text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Đề bài: Phân tích ý nghĩa truyện ngắn Tỏa nhị Kiểu của Xuân Diệu
Bài làm
Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu:
Một liền đồng tước khóa xuân hai kiều
Câu thơ ấy. Nguyễn Du đã dịch sát câu thơ Đường của Đỏ Mục:
Đổng tước xuân thăm tỏa nhị kiều
Trong truyện ngắn Tỏa nhị kiều của Xuân Diệu, hai kiều không phải là Đại Kiều, Tiểu Kiều thời Tam quốc, hay Thúy Vân, Thúy Kiều “năm Gia Tỉnh triều Minh", mà là một đòi chị em của một gia đinh người Việt Nam sống vào những năm ba mươi của thế kỉ XX hiện đại.
Trong truyện ngắn của mình, Xuân Diệu đặt tên cho “nhị kiều” bằng tên của hai loài ngọc đẹp: cô Quỳnh và cô Giao. Nhưng hai cô có gì đặc biệt khiến cho một nhà thơ phải đưa làm nhân vật chính của một truyện ngắn?
Trước hết là cái hoàn cảnh mà hai cô đang sống. Xuân Diệu cho biết đó là một gia đình không phải là giàu, tuy trong nhà có đủ cả “sập gụ, tủ chè, câu đối, hoành phi’’, có cả “bộ bàn ghế Vàn Nam chạm chim trái và nạm cẩm thạch". Không giàu nhưng lại không nghèo, cái đáng buồn chính là ở chỗ đó. Sự lấp lửng của hoàn cảnh cũng sẽ tạo nên sự lấp lửng của tính cách và số phận. Ôi, nếu không giàu thì cứ nghèo quách đi, người ta sống theo cách sống của người nghèo, với những lo toan và tranh đấu của người nghèo, chứ sống như thế này, chẳng ra mòn cũng chẳng khoai,thế thì khó sống thật. Nhà văn có ý muốn nói với người đọc như thế. Với cách trình bày như thế, cái gia đình này lại muốn chứng tỏ rằng ta đây cũng vào loại khá giả. Thế mới càng khó chịu hơn, bởi điều này thể hiện một thứ tâm lí khó biểu hiện trưởng gia. Cứ nhìn vào dáng vẻ của ông chủ nhà (tức người cha của hai Cũ sai thi biết. Nhà văn viết: "… mắt ông tròn như hai chấm mực, miệng ồng hơi chau đôi môi gia tới trước như kình với ai. Ông thường ngồi trèo chân trên sập giữa,một lần ông đã cự tôi vì tôi gấp rút vào gác trong không kịp xin phép ông”. Đó la một con người tự cảm thấy mình là người quan trọng, hay ít nhất, muốn làm cho người khác cảm thấy mình là người quan trọng, một cách tự tôn để chạy trốn khỏi mặc cảm tự ti trong chính lòng mình. Xuân Diệu đã nghĩ rất đúng: “Và từ đó tôi càng thương ông lắm”. Thương ông là phải, bởi ông ta thật đáng thương, thật tội nghiệp trước một cuộc đời không có gì để cảm thấy mình có ý nghĩa, không có gì để vươn tới ngoài việc xét nét người ta những chuyện cỏn con.
Sinh ra và sống giữa một cuộc sống như vậy, hai cô kiều của Xuân Diệu thật là hai con người tội nghiệp. Giá như hai cô đừng mang tên hai loài ngọc đẹp nổi tiếng, tượng trưng cho cái đẹp, như Nguyễn Du từng viết:
Một vùng như thể cây quỳnh cành giao
Tên Quỳnh với tên Giao, hai cái tên buộc người ta phải tưởng tượng ra những cô gái đẹp, hai chị em nhà này lại không đẹp. Cô em thì “hơi xinh. Mặt cô tròn”. Cô chị thì giống cha cô, “mà cha cô thì chẳng khôi ngô chút nào”. Nhan sắc thì thế, tính cách hai cô lại giống hệt như nhan sắc của họ. Nói tính cách, thật ra tính cách nổi bật nhất của hai cô là ở chỗ chẳng có tính cách gì cả. Điều gì ở họ cũng nhạt nhòa, cũng nửa vời. Không hiền nhưng cũng chẳng dữ, không khôn ngoan sắc sảo nhưng cũng chẳng phải là ngây thơ, họ “ngây ngây thơ thơ“, lặng lẽ và ngơ ngác. Đến màu áo họ mặc cũng chẳng rõ màu gì, chỉ là “rất thanh đạm, vì nhạt nhẽo nên buồn buồn”.
Họ sống để làm gì vậy? Hình như chẳng làm gì cả. Trong ngôi nhà vắng lặng, người cha lặng lờ hết vào lại ra, hai cô cũng hết ra lại vào. Hai cô vui hay buồn? Chẳng vui mà cũng chẳng buồn, hai cô chỉ “buồn buồn ngồi đó”. Trong ngôi nhà của họ không hề có tiếng khóc nhưng cũng chẳng hề có tiếng cười. Như vậy mà gọi là sống ư? Xuân Diệu tự hỏi để rồi so sánh sự sống của họ như sự tồn tại của cỏ cây, họ là hai cái cây. Tự mình so sánh rồi tự mình Xuân Diệu cũng phủ nhận luôn sự so sánh đó: “Họ còn thua hai cái cây bởi cây còn ra hoa ra trái chứ đời con gái của họ biết làm gi? Không sắc, không duyên, và cũng không tiền, chỉ có hiền lành. Hiền lành là một điều tốt của con người, nhưng ở đời mà “chỉ có hiền lành” làm tài sản duy nhất thì buồn thật!
Sống, theo Xuân Diệu, là phải có cái gì để chờ đợi. Hai cô gái này có gì để mà chờ đợi? Cũng có đấy, nhưng cái điều chờ đợi ấy, sao mà tội nghiệp: “Cô em có một đợi chờ: là chồng". Thế mà cả cái đợi chờ nhỏ bẻ tội nghiệp ấy, với cô em thì là một viễn vọng”, còn với cô chị: “chồng cô đã li dị với cô. Hỡi ôi! Cô Giao còn biết gì để mà trông ngóng?”
Trên đời này, cái đáng sợ nhất cho mỗi đời người không phải là cái nghèo, cái giỏi hay cái khổ, mà chính là sự nhạt nhòa vô vị của cuộc sống. Sống mà không có lấy một cái gì để chờ đợi và hi vọng, để yêu thương và giận hờn, đỡ khổ đau và hạnh phúc, sống như vậy sao có thể gọi là sống? Xuân Diệu viết một câu nghe buồn đến lạnh người: “Tôi thương ví như hai con vật ngẩn ngơ trong rừng lạnh, khi chiều giản dị lướt qua muôn gốc cây. Buổi chiều của hai cô mờ nhạt và kéo dài, hai cô lẫn: mù sương". Thương hai chị em cô Quỳnh cô Giao, Xuân Diệu cũng xót thương bao nhiêu kiếp người ngày đó: hẩm hiu, nhạt nhẽo. Thương cho họ, Xuân Diệu cũng không giấu một lời trách móc: cả đến một nỗi sầu tư hay chán nản gớm ghê, họ cũng không được.
Nhà văn Lỗ Tấn có lần nói về người nông dân ngày trước: Ai kì bất hạnh, nô kì bất tranh (thương họ phải đau khổ, nhưng giận họ không dám đấu tranh. Tất nhiên Xuân Diệu không thể có đựơc những tư tưởng mạnh mẽ như vậ, nhưng với những lời rất nhẹ như những câu thơ viết về nỗi buồn của Xuân Diệu. Tỏa nhì kiều gây cho ta mội cảm giác nghèn nghẹn ở nơi ngực. Ta trân trọng những cảm xúc đầy tinh thần nhân văn của nhà thơ và hình như lại cảm thấy rằngXuân Diệu cũng đã nói hộ mình nhiều điều trong tâm trạng của mình. | Phân tích ý nghĩa truyện ngắn Tỏa nhị Kiểu của Xuân Diệu | 1,223 | |
Phân tích ý nghĩa truyện Tấm Cám
Hướng dẫn
Ý nghĩa truyện Tấm Cám
Mở bài:
Tấm Cám là truyện cổ điển hình và tiêu biểu nhất cho thể loại truyện cổ thần kì. Với trí tưởng tượng phong phú, cách xây dựng nhân vật toàn diện, cốt truyện lôi cuốn, hấp dẫn, nhân dân ta đã gửi gắm vào nhân vật này ước mơ, khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp, công bình, kẻ xấu bị trừng trị, người tốt được báo đáp, công lí được thực thi. Vượt lên trên thời gian, truyện cổ Tấm Cám vẫn còn gây hứng thú đối với người đọc nhiều thế hệ, trở thành câu chuyện kể mang hàm ý giáo dục con người sâu sắc.
Thân bài:
Chuyện kể về cuộc đời và số phận đầy bất hạnh của nhân vật Tấm. Tấm là một cô gái hiền lành, xinh đẹp, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải sống với dì ghẻ và Cám – cô em cùng cha khác mẹ. Tấm luôn bị mẹ con Cám ghen ghét và ngược đãi. Một lần đi hớt tép Tấm bị Cám lừa lấy hết tép, chỉ còn lại con bống nhỏ. Tấm nghe lời Bụt khuyên nuôi chú cá bống trong giếng. Biết Tấm nuôi cá bống, mẹ con Cám lừa bắt bống ăn thịt. Ngày hội, mẹ con Cám trộn thóc lẫn gạo bắt Tấm nhặt, không cho đi xem hội. Bụt lại hiện lên giúp Tấm làm việc và biến chỗ xương của bống thành quần áo đẹp cho Tấm đi hội. Tấm đi xem hội đến chỗ lội, đánh rơi chiếc giầy xuống nước. Nhờ chiếc giầy, Tấm được làm vợ vua. Tấm về giỗ cha, bị mẹ con Cám hại chết và đưa Cám thế chỗ Tấm trong cung vua.
Tấm chết hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, con ác trên khung cửi và khi thành quả thị thì được một bà lão đem về. Mỗi khi bà lão đi vắng, Tấm hiện ra don dẹp nhà cửa. Sau đó bà lão phát hiện ra Tấm. Một hôm nhà vua đi qua, ghé vào quán nước của bà cụ. Nhận ra Tấm qua miếng trầu, đem Tấm về cung. Tấm hạnh phúc bên vua còn mẹ con Cám sau đó bị trừng trị đích đáng.
Nhân vật chính trong truyện chính là cô Tấm. Tấm mang thân phận mồ côi cha mẹ từ rất sớm. Cô sống với dì mụ ghẻ độc ác và cô em cùng cha khác mẹ là Cám. Trong hoàn cảnh ấy, Tấm luôn bị đối xử bất công, chịu nhiều thiệt thòi và khổ đau.
Với bản tính hiền lành lại rất chăm chỉ, Tấm sớm biết làm mọi việc trong nhà. Phẩm chất ấy không những không được trân trọng mà còn bị mẹ con dì ghẻ ghen tức, hành hạ, bắt cô phải lao động quần quật suốt ngày. Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng. Cuộc sống làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn khiến cho số phận của Tấm chứa đầy bất hạnh, cay đắng và khổ cực.
Chính lòng đố kị và thù ghét Tấm của mẹ con Cám khiến cho mâu thuẫn gia đình từng bước dâng cao. Mâu thuẫn đầu tiên bắt đầu từ chuyện đi bắt tép của chị em Tấm Cám. Bản chất của Cám không khác gì mụ gì ghẻ, lúc nào cũng giành phần hơn với chị nên đã xảo quyệt lừa chị lặn sâu mà tranh thủ trút hết tép của chị. Đó là hành động cướp công đê tiện. Rồi đến chuyện rình mò việc Tấm nuôi bống trong giếng của mẹ con Cám rồi đi đến hành động bắt bống ăm thịt. Dường như, mẹ con Cám không muốn Tấm có bất kì một niềm vui nào trong cuộc sống. Họ cố gắng tìm mọi cách cướp đoạt niềm vui và đẩy tấm vào đau khổ.
Qua các tình tiết, ta có thể thấy, Tấm là cô gái bất hạnh, bị hắt hủi, yếu đuối, thụ động, dễ khóc, chăm chỉ, hiền ngoan, cũng khát khao được vui chơi. Mẹ con Cám là người độc ác, nhẫn tâm hành hạ Tấm, luôn ghen ghét và đố kị, hãm hại Tấm. Bụt hiền từ, có phép lực, chuyên cứu giúp những người nghèo bất hạnh. Ở đây, Bụt đóng vai trò là yếu tố thần kì kịp thời giải quyết khó khăn, bế tắc của người bất hạnh, tạo nên nét đặc biệt hấp dẫn của loại truyện này.
Mâu thuẫn ban đầu chỉ là sự hơn thua về vật chất, tinh thần, sự ghen ghét mẹ ghẻ con chồng. Những lúc này Tấm luôn là người nhường nhịn, chịu thua thiệt. Sự nhường nhịn của Tấm khiến cho mẹ con Cám không những không nhận ra và trân trọng mà còn ngày càng lấn tới và lún sâu vào tội lỗi. Bởi thế, khi Tấm trở thành hoàng hậu, mâu thuẫn giữa Tấm – Cám và dì ghẻ không những không giảm mà còn ngày một phát triển, ngày một căng thẳng gay gắt, quyết liệt hơn.
Đây không còn là mâu thuần gia đình mà phát triển thành mâu thuẫn giữa cái ác và cái thiện trong xã hội. Mẹ con Cám tìm đủ mọi cách và nhiều lần truy đuổi hòng tiêu diệt bằng được Tấm để độc chiếm ngôi hoàng hậu, hưởng vinh hoa phú quý. Đó là con người vô cùng độc ác, mưu mô, xảo quyệt và có lòng tham vô đáy.
Âm mưu giết Tấm lại được thực hiện ngay ngày giỗ của cha Tấm. Một sự bất lương, đê tiện đang âm thầm diễn ra. Tấm vẫn ngây thơ không biết gì bởi nàng luôn tin vào điều thiện và sự cải hóa của con người. Mẹ con Cám nhẫn tâm chặt cây cau khiến nàng ngã chết. Cám thế chỗ chị lên làm hoàng hậu. Hồn Tấm hóa thành con chim vàng anh. Mẹ con Cám giết vàng anh, nàng hóa thân thành cây xoan đào. Mẹ con Cám chặt cây xoan đào, nàng hóa vào khung cửi. Khung cửi bị đốt, nàng hóa thân vào quả thị thơm. Và cuối cùng, từ quả thị, Tấm bước ra với hình dung con người.
Với bốn lần hoá thân, Tấm càng đấu tranh quyết liệt để giành sự sống. Thực tế khốc liệt cũng thay đổi tính nết và cách nói năng, ứng xử của cô. Sau mỗi lần bị giết, bị chết, bị chặt, bị đốt, Tấm đều không chết mà tìm cách hoá thân sang kiếp khác, vật khác, tìm cách mắng rủa, tố cáo tội ác cướp chồng, giết chị của Cám. Càng hóa thân, Tấm càng trưởng thành hơn. Các lần hóa thân chứng minh sức sống mãnh liệt của Tấm. Đó cũng là sức sống mãnh liệt của cái thiện.
Bốn lần bị giết, bốn lần hoá thân thể hiện quan niệm luôn luân hồi của đạo Phật trong tinh thần nhân dân, thể hiện mơ ước của nhân dân gửi vào nhân vật Tấm.
Tấm phải sống để hưởng hạnh phúc, để trừng trị những kẻ thù độc ác, mẹ con Cám nhất định phải đền tội. Ở giai đoạn biến hoá về sau của Tấm, ta không thấy Bụt xuất hiện nữa. Vai trò của Bụt chấm dứt khi bước vào cuộc đấu tranh giành lại sự sống. Tính tích cực, chủ động của nhân vật Tấm thể hiện ở điểm này và đó cũng là cơ sở để dân gian khẳng định: Chính sức sống mãnh liệt của con người, của cái thiện mới là nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên chiến thắng cuối cùng.
Khi Tấm trở lại ngôi vị hoàng hậu, nàng xinh đẹp hơn xưa. Qua đó, dân gian muốn khẳng định rằng cái thiện không bao giờ chịu khuất phục, chính nghĩa không bao giờ đầu hàng. Cái thiện sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải và công lí. Kết cấu câu chuyện nêu lên một triết lí: “ở hiền gặp lành”. Đây cũng là ước mơ, khát vọng của người nông dân bị đè nén, áp bức.
Mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám là mâu thuẫn trong gia đình phụ quyền thời cổ nhưng trên hết là mâu thuẫn giữa thiện và ác trong xã hội và được giải quyết theo hướng thiện thắng ác. Đó cũng là quan niệm thiện – ác và tinh thần lạc quan, niềm tin vào chân lí và công bằng vào tâm thức người Việt trong cổ tích.
Năm lần bảy lượt hãm hại Tấm để cướp lấy thành quả của Tấm, mẹ con Cám không thể thành công. Thế nhưng, họ vẫn không nhận ra bài học nào. Họ vẫn cố chấp với sự mê muội của chính mình. Hậu quả cuối cùng mà họ phải nhận lấy là hoàn toàn đích đáng. Cám bị dội nước sôi mà chết cùng khát vọng được đẹp hơn chị. Mụ gì ghẻ cũng lăn ra chết trước cái chết của con gái yêu.
Câu chuyện kết thúc có hậu. Người tốt như Tấm đã được bảo vệ và đền đáp. Kẻ xấu như mẹ con Cám phải nhận hậu quả tương xứng với hành động xấu xa của họ. Đó cũng là mong muốn của nhân gian.
Có ý kiến cho rằng Tấm trả thù là hợp lí, là thích đáng. Mẹ con Cám đáng bị trừng trị bằng hình phạt nặng nề như vậy là hợp với lẽ đời. Nhưng có ý kiến không đồng tình, cho rằng hành động ấy trái với bản chất hiền hậu của Tấm.
Cuối truyện, Tấm đã thấu rõ bản chất của mẹ con Cám. Lúc này cô đã nhân danh cái thiện trừng phạt cái ác. Tấm là nhân vật văn học do nhân dân lao động sáng tạo để thể hiện quan niệm, thái độ của mình về cuộc sống. Tư tưởng cốt lõi mà dân gian muốn gửi đến người nghe (đọc) là: Thiện luôn thắng ác, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.
Qua câu chuyện, ta nhận ra hạnh phúc không tồn tại ở đâu đó xa xôi, trừu tượng mà ở ngay trong cõi đời này. Người bình dân xưa không tìm hạnh phúc ở cõi nào khác mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay ở nơi trần thế. Xã hội luôn công bằng, ở đó có công lí sẽ luôn được thực hiện. Tức là người lao động chăm chỉ, hiền lành, tốt bụng sẽ được hưởng hạnh phúc; kẻ tham lam, độc ác, giết người sẽ bị trừng trị đích đáng. Trong một thời đoạn nào đó, có thể điều ấy không đúng, nhưng nhìn xa vào dòng thời gian, chân lí ấy là hoàn toàn đúng đắn.
Sức hấp dẫn của câu chuyện còn thể hiện ở cốt truyện li kì. Nhiều yếu tố thần kì trong câu chuyện xuất hiện với nhân vật thần kì (Bụt), vật thần (xương cá bống, gà biết nói, đàn chim sẻ biết nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo). Bản thân nhân vật chính cũng có sự biến hoá thần kì đã tạo nên nét kì ảo hết sức lôi cuốn. Cách xây dựng mâu thuẫn và đẩy xung đột ngày càng tăng tiến mang tính kịch sâu sắc. Hai tuyến nhân vật đối lập cùng tồn tại và song song phát triển. Đó là lối kết cấu quen thuộc đã thành mô típ trong thể loại truyện cổ tích: kiểu nhân vật mồ côi, hoặc nghèo khó, bất hạnh trải qua nhiều khó khăn, hoạn nạn, cuối cùng được hưởng hạnh phúc.
Kết bài:
Hơn một câu chuyện cổ, truyện Tấm Cám để lại trong người đọc một bài học nhân sinh quý giá. Hãy luôn sống chân thiện và tin tưởng vào tương lai tốt đẹp sẽ đến. Hãy luôn tránh xa cái xấu, cái ác để không phải làm điều sai trái, phải nhân lấy những hậu quả nặng nề. Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm. Chớ thấy việc ác nhỏ mà làm. Sống hướng đến con người và gìn giữ thiện lương ngay chính trong cuộc sống khác nghiệt này. | Phân tích ý nghĩa truyện Tấm Cám | 2,030 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ
Mở bài:
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là nhà nho tài tử trung thành với lý tưởng “trí quân trạch dân” (giúp vua để cho dân được no ấm). Cuộc đời ông đầy thăng trầm nhưng lúc nào cũng sôi nổi, sống bản lĩnh phóng khoáng và tự tin, có nhiều đóng góp cho dân, cho nước. những sáng tác của Nguyễn Công Trứ góp phần quan trọng vào việc phát triển thể loại hát nói trong văn học Việt Nam. Bài ca ngất ngưỡng biểu hiện sâu sắc cái ngông trong phong cách của nhà thơ. Ngất ngưởng là cách Nguyễn Công Trứ thể hiện bản lĩnh cá nhân hết sức đọc đáo trong cuộc sống.
Thân bài:
Nguyễn Công Trứ viết Bài ca ngất ngưỡng năm 1848 khi ông cáo quan về hưu. Ở ngoài vòng cương tỏa của quan trường và những rang buộc của lễ giáo phong kiến, ông có thể bộc lộ tâm tư phóng khoáng của bản thân đồng thời là cái nhìn mang tính tổng kết về cuộc đời phong phú.
Nhan đề đã thể hiện hết thái độ sống của Nguyễn Công Trứ, đó là sống “ngất ngưỡng”. Theo nghĩa đen, ngất ngưởng” có nghĩa là cao nhưng không vững. Theo nghĩa hàm ẩn, đó là một phong cách sống tôn trọng sự trung thực, tôn trọng cá tính, không chấp nhận sự “khắc kỉ, phục lễ” uốn mình theo lễ giáo của nho gia, phá vỡ mọi giới hạn của lễ nghi và hình thức, làm những việc ngược đời.
Trước hết, Nguyễn Công trứ “ngất ngưởng” ở chốn quan trường:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên
Nguyễn Công Trứ tự cho mình đủ sức, đủ tài gánh vác mọi việc trong trời đất: “vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Đó có thể xem là một thái độ kiêu căng, tự mãn, tự đề cao mình quá mức. Không chỉ có thế, ông còn tự cho mình là người tài năng xuất chúng “ông Hi Văn tài bộ”, là “tay ngất ngưởng”, văn võ song toàn, hơn người cả về học vị đến chức tước: “Thủ khoa”, “Tham tán”, “Tổng đốc đông”,…
Đọc đoạn thơ, người đọc nhận thấy, Nguyễn Công Trứ đã khoe ra tài năng và chức vị hết sức hợm hĩnh. Điều ấy trái với đạo đức nhà nho và nhân cách làm người. Thế nhưng, dụng ý của Nguyễn Công trứ không phải là vậy. Ông muốn tổng kết cuộc đời mình, tổng kết những chăng đường thăng hoa và thăng trầm. Vũ trụ nội mạc phi phận sự chỉ là một cách nói khoa trương biểu hiện một khát vọng làm những việc lớn lao giúp ích cho đời, không ngại ngần gian khổ, hiểm nguy. Nhìn lại những vị trí mà Nguyễn Công Trứ đã đam nhận, ta thấy rằng, không phải lúc nào cũng là thăng quan, tiến chức mà có khi ông bị giáng chức.
Nghệ thuật điệp từ kết hợp liệt kê chức tước, danh hiệu, Nguyễn Công Trú muốn nhấn mạnh tài năng của mình, thể hiện phong thái ung dung, kiêu hãnh trước thực tại dù sự đời lắm đổi thay. Giọng điệu tự hào kết hợp với các từ Hán-Việt thể hiện rõ nét, trang trọng về tài năng và địa vị bản thân.
Rời chốn quan trường, Nguyễn Công Trứ tiếp tục “ngất ngưởng” khi cáo quan về hưu:
Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Khi đến tuổi về hưu, sẵn sang treo ấn từ quan để sống cuộc sống cho bản thân mình. “Đô môn giải tổ chi niên” giống như một lời ca vui được tháo bỏ mọi ràng buộc, mọi nghĩa vụ, sống ung dung, tự tại. Đối với ông, về hưu là được tự do, sự tự do của một người đã làm xong bổn phận với dân với nước. Trở về làng quê, ông lại tiếp tục “ngất ngưỡng” khiến cho người đời không khỏi vừa giận vừa thương. Giận vì ông là một nhà nho mà lại hành xử khác thường, dung tục. Thương là vì hiểu ông. Phía sau cái lối”ngất ngưỡng” ấy là một tấm lòng vô tư, bình dị và khao khát sóng đẹp, sống bằng cuộc sống của chính mình:
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Đó là lối sống đầy bản lĩnh, vượt qua những thói tục bình thường. Ông cưỡi bò, đeo đạc ngựa cho bò khi về hưu, chứ không cưỡi ngựa. Ông còn treo mo cau ở phần trên đuôi bò một cách lạ lẫm mà ông gọi hóm hĩnh là để che miệng thế gian. Ông lên chùa lễ phật mà lại “tay kiếm cung”. Phía sau lại “theo đủng đỉnh một đôi dì”. Thật là chẳng ra thể thống gì. Cửa phật trang nghiêm, sao chấp nhận được cái hành động phách lối và bất kính đến thế. Thế nhưng, ta chẳng thấy một sự phàn nàn nào. Đến cả “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.
Thì ra, ông làm cái điệu bộ đó thôi. Ông muốn sống tự nhiên, không câu nệ hình thức, còn cái tâm, cái đạo thì ông hết sức giữ gìn. Ông sẵn sàng thay đổi bản thân để thích nghi với hoàn cảnh mới sau khi từ quan. Ông muốn dduwwocj làm những việc mà mọi người thường làm hoặc có thể làm mà chẳng sợ điều tiếng. Nghĩa là ông muốn mọi người xem ông là một người bình thường chứ không phải là một vị quan quyền thế. Ông muốn ở gần hơn, được chia sẻ nhiều hơn với cuộc đời bình dị, nơi đã sinh thành và nuôi dưỡng ông, cả về vật chất, lẫn tâm hồn. Lời nói phỏng ai tin, chỉ có hành động, từng bước phá vỡ cái rào cản quá lớn giữa ông và cuộc đời bình thường. Cho nên ông ngất ngưỡng, ông kì dị là vậy.
Khen – chê: mặc như gió thổi bỏ ngoài tai.
Thích sống tài tử, thoải mái hưởng lạc: “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng/ Không phật, không tiên, không vướng tục”
Sống trọn đạo vua tôi: “chẳng trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú/ Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”
Nhà thơ ý thức về bản lĩnh và phẩm chất, giá trị của bản thân. Bậc tài tử phong lưu, không ngần ngại khẳng định cá tính của mình.
Khẳng định một lần nữa lối sống ngất ngưởng: (câu cuối)
“trong triều ai ngất ngưởng như ông”
Nhà thơ khẳng định mình là một đại thần “ngất ngưởng” trong triều, không ai như ông, bằng ông.
Nghệ thuật:
Sự phù hợp của thể loại hát nói với việc bày tỏ tư tưởng, tình cảm tự do, phóng túng, thoát ra khỏi khuôn khổ của tác giả.
Ý nghĩa văn bản
Con người Nguyễn Công Trứ thể hiện trong hình ảnh “ông ngất ngưởng”: từng làm nên sự nghiệp lớn, tâm hồn tự do phóng khoáng, bản lĩnh sống mạnh mẽ, ít nhiều có sự phá cách về quan niệm sống, vượt qua khuôn sáo khắc khe của lễ giáo phong kiến.
Một số câu hỏi gợi ý:
Em hãy giải thích vì vao Nguyễn Công Trứ nói rằng: việc làm quan là gò bó, mất tự do nhưng vẫn ra làm quan?
Nhân cách nhà Nho chân chính trong bài Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
Muốn thể hiện phong cách sống và bản lĩnh độc đáo cần có những phẩm chất, năng lực gì? | Phân tích ý nghĩa và giá trị Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ | 1,387 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị Bài ca ngắn đi trên cát của Cao Bá Quát
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị Bài ca ngắn đi trên cát của Cao Bá Quát
Mở bài:
Cao Bá Quát (1809 – 1855) là người có tài, nổi tiếng văn hay chữ tốt và có uy tín lớn trong giới trí thức đương thời. Ông là người có khí phách hiên ngang, có tư tưởng tự do, ôm ấp hoài bão lớn, mong muốn sống có ích cho đời. Bài thơ ngắn đi trên cát (Đoản sa hành) là bài thơ nổi tiếng của Cao Bá Quát viết khi ông đi thi hội. Trên đường vào kinh đô Huế, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng, hình ảnh bãi cát dài, sông sâu, biển rộng, núi cao là những hình ảnh có thực gợi cảm hứng cho nhà thơ sáng tác bài thơ này.
Thân bài:
Tuổi trẻ Cao Bá Quát sống trnf đầy khí phách. Nhưng rồi, mấy lần khăn gói vào Huế thi đều bị hỏng, nên mộng khoa cử đã tan. Qua bao nỗi gian truân, ông bắt đầu cảm thấy nhụt chí và bế tắc khi nhìn thấy cảnh thối nát, bất công và hèn yếu của nhà Nguyễn. Năm bảy bận thi, với tài cao hí lớn mà chưa thể vinh hiển, Cao bá Quát càng thi càng thấy vô ích. Thế nên, mở đầu bài thơ, ta đã nghe thấy tiếng khóc cho cuộc đời dâu bể:
Bãi cát lại bãi cát dài,
Đi một bước như lùi một bước.
Mặt trời đã lặn, chưa dừng được,
Lữ khách trên đường nước mắt rơi
Hình ảnh bãi cát: “Bãi cát lại bãi cát dài” là cái mênh mông dường như bất tận của đường đời. Đó là biểu tượng cho con đường đầy khó khăn mà con người phải vượt qua để đi đến danh lợi. Tình cảnh của người đi đường như rơi vào bế tắc, cứ đi một bước lại như đang lùi một bước, biết bao nỗi vất vả, khó nhọc. lại thêm, mặt trời đã lặn mà người lữ khách vẫn còn đi. Lữ khách trên đường nước mắt rơi bởi đau khổ, buồn bã và cô đơn truwocs đất trời tàn tạ.
Người đi thật cô đơn và nhỏ nhoi giữa bãi cát và có vẻ như đang bất lực. Bãi cát dài nối tiếp nhau mà mỗi bước đi dường như không tiến mà lại lùi. Người đi như dậm chân tại chỗ. Mọi sự cố gắng dường như vô nghĩa. Nhân vật trữ tình thật bất lực và cô độc. Đó là hình ảnh tượng trưng cho con đường đầy bế tắc của chính tác giả
Không học được tiên ông phép ngủ,
Trèo non, lộ suối, giận khôn vơi!
Xưa nay, phường danh lợi,
Tất tả trên đường đời.
Đầu gió hơi men thơm quán rượu,
Người say vô số, tỉnh bao người?
Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!
Trên bãi cát dài, lữ khách càng đi càng thấy đôi chân hụt hẫng. Người đi thấy chán nản vì tự mình hành hạ thân xác. Với nhịp điệu đều, chậm, buồn, tác giả tự giận mình không có khả năng như người xưa, mà phải tự hành hạ mình. Ông chán nản mệt mỏi, oán hận tột cùng vì sao mình phải theo đuổi mộng công danh dai dẳng để phải trèo non, lội suối khó nhọc:
Không học được tiên ông phép ngủ,
Trèo non, lộ suối, giận khôn vơi!
Đường danh lợi là đường thi cử để làm quan. Con đường ấy hết sức nhọc nhằn nhưng rồi ai cũng dấn bước, chen chúc trên con đường ấy:
Xưa nay, phường danh lợi,
Tất tả trên đường đời.
Danh lợi cũng là một thứ rượu dễ làm say người vì nó là phương tiện để mưu sinh, hưởng thụ mà quên đi trách nhiệm đối với cuộc đời:
Đầu gió hơi men thơm quán rượu,
Đối lập với đông đảo phường danh lợi, Cao Bá Quát muốn khẳng định mình không thể bị hòa trộn với bọn chúng, cũng vì thế mà ông trở thành cô độc, không có người đồng hành:
Người say vô số, tỉnh bao người?
Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!
Nhà thơ đã nói lên một quy luật phổ biến của đời sống: con người luôn không ngừng đua chen để dành lấy danh lợi. Danh lợi như rượu ngon có mùi thơm hấp dẫn và đầy cám dỗ. Chẳng mấy người đủ can đảm để đứng ngoài những cám dỗ của danh lợi.
Sự chán ghét, khinh bỉ của Cao Bá Quát đối với phường danh lợi. Câu hỏi nhà thơ như trách móc, như giận dữ, như lay tỉnh người khác nhưng cũng tự hỏi bản thân. Ông đã nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, con đường công danh đương thời vô nghĩa, tầm thường.
Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt,
Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít?
Điệp ngữ “bãi cát dài” là con đường hướng đến danh vọng, con đường cứ kéo dài ra, đi mãi không thấy tới. Câu hỏi tu từ góp phần diễn tả rất thực tâm trạng do dự của tác giả. Đi tiếp hay từ bỏ con đường công danh? Nếu đi tiếp thì không biết phải đi như thế nào? Trăn trở, đưa ra câu hỏi như để thúc giục bản thân hãy tìm tòi con đường khác cho mình nhưng còn bế tắc.
Cuối bài thơ là tiếng kêu bi phẫn, bế tắc, tuyệt vọng:
Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”,
Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng
Phía nam núi Nam, sóng dào dạt.
Anh đứng làm chi trên bãi cát?
Khúc đường cùng có ý nghĩa biểu tượng cho nỗi tuyệt vọng của tác giả. Ông bất lực không thể đi tiếp mà cũng không biết phải làm gì. Ấp ủ khát vọng cao cả nhưng ông không tìm được con đường để thực hiện khát vọng đó. Hay đó là niềm khao khát thay đổi cuộc sống.
Phía Bắc: núi muôn trùng; Phía Nam: song dào dạt. Con người đi đã đến bước đường cùng. Giữa trùng vi của núi cao, biển rộng, cát dài, con người trở nên tuyệt vọng. “Anh đứng làm chi trên bãi cát?” câu hỏi tu từ thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt giữa việc đi tiếp hay dừng lại, phải thoát ra khỏi bãi cát danh lợi đầy nhọc nhằn chông gai mà vô nghĩa. Tác giả đặt câu hỏi cuối bài thơ có ý nghĩa như một lời thúc giục tìm kiếm con đường đi khác.
Bài thơ khắc tạc hình tượng kẻ sĩ cô độc, lẻ loi đầy trăn trở nhưng kì vĩ, vừa quả quyết vừa tuyệt vọng trên con đường đi tìm chân lí đầy chông gai. Cao Bá Quát đã chỉ rõ và kịch liệt phê phán tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, sự bảo thủ trì trệ của chế độ nhà Nguyễn.
Với thể hành rắn rỏi, hình ảnh biểu tượng giàu ý nghĩa, phép đối lập chuẩn mực, sáng tạo trong việc dung điển cố điển tích, Bài ca ngắn đi trên cát (Sa Hành đoản ca) của Cao bá Quát giúp người đọc hiểu rõ hơn về xã hội phong kiến đương thời và tình cảnh khốn cùng của lớp nhà nho cuối cùng sắp đi vào tàn lụi, lãng quên.
Kết bài:
Bài ca ngắn đi trên cát bộc lộ sự chán ghét của một người trí thức đối với con đường danh lợi tầm thường đương thời và niềm khao khát thay đổi cuộc sống. Nhịp điệu bài thơ góp phần diễn tả thành công những cảm xúc, suy tư của nhân vật trữ tình về con đường danh lợi gập ghềnh trắc trở.
Một số câu hỏi và đề gợi ý:
1. Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh bãi cát dài và con đường cùng?
2. Phân tích ý nghĩa đặc trưng của các yếu tố tả thực hình ảnh người đi trên bãi cát?
3. Tâm trạng của lữ khách đi trên bãi cát là gì? Hãy cho biết tầm tư tưởng của Cao Bá Quát thể hiện qua tâm trạng đó?
4. Hãy giải thích nội dung và chỉ ra sự liên kết ý nghĩa của 6 câu thơ “ Không được tiên ông phép ngủ – trèo non lội suối giận khôn vơi! – xưa nay phường danh lợi – tất cả trên đường đời – đầu gió hơi men thơm quán rượu – người say vô số tỉnh bao người?” | Phân tích ý nghĩa và giá trị Bài ca ngắn đi trên cát của Cao Bá Quát | 1,411 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
Hướng dẫn
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
Mở bài:
Bằng Việt thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, tràn đầy cảm xúc, đề tài thơ thường đi vào khai thác những kỉ niệm, những kí ức thời thơ ấu và gợi những ước mơ tuổi trẻ. Bài thơ Bếp lửa thể hiện sâu sắc phong cách thơ ấy của ông. Bằng những hồi ức trong trẻo, thiết tha, bài thơ khơi gợi lại trong mỗi chúng ta kỉ niệm về tuổi thơ ngọt ngào, cháy bỏng mãi mãi còn ấm áp ở trong lòng.
Thân bài:
Bếp lửa được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học tập tại nước ngoài. Bài thơ mở ra hình ảnh bếp lửa, gợi những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, về lẽ sống của bà. Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp.
Hình ảnh bếp lửa có sức ám ảnh mạnh mẽ đối với nhà thơ, là sức mạnh khơi nguồn cảm xúc sâu xa:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Hình ảnh “Một bếp lửa” lặp lại hai lần như điệp khúc sâu lắng nhớ nhung. Ở hiện tại mà hình ảnh bếp lửa của quá khứ hiện về sao cụ thể và chi tiết. Từ láy “chờn vờn” diễn tả cái mong manh mơ hồ của ngọn khói. Lại thêm “ấp iu” diễn tả chính xác công việc nhóm bếp và gợi tả hình ảnh bàn tay kiên nhẫn, khoé léo và sự chăm chút của bà khi bà che chắn chiều gió, giữ cho ngọn lửa yếu ớt mong manh đủ sức lớn để bùng lên thành bếp lửa hồng. Các chi tiết gợi nhớ đã khơi dòng cảm xúc để nhớ thương tràn về tâm hồn người cháu xa quê: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Hình ảnh bếp lửa làm sống lại kỉ niệm của hai bà cháu thời ấu thơ. Giọng thơ là lời kể, lời tả nhưng chứa chan cảm xúc:
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
“Năm ấy” là thời gian của quá khứ năm 1945 khi hai triệu đồng bào ta chết đói. Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” như nỗi ám ảnh kinh hoàng cho cả bao kiếp người chìm đắm trong rơm rạ, lầm than. Cháu về sống với bà trong những năm đói khổ ấy. Bà cưu mang cháu bằng tình yêu vô bờ bến của người bà, người mẹ, người cha…
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi vẫn còn cay.
Vẫn là lời tâm tình kể chuyện, người cháu tiếp tục hồi nhớ về những kỉ niệm thân thương:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa.
Thời gian là tám năm ròng rã.Tám năm người cháu cùng bà nhóm lửa mỗi sớm mỗi chiều. Không gian lúc gần bên bếp lửa, lúc xa ở cánh đồng. Nhân vật có cháu, có bà và con chim tu hú. Hình ảnh cháu bà, bếp lửa xoắn quyện vào nhau. Bà là bếp lửa hồng, là sự sống, là tình yêu ấm áp vô bờ của đời cháu. Cuộc sống hiu hắt, ảm đạm được làm ấm lên bởi bếp lửa của bà. Hai bà cháu nương tựa nhau chia sẻ những gian khổ và niềm vui. Bà đã dạy cho cháu bao diêud hay lẽ phải:
Cháu ở cùng bà bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhà thơ liệt kê một loạt những việc bà thay mẹ cha nuôi dưỡng, dạy dỗ và chăm sóc cháu. Chi tiết “chăm cháu học” không chỉ thể hiện tình yêu tương của bà với cháu mà còn là niềm tin vững chắc của ngừoi bà vào tương lai của cháu, của cuộc kháng chiến trường kì nhất định sẽ thành công.
Âm thanh tiếng chim tu hú lặp lại nhiều lần tha thiết xoá nhoà ranh giới không gian, thời gian để nhà thơ quên hiện tại mà đắm chìm trong quá khứ:
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Tu hú ơi sao chẳng ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa
Tu hú – loài chim bay về đồng quê trong những mùa lúa chín. Trong cảnh đói nghèo, chiến tranh li loạn, tiếng chim tu hú như lời đồng vọng của đấy trời an ủi sẻ chia…Thời gian cứ trôi đi theo tiếng tu hú khắc khoải ngày đêm. Trong những năm tháng ấy, có kỷ niệm sâu sắc nhất mà cháu không thể nào quên:
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy lụi
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
” Bố ở chiến khu, bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo ở nhà vẫn được bình yên.
Khổ thơ trích nguyên văn lời dẫn trực tiếp như lời dặn dò kia hằn sâu vào trong tâm trí. Trong lời dặn là tấm lòng yêu thương, là đức hy sinh của người mẹ, của cả hậu phương dành cho tuyền tuyến. Hình ảnh bếp lửa lại gợi bao suy nghĩ về tình yêu của bà, tình yêu quê hương đất nước:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm…
Nắng mưa trong thơ là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho bao vất vả và một nắng hai sương của cuộc đời lam lũ. Từ láy lận đận đặt ở đầu câu mang sắc thái biểu cảm xót xa. Dường như, sự tảo tần, chịu thương chịu khó đã trở thành thói quen, thành ý thức của bà. Từ hình ảnh bếp lửa bà nhen mỗi sớm mỗi chiều bền bỉ, bao điều thiêng liêng đã thức dậy trong lòng cháu:
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Điệp từ “nhóm” lặp lại 4 lần làm mạch thơ tha thiết. Nó mang bốn tầng nghĩa khác nhau, bồi đắp cao dần, toả sáng mạnh dần vẻ đẹp kỳ lạ va thiêng liêng của ngọn lửa.
Hành động “nhóm” mang nghĩa tả thực gắn với hành động cụ thể. Nhóm bếp cho cháu sưởi ấm, luộc khoai cho cháu ăn, nấu nồi xôi chia cho làng xóm.
Hành động “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ” mang nghĩa ẩn dụ tượng trưng. Lửa bà nhóm không còn là lửa thực mà là ánh sáng của niềm tin, sự ấm áp hiền hậu của tình yêu bà truyền cho cháu. Phải chăng tất cả những bảo ban tận tuỵ, những hành động việc làm của bà ngày ngày đã nhen nhóm, khơi gợi, đánh thức những tình cảm tốt đẹp trong tâm hồn non nớt, trong trẻo của đứa cháu thơ. Từ bà, cháu hiểu được cuộc sống đói nghèo mà biết bao tình nghĩa. Cháu biết thương “tình khoai sắn ngọt bùi”, biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, biết ước mơ và nuôi hoài bão. Trong hình ảnh bếp lửa có sự bình dị thân thương mà lại có bao điều thiêng liêng kỳ lạ: “Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – Bếp lửa!”
Câu thơ mang hình thức một câu cảm, dấu gạch nối lại nhịp 6/2 tách riêng từ “bếp lửa” thể hiện sự xúc động chân thành và ý nghĩa biểu tượng sâu sắc của hình ảnh Bếp lửa. Quay trở về hiện tại, nhà thơ luôn tự dặn lòng mình:
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm lửa lên chưa?
Tương lai đang rộng mở, niềm vui vẫy gọi trăm nẻo đường. Thế nhưng, nếu không có bếp lửa hồng, củ khoai củ sắn, nếu không có bà chăm cháu học ngày xưa thì làm sao cháu có ngày hôm nay? Nhớ bà là nhớ về bếp lửa. Nhớ bà là nhớ về quê hương, về quá khứ nghĩa tình. Câu thơ cuối cùng là một câu hỏi tu từ, một lời nhắc nhở thường trực trong lòng tác giả về đạo lí ân tình, thuỷ chung.
Kết bài:
Bài thơ Bếp lửa kết hợp giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm, bình luận. Ngôn ngữ mộc mạc chân thành. Sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với bà, là điểm tựa khơi gợi kỉ niệm, cảm xúc suy nghĩ về tình bà cháu. Bài thơ thể hiện niềm trân trọng biết ơn người cháu với bà, quả đó bộc lộ tình yêu gia đình, quê hương đất nước của nhà thơ. | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt | 1,486 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh
Mở bài:
Tuy trọn cuộc đời dành hết cho công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước nhưng Hồ Chí Minh luôn dành cho văn thơ những khoảnh khắc quý giá. Nhiều tác phẩm ra đời ngay trong hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt nhất. Nhật kí trong tù là một tập thơ xuất sắc của Hồ Chí Minh được viết khi Người bị giam giữ trong nhà tù Tưởng Giới Thạch. Bài thơ Chiều tối (Mộ) thể hiện niềm lạc quan yêu đời hướng tới tương lai của người tù Hồ Chí Minh trong một chiều tối dừng chân trên đường chuyển lao.
Thân bài:
Mộ
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không.
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
Dịch thơ:
Chiều tối
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không;
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.
Cảnh và sự vận động của cảnh trong bài thơ:
Hai câu thơ đầu gợi cảnh thiên nhiên núi rừng khi chiều tối:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không.
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không; )
Cảnh chiều tối được gợi lên bằng hình ảnh có tính ước lệ của thơ cổ với cánh chim đang bay về rừng tìm chốn trú ngụ. Theo cánh chim bay, không gian cũng dần khép lại. Bầu trời thu vê với hình ảnh đám mây lẻ loi nhẹ trôi giữa bầu tối.
Thơ xưa thường lấy sự chuyển biến của không gian với hình ảnh cánh chim trong hoàng hôn để gợi tả bước đi của thời gian: “Chim bay về núi tối rồi”(Ca dao), “Chim hôm thoi thót về rừng”(Truyện Kiều – Nguyễn Du)“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi/ Dặm liễu sương sa khách bước dồn”(Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan)
Hai câu thơ cuối gợi cảnh cuộc sống sinh hoạt của con người:
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
(Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.)
Sinh hoạt và cuộc sống con người làm cho cảnh chiều tối ấm áp hẳn lên. Hình ảnh cô thôn nữ với công việc lao động hằng ngày làm cho bức tranh thêm sức sống. Lò than rực hồng trở thành trung tâm bức tranh, có sức lôi cuốn đặc biệt. Với hình ảnh này, thiên nhiên không còn cô quạnh, không còn chìm ngập trong bóng tối. Chữ “hồng” đã trở thành nhãn tự của bài thơ. Một chữ “hồng” mà tỏa ánh sáng, hơi ấm và niềm vui ra tất cả. Hơi ấm và ánh sáng “lò than rực hồng” như xua đi cái lạnh nơi rừng núi, như át cả bóng đêm.
Trong bài thơ, cảnh vật có sự vận động mạnh mẽ, theo hướng tích cực, từ thấp lên cao, từ bóng tói ra ánh sáng. Từ khung cảnh thiên nhiên hoang vắng, hiu quạnh, nét bút tác giả chuyển sang cảnh sinh hoạt của con người hết sức tự nhiên. Sự vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ giá lạnh đến nồng ấm, từ hiu quạnh đến niềm vui.
Ẩn sau bức tranh cảnh vật chiều tối là tâm trạng nhớ quê hương và vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ. Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng và mang nặng tâm trạng con người.
Theo nguyên văn chữ Hán, cảnh vật được miêu tả trong hai câu thơ đầu là cảnh vật mang tâm trạng. Ở đây không phải là cánh chim bay mà là cánh chim mỏi (quyện điểu) tìm về rừng sau suốt một ngày bay đi kiếm ăn. Nhà thơ cũng mỏi sau một ngày lê bước trên đường chuyển lao. Và chòm mây cô đơn (cô vân) cũng có hồn, có tâm trạng, thể hiện sự hòa hợp, cảm thông giữa người và cảnh vật.
Vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ
Nhà thơ có một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết. Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng, mang tâm trạng, thể hiện sự hòa hợp, cảm thông giữa con người và cảnh vật. Đó còn là một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống, giàu sức chiến đấu. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Bác cũng hướng tới con người và cuộc sống. Đó là một tâm hồn lạc quan và nhân hậu, hướng đến con người và cuộc sống bình dị với tình yêu thương tha thiết nhất.
Ở bài Chiều tối, cùng với sự vận động của cảnh vật, sự vận động của không gian, thời gian là sự động của cảm xúc, tư tưởng nhà thơ. Sự vận động bất ngờ mà tự nhiên, khỏe khoắn: từ tối đến sáng; từ hiu hắt, cô đơn đến nồng ấm; từ buồn đến vui. Thơ Bác phản ánh con người Bác: tư tưởng, tình cảm luôn có sự vận động hướng tới sự sống, ánh sáng và tương lai.
Bài Chiều tối thể hiện một nét phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh: sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển toát lên qua bút pháp ước lệ và bút pháp gợi tả giàu sức biểu cảm với hệ thống thi liệu, cấu tứ hết sức phong phú, chuẩn mực. Vẻ đẹp hiện đại hiện ra với phong thái ung dung, tự tại, lạc quan, yêu đời, hướng tới tương lai của người tù Hồ Chí Minh. Bên cạnh hình ảnh người tù là hình ảnh một chiến sĩ qua cảm, kiên trung, là một thi sĩ thiết tha với cuộc đời, với sự sống.
Kết bài:
Chiều tối là một trong những bài thơ xuất sắc nhất trong tập thơ Nhật kí trong tù. Qua bức tranh cảnh vật và đời sống con người trong buổi chiều tối, bác đã thầm kín gửi gắm tâm trạng nhớ nước thương nhà của mình. Đọc bài thơ, ta càng cảm phục Bác hơn. Ngay trong hoàn cảnh khổ cực, gian nan nhất, tâm hồn người vẫn rộng mở đón nhận cái đẹp của sự sống, lấy đó làm sức mạnh vươn lên, vượt qua nghịch cảnh. Đó cũng là bản lĩnh phi thường của Hồ Chí Minh, một con người xuất chúng. | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh | 1,070 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến
Mở bài:
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là một nhà nho có học vấn uyên thâm, có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc. Với những bài thơ bình dị, hồn hậu về cảnh vật và cuộc sống con người vùng Bác bộ, Nguyễn Khuyến được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam”. Bài thơ Mùa thu câu cá (thu điếu) là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Khuyến trong thời gian ẩn cư ở quê nhà.
Thân bài:
Nguyễn Khuyến là người có phẩm chất trong sạch, mặc dù ra làm quan nhưng nổi tiếng là thanh liêm, chính trực. Nhiều giai thoại kể về đời sống và sự gắn bó của Nguyễn Khuyến đối với nhân dân. Ông là người có tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc trước cuộc sống và gắn bó với thiên nhiên. Nguyễn Khuyến ít viết về mùa xuân mà mà tình cảm đặc biệt cho mùa thu. Có lẽ do tâm hồn bất mãn với thời cuộc, muốn tìm một nơi để an trú tinh thần, mùa thu chính là một lựa chọn hiển nhiên đối với ông.
Mùa thu là mùa của sự tàn phai, rất phù hợp với tâm trạng Nguyễn Khuyến lúc này. Cảnh thu yên tĩnh, tình thu nồng nàn gợi lên cái hồn cổ xưa của muôn năm xa lạ. Nguyễn Khuyến với cái tài của một người vốn gắn bó với đồng ruộng không cần dụng cong gì mà đã nắm bắt được cái hồn tinh tế ấy:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Cảnh sắc mùa thu:
Điểm nhìn của thi nhân: điểm xuất phát là thuyền câu trên ao thu với són biếc, lá vàng → hướng lên trời cao → hướng ra xa thấy ngõ trúc quanh co → trở lại xuất phát điểm thuyền câu, ao thu.
Bức tranh cảnh sắc mùa thu hiện ra với những nét đặc trung vốn có của nó. Cảnh thu vừa trong sáng vừa tĩnh lặng. Trong sáng với mặt “nước trong veo”, làn “sóng biếc”, với “bầu trời xanh ngắt”. Đó là một bức tranh thu cổ điển với thi đề, thi liệu quen thuộc (thu thuỷ, thu thiên) nhưng lại rất gần gũi, thanh sơ. Tĩnh lặng với khung cảnh vắng vẻ, đường đi không một bóng người. Âm thanh rất mơ hồ làm không gian thêm quạnh vắng (cá đâu đớp động dưới chân bèo). Những chuyển động rất nhẹ, rất khẽ (song hơi gợn tí, lá khẻ đưa vèo, tầng mây lơ lững, cá đâu đớp động dưới chân bèo) khơi gợi thêm sự tĩnh lặng của cảnh vật.
Bức tranh thu hài hoà, cân đối về màu sắc, hình khối và đường nét. Màu sắc hiện lên với gam màu chủ đạo là màu xanh gợi không khí se lạnh của mùa thu; một chút màu vàng của lá, màu trắng của mây khiến bức tranh thêm sinh động.
Đường nét, hình khối cân đối cũng được gọt giũa, bố trí hết sức tài tình với “ao thu nhỏ”, “chiếc thuyền câu” . Theo đó cũng bé tẻo teo và dáng người cũng thu nhỏ lại. Đường nét mảnh mai, tinh tế với đường uốn lượn của ngõ trúc, đường gợn của sóng.
Cảnh mùa thu đẹp, buồn, tĩnh lặng, dân dã, thanh sơ, gần gũi, rất tiêu biểu cho mùa thu của làng quê Bắc Bộ. Có lẽ nhà thơ đã quá kiệm lời khi nói quá ít về cảnh thu tuyệt đẹp và tĩnh lạng như tờ ấy. Ông như sợ nếu chạm nhẹ hay khẽ rung cũng có thể làm đổ vỡ bức tranh tuyệt vời hiếm gặp ấy. Như một bức tranh thủy mặc đơn sơ mà ấn tượng, cnhr thu lập tức nằm gọn trong tâm hồn người đọc, ẩn náu để rồi lan tỏa miên man.
Tình thu hòa quyện trong trời xanh nước biếc:
tác giả cách cảm nhận cảnh thu hết sức tinh tế bằng một tâm hồn thuần khiết của người gắn bó tha thiết với thiên nhiên, đắt nước. Ông nâng niu tất cả, giữ gìn tất cả với những vẻ đẹp dáng quý của nó. Mọi thứ xa hoa đều bị gạt bỏ, chỉ còn lại đay chất đơn sơ, mộc mạc mà thắm đượm nghĩa tình.
Bức tranh mùa thu tĩnh lặng, u buồn cũng là tâm trạng về thời thế đầy uẩn khúc của tác giả. Ông chọn vần “eo”, một “tử vận” vốn rất oái ăm, khó làm để biểu đạt cảnh vật. Với vần “eo” gây cấn ấy, không gian càng trở nên vắng lặng, nhỏ dần, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc: veo-teo-vèo-teo-beo.
Từ “vèo” biểu thị của dòng thời gian đang trôi nhanh, rất nhanh. Và như thế, cuộc đời, thế cuộc cũng đổi thay nhanh chóng. Thoáng chốc, đời người đã bước sang tuổi xế chiều. biết bao ước muốn, khát vọng chưa dduwwocj hoàn thành. Người nho sĩ với khát vọng kinh bang tế thế, trị nước bình thiên hạ, muốn cứu đời, làm đổi thay thời thế nhưng giờ nhìn lại đã thấy xa vời quá đỗi, bất lực nhìn dòng thời gian trôi đi.
Tựa đề bài thơ gây một sự chú ý đặc biệt. Câu cá mùa thu mà không chú ý đến chuyện câu cá, chỉ quan sát thiên nhiên, lắng nghe, hoà mình với thiên nhiên. Chủ đề trữ tình xuất hiện trong tư thế ngồi bất động “tựa gối buông cần”. Đó là tư thế thu mình lại, không phải để chờ đợi mà là để suy tu. Cõi lòng nhà thơ đang tĩnh lặng tuyệt đối.
Bài thơ kết lại trong cái động rất nhỏ của tiếng cá “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Chữ “đâu” diễn tả cái giật mình thảng thốt, cái ngơ ngác kiếm tìm như người mất phương hướng.
Bài thơ thể hiện vẻ đẹp của một tâm hồn gắn bó với thiên nhiên đất nước. Dù ở quê nhà nhưng vẫn thấy lạc lõng, cô đơn trước thực tại. Lạc lõng là bởi không thực hiện được chí nguyện của người đi học. Lạc lõng là bởi nỗi lòng sâu thẳm ấy không thể thổ lộ cùng ai. Chỉ có đất trời mới thấu hieur. Đó cũng là tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc của Nguyễn Khuyến vậy.
Kết bài:
Mùa thu câu cá đã thể hiện sự cảm nhận và nghệ thuật gợi tả tinh tế của Nguyễn Khuyến về cảnh sắc mùa thu đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước, tâm trạng thời thế và tài thư Nôm của tác giả.
Câu hỏi và đề rèn luyện tập:
1. Cảm nhận của anh/chị về bức tranh mùa thu lang cảnh nông thôn Việt Nam qua Câu cá mùa thu?
2. Cảm nhận của anh/chị về bức tranh tâm trạng của tác giả câu cá mùa thu?
3. Theo Xuân Diệu: trong ba bài thơ thu chữ Nôm của Nguyễn Khuyến, thu điếu “điển hình hơn cả”. Anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến của nhà thơ.
4. Cách gieo vầng trong bài thơ có gì đặc biệt? Cách gieo vần ấy gợi cho ta cảm giác gì về cảnh thu và tình thu? | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến | 1,287 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương
Mở bài:
Trần Tế Xương (1870 – 1907) là nhà thơ trào phúng xuất sắc nhất của nên thơ Việt Nam thế kỉ XIX. Cuộc đời ông ngắn ngủi với nhiều gian truân, vất vả nhưng đã để lại một sự nghiệp thơ ca bất tử. Thơ trào phúng và trữ tình của ông đều xuất phát từ tấm lòng gắng bó sâu nặng với dân tộc, đất nước; có cống hiến quan trọng về phương diện nghệ thuật cho thơ ca dân tộc. bài thơ Thương vợ là tiếng lòng thiết tha và cảm động của Trần Tế Xương dành cho thân phận và kiếp đời gian nan, khổ nhọc người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.
Thân bài:
Trần Tế Xương có gia cảnh nghèo khó lại đông con. Tuy là người có tài nhưng con đường khoa cử của Tú Xương hết sức lận đận. Cuộc đời ông chỉ gắn liền với thi cử, tính ra có tất cả 8 lần tất cả, mất trọn 24 năm đèn sách miệt mài. Dánh hết tâm huyết cho thi cử chỉ mong đỗ đạt để đạt lấy công danh, xứng mặt với dời, vợ con được hưởng phú quý. Thế nhưng, cuộc đời ngắn ngủi 37 năm của ông lại nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước. Biết bao cuộc đổi thay đã làm ông đánh mất hết cơ hội này đến cơ hội khác. Bởi thế, ông tài cao chí lớn nhưng đành ôm hận nghìn thu.
Càng gian nan, ông càng thấu tận nỗi khổ ở đời. Bà Tú, người vợ thủy chung ông, trong chừng ấy năm chưa từng than vãn một lời. Càng ngẫm nghĩ, ông càng thấy thuwong hơn, thấy mình bất tài mà lòng dạ đau như cắt. Thương vợ là một cách trần tình của nhà thơ vừa đáng thương vừa hết sức chân thực.
Mở đầu bài thơ là lời kể về công việc làm ăn và gánh nặng gia đình mà bà Tú đảm đương:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Thời gian bà Tú phải làm việc là “quanh năm”. Đó là khoảng thời gian liên tục, ngày nối ngày, tháng tiếp tháng, bà Tú vất vả với công việc buôn bán, chăm chỉ làm lụng, không ngơi nghỉ. Không gian là “mom sông”. Đó là phần đất ở bờ nhô ra phía lòng sông, rất dễ sụp, dễ lở, đầy bất trắc, hết sức chênh vênh, nguy hiểm. Thời gian, không gian tương phản (thơi gian kéo dài, không gian nhỏ hẹp) nhưng tương hợp trong mục đích giới thiệu khái quát công việc làm ăn vất vả của bà Tú.
Hình ảnh “năm con với một chồng” là cách sắp xếp thật hóm hỉnh và tự hào của Tú Xương. một đầu là “năm con”, một đầu là “một chồng”. Cả hai đầu làm nên gánh nặng cuộc đời mà bà Tú suốt đời gánh vác lấy. Cái hóm hỉnh đáng quý ở đây đó là Tú Xương đã đặt mình ở một vế trái ngang quá. Bà tú nuôi năm con là điều thường tình. Còn Tú Xương cớ gì bà phải nuôi. Theo lẽ thì Tú Xương mới là người nuôi dưỡng năm con và bà Tú mới phải. Chính nghịch lí ấy thể hiện sự đảm đang của bà tú, đồng thời đây cũng là sự tri ân của tác giả với vợ.
Đến hai câu thực, tác giả đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà tú với nỗi niềm xót xa vô hạn:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Nhà thơ vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ của văn học dân gian. Từ hình ảnh con cò trong ca dao, nhà thơ mượn lấy để nói về bà Tú: “thân cò”. Hình ảnh giàu sức gợi tả (hình ảnh bà Tú gầy gò, ốm yếu), gợi cảm (cảm xúc xót thương), nhấn mạnh nỗi vất vả và gian truân của bà Tú, gợi nổi đau thân phận. Cụm từ “khi quãng vắng” vừa gợi không gian vừa gợi thòi gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu, nguy hiểm. lại thêm ở “buổi đò đông” không chỉ có những lời phàn nàn, chen lấn xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc. Hai từ láy tượng hình, tượng thanh “lặn lội”, “eo sèo” được đưa lên đầu câu nhằm nhấn mạnh hình ảnh bà Tú tần tảo, bôn ba đi khắp nơi để buôn bán.
Hai câu thơ thể hiện công việc cực nhọc, vất vả ở những nơi nguy hiểm, khó khan của bà Tú. Tú Xương cảm nhận được và ái ngại, lo lắng và xót xa trước hoàn cảnh công việc của bà Tú.
Bình luận về cảnh đời oái ăm mà bà Tú phải chịu (hai câu luận):
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
“Một duyên hai nợ” là cách nói tăng tiến, tách từ. Đó là cách nói chua xót khi niềm vui thì ít mà vất vả lận đận lại nhiều. Bà Tú lấy chồng lẽ ra phải được chồng nuôi nhưng thực tế bà phải nuôi chồng, nuôi con – hai gánh nợ trên vai. Hình ảnh “nắng”, “mưa” chỉ sự vất vả; “năm”, “mười” là số lượng phiếm chỉ để nói số nhiều được tách ra tạo nên một thành ngữ đan chéo “năm nắng mười mưa”. Qua thành ngữ ta thấy khó khăn cứ chồng chất lên trên vai bà Tú. Thế mà bà Tú vẫn cứ “âu đành phận” và nào “dám quản công”. Vất vả, cực khổ nhưng bà Tú chấp nhận, không oán than, kêu ca, hết lòng vì chồng vì con. Bà Tú là hiện thân cho vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Tiếng chửi đời, chửi mình của Tú Xương (hai câu kết)
“Thói đời” chính là cái quan niệm, cái nề nếp đáng chê trách nhưng mặc nhiên được công nhận, chấp nhận. Đó là nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú và những người phụ nữ khác phải vất vả. Cái thới đời ấy tưởng rằng sẽ mang đến điều tốt đẹp cho người phụ nữ nhưng nào có phải, nó “ăn ở bạc” lắm. Chửi thói đời đen bạc. Nó ngăn cản ông Tú yêu thương vợ một cách thiết thực hơn. Những gái trị thực trong thi cử bị đảo lộn khiến ông sự nghiệp dở dang, tăng thêm gánh nặng cho vợ.
Thương vợ rồi nghĩ đến mình, thấy mình cũng bạc bẽo, “hững hờ” với vợ lắm thay. Tú Xương tự trách mình không chia sẻ một cách thiết thực hơn, “có cũng như không”. Tuy ông thấy mình vô trách nhiệm với vợ nhưng ông tự nhận thiếu sót ấy một cách trung thực, thẳng thắn. Đằng sau tiếng chửi là một tấm lòng yêu thương vợ sâu sắc, một tâm trạng phẫn uất, chất chứa nỗi đau của Tú Xương.
Bằng nghệ thuật đảo ngữ và phép đối, Tú Xương đã làm nổi bậc hình tượng bà Tú trên nền cảnh vật buồn tẻ, cực nhọc, đơn độc. Nhìn hình ảnh bà Tú đi về, ta ngỡ như nhìn thấy cuộc đời người phụ nữ Việt Nam bước ra từ trang thơ rồi lại ẩn chìm sau đó. Ta nghe như đâu đây tiếng khóc thầm thổn thức. Không phải tiếng khố của bà Tú vì phụ nữ xưa nay vốn rất giỏi cam chịu. Có lẽ, đó là tiếng khóc cảm thương của ông Tú, tiếng khốc của muôn vạn con người cảm thương cho cuộc đời nhỏ bé, bất hạnh, khổ đau của người phụ nữ Việt nam trong mấy nghìn năm qua.
Kết bài:
Với tình cảm thương yêu, quý trọng, tác giả đã ghi lại một cách xúc động, chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh. Thương vợ là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình của Trần Tế Xương: cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc.
Một số đề gợi ý:
1. Phân tích những câu thơ nới lên đức tính cao đẹp của bà Tú?
2. Lời “chửi” trong hai câu thơ cuối là lời của ai, có ý nghĩa gì?
3. Cảm nhận của anh/chị về hình ảnh bà Tú qua Đọc – hiểu văn bản câu thơ đầu bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương.
4. Nỗi lòng thương vợ của nhà thơ được thể hiện như thế nào? Qua bài thơ, anh/chị có nhận xét gì về tâm sự và vẻ đẹp nhân cách Tú Xương?
4. Phân tích sự vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian trong bài thơ. | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương | 1,482 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Tràng giang của Huy Cận
Hướng dẫn
Cảnh (bức tranh thiên nhiên) và tình (bức tranh tâm trạng) thể hiện trong bài thơ
Cảnh (bức tranh thiên nhiên):
Cảnh sông nước quê hương quen thuộc hiện lên với hình ảnh dòng sông mùa con nước với cảnh củi khô, những cánh bèo trôi dạt, những bờ xanh tiếp bãi vàng ngô lúa:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Cảnh sông nước mênh mang vắng lặng, hoang sơ, hiu quạnh. Sóng gợn bao la, rợn ngợp, không cầu, không đò, thiếu vắng con người. Bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển. Hình ảnh con thuyền lặng lẽ xuôi mái, bờ xanh tiếp bãi vàng, cánh chim trong hoàng hôn
Tình (bức tranh tâm trạng)
Nỗi sầu vũ trụ (sầu thấm vào không gian), sầu thiên cổ (sầu thấm vào thời gian) sầu nhân thế (sầu thấm vào lòng người). Con người cảm thấy mình nhỏ bé, bơ vơ lạc lõng:
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Hình ảnh cành củi khô “lạc mấy dòng”, những cánh bèo trôi dạt không biết về đâu gợi liên tưởng đến thân phận con người; hình ảnh cánh chim bé nhỏ mang tâm trạng.
Nỗi buồn nhớ quê hương tha thiết trải khắp trang thơ. Tình yêu quê hương đất nước thầm kín tha thiết thể hiện qua hai câu thơ cuối:
Chìm nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Không gian bát ngát, bao la đến vô tận. Con người như cánh chim nhỏ, lạc lõng, khuất chìm, mệt mỏi. Hình ảnh khói hoàng hôn trên sông khiến nỗi nhớ quê nhà dợn dợn từng đợt sóng rợn ngợp.
Qua nỗi sầu, nỗi buồn thấy được niềm khát khao giao cảm, hòa nhập với con người, với cuộc đời của tác giả.
Nghệ thuật đối lập, tương phản thể hiện tâm trạng nhân vật tữ tình. Hồn thơ buồn thường tìm đến những cảnh mênh mông, vắng lặng đối lập với hình ảnh nhỏ bé, mong manh tàn tạ để nói lên tâm trạng. Những hình ảnh đối lập, tương phản xuất hiện trong cả bài thơ:
Ở khổ thơ đầu, hình ảnh thuyền về – nước lại (gợi sự chia lìa), củi một cành khô – lại mấy dòng (gợi sự nhỏ bé, bơ vơ, lạc lõng).
Đến khổ thơ thứ hai, hình ảnh cồn nhỏ – sông dài, trời rộng – bến cô liêu; không gian mênh mông – con người nhỏ bé (gợi sự buồn vắng, cô quạnh, hiu hắt).
Khổ thơ thứ ba xuất hiện cánh bèo nhỏ bé – dòng sông mênh mông – không cầu, không đò (gợi sự vắng lặng, đơn côi, không có sự kết nối, giao lưu giữa người với người).
Khổ thơ cuối mở ra với mây cao, núi bạc – chim nghiêng cánh nhỏ (gợi sự cảm nhận con người nhỏ bé, hữu hạn, vũ trụ bao la, vô cùng; cùng với nỗi sầu vũ trụ là nỗi buồn nhớ quê hương).
Trước hết là ở nhan đề bài thơ. Ngay từ nhan đề “Tràng giang”, bài thơ đã gợi lên một phong vị cổ điển. Từ Hán Việt “tràng giang” mang sắc thái vừa trừu tượng, vừa cổ xưa mà từ thuần Việt “sông dài” cùng nghĩa không có được
Với từ Hán Việt “tràng giang”, bài thơ không còn nói về một con sông cụ thể, mặc dù khi viết bài thơ này, Huy Cận đã lấy cảm xúc từ một dòng sông cụ thể là sông Hồng. Từ “tràng giang” gợi lên cho người đọc hình ảnh dòng sông như chảy từ một thuở xa xưa nào đó của lịch sử, qua hàng nghìn năm văn hóa và qua bao áng cổ thi.
Tác giả lại sử dụng điệp âm “ang” (“tràng giang” chứ không phải “trường giang”). Âm “ang” là âm mở, lại là âm tiết có độ vang. Vì vậy hai chữ “tràng giang” với điệp âm “ang” gợi lên cảm giác mênh mang, dòng sông trong bài thơ tự nhiên trở nên dài hơn, rộng hơn, xa hơn, vĩnh viễn hơn trong tâm tưởng người đọc. Dòng sông như muốn thoát khỏi cái cụ thể để vươn tới cái vĩnh viễn, cái vô cùng.
Nét cổ điển thể hiện trong ngôn ngữ (thi ngôn) bài thơ hết sức rõ nét. Mượn hoặc ảnh hưởng từ ngữ trong thơ cổ: “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”
Bản dịch Chinh phụ ngâm có viết:
Non Kì quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
Hay trong Thu hứng, Đỗ Phủ có tả:
(Mặt đất mây đùn cửa ải xa)
Vẻ đẹp cổ điển thể hiện đậm nét trong hình ảnh (thi ảnh). Hình ảnh quen thuộc của thơ cổ, mang màu sắc cổ điển: con thuyền lặng lẽ xuôi mái, bờ xanh tiếp bãi vàng, cánh chim trong hoàng hôn.
Ý thơ (thi tứ) của bài thơ xuất phát từ thi liệu cổ điển hết sức điển hình. Mượn hoặc ảnh hưởng ý thơ cổ: Câu thơ “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” phảng phất câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Đăng cao: “Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ/ Bất tận trường giang cồn cồn lai” (Rào rào lá trút rừng cây thắm/ Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn). Câu thơ cuối: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” mượn ý thơ Thôi Hiệu đời Đường trong Hoàng Hạc lâu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị?/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
Bút pháp (thi bút) bài thơ Tràng giang cũng không vượt khỏi bút pháp thơ trung đại. Sử dụng bút pháp gợi của thơ cổ, vài nét đơn sơ ghi lại, lột tả cái hồn sự vật: “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” (Thơ cổ khi nói về buổi chiều thường dùng hình ảnh cánh chim trong hoàng hôn, lấy không gian gợi tả thời gian, gợi nỗi buồn hiu quạnh: “Chim bay về núi tối rồi” (Ca dao), “Chim hôm thoi thót về rừng” (Truyện Kiều), “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi/ Dặm liễu sương sa khách bước dồn” (Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan). | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Tràng giang của Huy Cận | 1,114 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương
Mở bài:
Hồ Xuân Hương là một thiên tài kỳ nữ nhưng cuộc đời lại gặp nhiều bất hạnh. Chủ đề trong thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu viết về người phụ nữ với giọng thơ vừa trào phúng vừa đậm chất trữ tình. Bài thơ Tự tình là một trong những tác phẩm đặc sắc của Hồ Xuân Hương tự viết về mình.
Thân bài:
Tự tình (bài II) nằm trong chum thơ Tự tình gồm 3 bài của Hồ Xuân Hương. Nhan đề bài thơ biễu hiện rõ nỗi lòng của nhà thơ trước cảnh vật đêm khuya thanh vắng. “Tự tình” có nghĩa là giải bày, thổ lộ nổi lòng.
Thời gian, không gian và tâm trạng cuả nhân vật trữ tình (hai câu đề):
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Thời gian là “đêm khuya” gợi nhiều tâm trạng. Không gian vắng lặng được gợi tả qua âm thanh tiếng trống canh “văng vẳng”. Từ “dồn” gợi tả bước đi dồn dập của thời gian và sự rối bời của tâm trạng
Nổi cô đơn, buồn tủi và bẻ bàng về duyên phận của Hồ Xuân Hương thể hiện qua từ “trơ”. “Trơ” có nghĩa là vô cảm, là chai sạn, mất hết cảm giác, không hề có phản ứng gì trước khong gin, thời gian. “Trơ” còn là tủi hổ, bẽ bàng, dãi dầu, thách thức. Cách ngắt nhịp 1/3/3, biện pháp đảo ngữ đưa từ “trơ” lên đầu câu có tác dụng nhấn mạnh.
Thực cảnh và thực tình của Hồ Xuân Hương (hai câu thực):
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Trước nỗi cô dơn, buồn tủi, nhà thơ mang rượu ra uống. Tưởng rằng rượu có thể mang nỗi sầu đi xa. Nhưng trái lại, người càng uống càng thấy tỉnh, càng uống càng thấy buồn hơn.
Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên cái vòng quẩn quanh, càng cảm nhận rõ nổi đau thân phận. Hình ảnh vầng trăng “bóng xế” mà vẫn “khuyết”, “chưa tròn” vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng: tuổi xuân đã qua đi mà nhân duyên chưa trọn vẹn.
Nỗi niềm phẫn uất (hai câu luận):
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Đến đay, lời thơ trở nên mạnh mẽ, cuonj trào như từng đợt sóng nổi. Biện pháp đảo ngữ, phép đối từ đối câu làm nổi bật sự phẫn uất của cỏ cây cũng là sự phẫn uất của tâm trạng. Sử dụng động từ mạnh “xiên” “đâm” kết hợp với bổ ngữ “ngang”, “toạc” độc đáo thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh, thái độ phản kháng.
Hình ảnh sự vật tuy nhỏ bé, hèn mọn: rêu, đá nhưng ẩn chứa trong mình sức mạnh trỗi dậy. Đó cũng là nguồn sức mạnh của khát vọng muốn dduwwocj sống một cuộc đời đúng nghĩa mà Hồ Xuân Hương luôn tìm kiếm.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!
Từ “ngán” gợi tả tâm trạng chán nản, ngán ngẩm, không muốn là gì hơn nữa. Từ “xuân” mang hai nghĩa, vùa là “mùa xuân” vừa là “tuổi xuân”. Từ “lại lại” là hai từ đồng âm nhưng khác nghĩa. Từ “lại” thứ nhất nghĩa là thêm lần nữa, từ “lại” thứ hai nghĩa là trở lại. Mùa xuân của đất trời đi qua rồi trở lại với nguồn sống mới, sắc màu mới. Còn mùa xuân đời người một lần đi qua thì mãi mãi không bao giờ trở lại.
Nhận ra nghịch lí ấy, nữ sĩ buồn đến tan nát tâm can. Cũng có thể hiểu ý thơ thơ một nghĩa khác. Biết bao mùa xuân đã di qua, nhưng cuộc đời không có gì đổi mới. Hồ Xuân Hương vẫn thân phận ấy, vẫn nỗi buồn ấy kéo dài hết mùa xuân này đến mùa xuân khác. Đó cũng là tiếng nói phản kháng lại cái chế độ phong kiến với những ràng buộc bất công, khắt khe đối với thân phận người phụ nữ mà Hồ Xuân Hương đã âm thầm gửi gắm trong những câu thơ tự thán này.
Thủ pháp tăng tiến: mảnh tình – san sẻ – tí con con…nhấn mạnh vào sự nhỏ bé dần, gợi nổi, xót xa tội nghiệp. Nhưng đằng sau những câu chữ là khao khát mảnh liệt về hạnh phúc lứa đôi, khao khát được yêu thương, chia sẻ.
Kết bài:
Tự tình thể hiện tâm trạng, thái độ của Hồ Xuân Hương, vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch. Bài hơ cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và tài năng độc đáo của “Bà chúa thơ Nôm”, trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng.
Câu hỏi và đề luyện tập:
1. Bốn câu đầu cho thấy tác giả đang ở trong hoàn cảnh và tâm trạng như thế nào?
2. Hình tượng thiên nhiên tỏng hai câu 5 và 6 góp phần diễn tả tâm trạng, thái độ của nhà thơ trước số phận như thế nào?
3. Cảm nhận của anh/chị về bài thơ “Tự tình” (bài II) của Hồ Xuân Hương.
4. Bản lĩnh Hồ Xuân Hương được thể hiện như thế nào trong những vần thơ buồn tê tái này? | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương | 915 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
Mở bài:
Phạm Tiến Duật là nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Giọng thơ sôi nổi, hồn nhiên trẻ trung tinh nghịch mà sâu sắc, thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện thành công hình tượng người lính và những cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn, những con người anh hùng của thời đại anh hùng. Bài thơ về tiểu đội xe không kính được viết năm 1969, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt trên tuyến đường Trường Sơn.
Thân bài:
Mở đầu bài thơ lời giới thiệu hóm hỉnh về những chiếc xe không kính: “Không có kính không phải vì xe không có kính”. Câu thơ mang dáng dấp như một câu văn xuôi, một lời giải thích chân thành. Xe không kính không phải do đặc điểm cấu tạo mà trước đây nó vẫn có kính đấy chứ. Người lính giải thích nguyên nhân vì sao từ có kính trở thành không kính: “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”.
Chiến trường ác liệt đạn bom được thể hiện bằng hai động từ mạnh “giật, rung” để diễn tả sự tàn phá khóc liệt của bom đạn Mĩ. Hình ảnh chân thực của những chiếc xe trên đường ra trận vừa thể hiện sự cam go khóc liệt của chiến tranh vừa đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ.
Trên nền cảnh dữ dội, hình ảnh người chiến sĩ xuất hiện với tư thế hiên ngang lái xe ra trận:
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
Câu thơ đảo trật tự cú pháp, đưa tính từ “ung dung” lên đầu nhằm tô đậm tư thế, tâm trạng đầy lạc quan và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của người lính lái xe. Các anh “nhìn thẳng” vào sựu thật, nhìn thẳng vào cuộc chiến. Đó là cái nhìn quả cảm, đầy can đảm khi trực diện mà không hề né tránh, run sợ trước cái chết.
Lái những chiếc xe không kính, người chiến sĩ lái xe gặp bao nhiêu khó khăn nhưng họ đã biến khó khăn kia thành niềm vui, niềm lãng mạng:
Nhìn gió vào xoa mât đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái
Bằng cảm hứng lãnh mạng bay bổng, giọng thơ vút cao khi sà xuống đất. Nhịp thơ dồn dập khoẻ khoắn tràn đầy niềm vui. Điệp ngữ “nhìn thấy” liên tiếp như mở ra cái nhìn thích thú bao quát của núi rừng Trường Sơn trong đôi mắt các anh nhìn. Ngọn gió vô hình được nhân hoá như bàn tay người mẹ thiên nhiên, xoa đi đôi mắt đắng vì thiếu ngủ của cac anh lính lái xe rồng rã đêm ngày. Biểu tượng “con đường chạy thẳng vào tim” vừa mang nghĩa thực, vừa là ẩn dụ tượng trưng cho con đường lí tưởng thời chống Mĩ. Tư thế người lính hoàn toàn làm chủ hoàn cảnh, ung dung tự tại giữa đất trời.
Hình ảnh người lính hiện lên thật tinh nghịch, hóm hỉnh và rất trẻ trung khi tiếp tục đối diện với những gian khổ khác trên đường ra mặt trận:
Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa thì phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lắm cười ha ha
Khẩu khí ngang tàng, đậm chất lính với kiểu nói “Ừ thì” rất lính. Đó làcách nói khẩu ngữ được đưa vào thơ như các anh sẵn sàng chấp nhận mọi thách thức, lạc quan yêu đời, phớt lờ mọi khó khăn, động viên đồng đội. Khó khăn càng tăng tiến, sau gió bụi là những cơn mưa xối xã của Trường Sơn:
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi
Giọng thơ rộn rã, tràn đầy sưc sống sôi nỗi của tuổi mười tám đôi mươi. Lạ kì thay, sự khắc nghiệt của khí hậu Trường Sơn lại là cơ hội để các anh tranh thủ kẻ thù lái nhanh hơn, rút gần khoảng cách Bắc – Nam.
Chân dung người lính vừa tinh nghịch vừa ngạo nghễ, ngang tàng. Họ có ý chí vững như thép, có lòng quyết tâm bằng mọi giá phải tiến về giải phóng Miền Nam. Điều đó khiến họ biến gian khổ thành niềm vui, khó khăn thành thuận lợi. Vượt qua “hàng rào lữa” “toạ độ chết” những đoàn xe xanh lá cây rừng đêm ngày vun vút lao đi tiến vào Miền Nam. Tràn ngập trong thơ là sức nặng là những trái tim tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ.
Hình ảnh tiểu đội xe không kính xuất hiện sau với bao mát mát, hy sinh hòa thắm trong tình cảm gắn keeetscuar đồng đội trên mọi nẻo đường xe qua:
Những chiếc xe từ trong bơm rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Hình ảnh “những chiếc xe” xuất hiện sau một chặng đường dài gian khổ như khắc sâu ý nghĩa: không kẻ thù nào cản được bước tiến của đoàn xe. Vượt qua đạn bom, mưa gió, những chiếc xe vẫn tồn tại như ý chí, tinh thần thép của quân đội ta mãi vững vàng không kẻ thù nào ngăn chặn nổi.
Không gian “từ trong bom rơi” là toạ độ chết của “hàng rào lửa”. Hàng ngày máy bay Mỹ ném bom dữ dội cho nên mất mát hy sinh là điều không thể tránh khỏi. Vì thế, sau mỗi trận bom rơi, lại có một tiểu đội mới ra đời. Đây là sức mạnh tiếp nối của biết bao thế hệ. Tình đồng đội thắm thiết trong cái bắt tay tin cậy.
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Hình ảnh “con đường đi tới” trong thơ mang ý nghĩa hình tượng cho con đường lí tưởng, cho quyết tâm giải phóng Miền Nam của các anh chiến sĩ Trường Sơn. Đường Trường Sơn là con đường thẳng tiến. Nơi đây gian khổ thử thách con người. Nơi không có dấu chân của những kẻ ham sống, sợ chết. Nơi tuổi trẻ cùng hẹn nhau ra trận với niềm vui phơi phới. Bởi vậy, gặp nhau tại đây, họ hiểu họ là những ngừoi đồng chí của nhau. Cho nên, cái bắt tay thay cho lời chào đồng đội. Cái bắt tay kia truyền cho nhau bao sức mạnh niềm tin. “Cửa kính vỡ” là hiện thực khốc liệt của bom đạn nhưng nó lại làm cho người lính gần nhau hơn. Nó là chứng nhân cho tình đồng chí thắm thiết.
Tình đồng đội là cách định nghĩa giản đơn về “gia đình đồng đội” yêu thương:
Bếp hoàng cầm ta dựng giữa trời
Chung bác đũa nghĩa là gia đình đấy!
Thơ lấy chất liệu từ hiện thực chiến trường. Chi tiết “bếp Hoàng Cầm” là chiếc bếp nuôi quân do người anh nuôi Hoàng Cầm sáng tạo. Chiếc bếp hiên ngang dựng giữa trời với ngọn lữa hồng ấm áp như thách thức quân thù. Nó thể hiện sự thông minh, sáng tạo của chiến sĩ ta từ trong gian khổ.
Câu thơ có giọng điệu dể thương như lời giới thiệu đầy tự hào thân thương về “gia đình đồng đội”. Với người lính, chỉ cần chung nhau một bếp lữa hồng, sẻ cho nahu bát cơm chiều, cùng hong khô chiếc áo đẫm mưa rừng là họ là họ coi nhau như tình gia đình ruột thịt. Cách định nghĩa cho thấy tâm hồn họ giản dị mà lớn lao nghĩa tình. Khi tình đồng đội có cả gia đình thì tình cảm đó càng thêm sâu đậm và ấm áp. Sau mỗi cuộc gặp gỡ, chia vui, các anh lại lên đường:
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi đường xanh thêm.
“Chông chênh” từ lấy gợi tả cảm giác chập chờn của giấc ngủ không yên khi đường hành quân vẫn ầm ầm xe chạy. Điệp ngữ “lại đi, lại đi” là khí thế, nhịp bước hành quân. “Trời xanh thêm” là hình ảnh ẩn dụ cho ước mơ và hy vọng. Càng tiến về Miền Nam, niềm tin thống nhất đất nước càng lớn dần. Đó là động lực lớn lao khích lệ các anh vững tay lái tiến công.
Trở lại với hình ảnh những chiếc xe không kính, Phạm Tiến Duật cho người đọc nhìn rõ hơn toàn bộ hình ảnh chiếc xe đã bị hủy hoại khủng khiếp bởi bom đạn của kẻ thù:
Không có mui xe, thùng xe có xước
Không những xe không có kính mà xe cũng không có đèn, không có mui và thùng xe không biết bao nhiêu vết thương. Hình ảnh người lính lái xe dũng cảm kiên cường:
Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Phụ từ “vẫn” làm lời thơ mạnh mẽ, dứt khoát. Xe vẫn chạy. Không một trở lực nào có thể ngăn cản được tốc độ và hướng tiến của đoàn xe. Con đường phía trước “chạy thẳng vào tim”. Con đường gọi hay trái tim tha thiết gọi. Không có đèn để soi đường trong đêm tối nhưng các anh đang đi theo “ánh lửa từ trái tim mình”
Câu theo cuối với ngữ điệu nhẹ thênh mà triết lí lại vô cùng sâu sắc “chỉ cần trong xe có một trái tim”. Trái tim, hình ảnh hoán dụ xuất hiện cuối câu thơ đầy sức biểu cảm. Trong cái cụ thể của hình ảnh đó là bao nhiêu yêu thương, căm giận, bao nhiêu mong nhớ, đợi chờ… Trái tim thắm đó là “nhãn tự” bật sáng chủ đề bài thơ, lý giải nguồn sức mạnh lơs lao giúp chúng ta thắng Mĩ. Bài thơ có kết cấu đối lập độc đáo. Đối lập giữa vô số cái “không” là một cái “có”. “Có một trái tim” là hình ảnh đầy sức biểu cảm trong bài thơ.
Cụm từ: thùng xe có xước là cách nói giảm nhẹ. Thực tế, những chiếc xe làm nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn không có chiếc nào còn nguyên vẹn thùng xe. Mui xe có vai trò bảo vệ bộ máy giờ cũng không còn nữa. và đèn xe, một bộ phận không thể thiếu của xe khi chạy đêm cũng vỡ từ bao giờ. Thế mới thấy, người lính lái xe không ngững phải vượt qua sự truy kích của kẻ thù mà còn điều khiển một phương tiện không đảm bảo an toàn, trên một tuyến đường hiểm nguy như Trường Sơn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quả thực là phi thường. Mỗi chuyến xe trở về an toàn là một thành tích, một kì công, một chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc chiến chống kẻ thù.
Kết bài:
Bài thơ về tiểu đội xe không kính thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật thơ của Phạm Tiến Duật. Đó là một giọng thơ hồn nhiên, tinh nghịch dí dỏm, thông minh. Bài thơ là sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, nhịp thơ sôi nổi trẻ trung, tràn đây sức sống. Từ đó làm hiện rõ vẻ đẹp của người lính Trường Sơn hiên ngang, dũng cảm, lạc quan bất chấp mọi khó khăn, gian khổ chiến đấu vì Miền Nam, vì sự nghiệp thống nhất nước nhà. | Phân tích ý nghĩa và giá trị Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật | 1,944 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy
Mở bài:
Nguyễn Duy là gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời chống Mỹ cứu nước. Thơ Nguyễn Duy nhiều bài có cái ngang tàng nhưng vẫn trầm tĩnh và giàu chiêm nghiệm vì thế cứ ngấm vào người đọc và trong cái đà ngấm ấy có lúc khiến người ta phải giật mình suy nghĩ. Ánh trăng là tác phẩm nổi bậc của Nguyễn Duy. Thông qua hình tượng nghệ thuật “ánh trăng” và cảm xúc của nhà thơ, bài thơ đã diễn tả những suy ngẫm sâu sắc về thái độ của con người đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa.
Thân bài:
Bài thơ Ánh trăng được sáng tác năm 1978, ba năm sau ngày kết thúc chiến tranh, đất nước thống nhất. Sống giữa những tiện nghi vật chất hiện đại, nhiều người quên đi những nghĩa tình sâu nặng cũ. Qua bài thơ, Nguyễn Duy muốn thức tỉnh mọi người đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” và biết sống thuỷ chung với quá khứ, đừng vì vật chất mà quên đi một thời đau thương của dân tộc.
Mở đầu bài thơ là kí ức về tuổi thơ, con người sống trong môt thiên nhiên bình dị, bao dung, vầng trăng là một phần thân thuộc trong không gian sống ấy:
hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
Cách nói “hồi nhỏ” thật hồn nhiên, gần gũi. “Hồi nhỏ” là khoảng cách không xa, vẫn còn nhớ rất rõ. Giọng thơ là giọng kể nhẹ nhàng, có chút trầm tư, đồng vọng. Người kể chuyện như đang giấu mình đi để thật khách quan khi nói về những năm tháng đã qua. Không gian mở ra bao la với “sông”, “đồng”, “bể” cùng điệp từ “với” diễn tả niềm vui quấn quít của tuổi thơ khi được sống đầy ắp trong thiên nhiên hào phóng.
Rồi tuổi thơ qua đi, con người lên đường đi chiến đấu, vầng trăng theo anh đi đánh giặc:
hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỷ
Hoàn cảnh sống gian khổ làm trăng và người lính gần gũi nhau hơn. Trăng gắn bó với con người từ “hồi nhỏ” tới khi “chiến tranh ở rừng”. Đó là một khoảng thời gian dài lâu, đủ để xây đắp một tình cảm bền vững, “tri kỉ” thật sự hiểu nhau. Trăng nơi rừng sâu sáng vời vợi là nguồn sáng mãnh liệt và đẹp nhất đối với người lính. Trăng rọi bước người lính hành quân, cùng người lính truy kích kẻ thù. Sau bao năm, trăng vẫn hồn nhiên tỏa sáng, vẫn thủy chung với con người:
hồn nhiên như cây cỏ
“Trần trụi” là không có gì ngoài thiên nhiên. “Hồn nhiên” là tình cảm vô tư không vụ lợi. Một tình cảm thật chân thành, thắm thiết, hết lòng với nhau. Một tình cảm không dễ gì quên, làm sao ta nỡ quên cho được. Cuộc chiến càng dài, tình nghĩa giữa trăng và người càng thêm khăng khít. Lúc ấy, con người quý trọng người bạn ấy biết bao:
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa
Đó là lời hứa, là lời thề, là lời cảm ơn mà con người gửi đến người bạn “hồn nhiên” và “tình nghĩa” kia. Từ “ngỡ” đã gợi ra một sự cố nào đó mà nhà thơ muốn nhắc đến. Một sự xốn xang, ray rứt khi nhắc đến người bạn trăng thuở nào. Cuộc chiến kết thúc, con người lại tiếp tục với nhiệm vụ mới: xây dựng và kiến thiết đất nước. Đó là chặng đường tiếp theo, là sự nghiệp vinh quang mà người lính tiếp tục đảm nhận. Tấm lòng thủy chung, tinh thần quả cảm không ngại gian khổ, hi sinh tiếp tục được phát huy trong thời địa mới. Thế nhưng, không phải như vậy. Con người mau chóng sa vào cám dỗ của đời sống vật chất, vội quên đi quá khứ nghĩa tình:
từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường.
Vẫn giọng tự sự, là hồi nhớ nhưng là một giai đoạn khác trong cuộc đời. Không gian sống không còn là thiên nhiên với những “đồng”, những “sông”, những “bể”, những “rừng” bình dị, thân thuộc nữa mà là “ánh điện”, “cửa gương” tiện nghi, hào nhoáng của cuộc sống vật chất. Hoàn cảnh sống thay đổi làm con người cũng quên đi người bạn thân thiết một thời gắn bó. Vầng trăng được nhân hoá thành người dưng, từng ngày vẫn qua ngõ, vẫn song hành với ta nhưng trăng bị lu mờ khi có ánh đèn thay thế. Hay đúng hơn, bóng tối của lòng tham, của lối sống hưởng thụ đã che lấp lí trí, khuất mờ con tim, khiến cho con người xem thường, lãng quên, thờ ơ, vô cảm với trăng, với thiên nhiên cây cỏ, với quá khứ đau thương của dân tộc. Thuỷ chung, nghĩa tình là nét đẹp trong tính cách dân tộc. Sự bội bạc ấy là thái độ sống không thể tha thứ được.
Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện kể. Câu chuyện có không gian, thời gian và tình huống chuyện thật bất ngờ. Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi. Con người từ chỗ cẩn trọng đến chấp nhận cuộc sống với những giá trị mới. Quá khứ với những giá trị vĩnh hằng dần lặng im trong trí nhớ. Cuộc sống mới với những giá trị mới do con người tạo ra tốt đẹp hơn làm dịu vơi vết thương năm xưa, bù đắp lại những mất mát, những tổn thương của chiến tranh. Cuộc sống ấy là đáng trân trọng. Thế nhưng, nó chưa hẳn là tốt đẹp nếu chúng ta không mang theo quá khứ cùng tiến về phía trước. Sự cố đêm ấy khiến cho người lính sực tỉnh:
thình lình đèn điện tắt
phòng buyn – ding tối om
vội bật tung cứa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
Các từ láy “thình lình”, “đột ngột” phủ tràn cảm xúc khắp không gian. Tình huống “đèn vụt tắt” là chuyện rất bình thường ở thành phố. Đó đâu phải là lần đầu tiên. Nhưng lần này nó thật tình cờ. Mất điện, người ta đón gió, không ngờ có vầng trăng tròn lặng lẽ chờ ta tự lúc nào rồi.
Hoàn cảnh gặp gỡ thật bất ngờ khiến con người bừng tỉnh, nghẹn ngào. Trăng vẫn luôn toả sáng, vẫn chờ đợi, thiết tha. Chỉ khi đèn tắt, ta mới thấy ánh trăng thật tuyệt vời. “Vầng trăng tròn” hay chính là sự tròn đầy vẹn nguyên của một tấm lòng không bao giờ thay đổi. Ánh sáng của trăng toả rạng không gian, rọi soi và quy hướng tâm hồn về quá khứ. Ánh sáng của trăng hay chính là ánh sáng của lương tâm con người bừng thức.
Cuộc gặp gỡ không báo trước khiến cho mọi giá trị như được vực dậy, cả một thời xa xôi ùa về trong ánh sáng:
ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng.
Vầng trăng được nhân hoá thành người bạn cũ. Có cái gì đó đang “rưng rưng” không thể nói thành lời. Ngôn ngữ bây giờ ngân ngấn nước mắt dưới hàng mi. Trăng đánh thức, khơi dậy ở con người tất cả sự sống. Điệp ngữ “như là” ngập ngừng, nghẹn uất. Biện pháp liệt kê đã gợi nhắc lại mọi miền không gian của quá khứ. Các mảng thiên nhiên “đồng”, ‘sông”, “bể”,”rừng” đã hiện lên vẹn nguyên và đầy đủ. Thì ra, ký ức không mất đi mà chỉ tạm thời ngủ quên. Khi thức tỉnh, nó sẽ thức dậy vẹn nguyên, thậm chí còn đậm sâu hơn trong tâm hồn con người:
kể chi ngừoi vô tình
ánh trăng phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
Giọng thơ trở nên sâu lắng, đậm chất triết lý gợi bao suy ngẫm. Trăng mang gương mặt của quá khứ sáng trong, giản dị ma nghiêm khắc soi vào tâm hồn con người. Một sự tự vấn lương tâm đầy day dứt trong tâm hồn người. Ta coi tri kỷ là người dưng nhưng trăng vẫn “cứ tròn vành vạnh”. Không có một sự thay đổi nào từ đó đến bây giờ. Trăng “im phăng phắc” không trách móc giận hờn mà vẫn bao dung, vị tha cho “kẻ vô tình”.
Chính sự im lặng nghiêm khắc ấy khiến cho tác giả “giật mình”. “Giật mình” để thay đổi, để hoàn thiện, để tìm về với phẩm chất tốt đẹp vốn có của người lính Trường Sơn năm xưa. Đó là một chi tiết thơ thật sáng tạo và ấn tượng. Phút giây “giật mình” đã làm lương tâm con người thức tỉnh. Cái giật mình đáng quí biết bao khi bảo vệ con người khỏi những cám dỗ tầm thường, hướng con người đến những giá trị cao đẹp hơn trong cuộc sống. Toàn bộ bài thơ vô nhân xưng nhưng đến câu cuối, đại từ “ta” xuất hiện. Trước ân tình độ lượng bao dung của vầng trăng, tác giả sau phút giây tự trách đã dũng cảm đứng ra tạ lỗi với quá khứ ân tình.
Kết bài:
Với thể thơ 5 chữ, giọng điệu tâm tình, cảm xúc trầm lắng, giàu chất suy tư bài thơ Ánh trăng của nguyễn Duy đã đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam. Ánh trăng là tiếng lòng, là sự suy ngẫm về những năm tháng gian lao giữa tình nghĩa gắn bó với thiên nhiên, đất nước con người của cuộc đời người lính. Đó cũng là lời tự bạch, lời tâm niệm của mỗi con người trước sự đổi thây của đát nước vẫn luôn giữ trong mình những giá trị đích thực của tâm hồn dân tộc, không để cho đời sống vật chất khỏa lấp, che mờ. | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy | 1,679 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Mở bài:
Hàn Mặc Tử là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới đầu thế kỉ XX. trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Hàn Mặc Tử đã sống hết mình với nghệ thuật. Thơ ông say đắm, sôi nổi đến điên cuồng. Đó là “một hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại, đau đớn, dường như có một cuộc vật lộn và giằng xé dữ dội giữa linh hồn và xác thịt”, hết sức lạ lẫm trong nền thơ việt Nam. Đây Thôn Vĩ Dạ là một trong số ít tác phẩm hiếm hoi của Hàn Mặc tử có giọng thơ nhẹ nhàng, đằm thắm như thế.
Thân bài:
Bài Đây thôn Vĩ Dạ có liên quan tới mối tình đơn phương giữa Hàn Mặc Tử với người con gái thôn Vĩ có tên là Hoàng Thị Kim Cúc, Thi sĩ đã từng thầm yêu trộm nhớ người con gái thôn Vĩ và từng về thăm Vĩ Dạ. Nhưng sau đó, Hàn Mặc Tử bị bệnh hiểm nghèo, phải xa lánh mọi người để chữa bệnh. Biết tin, Hoàng Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử tấm bưu ảnh và những lời thăm hỏi động viên. Tấm Bưu ảnh có in hình dòng sông với cô gái chèo thuyền dưới những cành lá trúc thanh tú, phía xa là ráng trời, có thể là rạng đông, có thể là hoàng hôn, có thể là ánh nắng, có thể là ánh trăng. Tấm thiếp đã tác độg mạnh đến hồn thơ Hàn Mặc Tử. Những khái niệm về xứ Huế lập tức thức dậy cùng với một niềm yêu đời tha thiết. Thi sĩ đã xúc động viết bài thơ này.
Ba khổ thơ của Đây thôn Vĩ Dạ không liên kết với nhau bởi tính liên tục thời gian, tính duy nhất về không gian mà liên kết bởi logic về cảm xúc. Khổ thơ đầu là hoài niệm về cảnh vườn thôn Vĩ trong nắng mai và tâm trạng ước ao về thăm lại Vĩ Dạ. Khổ thơ thứ hai là cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo và mặc cảm về sự chia lìa cùng tâm trạng lo âu khắc khoải. Khổ thơ cuối là hoài niệm hình ảnh “khách đường xa” và tâm trạng mơ tưởng hoài nghi.
