đi sứ TQ hay ở VN). Chỉ biết sau khi đọc xong phần dư (những bài thơ còn sót lại hay khi đọc tập truyện kí ghi chép về cuộc đời nàng Tiểu Thanh) rồi sáng tác bài thơ này b. Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật. c Bố cục: – 2 câu đề: Nỗi lòng của nhà thơ trước lẽ biến thiên dâu bể của cuộc đời. – 2 câu thực: Nỗi xót xa cho kiếp người tài hoa bạc mệnh – 2 câu luận: Niềm cảm thông đối với những kiếp người hồng nhan, tài hoa mệnh bạc – 2 câu kết:Tiếng lòng khao khát tri âm. Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh luỵ phần dư. Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Dịch nghĩa Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi, Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết[2], Văn chương không có mệnh mà cũng bị đốt dở. Những mối hận cổ kim khó mà hỏi trời được, Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã[3]. Không biết hơn ba trăm năm sau nữa, Thiên hạ có ai khóc Tố Như không[4]? Dịch thơ (Vũ Tam Tập) Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang, Thổn thức bên song mảnh giấy tàn. Son phấn có thần chôn vẫn hận, Văn chương không mệnh đốt còn vương. Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang. Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng? 1. Hai câu đề: Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. (Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang, Thổn thức bên song mảnh giấy tàn). Cảnh Tây hồ trong sự đối lập xưa và nay: Xưa huy hoàng rực rỡ. Nay hoang phế, điêu tàn. – “tẫn”: đứt đoạn, hết → một sự thay đổi triệt để của cảnh vật → Nghệ thuật đối lập, tượng trưng → mượn sự thay đổi của cảnh vật để nói về sự thay đổi cuộc đời nàng Tiểu Thanh. Đây cũng chính là sự biến thiên dâu bể – một sự thay đổi lớn trong cuộc đời nàng. → tâm trạng buồn,tiếc nuối, cảm thương mà bất lực Tâm trạng của nhà thơ: – “Độc điếu”: viếng một mình – “nhất chỉ thư”: một tập sách → Viếng một mình, bằng cách đọc tập sách còn sót lại. Đó là thái độ trân trọng, thành kính đối với người đã khuất. Nhà thơ thổn thức, không yên ổn trước vẻ đẹp lý tưởng của một con người tài hoa. Thương cảm, xót xa cho cuộc đời và số phận của nàng Tiểu Thanh. Hai câu thơ như một tiếng thở dài trước lẽ “biến thiên dâu bể” của cuộc đời và niềm thổn thức của một tấm lòng nhân đạo lớn. 2. Hai câu thực: Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh luỵ phần dư. (Son phấn có thần chôn vẫn hận, Văn chương không mệnh đốt còn vương) – Son phấn: hình ảnh ẩn dụ về sắc đẹp→ chôn vùi – Phần dư: những bài thơ còn sót lại- hình ảnh ẩn dụ về tài năng →bị đốt – Nghệ thuật đối: 3 >< 4 -> Tài sắc vẹn toàn nhưng chịu nhiều bất hạnh, ngang trái -> Tác giả xót thương cho số phận của nàng Tiểu Thanh, phẫn nộ trước quy luật của nghiệt ngã, oan trái, bạc bẽo của kiếp người “tài hoa bạc mệnh” => Tấm lòng tri âm, thương cảm sâu sắc của Nguyễn Du trước cuộc đời, số phận oan trái của người sắc tài kì nữ khiến trời đất ghen. Qua đó nhà thơ tố cáo xã hội phong kiến đã vùi dập con người có tài sắc. Nguyễn Du ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của Tiểu Thanh như ca ngợi vẻ đẹp hoàn thiện, hoàn mĩ. Đặt trong hoàn cảnh xã hội cũ, người phụ nữ bị khinh miệt mà ông vẫn ca ngợi đó chính là bản lĩnh và cái nhìn tiến bộ của Nguyễn Du. Số phận của nàng Tiểu Thanh cùng với tập thơ của nàng còn ẩn chứa nỗi đau tận cùng của Nguyễn Du về số phận của “hồng nhan” về cái tài, cái đẹp bị giày xéo, bị chôn vùi trong bể khổ của cuộc đời. Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. (Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang) – “Cổ kim hận sự”: mối hận của người xưa và người nay. + Người xưa: nàng Tiểu Thanh và những người phụ nữ cùng cảnh ngộ. + Người nay: những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh, tài mệnh tương đố cùng thời với Nguyễn Du và thế hệ những nhà thơ tài năng nhưng gặp nhiều khổ đau, bất hạnh trong cuộc đời như Nguyễn Du. – “thiên nan vấn”: khó mà hỏi trời được, khó mà tìm được một lời giải đáp. => Từ số phận của Tiểu Thanh, nhà thơ khái quát hiện thực: Sự bất công với người tài sắc trở thành một định lệ. -“Phong vận kì oan”: nỗi oan trái của người phong lưu, tài tình. – “ngã tự cư”: ta tự mang. => Nhà thơ tự coi mình cùng hội cùng thuyền với những người phong lưu tài tử. – Đồng cảm sâu sắc với những kiếp tài hoa, khóc cho người và cũng là khóc cho mình. => tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du ( Viết về người cũng là viết về mình. Câu thơ thật da diết và cảm động) Tiểu Thanh hận chồng, hận người vợ cả phủ phàng khiến nàng phải chết trong buồn khổ,hận xã hội phong kiến không biết trân trọng người tài sắc. – Liên hệ: “Một câu hỏi lớn không lời đáp Cho đến bây giờ mật vẫn chau” (Các vị la hán chùa Tây Phương của Huy Cận) Đây không phải là nỗi băn khoăn và bất lực của riêng Nguyễn Du mà của chung của cả thời đại ông. Đến đây, câu chuyện có phải dừng lại ở số phận của những người phụ nữ tài, sắc nữa mà là của cả thế hệ, của cả nhân gian. Những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh, tài mệnh tương đố cùng thời với Nguyễn Du và thế hệ những nhà thơ tài năng nhưng gặp nhiều khổ đau, bất hạnh trong cuộc đời như Nguyễn Du.Nguyễn Du tự coi mình cũng giống như nàng Tiểu Thanh kia, cũng tài hoa mà bạc mệnh.đặt trong hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ, cách nói của ông mang tính nhân văn sâu sắc: Ông coi Tiểu Thanh ngang tầm với mình cùng bạc mệnh, cùng số phận đau thương. Nguyễn Du đã thấy tất cả những người tài hoa trong xã hội phong kiến đều có chung số phận gian truân, nghiệt ngã “Tài mệnh tương đố”, “Tài hoa bạc mệnh”. Từ cảm thông cho Tiểu Thanh, tác giả khái quát lên thành niềm thương cảm cho số phận của nhiều kiếp người “Sắc tài sao lắm truân chuyên” Hai câu thơ là sự cảm thông cao độ của tác giả dành cho Tiểu Thanh, coi chuyện oan khuất của Tiểu Thanh là của mình: trót sinh ra, trót mang lấy nghiệp vào thân, trót có tài, trót có sắc thì đành phải chịu để đời đánh ghen, đùa cợt, khốn khổ. Hai câu thơ đều là 2 câu hỏi không lời đáp, là bi kịch không thể giải thoát, là nỗi day dứt triền miên trước quy luật tai quái của xã hội cũ: tài hoa- bạc mệnh. d. Hai câu kết: Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng?) – Con số “ba trăm năm lẻ”: thời gian lâu dài về sau (không cụ thể) – “Người đời …………chăng?”: câu hỏi tu từ đầy day dứt, trăn trở: ->buồn thống thiết như cứa vào lòng→cô đơn, cô độc trong hiện tại -> niềm khao khát tri âm. ->Từ thương người đến thương mình Khóc Tiểu Thanh, Nguyễn Du “trông người lại nghĩ đến ta” và hướng về hậu thế tỏ bày nỗi khao khát tri âm của mọi kiếp người tài hoa mà phải chịu đau khổ trên đời.(Nói cách khác: niềm tự thương, tự đau đến cực độ: thương mình cô độc không ai tri ân, tri kỉ trong cuộc đời này→ nỗi đau đời của Nguyễn Du). Từ quy luật nghiệt ngã của cuộc đời, nhà thơ nghĩ đến cuộc đời mình: khóc cho chính mình. Con số 300 năm lẻ ở đây có ý nghĩa sâu sắc. Nguyễn Du khóc cho Tiểu Thanh cách hơn 300 năm sau, có lẽ có sự lieân tưởng đến mình. Tiểu Thanh mất, sau 300 năm có ND khóc thương, an ủi→niềm hạnh phúc cho Tiểu Thanh. Còn khi ND mất không biết có ai đồng cảm, khóc cho ông không? Câu thơ là nỗi dằn vặt, cô đơn mòn mỏi, không tin là mình sớm tìm được sự thông cảm, chia sẻ. Chuyện 300 năm trước đã thành chuyện của Nguyễn Du, chuyện trước mắt. Điều đặc biệt, cảm hứng nhân văn của bài thơ còn ở chỗ: không chỉ đề cao vẻ đẹp của con người, của người phụ nữ nói riêng; Nguyễn Du còn thể hiện sự trân trọng giá trị tinh thần to lớn của con người và hơn thế: trong quan niệm vô ngã phi ngã của văn chưong trung đại, bài thơ là một hiện tượng hiếm hoi khi đã kết hợp giữa thương người và thương mình vào một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật ngắn ngủi vượt ra ngoài quy luật chung của xã hội phong kiến. Với ngôn ngữ giàu triết lí, hàm súc, tinh tế, sử dụng tài tình phép đối và khả năng thống nhất những mặt đối lập trong hình ảnh, ngôn từ, sự phá cách khuôn mẫu của thơ Đường luật, bài thơ biểu lộ sâu sắc niềm cảm thương mà Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh và tâm sự khao khát tri âm về hậu thế ; vẻ dẹp chủ nghĩa nhân đạo nguyễn Du. Kết luận: Độc Tiểu Thanh kí là một bài thơ tuân thủ chặt chẽ luật Đường thi nhưng vẫn lộ ra tài năng độc đáo của Nguyễn Du bởi bút pháp trữ tình hàm súc, thâm thuý; mỗi câu thơ như chứa đựng cả một thế giới cảm xúc của một nghệ sĩ lớn. Bài thơ từ tiếng khóc cho số phận Tiểu Thanh, cũng là tiếng khóc cho số phận con người tài hoa bạc mệnh, cho cái Đẹp bị vùi dập và đặc biệt nó còn là tiếng khóc, là nỗi khát thèm tri âm tri kỉ của chính Nguyễn Du.
Phân tích ý nghĩa bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du
2,213
Đề bài: Phân tích ý nghĩa bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo Gợi ý Bát cháo hành là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm Chí Phèo góp phần thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm: – Bát cháo ấy không những giúp Chí thoát khỏi trận ốm “thừa sống thiếu chết” mà hơn hết,nó là liều thuốc khai sáng cho quãng đời tội lỗi của Chí Phèo. – Chí sung sướng hạnh phúc khi cảm nhận được vị ngọt của tình yêu qua bát cháo hành của Thị. Vì vậy, bát chào hành của Thị chất chứa tình yêu thương chân thành đã biến Chí từ một thằng lưu manh chuyên rạch mặt ăn vạ thành một anh nông dân lương thiện với biết bao cảm xúc,nghĩ suy của một con người khát khao được trở về với XH loài người.Bát cháo đầy tình yêu thương của Thị đã giúp Chí rũ bỏ lốt quỷ để trở lại làm người. – Tuy nhiên,hương vị của bát cháo hành cũng làm tăng thêm bi kịch mồ côi của Chí Phèo. Hương vị bát cháo hành cũng là hương vị tình yêu của Thị Nở,làm xúc động Chí,đây là lần đầu tiên Chí có tình cảm của một con người: bâng khuâng buồn,vui hồn nhiên như đứa trẻ “muốn làm nũng với thị như với mẹ”. Tham khảo: Không hiểu sao khi đọc “Chí Phèo” của Nam Cao tôi luôn luôn hình dung ra một con đường in bóng hình những bước chân loạng choạng, ngật ngưỡng đầy phẫn uất của một Chí Phèo say – tỉnh. Và trên con đường – hành trình đời đầy nỗi đau và bi kịch ấy, những giây phút hạnh phúc, những cử chỉ yêu thương mà Chí được hưởng thật hiếm muộn như những giọt nước trên sa mạc mênh mông. Song dù chỉ là một giọt nước giữa sa mạc đời bao la của Chí thì bát cháo hành của thị Nở vẫn làm tròn nhiệm vụ của một nguồn nước mát lành góp phần thức tỉnh, hồi sinh tâm hồn Chí sau bao tháng năm đọa đày trong kiếp sống của con quỷ dữ. Cùng với những ám ảnh về bi kịch nhân sinh của con người, hương cháo hành thoang thoảng trong“Chí Phèo” mãi mãi còn vương vấn trong hồn người đọc như một biểu tượng của tình cảm nhân đạo sâu sắc đậm đà trong siêu phẩm này. Hình ảnh “bát cháo hành” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo trong truyện gắn liền với mối tình “đôi lứa xứng đôi” Chí Phèo – thị Nở. Trước khi gặp thị, Chí đã từng là một người nông dân lương thiện, hiền lành như cục đất. Con người ấy dù có tuổi thơ bất hạnh, bị chuyên tay như một món hàng nhưng vẫn giữ trọn những vẻ đẹp tâm hồn cao quý, thiêng liêng của một đời lương thiện, biết phải trái, đúng sai, biết tự trọng. Nhưng bàn tay của bọn cường hào phong kiến (mà đại diện là Bá Kiến) và cái nhà tù thực dân không cho con người hiền ấy sống đời lương thiện. Chúng hùa với nhau, tước đi của Chí cả nhân hình, nhân tính của người nông dân lương thiện, để biến anh Chí thành thằng Chí Phèo, biến anh canh điền hiền lành, chăm chỉ thành kẻ lưu manh có mỗi một nghề là rạch mặt ăn vạ. Sau 7, 8 năm đi khỏi làng Vũ Đại, Chí Phèo hồi hương trong tình cảnh vô sản “trần như nhộng”. Sự hiện hữu của Chí Phèo ở làng Vũ Đại là một con số “không” tròn trĩnh, không nhà không cửa, không bạn bè người thân, không một tấc đất cắm dùi, không được thừa nhận là một con người. Đó là cái bi kịch đau đớn của con người cô đơn đi giữa đồng loại. Chí chửi mong nhận được sự hồi đáp – dù là sự hồi đáp thấp hèn nhất nhưng cũng không có. Chẳng ai cho Chí chút quan tâm, không ai coi hắn là người. Hắn chửi vào khoảng không bao la của sự vô tình, lạnh lẽo. Hắn chửi thì tai gần miệng đấy, hắn lại nghe. Chỉ còn một thằng say rượu cùng ba con chó dữ. Còn gì thê thảm hơn thân phận của con người ấy – thân phận của con người – vật. Cái lần đầu tiên ra tù rồi đến nhà Bá Kiến chửi đổng hình như Chí Phèo đã lờ mờ nhận ra kẻ thù đã dìm mình xuống vũng bùn tha hóa. Nhưng ở cái mảnh đất “quần ngư tranh thực” này, trước một Bá Kiến gian hùng, “khôn róc đời”, Chí Phèo thật thảm hại biết bao. Chí không những không trả thù được mà còn trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến – kẻ thù của mình, tiếp nối đời Năm Thọ, Binh Chức. Từ đó Chí Phèo trượt dài trên con dốc tha hóa, xuống đáy vực của nó để thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Người ta tránh hắn, sợ hắn vì hắn làm bao nhiều việc cướp bóc, đốt phá, làm chảy máu và nước mắt của bao người lương thiện. Hắn làm tất cả những việc ấy trong cơn say triền miên, vô tận, đến nỗi chính hắn không biết về chính bản thân mình. Gương mặt quỷ dữ, hành động tác quái theo kiểu quỷ dữ của Chí đã khiến con đường trở về của Chí cụt lối. Cánh cửa của xã hội lương thiện đã đóng sầm trước mặt hắn khi hắn hồi hương thì đến nay nó được chèn cài kỹ lưỡng, im ỉm như