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Khổ thơ thể hiện chút tình riêng của tác giả, gắn bó với Vĩ Dạ, khao khát được về thăm lại Vĩ Dạ. Chủ thể trữ tình tự phân thân, niềm thôi thúc tự bên trong hiện ra thành lời mời mọc từ bên ngoài: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Cảnh thôn Vĩ qua hoài niệm với vẻ đẹp riêng. Ban mai mang vẻ đẹp tinh khiết với hình ảnh hàng cau trong nắng sớm, hình ảnh vườn mướt mát xanh như ngọc. Con người hòa hợp với cảnh làm cho cảnh thêm sinh động. Bút pháp gợi thể hiện bản chất trung thực, phúc hậu, vẻ đẹp kín đáo của người thôn Vĩ
Về chơi thôn Vĩ chỉ để nhìn ngắm cảnh vật xanh tươi, tràn trề sức sống trong mỗi sớm mai. Về chơi thôn Vĩ để gặp người con gái nép mình e thẹn sau khóm trúc xanh lơ. Qua khổ thơ, cảnh sắc xứ Huế hiện lên thật đẹp đẽ, con người xứ Huế dịu dàng, đằm thắm trong cảm nhận của nhà thơ vốn dành cho xứ Huế một tình yêu tha thiết, đắm say.
Cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo và tâm trạng lo âu khắc khoải của nhà thơ
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Hai câu thơ đầu gợi tả cảnh sông nước xứ Huế:
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
Cảnh hiện thực mà huyền ảo, gợi nhịp điều nhẹ nhàng của xứ Huế. Gió thổi, mây trôi nhẹ, dòng nước chảy chậm cũng là dòng tâm trạng của tác giả khi hồi ức về cố đô. Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng, mang nỗi buồn tâm trạng: chia li cách biệt, xót xa nuối tiếc. Dòng nước buồn thiu, hoa bắp khẽ đưa không buồn đáp lại. Gió mây ngăn cách nhau, ngược chiều, không cùng chung hướng đi lối về.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Không gian toàn trăng (thuyền trăng, sông trăng, bến trăng). Cảnh hiện thực mà huyền ảo. Hình ảnh thuyền trăng, nhất là hình ảnh sông trăng có thể hiểu theo hai cách: dòng sông nước tỏa đầy ánh trăng, dòng sông trăng tuôn chảy ánh trăng. Bức tranh phản ánh tâm trạng âu lo khắc khoải của nhà thơ. Trăng trở thành tri kỉ, tri âm; nhân vật trữ tình mang tâm trạng âu lo khắc khoải chờ đợi. Hình ảnh thuyền ai đậu bến sông trăng, hay có chỏ trăng về thể hiện niềm khao khát gắn bó với cuộc đời của thi sĩ.
Hoài niệm về “khách đường xa” và tâm trạng mơ tưởng, hoài nghi
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra…
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Hình ảnh “khách đường xa” qua hoài niệm hiện thực mà huyền ảo. Hiện thực với màu áo trắng xác định; huyền ảo vì là mơ, là khách đường xa, nhìn không ra, màu “áo em trắng quá nhìn không ra” là sắc màu tâm tưởng, gợi về kí ức, là màu của mơ, hư hư, thực thực.
Hình ảnh đó cũng vừa gần gũi, thân thiết vừa xa vời, cách ngăn. Gần gũi, thân thiết vì đã từng quen biết, đã từng sống trong tâm tưởng, đã thành kỉ niệm; xa vời, cách ngăn vì khoảng cách không gian, thời gian nên tất cả đều “mờ nhân ảnh”; xa vời còn bởi mối tình quá xa vời. Một mối tình trong quá khứ chưa ước hẹn, trong hiện tại “anh” đang mắc bệnh hiểm nghèo, tương lai thì vô vọng.
Qua tâm trạng tác giả, ta thấy được niềm khao khát yêu đời, gắn bó với cuộc sống,khát vọng tình người thủy chung, trong sáng của Hàn Mặc Tử.
Bài thơ thể hiện nét đặc trưng trong phong cách thơ Hàn Mặc Tử. Hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại đau thương. Dường như có cuộc vận lộn giằng xé dữ dội giữa linh hồn và thể xác, vừa khát khao bay tới cõi siêu thoát, vừa gắn bó với cuộc đời mà thi sĩ hằng yêu mến, thiết tha. Vì vậy, thơ Hàn Mặc Tử thường tỏa ra hai nhánh: có những vần thơ đau đớn đến điên loạn, lại có những vần thơ trong sáng, tinh khiết đến vô ngần. Ở điểm giao thoa này, Hàn Mặc Tử có những câu thơ, những bài thơ tuyệt bút. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ như thế.
Tác giả dùng từ cực tả để gây ấn tượng. Cách viết thiên về hướng biểu tả ở mức cực điểm: “vườn ai mướt quá” (cực tả sắc xanh kì là của mảnh vườn), “áo em trắng quá” (cực tả màu trắng sáng, tinh khiết của áo người thiếu nữ hiện lên từ tâm tưởng, như trong mơ). phép liên tưởng, tưởng tượng phong phú, sự quyện hòa giữa thực và ảo khiến cho cảnh và người đều như trong hiện thực mà lại như trong huyền ảo.
Kết bài:
Đây thôn Vĩ Dạ là sự kết hợp, giao hòa giữa tình và cảnh bộc lộ những nét đẹp, những nét trong sáng gắn với quê hương Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. Bài thơ là một bức tranh đẹp về cảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử | 1,367 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
Hướng dẫn
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
Mở bài:
Chính Hữu tên thật là Trần Đình Đắc, sinh năm 1926, quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh. Năm 1946 ông gia nhập trung đoàn thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và cống Mỹ. Thơ ông chỉ viết về chiến tranh và người lính. Ông viết không nhiều nhưng cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ hình ảnh chọn lọc và cảm xúc. Bài thơ Đồng chí là tác phẩm nổi bậc của Chính Hữu và của nền thơ Việt Nam giai đoạn đầu kháng chiến chống pháp.
Thân bài:
Bài thơ sáng tác năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc – Thu Đông 1947. Tác phẩm được in trong tập “Đầu súng trăng treo” (1966).
Bài thơ xuất phát từ tình cảm chân thật của tác giả đối với đồng đội. Khi tham gia chiến dịch, Chính Hữu bị sốt nặng, phải ở lại doanh trại. ĐƠn vị đã cử một đồng chí ở lại chăm sóc ông. Nhờ người đồng đội đã tận tình giúp đỡ, Chính Hữu đã vượt qua cơn sốt rét quái ác, tiếp tục chiến đấu cứu nước.
Mở đầu bài thơ, Chính Hữu chỉ ra những cơ sở hình thành tình đồng chí:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Mượn thành ngữ “nước mặn đồng chua” và “đất cày lên sỏi đá” gợi tả cái nghèo của hai miền quê khác nhau. Đồng đội là những người cùng chung cảnh ngộ, xuất thân từ giai cấp nông dân. Họ rời bỏ những gì gần gũi thân thương của làng quê hiền hoà ra đi vì nghĩa lớn. Giọng thơ tâm linh thủ thỉ, lời thơ là lời kể chân thành của hai người lính về haonf cảnh xuất thân từ những quê hương, vùng đất khác nhau.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Sự gắn kết là một trình thương mến từ “đôi người xa lạ” thành thân thiết đến khi họ ra đi khi tổ quốc gọi tên mình. Họ chẳng hẹn gặp nhau mà lại có mặt nơi chiến tuyến. Bởi họ là những người cùng chung lý tưởng, ching mục đích chiến đấu, sát cánh bên nhau trong một chiến hào: Súng bên súng đầu sát bên đầu
“Súng bên súng đầu sát bên đầu” là cách nói hàm xúc, hình tượng về sự hoà hợp gắn bó giữa nhiệm vụ và lý tưởng, giữa tình cảm và lý trí. Họ cùng chia sẽ gian khổ, thiếu thốn để tình cảm càng trở nên bền chặc. Hoàn cảnh khó khăn, thiếu khiến cho họ cảm thông, chia sẻ và xích lại gần nhau hơn:
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Những chi tiết hiện thực của chiến trường “đêm rét chung chăn” khiến cho tình đồng đội nảy nở và thân thiết từ “đôi người xa lạ” thành “đôi tri kỉ”. Họ hiểu và yêu mến đồng đội như hiểu và yêu mến chính bản thân mình. và như thế, họ gọi nhau là: “Đồng chí!”
Câu thơ thứ 7 chỉ có 2 từ đứng độc lập tạo thành câu đặc biệt “Đồng chí”. Đây là danh từ riêng, đồng thời là tiếng gọi thiêng liêng của những người cùng ching chí hướng. Câu thơ khẳng định quá trình hình thành và phát triển một tình cảm Cách mạng cao đẹp. Đồng thời mở ra bao biểu hiện của tình đồng đội sâu sắc khi họ gắn bó bên nhau.
Tiếp đến, tác giả chỉ rõ những biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí. Đồng đội là những người cùng chia sẻ với nhau những tâm sự, thấu hiểu và những nổi nhớ niềm thương trong nhau.:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
“Ruộng nương” hay “gian nhà không” là những hình ảnh gợi cảm. Hình ảnh gửi bạn” thể hiện sự dứt khoát, quyết liệt vì nghĩa lớn. “Mặc kệ” là tình thái từ thể hiện thái độ cương quyết của những con người khi ý thức được một tình yêu lớn lao, trách trách nhiệm cao cả với quê hương, tổ quốc.
Hình ảnh “Giếng nước gốc đa” được nhân hoá biết nhơ thương người ra lính. Giếng nước gốc đa còn là hình ảnh ẩn dụ cho những người thân yêu ở lại hậu phương đợi chờ. Dường như chia sẻ nỗi nhớ, niềm tin ở hậu phương là tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho các anh vững lòng chiến đấu nơi biên giới xa.
Đồng đội là người bạn chiến đấu chia sẻ với nhau bao khó khăn gian khổ thiếu thốn:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Đại từ “anh – tôi” sóng đôi chỉ sự gắn kết không rời nhau trong khó khăn hoạn nạn:
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Chân không giày…
Những câu thơ tiếp theo có nhịp thơ ngắn. Mỗi câu thơ là một lời kể, lời tả nhưng không hề tha thở. Kể về cái khổ cho thấy được thương nhau từ trong cái khổ. Cách kể chỉ để tô đậm thêm sự gắn bó của các anh. Tình đồng đội đã mang đến cho người lính sức mạnh của niềm lạc quan, sự đoàn kết động viên nhau vượt qua gian khổ:
Miệng cười buốt giá
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
Đối lập với “áo rách, quần vá, chân không giày” là “nụ cười buốt giá”. Đối lập với cái khó khăn là ý thức vượt qua khó khăn. Tuy chẳng phải là nụ cười tươi tắn nhưng vẫn là nụ cười lạc quan, coi thường gian khổ. Cách thổ lộ tình cảm của họ là rất lặng thầm mà sau thấm thía kho bàn tay nắm lấy bàn tay. Ngôn ngữ không lời mà sau xúc động thấm thía. Nó là sự cảm thông, đoàn kết, động viên nhau và sự hứa hẹn lập những chiến công. Vẻ đẹp của người lính còn toát lên trong phẩm chất, tâm hồn:
Đứng cạnh bên nhau nhớ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Câu thơ tái hiện không gian, thời gian đêm phục kích chờ giặc tới. Đối lập với hoàn cảnh là tư thế chủ động ung dung: “Đứng cạnh nhau chờ giặc tới”. Câu thơ đặc biệt, không có chủ ngữ, chỉ có hành động “đứng” đặt ở đàu câu nhằm tô đậm, khắc sâu tư thế chủ động, tinh thần dũng cảm, phẩm chất kiên cường như “thép đã tôi” của người lính.
Hình ảnh thơ “Đầu súng trăng treo” là một hình ảnh đẹp, gây bất ngờ và đầy thú vị, mang đậm tính lãng mạng, bay bổng. Bức tranh sinh động bởi những đường nét vừa cứng cỏi vừa dịu dàng. Vầng trăng, khẩu súng và người lính. Ba nhân vật hoà vào nhau làm một. Trăng gợi bao nhiêu niềm suy tưởng về hiện thực kháng chiến và biểu hiện hoà bình. “Khẩu súng – Vầng trăng” là hình ảnh ẩn dụ cho tâm hồn thi sĩ hoà quyện trong phẩm chất kiêng cường của người chiến sĩ. Ánh trăng xuất hiện cuối bài thơ trở thành “nhãn tự” làm bừng sáng niềm lạc quan trong bài thơ.
Kết bài:
Với hình ảnh chân thực mà gợi tả, ngôn ngữ cô động mà giàu chất khái quát cao, bài thơ Đồng chí như một khúc ca ca ngợi tình đồng chí keo sơn gắn bó của anh bộ đội Cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp. | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài thơ Đồng chí của Chính Hữu | 1,299 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
Mở bài:
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho tiết tháo, sống theo đạo nghĩa, tuy mang tật mù tối, và gặp lúc biến loạn mà vẫn giữ được phẩm cách thanh cao. Ông không chỉ là người con có hiếu, người thầy mẫu mực, mà còn là một nhà thơ yêu nước, đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Đình Chiểu, thể hiện sâu sắc tấm lòng cảm phục của bậc chí sĩ trước tinh thần dũng cảm của nghĩa sĩ Cần Ciuộc đã quên thần vì nước.
Thân bài:
Bài văn tế được viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định là Đôc Quang để đọc tại lễ truy điệu các nghĩa sĩ Cần Giuộc, nhưng cũng là tiếng khóc từ đáy lòng tác giả và là tiếng khóc lớn của nhân dân trước sự hy sinh của những người anh hùng.
Bối cảnh bão táp của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nghĩa sĩ nông dân. Nguyễn Đình Chiểu đã dành những lời văn thống thiết để khóc thương cho ác anh hùng nghĩa sĩ nông dân áo vải:
Hỡi ơi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.
Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.
“Hỡi ôi!” là tiếng than, tiếng khóc nghẹn ngào trước tình thế căng thẳng của thời đại. Nghệ thuật đối lập: “sung giặc, đất rền> < trận nghĩa đánh Tây”. Hành động đánh tây là hành động vì nghĩa cao cả. Dù có hi sinh nhưng tên tuổi vẫn còn lưu thơm đến nghìn đời sau.
Khúc mở đầu thống thiết, làm hiện lên hình ảnh bi tráng của các anh hùng nghĩa sĩ. Ẩn sau lời văn là niềm cảm phục và xót thuwong vô hạn của tác giả dành cho những con người bình dị, hiền làng, vì nghĩa lớn mà không tiếc mú xương. Bằng tất cả sự thấu hiểu, nguyễn ĐÌnh Chiểu tiếp tục làm hiện hõ hình ảnh của những anh hừng ấy trong cuộc sống đời thường:
Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn;
Riêng lo nghèo khó.
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân:
Họ xuất thân từ những miền quê nghèo khó. Quanh năm chỉ biết “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”. Lúc nào họ cũng lo cho cuộc sống đói kém, khó nghèo. Cái mà họ biết là “ruộng trâu, cuốc, cày, cấy, bừa”, những công việc của bần nông. Họ hoàn toàn xa lạ với chiến trường “cung ngựa, trường chung, binh đao, trận mạc” , những việc của nhà binh.
Toàn bộ không gian và thời gian của họ chỉ gói gọn trong làng bộ, ta có cảm giác như họ chưa từng bao giờ ra khỏi lũy tre làng, mái nhà tranh của họ. Đây là những người nông dân chân chính, thật thà, chất phác chưa hề biết tới việc binh đao.
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa;
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;
Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.
Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;
Chẳng thèm chốn ngược, chốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.
Lúc đầu họ phập phồng, hoang mang lo sợ. Họ trông vào vua quan, những lực lượng che chở cho họ nhưng không có kết quả. Càng trong đợi càng thấy bặt tăm. hNhìn thấy kẻ thù hung bạo tàn phá quê hương, họ căm thù sâu sắc, mãnh liệt. “Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”, thấy hình ảnh của giặc là “muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ”.
Họ còn nhận ra bản chất của kẻ thù “lũ treo dê bán chó”. Đó là lũ xấu xa lộc lừa. Thế nên họ quyết tâm không đội trời chung với giặc. Ngôn ngữ phù hợp với bản chất của người nông dân Nam Bộ. Nghệ thuật so sánh, thể hiện lòng căm thù của người nông dân rất rõ rang, mãnh liệt.
Ý thức được trách nhiệm đối với tổ quốc, với sự nghiệp cứu nước. Họ tự giác đứng vào hàng ngũ nghĩa binh, tình nguyện ra trận với một khí thế hăm hở, quyết tâm “nào đợi ai đòi, ai bắt, chẳng them trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”. Những từ “xin ra sức”, “dốc rat ay”, “há để ai”, “nào đợi ai”, “chẳng them trốn” diễn tả sinh động, chính xác ý thức tự nguyện của họ.
Đây là sự phát triển trong ý thức của họ (ý thức bảo vệ chính nghĩa), chính ý thức này đã giúp họ từ người nông dân lương thiện thành người nghĩa sĩ kiên cường bất khuất.
Ý thức rõ tội ác của kẻ thù và trách nhiệm của bản thân đối với đất nuwocs, họ quyết tâm đứng lên chống giặc cứu nước. Thế nhưng, lấy gì để chống giặc. Họ chỉ có “manh áo vải, ngọn tầm vong, rơm con cúi, lưỡi dao phay”. Đây không phải là những vũ khí mà chỉ là vật dụng sinh hoạt hằng ngày. Họ mang theo cả cái nghèo khó vào chiến trận để chiến đấu với “đạn nhỏ đạn to, tàu đồng, sung nổ,…” khiến ta không khỏi ngậm ngùi và kinh ngạc bởi cuộc chiến không ngang sức và tinh thần quả cảm của họ:
Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu bầu ngòi;
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ.
Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
Chi nhọc quan quản trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.
Với tinh thần yêu nước cao cả, họ đã biến công cụ sản xuất thành vũ khí lợi hại, lập được chiến công “đốt nhà dạy đạo kia, chém rớt đầu quan hai nọ, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh”.
Hàng loạt động từ mạnh “đạp, lướt, xô, xông, đâm, chém,…” cộng với những chi tiết dồn dập, nhịp nhanh, tác giả đã khắc họa được khí thế vũ bão và khoảnh khắc hào hùng cảu người nghĩa sĩ trong trận công đồn. Chính lòng căm thù giặc và lòng “mến nghĩa” đã hình thành trong họ sức mạnh vũ bão để họ viết tên mình vào lịch sử chống ngoại xâm sáng chói của dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa được vẻ đẹp chân chất, hồn nhiên; yêu nước bộc trực, sâu nặng, trong sáng, dũng cảm quên mình, xả thân vì nghĩa lớn của người nghĩa sĩ. Vẻ đẹp ấy mang đậm bản chất cảu người nông dân Nam Bộ.
Ẩn sau bức tượng đài về người nghĩa sĩ nông dân, là tình cảm thiết tha của tác giả và nhân dân trước sự hi sinh cao cả. Đây là tình cảm (tiếng khóc) của tác giả, người thân, nhân dân Nam Bộ, nhân dân cả nước, của cỏ cây, sông núi. Đây là một tiếng khóc lớn, tiếng khóc vĩ đại của một thời đại đau thương mà anh dũng,kiên cường.
Tác giả xót thương đối với những người nghĩa sĩ đã hi sinh:
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm vội bỏ.
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.
Đoái sông Cầm Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.
Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;
Vốn không giữ thành, giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực[ theo quân cho đáng số.
Có nỗi tiếc hận khi sự nghiệp còn dang dở, chí nguyện chưa thành:
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm vội bỏ.
Có nỗi căm hờn kẻ đã gây nên nghịch cảnh éo le:
Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui hào luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.
Có nỗi uất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương cảu đất nước:
Đoái sông Cầm Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.
Có nỗi xót xa cho gia đình phải mất người thân – tổn thất không thể bù đắp:
Đau đớn bấy! mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
Co nỗi cảm phục, tự hào đối với những người nông dân đã dám đứng lên bảo vệ “tấc đất, ngọn rau, bát cơm, manh áo” của mình, chống lại kẻ thù hung hãn:
Tấc đấc ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.
Người nghĩa sĩ nông dân đã lấy cái chết để làm rạng ngời chân lý cao đẹp “thà chết vinh còn hơn sống nhục”:
Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Biểu dương công trạng của người nghĩa sĩ nông dân, đời đời được nhân dân ngưỡng môn, Tổ quốc ghi công:
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;
Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.
Đoạn kết vẫn là tiếng khóc thương và ngợi ca tấm lòng thiên dân của người nghĩa sĩ. Tiếng khóc lớn của tác giả có đau thương nhưng không hề bi lụy. Bởi nó tràn đầy niềm tự hào kính phục người nông dân áo vải dám hi sinh vì nghĩa lớn. Văn tế mà trở thành bản anh hùng ca, có giọng ai vãn mà khiến người đứng dậy. Một bài văn vừa tôn vinh nhân dân, vừa có tác dụng rửa nhục cho triều đình – có lẻ vì thế mà Tự Đức ra lệnh cho Bộ Lễ truyền đi khắp cả nước, và bài văn trở thành bài hịch đánh giặc của toàn dân tộc.
Kết bài:
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng cho một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì Tổ Quốc. Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực; ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động.
Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888). Ông xuất thân trong một gia đình nghèo.
Năm 1843, ông thi đỗ tú tài. Năm 1846, ông tiếp tục ra huế thì được tin mẹ mất, ông bỏ thi về chịu tang mẹ, dọc đường vì khóc mẹ rồi bị đau mắt nên ông đã bị mù. Sau đó ông về Gia Định mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, làm thơ.
Khi thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Đình Chiểu vẫn cùng lãnh tụ các nghĩa quân bàn mưu định kế giết giặc. Thực dân Pháp tìm mọi cách mua chuộc ông nhưng không được. Năm 1888 ông từ trần, cánh đồng Ba Tri rợp khăn tang khóc thương Đồ Chiểu.
Bài học từ cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu:
Ông là một người con có hiếu, người có nghị lực, có bản lĩnh sống vượt lên nỗi đau cá nhân.
Tinh thần bất khuất trước kẻ thù.
Tấm lòng yêu nước thương dân sâu nặng.
Sự nghiệp thơ văn:
Những tác phẩm chính”
Trước khi Pháp xâm lược
Tác phẩm: Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu
Mục đích: truyền bá đạp lý làm người.
Sau khi thực dân Pháp xâm lược:
Tác phẩm: chạy giặc, ngóng gió đông, văn tế nghĩa sĩ cần giuộc, văn tế trương định, ngư tiều y thuật vấn đáp…
Nội dung: thể hiện lòng yêu nước, thương dân sâu sắc.
Nội dung thơ văn:
Lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa: đạo lý làm người của Nguyễn Đình Chiểu mang tính nhân nghĩa của đạo Nho nhưng lại rất đậm tính nhân dân và truyền thống dân tộc
Lòng yêu nước thương dân
Nghệ thuật thơ văn:
Vẻ đẹp không lộ ra bên ngoài mà tiềm ẩn ở tầng sâu cảm xúc, suy nghĩ.
Bút pháp trữ tình xuất phát từ cái tâm trong sáng và tình cảm đối với nhân dân, đối với cuộc sống.
Thơ văn của ông mang đậm chất Nam Bộ.
Câu hỏi luyện tập:
1. Trình bày hoàn cảnh sáng tác “văn tế nghĩa sĩ cần giuộc”
2. Cảm nhận của anh/chị về hình tượng người nghĩa sĩ nông dân trong “văn tế nghĩa sĩ cần giuộc”.
3. Tiếng khóc bi tráng của tác giả xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc. Theo anh/chị, đó là những cảm xúc gì? Vì sao tiếng khóc đau thương này lại không hề bi lụy?
4. Sức gợi mạnh mẽ của bài văn tế chủ yếu là do những yếu tố nào? Hãy phân tích một số câu tiêu biểu? | Phân tích ý nghĩa và giá trị bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu | 2,390 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng phủ Ngọc Tường
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng phủ Ngọc Tường
Mở bài:
Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Ông là một trong những nhà văn chuyên về bút ký. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý…Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa. Tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông là bút kí nổi tiếng của Hoàng phủ Ngọc Tường về sông Hương và xứ Huế.
Thân bài:
Tác phẩm viết vào năm 1981 – tại Huế, được in trong tập sách cùng tên. Bài bút kí gồm ba phần, đoạn trích nằm ở giữa phần thứ nhất của tác phẩm.
Nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” giàu chất thơ, là một câu hỏi tu từ nhằm khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của sông Hương (sông thơm) – gắn với huyền thoại vì yêu quý con sông xinh đẹp, “nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông để làn nước thơm tho mãi mãi”. Nghĩa là nhân dân đã đặt tên cho dòng sông và gửi vào đấy tất cả tình yêu quê hương xứ sở và ước vọng của con người : muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa, lịch sử dân tộc. Qua nhan đề, nhà thơ bày tỏ tình yêu, sự đắm say, ngưỡng mộ đối với sông Hương và xứ Huế. Sông Hương mãi mãi là đề ài bí ẩn để tìm hiểu và khám phá. Nhan đề gợi niềm biết ơn đối với những người đã có công khai phá mảnh đất này.
Hình tượng chủ đạo của bút kí là dòng sông Hương với những vẻ đẹp đa diện. Vẻ đẹp sông Hương hiện lên với cảnh sắc thiên nhiên được cảm nhận qua thủy trình của dòng sông.
Ở nơi khởi nguồn, giữa rừng Trường Sơn, sông Hương toát lên vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại đầy cá tính. Nó được so sánh như “bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu khi “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, lúc “mãnh liệt qua các ghềnh thác”; khi “cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu ”, lúc “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đổ quyên rừng”
Sông Hương hùng tráng, dữ dội mà nên thơ, trữ tình là bài ca bất tận của thiên nhiên. Nó được nhân hóa như một “cô gái Di – gan phóng khoáng và man dại” với một “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do, trong sáng” có sức mạnh bản năng đầy quyến rủ.
Khi ra khỏi cửa rừng, sông Hương khoát lên mình vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ ”. Lúc này, sông Hương được nhân hóa là “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở ”, là đấng sáng tạo, là sự khởi nguồn của không gian văn hóa Huế.
Với hình ảnh liên tưởng độc đáo, nhà văn đã tìm về nguồn cội để khám phá vẻ đẹp tâm hồn sâu thẳm của dòng sông mà chính nó không muốn bộc lộ. Đó cũng là cái nhìn mới mẻ, độc đáo về một nữa ít người biết đến của dòng sông Hương.
Hành trình chảy xuối của sông Hương được hình dung như “một cuộc tìm kiếm có ý thức” người tình nhân lí tưởng với vẻ đẹp thơ mộng đầy khát khao lãng mạn. Giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại, sông Hương là một “cô gái đẹp ngủ mơ màng”. Rồi như bừng lên sức trẻ, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điên Hòn Chen; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hường sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi thiên Mụ, xuôi dần về Huế
Chảy qua những địa danh khác nhau, dòng sông mang nhiều vẻ đẹp đa dạng. Sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn khi vừa ra khỏi rừng già. Đến khi vượt qua chân núi Ngọc Trân, sắc nước trở nên xanh thẳm. Từ đó về xuôi, dòng sông phản chiếu ánh sáng của sự sống ngàn năn ẩn mình. Vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng, sông Hương có lúc “mềm như tấm lụa” khi qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo, có khi ánh lên “những phản quang nhiều màu sắc sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, lúc qua những dãy đồi núi phía tây nam thành phố. Sông Hương bừng sáng, tươi tắn và trẻ trung khi gặp “tiếng chuông chùa Thiên Mụ” ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà.
Sông Hương mang vẻ đẹp “trầm mặc như triết lí cổ thi ” khi dòng sông chảy qua những đồi thông u tịch với những lăng tẩm đền đài. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương.
Bút pháp kể và tả kết hợp nhuần nhuyễn, lối hành văn lịch lãm và tài hoa, sức hấp dẫn toát lên từ hàng loạt hành động từ diễn tả dòng chảy sống động của dòng sông qua những địa danh khác nhau, đã làm nổi bật vẻ đẹp của dòng sông Hương trong sự phong phú, hài hòa với thiên nhiên xứ Huế.
Khi chảy vào thành phố Huế, sông Hương trở nên trầm tĩnh. Sông Hương có những nét khác biệt so với các dòng chảy qua thành phố trên thế giới : “nó trôi đi chậm, thật chậm cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh ”. Phát hiện này của Hoàng Phủ Ngọc Tường cho thấy vẻ đẹ dịu dàng sâu lắng dòng sông và cả tình cảm yêu mến của tác giả danh cho sông Hương, cho xứ Huế. Sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc
Ở sắc thái tâm trạng tình yêu, sông Hương gặp thành phố Huế như đến với điểm hẹn tình yêu. Dòng sông được cảm nhận trong cảm xúc mới. Ở ngoại ô Kim Long, dòng sông “vui tươi hẳn lên”, nó kéo một nét thẳng thực yên tâm. Khi giáp mặt thành phố, sông hương e lệ, thẹn thùng, nó uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Huế; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.
Ở góc nhìn hội họa, nằm giữa lòng thành phố Huế, sông Hương và những chi lưu của nó đã tạo nên những đường nét tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ kính của cố đô. (Bởi bóng “ Cây đa, cây dừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm… với những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ ”).
Qua cách cảm nhận âm nhạc, Sông Hương có vẻ đẹp sâu lắng trữ tình như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế ” bởi điệu chảy chậm rãi, lặng lờ của nó. Sông Hương như “người tài nữ đánh đàn lúc đem khuya” bởi toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này.
Sông Hương khi từ biệt thành phố
Sông Hương mang vẻ đẹp của một người tình dịu dàng và chung thủy. Nó lưu luyến ra đi giữa màu xanh của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây rồi vòng lại để gặp thành phố lần cuối. Khúc quanh đó thật bất ngờ. Nhà văn đã gọi đấy là “nổi vương vấn”, là “chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”, như “nàng Kiều trong đêm tình tự… trở lại tìm Kim Trọng ” để nói lời thề trước lúc đi xa.
Nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được sử dụng rất tài tình và hiệu quả, cách lựa chọn các định ngữ táo bạo, đắt giá, thanh điệu hài hòa, hình ảnh chân thực, có sự kết hợp giọng điệu cổ kính và hiện đại, các kiểu câu văn xuôi giàu chất thơ.
Những vẻ đẹp khác của sông Hương :
Vẻ đẹp lịch sử :
Trong lịch sử, sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca, là “dòng sông của thời hian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ biếc” ghi dấu biết bao chiến công oanh liệt của đất nước. Từ thời các vua Hùng nó là dòng sông biên thùy bảo vệ non sông đất nước. Thời của Nguyễn Trãi nó mang tên Linh Giang, dòng sông Viễn Châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại.
Vẻ âm nhạc, thi ca:
Nhà văn đã gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế, vì “toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này”. Tác giả cho rằng “có một dòng sông thi ca về sông Hương”… Dòng sông ấy không bao giờ tự lập lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ, mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó. Ở đâu đó, ta bất chợt nhìn thấy sông Hương hùng tráng “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát;hay là “nỗi quan hoài vạn cổ” trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan. Có khi là “sức mạnh phục sinh của tâm hồn” trong thơ Tố Hữu.
Sông Hương với vẻ đẹp bình dị, đời thường:
Sông Hương mang vẻ đẹp giản dị của cuộc sống bình thường “làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Cái tên song hương bắt nguồn từ trong cuộc sống bình dị của con người. Người làng Thành Trung có nghề trông rau thơm. Ở đây cô một huyền thoại kể rằng, vì yêu quý con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đố xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi.
Bút pháp sử thi, lãng mạn, khảo cứu… của Hoàng Phủ Ngọc Tường được kết hợp vừa khéo léo vừa tài hoa khiến cho dòng sông vốn đã rất đẹp bỗng tỏa sáng thêm nhiều nét hấp dẫn mới. Ông là một tri thức uyên bác với sự hiểu biết phong phú, có chiều sâu về lịch sử, địa lí sông Hương, văn hóa Huế và nhiều lĩnh vực khác. Tác phảm thể hienj sâu sắc một cái “tôi” tài hoa với khả năng quan sát, liên tưởng tinh tế, ngôn ngữ biến ảo, giàu chất thơ…. Một cái “tôi” đầy nhân cách với sự trân trọng.
Nhà văn đã sáng tạo những trang văn đẹp bởi kho từ vựng phong phú, uyển chuyển và giàu hình ảnh, nhịp điệu. Biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, … được sử dụng một cách hiệu quả, gắn liền với những liên tưởng thú vị, bất ngờ. Sự kết hợp nhuần nhuyễn bút pháp kể và tả làm nổi bật vẻ đẹp của dòng sông trong một lói văn phong tao nhã, tài hoa.
Kết bài:
Bài kí ca ngợi sông Hương, rộng hơn là vùng đất cố đô đẹp, thơ mộng, ca ngợi lịch sử vẻ vang, văn hóa và tâm hồn Huế. Qua đó bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương với xứ Huế và đối với quê hương đất nước. | Phân tích ý nghĩa và giá trị bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng phủ Ngọc Tường | 2,076 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm
Hướng dẫn
Phân tích ý nghĩa và giá trị Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm
Mở bài:
Ngô Thì Nhậm xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, ngày nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. Ông là người có đóng góp tích cực cho triều đại Tây Sơn trong chấn chỉnh vì đất nước sau khi đánh bại quân Thanh xâm lược. Chiếu cầu hiền của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm viết thay vào khoảng năm 1788 – 1789 nhằm thuyết phục sĩ phu Bắc Hà ra cộng tác với triều đại Tây Sơn.
Thân bài:
Bài chiếu cầu hiền có bố cục rõ ràng, chặt chẽ. Phần đầu: (từ đầu … người hiền vậy): quy luật xử thế của người hiền. Phần hai: (trước đây… hay sao): cách ứng xử của sĩ phu Bắc Hà và nhu cầu của đất nước. Phần còn lại: đường lối cầu hiền của vua Quang Trung.
Thừa lệnh Quang Trung nguyễn Huệ viết Chiếu cầu hiền, thế nhưng, bài chiếu tỏ rõ cái tài, cái chí của Ngô Thì Nhậm đối với việc thu phục nhân tài ra phục vụ cho đất nước:
Ngô thì Nhậm nêu ra quy luật xử thế của người hiền:
Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.
Bắt đầu bài chiếu tác giả mượn lời của Khổng Tử để nói lên mối quan hệ giữa người hiền và thiên tử: “Hiền tài cũng như sao sáng trên trời”. Lời lẽ đó khẳng định và trân trọng người có tài. Tiếp đến từ quy luật tự nhiên “sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc thần”, khẳng định người hiền phụng sự cho thiên tử là một cách xử thế đúng, là tất yếu, là hợp với ý trời.
Để tăng thêm sức thuyết phục với sĩ phu Bắc Hà, ông đã dẫn trong sách Luận ngữ của Khổng Tử: “Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dung, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy”.
Lấy lời cổ nhân để lập luận cái lẽ hiển nhiên: có tài tất được tin dùng, ngô thì nhậm đã đánh đúng tâm lí của các sĩ phu Bắc hà. Họ muốn ra phục vụ nhà Tây sơn sau khi triều đình Lê-Trịnh bị đánh bại nhưng lại ngại ngùng vì chưa rõ thực thời thế thế nào. Cách lập luận chặt chẽ, thuyết phục của bài chiếu khiến họ yên tâm và tin tưởng hơn ở sức mạnh nhà Tây Sơn.
Trước đây thời thế suy vi, Trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe……. Huống nay trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?
Cách ứng xử của sĩ phu Bắc Hà: “Trước đây thời thế suy vi, Trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời, những bậc tinh anh trong triều đường phải kiêng dè không dám lên tiếng. Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa, cũng có kẻ ra biển vào sông, chết đuối trên cạn mà không biết, dường như muốn lẩn tránh suốt đời”.
Cách sử dụng điển cố, điển tích: “ở ẩn trong ngòi khe”, “trốn tránh việc đời”.v.v… khiến cho câu văn thêm phần trang kính. Tiếp đến lại tỏ lòng mong mỏi của Quang Trung Nguyễn Huệ muốn các quan đừng nghĩ chuyện cũ mà hết lòng ra phục vu đất nước bằng những lời lẽ hết sức thiết tha: Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến. Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?
Bằng cách khiêm tốn nhận sự kém cỏi về mình: “hay trẫm ít đức không đáng kể phò tá chăng”, đặt ra vấn đề tài đức của người trị vì đất nước, bài chiếu đánh thẳng vào nhân tâm, đập mạnh vào nỗi hoài nghi của các quan triều cũ. “Ở ẩn trong ngòi khe” hay “trốn tránh việc đời”, cả hai cách đều không đúng với hiện thực bấy giờ. Vừa thể hiện được sự thành tâm, khiêm nhường, vừa thể hiện được sự đòi hỏi và chút thách thức của vua Quang Trung.
“Kia như, trời còn tăm tối, thì đấng quân tử phải trổ tài… há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?”
Thẳng thắng thừa nhận những bất cập của triều đại mới, khéo léo nêu nhu cầu của đất nước. Biết bao khó khăn đang thách thức: “Kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết, công việc ngoài biên đương phải lo toan. Dân còn nhọc mệt chưa lại sức mà đức hoá của trẫm chưa kịp nhuần thấm khắp nơi. Trẫm nơm nớp lo lắng, ngày một ngày hai vạn việc nảy sinh”.
Dù tài trí hơn người, nhưng nhà vua vẫn luôn mong có người giúp sức: “Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình. Suy đi tính lại trong vòm trời này cứ cái ấp mười nhà ắt phải có người trung thành tín nghĩa”.
Cách nói vừa khiêm nhường, tha thiết vừa kiên quyết. Nhà vua tự tỏ bày về hoàn cảnh đất nước. Lời lẽ chân thành thốt ra tự đáy lòng mình.. Đất nước vừa được tạo lập, dân tình chưa yên, kẻ thù còn lăm le bờ cõi, trăm công nghìn việc cần ddwuwocj thu xếp càng sớm càng tốt. Rõ ràng đó là những lời tâm sự chân thành nhất, không phô trương quyền lực, không dọa nạt chém giết, vị vua ấy hiền từ coi trọng người hiền tài, lo cho vận mệnh của đất nước và quyền lợi của nhân dân
Đường lối cầu hiền của vua Quang Trung
“Chiếu này ban xuống, các bậc quan viên lớn nhỏ, cùng với thứ dân trăm họ, người nào có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, cho phép được dâng sớ tâu bày sự việc….. chưa được người đời biết đến, thì cũng cho phép dâng sớ tự tiến cử, chớ hiềm vì mưu lợi mà phải bán rao”.
Đối tượng cầu hiền là quan viên lớn nhỏ, thứ dân trăm họ không trừ một ai miễn một lòng vì đất nước mà khong quản ngại gian lao.
Đoạn kết là lời kêu gọi động viên, khích lệ cùng nhau gánh vác việc nước để hưởng phúc lâu dài: “nay trời trong sáng, đất thanh bình, chính là lúc người hiền gặp hội gió mây, những ai có tài có đức hãy cùng cố gắng lên, ghi tên tại triều đình, cùng nhau cung kính, cùng nhau hưởng phúc lành tôn vinh”. Tư tưởng dân chủ, tiến bộ, tầm nhìn xa trông rộng, chí công vô tư của bậc đại tài Quang Trung Nguyễn Huệ
Cách nói sung cổ, lối văn ngắn gọn, súc tích, tư duy sáng rõ, lập luận chặt chẽ,… bài chiếu vừa rắn roit thuyết phục vừa thiết tha cảm động lòng người. Chiếu cầu hiền quả thực xứng đáng là một trong bản hùng văn xuất sắc của thời đại.
Kết bài:
Chiếu cầu hiền là một văn kiện quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động viên trí thức Bắc Hà tham gia xây dung đất nước. Bài chiếu được viết với nghệ thuật thuyết phục đặc sắc và thể hiện tình cảm của tác giả đối với sự nghiệp xây dựng đất nước.
Câu hỏi và đề luyện tập:
1. Hãy cho biết: bài chiếu được viết nhằm đối tượng nào? Các luận điểm đưa ra để thuyết phục là gì? Có phù hợp với đối tượng không? Nhận xét về nghệ thuật lập luận của bài chiếu.
2. Qua bài “chiếu cầu hiền”, anh/chị hãy nhận xét về tư tưởng và tình cảm của vua Quang Trung. | Phân tích ý nghĩa và giá trị Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm | 1,442 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Mỏ bài:
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là một trong những tác giả văn học nổi bậc nhất của nền văn học Việt nam thế kỉ XX. Ông là một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, có cá tính độc đáo. Nguyễn Tuân sáng tác ở nhiều thể loại song đặt biệt thành công ở thể loại tùy bút. Tác phẩm của Nguyễn Tuân luôn thể hiện phong cách độc đáo, tài hoa, sự hiểu biết phong phú nhiều mặt và vốn ngôn ngữ, giàu có, điêu luyện. Chữ người tử tù là tác phẩm đặc sắc nhất, thể hiện sâu sắc phong cách viết văn của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám 1945.
Thân bài:
Chữ người tử tù rút từ tập truyện Vang bóng một thời (1940), một văn phẩm kinh điển, gần đạt tới sự toàn diện, toàn mỹ. Truyện kể về cuộc gặp gỡ định mẹnh giữa Huần Cao, một tử tù khét tiếng văn võ song toàn và viên quản ngục, một cai ngục có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”.
Viên quản ngục nhận được phiến trát về sáu tên tử tù bị án chém, trong đó người đứng đầu là Huấn Cao. Huấn Cao là một người văn võ song toàn. Ngoài tài thư pháp ông còn là một anh hùng bất khuất hiên ngang. Có trong tay người tài, Viên quản ngục muốn có được chữ của Huấn Cao như có vật báu trong nhà. Ông biệt đãi và trân trọng Huấn Cao.
Chính tâm lòng viên quản đã làm Huấn Cao cảm động. Trước khi lên kinh chịu án chém, ông đồng ý cho chữ. Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã diễn ra trong ngục tối: Cái đẹp nghệ thuật được sản sinh trong chốn lao tù. Sau khi cho chữ, Huấn Cao khuyên thầy quản về quê sống để giữ thiên lương cho lành vững rồi hãy thưởng thức cái đẹp.
Cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao, là một người “đại nghịch” cầm đầu cuộc nổi loạn nay bị bắt giam, đang chờ ngày ra pháp đình chịu tội và viên quản ngục, kẻ đại diện cho trật tự xã hội đương thời. Nhưng trên bình diện nghệ thuật, cả hai đều là người có tâm hồn nghệ sĩ, đều quý trọng cái đẹp ở đời. Họ là những người tri âm, tri kĩ với nhau. Chính tình huống độc đáo này làm nổi bật vẻ đẹp cả hình tượng Huấn Cao, làm sáng tỏ tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục.
hình tượng nhân vật Huấn Cao
Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp:
Người khắp vùng tĩnh Sơn khen Huấn Cao có tài “tài viết chữ rất nhanh, rất đẹp”. Lời ca ngợi và mong ước của viên quản ngục “chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm”, “có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một vật báu trên đời” thể hiện khá đầy đủ tài năng và bản lĩnh của Huấn Cao. Con người ấy có sức thu hút đến nỗi khiến viên quản ngục bất chấp sự an nguy của bản thân để biệt đãi Huấn Cao.
Huấn Cao là người có tâm hồn trong sáng cao đẹp:
Ông cả đời “không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối” và mới chỉ cho chữ ba người bạn thân. Chứng tỏ Huấn Cao là người trọng nghĩa, khinh lợi, chỉ cho chữ những người tri kĩ.
Do cảm “tấm lòng biệt nhỡn liên tài” và hiểu ra “sở thích quá cao quí” của quản ngục, Huấn Cao dã nhận lời cho chữ. Huấn Cao chỉ cho chữ những người biết trân trọng cái tài và yêu quí cái đẹp.
Câu nói của Huấn Cao bộc lộ lẽ sống tốt đẹp: sống là phải xứng đáng với những tấm lòng. Phụ tấm lòng cao đẹp của người khác là không thể tha thứ.
Huấn Cao còn là một trang anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang bất khuất.
Huấn Cao dám chống lại triều đình mà ông căm ghét. Hành động “dốc gông” của Huấn Cao và thái độ “không thèm chấp” lời dọa dẫm của tên lính áp giải chứng tỏ dù bị xiềng xích nhưng ông vẫn hoàn toàn tự do về tinh thần.
Tiếp nhận Huấn Cao khiến cho viên quản ngục, một người dù có nhiều kinh nghiệm trong nghê cuãng phải cẩn thận, dè chứng. Thái độ ấy biểu hiện rõ trong lời ông nói với thầy thơ lại đêm trước tiếp nhận tử tù: “Thầy liệu cái buồng giam đó có cầm giữ nổi một tên tù có tiếng là nguy hiểm không? Thầy có nghe thấy người ta đồn Huấn Cao, ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bé khoá và vượt ngục nữa không?”
Huấn Cao “thản nhiên nhận rượu thịt” như “việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình”. Đó là một phong thái tự do ung dung, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Dưới mắt Huấn Cao, việc những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị làm chỉ là “những trò tiểu nhân thị oai”. Ông đã trả lời quản ngục một cách khinh bạc đến điều.
Huấn Cao là một nhân vật toát lên một vẻ đẹp khá toàn diện. Ông vừa là một con người rất mực tài hoa vừa là một con người hiên ngang khí phách, sống với một mục đích, lý tưởng cao đẹp bất chấp cả uy quyền và bạo lực. Ông luôn luôn đặt chữ “tâm” trên chữ “tài” và có quan niệm thống nhất giữa cái đẹp và cái thiện. Cái đẹp và cái thiện phải luôn luôn đi đôi với nhau, gắn bó mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau được. Huấn Cao quả là một nhân vật thật lý tưởng.
Qua hình tượng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân muốn khẳng định một quan niệm của ông trong nghệ thuật. Cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau. Một nhân cách đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài. Quan niệm thẩm mỹ của Hụấn Cao cũng là quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Tuân, đó là một quan niệm thẩm mỹ tiến bộ lúc bấy giờ.
Viên quản ngục là người có phẩm chất tốt đẹp, được xây dụng như một sự đối lập với hình tượng Huấn Cao. Nhân vật quản ngục có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, có sở thích chơi chữ đẹp. Đây là một tâm hồn nghệ sĩ lạc vào chốn nhơ bẩn làm nghề coi ngục nhưng quản ngục còn giữ được cái đức, cái tâm và biết quý trọng chữ nghĩa.
Phải xử tử một người tài năng như Huấn Cao khiến viên quản ngục không ngừng boăn khoăn. Khung cảnh đêm khuya hỗn độn với bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu âm thanh xô bồ cũng là tâm trạng của viên quản ngục đang rối bời. Cho đến gần sáng, có một sự thay hết sức mới mẻ ở viên quản ngục: “Những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ”.
Chính sự ngưỡng vọng bậc kì tài đã khiến viên quản ngục như thể lại. Chính tấm lòng biệt nhỡn liên tài đã khiến ông dũng cảm, táo bại, đi đến một hành động liều linh: biệt đãi Huấn Cao. Ý tưởng ấy đã khiến ông thấy nhẹ nhõm, như vừa dduwwocj giải thoát khỏi một gánh nặng ghê gớm mà chieuf nay hãy còn đè nặng.
Ông biệt đãi Huấn Cao vì nhận thức được giá trị cao quý của con người này. Việc đem rượu thịt vào nhà tù cho Huấn Cao đó là một hành động mạo hiểm dũng cảm của ông. Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong tréo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ.
Sự tuân phục của quản ngục trước lời nói khinh bạc của ông Huấn chứng tỏ ông là người biết cuối mình trước cái đẹp. Huấn Cao đã nhận ra phẩm chất tốt đẹp của quản ngục. Viên quản ngục tuy không tạo ra cái đẹp nhưng biết yêu và trân trọng cái đẹp.
Tuy sống bằng cái nghề độc ác, tàn bạo, nhưng viên quản ngục là một con người biết quí trọng kẻ có tài, biết yêu cái đẹp, trân trọng với cái đẹp, biết nghe theo lời khuyên bảo của Huấn Cao để trở về với cái thiện và giữ lấy cái đẹp.
Cảnh cho chữ trong nhà lao, một cảnh tượng chưa từng có:
Huấn Cao chấp nhận cho chữ viên quản ngục ngay trong ngục tù tăm tối. Đó là việc làm đáp lại một tấm lòng trong thiên hạ, là tấm lòng của người tri âm giành cho người tri kỷ. Người ta thấy cái tâm đang điều khiển cái tài. Cái tài, cái tâm, cái dũng đã hòa vào như để tạo nên cái đẹp. bút pháp lãng mạn: cảnh cho chữ được viết theo lối tương phản. Đó là sự đối lập của bóng tối và ánh sáng cái thiện và cái ác, cái cao cả và thấp hèn:
Người cho chữ uy nghĩ, lẫm liệt: Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván.
Cái đẹp được khai sinh trong bóng tối, giữa chốn dơ bẩn và đáng sợ nhất trần gian. Trong cảnh đối lập đó người cho chữ và người nhận chữ vẫn say mê, hào hứng thành kính thiêng liêng:
Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực.
Trật tự, kỉ cương trong nhà tù hoàn toàn bị đảo ngược: tù nhân trở thành người ban phát cái đẹp, răn dạy ngục quan ; còn ngục quan thì khúm núm, vái lạy tù nhân, đón nhận lời chỉ dạy của kẻ tử tù. Cái đẹp thực sự đã cảm hóa trở thành bất tử.
Thì ra, giữa chốn ngục tù tàn bạo, không phải những kẻ đại diện cho quyền lực thốngtrị làm chủ mà là người tử tù làm chủ. Đó là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp đối với cái xấu xa, nhơ bẩn, của cái thiện đối với cái ác,… Đó là sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con người bằng một bức tranh nghệ thuật đầy ấn tượng.
Kết bài:
Truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng Huấn Cao – một con người tài hoa, có cái tâm trong sáng và khí phách hiên ngang, bất khuất. Qua đó, nhà văn thể hiện quan niệm về cái đẹp, khẳng định sự bất tử của cái đẹp và bộc lộ thầm kín lòng yêu nước.
Đề bài luyện tập:
1. Tình huống truyệ cảu tác phẩm: “chữ người tử tù” là gì? Tác dụng của tình huống này đối với việc thể hiện tính cách nhân vật và kịch tính của truyện.
2. Nhân vật quản ngục có phẩm chất gì khiến Huấn Cao cảm kích coi là “một tấm lòng trong thiên hạ”, và tác giả coi đó là “một thanh âm trong trẻo chen vào một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”
3. Phân tích nhân vật Huấn Cao qua tác phẩm “chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.
4. Phân tích cảnh cho chữ trong tác phẩm “chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân làm rõ đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. | Phân tích ý nghĩa và giá trị Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân | 2,036 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị của Số phận con người của Sô- lô – khốp
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị của Số phận con người của Sô- lô – khốp
Mở bài:
Sô- lô – khốp (1905 – 1984) là nhà văn Nga Xô Viết, nhà tiểu thuyết có tài, được liệt vào hang các nhà văn lớn nhất thế kỉ XX. Ông sinh tại thị trấn thuộc tỉnh Rô – xtốp trên vùng thảo nguyên sông Đông. Sô- lô – khốp tham gia công tác cách mạng từ rất sớm. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, ông theo sát Hồng liên quân trên nhiều chiến trường với tư cách là phóng viên báo Sự thật. Số phận con người là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Sô- lô – khốp.
Thân bài:
Sô-lô-khốp viết Số phận con người năm 1957, mười hai năm sau khi chiến tranh thế giới lần 2 kết thúc. Tác phẩm ca ngợi bản lĩnh kiên cường và nhân hậu của con người Xô Viết. Sô-lô-khốp là nhà văn dũng cảm khám phá sự thật. Câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận của Xô-cô-lốp, một thương binh đã giải ngũ.
Trên đường đi công tác, tác giả đã gặp Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a ở một bến đò. Nhân dịp này, Xô-cô-lốp đã kể cho tác giả nghe câu chuyện về cuộc đời mình: Khi thế chiến thứ II bùng nổ, Xô-cô-lốp nhập ngũ, và bị thương hai lần, bị phát xít Đức bắt làm tù binh, bị đày đọa dã man trong trại tập trung. Khi thoát được trở về, anh hay tin vợ và hai con gái đã bị bom giặc sát hại. Niềm hy vọng cuối cùng của anh là người con trai lớn đã nhập ngũ, đang cùng anh tiến đánh Berlin. Đúng vào ngày chiến thắng, con trai tử trận ngay trên đất Đức.
Một chuyện rủi ro xảy đến, anh lái xe đụng phải một con bò và bị tước bằng lái. Mất việc, anh đưa bé Va-ni-a đến Kasarư kiếm sống. Dù cuộc sống còn nhiều nỗi đau, nhưng Xô-cô-lốp vẫn có niềm tin hướng về tương lai.
Họ chia tay, tác giả nhìn theo hai bố con Xô-cô-lốp xa dần với một nỗi buồn thấm thía. Chợt Va-ni-a quay lại nhìn, vẫy vẫy bàn tay bé xíu chào tác giả. Như có móng sắc nhọn bóp lấy trái tim mình, tác giả quay mặt đi giấu những dòng nước mắt.
Chiến tranh và thân phận con người:
Người lính Xô-cô-lốp được miêu tả với nỗi đau lớn về thể xác và tinh thần. Trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại, anh đi lính, bị thương, đã chịu đọa đày trong trại tập trung. Vợ và hai con gái chết vì bom phát xít. Con trai hi sinh đúng vào ngày chiến thắng. Sau chiến tranh, sống trơ trọi một mình, không người than, không nhà cửa, không biết đi đâu về đâu… Có thể thấy, Xô-cô-lốp đã gánh chịu nỗi mất mát tột cùng do cuộc chiến gây ra. Chiến tranh đã tướt đoạt ở anh tất cả và trả về cho anh cuộc sống cô đọc, ám ảnh
Bé Va-ni-a là một nạn nhân khác của cuộc chiến tàn khố ấy. Trong chiến tranh, cha của Va-ni-a cũng đi lính và chết trận. Mẹ Va-ni-a cũng chết vì bom. Khi cuộc chiến kết thúc, cũng như người lính Xô-cô-lốp, bé Va-ni-a sống côi cút, không quê hương, không người thân, không nhà cửa, lang thang rách rưới lem luốc. Hằng ngày, Va-ni-a nhặt nhạnh kiếm ăn nơi hàng quán. Ban đêm bạ đâu ngủ đó…
Cả hai, người lính Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a đều là nạn nhân của chiến tranh. Chiến tranh đã đẩy con người vào những cảnh đời nghiệt ngã, đau khổ. Đó là một cuộc sống bơ vơ, một số phận bị cuộc đời bỏ quên.
Nghị lực vượt qua số phận:
Không chịu đầu hàng số phận, họ đã đấu tranh với nghịch cảnh để vượt qua và sống tiếp. Xô-cô-lốp dù rất đau hor và buồn bã nhưng cũng nhanh chóng chấp nhận cuộc sống sau chiến tranh. Ông tự nhận mình là bố đẻ bé Va-ni-a, chăm lo từng cái ăn cái mặt giấc ngủ cho bé. Nghĩa là ông gắn kết cuộc đời mình và Va-ni-a cho đến khi ngừng hơi thở. Ông sung sướng và hạnh phúc trong tình cảm cha con. Có thể, lúc ban đầu, Xô-cô-lốp muốn dùng Va-ni-a để lấp vào khoảng trống vắng khi cậu con trai ra đi. Nhưng về sau, tình cảm củ ông dành cho Va-ni-a là hết sức chân thật và cảm động.
Còn Va-ni-a, một nạn nhân bé bỏng của hiến tranh lại rất hồn nhiên vô tư đón nhận cuộc sống mới trong sự chăm sóc và tình thương yêu của người mà bé luôn nghĩ là cha đẻ của mình. Lúc nào nó cũng bám lấy Xô-cô-lốp không chịu rời nửa bước. Bên cạnh Xô-cô-lốp, nó thấy được che chở, yêu thương. Xô-cô-lốp chính là nguồn sức mạnh sinh tồn của nó mà nó hết sức gìn giữ.
Sô-lô-khốp đã miêu tả sâu sắc, tinh tế nội tâm và diễn biến tâm trạng nhân vật. Lối kể chuyện giản dị, sinh động giàu sức hấp dẫn và lôi cuốn người đọc. Nhiều đoạn trữ tình ngoại đề gây xúc động lớn cho người đọc. Số phận con người là mọt bài ca cảm động về tình đời, tình người trong xã hội vốn chịu nhiều tổn thất sau cuộc chiến.
Tác phẩm được kề theo ngôi thứ nhất, kết cấu theo trình tự thời gian. Số phận con người mang âm hưởng anh hùng ca về lòng dũng cảm, về tinh thần chịu đựng và sức mạnh tinh thần của con người Nga, tính cách Nga.
Kết bài:
Sô-lô-khốp đã không né tránh những sự thật dù khắc nghiệt trong khi phản ánh những bức tranh thời đại rộng lớn, những cảnh đời, những chân dung số phận đau thương. Trong sáng tác của ông, chất bi và chất hùng, chất sử thi và chất tâm lí luôn được kết hợp nhuần nhuyễn. | Phân tích ý nghĩa và giá trị của Số phận con người của Sô- lô – khốp | 1,026 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị Hạnh phúc một tang gia trích Số đỏ của Vũ trọng Phụng
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị Hạnh phúc một tang gia trích Số đỏ của Vũ trọng Phụng
Mở bài:
Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) là một trong nhà văn hiện thực phê phán lớn nhất của nền văn học Việt nam thế kỉ XX. Tuy chỉ có 10 năm sáng tác thế nhưng Vũ Trọng Phụng đã để lại một kho tác phẩm đáng kinh ngạc: hơn 30 truyện ngắn, 9 tập tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, cùng một bản dịch vở kịch từ tiếng Pháp, một số bài viết phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa. Hạnh phúc một tang gia là chương XV của tiểu thuyết Số đỏ, một tác phẩm kinh điển của nền văn học hienj thực phê phán thế kỉ XX.
Thân bài:
Số đỏ ra đời năm 1936 – năm đầu của mặt trận dân chủ Đông Dương. Xã hội Việt Nam bị nền văn hóa phương Tây xâm nhập, giai cấp tư sản thành thị đang chạy theo lối sống lố lăng, đồi bại đương thời. Xuân tóc đỏ, nhân vật chính của tác phẩm, từ một tên “nhặt banh quần”, sống cù bơ cù bất, nhân cách đồi bại, đã vương lên trở thành một người nổi tiếng, giàu có, trở thành biểu tượng của những giá trị mới bằng những thủ đoạn hết sức đê tiện và dơ bẩn. Qua nhân vật Xuân tóc đỏ, vũ Trọng Phụng đã vạch trần bộ mặt giả dối, đểu giả, lừa lọc của xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến đương thời. Trong đó, Hạnh phúc một tang gia là chương truyện tập trung bóc trần chiếc mặt nạ giả tạo của từng con người thông qua cái chết của cụ có tổ bằng nghệ thuật trào phúng bậc thầy, hết sức độc đáo của Vũ Trọng Phụng.
Ba ngày sau, cụ cố Tổ hơn 80 tuổi chết thật. Cụ cố Hồng, vợ chồng Văn Minh, ông phán mọc sừng, cậu tú Tân, cô Tuyết…Đám con cháu vô cùng sung sướng, tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, nóng lòng chờ phát phục. Bảy giờ sáng hôm sau thì cất đám. Có hai tên cảnh sát Min Đơ, Min Toa được thuê giữ trật tự. Tuyết mặc bộ đồ “ngây thơ” đi mời trầu. Đám ma theo cả lối ta, tàu, tây. Có kiệu bát cống, có lợn quay đi lọng, có đến ba tram câu đối, vài ba tram người đi đưa. Có lốc bốc xoảng, bu dích và vòng hoa. Khi đám ma đi được bốn phố thì bỗng có sáu chiếc xe, trên có sư bùa Bà Banh, xe nào cũng che hai lọng xuất hiện. Hai vòng hoa đồ sộ, một cảu báo Gõ Mõ, một của Xuân len vào hàng đầu. Cậu tú Tân vội bấm máy. Cụ bà chạy lên, sung sướng vì ông đốc tờ Xuân đã không giận mà lại giúp đáp phúng viếng đến thế, và đám ma như kể đã là danh giá nhất tất cả. Bộn quan khách thì cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, … Lúc hạ huyệt, cậu tú Tân bắt bẻ từng người một để chụp ảnh. Ông phán mọc sừng, khóc to “hứt! hứt! hứt” bí mật dúi vào tay Xuân cái giấy bạc năm đông gấp tư…Nó nắm tay cho khỏi có người nom thấy…
Nhan đề vừa gây chú ý cho người đọc vừa phản ánh đúng sự thật mỉa mai, hào hước tàn nhẫn. Bằng nghệ thuật trào phúng sắc bén, qua đoạn trích Hạnh phúc của một tan gia, Vũ Trọng Phụng đã phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối và sự lố lăng, đồi bại của xã hội “thượng lưu” ở thành thị những năm trước Cách mạng.
Niềm vui, hạnh phúc của các thành viên trong và ngoài gia đình khi cụ cố tổ qua đời:
Niềm hạnh phúc của người trong gia đình cụ cố Hồng
Cụ cố Hồng, con trai trưởng “chí hiếu” của “người chết”. Tuy mới 50 tuổi nhưng lâu nay chỉ ước mơ được gọi là cụ cố. Nay sung sướng ngây ngất vì nhờ cái chết của cha mình, nhờ có đám tang mà “được mặt bộ đồ xô gai, lụ khụ chống gậy vừa ho vừa khạc”, diễn trò già nua giữa chốn đông người…
Cái chết của cụ Tổ là dịp để con trai thừa tự khoe giàu sang và phô trương chữ hiếu Ông Văn Minh: “cháu đích tôn chí hiếu” của người chết thì sung sướng điên người vì “cái chúc thư kia đã đến giờ thực thi chứ không còn là lý thuyết viễn vông nữa”. Đồng thời đây cũng là dịp để ông lăng xê những mốt trang phục táo bạo nhất.
Cái chết của cụ Tổ là dịp để đứa cháu đích tôn thừa hưởng gia tài. Bà Văn Minh “sốt cả ruột” chờ lúc được mặt đồ xô gai tân thời của tiệm may Âu hóa cảu bà lăng xê.
Cái chết của ông là dịp để cháu dâu chưng diện. Cậu tú Tân: sung sướng điên người vì được dùng cái máy ảnh lâu ngày chưa được dung đến.
Cái chết của cụ Tổ là dịp để khoe khoang và thử nghiệm đồ dung. Cô Tuyết sung sướng vì được mặt bộ y phục Ngây thơ để chứng minh với thiên hạ rằng “mình chưa đánh mất cả chữ trinh”. Ông Phán mọc sừng sung sướng vì không ngờ cái sừng trên đầu mình lại có gái trị đến thế và ông tin chắc rằng mình sẽ được trả công xứng đáng.
Niềm hạnh phúc của người ngoài gia đình:
Bạn cụ cố Hồng được dịp khoe khoang huân chương, huy chương, nào là Bắc đấu bội tinh, Cao Miên bội tinh… và râu ria các loại “hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc nhung…”, “cảm động” khi thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực tuyết. Hai viên cảnh sát Min đơ và Min toa đang lúc thất nghiệp thì được thuê giữ trật tự cho đám tang, đã “sung sướng cực điểm”. Đám “giai thanh gái lịch” có dịp để họ bình phẩm, chê bai, ghen tuông, hẹn hò nhau. Xuân tóc đỏ sau khi ông tổ chết, uy tính danh giá cao hơn. Sư cụ Tăng Phú “sung sướng mà vênh váo” vì tin rằng sẽ có người nhận ra rằng “sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật Giáo”. Ông TYPN chờ đợi sự sáng chế của mình được ra mắt công chúng.
Cảnh đám tang:
Cách tổ chức: “theo lối Ta, Tây, Tàu, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng cho đến lốc bốc xoảng và bú dích” . Đó là một đám tang to nhưng ô hợp, bát nháo, thiếu vắng tình người.
Người đi đưa đủ mọi thành phần, từ già đến trẻ, từ cảnh sát đến sư sãi, từ thằng lưu manh giá hiệu nhà cải cách, đốc tờ đến nhà thiết kế thời trang…
Hàng phố “nhốn nháo cả lên khen đám ma to” và “chú ý đặc biệt vào những kiểu quần áo tang của tiệm may Âu hóa”.
Lúc hạ huyệt, cụ cố Hồng mếu máo, ho khan. Ông Phán mọc sừng khóc thật to “hứt! hứt! hứt!”…, tranh thủ dúi vào tay Xuân tóc đỏ tờ giấy bạc năm đồng bạc gấp tư (một sự thanh toán song phẳng). Sự giả dối tăng lên đến cực điểm.
Đám tang diễn ra như một tấn đại hài kịch nói lên sự lố lăng, đồi bại của xã hội tư sản thượng lưu thời trước cách mạng.
Nhà văn tinh tế phát hiện những chi tiết đối lập gay gắt cùng tồn tại trong một con người, một sự vật, một sự việc. Có thể nói, vũ trọng phụng đã khai thác triệt để các tình tiết bằng sự quan sát và liên hệ tài tình giữa các đối tượng và sự việc. Có một thứ keo dính nào đó gắn chặt chúng lại với nhau. Thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa cũng được sử dụng một cách linh hoạt hết sức hiệu quả. nghẹ thuật miêu tả biến hóa, linh hoạt và sắc sảo đến từng chi tiết khiến cho người đọc càng đi sâu càng thấy lôi cuốn.
Kết bài:
Hạnh phúc của một tang gia là minh chứng thuyết phục lối văn trào phúng, châm biếm bậc thầy của Vũ Trọng Phụng. Ông khai thác triệt để cái nghịch lý trong đạo lý làm người, ông nêu lên sự đối kháng giữa cái “bi” và cái “hài”: cái đau buồn, mất mát của một gia đình có người thân qua đời với cái vui vẻ “hạnh phúc của một tang gia” để tạo nên tiếng cười châm biếm sâu cay cái tầng lớp thượng lưu mới trơ trẽn đến trâng tráo khi chạy theo lối sống văn minh rởm. Qua đó ông đã vạch trần bộ mặt xấu xa bỉ ổi của thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ, đồng thời cảnh giác mọi người trước những phong trào do bọn thực dân phong kiến đề ra. Nhất là phong trào Âu hoá
Câu hỏi luyện tập:
1. Ý nghĩa nhan đề của đoạn trích “hạnh phúc của một tang gia”
2. Vì sao cái chết của cụ cố Tổ lại là niềm hạnh phúc của mọi thành viên trong gia đình cụ?
Phân tích những niềm hạnh phúc khác nhau của mỗi người trong gia đình cụ cố Hồng và những người ngoài gia đình.3.
4. Từ niềm hạnh phúc của các nhân vật do cái chết cụ cố Tổ đem lại và cảnh tượng của cái “đám ma gương mẫu”, anh/chị nhận xét như thế nào về xã hội thượng lưu thành thị đương thời? thái độ của nhà văn đối với xã hội này ra sau?
5. Nhận xét về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng ở đoạn trích này. | Phân tích ý nghĩa và giá trị Hạnh phúc một tang gia trích Số đỏ của Vũ trọng Phụng | 1,688 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị hồi thứ 14 trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị hồi thứ 14 trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái
Mở bài:
Hoàng Lê nhất thống chí là tiểu thuyết chương hồi xuất sắc nhất của nền văn học trung đại Việt Nam. Đó cũng là tác phẩm văn xuôi đầu tiên có quy mô lớn của một bộ sử thi. Tác phẩm có giá trị cả về mặt văn học và sử học, được sáng tác bởi nhóm tác giả thuộc họ Ngô Thì, thường gọi là Ngô gia văn phái. Đoạn tích là hồi thứ 14 trong tác phẩm. Đoạn trích dựng lên bức tranh chân thực về hình ảnh anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và sự thảm bại của bọn xâm lược Thanh và bè lũ bán nước Lê Chiêu Thống.
Thân bài:
Toàn bộ đoạn trích được chia làm ba phần cơ bản. Phần 1: từ đầu “tháng chạp năm Mậu Thân”: Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và thân chinh cầm quân diệt giặc. Phần 2: Từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” đến “kéo vào thành”. Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang trung. Phần 3: phần còn lại: sự thất bại của quang tướng nhà Thanh và tình trạng thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.
Dù trung thành với triều Lê, thế nhưng nhóm tác giả Ngô gia đã dành cho người anh hùng Quang Trung Nguyễn Huệ cái nhìn đầy thiện cảm và những trang viết đẹp nhất. Hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung được khắc họa đậm nét, mang tính sử thi kì vĩ.
Trước hết, ở Quang Trung Nguyễn Huệ là con người có hành động mạnh mẽ, quyết đoán. Khi nghe tin giặc đánh chiếm đến tận Thăng Long, vị dũng tướng đã không hề nao núng, lo sợ mà định thân chinh cầm quân đi đánh ngay. Thế giặc tuy mạnh nhưng lòng yêu nước và sự căm thù đối với quân xâm lược khiến ông vô cùng giận dữ.
Quang Trung Nguyễn Huệ là vị vua có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén. Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc và thế tương quan lực lưỡng giữa ta và địch. Biết khó thu phục lòng dân, hiệu triệu sức mạnh toàn quân trong cuộc chiến chống kẻ thù xâm lược, ông mau chống lên ngôi vua để “chính vị hiệu”. Khi hành quân ra Bắc, ông còn kén lính, mở cuộc duyệt binh lớn nhằm làn cho cả nước biết ông đang vì đất nước mà xả thân để nhân tài khắp nơi tìm đến mà hợp sức đánh giặc.
Qua lời phủ dụ quân lính, ta thấy rõ sự sáng suốt và nhạy bén của ông. Cả trong việc xét đoán và dùng người, cách xử trí với các tướng sĩ tại Tam Điệp, ông hiểu sở trường của tướng sĩ, khen chê đúng lúc, đúng người đúng việc. Ông mang cái tâm, cái trí của một bậc tiền nhân. Hiểu và dùng người đến mức tri âm tri kỉ.
Quang Trung Nguyễn Huệ có ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trong rộng hơn người. Mới khởi binh đã khẳng định: “phương lược đã tính sẵn…mười ngày sẽ đuổi được người Thanh”. Không những thế, lúc này, Quang trung còn nghĩ đến kế hoạch đối phó quân thanh sau chiến thắng sao cho vừa kiên quyết vừa nhu hòa để đảm bảo hòa bình đất nước. Quang trung nguyễn Huệ quả là người có tầm nhìn xa trong rộng, lo nghĩ đến cả tương lai.
So với những cuộc hành quan trong lịch sử, đó là một cuộc hành quân thần tốc chưa từng có. Tất cả đều đi bộ. Hành quân liên tục nhưng cờ nào, đội ấy vẫn chỉnh tề. Càng hành quân, lực lượng càng mạnh. Quang trung Nguyễn huệ đã làm thế nào để tạo nên kì tích ấy cho đến tận ngày nay vẫn còn là bí sử.
Đêm 30 tháng chạp lên đường ra Thăng Long. Mồng 5 tết vào được Thăng Long (vượt kế hoạch 2 ngày) Nghệ thuật đánh trận voi cùng mưu trí, khiến cho kẻ thù tướng mạnh, quân đông, mưu trí có thừa mà vẫn tự trói tay nộp mạng.
Trong chiến trận, Quang Trung Lẫm liệt, uy nghĩ, oài hùng đến phi thường. Ông thân chinh cầm quân, là tổng chỉ huy chiến dịch thật sư: hoạch định phương lược tiến đánh, tổ chức quân sự thống lĩnh mũi quân tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc… Mọi chiến thuật tiến công đều được Quang Trung trực tiếp quyết định và dóc thúc. Lãnh đạo tài tình, tận dụng yếu tố bất ngờ. Bắt sống quân do thám ở Phú Xuyên để giữ bí mật, tạo bất ngờ, vây kín làng Hà Hồi, công phá lành Ngọc Hồi…
Bằng biện pháp nghệ thuật kể, tả, tường thuật, tác giả đã làm nỗi bậc hình ảnh vị anh hùng Nguyễn Huệ – Quang Trung thật oai phong, lẫm liệt, mang tính sử thi, là linh hồn của cuộc hành quân thần tốc đại phá quân Thanh. Vua Quang Trung tượng trân cho đạo lý, tài trí sức mạnh Việt Nam.
Bọn quân tướng nhà Thanh khi tiến vào nước ta, do tâm lí khinh thường, ngạo mạn nên không đề phòng, chỉ lo yến tiệc vui chơi. Ý chí chiến đấu lại hèn kém. Khi quân Tây Sơn đến chỉ biết tháo chạy, hèn nhát, tham sống sợ chết. Bọn vua tôi phản nước hại dân “cõng rắn cắn gà nhà“, mưu đồ lợi ích riêng đã hèn nhát, cầu cạnh, van xin, mất tư cách của một vị vua và phải chịu số phận bi đát.
Kết bài:
Đoạn trích đã tái hiện chân thật hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ trong chiến thắng mùa xuân Kỉ Dậu năm 1789. Quang Trung – Nguyễn Huệ cùng đoàn quân Tây Sơn kiêu hùng bao nhiêu thì bọn cướp nước và bán nước thảm bại bấy nhiêu. Trên thực tế, tác phẩm không giữ nguyên thi pháp cổ điển của thể loại như mô tả ngoại hình nhân vật theo lối tượng trưng, ước lệ, mà có những đặc điểm được các nhà nghiên cứu đánh giá là đậm sắc thái của Việt Nam. Ngôn ngữ trong tác phẩm là ngôn ngữ động, mang phong cách lối nói dân gian giàu hình tượng, đôi khi có khoa trương, phóng đại hài hước, không bị gò bó theo khuôn của Hán học, vì vậy nội dung có sức hấp dẫn đặc biệt. Thành công lớn nhất của tiểu thuyết này là xây dựng được những nhân vật điển hình đa dạng, vừa khái quát vừa sâu sắc. | Phân tích ý nghĩa và giá trị hồi thứ 14 trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái | 1,149 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy
Mở bài:
Truyền thuyết là tác phẩm tự sự dân gian kể về một sư kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân vật đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cư dân của một vùng. Bên cạnh đó cũng có những truyền thuyết vừa đề cao, vừa phê phán nhân vật lịch sử. Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam Chích Quái- tập truyện dân gian được sưu tập vào cuối thế kỉ XV.
Thân bài:
Làng Cổ Loa, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội còn giữ được một phần quần thể di tích lịch sử lâu đời gồm: Đền thờ An Dương Vương, am thờ công chúa Mị Chau, Giếng Ngọc. Bao quanh cụm đền, am là từng đoạn của thành chạy dài trên cánh đồng – dấu vết còn lại của thành Cổ Loa chin vòng do Anh Dương Vương xây dựng.
Cốt lỗi lịch sử của truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy gắn với sự hình thành và phát triển của nước Nước Âu Lạc vào thời An Dương Vương. Nhờ rùa thần mách bảo và cho móng thần, An Dương Vương đã xây dựng được thành cao, hào sâu, chế tạo được vũ khí khiến kẻ thì phải khiếp sợ, chiến thắng quân xâm lược Triệu Đà. Nhưng cuối cùng cũng đã bị rơi vào tay giặc bởi những lỗi lầm nghiêm trọng của người trị vì đất nước..
Vai trò của An Dương Vương trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc ta và thái độ của nhân dân đối với An Dương Vương:
An Dương Vương là người đã xây dựng thành giữ nước.Thành xây ở đất Việt Thường nhưng “hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy”. Vua biết trân trọng hiền tài (đón mời cụ già vào điện hỏi kế xây thành, ra cửa đông chờ đợi sứ Thanh Giang). Được rùa Vàng giúp đỡ, An Dương Vương xây được thành “Thành xây nửa tháng thì xong Thành rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc”.
Vua có tinh thần cảnh giác, chuẩn bị vũ khí từ khi giặc chưa đến: “Nay nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?”, sai Cao Lỗ chế tạo nỏ thần. Bởi thế, An Dương Vương đã chiến thắng Triệu Đà, buộc hắn phải cầu hòa.
An Dương Vương là vị vua có ý thức đề cao cảnh giác, tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng bảo vệ đất nước, lo xây thành, chuẩn bị vũ khí từ khi giặc chưa đến. Việc làm của vua hợp lòng dân, hợp ý trời nên được nhân dân và thần linh giúp đỡ.
Thông qua những chi tiết kì ảo trong truyền thuyết (có sự giúp đỡ của thần linh, “Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển”), nhân dân kính trọng ca ngợi công lao của An Dương Vương; tự hào về chiến công xây thành, chế nỏ, chiến thắng ngoại xâm dân tộc.
Nguyên nhân mất nước Âu Lạc và bài học lịch sử rút ra từ sự việc này.
Nguyên nhân mất nước Âu Lạc:
Vì chủ quan, mất cảnh giác, hai cha con An Dương Vương đã mắc mưu Triệu Đà dẫn đến việc Âu Lạc thất bại. Cùng với nước mất là nhà tan.
Sai lầm của An Dương Vương:
Mơ hồ về bản chất ngoan cố, tham lam, độc ác của kẻ thù xâm lược nên nhận lời kết tình thông hiếu. Chính sai lầm đó đã mở đường cho con trai đối phương lọt vào làm nội gián trong hàng ngủ của mình.
Vua mất cảnh giác, chủ quan, khinh địch, lúc giặc đến vua ỷ lại vào vũ khí mà không lo phòng bị.
Mị Châu mất cảnh giác, ngây thơ, cả tin trong tình yêu đã vô tình tiếp tau cho âm mưu xâm lược của giặc; đã đặt tình yêu cá nhân lên trên vận mệnh quốc gia, dân tộc. Nàng quả cả tin, tự tiện sử dụng bí mật quốc gia cho tình riêng khiến vũ khí lợi hại – nỏ thần – bị đánh tráo mà không hay biết. Nàng chỉ đơn thuần nghĩ hạnh phúc cá nhân khi đánh dấu đường chạy cho Trọng Thủy tìm theo “Thiếp có áo gấm long ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt long mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”
– Phải luôn đề cao tinh thần cảnh giác với kẻ thù.
– Phải biết cách xử lí đúng đắng mối quan hệ giữa riêng với chung, giữa nhà với nước, giữa cá nhân với cộng đồng.
Thái độ, tình cảm của nhân dân với nhân vật Mị Châu và ý nghĩa hình ảnh “ngọc trai – giếng nước”.
Nhân dân vừa phê phán hành động vô tình phản quốc của Mị Châu; vừa rất độ lượng, cảm thông với Mị Châu, hiểu nàng là người cả tin, ngây thơ bị lợi dụng phạm tội một cách vô tình.
Ý nghĩa hình ảnh “ngọc trai – giếng nước”:
Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước”: “Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông, lấy nước giếng này (nước giếng nơi Trọng Thủy chết) mà rửa thì thấy trong sáng thêm”. Đó là một hình ảnh có giá trị tinh thần mĩ cao, là sự kết thúc duy nhất hợp lí cho Mị Châu và Trọng Thủy. Hình ảnh cho thấy nỗi oan tình được hóa giải: Trọng Thủy đã tìm được sự hóa giải trong tình cảm của Mị Châu ở thế giới bên kia.
Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” cho thấy thái độ vừa nghiêm khắc vừa nhân ái của nhân dân ta với các nhân vật trong truyện; cho thấy sự cảm thông của nhân dân đối với mối tình Mị Châu – Trọng Thủy.
Truyện kết hợp nhuần nhuyễn giữa cốt lỗi lịch sử và hư cấu nghệ thuật, cộng với kết cấu chặt chẽ, xây dựng những chi tiết kì ảo có giá trị nghệ thuật cao đã tạo nên sự hấp dẫn, li kì và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cách xây dựng nhân vật vô cùng độc đáo. Nhân vật với những xung đột, mâu thuẫn, dằn vặt phức tạp, đa diện, tiêu biểu vừa chân thực vừa có ý nghĩa biểu tượng đặc sắc.
Kết bài:
Câu hỏi luyện tập:
1. Nêu khái niệm truyền thuyết?
2. Nêu xuất xứ của văn bản “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”?
3. Nêu nguyên nhân mất nước Âu Lạc và bài học lịch sử rút ra từ sự việc này?
4. An Dương Vương đã tự tay chém đàu người con gái duy nhất của mình nhưng dân gian lại dựng đền am thờ hai cha con cạnh nhau. Cách xử lí như vậy nói lên điều gì trong đạo lí truyền thống của dân tộc ta?
5. Mị Châu bị Rùa Vàng kết tội là giặc, lại bị vị vua cha chém đầu, nhưng sau đó máu nàng hóa thành ngọc trai, xác nàng hóa thành ngọc thạch. Hư cấu như vậy, người xưa muốn bày tỏ thái độ và tình cảm như thế nào đối với nhân vật Mị Châu và muốn nhắn gửi điều gì đến thế hệ trẻ muôn đời sau?
6. Trọng Thủy gây nên sự sụp đổ cơ đồ Âu Lạc và cái chết của Mị Châu. Vậy anh (chị) hiểu như thế nào về hình ảnh “ngọc trai – giếng nước”?
7. Từ những điều đã phân tích, anh (chị) hãy cho biết đâu là “cốt lõi lịch sử” của truyện và cốt lỗi lịch sử đó đã được dân gian thần kí hóa như thế nào?
8. Em hãy đóng vai nhân vật Rùa Vàng kể lại văn bản “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy từ đoạn “… Quân Đà thua lớn, chạy về Trâu Sơn đắp lũy không dám đối chiến, bèn xin hòa…” cho đến hết.
9. Tìm một số bài thơ viết về Mị Châu – Trọng Thủy và nêu lên sức sống lâu bền của Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy. | Phân tích ý nghĩa và giá trị Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy | 1,417 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện cổ Tấm Cám
Hướng dẫn
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện cổ Tấm Cám
Mở bài:
Truyện cổ tích là tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận của con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động. Truyện Tấm Cám thuộc loại cổ tích thần kì. Thông qua cuộc đời và số phận nhân vật Tấm, nhân dân ta muốn khẳng định chân lí cái thiện luôn chiến thắng cái ác và khuyên nhủ con người nên làm những điều tố đẹp, tránh những việc xấu xa, hại người.
Thân bài:
Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện “Tấm Cám”:
Mâu thuẫn chủ yếu trong tác phẩm là mâu thuẫn giữa cô Tấm mồ côi, xinh đẹp, hiền lành với dì ghẻ và Cám ác độc, tàn nhẫn. Mâu thuẫn này phát triển từ thấp đến cao.
Ban đầu chỉ là những mâu thuẫn xoay quanh quyền lợi về vật chất, tinh thần, sự ganh ghét mẹ ghẻ con chồng trong cuộc sống gia đình thường ngày. (nội dung về chiếc yếm đỏ, về con cá bống, về việc Tấm đi xem hội- thử giày)
Về sau, mâu thuẫn chuyển thành sự đố kị, một mất một còn, tiêu diệt lẫn nhau (chi tiết về cái chết của Tấm, về con chim vàng anh, về cây xoan đào và khung cửi, về bà lão hàng nước và quả thị). Đây là mâu thuẫn về quyền lợi xã hội.
Ý nghĩa của quá trình biến hóa của nhân vật Tấm trong truyện:
Sau khi bị mẹ con Cám hại chết, Tấm nhiều lần hoá thân. Tấm biến thành chim vàng anh → cây xoan đào → khung cửi → Tấm hóa thân thành quả thị thơm và về ở với bà lão làng nước → Tấm trở lại làm người. Dù bị mẹ con Cám tìm mọi cách tận diệt, Tấm vẫn tái sinh dưới nhiều hình thức khác nhau. Càng về sau Tấm càng đấu tranh quyết liệt để giành lại sự sống.
Quá trình biến hóa của Tấm thể hiện sức sống, sự trỗi dậy mãnh liệt của cái thiện trước sự vùi dập của cái ác. Cái thiện không bao giờ chịu khuất phục, chính nghĩa không bao giờ đầu hàng, cái thiện sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải và công lí. Ta thấy không một thế lực nào có thể tiêu diệt được cái thiện.
Ý nghĩa việc trả thù của Tấm:
Tấm chỉ cho Cám cách để ngày càng xinh đẹp như mình.Tấm sai quân hầu đạo một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết. Mụ dì ghẻ thấy vậy cũng lăn đùng ra chết.
Nghệ thuật: Đặc sắc nghệ thuật của truyện thể hiện ở sự chuyển biến hình tượng nhân vật Tấm. Từ yếu đuối, thụ động đến kiên quyết đấu tranh giành lại sự sống và hạnh phúc cho mình. Xây dựng những mâu thuẫn, xung đột ngày càng tăng tiến. Truyện sử dụng các yếu thần kì. Hình ảnh truyện đẹp, bình dị, gần gũi với đời sống, phong tục tập quán của nhân dân, tạo ấn tượng thẩm mĩ cho câu chuyện.
Kết bài:
Truyện Tấm Cám ngợi ca sức sống bất diệt, sự trỗi dậy mạnh mẽ của con người và cái thiện trước sự vùi dập của kẻ xấu, cái ác, đồng thời thể hiện niềm tin cá nhân của nhân dân vào công lí và chính nghĩa.
Câu hỏi luyện tập:
1. Nêu khái niệm truyện cổ tích? Phân loại truyện cổ tích?
2. Nêu bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện “Tấm Cám”?
3. Nêu ý nghĩa của quá trình biến hóa của nhân vật Tấm trong truyện “Tấm Cám”?
4. Căn cứ vào định nghĩa truyện cổ tích ở bài Khái quát văn bản dân gian Việt Nam và mục Tiểu dẫn của bài này, hãy tìm trong Tấm Cám những dẫn chứng để phân tích, làm rõ các đặc trưng của truyện cổ tích thần kì.
6. Nêu suy nghĩ về hành động trả thù của Tấm đối với Cám? | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện cổ Tấm Cám | 717 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Mở bài:
Nguyễn Minh Châu (1930- 1989) là nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Trước năm 1975- ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn. Từ đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh, thuộc số những nhà văn tiên phong của nước ta thời kì đổi mới. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm xuát sắc của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn sau giải phóng, đổi mới nền văn học nước nhà.
Thân bài:
Chiếc thuyền ngoài xa viết năm 1983 in đậm phong cách tự sự- triết lí của Nguyễn Minh Châu. Với ngôn từ dung dị đời thường, kể lại chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời.
Câu chuyện kể theo những gì trong thấy của nhân vạt Phùng, một nghệ sĩ nhiếp ảnh. Để có tấm lịch nghệ thuật, Phùng tới vùng biển từng là chiến trường cũ của anh. Sau nhiều ngày “phục kích”,anh đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trời cho”- đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa ẩn hiện trong sương mù. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh hết sức kinh ngạc chứng kiến cảnh gã chồng vũ phu đánh người vợ dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh lại cha mình.
Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn, lần này Phùng đã ra tay can thiệp… Theo lời mời của chánh án Đẩu- một người đồng đội cũ của Phùng- người đàn bà hàng chày đến tòa án huyện. Tại đây, người phụ nữ ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lý do giải thích cho sự từ chối trên.
Rời vùng biển, Phùng có tấm ảnh được chọn vào bộ lịch năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh đen trắng, anh đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ cũng nhìn thấy hình ảnh người đàn bà nghẻo khổ, lam lũ bước ra từ bức tranh.
Hình tượng chiếc thuyền ngoài xa chính là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Cần phải có một khảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật. Cũng phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.
Các nhân vật trong truyện
Nhân vật người đàn bà hàng chài:
Về lai lịch: Người đàn bà vốn xuất thân từ con nhà khá giả, trạc ngoài 40 tuổi. Chị không có tên riêng, tác giả chỉ gọi chị là “người đàn bà” một cách phiếm chỉ.
Về ngoại hình: Thô kệch, xuất hiện “là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa, “tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới…”. Ngoại hình xấu xí, gợi ấn tượng về một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ.
Về số phận: người đàn bà có số phận bất hạnh, đáng thương. Chị suốt đời lam lũ, nghèo khó. Thường xuyên bị chồng hành hạ, đánh đập nhưng âm thầm nhẫn nhục chịu đựng “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” … “không kêu, không chống trả, không tìm cách trốn chạy”. Phải gửi con trai đi xa để ngăn nó chống lại bố.
Về phẩm chất, tính cách: Người đàn bà là người mẹ thương con. Chị không từ bỏ chồng, chị cần một người cha cho các con. “Qúy tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó” bởi: “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình!”.
Không muốn con chứng kiến nổi đau của mình: “Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão …đưa tôi lên bờ mà đánh…”. Chị đau đớn khi con nhìn thấy cảnh chị bị đánh đập, hành hạ: “Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó, lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để rồi lại ôm chầm lấy”. Chị hạnh phúc khi nhìn thấy các con được ăn no “vui nhất là lúc ngồi nhìn đan con tôi chúng nó được ăn no”.
Người đàn bà là người nhân hậu, giàu lòng vị tha. Thấy hoàn cảnh sống của mình: “Giá mà tôi đẻ ít, hoặc chúng tôi sắm được chiếc thuyền rộng hơn…ông trời làm biển động… cả nhà vợ chồng, con cái ăn toàn cây xương rồng luộc chấm muối”. Chị đau đớn nhưng chị không oán hận chồng. Chị hiểu anh ta cũng chỉ la nạn nhân của hoàn cảnh sống khốn khó, cũng cần được cảm thông sẻ chia.
Người đàn bà tội nghiệp ấy chính là hiện thân cho những mảnh đời tăm tối cơ cực, thấp thoáng hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam giàu lòng nhân hậu, giàu đức hy sinh, là hạt ngọc ẩn khuất trong cái lấm láp, lam lũ đời thường.
Nhân vật người chồng vũ phu:
Gã vốn là một “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm”. Cuộc sống đói nghèo, lam lũ đã in hằn lên dáng vẽ khắc khổ của người đàn ông: “mái tóc tổ quạ”, “chân đi chữ bát”… “hai con mắt đầy vẽ độc dữ”.
Cuộc ssongs khốn khó đã biến ông ta thành một người chồng vũ phu, gã đàn ông độc ác: cứ khi nào thấy khổ quá là lão đánh vợ, đánh như để giải tỏa uất ức, trút cho sạch nỗi tức tối, buồn phiền “chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà …”.
Người chồng vừa là nạn nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt, vừa là thủ phạm gây ra bao đau khổ cho chính người thân của mình a cần được giáo dục, giúp đỡ.
Chị em thằng bé Phác
Phát là một cậu bé giàu tình yêu thương mẹ. Nhưng cũng giống như Đẩu, Phùng, nó mới chỉ nhìn thấy cha ở khía cạnh độc ác, tàn nhẫn mà chưa hiểu được “lẽ đời”. Phát là hình ảnh tiêu biểu của những đứa trẻ trong gia đình có nạn bạo hành.
Chị của Phát là một cô bé yếu ớt mà can đảm: cô bé đã phải vật lộn để tước đoạt con dao trên tay thằng em trai, không cho nó làm một việc trái với luân thường đạo lí. Chính co bé là điểm tựa vững chắc cho mẹ: Cô hành động đúng khi cản được việc làm dại dột của đứa em, lại biết chăm sóc, lo toan khi mẹ phải đến tòa án huyện.
Nhân vật chánh án Đẩu:
Chánh án Đẩu là người đại diện cho luật pháp; có lòng tốt, sẵn sàng bảo vệ công lý. Đẩu mới nhìn cuộc đời ở một phía, anh chưa thực sự đi sâu vào đời sống nhân dân. Câu chuyện của người đàn bà đã làm cho Đẩu “bừng ngộ”: “Có một cái gì đó vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công…”.
Nhân vật Phùng:
Phùng là một nghệ sĩ giàu tâm huyết, yêu cái đẹp. Phát hiện được vẽ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa là một phát hiện để đời trong sự nghiệp nhieps anh của anh. Nó khiến anh thực sự rung động trước vẽ đẹp “Trong trái tim tôi … trong ngần của tâm hồn”.
Phùng là người có trái tim nhân hậu: Căm ghét hành động vũ phu của người chồng, thương xót cho nổi đau tủi nhục của người vợ, người mẹ làng chài, không thể làm ngơ trước bạo hành của cái ác.
Anh cũng là người nghệ sĩ luôn trăn trở, tìm tòi khám phá giá trị đích thực của cuộc sống, con người…a nhận ra nhiều điều về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
Nguyễn Minh Châu đã xây dựng tình huống độc đáo bằng tình huống nhận thức,có ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống. Tác giả lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn thích hợp làm cho câu chuyện trở nên gần gũi chân thực và có sức thuyết phục. Ngôn ngữ nhân vật sinh động, phù hợp với tính cách. Lời văn giản dị, sâu sắc, đa nghĩa.
Kết bài:
Từ câu chuyện về một bức ảnh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất sự thật sau vẻ bên ngoài của hiện tượng. Cách khắc họa nhân vật, xây dựng cốt truyện, sử dụng ngôn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo đã góp phần làm nổi bật chủ đề- tư tưởng của tác phẩm. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu | 1,555 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
Mở bài:
Nam Cao (1917-1951) là nhà văn hiện thực lớn (trước Cách mạng), một nhà báo kháng chiến (sau Cách mạng), một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ 20. Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20. tuy bề ngoài lạnh lùng, vụng về, ít nói nhưng đời sống nội tâm lại hết sức phong phú. nhiều người xem ong là người trí thức “trung thực vô ngần”, luôn nghiêm khắc đấu tranh với chính mình để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ nhen. Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc của nam Cao và của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX.
Thân bài:
Chí Phèo ra đời năm 1941. Tác giả dựa vào “người thật, việc thật” ở làng Đại Hoàng – quê hương tác giả – rồi hư cấu thêm để viết tác phẩm này. Lúc đầu, tác phẩm có tên là Cái lò gạch cũ, sau đó nhà xuất bản tự ý đổi thành Đôi lứa xứng đôi, cuối cùng khi in lại, tác giả đổi lại là Chí Phèo.
Tác phẩm kể về nhân vật cùng tên Chí Phèo – một đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi trong một cái lò gạch cũ. Hắn được người làng chuyền tay nhau nuôi. Lớn lên, Chí Phèo đi ở hết nhà này tới nhà nọ và làm canh điền cho lí kiến. Vì ghen tuông vô lí, lí kiến đẩy Chí Phèo vào tù. Bảy năm sau Chí Phèo trở về làng trong một bộ dạng khác hẳn. Hắn bị Bá Kiến lợi dụng và biến thành tay sai. Hắn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, chuyên rạch mặt ăn vạ và gây tai họa cho người trong làng.
Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã làm Chí Phèo hồi sinh, hắn khao khát làm hòa với mọi người và sống lương thiện. Nhưng bà cô Thị Nở và cái xã hội đương thời đã chặn đứng con đường trở về làm người lương thiện của Chí. Tuyệt vọng, hắn tìm giết Bá Kiến và tự sát. Nghe tin Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn xuống bụng và thầm nghĩ đến một cái lò gạch bỏ không, xa đường cái và vắng người qua lại.
Hình tượng nhân vật Chí Phèo:
Nam Cao mở đầu truyện bằng hình ảnh Chí Phèo say lướt khướt, vừa đi vừa chửi. Đó là sự xuất hiện độc đáo của nhân vật Chí Phèo. Tiếng chửi của hắn thật đặc bit. Hắn chửi trời, chửi đất, chửi làng Vũ Đại, chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra hắn. Hình dung Chí Phèo trong cảnh đầu xuất hiện thể hiện sự tha hóa của Chí. Đó là một anh Chí cô độc, khao khát được giao tiếp với cuộc đời. Một anh Chí với tâm trạng uất hận, căm phẫn, thù hận đến tột độ.
Từ khi ra đời cho đến khi bị đẩy vào tù, Chí Phèo là người nông dân lương thiện và đáng thương. Sinh ra đã bị bỏ rơi. Một anh đi thả ống luon nhặt được Chí Phèo trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cái gạch bỏ không, sau đó chuyền tay cho người nuôi.
Chí phèo bất hạnh từ lúc thở hơi thở đầu tiên, nhờ trừi thương, hắn lớn lên trở thành anh canh điền khỏe mạnh, “hiền như đất”, có lòng tự trọng và có ước mơ lương thiện. Cái chất lương thiện ấy chưa bao giờ từ bỏ hắn dù có những lúc hắn chìm đắm trong nghiện ngập và tội lỗi.
Bị Bá Kiến vô cớ đẩy vào tù dã chuyển hướng cuộc đời anh Chí. Sự tàn ác của Bá Kiến và sự tiếp tay của nhà tù thực dân đã nhào nặn, khiến Chí Phèo tha hóa về nhân hình lẫn nhân tính.
Về nhân hình, trông đặc như thằng sang đá, cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn. Về nhân tính, từ một anh Chí hiền lành trở thành một kẻ liều mạng, tàn ác; chửi bới, kêu làng, đập phá, đâm chém… Chí Phèo thực sự trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.
Một Chí phèo đáng thương đến thế còn bị Bá Kiến lợi dụng, biến thành tay sai. Chí Phèo triền miên trong những cơn say, thành một kẻ mù quáng, gây biết bao tai họa cho người nông dân lương thiện. Chí bị khai trừ ra khỏi cộng đồng, sống tăm tối như thú vật.
Từ khi gặp Thị Nở cho đến khi tự sát là một cuộc vận động và đấu tranh dữ dội giữa cái thiện và cái ác, giữa con quỷ và lương tri bên trong Chí Phèo.
Tình huống gặp Thị Nở đã tạo nên sự đột biến trong số phận, tâm lý, tính cách Chí Phèo. Đối với Chí phò, Thị Nở là một người hoàn toàn xa lạ. Mà chẳng riêng gì Thị Nở, cả làng Vũ Đại hắn nào nhớ đến một ai. Một đêm say rượu, nhìn thấy Thị Nở nằm ngủ hớ hênh bên bụi chuối ven đường, hắn đã ăn nằm với chị. Sạu cái đêm định mệnh đó, Chí Phèo hoàn toàn thay đổi.
Chí Phèo tỉnh rượu trong trạng thái lâng lâng. Hắn nhận ra dấu hiệu tươi đẹp của cuộc sống với “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”; thấy lòng buồn vô cớ. Hắn bỗng nhớ lại quá khứ “hình như có một hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải…”. Hắn khao khát có được một gia đình hạnh phúc. Lần đầu tiên sau bao tháng ngày say sỉn, hắn thực sự muốn sống gắn bó với ai đó.
Chí Phèo còn ý thức được tình trạng của bản thân: “hắn thấy hắn già mà vẫn cô độc…đã tới cái dốc bên kia của đời”. Đó là một thực trạng đáng buồn và đáng lo ngại. Hắn bắt đầu thấy sợ. Hắn sợ sự cô đơn, sợ sự im lặng và bên cạnh không có một ai. Điều đó có nghĩa là hắn muốn sống một cuộc sống của một con người bình thường, có quyền được làm những điều mình muốn, xuất hiện ở bất kì đâu và gặp gỡ tất cả mọi người. Một cuộc sống đơn giản như thế nhwung đối với Chí Phèo là cả một vấn đè hệ trọng. Đặc biệt là lúc này, khi hắn đã lún sâu vào tội lỗi.
Tình yêu thương và sự ân cần của Thị Nở đã đánh bừng khát vọng sống ở Chí Phèo. Giờ đây, nó không còn ẩn trong ý nghĩa nữa mà thực sự bùng phát ra bên ngoài, nơi ánh mắt, vẻ mặt, lời nói và cả hành động. Khi đón nhận bát cháo hành của Thị Nở, Chí Phèo ngạc nhiên, cảm động: “mắt hình như ươn ướt”, vừa vui vừa buồn, ăn năn, hối hận,… Hắn hối hặn vì bấy lâu nay không phát hiện ra niềm vui nhỏ bé ấy. Hắn hối hận vì đã làm sống một cuộc sống tàn bạo với mọi người trong khi vẫn có người dành cho hắn tình yêu thương ngọt ngào, dễ chịu nhất.
Hắn thèm lương thiện. Hắn muốn lương thiện, Hắn muốn làm hòa với mọi người. hắn khao khát được bước vào thế giới của mọi người. Chí Phèo hi vọng Thị Nở sẽ là cầu nối để Chí trở lại “cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện” ấy. Nó ở ngay bên cạnh Chí đó thôi nhưng bây giờ đối với Chí sao xa quá là xa.
Sự hồi tỉnh của Chí Phèo là một tin vui đối với làng Vũ Đại. Thế nhưng, tin vui ấy chưa được công bố thì cuộc đời Chí Phèo, một lần nữa lại đổi hướng.
Bị Thị Nở tự chối, Chí Phèo rơi vào bị kịch bị cự tuyệt quyền làm người. quá tuyệt vọng, Chí cầm dao đi đòi quyền lương thiện theo cách của mình. Thay vì đến nhà thị Nở, Chí lại đến nhà Bá Kiến, giết hắn rồi tự kết liễu sau một loạt câu hỏi tỉnh táo trong giờ phút đau khổ nhất đời mình: “Tao muốn làm người lương thiện”, “Ai cho tao lương thiện?”, “Tao không thể làm người lương thiện nữa”. Chí Phèo chết bi thảm trong niềm khao khát làm người lương thiện nhưng không thể trở lại cuộc sống con người.
Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về với xã hội loaì người. Cái chết chứng tỏ niềm khao khát sống lương thiện còn cao hơn cả tính mạng. Cái chết của Chì Phèo chính là bằng chứng đanh thép và chân thực tố cáo xã hội vô nhân đạo, đểu cán đẩy những người lương thiện như y vào con đường tội lỗi và cuối cùng phải lấy cái chết như một sự giải thoát.
Kết bài:
Chí Phèo là một kiệt tác của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Qua truyện ngắn này, Nam Cao đã khái quát một hiện tượng xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của họ, ngay trong khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân tính. Chí Phèo là một tác phẩm thể hiện tư tưởng nhân đạo tốt đẹp, niềm tin vào bản chất lương thiện của con người.
Câu hỏi và đề luyện tập:
1. Ý nghĩa chi tiết tiếng chửi ở phần mở đầu truyện ngắn Chí Phèo.
2. Việc gặp gỡ Thị Nở đã có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc đời Chí Phèo? Những gì đã diễn ra trong tâm hồn Chí Phèo sau cuộc gặp gỡ đó?2
3. Ý nghĩa chi tiết bát cháo hành.
4. Phân tích diễn biến tâm lí và hành động của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở cho đến khi tự sát.
5. Ngôn ngữ kể chuyện của tác giả và ngôn ngữ nhân vật trong truyện này có gì đặc sắc?
6. Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Chí Phèo. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao | 1,797 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Hướng dẫn
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Mở bài:
Thạch Lam (1910 – 1942), là một nhà văn nổi tiếng của nền văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX. Ông là người đôn hậu và tinh tế, có biệt tài về truyện ngắn. Truyện ngắn Thạch Lam chú trọng khai thác thế giới nội tâm nhân vật một cách tinh tế với lời văn gỉn dị, trong sáng. Mỗi tác phẩm của Thạch Lam được ví như những bài thơ trữ tình, với giọng điệu điềm đạm chứa đựng tình cảm yêu mến và sự nhạy cảm trước những biến thái của thiên nhiên và lòng người. Hai đứa trẻ là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn của Thạch Lam
Thân bài:
Hai đứa trẻ được trích trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Truyện xoay quanh cuộc sống của chị em Liên ở nơi phố huyện. Chị em Liên được mẹ giao trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu tại một phố huyện nghèo bên cạnh ga xe lửa. Cũng như nhiều người dân lam lũ tại phố huyện, hai chị em Liên và An vừ bán hàng vừa trông chờ chuyến tàu đêm từ Hà Nội về, ầm ầm lăn bánh qua phố huyện rồi khuất dạng, im tiếng trong trời đêm sâu thẳm. Lúc đó người buôn bán ở phố huyện mới dọn hàng sau một tối ế ẩm yên tĩnh để trở về nhà. Còn hai đứa trẻ dần dần chìm vào giấc ngủ.
Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, hay ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, nhất là những người phụ nữ trong xã hội cũ, sống vất vả, thầm lặng, chịu đựng, giàu lòng hi sinh. Ông chắt chiu từng hình ảnh, con người mà ông đã bắt gặp rồi đưa vào những trang viết vừa chân thực vừa hết sức cảm động.
Mở đầu tác phẩm là khung cảnh phố huyện lúc chiều tàn được gợi lên bằng câu văn vừa nhẹ nhằng, vừa lắng sâu nỗi buồn: “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”.
Bắt đầu bằng âm thanh của “tiếng trống thu không vang lên để gọi buổi chiều”, với “tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng” và “tiếng muỗi vo ve”. Màu sắc và đường nét đầy xung đột củ khoảnh khắc ngày tàn: “phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn, dãy tre đen lại in lên nền trời. Bức tranh quen thuộc, gần gũi, thi vị nhưng đượm buồn.
Cảnh chợ tàn: người về hết, tiếng ồn ào không còn, chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị. Con người: những đưa trẻ con nhà nghèo, mẹ con chị Tí, cụ Thi hơi điên… Cuộc sống hiện lên tàn lụi, nghèo đói, tiêu điều.
Tâm trạng Liên, ngay khi hoàng hôn buông xuống cô thấy lòng buồn man mác trước cái thời khắc của ngày tàn. Liên cảm nhận được “cái mùi riêng của đất nước của quê hương này”. Cô động lòng thương cho mấy đứa trẻ con nhà nghèo, xót thương cho mẹ con chị Tí…
Liên là cô bé có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người.
Phố huyện lúc đêm khuya, bóng tối bao trùm lên tất cả. Đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối. Tối hết cả con đường ra song, qua chợ về nhà. Các ngõ vào làng lại càng sẩm đen hơn nữa…
Trong thế giới của bóng tối ngự trị, ánh sáng lóe lên đâu đó ít ỏi nhưng mạnh mẽ. Trên trời, hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh. Dưới đất, vệt sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất hay len vào những cành cây. Cả phố huyện chỉ có một vài thứ ánh sáng yếu ớt. Ánh sáng lóe lên từ khe sáng của những cửa hàng còn thức, quần sáng thân mật của ngọn đèn chị Tí, từng hột sáng của ngọn đèn nhà Liên…
Ánh sáng nhỏ bé, đơn điệu, mong manh càng làm cho bóng tối dày đặc hơn (nghệ thuật lấy sáng để tả tối của Thạch Lam). Phố huyện ngập chìm trong bóng tối mênh mông.
Khung cảnh cuộc sống con người:
Chiểu nào chị Tí cũng dọn hàng “từ chập tối cho đến đêm”. Tối nào bác Siêu bán phở cũng nhóm lửa nấu phở – món hàng xa xỉ với người dân phố huyện. Gia đình bác Xẩm xuất hiện trên manh chiếu với cái thau trước mặt, góp chuyện bằng “máy tiếng đàn bầu bần bật trong im lặng”. Chị em Liên bận rộn tính tiền hàng. Người nhà cụ thừa, cụ lục đi gọi người đánh tổ tôm.
Tâm trạng của Liên:
Trong bóng tối, cô nhớ lại những tháng ngày tươi đẹp ở Hà Nội “bấy giờ, mẹ Liên nhiều tiền, được đi chơi bòe hồ, uống những cốc nước lạnh xanh đỏ … một vùng sáng rực và lấp lánh”. Liên buồn bã, yên lặng dõi theo những cảnh đời nhọc nhằn, những kiếp người tàn tạ. Tuy còn bé nhưng Liên có những cảm nhận sâu sắc về cuộc sống từ đọng trong bống tối của người dân phố huyện. Tâm hồn cô nhạy cảm, tinh tế và yêu thương con người.
Cảnh đợi tàu của chị em Liên
Tâm trạng đợi tàu:
Hai đứa trẻ kiên nhẫn, khắc khoải đợi tàu. Mặc dù đêm đã khuya, dù đã “buồn ngủ ríu cả mắt. Tuy vậy hai chị em vẫn gượng thức khuya chút nữa; “An đã nằm gối đầu lên đùi chị, mi mắt sắp sữa rơi xuống còn nhắn với: tàu đến, chị đánh thức em dậy nhé”. Chuyến tàu đến trong sự háo hức say mê của hai đứa trẻ. Nó lướt qua trong sự buồn lặng, bâng khuân nuối tiếc của Liên và An
Hình ảnh chuyến tàu đi qua phố huyện:
Dấu hiệu đầu tiên của đoàn tàu là sự xuất hiện của người gác ghi. Tiếp theo, Liên trông thấy “ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma trơi”, rồi cô nghe thấy “tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi”, kèm theo “một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xe, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào”. Thế rồi, “tàu rầm rộ đi tới”, “các toa đèn sáng trưng”, “những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh”. Cuối cùng là cảnh tàu đi vào đêm tối, “để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt”,“chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre”…
Chuyến tàu được miêu tả tỉ mỉ theo trình tự thời gian, qua tâm trạng mong chờ của chị em Liên và người dân phố huyện.
Ý nghĩa hình ảnh chuyến tàu:
Với chị em Liên: là hình ảnh của Hà Nội (xa xăm, sáng rực, vui vẻ và huyên náo) của hạnh phúc, của những kí ức tuổi thơ êm đềm.
Với tất cả những người dân phố huyện: là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện.
Cốt truyện Hai đứa trẻ đợn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh mơ hồ trong tâm hồn nhân vật. Bút pháp tương phản, đối lập kết họp với nghệ thuật miêu tả sinh động, Thạch Lam đã diễn đạt thành công những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con người.
Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng, giọng điệu thủ thỉ, thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng, một đặc đểm thường thấy trong trang văn Thạch Lam.
Kết bài:
Qua truyện ngắn hai đứa trẻ, bằng một truyện ngắn trữ tình có cốt truyện đơn giản, Thạch Lam đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quẩn quanh, tăm tối ở phố huyện nghèo trước cách mạng. Đồng thời, ông cũng biểu lộ sự trân trọng ước mong đổi đời dù còn mơ hồ của họ.
Câu hỏi luyện tập:
1. Cảnh vật trong truyện đã được miêu tả trong thời gian và không gian như thế nào?
2. Thạch Lam đã miêu tả cuộc sống và hình ảnh người dân phố huyện ra sao?
3. Hình ảnh đoàn tàu trong truyện đã được miêu tả như thế nào? Vì sao chị em Liên và người dân phố huyện thức để đợi tàu? Ý nghĩa của chuyến tàu đêm?
4. Qua truyện ngắn hai đứa trẻ, Thạch Lam muốn phát biểu tư tưởng gì?
5. Phân tích cảnh đợi tàu trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam.
6. Cảm nhận của anh/chị về khung cảnh phố huyện và tâm trạng Liên lúc chiều tà
7. Vì sao có thể nói truyện ngắn “Hai đứa trẻ” giống như một “bài thơ trữ tình đượm buồn”? | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam | 1,590 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Làng của Kim Lân
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Làng của Kim Lân
Mở bài:
Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thực trước và sau năm 1945. Trong cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng giai đoạn nào Kim Lân cũng có những tác phẩm hay. Là một cây bút truyện ngắn vững vàng, ông đã viết về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Truyện ngắn Làng là một trong những tác phẩm đặc sắc viết về người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
Thân bài:
Truyện ngắn Làng viết năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp nhiều gian khổ, khó khăn và thử thách. Bước vào cuộc kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của ủy ban kháng chiến và chủ tích Hồ Chí Minh, nhân dân ta bước đầu tổ chức lực lượng, thực hiện tản cư, những người dân ở vùng địch tạm chiếm đi lên vùng chiến khu để chúng ta cùng kháng chiến lâu dài. Chủ trương của chính phủ được nhân dân nhietj tình ủng hộ nhưng vẫn chưa quyết liệt trong tử tưởng. Qua tình yêu làng, yêu nước thiết tha của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng, Kim Lân đã thể hiện sâu sắc những chuyển biến mới trong tư tưởng và tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
Ông Hai là một người nông dân có tình yêu làng quê tha thiết.
Ông Hai sinh ra và lớn lên ở làng chợ Dầu. Đối với ông, yêu nơi sinh và gắn bó cả đời là một tình cảm tự nhiên vốn có. Ở làng tản cư, hình ảnh chợ Dầu luôn hiện về trong niềm thương nỗi nhớ, trong việc ông khoe làng: “Làng ông nhà ngói san sát, đường làng lát toàn bằng đá xanh” và “chân ruộng tốt hơn hẳn nơi này”. Mỗi lần kể về làng “hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, say mê, náo nức lạ thường”
Không chỉ bằng tình cảm tự nhiên, ông còn biết yêu làng bằng nhận thức sâu sắc của người Việt Nam tự nguyện gắn bó với kháng chiến. Ông tự hào khoe tinh thần kháng chiến của lạng chợ Dầu: “ông khoe làng ông theo cách mạng từ thời kì trong bóng tối”. Ngày toàn kháng chiến, “đường làng ngổn ngang hố ụ thông hào. Ông vào đội phụ lão cứu nước. Cũng hát hò, bông phèng, tập quân sự. Chao ôi, sao mà độ ấy vui thế”. Cách mạng đã đổi đời cho người nông dân, nâng cao nhận thức của họ, gắn kết họ với đất nước, với cuocj kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Niềm vui, niềm yêu của họ hoà vào không khí cách mạng sôi nổi của những ngày kháng chiến.
Lúc đầu, ông Hai cự nự không đi. Làm sao ông có thể nỡ rời bỏ cái làng mà ông đã yêu quý như máu thịt ấy. Rồi đi rồi biết có trở lại được không. Mai này có chết, xương cốt biết có được nằm tren mảnh đất mà ông hằng yêu hằng quý ấy không. Bao nhiêu suy nghĩ cứ dằn xé trong ông. Người nông dân Việt nam bao đời sống gắn bó với đất với làng, chết nằm lại trong đất, trong làng, linh hồn quấn quýt cỏ cây. Lại thêm anh em, đồng chí đang hăng hái chiến đấu, ông cũng muốn ở lại góp tay gìn giữ. Ông Hai không muốn đi, đó cũng là lẽ thường tình. Thế nhưng, ông Hai buộc phải đi.
Phải xa làng đi tản cư, ông Hai tự an ủi: “tản cư âu cũng là kháng chiến”. Phải có một tình yêu kháng chiến lớn lao như thế nào, họ mới quyết tâm ra đi, rời bỏ đồng ruộng, gian nhà, cây đa, bến nước. Nếu anh vệ quốc quân (Đồng chí – Chính Hữu) giã từ ruộng vườn cầm súng ra đi bảo vệ tổ quốc thì ông Hai chấp nhận xa làng chợ Dầu để thực hiện chính sách của kháng chiến, của cụ Hồ.
Yêu cuộc kháng chiến, vui buồn của ông gửi trọn vào tin tức của cuộc kháng chiến: “một em nhỏ bơi ra Tháp Rùa cắm cờ. Một anh trung đội trưởng chiến đấu và hy sinh dũng cảm, Đội nữ du kích Trưng Trắc bắt sống quan ba pháp giữa chợ. ” Ruột gan ông như múa lên, vui quá”.
Ngòi bút của Kim Lân tỏ ra sâu sắc khi đặt nhân vật vào tình huống “nhận được tin đồn làng chợ Dầu theo Tây”. Đây là tình huống thử thách để bộc lộ diễn biến tâm trạng của nhân vật. ngay khi nghe người đàn bà từ dưới lên nói rành rõi về chuyện làng chợ Dầu từ trên xuống dưới đã theo giặc cả rồi, cổ ông lão nghẹn lắng, da mặt tê rân rân, ông lão lặng đi, tưởng không thở được.
Tin đồn không chỉ chấn động thể xác mà còn xâm chiếm, ám ảnh, day dứt cả tâm hồn. Bất ngờ quá! Lẽ nào đó là sự thực? Mới chỉ vài phút trước đây, ông còn bô bô kể về làng với lòng tự hào, kiêu hãnh. Giờ đây, danh dự ông bị tổn thương nặng nề. Xấu hổ, nhục nhã, “ông Hai cúi gầm mặt xuống mà đi“. Về đến nhà “ông nằm vật ra giưong, nghĩ đến con, ông khóc: ” chúng nó là trẻ con làng chợ Dầu đấy ư? Chúng nó cũng bị ngừoi ta cho một nhát đấy ư? Khốn nạn. Chúng có tội tình gì?”. Ông Hai khóc vì đau khổ khi mất danh dự, lòng tự trọng, niềm tin, niềm yêu ông gửi gắm vào làng.
Ông Hai ray rứt nghĩ ngợi “biết đem nhau đi đâu bây giờ? Đi đâu, làm ăn gì được khi nơi nào người ta cũng hắt hủi, khinh bỉ, căm thù giống Việt gian”. Một ý nghĩ tiêu cực thoáng qua trong đầu ông: “Hay là quay về làng?”. Nhưng mới chớm nghĩ là ông gặt phắt đi ngay: “về làng là phản bội kháng chiến, là bỏ cụ Hồ”. Dù tình yêu làng thiết tha, mãnh liệt bao nhiêu cũng không lớn bằng tình yêu đất nước, yêu kháng chiến. Cho nên ông đau đớn quyết định: “làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Sự dứt khoát trong tình cảm của ông thể hiện một thái độ yêu ghét rất rạch ròi, phân minh khi người ta biết đứng về cái đúng.
Cuộc đấu tranh nội tâm quyết liệt, gây cấn bộc lộ sâu sắc tình yêu làng hòa quyện trong tình yêu nước của ông Hai. Ông yêu làng là yêu cái truyền thống của dân tộc. Ông yêu nước là yêu cái tương lai cháu con, của cả dân tộc. Tình yêu nào ở ông cũng đậm đà, cũng lớn lao.
Tưởng chừng như ông Hai sau khi tìm thấy lí lẽ và con đường để bước tới thì câu chuyện sẽ kết thúc. Thế nhưng, nhà văn đã dẫn rẽ theo một hướng khác, một hướng minh oan và tháo gỡ nỗi uẩn khúc trong lòng ông Hai, để cho ông Hai được giải thoát khỏi nỗi dằn vặt bấy lâu rấm rức trong lòng. Một buổi sáng, chính ông chủ tịch xã nơi tản cư đã cải chính cái tin làng chợ Dầu theo giặc.
Khi nghe tin đồn được cải chính: làng chợ Dầu không theo giặc mà còn cô cùng anh dũng dám đất, bám làng chống Tây, ông hả hê vui sướng. Ông khoe: “Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt sạch. Tây nó đốt làng tôi rồi, đốt nhẵn các ông bà ạ”. Ông như muốn chia sẻ với mọi người niềm vui, niềm vui, muốn khẳng định truyền thống cách mạng không bao giờ mất đi nơi ngôi làng chợ Dầu kháng chiến. Khuôn mặt ông Hai tươi vui rạng rỡ, “miệng bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ”. Với ông, “sự cháy rụi của láng ông” là minh chứng không gì chối cãi được về một làng chợ Dầu trung kiên. Ngọn lửa cháy rụi làng ông, nhà ông là ngọn lửa hồi sinh một làng chợ Dầu kháng chiến. Ông vui bởi tình yêu làng của ông đã hoà vào tình yêu nước. Làng và nước không thể tách rời nhau mà luôn là một khối thống nhất, vững bền.
Góp phần vào thành công của truyện ngắn Làng phải kể tới nghệ thuật xây dựng tình huống và miêu tả tâm lí nhân vật. Nhà văn rất am hiểu, gần gũi với quần chúng cho nên ông để nhân vật nói năng rất tự nhiên mà vẫn bộc lộ được tâm lý nhân vật sâu sắc. Ngôn ngữ kể chuyện chân thực và sinh động. Nhà văn đặc biệt tài tình khi miêu tả nội tâm nhân vật với những suy nghĩ giằng xé bên trong. Cốt truyện tuy đơn giản nhưng giàu tính tư tưởng, xây dựng kịch tính thắt mở. Kết hợp giữa kể và tả, xây dựng tâm lí đối lập khiến tác phẩm trở thành một bức tranh nội tâm với nhiều mảnh màu tương phản đầy ấn tượng.
Kết bài:
Truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai với lòng yêu nước, yêu làng sâu sắc. Hình ảnh đó tiêu biểu cho bản chất cao quí, trong sáng người nông dân. Cuộc kháng chiến chống Pháp thành có một phần đóng góp không nhỏ của những người nông dân giàu tình yêu quê hương, đất nước, thuỷ chung, gắn bó với kháng chiến của dân tộc ta. Càng đọc ta càng thấm thía hơn nỗi lòng của người nông dân Việt Nam bao đời sống gắn bó, thủy chung với đất, với làng, với quê hương xứ sở. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Làng của Kim Lân | 1,700 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
Mở bài:
Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết về truyện ngắn và ký. Nét đặc sắc trong truyện ngắn của ông là luôn tạo được hình tượng đẹp, ngôn ngữ giàu chất thơ, trong trẻo, nhẹ nhàng. Lặng lẽ Sa Pa là tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Thành Long trong cuộc vận động viết về đời sống xây dựng và kiến thiết đất nước của nhân dân miền Bắc sau giải phóng.
Thân bài:
Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa là kết quả của chuyến đi lên Lào Cai mùa hè năm 1970. Qua hình ảnh nhân vật anh thanh niên làm khí tượng thủy văn kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh cao Yên Sơn, nhà văn đã ca ngợi những con người lao động thầm lặng cống hiến cho đất nước.
Không quá khoa trương, Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng để cho nhân vật anh thanh niên hiện dần lên qua lời kể của bác lái xe, người đã gặp gỡ anh nhiều lần, với đoàn khách. Từ lời kể của bác lái xe, các vị khách bước đầu hình dung về chàng trai thú vị ấy. Thật không ngờ, bác lái xe nhiệt tình còn dẫn đoàn khách gặp gỡ anh thanh niên. Cuộc gặp gỡ tình cờ trên đỉnh Yên Sơn đã để lại trong lòng mọi người biết bao tình cảm tốt đẹp về anh thanh niên, về những con người đang thầm lặng cống hiến cho đất nước bằng đôi tay lao động và sự hi sinh của mình trên mọi miền đất nước.
Trước hết, anh thanh niên hiện len với những suy nghĩ đẹp giản dị mà sâu sắc của anh về công việc mà anh gắn bó. Một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, quanh năm chỉ “bốn bề cây cỏ” và núi rừng SaPa. Công việc của anh là “đo gió, đo mưa, đo nắng, đo chấn động mặt đất” nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ chiến tranh. Công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao.
Anh quan niệm về hạnh phúc thật giản dị nhưng hết sức cao đẹp.Đó là được lao động, được cống hiến hết mình cho đất nước. Anh thường nghĩ mình sinh ra làm gì? Mình đẻ ở đâu? Mình vì ai mà làm việc?… Công việc của anh là câu trả lời cho những câu hỏi đó. Chính công việc đã làm cho anh được hạnh phúc.
Dù đang sống một mình, nhưng anh tự hiểu mình cùng bao người khác làm việc, làm việc vì con người, vì cuộc sống, nên không còn thấy cô đơn. Âm thầm, anh đã gửi những thông số kỹ thuật chính xác về đài để góp phần dự báo thời tiết. Nhờ những con số đấy là mùa màng miền Bắc thuận lợi hơn. Đặc biệt anh thật sự hạnh phúc khi chiến công bộ đội biên phòng bắn rơi máy bay Mỹ tại Cầu Hàm Rồng có sự góp phần nhỏ bé của mình.
Sự cơi mở, chân thành thể hiện trong tình thân của anh đối với bác lái xe. Anh đào củ tam thất làm quà cho vợ bác lái xe vừa ốm dậy. Anh vui mừng đến luống cuống khi tiếp đón những ngừoi khách quí. Anh chân thành bộc lộ niềm vui một cách hồn nhiên, thành thật đến cảm động. “Anh nói to những điều lẽ ra người ta chỉ nghĩ”. Anh đếm từng phút vì sợ mất hết 30′ gặp gỡ quí báu: ” trời ơi chỉ còn có 5 phút”. Khi chia tay, anh xúc động đến nổi “phải quay mặt đi, không dám tiễn khách ra xe dù chưa đến giờ “ốp”.
Anh còn là người khiêm tốn và thành thực. Anh tự nhận thấy công việc và sự đóng góp của mình vô cùng bé nhỏ. Khi ngừoi hoạ sĩ vẽ chân dung anh, anh nói: “không, bác đừng vẽ cháu. Để cháu giới thiệu cho bác những ngừoi xứng đáng hơn cháu rất nhiều”. Anh kể về ông kĩ sư vườn rau, anh cán bộ nghiên cứu sét, ngừoi thanh niên trên đỉnh Pan- xi – phăng,… Anh kể về họ với tất cả sự say mê hào hứng và lòng cảm phục, chân thành. Mỗi suy nghĩ của anh đều thấm đẫm tình yêu con người, cuộc sống, mến yêu và tự hào với mảnh đất mà mình đang sống.
Kết bài: | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long | 772 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê
Mở bài:
Lê Minh Khuê thuộc lớp nhà văn trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Là cây bút chuyên viết truyện ngắn, trước 1975, Lê Minh Khuê chủ yếu viết về cuộc sống và chiến đấu của lực lượng thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Sau 1975, bà tập trung khai thác chủ đề những chuyển biến của đời sống xã hội và con người trong thời kĩ đổi mới. Những ngôi sao xa xôi là truyện ngắn đầu tay và tiêu biểu của Lê Minh Khuê.
Thân bài:
Lê Minh Khuê viết truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi năm 1971, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang hồi ác liệt tại tuyến đường đường Trường Sơn. Thông qua hình ảnh ba nữ thanh niên xung phong làm nhiệm vụ phá bom và lấp sửa đường trên tuyến đường Trường Sơn, tác phẩm xây dựng thành công hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Chuyện kể về cuộc sống chiến đấu của ba cô thanh niên xung phong gồm Phương Định, Nho và chị Thao. Họ sống trong một cái hang trên cao điểm tại một vùng trọng điểm ở tuyến đường Trường Sơn những năm chống Mỹ. Công việc của ba cô gái là quan sát máy bay địch ném bom, đo khối lượng đất đá để san lấp hố bom do địch gây ra, đánh dấu những quả bom chưa nổ và phá bom. Công việc nguy hiểm, luôn phải đối mặt với cái chết thế nhưng cuộc sống của họ vẫn không mất đi niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thảnh thơi, thơ mộng. Họ rất gắn bó, yêu thương và xem nhau như chị em dù mỗi người một cá tính.
Mở đầu tác phẩm, hình ảnh ba nữ thanh niên xung phong hiện ra trong không gian sống hết sức hạn chế. Họ ở trong một cái hang đá nhỏ. Ba cô gái phụ trách một cung đường thuộc tuyến đường Trường Sơn đầy bom đạn.
Quen với gian khổ, gan góc trong đạn bom, các cô gái luôn lạc quan và hài hước. Khi chạy trên cao điểm, đua với thần chết theo bén gót sau lưng, lúc bò được về hang, chỉ thấy niềm vui lấp lánh trong đôi mắt: “chúng tôi gọi nhau là những con quỷ mắt đen”.
Nhà văn Lê Minh Khuê ngoài việc khắc họa những điểm chung của ba nữ thanh niên xung phong cũng chú ý khắc họa những điểm riêng ở ba cô gái ấy. Mỗi người có một vẻ đẹp tâm hồn riêng.
Chị Thao, người lớn tuổi nhất, là tổ trưởng rất gan dạ, điềm tĩnh và dũng cảm nhưng yếu mềm trong tình cảm, lại rất sợ nhìn thấy máu. Nho, người nhỏ tuổi nhất rất hồn nhiên, trẻ trung, tinh nghịch. Phương Định, một cô gái Hà Nội có tâm hồn giàu cảm xúc hay mộng mơ và nghĩ ngợi xa xăm.
Mỗi người có vẻ đẹp tâm hồn khác nhau nhưng họ đều giống nhau nơi lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan, yêu quí đồng đội và tất cả đều sẵn sàng hy sinh cho nhiệm vụ.
Tác giả tập trung làm nổi bậc vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của Phương Định trong cuộc sống và chiến đấu. Trong tâm hồn, tình cảm, Phương Định có một vẻ tươi trẻ, đầy nữ tính: “Mái tóc dầy, cổ cao như đài hoa Loa Kèn, đôi mắt nâu có cái nhìn xa xăm”. Tâm hồn cô nhạy cảm, mộng mở, và tràn đầy niềm lạc quan, yêu đời.
Cảm xúc của cô thay đổi rất nhanh theo từng hoàn cảnh. Có lúc cứng cỏi, bản lĩnh khi đồng đội bị thương. Có lúc hóa trẻ thơ hôn nhiên reo hò vui sướng khi cơn mưa đến. Có lúc lại ngồi bó gối mơ màng khi cơn mưa qua đi. Khi gặp gỡ các chiến sĩ lái xe thường ngang qua nơi làm việc cô tỏ vẻ lạnh lùng, cẩn trọng rất đáng chú ý.
Chỉ một cơn mưa đá đến làm cô vui sướng hồn nhiên như đứa trẻ nhỏ. Cơn mưa đi qua cô gái ngồi bó gối mơ màng: “Tôi nhớ hoa trong công viên, những ngôi sao to trên nóc nhà thờ. Tiếng rao của bà bán xôi buổi sáng… Những cái đó ngỡ thiệt xa. Giờ xoáy mạnh trong tâm trí tôi”. Hồi ức đẹp bao giờ cũng bày tỏ niềm khát khao, những mơ ước về cuộc sống thanh bình.
Ở Phương Định, tình đồng đội trong sáng và cao đẹp. Với tổ trinh sát ba người, cô coi đây là gia đình ruột thịt. Với cô họ thật sự có ý nghĩa “cuộc sống còn nghĩa lí gì nữa đây nếu đồng đội tôi không trở về”. Với những người lính Trường Sơn, cô luôn thầm ngưỡng mộ: “những người đẹp nhất, dũng cảm, thông minh nhất là các anh bộ đội có ngôi sao trên mũ”.
Trong chiến đấu, phương Định tỏ ra bản lĩnh, gan góc khi được tôi luyện trong bom đạn. Dù vừa mới chiến thắng thần chết trở về, cô vẫn kể về công việc với giọng kể bình thản và hài hước: “Quen rồi, ngày nào nhiều năm lần, ngày nào ít ba lần”. Cái thú của cô là chạy đua với thần chết và chiến thắng thần chết. Chưa hẳn đó là điều cô mong muốn nhưng công việc luôn đòi hỏi phải thế.
Phương Định dũng cảm, hiên ngang khi đối mặt với hiểm nguy. Miêu tả lần Phương Định đi phá bom trên đồi cao. Cô mang tư thế hiên ngang khi đi làm nhiệm vụ: “Tôi không đi khom. Các anh ấy không thích đi khom. Khi có thể thì cứ đàng hoàng mà bước”. Đó cũng là tư thế của thế hệ thanh niên Việt Nam thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Dù phía trước là hiểm nguy nhưng lúc nào họ cũng: Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng (Phạm Tiến Duật). Không bao giờ ta thấy họ run sợ, yếu đuối.
Những ngôi sao xa xôi thành công với cách kể chuyện tự nhiên thông qua cái nhìn của nhân vật chính. Cách miêu tả chân thực thế giới nội tâm của nhân vật thật đặc sắc. Tất cả tập trung làm rõ vẻ đẹp tâm hồn của những người con gái thanh niên xung phong, càng trong thử thách họ càng ngời sáng những phẩm chất anh hùng.
Kết bài:
Ba cô thanh niên xung phong trong những trang văn xuôi trữ tình êm mượt của Lê Minh Khuê gieo vào lòng người đọc ấn tượng khó quên về vẻ đẹp lung linh tỏa sáng của những ngôi sao xa xôi. Truyện thể hiện tâm hồn trong sáng, tinh thần lạc quan, dũng cảm của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Hình ảnh ba cô gái trẻ dũng cảm khiến ta nhớ đến ý thơ của Lâm Thị Mĩ Dạ trong “Khoảng trời hố bom”:
Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng
Những vì sao ngời chói lung linh. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê | 1,236 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Mở bài:
Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời chống Mỹ. Ông đặc biệt gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ. Nhân vật tiêu biểu nhất trong sáng tác của ông là những người nông dân Nam Bộ có lòng căm thù giặc sâu sắc, vô cùng gan góc, kiên cường, thủy chung son sắt với quê hương và Cách mạng. Ông có năng lực phân tích tâm lí sắc sảo. Ngôn ngữ phong phú, góc cạnh và đậm chất Nam Bộ. Những đứa con trong gia đình là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Thi và của nền văn học kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Thân bài:
Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn xuất sắc, được Nguyễn Thi viết trong những ngày chiến đấu ác liệt (2/1966), khi ông công tác ở tạp chí văn nghệ giải phóng.
Câu chuyện xoay xung quanh một gia đình nông dân Nam Bộ. Việt là một chiến sĩ giải phóng quân anh còn rất trẻ. Anh là con một gia đình có nhiều mối thù với thằng Mỹ. Trong một trận chiến đấu, Việt bắn cháy một xe bọc thép và bị thương rất nặng, bị thất lạc đồng đội. Việt ngất đi tỉnh lại nhiều lần, mỗi lần tỉnh lại dòng hồi ức về những người trong gia đình lại hiện ra.
Qua hồi ức của nhân vật Việt về những thành viên trong gia đình, tác giả ca ngợi tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng của một gia đình cũng như nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.Trước hết đó là câu chuyện của các thành viên trong một gia đình nông dân Nam Bộ, giàu truyền thống cách mạng trong đó nổi bật nhất là hai chị em Việt- Chiến.
Hình tượng những con người gia đình Việt:
Nét chung có tính chất truyền thống của gia đình Việt đó là ai cũng có lòng nước và căm thù giặc sâu sắc. Ai cũng gan góc, dũng cảm, khao khát được chiến đấu giết giặc lập chiến công. Ai cũng giàu tình nặng nghĩa, rất mực chung thủy son sắt với quê hương và cách mạng.
Truyền thống đó được thể hiện qua chi tiết cuốn sổ gia đình ghi lại tội ác của giặc và chiến công của gia đình được giữ gìn và lưu truyền mãi như lời chú Năm:“Chuyện gia đình nó cũng dài như sông. Để rồi chú chia cho mỗi đứa một khúc mà ghi vào đó”.
Chính truyền thống trên đã gắn kết những con người trong gia đình với nhau, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn giúp họ lập nhiều chiến công và chiến thắng.
Nét cụ thể của từng nhân vật:
Nhân vật chú Năm:
Trong dòng sông truyền thống của gia đình, chú là khúc sông thượng nguồn, là nơi kết tinh đầy đủ hơn cả truyền thống của gia đình. Chú hay kể sự tích gia đình, là tác giả của cuốn sổ gia đình, chứng kiến những đau thương mất mát và thành tích của gia đình và cả dòng họ. Chú luôn động viên và dõi theo con cháu tiếp sức cháu con viết tiếp truyền thống tổ tiên. Chú xin với huyện đội cho hai cháu cùng tòng quân “hai đứa cháu tôi nó một lòng theo Đảng như vậy tôi cũng mừng. Vậy xin trên cứ ghi tên cho cả hai”.
CNhân vật chú Năm là một người lao động chất phát giàu tình cảm. Chú thường đi đây, đi đó nên biết nhiều hiểu rộng. Chú mang đậm chất Nam Bộ với tính bộc trực, chất phát, yêu đời, hay hò hát. Chú là hiện thân của truyền thống, là nhân vật tiêu biểu cho người nông dân yêu nước miền Nam thời chống Mĩ.
Má của Việt cũng là hiện thân của truyền thống gia đình. Đây là hình tượng người phụ nữ mang đậm nét tính cách nhân vật của Nguyễn Thi với dáng người chắc, khỏe “sực mùi lúa gạo và mồ hôi” thứ mùi của đồng áng và cần cù sương nắng. Cuộc đời lam lũ vất vả, chồng chất đau thương, nhưng má Việt lúc nào cũng cắn răng chịu đựng làm lụng thay chồng nuôi con. Bà là một người phụ nữ mang đậm chất Nam Bộ: gan góc, dũng cảm, rất mực thương chồng con, đảm đang tháo vát.
Má Việt vẫn luôn bên cạnh các con trong những giờ phút quan trọng nhất. Đêm sắp xa nhà đi chiến đấu hai chị em đều như thấy má đang về “Má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà cầm nón quạt”. Má Việt là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam, tuy cuộc sống lam lũ vất vả, chồng chất đau thương nhưng rất đỗi kiên cường, bất khuất.
Nhân vật chị Chiến:
Chiến là hình ảnh kế thừa của má, giống má từ hình dáng to lớn, chắc khỏe đến tính cách, có những suy nghĩ và tính toán “in như má vậy”. Chiến đảm đang, tháo vát và chu tất mọi thứ trong nhà để cho má yên tâm chiến đấu. Chiến mượn lời chú Năm để dặn Việt “Chú Năm nói: xa nhà thì ráng học chúng học bạn, thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú chặt đầu!”. Điều đó thể hiện sự quyết tâm của hai chị em. Nhắc Việt viết thư cho chị hai thể hiện sự lễ độ, cách ứng xử đúng đắn của một người em trong gia đình. Chiến sắp xếp việc nhà một cách khéo léo hợp lý, nhất là việc gởi bàn thờ ba má, thể hiện sự nghiêm túc trang trọng.
Tuy vậy, Chiến vẫn còn trẻ nên cũng rất hồn nhiên, thơ ngây. Chiến cũng hay tranh giành với em, thích làm dáng, không vừa ý thì hứ “một cái cóc”. Ở Chiến là một cô gái gan góc, dũng cảm: “nếu giặc còn thì tao mất vậy à”. Chiến cũng rất giàu tình cảm yêu thương. Chiến thương em và thay cha mẹ chăm sóc em. Chiến không muốn cho Việt đi tòng quân vì sợ nguy hiểm, thay Việt tính toán chuyện gia đình, lo lắng cho thằng Út em…
Chiến tiêu biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam thời kháng chiến chống Mĩ – những con người sinh ra đề gánh vác, chiến đấu và chiến thắng.
Nhân vật Việt:
Việt là cậu con trai mới lớn, ngây thơ, tính tình còn rất trẻ con. Cái tính trẻ con ấy thể hiện ở viecj hay tranh giành với chị. Ngay cả chuyện ghi tên nhập ngũ, Việt cũng không nhường chị “cả hai chị em Việt giành nhau chạy lên”, “Tôi là Việt, anh cho tôi đi bộ đội với”.Việt rất thích đi câu cá, bắn chim, đến khi đi bộ đội Việt vẫn còn đem theo cả cái ná thun ở trong túi. Bị thương nằm giữa chiến trường, trên đầu là tiếng trực thăng, dưới đất thì xe bọc thép giặc, pháo mỗi lúc một gần hơn nhưng Việt không sợ chết mà lại sợ “con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi”, “thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông” và “ Việt nằm thở dốc”!.
Là con trai, lại là em, nên Việt có phần ỷ lại, mọi công việc trong nhà, đều phó thác cho chị. Đêm trước ngày lên đường, chị Chiến lo toan thu xếp chu đáo việc nhà, chị lo lắng, bàn bạc việc nhà một cách nghiêm túc, còn Việt thì vô tư “lăn kềnh ra ván, cười khì khì”, vừa nghe vừa “chụp một con đom đóm úp trong lòng bàn tay” rồi “ngủ quên lúc nào không biết”.
Cách thể hiện tình thương của Việt đối với mọi người cũng rất trẻ con. Việt giấu chị Chiến như giấu của riêng vì sợ mất chị trước những lời đùa tán tỉnh của anh em. Khi gặp đồng đội Việt “khóc đó” rồi “cười đó” thật hồn nhiên, vô tư.
Khi xông trận, Việt chiến đấu rất dũng cảm, đã dùng thủ pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của địch. Và đến khi bị thương nặng, lạc đồng đội, một mình nằm lại chiến trường, hai mắt không còn nhìn thấy gì, toàn thân đau đớn và rỏ máu, người khô khốc đi vì đói khát, nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại, Việt vẫn cố bò về nơi có tiếng súng, coi đó là sự sống của mình. Mười ngón tay thì chín ngón bị thương chỉ còn một ngón cái nhúc nhích nhưng Việt vẫn ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng.
Việt là người giàu lòng yêu thương:
Việt luôn nhớ thương má: “hình như má cũng về đâu đây, má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà cầm nón quạt”, luôn nghe lời má, làm theo ước mơ của má… Việt thương yêu chú Năm lắm. Lúc nào Việt cũng nhớ lời chú dặn, nhớ lời chú khen, nhớ cả điệu hò của chú…
Việt rất thương chị Chiến. Tình thương đó đã được Việt cảm nhận thật rõ khi cùng chị khiêng bàn thờ Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế.
Với đồng đội, Việt luôn yêu thương gắn bó. Cậu nhớ từ cái cằm nhọn hoắt của anh Tánh đến nụ cười và cái nheo mắt của anh Công…
Việt tiêu biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam thời kháng chiến chống Mĩ.
Cảnh Việt và Chiến khiêng bàn thờ ba má sang gửi chú Năm:
Đoạn văn diễn tả cảnh hai chị em khiêng bàn thờ ba má sang gửi nhà chú Năm là đoạn xúc động giàu sức gợi cảm và thiêng liêng nhất. Nó hàm chứa nhiều ý nghĩa, vừa là hành động cụ thể mang yếu tố tâm linh, vừa chan chứa yêu thương và nặng trĩu căm thù vì:
Xuất phát từ truyền thống lâu đời của mỗi gia đình V iệt Nam là trong nhà thường có bàn thờ tổ tiên và những người đã mất. Trước khi lên đường đi bộ đội hai chị em Việt- Chiến vẫn nhớ đến ông bà tổ tiên, ba má. Hình ảnh đó gợi cho ta thấy họ đang tiếp nối truyền thống gia đình.
Hình ảnh đó làm cho việc lên đường của hai chị em như có sự tiếp sức của những người thân yêu, gợi sự trang trọng, thiêng liêng.
Thông qua đó ta còn thấy thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ đã trưởng thành về mọi mặt, không chỉ là sự sôi nổi, nhiệt huyết mà còn là sự sâu sắc trong suy nghĩ và hành động, như lời khen của chú Năm “Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng. Gọn bề gia thế đặng bề nước non. Con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”.
Một người hồn nhiên và vô tư như Việt vào chính giờ khắc này mới thấy rõ lòng mình thương yêu chị Chiến hơn và cảm thấy rất rõ mối thù thằng Mĩ như có hình, có khối, có trọng lượng cụ thể “đang đè nặng trên vai”.
Câu chuyện được kể qua hồi ức của nhân vật Việt khi bị thương nằm lại chiến trường, lúc tỉnh, lúc mê nhớ lại những kỉ niệm về những người thân, vì vậy lời kể không liền mạch mà khi đứt (khi Việt ngất) khi nối (Việt tỉnh lại). Qua câu chuyện ta không chỉ thấy nhân vật Việt mà còn thấy hiện lên các nhân vật khác như: chú Năm, Má Việt, chị Chiến và những người thân trong gia đình.
Truyện trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật. Tác giả đã hóa thân vào nhân vật nên câu chuyện được kể theo quan điểm, ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật Việt (lời trần thuật nữa trực tiếp).
Cách trần thuật như thế có tác dụng làm cho tác phẩm đậm màu sắc trữ tình, tự nhiên sống động, nhà văn nhập sâu vào thế giới giới nội tâm của nhân vật để dẫn dắt câu chuyện. Cùng với lời trần thuật, tính cách nhân vật được khắc họa đậm nét, cho nên dù không có gì đặc biệt nhưng câu chuyện trở nên mới lạ hấp dẫn vì được kể qua lăng kính tư tưởng và tâm lí cá tính của nhân vật.
Diễn biến, kết cấu truyện vì thế mà linh hoạt, không phụ thuộc vào trật tự thời gian (có thể xáo trộn không gian và thời gian: từ những chi tiết ngẫu nhiên của hiện thực ở chiến trường mà gợi ra dòng hồi tưởng về quá khứ khi gần khi xa, từ chuyện này sang chyện kia, từ nhân vật này đến nhân vật khác…).
Tác phẩm thể hiện những đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Thi: Trần thuật qua dòng hồi tưởng của nhân vật Việt, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí sắc sảo; ngôn ngữ phong phú, góc cạnh và đậm chất Nam Bộ. Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể, vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh. Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình, mang đậm sắc thái Nam Bộ. Giọng văn chân thật tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh đã làm nên sức hấp dẫn của truyện ngắn này.
Kết bài:
Truyện kể về những người con trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thủy chung son sắt với quê hương, cách mạng. Chính sự gắn bó tình cảm sâu nặng giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi | 2,426 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Mở bài:
Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ. Vì gắn bó với chiến trường Tây Nguyên nên ông hiểu biết sâu sắc và viết rất thành công về thiên nhiên và con người ở vùng đất này. Rừng xà nu là tác phẩm nổi bậc nhất của ông trong giai đoạn kháng Mĩ cứu nước.
Thân bài:
Tác phẩm được viết năm 1965, in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc. Thời gian này Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam, và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc, chiến trường Tây Nguyên cũng đang hồi sôi động. Cả nước đang trong không khí sục sôi đánh Mĩ.
Mở đầu tác phẩm là hình ảnh rừng xà nu bị tàn phá “hàng vạn cây không cây nào không bị thương” dù nằm trong tầm đại bác của giặc, nhưng vẫn có sức sống mảnh liệt, bền bỉ. Nhân vật chính trong truyện chính là Tnú. Sau ba năm đi bộ giải phóng, Tnú nghỉ phép về thăm làng. Đêm đó dân làng tụ họp mừng anh về và lắng nghe cụ Mết kể lại cuộc đời Tnú cùng trang sử chiến đấu của dân làng Xô man.
Tnú vốn là đứa trẻ mồ côi cha mẹ được dân làng nuôi dưỡng, đùm bọc. Tuy nhỏ nhưng Tnú đã biết nuôi giấu cán bộ, làm giao liên, đi liên lạc cho anh Quyết, được anh dạy chữ, dìu dắt. Bị giặc bắt phải đi tù, Tnú vượt ngục trở về thì anh Quyết đã hi sinh. Tnú thay anh Quyết lãnh đạo dân làng chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đánh giặc. Tin làng Xô-man mài giáo, mài rựa đến tay bọn giặc, chúng vây làng quyết bắt cho được A, A cùng nhiều thanh niên thoát được ra rừng, không tìm được A giặc bắt vợ con anh ra tra tấn. Tận mắt chứng kiến cảnh đau đớn ấy, A xông ra cứu vợ con, nhưng mẹ con Mai vẫn bị chết còn anh thì bị giặc bắt và tra tấn dã man.Chúng lấy nhựa xà nu đốt cháy 10 đầu ngón tay nhưng anh không hề kêu than. Sự tàn bạo cảu chúng đã làm cho lòng căm thù giặc lên đến cao độ, tất cả dân làng dưới sự chỉ huy của cụ Mết đã xông lên tiêu diệt bọn giặc cứu A. Tuy các ngón tay chỉ còn lại hai đốt, A vẫn gia nhập bộ đội để giết giặc.
Sáng hôm sau, A lại ra đi, cụ Mết và Dít tiễn anh lên đường. Cả ba người nhìn ra xa và thấy “rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời”.
Ý nghĩa nhan đề tác phẩm: Rừng xà nu
Nguyễn Trung Thành đã thể hiện toàn bộ tư tưởng của tác phẩm qua nhan đề Rừng xà nu. Nhan đề “Rừng xà nu” là một sang tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn. Đây là hình ảnh trung tâm vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa biểu tượng độc đáo. Về nghĩa tả thực, Rừng xà nu là hình ảnh của thiên nhiên Tây Nguyên, tuy bị tàn phá dù trong chiến tranh nhưng vẫn có sức sống mãnh liệt. Về nghĩa biểu tượng, Rừng xà nu là biểu tượng cho con người (dân làng Xô Man nói riêng, đổng bào Tây Nguyên, nhân dân Việt Nam nói chung) trong công cuộc đấu tranh chống Mĩ với số phận đau thương cùng sức sống mãnh liệt và phẩm chất anh hùng.
Nhan đề còn gợi chủ đề, cảm hứng sử thi của truyện ngắn. Tác phẩm đã tái hiện được vẻ đẹp tráng lệ hào hung của núi rừng, của con người và của truyền thống văn hóa Tây Nguyên. Đồng thời đã đặt ra một vấn đế có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù tàn ác.
Hình tượng cây xà nu:
Cây xà nu, rừng xà nu là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Nó xuất hiện ngay từ những dòng đầu tiên, xuyên xuốt qua tác phẩm rồi cuối cùng đóng khép lại câu chuyện.
Xà nu là loại cây họ thông nhựa và gỗ đều rất quí, mọc nhiều ở Kom tum _là thiên nhiên mênh mông, hung vĩ ở Tây Nguyên. Ở trong tác phẩm, rừng xà nu là không gian sống của người Xô Man Cây xà nu gắn bó mật thiết với dân làng: nó luôn có mặt trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, tham dự vào những sự kiện trọng đại của buôn làng, và thấm sâu vào nếp suy nghĩ, cảm xúc của họ. Chính cụ Mết từng tự hào “Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”.
Hình tượng rừng xà nu vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa biểu tượng cho số phận và phẩm chất của con người Tây Nguyên. Rừng bị bom Mỹ tàn phá nặng nề là biểu tượng cho những đau thương mà nhân dân Tây Nguyên phải gánh chịu.
Nằm trong tầm đại bác của giặc, nên cả khu rừng xà nu hang vạn cây không có cây nào không bị thương. Nỗi đau hiện lên với nhiều hình dạng. Có những cây con bị đại bác chặt đứt làm đôi, “nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành lại được, cứ loét mãi, năm mươi hôm thì cây chết”. Có những cây đã trưởng thành bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão, nhựa ứa ra tràn trề, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyền thành từng cục máu lớn.
Sức sống bất diệt của rừng xà nu là biểu tượng cho sự kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên. Cây xà nu sinh sôi rất khỏe “cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên”, “đại bác bác không giết nổi chúng”, với sức sống mãnh liệt, chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã. Cứ thế, những cánh rừng xà nu “ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng”.
Hình ảnh cây xà nu, rừng xà nu giúp ta liên tưởng đến sự kiên cường bất khuất của nhân dân Xô Man. Thế hệ này tiếp bước thế hệ khác cùng đoàn kết bên nhau đứng lên kháng chiến chống kẻ thù tàn bạo. Anh Quyết hy sinh đã có Tnú và Mai. Mai ngã xuống thì Dit lớn lên tiếp bước, bé Heng cũng sẵn sàng tiếp bước thế hệ đàn anh..)
Cây xà nu ham ánh sáng và khí trời luôn hướng đến sự sống: “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng” gợi lên hình ảnh người dân Xô Man nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chun với khát vọng tự do, phóng khoáng dù chịu nhiều đau thương mất mát nhưng vẫn một lòng hướng về Đảng, về Cách mạng với niềm tin tuyết đối: “Đảng còn thì núi nước này còn”.
Cây xà nu tượng trưng cho số phận đau thương và phẩm chất anh hùng của dân làng Xô man nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. hình tượng cây xà nu được xây dựng với cảm hứng sử thi hoành tráng, bút pháp lãng mạn, kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.
Vẻ đẹp rừng xà nu tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên và của tâm hồn người dân Tây Nguyên:
Cánh rừng xà nu được miêu tả có sự hòa hợp giữa sắc màu, hình khối, mùi hương, ánh sáng…Vẻ đẹp lạ lùng, gây ấn tượng khó quên trong lòng người đọc: “ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra…thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt…thứ ánh nắng…rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng”.
Rừng xà nu tạo thành một bức tường vững chắc hiên ngang truớc bom đạn cũng là biểu trưng cho sức mạnh đoàn kết của người dân Tây Nguyên khiến kẻ thù phải kiếp sợ. Vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Nguyên cũng chính là vẻ đẹp trong tâm hồn người làng Xô Man. Họ mang trong mình tâm hồn phóng khoáng, yêu tự do, yêu Tổ quốc, một lòng đi theo Đảng, theo cách mạng, kiên cường bất khuất.
Khi miêu tả rừng xà nu, tác giả nhiều lần sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hóa tạo nên một sự hòa nhập tương ứng giữa con người và thiên nhiên. Thiên truyện được mở đầu và kết thúc bởi hình ảnh những đồi xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời đã gợi vẻ đẹp tráng lệ hào hùng của núi rừng Tây Nguyên, là biểu tượng cho ý chí kiên cường bất khuất, sự trường tốn bất diệt của các thế hệ cách mạng Tây Nguyên nói riêng và co cả miền Nam Việt Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Hình tượng nhân vật Tnú
Rừng xà nu là chuyện của một đời người được kể trong một đêm, là chuyện về cuộc đời đau thương nhưng anh dũng của nhân vật Tnú được cụ Mết kể cho dân làng nghe trong đêm Tnú về thăm làng nhằm giáo dục tinh thần yêu nước truyền thống anh hùng của dân làng.
Tnú người dân tộc Strá. Anh mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lớn lên trong sự yêu thương, đùm bọc của dân làng Xô Man, đặc biệt là cụ Mết. Tnú đến với cách mạng từ rất sớm, từ những ngàu gian khổ, ác liệt nhất. Ngay từ nhỏ, anh đã có điều kiện được học chữ, nuôi ước mơ lớn lên theo anh Quyết làm cán bộ.
Tính cách của Tnú được khắc họa qua hành động và lời nói hết sức đậm nét. Anh là một người gan góc, dũng cảm, mưu trí. Lúc nhỏ chứng kiến bà Nhan, anh Xút và nhiều người khác bị giặc giết vì nuôi giấu cán bộ nhưng Tnú vẫn không sợ. Anh vẫn tiếp tục tiếp tế lương thực cho cán bộ và làm liên lạc cho anh Quyết.
Tnú cũng rất thông minh và nhanh trí. Khi liên lạc “không bao giờ nó đi đường mòn”, bởi anh biết giặc thường hay mai phục những chỗ ấy. Khi qua sông, anh không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác thác mạnh mà bơi ngang. Có lần bị giặc phục kích bắt được, A nhanh trí “nuốt luôn cái thư”.
Tnú tuyệt đối trung thành với cách mạng. Học chữ thua Mai, “nó cầm hòn đá, tự đập vào đầu, cháy máu ròng ròng” không thèm học nữa. Thế nhưng nghe lời anh Quyết, Tnú đã cố gắng học tốt để lớn lên làm cán bộ cách mạng. Bị giặc bắt tra tấn, đánh đập dã man cậu bé Tnú vẫn không khai công sản ở đâu. Sau ba năm tù, Tnú vượt ngục trở về làng, vẫn không từ bỏ lí tưởng. Anh thay anh Quyết lãnh đạo dân làng chuẩn bị vũ khí một lòng theo Đảng đánh giặc.
Tnú kiên cường bất khuất có tính kỉ luật cao. Khi buôn làng bị càn quét, vợ con bị giặc giết chết dã man, còn anh thì bị kè thủ đốit mười đầu ngón tay, Tnú vẫn không kêu van, vẫn chịu đựng kiên cường. Mất vợ con, hai bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt, thương tích cả thể xác lẫn tâm hồn, nhưng Tnú không gục ngã, vẫn tham gia lực lượng vũ trang quyết tâm tiêu diệt kẻ thù tàn ác. Nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng khi được phép của cấp trên Tnú mời về thăm, nhưng chỉ ở nhà một đêm đúng quy định trong giấy phép.
Tnú là một người giàu tình yêu thương. Anh yêu thương và gắn bó với những cánh rừng xà nu với bản làng của người dân Strá mộc mạc thuần hậu.
Tnú yêu thương vợ con tha thiết: Khi chứng kiến giặc dùng thủ đoạn hèn hạ bắt mẹ con Mai tar tấn đánh đập dã man bằng gậy sắt, anh đau đớn đến tệ dại “bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay”, “Ở chỗ hai con mắt anh bây giở là cục lửa lớn”. Không cầm lòng được, “A đã nhảy xổ vào giữa bọn lính” hai cánh tay như hai cánh lim chắc ôm chặt lấy mẹ con Mai, bảo vệ vợ con bất chấp nguy hiểm cho bản thân.
Tnú biết vượt lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân để dũng cảm chiến đấu, trả thù cho quê hương và gia đình. Khi xông ra cứu vợ con, anh bị bắt, bị đốt mười đầu ngón tay, Tnú quyết không kêu van à tiếng thét của anh trở thành hiệu lệnh cho dân làng giết giặc. Dù mất vợ con, dù hai bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt, Tnú vẫn nén đau thương, tham gia lực lượng vũ trang để góp phần giải phóng quê hương…
Trong câu chuyện kể về cuộc đời Tnú cho dân làng nghe, cụ Mết nhiều lần nhắc lại ý Tnú không cứu được vợ con như một điệp khúc day dứt, xót xa. Mục đích nhằm nhấn mạnh một hiện thực: Tnú chỉ với hai bàn tay trắng không có vũ khí trước kẻ thù hung bạo nên anh đã không bảo vệ được vợ con và bản thân!
Từ đó khắc sâu chân lí “chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Nhấn mạnh điều này, cụ Mết muốn nhắc nhở con cháu một điều hệ trọng là để sự sống được trường tồn không cò cách nào khác hơn là phải cầm vũ khí chống lại và tiêu diệt kẻ thù tàn ác. Đây là một nhận thức sâu sắc được rút ra từ nỗi đau của bản thân Tnú, của buôn làng
Số phận Tnú gắn liền với số phận cộng đồng Xô Man, đi từ đau thương đến cầm vũ khí đứng lên quật khởi
Khi chưa cầm vũ khí:
Làng Xô Man bị giặc lùng sục, khủng bố. Chúng giết hại tra tấn dân làng dã man khắp nơi không bữa nào nó không đi lùng, súng và chó của nó sủa vang khắp rừng. Chúng đàn áp, giết hại dân làng dã man. Nó treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng. Nó giết bà Nhan, chặt đầu cột tóc treo đầu súng. Mẹ con Mau bị tra tấn đến chết. Tnú bị giặc đốt 10 đầu ngón tay bằng nhựa xà nu…
Khi đã cầm vũ khí:
Thằng Dục chết dưới lưỡi mác của cụ Mết, mười tên giặc chết dưới giáo mác của dân làng. Tnú được cứu sống. Lửa đẵ tắt trên mười đầu ngón tay anh. Bàn tay Tnú được hồi sinh. Tiếng cụ Mết như lời hiệu triệu của Đảng, của truyền thống bất khuất: “Đốt lửa lên…tất cả dân làng… mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác…” . Làng Xô Man ào ào sôi động, lửa đấu tranh ngùn ngụt cháy! Từ đó, làng thành làng kháng chiến một lòng theo Đảng đánh giặc, được no đủ, không còn sợ đói gạo, đói muối.
Tóm lại, hình tượng là điển hình cho con đường đấu tranh đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên, đồng thời làm sáng tỏ chân lí của thời đại đánh Mỹ là phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân.
Ngoài Tnú, các nhân vật chính diện khác như cụ Mết trầm ngâm, lừng lững như cây cổ thụ, tiêu biểu cho sức mạnh tinh thần và vật chất có tính truyền thống của dân tộc Tây Nguyên đến vẻ đẹp mảnh mai, hiền diệu nhưng đầy cứng rắn, kiên quyết của Dít như một hậu thân trự tiếp của Mai; bé Heng như cây xà nu mới lớn, tuy còn non trẻ nhưng đã cho người đọc thấy hình ảnh của cây xà nu vạm vỡ tràn đầy sức sống của ngày mai.
Cụ mết là già làng, đại diện cho những giá trị, phẩm chất và văn hóa tinh thần của làng Xô Man và của núi rừng Tây Nguyên, nhân dân Tây Nguyên.
Ngoại hình “Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu vẫn dài tới ngực, vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xéch ngược … Ông ở trần, ngực căng như cây xà nu lớn’, “Ông không bao giờ khen “Tốt! Giỏi!’, ông chỉ nói ‘Được!’”
Cụ Mết cũng là người quan tâm nhiều nhất đến Tnú, kể lại cuộc đời Tnú cho dân làng nghe. Cụ vừa là người nối kết thế hệ trẻ với truyền thống với lịch sử quê hương, vừa là người dẫn dắt thế hệ thanh niên trong công cuộc đấu tranh hiện tại đi đúng hướng. Cụ đã nói lên một cách giản dị chân lí lớn lao của thời đại “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”.
Cụ Mết là người lãnh đạo dân làng cầm vũ khí quật khởi giết hết bọn giặc cứu Tnú và bảo vệ buôn làng dưới lưỡi mác dài của cụ là xác thằng Dục và bọn lính. Đêm đó làng Xô Man nổi dậy ào ào. Tiếng cụ Mết rền vang như lời của cah ông bất khuất “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người gài người trẻ người đàn ông người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ một cây rựa. Ai không có thì vót chông…”
Cụ Mết như một nhân vật huyền thoại, là hiện thân của truyền thống, là kết tinh của sức mạnh, phẩm chất tốt đẹp của con người Tây Nguyên,
Nhân vật Dít
Xuất hiện trong tác phẩm không nhiều, nhưng Dít là hiện thân và nối tiếp của Mai. Dít là bí thư chi bộ, chính trị viên xã hội, là cô gái trẻ đầy nghị lực, đầy bản lĩnh và trưởng thành nhanh chóng trong đấu tránh cách mạng của làng Xô Man.
Nét tính cách nổi bật ở Dít đó là tính gan dạ, nhanh nhẹn từ nhỏ. Dít rất nhanh nhẹn “không ai lọt ra được. Chỉ có con Dít nhỏ nhanh nhẹn, cứ sẩm tối lại bò theo máng nước đem gạo ra rừng cho cụ Mết, A và thanh niên…”. Kẻ thù uy hiếp tinh thần “đôi mắt nó thì nhìn bọn giặc, bình thản lạ lùng, bình thản như đôi mắt chị bí thư bây giờ vậy”.
Dít rất kiên quyết và rắn rỏi. Em cẩn thận kiểm tra giấy của Tnú khi Tnú về thăm làng. Không phải không biết Tnú, Dít muốn chắc chắn rằng Tnú dduwwocj nghỉ phép trở về thăm làng chứ không phải tự ý trốn về. Em rất nghiêm khắc và trung thành với cách mạng.
Thế nhưng, Dít cũng hết sức giàu tình cảm, đầy nữ tính.
Nhân vật bé Heng
Heng là hình ảnh biểu tượng của cây xà nu mới lớn, hứa hẹn sẽ trở thành cây xà nu mạnh mẽ và bất tử để kế tục truyền thống của cha anh đi trước. Heng nhanh nhẹn, hoạt bác, thông minh, tinh nghịch. Nó đội một cái mũ sụp xin được của một anh giải phóng quân nào đó, mặc một chiếc áo bà ba dài phết đít, vẫn đóng khố, súng đeo chéo ngang lưng ra vẻ một anh lính thực thụ.
Một thành cong khác của Nguyễn Trung Thành trong truyện ngắn rừng xà nu là đã vận dụng thành cong nhiều thủ pháp nghẹ thuật độc đáo, có sức biểu hiện cao. Không khí, màu sắc trong tác phẩm đậm chất Tây Nguyên thể hiện ở bức tranh thiên nhiên, ở ngôn ngữ tâm lí hành động cảu các nhân vật.
Nhà văn đã xây dựng các nhân vật vừa có nét các tính sống động, vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu (Cụ Mết, Tnú, Dít). Đặc biệt, Nguyễn Trung Thành đã khắc họa thành công hình tượng cây xà nu, một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, tạo nên màu sắc sử thi và lãng mạn bay bổng cho thiên truyện.
Rừng xà nu là truyện ngắn đậm chất sử thi. Truyện có lời văn trau chuốt, giàu hình ảnh, tái hiện được vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng Tây Nguyên với những cánh rừng xà nu bạt ngàn và những thế hệ người dân Tây Nguyên anh hùng. Đó là bức tranh hoành tráng trong hình ảnh, trong âm hưởng với lời văn đầy nhịp điệu, khi vang động, khi tha thiết trang nghiêm.
Kết bài:
Rừng xà nu là bản trường ca hùng tráng ngợi ca tinh thần bất khuất, sức mạnh quật khởi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, đất nước và con người Việt Nam nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khẳng định chân lí của thời đại: để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không có cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành | 3,635 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn
Mở bài:
Lỗ Tấn (1881 – 1936) là nhà văn cách mạng Trung Quốc thế kỉ XX. Bút danh Lỗ Tấn ghép từ họ mẹ (Lỗ Thụy) và chữ Tấn hành, nghĩa là “đi nhanh lên”. Ông dung ngòi bút để phanh phui các “căn bệnh tinh thần” của quốc dân, bằng cách nêu ra những vấn đề bức xúc trong đời sống tinh thần, phơi bày các hiện tượng bệnh hoạn của xã hội để lưu ý mọi người tìm phương thuốc chạy chữa. Toàn bộ sáng tác của ông, đều tập trung phê phán nghiêm khắc các căn bệnh tinh thần khiến cho quốc dân mê muội, tự thỏa mãn “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”. Thuốc là một trong nhưng tác phẩm đặc sác nhát của Lỗ Tấn.
Thân bài:
Năm 13 tuổi, chứng kiến cảnh người cha lâm bệnh, vì không có thuốc mà chết, ông chọn học nghề y để chữa bệnh cho những người nghèo, ốm mà không có thuốc, chết vì ngu dốt và mê tín như cha mình. Đang học trường Cao đẳng y khoa, thì ông đột ngột thay đổi chí hướng. Một lần xem phim ông thấy những người Trung Quốc khỏe mạnh, hăm hở xem quân Nhật chém một người Trung Quốc làm gián điệp cho quân Nga ( thời chiến tranh Nga – Nhật, 1901 – 1905). Ông giật mình và nhận ra rằng: chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần. Và thế là ông chuyển sang làm văn nghệ.
Nghĩa là, khi viết tác phẩm Thuốc, Lỗ Tấn có sự am hiểu sâu sắc về thực trạng xã hội và cả về thuốc. Truyện ngắn Thuốc viết năm 1919, đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ tứ bùng nổ.
Tác phẩm nói về căn bệnh “đớn hèn” của dân tộc Trung Hoa do nhân dân thì chìm đắm trong mê muội, lạc hậu mà những người cách mạng thì hoàn toàn xa lạ với nhân dân. Nhà văn muốn cảnh báo: người Trung Quốc cần suy nghĩ nghiêm túc về một phương thuốc để cứu chữa dân tộc.
Câu chuyện xoay quanh việc chữa beengj cho cậu con trai có tên là Thuyên của vợ chồng lão Hoa, chủ một quán trà. Nghe nói bánh bao tẩm máu người chữa được bệnh nên lão Hoa đã mua “thuốc” chữa bệnh cho con. Vợ chồng lão Hoa và mọi người trong quán trà đều tin vào công hiệu thần kì trị bệnh lao của chiếc bánh bao tẩm máu Hạ Du (người tử tù vừa bị chết chém sang nay) và cười chê, khinh bỉ anh.
Năm sau, trong tiết thanh minh mẹ Thuyên và mẹ Hạ Du đến thăm mộ con và gặp nhau trong nghĩa trang. Bằng sự đồng cảm, mẹ Thuyên đã bước qua con đường mòn để an ủi mẹ Hạ Du. Cả hai rất ngạc nhiên khi nhìn thấy một vòng hoa trên mộ Hạ Du. Kết thúc truyện là hình ảnh hai bà mẹ và hình ảnh con quạ vút bay thẳng về phía chân trời xa.
Ý nghĩa nhan đề Thuốc:
Nhan đề “Thuốc” mang một ý nghĩa đặc biệt. Đây là hình ảnh có nhiều tầng nghĩa. Ở tầng nghĩa thứ nhất (nghĩa tường minh), thuốc là phương thuốc truyền thống dùng bánh bao tẩm máu người để chữa bệnh lao trong dân gian. Tầng nghĩa này hướng đến chủ đề chống mê tín dị đoan, phê phán cách chữa bệnh u mê, lạc hậu lúc đó của Trung Quốc.
Ở tầng nghĩa thứ hai sâu xa hơn (nghĩa hàm ẩn), thuốc có ý nghĩa khai sáng. Tác giả muốn mọi người giác ngộ bánh bao tẩm máu người đó là thứ thuốc độc. Người dân Trung Quốc phải tỉnh táo để nhận ra điều đó, không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.
Ở tầng nghĩa thứ ba, thoát ra khỏi ý nghĩa cứu chữa hay khia xác là hành động. Tác giả thúc giục con người phải tìm một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng và làm cho cách mạng gắn bó với quần chúng hơn.
Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người:
Trong chuyện, chiếc bánh bao tẩm máu người là một bài thuốc trị bệnh lao quái đản, kinh dị mà ai cũng cho là hiệu nghiệm. Máu người cách mạng tiên phong ngã xuống vì lý tưởng cứu quốc đã bị đem bán cho những người mê muội mua về tẩm bánh bao.
Lỗ Tấn phê phán cách chữa bệnh lạc hậu, mê tín dị đoan đồng thời chỉ ra sự mê muội đớn hèn của người dân về chính trị và sự xa rời quần chúng của những người cách mạng. Từ đó cảnh báo người Trung Quốc phải suy nghĩ nghiêm túc về một phương thuốc để chữa những căn bệnh này.
Nhân vật Hạ Du là hình ảnh tượng trưng của cách mạng Tân Hợi. Hạ Du xuất hiện gián tiếp qua lời bàn tán của mọi người. Ở Hạ Du, nổi bậc với phẩm chất của một chiến sĩ cách mạng yêu nước, có lí tưởng đúng đắn sớm giác ngộ cách mạng. Anh dũng cảm, hiên ngang, xả thân vì nghĩa lớn. Mục đích của anh hết sức cao cả nhưng vẫn còn xa rời quần chúng nên rơi vào bi kịch.
Qua hình tượng Hạ Du, tác giả bày tỏ sự kính trọng và lòng thương cảm sâu xa đối với những chiến sĩ tiên phong của cách mạng Tân Hợi. Bi kịch của Hạ Du còn là lời cảnh tỉnh những người Cách mạng tiên phong về việc xa rời quần chúng của họ.
Hình ảnh quần chúng trong truyện (những người trong quán trà):
Họ là quần chúng còn u mê, lạc hậu. Họ thiếu hiểu biết về cách mạng và chưa giác ngộ cách mạng. Qua câu chuyện cái bánh bao tẩm máu, lỗ tấn dần dần bộc lộ sự thức tỉnh của quần chúng nhân dân, tuy còn rất mờ nhạt.
Mẹ Hạ Du khi nhìn thấy vòng hoa trên mộ con, bà chợt băn khoăn, ngạc nhiên rồi trở ra đau xót, oán hận. Bà nhận ra cái chết của con trai bà không hoàn toàn vô nghĩa nhưng phải gánh chịu sự khinh bỉ của mọi người. Hạ Du cô độc cả khi đã chết.
Hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du là sự tưởng niệm, thương tiếc sự hi sinh cao cả của người cách mạng tiên phong, là mong mỏi về sự thức tỉnh của quần chúng cùng niềm tin, cái nhìn lạc quan của tác giả vào tiền đồ tươi sang của cách mạng.
Câu hỏi của mẹ Hạ Du “Thế này là thế nào?” ẩn giấu niềm tin đang le lói trong lòng người mẹ đau khổ vì đã có người hiểu, ngưỡng mộ và tiếp bước sự nghiệp con mình… Câu hỏi day dứt, vấn vương sang cả người đọc. Tác giả muốn người đọc suy nghĩ để hiểu ý nghĩa của cái chết kia, suy nghĩ về mối quan hệ gắn bó giữa cách mạng và quần chúng.
Cuối tác phẩm, hình ảnh “con quạ xòe đôi cách nhún mình, rồi như một mũi tên vút bay thẳng về phía chân trời xa” thể hiện niềm mong mỏi, tin tưởng của tác giả vào sự thức tỉnh của quần chúng và tiền đồ tươi sang của Cách mạng.. Con quạ đen là sự u tối của con người. nhưng cái u tối đó đang bắt đầu chuyển hướng, đang bay thẳng về phía chân trời của ánh sáng để tìm một lối giải thoát. Rồi đây, những con người mê muội kia cũng sẽ tìm thấy anhsangs của cách mạng, ánh sáng của lương tri và mạnh mẽ tự giải phóng mìn ra khỏi những u tối ấy. Đó là cái nhìn đầy lạc quan của nhà nhân đạo luôn hướng đến tôn vinh những giá trị của con người.
Không gian – thời gian của truyện
Không gian u ám, nặng nề, bế tắc với pháp trường, quán trà, nghĩa trang. Tất cả đều cần thuốc để chữa trị. Đó là không gian nghệ thuật nhưng cũng rất hiện thực.
Thời gian có sự tiến triển xoay vòng. Hai cảnh đầu xảy ra ở mùa thu. Cảnh cuối là mùa xuân, tiết Thanh minh ấm áp. Đặt câu chuyện vào hai thời gian và hai mùa khác nhau một mùa có tính chất tàn lụi, khép lại, một mùa có tính chất hồi sinh, mở ra tác giả muốn gởi gắm vào đó một niềm tin, niềm hy vọng vào tương lai tươi sang của đất nước.
Hình ảnh nghĩa trang với những ngôi mộ “dày khít”:
Khung cảnh điêu tàn gợi lên thực trạng xã hội vừa đen tối vừa tàn bạo, u mê của đất nước Trung Hoa cũ. Ở đó, cái chết nhiều hơn sự sống, tối tăm nhiều hơn ánh sáng. Con người đang chết dần chết mòn trong u tối.
Hình ảnh con đường mòn:
Con đường mòn là con đường do nhiều người đi mà thành. Trong tác phẩm Thuốc, “con đường mòn” là biểu tượng của tập quán xấu đã trở thành thói quen, trở thành suy nghĩ đương nhiên. Nó đã chia cắt nghĩa địa người chết chém (người phản nghịch, người cách mạng) với nghĩa địa người chết bệnh (nhân dân lao động nghèo khổ).
Lỗ Tấn rất thành công khi xây dựng nên những hình ảnh và lớp ngôn từ giàu tính biểu tượng. Lối dẫn truyện nhẹ nhàng, tự nhiên mà sâu sắc, lôi cuốn. Với lời lẽ cô đọng, súc tích, ý tưởng sâu xa, Thuốc là truyện ngắnđã tạo ra những dư chấn mạnh mẽ trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.
Kết bài:
Nội dung Thuốc dồn nén sự quan sát, nghiền ngẫm của nhà văn về xã hội, về con người Trung Quốc, về con đường giải phóng dân tộc. Lựa chọn của Lỗ Tấn là không thể khuyên bảo mà nên tinh tế làm cho họ tỉnh ngộ bằng một liều thuốc hiệu nghiệm. Như chính ông đã nói: “cần suy nghĩ nghiêm khắc về một phương thuốc để cứu dân tộc”. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn | 1,728 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Mở bài:
Tô hoài là một trong những nhà văn lớn trong văn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX. Sáng tác thiên về diễn tả sự thật của đời thường, với vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta. Tác phẩm của Tô Hoài hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động, vốn từ vựng phong phú. Truyện ngắn Vợ chòng A Phủ là tác phẩm tieu biểu nhất của nhà văn Tô Hoài và của nền văn học hiện thực phê phán.
Thân bài:
Vợ chồng A Phủ (1952) là một trong ba tác phẩm (Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn và Cứu đất cứu mường) in trong tập Truyện Tây Bắc. Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952. Đây là chuyến đi thực tế dài tám tháng sống với đồng bào các dân tộc thiểu số từ khu du kích trên núi cao đến những bản làng mới giải phóng của nhà văn.
Kết cấu Vợ chồng A Phủ gồm có hai phần, phần đầu viết về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, phần sau viết về cuộc sống nên vợ nên chồng, tham gia cách mạng của Mị và A Phủ ở Phiềng Sa. Đoạn trích là phần đầu của truyện ngắn.
Tác phẩm kể về cuộc đời của đôi trai gái người Mèo là Mị và A Phủ. Mị là một cô gái Mèo xinh đẹp và rất tài hoa, Chỉ vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ với nhà thống lí Pá Tra nên Mị bị bắt cóc về làm dâu gạt nợ cho nhà hắn. Ở đây, cô phải sống một cuộc đời tuổi nhục, bị bóc lột sức lao động, bị hành hạ thể xác lẫn tâm hồn,sống không hề có hạnh phúc, sống cuộc sống vô thức, vô cảm. Đêm tình xuân đã đánh thức đã đánh thức nổi khao khát tình yêu và hạnh phúc tưởng như đã chết từ lâu trong lòng Mị.
A Phủ là một thanh niên mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lao động giỏi, dũng cảm, được nhiều cô gái mê nhưng vì nghèo nên không cưới nổi vợ. Tết đến A Phủ cũng đi chơi và xảy ra việc đánh nhau với A Sử. Vì tội đánh con quan, A Phủ bị bắt, bị phạt vạ và cuối cùng bị đày làm nô lệ cho thống lí để trừ nợ.
Nghịch cảnh trớ trêu đã đưa hai cuộc đời bất hạnh đến với nhau. A Phủ vì làm mất một con bò nên bị nhà thống lí đánh đập tàn tệ và trói đứng vào cột cho đến chất. Sau nhiều đêm nhìn thấy cảnh ấy, từ dửng dưng đến thương cảm mãnh liệt. Cuối cùng, cô đã cắt dây trói giải thoát cho A Phủ. Trong giây phút nhìn theo con người đang chạy về với tự do, Mị đã quyết định chạy theo, tự giải thoát cho chính mình. Cả hai trốn qua vùng Phiền Sa và trở thành vợ chồng. Tại đây họ cán bộ A Châu và được giác ngộ cách mạng, trở thành du kich chiến đấu đánh giặc bảo vệ dân làng.
Vợ chồng A Phủ là câu chuyện về những người dân lao động vùng cao Tây Bắc không cam chịu bị bọn chúa đất áp bức đày đọa, giam hãm trong cuộc sống tăm tối đã vùng lên phản kháng đi tìm cuộc sống tự do. Tác phẩm khắc họa chân thực những nét riêng về phong tục, tập quán, tính cách, và tâm hồn người dân các dân tộc thiểu số bằng một giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm màu sắc phong vị dân tộc, vừa giàu tính tạo hình vừa giàu tính chất thơ.
Nhân vật Mị
Từ một cô gái trẻ đẹp,tài hoa đến khi làm con dâu gạt nợ nhà thống lí:
Mị là nhân vật chính của tác phẩm. Tác giả trực tiếp giới thiệu Mị ngay từ đầu tác phẩm: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Mị xuất hiện trong thầm lặng như một cái bóng, một hòn đá vô tri vô giác.
Cách dẫn vào truyện của nhà văn hết sức khéo léo, gây sự tò mò, chú ý của người độc. Có sự đối lập giữa cuộc sống và hoàn cảnh của Mị. Cô là con dâu nhà thống lí Pá Tra giàu có, quyền thế vậy mà phải làm việc luôn tay, lúc nào cũng cúi mặt và buồn rười rượi.
Trước khi về nhà làm con dâu nhà thống lí Pá Tra, Mị là cô gái trẻ đẹp, tài hoa, yêu đời, lạc quan, đầy sức sống. Mị trẻ đẹp và có tài thổi sáo rất hay. Mị chăm làm, sẵn sàng lao động, không quản ngại khó khăn. Mị yêu đời, yêu cuộc sống tự do, không ham giàu sang phú quý và hết lòng hieus thảo với cha mẹ.
Sống ở nhà thống lí, Mị nhẫn nhục, cam chịu, tê liệt tinh thần, mất dần ý thức sống. Lúc đầu cô còn cố sức phản kháng. Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc. Cô khóc vì không thẻ chấp nhận số phận ấy. Cô khóc vì tự cảm thương mình đã không thể sống với chính mình. Rồi Mị định chết. Mị đã sẵn nắm lá ngón khi trở về thăm cha. Nhưng vì thương cha, Mị đã không thể chết. Mị biết nếu Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa. Mị đành trở lại nhà thống lí.
Sau lâu dần thì thôi. Dù sau này cha Mị chết, Mị cũng không muốn chết nữa. Cuộc sống lao động khốc liệt ở nhà thống lí khiến cho tình yêu cuộc sống cũng đã cạn kiệt hoàn toàn. Cô tồn tại trong vô thức. Thậm chí, cô cũng không biết mình đang tồn tại nữa. Bởi ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi.
Không những thế, Mị cũng mất luôn sự nhận thức về công việc. Lúc nào Mị cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại. người nhà thống lí làm việc không bao giờ ngơi tay. Công việc cứ kéo dài từ sáng đến tối, từ mùa này sang mùa khác. Có lúc, Mị nghĩ mình không bằng con trâu, con ngựa nữa. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.
Nhân vật Mị chính là nạn nhân của hủ tục lạc hậu và cường quyền phong kiến miền núi. Thân phận của Mị đâu chỉ là người làm công trả nợ. Nếu người làm công trả nợ như cha mẹ Mị thì có thể món nợ ấy một ngày nào đó sẽ dduwwocj trả hết. Còn Mị, Mị là con dâu gạt nợ. Chúng đã đem Mị về trình con ma nhà ấy rồi. Thân xác Mị bị giam hãm trong công việc khắc khổ còn linh hồn Mị đã bị “con ma” nhà ấy “cai quản”. Đời đời kiếp kiếp Mị cũng không thể nào thoát ra khỏi nơi ấy được nữa.
Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến miền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót. Dưới ách thống trị của cường quyền bạo lực và thần quyền hủ tục, người dân lao động miền núi Tây Bắc bị chà đạp một cách tàn nhẫn về tinh thần đến mức tê liệt cảm giác về sự sống, mất dần ý niệm về cuộc đời. Họ từ những con người có lòng ham sống mãnh liệt trở thành những người sống mà như đã chết, tẻ nhạt và vô thức như những đồ vật trong nhà. Một sự hủy diệt ý thức sống của con người thật đáng sợ.
Sức sống tiềm tàng, khát vọng hạnh phúc và sự phản kháng mạnh mẽ:
Trong đêm tình mùa xuân, khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình, sức sống mãnh liệt đã hồi sinh, bật dậy xốn xang trong lòng Mị. Mùa xuân về, thiên nhiên đất trời thay đổi. Không khí đón tết náo nức. Tất cả có tác động làm lay thức tâm hồn tươi trẻ của nhân vật Mị nhưng chưa đủ để cô thức tỉnh. Tiếng sáo, một biểu tượng của khát vọng tự do, tình yêu, tuổi trẻ văng vẳng vọng về trên đồi cao mới là nguồn thôi thúc mãnh liệt khát vọng trong Mị.
Nhà văn đã diễn tả diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân năm ấy thật chân thực và cảm động. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi. Mị bắt đầu có ý thức về thời gian, Mị nhớ về quá khứ, sống lại quá khứ tươi đẹp, thấy mình còn trẻ, ý thức về thân phận: đau khổ, uất ức, chỉ muốn chết.
Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Cả khi cô bị A Sử trói đứng vào cột, cô vẫn còn say. Mị vẫn không biết mình bị trói, vẫn sống với tiếng sáo, bồi hồi tha thiết, lúc mê lúc tỉnh…. Mị đau khổ, chập chờn giữa quá khứ và hiện tại. Tiếng sáo vẫn vẫy gọi. “Mị vùng bước đi” nhưng bị dây trói thắt chặt, Mị trở lại hiện tại và không còn nghe thấy tiếng sáo nữa mà chỉ nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách.
Sau những đêm tình mùa xuân rộn rã, cuộc sống trở lại như lúc ban đầu. Công việc lại đến công việc. tiếp diễn không bao giờ dứt. hơi rượu nồng nà của đem ấy cũng sớm phai tàn trên đôi môi của Mị. Cô cũng không buồn nhớ đến nữa. Cứ ngỡ ràng cuộc đời Mị sẽ mãi như thế nếu không có cuộc gặp gỡ định mệnh giữa cô với A Phủ, một chàng trai Mèo bị bắt ở trừ nợ chỉ vì đáng A Sử.
Làm mất một con trâu, A Phủ bị thống lí Pá Tra trói đứng, bỏ đói khát suốt ba ngày ba đêm, đang đối mặt với cái chết. A phủ đã hoàn toàn tuyệt vọng. Thế nhưng, có ai biết, ánh lửa lập lòe phía bên trong vách luôn mang lại cho anh tia hi vọng mong manh mà lúc nào trong thấy, anh đều chăm chăm nhìn lấy.
Những đêm mùa đông lạnh lẽo, Mị thường thổi lửa hơ tay cô đơn, lặng lẽ bên bếp lửa. Ban đầu, khi nhìn thấy A Phủ, Mị vẫn thản nhiên. Nhưng khi nhìn thây A Phủ khóc, những giọt nước mắt lăn dài tren đôi má gầy đen, cảm xúc của Mị đã dần sống lại. Mị nhớ lại mình cũng từng bị chồng trói đứng a đồng cảm, thương xót cho A Phủ. Cô nhận thức được sự độc ác của bọn thống trị “chúng nó thật độc ác”. Mị muốn cứu A Phủ lắm nhưng khi tưởng tượng nếu A Phủ trốn đi, cô sẽ bị trói thay vào đó, trong lòng bỗng run sợ.
Nhưng càng suy nghĩ, nỗi sợ hãi trong Mị biến mất. Tấm lòng cảm thương đối với kiếp người vô tội phải bị đày đọa cho đến chết. Cô nhận rõ: mình đã trình ma nhà này có chết cũng làm ma nhà này. Còn người kia tội gì phải chết. Sự thức tỉnh về quyền sống, quyền làm con người đã thúc giục Mị đi đến hành động quyết liệt. Cô quyết định cắt dây trói cứu A Phủ. Rồi cô cũng vùng chạy theo A Phủ. Bóng tối mở đường cho họ tiến về với tự do.
Hành động cắt dây trói cứu A Phủ là hành động xuất phát từ tình thương, từ sự đồng cảm giai cấp, thể hiện sự phản kháng chống lại cường quyền áp bức, chống lại mọi sự chà đạp lăng nhục con người. Hành động Mị chạy theo A Phủ là hành động bất ngờ, để tự cứu mình: “A Phủ cho tôi đi”, “ ở đây thì chết mất” thể hiện khát vọng tự do, sức sống mãnh liệt trong Mị.
Đây là hành động có ý nghĩa quyết định, đánh dấu bước ngoặt đổi đời của Mị. Cắt dây trói cứu A Phủ là Mị đã tự cắt sợi dây vô hình trói cuộc đời mình thoát khỏi cường quyền,thần quyền ở nhà thống lí Pá Tra để tự giải phóng mình.
Nhân vật Mị được xây dựng với tâm lý phức tạp, vừa cam chịu nhẫn nhục bên ngoài vừa phản kháng âm ỉ bên trong, với sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Người nô lệ bị áp bức bức bốc lột không có con đường nào khác là phải tự vùng lên tự giải phóng mình. Và Mị đã làm được điều đó, để đến với cách mạng. Đây chính là chiều sâu tư tưởng làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Nhân vật A Phủ
Nhân vật A Phủ được giới thiệu bất ngờ qua trận đánh nhau với A Sử, rồi bị bắt trói, bị đánh đập dã man trong đám xử kiện lạ lùng, sau đó mới giới thiệu lai lịch hoàn cảnh. Cách giới thiệu gây ấn tượng mạnh mẽ về tính cách nhân vật.
Anh mồ côi cha mẹ. Lúc bé làm thuê hết nhà này đến nhà khác. Thậm chí, anh còn bị bắt và bán cho người Thái bởi một người nghèo khó. Lớn lên, A phủ nghèo quá nên không lấy được vợ. Khi đi ở trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra, A Phủ bị bốc lột sức lao động đến cùng cực, phải làm những việc nặng nhọc nguy hiểm. Thậm chí, chúng muốn cướp đi sinh mệnh của anh chỉ vì làm mất một con bò. A Phủ chính là nạn nhân của hủ tục lạc hậu và cường quyền phong kiến miền núi như Mị.
A Phủ là nhân vật có tính cách mạnh mẽ cứng cõi, có tinh thần phản kháng và sức sống mãnh liệt
Cuộc sống gian khó đã rèn cho A Phủ nhiều đức tính tốt đẹp. Anh hiền lành, lại giỏi giang. ANh biết đúc lưỡi cày và làm việc rất giỏi. Có người còn khen rằng ai lấy được A Phủ là như có được một con trâu tốt, chẳng mấy chốc thì giàu có lên thôi.
A Phủ dũng cảm và gan góc. Mới 10 tuổi, A Phủ bị người làng bắt bán đổi thóc cho người Thái, nhưng đã gan bướng không thích ở dưới cánh đồng thấp, trốn thoát lên núi cao. Anh dám đánh cả con nhà quan, không hề e ngại. khi bị bon nhà thống lí đánh đập, A Phủ gan lì quỳ chịu đòn trong cuộc xử kiện.
A Phủ là người yêu tự do, sống mạnh mẽ lạc quan. Dù rất nghèo, mồ côi, không thể nào lấy vợ nổi, thế nhưng ngày xuân A Phủ vẫn cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay, quả pao, quả yến đi tìm người yêu. Anh tự tạo dựng cho mình một không gian sống phóng khoáng gần gũi với thiên nhiên “quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruỗi ngoài gõ ngoài rừng” chăn bò, săn bắt, làm nương rẫy…
Ở A Phủ cõ sức sống tiềm tàng, mãnh liệt. Khi biết phải chịu chết oan ức, A Phủ đã khóc vì đau xót và bất lực. Anh gần như tuyệt vọng trong cơn khát, cơn đói và sự xiết chặt của những vòng dây trói trong mùa đông năm ấy. Thế nhưng, tình yêu cuộc sống, sức sống vẫn tiềm tàng trong anh. Khi được Mị cắt dây trói, dù kiệt sức ‘‘khuỵu xuống không bước nổi’’, nhưng A Phủ đã ‘‘quật sức vùng lên chạy ’’.
Thông qua cuộc đời và số phận của vơ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã miêu tả chân thực số phận cực khổ của người dân nghèo miền núi trước Cách mạng tháng 8. đồng thời phơi bày bản chất tàn bạo của giai cấp thống trị ở miền núi lúc đó.
Truyện thể hiện tình thương yêu, sự đồng cảm sâu sắc của nhà văn đối với thân phận đau khổ của người dân lao động miền núi trước Cách mạng. Tác phẩm lên tiếng tố cáo, lên án, phơi bày bản chất xấu xa, tàn bạo của giai cấp thống trị ở miền núi. Qua đó cũng thể hiện sư trân trọng và ca ngợi vẽ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khả năng cách mạng của nhân dân Tây Bắc…
Tô Hoài đã vận dụng triệt để thủ pháp nghệ thuật đối lập và tương cận trong xây dựng các nhân vật có nhiều điểm đặc sắc. A Phủ được miêu tả qua hành động còn Mị chủ yếu qua khắc họa tâm lí. Con người và cảnh vật hoàn toàn đối lập nhau.
Cách trần thuật linh hoạt, uyển chuyển. Cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự nhiên mà ấn tượng ; kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo.
Tô hoài có biệt tài về miêu tả cảnh thiên nhiên và phong tục tập quán của người dân miền núi. Ông tỏ ra am hiểu cuộc sống và phong tục của người miền núi. Không những thế, ông bám sát lối sống, lối sinh hoạt của họ, đi sau vào khắc họa đời sống tinh thần một cách sắc xảo, chân thực như nó vốn có. Ngôn ngữ sinh động chọn lọc và sáng tạo. Câu văn giàu tính tạo hình và thấm đẫm chất thơ…
Kết bài:
Vợ chồng A Phủ là một thành công lớn của nhà văn Tô Hoài và của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX. Tác phẩm đặt ra vấn đề số phận con người – những con người dưới đáy xã hội – những con người bị tước đoạt hết tài sản, bị bóc lột sức lao động và bị xúc phạm nặng nề về nhân phẩm. Giải quyết vấn đề số phận con người, Tô Hoài đã thức tỉnh họ, đưa họ đến với cách mạng và cho họ một cuộc sống mới. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài | 3,236 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Hướng dẫn
Giá trị và ý nghĩa truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Mở bài:
Kim Lân là một cây bút truyện ngắn vững vàng. Ông đã viết về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Trong cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng giai đoạn nào Kim Lân cũng có những tác phẩm hay. Truyện ngắn Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông.
Thân bài:
Truyện Vợ nhặt có tiền thân từ tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”. Tác phẩm được viết ngay sau cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và mất bản thảo. Sau hoà bình lập lại (1954) Kim Lân dựa vào phần cốt truyện cũ và viết lại thành truyện “Vợ nhặt”. Tác phẩm được in trong tập truyện “Con chó xấu xí”. Truyện tái hiện lại bức tranh nạn đói năm 1945. Qua đó, thể hiện tấm lòng cảm thông sâu sắc của nhà văn đối với con người trong nạn đói.
Lấy bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945, truyện kể về nhân vật chính có tên là Tràng, một chàng trai xấu xí, làm nghề kéo xe, tính tình rất hiền lành và tốt bụng. Giữa lúc nạn đói hoành hành, cái chết ở khắp mọi nơi, Tràng lại mang về nhà một cô vợ mà anh đã “nhặt” được trong một chuyến kéo thóc lên tỉnh. Mẹ tràng hết sức xót thương cho đôi vợ chồng trẻ, bà ngậm ngùi, thầm khóc mà chẳng biết làm gì hơn. Cái liều lĩnh của Tràng đã biến thành hạnh phúc, những con người nghèo khổ ấy cùng nương tựa vào nhau và cùng hi vọng vào tương lai. Tác phẩm kết thúc bằng hình ảnh lá cờ đỏ, niềm tin vào một tương lai tươi sáng hơn.
Vợ nhặt đã phẩn ánh đời sống của những con người bần cùng, lương thiện, trong cảnh đói kém khủng khiếp do bọn thực dân phong kiến gây ra. Họ đã cưu mang đùm bọc lấy nhau và hy vọng vào một cuộc sống mới tốt đẹp hơn mà cách mạng đem đến.
Ý nghĩa nhan đề “Vợ nhặt”
Truyện gây chú ý ngay từ đầu với nhan đề “Vợ nhặt”. Nhan đề chứa đựng nghịch lí, tạo ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc, vì đây không phải là cảnh lấy vợ đàng hoàng, cưới xin theo phong tục truyền thống, mà là nhặt được vợ.
Nhan đề cũng nói lên cảnh ngộ, số phận của Tràng và người đàn bà xa lạ. Qua đó phơi bày tình cảnh thê thảm và tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đói năm 1945. Đồng thời cũng cho thấy sự cưu mang đùm bọc yêu thương cũng như khát vọng, niềm tin vào tương lai cuộc sống, vào hạnh phúc của con người nghè khổ trong hoàn cảnh khốn cùng.
Tình huống truyện bất ngờ, độc đáo
Kim Lân đã rất thành công khi tập trung xây dựng một tình huống truyện bất ngờ, độc đáo và gây cấn trong truyện ngắn Vợ nhặt. Ngay lúc cuộc sống đang túng quẫn cùng cực, người chết như ngả rạ. Không khí chết chóc bao trùm khắp xóm làng. Không buổi sáng nào trong làng đi chợ hay đi làm đồng mà không gặp ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường.. Người sống thì đói khát, từng đoàn người “dắt díu, bồng bế nhau nẳm ngổng ngang khắp lều chợ”…dật dờ xanh xám “như những bóng ma”. Cảnh vật ảm đạm, thê lương giống như nơi địa phủ. Không khí vẫn lên mùi thối của rác rưởi, mùi gây của xác người. Từng đàn quạ bay vẩn cả bầu trời, gào lên thê thiết.
Từ bối cảnh trên Kim Lân đã sáng tạo ra một tình huống truyện thật độc đáo, éo le và cảm động. Giữa lúc đói khát khi cái chết cận đề đến như thế, Tràng nghèo khổ, xấu trai thô kệch, lại là dân ngụ cư mà lại có vợ theo về. Việc anh dắt vợ về khiến cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, lạ lẫm, vừa vui vừa lo lắng, bà cụ Tứ cũng vậy và ngay cả Tràng cũng thế, anh không ngờ đó là sự thật.
Tình huống truyện là tiếng nói riêng của nhà văn trong việc tố cáo thực dân phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp khiến phẩm giá con người thấp đến rẻ mạt.
Kim lân cũng rất thành công khi miêu tả kĩ lưỡng cuộc sống và tâm trạng của mỗi nhân vật trong truyện. Mỗi nhân vật là một góc nhìn của ông đối với cuộc đời. Trong bóng tối của thời đại, ông vẫn nhìn thấy ở đâu đó ánh sáng lấp lánh, kì diệu. Đó là ánh sáng của tình thương, sự độ lượng và niềm tin tưởng ở tương lai.
Đầu tiên là nhân vật tràng.
Tràng là người lao động nghèo khổ, tốt bụng và cởi mở. Hơn nữa, anh lại là dân ngụ cư, một con người không có thân phận. Cái tính tố bụng của anh thể hiện rõ nhất ở hành động giữa lúc đói khát cùng cực mà anh vẫn sẵn lòng đãi người đàn bà xa lạ ăn bánh đúc.
Dù việc lấy vợ là điều anh không bao giờ dám nghĩ tới nhưng trong lòng anh luôn khát khao hạnh phúc và có ý thức xây dựng hạnh phúc. Từ việc nói chơi thành thật, hạnh phúc đã tìm đến với anh trong hoàn cảnh khốn khó nhất. Anh chấp nhận điều đó với niềm vui thầm kín ở trong lòng. Ngay lúc cuộc sống không có một hứa hẹn nào tốt đẹp, anh lại sẵn sàng cưu mang người con gái lạ. nghĩa là anh không hề nghĩ cho riêng mình, anh nghĩ đến người khác, người nào đó có thể cùng anh đồng cam cộng khổ vượt qua kiếp nạn này.
Diễn biến tâm trạng của Tràng khi có vợ đã bộc lộ hết những phẩm chất ấy. Mới đầu, anh cũng phân vân, do dự. Anh chợn nghĩ “thóc gạo nảy đến cái thân mình cũng chẳng biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Sau đó tặc lưỡi cho qua, chấp nhận người con gái một cách thật lòng bằng câu “nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rối cùng về”. Hành động “liều” đưa đàn bà xa lạ về đã ẩn chứa niềm khát khao tổ ấm gia đình mà bấy lâu tràng nung nấu ở trong lòng.
Cái quyết định nhanh chóng và táo bạo ấy đã nói lên rằng, từ trong sâu thẳm của tiềm thức, con người vẫn khao khát hạnh phúc, bất chấp sự đe dọa của các đói, cái chết. Niềm khao khát đầy tính nhân bản ấy là trường tồn, là bất diệt.
Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc niềm khao khát hạnh phúc gia đình của nhân vật Tràng. Lúc bước đi bên cạnh người đàn bà, “mặt hắn có vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ cười một mình và hai con mắt sáng lên lấp lánh”. Khi về đến xóm ngụ cư, hắn “thích ý lắm, cái mặt thì cứ vênh vênh tự đắc với mình”. Đó là cái tự đắc của một người cũng có vợ như những người đàn ông khác. Đó là sự tự hào ta đây đã có vợ của gã trai nghèo khó. Cái dáng kênh kiệu ấy vừa buồn cười lại vừa hết sức đáng thương.
Tràng ngay lập tức tận hưởng cái hạnh phúc đường đột mà lớn lao ấy. Từ không đến có, nói chơi thành thật đã làm Tràng hoàn toàn thay đổi. Nó chuyển hướng cuộc đời anh sang một con đường mới. Đó là con đường của hi vọng và niềm tin.
Sáng hôm sau, Tràng thực sự thấy cuộc sống của mình từ đây đã thay đổi, một cuộc sống thực sự có ý nghĩa. Tràng cảm thấy “trong người êm ái lửng lơ như người từ trong giấc mơ đi ra”. Hắn chợt nhận ra “xung quanh mình cáo cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ”, “một nguồn vui sướng phấn chấn tràn ngập trong lòng”, “ Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”… Trong những giờ phút có tính chất bước ngoặc ấy, con người ta bỗng thấy mình trưởng thành, biết sống có trách nhiệm, bổn phận.
Kết thúc tác phẩm, trong cảnh vợ chồng phải ăn cháo cám “miếng cháo cám đắng chát và nghẹn bứ trong miệng” nhưng trong óc Tràng là hình ảnh lá cờ đỏ và Việt Minh phá kho thóc của Nhật chia cho người đói. Tràng đã nghĩ tới sự đổi thay cho dù vẫn chưa ý thức được đầy đủ về nó. Niềm hi vọng nhóm len trong anh từ sau khi nhìn thấy người ta rầm rộ phá kho thóc Nhật. Chính nó là nguyên nhân gây ra nạn đói. Giờ nó bị phá rồi nghĩa là con người sẽ có con đường thoát. Và gia đình tràng cũng thế. Tuy nó còn mờ nhạt và mong manh nhưng lại là hi vọng lớn nhất của Tràng ngay trong lúc này.
Nhà văn Kim Lân còn đặc biệt dành tình cảm lớn khi miêu tả nhân vật bà cụ Tứ.
Bà xuất hiện trong buổi tối chạng vạng với dáng vẻ chậm chạp, hai con mắt đã nhoèn… Đây là một người phụ nữ nghèo khổ, già cả, sống tha phương cầu thực trôi dạt về xóm ngụ cư.
Kim Lân đã khéo chọn những ngôn ngữ độc thoại nội tâm để diễn tả tâm trạng của bà cụ khi anh Tràng, con trai của bà dẫn về một người đàn bà: “Quái, sao lại có người đàn bà ở trong ấy nhỉ?, “Sao lại chào mình bằng u”, “Thế là thế nào?”… Rồi sau khi hiểu ra mọi cơ sự, bà ngậm ngùi, ai oán, tủi hờn: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi…Còn mình thì…”. Giọt nước mắt rưng rức trên khóe mi của bà cụ đã đi hết quãng đời cùng khổ. Bà khóc vì bà quá vui sướng khi đứa con trai độc nhất của bà có vợ, điều mà bà không dám nghĩ tới. Bà khóc vì nỗi lo âu chất chứa: “biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”
Thế nhưng, vượt lên trên tất cả, bà lão tỏ ra thấu hiểu, thương cảm và chấp nhận nàng dâu mới: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình”; “Ừ, thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Nghĩa là bà chấp nhận sống cùng sống, chết cùng chết, miễn là con trai của bà cũng có được vợ, có được hạnh phúc ở đời của nó. Còn bà, bà cũng làm tròn trách nhiệm đói với con trai và đối với người chồng quá cố.
Niềm vui và hi vọng tràn về đã khiến bà cụ tươi tỉnh khác thường. “Cái mặt bủng beo u ám rạng rỡ hẳn lên”. “Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau”. bà dặn dò, khuyên bảo, an ủi từng tí một để con trẻ an lòng mà thêm tin tưởng, gắn kết. bà còn tính đến chuyện tương lai, ngày những đứa trẻ ra đời: “Chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn… rồi may ra ông giời cho khá…biết thế nào được, ai giàu ba họ, ai khó ba đời… có may thì con cái chúng mày về sau”.