một khối băng. Chí hiện diện như một bóng hình hắc ám đi bên lề cuộc sống của làng Vũ Đại. Thế nhưng, phía cuối đường hầm vẫn còn chút ánh sáng le lói để Chí hy vọng. Trong cái làng Vũ Đại ấy vẫn còn một con người nhìn đến Chí, không sợ Chí Phèo và luôn đi qua vườn nhà Chí để kín nước. Đó là một người đàn bà khốn nạn, khổ đau, chịu nhiều thiệt thòi – thị Nở. Chao ôi! Sao Nam Cao lại dùng những lời văn lạnh lùng đến tàn nhẫn, mỉa mai để tả người đàn bà khốn khổ ấy? Đã mang một dung nhan “xấu ma chê quỷ hờn”, Thị lại còn dở hơi “ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích”, mà thị lại còn nghèo nếu trái lại thì ít nhất có một người đàn ông khổ sở. Chưa hết, thị Nở còn có dòng giống mả hủi nên người ta vẫn tránh thị như tránh một con vật rất tởm. Ngoài 30 tuổi thị vẫn chưa lấy chồng trong khi ở cái làng Vũ Đại người ta kết bạn từ lúc lên tám, lên chín, có con từ lúc 15, không đợi đến năm hai mươi đẻ đứa con thứ nhất. Trong tình hình đó ta có thể nói quách thị không có chồng. Ông trời nhiều khi run rủi, thương người nhưng thực sự ở trường hợp Chí Phèo – thị Nở này ta có thể nói ông thương hay ông ác, gây nghịch cảnh trớ trêu? Trách trời chi cho xa, trách nhà văn Nam Cao sao không tác thành cho mối tình “đôi lứa xứng đôi” ấy? Song làm sao mà tác thành được, ai cho phép họ đến với nhau. Cả một xã hội với bao định kiến không cho họ đến với nhau, không cho họ hạnh phúc trọn vẹn. Xét đến cùng ta mới thấy Nam Cao thương người, nếu không có ngòi bút của ông thì những kẻ tha hóa như Chí Phèo, những người đàn bà cùng khốn như Thị Nở chẳng bao giờ được biết đến chút ít hạnh phúc của tình ái. Họ đã gặp nhau trong một đêm gió mát, rười rượi ánh trăng ở vườn chuối cạnh bờ sông mà những tàu chuối bị gió bay lại giẫy lên đành đạch như là hứng tình. Khung cảnh lãng mạn đang tác thành cho họ. Chí Phèo uống rượu ở nhà Tự Lãng đã say từ nửa đường; thị Nở đi kín nước cũng hớ hênh tựa vào gốc chuối ngủ trong cái gió mát như quạt hầu. Hai con người dị dạng, hai số phận trớ trêu đã trải qua một đêm tình lãng mạn đúng kiểu “Chí Phèo – thị Nở”. Nhưng Nam Cao dựng lên mối tình “người – ngợm” này không phải để câu khách rẻ tiền mà làm tỏa sáng tình người, tình yêu thương và sự săn sóc ấm áp của một người đàn bà xấu xí ngoại hình nhưng lại có một tấm lòng vàng. Đêm tình ấy khiến thị Nở xao xuyến, suy nghĩ nhiều, đặc biệt về Chí Phèo, về trận ốm của Chí. Thị về nhà sau cuộc tình, sau khi dìu Chí vào nhà và trằn trọc không sao ngủ được. Thị nghĩ “thổ trận ấy thật là phải biết. Cứ gọi là hôm nay nhọc nhừ”. Và thị thấy phải cho hắn ăn một tí gì mới được, “Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành. Ra được mồ hôi thì là nhẹ nhõm người ngay đó mà”. Thế là vừa sáng thị đã chạy đi tìm gạo để nấu cháo cho Chí. Hành thì nhà thị may lại còn. Nam Cao đã miêu tả chiều sâu tâm lý nhân vật với những rung cảm, nhưng suy tư tinh tế. Tâm lí của thị Nở vừa rất ngô nghê lại vừa sâu sắc. Đó là rung cảm, những tình cảm tha thiết của một người đàn bà, nhất là một người đàn bà đang yêu và muốn chăm sóc cho người yêu của mình. Thị không dở hơi mà ta thấy thị rất lo cho Chí, lo với tình cảm của nhân tình, nhân ngãi, của người làm ơn và cũng là của người chịu ơn. Thị nghĩ: “mình bỏ hắn lúc này cũng bạc. Dẫu sao cũng đã ăn nằm với nhau như “vợ chồng”. Tiếng “vợ chồng” thấy ngường ngượng mà thinh thích…”. Thiên tính nữ, thiên chức của người đàn bà thức dậy trong thị. Thị khao khát hạnh phúc, tình yêu như mọi người, dù chỉ là làm vợ của thằng… Chí Phèo. Cho nên bát cháo hành của thị Nở đem cho Chí không chỉ là trách nhiệm mà còn là cả một tấm lòng. Hơn tất cả những người đẹp đẽ ở làng Vũ Đại, thị có một tấm lòng vàng, tấm lòng chân thành và cao cả. Trong thâm tâm của thị, thị lo cho Chí, một nỗi lo thực sự của những người thân yêu dành cho nhau. Thị còn thấy thương Chí: “cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình”. Đồng thời bát cháo ấy còn có lòng yêu, tình yêu: “Thị thấy như yêu hắn: đó là cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có cả lòng yêu của một người chịu ơn”. Cho nên, thị đem cho Chí nồi cháo hành còn nóng nguyên để hắn ăn cho khỏi ốm. Hơn một chi tiết nghệ thuật, bát cháo hành của thị Nở đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật, một siêu mẫu trong văn học hiện đại Việt Nam. Bát cháo ấy do thị Nở nấu có thể chẳng mấy ngon nhưng quan trọng nó là tình thương, tình yêu, tình người ấm áp. Nó là sự chăm sóc ân cần mang theo những nỗi lo âu thực sự của tấm lòng thị Nở dành cho Chí. Đặt trong quãng đời dài dặc đầy bi kịch của Chí, trong hoàn cảnh dưới đáy hiện tại của Chí, bát cháo ấy là tình người hiếm hoi mà Chí nhận được, là hạnh phúc tình yêu muộn mằn, quý giá vô ngần mà lần đầu tiên trong đời hắn được hưởng. Hương vị cháo hành – hương vị tình yêu tỏa sáng, vượt lên hoàn cảnh, lên trên mọi định kiến của xã hội. Nó mãi mãi còn thoang thoảng, lan tỏa theo suốt cuộc đời của Chí. Một điều độc đáo ở đây là Nam Cao đã miêu tả quá tình diễn biến tâm lý nhân vật Thị Nở rất tinh, rất sâu theo một tiến trình, một quá trình. Cách miêu tả tâm lý ấy cộng hưởng cùng nghệ thuật đối lập (giữa ngoại hình và tâm hồn nhân vật thị Nở) khiến mỗi người đọc cũng xúc động rưng rưng cùng nhân vật. Hóa ra Nam Cao không thóa mạ, hay hạ thấp con người bằng những nét vẽ ngoại hình trần trụi, mà ngược lại, ông đề cao, tôn vinh con người. Vẻ đẹp cao quý nhất của con người là vẻ đẹp tâm hồn, là tình người, là tấm lòng cao cả. Đó là tiêu chuẩn, là thước đo giá trị người của con người. Nhìn như thế, ta sẽ thấy Thị Nở là người phụ nữ đẹp nhất làng Vũ Đại và đẹp nhất trong văn học Việt Nam. Nói Thị Nở đẹp không hề quá đáng bởi bát cháo hành kia đâu chỉ là tình thương, tình yêu, là sự chăm sóc ân cần mà nó có tác dụng diệu kỳ – cảm hóa con người, thức tỉnh phần người, phần nhân tính bị vùi lấp bao lâu nay trong Chí Phèo. Nói đúng hơn là Thị Nở đã thức tỉnh Chí, cứu vớt Chí, làm hồi sinh tâm hồn, nhân tính trong Chí. Điều đó không phải ai cũng làm được. Và như thế, ta thấy chi tiết bát cháo hành không thể thiếu trong tác phẩm. Nó thể hiện tình cảm, tư tưởng nhân văn sâu sắc của nàh văn Nam Cao. Ông luôn luôn băn khoăn, trăn trở về vấn đề nhân tính của con người. Ông luôn mang trong mình niềm tin mãnh liệt vào con người, vào phần lương thiện thiêng liêng, quý báu trong mỗi con người. Thiên lương ấy không bao giờ bị mất đi, không một thế lực nào giết được. Nó như một thứ lửa luôn âm ỉ cháy trong trái tim của con người, kể cả những con người ở giữa vũng bùn lầy của sự tha hóa như Chí Phèo – không còn chút nhân hình, nhân tính nào nữa – theo cái nhìn từ bên ngoài, từ người ngoài. Những dòng Nam Cao miêu tả Chí Phèo ăn cháo hành có thể nói là những dòng văn sâu sắc, xúc động nhất tác phẩm. Nhìn thấy bát cháo hành “Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì…”. Chí đi từ ngạc nhiên đến xúc động nghẹn ngào. Đây là lần thứ nhất trong đời hắn khóc sau những năm tháng bị đọa đày và cũng là lần thứ nhất trong đời hắn nhận được một thứ người ta cho, cho vô tư, không tính toán. Hắn không phải dọa nạt hay cướp giật mà vẫn có được. Quan trọng, đây là lần đầu tiên trong đời Chí được một người đàn bà quan tâm, săn sóc, dành tình cảm cho; cũng là lần đầu tiên sau khi ra tù Chí được một con người nhìn nhận mình như một con người, đối xử với mình theo cách con người dành cho nhau. Và hắn thấy thị có duyên bởi trong mắt kẻ si tình người yêu của mình bao giờ chẳng đẹp, chẳng duyên. Để rồi sau đó, Chí Phèo tỉnh, tỉnh để suy tư, chiêm nghiệm. Chí thực sự đã tỉnh rượu, đã tỉnh ngộ và ý thức được về cuộc sống sau những tháng năm say triền miên, vô tận, say để không biết có sự hiện hữu của mình trên cõi đời. “Hắn thấy vừa vui, vừa buồn. Và một cái gì nữa giống như là ăn năn”. Chí cảm nhận được tất cả vị thơm ngon của nồi cháo hành: “Trời ơi cháo mới thơm sao! Chỉ khói xông lên mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm. Hắn húp một húp và nhận ra rằng: Những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo hành rất ngon…”. Hơi cháo hành, bàn tay chăm sóc và tình cảm của thị Nở đã làm cho Chí tỉnh, tỉnh để mà nhận ra mình, nhận thức về những việc mình đã làm. Hơi cháo làm Chí nhẹ người, chí khỏi ốm để ăn năn, sám hối. Hơn lúc nào, Chí cảm thấu tình cảnh thê thảm, bi đát của mình cho nên hắn vừa vui lại vừa buồn. Vui vì tình yêu, hạnh phúc muộn mằn, dù muộn nhưng đã đến; buồn vì thân phận, vì cuộc sống quá loài vật của bản thân. Cháo hành rất ngon nhưng “tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo?”. Hắn hỏi rồi hắn tự trả lời: “có ai nấu cho mà ăn đâu? Mà còn ai nấu cho mà ăn nữa! Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà”. Thê thảm quá! Bi kịch quá! Xót xa muôn phần! Một chút gì như cay đắng nghẹn lòng nữa! Chí nghĩ đến những tháng ngày nhục nhã bị bà ba nhà Bá Kiến – “con quỷ cái” cứ hay gọi hắn đấm lưng, bóp chân “mà lại cứ bắt bóp lên trên, trên nữa”. Hắn thấy nhục chứ sung sướng gì. “Hai mươi tuổi người ta không là đá, nhưng cũng không hoàn toàn là xác thịt. Người ta không thích những cái người ta khinh …”. Rõ ràng đến đây, Chí hiện lên là một chân dung con người đầy đủ, vẹn toàn có cả quá khứ, hiện tại, có những suy nghĩ sâu xa, những tâm trạng phong phú, ý thức đầy đủ về bản thân. Người nông dân lương thiện trong Chí đang trở về sau những năm tháng dài bị đi đày xa tắp. Nhưng có ai nhận thấy đâu, họa chăng chỉ có thị Nở vì thị thấy chí rất hiền, “ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người?” Nam Cao vốn là một nhà văn có cái nhìn đời thấu suốt, tinh sắc. Ông không dừng lại ở sự thức tỉnh của Chí Phèo nhờ bát cháo hành mà ông còn đưa người đọc đi xa hơn đến chân trời ước mơ, hy vọng của Chí. Với ước mơ quá khứ sống dậy, ước mơ trong hiện tại bùng cháy thiêu đốt tâm can, Chí đã thực sự hồi sinh, là một con người hoàn toàn theo đúng nghĩa của hai chữ CON NGƯỜI viết hoa (chữ của M.Gorki). Bát cháo húp xong, thị Nở đỡ lấy bát và múc thêm bát nữa. Hắn thấy đẫm bao nhiêu mồ hôi, những giọt mồ hôi to như giọt nước. Chí biết mình đã đến cái dốc bên kia của cuộc đời và chí thấy “thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn sao người khác không thể… Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện”. Hạnh phúc chớm nở như hoa hàm tiếu và hy vọng được nhen lên rồi bùng cháy mãnh liệt như ngọn lửa được tiếp ôxi. Chí khao khát cuộc đời lương thiện, muốn làm hòa với mọi người. Thị Nở sẽ là cầu nối, là hy vọng, mở ra cánh cửa của thế giới lương thiện vẫn đóng im ỉm cho Chí. Bát cháo hành của tình yêu, tình người đã làm tươi lại, thanh lọc tâm hồn Chí. Cái ước mơ của Chí rất giản dị mà thiêng liêng, cao cả xiết bao. Nó mang tư tưởng nhân văn sâu sắc, mới mẻ của nhà văn Nam Cao. Bởi đã là con người, dù dị dạng, dù tha hóa nhưng họ vẫn có quyền được sống lương thiện, vẫn không thôi ước mơ, không hết sự khát thèm cuộc đời bình dị trong hạnh phúc và tình yêu. Song xã hội lương thiện mà Chí Phèo thấy bằng phẳng kia không hề bằng phẳng. Nó còn bao định kiến, bao sự cách ngăn, bao điều nghi kỵ. Tất cả đã không cho Chí một cơ hội nào trở về cuộc đời bình thường như bao người bình thường. Bị thị Nở cự tuyệt, hắn phẫn uất, cùng cực tìm đến rượu. Nhưng hắn “càng uống lại càng tỉnh ra”. “Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành”. Hơi cháo hành ấy là dư ảnh của bát cháo kia xuất hiện lần cuối để giữ Chí lại bên bờ tỉnh, để hắn tự ngấm, tự thấm bi kịch nhân sinh cuộc đời. Tất cả hy vọng của Chí đã tan biến theo làn khói hành mong manh, hư ảo. Nhưng hắn không thể sống như trước nữa vì hắn đã tỉnh, hắn vẫn không thôi ước mơ. Chí khóc rưng rức trong tuyệt vọng, trong những tỳ vết tâm hồn, những vết cứa, vết xước của tội ác trong tim hắn biểu hiện lên khuôn mặt dị dạng của hắn vĩnh viễn không thể mất đi. Tất cả đưa Chí Phèo đến kết cục bi thảm, cùng cực khiến người đọc bao năm nay vẫn thôi day dứt trong ám ảnh về những câu nói của Chí: “Ai cho tao lương thiện? … Tao không thể làm người lương thiện nữa…” Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật song chỉnh thể ấy chỉ có được từ sự phối hợp hài hòa các yếu tố nhỏ hơn, thậm chí chỉ là một chi tiết. Một chi tiết nhiều khi mang sức nặng, cất chứa toàn bộ tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm, là chìa khóa thâm nghập vào thế giới nghệ thuật trong tác phẩm. Chi tiết bát cháo hành mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao thật ấn tượng, mang nhiều ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc. Nó thúc đẩy sự phát triển, tạo bước ngoặt cho cốt truyện. Đồng thời, nó cũng đầy ám gợi để khắc họa sắc nét, tinh tế thế giới tâm hồn, diễn biến tâm trạng phong phú, phức tạp của các nhân vật. Từ đó, chi tiết làm bật nổi tính cách và bi kịch của các nhân vật ấy như những hồi chuông gióng giả, vang vọng đầy ám ảnh về con người. Bát cháo hành của thị Nở có thể không thể toàn vẹn, thơm tho như chính con người nhân vật nhưng nó là bát cháo của tình yêu thương, của tình người ấm áp, của tình cảm nhân đạo sâu sắc và mối quan hoài thường trực mà nhà văn Nam Cao dành cho con người, nhất là con người có số phận bi kịch. Chính cái nhỏ nhoi, bình dị ấy là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên tầm vóc kinh điển cho kiệt tác “Chí Phèo”.