Tấm lòng nhân hậu, bao dung của bà cụ Tứ động lại trong bữa ăn sáng ngày hôm sau. Bà trịnh trọng khoản đãi con dâu mới bằng nồi cháo cám mà bà gọi vui là “chè khoán”. Bà đon đả tươi cười múc mời các con, cùng với câu nói an ủi động viên đầy lạc quan “Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để…xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy”.
Đây là chi tiết xúc động, nói lên tấm lòng của người mẹ nghèo thương con. Chi tiết có ý nghĩa hiện thực và nhân đạo: phản ánh chân thật cảnh sống khốn cùng của nhân dân ta do nạn đói mang đến (con người phải ăn cả cám). Qua đó cho thấy được vẻ đẹp đáng trân trọng của người dân nghèo khổ khi họ biết yêu thương, chia sẻ đùm bọc nhau, cùng nghĩ đến ngày mai tươi sáng.
Nhân vật người “vợ nhặt” tuy ít nói đến nhưng lại là tâm điểm củ mọi sự chú ý
Nhân vật người “vợ nhặt” là nạn nhân của nạn đói. Những xô đẩy dữ dội của hoàn cảnh đã khiến thị trở nên chao chát, chỏng lỏn, liều lĩnh và chấp nhận làm “vợ nhặt”. Tuy nhiên, sâu thẳm trong con người này vẫn khao khát một mái ấm gia đình. Ở thị, trước hết là khát vọng được sống, sau đó là khát vọng được hạnh phúc ngay trong con đói chưa biết bao giờ sẽ chấm dứt này. Có thể thấy, hạnh phúc có nghĩa là được sống. Sự sống và hạnh phúc dường như đã hòa nhập làm một, không tách rời.
Cái vẻ bẽn lẽn của thị trên đường cùng tràng về nhà, rồi cả cái vẻ ngập ngừng khi đứng bên giường mau chóng biến mất. Thay vào đó là một người đàn bà đúng mực. Thị tỏ ra chăm chỉ, siêng năng, quét dọn sạch sẽ, sắp xếp mọi thứ gọn gàng, lối ứng xử khéo léo, hiểu biết…
Chính thị đã mang đến cho gia đình nhỏ của Tràng một niền tin tưởng lớn. Đó không chỉ là niềm tin vào sự sống, hơn thế nữa là niềm tin trường tồn bởi các thế hệ tương lai. Cả ba nhân vật có niềm khao khát sống và hạnh phúc, niềm tin và hi vọng vào tương lai tươi sáng.
Thành công lớn nhất của nhà văn Kim Lân trong truyện ngắn Vợ nhặt là đã xây dựng nên tình huống truyện độc đáo. Cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn: dựng cảnh sinh động, có nhiều chi tiết đặc sắc. Nhân vật được khắc họa sinh động, đối thoại hấp dẫn thể hiện tâm lí tinh tế. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng chắt lọc và giàu sức gợi.
Vợ nhặt là bức tranh chân thực về đời sống của những con người bần cùng, lương thiện, trong cảnh đói kém khủng khiếp do bọn thực dân phong kiến gây ra. Họ đã cưu mang đùm bọc lấy nhau và hy vọng vào một cuộc sống mới tốt đẹp hơn mà cách mạng đem đến.
Vợ nhặt còn là bản cáo trạng tố cáo tội ác thực dân, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh chết đói. Chính cái đói đã bóp méo cả nhân cách con người. Giá trị con người bị phủ nhận khi chỉ vì cùng đường đói khát mà phải trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, bất chấp cả e thẹn.
Truyện cũng đề cao tình người, lòng nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau, khát vọng hướng tới sự sống và hạnh phúc. Đặc biệt, sự cưu mang đùm bọc của những con người nghèo đói là sức mạnh để họ vượt lên cái chết.
Kết bài:
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp 1945 mà còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí tinh tế, dựng đối thoại sinh động. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân | 2,723 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Ông già và biển cả của Hê-minh-uê
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Ông già và biển cả của Hê-minh-uê
Mở bài:
Hê-minh-uê (1988 – 1961) – là nhà văn lớn của nước Mĩ thế kỉ XX. Bằng những trang viết xuất sắc, Hê-minh-uê đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây, góp phần đổi mới lối viết truyện và tiểu thuyết. Với quan niệm “viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”, đề xướng và thực thi nguyên lý sang tác: “Tảng băng trôi”, Hê-minh-uê đã cho ra đời những tác phẩm bất hủ. Truyện ngắn Ông già và biển cả là tác phẩm kiệt xuất, thể hiện rõ nhất nguyên lý sáng tác của Hê-minh-uê
Thân bài:
Hê-minh-uê coi tác phẩm nghệ thuật như một “tảng bang trôi”. Phần nổi của ngôn từ không nhiều được viết một cách giản dị, hàm súc; phần chìm của nó rất lớn bởi đã gợi lên nhiều tầng ý nghĩa mà người đọc sẽ rút ra được tùy theo sự thể nghiệm và cảm hứng trước hình tượng. Thực thi nguyên lý ấy trong Ông già và biển cả, Hê-minh-uê đã sáng tạo ra một tác phẩm đa chiều, có nội dung triết lí sâu sắc.
Nhân vật trung tâm của tác phẩm là ông lão Xan-ti-a-gô làm nghề đánh cá. Đã 84 ngày qua ông không kiếm được con cá nào. Ngày thứ 85 có một con cá lớn mắc mồi. Con cá kéo ông và chiếc thuyền ra xa mãi, đến 3 ngày 2 đêm trêm biển cả.
Ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng. Dù rất mệt mỏi và choàng váng ông lão vẫn cố kéo nó vào gần hơn sau nhiều vòng lượn. Gần như đã kiệt sức, song ông cũng kìm được nó gần thuyền và phóng lao vào tim giết chết con cá.
Con cá kiếm quá to, dài hơn cả chiếc thuyền nên không thể đưa nó lên thuyền. Ông vô cùng vất vả buộc nó vào mạn thuyền và giương buồm về đất liền với suy nghĩ con cá sẽ là vận may cho mình. Không còn lương thực, vừa đói vừa khát, ông phải ăn tôm sống, uống nước một cách dè sẻn, và luôn tự động viên mình. Máu con cá kiếm loang ra đại dương, khoảng một tiếng sau, con cá mập đầu tiên lao tới.
Ý nghĩa nhan đề Ông già và biển cả:
Ông già và biển cả gợi sự đối kháng quyết liệt. “Ông già” là biểu tượng của sự già yếu và cô độc của con người nhỏ bé, còn “biển cả” là biểu tượng của sự hung dữ, rộng lớn vô bờ của đại dương. Bằng sức lực của lòng tin, sự khôn ngoan, sáng tạo cộng với lòng đam mê và kiên trì phi thường, cuối cùng chiến thắng thuộc về “Ông già”.
Đặt tên cho tác phẩm là Ông già và biển cả, Hê-minh-uê muốn đề cao sức mạnh, khát vọng chiến thắng của con người.
Ý nghĩa hình tượng con cá kiếm:
Con cá kiếm có sức mạnh phi thường và rất khôn ngoan. So với ông lão, nó tỏ ra vượt trội, khó mà khuất phục. Con cá kiếm được miêu tả là rất lớn và rất đẹp. nó kiêu hùng, bất khuất giữa đại dương, là ước mơ khuất phục của người đi biển.
Hình ảnh con cá kiếm mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Nó là biểu tượng của thiên nhiên vừa hiền hòa vừa hung dữ, đáng sợ. Nó cũng là biểu tượng ước mơ, khát vọng chiến đấu và chinh phục của con người. Con cá kiếm vừa to vừa đẹp ấy là biểu tượng cho những chông gai, thử thách trong cuộc đời. Cũng như đại dương, cuocj sống khong bao giờ là bằng phẳng. Muốn là người chiến thắng, muốn tồn tại thì phải chiến đấu. Thử thách càng lớn, chiến thắng càng thêm ý nghĩa.
Những biiểu tượng của đỉnh cao nghệ thuật trong tác phẩm:
Hình tượng ông lão đánh cá:
Ông là một người đánh cá rất lành nghề. ở ông lão luôn có khát vọng cao đẹp. Ông luôn muốn một lần trong đời săn đuổi con cá lớn nhất, đẹp nhất.
Ông lão là người có niềm tin mãnh liệt vào bản thân. Chưa bao giờ ông chịu khuất phục trước đại dương. Ở ông luôn tồn tại một ý chí và nghị lực phi thường.
Ông lão Xan-ti-a-gô chính là biểu tượng đẹp đẽ về CON NGƯỜI: khát vọng, tin tưởng và không ngừng chiến đấu để chiến thắng.
Qua hình tượng ông lão đánh cá, tác giả đề cao sức mạnh của con người: trong cuộc đấu (ông lão và con cá kiếm đều dũng cảm, mưu trí, cao thượng nhưng chiến thắng cuối cùng vẫn thuộc về con người). Nó thể hiện niềm tin vào nghị lực, niềm tự hào về con người: “Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”.
Chính điểm đó là sự biểu hiện sâu sắc nguyên lí “Tảng băng trôi ” trong tác phẩm Ông già và biển cả. Phần nổi của tảng băng, tác giả kể lại truyện ba ngày hai đêm ra khơi đánh cá của ông lão Xan-ti-a-gô. Trong khung cảnh mênh mông trời biển, chỉ có một mình ông lão, khi chuyện trò với mây nước…khi đuổi theo con cá lớn, khi đương đầu với đàn cá mập đang xông vào xâu xé con cá kiếm của lão, để rốt cuộc kéo vào bờ con cá chỉ còn trơ xương. Phần chìm của tảng băng, tác giả biểu hiện khát vọng tìm kiếm con cá lớn nhất, đẹp nhất đời của ông lão.
Ông lão Xan-ti-a-gô hay cũng chính là hành trình nhọc nhằn và dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô tình. Đấy là thể nghiệm về thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi ước mơ sáng tạo, rồi trình bày nó trước mắt người đời. Cuộc chiến đấu kinh hoàng và đầy hiểm nguy của ông lão thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa con người và thiên nhiên. Thiên nhiên dữ dội nhưng phải chiến thắng nó mưới có thể lấy được những thành quả lớn lao. Nhìn vào hình ảnh con cá kiếm khổng lồ khi đến bờ chỉ còn trơ bộ xương nhưng ông lão đã chiến thắng.
Kết bài:
Khép lại câu chuyện dài cũng là khép lại một hành trình. Ông lão nằm vật trên bãi biển, tay chân giang ra như tượng chúa là biểu hiện của sự thỏa mãn, của chiến thắng vẻ vang. Thế nhưng, người đọc nhớ mãi hình ảnh ông lão đánh cá đơn độc, dũng cảm săn đuổi con cá lớn nhất đời. Đó chính là một biểu tượng về vẻ đẹp của ước mơ và hành trình gian khổ của con người để biến ước mơ thành hiện thực. Sự chuyển hóa từ bức tranh với những nét trần trụi, chân thực, giản dị sang một lớp nghĩa hàm ẩn, rộng lớn, khiến cho người đọc không ngừng ngạc nhiên và thích thú là phong cách nổi bậc trong tác phẩm của Hê-minh-uê. | Phân tích ý nghĩa và giá trị truyện ngắn Ông già và biển cả của Hê-minh-uê | 1,217 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Mở bài:
Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp có đóng góp rất lớn đối với văn học Việt Nam hiện đại, là cây bút viết tùy bút xuất sắc. Sở trường của Nguyễn Tuân là về tùy bút và ký. Tác phẩm của Nguyễn Tuân luôn thể hiện phong cách độc đáo, tài hoa, sự hiểu biết phong phú nhiều mặt và vốn ngôn ngữ, giàu có, điêu luyện. Người lái đò sông Đà (trích Tỳ bút sông Đà) là tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Tuân sau Cách mạng. Tác phẩm thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật ngòi bút tài hoa, uyên bác và sự chuyển biến tích cực trong tâm hồn của tác giả đối với quê hương, đất nước.
Thân bài:
Tác phẩm Người lái đò sông Đà được in trong tập Sông Đà (1960), là kết quả trong chuyến đi thực tế tới miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc. Tác phẩm đã cho ta nhận ra diện mạo của một nhà văn Nguyễn Tuân mới mẻ, khát khao được hòa nhập với đất nước với cuộc đời. Qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và thơ mộng, người lái đò bình dị mà trí dung tài hoa, Nguyễn Tuân ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc của Tổ quốc.
Hình tượng sông Đà:
Sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả như một nhân vật có hai tính cách trái ngược vừa hung bạo, dữ dằn vừa trữ tình, thơ mộng.
Sự hung bạo của sông Đà
Vẻ hung bạo, dữ dằn của sông Đà là biểu tưởng về sức mạnh và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc. Sự dữ dằn của sông Đà được biểu hiện sâu sắc nhất qua hình tượng đá. Đá sông Đà vô cùng hiểm trở, chứa đựng hiểm nguy khủng khiếp.
Đá “dựng vách thành”, “chẹt” lòng sông “như cái yết hầu” làm cho mặt sông chỗ ấy vừa hẹp, vừa tối lại rất lạnh vì “chỉ đúng ngọ mới có mặt trời”. Cả một “chân trời đá” làm nên diện mạo của sông Đà. Hìn ảnh đá sông Đà được nhà văn khắc họa hết sức sinh động và kì quái. Mặt hòn nào trông cũng “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”, “méo mó” . Đá mai phục dưới lòng song hàng ngàn năm được nhân hóa, nổi hình nổi tướng “bệ vệ”, “oai phong lẫm liệt”, “nhổm dậy”, “cứ chực vồ lấy thuyền”,…
Sự dữ dằn, hưng bạo của sông Đà còn ở sóng và nước cuồn cuộn. Quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số là cảnh “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”. Lúc nào chúng cũng như muốn “đòi nợ xuýt” bất cứ người lái đò nào. Dòng nước dữ kết hợp với đá ngầm, đá tửng tạo thành những hút nước ghê rợn. Ngay tại những chỗ ấy, mặt nước “giống như cái giếng bê tong thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”. Nước ở đây thở và kêu như “cửa cống cái bị sặc” sẵn sang nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào. Có những cái thuyền đã bị cái hút nước đó hút xuống, truyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.
Sông Đà đặc biệt hung bạo khi những yếu tố trên kết hợp với nhau tạo ra những thạch trận, phòng tuyến với nhiều cửa tử, nhiều chiến thuật đánh khác nhau, nhiều đòn đánh thâm hiểm. Nó như một loài thủy quái khổng lồ, nham hiểm mang diện mạo và tâm địa như một thứ kẻ thù số một của con người.
Vẻ trữ tình, thơ mộng của sông Đà
Đà giang chỉ thực sự trữ tình khi chảy qua chợ Bờ và để lại những hóc đá thác xa xôi trên thượng nguồn. Dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc người thiếu nữ Tây Bắc: “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở như hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân…”.
Màu nước Sông Đà biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích”, mỗi độ thu về nó lại “ lừ lừ chin đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa…”
Sông Đà có vẻ đẹp rất gợi cảm. Mỗi lần vượt ra khỏi khu rừng rậm, nhìn thấy ánh sáng lấp lóe, tác giả gặp lại dòng sông như gặp lại cố nhân: “vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng… nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân”.
Dòng sông gợi vẻ đẹp của một áng Đường thi bởi “màu nắng tháng ba yên hoa tam nguyệt”. Cảnh vật hai bờ sông vừa “lặng tờ” hoang sơ nhuốm màu cổ tích. “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích cổ xưa”. Hai bên bờ, cuộc sống yên bình, trù phú, tràn trề nhựa sống. Một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa…Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp… Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm…
Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân đã thể hiện tình yêu tha thiết đối với thiên nhiên đất nước. Với ông thiên nhiên cũng là tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa. Cảm nhận và miêu tả sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng Sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp người lao động trong cuộc sống mới.
Hình ảnh ông lái đò
Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra đoạn văn tràn đầy không khí trận mạc, tưởng tượng ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa ông lái đò với “bầy thủy quái sông Đà”, để từ đó làm nổi bật hình ảnh người lái đò, một người lao động mới mang vẻ đẹp khác thường.
Ông lái đò là người lao động trí dũng:
Ông là người từng trải, giàu kinh nghiệm hiểu biết sâu sắc về luồng lạch sông Đà. Ông như vị tướng chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, tài trí. Bao năm tùng trải, đi về với sông Đà, ông biết bọn đá mai phục và bày thạch trận trên sông với đám đá tảng chia ba hàng tiền vệ, có hai còn canh cửa như là để dụ đối phương; những boong-ke chìm ở tuyến hai, pháo đài nối ở tuyến ba; với chiến thuật đánh “khuýp quặt vu hồi” và quyết tâm chiến lược “phải tiêu diệt thuyền trưởng và thủy thủ ngay ở chân thác”…
Ông lái “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”, “thuộc quy luật phục kích” của chúng nên linh hoạt thay đổi chiến thuật để lần lượt vượt qua từng phòng tuyến kẻ thù.
Ông dũng cảm đối đầu trong cuộc chiến không cân sức với sông Đà:
Sông Đà là thiên nhiên lớn lao, dữ dội và hiểm độc với sức mạnh được nâng lên hang thần thánh có sóng nước hò reo quyết vật ngửa mình thuyền, có đá ngàn năm mai phục, bày “thạch trận” trên sông, thác gầm rống, reo hò “làm thanh viện cho đá”, sóng nước như thề quân liều mạng đánh những đòn hiểm độc.
Ông đò chỉ là một con người bé nhỏ, không có phép màu, vũ khí chỉ là chiếc cán chèo thô sơ “trên một cái thuyền đơn độc” hết chỗ lùi, nhưng vẫn sẵn sang đối mặt với thác dữ, chinh phục mọi cửa tử, cửa sinh, vượt qua trận thủy chiến ác liệt với đá nổi đá chìm với những trùng vi thạch trận và những phòng tuyến đầy nguy hiểm để chiến thắng thiên nhiên.
Ông lái đò là một người nghệ sĩ tài hoa trê sông nước.
Ông đã đối đầu với ghềnh thác cuồng bạo bằng sự tự tin, ung dung của người nghệ sĩ; đã bình tĩnh vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan. Với “tay lái hoa” ông đã điều khiển con thuyền vượt qua ba trùng vi thạch trận Sông Đà:
Ở trùng vi thạch trận thứ nhất:
Sông Đà mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử và một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn. Bọn đá đứa thì “hất hàm”, đứa thì “thách thức” khiêu chiến, nước thác hò reo “làm thanh viện cho đá”, “mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”, đánh những đòn hiểm độc vào ông lái.
Ông lái đò đã bị thương nhưng cố nén chịu nỗi đau thể xác, “hai chân vẫn kẹp chặt cuống lái”, “mặt méo bệch” nhưng “tiếng chỉ huy vẫn ngắn gọn, tỉnh táo” đưa thuyền vượt qua nguy hiểm.
Sông Đà tăng thêm nhiều cửa tử còn cửa sinh lại ở phía hữu ngạn. Dòng thác thì hồng hộc tế mạnh lên như hùm beo hòng nuốt sống con thuyền.
Ông lão chủ động đổi chiến thuật: “nắm lấy bờm sóng…cưỡi lên thác sông Đà như cưỡi hổ”. Bọn đá xô ra, định lôi con thuyền vào tập đoàn cửa tử, nhưng ông nhớ mặt bọn này, chỗ ông “rảo bơi”, chỗ “đè sấn”, chỗ “chặt đôi ra” để mở đường tiến. Bọn đá chỉ còn biết thất vọng, tiu nghỉu cái mặt xanh lè nhìn ông lão đưa con thuyền lọt vào cửa sinh an toàn.
Ở trùng vi thạch thứ ba:
Sông Đà bên phải, bên trái đều là luồng chết, luồng sống duy nhất nằm giữa dòng sông do bọn đá hậu vệ trấn giữ. Ông lái kiên cường, mưu trí, như hòa với con thuyền làm một, “phóng thẳng” chọc thủng cửa giữa, vượt qua tất cả các vòng vây, con thuyền “như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”. Thế là hết thác.
Cuối cùng con người đã chiến thắng sức mạnh thánh thần của thiên nhiên. Thác dữ không chặn được con thuyền, ông lái đò đã thuần phục được sự hung hãn của dòng sông. Nguyên nhân làm nên chiến thắng đó chính là sự ngoan cường, chí quyết tâm, lòng dũng cảm và nhất là kinh nghiệm sông nước tuyệt vời của ông lái.
Tâm thế ung dung, bình thản, thư thái sau khi vượt thác:
Sau khi đọ trí, thi tài với con sông, vượt qua ba trùng vi thạch trận đầy khó khan, nguy hiểm, ông lại ung dung “đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam” và say sưa nói về các loài cá mà không hề bàn thêm một lời nào về chuyện vượt thác. Ông đã nhìn thử thách bằng một cái nhìn thật giản dị và lãng mạng nên chiến thắng vừa qua nơi ải nước “không có gì là hồi hộp đáng nhớ”.
Hình ảnh ông lái đò cho thấy Nguyễn Tuân đã tìm được nhân vật mới: những con người đáng trân trọng, ngợi ca, không thuộc tầng lớp đài các “Vang bóng một thời” mà là những người lao động bình thường – chất “vàng mười của Tây Bắc”.
Nguyễn Tuân đã rất thành công với nghệ thuật biểu hiện đặc sắc khi tái hiện sự hung dữ và vẻ đẹp của sông Đà bằng những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị. Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh, có sức gợi cảm cao. Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu. Nguyễn Tuân chẳng khác nào một viên tướng tài hoa điều khiển, sắp xếp đoàn binh ngôn ngữ thực hiện bài binh bố trận tạo nên nên sức mạnh gợi tả của tác phẩm.
Kết bài:
Tác phẩm Người lái đò Sông Đà đã giới thiệu, khẳng định, và ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam. | Phân tích ý nghĩa và giá trị tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân | 2,109 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị văn bản Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị văn bản Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Mở bài:
Lê Hữu Trác (1724 – 1791) là một danh y, không chỉ chữa bệnh mà còn soạn sách, mở trường dạy nghề thuốc để truyền bá y học. Tuy là người tinh thông y học, dịch lý, văn chương, nhưng ông được biết đến nhiều hơn với vai trò lang y bốc thuốc cứu người. Văn bản Vào Phủ chúaa Trịnh trích trong tập Thượng Kinh kí sự, một tập kí xuất sắc của Lê Hữu Trác.
Thân bài:
Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh mang giá trị hiện thực sâu sắc. Bằng tài quan sát tinh tế và ngoid bút ghi chép chi tiết, chân thực, sắc sảo, tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa trịnh, đồng thời cũng bộc lộ thái độ coi thường danh lợi.
Sự cao sang, quyền uy cùng cuộc sống hưởng thụ cực điểm của nhà chúa
Quang cảnh nghiêm mật và xa hoa, tráng lệ trong phủ chúa:
Phủ chúa là nơi hết sức nghiêm mật, canh phòng chặt chẽ. Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa với “những dãy hành lang quanh co nố nhau liên tiếp”. Ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, “ai muốn ra vào phải có thẻ”. Vườn hoa trong phủ chúa “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”… “Đến nội cung thế tử phải qua năm, sáu lần trướng gấm, trong có ghế rồng sơn son thiếp vàng, màn che ngang sân, “xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”…
Phủ chứa được trang hoàng hết sức xa hoa, tráng lệ. Bên trong phủ là những “đại đường”, “gác tía”, với võng điều, đồ nghi trượng sơn son thiếp vàng và “những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy”.
Mọi thứ đều làm rất công phu, nhiều công sức. Một gác điếm làm bên cái hồ, có những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ. Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp.
Quang cảnh ở phủ chúa cực kỳ tráng lệ, lộng lẫy, không đâu sánh bằng.
Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa.
Khi tác giả lên cáng vào phủ theo lệnh chúa thì có “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường”. Trong phủ chúa “người giữ cửa truyền báo rộn rang, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Lời lẽ nhắc đến chúa Trịnh và thế tử đều phải cung kính, lễ độ, bằng các mĩ từ: “Thánh thượng”, “hầu mạch Đông cung thế tử”… Tuyệt đối không nhắc đến từ thuốc vì đó là một tù cấm kị. Số là ở đây kiêng danh từ “thuốc” và thường gọi thuốc là “trà” vì thái tử bệnh rất nặng
Chúa Trịnh luôn luôn có “phi tần chầu chực” xung quanh. Nội cung trang nghiêm đến nổi tác giả phải “nín thở đứng chờ ở xa”, “khúm núm đến trước sập xem mạch”.
Thế tử có đến bảy, tám thầy thuốc phục dịch và lúc nào cũng có “mấy người hầu đứng hai bên”…
Cung cách sinh hoạt trong phủ chú Trịnh với nhiều lễ nghi, khuôn phép, cách nói năng, người hầu kẻ hạ,…Phủ chúa là nơi quyền uy tối thượng, uy thế lấn lướt cả cung vua.
Thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ của Lê Hữu Trác:
Đứng trước cảnh phủ chúa xa hoa lộng lẫy, tấp nập người hầu kẻ hạ, tác gải nhận xét “bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳng người thường”, “Cả trời Nam sang nhất là đây”. Đường vào nội cung thế tử được tác giả cảm nhận “ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả”. Nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét “vì thế tử ở trong chốn màn the trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”.
Ông dửng dung trước những quyến rũ vật chất, không đồng tình trước cuộc sống no đủ, tiện nghi nhưng thiếu khí trời và không khí tự do.
Lúc đầu, có ý định chữa bệnh cầm chừng để tránh bị công danh rang buộc. Sau đó vì chữ trung, trách nhiệm, vì lương y nên ông thẳng thắng đưa ra cách chữa đúng bệnh, kiên trì giải thích, dù khác ý với các quan thái y.
Vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Lê Hữu Trác: một thầy thuốc giỏi, bản lĩnh, giùa kinh nghiệm, ý đức cao, xem thường danh lợi, quyền quý, yêu tự do và nếp sống thanh đạm.
Kết bài:
Lê Hữu Trác tỏ ra có tài quan sát tinh tế, sâu sắc vô cùng trong bài kí Vào phủ chúa Trịnh. Dường như ông tường tận tất cả trong phủ chúa chỉ sau một chuyện đi. Ngòi bút ghi chép cũng hết sức tài tình, chi tiết, chân thực, sắc sảo, lối kể hấp dẫn hài hước. Bài kí kết hợp giữa văn xuôi và thơ làm tăng chất trữ tình cho tác phẩm, góp phần thể hiện kính đáo của người viết.
Một số câu hỏi và đề luyện tập
1. Dựng lại chân dung Lê Hữu Trác qua đoạn trích
2. Nêu suy nghĩ của anh/chị về hình ảnh thế tử Trịnh Cán
3. Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?
5. Cách chuẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kể đơn sơ cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?
6. Theo anh/chị bút pháp ký sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó. | Phân tích ý nghĩa và giá trị văn bản Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác | 1,007 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Mở bài:
Lưu Quang Vũ là một tài năng đa đạng, là nhà viết kịch thành công nhất của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX. Ngoài kịch, ông còn sáng tác nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, vẽ tranh nhưng kịch là có những đóng góp đặc sắc nhất. Kịch của ông sắc sảo và dữ dội vì vậy ông trở thành hiện tượng đặc biệt của sân khấu, là nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Hồn trương ba, da hàng thịt là vở kịch được viết năm 1981, nhưng đến năm 1984 mới ra mắt công chúng. Đó là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ. Từ một cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng thành một vở kịch nói hiện đại đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lý và nhân văn sâu sắc.
Thân bài:
Đoạn trích từ cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, diễn tả sự đau khổ và dằn vặt và quyết định cuối cùng của hồn Trương Ba.
Trương Ba là một người làm vườn giỏi, giỏi đánh cờ, rất yeu thương vợ và con cháu. Do thái độ làm việc tắc trách của Nam Tào, mà Trương Ba phải chết bất ngờ. Vì yêu quý Trương Ba mà Đế Thích (một vị tiên giỏi cờ) đã hóa phép cho hồn Trương Ba sống lại. Hồn Trương Ba thì nguyên vẹn nhưng phải mượn xác anh hàng thịt để trú ngụ. Trú ngụ trong xác anh hàng thịt, Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái: Lí trưởng hạch sách, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cũng cảm thấy xa lạ… Bản thân Trương Ba đau khổ vì sống trái tự nhiên, giả tạo.
Đặc biệt thân xác anh hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và do những nhu cầu vốn không phải của chính bản thân ông. Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và sự phiền toái do mượn thân xác của kẻ khác. Trương Ba quyết định trả lại xác cho anh hàng thịt và xin cho cu Tị sống lại còn mình chết hẳn, không nhập vào thân xác ai nữa.
Qua vở kịch, tác giả khẳng định: Cuộc sống là quý giá nhưng phải sống đúng với mình, hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Tuy nhiên, con người cũng phải đấu tranh với nghịch cảnh để chống lại sự tầm thường, dung tục để hoàn thiện nhân cách.
Từ một câu chuyện cổ tích, Lưu Quang Vũ đã nhận thấy sự tương đồng giữa ý nghĩa câu chuyện và cuộc sống hiện tại của con người. Nhân vật trương Ba là một hóa thân tài tình của nhà văn. Lưu Quang Vũ đã để cho nhân vật tự đấu tranh kịch liệt. Những lực lượng khác từ bên ngoài tuy có tác động nhưng rất mờ nhạt. Chủ đề câu chuyện được bộc lộ rõ nhất qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt.
Ý nghĩa cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt
Sự hoán đổi thân xác và linh hồn giữa trương Ba và anh hàng thịt là một việc tình cờ, là lỗi của các vị thần. Sự nhầm lẫn đó đã khiến cho hồn Trương Ba Trong thân xác hàng thịt đã vô cùng đau khổ, bức bối, chán nản, ngày càng thấy xa lạ với mọi người, với chính mình, nên đã cố gắng thoát ra khỏi xác.
Hồn khinh bỉ, xem thường xác hàng thịt, xem nó chỉ là cái vỏ bên ngoài “âm u đui mù” “ không cảm xúc” “không tư tưởng không ý nghĩa gì” chỉ biết đến những hưởng thụ thấp kém. Điều đó khẳng định linh hồn “có một đời sống riêng nguyên vẹn, trong sạch thẳng thắng”. Hồn Trương Ba luôn phủ nhận sự lệ thuộc vào thân xác vốn không phải là của mình và tìm cách thoát ra khỏi nó để tồn tại độc lập.
Đó là sức mạnh âm u đui mù ghê gớm của thân xác có thể lấn át và điều khiển linh hồn. Xác tỏ ra lấn lướt, ranh mãnh, sỉ nhục hồn, dồn hồn Trương Ba vào thế đuối lí, phải chấp nhận thực tại. Trước những lí lẽ ti tiện của xác thịt, hồn Trương Ba đã ngậm ngùi thấm thía nghịch cảnh của mình và bế tắc, tuyệt vọng, đành nhập trở vào xác hàng thịt.
Xây dựng cuộc đấu tranh kịch liệt ấy, Lưu Quang Vũ muốn khẳng định Hồn Trương Ba là ẩn dụ cho linh hồn con người với những giá trị tinh thần, đạo đức thanh cao chân chính. Xác hàng thịt là ẩn dụ về thể xác phàm tục của con người với những ham muốn bản năng, tầm thường, dung tục.
Từ cuộc đối thoại đó tác giả đã gửi những thông điệp đầy ý nghĩa triết lí. Con người là hòa hợp thống nhất giữa linh hồn và thể xác. Thể xác có tính độc lập tương đối, nó có tiếng nói riêng có khả năng tác động vào linh hồn.
Hồn Trương Ba có cuộc sống hổ thẹn khi phải sống chung với phần thể xác dung tục và bị sự dung tục đồng hóa. Từ đó đó tác giả cảnh báo: khi con người phải sống dung tục thì tất yếu cái dung tục sẽ ngự trị, sẽ thẳng thế, sẽ lấn át và sẽ tàn phá những gì trong sạch, đẹp đẽ, cao quý trong con người. Vì thế phải đấu tranh để loại bỏ sự dung tục, giả tạo để cuộc sống trở nên tươi sáng hơn, đẹp đẽ và nhân văn hơn.
Ý nghĩa cuộc đối thoại giữa hồn Trưng Ba và người thân
Vì phải thỏa mãn những đòi hỏi của xác hàng thịt, hồn Trương Ba dần dần thay đổi. Bởi thế ông bị người thân xa lánh, sợ hải, thậm chí ghét bỏ, ghê tởm…
Vợ Trương Ba: Thấy rõ nhất sự thay đổi của ông “ông bây giờ còn biết đến ai nữa… ông đâu còn là ông Trương ba làm vườn ngày xưa”. Điều đó khiến hồn Trương ba buồn bã, đau khổ, định bỏ nhà đi và nhường Trương Ba cho vợ anh hàng thịt.
Cái Gái: tâm hồn tuổi thơ vốn trong sạch, không chấp nhận sự tầm thường, dung tục. Nó trách móc: “bàn tay giết lợn” đã làm gãy cái diều, “ bàn chân to bè” giẫm nát cả cây… và lên án, xua đuổi “ ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tề! Cút đi!”
Cô con dâu: thông cảm xót thương cho tình cảm trớ trêu của bố chồng “con biết bây giờ thầy khổ hơn xưa nhiều lắm”. Nhưng chị cũng lo sợ, đau đớn khi cảm thấy bố mình thay đổi “ Mỗi ngày…. Một đổi khác dần, mất mát dần” không còn “ hiền hậu tốt lành như xưa”
Trước phản ứng của mọi người, hồn Trương Ba hiểu ra những đau khổ mình đã, đang và sẽ gây ra cho họ. Ông trở thành kẻ xa lạ, thậm chí đáng ghét trong mắt người thân. Sự tồn tại của ông trở nên vô nghĩa. Trương Ba rơi vào tình trạng nguy kịch, sự bế tắc và tuyệt vọng.
Khi những đau khổ, sự tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, hồn Trương Ba cảm thấy rất hụt hẫng, cô đơn. Cả thế giưới dường như quay lưng lại với ông. Tình huống kịch thúc đẩy Trương Ba phải đi đến quyết định dứt khoát. Trương Ba quyết định gặp Đé Thích để hỏi cho ra lẽ.
Giưa Đế Thích và Trương Ba có quan niệm khác nhau về sự sống. Đế Thích quan niệm về sự sống rất đơn giản. Với Đế Thích, sống chỉ để được sống (với hàm nghĩa là không chết). Chính Trương Ba cũng đã chất vấn Đế Thích điều này: “Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”. Với quan niệm đó nên Đế Thích đã cho Trương Ba sống nhờ xác hàng thịt. Mục đích của Đé Thích là để Truwong ba dduwwocj sống tiếp, còn sống như thế nào ông không quan tâm đến.
Khi Trương Ba đòi rời bỏ thân xác bẩn thỉu ấy, Đế Thích còn đề nghị sửa sai bằng cách cho Trương Ba sống nhờ xác cu Tị. Đó cũng là một đè nghị đối với trương Ba chẳng có gì khác biệt.
Đế Thích là đại điện cho một số người vẫn đang sống giả tạo mà không ảnh hưởng gì. Họ mạc nhiên với cuộc sống. Họ vô tư sửa cái sai của cuộc sống bằng cái sai khác. Họ không quan tam đến quá trình vận động, sụ tương thích giữa các vật thể. Đối với họ, sự tồn tại theo nghĩa chân thật nhất mới có giá trị. Cái chân thật mafhoj tôn quý ấy không có gì khác ngoài bản năng hết sức đê tiện và thấp hèn.
Khác với Đế Thích, Trương Ba có quan niệm hoàn toàn khác. Với ông, con người phải sống hài hòa giữa thể xác và linh hồn không thể “bên trong một đàng bên ngoài một nẻo”. Không thể sống vô trách nhiệm với mình như một kiểu tồn tại được. Không thể sống lệ thuộc vào người khác dù là của cải chứ đừng nói đến thể xác. Sống nhờ đồ đạc, của cải của người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt.!
Mâu thuẫn trong quan niệm của hồn Trương Ba và Đế Thích về ý nghĩa cuộc sống đã tô đậm chủ đề tác phẩm. Được sống làm người là quí giá, nhưng được sống là chính mình, sống trọn vẹn hài hòa giữa thể xác và tâm hồn còn quí giá hơn nhiều.
Ý nghĩa quyết định cuối cùng của Trương Ba:
Đế Thích khuyên Trương Ba hãy chấp nhận cuộc sống hiện tại vì cho rằng cảnh ngộ của Trương Ba không phải là cá biệt. Đế Thích lại muốn sửa sai bằng cách đề nghị hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị. Rố cuộc, mục đích của Đế Thích là muốn Trương Ba phải sống.Không muốn sống bằng thân xcs anh hàng thịt thì sống bằng thân xác của cu Ti, một em bé mới vừa chết. Tâm ý của Đế Thích là rất tốt. Nhưng cách thực hiện thì mù quáng, vô trách nhiệm.
Hồn Trương Ba kiên quyết từ chối không sống nhờ thân xác ai cả và cũng không chấp nhận cách sửa sai của Đế Thích. Bởi “có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc đúng khác.” Việc đúng đắn ấy là việc gì không ai biết nhưng chắc chắn sẽ tố đẹp hơn, cao thượng hơn.
Cuối cùng Trương Ba xin Đế Thích làm cho cu Tị sống lại còn mình thì trả xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết vĩnh viễn. Cu Ti số đã tận. nhưng nhờ lòng tốt của Trương Ba mà sống lại. Qua đó ta thấy Trương Ba là người giàu lòng nhân ái, đầy trách nhiệm và tình thương với bản thân và với mọi người xung quanh. Dũng cảm chiến đấu chống lại sự giả tạo và dung tục bảo vệ quyền được sống vẹn toàn, hợp với lẻ tự nhiên để hoàn thiện nhân cách.
Từ cuộc đối thoại trên, tác giả cũng gửi gắm những quan niệm đúng đắn về hạnh phúc và về lẽ sống – chết ở đời. Con người là một thể thống nhất hồn xác phải hài hòa, không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Con người phải sống là chính mình, thật là mình, sống hòa hợp giữa hồn và xác. Đó mới là hạnh phúc!
Điều đó cũng có nghĩa là khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thể xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác, và cũng không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Phải sống chân thật, sống vì mọi người vì hạnh phúc và sự tốt đẹp của con người. Đó mới là lẽ sống cao đẹp.
Màn kết của vở kịch: khẳng định sự bất tử của linh hồn
Hồn Trương Ba trả lại xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết để linh hồn được trong sạch và hóa thân vào các sự vật thân thương, tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những người thân yêu của mình. Cái Gái và cu Tị ăn trái na, và gieo hạt na vào đất “cho nó mọc thành cây mới ông nội tơ bảo vậy. Những cây sẽ nói nhau mà lớn khôn. Mãi mãi…”. Cuộc sống lại tuần hoàn theo quy luật của muôn đời.
Màn kết giàu chất thơ sâu lắng đã đem lại âm hưởng thanh thoát, lạc quan cho bi kịch đồng thời truyền đi thông điệp về sự chiến thắng của Chân, Thiện, Mỹ và sự sống đích thực, giàu giá trị nhân văn.
Lưu Quang Vũ không những sáng tạo lại cốt truyện dân gian mà còn kí thác vào đó triết lí nhân sinh của mình. Tác phẩm rất thành công trong việc xây dựng đối thoại, giàu kịch tính, đậm chất triết lí tạo nên chiều sâu cho vở kich. Hành động của nhân vật phù hợp với tính cách, góp phần hoàn thiện tính cách nhân vật và làm phát triển tình huống truyện. Nghệ thuật dựng cảnh, những đoạn độc thoại nội tâm sống động làm nên giá trị bất hủ của vở kịch này.
Kết bài:
Dựa vào câu chuyện dân gian nhưng tác phẩm lại đặc ra nhiều vấn đề mới mẻ, hiện đại, có tư tưởng triết lí và nhân văn. Từ việc tắc trách của Nam Tào mà Trương Ba, một người làm vườn giỏi, giỏi cờ phải chết một cách bất ngờ. đến việc hồn Trương Ba đau khổ xin với Đế Thích cho ông ta chết hẳn là một sự vận động toàn diện, thánh thiện của con người. Qua đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, Lưu Quang Vũ muốn gửi tới người đọc thông điệp. Được sống làm người làm quí giá thật, nhưng được sống đúng là chính mình, sống trọn vẹn với giá trị vốn có và theo đuổi còn quí giá hơn. Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hòa giữa thể và tâm hồn. Con người luôn phải đấu tranh với nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục, để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý. | Phân tích ý nghĩa và giá trị vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ | 2,553 | |
Phân tích ý nghĩa và giá trị đoạn trích Chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Ý nghĩa và giá trị đoạn trích Chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Mở bài:
Nguyễn Du là một thiên tài văn học hiếm có trong lịch sử Việt Nam. Truyện Kiều là tác phẩm văn học vĩ đại, kiệt xuất của Nguyễn Du. Tác phẩm là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay. Đoạn trích Chị em Thúy Kiều là phầm mở đầu của truyện Kiều. Đoạn trích giới thiệu cuộc sống và vẻ đẹp tuyệt sắc của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân, khẳng dịnh tài năng miêu tả người đạt đến trình độ siêu việt của thiên tài Nguyễn Du.
Thân bài:
Bức tranh vẻ đẹp hai chị em Thúy Kiều không vượt khỏi khuôn khổ thi pháp văn học trung đại, thế nhưng Nguyễn Du đã có một bước tiến vượt bậc trong việc lựa chọn phương thức và mức độ biểu đạt. Có thể nói, ông đã phủ một lớp màu lung linh lên một bức tranh vốn đã toàn bích.
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du giới thiệu chân dung hai chị em:
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiếu là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Con gái đầu lòng trong quan niệm cũ vốn không có gì đáng quý bởi trong xã hội phong kiến vốn trọng nam khinh nữ. Nhà Vương ông lại có đến hai nàng. Thế nhưng, những giá trị đích thực đã đánh tan định kiến. Từ lâu vẻ đẹp cốt cách và tinh thần của Thúy Kiều và Thúy Vân là niềm tự hào của Vương ông và Vương bà. “Đầu lòng hai ả tố nga” là tiếng nói đầu tiên và mạnh mẽ của thi hào Nguyễn Du nhằm muốn chống lại cái định kiến lạc hậu, cũ kĩ và sai lầm ấy.
Tiếp đó, bức chân dung tuyệt sắc của Thúy Vân hiện lên với những đường nét thanh cao quý phái:
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Thúy Vân mang vẻ đẹp “trang trọng khác vời”. “Trang trọng” là nhìn vào hết sức chuẩn mực và cao quý. “Khác vời” là khác thường, là hiếm gặp, hiếm có. Vẻ đẹp của Thuý Vân được so sánh với những hình ảnh cao đẹp của thiên nhiên, vũ trụ: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. Nàng có khuôn mặt tròn đầy và rạng ngời như vầng trăng sáng. Nét ngài nở nang, thanh tú. Nụ cười tươi như hoa nở. Tiếng nói trong trẻo như tiếng ngọc. Mái tóc mềm mại như mây. Làn da trắng mịn như tuyết.
Với những nét chấm phá quen thuộc nhưng tài tình của Nguyễn Du, Thuý Vân hiện lên với vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, quý phái. Bức chân dung mang tính cách số phận, dự báo cuộc đời nang sẽ bình lặng, yên ổn.
Xuất hiện sau vẻ đẹp của thùy mị củaThúy Vân, vẻ đẹp của Thúy Kiều làm cho người đọc phải sửng sốt:
So bề tài sắc lại là phần hơn:
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Đó là một vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà. Nghĩa là vẻ đẹp ấy không những sắc nét mà còn cuốn hút đến nỗi khiến người ta không thể rời ánh nhìn. Ánh mắt nàng trong như mặt nước hồ thu. Chân mày như dáng núi mùa xuân tràn đầy sức sống. Nụ cười tươi hơn cả hoa thơm. Hình ánh thướt tha hơn cả dáng liễu.
Khác với Thuý Vân khi khắc hoạ chân dung Kiều, tác giả tập trung gợi tat vẻ đẹp của đôi mắt: mắt nàng đẹp, trong sáng như làn nước mùa thu, đôi long mày thanh tú như dáng núi mùa xuân. Một vẻ đẹp sắc sảo, xanh tươi, mơn mởn khiến hoa cũng phải ghe, liễu cũng phải hờn dự báo số phận ép le, cuộc đời Kiều sẽ nhiều đau khổ.
Vẫn là bút pháp ước lệ của thi pháp trung đại khi lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp. Nhưng ở đây, Nguyễn Du đã có những bước đi táo bạo. Vẻ đẹp của Thúy Kiều đã vượt trội hơn nhiều lần vẻ đẹp của thiên nhiên. Thiên nhiên chỉ còn là cái nền cảnh để cho vẻ đẹp Thúy Kiều tỏa sáng. Cả vũ trụ dường như hội tụ ở thiếu nữ này. Nàng mới là chuẩn mực của cái đẹp trong đất trời.
Thúy Kiều không chỉ đẹp ở hình thức mà tài năng và tâm hồn cũng đạt đến mức tuyệt mĩ:
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên “Bạc mệnh”[ lại càng não nhân.
Thúy kiều được miêu tả là người thông minh, tinh anh đến hiếm gặp. Vốn yêu mến thú tiêu dao, Thúy kiều say mê và thuần thục những thú vui tao nhã của người xưa như một cách để tiếp thụ nền văn hóa chuẩn mực và di dưỡng tài năng, tâm hồn mình. Không những sành sỏi mà nàng còn sáng tác, tạo ra tác phẩm nghệ thuật cho riêng mình. Khúc “Bạc mệnh” mà nàng đã viết nên thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, trái tim giàu cảm xúc dự cảm về kiếp người tài hoa, bạc mệnh của chính nàng. Có thể nói tài năng của Kiều đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm phong kiến
Kết bài:
Với cảm hứng nhân văn, tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh. Xây dựng nhân vật Thuý Kiều, Nguyễn Du thể hiện tấm lòng trân trọng đối với tài sắc của người phụ nữ. | Phân tích ý nghĩa và giá trị đoạn trích Chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều của Nguyễn Du | 1,016 | |
Phân tích ý nghĩa văn bản Chiến thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn – Sử thi Tây Nguyên)
Hướng dẫn
Chiến thắng Mtao-Mxây (Trích Đăm Săn – Sử thi Tây Nguyên)
Mở bài:
Sử thi là tác phẩm tự sự dân gian, có qui mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hung để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng cư dân thời cổ đại. Sử thi thường kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, sư hình thành các dân tộc và các vùng cư trú cổ đại của họ hoặc kể về cuộc đời và sự nghiệp của các tù trưởng anh hùng. Văn bản Chiến thắng Mtao-Mxây trích trong sử thi Đăm Săn, một sử thi hùng tráng của đồng bào Tây Nguyên
Thân bài:
Đăm săn là tác phẩm tiêu biểu cho loại sử thi anh hùng của đồng bào dân tộc Ê-Đê – Tây Nguyên. Tác phẩm tuy kể về cuộc đời của cá nhân người tù trưởng Đăm Săn nhưng qua đó có thể nhận ra hình ảnh của cả cộng đồng thị tộc Êđê trong giai đoạn lịch sử đầy biến động. Ở sử thi anh hùng, số phận của cá nhân anh hùng thống nhất cao độ với số phận của cả dân tộc.
Chiến thắng Mtao – Mxây là một đoạn trích thuộc phần giữa tác phẩm, kể chuyện Đăm Săn đánh thắng tù trưởng Mtao – Mxây và cứu được vợ.
Cảnh chiến đấu và chiến thắng của Đăm Săn:
Đăm săn khiêu chiến với thái đội quyết liệt “Ơ diêng, ơ diêng, xuống đây! Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy!”, “Ngươi không xuống ư? Ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi ta bổ đôi, ta sẽ lấy cái cầu thang của nhà ngươi ta chẻ ra kéo lửa, ta hun cái nhà của nhà ngươi cho mà xem “. Trước sự khiêu chiến và thái đọ của Đăm Săn, Mtao Mxây tỏ ra run sợ “Ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi lắm”, “dáng tần ngần do dự, mỗi bước đắn đo”
Cuộc chiến kịch liệt giữa Đăm Săn và Mtao-Mxây diễn ra theo 4 hiệp:
Hiệp 1: Trong khi Mtao Mxây múa khiên trước, Đăm Săn vẫn giữ thái độ bình tĩnh, thản nhiên “Đăm Săn không nhúc nhích”. Mtao Mxây múa tỏ ra kém cỏi “khiên hắn kêu lạch xạch như quả mướp khô” nhưng vẫn nói những lời huênh hoang “Có cậu ta học cậu. Có bác ta học bác. Có thần Rồng ta học Thần rồng”
Hiệp 2: Đăm Săn múa trước “một lần xốc tới chàng vượt trội một đồi tranh… Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”. Trong khi đó, Mtao Mxây “bước cao bước thấp… vung dao chém phập một cái nhưng chỉ trúng cái chão cột trâu”
Hiệp 3: Được tiếp sức từ miếng trầu của Hơ Nhị, sức khỏe Đăm Săn lại tăng lên. Chàng múa giáo và đuổi theo Mtao Mxây. ngọn giáo của chàng “múa trên cao gió như bão. Ba đồi tranh bật rễ bay tung”. Chàng đâm trúng vào người Mtao Mxây nhưng không thủng.
Qua cảnh chiến đấu và chiến thắng của Đăm Săn ta thấy: Đăm Săn là một vị anh hùng – tù trưởng tài giỏi, dũng cảm, nhân cách lí tưởng, còn Mtao Mxây là tù trưởng hugn ác, hèn nhát, yếu đuối, nhân cách tầm thường. Đăm Săn là biểu tượng cho chính nghĩa và sức mạnh của cộng đồng, còn Mtao Mxây là biểu tượng cho phi nghĩa và cái ác.
Cảnh Đăm Săn thu phục dân làng của Mtao Mxây rồi cùng họ và tôi tớ trở về:
Sau cuộc chiến, Đăm Săn kêu gọi dân làng, tôi tớ của Mtao Mxây đi theo mình “Ơ tất cả tôi tớ bằng này! Các ngươi có đi với ta không?”
Dân làng, tôi tớ của Mtao Mxây hưởng ứng, đem theo của cải đi theo Đăm Săn “Không đi sao được! Tù trưởng của chúng tôi đã chết, lúa chúng tôi đã mục, chúng tôi còn ở với ai?”, “Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa”.
Sự hưởng ứng, tự nguyện mang theo của cải theo Đăm Săn của dân làng và lòng trung thành tuyệt đối với chàng thể hiện sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng, của cá nhân người anh hùng sử thi với quyền lợi và khát vọng của cộng đồng. Thể hiện lòng yên mến, tuân phục của tập thể cộng đồng với cá nhân người anh hùng. Đó là sự suy tôn tuyệt đối của cộng đồng với người anh hùng sử thi.
Đăm Săn mở lễ ăn mừng chiến thắng linh đình, đông đúc: “nhà Đăm Săn đông nghịt khách, tôi tớ chật ních nhà”. Các tù trưởng xung quanh cùng đến ăn mừng chiến thắng của Đăm Săn như ăn mừng chiến thắng của chính họ.
Nổi bật trong bữa tiệc ăn mùng là hình tượng người anh hùng – tù trưởng huyền thoại Đăm Săn: “Ngực quấn chéo một chiếc mền chiến… Chàng nằm sắp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc”. Nhân vật sử thi Đăm Săn thực sự có tầm vóc lịch sử khi được đặt giữa một bối cảnh rộng lớn của thiên nhiên, xã hội và con người Tây Nguyên.
Văn bản Chiến thắng Mtao Mxây có cách tổ chức ngôn ngữ phù hợp thể loại sử thi. Ngôn ngữ đối thoại được khai thác dưới nhiều góc độ. Sử dụng có hiệu quả lối song hành, đòn bẩy, thủ pháp so sánh, phóng đại, đối lập, tăng tiến… Phép so sánh, phóng đại, liệt kê khiens cho việc miêu tả vừa linh hoạt vừa hết sức sinh động, haaos dẫn.
Kết bài:
Đoạn trích Chiến thắng mtao Mxây khẳng định sức mạnh và ngợi ca vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn – một người trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình, thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc, xứng đáng là người anh hùng tầm vóc sử thi của dân tộc Ê-đê thời cổ đại.
Câu hỏi luyện tập:
2. Hãy trình bày khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản Chiến thắng Mtao – Mxây.
3. Trong đoạn trích có nhắc đến việc Đăm Săn gặp ông trời, được ông bày cho cách đánh thắng Mtao Mxây. Theo em, vai trò thần linh và vai trò của con người đối với chiến đấu và chiến thắng của Đăm Săn được thể hiện như thế nào?
4. Em hãy đóng vai nhân vật Đăm Săn kể lại văn bản “Chiến thắng Mtao Mxây” từ đầu đến đoạn “…Nói rồi Đăm Săn đâm phập một cái, cắt đầu Mtao Mxây đem bêu đường” | Phân tích ý nghĩa văn bản Chiến thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn – Sử thi Tây Nguyên) | 1,157 | |
Phân tích ý nghĩa văn bản Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng
Hướng dẫn
Mở bài:
Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) là nhà cách mạng lớn của nước ta thế kỉ XX. Ông từng giữ chức vụ Thủ tướng chính phủ và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước ta nhiều năm liền. Ông là nhà chính trị, nhà ngoại giao tài ba, đồng thời cũng là nhà giáo dục tâm huyết, một nhà lí luận văn hóa văn nghệ lớn. Trong lĩnh vực văn học, ông có nhiều bài nói, bài viết sâu sắc, mới mẻ về tiếng Việt và các danh nhân văn hóa. Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc là bài viết của Phạm văn Đồng nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888). Đây là thời điểm ác liệt nhất của cuộc đấu tranh chống Mĩ ở nước ta.
Thân bài:
Ngay phần mở đầu, tác giả nêu cách tiếp cận vừa có tính khoa học vừa có ý nghĩa phương pháp luận đối với thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, một hiện tượng văn học có vẻ đẹp độc đáo không dễ nhận ra. Cách nêu vấn đề trực tiếp, hình ảnh so sánh liên tưởng, cách nói khẳng định đề cao. Qua đó thể hiện cái nhìn mới mẻ,của Phạm Văn Đòng, có giá trị định hướng cho việc nghiên cứu, tiếp cận cuộc đời và thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu.
Phạm Văn Đồng cũng nêu bậc giá trị thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã “làm sống lại” một thời kì “khổ nhục nhưng vĩ đại” của phong trào kháng Pháp ở Nam Bộ. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của thời đại, cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bằng những hình tượng văn học “sinh động và não nùng” làm xúc động lòng người. Đặc biệt, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” đã làm sống dậy một hình tượng mà từ trước tới nay chưa từng có trong văn chương trung đại: hình tượng người nông dân nghĩa sĩ.
Nghệ thuật trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu được đánh giá rất cao, được so sánh như “những đóa hoa, những hòn ngọc rất đẹp”. Lời văn mạch lạc, lí lẽ sắc bén đưa ra có dẫn chứng đầy đủ, cách lập luận chặt chẽ kết hợp với tình cảm nồng hậu, giàu sức thuyết phục của văn bản đã tỏ rõ giá trị của văn thơ Nguyễn Đình Chiểu đối với đời sống và cuộc đấu tranh của dân tộc.
Tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Đình Chiểu chính là truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên. Với những giá trị vượt trội, “Truyện Lục Vân Tiên” được truyền bá rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Lục Vân Tiên có nội dung tư tưởng gần gũi với nhân dân, là “một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa”.
Đây là một chuyện “kể”, chuyện “nói”, lối văn nôm na dễ hiểu dễ nhớ nhưng cũng có những câu thơ rất hay có tính nghệ thuật cao.
Ở phần 3, tác giả khẳng định vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc:
“Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của ông là một tấm gương sáng cho hiện tại và mai sau”. Khẳng định mối quan hệ giữa văn học và đời sống. Khẳng định vai trò của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, tư tưởng.
Kết bài:
Bài viết đã khẳng định ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sĩ phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là minh chứng hùng hồn cho địa vị và tác dụng to lớn của văn học nghệ thuật, cũng như trách nhiệm của người cầm bút đối với nhân dân và đất nước. | Phân tích ý nghĩa văn bản Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng | 720 | |
Phân tích ý nghĩa văn bản Uy-lít-xơ trở về Trích Ô-đi-xê – Sử thi Hy Lạp – Hô-me-rơ –
Hướng dẫn
Uy-lít-xơ trở về Trích Ô-đi-xê – Sử thi Hy Lạp – Hô-me-rơ –
Mở bài:
Hô-me-rơ là nhà thơ mù, được coi là tác giả của I-li-át và Ô-đi-xê. Ông là con một gia đình nghèo, được sinh ra bên dòng sông Mê-lét vào khoảng thế kỉ IX – VIII trước công nguyên. Tên của ông là Mê-lê-xi-gien. Sử thi Ô-đi-xê là một trong hai bộ sử thi nổi tiếng đất nước Hy Lạp. Tác phẩm kể lại hành trình trở về quê hương của Uy-lít-xơ sau khi hạ thành Tơ-roa.
Thân bài:
Ô-đi-xê gồm 12 110 câu thơ, chia thành 24 khúc ca. Chủ đề chính của Ô-đi-xê là chinh phục thiên nhiên để khai sáng, mở rộng giao lưu; tái hiện xung đột giữa các nền văn minh, các trình độ văn hóa, là cuộc đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình.
Đoạn trích Uy-lít-xơ trở về là khúc ca thứ XXIII của sử thi Ô-đi-xê. Văn bản thuật lại chuyện sau hai mươi năm đánh thắng thành Tơ-roa và lênh đênh phiêu bạt, Uy-lít-xơ trở về quê hương, chiến thắng bọn cầu hôn Pê-nê-lốp, đoàn tụ gia đình.
Nhân vật Pê-nê-lốp:
Khi nhũ mẫu Ơ-cri-lê báo tin, thề thốt, đua ra chứng cứ Uy-lít-xơ đã trở về. Đó là cái sẹo do rang nanh trắng của một con lợn lồi húc người ngày xưa. Pê-nê-lốp vui mừng nhưng không tin, trong lòng rất đỗi phân vân. Pê-nê-lốp xuống nhà để “xem xác chết của bọn cầu hôn và người giết chúng”
Khi gặp Uy-lít-xơ: Rất đỗi sững sốt, dáng điệu cử chỉ lúng túng, tìm cách ứng xử.
Pê-nê-lốp hạnh phúc, mừng vui tột cùng khi nhận ra Uy-lít-xơ “nước mắt chan hòa, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng”
Tác giả luôn dùng từ “thận trọng” đi kèm sau tên nhân vật Pê-nê-lốp.
Pê-nê-lốp: là người vợ thủy chung, kiên định, biết yêu tha thiết nhưng cũng rất kiên cường trong việc bảo vệ phẩm giá và hạnh phúc gia đình; là người phụ nữ thông minh, bình tĩnh, thận trọng, khôn khéo, tế nhị.
Nhân vật Uy-lít-xơ:
Để có mặt trong nhà của Pê-nê-lốp: Phải chiến đấu dũng cảm với bọn cầu hôn. Khi gặp Pê-nê-lốp thấy sự xa cách của vợ: Nhẫn nại, chấp nhận chờ đợi mọi sự thử thách. “Còn Uy-lít-xơ thì ngồi tựa vào một cái cột cao, mắt nhìn xuống đất, đợi xem bây giờ trông thấy mình rồi, người vợ cao quý của mình sẽ nói gì với mình”
Tác giả luôn dung cụm từ “cao quý và nhẫn nại” đi kèm sau tên nhân vật Uy-lít-xơ.
Uy-lít-xơ: là người dũng cảm, bình tĩnh, tự tin, thông minh, mưu trí, chung thủy, hiểu sâu sắc về vợ mình.
Qua cảnh vợ chồng đoàn tụ sau hai mươi năm xa cách, văn bản đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp. Đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của người Hi lạp cổ đại. Văn bản đã rất thành công với lối so sánh mở rộng (so sánh có đuôi dài). Cách miêu rả cụ thể, chi tiết, tỉ mỉ là đặc trưng của sử thi Hy Lạp. Tâm trạng nhân vật được thể hiện qua dáng điệu, cử chỉ, cách ứng xử, thái độ… Hình ảnh chọn lọc, ngôn ngữ trang trọng, tao nhã.
Kết bài:
Đoạn trích Uy-lít-xơ trở về là bài ca ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, tình yêu xứ sở, tình cảm vợ chồng, tình cha con, chủ-khách, chủ – tớ; đề cao vẻ đẹp trí tuệ, sự khôn ngoan, mưu trí, dũng cảm, tỉnh táo, sáng suốt của nhân vật lý tưởng và khát vọng bảo vệ hạnh phúc gia đình. Đó cũng là khúc ca ca ngợi sức mạnh kì diệu của trí tuệ Hi Lạp cổ đại trong tiến trình chinh phục thiên nhiên để khai sáng, mở rộng giao lưu; tái hiện những xung đột giữa các nền văn minh, các trình độ văn hóa; cuộc đấu tranh bảo vệ hạnh phúc gia đình.
Câu hỏi luyện tập:
2. Trình bày ngắn gọn hiểu biết của em về sử thi Ô-đi-xê?
3. Nếu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản “Uy-lít-xơ trở về”.
4. Văn bản “Uy-lít-xơ trở về” đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của con người Hi Lạp thông qua hai nhân vật Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp, đó là những phẩm chất gì? | Phân tích ý nghĩa văn bản Uy-lít-xơ trở về Trích Ô-đi-xê – Sử thi Hy Lạp – Hô-me-rơ – | 752 | |
Phân tích ý nghĩa đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp
Hướng dẫn
Phân tích ý nghĩa đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp
Người thầy đầu tiên là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Ai-ma-tốp đã đạt được giải thưởng Lê-nin. Đoạn trích Hai cây phong là phần đầu tiên của thiên truyện đã giúp người đọc cảm nhận được tài năng sáng tác của nhà văn, vẻ đẹp đặc sắc của hình ảnh Hai cây phong là vẻ đẹp tâm hồn của lớp trẻ, gắn bó giữa cây và người thuộc thế hệ nối tiếp bước đi của Người thầy đầu tiên. Đúng như ai đó đã nhận định: Ngọn cây và tầm nhìn, phải chăng đây chính là ý nghĩa bao trùm mà người đọc có thể cảm nhận được từ đoạn trích.
Tài năng sáng tạo nghệ thuật của Ai-ma-tốp được thể hiện trong đoạn văn bằng ngòi bút miêu tả xen lẫn tự sự, thời gian hiện tại xen lẫn với hồi tưởng quá khứ, nhân vật chúng tôi song song đồng hiện với nhân vật tôi, cùng tâm sự, sẻ chia từng suy nghĩ, cảm xúc với người đọc. Do đó, ngôn từ, hình ảnh cứ chấp chới bay lượn, lúc ẩn, lúc hiện, lúc thực, lúc mơ rất thú vị. Hình ảnh hai cây phong hiện lên, những trò vui tuổi trẻ được kể lại, những suy nghĩ sâu lắng, những cảm xúc dạt dào cứ ngân lên sau mỗi câu, mỗi chữ.
Nhà văn đã hóa thân vào nhân vật tôi, người họa sĩ đã vẽ lại hình ảnh hai cây phong mà từ xa nhìn lại ngỡ như thấy những ngọn hải đăng đặt trên núi. Ngọn hải đăng đứng bên bờ biển tỏa ánh sáng soi đường, dẫn dắt những con tàu cập bến. Còn hai cây phong kia cũng đã từng làm nhiệm vụ chỉ lối dẫn đường cho biết bao nhiêu người con của làng Ku-ku-rêu hướng về, tìm về quê hương. Nghệ thuật so sánh của nhà văn vô cùng có ý nghĩa. Vì cứ thế, mỗi lần về quê, tôi – người họa sĩ, người kể chuyện- xác định bổn phận đầu tiến là từ xa đưa ảnh mắt tìm hai cây phong thân thuộc. Và cứ mỗi lần như thế, tôi lại mong sao chóng về tới làng, chóng được lên đồi đứng với cây, đứng dưới gốc cây để nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa, ngây ngất.
Bên cạnh hai cây phong đứng sừng sững, hiên ngang trên đồi cao như một biểu tượng tâm hồn quê hương còn có hình ảnh một người con yêu quê hương da diết. Nhờ tình yêu ấy mà tôi – nhân vật kể chuyện nghe được tiếng nói riêng, những lời ca êm dịu của hai cây phong, hai sinh thể sống động như con người. Tác giả đã hóa thân vào nhân vật phải chăng đó là một sáng tạo trong nghệ thuật đặc sắc của Ai-ma-tốp, để rồi kể, miêu tả với hàng loạt những liên tưởng, so sánh, nhân hóa âm thanh tiếng nói của hai cây phong. Dù ban ngày hay ban đêm, chúng vẫn nghiêng ngả, lay động lá cành không ngớt tiếng rì rào…, có khi tưởng chừng như một làn sóng thủy triều dâng lên vỗ vào bãi cát…, có khi… thì thầm… nồng thắm… như một đốm lửa vô hình có lúc khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào…. Và khi mây đen kéo đến thì hai cây phong nghiêng ngả tấm thân dẻo dai và reo vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực. Phải là một người mang một tâm hồn nghệ sĩ hài hòa hai tố chất – hội họa và âm nhạc, thì mới vẽ lại được những đường nét, sắc màu, nghe lại được những âm thanh trầm bổng, thấm đượm hơi lửa nồng ấm, đắm say của những vẻ đẹp mà hai cây phong đã phô ra, đã chuyển tới. Hai cây phong qua cảm nhận của người nghệ sĩ đã hiện lên với hình hài cao lớn, hiên ngang, với đường nét lá cành uyển chuyển, nhất là với tiếng reo đa âm thanh… kỳ diệu. Phải chăng đó là hình ảnh của quê hương, cũng là biểu tượng của sức sống mãnh liệt, dẻo dai, kiên hùng bất khuất mà vẫn dịu dàng, thân thương của những con người làng Ku-ku-rêu. Khi người họa sĩ đứng dưới gốc cây nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa, ngây ngất. Đoạn văn có nhiều hình ảnh, từ ngữ tượng hình, tượng thanh sinh động có tác dụng truyền cảm tới người đọc, hấp dẫn như một khúc hát tâm tình mà sâu lắng. Để rồi người nghe phải thốt lên rằng: Ôi! Tình yêu quê hương trong tâm hồn Ai-ma-tốp đã ngây ngất hòa quyện cùng với đất trời, cây lá, hòa quyện cùng với con người quê hương!
Theo dòng hồi tưởng, ký ức tuổi thơ về hai cây phong lại hiện về trong tâm trí của nhân vật tôi. Ngôn ngữ lời văn đã tố sự chuyển đổi, từ hiện tại tới cách cảm nhận của một người đã trưởng thành trở lại với những kỷ niệm tuổi thơ êm đềm và thơ mộng. Hoài niệm về tuổi thơ về quê hương bao giờ cũng đằm thắm, thiết tha. Đọc đến đây, người đọc cứ ngỡ là Ai-ma-tôp đang bé lại để sống với một kỷ niệm tuyệt vời. Vào một ngày nào đó của năm học cuối cùng trước khi nghỉ hè, tôi – người kể chuyện – lên cao, cao nữa, cao mãi, có lẽ cao tới gần ngọn cây và chúng tôi, lũ nhóc con đi chân đất… trèo lên cao làm chấn động vương quốc loài chim. Một lời kể, một nhận xét sao mà ngây thơ và thú vị đến thế! Các cậu bé giống như những chú chim non đã chiếm lĩnh hết cả vương quốc này, vòm cây xanh, bầu trời rộng. Từ độ cao ngang tầm cánh chim bay các cậu đã nhìn thấy cả một thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la ánh sáng. Đến những dòng này, nhân vật tôi mờ đi nhường chỗ cho chúng tôi hiện lên choán lấy tất cả. Tại sao lại phải chuyển đổi mạch kể như vậy nhỉ? Phải chăng nhà văn muốn thay đổi điểm nhìn, muốn hóa thân thực sự vào thế giới tuổi thơ để cảm nhận những vẻ đẹp thơ mộng của quê hương mình. Và thế là từ ngọn cây, làng Ku-ku-rêu của đất nước Cư-rư-gư-xtan đã hiện ra: đất rộng bao la làm chúng tôi sửng sốt… Chuồng ngựa của nông trang mà chúng tôi vẫn coi là tòa nhà rộng lớn nhất thế gian, ngồi đây chúng tôi chỉ thấy như căn nhà xếp bình thường. Phía sau làng là dải thảo nguyên hoang vu mất hút trong làn sương mờ đục. Và xa hơn nữa là dòng sông lấp lánh tận chân trời như những sợi chỉ bạc mỏng manh…
…Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
Bầy chim non bơi lội trên sông
Tôi đưa tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ…
(Nhớ con sồng quê hương – Tế Hanh)
… Kia bóng Bác đang ôm hôn hòn đất
Trong màu hồng hình đất nước phôi thai…
(Người đi tìm hình của nước – Chế Lan Viên)
Ôi! Quê hướng là mảnh đất thân thương, là dòng sông thơ mộng, là con đò nhỏ, là cây bưởi, cây phong…! Tất cả đều gần gũi với đời thường nhưng bao giờ cũng đằm thắm, thiết tha!
Tôi lắng nghe tiếng hai cây phong rì rào, tim đập rộn ràng vì thảng thốt và vui sướng, rồi trong tiếng xào xạc không ngớt ấy, tôi cố hình dung ra những miền xa lạ kia. Thuở ấy chỉ có một điều tôi chưa hề nghĩ đến: ai là người trồng hai cây phong trên đồi này… Quả đồi có hai cây phong ấy, không biết vì sao ở làng tôi, gọi là Trường Đuy-sen…. Đến những dòng văn xuôi này, nhân vật kể chuyện lại một lần nữa chuyển giọng kể. Từ Chúng tôi, nhân vật xưng tôi. Đây chính là những dòng văn dẫn vào câu chuyện kể về những con người kỳ diệu của quê hương mình. Đây là những tâm niệm của người họa sĩ đi xa trở về được gặp lại hai cây phong, được sống lại với ký ức tuổi thơ mộng mơ, lãng mạn để rồi luôn nhớ tới và biết ơn những người đi trước, mở đường và gieo trồng những hạt giống, vun xới cho cây Cối, giáo dục và thức tỉnh con người lớn lên. Đó là tâm niệm của một tấm lòng nhân hậu, biết ăn quả nhớ kẻ trồng cây, để chúng ta yêu quí và trân trọng! Từ sự cảm nhận những vẻ đẹp của hai cây phong, Ai-ma-tôp – người họa sĩ đã kể về một kỷ niệm tuổi thơ rất đẹp mà giàu ý nghĩa: Ngọn cây và tầm nhìn. Nghĩa là cây càng vươn cao, trưởng thành bao nhiêu, tầm mắt (sự hiểu biết) càng được mở rộng bao nhiêu, nhưng đừng quên gốc rễ, cội nguồn của mình.
Đoạn trích hai cây phong được viết qua cái nhìn và dòng hồi tưởng về tuổi thơ đầy mơ mộng và sâu lắng của một họa sĩ. Đó là những trang viết chứa chan thi vị, đã thế hiện sâu sắc tình yêu quê hương, tình yêu cây cỏ, cảnh sắc thiên nhiên quê nhà, những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ, lòng biết ơn người thầy đầu tiên của mình, của quê hương mình. Tất cả đã làm nên chất thơ của truyện. Từ hai cây phong của xứ người, chúng ta không thể không nhớ tới những cội nguồn của đất nước: cây đa, giếng nước, dòng sông, lũy tre làng ở Việt Nam. Đó chẳng phải là hồn quê hương sao? | Phân tích ý nghĩa đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp | 1,703 | |
Phân tích ý nghĩa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
Hướng dẫn
Mở bài:
Sau khi biết mình bị Mã Giám Sinh lừa vào chốn lầu xanh, Kiều đau đớn, tủi nhục, định tự vẫn. Tú bà sợ mất vốn bèn khuyên giải, dụ dỗ Kiều. Mụ vờ chăm sóc thuốc men, hẹn khi bình phục sẽ gã cho người tử tế. Tú bà đưa Kiều ra ở lầu Ngưng Bích nhưng thực chất là giam lỏng để thực hiện âm mưu mới đê hèn, tàn bạo hơn. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích khắc họa đậm nét tâm trạng nhớ thương, buồn tủi của nàng trong cảnh hoang vắng, cô độc.
Thân bài:
Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Kiều hiện lên qua bốn câu thơ đầu:
Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân,
Vẻ non xa tấm trang gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Lầu Ngưng Bích là tên lầu mà Tú bà dành cho Kiều ở. Khoá xuân nghĩa là khoá kín tuổi xuân, ý nói cấm cung (con cái nhà quyền quý thời xưa không được ra khỏi phòng ở). Nguyễn Du sử dụng từ “khoá xuân” với ngụ ý mỉa mai, nói lên cảnh ngộ trớ trêu của Kiều là bị giam lỏng.
Câu thơ “Bốn bể… dặm kia” miêu tả tâm trạng Kiều đang ngổn ngang về quá khứ, ở hiện tại, tương lai. Kiều bẽ bang, buồn tủi, tắm lòng nàng như bị cắt ra đầy đau đớn. Bức tranh thiên nhiên u ám với non xa, trăng gần. Bốn bề bát ngát, xa trong chẳng thấy gì ngoài cát vàng, cồn bãi và bụi hồng cuốn mịt mù.
Tâm trạng con người vốn đã buồn tẻ, trước cảnh vật đơn điệu, u ám đến thế lại càng thêm não nề. Cảnh gợi sự rợn ngợp của không gian non xa trăng gần gợi lên hình ảnh lầu Ngưng Bích cao ngất nghễu, trơ trọi giữ mênh mông trời nước không gian mênh mông hoang vắng. Từ lầu Ngưng Bích, Thuý Kiều chỉ thấy một dãy núi mờ xa những cồn cát bụi bay mờ mịt.
Kiều trơ trọi giữa không gian, thời gian mênh mông hoang vắng, không một bóng người, không sự giao lưu, Kiều chỉ biết làm bạn với mây, đèn. Kiều rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối:
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Hình ảnh mây sớm đèn khuya gợi thời gian tuần hoàn khép kín. Thời gian cũng như không gian giam hãm con người. Sớm và khuya, ngày và đêm. Sớm khuya, chỉ mình Kiều đối diện với ánh đèn. Nỗi lòng không biết tỏ cùng ai. Mà tin ngoài kia từ lâu đã không còn hay biết gì. Thế nên, buồn càng thêm buồn lo tiếp nỗi lo, tâm trạng bồn chồn, lo lắng và thương nhớ khôn nguôi. Nàng nhớ đến Kim Trọng với lời hẹn ước năm xưa mà lòng đau như cắt:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Nhìn vầng trăng xa mờ, nàng “tưởng người dưới nguyệt chén đồng” . Dưới nguyệt là dưới trăng, chén đồng là chén rượu thề nguyền. Kiều nhớ lời thề đôi lứa, lời hẹn ước trăm năm. Chén rượu như còn đây mà nay mỗi người mỗi ngả. Nàng xót xa ân hận như kẻ phụ tình. Nàng chỉ dám “tưởng” chứ không phai là mong, là thương, là nhớ. Bởi nàng biết hình bóng Lim Trọng rồi đây cũng sẽ chết trong lòng nàng, nàng mãi mãi sẽ chẳng còn dám nhớ đến nữa.
“Tin sương luống những rày trông mai chờ” nàng tưởng trượng Kim Trọng đang hướng về mình, đêm ngày đau đớn chờ tin mà uổng công voi ích. Nàng nhớ về Kim Trọng với một tâm trạng xót xa.
Hình ảnh “Tấm son gọt rửa bao giờ cho phai” có hai cách hiểu. Tấm lòng son là tấm lòng nhớ Kim Trọng không bao giờ quên, hoặc tấm lòng son của kẻ bị vùi dập hoen ố, biết bao giờ gộ rữa hết được đau đớn khi mình là kẻ lỗi hẹn. Dù thế nào cũng khiến cho nàng đau đớn như trăm ngàn mũi kim đâm mạnh vào tim.
Sau nõi nhớ Kim Trọng, nàng nghĩ về cha mẹ đang ngày đêm mòn mỏi chờ tin:
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Kiều hình dung cha mẹ khi sáng khi chiều tựa cửa ngóng tin con mà xót xa. Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển tích “Sân Lai”, “Gốc tử” đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng cảnh nơi quê nhà, tất cả đã đổi thay, mà sự đổi thay lớn nhất là: cha mẹ ngày một thêm già yếu, không người phụng dưỡng. Hình ảnh “cách mấy nắng mưa” vừa nói được thời gian xa cách, vừa nói lên sức mạnh tàn phá của thời gian với cảnh vật, con người và nổi nhớ cách biệt. Bốn câu thơ khẳng đinh tấm lòng hiếu thuận cao sâu của Thúy Kiều đối với bậc sinh thành.
Kiều nhớ Kim trọng trước, sau mới nghĩ về cha mẹ. Đây là một nét bút đặc sắc, độc đáo của Nguyễn Du phù hợp với quy luật tâm lý. Sau khi Kiều bán mình để có hiếu với cha mẹ, nàng có quyền sống với những tình cảm của riêng mình. Mặt khác,đối với tuổi trẻ, tình yêu trong tim có sức mạnh lớn lao, có thể lấn át cả lí trí. Nỗi nhớ Kim Trọng là nỗi nhớ mãnh liệt trong cả con tim và lí trí của Kiều.
Đoạn thơ thể hiện tấm lòng yêu thương hướng về người khác của Thúy Kiều. Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất, nhưng nàng đã quên cảnh ngộ của bản thân để nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ. Kiều là người tình chung thuỷ, người con hiếu thảo, người có tấm lòng vị tha đáng trọng.
Nhớ về người thân yêu nơi phương xa là để làm an tinh thần vốn đang bế tắc. Thế nhưng, càng nghĩ càng thấy đau, càng nhớ càng thấy xót. Kiều trở về với thực tại phũ phàng, cô đơn, trống rỗng:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng canh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Bức tranh tâm trạng hòa trong bức tranh thiên nhiên vốn đơn điệu, xa cách. “Cửa bể chiều hôm”, “thấp thoáng cánh buồm” là khát khao tự do, trở về quê nhà, với gia đình. Có cánh buồm, có cơ hội nhưng cơ hội ở xa quá khiến cho tinh thần hụt hẫng.
Không dám nhìn xa, nàng nhìn gần hơn, gần hơn nữa và thấy “nội cỏ rầu rầu”, “chân mây”, “mặt đất”. Đó là hình ảnh của cuộc đời vô vị, tẻ nhạt, lênh đênh, vô định. Khắp chân mây mặt đất là một màu xanh u ám, rợn ngợp khiến cho lòng nàng chìm đắm trong bóng tối đáng sợ.
Và khi nhìn thấy “gió cuốn mặt duềnh” và nghe thấy “tiếng sóng” nàng dự cảm tai hoạ ập đến, sóng gió, tai ương. Điệp ngữ “buồn trông” tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ và cũng là điệp khúc của tâm trạng, thể hiện diễn biến của những cung bậc tinh tế trong tâm trạng Thuý Kiều.
Kết bài:
Kiều ở lầu Ngưng Bích một trong những đoạn trích miêu tả đặc sắc về nội tâm nhân vật trong Truyện Kiều, đặc biệt là bằng bút pháp “tả cảnh ngụ tình”. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn buồn tủi và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo của Thuý Kiều. Nỗi cô đơn, buồn tủi, chán chường và tuyệt vọng của Thúy Kiều trước nghịch cảnh cuộc đời thể hiện tấm lòng đồng cảm và xót xa của tác giả đối với người con gái vừa bước vào cánh cửa cuộc đời đã vướng phải đâu thương quá lớn. | Phân tích ý nghĩa đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích | 1,395 | |
Phân tích ý nghĩa đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (Trích Truyện Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)
Hướng dẫn
Ý nghĩa đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (Trích Truyện Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)
Mở bài:
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho tiết tháo, sống theo đạo nghĩa, tuy mang tật mù tối, và gặp lúc biến loạn mà vẫn giữ được phẩm cách thanh cao. Ông không chỉ là người con có hiếu, người thầy mẫu mực, mà còn là một nhà thơ yêu nước, đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Nổi bậc nhất trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu là Lục Vân Tiên, một bộ truyện thơ Nôm xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ XIX. Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga trích phần đầu của thiên truyện này.
Thân bài:
Nguyễn Đình Chiểu luôn có quan niệm nhất quán trong sáng tác văn chương. Ông chủ trương dùng văn chương biểu hiện đạo lý và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa. Nói khác hơn, ông làm thơ là để “chở đạo, sửa đời và dạy người” . Vì vậy, mỗi vần thơ của ông đều ngụ ý khen chê công bằng, rạch ròi, và đều bộc lộ một tấm lòng thương dân, yêu nước của ông. Tác phẩm Lục Vân Tiên thể hiện sâu sắc quan niệm ấy của Đồ Chiểu.
Truyện xoay quanh cuộc đời của nhân vật Lục Vân Tiên. Lục Vân Tiên là một học trò vừa có đưc vừa có tài, giỏi văn võ. Trên đường đi thi, chàng dẹp tan bọn cướp Phong Lai, cứu Kiều Nguyệt Nga được cô gái này khâm phục. Giữa đường, được tin mẹ mất, Vân Tiên trở về quê thọ tang. Chàng bao lần gặp nạn nhưng vẫn được thần và người cứu giúp. Kiều Nguyệt Nga bị buộc đi cống giặc Ô Qua nhưng vẫn một lòng thuỷ chung với Lục Vân Tiên. Thuyền đi tới biên giới, nàng mang theo bức hình Vân Tiên nhảy xuống sông tưj tử. Nàng được Phật Bà Quan Âm và nhân dân cứu giúp. Cuối cùng hai người gặp nhau và chung hưởng hạnh phúc.
Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu truyện. Sau nhiều năm theo học thầy ở trên núi, Lục Vân Tiên xin phép thầy xuống núi chuẩn bị lên kinh ứng thí. Chàng tiện đường ghé về thăm nhà thăm cha mẹ. Trên đường đi, chàng gặp cảnh bọn cướp hung hãn đang ức hiếp dân lành nên đã ra tay ứng cứu. Người gặp nạn chính là Kiều Nguyệt Nga, một thiếu nữ con nhà quan. Đó cũng chín là người vợ sau này của Lục Vân Tiên.
Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô.
Đó là hành động vì nghĩa, biểu hiện sâu sắc tính cách anh hùng, tinh thần dũng cảm và tài năng võ nghệ cao cường của Lục Vân Tiên. Thấy dân gặp nạng, Lục Vân Tiên không thể làm ngơ. Chỉ có một mình tay không vũ khí, thế mà Vân Tiên đã hành động dứt khoát, không tính toán, do dự cho bản thân. Chàng dám đối mặt với lũ cướp đầy vũ khí, bản chất côn đồ hành động dũng cảm anh hùng.
Hành động xông vô thật dũng liệt. Bọn cướp đông người, hết sức hung hãn, thế mà chàng không hề sợ hãi. Hành động ấy một mặt khẳng định niềm tin vòa khả năng chiến thắng của bản thân, mặt khác là biểu hiện sâu sắc của tính khí nghĩa hiệp, cứu người lúc lâm nguy là việc cấp bách không thể chần chừ. Không những xông vào mà chàng còn kêu gọi kẻ cướp dừng tay và cảnh báo hậu quả đối với hành động phi nghĩa của chúng:
Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ,
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”.
Thế nhưng, không những không buông giáo quy hàng, tướng cướp Phong Lai còn tỏ ra giận dữ, đe dọa vân Tiên:
Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:
“Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây.
Sau đó hắn còn đỗ lỗi cho Vân Tiên. Không cớ gì mà Vân Tiên can thiệp chuyện của hắn: “trước gây việc dữ tại mầy”, nhất định sẽ nhận lãnh hậu quả nặng nề. Nói rồi lập tức hắn: “truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng”.
Vân Tiên tả đột hữu xông,
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
Tài năng võ nghệ của chàng được sánh với Triệu Tử Long, một anh hùng trong sử sách, người đã phá vòng vây Tào Tháo đêt cứu con nhỏ của Lưu Bị. Cụm từ “tả đột hữu xông” đã bộc lộ hết khí phách của người anh hùng Lục Vân Tiên. Trận chiến diễn ra chớp nhoáng nhưng vô cùng khốc liệt, bọn cướp bị đánh tơi bời:
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Đến cả tướng cướp Phong Lai cũng bị trọng thương tìm đường tháo chạy:
Phong Lai trở chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong
Sau khi đánh cướp, Lục Vân Tiên còn hỏi han người gặp nạn để giúp đỡ thêm nữa. Lời nói lịch thiệp, ân cần khiến cho người gặp nạn vô cùng cảm động. Kiều Nguyệt nga ngỏ lời báo đáp ân công nhưng chàng nhất định không nhận sự đền ơn. Thái độ ứng xử đàng hoàng, chửng chạc của người chính trực, phong độ biết giữ gìn lễ giáo.
Chàng từ chối khảng khái: “làm ơn há dễ trong người trả ơn” . Đó là quan niệm sống đẹp, trọng nghĩa khinh tài, coi việc diệt ác cứu người là bổn phận của người quân tử. Chàng quan niệm “Kiến nghĩa bất vi anh hùng”, thấy việc nghĩa không làm thì không phải anh hùng. Chàng sống không màng danh lợi, quyền quý, không nhân người lúc gặp nạn mà tư lợi riêng mình. Lục Vân Tiên chính là niềm mơ ước, khác xọng mà Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gấm niềm tin và hy vọng: đạo lý nhân dân được trườn tồn, có nhiều người tài đức cứu nạn giúp đời.
Ở nhân vật Kiều Nguyệt Nga, Nguyễn Đình Chiểu nhân cơ hội này cũng khắc họa đậm nét hình dung và phẩm chất của nàng. Được người cứu giúp, sau khi qua cơn hoạn nạn, nàng lập tức khấu đầu cảm tạ và xin báo đáp ơn sâu. Đó là đạo lí làm người cao thượng, có ôn nhất định phải báo đền. Cách xưng hô của nàng đối với Vân Tiên cũng hết sức khiêm nhường, đúng mực và trang trọng: quân tử, tiện thiếp. Lời lẽ nói năng văn vẻ, dịu dàng, mực thước của con nhà gia giáo, có học thức, có phẩm hạnh cao đẹp. Cách trình bày tâm tư và nguyện vọng của Kiều Nguyệt Nga cũng rất rõ ràng và khúc chiết, lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục nhằm muốn lục Vân Tiên nhận lời thỉnh cầu để cho nàng làm tròn đạo nghĩa.
Kết bài:
Đoạn trích đã làm nỗi bậc hai nhân vật: Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tà và Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình. Qua đó thể hiện khác vọng hành đạo giúp đời của tác giả. Nguyễn Đình Chiểu đã không hề dụng công gọt giữ ngôn ngữ và diễn đạt. Ông làm thơ mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày và mang đậm sắc thái địa phương Nam Bộ. Qua cách xây dựng nhân vật chính diện và phản diện, truyện thơ Lục Vân Tiên đề cao đạo đức, truyền dạy đạo lý làm người. | Phân tích ý nghĩa đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (Trích Truyện Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu) | 1,297 | |
Phân tích ý nghĩa đoạn trích Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Đoạn trích Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Mở bài:
Truyện Kiều là kiệt tác văn học của đại thi hào Nguyễn Du. Không những phản ánh sâu sắc bộ mặt bất nhân, tàn bạo của xã hội phong kiến đương thời, truyện Kiều còn là nỗi xót xa vô hạn, niềm cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du đối với bi kịch cuộc đời của con người. Đặc biệt là người phụ nữ. Đoạn trích Trao duyên thể hiện sâu sắc bi kịch của nhân vật Thúy Kiều, mở đầu cho chuỗi bi kịch khốc liệt về sau của nàng.
Thân bài:
Đoạn trích Trao duyên trích từ câu 723-756 thuộc phần 2 (Gia biến và lưu lạc) của truyện Kiều. Vì tên ván tơ vu oan, gia đình Kiều gặp sự biến lớn. Để cứu cha và em thoát khỏi ngục tù và đòn roi tra tấn của bọn ác nhân, Thúy Kiều phải bán mình làm lẽ cho Mã Giám Sinh. Trước khi ra đi, Thúy Kiều trao duyên cho Thúy Vân và nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Đoạn trích là lời dặn dò, tâm sự của Thúy Kiều với em gái để nhờ em một việc hệ trọng trong tâm trạng đau đớn và tuyệt vọng.
Kiều đặt vấn đề thuyết phục để trao duyên cho Thúy Vân:
“… Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Tác giả dùng từ “cậy” chứ không phải là “nhờ”. Cậy là hoàn toàn tin tưởng mà gửi gắm,hi vọng. Với thanh trắc, “cậy” mang âm điệu nặng nề, gợi sự quằn quại, đau đớn. Từ “cậy” còn hàm chứa sự tin cậy, nương tựa, trông chờ hoàn toàn vào sự giúp đỡ của người khác. Sự kết hợp giữa nội dung và hình thức trong từ “cậy” giúp Thúy Kiều dễ dàng hơn khi thổ lộ điều khó nói và làm tăng tính thuyết phục của lời nói của mình.
Khác với từ “cậy”, chữ “nhờ” không thể bộc lộ được mục đích của Kiều. “Nhờ” không mang tính nghiêm trọng, cấp thiết và ràng buộc của sự việc. Người nghe có thể từ chối. Có lẽ Thúy Kiều đã cân nhắc rất kĩ trước khi nói ra lời này.
Mặt khác, từ phía Thúy Vân, Thúy Kiều bắt phải “chịu lời”. Chịu là bị bắt buộc, phải thông cảm mà chấp nhận. Từ “chịu” cũng gợi sự thiệt thòi của Thúy Vân. Thúy Vân còn thơ dại, chưa đủ lớn khôn để nhận làm việc ấy. Nhưng tình cảm của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng quá lớn. Lại thêm hai người đã thể nguyền sánh đôi, có trời đất chứng giám. Phụ tình chàng Kim là nỗi dằn vặt lớn đối với nàng. Dù biết sự tình khó khăn nhưng nàng cũng liều lĩnh nhờ cậy người em.
Sợ em từ chối, nàng chưa vội nói ra mà bắt Thúy Vân ngồi lên ghế trên rồi mới tỏ bày. Một lần nữa, Nguyễn Du đã chọn lọc từ ngữ vô cùng kĩ lưỡng để cho Kiều thực hiện việc trao duyên của mình. Với người em nhỏ mà nàng mời “ngồi lên” ghế trên “cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Hành động ấy chỉ dành cho người khả kính mà thôi. Đó là một hành động bất thường, Thúy Vân cũng nhận rõ điều bất thường ấy ở người chị của mình. Nàng cũng gắng gượng làm theo.
Trước hết, Kiều “lạy” để tạo không khí trang trọng, thiêng liêng và hé lộ việc đang cậy nhờ là vô cùng quan trọng. Đồng thời, “lạy” và “thưa” còn hàm ẩn sự biết ơn đến khắc cốt ghi tâm của Thúy Kiều đối với em. Sự việc bất ngờ, phi lí mà rất hợp lí. Câu thơ chứa đầy nài nỉ, vạn xin, hạ mình hết mức, cho thấy được sự tâm trạng quằn quại, đau đớn của Thúy Kiều. Trong tình thế đớn đau đến thế mà nàng vẫn tỏ ra thông minh, không khéo đến lạ thường. Bút pháp xây dựng tình huống và miêu tả của Nguyễn Du đạt đến độ tinh xảo hiếm thấy.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Kiều nhắc về quá khứ khi gặp chàng Kim, khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề. Hạnh phúc tràn đầy, hứa hẹn một tương lai viên mãn. Rồi nàng nhắc đến hiện tại đứt gánh tương tư, keo loan chắp mối tơ thừa, sóng gió bất kì. Nỗi khổ đau khi thực tại lạo quá phũ phàng:
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Điệp từ “khi” nhắc lại hết sức rõ ràng những tháng ngày đã qua, những niềm vui đã có, lời thề hẹn sánh đôi. Tình yêu ấy trãi qua biết bao ngày tháng em đẹp. Cách kể ngắn gọn, vắn tắt, đầy đủ thể hiện mối tình sâu đậm, thiêng liêng.
Nàng nhắc đến hiện tại đứt gánh tương tư, keo loan chắp mối tơ thừa, sóng gió bất kì. Nỗi khổ đau khi thực tại lạo quá phũ phàng:
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Thành ngữ đứt gánh tương tư là cách nói giản dị nhưng đầy chua xót mối tình Kim-Kiều. Điển tích keo loan chắp mối tơ thừa vừa cách nói trang trọng lại vừa đắng cay. Dù em có ưng thuận hay không thì nhất định em phải giúp chị làm điều nghĩa ấy. Kiều thấu hiểu hoàn cảnh của Vân và thương Vân vô cùng. Biết là vậy nhưng nàng đang đứng giữa hau lằn ranh lựa chọn” hoặc là vì chữ hiếu mà bán mình chuộc cha, hoặc là vì tình mà bất nghĩ vong ân. Đó là nghịch cảnh trớ trêu và Kiều đã vì chữ hiếu với cha mẹ mà hi sinh thân mình:
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Kiều giãi bày tâm sự và hoàn cảnh để Thúy Vân thấu cảm, đồng thời đó cũng là sự bế tắc, tuyệt vọng của Kiều trên bước đường đời gian nan. Một sớm một chiều duyên tình đổ vỡ, phận mình rồi đây chẳng biết ra sao. Thân gái thuyền quyên chưa kịp hạnh phúc đã sớm bước vào biển đời gian truân.
Kiều tha thiết van xin em, đồng thời cũng lí giải đôi bề, lí tình trọn vẹn:
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Kiều chỉ ra rằng Thúy Vân vẫn còn trẻ, đẹp, son rỗi, tương lai rộng mở. Vân cũng chưa có hôn phu, chưa thề nguyền cùng ai, nghĩa là không có ràng buộc gì. Bởi thế mà hãy xót thương cho tình máu mủ thay chị làm tròn câu thề ước với Kim Trọng. Nàng còn lấy cái chết để khẳng định lòng biết ơn bất tận: ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Hơn một lời cầu xin, lời nói của Kiều bằng cả lí trí và tình cảm. Câu thơ cuối cùng cũng là nỗi xót xa vô hạn mà nàng đang phải gánh chịu. Cuộc đời từ đây đối với Thúy Kiều chẳng khác nào đã chết. Trái tim nàng đang khô cạn, hấp hối bởi vết thương quá khắc nghiệt. Lấy cái chết để thuyết phục em nhưng thực nàng cũng đang nghĩ đến cái chết như một sự giải thoát. Đó là nỗi đau vô tận, sự tuyệt vọng đến cùng cực của Thúy Kiều khi đối diện với nghịch cảnh của mình.
Kiều trao kỉ vật cho Thúy Vân:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Kỉ vật là chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền. Lời của Kiều chứa bao đau đớn, giằng xé, chua xót. Cách trao hết sức rõ ràng trong lời dặn dò kĩ lưỡng. Nàng phân biệt của tin (vật làm tin giữa Kim – Kiều) và của chung (của Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúy Vân). Khuyên em duyên thì hãy giữ còn vật thì là của chung. Nghĩa là trao duyên nhưng tình không thể trao.
Cách ngắt nhịp 4/4, khiến câu thơ vừa khoáng dạt vừa nghẹn uất, thể hiện sự luyến tiếc, đau đớn, bi kịch duyên trao đi mà tình không thể trao được. Đến lúc này tình cảm của Thúy Kiều bùng lên dữ dội lấn át lí trí. Nàng dứt khoát nhưng lại nấn ná, chính nàng lại mâu thuẫn với mình.
Kiều đau khổ tự xem như mình là người đã chết, xem mình là “người mệnh bạc”, người bất hạnh, không may mắn không thoát ra được như một định mệnh.
Trao kỉ vật cho em mà lòng Kiều thổn thức, não nề, tiếc nuối và đau xót như vò xé tâm can, khi dòng tình cảm vẫn cuồn cuộn trong tâm hồn Kiều.
Kiều còn dặn em những việc làm sau đó nữa. Mai sau dù có bao giờ tức là bất cứ lúc nào, mỗi khi đốt lò hương hay gõ lên phím đàn mà thấy đất trời nổi gió, nghĩa là hồn chị theo khói hương, theo tiếng đàng mà tìm về:
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Kiều nhớ lại cảnh Đạm Tiên đã từng hiện về qua làn gió “ào ào đổ lộc rung cây” khi Kiều thắp hương bên mộ Đạm Tiên. Nàng đã hình dung số mệnh của mình chẳng khác gì Đạm Tiên, một kì nữ tài sắc mà mệnh bạc như vôi.
Kiều nói với Vân mà như đang nói với chính mình. Nhận ra bi kịch đau đớn, tuyệt vọng, nàng nghĩ đến cái chết. Một lần nữa, cái chết hiện về, có sức ám ảnh lớn lao đối với Thúy Kiều. Càng nói càng khổ đau, càng nghĩ càng thêm tuyệt vọng. Nguyễn Du đã vô cùng tinh tế khi từ lí trí đi đến lí trí, lấy tình cảm để thuyết phục tình cảm. Qua lời tâm sự tỏ bày thể hiện phẩm chất cao quý củ Thúy Kiều. Dù trong nghiachj cảnh đớn đau nhưng nàng rất chu đáo, có lòng khoan dung, độ lượng và giàu đức hi sinh, vị tha, luôn lo lắng, hiểu cho người trước khi nghĩ đến mình
Kiều tâm sự với Kim Trọng trong nỗi tuyệt vọng:
Càng nhắc đến mối tình, Thúy Kiều càng đắng cay. Nàng tưởng tượng như đang nói lời tiễn biệt cùng Kim Trọng lúc này:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Thúy Kiều luôn ý thức về thực tại phũ phàng, trâm gãy gương tan, hoa trôi nước chảy của mình. Thành ngữ trâm gãy gương tan/ phận bạc như vôi/ nước chảy hoa trôi là sự tan vỡ, dở dang, bạc bẽo, trôi nổi của tình duyên và số phận con người. Kiều chuyển hẳn sang độc thoại nội tâm mang tính chất đối thoại với người vắng mặt. Cách gọi Kim Trọng thân thiết, mến yêu:tình quân, kim lang, chàng; hành động: lạy để tạ lỗi với Kim Trọng và hàng loạt câu cảm thán, các từ cảm thán: ôi, hỡi, thôi thôi thể hiện sức chịu đựng tinh thần của nàng Kiều đã đạt tới đỉnh điểm, tất cả đều vỡ òa thành tiếng khóc và nỗi tuyệt vọng đến cùng cực. Mọi thứ dường như chấm dứt, bóng tối giang khắp lối trên con đường nàng tiến về phía trước.
Trong đoạn trích, diễn biến tâm trạng của Kiều được thế hiện như thế nào qua các lời thoại. Về hình thức, ta thấy toàn bộ đoạn trích là lời thoại của Kiều với Thuý Vân. Tuy nhiên, có lúc, Kiều chuyển đối tượng, như đang đối thoại với Kim Trọng chứ không còn nói với Thuý Vân nữa, có lúc nàng tự nói với chính mình (những từ ngữ và hình ảnh gợi lại kỉ niệm tình yêu hoặc “Bây giờ…ái ân!” cũng là tự nói với mình). Thúy Kiều tưởng tượng trước mặt mình là Kim Trọng, nàng vật vã trong nỗi đau của tình duyên lỡ dở. Kiều không chỉ nghĩ đến nỗi đau khổ của mình mà còn nghĩ đến nỗi đau khổ của người yêu, nàng xót thương cho chàng Kim
Kết bài:
Với đoạn trích Trao duyên, Nguyễn Du tỏ ra là bậc thầy kiệt xuất trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. Không những thấu hiểu những gì đang diễn ra bên trong tinh thần của Thúy Kiều, ông còn làm cho nó biểu hiện hết sức nghệ thuật, có tần có lớp hết sức thuyết phục và cảm động. Qua sự miêu tả sự bấn loạn tinh thần của Thúy Kiều trong xung đột tinh thần đầy đau đớn, Nguyễn Du đã thể hiện nỗi xót xa của mình, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nàng Kiều.
Có thể các bạn đang tìm kiến:
Cảm nhận vẻ đẹp của Thúy Kiều qua đoạn thơ: Kiều càng…..
Phân tích thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua hình ảnh các nhân vật Vũ Nương, Thúy Kiều, Kiều Nguyệt Nga | Phân tích ý nghĩa đoạn trích Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du | 2,308 | |
Đề bài: Phân tích điểm giống và khác nhau giữa hai chị em Việt – Chiến trong truyện Những đứa con trong gia đình
Bài làm
Việt và Chiến sinh ra trong một gia đình mang khá nhiều nét tiêu biểu của một gia đình Nam Bộ trong chiến tranh. Cuốn sổ gia đình do người chú ghi lại mà Chiến dùng để đánh vần tập đọc, thực ra là một cuốn gia phả đặc biệt, rất vắn tắt, ở đó mỗi dòng, thậm chí mỗi chữ, đều có máu và nước mắt. Đó là gia đình từ mấy thế hệ đã phải chịu nhiều mất mát, đau thương.
Hy sinh với tư cách người chiến sĩ trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, nhà văn Nguyễn Thi để lại một số lượng tác phẩm không nhiều. Tuy vậy, đó là những tác phẩm có giá trị, đặc biệt ở chỗ chúng ta góp phần khắc họa nên bức chân dung lớn của người nông dân Nam Bộ trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước vừa qua. Những nhân vật của Nguyễn Tuân đều chân thật và gây nhiều ấn tượng, như trường hợp hai nhân vật chị em Chiến và Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình.
Những đứa con trong gia đình
Việt và Chiến sinh ra trong một gia đình mang khá nhiều nét tiêu biểu của một gia đình Nam Bộ trong chiến tranh. Cuốn sổ gia đình do người chú ghi lại mà Chiến dùng để đánh vần tập đọc, thực ra là một cuốn gia phả đặc biệt, rất vắn tắt, ở đó mỗi dòng, thậm chí mỗi chữ, đều có máu và nước mắt. Đó là gia đình từ mấy thế hệ đã phải chịu nhiều mất mát, đau thương. Ngay ở thế hệ đã phải chịu nhiều mất mát, đau thương. Ngay ở thế hệ của chị em Chiến, chỉ trong khoảng mấy năm, lúc hai chị em vẫn còn là những đứa trẻ, họ đã phải liên tiếp mất cha rồi lại mất mẹ. Đường đời của hai chị em Chiến như đã được vạch sẵn chỉ có chiến đấu, giết giặc, để báo thù cho cha, cho mẹ, cũng là để tự bảo vệ chính cuộc đời của mình. Đó là truyền thống gia đình, đó cũng là khát vọng mãnh liệt nhất của hai chị em Chiến và Việt. Mang một mối thù sâu nặng với giặc và một khát vọng chiến đấu mãnh liệt như vậy, họ sẽ chiến đấu dũng cảm và sẽ chiến thắng, điều đó như một cái gì đã trở thành tất yếu.
Thật ra, để nói đến con đường tất yếu từ căm thù giặc đến thắng giặc đó. Nguyễn Thi có thể chỉ cần nói về Chiến mà không nói về Việt, hoặc ngược lại. Nhưng Nguyễn Thi đã miêu tả cả hai nhân vật ấy với nhiều nét rất riêng, rất đáng yêu, gây cho người đọc nhiều thú vị.
Việt là một chàng trai, rồi là một người lính dũng cảm, nhưng dẫu sao Việt cũng chỉ là một chàng trai mới lớn, và trong gia đình, thì Việt thực sự chỉ là một cậu bé. Cái trẻ con ở Việt không chỉ bộc lộ trong những nét hiếu động, suốt ngày thích bắt ếch, câu cá, bắn chim, lúc nào cũng có cái ná thun trong người.. mà cả trong cái nét hiếu thắng, luôn luôn ưa tranh giành với người chị, không biết nhường nhịn chị vì Việt là em trai của Chiến mà! Thật ra thì không phải Việt không yêu thương chị mình, trái lại nữa là khác, nhưng có được một người chị như Chiến, làm sao Việt có thể khác được?
Cho đến khi lên đường tòng quân, chuẩn bị thành người lính hay đã trở thành người lính rồi, Việt vẫn trẻ con như thế, trẻ con và vô tư. Nghe chị bàn bạc chuyện nhà, Việt chỉ ừ ào cho qua chuyện “chụp một con đóm đóm trong lòng bàn tay… rồi ngủ quên lúc nào không biết”. Vào đơn vị, Việt vẫn không quên cây ná thun. Đặc biệt trẻ con, Việt không dám hé cho ai biết rằng mình có một người chị, bởi cái lẽ giản đơn “sự mất chị”. Đánh giặc rất dũng cảm, bắn cháy xe tăng Mỹ, Việt không hề sợ hãi, nhưng lạc trên chiến trường một mình sau trận đánh, Việt lại sợ ma. Sau những cố gắng phi thường, Việt gặp lại đồng đội của mình. Việt vừa khóc vừa cười, hệt một đứa trẻ “khóc đó rồi cười đó”.
Xây dựng hình ảnh nhân vật Việt hồn nhiên và trẻ thơ như thế, phải chăng Nguyễn Thi muốn nói với người đọc về một thế hệ trẻ Việt Nam đã bước vào cuộc chiến đấu rất sớm, như thẳng từ tuổi thơ mà đến. Ý đồ nghệ thuật của Nguyễn Thi hình như còn ở chỗ này nữa: thế hệ ấy có thể rất hồn nhiên, trẻ con, rất vô tư, vô tâm trong nhiều mối quan hệ gia đình và xã hội, nhưng lại cực kì nghiêm túc trong những suy nghĩ về kẻ thù, về cuộc chiến đấu chống quân xâm lược. Vì sao vậy? Vì bản chất chính nghĩa của cuộc chiến đấu ấy. Đó là một chiến đấu vì sự sống, cũng là một cuộc chiến đâu đầy chất tươi trẻ và lạc quan.
Chiến thì khác hẳn với Việt. Có thể Chiến cũng đã như Việt nếu Chiến có một người chị. Nhưng chiến là chị cả của những đứa em không còn cha mẹ. Là con gái, Chiến có cái kiên nhẫn đến gan của người phụ nữ đã từng trải cực khổ. Chính là Chiến, chứ không phải Việt, ngồi đánh vần từng chữ, đọc cho được, đọc cho hết, cuốn sổ ghi chép của gia đình đầy máu và nước mắt để nuôi dưỡng cho mình một khát vọng khôn nguôi chiến đấu và trả thù. Là người chị, Chiến trở thành người phụ nữ đảm đang, hy sinh, tận tụy, Chiến không kịp nghĩ gì cho mình trước khi nghĩ đến em. Lúc nào Chiến cũng nhường nhịn em, từ việc lớn đốn việc nhỏ. Trong cả truyện ngắn, duy nhất chỉ có một lần Chiến không nhường em. Ấy là lần cả hai chị em cùng xin đi bộ đội, Chiến đã nói với anh cán bộ tuyển quân: Đến tết này nó mới được mười tám anh à!”
Người đọc dễ dàng chấp nhận hành động (tranh hơn) này của Chiến, không thấy nó mâu thuẫn gì với bản tính của cô, bởi vì, ngoài khát vọng chiến đấu, hành động của Chiến còn thể hiện một ý muốn cảm động của cô: Chiến chưa muốn em mình sớm phải bước vào cuộc chiến đấu gian khổ.
Chiến như lớn hơn tuổi của mình, chín chắn, sâu sắc hơn. Trong cái đêm hôm trước ngày lên đường nhập ngũ, Chiến đã lo lắng, lo liệu đến từng chi tiết công việc gia đình, từ việc gửi đứa em út ở với chú, việc giao nhà, giao đất cho ai quản lí, đến việc gửi bàn thờ má, việc cúng giỗ ba má… việc nào Chiến cũng tính toán cẩn thận chu đáo. Trong cảm nghĩ của Việt, Chiến thật giống hệt như má từ lời nói đến việc làm. Chiến thật đúng là hình ảnh một cô gái Việt Nam mà truyền thống và thời đại đã sản sinh ra.
Tạo ra hai hình ảnh khác nhau như Chiến và Việt, Nguyễn Thi thật ra đã xây dựng được những nét bổ sung để khắc họa nên hình ảnh thế hệ trẻ Nam Bộ trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Được nuôi dưỡng bởi cùng một truyền thống gia đình, cùng chịu chung những cảnh ngộ, lại là chị em ruột, Chiến và Việt rất giống nhau với những cách thức biểu hiện khác nhau, hai chị em rất thương yêu nhau. Cùng rất thương má, hai chị em cùng nuôi khát vọng lớn lao: được chiến đấu, được trả thù cho má. Hai chị em cùng may mắn được nhập ngũ một ngày. Dù ở hai đơn vị khác nhau, hai chị em lúc nào cũng nghĩ đến nhau, cùng lấy việc dũng cảm trong chiến đấu và chiến công làm thước đo để đo lòng thương đối với má. | Phân tích điểm giống và khác nhau giữa hai chị em Việt – Chiến trong truyện Những đứa con trong gia đình | 1,414 | |
Phân tích Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận
Hướng dẫn
Đoàn thuyền đánh cá là khúc ca tràn đầy niềm tin của người lao động trong thời đại mới
Mở bài:
Nổi tiếng từ phong trào Thơ mới, Huy Cận đến với nền thơ với lời thơ thấm thía bao nỗi buồn, tràn ngập cái sầu nhân thế. Thiên nhiên trong tập thơ thường bao la, hiu quạnh, đẹp nhưng thường buồn. Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu hình. Nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước. Hồn thơ “ảo não”, bơ vơ đó vẫn cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời.
Sau Cách mạng, thơ Huy Cận dạt dào niềm vui, là bài ca vui về cuộc đời, là bài thơ yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống. Ông tìm được nguồn sống từ cuộc sống mới của dân tộc và say mê sáng tạo. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là một trong những tác phẩm nổi bậc của ông trong giai đoạn này.
Thân bài:
Đoàn thuyền đánh cá được viết vào giữa năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu trước cuộc sống mới đang hình thành. Đất nước đang thay da đổi thịt đã trở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ ca lúc bấy giờ.
Nhiều nhà thơ đã đi tới các miền đất xa xôi của Tổ quốc để sống và để viết. Tố Hữu, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Tuân, lên miền núi, đến với nhà máy, nông trường… Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi ấy, hồn thơ của ông mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.
Xuyên suốt bài thơ là bút pháp sáng tác lãng mạn, bay bổng, cảm xúc vũ trụ độc đáo tràn trào. Thi phẩm đã để lại cho người đọc nhiều bất ngờ thú vị, những ấn tượng sâu sắc.
Mở đầu bài thơ là khung cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá lúc hoàng hôn buông xuống:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”.
Bốn câu thơ có kết cấu gọn gàng, cân đối như một bài tứ tuyệt. Hai câu đầu tả cảnh, hai câu sau nói về con người. Buổi chiều không mang nét buồn; không gian, mặt biển bao la, hoàng tráng; thiên nhiên tràn đầy sức sống. Hình ảnh mặt trời rực rỡ từ từ xuống biển chói lòa ánh sáng. Phép nhân hóa và ẩn dụ “Sóng đã cài then đêm sập cửa” gợi cho người đọc cảm nhận thiên nhiên, vũ trụ,biển cả như đi vào trạng thái tĩnh lặng, nghỉ ngơi, thư giãn. Vũ trụ giờ đây như một ngôi nhà khổng lồ, sẵn sàng che chở cho tất cả.
Thế nhưng vũ trụ đi vào yên nghỉ nhưng không hề thấy nét lụi tàn mà ngược lại càng trở nên huy hoàng, mĩ lệ. Ánh sáng mặt trời bừng lên mãnh liệt ngỡ như có thể khiến cho cả đại dương sôi sục trong sức nóng bỏng khủng khiếp. Thủ pháp so sánh độc đáo, khiến người đọc bất ngờ, thú vị. Những con sóng lăn tăn trên mặt biển như khép lại cánh cửa của ngày. Màn đêm biển cả mở ra, sâu thẳm và huyền bí.
Trước khi vũ trụ đi vào lặng lẽ, đoàn thuyền đánh cá căng buồm ra khơi. Nhịp thơ vừa chùng xuống lập tức căng lên theo cách buồm ngược gió:
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”.
Từ “lại” cho ta thấy đây không phải là lần đầu tiên đoàn thuyền ra khơi mà đã rất nhiều lần và trở nên quen thuộc. Một tư thế chủ động mạnh mẽ, đầy tin tưởng trong bài ca lao động tươi vui. Cảnh và người tưởng như đối lập song lại hòa hợp. Cảnh làm nền để cho hình ảnh con người nổi bật lên như tâm điểm của một bức tranh lao động khỏe khoắn. Khung cảnh vui tươi tràn ngập âm thanh và rực rỡ sắc màu, hứa hẹn một chuyến ra khơi thắng lợi.
Trong câu hát, đoàn thuyền vượt sóng ra khơi, băng mình trên biển cả tìm kiếm những luồng cá. Tiếng hát vang vọng trong đại dương, tràn đầy khí thế:
“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi”.
Biện pháp so sánh đầy hình ảnh kết hợp với lối chơi chữ độc đáo. “Cá thu biển Đông như đoàn thoi” khiến cho câu thơ nhộn nhịp theo từng đoàn cá chạy. Phép nhân hóa: “đêm ngày dệt biển muôn luồn sáng” lập tức phá tan vẻ đơn điệu của biển đêm. Huy Cận đã hết sức chú ý đến việc xây dựng hình ảnh đặc sắc cho đoạn thơ nhằm tạo nên sự hài hòa giữa con người và biển cả. Đại dương không còn đáng sợ nữa. Đại dương giờ đây chính là ngôi nhà vĩ đại, là nguồn sống của con người.
Cảm hứng lãng mạn giúp nhà thơ phát hiện vẻ đẹp của cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng với niềm vui phơi phới, khỏe khoắn khi con người làm chủ cuộc đời, làm chủ biển trời quê hương. Cảnh đoàn thuyền lướt sóng ra khơi, từng luồng cá bủa lưới vây giăng mang vẻ đẹp vừa hoành tráng, vừa thơ mộng
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng”.
Con thuyền lướt trên mặt biển chừng như không phải bằng sức người. Gió đã lái con thuyền đi. Gió là thủy thủ hỗ trợ cho thuyền. Còn có cả ánh trăng trên trời cao căng trên cánh buồm. Nếu nhìn từ xa, con thuyền như đang bay trong một bầu không vĩ đại với gió, với trăng chẳng khác nào con thuyền trong huyền thoại. Con thuyền mạnh mẽ cứ thế lao đi như không hề có một trở ngại nào.
Huy Cận đã thi vị con thuyền đánh cá, nâng con thuyền lên một tầm vóc lớn lao, vĩ đại, sánh ngang vũ trụ. Cảm xúc vũ trụ đã nâng cao hồn thơ Huy Cận, khiến câu thơ cất cánh. Tầm vóc người lao động cũng được nâng lên tột bậc trong tư thế chủ động. Họ sẵn sàng làm chủ thiên nhiên, làm chủ công việc, làm chủ sự sống. Họ hiên ngang “dò bụng biển”; họ nhanh chóng “dàn đan thế trận” đưa luồng cá vào vòng vây khép kín.
Ý thơ đã nâng tâm hồn chúng ta với niềm cảm xúc lâng lâng sảng khoái. Hình ảnh thơ tạo nên sự liên tưởng đọc đáo. Đoàn thuyền đánh cá là gạch nối để liên kết giữa trời và biển, cùng hòa chung giai điệu lao động của con người. Lãng mạn nhưng không xa rời thực tế. Câu thơ miêu tả rất chân thực hoạt động đánh bắt cá của ngư dân vừa điêu luyện vừa hết sức tài tình. Cách miêu tả của Huy Cận như tập trung vào công việc lao động đánh bắt cá vì nhiều vất vả, nhọc nhằn.
Đồng thời, Huy Cận cũng đã ví những ngư dân hôm nay như những người chiến sĩ, những nhà thám hiểm đại dương vĩ đại. Họ đang chiến đấu cùng biển cả, khám phá và chinh phục thiên nhiên dữ dội. Công việc lao động trên biển như là một cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên. Người lao động làm việc với tất cả lòng dũng cảm, sự hăng say, trí tuệ nghề nghiệp, tâm hồn phơi phới.
Bức tranh lao động được điểm tô bằng vẻ đẹp của thiên nhiên. Cái nhìn của nhà thơ đối với biển và cá cũng có những sáng tạo bất ngờ, độc đáo:
“Cá nhụ cá chim cùng cá đè,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em vẫy trăng vàng chóe,
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long”.
Biển cả phong phú tài nguyên và vô cùng giàu có. Những loài cá là linh hồn của biển cả. Cách diễn đạt mang tính cách dân gian (chim, thu, nhụ, đè). Bút phát liệt kê trùng điệp ngợi ca sự giàu có của biển cả. Bức tranh thơ không chỉ thể hiện sự giàu có của biển mà còn lung linh những màu sắc. Những chú cá song lấp lánh dưới ánh trăng, màu đen hồng kết hợp màu vàng chóe tạo cảm giác ấm áp.
Nghệ thuật nhân hóa, cách dùng đại từ “em” thể hiện tình cảm trìu mến, thân thương của tác giả. Nhà thơ tỏ thái độ trân trọng, nân niu thành quả lao động. Từ “em” mềm mại lập tức làm cho câu thơ lấp lánh sắc màu. Có giai thoại cho rằng lúc ban đầu Huy Cận viết: “Cá đuôi én vẫy trăng vàng chóe”. Rõ thực, cá đuôi én là tên một loài cá. Đến khi in thơ, nhà xuất bản cho rằng Huy Cận viết sai chính tả nên sửa thành: “Cái đuôi em vẫy trăng vàng chóe”. Sự cố này không những không phá hỏng ý thơ mà còn làm cho câu thơ trở nên hình tượng và sinh động vô cùng.
Giữa mặt biển đêm bao la, mênh mông, từng con sóng nhấp nhô chạy vào bờ, tâm hồn nhà thơ như hòa nhập với cái mênh mông, vô tận của thiên nhiên. Trong những giây phút lắng đọng của tâm hồn, Huy Cận nghe được cả tiếng thở của đêm:
“Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”.
Bằng bút pháp lãng mạn, Huy Cận xây dựng trong thơ một sức tưởng tượng phong phú, độc đáo. Những con sóng nhấp nhô, đều đặn như hơi thở từ trên lồng ngực khổng lồ của biển cả. Hòa trong hơi thở đó, có cả ánh trăng, cả bóng sao lung linh in hình trên mặt biển hiền hòa theo những con sóng hội tụ trên vịnh Hạ Long. Có thể nói, bằng tâm hồn hết sức tinh tế, tác giả đã cảm nhận được hơi thở của thiên nhiên, vũ trụ. Chính không khí say sưa xây dựng đất nước của những năm đầu khôi phục và phát triển kinh tế là cơ sở hiện thực của những hình ảnh lãng mạn trên.
Dấu hai chấm trong khổ thơ như sự giải thích độc đáo, làm ta có cảm giác không chỉ là gió tạo nên những con sóng nhấp nhô mà chính những vì tinh tú trên bầu trời in hình xuống mặt nước tạo nên những con sóng “sao lùa nước”. Câu thơ đậm chất gợi tả, tạo sự liên tưởng, lắng đọng sâu xa trong lòng người đọc. Biển trở nên xinh đẹp, lôi cuốn… Phải có đôi mắt tinh tế, ánh nhìn sâu đậm, Huy Cận mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, của biển trời Việt Nam.
Bút pháp lãng mạn, trí tưởng tượng phong phú của tác giả đã sáng tạo nên những hình ảnh đẹp khiến công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên:
“Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”.
Công việc đánh bắt cá nặng nhọc nhưng dưới mắt Huy Cận bỗng trở nên nhẹ nhàng, êm ái. Người dân chài không phải đang đánh cá mà là đang ca hát giữa biển trời. Lời hát mời gọi đầy sức thuyết phục đã quyến rũ những chú cá đên với những chiếc lưới đầy:
“Ta hát bài ca gọi cá vào”.
Từ tiếng hát của ngư dân trở thành giai điệu lao động đầy lạc quan, yêu đời của những con người mới trong buổi đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội, thiên nhiên như đồng điệu:
“Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”
Ánh trăng in hình trên mặt nước. Ánh trăng lung linh, huyền ảo, lấp lánh, trên mặt biển rồi theo cơn sóng dập dờn vỗ vào mạn thuyền. Nghệ thuật nhân hóa “gõ thuyền” như phụ họa trong giai điệu câu hát, thiên nhiên cùng với con người gõ nhịp tình yêu cuộc sống – nhiệt tình lao động xây dựng cuộc sống. Phải có tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống dạt dào, Huy Cận mới viết nên những vần thơ đẹp như thế. Những vần thơ giàu sức biểu cảm:
“Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”.
Biển như người mẹ hiền bao dung, quảng đại đang rộng mở cánh tay, tấm lòng để nuôi lớn đàn con thân yêu. Nghệ thuật nhân hóa kết hợp so sánh thể hiện nguồn tài nguyên vô tận của thiên nhiên Việt Nam – biển Đông Việt Nam. Huy Cận bằng những vần thơ của mình đã tạo sự liên tưởng đầy trìu mến. Biển – người mẹ vĩ đại, đã nuôi lớn những ngư dân bằng chất mặn mà của muối, của cá tôm… Biển rất ân tình.
Không mãi du hành, hát ca trên biển sóng, nhà thơ trở về với công việc người ngư dân. Cảnh kéo lưới, bắt cá được miêu tả vừa chân thực, vừa đầy chất thơ với không khí khẩn trương, gấp gáp:
“Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng.
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vầy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”.
Ánh sáng trên bầu trời đêm đã mở dần, một ngày mới chuẩn bị ló rạng. Đây cũng là lúc những ngư dân thu hoạch kết quả của một đêm đánh bắt cá:
“Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”.
Một kết quả mỹ mãn. Những ngư dân đang hăng hái, khẩn trương “kéo xoăn tay” những mẻ lưới đầy ắp cá tôm. Những mẻ cá được nhà thơ thi vị hóa như những chùm quả ngọt đầu mùa. “Xoăn”, từ dùng đắt, gợi hình, gợi cảm. Cánh tay nối cánh tay, bện lại như những sợi dây thừng chắc chắn và dẻo dai. Động tác lao động mới thật là khỏe khoắn, bền bỉ. “Chùm cá nặng”, kết quả lao động xứng đáng, tốt đẹp. Quá trình lao động cật lực, miệt mài. Phần thưởng của tình cần cù, chịu khó, dũng cảm; của năng lực trí tuệ nghề nghiệp; của lòng yêu nghề, yêu biển, của tinh thần trách nhiệm của những con người biết làm chủ bản thân, làm chủ cuộc sống, làm chủ thiên nhiên.
“Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”
Dưới ánh sáng của ngày mới, những chiếc vẩy bạc kết hợp với đuôi vàng tạo thành một màu vàng trắng lấp lánh. Toàn khổ thơ sáng rực rỡ. Ánh sáng ấy do cá, bởi cá. Biển đêm mà không tối, bao trùm lên cả bức tranh về biển là màu sắc của cá phong phú, lóng lánh… Hình ảnh thơ đấy sức sống và niềm tin – phấn khởi để chào đón một ngày mới.
Có thể nói, cảnh lao động đánh cá trên biển như bức tranh sơn mài rực rỡ. Người kéo lưới là trung tâm của cảnh được khắc họa rất độc đáo với thân hình gân guốc, chắc khỏe cùng thành quả thu về “vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông”. Màu hồng của bình minh làm ấm sáng bức tranh lao động. Thiên nhiên và con người cùng nhịp nhàng trong sự vận hành của vũ trụ.
Sau những mẻ lưới nặng trĩu cá tôm, đoàn thuyền đánh cá thắng lợi trở về trong bình minh rực rỡ, tráng lệ. Câu đầu của khổ thơ lặp lại gần như nguyên vẹn câu cuối của khổ thứ nhất. Cấu trúc đầu – cuối tương ứng ấy trở thành điệp khúc ngân nga, nhấn mạnh niềm vui lao động làm giàu đẹp quê hương và khắc họa đậm nét vẻ đẹp khỏe khoắn cùng niềm vui phấn khởi của người ngư dân:
“Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”.
Đoàn thuyền bắt đầu trở về, phía sau là ánh mặt trời bắt đầu nhô lên từ lòng đại dương xanh thẳm. Từ “chạy đua” làm nên âm điệu thơ khẩn trương, nhanh chắc. Một cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên, cuộc chạy đua để giành lấy, tranh thủ sự dựng xây, cống hiến cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Đoàn thuyền vừa đến bến cũng là lúc mặt trời rời khỏi lòng đại dương, mở ra một ngày mới tươi đẹp:
“Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”.
Cảnh mặt trời đội biển rất lạ. Người đọc có cảm giác như mặt biển được nâng cao theo từng con sóng triều dâng tỏa rạng, xóa tan màn đêm. Một đêm lao động đã kết thúc, ngư dân xếp lưới và hạnh phúc với thành quả lao động vừa thu được.
Huy Cận đã cường điệu hình ảnh những chú cá: “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”. Dưới ánh nắng mặt trời, những đôi mắt cá lấp lánh như hàng nghìn ánh mặt trời bé con. Thiên nhiên rực rỡ một mặt trời to lớn, xán lạn; con người có trong tay muôn nghìn mặt trời nhỏ lấp lánh, huy hoàng… Bút pháp lãng mạn đầy chất thơ, ca ngợi và thể hiện tình yêu lao động, tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống mới. Một ngày mới tươi vui, một cuộc đời mới đang sinh sôi, nảy nở.
Kết bài:
Thành công của bài thơ còn ở việc Huy Cận xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo; có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng, lạc quan của người lao động. Thông qua việc miêu tả cảnh lao động đánh cá của người ngư dân vùng biển Hạ Long, bài thơ ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, sự giàu có của biển khơi; ngợi ca khí thế lao động hăng say, yêu đời của người lao động mới đã được giải phóng, đang làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời và đất nước:
“Tập làm chủ, tập làm người xây dựng
Dám vươn mình cai quản lại thiên nhiên!”
(Tố Hữu)
Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa–Pa của Nguyễn Thành Long | Phân tích Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận | 3,154 | |
Phân tích đoạn 2 bài thơ Nói với con – Y phương
Hướng dẫn
Niềm tự hào về người đồng mình và truyền thống quê hương trong đoạn 2 bài thơ Nói với con của Y phương
Mở bài:
Lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ mai sau nối tiếp xứng đáng, phát huy truyền thống của tổ tiên, dân tộc vốn là một tình cảm cao đẹp của người Việt Nam suốt bao đời nay. Bài thơ Nói với con của Y Phương một nhà thơ dân tộc Tày, cũng nằm trong nguồn cảm hứng nhân văn phổ biến ấy.
Tác giả mượn lời một người cha chân tình, dặn dò con về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người, về những đặt điểm tính cách cao đẹp của quê hương, dân tộc với ước muốn đứa con hãy ghi nhớ, phát huy. Đoạn 2 bài thơ Nói với con đã thể hiện qua cách nói mộc mạc, giàu hình ảnh của người dân miền núi, đem đến cho bài thơ giọng điệu thiết tha, trìu mến, tin cậy:
“Người đồng mình….nghe con”
Thân bài:
Đoạn thơ được nối tiếp theo sau đoạn cảnh người cha khơi gợi cội nguồn sinh dưỡng giúp đứa con khôn lớn, trưởng thành. Bằng đoạn thơ trên, người cha đã ngợi ca những đức tính cao đẹp của con người quê hương nằm khơi gợi cho con lòng từ hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ về truyền thống cao đẹp của quê hương và niềm mong ước con hãy tiếp tục xứng đáng với truyền thống ấy.
Bắt đầu đoạn thơ bằng cụm từ “người đồng mình” với ý nghĩa là người vùng mình, người miền mình, cách nói giản dị của miền núi và được lặp đi lặp lại ba lần trong đoạn trích, Y Phương đã gửi vào đó niềm tự hào của mình về những đức tính cao đẹp của người dân miền núi bằng tấm lòng yêu mến vô hạn.
Nếu trên kia “yêu lắm con ơi” là yêu cuộc sống vui tươi bình dị, yêu bản làng thơ mộng, yêu những tấm lòng chân thật nghĩa tình, thì đến đây niềm ước vọng càng thêm tha thiết: “thương lắm con ơi”. Tình cảm được nâng lên nhiều lần bởi sau từ “thương” đó là những những nỗi vất vả, gian khó của con người quê hương. Người cha biểu lộ tình cảm yêu thương chân thành về gian truân, thử thách cùng ý chí mà người đồng mình đã trải qua.
Người đồng mình không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước:
“Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn”.
Ta dễ dàng nhận ra tính tả thực và phép ẩn dụ tượng trưng đã được nhà thơ vận dụng ở đây. Với phép tả thực, Y phương đã vẽ ra cảnh người dân miền núi mà ở đay dân tộc Tày có cội nguồn sinh dưỡng là những vùng núi cao ngút ngàn, rất hoang vắng và rất buồn bởi cuộc sống nghèo khó, nhọc nhằn. Tuy buồn, tuy khó khăn gian khổ nhưng họ vẫn bám đất, bám bán làng, vẫn thủy chung cùng quê hương. Và càng ở cao, càng gian khổ mới thấy được tấm lòng quyết tâm gìn giữ cội nguồn sinh dưỡng của người dân miền núi.
Có thể nói, cuộc sống của người đồng mình còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều bộn bề thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của dân tộc và không ngừng mơ ước đến tương lai nơi mà chí lớn sẽ vươn tới.
Chính từ niềm mơ ước ấy, người cha đã nhẹ nhàng nhắc nhở đứa con hãy khắc ghi, rèn luyện, phát huy:
“Dẫu làm sao thì cha cũng muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh không lo cực nhọc”
Đoạn thơ với những hình ảnh cụ thể như núi rừng quê hương được Y Phương nhắc lại theo phép liệt kê: “đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói”, “như sông”, “như suối”, “lên thác xuống ghềnh”…”kết hợp với các điệp ngữ: “sống…không chê…”, nhà thơ đã gợi lại cuộc sống vất vả, gian nan đầy thử thắt đối cới người dân Tày giữa hoan sơ đại ngàn.
Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sống trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người.
Cách gợi của nhà thơ được đặt trong giọng điệu mạnh mẽ, chắc nịch, đầy quyết tâm và niềm tin tưởng. Một lần nữa y Phương trong vai người cha đã nhắc con nhớ rằng người đồng mình, người trong cùng bản làng của mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn.
“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”.
Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng với người miền núi. Tuy “người đồng mình” không mấy đẹp đẽ ở hình thức nhưng luôn ẩn chứa một sức mạnh tinh thần lớn lao, không bao giờ nhỏ bé, không bao giờ thôi ước vọng vươn cao.
Lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa bao tâm tình. Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồngmình. Họ mộc mạc nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí, về mong ước xây dựng quê hương.
Lời cha giản dị, ân cần trang nghiêm, chắc nịch đã giúp đứa con nhận ra rằng chính nhờ những “người đồng mình” như thế, những con người có ước mơ xây dựng quê hương với những truyền thống, phong tục tốt đẹp:
“Người đồng mình tự đụng đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục”.
Câu thơ đã khái quát về tinh thần tự tôn dân tộc, về ý thức bảo vệ nguồn cội, bảo tồn những truyền thống quê hương tốt đẹp của người đồng mình. “Đục đá” là công việc vô cùng nặng nhọc, đòi hỏi phải bền bỉ, nhẫn nại. “Đục đá” vào ý thơ dã trở thành hình ảnh sinh động, gợi cảm. Bởi qua ý thơ, hình ảnh ấy giúp ta hình dung hiện thực người dân lao động miền núi bằng khát vọng và ý chí “đục đá kê cao quê hương” đã tôn tạo vẻ đẹp văn hóa của dân trọi với bao thiên tai, bão lũ, bao bọn giặc hung tàn để gìn giữ, bảo vệ quê hương của cả dân tộc.
Đó là hình ảnh Sơn Tinh (thời Hùng Vương thứ 18) bốc từng quả cũng chính là hình ảnh anh hùng Núp và dân tộc Ba Na anh em đã quyết tâm không khuất phục giặc Pháp bảo vệ cho vùng đất Chư-lây thân yêu, làm nên chiến tích lịch sử. Cách mạng hào hùng cho quê hương, đất nước…. Hình dung ra điều ấy, ta mới thấy chi tiết “đục đá kê cao quê hương” là một hình ảnh ấn tượng, chứa chan niềm tự hào cao độ của nhà thơ đối với dân tộc thân yêu.
“Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con”.
Hành trang của người con mang theo khi “lên đường” không có gì khác ngoài niềm tự hào về quê hương, nguồn cội cùng với ý chí, quyết tâm và hi vọng lớn lao về một ngày mai tươi sáng. Người con lên đường khắc sâu lời cha dặn và không ngừng nhắc nhở mình thực hiện điều tâm nguyện ấy. Lời dặn của cha thật mộc mạc, dễ hiểu, thấm thía, ẩn chứa niềm hi vọng lớn lao của cha, hi vọng đứa con sẽ tiếp tục vững bước trên đường đời,tiếp nối truyền thống và làm vẻ vang quê hương.
Kết bài:
Bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi cảm, lối nói miền núi mộc mạc, cách ví von sinh động, giọng điệu thiết tha trìu mến, nhịp điệu lúc nhanh lúc chậm đầy khát vọng làm người, đoạn thơ ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người đồng mình, cha mong con sống có tình nghĩa với quê hương, phải giữ đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của cha ông từ bao đời để lại. Hơn nữa, con phải biết chấp nhận gian khó và vươn lên bằng ý chí của mình.
Y Phương đã rất tinh tế khi lựa chọn hình ảnh và giọng điệu khi biểu đạt. Hình như ông đã không hề “mĩ lệ hóa” hay tô vẽ gì thêm cho hình ảnh thơ. Cứ thế, rất tự nhiên, hình ảnh núi non và “người đồng mình” đi vào thơ ông một cách chân thực, hồn nhiên mà sâu sắc đến kì lạ.
Từ ý thơ: Lần đầu tiên trước biển khơi vô tận Cha gặp lại mình trong tiếng ước mơ con (Hoàng Trung Thông), cảm nhận điều người cha gửi gắm vào người con ở bài thơ Nói với con của nhà thơ Y Phương | Phân tích đoạn 2 bài thơ Nói với con – Y phương | 1,606 | |
Phân tích đoạn cuối tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
Hướng dẫn
Phân tích đoạn cuối tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
Nguyễn Minh Châu (1930-1989) là người không ngừng trăn trở về số phận nhân dân và trách nhiệm của nhà văn. Bằng tài năng của mình Nguyễn Minh Châu đã viết Chiếc thuyền ngoài xa. Truyện ngắn này là một thể hiện tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong thời kì đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người trong cuộc sống đời thường. Đoạn kết tác phẩm đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc đặc biệt là giá trị mà nó mang lại cho chúng ta cho tới tận bây giờ.
Đầu tiên phải kể đến tấm ảnh Phùng đã chụp đã chụp được là cảnh chiếc thuyền lưới vó đang tiến vào bờ. Dưới con mắt cảm nhận của một người nghệ sĩ thì khung cảnh ấy hiện lên thật tuyệt vời không những thế nó mang một vẻ đẹp chân thực và toàn bích. “Mũi thuyền in một nét mơ hồ, lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”. Cảnh thật huyền ảo, tinh khôi, tinh khiết như “một bức tranh mực tàu của một danh họa đời cổ”.
Sau khi tấm ảnh được bổ sung vào bộ lịch năm ấy và góp phần nâng cao uy tín cho tác giả của tấm ảnh:“trưởng phòng rất bằng lòng”.Tấm ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” có giá trị nghệ thuật cao, được mọi người yêu thích,“được treo rất nhiều nơi nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”.bộ ảnh ấy xứng đáng với công sức mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng bỏ ra trong chuyến đi thực tế của mình. Đó là vẻ đẹp mà có khi cả đời Phùng chỉ nắm bắt được một lần. Những người yêu nghệ thuật trân trọng tấm ảnh ấy cũng là điều dễ hiểu. Nhưng chúng ta cũng nhận ra một điều rằng dưới con mắt của những người yêu nghệ thuật thuần túy, cảm nhận cái đẹp trên bình diện của một tấm ảnh toàn bích, đáng để thưởng thức,
Thông qua đoạn kết chúng ta thấy hiện lên vẻ đẹp cuộc sống đời thường với hình ảnh người đàn bà hàng chài “cao lớn với những đường nét thô kệch,tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm” cứ hiện lên trong sự gợi nhớ của Phùng sau khi ngắm nhìn vẻ đẹp của bức ảnh. Phùng luôn bị ám ảnh bởi cuộc sống của gia đình hàng chài, đặc biệt là số phận đáng thương của những người phu nữ ở vùng biển này. Ngoài ra, còn thằng Phác, chị nó, và cả lão đàn ông cục mịch, vũ phu. Đó là những mảnh đời khốn khổ, mà ấn tượng sâu đậm nhất trong tâm trí Phùng vẫn là hình ảnh người phụ nữ hàng chài.Chị. Hạnh phúc trong cuộc đời họ là những điều rất đơn sơ, giản dị nhưng không phải bao giờ cũng có được.
Những bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp cùng với cuộc sống giản dị đời thường mở ra những tầng nghĩa tầng quan sát mới cũng như mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.Nghệ thuật xuất phát từ cuộc sống. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng có vẻ đẹp lí tưởng như nghệ thuật. Phùng bị ám ảnh mỗi khi nhìn lại tấm ảnh, vì có thể anh nghĩ rằng tấm ảnh đó sang trọng quá, xa cách quá với cuộc sống của những người lao động nghèo khổ kia. Nó chỉ là cái vỏ bọc của những mảnh đời bất hạnh. Giữa nghệ thuật và cuộc sống vẫn còn một khoảng cách. Anh muốn thấu hiểu, chia sẻ, cảm thông nhiều hơn với nỗi đau của người khác bằng tất cả tấm lòng
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích đoạn cuối tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa | 706 | |
Phân tích đoạn kịch “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục” của Mo-li-e
Hướng dẫn
Phân tích đoạn kịch “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục” của Mo-li-e
Nhắc tới thể loại kịch, người ta nhắc tới nước Pháp với những vở kịch vô cùng nổi tiếng cùng những tác giả làm nên tên tuổi cho thể loại này. Nhắc tới thành công của kịch Pháp ta nhớ đến Mo-li-e, người viết thành công kịch 5 hồi, và thành công với hài kịch “Trưởng giả học làm sang” mà “Ông giuốc- đanh mặc lễ phục” là đoạn kịch cho thấy rõ chủ đề mà Mo-li-e truyền tải.
Vở kịch gồm 2 cảnh, cảnh thứ nhất là sự xuất hiện của ông Giuốc- đanh và bác phó may. Khi bác phó may mang đến bộ lễ phục theo nhu cầu của ông Giuốc- đanh – bộ lễ phục được coi là niềm quan tâm duy nhất của ông ta hiện nay, vì có nó mọi người sẽ biết ông là người giàu có, là quý tộc. Cuộc đối thoại của hai người được coi là chủ- tớ ấy chỉ xoay quanh bộ trang phục. Ông Giuốc- đanh đã phát hiện hoa trên bộ lễ phục bị may ngược, đó là lỗi mà bất cứ ai cũng có thể phát hiện điều đó có nghĩa mặc dù đang rất nóng lòng xem sản phẩm của bác phó may mang đến nhưng ông Giuốc- đanh vẫn đủ tỉnh táo để nhận ra lỗi.
Sự việc đã không xảy ra căng thẳng bởi có lẽ bác phó may đã hiểu tâm lý của ông Giuốc- đanh, bác lý luận rằng những nhà quý tộc đều mặc áo hoa may ngược như vậy, tưởng chừng ông Giuốc- đanh sẽ khắt khe, quát mắng, bắt may lại, nhưng không, hai tiếng “quý tộc” mà bác phó may “lý luận cùn” ấy đã làm đảo ngược tình thế. ông Giuốc- đanh không những không nóng giận mà rút ngay ý của mình lại, điều này chứng tỏ ông không những kém hiểu biết mà còn thích danh giá, sang trọng, học đòi theo lớp quý tộc nhưng thực chất không hiểu quý tộc ra sao. Chính vì muốn người ta gọi ông bằng hai tiếng “quý tộc” ấy mà ông vô tình bị bác phó may qua mặt, và coi đó là mốt.
Cuộc đối thoại thứ hai là sự xuất hiện của bốn tay thợ phụ và ông Giuốc- đanh. Cảnh này, tính cách trưởng giả càng hiện rõ nét và tính hài kịch càng được đẩy lên cao. Bốn tay thợ phụ với những cách gọi khác nhau đã đem đến giá trị “siêu lợi nhuận” mà không cần dùng công sức lao động. hị kiếm lời đơn giản như chưa bao giờ đơn giản hơn.
Khi ông Giuốc- đanh mặc xong lễ phục, tay thợ phụ có lẽ vừa buột miệng nhưng cũng vừa hiểu được tâm lý của bất cứ ai khoác trên mình bộ trang phục mới là thích khen, thợ phụ thứ nhất gọi ngay ông là “ông lớn”, điều này khiến ông ngỡ rằng mình đang mang một bộ đồ vô cùng sang trọng và nghiễm nhiên trở thành bề trên. Ông sung sướng, thỏa nguyện được tôn sưng nên đã lập tức thưởng tiền cho hai tiếng ông vừa nhận được.
Mặc dù không được xem vở kịch công diễn nhưng đọc kịch, ta đã thấy rõ được bản chất lố bịch, xấu xa đáng bị tống tiễn ra xã hội của ông Giuốc- đanh và cũng thấy được tài năng của Mo-li-e, đã đưa “trưởng giả học làm sang” thành vở hài kịch cổ điển mẫu mực. | Phân tích đoạn kịch “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục” của Mo-li-e | 607 | |
Phân tích đoạn mở đầu trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm
Hướng dẫn
Phân tích đoạn mở đầu trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm
Nhà thơ Hoàng Cầm là một ngôi sao sáng trên bầu trời thơ ca Việt Nam. Hồn thơ của ông đến nay vẫn còn vang mãi trong lòng người đọc, một trong số đó nổi bật nhất là bài bên kia sông Đuống. Thật đúng như vậy, bài thơ đã thể hiện được một cách đầy đủ nhất và rõ ràng nhất về tâm tư tình cảm yêu nước cơm thù giặc của chính nhà thơ. Đặc biệt, trong giai đoạn đầu của bài thơ, tác giả đã thể hiện một cách khái quát nhất về nỗi xót xa tâm trạng mình khi biết kia sông Đuống chính mẹ già, vợ con đang phải chịu cảnh cực khổ lầm than.
Đi vào những vần thơ hay đó chính là những dòng tâm sự của Hoàng Cầm, ông bày ỏ luôn về những tâm trạng và sự xót xa của mình qua tiếng gọi tha thiết em ơi:
“Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì”
Ngay từ những câu đầu tiên của bài thơ, những vần thơ thốt ra như được dồn nén từ bấy lâu bây giờ mới bộc lộ, từ đó càng thể hiện rõ sự đau xót của chính tác giả thực sự lớn lao. Cái nỗi đau xót ấy bật ra, “em ơi” cùng với xưng hô “anh” nó là lối xưng hô được thể hiện trong nhiều bài thơ từ ca dao tình nghĩa cho đến thơ hiện đại như bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm. Với Nguyễn Khoa Điềm là những lời thủ thỉ trong tình yêu khiến cho hình ảnh của đất nước thêm gần gũi nhưng đối với Hoàng Cầm thì lại khác, nó thể hiện cho sự xót xa trong lòng mình. Tiếng gọi ấy như đang muốn khuyên nhủ người con gái kia đừng buồn nhưng thật ra đó là lời khuyên tự chính lòng mình. Hình ảnh “ cát trắng phẳng lì “ thể hiện sự nhớ nhưng tới sông Đuống khi mà bọn giặc chưa tới.
Tâm trạng của tác giả càng rõ hơn khi nhắc tới vẻ đẹp hào hùng của sông Đuống:
“Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai xanh biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay”
Sông đuống thật đẹp, và cho tới hôm nay khi chiến đấu chống lại giặc ngoại xâm thì nó vẫn nằm đấy nghiêng dưới kháng chiến trường kì. Hai bên bờ những mía nương dấu kia nó hiện lên thật đẹp với màu xanh của hàng dâu xanh ngắt., có cả ngôi khoai xanh biếc.
Qua đây chúng ta lại càng thấy được rõ ràng về những hình ảnh gần gũi thân thương nhưng cũng đỗi giản dị mà thi vị, nào dâu, nào sắn, mía ngôi, tất cả đều làm nên một cảnh đẹp muôn đời.
Tả cảnh như vậy nhưng tới cuối cùng nhà thơ lại cất lên những tiếng xót xa “Sao xót xa như rụng bàn tay”, chính dòng này cho thấy nhà thơ đang âu lo những bom đạn kia sẽ phá hủy đi những gì đẹp nhất của quê hương mình:
“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay”
Nghệ thuật so sánh thật đặc sắc đã làm cho chúng ta thấy được nỗi lòng của chính tác giả. Nhìn cảnh quê hương đang ngày càng bị tàn phá, nghĩ tới cảnh mẹ già cùng vợ con mình thì tác giả đau xót giống như gãy đi cánh tay của mình vậy. Có thể nói, nỗi đâu ấy không chỉ ngấm trong tim mà nó còn lan ra khắp cả cơ thể.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích đoạn mở đầu trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm | 651 | |
Đề bài: Phân tích đoạn Những đứa trẻ trích trong Thời thơ ấu của Go-rơ-ki
Bài làm
Bộ ba tự truyện của Go-rơ-ki (Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi) là những trang văn có chỗ thấm đầy lệ, có nơi có những tiếng thở dài, cũng có nụ cười tiếng hát, có những dặm đường đầy thử thách của một chú bé, một chàng trai, có những tấm lòng tràn đầy nhân hậu mênh mông.
Đọc chương 9 tập Thời thơ ấu, dõi theo hành trình của cậu bé Pê-scốp. lòng chúng ta xôn xao rung động trước vẻ đẹp của một tâm hồn thơ bé. Tình bạn, tình yêu bà của bé A-li ô-sa Pê-scốp nhiều rung động, chứa chan.
1. Một tình bạn trong sáng tươi đẹp.
Pô-scốp đã sớm nếm trải nhiều cay đắng, bất hạnh. Lên mười tuổi thì cả cha lẫn mẹ đều lần lượt qua đời. Ông ngoại dữ đòn. Chỉ có bà ngoại dịu hiền, yêu thương đứa cháu côi cút hết mực. Những chuyện cổ tích bà kể, nlũmg bài thánh ca bà hát như lurơng hoa ngào ngạt ướp vào tâm hồn tuổi thơ A-li-ô-sa. Cháu chỉ còn biết tìm đến thế giới loài chim, cháu bẫy chim, nuôi chim để nghe chim hót. Khao khát tình thương và tình bạn. Nhà nghèo, ít được đến trường nên A-li-ô-sa ngồi vắt vẻo trên cành cây nhìn sang một cái sân rộng, có lúc qua khe hở hàng rào nhìn ba anh em nhà láng giềng chơi. Khuôn mặt tròn, mắt xám với màu áo xanh cùng những trò chơi lạ của ba anh em đã làm chú ta rất thích. Chúng chơi rất thú vị, vui vẻ và không bao giờ cãi nhau. A-li-ô-sa thích cách ăn vận, thích thái độ săn sóc của chúng đối với nhau… Mỗi khi đứa em nhỏ, một thằng bé ngộ nghĩnh và lanh lợi" bị ngã thì hai thằng anh lại cười vui, rồi xúm vào đỡ em dậy, hoặc lấy khăn tay, lấy lá cây ngưu bàng lau các ngón tay và quần cho em. Tiếng nói của đứa anh thứ hai, nói một cách hiền hậu “Em lóng ngóng quá ” làm cho A-li-ô-sa chú ý. Cả ba anh em đều khỏe mạnh, rất nhanh nhẹn
chan hòa yêu thương, không bao giờ cãi nhau hoặc gian lận cả! A-li-ô-sa đã ngắm nhìn say mê, tưởng như chú đang cùng chơi vui vẻ với chúng. Chú phải leo lên cành cây, lúc thì “huýt sáo gọi chúng ", lúc thì, hét lên hoặc cười thật to " để ba anh em nhà nọ nhìn thấy…, chúng thì thầm bàn bạc gì với nhau, chúng nói khẽ với nhau điều gì,… nên đã làm cho Aliôsa "ngượng quá bèn tụt xuống đất”. Có một cái gì ngăn cách hai thế giới tâm hồn tuổi thơ, hay là hàng rào, hay là…, điều đó làm cho A-li-ô-sa cảm thấy tủi và “cô đơn ” nhiều lắm!
Go-rơ-ki đã kể lại một cách tỉ mỉ kỉ niệm xa xưa ấy, đã làm cho mỗi chúng ta cảm động nhớ lại những chuyện vui buồn thời bé thơ, nhớ lại nhữns kỉ niệm ấm áp về tình bạn dưới mái trường Tiểu học ngày nào…
Một cơ hội đã đến để ba anh em nhà kia mời A-li-ô-sa cùng sang chơi. Một lần chơi trò ú tim, đứa em út non nớt ngây thơ và khờ dại đã ngồi vào gàu và rơi xuống giếng. A-li-ô-sa chợt nhìn thấy, nhảy phắt xuống sân và kêu to: “Ngã xuống giếng rồi!”. Chú đã đến kịp thời để cùng hai đứa anh kéo thằng em út lên, thoát hiểm. Thằng bé ướt sũng, bàn tay rớm máu, "mặt tái xanh nhưng vẫn mỉm cười”. Chúng bảo nhau cách nói dối “em ngã vào vũng nước”. Trước lúc đưa em vào nhà, thằng anh lớn đã “gật đầu" và "chìa tay” cho A-li-ô-sa và nói: "Cậu chạy đến nhanh lắm!”. Sự việc diễn ra quá nhanh, đến nỗi A-li-ô-sa lúc nhìn lại cành cây mà từ đó, chú nhảy xuống cứu bạn “vẫn còn rung rung và một chiếc lá vàng rụng xuống”. Có thể nói, sự nhanh nhẹn và tấm lòng của A-Ii-ô-sa trong việc ứng cứu đứa bé là một “chiến công”, một thử thách cho tình bạn của chú với anh em nhà nọ một tuần sau đó.
Hàng rào ngăn cách vô hình đã bị lũ trẻ phá tung. Và chỉ mấy ngày sau, ba anh em lại kéo nhau ra sân chơi, thằng anh lớn nhìn thấy A-li-ô-sa trên cây đã thân mật gọi: “Xuống đây chơi với chúng tớ”. Đó là tiếng gọi của bạn bè. Là niềm thương yêu tin cậy. Là phần thưởng, là giây phút hạnh phúc nhất đối với A-li-ô-sa mà chú mong đợi bấy nay.
Vốn tâm hồn trong sáng, nhạy cảm, bốn đứa bé như bốn con chim non ríu rít chơi với nhau. A-li-ô-sa hỏi chúng nó có bị đánh không. Chúng trao đổi với nhau về chuyện bắt chim nuôi chim, về chim Bạch yến… Chúng nói với nhau về mẹ và dì ghẻ. Cả bốn đứa bé đều cùng cảnh ngộ “mồ côi mẹ ”, sự đồng cảm về cảnh ngộ đã gắn bó tâm hồn tuổi thơ. A-li-ô-sa kể cho chúng nghe “Chuyện mụ dì ghẻ phù thủy”… “Bốn đứa bé" ngồi sát vào nhau như những chú gà con. Đây là những khoảnh khắc thần tiên của chúng, thằng bé nhất thì “mím chặt môi và phồng má lên”. Một đứa thì “chống khuỷu tay lên đầu gối… ” và quàng lên vai em nó. Chúng im lặng lắng nghe cổ tích.
Ở đời, xưa và nay, tình bạn luôn luôn được thử thách qua cảnh giàu nghèo, sang hèn, lúc thành đạt, v.v… ở người lớn và trẻ em có tình bạn thủy chung, có thứ tình bạn "nắng sớm, chiều mưa", v.v… Bốn đứa trẻ này đang chơi thân với nhau, bỗng người lớn đã xông vào “phá đám”. Lão đại tá già xuất hiện với bộ ria trắng, đầu đội chiếc, mũ xù lông đã thô bạo “nắm lấy vai” và đuổi A-li-ô-sa ra khỏi cổng với lời đe dọa: “Cấm không được đến chỗ tao!”. Rồi trận đòn của ông ngoại. Sự đặt điều mách lẻo, sự để ý “theo dõi ” của bác Pi-ốt. Ông ngoại đã nghiêm cấm cháu không được chơi với mấy đứa con lão đại tá, v.v… Nhưng tuổi thơ và tình bạn trong sáug của tuổi thơ, ai có thể ngăn cấm và li gián được? Vì thế A-li-ô-sa vẫn tiếp tục chơi với ba đứa bé kia và quan hệ giữa chúng nó “càng ngày càng trở nên thích thú ”. Chẳng có bức tường thành nào ngăn cách được bốn đứa trẻ! Mọi định kiến giai cấp, mọi sự ngăn cấm và đòn roi đối với chúng nó chẳng có nghĩa lí gì. Giữa bức tường và hàng rào nhà ông đại tá, có một cây du, một cây bồ đề và một bụi hương mộc rậm rạp, “một lỗ hổng hình bán nguyệt" đã được bí mật khoét ra. Chính tại đây ba đứa con trai đại tá, một đứa dứng canh, hai đứa ngồi xổm hoặc quỳ nói chuyện khe khẽ với nhau.Chúng nói về cuộc sống buồn, về những con chim, nhiều chuyện trẻ con khác,… Chúng nghe A-li-ô-sa kể chuyện cổ tích. Có một chi tiết rất thú vị là mỗi lần kể chuyện, nửa chừng quên mất chỗ nào. A-li-ô-sa lại chạy về hỏi bà… Chúng vẫn chơi vui, vân tâm tình, vẫn chan hòa trong niềm thơ ấu cổ tích. Mội tình bạn trong sáng, hồn nhiên.
2. Và tình yêu thương của bà.
Ba anh em con nhà đại tá mồ côi mẹ, chịu cảnh dì ghẻ, chúng lại không còn bà. Còn A-li-ô-sa, tuy thỉnh thoảng vẫn bị ông ngoại đánh đòn, nhưng em còn có bà ngoại. Bà là dòng sữa cổ tích ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn em. Bà là chỗ dựa tinh thần bảo vệ che chở cháu khi bị người lớn đặt điều. Ta hãy nghe bà trả lời dứt khoát bác Piốt:
“Ôi chà, bác Pi-ốt, tự bác đặt điều ra thì có, nó không chửi bác như vậy đâu!”. Mỗi lần A-li-ô-sa quên một tình tiết nào đó trong cổ tích, chạy về hỏi bà, em đã làm cho bà "rất hài lòng”. Chú đã tự hào kể bao nhiêu chuyện tốt đẹp về bà ngoại mình, đã làm cho ba anh em nhà đại tá xúc động. Cả ba anh em đều buồn và thằng anh lớn đã “thở dài ” nói: “Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà mình trước đây cũng rất tốt. Đó là một câu nói giản dị của một em bé đã trải qua nhiều bất hạnh. Những bạn nhỏ nào đó đã từng được nghe bà ru, bà kể chuyện cổ tích, từng được bà ôm ấp gãi lưng cho? Những bạn nhỏ nào đó trong cơn mơ từng thấy bà hiền hậu đang cầm “ quả thị Tấm Cám" trên tay? Và những ai đó khi cất tiếng chào đời chưa một lần nào được nhìn thấy mái tóc bà, nụ cười hiền hậu của bà sẽ xúc động biết bao khi nghe một đứa bé “thở dài " nói trong ngao ngán “ bà mình trước cũng rất tốt "
Có thể nói tình bạn và tình yêu thương bà là những tình cảm đậm đà, trong sáng, thiêng liêng của tuổi thơ. Đọc những dòng tự thuật trên đây, ta thấy chất thơ dào dạt trên trang văn của Go-rơ-ki. Ta biết yêu bà, yêu bạn. Ta lớn lên và được sống tin cậy trong tình yêu thương mênh mông. Thiếu tình thương, tuổi thơ buồn lắm vì phài trải qua những tháng ngày u ám cô đơn. Từ khi có bạn, được chơi trong tình bạn, những em bé mồ côi như có ánh nắng đem lại sự ấm áp cho tâm hồn. Go-rơ-ki đã nói rất cảm động điều đó. Tính chân thực, hồn nhiên và truyền cảm tạo nên vẻ đẹp văn chương đích thực của “Thời thơ ấu ”. | Phân tích đoạn Những đứa trẻ trích trong Thời thơ ấu của Go-rơ-ki | 1,721 | |
Đề bài: Phân Tích Đoạn Nước Đại Việt Ta Của Nguyễn Trãi trích Bình Ngô đại cáo
Bài làm
Nguyễn Trãi tên hiệu ức Trai, Nguyễn Trãi là một vị anh hùng dân tộc, một nhà văn hóa kiệt xuất, nhân vật toàn tài số một của lịch sử Việt Nam thời phong kiến. Nguyễn Trãi sống trong một thời đại đầy biến động: nhà Trần suy vi, Hồ Quý Ly lập nghiệp chưa được bao lâu thì giặc Minh xâm lược. Cha bị bắt, Nguyễn Trãi muốn làm tròn đạo hiếu nhưng nghe lời cha dặn đã quay về báo thù cho nước, rửa nhục cho cha. Bị giam lỏng ở thành Đông Quan, Nguyễn Trãi bỏ trốn tìm đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi dâng Bình Ngô sách. Từ đó, Nguyễn Trãi trở thành quân sư đắc lực của Lê Lợi, đưa cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh giành thắng lợi. Mùa xuân năm 1428, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo – một áng Thiên cổ hùng văn tuyên cáo độc lập dân tộc. Đoạn trích Nước Đại Việt ta thuộc phần đầu của bài cáo, là đoạn trích có vị trí quan trọng – làm tiền đề cho bài cáo.
Tác phẩm Bình Ngô đại cáo được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có Ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm.
Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” và “Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh ở các điểm: âm mưu cướp nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị của kẻ thù: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”; “Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”. Đoạn văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc và thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn thứ ba là đoạn dài nhất của bài cáo, có Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân ở vào thế yếu “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội”, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu”, “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”…Nhưng nghĩa quân có người lãnh tụ Lê Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước “Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống”, biết đoàn kết lòng dân “Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, dùng chiến thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành “Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh”và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang dội “Đánh một trận sạch không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông”, giặc Minh thì liên tiếp thất bại, thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại có vết nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kẻ bị bêu đầu…Đoạn văn thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
Mở đầu đoạn trích, tác giả viết:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.”
Có thể coi hai câu thơ này là cốt lõi tư tưởng của Nguyễn Trãi nói riêng và của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nói chung.
Nhân là quan niệm đạo đức có từ lâu đời mà ý nghĩa ban đầu của nó chỉ bó hẹp trong sự tương thân, tương ái giữa người với người. Chữ nhân trong chính sách cai trị của vua biểu hiện ở khuynh hướng coi trọng dân chúng, lấy dân làm gốc: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Nhân nghĩa trong đạo lí được mở rộng thành lòng thương người và những việc tốt đẹp nên làm.
Nguyên lí nhân nghĩa là nền tảng cơ bản để Nguyễn Trãi triển khai nội dung bài Bình Ngô đại cáo. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi biểu hiện cụ thể qua hành động yên dân, trừ bạo. Yên dân là vỗ về, an ủi, làm cho dân chúng được hưởng cuộc sống ấm no, thái bình. Muốn yên dân thì phải trừ bạo, tức là tiêu diệt mọi thế lực bạo tàn làm khổ dân.
Đặt trong hoàn cảnh lịch sử Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo thì dân mà tác giả nói tới là người dân Đại Việt phải chịu cảnh đau thương, tang tóc dưới ách thống trị của quân xâm lược; còn kẻ bạo tàn chính là giặc Minh mà tác giả gọi một cách khinh bỉ là quân cuồng Minh.
Với Nguyễn Trãi việc nhân nghĩa gắn liền với hành động cứu nước, cứu dân. Nội dung nhân nghĩa không còn bó hẹp trong phạm vi quan hệ giữa người với người như trong quan niệm của Nho giáo mà nó đã liên quan tới vận mệnh của dân tộc, giữa mối quan hệ giữa dân tộc với dân tộc. Đây là sự phát triển cao độ của tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi.
Sau khi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã khẳng định chân lí bất di bất dịch về chủ quyền độc lập của quốc gia Đại Việt trong tám câu tiếp theo:
“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương,
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.”
Tác giả đã đưa ra những yếu tố căn bản để xác định chủ quyền độc lập của dân tộc Đại Việt. Đó là nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ rõ ràng, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng. Văn hiến nghĩa là gốc dùng để chỉ sách vở, chỉ người hiền tài; nghĩa khái quát là nền văn hóa, văn minh của một quốc gia, dân tộc. Dựa trên những yếu tố này, Nguyễn TRãi đã nêu lên một quan niệm đầy đủ được người đời sau đánh giá là kết tinh học thuyết về quốc gia, dân tocọ. Sơ với thời Lí, học thuyết đó phát triển cao hơn bởi tính toàn diện và sâu sắc của nó. Quan niệm về quốc gia, dân tộc trong Nam quốc sơn hà được xác định chủ yếu qua hai yếu tố: lãnh thổ và chủ quyền. Đến Bình Ngô đại cáo, thêm ba yếu tố nữa được bổ sung: văn hiến, phong tục tập quán và lịch sử. Ông khẳng định mạnh mẽ điều mà kẻ xâm lược phương Bắc luôn tìm cách phủ định là nước Nam không có nền văn hiến.
Trong bài Nam quốc sơn hà, các tác giả đã thể hiện tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc qua cách gọi vua Đại Việt là Nam đế, nâng vị thế vua ta lên ngang hàng với triều vua của phong kiến Trung Hoa. Đến Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy tinh thần đó:
“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương,”
Để tăng sức thuyết phục cho bài cáo, tác giả đã sử dụng hàng loạt các từ ngữ thể hiện tính chất hiển nhiên của chủ quyền độc lập dân tộc của nước ta: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác, bao đời, xưng đế,…
Bằng phép đối, tác giả đặt Đại Việt ngang hàng với Trung Quốc về mọi mặt: thể chế chính trị, tổ chức chế dôdj, quản lí quốc gia… Các triều đại Triệu, Đinh, Lí, Trần của ta song song tồn tại với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Quốc mặc dù mỗi bên ở một phương khác nhau. Điều này là một thực tế hiển nhiên, không ai có thể chối cãi.
“Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.
Việc xưa xem xét Chứng cớ còn ghi.”
Trong bài Nam quốc sơn hà, tác giả khuyết danh đã khẳng định sức mạnh của chính nghĩa: lũ bạo giặc (nghịch lỗ) làm trái đạo lí nhân nghĩa, phạm vào sách trời (thiên thư) tức là đi ngược lại chân lí khách quan, thì nhất định chúng sẽ chuốc lấy bại vong (thủ bại thư). Còn ở Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đưa ra những dẫn chúng cụ thể hơn, hùng hồn hơn, có sức thuyết phục lớn hơn. Tướng giặc kẻ bị giết, người bị bắt. Không phải thất bại giống nhau, mà tên thì thất bại, tên thì tiêu vong, tên bị bắt sống, tên bị giết tươi (nguyên văn: bại: thua, vong: mất, cầm: bắt sông, ế: chết). Cũng không thể bỏ qua việc gọi xách mé tên vua Nam Hán là Lưu Cung. Cũng là cách gọi xứng đáng dành cho một tên xâm lược. Nhưng không gì đẹp bằng hai vế nhân nghĩa căng ngang trên đầu như một câu khẩu hiệu thiêng liêng, cao cả, bằng chữ vàng chói lọi, lồng lộng giữa trời cao, muôn đời sáng chói, và hai vế cuối đoạn khẳng định chân lí chủ quyền độc lập, chân lí sức mạnh văn hiến, như một lời gạch chân, tô đậm. Cả 4 vế của hai câu mở đầu, kết thúc đoạn văn như đóng thành một cái khung hoành tráng cho các tư tưởng lớn mãi mãi chói ngời…
Đoạn văn mở đầu bài Bình Ngô đại cáo không dài, tuy vậy, nó vẫn là điểm tựa, là nền móng lí luận cho toàn bài. Đoạn văn có sức khái quát cao, giàu chứng cớ lích ử, tràn đầy cảm xúc tự hào. Bề nổi của lời văn là sự nghiêm khắc răn dạy, còn chiều sâu thấm thía tư tưởng nhân nghĩa cốt lõi của đạo làm người. | Phân Tích Đoạn Nước Đại Việt Ta Của Nguyễn Trãi | 1,968 | |
Phân tích đoạn thơ Chàng thì đi cõi xa mưa gió… ai sầu hơn ai
Hướng dẫn
‘Chinh phụ ngâm khúc’là khúc ngâm tả nỗi buồn cô đơn, thương nhớ, chờ mong của người vợ trẻ có chồng đi chinh chiến miền xa. Tác giả khúc ngâm là Đặng Trần Côn, một danh sĩ tài ba, sống vào nửa đầu thế kỉ 18, khi đất nước ta đang đắm chìm trong cảnh loạn lạc, nội chiến lầm than và đau thương. Nguyên tác bằng chữ Hán, gồm có 470 câu thơ dài, ngắn xen nhau theo thể tự do. Bản dịch thơ dài 408 câu thơ song thất lục bát, tương truyền là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, người cùng thời với tác giả. Tiếng Việt và thể thơ song thất dưới ngòi bút sáng tạo của
dịch giả đã nâng ‘Chinh phụ ngâm khúc’ lên một tầm vóc mới, trở thành kiệt tác trong nền thi ca cổ điển Việt Nam. Nghệ thuật diễn tả tâm trạng, hình tượng thơ mĩ lệ, nhạc điệu du dương, thiết tha, ngôn ngữ thơ tinh luyện, biểu cảm… là vẻ đẹp của áng thơ này. Nỗi buồn cô đơn, niềm khao khát hạnh phúc của nàng chinh phụ giữa thời chiến tranh loạn lạc mang ý nghĩa thể hiện khát vọng hòa bình của nhân dân, lên án chiến tranh phi nghĩa. Tinh thần nhân đạo là giá trị to lớn và sáu sắc của ‘Chinh phụ ngâm khúc’.
Đoạn thơ 12 câu dưới đây trích từ câu 53 đến câu 64 của khúc ngang đã thể hiện một cách cảm động tâm trạng cô đơn và nỗi sầu chia li của nàng chinh phụ trong những ngày đầu, sau khi tiễn chồng ra trận:
‘Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Lòng chàng ỷ thiếp ai sầu hơn ai?’
1. Hai vế đối xứng song hành: ‘Chàng thì đi’ / ‘thiếp thì về’ làm hiện lên một cảnh ngộ chia li của lứa đôi đầy bi kịch giữa thời loạn lạc. Người vợ trẻ thương chồng phải dấn thân vào ‘cõi xa mưa gió’, phải nếm trải bao nguy hiểm, gian lao nơi chiến địa xa xôi. Rồi nàng lại tự thương mình phải sống lẻ loi, cô đơn, một mình một bóng suốt năm canh nơi ‘buồng cũ chiếu chăn’. Hai hình ảnh tượng trưng: ‘cõi xa mưa gió’ và ‘buồng cũ chiếu chăn’ hô ứng nhau, đã thể hiện một cách sâu sắc nỗi đau khổ của ‘đôi lứa thiếu niên’ khi đất nước ‘nổi cơn gió bụi’:
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn’
Ba chữ ‘đoái trông theo’ gợi tả một cái nhìn đăm đắm về phía chân trời xa. Hình bóng người chồng thân yêu đâu còn nhìn thấy nữa, đã ‘cách ngăn’ bởi màu ‘biếc’ của mây, cứ ‘tuôn’ mãi ra, bởi ‘ngàn núi xanh’ cứ trải dài trải rộng và che khuất ở phía chân trời. Chinh phụ một mình một bóng lẻ loi giữa trống vắng bao la. Nỗi buồn cô đơn như thấm vào mây, núi:
‘Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh’
‘Mây biếc’càng làm cho bầu trời cao hơn, mênh mông hơn. ‘Ngàn núi xanh’ càng làm cho chân trời thêm xa xăm, cách trở. Câu thơ ‘Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh’ là một câu thơ có hình tượng mĩ lệ và rất hay. Tác giả đã lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm trạng thương nhớ và cô đơn của chinh phụ một cách đặc sắc.
2. Nỗi buồn cô đơn của nàng chinh phụ được khắc sâu, được tô đậm qua cách nói ước lệ tượng trưng ở đoạn song thất tiếp theo:
‘Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng’
Hàm Dương và Tiêu Tương, hai địa danh trên đất nước Trung Hoa bao la, cách xa nhau hàng nghìn dặm, được nhắc đi nhắc lại đến ba lần đầy ám ảnh. Trên cõi sa trường tầm tã gió mưa sương tuyết, giữa rừng gươm giáo ‘chàng còn ngoảnh lại’… Ó chốn ‘buồng cũ chiếu chăn’, sớm sớm chiều chiều ‘thiếp hãy trông sang’. Nhưng chỉ thấy ‘bến’, thấy ‘cây’, thấy’khói’ mịt mù trong tâm tưởng. 90
Không gian địa lí bao la đã trở thành không gian nghệ thuật trống vắng. Chữ ‘cách’ được điệp lại hai lần, kết hợp với ‘mấy trùng’ càng làm nổi bật bi kịch chia li của lứa đôi. Và đó cũng là tâm trạng nghệ thuật: nỗi buồn cô đơn, thương nhớ của nàng chinh phụ không thể nào kể xiết.
Cách nói ước lệ tượng trưng là một thủ pháp nghệ thuật của thi pháp cổ mang giá trị thẩm mĩ đặc sắc: tạo nên tính hàm súc và liên tưởng phong phú, đầy ý vị. ‘Chinh phụ ngâm khúc’ có nhiều đoạn thơ mang tính ước lệ rất hay. Lúc thì gợi lên nỗi gian truân của khách chinh phu trên chiến địa:
‘Nay Hấn xuống Bạch Thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua,
Hình khe, thế núi gần xa,
Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao…’
Lúc thì tái hiện một cách rùng rợn chốn sa trường:
‘Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo,
Bến Phỉ gió thổi đìu hiu mấy gò.
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi…’
3.Bốn câu thơ cuối đoạn đã cực tả nỗi buồn của nàng chinh phụ trong sự trông ngóng nhớ thương:
‘Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’
Càng ngóng trông càng vô vọng cô đơn; ở hai phía chân trời, chàng và thiếp đang buồn đau: ‘Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy’. Ngày và đêm, thực và mộng ‘chẳng thấy’ hình bóng thân thương của chàng, mà thiếp chỉ ‘thấy’ màu ‘xanh xanh’ của ngàn dâu, càng về sau càng nhạt nhòa trên cái nền bao la ‘ngàn dâu xanh ngắt một màu’. Màu ‘xanh xanh’, màu ‘xanh ngắt’ ấy của ngàn dâu cũng là màu xanh của tâm tưởng, màu xanh của li biệt. Thiếp đang sống trong nỗi buồn nhớ thiết tha. Chẳng có ngọn gió tây, chẳng có cánh chim nhạn để thiếp gửi tình thương nhớ tới chàng đang chinh chiến trên ải xa? Câu hỏi tu từ như một tiếng thở dài ngao ngán: ‘Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’.
Các từ ngữ: ‘cùng trông lại’, ‘cùng chẳng thấy’, ‘thấy’, ‘ngàn dâu… ngàn dâu’, ‘ai… ai’ – lúc thì tương phản, lúc thì hô ứng đăng đối, tăng cấp, lúc thì điệp và láy – đã tạo nên nhạc điệu du dương, tha thiết, diễn tả một cách xúc động một tâm trạng đầy bi kịch thời loạn lạc. Biện pháp nghệ thuật liên hoàn và cách diễn tả trùng điệp là một nét rất tài hoa của nữ sĩ được thể hiện qua 4 câu song thất này. Chữ ‘thấy’ cuối câu bảy trên được nhắc lại đầu câu bảy dưới; chữ ‘ngàn dâu’ cuối câu bảy dưới lại được điệp lại đầu câu sáu, đã làm cho thơ liền mạch, làm nổi bật nỗi sầu, nỗi buồn li biệt diễn ra triền miên khôn nguôi trong tâm hồn chinh phụ.
‘Hướng dương lòng thiếp như hoa,
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,
Hoa để vàng bởi tại bóng dương.
Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần’…
Thơ là cái đẹp muôn đời của sự sống. ‘Chinh phụ ngâm khúc’ là cái đẹp chứa chan tinh thần nhân đạo phản ánh một thời kì loạn lạc đau thương, để lại bao xúc động trong lòng người hơn 250 năm nay. Đoạn thơ 12 câu trên đây là một nét đẹp của khúc ngâm tuyệt tác này. Ngôn từ tinh luyện, biểu cảm, hình tượng mĩ lệ, nhạc điệu du dương, câu thơ song thất của khúc ngâm đã trở thành cổ điển. Cách nói ước lệ tượng trưng, cấu trúc song hành đối xứng, biện pháp liên hoàn tượng trưng đã được nữ sĩ sử dụng rất tài tình.
Chiến tranh loạn lạc đã để lại bao nỗi đau trong lòng người. Nỗi buồn ly biệt, tình thương nhớ, cảnh ngộ cô đơn của người vợ trẻ sau khi tiễn chồng ra trận như thấm sâu vào cảnh vật từ mây trời, núi non đến cây cỏ, từ chốn phòng khuê đến ải xa nơi chiến địa. Đoạn thơ thấm đượm tính nhân văn, thể hiện niềm khao khát của người chinh phụ muốn được sống trong tình yêu hạnh phúc, trong hòa bình yên vui. | Phân tích đoạn thơ Chàng thì đi cõi xa mưa gió… ai sầu hơn ai | 1,451 | |
Phân tích đoạn thơ Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều
Hướng dẫn
Phân tích đoạn thơ Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều
Nguyễn Du là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, được mệnh danh là đại thi hào, trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, Nguyễn Du đã để lại nhiều tác phẩm hay và có giá trị, nổi bật nhất có thể kể đến đó chính là đại kiệt tác Truyện Kiều. Đoạn trích Chí khí anh hùng là một trong những đoạn trích khá tiêu biểu, Nguyễn Du đã miêu tả chân dung cũng như khát vọng làm nên sự nghiệp lớn của người anh hùng Từ Hải.
Trong đoạn trích Chí khí anh hùng, tác giả Nguyễn Du đã tập trung miêu tả và làm nổi bật lên vẻ đẹp ý chí và phẩm chất của Từ Hải. So với nhân vật Từ Hải trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện thì nhân vật Từ Hải của Nguyễn Du hoàn toàn khác, đó không phải một tên tướng cướp như nguyên mẫu mà là một người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất có bản lĩnh và ý chí phi thường. Cảm hứng ca ngợi cùng bút pháp ước lệ tượng trưng khiến cho nhân vật Từ Hải hiện lên lớn lao, kì vĩ, mang đầy đủ phẩm chất của người những người anh hùng xưa.
Khi Thúy Kiều đang tuyệt vọng, chìm đắm trong cuộc sống đau khổ, ê chề nơi lầu xanh thì Từ Hải đã xuất hiện và cứu nàng ra khỏi chốn tửu sắc đầy thị phi ấy. Nhờ có Từ Hải mà Thúy Kiều được báo ân báo oán, được hưởng hạnh phúc vợ chồng như những người phụ nữ bình thường khác. Tuy cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng vẫn không thể che khuất được khát vọng lập thân to lớn của Từ Hải. Vì vậy mà dù không đành lòng nhưng Từ Hải vẫn phải để Thúy Kiều ở lại còn bản thân mình thì ra đi thực hiện hoài bão:
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”
Thúy Kiều và Từ Hải đã có nửa năm bên nhau, cuộc sống êm ấm, hạnh phúc nhưng với hoài bão lớn của người anh hùng, Từ Hải đã “động lòng bốn phương”. Cách sử dụng từ ngữ đầy tính ước lệ đã làm nổi bật lên khát vọng lập công danh, sự nghiệp của Từ Hải. Dù yêu thương, trân trọng tình yêu với Thúy Kiều nhưng khát vọng anh hùng đã không cho phép Từ Hải lùi bước, tương lai, sự nghiệp phía trước “mênh mang” chưa xác định nhưng với bản lĩnh kiên cường, khát vọng lớn lao ấy hình ảnh ra đi của Từ Hải đẹp đẽ như những bậc trượng phu xưa.
Đối với Thúy Kiều mà nói, Từ Hải không chỉ là người chồng mà nàng thương yêu, trân trọng mà đó còn là người mà nàng mang ơn, chính Từ Hải đã cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh. Trước quyết định ra đi của Từ Hải, nàng biết không thể ngăn cản nhưng cũng không đành lòng để chàng ra đi đơn độc, Thúy Kiều đã bày tỏ mong muốn được đi theo để chăm sóc, nâng khăn sửa túi cho chàng:
“Nàng rằng: Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi”
Thúy Kiều đề cao quan niệm “xuất giá tòng phu” của đạo đức Nho giáo xưa, nàng muốn được đi theo để tiện bề chăm sóc cũng như giúp đỡ cho Từ Hải. Trước yêu cầu đầy chân thành của Thúy Kiều, Từ Hải đã rất cảm động nhưng cuối cùng chàng không đồng ý vì sợ Thúy Kiều thân con gái đi theo sẽ phải chịu khổ. Như để an ủi nàng, Từ Hải đã hứa hẹn bao giờ lập lên sự nghiệp lớn sẽ rước nàng “nghi gia”:
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia”
Theo Từ Hải, Thúy Kiều chưa thoát khói thói nữ nhi thường tình đồng thời đó cũng là lời động viên để nàng không phải lo lắng khi mình lên đường thực hiện nghiệp lớn. Là một người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất, Từ Hải quyết tâm ra đi gây dựng nghiệp lớn để có thể nắm trong tay “mười vạn tinh binh”. Và khi sự nghiệp đã thành, chàng sẽ trở về để đón Kiều nghi gia trong “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp trời”.
Qua những lời đối thoại của Từ Hải với Thúy Kiều trước lúc ra đi đã thể hiện được chí khí lớn lao của người anh hùng mang trong mình khát vọng lớn. Tuy nói Thúy Kiều đi theo sẽ thêm vướng bận nhưng thật ra nguyên nhân chính Từ Hải không muốn Thúy Kiều đi theo là vì không muốn nàng phải chịu khổ, sợ nàng không thể thích ứng được với cuộc sống bốn bể là nhà:
“Bằng ngay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu”
Để Thúy Kiều có thể yên tâm hơn, Từ Hải đã khẳng định thời gian mà mình ra đi là một năm, Từ Hải đã động viên Thúy Kiều về một tương lai chiến thắng, chàng sẽ trở về trong sự hiển hách, vinh quang:
Chầy chăng là một năm sau vội gì.”
Cuộc chia tay giữa Từ Hải cũng thật khác lạ, đó không phải là những lời tâm tình nỉ non mà lại là những lời hứa hẹn về một tương lai tất thắng, qua đó ta có thể thấy được những phẩm chất trượng phu trong con người của Từ Hải, đó là con người dùng hành động để thể hiện tình cảm với người mình yêu.
Đoạn trích “Chí khí anh hùng” đã xây dựng thành công hình tượng người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất Từ Hải, đó không chỉ là một con người giàu tình cảm mà còn là một người anh hùng có khát vọng lớn cùng ý chí, quyết tâm đầy mạnh mẽ, quyết liệt. | Phân tích đoạn thơ Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều | 1,045 | |
Đề bài: Phân tích đoạn thơ Chị em Thuý Kiều của Nguyễn Du
Bài làm
"Chị em Thúy Kiều" là đoạn trích nằm ở phần mở đầu “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, nhà thơ nhân đạo xuất sắc cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Tác phẩm thành công về giá trị nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nhân vật mà đoạn trích này là một ví dụ tiêu biểu.
Sau khi giới thiệu về gia cảnh của Vương viên ngoại, nhà thơ nói tới vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều:
"Đầu lòng hai ả Tố Nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
… Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai."
Bút pháp tả người của Nguyễn Du là bút pháp ước lệ thường thấy trong thơ cổ điển: lấy những nét đẹp trong thiên nhiên để so sánh với vẻ đẹp của con người. Ở các nhà thơ khác, theo cách tả này, chân dung nhân vật thường trở nên chung chung, mờ nhạt; song cái công thức ước lệ ấy vào tay Nguyễn Du lại biến hóa khôn lường và đầy tài hoa sáng tạo, khiến nhân vật của ông rất có hồn.
Đầu tiên, nhà thơ giới thiệu chung về hai chị em Kiều. Qua cách gọi trang trọng: Tố Nga (người con gái đẹp), cách đánh giá khái quát:
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Nguyễn Du đã khẳng định hai chị em Kiều đều rất đẹp. Hình dáng thanh tú yểu điệu (mai cốt cách), tâm hồn trong tráng như sương tuyết (tuyết tinh thần). Rõ ràng họ là con nhà nền nếp, được hưởng thụ một nền giáo dục đầy đủ và tốt đẹp.
Nguyễn Du rất kĩ lưỡng trong việc chọn hình ảnh và từ ngữ để miêu tả. Thúy Vân hiện lên trước mặt người đọc với vẻ đẹp đài các, kiêu sa:
“Vân xem trang trọng khác người,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang."
Gương mặt nàng đẹp phúc hậu, tươi mát, gợi sự đầy đủ, viên mãn. Nàng cười tươi như hoa nở, tiếng nói trong như ngọc rơi trên mâm vàng. Tóc nàng đen mướt đến mây cũng thua. Da nàng trắng đến tuyết cũng phải nhường. Dường như tạo hóa đã ban cho Vân những đặc ân mà không bị ai ganh ghét, đố kị với nàng, vẻ đẹp căng đầy sức sống của Thúy Vân báo trước đời nàng sau này sẽ yên ổn, vinh hoa, nàng sẽ được hưởng mọi điều sung sướng của một bậc mệnh phụ mà chẳng phải gian lao, vất vả.
Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Du lại miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân trước, Thúy Kiều sau. Dụng ý của ông là lấy vẻ đẹp của Vân làm nền cho vẻ đẹp của Kiều: Vân đã trang trọng khác vời, đã đạt tới mức cao nhất của vẻ đẹp mà tạo hóa ban cho người phụ nữ nhưng Kiều mới chính là đỉnh cao ciia sắc đẹp, phá vỡ mọi khuôn khổ thường thấy từ trước tới nay.
Ngay từ câu đầu giới thiệu về Kiều, Nguyễn Du đã khẳng định:
“Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn."
Vân đã đẹp thế, Kiều lại đẹp hơn hẳn Vân. Sắc đẹp của nàng là sắc đẹp sắc sảo mặn mà, gây ấn tượng rất mạnh, ai thấy một lần phải nhớ mãi. Tả Kiều, Nguyễn Du không đi vào chi tiết như tả Vân mà nhà thơ đặc tả đôi mắt – cửa sổ của tâm hồn:
“Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh."
Mắt Kiều long lanh như nước mùa thu, dáng lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân. Ẩn chứa trong đôi mắt ấy là một tâm hồn đa cảm khác thường, vẻ đẹp của nàng nghiêng nước, nghiêng thành, khiến cho hoa phải ghen, liễu phải hờn. Tác giả tả Kiều đẹp tuyệt vời như vậy nhưng trong cách tả ông cũng hé cho ta thấy cái dự cảm bất an trong tương lai của Kiều. Theo thuyết tài mệnh tương hô, phàm cái gì tốt đẹp trên đời đều khó giữ được bền lâu. Thúy Kiều đẹp không ai sánh bằng, tất nàng sẽ bị người đời ghen ghét và đày đọa.
Tả Vân, Nguyễn Du chỉ nói đến sắc, tuyệt nhiên không nhắc đến tài. Còn Thúy Kiều: Sắc đành đòi một, tài đành họa hai. Nàng là người con gái tài sắc vẹn toàn:
“Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương."
Thúy Kiều quả thật đa tài: thi, họa, ca, ngâm,… ít ai có được cùng một lúc nhiều tài đến như vậy. Nhất là tài chơi đàn đã thành nghề riêng của Kiều, không ai sánh nổi.
Có sắc, có tài, Kiều lại có thêm một tâm hồn mẫn cảm lạ lùng. Dường như nàng linh cảm được trước số phận bất hạnh của mình nên đã tự sáng tác nên khúc đàn Bạc mệnh mà ai nghe cũng phải não lòng.
Bốn câu thơ cuối đoạn tả hoàn cảnh sống của chị em Kiều:
"Ềm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai."
Những chi tiết trên khẳng định thêm phẩm hạnh trong trắng, cao quí của chị em Thúy Kiều.
Một đoạn trích ngắn chỉ 24 câu thơ nhưng đã cho chúng ta thấy được tài năng nghệ thuật tuyệt vời cuả Nguyễn Du. Ông xứng đáng là một bậc thấy về sử dụng ngôn ngữ để tả chân dung nhân vật. Mỗi nhân vật của ông đều có diện mạo riêng, tính cách riêng rõ nét.
Tả vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, tác giả bày tỏ tình thương yêu trân trọng đối với con người, đồng thời ông ngầm khẳng định: Một con người tài sắc vẹn toàn như Kiều rất xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Cuộc đời nàng bị đọa đầy, bất hạnh thì đó chính là do tội ác của các thế lực đen tối trong xã hội gây ra. Đọc đoạn trích, chúng ta có thiện cảm ngay với hai chị em Kiều và cùng tác giả, chúng ta hãy dõi theo từng bước chân của họ trên đường đời vạn nẻo đầy chông gai, sóng gió.
Bài làm 2
Thơ cổ viết về giai nhân thì đoạn thơ Chị em Thúy Kiều trích trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du là một trong những vần thơ tuyệt bút. 24 câu lục bát đã miêu tả sắc, tài và đức hạnh chị em Thúy Kiều, Thúy Vân – hai tuyệt thế giai nhân với tất cả tấm lòng quý mến và trân trọng của nhà thơ thiên tài dân tộc.
Bốn câu đầu, Nguyễn Du giới thiệu vị thứ trong gia đình: "Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân”, là con đầu lòng cùa ông bà Vương viên ngoại. "Hai ả tố nga” là hai cô gái xinh xắn, xinh tươi. Cốt cách thanh cao như mai (một loài hoa đẹp và quý), tinh thần trinh trắng như tuyết. Hai chị em có nhan sắc tâm hổn hoàn mĩ "mười phân vẹn mười", tuy thế, mỗi người lại có một nét đẹp riêng “ mỗi người một vẻ”.
Một cái nhìn phát hiện đầy trân trọng; lấy mai và tuyết làm chuẩn mực cái đẹp, Nguyễn Du miêu tả tâm hồn trong sáng, trinh trắng làm rõ cái thần bức chân dung thiếu nữ.
Bốn câu tiếp theo tả nhan sắc Thúy Vân. Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dunc giai nhân. Cử chỉ, cách đi đứng… rất trang trọng quý phái. Cách ứng xử thì đoan trang. Mày nở nang, thanh tú như mày con bướm tằm. Gương mặt xinh tươi như trăng rằm. Nụ cười tươi thắm như hoa. Tiếng nói trong như ngọc. Tóc mềm, bóng mượt đến nỗi "mây thua". Da trắng mịn làm cho tuyết phái "nhường". Cách miêu tả đặc sắc, biến hóa. Sử dụng ẩn dụ, nhân hóa tài tình:
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang.
Dùng thủ pháp so sánh, nhân hóa:
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Từ ngữ: "trang trọng", "đoan trang" là 2 nét vẽ tinh tế, gợi tả cái thần của bức chân dung ả tố nga: vẻ đẹp quý phái, phúc hậu. Một cái nhìn nhân văn đầy quý mến trân trọng của nhà thơ khi miêu tả Thúy Vân.
Mười hai câu tiếp theo tả sắc, tài Thúy Kiều. Nguyễn Du tả Thúy Vân trước, tả Thúy Kiều sau, chỉ dùng 4 câu tả Thúy Vân, dùng đến 12 câu tả Thúy Kiều. Đó là một dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du, Kiều không chỉ đẹp mà còn giàu tài năng. Vẻ đẹp của Kiều là '”sắc sảo, mặn mà", đẹp "nghiêng nước nghiêng thàmh". Kiều là tuyệt thế giai nhân "sắc đành đòi một". Tài năng thì may ra còn có người thứ hai nào đó bằng Kiều: tài đành họa hai". Nguyễn Du dùng biện pháp tu từ ẩn dụ so sánh kết hợp với nhân hóa thậm xưng để ca ngợi và miêu tả nhan sắc Thúy Kiều:
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Mắt đẹp xanh trong như nước hồ thu, lông mày thanh tú như dáng vẻ, nét núi mùa xuân. Môi hồng má thắm làm cho “ hoa ghen nước da trắng xinh làm cho liễu phải "hờn". Vẫn lấy vẻ đẹp thiên nhiên (thu thủy, xuân sơn, hoa, liễu) làm chuẩn mực cho cái đẹp giai nhân, đó là bút pháp ước lệ trong thơ cổ. Tuy nhiên, nét vẽ của Nguyễn Du tài hoa quá, nét vẽ nào cũng có thần rất đẹp, một vẻ đẹp nhân văn.
Kiều “ thông minh vốn sẵn tính trời” nghĩa là thông minh bẩm sinh, cho nên các môn nghệ thuật như thi, họa, ca ngâm chỉ là các thú tao nhã nhưng nàng rất sành điệu, điêu luyện: “lầu bậc", "ăn đứt" hơn hẳn thiên hạ:
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm..
Cung thương lầu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trưong.
Kiều giỏi về âm luật, giỏi đến mức “lầu bậc". Cây đàn mà nàng chơi là cây đàn hồ cầm; tiếng đàn cùa nàng thật hay "ăn đứt "bất cứ nghệ sĩ nào. Kiều còn biết sáng tác âm nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là một "thiênbạc mệnh "nghe buồn thê thiết “não nhân", làm cho lòng người sầu não, đau khổ. Các từ ngữ: sắc sảo, mặn mà, phần hơn, ghen, hờn, nghiêng nước nghiêng thành, đòi một, họa hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ mùi, lầu bậc, ăn đứt, bạc mệnh, não nhân – tạo nên một hệ thống ngôn ngữ cực tả tài sắc và hé lộ dự báo số phận bạc mệnh của Kiều, như ca dao lưu truyền:
Một vừa hai phải ai ơi!
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen.
Bốn câu cuối đoạn nói về đức hạnh hai ả tố nga;: Tuy là khách hồng quần đẹp thế, tài thế, lại "phong lưu rất mực", đã tới tuần "cập kê "nhưng “ hai ả tố nga” đã và đang sống một cuộc đời nền nếp, gia giáo:
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Câu thơ "Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê" là một câu thơ độc đáo về thanh điệu, về sử dụng phụ âm "x" (xuân xanh xấp xỉ), phụ âm “t" (tới tuần), phu âm"c-k” (cập kê) tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, êm đềm của cuộc sống yên vui.,êm ấm của thiếu nữ phòng khuê.
Đoạn thơ nói về Chị em Thúy Kiều là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất trong Truyện Kiều được nhiều người yêu thích và thuộc. Ngôn ngữ thơ tinh luyện, giàu cảm xúc. Nét vẽ hàm súc, gợi cảm, nét vẽ nào cũng có thần. Các bịên pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được thi hào vận dụng thần tình tạo nên những vần thơ ước lệ mà trữ tình, đầy chất thơ. Hàm ẩn sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quý mến trân trọng. Đó là nghệ thuật tả người điêu luyện của thi hào Nguyễn Du mà ta cảm nhận được. | Phân tích đoạn thơ Chị em Thuý Kiều của Nguyễn Du | 2,088 | |
Đề bài: Phân tích đoạn thơ Kiều gặp Từ Hải trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Bài làm
Sau khi sa vào lầu xanh lần thứ hai, Thúy Kiều bỗng gặp Từ Hải. Gặp Từ Hải, cuộc đời của nàng chuyển sang bước ngoăt lớn. Đoạn thơ kể lại cuộc gặp gỡ giữa Kiều và Từ Hải trong chốn thanh lâu để lại một dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc.
Sự xuất hiện của nhân vật Từ Hải thật là kì diệu. Cuộc đời của Thúy Kiều đang lâm vào cảnh bế tắc không có lối thoát thì bỗng đâu Từ Hải xuất hiện. Từ Hải xuất hiện chẳng khác gì tia chớp xé tan mây mù. Hình tượng Từ Hải không chỉ phản ánh một quan niệm mới mẻ về cách nhìn nhận đánh giá con người, về quan hệ luyến ái nam nữ; mà còn phản ánh khát vọng tự do, “một khuynh hướng tự do không chi đụng chạm đến lễ giáo, đạo đức chính thống mà còn xúc phạm chính trị phong kiến. Hình tượng Từ Hải – con người đã san bằng bất bình, bênh vực người bị áp bức bằng nghĩa khí và tài năng cá nhân – đã tạo nội dung phong phú sâu xa của Truyện Kiều so với tất cả các truyện thơ nôm khác ở chủ đề tự do và công lý chính nghĩa giàu giá trị nhân văn dân chủ, phản ánh tính chất sử thi của xã hội Việt Nam đương thời. ” (Đặng Thanh Lê). Chân dung người anh hùng này được Nguyễn Du miêu tả thật là trang trọng, đầy oai phong lẫm liệt. Đang trong cảnh thanh bình êm ả, “gió mát, trăng thanh”, Từ Hải đột ngột xuất hiện, xuất hiện trong tư thế đàng hoàng với tầm vóc, dung mạo có tính chất phi thường. Trong chốc lát, hình ảnh Từ Hải như choáng ngợp cả chốn lầu xanh chật hẹp.
Dù hình ảnh ngôn ngữ vẫn mang tính chất công thức ước lệ, nhưng đây là con người anh hùng, từ hình dáng bên ngoài đến tài năng, bản lĩnh,… đều bỗng chốc thu phục cả xung quanh.
Trước hết đó là con người có bề ngoài phi thường:
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Con người này chắc chắn là có một bản lĩnh cao cường:
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.
Có bao nhiêu ý nghĩa hàm chứa trong một từ “đường đường” và chỉ một từ “đấng' trong “đấng anh hào”, tác giả đã gửi vào đó bao nhiêu tình cảm kính nể. Hơn nữa, Nguyễn Du còn dùng những từ ngữ tôn xưng như “anh hung” trong đoạn thơ này và trong nhiều đoạn khác như “thần bách chiến”, “đấng anh hùng', “đại vương” “Từ Công”… để thể hiện rõ Từ Hải là con người phi thường, siêu phàm.
Sau khi giới thiêu vẻ đẹp và tài năng phi thường, tác giả mới đi vào giới thiệu kĩ hơn về lai lịch, họ tên:
Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.
Con người này – như trên đã nói – có khí phách anh hùng, tài sức lớn lao: “Đội trời đạp đất ở đời", sống ngang tàng, không để cho những cương tỏa của thói thường câu thúc sở nguyện cá nhân: "Giang hồ quen thói vẫy vùng – Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”… nhưng lại cũng rất tế nhị, thanh cao. Xuất hiện ở chốn lầu hồng, Từ Hải đường đường chính chính, luôn tự khẳng định nhân cách của mình:
Từ rằng: tâm phúc tương cờ,
Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Con người này, phong độ, cốt cách toát ra đầy vẻ chân thành và rất có ý thức vẻ mình. Ngôn ngữ, cử chỉ của chàng cũng là ngôn ngữ, cử chỉ của con người chân thực, tế nhị, không phải là của một kẻ “Võ biền" thô lậu:
Nghe lời vừa ý gật đầu,
Cười rằng tri kỷ trước sau mấy người.
Từ Hải đã có một cái nhìn rất đúng đắn về Kiều, không chỉ xao động trước vẻ “quốc sắc" của Kiều, mà còn thấy ở Kiều là con người tri kỷ, rất đỗi tri kỷ. Do đó, bản chất tự tin, đường hoàng khiến Từ Hải không cần đến những cung cách lễ nghi mà với một ngôn ngữ bộc trực, không huênh hoang khoác lác, chàng đã tạo nên được niềm tin chắc chắn trong lòng người nghe!
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.
Rõ ràng nó khác hoàn toàn cái giọng hứa bừa bãi “một tấc đến trời” của Sở Khanh: "Ví bằng biết đến ta chăng- Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi".
Cũng bởi thế mà Kiều đã thấy ngay sự đồng cảm với tâm hồn. Với "con mắt tinh đời” dù đã trải qua muôn cay ngàn đắng, nàng đã nhận thức được ngay khí phách phi thường, tài năng xuất chúng cũng như tấm lòng ưu ái hào hiệp của Từ Hải trên cơ sở song phương đồng cảm, nên mới: "Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa" thì chỉ vài câu chuyện đã: "Hai bên ý hợp tâm đầu – Khi thân chẳng lọ là cầu mấy thân". Nó phảng phất mối tình “sét đánh ban đầu” như đối chàng văn nhân Kim Trọng.
Kết thúc cuộc gặp gỡ, Từ Hải "Ngỏ lời nói với băng nhân – Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn”, hành động đó cũng thể hiện tính hào hiệp khoáng đạt, chứ đâu phải như loại Mã Giám Sinh: “Cò kè bớt một thêm hai”. Từ Hải đưa tiền ra để cứu vớt, để “giải phóng” một con người, đưa người tri kỷ thoát khỏi vũng bùn ô nhục, sống cuộc đời lương thiện, đàng hoàng.
Miêu tả Từ Hải, người anh hung, Nguyễn Du đã dành tình cảm đặc biệt, vừa tin yêu, vừa kính trọng qua những hình ảnh, từ ngữ tôn xưng, nhịp điệu câu thơ cân xứng, khỏe mạnh, gợi hình, gợi tình để khấc họa đặc điểm phi thường, cao đẹp trong phẩm cách lý tưởng, sự xuất chúng trong tài năng và sự bình dị trong tình người.
Cũng là lần gặp gỡ đầu tiên, nhưng khác với lần gặp Kim Trọng, một văn nhân tài tử, đầy phong nhã, hào hoa; cuộc gặp với Từ Hải là cuộc gặp gỡ một anh hùng cái thế. Cuộc gặp gỡ giữa Kiều với Kim Trọng là cuộc gặp gỡ giữa “người quốc sắc, kẻ thiên tài'” trong lứa tuổi "xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” đầy trong sáng thơ mộng còn nhiều e ấp ngượng ngùng. Cuộc gặp gỡ ấy mang nhiều tính chất lãng mạn bay bổng. Cuộc gặp gỡ giữa Kiều với Từ Hải là cuộc gặp gỡ giữa "trai anh hùng, gái thuyền quyên" khi Kiều đã qua nhiều chìm nổi, ê chề trong cuộc sống, dễ tìm ra ý hợp tâm đầu, dễ tìm ra kẻ tri kỷ của nhau và cũng dễ "phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”. Nó mang khát vọng giải phóng của Thúy Kiều.
Nàng Kiều hiện lên trong bức tranh này cũng "sắc sảo mặn mà" đến mức anh hùng Từ Hải cũng phải: “Khen cho con mắt tinh đời".
Ngòi bút của Nguyễn Du thật là tài tình, với mỗi nhân vật, mỗi tâm trạng, ông đều có cách miêu tả, cách dùng chữ, dùng từ, đặt câu để cho nhân vật sống động và chân thực, mặc dù đó đây bút pháp của ông vẫn không vượt ra ngoài tính chất công thức, ước lệ. Với nhân vật Từ Hải, một nhân vật cái thế, đầy tính chất lý tưởng thì bút pháp tôn xưng và ngôn ngữ đối thoại của Nguyễn Du thật là sinh động và điêu luyện. | Phân tích đoạn thơ Kiều gặp Từ Hải trích Truyện Kiều của Nguyễn Du | 1,319 | |
Đề bài: Phân tích đoạn thơ Kiều Nguyệt Nga bị bắt đi cống giặc ô Qua
Bài làm
Không thể nào mua chuộc, ép buộc Kiều Nguyệt Nga lấy con trai mình, quan Thái Sư đã trả thù một cách xảo quyệt, hèn hạ. Ăn không được thì phải đạp đổ; Kiều Nguyệt Nga trở thành vật hi sinh. Người đẹp trờ thành cống phẩm dâng chúa Ô Qua để giặc lui binh.
“Vân Tiên anh hỡi có hay?
Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng."
“Tấm lòng ngay” của Kiều Nguyệt Nga là sự thể hiện trong sáng tuyệt đẹp của một giai nhân lúc nào cũng hướng về lẽ sống với tất cả niềm tin son sắt: “Gái thời tiết hạnh là câu trau mình".
Không thể nào mua chuộc, ép buộc Kiều Nguyệt Nga lấy con trai mình, quan Thái Sư đã trả thù một cách xảo quyệt, hèn hạ. Ăn không được thì phải đạp đổ; Kiều Nguyệt Nga trở thành vật hi sinh. Người đẹp trờ thành cống phẩm dâng chúa Ô Qua để giặc lui binh.
Đoạn thơ ghi lại tâm trạng đau khổ của Nguyệt Nga trên đường di cống giặc vừa ca ngợi tấm lòng son sắt thuỷ chung trong tình yêu cùa nàng.
Nguyệt Nga là một thiếu nữ xinh đẹp “vóc ngọc mình vàng" có thị tì Kim Liên hầu hạ. Nàng xuất thân trong tầng lớp quý tộc, là “con quan tri phủ ở miền Hà Khê. Nguyệt Nga là một con người giàu lòng trung nghĩa; trước hành động nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên, nàng đã nói:
“Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi."
Cảm phục trước hành động anh hùng và hào hiệp của người con trai xa lạ vừa đánh cướp cứu mình, Kiều Nguyệt Nga đã khắc sâu trong trái tim mình hình ảnh Lục Vân Tiên, và nàng đã vẽ bức tượng hình chàng luôn mang theo bên mình. Con gái Kiều Công quả là một thiếu nữ đa cảm, da tình. Mối tình đơn phương ấy thật đẹp và son sắt thủy chung.