Phân tích ý nghĩa bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo
3,928
Phân tích ý nghĩa bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh Hồ chí Minh không những là nhà lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mà còn là một nhà văn, nhà thơ xuất sắc. Tiêu biểu trong số những tác phẩm mà người để lại thì phải kể tới tuyên ngôn độc lập. Đó không chỉ là một ánh văn chính luận hay sắc sảo mà còn có những lập luận rất chặt chẽ mang tới một ý nghĩa giống như một bản tuyên ngôn nhằm khẳng định được sự độc lập đất nước- đó chính là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Có thể nó rằng bản tuyên ngôn độc lập này ra đời đã mang một tầm vóc lớn cho dân tộc ta. Đó chính là khi cách mạng tháng 8 thắng lợi, thành công rực rỡ nhưng ngay sau đó thì Mỹ nhảy vào nước ta với tham vọng đó chính là chiếm nước ta. Chúng đã kéo theo bọn tay sai, bọn phản động và các đồng minh của chúng. Trước tình hình cấp bách đó, Hồ Chí Minh đã đọc lên bản tuyên ngôn độc lập này để khẳng định chủ quyền của đất nước Việt Nam. Mở đầu cho bản tuyên ngôn, đầu tiên Bác đã nên ra một nguyên lí mang tính tổng quát cao đó là: “ tất cả mọi người sinh ra và các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Có thể nói đây chính là một đoạn văn vừa khéo léo lại vừa tinh tế. Hồ Chí Minh đã khẳng định điều đó qua những trích dẫn về những lời lẽ mà người đi trước của Phá và Mỹ đã ghi trong hai bản tuyên ngôn của họ. Nó đã trở thành những lí lẽ bất hủ mà không thể ai có thể chối cãi được điều này. Cách dẫn dắt ấy còn thể hiện được cả sự khéo léo tài tình ở chỗ Bác ngầm ý đặt ngang hàng 3 bảng tuyên ngôn độc lập, ba cuộc đấu tranh ngang nhau. Đó giống như là một ánh thiên cổ hùng văn của Nguyễn Trãi. “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương” Sự khéo léo còn được thể hiện ở những câu nói như là “suy rộng ra”. Đó là tất cả mọi con người sinh ra ở trên thế giới thì đều có quyền bình đẳng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc. Và chính những lí lẽ đó thì không thể nào mà có thể chối cãi được. Sang đoạn kế tiếp tác giả đã vạch ra mọi tội ác của kẻ thù. Bắt đầu đoạn này bằng từ “thế mà” thể hiện được sự khác nhau, sự trái ngược giữa hành động và lí thuyết suông của chúng. “Thứ nhất về chính trị thì chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta chút quyền tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man, lập ba chế độ khác nhau giữa ba miền để nhằm ngăn chặn cho nhan dân ta đoàn kết lại đấu tranh chống Pháp. Không những thế chúng còn tắm nhân dân ta trong những bể máu” Chỉ với đoạn này chúng ta đã thấy biện pháp liệt kê mà Bác sử dụng rất có hiệu quả để buộc tội chúng ở trên mọi lĩnh vực. Mỗi câu chữ, mỗi khi liệt về về một mặt nào đó thì lại được Người tách ra thành những đoạn riêng, điệp từ đó được nói lên để cho thấy rằng nhân dân ta khinh bỉ vô cùng với những tội ác của chúng. Sau khi bẻ gãy được những tội ác đó thì Bác đã đi tới một kết luận khẳng đinh: “dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng tự do hạnh phúc”. Chính vì vậy mà phần cuối tác giả đã nêu lên: “ Chúng tôi chính phủ lâm thời tuyên bố thoát li…Việt Nam”. Người đã kêu gọi toàn bộ người dân của Việt Nam hãy có sự đoàn kết để đứng lên chống lại những âm mưu của chúng, để cho chúng không đạt được mục đích đen tối của mình. Không những vậy, Người còn kêu gọi cả sự ủng hộ của toàn bộ của nhân dân thế giới và thay mặt cho toàn thể cho người dân thì người đã quyết cho dù phải hi sinh xương máu thì cũng phải giữ vững độc lập cho dân tộc, cho nước nhà. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích ý nghĩa bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
783
Phân tích ý nghĩa cao đẹp của tình bạn trong thời đại mới Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa cao đẹp của tình bạn trong thời đại mới Đôi khi sự bận rộn trong cuộc sống khiến người ta trở nên lãnh cảm, khiến con người ta sống và làm việc đều có tính toán và có mục đich. Tuy nhiên, trong một giây phút nào đó khi con người ta cô đơn, người ta sẽ thấy vật chất sẽ không thể sánh được bằng tình cảm, khi ấy người ta lại muốn có một người bạn tri kỉ “hoạn nạn có nhau”, chứ không phải những người bạn chơi với nhau đều có mục đích tính toán như ngoài xã hội kia. Bạn tri kỉ là người hiểu hết mọi thứ về bạn, luôn bên bạn những lúc bạn thành công, những lúc bạn khó khăn trong cuộc sống. Sự tồn tại của tình bạn chân thành bạn không thể nhìn thấy bằng mắt mà phải cảm nhân bằng trái tim. Một người có thể có rất nhiều bạn nhưng không phải ai cũng là bạn thân, ai cũng chân thành. Xã hội của chúng ta đang phát triển, đất nước con người cũng đang phát triển. Tuy nhiên cái gì cũng có hai mặt của nó, đất nước phát triển thì sẽ giúp giá trị vật chất của con người ta tăng cao, nhưng giá trị về tính nhân văn giữa con người dường như bị xuống cấp. Nếu thế hệ cha ông ta có những người bạn vào sinh ra tử, sống chết có nhau, thì đến xã hội của chúng ta tình bạn bao gồm nhiều thứ tiền bạc, sắc đẹp, địa vị… nó không còn đơn giản là chúng ta chơi với nhau vì tình bạn nữa. Hôm vừa rồi tôi có đọc một bài viết trên mạng có tựa đề “bị bạn thân cướp mất người yêu” qua bài báo ấy tôi nhận ra rằng ở thế hệ của tôi không thể tin tưởng một ai được dù là bạn thân hay không thân. Vì càng ngày con người ta sống với nhau càng có sự tính toán, tôi thử hỏi rằng ai cũng suy nghĩ như tôi ai cũng bi quan về tình bạn như vậy thì xã hội chúng ta sẽ như thế nào? Khi viết về tình bạn tôi lại nhớ đến câu nói rất hay của Các Mác”tình bạn chân thành chính là viên ngọc quý”. Ngọc là một loại đá, kim loại rất cứng, có màu sắc đẹp và có giá trị vật chất cao. Ngọc có nhiều loại, nhiều màu sắc bích ngọc, hồng ngọc, ngọc trai.. Tình bạn cũng vậy nó là một giá trị tinh thần không gì có thể so sánh được. Tình bạn cũng có nhiều loại, nhiều tầng lớp khác nhau bạn học, bạn lính, bạn đồng hương, bạn thân, bạn xã giao, bạn làm ăn. Các Mác đã dùng hình ảnh ngọc để nói về tình bạn, tình bạn vừa cao quý, vừa thiêng liêng, vừa đẹp nhưng lại có rất nhiều loại. Dù chúng ta có ở thời đại nào đi nữa thì tình bạn chân thành cũng là thứ không thể thiếu được. Tình bạn giữ một vị trí quan trọng giữa con người với con người. Nó giúp con người ta vượt qua mọi khó khăn. Tất cả những điều nói trên là ý nghĩa cao đẹp của tình bạn mà chúng ta luôn mong muốn vun đắp mỗi ngày càng thêm bền chặt, để cho tất cả chúng ta có cơ hội vươn cao, vươn xa hơn trên con đường đi tới vinh quang. Tình bạn giữ một vị trí quan trọng trong quan hệ của con người với con người. Tình bạn giúp con người vượt qua mọi khó khăn; và để đón lấy những vận hội mới đang chờ đợi phía trước nhất định phải dựa vào sự chân thành và trong sáng của tình bạn.
Phân tích ý nghĩa cao đẹp của tình bạn trong thời đại mới
664
Phân tích ý nghĩa chùm ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa Hướng dẫn 1. Khái niệm: Ca dao là lời thơ của dân ca thuộc loại trữ tình dân gian diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân thường được kể, ru, đọc, diễn xướng 2. Phân loại theo chủ đề: – Ca dao than thân – Ca dao yêu thương tình nghĩa – Ca dao hài hước, trào phúng 3.Nội dung: – Ca dao thường diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của người bình dân – Ca dao là những tiếng hát than thân, những lời ca trữ tình yêu thương tình nghĩa cất lên từ những cay đắng xót xa nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân 4. Đặc trưng nghệ thuật: Ca dao có đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu, ngôn ngữ: – Thể thơ: lục bát (chủ yếu) – Ngôn ngữ giản dị, gần gũi với lời nói hằng ngày – Có lối diễn đạt mang tính mô típ => Ca dao là viên ngọc quý của nhân dân. Ca dao diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ lứa đôi, gia đình, quê hương, đất nước… Ra đời trong xã hội cũ, ca dao trữ tình là những tiếng hát than thân, những lời ca yêu thương tình nghĩa cất lên từ cuộc đời còn nhiều xót xa, cay đắng nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân Việt Nam sau luỹ tre xanh, bên giấng nước, gốc đa, sân đình… Bên cạnh đó, cón có những bài ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan của người lao động. Phân tích ý nghĩa chùm ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa Bài 1: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai Bài ca dao mở đầu bằng mô típ “thân em” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. – “Thân em” chỉ cuộc đời, số phận người phụ nữ – So sánh “thân em” – như – tấm lụa đào: đẹp, thướt – “Tấm lụa đào” gợi vẻ đẹp thướt tha, mềm mại duyên dáng như cô gái ở tuổi thanh xuân tha, dịu dàng, mềm mại và duyên dáng như cô gái tuổi thanh xuân – “Phất phơ giữa chợ”: món hàng→ nỗi chua chát, buồn bã, âu lo. – “Biết vào tay ai”: cảm giác đắng cay của thân phận bấp bênh trong xã hội xưa. → Người phụ nữ ý thức vẻ đẹp tuổi xuân và giá trị của mình nhưng số phận thật chông chênh, chẳng khác gì một món hàng mua bán biết vào tay ai Bài ca dao là lời than của người phụ nữ về thân phận trôi dạt, bấp bênh và phụ thuộc, không thể làm chủ được tương lai, hạnh phúc của mình. Đó cũng là nỗi lo, nỗi khổ và nỗi đau thân phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến vốn tồn tại nhiều bất công, ngang trái. (Liên hệ: Tụ tình của Hồ Xuân Hương) Bài 2: Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Ai ơi, nếm thử mà xem! Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi – “Thân em”→ chỉ cuộc đời, số phận người phụ nữ “Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen – Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi” + Ngoài: hình thức xấu, thô mộc + Trong: trắng, đẹp, thuần khiết →Sự đối lập: ruột trong – vỏ ngoài; trắng – đen; hình thức – tâm hồn nhằm khẳng định phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ nhằm nhấn mạnh đến gí trị thực, phẩm chất bên trong của người con gái – “Ai ơi…mà xem” → mời mọc da diết, chủ động được kết bạn, giao duyên. Lời bộc bạch và mời gọi tha thiết tìm hiểu vẻ đẹp thực sự của họ. Em: ngọt bùi, thuần khiết→ là tấm lòng giàu yêu thương, chung thủy, thơm thảo → Nỗi ngậm ngùi, chua xót về thân phân. Họ khao khát tình yêu và hạnh phúc => Bài ca dao lời than thân ngậm ngùi và xót xa của người con gái khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi nhưng không tìm được sự đồng cảm. Đó còn là tiếng nói khẳng định vẻ đẹp và giá trị phẩm chất của họ. Vang lên ở hai bài ca dao là nỗi đau, sự ngậm ngùi, chua xót nhưng vẫn mang giá trị nhân văn sâu sắc. Bài 3: Trèo lên cây khế nửa ngày, Ai làm chua xót lòng này, khế ơi! Mặt trăng sánh với mặt trời, Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng. Mình ơi! Có nhớ ta chăng? Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời. – “Ai” là đại từ phiếm chỉ nhưng có ý nghĩa xác định→ đó là những người chia sẻ mối tình duyên (XHPK) – “Khế chua” =lòng người chua sót→ nghệ thuật chơi chữ rất tinh tế làm cho lời thaân thêm da diết và thấm thía – So sánh: mặt trăng với mặt trời; sao hôm với sao mai→ những hình ảnh vĩnh hằng không thể đổi khác được Nhằm khẳng định tình nghĩa thuỷ chung, bền vững – Tiếng gọi “mình ơi” + câu hỏi +“Ta như …trời” → khẳng định tình cảm son sắt, một tình yêu mãnh liệt của chàng trai. Tất cả ánh lên một vẻ đẹp của tình người => than thở vì duyên phận lỡ làng đồng thời thể hiện tình yêu thương, tình nghĩa – tình yêu vô cùng mãnh liệt, vững bền, thủy chung, sâu sắc. “Sao vượt chờ trăng”: có cái mỏi mòn của sự chờ đợi,cái cô đơn của sự trông ngóng. Có nỗi đau của người bị lỡ duyên, thất tình. Dân gian dùng cả một hệ thống so sánh bằng những hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ lớn lao để nói lên tình người nhằm khẳng định cho dù xa cách như mặt trăng với mặt trời, sao hôm với sao mai nhưng đôi ta vẫn xứng đôi vừa lứa. Bài 4: Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất. Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai. Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt. Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Mắt thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên. Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề… a. Nỗi nhớ thương (10 câu đầu) + Các hình ảnh – Khăn, đèn→ được nhân hoá – Mắt→ được hoán dụ (lấy bộ phận chỉ toàn thể) + “Khăn”: vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ – Hình ảnh chiếc “khăn” (6 lần) – “khăn thương nhớ ai (3 lần) → Nỗi nhớ triền miên càng thêm da diết – Động từ xuống, lên, rơi, vắt→ hình ảnh vận động của chiếc khăn biểu lộ tâm trạng ngổn ngang trăm mối tơ vò của người phụ nữ → Đó là nỗi nhớ trải rộng trong không gian. – Sáu câu thơ hỏi khăn (24 chữ) thì có đến 26 thanh bằng (thanh không) → gợi nỗi nhớ thương bâng khuâng, da diết của người con gái biết kìm nén cảm xúc của mình + “Ngọn đèn”: không tắt hay chính là nỗi trằn trọc thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẳng với thời gian→ nỗi nhớ kéo dài dằng dặc theo thời gian + “Đôi mắt”: “mắt ngủ không yên” → nỗi ưu tư trĩu nặng, bộc lộ trực tiếp nỗi lòng mình→ nỗi nhớ trong tiềm thức => Nỗi nhớ, niềm thương da diết mà sâu sắc, dồn nén trong lòng của cô gái đối với người yêu. Không phải là ban ngày chứ không phải ban đêm. Ban đêm là thời gian của tâm tưởng, ngọn đèn thực trở thành không thực. Đó là ngọn lửa tình yêu trong trái tim cô gái. Cô gái thao thức với nỗi nhớ thương người yêu. Ngọn đèn kia tắt làm sao được khi ngọn lửa tình vẫn cháy sáng trong trái tim của người con gái→ cái ánh sáng tình yêu vượt thời gian – Cái khăn và ngọn đèn là cách nói gián tiếp thông qua nghệ thuật nhân hoá thì “đôi mắt” là sự bộc lộ trực tiếp chính mình – Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh đôi mắt: Từ biểu hiện gián tiếp đến biểu hiện trực tiếp, cô gái hỏi lòng mình. Bởi người ta có thể giấu tình cảm nhưng không thể giấu qua đôi mắt. Cô gái nhớ thương người yêu cả trong giấc ngủ chập chờn, đó là nỗi nhớ trong tiềm thức: Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức (Sóng – Xuân Quỳnh) Nỗi nhớ liên tiếp, dồn dập, triền miên, câu hỏi tu từ trong năm điệp khúc đọng lại và vang lên niềm khắc khoải, lo âu mênh mông cho duyên phận đôi lứa. Hai câu thơ đột ngột chuyển thể lục bát như tháo cởi những dồn nén bên trong. Những nhớ nhung, lo phiền cứ trộn lấn vào nhau để làm bật ra những lời thơ chứa chan cảm xúc. b. Nỗi lo âu, buồn phiền (2 câu cuối) Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề… → Lo phiền vì thương nhớ, lo lắng cho hạnh phức lứa đôi. Lo phiền vì hạnh phúc, tình yêu còn bị ngăn cách bởi những trở ngại. => Bài ca dao là tiếng hát yêu thương, nhung nhớ của con người có ý thức về tình yêu và cảnh ngộ duyên phận. Ước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi. – Mô típ “cái cầu” là có thực – nơi gặp gỡ tỏ tình của lứa đôi. Chiếc cầu được bắc bằng giải yếm của em buộc dòng sông phải co lại→ hình ảnh độc đáo và táo bạo → dòng sông và cây cầu tình yêu với mơ ước mà người con gái đã chủ động bắc đợi người yêu thật mãnh liệt và táo bạo. Bài 6: Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau đi nưa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. – Nhân vật trữ tình: vơ chồng – Hình ảnh: muối mặn- gừng cay + “Muối” – ba năm vẫn mặn + “Gừng” – chín tháng vẫn cay → Tình cảm thắm thiết, mặn mà, nồng nàn, thuỷ chung của người Việt + “ba vạn sáu… xa” → thời gian của một trăm năm – một đời người. Nghĩa là đến chết và chỉ có cái chết mới chia lìa được hai người→ tình nghĩa thuỷ chung và sâu nặng => Ca ngợi lối sống tình nghĩa, thủy chung của người bình dân xưa. Ba năm, chín tháng, ba vạn sáu ngàn ngày: đây không phải là thời gian khách quan mà là thời gian tâm trạng. Khẳng định tình nghĩa con người có khả năng đối mặt với thời gian, thách thức với thời gian và chiến thắng thời gian. 3. Ý nghĩa văn bản: Ngợi ca và khẳng định vẻ đẹp đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của người bình dân Việt Nam xưa trong ca dao – dân ca III. Luyện tập Một số bài ca dao sử dụng mô típ Thân em: +Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rử mặt người phàm rửa chân +Thân em như trái ớt cay Càng tươi ngoài vở, càng cay trong lòng. +Thân em như quế giữa rừng Thơm tho ai biết ngát lừng ai hay +Thân em như con hạc đầu đình Muốn bay không cất nổi mình mà bay – Một số bài thơ học tập mô típ thân em: Bánh trôi nước, Quả mít (HXH) Quả mít Thân em như quả mít trên cây Vỏ nó sần sùi, múi nó dầy Quân tử có thương thì đóng cọc Xin đừng mân mó nhựa ra tay. – Một số bài ca dao có sử dụng hình ảnh chiếc khăn: Em về anh mượn khăn tay Gói câu tình nghĩa lâu ngày sợ quên. Qua câu ghé nón thăm đồng Đồng bao nhiêu lúa thương chòng bấy nhiêu Tay nâng khăn gói sang sông Mồ hôi ướt đẫm, thương chồng phải theo. – Bài thơ sử dụng hình ảnh chiếc khăn: Hương thầm – Bài ca dao sử dụng hình ảnh dải yếm, muối, gừng: Thuyền anh mắc cạn lên đây Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền Cô kìa yếm trắng lòa lòa Lại đây đập đất trồng cà với anh Bao giờ cà chín cà xanh Cho anh một quả để dành mớm con. Hạt muối ba năm còn mặn Lát gừng cay sắc chín nước còn cay Anh thương em cha mẹ không hay Ngọn đèn treo trước gió, chẳng biết xoay phương nào.