Bị bắt đi cống giặc là một thử thách đầy bi kịch. Đã mười ngày trôi qua, Kiều Nguyệt Nga đã đi tới ải Đồng, bên này là quê hương mình, bên kia là xứ người, là dất giặc Ô Qua.
Dòng sông bao la “minh mông", tiếng sóng vỗ “đùng đùng", trăng"vằng vặc". sao "mờ mờ" gần xa. Cả một bầu trời “lặng lẽ như tờ”. Nguyền Đình Chiểu đã lấy ngoại cảnh sông, nước, trăng, sao để diễn tả tâm trạng cô đơn của người đẹp trên đường đi cống; lấy tĩnh để tả động, trời thì"’lặng lẽ” mà trong lòng kẻ bạc mệnh thì quặn đau tê tái và cô đơn. Sóng vỗ trên sông hay đang vỗ trong lòng nàng?
“Mười ngày đã tới ải Đổng,
Minh mông biển rộng, đùng đùng sóng xao.
Đêm nay chẳng biết đêm nào,
Bóng trăng vằng vặc, bóng sao mờ mờ.
Trên trời lặng lẽ như tờ.”
Trước cảnh xa lạ, bao la và mịt mờ ấy, Kiều Nguyệt Nga'cất lời than. Vừa thương mình vừa thương người qưân tử mà mình đã mang nặng ân sâu; chàng trai anh hùng hào hiệp mà mình đã yêu dấu sắt son, đã thủ tiết đợi chờ:
“Than rằng: “Nọ nước kìa non,
Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu?"
“Người" mà Kiều Nguyệt Nga nhắc đến chính là Lục Vân Tiên. Câu hỏi “người còn về đâu" chứa đầy tâm trạng đau đớn. cổ đơn và sầu tủi.
Nếu như Nguyễn Du dùng hai câu tả cảnh vật giờ khắc quyết định tự tử của Kiều trên sông Tiền Đường: "Cửa bồng vội mở rèm châu – Trời cao sông rộng một màu bao la", thì ở đây, Nguyễn Đình Chiểu cũng đã viết cái phút đớn đau ấy của Kiều Nguyệt Nga bằng những vần thơ ứa lệ:
“Quân hầu đều đã ngủ lâu,
Lén ra mở bức rèm châu một mình."
Giai nhân mệnh bạc tự thương và tự than thân, vầng trăng trên trời cao là chứng nhân cho lời thề son sắt thuỷ chung, cho quyết tâm “giữ ngọc gìn vàng” của người thiếu nữ, “thủ tiết" bằng cái chết để giữ trọn "một tấm lòng ngay" với tình nhân mà mình đã từng tôn thờ, đã từng ôm ấp:
“Vắng người có bóng trăng thanh,
Trăm năm xin gởi chút tình lại đây.
Vân Tiên anh hỡi có hay
Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng."
Bao nhiêu nước mắt đã chảy xuống? Để giữ trọn “tấm lòng ngay với chàng", Kiều Nguyệt Nga đã hành động một cách quyết liệt:
''Than rồi lấy tượng vai mang,
Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay.”
Lúc xa cách thì vẽ chân dung người yêu để sớm tối được ôm ấp, ngắm nghía. Lúc sống trong lận đận khó khăn, hình tượng người yêu là nơi nương tựa tinh thần. Lúc nhảy xuống sông tự tử, Kiều Nguyệt Nga vẫn vai mang tượng Lục Vân Tiên đi sang thế giới bên kia với lời nguyền son sắt thuỷ chung.
Cũng là bi kịch giai nhân xưa nay. nhưng mỗi người một khác. Cũng là "phận hồng nhan", “chốn đoạn trường" nhưng nào ai giống ai? Sau khi Từ Hải vì mắc lừa Hồ Tôn Hiến mà bị giết chết, Kiều phải hầu rượu đánh đàn trong bữa tiệc quan, rồi bị ép lấy viên thổ quan, nàng phải nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử:
“Giết chổng mà lại lấy chồng,
Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời?
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông."
Kiều phải tự tử vì đau khổ và ân hận. Kiều Nguyệt Nga phải nhảy xuống sông để “gửi chút tình" với trăng nước, để giữ tròn "tấm lòng ngay” với Lục Vân Tiên. Tiết hạnh của Kiều Nguyệt Nga vằng vặc như trăng sao. Hành động tự tử của Kiều Nguyệt Nga là đế thủ tiết với Lục Vân Tiên, là để chống lại mọi âm mưu hèn hạ, xảo quyệt của tên Thái Sư, vị đại quan đầu triều.
Đoạn thơ đã thể hiện bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyền Đình Chiểu. Sự kết hợp hài hoà giữa miêu tả, tự sự và độc thoại trữ tình đã tỏ đậm tính cách Kiều Nguyệt Nga: son sắt, thuỷ chung và tiết hạnh.
Nhân vật Kiều Nguyệt Nga là một nhân vật lí tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, đã nêu cao tấm gương tiết hạnh của một giai nhân:
“Gái thời tiết hạnh là câu trau mình"
Phẩm giá của người con gái khuê các trong xã hội ngày xưa được thể hiện qua đoạn thơ này vẫn ít nhiều làm ta xúc động? Bởi đó!à tấm lòng trinh nữ sáng trong như ngọc. | Phân tích đoạn thơ Kiều Nguyệt Nga bị bắt đi cống giặc ô Qua | 1,123 | |
Đề bài: Phân tích đoạn thơ Lục Vân Tiên gặp nạn
Bài làm
Phải chăng, để định hướng cho người đọc tập trung chú ý vào nhân vật chính của cuốn truyện thơ “Lục Vân Tiên" các tác giả sách giáo khoa đặt tên cho đoạn trích từ câu 938 (Đêm khuya…) đến câu 976 (… trong vời Hàn Giang) là "Lục Vân Tiên gặp nạn"? Nếu được phép góp ý, tôi chọn tên khác: "Gặp nạn, Lục Vân Tiên được thần và dân cứu giúp ", "Người hiền gặp người hiền", hoặc "Ngư ông cứu giúp Lục Vân Tiên". Gọi bằng những tên ấy vì tôi cảm nhận thật rõ ràng, ở đoạn truyện này. hình tượng Lục Vân Tiên mờ đi chút ít. Trái lại, hai nhân vật phụ: Trịnh Hâm – tượng trưng cho kẻ ác và ngư ông – tiêu biểu cho người thiện – đậm nét hơn. Tại đây, cuộc chiến đấu giữa cái thiện và cái ác diễn ra không sôi động như đoạn Vân Tiên đánh cướp. Nó nhẹ nhàng mà thấm thía, đẹp như trong truyện cổ tích, trong những giấc mơ, vẻ đẹp nhẹ nhàng và thơ mộng đó tỏa ra từ nhân vật ngư ông. “Thuyền nan một chiếc ở đời"… cả gia đình, cuộc sống, việc làm, những nỗi niềm buồn vui, tâm sự của người bình dân ấy thu lại trên một chiếc thuyền nan nhỏ bé, đơn sơ mà sao nhân cách con người, quan niệm về cuộc sống của ông rộng lớn, thanh cao đến thế.
Trời vừa sáng, thấy người bị nạn, ông Chài nhanh nhẹn “vớt ngay lên bờ", rồi:
"Hối con vầy lửa một giờ
Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày”
Cả gia đình ông lão quây quanh nạn nhân. Mỗi người một việc, gấp gáp, khẩn trương, hết mình vì sự sống của nạn nhân. Khung cảnh ấy mới cảm động làm sao. Việc làm ấy mới đẹp đẽ làm sao. Chưa biết nạn nhân là ai, chưa rõ nguyên cớ thế nào, nhưng thấy việc là làm, thấy người là cứu. Đó là bàn tính của những con người lương thiện, những người lao động bình thường. Vì vậy, khi Vân Tiên – người bị nạn – tỉnh dậy, xúc động kể mọi sự tình, tỏ lòng biết ơn, ngư ông đáp luôn:
"… lòng lão chẳng mơ
Dốc lòng nhân nghĩa, há chờ trả ơn".
Lời ông lão dứt khoát, bộc trực, đúng cách nói của người lao động, đúng giọng điệu của vùng quê Nam Bộ, nghe thấm thía tận cõi lòng. "Lòng lão chẳng mơ" là ông không ham muốn, ước mơ, mộng mị chút nào về tiền bạc, của cải. Ông chỉ "dốc lòng nhân nghĩa", thương người, cố hết sức cứu giúp con ngườị, luôn tìm việc nghĩa, hướng về điều thiện, thật hào hiệp, vô tư. Thấy Vân Tiên sống lại, nghe chàng kể những nỗi khổ đau, ông lão vừa vui mừng, vừa thương xót. Do đó lời ông mới chân thành cảm động đến thế. Cứu được Lục Vân Tiên, ngư ông đã giành lại sự sống cho một người lương thiện, đã làm một việc nhân nghĩa. Việc làm ấy hoàn toàn trái ngược với việc làm và dã tâm của Trịnh Hâm. Hành động của ông tuy lặng lẽ, âm thầm, trên một
chiếc thuyền nan mỏng manh, nhưng có ý nghĩa lớn lao. Ông đã giúp cho điều thiện, người thiện chiến thắng cái ác, bọn người độc ác. Đáng kính, đáng trọng xiết bao!
Đáng kính đáng trọng hơn nữa là, cũng vẫn trên chiếc thuyền nan ấy, ngư ông đã sống một cuộc sống, và nghĩ suy, quan niệm về cách sống thật đẹp đẽ. Chúng ta hãy xuống thuyền cùng Lục Vân Tiên chuyện trò, tâm sự với người dân bình thường làm nghề vạn chài, sông nước ấy. Ngỡ như không phải ông nói, mà đang ngân nga cất tiếng hát. Trong âm thanh nhịp điệu của lời thơ, nghe như có tiếng phách tre, tiếng đàn kìm thong thả đệm theo. Hát rằng:
"Nước trong rửa ruột sạch trơn,
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.
Rày doi mai vịnh vui vầy,
Ngày kia hứng gió, đêm này chơi trăng…"
Rũ bỏ mọi danh lợi, tìm về sông nước để "rửa ruột sạch trơn", nay vào vịnh, mai ra khơi, ngày hứng gió mát, đêm bè bạn với trăng thanh, ngư ông đã chọn đuợc một phong cách sống thật phóng khoáng, tự do. Tấm lòng ông trong sạch. Gia đình, nhà cửa, cả hình hài, thể xác lẫn tâm hồn như hòa nhập với biển trời, sông nước. Cặp từ "hứng gió", "chơi trăng" dựng một hình ảnh con người đang mơ mộng, hệt như một thi sĩ vậy. Mơ mộng, nhưng không mơ hồ, tùy tiện. Trái lại ông rất chủ động, ung dung:
"Một mình thong thả làm ăn,
Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm".
Câu thơ ngắt nhịp 2/2/2 (dòng lục) và 4/4 (dòng bát) như những nhát chèo khua nước, nhặt khoan, khi mạnh mẽ, khi nhẹ nhàng. Lúc khỏe thì quăng chài, kéo lưới, mệt mỏi thì túc tắc buông câu. Thật là một tấm gương lao động cần cù, chăm chỉ, luôn luôn làm chủ công việc, làm chủ cuộc sống. Sống trong sạch, phóng khoáng, làm chủ trong mọi công việc, tha hồ hưởng gió mát, trăng thanh, bồng bềnh trên sông nước. Cuộc sống ấy hạnh phúc biết bao, vui sướng biết bao. Trò chuyện với Vân Tiên, ba lần ông chài nói đến chữ "vui": "vui vầy", "vui thầm" rồi "vui say". Lúc nào cũng vui, mỗi lúc một vui. Đi đây đó, ra khơi vào vịnh, gặp bè bạn thì "vui vầy", giữa trời đất thanh vắng, chỉ có một mình vẫn "vui thầm", ý thức sâu sắc về lẽ sống đúng đắn của mình trong trời đất, giữa thế gian này, để "vui say", sống lạc quan hơn, yêu sự sống hơn, dám say, mơ mộng hơn. Càng về cuối, khúc hát cuộc đời của ngư ông càng bay bổng. Men rượu đã ngấm, hồn thơ đã cất cánh. Ngư ông hóa thành tiên ông, thành nghệ sĩ, nghệ sĩ dân gian của đất chín rồng, nhiều sông nước:
"Kinh luân đã sẵn trong tay
Thung dung dưới thể, vui say trong trời
Thuyền nan một chiếc ở đời
Tắm mưa, chải gió trong vời Hàn Giang".
Chiếc thuyền nan nhỏ bé, mỏng mành trôi nổi giữa dòng sông lớn rộng mà không sợ đắm chìm. Cuộc đời ngư ông gắn với chiếc thuyền ấy. Chẳng những ông không sợ, trái lại lúc nào cũng ung dung, lấy nước mưa để tắm rửa thân mình, mượn gió mát để chài tóc, vuốt râu. Hình ảnh chiếc thuyền nan, cũng như hình tượng nhân vật ông Chài, đến đây, thấm đầm cảm hứng lãng mạn, cảm hứng của nhân vật cũng là sự hứng khởi của tâm hồn nhà thơ. Dường như nhà thơ đã nhập thân vào nhân vật, vừa kể chuyện, ngợi ca vừa dãi bày tất cả những suy nghĩ, quan điểm, cảm xúc của mình về cuộc sống, về cách sống. Đó là cuộc sống thanh cao, trong sạch, cần cù lao động, tự chủ. tự tin, vui say hòa hợp với đất trời. Càng về cuối, âm điệu thơ càng dào dạt, sóng sánh như trăng hòa nước, như nước được mái chèo khua động rung rinh.
Đọc truyện thơ "Lục Vân Tiên", ngoài những con người trẻ tuổi biết sống hiếu, trung, tiết, nghĩa, chúng ta bắt gặp rất nhiều nhân vật cao niên. Đó là những ông quán, ông tiều, ông ngư – những tấm gương nhân nghĩa, tượng trưng cho bản chất người lao động, chân dung cụ thể của đạo lí truyền thống dân tộc Việt Nam. Nhân vật – nhất là nhân vật tích cực – bao giờ cũng là những mảnh tâm hồn của tác giả. Tâm hồn Nguyễn Đình Chiểu chan chứa tình cảm nhân nghĩa. Ngư ông – nhân vật đcp nhất trong đoạn trích "Lục Vân Tiên gặp nạn" phải chăng chính là một mảnh tâm hồn của nhà thơ?
"Thuyền nan một chiếc ở đời…".
Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu cũng mỏng manh, trôi nổi như chiếc thuyền cùa ngư ông. Song cuộc đời ấy không phút nào ngơi nghỉ truyền bá đạo lí làm người, đấu tranh chống xâm lược. "Chở bao nhiêu đạo, thuyền không khẳm. Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà". Trong bài "Than đạo", ông đã viết như vậy. Truyện Lục Vân Tiên phải chàng là chuyến mở đầu trên con thuyền chở đạo cần cù, kì diệu ấy. 'Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Vân thơ Nguyễn Đình Chiểu là như vậy" (Phạm Văn Đồng). | Phân tích đoạn thơ Lục Vân Tiên gặp nạn | 1,484 | |
Phân tích đoạn thơ Mã Giám Sinh mua Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du).
Hướng dẫn
Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân
Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều…
(Tố Hữu – Kính gửi cụ Nguyễn Du)
“Bâng khuâng” là trạng thái tinh thần của con người tuy đứng trước thực tại nhưng tâm hồn không đặt ở thực tại mà hướng về, thậm chí đắm chìm trong quá khứ, trong tương lai, hay trong mộng tưởng. Vì đắm chìm trong quá khứ, nên Tố Hữu cũng như chúng ta không thể nào quên được cụ Nguyễn Du, một đại thi hào đã để lại cho đời kiệt tác Truyện Kiều – một bài ca lớn về giá trị nhân bản; bản cáo trạng nghiêm khắc về cái ác;tập đại thành của nghệ thuật văn chương. Và chúng ta cũng không thể không “thương thân nàng Kiều” đang đau đớn, tủi nhục ê chề khi phải bán mình chuộc cha, rơi vào tay một kẻ “buôn thịt bán người” trong trích đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều.
Trích đoạn này gồm 34 câu thơ, từ câu 619 đến câu 652 trong Truyện Kiều, thuộc phần Gia biến và lưu lạc. Câu chuyện trước đoạn này như sau: Trên đường về của chuyến đi tảo mộ và du xuân, ba chị em ThuýKiều gặp Kim Trọng – một chàng trai tài đức vẹn toàn, bạn đồng môn của Vương Quan. Trở về nhà, Thúy Kiều tơ tưởng đến bóng hình Kim Trọng mà “Ngổn ngang trăm mối bên lòng”. Còn Kim Trọng, sau buổi gặp gỡ đầu tiên ấy cũng nặng lòng nhớ thương Kiều rồi tìm kiếm, dọn nhà đến kề cận vườn nhà Kiều. Nhờ vậy, đôi trai tài gái sắc có cơ hội làm quen, tìm hiểu và trao lời thề nguyền trọn đời bên nhau. Ngay sau đó, Kim Trọng phải cấp tốc trở về Liêu Dương thọ tang chú.Và cũng cùng thời điểm ấy, gia đình Kiều bị thằng bán tơ vu oan, tất cả tài sản bị bọn sai nha vơ vét sạch. Để cứu cha và em thoát khỏi cơn gia biến, Kiều tự nguyện bán mình:
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
Liều đem tấc cỏ, quyết đền ba xuân.
Sự lòng ngỏ với băng nhân
Tin sương đồn đại, xa gần xôn xao.
Thúy Kiều buồn bã mang sự tình ngỏ với người mai mối. Lập tức, mụ mối dắt khách phương xa tới:
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh “Viễn khách” là từ Hán Việt có sắc thái trân trọng, tao nhã. Phải chăng “viễn khách” ấy là con người tử tế, cao thượng, nho nhã đến để xin hỏi cưới Kiều về làm vợ theo đúng tục lệ hôn nhân ngày xưa? sắm vai là học sinh trường Quốc Tử Giám, trường lớn nhất ở kinh đô thời xưa, người khách phương xa bắt đầu xuất hiện:
Hỏi tên, rằng “Mã Giám Sinh”
Hỏi quê, rằng “Huyện Lâm Thanh cũng gần”
Cách ngắt nhịp thơ ở hai câu này rất trúc trắc, khác lạ. Câu lục nhịp: 2-1-3. Câu bát nhịp 2-1-3-2. Cách ngắt nhịp trùng với cách trả lời bất ổn của vị khách. “Mã” thì đúng là họ rồi. Nhưng “Giám Sinh” đâu có phải là tên người? Còn quê quán nghe rất mơ hồ: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”. Từ “cũng gần” được nhà thơ dùng rất đắt để biểu hiện một lí lịch, gốc gác không minh bạch của nhân vật. Nếu đúng là người tốt thì việc gì lại không dám giới thiệu cụ thể nơi ở của mình? Với cách trả lời cộc cằn ấy chứng tỏ Mã Giám Sinh là người vô văn hoá.
Còn đây là tuổi tác và diện mạo của gã:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Ngoại tứ tuần có nghĩa là ngoài bốn mươi tuổi, đã qua rồi thời trai tráng. Từ “quá niên” càng tô đậm hơn điều đó. Thế nhưng hắn vẫn ăn mặc theo kiểu trai lơ “áo quần bảnh bao” và chuẩn bị “mày râu nhẵn nhụi” trông rất bảnh choẹ.
Nếu ở câu lục nhà thơ sử dụng toàn từ Hán Việt thì ở câu bát xuất hiện toàn từ thuần Việt để bày tỏ thái độ châm biếm. Riêng hai từ láy “nhẵn nhụi” và “bảnh bao” có sức gợi tả thái độ sự dung tục và lốbịch rất cao vì hắn là người bất chính nên đám tôi tớ đi theo hắn cũng toàn là lũ xô bồ, lộn xộn:
Trước thầy sau tớ lao xao,
Có thể khẳng định rằng diện mạo và cách xuất hiện của Mã Giám Sinh hoàn toàn đối lập với Kim Trọng. Kim Trọng xuất hiện với một phong cách tao nhã, diện mạo khôi ngô tuấn tú, làm cho cả một vùng bừng sáng hơn:
Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng
Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời,
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tự tình.
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
Thế nên, một con người bịp bợm như Mã Giám Sinh không thể nào xứng đáng với nàng Kiều tài sắc vẹn toàn. Và chúng ta hãy xem cử chỉ thô lỗ của hắn:
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng “Ghế trên” bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất của phòng khách, chỉ những thượng khách mới được mời an tọa, thường là người cao tuổi. Vậy mà một tên trâng tráo như hắn chưa kịp mời đã vội “ngồi tót”, trông là biết vô học rồi. Chữ “ngồi tót” được nhà thơ dùng rất điêu luyện và đã giết chết Mã Giám Sinh ngay trong cõi sống. Liền sau đó là từ bồi bút “sỗ sàng”. Cùng là từ “tót” nhưng khác xa một trời một vực với cách tả Kim Trọng:
Phong tư tài mạo tót vời
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa
Trong Truyện Kiều nhiều lần Nguyễn Du đã giết chết nhân vật phản diện bằng nghệ thuật dùng từ. Nhà thơ giết chết tên Sở Khanh bằng một từ “lẻn” ở câu 1094:
Tường đông lay động bóng cành,
Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào.
Và đại thi hào cũng đã giết chết Hồ Tôn Hiến bằng từ “mặt sắt” trong câu 2580:
Nghe càng đắm, ngắm càng say,
Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình!
Nhìn chung, qua dụng công miêu tả của Nguyễn Du, chân tướng con buôn Mã Giám Sinh đã dần dần được phơi bày:
Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ.
“Đắn đo” là trạng thái suy nghĩ, tính toán đến căng thẳng. Trạng thái này thường gặp ở những kẻ làm nghề buôn bán. Tuy được nghe mụ mối giới thiệu Kiều là người tài sắc vẹn toàn nhưng hắn vẫn chưa chắc chắn lắm. Bởi vậy hắn mới “cân sắc, cân tài” có nghĩa là xem đi, xem lại, kiểm tra một cách tỉ mỉ, cẩn thận như mua một món hàng giữa chợ trời. Thật đúng là một con buôn giàu kinh nghiệm, lõi đời. Sau khi thấy dáng dấp của nàng, tài năng của nàng, vẻ nào cũng mặn mà dễ thương, hắn bằng lòng về món hàng và lựa lời trao đổi về giá cả:
“Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”
Chỉ với một từ “mua”, nhà thơ đã bóc trần bản chất đê tiện của gã họ Mã mặc dù hắn vẫn còn cố gắng trau chuốt lời ăn tiếng nói qua các từ: “Lam Kiều”, “xin dạy”.
Và đây là cuộc “mặc cả” giữa con buôn sành sỏi và mụ mối:
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm “Cò kè” là từ luôn luôn được dùng ở bất cứ chợ nào thuộc lĩnh vực buôn bán đồ vật. Từ “cò kè” còn tạo ra một không khí mua bán hết sức thô lỗ, mụ mối càng nói thách để được lời về phần mình thì tên “buôn thịt bán người” Mã Giám Sinh càng trả cho thật rẻ để tích luỹ lợi nhuận cho lòng tham không đáy. Vì mãi “cò kè”, công cuộc “ngã giá” mất nhiều thời gian nên “giờ lâu” con buôn mới đi đến quyết định mua Kiều hơn bốn trăm lượng vàng. Công cuộc “cò kè” người thiệt hại. Thật phũ phàng và tàn nhẫn làm sao!
Tóm lại, bằng nghệ thuật dùng những hình thái ngôn ngữ nghệ thuật trực diện, thiên tài Nguyễn Du vừa vẽ được chân dung ghê tởm và đê tiện của Mã Giám Sinh, vừa thể hiện thái độ tốcáo bọn con buôn bất công phi nghĩa đã xô đẩy người phụ nữ vào bước đường cùng, đã chà đạp lên nhân phẩm, danh dự của phận “liễu yếu đào tơ” một cách không thương tiếc.
Đốilập với màn kịch “vấn danh” và chân tướng Mã Giám Sinh là tâm trạng buồn bã, khổ đau, nhục nhã của Thúy Kiều:
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng!
Ngại ngùng dín gió e sương,
Nhìn hoa bóng thẹn trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc, bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Giờ đây, Kiều đang đau xót cho mối tình đầu tươi đẹp. Mới hôm nào, nàng và Kim Trọng thề nguyền cùng chung một lòng một dạ, có sự chứng giám của ánh trăng sáng vằng vặc nhưng xa xăm, lạnh lẽo, đơn côi:
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai mặt một lời song song.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Vậy mà nay, đôi ngả nước mây cách vời, chỉ còn là kỉ niệm của một thời yêu nhau tha thiết. Ai? Ai đã gây ra bi kịch đắng cay này? Trong lòng nàng bỗng trào dâng một nỗi niềm oán hận. Lần đầu tiên trong đời nàng biết hận. Nàng hận thằng bán tơ đã vu oan cho gia đình nàng. Nàng hận bọn sai nha đã “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham” và ra sức đánh đập, tra tấn cha và em trai nàng.
Cho nên, mỗi bước đi của nàng trên thềm hoa đều nặng nề và đong đầy nước mắt. Phép tăng cấp và đối ngữ tương hỗ trong câu “Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng?” đã nhấn mạnh nỗi thống khổ cùng cực của nàng. Và cũng lần đầu tiên trong đời, nhìn bóng mình, nàng cảm thấy hổ thẹn, soi vào gương thấy mặt mình như dày ra vì xấu hổ, tủi nhục, vì phải mang thân lá ngọc cành vàng và nhan sắc “một hai nghiêng nước nghiêng thành” để cho một tên buôn người như Mã Giám Sinh đánh giá, bình phẩm. Có nỗi ê chề nào hơn thế nữa?
Nàng để mặc mụ mối hướng dẫn giới thiệu, khoe “hàng” mà cõi lòng tan nát như ai xé ai vò:
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Phép so sánh tu từ, phép đối ngữ tương hỗ cùng nghệ thuật ước lệ, tượng trưng đã góp phần điểm tô thêm vẻ đẹp trong đau khổ của Kiều và hoàn toàn đối lập với nhân vật Thúy Kiều trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Chúng ta hãy đọc lại đoạn truyện này:
“Chả giấu gì Ngài, cô nương đây không may gặp cơn gia biến, cần phải có tiền lo lót để cứu phụ thân, mà số tiền ấy phi 500 lạng thì thực không đủ.
Khách rằng: Sính lễ sao mà nhiều quá như vậy! Tôi đây chỉ có 300 mà thôi.
Kiều rằng: 300 thì thực không đủ, mang tiếng bán mình mà chẳng đủ việc thì bán làm chi.
Khách nói: Nếu vậy thì tôi cũng xin cốgắng thêm một trăm nữa cộng lại là 400.
Kiều nói: Khốn nạn, tôi đã nói thực là việc của tôi, phi 500 lạng không đủ cơ mà.
Khách ngần ngừ một lát rồi sau xin chịu đủ số và hỏi: Việc này ai đứng giấy tờ?
Kiều đáp: Lẽ tất nhiên là phụ thân tôi phải đứng chủ trương.
Nói xong nàng quay lại bảo mụ mối:
Mụ ơi, vấn đề tiền bạc như thế cũng tạm xong…”
(Theo Truyện Kiều đối chiếu
Phạm Đan Quế thực hiện-NXB Hà Nội 1991-tr.123-124)
Qua trích đoạn văn xuôi trên đây, chúng ta thấy nhân vật Thúy Kiều của nhà văn Tài Nhân trực tiếp tham gia việc “cò kè” giá cả trông rất dạn dĩ, và nhân cách của nàng thật không có gì đặc biệt.
Còn nhân vật Thúy Kiều của thiên tài Nguyễn Du chỉ là người câm lặng suốt cuộc mua bán, nàng xấu hổ, tủi nhục. Và đó chính là vẻ đẹp nhân cách của nàng.
Nhìn chung, đoạn thơ miêu tả tâm trạng nàng Kiều đã cho chúng ta thấy tấm lòng nhân đạo mênh mông của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đối với nhân vật Thúy Kiều cũng như những kiếp người đau khổ, bất hạnh. Nhà thơ bao giờ cũng dành cho những nhân vật chính diện một thái độ yêu thương, hết sức cảm thông, rất mực trân trọng, thấu hiểu, chia sẻ. Đặc biệt, càng dấn sâu vào bi kịch, nhan sắc – tài năng – lòng thủy chung – lòng hiếu thảo – đức hi sinh của Thúy Kiều càng đẹp – càng vẹn toàn – càng sâu sắc – càng cao cả.
Tóm lại, bằng bút pháp thủy mặc, “điểm nhãn”, Nguyễn Du đã miêu tả thành công bức chân dung sống động, điển hình của nhân vật Mã Giám Sinh không còn ở trang thơ của đại thi hào mà đang hiện diện ở một nơi nhất định của cuộc đời thực. Bằng bút pháp đậm nét, nhân vật Thúy Kiều hiện lên với biết bao khổ nhục, đắng cay đồng thời Thúy Kiều cũng là điển hình của nhân vật người phụ nữ đẹp trong đau khổ. Cùng với thiên tài ngôn ngữ và thiên tài khám phá, phân tích, miêu tả tâm lí con người trong mối quan hệ giữa tâmlí và hoàn cảnh sống của con người, qua trích đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều, chúng ta thấy rằng Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao chói lọi nhất của nghệ thuật tả người trong lịch sử tiểu thuyết bằng thơ.
Nguồn: | Phân tích đoạn thơ Mã Giám Sinh mua Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du). | 2,422 | |
Đề bài: Phân tích đoạn thơ Mã Giám Sinh mua Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Bài làm
Đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều dài 34 câu, trích trong Truyện Kiều từ câu 618 – 652. Bị thằng bán tơ vu oan, cha và em trai bị tra tấn, tù đày, tài sản gia đình bị bọn sai nha "sạch sành sanh vét cho đầy túi tham". Trước cảnh gia biến, Kiều đã quvết định: "Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!".
Đoạn thơ ghi lại cảnh Mã Giám Sinh đến mua Kiều và nỗi đau khổ của nàng trước bi kịch gia đình và bi kịch tình yêu " trâm gãy bình tan".
Đoạn thơ tả cảnh mua bán người thời trung cổ được kể lại rất cụ thể, sống động. Người mua là Mã Giám Sinh kẻ bán là mụ mối. Người bị đem bán là Thúy Kiều. Khách viễn phương đến, mụ mối rước khách vào lầu trang. Mụ mối giục Kiểu "kíp ra” cho khách gặp. Mụ mối "vén tóc bắt tay" món hàng mình; Mã Giám Sinh "cân sắc cân tài". Khi khách đã "mặn nồng một vẻ một ưu" mới hỏi giá. Mụ mối thách: "một nghìn vàng". Hai bên "cò kè" mua bán với cái giá "vàng ngoài bốn trăm". Cuộc mua bán xong, hai bên làm thủ tục: '!đưa canh thiếp" và hẹn ngày chồng tiền nhận hàng. Cuộc mua bán người lại được dùng bằng những ngôn từ sang trọng như: mua ngọc, sính nghi, đưa canh thiếp làm nghi, nạp thái vu quy. Đúng như cảnh hỏi vợ, thách cưới của các gia đình quý tộc thời xưa.
Cảnh Mã Giám Sinh mua Kiều có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc. Trong xã hội có bọn buôn thịt bán người, có loại người làm mối, sống bằng nghề làm mối. Tài sắc của người con gái như Thúy Kiều đã trở thành một món hàng để "cò kè"mua bán. Nhân phẩm của người phụ nữ bị chà đạp. Câu thơ "Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong" là lời bình luận cuộc mua bán, lên án đồng tiền hôi tanh, mặt trái đồng tiền trong tay bọn bất lương, bọn buôn thịt bán người.
Đoạn thơ thể hiện nghệ thuật tả người của Nguyễn Du.
Mụ mối: nhanh nhảu, đon đả hỏi họ tên, quê quán viễn khách, rồi "rước vào lầu trang". Giục Kiều ra nhanh (kíp ra), "vén tóc bắt tay” Kiều, khôn khéo thách giá:
Mối ràng: Đáng giá nghìn vàng,
Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài!
Tác giả tả cử chỉ, ngôn ngữ mụ mối, làm hiện lên một loại người nhanh nhẹn, khôn khéo, giảo hoạt, kiếm ăn bằng nghề làm mối trong việc mua, bán người.
Mã Giám Sinh là "viễn khách" đến để "vấn danh" – khách đến hỏi vợ và xin cưới. Cách giới thiệu có vẻ trang trọng. Hai câu tiếp theo là "hỏi – đáp". Cách trả lời cộc lốc. khiếm nhã. Hai chữ "rằng" làm cho khẩu ngữ thêm thô lậu:
Hỏi tên, rằng: "Mã Giám Sinh ",
Hỏi quê, rằng: "Huyện Lâm Thanh cũng gần.
Mã Giám Sinh chung lưng vốn với mụ Tú Bà mở ngôi hàng lầu xanh ở Lâm Tri nhưng nói dối là quê ở "Lâm Thanh cũng gần". Hắn chỉ là một tên buôn thịt bán người nhưng mập mờ khoe hão là sinh viên trường Quốc Tử Giám, họ Mã, nghĩa là một trí thức phong kiến thuộc tầng lớp quý tộc. Nhân cách hé lộ dần. Ngoài bốn mươi tuổi mà vẫn trai lơ: "Nhẵn nhụị" và "bảnh bao"là hai nét vẽ châm biếm:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Cũng "thầy"cũng "tớ", cũng "trước" cũng "sau", có vẻ sang trọng lắm, đi đâu một bước là có kẻ hầu người hạ, nhưng thầy, tớ của ông khách viễn phương này sao mà "lao xao"chẳng có nền nếp, lễ giáo gì! Cái cử chỉ "sỗ sàng", không biết ý tứ gì, không biết giữ lễ phép, dám đường đột leo lên ghế cao ngồi "tót"! Nếu là sinh viên trường Quốc Từ Giám thật, thì hắn ta rất kém sĩ hạnh!
Trước thầy sau tớ lao xao,
Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng…
Một chữ “ tót” đầy khinh bỉ, đã vạch trần chân tướng kẻ "Quen mồi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa
"Cân sắc cân tài", "ép", "thử”,… những cử chi, cách thức mua người ấy của tên lái buôn họ Mã mới thật ghê tởm! Chỉ sau khi đã "mặn nồng một vẻ một ưa", Mã Giám Sinh mới "dặt dìu" mua bán. Hắn là kẻ khôn ngoan đến róc đời, trong mọi mánh lới buồn thịt bán người. Cũng sang trọng kiểu cách như ai. Chẳng qua chỉ là hoa hòe hoa sói thớ lợ:
Rằng: "Mua ngọc đến Lam Kiều ",
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường.
Hai chữ "cò kè" đã bóc trần bản chất bủn xỉn của một kẻ “ Quanh năm buôn phấn bán hương đã lẻ”
Qua nhân vật Mã Giám Sinh, ta càng thấy rõ bút pháp hiện thực trong tả người của Nguyễn Du. Nét vẽ nào cũng sắc sảo tạo nên tính cách rất sống của nhân vật Mã Giám Sinh. Chi tiết nghệ thuật nào cũng rất sống, đằng sau đó là thái độ khinh bỉ của nhà thơ đối với loại người bạc ác tinh ma này! Bức chân dung phản diện của Mã Giám Sinh có giá trị tố cáo hiện thực đặc sắc, lên án bọ buôn thịt bán người vô nhân đạo, đạo đức giả trong xã hội phong kiến suy tàn, thối nát.
Kiều là một thiếu nữ hiếu thảo, giàu đức hi sinh, Trước cảnh gia biến nàng bán mình để chuộc cha, để cứu gia đình. Nàng tự xem thân mình như "hạt mưa” nhỏ bé hèn mọn. Tất cả vì "ba xuân", một lòng đền đáp công ơn sinh thành của cha me:
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.
Kiều sống trong tâm trạng bi kịch dữ dội giữa tình riêng với tình nhà, giữa chữ tình với chữ hiếu, "nỗi mình thêm tức nỗi nhà". Nàng vô cùng đau khổ. Bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu "lệ hoa” đã tuôn rơi, cả người nàng như héo hon rũ xuống: "ngại ngùng",… "bóng thẹn",… "mặt dày", "nét buồn như cúc điệu gầy như mai” Vì là người đẹp đau khổ cho nên các ẩn dụ so sánh mà nhà thơ sử dụng đều gắn liền với cái đẹp: thềm hoa, lệ hoa "nét buồn như cúc, điệu gây như mai". Kiều bị mụ mối và Mã Giám Sinh "ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ". Mã Giám Sinh đã “đắn đo cân sắc cân tài". Con người Kiều, tài sắc Kiều đã trở thành món hàng đem ra mua bán. Nguyễn Du đã ca ngợi lòng hiếu thảo, đức hi sinh của Kiều trước gia biến, cảm thương cho nỗi đau khổ của nàng khi Mã Giám Sinh "cân sắc cân tài", khi bị hắn "cò kè bớt một thêm hai"… Đoạn thơ chứa chan tinh thần nhân đạo là ở những chi tiết nội dung ấy.
"Mã Giám Sinh mua Kiều" là đoạn thơ có giá trị tố cáo đanh thép và sâu sắc nhất trong Truyện Kiều. Nguyễn Du đã dựng nên một bức tranh tả thực sắc sảo giúp chúng ta thấy rõ được bộ mặt tàn ác, ghê tởm của bọn buôn thịt bán người trong xã hội, ở đây là Mã Giám Sinh. Nhà thơ đã lên án mặt trái đồng tiền hôi tanh: "Tiền lưng đã có, việc gì chàng xong!". Đồng cảm, xót thương cho số phận nàng Kiều: phải bán mình chuộc cha. Thương tiếc tài sắc giai nhân bị dâp vùi. Đó là giá trị nhân đạo.
Đoạn thơ thể hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Du trong sự tả cảnh mua Kiều, trong tả người: tả Mã Giám Sinh, tả mụ mối thì sử dụng bút pháp hiện thực, chi tiết hiện thực; tả Kiều thì thiên về ước lệ. Rất biến hóa, tài tình. Ngôn ngữ mang sắc thái biểu cảm đầy ấn tượng.
Tóm lại, cảnh Mã Giám Sinh mua Kiều có giá trị tố cáo hiện thực và chứa chan tinh thần nhân đạo. Đoạn thơ là sự khởi đầu tiếng kêu thương của một kiếp đoạn trường. | Phân tích đoạn thơ Mã Giám Sinh mua Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du | 1,415 | |
Đề bài: Phân tích đoạn thơ Mã Giám Sinh mua Kiều trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Bài làm
Bị thằng bán tơ vu oan, cha và em trai bị tra lấn, tù đày, tài sản gia đình bị bọn sai nha "sạch sành sanh vét cho đầy túi tham". Trước cảnh gia biến, Kiều đã quyết định: Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha.
Đoạn thơ ghi lại cảnh Mã Giám Sinh đến mua Kiều và nỗi đau khổ của nàng trước bi kịch gia đình và bi kịch tình yêu "trâm gãy bình tan".
Đoạn thơ tả cảnh mua bán người thời trung cổ được kể lại rất cụ thể, sống động. Người mua là Mã Giám Sinh. Kẻ bán là mụ mối. Người bị đem bán là Thúy Kiều. Khách viễn phương đến, mụ mối rước khách vào lầu trang. Mụ mối giục Kiều “ kíp ra" cho khách gặp. Mụ mối "vén tóc bắt tay" món hàng mình; Mã Giám Sinh "cân sắc cân tài". Khi khách đã "mặn nồng một vẻ một ưu" mới hỏi giá. Mụ mối thách: "một nghìn vàng”. Hai bên “ cò kè" mua bán với cái giá "vàng ngoài bốn trăm". Cuộc mua bán xong, hai bên làm thủ tục: "đưa canh thiếp" và hẹn ngày chồng tiền nhận hàng. Cuộc mua bán người lại được trang sức bằng những ngôn từ sang trọng như: mua ngọc, sính nghi, đưa canh thiếp làm nghi, nạp thái vu quy – Đúng như cảnh hỏi vợ, thách cưới của các gia đình quý tộc thời xưa.
Cảnh Mã Giám Sinh mua Kiều có giá trị tố cáo hiện thức sâu sắc. Trong xã hội có bọn người buôn thịt bán người, có loại người làm mối, sống bằng nghề làm mối. Tài sắc của người con gái như Thúy Kiều đã trở thành một món hàng để “cò kè" mua bán. Nhân phẩm của người phụ nữ bị chà đạp. Câu thơ "Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong" là lời bình luận cuộc mua bán, lên án đồng tiền hôi tanh, mặt trái đồng tiền trong tay bọn bất lương, bọn buôn thịt bán người.
Đoạn thơ thể hiện nghệ thuật tả người của Nguyễn Du.
Mụ mối: nhanh nhảu, đon đả hỏi họ tên, quê quán viễn khách, rồi "rước vào lầu trang". Giục Kiều ra nhanh (kíp ra), "vén róc bắt tay" Kiều, khôn khéo thách giá:
Mối rằng: Giá đáng nghìn vàng,
Dấp nhà nhờ lượng người thương dám nài!
Tác giả tả cử chỉ, ngôn ngữ mụ mối, làm hiện lên một loại người nhanh nhẹn, khôn khéo, giảo hoạt, kiếm ăn bằng nghề làm mối trong việc mua, bán người.
Mã Giám Sinh là "viễn khách" đến để "vấn danh" – khách đến hỏi vợ và xin cưới. Cách giới thiệu có vẻ trang trọng. Hai câu tiếp theo là "hỏi – đáp". Cách trả lời cộc lốc, khiếm nhã. Hai chữ "rằng" làm cho khẩu ngữ thêm thô lậu:
Hỏi tên, rằng: "Mã Giám Sinh",
Hỏi quê, rằng: "Huyện Lâm Thanh cũng gần".
Mã Giám Sinh chung lưng vốn với mụ Tú Bà mở ngôi hàng lầu xanh ở Lâm Tri nhưng nói dối là quê ở "Lâm Thanh cũng gần". Hắn chỉ là một tên buôn thịt bán người nhưng mập mờ khoe hão là sinh viên trường Quốc tử giám, họ Mã, nghĩa là một trí thức phong kiến thuộc tầng lớp quý tộc. Nhân cách hé lộ dần. Ngoài bốn mươi tuổi mà vẫn trai lơ: "Nhẵn nhụi" và "bảnh bao" là hai nét vẽ châm biếm:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Cũng "thầy" cũng "tớ", cũng "trước" cũng "sau", có vẻ trang trọng lắm, đi đâu một bước là có kẻ hầu người hạ, nhưng thầy, tớ của ông khách viễn phương này sao mà "lao xao" chẳng có nền nếp, lễ giáo gì! Cái cử chỉ "sỗ sàng", không biết ý tứ gì, không biết giữ lễ phép, dám đường đột leo lên ghế cao ngồi "tót". Nếu là sinh viên trường Quốc tử giám thật, thì hắn ta rất kém sĩ hạnh.
Trước thầy sau tớ lao xao,
Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng…
Một chữ "tát" đầy khinh bỉ, đã vạch trần chân tướng kẻ "Quen mồi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa".
"Cân sắc cân tài", "ép", "thử” những cử chỉ, cách thức mua người ấy của tên lái buôn họ Mã mới thật ghê tởm! Chỉ sau khi đã "mặn nồng một vẻ một ưa", Mã Giám Sinh mới "dặt dìu" mua bán. Hắn là kẻ khôn ngoan đến róc đời, trong mọi mánh lới buôn thịt bán người. Cũng sang trọng kiểu cách như ai. Chẳng qua chỉ là hoa hòe hoa sói thớ lợ:
Rằng: "Mua ngọc đến Lam Kiều",
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?
Hai chữ "cò kè" đã bóc trần bản chất bủn xỉn của một kẻ "Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề".
Qua nhân vật Mã Giám Sinh, ta càng thấy rõ bút pháp hiện thực trong nghệ thuật tả người của Nguyễn Du. Nét vẽ nào cũng sắc sảo tạo nên tính cách xấu xa, đồi bại của nhân vật Mã Giám Sinh. Chi tiết nghệ thuật nào cũng rất sống, đằng sau nét vẽ là thái độ khinh bỉ của nhà thơ đối với loại người bạc ác tinh ma này! Bức chân dung phản diện của Mã Giám Sinh có giá trị tố cáo hiện thực đặc sắc, lên án nạn buôn thịt bán người vô nhân đạo, đạo đức giả trong xã hội phong kiến suy tàn, thối nát.
Kiều là một thiếu nữ hiếu thảo, giàu đức hi sinh. Trước cảnh gia biến nàng đã bán mình để chuộc cha, để cứu gia đình. Nàng tự xem thân mình như "hạt mưa" nhỏ bé, hèn mọn. Tất cả vì "ba xuân", một lòng đền đáp công ơn sinh thành của cha mẹ:
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.
Kiều sống trong tâm trạng bi kịch dữ dội giữa tình riêng với tình nhà, giữa chữ tình với chữ hiếu, "nỗi mình thêm tức nỗi nhà". Nàng vô cùng đau khổ. Bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu "lệ hoa" đã tuôn rơi, cả người nàng như héo hon, rũ xuống: "ngại ngùng",… "bóng thẹn",… "mặt dày", "nét buồn như cúc điệu gầy như mai". Vì là người đẹp đau khổ cho nên các ẩn dụ so sánh mà nhà thơ sử dụng đều gắn liền với cái đẹp: thềm hoa, lệ hoa "nét buồn như cúc, điệu gầy như mai". Kiều bị mụ mối và Mã Giám Sinh "ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ". Mã Giám Sinh đã "đắn đo cân sắc cân tài". Con người Kiều, tài sắc Kiều đã trở thành món hàng đem ra mua bán. Nguyễn Du đã ca ngợi lòng hiếu thảo, đức hi sinh của Kiều trước gia biến, cảm thương cho nỗi đau khổ của nàng khi Mã Giám Sinh "cân sắc cân tài", khi bị hắn "cò kè bớt một thêm hai"… Đoạn thơ chứa chan tinh thần nhân đạo là ở những chi tiết nội dung ấy.
Mã Giám Sinh mua Kiều là đoạn thư có giá trị tố cáo đanh thép và sâu sắc nhất trong Truyện Kiều. Nguyễn Du đã dựng nên một bức tranh tả thực sắc sảo giúp chúng la thấy rõ được bộ mặt tàn ác, ghê tởm của bọn buôn thịt bán người trong xã hội, ở đây là Mã Giám Sinh. Nhà thơ đã lên án mặt trái đồng tiền hôi tanh "Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong” Đồng cảm, xót thương cho số phận nàng Kiều: phải bán mình chuộc cha, thương tiếc tài sắc giai nhân bị dập vùi, đó là giá trị nhân đạo.
Đoạn thơ thể hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Du trong tự sự (cảnh mua Kiều), trong tả người, tả Mã Giám Sinh, tả mụ mối thì sử dụng bút pháp hiện thực, chi tiết hiện thực; tả Kiều thì thiên về ước lệ, rất biến hóa, tài tình. Ngôn ngữ mang sắc thái biểu cảm đầy ấn tượng.
Tóm lại, cảnh Mã Giám Sinh mua Kiều có giá trị tố cáo hiện thực và chứa chan tinh thần nhân đạo. Đoạn thơ là sự khởi đầu tiếng kêu thương của một kiếp đoạn trường. | Phân tích đoạn thơ Mã Giám Sinh mua Kiều trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du | 1,408 | |
Phân tích đoạn thơ mở đầu của bài thơ Bên kia sông Đuống của nhà thơ Hoàng Cầm- Văn lớp 12
Hướng dẫn
Phân tích đoạn thơ mở đầu của bài thơ Bên kia sông Đuống của nhà thơ Hoàng Cầm- Văn lớp 12
Bài làm
Hoàng cầm là một tác giả nổi tiếng với tình yêu quê hương đất nước. Ông là một nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp.
Hoàng Cầm là một người con sinh ra từ vùng quê hương Kinh Bắc nơi nổi tiếng với nhiều ngành nghề thủ công truyền thống như tranh Đông Hồ.
Kinh Bắc là vùng đất nổi tiếng là vùng kinh kỳ của khu vực miền bắc nước ta. Nơi có nhiều người phụ nữ chăm chỉ đảm đang, tháo vát, nơi có những bãi bồi xanh thắm lúa ngô, khoai sắn, một vùng quê hương tươi đẹp trù phú.
Tác giả Hoàng Cầm viết bài thơ “Bên kia sông Đuống” trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt khi mà tác giả đang ở vùng tản cư nơi có sự lãnh đạo của quân cách mạng. Một hôm nghe tin quê hương mình bị giặc chiếm đóng tác giả vô cùng đau đớn và ông viết bài thơ “Bên kia sông Đuống” trong hoàn cảnh đặc biệt đó.
Trong tác phẩm của mình khổ thơ đầu tiên là khổ thơ mà tác giả Hoàng Cầm dùng để miêu tả lại cảnh trù phú, bình yên của quê hương mình. Một mảnh đất màu mỡ, quanh năm xanh tốt thể hiện những vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Nam.
Những lời thơ đầu tiên thể hiện cảm xúc cay đắng, nghẹn lòng của tác giả. Nhân vật trữ tình được tác giả gửi gắm những tâm sự của mình đó chính là một người con gái với danh xưng là anh và em
“ Em ơi, buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống”
Nhân vật ’em” gái này có thể là người vợ người thương cũng có thể chỉ là sự tưởng tượng của tác giả, nhưng nó thật sự khiến cho bài thơ trở nên xúc động, chân thực và thi vị hơn.
“Ngày xưa cát trắng phẳng lì”
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh”
Dòng sông Đuống ở vùng quê Kinh Bắc quê hương của tác giả là một con sông quanh năm hiền hòa thể hiện sự nên thơ, trữ tình với dòng sông êm đềm chảy quanh năm. Hai bên bờ sông cát trắng phẳng lì vô cùng đẹp.
Cảnh vật nên thơ lãng mạn hữu tình, thể hiện một cuộc sống bình yên. Trên lòng sông những dòng nước hững hờ trôi khi những tia nắng xuyên qua dòng sông trong veo dưới đáy sông in hình lấp lánh, những đêm trăng người dân thường thấy bóng trăng dưới lòng sông. Một cuộc sống nên thơ, hữu tình như vậy làm sao đi xa người ta không nhớ, không vấn vương cho được.
Xanh xanh bãi mía bờ dâu”
Những câu thơ này dòng sông Đuống không chỉ thể hiện vẻ đẹp của mình mà còn thể hiện sự kiên cường, anh dũng của dòng sông. Nó đã trải qua một thời kỳ lịch sử trải dài theo đất nước trải qua bao thăng trầm, qua những trận chiến ác liệt, qua bao nhiêu nắng mưa. Tạo cho dòng sông Đuống có một sức sống mãnh liệt kiên cường bền bỉ qua thời gian như những người dân vùng quê Kinh Bắc.
Hai câu thơ này thể hiện sự độc đáo của nhà thơ Hoàng Cầm thể hiện sự tự hào dân tộc của tác giả với mảnh đất quê hương mình. Với nơi chôn rau cắt rốn của cuộc đời mình.
Chính niềm tự hào dân tộc đó đã khiến cho tác giả Hoàng Cầm không thể kìm chế sự chua xót của mình khi nghe tin giặc đã chiếm đánh vùng quê Kinh Bắc thân yêu. Những ký ức bình yên, những kỷ niệm tuổi thơ lại trỗi dậy mạnh mẽ làm tác giả không thể nào không cầm bút viết.
“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay”
Trong hai câu thơ này thể hiện sự nuối tiếc, uất nghẹn của tác giả khi không làm gì được cho quê hương. Nhà thơ nuối tiếc cho quê hương mình, một mảnh đất xanh tươi, giàu có trù phú như vậy mà nay lại chìm trong những hủy diệt của bom đạn, chịu cảnh tan tác, tất cả đều chìm trong khói lửa của chiến tranh nghịch cảnh.
Thông qua bài thơ thể hiện tình cảm yêu quê hương đất nước của tác giả Hoàng Cầm. Đồng thời thông qua bài thơ này nhà thơ cũng muốn tố cáo tội ác của giặc khi bọn chúng gieo rắc chiến tranh phi nghĩa lên đất nước ta làm cho bao nhiêu vùng quê tươi đẹp của Việt Nam bị hủy diệt chìm trong bom đạn. | Phân tích đoạn thơ mở đầu của bài thơ Bên kia sông Đuống của nhà thơ Hoàng Cầm- Văn lớp 12 | 820 | |
Phân tích đoạn thơ Nỗi thương mình trích trong Truyện kiều của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Phân tích đoạn thơ Nỗi thương mình trích trong Truyện kiều của Nguyễn Du
Đoạn thơ Nỗi thương mình trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du bắt đầu từ câu 1229 đến câu 1248 là đoạn thơ đầy chất bi thương nhưng lại không hề yếu đuối. Bởi từ bên trong đã toát lên vẻ đẹp của phẩm chất cao quý. Và chính cái bi thương ấy lại là lời tố cáo mãnh liệt cái tội ác của xã hội bất nhân đang dồn nén hết những đau khổ nên một kiếp người mỏng manh.
Từ khi Thúy Kiều bán mình chuộc cha, cuộc đời gặp phải bao sự lừa lọc. Có lẽ sự lừa lọc lớn nhất là bị Mã Giám Sinh bán vào lầu xanh.Kiều đã nghĩ đến rút dao tự sát chứ không cam chịu nhưng cuộc đời thật trớ trêu không cho Kiều chết. Trong lúc mê man Kiều thấy hồn Đạm Tiên hiện về báo chưa thoát khỏi kiếp đoạn trường nên Kiều phải nghe theo mụ Tú Bà và tạm ngưng ở lầu Ngưng Bích. Ở đây Kiều lại bị tên Sở Khanh lừa một lần nữa, hắn hứa sẽ giúp Kiều bỏ trốn nhưng bị Tú Bà bắt lại và bắt Kiều Phải đi tiếp khách. Cuộc đời Kiều tăm tối từ đây.
Mở đầu là tình cảnh trớ trêu của Kiều ở chốn lầu xanh:
Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.
Nguyễn Du đã miêu tả thật sống động bức tranh sinh hoạt đặc trưng ở chốn lầu xanh bằng bút pháp ước lệ. Những hình ảnh ẩn dụ “bướn lả”, “ong lơi”, “lá gió”, “ cành chim” và các điển tích Trường Khanh” – chỉ chung cho loại khách làng chơi phong lưu. Nguyễn Du cho thấy tình cảnh của Thúy Kiều tuy sống trong cảnh lầu xanh tưởng như thanh tao, phong nhã nhưng thực chất đó chỉ là giả tạo, hằng ngày Kiều phải làm công việc nhơ nhuốc, phải đi mua vui cho người ta. Từ đó ta thấy được lầu xanh là nơi láo nhịp đông người đến mua vui nhưng chỉ có mình Kiều một mình cô đơn đau buồn vì số phận hẩm hiu của bản thân. Kiều thật đáng thương và bất hạnh, qua đó tác giả thể hiện sự đồng cảm với Kiều.
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa
Chốn lầu xanh là nơi mua vui nên cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm chỉ khi “ tỉnh rượu”, “ lúc tàn canh” về khuya rồi thì Kiều mới thực sự có lúc sống thật với bản thân. Nhịp thơ 3/3 thể hiện sự chậm chạp của thời gian và không gian lúc về khuya. Cho thấy sự trống vắng trong tâm hồn kiều lưu lạc chốn phương xa không người thân thích. Tiếp theo là nhịp thơ 2/2/2/2 “Giật mình/mình lại/thương mình/ xót xa” thể hiện tâm trạng thoảng thốt của Kiều. Từ “mình” lập lại ba lần trong một câu thơ như tiếng nấc nghẹn ngào cố ghìm nén trong tiếng khóc.
“Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chương bấy thân”
Một cô gái tài sắc vẹn toàn, sống trong gia đình gia giáo vậy mà bây giờ trở thành một nhánh hoa tàn. Phép đối lập như một biện pháp nghệ thuật trong hai câu đầu này càng tăng thêm giá trị biểu cảm. Nó tạo nên sự so sánh đối lập giữa hai quãng đời, hai thời gian, hai tình cảm. Cặp từ đối lập chỉ thời điểm: “Khi sao / giờ sao” tạo nên cảm giác đột ngột của sự thay đổi trong một khoảng thời gian không mấy cách biệt. Chính vì điều này đã làm vết thương của Kiều nhức nhối, đau đớn như đào sâu thêm vào nỗi xót xa, tê tái của Kiều. Nỗi đau thể xác phải đi mua mua cho người khác đã đau cộng thêm nỗi đau về tâm hồn lại làm cho Kiều trở nên càng thương tâm hơn.
“Mặc người mưa Sở mây Tần
Những mình nào biết có xuân là gì?”
Sống là một kĩ nữ trong lầu xanh mua vui hết cho người này đến người khác mà từ “xuân” ở đây là hạnh phúc lứa đôi trong khi Kiều lại đi làm vợ khắp trốn thì Kiều làm gì có “xuân”. Câu thơ thật hay và đầy chất suy tư trong tâm hồn của Kiều, Kiều thật đáng thương. Từ ‘”mặc” ở đây lại chỉ sự bất lực, mặc cho mọi thứ muốn tới đâu thì tới.
“Đòi phen gió tựa hoa kề
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa”
Bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp có phong – hoa – tuyết – nguyệt tượng trưng cho bốn mùa nhưng Kiều lại dửng dưng như không. Bởi trong Kiều bây giờ toàn là sự đau đớn tủi nhục “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ở lầu xanh cũng có đủ các thú vui như cầm, kì, thi, họa, nhưng đối với Kiều thì cảnh vật, con người và những thú vui ấy giờ đây đốì với nàng đều trở nên vô nghĩa.
“Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó, mặn mà với ai.”
Hai câu thơ cuối này thể hiện rõ nỗi lòng của Kiều. Từ “vui gượng” nói lên sự lạc lõng, cô độc cũng là sự mâu thuẫn, bế tắc không lối thoát của Kiều trước cảnh chốn lầu xanh của Kiều. Sống trong chốn lầu xanh phải đi mua vui cho người khác kiều thấy mình cô đơn lạc lõng không ai quen biết hiểu được nỗi lòng của mình Kiều thấy nhân phẩm bị nhơ nhớp mà không vùng nên được.
Đoạn thơ Nỗi thương mình chỉ vẹn vẹn trong hai mươi câu nhưng đã nói hết nên sự cô đơn, đau buồn và tủi nhục của Kiều ở chốn lầu xanh đồng thời thể hiện sự đồng cảm của tác giả đối với một con người tài sắc vẹn toàn bị xã hội đẩy vào chốn thị phi. Tác giả muốn phê phán tố cáo xã hội tàn ác ước hiếp những con người nhỏ bé trong xã hội đặc biệt là những người phụ nữ liễu yếu đào thơ chỉ khát vọng có một cuộc sống yên bình. | Phân tích đoạn thơ Nỗi thương mình trích trong Truyện kiều của Nguyễn Du | 1,111 | |
Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Ông đồ của tác giả Vũ Đình Liên:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Bài làm
Mở đầu bài thơ là lời giới thiệu về thời gian, không gian và những sự việc diễn ra trong thời gian và không gian đó.
Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu, giấy đỏ Bên phố đông người qua.
Khi mùa xuân đến, khi phốđông người qua, cũng là lúc ông đồ lại xuất hiện với giấy đỏ, mực tàu làm hành trang để mang lại cái đẹp cho đời. Hình ảnh thơ chân thật, ýthơ nhẹ nhàng, bình thản nhưng vẫn gợi chút bâng khuâng. Ngày xưa, người ta phải dâng một cơi trầu để kính cẩn xin ông đồ cho chữ, đó là đôi câu đối đỏ; ngày nay, ông đồ phải thân chinh đem giấy mực bày trên phố để mưu sinh. Đó là một thay đổi lớn theo chiều hướng đánh mất dần cái truyền thông. Ông đồ không còn là biểu tượng cho đời sống tinh thần của ngày xưa, không còn là hiện thân trong nét văn hóa cổ truyền của dân tộc. Hình ảnh ông đồ ngồi trên phố để bán chữ nhân dịp xuân về có lẽ làm cho tác giả buồn lòng hơn.
Phố phường tấp nập người qua lại nhưng ông đồ thì vẫn cô đơn, lẻ loi và cặm cụi với bút giấy để tạo ra những tác phẩm mà mọi người đều tấm tắc khen ngại. Những từ ngữ trong các câu tiếp theo cho thấy bàn tay tài hoa của ông đồ:
Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài “Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay”.
Vẻ đẹp của những chữ do ông đồ viết được tác giả diễn đạt qua các từ ngữ cổ: hoa tay thảo, phượng múa rồng bay. Nét đẹp mà tác giả nêu ra chính là niềm an ủi duy nhất đối với ông đồ, nó đã giúp cho ông có được những vị khách đến với mình và ngỏ lời khen ngợi nét tài hoa của ông. Nhà thơ đã hân hoan chia sẻ với con người có đôi tay tài hoa ấy bằng những dòng thơ giàu xúc cảm:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài.
Đề 1. Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đinh Liên.
Đề 2. Tinh thần yêu nước, yêu nền văn hóa dân tộc của nhà thơ Vũ Đình Liên thể hiện như thế nào qua bài thơ Ông đồ?
Đề 3: Cảm nhận về bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên | Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Ông đồ của tác giả Vũ Đình Liên | 463 | |
Phân tích đoạn thơ sau trong bài Ông Đồ – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Bài làm
Mở đầu bài thơ là lời giới thiệu về thời gian, không gian và những sự việc diễn ra trong thời gian và không gian đó.
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Khi mùa xuân đến, khi phố đông người qua, cũng là lúc ông đồ lại xuất hiện với giấy đỏ, mực tàu làm hành trang để mang lại cái đẹp cho đời. Hình ảnh thơ chân thật, ý thơ nhẹ nhàng, bình thản nhưng vẫn gợi chút bâng khuâng. Ngày xưa, người ta phải dâng một cơi trầu để kính cẩn xin ông đồ cho chữ, đó là đôi câu đối đỏ; ngày nay, ông đồ phải thân chinh đem giấy mực bày trên phố để mưu sinh. Đó là một thay đổi lớn theo chiều hướng đánh mất dần cái truyền thống. Ông đồ không còn là biểu tượng cho đời sống tinh thần của ngày xưa, không còn là hiện thân trong nét văn hóa cổ truyền của dân tộc. Hình ảnh ông đồ ngồi trên phố để bán chữ nhân dịp xuân về có lẽ làm cho tác giả buồn lòng hơn.
Phố phường tấp nập người qua lại nhưng ông đồ thì vẫn cô đơn, lẻ loi và cặm cụi với bút giấy để tạo ra những tác phẩm mà mọi người đều tấm tắc khen ngợi. Những từ ngữ trong các câu tiếp theo cho thấy bàn tay tài hoa của ông đồ:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Vẻ đẹp của những chữ do ông đồ viết được tác giả diễn đạt qua các từ ngữ cổ: hoa tay thảo, phượng múa rồng bay. Nét đẹp mà tác giả nêu ra chính là niềm an ủi duy nhất đối với ông đồ, nó đã giúp cho ông có được những vị khách đến với mình và ngỏ lời khen ngợi nét tài hoa của ông. Nhà thơ đã hân hoan chia sẻ với con người có đôi tay tài hoa ấy bằng những dòng thơ giàu xúc cảm:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài.
Tags:Văn 8 | Phân tích đoạn thơ sau trong bài Ông Đồ – Đề và văn mẫu 8 | 410 | |
Phân tích đoạn thơ Ta về mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Hướng dẫn
Nội dung: Mượn lời đáp trả của người ra đi với người ở lại, nhà thơ Tố Hữu bộc lộ tình cảm nhớ nhung sâu sắc về thiên nhiên và nhân dân Việt Bắc.
a.Hai câu đầu thể hiện cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ:
“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhở những hoa cùng người”
-Người ra đi tự xưng là “ta” và gọi người ở lại là “mình”. Hai đại từ này thường thấy trai gái xưng hô trong ca dao: “Mình về ta chẳng cho về. Ta nắm vạt áo ta dề câu thơ”. Cách xưng hô này cho thấy cuộc chia tav giữa người kháng chiến và nhân dân Việt Bắc giông cuộc giả biệt bạn lứa đôi, thắm thiết ân tình.
-Cụm từ “ta về” được láy lại hai lần cùng câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta” tạo giọng điệu da diết, qua đó nói lên nồi bịn rịn, luyến lưư và khát khao được giãi bày lòng mình của người ra đi.
-“Hoa” là hình ảnh hoán dụ tượng trưng cho thiên nhiên. Trong kí ức của người về xuôi, Việt Bắc lộng lầy, rực rỡ với vẻ đẹp của các loài hoa thi nhau khoe sắc thắm. Còn “người” là hình ảnh hoán dụ tượng trưng cho nhân dân Việt Bắc. Với người kháng chiến đã từng gắn bó với chiến khu cách mạng thì Việt Bắc luôn đẹp trong sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người.
b.Trong tám dòng thơ tiếp theo, TỐ Hữu dã tạo nên một bộ tranh tứ bình độc dáo về Việt Bắc theo chủ đề “xuân, hạ, thu, đông”:
-Bốn bức tranh trong bôn cặp câu lục bát được vẽ theo nghệ thuật hội họa phương Đông mà người Việt Nam vần thường gọi là tranh tứ bình. Nếu vẽ theo bốn mùa riêng thì gọi là tranh tứ quý. Đề phản ánh chủ đề “xuân, hạ, thu, đông”, người xưa thường mượn hoa để biểu trưng: mùa xuân thì vẽ hoa mai, mùa hạ thì có hoa lan, mùa thu thì có hoa cúc còn mùa đông thì người ta dùng trúc đề làm biểu tượng. Bốn bức tranh thơ của Tô” Hữu cũng là tranh tứ quý nhưng không phải đế nói về vẻ đẹp của “mai, lan, cúc, trúc” mà là miêu tả những nét thiên nhiên rất đặc trưng của núi rừng Việt Bắc. Cảnh có màu sắc tươi tắn rực rỡ, có ánh sáng lung linh chan hòa, có âm thanh vui đầm ấm. Đặc biệt, trong cảnh có người và cả hai như hòa quyện vào nhau.
* Bức tranh mùa dông:
-Nếu theo trình tự bốn mùa xuân, hạ, thu, đông thì mùa xuân phải được đề cập đến trước nhất. Nhưng trong đoạn thơ, tác giả miêu tả bức tranh mùa đông trước tiên. Có lẽ mùa đông là mùa chia tay giữa Việt Bắc và cách mạng nên đã để lại trong nhà thơ nhiều ấn tượng nhất:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.
-Trên nền màu xanh trải dài khắp núi rừng, thì màu “hoa chuối đỏ tươi” rực rỡ như những ngọn đuốc bập bùng cháy giữa màu xanh của rừng già, gợi cảm giác ấm áp, hưng phân.
-Vượt qua cái lạnh lẽo của mùa đông buốt giá, con người vẫn lên rừng, lên nương, cuốc rẫy, trồng ngô… Hình ảnh con dao quắn cài ở thắt lưng lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời càng tôn thêm vẻ đẹp của họ.
-Giữa cái bạt ngàn của núi rừng, con người như một chấm nhỏ di động nhưng hoàn toàn không bị thiên nhiên lấn át, chìm khuất, mà thực sự thiên nhiên đang tôn lên vẻ đẹp của con người. Trên đèo cao, con người như mang tư thế một vị chủ nhân của núi rừng Việt Bắc.
*Bức tranh mùa xuân:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
-Màu trắng rừng của hoa mơ diễn tả cái tinh khôi, trinh bạch của thiên nhiên Việt Bắc vào xuân. Hai chữ “trắng rừng” đã bộc lộ cảm giác ngỡ ngàng, hạnh phúc của nhân vật trữ tình trước vẻ xuân dâng ngập đất trời.
-Các động từ “dan”, “chuốt” không chỉ làm nổi bật nét óng ánh của nhừng sợi giang dùng để đan nón mà còn thể hiện đức tính tỉ mỉ, siêng năng của nhân dân Việt Bắc. Con người chính là chủ nhân của mùa xuân, là kẻ đang tô điểm cho sắc xuân của đất trời thêm lộng lẫy.
*Bức tranh mùa hạ:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
-Cụm từ “rừng phách đổ vàng” có thế hiểu theo cách:
+ Hiếu theo nghĩa rừng phách đang trố hoa: thì khắp không gian như lênh láng sắc vàng rực rỡ.
+ Cũng có thể hiểu “đổ vàng” là lá cây đồng loạt ngả sang màu vàng để chuẩn bị cho mùa thu trút lá.
+ Động từ “đô” thật đắt: Màu vàng như từ trời cao đố xuống làm cho khắp không gian thấm đẫm sắc vàng.
Hai động từ “kêu” và “đổ” thê hiện cái không khí rộn rực rất đặc trưng của mùa hạ. Câu lục xôn xao “tiếng nói” không chỉ của sắc màu mà lẫn cả âm thanh, chỉ cần tiếng ve kêu vang, cả rừng phách như hối hả, chóng vánh thay màu.
-Hình ảnh cô gái “hái măng một mình” với dáng vẻ lẻ loi, cô đơn nhưng vần đẹp trong sự cần mần, khơi dậy trong ta những rung động ngọt ngào, sâu lắng.
Bức tranh mùa hạ vừa hoành tráng với những nét bút mạnh mẽ, vừa mảnh mai, tinh tế thắm đượm tính trữ tình, gợi cả một trường liên tưởng mênh mông.
“Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.
-Từ “hòa bình” vừa vẽ ra khung cảnh êm đềm ở an toàn khu, vừa muôn nói đến sự thanh tĩnh, mát mẻ của ánh trăng giữa rừng khuya.
-Con người không hiện lên thành bóng dáng mà bằng “tiếng hát ân tình thủy chung” nghe thật ấm lòng.
Câu thơ gợi nhớ đến cảnh sinh hoạt ca hát của nhân dân Việt Bắc, của những đôi trai gái Việt Bắc yêu thương nhau, hò hẹn mãi mãi thủy chung. Tiếng hát vọng về trong nỗi nhớ đã nói hộ được nỗi lòng hiện tại của người ra đi.
c.Nhận xét:
-Đoạn thơ thế hiện tính dân tộc đậm đà: giọng thơ ngọt ngào, da diết; ngôn ngữ giản dị nhưng rất giàu hình ảnh, nét vẽ lúc phóng khoáng, bao quát, nhưng cũng có lúc cụ thể, tỉ mỉ…
-Mỗi bức tranh miêu tả đặc trưng của từng mùa, tuy chúng có giá trị độc lập nhưng không phá vỡ sự hài hòa của bộ tranh tứ bình.
-Cảnh đông và hạ sắc màu rực rỡ, kích thích mọi giác quan con người, thì cảnh xuân thu như cân bằng trở lại, màu sắc tinh khôi, êm dịu.
-Linh hồn trong toàn bộ bốn bức tranh là con người: con người cần cù, chăm chỉ, siêng năng, tĩ mỉ và thủy chung với cách mạng, với kháng chiến.
Tóm lại, Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là bản tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể thơ lục bát, kiểu kết câu đối đáp, ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian – tất cả đâ góp phần khắc sâu lời nhắn nhủ của Tố Hữu: Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thông quý báu anh hùng bất khuất, ân nghĩa thủy chung của cách mạng, của con người Việt Nam. | Phân tích đoạn thơ Ta về mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung | 1,295 | |
Đề bài: Phân tích đoạn thơ Thúy Kiều báo ân báo oán trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Bài làm
Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi chốn thanh lâu, Kiều trở thành một mệnh phụ phu nhân. Chẳng bao lâu sau, Từ Hải đã có binh cường tướng mạnh:
Trong tay mười vạn tinh binh,
Kéo về đóng chật một thành Lâm Tri
Kiều đã dựa vào uy thế Từ Hải để báo ân báo oán.
Trong Truyện Kiều, cảnh báo ân báo oán là một tình huống giàu kịch tính, thể hiện ưóc mơ công lí ở đời. Cảnh báo ân báo oán được kể trong một đoạn thơ dài 162 câu thơ (từ câu 2289 đến câu 2450), Thúc Sinh, mụ quản gia, vãi Giác Duyên được báo ân. Hoạn Thư cùng 7 tên khác bị báo oán:
Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.
Tú Bà với Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình còn sao?
Ở đây, chúng ta chỉ nói đến hai tình tiết: Kiều báo ân Thúc Sinh và báo oán Hoạn Thư. Tâm lí và cách ứng xử của Thúy Kiều, tính sáng tạo của Nguyễn Du là những điều mà ta có thể tìm hiểu và cảm nhận trong đoạn thơ này.
1. Báo ân Thúc Sinh
Sau khi mắc lừa Sở Khanh, Thúy Kiều bị Tú Bà bắt ép làm gái lầu xanh. Và Kiều đã gặp Thúc Sinh "cũng nòi thư hương", là con rể của quan thượng thư, một con người phong tình "quen thói bốc rời". Lúc đầu chỉ là "trănggió", nhưng về sau, Thúc Sinh và Thúy Kiều trở thành "đá vàng". Thúc Sinh đã chuộc Kiều, lấy làm vợ lẽ: "Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai". Mặc dù sau này có chuyện đánh ghen, bị làm nhục, nhưng Thúc Sinh trong điều kiện có thể, nói với Hoạn Thư đưa Kiều ra Quan Âm các "giữ chùa, chép kinh", thoát khỏi kiếp tôi đòi. Tuy "thấp cơ thua trí đàn bà" nhưng tình cảm của Thúc Sinh đối với Thúy Kiều, trong bi kịch vẫn "nặng lòng”
Bây giờ kẻ ngược người xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời nước non?
Có thể chê trách Thúc Sinh này nọ, nhưng Thúc Sinh là ân nhân của Kiều, đã giúp Kiều hoàn lương. Kiều là một người phúc hậu, nên nàng không bao giờ có thể quên ơn chàng.
Trong cuộc tầm nã của ba quân, gia đình Thúc Sinh đã được Kiều quan tâm "giữ giàng”
Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.
Cảnh báo ân diễn ra, Kiều đã dùng một chữ "mời" rất trọng vọng "cho gươm mời đến Thúc Lang". Kiều nói về "nghĩa", về chữ "tòng", đề cao đạo lí thủy chung. Thúc Sinh là "người cũ", là "cố nhân " mà Kiều "há dám phụ". Nàng khẳng định cái tình nghĩa của Thúc Sinh đối với mình ngày xưa là vô cùng to lớn, sâu nặng: "nghĩa nặng nghìn non… Kiều đã dùng một số từ như: "nghĩa, nghìn non, Sâm Thương, chữ tòng, người cũ, cố nhân… "cùng với giọng điệu ôn tồn, biểu lộ một tấm lòng trân trọng, biết ơn một người đàn ông đã từng yêu thương mình, cứu vớt mình. Trái tim của Kiều rất nhân tình, nhân hậu; cách ứng xử của nàng đối với Thúc Sinh ỉà giàu ân nghĩa thủy chung:
Nàng rằng: "Nghĩa nặng nghìn non.
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
Cái lễ vật chất mà Kiều báo ân Thúc Sinh cũng thật "hậu", khẳng định cái nghĩa đối với "cố nhân"trong những năm tháng ở Lâm Tri là vô cùng sâu nặng:
Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân.
Tạ lòng để xứng báo ân gọi là.
Sau đó, Kiều dùng lời lẽ dân dã, sắc sảo để nói về "vợ chàng". Bao năm tháng đã trôi qua, lòng Kiều vẫn chưa nguôi. "Miếng ngon nhớ mãi, đòn đau nhớ đời" có phải như thế không? Vị thế đã đổi thay: kẻ là phạm tội, người là quan tòa đang ngồi trong trướng hùm giữa cành "gươm lớn giáo dài":
Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.
Kiều đã có hai cách nói khác nhau: nói về ân nghĩa thì trang trọng, ôn tồn; nói về oán thì nôm na, chì chiết. Nguyễn Du đã tạo nên hai giọng điệu, hai thứ ngôn ngữ trong một lượt lời của Thúy Kiều, điều đó cho thấy thi hào rất tinh tế, sâu sắc khi thể hiện tâm lí nhân vật. Dù là được báo ân, nhưng đứng trước cảnh "Vác đòng chật đất, tinh kì rợp sân", Thúc Sinh cực kì khủng khiếp: "Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run", mồ hôi toát ra "ướt đẫm ", không nói được một lời nào, sống trong tâm trạng vừa "mừng", vừa "sợ":
Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,
Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai.
2. Báo oán Hoạn Thư
Từ lần bị đánh ghen đêm ấy, đến nay đã bao năm tháng? Gặp lại Hoạn Thư lần này, trong tư thế của người "chiến thắng" ra tay báo oán, Kiều đã "chào thưa "bằng những lời "mát mẻ”
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Giọng nói trở nên chì chiết, đay nghiến. Các chữ "mấy tay", "mấy mặt", "mấy gan” như những mũi dao sắc lạnh:
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!
Kiều nghiêm giọng cảnh cáo Hoạn Thư đã từng hành hạ mình, làm cho mình đau khổ: Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.
Là "thủ phạm" đang đứng giữa pháp trường, xung quanh là bọn đao phủ đã "gươm tuốt nắp ra", Hoạn Thư "hồn lạc phách xiêu". Người đàn bà này tự biết tội trạng mình, cảnh ngộ mình, khó lòng thoát khỏi lưỡi gươm trừng phạt? Vốn khôn ngoan, sắc sảo, đứa con của "họ Hoạn danh gia” đã trấn tĩnh lại, tìm cách gỡ tội. Một cái "khấu đầu" giữ lễ, khi chân tay đang bị trói. Trước hết nhận tội "ghen tuông" và lí giải đó là chuyện "thường tình "của đàn bà. Tiếp theo Hoạn Thư gợi lại chút "ân tình " ngày xưa: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm các "giữ chùa chép kinh", không bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, đã bỏ qua. Cách nói rất khéo, chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong cuộc mới biết. "Nghĩ cho"là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho:
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửu dứt tình chẳng theo.
Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh: "Rằng: tài nên trọng mà tình nên thương". Tuy "Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai", nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư "kính yêu ''Thúy Kiều. Hoạn Thư tự nhận tội và xin Thúy Kiều rộng lượng:
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.
Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành. Vì thế, Kiều phải "khen cho”. "Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời". Không thể là "người nhỏ nhen", Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:
Đã lòng tri quá thì nên
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.,
Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Vốn là một phụ nữ trung hậu, đã từng nếm trải bao cay đắng và ngang trái trong cuộc đời, vả lại Kiều cũng tự biết rằng mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác, tha tội Hoạn Thư, Thúy Kiều càng tỏ ra vô cùng cao thượng.Ai đã từng đọc bản dịch Kim Vân Kiều truyện, đem đối chiếu với Truyện Kiều, ta mới thấy hết tài sáng tạo của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du, nhất là trong cảnh báo ân báo oán. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ mà không kém phần uy nghiêm! Lời thoại rất gọn mà sắc đã làm nổi bật tâm lí, tính cách nhân vật Thúc Sinh lành mà nhát sợ, Hoạn Thư thì khôn ngoan, sắc sảo, Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao dung.
Nguyễn Du đã.sáng tạo nên những lời thoại biến hóa để nói lên chuyện ân oán, cái lẽ đời xưa nay, ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh báo ân báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của Truyện Kiều. | Phân tích đoạn thơ Thúy Kiều báo ân báo oán trích Truyện Kiều của Nguyễn Du | 1,459 | |
Phân tích đoạn thơ thứ 2 trong bài Đất nước
Hướng dẫn
Phân tích đoạn thơ thứ 2 trong bài Đất nước
Nguyễn Khoa Điềm sinh ra trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và cách mạng ở thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điểm, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nguyễn Khoa Điềm hoạt động văn nghệ và chính trị ở Huế. Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng về đất nước, về dân tộc. Đất nước là một trong số những bài thơ thấm nhuần chất dân tộc và trữ tình.
Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả sáng tác ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974. Đoạn trích Đất Nước nằm ở phần đầu chương V của trường ca là một trong những đoạn thơ hay
Ở 9 câu thơ đầu, tác giả bày tỏ những quan niệm về Đất nước bằng những hình ảnh giản dị và từ những truyền thống văn hóa đẹp đẽ được truyền từ ngàn đời nay. Đó là những hình ảnh về một nắng hai sương, tóc mẹ thì búi sau đầu hay là miếng trầu bà ăn. Nhưng khi tới với đoạn hai hình ảnh đất nước có chút biến đổi:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Những hình ảnh con đường đến trường, bến sông em tắm, nơi lứa đôi yêu nhau hò hẹn… gợi ra không gian cụ thể, thân quen,không kém phần đẹp đẽ, thơ mộng. Đất Nước là không gian sinh tồn của cả cộng đồng người Việt qua bao nhiêu thế hệ. Nước có thể khiến ta nghĩ tới nguồn cội nhưng cũng là nguồn nước là nguồn sống là nơi gắn với đời sống sinh hoạt sông nước của người dân việt nam. Và những câu tiếp theo:
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi ”
Câu thơ trên lấy ý từ những bài ca dao miền Bắc và những câu hò Bình Trị Thiên để mở ra một không gian lãng mạn, bay bổng của một tình yêu say đắm, thủy chung. Trong tình yêu và đặc biệt trong mắt của những người trẻ tuổi, Đất Nước là một không gian thơ mộng với bao kỉ niệm dịu ngọt của tình yêu. Đó là nơi hẹn hò là nơi thương thầm trộm nhớ
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông,
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ.
Đất Nước tồn tại trong sâu thẳm của kí ức, từ thời nảy sinh huyền thoại về mối duyên kì ngộ giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ:
Đất là nơi chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng.
Trải qua thời kì dựng nước và giữ nước từ thời các vua hùng cho tới thời đại chúng ta bây giờ, Đất Nước đã trải qua bốn nghìn năm lịch sử. Và để trải qua bao nhiêu gian nan vất vả dân tộc ta dã xây dựng nên nhiều truyền thống và nét đẹp văn hóa Việt Nam.” đồng bào” gợi tình cảm máu thịt và tinh thần đoàn kết nhất trí. Đất Nước mấy nghìn năm lịch sử được chuyển giao qua nhiều thế hệ. Chất liệu được sử dụng trong mấy câu này là chính là truyền thuyếtnhư “ Lạc long quân và Âu cơ,nguồn gốc của những người dân Việt.
Qua đoạn trích Đất Nước, đặc biệt là ở đoạn 2, Nguyễn Khoa Điềm đã kết hợp giữa chính luận với trữ tình, giữa suy tưởng với cảm xúc.Trong đoạn thơ, sự triển khai cảm hứng của tác giả tuy phóng túng, đa dạng nhưng vẫn quy về điểm cốt lõi.Bài thơ khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc, cùng trách nhiệm mỗi con ngườichung tay xây dưng đất nước.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích đoạn thơ thứ 2 trong bài Đất nước | 670 | |
Phân tích đoạn thơ trong bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh: Tiếng suối trong như tiếng hát xa…. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Hướng dẫn
Phân tích đoạn thơ trong bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh: Tiếng suối trong như tiếng hát xa…. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Hồ Chí Minh không những là vị lãnh tụ của nhân loại mà còn là một nhà thơ đầy bản lĩnh và có lòng nhân ái. Chúng ta không thể không khâm phục Người khi đã để lại một khối lượng thơ văn khá là đồ sộ và chúng có tầm ảnh hưởng lớn. Nói đến đây, ắt hẳn chúng ta sẽ nhớ tới bài “ Cảnh khuya “, bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh khi chúng ta đang bước sang một cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp tại chiến khu Việt Bắc.
Bài thơ “ Cảnh Khuya” nói lên phong thái ung dung, lạc quan của Người khi dành cho mình những phút giây thanh thản để hòa mình cùng với thiên nhiên cảnh vật, khiến cho ta cảm thấy ngưỡng mộ tâm hồn thanh cao ấy.
Giữa khung cảnh đất trời núi rừng hoang sơ nơi đây điều đầu tiên Bác cảm nhận được đó chính là.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa” Đọc câu thơ ta thấy Bác thật tài tình trong lối so sánh của mình. Tiếng suối được ví von như tiếng hát, điều đặc biệt hơn nữa đó là tiếng suối này được cảm nhận bằng thính giác và lại tiếng suối trong. Có lẽ người tuy không nhìn rõ không nếm được nhưng vẫn có thể cảm nhận rõ được độ trong trẻo của dòng suối ấy.
“Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”
Nhắc tới từ “lồng” chúng ta lại nghĩ tới hai vật nào đó đan xen vào nhau để tạo thành một thể thống nhất. Ở đây, ánh trăng soi vào bóng cây cổ thụ ngay trước cửa phòng Bác rồi bóng cây cổ thụ đó lại tiếp tục phủ mình lên những bông hoa. Dường như đối với Bác hình ảnh này đã tạo thành một chỉnh tổng thể thống nhất tự nhiên. Cảnh vật lúc này như đang được hòa quyện vào nhau khiến cho con người ta cảm thấy xốn xang dao động. Các sự vật đan lồng vào nhau tạo nên hai gam màu sáng tối, trắng đen giống như nhiều lớp lang, tầng bậc cao thấp lung linh, huyền ảo, hòa hợp quấn quýt. Trăng – cây cổ thụ – hoa, ba vật thể cách nhau cả ngàn trung nhưng vẫn có thể đan cài nâng đỡ nhau tạo nên một vẻ đẹp nên thơ, có hồn.
Nếu như ở hai câu thơ đầu Bác chỉ miêu tả về thiên nhiên thì tới hai câu thơ cuối ta lại thấy được hình ảnh một vị lãnh tụ đang trằn trọc không ngủ được:
“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”
Hai câu thơ đã cho chúng ta hiểu rõ thêm về tâm hồn yêu thiên nhiên của Bác nhưng cũng chính thiên nhiên đó lại khiến cho tâm hồn đó không ngủ nổi vì nỗi lo cho đất nước càng trao dâng, khiến cho vị lãnh tụ không thể nào chợp mắt được.
Giữa vầng trăng sáng vằng vặc giữa cảnh khuya trong trẻo có một người thao thức không yên. Câu thơ “ chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà “ vang lên như một sự bừng tỉnh cho người đọc. Có lẽ thiên nhiên chính là người bạn giúp Bác khuây khỏa, bớt đi sự trăn trở hàng giờ. Từ đây, cho chúng ta thấy được Bác là một người luôn biết hài hòa giữa công việc với tình yêu thiên nhiên và khi càng yêu thiên nhiên thì trách nhiệm đối với công việc lại càng cao bởi vì ta có thể nhận thấy đằng sau hình ảnh người ung dung ngắm trăng đó là một nỗi khao khát về một đất nước thanh bình, để ngày ngày con người được sống tự do, hạnh phúc.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích đoạn thơ trong bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh_ Tiếng suối trong như tiếng hát xa…. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà | 689 | |
Đề bài: Phân tích đoạn thơ "Ta làm con chim hót…Dù là khi tóc bạc." trích trong bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
Bài làm
Công cuộc xây dựng xã hội mới đòi hỏi những con người mới biết cống hiến, biết hi sinh. Nhà thơ Thanh Hải, một nhà thơ cách mạng đã thấm nhuần quan điểm trên. Bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ” đã thay ông nói lên niềm tâm sự, khát vọng được cống hiến cho mùa xuân của đất nước. Chỉ với hai đoạn thơ, tác giả đã nêu bật được niềm khát vọng thiết tha, cháy bỏng của mình:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nổi trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Trong sức xuân mạnh mẽ của đất trời, trong khí thế bừng bừng sức sống của đất nước vào xuân, tác giả đã cảm nhận được mùa xuân trỗi dậy tự đáy tâm hồn mình. Đó là mùa xuân của lòng người, mùa xuân của sức sống tươi trẻ, mùa xuân của cống hiến và hi sinh.
Tác giả không mơ giấc mơ vĩ đại, chẳng tưởng một viễn cảnh lạ kì, mà tâm hồn tác giả nguyện những ước mơ đơn sơ, bình dị:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Tác giả ước mơ được hi sinh, được cống hiến. Ước mơ cháy bỏng của tác giả sôi tràn nhiệt huyết, căng tràn nhựa hi sinh, thổi phồng lên một niềm tin bất diệt. Tác giả mơ ước nhưng chỉ nguyện “làm” một cành hoa, một con chim hót. Tác giả như nguyện rằng mình sẽ làm, vâng sẽ làm một tiếng chim, một cành hoa đế góp vào vườn hoa muôn hương muôn sắc, rộn rã tiếng chim. Một cành hoa, một tiếng chim để tô điểm cho phong cảnh mùa xuân tươi đẹp. Đó là ước nguyện lạ thường, không phải nó cao siêu vĩ đại mà tại nó gần gũi. Quá, đáng yêu quá. Uớc được tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện công hiến cho sự phồn vinh của đất nước.
Tác giả nguyện sẽ cống hiến, cống hiến những gì đơn sơ, giản dị, nhưng lại có ích cho đời:
Ta nhập vào hòa ca
Mội nốt trầm xao xuyến
Tác giá không mơ được làm một cánh đại bàng lướt gió giữa trời xuân, không mơ được làm nốt nhạc vút cao trong dàn hòa ca bay bổng. Tác giả chỉ nguyện làm một tiếng chim hót, một nốt trầm nhưng xao xuyến lòng người. Một ước mơ nho nhỏ, chân tình.
Tâm hồn của tác giả hòa vào mùa xuân đất nước, thôi thúc từng hồi, mạnh mẽ nhưng âm thầm, lặng lẽ:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Đầu đề của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ" là như vậy. Mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân lớn lao của đất nước. Đó là ước nguyện của tác giả, nguyện sẽ mãi mãi được làm việc, được hi sinh, cống hiến. Tác giả muốn góp vào mùa xuân chút công sức nhỏ bé của mình. Đó là ý thích, là niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp, cũng là tấm lòng chân tình của tác giả. Tác giả không mơ ước xa xôi: Một mùa xuân nho nhỏ
Vâng! Mùa xuân nho nhỏ, rất nhỏ nhưng lại có ý nghĩa lớn lao. Bởi tấm lòng của tác giả luôn hướng tới sự cống hiến tốt đẹp, bởi một mùa xuân nho nhỏ sẽ vẽ lên mùa xuân đất trời rộng lớn. Mùa xuân của tác giả chẳng ồn ào náo nhiệt mà âm thầm lặng lẽ hiến dâng, chẳng phô trương, không cần ai biết đến: Lặng lẽ dăng cho đời
Ý thức của tác giả từ một ước nguyện hi sinh, thể hiện sâu hơn là lòng nhân hậu, muốn giúp đời trong âm thầm lặng lẽ:
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khỉ tóc bạc
Tuổi trẻ cống hiến hi sinh, tuổi già cũng ầm thầm cống hiến. Ý thức về trách nhiệm với quê hương, đất nước, khát vọng được sống, được cống hiến trở thành một ý thức bất diệt trong tâm hồn tác giả. Tác giá sẽ sống và cống hiến. Còn sống là còn cống hiến. Lời thơ nhỏ nhẻ, chân tình quá! Tuổi hai mươi căng tràn nhựa sống hay tuổi già tóc bạc ý thức trách nhiệm với đất nước vẫn không thay dổi. Điệp từ “dù là” như là một lời hứa, cũng là một lời tự nhủ với lương tâm sẽ mãi mãi là mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương, đất nước.
Thấm nhuần tâm tư, ước nguyện của tác giả, được sống trong một xã hội hòa bình thống nhất, ta phải làm sao để với lương tâm ta, ta không hổ thẹn là người đã chối bỏ trách nhiệm với đất nước, với quê hương. Như Thanh Hải, ta cũng nguyện được là một “mùa xuân nho nhỏ”. | Phân tích đoạn thơ “Ta làm con chim hót…Dù là khi tóc bạc.” trích trong bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải | 870 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu
Bài làm
Đây là một tác phẩm thơ trường thiên dài 150 dòng được Tố Hữu sáng tác hoàn thành vào tháng 1 năm 1954 đúng vào thời điểm Đảng và Nhà nước ta sắp rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng. Việt Bắc là bài thơ trữ tình đằm thắm thiết tha thể hiện ân tình sâu nặng thủy chung cùa tác giả – người cán bộ sắp rời Việt Bắc về miền xuôi đối với căn cứ địa cách mạng của cả nước. Đây không chỉ là tình cảm riêng của nhà thơ nà đồng thời cũng là tâm trạng chung của mọi người. Bài thơ này tiêu biểu cho những nghĩ suy, tình cảm cao đẹp của những con người kháng chiến đối với miền đất quê hương cách mạng, với đất nước và nhân dân, với kháng chiến và cách mạng. Cũng có thể nói đây là khúc hát tâm tình chung không những của con người kháng chiến, của nhân dân la mà động đến chỗ sâu xa của truyền thống ân nghĩa, thuỷ chung của dân tộc hoà vào, tiếp nối và khơi sâu thêm nét truyền thống cao đẹp đó.
Phân tích đoạn trích bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu
Việt Bắc dựng ra một hoàn cảnh đặc biệt để bộ lộ những cảm xúc trữ tình dào dạt. Đó là một cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa kẻ ở với người đi, giữa Việt Bắc với cán bộ về xuôi bâng khuâng và bịn rịn. Đó cũng là cuộc chia tay cuả những người đã từng gắn bó sâu nặng với nhau: mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Họ từng cùng nhau nằm gai nếm mật, sẻ ngọt chia bùi. Giờ đây, trong phút giây chia tay, họ cùng nhau gợi lại bao kỷ niệm về những ngày tháng đã. qua. Họ khẳng định nghĩa tình bền chặt và hẹn ước về một ngày mai tươi sáng. Việt Bắc vận dụng lối hát giao duyên đối đáp nam nữ của dân ca vì vậy thường sử dụng lối xưng hô thân mật tình tứ rất quen thuộc là: ta, mình. Ta thường dùng ở ngôi thứ nhất. Mình thường dùng ở ngôi thứ hai. Tuỳ theo văn cảnh, ta và mình có thể là Việt Bắc hay người cán bộ về xuôi. Nhưng nhiều lúc lẫn lộn, tuy hai mà một vì mình hay ta cũng dều là người cách mạng cả, cũng đều là ân tình sâu nặng với nhau “tuy hai mà một” cả.
Nói là kết cấu đối đáp, nhưng ở Việt Bắc không chỉ là lời hỏi, lời đáp mà còn là sự hô ứng. đồng vọng của cùng một tâm trạng. Lời đáp, ngoài việc trả lời, cho những điều đặt ra của lời hỏi, còn là sự mở rộng, làm phong phú thêm cho những ý định đã được gợi ra trong lời hỏi. Cũng có khi cả lời hỏi và lời đáp: trở thành lời đồng vọng ngân vang lên những tinh cảm chung.
Thật ra, nếu nhìn sâu hơn vào kết cấu của bài thơ, chúng ta thấy được đối thoại chỉ là lớp vỏ ngoài còn ở chiều sâu bên ưong chính là lời độc thoại. Hình thức độc thoại là khả năng phân thân của cái “tôi” trữ tình để hoá thân vào đối tượng, khiến tâm trạng được thể hiện sàu sắc dễ lay động lòng người hơn.
Bài giảng văn trong sách giáo khoa là đoạn mở đầu và phần một là phần đặc sắc hơn cả của bài thơ. Đoạn trích là đoạn hoài niệm về một Việt Bắc gian khổ, vẻ vang của cách mạng và kháng chiến nay đã trở thành kỉ niệm sâu nặng khôn nguôi trong lòng người. Toàn phần trích giảng thông qua nỗi nhớ da diết, thể hiện nghĩa tình cách mạng, tình cảm thuỷ chung son sắt của người cán bộ về xuôi đối với quê hương Việt Bắc.
Mở ra bài thơ là một cảnh chia tay đầy dùng dằng quyến luyến giữa hai người: kẻ ở và người đi. Đó là Việt Bắc và người cán bộ cách mạng sắp về xuôi. Cả hai được nhà thơ hình tượng hoá như một đôi bạn tình. Đôi bạn tình này đã cùng nhau chia bùi sẻ ngọt, đồng cam động khổ trong suốt thời gian mười lăm năm ân sâu nghĩa nặng. Nhà thơ sử dụng cặp đại từ nhân xưng mình, ta thật tự nhiên, sinh động và linh hoạt mang nhiều sắc thái ngữ nghĩa làm bài thơ dạt dào xúc cảm đời thường với những lời nhắn nhủ, dặn dò, hò hẹn, nguyền… vừa rất riêng tư thể hiện được những nghĩa tình cách mạng rộng lơn, sâu sắc có tính khái quát cao mang yếu tố trữ tình sử thi rõ rệt. Thật ra, hình thức đối đáp ở đây chỉ là một dụng ý nghệ thuật khơi gợi bộc lộ tâm trạng và tạo ra được sự hô ứng và đồng vọng của xúc cảm trữ tình.
Bao trùm trong tâm trạng của kẻ ở lẫn người đi là một nỗi nhớ da diết, mênh mang một niềm hoài niệm thiết tha, sâu nặng về những tháng ngày vừa qua trong kháng chiến và cách mạng. Nỗi nhớ, niềm hoài niệm đó đã khơi gợi lên, tái hiện lại bao nhiêu là bức tranh về Việt Bắc với cảnh thiên nhiên, núi rừng, vớ những cảnh sinh hoạt của nhân dân, cơ quan và cán bộ, với mọi hoạt động khẩn trương, sôi nổi trong cuộc sống kháng chiến gian khổ mà hào hùng. Tất cả từ lâu đã lắng vào kỉ niệm giờ đây theo dòng hồi tưởng của tác giả lại hiện lên. Nững bức tranh đó có nhiều sắc độ khác nhau: lúc rõ đến từng màu sắc, đường nét, chi tiết (Nhớ người mẹ nắng cháy lưng, Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, Nhớ cô em gái hái măng một mình…) lúc lại xa thẳm mơ hồ (Nhớ gì như nhớ người yêu, Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù, Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều, Chày đêm nện cối đều đều suối xa), lúc cô đọng lại thành biểu tượng (Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai, Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng…). Nỗi nhớ da diết mênh mang của nhà thơ ở đây là nỗi nhớ về thiên nhiên núi Việt Bắc, nỗi nhớ con người, cuộc sống ở rừng Việt Bắc và những kỉ niệm khó quên về cuộc sống kháng chiến gian khổ hào hùng ở nơi đây.
Hình ảnh ihiên nhiên núi rừng Việt Bắc hiện lên trong bài thơ với những vẻ đẹp đa dạng trong nhiều thời gian, không gian khác nhau, trong các thời tiết sương sớm, nắng chiều, trăng khuya và các mùa xuân hạ thu đông thay đổi, nhưng lúc nào cũng hài hoà Rắn bó với con người. Bóng dáng con người khiến cảnh đẹp hoang sơ bớt phần hiu quạnh. Đặc sắc hơn chính là đoạn thơ:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Nhiều người cho rằng bút pháp lả cảnh của Tố Hữu ở đoạn thơ này đạt đến vẻ đẹp cổ điển như thể Truyện Kiều.
Cuộc sống của con người Việt Bắc, tiếp đó, cũng thể hiện ra trong nhiều khung cảnh bình dị, quen thuộc khác nhau. Có khung cảnh thơ mộng, thanh bình
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa
Nhưng cũng có khung cảnh nghèo khó cơ cực mà thấm đẫm nghĩa tình sâu nặng:
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Dịu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô
Lại có khung cảnh gắn với những kỉ niệm riêng tư:
Nhờ tưng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Tuy nhiên, xúc động hơn cả là những câu thơ tái hiện cảnh sinh hoạt cuộc sống bình dị của đồng bào miền núi tuy gian khổ thiếu thốn nhưng nghĩa tình son sắt thuỷ chung với cách mạng và kháng chiến: Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son.
Liền một mạch thơ là hình ảnh Việt Bắc kháng chiến với những bức tranh rộng lớn, hào hùng, sôi động với hình ảnh những đoàn hộ đội dân công nao nức trên các nẻo đường:
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đò đuốc từng đoàn
Bước chăn nát đá, muôn tàn lửa bay…
Khép lại phần 1 của bài thơ là cảnh một cuộc họp của Trung ương Đảng Chính phủ, bộ máy đầu não của cuộc kháng chiến, thật giản dị mà trang nghiêm gần gũi được thể hiện trong tám câu thơ sáng đẹp, rõ ràng. Để khẳng định niềm tin yêu của nhân dân cả nước với Việt Bắc, Tố Hữu lại sử dụng những vần thơ thuần chất dân tộc vừa trang trọng vừa thắm thiết nghĩa tình:
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bấc mà nuôi chí bền
Mười lăm năm ấy, ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà…
Như thế, Việt Bắc là bài thơ dài làm theo thể loại lục bát truyền thống, lại dùng cả hình thức đối đáp thường gặp trong các điệu hát quan họ hoặc dân ca ca dao. Nhờ hình thức đối đáp ta – mình, mình – ta gắn bó, quấn quýt tạo nên cảm giác thân thuộc, gần gũi với bất kì một người Việt Nam nào. Vì vậy, bài thơ đậm đà chất trữ tình, đằm thắm tinh tế về tình cảm, dìu dặt về nhạc điệu.