Phân tích ý nghĩa chùm ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
2,047
Đề bài: Chí Phèo giết Bá Kiến trong trạng thái nào? Tỉnh hay say rượu? Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến. Bài làm Chí Phèo là nhân vật điển hình xuẩt sắc của nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo ra đời năm 1941. Đây là một người nông dân cùng quẫn vốn lương thiện, hiền lành, tự trọng nhưng đã bị Bá Kiến cho đi tù oan, bị lưu manh hoá, côn đồ hoá. Sau khi gặp Thị Nở, được hưởng tình cảm yêu thương. Chí muốn trở lại lương thiện. Tuyệt vọng vì không thể hoàn lương. Chí cầm dáo đến nhà kè thù, sau khi đã nốc rất nhiều rượu. Vậy Chí Phèo giết Bá Kiến trong trạng thái say hay tỉnh? Theo tác giả miêu tả thì Chí đã uống hết hai chai rượu. Cũng theo truyện thì Chí rắp tâm đến nhà Thị Nở "để đâm chết cả Iilià nó". Ch/ có ý định đó vì Thị Nờ nghe lời bà cô thị, đã cự tuyệt quan hệ với Chí Phèo. Nhưng rồi Chí không đến nhà “người tình bội bạc” mà lại đến thẳng nhà Bá Kiến. Nhă văn đưa ralời bình: “Những thằng điên và những thằng say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi chúng địnli lùm”. Cần cứ vào những chi tiết đó, ta có thể kết luận Chí Phèo xông đến và đâm chết Bá Kiến trong trạng thái say. Nhưng phân tích và kết luận như thế chưa đủ. Trước khi hạ thủ kẽ thù, Chí đã nói những lời rất tỉnh táo. Chí nói ba câu rất gọn và rõ. Một câu khẳng định quyết liệt: "tao muốn làm người lương thiện!". Mội câu hỏi uất ức: "Ai cho tao lương thiện?''. Rồi mệt câu phú định đau xót: "Tao không thể là người lương thiện nữa". Chí Phèo muốn là nguyện vọng. Nguyện vọng xuất phát từ bản chất, cội nguổn lượng thiện của Chí và vẫn dai dẳng tiềm ẩn trong con người anh ta, dẫu từ khi biến chất anh ta lúc nào cũng say, cũng là một thằng “đầu bò”. Chí Phèo hỏi trong sâu xa Chí rất rõ nguyên nhân nào và ai đã làm Chí thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Và sự tự phủ định cuối cùng chứng tỏ Chí Phèo hiểu con đường cùng đầy thương cảm, xót xa của bản thân. Sự chuyển đổi cảm xúc ấy diễn ra một cách tự nhiên không gò bó. Cho nên không thể nói Chí Phèo giết Bá Kiến vì say rượu. Chỉ có lời nói đó giây phút lóe tỉnh trong cơn say Sự loé lên của ý thức này thật chỉ hơn tất cả cơn say triền miên của Chí. Bởi thực chất Chí say vì uất ức, say vì muốn trả thù say vì cùng quẫn. Và vì tất cả những nguyên cớ lương thiện này cho nên Chí giả vờ vậy, có thể nói, trong say, Chí thực ra là '‘Chí giả” — một Chí hình nộm Mang tên Chí Phèo. Giết Bá Kiến là cái anh Chí làm canh điền; chí có một mong ước "ao ước có một gia đinh nho nhỏ. Chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải chúng lại hò một con lợn để làm vốn liếng khá thì mua dăm ba sào ruộng làm Cho nên lại có thế nói, mà như thế này mới chính xác — giết Bá Kiến là mọi Chí Phèo rất tỉnh. Đầy lòng phẫn uất và căm thù nhưng không có con đường nào khác để cho đánh liều thân với kẻ thù. Chính nhờ Nam Cao mà Chí Phèo có được sức sống mạnh mẽ đến trong lòng độc giả. Mỏi lần đọc Chí Phèo là mỗi lần cảm nhận khác nhau về cảnh đời, số phận của những con người trong xã hội cũ. Và mỗi lần như vậy, người đọc lại càng thương cảm cho cái vẻ ngất ngưởng, dềnh dàng bước ra từ trang sách của Chí Phèo. Càng thêm căm ghét cái xã hội bất công cũ đã đày đọa, vùi dập con người, biếti họ trở thành lưu manh và cắt đứt con đường hoàn lương của họ. Khiến họ, một khi không có cơ may tìm thấy lối ra, mà sự khát khao làm người rực cháy mà chỉ còn mội con đường là cùng chết với kẻ thù.
Phân tích ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến
749
Phân tích ý nghĩa câu chuyện cuộc đời của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Hướng dẫn Tại tòa án, mọi thứ được phơi bày. Câu chuyện sự thật về cuộc đời người đàn bà được chính bà giải bày. Chánh án Đẩu mời người đàn bà đến tòa để thu xếp chuyện gia đình và đề nghị chị từ bỏ lão chồng vũ phu. Đây là lần thứ hai, người đàn bà được Đẩu mời đến về công việc gia đình. Lúc đầu, người đàn bà tỏ ra sợ sệt và lúng túng. Chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng tận tình động viên chị bình tĩnh và làm cho chị cảm tháy dễ chịu hơn bằng mọt không gian rộng mở để chị yên tâm. Đang ngồi cúi gục xuống, người đàn bà bỗng ngẩng lên nhìn thẳng vào chúng tôi, lần lượt từng người một, với một vẻ ban đầu hơi ngơ ngác. Sau lời nói mạnh mẽ, cứng rắn của chánh án Đẩu, chị mới tự tin, tự nhiên và sắc sảo, từng bước thuật lại bi kịch của đời mình. Đó là câu chuyện nhiều bí ẩn và éo le của một người đàn bà nghèo khổ, lam lũ… Chị vốn xấu xí, khó lấy chồng rồi lỡ vận. Khi có chồng, đẻ nhiều con, cả gia đình nheo nhóc, đói khổ, chen chúc trên một chiếc thuyền chật chội. Trong cảnh khổ, chị thường xuyên bị chồng đánh đập, hành hạ mà vẫn cam chịu vì “phải sống cho con chứ không thể sống cho mình!”. Thi thoảng mới có niềm vui “là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Chị đau đớn đánh đổi bằng mọi giá để không phải bỏ chồng, người chồng vũ phu. Chị chấp nhận bị tòa án bắt tội cũng được, phạt tù cũng được, chứ đừng bắt chị bỏ chồng. Khi lí giải: “chưa bao giờ các chú biết thế nào là nổi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông”. Chị “cần có người đàn ông để nuôi nấng đặng một sấp con”. Chị chấp nhận số phận: “trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn nên phải gánh lấy cái khổ”… Người đàn bà kể lại câu chuyện trong tiếng thở dài, có cả niềm vui, sự hài lòng, tin tưởng. Gia đình ấy là tất cả đối với người đàn bà. Mọi khổ đau, cơ cực hay hạnh phúc cũng ở từ nơi đó. Gã đàn ông vũ phu kí tuy bề ngoài dữ tợn, hành động tàn bạo nhưng bên trong lại rất hiền hòa. như lời người đàn bà phân minh: “ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ”. Câu chuyện của người đàn bà đã thức tỉnh nhận thức của nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu. Với chánh án Đẩu, từ hào hứng, tin tưởng vào giải pháp li hôn của mình là đúng đắn, đến ngạc nhiên chua chát khi chị từ chối giúp đỡ, sau khi nghe xong câu chuyện của người đàn bà hàng chài “một cái gì vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công…”. Đẩu ngộ ra những nghịch lí của đời sống và hiểu rằng chỉ có những thiện chí và kiến thức sách vở sẽ không giải thoát được những cảnh đời tăm tối. Đẩu cũng nhận ra mình chưa sâu sát trong quần chúng nhân dân để thấu hiểu, để giúp đỡ họ nhiều hơn. Câu chuyện gia dình người đàn bà là một bài học sâu sắc đối với công việc bảo vệ công lí của anh. Với người nghệ sĩ Phùng, anh hiểu ra nhiều điều. Anh hiểu nhiều hơn về người đàn bà. Một phụ nữ nghèo khổ, vẽ cam chịu nhẫn nhục chỉ là bề ngoài, bên trong là tình cảm yêu thương con vô bờ bến, đó chính là nguồn gốc sự hy sinh của chịu đựng của chị. Chị không hề nông nổi mà ngược lại rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời. Tuy xấu xí, thô kệch nhưng tâm hồn đẹp đẽ nhân hậu, vị tha, giàu đức hy sinh… Về người chồng của chị, tuy đánh vợ như một phương cách để giải tỏa những uất ức, khổ đau “lúc nào khổ quá lại lôi vợ ra đánh” nhưng sau đó lại hiền lành, lại yêu thương. Về chánh án Đẩu, phùng nhận thấy đó là người có lòng tốt, sẵn sàng bảo vệ công lý. Nhưng kinh nghiệm sống không nhiều. Với chính mình, anh sẵn sàng làm tất cả vì sự công bằng nhưng lại đơn giản trong cách nhìn nhận suy nghĩ. Với ngôn từ dung dị đời thường, từ câu chuyện về một bức ảnh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Cách khắc hoạ nhân vật, xây dựng cốt truyện, sử dụng ngôn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo đã góp phần làm nổi bật chủ đề – tư tưởng của tác phẩm. Đó cũng là cái nhìn mới về cuộc đời, về tình người, một sự cách tân táo bạo của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn đổi mới nền văn học sau giải phóng đất nước.
Phân tích ý nghĩa câu chuyện cuộc đời của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
937
Phân tích ý nghĩa câu chuyện Nhưng nó phải bằng hai mày Hướng dẫn Nhưng nó phải bằng hai mày Thấy lí: – Là viên quan xử kiện, đại diện cho công bằng của pháp luật. – Có tật ăn hối lộ nhưng nổi tiếng là xử kiện giỏi Tình huống truyện: – Cải và Ngô đánh nhau và đều đút lót cho thấy lí để được thắng kiện + Cải lót trướn cho thầy lí 5 đồng + Ngô biện chè lá 10 đồng → Giới thiệu sự việc một cách ngắn gọn, gọi sự tò mò, lôi cuốn, hấp dẫn cho người đọc Kết quả xử kiện: – Lẽ phải mà thầy xử thuộc về Ngô vì Ngô đút lót cho thầy bằng hai lần số tiền của Cải đút lót quan. → Ngô và Cải vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm của chính mình. Họ vừa đáng thương lại vừa đáng trách. Thầy Lí là con người có bản chất xấu xa, tham ô. Nghệ thuật gây cười: – Cách tạo mâu thuẫn gây cười đầy kịch tính thông qua cử chỉ và hành động gây cười: + Cử chỉ của Cải: “Cải vội xoè năm ngón tay”→ nhắc thầy: năm đồng quan đã nhận + Cử chỉ của thầy lí: “Xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải” = 10 đồng – Ngón tay: đơn vị tiền tệ – Lẽ phải tính bằng tiền → Đây là một màn kịch câm. Tiếng cười bật lên vì lẽ phải bằng tiền chứ không xuất phát từ pháp luật hoặc công lí. “Tao biết mày phải… hai mày” + Phải 1: lẽ phải + Phải 2: điều bắt buộc cần phải có. -> Đồng tiền làm mờ mắt kẻ tham lam, đồng tiền làm mờ công lí, đồng tiền có sức mạnh vạn năng (sai thành đúng, có tội thành vô tội. Ý nghĩa: Nhưng nó phải bằng hai mày phê phán, vạch trần bản chất tham nhũng của quan lại địa phương ngày xưa (Thầy Lí). Đưa ra bài học cho những người dân thường: đừng vì quyền lợi riêng mà biến mình thành nạn nhân và thủ phạm bi kịch cho những viên quan tham nhũng
Phân tích ý nghĩa câu chuyện Nhưng nó phải bằng hai mày
349
Phân tích ý nghĩa câu chuyện Tam đại con gà Hướng dẫn TAM ĐẠI CON GÀ (Truyện cười) 1. Truyện cười: a.Khái niệm: là tác phẩm tự sư dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cười nhằm mục đích mua vui, giải trí. b. Đặc trưng: – Khai thác hành vi, thói xấu của một bộ phận đối tượng trong dân gian. – Chứa đựng những mâu thuẫn, quy luật trái tự nhiên và tiềm ẩn những yếu tố gây cười. – Dung lượng ngắn, kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ. c. Phân loại: + Truyện cười khôi hài: nhằm giải trí, mua vui, giáo dục + Truyện cười trào phúng: phê phán những thói hư, tật xấu trong XH + “Tam đại con gà” thuộc loại truyện cười trào phúng: tiếng cười chế giễu, phê phán 2. Văn bản: Tam đại con gà a. Thể loại: Truyện cười trào phúng b. Bố cục: 3 phần – P1: Mở truyện(câu đầu) giới thiệu mâu thuẫn trái tự nhiên – P2: Thân truyện: diễn biến câu chuyện – P3:Kết truyện (câu cuối) Tiếng cười oà ra. a. Đối tượng: Anh học trò dốt làm thầy đồ b. Mâu thuẫn gây cười: Anh học trò dốt nhưng hay nói chữ, khoe khoang→đó là một mâu thuẫn trái tự nhiên – chân lí khá phổ biến trong dân gian (quy luật trái tự nhiên: Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ) – Tiếng cười chưa bật ra mà đang nằm ở thế tiềm năng – Tiếng cười muốn bộc lộ và phát triển phải đặt trong những tình huống truyện khác nhauđể kiểm nghiệm. Tình huống 1: Gặp chữ “kê” → thầy đồ đi dạy học trò nhưng thấy mặt chữ có nhiều nét rắc rối, thầy không biết chữ gì, trò hỏi gấp, bí quá thầy đành nói liều: “dủ dỉ là con dù dì” → hơi buồn cười vì sự dốt nát mà liều lĩnh của thầy. Giải quyết tình huống: – Bắt học trò đọc khẽ: →dốt mà thận trọng giấu dốt: Vì học trò hỏi gấp → thầy giải thích bừa 1 cách thuận miệng chẳng có ý nghĩa gì → tiếng cười bật ra vì sự giấu dốt và sĩ diện hão của thầy – Khấn thổ công xin ba đài âm dương thì được cả ba→ tin đúng→ đọc to→ tiếng cười vang lên vì dốt lại mê tín. (Cái dốt được nhân lên khi có thêm một nhân vật dốt nữa là Thổ công. Một mũi tên trúng cả 2 đích) => Vừa dốt kiến thức sách vở, vừa dốt kiến thức thực tế. Đã dốt lại không biết cách học hỏi. Tuy nhiên tiếng cười chưa thật giòn giã lắm. Chính niềm vui của thầy, tiếng đọc bài rất to của học trò dẫn đến tình huống thứ 2 Tình huống 2: Sự chạm trán, đối mặt với bố của học trò hay chữ→ bất ngờ + Giải thích từ “kê” 1 cách sâu sắc uyên bác, giảng đến nguồn gốc tận 3 đời: Dủ dỉ dù dì là chị con công, con công là ông con gà→ Tam đại con gà→ tiếng cười oà ra giòn giã vì lí sự cùn của thầy => Mâu thuẫn trái tự nhiên ở đây là cái dốt và sự giấu dốt; càng che dấu thì bản chất dốt nát càng lộ ra – Có ý kiến cho rằng: thầy đồ dốt thì quá dốt nhưng thầy cũng khá nhanh trí khi biện bạch với ông chủ. Đó là cái nhanh trí, mẹo vặt: cách nói có vần có nhịp nhưng lại hoàn toàn vô nghĩa. Câu chuyện ngắn gọn, kết cấu chặt chẽ, chỉ xoay quanh một mâu thuẫn gây cười; dốt – giấu dốt,kết thúc bát ngờ. Thủ pháp nhân vật tự bộc lộ, cái dốt của nhân vật tự hiện ra, tăng dần theo mạch phát triển của truyện cho đến đỉnh điểm là kết thúc. Ngôn ngữ giản dị nhưng rất tinh, nhất là ở phần kết, sử dụng yếu tố vần điệu để tăng tính bất ngờ và yếu tố gây cười. d. Ý nghĩa phê phán: Tam đại con gà mang ý nghĩa phê phán, hóm hỉnh sâu sắc về một tật xấu: dốt mà lại che đậy cái dốt của mình một cách ngây ngô và liều lĩnh, dốt mà hay nói chữ, dốt học làm sang, dốt lại bảo thủ. Qua đó nhắn nhủ đến mọi người phải luôn học hỏi, không nên che dấu cái dốt của mình
Phân tích ý nghĩa câu chuyện Tam đại con gà
750
Phân tích ý nghĩa của bài ca dao ”Công cha như núi Thái Sơn….” Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa của bài ca dao ”Công cha như núi Thái Sơn….” Cha mẹ là người đã sinh ra chúng ta, chăm sóc và dạy bảo chúng ta nên người. Vì thế công ơn của cha mẹ rất to lớn. Chúng ta cần phải biết ơn và đền đáp những công ơn đó. Điều đó đã được ông cha ta nhắc nhở qua bài ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con ” Bài ca dao đã đi sâu vào lòng người bởi những hình ảnh so sánh rất độc đáo. Núi Thái Sơn là một ngọn núi có độ cao đồ sộ và vững chắc được tác giả so sánh như tình cha mạnh mẽ và to lớn. Nước trong nguồn là dòng nước mát nhất, thanh khiết nhất chảy mãi không bao giờ cạn được ví như tình mẹ bao la ngọt ngào và trong veo. Câu ca dao có có lời lẽ nhẹ nhàng, âm điệu ngọt ngào và có ý nghĩa sâu sắc từ hình ảnh núi Thái Sơn và dòng nước trong nguồn, người xưa đã ngợi ca công lao của cha mẹ đối với con cái là vô tận là bất diệt. Đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta những người con của thế hệ sau phải biết công ơn của cha mẹ để làm tròn chữ hiếu. Từ hình ảnh cụ thể của ngọn núi cao sừng sững và dòng nước mềm mại trong lành đã giúp chúng ta hiểu roc những cái trừu tượng. Chính vì thế chỉ có hình ảnh của thiên nhiên bao la rộng lớn mới có thể sánh bằng công cha nghĩa mẹ. Người xưa khuyên chúng ta nên làm tròn bổn phận để đền đáp phần nào nỗi cực nhọc của cha mẹ khi sinh thành, nuôi dưỡng và dạy bảo con cái, cả cuộc đời cha mẹ chịu đựng những khó khăn vất vả, những gian nan trong cuộc sống để nuôi con khôn lớn thành người. Cha mẹ lo cho con cái từ cái ăn cái mặc đến nơi ở, dạy dỗ con trở thành người có ích. Người cha, người mẹ lúc nào cũng là chỗ dựa vững chắc nhất, là nơi tin tưởng nhất để con cái gửi gắm niềm tin, sẵn sàng giang rộng vòng tay mở rộng tình thương lòng nhân ái, lòng bao dung để con cái vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Câu ca dao có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục tính chất con người đặc biệt là đối với những người làm con. Trong cuộc sống nhộn nhịp hiện đại ngày nay đâu đó vẫn còn những con người chưa nhận ra công ơn của cha mẹ, chưa làm trong bổn phận của người làm con để cho cha mẹ phải buồn lòng. Có lẽ cũng có lúc nào đấy chúng ta thắc mắc rằng: Tại sao công cha và nghĩa mẹ lại to lớn không có gì có thể sánh bằng? Đơn giản vì cha mẹ là người sinh ra ta có cha mẹ mới có được chính mình, nuôi dưỡng và dạy chúng ta nên người. Vì vậy chúng ta phải làm gì để đáp ứng công ơn của cha mẹ? Mỗi người trong mỗi chúng ta có biết nghe lời cha mẹ là những người con ngoan là học sinh và là người con ngoan của cha mẹ. Câu ca dao là một lời khuyên kín đáo và sâu sắc thể hiện được công ơn của cha mẹ bao la như núi với nước tồn tại mãi không bao giờ ngừng. Bài ca dao đã dạy chúng ta bài học bổ ích, chúng ta cần biết làm gì để nâng niu và trân trọng công lao của cha mẹ, trở về với hiện thực câu ca dao giúp cho chúng ta thấu hiểu được đạo lí làm người.
Phân tích ý nghĩa của bài ca dao ”Công cha như núi Thái Sơn….”
678
Phân tích ý nghĩa của chuỗi sự việc chính trong truyện Em bé thông minh Hướng dẫn Sức hấp dẫn của câu chuyện cổ tích Em bé thông minh trước hết được thể hiện thông qua chuỗi sự việc đặc sắc, nơi em bé thể hiện được tài trí hơn người của em. Em hãy kể lại và phân tích ý nghĩa của chuỗi sự việc chính trong truyện cổ tích Em bé thông minh. I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích ý nghĩa của chuỗi sự việc chính trong Em bé thông minh 1. Mở bài Giới thiệu tác phẩm và nội dung truyện: Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam có rất nhiều tác phẩm với nhiều tình tiết li kì kể về trí thông minh của con người trong số những tác phẩm đó truyện cổ tích “Em bé thông minh”, xuyên suốt tác phẩm là những câu chuyện thể hiện sự ứng biến tài tình của cậu bé trước những câu đó oái oăm tưởng chừng không có lời giải.. 2. Thân bài – Lần thứ nhất: Đối đáp với vị quan –> Giải câu đố của quan: “Trâu cày một ngày được mấy đường?” vặn lại vị quan đó “Ngựa đi một ngày được mấy bước”. Lấy cái không thể giải thích để hỏi lại quan – Lần thứ hai: Phần thưởng vua ban và giải câu đố của vua + Câu đố của vua: “Ban 3 trâu đực, 3 thúng gạo sau một năm đẻ thành 9 con” + Phần thưởng vua ban: Giết 2 trâu, lấy 1 thúng gạo để mở tiệc, liên hoan + Giết 2 trâu, lấy 1 thúng gạo để mở tiệc, liên hoan + Bán 1 trâu và 1 thúng gạo để lên kinh giải câu đố của quan – Giải câu đố: Đòi ba đẻ em bé cho bế rồi từ đó khiến vua tự chỉ ra sự vô lí của mình, lấy cái vô lí giải cái vô lí của vua – Lần thứ ba: Giải câu đố của sứ thần + Câu đố của sứ thần: “Thịt 3 chim sẻ để làm 3 mâm cỗ”, giải câu đố của sứ thần bằng việc lấy kim yêu cầu sứ thần rèn thành dao, không có dao không thịt được chim + Dùng chính điều không thể để không phải làm điều không thể sứ giả đưa ra – Lần thứ tư: So tài với sứ thần nước láng giềng + Câu đố của sứ thần: xỏ chỉ qua vỏ ốc vặn + Dùng kiến thức để giải câu đố: Buộc chỉ ngang bụng kiến, một đầu bôi mỡ cho kiến bò sang + Phần thưởng dành cho người tài: Phong trạng, ở bên cạnh giúp việc cho vua 3. Kết bài Cảm nghĩ về câu chuyện và ý nghĩa chuỗi sự việc trong truyện: Truyện gồm nhiều tình tiết hài hước, dí dỏm nhằm ca ngợi trận trọng những người có tài. II. Bài tham khảo cho đề cho đề phân tích ý nghĩa của chuỗi sự việc chính trong Em bé thông minh Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam có rất nhiều tác phẩm với nhiều tình tiết li kì kể về trí thông minh của con người đặc biệt là những cậu bé, một trong số những tác phẩm đó truyện cổ tích “Em bé thông minh”, câu chuyện kể về một em bé sinh ra trong một làng quê nghèo, từ nhỏ đã thông minh lanh lợi hơn người, xuyên suốt tác phẩm là những câu chuyện thể hiện sự ứng biến tài tình của cậu bé trước những câu đó oái oăm tưởng chừng không có lời giải. Trí thông minh của em bé được biết đến trong một lần nhà vua tìm người tài trong thiên hạ, lần thứ nhất trước câu hỏi thách đố của vị quan “Trâu cày một ngày được mấy đường?” thì em bé đã nhanh trí chẳng cần suy nghĩ lâu hỏi vặn lại vị quan đó “Ngựa đi một ngày được mấy bước”. Câu hỏi ngược đó là cách em bé lấy cái điều không thể giải thích của vị quan để hỏi ngược lại vị quan, hỏi khó em bé và khi bị hỏi ngược lại tương tự chính vị quan cũng không thể trả lời, trong lòng vui mừng vì tìm được nhân tài cho vua. Khi biết em bé vốn đã thông minh vua lại đưa ra câu đố dành cho em bé, vua ban cho làng em bé 3 con trâu đực và 3 thúng gạo nếp bảo dân làng nuôi làm sao để trong một năm trâu đẻ thành 9 trâu con. Trong khi mọi người đang loay hoay không biết làm sao để đúng ý vua thì em bé lại xuất hiện, sự thông minh thể hiện khi em bé hiểu được ý nghĩa những phần thưởng vua ban, rất bình tĩnh em bảo dân làng giết hai trâu, đem hai thúng gạo để đồ xôi cả làng mở tiệc lộc vua ban, còn một trâu một thúng gạo bán lấy tiền lên kinh giải câu đố của vua. Vẫn như lần thứ nhất với tên quan em bé dùng gậy ông đập lưng ông, em bé la khóc um sùm đòi ba mình đẻ con, tất cả mọi người phì cười vì sự vô lí của em bé thì lúc này là lúc em bé đáp trả câu đố vô lí từ phía vua, sự chuẩn bị kĩ lưỡng cùng với thân hình một cậu bé đã khiến vua phải đi từ bất ngờ này tời bất ngờ khác, sự thán phục của tất cả các quan trong triều, em bé lấy cái vô lí để giải đáp cho cái vô lí của vua. Để chắc chắn rằng em bé đó thông minh vị vua lại một lần nữa thử tài em bé khi sai sứ giả mang chim sẻ đến bắt hai cha con thịt chim sẻ dọn thành 3 mâm cỗ, ngay lúc này không cần đắn đo em bé yêu cầu sứ giả rèn cây kim trở thành một con dao mổ thịt chim, quá thông mình khi không cần đắn đó em bé đã giải được câu đố mà vua đưa ra, chẳng thể nào dùng một cây kim để rèn thành một con dao được cả trong khi thời bấy giờ mọi thứ còn lạc hậu thì điều đó là quá phi lí, giống như việc thịt 3 con chim sẻ thành 3 mâm cỗ vậy. Không có dao thì không thể thịt chim sẻ được, điều này đã làm nhà vua và sứ giải bội phần thán phục, không thể làm khó được em bé. Cuối cùng trí thông minh của em bé được thể hiện khi đem ra so với sứ giả nước làng giềng, câu đố đưa ra là xâu sợi chỉ qua ruột một con ốc xoắn, lần này em bé em bé đã dùng trí thông minh của mình giải câu đố một cách đơn giản nhất, không giống như những lần trước dùng sự vô lí đề gỡ bỏ sự vô lí, lần này em bé giải câu đố bằng kiến thức đời thường của em khi buộc sợi chỉ để con kiến chui qua vỏ ốc xoắn. Sau tất cả những gì mà em bé đã thể hiện cuối cùng mọi người đều công nhận trí thông minh của em bé, em được phong trạng, được ở bên cạnh hầu vua, làm quân sư cho vua hỏi chuyện. Truyện “Em bé thông minh” chứa nhiều tình tiết hài hước, dí dỏm nhằm mục đích đem lại tiếng cười sảng khoái trong dân gian, đồng thời ca ngợi những người thông minh, trân trọng người tài, bên cạnh đó là lời dạy cho việc rèn luyện bản thân mỗi người.
Phân tích ý nghĩa của chuỗi sự việc chính trong truyện Em bé thông minh
1,288
Phân tích ý nghĩa của hình tượng ngọn lửa diêm trong văn bản Cô bé bán diêm của An-đéc-xen Bài làm Bằng nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, với các tình tiết diễn biến hợp lí đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng. Tác phẩm “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen đã truyền cảm hứng thật sâu sắc với người đọc, khiến cho chúng ta khơi dậy lòng cảm thương với một cô bé bất hạnh. Trong câu chuyện, ta không chỉ cảm động bởi hoàn cảnh bất hạnh của cô bé mà hình ảnh những ngọn lửa diêm cũng là một biểu tượng quan trọng. Trong đêm giao thừa, cô bé bán diêm đã phải chịu đói chịu rét cả một ngày không có gì cho vào bụng, thế nhưng em lại không dám về nhà vì cả ngày không bán được bao diêm nào, cha em sẽ đánh em. Em đành lang thang trên vỉa hè, ngồi vào một xó tường để chống lại với cái rét, cái đói cuối cùng. Vì quá lạnh mà em đã liều lấy bao diêm ra quẹt, em vẫn quẹt dù biết như thế sẽ làm hỏng hết các bao diêm và sẽ bị cha đánh, nhưng vì quá rét nên em muốn quẹt chúng lên, hi vọng chúng sẽ sưởi ấm cho en, sưởi ấm cả về thân thể lẫn tâm hồn. Trong đêm ấy, cô bé bán diêm đã quẹt bốn que diêm, trước hết ta cần nhận ra rõ ràng rằng, những que diêm này sáng lên với ý nghĩa rất thực tế, nó giúp cho cô bé xua tan đi phần nào cái lạnh giá của đêm đông tuyết trắng. Trong cái giá lạnh xé da xé thịt ấy, cùng với cái bụng trống rỗng, chỉ một ngọn lửa diêm bé nhỏ, le lói thôi cũng đủ để cho em cảm nhận cái ấm, đối với em trong thời khắc đó, những ngọn lửa diêm là thứ xa xỉ nhất em đang có. Bên cạnh ý nghĩa sưởi ấm, trong cảm nhận và hình dung của cô bé thì mỗi ngọn lửa diêm lại phản chiếu chính ước mơ của em, những ước mơ rất thuần khiết và trong sáng đã xuất hiện theo ánh sáng của ngọn lửa diêm. Quẹt que diêm đầu tiên, em nhìn thấy hình ảnh lò sưởi to lớn, ấm áp hiện ra ngay trước mặt em, thật nhiệm màu và kì diệu, em chưa dám tin vào mắt mình, em vui sướng và ngọn lửa ấy đã nhen nhóm niềm hạnh phúc của em. Em tiếp tục quẹt que diêm thứ hai, ngọn lửa diêm sáng lên, hình ảnh bàn tiệc thịnh soạn cùng với cả một con ngỗng quay đã đặt sẵn trên bàn như đang chờ đợi em, đó chắc hẳn là bù đắp cho cả một ngày em chịu đói, và cả những tháng ngày em sống khổ cực. Que diêm thứ ba sáng lên, đồng nghĩa với việc thắp lên ước mơ nhìn thấy cây thông noel to lớn rực rỡ, và rồi tới que diêm thứ tư đã mang lại cho em hình ảnh của người bà yêu dấu, mang lại cho em tình yêu thương mà em mong mỏi nhất, ước ao nhất, bà sẽ che chở và cho em tất cả những thứ em muốn. Que diêm cuối cùng đã tắt, em cũng đã được bên bà mãi mãi, chấm dứt cái lạnh cái đói và những khổ cực bất hạnh nơi cuộc sống hiện tại, em mỉm cười đi theo Thượng đế lên thiên đàng, bắt đầu một cuộc sống tươi đẹp hơn. Những ngọn lửa diêm đã tượng trưng cho những ước mơ của cô bé, tuy nhiên những khoảnh khắc ấy vô cùng ngắn ngủi, chợt rực sáng lên rồi bỗng vut tắt. Bởi vậy ánh sáng của ngọn lửa diêm là ánh sáng của ước mơ, hi vọng và niềm tin của em vào những điều tốt đẹp.