Việt Bắc của Tố Hữu xứng danh là đỉnh cao của văn học cách mạng ở nước ta. | Phân tích đoạn trích bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu | 1,757 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích bài Việt Bắc của nhà văn Tố Hữu
Bài làm
Việt Bắc là bài thơ trữ tình đằm thắm thiết tha thể hiện ân tình sâu nặng thuỷ chung của tác giả – người cán bộ sắp rời Việt Bắc về miền xuôi – đối với căn cứ địa cách mạng của cả nước. Đây không chỉ là tình cảm riêng của nhà thơ mà đồng thời cũng là tâm trạng chung của mọi người.
Đây là một tác phẩm thơ trường thiên dài 150 dòng được Tố Hữu hoàn thành vào tháng 1 năm 1954, đúng vào thời điểm Đảng và Nhà nước ta sắp rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng.
Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Việt Bắc là bài thơ trữ tình đằm thắm thiết tha thể hiện ân tình sâu nặng thuỷ chung của tác giả – người cán bộ sắp rời Việt Bắc về miền xuôi – đối với căn cứ địa cách mạng của cả nước. Đây không chỉ là tình cảm riêng của nhà thơ mà đồng thời cũng là tâm trạng chung của mọi người. Bài thơ này tiêu biểu cho những nghĩ suy, tình cảm cao đẹp của những con người kháng chiến đối với miền đất quê hương cách mạng, với đất nước và nhân dân, với kháng chiến và cách mạng. Cũng có thể nói đây là khúc hát tâm tình chung không những của con người kháng chiến, của nhân dân ta mà động đến chỗ sâu xa của truyền thống ân nphĩa, thuỷ chung của dân tộc hoà vào, tiếp nối và khơi sâu thêm nét truyền thống cao đẹp đó.
Việt Bắc dựng ra một hoàn cảnh đặc biệt để bộc lộ những cảm xúc trữ tình dào dạt. Đó là một cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa kẻ ở với người đi, giữa Việt Bắc với cán bộ về xuôi bâng khuâng và bịn rịn. Đó cũng là cuộc chia tay của những người đã từng gắn bó sâu nặng với nhau: Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Họ từng cùng nhau nằm gai nếm mật, sẻ ngọt chia bùi. Giờ đây, trong phút giây chia tay, họ cùng nhau gợi lại bao kỉ niệm về những ngày tháng đã qua. Họ khẳng định nghĩa tình bền chặt và hẹn ước về một ngày mai tươi sáng.
Việt Bắc vận dụng lối hát giao duyên đối đáp nam nữ của dân ca vì vậy thường sử dụng lối xưng hô thân mật tình tứ rất quen thuộc là: ta, mình. Ta thường dùng ở ngôi thứ nhất. Mình thường dùng ở ngôi thứ hai. Tuỳ theo văn cảnh, ta và mình có thể là Việt Bắc hay người cán bộ về xuôi. Nhưng nhiều lúc lẫn lộn, tuy hai mà một vì mình hay ta cũng đều là người cách mạng cả, cũng đều là ân tình sâu nặng với nhau “tuy hai mà một” cả.
Dù là kết cấu đối đáp, nhưng ở Việt Bắc không chỉ lả lời hỏi, lời đáp mà còn là sự hô ứng, đồng vọng của cùng một tâm trạng. Lời đáp, ngoài việc trả lời cho những điều đặt ra của lời hỏi, còn là sự mở rộng, làm phong phú thêm cho những ý tình đã được gợi ra trong lời hỏi. Cũng có khi cả lời hỏi và lời đáp đã trờ thành lời đồng vọng ngân vang lên những tình cảm chung.
Thật ra, nếu nhìn sâu hơn vào kết cấu cùa bài thơ, chúng ta thấy được đối thoại chỉ là lớp vỏ ngoài còn ở chiều sâu bên trong chính là lời độc thoại. Hình thức độc thoại là khả năng phân thân của cái “tôi" trữ tình để hoá thân vào đối tượng, khiến tâm trạng được thể hiện sâu sắc dễ lay động lòng người hơn.
Bài giảng văn trong sách giáo khoa là đoạn mở đầu và phần một là phần đặc sắc hơn cả của bài thơ. Đoạn trích là đoạn hoài niệm về một Việt Bắc gian khổ, vẻ vang của cách mạng và kháng chiến, nay đã trở thành kỉ niệm sâu nặng khôn nguôi trong lòng người. Toàn phần trích giảng thông qua nỗi nhớ da diết, thể hiện nghĩa tình cách mạng, tình cảm thủy chung son sắt của người cán bộ về xuôi đối với quê hương Việt Bắc.
Mở ra bài thơ là một cảnh chia tay đầy quyến luyến giữa hai người: kẻ ở và người đi. Đó là Việt Bắc và người cán bộ cách mạng sắp về xuôi. Cả hai được nhà thơ hình tượng hoá như một đôi bạn tình. Đôi bạn tình này đã cùng nhau chia bùi sẻ ngọt, đồng cam cộng khổ trong suốt thời gian mười lăm năm ân sâu nghĩa nặng. Nhà thơ sử dụng cặp đại từ nhân xưng mình – ta thật tự nhiên, sinh động và linh hoạt mang nhiều sắc thái ngữ nghĩa làm bài thơ dạt dào xúc cảm đời thường với những lời nhắn nhủ, dặn dò, hò hẹn. thề nguyền… vừa rất riêng tư thể hiện được những nghĩa tình cách mạng rộng lớn, sâu sắc có tính khái quát cao mang yếu tố trữ tình sử thi rõ rệt. Thật ra, hình thức đối đáp ở đây chỉ là một dụng ý nghệ thuật khơi gợi bộc lộ tâm trạng và tạo ra được sự hô ứng và đồng vọng của xúc cảm trữ tình.
Bao trùm trong tâm trạng của kẻ ở lẫn người đi là một nỗi nhớ da diết, mênh mang, một niềm hoài niệm thiết tha, sâu nặng về những tháng ngày vừa qua trong kháng chiến và cách mạng. Nỗi nhớ, niềm hoài niệm đó đã khơi gợi lên, tái hiện lại bức tranh về Việt Bắc với cảnh thiên nhiên, núi rừng, với những cảnh sinh hoạt của nhân dân, cơ quan và cán bộ, với mọi hoạt động khẩn trương, sôi nổi trong cuộc sống kháng chiến gian khổ mà hào hùng. Tất cả từ lâu đã lắng vào kỉ niệm giờ đây theo dòng hồi tưởng của tác giả lại hiện lên. Những bức tranh đó có nhiều sắc độ khác nhau: lúc rõ đến từng màu sắc, đường nét, chi tiết (Nhớ ngưòi mẹ nắng cháy lưng, Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, Nhớ cô em gái hái măng một mình…) lúc lại xa thẳm mơ hồ (Nhớ gì như nhớ người yêu, Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù, Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều, Chày đêm nện cối đều đều suối xa), lúc cô đọng lại thành biểu tượng (Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai, Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng…)
Nỗi nhớ da diết mênh mang của nhà thơ ở đây là nỗi nhớ về thiên nhiên núi rừng Việt Bắc, nỗi nhớ con người, cuộc sống ở Việt Bắc và những kỉ niệm khó quên về cuộc sống kháng chiến gian khổ hào hùng ở nơi đây.
Hình ảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc hiện lên trong bài thơ với những vẻ đẹp đa dạng trong nhiều thời gian, không gian khác nhau, trong các thời tiết sương sớm, nắng chiều, trăng khuya và các mùa xuân hạ thu đông thay đổi, nhưng lúc nào cũng hài hoà gắn bó với con người. Bóng dáng con người khiến cảnh đẹp hoang sơ bớt phần hiu quạnh. Đặc sắc hơn chính là đoạn thơ:
Ta về, minh có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Nhiều ngựời cho rằng bút pháp tả cảnh của Tố Hữu ở đoạn thơ này đạt đến vẻ đẹp cổ điển như thể Truyện Kiều.
Cuộc sống của con người Việt Bắc, tiếp đó, cũng thể hiện ra trong nhiều khung cảnh bình dị, quen thuộc khác nhau. Có khung cảnh thơ mộng, thanh binh:
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa
Nhưng cũng có khung cảnh nghèo khó cơ cực mà thấm đẫm nghĩa tinh sâu nặng:
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháý lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô
Lại có khung cảnh gắn với những kỉ niệm riêng tư:
Nhờ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Tuy nhiên, xúc động hơn cả là những câu thơ tái hiện cảnh sinh hoạt và cuộc sống bình dị của đồng bào miền núi tuy gian khổ, thiếu thốn nhưng nghĩa tình son sắt thuỷ chung với cách mạng và kháng chiến: Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son.
Liền một mạch thơ là hình ảnh Việt Bắc kháng chiến với những bức tranh rộng lớn, hào hùng, sôi động với hình ảnh những đoàn bộ đội dân công nao nức trên các nẻo đường:
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay…
Khép lại phần 1 của bài thơ là cảnh một cuộc họp của Trung ương Đảng, Chính phủ bộ máy đầu não của cuộc kháng chiến, thật giản dị mà trang nghiêm gần gũi được thể hiện trong tám câu thơ sáng đẹp, rõ ràng. Để khẳng định niềm tin yêu của nhân dân cả nước với Việt Bắc, Tố Hữu lại sử dụng những vần thơ thuần chất dân tộc vừa trang trọng vừa thắm thiết nghĩa tình:
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền
Mười lăm năm ấy, ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà…
Như thế, Việt Bắc là bài thơ dài làm theo thể loại lục bát truyền thống, lại dùng cả hình thức đối đáp thường gặp trong các điệu hát quan họ hoặc dân ca ca dao. Nhờ hình thức đối đáp ta – mình, mình – ta gắn bó, quấn quýt tạo nên cảm giác thân thuộc, gần gũi với bất kì một người Việt Nam nào. Vì vậy, bài thơ đậm đà chất trữ tình, đằm thắm tinh tế về tình cảm, dìu dặt về nhạc điệu. Việt Bắc của Tố Hữu xứng danh là đỉnh cao của văn học cách mạng ở nước ta. | Phân tích đoạn trích bài Việt Bắc của nhà văn Tố Hữu | 1,814 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Chiếc lá cuối cùng của nhà văn O’Hen-ri.
Bài làm
O’Hen-ri là nhà văn Mĩ, sinh năm 1862, mất năm 1910. Thuở nhỏ, vì nhà nghèo nên ông không được học hành đến nơi đến chốn. Năm mười lăm tuổi, ông đã phải thôi học, đến phụ việc tại hiệu thuốc của người chú ruột. Thời trai trẻ, ông trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như nhân viên kế toán, thủ quỹ ngân hàng, bốc vác… O’Hen-ri sáng tác rất nhiều và phần lớn tác phẩm của ông phản ánh cuộc sống bất hạnh của tầng lớp dân nghèo. Nhiều truyện ngắn đã để lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc, trong đó có truyện Chiếc lá cuối cùng.
Bối cảnh của truyện là ngôi nhà trọ ba tầng cũ kĩ, tồi tàn với những căn phòng cho thuê giá rẻ trong một khu phố nhỏ ở phía Tây công viên Oa-sinh-tơn. Thời điểm xảy ra sự việc là tháng mười một, khi những cơn gió lạnh mùa đông tràn về. Hai nữ họa sĩ trẻ là Xiu và Giôn-xi thuê chung một căn phòng nhỏ trên tầng thượng sát mái. Cụ Bơ-men là một họa sĩ nghèo sống ở tầng hầm.
Giôn-xi bị sưng phổi nặng. Vì nghèo không có tiền thuốc thang nên cô buồn bã không thiết sống nữa. Mặc cho Xiu chăm sóc, động viên, Giôn-xi cứ nằm quay mặt ra phía cửa sổ, nhìn những chiếc lá thường xuân rụng dần từng chiếc một. Mỗi lần có chiếc lá rơi, cô lại cảm thấy mình gần cái chết thêm một chút. Trước khi trời tối, Giôn-xi đếm còn lại bốn chiếc lá và tự nhủ sau khi chiếc lá cuối cùng rụng nốt thì mình cũng lìa đời. Nghe Xiu kể chuyện ấy, cụ Bơ-men bực mình nghĩ rằng tại sao trên đời này lại có người muốn chết chi vì một cây dây leo nào đó rụng hết lá?! Rồi Xiu đưa cụ Bơ-men lên gác… Đoạn trích này tiếp nối câu chuyện trên, kể về việc vì thương Giôn-xi mà cụ Bơ-men đã thức trắng đêm để vẽ chiếc lá thường xuân lên tường. Sáng hôm sau thức giấc, Giôn-xi nhìn thấy chiếc lá cuối cùng vẫn còn bám chặt vào cây. Cô như được tiếp thêm sức mạnh và thoát qua cơn hiểm nghèo. Nhưng cũng vì vẽ chiếc lá trong đêm đông giá buốt nên cụ Bơ-men đã bị cảm lạnh rồi qua đời chi sau hai ngày. Qua đoạn trích, tác giả bày tỏ thái độ trân trọng, cảm phục trước tình yêu thương chân thành và lòng vị tha cao cả của những con người nghèo khổ.
Cụ Bơ-men là một hoạ sĩ vô danh. Suốt bốn mươi năm, cụ ấp ủ ý định sẽ vẽ một bức tranh tuyệt tác nhưng chưa bao giờ bắt đầu công việc. Giống như chị Xiu, cụ Bơ-men rất quan tâm đến tình cảnh tội nghiệp của Giôn-xi. Biết cô gái đang tuyệt vọng, muốn tìm đến cái chết để giải thoát, cụ đã nhờ chị Xiu đưa lên gác để thăm. Hai người sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì vì thấy những chiếc lá thường xuân đang theo nhau rụng, chỉ còn một vài chiếc. Có lẽ trong thâm tâm cả hai đều lo lắng cho số phận của Giôn-xi. Riêng cụ Bơ-men, chắc là cụ đang nghĩ đến cách vẽ chiếc lá cuối cùng để đem lại cho Giôn-xi niềm hi vọng.
Tác giả không tiết lộ ngay việc cụ Bơ-men vẽ chiếc lá trong đêm mưa tuyết ra sao mà đợi đến những dòng cuối cùng của truyện mới cho mọi người biết qua lời của chị Xiu. Cách kể truyện như thế tạo được bất ngờ và hứng thú cho người đọc.
Chiếc lá cụ Bơ-men vẽ lên bức tường gạch đối diện với cửa sổ căn gác nhỏ của Giôn-xi đúng là một kiệt tác vì trước hết trông nó giống y như thật: Ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành cách mặt đất chừng hai mươi bộ, khiến Giôn-xi tưởng đấy chính là chiếc lá cuối cùng. Quan trọng hơn cả là chiếc lá do cụ Bơ-men vẽ đã đem lại sự sống cho Giôn-xi. Chiếc lá không phải chỉ được vẽ bằng bút lông, bột màu, mà bằng cả tình cảm chân thành và lòng vị tha cùng đức hy sinh cao cả của cụ Bơ-men. Người hoạ sĩ già đã quên cả tuổi tác lẫn sức khỏe của mình để cố gắng nhen nhóm lại hi vọng sống trong lòng cô gái trẻ đáng thương.
Tình thương yêu của Xiu đối với Giôn-xi biểu hiện qua thái độ quan tâm, chăm sóc và động viên người bệnh và qua nỗi lo sợ khi thấy chi còn lác đác mấy chiếc lá thường xuân bám lại trên tường. Chị Xiu luôn ở bên cạnh Giôn-xi và sẵn sàng chiều theo ý muốn của bạn.
Chị Xiu không biết ý định của cụ Bơ-men là sẽ vẽ chiếc lá vào đúng chỗ chiếc lá cuối cùng vừa rụng nốt trong đêm. Cho nên khi Giôn-xi nhờ kéo mành lên, Xiu đã làm theo với tâm trạng lo lắng cực độ: Em thân yêu, thân yêu! Xiu nói, cúi khuôn mặt hốc hác xuống gần gối, “Em hãy nghĩ đến chị, nếu em không còn muốn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?”.
Khi chiếc mành được kéo lên, từ trong phòng đã có thể nhìn rõ cảnh vật bên ngoài thì chính chị Xiu cũng ngạc nhiên bởi không ngờ chiếc lá cuối cùng vẫn còn bám chặt vào cành sau một đêm mưa gió phũ phàng. Chị không hề biết đấy chỉ là chiếc lá vẽ và tâm trạng lo lắng vẫn đeo đẳng chị cho tới khi biết được sự thật.
Hôm sau, khi trời vừa hững sáng thì Giôn-xi lại ra lệnh kéo mành lên.
Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó.
Ngắm chiốc lá cuối cùng, trong lòng Giôn-xi bất chợt rộn lên ý nghĩ yêu đời và ham sống. Giôn-xi nằm nhìn chiếc lá hồi lâu. Rồi cô gọi Xiu đang quấy món cháo gà trên lò hơi đốt.
“Em thật là một con bé hư, chị Xiu thân yêu ơi!”, Giôn-xi nói. “Có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội. Giờ thì chị có thể cho em xin tí cháo và chút sữa pha ít rượu vang đỏ và – khoan – đưa cho em chiếc gương tay trước đã, rồi xếp mấy chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng”.
Chiếc lá cuối cùng đã thắp sáng trong cô những ước mơ và niềm hy vọng. Cô vui vẻ bày tỏ nguyện vọng của mình: Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hi vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ”.
Đọc đến đoạn này, người đọc cũng có tâm trạng căng thẳng, hồi hộp giống như tâm trạng của chị Xiu khi hai lần Giôn-xi bảo kéo mành lên. Tối hôm trước, dây thường xuân chỉ còn một chiếc lá. Nếu sau đêm mưa tuyết, chiếc la ấy rụng nốt thì Giôn-xi sẽ ra sao? Làm sao để chiếc lá cuối cùng ấy vẫn còn?! Tâm trạng lo lắng của Xiu chi diễn ra ở lần kéo mành đầu tiên, vì ngay hôm đó, chắc cô đã biết chuyện cụ Bơ-men làm gì trong đêm mưa tuyết. Còn đối với Giôn-xi, khi nhờ Xiu kéo mành lên, chắc là cô thản nhiên đón nhận cái chết, nếu chẳng còn thấy chiếc lá nào. Nhưng lạ lùng thay, chiếc lá vẫn còn nguyên đó. Ngắm chiếc lá cuối cùng, như có phép màu kì diệu, sức sống đã trở lại với Giôn-xi. Hôm sau, bác sĩ bảo Xiu: “Cô ấy khỏi nguy hiểm rồi… Giờ chi còn việc bồi dưỡng và chăm nom – thế thôi”.
Động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự hồi sinh của Giôn-xi chính là chiếc lá cuối cùng (cô không biết đấy là chiếc lá vẽ). Tuy bé nhỏ, mong manh nhưng nó đã gan góc chống chọi với gió mưa, buốt giá, cố bám chặt lấy thân cây. Điều đó trái ngược hẳn với thái độ tiêu cực, yếu đuối, muốn tìm đến cái chết của Giôn-xi. Cô ngẫm nghĩ, so sánh và xấu hổ, thấy mình thật tệ, không bằng chiếc lá thường xuân bé nhỏ.
Nhà văn kết thúc câu chuyện bằng đoạn văn chân thực và cảm động:
Và buổi chiều hôm đó, Xiu tới bên giường Giôn-xi nằm, thấy Giôn-xi đang vui vẻ đan một chiếc khăn choàng len màu xanh thẫm, chị ôm lấy cả người Giôn-xi lẫn những chiếc gối.
Chị có chuyện này muốn nói với em, con chuột bạch của chị, cô nói, “Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi hôm nay ở bệnh viện rồi. Cụ ốm chỉ có hai ngày. Buổi sáng ngày thứ nhất, bác gác cổng thấy cụ ốm nặng trong căn phòng của cụ ở tầng dưới. Giày và áo quần của cụ ướt sũng và lạnh buốt. Chẳng ai hình dung nổi cụ đã ở đâu trong một đêm khủng khiếp như thế. Nhưng rồi người ta tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn thắp sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó, và vài chiếc bút lông rơi vung vãi, và một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn với nhau, và – em thân yêu ơi, em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường. Em có lấy làm lạ tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men, cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng”:
Mở đầu đoạn trích, Giôn-xi sống trong đau buồn, tuyệt vọng, ngày càng tiến dần đến cái chết khiến mọi người xung quanh thương cảm. Nhưng lúc gần kết thúc thì Giôn-xi đã thoát khỏi cơn nguy hiểm, hồi phục rất nhanh và yêu đời trở lại. Mọi người thở phào, trút được gánh nặng lo âu.
Cụ Bơ-men đang khỏe mạnh thì lại chết rất nhanh, chi sau hai ngày bị viêm phổi nặng. Cái chết của cụ khiến cho mọi người hết sức ngạc nhiên. Tình huống của hai nhân vật trẻ và già hoàn toàn trái ngược với nhau. Cô gái tưởng không tránh khỏi cái chết thì lại sống; người họa sĩ già đang khỏe mạnh lại chết bất ngờ. Số phận của họ đều liên quan đến bệnh sưng phổi và chiếc lá cuối cùng. Giôn-xi bị bệnh sưng phổi nặng và sự sống của cô tùy thuộc vào chiếc lá cuối cùng. Cụ Bơ-men vẽ chiếc lá cuối cùng trong đêm mưa tuyết với hi vọng níu kéo Giôn-xi về với cuộc sống, vì thế mà cụ đã bị chết vì bệnh sưng phổi. Nhà văn đã sử dụng rất thành công thủ pháp nghệ thuật vừa tương phản vừa tường đồng để tạo nên sự hấp dẫn của truyện.
Chiếc lá cuối cùng là câu chuyện đời thường giản dị mà xiết bao cảm động. Tình thương yêu giữa người với người đã đem lại giá trị lâu dài cho tác phẩm và vinh quang cho tôn tuổi nhà văn O’Hen-ri. Ngoài ra, tác phẩm còn chứa đựng một quan điểm đúng đắn về mục đích của sáng tạo nghệ thuật: Nghệ thuật đích thực trước hết phải phục vụ con người và cuộc sống. | Phân tích đoạn trích Chiếc lá cuối cùng của nhà văn O’Hen-ri | 2,003 | |
Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây trích sử thi Đăm Săn
Hướng dẫn
Chiến thắng Mtao Mxây trích sử thi Đăm Săn
1. Cuộc chiến giữa hai vị tù trưởng
a. Trước khi vào cuộc chiến
Đăm Săn
– Đăm Săn khiêu chiến. Mtao buộc phải đáp lại.
– Đến tận cầu thang khiêu chiến (lần 1)-> chàng chủ động, tự tin.
– Đăm Săn khiêu khích “Ngươi không xuống ư?…cho mà xem”
→Mtao buộc phải xuống nhưng sợ Đăm Săn đánh bất ngờ.
– Đăm Săn khiêu khích, đe dọa quyết liệt (lần 2), dụ Mtao Mxay ra khỏi nhà. Chàng chủ động, tự tin, đường hoàng như một vị thần.
Mtao Mxây
– Bị động, sợ hãi, không dám xuống nhưng vẫn trêu tức Đăm Săn.
– Buộc phải xuống ứng chiến nhưng sợ Đăm Săn đánh bất ngờ: “Để ta xuống…..”
→ Bị động, do dự, sợ hãi, hèn nhát
b. Vào cuộc chiến
Hiệp 1:
Đăm Săn
– Khích Mtao múa khiên trước.
– Điềm tĩnh, thản nhiên xem khả năng của kẻ thù.
Mtao Mxây
– Bị khích, giả đò khiêm tốn, thực chất kiêu căng, ngạo mạn.
– Múa khiên như trẻ con chơi trò chơi: kêu lạch xạch như quả mướp khô.
→ kém cỏi, hèn mọn.
– Tự khen mình là tướng quen đi đánh trận, quen xéo nát đất thiên hạ.
Hiệp 2:
Đăm Săn
– Múa khiên trước “… xốc tới vượt đồi tranh…phía đông, phía tây”.
→ bình tĩnh, thế thắng áp đảo, oai hùng.
Mtao Mxây
– Hoảng hốt, trốn chạy. Hắn chạy bước cao bước thấp.
– Chém Đăm Săn nhưng trượt và trở nên yếu sức, thế thua.
– Nhận được miếng trầu của Hơ Nhị, sức khỏe tăng gấp bội.
(Miếng trầu là biểu tượng cho sự ủng hộ, tiếp thêm sức mạnh cho người anh hùng của cộng đồng. Theo quan niệm của dân gian, người anh hùng chỉ thực sự là anh hùng khi họ được đặt trong cộng đồng, được nhân dân ủng hộ, được thần linh giúp sức)
→ Nghệ thuật miêu tả song hành, làm nổi bật sự hơn hẳn của Đăm Săn so với Mtao Mxây về tài năng, sức lực, về phong độ, phẩm chất đồng thời thấy được cuộc chiến hết sức ác liệt.
Đăm Săn
– Múa khiên càng nhanh, càng mạnh và đẹp đẽ, hào hùng.
– Tấn công đối thủ: đâm Mtao nhưng ko thủng áo giáp sắt của y.
→ Những hình ảnh so sánh, phóng đại tạo ấn tượng mạnh, tràn đầy cảm hứng ngợi ca.
Mtao Mxây
– Hoàn toàn ở thế thua, bị động.
– Bị đâm.
Hiệp 4
Đăm Săn
– Thấm mệt, cầu cứu thần linh.
– Được kế của ông Trời (lấy cái chày mòn ném vào vành tai kẻ thù).
– Đuổi theo kẻ thù.
– Hỏi tội Mtao.
– Giết chết Mtao.
(Chi tiết ông Trời mách kế cho Đăm Săn thể hiện sự gần gũi giữa con người và thần linh. Đây là dấu vết tư duy của thần thoại cổ sơ và thời kì xã hội chưa có sự phân hóa giai cấp rạch ròi. Thần linh chỉ đóng vai trò cố vấn, gợi ý còn người anh hùng mới quyết định kết quả của cuộc chiến. Sử thi đề cao vai trò của người anh hùng).
Mtao Mxây
– Tháo chạy vì áo giáp sắt vô dụng.
– Trốn chạy quanh quẩn.
– Giả dối cầu xin tha mạng.
– Bị giết.
Mtao là người múa khiên trước. Việc miêu tả tài của đối thủ trước tài của người anh hùng chính là lối so sánh, miêu tả đòn bẩy đề cao hơn tài năng của người anh hùng.
Đăm Săn càng múa càng nhanh, mạnh, hào hùng: Múa trên cao như gió bão; Múa dưới thấp như gió lốc, chòi lẫm đổ lăn lóc, ba quả núi rạn nứt, ba đồi tranh bật bay tung.
→ Miêu tả hành động bằng cách so sánh và phóng đại tạo ra sức hấp dẫn, ấn tượng về sức mạnh, vẻ đẹp thần thánh, siêu phàm của Đăm Săn
Ý nghĩa:
– Đòi lại vợ là cớ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các bộ tộc. Chiến tranh mở rộng bờ cõi làm nổi uy danh cộng đồng
– Trong tưởng tượng của dân gian, Đăm Săn là biểu tượng cho chính nghĩa và sức mạnh cộng đồng, còn Mtao Mxây là biểu tượng cho cái ác và phi nghĩa.
2. Cảnh Đăm Săn cùng nô lệ ra về sau chiến thắng:
– 3 lần đối đáp khác nhau:
+ Gõ vào một nhà (1)
+ Gõ vào tất cả các nhà (2)
+ Gõ vào mỗi nhà trong làng (3)
– Ba lần hồi đáp giống nhau: “không đi sao được…”
– Hình ảnh đoàn người trở về: “Đoàn người…chuyển hoa”
Ý nghĩa:
– Đó là lòng yêu mến, thái độ trung thành tuyệt đối của dân làng dành cho Đăm Săn.
– Sự thống nhất cao độ của quyền lợi, khát vọng của cá nhân anh hùng sử thi với quyền lợi, khát vọng của cộng đồng.
=> Biểu hiện ý chí thống nhất của toàn thể cộng đồng.
Đăm Săn chiến đấu giành lại hạnh phúc gia đình nhưng thực chất lại là cuộc chiến đấu mở rộng bờ cõi, làm rạng rỡ danh tiếng cộng đồng, đem lại giàu sang cho cả cộng đồng.
3. Cảnh ăn mừng chiến thắng
a. Quang cảnh
– Vật chất: giàu có
-Tôi tớ: chật ních cả nhà
-Tiệc tùng: linh đình
=> Giàu có, sung túc, hùng mạnh nhất.
b. Hình ảnh Đăm Săn
– Đăm Săn tự bộc lộ qua lời nói với tôi tớ của mình:
+ Niềm vui chiến thắng.
+ Tự hào, tự tin vào sức mạnh và sự giàu có của thị tộc mình
– Sức mạnh và vẻ đẹp dũng mãnh của Đăm Săn:
+ Tóc dài chảy đầy cả nong hoa
+ Ngực quấn chéo
+ Đôi mắt long lanh
+ Uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán…”
+ Bắp chân chàng to bằng cây… tựa song dậy…”
=> Nghệ thuật phóng đại, so sánh độc đáo, ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh thể hiện vẻ đẹp phi thường của Đăm Săn. Đăm Săn trở thành hình ảnh trung tâm của bức tranh hoành tráng về lễ mừng chiến thắng. Chàng lớn lao cả về hình thể, tầm vóc, cả chiến công hiển hách như trùm lên toàn bộ buổi lễ, thiên nhiên và xã hội Ê-đê. Trường ca Đăm Săn là niềm tự hào của cả dân tộc Ê-đê.
Tổng kết:
Những tình cảm cao cả nhất thôi thúc Đăm Săn chiến đấu và chiến thắng kẻ thù: trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình, thiết tha với cuộc sống bình yên và hạnh phúc của thị tộc.
Đăm Săn là sự thống nhất về lợi ích, vẻ đẹp của người anh hùng và cộng đồng.
Ngôn ngữ: có vần, có nhịp hết sức nhịp nhàng.
Giọng điệu: trang trọng, tôn nghiêm, lúc chậm rãi, khoan thai; lúc gấp gáp, khẩn trương.
Một số biện pháp nghệ thuật đặc sắc: so sánh, phóng đại, liệt kê, trùng điệp.
Luyện tập:
Tìm trong đoạn trích những câu văn sử dụng biện pháp so sánh, phóng đại và phân tích để làm rõ hiệu quả nghệ thuật của chúng. | Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây trích sử thi Đăm Săn | 1,157 | |
Phân tích đoạn trích Chiến thắng MTao Mxây
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Chiến thắng MTao Mxây
Đăm Săn là tác phẩm sử thi nổi tiếng nhất của dân tộc Ê Đê, đồng thời đây cũng là tác phẩm chứa đựng nhiều giá trị bậc nhất của nền văn học Việt Nam. Sử thi Đăm Săn là sử thi anh hùng hào hùng, đẹp đẽ nhất của núi rừng Tây Nguyên được lưu truyền đến bây giờ. Đoạn trích Chiến thắng Mtao – Mxây là một trong những đoạn trích tiêu biểu nhất của tác phẩm này.
Đoạn trích Chiến thắng Mtao – Mxây kể về cuộc giao đấu của Mtao – Mxây và Đăm Săn. Vợ của Đăm Săn bị Mtao – Mxây cướp mất, để giành lại vợ và trả thù hành động của Mtao – Mxây thì Đăm Săn đã quyết định đến nhà Mtao – Mxây để khiêu chiến.
Trong xã hội xưa, người dân Ê- đê theo chế độ mẫu hệ, vai trò của người phụ nữ, người vợ có vai trò vô cùng quan trọng, bởi vậy mà hành động bị cướp mất vợ không chỉ là việc cá nhân, gia đình mà đó còn là nỗi nhục của cả cộng đồng. Đây cũng là nguyên nhân mà Đăm Săn quyết khiêu chiến để giành lại vợ và chứng tỏ được sức mạnh và tài năng của bản thân.
Đối thủ của Đăm Săn là Mtao – Mxây- một người cũng có sức mạnh to lớn,là người đứng đầu của một bộ tộc, do vậy mà cuộc chiến đấu cũng diễn ra căng thẳng, quyết liệt hơn. Các tác giả dân gian đã miêu tả hai nhân vật Đăm Săn và Mtao – Mxây trong thế đối lập để làm nổi bật lên tính cách của từng người. Đây cũng là nét đặc sắc nhất của cuốn sử thi này.Trích đoạn cũng làm nổi bật được sức mạnh phi thường, bản lĩnh hơn người của người anh hùng Đăm Săn.
Hình ảnh của người anh hùng Đăm Săn được các tác giả dân gian miêu tả thật đặc biệt: Thân hình như quả dưa, đôi mắt sáng gấp ba những người bình thường, tư thế chiến đấu nhanh nhẹn như một con sóc. Chính những miêu tả có phần đặc biệt ấy đã làm nổi bật được sức mạnh và bản lĩnh phi thường của người anh hùng. Khi giao chiến cùng với Đăm Săn, dù là một người khỏe mạnh, tài giỏi nhưng Mtao – Mxây cũng phải khiếp sợ.
Bản lĩnh của người anh hùng còn thể hiện sự ngay thẳng, minh bạch, quyết không làm những điều mập mờ, không rõ ràng. Khi Mtao – Mxây lo sợ trong lúc mình đi xuống sẽ nhân cơ hội mà đâm sau lưng thì Đăm Săn đã thẳng thừng đáp: “…Sao ta lại đâm nhà ngươi khi ngươi đang đi xuống nhỉ? Ngươi xem, đến con lợn lái nhà ngươi dưới đất, ta cũng không thèm đâm nữa là”
Lời nói vừa thể hiện được khí chất ngay thẳng của Đăm Săn, đồng thời cũng là lời nói xỉ nhục đối với Mtao – Mxây. Đăm Săn chẳng qua xem hắn cũng như một con lợn đáng khinh. Thực chất, cuộc chiến đấu của Đăm Săn và Mtao – Mxây là cuộc chiến đấu giữa hai người thủ lĩnh của hai bộ lạc. Trong quan niệm của sử thi, người anh hùng là người giành chiến thắng bằng sức mạnh và trí tuệ.
Trong cuộc chiến đấu này, Đăm Săn đại diện cho chính nghĩa nên chàng không hề đơn độc, bên cạnh chàng còn có bạn bè và sự giúp đỡ của ông trời. Trước sự giúp đỡ này chàng đã ra đòn quyết định và giành được chiến thắng cuối cùng trước Mtao – Mxây và đưa được vợ về nhà.
Sau khi đã giết được Mtao – Mxây,Đăm Săn đã trả được mối thù, bảo vệ được danh dự của bản thân và cứu được vợ. Sau chiến thắng này Đăm Săn đã được sở hữu đất đai, tài sản và cả những người trong bộ lạc hắn đứng đầu. Điều đặc biệt, những người dân chúng đã tự nguyện đi theo Đăm Săn, hợp lại làm một với bộ lạc của chàng, qua đó thể hiện khát vọng của người Ê- đê về một người tù trưởng tài giỏi, có khả năng lãnh đạo cộng đồng. | Phân tích đoạn trích Chiến thắng MTao Mxây | 737 | |
Phân tích đoạn trích Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ
Hướng dẫn
Trong các áng văn xuôi thời kì trung đại ở nước ta, bên cạnh Truyền kì mạn lục – một "Thiên cổ kì bút" – người đời thường nhắc tới Vũ trung tuỳ bút (Theo ngọn bút viết trong khi mưa) của Phạm Đình Hổ. Tác phẩm ra đời vào đầu thế kỉ XIX. Khác với Truyền kì mạn lục, tập sách "viết trong mưa" ấy thuộc thể loại tuỳ bút. Dùng văn tuỳ bút, danh nho Phạm Đình Hổ đã tuỳ theo hứng thú và suy nghĩ của riêng mình, ghi chép lại những sự việc, những câu chuyện cụ thể chân thực, những điều tai nghe, mắt thấy trong cuộc sống. Khi đọc Truyền kì mạn lục, chúng ta bắt gặp đây đó những yếu tố lãng mạn, huyền ảo, còn trong Vũ trung tuỳ bút thì đậm đặc chất hiện thực. Một trong những bức tranh hiện thực ấy là những chuyện trong phủ chúa Trịnh Sầm. Viết lại những câu chuyện cũ ấy, tác giả dự báo "đó là triệu bất tường", là những dấu hiệu không lành, những điềm gở.
Trước hết là những câu chuyện về thói ăn chơi xa xỉ, vô độ của chúa Trịnh Sâm và các quan lại hầu cận trong phủ chúa. Tác giả Phạm Đình Hổ kể ba sự việc tiêu biểu. Việc thứ nhất: chúa cho xây dựng nhiều cung điện, đình đài ở các nơi để thoả mãn ý thích "đi chơi ngắm cảnh đẹp", ý thích đó cứ triền miên, nối tiếp tưởng đến không cùng. Vì vậy, nhà văn viết "Việc xây dựng đình đài cứ liên miên". Nghĩa là việc huy động sức dân, thu tiền bạc, chiếm đất đai, bắt nhân công liên tục diễn ra hàng tháng, hàng nãm, nơi này, nơi khác. Việc thứ hai: những cuộc rong chơi của chúa Thịnh Vương (Trịnh Sâm). Chúa thường thích đi chơi, thường ngự – tới ăn ngủ, ngắm cảnh đẹp, hưởng của ngon, vật lạ, thoả mãn thú vui cả thể xác lẫn tinh thần – ở các li cung (cung điện, lâu đài xa kinh thành) trên Hồ Tây, núi Tử Trầm, núi Dũng Thuý. Trong những chuyến du lịch ấy của chúa đạc biệt nhất là cuộc dạo chơi trên Hồ Tây. Vòng quanh bốn mặt hồ, binh lính phải "dàn hầu", vừa để bảo vệ vừa sẵn sàng làm theo lời chúa sai bảo. Cũng vòng quanh bốn mật hồ, các quan trong triều phải "đầu bịt khăn, mặc áo đàn bà" cải trang là những thị dân buôn bán, bày hàng hoá như một khu chợ sầm uất, đông vui, vui cho thiên hạ thì ít mà vui cho chúa thì nhiều.
Thuyền ngự đến đâu thì chúa và các hỗ tụng đại thần tuỳ ý ghé vào bờ mua bán. Chúa và cận thần tới, thì nhạc công phải tấu lên những khúc nhạc dặt dìu gần xa vẳng từ dưới bóng cây, bến đá nào đó. Đúng là bức tranh cuộc sống phồn hoa mà giả dối. Tác giả chỉ ghi chép khách quan, không một lời nhận xét, mà sự việc nó cứ tự phơi bày những nét rởm hợm, nực cười, đáng chê trách. Việc thứ ba – đáng chê trách hơn – là câu chuyện chúa "sức thu lấy" – ra lệnh bằng văn bản – cướp đoạt một cách trắng trợn tất cả "những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh" trong nhân dân. Chọn một cảnh điển hình của những cuộc cướp đoạt ấy – cảnh lính tráng chở một cây đa cổ thụ về phủ chúa – tác giả miêu tả bằng những từ ngữ sống động, một giọng văn thật nặng né. Cây đa to, cành lá rườm rà, được rước qua sông "… như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại bốn người đi kèm, đều cầm gươm đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay". Đó là một đám rước công phu, tốn kém. Cây đa ấy vốn ở đầu non hốc đá tự do – phóng khoáng giữa rừng núi nay bị rước về vườn nhà chúa bề ngoài có vẻ oai phong, song nhìn kĩ thấy tội nghiệp quá. Bởi vì từ nay, đa đâu còn là biểu tượng trường tồn, bất diệt, biểu tượng cho sức sống của con người, của quê hương, đất nước. Đa đã bị ép buộc để "điểm xuyết, bày vẽ" thành thứ đồ chơi riêng của nhà chúa. Cây đa cũng giống như thân phận của muôn loài trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch, chậu hoa cây cảnh trong dân gian đã bị cầm tù, bị tha hoá. Bao nhiêu cái đẹp của tự nhiên, những thú vui tao nhã, chính đáng của nhân dân đã bị nhà chúa chiếm đoạt. Số phận của cây trời, đá núi, hoa lá,… vô tri thì như thế, hỏi số phận con người ra sao? Người viết tuỳ bút, danh nho Phạm Đình Hổ đã đưa ra những sự việc cụ thể chân thực và khách quan, không bình luận mà các hình ảnh, chi tiết cứ hiện lên đầy ấn tượng. Ấn tượng nhất là cảnh đêm nơi vườn nhà chúa: "Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường"…
Tiếng chim kêu, vượn hót khắp bốn bề giữa đêm khuya thanh vắng, hay là tiếng muôn loài than thở? Trận mưa sa gió táp ồn ào hay sự giận dữ của trời đất? Những âm thanh ấy gợi cảm giác ghê rợn như một điều gì đó đang tan tác đổ vỡ, suy sụp đau đớn, chứ không phải là một cảnh đẹp bình yên, phồn thực, no ấm. Nghe những âm thanh ấy "kẻ thức giả" – nhà nho Phạm Đình Hổ biết "đó là triệu bất tường". Đến dòng văn cuối của những câu chuyện nhà chúa, cảm nghĩ của tác giả bộc lộ trực tiếp, nhưng lời văn vẫn nhẹ nhàng, tế nhị, gián tiếp bằng một danh từ chung là "kẻ thức giả". Kẻ thức giả là những người có học vấn, có hiểu biết sâu rộng. Viết câu văn ấy, Phạm Đình Hổ là một người có tầm phán đoán, dự cảm chính xác. Ông đã thấy rõ những cuộc ăn chơi xa hoa, vô độ của chúa Trịnh Sâm là "triệu bất tường", những dấu hiệu không lành, những điềm gở. Nó báo trước sự suy vong tất yếu của một triều đại chỉ chăm lo việc ăn chơi hưởng lạc trên mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của dân lành. Quả thực, điều đó đã xảy ra không lâu sau khi Trịnh Sâm mất.
Sách xưa có câu "Thượng bất chính, hạ tắc loạn" – cấp trên không chân chính, nghiêm túc thì cấp dưới tất sẽ làm loạn. Chúa ở ngôi cao mải mê ăn chơi, sa đoạ, tất yếu các quan cấp dưới ỷ thế làm càn. Do đó, từ những câu chuyện của chúa, Phạm Đình Hổ chuyển ý, kể đến chuyện các quan "bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ giỏ bẻ măng, ra ngoài doạ dẫm…". Ở đoạn văn thứ hai này, tác giả tập trung kể một sự việc. Đó là việc bọn hoạn quan bày trò cướp đoạt, vu cáo, phá hoại tài sản của nhân dân một cách trắng trợn, tàn ác. Chúng thực hiện công việc rất "bài bản". Động tác một: "dò xem" nhà nào có vật quý, thì biên vào hai chữ "phụng thủ" nghĩa là lấy để dâng chúa. Động tác thứ hai: "trèo qua tường thành lẻn ra"… "lấy phăng đi"… Động tác thứ ba: nếu nhà nào phản ứng, thì "buộc cho tội giấu vật báu" của vua chúa… Ở đoạn văn tuỳ bút này nhà văn sử dụng liên tục các động từ miêu tả thái độ và hành động bọn hoạn quan trong ba câu văn đặc tả với những từ ngữ nhấn mạnh: "dò xem", "trèo", "lẻn", "lấy phăng", "buộc tội", "doạ dẫm",… Đúng là những thái độ, hành động của một lũ đầu trâu mặt ngựa, vừa ăn cướp, vừa la làng, "Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham" (Truyện Kiều). Hậu quả của những vụ cướp bóc trắng trợn ấy là: Người dân bị buộc tội phải nộp tiền, phải "phá nhà huỷ tường… bỏ của ra kêu van chí chết" và tự mình phải "đập bỏ núi non bộ hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ". Người dân phải chịu biết bao nhiêu cảnh dau dớn, bao nhiêu bất công, phi lí. Chính tại gia đình Phạm Đình Hổ – một gia đình quý tộc cận kề phủ chúa – cũng bị cái hoạ ăn cướp kia gieo xuống. Trước nhà tiền đường trồng một cây lê hoa trắng xoá thơm lừng, trước nhà trung đường trồng hai cây lựu ra quả trông rất đẹp… "Bà cung nhân ta đều sai chặt di cũng là vì cớ ấy". So với giọng văn kể chuyện các gia đình khác quanh kinh thành bị quấy nhiễu, giọng kể ở đoạn văn cuối này có vẻ như nhẹ nhàng hơn, song nó tô đậm thêm tính hiện thực, tăng thêm ý nghĩa phê phán, tố cáo. Bởi vì, nạn cướp bóc, sách nhiễu ở thời Trịnh Sâm đã trở thành cơn sốc trong xã hội, không chỉ gây đau khổ cho dân thường mà còn đe doạ cả những gia dinh quyền quý, quan lại, không chỉ cướp bóc của cải vật chất mà còn huỷ diệt cả những thú vui tao nhã mang tính văn hoá truyền thống của biết bao gia đình Việt Nam chúng ta. Những từ ngữ cuối đoạn văn dừng lại, nhưng lời kể của tác giả vẫn còn vương vấn ngân nga trong lòng chúng ta những cảm giác xót xa, nuối tiếc, thương cho cây dẹp, hoa thơm, cảm thống với những con người phải sống trong một xã hội phong kiến hỗn loạn mục nát đến như vậy.
Đoạn tuỳ bút Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh ấy không chỉ có giá trị hiện thực, phơi bày bộ mặt xấu xa của chúa, của bọn quan lại, lính tráng mà còn hấp dẫn bạn đọc bởi một ngòi bút tài hoa. Phạm Đình Hổ đã ghi chép người thực, việc thực rất cụ thể, chính xác, theo trí nhớ, cảm xúc, suy nghĩ của riêng mình. Từ ngữ câu văn tự nhiên, trôi chảy, không bị gò bó bởi cốt truyện, nhân vật…như trong truyện ngắn. Khi kể chuyện, lúc chuyển sang miêu tả, ngẫu hứng thì điểm vào một dự cảm, dự báo, nhịp văn lúc khoan thai, khi dồn dập nhấn mạnh,… ngỡ như buông thả tự do nhưng tác phẩm vẫn tập trung vào một chủ đé, toát lên cảm xúc trữ tình rõ nét của tác giả.
Nói tóm lại, bằng thể văn tuỳ bút ghi chép tuỳ hứng những sự việc một cách cụ thể, chân thực, sinh động, Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh giúp chúng ta hiểu về dời sống xa hoa vô độ của bọn vua chúa, quan lại phong kiến thời vua Lê, chúa Trịnh suy tàn nửa cuối thế kỉ XVIII. Đó là một xã hội đầy rẫy những dấu hiệu không lành, những điềm gở đáng chê trách và đáng xoá bỏ. Lịch sử đã xoá bó cái xã hội ấy. | Phân tích đoạn trích Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ | 1,977 | |
Phân tích đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh
Bài làm
Phạm Đình Hổ là một tác giả lớn của nền văn học trung đại Việt Nam với nhiều tác phẩm có giá trị sâu sắc về lịch sử cũng như văn chương. Đoạn trích “ Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” là một trong 88 mẩu chuyện trong “ Vũ trung tùy bút”- tác phẩm nổi tiếng được ông viết bằng tiếng Hán. Với nghệ thuật miêu tả độc đáo và sâu sắc, tác giả đã lên án, tố cáo những thói ăn chơi sa đọa và tệ nhũng nhiễu nhân dân của vua chúa và bọn quan lại thời Lê-Trịnh.
Bằng ngòi bút tả thực, tác giả đã cho chúng ta thấy những thói ăn chơi vô cùng xa xỉ của chúa Trịnh Sâm cũng như của bọn quan lại hầu cận. Cuộc sống của chúa là một cuộc sống an nhàn, giàu sang đến tột đỉnh. Chúa cho xây dựng các cung điện, đình đài ở khắp mọi nơi để thỏa thú chơi đèn đuốc, “ đi chơi ngắm cảnh đẹp”, ý thích đó cứ triền miên tưởng chừng không có hồi kết. Vì vậy mà tác giả viết “ Việc xây dựng đình đài cứ liên miên” gây tốn công sức và tiền của nhân dân. Chúa thích đi chơi và thường ngự ở những li cung xa kinh thành như Hồ Tây, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy.
Đặc biệt, tác giả miêu tả một cách chi tiết và tỉ mỉ cuộc dạo chơi của chúa ở Tây Hồ. Cuộc dạo chơi ấy diễn ra rất thường xuyên “ mỗi tháng ba bốn lần”, huy động một số lượng lớn kẻ hầu người hạ “ binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ”. Bọn quan lại thì bày ra những trò vui chơi hết sức lố lăng và tốn kém. Các quan đều “ đầu bịt khăn, mặc áo đàn bà”, cải trang là những thị dân buôn bán, bày ra những sản phẩm bày bán như một khu chợ đông vui, sầm uất “ thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các thứ như cửa hàng trong chợ”. Dàn nhạc thì được bố trí ở khắp nơi luôn sẵn sàng tấu nhạc làm vui “ bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hòa vài khúc nhạc”.
Chỉ bằng ngòi bút ghi chép khách quan, tỉ mỉ tác giả đã vẽ lên một bức tranh về cuộc sống phồn hoa nhưng đầy giả dối, nực cười của vua chúa và bọn quan lại. Đâu chỉ có vậy, chúa còn có thú chơi cây cảnh thật khác người. Chúa cho tìm thu nhưng thực chất đó là cướp đoạt một cách trắng trợn những của quý trong thiên hạ “ những loại trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân giân” để đem về tô điểm thêm cho phủ chúa. Tác giả đã miêu tả một trong những cảnh điển hình của cuộc cướp đoạt ấy bằng những từ ngữ sống động. Đó là cảnh bọn lính tráng chở một cây đa cổ thụ về phủ chúa. “ Cây đa to, cành lá rườm rà, được rước qua sông…” phải một cơ binh hàng trăm người mới khiêng nổi.
Cây đa ấy vốn ở nơi đầu non hốc đá quen với cuộc sống tự do thì nay đã bị ép buộc để “ điểm xuyết, bày vẽ” thành một thứ đồ chơi riêng của chúa. Cảnh nơi phủ chúa được miêu tả là những cảnh thực được bày vẽ, tô điểm như “ bến bể đầu non”. Nhưng đặc biệt, cảnh đêm nơi phủ nhà chúa lại trái ngược hoàn toàn so với những gì xa hoa, lộng lẫy mà tác giả đã miêu tả trước đó. Đó là những âm thanh gợi cảm giác bí hiểm, ma quái: “ Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”. Đến đây thì cảm xúc của tác giả mới được bộc lộ.
Tiếng chim kêu vượn hót hay là tiếng muôn loài thở than? Trận mưa sa bão táp hay chính là sự giận dữ của đất trời? Tất cả đã khiến “ kẻ thức giả” mà ở đây chính là Phạm Đình Hổ nhận thấy đó là “ triệu bất tường”, tức là những dấu hiệu chẳng lành, những điểm gở. Nó như dự báo trước về sự sụp đổ tất yếu của một triều đại thối nát, tha hóa chỉ biết vui chơi hưởng lạc trên mồ hôi, nước mắt và cả máu của những dân lành vô tội. Và quả thực điều đó đã ứng nghiệm sau khi chúa Trịnh Sâm mất, nhà Trịnh cũng đi đến hồi kết.
Tác giả không chỉ phơi bày về thói ăn chơi sa đọa của vua chúa mà còn cho thấy sự tham lam, thái độ nhũng nhiễu của bọn quan lại trong phủ chúa. Chúng được sủng ái bởi đã góp phần đắc lực tạo nên những cuộc vui chơi hưởng lạc của chúa Trịnh. Bọn hoạn quan đã bày nhiều trò để cướp đoạt, vu cáo, phá hoại tài sản của nhân dân một cách hết sức trắng trợn. Chúng thực hiện công việc đó một cách có bài bản: “ dò xem” nhà nào có vật quý để “ phụng thủ”; “ trèo qua tường thành lẻn ra” để “ lấy phăng đi” những thứ mà chúng muốn; nếu có sự phản ứng thì chúng buộc cho tội “ giấu báu vật” của vua chúa. Tác giả đã sử dụng một loạt các động từ chỉ hành động để nhấn mạnh sự táo tợn, phi lí của bọn hoạn quan. Chúng mượn gió bẻ măng, vừa ăn cướp lại vừa la làng. Và hậu quả là những người dân lành phải chịu bao bất công, khổ đau: phải nộp tiền, phá nhà hủy tường, phá bỏ cây cảnh để tránh tai vạ ập đến. Để tăng thêm sức mạnh tố cáo, tác giả đã kể một sự việc của chính gia đình mình. Trước nhà tiền đường có trồng cây lê hoa trắng xóa, trước nhà trung đường trông hai cây lựu ra quả trông rất đẹp nhưng vì sợ tai họa cũng phải đành chặt đi. Tác giả còn nêu ra các địa danh cụ thể như “ phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương” để làm tăng thêm tính thuyết phục để thể hiện sự những nhiễu của bọn quan lại. Qua đó tác giả đã bày tỏ sự căm phẫn, tố cáo mạnh mẽ với một vương triều thối nát đồng thời là sự cảm thông với những số phận con người chịu nhiều bất công, khổ cực.
Với lối văn ghi chép một cách cụ thể, chân thực, sinh động với những người thật, việc thật, không bị gò bó bởi cốt truyện, cách kể chuyện tự nhiên, giàu cảm xúc đoạn trích “ Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” không chỉ phơi bày lối sống sa đọa, ăn chơi hưởng lạc của vua chúa, thái độ nhũng nhiễu nhân dân của bọn hoạn quan mà còn cho thấy ngòi một ngòi bút rất tài hoa của tác giả Phạm Đình Hổ. Đây là một trích đoạn giàu giá trị hiện thực và giá trị nghệ thuật. | Phân tích đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh | 1,269 | |
Phân tích đoạn trích Chị em Thúy Kiều của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Về mặt nghệ thuật, văn học trung đại – kể cả truyện văn xuôi và truyện thơ – thường ít miêu tả chân dung. Chẳng hạn tả Vũ Thị Thiết trong Chuyện người con gái Nam Xương (Truyền kì mạn lục), Nguyễn Dữ chỉ phác hoạ sơ sài "Tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt" – nghĩa là được cả nết lẫn người. Thanh Tâm Tài Nhân – tác giả của Kim Vân Kiều truyện (Trung Quốc), tuy có sáng tạo hơn ở chỗ: không kể bằng ngôn từ của tác giả mà thông qua nhân vật, ở dây là nhân vật Kim Trọng để thấy những nét nổi bật vé hai cô gái họ Vương: "Thuý Kiều mày nhỏ mà dài, mắt trong mà sáng, mạo như trăng thu, sắc tựa hoa dào. Còn Thuý Vân thì tinh thần tĩnh chính, dung mạo đoan trang, có một phong thái riêng khó mô tả".
Tiếp thu, có nghĩa là kế thừa và sáng tạo – kể cả sáng tạo từ một nguyên mẫu của người xưa – Nguyễn Du có một cách làm khác trên những phương hướng làm cho nghệ thuật gần với cuộc đời hơn, cái đẹp gần với cái thực hơn, do dó mà sức sống của nghệ thuật dồi dào, mạnh mẽ hơn. Sự hấp dẫn dối với người đọc vì thế được tăng cường đáng kể. Nói như vậy không có nghĩa la trong văn kể chuyện của Nguyễn Du không còn những vướng cản, những hàng rào, những khuôn mẫu. Chẳng hạn ngay trong trích đoạn này, cách kể của nhà thơ cứ như theo một dàn ý, lớp lang được săp đặt từ đầu: giới thiệu chung trước, Kiều và Vân tả sau. Sau khi đã miêu tả cụ thể từng người, nhà thơ gộp lại như một kết luận. Đó là nhìn về tổng thể. Nhưng trong cái khối tổng thể ấy, ngòi bút nhà thơ có sự bứt phá và có thể nói ông đã thành công, những thành công rất dáng ghi nhận trong một thời văn chương bùng phát.
Trước khi đi vào phân tích từng phần, nếu cần có một nhận xét chung thì nhận xét đó là: hai mươi bốn câu thơ tả người, tả vẻ đẹp người đặt trong tổng thể Truyện Kiều như một kết cấu riêng rất hoàn chỉnh, hài hoà, đăng đối. Trong dó có cả cái chung (bốn câu đầu và bốn câu cuối), có cả cái riêng (mười sáu câu giữa). Riêng về cái chung, cách miêu tả sự hài hoà đăng đối không chỉ biểu hiện ớ trạng thái cân bằng về số lượng câu, mà cái chính là ở giọng điệu của người kể. Ngay trong giọng điệu, nếu bốn câu đầu có tính chất phẩm bình thì bốn câu kết như là một sự khép mờ. Và dù phẩm bình hay khép mở, giọng thơ vẫn thư thái, thong dong:
Đầu lòng hai ả tố nga
Hai câu thơ dầu mang sắc thái trung tính, chưa mảy may có một nhận xét gì. Sự ra dời của hai cô không có gì khác thường đặc biệt cả. Nhưng đến hai câu sau đó, giọng thơ đã có sự chuyển đổi, giai điệu thơ đã khác: một câu thơ hai nhịp (câu ba): "Mai cốt cách / tuyết tinh thần" giống như một ấn tượng, một cái gì thật khó nói, khó quên. Nhịp 3/3 thay cho nhịp đôi thường lệ, riêng âm điệu thơ với ba thanh trắc liền nhau (cốt, cách, tuyết) trong đó chí một từ bắt buộc (tuyết) phái là thanh trắc, diễn tả một thái độ phẩm bình, một ngợi khen hiếm thấy. Sức ám ảnh của thư bắt đầu. Nó tạo được sự chú ý. Sự chú ý này trên hai cấp độ: đó là những vẻ đẹp khác nhau, và cả hai đều hoàn mĩ ("Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười"), đó còn là vẻ đẹp "tinh thần" trong tổng hoà của "cốt cách" – cả hình thức lẫn nội dung. Riêng cấp độ thứ hai còn là sự chỉ dẫn của nhà thơ trong quá trình khám phá vẻ đẹp của hai cô gái về sau. *
Nhan sắc của Vân bắt đầu bằng một giọng kể vừa khách quan, vừa như trò chuyện tạo mối giao cảm giữa người nói với người nghe, mà thật là cô đúc:
Vân xem trang trọng khác vời
Từ "xem" xen vào câu kể đã để lại một dấu ấn chủ quan của người kể. Nhưng nhan sắc của Thuý Vân đến độ "khác vời" thì đã là dấu ấn chủ quan lại càng rõ rệt hơn. Hai chữ "khác vời" tương dương với cụm từ "tuyệt vời" ("Cánh hồng bay bổng tuyệt vời"). "Khác vời" là cái đẹp khó lòng nói hết, cái đẹp của nhan sắc, và cả cái đẹp ở ngoài nhan sắc. Bản thân nó là một bài thơ mà ý nghĩa không chí ở trong lời. Tuy nhiên, để cụ thể hoá cũng đồng thời để cá biệt hoá vẻ đẹp của Thuý Vân, phải đọc tiếp những câu sau đó. Có nhiều người khi phân tích ba câu thơ tiếp đó thường chỉ chú ý đến: khuôn trăng, nét ngài, hoa cười, ngọc thốt nghĩa là những ngữ danh từ ước lệ mà ít quan tâm hơn đến những vị ngữ kèm theo, như: đầy đặn, nở nang, đoan trang. Theo chúng tôi hiểu, khuôn trăng chỉ khuôn mặt, nét ngài chỉ lông mày, hoa chỉ nụ cười, ngọc chi tiếng nói đã cách điệu lên theo mô thức có sẵn của thơ xưa để từ đó tránh đi những suy diễn quá xa và không đáng có. Ví dụ "khuôn trăng" được giải thích là khuôn mặt tròn trịa (?), lông mày sắc nét, đậm như con ngài (?), tóc đen óng nhẹ hơn mây (?)… giải thích như thế chẳng những không đúng mà còn hạ thấp nhan sắc của Thuý Vân, nó đi vào khuynh hướng dung tục, tầm thường hoá, không trung thành với vẻ thanh cao, trong trắng như "tuyết" trong tinh thần của vẻ đẹp ấy. Chẳng hạn như nếu hiểu "mày ngài" là lông mày đẹp thì đó lại là cái vẻ đẹp của ngilời võ tướng như Từ Hải "Râu hùm, hàm én, mày ngài". Khôi phục lại ba vị ngữ đã nói ở trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh vào cách hiểu sau đây: nhà thơ muốn chắt lọc vẻ đẹp của Thuý Vân ở khía cạnh hài hoà, dung hoà giữa dung nhan và dức hạnh. Nhan sắc làm tươi tắn cho đức hạnh (để không là khổ hạnh), ngược lại: đức hạnh làm cho nhan sắc trở nên thuỳ mị nết na. Nét độc dáo của Thuý Vân nằm trên đường ranh giới ấy để thống nhất một cách tuyệt đối hai khía cạnh rất khó gặp nhau. Trong vở kịch Ham-lét của Sếch-xpia, trong tâm trạng giả điên, Ham-lét đã nói với Ô-phê-li-a bằng một càu rất "tỉnh", về cái nghịch lí vừa nêu: "Nếu cô vừa là người đức hạnh lại vừa nhan sắc, thì dức hạnh làm sao có thể nói chuyên được với nhan sắc của cô?". Thực hiện sự thống nhất này là khó, thậm chí là rất khó khi nhà thơ thoát ra ngoài mô hình cồng thức mà vẫn tả chân thực khá tỉ mỉ, chi tiết vẻ đẹp tinh thần của một nhan sắc trời cho. Toả ra đâu đây một thứ hương thơm dịu dàng, tinh khiết từ cái dáng vẻ phúc hậu, hiền thục của Thuý Vân. vẻ dẹp ấy rất đáng dê’ "Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da". Trước vẻ đẹp của Thuý Vân, thiên nhiên là mây, tuyết cũng nể vì, cảm mến.
Tả Thuý Vân như thế là đã đẹp, đã hay, kết thúc như thế là gọn. Nhưng trong mối liên kết của mạch thơ, người kể chuyện như lấy được dà để tôn vinh một nhân vật thứ hai tiếp nối: "Kiều càng sắc sảo mặn mà". Đó là hai phẩm chất của Thuý Kiều mà Thuý Vân chưa có hoặc có nhưng chưa trọn vẹn: tài và sắc. "Sắc sảo" là trí tuệ, là tài, là khả năng nhận thức nhanh nhạy, thông minh và ứng xử linh hoạt, kịp thời. Tài còn là cầm kì thi hoạ, bốn thú vui tao nhã mà nàng có đủ. Còn "mặn mà" là tình, là sự nồng nàn, say đắm không nhạt nhẽo, vô tâm. Ý thức nhấn mạnh này là dụng công nghệ thuật đã dành (chẳng hạn như tả Thuý Vân trước để đối chiếu), mà còn là thiện cảm của nhà thơ. Thiện cảm này lăng theo cấp số bằng biện pháp điệp ý. "Càng" ở câu trước đã là hơn, nhưng hình như chưa đủ. Cần phải hai năm rõ mười "So bề tài sắc lại là phần hơn". Nhưng "tài sắc" – sự lặp ý bè đôi so với "sắc sảo, mặn mà" là không hoàn toàn trùng khít.
Thật ra, tả tài sắc Thuý Kiều, Nguyễn Du vẫn dựa vào mô phỏng, lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để miêu tả con người. Tả Thuý Vân cũng thế. Chỉ có điều: đó là hai vùng thiên nhiên khác. Nếu thiên nhiên dùng để tả Vân là một thiên nhiên viên mãn, ổn định, tròn đầy, thì khi tả Thuý Kiều thiên nhiên sống động hơn, biến hoá hơn. Ấy là chưa nóị cách đặc tả, khắc hoạ có trọng tâm hơn, tập trung vào một nét bao trùm: đôi mắt.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Đúng là đôi mắt và lông mày, một đôi mắt trong suốt như không màu, một đôi mắt biết khóc, biết cười, một tuổi trẻ tiềm năng đang bừng thức. Nhan sắc ấy không chỉ là nhan sắc, nó đã hoá linh hồn. Khi tả Vân, nhà thơ nói "Vân xem trang trọng khác vời", ấy là cảm nhận chủ quan. Còn "làn thu thuỷ" nhất là "nét xuân sơn" thì vẻ đẹp đến đây là khách quan, tự nó, nằm ngoài khả năng nắm bắt của nhà thơ. vẻ đẹp ở Kiều nhìn chung là vẻ đẹp vượt ngưỡng, không một khuôn mẫu nào có thể ôm trùm – kể cả thiên nhiên, một tiêu chí tối đa cho vẻ đẹp con người của vãn chương trung đại.
Tuyệt đối hoá nhan sắc của nhân vật là một cách làm không dễ. Để thuyết phục, để người ta có thể chấp nhận, có một con đường "mềm hoá" mà thi sĩ đã tìm ra: "Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai". Nghĩa là trong sự toàn bích đã có sự hơn thua. Nói tài thua sắc không có nghĩa là tài thường hay "tài hèn". Thua là so với nhan sắc, chứ còn tài ấy cũng rất hiếm hoi trong thiên hạ.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Trong bốn cái tài ấy, có lẽ tài đàn của Kiều là nổi bật. Bởi vì vẫn quen thuộc những động thái tư duy từ khái quát đến cụ thể. Nhưng đến cái cụ thể thì thơ hoạ, hát xướng được dồn chung lại thành một câu. Còn tài đàn sau đó cần đến bốn câu. Và trong bốn câu ấy, câu nào cũng nói đến một bậc kì tài. Khi thì thuần phục (làu), lúc thì nổi bật (ăn đứt) một tài năng trời phú (khúc nhà) nhất là với cung bạc mệnh, "Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân". Người ta thường nói đến vẻ đẹp số phận của nàng Kiều vì "Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh". Không chi vì thiên nhiên giận hờn, ghen tức, mà Kiều cũng như thế:
Đã cho lấy kiếp hồng nhan
Lam cho, cho hại, cho tàn, cho cân.
Nhưng nếu xét cho cùng, tiếng đàn mới làm cho đời nàng đau đớn. Rồi tiếng đàn ấy cũng đi suốt mười lăm năm lưu lạc, đi hết cuộc đời. Không phải ngẫu nhiên mà hơn hai trăm năm sau, Tố Hữu nhớ Nguyễn Du là nhớ tiếng đàn ấy:
Tiếng đàn xưa đứt ngang dây
Hai trăm năm lại càng say lòng người.
(Kính gửi cụ Nguyễn Du)
Nhưng, tất cả là câu chuyện về sau. Còn lúc này, ở những trang đầu của cuộc đời hai chị em chưa có một vệt mực nào giây vào, nó còn tinh nguyên, thanh sạch. Bốn câu kết đoạn trở về trạng thái thong dong: "Phong lưu rất mực hồng quần", "Êm đềm trướng rủ màn che"… nghĩa là gần giống bon câu đầu đoạn. Nhưng như trên đã nói: nếu bốn câu đầu là phẩm bình, nhận xét thì bốn câu cuối có tính chất khép mớ câu chuyện. Đoạn thơ đóng lại mà vẫn có một cái gì đó không yên. "Xuân xanh xấp xỉ…" phải chăng là chút thoáng hồi hộp, dợi chờ, một cái gì đang tới phía ngoài kia, phía "Tường đông ong bướm di về mặc ai" mà những cô gái "màn che", "trướng rủ" chưa mấy bận tâm thao thức? | Phân tích đoạn trích Chị em Thúy Kiều của Nguyễn Du | 2,218 | |
Phân tích đoạn trích Con chó Bấc trong Tiếng gọi nơi hoang dã của Giắc Lân-đơn
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Con chó Bấc trong Tiếng gọi nơi hoang dã của Giắc Lân-đơn
BÀI LÀM
Giắc Lân-đơn (1876 – 1916) là một nhà văn Mỹ, tên thật của ông là Giôn Gri-phit Lân-đơn, Ông trải qua thời kỳ thơ ấu thực sự vất vả, cũng làm nhiều nghề kiếm sống.
Lân-đơn bắt đầu sự nghiệp sáng tác với những truyện ngắn đăng ở trên một tờ báo của sinh viên. Thời kì phát triển cao nhất cho sự nghiệp sáng tác của ông là vào đầu thế kỉ XX.
Tiếng gọi nơi hoang dã là tiểu thuyết được viết sau khi ông theo những người đào vàng tới miền đất Clân-đai-cơ trở về vào năm 1903. Con chó Bấc là một đoạn trích trong cuốn tiểu thuyết đó.
Tác phẩm kể về con chó bị bắt cóc bị đưa lên chỗ vùng sơn Bắc cực nhọc kéo tuyết cho những người đi tìm vàng. Bác đã quay tay rất nhiều ông chủ độc ác nhưng đã có ông chủ Giôn Thoóc-tơn là người có lòng nhân từ đối với nó, sau khi ông ấy chết thì nó đã rời bỏ con người và đi theo tiếng gọi nơi hoang dã, trở thành một con chó hoang.
Ở trong đoạn trích này, nhà văn Lân Đơn đã có những nhận xét thực sự tinh tế cùng với trí tưởng tượng tuyệt vời khi đi sâu vào đời sống tâm hồn của con chó Bấc, đồng thời còn thể hiện tình cảm yêu thương của mình đối với loài vật.
Ở đoạn thứ nhất tác giả đã kể về mối quan hệ của con chó Bấc đối với gia đình thẩm phán Mi-lơ là chủ đề lấy làm cơ sở so sánh với Thoóc-tơn:
Đối với những cậu con trai của ông Thẩm, trong những buổi đi săn hoặc là lang thang thì tình cảm ấy là chuyện làm ăn cùng hội, với những đứa cháu nhỏ là ra oai hộ vệ còn đối với ông Thẩm thì đó là thứ tình bạn trịnh trọng.
Đối với chó Bấc thì Giôn Thoóc-tơn chính là một ông chủ lí tưởng, các ông chủ trước đã chăm sóc nó vì lợi ích và nghĩa vụ chứ không thực sự yêu thương nó.
Thoóc-tơn đã đối xử với bầy chó như con cái của mình còn đối với Bấc thì anh lại coi nó như một người bạn thân thiết hết mức.
Anh có thói quen dùng bàn tay nắm chặt túm lấy đầu Bấc rồi dựa đầu anh vào đầu của nó hoặc cứ đẩy tới đẩy lui. Bấc thấy không có gì vui hơn bằng việc một cái ôm ghì mạnh mẽ ấy và những tiếng rửa rí rí bên tai. Khi được buông ra thì nó bật vùng dậy lên, mắt long lanh, họng rung lên những âm thanh không thốt nên lời.
Trong đoạn văn này tác giả đã tập trung miêu tả về những biểu hiện của con chó, trước đó nhà văn đã kể về tình cảm của Thoóc-tơn đối với bầy chó nói chung và Bấc nói riêng để nhấn mạnh về tình cảm đặc biệt mà anh giành cho Bấc.
Đọc những dòng miêu tả Bấc thì chúng ta sẽ thấy được tài năng quan sát và cả sự hiểu biết của nhà văn đối với loài chó:
Bấc có tài biểu lộ tình thương yêu giống như làm đau lòng người ta, nó thường hay há miệng ra cắn lấy bàn tay của Thoóc-tơn rồi ép răng xuống mạnh tới nỗi vết răng hằn vào da thịt một lúc lâu.
Lân-đơn có nhận xét tỉ mỉ tinh tế khi miêu tả từng con chó ở trong bầy chó kéo xe. Những biểu hiện về tình cảm của chúng chính là đặc điểm chung của các loài chó nhưng nhà văn đã chú trọng tới nét riêng của mỗi con nhằm làm nổi bật nét khác biệt của Bấc so với những con chó khác ở trong bầy.
Bấc có tình cảm đặc biệt đối với thooc-ton, có lúc nó bày tỏ thái độ âu yếm qua những cái cắn vờ hoặc là theo sát Thooc-ton không rời một bước, tuy nhiên tình yêu thương của Bấc phần lớn là được diễn đạt bằng sự tôn thờ. Mặc dù nó sung sướng tới điên cuồng nhưng lại không săn dồn lên.
Đoạn văn trên vừa phản ánh trí tưởng tượng tuyệt vời của nhà văn lại nói lên tình yêu thương của loài vật của ông. Điều mà ông muốn nhắn nhủ đó là hãy hết lòng yêu thương loài vật, nhất là đối với những loài có tình nghĩa. | Phân tích đoạn trích Con chó Bấc trong Tiếng gọi nơi hoang dã của Giắc Lân-đơn | 785 | |
Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân của Nguyễn Du
Hướng dẫn
Đây là một đoạn tả cảnh trong khuôn viên một tác phẩm tự sự lớn bằng thơ. Tả cảnh trong điều kiện ấy thường phải gắn với nhân vật, đấy là chưa nói tả cảnh ngụ tình là nguyên tắc của thơ xưa. Trong những trường hợp phổ biến ấy, cảnh được nhìn từ tâm trạng, thông qua tâm trạng, ỡ đó có sự khúc xạ-buồn vui theo kieu "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Trích đoạn có tiêu đề Cảnh ngày xuân một mặt không nằm ngoài đường biên quy phạm ấy, nhưng một mặt có sự bứt phá để tự nó tạo hình một bức tranh riêng. Sự phan cảnh vì thế khá rõ rệt: cảnh mùa xuân, rồi cảnh lễ hội, cảnh ra về khi lẻ hội đã tan. Cảnh trong thơ như thế là bám vào mạch thời gian, một cách nhìn theo chiều dọc, theo diễn biến tự nhiên, nhưng nếu cắt theo chiều ngang thì mỗi bước đi của thời gian ấy có một cái gì trọng đại, thậm chí là dấu ấn đầu dời của ai đó ớ cái tuổi cài trâm (cập kê) một đi không trở lại.
Hãy đi vào cánh thứ nhất: cảnh mùa xuân. Cảnh mùa xuân hiện ra bằng bốn câu thơ nhưng hoàn toàn không cùng nằm trên một mặt bằng cảm nghĩ. Hai câu dặc tả cảnh thiên nhiên là ở cặp câu lục bát thứ hai "Cỏ non…", còn cặp câu trước đó chỉ là chuyển cảnh. Nếu từ cặp câu "Cỏ non…" ta nhận ra một cái nhìn không gian thì trước đó là cái nhìn thời gian về "Ngày xuân con én…". Một khi đã xác định sự khác nhau, ở cấp độ trường nhìn thì sẽ không nhầm lẫn nữa. Chẳng hạn không nên hiểu "con én đưa thoi" là những cánh chim én có thật vẫn rộn ràng bay lượn giữa bầu trời trong sáng. "Con én" chỉ nên hiểu là con thoi. Thời gian đi rất nhanh, với mùa xuân, với cái nhìn của tuổi trỏ, nó càng nhanh vì tuổi trẻ và mùa xuân là cơ hội một lần. Cái nhìn của nhà thơ thấm đẫm tàm lí của người trong cuộc. Bới thế mới thấy nhanh (chủ quan hoá khách quan – ngày mùa xuân cũng 24 giờ như ngày mùa hạ…) và thấy tiếc: "Thiều quang chín chục dã ngoài sáu mươi". Sau này, khi "cái tôi" của nhà thơ nói chung không còn bị ràng buộc nữa (ví dụ như vào đạo lí, vào kỉ cương), Xuân Diệu cũng một tâm trạng ấy, tuy cách nói có "mới" hơn: "Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân". Nhớ mùa xuân ngay trong mùa xuân tướng là một điều nghịch lí nhưng nó có thật trong tâm trạng con người tuổi trẻ mọi thời.
Sáu mươi" trên "chín chục", hơn thế "đã ngoài" trái ngon ngọt mùa xuân đã đi hết hai phần, sốt ruột biết bao! Do sự tiết chế ngôn từ, cũng là do tư cách của người kể chuyện, Nguyễn Du không thể kêu lên "Nhanh với chứ, vội vàng lên với chứ" như Xuân Diệu sau ông. Ngay trong Truyện Kiêu, thời gian nói chung là đi rất nhanh nhưng mỗi lần một khác, không lần nào giống lần nào. "Sen tàn cúc lại nở hoa – Sầu dài ngày ngắn, đông đã sang xuân" thì đâu phải là chậm. Nhưng đó là cái khắc khoải đợi trông cái gì chưa đến. Còn ở đây mùa xuân dang hiện diện:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Hai câu thơ tả cảnh mùa xuân này thật là tuyệt bút, nếu đặt nó trong vườn thơ trung đại "Thì treo giải nhất chi nhường cho ai". Có hai cách nhìn vé bức tranh ấy. Cái nhìn thứ nhất của người khách qua dường, của con mắt "thế nhân": Thảm cỏ xanh quá, nó làm nển cho bức tranh xuân. Trên cái nền kia, điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Màu sắc tuyệt diệu hài hoà. Cách nhìn thứ hai của người tri kỉ: chỉ cẩn một nét vẽ đó thôi, câu thơ đã có gì ngơ ngác trước một màu xanh, đúng ra là một biển xanh, mênh mông độ rộng. Từ hiện thực Nguyễn Du đã gia công, đã tái tạo hiện thực, đã thổi vào đó ngọn gió vô hình của tâm linh để tạo ra sự sống. Hàn Mặc Tử sau Nguyễn Du có nói đến "sóng cỏ" chính là một cái nhìn đồng tâm trạng với Nguyễn Du ("Sóng cỏ xanh tươi gọn tới trời"). Đó là cái hay toàn khối được tách ra từ cội, từ cành, khi chúng ta cầm trên tay một chiếc lá đơn sơ mà thẫn thờ nhìn ngắm. Sau đó mới đến cái hay của sự hội nhập với "cành lê trắng điếm…". Cái tài cũng là cái tình của Nguyễn Du ở dây là đảo ngược một cách dùng từ thông dụng: biến "điểm trắng" thành "trắng điểm". Chỉ thay đổi một chút đó thôi, công việc đơn giản mà ngoài Nguyễn Du, không ai làm được. Trong sáng tạo thơ ca, người ta có thể "chết" vì một từ mà "sống" cũng vì một từ là thế. Nếu viết "điểm trắng" thì không sai, ý thơ, âm điệu thơ không hể thay đổi. Nhưng đó là cách viết "non tay", cách vẽ tranh của nghệ nhân bắt chước mà chưa có cái "thần". Viết "trắng điểm" tạo nên yếu tố bất ngờ, cành lê như đem vào màu trắng, màu sắc của sự tinh khôi bằng bàn tay vô hình của tạo hoá. Nó đang chăm chút tô điểm, không cầu kì trau chuốt mà rất ý nhị, tinh vi. "Điểm" ở đây là điểm xuyết, nghĩa là thêm vào, chí một chút thôi mà gương mặt của cành lê tưởng không còn là chính nó. "Trắng điểm" và "điểm trắng" chỉ hơn nhau một sự lung linh nho nhỏ mà đã là hai thế giới rất xa nhau. Đọc hai câu tuyệt bút của Nguyễn Du, tuy không tả mặt biển mà ta cứ như dập dờn say giữa những con sóng đung dưa cỏ xanh hoa trắng.
Mùa xuân đối với một năm giống như bông hoa phong nhuỵ mơ màng, ấp ủ biết bao, hi vọng biết bao, nó là một nụ cười chúm chím, một thứ "hương thầm”.
Tám câu thơ tiếp nối là khung cảnh lẻ hội "Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh". Cặp câu lục bát mở đầu (giống như cấu tứ toàn đoạn), đó là lời dẫn. Hai câu này không có dụng công như hai câu "Ngày xuân…" đã được phân tích ở trên. Một ngọn gió lướt đi và đây là những cái gì đã đến:
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Đọc qua, tưởng như hai câu thơ kể việc, vì yếu tố này không phải không có: hành trang, phương tiện đi đường, có chị có em. Nhưng không phải. Việc chuẩn bị tất nhiên không thể không làm, nhưng đó là những chất liệu sinh hoạt đời thường chứ không phải chất liệu của thơ. Điều đáng kể nhất là niềm vui tíu tít, rộn ràng, một hạnh phúc lớn lao chưa từng có của những chị, những em đi dạ hội lần đầu giữa một mùa xuân kép: xuân của thiên nhiên, xuân của lòng người. Được hoà vào cái không khí đặc trưng "nô nức yến anh", việc "sắm sửa" của mấy chị em cũng là ngày hội. Tết vốn là vui (vui như tết), nhưng còn vui hơn là ở những người được "sắm sửa" để có câu đối đỏ, bánh chưng xanh… trong những ngày giáp tết. Chưa đến hội, hai chị em như đã mở hội trong lòng, vội vã ngất ngây như lâng lâng bay bổng. Tưởng như không có âm thanh nào ngoài công việc, nhưng tâm hồn họ thì quả thực đang cất tiếng, hát ca. Đó là tính cá thể. Tính cá thể ấy đã không còn khi họ mất hút đi trong "Dập dìu tài tử giai nhân". Đến đây xuất hiện một thứ nghệ thuật khác: nghệ thuật miêu tả đám đông. Tính quần thể của cộng đồng là một thứ chân dung tinh thần: chân dung lễ hội. Không rõ một gương mặt ai, nhưng ai cũng thấy mình trong đó, trong cái phấn khích mà không một ngày nào trong nãm có được. "Lễ" thực ra chỉ là cái cớ, còn "hội" mới là mục đích cuối cùng. "Tro tiền giấy bay" hoặc "Thoi vàng vó rắc" chẳng qua là nghi thức bên ngoài của những kẻ hành hương. Còn tất cả dồn cho sự náo nhiệt của giai nhân, tài tử, ngựa xe, là lượt:
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Lễ hội ấy thực ra năm nào chẳng thế. Nhưng với những con người tuổi trẻ, nó chỉ háo hức đến cuồng nhiệt một lần. Thời gian như dòng chảy trôi xuôi nhưng những ấn tượng mặn mòi làm sao quên được. Những từ láy, lổng trong phép đối hoà nhập hài hoà tạo được những ấn tượng khôn nguôi. Phép đối xứng cũng biến hoá, khi dồn lại giữa tài tử với giai nhân, khi tách giãn ngựa xe với quần áo, nhưng lúc nào cũng hình thành cái thế bè đôi, khi ẩn khi hiện từ sức hút của một ma lực mơ hồ. "Dập dìu" là một từ láy. "Dập dìu" theo nghĩa của từ điển là cùng nhau vui chơi, chỉ đông người tấp nập. Nhưng trong văn cảnh này nó như khúc hát dìu dặt, mau thưa, nghĩa là sự xuống lên theo quy trình của những con sóng nước, nó buông thả một cách hồn nhiên như chịu tác động của một sức hút vô hình sai khiến. Ấy là một cơn say như những người mộng du say trầu, say thuốc, còn ở đây đó là say tình giữa nam và nữ. Họ có được nhau và cùng nhau tận hưởng một niềm khoái lạc tinh thần vừa quý phái vừa rất dỗi hồn nhiên. Đằng sau xiêm áo, ngựa xe là những sự rung động dầu đời cất cánh.
Phải thế chăng, mà sáu câu tả cảnh chị em Thuý Kiều ra về là cái bần thần tiếc nuối "Ngày vui ngắn chẳng tày gang". Hai chữ "thơ thẩn" ở đây có sức gợi rất hay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
"Dan tay" tưởng là vui, nhưng thực ra là sự đồng cảm sẻ chia cái buồn không biết nói. Nó hợp với khung cảnh ánh sáng nhạt nhoà "Mặt trời gác núi chiêng đà thu không". Lặng dần xuống, tan dần đi cái háo hức mê say của một ngày, của một thời không hoàn toàn là trẻ dại nữa. Nó bâng khuâng, man mác xiết bao. Bốn câu tiếp theo là sự khơi gợi tâm tình với những trái tim đa cảm:
Bước dần theo ngọn tiều khê,
Lần xem phong cảnh có bê thanh thanh.
Phút dịu êm của cảnh vật tạm lấp dần khoảng trống rất khó nguôi vơi của nỗi buồn tiếc nuối. Vừa khép lại vừa mờ ra từ dòng nước, nhịp cầu một tâm trạng chênh vênh. "Nao nao dòng nước uốn quanh". Dòng nước tâm tình chia sẻ ấy, nhịp cầu nên thơ như giấc mộng hiện lên ấy ru vỗ lòng người làm dịu lại cái xôn xao từ ngày hội bước ra. "Nao nao" diễn tả sự xúc động đến rưng rưng "Thiệt lòng mình cũng nao nao lòng người" (Truyện Kiều). Đó vừa là dư âm của cái đã qua, vừa là sự lấy đà chuyên sang một tâm trạng mới: gặp nấm mộ Đạm Tiên. Tả cảnh, tả tình như thế là khéo, chuyến ý như thế là rất tinh tế, tự nhiên. Người đọc luôn luôn có cảm giác đi trên một dòng sông, nhưng mỗi khúc, mỗi chặng đường một khác. Chuyện thơ vừa khắc sâu, vừa nuôi dưỡng hứng thú người đọc như thế là không dễ xưa nay, nhất là với tác phẩm Truyện Kiều cách chúng ta hai trăm năm có lẻ. | Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân của Nguyễn Du | 2,087 | |
Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân của tác giả Nguyễn Du
Bài làm
Thiên nhiên luôn là một đề tài bất hủ trong thơ ca, nó không chỉ là trung tâm của cái đẹp mà còn là nơi gửi gắm những nỗi niềm của con người. Đối với Nguyễn Du cũng không là ngoại lệ. Trong tác phẩm “ Truyện Kiều” Nguyễn Du đã dành rất nhiều câu thơ để miêu tả thiên nhiên. Đặc biệt ở đoạn trích “ Cảnh ngày xuân” với bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình Nguyễn Du đã vẽ lên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.
Bốn câu thơ đầu tiên là bức tranh khung cảnh thiên nhiên với những nét đặc trưng riêng của mùa xuân:
“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Tác giả đã vẽ lên một bức tranh mùa xuân thật đẹp với những chi tiết tiêu biểu, đặc trưng. Hai câu thơ đầu gợi tả cảnh mùa xuân với thời gian và không gian riêng. Tác giả sử dụng một hình ảnh ẩn dụ “ con én đưa thoi” không chỉ giúp người đọc hình dung cảnh mùa xuân rất đặc trưng với những đàn chim én mà còn gợi ra thời gian trôi qua rất nhanh. “Thiều quang”là hình ảnh hoán dụ chỉ cảnh ngày xuân với ánh sáng đẹp đã trôi qua, đã qua tháng giêng, tháng hai và bây giờ đã là tháng ba. Tiết trời trong xanh, từng con én bay liệng chao nghiêng trên bầu trời gợi ra một không gian thoáng đãng, gợi lên nhịp điệu sôi dộng của mùa xuân đồng thời còn gợi tả một cảm giác tiếc nuối khi thời gian trôi quá nhanh. Bức họa tuyệt đẹp của mùa xuân được hiện lên ở hai câu thơ tiếp theo:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Nền của bức tranh là màu xanh non bát ngát tơi tận chân trời của đồng cỏ. Trên cái nền xanh dịu mát ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Màu trắng và màu xanh hài hòa gợi cảm giác mênh mông mà không quạnh vắng, trong sáng mà trẻ trung, nhẹ nhàng mà thanh khiết. Đặc biệt động từ “ điểm” làm cho bức tranh không chỉ trong sáng tinh khôi mà còn trở nên có hồn, sinh động hơn. Với ngòi bút chấm phá tài hoa, Nguyễn Du đã vẽ lên một bức tranh xuân đẹp tuyệt vời với không gian mênh mông và tràn đầy sức sống.
Tám câu thơ tiếp theo là khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh:
“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”
Tiết thanh minh gồm phần lễ và phần hội. Tảo mộ là viếng mộ, sửa sang, quét dọn, thắp hương cho những phần mộ của người đã khuất. Hội đạp thanh tức là dẫm lên cỏ xanh – lễ hội du xuân nơi đồng quê thanh bình. Bốn câu thơ tiếp theo là không khí lễ hội rộn rang, đông vui, náo nức. Tác giả sử dụng một loạt các từ láy: “ nô nức”, “ dập dìu”, “ sắm sửa” cùng với đó là những từ Hán Việt: “ tài tử”, “giai nhân”, “ yến anh” chỉ những trai tài, gái sắc với dáng điệu ung dung, khoan thai. Cách nói ẩn dụ “ nô nức yến anh” gợi hình ảnh đoàn người du xuân nhộn nhịp. Nhưng đẹp nhất chính là những nam thanh nữ tú, họ chính là cái hồn của bức tranh xuân.
“Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”
Đó là cảnh dòng người đi lễ hội vừa đi vừa rắc những thôi vàng mã, đốt giấy tiền để cúng những linh hồn đã mất. Đây là một truyền thống văn hóa tâm linh của một số nước phương Đông. Câu thơ thoáng một nét buồn. Phải chăng đó chính là trái tim đầy tình thương mà đại thi hào dành cho những người đã khuất.
Cuộc vui nào cũng đến hồi kết. Sáu câu thơ cuối là cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về. Cảnh đẹp nhưng mang nét u buồn vì nhuốm màu tâm trạng của con người:
“Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về”
Nhịp thơ chậm rãi giống như những bước chân nhẹ nhàng của con người với nỗi lòng man mác lưu luyến khi hội đã tan. Chị em Thúy Kiều ra về lúc chiều tà bóng xế. Cảnh vật vẫn thanh nhẹ nhưng chuyển động một cách từ từ, chậm rãi. Từ láy “ tà tà”, “ thơ thẩn” góp phần diễn tả tâm trạng nuối tiếc bâng khuâng của con người. Chị em Thúy kiều cùng dòng người chậm rãi ra về sau lễ hội dường như tạo cho cảnh thiên nhiên cũng như nhỏ lại, chầm chậm theo: dòng suối nhỏ, chiếc cầu be bé, dòng nước lững lờ trôi. Không còn không khí rộn rang của lễ hội nữa mà thay vào đó là sự “ thơ thẩn” của con người. Cái “ nao nao” của dòng nước hay cũng chính là tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến của con người.
Bằng ngòi bút miêu tả tinh tế và tài hoa của Nguyễn Du đoạn trích “ Cảnh ngày xuân” đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp về mùa xuân. Cảnh hiện lên trong sáng tinh khôi và tràn đầy sức sống nhưng cũng là nơi gửi gắm bao nỗi niềm của tác giả. Điều đó càng cho thấy bút pháp tả cảnh ngụ tình đầy thuyết phục của Nguyễn Du. | Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân của tác giả Nguyễn Du | 965 | |
Phân tích đoạn trích cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều
Bài làm
Một trong những nét đặc sắc nghệ thuật Truyện Kiều của Nguyễn Du là cách phác họa tô điểm những bức tranh thiên nhiên tương xứng với hình ảnh tâm trạng của Thúy Kiều. Cảnh ngày xuân là bức phong cảnh mùa xuân và cảnh du xuân của chị em Thúy Kiều, một bức tranh tươi đẹp, trong sáng, sống động nhưng vẫn hàm ẩn những nét buồn, dự cảm một tương lại gần của Thúy Kiều.
Bốn câu đầu với bút pháp cổ điển tác giả tả cảnh thiên nhiên theo trình tự không gian, thời gian, bút pháp chấm phá, tượng trưng ước lệ. Bốn câu mở đầu khái quát phong cảnh thiên nhiên với những nét đặc trưng của mùa xuân.
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Hai câu mở đầu vừa gợi không gian mùa xuân, vừa diễn tả sự chảy trôi của thời gian. Ngày xuân thấm thoắt qua mau, 90 ngày xuân nay tiết trời đã sang tháng ba – Tháng cuối cùng nhưng trên bầu trời khoáng đạt cao rộng, những cánh én vẫn rộn ràng, trao liệng như thoi đưa. Dưới mặt đất mùa xuân vẫn đang ở kì xung sức. Bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân ở hai câu thơ: Cỏ non, bông hoa… Thảm cỏ non trải rộng tới chân trời là gam màu tô điểm bức tranh xuân. Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu, tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống – Cỏ non, khoáng đạt, trong trẻo – xanh tận chân trời. Nhẹ nhàng thanh khiết trắng điểm một vài bông hoa. Chữ trắng được thêm vào đảo lên trước động từ và danh từ tạo sự bất ngờ, mới mẻ, khiến nét vẽ cảnh vật trở lên có hồn, tinh khôi, thanh thoát. Bốn câu thơ tả cảnh mùa xuân thật đẹp, ngôn ngữ giàu chất tạo hình, chất gợi. Qua bức tranh thơ đó người đọc cảm nhận được tâm hồn nhạy cảm tha thiết trước cảnh sắc thiên nhiên trong trẻo, tươi tắn, ấm áp của mùa xuân.
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Nguyễn Du tái hiện cảnh lễ hội trong tiết thanh minh và hoạt cảnh du xuân của con người. Con người trong tiết thanh minh đi sửa sang phần mộ tìm về bóng hình quá khứ. Đó là lễ hội truyền thống, Nguyễn Du chứng tỏ tài năng bậc thầy về ngôn ngữ ngay ở câu thơ tự xự ở hai hoạt cảnh này. Lễ là tảo mộ, thăm viếng, sửa sang quét tước phần mộ để tưởng nhớ người thân tổ tiên đã khuất. Hộ là đạp thanh: Lễ và hội trong tiết thanh minh là sự giao hòa độc đáo giữa quá khứ và hiện tại, giữa cái đã qua và cái sắp tới. Chứng tỏ nhà thơ rất hiểu và trân trọng những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
Bốn câu thơ sau là ngôn ngữ tự xự tả bức tranh của lễ hội. Một hệ thống danh từ, động từ, tích từ: Gợi lên không khí lễ hội thật rộn ràng. Các danh từ như: Yến anh, chị em, tài từ, giai nhân” gợi tả sự đông vui, nhiều người cùng đến hội, các động từ ” sắm sửa, dập dìu ” gợi tả sự rộn ràng, náo nhiệt của ngày hội, các tính từ ” gần xa, nô nức ” làm rõ hơn tâm trạng của người đi hội, đồng thời cách nói ẩn dụ nô nức, yến anh từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân tất bật, nhộn nhịp nhất là những nam thanh nữ tú, tài tử, giai nhân. Thông qua việc du xuân của họ, tác giả khắc họa một truyền thống văn hóa thật đẹp và sống động.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn đan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh cỏ bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Nắng nhẹ, khe nước nhỏ, một nhịp cầu nhỏ bắc ngang. Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng, mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh. Đến đây không khí nhộn nhịp, dộn dàng của lễ hội không còn nữa tất cả đang nhạt dần. Những từ láy: Tà tà, thanh thanh, nao nao không chỉ biểu đạt sắc thái, cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Hai chữ nao nao nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật, đó là cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày du xuân đang còn và sự linh cảm về điềm sắp xảy ra đã xuất hiện.
Mỗi bức tranh thiên nhiên trong truyện kiều đều nhuốm màu tâm trạng, trong bức tranh thiên nhiên cảnh ngày xuân, tâm trạng con người cũng biến đổi theo cảnh vật, sáng – chiều, đầu khổ – cuối khổ và linh cảm tương lai đó là tài nghệ tả cảnh ngụ tình. | Phân tích đoạn trích cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều | 932 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp.
Bài làm
Ai-ma-tốp sinh năm 1928, trong một gia đình viên chức ở nước cộng hoà cư-rư-gư-xtan (hay còn gọi là Kir-ghi-zi) ở vùng Trung Á (thuộc Liên Xô cũ). Năm 1953, Ai-ma-tốp tốt nghiệp Đại học nông nghiệp, trở thành kĩ sư chăn nuôi. Mấy năm sau, ông học sáng tác rồi chuyển sang hoạt động báo chí và viết văn. Tập Núi đồi và thảo nguyên của Ai-ma-tốp đã được trao tặng Giải thưởng Lê-nin, một giải thưởng cao quý của Liên bang Xô viết. Tác phẩm này gồm ba truyện vừa: Người thầy đầu tiên, Cây phong non trùm khăn đỏ, Mắt lạc đà. Ngoài ra, Ai-ma-tốp còn có nhiều tác phẩm nổi tiếng khác như Vĩnh biệt Gun-xa-rư (1966). Con tàu trắng (1970), Một ngày dài hơn thế (1980)… Tên tuổi nhà văn Ai-ma-tốp đã trở nên quen thuộc với bạn đọc trên toàn thố giới.
Bối cảnh của truyện là làng Ku-ku-rêu ở một vùng núi hẻo lánh, nghèo nàn, lạc hậu vào thời kì đầu thế kỉ hai mươi. Thời đó, tư tưởng phong kiến, gia trưởng còn nặng nề, phụ nữ bị coi thường và trẻ mồ côi bị rẻ rúng. Cô bé An-tư-nai đã mất cả cha lẫn mẹ, phải sống nhờ gia đình chú thím. Cô phải làm việc quần quật suốt ngày và chịu sự giám sát hà khắc của bà thím dâu đáo để, độc ác. Thầy giáo trẻ Đuy-sen được Đoàn thanh niên Cộng sản cử về làng để mở trường xoá mù chữ đã hết lòng giúp đỡ để An-tư-nai được đi học. Bà thím tham tiền ép gả cô bé làm vợ lẽ một gã đàn ông khá giả trong vùng. Một lần nữa, cô bé lại được thầy Đuy-sen giải thoát và gửi lên tỉnh học, rồi tiếp tục học đại học ở Mát-xcơ-va. Sau này, cô trở thành nữ viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va. Cồn thầy Đuy-sen lúc về già làm nghề đưa thư.
Đây là câu chuyện của một người xa quê kể về nơi chôn nhau cắt rốn của mình bằng tình cảm gắn bó tha thiết, thiêng liêng. Mở đầu đoạn văn, tác giả giới thiệu vị trí của làng mình trên thảo nguyên bao la:Làng Ku-ku-rêu chúng tôi nằm ven chân núi, trên một cao nguyên rộng có những khe nước ào ào từ nhiều ngách đá đổ xuống. Phía dưới làng tôi là thung lũng Đất vàng, là cánh thảo nguyên Ca-dắc-xtan mênh mông nằm giữa các nhánh của rặng núi Đen và con đường sắt làm thành một dải thẫm màu băng qua đồng bằng chạy tít đến tận chân trời phía Tây. | Phân tích đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp | 458 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp
Bài làm
Có những trang văn như dòng chảy qua tâm hồn ta, để lại lớp phù sa màu mỡ. Tôi muốn nói đến đoạn trích “Hai cây phong” của tác giả Ai-ma-tốp. Đoạn trích là bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ và kí ức sâu sắc của tuổi thơ hiện lên qua dòng hồi tưởng tràn đầ cảm xúc yêu thương. Thông qua việc miêu tả vẻ đẹp của hai cây phong, tác giả ca ngợi quê hương yêu dấu, nơi đã khắc sâu bao kỉ niệm buồn vui và hun đúc trong tâm hồn thơ dại những ước mơ, khát khao cháy bỏng.
Mở đầu đoạn văn tác giả giới thiệu vị trí của làng mình trên thảo nguyên bao la: “Làng Kur-ku-rêu chúng tôi nằm ở ven chân núi, trên một cao nguyên rộng có những khe nước ào ào từ nhiều ngách đá đổ xuống…Phía dưới là thung lũng Đất Vàng, là cánh thảo nguyên Ca-dắc-xtan mênh mông…” Khung cảnh trữ tình này vừa là phông nền làm nổi bật hình ảnh hai cây phong, vừa là nguồn cảm hứng bất tận của tác giả. Hình ảnh hai cây phong được coi là dấu ấn của tuổi thơ đã in sâu trong trái tim, khối óc và trở thành một phần máu thịt của người đi xa: “Mong sao mong về tới làng, chóng lên đồi, mà đến với hai cây phong.” Tình yêu tha thiết dành cho hai cây phong tuôn chảy không ngừng dưới ngòi bút tinh tế của nhà văn đã mang lại.
Cho hai cây phong đời sống tâm hồn phong phú như con người. Hai cây phong được quan sát, miêu tả tỉ mỉ, sinh động bằng đôi mắt họa sĩ, đôi tai nhạc sĩ và trái tim nóng hổi của nhà thơ. Người viết đã phát huy cao độ trí tưởng tượng, để thai nghén ra những câu văn làm mê luyến lòng người về vẻ đẹp của hai cây phong: “Có khi chúng thì thiết tha nồng nàn, có khi chúng bỗng im bặt một thoáng, rồi khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào.”Dấu ấn kỉ niệm về hai cây phong vẫn còn vẹn nguyên sau ngần ấy thời gian bởi vì hai cây phong ấy gắn bó tha thiết với lứa tuổi học trò: “ Tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy, bên cạnh chúng như một mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh..” Hai cây phong đẹp như cây thần trong những truyện cổ. Vẻ đẹp kì diệu của chúng sẽ mãi mãi in sâu trong tâm khảm của nhà văn, bất chấp quy luật thay đổi của thiên nhiên, cảu lòng người bởi vì nó được nhìn qua đôi mắt tre thơ chứa tình yêu nồng nàn, sâu đạm đối với những gì thân thuộc nhất của quê hương, với những buồn vui, với mọi khoảnh khắc của tuổi thơ êm đềm.
Kết thúc đoạn văn tác giả đặt ra câu hỏi đê giải thích nguồn gốc của hai cây phong bằng một câu chuyện cảm động, gắn liền với tình thần trò thắm thiết, rằng chính thầy Đuy-sen đã đem hai cây phong về trồng ở đồi này và gửi gắm ở chúng hi vọng về tương lai của những đứa trẻ nghèo khổ như An-tư-nai sẽ trở thành người hữu ích. Hai cây phong qua năm tháng đã thầm lặng góp phần cùng người thầy đầu tiên biến ước mơ thành hiện thực. | Phân tích đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên | 602 | |
Phân tích đoạn trích Hai cây phong – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Truyện ngắn Người thầy đầu tiên của nhà văn Ai-ma-tốp đã đưa chúng ta về với làng nhỏ Ku-ku-rêu của nước Cộng hòa Cư-rơ-gư-xtan thuộc Liên Xô (cũ). Câu chuyện về người chiến sĩ Hồng quân, đoàn viên thanh niên cộng sản Đuy- sen – người thầy đầu tiên đã trồng hai cây phong nhỏ cùng cô bé An-tư-nai thuở trước. Để bốn chục năm sau, cô bé đã là một viện sĩ danh tiếng, còn hai cây phong đã trở thành một phần không thể thiếu trong kí ức làng quê của biết bao thế hệ dân làng Ku-ku-rêu.