Phân tích ý nghĩa của hình tượng ngọn lửa diêm trong văn bản Cô bé bán diêm của An-đéc-xen
661
Phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai giếng nước trong An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai giếng nước trong An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thủy là câu chuyện mà người ta không quên cái kết cục bi kịch của nó. Đó hoàn toàn là những cái chết đầy thương tâm. Đặc biệt là cái chết của Mị Châu và Trọng Thủy để lại nhiều dư vị buồn cho độc giả. Kết thúc truyện hình ảnh được người ta nhớ đến khi nhắc đến mối tình của hai người đó là ngọc trai và giếng nước. Hình ảnh ngọc trai tượng trưng cho Mị Châu sau khi chết, máu chảy xuống biển khi những con tra ăn phải hóa thành hòn ngọc. MỴ châu là người con gái ngoan hiền nghe lời cha nhưng vì quá ngây thơ nhẹ dạ cả tin mà nàng đã trở thành kẻ phản đồ.. An Dương Vương thì theo rùa Vàng p xuống biển cùng với thần rùa Kim Quy. Vì tình ngĩa vợ chồng mà nhẹ dạ cho nên cô vô tình trở thành kẻ phản đồ phản nước đã buộc cha cô tuốt gươm chém đầu cô không thương tiếc. Vì thế mà khi nàng chết nàng hóa thành ngọc trai để thể hiện tấm lòng trong trắng của mình bới có thể khi cô chết cô không hiểu là tại sao. Viên ngọc ấy thể hiện sự trong sáng trong tình yêu cũng như trong tình cha con đất nước của Mị Châu, một tấm lòng rất trong trắng. Trọng Thủy khi chứng kiến cái chết của Mỵ Châu người mà mình ngày đêm đầu ấp tay kề thương yêu hết mực Trọng Thủy như ý thức được cái chết kia chính là do bản thân mình gây ra. Cho nên anh đã vô cùng ân hận nó ám ảnh anh, khiến anh day dứt. Lòng không yên chàng quyết định nhảy xuống đó tự tử. Tương truyền thì khi người ta lấy nước giếng ấy rửa ngọc thì càng rửa càng sáng và ý nghĩa của hình ảnh nghệ thuật kia nhằm để nói đến tình yêu sự tha thứ của Mị Châu và Trọng Thủy. Trọng thủy đã cảm thấy ăn năn và quyết định tìm đến cái chết để chuộc mọi lỗi lầm. Ngọc kia càng rửa càng sáng thể hiện sự tha thứ của Mị,tình yêu của họ không được đẹp trên trần gian thì sẽ đẹp lúc chết đi. Những điều này thể hiện tình cảm vợ chồng sắt son bền chặt yêu thương. Hình ảnh giếng nước ngọc trai thể hiện được tấm lòng bao dung của tác giả dành cho những con người mắc phải tội lỗi ấy. Sự chết đi hóa thành ngọc trai – giếng nước kia là một lời bênh vực của tác giả dành cho những người con ấy.Những con người ấy họ chỉ biết sống trọn tình trọn nghĩa với người thân của mình mà thôi. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai giếng nước trong An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy
517
Phân tích ý nghĩa của những vật dụng mà Mã Lương đã vẽ trong truyện Cây bút thần Hướng dẫn Đề bài: Trong truyện Cây bút thần, Mã Lương đã sử dụng cây bút thần kì của mình để vẽ ra nhiều vật dụng để giúp đỡ cho những người dân nghèo và trừng trị bọn tham quan. Dựa vào văn bản đã học, em hãy phân tích ý nghĩa của những vật dụng mà Mã Lương đã vẽtrong câu chuyện Cây bút thần. I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích ý nghĩa của những vật dụng Mã Lương đã vẽ 1. Mở bài Giới thiệu câu chuyện: Truyện cổ tích “Cây bút thần” câu chuyện nổi lên với nhiều ý nghĩa độc đáo, đặc biệt là ý nghĩa về những vật dụng mà cậu bé vẽ cho mọi người. 2. Thân bài – Hình ảnh cậu bé và Cây bút + Mã Lương: Cậu bé nghèo, mồ côi, đam mê vẽ, thật thà, giàu tình thương + Cây bút: Được tiên ông tặng cậu bé cây bút khả năng biến những hình vẽ thành sự thật – Ý nghĩa những vật dụng Mã Lương vẽ cho những người xung quanh + Vẽ cuốc, cày, đèn, thùng nước: Những vật dụng bình thường, có lòng tốt, luôn giúp đỡ những người xung quanh + Thể hiện giá trị của người lao động qua những hình ảnh mà cậu bé vẽ: Không vẽ vàng bạc, nhà cửa, chỉ vẽ những vật dụng lao động + Không vẽ gì cho bản thân dù bản thân cũng rất nghèo khó: Đầy tình thương, lo nghĩ cho những người xung quanh, không vụ lợi, cảm thấy hài lòng với những gì bản thân làm – Ý nghĩa những thứ mà cậu bé không vẽ dù bị ép + Đối với địa chủ, vua chúa: Không vẽ để thỏa mãn lòng tham cho những con người đó, một người ghét áp bức, hống hác + Dùng ngòi bút để trừng trị những con người tham lam, có lối sống ích kỉ – Ý nghĩa mà nhân dân đưa vào câu chuyện + Khát vọng thực hiện được ước mơ của con người + Khát vọng về công lí, khát vọng về cuộc sống công bằng, cái thiện luôn được giúp đỡ còn cái ác sẽ bị trừng phạt, bị lụi tàn 3. Kết bài Suy nghĩ về ý nghĩa câu chuyện: Tình cảm giữa con người với con người là vô cùng thiêng liêng, những con người sống tình cảm dù cho không có được sự giàu có, xa hoa nhưng sẽ luôn sống trong may mắn, niềm hạnh phúc, có một cuộc sống thoải mái vô cùng. II. Bài tham khảo cho đề phân tích ý nghĩa của những vật dụng Mã Lương đã vẽ Từ xưa con người đã vì đồng tiền mà tranh giành, đố kị, dùng lòng tham để chà đạp lên nhau mà sống, bên cạnh những con người đó vẫn tồn tại những con người nghèo khó nhưng đong đầy tình thương, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua khó khăn, hình ảnh đó không đâu xa lạ chính là Mã Lương trong câu chuyện cổ tích “Cây bút thần” câu chuyện nổi lên với nhiều ý nghĩa độc đáo, đặc biệt là ý nghĩa về những vật dụng mà cậu bé vẽ cho mọi người. Mã Lương, một cậu bé nghèo khó, mồ côi cha mẹ, với đam mê vẽ tranh cậu đã được tiên ông tặng cho cây bút thần, cây bút ban đầu với cậu chỉ là vật dụng vẽ tranh bình thường bởi cuộc sống quá nghèo khó không thể mua được cây bút vẽ, cậu dùng cây bút đó vẽ những con vật bình thường, vẽ chim, chim bay lên trời, vẽ cá, cá trườn xuống sông, khi đã biết đó là cây bút thần cậu dùng để giúp đỡ những người xung quanh, với cây bút đó cậu đã vẽ tặng tất cả mọi người những vật dụng cần thiết trong cuộc sống như cuốc, cày, đèn, thùng nước. Tất cả đều là những vật dụng hết sức bình thường, cậu chẳng vẽ vàng, vẽ bạc, vẽ lâu đài, biệt thự cho người dân bởi cậu hiểu rõ giá trị của lao động, dùng sức của bản thân để tạo ra giá trị, hưởng thụ giá trị đó một cách quý trọng. Ngoài những thứ cậu vẽ cho người lao động nghèo khó thì điểm đặc biệt trong câu chuyện đó là cậu không hề vẽ ra bất cứ thứ gì cho bản thân, dù rằng cậu cũng như mọi người mà thôi, đến cây bút còn không có tiền mà mua thì tại sao cậu không tự tạo ra cho bản thân mình những thứ giá trị mà cậu chưa từng có. Đó chính là điểm đặc biệt của câu chuyện, một con người dùng tài năng của mình cống hiến, lo nghĩ cho những người xung quanh mà không hề nghĩ đến bản thân, làm vì người khác lại khiến cậu bé cảm thấy hạnh phúc, mãn nguyện với những gì mình làm. Chỉ những hành động đó thôi cũng làm cho người khác thán phục vô cùng. Không chỉ dừng ở đó, những tầng lớp địa chủ, vua chúa dù đã giàu có nhưng lại mang trong mình lòng tham vô đáy, muốn dùng tài năng của cậu bé để thỏa mãn những tham vọng của bản thân, nhưng là một con người ghét áp bức, ghét sự hống hách không chỉ không nghe theo những gì địa chủ, tên vua ép cậu làm mà cậu còn dùng chính ngòi bút của mình trừng trị những kẻ tham lam, thiếu tình thương. Những vật dụng mà Mã Lương vẽ xuất phát từ cây bút thần mà cậu bé được tiên ông tặng, nếu không có cây bút đó dù cậu bé có vẽ đẹp, vẽ xuất sắc tới đâu thì những bức tranh mà cậu tô điểm cũng không có ý nghĩa. Những bức vẽ của cậu qua cây bút biến thành những vật dụng y như thật ở ngoài đời, qua đó cũng thể hiện khát vọng mà con người đưa vào trong câu chuyện, những tình tiết li kì thể hiện khát vọng, ước mơ của con người, những ước mơ về sự bình đẳng. Cây bút như toát lên được một chân lí không bao giờ tàn, đó là cái thiện luôn được giúp đỡ, luôn chiến thắng, còn cái ác sẽ thất bại và lụi tàn dần theo thời gian Qua hình ảnh, tình tiết mà cậu bé Mã Lương thể hiện đã cho thấy được tình cảm giữa con người với con người thiêng liêng đến nhường nào, những con người sống tình cảm dù cho không có được sự giàu có, xa hoa nhưng sẽ luôn sống trong may mắn, niềm hạnh phúc, có một cuộc sống thoải mái vô cùng.
Phân tích ý nghĩa của những vật dụng mà Mã Lương đã vẽ trong truyện Cây bút thần
1,143
Phân tích ý nghĩa của truyện cổ tích Cây bút thần – Văn mẫu lớp 6 tuyển chọn Hướng dẫn Đề bài: Cây bút thần là câu chuyện cổ tích đặc sắc mang nhiều ý nghĩa, bài học. Sau khi học xong câu chuyện này, em hãy vận dụng những hiểu biết của mình để phân tích những ý nghĩa của truyện Cây bút thần. I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích ý nghĩa của Cây bút thần 1. Mở bài Giới thiệu câu chuyện: Truyện cổ tích Việt Nam luôn chứa đựng tâm tư tình cảm mà con người gửi gắm vào đó, nổi bật lên trong số đó là “Cây bút thần” câu chuyện với nhiều bài học đáng suy ngẫm mà nhân dân muốn gửi gắm cho thế hệ sau 2. Thân bài – Tóm tắt khái quát nội dung câu chuyện + Nhân vật: Mã Lương: Cậu bé nghèo, thông minh, thật thà, đam mê vẽ + Hình ảnh cây bút: Được ông cụ râu tóc bạc phơ tặng cho cậu bé – Nội dung truyện: Giúp đỡ người nghèo và trừng trị những kẻ tham lam + Đối với nhân dân nghèo: Cậu bé vẽ các vật dụng hằng ngày cần thiết cho những người nông dân + Đối với địa chủ, vua: Không vẽ theo ý muốn, vẽ cuồng phong nhấn chìm thuyền vua + Kiến thức rỗng, học trước quên sau và thất bại trong học tập. – Ý nghĩa truyện qua hình ảnh cây bút được ban tặng cho cậu bé – Câu chuyện kì diệu ban thưởng xứng đáng đối với người cái tài, có đức, có đam mê, vượt lên khó khăn cuộc sống Khát vọng của con người: Khát vọng công bằng đối với những người lao động nghèo khổ, những người nông dân chân lấm tay bùn, khát vọng thực hiện khao khát, ước mơ – Ý nghĩa truyện qua những hình ảnh mà cậu bé vẽ + Không dùng cây bút để vẽ cho bản thân, vẽ những vật dụng cần thiết đối với người dân nghèo, không vẽ theo ham muốn của địa chủ, vua chúa: Thể hiện đức tính trung thực, thật thà, không vụ lợi, ghét áp bức + Thể hiện giá trị của người lao động qua những hình ảnh mà cậu bé vẽ: Không vẽ vàng bạc, nhà cửa, chỉ vẽ những vật dụng lao động + Khát vọng về công lí, khát vọng về cuộc sống công bằng, cái thiện luôn được giúp đỡ còn cái ác sẽ bị trừng phạt, bị lụi tàn 3. Kết bài Suy nghĩ về ý nghĩa câu chuyện: Câu chuyện gửi tới tất cả những thế hệ sau, ai cũng có những ước mơ, niềm đam mê riêng của mình, hãy theo đuổi đam mê và vượt lên chính mình. II. Bài tham khảo cho đề phân tích ý nghĩa của Cây bút thần Truyện cổ tích Việt Nam luôn mang trong mình nét đẹp của dân tộc, chứa đựng tâm tư tình cảm mà con người gửi gắm vào đó, trong số những câu chuyện rất hay được lưu truyền từ đời này sang đời khác nổi bật lên trong số đó là “Cây bút thần” câu chuyện với nhiều bài học đáng suy ngẫm mà nhân dân muốn gửi gắm cho thế hệ sau. Câu chuyện kể về một cậu bé nghèo, thông minh, có sở thích học vẽ mang tên Mã Lương. Một hôm nằm mơ được ban tặng cây bút thần, với cây bút thần có thể biến những nét vẽ trở thành sự thật cậu bé đã dùng cây bút giúp đỡ những người dân nghèo khó xung quanh, tiếng vang của cây bút và cậu bé cũng từ đây vang xa. Tới tai nhà vua, nhà vua bắt cậu bé về cũng và bắt cậu bé vẽ theo ý mình. Vốn ghét sự áp bức bóc lột cậu bé không những không vẽ theo ý vua mà còn làm trái lại hoàn toàn, cậu vẽ ra những con vật xấu xí, rồi vẽ trận cuồng phong to lớn nhấn chìm thuyền rồng chôn vùi tên vua độc ác. Sau đó cậu bé đi khắp mọi nơi giúp đỡ những người nghèo khó. Qua câu chuyện mà dân gian để lại đã gửi gắm đến người đọc rất nhiều ý nghĩa về tình người, đức tính con người và cách làm người. Trước tiên xét về hình ảnh cụ già râu tóc bạc phơ ban cho cậu bé nghèo, thông minh cây bút thần thể hiện sự ban thưởng xứng đáng đối với những con người thật thà, trung thực, có tài, có đam mê, đầu tư thời gian theo đuổi đam mê của mình, vượt lên sự khó khăn nghèo khó của cuộc sống mà lạc quan yêu đời, không chán nản, không vì sự giàng buộc của cuộc sống mà từ bỏ. Bên cạnh đó còn là khát vọng mà con người gửi vào trong đó, khát vọng công bằng đối với những người lao động nghèo khổ, những người nông dân chân lấm tay bùn, những con người không đề cao vật chất, dùng tình thương để đùm bọc lẫn nhau, hình ảnh cậu bé tuy tài giỏi, thật thà nhưng cậu cần có được sự giúp đỡ để thể hiện tài năng, đức tính của mình, hình ảnh cây bút như một sự giúp đỡ để cậu có thể thực hiện ước mơ, khát vọng đó. Xuyên suốt câu chuyện người đọc chỉ thấy được những việc mà cậu bé giúp đỡ cho người khác, những hình ảnh được vẽ ra không có một chút nào để dành cho chính bản thân cậu cả, chỉ vẽ những vật dụng thông thường mà người lao động cần thiết, không vẽ những ham muốn mà địa chủ, quan vua yêu cầu, một con người không hề có gì trong tay, không gia đình, không tài sản nhưng lại không hề có một chút vụ lợi, luôn lo nghĩ cho những người xung quanh, quên đi bản thân mình, dù còn nhỏ những đã tự tập cho bản thân đức tính trung thực, thật thà, hành động đó thật khiến bất kì ai đọc qua tác phẩm đều thấy khâm phục. Những hành động của cậu bé tuy không đem lại giá trị vật chất nhưng những gì cậu bé làm khiến cậu mãn nguyện, yêu đời và cảm thấy cuộc sống có ích. Tại sao cậu không vẽ ra tiền bạc nhà cửa cho những người nông dân, tại sao không vẽ ra những viễn cảnh an nhàn không làm cũng có ăn, đơn giản bởi vì cậu hiểu giá trị của lao động, hiểu giá trị của những người nông dân, sản phẩm tạo ra từ chính bản tay lao động là đáng quý và đáng chân trọng hơn bao giờ hết. Cuối cùng truyện cổ tích là thể hiện khát vọng của con người, khát vọng về công lí, cái thiện luôn chiến thắng cái ác trong bất cứ hoàn cảnh nào, khát vọng về cuộc sống công bằng với tất cả mọi người trong cuộc sống, cái thiện luôn được giúp đỡ còn cái ác sẽ bị trừng phạt, bị lụi tàn. Qua câu chuyện cổ tích này dân gian gửi gắm thông điệp tới tất cả những thế hệ sau, ai cũng có những ước mơ, niềm đam mê riêng của mình, “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” hãy biết cách tìm kiếm niềm vui trong cuộc sống, theo đuổi đam mê và vượt lên chính bản thân mình.
Phân tích ý nghĩa của truyện cổ tích Cây bút thần – Văn mẫu lớp 6 tuyển chọn
1,251
Phân tích ý nghĩa của tấm ảnh được chọn trong bộ lịch năm ấy trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Hướng dẫn Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về cuocj sống chân thật năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ ấy bước ra từ bức tranh. Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh. Đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất chắc chắn, hoà lẫn trong đám đông… Chất thơ, vẽ đẹp lãng mạn của cuộc đời, cũng là biểu tượng của nghệ thuật hiện hình trên nền giấy lung linh ánh sáng. Nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy “người đàn bà với dáng vẽ thô kệch xấu xí, gương mặt tái nhợt và mệt mỏi dường như buồn ngủ- đang bước ra khỏi tấm ảnh”… rồi hòa vào dòng người. Hình ảnh ấy là hiện thân của những lam lũ, khốn khó, là sự thật cuộc đời. Tấm ảnh là biểu tượng của nghệ thuật chân chính. Nghệ thuật chân chính không thể tách rời cuộc sống. Nghệ thuật chính là cuộc đời và phải vì cuộc đời. Như nhà văn Vũ trọng phụng đã từng phát biểu khi đáp lại quan điểm của nhóm lãng mạn: nghệ thuật phải là sự thật ở đời.