Kỉ niệm gắn bó với hai cây phong được kể lại theo hai mạch dẫn lồng vào nhau: mạch dẫn chuyện trực tiếp của nhân vật “tôi” – một họa sĩ đã lớn lên từ chính mảnh đất này và mạch kỉ niệm của cả một thế hệ “chúng tôi”. Kí ức thật đậm nét của tuổi thơ đã khiến cho người họa sĩ – nhân vật “tôi” đã tái hiện lại thật đẹp và xúc động hình ảnh hai cây phong – biểu tượng của quê hương, một mảnh hồn làng sống động.
Bắt đầu của những kí ức về làng quê là lời dẫn chuyện đưa người đọc trở về một nơi nằm ven chân núi, trên một cao nguyên rộng, có những khe nước ào ào từ nhiều ngách đá đổ xuống. Ku-ku-rêu đã hiện ra với tất cả vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thung lũng, thảo nguyên, rặng núi. Hai cây phong không phải là món quà của tự nhiên nhưng đã từ rất lâu, những đứa trẻ đã biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình. Để cũng rất tự nhiên, hình ảnh hai cây phong đã trở thành của riêng làng Ku-ku-rêu: “chúng luôn hiện ra trước mắt hệt như những ngọn hải đăng đặt trên núi”, trở thành mốc định hướng cho mọi người tìm đến. Riêng đối với “tôi”, “mỗi lần về quê, khi xuống xe lửa đi qua thảo nguyên về làng, tôi đều coi bổn phận đầu tiên là từ xa đưa mắt tìm hai cây phong thân thuộc ấy”. Anh đã dành tình cảm đặc biệt với hai cây phong như với những người bạn, nhìn bằng cặp mắt chan chứa tình cảm yêu thương, nên dù khó nhìn đến mấy, anh bao giờ cũng cảm biết được chúng, lúc nào cũng nhìn rõ. Hai cây phong đã trở thành một phần tâm hồn của anh, chi phối cả niềm vui, nỗi buồn của người họa sĩ.
Hai cây phong ấy còn là kỉ niệm chung của chúng tôi – bọn con trai tinh nghịch ở làng Ku-ku-rêu, những người bạn cùng trang lứa của người họa sĩ. Đó là tất cả những ngày tháng được vui chơi, chạy nhảy giữa núi đồi rộng lớn, trong bóng râm mát rượi và tiếng lá xào xạc dịu hiền của hai cây phong. Đẹp làm sao khoảnh khắc những cậu bé ấy được nâng lên cao từ những cành cao ngất, cao đến ngang tầm chim bay, một thế giới khác đã được mở ra, vượt ra khỏi giới hạn của làng quê Ku-ku-rêu nhỏ bé, “như có một phép thần thông nào vụt mở ra trước mắt chúng tôi cả một thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng”. Hai cây phong trở thành bệ đỡ, nâng cánh ước mơ cho những đứa trẻ, mở tầm nhận thức về một thế giới đầy những điều mới lạ cần khám phá, hướng về “những miền đất bí ẩn đầy sức quyến rũ lẩn sau chân trời xa thẳm biêng biếc kia”. Cũng như bạn bè của mình, “tôi” – chú bé sau này là họa sĩ cũng trải qua cảm giác “tim đập rộn ràng vì thảng thốt và vui sướng, rồi trong tiếng xào xạc không ngớt ấy, tôi cố hình dung ra những miền xa lạ kia”. Hai cây phong đã trở thành người bạn lớn, người bạn tâm tình thân thiết đem lại những niềm vui vỡ òa hạnh phúc cho tuổi thơ.
Tags:Văn 8 | Phân tích đoạn trích Hai cây phong – Đề và văn mẫu 8 | 705 | |
Phân tích đoạn trích Hai Cây Phong
Hướng dẫn
Để trả lời câu hỏi a, học sinh đọc kỹ đoạn văn “trong làng tôi không thiếu gì các loại cây,… chiếc gương thần xanh.
Trong miêu tả, người ta thường dùng năm giác quan (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác) để nhận biết sự vật. Nhưng khi miêu tả hai cây phong, người họa sĩ không chỉ thông qua tài quan sát mà còn sử dụng cả trí tưởng tượng. {Ví dụ: chúng có tiếng nói riêng, có một tâm hồn riêng,…)
+ Khi phân tích, học sinh cần chú ý:
Những đoạn văn thuộc mạch kể của nhân vật “tôi” (nay đã là họa sĩ), nhân danh bản thân mình.
Những đoạn văn thể hiện mạch kể xưng là “chúng tôi”. Những đoạn vãn này là hồi ức của nhân vật “tôi”, nhân vật “tôi” nhớ lại “vào năm học cuối cùng…” trước khi đi xa, nhân danh “bọn con trai” trong đó có nhân vật tôi.
I.– Trong sô” các nhà văn của đất nước Liên Xô cũ, có lẽ Tsin-ghi-dơ Ai-ma-tốp là người gần gũi với người đọc Việt Nam nhất. Truyện của ông, từ Ja-mỉ-ỉi-a,…, Vĩnh biệt Gưn-xa-rư, đến Ngày dài hơn thế kỷ đều có bóng dáng của quê hương Cư-rơ-gƯ-xtan, đều phản ánh phong tục tập quán, đấu tranh cho cuộc sống tiến bộ, đạo đức và tình cảm tốt đẹp của con người… Một trong những tình cảm khiến truyện của Aimatốp gần gũi với người đọc Việt Nam có lẽ là tình cảm thầy trò mà truyện ngắn Người thầy đầu tiên là truyện tiêu biểu.
Truyện ghi lại hoạt động của một đoàn viên thanh niên chấp hành sự điều động của tổ chức, dù học lực chưa được là bao, về xây dựng một ngôi trường ở nơi người dân chưa hề biết đến con chữ. Cô bé An-tư-nai mồ côi sống trong gia đình chú thím ở làng Ku-ku-rêu, chẳng được học hành, và phải chịu sự giám sát, sai khiến hà khắc của bà thím. Đuy-sen được Đoàn Thanh niên Cộng sản cử về làng để mở trường, đã kịp thời cứu giúp, cho em đến trường học. Một hôm, Đuy-sen mang về trường hai cây phong non và bảo em: “Hai cây phong này thầy mang về cho em đây. Chúng ta sẽ cùng trồng. Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sông, em sẽ trưởng thành, em sẽ là một người tốt… Em bây giờ trẻ măng như một thân cây non, như đôi cây phong nhỏ này…”.
Bà thím ác nghiệt ép gả bán An-tư-nai làm vợ lẽ cho người ta. Một lần nữa, An-tư-nai được thầy Đuy-sen giải thoát, được lên tỉnh học, rồi đến học tiếp ở Mát-xcơ-va, sau trở thành nữ viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô- va. Còn thầy Đuy-sen, bấy giờ đã già, làm nghề đưa thư…
II.Đoạn văn mà chúng ta phân tích nằm ở phần đầu của truyện ngắn. Phần truyện này được viết bằng hai mạch văn lồng ghép vào nhau. Một mạch văn mà nhân vật kể là “tôi” – nhân danh bản thân của mình giới thiệu ngôi làng, vị trí của hai cây phong và nêu cảm hiểu của mình về chúng. Mạch văn khác nhân danh “chúng tôi” – do nhân vật “tôi” nhớ và kể lại như là hồi ức về một quãng đời đã từng sống cùng hai cây phong ở trong làng.
“Phía trên làng tôi, giữa một ngọn đồi, có hai cây phong lớn. Tôi biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình Ây là giới thiệu vị trí của hai cây phong, và mốc thời gian mà nhân vật “tỏi” nhận biết được hai cây phong ấy. Thật thú vị khi đọc câu văn “Tôi biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình ”. Thú vị •là ở chỗ nó vừa chính xác vừa mơ hồ, đồng thời cũng là thông báo cho người đọc biết hai cây thông ấy xuất hiện ỏ làng trước khi nhân vật “tôi” nhận biết được sự có mặt của mình. Và nhân vật “tôi” nêu cảm nhận về vị trí của hai cây phong lớn ấy. Đấy là một vị trí mà bất cứ ai đi từ hướng nào “cũng đều trông thấy hai cây phong đố trước tiên ”, rồi so sánh chúng “nhưnhững ngọn hải đăng đặt trên núi”. Nếu biết “hải đăng” là ngọn đèn biển, thường dựng ở một mũi đất hoặc một hòn đảo để hướng dẫn tàu thuyền đi Lại ngoài khơi hoặc ra vào bến cảng thì sẽ nhận ra ý nghĩa trân trọng hai cây phong của nhân vật “tôi” qua sự so sánh ấy. Nó như cây đa đầu làng đối với người Việt Nam khi sống ở nơi xa có dịp trở về làng cũ. Cảm nhận về hai cây phong càng lúc càng sâu sắc hơn là ở lời tâm sự “cứ mỗi lần về quê, khỉ xuống xe lửa đì qua thảo nguyên về làng, tôi đều coi bổn phận đầu tiên là từ xa đưa mắt tìm hai cây phong thân thuộc ấy”. Tại sao việc đưa mắt tìm hai cây phong được nhân vật “rổ/” coi là “bổn phận đầu tiên” mà không là một việc khác? Có phải là vì chúng giữ vị trí dẫn đường, vì những ấn tượng thời thơ ấu, hay vì chúng đẹp qua cái nhìn của nhân vật “tôi” nay đã là họa sĩ? Hình như ngoài những điều ấy, hai cây phong còn ẩn chứa điều bí ẩn nào đó cuốn hút tâm hồn nhân vật “tôi”, khiến nhân vật utôi” cảm nhận hai cây phong sinh đôi ấy khác hẳn với các loại cây khác, “chúng có tiếng nói riêng và hẳn phải có một tâm hồn riêng, chan chứa những lời ca êm dịu”.
Từ cảm nhận ấy, nhân vật tôi tập trung miêu tả tiếng lá reo của hai cây phong như hơi thở, tiếng nói cười của hai con người. Ai-ma-tốp không chỉ vận dụng thị giác để thấy cây nghiêng ngả, “lay động lá cành”,…; vận dụng thính xác để nghe được “tiếng rì rào theo nhiều cung bậc khác nhau” mà còn vận dụng cả trí tưởng tượng phong phú của người họa sĩ khi miêu tả hai cày phong sinh đôi giữa đồi cao lộng gió. Nhà văn đã sử dụng tối đa nghệ thuật so sánh để mô tả tiếng phong reo theo tâm trí tưởng tượng của nhân vật, lúc thì “tưởng chừng như một làn sóng thủy triều”, lúc thì “lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào”, lúc thì “reo vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực”. Rõ ràng với lối miêu tả hình ảnh thực xen lẫn với tâm trí tưởng tượng ấy, nhà văn đã mang đến cho người đọc hai cây phong mang tâm hồn bí ẩn. Với nhân vật “rổỉ”, dù hiểu được điều bí ẩn của hai cây phong, nhưng đó chỉ là hiện tượng vật lý. Còn về tình cảm thì “Tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy, bên cạnh chúng như một mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh… “. Nó đã là điều thuộc về tâm linh, sự gắn bó tự nhiên với hai cây phong từ thuở còn thơ dại mà đến tận ngày nay nhân vật “rổi” vẫn “Mong sao chóng về với làng, chóng lên đồi mà đến với hai cây phong”.
Một mạch văn xuyên suốt, nhân vật “tôi” đã nhân danh mình để nói lên tình cảm gắn bó với ngôi làng Ku-ku-rêu, nhất là với hai cây phong sinh đôi. Ây là mạch văn miêu tả những gì thuộc về cá nhân. Nhưng khi nhắc đến “tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy” thì danh xưng và mạch văn thay đổi bằng lối văn hồi ức, miêu tả lại hoạt động của “bọn con trai chúng tôư trong đó có nhân vật “íôí”. Hình ảnh quá khứ, nhất là lần cùng với bạn chạy ào lên chỗ hai cây phong để phá tổ chim hiện về như cảnh phim quay chậm. Những đoạn văn hồi ức đã làm sống lại thời tuổi thơ trong sáng của nhân vật tôi cùng bạn bè với hai cây phong. Người và cây thật gần gũi, thật gắn bó trong những câu văn của Ai-ma-tốp. Người thì “reo hò, huýt còi ầm ĩ chạy lên đồi”, còn cây thì “nghiêng ngả đung đưa như muốn chào mời chúng tôi đến với bóng râm mát rượi và tiếng lá xào xạc dịu hiền”. Hai cây phong như hai con người có tâm hồn hòa nhịp với tâm hồn tuổi trẻ. Và còn hơn thế là chắp cánh cho tuổi trẻ, khi ở trên những cành cao nhất *bỗng như có một phép thần thông nào vụt mở ra trước mắt chúng tôi cả một thế giới đẹp đẽ vô ngần cửa không gian bao la và ánh sáng”. Nhờ hai cây phong mà bọn trẻ “chúng tôi” mở rộng tầm nhìn. Từ khoảng hẹp quanh đồi, quanh làng, nay ở trên cành cao nhìn quanh thấy trời đất rộng bao la mà kể từ lúc sinh ra cho đến giây phút trước khi trèo lên cành cây phong cao ngất “chúng tôi” chưa hề thấy. “Chúng tôi cố giương hết tầm mắt nhìn vào nơi xa thẳm biêng biếc cửa thảo nguyên và nhìn thấy không biết bao nhiêu, bao nhiêu là vùng đất mà trước đây chúng tôi chưa từng biết đến, thấy những con sông mà trước đây chúng tôi chưa từng nghe nói”. Và điều quan trọng khác là những gì được nhìn thấy ở chung quanh ấy đã gợi cho “chúng tôi” suy nghĩ về giới hạn của núi sông, cây cỏ, bầu trời và những đám mây…; lắng nghe tiếng gió ảo huyền và tiếng lá cây đáp lại lời gió. Mạch văn ghi lại hồi ức châm dứt.
Và một câu hỏi khác: “Quả đồi có hai cây phong ấy, không biết vì sao ở làng tôi họ gọi là “Trường Đuy-sen”.” Câu hỏi này đã hàm chứa câu trả lời kín đáo cho câu hỏi trên.
III.Đoạn truyện là lời kể và hồi ức về một quãng đời của nhân vật “tôi”. Qua ngòi bút của T.Ai-ma-tốp, hình ảnh người thầy đầu tiên không tách rời khỏi bao thế hệ học trò mà hai cây phong là biểu tượng của sự gần gũi ấy. Với bút pháp tượng trưng, lời văn trữ tình giàu chất thơ, hai cây phong được diễn tả như hai con người ẩn chứa cái đẹp, cái thiện, hy sinh luôn luôn bị thử thách, và cuối cùng đã chiến thắng, mà cụ thể là nhân vật “tôi”, một học trò cũ đã thành danh dù đang ỏ nơi xa nhưng luôn tìm dịp quay về làng cũ để đến với hai cây phong “nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa ngây ngất”. Ai-ma-tôp được mọi người biết đến là nhờ cách viết khéo léo lấy. | Phân tích đoạn trích Hai Cây Phong | 1,861 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Hai tâm trạng trong Chiến tranh và hòa bình của L. Tônxtôi
Bài làm
Lep Nicôlaiêvits Tônxtôi (1828-1910) là nhà văn vĩ đại của Nga và thế giới. Ông là tấm gương tìm tòi về sự thật. Một trong những sự thật mà Tônxtôi tìm kiếm kiếm suốt đời đó là tìm hiểu sự thật lịch sử và bản chất tính cách Nga. Về sự thật lịch sử, ôngđã dựng lại những biến cố lịch sử trọng đại có liên quan đến vận mệnh toàn dân dựng lại bức tranh sinh hoạt rộng lớn với các tầng lớp xã hội. Từ đó, nhìn nhận và đánh giá các biến cố lịch sử theo quan điểm nhân dân, coi quần chúng nhân dân như người sáng tạo lịch sử, như ngọn nguồn đạo đức và sức mạnh của cộng đồng, thể hiện qua tất cả các tác phẩm mang tính sử thi, từ Truyện Xôvaxtôpôn đến Chiến tranh aà hòa bình. Đánh giá cao cống hiến của Tônxtôi, Lênin coi Tônxtôi là tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”.
Dường nhưTônxtôi đã miêu tả được bản chất tính cách Nga qua một số nhân vật nhưNatasa, Cutudôp, Karataiep… (Chiến tranh và hòa bình). Đó là những tính cách tốt đẹp, những tâm hồn giản dị, những “trí tuệ của trái tim”…
Bên cạnh những bức tranh tuyệt vời về đời sống Nga, đặc điểm nghệ thuật nổi bật cùa các tác phẩm Tônxtôi là sự xâm nhập một cách nhuần nhuyễn bản chất quá trình phát triển xã hội vào qua trình phát triển tâm lí con người. Nói đơn giản, tác phẩm Tônxtôi đã dạt đến trình độ phân tích tâm lí xuấtsắc khi coi cuộc sống là một quá trình vận động và tâm lí con người “như một dòng sông”, lưu chuyển không ngừng.
Chiến tranh và hòa bình là tác phẩm lớn nhất của L. Tônxtôi, được gọi là “tác phẩm vĩ đại của thế kỉ XIX" (Gorki). Với chủ đề chiến tranh, nhà văn ca ngợi cuộc chiến tranh nhân dân, bản chất anh hùng và khả năng quyết đinh vận mệnh đất nước của nhân dân, phê phán cuộc xâm lược bành trướng của Napôlêông. Trong Chủ đề chiến tranh, nhà văn mô tả cuộc sống sinh hoạt bình thường của giai cấp quý tộc Nga. Xen vào hai chủ đề đó là việc kể về con đường đi tìm chân lí của một số thanh niên quý tộc tiến bộ. Tác phẩm là đỉnh cao của nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lí con người, còn được gọi là nghệ- thuật về “phép biện chứng tâm hồn”.
Hai tâm trạng lá đoạn trích nói về tâm trạng nhân vật Anđrây Bôncônxki, một thanh niên đại quý tộc, có tư tưởng tiến bộ, từ tâm trạng buồn bã, bi quan chuyển sang yêu đời, yêu sự sống. Đây là một thiên diễn tả tâm lí tinh vi, xuất sắc, thể hiện tài năng nghệ thuật của L. Tônxtôi. Muốn hiểu được đoạn trích này, cần biết đôi điều về nhân vật Andrây, Bôncônxki.
Andrây là một thanh niên đại quý tộc, thông minh, sắc sảo. tinh tế, giàu nghị lực và nhiều hoài bão. Là mẫu người quý tộc tiên tiến, lí tưởng của thời đại, của nước Nga thế kỉ XIX chàng khao khát sống chân thực, cao thượng, căm ghét mọi giả dối, xấu xa, thấp hèn. Nhưng xã hội thương lưu – môi trường sống của chàng lại đầy rẫy những giả dối, công thức, xấu xa. Mâu thuẫn giữa khát vọng và hiện thực chuyển thành xung đột nội tâm. Vì vậy cả cuộc đời chàng luôn đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi về chân lí, hạnh phúc, về những giá trị đạo đức, tinh thần. Thực chất, những vấn đề luôn nung nấu trong tâm hồn Andrây cũng là những vấn đề mang tầm cỡ dân tộc, thời đại và nhân loại mà chính L. Tônxtôi cũng day dứt và khao khát khám phá suốt đời.Trốn chạy xã hội thượng lưu cũ kĩ, sáo mòn, giả dối, Anđrây hăm hở ra trận tìm vinh quang cá nhân Chạm trán với cái chết. Anđrây mới nhận thức được rằng, vinh quang không thể có khi con người mưu cầu mục đích cá nhân, đặc biệt trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa mà cuộc chiến tranh 1805 là ví dụ. Trở về nhà. Andrây đột ngột phải chứng kiến cái chết đau thương của người vợ trẻ trong cơn sinh nở. Tuyệt vọng, đau đớn vô cùng, tâm hồn chàng trở nén khép kín, lãnh đạm, thờ ơ với cuộc sống.
Đoạn trích Hai tâm trạng miêu tả giai đoạn này trong cuộc đời Andrây. Những day dứt, dằn vặt, suy tư và sự chuyển biến đột ngột, mạnh mẽ trong tâm hồn chàng được phản chiếu qua một hình ảnhthiên nhiên độc đáo: cây sồi già.
Một cây sồi – hai tâm trạng
Hiện lên trước mắt người đọc là hai bức tranh của cùng một cây sồi trong một khu rừng vào hai thời điểm tương đồng với hai tâm trạng khác biệt của Andrây. Bức tranh thứ nhất được chiêm ngưỡng bằng con mắt buồn bã, chán nản, bi quan của Andrây đầu chuyến đi xa. Bức tranh thứ hai được soi rọi bằng ánh sáng rực rỡ của một tâm hồn đã hồi sinh, tràn ngập lòng yêu đời, yêu sự sống của Andrây trên đường về. Khoảng cách hai tháng giữa hai chuyến đi với những sự kiện, những cuộc gặp gỡ là cơ sở hiện thực hợp lí cho sự đổi thay bất ngờ trong tâm hồn nhân vật. Là vật chứng kiến, cây sồi như tấm gương thu gọn, ánh chiếu rõ nét những chuyển biến tinh vi trong bộ mặt tâm lí nhân vật với hai thời điểm khác nhau này. Những sắc thái đổi thay trên toàn cảnh thiên nhiên chính là sự khúc xạ của những biến đổi trong thế giới nội tâm, một thế giới sâu xa, phức tạp và đầy bí ẩn của con người.
Lần thứ nhất, Anđrây gặp cây sồi là vào đầu mùa xuân. Mùa xuân lưu dấu trên mọi vật dọc đường đi của chàng. Mọi cây cối, cảnh vật đều ở trạng thái mới mẻ, tinh khôi, dấu vết của một mùa xuân sinh sôi, nảy nở, đẹp tươi. Vậy mà cây sồi vẫn bất chấp phép nhiệm mầu của mùa xuân: vỏ cây nứt nẻ đầy những vết sứt sẹo, ngón tay quều quào, rạn gẫy, sáy sát, trông như một quái vật già. Phép nhân cách hóa khiến cây sồi hiện lên sống động, như một thực thể có linh hồn, đầy cá tính. Vẻ già nua, xấu xí của cây sồi tương ứng với tâm trạng bên trong của nó, bộc lộ qua một loạt tính từ miêu tả: Cau có, lầm lì, què quặt, khinh khỉnh. Giữa rừng xuân tràn ngập ánh náng và sức sống mà cây sồi già vẫn thở than, rên rỉ với những lời lẽ mỉa mai, chán chường, nghi ngờ cái gọi là mùa xuân, hạnh phúc, tình yêu! Điệp từ dối trá, khờ khạo, điên rồ, được lặp đi lặp lại nhiều lần như nhấn mạnh nỗi nghi ngờ, sự mỉa mai. Lời lẽ ấy, dáng vẻ ấy đặc biệt gây ấn tượng đối với Anđrây khiến chàng phải ngoái cổ nhìn lại cây sồi mấy lần, dường như chờ đợi ở nó một cái gì. Lời thở than của cây sồi đồng vọng với những tâm tư sâu thẳm trong trái tim chàng: “Phải cây sồi ấy nói phải, một ngàn lần phải… cuộc đời của chúng mình hết rồi”. Anđrây đọc được tâm sự cây sồi hay cây sồi cảm nhận, thấu hiểu những uẩn khúc lắng sâu trong tâm hồn chàng? Có lẽ với một trái tim nhạy cảm, Anđây đã nhìn thấy chính tâm trạng mình, con người mình qua vẻ cô đơn, già nua, khép kín và tuyệt vọng của cây sồi: sự hoài nghi, vẻ ngờ vực ghê gớm, niềm bi quan sâu sắc. Kí thác nồi niềm tận đáy tâm tư vào cây sồi cô độc, buồn bã giữa rừng xuân tràn trề nhựa sống, Andrây nhưthấy thiên nhiên, đất trời cùng chia sẻ nỗi buồn, tìm thấy ở cây sồi một hồn hòa hợp, một lời tri kỉ, một chốn sẻ chia, giãi bày. Nhà văn đã hình tượng hóa nét lãnh đạm, thờ ơ với cuộc sống của Andrây bằng cách đối lập với khu rừng mùa xuân đầy sức sống và đồng nhất nó với hình ảnh cây sồi cằn cỗi, cau có. khinh khi…
Cảnh rừng xuân thứ hai hiện ra tươi mát, trong sáng, sống động và đầy hương sắc: Cây cối đầy đặn, rợp bóng và rậm rạp, lá cây xanh mọng, óng ánh dưới nắng, cảnh vật nở hoa, tiếng họa mỉ thánh thót. Trung tâm của bức tranh rừng xuân đó vẫn là cây sồi dạo trước với đầy đủ dáng vẻ cao xa, khoáng đạt và tráng lệ, tạo nên một bức phong cảnh tuyệt đẹp, hùng vĩ về rừng Nga: Tỏa rộng thành một vòm lá sum sê, xanh tốt thăm màu, đang như say sưa ngây ngất, khẽ đung đưa trong ánh nắng chiều,… xuyên qua lớp vỏ cứng già. Những khóm lá non xanh tươi đã đâm thẳng ra ngoài. Mùa xuân và quy luật tự nhiên đã chiến thắng, từ cây sồi tỏa ra hừng hực sức sống mùa xuân với vẻ đẹp mạnh mẽ, muôn đời của tự nhiên. Hòa với trạng thái mới mẻ của cây sồi, Anđrây bỗng có một cảm giác vui mừng vô cớ đầy sức xuân, cảm giác mình đã đổi mới. Tâm hồn đã hồi sinh mãnh liệt của chàng được phụ họa, được tiếp sức bởi cả sức xuân của cây sồi hùng vĩ trong rừng Nga Dường như nỗi bi quan, niềm nghi ngờ, sự tuyệt vọng của Anđrây đã bị sức sống của xuân, của tuổi trẻ đẩy lùi.
Đúng thiên nhiên làm thước đo thế giới tâm hồn con người, Tônxtôi coi việc hòa nhập, mở lòng trước thiên nhiên là dấu hiệu của một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế, phong phú và mạnh mẽ.
Bí mật của hai tâm trạng – phép biện chứng tâm hồn
Lí giải cho những chuyển biến, những vận động tinh vi trong tâm hồn nhân vật Tôn.xtoi đã sử dụng điêu luyện nghệ thuật miêu tả độc thoại nội tâm. Đó là những ý nghĩa thầm kín, là lời nhân vật tự nhủ thầm hoặc nói to lên với chính mình bộc lộ trực tiếp mọi sắc thái của bộ mặt tinh thần nhân vật. Những nghĩ suy
thầm kín không chỉ thể hiện những suy tư, xúc cảm mà còn bộc lộ sâu sắc, tinh vi sự vận động, lưu chuyển biện chứng của thế giới nội tâm nhân vật. Hơn nữa, độc thoại nội tâm thường thể hiện sự tự nhận thức của nhân vật với những day dứt, tràn trở, giằng xé, mâu thuẫn trong tâm hồn. Đoạn độc thoại Sống hay không sống cùa Hămlet (Hămlet — Secxpia, của Thúy Kiềuở lẩu Ngưng Bích ( Truyện Kiều — Nguyễn Du), của Chí Phèo buổi sáng tỉnh rượu của Chí Phèo – Nam Cao là những ví dụ. Còn khi cuộc sống nội tâm thanh thản, phẳng lặng, ít phải nghĩ ngợi, con người đâu
cần đến độc thoại nội tâm! Trong độc thoại nội tâm. những liên tưởng, hối ức luôn xen kẽ, con người thường nhớ về qua khứ, suy ngẫm hiện tại và khẳng định cách ứng xử trong tương lai. Dùng biện pháp độc thoại nội tâm, nhà văn có khả năng thâm nhập vào chiều sâu tâm lí nhân vật phát hiện sự vận động biện chứng tâm hồn con người với những nguồn gốc, động lực sâu xa của nhưng suy tư và xúc cảm…
Cuối phần một, sau lời lẽ cây sồi già và lời đồng tình hưởng ứng của Andrây là lời độc thoại nội tâm chậm rãi, lặng buồn: một loạt những ý tưởng mới mẻ, vô hi vọng nhưng buồn buồn dìu dịu do cây sồi gợi lên. Tất cả phảng phất một nỗi buồn sâu lắng (bởi những sự kiện đã diễn ra trong đời chàng đều đau đớn mạnh mẽ, sâu sắc) mà dịu nhẹ (vì tất cả đã lùivào dĩ vãng). Chỉ còn đây một con người cố sống nốt cho hết cuộc đời mình, không còn hi vọng gì về hạnh phúc, tình yêu, lẽ sống, không ưu tư, không ước muốn.
Cuối phần hai, một loạt những hồi ức tốt đẹp nhất, ấn tượng nhất của cuộc dời Andrây dồn dập ùa về trong tâm hồn chàng.
Chiến trường Auxterlitx với bầu trời cao lồng lộng
Cách đây bốn năm, năm 1805, Adrây tham gia trận Auxterlitx với giấc mộng công danh, mong muốn đạt được chiến công như của Napôlêông – từ một đại úy trở thành hoàng đế khiến cả thế giớiphải nể phục, nhờ một trận đánh lẫy lừng – trận Tulông. Giấc mộng Tulông ám ảnh suốt một thời tuổi trẻ của Anđrây. Trong trận chiến với quân Pháp tại Auxterlitx. Andrây cầm cờ xông lên và trúng đạn ngã xuống. Chàng nhìn lên, thấy bầu trời cao xanh vô tận trên đầu. Tới lúc ấy, chàng mới thấy hết cái vô nghĩa, bé nhỏ của việc đi tìm vinh quang bằng con đường chiến tranh, gây đổ máu và chết chóc. Bầu trời cao lồng lộng từ lúc đó là nơi soi sáng, thức tỉnh tâm hồn chàng. Hình ảnh ấy thường trở đi trở về trong nghĩ suy và tình cảm của Andrây, nhất là vào những khúc ngoặt của cuộc đời.
Khuôn mặt đầy vẻ trách móc khi tắt thở
Sau khi bị thương ở Auxtetlitx, Andrây đột ngột về nhà trong một đêm đông giá lạnh đúng lúc vợ chàng sinh đứa con đầu lòng và qua đời. Khuôn mặt nàng đượm vẻ trách móc. Andrây ân hận, đau buồn vì cái chết của vợ. Bi kịch vỡ mộng ở chiến trường cùng bi kịch gia đình đãđẩy Andrây vào tâm trạng chán chường, tuyệt vọng.
Pie trên c uyến phà
Đang trong tâm trạng ấy thì Pie một người bạn thân, hiền lành, tốt bụng đến thăm Andrây. Trên chuyến phà, Pie khuyên Andrây hãy sống vì người khác, quên đi nỗi buồn đau của riêng mình.
Và kỉ niệm gần nhất còn tươi rói trong tâm hồn chàng là người con gái bồi hồi, xúc động, muốn bay lên với vầng trăng.
Tất cả những hồi ức và liên tưởng ấy – bài học cay đắng nơi chiến trường, kỉ niệm đau thương về người vợ, tấm lòng chân thành của người bạn, vẻ đẹp hồn nhiên, tươi trẻ, đầy sức sống của cô gái mới quen – đã làm Anđrây bừng tỉnh. Phút thay dổi tâm hồn được diễn tả bằng nhịp điệu gấp gáp, sôi động của câu văn. Cái tâm trạng náo nức, hăm hở, đầy nghị lực biểu hiện trong những lời khẳng định dứt khoát, mạnh mẽ, quả quyết.: “Không, cuộc đời chưa chấm dứt ở tuổi ba mươi mốt". Andrây đã hiểu rằng không thể chỉ đắm chìm trong đau khổ, cần phải vượt lên sự cô đơn, không phải chỉ sống vì mình mà phải biết sống vì người khác. Dòng suy tư thể hiện rõ ràng và sinh dộng năng lực tư duy khúc chiết, trong sáng của công tước Andrây, một con người trung thực, chân thành, giàu nghị lực. Vào giờ phút này, Andrây đã tìm được câu trả lời cho niềm day dứt suốt đời mình: sống cho mình hay sống cho mọi người? “Sao cho cuộc sống của ta trải qua không phải chỉ vì mình ta”. Câu trả lời đã giúp chàng trở nên mạnh mẽ, giàu nghị lực và niềm tin trên con đường đi tìm chân lí; bởi chàng vốn là người “dốc hết tâm hồn đi tìm một điều duy nhất: làm sao trở thành người tốt hoàn toàn”. Nhân vật Anđrây Bôncônxki mang một vẻ đẹp trí tuệ sâu xa và tâm hồn cao cả vì lẽ đó.
Qua đoạn trích Hai tâm trạng, chúng ta có thể cảm nhận được phong cách và cá tính sáng tạo của Tônxtôi. Bằng ngòi bút hiện thực, tài phân tích tâm lí tinh vi, sắc sảo, nhà văn miêu tả con người như nó đang tồn tại, tính cách con người được quan niệm như một dòng sông, vận động và lưu chuyển không ngừng. Động lực của phép biện chứng tâm hồn bắt nguồn từ những cảm xúc, suy tư, những trăn trở trong tâm hồn con người để vươn tới sự hoàn thiện mình. Để đi sâu vào phép biện chứng tâm hồn đó, Tônxtôi triệt để sử dụng hai phương thức nghệ thuật. Một là, dùng thiên nhiên để vừa tạo dựng phong cảnh, không gian, thời gian, không khí và phong vị Nga, vừa góp phần khắc họa những diễn biến tâm lí tinh vi của nhân vật. Chiến tranh và hòa bình đã có những bức tranh thiên nhiên trở thành mẫu mực cổ điển trong kho tàng văn chương thế giới về miêu tả nội tâm: bầu trời Auxterlitx lồng lộng của Andrây Bôncônxki; đêm trăng huyền ảo ở Ôtratnôiê của Natasa Rôxtôva; bầu trời đầy tiếng nhạc thần kì đêm trước trận chiến đấu của Pêchia Rôxtôp; ngôi sao Chổi rực sáng trên nền trời Matxcơva của Pie Bêdukhôp; và hình ảnh cây sồi già mùa xuân của Anđrây. Đó là những hình tượng thiên nhiên dộc đáo, tượng trưng cho những gì cao cả, tốt dẹp, vĩnh hằng mà các nhân vật này khát khao vươn tới. Hai là, nhà văn đã dùng ngôn ngữ miêu tả độc thoại nội tâm để thâm nhập và phản ánh dòng suy tư, cảm xúc của nhân vật một cách chính xác, khúc chiết và đầy tinh tế, khiến cho nhân vật của Tônxtôi có một chiều sâu tâm lí, một sự đầy dặn về tầm hồn và một tầm cao trí tuệ khó quên. | Phân tích đoạn trích Hai tâm trạng trong Chiến tranh và hòa bình của L. Tônxtôi | 3,062 | |
Phân tích đoạn trích Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Đại Việt sử kí toàn thư là tác phẩm nổi tiếng nhất của tác giả Ngô Sĩ Liên, tác phẩm đã ghi chép chân thực về các nhân vật lịch sử thông qua những câu chuyện cụ thể, mang đến những ấn tượng mạnh mẽ cho độc giả. Chân dung và tính cách của các nhân vật lịch sử hiện lên rõ nét trong tác phẩm. Trích đoạn “Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một trong những đoạn trích tiêu biểu nhất.
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là người tướng lĩnh tài ba, mưu lược, một người anh hùng nổi tiếng trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Ông từng có những đóng góp quan trọng để làm nên chiến thắng chống quân Nguyên Mông lừng lẫy, ở tư cách một vị quan triều thần, Trần Quốc Tuấn là trụ cột của nhà Trần. Với những công lao và đóng góp to lớn của mình, sau khi mất, Trần Quốc Tuấn được nhân dân thần thánh hóa và được lập đền thờ cúng ở nhiều nơi. Có những vần thơ về công lao của Trần Quốc Tuấn như sau:
“Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo Đại Vương
Chiến công hiển hách rạng ngàn phương
Cứu dân một kiếp xây giềng mối
Dẹp giặc ba lần giữ kỷ cương”
Trong đoạn trích này, tác giả Ngô Sĩ Liên đã xây dựng hình tượng của Trần Quốc Tuấn là một con người hết lòng vì triều đại, một người anh hùng văn võ toàn tài. Nhà văn đã dựng lên những câu chuyện mà Trần Hưng Đạo cư xử với vua Trần cũng như những tướng lĩnh và những người dưới trướng của mình đã thể hiện được những phẩm chất quý báu trong con người ông.
Mở đầu đoạn trích, tác giả Ngô Sĩ Liên đã trình bày một hiện tượng xấu mang điềm báo không tốt, đó là: Tháng 6, ngày 24, sao sa. Trong quan niệm của người xưa thì giữa trời đất và con người luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hiện tượng sao sa là một điềm báo xấu, và điềm báo này đã ứng với việc Hưng Đạo Vương lâm bệnh.
Với cách kể chuyện mạch lạc,minh triết, tác giả Ngô Sĩ Liên làm cho người đọc, người nghe hình dung chân thực về nhân vật Trần Quốc Tuấn, công lao cũng như sự nghiệp của ông.
Trong những phẩm chất tốt đẹp của Trần Quốc Tuấn, phẩm chất nổi bật nhất là tấm lòng trung quân ái quốc. Cả đời Trần Quốc Tuấn đã cống hiến tài năng và sức lực cho đất nước, thể hiện được tình yêu nước và tinh thần trách nhiệm sâu sắc với dân tộc, điều này được thể hiện cụ thể qua chi tiết vua Trần hỏi về việc đánh giặc, Trần Quốc Tuấn đã hiến cho nhà vua những kế sách sáng suốt.
Sau khi đã bày ra những kế sách đánh giặc, Hưng Đạo Vương đã khẳng định việc trị nước là một công việc vô cùng khó khăn, phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Do vậy, tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà nhà vua có thể đưa ra những kế sách phù hợp. Theo Trần Quốc Tuấn, khi đánh giặc có thể áp dụng chính sách vườn không nhà trống, đồng thời phải biết trọng dụng những con người hiền tài, tiến hành đoàn kết nhân dân để tạo sức mạnh tổng hợp có thể đánh đuổi ngoại xâm.
Câu trả lời của Hưng Đạo Vương đối với vua Trần không chỉ đưa ra được những kế sách hữu ích mà còn thể hiện được tài năng và tầm nhìn xa trông rộng của một người anh hùng thiên tài. Trong những kế sách chống giặc, Trần Quốc Tuấn cũng nhấn mạnh vào việc đoàn kết nhân dân, đề cao tư tưởng thân dân. Đây là một tư tưởng đúng đắn, thể hiện trí tuệ hơn người. Gặp gỡ trong tư tưởng thân dân, trong tác phẩm Bình ngô đại cáo tác giả Nguyễn Trãi cũng đã từng viết:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Qua những lời phân tích của Trần Quốc Tuấn với nhà vua về mối quan hệ của ta và địch, về những đối sách chống giặc cũng như việc đề cao tinh thần đoàn kết nhân dân đã thể hiện được tài năng hơn người của nhà chính trị kiệt xuất.
Để mở rộng cái nhìn của người đọc, người nghe với nhân vật, tác giả đã giới thiệu cụ thể về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn:
Tấm lòng trung quân ái quốc của Trần Quốc Tuấn cũng được đặt trong nhiều hoàn cảnh mang tính thử thách khác nhau. An Sinh Vương và vua Trần vốn có mối hiềm khích khó hòa giải, trước khi mất, An Sinh Vương đã gọi Trần Quốc Tuấn vào và dặn dò phải giành lại thiên hạ, như vậy dưới suối vàng ông mới có thể nhắm mắt. Trần Quốc Tuấn tuy đồng ý với cha nhưng lòng lại không cho là phải.
Dù bị đặt vào tình thế buộc phải lựa chọn giữa trung và hiếu thì Trần Quốc Tuấn đã quyết định chọn trung lên trên chữ hiếu, đặt vận mệnh quốc gia lên trên tình cảm của cá nhân.
Trần Quốc Tuấn đã thử thách những người con và những người thân cận của mình về lời dặn dò của An Sinh Vương để qua đó đánh giá về những người thân cận bên mình. Trước những lời nói của Yết Kiêu, Dã Tượng ông đã cảm động đến khóc, câu trả lời của Hưng Vũ Vương ông ngầm cho là phải. Đến người con trai Vương Quốc Tảng ông đã tức giận và định trị tội vì nói những lời phản nghịch.
Thông qua nhiều tình huống, tác giả Ngô Đình Liên đã xây dựng hìn tượng người anh hùng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn thật đáng quý, đó là con người dành cả cuộc đời cho dân, cho nước. | Phân tích đoạn trích Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn | 1,032 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Bài làm
Năm 1939, Vũ Trọng Phụng bước sang tuổi 24. Ông vua phóng sự đất Bắc liền cho ra đời năm tác phẩm lừng danh: "Giông tố", "Số đỏ". "Làm đĩ", “ Vỡ đê”. “Hạnh phúc của một tang gia” là đoạn trích nằm trong tác phẩm “Số đỏ”.
Tang gia là gia đình đau thương buồn thảm. Ấy vậy mà lại hạnh phúc. Khi cụ Tổ hơn 80 tuổi phải chết đã “sướng lắm".
Tác giả đã xây dựng thành công một tình huống điển hình để phơi bày sự đồi bại trong cái gia đình trưởng giả này, vạch trần những quái thai của cái xã hội dở Ta dở Tây buổi ấy. Bố chết, ông chết "bọn con cháu vô tâm cũng sung sướng thỏa thích". Đây là dịp hiếm có để khoe của, kheo giàu, phô cái sang ra cho thiên hạ biết. "Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma, vân vân… Niềm vui tràn ngập:” tang gia ai cũng vui vẻ cả”.
Người con trai cả – cụ cố Hồng – hút liền một chập 60 điếu thuốc phiện, hả hê lim dim đôi mắt. Bữa nay, cha chết, cụ vui vẻ lắm, nhưng thằng bồi tiêm vẫn còn đếm được 1872 cậu gắt: "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Trong cái dư vị êm ái của thuốc phiện, cụ "nhắm nghiền mắt lại để mơ màng " đến cái giờ phút hạnh
phúc "hạnh phúc nhất: mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu” để cho thiên hạ phải trầm trồ::" một cái đám ma như thế một cái gậy như thế”, rồi ngạc nhiên chỉ trỏ: úi giời, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa.,.". Con trai đã "báo hiếu" cha như vậy! Đó là một nét biếm họa thần tình. Tâm hồn sa đọa, đạo lí suy đồi đến cùng cực, từ cha đến con.
Hai đứa cháu nội của cụ Tổ xuất hiện giữa đám tang với bao nét kệch cỡm lố lăng, Văn Minh đi Tây du học 6-7 năm mà chẳng có môt "mảnh bằng nào cả" về nước hắn mở hiệu may để cổ vũ cho cái trò "Âu hóa" nhằm "phô ra những bộ phận kín đáo của phái đẹp". Ông nội chết, đứa cháu quý hóa này nhăm nhăm nghĩ tới chuyện chia gia tài, thích thú ra mặt vì "cái chúc thư kia đã vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuvết viển vông nữa". Cậu Tú Tân thì mở cờ trong bụng, được dịp trổ tài bấm lách tách "mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến". Lúc đưa tang, cậu lăng xăng chạy lên chạy xuống, cậu dàn cảnh, cậu đạo diễn lúc hạ huyệt bắt bẻ từng người cách "chống gậy", "gục đầu", "cong lưng”, "lau mắt", như thế này, thế nọ để cậu bấm máy. Y "luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng" như một tên hề!
Vũ Trọng Phụng đã tả đám ma cụ Tổ bằng nhiều nét hoạt kê, châm biếm sâu cay cái rởm đời của bọn thượng lưu tha hóa. Một đám ma to tát "một đám ma gương mẫu" nhưng chẳng qua là một đám rước xách. Có kiệu bát cống lợn quay đi lọng. Có lốc bốc xoẻng và bu dích. Có nhiều vòng hoa, 300 câu đối, vài ba trăm người đi đưa. Đúng là một đám ma tạp pí-lù "theo cái lối Ta Tàu, Tây”. Bởi thế nên bầy con cháu thì hạnh phúc, còn "người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng nếu không gật cái đầu…". Lấy cái phi lí để vạch trần cái lố lăng, đồi bại là một nét vẽ cực kì sắc sảo, độc đáo trong nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.
"Có bao đám quan khách" quý phái và “ sang trọng" đến đưa ma cụ cố Tổ. Phụ nữ chiếm một nửa, là '"giai thanh gái lịch", là bạn của Tuyết và bà Phó Đoan… Họ đến đưa ma là để "cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau…". Bọn mày râu, bạn của cụ cố Hồng đến đưa tang để khoe mẽ "ngực đầy những huy chương" của "nước mẹ" hay của bọn bù nhìn ban phát cho. Khi tả bộ râu của đám quan khách này, tác giả "Số đỏ" đã sáng tạo nên những chi tiết, những ngôn từ và giọng điệu trào phúng chua cay. Một lối nói nhạo, chế giễu thần tình. Trên mép và cằm các ông trưởng giả khoe tài khoe đức ấy "đếm đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung hoặc lún phún hay rầm rạp, loăn quăn,…". Người đọc phải ôm bụng mà cười khi đọc đoạn văn tả những bộ râu ấy. Đằng sau bộ râu kia là những mặt người tha hóa vô luân!
Vũ Trọng Phụng đã dùng thủ pháp "phục bút" khi tả sự xuất hiện của Xuân Tóc Đỏ. Tuyết mặc bộ “ ngây thơ” để đi mời trầu và thuốc lá quan khách với "vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám". Cô vô cùng sung sướng khi thấy "anh Xuân" đã đến bèn "liếc mắt đưa tình… để tỏ ý cảm ơn” Xuân Tóc Đỏ đã đến đưa đám một cách sang trọng cực kì, với 6 chiếc xe, với sư chùa Bà Banh, với sư cụ Tăng Phú, hai vòng hoa lớn… đã làm cho cụ bà sung sướng kêu lên: "Ấy, gía mà không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi!". Xuân chẳng giận lại còn đến phúng viếng rất to, làm cho đám ma cụ cố Tổ trở nên "danh giá nhất tất cả”.
Xuân Tóc Đỏ xuất hiện, ông Phán "mọc sừng" vốn đã nhờ "đôi sừng hươu" ấy mà được bố vợ chia cho thêm vài nghìn đồng bạc, trong lúc khóc thật to: "Hứt!… Hứt!.. Hứtỉ…" để báo hiếu vẫn không quên giữ chứ "tín" với ân nhân. Ông ta đã "dúi vào tay" Xuân “ một cái giấy bạc 5 đồng gấp tư". Cuộc mua bán hay trả nghĩa diễn ra song phẳng và kín đáo quá! Xuân và ông Phán "mọc sừng" như một cặp bài trùng, hai diễn viên hài siêu hạng. Chính cảnh này là tột đỉnh của sự trào lộng trong màn hài kịch "đám ma gương mẫu". Chính ở cảnh này, sự bịp bợm, giả dối và thô bỉ của bọn "thượng lưu", đã lên tới độ vô liêm sỉ quá ghê tởm. Những con người ‘ chó đểu" trong cái xã hội “chó đểu" là như thế đó!
Tóm lại. qua chương "Hạnh phúc của một tang gia", Vũ Trọng Phụng thể hiện xuất sắc tài kể chuyện và nghệ thuật hoạt kê trong miêu tả. Cái tài của tác giả "Số đỏ" là đã phóng đại những bức chân dung biếm họa, những cảnh đời lố lăng theo thủ pháp của nghệ thuật trào phúng làm cho người ta cười mà thấy được bao sự thật chứa đựng ở trong đó. Chuyện kể đầy kịch tính với bao sự phi lí đến ghê người đã lật tung cái mặt nạ của bọn đạo đức giả!
Tiếng cười trong "Số đỏ" là tiếng cười châm biếm có giá trị tố cáo và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Đám ma cụ cố Tổ đích thực là một màn hài kịch, diễn viên là bầy con cháu và lũ quan khách, đã phơi bày tất cả cái bản chất lố lăng và đồi bại của xã hội nhuốm màu sắc "Âu hóa” kệch cỡm. | Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng | 1,318 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
Bài làm
Một trong số những tác phẩm văn học tiêu biểu cho xu hướng hiện thực đã phê phán kịch liệt cái xã hội tư sản thành thị trước Cách mạng tháng Tám 1945 là tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Với lốì văn châm biếm sắc sảo các chương trong “Số đỏ” đều là những màn hài kịch đầy thú vị, đặc biệt là chương XV "hạnh phúc của một tang gia”.
Trước hết ta hãy quan sát xem những người trong tang quyến của cái gia đình danh giá và đám tang có một không hai ấy xem họ đang nghĩ gì, làm gì trước sự kiện mà bấy lâu họ mong chờ. Điều đầu tiên mà ta cảm nhận được là “ Tang gia có hạnh phúc". Mâu thuẫn và nực cười phải không? Bởi lẽ, thông thường tang gia nào cũng buồn rầu, đau đớn trước cái chết của người thân. Trái lại mỗi người trong gia đình cụ cố Hồng đều vui mừng, cảm thấy có hạnh phúc khi cụ cố tổ vừa mất. Thử xem từng người vui ra sao nhé. Ông phán mọc sừng thấy hạnh phúc vì được thêm số tiền là vài nghìn đồng bù khoản bị vợ cắm sừng. Người con trai cả – Cụ cố Hồng nhắm mắt mơ màng đến cái lúc cụ mặc áo gai, lụ khụ chống gậy… để thiên hạ đều chi trỏ khen một cái đám ma như thê, một cái gậy như thế… Ông Văn Minh thì lại thích thú vì cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viễn vông nữa. Còn cậu Tú Tân sướng điên người vì có dịp thi thố tài chụp ảnh. Bà Văn Minh nôn nao chờ lăng xê kiểu đồ tang tân thời của hiệu may Âu hóa, cuối cùng được như ý. Cô Tuyết dịp khoe với thiên hạ cái cơ thể còn gợi cảm qua lần áo tang mỏng để nói rằng “chưa đến nỗi đánh mất chữ trinh”. Hạnh phúc cứ thế mà tuôn ra, trào ra khó dấu diếm.
Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
Sự hấp dẫn của đoạn trích còn ở những mâu thuẫn trào phúng cơ bản. Trước hết nó nằm ngay trong nhan đề của chương: "Hạnh phúc của một tang gia". Mọi thành viên trong gia đình đều thấy đây là một dịp may đặc biệt để thỏa mãn ý muốn, thực hiện được ý đồ riêng tư của mình. Cho nên cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm… Bọn con cháu vô tâm ai cũng sung sướng thỏa thích… Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma, vân vân…
Tuyệt nhiên không ai tỏ ra đau buồn thương tiếc người quá cố. Thiếu vắng loại tình cảm ấy, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Thật vậy, còn phũ phàng hơn là bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ tổ. Chính ông Văn Minh, cháu nội của người quá cố, còn thầm biết ơn Xuân Tóc Đỏ, tình cờ đã gây ra cái chết của cụ già đáng ghét.
Tiếp theo là cảnh đám tang. Đập vào mắt người ta trước tiên là sự đua đòi lối sống văn minh rởm. Với nghệ thuật châm biếm sắc sảo, qua một số chi tiết chọn lọc, hình ảnh đám tang lộ rõ sự đua đòi lối sống văn minh rởm ấy. Đó là một đám ma to tát, long trọng, theo cả lối Ta, Tầu, Tây, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng, và bu đích và vòng hoa, có đến ba trăm câu đốì, vài ba trăm người đi đưa. Lại có cậu Tú Tân chỉ huy, những nhà tài tử chụp ảnh đã thi nhau như ở hội chợ. Đám ma ấy làm huyên náo cả thành phố bằng kèn Ta, kèn Tây, kèn Tầu lần lượt thay nhau mà rộn lên. Bằng màn trình diễn, quảng cáo đồ xô gai tân thời, cái mũ mân trắng viền đen mà nhân đó, Tuyết bèn mặc đồ Ngây thơ để cho thiên hạ phải biết rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh. Đám ma ấy còn làm huyên náo bằng việc có thể ban cho những ai có tang đương đau đớn vì kẻ chết cũng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời. Tuy nhiên nếu nhìn kĩ sự việc ta sẽ nhận ra ngay thực chất kì quặc, lố lăng của đám tang lạ đời đó. Những gì gọi là to tát, long trọng, danh giá của cái đám ma này chỉ là sự phô trương giả dối, sự rởm đời lố lăng, thể hiện tâm lí háo danh hết sức kì quặc, qua những hình thức nghi lễ đưa tang hổ lốn đến buồn cười. Và không thể cẩm lòng được, tác giả đã phải hạ một câu văn diễn đạt đầy đủ, trọn vẹn sự mỉa mai đến cực độ: “Thật là một đám ma to tát có thể làm người chết nằm trong quan tài cũng phải mím cười sung sướng, nếu không gật gù cúi đầu!…”
Còn một thành phần vô cùng quan trọng nữa trong đám tang, góp phần làm nên sự to tát của nó, đó là những người đưa tang. Bọn họ là ai? Hãy thử nhé. Trước tiên là những ông bạn thân của cụ cố Hồng hình như đưa đám tang để khoe huân chương, huy chương, khoe những kiểu râu hoặc dài hoặc ngắn hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn. Các vị tai to mặt lớn cùa xã hội thượng lưu đó đều cảm động (…) khi trông thấy làn da thập thò trong làn áo voan trên cánh lay và ngực Tuyết… dù họ đang sát ngay với linh cữu. Rồi đến hàng trăm giai thanh gái lịch của Hà Thành văn vật đang Âu hóa với một nửa là phụ nữ, phần nhiều tân thời, bạn của cô Tuyết, bà Văn Minh, cô Hoàng Hôn, bà Phó Đoan, vân vân… đều mang vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma. Cả đám đông đưa tang đó vừa đi vừa chim chuột, soi mói, bình luận về cơ thể phụ nữ, nói với nhau những chuyện nhảm nhí trong đời sống đồi bại thường ngày của họ, đã biểu lộ mọi góc cạnh của cái vô văn hóa vô đạo đức của bọn người cặn bã của xã hội tư sản thành thị thời ấy. Tác giả tiếp tục sử dụng các yếu tố phóng đại về dạng cách lố bịch, tạo mâu thuẫn và gây cười một cách kín đáo và để ta thấy rõ họ giống như thật, họ ở đâu đó ngoài đời. Đồng thời phơi bầy một sự thật họ là bọn người mang cái danh hão thượng lưu, văn minh là bọn cặn bã của xã hội tư sản thành thị.
Còn tác giả – kẻ làm phúc cho tang gia khi đã tạo ra cái chết mà con cháu đang trông chờ từng giây phút Xuân Tóc Đỏ? Xuất hiện giữa đám tang đang di chuyển, đã làm cho cảnh đưa đám thêm lố lăng. Hắn bộc lộ tính tinh quái, láu lỉnh bên cạnh tính đểu cáng và dâm đãng vốn có. Hắn biết tự quảng cáo đúng chỗ, xuất hiện đúng lúc, đáp ứng đúng ý thích của những người mà hắn cần lấy lòng như Tuyết, như cụ bà. Đến cảnh ông Phán dúi tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư, Xuân Tóc Đỏ vội nắm tay cho khỏi có người nom thấy trở thành đỉnh điểm của màn hài kịch đưa tang này. Sự giả dối, bịp bợm ở đây thật vô sỉ đến ghê tởm.
Bằng ngòi bút trào phúng bậc thầy, Vũ Trọng Phụng đã vạch mặt bọn trưởng giả chạy theo đồng tiền, đua đòi lối sống văn minh rởm, bịp bợm, dâm đãng, đồi bại thời đó qua chương “Hạnh phúc của một tang gia”. Vũ Trọng Phụng xứng đáng là một nhà văn hiện thực hàng đầu trong nền văn xuôi trước Cách mạng tháng Tám 1945. | Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia | 1,409 | |
Phân tích đoạn trích hồi 4 kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích đoạn trích hồi bốn kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng.
Nói đến kịch là nói đến một dạng thức đặc biệt nhằm phản ánh cuộc sống của văn học. Đối tượng của nó là những mâu thuẫn, những xung đột không thể dung hoà giữa các lực lượng đối lập nhau. Nhân vật kịch do đó phản ánh những mâu thuẫn khách quan, nghĩa là có những xung đột cần phải giải quyết. Chỉ có điều: cách thể hiện của kịch thường thông qua đối thoại (cũng có khi độc thoại) cùng với hành động. Những đặc điểm khái quát trên đây bộc lộ khá đầy đủ trong vở kịch Bắc Sơn, vở kịch được xem là một thành công của văn học cách mạng những ngày đầu trong phạm vi sân khấu. Ở đây là hồi bốn của vở kịch.
1. Tình huống kịch (còn gọi là xung đột kịch) bắt đầu từ lớp I, khi Ngọc (chồng Thơm) đột ngột ra đi ("khuya thế đi đâu?"). Hành động khác thường này không những làm cho Thơm không thể yên lòng mà còn phải chăng nó xác nhận những nghi vấn của chị, của dư luận: Ngọc làm tay sai, làm chó săn cho Tây? ("Người ta bảo anh thằng Sáng dắt Tây vào đánh Vũ Lăng"). Mặc dù Ngọc che giấu và tìm mọi cách để thanh minh, nhưng tất cả lí lẽ mà hắn đưa ra đều chống lại hắn: không làm tay sai cho giặc thì làm sao lại có nhiều tiền, ông Thái có tội gì mà sục lùng tìm bắt? Lại còn mơ ước có danh phận, được phẩm hàm (cửu phẩm) như ông lí nếu không theo giặc thì lấy đâu ra? Tâm trạng của Thơm thật ngổn ngang: vừa khẳng định ("Chỉ tại con thôi! Con có biết đâu?") vừa nghi ngờ ("Đã chắc gì những lời đồn?… Nhưng tiền thì lấy đâu mà lắm thế?"…), vừa ân hận ("Thà con cứ ở nhà lại rảnh") vừa lo lắng ("Không khéo thì ông Thái bị bắt mất, sao cứ lúng túng mãi không trốn được đi?").
Sang lớp II, xung đột kịch đột ngột được tăng cường. Đối tượng bị Ngọc và đồng bọn truy lùng lại rơi đúng vào nhà của vợ chồng hắn. Tình huống này một mặt xác nhận động cơ mà Ngọc bỏ nhà ra đi vào lúc đêm khuya đúng như Thơm đã nghi ngờ, nhưng mặt khác, chị phải ứng phó ra sao, giải quyết ra sao với hai người chiến sĩ cách mạng? Chính sự thông minh và thái độ yêu ghét dứt khoát của Thơm đã tìm ra một giải pháp: đưa Thái, Cửu vào nơi mà chính Ngọc không ngờ (buồng ngủ của hai vợ chồng). Nơi ấy vừa bịt mắt được kẻ thù, vừa dễ dàng có lối thoát.
Hứng thú của người xem lên tới đỉnh điểm của sự hồi hộp, ấy là khi mâu thuẫn lên đến cao trào: lớp III của Hồi bốn. Lúc này gian ngoài có Thơm và Ngọc, buồng trong có Thái, Cửu ; bên ngoài có quan Tây và đồng bọn của Ngọc bao vây đúng ở lối buồng đi ra. Tình trạng nguy ngập của hai chiến sĩ cách mạng phản ánh trong thái độ cuống quýt của Thơm ("Sao lại đợi ở đấy? Sao không mời các ông ấy lên chơi cả cho vui có được không?") May mà sự nghi ngờ của Ngọc ("Chắc là nó còn ở đấy, lúc nãy, mình trông nhầm nó chạy về đây thì phải") không giữ chân bọn chúng. Còn nếu không, chẳng biết sự thể sẽ diễn biến ra sao?
2. Về nhân vật kịch, ở Hồi bốn có nhiều người. Nhân vật chính là Thơm, Ngọc (chổng Thơm) và Thái, Cửu.
Tính cách của Thơm là tính cách của người phụ nữ có phần bị ràng buộc, an phận theo chồng. Nhưng tình thế cách mạng sục sôi làm cho Thơm không thể ngủ yên trong hạnh phúc, nhất là một thứ hạnh phúc mong manh. Nếu chồng Thơm làm tay sai cho giặc thì hạnh phúc đó chắc chắn không còn, và hơn thế, sự đồng loã vô tình của Thơm (với Ngọc) còn là một hành vi phản bội, phản bội với cách mạng và với chính người thân: cha Thơm, em Sáng của Thơm, cả mẹ Thơm khi biết Ngọc là ai đã bỏ vợ chồng hắn ra đi. Những giằng xé ấy buộc người phụ nữ phải chọn lấy một thái độ, một con đường. Chưa biết cách mạng là gì, nhưng biết cha và em mình là ai, biết Thái và Cửu là người tốt, Thơm đứng hẳn về phía cách mạng. Cái cần đối với Thơm lúc này không chỉ có thế. Cùng với sự quyết đoán, Thơm cần phải tỉnh táo, thông minh. Sự thăm dò với chồng (…) ở lớp I (…) ứng phó kịp thời (…) ở lớp II (…), giả vờ vui vẻ (…) ở lớp III (…) đã làm cho người chồng phản bội không tìm ra dấu vết. Hành động của Thơm, nhất là ở lớp II vô cùng nguy hiểm. Điều này không phải chị không tự biết. Nhưng không còn một cách nào hơn. Đúng như Thái nghĩ "Tôi biết cô Thơm. Anh đừng nghi dòng máu cụ Phương. Tôi tin như thế". Người cán bộ ấy có một niềm tin đặt vào đúng chỗ.
Tuy với quan hệ vợ chồng nhưng điều đáng buồn ở chỗ: nếu Thơm là một nhân vật chính diện (tích cực) thì Ngọc lại là một điển hình phản diện (tiêu cực). Về lí tướng, lẽ sống, Ngọc là một kẻ tầm thường. Vì cái danh, cái lợi cá nhân, hắn có thể bán linh hồn cho quỷ, làm chó săn cho giặc để vinh thân phì gia. Hạnh phúc đối với hắn là kiếm được nhiều tiên để tậu ruộng và để như hắn nói nửa đùa nửa thật với Thơm: "Còn tiền, thì hỏi tôi kiếm về cho ai tiêu?
Cho một minh tôi à? Ai đánh nhẫn, ai may áo?". Còn cái danh mà hắn hậm hực với ông lí: "Ông ấy thế mà cửu phẩm rồi đấy… Chỉ mình là đen, không danh phận gì, lép vế trong làng quá!". Bị vợ truy hỏi gắt gao, hắn biết dánh lạc hướng cũng là để hạ bộ một thần tượng của Thơm: "Em phục giáo Thái thế à?… giáo Thái chính là mật thám cho Tây đấy". Đáng ghét hơn nữa, hắn có thứ triết lí hai giọng thật tàn nhẫn đến lạnh lùng đối với việc lùng sục những người cách mạng: "Đàng nào thì chúng nó cũng bị bắt, mình chả bắt thì cũng người khác bắt, bắt sớm lại đỡ khổ, dân lại được yên ổn làm ăn, thế lại hơn". Vừa tự thú vừa che giấu, bộ mặt thật của y, nghĩa là tâm địa của y thật là đê tiện.
Các nhân vật khác như Thái và Cửu trong hồi kịch này không phải là nhân vật chính. Cả hai chỉ xuất hiện ở lớp II. Tuy đều là những người cách mạng, ở họ cũng có những nét riêng. Cửu tuy là người tốt nhưng còn bồng bột, đơn giản đến ngây thơ (anh cho rằng không thể tin được ở Thơm vì vợ Việt gian thì cũng là Việt gian), rơi vào tình trạng hiểm nghèo dễ hoang mang tuyệt vọng ("Tôi giết anh rồi"). Còn trái lại, Thái là một con người già dặn, đầy bản lĩnh, ứng phó với tình hình có nghĩ trước nghĩ sau. Biết là bước ra khỏi buồng của vợ chồng Thơm là rơi vào vòng vây của cái chết, nhưng ở lại thì không đành lòng vì "liên luỵ đến cô Thơm". Phải nghe theo mệnh lệnh của Thơm, đó là cách lựa chọn duy nhất dúng lúc này.
Thành công của vờ kịch nói chung và Hồi bốn nói riêng chính là ở chỗ: Bắc Sơn đã phản ánh được một không khí đầy căng thẳng trong cuộc chiến đấu giữa cách mạng với kẻ thù. Trong cuộc đấu tranh ấy, cách mạng là vì dân, biết dựa vào dân, được dân đùm bọc, thương yêu, bảo vệ, sự nghiệp của cách mạng nhất định thắne lợi vẻ vang. Chân lí ấy đến với người đọc chúng ta đầy sức thuyết phục bới nó gắn với những hoàn cảnh cụ thể, những số phận con người cụ thế thông qua những xung đột dữ dội mà có được sự trưởng thành. Bài học về cách mạng dầy máu và nước mắt do đó không thể giản đơn, hời hợt. | Phân tích đoạn trích hồi 4 kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng | 1,471 | |
Phân tích đoạn trích hồi 4 vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích hồi 4 vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng
BÀI LÀM
Nguyễn Huy tưởng là một nhà thơ lớn của dân tộc, vở kịch Bắc Sơn đã được ông sáng tác và đưa lên sân khấu vào năm 1946, trong khí thế sục sôi mở đầu cho cuộc kháng chiến. Bối cảnh vở kịch là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và nội dung là xoay xung quanh những biến cố xảy ra ở trong gia đình cụ Phương người dân tộc tày, Cụ Phương đã cùng con trai sáng hăng hái tham gia chiến đấu còn bà cụ và cô con gái là thơm lại ngại ngần và lánh xa.
Cuộc khởi nghĩa đã giành được thắng lợi bước đầu, tổ chức cử ông giáo Thái là cán bộ Đảng tới giúp nhân dân củng cố phong trào. Quân Pháp do Ngọc chồng của Thơm dẫn đường kéo vào chiếm lại vũ Lăng, đàn áp dã man quần chúng và truy lùng những cán bộ lãnh đạo. Quân khởi nghĩa lại phải rút vào rừng, cụ Phương trong khi dẫn đường đã bị giặc bắn, trước chết của cha mình và em trai Thơm thì bộ mặt việt gian của tên Ngọc đã lộ rõ, thơm đã vô cùng ân hận và đau xót tột cùng.
Ở hồi 4 tác giả đã xây dựng một tình huống hết sức đặc biệt thể hiện xung đột thực sự gay gắt giữa lực lượng cách mạng với kẻ thù, đồng thời qua đó nhằm phản ánh về diễn biến nội tâm phức tạp của Thơm – một cô gái có chồng theo giặc, từ chỗ thờ ơ cho tới chỗ đứng hẳn về phía cách mạnh. Qua đó, tác giả còn khẳng định sức thuyết phục to lớn của chính nghĩa.
Thái cùng với cán bộ phong trào là Cửu đã bị giặc truy lùng một cách ráo riết, vô tình chạy nhầm vào nhà Thơm, mà chính Ngọc chồng lại dẫn lính đi đuổi bắt hai người.. Thơm đã nhanh trí che dấu cứu thoát họ, Bằng hành động đó cho thấy thơm đã dứt khoát đứng hẳn sang hàng ngũ của cách mạng.
Thơm nói với hai cán bộ cách mạng bằng giọng tự tin và quyết đoán: “Hai ông đừng nói nữa. Ngọc nó về. Hai ông đừng đi đâu, hãy tạm ở đây, may ra…”Khi ngọc về tới nhà thì thơm đã che mắt họ bằng việc ngủ gật hướng sự chú ý của Ngọc sang việc khác.
Sau đó lại biết được tin Ngọc dẫn đường cho quân Pháp lên đánh up lực lượng của du kích, Thơm đã luồn rừng đi suốt mấy ngày đêm để cho họ kịp thời đối phó sau đó lúc quay về thì bất ngờ gặp Ngọc và cuối cùng Thơm bị hắn bắn, cuối cùng chính Ngọc lại chết vì trúng đạn của bọn giặc.
Thành công nhất đó là nghệ thuật viết kịch thực sự già dặn bộc lộ được tính cách và tâm lý của nhân vật.
Tâm trạng và hành động của Thơm đã được tác giả miêu tả ở trong hoàn cảnh éo le, cuộc khởi nghĩa đã bị khủng bố, cha và em trai đã hi sinh còn mẹ thì đau tới nỗi điên dại bỏ nhà ra đi, Thơm chỉ còn người thân là NGọc nhưng hắn lại lộ rõ là tên việt gian bán nước.
Sự nghi ngờ của Thơm đối với Ngọc ngày càng tăng lên, trong những lần trò chuyện cùng chồng thì Thơm luôn dò xét về ý nghĩ về hành động của chồng còn Ngọc thì lảng tránh. Thơm yẫn cố níu lấy một chút hi vọng: Đã chắc gì những lời đồn?… Nhưng tiền thì lấy đâu mà lắm thế?….
Bằng việc đặt nhân vật của mình vào hoàn cảnh gay cấn, tác giả đã thể hiện đời sống nội thâm hết sức phức tạp cùng với đó là nỗi đau day dứt,, ân hận để rồi cô đã hành động đi tới quyết định là đứng hẳn về phía cách mạng.
Bắc Sơn được xem là một vở kịch khởi đầu cho nền kịch cách mạng ở trên sân khấu của nước nhà từ sau cách mạng tháng 8. Vởi vở kịch này thì lần đầu tiên hiện thực cách mạng và những con người mới của thời đại đã được tác giả đưa lên sân khấu với sự thành công, gây được ấn tượng tốt đẹp trong lòng của khán giả. | Phân tích đoạn trích hồi 4 vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng | 762 | |
Phân tích đoạn trích Hồi trống cổ thành
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Hồi trống cổ thành
La Quán Trung là một nhà văn lớn của nền văn học Trung Quốc, tên tuổi của ông gắn liền với những tác phẩm mang tính dã sử, nổi bật nhất phải kể đến Tam quốc diễn nghĩa. Đây cũng là cuốn tiểu thuyết lịch sử đồ sộ và có giá trị nhất của nền văn học Trung Quốc. Đoạn trích Hồi trống cổ thành cũng là một đoạn trích tiêu biểu thể hiện được tài năng và tầm vóc tư tưởng của nhà văn La Quán Trung.
Đoạn trích Hồi trống cổ thành thuộc hồi thứ hai mươi tám của tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa, trong đoạn trích này tác giả đã miêu tả cuộc hội ngộ của hai người anh em Quan Công và Trương Phi trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Thông qua việc xây dựng nên một tình huống đầy hấp dẫn, tác giả La Quán Trung đã thể hiện được tình huynh đệ cũng như những biểu hiện của lòng tín nghĩa.
Trước tiên, La Quán Trung đã đi khắc họa nhân vật Trương Phi. Trương Phi là một trong những vị tướng đắc lực dưới trướng của Lưu Bị, nhân vật này hiện lên với vóc dáng cao lớn “… cao tám thước, đầu cáo mắt tròn, râu hùm hàm én…”. Trương Phi có tính cách bộc trực, nóng nảy. Tuy là một vị tướng mưu lược nhưng trong nhiều trường hợp nhất định thì Trương Phi lại trở nên thô lỗ, không biết suy tính trước sau.
Vốn có những hiềm khích, hiểu lầm nên cuộc hội ngộ của an hem Quan Công và Trương Phi cũng thật đặc biệt, đó không lại sự sum họp trong sự vui mừng, nồng nhiệt đón tiếp mà là một trận giao chiến đầy căng thẳng. Để thoát khỏi sự kiểm soát của Tào Tháo, Quan Công đã phải mở con đường máu đưa hai chị dâu chạy trốn, sau đó gặp Trương Phi.
Quan Công những tưởng giây phút huynh đệ hội ngộ sẽ vô cùng cảm động và vui mừng mà không thể ngờ được Trương Phi lại đón tiếp mình bằng gương mặt đỏ bừng tức giận, hành động quyết dồn mình vào con đường chết. Trước những hành động của Trương Phi, Quan Công không thể hiểu vì sao người anh em thân thiết lại đối xử với mình như vậy.
Là một con người tỉnh táo, thức thời nên dù bị Trương Phi tấn công quyết liệt cùng cách xưng hô mày- tao đầy xa lạ thì Quan Công vẫn xưng huynh- đệ và cố dò hỏi nguyên nhân vì sao Trương Phi lại có những hành động như vậy. Qua những lời nói và hành động của Quan công, ta có thể thấy được ở con người này một sự nhẫn nại, một con người biết lí lẽ, phân tích tình tình hình dù trong tình thế căng thẳng nhất.
Trước lời thách thức của Trương Phi, Quan Công đã chấp nhận, khi tiếng trống đầu tiên vang lên thì ngay lập tức Quan Công đã lao vào Sái Dương, bằng bản lĩnh và võ nghệ của một vị tướng tài ba, trong ba hồi trống mà Trương Phi đánh lên thì Quan Công đã chém được đầu của Sái dương.
Về phía của Trương Phi, sau khi Quan Công đã hoàn thành xong thử thách thì vẫn chưa tin tưởng hoàn toàn, trong lòng vẫn chưa thể gỡ bỏ hết được những nghi ngờ. Cuối cùng, trước những lời kể của ai chị dâu và một tên lính thì Trương Phi đã hiểu ra sự việc, sự hối hận tột cùng khiến cho Trương Phi quỳ rạp xuống van khóc, xin lỗi người anh em của mình về những hành động nông nổi.
“Chém Sái Dương anh em hòa giải
Hồi cổ thành tôi chúa đoàn viên”
Qua đoạn trích Hồi trống cổ thành ta có thể thấy rõ nét tính cách của từng nhân vật, đồng thời đoạn trích cũng hướng đến ca ngợi tình anh em gắn bó, dù trải qua những khó khăn thì cũng sẽ có ngày đoàn tụ. | Phân tích đoạn trích Hồi trống cổ thành | 702 | |
Phân tích đoạn trích Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Trong những vở kịch nói nổi tiếng của Việt Nam chúng ta không thể nào không kể đến vở hồn trương Ba da Hàng thịt. Vở kịch đó mang lại nhiều ý nghĩa triết lý nhân sinh về cuộc sống của con người. Tác giả Lưu Quang Vũ đã thành công khi dựa theo cốt truyện giân dan để viết lên một tác phẩm kịch hay và ý nghĩa đến như thế. Đây được coi là màn kịch tài năng nhất của Lưu Quang Vũ. Bằng những xung đột kịch độc đáo cùng với nghệ thuật xây dựng nội tâm độc đáo cảnh bảy đoạn cuối của vở kịch thật sự đã đem đến những suy nghĩ trong lòng người đọc về những vấn đề của cuộc sống.
Hồn Trương Ba da Hàng Thịt là một vở kịch được viết vào năm 1981 và công diễn lần đầu tiên vào năm 1984. Nhân vật chính của tác phẩm chính là Trương Ba. Ông làm nghề làm vườn và chơi cờ rất giỏi. Ông luôn tỏ ra là một người nho nhã với những thú chơi thanh tao. Vì chơi cờ rất giỏi cho nên Đế Thích một vị thần rất thích chơi cờ với Trương Ba. Thế nhưng cuộc sống không an nhàn và yên ổn như Trương Ba sống hiện có. Ông đang hạnh phúc cùng gia đình thì bỗng nhiên trời giáng chết. Cũng tại Nam Tào Bắc Đẩu gạch nhầm tên nên ông bị chết oan. Chính vì thế để sửa sai Đế Thích đã cho hồn của Trương Ba nhập vào xác của một anh hàng thịt cũng vừa mới chết. Và bi kịch bắt đầu từ đó, vị thần kia sửa sai nhưng lại không hề hay biết cái sửa sai ấy lại càng sai hơn. Làm cho cuộc sống của Trương Ba trở thành địa ngục khi phải sống trong thân xác của anh hàng thịt. Hồn thì vẫn thanh tao đấy nhưng hồn lại phụ thuộc vào xác cho nên những thứ Trương Ba không bao giờ ăn thì lại phải ăn. Không những thế cả chuyện chồng của người này người kia nữa. Điều đó chỉ làm khổ cho hai người đàn bà khốn khổ kia thôi. Đoạn trích này nói về sự đau đớn tột cùng của Trương Ba. Sau đó ông đối thoại với tất cả mọi người và kết thúc bi kịch.
Thế nhưng xác kia không đui mù, xác cũng biết được những việc làm của hồn. Xác đưa ra những lí lẽ đúng đến mức hồn Trương Ba không thể nói lên được câu gì. Chẳng phải mỗi tối hồn ở bên vợ của anh hàng thịt hơi thở ông nóng rực hay sao, chẳng phải chính tay ông đã đánh đứa con trai của mình hộc máu mồm. Xác đắc thắng ma cười ngạo nghễ còn hồn thì buồn bã đau đớn. Qua đoạn trích này tác giả muốn nói lên một điều rằng con người ta sống lâu trong sự dung tục thì ắt bị dung tục ngự trị. Mặt khác sống trọn vẹn là chính mình chứ không thể sống nhớ sống gửi. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác dung tục được. Hay đó còn là hai mặt của con người, phần con và phần người. Sống phải biết hài hòa giữa tinh thần và thể xác chứ không thể chỉ chú ý vào một thứ còn thứ kia thì không.
Sau khi đuối lí hồn Trương ba lại nhập lại vào xác anh hàng thịt và tiếp tục cuộc đối thoại với vợ của mình. Người vợ mà ông hết lòng yêu thương thì giờ đây cũng đang héo hon đau khổ khi thấy ông trong thân xác của anh hàng thịt, thấy ông ngày một khác đi. Bà quyết đinh ra đi vì không muốn nhìn thấy ông như thế nữa. Đối với bà đi đâu cũng được còn hơn là phải sống thế này.
Vợ bỏ đi đến đứa cháu gái hằng ngày quý mến ông nhất cũng không nhân ra ông nữa. Nó mắng ông là lão đồ tể. trước kia nó quý mến ông như thế nào thì giờ đây nó lại ghét ông ngàn lần như thế. Nó khước từ tình cảm của ông. Ông đã dùng đôi chân to bè của mình mà dẫm chết tiệt cái cây sâm quý ông nó ươm từ lâu. Ngay cả khi diều của thằng cu Tị ông nhận sửa cho nó mà lại làm gãy thêm. Nó ghét ông. Nó mắng ông cút đi. Trương Ba đau đớn gọi cái gái nhưng nó chẳng thèm bận tâm ông nữa rồi.
May ra có chị con dâu hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của Trương Ba. Thế nhưng chị cũng chỉ biết thương cho thầy mình mà chẳng có cách nào giúp Trương ba cả. Đến bản thân Trương Ba còn bất lực huống chi là chị con dâu. Chị cũng đau khổ lắm khi thấy tình cảm gia đình ngày một tan hoang.
Sau tất cả những cuộc đối thoai trên ta thấy mỗi thành viên trong gia đình đều không thể chấp nhận được một Trương Ba khác bình thường như thế. Điều đó càng khiến cho trương Ba không chấp nhận cuộc sống chắp vá và quyết định thắp hương gọi Đế Thích lên.
Đó chính là cái kết mở nút giải thoát cho những bi kịch tâm hồn. Hồn Trương Ba vẫn còn về để thăm nhà thăm vợ con. Cứ thấy gió ngoài trời làm lung lay lá cây thì bà vợ biết chồng mình đã về.
Qua đoạn trích này Lưu Quang Vũ muốn gửi đến cho chúng ta một thông điệp hãy sống là chính bản thân mình không nên chắp vá những cái không phải là mình. Cuộc đời còn gì hơn khi được sống là chính mình, sống nhờ vả chắp vá sẽ chỉ gây nên những bi kịch mà thôi. Qủa thật triết lý nhân sinh sâu sắc ấy đã được người đời tiếp thu và trở thành chân lý sống. | Phân tích đoạn trích Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ | 1,046 | |
Phân tích đoạn trích Kim Trọng trở lại vườn Thúy
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Kim Trọng trở lại vườn Thúy
Truyện Kiều của Nguyên Du được nhắc tới như một áng thiên cổ hùng văn, mang những ý nghĩa ý nghĩa nhân đạo nhân văn sâu sắc. kHông những vậy, những nhân vật và tình tiết trong truyện Kiều được miêu tả một cách chân thực và làm nổi bật rõ tính cách, tâm hồn cũng như những mặt đối lập trong tâm tư tình cảm. Nhắc tới Kiều người ta cũng không thể kể qua những mối nhân duyên của Thúy Kiều được, Một trong số đó, Kim Trọng là một tronh những mối nhân duyên đầu của Thúy Kiều một con người đa tài lại giàu cảm xúc. Nó lại càng được thể hiện trong đoạn trích Kim trọng trở lại vườn Thúy.
Mở đầu là những giới thiệu khái quát về cuộc đời của chàng Kim với những lời hẹn thế với quốc sắc ấy vậy nên khi làm tròn chữ hiếu anh lại lặn lội đến gặp Thúy Kiều. “Từ ngày muôn dặm phù tang,
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
Vội xang vườn Thúy dò la,
Nhìn xem phong cảnh, nay đà khác xưa.
Sauk hi về quê chịu tang, Kim trọng không thể quên được mối tình và những tình cảm của mình dành cho Thúy Kiều nên đã quyết định trơ lại để gặp Kiều. Ttình yêu khiến cho người ta ngỡ rằng nhưng giây phút xa nhau giống như những thiên niên kỉ trôi qua. Nỗi nhớ nhung cứ thế một dâng cao, cứ hiển hiện trong lòng của người đang yêu. Kim trọng đang ở trong tình cảnh như vậy, rất myoons gặp Kiều ngya lập tức. Cho nên khi vừa bước tới Liêu Dương, Kim trọng nhớ ngay tới Thúy Kiều.
Sự khác biêt của phong cảnh nơi đây được thể hiện rõ nhất chính là những cảnh vật thời xưa khiến chàng Kim không khỏi bối rối, lo lắng. Chắc chắn đã có chuyện gì đó đã xảy ra ở đây.
“Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời…
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Xập xòe én liệng rường không,
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc đầy,
Đi về này những lối này năm xưa!”
Khu vườn ấy hiên lên với hình ảnh cỏ mọc lau thưa, rồi sự quạnh quẽ hiện lên cùng với những hình ảnh rã rời. Đó là sự tàn tạ và báo hiệu như một sự không lành đủ cho chàng Kim thấy được một biến cố nào đó đã đến đây và mang nàng Kiều của chàng đi mãi. Chàng đau đớn nhìn những cảnh vật như thể hiện tâm trạng của mình. Nếu như những câu thơ đầu chàng mong chờ bồn chồn rồi háo hức khi mong gặp người yêu thì bây giờ chàng lại thấy thương nhớ, thấy rối lòng khi không biết rằng chuyện gì đang xảy ra tại nơi đây. Ngôi nhà của những con người tuyệt mĩ ấy xưa kia đầy ắp những cung bậc ngũ âm mà Kiều thường đàn, khoảng kia là chỗ Kiều ngồi âm thơ mà vịnh cảnh thế mà giờ đây chẳng có một thiên bạc mệnh nào được cất lên nữa. Xung quanh không một bóng người. cánh hoa đào năm ngoài vẫn còn như cười với gió đông những cánh én xập xòe trên tầng không vậy mà cảnh vật nhà Kiều cỏ mọc hoang sơ, không còn thấy một dấu giày thể hiện sự sông của con người ở đây. Cả khu vườn nơi mà Kiều hay học đàn chơi nhạc âm thơ ấy giờ biến thành chỗ mọc cho những gai góc và cỏ um tùm. Người đâu mà chẳng thấy lòng Kim Trọng đau đớn mà vẫn không hiểu chuyện gì xảy ra.
“Chung quanh nặng khắt như tờ
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?”
Cái cảnh vật ấy chính là cái lặng lẽ như tờ khiến cho nỗi lòng chàng Kim lại càng trở nên kinh khủng tồi tệ hơn. Nỗi niềm tâm sự ấy biết nói cùng ai, biết hỏi ai về tung tích nàng Kiều. câu hỏi nghi vấn, câu hỏi tu từ ở cuối bài như một nỗi vấn vương băn khoăn không có ai trả lời cho chàng
Mối tình đầu của Kim Trọng và Thúy Kiều mới đầu tưởng chừng như nguyên vẹn hai người được sống trong hanhh phúc nhưng đâu phải thế, chưa được bao lâu thì tình yêu ấy đã bị thời thế làm cho chi a cắt xa lìa. Xã hội kia đã gieo rắc những sóng gió đến với gia đình nàng, nó làm cho một gia đình vốn bình yên hạnh phúc vậy mà giờ nay lại trở nên tàn tạ hoang sơ. Moi thứ hiện ra trước mắt chàng Kim thật tàn tạ buồn thảm.
Nguồn: Bài văn hay | Phân tích đoạn trích Kim Trọng trở lại vườn Thúy | 830 | |
Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (bài hay)
Hướng dẫn
Thúy Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha thì lại rơi vào cạm bẫy của Tú Bà. Nàng đau khổ, tuyệt vọng và tìm cách trốn thoát, nhưng không thể thoát khỏi nanh vuốt của Tú Bà. Vì thương cha, thương em mà nàng cam chịu cuộc sống bất hạnh trong lầu xanh của Tú Bà. “Vui là vui gượng kẻo mà, ai tri âm đó mặn mà với ai’’.
Đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích’’ diễn tả tâm trạng thương nhớ của nàng đối với những người thân yêu ruột thịt và nỗi cô đơn của nàng trong đêm trăng trước lầu Ngưng Bích.
Tuổi xuân của nàng đã bị khóa chặt trong lầu Ngưng Bích. Dưới trăng, nàng nhìn thấy cảnh vật mà lòng thêm tan nát:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn cọ, bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.
Diễn tả cuộc sống tù túng, mất tự do trong lầu xanh dơ bẩn của Tú Bà, tác giả dùng hai chữ “khóa xuân’’ thật là sâu sắc. Bên ngoài là cuộc sống tự do với thiên nhiên hữu tình:
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung
Cảnh như một bức tranh diễm tình, huyền ảo, bộc lộ tâm trạng của nàng gắn bó với những gì xa xôi, cách trở. Không gian mở ra “bên bờ bát ngát’’, đầy màu sắc “cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia’’ nhìn cảnh vật tươi đẹp nàng cảm thấy “bẽ bàng’’ lòng càng tan nát.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.
Ngồi một mình thổn thức dưới trăng, nàng tưởng nhớ đến những người thân yêu, ruột thịt. Trước tiên là nàng nhớ đến Kim Trọng, người tình xưa đã từng thề nguyền dưới trăng:
Tưởng người dưới nguyệt chén đông
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Hình ảnh này gợi nhớ lại kỉ niệm giữa nàng và Kim Trọng thề nguyền dưới trăng:
Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miện một lời song song.
Chàng Kim Trọng có biết đâu người yêu của mình bây giờ lưu lạc ở góc biển chân trời:
Bên trời góc biển bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Tình cảm sâu lắng trong lòng nàng còn là nỗi nhớ cha mẹ. Người mẹ già tựa cửa chờ mong nàng cảm động biết bao:
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Nàng lo lắng không ai săn sóc mẹ già, trời nóng ai quạt cho mẹ, trời lạnh ai “ấp lạnh’’ những đêm đông.
Cha thì cũng đã già rồi biết ai người săn sóc.
Một lần nữa ta lại thấy Thúy Kiều là một người con gái có tình, có hiếu. Một con người như vậy mà rơi vào cảnh bất hạnh thì thật đáng thương.
Thương người tình, thương cha, thương mẹ, rồi nàng lại thương mình. Đây là nỗi buồn của Thúy Kiều trong đêm trăng trước trời bể bao la:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trong ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dầu dầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Điệp ngữ “buồn trông’’ tạo ra nhạc điệu du dương cho đoạn thơ, diễn tả được nỗi buồn trào dâng lên trong lòng Thúy Kiều. Hình ảnh nào cũng mang theo một mảnh tâm trạng của Thúy Kiều. Hình ảnh chiếc thuyền với cánh buồm gợi đến, mơ ước tự do của nàng. Hình ảnh “hoa trôi man mác biết là về đâu’’ gợi đến thân phận bèo giạt hoa trôi của nàng. Hình ảnh “Nội cỏ dầu dầu’’ gợi đến tâm trạng xót xa khi nghĩ đến tấm thân nhàu nát của nàng. Và kinh khủng nhất là hình ảnh cuối cùng của đoạn thơ:
Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Hình ảnh sóng gió của biển cả đã gợi đến sóng gió cuộc đời vùi dập nàng. “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi’’ là âm thanh dữ dội của sóng bể “trầm luân’’, bể khổ đã vùi dập nàng, cuốn trôi nàng trong dòng đời bất hạnh.
Qua tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đêm trăng trước lầu Ngưng Bích, ta hiểu thêm được phẩm chất cao quý của người phụ nữ tài hoa mà bất hạnh. Nàng giàu tình cảm, yêu tha thiết Kim Trọng nhưng lại phải hy sinh tình yêu để giữ tròn chữ hiếu. Ngồi trước lầu Ngưng Bích nàng cảm thấy đau đớn, xót xa như một bông hoa bị vùi dập. Mỗi hình ảnh là một mảnh tâm hồn đau khổ của nàng. Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật thật là sâu sắc. Xưa nay, người đọc vô cùng xúc động trước tâm trạng dày vò, đau khổ của Thúy Kiều trước lầu Ngưng Bích. Người đọc đồng tình, thông cảm với Thúy Kiều và phẫn nộ với xã hội tàn bạo đã chà đạp lên thể xác và tinh thần của người phụ nữ, chà đạp lên mơ ước tự do của con người. | Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (bài hay) | 878 | |
Đề bài: Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu
Bài làm
Đoạn trích Lẽ ghét thương chinh phục người đọc bởi tính nhân đạo, bởi tình cảm yêu ghét phân minh và tấm lòng nhiệt thành với chính nghĩa, là nét đặc trưng tính cách của con người Nam Bộ…
Là một nhà thơ mù nhưng Nguyễn Đình Chiểu luôn chủ trương sáng tác văn học để chở đạo, đâm gian. Tác phẩm của ông vì thế luôn chứa đựng tinh thần nhân văn sâu sắc. Ở đó bao giờ bạn đọc cũng bắt gặp những tình cảm rõ ràng cụ thể: yêu – ghét, cảm thông, căm giận… Những tình cảm ấy có thể được tác giả bộc lộ một cách trực tiếp trong các tác phẩm: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh…, cũng có thể gián tiếp gửi gắm qua phát ngôn của nhân vật. Và thái độ, tình cảm của ông Quán trong Lẽ ghét thương (Trích Lục Vân Tiên) là một ví dụ tiêu biểu.
Lẽ ghét thương là những lời thơ tâm huyết về nỗi ghét tình thương nhân bản của Nguyễn Đình Chiểu. Và trong tình huống này, nhân vật ông Quán trở thành cái loa phát
ngôn cho chính tác giả. Những tình cảm
yêu, ghét rạch ròi của ông Quán nói ra ngay sau khi chúng biến cảnh Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực, Bùi Kiệm và Trịnh Hâm cùng thi tài xướng hoạ tại quán ăn của mình.
Đoạn trích có 26 câu thơ thì có tới 16 câu thơ nói về tình thương. Như vậy số câu thơ về tình thương yêu con người đã quá nửa. Bản thân Nguyễn Đình Chiểu cũng đã từng nóiBởi chưng hay ghét cũng là hay thương. Quả thực khi suy ngẫm kĩ những câu thơ này, ta sẽ thấy gốc rễ, nguyên nhân sâu xa của nỗi ghét chính là tình thương dân sâu sắc.
Tình thương chính là điểm tựa, là động lực tinh thần để nhà thơ lên tiếng phê phán những bọn xấu xa, những kẻ độc ác. Sở dĩ ông Quán ghét cay ghét đắng những chuyện tầm phào, những cái đa đoan, những cái dối trá, những trò mê dâm là vì chúng làm rối dân, làm dân luống chịu lầm than muôn phần. Mỗi lần nhắc đến một đối tượng đáng ghét, đáng lên án ấy sẽ là một lần tác giả thêm một câu bình luận về tội ác của chúng gây cho dân lành:
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hoang
Ghét đời U, Lệ đa đoan
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần…
Và trong 10 câu thơ nói về lẽ ghét thì có tới bốn câu thơ nói về cung bậc, mức độ khác nhau trong nỗi khổ mà dân lành phải gánh chịu:
– Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hoang.
– Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
– Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.
– Sớm đầu tối đánh lằng nhằng dối dân.
Nếu như những câu thơ nói về lẽ ghét thương thể hiện nỗi kinh bỉ, tức giận thì đến những câu thơ này giọng thơ đột ngột chậm thể hiện sự thông cảm, chia sẻ của nhà thơ đối với nhân dân.
Để giãi bày những lời tâm huyết về nỗi ghét này được sâu đậm, Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng nghệ thuật điệp từ. Chỉ có 10 câu thơ đầu tác giả đã sử dụng tới 8 từ ghét. Riêng câu thơthứ hai đã có tới 3 từ:
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.
Cay, đắng là những từ dùng để chỉ mùi vị, ở đây cay, đắng không phải dùng như một sự lạ hoá ngôn từ, mà nó dùng để diễn tả độ sâu tăng dần của cái ghét. Sự kết hợp của các điệp từ ghét với sự tăng cấp về mức độ, nhà thơ đã hé mở cho độc giả biết cái ghét, đối tượng bị ông Quán ghét không chỉ thuộc phạm vi một thời đại nào mà nó có trong mọi thời đại.
Vì thế nỗi ghét ở đây là đổi gam, đổi chất, không chỉ dừng ở thái độ bên ngoài, mà nó đã ăn sâu vào máu, vào huyết quản, ghét vào tận tâm của ông. Cái gọi là ghé của ông Quán thực chất là lòng chăm thù. Ông căm thù tất cả những bọn làm ảnh hưởng, làm tổn hại đến cuộc sống hạnh phúc của nhân dân. Điều này thể hiện tính nhân dân sâu sắc của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
Đối lập với nỗi ghét, lòng căm thù là tình thương. Ông Quán đã tự bạch về tình thương của mình trong mười sáu câu thơ. Chỉ mười sáu câu thơ nhưng nó làm hiển hiện cả cõi lòng của một con người, thể hiện một cách sâu sắc sự cảm thông, xót xa của ông Quán đối với những bậc hiền nhân quân tử, kiểu mẫu của đạo Nho, muốn hành đạo giúp vua, cứu dân nhưng không thành.
Người được nhắc đến đầu tiên trong đoạn thơ nói về tình thương là Khổng Tử – người đã gặp rất nhiều gian lao vất vả khi truyền đạo:
Thương là thương đức thánh nhân
Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông.
Ông thương đến cả người chết yểu mà công danh chưa đạt:
Thương thầy Nhan Tử dở dang
Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh
Ông lại thương cả những người không gặp vận may, những ông quan thanh liêm không gặp thời…
Thương ông Gia Cát tài lành
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha…
…Thương thầy Liêm, Lạc đã xa
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.
Nếu như ở mười câu đầu Nguyễn Đình Chiểu để cho nhân vật nói lên lòng căm thù bọn người hại dân để nói lên lòng thương dân, thì ở đoạn sau tác giả lại cho nhân vật bộc lộ trực tiếp lòng thương đối với những người có tài cao chí lớn, muốn phò vua giúp đời mà gặp phải bất hạnh nên nguyện vọng cứu dân không thực hiện được. Và để thể hiện tình cảm thương yêu đầy tình nhân bản đó, nhà thơ đã điệp đi điệp lại từ thương tới chín lần. Nó không chỉ thể hiện được tình thương yêu tha thiết ông dành cho từng đối tượng cụ thể mà còn bộc lộ một tình cảm, tình thương bao la rộng lớn dành cho số phận cay đắng của con người trước những quy luật khắc nghiệp của tạo hoá và xã hội.
Trích đoạn Lẽ ghét thương tuy không dài nhưng được tác giả tổ chức sắp xếp khá chặt chẽ, mạch lạc. Sự kết hợp giữa việc sử dụng điệp từ ghét, thương với nghệ thuật bố cục chặt chẽ không chỉ tạo được sự rõ ràng trong ý thơ mà còn tạo cho đoạn thơ có giọng điệu vừa trang nghiêm vừa thống thiết – một nét đặc trưng của điệu thơ trữ tình Nguyễn Đình Chiểu.
Như vậy thông qua nhân vật ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm những lời tâm huyết về nỗi ghét thương. Nó không chỉ thể hiện một tâm hồn giàu tình yêu thương mà còn thể hiện một tinh thần nhân bản sâu sắc. | Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu | 1,224 | |
Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương
Hướng dẫn
Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ mù nhưng ông có một tâm hồn sáng những tác phẩm của ông để lại mang tính giáo dục cao. Một trong số đó chính là Lẽ ghét thương
Đây là một trong những đoạn trích được trích từ truyện Lục Vân Tiên và khi viết về đoạn trích này là tác giả nói về sự ghét thương phân minh cảu ông chủ bán nước khi bắt gặp Vân Tiên Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thi thố với nhau. Tuy nhiên lúc hai người kia thua thì lại đổ sang cho Vân Tiên. Thấy lẽ bất bình cho nên ông chủ quán nước đã bày tỏ quan điểm của mình về điều đó.
Chủ quán là một người bán nước nhưng nguồn gốc của ông là một người có hiểu biết, chỉ vì ông chán cảnh quan trường đấu đá gian lận cho nên đã trở về để ở và sống một cuộc sống bần hàn thanh cảnh.
Nay thấy sự dối trá của TRịnh Hâm và Bùi Kiệm, thua mà không dám nhận thua cho nên ông đã lên tiếng như để bênh vực cho công lí
“Quán rằng: “Kinh sử đã từng”,
Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa.
Hỏi thời ta phải nói ra,
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”
Từ những điều mà ông thấy cũng là dịp để ông nhớ lại về một thời cũng dùi mài kinh sử của mình, chính vì cuộc thi của 3 người này mà ông cũng đem lòng khuyên nhủ Vân Tiên nên biết chọn bạn mà chơi.
“Tiên rằng: “Trong đục chưa tường,
Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?””
Và để đáp lại những thắc mắc của Lục Vân tiên thi ông chủ quán nước nói về lẽ ghét đầu tiên chính lẽ ghét luôn khiến cho con người t khó chịu và trăn trở. Muốn thả chúng đi muốn không đối dện với chúng
“Quán rằng: “Ghét việc tầm phào
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tới tâm. ”
Ông chủ đã thể hiện những quan điêm của bản thân, đó là chuyện ông ghét những chuyện tầm phào trong cuộc sống. đó là những truyện vu vơ hão huyền không có ý nghĩa gì. Những từ ghét ở trong câu thơ như để càng nhấn mạnh răng ông cực kì ghét những câu chuyện như thế những cau chuyện khiến cho con người ta trở nên ích kỉ và nhỏ nhen
“Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
Ghét đời Ngũ bá phân vân,
Chuộng bể dối trá làm dân nhọc nhằn.
Ghét đời thúc quí phân băng,
Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân. ”
Để chứng minh cho những điều ghét của ông về chuyện tầm phào thì ông đã viết ra những thứ mà ông ghét. lơi ông hay chính là lời của tác giả như đang kể tội những hôn quân làm cho cuộc sống nhân dân phải điêu đứng đau khổ: ở đó có đời Kiệt, Trụ vì mê nhan sắc mà để nhân dân sống cảnh nghèo khổ.cho tới đời U, Lệ thì xảy ra nhiều chuyện để cho cuộc sống nhân dân lầm than, tiếp đó là đến đời Ngũ bá làm cho nhân dân nhọc nhằn, và đời Thúc quý phân tranh đất nước khiến cho cuộc sống nhân dân rối ren…
“Thương là thương đức thánh nhân
Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông
Thương thầy Nhan Tử dở dang.
Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.
Thương ông Gia Cát tài lành,
Gặp cơn Hán mạt đã đành phui pha
Thương thầy Đồng tử cao xa,
Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi.
Thương người Nguyên Lượng ngùi ngùi,
Lỡ bề giúp nước …
Đó là khi mà ông chủ quán nước bày tỏ lòng mến mô và sự kính trọng của mình đối với các bậc hiền tài có công với đât nước với cuộc sống của nhân dân. Những người xuất hiện đó lừng lẫy cả một thời và không ai không biết tới. nào là Gia Cát Lượng hay thầy Đồng Tử đều được nhắc tới. khi nhắc tới lẽ thương thì có vẻ như những câu thơ giản ra và những khi nói tới lẽ thường thì người ta cũng có ý vẽ ra những hình ảnh đẹp và cao cả
Qua tác phẩm Lẽ Ghét thương chúng ta có thể thấy bằng một tình huống vô cùng tình cờ và độc đáo như vậy, Nguyễn Đình Chiểu đã vẻ ra những lẽ ghét lẽ thương trong cuộc sống. Lời ông hay chính là lời của một người đã từng trải có những chiêm nghiệm hay về cuộc sống với cả những mặt tốt lẫn mặt xấu ẩn khuất sau những gam màu sáng của cuộc sống. | Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương | 810 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.