Phân tích ý nghĩa của tấm ảnh được chọn trong bộ lịch năm ấy trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
386
Phân tích ý nghĩa giáo dục của truyện Con Rồng cháu Tiên bài thi học sinh giỏi Hướng dẫn Truyền thuyết là một trong những thể loại quen thuộc của văn học dân gian, qua những truyền thuyết tác giả dân gian không chỉ thể hiện sự sáng tạo tập thể mà còn gửi gắm những bài học vô cùng sâu sắc. Bằng những hiểu biết của mình sau khi học xong truyện Con rồng cháu tiên, em hãy phân tích ý nghĩa giáo dục của truyện Con Rồng cháu Tiên. Dưới đây là dàn ý và bài văn mẫu phân tích ý nghĩa giáo dục của truyện Con rồng cháu Tiên, các bạn hãy cùng theo dõi để có thêm những kiến thức bổ ích nhé! I. Dàn ý cho đề bài phân tích ý nghĩa giáo dục của truyện Con rồng cháu Tiên 1. Mở bài cho đề phân tích ý nghĩa giáo dục của truyện Con rồng cháu Tiên Giới thiệu chung về truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” và ý nghĩa giáo dục của truyền thuyết này: giáo dục con người về niềm tự hào về cội nguồn dân tộc, lòng biết ơn đối với những người có công dựng nước buổi ban sơ và để lại bài học về tinh thần đại đoàn kết dân tộc. 2. Thân bài cho đề phân tích ý nghĩa giáo dục của truyện Con rồng cháu Tiên Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” thể hiện về sự tự ý thức và niềm tự hào về nguồn gốc giống nòi – Nguồn gốc và hình dạng kì vĩ, cao quý của Lạc Long Quân và Âu Cơ. – Sự hòa hợp giữa hai vị thần là biểu trưng cho sự hài hòa giữa núi non và sông biển. – Tác giả dân gian sử dụng chi tiết tưởng tượng kì ảo để thể hiện niềm tự hào sâu sắc đối với cội nguồn dân tộc. Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” để lại bài học về lòng biết ơn đối với các vị vua Hùng đã có công dựng nước – Người con trai cả lên núi cùng mẹ Âu Cơ được lên ngôi vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. – Các đời vua liên tiếp cai quản đất nước, cho thấy sự biết ơn của nhân dân đối với các vị vua đã có công dựng nước và giữ nước. Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” thể hiện bài học về tinh thần đoàn kết tốt đẹp của dân tộc ta – Mỗi một con người thuộc dòng giống Rồng Tiên đều phải khắc khi cội nguồn từ “cái bọc trăm trứng”. – Dù có sự phân chia năm mươi người con xuống biển, năm mươi người con lên núi nhưng phải luôn giữ vững lời hẹn khi có việc cần sẽ giúp đỡ nhau. 3. Kết bài cho đề phân tích ý nghĩa giáo dục của truyện Con rồng cháu Tiên Khẳng định lại giá trị giáo dục của truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”
Phân tích ý nghĩa giáo dục của truyện Con Rồng cháu Tiên bài thi học sinh giỏi
494
Phân tích ý nghĩa hình tượng người cách mạng Hạ Du trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa hình tượng người cách mạng Hạ Du trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Bài làm Mặc dù chỉ được miêu tả gián tiếp qua suy tư của nhân vật khác, nhưng hình ảnh Hạ Du có một vị trí đặc biệt, là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Đó là hình tượng người cách mạng giác ngộ sớm; có lí tưởng cách mạng rõ ràng: lật đổ ngai vàng, đánh đuổi ngoại tộc, dành độc lập. Hạ Du là một người dũng cảm hiên ngang, dám tuyên truyền lí tưởng cách mạng với cả người cai ngục trong những ngày chờ lên đoạn đầu đài. Trong một thiên hồi kí ở tập Nhặt cánh hoa tàn, Lỗ Tấn nói: viết Hạ Du là để kỉ niệm Thu Cận, một nữ chiến sĩ cách mạng của Quang phục hợi (tiền thân của Quốc dân đảng do Tôn Trung Sơn đứng đầu, sau này lãnh đạo cách mạng Tân Hợi), từng du học Nhật, khai sáng tờ Trung Quốc nữ báo tuyên truyền giải phóng phụ nữ và lên đoạn đầu đài lúc 36 tuổi. Trong truyện, nhà văn tỏ ý trân trọng, kính phục nhân cách của người cách mạng Hạ Du nhưng cũng ngầm phê phán Hạ Du xa rời quần chúng, xa rời đến mức mẹ Hạ Du cũng không hiểu, chú Hạ Du thì coi cháu mình là “làm giặc” và đi tố giác; người dân lấy máu Hạ Du để chữa bệnh… Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích ý nghĩa hình tượng người cách mạng Hạ Du trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
269
Phân tích ý nghĩa khuynh hướng sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa khuynh hướng sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành 5 (100%) 1 đánh giá Bài làm Nguyễn Trung Thành là nhà văn có thời gian gắn bó lâu dài với vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ. Ông giống như một người con nơi đây, thấu hiểu được những gian nan, vất vả của con người cũng như vẻ đẹp thiên nhiên hoang dại của núi rừng. Một trong những tác phẩm thành công nhất của ông viết về vùng đất Tây Nguyên đó chính là “ Rừng xà nu ”. Truyện ngắn mang đậm chất sử thi đã miêu tả được vẻ đẹp của xà nu cũng như tinh thần anh dũng, quả cảm, bất khuất của người dân nơi đây thời kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Trước tiên ta hiểu sử thi nó giống như một loại văn tự sự nhưng mang vẻ hoành tráng, oai hùng, ca ngợi những con người dũng cảm chiến đấu, đại diện cho cả một cộng đồng, một dân tộc. Ở tác phẩm “ Rừng xà nu” khuynh hướng sử thi được thể hiện ở rất nhiều khía cạnh, từ cách xây dựng tình huống truyện, miêu tả tính cách nhân vật cho đến giọng điệu, nghệ thuật dùng trong tác phẩm. Thứ nhất, khuynh hướng sử thi thể hiện ở đề tài, cốt truyện cũng như cách dùng từ của tác giả. Truyện ngắn xoay quanh cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân làng Xô Man và người dân Tây Nguyên. Nhưng khác với các tác phẩm khác viết về chiến tranh, Nguyễn Trung Thành đã lựa chọn cách dẫn dắt cốt truyện qua lời kể của một già làng. Mọi người cùng quây quần ngồi bên bếp lửa nhà ưng, chăm chú nghe kể truyện, không khí thật trang trọng và thiêng liêng. Tác giả cũng lựa chọn những ngôn ngữ, hình ảnh bình dị với người dân Tây Nguyên mang đậm chất sử thi để kể truyện “Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe”. Những truyền thống tốt đẹp được dân làng truyền từ đời này qua đời khác qua lời kể của các già làng như lời nhắc nhở thế hệ đi sau phải luôn tiếp bước thế hệ anh cha đi trước. Tuy bị tàn phá nặng nề nhưng rừng xà nu vẫn đứng đó hiên ngang và bất khuất giống như những người dân vùng Tây Nguyên không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù. Trong cả một khu rừng xà nu rộng lớn, trùng trùng điệp điệp, cứ mỗi một cây bị đốn ngã thì lại có mần non mới mọc lên, nối tiếp nhau không bao giờ ngừng. Vẻ đẹp của cây Xà Nu còn được thể hiện ở chỗ nó loài cây ưa ánh sáng, luôn luôn vươn lên phía trước để sinh tồn. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, vô số những hạt bụi vàng bay ra từ nhựa cây thơm mỡ màng. Có thể nói, xà nu chính là hình ảnh ẩn dụ cho tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất cũng như niềm tin, niềm khao khát vào chiến thắng của cuộc chiến. tích ý nghĩa khuynh hướng sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Cuối cùng, ta có thể thấy khuynh hướng sử thi được thể hiện qua hình tượng con người. Cả ngôi làng Xô Man có biết bao nhiêu con người đã, đang và sẽ làm cách mạng. Có những người bị giặc bắt, giặc giết hay đã trôn mình trong bão đạn nhưng họ không bao giờ biết run sợ, chùn bước. Khi thế hệ này ngã xuống thì lại có những thế hệ mới mọc lên giống như những cây xà nu. Bà Nhan, anh Xút là những con người đi đầu trong việc làm cách mạng ở ngôi làng, họ bị giặc bắt, hành hạ một cách tàn ác, và cuối cùng là giết chết nhưng cũng không thể làm nhụt ý chí chiến đầu của dân làng. Mẹ con Mai, Tnú rồi cả những bé Heng, bé Dít đang lớn, họ sẽ tiếp tục con đường mà thế hệ trước đang đi, mục đích cuối cùng là đánh đuổi kẻ thù, mamg lại tự do cho ngôi làng. Bằng tình yêu sâu nặng với vùng đất Tây Nguyên và bút pháp nghệ thuật lãng mạn, Nguyễn Trung Thành đã viết lên một tác phẩm tuyệt vời về con người và thiên nhiên nơi đây. “ Rừng xà nu” là một đóng góp to lớn vào nền văn học mang đậm chất sử thi của nước nhà trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ ác liệt. khunh hướng sử thi trong rừng xà nu
Phân tích ý nghĩa khuynh hướng sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
850
Phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu Bài làm Tên khai sinh đầu tiên của truyện Nguyễn Minh Châu là Mảnh trăng. Khi in lại trong tập Những vừng trời khác nhau, tác giả thêm hai chữ cuối rừng. Sự thêm thắt đó lại mang đến một cái tên ưng ý nhất, mang nhiều ý nghĩa. Nếu như “vầng trăng” gợi nên sự tròn đầy, viên mãn của trăng giữa tháng thì mảnh trăng gợi hình ảnh trăng đầu tháng mảnh mai, e ấp, tinh khôi. Hai chữ mảnh trăng gợi nên một hình ảnh đẹp, thơ mộng trong tác phẩm. Đây là hình ảnh được Nguyễn Minh Châu thể hiện rất thành công trong tác phẩm. Sóng đôi cùng hình tượng mảnh trăng trong thiên truyện là hình ảnh Nguyệt. Trong tác phẩm, Nguyệt và trăng luôn soi chiếu, làm rạng ngời thêm vẻ đẹp của nhau. Mảnh trăng cuối rừng là ẩn dụ về nhân vật chính của truyện – một cô gái xinh đẹp, mảnh dẻ. Nguyệt là tên cô gái nhưng cũng là trăng. Với ý nghĩa đó, nhan đề tác phẩm thể hiện cảm hứng lãng mạn và bút pháp lí tưởng hóa của Nguyễn Minh Châu. Mảnh trăng cuối rừng là một nhan đề hay, giàu chất thơ, gợi mở chủ đề của tác phẩm. Mảnh trăng phù hợp với tình yêu vừa nhen nhóm, hứa hẹn ngày mai sẽ tròn đầy của đôi trai gái. Nó cùng phù hợp với cuộc gặp gỡ tình cờ, ngẫu nhiên trong truyện. Cuộc hẹn hò có vẻ đẹp của một mảnh trăng đầu tháng, họ tìm nhau, gặp nhau mà hóa ra chưa gặp. Hai chữ cuối rừng gợi không gian khuất lấp, thu hút sự tìm kiếm. Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu
316
Phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Hướng dẫn Phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Bài làm Chữ Thuốc ở đây không phải là thuốc tây, hay nam, bắc của Y học mà là chữ thuốc hiểu theo nghĩa bóng, để chữa cán bệnh tinh thần cho người dân Trung Quốc đương thời. Lúc bấy giờ, khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, Trung Quốc bị các đế quốc Nga, Pháp, Đức, Nhật xâu xé, xã hội Trung Hoa biến thành nửa phong kiến, nửa thuộc địa, nhưng nhân dân lại an phận cam chịu nhục nhã. Lỗ Tấn đã viết “Người Trung Quốc ngủ mê trong một cái nhà hộp bằng sắt, không có cửa sổ”. Đó là căn bệnh đớn hèn, tự thỏa mãn, cản trở nghiêm trọng con đường giải phóng dân tộc. Tôn Trung Sơn cũng coi Trung Quốc lúc bấy giờ “là một con bệnh trầm trọng”. Do đó, rất cần một phương thuốc chữa trị. Và, vì thế, nhà văn đặt tên cho tác phẩm của mình là Thuốc. Tên truyện ít nhất có ba ý nghĩa: Thứ nhất là thuốc chữa bệnh lao của những người dân u mê, lạc hậu (lấy máu người để chữa bệnh lao!), hậu quả là con bệnh chết oan uổng, cần phải chữa căn bệnh u mê, lạc hậu này. Thứ hai là thuốc chữa căn bệnh gia trưởng phong kiến của người dân Trung Quốc, trên bài tạp văn Ngày nay chúng ta làm cha như thế nào? Lỗ Tấn đã yêu cầu các thế hệ trước phải biết tôn trọng các thế hệ sau, giải phóng tư tưởng cho thế hệ sau. Trong tác phẩm Thuốc, nhà văn đã đặt dấu hỏi về phương thuốc mà bố mẹ thằng Thuyên trị bệnh cho nó, mà ông Ba vì cuồng tín đã bán đứng thằng cháu làm cách mạng, mà lão cả Khang giết hại Hạ Du, đó không phải là thuốc chữa bệnh mà là thuốc độc. Vậy thì cái gọi là thuốc phải là sự giác ngộ ra rằng đó là thuốc độc và phải đi tìm một thứ thuốc khác. Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
367
Phân tích Ý nghĩa nhan đề đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền – Huygo Hướng dẫn Phân tích Ý nghĩa nhan đề đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền – Huygo Người cầm quyền khôi phục uy quyền được trích trong tiểu thuyết nổi tiếng “ Những người khốn khổ” của Victor Hugo. Có lẽ điều đầu tiên chưa xét tới nội dung thì nhan đề của tác phẩm cũng gợi ra cho người đọc nhiều suy nghĩ và câu hỏi. Người cầm quyền là ai? Tại sao lại người cầm quyền khôi phục uy quyền? Trong đoạn trích này thì chúng ta, bản thân những người độc giả có thể nghĩ rằng giăng văn giăng là người cầm quyền và cuối cùng ông cũng khôi phục được uy quyền của mình. Giăng Van Giăng với thị trưởng Man đơ len, ông nắm trong tay rất nhiều quyền hành. Gia ve thì cao hơn thế nhưng khi tên mật thám ấy phát hiện ông là một người tù khổ sai mạo danh của thị trưởng thì Giang văn giăng lại trở thành một cấp dưới thuộc quyền của Gia ve. Chính khi biết đưuọc sự thật đó thì Giăng văn giăng đã không còn quyền hành gì cả. Phăng tin nguy kịch giăng văn giăng đã mất hết quyền mong rằng có thể giúp con người khốn khổ kia nên là hành động cầm thanh sắt và nói nhỏ vào tai Gia ve như muốn xin hắn để cho bà Phăng tin ra đi thanh thản. Tuy nhiên uy quyền ấy cũng chỉ được có trong chốc lát giăng văn giăng lại mất quyền, và lần này là mất thật sự. Gia Ve cũng đại diện cho quyền lực, cũng mất quyền và khôi phục quyền của mình. Biết Giăng van giăng giống như người tù khổ sai giăng văn giăng nhưng hắn vẫn phải dè chừng. biết giăng van giăng từng là một người tù khổ sai hắn không phục tùng lễ phép nữa hắn xông đến bệnh viện như một con thú dữ, khiến cho Phăng tin khốn khổ chết đi. Thế nhưng Gia Ve ân hận hay cảm thấy tội lỗi mà sắc lạnh vói cái ánh mắt như móc câu. Miêu tả về giăng văn giăng nhà văn dùng những câu văn, những tù ngữ rất hay rất đẹp. Đây là một người giàu tình thương và giàu lòng nhân ái, thích giúp đỡ mọi người còn khi nhắc đến Gia ve thì tác giả lại luôn luôn miêu tả hắn giống như một con thú dữ như muốn ăn tươi nuốt sống con mồi. Hai người đều là những con người đại diện cho con người nắm uy quyền trong tay nhưng mỗi người lại có một tính cách dã tâm khác nhau. Một người thì tận tụy với những con người khốn khổ tội nghiệp còn một kẻ thì laij vô cùng mưu mô. Qua nhan đề chúng ta còn thấy một ý nghĩa sâu xa khác mà chúng ta phải suy nghĩ: cái thiện và cái ác và cái thiện đang đối đầu với cái ác. Dù biết tước đi mọi quyền hành nhưng giăng van giăng vẫn có một trái trái tim tràn đầy niềm yêu thương của con người và cái thiện trong anh chính là cái khôi phục quyền lực chống lại các thế lực thù ác. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích Ý nghĩa nhan đề đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền – Huygo
566
Đề bài: Phân tích ý nghĩa tiếng khóc của lão Hạc khi phải bán con chó Vàng. Bài làm Tình cảm của lão Hạc trong tác phẩm thật đáng thương. Lão tuổi cao sức yếu. Vợ lão qua đời từ lâu còn đứa con trai thì vì không đủ tiền cưới vợ mà phẫn chí bỏ đi làm công nhân đồn điền cao su, biền biệt nhiều năm không có tin tức gì. Rồi bão “phá sạch sành sanh” hoa màu, làng lại mất “vé sợi” khiến công to việc nhỏ gì người ta “tranh nhau làm mất cả”. Lão lại còn bị một trận ốm “đúng hai tháng mười tám ngày”, số tiền lão dành dụm được phải tiêu vào các khoản thuôc men ăn uống. Mọi phương thức kiếm sống của lão không còn. Đứng trước bài toán ấy, lão đành đứt ruột bán con chó mà lão vẫn gọi một cách trìu mến là “cậu Vàng”. Con chó ấy là do con trai lão mua để khi cưới vợ thì giết thịt. Đối với lão, con chó là kỉ niệm của con, là của con. Con chó ấy còn là bạn, là người bảo vệ lão trong hoàn cảnh già nua, ốm yếu, cô đơn, trơ trọi. Đây là một quyết định cực kì hệ trọng đối với lão bởi con chó là kỉ vật của con, nằm trong dự tính cuộc đời của con, lại là bạn thân thiết của lão, nhưng nếu không bán, lão cũng chẳng biết lấy gì nuôi nó cũng như đề tự nuôi sống mình. Lão đành phải bán. Nỗi đau của lão Hạc là nỗi đau về nhân cách, khi cuộc sống dồn đẩy con người vào bước đường cùng, khi một con người tình nghĩa thủy chung phải dứt bỏ mối quan hệ thân tình của nó, cho dù đó chỉ là quan hệ với một con vật. Con trai đòi bán vườn để cưới vợ, lão không cho, mặc dù vườn ấy là “mẹ nó mua, nó có quyền hưởng”, lão đã ân hận lắm, mặc dù quyết định của lão là sáng suốt. Lão giữ được vườn cho con nhưng không thể giữ được con chó cho con. Lão bán con chó ấy không phải để thêm tiền ăn tiêu mà để góp lại cho con sau này, bởi nếu con chó không có ăn, nó gầy, bán sẽ được ít tiền hơn, còn để nuôi nó thêm nữa thì lão không thể làm được. trách cứ mình về điều ăn điều ở, nhưng không có điều kiện để kéo dài cuộc đời thêm nữa. Lão Hạc hiện ra với vẻ đẹp của con người tình nghĩa thủy chung, có tấm lòng nhân hậu, luôn sống và biết sống cho người khác và vì người khác.
Phân tích ý nghĩa tiếng khóc của lão Hạc khi phải bán con chó Vàng
465
Phân tích ý nghĩa truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng thủy Hướng dẫn Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng thủy Mở bài: Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy là câu chuyện được lưu truyền rộng rãi trong lòng dân tộc ta từ xưa đến nay. Qua câu chuyện giữ nước của An Dương Vương, câu chuyện để lại cho hậu thế nhiều bài học sâu sắc giữa tình thân và đất nước, giữa bạn và thù cùng ý thức cảnh giác trước âm mưu xâm lược của kẻ thù. Thân bài: Lịch sử của dân tộc ta là lịch sử dựng nước và giữ nước. Lịch sử ấy không những được lưu giữ cẩn thận trong nhân gian mà còn trở thành nơi để gửi gắm tâm tư tình cảm, lẽ sống ở đời của nhân dân. Lấy cảm hứng từ sự kiện lịch sử, Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy đã được dân gian hóa rất nhiều. Cốt lõi lịch sử chỉ còn là cái bóng để làm câu chuyện thêm chân thực và hấp dẫn. Chuyện kể về lịch sử của nước ta thời An Dương Vương. An Dương Vương lên ngôi vua, xây thành Cổ Loa để bảo vệ đất nước, nhưng thành cứ xây xong lại đổ. Rùa vàng hiện lên giúp vua trừ yêu quái. Thành xây xong,Rùa Vàng lại giúp vua làm nỏ thần để chống giặc. Triệu Đà nhiều lần tấn công thành thất bại, bèn nghĩ kế cầu hoà, cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dỗ Mỵ Châu cho xem bí mật nỏ thần rồi lén làm chiến nỏ giả đem đánh tráo. Trọng Thuỷ về nước, chia tay Mỵ Châu. Mỵ Châu hẹn lấy lông ngỗng làm dấu để tìm nhau. Triệu Đà lấy được nỏ thần, ra lệnh tấn công. An Dương Vương thua, cùng Mỵ Châu chạy trốn. Đến cùng đường, biết Mỵ Châu là thủ phạm bèn chém chết Mỵ Châu rồi cùng Rùa Vàng rẽ nước xuống biển. Trọng Thủy đuổi theo đến bờ biển, ôm xác Mỵ Châu về táng tại Loa Thành, rồi vì nhớ thương nàng mà nhảy xuống giếng tự vẫn. Trai biển đông ăn được máu của Mỵ Châu nên hoá ngọc. Đời sau đem ngọc trai biển đông rửa vào nước giếng Trọng Thuỷ thì ngọc sáng hơn. Tuy là một nhân vật lịch sử, nhưng ở trong truyện này, An Dương Vương được xây dựng khá toàn diện, mang đậm dấu ấn văn học. Gắn với di tích còn để lại cho đến ngày nay và sự kiện lịch sử xây dựng thành cổ loa, có thể thấy đây chưa hẳn là một câu chuyện cổ do trí tưởng tượng phong phú của con người dệt thành. Giá trị lịch sử của câu chuyện thể hiện ở việc An Dương Vương là người xây thành Cổ Loa. Việc xây thành Cổ Loa vô cùng gian nan. Do Kê Tinh quấy phá, thành xây đến đâu sập đổ đến đó, tiêu tốn không biết bao nhiêu công sức của nhân dân. Chính An Dương Vương là người hóa giải được tai họa đó. Nhờ có rừa thần mách bảo, Kê Tinh bị tiêu diệt, thành được xây xong. Rùa thần lại còn ban cho móng thần làm nỏ thân bách phá bách trúng. nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đã chiến thắng quân Triệu Đà, giữ vững giang sơn. Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương, Âu Lạc vô cùng vững mạnh, khiến cho kẻ thù khiếp sợ. Việc xây thành Cổ Loa của An Dương Vương có sự giúp đỡ của thần linh là một sáng tạo của trí tưởng tượng phong phú của nhân dân. Do yêu tinh quấy phá mà thành xây mãi vẫn chưa xong. Nhà vua lập đàn khấn vái bách thần, trai giới cầu an. Nhờ cụ già mách bảo lại thêm sứ Thanh Giang giúp sức. Chỉ trong nửa tháng, thành đã xây xong. Việc xây thành nhanh đến thế chỉ có thần linh mới làm được. Thần linh giúp An Dương Vương bởi vì đã có ý thức đề cao cảnh giác khi giặc chưa đến mà lo phòng bị. Điều đó khẳng định hành động của An Dương Vương là chính nghĩa hợp ý trời và được lòng dân. Đồng thời nở thần là sự kì ảo hóa bí mật vũ khí tinh xảo của người Việt xưa. Hình ảnh thần linh và sức mạnh thần kì chính là ước mơ của nhân dân về một sức mạnh tương trợ để giữ nước trong buổi đầu sơ khai của lịch sử. Tiếp sau công cuộc xây thành là công cuộc giữ nước trước sự xâm lược của kẻ thù. Do mắc phải nhiều sai lầm nên An Dương Vương không mãi đứng trên đỉnh vinh quang của chiến thắng mà đã gặp phải những thất bại cay đắng. Nỏ thần rất linh nghiệm, song bao giờ cũng vậy, thắng lợi mà dựa vào vũ khí, con người sinh ra chủ quan. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến mất cảnh giác, dẫn đến hậu quả khôn lường. Triệu Đà là kẻ tham lam và đầy mưu mô nhìn thấy đất nước Âu Lạc trù phú, hắn muốn cướp lấy. Lần thứ nhất xuất quân vội vã, Triệu Đà chuốc lấy thất bại nặng nề nhưng vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược. Hắn sai con là Trọng Thủy sang cầu hòa và ngỏ ý muốn kết duyên cùng Mị Châu, con gái An Dương Vương. Không lường hết được âm mưu thâm hiểm của kẻ thù, An Dương Vương đã gả Mị Châu cho Trọng Thủy. Sau cuộc hôn nhân, Trọng Thủy với vị trí là phò mã được đi lại tự do và thực hiện mưu đồ tìm hiểu về vũ khí bí mật quốc gia. Cậy có nỏ thần, khi Triệu Đà kéo quân sang trước cổng thàng, An Dương Vương còn chủ quan khinh địch: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Nói rồi vẫn ung dung ngồi đánh cờ. Hành động điềm nhiên chơi cờ và cười “Đà không sợ nỏ thần sao?” cho thấy An Dương Vương quá tự tin, tự đắc, dựa dẫm hết vào sức mạnh của vũ khí thân kì. Sự chủ quan và mất cảnh giác đó là nguyên nhân dẫn đến nước mất, nhà tan. Cho đến khi quân giặc đã áp cổng thành, An Dương Vương vẫn điềm tĩnh. Có ngờ đâu, nỏ thần đã không còn, thành bị phá trong tích tắt, An Dương Vương phải vội lên ngựa chạy thoát thân. An Dương Vương chỉ thực sự thức tỉnh khi nghe tiếng thét của Rùa Vàng. Sự thức tỉnh của An Dương Vương tuy muôn màng nhưng rất cần thiết để cứu vãn tình thế. Chi tiết nhà vua tự tay chém chết con gái yêu quí nhất của mình là hành động vì nghĩa diệt thân, đặt lợi ích quốc gia lên trên tình nhà. Qua đó, nhân dân gửi gắm tấm lòng kính trọng đối với thái độ dũng cảm của vị vua, hành động quyết liệt, dứt khoát đứng về phía công lí và quyền lợi của dân tộc, cũng là sự thức tỉnh muộn màng của nhà vua, sự phê phán thái độ mất cảnh giác của Mị Châu. Hình ảnh Rùa Vàng là lời giải thích lí do mất nước nhằm xoa dịu nỗi đau mất của nhân dân ta. Chi tiết cũng thể hiện tấm lòng vị tha cao cả của nhân dân đối với những lỗi lầm của lịch sử. Thức tỉnh, An Dương Vương đã tự tay chém đầu con gái. Đó là hành động quyết liệt, dứt khoát đứng về phía công lí và quyền lợi của dân tộc, cũng là sự thức tỉnh muộn màng của nhà vua. Chi tiết mang tính bi kịch sâu sắc. Sau cùng, An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc rồi theo gót Rùa vàng xuống biển. Nhân dân đã huyền thoại hoá, bất tử hoá người anh hùng, mong muốn người anh hùng bất tử để tiếp tục giữ gìn ý chí đấu tranh lấy lại đất nước của nhân dân. Motip huyền thoại hóa, bất tử nhân vật anh hùng thể hiện chiều sâu triết lí của nhân dân. Nếu Thánh Gióng sau khi chiến thắng giặc Ân, đã một mình phi ngựa lên núi Sóc, cởi áo giáp sắt để lại rồi từ từ bay về trời. Ý nghĩa câu chuyện chỉ khi ngẩng mặt lên cao vời mới nhìn thấy rõ hết được công đức của bạc thánh quân. Đó là một kết thúc rực rỡ, hoành tráng vì nhân vật không mắc phải sai lầm hay thất bại nào. Còn ở An Dương Vương lại khác. Ông cầm sừng tê, cùng Rùa Vàng rẽ nước đi xuống thủy cung. Ông là sai lầm và thất bại, là nỗi nhực nhã của quốc gia nếu chỉ nhìn đơn giản. Phải cúi đầu nhìn xuống thăm thẳm sâu mới có thể thấy hết tấm lòng của nhà vua đối với nhân dân, đối với với đất nước. Nhà vua đã tận tuyệt tình riêng để giương công lí. Bên cạnh nhân vật An Dương Vương, mối tình Mị Châu và Trọng Thủy cũng chứa đựng nhiều uẩn khúc khó giải bày. Cuộc hôn nhân giữa Mị Châu và Trọng Thủy mang tính chính trị sâu sắc. Nhân vật Mị Châu vừa đáng thương, lại vừa vừa đáng trách. Đáng thương là bởi nàng chỉ là một vật lợi dụng của cha conTriệu Đà. Ở mặt này, nàng hoàn toàn vô tội. Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần chỉ thuận theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ với đất nước. Vì:Nỏ thần thuộc về tài sản quốc gia, là bí mật quân sự. Vì thế, Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần là việc vi phạm nguyên tắc của bề tôi đối với nhà vua và đất nước, biến nàng thành giặc, đáng bị trừng phạt. Khi cùng cha chạy trốn lại còn rắc lông ngỗng chỉ đường cho Trọng Thủy, chỉ đường cho giặc đuổi theo truy sát. Nàng bị Rùa Vàng kết tội là giặc, là kẻ phản quốc. Sau đó còn bị chính cha của mình giết chết. Trong các nhân vật, Mị Châu là người phải gánh chịu nhiều oan khuất nhất. Tình yêu, tình cảm vợ chồng (trái tim) không thể đặt lầm chỗ lên trên lí trí, nghĩa vụ với đất nước (đầu). Mất nước dẫn đến nhà tan nên không thể đặt lợi ích cá nhân lên lợi ích cộng đồng. Nàng đa gián tiếp tiếp tay cho kẻ thù nên bị trừng phạt nghiêm khắc. Kẻ gây ra bi kịch thảm khốc đối với Mị Châu không ai khác chính là Trọng Thủy, chòng của nàng. Trọng Thủy đến với Mị Châu với một âm mưu chính trị thâm hiểm, đê tiện: lợi dụng mối tình để tìm hiểu và chiếm đoạt bí mật quốc gia. Hắn lừa Mị Châu cho xem nỏ thần rồi lén lút đánh tráo nỏ thần mang về nước. Chính trọng Thủy cũng là kẻ cầm quân tấn công nước Âu Lạc và đuổi theo cha con An Dương Vương. trọng Thủy tuy hoàn thành nghĩa vụ với quốc gia nhưng bỏ quên tình cảm vợ chồng. Qua câu chuyện, ta thấy rõ, Mị Châu là người con gái nhẹ dạ, cả tin, yêu chồng sâu sắc, đặt tình cảm cá nhân lên trên vận mệnh với đất nước. Nàng vừa đáng giận vừa đáng thương. Trọng Thủy vừa là kẻ thù, vừa là nạn nhân của của chiến tranh xâm lược phi nghĩa. Hành động của Trọng Thủy cũng chỉ là sự nghe lời vua cha mà đánh mất đi hạnh phúc của chính mình mà thôi. Chỉ có Trọng thủy mới minh oan được cho Mị Châu. Nhân dân trong khi “phê phán Mị Châu bằng bản án tử hình” vì những lỗi lầm gây tổn hại cho đất nước một cách đích đáng. Nhân dân lại cũng thấu hiểu rằng Mị Châu mắc tội không do chủ ý mà chỉ do vô tình, ngây thơ, nhẹ dạ. Bởi thế họ đã cho lời khấn của nàng linh ứng. Hắn bạc tình phụ nghĩa, hành vi bất chính, hèn hạ. Thế nên phải nhận lấy một kết cục đau đớn. Trọng Thủy mất vợ, mất tình yêu, phải sống trong day dứt, ăn năn. mất trí, Trọng Thủy lao đầu xuống giếng tự tử để đền tội. Không những thế, hắn còn bị lên án là kẻ gián điệp, phản bội. Thế nhưng, nhân dân cũng đã có một cái nhìn bao dung, độ lượng đối với Trọng Thủy. Với Trọng Thủy, nước giếng thể hiện nỗi ân hận vô hạn và chứng nhận muốn giải tội của Trọng Thuỷ. Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” là một sánh tạo đọc đáo của nhân dân. Hình ảnh ngọc trai phù hợp với lời ước nguyện của Mị Châu. Ngọc trai chứng minh cho tấm lòng trong sáng của nàng. Hình ảnh ngọc trai – giếng nước chính là sự hóa giải oan tình của Mỵ Châu. Chi tiết ngọc trai đem rửa nước giếng lại càng sáng đẹp hơn cho thấy Trọng Thuỷ đã tìm được sự hoá giải của Mị Châu ở thế giới bên kia. Với hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” này, nhân dân ta đã có sự phán xét thấu lí đạt tình, vừa nghiêm khắc vừa nhân ái đối với con người lầm lỗi. Nhân dân với tấm lòng bao dung, vị tha luôn rộng lòng tha thứ cho những người vô tình phạm tội như Mị Châu hay những kẻ biết ăn năn hối hận như Trọng Thuỷ. Câu chuyện An Dương Vương và Mị Châu-trọng Thủy để lại nhiều bài học lịch sử sâu sắc. Nó nhắc nhở vè trách nhiệm của người lãnh đạo, người đứng đầu quốc gia phải có ý thức cảnh giác đối với kẻ thù, có tầm nhìn xa rộng, quyết sách đúng đắn đối với vận mệnh của dân tộc. Trong quan hệ tình cảm, phải có cách giải quyết mối quan hệ riêng – chung đúng mực, có sự phân biệt rạch ròi giữa tình nhà và nợ nước. Nước Âu Lạc có thành cao, hào sâu, vũ khí đủ mạnh để chiến thắng cuộc xâm lược của Triệu Đà nhưng về sau đã bị rơi vào tay kẻ thù. An Dương Vương xây thành, chế nở để bảo vệ đất nước nhưng lại đã để mất nước. Rùa vàng, thần Kim Quy, nỏ thần, ngọc trai – giếng nước, sự hoá thân của Mị Châu là những hư cấu nghệ thuật được dân gian tưởng tượng ra nhằm làm cho câu chuyện li kì, hấp dẫn và tăng thêm mối quan hệ với cốt lõi lịch sử. Tác phẩm có sự hoà quyện giữa yếu tố lịch sử- yếu tố thần kì. Kết hợp bi- hùng, xây dựng được những hình ảnh giàu chất tư tưởng- thẩm mĩ, có sống lâu bền. Thời gian nghệ thuật xuất phát từ một sự kiện lịch sử có thật. Không những thế, nó còn gắn với các di tích vật chất, di tích lịch sử, lễ hội còn tồn tại cho đến ngày nay. Bởi thế, ý nghĩa lịch sử và sức sống của câu chuyện mãi còn với thời gian dân tộc. Kết bài: Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu là một cách giải thích nguyên nhân việc mất nước Âu Lạc. Nó còn đem lại những bài học quý: bài học về tinh thần cảnh giác với kẻ thù; cách xử lí đứng đắn mối quan hệ giữa cái riêng- cái chung, giữa nhà- nước, giữa cá nhân- cộng đồng, giữa tình cảm- lí trí.
Phân tích ý nghĩa truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng thủy
2,654
Phân tích ý nghĩa truyện ngắn cố hương của Lỗ Tấn Hướng dẫn CỐ HƯƠNG – Lỗ Tấn Đọc hiểu chú thích: Tác giả: Lỗ Tấn, nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc. Tác phẩm: Truyện ngắn tiêu biểu trích trong tập: Gào thét. Đọc hiểu văn bản: Hình ảnh cố hương: Sự thay đổi về con người và cảnh vật: Cảnh vật: Xưa: đẹp đẽ, thần tiên: bãi cát, bờ biển, vầng trăng kỉ niệm. Nay: thôn xóm tiêu điều, hoang vắng. Con người: Nhuận thổ mạnh mẽ, thông minh, hiểu biết. Thím Hai Dương: người đẹp Tây Thi bao người mê mệt. Nay: Nhuận Thổ: rách rưới, đói nghèo, đần độn, mụ mẫm. Thím Hai Dương: thô lỗ, tham lam, cay độc. Hồi ức, so sánh đối chiếu làm nổi bật sự thay đổi theo hướng tàn tạ, sa sút. Sa sút về tinh thần, kinh tế: Những mặt tiêu cực nằm ngay trong tâm hồn, suy nghĩ của người nông dân. Tình cảnh đói nghèo của nông dân là do trộm cướp, sưu cao thuế nặng, quan lại, mất mùa, đông con. Tố cáo xã hội Trung Quốc về mọi mặt. Đau buồn trước sự tàn tạ của con ngừoi ở quê hương. Suy nghĩ cảm xúc của nhân vật tôi Những ngày ở quê Ngạc nhiên trước sự xuất hiện của thiếm Hai Dương. Điếng ngừoi trước lời chào hỏi của Nhuận Thổ. Xót xa cho gia cảnh nghèo khổ của Nhuận Thổ. Rời xa quê: Ước mơ: thế hệ tiếp theo phải sống một cuộc đời mới, thay đổi. Hình ảnh con người là biểu hiện của niềm tin vào sự đổi thay của xã hội, tìm ra 1 đường đi mới cho xã hội Trung Hoa. Tổng kết: Nghệ thuật: diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế, đặc sắc. Nội dung: qua tác phẩm, tác giả phê phán xã hội phong kiến, lễ giáo phong kiến đồng thời đặt ra vấn đề con đường đi của nông dân và toàn xã hội Trung Hoa.
Phân tích ý nghĩa truyện ngắn cố hương của Lỗ Tấn
307